|
Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 22 Tháng Sáu, 2023, 07:02:45 am - Tên sách: Những năm tháng không quên
- Tác giả: Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân - Năm xuất bản: 2021 - Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian * Tham gia biên tập\hiệu đính: Đại tá, ThS PHÙNG THỊ HOAN; Thượng tá, ThS LÊ QUANG LẠNG; Trung tá, TS LÊ VĂN CỪ; Thiếu tá, TS TRẦN HỮU HUY; CN ĐINH CAO PHONG; ThS LƯU THỊ THỊNH; Đại tá, ThS ĐINH CAO TÀI; ThS ĐINH THỊ HẠNH MAI; CN ĐINH THỊ MAI HẠNH Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 22 Tháng Sáu, 2023, 07:03:42 am LỜI GIỚI THIỆU Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên sinh ngày 2 tháng 9 năm 1929 tại thị trấn Quế, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Đồng chí là cán bộ tiền khởi nghĩa. Năm 1945, khi mới 16 tuổi, đồng chí đã tham gia Cách mạng Tháng Tám, giành chính quyền ở huyện Kim Bảng. Là một đảng viên cộng sản, một chiến sĩ cách mạng, đồng chí Đinh Mộng Tiên đã cống hiến gần trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Trong quá trình hoạt động cách mạng, đồng chí đã từng bị thực dân Pháp bắt, giam cầm trong tù ngục, khổ sai, nhưng vẫn nhất mực trung kiên, mưu trí dũng cảm vượt qua mọi thử thách, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trong những ngày Nam tiến, chiến đấu chống quân Nhật, Pháp tại Ninh Thuận. Sau thử thách đầu tiên trên chặng đường hoạt động cách mạng, đồng chí trở về quê nhà, được giao nhiệm vụ làm cán bộ của Huyện đội Kim Bảng, phụ trách dân quân năm xã. Lực lượng dân quân tự vệ tại các địa bàn đồng chí phụ trách đều được củng cố vững chắc và có bước phát triển nhanh. Năm 1947, đồng chí được Huyện ủy chỉ định làm Bí thư Chi bộ Huyện đội, sau đó nhận nhiệm vụ làm Chính trị viên Huyện đội; được giao nhiệm vụ xây dựng làng kháng chiến kiểu mẫu nhằm đối phó với các cuộc càn quét bình định của thực dân Pháp, đồng thời tiến hành chiến tranh du kích chống Pháp. Là một thanh niên trẻ tuổi, nhiệt huyết, đồng chí Đinh Mộng Tiên được Huyện ủy đề xuất với Tỉnh đội Hà Nam tăng cường cho công tác dân vận của huyện, đặc biệt là công tác vận động thanh thiếu niên tham gia kháng chiến. Theo đó, năm 1948, đồng chí được chỉ định làm Bí thư Đảng Đoàn thanh niên huyện Kim Bảng. Dưới sự tổ chức và chỉ đạo của đồng chí, phong trào quần chúng ở huyện Kim Bảng phát triển sôi nổi với nhiều hoạt động thiết thực. Trong đợt đầu tiên vận động thanh niên tòng quân đõ có hàng nghìn người tự nguyện ghi tên, cam kết tham gia. Thanh niên đăng ký tòng quân đều trên cơ sở tự giác, động cơ đúng đắn, xuất phát từ tinh thần yêu nước, thương dân. Việc bảo đảm về số lượng và chất lượng của từng đợt tòng quân thường vượt chỉ tiêu. Trong số đó có nhiều người sau này trở thành cán bộ trung, cao cấp của Quân đội. Tháng 9 năm 1949, tại Đại hội Đảng bộ huyện Kim Bảng, đông chỉ được bầu vào Ban chấp hành Đảng bộ huyện Kim Bảng khi mới tròn 20 tuổi. Đầu năm 1950, để chuẩn bị cho giai đoạn tổng phản công, Trung ương Đảng chủ trương bổ sung cho Quân đội một số cán bộ chính trị lấy từ những cán bộ đang làm công tác đảng là huyện ủy viên hoặc có chức vụ tương đương, tiếp tục bồi dưỡng làm chính trị viên đại đội trở lên. Đồng chí được điều động trở lại Quân đội và được cử đi học Lớp Chính trị viên Lê Hồng Phong tại Chiến khu Việt Bắc. Sau đó, lớp học được di chuyển sang Trung Quốc và đào tạo sơ, trung cấp cả về quân sự và chính trị. Kết thúc khoá học, đồng chí Đinh Mộng Tiên được bổ sung về Đại đoàn 308 (Quân Tiên phong) - Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cương vị là Đặc phái viên của Trung đoàn 36 (Trung đoàn Bắc Bắc) rồi Chính trị viên phó Tiểu đoàn 80 Trung đoàn 36, đồng chí đã trực tiếp tham gia Chiến dịch Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Chiến dịch Tây Bắc (10 - 12.1952),... Tại chiến trường ác liệt ở Thượng Lào trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, đồng chí đã để lại một phần xương máu của mình. Trong đoàn quân chiến thắng sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí đã cùng với Đại đoàn 308 trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Sáng ngày 10 tháng 10 năm 1954, các đơn vị của Đại đoàn 308 đã tiến vào nội thành trong sự đón tiếp tưng bừng của nhân dân Thủ đô với cờ hoa rợp trời, những nụ cười và cả những giọt nước mắt. Hoàn thành nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô, đồng chí tiếp tục đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị tại Phòng Tham mưu, Phòng Chính trị và các đơn vị trực thuộc Sư đoàn bộ 308, rồi sau đó là Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn. Năm 1961, đồng chí được cử đi học tại Trường Đảng cao cấp trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Sau ba năm học tập, với tấm bằng tốt nghiệp loại ưu, đồng chí được phân công về Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương, là chuyên viên nghiên cứu thuộc Vụ Liên Xô và Đông Âu. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiếu tranh ra miền Bắc, một số cán bộ được điều động trở lợi Quân đội, trong đó có đồng chí Đinh Mộng Tiên. Được phong quân hàm Thiếu tá, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Chính ủy Trung đoàn 88, xây dựng Trung đoàn mới (Trung đoàn 88B thay Trung đoàn 88A đã vào Nam). Sau ba năm xây dựng, Trung đoàn 88 hành quân vào Nam, tham gia Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh năm 1968 và lập được những chiến công xuất sắc. Năm 1970, đồng chí Đinh Mộng Tiên được Tổng cục Chính trị rút về Cục Tuyên huấn và được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Giảo dục chính trị cản bộ và Nhà trường. Đến đầu năm 1971, đồng chí được phân công vào Quảng Trị tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, phụ trách công tác tuyên huấn của Mặt trận. Trở về sau Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, đồng chí tiếp tục thực hiện nhiệm vụ tại Cục Tuyên huấn và có nhiều đóng góp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cản bộ, chiến sĩ, chuẩn bị cho cuộc Tông tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí được cử vào miền Nam, đi khảo sát tình hình thực tế để phục vụ cho những chương trình công tác lâu dài và là thường trực của Cục Tuyên huấn ở miền Nam. Năm 1977, đồng chí được cử đi học bổ túc một năm tại Học viện Cao cấp quân sự (nay là Học viện Quốc phòng). Ra trường, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Cục phó Cục Tuyên huấn. Tháng 2 năm 1979, đồng chí Đinh Mộng Tiên được cử sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế, được phân công phụ trách tiền phương của Cục Tuyên huấn ở chiến trường nước bạn. Trên cương vị là Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Quân tình nguyên Việt Nam tại Campuchia (Bộ Tư lệnh 719), Phó Trưởng đoàn Chuyên gia quân sự 478, từ năm 1981 đến tháng 12 năm 1987, đồng chí đã có nhiều đóng góp giúp bạn xây dựng quân đội và hồi sinh đất nước Campuchia sau thảm họa diệt chủng Pôn Pốt. Gần suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, dù ở cương vị nào, hoàn cảnh nào, đồng chí cũng luôn nhiệt huyết, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội giao phó. Với những cống hiến quan trọng cho sự nghiệp cách mạng, đồng chí Đinh Mộng Tiên đã được Đảng, Nhà nước, Quân đội và nước ngoài tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất do Nhà nước Campuchia trao tặng; Huy chương Quân kỳ quyết thắng, ba Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều phần thưởng cao quý khác. Đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1985. Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên đã đi xa nhưng những gì lắng đọng nhất trong cuộc đời và sự nghiệp đã được đồng chí ghi lại. Những trang viết của đồng chí phản ánh một tinh thần tận tụy, lạc quan, nhiệt huyết cách mạng, hết lòng hết sức trong công tác, đạo đức trong sáng, đức tính liêm khiết, tác phong bình dị, gần gũi quần chúng. Đó cũng chính là tình cảm mến thương của đồng chí còn đọng lại trong ký ức của đồng đội, những người thân và các thể hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội. Nhằm để con cháu hiểu được cuộc đời hoạt động, cổng hiến của cha, ông mình, tự hào với những công lao đó, đồng thời ra sức noi theo, không ngừng học tập, công tác tiến bộ, gia đình cộng tác với Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản cuốn sách hồi ký "Những năm tháng không quên" của Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên. Cuốn hồi ký do tác giả viết lại bằng trí nhớ, do đó, cả về chủ quan, khách quan, những yếu tố về thời gian, không gian, con người, sự kiện có thể không được đầy đủ, chuẩn xác... Đó cũng lờ điều dễ hiểu bởi đồng chí đã trải qua nhiều cương vị công tác trong điều kiện chiến tranh ác liệt liên miên..., rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc gần xa. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc! NHÓM BIÊN TẬP, HIỆU ĐÍNH Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 22 Tháng Sáu, 2023, 07:05:16 am Chương một: GIA ĐÌNH VÀ THỜI NIÊN THIẾU Khi tôi được sinh ra ngày 2 tháng 9 năm 1929 (ngày 29 tháng 7 năm Kỷ Tỵ), cả nhà đều rất vui mừng. Lần này thì bố tôi không thả gà ra nữa. Trước tôi, bố mẹ đã có bốn cô con gái và mỗi lần gà được nhốt lại để ăn mừng đều được lặng lẽ thả ra. Người phấn khởi, yên tâm nhất là mẹ tôi, chắc mẩm sẽ không phải nghe những lời bóng gió, gợi ý của bố là sẽ lấy vợ hai, hy vọng có con trai để nối dõi tông đường. Vui vẻ được vài ngày thì nỗi lo ập đến. Một cái bướu mọc lên ở giữa đỉnh đầu tôi mỗi ngày một to lên. Khoảng hơn nửa tháng thì cái bướu đã to hơn quả trứng vịt. Tôi nhanh chóng được đưa đến nhà thương Phủ Lý (tỉnh lỵ Hà Nam) để chữa trị. May thay đấy chỉ là một cái bướu máu. Người ta tìm cách hút hết máu đi thì nó xẹp xuống. Mẹ tôi kể, nhà mất đứt một lứa lợn sữa gần chục con sắp được đem bán - một khoản tiền khá lớn của gia đình. Tôi là một đứa trẻ không được mạnh khỏe, hay ốm đau, quặt quẹo, tệ hại nhất là bệnh hen xuyễn lúc tôi lên năm, sáu tuổi. Tôi nhớ lại, những khi lên cơn hen thật vô cùng khổ sở, tưởng chừng như tắc thở. Nhìn những nét mặt lo lắng, xót thương của bố mẹ và các chị đêm hôm chăm sóc cho mình, cho đến bây giờ (khi tác giả viết hồi ký - BT) tôi vẫn thấy nao nao trong lòng về tình cảm ruột thịt ấy. Ở tuổi thiếu niên, tôi vẫn là đứa trẻ ốm yếu và còn gặp nhiều tai họa khác như bị chó đại cắn, rắn cắn, sốt rét... Nhưng với tình yêu thương và sự chăm sóc của gia đình, tôi đều vượt qua. Lúc còn bé, tất cả mọi người trong gia đình và họ hàng đều gọi tôi là "em", ít khi tôi nghe thấy gọi bằng "con" hay "cháu". Do đó, tôi cũng "hồn nhiên" xưng "em" với mọi người dù là chú, bác, cô, dì, ông, bà... Tình trạng này mãi đến khi 10, 11 tuổi tôi mới xưng hô được bình thường như những đứa trẻ khác. Những điều tôi kể trên và những hiểu biết của tôi về gia đình sau này đều do mẹ và các chị tôi kể lại hoặc những chuyện còn in đậm trong ký ức của tôi. Thặt ra, quê gốc của gia đình tôi là thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội ngày nay. Còn thị trấn Quế, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam chỉ là nơi cụ bốn đời tôi di cư đến để làm ăn tại đó. Lớn lên, tôi vẫn được nghe một số dân gốc ở đó coi gia đình tôi là dân ngụ cư. Nghe mà cảm thấy hơi tủi tủi. Tuy nhiên, gia đình tôi vẫn được nhiều người trong vùng quý trọng và có cảm tình. Trước nữa thì tôi không rõ nhưng đến thời ông bà nội tôi, nghe nói là người làm ăn thành đạt, có một cửa hiệu thuốc bắc và kinh doanh một số mặt hàng khác, mua thêm được ruộng đất, xây thêm được nhà cửa, tài sản ngày càng phát triển. Cùng với việc làm ăn đứng đắn, con cái (là chú, bác và bố tôi) được học hành tử tế, cả dòng họ đều có quan hệ tốt với địa phương, lúc đó có thể coi là một gia đình giàu có, nền nếp. Dù là dân ngụ cư nhưng từ các cụ đầu tiên tới các thế hệ kế tiếp, con trai, con gái đều lấy vợ, lấy chồng là người địa phương và phần lớn là những người xuất thân từ các dòng họ lớn, những gia đình ít nhiều có tiếng tăm và được coi là danh giá ở địa phương. Ông bà nội tôi có bốn người con, một con gái cả và ba con trai. Người con gái cả là cô (bác) ruột tôi được gả cho một người họ Hoàng, sau chạy được chân lý trưởng trong làng. Người con trai thứ nhất là Đinh Văn Phụng, bác ruột tôi, sau trở thành lương y thuốc bắc, lấy bác gái tôi là con một cụ đồ trong làng. Gia đình này từ cuối những năm 20, đầu những năm 30 của thế kỷ XX là cơ sở cách mạng, nơi thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên của huyện Kim Bảng vào ngày 6 tháng 3 năm 1930. Người con trai thứ hai là bố tôi - Đinh Văn Tiết, là người sáng dạ, được học hành nhiều nhất cả về Hán - Nôm, Quốc ngữ; tiếng Pháp có thể nói được trong giao dịch thông thường. Có một thời, ông làm Trưởng trạm bưu điện tại phú Lý Nhân (Hà Nam), sau về làm Chánh hội làng Phương Khê, là nơi ông sinh ra và ở đó đến lúc qua đời. Bố tôi sinh năm 1900. Ông ngoại tôi là con của một thương tá của tỉnh1 (Một chức quan về thương nghiệp). Con trai thứ ba của ông nội tôi là Đinh Văn Phái, được đi học ở một trường dạy nghề (tôi được nghe nói đó là trường Atelier.ecole) ở Hải Phòng. Nhưng trong lúc đang làm ăn phát đạt, thật không may là ông nội tôi mất sớm (từ trước lúc tôi được sinh ra khá lâu), để lại một người vợ trẻ, xinh đẹp cùng với một gia tài khá lớn. Và từ đó, việc làm ăn cũng như quan hệ trong gia đình bắt đầu sa sút. Số là, ở làng bên (làng Mã Não, xã Ngọc Sơn, Kim Bảng) có một người mà được dân trong vùng gọi là ông Nghị Mã. Trước khi trở thành nghị viên dân biểu Bắc Kỳ, ông là một điền chủ giàu có và cũng khá nổi tiếng. Trước đây, ông bà nội tôi có ý định hỏi cho chú tôi (Đinh Văn Phái) một cô con gái của gia đình ông ta và đã được gia đình đó chấp nhận. Nhưng rồi cô ấy bị bệnh mất trước khi cưới. Sau khi ông nội tôi mất, gia đình tôi vẫn có quan hệ đi lại với gia đình ông Nghị Mã. Ông này say mê nhan sắc và có lẽ là cả gia sản của bà tôi nữa nên tìm mọi cách chinh phục bà. Từ sự cô đơn của một phụ nữ trẻ, xinh đẹp, góa bụa, sau khi mãn tang chồng, trong thâm tâm bà cũng có cảm tình với ông Nghị này. Mối quan hệ ban đầu còn lén lút, dần dần cũng lộ ra. Điều này tác động rất lớn đến tâm tư, tình cảm của mọi người, cả con trai, con gái, dâu, rể của bà nội tôi. Mọi người hoặc công khai, hoặc ngấm ngầm phản đối quyết liệt. Người phản đối công khai, mạnh mẽ nhất là bác dâu tôi (Hoàng Thị Ngang). Việc này gây nên một khủng hoảng trầm trọng trong nội bộ gia đình vì quan niệm về đạo đức phong kiên còn rất nặng nề thời đó; đồng thời cũng gây nên một xáo trộn lớn về mọi mặt theo chiều hướng đi xuống của gia đình, thậm chí cả dòng họ Đinh ở trong làng, và một loạt sự kiện nảy sinh, có thể gọi là bi kịch, cũng bắt đầu từ đó. Như trên tôi đã nói, sinh thời ông nội tôi rất quan tâm tới sự học hành của các con trai. Trong ba người con đó, ông nội tôi kỳ vọng ờ người con thông minh nhất là bố tôi nên cho học nhiều hơn. Bố tôi viết chữ Nho và chữ Quốc ngữ rất đẹp, rõ ràng nhưng bay bướm, về chữ Nho, có người đã nhờ ông viết chữ mẫu để khắc làm câu đối bằng gỗ quý. Còn chữ Quốc ngữ, tôi rất thích và cố học để viết được như ông, nhưng chưa bao giờ đạt được như thế. Ông thi đỗ bằng "Tuyển sinh", đó là một điều kiện rất quan trọng để chính quyền thực dân phong kiến tuyển dụng viên chức. Chính nhờ tấm bằng đó mà ông được bổ nhiệm làm Trưởng trạm bưu điện ở phủ Lý Nhân. Nhưng được ít lâu sau, vì lý do gia đình, trong đó có lý do về quan hệ của mẹ với ông Nghị Mã, bố tôi xin thôi việc và trở về nhà. Ông tiếp tục được bổ nhiệm làm Chánh hội làng Phương Khê, một hương chức quan trọng có tầm ảnh hưởng lớn ở làng quê. Ông bị sốc và buồn phiền về mối quan hệ mà xã hội lúc đó coi là không hợp đạo lý ấy của bà tôi. Và để khuây khỏa nỗi buồn, ông tìm đến thuốc phiện, sau thành nghiện. Tuy nhiên, với trình độ học vấn hiếm hoi ở thôn quê thời đó, ông được coi như một người trí thức, ông thường giao du với những người có học, những chức sắc có tư tưởng tiến bộ hoặc yêu nước trong vùng. Ông không chơi thân với những bọn trọc phú, những hương chức hống hách với dân hoặc quá thủ cựu. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 22 Tháng Sáu, 2023, 07:05:54 am Vào khoảng những năm đầu của thập niên 30 thế kỷ XX, trong số những người bạn thân của ông có một người bạn rất thân là nhà giáo trẻ Nguyễn Văn Đạt, dạy học tại Trường Kiêm bị Kim Bảng, là trường tiểu học duy nhất của huyện lúc đó. Thầy Đạt là hội viên hoạt động bí mật của Thanh niên cách mạng đồng chí Hội. Sau đó, thầy là người lập ra chi bộ cộng sản đầu tiên của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chi bộ được thành lập ngày 6 tháng 3 năm 1930 tại nhà bác ruột tôi là ông Đinh Văn Phụng, nơi thầy và gia đình ở trọ. Đây là một ngôi nhà ngói năm gian toàn bằng gỗ lim, rộng rãi và rất đẹp. Ở trong có bàn thờ, hoành phi, câu đối sơn son, thếp vàng mà ông bà nội tôi chia cho con trai cả, được coi như nhà thờ. Nhà tôi ở ngay bên cạnh, chung tường với nhà bác tôi, là một ngôi nhà năm gian cũng rộng rãi bằng gỗ xoan, cùng một hướng và thông sang nhà bác tôi bằng một cửa ở hiên của hai nhà; cho nên cũng có thể coi như một nhà. Sở dĩ tôi nói kỹ như vạy vì đó là một địa điểm rất thuận lợi cho các cuộc họp bí mật, để thoát hiểm khi bị địch phát hiện. Địa điểm này chỉ cách huyện đường 100 mét theo đường chim bay, còn đi đường chính chỉ khoảng hơn 200 mét. Thầy Đạt trong thời gian dạy học ở đó đã tổ chức được hai chi bộ, một ở nam và một ở bắc huyện. Hai chi bộ này là hạt nhân lãnh đạo, là nòng cốt cho phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Kim Bảng. Bọn cai tri nghi ngờ những hoạt động của thầy Đạt nhưng vì thầy hoạt động rất khéo và được quần chúng bảo vệ tốt nên chúng không thể có bằng chứng để bắt thầy. Tuy nhiên, chúng cũng tìm cách trục xuất thầy ra khỏi huyện Kim Bảng bằng cách điều thầy lên miền thượng du là huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ vào khoảng năm 1933. Thầy thường sang nhà tôi chơi, dạỵ tôi hát theo những bài hát "Hành vân" hay "Bình bán"... phổ biến thời đó và tôi cũng ngọng nghịu hát theo thầy. Lúc thầy rời khỏi Kim Bảng, trong ký ức trẻ thơ, tôi luôn nhớ tới một bác rất hiền mà tôi yêu mến. Khoảng đầu năm 1947, sau khi thầy tham gia khởi nghĩa ở huyện Hạ Hòa và làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính huyện, một lần thầy về thăm Kim Bảng. Đến nhà tôi, thầy nói với bố tôi là có ý xin chuyển về công tác ở Hà Nam. Nhưng ý định đó không thành, thầy lại về Phú Thọ tiếp tục công tác. Sau mười bốn, mười lăm năm xa cách nhưng khi nhìn thấy thầy, tôi vẫn cảm thấy gần gũi, thân thiết với thầy như hồi còn bé, và thầy đối với tôi cũng vẫn là tình cảm đó. Bố tôi không phải là đảng viên nhưng tình bạn giữa hai người rất thân thiết cho đến cuối đời. Rõ ràng là bố tôi cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc về tư tưởng chính trị của người cộng sản đó và cũng vì thể ông vẫn có quan hệ rất tốt với những người cộng sản ờ trong chi bộ đầu tiên do thầy Đạt làm Bí thư. Một trong những người đó là ông Bùi Khiết, Chánh hội ở thôn Khả Phong.
Ông Khiết là bạn thân của bố tôi, cũng là một người cộng sản hoạt động rất tích cực, đặc biệt là trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936 - 1939). Đó là thời kỳ Mặt trận bình dân ở Pháp nắm quyền, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lợi dụng thuận lợi này để có những hoạt động công khai, hợp pháp, nhưng đồng thời cũng không coi nhẹ đấu tranh nửa hợp pháp và bất hợp pháp. Tổ chức đảng ở Kim Bảng cũng lãnh đạo quần chúng có nhiều hình thức đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp rất phong phú như: Hội Ái hữu, Hội Tương tế, Hội Bát âm, Hội Múa sư tử, Hội Đá bóng, Hội Đọc sách, Hội Truyền bá Quốc ngữ, tổ chức các giáp mới nhằm xóa bỏ những hủ tục nặng nề trong ma chay, cưới treo, tế lễ... Ngoài ra, những người cộng sản còn lãnh đạo quần chúng tiến hành nhiều cuộc đấu tranh mạnh mẽ, trực diện chống lại bọn cường hào ác bá, bọn quan lại phong kiến. Thời kỳ này, tôi đã tám, chín tuổi, thấy bố tôi mua nhiều sách báo của cách mạng hơn, khách khứa qua lại nhiều hơn. Một buổi tối, tôi thấy ông Chánh Khiết và một số người khác tới nhà, đều là những chức sắc tiến bộ, có cảm tình với cách mạng, bàn bạc với bố tôi về việc kiện Nguyễn Ứớc Lễ, Tri huyện Kim Bảng khét tiếng cường bạo, đã lợi dụng quyền lực để đục khoét, vơ vét của cải của dân, dung túng cho bọn cường hào tham nhũng. Tôi tò mò, lảng vảng ở bên cạnh, thấy các ông truyền tay nhau một lá đơn bằng chữ Pháp. Tôi chỉ ghé mắt đọc được một dòng đầu: "A monsieur le Résident supérieur du Tonkin"... ("Kính gửi quan thống sứ Bẳc Kỳ"...). Sau đó, tôi cũng nghe lỏm và được biết tên tri huyện này đã phải đổi đi nơi khác. Tôi còn được biết thêm, bố tôi và ông Trưởng bạ Tham, là chú họ tôi (tên hoạt động sau này là Lê Minh Đường, một đồng chí lão thành cách mạng), đứng ra lập một giáp mới gọi là giáp Tùng Thiện, xóa bỏ lệ nuôi lợn thờ để thi giữa bốn giáp trong làng, cái lệ làm cho nhiều gia đình khốn khổ, khánh kiệt. Anh rể lấy chị cả tôi có gia cảnh đặc biệt. Vì "nghĩa vụ" phải nuôi lợn thờ để thi với các giáp khác mà kinh tế gia đình kiệt quệ. Anh trốn nhà đi làm phu đồn điền cao su ở Nam Kỳ, sau gia đình phải tìm cách chuộc lại. Còn chị tôi cũng vì việc đó mà uống thuốc phiện, dấm thanh tự vẫn, may mà phát hiện sớm, cứu sống được. Thực ra việc nuôi lợn thi vốn là một phong tục tốt, đã có từ lâu đời ở làng tôi là do tự nguyện để khuyến khích chăn nuôi. Bọn cường hào đã làm nó biến tướng đi, bằng cách bổ đầu cho những thanh niên của từng giáp lần lượt mỗi năm hai lần vào rằm tháng 8 và 25 tháng Chạp âm lịch phải nuôi một con lợn thật to, thật béo đem thi giữa các giáp và làm lễ vật cúng Thành hoàng làng; nhưng thực chất là để chè chén và chia phần nhau theo thứ bậc. Giáp Tùng Thiện do bố tôi và ông Trưởng bạ Tham lập ra quyết định không nuôi lợn thi nữa nên đã thu hút được nhiều gia đình tham gia. Việc này không làm vừa lòng thế lực thủ cựu ở trong làng, họ tìm mọi cách bài bác, nhưng lại được những gia đình nghèo rất hoan nghênh. Trong thời gian này (1936 - 1939), Kim Bảng là một huyện có phong trào cách mạng vào loại khá của tỉnh Hà Nam. Trong môi trường ấy, ở tuổi lên chín, mười, qua quan hệ bạn bè của bô tôi và ít nhiều được đọc báo chí bố tôi mua, trong ý thức non nớt của một đứa trẻ, tôi lờ mờ nhận thấy có nhiều điều mới lạ, kích thích ngày càng mạnh hơn sự tò mò của tôi. Từ đó, tôi bắt đầu thích đọc sách báo và thói quen đó vẫn còn cho đến cuối đời. Thế rồi, bỗng một hôm, vào khoảng cuối năm 1939, tôi thấy nét mặt bố tôi có vẻ âu lo, đem tất cả báo chí ra đốt. Ở trương thấy các anh lớn tuổi học lớp nhất thì thầm với nhau về "chính trị phạm", ở sân huyện đường sát cạnh trường tôi có những người bị trói đưa đến, cùng với xe của mật thám đi lại liên tục. Mãi sau này tôi mới biết, lúc đó, chính quyền của phong trào Bình dân Pháp bị đổ, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Thực dân Pháp bắt đầu khủng bố gắt gao những người hoạt động cách mạng. Báo chí cách mạng bị đình bản, cấm lưu hành. Đảng Cộng sản và các tổ chức yêu nước ở trong nước cũng như ở địa phương tôi phải rút vào hoạt động bí mật. Một số cán bộ cách mạng ở trong huyện bị bắt, một số nằm im. Phong trào cách mạng, yêu nước của quần chúng tạm thời lắng xuống. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 22 Tháng Sáu, 2023, 07:06:57 am Mặc dù bị địch ráo riết khủng bố nhưng nhiều cán bộ vẫn được quần chúng bảo vệ và có những hoạt động thích hợp để giữ vững phong trào.
Khi Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết dân tộc đánh đuổi Nhật - Pháp thì phong trào yêu nước ở Kim Bảng dần dần phục hồi và ngày càng phát triển. Bố tôi và gia đình rất tích cực ủng hộ các cán bộ của Mặt trận Việt Minh. Theo đề nghị của cán bộ Việt Minh, sau đảo chính Nhật - Pháp ít lâu, gia đình tôi đã nuôi mội võ sư trẻ là hội viên cứu quốc từ Ninh Bình tới để dạy võ cho các hội viên cứu quốc và thanh niên trong làng, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Bố tôi không bao giờ ngăn cản các hoạt động của tôi dù nguy hiểm. Nghi ngờ hoạt động của ông nên chính quyền thực dân phong kiến đã kiếm cớ để cách chức chánh hội của ông. Mặc dù còn nhỏ tuổi nhưng những hoạt động của bố cũng có ảnh hưởng tích cực đối với tôi. Tôi rất tôn trọng ông và tự hào về ông. Mặt khác, tôi cũng buồn về sự nghiện ngập của ông và mặc cảm, xấu hổ trước bạn bè và thầy giáo của mình. Nhưng tôi vẫn thấy một điểm khác lạ ở ông là ông vẫn đàng hoàng, không bê tha như những người nghiện ngập khác. Bạn bè của ông hầu hết là những người rất chững chạc, tử tế, có danh vọng, vẫn tôn trọng, tin cậy và có quan hệ tốt đối với ông. Ngay cả dân trong làng và các khu vực xung quanh cũng có nhiều người quý trọng ông. Tôi cho rằng những người bạn tốt thấy ở ông là người có học thức, có chí hướng, có tư cách và ở mức độ nhất định vẫn chăm lo đời sống cho gia đình và làm kinh tế như buôn than, bán củi... Tôi không thấy ông hống hách với bất cứ ai trong làng, kể cả đối với những người cùng đinh nghèo khó. Trong làng tôi thời ấy không hiếm những người như Chí Phèo, Thị Nở trong tác phẩm của Nam Cao, nhưng ông không bao giờ tỏ ý khinh miệt họ. Có một người ăn mày tàn tật đã lớn tuổi thường đến nhà tôi xin cơm, nhưng tôi và các chị tôi theo gương ông bao giờ cũng gọi là chú: "Chú Tràng ạ, đợi một chút để tôi lấy cho", "Chú Tràng ạ, hôm nay nhà tôi hết cơm rồi"... Cô Chịt dở người, làm thuê làm mướn những công việc vặt để kiếm ăn, các chị tôi và tôi bao giờ cũng gọi là "cô", chứ không bao giờ có thái độ xấc xược, khinh rẻ. Song bố tôi được mọi người tôn trọng, một phần cũng là nhờ ở mẹ tôi, một người vợ đảm đang, tế nhị hết mực. Bà chăm lo, tiếp đãi rất chu đáo bạn bè của chồng, kể cả những lúc đời sống của gia đình khó khăn nhất. Bà chăm lo không để cho chồng phải sống nhếch nhác. Bà ăn nói từ tốn, không bao giờ để chồng phải phiền lòng hay xấu hổ trước mặt bạn bè. Mẹ tôi là Bùi Thị Quy (1900 - 1966), là con gái cả của một gia đình hương chức Nho học nền nếp và có tiếng ở làng Đanh Xá bên cạnh, cách nhà bố tôi khoảng hơn một cây số. Lúc trẻ bà là một cô gái xinh đẹp, hằng ngày đi chợ mua bán phải qua nhà bố tôi. Những lúc vui vẻ, bà cũng hay tâm sự với các con về cuộc hôn nhân của bà. Bà kể rằng, khi đến địa phận làng tôi, bà rất sợ một số thanh niên trạc tuổi bà trêu trọc nhưng trong đó lại có một anh chàng trông có vẻ nho nhã, đẹp trai, đứng đắn không như những người khác. Cuộc hôn nhân nhanh chóng được thực hiện vì cả hai người đều ưng nhau và hai gia đình cũng môn đăng hộ đối. Là con nhà gia giáo, tính tình lại dịu dàng nên bà được mẹ chồng quý mến. Bố mẹ tôi sinh được bảy người con. Bốn chị gái tôi đều cách nhau hai tuổi. Tôi là thứ năm và là con trai duy nhất, quê tôi quen gọi là "con một", cách chị thứ tư của tôi tới năm tuổi. Đó là lý do tại sao bố tôi có ý định lấy vợ hai, hy vọng có con trai để nối dõi. Sau tôi còn có hai em gái nữa, nhưng người em thứ bảy sinh ra được mấy tháng thì bị "sài đẹn" qua đời. "Sài đẹn" là tên gọi chung những bệnh của trẻ con, đặc biệt là của trẻ sơ sinh mà mọi người không rõ cụ thể là bệnh gì do hiểu biết về y học hạn chế. Mẹ tôi rất đau buồn, khóc thương em tôi. Được vài ngày, vì tốt sữa nên vú mẹ tôi bị căng rất đau tức. Mẹ tôi bảo em gái tôi lúc đó đã ba tuổi, nhưng nó không chịu bú. Mẹ tôi bảo tôi, đã năm tuổi, cũng không muốn bú nhưng sợ mẹ khóc đành phải bú để mẹ khỏi buồn. Mẹ tôi rất coi trọng dạy dỗ các chị tôi về công dung ngôn hạnh. Con gái quê tôi thời đó, cũng như các vùng quê khác, thường bị gả chồng sớm, cha mẹ luôn sợ con bị ế chồng. Bố mẹ tôi thường nói vui với bạn bè thân quen và người trong họ là nuôi con gái lớn trong nhà như "giữ súng lục đã lên đạn", cướp cò lúc nào khó lường. Có một điều, bố mẹ tôi gả chồng cho con gái không quan tâm lắm đến việc gia đình con rể có giàu sang hay không mà chủ yếu là gia đình họ có tốt, có lương thiện hay không. Do vậy, có những gia đình giàu có nhưng ăn ở, ứng xử không tốt, kênh kiệu đánh tiếng hỏi, thường bị khéo léo từ chối. Đặc biệt là chị thứ hai của tôi, được nhiều người cho là được cả người lẫn nết, có đến chín, mười đám hỏi đều bị từ chối. Vì vậy, có mấy chị tôi sau này lấy phải chồng gia đình quá nghèo khổ, nhất là chị cả và chị thứ ba. Trong tất cả chị em chúng tôi, người được mẹ tôi hay chuyện trò, tâm sự lại là tôi, đứa con trai bé bỏng hay đau ốm của bà, dù còn rất nhỏ. Tôi là đối tượng được bà chia sẻ nhiều nhất những tâm tư tình cảm của mình; hay đó là chủ tâm, là cách giáo dục của bà với con trai mình? Nỗi khổ tâm lớn nhất, đau buồn nhất của bà là bố tôi nghiện thuốc phiện. Bà nói với tôi rằng nếu không có chuyện đó thì gia đình sẽ sung túc, được sống đầy đủ hơn rất nhiều. Có lần chỉ có riêng tôi với bà, với vẻ mặt đượm buồn, bà hỏi tôi: - Lớn lên em có như bố không? Lúc đó tôi đã tám, chín tuổi, tôi trả lời mẹ thật dứt khoát: - Em sẽ không bao giờ như thế cả! - Thế thì em nói với bố bỏ hút thuốc phiện đi. Tôi đã làm theo lời mẹ. Một hôm chỉ có riêng tôi với bố, tôi lấy hết can đảm để nói với ông: - Thầy ơi, thầy bỏ hút thuốc phiện đi. Tôi hồi hộp đợi câu trả lời của ông hoặc sẽ bị ông mắng át đi. Nhưng ông im lặng, không nói gì, nét mặt đăm chiêu. Thế rồi, ông bỏ thật, nhưng cuối cùng ông không vượt qua nổi những cơn vật vã do thiếu thuốc. Mẹ tôi thấy vậy rất thương chồng. Và cuối cùng, ông hút lại. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 22 Tháng Sáu, 2023, 07:07:54 am Mẹ tôi cặm cụi bươn chải buôn bán, lúc buôn thứ này, lúc thứ khác, huy động các con gái xay lúa, giã gạo làm hàng xáo để lấy tiền hỗ trợ thêm cho chồng mua thuốc phiện. Cuối cùng, tôi thấy bà kiếm một gánh hàng vải mặc, đi các chợ xa, gần bán kiếm lời. Có hôm đi chợ xa, vì mải bán hàng về muộn, đêm tối phải qua những quãng đồng vắng, qua các bãi tha ma, bà quá sợ hãi chừng muốn ngất xiu, phải lấy nước tiểu tự xoa vào mặt để tỉnh táo đi tiếp về nhà.
Tôi cảm nhận thấy tình thương yêu sâu sắc trong sự chăm sóc sức khỏe và học hành cho tôi của mẹ rõ hơn bố. Tôi thường học bài về sáng cho yên tĩnh, dễ thuộc, dễ nhớ. Những khi bận học thi, tôi thường nhờ mẹ gọi dậy sớm từ ba, bốn giờ sáng và bà chuẩn bị đèn đóm cho tôi rất chu đảo. Mặc dù nhà ở rất gần chợ, có nhiều hàng quà, nhưng bao giờ mẹ tôi cũng chuẩn bị sẵn những món quà rất độc đáo cho các con. Ví dụ như ngô trộn mật, ô mai mơ ngâm mật... đựng trong các hũ sành và chia cho các con rất đúng lúc. Tuy chăm sóc dạy dỗ chu đáo nhưng mẹ tôi đối với tôi rất nghiêm khắc, nghiêm khắc một cách dịu dàng, nhẹ nhàng, không bao giờ quát tháo, nói năng thô lô với con. Khi tôi có lỗi lớn cần răn đe, mẹ tôi bao giờ cũng bắt con năm sấp trên phản, tay cầm roi, nhẹ nhàng "hỏi tội" và yêu cầu tự nhận hình phạt mấy roi và bắt hứa sửa chữa. Ấy thế mà tôi lại thấy thấm thìa và thấy sợ mẹ hơn cả những trận đòn đau của bố khi bố không bằng lòng về mình. Với các chị gái, tôi có rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Thời ấy ở quê tôi rất ít nhà cho con gái đi học, kể cả những nhà khá giả. Nhưng các chị gái cũng rất muốn học để biết đọc, biết viết. Các chị nhờ tôi dạy chữ vào buổi tối, khi công việc ban ngày và việc cơm nước, dọn dẹp nhà cửa đã xong. Tôi ngại không muốn làm nhưng các chị ra sức dỗ dành tôi giúp bằng cách mua quà cho tôi, một đồng kẽm (gọi là đồng Bảo Đại) mua được năm, sáu cái kẹo bột hoặc kẹo vững, hoặc cho tôi củ dong, củ khoai. "Thầy giáo" chỉ đang học lớp dự bị (khoảng lớp 2 bây giờ), vừa nhai kẹo, vừa ngủ gật, bị "học trò" đánh thức để dạy đánh vần cho các chị. Thế mà rồi có chị cũng đọc, viết được; trong đó có chị thứ tư rất thông minh, về sau đọc được cả những truyện thơ "Tống Trân - Cúc Hoa", "Nhị độ mai", "Lục Vân Tiên", "Truyện Kiều"... Đến nay, khi tôi viết hồi ký này (2014), chị thứ tư đã 90 tuổi vẫn còn rất minh mẫn, nói năng đâu ra đấy, hứng lên là "xuất khẩu thành văn vần". Các chị tôi rất yêu quý và chăm sóc em. Tôi chưa bao giờ bị các chị đánh đòn hay bắt nạt cả. Thời đó không chỉ người nghèo mà kể cả các gia đình khá giả đồ đạc, quần áo... của từng người có rất ít. Tôi cũng chỉ có mấy cái áo cánh, vài cái quần cộc bằng vải thô. Mùa đông thì có thêm một cái áo trấn thủ nhà may lấy bằng vải đen, vải nâu; con nhà giàu cũng chỉ có áo dệt sợi màu, quần áo chẳng đủ ấm. Có lần, trời rất rét, lúc xếp hàng vào lớp học buổi sáng, tôi rét run cầm cập. Thầy giáo dạy tôi ở lớp trung đẳng năm thứ nhất bắt tôi chạy về nhà mặc áo ấm. Tôi chỉ mặc thêm được một chiếc áo cánh nữa thôi chứ không có áo rét. Mãi đến lớp trung đẳng năm thứ hai (còn gọi là lớp nhì năm thứ hai), mẹ tôi mới mua được cho tôi chiếc áo ấm sợi bông màu xanh lá cây. Từ lớp một đến lớp nhất, tôi toàn đi chân đất, không có giày dép gì cả. Quần áo mới được bổ sung thường chỉ là một chiếc áo hoặc một chiếc quần vào dịp Tết Nguyên đán hoặc trước đám cưới chị, thế cũng là mừng lắm rồi. Trong hoàn cảnh như vậy nhưng các chị tôi vẫn cứ muốn làm dáng cho tôi, muốn em mình được ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ. Tôi luôn bị các chị lột quần áo để giặt giũ và tắm táp. Lúc còn bé, tôi rất sợ bị các chị làm như vậy vì khi tắm thường bị kỳ cọ đau nên giẫy giụa và đấm các chị thùm thụp. Nhưng các chị chỉ cười và dỗ dành chứ không đánh mắng bao giờ. Tuy có lúc đành hanh như vậy nhưng tôi vẫn được người lớn, nhất là các chị khen ngoan. Thấy các chị xay lúa, giã gạo, tôi cũng xin các chị được cùng làm. Chị nào xay lúa, tôi xin được đứng cùng một bên giằng cối để kéo cùng chị. Nhưng chỉ được vài chục vòng là bị đuổi ra liền: - Thôi thế là được rồi, em ra đi không vướng, chị khó làm lắm. Có lần, các chị đang giã gạo, tôi cũng xin vào giã cùng. Chị thứ ba vốn là người hay đùa nói: - Nhẹ như em thì giúp được gì, thôi lấy cái cối giã cua đội lên đầu cho nặng thêm thì mới được vào giã. Thế là tôi đi lấy ngay cái cối giã cua bằng sành nặng khoảng hơn hai cân chụp lên đầu. Nhưng vì cổ yếu, cối nặng nên đầu cứ lắc lư liên tục. Tất cả các chị lớn đều hoảng, quát bắt phải bỏ cối xuống ngay và mắng chị ba là đùa nhả em. Có những chuyện khó quên với các chị lôi. Một buổi tối mùa đông lạnh giá, trong căn bếp, mẹ tôi, các chị và tôi ngồi sưởi ấm quanh một chậu than hồng, mọi người nói chuyện với nhau rôm rả, không khí rất ấm cúng. Tôi cũng muốn góp chuyện: - Em có một chuyện sợ lắm, các chị ạ. - Ừ, em nói đi - các chị tôi khuyến khích. - Các chị phải cho em ngồi giữa em mới nói, không thì em sợ lắm. Các chị tôi ngồi giãn ra để tôi được ngồi vào giữa. Tôi nói thì thầm, giọng rất quan trọng: - Chiều nay, em thấy gần ngõ nhà ta nhiều xương người lắm. Thế là các chị tôi cười ầm lên, làm tôi cụt hứng. Chị hai tôi nói: - Đấy là xương ống lợn, xương bò ở chợ người ta đổ vào chỗ đó đấy em ạ, không phải là xương người đâu. Từ đó, tôi bị các chị chê là nhát. Các chị tôi cũng thích đi xem hát chèo, hát tuồng ở đình làng. Những ngày lễ Thành hoàng, lễ Phật, tết nhất, làng tôi thường đón những đoàn chèo, đoàn tuồng có tiếng ở địa phương về diễn như các gánh hát ở làng Và, làng Động. Những buổi như thế, các chị tôi thường xin phép bố mẹ cho tôi cùng đi. Tôi cũng rất thích nên hay đi sớm xí chỗ ngay bên cạnh chiếu chèo để được ngồi gần, không phải đứng. Đến muộn phải đứng, chen nhau với người lớn thì không thể xem được. Vùng quê tôi, thời đó cũng có nhiều hội hè của các làng xung quanh. Neu có đi xem, các chị cũng hay xin cho tôi được đi cùng. Tôi rất thích, vì ngoài việc xem hội, tôi thường được các chị cho ăn quà, nhất là về ban đêm. Vùng quê tôi có nhiều món quà ngon nổi tiếng như bánh cuốn chả, bún riêu cua, đậu phụ, bánh đa kê, nem rán, xôi lúa ngô... Tôi bị các chị chê là nhát, là sợ ma qua câu chuyện về xương người của tôi ở trên. Tuy nhiên, có một kỷ niệm về sự liều lĩnh và dại dột thuở nhỏ của tôi làm cả nhà tôi hoảng sợ. Nhất là các chị tôi, không những hoảng sợ mà còn bị bố mẹ quát mắng dữ dội. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 22 Tháng Sáu, 2023, 07:08:42 am Khoảng năm 1938, khi tôi mới chín tuổi, làng tôi mở hội chùa rất lớn. Chùa Phúc Nguyên ở làng tôi là một ngôi chùa cổ, tuy không lớn lắm nhưng có tiếng. Tôi không nhớ rõ là vì sao năm đó hội chùa của làng lại tổ chức lớn và dài ngày đèn thế. Dự hội chùa không chỉ có các phật từ và người làng mà còn rất nhiều người dân các làng khác đến lễ và tham gia nhiều hoạt động vui chơi cả ngày lẫn đêm. Ban đêm, có cả đèn điện ở nhiều địa điểm chạy bằng máy nổ. Các trò chơi có nhiều như: Thi đánh cờ, leo cột mỡ, bịt mắt đập nồi lấy thường, có cả rạp tổ tôm, điếm cho những chức sắc và người giàu có, có những tôi hát chèo, hát tuồng, hát trống quân... Nam thanh nữ tú các vùng xung quanh đến tham gia rất đông. Các chị tôi cũng lần lượt đi dự, nhưng phần nhiều vào ban đêm vì ban ngày còn phải làm lụng. Tất nhiên là tôi cũng được các chị cho đi cùng. Tôi nhớ, đó là dịp nghỉ lễ Phục sinh thì phải, nên học sinh các trường học được nghỉ tới ba, bốn ngày. Dự hội và xem các trò chỉ một, hai hôm là đã thấy chán. Vì thế, tôi và người bạn tên là Tuấn rủ nhau đi chơi. Tuấn là em họ tôi nhưng hơn tôi hai tuôi, học lớp trung đẳng năm thứ nhất, hơn tôi một lớp. Tuấn ở với bà ngoại ở gân nhà tôi. Bố mẹ Tuấn ở tận làng Phù Lưu Chanh, phía bắc huyện, cách quê tôi khoảng 12 kilômét. Vì được nghỉ lễ Phục sinh nên Tuấn rủ tôi về quê Phù Lưu Chanh thăm bố mẹ. Mọi người đang tập trung vào ngày hội, việc Tuân rủ tôi đi chơi lại rất bất ngờ, tôi ưng ngay và đi với Tuấn, quên khuấy việc xin phép bố mẹ và báo cho các chị. Tôi với Tuấn đi đường tắt. Trên cánh đồng trồng khoai lang gần quê Tuấn có rất nhiều sâu. Những con sâu to bằng ngón tay út xanh lè bò dày đặc khắp bờ ruộng đến mức không còn chỗ đặt chân nên tôi rất sợ muốn quay về. Nhưng chót nhỡ đi mất rồi, lại sắp tới nơi, không thể quay lại được nữa. Tuấn về đến nhà, có cả tôi đi theo nên cô họ tôi (mẹ Tuấn) rất mừng. Tôi sốt ruột, hôm sau muốn về nhà ngay nhưng cô tôi và Tuấn giữ lại một hôm, không cho về.
Thế là cả nhà nháo nhào lên khi không thấy tôi về nhà, rồi tổ chức đi tìm hai đêm hai ngày mà vẫn không thấy. Ở nhà ai cũng cho rằng tôi bị "mẹ mìn" rủ đi, hoặc bị bắt cóc rồi. Các chị tôi bị bố mẹ mắng một trận ra trò. Ngày hội mà cả gia đình, họ hàng lo lắng, buồn rầu. Đến ngày thứ ba, tôi và Tuấn mới được cô tôi cho về. Trong bụng nghĩ thế nào cũng bị một trận đòn đau đấy. Nhưng khi thấy tôi, mọi người mừng rỡ vô cùng. Bố tôi "quên" cả đánh đòn như mọi lần tôi có lỗi lầm. Còn mẹ tôi cũng không bắt tôi nằm sấp trên phản, cầm roi răn đe và bắt tôi hứa sửa lỗi như mọi lần nữa. Mọi người cũng quên luôn "tội" của Tuấn đã rủ rê tôi đi chơi mà không báo với ai (lớn lên, tôi và Tuấn đều là hội viên Việt Minh hoạt động bí mật và cùng nhau nhận một nhiệm vụ rất quan trọng trong cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền huyện Kim Bảng vào ngày 20 tháng 8 năm 1945). Cũng khoảng thời gian ở tuổi lên chín đó, tôi đã "làm kinh tế" theo ngôn ngữ thông dụng thời nay. Tết Nguyên đán năm đó, tôi được người lớn "phát vốn" (bây giờ gọi là lì xì) được một khoản tiền nhỏ, không biết dùng làm gì nên tôi có ý định nuôi gà. Mẹ tôi và các chị tôi có vẻ không tin tôi làm được, nhưng cũng vẫn khuyến khích, số tiền chỉ đủ mua một con gà mái nhỏ. Mẹ tôi cười nói vui: - Có một anh nuôi gà, rồi nuôi chó, nuôi lợn, cuối cùng nuôi được con bò, bán đi để có tiền lấy vợ, ừ nuôi gà đi để có tiền mà lấy vợ. Tôi nhở các chị tôi mua cho một con gà mái. Lúc đầu, tôi chăm chút cho nó ăn đều, nó lớn trông thấy và bắt đầu đẻ trứng. Tôi mừng rơn và khi được hơn một chục trứng, các chị tôi giúp tôi làm một cái ổ, lót rơm cho nó ấp trứng. Một thời gian sau, vì bận học thi sơ học yếu lược, các chị tôi cũng bận việc nên quên mất. Liền mấy hôm không thấy gà xuống ổ kiếm ăn, tôi chợt nhớ ra vội ra chuồng gà xem trứng đã nở chưa thì đã thấy gà... chết khô trên ổ, trứng thì ung thối hết. Việc "làm kinh tế", nuôi gà, tiến đến nuôi bò kiếm tiền như mẹ tôi nói vui là để lấy vợ bị thất bại hoàn toàn và chấm dứt hẳn việc "làm kinh tế" để kiếm tiền của tôi. Những kỷ niệm dạng như thế thuở còn nhỏ của tôi với bố mẹ và các chị nhiều lắm. Khi tôi đã là tá, là tướng rồi, mỗi lần gặp nhau là chị em lại nhắc tôi ôn lại một vài kỷ niệm vui với nhau. Bây giờ nhớ lại, lòng tôi lại bồi hồi nhớ tới cha mẹ và ba chị tôi đã mất, nhớ lại những giờ phút êm đềm hạnh phúc bên những người thân yêu nhất của mình. Tôi không hiểu vì sao bố tôi lại cho tôi đi học sớm như vậy. Lên năm tuổi, tôi đã được bố gửi vào lớp Đồng ấu của trường huvện. Thầy giáo là bạn của bố tôi, có lẽ vì thầy nể nên mới nhận. Vào lớp nghe thầy giảng, tôi chẳng hiểu mô tê gì cả nhưng cứ phải ngồi im, thầy cũng chẳng hỏi han gì. Một hôm mót tiểu quá nhưng sợ không dám nói với thầy, thế là tôi "tè" ra ướt hết cả quần. Sau vụ tè dầm "kinh hoàng" đó, tôi nghe lỏm được thầy giáo nói với bố tôi là "nó còn bé quá, chưa học được", thế là tôi được ở nhà. Một năm sau, bố tôi bàn với bác tôi mời một thầy giáo trẻ dạy tư đến nhà dạy vỡ lòng cho tôi và chị Chấn, con gái bác tôi cùng tuổi với tôi. Ngoài ra, còn có Tuyết, con gái một người bạn nữa của bố tôi là ông giảo Lanh đã nghỉ hưu và đang làm chủ một lò gốm nhỏ ở thôn bên. Lớp học chỉ có ba người. Theo bố mẹ, chúng tôi gọi thầy là cậu giáo Doãn. Cậu giáo rất hiền, mỗi ngày chỉ dạy chúng tôi khoảng hai giờ. Gần một năm thì chúng tôi đã đọc được chữ và nhớ được số. Đến năm bảy tuổi, tôi và chị Chấn được bố tôi xin vào học lớp Đồng ấu. Thầy giáo là người của dòng họ Bùi có tiếng ở thị xã Phủ Lý, có họ hàng với cụ Phó bảng Bùi Kỷ. Khi đến lớp, lúc nào thầy cũng áo the, khăn xếp chỉnh tề, thái độ vui vẻ và mô phạm. Tôi ngồi ở hàng ghế thứ hai. Trước mặt tôi, hàng ghế thứ nhất toàn là con gái, trong đó có bạn Xuân là con gái thầy giáo. Xuân rất hiền, ít nói, có đôi mắt to đen rất đẹp, nước da trắng nhưng xanh xao. Tuy chưa bao giờ nói chuyện hoặc chơi đùa với nhau nhưng tôi rất có cảm tình với bạn ấy. Tôi là học trò ngoan, học khá nên thầy Đàn cũng rất mến; tôi chưa bị phạt bao giờ. Đến gần hết năm học thì thấy Xuân không đi học nữa. Hỏi ra mới biết là bạn ấy bị bệnh tim, không đủ sức khỏe để học nữa. Hằng ngày, tôi và chị Chấn đi học và thường cùng nhau qua nhà thầy. Buổi sáng, thấy Xuân hay đứng trước hiên nhà nhìn chúng tôi, có vẻ buồn nhớ lớp, tự nhiên tôi thấy nao nao thương bạn. Thời gian qua đi, năm 1950, khi tôi đang học ở Lớp Chính trị viên Lê Hồng Phong do Tổng Quân ủy mở ở Việt Bắc, tôi gặp chị ruột Xuân, lấy chồng, công tác ở Thái Nguyên. Trong cuộc gặp bất ngờ ấy, câu đầu tiên chị nói với tôi là: "Xuân mất rồi anh Tiên ạ". Một cảm giác buồn man mác khi tôi nhớ lại hình ảnh của Xuân đứng trước hiên nhà nhìn tôi và chị Chấn đi học. Tôi lặng đi một lúc mới tiếp tục nói được những chuyện khác với chị ruột của Xuân... Việc chị Chấn hay đi cùng tôi đến trường buổi sáng cũng không phải là ngẫu nhiên. Do là trên đường chúng tôi đến trường phải qua một nhà nuôi một đàn ngỗng bốn, năm con rất dữ. Thấy trẻ con qua, chúng vừa kêu toáng lên, vừa đuổi theo, vươn cái cồ dài ngoẵng ra, lấy mỏ đớp vào mông, vào bắp chân... nên trẻ con rất sợ. Chị Chấn và cả tôi nữa cũng sợ. Nhưng tôi cố làm ra vẻ ta đây không sợ gì nên thường "lên gân" xua đuổi chúng, vì thế chị ấy cũng thích đi cùng. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 22 Tháng Sáu, 2023, 07:10:03 am Thực ra, khi ở lớp Đồng ấu, tôi cũng chưa quan tâm nhiều đến kết quả học tập của mình. Nhưng cuối năm học, thầy Đàn thông báo ở lớp là tôi được phần thưởng danh dự. Cả trường chỉ có hai phần thường danh dự, một ở lớp Nhất, một ở lớp Đồng ấu. Việc phát thưởng được tổ chức ở huyện đường do viên quan tri huyện chủ trì cùng các chánh tổng và các chức sắc trong huyện dự. Đó là buổi phát thưởng long trọng duy nhất được tổ chức ở huyện trong sáu năm tôi học ờ trường huyện. Sau này không thấy có nữa. Người phát phần thường danh dự thứ nhất cho anh học sinh lớp Nhất là tri huyện. Còn tôi thì được ông chánh tổng Thụy Lôi là ông Chánh tổng Điền trao cho phần thưởng (làng Phương Khê của tôi là một làng trong tổng đó). Phần thường là một quyển từ điển Pháp - Việt, vài quyển vở và hộp bút chì màu. Sau buổi phát thưởng đó, tôi bắt đầu hình dung được giá trị kết quả học tập của mình.
Thầy giáo dạy lớp dự bị và lớp sơ đẳng của tôi là thầy Bình. Vợ chồng thầy không có con nên rất quý trẻ con. Cả hai lớp thầy dạy đều ngồi chung một phòng. Năm ở lớp sơ đẳng, trong lúc chơi bi với người anh họ, tôi và anh cùng bị một con chó dại cắn. Tôi được bố tôi cho đi kiểm tra ở nhà một lương y có tiếng chữa bệnh dại, cụ kết luận là đúng chó dại cắn. Cụ cho thuốc về uống, phản ứng của thuốc làm tôi mê man hơn một ngày, bố tôi nói lại là khi tôi đi tiểu, tiểu đến đâu, nước tiểu đông lại đến đẩy. Sau dăm hôm thì tôi tiếp tục đi học được. Còn anh họ tôi vì gia đình chủ quan nên ít lâu sau lên cơn dại dữ dội rồi chết. Tuy có lúc ốm phải nghỉ học một số ngày nhưng năm đó thi sơ học yếu lược toàn huyện, tôi đứng thứ nhì trong tốp đầu năm người thi đỗ loại giỏi và là người duy nhất đỗ cả môn tiếng Pháp. Từ đó, những gia đình có con cùng học với tôi quanh đó mỗi khi tôi đến chơi với các bạn cũng yêu mến tôi hơn. Chuyển lên học lớp Nhì năm thứ nhất, mọi học sinh đã đỗ sơ học yếu lược đều phải qua một đợt thi tuyển. Tôi trúng tuyển dễ dàng và lên học lớp thầy giáo Trạch. Thầy Trạch đồng thời là Hiệu trưởng của Trường Kiêm bị Kim Bảng một thời gian khá dài. Thầy rất mô phạm, gương mẫu về ăn mặc, nói năng và nghiêm khắc, nhưng lại là người rất quan tâm đến sức khỏe của học trò mình. Chính thầy đã bắt tôi phải về nhà mặc áo ấm trong một buổi sáng mùa đông giá rét. Thầy hay kể nhiều câu chuyện sinh động, ví dụ có lần thầy kể về cách ăn uống, nhai kỹ có lợi cho sức khỏe thế nào bằng những thí dụ của chính bản thân thầy. Tôi rất thích những câu chuyện đó và thực hiện đúng như thầy nói và về sau này thành một thói quen tốt của mình. Lên đến lớp này thì tôi không đi học cùng với chị Chấn nữa vì sau khi đỗ sơ học yếu lược, chị thôi học ở nhà giúp bà ngoại bán hàng xén ở chợ. Năm đó, sức học của tôi vẫn là loại khá nhưng cũng tầm tầm, không có gì đặc biệt. Những năm học lớp Nhì năm thứ hai và lớp Nhất cũng có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Thầy giáo dạy hai lớp đó là thầy Ngân, một thầy giáo trẻ, nghiêm túc và năng động, thích thể dục thể thao. Thầy đã có vợ và một con trai nhỏ, sống trong một ngôi nhà ba gian vách đất quét vôi trắng, mái rạ xuênh xoàng, liền với sân trường còn chưa được lát gạch. Tuy còn trẻ nhưng thầy sống rất gương mẫu, nghiêm túc. Thầy mặc âu phục giản dị, hợp thời và khỏe khoắn. Nhiệm vụ dạy hai lớp cùng một thời gian trong cùng một căn buồng như vậy rất nặng nề, nhưng tôi thấy thầy điều hành và giảng dạy cho cả hai lớp chu đáo, gọn gàng với một phong thái khoan thai, không bao giờ cáu gắt với học trò. Không những thế, cách dạy học của thầy cũng phong phú, linh hoạt gồm cả các hình thức ngoại khóa hấp dẫn như cắm trại trong những ngày nghỉ, thi viết văn tường thuật các buổi đi dã ngoại... Có một lần, tôi và một người bạn nữa được thầy trao phần thưởng vì đã làm tốt một bài văn tả lại một buổi dã ngoại do thầy tổ chức cho cả hai lớp. Mỗi phần thường chỉ là một cuốn truyện ngắn "Sách Hồng" thời đó bằng tiền túi của thầy, song lại là một sự cổ vũ lớn cho sự hứng thú trong học tập của chúng tôi. Một lần, khi tôi học lớp Nhì năm thứ hai, Thanh tra Học chính Bắc Kỳ là một người Pháp đến hai lớp của thầy để kiểm tra. Ông ta to béo, mặc quần soóc đi đằng sau bàn của tôi. Một mùi gây gây khó chịu nhưng tôi không dám bịt mũi. Bỗng nhiên, tôi thấy ông ta tát cậu bạn ngồi cạnh tôi một cái thật đau, bẹo tai bạn rồi rút mùi xoa ra lau tay. Tôi thấy thầy Ngân đi theo ông ta đứng gần đấy, vẻ mặt khó chịu, về sau, tôi hỏi bạn đó là vì sao lại bị đánh, bạn ấy cũng không hiểu vì lý do gì. Lần khác, khi tôi học lớp Nhất, viên kiểm học tỉnh Hà Nam về kiểm tra hai lớp của thầy Ngân bằng một cái ô tô hòm riêng của ông ta. Ông ta tên là Nguyễn Như Loan, người xấu, dáng lùn, mặt to rỗ chằng rỗ chịt, mặc áo dài, khăn xếp. Nghe các anh lớn tuổi học trước tôi nói lại, ngoài chức kiểm học, ông ta còn làm mật thám cho Tây để dò xét đội ngũ thầy giáo, phát hiện những người tình nghi làm cách mạng để báo cho Tây. Ông này có tật nói trong một câu thường có vài tiếng "hử" rất hách dịch để dương oai với mọi người. Vì vậy, nhiều thế hệ học trò lớn ở trường tôi, có cả các thầy giáo nữa gọi ông ta là "Kiểm hử", tỏ thái độ coi thường và chế giễu. Hôm đó, để kiểm tra kết quả học tiếng Pháp của học sinh, ông ta lấy cuốn sách giáo khoa dạy văn tiéng Pháp của lớp Nhất ra rồi yêu cầu thầy Ngân gọi một học sinh để ông ta kiểm tra. Tôi thấy vẻ mặt thầy rất căng thẳng. Bất ngờ, thầy gọi tên tôi. Tôi giật mình, hơi hốt hoảng, hồi hộp đứng dậy. "Kiểm hử" lệnh cho tôi giở sách giáo khoa, trang có bài "Au Marché" (Đi chợ) ra đọc. Đó là một bài thơ, vì đã lâu nên bây giờ tôi quên mất tên tác giả. Tôi lấy lại bình tĩnh, rồi dõng dạc đọc toàn bộ bài thơ đó. về phát âm và ngắt câu, tôi không bị sửa chỗ nào. Đại ý bài thơ là: Có hai mẹ con cùng đi chợ, mẹ bạn nhỏ mua nhiều thứ thức ăn cho vào túi xách, bạn nhỏ đó cầm túi cho mẹ và bạn rất tự hào. Khi tôi đọc xong, "Kiểm hử" hỏi tôi: - Cho biết vì sao em nhỏ đó tự hào? Hử! Không cần suy nghĩ nhiều, tôi nhanh chóng trả lời cũng bằng tiếng Pháp: - Thưa ông Kiểm học, em nhỏ đó tự hào vì em đã giúp đỡ được mẹ. Tôi thấy ông ta im lặng một chút rồi nói: - Nó còn tự hào, hử!; vì nhà nó giàu, hiểu chưa? Hử! Tôi một lần nữa trả lời nhanh gọn: - Vâng, thưa ông Kiểm học. "Kiểm hử" cho phép tôi ngồi xuống. Tôi nhìn thầy, thấy nét mặt thầy giãn ra, mỉm cười nhìn tôi vẻ xúc động. Tôi cũng thấy rất sung sướng và xúc động vì đã làm vừa lòng thầy, không phụ công dạy dỗ của thầy. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 22 Tháng Sáu, 2023, 07:31:33 am Tôi bắt đầu học lớp Nhất năm tôi mười hai tuổi. Có một thời gian, tôi bị sốt rét phải nghỉ học. Mẹ tôi nói là tôi sốt rét "vỡ da" tức là đến tuổi đã lớn, sau sốt rét sẽ lớn nhanh. Tuy nhiên, tôi vẫn rất lo lắng vì năm đó là năm cuối cùng của trường tiểu học và phải thi để lấy bằng tốt nghiệp. Hồi đó gọi là bằng "Sơ học bổ túc" hoặc "Sơ học Pháp - Việt" (tiếng Pháp ghi trong bằng là Certificat d’etude primaire complémentaire indochinois) mà sau này người ta quen gọi là bằng "Xéctifica".
Tôi rất lo lắng vì sợ lúc thi lại trúng vào thời gian mình bị ốm nên tôi phải chép lại các bài và nhờ bạn bè nói lại bài giảng của thầy. Đến ngày thi, tôi và bạn Lê Bích Liên1 (Lê Bích Liên sau cũng là hội viên Việt Minh, công tác ở nhiều ngành của Đảng, sau này là Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, rồi làm Chánh Văn phòng Ban Dân vận Trung ương Đảng trước khi về hưu. Liên cũng là anh họ vợ tôi) cùng học một lớp xuống thị xã Phủ Lý từ ngày hôm trước. Bạn Liên nói, ở dưới đó, hai chúng tôi có thể ngủ nhờ một đêm ở nhà người quen, sáng ra đến trường thi cho kịp. Nhưng nhà người quen đó nghèo, không có giường nằm nên chúng tôi phải mượn một manh chiếu trải xuống đất để ngủ. Bị muỗi đốt cả đêm làm chúng tôi không yên giấc, nên sáng hôm sau, cả hai đứa mệt phờ. Hai chúng tôi phải dậy sớm ăn sáng mới kịp vào thi, ông chủ hiệu thấy vẻ mệt mỏi của chúng tôi, biết là học sinh đi thi nên khuyên chúng tôi nên uống một cốc cà phê cho tỉnh táo. Chúng tôi nghe theo và lần đầu tiên biết tới hương vị cà phê và tác dụng của nó. May mà các bài thi chúng tôi đều làm được trót lọt và cả hai đều tốt nghiệp. Nhưng chúng tôi nhớ mãi một kinh nghiệm là phải biết giữ sức khỏe để làm việc thì kết quả mới tốt được. Tôi thi đỗ bằng Xéctifica khi mười hai tuổi rưỡi. Lúc đó, tôi đã suy nghĩ tới việc định hướng cho tương lai của mình. Thứ nhất, tôi đã có ý định xin thi vào Trường Kỹ nghệ thực hành (Ecole pratique d’industries) ở Hà Nội vì thấy hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, khi tốt nghiệp sẽ có nghề ngay; nhưng nghe nói tôi còn ít tuổi quá, chưa đủ tuổi để thi vào trường đó. Thứ hai là tôi sẽ cố gắng xin gia đình cho học tiếp lên trung học, nhưng cũng lại sợ bố mẹ không đủ tiền cho đi học ở Nam Định hay Hà Nội. Đây là hướng mơ ước của tôi. Còn đang phân vân như vậy thì một tin bất ngờ đến với tôi. Thầy Ngân cho biết, nhà trường được hai suất đi nghỉ mát 15 ngày tại "Trại hè của Bắc Kỳ" ở Sầm Sơn (Colonie de vacances du Tonkin) cho hai học sinh xuất sắc của trường. Suất của tôi hoàn toàn miễn phí, suất còn lại chỉ được miễn phí một nửa, còn một nửa phải trả tiền, được trao cho Nguyễn Tích Trù1 (Nguyễn Tích Trù là con trai ông Chánh tổng Điền, người trao phần thưởng danh dự cho tôi khi tôi ở lớp Đồng ấu), học tại lớp Nhì năm thứ nhất. Tôi rất phấn khởi nghĩ về cuộc đi biển này vì chưa bao giờ được biết biển. Mẹ tôi cố chuẩn bị cho tôi được hai quần đùi chéo eo mới, một quần soóc màu xám băng vải lanh, hai xilíp bằng phin nhuộm nâu, một áo ba lỗ bằng lụa và một đôi dép cao su "con hổ"; ngoài ra còn hai áo sơ mi cộc tay cũ. Chưa bao giờ tôi lại có đủ bộ sang như thế. Quần áo, giày dép của Trù đầy đủ và sang hơn của tôi vì nhà Trù giàu có. Chúng tôi đi bằng xe lửa và sau đó là ô tô đến Sầm Sơn. Tôi và Trù nhanh chóng trở thành bạn thân của nhau. Trại hè gồm nhiều nhà làm bàng tre, nứa, lá; sàn cũng lát bằng nứa đan gióng đôi; bàn ăn, ghế ngồi cũng bằng bương, tre, nứa; chỉ có giường cá nhân là bằng gỗ. Những học sinh được tham dự trại chia thành nhiều đoàn, mỗi đoàn khoảng bốn chục người ở chung một nhà tương đối rộng rãi, thoáng mát. Tôi và Trù cùng được ở một đoàn do anh Lê Toàn, một lực sĩ, huấn luyện viên thể dục thể thao người Hải Phòng được đào tạo tại Trường Thể dục thể thao Phan Thiết làm Đoàn trưởng. Tôi không biết căn cứ vào đâu mà anh Toàn giới thiệu với cả đoàn rằng tôi là Đoàn phó, mặc dù trong đoàn có nhiều bạn hơn tuổi và cao lớn hơn tôi. Đây là lần đầu tiên tôi làm "chỉ huy" một đoàn đông người như thể. Tôi bỡ ngỡ chẳng biết làm gì, nhưng rồi nhờ anh Toàn chỉ bảo tỷ mỷ nên tôi cũng làm được việc. Có một hôm, Tổng ủy viên Thanh niên và Thể dục thể thao Đông Dương là viên Đại tá Đắccôroi (Ducoroy), người Pháp đến thăm trại, ông ta mặc thường phục, người dong dỏng cao, trông có vẻ "nhã nhặn và hiền" hơn Thanh tra Học chính Bẳc Kỳ đã đến lớp của thầy Ngân kiểm tra năm trước. Phải chăng lúc đó, quân đội phát xít Nhật đã vào Đông Dương, các quan Tây có vẻ lép vế nên thái độ của họ đối với người Việt Nam thay đổi khác trước? Vì được anh Toàn hướng dẫn, tôi phải chỉ huy toàn đoàn đón tiệp ông Tây này, còn anh Toàn đi đón và hướng dẫn ông ta đến. Tất cả chúng tôi, chăn màn xếp gọn ghẽ ở đầu giường, người nào người nấy đứng nghiêm chỉnh ở cuối giường, làm mọi động tác đón tiếp theo hiệu lệnh chỉ huy của tôi. Ông ta đi dọc phòng một lượt rồi bước thẳng đến chỗ tôi, nhỏ nhẹ hỏi tôi bằng tiếng Pháp: - Em mấy tuổi? Tôi nhìn thẳng vào ông ta trả lời rành rọt bằng tiếng Pháp: - Thưa ông, tôi 13 tuổi. Ông ta mỉm cười, có lẽ vì thấy tôi thấp bé quá và lấy trong túi áo ra một huy hiệu trao tặng tôi. Tôi tiếp tục nói bằng tiếng Pháp: - Thưa ông, tôi xin cảm ơn ông. Ông ta vui vẻ từ biệt chúng tôi và cùng anh Toàn ra khỏi nhà. Tôi xem chiếc huy hiệu làm bằng kền in cờ Pháp rất đẹp, trên đó có dòng chữ "Jeunesse d’Empire Française! Unis et Fort pour servir (tạm dịch: "Thanh niên Đế chế Pháp! Đoàn kết và khỏe để phụng sự"). Lúc đó, tôi cảm thấy tự hào vì mình đã làm tốt công việc anh Toàn giao cho nên được ông ta thưởng. Nhưng chẳng bao giờ tôi đeo chiếc huy hiệu đó cả. Tôi được anh Toàn yêu mến vì ngoan và làm tốt công việc giúp anh, đặc biệt là lần đón tiếp ông Tây này, anh càng có vẻ quý tôi hơn. Một buổi trưa đẹp trời, anh rủ riêng tôi ra khơi. Anh thuê một cái mảng có buồm vải của một ngư dân. Trời lộng gió nên mảng lướt trên những làn sóng nhấp nhô một cách nhẹ nhàng. Tôi thấy rất thú vị vì lần đầu tiên được đi trên biển cả. Nhưng chỉ ra được khoảng một kilômét xa bờ, tôi thấy người nôn nao không chịu nổi, rất mệt chì muốn nôn. Anh Toàn thấy vậy liên bảo người điều khiển mảng quay vào bờ, còn tôi phải năm gối đầu lên đùi anh Toàn để khỏi nôn thốc nôn tháo ra. Ở trại, chế độ ăn uống cũng khá, mỗi ngày chúng tôi ăn bốn bữa, ngoài ba bữa sáng, trưa, chiều, còn được ăn một bữa vào 2 giờ chiều là một bát chè được thay đổi hằng ngày như chè khoai, đậu đen, đậu xanh... Thế mà sau 15 hôm, khi kết thúc trại hè, ở tuổi 13, tôi chỉ cân nặng được 32 kilôgam. Các hoạt động trong 15 ngày ở trại rất phong phú theo kiểu các trò chơi của Hướng đạo sinh, ngoài ra còn có nhiều buổi tham quan thú vị xung quanh đó. Sầm Sơn thời kỳ này vắng khách. Đi ra ngoài, chúng tôi chỉ thấy lẻ tẻ các gia đình giàu có ăn mặc sang trọng, trong đó có cả những cô gái trạc tuổi chúng tôi. Các cô tiểu thư ấy thấy chúng tôi chơi đùa, ca hát có vẻ thích thú, nhưng vẫn ra vẻ nghiêm nghị, kín đáo. Những bạn gái quê tôi, chưa thấy ai ăn mặc sang trọng và đẹp như thế bao giờ. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 22 Tháng Sáu, 2023, 07:32:24 am Mười lăm ngày trôi qua nhanh chóng. Ngày cuối cùng trong toàn trại, một không khí lưu luyến, bịn rịn và cảm động giữa các bạn học sinh nghỉ mát với các anh phụ trách, giữa các bạn mới quen biết nhau. Với tôi và những bạn học sinh ở các vùng quê nghèo, đây là lần đầu tiên chúng tôi được mở rộng tầm mắt, được sống và có nhiều hoạt động phong phú như vậy.
Ngày chia tay, tôi xin anh Toàn địa chỉ để viết thư cho anh. Nhưng anh bảo anh chưa biết sau trại hè này người ta sẽ cho anh làm việc ở đâu. Anh bảo anh sẽ viết thư cho tôi và lấy địa chỉ của tôi. Trên xe lửa từ Thanh Hóa về Hà Nội, ở mỗi ga đều có những tốp bạn xuống để về nhà. Chia tay, mặc dù chưa thật quen thân nhau, nhưng nhiều bạn mắt đỏ hoe, không ít bạn òa khóc... Tôi về đến nhà hôm trước thì hôm sau thầy Ngân đến thăm tôi và thầy vui mừng khen tôi khỏe nhưng đen hơn trước. Tôi luống cuống vì chưa kịp đến chào thầy thì thầy đã ân cần đến hỏi thăm trước. Ít lâu sau, tôi nhận được thư của anh Lê Toàn. Anh báo là anh được về làm huấn luyện viên thể dục thể thao cho Trưởng thành chung và các trường tiểu học ở thị xã Thái Bình. Tôi rất mừng rỡ và quyết định xin bố mẹ cho thi vào Trưởng thành chung Thái Bình. Sở dĩ như vậy vì tôi nghĩ có chỗ dựa là anh Toàn. Nếu như có khó khăn, tôi có thể nhờ anh giúp tìm cho việc làm, ví dụ như gia đình có những em nhỏ cần học, tôi có thể vừa học, vừa dạy để lấy công hoặc những việc thích hợp khác, miễn là có việc làm kiếm thêm tiền để bố mẹ khỏi quá tốn kém cho việc tiếp tục học của mình. Tôi xin bố mẹ cho tôi được thi và học ở Thái Bình vì tôi quen anh Toàn ở đó, nhưng không nói rõ những suy nghĩ cụ thể của tôi. Sau khi cân nhắc, bố mẹ tôi đồng ý. Trước khi làm hồ sơ để dăng ký dự thi, tôi viết thư cho anh Toàn báo là tôi sẽ thi vào Trưởng thành chung Thái Bình. Trong hồ sơ yêu cầu phải có học bạ gốc của Trường Kiêm bị Kim Bảng. Tôi đến thầy Ngân và thầy Trạch, Hiệu trưởng xin cuốn học bạ để hoàn chỉnh hồ sơ. Thầy Ngân cho tôi biết là sắp thuyên chuyển đi nơi khác. Tôi rất nhớ thầy, những kỷ niệm về thầy và thấy tiếc cho lớp học sinh sau tôi không được học một thầy giáo rất đức độ và dạy giỏi. Đó cũng là lần cuối cùng hai thầy trò gặp nhau. Sau này, khi ở Quân đội, kể cả lúc đã về hưu, tôi chú ý tim thầy mà không gặp được... Xem học bạ của mình, lật tới trang cuối là nhận xét của thầy Ngân, tôi ngạc nhiên thấy thầy ghi một câu rất ngắn bằng tiếng Pháp: "Excellent a tous points de vue. Conduite irreprochable’" (Xuất sắc về mọi mặt. Hạnh kiểm không thể chê được). Tôi cảm thấy thầy quá khen mình. Trong thâm tâm, thật tình tôi còn thấy có bạn hơn mình môn này, có bạn hơn mình môn khác, chưa bao giờ dám nghĩ là mình xuất sắc toàn diện như vậy, mặc dù trong suốt chín tháng học ở lớp Nhất, tháng nào tôi cũng được ghi tên ở bảng danh dự của lớp, khi thì về học lực, khi thì về hạnh kiểm, hoặc cả hai. Tôi chuẩn bị đi Thái Bình với một tâm trạng rất phấn khởi và đầy hy vọng, nhưng cũng lo là hơi xa nhà. Bố tôi cùng đi với tôi vì đường xa và cũng là để biết nếu tôi được học ở đây thì sẽ ra sao, có khó khăn không? Tất nhiên ông phải chuẩn bị cho những nhu cầu của mình, đặc biệt là thuốc phiện để hút. Ông sang đại lý thuốc phiện và rượu ở gần nhà tôi để mua một hộp thuốc phiện mang theo (thời đó thường treo biển đề hai chữ RO&RA). Cửa hàng đại lý ấy là của một ông già béo tốt quê Bắc Ninh mà dân địa phương quen gọi tắt là cụ Ký Rượu. Bố dẫn tôi xuống tỉnh lỵ Phủ Lý mua vé xe đi Thái Bình. Xe ô tô khách thời đó chỉ chạy bằng than mỏ trong một cái thùng hình trụ to đùng gắn thẳng đứng ở phía sau xe. Do giai đoạn này đang diễn ra Chiến tranh thế giới thứ hai, xăng và dầu diêzen phải cung cấp cho Pháp và quân đội phát xít Nhật. Máy xe nổ to gần bằng một cái nhà máy nhỏ và xe thì rung bần bật. Cuối cùng xe vẫn tới được Nam Định, xuống phà ở bến đò Quan, qua sông đến tỉnh lỵ Thái Bình mà không có trục trặc gì dọc đường. Thật là tài! Bố con tôi tìm đến một hàng cơm bình dân kiêm luôn nhà trọ để ở. Nhà hàng rộng nên ở cũng tương đối thoải mái. Chúng tôi ăn những bữa cơm đơn giản nhưng rất ngon, chỉ có hai món: Một bát canh thuôn rau cải thịt bò và một đĩa chả quế thịt trâu. Một bộ bàn đèn nhỏ cho bố tôi hút thuốc, thứ nhà hàng luôn có để phục vụ khách nghiện. Không khó khăn gì để liên lạc được với anh Toàn. Anh động viên tôi nắm vững đầu bài, bình tĩnh làm bài rồi ra về. Tôi làm các bài thi với một thái độ tự tin, không có gì là lo lắng, hồi hộp vì tôi cũng đã trải qua hai kỳ thi tốt nghiệp đều đạt kết quả tốt: Sơ học yếu lược và Sơ học Pháp - Việt. Nhưng tôi đã có một sai lầm rất lớn trong bài làm văn tiếng Pháp. Đầu đề bài thi nguyên văn tiếng Pháp là: "Vous avez vu une maison tombée en ruines. Quelles impeessions eprouvez-vous devant cette scène?" (tạm dịch ra tiếng Việt là: "Anh đã trông thấy một ngôi nhà đổ nát. Anh có những cảm tưởng gì trước cảnh tượng đó?"). Bài văn này hoàn toàn không khó đối với tôi. Tôi nhớ tôi đã đọc nó trong tập sách làm văn tiếng Pháp cho lớp Nhất bậc tiểu học. Nhưng không biết lú lẫn hay ma ám, tôi đã nhầm chừ "maison" ỉà "ngôi nhà" thành chữ "famille" là "gia đình". "Une maison tombée en ruines" - "một ngôi nhà đổ nát" thành "une famille tombée en ruines" - "một gia đình tan nát". Có thể nói, bài văn tôi viết rất lưu loát với vốn tiếng Pháp của mình nói về một ông bố nghiện ngập dẫn tới những bi kịch cho gia đình đó thế nào. Khi thi xong, anh Toàn đến hỏi tôi về kết quả làm bài thi của tôi. Tôi kể cho anh nghe cả bài văn tiếng Pháp mà tôi làm. Nghe qua về bài văn, anh nói ngay: - Em hoàn toàn lạc đề rồi, đây là nói về một ngôi nhà chứ không phải là một gia đình. Tôi bừng tỉnh như người đang ngủ mơ bị đột ngột gọi dậy. Thôi chết! Mình sai rồi, không còn hy vọng gì trúng tuyên nữa. Anh Toàn tỏ vẻ rất thất vọng, còn tôi thì ỉu xìu như bánh đa phải mưa. Sự "xuất sắc về mọi mặt" của thầy Ngân nhận xét về mình khiến tôi thấy hổ thẹn, không xứng đáng. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Bảy, 2023, 07:29:09 am Suy nghĩ kỹ về chuyện này, tôi thấy cũng rõ lý do. Ngoài nỗi ám ảnh về sự nghiện ngập của bố đã ăn sâu vào tiềm thức từ hồi còn bé, còn một sự kiện lớn nữa tương tự, nhưng bi đát hơn nhiều, xảy ra cách đây không lâu. Đó là trường hợp của gia đình chú, thím ruột tôi. Chú Phái, chú thứ ba của tôi, sau khi bỏ việc về nhà cũng sa vào nghiện ngập thuốc phiện, sau lại lôi cả vợ vào nữa. Cả hai vợ chồng chú thím tôi đều nghiện. Một cơ nghiệp lớn mà bà nội tôi ưu tiên dành cho người con trai út là chú tôi gồm một căn nhà hai lầng sang trọng, hai bên xây liền hai nhà ba gian cao ráo toàn bằng gỗ lim thành một cửa hàng to nhất phố huyện đều đã chui hết vào tảu hút thuốc phiện, thành những làn khói nhỏ chết người. Chú thím và bốn người con phải mua một ngôi nhà lá nhỏ tồi tàn để ở và vẫn tiếp tục mỗi người một bên bàn đèn. Tôi được chứng kiến cảnh tượng đó từ lúc tôi còn nhỏ. Một sự sa sút cực kỳ thảm hại không thể vực dậy được nữa của một gia đình. Mặc dù có sự giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần của gia đình bác tôi và của bố mẹ tôi nhưng vẫn không thể cứu vãn nổi. Chú thím tôi lần lượt chết thảm vì thiếu thuốc phiện và thức ăn, bỏ lại bốn người con. Cô em họ lớn cùng tuổi tôi phải lấy chồng lúc còn vị thành niên, một em trai lớn phải đi ở đợ, em gái thứ hai thì nhà bác tôi nuôi, còn em trai út thì bố mẹ tôi nuôi. Sự việc xảy ra trước khi tôi đi thi ở Thái Bình chỉ hai năm. Thảm cảnh đó in đậm, rất đậm vào tâm thức tôi. "Nguyên mẫu" trong bài văn tiếng Pháp tôi thi chính là gia đình chú thím tôi cộng với sự cảm nhận và suy nghĩ về tiền đồ của gia đình mình.
Biết mình chắc chắn sẽ không trúng tuyển, khi trở về nhà, tâm trang tôi u uất và buồn chán, nhưng vẫn còn đủ tỉnh táo để nghĩ về con đường đi tương lai của mình sẽ phải như thế nào. Nghị lực này có lẽ là nhờ gien của mẹ và do tình cảm thương mẹ rất sâu sắc của tôi, quyết không chịu bó tay, càng không thể chán chường mà buông xuôi. Tuy vậy, tôi cũng chưa tìm được ra cách gì để thoát khỏi bế tắc vì tình hình chung về đời sống hằng ngày càng khó khăn, tình hình xã hội cũng rất phức tạp. Chỉ riêng huyện Kim Bảng có đến dăm bảy chỗ có những đơn vị nhỏ cỡ ba bốn chục lính Nhật chiếm đóng. Máy bay Mỹ thỉnh thoảng bắn phá và thả bom vào một vị trí phòng không của quân Nhật ở gần cống Ba Đa, cách thị xã Phủ Lý khoảng hơn hai kilômét. Không có việc gì để làm và có nhiều thời gian rỗi, để tránh lêu lổng, tôi và một số anh em cùng học với nhau nhà ở xung quanh huyện lỵ thường gặp nhau để chuyện trò. Bạn Lê Đình Quỳnh1 (Trong Cách mạng Tháng Tám có tham gia một số công tác. Khi địch chiếm đóng Kim Bảng ở lại vùng địch, sau đó định cư tại Mỹ) có ông bác là một cụ đồ rủ tôi và anh Lê Bích Liên cùng học chữ Nho. Được bố mẹ đồng ý, ba chúng tôi đến học cụ đồ Bính, mỗi ngày khoảng; hai tiếng. Cụ đem quyển "Minh đạo gia huấn" ra dạy chỉ có ba chúng tôi. Tuy chúng tôi còn nhỏ tuổi, nhưng cả ba đều mới đậu Xéctifica nên cụ có vẻ nể. Chúng tôi học cũng không có gì hứng thú lắm. Dạy chưa hết quyển "Minh đạo gia huấn", sức khỏe cụ không được tốt nên cụ thôi không dạy nữa. Tuy nhiên, với trí nhớ của mình, sau này chúng tôi cũng có thể hiểu tốt hơn những từ Hán - Việt trong ngôn ngữ và văn học Việt Nam, cũng lõm bõm đọc và viết được một số từ chữ Hán đơn giản, hoặc cũng có thêm chút ít kiến thức Nho học. Ví dụ: Về quan niệm nghề nghiệp của người xưa như: Nhân sinh bách nghệ Văn học vi tiên Nho sĩ thị trân Thi thư thị bảo. Tôi hiểu là: Sinh ra có trăm nghề Văn học là trước hết Nhà nho đáng trân trọng Thơ sách là quý giá. Hay những câu tổng kết về kinh nghiệm sống của người xưa tôi thấy rất có ích như: Trúc non dị kiểu Nhân thiếu dị hiểu. Tôi hiểu là: Trúc non dễ uốn Trẻ nhỏ dễ bảo. Hoặc: Hàm huyết phún nhân Tiên ô tự khẩu. Tôi rất thích câu này và hiểu là: Ngậm máu phun người Trước hết là bẩn miệng mình. Và trong cuộc sống cho đến bây giờ, tôi không bao giờ đồng tình với những người hay xuyên tạc, vu khống người khác và cũng hết sức tránh không cho phép mình mắc phải thói xấu đó. Những lúc rỗi rãi, tôi hay đến nhà chú Đường, là người cùng bố tôi thường ủng hộ những cải cách tiến bộ ở làng và lập ra giáp Tùng Thiện mà tôi đã nói ở những trang trước. Chú đã xấp xỉ 30 tuổi, nhưng với tôi, chú đối xử như người lớn và cũng hay tâm sự với tôi về cuộc đời của mình, về thời thế. Tôi cũng hay tâm sự với chú về những suy nghĩ trong cuộc sống của mình. Đôi lúc tôi phàn nàn với chú về sự nghiện ngập của bố. Chú giải thích cho tôi hoàn cảnh xã hội nhiều khi cũng đẩy người ta vào sự bế tắc và mắc phải những tệ nạn. Chú nói chuyện với tôi về cảnh khổ của người nghèo, người lao động, những tệ nạn như nhà thổ, mại dâm phần lớn là do nghèo khổ... Như vậy, xã hội phải có sự thay đổi thì mới hết được những cảnh đó. Chú vẫn tỏ ra kính trọng bố tôi và thường đến thăm ông. Vì vậy, trong suy nghĩ non nớt của mình, tôi cũng thông cảm với bố một phần là "do hoàn cảnh xà hội". Một hôm, vào khoảng đầu năm 1943, chú bí mật đưa cho tôi xem mấy số Báo "Cứu quốc" của Mặt trận Việt Minh, rồi cả Báo "Cờ giải phóng". Tôi rất thích đọc và luôn đến nhà chú. Những chỗ nào tôi chưa hiểu, chú đều giải thích cặn kẽ. Một hôm chú bàn với tôi và anh Lê Minh Lợi, là em ruột chú, cũng là người đã tốt nahiệp sơ học Pháp - Việt trước tôi đến bảy, tám năm, hiện ờ nhà làm nghề thợ mộc, về việc mở lớp học truyền bá Quốc ngữ cho những người không biết chữ ở thôn tôi. Lớp học được nhanh chóng tổ chức và học ở dinh Xuân, ngôi đình thờ Thành hoàng của thôn. Mới đầu chỉ có ít người, sau đông dần đến gần ba chục người, có cả phụ nữ và người lớn tuổi. Tôi là một giáo viên tích cực và thấy rất vui về công việc có ích này. Một hôm, chú Đường nói riêng với tôi: - Tri huyện Trần Gia Thoại có lẽ đã đánh hơi thấy những hoạt động Việt Minh ở trong vùng, gọi mình lên cảnh cáo, răn đe. Hắn nói: "Ma bùn! Ma bùn! Các anh đừng có "hội kín, hội hở" gì, lôi thôi đấy! Tiên và Lợi ở nhà cứ duy trì và tiếp tục lớp học truyền bá Quốc ngữ đã tổ chức. Minh phải tạm lánh một thời gian, nghe ngóng xem nó có định bắt mình không? Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Bảy, 2023, 07:38:07 am Việc tri huyện gọi những người tình nghi là Việt Minh lên là việc ông ta thường làm. Ít lâu sau, không thấy động tĩnh gì, chú Đường lại về nhà và tiếp tục hoạt động.
Tất cả mọi việc chú Đường giao cho tôi và anh Lợi, chúng tôi đều làm tốt. Lớp truyền bá Quốc ngữ vẫn hoạt động đều đặn và học viên tiến bộ trông thấy. Khi chú Đường cho tôi đọc Báo "Cứu quốc", Báo "Cờ giải phóng", thì liền sau đó tôi cũng có thêm một nguồn tài liệu cách mạng khác. Nguyên do là tôi có một người anh họ, con cô ruột tôi là anh Hoàng Trọng Cầu1 (Anh Hoàng Trọng Cầu sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 còn tiếp lục hoạt động, được công nhận là lão thành cách mạng, sau vì hoàn cảnh gia đình khó khăn phải nghỉ sớm); anh cầu là thợ xẻ gỗ làm công cho một xưởng xẻ gỗ ở làng Nghi Tàm, Hà Nội. Anh được giác ngộ cách mạng ở Hà Nội và làm giao liên cho Xứ ủy. Thỉnh thoảng anh mang báo chí cách mạng và truyền đơn từ Hà Nội về để trao cho cơ sở Việt Minh ở Hà Nam. Qua chuyện trò với tôi, anh tin tôi nên ngỏ ý gửi tài liệu đó cho tôi, trước khi gửi tới những cơ sở cần, vì nếu để ở nhà anh thì không được an toàn. Tôi nhận lời và cất giấu cho anh những tài liệu đó ở nhà mình. Tôi cũng nói cho anh rõ là đã được đọc những báo chí đó nên anh càng tin cậy. Năm đó, đời sống của dân quê tôi rất khó khăn. Cô tôi luôn yếu đau, nhà nghèo, tiền công của anh Cầu chỉ đủ anh ăn. Có hôm mang tài liệu từ Hà Nội về phải nhịn đói, lúc về không còn đồng nào trong túi. Tôi còn nhỏ tuổi, chưa làm gì ra tiền được, nhưng nếu có hào nào tôi cũng đưa anh hết. Tôi nghĩ cách giúp anh. Tôi có anh bạn hơn tôi độ năm, sáu tuổi tên là Hoàng Hữu Lựu1 (Anh Hoàng Hữu Lựu khi giặc Pháp chiếm đóng Kim Bảng (1950 - 1954) là Chi ủy viên của xã ở lại vùng địch hoạt động, bị lộ, bị địch bắt tra tấn rất dã man và hy sinh trong tù. Anh được công nhận là liệt sĩ), cũng đã đồ Sơ học Pháp - Việt, đã lấy vợ và có một cửa hàng xén nhỏ. Anh Lựu là em họ anh rể lấy chị thứ tư của tôi. Anh rất hiền và tốt nên tôi nói thẳng cho anh biết là anh Cầu hoạt động Việt Minh và cần giúp đỡ tiền ăn đường để hoạt động. Anh rất vui vẻ và hào phóng, khi thì giúp dăm bảy hào, khi thì một đồng bạc. Bây giờ tôi vui vui nghĩ, tôi đã vận động được một "Mạnh Thường Quân" cho cách mạng. Dăm bảy hào hoặc một đồng bạc lúc đó sao mà quý thế, có ý nghĩa thế. Cũng trong khoảng thời gian đó, gia đình tôi, hay đúng hơn là bố tôi có một người bạn mới rất đáng quý trọng. Đó là thầy giáo Phan Văn Thành2 (Thầy Phan Văn Thành sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 làm Thanh tra của Bộ Giáo dục và công tác trong ngành Giáo dục cho đến khi về hưu), người gốc Hà Tĩnh, làng Tùng Ảnh. Thầy Thành dạy học ở Phủ Lý, là một trong những con rể của cụ Ký Rượu, chủ RO&RA (đại lý rượu và thuốc phiện) bên cạnh nhà tôi. Thầy đưa vợ con về nghỉ ở nhà cụ Ký Rượu trong dịp nghỉ hè. Thầy đồng thời cũng là một trong những huynh trưởng Hướng đạo sinh khá nổi tiếng ở Phủ Lý. Chắc thầy quen thầy Đạt (Bí thư chi bộ cộng sản đầu tiên ở Kim Bảng) nên thầy chủ động đến kết bạn với bố tôi. Bố tôi tiếp thầy rất trọng thị và cũng nhanh chóng trở thành bạn thân. Gia đình tôi, mọi người cũng rất quý trọng thầy. Chính vì thế, bố tôi thỉnh thoảng có nhã ý mời thầy "thường thức" một điếu để hưởng chút hương vị của "nàng tiên nâu". Có lẽ "cái khoản ấy" hấp dẫn nên thầy không từ chối, nhưng không bao giờ thầy nghiện. Ngôi nhà của cụ Ký Rượu thuê là một căn nhà ngói nhưng hẹp và ẩm thấp, thậm chí không có cả nơi đại tiện. Buổi chiều hằng ngày, con dâu, con gái cứ phải đi bộ khoảng một kilômẻt để ra cánh đồng vắng "giải quyết". Nhưng tôi không hiểu sao gia đình các con rể cụ rủ nhau về đông thế. Kể cả những người con rể ở xa cũng gửi con cái về để ông bà ngoại nuôi. Trong số các cháu ngoại của cụ có một người tên là Nguyễn Đăng Thanh. Từ sự quen biết thâm tình giữa bố tôi và thầy Thành, bạn Thanh cũng trở thành bạn thân của tôi. Bố Thanh lấy em gái của vợ thầy Thành. Bố mẹ Thanh sống ở Phnôm Pênh, ông là một viên chức nhỏ. Theo Thanh, bố bạn ấy nghiện thuốc phiện nên nhà cũng nghèo và buồn phiền vì chuyện ấy. Cùng cảnh ngộ, chúng tôi dễ thông cảm với nhau. Thanh kém tôi một tuổi, vừa đỗ Sơ học Pháp - Việt, sau tôi hai năm. Thanh là con cả, sống tình cảm, thường nhớ nhà, đặc biệt là các em gái. Nhiều buổi chiều, Thanh rủ tôi ra cánh đồng làng, ngồi bên vệ cỏ của đường 22 ngắm trời đất, ngắm dãy núi 99 ngọn ở phía tây. Có mấy ngọn núi nhìn xa trông giống mặt một em bé gái khá đẹp ngửa mặt lên trời, Thanh nói với tôi trông những ngọn núi ấy lại nhớ tới em gái mình. Tự nhiên tôi thấy thông cảm và yêu mến Thanh hơn. Một lần nói chuyện với nhau về học hành và tương lai của mình, Thanh cho tôi biết là có một người chú ruột là kỹ sư hóa học làm ở Nhà máy Tơ Nam Định. Thanh có ý định xin bố mẹ và ông bà ngoại xuống ở với chú và học ở Nam Định. Điều Thanh nghĩ trùng họp với sự khát khao được tiếp tục học của tôi. Tôi hỏi Thanh nếu được học ở Nam Định thì cả hai có thể cùng nhau ở nhà ông chú Thanh được không? Có bạn thân cùng học khi xa nhà là điều tôi rất muốn. Tôi về xin với bố mẹ thì được bố mẹ tôi đồng ý, tuy cho tôi đi trọ học xa có thể tốn kém, nhưng ở nhà tôi cũng chưa giúp được gì cho gia đình. Sau hai năm kể từ khi thi trượt Trưởng thành chung Thái Bình tôi thấy cần có một thời gian ôn lại kiến thức để thi vào Trưởng thành chung Nam Định. Rất may, ngay sau đó, một hôm ông Chánh tổng Điền đến chơi với bố tôi, cũng có ý định cho Nguyễn Tích Trù ôn đề thi vào Trưởng thành chung và nhờ một thầy ở gần đó hướng dẫn giúp. Ông muốn Trù có bạn cùng học cho vui và bảo tôi lên nhà ông cùng Trù ôn thi. Ông vốn cũng biết sức học của tôi từ hồi lớp Đồng ấu, đến thi Sơ học yếu lược, Sơ học Pháp - Việt và đã cùng Trù dự trại hè ở Sầm Sơn. Thế là ngay hôm sau, tôi lên nhà ông cách làng tôi khoảng gần năm kilômét để cùng ôn thi với con ông. Tôi đến, cả nhà ông đều vui mừng và đối xử như con cái trong nhà. Tôi và Trù cùng học với nhau rất vui vẻ và cũng đạt được kết quả tốt. Cả gia đình Trù rất vui và quý tôi; em trai Trù coi tôi như anh, còn chị gái Trù coi tôi không khác gì Trù. Tuy nhiên, tôi cũng biết giữ ý, không vì thế mà suồng sã, quá trớn. Trong tình bạn với Trù, chúng tôi có nhiều kỷ niệm đẹp. Trong Cách mạng Tháng Tám, Trù cũng hoạt động rất sôi nổi. Nhưng rồi trong bão táp của cách mạng và chiến tranh, tôi không ngờ rằng, hai chúng tôi mỗi người lại đi theo một ngả. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Bảy, 2023, 07:38:55 am Tôi về nhà, Thanh cho biết là chú của Thanh đã đồng ý cho tôi ờ cùng Thanh. Tôi và Thanh xuống Nam Định, cùng Thanh thi vào trưởng thành chung Nam Định. Ít lâu sau thì được thông báo kết quả thi. Tôi trúng tuyển, xếp thứ 48 trong sổ 60 học sinh theo chỉ tiêu tuyển sinh của nhà trường. Lần này, tôi được bố mẹ chuẩn bị cho quần áo đàng hoàng hơn: Một áo dài lương đen, một mũ cát trắng, vài quần dài trắng, đôi giầy bata... Thanh thi trượt, phải xin vào học tại Trường Xanh Tômát (Saint Thomas), một trường tư do xứ đạo Nam Định lập ra. Chúng tôi vẫn cùng nhau ở nhà của chú thím Thanh. Chú Thanh là ông Nguyễn Đăng Thục, một kỹ sư hóa học trẻ được đào tạo và tốt nghiệp tại Pháp, ông về làm công cho chủ Nhà máy Tơ Nam Định. Ông và gia đình gồm một vợ, một con trai và một con gái còn nhỏ, được chủ nhà máy bố trí cho ở một nửa biệt thự hai tầng loại vừa phải trong một khuôn viên rất đẹp, cỏ cây xanh, cây cảnh, đường ra vào rải sỏi vàng, có nhà bếp, nhà kho, nhà tắm ờ phố Brie đờ Liôlê. Còn nửa biệt thự bên kia được ngăn cách bằng một bức tường cao là một kỹ sư người Pháp ở. Tôi và Thanh được ở trong cái nhà kho, sàn tráng xi măng, được dọn dẹp sạch sẽ, có bàn học, ánh sáng điện tạm đủ, một giường lớn đủ chăn màn cho hai đứa. Theo tôi, với những học sinh thời đó phải trọ học như chúng tôi, đó là một chỗ ở lý tường cho cuộc sống và học tập, tự do trong sinh hoạt và yên tĩnh. Ông bà đối xử với Thanh và tôi không vồ vập nhưng chu đáo. Nhà có hai người giúp việc, một nam, một nữ còn trẻ, phục vụ việc cơm nước, giặt giũ và trông nom hai đứa trẻ. Chúng tôi được chuẩn bị ăn sáng riêng để đi học, bữa trưa và chiều cùng ăn cơm với ông bà và hai trẻ nhỏ. Ông Thục có phong thái rất điển hình của một trí thức trẻ thời đó, quần áo chỉnh tề, ăn nói lịch sự, nhẹ nhàng. Đôi khi ông cũng hỏi qua về việc học tập của tôi và Thanh, cùng những yêu cầu khác, có cần gì không? Có lần tôi và Thanh đề nghị ông dạy cho môn hóa. Ông dạy chúng tôi được vài buổi thì thôi vì ông bận nhiều việc quá. Bà vợ là một tiểu thư con nhà giàu, đài các, người đẹp, thanh tú, không trực tiếp làm việc nội trợ bao giờ, chỉ sai bảo hai người giúp việc và trông nom dạy dỗ hai đứa con. Thanh và tôi, trong quan hệ với ông bà ấy, tuy không thật có được không khí ấm cúng của một gia đình nhưng cũng không có điều gì đáng phàn nàn, không bao giờ bị xúc phạm, chạm đến lòng tự trọng của chúng tôi vì bất cứ lý do gì. Ngay cả khi ông bà có bạn bè cùng ăn cơm, chúng tôi vẫn ngồi cùng bàn ăn và nghe họ nói chuyện với nhau.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, tôi vẫn ở Nam Định. Đêm trước, chỉ nghe thấy súng nổ lẹt đẹt rải rác, không có vẻ gì ác liệt. Nhưng buổi sáng cả nhà không ai ra ngoài vì sợ tai bay vạ gió, chỉ có chị giúp việc đi chợ mua thức ăn, về nói lại tình hình yên tĩnh, không có gì lộn xộn, chỉ có lính Nhật đi lại nhiều và gác ở các nơi. Tôi đi xuống trường xem tình hình thế nào thì được nghe nói là ông Hiệu trưởng người Pháp - Maneval đã bị lính Nhật bắt. Theo tôi, ông là một người hiền lành. Trước đó vài hôm, ông đến lớp tôi để công bổ kết quả năm học. Tôi xếp thứ 9 trong số 10 học sinh được tuyên dương học khá. Tôi nghĩ, vì "professeur principal" (như chủ nhiệm lớp bây giờ) "trù" do tôi bị nhầm một lỗi không quan trọng lắm khi định nghĩa một từ Pháp trong một lần kiểm tra, mà bị 0 điểm. Vì vậy, khi thi chính thức, mặc dù bài làm của tôi rất hoàn hảo nhưng vì bị điểm 0 đó mà điểm tổng kết bị trừ rất nhiều, nếu không thứ bậc được xểp trong lớp của tôi còn cao hơn. Các thầy dạy môn khác thì rất hài lòng về tôi. Trong niên học 1944 - 1945 ở trưởng thành chung Nam Định, nhiều lần tôi được nghe các bạn thì thầm là có truyên đơn của Việt Minh rải trong trường và có khi có truyền đơn ở ngay ngăn bàn của học trò. Tôi không ngạc nhiên về điều này vì khi con ờ nhà, tôi đã giữ những gói truyền đơn đại loại như thế cho anh Cầu. Ông thầy "chủ nhiệm" lớp tôi nhiều lần có vẻ rất quan trọng, trợn mắt đe học sinh không được nhặt hay đọc gì cả. Ngay sau ngày Nhật đảo chính Pháp một hôm, nhà ông Thục có khách đặc biệt. Đó là một cặp vợ chồng ăn mặc sang trọng đến thăm, nhìn có vẻ nhiều tuổi hơn vợ chồng ông Thục. Ông chồng cao to mặc một bộ comple rất sang trọng, bà vợ cũng trạc tuổi như thế mặc quần lụa trăng, áo dài màu, son phấn hơi lòe loẹt. Khách ngồi chơi khá lâu với ông Thục và được mời ở lại ăn cơm. Đến bữa, tôi và Thanh được gọi lên cùng ăn. Hai vợ chồng ông khách ăn qua loa, có vẻ vội vàng xin cáo từ ra về. Ông Thục còn đang ăn dở cơm đứng dậy ra tiễn khách. Khi vào ông nói với vợ: "Ông Vũ Đình Huỳnh là "Xứ ủy viên" đấy", và nửa đùa nửa thật mỉm cười nói với bà vợ: "Bà trông còn hấp dẫn lắm, ra đường bây giờ cẩn thận với bọn lính Nhật...". Tôi quan tâm tới câu nói "Ông Vũ Đình Huỳnh là Xứ ủy viên", vì được đọc Báo "Cứu quốc" và Báo "Cờ giải phóng" khi còn ở nhà, tôi hiểu đây là một cán bộ cấp cao trong hệ thống tổ chức của cách mạng. Còn ông Thục vốn là một trí thức được đào tạo tại Pháp nên cũng có tiếng tăm. Tôi thường thấy có những cuốn sách ông để trên bàn ở phòng khách, đồng thời cũng là phòng ăn, do bạn bè tặng và những lời đc tặng bằng tiếng Pháp rất trọng thị. Với trình độ chính trị còn non nớt, nhưng tôi cũng có thể suy đoán việc ông Vũ Đình Huỳnh đến thăm ông Nguyễn Đăng Thục có thể có một ý nghĩa nào đó, có quan hệ tới tình hình chính trị rất phức tạp khi đó. Báo chí, truyền đơn cách mạng lúc đó nói rất nhiều đến tình trạng nhân dân ta "một cổ hai tròng", bị Nhật - Pháp bóc lột đến tận xương tủy. Từ những tháng cuối năm 1944 đến những tháng đầu năm 1945, nạn đói diễn ra cực kỳ nghiêm trọng. Thỉnh thoảng ngày chủ nhật hoặc các ngày nghỉ lễ, tôi thường đạp xe trên đường 21 từ Nam Định về Quế và ngược lại (tôi được bố mẹ mua cho một chiếc xe đạp tòng tục để đi về). Suốt dọc đường quốc lộ, song song với đường xe lửa, có những cảnh tượng đau lòng không thể tưởng tượng nổi. Rải rác bên bờ cỏ của đường sắt và đường 21, những xác người nằm chết gục hoặc thoi thóp, ngac ngoải chờ chết vì đói. Từng lớp người gầy trơ xương đi liêu xiêu, loạng choạng vì không có cái ăn từ hướng Thái Bình và các vùng của Nam Định lên phía bắc tìm đường sống. Những xác chết dọc đường chính là từ những tốp người này chết gục hoặc kiệt sức không đi được nữa. Những hình ảnh như thế này ngay ở chợ Quế quê tôi cũng thấy rất nhiều. Nhưng một hình ảnh khắc sâu vào tâm khảm của tôi, suốt đời tôi không quên, gieo vào lòng tôi một sự xót xa, căm giận sâu sắc. Đó là một buổi sáng mùa đông trên đường từ nhà ông Thục đến trường, tôi nhìn thấy một chiếc xe bò bánh sắt, trên xe xếp đầy xác người chồng lên nhau, người thì quần áo rách rưới, cũng có người mặc áo the khăn xếp, có những cái chân thò ra còn ngọ nguậy. Hai người mỗi người cầm một bên càng xe, đằng sau có hai người đẩy là những người cũng đã bị đói đến kiệt sức. Một tên lính Pháp khoảng trên dưới 30 tuổi, mặc sắc phục mùa đông của cảnh sát được là phẳng phiu, tay cầm một cái roi gân bò huơ huơ liên tục, cười nhăn nhở, dọa và thúc những người kéo và đẩy xe sắp chết đói đó đang loạng choạng lê từng bước đưa đồng bào bị chết đói của mình đổ xuống một cái hố lớn nào đó ở ngoại ô thành phố và vùi lấp họ... Một cảm xúc xót thương đồng bào mình trào lên trong tôi và sự căm giận bọn thực dân Pháp dâng lên tột đỉnh, tưởng chừng không thể chịu nổi. Một tên thực dân cấp thấp điển hình của những tên thực dân cấp thấp tàn bạo và vô cảm, mất hết tính người, cặn bã bẩn thỉu nhất của nền văn minh Pháp. Chúng đang ra sức thực hiện lệnh của bọn thực dân cấp cao của chúng còn tàn bạo hơn, nhưng rất xảo quyệt, núp dưới chiêu bài đem văn minh khai hóa cho dân "annammít". Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Bảy, 2023, 07:41:08 am Chương hai CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NGÀY HỘI LỚN ĐỔI ĐỜI Bối cảnh gia đình và xã hội kể từ khi lọt lòng cho đến năm gần 16 tuổi, tôi đã sống và lớn lên như vậy. Đó là thời gian nhân dân ta sống trong vòng nô lệ của chế độ thực dân Pháp, phát xít Nhật và bọn phong kiến. Đó cũng là ngày tàn của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật ở Việt Nam và là đêm trước của Cách mạng Tháng Tám, cuộc cách mạng vĩ đại do những người cộng sản đứng đầu là Bác Hồ lãnh đạo, đập tan chế độ cai trị "một cổ hai tròng" của thực dân Pháp và phát xít Nhật đối với nhân dân ta. Và lịch sử đã chứng minh rằng, khi lực lượng thống trị đang giãy chết, chúng càng trở nên tàn bạo hơn bao giờ hết. Lớn lên trong hoàn cảnh như vậy, ngay từ khi đỗ Sơ học bổ túc (Certificat), năm gần 13 tuổi, tôi đã có thể cảm nhận được những gì đã và đang xảy ra xung quanh mình. Song lúc đó tôi chưa nhận thức nổi ảnh hưởng của nó đến tâm hồn, tính cách và nói chung là toàn bộ cuộc đời mình sau này. Đến bây giờ nghĩ lại, thấy rõ là tình hình gia đình, xã hội đã tác động rất sâu sắc đến việc hình thành nhân cách con người của mình. Về gia đình, những lúc bình thường, tuy thời thế, cuộc sống có khó khăn, nhưng tôi thấy mình được sống trong một không khí ấm áp của tình cảm gia đình, mặc dù là một đứa trẻ hay ốm đau, quặt quẹo, lúc nào cũng được sự chăm sóc của bố mẹ và các chị. Do đó, tôi biết ơn những tình cảm yêu thương đó và cũng là người dễ xúc động, đa cảm, dễ cảm thông với những người xung quanh. Đặc biệt ở mẹ và bổ, là những người tôi chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Trong sâu thẳm tâm hồn mình, tôi thấy mẹ tôi là một người mẹ hết lòng chăm lo cho chồng con, không hề tính toán cho riêng mình. Bà là một phụ nữ đầy nghị lực, không bao giờ gục ngã trước gian khổ, khó khăn, thiếu thốn. Bà không biết chữ nhưng được giáo dục chu đáo của gia đình từ nhỏ nên cách ứng xử trong các mối quan hệ tế nhị, cặn kẽ, tôi nghe nói bà được mẹ chồng (bà nội tôi) yêu quý. Đối với chồng (bố tôi), mặc dù đau khổ vì ông nghiện ngập, làm cho gia đình túng thiếu, nhưng bà biết nhẫn nhịn. Với bạn bè của chồng, đối với bất cứ ai, bà cũng tiếp đãi chu đáo, chưa bao giờ làm bẽ mặt chồng trước bạn bè. Bởi vậy, bà đã giúp ông tuy nghiện ngập vẫn giữ vững được nhân cách đàng hoàng, được bạn bè và người thân nể trọng. Bố tôi là người con trai được học hành tốt hơn so với bác và chú tôi. Ông thông hiểu chữ Hán - Nôm, biết giao dịch bằng tiếng Pháp thông thường, viết chữ Quốc ngữ và viết chữ Nho rất đẹp như trên tôi đã nói. ông có một tấm bằng gọi là "Bằng Tuyển sinh" mà tôi đã được trực tiếp xem. Có thể nói, thời đó, ông là một trí thức hiểm hoi ở nông thôn. Mối quan hệ của ông đối với những người tiến bộ, yêu nước, cách mạng; cách xử sự của ông luôn nhân ái, không miệt thị, hống hách với những người cùng đinh, nghèo khổ; sống phóng khoáng, rộng rãi với bạn bè, yêu văn học, sách báo... Điều đó làm tôi tự hào vì có một người cha như ông. Nhưng nỗi buồn lớn nhất của tôi, giống như mẹ mình là ông nghiện ngập, làm cho mẹ tôi và gia đình có lúc lâm vào tình trạng khó khăn, thiếu thốn lẽ ra không đáng có. Tuy có người cho rằng nghiện thuốc phiện thời đó là bình thường vì chính quyền thực dân phong kiến cho mở các đại lý bán rượu và thuốc phiện công khai nên khó tránh khỏi có nhiều người nghiện ngập và nhiều người trở nên nghèo đói, bệ rạc như chú ruột tôi chẳng, hạn. Nỗi buồn đó cùng với sự sa sút của chú ruột đã ám ảnh tôi từ khi còn trẻ thơ cho đến lúc lớn khôn. Bởi vì ngay từ thời đó, những gia đình có nền nếp đều chống lại việc nghiện ngập thuốc sái, cờ bạc, rượu chè, trai gái, trộm cắp... và coi đó như những tệ nạn cần tránh. Tôi tự ti, xấu hổ trước mọi người, nhất là đổi với các thầy giáo dạy mình và bạn bè cùng học với mình. Tôi cho rằng, nếu như ông không có tật ấy thì cuộc sống của gia đình sẽ tốt hơn rất nhiều và đó sẽ là một gia đình có hạnh phúc trọn vẹn. Càng lớn, tôi càng nhận rõ hơn đúng sai về ông và đứng về phía mẹ mình, tôi đã khẳng định với bà là tôi sẽ không bao giờ mắc phải như thế và càng thương mẹ nhiều hơn. Tuy nhiên, trong tình cảm lẫn lộn giữa những điều tốt đẹp và có điều không vui về ông, tôi vẫn thấy mình chịu ảnh hưởng rất nhiều về lòng yêu nước, về phong cách sống của ông. Chính nhở các mối quan hệ của ông với những người yêu nước, cách mạng và tiến bộ mà từ nhỏ tôi đã được tiếp cận với những diều mới mẻ mà nhiều bạn học của tôi không có may mắn đó. Có một điều đến bây giờ tôi vẫn rất tự hào là tôi đã được gặp cả ba người cộng sản trong chi bộ đầu tiên của Đảng ở Kim Bảng được thành lập ngày 6 tháng 3 năm 1930 do thầy giáo Đạt làm Bí thư, ngay tại nhà bác ruột và nhà tôi. Người đầu tiên mà tôi chỉ được gặp một lần ở nhà tôi là ông Bùi Khiết, Chánh hội ở thôn Khả Phong vào khoảng năm 1938, khi tôi mới lên chín tuổi. Tối hôm đó, nhà tôi có khoảng năm, sáu người khách quen của gia đình, trong đó có ông Bùi Khiết, họ đang trao đổi với nhau một việc quan trọng nào đó. Tôi tò mò sán lại gần các ông thì được biết các ông đang bàn về việc kiện viên Tri huyện Nguyễn Ước Lễ nổi tiếng tham nhũng, hống hách và dung túng bọn nho lại và bọn cường hào ức hiếp, nhũng nhiễu dân chúng trong huyện. Sau này, tôi được biết là các ông đã tranh thủ thời cơ Mặt trận bình dân ở Pháp nắm chính quyền và Đảng đang hoạt động công khai để làm việc này. Lá đơn được gửi lên viên Thống sứ Pháp ở Bắc Kỳ và sau đó các ông đã thắng kiện. Viên Tri huyện Nguyễn Ước Lễ đã bị thuyên chuyển đi nơi khác. Nhưng rất tiếc là người đảng viên cộng sản Bùi Khiết kiên cường, năng nổ, luôn dẫn đầu các cuộc đấu tranh vì quyền lợi của nhân dân Kim Bảng đã mất trước khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra. Người cộng sản thứ hai của chi bộ đầu tiên là đồng chí Chu Khắc Hướng, quê ở thôn Vân Chu (xã Phù Vân sau này). Tôi quen biết và được làm việc với đồng chí khi tôi đã là Chính trị viên Huyện đội và là Huyện ủy viên của huyện Kim Bảng. Trong khoảng thời gian ba năm (từ đầu năm 1947 đến đầu năm 1950), đặc biệt là thời gian tôi được Huyện ủy phân công làm Bí thư Đảng Đoàn thanh niên huyện và là Bí thư Chi bộ cán bộ dân vận trực thuộc Huyện ủy. Đồng chí Hướng trạc tuổi bố tôi, vốn là Hương sư tại quê đồng chí, sau Cách mạng Tháng Tám được bầu làm Phó Bí thư Chi bộ xã Phù Vân, thuộc khu vực tôi phụ trách. Đồng chí rất hiền, khiêm tốn và có uy tín với dân. Có lần, tôi công tác ờ xã, đến bữa, đồng chí bảo tôi ở lại ăn cơm với gia đình. Tôi rất xúc động khi thấy trên mâm cơm của gia đình hôm đó chì có một quả trứng vịt rang mặn và rau muống luộc. Cán bộ thời kỳ đó làm công tác vận động quần chúng không có lương, chi được cấp một ít tiền tiêu vặt, ăn ngủ ngay ở nhà dân, nên không giúp đỡ được gì cho gia đình mà mình ăn, ở cùng họ1 (Khoảng những năm 1994 - 1995, tôi gặp con trai đồng chí là anh Chu Tuấn Anh trong một cuộc họp đồng hương Kim Bảng ở Hà Nội. Chu Tuấn Anh cho tôi biết bố anh đã mất và không hiểu vì sao chưa được xét hưởng chế độ lão thành cách mạng). Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Bảy, 2023, 07:42:27 am Người cộng sản thứ ba là người tôi có ấn tượng sâu sắc nhất, cũng là người sau này tôi được tiếp xúc nhiều nhất. Đó là Bí thư Chi bộ đầu tiên của huyện Kim Bảng, thầy giáo Trường Kiêm bị Kim Bảng Nguyễn Văn Đạt. Thầy là hội viên của Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, là người thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ngày 6 tháng 3 năm 1930 ở nhà bác ruột tôi là cụ Đinh Văn Phụng, tại thôn Phương Khê Chợ2 (Nay thuộc thị trấn Quế - huyện Kim Bảng. Phương Khê Chợ được sử dụng từ trước năm 1945 đến năm 1986), sát cạnh huyện lỵ Kim Bảng (nay thuộc thị trấn Quế), và tiếp ngay sau đó là thành lập chi bộ thứ hai ở chùa Đức Mộ phía bắc huyện (nay thuộc xã Nguyễn úy). Cả hai chi bộ đều do thầy Đạt là Bí thư. Sự kiện quan trọng này đã được ghi lại trong cuốn "Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Kim Bảng". Chính quyền thực dân phong kiến biết rõ thầy là cộng sản, nhưng vì được cơ sở quần chúng bảo vệ, chúng không có đủ chứng cớ để bắt thầy nên đã trục xuất thầy khỏi huyện Kim Bảng bằng cách điều động thầy lên vùng thượng du là huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Tại đây, thầy tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện và được bầu làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân lâm thời huyện Hạ Hòa rồi tiếp tục được bầu là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Hạ Hòa cho đến ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Khi về hưu, thầy trở về quê hương là thị xã Phủ Lý. Gia đình thầy mở một gian hàng tạp hóa nhỏ bằng nứa lá gần ga xe lửa do bà vợ và chị con gái út trông nom. Các con của thầy lớn lên đều là cán bộ Nhà nước làm việc ở xa, trong đó có chị con dâu là Hồ Thị Liên, Hiệu phó Trường Trung học phổ thông huyện Kim Bảng mà tiền thân của nó là Trường Kiêm bị Kim Bảng, nơi trước kia thầy từng dạy học ở đó. Thầy nặng tình với huyện Kim Bảng. Mặc dù bác và bố tôi đã mất nhưng thầy vẫn đến thăm hỏi bác gái và mẹ tôi cùng những người quen biết khác mỗi khi có dịp về Kim Bảng thăm con dâu và các cháu. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thị xã Phủ Lý chưa kịp phục hồi sau kháng chiến chống Pháp, thì nay lại là cái túi hứng bom của giặc Mỹ, tan hoang xơ xác. Tuy tuổi đã cao nhưng thầy vẫn nhận nhiệm vụ là Bí thư Chi bộ của thị xã trong một hoàn cảnh cực kỳ gian khổ ác liệt đó. Có nhiều dịp qua thị xã, hầu như lần nào tôi cũng ghé thăm thầy với lòng kính trọng, biết ơn, với tình cảm thắm thiết đối với người cộng sản lão thành quen biết với gia đình mình. Thầy rất ít nói về mình nhưng trong một lần gặp tôi (khi đó tôi đã là Trung tá), biết tôi có hiểu chút ít tiếng Pháp, vui chuyện thầy nói mật thám Pháp ở tỉnh đã "quan tâm" tới thầy như thế nào. Trong hồ sơ của bọn chúng, ta được biết sau này, như nguyên văn thầy nói với tôi là: "Le mouvement communiste se développe rapidement à Kim Bảng dont Giáo Đạt est le plus dangeureux" (tạm dịch là: "Phong trào cộng sản phát triền nhanh chóng ở Kim Bảng mà giáo Đạt là tên nguy hiểm nhất").
Theo cảm nhận của tôi, khi đã là đảng viên, tôi ngày càng thấy rõ hơn thầy là người đã đem ngọn lửa cách mạng của Đảng về hâm nóng tinh thần yêu nước và cách mạng vốn có của nhân dân Kim Bảng. Ngôi trường Kiêm bị duy nhất của huyện mà thầy đã dạy học ở đó có nhiều học trò đã trở thành những cán bộ cốt cán của phong trào Việt Minh trong toàn huyện tham gia cuộc khởi nghĩa vũ trang rất thành công, giành chính quyền về tay nhân dân. Trong đó có rất nhiều người đã trở thành cán bộ trung cao cấp của các ngành, đặc biệt là lực lượng vũ trang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược. Ở thầy, tôi thấy toát lên một tâm hồn trong sáng, bền bỉ. Thầy luôn tích cực hoạt động cách mạng không vì danh lợi, địa vị, cho đến khi tuổi cao sức yếu, đã về hưu nhưng vẫn vững lòng, vui vẻ nhận nhiệm vụ Bí thư Chi bộ ở một điểm rất nóng trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc là thị xã Phủ Lý. Có thể nói, thầy là một con người giàu tình cảm với nhân dân Kim Bảng, với các gia đình cơ sở. Chị Hồ Thị Liên, con dâu thầy cho tôi biết, trước khi trút hơi thở cuối cùng, thầy có nhắc mấy tiếng: "... Kim Bảng, Kim Bảng..." với các con rồi mới đi hẳn. Nghe chuyện đó, tôi rất xúc động. Tuy không biết rõ ý thầy muốn nói gỉ, nhưng tôi cho rằng trước khi về với Bác Hồ (năm 1981), thầy còn nặng lòng, tình nghĩa với Kim Bảng nhiều lắm. Sinh thời, thầy sống rất giản dị, đôn hậu, hiền từ, thân ái, gần gũi mọi người, không bao giờ tỏ ra mình là một lão thành cách mạng, một "quan huyện" về hưu. Với tôi, thấy là một nhân cách lớn. Tôi luôn kính trọng, biết ơn và học tập những phẩm chất tốt đẹp, cao quý ở thầy. Thật ra, khi tôi tốt nghiệp Sơ học bổ túc năm 1942 lúc chưa đầy 13 tuổi, dưới chế độ thực dân phong kiến và phát xít Nhật, tôi đã biết suy nghĩ về tương lai của mình. Tôi chỉ mong sao được tiếp tục đi học. Uớc mơ của tôi khi lớn lên sẽ được học ở Trường Kỹ nghệ thực hành Hà Nội (Ecole pratique d’industries) để có một nghề tự do, hợp với sức khỏe của mình hoặc là một thầy giáo làng dạy học các em nhỏ. Nhưng từ khi được giác ngộ cách mạng và gần như trọn đời sống và chiến đấu trong lực lượng vũ trang, trở thành "anh Bộ đội Cụ Hồ" (trong đó có vài năm biệt phái làm công việc đoàn thể), ngẫm lại tôi thấy cuộc đời đó là tất yếu đối với mình, không thể khác được, không có con đường nào tốt đẹp hơn. Khi nghĩ về bối cảnh gia đình, sự may mắn được gần gũi từ nhỏ với những người cách mạng, tiến bộ và những cảnh tai nghe mắt thấy, đặc biệt là nạn đói năm 1945 ở Nam Định và ở quê tôi, trong đó có cả những người thân của mình chết đói, mặc dù gặp nhiều khó khăn, gian khổ, nhiều lần cận kề với cái chết, nhưng tôi thấy thật sự hạnh phúc đã được đi trên con đường đó, trong lòng luôn luôn thanh thản, nhẹ nhàng, tự hào vì đã chọn đúng con đường cho mình. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Bảy, 2023, 07:43:31 am Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, các trường học ở Nam Định đều đóng cửa. Nghe ngóng một hai hôm không thấy động tĩnh gì, tôi và Thanh trở về thị trấn Quế. Việc học hành của tôi tiếp tục bị lỡ dở một lần nữa, nhưng tôi lại có điều kiện thời gian để tiếp tục hoạt động cách mạng. Sau Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" ngày 12 tháng 3 năm 1945 của Thường vụ Trung ương Đảng, Kim Bảng cũng như các nơi khác, một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ bắt đầu. Đồng chí mà tôi hay gọi là chú Đường triệu tập cuộc họp bí mật vào một buổi tối tại đình Xuân, thôn Phương Khê Chợ, bao gồm tất cả các thành viên cốt cán của tổ Việt Minh ở thôn (khoảng bảy, tám người). Sở dĩ lấy đình Xuân làm địa điểm họp vì đó là một nơi tương đối an toàn. Đồng chí Tuyết, một thành viên của tổ là con cụ Thủ từ của đình nên có chìa khóa mở hậu cung và khóa lại để họp. Chúng tôi chui vào gầm bàn thờ Thành hoàng để họp dưới ánh đèn leo lét của ngọn đèn dầu Hoa Kỳ. Một bộ đồ xóc đĩa được chuẩn bị để nếu có bị lộ thì chỉ là một vụ đánh bạc. Trong cuộc họp, đồng chí Đường phổ biến những nét chính của tình hình và chỉ thị của "Thượng cấp", đặt bí danh cho từng người và phân công phụ trách vận động phát triển hội viên. Tôi được phân công công tác vận động thanh thiếu niên nhưng trong thâm tâm tôi rất thích vào đội tự vệ chiến đấu. Sau được giải thích là mọi tổ viên, bất cứ được phân công việc gì, lúc cần thiết đều là tự vệ chiến đấu cả, nên tôi không còn thắc mắc nữa. Mọi hoạt động của tổ Việt Minh từ đó trở đi rất sôi nổi, tôi không còn thiết tha đến việc tiếp tục học tập văn hóa như trước nữa. Tổ Việt Minh chúng tôi lợi dụng triệt để các tổ chức hợp pháp công khai như "Đội bảo an", "Thanh niên khất thực", các lớp truyền bá Quốc ngữ để hoạt động. Ban đêm, các biểu ngữ được dán ở nhiều nơi. Truyền đơn được rải ở những nơi đông người. Trong các buổi họp chợ, chúng tôi kêu gọi kháng Nhật cứu nước, ủng hộ Việt Minh. Tổ chức Thanh niên khất thực đi quyên cơm các gia đình để cứu đói. Nhiều người tình nguyện chôn cất những người chết đói vô thừa nhận từ các nơi khác đến. Tôi tập hợp các em thiếu niên dạy thêm văn hóa, dạy Quốc ngữ, dạy những bài hát tiền chiến có nội dung yêu nước cho các em. Từ những hoạt động đó, ảnh hưởng của Việt Minh ngày càng lan rộng, không những ở trong làng mà còn lan sang cả những làng xung quanh. Những người biểu lộ rõ thái độ ủng hộ Việt Minh ngày càng nhiều. Lòng tin tưởng và khí thế hoạt động của các thành viên trong tổ ngày càng cao.
Tuy nhiên, nạn đói vẫn tiếp diễn nghiêm trọng. Một hôm, vào buổi sáng, phiên chợ Quế đang nhộn nhịp đông vui, tôi nghe thấy tiếng la hét chửi rủa ngay trước cửa nhà. Tôi nhìn ra thấy anh Tấn, trạc tuổi tôi, con một ông bà láng giềng một tay cắp cái rá trên còn ít nắm cơm bằng nắm tay trẻ con bán rong ở chợ, một tay thì ra sức đấm một anh con trai trạc tuổi đang cố nhét một nắm cơm vào mồm. Mặc cho những cú đấm liên tiếp vào lưng, vào sườn, vào mặt... anh ta vẫn cố nhét cơm vào miệng mà anh ta vừa chộp ở cái rá của anh Tấn. Tôi thở dài, lặng người đứng nhìn. Bữa cơm chiều của nhà tôi hôm đó, tôi ngồi ăn mà không thể quên được cảnh tượng buổi sáng. Ăn được một bát, tôi buông bát đũa, mời bố mẹ theo thói quen sau khi ăn xong của gia đình. Mẹ tôi ngạc nhiên vì mọi hôm thường tôi ăn được hai, ba bát. Mẹ tôi hỏi: - Sao hôm nay ăn ít thế con? Tôi đáp: - Con để lại mộl bát cho những người bị đói. Mẹ tôi rơm rớm nước mắt, nhìn tôi, giọng rất xúc động: - Con cứ ăn no đi, rồi mình sẽ giúp sau. Còn bố tôi im lặng nhìn tôi một lúc, tay vẫn cầm bát cơm, đôi đũa sau câu tôi trả lời mẹ tôi. Đầu tháng Tư âm lịch, cánh đồng quê tôi ở một số thừa ruộng cấy sớm đã bắt đầu có lúa chín vàng. Một số gia đình đã gặt non để ăn, nạn đói giảm đi chút ít. Tuy nhiên, nhiều gia đình cũng vẫn còn đói. Chỉ có rất ít gia đình còn chút ít gạo để rau cháo đợi mùa gặt sắp tới. Tôi đến thăm cô ruột tôi là mẹ anh Cầu. Bà bị ốm, các con trai đều đi làm thuê xa, nhà đã hết gạo. Biết bà khó khăn, gia đình bác tôi và bố mẹ tôi cũng đã nhiều lần trợ giúp nhưng vẫn không giải quyết được lâu dài. Lần này chắc bà cũng ngại, không muốn phiền hà xin các em. Hơn nữa, bản thân mỗi gia đình cũng lo trước hết cho gia đình mình vì tương lai có đảm bảo được cho con cái nhà mình đủ sống không? Tôi về nhà, nhân lúc vắng người, vào buồng mở vại gạo ra xem, thấy chỉ còn độ 2 - 3 kilôgam, tôi xúc lưng bơ, gói lại lên biếu cô. Chiều đi chợ về, mẹ tôi vào buồng lấy gạo thổi cơm. Chắc bà thấy rõ gạo trong vại hụt đi và cũng biết người lấy là tôi, nhưng bà không nói gì. Rồi lúa cũng chín rộ vào những ngày cuối tháng Tư và tháng Năm âm lịch. Tuy tình hình còn khó khăn nhưng dân vùng tôi cũng vượt qua được nạn đói. Điều kiện hoạt động của tổ Việt Minh Phương Khê Chợ có chút ít thuận lợi hơn trước. Đội bảo an của thôn là một tổ chức hợp pháp của chính quyền do đồng chí Đường phụ trách. Những buổi tối thức đêm, anh em bị đói, nhất là anh em nhà nghèo, đồng chí Đường thường rang ngô để đãi anh em cho đến hạt ngô cuối cùng. Việc chuẩn bị khởi nghĩa đã bắt đầu được xúc tiến tích cực. Tổ Việt Minh Phương Khê cũng cử một số đồng chí có sức khỏe tham gia đội đi lấy vũ khí ở Thung Do, xã Đồng Tâm, Hòa Bình - một cái hang Pháp giấu ở đó do đồng chí Lê Hồ phụ trách. Đồng chí Lê Hồ là một trong những đảng viên đầu tiên của chi bộ phía bác Kim Bảng do thầy Đạt làm Bí thư. Khoảng năm 1940, đồng chí bị địch bắt giam tại nhà tù Nghĩa Lộ. Đảo chính Nhật - Pháp, đồng chí đã cùng một số người khác vượt ngục về quê hoạt động. Chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa, đồng chí được cử vào Ban Cán sự Đảng của tỉnh và được phân công phụ trách quân sự. Công tác lấy vũ khí của địch do đồng chí trực tiếp chỉ huy rất thành công. Nhưng sau đó, vì bị địch giam cầm đến năm năm, sức khỏe kém, việc lấy vũ khí vất vả, đồng chí Lê Hồ đã bị bệnh thương hàn cấp tính và mất vào ngày 17 tháng 6 năm 1945. Đó là một tổn thất rất lớn cho phong trào cách mạng Kim Bảng. Để tưởng nhớ người chiến sĩ cách mạng kiên cường đó, quê hương sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 được mang tên anh - xã Lê Hồ. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Bảy, 2023, 07:45:47 am Một công tác khác chuẩn bị cho khởi nghĩa cũng được tiến hành tích cực là việc dạy võ cho quần chúng. Lợi dụng tổ chức bảo an, làng Phương Khê đã đón một thầy dạy võ về. Võ sư là ông Cả Hảo, tuổi ngót 30, là một hội viên cứu quốc ở Ninh Bình được cấp trên cử về. Đồng chí Đường đã thỏa thuận với bố tôi để ông Cả Hảo ăn ờ tại nhà và luân phiên dạy võ cho bảo an và thanh niên của hai thôn Phương Khê Trong và Phương Khê Chợ.
Tôi học võ vào loại tiếp thu nhanh, tuy sức khỏe kém nhiều người nhưng được cái nhanh nhẹn. Có những buổi diễn tập quyền đối kháng, tôi thi đấu với các anh ở Phương Khê Trong tại sân đình thờ Đức Đinh Tiên Hoàng đế, tôi chưa bị thua ai bao giờ, dù các anh ấy to khỏe, quen với việc cày bừa. Có lần, chúng tôi đang tập đánh gậy, đánh kiếm ở quán ngói chợ Quê thì một tên lính Nhật đeo kiếm xuất hiện. Nó đứng gần đó, gườm gườm nhìn chúng tôi tập. Thật tình, lúc đầu chúng tôi cũng hơi ngại, nhưng rồi bảo nhỏ nhau cứ tiếp tục tập, coi như không thấy nó. Tên lính Nhật đứng một lúc lâu rồi lăng lặng bỏ đi. Ngày 18 tháng 6 năm 1945, toàn bộ tổ Việt Minh thôn Phương Khê Chợ do đồng chí Đường dẫn đầu bí mật lên chợ Dầu, cách chợ Quế khoảng 10 kilômét về phía bắc. Theo đồng chí Đường phổ biến, chúng tôi sẽ dự một cuộc mít tinh và tuần hành vũ trang thị uy. Đây là lần đầu tiên chúng tôi được tham gia hình thức đấu tranh này. Diễn giả hôm ấy là một người trẻ tuổi nét mặt đẹp, cương nghị, dễ có cảm tình, mặc bộ quân áọ nâu, đeo một khẩu súng ngắn nhỏ, xung quanh anh có một số tự vệ chiến đấu, là cơ sở Việt Minh địa phương được trang bị đao kiếm để bảo vệ diễn giả. Anh đứng trên một bệ gỗ kê cao, kêu gọi nhân dân chống nộp thóc, thầu dầu, chống sưu cao thuế nặng vạch mặt chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim và bọn Việt gian bán nước, đồng thời kêu gọi đồng bào ủng hộ và tham gia Mặt trận Việt Minh đuổi Nhật, cứu nước. Sau này, tôi mới được biểt anh là đồng chí Lê Thành, Trưởng ban Cán sự Đảng của tỉnh Hà Nam, đồng thời là Bí thư Ban Cán sự Việt Minh tỉnh Hà Nam. Anh là người đã cùng những bạn tù khác lợi dụng lúc Nhật đảo chính Phap, đã phá nhà tù thoát ra, tiếp tục hoạt động cách mạng. Đó là những người tham gia Việt Minh sau ngày 9 tháng 3 năm 1945 nhưng chúng tôi rất ngưỡng mộ. Tiếp theo cuộc mít tinh là cuộc biểu tình tuần hành vũ trang thị uy. Cuộc mít tinh tuần hành vũ trang này đã có một tiếng vang lớn và đã được Báo "Cứu quốc" đưa tin. Với tôi, cuộc mít tinh và tuần hành được đông đảo người tham gia hôm đó làm tăng thêm lòng tin tưởng vào sự lớn mạnh của cách mạng. Sau cuộc mít tinh này ít lâu, đồng chí Đường được cấp trên thông báo có cặp vợ chồng là hai tên mật thám tay sai của bọn hiến binh Nhật phái tới Kim Bảng để dò la phong trào Việt Minh của huyện. Dạo đó đang cuối mùa gặt lúa chiêm nên hai tên này đóng vai thợ gặt đi gặt thuê. Chúng vác chiếc đòn càn và gặt hái lúa, đi lang thang trong huyện. Chỗ trọ của chúng lại ở ngay thôn Phương Khê Chợ, tại nhà một ông bán thịt lợn nát rượu. Chúng tôi chưa thấy hai tên này gặt thuê cho ai ở trong làng. Sự cải trang và hành động của chúng không lọt khỏi những con mẳt cảnh giác của đồng chí Đường và chúng tôi, nhưng tiếp cận hai tên này rất khó. Bỗng một hôm, nhà cụ Phúc Đình, một ông lang, đồng thời là chủ một cửa hiệu tạp hóa, trước đây đã từng là người nấu cơm cho nghĩa quân Đề Thám, cách nhà tôi khoảng chục mét, bị mất hai con vịt bầu rất béo. Cụ báo cho Trưởng đoàn bảo an là đồng chí Đường và nghi cho người lấy trộm là ông bán thịt lợn nát rượu, nơi ở trọ của hai tên mật thám kia. Một kế hoạch rất táo bạo của đồng chí Đường tiếp cận hai tên mật thám và tìm cách bắt sống chúng được đồng chí vạch ra. Nhưng đồng chí ấy không bàn với ai và làm với người nào trong tổ Việt Minh chỉ người đó biết. Người đầu tiên mà đồng chí tìm đến là tôi. Đồng chí nói: "Tiên đi với mình lên nhà ông lình L. (là nơi trọ của hai tên mật thám, nhà ông bán thịt lợn nát rượu) để khám nhà ông ấy, lấy cớ để khám hành trang của hai tên mật thám xem chúng có tài liệu gì không?". Tôi hiểu ý, và hai chú cháu đến nhà trọ của hai tên mật thám, cách nhà đồng chí Đường khoảng 200 mét, lúc đó khoảng 6 giờ chiều. Ông chủ không có nhà, có lẽ sau cuộc nhậu buổi chiều, say xỉn đã đi ngủ ở đâu đó. Vào nhà chỉ có một ngọn đèn Hoa Kỳ, chúng tôi thấy hai vợ chồng tên đó ngồi trên phản. Vợ hắn một mụ to béo, mặt rỗ, còn hắn là một lão khoảng trên 40 tuổi, gầy, mặt choắt, có hai hàng ria vểnh. Đồng chí Đường nói với chúng: - Chúng tôi là bảo an thôn, nhà ông cụ dưới kia mất hai con vịt bầu, nghi cho ông lình Lắt trộm, chúng tôi đến để tìm tang chứng. Tên chồng nói: - Vâng, mời các ông. Trong nhà tuềnh toàng không có hòm, có tủ gì, chỉ có một cái hòm gỗ đặt trên phản mà hai vợ chồng hắn ngồi ở đó. Đồng chí Đường yêu cầu chúng mở hòm. Lúc hòm mở ra, trong đó không có gì quan trọng, chỉ có một bát thịt vịt đang ăn dở. - Thịt vịt ở đâu thế này? – đồng chí Đường hỏi. Hắn đáp: - Ông chủ biếu chúng tôi! Trong lúc hai người đối đáp, tôi thấy hắn có vẻ bồn chồn và tay thì sờ vào phía trước bụng chỗ gần cái cạp quần đùi của hắn. Đồng chí Đường không phát hiện thấy gì, bảo hắn đi theo về nhà mình lập biên bản. Tôi đề nghị với đồng chí Đường cho khám tiếp. Tôi chỉ vào chiếc cạp quần đùi và bảo hắn để tôi khám. Khi tôi nắn chỗ cạp ấy thì ở bên trong là một cái túi, thấy “cồm cộm”. Tôi móc ra thì thấy một loạt giấy tờ. Thứ nhất là cái phong bì, tôi mở ra thấy một lá thư bằng chữ Pháp. Tôi đọc lướt qua câu đầu tiên: “A monsieur le commandant des Troupes faponaio à Hanoi” (Kính gửi quan chỉ huy những đơn vị quân đội Nhật ở Hà Nội). Tôi không cần đọc tiếp. Thứ hai là một tấm danh thiếp của một tên trung úy Nhật viết cả bằng chữ Quốc ngữ và chữ Nhật. Thứ ba là một cuốn sổ có những mật danh và những ký hiệu mà tôi không rõ. Thứ tư là ảnh lên Chánh mật thám Bắc Kỳ người Pháp mà có lần tôi đọc Báo "Đông Pháp" đã biết tên hắn. Tôi đưa toàn bộ cho đồng chí Đường... Không cần nói gì thì đồng chí Đường cũng hiểu ngay là một người thợ gặt bình thường thì không thể có những giấy tờ như thế. Trước khi dẫn hắn đi, đồng chí Đường nói với vợ hắn: - Bà cứ ở nhà, ông ấy xuống để chúng tôi hỏi thêm về việc vịt bị ăn trộm và lập biên bản, nếu có gì cần đến bà, chúng tôi sẽ mời bà xuống sau. Tôi thấy hắn cười nhạt nhưng không giấu nổi vẻ bối rối. Tôi đoán rằng, với những giấy tờ hắn có, dù có lên huyện hắn cũng dễ dàng được thả ra, nhưng kế hoạch dò la Việt Minh của chúng coi như bị lộ và thất bại. Tôi cùng đồng chí Đường dẫn hắn đi về nhà đồng chí nhưng vẫn lo vợ hắn sẽ chuồn mất. Về sau tôi mới biết là đồng chí Đường đã bố trí một tổ viên Việt Minh bí mật canh chừng chuyện đó rồi. Khi đồng chí Đường dẫn hắn vào nhà, vừa mở chiếc cửa panô ra, võ sư Cả Hảo bằng một ngón võ rất nhanh đã quật ngã tên mật thám xuống sàn và nhét chặt giẻ vào miệng hắn. Tên mật thám không kịp kêu một tiếng, bị trói gô lại rất chặt cả chân tay và lập tức cho vào trong buồng. Tôi và đồng chí Đường lại quay lên chỗ vợ hắn. Đồng chí Đường nói: - Có nhiều việc có liên quan tới bà, ông ấy đang đợi bà xuống để làm biên bản một thể. Vẻ mặt thị rất lì lợm nhưng buộc phải đi theo đồng chí Đường. Còn tôi đi sát sau mụ, đề phòng bất trắc có thể xảy ra. Cũng đến trước cửa panô vừa hé ra, thị không thấy ai trong nhà, liền lùi ra rất nhanh nhưng không kịp, lại là võ sư Cả Hảo bằng một ngón đòn mạnh đã lôi thị vào và quật ngã thị xuống sàn, cùng một tổ viên Việt Minh nhét giẻ vào mồm, trói chặt như chồng hắn và cho vào buồng. Việc bắt hai tên mật thám này, cùng với tài liệu thu được của chúng được thực hiện bước đầu nhanh gọn, bí mật, không có một sơ suất nào. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Bảy, 2023, 07:47:12 am Thời gian này vụ thu hoạch lúa chiêm đã gần kết thúc nhưng có nhiều người sau nạn đói đã kiệt sức, sinh bệnh tật đã không qua khỏi, trong đó có cô ruột tôi và người con gái thứ hai của bà, tức là chị họ tôi. Họ cũng đã chết thảm vì ốm đói, trong lúc các con trai của bà đi làm thuê ở xa cũng không giúp gì được cho gia đình. Dân có thóc ăn chưa được mấy bữa thì bọn Nhật lại đòi thu thóc và hạt thầu dầu. Bọn lính cơ, lính dõng ở huyện xuống các thôn làng đốc thúc bọn hương lý phải thu thóc cho Nhật.
Bác ruột tôi có một ít ruộng cũng phải nộp thóc cho huyện. Hôm đem thóc sang nộp ở huyện, anh Đinh Mạnh Bổng, con bác tôi, một hội viên bí mật Việt Minh ở thôn nói một câu gì dó xúc phạm đến bọn Nhậl và bọn cai trị ở huyện nên bị tên cai dõng đánh cho một trận khá đau. Việc chúng đánh anh Bổng cùng với việc bọn lính cơ, lính dõng hay ra chợ Quế sách nhiễu dân làm cho anh em trong tổ Việt Minh ở Phương Khê Chợ rất phẫn nộ. Mặc dù đồng chí Đường đi vắng, anh em vẫn bảo nhau đến phiên chợ nếu bọn lính sang thì phải "dần" cho chúng một trận. Có lẽ vì được học võ nên "ngứa ngáy" chân tay, muốn được thử sức. Đến phiên chợ chúng mò sang thật nhưng chỉ có hai tên, cai cơ và cai dõng. Tất cả tổ Việt Minh chúng tôi cũng đã có mặt đủ ở đó, có cả một số quần chúng cảm tình, trong đó có anh Lựu, người đã giúp tiền ăn đường cho anh Hoàng Trọng Cầu đi công tác. Tôi hăng hái ra trước và hỏi tên cai dõng: "Tại sao các anh đánh người khi người ta nộp thóc?". Nó thấy tôi còn bé nên giơ tay định tát tôi, tôi đưa tay trái ra đỡ còn tay phải cho một quả đấm trời giáng vào giữa mặt nó. Lúc đó, anh Bổng cũng xông vào đánh nó túi bụi. Nó thấy anh Bổng, nhận ra là người chúng đánh hôm nộp thóc, nên nó túm chặt lấy anh để tìm cách giữ anh, hòng đợi được bọn lính huyện đến bắt anh. Vì cái áo anh Bổng mặc rất mới, nó túm quá chặt, anh không thể dứt ra được mặc dù nó bị đánh túi bụi. Có tiếng một phụ nữ: "Sao các anh lại để nó túm anh Bổng thế kia?". Tôi nhìn ra là cô Truật, em gái họ gọi tôi và anh Bổng là anh (dù tôi ít tuổi hơn cô), một "hoa khôi" từng ở Hà Nội, mới về quê cùng gia đình. Anh Lựu thấy vậy liền lấy một đòn gánh mấu liền thúc liên hồi vào lưng tên cai dõng, nó vẫn không buông anh Bổng ra. Tôi bèn dùng miếng võ đá bằng cạnh bàn chân rất mạnh vào đùi hắn chồ gần "hạ bộ". Chỉ đá có hai, ba lần nó sợ vỡ "của quý" nên phải buông anh Bổng ra. Tôi đang đứng thì có tiếng một ông bán gánh củi ở đó nói vội: "Ấy nó đánh anh". Tôi nhìn ra thấy tên cai cơ đang cầm cái đòn gánh vung lên đánh ngang người tôi. Không hiểu sao lúc đó tôi lại phản ứng nhanh đến thế, tôi ngồi thụp xuống giơ tay phải lên đỡ cái đòn gánh đang vung về phía mình, ống tay phải phía gần bàn tay bị đòn gánh đánh trúng, tôi tưởng gãy xương. Lại tiếng ông bán củi nói nhỏ: "Này, đòn càn đây, anh". Tôi thấy cái đòn càn gánh củi của ông ở ngay bên cạnh. Tôi cầm lấy đòn càn, trone tư thế đánh võ, tiến về phía tên cai cơ. Nó hoảng sợ vứt đòn gánh chạy tháo thân về phía huyện. Thằng cai dõng cũng đã chuồn mất. Cả góc chợ nhốn nháo. Có tiếng nói: "Các anh chạy đi, không thì bọn lính sang bắt các anh bây giờ". Cũng có tiếng nói của một bà bán hàng cơm: "Việt Minh, Việt mẹo gì, làm ế cả hàng của người ta”. Tôi ngoảnh lại trông, thì ra là một bà chị ruột của đồng chí Tuyết, con của cụ Thủ từ đình Xuân. Chúng tôi bảo nhau phân tán, tản vào các nhà quen ở gần đó. Quả nhiên, từ trong nhà nhìn ra, tôi thấy bọn lính cơ. lính dõng ở huyện đi hàng một, lưỡi lê tuốt trần đi lùng khắp chợ để bắt chúng tôi. Tôi được biết tất cả chúng tôi không ai bị chúng bắt được hôm ấy. Chúng chỉ tóm được một anh lớn tuổi là quần chúng cảm tình, nhân viên bán vé chợ, đánh đập tra khảo, tuy anh không tham gia đánh chúng. Từ đó, hôm nào chúng cũng cho một bộ phận lính ở huyện mang súng ống sang đuổi bất cứ một thanh niên nào. Nhưng nhờ có sự bảo vệ của dân nên không một hội viên nào bị bắt. Hai, ba hôm sau đồng chí Đường về, phê bình chúng tôi là hơi "manh động", nhưng đồng chí cũng khen là dũng cám và có lợi cho phong trào. Riêng tôi, đồng chí Đường báo là Ban Cán sự Việt Minh huyện yêu cầu đưa tôi lên an toàn khu để tránh bị địch khủng bố bắt bớ, cụ thể là lên làng Phù Đê và ở nhà đồng chí Mai Văn Xiêm tức Thái, Bí thư Ban Cán sự Việt Minh huyện. Tôi từ biệt gia đình bí mật lên làng Phù Đê ở nhà đồng chí Mai Văn Xiêm. Gia đình đồng chí Xiêm (tức Thái) từ lâu đã là cơ sở cách mạng. Nhiều đồng chí ở Trung ương và Xứ ủy nhiều lần qua lại để hoạt động. Được vài hôm tôi được biết tin, Tri huyện Kim Bảng gọi bố tôi lên huyện và đòi bồi thường cho mấy tên cai bị đánh. Bố tôi không chịu, tôi cũng chẳng biết ông đã dùng những lý lẽ gì, và sau đó, chúng không gọi lên nữa. Ở nhà đồng chí Xiêm được vài hôm, tôi lại chuyển sang nhà đồng chí Mai Văn Di là em ruột đồng chí Xiêm vì ở đó kín đáo hơn. Ở đây, tôi và anh Hồng Thanh1 (Anh Hồng Thanh là con trai cụ Lý Giác, một đảng viên cộng sản của Chi bộ bắc Kim Bảng thành lập tháng 3 năm 1930. Sau này, anh Hồng Thanh cùng trải qua nhiều nhiệm vụ và là Ủy viên Trung ương Đảng), hơn tôi ba, bốn tuổi, được giao sao chép lại những tài liệu huấn luyện quân sự, tài liệu huấn luyện đánh du kích và những tài liệu khác nữa. Tôi cũng ý thức được sự cần thiết phải giữ bí mật nên chỉ quanh quẩn ở trong nhà chứ không ra ngoài. Ở tuổi hiếu dộng như tôi phải sống như vậy là bất đắc dĩ và buồn tẻ. Sáng ngày 18 tháng 8 năm 1945, tôi được đồng chí Xiêm gọi đi đến ấp Thọ Cầu, cách làng Phù Đê khoảng hai kilômét về phía nam, bên cạnh đường 22. Đến nơi đã thấy nhiều người ở trong nhà, tôi gặp đồng chí Đường ở đó. Chủ ấp là một người trạc ngoài 30 tuổi, cao lớn, cách ăn mặc và phong cách có vẻ là người thành phố. Tôi được biết đó là đồng chí Lê Quán, một thành viên của Ủy ban quân sự cách mạng (Ủy ban khởi nghĩa của huyện) sau này. Tất cả mọi người được nghe đồng chí Lê Thành nói chuyện về tình hình ngày 17 tháng 8 ở Hà Nội, ta đã biến cuộc mít tinh của Tổng hội viên chức do Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim tổ chức thành cuộc mít tinh ùng hộ Mặt trận Việt Minh thế nào và kết luận: Phong trào cách mạng của Hà Nội đang sôi sục, thời cơ Tổng khởi nghĩa đã tới. Sau đó, toàn bộ Ban Cán sự và một số dại biểu các nơi họp riêng bàn kế hoạch khởi nghĩa ở Kim Bảng. Xế trưa, hội nghị bế mạc, tràn ngập một không khí phấn khởi, xen lẫn với những nét suy tư nghĩ về một sự kiện cực kỳ quan trọng sắp diễn ra ở quê hương minh. Đồng chí Đường và tôi trên đường trở về Phương Khê Chợ cũng trong một tâm trạng phấn khởi và hồi hộp rất đáng nhớ của cuộc đời mình. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Bảy, 2023, 07:48:38 am Tôi trở về nhà trót lọt, bọn lính ở huyện không phát hiện được. Tuy nhiên, tôi vẫn phải hết sức giữ bí mật, không thể để chúng bắt mình trước giờ khởi nghĩa được. Tôi tranh thủ mài con dao găm đã có từ trước thật sáng đẹp, là thứ vũ khí duy nhất của tôi.
Ngay buổi tối hôm ấy (18.8 ), đồng chí Đường cho Tuấn đến gọi tôi lên nhà để phổ biến kế hoạch khởi nghĩa. Tới nơi, tôi đã thấy Phan Kim Cung, cũng là tổ viên Việt Minh của Phương Khê Chợ ngồi đó. Đồng chí Đường cho biết: Cách đánh chiếm huyện là nội công ngoại kích, giờ nổ súng là đúng 17 giờ ngày 20 tháng 8 năm 1945; hiệu lệnh khởi nghĩa là một tiếng súng nổ. Lực lượng khởi nghĩa chính là những đội viên Tự vệ chiến đấu dược chọn lọc trong các tổ chức Việt Minh ở các làng trong huyện, gồm khoảng 60 người, giả trang thành những người đi làm tản mát xung quanh huyện, chỉ tập hợp lại trước giờ nổ súng ít phút; vũ khí tìm cách giấu kín, phần nhiều là gươm, đao; khi có lệnh thì nhanh chóng xung phong đánh chiếm huyện. Lực lượng nội công chiếm huyện gồm sáu người, có hai bộ phận nhỏ đột nhập vào huyện trước giờ nổ súng vài phút. Đó là một bộ phận quen biết bọn cai cơ, cai dõng sẽ vào nói chuyện với chúng ở trạm gác, gần giá súng của chúng để khi nổ súng thì ngăn không cho chúng vào lấy súng, đồng thời vận động bọn lính không chống lại cách mạng. Bộ phận đó có ông cai thực, lính cũ của Pháp đã nghỉ và đồng chí Đào, hội viên Việt Minh, hai người đều ở thôn Văn Lâm sát ngay huyện, là bạn của hai tên cai cơ, cai dõng. Một bộ phận gồm bốn người do đồng chí Lê Quán, thành viên của Ủy ban khởi nghĩa chỉ huy và ba đội viên là Nguyễn Văn Tuấn, Phan Kim Cung và tôi có nhiệm vụ vào bắt sống viên Tri huyện ngay tại bàn giấy của ông ta. Tuấn và Cung cùng đồng chí Lê Quán khống chế viên Tri huyện, còn tôi phải mang một lá cờ đỏ sao vàng giương cao lên khi đã bắt được viên Tri huyện đưa ra sân huyện. Nghe phổ biến xong, tôi có hai băn khoăn và nói với đồng chí Đường: Một là, nếu bọn lính huyện phát hiện ra tôi, bắt tôi trước khi vào được đến bàn giấy của Tri huyện thì sẽ ra sao? Hai là, muốn giương cao cờ phải có cán, cờ thì có thế giấu được ở trong người, còn cán cờ thì làm sao giấu được? Đồng chí Đường cho biết là đồng chí Quán trước đây đã nhiều lần ra vào huyện và nhiều lần đã chơi tổ tôm với Tri huyện, nên đi với đồng chí Quán thì bọn lính không dám bắt, còn giải quyết cán cờ thì "tùy cậu"; như vậy tôi phải tự mình suy nghĩ để làm việc này. Ra về, tôi nghĩ cần sử dụng các em thiếu niên bấy lâu nay tôi vẫn dạy học thêm và dạy hát cho các em trong cuộc khởi nghĩa này. Tôi liền gặp Hoàng Hữu Phú, vốn là bạn học với tôi ở lớp Nhất thì thôi học. Phú là một cảm tình của Việt Minh, có em ruột ở trong tốp thiếu niên tôi phụ trách. Tôi bàn với Phú chuẩn bị những lá cờ đỏ sao vàng nhỏ bằng giấy cho các em, khi nghe tiếng súng nổ lúc 17 giờ thì dẫn các em đi dọc các phố huyện hô các khẩu hiệu "ủng hộ Việt Minh", "Đánh đuổi phát xít Nhật", "ủng hộ chính quyền cách mạng"... Phú nhận lời và hứa sẽ làm đúng theo lời tôi. Nhà Phú ở ngay trước nhà tôi và rất thân với tôi từ nhỏ, nhưng tôi cũng không quên dặn Phú là phải hết sức giữ bí mật trước giờ khởi nghĩa. Có một điều cũng cần nói thêm vì nó đã tạo thêm điều kiện thuận lợi để hạn chế được một phần sự chống đối của chính quyền cũ ở huyện. Đó là việc một viên thừa phái trẻ mới về nhận nhiệm vụ ở Kim Bảng. Chúng tôi quen gọi anh là "Thừa Chữ"1 (Anh Thừa Chữ sau Cách mạng tháng Tám cũng trở thành một cán bộ giữ cấp Vụ trưởng trong một bộ của Chính phù). Anh là một trí thức trẻ, thường hay vui chơi đá bóng với chúng tôi ờ sân vận động của huyện. Lợi dụng sự quen biết này, tổ Việt Minh Phương Khê Chợ dần dần nói chuyện với anh về Việt Minh. Trước những hoạt động của Việt Minh Kim Bảng, anh cũng đã nhận thức được thời cuộc và trở thành cảm tình của Việt Minh. Anh nhận truyền đơn, thư của Việt Minh khuyến cáo các viên chức chính quyền ở huyện, thỉnh thoảng nhét vào ngăn kéo bàn làm việc của họ, kể cả bàn của Tri huyện. Vì vậy, dễ dàng nhận thấy thái độ của họ đối với Việt Minh cũng khác trước, ít các hành động chống lại. Những người hung hăng nhất cũng dè dặt hơn. Từ kế hoạch khởi nghĩa rất tỷ mỷ, cụ thể và ảnh hưởng của Việt Minh ngày càng sâu rộng, tôi vững tin hơn ở thắng lợi. Đến trước giờ khởi nghĩa khoảng 15 phút, theo ám hiệu từ trước, ba chúng tôi đi theo đồng chí Lê Quán. Anh mặc một bộ comple sang trọng tiến về phía cổng huyện đường có lính gác. Chúng tôi bước theo sát anh, mỗi người trong tay cầm một tờ giấy cuộn lại, làm như lá đơn gì đó đến huyện đường. Tôi đi sát phía trái anh, lá cờ giắt trong áo trước ngực, bên sườn giắt con dao găm, tay trái cầm một que đót dài khoảng 1,5 mét làm cán cờ kẹp sát vào nách. Tôi đi về phía trái đồng chí Quán để dùng anh che mắt được một phần tên lính gác, không cho hắn nhận ra tôi, người đã tham gia đánh chúng trong phiên chợ Quế cách đây khoảng hai tháng. Tên lính gác thấy đồng chí Quán ăn mặc sang trọng, có lẽ hắn cũng biết là khách quen của Tri huyện nên đứng nghiêm và không hỏi gì. Chúng tôi qua trạm gác chót lọt, nhẹ nhàng. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì tên lính gác không phát hiện ra mình. Bước lên hành lang của huyện đường, thấy các nhân viên vẫn đang ngồi trước bàn lúi húi làm việc. Phòng làm việc của Tri huyện ở cuối hành lang. Chúng tôi yên trí là ông ta còn ở đó vì đến 17 giờ 30 phút mới hết giờ làm việc. Cửa phòng vẫn mở, đồng chí Lê Quán và chúng tôi tiến vào. Viên Tri huyện Trần Gia Thoại áo the, đeo thẻ ngà, khăn xếp, ngồi chễm chệ trước bàn. Đồng chí Quán tiến đến sát bàn, rút súng ngắn chĩa vào ngực ông ta. Nhanh như cắt, Tuấn và Cung nhảy vào hai bên, trong tay hai dao găm sáng quắc chĩa vào sườn viên Tri huyện. Tôi đứng sau anh Quán chỉ kịp thấy viên Tri huyện hốt hoảng, miệng lắp bấp: "Các... các ông muốn gì, các... các ông...". Hai tay thì quờ quang kéo ngăn bàn. Đồng chí Quán nói ngắn, ra lệnh: - Đứng dậy, giơ tay lên. Tôi đi nhanh ra phía sau viên Tri huyện, rút lá cờ gài trong áo trước ngực, lồng lá cờ vào cán. Anh Quán nói vài câu, tôi nghe lõm bõm không được hết: - ... Chúng tôi là người của Mặt trận Việt Minh... Cùng lúc ấy, một tiếng súng nổ vang và tiếng reo hò "xung phong" vang dậy phía cổng sau của huyện, xen lẫn tiếng reo hò, lác đác vài tiếng súng trường. Đứng ở phía sau viên Tri huyện, tôi nhìn thấy một cái đầu ở cửa ló vào, đó là bộ mặt của viên lục sự, mắt tròn xoe, thất kinh thấy cảnh tượng trong phòng viên Tri huyện. Rồi bộ mặt đó biến mất rất nhanh. Bộ mặt thứ hai thò vào là của viên thừa phái già sự kinh hoàng hiện trên nét mặt giống như bộ mặt trước, rồi cũng biến đi rất nhanh. Có thể là tiếng súng nổ và tiếng reo hò "xung phong" vang trời đã làm "các vị" bị bất ngờ, hoảng sợ và chạy vào báo cho Tri huyện... Anh Quán bảo tôi giương cao cờ đi trước còn anh và Tuấn, Cung áp giải viên Tri huyện theo sát ra sân. Không có sự chống cự đáng kể nào. Cuộc tập kích chiếm lĩnh huyện đường trong mấy phút hoàn toàn thắng lợi, chỉ tốn vài viên đạn bắn chỉ thiên, không tốn một giọt máu. Các nhân viên trong huyện thừa lúc lộn xộn, một số chuồn mất, một số tò mò ở lại. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Bảy, 2023, 07:50:07 am Một cuộc mít tinh lớn được tổ chức ngay ở sân huyện đường. Theo kế hoạch khởi nghĩa, tổ Việt Minh ở các làng xung quanh vận động nhân dân đến huyện dự mít tinh, giương cao cờ đỏ sao vàng, đi thành đội ngũ do một số tổ viên Việt Minh ở các làng dẫn đầu. Số còn lại ở các làng trong huyện phối hợp với việc đánh chiếm huyện lỵ đã cắt đứt các đường dây điện thoại đi Phủ Lý và các nơi khác, tổ chức cảnh giới, canh gác các bến đò, các ngả đường 21, 22 đề phòng bọn Nhật và bọn tay sai ở Phủ Lý và các nơi khác tổ chức đánh chiếm lại. Song song với những việc này, các làng xã xóa bỏ bộ máy cai trị cũ, thành lập các ủy ban nhân dân lâm thời.
Trong cuộc mít tinh mừng thắng lợi chiều tối hôm đó, tôi nhớ có một chuyện buồn cười. Một tin báo về là có một đoàn đến dự mít tinh mang theo một lá cờ lạ, có những ba sao vàng đang đến gần huyện. Cử người đi kiểm tra đổ xác minh có phải là đảng phái hay tổ chức nào khác không? Thì ra không phải. Đó là đoàn của làng Thụy Xuyên, tổ viên Việt Minh dẫn đầu nhầm lẫn, tưởng dán nhiều sao vàng vào cờ thì càng đẹp. Sau khi đã rõ và thay cờ, đoàn của làng Thụy Xuyên mới được vào dự mít tinh. Nhân dân đến dự mít tinh khá đông. Lần đầu tiên trong huyện, cờ đỏ sao vàng của các đoàn phấp phới tung bay. Những tiếng hô khẩu hiệu vui mừng vang lên "ủng hộ Việt Minh", "Chính quyền cách mạng muôn năm", "Việt Nam độc lập muôn năm". Nội dung của cuộc mít tinh hôm đó gồm: - Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời ra mắt. - Tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ, thiết lập chính quyền nhân dân cách mạng. - Công bố 10 chính sách của Việt Minh. Tôi thấy Tri huyện Trần Gia Thoại đứng gần chỗ ban tổ chức. Vẻ mặt ông ta không còn căng thẳng như lúc đầu. Không ai đánh đập, mắng nhiếc ông ta. Có lẽ vì ông ta đến nhậm chức Tri huyện ở Kim Bảng chưa lâu, ngoài việc gọi mấy ông lãnh đạo Việt Minh lên huyện để cảnh cáo trước đây, ông ta chưa gây tội ác gì với nhân dân trong huyện. Và ông ta cũng tin rằng mình sẽ không bị cách mạng trừng phạt. Đứng đằng sau ông ta khoảng vài mét, vợ và hai con gái ông ta vẫn chưa hết vẻ bồn chồn, lo lắng. Khi cuộc mít tinh kết thúc, Tri huyện Trần Gia Thoại báo cáo với Ủy ban khởi nghĩa: Nước sông Đáy dang dâng cao, đê những đoạn có nguy cơ bị vỡ sẽ ảnh hưởng lớn tới vụ mùa, ông ta tình nguyện xin được trông coi việc hộ đê. Đề nghị của ông được Ủy ban khởi nghĩa chấp nhận. Trước khung cảnh hân hoan, tưng bừng của cuộc mít tinh, tôi như người trong mơ. Đây là một trong những giây phút sung sướng nhất của đời tôi. Tuy rất mệt vì mấy đêm mất ngủ nhưng tôi vẫn thấy người lâng lâng như muốn bay lên, cảm giác sung sướng của một người tự do, nhân dân mình sắp được làm chủ đất nước, không có Tây, không có Nhật. Đang miên man suy nghĩ thì tôi nghe bên cạnh có người nói, giọng có vẻ rụt rè: - Thưa anh... Tôi quay lại nhìn, té ra là "ông cai cơ", người đã phang cho tôi một cái rất mạnh bằng đòn gánh vào cánh tay phải tưởng đến gãy xương trong phiên chợ Quế dạo nọ. Tôi chưa kịp nói gì thì anh ta nói tiếp: - Thực tình chúng tôi không biết, xin anh tha lỗi, bỏ qua cho. Tôi mỉm cười nhìn anh ta và nói: - Anh yên tâm, đấy là chuyện đã qua, chỉ mong anh sau này tích cực ủng hộ cách mạng. Đến bây giờ, khi nhớ lại câu này, tôi thấy mình mới tròn 16 tuổi mà sao lại có thể có câu nói "khôn" như vậy. Năm 1947, tôi được anh Cầu cho biết, anh cai cơ đó tên là Hoạt đã tham gia bộ đội, làm đến trung đội trưởng và đã hy sinh trong chiến đấu ở Nam Định sau Ngày Toàn quốc kháng chiến. Một nỗi thương cảm trong tôi, nhớ về một đồng đội đã hy sinh cho Tổ quốc và hình ảnh của anh chợt hiện lên khi anh nói lời tạ lỗi với tôi hôm mít tinh mừng khởi nghĩa vũ trang thắng lợi ờ huyện... Sáng hôm sau (21.8.1945), khoảng 7 giờ, tôi sang huyện đường xem các anh có phân công việc gì nữa không, thì lúc 8 giờ có tin cấp báo, một đơn vị quân đội Nhật đang theo đường Thông Cù, từ Nhật Tựu (gần ga Đồng Văn) tiến về huyện. Hai trung đội tham gia khởi nghĩa được nhanh chóng tập hợp ở giữa sân huyện để chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Tri huyện Trần Gia Thoại đứng gần đó kêu lên: "Các ông tản ra nhanh lên, đứng đông như thế nguy hiểm lắm!". Đội hình được nhanh chóng phân tán theo lệnh các đồng chí chỉ huy. Các chiến sĩ tìm chỗ kín đáo chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Tôi tìm một góc tường an toàn, có thể quan sát được chỗ cổng huyện. Chỉ một thoáng sau, đơn vị Nhật đã đến cổng huyện. Tiếng ồn ào ngoài phố im hẳn, bao trùm một không khí tĩnh lặng rất căng thẳng. Lá cờ đỏ sao vàng cắm trên cổng huyện vẫn tung bay. Thật ngạc nhiên, tôi nhìn thấy viên chỉ huy lính Nhật đứng nghiêm trước lá cờ đỏ sao vàng cúi gập người xuống chào lá cờ của cách mạng. Các đồng chí trong Ủy ban khởi nghĩa cũng quan sát thấy cảnh đó liên cử một người biết chữ Hán ra bút đàm với viên chỉ huy Nhật. Thì ra anh ta yêu cầu một người dẫn đơn vị anh ta qua bên đò Quế, sang Quyển Sơn để về tập trung tại thị xã Phủ Lý. Tôi được chỉ định đẫn đơn vị lính Nhật đó đi theo yêu cầu của chúng. Đơn vị đó là một trung đội. Tôi thấy chúng có ba khẩu súng trung liên, còn lại toàn bộ là súng trường, đạn dược và những trang bị khác đeo đầy người. Viên chỉ huy đeo một thanh kiếm dài và một khẩu súng ngắn Chiêu hòa. Tôi ước ao nếu như số vũ khí đó được trang bị cho những chiến sĩ của ta thì sẽ mạnh biết bao. Tôi ra hiệu cho viên chỉ huy bẳt đầu đi. Anh ta cho quân đi một hàng dọc. Tất cả các nhà dân ở thôn Văn Lâm, thôn Phương Khê Chợ cửa đóng kín, đường phố không một bóng người. Thỉnh thoảng có nhà hé mở cánh cửa, có người bạo dạn nào đó hé mắt nhìn ra, thấy bọn lính Nhật thì vội vã khép lại ngay. Dân sợ có giao tranh giữa ta và bọn lính Nhật, nhưng may mắn việc đó đã không xảy ra. Khi xuống phà qua sông sang bến Quyển Sơn, tôi nói bằng tiếng Pháp hỏi viên chỉ huy có nói được tiếng Pháp không, anh ta lắc đầu. Nếu anh ta nói được, tôi sẽ gạ gẫm xin một thứ vũ khí nào đó, tốt nhất là khẩu súng ngắn Chiêu hòa nhưng chắc là khó lắm. Đến ngã ba đình Quyển Sơn, tôi ra hiệu chỉ cho anh ta đi về phía Phủ Lý và lấy bút vẽ cho anh ta một sơ đồ từ Quyển Sơn đến Phủ Lý. Anh ta cầm lấy, gập người cảm ơn, chào tôi rồi dẫn quân đi. Ở tỉnh lỵ Phủ Lý, bộ máy chính quyền cũ vẫn còn nguyên vẹn, cách mạng chưa giành lại được. Khi tôi trở về, được biết nhiều người lo cho tôi không được an toàn khi đi với bọn lính Nhật. Vì Phủ Lý chưa được giải phóng nên thôn Phương Khê Chợ phải tổ chức một trạm gác và cảnh giới dọc sông Đáy, đề phòng quân Nhật phản kích lấy lại huyện. Tôi được chỉ định làm Tiêu đội trưởng chỉ huy tiểu đội gồm các anh em tổ viên tổ Việt Minh và một số quần chúng cảm tình gác ở bến đò cả đêm lẫn ngày. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Bảy, 2023, 09:28:49 am Theo cuốn "Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Kim Bảng", hết ngày 22 tháng 8, tức là hai ngày sau khởi nghĩa thắng lợi ở huyện, tất cả các xã ở Kim Bảng đã thành lập xong các ủy ban nhân dân lâm thời. Cờ đỏ sao vàng tung bay ở các thôn xóm, nơi nơi rộn ràng những bài ca cách mạng. Nhân dân vui sướng được sống trong không khí tự do. Ban đêm, ánh đèn đuốc tươi vui tỏa sáng trong các cuộc hội họp, học hành.
Sáng sớm ngày 24 tháng 8 năm 1945, trên sân vận động Kim Bảng, dưới ánh nắng ban mai của một ngày đẹp trời, hàng nghìn quần chúng với một rừng cờ và biểu ngữ đỏ thắm, mang theo gươm, giáo, mã tấu đã chỉnh tề đội ngũ. Theo lệnh của Ủy ban khời nghĩa, sau ba phát súng, đoàn biểu tình dẫn đầu là trung đội giải phóng quân đầu tiên của huyện tiến về tỉnh lỵ Phủ Lý, phối hợp cùng các huyện bạn chiếm tỉnh lỵ, thiết lập chính quyền nhân dân cách mạng của tỉnh Hà Nam. Trước khí thế sôi sục cách mạng của 15 vạn người biểu tình có vũ trang, tên tuần phủ bù nhìn Đàm Huy Huyến đã phải cúi đầu nộp ấn tín, hạ vũ khí đầu hàng. Cuộc khởi nghĩa ở các huyện đồng bằng và bán sơn địa ở Hà Nam đã thành công rực rỡ, chỉ còn lại châu Lạc Thủy vùng núi là chưa xong. Châu Lạc Thủy, trong đó có những đồn điền của thực dân Pháp, lúc đó thuộc địa giới hành chính của tỉnh Hà Nam. Tôi được yêu cầu đi theo anh Lê Quán vào Cốc Nội, giáp với châu Lạc Thủy công tác. Tôi cũng chẳng được nói rõ nhiệm vụ của mình là gì, nên anh Quán phân công việc gì làm việc nấy. Được mấy hôm thì anh bảo tôi cùng vào Chi Nê, trung tâm của châu Lạc Thủy, đồng thời cũng là trung tâm đồn điền Lơcông (Leconte). Cư dân của Lạc Thủy số đông là thuộc dân tộc Mường, xen kẽ người Kinh, chủ yếu là nhân viên hoặc phu đồn điền. Tôi đoán nhiệm vụ của anh Quán là do Ban Cán sự tỉnh giao, theo dõi và giúp đỡ châu Lạc Thủy giành chính quyền, thiết lập chính quyền cách mạng. Một buổi sáng sớm, anh Quán bảo tôi cùng vào Chi Nê. Chúng tôi vào đó đúng lúc một cuộc biểu tình lớn đang diễn ra ở châu lỵ. Có một điều mà tôi rất thú vị là có một thiếu nữ người Pháp cũng chạc tuổi tôi giương cao một lá cờ đỏ sao vàng khổ lớn đi đầu trong cuộc biểu tình. Cuộc biểu tình đó không có tiếng súng, không có xung đột. Tôi và anh Quán lại trở về Cốc Nội. Trụ sở chỉ có hai anh em là anh Quán và tôi cùng với gia đình một người quản lý trông coi phần đất thuộc đồn điền của chủ Tây. Gia đình đó cũng phục vụ luôn việc ăn uống của chúng tôi. Hôm sau, vào buổi trưa thì có một người đi một chiếc xe đạp lốp đặc ở huyện Kim Bảng vào báo với anh Quán là tôi phải về huyện gấp. Không biết việc gấp như thế nào mà anh Quán phải bảo người quản lý chuẩn bị cho tôi con ngựa để về cho kịp. Tôi chưa biết cưỡi ngựa bao giờ, nhưng vì việc gấp cũng đành phải dùng nó vậy. Tôi từ biệt anh Quán, trở lại Kim Bảng. Từ đó không bao giờ tôi còn được gặp lại anh nữa. Ngôi trên yên ngựa, tôi thấy rất chênh vênh, sợ nhất là lúc xuống dốc, chiếc xe đạp đi trước đổ dốc rất nhanh, ngựa bám theo phi nước đại cũng rất nhanh. Tôi cố giữ thăng bằng trên lưng ngựa nhưng cũng mấy lần suýt bị ngã, thật hú vía! Đến chiều về đến huyện, người đau như dần vì cuộc cưỡi ngựa bất đắc dĩ đó. Tôi được các anh báo cho biết là phải về nhà chuẩn bị ngay để mai tập trung lên tỉnh lấy giấy giới thiệu của Ban Cán sự tỉnh lên học lớp quân sự của Trường Quân chính Việt Nam1 (Tiền thân là Trường Quân chính kháng Nhật, thành lập ngày 15 tháng 4 năm 1945. Từ ngày 7 tháng 9 năm 1945 đổi tên là Trường Quân chính Việt Nam. Ngày 15 tháng 10 năm 1945 đổi tên thành Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam. Ngày 17 tháng 4 năm 1946 đổi tên thành Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Tháng 2 năm 1948 đổi thành Trường Lục quân trung học Trần Quốc Tuấn. Tháng 12 năm 1950 là Trường Lục quân Việt Nam. Tháng 1 năm 1956 là Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam. Năm 1976 là Trường Sĩ quan Lục quân I) ở Mà Nội. Tôi chuẩn bị rất nhanh và tối hôm đó tôi gặp Phú, báo cho Phú biết tin đó. Thấy tôi chưa có dây lưng da, Phú tặng tôi một chiếc dây lưng bằng da rất đẹp của bố Phú (đã mất) mua ở Thượng Hải để lại. Tôi không thể ngờ rằng chiếc dây lưng da này tôi dùng cũng có số phận của nó sau này. Trong đoàn học viên ở Kim Bảng đi học lớp quân sự có khoảng dăm người do anh Lê Tùng, em ruột anh Lê Hồ ở Cao Mật làm Trưởng đoàn. Chúng tôi đến Hà Nội khoảng thượng tuần tháng 9 dương lịch, sau khi Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử tại Quảng trường Ba Đình gần 3 tuần. Đến trường, việc đầu tiên của chúng tôi là phải khai sơ yếu lý lịch. Lúc đó, tôi vừa tròn 16 tuổi. Sợ nếu khai đúng tuổi sẽ không được học, tôi nói chuyện đó với anh Lê Tùng và hỏi cho tôi khai lên 18 tuổi có được không? Anh Lê Tùng đồng ý, thế là tôi yên tâm khai mình 18 tuổi, còn các điều khác thì theo đúng như mẫu. Mỗi học viên được phát hai áo sơ mi cộc tay, hai quần soóc bằng kaki, một mũ calô, một đôi giày đinh của lính khố đỏ cũ. Tôi được biên chế vào một tiểu đội phần lớn là các anh lớn tuổi ở Hà Nội, Hải Phòng, trình độ học vấn cao, nhiều người là sinh viên đại học, cá biệt có người đã tốt nghiệp đại học hoặc là tri huyện tập sự. Tôi ít tuổi nhất, trình độ mới chỉ hết năm thứ nhất trung học (Thành chung) nên cũng sợ bị loại. Hôm khai mạc lớp học, thấy giới thiệu một người là đồng chí Thận đến nói chuyện, các anh nói với nhau "anh Đặng Xuân Khu đây". Tôi chỉ biết vậy, chứ cũng không biết đấy là Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh. Chương trình học tập có cả quân sự và chính trị, thời gian là 15 ngày, về quân sự, chúng tôi chỉ học đội ngũ, bắn súng trường, ném lựu đạn, chiến thuật tiểu đội, 10 lời thề, 12 điều kỷ luật của Quân giải phóng... về chính trị, chủ yếu là chương trình Việt Minh (10 chính sách của Việt Minh). Giảng viên quân sự và cũng là Đại đội trưởng của chúng tôi là đồng chí Trương Văn Quyển (sau này chính là đồng chí Vũ Lập); Trung đội trưởng là đồng chí Bảo Cường. Cả hai trước đây là chiến sĩ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, đều là người dân tộc Tày, đồng thời cũng là huấn luyện viên quân sự. Về chính trị, giảng viên chính là đồng chí Trần Tử Bình. Chương trình học có cả mấy ngày hành quân dã ngoại diễn tập chiến thuật và được bắn một viên đạn thật trong phần kỹ thuật. Có lúc ở tiểu đội, tôi chỉ phát biểu được một câu ngắn cụt lủn trong khi thảo luận chính trị, đôi khi làm các anh lớn tuổi cười. Một ngày chủ nhật, tôi được phân công xuống trực bếp. Đang đi quanh quản ở bếp xem các chị cấp dưỡng nhặt rau, có một ông già gầy gò, mặc quần soóc và áo vét kaki vàng đi vào bếp. Thấy tôi, ông hỏi tôi làm gì ờ đây, tôi đáp tôi là học viên, hôm nay làm trực bếp. Ông không nói gì, đi xem bếp một lượt rồi đi. Sau tôi mới biết đó là Bác Hồ. Hôm đó, Người đến làm việc với các đồng chí lãnh đạo của Trường rồi ra về, không nói chuyện với học viên. Có lần, sau khi học đội ngũ đã tạm được, đi đều tương đối đẹp, đại đội tôi đi tập dọc theo một phố ở Hà Nội. Tôi nhớ có lẽ đó là đường Quán Thánh, nơi có trụ sở của bọn Quốc dân đảng. Đại đội trưởng hô "một, hai" rất dõng dạc, tiếng giày đinh rầm rập trên đường phố. Tôi liếc nhìn thấy một phụ nữ mặc binh phục, đội mũ lưỡi trai đen, cầm súng đứng gác ở cổng trụ sở của bọn Quốc dân đảng, gườm gườm nhìn chúng tôi rất thiếu thiện cảm; trong lúc bà con đi hai bên đường rất vui vẻ chào đón, hoan hô chúng tôi. Có thể Nhà trường đã kết hợp việc luyện tập với việc biểu dương sức mạnh của Quân giải phóng trước nhân dân và thị uy trước mặt bọn phản động Quốc dân đảng. Một buổi khác, tiểu đội tôi trực gác ban ngày trước cổng trường. Tôi được đồng chí canh gác gọi ra gặp người quen. Tôi ra và rất vui mừng gặp anh rể lấy chị thứ hai của tôi. Anh là Nguyễn Duy Tâm, trước đây là đội thơ lại khố xanh ở trại giám binh của Pháp ở thị xã Phú Thọ. Khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, trại khố xanh của Pháp chuyển tên là trại bảo an binh, anh Tâm được quân Nhật cử thay thế tên giám binh người Pháp vì lúc đó anh đã là đội nhất thơ lại (Sergent chef secrétaire). Anh cũng đã biết phong trào Việt Minh đang phát triển mạnh khi đồn trú ở Lạng Sơn. Một lần anh về phép, tôi đã từng nói với anh về phong trào Việt Minh ở quê, cho nên khi nhân dân Phú Thọ khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã, anh không chống lại và nộp toàn bộ vũ khí cho cách mạng. Còn lính bảo an, ai muốn xin vào Quân giải phóng thì ở lại, ai muốn về quê thì được cấp lộ phí để về. Sau đó, anh được giới thiệu về Bộ Quốc phòng. Hôm ấy, anh ăn mặc rất bảnh: Quần áo dài kaki, đầu đội mũ calô đeo quân hiệu của Giải phóng quân, bên hông đeo một khẩu súng lục rất đẹp. Tôi rất vui mừng và lự hào thấy anh rể mình đã đi theo cách mạng, được cách mạng tin dùng. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Bảy, 2023, 09:30:35 am Chương ba: NAM TIẾN - THỬ THÁCH ĐẦU TIÊN Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp gây hấn tại Nam Bộ dưới sự hỗ trợ của quân đội Anh - Ấn đến Việt Nam để tước khí giới của quân đội Nhật ở miền Nam Việt Nam. Cả nước phẫn nộ trước âm mưu của bọn thực dân Pháp muốn quay lại đặt ách thống trị lên nhân dân Việt Nam một lần nữa. Ở Trường Quân chính, không khí cũng nóng lên sôi sục. Mọi việc như khẩn trương hơn. Đến cuối tháng 9 thì khóa học thứ 4 hay còn gọi là khóa 1 công khai bế giảng. Nhiều đơn vị Quân giải phóng mới được thành lập ở miền Bắc đã Nam tiến chi viện cho Nam Bộ. Khóa học chúng tôi cũng cử một bộ phận học viên mới tốt nghiệp vào tăng cường cho Nam Bộ, Nam Trung Bộ. Hôm công bố danh sách 72 học viên của Nhà trường được Nam tiến chi viện cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ có tên tôi. Anh Lê Tùng, Trưởng đoàn học sinh của huyện Kim Bảng đến bảo tôi đi với anh. Tôi không biết anh bảo tôi đi theo anh để làm gì, sau đó anh dẫn tôi đến gặp đồng chí Trần Tử Bình, là một trong những đồng chí lãnh đạo của Nhà trường. Gia đình anh Lê Hồ và anh Tùng là cơ sở mà trước đây đồng chí Trần Tử Bình và nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng đã qua lại để hoạt động. Anh Lê Tùng gặp anh Trần Từ Bình ở ngay ngoài hiên tầng một của Trường và nói ngay: - Anh ạ, Tiên nó còn nhỏ tuổi quá, đề nghị các anh cho ở lại. À, té ra là thế, anh dẫn tôi đi là để xin cho tôi ở lại. Thật ra, khi nghe tên tôi được đi trong đoàn học viên Nam tiến, tôi một mặt cũng tự hào và muốn đi, mặt khác cũng không được tự tin lắm, không hiểu mình có vượt qua được gian khổ, ác liệt trong cuộc chiến đấu hay không, kể cả về mặt sức khỏe nữa. Trước đây, khi nhận giải thường cuốn "Sách Hồng" trong cuộc thi văn lớp Nhất của thầy giáo Ngân sau một buổi dã ngoại, tôi thấy có một câu của một bà mẹ nói với con là một tráng sĩ: "Người tráng sĩ chỉ nắm đốc gươm chứ không nhìn mây trắng. Nắm đốc gươm mà đi chứ không nhìn mây trắng mà về". Tôi rất thích câu nói này. Bởi vậy, khi thấy tên mình trong danh sách Nam tiến mặc dù có chút băn khoăn về sức chịu đựng của mình, nhưng nhớ tới câu nói đó, tôi không nói những băn khoăn của minh với ai và tự nhủ: "Phải đi, xin ở lại thì hèn quá”. Nghe thấy anh Tùng đề nghị cho tôi được ở lại, đồng chí Trần Tử Binh hỏi tôi: - Thế nào, có đi được không? Tôi vẫn bình thản và sắp trả lời đồng chí là tôi có thể đi được thì đồng chí nói tiếp: - Thôi, cứ đi đi, càng trẻ tuổi càng tốt. Tôi chỉ trả lời gọn một tiếng "Vâng!" rất quả quyết. Hà Nội tổ chức tiễn chúng tôi rất trọng thể. Đích thân Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Trần Duy Hưng chủ trì buổi lễ tiễn và tiệc tiễn đưa ở Nhà hát lớn vào tối mùng 2 tháng 10. Sáng ngày 3 tháng 10 năm 1945, toàn bộ 72 học viên của Trường Quân chính lên một toa xe lửa dành riêng cho đoàn. Dưới sân ga, người ra tiễn cũng đông, tôi không nhớ hết. Tôi lấy trong túi ra xem quyết định của Bộ Quốc phòng bổ nhiệm chức vụ cho từng học viên thì thấy mình được bổ nhiệm là Tiểu đội phó và đây cũng là giấy giới thiệu với đơn vị mới. Tàu dừng tại ga Phủ Lý, tôi thấy đông đảo bà con, tay cầm cờ nhỏ vẫy chào và hoan hô đoàn quân Nam tiến. Tôi ngồi bên cửa sổ nhìn ra thấy ngay anh Bùi Tăng, quen gọi là anh Tư Tăng, là em ruột ông Chánh Khiết (một trong những đảng viên đầu tiên của chi bộ cộng sản ở Kim Bảng và cũng là bạn của bố tôi, đã mất trước Cách mạng Tháng Tám). Anh Tư Tăng là thành viên trong Ủy ban khởi nghĩa ở Kim Bảng, đã từng bị Tri huyện Trần Gia Thoại "mời" lên huyện cảnh cáo nhiều lần, nay là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quân giải phóng ở Hà Nam. Hôm nay, anh mặc quân phục rất diện ra ga đón và tiễn chúng tôi. Anh biết tôi vì hồi còn hoạt động bí mật trước khởi nghĩa, tôi đã cùng anh chuyển tài liệu và truyền đơn của Việt Minh cho anh Trần Quyết, cán bộ Việt Minh phụ trách huyện Binh Lục và cũng đã nhiều lần gặp nhau trước đây. Trông thấy tôi, trong tiếng ồn ào, anh gọi lớn: "Tiên, đi mạnh khỏe nhé!" và tươi cười vẫy tay. Tàu chỉ dừng lại mươi phút rồi đi tiếp. Đến Ninh Binh, dưới sân ga đã thấy nhiều đồng chí lãnh đạo và bà con ở thị xã Ninh Binh ra đón. Một số các anh trong đoàn chỉ một đồng chí mặc comple nhưng da mặt còn xanh như sốt rét: "Anh Văn Tiến Dũng đấy". Tối hôm đó, đoàn chúng tôi nghỉ ở Ninh Bình và "bị" ăn một bữa tiệc đứng rất thịnh soạn. Các cô gái của thị xã Ninh Bình thướt tha trong những bộ quần áo dài các màu, tiếp thức ăn liên tục đến nỗi không muốn ăn nữa vẫn cứ buộc phải ăn. Trong đoàn chúng tôi có anh Trần Nghiêm (Trần Văn Nghiêm), người Ninh Bình, rất đẹp trai (theo tôi, các siêu mẫu nam bây giờ còn thua xa) được các cô gái đặc biệt quan tâm "chăm sóc" lúc ăn rất tình cảm (Anh Hai Nghiêm trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đều chiến đấu ở Nam Bộ, sau này trở thành Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 9). Sau bữa tiệc đó, tôi bị rối loạn tiêu hóa và mặc dù đang tuổi ăn, tuổi ngủ vẫn thấy khiếp những buổi tiệc như thế. Chuyến xe lửa hôm sau chúng tôi đi tiếp là một chuyến tàu đặc biệt chở một đơn vị quân Tưởng Giới Thạch mà bà con ta hồi đó gọi chúng là "Tàu phù" vì chúng ăn ở rất bẩn, bệnh tật và rất nhiều tên bị bệnh phù thũng. Toa riêng của chúng tôi được mắc vào đoàn tàu đó và ngoài toa vẫn treo một lá cờ đỏ sao vàng. Đến ga Thanh Hóa thì thấy một tên sĩ quan trẻ của bọn "Tàu phù" ăn mặc chải chuốt khác hẳn bọn lính của chúng đến toa chúng tôi đòi gỡ bỏ lá cờ đỏ sao vàng, nhưng chúng tôi không chịu, tàu hỏa là của mình, toa là toa riêng. Đến Huế không biết vì lý do gì, chuyến tàu đó phải dừng lại một ngày. Đoàn chúng tôi tranh thủ vào Đại nội, tham quan các cung điện của triều Nguyễn. Lúc đó, toàn bộ khu vực cung điện vắng bóng người, cảnh vật hiu quạnh. Vì thời gian ít, chúng tôi chỉ đi qua được mấy cung điện Cần Chính, Đông Các, Văn Minh, Võ Hiển, hồ Tịnh Tâm... Ấn tượng ghi lại một ngày ở Huế đối với tôi là mấy cung điện của triều Nguyễn và món ăn ở Huế rất nhiều ớt, ăn vào cay chảy cả nước mắt. Hôm sau, tàu đi tiếp vào Đà Nẵng, bọn "Tàu phù" vẫn đi chuyến đó. Khi tàu bắt đầu chạy, bọn Tàu Tưởng đưa một tên ốm bệnh, mùi hôi thối nồng nặc lên đầu toa chỗ bậc lên xuống của chúng tôi, hình như nó “bĩnh” cả ra quân. Mấy anh đoán là có lẽ nó "hốc" nhiều bún bò Huế quá nên mới thể. Chúng tôi phản đối, nói với tên chỉ huy ở toa trên phải đưa về toa của chúng nó và chúng đã phải làm theo yêu cầu đó. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Bảy, 2023, 09:31:23 am Xuống ga Đà Nẵng, bà con và một số đồng chí lãnh đạo của thành phố Đà Nẵng cũng cầm cờ, biểu ngữ ra chào đón. Còn bọn "Tàu phù" thì lủi thủi xuống mà chẳng ai quan tâm đến chúng. Tôi trông thấy tên lính ốm hôm trước được chúng khiêng xuống, quẳng vào một xó, chẳng có người ở bên cạnh trông nom. Một số Hoa kiều ở Đà Nẵng mang cờ hoa ra đón đoàn quân "chiến thắng" của Tưởng Tổng Tài1 (Tưởng Giới Thạch), làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật ở miền Bắc Việt Nam. Họ mặc quần áo chỉnh tề, những cô thiếu nữ váy đen, sơ mi trắng là lượt, nhìn thấy đội quân "Tàu phù" bẩn thiu, nhếch nhác, mặt tiu nghỉu, buồn thiu, quên cả vỗ tay hoan hô, cũng chẳng thèm đến chăm sóc những tên lính ốm. Một số lặng lẽ bỏ ra về.
Tới Đà Nẵng thì đoàn cán bộ 72 người của Trường Quân chính Việt Nam khóa 1 công khai được phân đi các nơi từ Nam phần Trung Bộ tới Nam Bộ. Tôi và đồng chí Phùng Như Cương, khoảng 19, 20 tuổi, quê ở huyện Thạch Thất, Sơn Tây được một đồng chí cấp trên đến nhận. Anh trạc tuổi trung niên, mặc bộ quân phục do địa phương tự may, đầu đội mũ kêpi trắng trên vành có một dải kim tuyến nhỏ đính ở đằng trước thêu dòng chữ "Tư lệnh Nam phần Trung Bộ". Những người xung quanh gọi anh là đồng chí Tê đơ (T2 - số 2 tiếng Pháp là đơ = deux). Sau này, chúng tôi mới biết đó là đồng chí Phạm Kiệt, một trong những người chỉ huy của Đội du kích Ba Tơ. Có lẽ vì kết hợp với nhiều công tác khác nên anh đưa tôi và đồng chí Cương cùng anh đi bằng ô tô của anh lúc thì ở Quy Nhơn, lúc thì ở Ninh Hòa... và cuối cùng đến Phan Rang, tỉnh lỵ của Ninh Thuận, trao chúng tôi cho Tiểu đoàn tỉnh Ninh Thuận. Ngày đầu chúng tôi ăn ở chung với các đồng chí trong Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận. Có bữa ngồi ăn chung với các anh trong Ủy ban từ Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh đến nhân viên, mọi người vào ăn rào rào, tôi theo thói quen ở ngoài Bắc nâng bát cơm mời to: "Mời các anh ăn cơm". Thế là mọi người cười ầm, tôi ngượng đỏ cả mặt. Hôm sau, chúng tôi được anh Đinh Văn Thanh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Ninh Thuận gọi vào giao nhiệm vụ: Tôi và anh Cương mỗi người về một đại đội làm chính trị viên đại đội. Anh Cương thì tôi không rõ, nhưng với chức vụ là tiểu đội phó ghi trong quyết định của Bộ Quốc phòng, tôi thấy nhiệm vụ chính trị viên đại đội là quá lớn và nặng đối với tôi. Tôi xin Tiểu đoàn trưởng được nhận làm chính trị viên trung đội, chứ không làm được chính trị viên đại đội. Tiểu đoàn trưởng ngần ngừ một chút rồi đồng ý với đề nghị của tôi. Anh Cương đi về một đại đội, còn tôi được cử xuống làm chính trị viên một trung đội của một đại đội khác. Trung đội trưởng của tôi vốn là một viên đội khố xanh cũ còn trẻ, tên là Hướng, có vẻ là một người có học. Còn Trung đội phó là một cai khố xanh, dân tộc Chăm, tuổi trung niên, hiền lành, ít nói, tên là Châu Nài. Anh gặp tôi với thái độ niềm nở, thân tình. Tôi cảm thấy không khí ban đầu là rất thuận lợi, vì tôi tuy còn nhỏ tuổi nhưng cũng được các anh ấy tôn trọng. Đáp lại, tôi cũng rất thân thiện và cởi mở với các anh ấy. Trung đội tôi đồn trú ở trụ sở của một tên Tây đoàn cũ trên bãi biển nghỉ mát Ninh Chữ, cách Phan Rang độ bảy kilômét. Ngôi nhà khang trang, mát mẻ, dưới nền là một bể nước lớn chứa nước mưa sinh hoạt. Ngoài việc luyện tập và học kỷ luật, hằng ngày, chúng tôi có nhiệm vụ canh giữ cả một vùng biển rộng lớn quanh đó. Đời sống của chúng tôi tương đối đầy đủ, vì chiến sự ở Nam Bộ còn xa. Thức ăn hằng ngày xen kẽ có thịt dê, thịt cừu, thịt bê hoặc cá biển. Món canh phổ biến là cá cơm nấu với me chua rất ngon. Mỗi ngày, mỗi người được phát 15 điếu thuốc lá cuốn của địa phương và một bao diêm. Tôi mắc thói xấu nghiện thuốc lá từ đó. Tuy đời sống khá đầy đủ nhưng mẹ anh Hướng vẫn gửi người mang đến cho anh những món ăn ngon nấu ở nhà. Hướng thường mời tôi và Châu Nài cùng thưởng thức. Có lần, dân quân ở vùng núi sát biển Phương Cựu đến báo có một thuyền lạ đậu ở ngoài khơi. Đáng lẽ việc này phải do cán bộ quân sự giải quyết, nhưng tôi "gương mẫu" nhận đi thay. Từ Ninh Chữ đến Phương Cựu khoảng 6 - 7 kilômét, họ chuẩn bị cho tôi một con ngựa không có yên để đi. Trời tối, tôi cùng hai dân quân địa phương đi xuồng ra kiểm tra. Đó là một con thuyền nhỏ của một thương nhân người Hoa. Ông ta khai là vào phía trong Nam để buôn bán. Chẳng kiểm tra giấy tờ, cũng không lục soát gì hết, tin lời chủ thuyền khai, chúng tôi trở về. Lần ấy trờ về tôi thấy mình thật là ngốc, rất mất cảnh giác. Nếu như gặp bọn Việt gian hay hải phỉ thì thật rất nguy hiểm, không biết sẽ ra sao. Vào khoảng tháng 12 năm 1945, tôi không nhớ rõ ngày, có tin quân ta ở Phan Rang đã tập kích vào một đơn vị quân Nhật cỡ đại đội đóng tại trại giám binh cũ của Pháp. Đơn vị quân Nhật này đang chờ quân Anh đến giải giáp. Tôi không hiểu rõ ta chủ trương đánh để làm gì vì không được thông báo. Có thể, phía ta cho rằng, quân Anh đến giải giáp bọn Nhật ở đây thì bọn lính Pháp núp sau quân Anh có thể mở rộng chiến sự ra các tỉnh Nam Trung Bộ và bọn Nhật sẽ bị chúng sai khiến, lợi dụng để đánh ta. Tôi nghe nói lãnh đạo ở tỉnh Ninh Thuận đã nhiều lần thương lượng với bọn Nhật đưa vũ khí cho ta; đổi lại, ta sẽ bảo đảm cuộc sống cho họ và tìm cơ hội để cho trở về Nhật. Trên thực tế thì cũng đã có một số sĩ quan Nhật chạy sang hàng ta, đã và đang chiến đấu hoặc huấn luyện cho bộ đội ta. Nhưng bọn Nhật ở đây không chịu và cảnh giác, tăng cường canh gác để tự vệ đợi quân Anh đến. Tôi có nghe nói, cuộc lập kích của ta được tiến hành bí mật vào ban đêm, dùng bốn người bắn giỏi bắn chết bốn tên lính gác ở bốn bốt gác quanh trại, sau đó đội cảm tử xung phong vào các phòng ngủ của chúng ném lựu đạn, thủ pháo tiêu diệt chúng. Sau hiệu lệnh tấn công, bốn tên lính Nhật gác ở bốn điểm bị bắn chết, đội cảm tử xung phong vào, dùng thủ pháo, lựu đạn ném và đánh giáp lá cà với bọn lính Nhật. Nhưng trong số lựu đạn của ta có nhiều quả không nổ, chỉ diệt được một số mà không dứt điểm được và bị đánh bật ra. Các đơn vị ta phải tổ chức bao vây, củng cố lực lượng để tổ chức tiến công tiếp. Trung đội tôi được lệnh phải về gấp Phan Rang để tăng cường cho mặt trận. Trung đội trưởng Hướng bị ốm không đi được. Tôi và Châu Nài phải đi nhận nhiệm vụ và chỉ huy trung đội. Nhiệm vụ cụ thể của chúng tôi là phải vào đình Dinh, một ngôi đình chỉ cách trại giám binh khoảng gần 200 mét, phá một kho gạo gần đình và chốt giữ lấy đình, chờ thời cơ xung phong tiêu diệt bọn lính Nhật. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Bảy, 2023, 09:32:42 am Tôi và Châu Nài cho một tổ sục sạo đi trước để trinh sát, phát hiện địch, số còn lại của trung đội do tôi và Châu Nài dẫn đầu, hàng một, lợi dụng địa hình bí mật đi dọc phố tiến về phía đình Dinh. Trên đường phố, thỉnh thoảng gặp một xác người của ta bị lính Nhật bắn chết. Bọn lính Nhật không phát hiện được bộ đội ta nên trung đội tôi dễ dàng chiếm lĩnh được đình Dinh. Việc đầu tiên chúng tôi phải làm là triển khai ngay đội hình chiến đấu bảo vệ ngôi đình. Một bộ phận làm nhiệm vụ phá kho gạo như tiểu đoàn đã giao. Gọi là kho nhưng thực tế chỉ có khoảng độ hơn hai tấn gạo đựng trong các bao tải. Có lẽ cấp trên lệnh phá chỗ gạo này đề phòng quân Nhật có lương thực, sẽ kéo dài sự chống cự của chúng để đợi quân Anh đến. Không thể có chỗ đốt nên chúng tôi tìm cách đổ tung tóe ra khắp xung quanh, địch có vét lên cũng không thể dùng được. Đồng thời, chúng tôi cử liên lạc về báo cáo với cấp trên là trung đội đã chiếm lĩnh được đình Dinh và phá xong kho gạo. Ngay hôm sau, có những tờ bướm báo tin thắng lợi là quân ta chiếm được đình Dinh là có ý biểu dương trung đội chúng tôi. Buổi tối hôm đó, chúng tôi được bổ sung một tiểu đội dân quân toàn là người dân tộc. Tôi thấy các chiến sĩ trong trung đội gọi là dân quân Bà Râu (tên làng của tiểu đội dân quân đó), được cử đến để phối hợp chiến đấu. Anh em phần lớn còn đóng khố, mình trần, được trang bị cung nỏ và cả giáo nhọn. Không biết sử dụng tiểu đội dân quân thế nào cho phù hợp để họ phát huy được thế mạnh của mình, tôi và Châu Nài phài bố trí anh em nằm phục sát những bức tường thấp bao quanh sân đình để nếu có bọn Nhật sục sạo ra thì dùng cung nỏ tiêu diệt. Khoảng sáng sớm hôm sau, bọn lính Nhật sục sạo ra thật, chúng phát hiện thấy anh em liền liên tiếp tung lựu đạn vào đội hình của anh em và dùng tiểu liên bắn liên tục vào đội hình bố trí của trung đội. Chúng tôi bắn trả lại bằng súng trường, nhưng đạn có nhiều viên hỏng không nổ. Một lúc sau, bọn lính Nhật chỉ có khoảng vài tên đi sục sạo cũng rút. Thấy tình hình bất lợi vì địch đã phát hiện, nếu chúng huy động lực lượng đông hơn đánh ra thì ta không đủ sức chống lại sẽ tổn thất, chúng tôi cho bộ đội và tiểu đội dân quân rút xuống cách đình Dinh độ 300 mét, địa hình thuận lợi hơn cho việc bố trí chiến đấu. Tiểu đội dân quân có vài người bị thương cũng rút hết và không tham gia chiến đấu nữa.
Tôi viết báo cáo tình hình chiến đấu, cả việc rút xuống cách dinh Dinh 300 mét về tiểu đoàn và xin tiếp tế thêm cho đạn loại tốt. Đến gần chiều tối thì Tiểu đoàn trưởng Đinh Văn Thanh đến. Anh yêu cầu tôi đưa đơn vị lên đánh chiếm lấy một vài nhà tầng ở phía trên đình Dinh và anh, với súng lục trong tay tiến lên đầu tiên. Trước sự gương mẫu của một đồng chí chỉ huy cấp trên, tôi cũng xách khẩu "mousqueton" (súng trường của Pháp) chạy lên. Tôi và anh vọt qua một quãng trống, chắc địch phát hiện được. Tôi thấy đạn địch xé không khí "chiu chiu" bay về phía chúng tôi. Tôi vọt đến sau một ngôi nhà hai tầng cửa khóa, dùng báng súng phá cửa để vào. Vài chiến sĩ theo sau tôi cùng vào. Mặc dù dịch phát hiện và liên tục bắn về phía đơn vị, nhưng chúng tôi vẫn chiếm lĩnh được một số nhà và bố trí chiến đấu ở đó, một đường phố chính của Phan Rang, nơi có những cửa hiệu lớn nhất. Tôi theo cầu thang lên tầng trên, các chiến sĩ theo tôi cũng thận trọng lần lượt bước lên. Trời về chiều, ánh sáng nhạt dần. Tầng trên là một căn phòng rộng. Nhìn vào tường bên cạnh, tôi thấy một chiến sĩ mặc bộ quần áo tím than, tay xách khẩu súng. Tôi mừng quá tưởng là chiến sĩ của một đơn vị bạn đã đến trước, bèn "a" lên một tiếng mừng rỡ tiến về phía anh ta định giơ tay ra bắt, cũng thấy anh ta tươi cười tiến về phía mình. Đến gần té ra là một cái gương lớn, người trong gương lại chính là mình. Chỉ có mấy hôm chiến đấu căng thẳng, mặt mày đã biến đổi đến nỗi không nhận ra mình nữa. Tôi cười thầm và tẽn tò vì sự nhầm lẫn của mình. Bình tĩnh lại, tôi thấy đó là một cửa hiệu vải lụa. Chủ của nó nghe đâu là một người Java (Nam Dương). Mấy chiến sĩ theo sau tôi lên cũng nghiêng ngó có vẻ lạ lẫm. Tôi dặn anh em là không được lấy bất cứ cái gì của họ, giữ nghiêm kỷ luật với dân. Đối diện với ngôi nhà này, bên kia đường, trung đội tôi cũng đã chiếm lĩnh được một ngôi nhà hai tầng. Đó là một cửa hiệu tạp hóa lớn của một người miền Bắc, một thương gia nổi tiếng ở thị xã Phan Rang. Cửa hiệu mang tên Hiệp Thạnh nên dân ở đó quen gọi là ông Hiệp Thạnh1 (Ông Hiệp Thạnh đến ngày 6 tháng 1 năm 1946 là một trong ba ứng cử viên đại biểu Quốc hội ở Ninh Thuận nhưng không trúng cử). Sáng hôm sau, ông Hiệp Thạnh về nhà, thấy cửa nhà, hàng hóa còn nguyên, ông mừng rỡ và nói với anh em chúng tôi: "Có gì ăn được các anh cứ dùng" rồi vội vã đi ngay. Có tin Chi đội Nam Long2 (Chi đội lúc đó là trung đoàn, do đồng chí Nam Long chỉ huy (sau này là Trung tướng)) từ phía trong ra, chi viện cho Ninh Thuận để giải quyết dứt điểm bọn Nhật ở đây. Chi đội triển khai bao vây phía sau doanh trại của bọn lính Nhật, phía bên kia sông Đinh. Con sông này vào mùa khô có nhiều đoạn cạn có thể lội qua được. Như vậy, vòng vây quanh bọn lính Nhật đã siết chặt thêm, vấn đề còn lại là chuẩn bị khẩn trương kế hoạch toàn mặt trận tiến công tiêu diệt chúng. Bọn lính Nhật đã phát hiện được nguy cơ đối với chúng, lợi dụng một đêm mưa to, bí mật vượt qua đoạn sông ta sơ hở, hành quân chạy về Đà Lạt. Trong khi đó, doanh trại của chúng vẫn nổ súng bắn ra như thường lệ. Khi ta phát hiện được có một bộ phận chúng bí mật rút chạy thì chúng đã cao chạy xa bay. Ta tổ chức tiến công, bọn còn lại chống trả quyết liệt. Cuối cùng, ta xung phong tràn vào, chỉ thấy một số tên còn lại toàn là những tên đã bị thương không hành quân được nữa. Chúng liều chết ở lại đánh đến cùng để đại bộ phận chạy thoát, trong đó có tên chỉ huy cao nhất của chúng đã bị thương nát cả hai chân. Sau khi đã tiến hành giải quyết nhanh chóng việc thu dọn chiến trường, tình hình Phan Rang trở lại bình thường. Trung đội chúng tôi được chia một số chiến lợi phẩm của bọn lính Nhật trong kho quân trang của chúng, trong đó có một màn tuyn màu xanh rộng cho cả trung đội. Cán bộ mỗi người được một áo sĩ quan của chúng. Riêng tôi được chia một chiếc áo gabađin mùa đông của sĩ quan Nhật còn mới, mặc rất vừa. Nhưng tôi chẳng dùng tới vi ở Ninh Thuận "không có mùa đông"! Trung đội tôi đóng quân ở Phan Rang mà không phải trở lại Ninh Chữ nữa. Nhưng có một điều lạ, chẳng thấy cấp trên nói trung đội thuộc biên chế của đại đội nào, cũng chưa bao giờ thấy cán bộ đại đội đến cả. Một cán bộ ở tiểu đoàn đưa cho tôi một tài liệu tuyên truyền phát triển Đảng, nhưng cũng chẳng hỏi gì thèm vì lúc đó mới sắp bước sang tuổi 17. Tỉnh mở một lớp bồi dưỡng ngắn ngày giáo viên bình dân học vụ cho cả bộ đội, tôi được chỉ định tham dự. Ở đây, tôi gặp bạn An, là Chính trị viên một trung đội khác cũng vừa học ở Trường Quân chính Việt Nam khóa 2 về, và Tân, Trung đội phó, một bạn thân của An. An và Tân trước đều là học sinh, gia đình giàu có, trạc tuổi 18, 19, cùng vào bộ đội sau Cách mạng Tháng Tám. Những ngày nghỉ, An và Tân thường mời tôi đi ăn hiệu. Tuổi trẻ, đều là học sinh cũ nên chúng tôi cũng dễ thân nhau, tuy chưa hiểu sâu về nhau nhiều. Trong những buổi tối sinh hoạt văn nghệ, chúng tôi, nhất là tôi và An đều có tiết mục tham gia. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Bảy, 2023, 09:33:42 am Trong thời gian này, khoảng cuối tháng 12 năm 1945, đầu tháng 1 năm 1946, toàn tỉnh Ninh Thuận chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa I của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Những ngày đó, thị xã Phan Rang chăng đầy băng, cờ, biểu ngữ rực rỡ như ngày hội. Cuộc tuyên truyền, vận động bầu cử Quốc hội được tiến hành sôi nổi, rầm rộ. Cả tỉnh Ninh Thuận được bầu một đại biểu và có ba ứng cử viên; một là ông Trần Thi, một đảng viên cộng sản lão thành, hai là ông Nguyên, Tri phủ Diễn Châu (Nghệ An), người làng Tri Thủy thuộc huyện Ninh Hải, đang ở quê, ba là ông Hiệp Thạnh, thương gia ở thị xã Phan Rang. Trong ngày bầu cử, một không khí tươi vui tràn ngập khắp nơi. Mọi người hào hứng, phấn khởi đi bỏ phiếu, thấy nhân dân mình được thực sự làm chủ đất nước mình. Cuối cùng, đại bộ phận cử tri bầu cho nhà cách mạng lão thành Trần Thi.
Đang tận hưởng dư vị của không khí tưng bừng sau thắng lợi của cuộc bầu cử Quốc hội và thư giãn sau những căng thẳng của cuộc chiến đấu với bọn lính Nhật vừa rồi thì trung đội tôi được lệnh khẩn cấp và bí mật lên Đà Lạt. Bọn lính Nhật ờ Đà Lạt, cộng thêm số còn lại ờ Phan Rang chạy lên, vẫn còn chiếm đóng thành phố. Lúc này, các anh Hướng và Châu Nài đã xin giải ngũ vì lý do sức khỏe và gia đình. Trung đội trưởng mới thay thế dẫn bộ đội đi bằng xe lửa ban đêm đến Km 8 Đà Lạt, cùng một số đơn vị bạn triển khai bao vây Đà Lạt. Đường xe lửa từ Tua Chàm lên Đà Lạt lúc này có đường răng cưa ở giữa, còn chạy được. Còn tôi, vì còn phải dự nốt lớp bồi dưỡng giáo viên bình dân học vụ, đi hôm sau. Tôi chẳng kịp chia tay với anh Phùng Như Cương, đại đội anh cũng đang ở Phan Rang và hai bạn An và Tân. Khuya hôm đó, Tiểu đoàn bố trí tôi đi nhờ xe con của một cán bộ cao cấp cũng đến Đà Lạt công tác. Đêm đó, trăng sáng rất đẹp, trên con đường vắng vẻ từ Phan Rang đến Đà Lạt, thỉnh thoảng dưới ánh đèn pha ô tô, từng đàn lợn rừng hoặc vài con hoẵng vọt qua đường. Khoảng nửa đêm, xe dừng lại nghỉ ở Dran (Đà Rằng). Ra khỏi xe, trời lạnh, tôi phải lấy chiếc áo gabađin chiến lợi phẩm ra mặc. Chủ xe vào một quán nhỏ còn le lói ánh sáng của một chiếc đèn dầu gọi ba cốc cà phê. Ba anh em nhấm nháp cốc cà phê cho ấm bụng và tỉnh táo xong, từ biệt cái phố núi hiu hắt và yên tĩnh đến nao lòng ấy, lên đường tiếp. Đến đèo Ngoạn Mục (Bellevue), ô tô dừng lại nghỉ giữa đỉnh đèo cho nguội máy. Chúng tôi ra khỏi xe, trời lạnh giá, ngắm nhìn cảnh vật xung quanh. Phía rất xa, thấp thoáng mờ ảo dưới ánh trăng vàng trong vắt là những bãi cát vàng và biển khơi bát ngát. Thảo nào người ta gọi đây là đèo Ngoạn Mục, tiếng Pháp là Bellevue. Giá như không có bọn xâm lược, không có chiến tranh, với những cảnh đẹp mê hồn như vậy của đất nước thì đời sống của con người sẽ êm đềm và hạnh phúc biết bao. Tôi đến đơn vị đã thấy anh em trung đội ở trong một cái hầm lớn và những đường hào chiến đấu. Tiểu đoàn trưởng của tiểu đoàn mà trung đội tôi phối thuộc tên là Trần Tử Oai, đẹp trai, quần áo bảnh bao, có vẻ là người có học. Anh đến thăm đơn vị, nhưng cũng chẳng nói với tôi điều gì về nhiệm vụ của riêng đội tôi. Còn tôi cũng đơn giản hiểu rằng đơn vị mình đến để chiến đấu ngăn không cho quân Nhật đánh ra. Việc cung cấp ăn uống cho trung đội cũng do nhân dân đảm nhiệm. Các chị đem cơm cho chủng tôi hầu hết đều có nước da rất đẹp của phụ nữ Đà Lạt, không phấn son gì mà như trứng gà bóc. Thức ăn của bộ đội hoàn toàn khác với Ninh Thuận, toàn là các loại rau, củ đặc sản của Đà Lạt xào với thịt bò và canh cũng vậy. Đi đôi với việc sẵn sàng chiến đấu, ban ngày tôi vẫn bố trí được 1 - 2 tiếng để dạy cho những chiến sĩ chưa biết đọc, biết viết vì gần hết trung đội tôi mù chữ. Ở ngoại vi Đà Lạt, chúng tôi làm nhiệm vụ bao vây quân Nhật trong thành phố chưa đầy một tuần lễ, không phải đánh đấm gì thì có lệnh cho trung đội phải rút về Ninh Thuận. Chuyển quân lần này cũng yêu cầu phải giữ bí mật. Chúng tôi lặng lẽ ra ga xe lửa, leo lên những chiếc toa đen. Xe lửa chuyển bánh và đi liền một lèo về Tua Chàm rồi đi thẳng về phía Nha Trang. Đến Cam Ranh, xe lửa dừng lại thì trời sắp sáng. Trung đội được lệnh triển khai ngay ở các giao thông hào trên bãi biển. Buổi sáng nhìn rõ một chiến hạm lớn màu trắng treo cờ Pháp đậu cách bờ biển khoảng hai kilômét. Đó là chiếc chiến hạm Richelieu của thực dân Pháp mới đến. Buổi tối, một cuộc họp của chỉ huy các đơn vị được triệu tập đến một ngôi nhà kín đáo trong phố để bàn kế hoạch tác chiến. Tôi đến dự đã thấy bảy, tám người ngồi quanh bàn. Người chủ trì cuộc họp được giới thiệu là đồng chí Cao Thanh Trà, Trung đoàn trưởng, người mà tôi đã gặp một lần ở đâu đó lúc mới về Ninh Thuận, mặc quân phục cũng giống như đồng chí Tê đơ (T2), dải kim tuyến trên vành mũ thêu dòng chữ "Ủy viên Tư lệnh Nam phân Trung Bộ". Hôm nay, đồng chí mặc thường phục giản dị hơn. Đồng chí Trà đặt vấn đề: "Có thể đánh chiếm đảo Bình Ba được không?". Đảo Bình Ba là một đảo đá khá cao án ngữ ngay cửa vào vịnh Cam Ranh, một vị trí rất hiểm yếu về mặt quân sự mà một bộ phận lính của chiến hạm Richelieu đang chiếm đóng. Thảo luận qua thấy quân ta có ít, phương tiện lại thiếu nên không thể đánh nổi. Cuối cùng kết luận là tập trung lực lượng phòng thủ, không để địch đổ bộ lên chiếm Cam Ranh. Ở bến cầu cảng, tôi nhìn thấy một chiếc ca nô sơn trắng rất đẹp nổi lên chữ NOLAN sơn xanh ở sườn, neo tại vị trí cách đội hình chiến đấu của trung đội khoảng gần 400 mét. Nghe nói ca nô đó là của chiến hạm Richelieu. Hôm chiến hạm mới đến, một tổ chiến sĩ cảm tử của ta do một sĩ quan Nhật chạy sang hàng ngũ ta chỉ huy xin được ra chiếm lấy chiếc ca nô đó. Lợi dụng đêm tối, họ đã bí mật tiếp cận, tháo được xích, nổ máy chạy được vào cảng mặc dù khi phát hiện được, địch bắn đuổi rất ác liệt. Để phòng thủ chống đổ bộ, ngoài lực lượng bộ binh, ta có hai khẩu DC-25 của Pháp đặt ở hai điểm bên trong bãi cát. Đó là hai khẩu cao xạ đạn 25mm dùng để bắn máy bay chứ không phải là bắn tàu chiến. Buổi sáng, bọn lính thủy trên chiến hạm vẫn ngang nhiên tập trung trên boong làm lễ chào cờ. Ta nhìn bằng mắt thường cũng thấy rõ, mà còn nghe được cả tiếng kèn của chúng, nhưng vì không có súng đủ tầm để bắn nên bộ đội ta rất bực tức. Bọn địch dưới chiến hạm thinh thoảng đùng đại bác bắn vào trận địa của ta, nhưng chiến hào trên bãi biển của ta khá tốt nên ở trung đội tôi không có thương vong. Bọn chúng còn dùng đại bác bắn vào các đoàn xe lửa của ta từ Bắc vào Nam hoặc ngược lại, nhưng cũng không lần nào trúng đích. Có một buổi, pháo địch bắn dồn dập vào trận địa, bộ đội ta trong công sự vẫn an toàn. Đó là loạt pháo yểm trợ cho một tốp lính đi trên chiếc ca nô khác vào cắt dây neo, cướp lại chiếc ca nô NOLAN và kéo nó về chiến hạm. Hai khẩu pháo cao xạ 25mm của ta cũng hạ nòng, cùng bộ binh ta bắn về phía địch nhưng hiệu quả kém, không ngăn được chúng. Ta bị địch cướp lại chiếc NOLAN, nhưng chúng vẫn chưa dám đổ bộ. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Bảy, 2023, 09:34:37 am Cứ nhùng nhằng thế dăm hôm thì trung đội tôi lại được điều động đến một địa điểm mới, địa danh đó gọi là Ba Ngòi. Lần này nhiệm vụ được giao rõ ràng hơn các lần trước. Chúng tôi có nhiệm vụ đến vị trí cách cảng Cam Ranh khoảng hai kilômét về phía nam, bên cạnh đường 1A để chống địch ở chiến hạm Richelieu vượt qua bãi sú đổ bộ lên và cảnh giới phía nam, nếu địch đánh ra theo đường 1 thì tổ chức đánh chặn chúng.
Trung đội tôi nhanh chóng chuyển đến địa điểm mới. Ở đó vắng vẻ chỉ có hai cái nhà độc lập ở sát nhau về phía tay phải đường 1 từ Bắc vào Nam. Một cái là nhà ngói khoảng ba gian, một cái là nhà tranh rộng tương tự cách đường 1 khoảng 5-6 mét. Mỗi nhà đều trồng một hàng dâm bụt cao khoảng 1,5 - 1,6 mét sát đường nhựa. Sau nhà, qua một bãi cỏ trống trải, cách đường sắt khoảng 200 mét, bên trong đường sắt cũng là một bãi cỏ trống rộng khoảng 200 mét, rồi đến rừng cây rậm rạp. Thỉnh thoảng có những chuyến xe lửa từ Bắc vào Nam hay ngược lại chạy qua đây với tốc độ nhanh, pháo ở chiến hạm địch bắn, nhưng chưa lần nào chúng tôi thấy trúng đích. Lúc này, trang bị cho trung đội chỉ có một khẩu tiểu liên (stel) của Pháp do Trung đội trưởng giữ, một khẩu mousqueton do tôi giữ và bốn khẩu anhđôsinoa (indochinois) cho ba tiểu đội trưởng và một tiểu đội phó giữ, số còn lại là giáo nhọn và mỗi chiến sĩ có một hoặc hai quả lựu đạn do công binh xưởng của ta chế tạo. Tiếp tế cho chúng tôi ngày ba bữa vẫn là các chị phụ nữ. Các chị gánh cơm và thức ăn nấu sẵn ở đâu đó đến trung đội. Được vài hôm thì Trung đoàn trưởng Cao Thanh Trà đến kiểm tra. Hôm sau thì Chính ủy Trung đoàn Lê Tự Nhiên đến. Từ khi tôi về trung đội này, đây là lần duy nhất trung đội tôi được tiếp các anh. Các anh đến nhắc nhở, động viên mấy câu rồi đi ngay. Từ hôm đến đây, chúng tôi chỉ bố trí một trạm gác dưới một gốc cây me cao trước cửa nhà, ở bên kia đường, vừa quan sát phía biển đề phòng giặc đổ bộ, vừa quan sát về phía nam, đề phòng chúng tấn công bằng đường bộ. Còn toàn trung đội, trang phục, khí giới luôn gọn ghẽ, sẵn sàng chiến đấu cao. Trung đội cũng đặc biệt được biên chế riêng một y tá. Một buổi trưa, hôm đó là 27 tháng Chạp âm lịch, các chị gánh cơm đến và có một món cá chim kho rất ngon. Khi các chị ra về, chúng tôi nằm nghỉ ngơi buổi trưa dưới nền nhà. Khoảng 1 giờ 30 phút đến 2 giờ chiều, chúng tôi nghe thấy rầm rầm tiếng xe cơ giới từ phía nam tới, mỗi lúc một rõ và to hơn. Tôi ở ngôi nhà tranh, qua cửa liếp, tôi thấy một rồi hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám chiếc xe tăng của lính Pháp chạy với tốc độ rất nhanh vừa đi vừa bắn liên thanh. Đó là đoàn xe tăng tiền vệ của lính Pháp. Chúng tiến công từ phía nam ra. Đoàn xe tiền vệ đi qua, đồng chí chiến sĩ gác ở gốc cây me vọt qua đường chạy vào báo cáo: "Lính Tây!". Cuộc tiến công của chúng khá bất ngờ, chúng tôi không phản ứng kịp, một mặt toàn đơn vị cũng ý thức được rằng nếu phản ứng bằng bẳn súng hay ném lựu đạn bây giờ là tự sát, sẽ bị chúng tiêu diệt cả trung đội. Tôi lệnh cho tiểu đội ở ngôi nhà tranh lập tức vượt qua bãi cỏ trống sau nhà, sang bên kia đường sắt lên cụm công sự của quân Nhật trước kia đánh chặn chúng. Tôi thấy Trung đội trưởng cũng đang dẫn đầu đội hình vận động nhanh đến khu công sự của quân Nhật theo kế hoạch từ trước. Bắt đầu tôi nghe thấy tiếng tiểu liên của Trung đội trưởng bắn vào bọn bộ binh cơ giới của địch. Tôi cũng lập tức cho triển khai tiểu đội ở một suối cạn cạnh đó bắn ra phối hợp. Bọn Pháp bắn liên thanh như đổ đạn về phía chúng tôi. Một lúc sau chúng tôi không nghe thấy tiếng tiểu liên và súng của ta nữa. Vì cây quá rậm rạp nên chúng tôi không trông thấy được nhau. Tiếng đạn của địch cũng thưa dần. Tôi phán đoán là Trung đội trưởng đã cho rút nên lệnh cho tiểu đội rút. Kiểm tra lại tiểu đội không ai bị thương vong, nhưng vẫn lo chưa liên lạc với Trung đội trưởng. Tôi dẫn tiểu đội vào rừng đi về phía địa điểm đã quy định, tập trung ở đó sau chiến đấu theo kế hoạch đã định từ trước. Mặt trời đã lặn, sâm sẩm tối, đang lúc bí không biết chắc địa điểm đó ở đâu thì gặp một thanh niên người dân tộc. Anh ta chỉ đeo một cái khố. Tôi nhờ anh ta dẫn đường đến đó. Thấy anh ta có vẻ hốt hoảng, tôi theo sát và bấm một chiến sĩ nữa theo sát anh ta. Đi theo đường mòn trong rừng được một đoạn, đến một bụi cây rậm rạp, thì vụt một cái, anh ta lao vào bụi và biến mất. Cả tiểu đội đứng vừa gọi, vừa dỗ anh ta dẫn đi tiếp, nhưng bặt vô âm tín. Thế là đành phải bàn nhau đi tiếp. Theo đường mòn cuối cùng chúng tôi cũng tới nơi và quanh đó một số ít gia đình chạy giặc cũng tản cư đến địa điểm đó. Tôi cho bộ đội nghỉ ngơi ở một lùm cây và đợi Trung đội trưởng dẫn hai tiểu đội kia về tập trung. Đêm đó tuy đói, nhưng vì mệt, dù không có màn chiếu gì, anh em vẫn ngủ tốt. Sáng hôm sau, trời mưa, vẫn chưa thấy Trung đội trưởng và hai tiểu đội kia về. Không ai có áo mưa, vì bộ đội thời đó nghèo lắm, thiếu thốn đủ thứ. Chúng tôi ngồi co ro bên nhau, buồn rười rượi. Một lúc thì có một người dẫn hai người đến, một người đã lớn tuổi, nhỏ bé, mặc một chiếc quần đùi và áo sơ mi, tay chống gậy, một người cao lớn và trẻ hơn, mặc một chiếc quần âu đã nhàu nát và một chiếc sơ mi. Chúng tôi được giới thiệu đó là đồng chí Hoàng Quốc Việt và đồng chí Huỳnh Văn Tiểng từ Nam Bộ ra Bắc qua đây vào thăm bộ đội. Đồng chí Hoàng Quốc Việt nói chuyện với chúng tôi về tinh thần chiến đấu đánh bọn Pháp của bộ đội và nhân dân Nam Bộ, về những gương dũng cảm của bộ đội Bình Xuyên... Nói xong, các anh và người dẫn đường tiếp tục theo đường rừng ra Bắc. Các anh vừa đi thì có một gia đình chạy giặc, ở gần chỗ chúng tôi vào thăm. Ông chủ gia đình mang theo một ít bánh làm bẳng bột cùi dừa và đường trắng mà gia đình chuẩn bị cho Tết Nguyên đán tặng chúng tôi. Tôi từ chối với lý do là gia đình phải chạy giặc cũng đang rất khó khăn, nhưng ông nhất định không chịu. Nhận thấy tình cảm chân thành của ông, anh em rất cảm động; tôi đành phải nhận và cảm ơn ông, ông mới vui vẻ ra về. Đó là một thứ bánh ngày Tết của Khánh Hòa, tôi không biết gợi là bánh gì nhưng rất thơm ngon. Chia ra mỗi chiến sĩ chỉ được mỗi người hai cái nhỏ, đóng thành hình vuông vừa một miếng, không giải quyết được cái đói vì từ trưa hôm qua đến giờ chưa có được một hạt cơm vào bụng, nhưng cũng thấy ấm lòng vì tình nghĩa của nhân dân đối với bộ đội. Rồi chúng tôi cũng tìm được Trung đội trưởng và hai tiểu đội ở ngay gần chỗ chúng tôi, không có ai bị thương vong; chỉ vắng một người không rõ là lạc hay vì sợ chiến đấu mà đào ngũ. Cả ngày hôm ấy, chúng tôi cho người đi tìm các cơ quan để hỏi tình hình và chủ trương tiếp theo nhưng chẳng gặp được ai. Ngày hôm sau, chúng tôi gặp một đại đội, nhưng không phải của Ninh Thuận. Các anh cũng đánh địch, vào rừng và từ trưa hôm qua đến giờ cũng không có gì ăn. Đồng chí Đại đội trưởng gọi cán bộ trung đội đến hội ý, tôi cũng tham dự. Bàn đi bàn lại, cuối cùng quyết định là hai đơn vị sáp nhập với nhau, do đồng chí Đại đội trưởng chỉ huy chung và hành quân theo đường rừng về phía Nha Trang, hy vọng gặp được cấp trên và đợi chỉ thị tiếp. Đi được một chặng dài với cái bụng đói, cả đơn vị dừng lại nghỉ. Một chiến sĩ của trung đội tôi, không biết tìm đâu được nải chuối rừng còn xanh, đem luộc rồi chia nhau, mỗi người được nửa quả ăn cho đỡ đói. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Bảy, 2023, 09:35:24 am Chuẩn bị đi tiếp thì trung đội tôi xảy ra một sự cố. Một tiểu đội trưởng người Ninh Thuận không chịu đi với lý do "Tôi không đi đâu hết, tôi chỉ chiến đấu ở quê hương mình thôi". Anh ta tên là Thảo, khoảng hơn 20 tuổi, gia đình ở Phan Rang. Tôi thuyết phục anh ta không được. Với thái độ giận dữ, tôi yêu cầu anh ta trả lại khẩu súng và tự mình đeo, không giao cho chiến sĩ nào cả vì thấy ai cũng đói và mệt. Anh ta có vẻ ngượng ngập, nhưng vẫn lỳ lợm ở lại. Đến ngày thứ ba vẫn không có cơm ăn, đoàn quân đang đi thì thấy đồng chí Nguyễn Văn Nhu, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Ninh Thuận hối hả chạy đến và bảo đơn vị dừng lại. Tôi đã từng ngồi ăn cơm tập thể cùng với anh mấy hôm đầu mới đến Ninh Thuận nên nhận ra anh ngay và rất mừng rỡ. Anh yêu cầu toàn đơn vị dừng lại, sau khi biết tình hình đã ba hôm nay anh em chưa được ăn cơm, anh bảo người đi theo anh đi chuẩn bị gấp cơm cho bộ đội ăn. Không biết huy động từ nguồn nào mà chỉ một giờ sau, cả đại đội được ăn một bữa cơm nóng với thịt lợn. Anh Nhu yêu cầu đơn vị quay trở lại Ninh Thuận và tiếp tục làm nhiệm vụ ở đó. Tất nhiên là chúng tôi rất vui mừng vì đã bắt liên lạc được với cấp trên và không một chút do dự quay trở về Ninh Thuận.
Trung đội chúng tôi lại tách ra khỏi đại đội mà đơn vị vừa mới sáp nhập vào và trú quân ở một vùng tự do của tỉnh Ninh Thuận, địch chưa đủ lực lượng chiếm đóng. Vào thượng tuần tháng 3 năm 1946, chúng tôi được thông báo Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 và đình chiến. Từ đó, chúng tôi không được lệnh phải tác chiến, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn còn lo tình hình không phải đã ổn định, cần cảnh giác với sự tráo trở nham hiểm của giặc Pháp. Do chiến đấu căng thẳng, đói khát, lại ngủ rừng nhiều, đêm không có màn chiếu gì cả nên tôi bị sốt rất nặng và mê man bất tỉnh. Khi tỉnh lại, tôi thấy mình nằm trên một cái chiếu, xung quanh là những giọng nói miền Bắc. Tiếng một phụ nữ: - Anh ấy tỉnh rồi. Có tiếng một người đàn ông: - Còn trẻ quá. Tự nhiên nước mất tôi trào ra, không kìm nổi nữa. Một phần vì thấy mình bất lực không như lúc còn khỏe, một phần vì thấy mình ốm nặng, lần đầu xa gia đình. Giọng nói của chị phụ nữ: - Anh ấy là Chính trị viên trung đội, nghe nói anh ấy chịu khó dạy chữ cho bộ đội, thật là một việc làm tốt. Tôi cảm thấy xấu hổ vì sự mềm yếu của mình. Vì mệt quá, tôi cũng không biết là mình đang ở chỗ nào. Khi tỉnh táo hẳn, qua chuyện trò với chị phụ nữ, tôi mới biết chị là Đào Thị Thu Tâm, khoảng ngoài 30 tuổi, là một bà đỡ đẻ (sagefemme) ở Sài Gòn, tìm đường ra Bắc nhưng đường bị tắc phải ở lại Ninh Thuận làm y tá cho đơn vị an dưỡng của bộ đội Ninh Thuận. Chị là tác giả của một phóng sự dài có tiêu đề "Mặt trận miền Nam có gì lạ" với bút danh Đào Thị Thu Tâm. Chị nói chị là vợ của đồng chí Trần Huy Liệu (nhưng không nói là vợ thứ mấy). Chị nói chuyện với tôi dịu dàng và thân mật như một người chị và đưa cho tôi quyển sách mà chị là tác giả. Sách nói về cuộc chiến đấu của những người theo đạo Hòa Hảo, đứng đầu là pháp chủ Huỳnh Phú Sổ, khi đó còn đang chống lại thực dân Pháp. Còn hai người đàn ông trạc tuổi 40, một anh tên là Quýnh, một anh tên là Phú nói quê ở làng Quần Phương Đông, tỉnh Nam Định, gần làng Hành Thiện, định cư ở Ninh Thuận đã lâu. Tôi đoán hai anh có lẽ là viên chức nhỏ thời Pháp, sau Cách mạng Tháng Tám đi theo cách mạng, bây giờ làm gì tôi cũng chẳng hỏi. Chị Tâm nói chị đã tiêm thuốc sốt rét cho tôi, vì thuốc men quá khó khăn, thiếu thốn nên phải hòa thuốc ký ninh viên với nước lọc để tiêm bằng đường mạch máu cho có hiệu quả hơn. Sau khi sức khỏe đã khá lên một chút, họ đưa tôi tới một trạm xá quân y gần đó để điều trị tiếp. Từ đấy, tôi không được gặp ba người đó nữa. Đến trạm quân y, tôi rất mừng vì được gặp hai anh trong số 72 cán bộ của Trường Quân chính Việt Nam cùng Nam tiến với tôi. Anh lớn tuổi là anh Lê Hoàng (hoặc Vân) khoảng 25 tuổi, người Hải Phòng, là một công nhân, trước Cách mạng Tháng Tám là Ủy viên Ban Cán sự Việt Minh thành phố, một trong những người lãnh đạo khởi nghĩa ở thành phố Cảng. Anh thứ hai khoảng 20, 21 tuổi là Phạm Thái (sau này là anh Trần Kiên, Phó Tổng Biên tập Báo "Nhân dân" của Đảng), một học sinh ở Hải Phòng đã đỗ Tú tài lần thứ nhất. Anh Hoàng là Đại đội trưởng, anh Thái là Đại đội phó, cả hai đơn vị của các anh đều chiến đấu ở cao nguyên Lâm Đồng. Hai anh cũng bị sốt rét nặng, được đưa về đây điều trị. Một sự gặp gỡ bất ngờ, ngẫu nhiên. Tôi rất phấn khởi được sống cạnh hai anh lớn tuổi. Các anh đối xử với tôi cũng thân mật, coi tôi như em. Các chị y tá ở đây trẻ, nói chung rất có cảm tình với các anh cán bộ trẻ miền Bắc. Một buổi trưa có gió mát, mọi người sau bữa ăn đều nằm nghỉ ở ngoài hiên. Anh Hoàng mắc võng vào hai cột nằm nghi trên võng. Một chị nằm dưới nền hiên, dưới một đầu võng. Anh thoải mái phát ra mấy tiếng "trung tiện" hơi bị to. Chị hồn nhiên, giọng thân thiện nói: "Anh làm chi thế, mình nằm trên, người ta nằm dưới mà cứ “đ…t” hoài, “đ…t” hoài". Tôi và anh Thái, kể cả anh Hoàng đều bậm miệng cười khùng khục, không dám phá ra cười, cũng chẳng dám giải thích gì vì sợ nó thô lỗ quá. Bây giờ già rồi, tôi nghĩ cuộc sống nhiều lúc phải có những chuyện vui cười như thể để vơi đi những nhọc nhằn, buồn phiền mà con người phải gánh chịu. Đang là những tháng đầu thực hiện Hiệp định Sơ bộ (6.3) nên không có bắn nhau, ba chúng tôi đang quen với cuộc sống ở trạm nhưng bệnh sốt rét vẫn còn, lại có chiều hướng nặng thêm. Theo lệnh cấp trên, chúng tôi phải về làng Tri Thủy, để cơ sở ở đó chăm sóc và điều trị tiếp. Làng Tri Thủy kéo dài xuống vùng núi Phương Cựu của huyện Ninh Hải là vùng tự do của ta. Làng đó đối diện với khu nghỉ mát Ninh Chữ, trước kia trung đội tôi đồn trú ở đó, bây giờ đã bị quân Pháp chiếm đóng. Hai làng ở hai bên bờ của một cửa sông thông ra biển, cách nhau độ 300 đến 400 mét. Ba chúng tôi được bố trí ở một nhà dân gần sát bờ biển. Đó là một ngôi nhà ngói cao ráo, mát mẻ, có nhà bếp, giếng nước ngọt, vườn cây cảnh, ông bà Chín Rỗ, chủ nhà tuổi trạc ngoài 50, không có con, bố trí cho chúng tôi ngủ trên một cái sập rộng rãi bằng gỗ quý bóng loáng ở một gian đầu hồi, gian giữa là bàn thờ; còn ông bà ở gian buồng đầu hồi bên kia. Cả ba chúng tôi không những bị sốt rét mà còn ghẻ lở khắp người. Nhưng ông bà vẫn mang ra cho chúng tôi ba cái gối, trong đó hai cái có áo gối trắng muốt thêu hoa, có lẽ là gối cưới của hai ông bà. Chúng tôi từ chối nhưng ông bà không chịu: "Các chú cứ dùng, không sao", ông trước đây là một ngư dân, bây giờ có tuổi, nghỉ đi biển, chuyển sang đi lại buôn bán những nhu yếu phẩm cho đồng bào vùng cao, với một tay nải trên vai. Khi những cây lựu trước cửa nhà có quả chín, ông bà ngắt hết cho chúng tôi. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Bảy, 2023, 09:36:19 am Từ hôm chúng tôi đến, có hai chị em cô gái hay đến nhà ông bà. Bà giới thiệu đó là hai cô con gái ông Tri phủ Diễn Châu, một ứng cử viên đại biểu Quốc hội mà tôi đã nói ờ trên. Gia đình ông bà tuy là ngư dân thường nhưng có họ xa với ông Tri phủ. Bà hay nói với chúng tôi: "Chú nào muốn lấy vợ tôi làm mai cho, đấy hai cô gái đến nhà ấy". Hai cô này tuổi trạc 16 - 18, tuy là con quan nhưng ăn mặc giản dị: Quần áo bà ba đen, đầu quấn khăn rằn, chẳng có vẻ gì đài các cả. Mấy chàng trai miền Bắc, sốt rét da bủng, ghẻ lở, nhưng ăn nói có duyên cũng hấp dẫn đấy chứ!
Một lần, bà đang nhặt rau ở bếp, tôi ngồi xuống cùng làm với bà. Bà hỏi tôi làm gì ở bộ dội, tôi nói tôi làm liên lạc. Vẻ mặt rất nghiêm trang, bà nói với tôi: "Tiên này, vợ chồng tao không có con, chúng tao muốn con làm con nuôi, chúng tao sẽ nuôi con ăn học tử tế, con có ưng không?". Tôi không trả lời, chỉ cười trừ. Tôi nói chuyện này với anh Hoàng, anh Thái. Anh Hoàng nói trêu: "Bà ấy không biết chứ, thằng Tiên là "phân" (ý hói là chính trị viên phân đội), có phải là "cứt" đâu". Chuyện đó qua đi, không thấy tôi trả lời, bà cũng không nhắc tới nữa. Ở làng Tri Thủy, bà con có quan hệ rất tốt với bộ đội, với bệnh binh. Nhưng một lần, tôi thấy một tay thanh niên rất mất cảm tình, mặt lạnh như tiền, đầu đội mũ phớt, áo sơ mi vải đắt tiền, quần âu. Anh ta gặp anh em bộ đội hay bệnh binh đi dạo, mặt vênh vênh, kênh kiệu, không chuyện trò với ai bao giờ. Hỏi ra, anh ta là con trai chủ một đoàn thuyền đánh cá cơm giàu có ở Tri Thủy. Sau này, khi biết Nguyễn Văn Thiệu là người làng Tri Thủy, con trai của một chủ đoàn thuyền đánh cá, xem ảnh của hắn tôi thấy đúng là anh chàng đó. Có lẽ địch biết rõ lực lượng ta ở Tri Thủy phần lớn là bệnh binh, không phải là đơn vị chiến đấu nên tráo trở mở một cuộc càn quét sang Tri Thủy, bất chấp Hiệp định Sơ bộ (6.3). Một buổi sáng, chúng dùng thuyền từ bến Ninh Chữ đổ bộ sang Tri Thủy mở một cuộc càn quét. Bệnh binh và bộ đội ta có lệnh rút khỏi Tri Thủy để tránh bị địch bắt bớ. Ba anh em chúng tôi phát hiện được địch sớm, cùng nhau chạy lên sườn đồi theo đường mòn về hướng vùng núi Phương Cựu. Đúng vào lúc tôi đang lên cơn sốt, người mệt rã rời, không thể lê bước được nữa. Anh Thái thấy vậy, bảo tôi ôm lấy vai anh để anh cõng đi. Nhưng chỉ được vài chục bước, tôi đã thấy anh thở hồng hộc tưởng đứt hơi. Tôi thương anh quá, bảo anh bỏ ngay tôi xuống để tôi tự đi. Tôi nghiến răng, lê bước theo hai anh được một quãng thì được tin địch đã rút hết về Ninh Chữ, bà con dân làng và anh em bệnh binh ai lại quay về nhà nấy. Không những Pháp vi phạm Hiệp định sơ bộ (6.3) bằng những vụ như ở Tri Thủy mà ít lâu sau, chúng tôi được tin chúng còn vi phạm táo tợn và nghiêm trọng hơn. Chúng đã bao vây, tiến công khu vực của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh và bắt toàn bộ cơ quan. Chủ tịch Nguyễn Văn Nhu, Ủy viên đặc vụ Võ Giỏi Sơn1 (Đồng chí Võ Giỏi Sơn là con cụ Võ Liêm Sơn, một nhân sĩ yêu nước có tiếng ở miền Trung mà Bác Hồ rất quý trọng) và nhiều nhân vật quan trọng trong Ủy ban cũng bị bắt và bị chúng giam ở nhà lao Phan Rang... Một hôm, tôi bị sốt rất cao cần cấp cứu. Ông Chín cõng tôi xuống xuồng đi dọc sông chờ tôi vào cứ, nơi có trạm quân y của đơn vị an dưỡng. Đi khoảng 6-7 kilômét đường sông thì đến nơi. Ông cõng tôi lên bờ, đường vắng tanh, không một bóng người. Đến bìa rừng, tôi chắc mẩm đơn vị ở gần đó nên cám ơn ông và nói là tôi có thể tìm được để ông về vì thấy phiền ông quá nhiều rồi. Đi đến bờ rào của một cái nương sát bìa rừng thi tôi mệt quá, không đi được thêm và ngất đi không biết gì nữa. Lúc tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trong một cái lán nhỏ ở sâu trong rừng; bên cạnh là một chị y tá đang chuẩn bị nước cho tôi uống. Chị nói là vừa tiêm cho tôi một ống Quinofonne La Croix, một loại thuốc đặc hiệu trị sốt rét rất hiệu nghiệm thời đó. Được vài hôm thì cắt được cơn sốt, tôi lại được đưa về nhà ông bà Chín Rỗ. Vài hôm sau, cả ba anh em chúng tôi nhận được quyết định và giấy giới thiệu của đơn vị ra Phú Yên để tiếp tục điều trị vì bệnh nặng, riêng tôi đã bắt đầu bị phù nề. Tất cả những đồ dùng cá nhân của chúng tôi có dấu vết gì của bộ đội đều phải để lại vì đường đi rất nguy hiểm, dễ bị địch phát hiện và bị chúng bắt. Tôi cũng vừa được biết tin là chị Đào Thị Thu Tâm đi bằng đường biển ra Bắc đã bị địch bắt, hoặc thuyền bị chúng bắn đắm. Tính mạng của chị và những người cùng đi hiện nay chưa rõ thế nào. Để đi được ra Phú Yên, ngoài số tiền ít ỏi đo đơn vị cấp phải có thêm tiền để chỉ tiêu. Anh Hoàng nói anh đã chuẩn bị được khoảng hơn 100 đồng tiền Cụ Hồ. Còn tôi bán chiếc áo gabađin chiến lợi phẩm cũng được một tờ 50 đồng tiền Cụ Hồ. Lúc này, không biết vì lý do gì, bọn lính Pháp chiếm đóng ở Ninh Chữ đã rút hết về thị xã Phan Rang. Ninh Chữ trở thành bến đậu cho những thuyền đi biển từ Nam ra Bắc và ngược lại. Muốn đi, chúng tôi phải sang Ninh Chữ tự tìm thuyền chở thuê để đi. Chiều hôm ấy, chúng tôi bịn rịn chào từ biệt ông bà Chín Rỗ lên đường sang Ninh Chữ. Chúng tôi tìm được một chiếc thuyền khá rộng rãi, cũng đã có một số ít khách chuẩn bị ra Phú Yên. Thuyền đậu cạn trên bãi cát, hôm sau đợi nước triều lên sẽ xuất phát. Một đêm ngủ trên bãi biển, trên một chiếc thuyền thoáng mát, nếu như đất nước thanh bình, độc lập, tự do thì tuyệt diệu và lãng mạn biết bao. Nhưng một bất hạnh ập tới. Chúng tôi chưa kịp mở mắt thức dậy vì trời còn sớm thì nghe tiếng súng nổ ran ở xung quanh. Anh Lê Hoàng kịp giấu số tiền Cụ Hồ vào một chỗồ kín trên mui thuyền, còn tôi quên mất là mình cũng có một tờ 50 đồng gấp để vào túi ngực chiếc áo sơ mi cộc tay kẻ sọc xanh mang từ nhà đi. Biết không thể chạy thoát, chúng tôi và vài bà con ngồi im trong thuyền. Tiếng xì xồ của bọn Tây đến gần, hai ba tên nhảy lên thuyền chĩa súng vào chúng tôi ra hiệu bắt ra khỏi thuyền. Chúng dẫn mọi người đến tập trung ở một bãi rộng của phố chợ Ninh Chữ. Khá đông bà con chủ yếu là nam giới đã bị giặc quây bắt đến đây. Chúng bắt mọi người xếp hàng đôi thành một dãy dài. Tôi ngạc nhiên và kinh hãi thấy có những người quen biết, trong đó nhiều người là cán bộ. Tôi nhận ra có anh Quách Tử Hấp1 (Sau này là Đại tá Quách Tử Hấp, nguyên Tỉnh đội trưởng đầu tiên của tỉnh Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Phú Khánh, Phó Tư lệnh Mặt trận 579..., quê Đại Lộc, Quảng Nam), một cán bộ của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Ninh Thuận và là người tổ chức bồi dưỡng giáo viên bình dân học vụ dạo nọ; anh Phạm Thành Chính, anh Trịnh Thủy là hai trong số 72 học viên Trường Quân chính Việt Nam Nam tiến, một số khuôn mặt rất quen nữa. Một anh người địa phương tôi quen mặt nhưng không biết tên là một cán bộ trong Tiểu đoàn Ninh Thuận, tôi thường gặp khi còn ở Phan Rang, bị địch bắt đứng úp mặt vào tường, hai tay giơ cao, một tên lính chĩa súng vào sau lưng anh. Theo quan sát của tôi, số người bị lính Pháp bắt hôm đó phần lớn là từ nơi khác đến và một số không ít khác là đi thuyền biển ra phía Bắc. Tôi nghĩ rằng có thể có chỉ điểm báo cho tụi Pháp ở Phan Rang để chúng quây ráp hòng bắt được những cán bộ quan trọng của ta. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Bảy, 2023, 09:37:23 am Cuộc lục soát từng người bắt đầu. Ba người chúng tôi đứng ở khoảng giữa hàng. Tôi đứng sau hai anh Lê Hoàng và Phạm Thái. Vì số người bị địch bắt quá đông nên chúng khám kỹ và xét hỏi từng người và chỉ bắt những người mà chúng nghĩ là Việt Minh; người mà chúng cho là dân thường, không nguy hiểm thì chúng thả ra. Bọn xét hỏi và phân loại những người bị bắt gồm một thằng Tây trạc ngoài 40 tuổi, mặc thường phục, một tên Việt gian làm phiên dịch cũng trạc tuổi 40 và bốn, năm tên lính Pháp đứng gần để bảo vệ hai tên kia.
Cuộc lục soát và thẩm vấn bắt đầu. Tôi thấy sau khi chúng khám xét và tra hỏi qua người nào xong thì tên Pháp quyêt định luôn thả hay là bắt giết. Tôi không hiểu khi bị thẩm vấn các anh trả lời khéo như thế nào mà thấy anh Quách Tử Hấp, rồi anh Trịnh Thủy, anh Phạm Thành Chính đều được chúng thả ra. Tôi hy vọng là chúng tôi cùng sẽ được thả ra như thế. Đến lượt anh Lê Hoàng, sau khi khám và hỏi mấy câu tôi nghe không rõ, nhưng thấy tên phiên dịch nói một câu cộc lốc "A lê - Phan Rang". Thế là một tên lính Pháp đẩy anh đến chiếc bàn ở gần đó. Một tên người Việt đeo kính trắng, trắng trẻo, mặt khó đăm đăm, ngồi sau bàn. Nhiều người bị bắt đi Phan Rang bị hắn hỏi gì đó, rồi ghi chép, bị đẩy đến một chỗ gần đấy có lính Pháp gác xung quanh. Anh Phạm Thái cũng cùng số phận như anh Lê Hoàng, bị đẩy vào khối người bị bắt đi Phan Rang. Đến lượt tôi, cũng như các người khác, mặc dù tôi chỉ mặc cái quần soóc và chiếc sơ mi cộc tay có tủi ngực, tên lính Pháp lục soát ở hai túi quần. Lúc đó tôi mới sực nhớ ra trong túi áo có tờ 50 đồng tiền Cụ Hồ. Tên chỉ huy nhắc tên lính: "II faut bien íòuiller" (khám kỹ vào). Tôi lạnh xương sống, nguy hiểm quá. Nếu nó phát hiện được tờ 50 đồng trong túi thì chì có chết. Tên lính có lẽ thấy tôi ghẻ lở, sợ bẩn nên chỉ vỗ mấy cái bên ngoài túi, không thọc tay vào túi rồi thôi. Tiếp theo, tên Việt gian phiên dịch, có vẻ là người địa phương hỏi tôi: - Tên gì? Tôi trả lời: - Nguyễn Hữu Ninh - chữ "Hữu" tôi nói là "Hửu" cho giống người Thanh Hóa. Hắn hỏi tiếp: - Quê ở đâu? Tôi trả lời: - Quê tôi ở huyện Thạch Thành, Thanh Hóa. Hắn lại hỏi: - Tại sao lại ở đây? - Tôi đi với cô tôi buôn bán ờ Đà Lạt, đánh nhau thì chúng tôi tản cư chạy vào rừng, rồi tôi lạc mất cô. Tôi đến đây để tìm đường trở về quê. - Mày có phải người Tàu không? Vào đây tao hỏi ông chủ hiệu người Tàu xem mày có phải người Tàu không? Hắn nói thế nhưng không làm thế, vì cửa hiệu của người Hoa đó cách đến 50 mét. Rồi nó nói với tên Pháp mặc thường phục bằng tiếng Pháp: - Nó còn bé, thả nó ra được không? Tôi thấy tên Pháp nhún vai rồi nói: - Ồ! Nó bé nhưng rất có thể nó cũng là Việt Minh chứ! Tôi lại nghe một tiếng cộc lốc của tên Việt gian: - A lê - Phan Rang! Tôi bị đẩy đến tên đeo kính trắng ngồi sau bàn. Hắn nhìn tôi vô cảm hỏi một câu cụt lùn: - Họ, tên? - Tôi là Nguyễn Hửu Ninh - Tôi đáp. - Quê quán? - Huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Thì ra tên này chỉ ghi danh sách những người bị bắt. Tôi lại bị đẩy đến khối người bị bắt, đứng sát bên anh Hoàng, anh Thái, nhưng không nói chuyện gì, vì nếu nói hớ dễ bị lộ là bộ đội. Tôi nghĩ miên man và hình dung cuộc sống nhà tù sẽ bị tra tấn, đánh đập, đói khát, bệnh tật, sẽ phải chịu đựng ra sao và sẽ đối phó thế nào. Tôi cũng nghĩ đến chuyện tại sao mấy anh Quách Tử Hấp, Phạm Thành Chính, Trịnh Thủy lại dễ dàng thoát khỏi mà không bị địch bắt. Tôi tự giải đáp được ngay, có lẽ các anh trông còn rất khỏe mạnh, mặt mũi trắng trẻo, quần áo sạch sẽ. Chúng cho là người thành phố, không phải là những "Việt Minh" ở trong rừng, sốt rét và ghẻ lở như ba anh em chúng tôi. Bọn địch nhét những người bị bẳt lên xe tải nhà binh chạy về nhà lao Phan Rang và tống tất cả những người bị bắt vào một nhà giam lớn, bẩn thỉu, hôi hám. Nhà giam có hai sàn xi măng theo chiều ngang và chiều dọc, nếu chúng ken chặt có thể cho được 50, 60 người nằm. Một nhà xí rộng khoảng một mét vuông, dòi, bọ lúc nhúc bò ra cả sàn nhà trông tởm lợm muốn nôn mửa. Nhân lúc mọi người chuẩn bị chỗ nằm, không ai để ý đến ai, anh Hoàng nói nhỏ với anh Thái và tôi: - Trong tay giặc, chúng mình không biết chết lúc nào, chỉ thương thằng Tiên còn trẻ quá! Nghe câu dó, tôi cảm động nhưng lại thấy minh, hơn lúc nào hết, không hề sợ chết. Nhớ đến tờ 50 đồng tiền Cụ Hồ còn nằm trong túi áo ở ngực, tôi bí mật vò nát và hủy ngay. Cai quản chúng tôi tại nhà giam đó không phải là người Việt Nam mà lại là những tên lính Tây. Chúng được ở riêng và thay nhau đến chỗ chúng tôi giám sát rất chặt chẽ, không cho một ai được ra khỏi cửa buồng giam và trực tiếp phát cơm cho từng người. Mỗi người được một lon sắt tây cơm nấu bằng gạo mốc, kèm theo một miếng cá khô mùi thum thủm, cho vào miệng nhai như củi mục tẩm muối. Ngày hai bữa như thế, ngày nào cũng vẫn "thực đơn" đó . Một bữa có một lính Tây trông cục mịch, sau khi phát cơm tự nhiên anh ta lại gần tôi, không biết anh ta có biết tôi hiểu chúi ít tiếng Pháp hay không, nói một thôi: - Mày biết không, tao là một người Pháp đích thực (un vrais Français), mày biết tại sao nước Pháp lại xâm lược Việt Nam không? Thấy tôi im lặng, anh ta nói tiếp luôn: - Vì rằng Việt Nam có nhiều cao su, nhiều cà phê, nhiều gạo, nhiều dứa và đặc biệt là nhiều chuối... Tôi vẫn im lặng nhưng trong lòng thấy rất cỏ thiện cảm với người lính Pháp này. Tất cả những điều anh ta nói, anh Hoàng và anh Thái đều nghe được cả. Chỉ mấy hôm sau, chúng tôi được biết toán lính Tây cai quản chúng tôi là những người lính lê dương phản chiến hoặc bị kỷ luật vì chống lệnh của chỉ huy, có nhiều quốc tịch khác nhau như Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Ý... Nói chung là họ hiền lành, không bao giờ đánh đập tù nhân, riêng chỉ có một người lính Đức, tên anh ta là Hans, thường cỏ thái độ thô lỗ với mọi người, nhưng cũng không đánh đập ai bao giờ. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Bảy, 2023, 09:38:10 am Một buổi sớm, hầu hết mọi người đã thức giấc, nhưng một số vẫn còn nằm trên sàn xi măng. Đột nhiên có ba tên lính Tây nai nịt súng ống gọn gàng, dẫn một tù binh mặc quân phục vải thô màu tím than, một loại vải đặc trung của Khu 5 thời đó, đầu đội mũ vải rộng vành, bị trói giật cánh khuỷu, mặt mũi sưng vù, tím bầm do bị chúng tra khảo. Dáng người to dậm, chắc nịch, vẻ mặt cương nghị, anh bình thản bước vào buồng giam, đưa mắt nhìn mọi người. Bọn lính Pháp nhắc anh một câu gì đó, anh vẫn đứng thản nhiên, im lặng. Một trận đòn tới tấp bằng báng súng của ba tên lính giáng vào anh. Anh không hề kêu một tiếng, nói một câu, im lặng để chúng đánh, mặt vẫn bình thản nhìn mọi người, một cái nhìn, một ánh mắt biết nói: "Hãy bất khuất!". Đánh chán, chúng lôi anh đi. Chắc chắn chúng sẽ không để anh sống. Hình như bọn lính Pháp muốn bắt anh nhận mặt những người trong buồng giam, có ai là Việt Minh không để khai ra với chúng. Tôi cảm nhận mọi người hôm ấy khâm phục và kính trọng anh. Tôi thấy minh được tiếp thêm sức mạnh và hình ảnh của người chiến sĩ kiên cường, bất khuất ấy đi theo suốt cả cuộc đời tôi.
Đối diện với buồng giam chúng tôi, qua một cái sân đất rộng của trại giam, ở giữa có một cái giếng, là một buồng giam lớn, tương tự như buồng giam chúng tôi. Một buổi tối, khi sắp ngủ, mọi người bỗng nghe vang lên tiếng đồng ca "Chiến sĩ Việt Nam" của Văn Cao: "Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường...". Tiếp theo là bài "Diệt phát xít" của Nguyễn Đình Thi: "Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than. Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang... Việt Nam, Việt Nam, Việt Nam muôn năm". Đó là tiếng hát của anh em cán bộ, nhân viên của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Ninh Thuận bị địch bắt giam dạo nọ, bị giam tập thể ở buồng giam đối diện bên kia sân. Có hôm buổi sáng, khi mọi người chúng tôi đã dậy, bọn lính Tây lại bắt tất cả chúng tôi phải nằm im tại chỗ. Đó là lúc chúng cho những người bị biệt giam trong buồng giam cá nhân như đồng chí Nguyễn Văn Nhu, Chủ tịch tỉnh, hay đồng chí Võ Giỏi Sơn, Ủy viên đặc vụ của Ủy ban tỉnh ra tắm ngoài giếng. Các anh tắm xong trở lại xà lim, chúng mới cho chúng tôi ngồi dậy. Ít lâu sau, chúne tôi được tin giặc Pháp đã đưa đồng chí Nhu và các đồng chí cán bộ chủ chốt của Ninh Thuận ra Nha Trang và đã bí mật giết hại các đồng chí đó. Các đồng chí cán bộ, nhân viên của Ủy ban tỉnh ở buồng giam lớn cũng bị chúng đưa đi đâu không biết. Mọi người không còn được nghe những bài hát cách mạng đã góp phần hâm nóng tinh thần yêu nước. Thỉnh thoảng, bọn chúng lại gọi một người lên thẩm vấn ở một phòng riêng, cách chỗ giam chúng tôi không xa. Chúng tôi hiểu điều đó có nghĩa là bọn địch vẫn muốn khai thác để tìm ra ai là Việt Minh trong số những người đang bị giam giữ ở nhà lao này. Tình hình đó khiến chúng tôi phải luôn luôn cảnh giác, giữ mình cho khỏi bị lộ là bộ đội cách mạng. Nhưng từ khi chúng tôi bị giam ở đây, chưa có ai bị đưa đi mất tích. Có hôm bọn chúng bắt được ở đâu đó một toán sáu, bảy người trong đó cỏ hai chị phụ nữ trẻ. Trông họ biết ngay là nhũng người thành thị, ăn mặc khá sang trọng. Đêm khuya, tôi đang ngủ thì bị thức dậy bởi những tiếng lao xao giữa tiếng một người phụ nữ và tiếng của một lính Tây. Họ nói nhỏ nên nghe không rõ lắm. Nhưng chỉ một thoáng cũng biết ngay là anh chàng lính Tây nào đó đang cai quản chúng tôi đến gạ gẫm giở trò... nhưng bị cự tuyệt. Mặt khác, những người khác nằm cùng sàn cũng tìm mọi cách đánh động để bảo vệ chị phụ nữ kia nên hắn không làm gì được phải rút lui. Cai quản chung nhà lao Phan Rang là một lão người Pháp khoảng trên dưới 60 tuổi, người thấp bé. Một lần, hắn đến phòng giam chúng tôi, đi sau là một thanh niên. Nhìn tay thanh niên, tôi giật mình nhận ra Tân, người bạn mới quen cách đây vài tháng, là Trung đội phó của bộ đội ta, là người cùng học với tôi và An ở lớp bồi dưỡng giáo viên bình dân học vụ. Anh ta đã vài lần mời tôi và An đi ăn cơm hiệu khi còn ở Phan Rang. Tôi làm như không nhận ra anh ta. Tân cũng có vẻ ngạc nhiên khi trông thấy tôi nhưng cũng lờ đi. Lão Tây già như khoe với mọi người xung quanh, chỉ vào Tân nói đây là con nuôi của lão ta. Tân trông đẹp trai, nét mặt thanh tú dễ có cảm tình, nghe lão ta nói như vậy nét mặt vẫn lạnh lùng, bình thản, không nói năng gì. Đứng một lát, lão và Tân đi ra khỏi phòng giam. Tôi chờ đợi một rủi ro lớn đến với mình. Nếu Tân theo giặc, tố giác tôi là "Việt Minh Bắc Kỳ" thì bọn giặc sẽ lôi tôi lên phòng riêng tra hỏi và tính mạng mình sẽ ra sao. Tôi chuẩn bị tinh thần để đối phó, xử lý trong những tình huống khó khăn, quyết liệt nhất để giữ được khí tiết cách mạng, giữ được lời thề của Quân đội cách mạng. Một ngày trôi qua, rồi hai ngày, tôi cũng không thấy động tĩnh gì. Như vậy, có thể là Tân không phản bội tôi. Thế thi Tân có phải là người dã theo giặc không, hay vẫn là người của mình, hay vì lý do nào khác nữa. Tôi nói chuyện này với anh Hoàng, anh Thái. Anh Hoàng cười nói đùa: - Hay cậu cũng cố gắng đi làm con nuôi để cứu chúng mình thoát khỏi nhà tù đi. Tôi cười: - Tôi ghẻ lở, bẩn thiu, ốm đau thế này thì đứa nào nó thèm nhận làm con nuôi. Với Tân, số phận đưa đẩy anh tới đâu và cả An nữa sau này ra sao, tôi hoàn toàn không rõ vì chưa bao giờ gặp lại. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 11 Tháng Tám, 2023, 07:46:21 am Đối với tù nhân thường, bọn giặc bắt lao động khổ sai rất cực nhọc bất kể già trẻ, ốm đau thế nào, dù là công việc rất nặng nhọc. Một bữa. chúng huy động khá nhiều tù nhân đi lao động, có cả bọn lính phản chiến của chúng nữa. Tôi đi riêng một tốp khá đông có cả người lính Đức tên Hans cùng đi. Anh Hoàng và anh Thái thì đi ở tốp khác. Tốp của tôi đi theo một hàng dọc trên đường phố Phan Rang ra ngoại ô. Tôi đi ở đầu hàng, bỗng nhìn thấy chị y tá đã tiêm thuốc cứu tôi hôm tôi bị ngất ở cứ. Chị đang gánh trên vai một gánh cháo bán rong, trông thấy tôi, vẻ xúc động, chị dừng lại một chút rồi đi tiếp. Đi một đoạn nữa, tôi gặp anh Châu Nài, Trung đội phó người Chăm cùng ở và chiến đấu đánh Nhật với tôi ở Phan Rang. Anh đứng sững, trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên một lúc rồi mới đi. Anh này là cai khố xanh đã đi lính cho Pháp nhiều năm. Sau Cách mạng Tháng Tám tham gia bộ đội, rồi giải ngũ. Với anh, tôi không ngại vì anh là người hiền lành, chất phác, quan hệ đối với tôi rất tốt. Tốp tù nhân có tôi trong đó đến một khu bọn giặc đang củng cố các công sự cũ. Tôi và anh chàng lính Đức Hans làm ở một lô cốt có một tên lính Pháp ở đó trông coi. Chúng tôi phải khuân những đoạn gỗ, hoặc những bao cát đắp thêm vào lô cốt. Tôi đang làm thì giật mình nhìn thấy Thảo, Tiểu đội trưởng của trung đội tôi đã chống lệnh không hành quân ra Nha Trang và đòi ở lại chiến đấu ờ quê. Tôi đã phẫn nộ tước lại khẩu súng anh ta đang giữ và để anh ta ở lại. Anh ta đang lảng vảng ở đó, không rõ làm gì và cũng nhận ra tôi. Không biết có đúng là anh ta chiến đấu ở quê nhà hay không? Chiến đấu làm gì, có phải là trinh sát của ta không hay theo giặc? Anh ta có vẻ để ý tôi, tôi hơi ngại anh ta và nghĩ rằng có thể có khả năng xấu nhất vì có những kẻ bất mãn cá nhân mà phản bội Tổ quốc. Tôi đang khuân gỗ và bao cát với Hans thì lên cơn sốt rất cao, chân tay rã rời không làm được nữa. Anh lính gốc Đức này vốn thô lỗ, tôi chờ đợi anh ta sẽ đánh đập hay ít nhất là cáu kỉnh với mình. Nhưng chuyện đó không xảy ra, anh ta ra hiệu cho tôi được ngồi nghỉ và một mình anh ta khuân củi hoặc bê bao cát đến lô cốt. Về trại giam, hôm ấy anh ta đem đến cho tôi một mẩu bánh mì lớn ra hiệu cho tôi ăn mà không nói gì. Hóa ra người lính lê dương gốc Đức mà tôi cho là thô lỗ, cục cằn ấy cũng biết cảm thông và có tình người. Mấy hôm sau cuộc gặp gỡ những người mà tôi gặp hôm đi lao động khô sai đó, tung tích tôi vẫn không bị lộ, địch vẫn không biết gì. Đặc biệt, cuộc chạm trán với Thảo, người Tiểu đội trưởng chống lệnh bị tôi tước súng, làm tôi lo ngại, cũng không đem lại một tai họa nào đối với tôi. Ngay buổi chiều hôm đi lao động ấy, tôi kể lại chuyện cho anh Hoàng và anh Thái nghe, thì được hai anh kể cho nghe một chuyện kỳ lạ. Buổi ấy, hai anh được chúng giao cho nhặt cỏ và dọn dẹp vệ sinh ở sở mật thám của địch. Lúc các anh đang lúi húi nhổ cỏ ở sân thì một người Việt Nam ngồi ở bàn giấy đi ra đến gần chỗ các anh làm và khẽ gọi tên hai anh làm các anh rất sửng sốt và có phần hốt hoảng. Lúc đó vắng người, anh ta nhìn quanh không thấy ai khác, liền kín đáo đưa cho anh Hoàng một số tiền và nói nhanh: "Các anh cầm lấy mà dùng" rồi quay ngay vào phòng làm việc. Các anh nói với tôi là không hề quen biết người này. Các anh đoán là khi các anh chỉ huy đơn vị ở Lâm Đồng, có lẽ người đó biết hai anh và đây có thể là người của ta cài vào hàng ngũ địch. Nhờ có số tiền đó, chúng tôi có thể gửi người mua cho những thứ cần thiết giúp cho cuộc sống của chúng tôi đỡ khổ một thời gian.
Có hôm, cả ba chúng tôi bị địch bắt đi kéo xe ba gác chờ gạo hoặc thứ gì đó trong bao bì, việc cũng khá nặng nhọc. Lân này bọn Tây giao cho mấy tên lính ngụy đi kèm. Lúc mệt quá, chúng tôi xin bọn lính ngụy cho dừng lại nghỉ. Một người dân ngồi trong một quán hủ tiếu gần đó đi đến chỗ bọn lính ngụy, xin với chúng cho ông ta đãi chúng tôi mỗi người một bát hủ tiêu. Mấy tên lính ngụy do dự, ông cứ khẩn khoản nói với chúng: "Anh em ốm đau, lại phải làm việc nặng nhọc, xin các anh cho đãi anh em chút ít để lấy lại sức...". Tốp lính ngụy đồng ý; tất nhiên chúng tôi, hằng tháng trời ăn toàn cơm gạo mốc và cá khô mục, không thể từ chối một món quà ngon như vậy từ tấm lòng nhân hậu của một đồng bào mình. Ông ta ngồi ở bàn bên, khi nghe chúng tôi nói tiếng miền Bắc, nét mặt trầm ngâm, im lặng nhìn chúng tôi ăn cho đến hết. Không nói ra nhưng chúng tôi rất xúc động trước nghĩa cử của một người dân không quen biết. Cai quản chúng tôi ở nhà giam vẫn là những người lính phản chiến cũng bị giam ấy, trong đó có một anh người Tây Ban Nha. Khác với những người lính Tây khác, anh này người cao lớn, da trắng mịn màng, đeo kính trắng, đi đứng đĩnh đạc, ít nói. Một hôm anh ta trông thấy tôi thắt chiếc dây lưng da đẹp mà Phú tặng trước khi tôi đi học ở Trường Quân chính Việt Nam. Tôi không hiểu vì lý do gì anh ta rất thích nó và tỏ ý muốn mua lại. Tôi cũng tiếc vì đây là vật kỷ niệm mà Phú tặng tôi nhưng tôi thấy cho anh ta chiếc dây lưng có thể cũng là cách gây cảm tình với anh ta và có lợi cho anh em mình. Tôi cho anh ta và từ chối không lấy tiền. Từ khi nhận chiếc dây lưng đó của tôi, mỗi ngày một lần anh ra đem suất thức ăn của mình đến cho tôi, thường là một chiếc bánh mì và ít đồ hộp thịt hoặc cá. Đối với tù nhân, ăn uống cực kỳ kham khổ thì suất ăn ấy là rất quý giá. Tôi nhận và chia đều cho cả anh Hoàng và anh Thái. Việc đó liên tục diễn ra hằng ngày. Một hôm, anh ta đưa một gói cơm và thức ăn rất ngon cho tôi. Chúng tôi nhận ra ngay đó là gói cơm thăm nuôi của gia đình, người thân của một tù nhân nào đó đã bị địch giết hại hoặc chuyển đi nơi khác nên kiên quyết từ chối. Và cũng từ chuyện này, chúng tôi biết người lính lê dương gốc Tây Ban Nha ấy đã nhịn ăn đem suất ăn của mình để đền ơn cho tôi. Bữa sau anh đem suất ăn đến cho tôi, tôi nói: "Đủ rồi, cảm ơn anh, anh cũng cần ăn". Anh ta đặt tay lên vai tôi, vẻ mặt xúc động, từ đó mới thôi không đưa nữa. Trong đội quân xâm lược của thực dân Pháp, có những người lính như anh lính người Pháp "tao là một người Pháp đích thực" đã giải thích cho tôi một cách đơn giản lý do vì sao Pháp xâm lược Việt Nam; như anh lính lê dương gốc Tây Ban Nha phân biệt rõ đâu là chính nghĩa, đâu là phi nghĩa chạy sang hàng ngũ ta ở Tri Thủy và đã bị trao lại cho giặc Pháp; như anh lính lê dương thô lỗ Hans gốc Đức cùng lao động với tôi đã lặng lẽ đem cho tôi mẩu bánh mì khi tôi bị sốt; như người lính Tây Ban Nha đã nhường suất ăn của minh cho tôi vì đã lấy của tôi chiếc dây lưng da - họ còn mang đậm tính người. Còn đại bộ phận bọn sĩ quan và bọn lính trong đội quân xâm lược ấy, mặc dù các đơn vị đều có những tuyên úy Thiên Chúa giáo, rao giảng kinh thánh, nhưng vẫn bộc lộ một cách trắng trợn bản chất khát máu, tàn ác, ăn cướp... của chúng. Đi đến đâu là chúng giết chóc, hiếp dâm, cướp của đến đấy, quên hết cả những lời Chúa dạy. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 11 Tháng Tám, 2023, 07:47:24 am Tôi nhớ tới một việc tưởng là nhỏ không đáng kể, nhung tôi không bao giờ quên được. Một buổi sáng, anh Hoàng, anh Thái và tôi bị chúng giải đi đến một kho xăng để chuyển những thùng xăng bằng sắt cỡ 25 lít lên xe vận tải. Với sức lực của những bệnh nhân đang còn sốt rét và những bàn tay ghẻ lở mưng mủ, việc bốc một thùng xăng nặng lên xe quả là một cực hình. Nhưng chúng tôi vẫn phải nghiến răng làm nêu không sẽ bị chúng đánh đập. Đột nhiên, tên chỉ huy tốp lính đó trông thấy chiếc nhẫn bạc anh Hoàng đang đeo, chắc là một vật kỷ niệm của anh. Nó bắt anh tháo chiếc nhẫn ra nộp cho nó. Anh xoay mãi chiếc nhẫn ra khỏi ngón tay đeo nhẫn mà không được, chiếc nhẫn ở sát kẽ tay trong khi các đốt tay đều sưng lên và mưng mù, không thể kéo chiếc nhẫn ra được. Tên chỉ huy Tây có vẻ sốt ruột, nét mặt giận dữ. Anh cố rút chiếc nhẫn ra vẫn không được. Bỗng tôi nghe anh gọi tôi:
- Tiên! Em rút ra cho anh. Tôi do dự, anh khe khẽ rít lên, như ra lệnh cho tôi: - Mau lên! Không thì chết cả bây giờ. Anh đưa bàn tay về phía tôi, tôi cầm chiếc nhẫn xoay xoay mấy cái, quay mặt đi, không đám nhìn nét mặt đau đớn của anh, rút rất mạnh chiếc nhẫn ra khỏi bàn tay anh. Máu mù tóe ra ờ ngón tay anh, cũng là lúc nước mắt tôi trào ra. Tôi đưa anh chiếc nhẫn, anh lau sạch nó bằng vạt áo và đưa cho thằng Tây. Nét mặt tên chỉ huy vô cảm, cực kỳ tàn nhẫn, nó thản nhiên cho chiếc nhẫn vào túi. Về sau này, khi nhớ tới anh Lê Hoàng, hình ảnh đầu tiên hiện ra trong tôi là câu chuyện tên chỉ huy Tây cướp chiếc nhẫn của anh mà tôi không thể quên một chi tiết nào. Ở trong nhà lao Phan Rang, chúng tôi vẫn nghe được ít nhiều tin tức từ bên ngoài. Tin phái đoàn Phạm Văn Đông sang Pháp dự Hội nghị Phôngtennơblô, rồi tin Bác Hồ sang Pháp là khách mời của Chính phủ Pháp, tin phái đoàn của đồng chí Võ Nguyên Giáp tới Đà Lạt thương lượng với bọn Pháp. Những tin ấy đến với những người tù làm lóe lên những tia hy vọng được trả lại tự do. Nhưng mặt khác, nói thật lòng là chúng tôi cũng không tin lắm ở kết quả của những cuộc thương lượng này vì chúng tôi thấy rất rõ bản chất của bọn thực dân Pháp qua cách ứng xử của bọn chúng đối với ta trên chiến trường. Rồi một hôm, chúng tôi thấy lão Tây già phụ trách nhà lao đến phòng giam chúng tôi, lần này không thấy Tân đi theo. Hắn đến hỏi vài người: - Quê ở đâu? Vài anh em trả lời: - Quê ở Bắc Kỳ. Lão ta nhún vai nói: - Ô, phải rồi, Bắc Kỳ là chỗ dựa của Việt Minh mà (Oh! Oúi, le Tonkin est le soutien des Việt Minh) - Rồi lão ta nói tiếp - Người ta sẽ thả các anh cho về Bắc Kỳ. Chả lẽ người ta lại để các anh chết thối rữa ở đây à? Chúng tôi hoàn toàn không tin ở câu nói thả chúng tôi về miền Bắc. Bởi vì từ lâu, khi vào trại giam, chúng tôi được nghe nhiều lần chúng đưa tù nhân ra biển và bắn chìm thuyền để thủ tiêu. Chúng tôi cho rằng mình cũng khó thoát khỏi số phận như thế và sẵn sàng chờ đợi cái chết đến với mình. Một đêm tối trời, có ba cái xe tải lớn đến nhà lao. Trên hai chiếc xe, có khoảng một trung đội lính Pháp ăn mặc gọn ghẽ, trang bị súng đạn đầy người, do một sĩ quan khá trẻ chỉ huy. Nét mặt viên chỉ huy có vẻ đăm chiêu, không dữ dằn như những tên khác mà tôi thường thấy. Chúng lùa chúng tôi khoảng 30 người mà chúng cho là người miền Bắc lên chiếc xe thứ ba. Đoàn xe xuất phát, xe chúng tôi đi giữa, đi về phía Nam. Đi khá lâu, khoảng đến nửa đêm thi xe đến một bãi biển. Nghe thấy tiếng xì xào trong đám tù nhân: "Đây là Cap Padaran" ở Phan Thiết, có vài người trong số tù nhân nhận ra địa điểm này. Một không khí im lặng đáng sợ, ảm đạm, không ai nói với ai câu gì. Xa xa ngoài khơi cách bờ khoảng một kilômét, có hai chiếc thuyền đi biển khá lớn được neo ở đó. Bọn lính dùng xuồng nhỏ của dân địa phương đưa số tù nhân xuống một chiếc thuyền, còn chiếc kia dành cho đội quân áp giải. Thuyền dành cho tù nhân có năm đến sáu người dân làm ở đó. Anh em nói với chúng tôi chiếc thuyền này là của một người chủ ở Phú Yên chở hàng vào phía Nam, bị quân Pháp bắt. Hàng bị chúng tịch thu, còn người chủ bị chúng bắt, không biết bây giờ ở đâu. Số anh em này đều là người làm thuê và được biết là bọn Pháp cho anh em trở về Phú Yên cùng với chiếc thuyền này. Sau khi tất cả đã lên thuyền, cả hai thuyền đều nhổ neo, kéo buồm lên đường hướng ra phía Bắc. Đi độ khoảng hai giờ đồng hồ thì chiếc thuyền chở trung đội lính áp giải rẽ vào bờ. Chúng tôi vẫn chưa yên tâm, nghĩ rằng đến sáng rõ, địch sẽ cho máy bay bắn chìm thuyền để thủ tiêu chúng tôi. Tôi không được ngủ cả đêm, người rất mệt, lại buồn đi đại tiện. Sóng ngoài khơi hơi cao, thuyền dập dềnh, muốn đi đại tiện phải ngồi ở mạn thuyền và cho xuống biển. Người yếu, sóng to, các anh sợ tôi rơi xuống biển phải ngồi cạnh giữ chặt lấy tôi cho tôi đi đại tiện. Sáng ra, tôi lại lên cơn sốt và ít có lúc thức tỉnh. Tôi mê mệt ở trên thuyền mấy hôm, ăn uống ra sao, ỉa đái thế nào tôi không nhớ được. Không biết vì sao thuyền không bị bắn chìm, cũng chẳng ai rõ lý do. Rồi chiếc thuyền của chúng tôi cũng vào được bến Phú Yên. Tôi được các anh đánh thức dậy và như người vừa qua một cơn ác mộng dài, tỉnh ra mới biết mình thoát chết. Tất cả mọi người trên thuyền bảo nhau phải đến trình diện tại Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh. Chủ tịch tỉnh, một người còn trẻ, dáng hoạt bát, nghe nói tên là Vương Duy Ái, ra gặp chúng tôi với thái độ thông cảm và thu xếp cho chúng tôi ăn nghỉ chu đáo. Anh Hoàng thay mặt cho tôi và anh Thái khai báo với Ủy ban về tình hình của chúng tôi. Sau khi đã nắm vững tình hình của chúng tôi, đại bộ phận những anh em còn khỏe được đưa vào tiếp tục chiến đấu và công tác trong Quân đội. Chỉ hơn hai tháng bị địch bắt và giam cầm, hành hạ tại nhà lao Phan Rang, tôi mới thấm thía câu "Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại". Đây là một trong những thử thách nếu không muốn nói là thử thách lớn nhất của đời tôi khi chỉ mới 16, 17 tuổi đời. Song chính nhờ thử thách đó mà tôi đã rèn luyện được cho mình sức chịu đựng trước những gian khổ, nguy hiểm chết người tưởng chừng không thể vượt qua nổi. Nhưng đấy chỉ là một mặt, mà mặt khác là tôi đã thu hoạch được những nhận thức mới. Đó là lòng yêu nước, sự hy sinh cao cả, bản lĩnh kiên cường, tình cảm cao thượng của những người như anh chiến sĩ bị địch đánh đập, tra tấn trước những người tù ở nhà lao Phan Rang; như những anh em trong Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Ninh Thuận. Đó là những người dân đã đùm bọc, che chở cho chúng tôi trước mặt kẻ thù. Đó là những đồng chí mình hoạt động thầm lặng trong lòng địch, hướng về Tổ quốc. Đó là những người lính trong đội quân xâm lược nhận rõ chính nghĩa của ta, phi nghĩa của địch đã phản chiến hoặc tránh những hành động tàn bạo, độc ác với nhân dân ta. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 11 Tháng Tám, 2023, 08:18:11 am Với tôi, lúc thử thách quyết liệt nhất lại là lúc lòng tin ở thắng lợi của cách mạng, của dân tộc mình được nâng cao và được củng cố vững chắc.
Ba chúng tôi sức khỏe kém, được giới thiệu ra Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam tại Quảng Ngãi do đồng chí Nguyễn Sơn làm Chủ tịch giải quyết. Sau khi được kiểm tra sức khỏe, anh Hoàng và anh Thái được tiếp tục ở lại Quảng Ngãi để điều trị, an dưỡng và nhận công tác do Ủy ban quyết định sau. Còn tôi vì bệnh nặng quá, sức quá yếu nên được quyết định ra điều trị tại Huế và được nghỉ dài hạn. Quyết định do Chủ tịch Nguyễn Sơn ký. Tôi bịn rịn chia tay hai anh với một cảm giác rất cô đơn, chỗ dựa tinh thần vững chắc của tôi trong những giờ phút gian nguy nhất, trong những thử thách quyết liệt nhất khi bước vào đời mà tôi chưa từng trải qua. Ở hai anh, tôi học được những phẩm chất cao quý: Tinh thần kiên cường, bình tĩnh trong mọi tình huống, tình cảm bao la, cao thượng, tình yêu thương sâu sắc đối với đồng chí, đồng đội. Với hai anh, tôi không những coi như những người anh thân thiết mà còn là những người thầy đáng kính trong những bước đầu tiên vào đời của mình. Lúc đến Ủy ban để lấy giấy giới thiệu ra Viện Quân y Mang Cá - Huế và tiền trợ cấp đi đường, tôi không biết đường vì trước đó chỉ có anh Hoàng đến Ủy ban giải quyết những việc chung cho chúng tôi. Đi trước tôi là một "anh" bộ đội, tôi rảo bước đến đằng sau anh nhờ anh chỉ đường. Vừa mới nói được hai tiếng "Anh ơi..." thì một giọng nói the thé quát lên: "Anh, anh cái gì...". Một cái đầu tóc cắt ngắn như con trai quay lại. Trời! Té ra là một cô gái. "Bà" ấy hầm hầm nhìn tôi, vẻ mặt không bằng lòng. Tôi vừa buồn cười, vừa sợ vẻ mặt hầm hầm của "bà", không dám nói gì thêm, phải hỏi người khác tôi mới đến được Ủy ban. Sau mới biết ở Quảng Ngãi có phong trào của chiến sĩ gái trong bộ đội cắt ngắn tóc để tỏ rõ là mình cũng mạnh mẽ và bình đẳng với nam giới. Cách mạng đem lại nhiều cái mới, nhưng cũng có cái mới thật lạ và bất ngờ! Tôi lên đường ra Huế với một tâm trạng trống rỗng, một phần vì xa hai anh, chẳng có ai để nói chuyện, một phần như một người vô định không biết sau này mình sẽ đi đến đâu. Tôi đến Viện Quân y Mang Cá - Huế, được bố trí nằm trên tầng hai. Ở đây ăn uống tốt hơn, ngon hơn nhiều các nơi khác theo chế độ cho thương, bệnh binh, nhưng giường thì rất nhiều rệp. Trong hàng ngũ nữ y tá có nhiều Công Tôn Nữ, Công Tằng Tôn Nữ trong họ hàng triều Nguyễn. Các cô xinh đẹp, duyên dáng, ăn nói ngọt ngào, mặc áo choàng, mũ y tế trắng muốt. Tôi thì vừa ghẻ lở, lại thêm sâu quảng ở chân, chân bắt đầu phù, vẫn còn sốt rét. Hằng ngày, tôi được tiêm thuốc sốt rét, được rửa những mụn ghẻ lở, nhưng sợ nhất là lúc các cô cầm kéo và bông rửa những chỗ sâu quảng. Có lúc đau quá, tôi xuýt xoa, các cô động viên tưởng như các chiến sĩ đã từng không sợ bom đạn thì không được quyền kêu đau nữa, nên rửa càng mạnh tay hơn. Một buổi trưa, tôi ngủ rất say, lúc tỉnh dậy tôi thấy một anh hơn tôi độ vài tuổi ngồi cạnh tôi. Thấy tôi đã tỉnh, anh nói với tôi là tôi bị rệp đốt nhiều quá, anh đã ngồi giết rệp cho tôi ngủ. Tôi cảm ơn anh và qua chuyện trò với anh, tôi được biết anh chiến đấu ở một vùng thuộc Tây Nguyên và sắp đi ra Bắc. Biết anh sẽ đi qua ga Phủ Lý, tôi vội viết một lá thư gửi về cho bố mẹ là tôi đang ốm nằm ở Viện Quân y Mang Cá - Huế. Tôi rất yên tâm là thư sẽ đến nơi với sự giúp đỡ của người đồng đội tốt bụng đó, nhưng lại quên hỏi tên anh. Nằm ở Viện được ít lâu thì bệnh sốt rét chấm dứt, ghẻ lở cũng đỡ ít nhiều, riêng sâu quảng thì còn nhiều chỗ chưa khỏi, bệnh phù thũng nhất là ở hai chân chưa có chuyển biến. Vì sốt ruột, muốn được về nhà sớm, tôi đề nghị được ra Viện. Đề nghị được chấp nhận, Viện cho tôi một giấy ra viện và một giấy giới thiệu tôi ra trụ sở của Hội giúp binh sĩ bị nạn Huế xin tiền trợ cấp đi đường về ga Phủ Lý. Đến trụ sở hội, tôi nhanh chóng được nhận một số tiền tạm đủ để về được đến Phủ Lý. Ngồi trên tàu, hai cái chân phù của tôi bị xuống máu càng phù to hơn và rất nhức nhối, nhiều lúc phải co chân lên để khỏi bị máu dồn xuống. Đến ga Ninh Bình thì được chuyển sang ô tô ray chạy tiếp đi Hà Nội. Vừa lên xe ngồi xuống ghế thì nghe thấy tiếng gọi của một người ngồi ở ghế bên: - Tiên ơi, Tiên ơi, sao cậu lại như thế này? Tôi nhìn sang thì ra là Tế, một anh bạn quê ở ngoại ô thị xã Ninh Bình cùng học với tôi năm thứ nhất ở Trưởng thành chung Nam Định. Tế nhắc lại: - Sao lại thế này? Tôi đã rất mệt nên trả lời giọng rất yếu: - Mình chiến đấu ở Nam Trung Bộ, bị ốm nên được nghỉ, thế Tế đi đâu thế? Tế trả lời: - Mình nghi bị lao nên đi Hà Nội để kiểm tra, nếu cần phải ở lại để điều trị luôn - Trả lời xong, Tế rút ra một đồng bạc Đông Dương đưa cho tôi - cầm lấy mà đi đường về nhà. Tôi vốn khái tính, không muốn phiền người khác, nên không nhận: - Cậu phải chữa bệnh, giữ lấy mà chữa bệnh, mình sắp về đến nhà rồi. Tế gặng lại một lần nữa, nhưng tôi vẫn không nhận. Tôi đã chẳng biết rút kinh nghiệm vì cái bệnh khái tính thái quá, không muốn phiền người khác nên suýt chết ở bờ rào hôm ông Chín Rỗ đưa tôi đến quân y ở cứ khi ở Tri Thủy. Đến ga Phủ Lý, tôi chào từ biệt Tế rồi xuống ô tô ray một cách rất khó khăn. Xuống khỏi xe, đi được dăm bước, tôi không thể lê đi được nữa, ngồi bệt xuống nghỉ. Từ ga đến trại Vệ quốc quân chỉ cách khoảng 200 mét. Tôi lê vài bước lại phải ngồi xuống nghỉ. Người đi đường có lẽ thấy tôi như một kẻ ăn xin ốm yếu nên cũng chẳng để ý làm gì. Cố gắng lắm, phải lê bước một lúc lâu tôi mới đến được trạm gác. Đưa tờ giấy phép có chữ ký của tướng Nguyễn Sơn và giấy ra viện cho đồng chí bộ đội gác và nhờ anh chỉ cho chỗ văn phòng của tiểu đoàn. Lê đến nơi, qua cửa tôi thấy một người trẻ tuổi, mặt mày sáng sủa, mặc bộ quần áo kaki vàng vải ngoại rất đẹp ngồi trước bàn. Tôi đến trước bàn cố đứng vững chào anh ta rồi đưa giấy tờ cho anh ta. Tất nhiên trong giấy có ghi rõ chức vụ của tôi là Chính trị viên trung đội. Anh ta hỏi không được lịch sự lắm: "Anh muốn gì?". Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 11 Tháng Tám, 2023, 08:19:28 am Tôi nói tôi muốn xin một bộ quần áo bộ đội và tiền đi đò về Quế. Sở dĩ tôi xin một bộ quần áo tử tế để giữ uy tín cho Quân đội vì quần áo tôi đang mặc nhếch nhác quá. Anh ta nói:
- Quần áo thi tiểu đoàn không có, còn từ đây đến Quế không xa lắm, anh đi bộ cũng được. Uất ức lên đến tận cổ, tôi quắc mắt nhìn thẳng vào mặt anh ta và chỉ vào đôi chân của mình, bất biết anh ta giữ chức vụ gì: - Anh hãy nhìn đôi chân của tôi đây này! Không thèm chào anh ta, tôi quay ngoắt ra cửa, quên cả đôi chân phù rất đau đớn. Vừa đi tôi vừa nghĩ những hạng công tử bột như này, nếu trực tiếp cầm súng chiến đấu thì đồng đội không ai có thể tin được. Đang đi ra cổng trại, có tiếng gọi giật giọng: - Cậu Tiên ơi, sao cậu lại như thế này? Tôi nhìn lên thấy Phan, cháu họ gọi tôi bằng cậu tuy hơn tôi hai tuổi, mẹ nó là chị con cô con cậu ruột với tôi. Lúc đó, những giọt nước mắt uất ức của tôi mới trào ra không thể kìm lại được. Nó nói tiếp: - Anh Nhạc, Đại đội trưởng ở trong kia kìa, cậu ạ! Nó biết tôi là bạn của Đỗ Đình Nhạc, em đồng chí Đỗ Đình Phát, Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa ở huyện Kim Bảng. Nhạc cũng là người cùng học với tôi ở Trường Quân chính Việt Nam và cũng là bạn học cũ của tôi ở Trường Kiêm bị Kim Bảng. Nó chạy đi tim Nhạc. Chi một thoáng, Nhạc đi nhanh ra chỗ tôi, nhìn tôi cảm động, dắt tôi vào, đưa tôi đi tắm, lấy một bộ quần áo bộ đội còn mới của Nhạc cho tôi thay. Tôi hỏi Nhạc về người ngồi ở bàn giấy và nói qua chuyện diễn ra ở đó cho Nhạc nghe. Nhạc nói với tôi: "Nó là thư ký của tiểu đoàn thôi". Cùng lúc ấy, anh Nguyễn Du, là người đã xử hai tên mật thám trước khởi nghĩa ở Kim Bảng, nay là Tiểu đoàn phó vừa đi công tác về. Anh và Nhạc dắt tôi ra một cửa hàng gần trại cùng ăn phở. Ăn xong, chùng chình mãi đã hơn 9 giờ tối, Nhạc dắt tôi ra bến đò Phủ Lý, thuê đò dọc để tôi về Quế. Đò đi ngược dòng mãi đến nửa đêm mới về tới nhà. Bước chân lên bến đò thân quen, chỉ cách nhà khoảng 100 mét, lòng tôi rộn ràng những cảm xúc đan xen thật khó tả. Tòi bước lên thềm vừa gõ cửa vừa nghẹn ngào gọi: - Thầy ơi! Có ánh đèn dầu Hoa Kỳ le lói hắt ra và tiếng guốc gỗ. Cửa hé ra, tôi chưa kịp nói câu gì thì bố tôi đã hỏi: - Ông là ai, có việc gì thế ạ? Lúc đó, tôi không thể nói được một câu dài hơn: - Con đây mà, Tiên đây mà! Tôi cảm động, thấy chân tay ông cuống quýt, gọi mẹ tôi: - Bà ơi, bà ơi, Tiên nó về rồi! Một hành động tôỉ chưa từng thấy ở ông bao giờ. Ngọn đèn Hoa Kỳ được vặn to lên, ông bà ngắm nhìn tôi một lúc lâu, không nói gì và chuẩn bị cho tôi đi ngủ. Sáng hôm sau, mọi người mới biết tin tôi về. Cả đứa em gái tôi ngủ say, mãi sáng mới biết. Bà con đẽn thăm rất đông. Hôm đó, đủ mọi chuyện, nhưng ai cũng mừng cho tôi còn sống vì có nhiều người cho là tôi đã hy sinh rồi. Mẹ tôi cho biết vừa nhận được thư của tôi, đã chuẩn bị đủ tiền, định hôm sau đi tàu vào Huế để đón tôi về. Ông Lê Minh Đường, một cán bộ Việt Minh hoại động tại địa phương đến nói riêng với tôi: "Nghe tin cậu Nam tiến, sợ ông ấy (bố tôi) sốc, tớ phải nói dối là nó nhận một việc gì đó rất quan trọng bên cạnh Cụ Hồ nên không thể về nhà được". Anh Lê Minh Lợi là Huyện ủy viên Huyện ủy Kim Bảng nói với tôi: "Nghe tin cậu hy sinh, nếu đúng, nhiều người có ý kiến đề nghị lấy tên cậu để đặt tên cho Trường Kiêm bị Kim Bảng". Vài hôm sau, đồng chí Đỗ Mười, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam về công tác ở Kim Bảng cũng ghé qua vào thăm sức khoẻ tôi. Tiếp đó, chị Lê Thị Hiền, Bí thư Huyện ủy cũng đến chơi, chắc thấy tôi còn quá trẻ nên bảo khi nào khỏe thì lên huyện làm công tác thiếu nhi... Trong niềm vui chung của gia đình, họ hàng và sự ân cần thăm hỏi, động viên của mọi người, tôi cũng thấy phấn khởi nhưng bên cạnh đó nhiều lúc cũng cảm thấy tiếc và buồn vì chiến đấu chưa được bao lâu đã phải quay về. Ở nhà, tôi được bố mẹ chăm sóc tốt nên chấm dứt được sốt rét, ghẻ lở khỏi, không còn phù thũng nữa nhưng bệnh sâu quảng còn hành hạ và ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe, đặc biệt là một nốt chỉ to hơn hạt ngô một chút nhưng rất sâu ở kẽ ngón chân cái. Như thành quy luật, từ 9 đến 10 giờ đêm cho đến sáng, nốt sâu quảng ấy gây đau nhức không thể nào ngủ yên; việc phục hồi sức khỏe tiến triển rất chậm. Mọi thứ thuốc Tây đặc hiệu cũng không có tác dụng gì. Mẹ tôi theo dõi thấy tôi mất ngủ nhiều đêm, bà rất băn khoăn. Một hôm mẹ tôi bảo: "Nghe nói bà cu Thịnh chữa bệnh này giỏi lắm, thử đến chữa xem sao". Tôi biết rõ bà này là một bà đồng cốt, rất mê tín nên không tin lắm nhưng vì quá đau và cũng là để mẹ vui lòng nên cũng theo mẹ đến nhà bà cu Thịnh. Bà mời mẹ tôi ăn trầu và cũng lấy một miếng bỏm bẻm nhai. Bà xem chỗ nốt sâu quảng rồi im lặng. Bà lấy một loại hạt gì đó để vào một cái đĩa rồi nhổ quết trầu vào đó. Tôi nhăn mặt nhìn nhưng bà trông thấy ngay cái nhăn mặt của tôi. Bà ngưng tay trộn, nhìn thẳng vào mặt tôi bốp chát: - Này, tôi nói cho anh biết, nếu anh không tin tôi thì tôi không chữa cho anh nữa. Tôi đấu dịu cười, mẹ tôi thì nói: - Bà cứ chữa cho cháu đi. Bà vê vê tiếp rồi đánh chỗ hạt trộn với cốt trầu đắp vào nốt sâu quảng ở kẽ chân cho tôi và buộc lại. - Anh không được vất đi, khi nào nó khô bong ra thì anh lên đây tôi đắp miếng khác cho - Bà dịu giọng vì thấy tôi cười và chịu để yên cho bà làm thuốc. Thật kỳ lạ, không thể tưởng tượng nổi, đêm hôm đó tôi hoàn toàn không thấy đau nhức nữa, ngủ yên một mạch từ tối đến sáng. Đến trưa, chỗ thuốc đó khô và bong ra, tôi nhìn thì thấy ngón chân bớt sưng, nốt sâu quảng đầy lên gần như bình thường. Đến miếng thứ hai thì vết sâu quảng ấy lên da non và hoàn toàn khỏi, không phải dùng đến miếng thứ ba. Tôi hôi mẹ tôi: "U cỏ biết cái hạt bà cu Thịnh trộn với quết trầu đó là hạt gì không?". Mẹ tôi bảo là hạt cà độc dược. Tôi nghĩ đó là thần dược trị bệnh sâu quảng (sau này khi là Chính ủy của Trung đoàn 88, tôi đã nói với Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn và Đại đội trưởng Quân y về bài thuốc này. Các đồng chí ấy đã dùng những nguyên liệu trên ấy chế biến thành một loại dung dịch bôi lên vết sâu quảng và chữa khỏi được bệnh này cho nhiều người dân ở các nơi đóng quân của đơn vị). Từ hôm chữa khỏi sâu quảng, ngủ được nên sức khỏe của tôi hồi phục rất nhanh. Các chị tôi đến chơi nói: - Cậu đạo này đã có da có thịt, mông đã thấy đầy đầy rồi đấy, thôi lấy vợ đi. Tưởng các chị nói đùa cho vui nhưng đó là những lời thúc giục thật sự và cũng là điều mong mỏi của bố mẹ tôi. Ở xế trước cửa nhà tôi có một bà góa trạc tuổi bố mẹ tôi là bà Hậu Mềm. Bà có một gánh hàng vải lớn và có ruộng cho phát canh thu tô, lại hà tiện nên giàu có. Trước đây, bà có anh con cả tên là Mỏng và hai cô con gái, cô lớn tên là Vịt, cô thứ hai là Ngỗng. Bà định hỏi chị ruột thứ hai của tôi cho anh Mỏng nhưng rồi anh này chết yểu. Ít lâu sau, tiếp đến cô Ngỗng cũng theo anh về với lổ tiên. Bố mẹ tôi vì muốn giữ chân tôi và đặc biệt là muốn có cháu nội nối dõi nên tìm mọi cách thuyết phục tôi lấy cô Vịt. Bố tôi là người rất tiến bộ nhưng ông vẫn chưa thoát khỏi "đạo lý" "bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" (hiểu nôm na là: Người không có hiếu có ba điều, không có con trai nối dõi là điều lớn nhất). Tôi không chịu cái "đạo lý" lạc hậu ấy mà bị ép lấy vợ sớm và lấy người mình không yêu nên kiên quyết chống lại. Ông lại hiểu tôi không bằng lòng vì cái tên Vịt của cô ấy xấu, nên ông dỗ tôi: "Hay đổi tên cho nó là Việt". Bị thúc ép nhiều, đôi khi tôi cũng thấy phiền lòng dù tôi vẫn rất tôn trọng bổ mẹ nhưng đôi lúc nghĩ mình cũng phải chiều lòng bố mẹ, và muốn "bay nhảy" cũng cần phải kiếm lấy một cô vừa ý, nên tôi cũng bắt đầu chú ý quan sát để chọn lấy một cô ở trong vùng mình. Cô Tuyết con ông giáo Lanh, bạn thân của bố tôi, đã cùng học vỡ lòng với tôi và chị Chấn (Kim) thuở nhỏ thì lại hơn tôi tới hai tuổi và không đẹp. Ông Nho Kỷ cũng là bạn của bố tôi có cô con gái tên là Ngọ, kém tôi một tuổi, không hiểu sao từ lúc học lớp dự bị, sơ đẳng ở trường huyện, tôi đã bị nhiều người trêu bằng câu ca dao: "Nhà ông Nho Kỷ có vại nước trong Có cô con gái phải lòng cậu Tiên" Cũng chẳng hiểu vì lý do gì, ông Nho Kỷ thắt cổ tự vẫn, việc đó gợn lên trong lòng tôi một sự nghi ngại khó hiểu. Cô thứ ba mà tôi chú ý hơn là cô Ôn, con ông giáo An ở làng Đanh Xá, quê mẹ tôi. Cô Ôn cùng học với tôi ở lớp Nhất và cùng thi đỗ Sơ học Pháp - Việt (Xéctifica). Ôn xinh xắn, nhưng không có duyên lắm, vẻ mặt lúc nào cũng hơi buồn. Những cô gái ấy chỉ nằm trong suy nghĩ của tôi thôi chứ tôi chưa thổ lộ với ai. Trong khi đó, sức khỏe đã dần dần được hồi phục, vốn tính hiếu động, lại là người đã tham gia hoạt động cách mạng, tham gia chiến đấu ở miền Nam, tôi thấy mình phải tiếp tục hoạt động, không thể ngồi yên. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 11 Tháng Tám, 2023, 08:21:54 am Chương bốn THAM GIA CUỘC TRƯỜNG CHINH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP Sau Hiệp định Sơ bộ (6.3.1946), giặc Pháp gây hấn ở Hà Nội và một số nơi khác. Chúng chưa từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Tôi thấy minh là một người từng tham gia khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám ở quê nhà, đã từng Nam tiến cầm súng chiến đấu với giặc ở cực Nam Trung Bộ nên không thể nửa đường bỏ dở. Cũng đúng lúc đó, Ban chấp hành tự vệ chiến đấu huyện vận động tôi đi huấn luyện cho dân quân tự vệ, tôi vui vẻ nhận lời. Tôi mượn tập vở của anh Nguyễn Duy Tâm, anh rể tôi đang làm nhiệm vụ huấn luyện dân quân ở Nam Định, soạn những nội dung huấn luyện về kỹ thuật bắn súng, ném lựu đạn, về chiến thuật (chủ yếu là đánh phục kích nhỏ). Thực tế lúc đó chỉ có một số nơi có phong trào khá và có điều kiện mới yêu cầu mở lớp như xã Khả Phong, thôn Bút Sơn, xã Thanh Sơn. Thời gian huấn luyện khoảng một tuần đến 10 ngày. Nhưng đó chỉ là hoạt động bán chuyên nghiệp của tôi và cũng không liên tục, phần lớn thời gian tôi vẫn ở nhà và hoạt động ở làng. Đầu tháng 3 năm 1947, thực dân Pháp dùng bộ binh và cơ giới từ Hà Nội đánh ra một số vùng của tỉnh Hà Đông và Hà Nam để giải vây cho quân lính của chúng ở Nam Định đang bị quân dân Nam Định đánh mạnh, nhất là ở thành phố. Đường 21, đường 22 qua huyện Kim Bảng đều có chiến sự lan tới. Theo yêu cầu của cấp trên, dân quân tự vệ các làng xã phải tăng cường canh gác, chú trọng phát hiện, đề phòng địch tiến công để bảo vệ nhân dân. Hầu hết dân ở các vùng giặc có thể hành quân qua đã tản cư đến những nơi an toàn, xa đường 21 và đường 22, là những đường cơ giới mà địch có thể bất ngờ ập tới. Ở thôn Phương Khê Chợ lúc đó chỉ còn hơn một chục dân quân tự vệ và lác đác vài người đàn ông có tuổi ở lại, trong đó có cả Thanh, bạn cùng học với tôi ở Nam Định, được gia đình cụ Ký Rượu cho ở lại để trông nom nhà cửa. Mấy hôm đó, Thanh và tôi thường thổi cơm và ăn chung với nhau. Có tối đói quá, chúng tôi thịt cả chim bồ câu nhà nuôi để nấu cháo ăn vì hai nhà ở sát nhau. Một buổi tối, có tin địch ở cống Ba Đa và Phủ Lý chỉ còn cách chợ Quế khoảng bảy kilômét. Vào lúc gần 10 giờ đêm, ông binh Hồng, một lính khố đỏ cũ, nhà ở phố Mới, cách chỗ chúng tôi đang gác khoảng gần 300 mét, hốt hoảng vừa thở vừa báo cho chúng tôi là thấy ông binh Khắc, anh ruột ông cũng là một lính khố đỏ cũ ở nhà sát bên có lẽ bị bọn thám báo địch đi trước bóp cổ ằng ặc, kêu ú ớ. Tôi hội ý chớp nhoáng với tổ dân quân tự vệ đến tiêu diệt tổ thám báo cứu ông binh Khắc. Trời tối đen như mực nên chúng tôi đề ra kế hoạch phải bí mật tiếp cận nhà ông binh Khắc, cách độ 10 đến 15 mét thì bật lửa đốt đuốc được tấm dầu (đã có sẵn) rồi xung phong đồng loạt vào nhà ông binh Khắc diệt và bắt bọn địch. Đến cách nhà ông binh Khắc độ 100 mét thì thấy tiếng uỳnh uỵch vật nhau, đi kèm là những tiếng kêu rất nhỏ. Từ tiếng kêu đó, hai dân quân vì trời tối quá, người đi sau vấp vào người đi trước, hai "vị" ấy tưởng thám báo tấn công mình, mới nhận ra nhau... Đội ngũ nhanh chóng được chỉnh đốn và lại tiến lên tiếp theo một hàng dọc. Cách mục tiêu độ 10 mét, theo một hiệu lệnh nhỏ, mấy bó đuốc được đốt lên bừng sáng, toàn tổ xung phong vào nhà ông binh Khắc. Đến giữa nhà thấy ông binh Khắc ngồi bật dậy, mắt tròn xoe hốt hoảng: "Các anh làm gì thế?". Chẳng thấy tên thám báo nào, cũng chẳng thấy dấu vết gì. Hóa ra là ông ấy bị bóng đè khó thở, ú ớ kêu và phát ra những tiếng ằng ặc; ông em nhà ở sát bên cạnh, tưởng ông anh bị thám báo của địch bắt, lẻn đi báo dân quân tự vệ. Một trận tập kích hụt; sau đó là một trận cười vỡ bụng. Nhưng đến hôm sau thì địch đến thật. Bên kia sông, ở làng Quyển Sơn, địch đã nổ súng, sục sạo vào các xóm. Chúng bắn vu vơ cả sang chợ Phương Khê, đạn bay vèo vèo. Trên đường từ Cống Ba Đa đến Quế, chúng tôi đã nghe thấy tiếng ầm ì của xe tăng và ô tô của địch. Tổ dân quân tự vệ chúng tôi đã nắm chắc được những ai ở lại trong thôn, nhanh chóng báo cho họ chạy về phía các làng ở đồng chiêm, những nơi cơ giới địch không thể vào được. Anh em chúng tôi cũng nhanh chóng rút sau, chỉ tiếc là không có mìn gài lại để diệt địch. Lần địch tiến công càn quét đó, trong làng không có ai bị địch giết và bắt, của cải không bị mất mát gì lớn. Sau khi địch rút một, hai ngày, bà con dân làng dần dần trở về đông đủ. Do những hoạt động tích cực cùng với những thành tích trong cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và thành tích chiến đấu khi Nam tiến, tôi được Đại hội toàn thể đảng viên của Đảng bộ Kim Bảng (khoảng hơn 100 người) quyết định kết nạp Đảng trong dịp kỷ niệm Ngày sinh của Bác Hồ (19.5) và giao cho Chi bộ Ngọc Sơn làm lễ kết nạp. Ngày 23 tháng 5 năm 1947, tôi vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Trong buổi kết nạp đó, tôi còn nhớ có cả Phó Bí thư Huyện ủy Phan Kỳ tham dự. Lúc đó, tôi gần 18 tuổi, thiếu độ hơn ba tháng. Cũng trong tháng 5 năm 1947, Bộ Quốc phòng quyết định tổ chức hệ thống dân quân tự vệ toàn quốc từ cấp xã trờ lên. Tôi được Huyện ủy quyết định điều lên huyện làm cán bộ dân quân của Huyện đội Kim Bảng, hoạt động chuyên nghiệp. Tôi được phân công hoạt động trong một khu vực gồm năm xã. Trong những xã tôi phụ trách, các tổ chức dân quân tự vệ được củng cố vững chắc và phát triển nhanh. Ngày 7 tháng 9 năm 1947, tôi được công nhận là đảng viên chính thức trước thời hạn (chưa đầy bốn tháng) và được Huyện ủy cỉì định luôn làm Bí thư Chi bộ Huyện đội; đồng thời nhận nhiệm vụ làm Chính trị viên Huyện đội thay đồng chí Chính trị viên cũ là ủy viên Thường vụ Huyện ủy được giao nhiệm vụ công tác khác. Lúc đó tôi vừa tròn 18 tuôi. Trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1947, đối với tôi có hai sự kiện lớn trong cuộc đời mình. Đó là việc sau khi bị địch bắt rồi bị ốm rất nặng, sức khỏe được phục hồi, tôi lại phấn đấu tiếp tục hoạt động. Việc thứ hai là tôi lấy vợ khi mới tròn 18 tuổi. Tôi muốn ghi lại kỹ hai việc đan xen nhau này. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 11 Tháng Tám, 2023, 08:25:01 am Hồi đầu tháng 3 năm 1947, trước khi địch tiến công càn quét Kim Bảng, tôi đạp xe lên nhà chị thứ ba tôi lấy chồng ở Đanh Xá để xem anh chị tôi chuẩn bị tản cư, chạy giặc thế nào. Khi đang chuyện trò với chị, tôi nhìn sang nhà bên cạnh là nhà anh ruột của anh rể tôi, thấy một cô gái đứng ở hiên nhà. Nhìn xa thấy cô gái dáng người thanh thanh, nét mặt thanh tú, nước da trắng mịn, có một vè đẹp khá hấp dẫn, tôi hỏi chị ba tôi: "Chị ơi, cô kia con nhà ai thế?".
Chị tôi mỉm cười rất ý nhị: "Ơ, thế cậu không biết à? Nó là cái Phúc, con ông bà xã Thường đấy. Trước đây, cậu thường cân củi của ông nhà ta bán cho lò gốm của ông bà Thưởng mà cậu không biết nó à? Hôm nay nó gánh đồ đạc lên gửi ở nhà bác Dong đấy". Tôi thấy cái cười rất ý nhị, rất nhạy cảm của chị mình mới thấy mình "dại" vì đã để lộ ra cảm xúc của mình trước cô gái đó. Quả nhiên, chả cần hỏi ý tôi ra làm sao, chị ba tôi đến nói ngay với bố mẹ và các chị khác của tôi. Tôi nói là tôi "dại" vì đó mới là cảm xúc ban đầu khi chỉ mới nhìn qua vẻ ngoài của cô gái đó. Tuy mới ở tuổi 18 nhưng tôi cũng đủ lý trí để thấy rằng người vợ sẽ là người đồng hành gắn bó nhất với minh trong suốt cả cuộc đời nên tôi muốn có thời gian để tìm hiểu sâu thêm về người con gái đã đem đến cho những rung động đầu tiên của trái tim. Mặt khác, khi bố mẹ và các chị thấy tôi hé lộ chút xíu "thích" trong việc vợ con là sẽ tìm mọi cách dấn tới, bất chấp sự thận trọng, cân nhắc của tôi ra sao. Nhưng dù sao thì sự hấp dẫn của cô gái ấy vẫn cứ đeo bám tôi từ lần gặp đầu tiên đó. Nhưng rồi công việc vẫn lôi cuốn tôi. Ngay sau đó, Huyện ủy báo cho tôi biết là tôi được cử đi học Lớp đào tạo bí thư chi bộ của các đơn vị lực lượng vũ trang trong tỉnh do Tinh ủy mở. Thực ra, lớp học đó cũng chỉ là lớp bồi dưỡng ngắn ngày về công tác chi bộ và diễn ra trong nửa tháng. Học xong, tôi về nhà thì được biết gia đình đã đánh tiếng và sau khi có sự phản hồi thuận lợi về phía gia đình ông bà xã Thưởng, đã lập tức mang trầu cau làm lễ hỏi và đã được ông bà chấp nhận. Tôi đứng trước một việc đã rồi và không thể làm gì hơn là "ngoan cố” nhất định sẽ kéo dài thời gian, không cưới vội để có điều kiện tìm hiểu sâu thêm về cô ấy. Tôi "hạch" chị cả tôi: - Cô ấy bao nhiêu tuổi? Chị tôi cười: - Cô ấy 17, kém cậu một tuổi - Chị thừa biết là tôi không thích lấy vợ hơn tuổi mình. Tôi lại tìm cách nhờ chị ruột của cô ấy, lúc đó chị là cảm tình Đảng của chi bộ xã, tạo điều kiện hoặc xin phép gia đình cho tôi được gặp gỡ, nói chuyện với cô ấy cũng không được vì lúc đó ở quê tôi chưa hề có chuyện trai gái được gặp nhau để tìm hiểu. Các cô gái làm chuyện đó thường bị gán cho là người "không đứng đắn". Có nhiều lần tôi và Phúc gặp nhau trên đường ở phố Quế. Tôi nhìn thẳng vào Phúc xem em có phản ứng gì không; lần nào cũng thế, chỉ thấy em e lệ đi sát vào mép đường, không dám nhìn thẳng vào tôi với một vẻ đầy nữ tính. Tôi thất vọng vì không tiếp cận được để nói chuyện với em, nhưng sự e lệ đầy nữ tính dó lại thêm một sự quyến rũ nữa đối với tôi. Khoảng tháng 9 năm 1947, khi tôi đã nhận nhiệm vụ Chính trị viên Huyện đội, cấp trên chủ trương xây dựng ở mỗi huyện một làng kháng chiến kiểu mẫu. Sau khi khảo sát kỹ, chúng tôi quyết định lấy làng Lưu Xá của xã Nhật Tựu để xây dựng. Lưu Xá là một làng lớn, có lũy tre dày đặc bao quanh làng, dân cư đông đúc, ngoài làm ruộng còn là một làng có nghề dệt vải, kinh tế khá giả, địa hình thuận lợi cho việc chiến đấu phòng thủ. Tôi chịu trách nhiệm trước Ban Chỉ huy Huyện đội chỉ đạo toàn bộ công việc từ đầu đến cuối. Công việc rất bận rộn từ việc quy hoạch trận địa, công sự, chuẩn bị vật liệu đến việc huy động nhân công tại chỗ và các xã khác đến giúp..., đều phải có mặt từng ngày, từng giờ để điều hành, đôn đốc, kiểm tra. Vừa triển khai được vài ngày thì chiều 21 tháng 9 năm 1947, anh Lê Minh Lợi, Phó Bí thư Huyện ủy đến gặp tôi. Tường anh ra để kiểm tra việc xây dựng làng kháng chiến, nhưng không phải. Anh gọi tôi ra một chỗ vắng, thân mật trao đổi: - Ở nhà chuẩn bị làm đám cưới cho cậu đêm nay. Ông cụ (bố tôi) nói với mình ra bảo cậu về bây giờ cho kịp. Quá bất ngờ không thể tưởng tượng nổi, tôi phát khùng: - Tôi không về, sao chẳng cho tôi biết gì cả. Mới đầu, tôi định không về, muốn ra sao cũng được, ngay chuyện làm lễ hỏi cũng tự ý làm, nay làm lễ cưới cũng không thèm hỏi ý kiến tôi, gia đình toàn làm những chuyện đã rồi đối với tôi. Anh Lợi vẫn ôn tồn: - Không được, ông bà nhà cậu là người lớn, cậu là cán bộ, cậu không về sẽ mang tiếng lắm, thôi về giải quyết cho xong đi. Tôi thấy mình hoàn toàn bị động về việc này, rắc rối quá; nhùng nhằng một lúc, tôi cũng phải hậm hực dắt xe đạp cùng anh đạp trên bảy kilômét về nhà vào lúc 9 giờ tối. Bố mẹ tôi thấy tôi không vui, có vẻ không bằng lòng với việc làm của gia đình nên giải thích cho tôi: - Bác Cựu (bác ruột tôi) đang hấp hối, con vào thăm bác đi, rồi lên rước dâu cho kịp. Để đến sáng, nhỡ máy bay địch đến bắn phá thì lại khổ. Tôi nghĩ, té ra là "các cụ" cưới chạy tang cho tôi. Tôi vội sang nhà bác tôi ngay, ông đang rất mệt. Thấy tôi, ông nói như thở hắt ra: - Bác không biết sống chết lúc nào, "em" về cưới cho xong đi để bác và bố mẹ "em" vui lòng - Ông gọi tôi là "em" rất âu yếm như khi tôi còn nhỏ ông vẫn gọi tôi như thế. Tôi vốn rất quý ông, nhớ lúc còn nhỏ hay ốm đau, ông thường mua cho bánh mỳ hay bánh sừng bò sữa mà ông cho là những thức ăn lành cho tôi. Trước lời khuyên của người bác ruột thân yêu sắp mất, tôi không cầm được nước mắt và nghẹn ngào "Vâng". Tôi nắm bàn tay gầy guộc của ông một lúc khá lâu rồi về nhà đi đón dâu. Tâm trạng tôi lúc đó hoàn toàn không có sự vui vẻ của một chú rể, mà gàn như vô cảm. Tôi vẫn mặc bộ quần áo kaki lúc làm việc hằng ngày, đi bộ cùng một số người thân lên nhà vợ, thẫn thờ, ai nhắc gì làm cái đó, bảọ lễ tổ tiên cũng chắp tay vái vài cái, bảo lễ bố mẹ vợ cũng chắp tay lạy. Nói chung là đám cựới không vui, tẻ nhạt. Họ nhà gái tiễn dẫu cũng chỉ hơn một chục người. Dưới ánh sáng của vài ngọn đèn dầu ba dây, cả hai họ ăn cỗ cưới khoảng độ dăm mâm. Tôi không ăn uống gì, khoảng gần 4 giờ sáng, tôi cáo từ mọi người đạp xe về Lưu Xá, tiếp tục công việc xây dựng làng kháng chiến. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 11 Tháng Tám, 2023, 08:26:56 am Năm hôm sau thì công việc xây dựng làng kháng chiến kiểu mẫu hoàn thành1 (Làng kháng chiến Lưu Xá sau này có một đơn vị bộ đội địa phương của tỉnh đã dựa vào đó để đánh một trận tiêu diệt được nhiều địch). Tôi trở về nhà, trong lòng nghĩ không biết buổi gặp mặt đầu tiên với vợ mình sẽ như thế nào. Có lẽ từ bây giờ mới bắt đầu tìm hiểu người mà mình sẽ gắn bó suốt đời nhưng trong thâm tâm thấy thương vợ vì năm ngày qua chắc buồn tủi lắm, và cũng thấy rạo rực khi lần đầu tiên tiếp xúc với một người con gái có nhiều nét quyến rũ mình.
Về nhà chỉ thấy có vợ ngồi đấy một mình, chưa kịp hỏi gì thì ông Lê Minh Đường vừa ở Thanh Liêm thăm nhà, đến chơi chúc mừng hai vợ chồng. Chưa kịp giới thiệu ông Đường là chú họ thì cô ấy đã nói, tôi không nhớ rõ nội dung, nhưng cách nói bỗ bã đúng là dân xóm lò gốm Đanh Xá. Tôi hơi ngượng, nhưng thấy ông Đường cười độ lượng vẫn tiếp tục nói chuyện vui vẻ, chắc ông đã quen với cách ăn nói của dân xóm lò rồi. Khi ông ra về, tôi nói ông là chú họ và trách nhẹ sao lại nói bỗ bã như thế, Phúc thanh minh: - Em không biết. Đó là điểm đầu tiên tôi hiểu về tính cách của em. Tối hôm ấy nằm bên nhau tâm sự, tôi nói: - Lấy anh, em sẽ khổ đấy, đang kháng chiến, anh công tác chiến đấu, khó lo được đủ việc nhà, em sẽ vất vả, có chịu được không? - Em chịu được - Phúc trả lời ngay. Rồi Phúc nói với tôi về sự băn khoăn, lo lắng khi sắp cưới mà tôi vẫn vắng mặt, nếu không có chú rể thì sẽ tủi hổ thế nào: - Như thế thà chết đi còn hơn. Tôi rất thương em, đưa cánh tay để Phúc gối đầu. Hỏi em về tuổi, em nói em 19, tuổi Thìn, như vậy hơn tôi một tuổi. Hóa ra bà chị cả đã nói dối tôi. Nhưng bây giờ em có hơn một tuổi cũng không còn quan trọng nữa vì "ván đã đóng thuyên", vì em trông còn trẻ hơn cả cô em gái út của tôi. Hai cơ thể trẻ trung đầy sức sống sát cạnh nhau, nhưng không ai muốn mình là người thô lỗ, sỗ sàng cả. Thời đó, chúng tôi chưa có kiến thức về sinh hoạt tất yếu trong đời sống vợ chồng, mặc dù đã rất muốn hòa vào nhau, tan vào nhau. Tôi thì lóng ngóng, còn em thì xấu hổ, bị động nên chỉ âu yếm, vuốt ve và chuyện trò chán rồi ngủ. Đêm thứ hai cũng vẫn trong tình trạng như đêm trước. Đến đêm thứ ba, em đã bạo dạn hơn một chút, rồi cái gì đến sẽ đến, em kêu khẽ một tiếng, đưa tay ôm lấy cô tôi. Một lúc lâu sau, khi đã tới đỉnh điểm, em ôm chặt tôi, hơi hốt hoảng: "Anh ơi, cái gì thế, anh có làm sao không?". - Em đừng sợ, của anh đấy - Tôi sung sướng trả lời. Sau này, chúng tôi hiểu là đêm ấy chúng tôi đã trao cho nhau sự nguyên vẹn trong sáng của mình mà tạo hóa đã ban cho những cặp trai gái mới kết hôn. Đó là một kỷ niệm đẹp, thiêng liêng, một trong những yếu tố bảo đảm cho cuộc sông vợ chồng được lâu dài đến đầu bạc răng long1 (Sau này, khi gần gũi nhau, chúng tôi thỉnh thoảng vẫn nhắc tới kỷ niệm đẹp đó. Chúng tôi đã là bạn đời của nhau tính theo dương lịch là 61 năm 7 tháng 7 ngầy, âm lịch là 61 năm 8 tháng 21 ngày cho đến lúc nhà tôi mất ngày 23 tháng 5 năm 2009 (29 tháng 4 năm Kỷ Sửu)). Tuy mới lấy vợ, tôi vẫn phải tiếp tục những công việc bận rộn của Huyện đội: Tuyển quân, tổ chức dân công phục vụ chiến đấu, kiện toàn cơ quan... Trong suốt thời kỳ tôi trở lại hoạt động, công tác, bạn Thanh vẫn ở với ông bà ngoại. Chúng tôi vẫn quan hệ với nhau rất tốt. Thanh không từ chối một việc gì khi tôi yêu cầu nhưng khi tôi rủ Thanh vào biên chế của cơ quan Huyện đội, Thanh từ chối. Công việc đang suôn sẻ thì Tỉnh đội dân quân Hà Nam quyết định điều động tôi lên công tác ở Tỉnh đội. Huyện Kim Bảng lúc đó đang thiếu cán bộ, nhất là khối công tác dân vận, đặc biệt là công tác vận động thanh niên. Huyện ủy đã đề nghị với tỉnh cho tôi ở lại công tác ở huyện, coi như cán bộ quân sự biệt phái để tăng cường cho công tác dân vận, đặc biệt là công tác vận động thanh thiếu niên. Tôi được chỉ định là Bí thư Đảng Đoàn thanh niên. Hai đồng chí là Ủy viên Đảng Đoàn: Đồng chí Đinh Văn Can là Bí thư Ban chấp hành Thanh niên cứu quốc huyện, đồng chí Trần Gia Tĩnh là Huyện đoàn trưởng Đoàn Thanh niên Việt Nam huyện. Một số đảng viên khác không tham gia Đảng Đoàn nhưng cũng giữ những vị trí quan trọng trong hai tổ chức thanh niên trên và trong công tác vận động thiếu niên, nhi đồng. Cũng trong thời gian này, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức quần chúng khác như Liên Việt, Phụ nữ, Thanh niên, Nông dân, Công đoàn... cũng được kiện toàn. Một chi bộ gồm các đảng viên trong khối dân vận được thành lập đủ cả nam, phụ, lão, và là chi bộ đông đảng viên nhất trong các chi bộ trực thuộc Huyện ủy. Trong đại hội chi bộ đầu tiên, tôi được bầu làm Bí thư chi bộ. Đó là một chi bộ rất đoàn kết, thân ái, tôn trọng nhau dù là trẻ hay già, nam hay nữ, sống vô tư trong sáng. Trợ cấp cho hoạt động chưa đủ cho tiêu vặt, anh chị em đi cơ sở chủ yếu dựa vào quần chúng, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với họ. Vậy mà mỗi lần về họp ở huyện, gặp nhau vui như Tết. Từ đó, phong trào quần chúng sôi nổi hẳn lên, có nhiều hoạt động thiết thực. Công tác vận động thanh thiếu niên cũng như các tổ chức quần chúng khác có nhiều tiến bộ. Trong cuộc vận động thanh niên tòng quân, chúng tôi bàn nhau phải khắc phục bệnh hình thức, chống kiểu "đánh trống ghi tên" cốt cho có số lượng, mà phải đi vào chất lượng. Thanh niên ghi tên tòng quân phải dựa trên cơ sở tự giác, với động cơ đúng đắn, có tinh thần cứu nước, cứu dân thực sự. Trong đợt vận động đầu tiên, tổng số thanh niên tự nguyện ghi tên là 12.000 người, có chữ ký cam kết. Số anh em này không phải là đi một lúc, mà tùy theo yêu cầu về số lượng của từng đợt tuyển quân. Việc bảo đảm về số lượng và chất lượng của từng đợt được thực hiện thường là vượt chỉ tiêu. Sau đợt vận động này, thanh niên Kim Bảng được Ban chấp hành Thanh niên Liên khu 3 tặng Cờ thi đua. Tôi được biết, tuy chưa thống kê được số anh em ghi tên trong cuộc vận động này, nhưng nhiều người về sau trở thành cán bộ trung, cao cấp của Quân đội. Khoảng đầu quý IV năm 1948, Huyện ủy lại điều động tôi về Ban Tổ chức của Huyện ủy và phân công phụ trách khu vực. Tôi được phân công và công tác qua hầu hết các xã trong huyện. Khoảng cuối năm 1948 thì tôi được phân công phụ trách ba xã Thụy Lôi, Khả Phong và Ba Sao. Công tác thời kỳ này chủ yếu tập trung vào việc xây dựng, củng cố các chi bộ xã, tăng cường chất lượng và sự lãnh đạo của các chi bộ. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 11 Tháng Tám, 2023, 08:27:30 am Đầu tháng 12 năm 1948, giặc Pháp tập trung lực lượng càn quét ở huyện Thanh Liêm và trung tuần tháng 12, chúng đã tiến vào càn quét một số xã ở phía nam huyện (Châu Sơn, Thanh Sơn, Thi Sơn). Đến cuối tháng 12 năm 1948, từ Vân Đình (ứng Hòa - Hà Đông), chúng theo đường 22 và ven sông Đáy càn quét ở phía tây bắc huyện (Khả Phong, Thụy Lôi). Trong trận càn lần này, giặc gây nhiều tội ác rất dã man, bắn giết nhân dân, đốt phá nhà cửa, hãm hiếp phụ nữ. Máy bay địch bắn phá với mật độ dày đặc các khu đông dân cư gây cho ta rất nhiều khó khăn về đời sống và sản xuất. Nhiều nơi như các làng ờ xung quanh huyện phải chạy lên vùng đồi núi Do Lễ, Khả Phong và tìm các mô đất ở cánh đồng đào hầm tránh bom. Nhiều dân thường chết hoặc bị thương. Trong một lần ném bom, em trai vợ tôi bị chết cháy ngay trước cửa hầm. Do bị bom cháy đen nên không thể nhận dạng được thi thể nữa. Một lần khác, máy bay địch xả trọng liên xuống phiên chợ Phương Khê đang họp; cô Vịt, đối tượng mà bố mẹ tôi định hỏi cho tôi trúng đạn của máy bay địch tử vong. Bà Hậu Mềm mất người con cuối cùng, kêu khóc thảm thiết và cứ gọi tên tôi trong lúc than khóc, nghe mà não ruột. Có lẽ bà cho rằng nếu cô lấy tôi thì số phận có thể khác đi.
Trong thời gian địch càn xã Thụy Lôi ở giữa đường 22 và ven sông Đáy có vị trí rất quan trọng nên tôi ở đó cùng các đồng chí trong Chi bộ xã phải bàn kỹ việc chống càn, đồng thời dự kiến đối phó với cả trường hợp địch chiếm đóng lâu dài. Tôi và đồng chí Thể, Bí thư Chi bộ xã, sau khi chỉ đạo việc sơ tán của nhân dân trong xã, đã khẩn trương đến từng tổ Đảng bố trí gài đảng viên ở lại và sơ bộ hướng dẫn các đồng chí ấy hoạt động trong trường hợp xã bị địch chiếm đóng. Khi nghe thấy súng của địch nổ ran gần đó, hai anh em mới vội vã rút lui vượt qua cánh đồng phía đông đến mấy thôn không có địch, thoát khỏi vòng vây càn quét của chúng. Hành động của địch lần này rất tàn bạo, chúng xả súng vào bất cứ ai chúng phát hiện được. Sau khi chúng rút khỏi Thụy Lôi và các xã của Kim Bảng, thiệt hại về người và của lớn hơn các lần trước. Riêng ở Thụy Lôi, một số dân thường bị chúng giết. Ông Chánh Tích, Chủ tịch xã Thụy Lôi ẩn trong một đụn rạ ở giữa cánh đồng bị chúng bắn chết ngay tại chỗ. Một đồng chí đảng viên lớn tuổi được chúng tôi bố trí ở lại ngay từ đầu nếu địch chiếm đóng lâu dài cũng bị bắn chết khi đang ngồi trên phản trong nhà. Chúng tôi còn được biết tin cụ bà, vợ của cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban Thường trực Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hòa (tức Chủ tịch Quốc hội, nguyên là Thượng thư Bộ Hình của triều Nguyễn), ngồi gõ mõ tụng kinh tại nhà ở gần thị trấn Vân Đình (ứng Hòa - Hà Đông) cũng bị địch bắn chết tại chỗ. Sau khi đồng chí Thể báo cáo tình hình chống địch càn quét ở Thụy Lôi, Huyện ủy đã biểu dương sự lãnh đạo của Chi bộ xã. Cuối quý I năm 1949, tôi nhận được quyết định của Liên khu ủy Liên khu 3 bổ sung vào Huyện ủy Kim Bảng. Tháng 9 năm 1949, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện bàn về nhiệm vụ lãnh đạo thời gian tới, tôi được bầu vào Huyện ủy khi vừa tròn 20 tuồi và được phân công tiếp tục phụ trách khu vực. Cũng trong thời gian này, thỉnh thoảng tôi được phân công giảng bài về một nội dung nào đó cho các lớp ngắn hạn bồi dưỡng quân chúng cảm tình của Đảng. Một lần đến giảng cho một lớp các ông cảm tình Đảng do Mặt trận Liên Việt huyện tổ chức, tôi thấy phần lớn các ông đều là bạn của bố mình. Trong số này, có ông, khi tôi còn nhỏ, tôi có lỗi sắp bị bố đánh đòn đang mếu máo, ông đã xin bố tôi tha tội cho tôi. Tôi cười thầm với mình khi nhớ tới chuyện đó và nghĩ không biết "cụ" có còn nhớ chuyện đó không? Vốn quý trọng các ông, tôi lễ phép trình bày nội dung bài giảng, như con cháu nói chuyện với cha ông. Các ông rất chăm chú lắng nghe giảng viên chỉ đáng tuôi con cháu mình, nghiêm chỉnh nêu thắc mắc, nghiêm chỉnh nghe giải đáp. Tôi rất thú vị khi nhớ tới những kỷ niệm như thế, thấy các cụ ta ngày xưa rất có văn hóa. Đầu tháng 2 năm 1950, tôi nhận được quyết định của Tỉnh ủy cử lên Việt Bắc, theo đường giao liên đến Trạm Thống Nhất của Trung ương Đảng để giới thiệu sang Tổng Quân ủy dự Lớp Chính trị viên Lê Hồng Phong. Theo chủ trương của Trung ương, để chuẩn bị cho giai đoạn Tổng phản công, cần bổ sung cho Quân đội một đội ngũ cán bộ chính trị lấy từ những cán bộ đang làm công tác đảng là huyện ủy viên hoặc có trình độ tương đương để bồi dưỡng làm chính trị viên đại đội trở lên. Tất nhiên tôi đã là chính trị viên trung đội rồi lại làm chính trị viên huyện đội dân quân nay phải trả lại cho Quân đội. Lúc này, tôi và Phúc, vợ tôi, đã có một con trai vừa tròn một tuổi. Và đây là một thuận lợi để tôi trở lại chiến đấu trong Quân đội vì tôi không "vô hậu" nữa đối với gia đình, với ông cha. Nhưng vợ chồng trẻ "hai năm hương lửa đang nồng, trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương" thi làm sao tránh khỏi bồi hồi lưu luyến, nhất là đối với phụ nữ. Mấy hôm trước khi đi, những lúc vắng vẻ chi có hai vợ chồng và con, đôi mắt buồn của vợ lúc nào cũng đầy nước mắt. Nhưng "người tráng sĩ chỉ nắm đốc gươm chứ không nhìn mây trắng, nắm đốc gươm mà đi chứ không nhìn mây trắng mà về". Bố mẹ và các chị tôi cũng không có lý do gì đổ giữ tôi ở lại. Chỉ còn một nỗi niềm trong lòng tôi: Rất thương vợ con, đang lúc địch cho máy bay ngày đêm ném bom và bắn phá quê hương mình; những lúc ác liệt nhất, vợ lại phải ôm con chạy ra đồng, chui xuống hố cá nhân để tránh bom đạn. Bà Hậu Mềm dạo này thân thiện hơn với vợ tôi gần gũi với hai mẹ con cô ấy và yêu cháu bé. Ba người con đều chết trẻ, bà mẹ cô đơn ấy thật tội nghiệp, tôi thấy vui vui khi bà gần gũi, thân thiện với vợ con mình... Tôi đến trạm giao liên đầu tiên trên đường đi Việt Bắc là Chợ Bến (Mỹ Đức - Hà Đông). Đường đi Việt Bắc phải qua gần vị trí đóng quân của giặc rất nguy hiểm, nhất là phải vượt qua đường 6, đoạn Dốc Kẽm và nhiều điểm khác ở Hòa Bình. Nhưng nói chung các trạm giao liên của ta năm tình hình địch rất chắc. Khách từ các liên khu 3, 4... lên Việt Bắc phải qua những con đường mòn xuyên rừng để đến Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Tuy nhiên, cũng có nhiều lần địch phục kích gây trở ngại cho ta. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 11 Tháng Tám, 2023, 08:28:30 am Ở Quảng Nạp được vài ngày, tôi được giới thiệu đến Trường Lê Hồng Phong ở Bãi Soi (Đồng Hỷ - Thái Nguyên). Gọi là trường đào tạo chính trị viên nhưng học viên vẫn phải ở nhờ nhà dân. Trong khi chờ đợi khai giảng, cấp trên cử một cán bộ đại đội phó của Trường Lục quân Việt Nam đến đề huấn luyện đội ngũ và kỹ thuật cá nhân cho học viên. Học viên đến đủ, phần lởn là những cán bộ đã từng chiến đấu, có kinh nghiệm chỉ huy và công tác đảng, công tác chính trị. Một bất ngờ rất thú vị là tôi gặp đồng chí Hoàng Tiệm, người đã từng tham gia khởi nghĩa -vũ trang giành chính quyền ở huyện Kim Bảng ngày 20 tháng 8 năm 1945. Đồng chí Hoàng Tiệm lại là người cùng làng, ở thôn Phương Khê Trong, vốn là một lính khố đỏ của Pháp đã từng bị đưa sang Pháp phục vụ Chiến tranh thế giới thứ hai ở Pháp, sau giải ngũ về quê. Xuất thân từ một nông dân nghèo khổ, đồng chí được giác ngộ cách mạng và trở thành một tổ viên trung kiên; hôm khởi nghĩa ở huyện được giao một trong vài khẩu súng hiếm hoi và bắn phát súng hiệu lệnh đầu tiên, tấn công từ ngoài vào, phối hợp với tổ vào bắt sống viên tri huyện. Sau khởi nghĩa, đồng chí được bổ sung về tiểu đoàn biệt động, hoạt động trong nội thành Hà Nội cho đến nay và là Chính trị viên trung đội. Đồng chí Tiệm đã ngoài 40 tuổi, người nhò bé nhưng sức khỏe còn rất tốt. Chúng tôi rất vui mừng được gặp nhau vì vừa là đồng chí, vừa là đồng nghiệp, lại là đồng hương, nên tuy tuổi tác chênh lệch như cha con nhưng lại là một đôi bạn vong niên rất thân thiết.
Vì tổ chức còn tạm bợ và phải thay nhau nấu cơm nên việc ăn uống của chúng tôi rất kham khổ. Cơm thổi thường bằng gạo hẩm ở kho do bảo quản không tốt. Thức ăn duy nhất kéo dài là một thùng phuy canh nấu bằng mấy cân cà chua với nước sông Công và muối trắng. Thời gian này tôi lại bị sốt rét, người rất yếu. Để bồi dưỡng sức khỏe, tôi phải bán một số dồ dùng cá nhân có giá trị lấy tiền ăn thêm ở bên ngoài (đồng hồ, giày dép, quần áo thường phục còn mới…). Ít lâu sau, Lớp Chính trị viên Lê Hồng Phong được tổ chức lại thành một đại đội bổ túc cán bộ sơ cấp, sáp nhập vào Trường Bổ túc cán bộ trung, sơ cấp thành Tiểu đoàn bổ túc học viên cán bộ trung, sơ cấp (gọi tắt là Tiểu đoàn trung, sơ cấp), gồm một đại đội cán bộ trung cấp và hai đại đội cán bộ sơ cấp. Tiểu đoàn này là đơn vị trực thuộc Trường Lục quân Việt Nam khóa 6. Cuộc đấu tranh chống tác phong quan liêu, quân phiệt trong công tác huấn luyện của học viên Lớp Chính trị viên Lê Hồng Phong đã có ảnh hưởng rất tích cực đối với việc mở rộng dân chủ cho các lớp của Trường Lục quân sau này. Toàn bộ Trường Lục quân Việt Nam khóa 6 được đưa sang Vân Nam - Trung Quốc. Khoảng cuối mùa Hạ, đầu mùa Thu năm 1950, Trường Lục quân Việt Nam, trong đó có Trường Bổ túc cán bộ trung, sơ cấp, nay đã trở thành Tiểu đoàn cán bộ trung, sơ cấp trực thuộc Trường, hành quân theo đường bộ sang Trung Quốc. Từ một khu rừng ở Sòi Mít (huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên), chúng tôi hành quân qua Tuyên Quang. Đến gần huyện Sơn Dương, bộ đội được nghỉ một ngày, tôi xin phép rẽ vào huyện Sơn Dương để thăm đồng chí Lê Tùng, lúc này đang là Bí thư Huyện ủy Sơn Dương. Anh Tùng sau khi học ở Trường Quân chính Việt Nam lại không công tác trong Quân đội mà theo yêu cầu công tác đoàn thể phải chuyển ra ngoài. Ít lâu sau, anh được điều động lên tăng cường cho Khu căn cứ địa Việt Bắc và trở thành Bí thư Huyện ủy Sơn Dương. Khi qua phố huyện Sơn Dương, tôi rẽ vào một cửa hàng ăn và giải khát để nghỉ nhưng không ngờ, chủ quán lại là anh Đỗ Đình Các và vợ là chị An, con gái của một cụ già, chủ một cửa hiệu tạp hóa lớn ở phố Phương Khê Chợ. Anh Các trước cũng là một tổ viên Việt Minh bí mật, là em trai đồng chí Đỗ Đình Phát, Chủ tịch Ủy ban khời nghĩa Kim Bảng, anh ruột Đỗ Đình Nhạc, bạn tôi và là anh vợ đồng chí Lê Tùng. Anh chị rất vui mừng vì gặp tôi và cho biết quê nhà đã bị giặc Pháp chiếm đóng. Tôi nghe mà lo cho bố mẹ, vợ con, không biết ở trong vùng địch số phận sẽ ra sao. Tôi rẽ vào thăm vợ chồng anh Lê Tùng theo chỉ dẫn của anh Các. Đến nơi, thấy tôi mặt đỏ bừng vì say nắng, chị vợ anh Tùng liền chạy ra vườn hái một nắm lá tiết dê, giã nhỏ vắt lấy nước pha đường, nước đông như thạch. Tôi uống vào thấy rất mát và giải được cơn say nắng. Hàn huyên với người đồng chí, người anh lớn tuổi đã cùng mình tham gia khởi nghĩa ở Kim Bảng, cùng mình đi học ờ Trường Quân chính Việt Nam một hồi lâu không muốn dứt. Tôi tặng anh chiếc khăn quàng cổ bằng Flanel màu xám hồng mà tôi rất thích làm kỷ niệm rồi từ biệt anh chị trở về đơn vị. Từ Tuyên Quang, đơn vị hành quân về phía Hà Giang. Đến tỉnh lỵ Hà Giang hoang vắng, tiêu điều, đơn vị được nghỉ một ngày lấy sức để hôm sau qua cầu Thanh Thủy, vượt Cổng Trời qua biên giới. Tối hôm sau, đại đội tôi liên hệ với địa phương tổ chức một buổi diễn kịch cho nhân dân xem, theo một kịch bản chuyên nghiệp đã được anh em trong đơn vị luyện lập từ trước. Tuy thời chiến, ban ngày ít người qua lại nhưng tối đó dân đến khá đông xem bộ đội diễn kịch. Đề tài của vờ kịch nói về kháng chiến được biểu diễn rất thành công, khán giả rất hoan nghênh và thích thú vì từ rất lâu ở đây không có hoạt động văn nghệ. Sớm hôm sau, chúng tôi đã phải hành quân vượt biên giới. Lúc này mọi người được phổ biến là bộ đội ta phải mang một tên mới là "bộ đội Lưỡng Quảng”, nếu dân Trung Quốc hỏi thì phải nói là "Lẻng quàng pu tuây". Qua cột mốc biên giới ở phía bên kia Cổng Trời, nhiều anh em ngoái cổ lại xúc động "tạm biệt" Tổ quốc. Thời gian này, Trung Quốc vừa mới được giải phóng, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời chưa đầy một năm, nhiều đoạn đường còn rất vắng vẻ, có nơi bọn thổ phỉ còn ẩn náu và hoạt động. Qua biên giới một đoạn, thấy vài người dân ăn mặc lam lũ ra đón hô khẩu hiệu "Hoan nghênh bộ đội Lưỡng Quảng", "Đảng Cộng sản Trung Quốc muôn năm"...; có người còn kéo nhị đón mừng. Buổi chiều thì đại đội tôi đến Maliphô, một thị trấn nhỏ ở biên giới. Người ra đón phần lớn là các em học sinh mặc đồng phục sạch sẽ, có vẻ thích thú thấy những anh "bộ đội Lưỡng Quảng" vui vè, tươi cười và hiền lành; đặc biệt là các anh em học viên lục quân trẻ trung được các em và các cô rất thích, dễ thân. Chúng tôi còn phải hành quân bộ nhiều ngày nữa mới đến được Khai Viễn, nơi có ga xe lửa để đi bằng xe lửa đến gần Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam. Trên đường hành quân, có những chuyện gây cho bộ đội ta ấn tượng không đẹp. Ở nhiều chỗ trú quân, có những lạch nước chung để rửa ráy, giặt giũ, nước đen như nước cống, trông phát khiếp. Chỗ ngủ thường là doanh trại cũ của quân Tưởng, hoặc nhờ nhà dân thường rất nhiều bọ chó, nhất là các doanh trại cũ của Tường. Chúng tôi nằm ngủ thường bị bọ chó đốt tịt hết cả người, ngứa ngáy không thể ngủ yên. Trên đường đi, chúng tôi gặp những anh em của Đại đoàn 308 hành quân trở về nước, sau thời gian luyện tập và chuyển vũ khí của nước bạn Trung Quốc viện trợ. Mặc dù mới giải phóng chưa được bao lâu, đất nước còn nhiều khó khăn nhưng bạn rất tích cực giúp đỡ ta. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 11 Tháng Tám, 2023, 08:31:52 am Tiểu đoàn cán bộ trung, sơ cấp đến Khai Viễn vào một buổi chiều. Chúng tôi được thông báo là Quân đoàn 13 của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc phụ trách việc cơm nước cho chúng tôi. Đến một cái sân rộng đã thấy cơm bày ra ở dưới sân. Thức ăn cũng khá, có thịt, có miến nấu, với quân ta bữa ăn như thế là sang. Tư lệnh Quân đoàn đi một lượt qua các mâm kiểm tra. Trong hoàn cảnh chung lúc đó, chúng tôi thấy bộ đội bạn đối với mình cũng khá chu đáo. Đến tối thì chúng tôi lên xe lửa đi Côn Minh trên những chiếc toa đen. Như thế đã cảm thấy là sướng lắm rồi.
Địa điểm Tiểu đoàn trung, sơ cấp đến là vị trí đóng quân của một cơ quan tình báo Mỹ bên bờ hồ Dương Tông Hải, cách Côn Minh khoảng 30 kilômét. Anh em ở các đơn vị lục quân, đào tạo chủ yếu là cán bộ trung đội ở doanh trại cũ của quân đội Tưởng trong khu vực Đào Viên cách chúng tôi khoảng bốn đến năm kilômét. Ở giữa đoạn đường từ Tiểu đoàn trung, sơ cấp đến Đào Viên là Minh Hồ, ở đó có một lớp cán bộ pháo binh của ta đang học. Lớp bổ túc cán bộ trung, sơ cấp được tổ chức chính thức thành ba đại đội: Một đại đội cán bộ trung cấp (C150); một đại đội cán bộ sơ cấp, chủ yếu là cán bộ quân sự (C152); một đại đội sơ cấp thứ hai, chủ yếu là cán bộ chính trị, học viên của Trường Lê Hồng Phong chuyển sang (C151), tôi và đồng chí Hoàng Tiệm cùng ở một trung đội của đại đội này. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn gồm: Đồng chí Đàm Quang Trung (sau này là Thượng tướng) là Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Đàm Quang Thìn (sau là Thiếu tướng) là Chính trị viên, đồng chí Cao Xuân Hổ là Tiểu đoàn phó1 (Đồng chí Cao Xuân Hổ là một đồng chí đã lớn tuổi, sau này tôi không rõ ở đâu). Một điều khá thú vị là tại đây tôi gặp lại đồng chí Cao Thanh Trà, nguyên Trung đoàn trưởng khi tôi chiến đấu ở Nam Trung Bộ, anh từ miền Nam ra học ở lớp bổ túc cán bộ trung cấp. Trong khi đang chuẩn bị khai giảng thì cả trường được lệnh chuyển vũ khí, đạn dược do Trung Quốc viện trợ về nước bằng đường bộ. Toàn bộ lớp bổ túc cán bộ trung, sơ cấp cũng được huy động tham gia đợt này. Mọi công tác tổ chức vận chuyển trên vai được chuẩn bị rất chu đáo, nhất là việc bảo đảm sức khỏe và công tác chính trị. Đây là một thử thách lớn, đồng thời cũng là cuộc rèn luyện về thể lực cho mọi người, đặc biệt đối với học viên lục quân vốn đại bộ phận là học sinh phổ thông mới được tuyển vào và các đồng chí cán bộ trung cấp đã lớn tuổi. Đường đi qua nhiều đèo dốc, đòi hỏi về thể lực rất cao, một số anh em tưởng chừng khó vượt qua nổi. Song nhờ tinh thần tự giác và sự cố gắng vượt bậc, anh em đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tuy nhiên cũng xảy ra một tổn thất: Một học viên lục quân quê ở thôn Vân Lâm, Kim Bảng (quê tôi) khi lên đến đỉnh một đèo cao, vì quá sức đã hy sinh. Một hình ảnh khó quên là nhạc sĩ Đỗ Nhuận, thời gian đó công, tác tại Trường Lục quân Việt Nam, vừa sáng tác những ca khúc cổ vũ cho việc vận chuyển vũ khí, vừa tự mình theo bộ đội đến những chỗ khó khăn nhất, cất cao tiếng hát động viên bộ đội. Sau khoảng hai tháng liên tục và khẩn trương vận chuyển, một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược được chuyển về Hà Giang để cung cấp cho bộ đội ta chiến đấu. Sau này, khi Chiến dịch Biên Giới bắt đầu (16.9.1950) đến khi kết thúc thắng lợi rực rỡ (14.10.1950), chúng tôi mới được biết rằng, số vũ khí mà toàn bộ học viên khóa 6 của Trường Lục quân Việt Nam đưa về nước đợt đó là để phục vụ Chiến dịch Biên Giới và mọi người đều rất tự hào đã được đóng góp sức mình vào thắng lợi to lớn của chiến dịch. Trong không khí rất phấn khởi với chiến thắng rực rỡ ở trong nước, chúng tôi chính thức bước vào khóa huấn luyện. Chương trình của khóa học cho Lớp bổ túc cán bộ trung, sơ cấp chủ yếu gồm các môn: Tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông, nguyên tắc chiến thuật Lâm Bưu (... đánh công kiên là chính), các kỹ thuật cơ bản như đánh bộc phá, ném lựu đạn, thủ pháo, bắn súng..., về chính trị gồm: Quân đội nhân dân, tam đại dân chủ (quân sự, chính trị, kinh tế)... Đội ngũ giáo viên hoàn toàn là người Trung Quốc do một đồng chí sư đoàn trưởng dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và huấn luyện phụ trách chung, các giáo viên cũng là những người có kinh nghiệm. Phiên dịch đều là những đồng chí cán bộ trung cấp giỏi, có trình độ như đồng chí Nguyễn Văn Thường (sau này là Cục phó Cục Địch vận của Tổng cục Chính trị), đồng chí Vương Quỳnh Anh, Tiểu đoàn trưởng, con trai của Vua Mèo Vương Chí Sình ở Hà Giang. Phải nói rằng, những nội dung chương trình nói trên lúc đó với chúng ta là rất cơ bản và mới lạ. Những nội dung đó sau này được Quân đội ta vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiên chiến đấu của Việt Nam rất có hiệu quả. Bề phương pháp học tập cũng có những điểm mới. Học có kiểm tra, chủ yếu bằng phương pháp trắc nghiệm mà các bạn Trung Quốc gọi là "phương pháp công nông", thích hợp với người có trình độ học vấn thấp như những anh em xuất thân là công nhân, nông dân thời đó ít được học hành. Ngoài những nội dung chính, sinh hoạt ngoại khóa như thực hành ba dân chủ lớn (chính trị, quân sự, kinh tế) trong các buổi sinh hoạt theo chế độ ở đại đội, kể chuyện về tội ác của giặc Pháp đối với gia đình, họ hàng mình, sinh hoạt văn hóa văn nghệ, tự phê bình và phê bình trong tổ ba người (tam tam chế)... đều được thực hiện có nền nếp. Ca khúc "Vì nhân dân quên mình" của đồng chí Doãn Quang Khải, cũng là học viên trong đại đội tôi, đã được sáng tác sau khi học về quân đội nhân dân (ca khúc được nhạc sĩ Đỗ Nhuận sửa chữa, sau này trở thành ca khúc nổi tiếng của Quân đội ta). Giáo viên bạn giảng dạy tốt, mô phạm, phiên dịch giỏi, học viên có kinh nghiệm chiến đấu, thông minh, nhận thức nhanh, thái độ nghiêm túc, thầy trò tôn trọng nhau nên quan hệ rất tốt. Kết thúc khóa học, có một điều không phù hợp là Nhà trường cho học viên "tự phong" chức vụ của mình. Một số anh em vốn là cấp trưởng (chính trị viên hoặc đại đội trưởng) nay "khiêm tốn" tự phong xuống cấp phó, tôi cũng ở trong số đó. Nhưng khi về nước, tình trạng này được Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị ta chỉnh đốn ngay, không cho làm như thế vì ngay số lượng, đội ngũ cán bộ ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của Quân đội. Trong sáu tháng học tập, có một lần ông Tống Nhiệm Cùng, ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, một nhân vật quan trọng ở Hoa Nam đến thăm Tiểu đoàn. Ông nói chuyện với toàn thể học viên bằng một thái độ thân mật, khiêm tốn, để lại ấn tượng tốt đối với mọi người. Sau sáu tháng học tập, khóa học của chúng tôi đã hoàn thành. Lễ bế mạc diễn ra đơn giản, gọn nhẹ nhưng ấm cúng. Vị Sư đoàn trưởng, Trưởng đoàn cố vấn - giáo viên (có một bà vợ trẻ "cấp dinh" (tiểu đoàn), phát biểu dặn đò học viên. Khi nói đến việc giữ gìn phẩm chất, đạo đức của người quân nhân cách mạng, có chỗ ông nói: "Thấy gái đẹp phải nhắm mắt lại", anh em mình bấm bụng cười. Khi về, cánh trẻ nói vui với nhau: "Mắt ti hí nhìn một chút cũng được chứ sao". Chia tay nhau, thầy trò, bạn bè đều lưu luyến nhưng chủ yếu vẫn là không khí nao nức chuẩn bị lên đường trở về Tổ quốc để nhận nhiệm vụ. Bộ khung của Nhà trường vẫn ở lại để chuẩn bị cho khóa 7. Lớp trung sơ cấp được phân công dẫn học viên lục quân đã tốt nghiệp về nước bàn giao cho cơ quan chịu trách nhiệm phân bổ cho các đơn vị. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Tám, 2023, 09:26:49 am Tôi và một đồng chí nữa phụ trách chỉ huy một đại đội học viên lục quân hành quân về nước. Cuộc hành quân và bàn giao diễn ra suôn sẻ. Sau đó, hai chúng tôi về vùng đèo Khế - Thái Nguyên gặp đại diện Cục Cán bộ - Tổng cục Chính trị để nhận công tác.
Gặp đồng chí đại diện Cục Cán bộ thì tôi được thông báo bổ sung ngay về Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân Tiên phong), còn đồng chí kia - Bùi Cúc được bổ sung cho Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng bằng). Được về công tác ở hai đại đoàn chủ lực có tiếng của Quân đội ta, chúng tôi rất phấn khởi, nhưng nguyện vọng có phần hơi khác một chút. Bùi Cúc thì muốn xin về Đại đoàn 308 vì có anh ruột ở đó, còn tôi thì muốn về Đại đoàn 320 vì quê ở đồng bằng. Nhưng khi phát biểu với đồng chí đại diện Cục Cán bộ, đồng chí cho biết cấp trên đã nghiên cứu kỹ và quyết định rồi. Nghe vậy, chúng tôi cũng vui vẻ chấp nhận ngay vì trong quyết tâm thư sau khi học, mọi học viên đều đã "sẵn sàng nhận bắt cứ nhiệm vụ gì được cấp trên giao cho". Lúc đó, tôi chợt nhớ đến đồng chí Hoàng Tiệm, người đồng hương, đồng chí, đồng đội già đã cùng nhau tham gia khởi nghĩa ở Kim Bảng, không biết bây giờ được phân công công tác ờ đâu. Cũng không thể nghĩ rằng, mãi 22 năm sau (đến năm 1973), chúng tôi mới lại được gặp nhau. Được biết, Đại đoàn 308 sau Chiến dịch Hà - Nam - Ninh đang đóng quân ở Thanh Hóa, tôi mừng thầm vì trên đường đi từ Việt Bắc về, thể nào cũng phải qua huyện Lạc Thủy và có thể liên lạc để biết tình hình gia đình sau gần một năm rưỡi xa nhà. Thời gian này, việc đi lại từ Liên khu 4, Liên khu 3 lên Việt Bắc và ngược lại dễ dàng hơn trước. Với tốc độ "mã hồi", từ 30 đến 40 kilômét mỗi ngày, chẳng mấy chốc tôi đã tới Chi Nê và được biết từ Do Lễ trở vào vẫn là vùng tự do của ta. Theo đường 21 từ Chi Nê, tôi ra Cốc Thôn, trong lòng phấp phỏng lo âu không biết tình hình cha mẹ, vợ con, xóm làng mình sống trong vùng địch chiếm đóng ra sao. Đến Cốc Nội, thoáng thấy bên trái đường một quán giải khát núp dưới những bóng cây um tùm xanh tốt để phòng tránh máy bay địch, một loại quán hàng điển hình và rất phổ biến ở vùng tự do của ta, tôi dừng lại ghé vào uống nước. Trên sạp hàng nhiều thứ đồ uống, cốc chén sạch sẽ được bày biện một cách tao nhã, hấp dẫn chứng tỏ chủ hàng chắc là một người thành thị tản cư đến. Vừa bước vào, tôi mừng rỡ vô cùng, ngồi bên trong là vợ chồng anh Ba Cương, anh họ tôi cùng ở thôn Phương Khê Chợ. Pha cho tôi một cốc nước chanh tươi với đường trắng, anh cho tôi biết ngay tình hình ở nhà. Bố mẹ, vợ con tôi vẫn sống cùng với bà con ở phố Mới, cách đồn địch khoảng 200 mét. Toàn bộ khu chợ Quế, trong đó có cả nhà anh và nhà tôi đã bị địch san bằng và xây đồn bốt ở đó. Bà con sống rất căng thẳng trong sự o ép, kìm kẹp của giặc, đặc biệt đối với các gia đình địch nghi có con em đi theo kháng chiến. Nhiều lần ban đêm, chúng cho người giả tiếng tôi gọi bố ra mở cửa cho vào, nhưng bố tôi rất cảnh giác, không khi nào mắc mưu chúng. Đặc biệt là dân xã tôi rất có ý thức bảo vệ nhau, bảo vệ các gia đình có chồng con đi kháng chiến. Dân trong vùng địch chiếm đóng và dân tản cư vào vùng núi vẫn liên lạc được với nhau. Nhiều người vẫn ra vào được bằng cách vượt qua vành đai trắng ở những chỗ địch sơ hở hoặc không đủ quân để canh gác. Anh không biết rõ cụ thể, nhưng cũng cho biết chung ở vùng đồi núi này vẫn còn một số cơ quan ở đây, kể cả các cơ quan huyện vẫn có hoạt động chỉ đạo cuộc đấu tranh của nhân dân trong vùng địch. Một vài ba lần địch có hành quân vào sâu vùng tự do của ta để càn quét, nhưng nói chung ta vẫn an toàn, còn địch thì không đủ quân để trải ra chiếm đóng thêm. Theo chỉ dẫn của anh Ba Cương, từ Cốc Nội vẫn theo đường 21, tôi ra Cốc Ngoại để gặp một số anh em bà con Phương Khê Chợ tản cư ở đó. Gặp toàn là anh em họ hàng bà con quen biết, phần lớn là mở hàng quán, đón những khách buôn bán bạo gan vượt vành đai trắng mang những nhu yêu phẩm từ "vùng tề" ra bán kiếm lời, tôi cũng biết thêm được nhiều thông tin khác về tình hình gia đình. Trong số những anh em họ hàng có người cho biết là có thể liên lạc được với gia đình, và người trong đó cũng có thể ra gặp được tôi. Tôi cũng được biết thêm là đồng chí Lê Minh Lợi, vốn là Phó Bí thư Huyện ủy Kim Bảng cũng đang ở đây, nhưng ở sâu trong đồi để tránh chỗ phố xá đông người ra vào trong vùng địch dễ bị lộ. Tôi tìm đến chỗ Lê Minh Lợi (nay đã là Bí thư Huyện ủy Duy Tiên) khi anh ở trong một cái lều nhỏ đang dưỡng thương vì trên đường công tác anh bị địch phục kích bắn xuyên bả vai, vết thương chưa lành hẳn. Khá lâu mới được gặp nhau, tôi kể cho anh nghe những chuyện ở Việt Bắc, ở Trung Quốc, về sự lớn mạnh của bộ đội và nhân dân ta, những thuận lợi mới khi biên giới giữa nước ta và Trung Quốc được mở thông. Anh kể cho tôi nghe về những chuyện gian khổ ở địch hậu, lòng dân đối với kháng chiến, những hoạt động đấu tranh đa dạng và phức tạp giữa ta và địch... Nằm ở lều của anh Lợi, tôi chưa kịp nhờ ai báo tin về cho gia đình ở trong lòng địch thì gần trưa hôm sau đã thấy Phúc, vợ tôi tay cắp nón bước vào cửa lều. Trông thấy tôi, quầng mắt em đỏ hoe, thấy em sắp khóc, tôi nói vui: "A! Chào đồng chí!". Phúc bẽn lẽn cười. Tôi vui mừng và cảm động vì thấy vợ mình đã không gặp nguy hiểm khi vượt qua vành đai trắng, vượt sông Đáy sang với chồng. Phúc nói chuyện với tôi về cuộc sống căng thẳng trong lòng địch, về những phút rất nguy hiểm đối với một phụ nữ trẻ và sự bảo vệ, đùm bọc của những người thân, họ hàng, làng xóm. Có trường họp trong một trận càn, một tên lính Tây đen sán đến, Phúc ôm chặt con vào lòng, anh ta nhìn thấy cảnh đó, lặng lẽ bỏ đi. Tôi đã nghĩ tìm cách đưa Phúc ra vùng tự do sinh sống, nhưng không thể thực hiện được đối với một anh bộ đội ở một đơn vị chủ lực luôn luôn cơ động ở khắp các chiến trường. Tôi suy nghĩ nhiều về việc này nhưng cuối cùng cách tốt nhất vẫn là để Phúc ở nhà gần gia đình, họ hàng và bà con dân làng. Ở với nhau khoảng gần 10 hôm thì tôi phải lên đường về đơn vị mới là Đại đoàn 308 đang ở Thanh Hóa. Đợi có người về nhà, tôi mới để Phúc cùng về và tôi ở lại một ngày để theo dõi vợ về có an toàn không. Nghe tin Phúc đã về nhà an toàn, tôi yên tâm lên đường vào Thanh Hóa. Về sau tôi biết được rằng, địch đánh hơi thế nào, nghi tôi đã về nhà nên ráo riết lùng sục. Đầu tiên, chúng đến nhà anh Ba Khuông, anh rể lấy chị thứ ba của tôi ở thôn Đanh Xá. Gặp chị, chúng tra hỏi là tôi có trốn ở đó không? Chị trả lời là tôi đi đã lâu, không biết đi đâu, không thấy về nhà nữa. Thấy mấy cái nong gác trên xà nhà, chúng sợ tôi nấp trên đó nên nã súng tiểu liên bắn lên mấy cái nong đó mấy loạt rồi mới đi. Chúng lại đến nhà ông ngoại tôi. Có mấy cái hầm tránh máy bay từ trước, chúng cũng bắn xối xả vào miệng hầm nhiều loạt, không thấy gì chúng mới lui. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Tám, 2023, 09:27:48 am Tôi ung dung đi trong vùng tự do của ta đến huyện Yên Định (Thanh Hóa) và tìm đến Phòng Chính trị Đại đoàn để nộp hồ sơ, giấy tờ và đợi phân công công tác. Đợi không lâu, tôi nhận được giấy giới thiệu về công tác tại Ban Chính trị Trung đoàn 36 (Trung đoàn Bắc Bắc). Khi xem qua giấy giới thiệu lại thấy chỉ giới thiệu mình là Chính trị viên phó đại đội, tôi phải báo lại Chính trị viên phó là tự phong ở lớp học, còn chức vụ chính thức của tôi là Chính trị viên trưởng theo quyết định của Tổng cục Chính trị và yêu cầu sửa lại. Đến Trung đoàn 36, tôi được đưa đến gặp Chính ủy Lê Linh và Trung đoàn trưởng Hồng Sơn. Các anh đều lớn tuổi hơn khoảng năm, sáu tuổi, tiếp cán bộ cấp dưới thân mật, tôi thấy dễ chịu vì thấy cấp trên rất dễ gần gũi. Tôi thấy thú vị được gặp Trung đoàn trưởng chính là đồng chí Phạm Thành Chính, "vị cử nhân luật tri huyện tập sự", cùng học với tôi ở Trường Quân chính Việt Nam, cùng Nam tiến và suýt bị địch bắt ở Ninh Chữ năm 1946. Có lẽ Trung đoàn trưởng không nhận ra tôi. Tôi cũng tế nhị không muốn nhận biết anh lúc đó vì e "thấy người sang bắt quàng làm họ". Tôi được giao nhiệm vụ về Tiểu ban Tổ chức, Ban Chính trị Trung đoàn làm Trợ lý Công tác đảng.
Về Ban Chính trị Trung đoàn, ấn tượng đầu tiên của tôi là thấy không khí đoàn kết, vui tươi của các đồng đội trong Ban. Lần đầu tiên được về một đơn vị bộ đội chủ lực trong một đại đoàn cơ động chiến lược, tôi rất thích thú, thấy mình dễ thích nghi với nhiệm vụ mới, dễ hòa nhập với đồng đội. Sau khi Đại đoàn đã củng cố, bổ sung quân số và tiến hành chỉnh huấn đợt 1 về "Ba dân chủ lớn", Trung đoàn 36 đã cùng với Đại đoàn hành quân từ Thanh Hóa về Phú Thọ để tiến hành đợt 2 của cuộc chỉnh huấn mà lúc đó quen gọi là chỉnh huấn về "Hai phe". Mục đích của chỉnh huấn là nhằm hiểu rõ thêm về tình hình thế giới, về bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội và bản chất phản động của chủ nghĩa tư bản, đế quốc, củng cố thêm lòng tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Đợt chỉnh huấn này, Trung đoàn được Tổng cục Chính trị giao cho làm thí điểm để rút kinh nghiệm cho các đơn vị khác. Đồng chí Hồng Cư, Phó Chính ủy Trung đoàn trực tiếp phụ trách việc này cùng với phái viên của Tổng cục Chính trị là đồng chí Lưu Văn Lợi. Điểm để rút kinh nghiệm là Đại đội 62 thuộc Tiểu đoàn 80, là đại đội chủ công của Trung đoàn. Tôi được chỉ định làm phái viên của Ban Chính trị Trung đoàn, cùng đồng chí Lưu Văn Lợi bám sát Đại đội 62 để rút kinh nghiệm hằng ngày, báo cáo với Trung đoàn. Việc này đối với tôi hoàn toàn mới, tôi không hiểu tại sao cấp trên lại cử một cán bộ làm công tác tổ chức đảm nhiệm. Công việc rất khẩn trương, vất vả. Đồng chí Lưu Văn Lợi và tôi được giao nhiệm vụ ngày thì theo dõi đại đội học tập, đêm phải vượt 6-7 kilômét đường rừng về báo cáo với đồng chí Hồng Cư về tình hình và kinh nghiệm chỉ đạo học tập để kịp báo cáo với Tổng cục. Thực ra, vai trò chính làm việc này là đồng chí Lợi (lúc này, đồng chí Lưu Văn Lợi đã ngoài 30 tuổi, là một trí thức rất giỏi tiếng Pháp và khá nổi tiếng), còn tôi chỉ là phụ. Một lần, vào khoảng 2 giờ sáng, đồng chí Lợi báo cáo với đồng chí Hồng Cư về tình hình và kinh nghiệm học tập thì tôi buồn ngủ quá; mắt díp lại không nghe được gì hết. Sau khi đồng chí Lợi nói hết, đồng chí Hồng Cư nhắc tôi có gì bổ sung thêm, tôi mở mắt chết lặng chẳng nói được gì. Sau buổi làm việc, đồng chí Hồng Cư nói riêng với tôi, trách cứ về chuyện này. Tôi nhận khuyết điểm và thấy thấm thìa bài học đầu tiên về tác phong làm việc cực kỳ khẩn trương, nghiêm túc trong một đơn vị chủ lực là thế nào. Sau đợt chình huấn chính trị là đến học quân sự. Đối với Trung đoàn, lúc đó chú trọng học chiến thuật đánh công kiên để cho trình độ tác chiến của Trung đoàn được toàn diện hơn. Tôi tính có thể lợi dụng thời gian bộ đội học quân sự, xin phép đơn vị cho nghỉ để về thăm gia đình trước khi bước vào Thu - Dông. Thực ra mới về đơn vị chưa được nửa năm mà đã xin nghi phép, tôi thấy chưa thật hợp lý cho lắm. Do dự, cân nhắc mãi, cuối cùng đơn vị cũng thông cảm cho nghỉ phép. Đã quen đường đi nhiều lần, tôi nhanh chóng từ Phú Thọ về Chi Nê (Lạc Thủy) và ra Cốc. Tình hình địch - ta ở Kim Bảng cũng không có gì thay đổi lớn lắm so với sáu tháng trước đây. Một lần nữa, Phúc lại vượt vành đai trắng, vượt sông Đáy ra với chồng, lần này mang theo cả con Đinh Cao Phong. Tôi hiểu thêm tình nghĩa vợ chồng sâu nặng thế nào, tình yêu của người phụ nữ mãnh liệt làm sao. Em còn mang cho tôi một món quà tôi rất thích là một đồng hồ Wyler, rất cần cho một cán bộ quân sự. Song niềm vui lớn nhất là được gặp cả vợ và con trai. Lúc này, Phong nói đã sõi, chỉ hơi còm. Hôm hai vợ chồng dắt con đi chơi, Phong chợt chỉ tay lên một mỏm núi đá: "A! Bố ơi, con chó có râu!". Tôi nhìn lên thì ra là một con dê đang nhảy nhót đi kiếm thức ăn. Lần nghỉ này còn hai sự kiện đáng nhớ: Chị Đinh Thị Chấn (Kim), chị con chú con bác ruột với tôi, từ công tác phụ nữ ở huyện, lên tỉnh, rồi được điều động lên cơ quan Liên khu ủy 3 làm công tác cơ yếu cũng ra Cốc thăm anh em. Gặp tôi, chị rất mừng và cho biết chị và người yêu là anh Vũ Anh Tuấn, Bí thư Huyện ủy Mai Đà sẽ làm lễ cưới nay mai. Hai chị em cùng học vỡ lòng, cùng học ở Trường Kiêm bị Kim Bảng, có một thời gian cùng sinh hoạt ở Chi bộ cán bộ dân vận của huyện Kim Bảng, tôi cũng rất mừng cho chị. Chị chỉ ở có một ngày, hôm sau đã phải trở về cơ quan công tác. Sắp hết hạn nghỉ, cũng như lần trước, tôi sắp xếp cho vợ con trở về gia đình trước khi tôi đi vài hôm. Được tin vợ con đã trở về nhà an toàn, tôi mới yên tâm ra đi. Sau khi vợ con về được một hôm thì một chuyện bất ngờ đến với tôi. Anh Hoàng Hữu Lựu, người mà tôi gọi vui là "Mạnh Thường Quân" đã giúp tiền cho anh Cầu đi về công tác trước Cách mạng Tháng Tám, nghe tin tôi về ra thăm tôi. Gặp anh, tôi được biết anh là một chi ủy viên của Chi bộ xã Ngọc Sơn, danh nghĩa công tác là một giáo viên làng để hoạt động ngay trong lòng địch. Anh dạy các cháu ở Văn Chỉ thờ Khổng Tử ở thôn Phương Khê Trong, cách đồn địch gần một kilômét, vừa nắm tình hình địch, vừa chỉ đạo phong trào. Gặp anh, tôi rất cảm động nhưng băn khoăn về sự khinh xuất của anh vì anh vào Cốc dễ bị lộ bí mật. Anh cười nói: - Nhớ anh em nên ra thăm một chút có sao đâu. Anh hoạt động trong lúc địch khủng bố gắt gao, phong trào ờ xã gặp rất nhiều khó khăn. Bí thư Chi bộ xã thoái chí bỏ nhiệm vụ, nhiều đảng viên sa sút ý chí chiến đấu, nằm im. Huyện ủy phải chỉ định một đồng chí người Hải Dương tên là Nguyễn Xí (tên hoạt động là Thái)1 (Đồng chí Xí sau trở thành một cán bộ của Bộ Giáo dục) về làm Bí thư Chi bộ. Đồng chí này đã đỗ tú tài, được phép lên Việt Bắc để tiếp tục học thêm, nhưng vì tắc đường phải ở lại xã Ngọc Sơn dạy học kiêm sống và hoạt động ở xã. Đồng chí ấy đang cố gắng phục hồi sự hoạt động của Chi bộ và vực phong trào dậy. Đồng chí Xí tin ở tinh thần chiến đấu của anh Lựu nên phân công cho anh nhiệm vụ trên. Anh Lựu kể cho tôi nghe chuyện một người cộng sản ở thôn Phương Khê Trong. Anh ấy tên là Giao, một đồng chí mà tôi rất quen vì anh là một ủy viên trong Ban chấp hành nông dân cứu quốc huyện, đã từng sinh hoạt trong Chi bộ cán bộ dân vận huyện khi tôi là Bí thư Chi bộ đó. Anh Giao đã lớn tiếng lên án và chửi thẳng vào mặt bọn xâm lược và bọn Việt gian bán nước. Anh đã bị bọn giặc ở bốt Quế bắn chết ngay tại chỗ. Anh Lựu và tôi, hai anh em còn nói nhiều chuyện với nhau rồi anh từ biệt tôi trở về làng. Tiễn anh về, tôi vẫn băn khoăn về việc anh coi thường nguy hiểm, vượt vành đai trắng ra vùng tự do thì dễ bị lộ lắm. Quả nhiên điều tôi lo lắng đã xảy ra. Ít lâu sau, tôi được tin anh bị địch bắt, giam tại nhà tù Nam Định, bị địch tra tấn rất dã man. Giữ vững khí tiết của người cộng sản yêu nước, anh đã bị địch tra tấn và hy sinh trong tù. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Tám, 2023, 09:28:34 am Đầu tháng 12 năm 1951, tạm biệt những người thân ở Cốc Thôn tôi lên đường trở về đơn vị cũng là lúc được biết tin địch đã đánh ra Hòa Bình, đường lên Việt Bắc bị tắc. Làm thế nào để trờ về đơn vị trong lúc tình hình khẩn trương như thể này? Tôi tìm đến Tỉnh đội dân quân Hà Nam, khi đó cơ quan ở một khu rừng tại Đầm Đa gần Chi Nê. Đến nơi, gặp được đồng chí Hồng Thanh, lúc đó là Chính trị viên Tỉnh đội. Đồng chí Hồng Thanh cho biết là Tỉnh đội cũng chưa thật nắm vững tình hình đường lên Việt Bắc lúc này ra sao và đang cho người đi trinh sát. Tôi xin chứng nhận của Tinh đội là tôi đã đến liên lạc để tìm đường đi Việt Bắc nhưng đường chưa thông. Tuy nhiên vì rất nóng ruột, tôi quyết định tự tìm lấy đường, đến đâu hỏi dân đến đấy. Gần đến đường 6, dân tản cư hết, vắng ngắt. Tôi tiếp tục đi, may sao gặp một đồng chí bộ đội, không biết của đơn vị nào cũng đang tìm đường đi cho đơn vị. Hai chúng tôi vượt qua đường, đến một bản vừa bị địch đốt, khói lửa vẫn còn cháy dở và có nhiều dấu vết chứng tỏ địch đốt phá cách đây không lâu. Đi sâu vào trong rừng được một đoạn thì người bạn đường tách ra một lối khác. Một mình tôi tiếp tục đi sâu vào rừng hướng về phía bắc. Đến gần tối, tôi mừng rơn thấy một bản trong đó lố nhố người đi lại. Quan sát kỹ, tôi nhận ra đó là đồng bào chạy giặc tản cư về đây. Tôi đến nhà một gia đình thổi cơm ăn và đi ngủ vì mệt quá. Đến gần sảng tỉnh dậy, tôi đến chỗ bà con tản cư, thấy có người nói ở gần đây có bộ đội, tôi đi theo hướng bà con chỉ, được một đoạn dài thì mừng ơi là mừng, gặp một đồng chí quen ở Trung đoàn, về đến Ban Chính trị, thấy mọi người đang tất bật sôi nổi làm việc phục vụ cho tác chiến. Các đồng chí cũng rất vui mừng vì tôi tìm được đơn vị và thông báo đơn vị bạn (e88) đã tiêu diệt được một tiểu đoàn Âu - Phi ở cứ điểm Tu Vũ. Còn Trung đoàn 36 cũng đã lập chiến công, một đơn vị pháo của Trung đoàn phổi hợp với Trung đoàn 88 đánh Tu Vũ và bắn cháy một xe tăng địch, một đơn vị khác bắn cháy ca nô và sà lan địch, đặc biệt là tại bến Lạc Song, ta đã bẳn chìm cả một đoàn năm tàu địch trên sông Đà, trong đó có một chiếc tàu chiến, tiêu diệt toàn bộ một đại đội địch trên tàu.
Trong đợt Trung đoàn bao vây diệt năm cứ điểm tại thị xã Hòa Bình, như thường lệ tôi lại được cử làm phái viên xuống Đại đội 62 chủ công của Trung đoàn. Đại đội 62 được phân công đánh cứ điểm Dốc Son. Trước giờ xuất phát chiếm lĩnh trận địa khoảng nửa giờ, Chi bộ Đảng đã họp bàn xác định nhiệm vụ lãnh đạo của Chi bộ và đảng viên. Đợt này, Trung đoàn giành thắng lợi giòn giã. Riêng Đại đội 62 cũng hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ và chỉ bị thương năm đồng chí. Đang bận rộn phục vụ chiến dịch, tôi nhận được lá thư của chị Kim (Đinh Thị Chấn). Có lẽ đây là lá thư duy nhất tôi nhận được dưới bom đạn của địch, khi ta đang giao tranh với địch trong một chiến dịch. Trong thư, chị báo tin vui cho tôi biết chị và anh Vũ Anh Tuấn đã làm lễ kết hôn tại cơ quan Liên khu ủy 3. Lễ thành hôn được tổ chức đơn giản nhưng ấm cúng, nhiều đồng chí lãnh đạo của Liên khu ủy dự. Chị cho biết thêm sau khi vợ tôi có bầu con thứ hai, một số bà con không biết chúng tôi đã gặp nhau, gặp mẹ tôi phàn nàn: "Trông thế mà hư". Mẹ tôi thản nhiên đáp: "Thôi, cá vào ao nhà ai người ấy được". Sau này, khi nhà tôi sinh con trai thứ hai, bố tôi đặt tên cho cháu nội thứ hai của mình là Đinh Gia Đức. Trong khi đang làm nhiệm vụ chiến đấu mà nhận được những lá thư thế này đúng là nhận được một sự động viên lớn, một niềm vui lớn. Nhưng sự quyết liệt của chiến đấu vẫn tiếp diễn. Sau thất bại nặng nề của địch vừa rồi, địch điên cuồng dùng phi pháo bắn vào đội hình chiến đấu của các đơn vị ta. Ban Chính trị của Trung đoàn 36, một bộ phận lớn chủ chốt, đang làm việc ở dưới lòng một con suối cạn thì mấy chiếc máy bay của dịch gầm rú trên không... Tôi ở sườn đồi lững thững đến chỗ đồng chí Chủ nhiệm Chính trị và một số các đồng chí khác đang ngồi gần đó thì một máy bay của địch nhào xuống, một quả bom tạ rơi xuống cạnh chỗ chúng tôi chưa đầy năm mét, nó nằm nghiêng trên một phiến đá, nhưng... ơn trời, nó không nổ. Tất cả trợn tròn mắt, rồi nhìn nhau... cười. Vừa bị bao vây và thiệt hại nặng ở Hòa Bình, lại vừa bị Đại đoàn 320 và Đại đoàn 316 đánh mạnh ở địch hậu, ngày 23 tháng 2, lo sợ bị tiêu diệt, địch vội vã bí mật rút chạy khỏi Hòa Bình. Khi rút chạy, địch dùng nghi binh nên ta chỉ kịp đánh vào đội hình phía sau địch, tiêu diệt được thêm hai đại đội nữa. Trong lúc địch rút chạy, tôi thấy Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ đang ở Sở Chỉ huy của Trung đoàn, dùng điện thoại chỉ huy các mũi truy kích. Mặc dù trước đó toàn Đại đoàn đã thắng lớn, nhưng đồng chí không hề thỏa mãn và tỏ vẻ không hài lòng với kết quả truy kích địch của đơn vị. Trong Chiến dịch Hòa Bình, Trung đoàn 36 đã diệt được gần 600 tên địch, bắt hơn 70 tên, có 12 hàng binh, phá bốn khẩu pháo 105mm, bắn chìm bốn tàu chiến, sáu ca nô, hai sà lan, thu hàng trăm súng. Các đơn vị phòng không phối thuộc Trung đoàn bắn rơi tám máy bay. Ngày 27 tháng 2 năm 1952, trong lễ mừng chiến thắng tại thị xã Hòa Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tuyên dương công trạng của Trung đoàn. Chính phủ và Quốc hội tặng Huân chương Quân công hạng Ba. Bác Hồ gửi tặng Trung đoàn lá cờ thêu bốn chữ vàng "Quyết đánh, quyết thắng" và gửi thư động viên "giữ vững truyền thống lập nhiều chiến công to hơn nữa". Đây là lần đầu tiên tôi được tham gia một chiến dịch lớn và được chứng kiến thắng lợi to lớn của bộ đội chủ lực ta. So với những gì khi chiến đấu ở Nam phần Trung Bộ cuối năm 1945 và năm 1946 thì thấy trình độ của bộ đội ta tiến bộ rất lớn. Tôi tự thấy mình cũng trưởng thành thêm nhiều và lòng tin càng sâu sắc hơn ở thắng lợi của Cuộc chiến tranh giải phóng. Suýt nữa một cơ hội lớn để rèn luyện bị tuột mất nếu tôi không quyết tâm tự tìm đường về đơn vị. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Tám, 2023, 09:31:15 am Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi, tôi theo Trung đoàn hành quân trở về Phú Thọ. Như đã trở thành quy luật, những chiến dịch lớn thường diễn ra trong mùa khô, hoặc là Thu - Đông, hoặc là Đông - Xuân, và sau chiến đấu, bộ đội cần được cùng cố tổ chức, giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự. Trung đoàn vừa ổn định vị trí trú quân thì tôi và một đồng chí cán bộ quân lực được cử đi nhận hai đại đội tân binh bổ sung cho Trung đoàn. Hai đại đội này do Liên khu 4 giao cho, gồm những anh em ở Thanh - Nghệ - Tĩnh. Địa điểm nhận quân là một vùng đồi cọ thuộc huyện Phù Ninh (Phú Thọ), cách Trung đoàn một ngày đường hành quân. Tối hôm đó, trên một bãi cỏ rộng dưới chân đồi, các đồng chí cán bộ dẫn quân của Liên khu 4 giới thiệu chúng tôi với anh em tân binh và nói qua về tình hình và kết quả hành quân từ Liên khu 4 ra. Tôi nói vắn tắt với anh em về truyền thống của Trung đoàn và thắng lợi vừa qua trong Chiến dịch Hòa Binh để anh em tân binh thấy vinh dự, tự hào được bổ sung cho một đơn vị có nhiều chiến công nổi tiếng. Nhưng điều tôi thấy rất quan tâm và nói kỹ với anh em là vấn đề bí mật, kỷ luật và những yêu cầu phòng không, kể cả trường hợp địch bắn phá hoặc ném bom vào đội hình ở nơi trú quân và khi hành quân. Quả nhiên, gần trưa hôm sau, trong khi chúng tôi và các đồng chí cán bộ dẫn quân của Liên khu 4 đang bàn giao cụ thể danh sách thì mấy chiếc máy bay phóng pháo của địch nhào tới ném bom và bắn phá ở mấy ngọn đồi cọ, nơi trú quân của hai đại đội tân binh. Chắc chắn là địch đã theo dõi hai đại đội này và có chỉ điểm báo cho chúng. Chúng tôi rất lo sẽ có tổn thất và ảnh hưởng tới tinh thần của anh em; nhưng thật không ngờ, anh em rất bình tĩnh và thực hiện đúng yêu cầu, hoàn toàn không có sự hoảng loạn, vẫn giữ được bí mật vì sau đó không thấy máy bay địch quay lại. Chúng tôi kiểm tra lại quân số, không có ai thương vong, không có ai đào ngũ vì sợ hãi. Ngay tối hôm đó, chúng tôi tổ chức hành quân rất chặt chẽ, bảo đảm tuyệt đối an toàn, hoàn thành nhiệm vụ dẫn anh em về bổ sung cho Trung đoàn để kịp học tập chính trị và huấn luyện quân sự.
Đợt chỉnh huấn chính trị và quân sự lần này là đợt tập trung dài ngày nhất của bộ đội ta từ trước tới nay. Về chính trị, bộ đội được học những vấn đề cơ bản "Mấy vấn đề cách mạng Việt Nam", "Quân đội nhân dân Việt Nam", "Kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi", về quân sự, bộ đội được học "Năm kỹ thuật lớn", "Hai chiến thuật chủ đạo" là chiến thuật công kiên đánh cứ điểm cỡ một tiểu đoàn địch và chiến thuật vận động đánh quân ứng chiến lớn. Đồng thời, trong thời gian này, Trung đoàn tích cực chuẩn bị tinh thần và vật chất, sẵn sàng đợi lệnh chiến đấu trong mùa Thu - Đông tới. Cũng như lần trước, tôi được phân công xuống Đại đội 62, chủ công của Trung đoàn, theo dõi và giúp đỡ việc học tập chính trị của Đại đội. Có lúc đồng chí Chính trị viên Đại đội bận việc khác, tôi sẵn sàng giúp thay đồng chí giảng bài và hướng dẫn cho chiến sĩ học tập. Việc này thường được anh em hoan nghênh vì được nghe nhiều phương pháp, phong cách giảng dạy khác nhau, đỡ nhàm chán. Với vốn học quân sự đánh công kiên ở Trung Quốc, đôi khi đàm đạo với Đại đội trưởng, có những vấn đề tâm đắc nên quan hệ giữa tôi và đồng chí Đại đội trưởng rất tốt. Do đó, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy ở Tiểu đoàn cũng có thiện cảm. Đầu tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai của Tây Bắc. Chiến dịch Tây Bắc là một chiến dịch lớn, so với Chiến dịch Hòa Bình, ta hoàn toàn chủ động tiến công. Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy sử dụng nhiều đại đoàn chủ lực như các đại đoàn 308, 312, 316 vượt sông Thao bằng thuyền của nhân dân hai tỉnh Phú Thọ và Yên Bái. Đặc điểm địa hình Tây Bắc rất phức tạp, bộ đội phải theo những con đường xuyên rừng, qua những khe sâu, dốc đứng, núi đá tai mèo và việc vận chuyển lương thực, đạn dược, vũ khí nặng rất khó khăn, cấp trên quy định cho cán bộ, chiến sĩ, ngoài ba lô, súng đạn, mỗi người phải mang theo một bao gạo 12 kilôgam. Cả Trung đoàn hành quân đến vị trí tập kết chiến đấu phải luồn lách qua gần những đồn địch, vừa đi đêm, vừa phải theo dõi động thái của địch, nên có lúc phải dừng lại lâu, có chỗ lầy lội không thể ngồi nghỉ. Muỗi, dĩn bâu vào cổ, vào mặt, đốt ngứa ngáy, rất khó chịu, lại không được gây tiếng động hoặc ho hắng. Đặc biệt là khi phải vượt qua đồn Ca Vịnh, đường lầy lội sau những cơn mưa của mấy ngày qua, trời tối như mực, người sau không trông rõ người đi trước. Một hình ảnh in đậm vào tâm trí tôi cho đến khi tôi đã là Chính ủy Trung đoàn và cả ở vị trí cao hơn. Đó là đồng chí Lê Linh, Chính ủy Trung đoàn trên vai cũng vác một bao gạo 12 kilôgam cùng với ba lô của mình, đứng trước mặt tôi, giữa vũng lầy trong đêm hành quân qua đồn Ca Vịnh đó. Tôi nghĩ, người Chính ủy Trung đoàn mẫu mực như thế thì làm sao cấp dưới và những chiến sĩ của mình làm khác được. Anh luôn là tấm gương sáng để tôi theo. Sau này, có nhiều năm anh là Chính ủy Sư đoàn 308 và tôi làm công tác ở Ban Tuyên huấn Sư đoàn, tôi thấy anh cũng vẫn tác phong ấy, sự gương mẫu ấy và tôi luôn giữ sự kính trọng và niềm tin yêu đối với anh... Sau bốn ngày hành quân vất vả gian khổ như thế, Trung đoàn chúng tôi đã đến vị trí tập kết bí mật, an toàn. Lúc này, các đơn vị bạn như Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) đã tiêu diệt vị trí Ca Vịnh, Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) tiêu diệt vị trí Sài Lương, Trung đoàn 102 và Trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 tiêu diệt hai vị trí Nghĩa Lộ đồi và Nghĩa Lộ phổ. Trung đoàn 36 được lệnh tiêu diệt đồn Cửa Nhì đã bị cô lập do một đại đội lính lê dương tăng cường thêm bọn lính ngụy người Thái chiếm giữ. Lúc đầu, ta chủ trương địch vận gọi địch hàng nhưng bọn chúng ngoan cố vẫn chiếm giữ. Địch gọi máy bay ném bom napan bắn phá, và trước nguy cơ bị ta tiêu diệt, chúng được lệnh lợi dụng đêm tối bí mật rút chạy. Máy bay địch đã gây cho ta một số thương vong. Theo dõi và phán đoán đúng ý đồ rút chạy của địch, Trung đoàn trưởng quyết định tiến công tiêu diệt. Tôi vẫn đi với Đại đội 62, đã ở gần sát đồn địch, bên cạnh Sở Chỉ huy Trung đoàn. Trước lúc triển khai chiếm lĩnh trận địa ở hướng đột phá chủ yếu, Chi bộ Đại đội 62 đã họp nhanh khoảng 15 phút để quán triệt quyết tâm và xác định nhiệm vụ lãnh đạo. Khi Đại đội bí mật ra vị trí chiến đấu, tôi được phép ở lại Sở Chỉ huy Trung đoàn. Theo lệnh của Trung đoàn trưởng Hồng Sơn, sau một loạt pháo bắn mãnh liệt, các mũi đột phá dùng bộc phá mở hàng rào kẽm gai khá dày của địch, xung phong lên đồn. Đúng vào lúc địch đang tập trung định bí mật rút chạy nên bị ta tiêu diệt gần 100 tên và bị bắt gọn 80 tên, trong đó có hai tên chỉ huy trường và chỉ huy phó người Pháp. Ta thu toàn bộ vũ khí và lương thực của địch dự trữ cho một đại đội của chúng dùng trong ba tháng. Tên chỉ huy là một tên quan hai còn trẻ tên là Lơđu vừa tốt nghiệp ở Trường Võ bị Xanh Xia được điều sang Việt Nam và phải nhảy dù xuống Cửa Nhì trước khi ta tiến công. Khi đồng chí Lê Kim, cán bộ tuyên huấn nói giỏi tiêng Pháp, hỏi cung hắn để khai thác tình hình địch, hắn nói nịnh: - Ông học ở đâu mà giòi tiếng Pháp như người Pari? Đồng chí Lê Kim cười nói mỉa: - À, đấy là nhờ bọn thực dân các anh đấy! Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Tám, 2023, 09:32:03 am Sau 13 ngày chiến đấu, các đơn vị của ta trên toàn Chiến dịch đã giải phóng được một khu vực khá rộng lớn giữa sông Thao và sông Đà. Riêng Trung đoàn, sau chiến thắng Cửa Nhì, còn tiếp tục truy quét một tổ chức thám báo do hai tên sĩ quan Pháp chỉ huy, cùng những nhóm thổ phỉ địa phương tiếp tục những hoạt động phá hoại, chia rẽ các dân tộc, tuyên truyền chống lại cách mạng. Nhưng với sự giúp đỡ của nhân dân, bọn chúng nhanh chóng bị dẹp tan, tình hình vùng mới giải phóng được ổn định.
Trong chiến dịch này, Trung đoàn 36 đã chấp hành rất tốt chính sách dân tộc và kỷ luật chiến trường, được nhân dân tin yêu. Ca khúc "Qua miền Tây Bắc" của nhạc sĩ, chiến sĩ Nguyễn Thành, một chiến sĩ của Sư đoàn 308 đã được sáng tác trong thời điểm hào hùng đó. Sau chiến thắng đợt 1, tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch ra sức chuẩn bị cho quân ta vượt sông Đà, tiến đánh địch trên cao nguyên Mộc Châu. Riêng với Trung đoàn 36 được cấp trên giao cho một nhiệm vụ đặc biệt: Đó là hành quân gấp về Phú Thọ. Vừa tiêu diệt xong Cửa Nhì, Trung đoàn chúng tôi về trú quân tại một khu rừng ở Than Uyên thì ngay xế chiều hôm sau, tôi được Thủ trưởng Trung đoàn gọi lên giao nhiệm vụ đi đón đồng chí Song Hào, Chính ủy Đại đoàn ở cách đó gần một kilômét. Trên đường dẫn đồng chí về đơn vị, với sức trẻ, tôi đi hơi nhanh, đồng chí nói với giọng mệt mỏi: "Sao đi nhanh thế?", tôi thấy mình vô tâm quá. Đồng chí vốn không được khỏe, lại qua một đợt lãnh đạo, chỉ huy đơn vị đánh địch rất căng thẳng nên mệt mỏi là điều khó tránh khỏi. Đồng chí làm việc với Ban Chỉ huy Trung đoàn độ nửa giờ thì trở về Đại đoàn. Đồng chí vừa ra về, không khí cơ quan Trung đoàn nhộn nhịp, khẩn trương hẳn lên. Toàn đơn vị chuẩn bị hành quân gấp về Phú Thọ. Tình hình chiến sự rất khẩn trương. Trong khi ta chuẩn bị đợt 2 của chiến dịch vượt sông Đà thì tình hình địch có nhiều biến động. Một mặt, chúng đổ quân cơ động xuống tăng cường cho Tây Bắc; mặt khác, vào ngày 29 tháng 10 năm 1952 lại đưa ba binh đoàn cơ động vào loại thiện chiến bậc nhất của chúng tiến lên Phú Thọ nhằm đánh phá hậu phương ta, buộc chủ lực của ta phải quay về chống đỡ mà chúng gọi là cuộc hành quân Loren. Nắm thời cơ tiêu diệt địch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch vừa kiên quyết tiến hành đợt 2 Chiến dịch Tây Bắc, vừa chặn đánh bọn địch ở Phú Thọ. Trung đoàn 36 với truyền thống đánh vận động giỏi, lại vừa được huấn luyện chiến thuật vận động đánh quân ứng chiến lớn, được Bộ điều về cùng một số đơn vị bạn tham gia phá cuộc hành quân này của địch. Tôi lại được cử theo Tiểu đoàn 80, đi trong đội hình của Đại đội 62. Quãng đường từ nơi trú quân ở Than Uyên về vị trí tập kết ở Phú Thọ khoảng 210 kilômét, nhưng với tinh thần bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn thực hiện một cuộc hành quân thần tốc trong ba ngày đêm liền, mỗi ngày đêm đi 70 kilômét. Đi trong đội hình của Tiểu đoàn 80 và Đại đội 62, tôi tuyệt nhiên không hề nghe thấy một lời kêu ca, không nhìn thấy một thái độ mệt mỏi. Công tác chỉ huy hành quân và ngụy trang của bộ đội rất tốt, hành quân ban ngày mà địch không hay biết. Tôi cũng thấy công tác hậu cần phục vụ cho hành quân cực kỳ giỏi: Bộ đội vẫn được ăn ngày ba bữa, trong đó có một bữa cơm nóng, bếp không có khói, về đến Vũ Ẻn, nhìn thấy ánh lửa địch đốt cháy xóm làng, cán bộ, chiến sĩ sôi sục căm thù, nóng lòng diệt địch. Khoảng 4 giờ 30 phút đến 5 giờ sáng ngày 16 tháng 11 thì toàn Trung đoàn đến vị trí tập kết và triển khai bộ đội trên các ngọn đồi cọ, đào công sự phòng máy bay và sẵn sàng chiến đấu. Trong lúc đó, bộ phận đi chuẩn bị trận địa trên đường 2 do Trung đoàn trưởng Hồng Sơn dẫn đầu đã bắt đầu. Công việc chỉ huy bộ đội ở nhà là Chính ủy Lê Linh và Trung đoàn phó Quang Tuyến. Khoảng 5 giờ 30 phút sáng, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 62 đã hoàn thành việc đào công sự, tôi bỗng nghe thấy dưới chân ngọn đồi gần đấy súng nổ ran. Đã được lệnh từ trước của Chính ủy Lê Linh và Trung đoàn phó Quang Tuyến, nơi nào bị lộ địch đánh lên mới được đánh trả, còn toàn bộ lực lượng phải giữ bí mật đến cùng để vận động đánh địch lớn hơn. Ta phát hiện khoảng ba đại đội địch lùng sục vào nơi trú quân của ta để phát hiện lực lượng ta, bảo đảm cho cuộc rút lui của chúng; nhưng không thấy động tĩnh gì nên chúng lui quân. Sở dĩ như vậy vì sau hai tuần hành quân đánh vào hậu phương ta, nhưng bị Trung đoàn 176, Đại đoàn 316 và 11 đại đội địa phương, dân quân du kích Phú Thọ đánh thiệt hại và cho rằng mục đích hành quân đã đạt yêu cầu nên địch kết thúc cuộc hành quân, rút khỏi Phú Thọ. Sau khi nắm vững tình hình địch và chọn xong trận địa phục kích, toàn bộ Trung đoàn vận động bí mật ra trận địa và nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu phục kích. Vào khoảng 6 giờ sáng ngày 17 tháng 11, những toán địch trong đơn vị tiền vệ sục sạo vào hai bên đường nơi Trung đoàn bố trí phục kích. Để tránh bị phát hiện và đợi lực lượng chủ yếu của chúng lọt vào trận địa ta mới đánh, các tổ cảnh giới của ta phải lùi sâu yào trong. Tổ của chiến sĩ Lê Văn Hiến, một trong những chiến sĩ mà tôi nhận về trong hai đại đội của Liên khu 4 vừa bổ sung mấy tháng trước, bị địch phát hiện. Lê Văn Hiến bị chúng lôi ra giữa đường tra tấn rất dã man nhưng một mực chỉ nhận mình là du kích địa phương, không khai báo gì cả. Một số chiến sĩ, cán bộ ta chứng kiến cảnh đó thương đồng chí mình, căm thù tột độ nhưng buộc phải giữ bí mật, không dám có hành động gì. Địch nghi ngờ bắn lung tung vào hai bên đường, một số chiến sĩ ta bị thương, có người hy sinh, nhưng toàn đơn vị dằn lòng chịu đựng, tuyệt đối im lặng để giữ bí mật trận địa. Địch yên chí đó chỉ là một du kích, không quan trọng gì nên hai binh đoàn của địch bắt đầu rút quân. Đầu và cuối đội hình của chúng là xe tăng, thiết giáp, trên trời có máy bay khu trục bảo vệ, ở giữa là bộ binh, lọt vào trận địa của ta. Lập tức, Trung đoàn trưởng phát lệnh nổ súng. Kèn lệnh vang lên, cả trận địa dài hơn một kilômét rền vang tiếng nổ của các loại vũ khí của ta. Từ loạt đạn đầu, hàng chục xe địch bốc cháy, hàng trăm tên địch trúng đạn gục ngã, đội hình địch tan tác. Quân ta ở ven rừng hai bên đường xung phong, tràn xuống đường đánh giáp lá cà diệt địch. Máy bay địch lồng lộn nhưng chỉ dám bắn xa đường, pháo địch cũng chỉ dám bắn vào phía sau của ta. Sau 20 phút, toàn bộ xe cộ và bộ binh lọt vào trận địa của ta bị tiêu diệt và bị bắt. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Tám, 2023, 09:33:05 am Chiến sĩ Lê Văn Hiến được bộ đội ta cứu thoát trong tình trạng bị thương nặng. Với phương châm "đánh nhanh, rút nhanh", Trung đoàn cho lui quân. Bọn địch phía sau bị cắt, dừng lại gần tối mới dám đi tiếp, nhưng lại bị Tiểu đoàn 84 của Trung đoàn đuổi đánh suốt bốn kilômét. Trong trận phục kích Chân Mộng - Trạm Thản, Trung đoàn tiêu diệt trên 400 tên, bắt 84 tên, diệt 44 xe cơ giới (trong đó có một xe tăng, xe bọc thép bỏ tại trận địa). Trong số 84 tù binh ta bắt được có tên quan ba, trưởng ban quân báo của GM 1 (binh đoàn cơ động số 1). Đồng chí Lê Kim lại làm nhiệm vụ hỏi cung ngay sau khi nó bị bắt. Tôi cũng có mặt ở đó. Đồng chí hỏi:
- Trước khi đánh lên Phú Thọ, các anh biết được chúng tôi có bao nhiêu lực lượng ở đây? Nó trả lời ngay: - Có Trung đoàn 176 và 11 đại đội địa phương. - Thế còn đơn vị đánh các anh hôm nay? - Đồng chí hỏi tiếp. Nó trả lời: - Các anh ở Tây Bắc về. Đồng chí Lê Kim cười: - Thế thì chúng tôi từ Tây Bắc bay về à? Nó nhún vai: - Điều đó thì chúng tôi không hiểu nổi. Như vậy, địch nắm tình hình ta rất chắc, có điều chúng không thể hiểu được là tài năng lãnh đạo chỉ huy và tinh thần của bộ đội ta. Đây là một trong những chiến công lớn nhàt của quân và dân ta trong Thu - Đông 1952 và là một trong những trận đánh vận động phục kích tiêu biểu của Quân đội ta. Hôm Đại đội 62 vận động ra chiếm lĩnh ở trận địa phục kích, vì là phái viên, tôi đề nghị với đồng chí Đại đội trưởng để tôi cùng ra trận địa với bộ đội, nhưng anh kiên quyết không đồng ý vì đề phòng một tổn thất không cần thiết, và yêu cầu tôi ở lại hậu cứ của Đại đội, cách trận địa khoảng 300 mét. Trong lúc bộ đội ta xung phong ra mặt đường tiêu diệt địch, máy bay và pháo địch không dám bắn phá ở đó sợ bắn nhầm vào quân của chúng nên chủ yếu chúng bắn vào phía sau quân ta. Hôm đó, ở hậu cứ của Đại đội, tôi "chịu trận" nửa tiếng đồng hồ do pháo và máy bay địch bắn phá phía sau quân ta. Sau thắng lợi của trận phục kích ngày 17 tháng 11, Trung đoàn lui quân về hậu cứ gần đó. Để khen thường kịp thời đơn vị và cá nhân có thành tích, Ban Chính trị Trung đoàn phải chuẩn bị danh sách đề nghị khen thưởng. Tôi được giao lên báo cáo với Chính ủy và Trung đoàn trưởng, sắp sửa báo cáo thì đồng chí cơ yếu của Trung đoàn đem một bức điện của đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thông báo quyết định đề nghị trên tặng thưởng Trung đoàn trưởng Hồng Sơn và Chính ủy Lê Linh mỗi người một Huân chương Chiến công hạng Nhất vì đã chỉ huy Trung đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong chiến dịch. Không thỏa mãn với thắng lợi, ngày 23 tháng 11 năm 1952, Trung đoàn quyết định tiếp tục tiến công hai vị trí địch ở đồi Chò, núi Quyết do hai đại đội địch chiếm giữ hòng chặn quân ta truy kích tiếp. Tôi tiếp tục đi theo Tiểu đoàn 80 và Đại đội 62 làm nhiệm vụ đặc phái viên, trong khi cán bộ, chiến sĩ chưa thật hồi sức sau chặng đường hành quân từ Tây Bắc về và sau trận phục kích ngày 17 vừa qua. Khoảng nửa đêm 22 tháng 11, tôi dự cuộc họp quán triệt nhiệm vụ và phổ biến kế hoạch tác chiến của Tiểu đoàn 80 do Tiểu đoàn trưởng Mai Xuân Tần chủ trì, được tiến hành gần cứ điểm địch. Có đại đội trưởng quá mệt, ngủ gật gần như từ đầu đến cuối. Đến khi đồng chí kiểm tra, yêu cầu đồng chí ấy nhắc lại nhiệm vụ của đại đội thì không trả lời được. Tiểu đoàn trưởng "kêu trời" và lại phải nhắc kỹ lại để đồng chí đó nhớ. Tôi cũng ở trong trạng thái gần như đồng chí đại đội trưởng nọ. Khi kết thúc cuộc họp, tôi không thể cưỡng lại cơn buồn ngủ, ngủ quay lúc nào không biết. Đêm đó bộ đội đánh chác ra sao, tôi cũng không rõ. Khoảng 7 - 8 giờ sáng ngày 23 tháng 11 năm 1952, tiếng đạn pháo nổ ầm ầm xung quanh đánh thức tôi dậy. Tôi bừng tỉnh, ánh nắng buổi sớm của mặt trời làm tôi chói mắt. Tôi đứng dậy thì thấy bên cạnh mình cách vài mét, một chiến sĩ hy sinh, quần áo rách bươm còn ám khói đạn. Đang ngơ ngác không biết mình đang ở đâu thì có tiếng gọi: "Tiên, lên đây!". Nhìn lên thì thấy đồng chí Mai Xuân Tần, Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Vũ Sơn, Chính trị viên Tiểu đoàn đứng trong hầm chỉ huy ở sườn đồi dưới một lùm cây cách chỗ tôi độ trên 10 mét. Té ra là vì quá buồn ngủ, sau cuộc họp tôi đã ngủ gục, quên cả trời đất, bất chấp tiếng nổ ran của trận đánh gần mình. Cũng may chỉ là phái viên, không phải chỉ huy ai, nếu không thì đáng bị kỷ luật lắm và cũng may là đạn pháo đã "tránh mình". Đánh hai vị trí đồi Chò và núi Quyết, Trung đoàn đã tiêu diệt thêm 180 tên, bắt 76 tên. Như vậy, tổng số quân địch bị Trung đoàn tiêu diệt và bắt sống trong cuộc hành quân Loren của chúng lên hơn 600 tên. Trong Chiến dịch Tây Bắc và Chiến dịch Trung Du (Chiến dịch Trần Hưng Đạo), Quân đội ta đã thu được những thắng lợi rất to lớn. Địch bị tiêu diệt 13.800 tên, bị ta phá hủy và thu nhiều vũ khí, phương tiện quân sự. Nhiều tiểu đoàn và đại đội thuộc lực lượng cơ động thiện chiến của địch bị tiêu diệt gọn. Ngụy quân người địa phương Tây Bắc, chỗ dựa để quân Pháp chiếm đóng tan rã. Một vùng đất rộng lớn ở Tây Bắc được giải phóng. Nhân dân các dân tộc được sống tự do dưới chế độ mới. Trong chiến dịch này, toàn Đại đoàn 308, trong đó có Trung đoàn 36 đã lập được những thành tích xuất sắc, đặc biệt là trong trận vận động phục kích Chân Mộng - Trạm Thản nổi tiếng. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Tám, 2023, 09:34:58 am Sau Chiến thắng Tây Bắc, Tết âm lịch 1952, trong Hội nghị tổng kết chiến dịch của Đại đoàn, Bác Hồ đã về thăm Đại đoàn lần thứ hai. Tôi cũng có vinh dự là một thành viên trong đoàn đại biểu của Trung đoàn 36 có mặt ở Hội nghị tổng kết của Đại đoàn. Tối hôm đó, tại một khu rừng ở Năng Yên (Phú Thọ), tất cả cán bộ dự Hội nghị tổng kết cùng đại diện cán bộ, chiến sĩ của các cơ quan, đơn vị trực thuộc Đại đoàn bộ được triệu tập trên một bãi cỏ nhỏ kín đáo gần hội trường, xung quanh một đống lửa trại nhỏ. Mọi người vừa yên vị xung quanh đống lửa thì Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ tháp tùng Bác Hồ đi vào. Mọi người không được báo trước, đứng bật dậy hô vang: "Hô Chủ tịch muôn năm!", "Muôn năm, muôn năm, muôn năm!". Bác tươi cười vẫy tay ra hiệu mọi người ngồi xuống. Mọi người nét mặt phấn khởi, rạng rỡ và cảm động ngắm Bác, thấy Bác mạnh khỏe, nhanh nhẹn. Một ghế gỗ xuềnh xoàng đặt ngay cạnh tôi, Đại đoàn trưởng mời Bác ngồi. Tôi mừng quá vì được ngồi ngay dưới chân, cách Bác chưa đầy nửa mét. Bác mở hộp thuốc lá ra hút, chưa kịp bật lửa, nhìn thấy xung quanh một số cán bộ đang ngây người ngắm nhìn Bác, Bác rút từng điếu một chia cho các đồng chí ngồi gần đó. Đến điếu cuối cùng, Bác cười vui vẻ nói: "Hết rồi". Đại đoàn trưởng nhắc mọi người im lặng để Bác nói chuyện. Bác nói rất ngắn gọn, khen ngợi cán bộ, chiến sĩ trong Đại đoàn vừa lập chiến công xuất sắc trong chiến dịch, khen các đồng chí chỉ huy Đại đoàn, trước khi ra đây đã báo cáo với Bác tình hình đơn vị, đã nắm vững quân số, vũ khí.
Nói xong, Bác nhìn thấy một chị phụ nữ mặc thường phục, áo nâu, quần đen, Bác hỏi: - Cháu làm công tác gì? Chị cảm động và hồi hộp quá chưa kịp nói thì Đại đoàn trưởng đỡ lời: - Thưa Bác, đó là chị Tân làm hộ lý ở Tiểu đoàn Quân y, là Chiến sĩ thi đua của Tiểu đoàn đấy ạ. Bác hỏi chị Tân: - Cháu có biết hát không? Đã lấy lại được bình tĩnh, chị Tân đáp: - Thưa Bác có ạ - Nói xong, chị chỉ hát một câu "Cò lả". Vì xúc động, giọng chị yếu quá. Nghe xong. Bác nói: - Cháu phải tập hát cho tốt hơn, là chiến sĩ quân y nên biết hát cho thương, bệnh binh nghe. Rồi Bác nói là Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô vừa gửi tặng Bác một số Huy hiệu Sao Đỏ, Bác tặng lại cho Đại đoàn chín chiếc để làm phần thưởng cho những cán bộ, chiến sĩ xuất sắc nhất. Mọi người vỗ tay hoan hô và đề nghị Bác cho xem. Bác nói: - Ai cầm huy hiệu đi quanh một vòng cho tất cả mọi người xem? Một cánh tay nhanh nhảu giơ lên: - Thưa Bác, cháu! - Đó là đồng chí Trưởng ban Cán bộ, Phòng Chính trị Sư đoàn. Bác nói: - Ai bầu chú? Anh có vẻ cụt hứng, hạ tay xuống. Bác nói: - Tôi đề nghị đồng chí Tân, các chú đồng ý không? Mọi người đồng thanh đồng ý và vỗ tay rất to. Một tốp ba nữ diễn viên của Đội Văn công Đại đoàn đứng lên: - Thưa Bác, chúng cháu xin múa mừng Bác điệu múa "Khoe giày". Bác nhìn xuống chân ba cô văn công nói: - Đấy là dép đấy chứ, có phải giày đâu. Quả nhiên, các cô đều đi dép cao su cả. Các cô múa xong, Bác Hồ đứng dậy nói: - Bây giờ Bác đánh nhịp cho các chú hát bài "Kết đoàn", hát hai lần, phải hát to, đồng ý không? Mọi người đồng thanh: - Chúng cháu đồng ý. Bác lấy giọng và bắt đầu "hai ba" đánh nhịp. Hát đến nửa bài thì Bác vẫy tay ra hiệu tạm biệt, rồi bước nhanh ra ngoài. Các đồng chí tùy tùng và bảo vệ theo sau ra khỏi rừng. Mọi người miệng vẫn phải hát to mà mắt thì hướng theo bóng Bác đầy lưu luyến. Đây là lần thứ hai tôi được ở gần Bác Hồ, lần thứ nhất là hôm trực ban bếp ở Trường Quân chính Việt Nam hồi tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội. Lần này, tôi mới cảm nhận được phong thái vô cùng giản dị, gần gũi với quần chúng của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Việc Bác Hồ đến thăm đơn vị trong dịp đơn vị tiến hành Hội nghị tổng kết Chiến dịch Tây Bắc hiển nhiên là một phần thưởng vô cùng quý giá của Bác đối với Đại đoàn vì những thành tích về mọi mặt của đơn vị trong chiến dịch. Đối với tôi, đây là lần thứ hai tôi được tham gia một chiến dịch lớn trong đội hình chiến đấu của Đại đoàn 308, Trung đoàn 36, Tiểu đoàn 80 và Đại đội 62. Tôi tự thấy mình trưởng thành một bước lớn hơn so với Chiến dịch Hòa Bình lần trước. Bởi vì những bài học mà tôi thu hoạch được trong chiến dịch này phong phú hơn nhiều. Trước hết, tôi thấy sự lãnh đạo của cấp trên về chiến lược rất sáng suốt: Từ việc nắm tình hình và phán đoán chính xác về địch, về việc chuẩn bị những nội dung rất thiết thực về mặt chính trị, huấn luyện quân sự cho bộ đội, về việc điều binh khiển tướng rất linh hoạt, đặc biệt là việc điều Trung đoàn 36 từ Tây Bắc về Phú Thọ làm cho địch đã thất bại lại càng thất bại thảm hại hơn. Thứ hai về việc quán triệt sâu sắc và chấp hành rất nghiêm mệnh lệnh cấp trên của Trung đoàn; sự sáng tạo và quyết đoán của Trung đoàn trưởng Hồng Sơn trong việc chọn trận địa phục kích chọn điểm đánh vào đội hình của chúng trong điều kiện lực lượng của ta ít hơn của địch. Với Chính ủy Trung đoàn Lê Linh, tôi học được sự quán triệt sâu sắc ý định của trên (dù Trung đoàn trưởng vắng mặt, phải đi chuẩn bị trận địa, chuẩn bị ngay kế hoạch tác chiến tại thực địa) đã "không tham bát bỏ mâm", quyết tâm "thả con săn sắt, bắt con cá rô", không đánh ba đại đội địch dưới chân đồi sáng sớm hôm 16 để cùng Trung đoàn trưởng đánh trận phục kích Chân Mộng - Trạm Thản hôm 17 giành thắng lợi lớn hơn nhiều, làm địch thất bại đau hơn nhiều. Thứ ba là tôi thấy rõ thêm tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng thương yêu nhân dân sâu sắc của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn, ba ngày dêm hành quân liên tục, mệt nhọc, gian khổ vượt qua 200 kilômét đường dài, không một tiếng kêu ca, một lời oán thán, chỉ nghĩ đến việc diệt giặc, cứu dân. Tôi rất tin ở tình cảm thiêng liêng cao cả ấy của đồng đội mình và vì đó cuộc kháng chiến nhất định sẽ giành thắng lợi. Thứ tư là sự hy sinh quên mình kể cả sẵn sàng nhận cái chết vì thắng lợi chung của đơn vị, của những anh em phục kích gần đường đã phải cắn răng chịu đựng sự đau đớn do vết thương, đã hy sinh trước giờ nổ súng của toàn trận địa. Tiêu biêu cho tinh thần đó là người chiến sĩ mới của Trung đoàn - Lê Văn Hiến, dù bị địch tra tấn rất dã man, chỉ nhận mình là một du kích để giữ bí mật cho toàn trận địa trước giờ nổ súng. Cảm phục tâm gương bất khuất của Lê Văn Hiến, bác sĩ Tôn Thất Tùng đã thực hiện những ca phẫu thuật rất công phu để phục hôi một phần lớn sức khỏe cho Hiến. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Tám, 2023, 09:37:20 am Trong buổi lễ mừng công của Trung đoàn sau Chiến dịch Tây Bắc, tôi bất ngờ nghe tên mình được tuyên dương vì đã đi sát đơn vị, phát hiện được những vấn đề có ích cho lãnh đạo và là Chiến sĩ thi đua của Cơ quan Chính trị Trung đoàn. Buổi bầu Chiến sĩ thi đua ở cơ quan, tôi vắng mặt vì xuống đơn vị công tác. Một việc nhỏ tôi đã quên nhưng anh em vẫn nhắc tới là một hôm hành quân trời mưa đường trơn, đồng chí Nho là một đồng chí cấp dưỡng lớn tuổi của Ban Chính trị bị ngã. Nồi niêu và những đồ vật đồng chí ấy gánh bị rơi vãi tung tóe, đơn vị thì đang hành quân gấp; tôi đã lùi lại cùng đồng chí thu nhặt gọn lại, giúp đồng chí tiếp tục lên đường. Đồng chí Nho là một nông dân nghèo, lớn tuổi, rất cần cù, chịu khó, luôn bảo đảm cho cơ quan cơm dẻo, canh ngọt; anh em rất quý mến đồng chí ấy. Nhưng chỉ một hành động giúp đỡ nhỏ của tôi đã làm đồng chí cảm động và là một trong những người đề cử tôi là Chiến sĩ thi đua của cơ quan. Nếu tôi ở nhà, tôi đã đề cử đồng chí ấy.
Dư vị ngọt ngào của Chiến thắng Tây Bắc chưa tan hết và vừa tổng kết, mừng công xong thì nhiệm vụ mới đã đến với Trung đoàn. Phát huy thắng lợi của Chiến dịch Tây Bắc, Đảng và Chính phủ ta cùng với Chính phủ kháng chiến Lào quyết định mở Chiến dịch Thượng Lào mùa Xuân năm 1953, tiến công Sầm Nưa nhằm tiêu diệt một phần sinh lực địch, giải phóng đất đai, xây dựng và mở rộng căn cứ du kích, đưa cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp của nhân dân Đông Dương tiến lên một bước mới. Cùng với một số đại đoàn chủ lực của Bộ, Đại đoàn 308 lại được lệnh lên đường tham gia Chiến dịch Thượng Lào. Lần này, tôi không có vinh dự được đi cùng Trung đoàn tham gia chiến dịch mà phải ở lại hậu cứ ờ Phú Thọ cùng vài đồng chí cán bộ nữa của Đại đoàn làm một số nhiệm vụ khác. Chỉ huy hậu cứ toàn Đại đoàn lúc này là đồng chí Nguyễn Viên, một đồng chí lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo những công việc khá phức tạp của hậu cứ, trong đó có những việc có quan hệ tới việc xây dựng lâu dài đơn vị. Việc đầu tiên tôi được phân công là phải đi Quảng Nạp - Thái Nguyên để dự một lớp tập huấn về công tác chi bộ đại đội. Trên đường đi, tôi gặp một số các đồng chí ở các đại đoàn bạn cũng được cử đến dự lớp tập huấn đó. Đến gần Quảng Nạp, phải đi qua một chiếc cầu gỗ rất ọp ẹp bắc qua một con suối. Từ mặt cầu đến lòng suối khoảng 5 - 6 mét, tôi đang bước trên một cây gỗ bắc dọc theo cầu thì trượt chân quăng cả người xuống lòng suối. Nhưng nhờ "phúc ấm của tổ tiên", dưới lòng suối có mấy hàng cọc bắt chéo nhau, quai ba lô của tôi mắc vào hai chiếc cọc bắt chéo nhau. Tôi bị treo lơ lửng nhờ hai cái cọc đó và chiếc quai ba lô, không rơi xuống những phiến đá lởm chởm ở lòng suối. Các đồng chí khác vội chạy xuống để đỡ tôi ra khỏi hai cái cọc; tôi qua được một tai nạn có thể gây chết người hoặc thương tật nặng. Lớp tập huấn chỉ tiến hành trong khoảng 10 ngày về các nội dung của công tác chi bộ do Cục trưởng Cục Tổ chức - Tổng cục Chính trị Đồng Sĩ Nguyên chủ trì cùng một cố vấn Trung Quốc. Lớp học cũng giúp chúng tôi một số nội dung bổ ích để bồi dưỡng cho các chi ủy viên và bí thư chi bộ đại đội qua những kinh nghiệm được Cục Tổ chức và Tổng cục Chính trị tổng kết. Ngày 29 Tết Nguyên đán thì lớp học bế mạc: Chúng tôi qua đèo Khế vào buổi chiều 30 Tết và dừng lại vào một nhà dân để trú nhờ. Chủ nhà là một cặp vợ chồng trẻ chưa có con. Chị có vẻ là người thành thị, còn anh trông có vẻ quê mùa đón tiếp rất niềm nở, bảy anh em chúng tôi ở các đơn vị khác nhau. Nhà ở vắng vẻ, kín đáo sau một lùm cây, rất xa các nhà khác. Anh chị chủ nhà nói là trước cũng ở bộ đội, làm ở Cục Quân báo vừa mới phục viên vì sức khỏe yếu, rất vui vì Tết có khách đến nhà đông vui hẳn lên. Hôm đó, có bao nhiêu bánh kẹo đón giao thừa anh chị đem ra thết chúng tôi hết. Sáng sớm đã thấy anh chị cắm lá cờ Tổ quốc trước cửa nhà, mời chúng tôi ra làm lễ chào cờ. Chúng tôi mời anh chủ nhà đã ăn mặc chỉnh tề làm chủ lễ. Sau một phát súng ngắn của một đồng chí mang theo, tất cả đều hát to bài "Quốc ca". Tiếng hát vang vọng giữa rừng vắng nghe thật thiêng liêng đầy cảm xúc. Sáng hôm đó, ông bà chủ thết chúng tôi bằng tất cả thức ăn đã chuẩn bị cho ngày Tết của gia đình. Chúng tôi ai có cái gì có thể làm quà kỷ niệm đều tặng anh chị với những lời chúc tốt đẹp nhất. Một cái Tết thật giản dị và hết sức ấm cúng cho chúng tôi, những người xa nhà và cho cả anh chị. Chúng tôi từ biệt anh chị với tình cảm quân dân thật là trong sáng. Một ngày đầu Xuân ấm áp đáng nhớ dưới chân đèo Khế. Tôi về đến hậu cứ của Đại đoàn ở Phú Thọ thì lớp học về công tác chi bộ đã được chiêu sinh. Một ban phụ trách gồm ba người được chỉ định trong đó có tôi, kiêm luôn giảng viên của lớp học. Phần lớn học viên đều là chi ủy viên, chính trị viên phó đại đội. Nội dung chương trình gồm những vấn đề cơ bản của công tác chi bộ được thực hiện trong khoảng ba tuần lễ. Trong khi toàn Đại đoàn đang chiến đấu gian khổ ở Thượng Lào, anh em được bố trí ở lại hậu cứ để học tập nên ai nấy đều tự giác để đạt được kết quả tốt nhất. Lớp học kết thúc, tôi được đồng chí Nguyễn Viên cử về dự một lớp tập huấn về cải cách ruộng đất do tỉnh Phú Thọ mở, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh đầu tiên của tỉnh thực hiện những yêu cầu của cải cách ruộng đất địa phương. Vì địa điểm ở gần thị xã Phú Thọ, quá xa, thời gian khai giảng đã đến gần, đồng chí Viên đã phải cho tôi mượn xe đạp riêng của đồng chí đi cho kịp. Lớp học quá đông, nội dung thì mới, giảng dạy cũng không được sâu lắm, nhưng tôi cũng phải cố nắm vững những vấn đề cơ bản để về làm việc. Trở về Phú Thọ thì hậu cứ của Đại đoàn được lệnh trở về Thái Nguyên. Lúc này Chiến dịch Thượng Lào đã kết thúc thắng lợi. Đại đoàn cùng toàn mặt trận đã tiêu diệt và bắt gần 2.800 tên địch, giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoang và Phong Xa Lỳ (chiếm 1/5 diện tích nước Lào) và gần 30 vạn dân. Vùng giải phóng Lào được mở rộng nối liền với vùng giải phóng của ta. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Tám, 2023, 09:38:24 am Khi về tới Thái Nguyên, tôi và một đồng chí chính trị viên phó đại đội được cử phụ trách một đại đội thí điểm cho việc chỉnh quân chính trị gắn liền với cuộc vận động cải cách ruộng đất, có tham dự một cuộc đấu tranh tố khổ của nông dân với một địa chủ ở nơi trú quân để rút kinh nghiệm cho toàn đơn vị. Số anh em trong đại đội thuộc nhiều đơn vị của Trung đoàn được thu dung ở hậu cứ nên trình độ không đều. Nhưng nhờ sự hướng dẫn cụ thể của cấp trên nên việc học tập cũng đạt kết quả tương đối tốt.
Nội dung chính của việc giáo dục chính trị lần này là làm cho anh em nhận rõ được sự bóc lột của giai cấp địa chủ đối với nông dân lao động, có liên hệ thực tế với gia đình, địa phương mình, nâng cao giác ngộ giai cấp, đồng thời học những nội dung để tự xác định thành phần giai cấp cho mỗi người. Qua học tập, anh em xác định được lập trường quan điểm giai cấp, hiểu được nông dân lao động vì sao mà khổ, địa chủ phong kiến câu kết với thực dân đế quốc là kẻ thù của nông-dân, xác định Quân đội phải đứng về phía nông dân trong cuộc đấu tranh giai cấp này... Nhưng vì là vấn đề mới, phức tạp nên không thể tránh khỏi một số hiện tượng ấu trĩ trong nhận thức của một số anh em. Có thể nói, cuộc cải cách ruộng đất có ý nghĩa tích cực về chính trị và kinh tế đối với nông dân, tăng thêm sức mạnh của nhân dân ta trong công cuộc kháng chiến chống bọn xâm lược Pháp. Để được như thế, tất nhiên bộ máy giúp Trung ương Đảng thực hiện được chính sách đó phải có bản lĩnh thật vững vàng, có trình độ và không có những bọn cơ hội. Nhưng nhìn chung, qua thực tế, kết quả của Trung đoàn, cuộc chỉnh quân về cải cách ruộng đất tuy có những thiếu sót nhưng kết quả về chính trị là to lớn. Cuộc chỉnh quân chính trị đã giúp cho cán bộ, chiến sĩ xác định đúng đắn lập trường quan điểm giai cấp; cán bộ, chiến sĩ xuất thân từ nông dân lao động nghèo khổ xóa bỏ được những mặc cảm, tự ti, vươn lên mạnh mẽ với tinh thần làm chủ để xây đựng đơn vị; tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội càng thêm gắn bó; tinh thần yêu nước, yêu nhân dân lao động, căm thù đế quốc, phong kiến càng sâu sắc. Sau chỉnh quân chính trị, đơn vị bước vào huấn luyện quân sự theo chỉ thị của trên với những hình thức chiến thuật và chiến dịch theo phương hướng đánh tập đoàn cứ điểm và đánh vận động chiến lớn. Theo chế độ, tranh thủ thời gian bộ đội bước vào huấn luyện quân sự, cán bộ chính trị được luân phiên nghỉ phép năm. Khoảng cuối mùa Hè năm 1953, từ Thái Nguyên, tôi được nghỉ phép về thăm nhà. Giặc vẫn chiếm đóng Kim Bảng và Quế nên tôi vẫn phải về Cốc. Đường đi khá xa nhưng đã quen, dễ đi hơn trước, lại là lính bộ binh nên với tôi chỉ là một cuộc rèn luyện sức khỏe. Tình hình Cốc Nội và Cốc Ngoại về cơ bản sau một năm không có gì thay đổi lớn. Chỉ có khác là đồng chí Lê Minh Lợi đã khỏi vết thương và tiếp tục công tác. Vì vậy, tôi phải nghỉ nhờ ở nhà bà con ngay sát cạnh đường 21. Không khó gì để báo cho nhà tôi biết là tôi được nghỉ phép đã về Cốc. Ngay ngày hôm sau, Phúc đã vượt qua vành đai trắng ra với chồng, lại mang theo cả hai con trai. Tôi vẫn thấy việc đi như thế của vợ, mang theo cả hai đứa trẻ là rất nguy hiểm. Nhưng hình như với người ở trong vùng tề và những người buôn bán, đi lại giữa vùng địch chiếm đóng và vùng tự do của ta đã quen thuộc nên người ta không sợ gì nữa. Tôi rất mừng vì thấy vợ con đều khỏe mạnh và vẫn được bà con, họ hàng và gia đình đùm bọc, bảo vệ, sống an toàn dưới nanh vuốt của giặc. Phong, thằng lớn ở tuổi lên bốn đã nói sõi, tự đi được; còn thằng nhò - Đức còn phải bế và khá nặng, lúc đẻ được 3,8 kilôgam, nay đã được khoảng 10 tháng rồi. Lần nghỉ này vui hơn vì được gặp cả hai con, lại gặp anh Đinh Mạnh Bổng, anh con bác ruột và anh Hoàng Trọng Biểu, anh con cô ruột tôi cùng ở đây. Tuy đã vợ con cả rồi nhưng ba anh em vẫn vui đùa với nhau như trước kia. Anh Biểu là thợ xẻ, nặng tai nên hay bị anh Bổng trêu đùa. Máy bay dịch đến bắn phá, anh Biểu không nghe tiếng, thấy người khác chạy ra hầm cũng chạy theo. Một lần, mấy anh em đang ăn com, anh Bổng nháy tôi, tôi biết là anh định đùa anh Biểu. Anh Bổng bỏ bát co cẳng chạy, tôi cũng chạy theo, thấy thế, anh Biểu cũng lập tức bỏ bát đũa chạy theo chúng tôi. Mọi người phá ra cười, anh Biểu làu bàu: "Mấy thằng láo". Có lẽ, đấy cũng là một đặc điểm tính cách của người Việt Nam, trong gian khổ, chết chóc của chiến tranh, vẫn sống lạc quan như thế, nhưng nghĩ lại cũng dại dột. Đã sắp hểt hạn nghỉ phép, cũng như những lần trước, Phúc và các con phải trở về với gia đình, với ông bà nội, ngoại trước khi tôi đi vài hôm. Theo đường 21 hướng về phía vành đai trắng, tôi dắt cu Phong, còn Phúc bế cu Đức (nó cứ đòi mẹ bể), vừa đi vừa phải đề phòng máy bay địch đến bắn phá hoặc pháo của địch bắn vào vùng tự do của ta. Mấy chị buôn bán lớn tuổi hơn chúng tôi, từ vùng địch vào, nói với nhau: "Mấy anh em nhà kia, bố mẹ đâu mà dắt díu nhau đi đâu thế, thật tội nghiệp!". Tôi và Phúc đều nghe thấy, nhìn nhau mỉm cười, thấy mình còn quá trẻ so với tuổi 24, 25 của mình. Phúc vốn là người vô tư, không biết đã nghĩ gì khi nghe câu nói ấy. Riêng tôi, tôi thấy thấm thìa là nếu không có gia đình, bố mẹ, bà con làng xóm cưu mang, giúp đỡ thì chắc tôi không thể yên tâm chiến đấu, còn Phúc cũng khó có thể nuôi nổi hai đứa con thơ trong hoàn cảnh chiến tranh, mà lại ở trong vùng địch. Hai ngày sau, tôi nhận được một chiếc xe đạp nhãn hiệu "Super Globe" còn tốt, có đủ phanh, đèn của gia đình và Phúc mua cho tôi. Chiếc xe được gửi qua một người bà con tin cẩn đem từ vùng tề vào Cốc. Tôi thực sự cảm động vì việc đó tôi không yêu cầu mà chỉ nói chuyện là đường lên Việt Bắc bây giờ có thể đi bằng xe đạp được rồi. Với chiếc xe đạp đó có thể rút ngắn được thời gian đi đường nhiều ngày. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Tám, 2023, 09:40:38 am Tôi ung dung đạp xe qua Chi Nê, đi tắt qua Gò Chè (Lạc Sơn) để ra đường 6 đi Hòa Bình, là con đường tắt tương đối an toàn; duy chỉ có Dốc Cun, cách thị xã Hòa Bình khoảng 12-13 kilômét là một trọng điểm oanh tạc của máy bay địch để ngăn chặn đường vận chuyển bằng cơ giới của ta từ Liên khu 3, Liên khu 4 lên Việt Bắc và ngược lại. Ban ngày, không quân địch ném bom và bắn phá dữ dội, vì vậy muốn vượt qua Dốc Cun phải đi vào ban đêm. Đến gần đỉnh Dốc Cun, tôi vào một cái quán nghỉ, hỏi thăm về tình hình đường sá và hoạt động của không quân địch, đợi trời tối sẽ vượt qua. Được biết là hôm trước địch ném bom rất dữ dội, kể cả bom nổ chậm và bom bi suốt từ đỉnh dốc đến cuối dốc về phía Hòa Bình. Không thể biết được công binh ta khi nào thì khắc phục được nên tôi quyết định phải vượt qua ngay tối hôm đó. Đến đỉnh dốc thì trời đã tối mịt. Kiểm tra lại hai chiếc phanh trước, phanh sau và chiếc đèn pha của xe, kể cả đế giày để phanh bàng chân nếu phanh hỏng, tôi bắt đầu thả con dốc dài 12 kilômét xuống Phương Lâm, bên hữu ngạn sông Đà, đối diện với thị xã Hòa Bình. Suốt 12 kilômét dốc ban đêm, không một bóng người, thỉnh thoảng có một biển đề "Có bom nổ chậm", chắc của bộ đội Công binh ta làm, báo cho xe cơ giới của ta và khách bộ hành. Chiếc xe đạp lao vun vút xuống dốc, tôi tập trung toàn bộ sức lực và tinh thần vào tay lái và tay phanh để kịp xử trí tình huống khi cần. Sau khoảng gần nửa giờ cực kỳ căng thẳng vượt qua 12 kilômét, tôi đến được Phương Lâm an toàn. Vượt qua sông Đà bằng đò ngang sang thị xã Hòa Bình, tôi đạp thẳng về Tu Vũ, một cứ điểm cũ của giặc Pháp trong Chiến dịch Hòa Bình mà Trung đoàn 88 đã tiêu diệt một tiểu đoàn Âu - Phi ở đó đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951. Đến Tu Vũ đã gần nửa đêm, ở đó đã có lơ thơ vài cái quán, tôi vào một nhà còn le lói ánh đèn dầu để nghỉ và hỏi về hoạt động của địch. Chị chủ quán cho biết là địch vẫn cho máy bay bắn phá, còn địch ở phía Việt Trì thỉnh thoảng vẫn cho ca nô đi tuần gần đó. Thấy không được an toàn lắm, tôi tiếp tục đi đến gần sáng thì vào nghỉ ở một quán cơm, sâu trong vùng tự do của ta.
Đến đơn vị sớm hơn thời gian cho phép, tôi vẫn tham gia được đợt cuối của đợt huấn luyện quân sự. Sau cuộc chỉnh quân chính trị và huấn luyện quân sự Hè - Thu 1953, sức chiến đấu của Trung đoàn đã tăng lên rất nhiều và sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Nhưng thật không may, thời gian này tôi bị bệnh sốt rét, nhất là sốt rét cách nhật quật đổ, sốt ly bì, sức khỏe giảm sút rất nhanh. Tôi lo lắng nếu đơn vị được nhận nhiệm vụ chiến đấu thì không đủ sức theo đơn vị. Trong Chiến dịch Thượng Lào, vì nhiệm vụ được phân công phải ở lại hậu cứ, không được tham gia rồi, nay phải ở lại thì buồn lắm. Nhưng được chăm sóc thuốc thang chu đáo nên ít lâu sau đã chấm dứt được sốt rét, tôi chỉ còn gầy yếu thôi. Các đồng chí cấp trên của đơn vị đã gợi ý cho ở lại hậu cứ, nhưng tôi quyết xin đi theo đơn vị. Tôi nhờ một người bán hộ chiếc xe đạp để lấy tiền bồi dưỡng sức khỏe. Các đồng chí lãnh đạo cơ quan thấy tôi khẩn khoản xin đi cùng đơn vị đành phải chấp thuận. Riêng tôi luôn quyết tâm phấn đấu tự bồi dưỡng giữ gìn sức khỏe để cơ quan không phải bận tâm về mình. Đồng chí Nguyễn Quân Sĩ1 (Anh Nguyễn Quân Sĩ sau này là Phó Giáo sư, giảng viên của Học viện Chính trị quân sự), một thanh niên Hà Nội, lúc đó là Trưởng Tiểu ban Tuyên huấn, là một trong những bạn thân của tôi băn khoăn: "Trông Đinh Mộng Tiên yếu quá, không biết có đi nổi không?". Trong thời gian này, thực đân Pháp âm mưu tiến hành kế hoạch Nava, kế hoạch mang tên của viên tướng vừa được chính phủ bảo thủ, phản động Pháp cử sang làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Theo kế hoạch này, địch hòng tập trung toàn bộ lực lượng quyết chiến với chủ lực ta trên chiến trường miền Bắc giành thắng lợi quyết định. Tướng Cônhi, Chỉ huy chiến trường Bắc Bộ cho sáu tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ; tăng cường sáu tiểu đoàn cho Lào đánh chiếm Mường Ngòi, Mường Khoa, xây dựng phòng tuyến sông Nậm Hu hòng nối liền Thượng Lào với Điện Biên Phủ; tập trung vào việc xây dựng một tập đoàn cứ điểm, coi đó là một điểm quyết chiến với chủ lực của ta với tham vọng đánh bại chủ lực của ta ở đây. Ngày 6 tháng 12 năm 1953, theo đề nghị của Tổng Quân ủy, Bộ Chính trị đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: "Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được". Các đại đoàn chủ lực 308, 312, 316, 304 và các đơn vị binh chủng pháo binh, công binh, cao xạ, thông tin được lệnh tiến vào mặt trận. Đâu tháng 12 năm 1953, Trung đoàn 36 cùng Đại đoàn bắt đầu hành quân đi Chiến dịch. Phải qua mấy ngày hành quân, cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị mới đoán được hướng hành quân là Tây Bắc. Đêm đi, ngày nghỉ và học tập, mọi người mới được biết sơ bộ chiến dịch này được mang mật danh là "Trần Đình". Trong lúc Đại đoàn đang hành quân thì các đơn vị của ta ở Lai Châu đã mở đầu cho cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954. Địch hoảng sợ tháo chạy về Điện Biên Phủ hòng bảo toàn lực lượng và tăng cường cho tập đoàn cứ điểm này. Quân ta được lệnh truy kích, tiêu diệt không cho bọn địch ở Lai Châu co cụm về Điện Biên Phủ và ngăn chặn đề phòng địch ở Điện Biên Phủ rút chạy. Đại đoàn 308 được lệnh cấp tốc hành quân lên bao vây Điện Biên Phủ. Tới Sơn La, theo lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, Trung đoàn 36 phải tạt ngay sang Pom Lót, gấp rút bố trí chặn không cho địch ở Điện Biên Phủ bỏ chạy sang Lào. Đó là một nhiệm vụ rất nặng nề, trong bảy ngày đêm, Trung đoàn phải vượt qua 300 kilômét đường rừng núi hoang vu, vừa đi có chỗ vừa phải mở đường mới. Song với tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, với quyết tâm không cho địch bỏ chạy, với truyền thống vận động thần tốc, Trung đoàn đã đến được vị trí bao vây tại khu vực Hồng Lếch trước một ngày, cố gắng theo đơn vị trong những ngày hành quân vất vả, đến nơi tôi lại bị sốt mấy ngày liền. Vừa tới nơi, Cơ quan Chính trị Trung đoàn rất phấn khởi được biết tin đồng chí Dương Quảng Châu trong tổ quân báo đi trước của Trung đoàn mặc dù bị ốm đã cùng một chiến sĩ thông tin ở nhà trông lán trại dũng cảm, mưu trí bắt sống được một trung đội gồm 38 tên địch và thu toàn bộ vũ khí. Bọn tàn quân địch từ Lai Châu chạy về Điện Biên Phủ đi vào khu lán trại của tổ quân báo ta, Dương Quảng Châu đã bình tĩnh táo bạo dùng nghi binh, hạ mệnh lệnh ra bốn phía làm như quân ta rất đông đang bố trí phục kích, hô khẩu hiệu vận động địch đầu hàng. Bọn địch hoảng sợ hạ vũ khí. Châu lệnh cho chiến sĩ cùng ở trông lán với mình ra thu vũ khí của địch, còn anh giải thích chính sách khoan hồng của ta đối với tù hàng binh cho chúng nghe. Với chiến công này, Dương Quảng Châu đã được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và sau này được tuyên dương là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Chín, 2023, 08:41:59 am Trung đoàn tôi là đơn vị đến trước, lương thực đã hết chưa tiếp tế kịp nên ban ngày đơn vị phải đánh bọn địch sục sạo ra xung quanh Điện Biên, ban đêm phải ra cánh đồng gần rừng thu gom thóc của dân bỏ lại đem về tự đào đất làm các cối xay chìm để tự túc lương ăn. Nhìn các cối xay thóc đào dưới đất, tôi rất khâm phục sự sáng tạo và khéo tay của chiến sĩ ta, vừa xay lúa rất tốt, vừa tránh được đạn pháo địch. Thóc của dân ở Điện Biên Phủ chủ yếu là thóc nếp nên chỉ những bệnh binh như tôi mới được ưu tiên ăn cơm gạo tẻ.
Vừa dứt những cơn sốt rét, tôi nhận được lệnh lên Phòng Chính trị Đại đoàn để nhận nhiệm vụ mới. Theo chỉ dẫn, một mình tôi đi theo đường mòn trong rừng đến khu vực đóng quân của Phòng Chính trị. Trên đường đi, tôi thấy vẫn còn nguyên dấu vết của những toán quân địch mới sục sạo vào các khu chúng nghi là có quân ta như: vết giày đinh, vỏ thuốc lá, vỏ đồ hộp của chúng còn vương vãi ở đó. Đến nơi, tôi được một đồng chí ở Phòng Chính trị trao cho quyết định của Bộ Tư lệnh Đại đoàn bổ nhiệm làm Chính trị viên phó Tiểu đoàn 80 của Trung đoàn 36, không có một lời động viên của cấp trên như thường lệ vì chắc các đồng chí đang rất bận. Tôi lập tức quay về, đi thẳng tới Tiểu đoàn 80, rất vui mừng được công tác và chiến đấu tại một tiểu đoàn mà từ năm 1951 tới nay tôi thường được Trung đoàn cử làm phái viên ở Đại đội 62 - chủ công của Trung đoàn. Lúc này, đồng chí Mai Xuân Tần, Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Vũ Sơn, Chính trị viên Tiểu đoàn đã được điều đi nhận nhiệm vụ ở đơn vị khác. Tiểu đoàn trưởng mới là đồng chí Nguyễn Ích Tỷ, vốn là Tiểu đoàn phó cũ của Tiểu đoàn, một chiến sĩ kỳ cựu của Trung đoàn Bắc Bắc; còn Chính trị viên Tiểu đoàn là đồng chí Thư Chương ở Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ đô) chuyển sang, vốn là một chính trị viên đại đội nổi tiếng trong trận Phố Lu, đã từng thay Đại đội trưởng bị hy sinh, chỉ huy đại đội ở hướng chủ yếu rất gay go, ác liệt và đã cùng các đơn vị bạn giành thắng lợi cho trận đánh. Tên quan hai Gautiơ (Gautier), Đồn trưởng bị diệt trong trận này đã ghi trong nhật ký của hắn: "Kẻ thù của chúng ta có tâm hồn của người chiến thắng" (Notre ennemi a l’aame du Vainqueur). Tôi rất vui khi được cùng các anh chiến đấu và công tác trong tiểu đoàn chủ công giàu thành tích và truyền thống của Trung đoàn. Các anh lớn tuổi hơn tôi và đều là những người dày dạn kinh nghiệm trong chiến đấu. Trung tuần tháng 1 năm 1954, bốn đại đoàn chủ lực quân ta đã tập kết quanh Điện Biên Phủ. Ban đầu, theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", thời gian nổ súng là ngày 20 tháng 1 năm 1954. Đến ngày 18 tháng 1, thời gian dự kiến kéo pháo vào trận địa trong ba đêm không thực hiện được. Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định lùi ngày nổ súng tiến công đến 16 giờ ngày 25 tháng 1. Đến ngày 24 tháng 1, thời gian nổ súng tiến công lại được lùi đến ngày 26 tháng 1 năm 1954. Trong thời gian ta đang gấp rút thực hiện công tác chuẩn bị, địch đã tăng cường lực lượng và thay đổi cách bố trí trận địa, hình thành tập đoàn cứ điểm mạnh, ở phía tây, địch đóng thêm hai cứ điểm. Đồi Độc Lập ở phía bắc trước chỉ là một vị trí tiền tiêu đã được tăng cường thành cứ điểm. Ở phía nam Hồng Cúm, nguyên là một cứ điểm đã được tổ chức thành một cụm cứ điểm, có sân bay và pháo binh, có thể yểm hộ lẫn nhau. Trước tình hình đó, Đảng ủy Chiến dịch tổ chức Hội nghị phân tích rõ ba khó khăn lớn: Một là, trình độ đánh công kiên của bộ đội ta chưa cao. Hai là, bộ đội ta chưa có kinh nghiệm chiến đấu hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, lại chưa qua diễn tập. Ba là, bộ đội ta chưa quen chiến đấu ban ngày, nay phải chiến đấu liên tục ba đêm hai ngày với kẻ địch có ưu thế về hỏa lực, máy bay, pháo binh và xe tăng trên địa hình trống trải của cánh đồng Mường Thanh thì rất khó tránh khỏi thương vong, khó hoàn thành nhiệm vụ. Qua phân tích kỹ, thảo luận thẳng thăn tình hình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Chiến dịch quyết định: Chuyển phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiên chắc". Như Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp sau này đã nhiều lần nói "Đây là quyết định khó khăn nhất" trong sự nghiệp chỉ huy tác chiến của Đại tướng. Đến 16 giờ 30 phút ngày 26 tháng 1, Trung đoàn nhận được lệnh hoãn tiến công trở lại vị trí cũ ở Hồng Lếch. Ngay sau đó, toàn Đại đoàn đã nhận được lệnh trực tiếp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Đại đoàn phải lập tức hành quân sang Thượng Lào mờ chiến dịch phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu của địch nhằm vừa cô lập địch ở Điện Biên Phủ, vừa đánh lạc hướng sự chú ý của chúng đối với sự thay đổi phương châm "đánh chắc, tiến chắc" của ta. Cuộc tiến quân này được coi là đòn chiến lược thứ năm của ta trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954. Lúc này, gạo ăn của mỗi người trong Đại đoàn chỉ còn đủ dùng từ một đến hai bữa, đường sá, địa hình, lịch trình chưa hề biết, bản đồ tác chiến chỉ có loại tỷ lệ 1/400.000... Song với tinh thần chấp hành mệnh lệnh rất nghièm và tinh thần khắc phục khó khăn rất cao, chỉ sau hai giờ chuẩn bị, Trung đoàn đã cùng Đại đoàn hành quân ngày đêm tiến sang Thượng Lào. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Chín, 2023, 08:47:58 am Trước cuộc tiến quân của Đại đoàn, địch ở Mường Khoa - Mường Ngòi hoảng sợ rút chạy về Mường Sài, Luông Phabăng. Tiểu đoàn 89 bạn truy kích gặp địch ngày 31 tháng 1 đánh tan mấy đơn vị địch. Đó là bộ phận đi trước do Phó Chính ủy Trung đoàn Hồng Cư và Trung đoàn phó Ngọc Dương phụ trách. Tiểu đoàn 80 lúc đó chia làm hai bộ phận. Bộ phận đi trước gồm một đại đội do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Ích Tỷ và Chính trị viên Tiểu đoàn Thư Chương dẫn đi trước bám sát sau Tiểu đoàn 89 cùng Sở Chỉ huy Trung đoàn. Bộ phận còn lại hai đại đội và các đơn vị trực thuộc đo Tiểu đoàn phó San và tôi chỉ huy đi sau. Đơn vị hành quân đã hai hôm, không có cơm, chỉ có gạo rang làm lương khô. Đi qua Nậm Ngà, gặp Chính ủy Trung đoàn Chu Thanh Hương ở đó khi địch đã tháo chạy. Đồng chí động viên bộ phận chúng tôi vận động nhanh để kịp đánh địch. Lúc sau lại gặp Đại đoàn phó Cao Văn Khánh phóng ngựa kịp, cổ vũ bộ đội. Chúng tôi và đại bộ phận của Tiểu đoàn vận động gần như chạy vì lo mất thời cơ diệt địch. Anh nuôi của các đại đội quang gánh nồi niêu trên vai cũng chạy không kém anh em. Đại đoàn phó thấy khí thế bừng bừng của bộ đội nên rất vui, dù hai ngày nay, ngoài mấy nắm gạo rang lương khô, chưa ai được ăn một bát cơm nào vào bụng. Đến bờ sông, đã có ba chiếc thuyền gỗ lớn, tôi và Tiểu đoàn phó San nhanh chóng tổ chức cho bộ đội vượt sông. Mặc dù nước sông chày siết nhưng đến chiều, toàn bộ đội hình do chúng tôi chỉ huy đã vượt sông an toàn. Chúng tôi bắt đầu theo đường mòn vào cửa rừng, đã thấy xác bọn Tây và ngụy Lào chết rải rác ờ trên đường do Tiểu đoàn 89 đi trước đuổi diệt chúng. Khi toàn bộ đội hình lọt vào đường mòn thì trời bắt đầu tối mịt. Là rừng nguyên sinh nên không thể có một ánh sáng nào lọt vào được, bộ đội nhích từng bước, người sau thậm chí không nhìn thấy người đi trước. Lo lỡ thời cơ đánh địch, tôi cố vượt lên gặp Tiểu đoàn phó đang dẫn đầu bộ đội để hội ý với anh tìm cách vượt qua khu rừng nhanh chóng hơn. Tôi đề nghị với anh cho mỗi trung đội được dùng hai bó đuốc nứa khô để đi vì đây là con đường mà Tiểu đoàn 89 đã đuổi đánh địch nên không thể còn địch ở đây, nếu không nhích từng bước một như thế này, cả đêm cũng chỉ đi được vài trăm mét. Anh đồng ý, thế là toàn bộ đội hình dưới ánh sáng của những bó đuốc, chúng tôi đã vượt qua được khu rừng. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đã gặp được đại đội đi trước cùng với Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên Tiểu đoàn cùng cả Sở Chỉ huy Trung đoàn cũng vừa đến trước và nghỉ ở đó. Trung đoàn trưởng Hồng Sơn gặp tôi hỏi:
- Các cậu làm thể nào mà đi nhanh thế? Tôi trả lời: - Thưa anh, chúng tôi phải cho bộ đội thắp đuốc lên mới đi được. Vốn là người nghiêm khắc với cấp dưới khi có thiếu sót nhưng lần này tôi thấy Trung đoàn trưởng cười vui vẻ: - Mấy cha này liều! Anh không phê bình gì chúng tôi và tôi hiểu đó là một lời khen. Toàn bộ Tiểu đoàn 80 nghỉ lại chuẩn bị để vượt lên truy kích diệt thay cho Tiểu đoàn 89 dừng lại củng cố sau những trận đánh vừa qua. Lúc đó, ta đã liên lạc được với bạn Lào và anh em quân tình nguyện Việt Nam. Bạn đã lo việc tiếp tế gạo cho ta nên Ban Chỉ huy Tiểu đoàn phân công cho tôi dẫn một bộ phận của các đại đội cử lên đi lấy gạo. Lấy xong gạo, tôi cho các bộ phận của đại đội nào đem ngay gạo về đại đội ấy rồi về chỗ Ban Chỉ huy. Tiểu đoàn trưởng hỏi tôi: - Ông Tiên chia gạo thế nào cho các đại đội? Tôi nói bộ phận của đại đội nào tôi cho luôn về đại đội đó rồi. Anh Tỷ cười nói: - Bọn nó láu cá lắm, như thế không được đâu, phải chia cho các đại đội theo quân số. Rồi anh cho liên lạc gọi các bộ phận đi lấy gạo ở các đại đội đem toàn bộ sổ gạo vừa lấy lên tiểu đoàn để phân chia lại cho các đại đội. Tôi nhận được bài học đầu tiên trong công tác quản lý bộ đội của Tiểu đoàn trưởng. Ngày hôm ấy, bộ đội được ăn cơm nóng sau gần ba ngày nhịn đói. Riêng tôi, đây là lần thứ hai tôi phải nhịn đói ba ngày, lần trước là ở rừng Nha Trang đầu năm 1946, khi là Chính trị viên trung đội của Tiểu đoàn Ninh Thuận. Tiểu đoàn khẩn trương tiếp tục hành quân truy kích địch, được ăn no nên đi rất tốt. Đi trước một chút vẫn là Đại đội 63 do Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên Tiểu đoàn chỉ huy, đồng thời bảo vệ Sở Chỉ huy nhẹ của Trung đoàn, trong đó có Trung đoàn trưởng Hồng Sơn. Đại bộ phận Tiểu đoàn vẫn do Tiểu đoàn phó San dẫn đầu, đi trong đội hình của Đại đội 63 do đồng chí Ninh chỉ huy, còn tôi đi ở sau đội hình. Đến bờ sông thì tôi gặp Tiểu đoàn trưởng, Chính trị viên Tiểu đoàn và Trung đoàn trưởng đang ngồi hội ý ở đó. Ở bờ sông bên kia, cách bờ bên này khoảng trên dưới 200 mét có một bộ phận nhỏ của Tiểu đoàn bám theo các đơn vị địch đang rút chạy. Thỉnh thoảng chúng tôi nghe thấy tiếng mìn nổ bên đó. Khi đi qua chỗ Trung đoàn trưởng Hồng Sơn và hai anh Tỷ, Chương, tôi được Trung đoàn trưởng gọi lại, còn bộ đội vẫn tiếp tục đi. Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho tôi: "Cậu lên chuyển mệnh lệnh của Trung đoàn cho Ninh, Đại đội trưởng 63, đến Bản Na, triển khai ngay Đại đội bao vây Bản Na, không cho địch rút chạy để Tiểu đoàn tổ chức tiêu diệt. Còn bên kia sông, chắc bộ đội ta vấp mìn, anh Thư Chương ở đây để nắm tình hình bộ phận bên đó và giải quyết thương vong". Lúc đó khoảng gần 17 giờ, trời đã sâm sẩm tối. Bên kia sông, địch đi đến đâu đốt nhà dân đến đấy, nhiều nhà vẫn còn đang bốc cháy hoặc còn âm ỉ khói lửa. Tôi lập tức chạy theo đội hình của Tiểu đoàn đang đi trên bờ cát, sát mép nước và vượt lên gặp đồng chí San, Tiểu đoàn phó, vừa đi vừa báo cho đồng chí San biết mệnh lệnh của Trung đoàn trưởng. Đi gần bên đồng chí San là đồng chí Đại đội trưởng và một trung đội trưởng quân báo của Trung đoàn. Đồng chí Ninh, Đại đội trưởng Đại đội 63 đi cách đó khoảng 5-6 mét do một đồng chí đại đội phó của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào dẫn đường. Nói với đồng chí San xong, tôi vượt lên định phổ biến cho Ninh thì một tiếng nổ vang tóe lửa ngay trước mặt. Có tiếng hô của Tiểu đoàn phó: "Nằm xuống! Địch bắn phóng lựu". Tôi chưa kịp nằm còn cố quan sát xem chuyện gì đã xảy ra thì một ánh chớp lóe lên ngay bên phải và thấy rát ở mông phải. Biết là mình đã bị thương, tôi cởi bao gạo đựng lương khô và cái túi dết bên phải ra thấy quần ở phía mông rách nát và máu chảy nhiều, định nằm xuống thì một ánh chớp nữa lóe lên ở bên trái. Chân trái tôi tê dại, không đứng nổi nữa. Tôi ngã ngồi phệt xuống cát, cũng còn kịp dùng hai tay lấy ba lô ra khỏi vai, đặt xuống và nằm gối đầu lên trên, người vẫn còn tỉnh. Có tiếng gọi: - Anh Tiên ơi, anh có làm sao không? Tôi nhận ra tiếng của Chính trị viên Đại đội 63 và tiếng bước chân bì bõm anh lội thận trọng dưới mép nước. Tôi cố nói to cho anh nghe rõ: - Liễu đấy à! Mình bị thương rồi. Huy động băng lên băng bó cho thương binh, có lẽ bị thương nhiều đấy - Nói xong tôi thiêm thiếp xỉu đi không biết gì nữa. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Chín, 2023, 09:00:24 am Một lúc sau, có lẽ được tiêm thuốc hồi sức, tôi tỉnh lại. Tiếng đồng chí quân y sĩ Tiểu đoàn:
- Anh chịu đau một chút nhé! Vết thương ở mông dính đầy cát và nát tướp ra, phải cắt những chỗ nát đi rửa sạch để khỏi bị nhiễm trùng anh nhé! Vừa lúc ấy, một giọng rất quen, giọng của Lê Kim, phụ trách Tiểu ban Tuyên huấn Trung đoàn, rất bùi ngùi: - Ông Tiên ơi, ông có cái tên xúi quẩy quá, "Mộng Tiên" thành "tiện mông" rồi! Tôi thấy đau, nghĩ mình bị thương nặng lắm và không biết có thể sống được không nên cũng không cười nổi. Lê Kim là thế, trong tình huống nào cũng có thể hài hước được. Chính vì chuyện này, về sau, tôi bỗng trở nên "nổi tiếng", không phải vì một "hành động kiệt xuất" nào mà là vì cái tên khai sinh gắn với trường hợp bị thương lần ấy (từ đó cái tên "Tiện Mông" trở thành tên gọi thân mật của tôi đối với các bạn bè thân thiết, kể cả cấp trên). Tôi được quân y sĩ cho biết phải dùng tới 14 cuộn băng cá nhân mới băng kín được các vết thương rải rác ở khắp người tôi. Ít lâu sau, tôi được biết cùng bị thương với tôi hôm 7 tháng 2 năm 1954 ấy là do vấp ba quả mìn của địch gài lại trên đường chúng rút chạy, có ba đồng chí hy sinh là Đại đội trưởng Ninh, chiến sĩ liên lạc của Ninh nằm đè phải quả mìn ở bên phải tôi, đồng chí Trung đội trưởng quân báo của Trung đoàn nằm đè lên một quả mìn ở bên trái tôi, một bị thương nặng là tôi, một trúng thương là đồng chí Đại đội phó quân tình nguyện dẫn đường, bảy cán bộ chiến sĩ bị thương nhẹ, trong đó có Tiểu đoàn phó San và đồng chí Đại đội trưởng Đại đội quân báo của Trung đoàn. Sở dĩ tôi không chết là vì hai đồng chí hy sinh ở bên phải và bên trái tôi đè lên hai quả mìn rồi. Ngày 10 tháng 2 năm 1954, ba ngày sau khi tôi bị thương thì nhiệm vụ đánh sang Thượng Lào hoàn thành. Trung đoàn cùng với Đại đoàn đã lập công xuất sắc trong nhiệm vụ phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu của giặc Pháp. Con đường chiến lược hòng nối liền phòng tuyến sông Nậm Hu với tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của địch bị đập tan. Trong năm ngày truy kích trên 200 kilômét, Trung đoàn cùng với các đơn vị bạn trong Đại đoàn đã tiêu diệt được 17 đại đội địch, trong đó có một tiểu đoàn lính lê dương, giúp cho công cuộc chuẩn bị "đánh chắc, tiến chắc" ở Điện Biên Phủ của quân ta tiến triển thuận lợi. Đại đoàn lại được lệnh trở về tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng thời với việc khẩn trương giải quyết những công việc hậu chiến vừa qua ở Thượng Lào. Tôi được trung đội vận tải của Trung đoàn cáng về cơ sở quân y của Trung đoàn đặt tại Nậm Bắc cùng với những anh em thương binh khác. Tôi phải nằm sấp ở trên cáng vì các vết thương nặng đều ở phía sau, và nặng nhất là vết thương làm gãy một mảnh vè xương sống ở sau lưng, sau đó là vết thương ở mông, vết thương làm rách dây chằng ở cổ chân trái, làm vênh cả bàn chân và rất nhiều mảnh vụn của mìn ở khắp cơ thể. Tại một chặng nghỉ trên đường về Nậm Bắc, đồng chí Đặng Quốc Bảo, Chính ủy Trung đoàn 88 được Đại đoàn giao nhiệm vụ giải quyết toàn bộ công tác hậu chiến sau Chiến dịch Thượng Lào đi kiểm tra thấy tôi phải nằm sấp trên cáng rất khổ, liền vào trong dân mua cho tôi một chiếc đệm cá nhân của một gia đình Lào. Từ lúc đó, tôi mới có thể ngủ được ở trên cáng. Trên đường về trạm quân y của Trung đoàn ở Nậm Bắc, anh Hồng Cư đến thăm. Sau khi hỏi qua về trường hợp bị thương, với một giọng nói ấm áp quen thuộc, anh động viên tôi: - Đã qua nguy kịch rồi, Tiên yên tâm điều trị cho mau khỏi. Về đến Nậm Bắc, sau theo dõi kiểm tra, các bác sĩ quyết định tiến hành phẫu thuật cho tôi. Người trực tiếp mổ là bác sĩ, Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn Vi Huyền Trác. Anh là con trai của kịch tác gia Vi Huyền Đắc, tác giả của vở kịch nổi tiếng "Kim Tiền" thời thuộc Pháp. Anh chỉ hơn tôi khoảng vài ba tuổi, là một cán bộ ngoài Đảng, rất tốt bụng và có trách nhiệm, thương yêu và thông cảm với thương, bệnh binh và là một bác sĩ ngoại khoa giỏi. Người chỉ đạo ca mổ là bác sĩ Nguyễn Văn Xuân, Chủ nhiệm Quân y của Đại đoàn. Lúc đặt tôi nằm sấp trên bàn mổ, anh Trác nói với tôi: - Anh yếu lắm nên không gây mê được, chỉ gây tê thôi, chịu đau một chút nhé! Bàn mổ được làm bằng tre nứa vẫn còn tươi. Tôi nằm, lấy hai tay ôm lấy bàn, chuẩn bị tinh thần chịu đau khi tiến hành ca mổ. Chỉ khoảng dăm phút, anh Trác đã phát hiện được mảnh mìn làm gãy một mảnh vè xương sống, nhẹ nhàng rạch bắp lưng bên trái lấy ra một mảnh mìn bằng gần một đốt ngón tay đưa tôi xem: - Có giữ làm kỷ niệm không? Mảnh mìn đi qua cột sống làm gãy một mảnh vè xương sống, chì sâu độ năm milimét nữa thì vào tủy sống sẽ làm liệt nửa người phía dưới. Anh rất thận trọng lấy panh gắp nhẹ nhàng ra nhưng không được; loay hoay đến nửa tiếng vẫn chưa xong. Mỗi lần anh lấy panh gắp mạnh ra là người tôi co rút lại, tôi không kêu, chỉ nghiến răng ôm chặt lấy bàn mổ chịu đựng. Bác sĩ Xuân thấy thế bảo anh Trác: - Thôi, khó thế thì để lại, khi nào có điều kiện sẽ mổ lấy sau. Anh Trác nói: - Kháng chiến còn lâu dài, biết lúc nào mới thuận lợi, để sau mổ phức tạp lắm, nên giải quyết bây giờ là tốt nhất, anh Tiên có đồng ý không? Tất nhiên là tôi đồng ý với anh Trác. Anh tiếp tục làm, khoảng 10 phút sau thì lấy mảnh vỡ ra được. Cả hai bác sĩ và thương binh thở phào như vừa trút được một gánh nặng. Sau này, mỗi lần gặp mặt trong các cuộc sinh hoạt truyền thống của đơn vị, anh Trác lúc này đã là Giáo sư, tôi nhắc chuyện ca mổ cho tôi với tình cảm biết ơn, anh cười khiêm tốn nói: "Anh cũng may mà còn sống đấy". Sau ca mổ đó, các vết thương tạm ổn định, chế độ ăn của thương binh tốt hơn, đặc biệt là có rau cải của địa phương cung cấp nên tôi ăn được nhiều hơn. Khốn nỗi do những vết thương ở mông nên gần 10 ngày không đi được đại tiện, rất khó chịu nên tôi hay cáu gắt. Tôi đề nghị với anh Vi Huyền Trác cho tôi được thụt nước rửa ruột. Chắc vì lý do cần theo dõi do quá nhiều vết thương, sợ cách xử lý như vậy gây nguy hiểm đến tính mạng, anh chỉ trả lời: - Chưa thể làm được. Tôi gay gắt nói dỗi với anh: - Có thể tôi không chết vì vết thương nhưng có khi lại bị chết vì không đại tiện được đấy ông ạ. Anh im lặng, nét mặt vẫn bình thản một cách kiên nhẫn, không hề phản ứng gì với sự cáu kinh của tôi. Suy nghĩ lại, tôi thấy hối hận vì thái độ bất nhã đối với anh. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Chín, 2023, 09:02:34 am Sau khi thấy không có gì nguy hiểm, anh hướng dẫn một đồng chí hộ lý thụt cho tôi. Trong phút chốc, cả một khối chất thừa tích trong hơn 10 hôm ở bụng được tháo ra ngoài. Tôi thấy nhẹ cả người và tường như các vết thương sắp khỏi hẳn. Bữa trưa hôm ấy, ăn bát cháo rau cải với thịt lợn băm, tôi thấy ngon miệng vô cùng. Một đồng chí cán bộ đại đội của Tiểu đoàn 89 bị thương nhẹ, nằm gần tôi lại quấn cho một điếu thuốc lá "Êrinhmo" chiến lợi phẩm của Pháp rất ngon đưa tôi. Hút được vài hơi, tôi thấy tất cả những vết thương trên người rung rung nhẹ, một cảm giác đê mê rất dễ chịu.
Thấy tôi bị thương quá nặng, không thể đi được, trên đường trở về Điện Biên Phủ, các đồng chí trong Ban Chỉ huy Tiểu đoàn cử một chiến sĩ công vụ tân binh đến giúp đỡ tôi trong sinh hoạt hằng ngày. Đồng chí ấy còn rất trẻ - 18 tuổi, quê ở Hà Tĩnh, tên là Năm. Ít hôm sau, cơ sở quân y của Đại đoàn ở Nậm Bắc được lệnh hành quân về Điện Biên Phủ. Thương binh nào đã lành thì trờ về đơn vị chiến đấu, người chưa khỏi thì đưa về hậu phương điều trị. Một đơn vị dân công ở Thái Nguyên được điều sang Nậm Bắc để cáng thương binh thay cho các đơn vị vận tải của Đại đoàn phải chuẩn bị phục vụ bộ đội sắp tới. Để đề phòng máy bay địch bắn phá, đơn vị dân công cùng với cán bộ quân y đi hộ tống thương binh phải đêm đi, ngày nghỉ. Trong số thương binh lần này chỉ có ba thương binh nặng, hoàn toàn không đi lại được là tôi, một đồng chí khẩu đội trưởng ĐKZ bị thương gãy đùi phải cưa một chân, một chiến sĩ gãy đùi phải bó bột đến tận háng. Tổ dân công cáng cho tôi có bốn người do một anh đã lớn tuổi phụ trách, còn lại là ba chị phụ nữ trẻ cùng ở Đồng Bẩm - Thái Nguyên. Đêm đầu tiên rời Nậm Bạc, tiết trời rất lạnh. Đang nằm trên cáng, tôi nghe tiếng một người hỏi: "Có phải cáng anh Đinh Mộng Tiên đây không?". Tôi nhận ra đó là đồng chí Lê Đăng Dần1 (Anh Lê Đăng Dần năm 1968 là Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 308, trước khi về hưu là Đại tá, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4), Phó ban Chính trị Trung đoàn, một chiến sĩ kỳ cựu của Trung đoàn Bắc Bắc (e36), đã từng Nam tiến năm 1945 như tôi, cũng đã trải qua nhiều trận mạc. Thấy tôi chỉ đắp một chiếc chăn mỏng, bị lạnh, anh cởi phăng chiếc áo len dài tay đang mặc và đề nghị các chị dân công mặc ngay cho tôi, chúc tôi chóng bình phục rồi rảo bước tiếp (chiếc áo này tôi giữ làm kỷ niệm nhưng hơn một chục năm sau để ở nhà thì bị mất cắp chiếc vali trong đó có cái áo này). Đơn vị dân công đến bản Thuổi Hùn trên đất Lào vào một buổi sáng sớm thì nghỉ lại ở một địa điểm trước đây bộ đội ta đã trú quân nên có lán, có công sự. Đơn vị triển khai, lợi dụng những lán và công sự cũ để nghỉ và định chiều tối sẽ vượt qua cửa khẩu Tây Trang về Điện Biên. Ba thương binh nặng chúng tôi được bố trí nằm ở một cái lán bên cạnh một lạch nước suối nhỏ. Anh em quân y đến kiểm tra và làm thuốc cho các vết thương của tôi. Không thể tường tượng được là vết thương ở mông có nhiều ruồi chết dưới lớp băng, ở chân thì có vắt rúc vào mà tôi không hề biết gì cả. Đến chiều, sau khi ăn cơm, đơn vị sắp triển khai đội hình để hành quân thì có hai máy bay khu trục của địch nhào tới rất bất ngờ. Một chiếc thả hai quả bom cháy napan ở phía bên phải lán cách độ 5 - 6 mét; một chiếc thả hai quả khác phía bên trái lán, lửa lan tới lạch nước suối cách lán độ hai mét; tôi nằm ở mép lán sát đấy, lửa nóng ran. Tiếp đó, cả hai máy bay địch bổ nhào, trọng liên 20mm bắn như vãi đạn xung quanh lán. Tất cả ba thương binh nặng chúng tôi nằm bất động chờ chết. Nhìn sang đồng chí chiến sĩ trẻ, tôi thấy đôi mắt đầy tuyệt vọng của đồng chí ấy, tự nhiên trong lòng tôi trào lên một tình cảm thương xót khó tả. Giữa lúc tính mạng ngàn cân treo sợi tóc thì tôi thấy Năm lao vào định cõng tôi lên hầm của tổ ba người cách đó độ 10 mét. Tôi quát to bảo Năm là đưa đồng chí chiến sĩ đã bó bột ở gần hầm lên trước, tiếp đến là đồng chí khẩu đội trưởng ĐKZ đã cưa một chân và sau cùng là tôi, ờ xa nhất. Năm so với cả ba chúng tôi đều nhỏ con hơn, nhưng dưới làn đạn xối xả của địch, bằng một sức mạnh phi thường nào đó, em đã đưa được cả ba chúng tôi nhét vào chiếc hầm và cuối cùng em cũng xuống được hầm cùng chúng tôi. Thật kỳ lạ, sau cuộc oanh tạc và bắn phá ác liệt đó, địch không gây được một thiệt hại nào cho đơn vị dân công và thương binh. Đêm hôm ấy, chúng tôi vẫn vượt được qua cửa khẩu Tây Trang về đến địa điểm quy định an toàn vào trước sáng hôm sau. Địa điểm này hơi trống trải, tôi vẫn được đặt nằm trên cáng và anh chị em dân công thì tản mát ở xung quanh. Đến trưa, chúng tôi lại "chịu trận" nhiều loạt pháo của địch bắn ở xung quanh mà không có hầm hố gì để tránh cả. Cái cảm giác bức bối, bất lực không thể làm gì được trước những hiểm nguy của người thương binh nặng như tôi rất khó chịu không thể tả được, nhưng rồi nó cũng qua đi khi yên tĩnh trở lại. Vẫn ngày nghỉ đêm đi, những thương binh nặng được đưa về phía sau điều trị. Thời gian này thường có những trận mưa to vào ban đêm. Đường rừng lắm đèo, dốc trơn như đổ mỡ, nằm trên cáng, tôi cảm nhận được rất sâu sắc nỗi vất vả, cực kỳ gian khổ đè lên vai, theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng của những cô gái trẻ yêu đuối của chúng ta. Có một anh chàng thanh niên cùng quê với các chị tụt lại ở đơn vị thu dung, không sang Lào như các chị vừa được bổ sung về tổ cáng. Anh ta vừa ghé vai vào cáng thay cho một chị, luôn mồm kêu "ái" "ổi". Một chị băm bổ: "Ở thu dung ăn béo ú, vừa mới khiêng được một tí đã "ái" với "ối", không biết xấu hổ". Nghe thấy thế, tôi dự kiến ngay có thể anh ta sẽ có một hành vi tiêu cực. Tôi cố chống hai khuỷu tay lên cáng để nếu cáng bị quẳng xuống đất thì không ánh hưởng đến vết thương ở lưng và mông. Quả nhiên anh ta ngã thật và chiếc cáng bị rơi xuống đất. Có chị kêu lên hỏi tôi: - Anh ơi, anh có làm sao không? Có chị thì đấm liên tiếp vào lưng anh ta và mắng: - Mày khiêng như thế bàng giết anh ấy à! Tôi phải lên tiếng: - Tôi không sao các chị ạ! Tôi thấy các chị thật "đáo để", song ẩn chứa bên trong sự "đáo để" ấy là những trái tim thật nhân hậu, cao thượng. Các chị quên hết cả sự vất vả, cực nhọc của mình mà chỉ nghĩ đến sự đau đớn của thương binh. Tôi nghĩ, sau này Bác Hồ tặng cho phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" không gì có thể xứng đáng hơn, đầy đủ hơn để ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của những người bà, người mẹ người vợ, người chị và những em gái của chúng ta trong hai cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Chín, 2023, 09:03:18 am Tôi được tổ cáng ấy đưa về trung tuyến vào một đội điều trị quân y trong rừng cách thị xã Sơn La khoảng 2 - 3 kilômét. Anh em ở đây phần lớn là thương binh nặng từ Thượng Lào và Điện Biên Phủ đưa về khá đông nên anh chị em quân y ờ đây rất vất vả, phải có một số chị em dân công phụ giúp. Một số khá đông thương binh không đi lại được, mọi sinh hoạt ăn uống, rửa ráy, tắm giặt, vệ sinh... đều phải được giúp đỡ. Một số bị tổn thương nặng về thần kinh, không làm chủ được hành vi của mình, thường xuyên phải có người theo sát; một số còn hôn mê chưa tỉnh hẳn. Anh chị em quân y làm việc cả ngày đêm, ít được nghỉ ngơi. Đôi khi có những anh em khó tính hoặc quá đau đớn không làm chủ được mình mắng chửi lung tung nhưng tôi thấy từ các y, bác sĩ đến y tá, hộ lý và chị em dân công luôn bình tĩnh, dịu dàng, chăm sóc thương bệnh binh. Trước tình hình đó, hoạt động của Hội đồng Thương bệnh binh rất có tác dụng đối với việc giáo dục lẫn nhau và giữ vững quan hệ tốt với cán bộ, nhân viên quân y và chị em dân công.
Được chăm sóc tốt, tôi dần dần đã ngồi dậy được và chơi được cờ với đồng chí nằm bên cạnh. Thỉnh thoảng máy bay địch đến ném bom và bắn phá ngoài thị xã hoặc đường cái nhưng với ý thức phòng không của mọi người và ngụy trang tốt nên khu vực trú quân của đội điều trị vẫn an toàn. Thấy tình hình sức khỏe của tôi tương đối ổn định, Năm, đồng chí công vụ được Ban Chỉ huy Tiểu đoàn cử đi giúp đỡ tôi đề nghị cho em trở về Điện Biên để cùng đơn vị chiến đấu. Cuộc chiến ờ Điện Biên Phủ giữa ta và địch rất quyết liệt, quân số của ta cần luôn luôn được bổ sung để bảo đảm sức chiến đấu. Tôi thấy ý kiến đề nghị của Năm là tích cực, hợp lý, đáng hoan nghênh nên tôi đồng ý ngay. Năm phấn khời, từ biệt tôi, khẩn trương lên đường. Năm không yêu cầu và tôi cũng quên khuấy việc nhận xét cho Năm trong thời gian đi theo giúp đỡ tôi, nhất là việc em đã dũng cảm cứu hai thương binh và tôi dưới bom đạn của máy bay địch ở Thuổi Hùn, để báo công cho em với các đồng chí trong Ban Chỉ huy Tiểu đoàn. Những tin tức từ chiến trường Điện Biên Phủ cũng như ở các chiến trường khác trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 ở các cơ sở quân y ít nhận dược. Có lẽ toàn bộ hoạt động thông tin lúc đó phải nhằm chủ yếu phục vụ cho việc chiến thắng địch. Vì vậy, đối tượng ưu tiên tất nhiên phải là các đơn vị đang trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Ở phía sau, khát tin như khát nước, thương bệnh binh cũng ở trong tình trạng đó. Ngày 7 tháng 5, Điện Biên Phủ hoàn toàn được giải phóng. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng to lớn nhất trong cuộc kháng chiến chổng bọn xâm lược Pháp của nhân dân ta. Trung đoàn 36 cùng với Đại đoàn 308 lập nhiều chiến công, đóng góp xứng đáng vào thắng lợi chung của quân dân ta trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954. Ngày 8 tháng 5, một trong những đồng chí phụ trách trung tuyến trực tiếp đến báo cho chúng tôi là ta đã giành toàn thắng ở Điện Biên Phủ vào chiều ngày 7 tháng 5. Đồng chí còn nói thêm là Đại đoàn 308 thường được mệnh danh là Đại đoàn "Anh cả Đỏ" đã chậm chân hơn Đại đoàn 312 khi xung phong vào trung tâm chỉ huy của địch và một đơn vị của Đại đoàn 312 đã bắt sống được tên tướng Đờ Cátxtơri và toàn bộ bọn giặc ở Điện Biên Phủ đã trở thành tù hàng binh, không chạy thoát được tên nào. Một không khí vui mừng còn hơn ngày hội nhưng chúng tôi vẫn phải cảnh giác với máy bay địch vì chúng vẫn hoạt động. Nhiều ngày sau, đồng chí Ngọc Thuấn, một cán bộ của Ban Chính trị Trung đoàn phụ trách công tác cán bộ vào thăm tôi. Anh cho biết là Đại đoàn đang lui quân về xuôi và chuyển cho tôi khẩu súng ngắn của Thủ trưởng Trung đoàn gửi tặng tôi. Đó là một khấu Braoning tước được của một tên phi công Pháp khi máy bay của hắn bị quân ta bắn hạ; hắn nhảy dù xuống trận địa vây lấn của Trung đoàn, thoát chết nhưng bị một đơn vị bắt sống. Tôi cảm ơn các đồng chí Thủ trưởng Trung đoàn dù bận nhiều việc vẫn quan tâm tới mình và rất phấn khởi, coi đó nhu một phần thưởng rất quý giá. Hỏi thăm anh Thuấn về bạn bè ai mất, ai còn thì khá nhiều bạn bè quen biết đã hy sinh hoặc bị thương, trong đó có đồng chí San, Tiểu đoàn phó, đồng chí Phú, Đại đội trưởng quân báo của Trung đoàn cùng bị thương với tôi ngày 7 tháng 2 nhưng nhẹ hơn, đã trở về đơn vị chiến đấu và đã hy sinh. Anh Thuấn còn cho biết thêm, cuộc chiến đấu ác liệt đến nỗi, đồng chí Lê Linh, nguyên Chính ủy Trung đoàn 36 trước Chiến dịch Điện Biên Phủ được điều sang làm Chính ủy Trung đoàn 102, đã cùng Trung đoàn trưởng vừa chỉ huy, vừa phải dùng lựu đạn chiến đấu với địch khi chúng phản xung phong ở đồi A1. Ngày hôm sau thì Nguyễn Phương Nam tạt vào thăm. Phương Nam kém tôi một tuổi, nhưng cũng tham gia Việt Minh trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, là Chính trị viên đại đội pháo đi cùng trực thuộc Trung đoàn, được bổ nhiệm làm Chính trị viên phó Tiểu đoàn 89 cùng thời gian với tôi. Trong Chiến dịch Hà - Nam - Ninh, anh bị thương khá nặng, tay gãy làm mấy đoạn, nhưng vẫn xuống tiểu đoàn bộ binh. Phương Nam vui tính, hay chuyện trò tếu táo, dễ gần gũi. Lúc này, thỉnh thoảng tôi ngồi được một lúc lại phải nằm. Vừa gặp, Phương Nam cười hỏi: - Này, cái "khoản" ấy có sao không? - Vẫn còn nguyên - Tôi cười. - À, thế là tốt rồi! Chuyện với nhau được một lúc, anh lại vội vã từ biệt để theo kịp đơn vị đang hành quân về xuôi. Tôi thấy nhớ đơn vị, nhớ tới những đồng chí đã hy sinh, những anh em còn sống, mong mình chóng lành để về với đơn vị mà mình đã gắn bó và yêu mến bấy lâu nay. Quả thật, khi mới bị thương nặng, tôi nghĩ mình sẽ tàn tật suốt đời, vợ thì còn trẻ, nếu như trở thành một gánh nặng cho vợ thì không loại trừ khả năng "giải phóng" cho cô ấy. Nhưng khi thấy các vết thương dần dần khỏi, sức khỏe ngày càng hồi phục thì ý nghĩ đó không còn nữa. Được khoảng bốn tháng thì các vết thương lành dần, nhưng vết thương ở sống lưng thì chưa lên da non được, bàn chân trái thì bị vênh vì dây chằng bị mảnh mìn làm rách. Tôi đã có thể đứng dậy nhưng chưa đi được nên phải bắt đầu tập đi với hai cái nạng. Tôi thường nói đùa rằng đây là lần thứ hai tôi tập đi, lần thứ nhất là lúc còn nhỏ mới được khoảng chín tháng tuổi. Phải sau gần hai tháng tôi mới tập tễnh đi được, nhưng bàn chân trái vẫn cong vênh và chỉ cần một tí sạn ở dép là ghê chân không thể bước nổi, tưởng phen này sẽ bị loại khỏi vòng chiến đấu... Những đơn vị cuối cùng rời chiến trường về xuôi là các đơn vị hậu cần, tất nhiên là cả các đội điều trị. Có một số đoạn chúng tôi được đi ô tô tải, nhưng nhiều đoạn vẫn phải đi bộ. Lúc đầu, tôi đi thật rất khó khăn, nhưng chính nhờ những lần "cuốc bộ" ấy lại làm cho bàn chân bị thương dần dần hồi phục. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Chín, 2023, 09:05:08 am Trong thời gian bị thương nằm viện, có những sự kiện lớn của Trung đoàn và ở quê nhà, khi ra viện tôi mới được biết.
Về tình hình Trung đoàn, theo lệnh cấp trên, để phát triển thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ và làm hậu thuẫn cho đấu tranh ngoại giao của ta ờ Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương, Trung đoàn cùng với Đại đoàn tiếp tục đánh vào phòng tuyến của địch trên các đường 13, 17 - Bắc Giang. Đêm 13 tháng 7, Tiểu đoàn 80 được Trung đoàn chi viện pháo binh đánh đồn Cầu Lồ. Địch ngoan cố chống cự, ta chỉ chiếm được một nửa đồn. Suốt ngày 14 tháng 7, địch dựa vào lô cốt kiên cố và bom đạn của máy bay chống trả quyết liệt nên ta thương vong nhiều, phải sau 20 giờ chiến đấu, đồn Cầu Lồ mới bị tiêu diệt. Trong trận này, đồng chí Năm, người chiến sĩ công vụ đã cứu tôi và hai thương binh nặng khác thoát khỏi bom đạn của địch ở Thuổi Hùn, đã hy sinh trong chiến đấu. Tôi hối tiếc mãi về việc chưa báo công được cho em với đơn vị. Em hy sinh trước ngày ngừng, bắn có bảy ngày. Về tin tức ở quê, sau thắng lợi dồn dập của ta trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, bị bộ đội, dân quân du kích địa phương đánh mạnh, sợ bị ta tiêu diệt, địch phải co cụm, tháo chạy khỏi Hà Nam. Ở Kim Bảng, sáng ngày 3 tháng 7 năm 1954, địch rút khỏi Nhật Tựu, sào huyệt cuối cùng của chúng. Như vậy huyện Kim Bảng cùng với toàn tỉnh Hà Nam hoàn toàn được giải phóng, sạch bóng quân thù. Tôi rất vui mừng nhưng vẫn chưa nhận được tin tức gì về gia đình. Ngày 21 tháng 7 năm 1954, tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương, Hiệp định đình chiến được ký kết. Trước đó vài ngày, tôi ra viện và nhận được quyết định bổ nhiệm làm Trưởng ban Hành chính, Phòng Chính trị Đại đoàn. Từ viện, tôi phải về thẳng Đại đoàn để nhận bàn giao gấp công việc vì đồng chí Phạm Ngọc Điển, người tiền nhiệm phải đi theo giúp việc Chính ủy Đại đoàn Song Hào làm Phó đoàn thương lượng của ta với phía Pháp tại Hội nghị Trung Giã. Tôi chưa bao giờ làm và chưa hề có kinh nghiệm đối với công tác hành chính, một công việc vốn được cho là "thượng vàng, hạ cám" này. Tôi cho rằng có lẽ mình bị thương nặng, sức khỏe kém nên mới được bố trí vào công việc "nhàn nhã" này. Công việc đầu tiên tôi phải tự mình làm là một việc không "hành chính" chút nào. Đó là việc Ban Tuyên huấn đề nghị với Thủ trưởng Phòng Chính trị giao cho tôi viêt một tài liệu giáo dục về thắng lợi tại Hội nghị Giơnevơ của ta. Bởi vì trước khi tham gia Hội nghị Trung Giã, Chính ủy Đại đoàn Song Hào triệu tập cán bộ trung cấp toàn Đại đoàn theo chỉ thị của cấp trên; từ đó phải viết tài liệu giáo dục cho cán bộ cợ sở và chiến sĩ. Công việc đáng lẽ là của cán bộ Ban Tuyên huấn, nhưng vì tôi được dự buổi phổ biến cho cán bộ trung cấp nên Thủ trưởng Phòng Chính trị giao thì tôi phải chấp hành. Viết cho cán bộ sơ cấp và chiến sĩ nên tôi viết theo thể vấn đáp dễ hiểu. Qua việc nắm tình hình chung của lớp cán bộ trung cấp, mọi người đều thấy rõ thắng lợi nhưng vẫn tồn tại hai thắc mắc lớn: Một là, nếu địch ngoan cố không nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định thì sao? Hai là, đối với cách mạng Campuchia, thắng lợi giành được chưa rõ như Việt Nam và Lào. Quả nhiên đây là những vấn đề tồn tại kéo dài nhiều năm sau này. Sau khi tôi viết xong tài liệu cho cán bộ sơ cấp và chiến sĩ, đồng chí phụ trách Ban Tuyên huấn nói: - Đáng lẽ đồng chí Tiên phải về công tác ở Ban Tuyên huấn mới đúng. Tôi coi đây như một lời khen ngợi về khả năng viết lách của mình. Một việc mà đồng chí Phạm Ngọc Điển, Trưởng ban cũ bàn giao cho tôi là một việc về nhân sự, có quan hệ đến sinh mệnh chính trị của một nhân viên trong Ban. Đó là việc đồng chí Phụ, cán bộ trung đội làm quản lý của Phòng Chính trị. Qua phát động quần chúng cải cách ruộng đất ở huyện Yên Thế - Bắc Giang, khi Phụ làm Chủ nhiệm Việt Minh ở xã hồi mới giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám, có nhiều nông dân tố cáo đồng chí Phụ là cường hào gian ác đã đàn áp, giết hại nông dân. Việc này, Đại đoàn rất thận trọng đã cử người về xác minh nhiều lần và đã báo cáo với Tổng cục; quyết định cuối cùng là tước quân tịch, giải về địa phương để xử lý. Tôi phải chủ trì tổ chức việc này rất nghiêm túc trong một buổi tối ở làng Cao Bộ - Hà Đông, khi Đại đoàn trên đường về tiếp quản Hà Nội. Nhưng sự việc sau này đã không phải như thế. Khi Đảng bắt đầu sửa sai trong cải cách ruộng đất, đồng chí Phụ đã được minh oan. Đồng chí trở lại đơn vị và cho biết: Khi Cách mạng Tháng Tám mới thành công, bọn thổ phỉ ở địa phương tiến hành những vụ cướp bóc rất tàn bạo. Với cương vị là Chủ nhiệm Việt Minh xã, đồng chí đã lãnh đạo và chỉ huy tự vệ cứu quốc chống lại và trừng trị chúng để bảo vệ dân. Đồng chí đã được truy lĩnh toàn bộ phụ cấp trong thời gian bị tù và khôi phục mọi quyên lợi khác ở đơn vị. Công việc chuẩn bị cho việc tiếp quản Hà Nội rất khẩn trương. Thời gian này, Bác Hồ gặp mặt một số cán bộ của Đại đoàn 308 ở Đền Hùng - Phú Thọ và có một câu nói nổi tiếng của Bác trong buổi nói chuyện hôm đó: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Tôi phải ở nhà làm việc, không có vinh dự được trực tiếp nghe Bác nói chuyện hôm đó. Khi đang dừng chân ở làng Cao Bộ chuẩn bị cho việc tiếp quản Thù đô thì cấp trên cử một đồng chí về làm Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn (trước đó chỉ có cấp phó). Đồng chí đó tên là Phan Thêm, một bí thư tỉnh ủy ở một tinh miền Trung, là một đảng viên lâu năm, nhưng có lẽ ít kinh nghiệm công tác trong Quân đội. Ở Cơ quan Chính trị cũng như các đơn vị trong Đại đoàn, việc chuẩn bị tư tưởng và tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ được tiến hành rất chu đáo, tỷ mỷ. Anh em được giáo dục kỹ về những quy định, kỷ luật khi vào thành phố, chuẩn bị trang phục thật chỉnh tề, sạch sẽ, từ cái lưới mã cho tới đôi giày vải... Chiều mùng 9 tháng 10 năm 1954, tất cả các cơ quan của Đại đoàn bộ, do đồng chí Tham mưu trưởng chỉ huy, đi trên chiếc xe tải Môlôtôva do Liên Xô sản xuất, tiến ra Hà Đông đi về hướng Ngã Tư Sờ. Tới gần Km 3 từ thị xã Hà Đông đi Hà Nội thì toàn bộ đội hình dừng lại xuống xe, chuẩn bị đi bộ về địa điểm quy định xung quanh cầu Mới (khu vực Ngã Tư Sờ). Từ mấy hôm trước, mọi đơn vị và cơ quan của Đại đoàn đều đã có bộ phận tiền trạm vào trước nên chúng tôi rất yên tâm về sự an toàn chung. Lúc các anh nuôi đang xuống xe với nồi niêu xoong chảo lỉnh kỉnh thì một anh nhà báo Ấn Độ đến gần nâng máy ảnh lên chụp. Tham mưu trưởng Đại đoàn xua xua tay ra hiệu không cho chụp, anh ta thôi chụp. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Chín, 2023, 09:08:39 am Ban Hành chính và Cơ quan Chính trị Đại đoàn được bố trí ở làng Mộc Chính Kinh. Tôi được xếp vào ở một ngôi nhà ngói khang trang, chủ nhà là một bà cụ [r một mình, ngoài ra không có ai. Cụ có mái tóc đã bạc, đẹp lão, ít nói, tiếp tôi rất lịch sự, chir cho tôi choox làm việc và giường nằm nghỉ đã chăn màn sẵn sạch sẽ. Lúc đó đã 8 - 9 giờ tối, không hiểu sao rất nhiều muỗi, tôi phải thưa với cụ rằng, đêm nay tôi phải làm việc suốt đêm nên phải ở trong màn. Bộ đội thông tin đến đặt máy điện thoại cho tôi ngay trên giường, cụ cũng thawsp cho một ngọn đèn dầu hỏa đủ sáng để làm việc. Thức suốt đêm để nắm tình hình, chủ yếu là ở sân bay Bạch Mai, Ngã Tư Vọng, Ngã Tư Sở và thỉnh thoảng phải báo cáo tình hình chính trị về trực ban Đại đoàn, nhưng tôi không thấy mệt gì cả. Tình hình nói chung yên tĩnh, không có sự cố gì xảy ra đêm hôm đó.
Sáng ngày 10 tháng 10, theo đúng kế hoạch, các đơn vị tiến vào nội thành trong sự đón tiếp tưng bừng với nghìn nghìn nụ cười và cả những giọt nước mắt của nhân dân Thủ đô Hà Nội, đúng như dự báo trong ca khúc nổi tiếng "Tiến về Hà Nội" của nhạc sĩ Văn Cao sáng tác năm 1949: "Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về, như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh...". Đến trưa, tôi được gọi lên đi cùng Phó Chính ủy Đại đoàn Lê Vinh Quốc đến xem trước địa điểm trú quân của Cơ quan Đại đoàn bộ, trong đó có Phòng Chính trị. Đứng trên chiếc xe vận tải Môlôtôva chỉ có vài người chúng tôi, qua phố nào cũng được nhân dân đi trên đường vẫy tay thân mật chào đón. Chỗ ở mới của chúng tôi là trại bảo an binh cũ của địch. Đến nơi là cảnh tanh bành, xơ xác do địch để lại, không còn một cái giường nằm, một bóng đèn điện. Trong thời gian này, về mặt nhân sự và địa điểm trú quân của Đại đoàn luôn luôn có sự thay đổi và điều chỉnh. Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ kiêm luôn Chủ tịch ủy ban Quân quản Thủ đô Hà Nội. Các trung đoàn được bố trí hợp lý để bảo vệ Thủ đô. Ngày 10 tháng 10 năm 1954, Hà Nội tổ chức mít tinh đón Bác Hồ và Trung ương Đảng về Thủ đô, trong đó có cuộc diễu binh của Đại đoàn do Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36 Hồng Sơn và Chính ủy Trung đoàn 88 Đặng Quốc Bảo chỉ huy. Sau đó, anh Đặng Quốc Bảo được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn, anh Vũ Yên làm Tham mưu trường, anh Hồng Sơn làm Tham mưu phó Đại đoàn. Tôi rất vui khi anh Đặng Quốc Bảo về thay đồng chí Phan Thêm được chuyển đi nhận công tác khác. Anh Đặng Quốc Bảo mới 22 tuổi được giao nhiệm vụ làm Chính ủy Trung đoàn 88, người chính ủy đã rất quyết đoán trong lãnh đạo và chỉ huy tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ trong Chiến dịch Hòa Bình, là một trong những chính ủy mà tôi rất ngưỡng mộ, kính trọng. Tôi cũng rất biết ơn anh khi tôi bị thương ở Nậm Hu đã mua cho tôi một cái đệm của người Lào để giảm bớt được đau đớn do vết thương. Với lối sống giản dị, cởi mở, tôn trọng nhân cách của anh với cấp dưới tôi rất dễ chịu khi làm việc với anh, nhưng chỉ ít lâu sau, anh lại được điều động lên Bộ nhận nhiệm vụ mới. Người về thay anh là đồng chí Chu Thanh Hương, nguyên Chính ủy Trung đoàn 36, người kế nhiệm đồng chí Lê Linh đã được điều động sang Trung đoàn 102 (Thủ đô) trước Chiến dịch Điện Biên Phủ. Anh Chu Thanh Hương sống hòa hợp, gần gũi với anh em trong cơ quan. Đến tháng 12 năm 1954, tôi nhận được quyết định chuyển sang làm Chính trị hiệp lý viên. Đây là một chức danh có nhiệm vụ công tác đảng và công tác chính trị tại hai phòng: Tham mưu, Chính trị và sáu đại đội trực thuộc Đại đoàn gồm đại đội trinh sát (quân báo), đại đội vệ binh, đại đội công binh và ba đại đội thông tin (hữu tuyến - vô tuyến..., về sau thành tiểu đoàn thông tin). Đồng thời với quyết định trên, Đảng ủy Đại đoàn chỉ định tôi làm Bí thư Liên chi ủy của hai cơ quan và các đơn vị trực thuộc trên. Đây là những cơ quan và đơn vị có tỷ lệ đảng viên rất cao, đặc biệt là hai phòng Tham mưu, Chính trị, hầu hết là đảng viên và cán bộ trung cao cấp, trong đó bao gồm cả các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Đại đoàn. Các cơ quan và các đơn vị có nhiệm vụ hoàn toàn khác nhau, số lượng đảng viên lúc đó tới gần 600 đồng chí, trình độ rất khác nhau. Tuy cấp ủy không có nhiệm vụ lãnh đạo công tác chuyên môn nhưng cũng cần hiểu biết những điểm cơ bản thì công tác đảng và công tác chính trị mới có hiệu quả, mới nâng cao được chất lượng công tác chuyên môn và phải có biện pháp, hình thức hoạt động phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Các đồng chí được chỉ định tham gia Liên chi ủy phần lớn là các đồng chí phụ trách dẫn đầu ngành ở hai cơ quan Tham mưu và Chính trị, ví dụ như tác huấn, quân báo... ở Cơ quan Tham mưu; tổ chức, tuyên huấn, bảo vệ ở Cơ quan Chính trị. Đồng chí Hồng Sơn, Tham mưu phó ít lâu sau là Tham mưu trưởng Đại đoàn cũng được chỉ định tham gia Liên chi ủy. Nói chung, các đồng chí được tham gia Liên chi ủy là các đồng chí có chức vụ chính quyền cao hơn tôi (lúc đó chưa phong quân hàm) nhưng rất tôn trọng Bí thư, tính tổ chức, tính nguyên tắc trong công tác đảng rất tốt. Có một thời gian, tôi kiêm luôn cả Bí thư Chi bộ Tham mưu - Chính trị, là một chi bộ hầu hết đảng viên là cán bộ trung cao cấp, nhưng các đồng chí ấy tham gia sinh hoạt Đảng rất nghiêm túc, rất hiếm trường hợp vắng mặt. Đồng chí Vũ Yên, Tham mưu trưởng Đại đoàn, sau này thay đồng chí Cao Văn Khánh làm Đại đoàn phó, là Tổ trường Đảng, hằng tháng đều báo cáo tình hình sinh hoạt Tổ Đảng với Bí thư rất nghiêm túc, kể cả những vấn đề riêng tư cá nhân có quan hệ tới công tác; mặc dù chức vụ của tôi thấp hơn nhiều so với đồng chí. Tôi học được ở các đồng chí sự khiêm tốn, tính nguyên tắc và theo tôi đấy là biểu hiện của lòng tự trọng rất cao nữa của các anh. Một hôm, nữ đồng chí Nhung, vợ của đồng chí Vũ Yên lên gặp tôi trình bày một chuyện riêng. Chị cho tôi biết, trước đây chị đã là đảng viên công tác tại Văn phòng Tỉnh ủy Tuyên Quang, chị gặp anh Vũ Yên khi anh còn là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Phủ Thông và hai người yêu nhau; trước khi kết hôn thường thư từ qua lại với nhau hoặc là có điều kiện gặp gỡ nhau. Có một anh công tác ở Văn phòng Tỉnh ủy, là người cùng bộ phận nhưng là người phụ trách cũng yêu chị nhưng chị từ chối vì đã yêu anh Vũ Yên. Anh ta quy cho chị là yêu đương bất chính và đưa ra chi bộ quyết định khai trừ chị ra khỏi Đảng. Khi chị làm lễ kết hôn với anh Vũ Yên thì chị xin tham gia Quân đội, làm y tá ở Tiểu đoàn Quân y của Đại đoàn. Khi thành lập Đội Văn công Đại đoàn, chị xin về Đội Văn công vì chị cũng có năng khiếu ca hát và tất nhiên là có cả nhan sắc. Chị chịu cái án kỷ luật ấy gần 10 năm trời; Chi ủy Đội Văn công khuyên chị nên trình bày với Liên chi ủy. Sau khi nghe kỹ, tôi đề nghị với chị làm một cái đơn khiếu nại lên Trung ương Đảng về cái án kỷ luật vô lý đó, xin chứng nhận của Tiểu đoàn Quân y và Đội Văn công về quá trình công tác của chị ở hai đơn vị đó và đưa lên cho tôi. Tôi đã báo cáo với Liên chi ủy về việc này và làm công văn gửi lên Ban Tổ chức Trung ương Đảng, đề nghị kiểm tra và xác minh lại vụ kỷ luật đó. Nếu đúng như nội dung chị trình bày và căn cứ vào quá trình công tác ở đơn vị, tôi đề nghị phục hồi Đảng tịch cho chị, tính cả thời gian bị kỷ luật oan: Ít lâu sau, chị nhận được quyết định phục hồi Đảng tịch từ Ban Tổ chức Trung ương Đảng. Tôi hỏi anh Vũ Yên về việc này tại sao anh không báo cáo từ trước. Anh nói rằng: "Đấy là việc của cô ấy nếu còn tha thiết với Đảng thì làm đơn khiếu nại" chứ anh không muốn vợ mình dựa vào vị trí, chức vụ của anh để giai quyết vấn đề của cá nhân. Một lần nữa, tôi thêm kính trọng và quý anh ở sự vô tư, trong sáng ấy. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Chín, 2023, 09:09:31 am Với những cán bộ đã vào sinh ra tử, dày dạn trong chiến đấu với quân thù nhưng không phải là gỗ đá. Từng người vẫn có hoàn cảnh riêng, tâm tư riêng, có người nói ra, nhưng cũng có người không muốn bộc lộ. Những người làm công tác chính trị tư tưởng, không phải ai cũng thấy điều đó. Tôi xuất thân là một học sinh, là một cán bộ tuổi đời còn trẻ, không tránh khỏi cũng có lúc chủ quan, đơn giản. Đối tượng công tác của tôi thời gian này quan trọng nhất là khối cán bộ trung, cao cấp của hai cơ quan Tham mưu và Chính trị. Các đồng chí ấy phần lớn là những cán bộ ưu tú có trình độ, đã qua chiến đấu, chọn từ đơn vị lên. Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, số khá đông mải mê chiến đấu, công tác, chưa nghĩ đến chuyện lập gia đình. Bây giờ đã hòa bình, tuổi cũng đã cứng, bởi vậy việc tìm kiếm người phụ nữ hợp với mình để lập gia đình là chuyện rất bình thường.
Thời điểm này, công tác tư tưởng yêu cầu chống những biểu hiện hòa bình chủ nghĩa, đối với các đơn vị làm nhiệm vụ tiếp quản tại đô thị cần nêu cao cảnh giác đối với những "viên đạn bọc đường" (theo thuật ngữ và kinh nghiệm của Trung Quốc). Điều đó là đúng vì một nửa đất nước còn giặc, chưa được giải phóng, không thể "nằm ngủ" với những thắng lợi bước đầu. Nhưng cũng có không ít người làm công tác chính trị, tư tưởng quan trọng hóa vấn đề, cường điệu lên, chưa thật quan tâm tới nhu cầu tình cảm chính đáng của đồng đội mình. Vì vậy, có đồng chí muốn tìm người yêu, muốn lập gia đình cũng khép kín, không muốn bộc lộ hoặc cứ làm nhưng giấu giấu giếm giếm vì ngại bị suy diễn là hòa bình chủ nghĩa. Mới đầu tôi cũng đơn giản nhưng nhờ gần gũi với anh em, bạn bè nên đã kịp thời nhận thức được vấn đề. Dần dần, mọi người cũng cởi mờ hơn với nhau, với cấp lãnh đạo. Song, lúc đó đời sống nhân dân sau chiến tranh còn quá khó khăn, cán bộ Quân đội còn quá nghèo nên có những cái tối thiểu cần cho một đám cưới giải quỵết cũng không dễ. Đồng chí Nguyễn Quân Sĩ, cán bộ Tuyên huấn của Trung đoàn 36 được điều lên công tác ở Ban Tuyên huấn Đại đoàn sắp cưới vợ cùng quê ở Hà Nội, muốn có một cái vỏ chăn cho mùa đông mà không đủ tiền mua. Anh tâm sự với tôi, tôi cũng thấy băn khoăn, nhưng sực nhớ ra mình vừa được Đại đoàn1 (Từ năm 1955, đơn vị cấp Đại đoàn được gọi là Sư đoàn) chia cho một miếng vải dù trắng, chiến lợi phẩm thu được ở Điện Biên Phủ còn để trong ba lô có thể may được một vỏ chăn rộng cho hai người. Tôi lấy ra tặng anh, hỏi anh "Có được không?". Sĩ mừng quýnh, còn tôi cũng rất vui vì đã giúp được bạn gỡ bí. Sau khi vào tiếp quản Hà Nội, một thời gian sau, công việc ở cơ quan tương đối đi vào nền nếp ổn định, tôi xin phép được nghỉ một thời gian ngắn về thăm gia đình. Khi địch rút khỏi Hà Nam ngày 3 tháng 7 năm 1954 thì thị trấn Quế, trong đó có thôn Phương Khê Chợ, chỉ còn là một đống đổ nát hoang tàn. Trước đó địch xây dựng thành một đồn bốt trên toàn bộ diện tích của thôn chợ, nhà tôi nằm trong khu vực đó. Thôn Đanh Xá, quê vợ tôi ở sát bên, địch cũng phá sạch tất cả các lò gốm. Bố mẹ tôi phải làm một gian nhà tranh tạm để ở. Toàn bộ gia đình bố mẹ vợ phải di cư lên Vân Đình (Ứng Hòa) tiếp tục đắp lò làm nghề gốm, vợ tôi cùng hai con nhỏ theo nghề phải cùng đi. Việc khắc phục hậu quả chiến tranh rất nặng nề. Đời sống nhân dân rất khó khăn. Nạn đói diễn ra gay gắt cuối năm 1954, đầu năm 19552 (Theo Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Kim Bảng (1930 - 1995), Sở Văn hóa Thông tin Nam Hà xuất bản, 1996, tr. 110). Đầu tháng 2 năm 1955, theo chỉ thị của Trung ương về giảm tô và cải cách ruộng đất, các đội giảm tô về công tác ở Hà Nam. Ở Kim Bảng, địa chủ đã phải giảm tô, giảm tức 25% cho dân nghèo. Nhiều ruộng đất vắng chủ, các xã đã chia cho các gia đình khó khăn, thiếu ruộng. Cuối tháng 7 năm 1955, có 98 đội cải cách ruộng đất đã về 98 xã của năm huyện thuộc Hà Nam làm công tác phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất. Cải cách ruộng đất thắng lợi tạo ra một không khí phấn khởi của hàng vạn nông dân Kim Bảng được chia ruộng đất tịch thu củạ địa chủ1 (Theo Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Kim Bảng (1930 - 1995), Sdd, tr. 111, 112, 113). Nhưng Kim Bảng trong đấu tranh đã đả kích, đấu tố tràn lan, gây tình trạng căng thẳng trong nông thôn2 (Theo Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Kim Bảng (1930 - 1995), Sdd, tr. 111, 112, 113). Tháng 9 năm 1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định: "Thắng lợi của cải cách ruộng đất là to lớn và căn bản. Thắng lợi đó có tính chất chiến lược". Nhưng việc kết hợp chỉnh đốn tổ chức đảng, chính quyền, Nông hội "càng về sau thì sai lầm khuyết điểm càng nghiêm trọng". Việc lãnh đạo tư tưởng, phổ biến quán triệt, tổ chức thực hiện chính sách "... đã có nhiều thiếu sót nghiêm trọng..."3 (Theo Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Kim Bảng (1930 - 1995), Sdd, tr. 111, 112, 113). Một ngày trong tháng 7 năm 1955, vợ tôi từ quê lên gặp tôi ở nhà khách của Cơ quan Sư đoàn bộ 308, lúc đó đóng quân ở khu sân bay Bạch Mai. Em mặt buồn rười rượi báo cho tôi biết là Đội Cải cách ruộng đất dã phong tỏa nhà của bố mẹ tôi, không cho em từ gia đình bên ngoại vào thăm bố mẹ chồng. Tôi choáng váng khi được nghe tin đó. Suốt đêm đó, tôi ngồi viết một lá thư về cho Đội Cải cách ruộng đất. Nội dung chính trong thư đại ý tôi nói qua về tình hình kinh tế, chính trị của gia đình: Gia đình chỉ có một mẫu rưỡi ruộng, kể cả ruộng mạ; nhà chỉ còn hai bố mẹ tôi đã mất sức lao động vì các chị và em gái tôi đã lập gia đình nên nhờ người quen cày cấy giúp và trả công bằng lúa cho họ, còn nguồn sống chính là do tiền buôn bán nhỏ của mẹ tôi. Bố tôi là Chánh hội đã bị chính quyền thực dân phong kiến cách chức, quan hệ của gia đình với địa phương, theo tôi biết là tốt; đó là theo hiểu biết của tôi trước đây. Tôi theo cách mạng từ lúc còn nhỏ và chiến đấu từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay. Tôi xác định trên lập trường giai cấp công nhân, đứng về phía nông dân, ủng hộ cải cách ruộng đất. Còn việc xác định thành phần và xử lý thể nào tôi hoàn toàn tin tưởng vào chính sách của Đảng. Tôi đưa thư cho Phúc bảo em tìm cách đưa ngay cho Đội Cải cách ruộng đất. Em cũng cho biết thêm là gia đình bố mẹ vợ tôi cũng bị quy là thành phần bóc lột, nhưng vì là làm nghề thủ công đồ gốm, bố lại không phải là chức dịch cũ nên không bị kiểm soát và phong tỏa gắt gao như bố mẹ tôi. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Chín, 2023, 09:10:20 am Tôi rất buồn và trong lòng không yên. Ngay lập tức, tôi báo cáo với các đồng chí có trách nhiệm trong công tác quàn lý cán bộ của Phòng Chính trị, với Tham mưu trưởng Sư đoàn Hồng Sơn (anh cũng đã tham gia Liên chi ủy). Trong cuộc họp Liên chi ủy gần nhất, tôi báo cáo tình hình của gia đình tôi với Liên chi ủy. Dần dần, tôi cũng yên tâm lại vì thấy thái độ của mọi người trong quan hệ công tác với mình vẫn bình thường. Một số đồng chí tuy không nói ra, nhưng qua thái độ, tôi thấy rõ là các đồng chí ấy thông cảm với mình. Đồng chí Hồng Sơn thấy tôi hút nhiều thuốc lá, có lẽ anh cho là tôi vì buồn nên hút nhiều nên thân mật khuyên:
- Mình thấy cậu dạo này hút nhiều thuốc lá quá nên giảm bớt đi. Tôi nghĩ rằng, trong Sư đoàn bộ chắc cũng có nhiều đồng chí cùng cảnh ngộ như mình vì tôi biết có nhiều đồng chí là trí thức xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội trước kia nên Quân đội rất thận trọng trong việc xem xét, đánh giá những cán bộ đã từng vào sinh ra tử trong chiến đấu. Tôi tự xác định dù hoàn cảnh nghiệt ngã như thế nào cũng quyết tâm vượt qua, giữ vững ý chí chiến đấu, không thể buồn phiền làm cho tinh thần sa sút. Vì vậy, nhiệm vụ của một bí thư liên chi ủy, của chính trị hiệp lý viên, tôi vẫn hoàn thành tốt. Trong kỳ học tập bắn súng ngắn và súng trường của toàn Sư đoàn, về súng ngăn, với khẩu súng Braoning của Trung đoàn 36 tặng, khi bắn đạn thật ba viên, tôi đạt 26 điểm; về súng trường loại trung chính 7,62mm của Trung Quốc, tôi đạt 27 điểm, đạt hai danh hiệu xạ thủ trong toàn Sư đoàn. Đúng lúc này, tôi nhận được quyết định đích danh tập trung lên Bộ Tổng Tham mưu dự lớp huấn luyện xạ thủ súng ngắn để đi dự cuộc thi bắn súng ngắn quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa sắp tới tổ chức ở Bucarét - Rumani. Đồng thời tôi cũng nhận được thư của bố tôi viết cho tôi báo tin là ở địa phương đã tiến hành sửa sai trong cải cách ruộng đất, gia đình không bị quy sai là địa chủ nữa, nhưng hiện nay tình hình kinh tế gia đình khó khăn. Tôi vội vàng đi vay trước của tài vụ cơ quan 90 đồng (tiền trợ cấp chức vụ một tháng của tôi) và nhờ một đồng chí lúc đó được nghỉ phép về quê đưa cho vợ tôi để chuyển cho bố mẹ tôi 30 đồng, còn 60 đồng dành cho vợ và hai đứa con. Lúc đó, tiêu chuẩn ăn của bộ đội là 15 đồng một tháng đã rất khá, với hy vọng giúp bổ mẹ, vợ con vượt qua được nạn đói. Nhưng rồi vì một lý do không đâu số tiền đó không đến được tay bố mẹ tôi. Về sau gặp Phúc, tôi hỏi về chuyện này thì Phúc nói rằng vì lúc đó vẫn sợ Đội Cải cách nên không đưa được. Tôi rất buồn và giận vợ vì cách xử lý của vợ. Phúc tỏ ra ân hận, mẹ tôi thì không bao giờ nhắc tới chuyện này. Tôi lên lớp xạ kích do Bộ Tổng Tham mưu tổ chức học được khoảng gần hai tháng, vợ tôi lên báo tin bố tôi đã mất vì có thời gian bị đấu tổ sức khỏe đã yếu, lại khó khăn thiếu thốn nên bị bệnh không qua khỏi và ở nhà đã làm lễ an táng. Tôi rất đau buồn vì trong lúc bố mẹ gặp khó khăn nhất lại không co mặt ở nhà để giúp đỡ bố mẹ. Thời gian tổng kiểm tra kết quả, thi bắn đạn thật để tuyển chọn xạ thủ xuất sắc nhất đi thi quốc tế đã tới, tôi không thể về qua nhà được nữa. Hôm bắn thi đạn thật ở lớp, tôi đứng thứ ba trong số 10 tuyển thủ cần chọn trong đội tuyển Việt Nam. Nhưng rồi xảy ra sự biến ở Hunggari năm 1956 nên cuộc thi đó phải hoãn lại, các xạ thủ phải trở về đơn vị tiếp tục tự luyện tập, khi cần sẽ triệu tập lại. Hôm lễ bế mạc, tôi được cấp chứng chỉ là vận động viên bắn súng ngắn xạ thủ loại 1 và được cấp theo chế độ mỗi tháng được bắn tập 30 viên đạn thật tại đơn vị. Được vài tháng tôi xin thôi vì trở thành xạ thủ súng ngắn không thể là sự nghiệp lâu dài của mình. Hôm từ Quần Ngựa trở về đơn vị, tôi ghé vào một cửa hàng cà phê đối diện với nhà hàng Thủy Tạ, tình cờ tôi gặp anh Lê Minh Lợi ở đó. Tôi mừng quá, dồn dập hỏi anh về tình hình quê nhà sau cải cách ruộng đất đợt 5 và việc chấn chỉnh tổ chức. Anh cho biết, Trung ương lúc đó đã thấy việc chỉnh đốn tổ chức có sai lầm nghiêm trọng. Cũng rất may là ta đã chặn đứng lại được các sai lầm trên và tích cực sửa chữa. Nếu không có nỗi đau này thì thắng lợi to lớn mà nhân dân ta đã giành được trong cuộc đấu tranh giải phóng và thống nhất đất nước do Đảng ta lãnh đạo trọn vẹn và đẹp đẽ biết bao. Sau cuộc gặp gỡ với anh Lợi ở Hà Nội, tôi được đơn vị cho nghỉ phép về thăm nhà. Không khí trong thôn xóm như vừa qua một tai họa khủng khiếp, như một người ốm nặng mới khỏi, không ai muốn nhắc lại chuyện cũ. Qua tai họa gây ra cho nhau nhưng tuyệt nhiên không có chuyện trả thù. Bà con đối xử với nhau rất độ lượng, có lẽ đấy là một đức tính rất cao quý, rất Việt Nam. Tôi gặp mẹ, bà vẫn bình tĩnh, gan góc đã vượt qua tất cả mọi khổ ải vừa qua, không hề kể lại một chi tiết nào về sự đấu tố của ai đó với gia đình, với bố tôi; không hề có một lời phàn nàn, trách móc với con trai, con dâu và nói chung với con cái. Bà cũng không kể lể bà đã làm gì dể vượt qua khó khăn, để sống. Tôi thật sự xúc động trước nghị lực, trước sự bao dung của mẹ đối với con cái, với mọi người. Tôi vẫn thấy bà nhiều lần âu yếm và một chút nghiêm khẳc nhìn con trai mình. Tôi cảm thấy vợ chồng tôi, chủ yếu là tôi có lỗi đã không giúp đỡ được gì cho bố mẹ trong những lúc khó khăn gian khổ nhất. Khi đợi mua hương ra mộ bố, tôi tranh thủ thăm một số bà con xung quanh. Mọi người như vừa thoát khỏi một cơn ác mộng. Gặp vợ ông Đường mà tôi gọi là cô họ, bà chỉ vào cái huy hiệu "Chiến sĩ Điện Biên Phù" tôi đeo ờ ngực, cười cười nửa đùa nửa thật: - "Đội" hả? - Thưa cô, đấy là huy hiệu được Bác Hồ tặng cho cán bộ, chiến sĩ sau Chiến thắng Điện Biên Phủ đấy ạ! - Tôi trả lời. Bà cười thoải mái: - Ừ, thế thì được. Tôi cầm thẻ hương mẹ tôi vừa mua về ra viếng mộ bố tôi ờ gần quán Thiện, cách nhà độ hơn nửa cây sổ. Ngồi một lúc lâu bên nấm mồ cỏ đã mọc xanh của cha mình, tôi nghĩ tới những điều tốt đẹp nhất của ông đã ít nhiều ảnh hưởng tới mình: Lòng yêu nước, sự nhạy cảm và thái độ ủng hộ nhiệt thành với những tiến bộ xã hội, sự trung thực và phóng khoáng trong quan hệ bạn bè, thái độ trân trọng với con người. Tôi nhớ tới sự tài hoa của ông khi ông phóng bút viết những hàng chữ Nho rất đẹp, bay bướm và những hàng chữ Quốc ngữ rõ ràng, chân phương nhưng cũng rất hoa mỹ tôi cố học mà không đạt được. Tôi cũng rất tiếc nếu những sự tốt đẹp đó được phát huy hết mà không có những hạn chế không đáng có của cha mình thì có ích cho gia đình và cho xã hội biết may. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Chín, 2023, 09:10:44 am Khi về quê, không bao giờ tôi quên đến thăm hai người mà tôi yêu mến.
Đó là anh con nuôi bác ruột tôi, sinh ra trong một gia đình rất nghèo khổ ở trong làng, lại mồ côi cha mẹ. Bác trai tôi là một ông lang thuốc Bắc đã mất từ cuối năm 1947, sau khi tôi cưới vợ vài tháng. Còn bác gái tôi là người quán xuyến việc cày cấy mấy mẫu ruộng bằng lao động của chính bà và các con trong gia đình, trong đó anh con nuôi là một trong những lao động chính. Anh được các bác tôi tin cậy như con đẻ, lo việc vợ con rất chu đáo, cưới cho một chị vợ khá xinh đẹp trong một gia đình có nền nếp. Khi Đội Cải cách ruộng đất đến, họ coi anh như một người cố nông bị bóc lột và phát động anh tố cáo bà là gia đình bóc lột. Anh khéo léo và rất kiên quyết từ chối, anh cho rằng nếu không có cha mẹ nuôi thì anh không thể có cuộc sống như bây giờ. Trong họ nhà bác tôi có ai mất, anh đều lo toan cáng đáng những việc nặng nhọc nhất, ví dụ như việc đào, lấp mộ. Cả họ tôi ai cũng quý mến anh, còn chúng tôi, nhũng đứa em từ nhỏ đã coi anh như anh ruột mình. Khi huyện tôi triển khai việc quy hoạch và xây dựng trụ sở các cơ quan và những công trình phúc lợi công cộng của huyện thì mồ mả của dân phải di dời đi nơi khác. Bác gái tôi là con dâu trưởng của chi họ Đinh ở thị trấn Quế nên bà rất quan tâm tới mồ mả của tổ tiên và những người thân đã mất; anh lại là người giúp việc chính của bác gái tôi, tìm và quy tập những mộ đó vào một chỗ. Chính sự gắn bó từ lâu của anh, sự chất phác, đôn hậu, trung thực và những việc làm có tình, có nghĩa của anh đối với gia đình bác tôi, với dòng họ đã tạo nên tình cảm biết ơn và tôn trọng của chúng tôi đối với anh. Người thứ hai tôi thường đến thăm khi về quê là ông chú rể. Gọi là chú theo quan hệ họ hàng thực ra ông chỉ hơn tôi hai ba tuổi và lấy cô họ tôi còn kém tôi hai tuổi, ông là Trung đội trưởng quân báo phục viên và là người đã có công phục hồi cả một làng làm nghề gốm sành ở thôn Đanh Xá bên cạnh, là quê của vợ tôi và bố mẹ vợ vốn là một chủ lò gốm nhỏ. Trên đống hoang tàn đổ nát bị địch tàn phá trước khi chúng rút đi, ông đứng ra tổ chức hợp tác xã đồ gốm với vốn góp ban đầu của mỗi xã viên là 15 đồng bạc. Chỉ sau khoảng hai năm, hợp tác xã gốm Quyết Thành do ông làm Chủ nhiệm đã là một trong những hợp tác xã hàng đầu của tỉnh Nam Hà (Nam Định và Hà Nam) về doanh thu, về đời sống của xã viên, về đóng góp thuế cho Nhà nước, về vốn tích lũy và chưa bao giờ phải vay vốn ở ngân hàng... Mỗi lần tôi được về thăm quê, tôi lại phát hiện ra những nét tốt đẹp mới trong tâm hồn, tính cách của bà con quê mình. Những điều tôi đã thấy từ trước, đó là những con người hiền hòa, lương thiện, cần cù lao động, yêu nước, cách mạng. Trong thời gian địch chiếm đóng biết đùm bọc, bảo vệ, giúp đỡ nhau trước nanh vuốt tàn bạo và sự kìm kẹp của địch. Những gia đình có người thân hoạt động cách mạng, kháng chiến không có gia đình nào bị kẻ xấu tố cáo, bị bắt bớ, tra tấn. Lần này, sau thắng lợi to lớn và những sai lầm nghiêm trọng của đợt 5 cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, tôi thấy thêm một nét đặc sắc nữa là tấm lòng bao dung, độ lượng bao la của bà con là những con người sống có tình nghĩa, là tinh thần phấn đấu vươn lên xây dựng quê hương không biết mệt mỏi. Tất cả những người vì một lý do nào đó hoặc bị ép buộc đấu tố không đúng sự thật đều được những người bị hại tha thứ, không có sự trả thù. Và sau những tổn thất, đau thương do sai lầm, bà con vẫn kiên cường đứng dậy hướng về phía trước để xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn, không bi lụy, buông xuôi. Mặc dù trong cuộc sống thường ngày có những bà con cũng có những mâu thuẫn nhỏ về lợi ích cá nhân hay gia đình, những việc không hài lòng nhau trong cách ứng xử, những khác biệt về cá tính, sở thích hoặc có khi là sự hiểu lầm nhau nữa... Nhưng những vấn đề cơ bản tốt đẹp nhất như tình cảm quê hương, sự quan tâm tới cộng đồng, tinh thần vươn lên trong cuộc sống, lòng nhân ái, bao dung, độ lượng đối với nhau bao giờ cũng là nét chủ đạo, nổi bật. Lần này trở về đơn vị, tôi thấy trong lòng nhẹ nhõm, thanh thản và càng thêm yêu thương quê hương mình vì lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với cách mạng vẫn được giữ vững sau khi những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đã được nhanh chóng sửa chữa; vì tình hình quê hương vẫn ổn định, đoàn kết và vì cả những mặt tích cực của công cuộc cải cách ruộng đất đã mang lại cho quê hương mình như sự binh đẳng giữa các tầng lớp nhân dân tốt hơn, ý thức làm chủ xóm làng, quê hương được nâng cao hơn, tinh thần phấn đấu vươn lên để xây dựng cuộc sống chung mạnh mẽ hơn... Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Chín, 2023, 09:15:02 am Chương năm MIỀN BẮC HÒA BÌNH, SƯ ĐOÀN 308 - KỶ NIỆM ĐẸP Từ tháng 12 năm 1954 đến khoảng giữa năm 1957, tôi vẫn làm công tác đảng và công tác chính trị ở các phòng Tham mưu Chính trị và các đơn vị trực thuộc Sư đoàn bộ 308, về mặt Đảng tôi vẫn là Bí thư Liên chi ủy của hai phòng và các đơn vị trực thuộc, có khoảng thời gian được bầu kiêm luôn là Bí thư Chi bộ Phòng Tham mưu. Đối tượng công tác ở hai phòng đó phần lớn là cán bộ trung cấp có trình độ. Một số đồng chí là cán bộ cao cấp kể cả Thủ trưởng Sư đoàn và hai phòng đều là những cán bộ ưu tú đã qua chiến đấu ở đơn vị, có một số là trí thức hoặc xuất thân là sinh viên, học sinh có trình độ và dày dặn kinh nghiệm chiến đấu; có một số ít là anh em miền Nam được bổ sung về đơn vị trực thuộc đều là đơn vị kỹ thuật (thông tin, công binh, trinh sát...). Môi trường công tác đó đòi hỏi tôi phải có một sự cố gắng rất lớn, tự nâng cao trình độ, tự rèn luyện thêm phẩm chất của mình, gần gũi và khiêm tốn học tập mọi người mới có thể đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ. Thời gian này, miền Bắc có hòa bình, đơn vị lại đóng quân xung quanh Hà Nội tương đối gần nhà, tôi có điều kiện để thăm gia đình nhiều hơn trong những dịp lỗ tết hoặc ngày chủ nhật. Cũng trong thời gian này, tuy không dài lắm nhưng tôi cũng tự thấy mình trưởng thành lên nhiều trong công tác, trong việc tự bồi dưỡng, tự học tập trong cách ứng xử... của mình. Thời gian này, mặc dù công việc thường ngày rất bộn bề nhưng tôi thấy có những việc, những chuyển biến trong nhận thức, tâm tư tình cảm của mình rất đáng ghi nhớ. Thời đó vẫn tồn tại trong Đảng, trong nhân dân và Quân đội ta nhận thức khá sâu sắc rằng thế giới chia làm hai phe: Phe tư bản chủ nghĩa đứng đầu là đế quốc Mỹ bao gồm các nước tư bản (trong đó có cả các nước ở đó chính quyền do các đảng xã hội dân chủ lãnh đạo) và phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu là hai hệ thống xã hội đối lập nhau. Đảng Cộng sản Liên Xô mà Khơrútxốp là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương chủ trương hai hệ thống xã hội đó phải chung sống hòa bình, tồn tại hòa bình và thi đua hòa bình với ảo tưởng "tránh cho thế giới có những cuộc chiến tranh tàn khốc, nhưng lại kìm hãm và trói buộc các dân tộc bị áp bức đầu hàng, không đấu tranh vũ trang để giải phóng dân tộc mình. Việc đó gây nên tình trạng phe xã hội chủ nghĩa, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thậm chí ngay trong từng đảng ở mỗi nước có nhiều quan điểm trái chiều. Cũng từ đó, mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô ngày càng trở nên sâu sắc. Đảng ta đứng đầu là Bác Hồ và Ban Chấp hành Trung ương không muốn có sự chia rẽ trong phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế nên cố gẳng tìm cách góp phần giải quyết sự bất hòa ngày càng trầm trọng đó, khi các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc lần lượt phát ra trên toàn thế giới một loạt bài phê phán Khơrútxốp và Đảng Cộng sản Liên Xô với những lời lẽ rất gay gắt, quyết liệt. Đương nhiên, nước ta còn miền Nam chưa được giải phóng, đất nước chưa được thống nhất do âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ nên trong Đảng và trong nhân dân, nhiều người dễ tán thành những luận điểm của Trung Quốc. Chung sống hòa bình, tồn tại hòa bình, thi đua hòa bình thì bao giờ miền Nam mới được giải phóng, đất nước mới được thông nhất? Theo hiểu biết của tôi lúc đó và tình hình thực tế, tâm tư của nhiều cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị là nỗi ám ảnh lớn nhất. Tôi nghĩ sự lo lắng và mong muốn đoàn kết nhất trí trong hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế, trước hết giữa Liên Xô và Trung Quổc, phải được giải quyết trong nội bộ của Đảng ta hoàn toàn là có thiện ý và hợp lý, biểu thị rõ ràng tinh thần độc lập, tự chủ của ta. Nhưng điều quan trọng là tôi thấy Đảng, Nhà nước hơn lúc nào hết không ngừng hâm nóng tinh thần yêu nước, ý chí thống nhất đất nước, vì miền Nam ruột thịt mà ra sức xây dựng miền Bẳc xã hội chủ nghĩa vững mạnh, xây dựng, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang hướng tới việc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chống những biểu hiện tiêu cực của hòa bình chủ nghĩa. Có lẽ chúng ta đã rút được kinh nghiệm của sự rập khuôn máy móc, giáo điều, vận dụng những quan điểm, đường lối và kinh nghiệm của các đảng bạn thiếu sự phê phán, chọn lọc, thiếu tinh thần độc lập, tự chủ dẫn đến sai lầm đáng tiếc của cải cách ruộng đất. Chính vì vậy, phong trào thi đua xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và xây dựng Quân đội theo hướng chính quy, hiện đại, tăng cường công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang rất sôi động và liên tục. Tôi thực hiện nhiệm vụ của mình trong không khí sôi nổi của một đơn vị chủ lực cơ động chiến lược là Sư đoàn 308 - Sư đoàn Quân Tiên phong. Lúc này, đồng chí Lê Vinh Quốc lên làm Chính ủy Sư đoàn thay đồng chí Song Hào lên Tổng cục Chính trị nhận chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục; anh Chu Thanh Hương, Chính ủy Trung đoàn 36 lên làm Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn thay anh Đặng Quốc Bảo được điều lên làm Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng; anh Hồng Cư đang làm Phó Chính ủy Trung đoàn 36 (Trung đoàn Bắc Bắc) lên làm Chính trị viên Tiểu đoàn huấn luyện rồi Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn. Anh đã đầu tư nhiều công sức xây dựng Cơ quan Tuyên huấn Sư đoàn đáp ứng yêu cầu mới của tình hình nhiệm vụ. Theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị, toàn quân đi đôi với việc huấn luyện quân sự theo hướng chính quy, hiện đại, cần nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ trung, cao cấp. Ngoài những đợt sinh hoạt chính trị, nghiên cứu các nghị quyết của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, nội dung lý luận đầu tiên là nghiên cứu học tập tại chức môn triết học, phần duy vật lịch sử nhằm nâng cao hiểu biết về quy luật tiến hóa của xã hội, nâng cao phương pháp luận khoa học, xây dựng lòng tin vào thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội khoa học... Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Chín, 2023, 09:15:31 am Bài đầu tiên do Chính ủy Sư đoàn Lê Vinh Quốc giảng, từ bài thứ hai trở đi do anh Hồng Cư là Trưởng ban Tuyên huấn giảng, tôi với tư cách là Chính trị hiệp lý viên của Cơ quan Tham mưu Sư đoàn được chỉ định làm Tổ trường học tập của Tổ cán bộ trung, cao cấp của Cơ quan Tham mưu. Tôi vốn ham học hỏi, rất thích thú với nội dung học tập này. Cán bộ Cơ quan Tham mưu số đông là trí thức hoặc xuất thân là học sinh có trình độ học vấn nhưng vốn quen với nếp tư duy đơn giản, cụ thể, nay đi vào những vấn đề trừu tượng của triết học nên lúc đầu học có khó khăn. Lần đầu tiên khi nghe Chính ủy Sư đoàn giảng bài, ra khỏi lớp, một đồng chí cán bộ trung cấp có trình độ tú tài than: "Nhiều "xuất" quá: Phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất, tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất..., ra khỏi lớp "xuất hết", làm anh em phì cười. Anh Hồng Cư, Trưởng ban Tuyên huấn tuy chưa được học một lớp cơ bản nào nhưng vốn rất nhiệt tình, thông minh, lên lớp các bài sau diễn đạt dễ hiểu, hấp dẫn, sinh động nên dần dần cũng gây được hứng thú học tập cho cán bộ về môn lý luận này. Không khí học tập ở tổ tôi phụ trách cũng ngày một khá lên. Sau mỗi bài học, tôi cùng với các tổ trưởng khác có nhiệm vụ phải báo cáo kết quả học tập cho giảng viên. Thế rồi, không hiểu lọt vào “mắt xanh" của giảng viên Hồng Cư lúc nào, tôi được điều về Ban Tuyên huấn Sư đoàn làm giáo viên lý luận tại chức cho cán bộ toàn Sư đoàn, trong khi tôi lúc đó chỉ là Chính trị hiệp lý viên của Cơ quan Tham mưu.
Tôi thực sự lo lắng với sự phân công này vì vốn là cán bộ quen làm công tác tổ chức, công tác đảng, chưa bao giờ làm công tác tuyên huấn, chưa từng được đi học một lớp lý luận chính trị cơ bản nào. Nhưng có lẽ vì "điếc không sợ súng", cũng vì sẵn có ý thức tổ chức kỷ luật từ trước đến nay chưa dám từ chối bất cứ nhiệm vụ gì Đảng phân công nên tôi tự xác định sẽ cố gắng khắc phục khó khăn thực hiện nhiệm vụ mới. Việc đầu tiên là tôi cùng với anh Hồng Cư đi dự một lớp bồi dưỡng về hai bài "Ý thức xã hội" và "Nhà nước và pháp quyền" do Cục Tuyên huấn - Tổng cục Chính trị tổ chức trong bảy ngày. Vì thiếu cán bộ đã qua đào tạo cơ bản nên hồi đó thường có kiểu bồi dưỡng "ăn đong" như vậy. Cách thức Cục Tuyên huấn bồi dưỡng cho giáo viên lý luận tại chức toàn quân cũng tương đối đơn giản: Đưa tài liệu cho từng người nghiên cứu, phát hiện thắc mắc và giải đáp. Từ cái vốn được bồi dưỡng đó, tôi về tìm mọi tài liệu có liên quan để nghiên cứu chuẩn bị bài giảng cho cán bộ trong Sư đoàn. Tôi rất lo vì những bài trước đó anh Hồng Cư giảng cho cán bộ rất dễ hiểu, rất hấp dẫn. Nếu mình giảng không ra gì, anh em ngủ gật là thất bại; có lẽ anh Hồng Cư còn lo hơn tôi vì đã "tiến cử" một giảng viên thay mình. Tôi ra sức tìm các tài liệu để đọc và chuẩn bị thật chu đáo. Trước buổi lên lớp cho cán bộ Sư đoàn, anh Hồng Cư báo cho tôi biết là lên "giảng trước" cho Chính ủy và Sư đoàn trưởng. Khi đó, anh Đặng Quốc Bảo đã có quyết định bổ nhiệm Chính ủy Sư đoàn và anh Phạm Hồng Sơn đã nhận nhiệm vụ Tư lệnh Sư đoàn thay anh Vũ Yên đi Liên Xô học. Tôi hiểu gọi là "giảng trước" cho hai anh cũng có nghĩa là các anh lo lắng muốn kiểm tra chất lượng bài giảng trước khi giảng cho cán bộ toàn Sư đoàn. Tôi tự tin với sự chuẩn bị chu đáo của mình và trình bày nội dung bài giảng trong một buổi sáng trước hai thủ trưởng của mình, hai trí thức mà tôi rất kính trọng, ngưỡng mộ và đã từng cùng các anh chiến đấu, công tác ở Đại đoàn một thời gian khá dài trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến bây giờ. Anh Hồng Sơn đã tốt nghiệp cử nhân luật trước Cách mạng Tháng Tám, nghe nói đã từng đi tập sự tri huyện, còn anh Đặng Quốc Bảo vốn sinh ra ở một làng khoa bảng, có nhiều trí thức là làng Hành Thiện thuộc tỉnh Nam Định, vừa đi học vừa tham gia cách mạng khi còn là thiếu niên, em họ gần của đồng chí Trường Chinh, nguyên Tổng Bí thư Đảng, là Chính ủy Trung đoàn 88 thuộc đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội lúc mới 22 tuổi, kiến thức khá uyên bác. Hai trí thức đó rất chăm chú lắng nghe với một thái độ nghiêm túc từ đầu đến cuối bài giảng của cán bộ cấp dưới mình, vốn xuất thần từ một học sinh chưa học hết trung học, chưa từng học một lớp lý luận cơ bản nào mà cả gan "giảng" về một vấn đề của triết học Mác - Lênin. Trình bày xong, tôi xin các anh góp ý kiến. Hai anh không khen, cũng không chê và cũng không bổ sung ý kiến nào. Tôi vui mừng, nghĩ thầm nội dung mình chuẩn bị như vậy là đạt, vì ít nhất hai anh cũng thừa nhận là những vấn đề nêu ra trong bài giảng về "ý thức xã hội" cũng mang lại những kiến thức mới mẻ, bổ ích cho cán bộ trung, cao cấp toàn Sư đoàn. Vài ngày sau, lớp học được tổ chức ở Hội trường Sư đoàn bộ. Các cán bộ trung, cao cấp của các cơ quan Sư đoàn bộ, các trung đoàn và tiểu đoàn đều có mặt đầy đủ để nghe giới thiệu và hướng đẫn thảo luận trong một ngày rồi về từng đơn vị bố trí thảo luận theo chương trình đã định. Anh Hồng Cư cũng có mặt buổi đó theo dõi tôi lên lớp. Mặc dù đã được các Thủ trưởng Sư đoàn thông qua nhưng tôi thấy vẻ mặt anh lúc đầu có vẻ căng thẳng. Học tập kinh nghiệm trong cách diễn đạt dễ hiểu, sinh động, hấp dẫn của anh khi lên lớp, không như khi trình bày với hai Thủ trưởng Sư đoàn, tôi chuẩn bị những ví dụ vui vui trong cuộc sống để them "dấm ớt" cho bài giảng sinh dộng, làm cho không khí lớp học luôn vui vẻ, nhẹ nhàng. Quan sát anh Hồng Cư, người thầy của mình vẻ mặt giãn ra, thỉnh thoảng cũng cười vui cùng với học viên khi có những ví dụ dí dòm, tôi thấy nhẹ cả người và cũng tự tin hơn. Từ một cán bộ làm công tác đảng, công tác tổ chức, bước đầu tôi chuyển sang nghiệp tuyên huấn bằng việc làm giảng viên triết học tại chức "bất đắc dĩ", khi chưa hiểu triết học là gì, diễn ra như thế nào. Tôi cũng vui mừng và không đến nỗi hổ thẹn với sự tin tưởng và hết lòng giúp đỡ và tin tường của anh Hồng Cư, một người anh, một người đồng đội mà tôi rất kính trọng và yêu mến. Từ đó, tôi càng coi trọng hơn việc tự rèn luyện để nâng cao trình độ của mình bằng việc đọc sách, tự mình nghiên cứu. Sau đó ít lâu, anh Hồng Cư được Tổng cục Chính trị điều lên công tác tại Cục Tuyên huấn. Hóa ra việc điều anh từ Phó Chính ủy Trung đoàn 36 (Trung đoàn Bắc Bắc) lên làm Chính trị viên Tiểu đoàn huấn luyện, rồi lên làm Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn một thời gian là để anh xây dựng Ban Tuyên huấn Sư đoàn, kiêm luôn giảng viên lý luận tại chức, một việc rất mới mẻ để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ lúc đó. Thay anh Hồng Cư là anh Bùi Nguyên Cát, một cán bộ của Trung đoàn Thủ đô (mang phiên hiệu 102) thuộc Sư đoàn. Được ít lâu, anh Cát chuyển ngành ra ngoài làm Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Bách khoa. Người về thay anh Cát là anh Bạch Ngọc Liễn, một cán bộ khác của Trung đoàn Thủ đô, người làng Lạc Tràng, sát thị xã Phủ Lý, đồng hương huyện Kim Bảng với tôi. Đến giữa năm 1958, tôi hoàn thành việc giảng bài và hướng dẫn học tập bài "Nhà nước và pháp quyền". Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Chín, 2023, 09:16:11 am Ngay sau đó, tôi được bổ nhiệm làm Phó ban Tuyên huấn Sư đoàn, quyền Trưởng ban thay cho anh Bạch Ngọc Liễn đi học ờ Trường Chính trị trung cao cấp của Quân đội (nay là Học viện Chính trị). Tổng cục Chính trị điều động một đồng chí về Ban Tuyên huấn thay tôi tiếp tục làm nhiệm vụ giảng viên lý luận tại chức cho cán bộ. Lúc này, Quân đội ta cỏ hai sự kiện lớn: Nhà nước quyết định phong quân hàm và quy định chế độ lương cho cán bộ Quân đội. Tôi được phong quân hàm Đại úy ngay đợt đầu và hưởng lương 100 đồng/tháng thay cho chế độ phụ cấp trước kia (90 đồng), cùng với trợ cấp 5 đồng cho mỗi đứa con. Lúc đó, quân hàm ở các cấp thấp hơn bây giờ (năm 2013) nhiều: Cán bộ trung đội thường là chuẩn úy, thiếu úy; đại đội là trung úy thượng úy; tiểu đoàn là thượng úy, đại úy; trung đoàn là đại úy thiếu tá; sư đoàn là trung tá đến đại tá, phổ biên là thượng tá... Trong quân đội có bốn chế độ ăn:
1. Đại táo cho binh nhì đến trung úy = 18 đồng/tháng 2. Trung táo cho thượng úy đến trung tá = 24 đồng/tháng 3. Tiểu táo cho thượng tá trở lên = 30 đồng/tháng 4. Đặc táo là chế độ cao nhất cho những trường hợp đặc biệt (theo kinh nghiệm của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc). Thực hiện phong quân hàm và quy định chế độ lương bổng cho sĩ quan được coi như những nội dung cần thiết cho việc dân dần chính quy hóa Quân đội. Việc thực hiện chế độ lương cho sĩ quan giúp cán bộ có thể dành một phần để giúp đỡ gia đình vợ con giảm bớt khó khăn trong cuộc sống lúc đó. Đầu năm 1959, có một bước ngoặt lớn cực kỳ quan trọng chuyển cách mạng cả nước nói chung, đặc biệt là cách mạng miền Nam sang một tình thể mới. Mặc dù Hiệp định Giơnevơ tháng 7 năm 1954 đã được ký kết, quy định sau đó hai năm sẽ có cuộc hiệp thương tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất đất nước. Song đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai của chúng ở miền Nam ra sức phá hoại những điều khoản của Hiệp định. Với sự can thiệp ngày càng sâu của đế quốc Mỹ, bọn ngụy quyền tay sai Ngô Đình Diệm không từ một tội ác nào để đàn áp nhân dân miền Nam một lòng, một dạ hướng về cách mạng, ra sức đấu tranh thi hành Hiệp định, thống nhất đất nước. Bọn tay sai Ngô Đình Diệm thi hành Luật 10/59 (10.1959) tàn sát, khủng bố, bắt bớ tù đày những người kháng chiến cũ bằng những biện pháp man rợ. Những vụ đàn áp tàn bạo như ở nhà tù Phú Lợi của Mỹ - Diệm cũng như ở các nơi khác ở miền Nam gây nên một sự căm phẫn sôi sục của nhân dân miền Nam cũng như đồng bào miền Bắc, ai ai cũng xót xa, bồn chồn, lo lắng. Lúc đó, ở các đơn vị và cơ quan trong Sư đoàn đã có nhiều cán bộ từ miền Nam được đào tạo ở các trường Quân đội hoặc ở các đơn vị Quân đội miền Nam tập kết ra Bắc được bổ sung cho Sư đoàn. Gặp những anh em ấy không khó để nhận ra những vẻ mặt ưu tư, u buồn, vắng hẳn những nụ cười vì đại bộ phận đều có gia đình, vợ con còn ở lại miền Nam sống dưới nanh vuốt của quân thù. Những anh em miền Bắc nhạy cảm, tinh ý đều rất thông cảm với những đồng đội "ngày Bắc đêm Nam" của mình. Riêng tôi đã từng Nam tiến từ đầu tháng 10 năm 1945, chiến đấu ờ cực Nam Trung Bộ một năm, đã bị địch bắt vào tù, được nhân dân đùm bọc, che chờ (kể cả những người đã chiến đấu trong hàng ngũ kháng chiến chống thực dân Pháp, sau vì lý do nào đó phải làm việc cho chúng), đã may mắn thoát khỏi tay giặc, chịu ơn nhiều với nhân dân miền Nam, cũng thông cảm sâu sắc, khó nói lên lời với đồng đội mình và nhân dân miền Nam. Trước những tội ác man rợ của Mỹ - ngụy, nhân dân miền Nam ở nhiều nơi vùng dậy đấu tranh chổng lại chúng, trở thành một xu thế mạnh mẽ của toàn miền. Trước tình hình cấp thiết đó, Trung ương Đảng đã họp tại Hà Nội cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của miền Nam để xác định đường lối và phương pháp cách mạng ở miền Nam. Chúng ta không thể bị ràng buộc vào cái gọi là "Chung sống hòa bình, tồn tại hòa bình, thi đua hòa bình". Vì sự sống còn của đất nước mình và chủ nghĩa xã hội, cả nước phải đứng lên đập tan âm mưu chia cắt hai miền và xâm lược của địch đối với Tổ quốc mình. Trước cơ sở phân tích tình hình chung và tình hình miền Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 khóa II tháng 1 năm 1959 kết luận một vấn đề cực kỳ quan trọng: "Con đường phát triển cơ bản của cách mạng ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân". Nghị quyết nhấn mạnh những vấn đề quan trọng: Mối quan hệ giữa cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; xác định ba vùng chiến lược (rừng núi, đồng bằng, đô thị) và hình thức đấu tranh phù hợp với đặc điểm từng vùng... Và để đáp ứng nhu cầu mới của cách mạng miền Nam, ngay sau Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng, các đơn vị vận tải quân sự đường Trường Sơn (Đoàn 559) và vận tải vượt Biên Đông (Đoàn 759) được thành lập. Nghị quyết 15 chứng tỏ quan điểm độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng, phản ánh đúng đắn yêu cầu của thực tế khách quan, đáp ứng được nguyện vọng nóng bỏng của nhân dân cả nước ta, đặc biệt là của nhân dân miền Nam ruột thịt. Với nhiệm vụ của một cán bộ tuyên huấn, tôi và anh em trong Ban giúp Đảng ủy và Thủ trưởng Sư đoàn tổ chức học tập, nghiên cửu nhằm quán triệt trước hết cho cán bộ trung cao cấp trong đơn vị quán triệt Nghị quyết và theo dõi tình hình nhận thức tư tưởng của cán bộ. Khác với những lần sinh hoạt trước, tôi thấy trong cán bộ tràn đầy một không khí phấn khởi sau khi nghiên cứu Nghị quyết này. Nghị quyết như một luồng gió mát xua tan sự bức bối, khai thông được bế tắc, giải phóng được tư tưởng, hầu như giải quyết được các thắc mắc của cán bộ, xóa bỏ được tâm tư u uất bấy lâu nay của cán bộ. Nhất là đối với anh em cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, tôi cảm động khi đã thấy trong các anh, nhất là những anh em quen biết trong cơ quan, thình thoảng trên môi đã có những nụ cười tươi. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đứng đầu là Bác Hồ với tinh thần độc lập tự chủ, lòng tin vững chắc vào tinh thần yêu nước, cách mạng của nhân dân cả nước, đặc biệt là đồng bào miền Nam, đã ra một nghị quyết rất sáng tạo có ý nghĩa lịch sử đối với thắng lợi của công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bí thư thứ nhất Lê Duần, người đã nhiều năm lăn lộn với thực tế, nhận rõ nguyện vọng cháy bỏng, thiêng liêng và sức mạnh cách mạng lớn lao của nhân dân miền Nam trong cuộc đấu tranh với Mỹ - ngụy, đã có công lao rất lớn, đề xuất những ý kiến kiệt xuất, quý báu giúp Trung ương Đảng ta ra được Nghị quyết này. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Chín, 2023, 09:17:24 am Tôi phụ trách công tác tuyên huấn của Sư đoàn từ giữa năm 1958 cho đến nửa đầu năm 1961. Ban Tuyên huấn Sư đoàn là một trong những ban chủ lực của Phòng Chính trị Sư đoàn nên biên chế khá mạnh. Anh em trong Ban nói chung có trình độ học vấn khá hơn các ban khác và làm nhiều mặt công tác: Giáo dục chính trị, văn hóa, tuyên truyền thời sự, chính sách, xây dựng phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng, thư viện... tham gia làm công tác chính trị trong huấn luyện quân sự, diễn tập có thực binh và không có thực binh. Những trợ lý chủ chốt phần lớn là sĩ quan cấp đại úy, thượng úy, một bộ phận khá lớn tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945 hoặc những ngày đầu khởi nghĩa. Một số có bằng tú tài, bằng thành chung thời trước khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. Số anh em trẻ như những anh em phụ trách giáo dục văn hóa, thư viện đều tốt nghiệp đại học dưới chế độ ta. Ban của tôi là một tập thể đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau, trình độ năng lực công tác tốt, đều tay nên công việc dù rất bận rộn nhưng vẫn hoàn thành tốt. Vì toàn bộ từ cán bộ đến nhân viên đều sống ở doanh trại nên quan hệ với nhau như anh em một nhà; những anh em gia đình ở gần, nếu không phải trực ban thì tôi thứ 7 mới được về nhà và sáng thứ 2 có mặt làm việc. Những năm ấy, cả Sư đoàn bộ gồm có các phòng Tham mưu, Chính trị, Hậu cân đều ở cùng một khu gần nhau trong các nhà tạm tranh, tre, nứa, lá, ăn chung một bếp theo ba chế độ: Đại táo, trung táo, tiểu táo nên rất thân quen nhau và tiện quan hệ công tác... Thủ trường Sư đoàn và công vụ có một nhà nhỏ riêng ở gần với ba phòng cũng bằng tre nứa dễ gần gũi với cán bộ cấp dưới.
Ngoài công việc điều hành trong Ban, đôi khi tôi được Thủ trưởng Phòng Chính trị cử đi báo cáo theo yêu cầu của cơ quan bên ngoài theo một nội dung nào đó. Ví dụ như tỉnh Hà Đông yêu cầu nói về phong trào thi đua trong Quân đội cho cán bộ dân, chính, Đảng ở cơ quan tỉnh. Có khi Trường Chính trị trung cao mời lên báo cáo công tác chính trị trong huấn luyện quân sự ở cấp sư đoàn... Sau thấy có tác dụng, người ta truyền nhau, tôi cũng mất nhiều thời gian cho việc này, lắm lúc muốn từ chối mà không được. Những việc đó đòi hỏi tôi phải tìm tài liệu đọc để chuẩn bị nội dung cho phong phú, hấp dẫn. Khi ở doanh trại, tối thứ 7 là tôi dành toàn bộ thời gian để đọc sách, thường đến 1 - 2 giờ sáng hôm sau mới ngủ, sau này trở thành một thói quen của tôi khi còn tại ngũ. Thời gian phụ trách công tác tuyên huấn, tôi có dịp làm việc nhiều hơn với các Thủ trưởng Sư đoàn nên có điều kiện hiểu rõ và học tập được nhiều ở cấp trên của mình. Trước đó là đồng chí Đặng Quốc Bảo và tiếp theo là đồng chí Lê Linh về làm Chính ủy Sư đoàn; còn Tư lệnh Sư đoàn là đồng chí Hồng Sơn và tiếp theo là đồng chí Vũ Yên sau khi đi học ở Liên Xô về thay đồng chí Hồng Sơn được điều về Bộ Tổng Tham mưu. Những đồng chí đó vốn trước kia là thủ trưởng cũ của mình nên làm việc với các đồng chí tôi thấy rất thoải mái, dễ chịu, vô tư bởi thái độ cởi mở, thân mật của các đồng chí trong công tác. Đồng chí Đặng Quốc Bảo đôi khi trước những thiếu sót nhỏ trong công tác của anh em chúng tôi, không bao giờ tỏ vẻ khó chịu, cáu gắt, nặng lời với cấp dưới, mà tìm cách nhẹ nhàng uốn nắn. Với đồng chí Lê Linh, có một chuyện nhỏ mà tôi nhớ mãi. Có lẽ anh biết tôi không thích nghệ thuật cải lương và cả hò Huế vì tôi thấy có vẻ ủy mị. Trong những lần hội diễn nghệ thuật quần chúng của Sư đoàn, những tiết mục đặc sắc của các đơn vị trong Sư đoàn đêu được trình bày ở hội diễn Sư đoàn, nhưng chưa bao giờ tiết mục cải lương hoặc hò mái đẩy của Huế được giải thường. Tôi vốn rất thích những bộ môn nghệ thuật dân tộc như hát chèo, tuồng, dân ca quan họ, dân ca đồng bàng Bắc Bộ, dân ca của nhiều dân tộc ít người... nhưng tôi "hơi thành kiến" với cải lương và hò Huế. Một lần, anh Lê Linh làm nhiệm vụ trực Thủ trưởng (Chỉ huy - BT) ngày chủ nhật ở đơn vị. Chiều thứ 7, sau khi cơm nước xong, anh sang chỗ tôi bảo: - Tiên này, tối nay ở nhà hát thị xã Hà Đông có buổi biểu diễn một vở cải lương hay, đi với mình nhé, mình chiêu đãi vé. Nhà hát của thị xã Hà Đông cách doanh trại của Sư đoàn bộ chưa đầy một kilômét. Nể lời thủ trưởng, tôi nhận lời. Buổi tối, hai anh em cùng nhau ra nhà hát, anh tự mình đến quầy bán vé mua hai chiếc. Tối hôm đó, Đoàn cải lương Hà Đông biểu diễn một vở cải lương khá hay. Những kịch bản sân khấu thời kỳ đó phần nhiều có chất lượng nghệ thuật và nội dung tư tưởng tốt. Kết thúc buổi biểu diễn, tôi và anh thủng thẳng đi bộ về đơn vị, vừa đi vừa trao đổi về vở diễn. Tôi bắt đầu có ấn tượng tốt hơn với nghệ thuật cải lương. Tôi nghĩ không biết có phải anh "uốn nắn" một cách tế nhị với thành kiến sai lầm của tôi với môn nghệ thuật cải lương không? Nếu đúng như thế thì thật là đúng với phong cách thanh lịch của một người Hà Nội gốc như anh. Với vai trò là một đơn vị sư đoàn được thành lập đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, Sư đoàn 308 thường được các sư đoàn bạn thành lập sau gọi vui là Sư đoàn "Anh cả Đỏ". Vì đóng quân ờ xung quanh Hà Nội nên Sư đoàn thường được các đồng chí lãnh đạo Quân đội như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đến thăm. Bác Hồ, Bác Tôn từ ngày thành lập Sư đoàn cũng nhiều lần đến thăm, nói chuyện. Có những công việc gì triển khai chung cho toàn quân, Sư đoàn 308 thường được chọn làm thí điểm trước do Bộ chỉ đạo để rút kinh nghiệm cho toàn quân. Đối với một cán bộ chính trị làm công tác tuyên huấn trong Quân đội, tôi luôn quan tâm chú ý phát hiện và học hỏi những phẩm chất cao đẹp biểu hiện trong chiến đấu, công tác, trong cách ứng xử của cán bộ, chiến sĩ, đồng đội minh và cả cấp trên của mình. Trong Quân đội, Đại tướng Võ Nguyến Giáp và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là những vị tướng mà tôi ngưỡng mộ nhất. Ấn tượng sâu sắc của tôi với đồng chí Nguyễn Chí Thanh là qua nhiều lần đồng chí nói chuyện với cán bộ Sư đoàn 308. Tôi được biết trước khi được Trung ương điều về Quân đội làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đồng chí là Bí thư Liên khu ủy 4 (trước đó, đồng chí là Bí thư rất nổi tiếng của Phân khu ủy Bình - Trị - Thiên), một chiến trường rất gian khổ, khốc liệt. Trong cuộc đấu tranh sinh tử ấy với địch, đồng chí là linh hồn, là tấm gương cho mọi cán bộ cấp dưới, vực dậy nhiều cán bộ tưởng đã ngã lòng trước khó khăn, gian khổ, hy sinh. Trong một lần nói chuyện với cán bộ trung, cao cấp của Sư đoàn, với một thái độ rất thẳng thắn và chân thành, đồng chí cười khà khà phê bình thói kiêu ngạo của một số cán bộ trong Sư đoàn. Đồng chí nói "ngựa hay thường có tật", nhưng cán bộ cần phải biết cái tật của mình để sửa. Nghe đồng chí phê bình, không ai có thể giận vì thái độ thẳng thắn, chân thành đó. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Chín, 2023, 09:18:15 am Lần thứ hai là khi Trung đoàn 88 của Sư đoàn được chọn làm thí điểm nghiên cứu các dự thảo văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960. Lần ấy, Sư đoàn triệu tập từ bí thư chi bộ đến bí thư tiểu đoàn ủy, trung đoàn ủy đến toàn bộ Sư đoàn ủy và các cán bộ chủ trì trong các phòng, ban trong Sư đoàn để hướng dân.
Trong cuộc họp ấy, đồng chí Nguyễn Chí Thanh chủ trương không cần phải giới thiệu các văn kiện và hướng dẫn thảo luận mà để chi bộ được đọc toàn văn các văn kiện và để đảng viên tự do phát biếu hết ý kiến của mình, mục đích nhằm lấy ý kiến rộng rãi của mọi đảng viên đóng góp vào các văn kiện của Đảng. Ý kiến đó hơi khác với ý kiến của Ban Tuyên huấn Trung ương do đồng chí Trường Chinh lúc đó trực tiếp chỉ đạo. Vì vậy, đồng chí Phạm Ngọc Mậu, Cục trưởng Cục Tổ chức, thành viên trong Đoàn chỉ đạo thí điểm của Tổng cục đứng lên phát biểu đề nghị đúng hướng dẫn và đề cương của Ban Tuyên huấn Trung ương. Đồng chí Lê Linh, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn cũng đứng lên phát biểu đồng ý như vậy. Nhưng sau khi lý giải, đồng chí hỏi ý kiến Hội nghị thì hầu như toàn bộ bí thư chi bộ tán thành ý kiến của đồng chí. Ngay sau đó, ý kiến của Ban Tuyên huấn Trung ương yêu cầu thí điểm làm theo hướng dẫn chung và phải giới thiệu đề cương đã chuẩn bị, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã rất vui vẻ nghiêm chỉnh tiếp thu và chỉ đạo thí điểm theo hướng dẫn chung. Một ý thức tổ chức kỷ luật cao. Lúc đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh vẫn là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị nhưng được Bộ Chính trị phân công giúp thêm nhiều công việc khác, vốn là một con người nhiệt tình, năng động lại có tài động viên phát động phong trào, đi đến đâu, làm việc gi là ở đó không khí thi đua sôi nổi hẳn lên cả trong Quân đội, trong công nghiệp và nông nghiệp. Tôi nghe nói đồng chí là chuyên gia công tác tư tưởng số một của Trung ương và Bộ Chính trị lúc đó. Có những bộ phận, những đơn vị làm việc với một cường độ rất cao, thay nhau làm ngày làm đêm, nhất là đối với anh chị em miền Nam tập kết, sau khi đã có Nghị quyết 15. Khi có một bài báo của đồng chí Phạm Văn Đồng, trong đó có ý nhấn mạnh đến vấn đề tổ chức lao động, vấn đề cải tiến nâng cao chất lượng chứ không phải chỉ chú trọng đến cường độ. Với sự nhạy bén của một người lãnh đạo gần gũi quần chúng và sát thực tế, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đặc biệt quan tâm tới ý kiến này. Trong một buổi nói chuyện, tôi rất thích hai câu lục bát của đồng chí: "Làm việc có nghỉ có ngơi Cơm ăn có bữa, nhớ người có khi" Đọc xong anh cười khà khà, thoải mái, có ý uốn nắn một thiếu sót trong phong trào thi đua là quá nặng về cường độ lao động. Và theo cảm nghĩ của tôi, có lẽ đối với anh cũng là "tự phê bình một cách nhẹ nhàng". Một thái độ phục thiện rất đáng học tập. Một lần khác, cuộc họp của Đảng ủy Sư đoàn mở rộng nghiên cứu một nghị quyết quan trọng của Trung ương Đảng, có sự tham dự của phái viên Tổng cục Chính trị là đồng chí Hoàng Phương, Tổng Biên tập Tạp chí "Quân đội nhân dân". Sau cuộc họp đó, đồng chí Song Hào, Phó Chủ nhiệm Tổng cục, nguyên Chính ủy của Sư đoàn yêu cầu Sư đoàn cử người lên báo cáo kết quả với đồng chí. Tôi nhận được chỉ thị của Bí thư Đảng ủy Sư đoàn, một buổi tối lên phòng làm việc của đồng chí ở trong nội thành để báo cáo. Đang làm việc thì đồng chí Nguyễn Chí Thanh vừa công tác ở đơn vị về, vào thân mật hỏi đồng chí Song Hào: - Anh đang làm gì thế? - Tôi nghe 308 báo cáo kết quả việc nghiên cứu Nghị quyết Trung ương - Đồng chí Song Hào trả lời. - Này, 308 "nó" làm được đấy, làm tiếp đi - Đồng chí Thanh nói rồi vui vẻ quay ra ngay. Tôi thấy không khí, thái độ giữa hai lãnh đạo cấp cao của Quân đội thật ấm áp và rất thích thú với lời khen thật giản dị của đồng chí Nguyễn-Chí Thanh. Qua những kỷ niệm bình thường đó trong việc tiếp xúc, quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, điều quan trọng bậc nhất tôi rút ra và học tập được là sự tôn trọng nhân cách giữa con người với con người. Trong Quân đội ta, ít thấy thái độ khệnh khạng, hách dịch, xúc phạm đến nhân cách của nhau giữa cấp trên và cấp dưới, giữa đồng đội với nhau. Đó là một yếu tố quan trọng nếu không muốn nói là quan trọng nhất để gắn kết mọi người với nhau trong chiến đấu. Nhân cách của một binh nhì với một vị tướng biểu hiện cao nhất là sự hy sinh quên mình trong chiến đấu vì Tổ quốc, vì lý tường cách mạng, không thể nói hoặc hiểu sự hy sinh của vị tướng cao hơn đồng chí binh nhì. Cho nên, sự bình đẳng về nhân cách phải được tôn trọng trong Quân đội cách mạng; đó là sức mạnh của Quân đội, của đơn vị. Xúc phạm đến nhân cách của nhau, của cấp dưới là phá vỡ sức mạnh đó. Tôi rất thấm thìa với điều này và học tập được nhiều ở cấp trên của mình, kể cả cấp cao nhất. Và tôi cũng chú ý vận dụng thu hoạch này: Tôn trọng nhân cách của những đồng đội trong phạm vi phụ trách của mình và trong ứng xử với mọi người khác. Thời gian phụ trách công tác tuyên huấn của Sư đoàn, tôi làm việc cùng với các đồng chí trong Ban với một hứng thú đặc biệt. Chúng tôi thường tâm sự với nhau mọi nội dung của công tác giáo dục, chính trị, văn hóa, văn nghệ, thư viện, tuyên truyền cổ động... với nội dung lành mạnh, phong phú đều nhằm mục đích cao cả, mang một ý nghĩa đặc biệt đẹp đẽ trong việc xây dựng con người. Đó là một "nghề" đáng trân trọng chỉ mang lại những điều tốt đẹp cho con người, cho cán bộ, chiến sĩ. Vì vậy, anh em trong Ban rất yêu nghề, tự hào với công việc của mình là chỉ mang lại niềm vui cho mọi người, mặc dù đôi khi việc cất nhắc đối với một số anh em không được nhanh như một số công tác khác. Trong khi tôi đang thật sự hứng thú với công tác của mình và thấy rất vui vì hiệu quả công tác tốt của bản thân mình và anh em trong Ban cống hiến cho đơn vị thì Ban Cán bộ báo cho biết là tôi được cử đi học. Tôi rất phấn khởi vì điều đó phù hợp với nguyện vọng của tôi. Nhiều lần tổ chức hỏi cán bộ về nguyện vọng cá nhân, tôi đều phát biểu là mong muốn được đi học một lớp cơ bản, dài hạn. Tôi hỏi Ban Cán bộ là được học gì và ở đâu thì Sư đoàn chưa biết, về thay tôi làm Trường ban Tuyên huấn là một đồng chí thiếu tá ở một đơn vị khác do Tổng cục Chính trị điều về. Hôm sau, đồng chí Lê Linh, Chính ủy Sư đoàn đến chỗ tôi chơi. Khi chỉ còn anh với tôi, anh hỏi: - Anh Tiên được tiến cử đi học có ý kiến gì với Sư đoàn không? Có thắc mắc gì không? Tôi cười và nói với anh: - Tôi không có thắc mắc gì cả anh ạ. Chỉ có công tác với anh em đang vui, đi học lâu thì nhớ Sư đoàn thôi. Anh gặng lại: - Ví dụ như việc Tổng cục chưa quyết định chính thức bổ nhiệm làm Trưởng ban chẳng hạn? Tôi nói: - Thật ra, cũng có lúc nghĩ tới việc đó, nhưng không ảnh hưởng gì cả. Tôi vẫn vui vì thực tế tôi vẫn cùng anh em trong Ban làm tròn nhiệm vụ trong hơn hai năm nay anh ạ. Anh hơi trầm ngâm nói: - Thật ra, Sư đoàn đã đề nghị, nhưng Tổng cục nói đã chuẩn bị để anh đi học và đưa một thiếu tá về thay, đến bây giờ mới chọn được người. Tôi cảm nhận thấy anh nói thật lòng và hiểu là anh vẫn muốn tôi công tác ở Sư đoàn, nhưng không muốn cản trở việc tôi được cử đi học. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Chín, 2023, 09:19:25 am Chương sáu ĐI HỌC Ở LIÊN XÔ - BƯỚC NGOẶT TẦM NHÌN Tôi chia tay đơn vị, tạm biệt những bạn thân, đặc biệt là những anh em trong Ban như Đỗ Hữu Lâm, Phạm Quang Hoàn, Phương Nam, Quốc Trung, Đặng Anh Vinh với nỗi nhớ những kỷ niệm trong 10 năm công tác, chiến đấu ở Sư đoàn 308 (6.1951 - 3.1961). Các đồng chí cũng tiễn tôi trong tình cảm lưu luyến. Tôi lên Tổng cục Chính trị để thu xếp việc đi học. Một đồng chí trợ lý hướng dẫn tôi đi khám sức khỏe rồi đưa cho tôi giấy giới thiệu lên Trường Văn hóa của Quân đội ở thị xã Lạng Sơn vào lớp học tiếng Nga. Như vậy, tôi hiểu chắc chắn rằng tôi sẽ đi học ở Liên Xô. Lớp học tiếng Nga có khoảng gần 30 cán bộ cấp bậc quân hàm từ đại úy đến trung tá, cùng là những người có dự kiến được cử đi học ở Liên Xô. Tôi học vào loại khá vì có chút ít vốn liếng tiếng Pháp, đã phần nào quen với việc học ngoại ngữ. Tuy vậy, tôi cũng hình dung rõ khó khăn là làm sao có đủ vốn tiếng Nga trong một lớp ngắn hạn để tiếp thu được những nội dung của các trường cán bộ mà mình sẽ học ở đó. Đang miệt mài học tiếng Nga được khoảng hơn một tháng, bỗng nhiên tôi nhận được một bức điện của Cục Cán bộ báo phải về ngay Hà Nội để nhận nhiệm vụ mới. Tôi băn khoăn không hiểu tại sao lại có chuyện này. Về đến Hà Nội, vừa đặt hành lý tại phòng khách thì một đồng chí ở Cục Cán bộ ra báo cho biết là tôi sẽ học lớp tiếng Nga do Ban Tổ chức của Trung ương Đảng mở cho những cán bộ được cử đi học ở Trường Đảng cao cấp trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tôi nhờ đồng chí về báo cáo với Thủ trưởng Cục là tôi xin được học ở một trường quân sự của bạn, cụ thể là Học viện Quân chính Lênin, chuyên đào tạo cán bộ chính trị cho Quân đội Xôviết và các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa. Nhưng đồng chí cho biết là danh sách báo cáo sang Ban Tổ chức Trung ương được duyệt rồi, không thể thay đổi được nữa và yêu cầu đến ngay. Tôi hơi băn khoăn, vì từ khi tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mình đều gắn bó, chiến đấu trong lực lượng vũ trang rồi, nay sang một môi trường mới không biết có hợp không. Băn khoăn nhưng cũng thấy thích vì chắc có những điều mới lạ để học tập. Hơn nữa, nghe nói ở Trường Đảng, bạn đãi ngộ cho học viên hơn hẳn các trường khác, kể cả quân đội. Nhiều người mơ ước học ở đó mà chẳng được. Đến lớp, anh chị em đã tập trung gần đủ, có bạn mới cũng thấy vui vui. Toàn bộ lớp học có 22 đồng chí cán bộ trung, cao cấp là người của các ngành. Đồng chí Trần Tâm là một vụ phó của Ban Tổ chức Trung ương, nguyên trước là Phó Bí thư Tỉnh ủy Bình Định được cấp trên chi định làm Lớp trưởng, đồng thời sẽ là Đoàn trưởng đoàn học viên sang học ở Trường Đảng của Liên Xô. Phó đoàn là đồng chí Đỗ Trình, Thư ký của Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn. Quân đội có tôi và đồng chí Võ Phúc Kiên, Đại úy, một cán bộ ở Quảng Nam tập kết ra Bắc và nhiều đồng chí đảm nhiệm những nhiệm vụ quan trọng ở tỉnh và các ngành. Ví dụ: Đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm, Phó Bí thư Tình ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Ninh; đồng chí Nguyễn Văn Thắng, Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Kiến An; đồng chí Hoàng Lâm, Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính thị xã Móng Cái; đồng chí Đinh Ngọc Sơn, người Tày, công tác ở Ban Dân tộc Trung ương; nữ đồng chí Nguyễn Thị Như, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; nữ đồng chí Nguyệt Tú, cán bộ Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; đồng chí Hà Đăng phụ trách một ban quan trọng của Báo "Nhân dân"; đồng chí Đoàn Hồng Đoàn, Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam... Như vậy, Đoàn cán bộ chúng tôi có xuất thân từ cả ba miền Bắc, Trung, Nam, trong và ngoài Quân đội, cán bộ cơ quan Trung ương và cán bộ lãnh đạo ở địa phương; phần lớn đã tham gia cách mạng trước Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, còn trẻ, nhiều nhất là 35 - 36 tuổi, phần lớn trên dưới 30 tuổi. Anh chị em gặp nhau đều là cán bộ chính trị của Đảng, dễ thân với nhau ngay. Lớp học tiếng Nga nhanh chóng được triển khai ngay do hai cô giáo người Nga vừa từ Nga sang dạy. Tuy trình độ tiếng Nga khác nhau, có đồng chí còn chưa được học bao giờ, nhưng chúng tôi cùng học chung một lớp. Những ngày chủ nhật là những ngày chuẩn bị tư trang rất khẩn trương để có thể đi Liên Xô trước ngày khai giảng của Trường Đảng. Thời gian này, đất nước còn nghèo nhưng tiêu chuẩn quần áo, tư trang được Trung ương ta cấp cho khá đày đủ: Mỗi người được may đo hai bộ comple vải tốt, một áo măng tô bằng dạ ấm, một áo len dài tay và quần áo lót, đủ một vali to... Tất cả mọi người đều được đến một cửa hàng chuyên cung cấp hàng hóa cho chuyên gia nước ngoài và ngoại giao đoàn để chọn hàng theo ý muốn và may đo ở cửa hàng quốc doanh. So với sinh viên các trường đi học ở ngoài chỉ được phát quần áo may sẵn, thì chúng tôi được ưu tiên đặc biệt. Được đi học ở Liên Xô, quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, mọi người trong chúng tôi đều rất phấn khởi. Mối lo lớn nhất là vốn tiếng Nga không đủ để tiếp thu hết những vấn đề được học tập trong ba năm nên chúng tôi đều chăm chỉ học. Hai cô giáo người Nga, một cô tên là Onga, một cô là Clápđia khá hài lòng về thái độ và kết quả học tập của học trò, quan hệ thầy trò rất tốt, luôn vui vẻ. Tuy chưa hình dung được hết sự phức tạp, nhất là quan hệ Xô - Trung lúc đó, nhưng chúng tôi có cảm nhận mối quan hệ đó không được thuận lợi lắm. Cũng may là có một số lớp các anh, các chị đã học trước đó ở Trường Đảng của Liên Xô có thể giúp chúng tôi thêm kinh nghiệm. Học tiếng Nga được hơn hai tháng thì lớp học kết thúc. Ban Tổ chức Trung ương thông báo cho cả lớp là đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó ban Tổ chức Trung ương (trước đó đồng chí Vĩnh là Cục trưởng Cục Tổ chức thuộc Tổng cục Chính trị) sẽ gặp chúng tôi nói chuyện trước khi chúng tôi lên đường. Cuộc gặp mặt có cả hai cô giáo người Nga. Đồng chí Vĩnh cảm ơn các cô giáo, dặn dò những điều cần thiết trong học tập và cho phép mọi người có điều kiện thì về thăm nhà vài hôm và quy định ngày tập trung ờ Hà Nội. Tôi tranh thủ mấy ngày phép về quê thu xếp việc gia đình, đặc biệt là về đời sống của mẹ, dặn dò vợ chăm sóc mẹ, lo việc học hành của các con để tôi thật yên tâm trước khi đi xa. Không may đến gần hôm phải trở lại Hà Nội, ở bắp chân tôi mọc một cái nhọt, sưng to bị nhiễm trùng và phát sốt. Lo việc đi học bị nhỡ, mặc dù bị sốt nhưng tôi tức tốc đi Hà Nội đến gặp anh Tâm, Trưởng đoàn. Ngay lập tức, anh nhờ bác sĩ ở cơ quan đến kiểm tra và xử lý. Thấy có thể chích được, bác sĩ đã chích và chữa cho tôi. Hôm ra xe lửa liên vận đi Bắc Kinh, tôi hãy còn đi tập tễnh nhưng đã có thể thờ phào nhẹ nhõm vì đã kịp ngày lên đường. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Chín, 2023, 09:20:21 am Ngồi trên tàu liên vận quốc tế thuộc loại sang, tôi nhớ tới một ngày năm 1950 lên ngồi toa đen tối om ở ga Khai Viễn theo đường xe lửa đi Côn Minh để học quân sự ở cạnh hồ Dương Tông Hải. Đây là lần xuất ngoại thứ hai của tôi để đi học, tôi cảm thấy mình may mắn thực hiện được nguyện vọng học chính trị tương đối cơ bản ở một trường nổi tiếng của Liên Xô. Xe lửa đến ga Bằng Tường vào lúc nửa đêm. Trời mát lạnh và vắng khách. Tôi tận hưởng không khí hơi se lạnh, rất đỗi thanh bình lúc ấy, khe khẽ một mình hát một ca khúc về Hà Nội của Văn Cao và lại nhớ tới một đêm đầu năm 1946, cũng một đêm hơi se lạnh như thế này, trên đường từ Phan Rang đi Đà Lạt về đơn vị để bao vây bọn lính Nhật ở Đà Lạt, trên đỉnh đèo Ngoạn Mục, dưới ánh trăng rất yên tĩnh, tôi ngắm nhìn về vùng biển Ninh Thuận mơ tới một ngày dất nước thanh bình, mà trong lòng bồi hồi nghĩ về miền Nam còn chưa được giải phóng, đất nước chưa thống nhất...
Xe lửa liên vận đến Bắc Kinh vào một buổi trưa. Một nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh ra đón đoàn dẫn về khách sạn Tân Kiều, một trong những khách sạn hiện đại nhất của Bắc Kinh lúc đó. Một số các em gái mặc đồng phục rất trẻ và xinh đẹp ra xe đón và đem những chiếc vali rất nặng của chúng tôi vào thang máy, dẫn lên các phòng do Đại sứ quán đã đặt sẵn. Thú thật là tôi rất choáng ngợp trước những cảnh đó vì trong cuộc sống quân ngũ của đời mình chưa bao giờ được sống như vậy. Mỗi người trong chúng tôi được bố trí ở một phòng tùy theo tiêu chuẩn được hưởng. Một nam nhân viên khách sạn lên hỏi có yêu cầu gì không, ví dụ như nước nôi, chè uống, giặt là quần áo... Những khoản này như chè để uống nước, giặt là quần áo khách đều phải trả tiền trong khi nhà nước chỉ cho một khoản tiêu vặt tối thiểu tính theo ngày. Chỉ được tắm thỏa thích vì mấy hôm đi xe lửa có ít nước để rửa ráy, còn quần áo lót thì chúng tôi tự giặt lấy cả rồi phơi luôn trong phòng tắm. Chúng tôi phải ở Bắc Kinh hơn hai ngày để đợi xe lửa đi Mátxcơva, vì vậy chỉ dám rủ nhau đi xem Quảng trường Thiên An Môn và vào xem Cố Cung qua loa. Trên đường từ Hà Nội đi Bắc Kinh, những gì chúng tôi quan sát được trên đường đi và hai ngày ở Bắc Kinh cho thấy tình hình đời sống của nhân dân Trung Quốc có vẻ rất khó khăn. Qua Hán Khẩu vào một buổi trưa trời nắng, thấy tất cả phụ nữ, nam giới quần áo chỉ có một màu tím than. Phụ nữ mặc quần đùi, áo cộc tay trông đen nhẻm, dáng vẻ lam lũ, tất bật. Tôi nghĩ bụng, họ khổ hơn phụ nữ nước mình, ở Bắc Kinh cũng vậy, nữ nhân viên mậu dịch quốc doanh bán nước giải khát ở vườn hoa ăn mặc xuềnh xoàng, áo trắng cháo lòng, có người còn mặc áo vá. Các cháu mẫu giáo tóm áo nhau đi ngoài đường phố ăn mặc cũng không được đẹp. Cô giáo phụ trách thì quát tháo ầm ĩ. Ít thấy những nụ cười. Chúng tôi được biết, từ khi quan hệ căng thẳng với Liên Xô, Trung Quốc phải "thắt lưng buộc bụng" để trả nợ, chủ yếu bằng nông phẩm và đồ may mặc. Chuyên gia Liên Xô ở nhiều lĩnh vực rút về nước. Và có thể còn nhiều khó khăn, nhiều mặt tiêu cực khác. Hôm chúng tôi ra ga trung tâm Bắc Kinh để đi Liên Xô, quang cảnh ở ga cũng không được trật tự lắm, khách đi xe lửa nội địa ngồi vạ vật ở bất cứ chỗ nào, ăn mặc cũng không được tươm tất, kể cả phụ nữ. Trên đường xe lửa đi Mãn Châu Lý, càng đi gần về phía Liên Xô càng thấy đất đai khô cằn, nhà cửa thưa thớt, tường thường đắp bằng đất, ít cửa sổ. Đến ga Mãn Châu Lý, chúng tôi xuống tàu đi bộ sang ga Đabaican. Trong khi các toa xe lửa được trục sang hệ thống bệ đường ray Liên Xô, chúng tôi tiến hành làm thủ tục nhập cảnh ở ga Đabaican thuộc lãnh thổ Liên Xô. Trong khoảng hai giờ đồng hồ thì việc trục các toa xe ở Trung Quốc sang hệ thống bệ xe của Liên Xô đã xong và cũng là lúc chúng tôi hoàn thành mọi thủ tục nhập cảnh. Chúng tôi trở về toa tàu của mình và tiếp tục cuộc hành trình về Mátxcơva. Mặc dù là mùa hè nhưng về chiều và đêm trên đất Xibia trời se lạnh, càng khuya càng lạnh hơn. Xe lửa đi với tốc độ cao hơn và chúng tôi đều cảm nhận thấy lúc xuất phát cũng như lúc dừng lại ở ga êm hơn rất nhiều so với đường xe lửa của ta và của Trung Quốc, nhất là lúc xuất phát và lúc dừng lại không bị giật cục do người điều khiển có tay nghề cao. Từ biên giới Trung - Xô đi Mátxcơva, cảnh vật hoàn toàn khác với ta và Trung Quốc. Ở vùng quê Xibia, nhà cửa các làng cách nhau rất thoáng, tất cả đều được làm bằng gỗ lắp ghép với những cửa sổ bằng kính có rèm lửng, khung viền gỗ chạm khắc rất đẹp, mang một vẻ kiến trúc rất đặc trưng của nước Nga, đem lại cho người ta một cảm giác ấm cúng. Xe lửa dừng lại khá lâu ở một ga gần ngay bờ hồ Baican. Chúng tôi tranh thủ xuống rửa mặt mũi. Nước hồ trong vắt, mùa hè mà nước mát lạnh. Các thị xã, thị trấn ở Xibia khoảng cách khá xa nhau. Trên tàu nhìn qua cửa sổ, trên đường có vài sân bay quân sự, các máy bay đậu thẳng hàng. Càng đến gần thủ đô thì các đô thị cự ly gần nhau hơn, nhưng nói chung, người đi lại thưa thớt, thư thả chứ không chen chúc, ồn ào như các thành phố của Trung Quốc. Chúng tôi đến Mátxcơva vào lúc xế chiều. Trên sân ga đã thấy cán bộ Đại sứ quán ta và cán bộ của Trường Đảng bạn ra đón. Khu Trường Đảng là một cụm công trình đồ sộ, cổ kính tọa lạc ở Quảng trường Miutskaia, bên cạnh một công viên nhỏ, cách ga xe điện ngầm vài trăm mét. Đó là một ga xe điện ngầm yên tĩnh chỉ cách Quảng trường Đỏ khoảng gần hai kilômét, một nơi lý tường cho một trường học quy mô lớn, sang trọng. Đây là một ngôi trường nổi tiếng thế giới, đào tạo cơ bản cho cán bộ từ bí thư huyện trở lên trên toàn bộ lãnh thổ Liên bang Xôviết và đào tạo cho cả cán bộ của các đảng Cộng sản và Công nhân trên toàn thế giới do Liên Xô đài thọ. Cán bộ của Liên Xô tới học bắt buộc phải có một bằng đại học, sau hai năm học nếu tốt nghiệp được cấp thêm một bằng tuy chưa phải là phó tiến sĩ nhưng là một bằng sau đại học. Về mặt chính quyền, Trường nằm trong hệ thống đại học của Liên Xô. Còn đối với học viên của các đảng bạn, nói chung phải học ba năm, nhưng cũng có lớp học rất đặc biệt khác. Ví dụ như có khi có một đồng chí lãnh đạo quan trọng của một đảng nào đó yêu cầu chỉ cần hướng dẫn cho họ nghiên cứu về tác phẩm "Tư bản" của Các Mác. Lớp của chúng tôi đến Trường trước khi khai giảng độ hơn một tháng. Lúc đó, Trường chưa có học viên nên các nhà ở của học viên còn vắng vẻ. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Chín, 2023, 09:21:07 am Sau khi làm các thủ tục nhập học cần thiết, chúng tôi được đưa về các phòng dành riêng cho mình. Đồng chí Phó Giám đốc Nhà trường là một cán bộ cao niên rất lịch thiệp, ân cần thăm hỏi và kiểm tra chỗ ở của chúng tôi. Ổn định xong chỗ ở, đồng chí Giám đốc Nhà trường mời chúng tôi đến phòng làm việc của ông nói chuyện.
Chúng tôi rất ngạc nhiên khi đến phòng đã thấy ông ngồi chờ trước bàn làm việc. Đó là một căn phòng ở tầng một rộng khoảng 10 đến 12 mét vuông. Trong phòng chỉ kê một chiếc bàn gỗ và một chiếc ghế tựa đơn giản, một chiếc đi văng để nghỉ trưa, một tủ nhỏ đựng tài liệu và ba, bốn chiếc ghế gỗ bọc vải nhựa để tiếp khách. Chúng tôi có 22 người nên đồng chí phục vụ phải đi nơi khác lấy thêm ghế. Phòng chật không đủ chỗ, có người phải ngồi ở ngoài hành lang. Giám đốc cũng là một vị cán bộ cao niên nhỏ người so với người Âu, vẻ mặt phúc hậu, trí thức, nói năng nhỏ nhẹ, nghiêm nghị, thân mật thăm hỏi sức khỏe cả đoàn. Ông vắn tắt cho biết về các chế độ chúng tôi được hưởng và một số điều cần thiết khác. Cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra khoảng 15 phút. Thấy quần áo không đủ ấm, Nhà trường cấp cho mỗi người một áo khoác dài lót lông, một chiếc mũ ấm và một đôi giày lót dạ ấm nữa. Mỗi tháng, chúng tôi được Nhà nước Liên Xô trợ cấp 180 rúp. Với số tiền đó, chúng tôi tự túc mọi sinh hoạt. Đó là một khoản tiền lớn lúc đó và là mức trợ cấp cao nhất so với du học sinh các trường. Ví dụ: Sinh viên học các trường đại học chỉ được 45 rúp, trường quân sự cho cán bộ trung, cao cấp quân đội là 90 rúp, học viên học ở Trường Cômxômôn (thanh niên cộng sản) 120 rúp và cũng phải trang trải toàn bộ sinh hoạt của mình. Nhà trường cho biết, ai muốn ở cùng học viên người Nga để giúp thêm điều kiện học tiếng Nga, Nhà trường sẽ bố trí người cùng ở. Trong chúng tôi, có nhiều người đề nghị học viên Nga ở cùng trong năm đầu, tôi cũng ở trong số đó. Chúng tôi đề nghị trong khi chờ đến ngày khai giảng chung của toàn Trường cho chúng tôi được học thêm tiếng Nga trước và được Nhà trường đồng ý. Căn cứ vào trình độ, lớp trưởng và lớp phó chia chúng tôi ra làm bốn lớp: Lớp giỏi nhất gồm bốn đồng chí Đỗ Trình, Nguyễn Văn Ngọc, Đoàn Hồng Đoàn, Hà Đăng; lớp thứ hai có bốn người gồm hai chị Nguyễn Thị Như, Nguyệt Tú, đồng chí Lê Văn Cư (ở ủy ban Khoa học Nhà nước) và tôi; số còn lại chia làm hai lớp nữa. Mặc dù Trường chưa khai giảng, chúng tôi lại đến sớm nhưng việc hướng dẫn, phục vụ, tổ chức học tập tiếng Nga cho chúng tôi, các cán bộ, giáo viên và nhân viên giúp đỡ rất chu đáo. Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi là Nhà trường làm việc rất khoa học, cụ thể, tỷ mỷ với tinh thần tạo điều kiện thuận lợi nhất cho học viên học tập. Cô giáo dạy tiếng Nga đầu tiên cho lớp tôi là cô Tamara, một cô giáo rất trẻ, khoảng dưới 30 tuổi, kém tuổi chúng tôi. Cô rất vui vẻ, hồn nhiên, tận tụy và có vẻ hơi "nể" học viên, nhưng có kinh nghiệm dạy người nước ngoài. Trước khi bắt đầu buổi học bao giờ cũng có mươi phút chuyện trò thân mật với học tro. Khi thì thăm hỏi sức khỏe, có quen với thời tiết không, khi thì hỏi về gia đình, vợ con, khi thì hỏi ngày nghỉ thì làm gì ờ đây, khi thì hỏi về Hà Nội... Có lẽ đấy cũng là một cách dạy tiếng Nga cho chúng tôi. Tôi bị cô hòi hai lần đều là ngày thứ hai trong tuần: - Hôm qua chủ nhật, đồng chí Tiên làm gì? Cả hai lần tôi đều nói: - Tôi đi dạo. - Ở đâu? - Cô hỏi tiếp. - Xung quanh trường - Tôi đều trả lời. Cô cười vui: "Ồ, đồng chí toàn đi dạo quanh trường thôi à ở Mátxcơva có bao nhiêu chỗ có thể đến chơi, sao đồng chí không đi?". Đôi lúc tôi bị cô giáo đặt câu hỏi và yêu cầu trả lời. Vì tiếng Nga chưa thạo hoặc câu hỏi khó nên tôi phải vừa nghĩ vừa nói rời rạc, nhát gừng. Cô phê bình nhẹ, nói với ba đồng chí cùng học với tôi: "Tôi thấy đồng chí Tiên nói tiếng Việt với các đồng chí có vẻ sinh động, tình cảm thế mà sao đồng chí nói tiếng Nga khô khan thế?". Tôi chỉ biết cười trừ và tự rút kinh nghiệm. Một buổi tối, chúng tôi rủ nhau ra công viên nhỏ đối diện với Trường để nghỉ ngơi thư giãn. Tôi với chị Như cùng ngồi một ghế dài với một cụ bà khoảng trên dưới 70 tuổi. Cụ thấy chúng tôi là người châu Á nên hỏi là người nước nào. Nghe chúng tôi nói là người Việt Nam, cụ nói chuyện với thái độ rất thân thiện, cởi mở. Chúng tôi biết cụ trước khi về hưu là giáo viên dạy tiếng Pháp nên cũng nói chuyện vui vẻ lúc thì tiếng Nga, khó thì lại nói tiếng Pháp. Cụ hỏi: "Thế các cháu theo bố mẹ sang đây phải không? Bố mẹ làm gì? Các cháu học ở đâu?". Chị Như trả lời là vừa ở Việt Nam sang và học ở Trường Đảng. Tôi thấy cụ trợn tròn mắt ngạc nhiên và từ đó nói năng có vẻ thận trọng hơn. Vì chúng tôi nhỏ con, lại rất trẻ, trông như trẻ con nên cụ không thể tưởng tượng nổi những "đứa trẻ con" như thế lại học tại Trường Đảng cao cấp. Nếu cụ biết rõ thì có lẽ sự ngạc nhiên lại tăng gấp bội. Chị Như lúc mới 17 tuổi học năm cuổi bậc Thành chung đã là hội viên Việt Minh Hà Nội, là đại biểu học sinh dự Quốc dân đại hội Tân Trào, khoảng 20 tuổi đã tham gia Tỉnh ủy, đã là Bí thư Phụ nữ cứu quốc thành phố, hoạt động ngay trong lòng địch ở Hà Nội. Còn "thằng bé" như tôi đã tham gia chiến đấu với bọn phát xít Nhật, bọn thực dân Pháp, đã là chiến sĩ Điện Biên Phủ, đã là cán bộ phụ trách công tác tuyên huấn của một sư đoàn chủ lực, cơ động. Tôi nghĩ bụng và rất tự hào với thế hệ của mình, với cuộc đấu tranh của dân tộc, của Đảng mình. Vì chưa khai giảng, chỉ có học tiếng Nga nên chúng tôi có thời gian rỗi. Xen kẽ với việc học tiếng Nga, chúng tôi tổ chức đi thăm các công trình lịch sử văn hóa nổi tiếng: Viếng lăng Lênin và Xtalin, bảo tàng Lênin trên Quảng trường Đỏ, tham quan mô hình toàn cảnh trận Borodino của Cutudốp đánh quân Napôlêông năm 1812, thăm bảo tàng hội họa nổi tiếng Tretyacốp... Đồng thời, tôi cũng tranh thủ đến Học viện Quân chính Lênin thăm bạn bè và trong những lần đi ấy, có ý thức quan sát, tiếp cận với lối sống, tính cách của người Nga, người Mátxcơva... Một ngày chủ nhật, tôi một mình sang Học viện Quân chính Lênin để thăm bạn bè. Đến nơi, tôi được gặp đồng chí Lê Đăng Dần là bạn chiến đấu khi còn ờ Trung đoàn 36 (Trung đoàn Bắc Bắc), người đã cởi chiếc áo len đang mặc trong một đêm lạnh trên đất Lào để tôi mặc khi tôi bị thương nặng, phải nằm cáng trên đường quay về Điện Biên Phủ sau khi Sư đoàn 308 tham gia đập tan phòng tuyến sông Nậm Hu của giặc Pháp. Anh đang là Bí thư Chi bộ Đoàn sĩ quan Việt Nam đang học ở Học viện. Anh em gặp nhau rất mừng và lúc ra về, theo đề nghị của tôi, anh tặng tôi quyển "Truyện Kiều" của Nguyễn Du. Cuốn "Truyện Kiều" đã là bạn của tôi trong suốt ba năm học ở Liên Xô mỗi khi nhớ nhà. Lúc ra ga xe điện ngầm thì quên mất lối. Thấy một chiếc ô tô có stéc ở gần đó và một hàng dài người đang xếp hàng đằng sau chiếc xe. Tôi đến nơi thấy đó là một chiếc xe bán nước "cơ vát", một thứ nước giải khát truyền thống thơm ngon và bổ, rất được ưa chuộng, cất từ lúa mì lên men của người Nga. Tôi kiên nhẫn xếp hàng và đến lượt mình, tôi cũng mua một cốc. Uống xong, tôi hỏi chị phụ nữ trạc ngoài 40 tuổi đang bán hàng cho khách hướng ra ga tàu điện ngầm. Chị nói nhanh một tràng tiếng Nga tôi không hiểu hết. Thấy tôi ngơ ngác chưa hiểu hết, chị xin lỗi những người đang xếp hàng rồi dắt tôi di gần 200 mét, khi tôi trông thấy ga mới vội vã chạy về bán tiếp. Lúc chị dắt tôi di, không ai có phản ứng gì hoặc tỏ vẻ bực dọc về hành động của chị. Những hôm nghỉ, mấy anh chị em chúng tôi thường rủ nhau tự nấu cơm, thức ăn Việt Nam. Một lần được phân công ra cửa hàng thực phẩm, tôi thấy một miếng thịt thui cả da vàng rộm trông rất ngon. Tôi hỏi anh bán hàng đó là thịt gì. Anh trả lời bằng một từ mà tôi không hiểu. Đang băn khoăn thì đột nhiên tôi nghe thấy "he.. .he.. .he" rất giòn đằng sau. Tôi hiểu ngay đó là thịt dê thui. Tôi quay lại cười cảm ơn người vừa phát ra tiếng dê kêu đó, một anh trạc tuổi tôi, đẹp trai cũng cười rất khoái trá vì đã giúp được người khác, những người đứng xếp hàng sau cũng cười vui vẻ. Người Nga là như thế: Đôn hậu, hay giúp đỡ người khác, dễ tính, thân thiện, nhất là đối với người nước ngoài. Còn đối với Việt Nam thì họ đặc biệt có cảm tình... Với sự giúp đỡ của Nhà trường, thời gian chờ đợi đến ngày khai giảng của chúng tôi đã được sử dụng rất có ích, trình độ tiếng Nga được nâng lên một bước, dần dần thích nghi với môi trường mới, tạo điều kiện thuận lợi hơn để bước vào học tập chính thức. Tôi được bố trí ở phòng số 55, trên lầng 10 của tòa chung cư có 12 tầng. Đó là chung cư đẹp nhất trong số các nhà cao tầng dành cho học viên. Mồi tầng đều có một sảnh rộng đủ bàn ghế cho 10 người trở lên, hai nhà vệ sinh, hai phòng tắm có nhiều ngăn cho riêng nam, nữ, một phòng rộng có bếp ga cho học viên tự nấu ăn nếu muốn ăn riêng. Chị Như, chị Nguyệt Tú ở tầng 7 chung cư này và cũng đề nghị Nhà trường cho một học viên người Nga ở cùng với các chị. Phòng tôi ở rộng khoảng 20 mét vuông đã được kê sẵn hai giường, hai bàn học, một điện thoại, tủ liền tường cho hai người, bồn gương rửa mặt..., nói chung là đầy đủ tiện nghi sinh hoạt. Gần đến ngày khai giảng thì đồng chí học viên người Nga đến. Anh là Nicôlai Antônốp, hơn tôi vài tuổi, kỹ sư nông nghiệp, bí thư huyện ủy một huyện lớn, đã có vợ và hai con gái. Có một điều rất thú vị, anh cũng là một thương binh bị thương trong chiến đấu bảo vệ một thị trấn gần Mátxcơva trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Anh cao to, đi hơi tập tễnh vì bị gãy đùi, trông rất hiền lành. Đều là lính nên tôi và anh ngay từ đâu đã thân nhau và rất cởi mở với nhau. Một hôm, nhìn lên tường dán giấy hoa trong phòng, tôi thấy có một bức họa sơn dầu rat đẹp và sinh động "Cái chết của người chính ủy" của một họa sĩ nổi tiếng. Tôi nghĩ Nhà trường vô cùng tế nhị khi treo bức tranh đó ở phòng chúng tôi. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Chín, 2023, 09:22:30 am Năm học thứ nhất (1961 - 1962)
Vui và buồn - Cú sốc lớn đầu tiên Bắt đầu khai giảng, không khí Nhà trường sôi động, tấp nập hẳn lên. Mỗi khi vào giờ cao điểm buổi sáng, trưa và chiều tối ở nhà ăn rất đông học viên của các nước có đủ da trắng, da đen, da vàng... Tuy vậy, gặp nhau không biết là người nước nào nhưng nhìn nhau với con mắt, nụ cười và những cái gật đầu chào nhau rất thân thiện và ấm áp của những người đồng chí. Chúng tôi ngạc nhiên khi trông thấy những người châu Á giống như mình tự nhận là người Việt Nam nhưng lại không nói được tiếng Việt. Một lần, Nicôlai Antônốp hỏi tôi: - Tại sao có những đồng chí là người Việt Nam nói chuyện với nhau lại nói bằng tiếng Nga? Tôi cũng khó trả lời vì chúng tôi biết đó là những người Cộng sản Inđônêxia. Các đồng chí ấy nói với chúng tôi rằng vì muốn "giữ bí mật" nên nói là người Việt Nam. Tuy vậy, tôi nghĩ không thể che mắt được mọi người. Riêng ở tầng 10 tôi ở, ngoài người Nga còn có người Việt Nam, Hunggari, Bungari, Cộng hòa dân chủ Đức, Mông Cổ, Anh, Iran, Inđônêxia... Đồng chí Lê Văn Cư là cán bộ của Ủy ban Khoa học Nhà nước, cùng lớp tiếng Nga với tôi cũng ở tầng này với một học viên Nga (tên anh là Nicôlai Iachencô, bí thư huyện ủy một huyện lớn ở vùng Sông Đông). Mặc nhiên, Iachencô cũng là bạn thân của tôi. Bạn bè trên tầng 10 ra vào gặp nhau luôn nên cũng dễ thân, thỉnh thoảng cho nhau nếm các món ăn của dân tộc mình nấu trong các ngày nghỉ. Trong lúc chúng tôi nấu ăn ở bếp, có món cần cho nước mắm. Gặp lúc mấy bạn Đức đi qua ngửi thấy mùi nước mắm, xua xua tay hoặc đưa tay che mũi, nhăn mặt. Nhưng khi thấy chúng tôi rán nem thơm quá (tất nhiên bởi có trộn nước mắm), chúng tôi cho nếm thử vài cái, ăn xong khen rối rít, có vè thèm thuồng còn muốn ăn nữa. Một lần, tôi mời ông bạn già người Iran trưa chủ nhật tới ăn phở, vì tôi làm khá ngon, muốn "khoe" với ông một món ăn Việt Nam, ông nói: "Vâng, tôi không từ chối" (Da, He bogbphaho). Vì chưa thạo tiếng Nga nghe được chữ "He" tưởng là ông sẽ không đến nên trưa chủ nhật ấy tôi không làm phở. Đến giờ thấy ông gõ cửa đến ăn mới giật mình, đành xin lỗi vì "quên", tôi ngượng mãi về chuyện này. Còn đồng chí người Hunggari khi gặp nhau, nói chuyện với tôi luôn nhắc tới chuyện hồi tình hình Hunggari không ổn định do vụ náo loạn câu lạc bộ Petophi, Đảng và nhân dân Việt Nam đã đứng về phía những người cộng sản Hunggari, tận tình giúp đỡ về tinh thần và cả vật chất trong lúc Việt Nam đang còn nghèo. Với một thái độ chân thành, đồng chí nói rằng những người cộng sản Hunggari rất cảm kích, tỏ lòng biết ơn Việt Nam vô hạn. Có buổi nghi giải lao giữa giờ học, tôi thường gặp một số đồng chí người châu Phi, không rõ là người nước nào vì không tiện hỏi do yêu cầu có thể cần giữ bí mật của họ. Đồng chí nào khi biết chúng tôi là người Việt Nam đều nói rằng: "Các đồng chí Việt Nam thật là những người hạnh phúc vì có một người lãnh đạo anh minh là Chủ tịch Hồ Chí Minh". Rất nhiều lần tôi được nghe như thế. Có đồng chí tôi không rõ là người nước nào, hỏi tôi cuốn sách viết về Chiến dịch Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đề nghị tôi tìm giúp cho đồng chí. Có đồng chí Cuba khi biết tôi là người Việt Nam, tìm đến tôi tặng một lá cờ Cuba cỡ nhỏ rất đẹp và một chiếc huy hiệu Phiđen Cátxtơrô, biểu thị sự hâm mộ Việt Nam. Rất may tôi có đem theo chiếc huy hiệu "Chiến sĩ Điện Biên Phủ" của Bác Hồ tặng cho các chiến sĩ Điện Biên để tặng lại, đồng chí rất phấn khởi. Tình cảm của bạn bè nước ngoài đối với Việt Nam không chỉ đơn thuần về mặt chính trị, vì chiến thắng vang dội chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân của nhân dân ta và còn vì các mặt khác. Một đồng chí Phần Lan tự giới thiệu với tôi là người chịu trách nhiệm hướng dẫn và đi theo Đoàn đại biểu Thanh niên Việt Nam dự Liên hoan Thanh niên dân chủ thế giới ở Henxinki (Thủ đô của Phần Lan). Đồng chí rất thích những tiết mục văn nghệ của đoàn đại biểu Việt Nam biểu diễn, đặc biệt là với anh Tạ Tấn khi biểu diễn đàn ghi ta. Một buổi tối thứ 7, tôi đi dạo ở công viên gần Trường, gặp một người dáng thanh thanh, nét mặt nghiêm nghị, thông minh, học viên của Trường cũng đi dạo. Biết tôi là người Việt Nam, đồng chí đến cùng đi và nói chuyện. Hỏi đồng chí, tôi được biết đồng chí trước là Bí thư Thành ủy Ulan Bato, Thủ đô của Mông Cổ nay là Giám đốc Nhà xuất bản Quốc gia. Đồng chí nói rất thích bài hát "Làng tôi" của nhạc sĩ Văn Cao. Và đồng chí hát luôn bằng tiếng Việt Nam, sau đó bằng tiếng Mông Cổ. Đồng chí hát rất chuẩn, giọng rất ấm, tôi cũng hát theo nho nhỏ vì tôi cũng rất thích bài này. Một tối khác, tôi lại gặp đồng chí ở công viên nhưng lần này vẻ mặt rất ưu tư, tôi đến nói chuyện nhưng đồng chí chỉ ậm ừ qua loa. Hai hôm sau, vào buổi sáng thứ 2, khi đi đến cổng vào khu các lớp học, tôi giật mình thấy một bức ảnh to viền đen của đồng chí, dưới có mấy dòng cáo phó nói đồng chí chết đuối ở sông Mátxcơva và sẽ được điện táng. Tôi không thể hiểu là có thể chết đuối ở sông vì gần Trường có bể bơi rất tốt. Quan sát các đồng chí Mông Cổ khác, tôi thấy ai nét mặt cũng lạnh tanh. Tôi nghi đây là một vụ tự vẫn chứ không phải là một vụ chết đuối, về sau, tôi được một đồng chí của ta, cùng học và quen một đồng chí Mông Cổ khác nói rằng cái chết của đồng chí Mông Cổ đó có nguyên nhân của sự mâu thuẫn về quan điểm, lập trường chính trị và đó chỉ là hệ quả của một cuộc đấu tranh căng thẳng về chính trị. Cùng với một số biểu hiện khác trong đội ngũ giảng viên, nhân viên của Trường, dù chưa được rõ lắm nhưng tôi có thể hình dung phần nào tác động của sự bất đồng về quan điểm đường lối giữa Liên Xô và Trung Quốc tới đảng viên các đảng như thế nào. Chúng tôi bước vào học tập chính thức theo chương trình của Nhà trường, vẫn phải xen kẽ học tiếng Nga, mỗi tuần ba, bốn buổi. Các nội dung khác, 22 anh chị em chúng tôi thành một lớp học vẫn phải có phiên dịch tại lớp là đồng chí Hầu. Đồng chí Hầu rất vất vả vì phải dịch tất cả các bộ môn. Phải học như thế trong một năm rưỡi. Năm rưỡi sau, chúng tôi phải nghe trực tiếp bằng tiếng Nga với học viên các nước xã hội chủ nghĩa khác. Vì vậy, ngay từ đầu chúng tôi đã chú ý ra các hiệu sách ngoại văn của Mátxcơva để mua các sách tiếng Việt có liên quan để nghiên cứu thêm, vốn tiếng Nga chỉ học theo chương trình trên khó có thể bảo đảm tiếp thu được những nội dung theo chương trình của Nhà trường. Rất mừng là các nhà xuất bản của ta đã dịch nhiều tác phẩm quan trọng như toàn tập "Tư bản" của Các Mác, "Nguyên lý chủ nghĩa Lênin" của Xtalin, các sách về kinh tế chính trị học, về triết học... Các loại sách này đều có bán ở các hiệu sách ngoại văn, giá lại rất rẻ. Thời gian đầu, chúng tôi chưa đi vào học tập các vấn đề lý luận cơ bản mà tập trung vào các môn học như: Lịch sử phong trào công nhân quốc tế, lịch sử nước Nga, lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, quản lý công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng... Những vấn đề này nghe dễ hiểu hơn. Các thầy giáo, cô giáo giảng về các vấn đề này yên tâm với tinh thần học tập và sự tiếp thu nội dung bài giảng của chúng tôi. Có cô giáo giảng về quản lý kinh tế công nghiệp, trong các buổi lên lớp hoặc các buổi phụ đạo hết lời khen ngợi các học trò: "Tôi không thể ngờ được kiến thức của các đồng chí sâu sắc đến thế. Có những vấn đề ngoài phạm vi bài giảng của mình mà các đồng chí đã biết, đã dẫn cả những lời của Lênin...". Cô có biết đâu là chúng tôi đã đọc sách tiếng Việt về vấn đề cô giảng, có biết đâu là đã có đồng chí là hiệu trưởng của một trường trung cấp lý luận như đồng chí Phan Thủy, có đồng chí đã từng là Tổng Biên tập Tạp chí "Tuyên huấn" như đồng chí Đào Nguyên Cát. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Chín, 2023, 09:23:17 am Có một chuyện vui của lớp học tiếng Nga của chúng tôi. Khi kết thúc nội dung môn "Lịch sử phong trào công nhân quốc tế", bà giáo là một giáo sư giỏi có tiếng, đã từng đi nghiên cứu ở một số nước tư bản, tổ chức kiểm tra kết quả bằng bốc thăm câu hỏi. Tôi bốc được phiếu có hai câu hỏi: Một câu về "Ý nghĩa quốc tế của Cách mạng Tháng Mười Nga", một câu về "Đường lối hiện nay của Đảng Cộng sản Pháp". Tôi thấy câu "Ý nghĩa quốc tế của Cách mạng Tháng Mười Nga" "ngon quá" vì khi ôn, tôi ôn kỹ và ghi tóm tắt rõ, có thể phát biểu bằng tiếng Nga được. Trong khi đợi đến lượt, tôi chuẩn bị câu 1 bằng tiếng Nga và "mạnh dạn" thử sức mình ra sao. Mặc dù có đồng chí phiên dịch nhưng tôi vẫn nói với bà giáo: "Tôi xin phép được trình bày câu 1 bằng tiếng Nga". Bà ngạc nhiên vì tôi mới học được vài tháng nhưng cũng vui vẻ: "Mời đồng chí".
Tôi nói khá trôi chảy, bà chăm chú nghe và có vẻ rất thích thú. Câu thứ hai vì khó và không đủ thời gian chuẩn bị, tôi cười và nói: - Còn câu này, tôi xin phép trả lời bằng tiếng Việt. Bà cũng cười thoải mái. Tôi trình bày câu này rất đầy đủ và gọn vì tôi nắm vững. Đang thao thao nói thì ông giáo cùng ngồi kiểm tra với bà ra hiệu ngẳt lời tôi, định hỏi một câu hỏi phụ, nhưng bà cắt lời ông ta và bảo tôi trình bày tiếp. Tôi tiếp tục rất tự tin, có lẽ đúng với vấn đề ông định đặt câu hỏi với tôi. Khi tôi trình bày xong, bà giáo nói với ông: - Anh có hỏi gì nữa không? Ông ta cười: - Thôi đủ rồi. Chị Như được gọi tiếp theo cũng trả lời một câu bằng tiếng Nga. Bà giáo cũng rất bằng lòng. Nhưng chuyện không chỉ có thế. Sáng hôm sau là buổi học tiếng Nga. Cô giáo Tamara bước vào lớp, mặt mày rạng rỡ chưa từng có, tươi cười cao giọng: - Thật là những người cừ khôi, đồng chí Tiên và đồng chí Như thật cừ khôi! Hết buổi học, tôi gặp Hà Đăng ở chỗ để áo "pantô" và mũ lông. Hà Đăng nói: - Các cậu hôm nay làm chúng mình bị cô giáo Xalankinkina mắng cho một trận ra trò. Vừa bước vào lớp, bà ta đã nói: "Thật nhục nhã! Thật nhục nhã! (Kakou nojop!) Thế là thua 2-0! Thua 2-0 rồi! Chúng tôi bật cười với nhau vì ai cũng biết lớp của Hà Đăng là lớp tiếng Nga giỏi nhất so với các lớp của chúng tôi. Không hiểu sao các anh lại giấu tài, không "thử sức mình" như chúng tôi. Việc học tập của chúng tôi diễn ra suôn sẻ, không vất vả lẳm nhờ có phiên dịch, có các sách tham khảo đã được dịch ra tiếng Việt khá đầy đủ. Tôi còn mua được ở hiệu sách ngoại văn những tác phẩm văn học nước ngoài đã dịch ra tiếng Việt của Lép Tônxtôi, Alếchxây Tônxtôi, Chekhốp, Víchto Huygô và của các nước xã hội chủ nghĩa khác. Tôi vẫn có thời gian để đọc, coi đó như một sự nghỉ ngơi, thư giãn. Còn vô tuyến truyền hình thì ít được xem bởi cả tòa nhà chung cư 12 tầng chỉ có một máy vô tuyến đen trắng đặt ở tầng 1, tôi chỉ xem những trận đấu bóng và đấu quyền anh quốc tế. Nói chung, trong học tập, học viên Việt Nam thường được đánh giá cao do chăm chỉ, có kỷ luật, thông minh, hòa nhã với mọi người, kể cả với những nhân viên làm vệ sinh. Tòa nhà chúng tôi ở, mỗi khi đi tham quan các nông trường tập thể hoặc quốc doanh, được tặng hoa quả, chúng tôi đều dành một phần tặng các bà, các chị thường trực của tòa nhà; chỉ là chút ít nhưng các bà, các chị rất cảm động, rất quý trọng tình cảm đó. Nhà trường rất quan tâm tới hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa, văn nghệ và đều có các phòng riêng dành cho các môn: Bóng chuyền, bóng rổ, bóng bàn, chiếu phim, khiêu vũ... Tất cả hoạt động rất đều và sôi nổi. Có những buổi liên hoan ca nhạc của học viên các nước rất phong phú. Học viên Việt Nam và riêng tôi chủ thích chơi bóng bàn và xem phim các tối thứ 7, chủ nhật. Tôi đánh bóng bàn thuộc loại khá và đó cũng là môn thể thao được tôi coi là môn rèn luyện thể lực chủ yếu của mình trong những năm học tập ở Trường. Các buổi chiều, trừ chiều chủ nhật, ngày nào tôi cũng dành khoảng một tiếng để chơi bóng bàn. Tôi có một bạn chơi thường xuyên là một giáo sư già, cũng là thương binh, ông rất thích chơi với tôi. Không thể có một môi trường tốt hơn dành cho việc học tập như ở đây, nhưng tôi có một thói quen xấu là nghiện thuốc lá, trung bình mỗi ngày phải hút một bao thuốc lá Nga vào loại tương đối nặng. Anh bạn cùng phòng Antônôp không hút thuốc, đôi lúc tôi cũng thấy không tiện lắm. Trái lại, anh bạn Iachencô ở với đồng chí Lê Văn Cư cũng nghiện nặng như tội, nghe nói là bị vợ rầy la ghê lắm. Tôi bèn rủ Iachencô bỏ thuốc lá, anh đồng ý và chúng tôi ngoắc tay nhau cam kết. Chỉ một tháng bỏ thuốc lá, từ cân nặng 54 kilôgam, tôi lên 56 kilôgam, viêm họng đỡ hẳn. Nhưng một hôm, ra nhà vệ sinh đi tiểu, tôi thấy ở một khoang đi đại tiện, khói thuốc lá bốc lên ngùn ngụt. Cửa khoang đó mở ra, tôi thấy Iachencô bước ra; trông thấy tôi, Iachencô mặt "tuỗn" ra, có vẻ xấu hổ và lẳng lặng về phòng, thật tội nghiệp. Tôi nói chuyện với Lê Văn Cư, hai thằng bò ra cười. Hôm sau đến phòng Cư và Iachencô ở, tôi tuyên bố hủy bỏ cam kết, Iachencô toét miệng ra cười. Và tôi cũng lại... tiếp tục hút thuốc lá. Mặc dù có sự bất hòa và công kích lẫn nhau giữa Liên Xô và Trung Quốc, tôi hình dung lúc đó cũng có thể hòa giải được vì tấây Đảng ta, Bác Hồ và nhiều đảng anh em khác đều mong muốn hai đảng lớn sẽ dẹp lại những bất đồng về quan điểm vì lợi ích của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì lợi ích của các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới trong sự nghiệp chống chủ nghĩa tư bản phản động, chủ nghĩa đế quốc, thực dân cũ và mới. Được như vậy thì việc học tập nghiên cứu của chúng tôi sẽ thuận lợi, tập trung hơn, hoặc nếu chi dừng lại ở mức độ hiện nay thì cũng chưa đến nỗi nào. Nhưng một sự kiện lớn "động trời" đã nổ ra ngay tại Liên Xô, thành trì của cách mạng thế giới. Đó là vào cuối tháng 10 năm 1961, diễn ra Đại hội lần thứ 22 của Đảng Cộng sản Liên Xô dưới sự chủ trì của Khơrútxốp. Với danh nghĩa chống tệ sùng bái cá nhân, Xtalin - lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản Liên Xô và nhân dân Xôviết đã cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân Liên Xô đánh bại chủ nghĩa phát xít và giành được những thắng lợi to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã bị phê phán, vùi dập. Ở trong Trường, nhiều ngày sau đó, không khí trầm hẳn xuống, rất hiếm thấy những nụ cười trong các thầy cô giáo, học viên và nhân viên phục vụ. Cũng từ đó, chúng tôi thấy trong nội bộ giáo viên, nhân viên phục vụ, học viên, nhất là học viên thuộc các nước Đông Âu cũ, đã thấy có sự phân hóa trong nhận thức và ngày càng rõ. Vài ngày sau Đại hội, đồng chí Côdơlốp, Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách công tác tổ chức xuống Trường nói chuyện với học viên về nghị quyết Đại hội tập trung vào vấn đề chống sùng bái cá nhân Xtalin, đánh giá công lao và những thiếu sót của Xtalin; nhưng có lẽ tình hình chính trị tư tưởng cũng chưa được thông suốt lắm nên liên tục có những buổi nói chuyện khác để lên án Xtalin. Ví dụ có buổi, người ta mời Buđiônuy, một nguyên soái kỵ binh Liên Xô nổi tiếng trong thời nội chiến đã ngoài 90 tuổi nói chuyện với học viên về Xtalin và lên án Xtalin hoặc đề cao Khơrútxổp bằng cách trưng bày những hiện vật như chiếc ô tô của ông khi là công nhân nhà máy..., nhưng cũng không gây được ấn tượng gì sâu sắc lắm. Thầy giáo dạy lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô cho chúng tôi là một giáo sư đã lớn tuổi. Kiến thức của ông sâu sắc và rất quý học trò Việt Nam. Chúng tôi cũng rất kính trọng và quý thầy nên thường yêu cầu thầy phụ đạo thêm. Trọng những buổi phụ đạo, đôi khi thầy cũng tâm sự với học trò về vấn đề Xtalin, tỏ vẻ không đồng tình với việc lên án thái quá Xtalin. Có lúc thầy nói, một bộ phận giáo viên trẻ, trước đây có những vấn đề bất mãn cá nhân, nay cũng lợi dụng đả kích và thấy không đồng tình với những thái độ cơ hội đó. Đồng chí Lê Phước, học viên của lớp, đề nghị thầy mua giúp cuốn "Xtalin toàn tập" bằng tiếng Nga, chỉ sau vài hôm thầy đã mua được giúp. Nhưng rồi thầy bị đuổi đi và thay vào đó là những giáo viên trẻ. Năm học thứ nhất ở Trường Đàng Liên Xô, bên cạnh niềm vui của những học viên được học tại quê hương của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, sự kiện gây sốc lớn nhất cho chúng tôi chính là việc hạ bệ Xtalin trong Đại hội lần thứ 22 của Đảng Cộng sản Liên Xô. Ngay sau Đại hội vài ngày, chúng tôi và các học viên của các nước trong một buổi thời sự thường lệ, được Nhà trường thông báo là có mời Bác Hồ của chúng ta đến nói chuyện, nhưng vì điều kiện sức khỏe và công việc, Bác không đến được và Nhà trường rất lấy làm tiếc. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2023, 07:29:08 am Năm học thứ II (1962 - 1963)
Học tốt nhưng có thêm chuyện rắc rối Kết thúc năm học thứ nhất, được nghỉ hè dài ngày (khoảng 1,5 tháng), đại bộ phận anh chị em lớp chúng tôi về Việt Nam để thăm gia đình, trừ Hà Đăng, quê ở Phú Yên chưa lập gia đình nên ở lại nghỉ tại Liên Xô. Chi phí đi về phải tự túc, nhưng vì được trợ cấp khá nên với số tiền dành dụm được cả năm học cùng với số tiền Nhà trường cho thêm, mọi người vẫn đủ tiền chi phí và còn có thể mua quà cáp mang theo, thậm chí nếu tiết kiệm tốt, còn mua được vé máy bay khứ hồi. Nhưng tuyệt đại bộ phận chúng tôi đều đi xe lửa vì thời gian trên đường cũng coi như được nghỉ ngơi rồi. Xe lửa qua Mục Nam Quan đã thấy cảnh vật khác hẳn. Cây cỏ, hoa lá xanh tươi, rực rỡ rất đẹp mắt, khác hẳn với cảnh vật đơn điệu ít màu sắc như ở Trung Quốc. Nói chung, mọi người đều có nhận xét đó và tự nhiên trong tôi trào lên một tình cảm dạt dào, yêu quê hương, đất nước mình. Một cảm giác mà tôi không có lời nào diễn tả nổi. Như thường lệ, chúng tôi cùng những anh em khác đi học ở nước ngoài về phải có một vài buổi được thông báo về tình hình trong nước. Tôi nghĩ rằng, đây là một việc làm cần thiết và có ích để anh chị em có thể nắm được sự phát triển của thực tế đất nước. Gần một tháng ở nhà, tôi được ở gần mẹ, vợ con, họ hàng, bạn bè, được ăn những món ăn quen thuộc chỉ quê mình mới có. Đó là những ngày vui nhưng đồng thời cũng thấy rõ thêm đất nước, quê hương mình còn nghèo quá, vất vả quá. Hết hè, tôi trở lại Liên Xô học tiếp, trong tâm tư không có vấn đề gì lớn, chỉ thương mẹ vì chưa được chăm sóc mẹ tốt và thương vợ con vất vả. Thỉnh thoảng, cụ bị xuyễn mà không thể tìm được thuốc theo yêu cầu vì đó là loại thuốc rất hiếm, không thể mua được. Ở Hà Nội, trước lúc ra ga tàu liên vận quổc tế đi Đồng Đăng, do mải nói chuyện với hai bà chị mà tôi quên mất giờ tàu chạy. Đến lúc ra ga thì tàu đã chạy khỏi ga. Rất may, tôi gặp anh Trần Tâm, Lớp trưởng đang nháo nhác tìm tôi. Anh Tâm đi máy bay nên ra tiễn anh chị em đi tàu. Thấy tôi bị nhỡ tàu, anh bèn chạy về Ban Tổ chức Trung ương xin được một chiếc xe Markovic cho tôi đuổi theo xe lửa. Đường bộ từ Hà Nội đi Lạng Sơn có nhiều đoạn đang sửa nên phải đến Đồng Đăng, tôi mới đuổi theo kịp, lúc đó anh chị em đang làm thủ tục xuất cảnh. Tôi chì kịp nói câu cảm ơn đồng chí lái xe rồi vội vào làm thủ tục ngay. Các anh, các chị đều mừng rỡ. Thật hú vía! Chỉ nhỡ quên một chút mà làm phiền bao nhiêu người. Chúng tôi đến Trường để tiếp tục vào học năm thứ hai thi gặp các anh ở lớp trước đã tốt nghiệp, vừa đi nghỉ mát theo chế độ của Nhà trường, đang chuẩn bị về nước. Trong đó có hai anh trong Quân đội và một số anh ở lại tiếp tục làm luận án phó tiến sĩ. Lúc này, tình hình quan hệ Xô - Trung bắt đầu phức tạp. Các anh trao đổi và phổ biến cho một số kinh nghiệm học tập có ích, đồng thời cũng cho biết thêm ít nhiều về tình hình quan hệ Xô - Trung vì việc này có tác động ít nhiều đến nội bộ ta, kể cả đối với học viên ta đang học ở Trường Đảng của Liên Xô. Trong thời gian này, Đảng ta tiếp tục đưa một đoàn mới sang Liên Xô học, trong đó có anh Trần Nguyên Độ là Trung tá, chính ủy một lữ đoàn pháo binh. Tuy ở trong nước chúng tôi chưa biết nhau, nhưng khi sang đây, anh Độ cũng hay đến chỗ tôi chơi và chuyện trò với nhau. Qua tiếp xúc với các anh em ở hai đoàn, đoàn đã tốt nghiệp sắp về nước và đoàn mới sang, tôi có cảm giác rằng, đoàn chúng tôi đông hơn, các thành viên công tác ở các lĩnh vực khác nhau, đủ cả Bắc, Trung, Nam nhưng rất đoàn kết, nhất trí cao về quan điểm chính trị và thương yêu nhau. Tôi nghĩ điều này là vô cùng cần thiết trong trường hợp học tập ở ngoài nước khi tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp. Điều tôi nghĩ đúng với sự trưởng thành của từng người sau này đối với sự nghiệp cách mạng. Và tôi vui mừng, tự hào về điều đó. Chúng tôi học tiếng Nga đến giữa năm học thì kết thúc. Từ đó, những buổi lên lớp cho toàn thể học viên của các nước xã hội chủ nghĩa (trừ Trung Quốc, Ba Lan, Anbani không có học viên ở Trường Đảng của Liên Xô), chúng tôi phải nghe trực tiếp bằng tiếng Nga. Đến bây giờ chúng tôi mới cảm thấy sự thiếu hụt vốn tiếng Nga rất rõ, đặc biệt khi nghe giảng viên lên lớp hay dùng những câu dài, phức hợp. Chúng tôi phải khắc phục bằng cách đọc thêm các sách đã dịch của ta và trao đổi giúp đỡ nhau những nội dung chưa hiểu. Theo chương trình của Nhà trường, bước vào mùa hè, học viên nước ngoài được tổ chức đi tham quan khoảng nửa tháng ở các nước cộng hòa thuộc Liên Xô. Anh Trần Tâm, Lớp trường cho chúng tôi biết đã đề nghị với Nhà trường cho đi xuyên Grudia (quê hương Xtalin), nhưng Nhà trường đã bố trí cho lớp chúng tôi đi Ácmênia rồi. Chúng tôi được một giáo viên hướng dẫn, lại là ông thầy đầu hói có nhiều "duyên nợ" phụ trách, đi bằng máy bay từ Mátxcơva đến Erevan, thủ phủ của nước Cộng hòa Xôviết Ácmênia. Từ trên máy bay nhìn xuống, Erevan là một thành phố không lớn nhưng rất đẹp ở sát ngay sau một vùng đồi núi điệp trùng. Gần đó là ngọn núi Ararát giáp biên giới Thổ Nhĩ Kỳ. Trên ngọn núi quanh năm tuyết phủ. Người đầu tiên tiếp chúng tôi là Chủ tịch Xôviết Erevan, tuổi trung niên, nước da nâu, khỏe đẹp như một pho tượng. Sau khi thầy giáo hướng dẫn giới thiệu chúng tôi và nói tóm tắt về mục đích, nội dung tham quan, ông chăm chú lắng nghe và câu đầu tiên ông nói với chúng tôi không phải là những lời chào mừng khách sáo mà là "Các đồng chí Việt Nam đến đây nghiên cứu sẽ thấy không giống như những điều mà ở Trường người ta dạy các đồng chí đâu!"... Chúng tôi hơi ngạc nhiên về câu nói quá thẳng thắn đó. Còn thầy giáo hướng dẫn thì tỏ vẻ rất khó chịu, nhưng không nói gì. Ông Chủ tịch nói với chúng tôi về những nét đẹp của thành phố, trong đó có một công viên trên cao cách trung tâm thành phố khoảng vài ba kilômét. Với vẻ rất tự hào, ông nói rằng, nguồn nước của thành phố Erevan là nguồn nước sạch nhất thế giới vì được xây dựng ờ một vùng đất đá ong và hầu như các ngôi nhà trong thành phố, kể cả nhà cao tầng đều được xây dựng bằng đá ong. Ngay hôm ấy, sau khi đã ổn định chỗ ở tại một trung tâm an dưỡng lớn ngay tại Erevan, một trong những khu an dưỡng dùng cho toàn Liên bang, chúng tôi đi tham quan công viên lớn nhất trên dãy đồi cao cạnh thành phố rộng khoảng 50 hécta, đứng đó có thể nhìn thấy toàn thành phố. Ở điểm cao nhất của công viên có một tháp cao, trên đó trước kia có tượng của Xtalin, các chiến sĩ Xôviết và Ácmênia đã hy sinh trong cuộc chiến tranh vệ quốc 1941 - 1945. Nhưng nay, tượng của Xtalin đã bị đập phá, ngọn tháp trông cụt lùn, chưa hết dấu vết nham nhờ. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2023, 07:29:51 am Hôm sau, chúng tôi được một cán bộ của thành phố dẫn đi tham quan một nhà máy thủy điện có công suất đủ cung cấp điện cho cả thành phố. Theo đồng chí nói thì công trình thủy điện này được làm theo chỉ thị của Xtalin bằng ngân sách của Liên bang. Nhà máy đặt trong lòng núi, có thể chống được bom nguyên tử và khách nước ngoài không được vào, nhưng là khách Việt Nam thì được xuống hầm xem một tuốcbin. Cửa vào nhà máy ở ngay sườn núi, được xây xuềnh xoàng như cổng một ngôi nhà, gằn như bị cỏ cây che lấp, ngụy trang. Qua cổng vào trong có đường đi sâu xuống hầm như bậc thang, đồng thời có đường xuống bằng thang máy. Chúng tôi xuống bằng thang máy, đến một phòng rất rộng ở sâu trong lòng đất, có một tuốcbin đang hoạt động và một, hai nhân viên kỹ thuật làm việc ở đó. Chắc quy mô nhà máy còn lớn hơn rất nhiều. Đó là lần đầu tiên tôi được biết một phần nhỏ của một công trình thủy điện mà chắc chắn nó còn có nhiều chức năng quan trọng nữa. Chúng tôi rất thú vị và mong đất nước mình sau này cũng có nhiều công trình hiện đại như vậy.
Ngày tiếp theo, chúng tôi đến một quận để nghe báo cáo thực tế công cuộc xây dựng và thành tựu của quận do một nữ bí thư đảng bộ quận còn trẻ trình bày. Báo cáo xong, chị nói: "Ở quận chúng tôi có một người Việt Nam. Các đồng chí Việt Nam muốn gặp thì ngày mai chúng tôi sẽ cho người dẫn đến chỗ đồng chí ấy!". Ngạc nhiên và tò mò muốn biết tại sao một nước cộng hòa Xôviết ở miền Nam Liên Xô xa xôi như thế mà lại có người Việt Nam ở đây. Tất cả chúng tôi đều rất vui và đề nghị mời đồng chí đó đến. Hôm sau là ngày chủ nhật, buổi sáng chúng tôi chuẩn bị kẹo bánh để đón khách. Theo giờ hẹn, một chị phụ nữ Nga trạc trên dưới 40 tuổi, có một vẻ đẹp rất phúc hậu (ở tuổi thiếu nữ chắc chị đẹp lắm) dắt một cháu bé khoảng 12, 13 tuổi người châu Á, da bánh mật đến. Cháu bé quấn quýt bên chị, thấy chúng tôi cứ ôm cổ chị và gọi mẹ bàng tiếng Nga. Chị giới thiệu với chúng tôi cháu tên là Phạm Văn Đồng do chị đặt để tỏ lòng ngưỡng mộ Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng mà các chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam, trong đó có chị rất kính trọng và yêu mến. Chị bảo cháu ra ngoài chơi, khi nào mẹ gợi hãy vào. Cháu vâng lời và ra ngay. Chị nói rằng, chị không muốn nói chuyện về cháu trước mặt cháu. Chị kể với chúng tôi: Một ngày vào năm 1954, khi nghe có một chuyến tàu biển của Ba Lan giúp chở bộ đội và cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, chị là bác sĩ cùng một số chuyên gia Liên Xô đang công tác tại Việt Nam tham gia đi đón. Lúc tàu cập bến, chị thấy có một số chiến sĩ, cán bộ miền Nam bế một cháu bé độ 2 - 3 tuổi ở tàu lên, chi vào chị và nói với cháu bé: "Đây, mẹ cháu đấy". Thế là cháu đòi chị bế và cứ ôm riết lấy chị. Chị tìm cách hỏi thì được các đồng chí ấy cho biết là bố mẹ cháu đều là liệt sĩ. Cháu được bộ đội mang về nuôi. Trên tàu, cháu cứ hỏi là "Mẹ cháu đâu?", các đồng chí đều nói dối là mẹ cháu đã ở miền Bắc, ra đó cháu sẽ gặp. Khi tàu cập bến, cháu hỏi lại câu đó thì một đồng chí chỉ đại vào chị. Chị rất xúc động và đề nghị được nhận cháu làm con nuôi. Sau khi các anh đã trao đổi kỹ, đề nghị của chị được chấp nhận. Hết hạn công tác ở Việt Nam, chị trở lại Liên Xô và tiếp tục nghề bác sĩ của mình ở Nga. Nhưng vì khí hậu ờ Nga quá lạnh, cháu không quen và luôn yếu đau, chị xin chuyển công tác về Ácmênia thuộc miền Nam Liên Xô, nơi có khí hậu ấm áp có thể giúp cho sức khỏe của cháu tốt hơn. Vì thế mà chị có mặt ở Erevan. Chị vừa nói vừa khóc, khiến một số chúng tôi cũng không cầm được nước mắt. Chị nói thêm, hiện nay cháu đã học xong lớp 4 và sức khỏe đã khá hơn trước. Chị còn nuôi thêm hai cháu nữa cũng trạc tuổi cháu Đồng. Một cháu là người Nhật, bố mẹ đều chết vị bị nhiễm phóng xạ bom nguyên tử của Mỹ. Một cháu nữa người châu Phi, cũng mồ côi cha mẹ. Mọi người trong chúng tôi đều rất xúc động vì thương các cháu nhỏ, nhất là Đồng, và cả vì tấm lòng nhân hậu, cao cả của một phụ nữ Xôviết. Chúng tôi mời chị và cháu ở lại ăn cơm nhưng chị xin khước từ vì phải về để còn lo cơm nước cho hai cháu ở nhà. Chị chào từ biệt chúng tôi và Đồng cũng lí nhí chào bằng tiếng Nga. Cháu không nói được tiếng Việt. Tôi rưng rưng nhìn theo hai mẹ con chị, chưa hết xúc động. Những ngày ở Erevan, chúng tôi còn được Trung ương Đảng Ácmênia mời đến chiêu đãi thân mật. Tiếp chúng tôi là một đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị. Các đồng chí tỏ ra rất trọng thị đối với khách Việt Nam. Lúc rỗi, chúng tôi rủ nhau đi chơi. Môi trường ở Erevan thật là lý tưởng, đường phố sạch sẽ, rộng rãi. Ban đêm toàn đèn cao áp, dây ngầm. Vòi nước dọc các đường phố phun nước ngày đêm. Dân đi đường có thể uống trực tiếp ở các vòi nước dọc đường. Ban ngày trời nắng đến 40°C nhưng vẫn cảm thấy dễ chịu, không oi bức. Mật độ người và xe cộ đi trên đường rất thấp, có lúc vắng vẻ. Gặp những người dân dọc dường, biết chúng tôi là người Việt Nam, ai cũng niềm nở, thân thiện. Sau những ngày đầy ấn tượng ở Erevan, tiếp tục chương trình tham quan, chúng tôi đi xuống nông thôn, về một huyện do một đồng chí Anh hùng Lao động, Ủy viên Trung ương Đảng Ácmênia là Bí thư Huyện ủy. Đồng chí gặp gỡ chúng tôi, không nói gì nhiều và cử một đồng chí trong Huyện ủy hướng dẫn đoàn đến thăm một số cơ sở nông nghiệp. Phải nói thật là đi qua những cánh đồng trồng nho của nông trang tập thể, chúng tôi thấy nho không được chăm sóc tốt nên cứ xơ xác hơn là vườn riêng của nông trang viên. Tuy vậy, ở thời điểm những năm đầu thập niên 60 thế kỷ XX, ở Ácmênia, cứ ba người dân có một xe máy thì đời sống người nông dân tương đối no đủ, khỏe mạnh là cũng khá rồi. Một hôm chúng tôi được dẫn đi tham quan di tích cổ là một khu rất rộng nhưng công trình cũ thưa thớt, đền thờ có vẻ nghèo nàn, nhưng họ giữ gìn rất cẩn thận, ô tô của chúng tôi chỉ được ở ngoài, còn người phải đi bộ gần hai kilômét mới đến được chỗ tham quan. Gặp một toán thanh niên nam nữ đi "picnic" đang ngồi ăn uống, tôi và đồng chí Trình bị họ kéo vào mời uống rượu. Tôi được họ rót cho một cốc cônhắc nổi tiếng của Ácmênia với nồng độ cao. Khi chạm cốc, có tiếng một cô gái nói: "Anh ơi rượu rất nặng đấy!". Nhưng không kịp nữa rồi, tôi làm một hơi cạn cốc. Lúc đó, bụng đang đói, rượu nặng uống vào tôi lập tức bị say xin, không đứng vững được. Đồng chí Trình thì từ chối và lỉnh đi. Anh em tập trung ra xe về, không thấy tôi. Đồng chí lái xe quay lại thấy tôi say xỉn phải dìu gần hai kilômét mới đến được chỗ đậu xe. Trong đời, có lẽ đó là lần say rượu duy nhất mà khi tỉnh lại tôi thấy xấu hổ. Cũng từ đây, tôi cạch đến già không bao giờ dám uống rượu say nữa. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2023, 07:30:59 am Buổi cuối cùng ở Ácmênia, chúng tôi đến một nông trường quốc doanh. Buổi trưa, chúng tôi được chiêu đãi một bữa thịt cừu, mà món chả nướng bằng than gỗ cực kỳ ngon chưa từng có. Buổi chiều, chúng tôi đến thăm một tổ lao động ờ vườn mơ của nông trường, cùng dự bữa cơm gà luộc với anh chị em trong tổ lao động rất vui vẻ. Lúc ra về, chúng tôi đã thấy trên xe mấy thùng mơ chín được đóng gói cẩn thận. Anh chị em trong tổ lao động gửi làm quà.
Chuyến tham quan ở nước Cộng hòa Ácmênia tuy ngắn ngày nhưng để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc về tình cảm của người dân Xôviết đối với đất nước chúng ta, về sự đôn hậu, thân thiện của họ. Đặc biệt, câu chuyện về chị bác sĩ đã từng làm chuyên gia ở Việt Nam với cháu Đồng, tôi vẫn nhớ rất rõ đến từng chi tiết cho đến bây giờ. Về Trường, chúng tôi đem mấy thùng mơ chia tặng các nhà có anh em chúng tôi ở để tặng các chị thường trực, các chị dọn dẹp vệ sinh các phòng, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh... Món quà tuy nhỏ nhưng các chị rất cảm động trước tình cảm, sự quan tâm của các học viên Việt Nam đối với các chị. Hết năm học thứ hai, cũng như năm trước, chúng tôi lại chuẩn bị về thăm gia đình và nghỉ hè ở Việt Nam. Lần này, đi đến Bắc Kinh, chúng tôi phải chờ mất vài ngày mới có tàu liên vận về Hà Nội. Để tiết kiệm chi phí, cũng như lần trước, chúng tôi đến trọ ở Bắc Hải lữ quán, một kiểu nhà hàng bậc dưới khách sạn. Do có thời gian lưu lại Bắc Kinh nên anh em chúng tôi rủ nhau thành từng toán đi tham quan một số nơi trước đây chưa có dịp đi. Đến Bách hóa Đại Lầu, một cửa hàng quốc doanh lớn nhất ở Bắc Kinh, chúng tôi thấy có rất nhiều hàng hóa, nhưng nhiều mặt hàng lại bán theo chế độ cung cấp của thời bao cấp nên có muốn mua cũng không mua được. Có buổi, anh Đào Nguyên Cát rủ tôi đi chơi Di Hòa Viên, một danh thắng của Bắc Kinh mà Từ Hy Thái hậu triều nhà Mãn Thanh đầu tư khá nhiều tiền của vào đây. Anh Cát biết tiếng Trung Quốc nên tôi cũng muốn đi với anh. Đúng là một công trình văn hóa đồ sộ rộng lớn và phong phú. Vào mùa hè mà chúng tôi thấy dân đi tham quan, du lịch rất ít, có lẽ vì đời sống khó khăn. Gặp một cặp thanh niên Trung Quốc, một trai một gái có vẻ trí thức, cô gái mặc tương đối lịch sự ở thời đó, đeo kính trắng. Anh con trai đến làm quen với chúng tôi, tự giới thiệu là một kỹ sư và giới thiệu em gái ruột của anh cũng vừa tốt nghiệp đại học nhưng chưa có việc làm, chuyện trò một lúc anh than phiền về quan hệ Xô - Trung, về cách ứng xử của Liên Xô trong việc thanh toán nợ nần đối với Trung Quốc... Trước khi chia tay, anh nói là anh rất thích bài hát "Làng tôi" của nhạc sĩ Văn Cao và hát bằng tiếng Việt Nam và tiếng Trung Quốc cho chúng tôi nghe. Tôi thích thú và ngạc nhiên về mức lan tỏa của một ca khúc của nhạc sĩ Văn Cao mà tôi cũng rất thích và cũng đã được nghe đồng chí Mông Cổ hát cho nghe ở Mátxcơva năm trước. Hát xong anh ta mời chúng tôi đến nhà anh ăn cơm tối. Anh Cát nhận lời nhưng lại không dịch cho tôi nghe. Gần tối, bỏ cơm ở nhà hàng, anh rủ tôi đến nhà anh bạn Trung Quốc. Tôi không muốn đi nhưng anh nói đã trót hẹn rồi và cũng muốn xem một gia đình người Trung Quốc sống ra sao. Nể anh, tôi đành phải đi theo. Anh bạn Trung Quốc đón chúng tôi ở cửa một chung cư và dẫn chúng tôi lên tầng hai vào một căn phòng hai ngăn rộng khoảng trên dưới 25 mét vuông. Chưa kịp yên vị quanh một chiếc bàn nhỏ đơn giản thì có tiếng gõ cửa, một cái đầu của một phụ nữ trung niên ló vào. Anh vội ra nói gì đó, sau đó vào nói với chúng tôi đó là bà tổ trưởng của tầng nhà. Hai vợ chồng anh và cô em gái anh sống ở căn buồng đó. Chị vợ anh là một giáo viên tiểu học, vẻ mặt không vui, không niềm nở chuyện trò và miễn cưỡng chuẩn bị cơm mời khách. Mâm cơm được đặt ở trên bàn, chỉ có một đĩa đậu phụ kho mặn với dọc hành và một liễn cơm. Chủ nhân ngượng ngùng mời chúng tôi vào ăn. Anh Cát mời chị vợ và cô em gái vào cùng ăn, nhưng họ từ chối và nói là đã ăn rồi. Trong không khí ấy chúng tôi phải cố gắng lắm mới ăn hết được một bát cơm. Tiễn chúng tôi ra về, anh bạn Trung Quốc lặng lẽ từ biệt và nói: "Chắc các anh hôm nay bị đói!". Tôi và anh Cát trao đổi với nhau chắc vợ chồng anh và cô em gái đời sống khó khăn lắm. Về đến Hà Nội, cũng như các năm trước chúng tôi phải ở lại một hai hôm để nghe thông báo tình hình trong nước, các chủ trương mới của Đảng và Nhà nước ta. Quê tôi sau một năm cũng không có gì thay đổi lớn. Riêng về gia đình lại có thêm một thành viên mới, đứa con trai thứ năm của vợ chồng tôi ra đời đã được mấy tháng, mạnh khỏe, khôi ngô. Thương vợ vì quá đông con, tôi khuyên vợ nên dùng biện pháp tránh thai nhưng cô ấy không chịu. Em vẫn nhắc lại với tôi, không nhớ rõ là lần thứ bao nhiêu với vẻ kiêu hãnh về khả năng làm mẹ của mình: "Anh có phải nuôi đâu mà hạn chế, tôi sẽ đẻ cho anh mười đứa con!". Thê thì tôi hoàn toàn chịu "thua" rồi. Nghĩ về mẹ, bà chỉ có một mình tôi là con trai, các chị và em gái tôi đều đã lập gia đình. Tôi hiểu, tuy không muốn nói ra nhưng bà vẫn muốn có tôi sống ở gần. Thương mẹ, tôi chỉ biết nói với các chị và em gái tôi ở quê là về đời sống vật chất của mẹ thì tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm, nhưng đề nghị mọi người ở nhà chú ý giúp tôi chăm sóc bà về tình cảm và những khi "trái gió trở trời". Tôi đã thực hiện đúng như thế. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2023, 07:53:18 am Năm học thứ III (1963 - 1964)
Trong niên học 1962 - 1963, có lần đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương qua Liên Xô đã gặp gỡ anh chị em ở lớp chúng tôi để kiểm tra tình hình học tập và nghe tâm tư nguyện vọng của chúng tôi. Một số đồng chí và tôi có ý kiến về tình hình quốc tế nhất là quan hệ Xô - Trung có những chuyện phức tạp, việc nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, học tập chính trị nên cho học ở nhà để được tập trung và có hiệu quả hơn, tránh được những ảnh hưởng tiêu cực. Đồng chí thừa nhận là có thể có ảnh hưởng tiêu cực, nhưng do yêu cầu của vấn đề đoàn kết quốc tế nên phải tiếp tục học và nếu có bản lĩnh vững vàng, nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng thì cũng không có gì phải lo ngại cả. Chúng tôi coi đó là một lời khuyên đúng đắn và tôi tự nhủ phải chú ý quán triệt và thực hiện quan điểm, đường lối độc lập, tự chủ của Đảng minh và yên tâm tiếp tục hoàn thành nốt niên học 1963 - 1964, kết thúc ba năm học với kết quả tốt nhất. Trở lại Liên Xô lần này, chúng tôi ý thức rõ hơn về sự phức tạp của tình hình quốc tế, nhất là mối quan hệ bất hòa Xô - Trung tại thời điểm này. Tôi tự thấy đối với mình đó là biểu hiện của sự trưởng thành một bước về chính trị, giúp mình có thể tỉnh táo, bình tĩnh hơn trong những trường hợp khó xử. Lần này, tàu liên vận từ Bắc Kinh đi Mátxcơva qua đường Mông Cổ. Các tàu xe đều có gắn quốc huy Trung Quốc trông rất trang trọng. Được qua Mông Cổ lần đầu tiên tôi cũng thấy thú vị. Tàu băng qua thảo nguyên rộng mênh mông, tôi có cảm giác tốc độ nhanh hơn mọi lần. Từ ga nọ đến ga kia cách nhau khá xa và rất vắng bóng người. Đến Ulan Bato, Thủ đô của Mông Cổ mới thấy có khách lên. Có lẽ ga ở ngoại ô nên chúng tôi chỉ thấy những nhà bạt lớn xen lẫn với các nhà cao tầng nhưng thưa thớt. Một vị khách người Mông Cổ mặc âu phục lên ngồi ghế đối diện với tôi. Đi được một lúc anh mở vali ra, tôi nhìn thấy trong vali có khoảng một nửa con cừu đã quay chín. Anh lấy dao cắt ra một miếng sườn to mời tôi. Toát ra một mùi gây của thịt cừu, tôi cảm ơn và nhã nhặn từ chối với lý do là vừa mới ăn no rồi. Toa sau của chúng tôi là một toa chở sinh viên và cán bộ, có cả cán bộ quân đội Trung Quốc. Có một cán bộ quân đội của Trung Quốc trạc tuổi trung niên, không đeo quân hàm nhưng tôi đoán có thể là một cán bộ cấp cao, đem một số ấn phẩm sang toa chúng tôi và tặng mọi người. Mọi người trong chúng tôi đều nhận, riêng tôi lấy vài cuốn tiếng Việt và tiếng Nga với mục đích để tăng thêm vốn tiếng Nga phục vụ cho học tập chứ thực ra nội dung cũng đã được đọc, được nghe rồi. Đến biên giới Mông Cổ - Nga, xe lửa dừng lại ở ga Naútxka bên phía Nga để làm thủ tục nhập cảnh. Đến Mátxcơva, một cán bộ của Trường đưa xe buýt ra đón với một thái độ hơi lạnh lùng không vui vẻ như lần trước. Khai giảng năm học mới, lớp chúng tôi tiếp tục học tập với một thái độ nghiêm túc, chăm chỉ như thường lệ. Được vài tháng thì cuối năm 1963, trên tờ báo "Sự thật" của Đảng Cộng sản Liên Xô đăng thông báo Hội nghị lần thứ 9 của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Ngay hôm đó và tiếp sau nhiều ngày, chúng tôi gặp những giáo sư từng dạy học viên Việt Nam, nhất là các thầy lớn tuổi đều tỏ ra tán thành và hoan nghênh quan điểm, lập trường của Đảng ta với những vấn đề có tính nguyên tắc về chiến lược, sách lược trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, về thiện ý và thái độ xây dựng của Đảng ta trong vấn đề đoàn kết quốc tế trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, chống chủ nghĩa xét lại và các trào lưu cơ hội khác. Không chỉ riêng các thầy mà ngay cả những nhân viên thường của Nhà trường, nhiều người cũng tỏ ra rất đồng tình với Đảng ta. Chúng tôi thật sự tự hào và vui mừng về tính đúng đắn đầy thiện chí và tính độc lập, tự chủ trong quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng. Ngay sau đó, chi bộ các lớp Việt Nam ở Trường Đảng của Liên Xô, theo chỉ thị của Đại sứ quán Việt Nam được nghiên cứu toàn văn Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 của Đảng ta. Sau khi đã quán triệt nội dung của Nghị quyết, các học viên học tại Trường Đảng của Liên Xô theo yêu cầu của Đại sứ quán ta được chia thành các nhóm đến giúp đỡ các đảng viên du học Việt Nam ở các trường đại học và học viện của Liên Xô nghiên cứu Nghị quyết đó. Tôi và đồng chí Lê Phước (Biên tập viên của Tạp chí "Cộng sản") được phân công giúp đỡ các đảng viên của chi bộ đang học tập tại Học viện Sân khấu của Liên Xô. Tôi và anh Lỗ Phước đến vào một buổi tối theo sự bố trí của Sứ quán và chi bộ đó, bộ phận của chi bộ lại là những nữ đồng chí, trong thảo luận phát biểu rất cởi mở. Nói chung, anh chị em nhất trí với quan điểm, đường lối của Đảng, nhưng một số cũng có tâm tư là đi học ở Liên Xô, sợ dễ mang tiếng là ảnh hưởng chủ nghĩa xét lại, nhất là trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Vì nghị quyết có nhiều vấn đề lại chỉ được nghiên cứu trong một buổi tôi nên gần đến 12 giờ đêm mới xong. Lúc tôi và anh Lê Phước ra về thì người thường trực nhất định giữ lại thẻ học viên Trường Đảng Liên Xô của chúng tôi không chịu trả, chúng tôi đành phải bỏ lại và về báo cáo với anh Tâm trong chi bộ. Sự việc được báo cáo lên Đại sứ quán ta và phải tới gần một tuần người ta mới trả lại cho chúng tôi hai cái thẻ đó. Năm thứ ba là năm cuối cùng, việc học tập của chúng tôi khẩn trương và căng thẳng hơn các năm trước vì phải thi quốc gia để lấy bằng tốt nghiệp. Nghĩ rằng cần phải tiết kiệm thời gian tập trung vào việc ôn ba môn chủ yếu (triết học, kinh tế chính trị, lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô) trong kỳ thi quốc gia nhưng không hiểu sao năm ấy chúng tôi lại tốn thời gian vào những việc khác, không phải việc như nghiên cứu Nghị quyết Trung ương 9 và giúp các đồng chí ở Học viện Sân khâu học tập, mà là những việc chẳng dính dáng gì tới học tập, đặc biệt là việc gặp gỡ bạn bè trao đổi tâm sự vì sự phức tạp chung của tình hình. Tôi hết sức tranh thủ thời gian dành cho học tập, có thể nói ngay từ năm đầu cho đến năm cuối, tôi rất hiếm khi có một ngày chủ nhật để nghỉ. Nhưng năm thứ ba tự nhiên tôi lại có nhiều khách thế. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2023, 07:54:27 am Người hay đến phòng tôi trao đổi là anh Trần Nguyên Độ, vốn là chính ủy của một lữ đoàn pháo binh ở lớp sau tôi một năm, cán bộ Quân đội duy nhất ở lớp đó. Chúng tôi không bao giờ nói với nhau về tình hình nội bộ của lớp học mình, nhưng anh thường trao đổi với tôi về những vấn đề thời sự nóng hổi và thổ lộ nhiều quan điểm, chính kiến của mình về những vấn đề đó. Qua chuyện trò với nhau, chúng tôi thường có sự nhất trí trên nhiều vấn đề. Có lẽ vì thế mà anh hay đến chỗ tôi chơi và trao đổi, chỉ phải mỗi cái khổ là mất thời gian học và khói thuốc lá mù mịt. Tôi cũng thuộc loại nghiện nặng, nhưng so với anh thì không thấm vào đâu, có lúc không chịu nổi phải mở toang cửa cho thoáng kể cả những ngày đông rất rét. Anh Hồng Sơn, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36, sau là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308 cũng có lần đến chỗ tôi chơi. Anh là thủ trưởng cũ của tôi và cùng ở trong cấp ủy khi tôi là Bí thư Liên chi ủy, đang học tại Học viện Phrunde. Anh là một cán bộ quân sự chỉ huy giỏi, quyết đoán, nhiều sáng kiến mà tôi học được nhiều ở tác phong chỉ huy của anh. Đến chơi, anh chỉ nói những chuyện thân mật, không dính líu gì đến chuyện chính trị. Biết anh học ở Học viện Phrunde đã lâu nhưng việc anh chủ động đến chơi cũng là chuyện hiếm thấy, nhưng tôi cho rằng tình hình phức tạp việc tìm đến nhau của những người bạn quen biết nhau để chia sẻ có lẽ là một nhu cầu không chỉ của riêng ai.
Năm 1964, tôi có hai cuộc gặp mặt thú vị: Cuộc gặp mặt thứ nhất là gặp anh Vi Huyền Trác, người đã mổ cho tôi khi tôi bị thương trong đợt tiến quân sang Lào phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu của thực dân Pháp đầu năm 1954. Anh là Chủ nhiệm Quân y Sư đoàn 308, nay được cử đi học ở Tiệp Khắc. Qua Mátxcơva, anh ghé thăm tôi vì sau lần mổ ấy, chúng tôi sống cạnh nhau khá lâu ở doanh trại của Sư đoàn và trở nên thân nhau. Được khoảng một tháng sau anh về và lại ghé thăm tôi. Tôi ngạc nhiên hỏi sao anh lại về sớm thế? Anh rất vui kể cho tôi nghe là, một vị giáo sư, bác sĩ cao niên ở Tiệp Khắc, khi sắp bước vào học giao cho anh một ca mổ. Thấy anh thao tác thành thạo và mổ rất thành công, vị giáo sư ấy nói rằng: "Anh làm quá giỏi, chúng tôi không thể hơn được và anh không cần phải học thêm nữa". Tôi tin là vị giáo sư đó đã rất thật lòng, vì các bác sĩ quân y của chúng ta đã trưởng thành rất nhanh qua thực tế chiến đấu của Quân đội ta. Cuộc gặp mặt thú vị thứ hai là gặp anh Phạm Thái, người đồng chí cùng học với tôi ở Trường Quân chính Việt Nam khóa 1, công khai ở Hà Nội, rồi cùng Nam tiến ngày 3 tháng 10 năm 1945, cùng bị Pháp bắt với cả anh Lê Hoàng ở Ninh Chữ. Một buổi trưa chủ nhật tại nhà ăn của Trường, tôi sững người khi thấy đồng chí Hà Đăng dẫn hai bạn của mình đi ăn, trong đó có anh Phạm Thái. Tôi vội đi tới và gọi: - Anh Phạm Thái có nhận ra tôi không? Anh ngạc nhiên không kém và nhận ra tôi ngay: - Có phải Đinh Mộng Tiên đấy không? Và chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Hà Đăng và vị khách kia cũng sửng sốt không kém. Anh giới thiệu với tôi, đây là anh Thép Mới, Phó Tổng Biên tập Báo "Nhân dân", còn anh Phạm Thái tức là Trần Kiên, phóng viên thường trực của báo tại Liên Xô. Tôi nói với anh Thép Mới và anh Hà Đăng là 18 năm nay chúng tôi mới lại gặp nhau. Anh Thép Mới nói: - Thật là một cuộc gặp gỡ quý báu sau 18 năm. Tôi hỏi anh Trần Kiên về anh Lê Hoàng thì anh cho biết anh Hoàng đã hy sinh trong một trận ném bom của địch rôi. Cả hai chúng tôi đều bùi ngùi nhớ tới người đồng chí, người anh lớn tuổi. Và những chuyện ngốn mất thời gian của chúng tôi ngày càng nhiều, khi thì vị đại sứ của ta ở Cuba về qua cũng ghé thăm các học viên Trường Đảng, nói chuyện về cuộc khủng hoảng đặt tên lửa của Liên Xô ở Cuba, về sự thất thế của Khơrútxốp, về quan hệ Cuba - Liên Xô; khi thi các đoàn ngoại giao nhân dân của ta qua Liên Xô... Chúng tôi chuẩn bị thi quốc gia để lấy bằng tốt nghiệp Trường Đảng của Liên Xô trong khi có nhiều chuyện, trong đó có những chuyện không vui, đặc biệt là chuyện hai vị sĩ quan cao cấp của ta đào ngũ. Tuy nhiên, với lòng tự trọng, chúng tôi vẫn miệt mài ôn thi để đạt kết quả cao nhất. Đồng thời, chúng tôi cũng thống nhất với nhau, nếu phải trả lời những câu hỏi trong lúc thi trái với quan điểm, đường lối độc lập, tự chủ của Đảng mình, cách trả lời tốt nhất để vừa đạt điểm tốt, vừa khiêm tốn, đoàn kết được với bạn và vừa giữ vững quan điểm lập trường của mình phải như thế nào? Gặp phải trường hợp đó cách trả lời là: Trả lời theo bài giảng của giáo viên, sau đó đề nghị ban giám khảo được trình bày quan điểm của riêng mình khác với bài giảng như thế nào. Một buổi, tôi tranh thủ sang thăm bạn bè đang học ở Học viện Quân chính Lênin. Đến nơi, tôi gặp anh Vũ Chính, 1 thiếu tá, một bạn cũ từng học tiếng Nga với tôi ở Lạng Sơn trước đây, nay là Bí thư Đảng ủy các chi bộ học viên Việt Nam tại Học viện, đang nói chuyện với một đại tá Liên Xô. Tôi chào hai người và được anh Vũ Chính giới thiệu, vị đại tá đó là Chủ nhiệm Khoa học viên nước ngoài của Học viện và liêp tục câu chuyện với vị đại tá đó. Chẳng mấy chốc kỳ thi tốt nghiệp đã đến, nói chung chúng tôi đều thực hiện việc thi cử khá suôn sẻ. Những anh chị em bốc thăm phải câu hỏi nhạy cảm thường trả lời đúng như cách chúng tôi đã thống nhất với nhau. Tuy nhiên, chúng tôi thấy các giáo sư trong ban giám khảo cũng có ý tránh để chúng tôi không vấp phải những trường hợp khó xử. Riêng tôi có một kỷ niệm thú vị khi tôi thi môn triết học. Một trong ba vị giáo sư của ban giám khảo là vị giáo sư già hay chơi bóng bàn với tôi. Câu hỏi mà tôi bốc thăm được trình bày về "cặp phạm trù hiện tượng và bản chất". Khi chuẩn bị xong, tôi lên trình bày trước ban giám khảo thì được vị giáo sư, bạn chơi bóng bàn với tôi rất vui vẻ: - Chào vận động viên bóng bàn, bạn chơi của tôi. - Xin chào giáo sư và tôi xin được trình bày những ý chính của tôi về phạm trù hiện tượng và bản chất - Tôi trả lời. Nghe qua những ý chính tôi trình bày, khi tôi định đi vào chi tiết thì giáo sư ngắt lời: - Đủ rồi, tôi hỏi đồng chí có đọc tin một sân vận động ở Braxin bị sập làm chết và bị thương mấy trăm người trong một buổi đá bóng không? Sau khi tôi trả lời có đọc tin đó, giáo sư hỏi tiếp: - Phân tích về mặt triết học, đồng chí thấy gì qua tin đó? Tôi trả lời gọn: - Hiện tượng là một tai nạn nhưng về bản chất vấn đề là ở chỗ xã hội tư bản không quan tâm đến tính mạng con người chỉ chú ý bán được nhiều vé để thu tiền. Cả ba vị giáo sư đều gật đầu tán thành. Giáo sư nhìn tôi mỉm cười: - Đồng chí đã hoàn thành phần thi triết học! Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2023, 07:55:20 am Tôi thấy cách chấm thi thật thoải mái và yên trí mình sẽ đạt điểm tốt. Vài ngày sau, rất nhanh chóng lớp chúng tôi được triệu tập để nghe thông báo về kết quả thi tốt nghiệp quốc gia của chúng tôi. Mọi người đều vui vẻ vì 22 người của lớp chúng tôi đều tốt nghiệp, 11 người tốt nghiệp loại ưu, trong đó có tôi. Chúng tôi chỉ còn hai việc: Chờ ngày bế giảng toàn khóa rất trọng thể của Nhà trường trao cho bằng tốt nghiệp và sau đó được đi nghỉ mát khoảng nửa tháng theo chế độ của Nhà trường dành cho học viên nước ngoài rồi lên đường về nước.
Cùng lúc đó, lớp của anh chị em Việt Nam kế tiếp chúng tôi sau một năm học tập, đang chuẩn bị lên đường về nước nghỉ hè thì được tin N.C., một thành viên của lớp đó đã trốn ở lại giống như trường hợp L.V.Q. và V.D.. Với chúng tôi, đó là một cú sốc rất mạnh sau trường hợp của L.V.Q. và V.D. Sau sự kiện trên, cùng một số sự việc nữa, Chi bộ chúng tôi họp, quyết định không dự lễ bế giảng và từ chối nhận bằng tốt nghiệp đã được công bố và bỏ không đi nghỉ mát. Quyết định này được báo cáo lên Ban Cán sự Đảng, Đại sứ quán ta ở Liên Xô và được chuẩn y. Ngay sau đó, các đồng chí trong chi ủy của chi bộ chúng tôi lên thông báo việc này cho đồng chí Giám đốc Nhà trường. Tất nhiên, ông già phúc hậu đó phiền lòng khi nhận được thông báo và chúng tôi cũng chẳng vui vẻ gì. Nghe nói lễ bế giảng và phát bằng tốt nghiệp cho học viên nước ngoài cũng kém vui và dư luận xôn xao. Không biết các đồng chí khác ở lớp tôi thì thế nào, riêng tôi được trực tiếp nghe và trả lời hai đồng chí nước ngoài. Người thứ nhất là đồng chí đảng viên già người Iran ở gần buồng tôi. Sau khi lễ phát bằng kết thúc, đồng chí gặp tôi vẻ mặt trầm buồn, nói: - Tôi nghĩ dù sao thì các đồng chí cũng nên dự và lấy bằng. Tôi nói với đồng chí ấy rằng: - Chúng tôi làm như vậy cũng là bất đắc dĩ. Ngoài việc không dự và không nhận bằng, chúng tôi không thể có hành động nào khác để tỏ rõ sự bất bình của chúng tôi. Lớp chúng tôi đề nghị Nhà trường cho về sớm. Nhà trường cũng giải quyết mọi vấn đề khá chu đáo nên việc về nước của chúng tôi được thuận lợi. Chúng tôi từ biệt các thầy giáo, anh chị em phục vụ với tư thế của những người mà lẽ phải thuộc về mình, đàng hoàng, có lý, có tình. Tôi có cảm giác nhiều người nhìn chúng tôi với ánh mắt thân thiện, lưu luyến, không có những cái nhìn thù ghét, hằn học. Tôi nhớ một hình ảnh làm anh chị em ở chung cư cảm động: Đó là khi chúng tôi chuyển hành lý ra xe buýt của Trường để ra ga xe lửa, một chị thường trực độ tuổi trung niên vừa mới đến để thay phiên, chạy theo nói với chúng tôi: - Các đồng chí xử sự như thế là đúng. Chúng tôi nhớ các đồng chí. Chúc lên đường bình an và hẹn gặp lại! Chúng tôi được bố trí một toa riêng ờ cuối đoàn tàu. Đến gần Xibia thì có thêm một đầu máy đẩy phía sau. Gần chiều tối, một chị phụ nữ trạc tuổi dưới 50, có lẽ là Xa trưởng hành khách. Chị cầm một chiếc đèn pha điện xách tay đi về phía cuối toa rồi vẫy tay gọi: - Này các anh trai và các cô gái ra đây. Chị mở cửa sau toa xe và bật đèn pha chiếu sáng. Một số anh chị em đến chỗ chị xem chị bảo gì, thì chị rọi ánh đèn pha vào đầu máy xe lửa, chúng tôi nhìn thấy một phù điêu chân dung Xtalin bằng đồng rất đẹp gắn ở đầu máy. Chị rọi ánh sáng đèn thẳng vào phù điêu Xtalin, xúc động nói: "Đấy Xtalin đấy, Xtalin đấy". Chị cầm đèn để cho chúng tôi lần lượt thay nhau đến ngắm phù điêu cho đến người cuối cùng mới thôi. Chúng tôi nhận thấy, thì ra trong trái tim người dân Xôviết, người ta vẫn nhớ tới Xtalin mặc dù Khơrútxốp và phe cánh không từ một lúc nào để đả kích nói xấu và đập phá tượng đài, xóa bỏ mọi dấu vết vẫn không làm nổi. Thời gian còn ở Trường, chúng tôi cũng được nghe ngày càng nhiều những câu chuyện tiếu lâm về Khơrútxốp, thấy rõ ràng uy tín của ông ta giảm sút nhanh chóng. Xe lửa qua biên giới Xô - Trung trong những ngày hè nóng bức. Từ ga Mãn Châu Lý càng về phía nam thì không khí càng oi ả, khó chịu. Có lẽ qua việc làm thủ tục nhập cảnh, cán bộ nhân viên trên xe thừa hiểu chúng tôi là học viên của Trường Đảng Liên Xô tốt nghiệp về nước. Tôi thấy bắt đầu có dấu hiệu cho thấy thái độ phục vụ khách của nhân viên trên tàu đối với chúng tôi không được niềm nở cho lắm. Trong bữa lót dạ buổi sáng, sữa được pha loãng lờ lờ nhạt thếch với một mẩu bánh mì nhỏ. Không biết do khó khăn về kinh tế hay do họ cố ý làm thế. Đến chỗ ngã ba đường đi Triều Tiên và Bắc Kinh thì thay đầu máy. Mọi lần trước, toa riêng cho chúng tôi được nối luôn vào tàu đi Bắc Kinh, không phải chuyển toa. Lần này tự nhiên toa bị cắt ra, chúng tôi phải chuyển hành lý lên một toa của đoàn tàu đi Bắc Kinh cách khoảng 300 mét. Hành lý năm cuối rất nặng, trời lại oi bức, nắng gắt mà chúng tôi phải tự mình vác đến toa mới, không có sự giúp đỡ nào của nhân viên xe lửa. Hành lý của hai chị phụ nữ yếu đuối phải nhờ cánh nam giới xúm vào giúp đỡ. Ai nấy mồ hôi ướt đẫm và rất mệt. Trong khi đó, một nhân viên trên tàu lảng vảng quanh đó thỉnh thoảng liếc nhìn và có những kiểu cười rất thiếu thiện cảm. Anh chị em chúng tôi nhận thấy rất rõ. Lần này chúng tôi không phải chờ lâu ở Bắc Kinh bởi đã có ngay tàu liên vận đi Hà Nội. Qua Mục Nam Quan, cây cối mùa hè ở đất nước mình xanh tốt, nhiều màu sắc như một vườn hoa lớn, tâm hồn thấy nhẹ nhõm thoải mái, vui vẻ vì sắp được gặp những người thân. Tàu từ từ vào ga Hàng Cỏ, tôi đã nhìn thấy mẹ tôi, nhà tôi và chị cả tôi đón ở đó. Ngồi đối diện với chị Như, tôi chỉ vào ba người giới thiệu với chị. Chị nói: - Bà cụ đẹp quá, chắc thời trẻ rất đẹp! Lúc đó, mẹ tôi chỉ mặc một cái áo phin nâu và một chiếc quần lụa đen giản dị kiểu nhà quê. Tôi rất vui vì thấy mẹ tôi và mọi người mạnh khỏe. Đây là thời điểm mà chúng tôi sắp phải chia tay sau ba năm cùng nhau học tập, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi ở xứ người. Riêng tôi cảm thấy rất tự hào về lớp học của mình, một tập thể đoàn kết, tôn trọng thương yêu nhau, trong sáng, vững vàng về tư tưởng chính trị. Qua những việc vui buồn diễn ra trong ba năm đó, tôi tự thấy mình trưởng thành rất nhiều. Ngoài những kiến thức khoa học xã hội thu được qua nội đung học và tự nghiên cứu, qua những sự kiện chính trị phức tạp được chứng kiến, tôi thấy mình trưởng thành nhiều về mặt chính trị, khăc phục được sự đơn giản, ngây thơ ấu trĩ trong phương pháp tư tưởng trước đây và tự tin hơn trong công tác trước những thử thách sắp tới đối với mình. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2023, 07:56:08 am Tất cả chúng tôi đều ở nhà khách của Trung ương Đảng để làm mấy việc: Một là, tự kiểm điểm và góp ý cho nhau về ưu khuyết điểm chính trong thời gian ba năm học ở Liên Xô. Hai là, sẽ có một buổi gặp nghe một đồng chí lãnh đạo nói chuyện. Ba là, một số trở về công tác cũ, số còn lại đợi bố trí sắp xếp công tác mới.
Về việc kiểm điểm ưu, khuyết điểm, cả 22 anh chị em chúng tôi không ai có vấn đề gì lớn về quan điểm, tư tưởng, về phẩm chất đạo đức. Tôi thấy tự hào và chắc anh chị em khác cũng thế, chúng tôi đều học tập tốt, quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, giữ vững phẩm chất đạo dức của người cộng sản Việt Nam, sống giản dị, lành mạnh, đoàn kết với bạn bè quốc tế theo đúng quan điểm độc lập, tự chủ của Đảng. Tôi nghĩ sở dĩ được như vậy về khách quan mà nói, đại bộ phận anh chị em chúng tôi đều tham gia hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lúc còn ở tuổi thanh niên, học sinh nhưng đều có bề dày của thử thách, rèn luyện trong cách mạng và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đều được chọn lọc kỹ trước khi đưa đi học. Điều quan trọng hơn là chúng tôi tuy ở nhiều ngành công tác khác nhau, ở các miền Bắc, Trung, Nam, miền xuôi, miền ngược khác nhau, trình độ học vấn cũng khác nhau nhưng là một tập thể rất đoàn kết, tôn trọng và thương yêu nhau, chân thành giúp đỡ nhau, sống có nguyên tắc nhưng không bao giờ đao to búa lớn đối với nhau, nhất là khi môi trường chính trị có những vấn đề phức tạp. Cho đến bây giờ đã ở tuổi tám, chín mươi nhưng tình cảm đối với nhau vẫn nguyên vẹn như lúc còn trẻ, gặp nhau là rất vui. Việc thứ hai, người gặp chúng tôi nói chuyện là đồng chí Tố Hữu, khi đó phụ trách công tác tuyên giáo của Đảng. Đồng chí biểu dương khen ngợi, dặn dò chúng tôi khi nhận công tác mới. Riêng việc chúng tôi không dự lễ bế giảng của Trường và khước từ việc nhận bằng tốt nghiệp, đồng chí nói đại ý: Kể ra dự lễ bế giảng và nhận bằng tốt nghiệp thì tốt hơn vì có thầy giáo và Nhà trường người ta cũng vừa lòng, không băn khoăn gì nhưng không dự và không nhận bằng thì cũng được, không sao. Tôi nghĩ điều này tất nhiên rồi, vì chúng tôi đã được sự chuẩn y của Ban Cán sự Đảng ở Liên Xô và của Đại sứ Nguyễn Văn Kỉnh, Ủy viên Trung ương Đảng lúc đó. Việc thứ ba là bố trí công tác cho lớp chúng tôi. Tất cả 22 anh chị em trong lớp chúng tôi không ai bị "treo giò" vì đem "chủ nghĩa xét lại" trở về. Có một số đồng chí trở về vị thế công tác cũ, ví dụ như chị Nguyễn Thị Như vẫn về làm Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam kiêm thêm Tổng Biên tập Báo "Phụ nữ". Anh Nguyễn Ngọc Đàm lại về làm Chủ tịch Ủy ban nhản dân tỉnh Quảng Ninh... Còn tôi thì sau khi kiểm điểm, tôi nhận được quyết định thăng cấp lên Thiếu tá nhưng không được trở lại Quân đội, phải chờ để bố trí công tác mới. Đồng chí Vụ trưởng Vụ Cán bộ các cơ quan Trung ương nêu ý kiến điều tôi về làm thư ký về nông nghiệp cho đồng chí Trường Chinh và trao đổi với tôi. Tôi trình bày là tôi không có chuyên môn về nông nghiệp nên không thể làm được. Sau đó, đồng chí cho tôi biết là hiện nay có nhiều nơi thiếu cán bộ đề nghị bổ sung là: Giáo viên Khoa Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Tổ giáo viên chủ nghĩa Mác - Lênin của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trưởng ban Chính trị Nhà xuất bản Sự thật, Vụ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu của Ban Liên lạc đối ngoại thuộc Trung ương Đảng, là những công việc Vụ đang nghiên cứu để đề nghị phân công tôi về một trong những nhiệm vụ đó. Tôi tự thấy đấy là những công việc hoàn toàn mới đối với mình. Nhưng xét về kiến thức học được ở trường và vốn hiểu biết tích lũy từ trước, tôi tự thấy mình dễ thích nghi với hai việc, một là ở Ban Liên lạc đối ngoại Đảng, hai là giáo viên ở Khoa Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế ở Trường Nguyễn Ái Quốc. Tôi phát biểu với đồng chí Vụ trưởng như vậy và đề nghị sớm giao công việc cho tôi. Đồng chí bảo tôi là cứ về nghỉ, khi nào được thông qua thì sẽ báo. Tôi về nghỉ đến một tháng ở nhà cũng chẳng thấy gọi. Tôi lại lên Nhà khách Trung ương vốn bố trí cho tôi một phòng nhỏ ở đó để đợi quyết định giao nhiệm vụ. Khoảng tháng 10 năm 1964, được tin Khơrútxốp bị phế truất, tôi thấy phấn khởi và hy vọng là tình hình Liên Xô và quan hệ Xô - Trung sẽ tốt hơn, nhưng sự thể lại không đơn giản như tôi nghĩ. Tôi sốt ruột vì đến hơn một tháng rồi mà chưa nhận được quyết định công tác. Tôi gọi từ Nhà khách Trung ương vào Vụ Cán bộ các cơ quan Trung ương hỏi tại sao thời gian giao công tác cho tôi lâu quá thế. Tôi rất ngạc nhiên khi ở đầu dây bên kia có một người trả lời: - Việc bố trí công tác cho anh Tiên ấy à, anh ta có vấn đề phải nghiên cứu đấy! Hôm sau, tôi tìm gặp đồng chí Vụ trưởng, hỏi thẳng anh rằng có vấn đề gì cần nghiên cứu về tôi. Đồng chí Vụ trưởng vốn là một cán bộ Quân đội đã chuyển sang công tác này đã lâu, thấy thái độ bất bình của tôi bèn xin lỗi và chỉ hỏi một câu: - Này cậu! Thế Tiểu đoàn Ninh Thuận - Nam Trung Bộ là tiểu đoàn gì, ở đâu thể? Tôi hiểu là anh muốn biết về tình hình tôi bị giặc bắt hơn hai tháng khi tôi làm Chính trị viên Trung đội, cùng với anh Phạm Thái (tức Trần Kiên đang là Phó Tổng Biên tập của Báo "Nhân dân") và anh Lê Hoàng (đã hy sinh). Tôi nói cho anh biết Ninh Thuận tức là tỉnh Ninh Thuận, và nói rõ việc này tôi đã trình bày rõ trong tự truyện và trong các lần khai lý lịch, đã có kết luận từ lâu lắm rồi. Có nhân chứng là anh Trần Kiên, nếu có gì cần hỏi thêm. Đến lúc đó, tôi mới hiểu rõ là tại sao tôi phải chờ quyết định công tác lâu đến thế. Sau đó ít hôm, tôi nhận được quyết định của Thủ tướng Chính phủ, lúc đó là đồng chí Phạm Văn Đồng, ký quyết định điều về làm chuyên viên nghiên cứu thuộc Vụ Liên Xô và Đông Âu của Ban Liên lạc đối ngoại của Trung ương Đảng. Từ Quân đội chuyển công tác sang một ngành của Đảng ở cấp chiến lược, tôi thấy rõ không thể là một vấn đề đơn giản đối với mình, không chỉ ở nội đung công việc mà còn ở cả môi trường làm việc và quan hệ với đồng nghiệp, với cấp trên... Vì vậy, tôi tự xác định phải khiêm tốn học lập các đồng chí khác. Tuy nhiên, tôi vẫn tự tin là mình nhanh chóng thích nghi bởi được phân công là chuyên viên theo dõi, nghiên cứu về Đảng Cộng sản Liên Xô, vì lịch sử Đảng tôi vừa được học ở trường, hiểu được tình hình thực tế mới nhất trong ba năm trời ở đó, lại có chút vốn liếng tiếng Nga có thể tiếp cận được nhanh chóng những thông tin mới nhất và trước đây cũng được học một thời gian tương đối dài ở Trung Quốc. Nói chung, tôi cho rằng mình đã được nhận một công việc đúng nguyện vọng và có thuận lợi để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ. Làm công tác nghiên cứu, ít công việc sự vụ nên tôi có nhiều thời gian để nghiên cứu tài liệu, đọc sách báo, ghi những tài liệu cần thiết phục vụ cho công tác và có ý định nâng cao thêm trình độ tiếng Nga và tiếng Pháp của mình, đồng thời tôi cũng được giao một số nhiệm vụ, ví dụ như một vài lần đồng chí Đại sứ Liên Xô đến trao đổi với Ban về tình hình hoặc chuẩn bị tài liệu cho các cuộc hội đàm của các đồng chí lãnh đạo. Có một việc cũng làm tôi tốn nhiều công sức là được Ban phân công đi Hòa Bình chuẩn bị chỗ sơ tán cho Ban sau này. Từ ngày 5 tháng 8 năm 1964, sau khi gây ra "sự kiện Vịnh Bắc Bộ", Mỹ bắt đầu cho máy bay đánh phá miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân. Công việc đang dần dần đi vào quỹ đạo thì có một việc làm tôi suy nghĩ và phải đi đến một quyết định cho mình. Do Mỹ đã mở rộng chiến tranh ra miền Bắc nên Quân đội ta có nhu cầu lớn về cán bộ đáp ứng cho công việc giải phóng miền Nam. Một số cán bộ Quân đội trước đây được chuyển ra các cơ quan Nhà nước nay được yêu cầu trở lại Quân đội. Trong Ban Liên lạc đối ngoại của Đảng cũng có một số đồng chí được quyết định trở lại Quân đội. Tôi thấy mình hãy còn trẻ so với cấp quân hàm, có lẽ trước sau cũng phải quay lại Quân đội nên tôi đề nghị với Ban và Ban Tổ chức Trung ương cho tôi trở về Quân đội bây giờ và tôi cũng được Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị đồng tình. Một đồng chí Phó ban Tổ chức Trung ương mời tôi lên và ra điều kiện: "Nếu đồng chí được điều về Quân đội để làm công tác tuyên huấn hay ở cơ quan thì chúng tôi không nhất trí, Quân đội cần cán bộ ở cơ quan thì Ban Tổ chức Trung ương sẽ điều cán bộ ở ngoài vào. Còn nếu Quân đội thiếu người ở đơn vị chiến đấu thì chúng tôi đồng ý để đồng chí trở lại Quân đội". Tất nhiên là tôi không phải nghĩ ngợi gì nhiều về điều đó. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2023, 07:58:48 am Chương bảy THAM GIA ĐÁNH GIẶC MỸ XÂM LƯỢC Tôi rất phấn khởi khi cầm quyết định của Bộ Quốc phòng điều tôi về đơn vị cũ là Sư đoàn 308 và tin chắc rằng Sư đoàn cũng vui lòng đón nhận một cán bộ cũ của mình. Tư lệnh Sư đoàn lúc đó là đồng chí Vũ Yên, còn Chính ủy Sư đoàn là đồng chí Nguyễn Kiện. Tôi được hai anh giao nhiệm vụ xuống Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ đô), tạm coi như giữ chức Phó Chính ủy Trung đoàn để làm quen với tình hình công việc của đơn vị. Trước khi đi, tôi gặp đồng chí Bình, anh em thường gọi vui là "Bình nhè" vì dáng người to đậm của anh. Và anh chính là người thay tôi đảm trách chức vụ Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn khi tôi đi học. Anh rất vui vẻ, cởi mở cho biết tình hình chính trị, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ và qua anh, tôi hình dung cái chất "Quân Tiên phong" trong cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn sau gần bốn năm xa cách nay tôi trở lại ngày càng đậm đặc. Riêng ở Phòng Chính trị và các phòng khác của Sư đoàn bộ, về nhân sự có nhiều thay đổi, nhưng những người anh em quen biết cũ cũng còn nhiều. Tôi cảm thấy thật sự mình là người nhà của đơn vị và rất hứng thú với không khí ấy. Tuy về công tác tại Trung đoàn 102, nhưng qua thông tin tôi cũng được biết là tôi sẽ về Trung đoàn 88. Thời gian này, Trung đoàn 102 đang huấn luyện quân sự và được gặp lại nhiều bạn bè cũ nên rất vui. Gần như toàn bộ thời gian, tôi đều ra thao trường theo dõi anh em luyện tập quân sự, cũng là để học cho mình vì cũng đã gần bốn năm nay "theo nghiệp bút nghiên" mà "rời xa cung kiếm" rồi. Được gần hai tháng thì tôi có quyết định về Trung đoàn 88. Về đến nơi, tôi được anh Hoàng Kim, Chính ủy Trung đoàn cho biết là toàn Trung đoàn sau một thời gian củng cố tổ chức huấn luyện, vừa mới xuất phát vào Nam đánh Mỹ. Trung đoàn do đồng chí Đỗ Trọng làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Thanh Sơn (bạn học của tôi hồi học quân sự ở Trung Quốc) làm Chính ủy. Sức khỏe của anh Hoàng Kim hơi kém nên cần tôi về giúp anh lãnh đạo quản lý bộ phận thu dung, có một số tụt ở lại, đồng thời cùng anh Ngô Thế Lương, Trung đoàn trưởng mới sẽ đi tuyển quân để tổ chức Trung đoàn 88 mới (Trung đoàn 88B) trong đội hình của Sư đoàn thời gian này. Trong khi đang cùng một số cán bộ cơ quan tập trung vào việc giáo dục những anh em thu dung để bồi dưỡng và sử dụng vào việc xây dựng Trung đoàn mới, thì tôi nhận được tin mẹ vừa qua đời ở quê. Tin đến quá chậm và đột ngột làm tôi gần như suy sụp. Được phép của chỉ huy Sư đoàn, cho tôi về chịu tang mẹ, từ một khu rừng sâu của tỉnh Phú Thọ, giao thông trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc rất khó khăn, nên mãi sau ngày mất của mẹ năm hôm tôi mới về được đến nhà. Tôi rất đau buồn vì khi cha mất đã vắng mặt, nay mẹ mất cũng vắng mặt trong khi đang công tác ở ngay miền Bắc. Lúc về đến quê, tôi bị một số người trách cứ về sự vắng mặt đỏ vì tôi là con trai duy nhất, tôi phải cắn răng chịu đựng và bình tĩnh trình bày rõ lý do để mọi người thông cảm. Mẹ mất vào ngày 14 tháng 1 năm 1966 (tức 23 tháng Chạp năm Ất Tỵ 1965) mà mãi đến 6 ngày sau tôi mới có mặt ở nhà. Trong lúc đó, vợ tôi lại vừa sinh con được hai tháng. Qua một cái Tết ảm đạm nhất trong đời, ngày 24 tháng 1 năm 1966 (tức mùng 4 tháng Giêng) tôi trở về đơn vị tiếp tục công tác. Lúc đó, tôi đã có quyết định bổ nhiệm làm Chính ủy Trung đoàn 88B, cùng đồng chí Ngô Thế Lương, Trung đoàn trưởng bắt tay vào việc xây dựng một trung đoàn mới, nằm trong đội hình của Sư đoàn 308. Trung đoàn trưởng được phân công ở lại khu vực trú quân cũ của Trung đoàn tại huyện Phù Ninh, tình Phú Thọ gần Thậm Thình, dưới chân Đền Hùng (bị máy bay Mỹ ném bom nhiều lần đã đổ nát), để tập huấn khung cán bộ chuẩn bị cho huấn luyện. Còn tôi cùng một số cán bộ ra tỉnh Quảng Ninh tuyển khoảng gần 3.000 tân binh về theo biên chế của Trung đoàn mới. Trong khí thế sôi sục của nhân dân ta chống Mỹ lúc đó, mặc dù máy bay địch ném bom bắn phá liên tục rất ác liệt, nhưng chính quyền, cơ quan quân sự tình và các huyện của Quảng Ninh đã cùng chúng tôi hoàn thành rất tốt nhiệm vụ tuyển quân, đạt cả về số lượng cũng như chất lượng trong một thời gian rất ngắn. Việc tổ chức tiễn đưa thanh niên lên đường nhập ngũ rất đơn giản nhưng không kém phần long trọng. Trong số gần 3.000 tân binh đó, có 400 thanh niên gốc Hoa đều rất khỏe mạnh vì được sinh ra ở một môi trường tự nhiên lý tưởng là các vùng biển và vùng núi. Chúng tôi tổ chức hành quân rất chu đáo, từ Quảng Ninh về Phú Thọ, dưới bom đạn của không quân Mỹ mà bảo đảm được toàn vẹn số quân đến đích là thắng lợi bước đầu. Tôi và anh Ngô Thế Lương cùng anh em ở các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của Trung đoàn rất phấn khởi, nhanh chóng tổ chức các đơn vị theo biên chế đã quy định, rồi lập tức bước vào huấn luyện. Đồng thời, với những công việc này, theo chỉ thị của Sư đoàn, chúng tôi phải tổ chức một tiểu đoàn, lấy quân số từ những anh em còn lại của Trung đoàn 88A có sức khỏe, tinh thần tốt để bổ sung kịp thời cho chiến trường miền Nam. Tiểu đoàn này do đồng chí Lương Văn Cảnh làm Chính trị viên và đồng chí Trần Mai làm Tiểu đoàn trưởng. Đây là hai đồng chí có kinh nghiệm và có khả năng độc lập lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Về Tiểu đoàn này, có hai chuyện in đậm trong ký ức tôi: Trước khi Tiểu đoàn lên đường, một đồng chí cán bộ quân lực dẫn một chiến sĩ gầy gò, độ tuổi 18 đến gặp tôi. Anh báo cáo: Đây là Ngô Hải Cao, con út cụ Ngô Tất Tố (một nhà văn lão thành có nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng). Em tốt nghiệp phổ thông trung học loại giỏi và được cử đi học ở Liên Xô, nhưng em xin ở lại nhập ngũ để đánh Mỹ. Vì em không đủ sức khỏe nên đồng chí giữ lại không cho đi cùng Tiểu đoàn, nhưng em không chịu, đòi xin gặp tôi kỳ được, tha thiết bày tỏ nguyện vọng được vào Nam chiến đấu. Tôi đồng ý với đồng chí cán bộ quân lực và hết lời khuyên em ở lại. Em cứ ngồi lỳ và khẩn khoản xin đi kỳ được. Tôi đành chịu "thua" và bảo đồng chí quân lực nói với Tiểu đoàn bố trí công việc phù hợp với sức khỏe của em. Em rất phấn khởi về đơn vị. Sau này, trong một buổi truyền hình có phóng sự về cụ Ngô Tất Tố, tôi được biết về em Ngô Hải Cao đã hy sinh ở miền Nam, tôi xót xa tiếc thương một thanh niên có lòng yêu nước nồng nàn, nhớ tới nét mặt lúc em ở lỳ bên tôi, khẩn khoan xin tôi cho đi chiến đấu, một nét tiêu biểu của thanh niên lúc đó, của một thế hệ vàng thời đại Hồ Chí Minh. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2023, 07:59:43 am Việc thứ hai tôi nhớ là chuyện của Vũ Tuất Việt, một chính trị viên đại đội trong Tiểu đoàn. Việt vốn là một biên tập viên của Báo Nhân dân, nhập ngũ rồi học ở Trường Sĩ quan Chính trị. Ra trường với quân hàm Thiếu úy về làm Chính trị viên phó đại đội tại Trung đoàn tôi, trước khi cùng Trung đoàn vào Nam chiến đấu được phong quân hàm Trung úy và bổ nhiệm làm Chính trị viên đại đội. Một hôm có việc phải về qua Hà Nội, tôi vào tòa soạn Báo Nhân dân thăm anh Trần Kiên, Phó Tổng biên tập và anh Hà Đăng cùng học với tôi ở Liên Xô. Hai anh hỏi tôi về Việt, tôi nói là Việt đã vào Nam cùng Tiểu đoàn, có lẽ là đang hành quân. Hai anh cho biết là Trung ương Cục miền Nam đang xin bổ sung cán bộ làm báo. Tìm được người có tay nghề như Việt rất khó. Các anh có ý đề nghị để Việt về làm báo ở Trung ương Cục. Tôi thấy việc đó không khó, nên đã cho các anh biết số hiệu của Tiểu đoàn để các anh điện vào báo cáo với Trung ương Cục. Tháng 5 năm 1975, tôi vào làm thường trực tại miền Nam, được biết Vũ Tuất Việt đã trở thành Tổng biên tập của tờ "Sài Gòn giải phóng" rồi. Tôi thấy thú vị vì mình đã góp vào một việc làm tốt.
Nhận rõ vai trò quan trọng của đơn vị là cấp đại đội anh Ngô Thế Lương và tôi rất tâm đắc về vấn đề này và tập trung vào việc xây dựng đại đội vững mạnh. Bước đầu, chúng tôi quán triệt cho các cơ quan tập trung vào việc nâng cao sức mạnh toàn điện của đơn vị cơ sở, vì đây là một trong những khâu quan trọng nhất tạo nên sức mạnh chiến đấu của Trung đoàn. Anh Ngô Thế Lương xuất thân từ gia đình lao động nghèo ở Hà Nội, đã qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trưởng thành từ chiến sĩ qua các cấp đến Trung đoàn trưởng, được đào tạo và tốt nghiệp tại Học viện quân sự Phrunde ở Liên Xô. Anh có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và chỉ huy ở đơn vị cơ sở, lại được đào tạo cơ bản, được công tác với anh tôi rất tin tưởng, yên tâm trong vấn đề xây dựng đơn vị và chiến đấu. Là một người sống tinh tế nhưng thoải mái, tôi và anh rất tôn trọng nhau nên trong công tác xây dựng đơn vị rất đoàn kết, ăn ý. Ý định của chúng tôi trong việc phát động xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh được đồng chí Tư lệnh Sư đoàn Vũ Yên và Chính ủy Sư đoàn Nguyễn Kiện cùng các cơ quan Sư đoàn hoan nghênh. Anh Vũ Yên và anh Nguyễn Kiện lớn tuổi hơn chúng tôi, hay đi cùng với nhau xuống đơn vị thường tranh thủ săn bắn chim. Anh Vũ Yên bắn rất giỏi, nên lần nào xuống đơn vị cũng có một xâu chim dẽ giun hay bồ cu xanh để cải thiện bữa ăn. Anh Vũ Yên thường nói: "Thằng Lương và thằng Tiên, hai thằng đều gầy nên phải bồi bổ cho chúng nó!". Rồi anh gặp cho chúng tôi những cái đùi chim ngon nhất. Một cử chỉ đầy tình thương yêu cán bộ trẻ cấp dưới làm chúng tôi vô cùng cảm động và yêu quý các anh. Có lần, một đồng chí cán bộ cơ quan hậu cần cho tôi biết, mẹ đẻ, vợ và con nhỏ của đồng chí Ngô Thế Lương đang ở nhờ tại một gian nhà ngang của ngôi đền ở phố Đào Duy Từ (Hà Nội), vừa mới bị Mỹ ném bom gần đó bay gần hết ngói. Tôi được biết doanh trại của Trung đoàn ở Thậm Thình bị Mỹ ném bom nhiều lần đổ nát, nhưng vẫn có chỗ còn ngói lành. Tôi gọi điện cho anh Nguyễn Kiện, Chính ủy Sư đoàn báo cáo hoàn cảnh gia đình anh Lương và xin phép anh cho chúng tôi ra nhặt những ngói lành lấy 500 viên kết hợp với xe tiếp phẩm đi Hà Nội tặng gia đình anh Lương để lợp chỗ ở. Anh Nguyễn Kiện đồng ý, nhưng có một vài cán bộ ở Sư đoàn không rõ hoàn cảnh gia đình anh Lương thắc mắc. Việc đến tai anh Vũ Yên, vốn là một đồng chí rất gương mẫu và liêm khiết. Một hôm, anh Vũ Yên và anh Nguyễn Kiện đến đơn vị, lúc đó anh Lương đi vắng, anh Vũ Yên hỏi tôi về việc này (có cả anh Nguyễn Kiện ngồi đó). Anh cho rằng tôi tự ý giải quyết, hỏi tôi với thái độ nghiêm khắc: - Ai cho phép làm việc này? Thực ra có anh Kiện ở đó, tôi cũng hơi lúng túng, nhưng tôi thấy việc đó thực sự là đáng làm để giúp cán bộ trong những lúc gặp khó khăn. Vì vậy, tôi trả lời: - Thưa anh, tôi thấy việc này là cần thiết để giúp gia đình anh Lương trong lúc gặp khó khăn. Nếu ta không lấy thì dân cũng vào lấy hết thôi. Anh vặn tôi lần nữa: - Nhưng ai cho phép cậu? Thấy tôi hơi bị căng thẳng vì những câu chất vấn của anh Vũ Yên, anh Nguyễn Kiện nhẹ nhàng nói với anh Vũ Yên: - Tôi, anh ạ! Lúc đó, anh Vũ Yên mới thôi, về sau cũng không ai thắc mắc về chuyện này nữa. Phải nói rằng, với vai trò là một sư đoàn chủ lực cơ động chiến lược trực thuộc Bộ, được thành lập đầu tiên trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Sư đoàn 308 thường được giao những nhiệm vụ khó khăn nhất và hoàn thành tốt các nhiệm vụ nên rất nổi tiếng, đến giặc Pháp cũng phải kiêng sợ; được cấp trên tin tưởng, nhân dân yêu mến. Cũng từ đó, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn đến cán bộ, chiến sĩ luôn luôn nhận thức được trách nhiệm của mình đối với Đảng, với dân, với cấp trên, với truyền thống tốt đẹp của Sư đoàn. Lần này phải đánh thắng giặc Mỹ, một đối tượng tác chiến mạnh hơn nhiều so với Pháp, yêu cầu chất lượng, sức mạnh chiến đấu phải rất cao mới có thể hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, cường độ luyện tập đi đôi với việc giáo dục chính trị cũng yêu cầu rất cao, đặc biệt là về ý chí quyết tâm đánh giặc, về kỹ thuật, chiến thuật, về trình độ chỉ huy tác chiến của các cấp, kể cả các trận đánh lớn ở quy mô sư đoàn. Hằng năm, Sư đoàn có nhiều lần diễn tập ở cấp trung đoàn và sư đoàn. Có những lần, đơn vị hành quân tới 400 - 500 kilômét và diễn tập ở cấp sư đoàn trên các địa hình khác nhau; có những lần chỉ diễn tập bộ tư lệnh, không có thực binh, chủ yếu là nâng cao trình độ lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu cho cán bộ. Trong năm 1967, tôi được dự hai cuộc tập huấn lớn do Bộ tổ chức cho cán bộ cấp trưởng từ trung đoàn trở lên về chiến thuật và chiến dịch. Một lớp được tổ chức ở ngay thôn Phong Khê xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (quê tôi) do Quân khu 3 đăng cai. Lớp học hướng về những nội dung lớn của chiến thuật và chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước do đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trì. Gần cuối cuộc tập huấn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuống nói chuyện. Buổi nói chuyện của Thủ tướng diễn ra trong một cái động lớn nhât của dãy núi 99 ngọn ở thôn Phong Khê. Với cách nói chuyện rất tình cảm, hào sảng, Thủ tướng đề cập, khơi dậy tinh thần yêu nước, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ cho cán bộ dự lớp. Nhiều đồng chí ở các đơn vị phát biểu hứa quyết tâm thi đua đánh giặc giành thắng lợi cao nhất. Hội nghị được tiến hành rất bí mật nên dù chỉ cách nhà có 4 kilômét, tôi cũng không thể về thăm được. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2023, 08:00:33 am Lớp thứ hai được tổ chức tại Học viện Quân sự trung, cao cấp tại chân núi Tam Đảo. Nội dung tôi nhớ lúc đó là được nghiên cứu tình hình địch ở miền Nam, về mưu đồ quân sự, chính trị của chúng và những vấn đề về chiến thuật, chiến dịch nhưng cụ thể hơn lớp tập huấn trước. Lần này lớp tập huấn được đón Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân giải phóng miền Nam vừa ở miền Nam ra, đến nói chuyện. Tôi thấy đồng chí lần này gầy yếu hơn trước (so với lần đồng chí về làm việc với Sư đoàn 308 những năm 1960 - 1961). Tuy vậy, vẫn cách nói chuyện nhiệt tình, sôi nổi, rất hấp dẫn, đồng chí cho biết, rất phấn khởi được về gặp Bác Hồ, Trung ương và nói cho lớp học về tình hình trong nước, miền Nam và tình hình thế giới. Lần đầu tiên, tôi thấy đồng chí phê phán về một đảng nọ nói rằng lý luận, quan điểm, đường lối của mình là đỉnh cao của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng chí nói rằng, chưa có một lý luận cách mạng nào cao hơn được chủ nghĩa Mác - Lênin. Tôi không thể ngờ được chỉ sau buổi nói chuyện đó khoảng một tháng, đồng chí bị đột quỵ và mất trước hôm lên đường vào Nam tiếp tục tham gia lãnh đạo cuộc chiến đấu ở trong đó. Một vị tướng hàng đầu của Quân đội, nhất là về mặt công tác đảng, công tác chính trị, đồng chí đột ngột ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn cho Quân đội ta.
Cũng trong năm 1967, chúng tôi có hai cuộc diễn tập lớn. Lần diễn tập thứ nhất là diễn tập có thực binh của Trung đoàn dưới sự chỉ đạo của Sư đoàn. Trung đoàn từ Phù Ninh, Phú Thọ vượt qua sông Lô, qua dãy núi Tam Đảo xuống Quân Chu (Thái Nguyên), qua Sơn Dương (Tuyên Quang) rồi tổ chức chiến đấu ở Bắc Kạn. Đây là cuộc hành quân dài mấy trăm kilômét, phải qua sông, qua đèo, lội suối, toàn theo đường mòn rất gian khổ, phải có đại đội công binh đi trước khắc phục khó khăn về đường sá, lại phải thực hiện trong điều kiện giới hạn về thời gian. Khi vượt qua sông Lô không được sử dụng tàu thuyên, bộ đội phải tự khắc phục, toàn bộ Trung đoàn phải bơi qua sông bằng phương tiện cá nhân tự có. Tôi và đồng chí Trung đoàn trương ở diện không cần phải bơi qua sông. Nhưng tôi muốn thử sức mình, không cho Ngô Thế Lương biết, tôi cùng đi với Cơ quan Tham mưu và cùng lội vượt sông với anh em. Nước sông Lô chảy xiết, nhưng hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ bằng những cái "phao" đơn giản được gói kín bằng ni lông, cả người và vũ khí đều vượt sông an toàn. Tôi cũng vượt sông bằng cách của anh em chiến đấu với dòng nước chảy xiết và rồi cũng qua được, nhưng đi được một đoạn thì toàn thân đổ mồ hôi. Khi biết tôi bơi qua sông cùng với bộ đội, Trung đoàn trưởng Ngô Thế Lương phê bình tôi là mạo hiểm, tôi chỉ cười xí xóa. Vì khống chế thời gian và đường hành quân do Cơ quan Tham mưu Sư đoàn vạch trên bản đồ, có chặng Trung đoàn phải đi ngay cả ngày lẫn đêm, mang vác theo quy định khá nặng nên bộ đội rất mệt. Tôi hành quân cùng bộ đội, mang nhẹ hơn mà cũng mệt rã rời, phồng cả da chân. Tôi thấy một chiến sĩ trẻ vác trung liên vừa chạy vừa khóc vì quá mệt. Hết chặng đường, một cán bộ ở Ban Tác chiến đi mô tô đến, tôi nói với anh ta ràng kiểu hành quân thế này bộ đội sẽ kiệt sức. Anh ta tỏ vẻ khó chịu cho rằng tôi kêu ca. Lời nói của tôi đến tai Tư lệnh Sư đoàn Vũ Yên. Anh hỏi tôi về chuyện này, tôi cho rằng, khi vạch phương án tập cho Trung đoàn, cán bộ Cơ quan Tham mưu quan liêu, không hiểu gì về thực địa mà chỉ căn cứ vào bản đồ. Anh im lặng có vẻ đồng tình. Lần diễn tập thứ hai có thực binh là diễn tập toàn Sư đoàn kéo dài nhiều ngày đêm trên trục đường 21A qua ba tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa. Cuộc hành quân này cũng xuất phát từ Phú Thọ, qua nhiều địa hình hiểm trở và có nhiều tình huống phải xử lý, ví dụ có tình huống địch dùng chất độc hóa học nên phải sử dụng mặt nạ phòng độc. Sở chỉ huy Trung đoàn của chúng tôi bố trí trên nền một cái hang nhỏ ở chân núi, bị đạo diễn ném mấy quả pháo hơi cay. Tôi đang làm việc phải lấy vội mặt nạ phòng độc ra đeo, nhưng cũng không tránh khỏi ho sặc sụa và chảy nước mắt. Lần này, đường hành quân cũng khá phức tạp, có chỗ còn khó đi hơn cả lần diễn tập cấp trung đoàn. Nhưng vì tổ chức chia từng chặng hợp lý, nên bộ đội giữ được sức để chiến đấu theo phương án. Cuộc diễn tập toàn Sư đoàn lần này đạt kết quả tốt. Ngoài những lần diễn tập quy mô như vậy, Tư lệnh Sư đoàn Vũ Yên dày dặn kinh nghiệm trận mạc, nên có những sáng kiến trong chỉ đạo huấn luyện rất thiết thực. Một ví dụ mà tôi nhớ mãi là khoa mục giấu quân ban ngày trên địa hình chỉ có cây lúp xúp. Dưới sự chỉ huy, hướng dẫn của Trung đoàn trưởng Ngô Thế Lương và Ban Tham mưu Trung đoàn, Trung đoàn 88 tập rất tốt. Toàn bộ đội hình hơn 2.000 quân bố trí trên một bãi đất rộng chỉ có những bụi cây lúp xúp vào ban ngày, gồm cả việc đào công sự cho cá nhân chỉ cách đường đi bộ mươi mét mà đoàn cán bộ kiểm tra của Sư đoàn đi qua không phát hiện được1 (Nội dung huấn luyện này được đồng chí Tiểu đoàn trưởng Đỗ Trung Dương của Trung đoàn 102 ứng dụng trong một trận đánh ở Đông Hà (Quảng Trị) trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, đã ém quân bí mật toàn Tiểu đoàn cả một ngày giữa hai cứ điểm địch chỉ cách vài trăm mét mà địch không phát hiện được. Vì thế, Tiểu đoàn của đồng chí đêm hôm đó đã tiếp cận và triển khai đội hình tiêu diệt được cứ điểm). Trong năm 1967, có một việc rất đáng nhớ của Trung đoàn là được tiếp một đoàn khách Cuba đến nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng quân đội của ta trong gần chục hôm. Thực hiện chỉ thị của Bộ, Thủ trưởng Sư đoàn giao việc này cho Trung đoàn 88. Có lẽ trong Quân đội, đây là đoàn đầu tiên của Quân đội Cuba đến với chúng ta. Tôi rất lo lắng vì cách mạng Cuba mới thành công được khoảng 7 năm, hiểu biết của mình về Cuba còn rất hạn chế, vả lại chưa biết được yêu cầu nội dung bạn nghiên cứu là gì. Tôi phải cử cán bộ lên thư viện của Sư đoàn mượn những sách đã xuất bản nói về cách mạng và Quân đội Cuba để đọc. Tôi đọc xong thì đưa Trung đoàn trưởng, cơ quan chính trị đọc để có kiến thức nhất định nào đó về cách mạng Cuba trong khi tiếp xúc với bạn. Việc đoàn đến thăm cũng được các cơ quan đối ngoại của Đảng và Nhà nước ở Trung ương rất quan tâm. Do địch luôn luôn cho máy bay bắn phá ở các trọng điểm, đường giao thông, bến phà nên Trung ương chỉ thị cho những nơi đoàn đi qua phải chú ý bảo vệ. Đặc biệt là Phú Thọ, ngoài việc phải chú ý bảo vệ suốt trong thời gian đoàn Cuba sang làm việc tại Trung đoàn, còn cử vài đầu bếp của cơ quan đối ngoại của tỉnh đem theo tất cả dụng cụ để giúp Trung đoàn phục vụ việc sinh hoạt của khách. Toàn bộ Trung đoàn lúc đó phải ở nhờ nhà dân. Cũng may là trước đó chúng tôi cho xây một cái nhà ở sườn đồi có cây cối kín đáo để Thủ trường Trung đoàn làm việc, họp hành và một hội trường cho các cuộc họp. Vì vậy cũng có chỗ tàm tạm để tiếp khách. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Mười, 2023, 04:03:33 pm Các đồng chí Cuba có ba người, do một đồng chí đại úy kiêm phiên dịch của ta hướng dẫn, đi bằng xe hơi từ Hà Nội. Đoàn vượt qua sông Lô chỗ bến Then vào buổi tối và đến Trung đoàn khoảng gần 10 rưỡi tối. Trường đoàn là đồng chí Colins (Côlin), Chủ nhiệm Chính trị của Sư đoàn tăng thiết giáp, đồng chí Xantiagô là cán bộ phụ trách công tác thanh niên trong quân đội và đồng chí Pétdôn (Petzold), Tỉnh ủy viên Habana. Cả ba đồng chí còn rất trẻ, chỉ khoảng 25 - 26 tuổi nhưng phong thái chững chạc. Đêm hôm đó trời rất nóng, không có điện nên càng nóng, chúng tôi phải chuẩn bị quạt nan và quạt lá cọ cho khách. Toàn bộ Ban chỉ huy Trung đoàn và Thủ trưởng ba cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần cùng tiếp khách bằng một bữa phở gà và dứa Phú Thọ. Vì nóng quá, Trung đoàn trưởng Ngô Thế Lương có sáng kiến cởi luôn áo quân phục, chi mặc áo may ô và rất thoải mái mời khách cởi áo sơ mi ra cho khỏi nóng. Lập tức, ba vị khách rất vui vẻ cởi áo hưởng ứng. Mọi nghi lễ trong đối ngoại chẳng ai cần giữ, không khí trở nên rất thân mật. Phở rất ngon và chắc các vị khách cũng rất đói, nên sau khi ăn một bát phở to có vẻ còn muốn được ăn tiếp. Chúng tôi mời ăn nữa, các vị khách chẳng ai từ chối, ăn bát thứ hai một cách ngon lành. Cùng là một phong cách đối ngoại hay, rất thân mật như anh em. Tuy nhiên, sáng hôm sau, chúng tôi vẫn triệu tập những cán bộ chủ chốt của Trung đoàn từ đại đội trờ lên họp ở hội trường để chào mừng các vị khách. Tôi có một bài phát biểu ngắn, thay mặt cán bộ, chiến sĩ bày tỏ tình cảm đối với cách mạng Cuba dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Phiđen Cátxtơrô, cuối cùng hô hai khẩu hiệu bằng tiếng Việt và tiếng Cuba: "Tổ quốc hay là chết, chúng ta nhất định thắng" của Phiđen và "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" của Bác Hồ. Để hô được bằng tiếng Cuba, từ tối hôm trước, tôi phải nhờ đồng chí phiên dịch dịch hộ và học thuộc. Các đồng chí Cuba không giấu nổi xúc động, phát biểu cũng rất tình cảm. Không khí trong hội trường rất sôi nổi, thân mật.
Về chương trình làm việc ở trong đoàn, các đồng chí Cuba yêu cầu Trung đoàn cứ làm việc theo chương trình của mình về huấn luyện quân sự và các sinh hoạt chính trị đã có từ trước. Do vậy, trong thời gian gần 10 ngày các đồng chí ở đơn vị, chương trình công tác của chúng tôi không bị xáo trộn. Về chính trị, chúng tôi đang tiến hành việc thí điểm xây dựng đại đội vững mạnh ở đại đội chủ công của Tiểu đoàn 5 chủ công, các đồng chí yêu cầu đi theo để nghiên cứu. Việc này do tôi chủ trì nên các đồng chí cũng đi với tôi suốt mấy ngày để nghiên cứu về công tác chi bộ và công tác chính trị ở đại đội, công tác bồi dưỡng cán bộ trung, tiểu đội. Các đồng chí có dự cả sinh hoạt "tổ 3 người" và nghe một đồng chí tổ trưởng "tổ 3 người" báo cáo hoạt động của tổ. Nhưng tôi thấy các đồng chí có vẻ không mặn mà lắm với sinh hoạt của "tổ 3 người”, có lẽ do tính cách đặc trưng của người Mỹ Latinh không muốn đi sâu vào tâm tư cá nhân thầm kín của mình, còn các mặt khác tôi thấy các đồng chí rất quan tâm. Về mặt quân sự, trong chương trình huấn luyện có khoa mục "đại đội bí mật tập kích". Cả về mặt kỹ thuật và chiến thuật, anh Ngô Thế Lương chuẩn bị rất kỹ. Các bạn Cuba tham quan vào một buổi tối. Về mặt kỹ thuật, đại diện mẫu hôm đó ngụy trang rất tốt, triển khai trên một sườn đồi có cây lúp xúp. Các đồng chí đứng gần khoảng 15 đến 20 mét soi đèn pin mà không phát hiện được. Đến lúc theo lệnh, toàn bộ đội hình đứng dậy các đồng chí mới nhìn rõ và tỏ ra rất thích thú. Ngoài các buổi làm việc, buổi tối về, chúng tôi và các đồng chí Cuba thường chuyện trò tâm tình với nhau, kể cả chuyện gia đình rất thân mật hoặc vui chơi với nhau... Cuộc đón tiếp các bạn Cuba cấp trên giao cho chúng tôi lần ấy rất thành công về công việc, nhưng theo tôi, quan trọng hơn là chúng tôi và các bạn Cuba là đã góp phần xây dựng được tình cảm gắn bó, hữu nghị giữa nhân dân và quân đội haị nước. Hôm tiễn các đồng chí về Hà Nội, đồng chí Lương phải đi họp, tôi đi cùng các đồng chí vượt sông Lô ở chỗ bến Then, lúc chia tay ôm nhau từ biệt, tôi thấy các đồng chí rơm rớp nước mắt, tôi cũng rất cảm động. Có thể nói, năm 1967 là một năm rất sôi nổi đối với Trung đoàn, đặc biệt là việc huấn luyện quân sự, hành quân đường dài và diễn tập chiến đấu quy mô trung đoàn, sư đoàn, cùng với việc chúng tôi dự tập huấn, được nghe đồng chí Phạm Văn Đồng và Nguyễn Chí Thanh nói chuyện. Sau hai năm xây dựng và huấn luyện, Trung đoàn mới 88B trong đội hình của Sư đoàn 308, tôi có một niềm tin rằng, chúng tôi sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ nếu được tham gia chiến đấu. Giữa năm 1967, tôi được phong quân hàm Trung tá. Đúng lúc đó, tôi nhận được thư của Phong - con trai cả báo cáo cháu đã tốt nghiệp phổ thông trung học, được chọn đi học tại Cộng hòa dân chủ Đức cùng lúc với khám sức khỏe đi làm nghĩa vụ quân sự và xin ý kiến tôi nên như thế nào. Tôi rất bận nên chỉ viết trong thư một câu: "Bố rất bận, con có thể chọn bất cứ việc gì Tổ quốc cần". Sau này, tôi được biết Phong không kịp nhận được thư, nên theo ý kiến mẹ đã chọn việc tiếp tục đi học. Việc này không được Đức, em trai Phong lúc này đang học lớp 7 đồng tình. Nó cho rằng anh nó nên đi bộ đội để đánh Mỹ. Khoảng gần Tết âm lịch, chúng tôi chuyển quân lên một vùng rừng núi ở Tuyên Quang. Tôi dự đoán có thể một thời gian ngắn nữa, Trung đoàn và Sư đoàn sẽ được đưa ra trận. Vì vậy, tôi tranh thủ chuẩn bị sức khỏe cho mình. Khó khăn nhất về sức khỏe của tôi lúc này, không phải là những vết thương cũ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ mà là ở bệnh trĩ. Khi phải hành quân nhiều vì bị trĩ ngoại nên rất đau rát và liên tục chảy máu, có những chặng nghỉ tôi không thể ngồi được vì quá đau. Đồng chí Bùi Đình, Trợ lý cán bộ thuộc Ban Chính trị Trung đoàn khuyên tôi nên tranh thủ điều trị và báo cáo với Sư đoàn để tôi được điều trị ở Viện 103 tại Phú Thọ. Đến đó, tôi được cắt 5 búi trĩ và uống kháng sinh liều cao nên người rất mệt. Bình thường thì phải tới 21 hôm mới được ra viện. Nhưng được khoảng 15 hôm thì anh Vũ Yên, Sư đoàn trưởng đến thăm và hỏi ra viện được chưa? Anh không nói là Sư đoàn sắp nhận được nhiệm vụ vì cần giữ bí mật, nhưng tôi suy luận là tình hình có lẽ rất khẩn trương nên là anh mới hỏi như thế. Tôi báo cáo với anh là bệnh đã được điều trị và đã khỏi có thể về nhà. Thế là ngay hôm sau, tôi làm thủ tục ra viện, trở về đơn vị đang trú quân ở Tuyên Quang. Đã giáp Tết Mậu Thân (1968), bộ đội trong khi tích cực làm các công việc hành quân chiến đấu, vẫn tổ chức Tết vui vẻ cùng nhân dân địa phương. Lúc này, đồng chí Lương, Trung đoàn trưởng đã tập trung ở Sư đoàn chuẩn bị cùng đoàn cán bộ của Sư đoàn đi chiến trường, tôi về đơn vị thì đồng chí đã đi rồi, chỉ còn đồng chí Quốc Bảo, Trung đoàn phó ở nhà. Ngày mùng 1 Tết năm ấy, đồng chí Nguyễn Kiện, Chính ủy Sư đoàn xuống chúc Tết, đồng thời kiểm tra tình hình mọi mặt của đơn vị. Trưa hôm đó, ông trưởng thôn vốn là một người miền xuôi lập nghiệp ở đây đã lâu, chuẩn bị một bữa rất thịnh soạn mời chỉ huy Trung đoàn. Năm mới từ chối không tiện nên tôi mời anh Kiện cùng dự. Mâm cỗ thật to, có nhiều món ăn truyền thống nhưng vì lo công việc và vì nhận được tin chiến sự dồn dập ở miền Nam qua đài bán dẫn anh Kiên luôn mang theo người nên cũng giảm hứng thú thưởng thức các món ăn. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Mười, 2023, 04:04:05 pm Nghe tin đánh lớn nhưng bản thân tôi cũng không hình dung nổi đó lại là ngày đầu nổ súng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân nổi tiếng sau này. Sau ngày đó toàn bộ tâm trí của cán bộ, chiến sĩ trong Trung đoàn đều hướng về những hoạt động chiến đấu của quân ta ở miền Nam. Và linh tính của mọi người đều cảm thấy nhiệm vụ chiến đấu của đơn vị mình đã tới gần.
Trong khi ấy, tôi được đồng chí trợ lý cán bộ báo cáo là đồng chí Trương Triệu Quý, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 chủ công của Trung đoàn có vợ từ Hải Phòng lên thăm chồng. Quý là một cán bộ trẻ rất có triển vọng, là trợ lý của Ban Tác chiến Sư đoàn, được điều xuống Tiểu đoàn 5 từ hơn một năm nay, lấy vợ đã nhiều năm rồi mà chưa có con. Thông thường, trong lúc đơn vị đang chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu khẩn trương thế này thì nên khuyên Quý khẩn trương gặp vợ một hai hôm rồi bảo vợ về. Thông cảm với hoàn cảnh của vợ chồng Quý, tôi thống nhất với đồng chí trợ lý thu xếp cho vợ chồng Quý được gặp nhau cho tới lúc đơn vị có lệnh hành quân. Nhưng ở với nhau không được vài ngày, thì Trung đoàn phó Quốc Bảo có lệnh phụ trách một đội tiền trạm chuẩn bị cho toàn Trung đoàn hành quân, nên vợ Quý phải trở về nhà sớm hơn mong đợi của vợ chồng. Đêm 12 tháng 3 năm 1968, Đảng ủy Trung đoàn họp và ra Nghị quyết lãnh đạo Trung đoàn hành quân đi chiến đấu. Chiều ngày 23 tháng 3, toàn Trung đoàn tập trung làm lễ xuất quân tại khu rừng thuộc xã Bằng Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Không khí buổi lễ trang nghiêm vì Trung đoàn bắt đầu một cuộc chiến mới với một kẻ thù rất mạnh là quân viễn chinh Mỹ. Sau buổi lễ, Trung đoàn đi thẳng về một khu tập kết mới để chuẩn bị cho một cuộc hành quân dài vào miền Nam chiến đấu. Tôi cùng đồng chí Tham mưu trưởng và Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn trực tiếp chỉ huy hành quân về xung quanh khu vực đền Và (Sơn Tây) để chuẩn bị kế hoạch cho một cuộc hành quân bằng nhiều phương tiện khác nhau. Trên đường đi Tuyên Quang về Sơn Tây, chúng tôi nhận thêm 300 quân do Bộ Tổng Tham mưu bổ sung cho Trung đoàn. Phải phân phối số quân này một cách vội vã và ngay trên đường đi, nên công tác tư tưởng làm không được chu đáo lắm khi các anh em về đơn vị, có một số nhỏ bỏ ngũ. Việc này được chấn chỉnh kịp thời. Chúng tôi được biết là Trung đoàn hành quân cả bằng ô tô và đường thủy mà trong mấy năm huấn luyện bộ đội chưa từng được học, nhất là tình hình máy bay Mỹ liên tục ném bom bắn phá ở rất nhiều điểm trọng yếu dọc đường vào Nam của quân ta. Vì vậy, kế hoạch hành quân phải rất tỷ mỷ đi vào những chi tiết rất nhỏ, rất cụ thể để đảm bảo an toàn cho người và xe cộ, tàu thuyền; chỉ cần một sơ suất nhỏ dọc đường có thể gây thương vong lớn cho bộ đội. Trước khi hành quân, đồng chí Vương Thừa Vũ, Phó Tổng Tham mưu trường, nguyên Đại đoàn trưởng, kiêm Chính ủy đầu tiên Đại đoàn 308 (nay là Sư đoàn 308), nguyên Chủ tịch ủy ban Quân chính Hà Nội năm 1954 đến kiểm tra đơn vị. Tuy đã công tác ở Bộ từ lâu, nhưng anh rất quan tâm đến đơn vị cũ. Gặp anh, tôi thấy sức khỏe của anh đã giảm sút nhiều. Dẫn anh đi kiểm tra sự chuẩn bị của đơn vị, tôi thấy anh đi lại có vẻ khó nhọc. Anh hài lòng về sự chuẩn bị của đơn vị, khi ra về còn dặn dò chúng tôi rất kỹ. Trước những ý kiến của người thủ trường cũ và truyền thống của đơn vị, tôi thấy trách nhiệm của mình thật nặng nề. Vào một buổi tối cuối tháng 3 năm 1968, toàn Trung đoàn chia làm hai khối, kế tiếp nhau đi bằng ô tô tiến thẳng vào phía Nam, chuẩn bị tham gia chiến đấu tại Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Đây là chiến trường diễn ra cuộc đọ sức rất quyết liệt giữa ta và quân Mỹ. Đến Quảng Bình, chúng tôi còn phải đi tiếp một đêm bằng sà lan nữa rồi mới bắt đầu đi bộ theo đường giao liên của Đoàn 559. Trong cuộc hành quân này, việc đi bằng ô tô trên đường bộ và bằng sà lan đường thủy của một đơn vị lớn hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đối với những người chỉ huy là vô cùng căng thẳng. Chỉ cần sơ suất một chút thôi trong việc giữ bí mật, hay qua những trọng điểm, nếu để địch phát hiện được, chúng ném bom và bắn phá vào đội hình thì tổn thất sẽ rất lớn. Đến khi được đi đường bộ, mặc dù có thể mệt hơn, nhưng cán bộ, chiến sĩ thấy thoải mái, bớt căng thẳng hơn. Trong cuộc hành quân dài ngày gian khổ như thế này, tôi thấy tác dụng rất rõ của việc rèn luyện hành quân dài ngày là vô cùng quan trọng. Trên nhiều đoạn đường Trường Sơn, nhiều cán bộ, chiến sĩ cho rằng đường còn dễ đi hơn đường trong thời gian học tập, rèn luyện ở hậu phương. Tất nhiên cũng có những khó khăn như thiếu nước qua những đoạn địch rải mìn lá, cây nhiệt đới... Có một việc mà cán bộ lãnh đạo và chỉ huy các cấp rất lo lắng là làm sao bảo đảm được đủ quân số chiến đấu khi vào chiến trường, chống tụt tạt, đào ngũ. Vào một buổi sáng, tôi gặp đồng chí Chinh, Chính trị viên Đại đội của Tiểu đoàn 4, mặt buồn thiu khi bộ đội chuẩn bị xuất phát. Hỏi ra mới biết rằng đại đội vừa có một chiến sĩ đào ngũ đêm qua. Tôi phải trao đổi với đồng chí ấy trước những tình huống như vậy, người lãnh đạo phải bình tĩnh, tỉnh táo nẳm vững tình hình lư tưởng của bộ đội, phát hiện kịp thời những biểu hiện tiêu cực để giáo dục, động viên anh em, chứ buồn rầu ủ rũ chẳng giải quyết được gì hết. Chinh là một chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954, là một cán bộ tích cực, gương mẫu. Nghe tôi trao đổi, tâm sự, chứ không phải bị phê bình, trách cứ, Chinh mới tươi tỉnh được chút ít. Qua gần hai tháng hành quân, đến ngày 16 tháng 5, đội hình Trung đoàn mới tới được vị trí tập kết ở Haxê Kađáp, một vùng rừng núi Nam Lào, cách Khe Sanh (tây bắc Quảng Trị) khoảng một ngày đi bộ. Nơi đây rừng núi âm u, nhiều muỗi rất dễ bị sốt rét. Có thể nói, cuộc hành quân đầy nguy hiểm, căng thẳng để đến được chiến trường đã được thực hiện thắng lợi, an toàn. Vừa đến nơi, Trung đoàn nhận được điện của Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh biểu dương khen ngợi về thành tích hành quân, từ lúc bắt đầu lên ô tô ở Sơn Tây, trong một cuộc hành quân chi có 15 chiến sĩ tụt tạt, một tỷ lệ rất thấp so với 2.500 cán bộ, chiến sĩ. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Mười, 2023, 04:04:39 pm Lúc này, Trung đoàn trưởng Ngô Thế Lương vẫn đi trinh sát, nghiên cứu để chuẩn bị tại cao điểm 44. Tại Haxê Kađáp chỉ có tôi và đồng chí Trung đoàn phó Quốc Bảo ở cùng đơn vị, chúng tôi luôn nhắc nhở bộ đội hết sức chú ý phòng bệnh sốt rét, giữ gìn sức khỏe. Đồng chí Quốc Bảo phát hiện thấy ờ khu rừng đó có một loại sâm, thái nhỏ đem sao, lấy nước pha với đường rất thơm ngon. Chúng tôi uống liền gần chục hôm, mỗi sáng một bi đông thấy rất có lợi cho sức khỏe (có lẽ nhờ đó mà hai chúng tôi suốt chiến dịch không bị ốm). Đồng chí Ngô Thế Lương báo về, điều Tiểu đoàn 5 về khu vực cao điểm 44 để chuẩn bị tiêu diệt một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ chiếm giữ án ngữ đường 9 bên sườn tây nam sân bay Tà Cơn. Ngày 24 tháng 5 năm 1968, toàn bộ Trung đoàn về khu vực làng Trạm, nơi đồng chí Trung đoàn trưởng Ngô Thế Lương sử dụng đại đội công binh đã chuẩn bị cho Sở chỉ huy Trung đoàn. Sau mấy tháng trời tôi mới gặp lại đồng chí Lương, lần này thấy sức khỏe của anh có vẻ giảm sút nhiều. Đồng thời, cũng được biết thêm là đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, một giáo viên của Trường Quân sự trung cao đi theo đơn vị được cấp trên ra quyết định bổ nhiệm làm Trung đoàn phó. Ngày 3 tháng 6, Tiểu đoàn 5 xuất kích đánh cứ điểm 47, nhưng chưa kịp nổ súng thì có lệnh hoãn của Sư đoàn do yêu cầu tăng cường gấp cho Trung đoàn 102 để đánh vị trí Pa Trang. Trên đường từ cao điểm 47 đến Pa Trang, đồng chí Trương Triệu Quý dẫn Tiểu đoàn qua Sở chỉ huy Trung đoàn vào gặp tôi và đồng chí Ngô Thế Lương. Sau khi trao đổi công việc, tôi thấy Quý có vẻ hốc hác, tóc bù xù, râu tua tủa. Tôi lấy dao cạo bảo Quý cạo râu cho đàng hoàng rồi hãy đi. Thực ra trong tâm tư, tôi muốn bất cứ người chỉ huy nào ra trận cũng phải ăn mặc chỉnh tề, mặt mày tươi tỉnh, bình tĩnh, sáng suốt. Vì tôi nghĩ một chỉ huy chững chạc sẽ có ảnh hưởng tốt tới tâm lý của bộ đội. Và điều này tôi thấy ở anh Hồng Sơn nguyên Trung đoàn trưởng của mình ở Trung đoàn 36 (Bắc Bắc cũ), nay đã là Đại tá công tác ở Bộ Tổng Tham mưu. Nhưng Quý nói: "Em vội lắm, anh để em đi cho kịp!". Đi cùng Tiểu đoàn 5 còn có đồng chí Quang Việt, Phó Chính ủy Trung đoàn. Khi Tiểu đoàn 5 gần đến Pa Trang, thì một đợt pháo kích của địch bắn trúng vào đội hình. Tiểu đoàn trưởng Trương Triệu Quý và một số chiến sĩ hy sinh. Nghe tin, tôi rất thương tiếc một cán bộ trẻ có triển vọng và nghĩ "giá như" Quý nghe tôi nán lại một chút để cạo râu thì có khi còn sống. Nghĩ lại việc thu xếp cho vợ chồng Quý được gần gũi nhau trước khi đơn vị hành quân đi chiến đấu nên càng thương Quý hơn. Nhưng làm sao cưỡng lại được số phận! Trung đoàn 88 của chúng tôi theo lệnh của đồng chí Thái Dũng (vốn là Tư lệnh Sư đoàn 304 được Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh cử thay Sư đoàn trưởng 308 Vũ Yên đi chuẩn bị chiến trường ở Tây Thừa Thiên chưa về kịp), cho một tiểu đoàn bố trí ở cao điểm (tôi không nhớ rõ tên) bảo vệ cho đường vận chuyển Bắc - Nam, không được để địch chiếm cao điểm đó. Tôi và đồng chí Lương bàn nhau phải lên cao điểm đó kiểm tra xem Tiểu đoàn 6 được phân công triển khai thực hiện nhiệm vụ thế nào. Hôm sau, tôi cùng một trợ lý tác chiến do một chiến sĩ thông tin dẫn đường đến cao điểm đó. Phải đi 3 - 4 kilômét đường đồi núi, có chỗ trống trải, địch ở những cứ điểm trên cao dễ phát hiện nên chúng tôi phải ngụy trang kỹ. Tuy nhiên, có lẽ địch cũng phát hiện thấy, chúng bắn mấy phát đại bác nhưng không ai bị dính mảnh đạn. Chúng tôi cũng cần phải đề phòng thêm trực thăng của địch đến bắn hoặc nếu chúng phát hiện thấy đi lẻ có thể chụp bắt. Ba chúng tôi leo lên cao điểm thấy cây cối xanh tốt, một tiểu đoàn giấu quân cũng khá kín đáo. Kiểm tra kế hoạch tác chiến của anh em nếu địch đổ bộ đánh chiếm thấy cũng tạm được. Góp ý kiến với anh em xong, chúng tôi quay về Sở chỉ huy của Trung đoàn ngay, về đến nơi thì được tin anh Ngô Thế Lương bị mệt nặng phải cấp cứu điều trị ở quân y, vì thời gian qua việc chuẩn bị chiến trường quá vất vả. Sáng sớm hôm sau, lúc đến hầm ngủ của đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Trung đoàn phó mới được bổ nhiệm, thấy anh đang quờ quạng, mắt lờ đờ sắp ngã gục, tôi phải nhanh chóng quyết định đưa anh đi cấp cứu.
Rốt cuộc, Trung đoàn chỉ còn tôi và anh Quốc Bảo, Trung đoàn phó cũ. Tôi được tin Sư đoàn đã cử đồng chí Trịnh Tráng, Trưởng ban tác chiến Phòng Tham mưu Sư đoàn làm Trung đoàn trưởng thay đồng chí Ngô Thế Lương. Tôi thực sự cảm thấy khó khăn đã đến với mình và rất tiếc việc anh Ngô Thế Lương phải đi viện, khó có khả năng sớm trở về đơn vị để tiếp tục nhiệm vụ Trung đoàn trưởng. Bởi vì tôi và anh hơn hai năm nay đã cùng nhau xây dựng Trung đoàn này từ buổi đầu thành lập, hiểu rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của cán bộ cấp dưới, nhất là với cán bộ chủ chốt ở cơ quan, đơn vị. Hơn nữa, cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đã quen với phong cách chỉ huy, ứng xử với cán bộ, chiến sĩ của đồng chí Trung đoàn trưởng: Chín chắn, quyết đoán, bình tĩnh và gần gũi với anh em, cáp dưới có thiếu sót thì ôn tồn giải thích, hướng dẫn sửa chữa chứ ít khi quát mẳng. Anh còn quan tâm đến công tác chính trị, cũng như tôi có khả năng đóng góp ý kiến về các vấn đề quân sự và tôn trọng ý kiến cuối cùng của người thủ trường quân sự, nên trong công việc đoàn kết, ăn ý. Sau khi có sự thay đổi về chỉ huy đơn vị, bản thân tôi có một số băn khoăn khi đơn vị đang bước vào giai đoạn chiến đấu quyết liệt. Tuy nhiên, trên cương vị của một Chính ủy, tôi ý thức rõ trách nhiệm phải là trung tâm đoàn kết và cố gắng khăc phục khó khăn này để bảo vệ sự thống nhất đoàn kết, bảo đảm phát huy được sức mạnh của đơn vị trong nhiệm vụ chiến đấu nặng nề trước mắt. Thời gian này, Tiểu đoàn 5 vẫn phối hợp với Trung đoàn 102, sau khi đánh địch ở Pa Trang lại được lệnh của Sư đoàn làm nhiệm vụ tập kích địch ở Húc Thượng. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 5 đã anh dũng chiến đấu, đánh địch ở Pa Trang và Húc Thượng diệt được một số địch và bắn rơi hai máy bay trực thăng của Mỹ, góp phần cùng với Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 102 buộc quân Mỹ phải bỏ Pa Trang rút chạy. Trong những thành tích này có công của Đại đội phó Vũ Quang Phục, người cán bộ là cảm tình Đảng sắp được chi bộ kết nạp đã chỉ huy linh hoạt, kiên cường và anh dũng hy sinh ở trận Húc Thượng. Trung đoàn vẫn còn đang là lực lượng dự bị của Sư đoàn1 (Hai tiểu đoàn (Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6) có công chốt giữ ở một cao điểm để bảo vệ đường vận chuyển chiến lược bằng cơ giới vào Nam (do Sư đoàn trực tiếp sử dụng)) thì tôi được Sư đoàn triệu tập báo cáo tình hình và nhận nhiệm vụ. Đang chuẩn bị cùng đồng chí cần vụ và một chiến sĩ thông tin dẫn đường đến Sở chỉ huy Sư đoàn ở Ho Lé (nam Khe Sanh) thì có tin báo có đồng chí Lê Đăng Dần, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 304 muốn vào gặp. Thì ra anh cũng được Sư đoàn 308 triệu tập đến báo cáo tình hình và nhận nhiệm vụ. Là bạn thân cũ ở Trung đoàn 36, đã lâu mới gặp nhau nên chúng tôi rất vui và hai anh em cùng nhau đến Ho Lé. Gần tối, chúng tôi mới tới nơi, mỗi người chúng tôi làm việc riêng với đồng chí Nguyễn Kiện, Chính ủy Sư đoàn 308. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Mười, 2023, 04:05:22 pm Sau khi tôi báo cáo tình hình đơn vị, Thủ trưởng Sư đoàn chỉ thị cho tôi và đơn vị phải khẩn trương chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng chiến đấu, bất cứ lúc nào cũng có thể nhận ngay nhiệm vụ chiến đấu. Tôi được biết đồng chí Trung đoàn trưởng Trịnh Tráng đã nhận nhiệm vụ cụ thể của Sư đoàn giao, sáng hôm sau tôi trở về ngay đơn vị.
Tôi gấp rút chuẩn bị dự thảo nghị quyết. Ngày 12 tháng 6 năm 1968, Đảng ủy Trung đoàn họp ra nghị quyết, nhấn mạnh "việc xây dựng ý chí quyết đấu quyết thắng Mỹ cho cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn. Đảng ủy xác định đây là chiến dịch đầu tiên của Trung đoàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trung đoàn phải đánh thắng, ghi thêm những trang sử vẻ vang, tô thắm truyền thống Trung đoàn Tu Vũ. Yêu cầu đề ra là mỗi đại đội phải diệt được một trung đội Mỹ và nếu đánh cấp trung đoàn phải diệt được một tiểu đoàn Mỹ. Phong trào thi đua giành danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ" được phát động trong toàn Trung đoàn"1 (Lịch sử Trung đoàn 88 Tu Vũ (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009 tr. 306). Đúng như dự kiến của cấp trên, ngày 13 tháng 6 năm 1968, địch đổ bộ xuống một lúc hai đại đội thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 4 lính thủy đánh bộ Mỹ ở điểm cao 690 (Phu Nhoi), cách xa trung tâm căn cứ Khe Sanh 12 kilômét, gần đường vận chuyển bàng xe cơ giới của ta ở nam Khe Sanh. Chúng liên tục dùng trực thăng cần cẩu chuyển công sự và lô côt đúc săn nhằm xây dựng một căn cứ kiên cố trên đỉnh Phu Nhoi (điểm cao 690) đồng thời ném bom, bắn phá xung quanh để bảo vệ việc làm của chúng. Ngay lập tức, Trung đoàn nhận được lệnh của Sư đoàn tổ chức tiến công tiêu diệt địch vừa đổ bộ xuống. Tối 13 tháng 6, Trung đoàn triệu tập Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 Lê Mỹ cùng Chính trị viên Mai Chi lên giao nhiệm vụ và bàn cách đánh với sự có mặt của đồng chí Phó Chính ủy Sư đoàn Nguyễn Hùng Phong. Ngày 14 tháng 6, Tiểu đoàn 4 hành quân đến Tông Chây, cách Phu Nhoi độ 3 kilômét thì dừng lại hoàn thiện công tác chuẩn bị. Ngay đêm đó, Tiểu đoàn trưởng Lê Mỹ cùng các đại đội trưởng đi trinh sát thực địa. 18 giờ ngày 15 tháng 6, Tiểu đoàn 4 từ Tông Chây xuất kích chiếm lĩnh thực địa. Đêm cuối tháng, trời rất tối, địa hình lại phức tạp. Chân cao điểm là rừng già rậm rạp. Ở bình độ 300 đến 400 mét là rừng cây lúp xúp và lau lách, cách đỉnh cao 300 đến 500 mét là đồi cỏ tranh đã bị đốt trụi. Vì vậy, đơn vị không kịp nổ súng lúc 4 giờ sáng theo kế hoạch do các đại đội chưa vào hết vị trí xuất phát xung phong. Trung đoàn trưởng Trịnh Tráng quyết định cho Tiểu đoàn 4 chuyển sang đánh ban ngày. Đến 5 giờ 30 phút ngày 16 tháng 6, toàn Tiểu đoàn mới nổ súng tiến công. Vận động ngược dốc ban ngày trên địa hình trống trải, nhưng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 4 rất dũng cảm, linh hoạt. Chỉ sau 30 phút, quân ta đã chiếm được đầu cầu. Tuy nhiên, địch lợi dụng ở trên cao dùng đại liên và các loại súng bộ binh ra sức ngăn chặn. Bộ đội ta phải dừng lại ở một số công sự tiền duyên của địch, củng cố lực lượng, lập trận địa phòng ngự. Địch tổ chức phản kích, bộ đội ta đã đánh bật nhiều đợt xung phong của địch. Sau đó, có những bộ phận được cối 82mm của Tiểu đoàn bắn ghìm đầu quân địch, đánh thốc lên đỉnh đồi chiếm được một nửa trận địa của địch ở một mỏm đồi, được đến đó thì phải dừng lại. Các chiến sĩ của ta đã chiến đấu vô cùng anh dũng suốt một ngày với nhiều đợt phản kích của hai đại đội địch, chúng lại có sự chi viện rất mạnh của máy bay phản lực, trực thăng vũ trang phóng rốc két, thả đạn cối, bắn pháo 120mm xung quanh Phu Nhoi hỗ trợ. Trời mùa hè, ban ngày nắng gắt, khói lửa mù mịt, cán bộ, chiến sĩ ta chia nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm, kiên cường bám chắc công sự chiến đấu. Trước tinh thần quyết chiến quyết thắng của bộ đội ta, các đợt phản kích của địch bị đẩy lùi, xác lính Mỹ bị bắn chết la liệt trên đồi. Trong ngày hôm đó, nhiều tấm gương nổi bật của các chiến sĩ diệt Mỹ nổi lên. Đặc biệt là chiến sĩ trung liên Nguyễn Văn Nha đã dùng trung liên và lựu đạn diệt lần thứ nhất 6 tên Mỹ. Lần thứ hai, khi địch phản kích rút chạy, Nha đã nhảy lên khỏi công sự hạ thêm 9 tên. Máy bay trực thăng của địch lồng lộn ở trên đầu bắn yểm trợ cho bọn bộ binh cũng bị Nha dùng trung liên hạ một chiếc. Trận đánh diễn ra liên tục từ sáng đến tối. Ta không đủ sức chiến đấu thêm, địch cũng không đẩy được ta ra. Đến tối, nhận được lệnh của Sư đoàn và Trung đoàn, Tiểu đoàn 4 thu quân về Tông Chây củng cố lực lượng. Trận này, đơn vị đã diệt được 200 tên lính thủy đánh bộ Mỹ và một máy bay trực thăng của chúng. Ngay ngày hôm sau, qua Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam, tôi được nghe tin phát đi thắng lợi của đơn vị mình và một bài bình luận ca ngợi tinh thần chiến đấu của đơn vị. Sau thắng lợi ngày 16 tháng 6, theo mệnh lệnh của cấp trên, Tiểu đoàn 4 được tăng cường thêm Đại đội 13 của Tiểu đoàn 6 tiếp tục trinh sát chuẩn bị chiến đấu đánh tiếp cao điểm Phu Nhoi vào đêm 19 tháng 6. Đồng chí Trịnh Tráng và tôi thống nhất với nhau sử dụng thêm toàn bộ lực lượng của Tiểu đoàn 6 đang bố trí để vận chuyển đường cơ giới của ta, chỉ cần để lại một trung đội ở đó và nghi binh lừa địch coi như lực lượng ta còn ở đó nhiều. Chúng tôi định dùng hai tiểu đoàn của ta tiêu diệt gọn toàn bộ số địch còn lại, cộng với số địch gồm một đại đội cuối cùng của tiểu đoàn 3 lính thủy đánh bộ vừa đổ xuống để tiếp sức cho sổ còn lại của chúng ở Phu Nhoi. Tôi nung nấu ý định này từ lâu vì được cấp trên cho biết ở chiến trường miền Nam, việc tiêu diệt gọn được một tiểu đoàn của Mỹ vẫn là rất khó khăn. Hơn nữa, theo phân tích của tôi về tình hình hiện tại ở đây, địch bị ta đánh liên tục thiệt hại lớn, chúng khó có thể đổ quân thêm để khống chế con đường vận chuyển cơ giới của ta vào chiến trường miền Nam. Chúng tôi báo cáo ý định này với Sư đoàn và qua trao đổi được biết, nhiều người ở cơ quan Sư đoàn và cả cơ quan của Mặt trận đồng tình. Tôi còn trao đổi thêm với đồng chí Trịnh Tráng nên cho bộ đội ém quân từ trước ở khu rừng dưới chân Phu Nhoi để có thể chiếm lĩnh trận địa xuất phát vào ban đêm, kịp nổ súng đánh địch vào ban đêm thì sẽ có lợi cho ta rất nhiều, hạn chế được hoạt động phi pháo của địch. Nếu việc tổ chức chiếm lĩnh vị trí xuất phát xung phong như lần đánh trước thì không có sự bất ngờ với địch. Điều này ta hoàn toàn có thể thực hiện được, vì bộ đội ta đã được luyện tập theo sáng kiến của đồng chí Tư lệnh Sư đoàn Vũ Yên trước đây. Nhưng ý kiến này không được đồng chí Trung đoàn trưởng đồng tình, nên bị bỏ qua. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Mười, 2023, 04:06:25 pm Chiều ngày 17 tháng 6, khi đồng chí Trịnh Tráng cùng đồng chí Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 Lê Mỹ đi trinh sát về thì được lệnh của Phó Tư lệnh Mặt trận Cao Văn Khánh yêu cầu Trung đoàn phải đánh địch ở Phu Nhoi ngay, so với lệnh trước thì sớm hơn một ngày. Tôi tự hiểu thêm là chắc cấp trên đã nắm dược tình hình theo một nguồn tin nào đó địch định rút chạy sớm nên phải chớp thời cơ đánh ngay. Tôi rất phấn khời vì nếu tăng thêm lực lượng của Tiểu đoàn 6 theo dự định của chúng tôi thì khả năng tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ có thể đạt được. Nếu ta không tăng quân trong trận đánh này trong khi địch đã đưa thêm một đại đội của chúng vào đây thì quân ta dễ bị "hụt hơi", không đủ sức để tiêu diệt toàn bộ quân địch, vả lại qua lần đánh trước ta thấy trận địa của chúng khá rộng. Trong lúc đồng chí Trịnh Tráng đang đi chuẩn bị trận địa, còn một mình tôi ở Sở chỉ huy cơ bản tại Tông Chây. Lúc đó, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 đã dẫn Tiểu đoàn dừng chân gần Sở chỉ huy Trung đoàn, vào báo cáo với tôi thì đột nhiên chuông điện thoại réo lên. Tôi cầm máy nghe, ở đầu dây bên kia giọng đồng chí Thái Dũng, Sư đoàn trưởng thay đồng chí Vũ Yên giọng gay gắt:
- Ai cho các đồng chí rút Tiểu đoàn 6 ở cao điểm X? Đồng chí cho Tiểu đoàn quay lại ngay!. Tôi trình bày với đồng chí rằng, tôi đã để lại một trung đội ở đó bảo vệ cao điểm, đồng thời nghi binh và trong tình hình hiện nay địch khó có khả năng chiếm cao điểm đó. Nhưng đồng chí không nghe, ra lệnh tiếp: - Đồng chí cho Tiểu đoàn quay lại ngay! Nếu để địch chiếm điểm cao đó thì các đồng chí chịu trách nhiệm!. Trong thâm tâm, tôi không đồng tình với quyết định này, nhưng không thể chống lại lệnh cấp trên, buộc lòng tôi phải lệnh cho đồng chí Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 đang ngồi cạnh tôi đưa đơn vị trở lại cao điểm X với sự tiếc nuối mất một thời cơ rất thuận lợi để tiêu diệt gọn một tiểu đoàn lính Mỹ. Mặc dù phải đánh sớm trước một ngày, thời gian chuẩn bị cho trận thứ hai rất gấp rút, nhưng tình hình quân địch lúc này đã rất nao núng. Trung đoàn 4 lính thủy đánh bộ Mỹ từ Đà Nẵng ra ứng cứu cho Khe Sanh, trong đó có Tiểu đoàn 3 của chúng đang ở Phu Nhoi đã bị quân ta, chủ yếu là Trung đoàn 102 và Trung đoàn 88 đánh liên tiếp tơi tả. Theo tôi, nếu như chúng ta khắc phục khó khăn, tập trung được lực lượng ở quy mô lớn hơn, dùng cả hai tiểu đoàn 4 và 6 vào trận thứ hai ở Phu Nhoi, cùng với tạo yếu tố bất ngờ đánh sớm hơn, hạn chế sức mạnh phi pháo của địch thì việc tiêu diệt gọn tiểu đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ ở Phu Nhoi sẽ trở thành hiện thực một cách trọn vẹn hơn. Trận đánh thứ hai ở Phu Nhoi theo kịch bản cũ. Vào lúc 5 giờ sáng bắt đầu nổ súng, nhưng lần này gay go quyết liệt hơn lần trước. Giống như lần đánh trước, ở nhiều hướng địch và ta ở thế giằng co, máy bay phản lực và trực thăng địch quần đảo từ đầu đến cuối trận đánh. Vào khoảng 15 giờ chiều, chúng bắn phá càng điên cuồng hơn. Tuy nhiên, với tinh thần anh dũng tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 4 và Đại đội 13 Tiểu đoàn 6, người trước ngã người sau tiến lên, quân Mỹ đã bị tiêu diệt phần lớn lực lượng. Nhiều đại đội, cả đại đội trưởng và chính trị viên đều hy sinh, cán bộ trung đội lập tức thay thế chỉ huy bộ đội. Chính trị viên đại đội Chinh trong giờ phút quyết liệt nhất đã hô lớn: "Các đảng viên hãy dẫn đầu tiến lên!" và anh đã hy sinh. Có mũi thọc sâu chỉ còn Tiểu đội trưởng Lại Cá Phềnh (người Việt gốc Hoa), một mình một súng đánh bật hai đợt phản kích của một trung đội Mỹ. Xế chiều, không quân địch hoạt động càng mạnh hơn, bảo vệ cho chiếc CH-47, một loại trực thăng cỡ lớn của Mỹ, từ sân bay Tà Cơn đáp xuống một ngọn đồi. Mặc dù bị các trận địa cối của Trung đoàn rót đạn vào chỗ chiếc CH-47, một số lính Mỹ bị đạn cối bắn chết, nhưng chiếc trực thăng cũng kịp mang được vài chục tên sống sót của Tiểu đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ bốc lên chạy thoát. Chúng còn bỏ lại trận địa một số xác chết của bọn lính Mỹ da đen và nhiều thùng lương khô. Trận thứ hai đánh cao điểm Phu Nhoi kết thúc vào khoảng 16 giờ chiều. Ở Sở chỉ huy cơ bản, tôi được Tư lệnh Mặt trận Cao Văn Khánh báo trong trận này, ta diệt được khoảng 200 tên lính thủy đánh bộ Mỹ nữa. Như vậy, trong hai trận đánh ở Phu Nhoi, tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 4 lính thủy đánh bộ Mỹ đã bị mất hơn 400 quân và coi như bị xóa sổ, chỉ còn một số ít chạy thoát lên máy bay trực thăng và "đây là trận quân Mỹ thiệt hại nhiều nhất trong chiến dịch"1 (Lịch sử Trung đoàn 88 Tu Vũ (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 146). Sau thắng lợi của trận đánh thứ hai ở Phu Nhoi (18.6.1968), thì ngày hôm sau (19.6.1968), qua Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam, tôi được nghe bài bình luận thứ hai trên Báo Quân đội nhân dân, ca ngợi tinh thần anh dũng chiến đấu liên tục và cách "đánh bồi, đánh nhồi" liên tiếp của bộ đội ta ở cao điểm 690 (Phu Nhoi). Nói chung, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn phấn khởi vì mới chỉ sử dụng tiểu đoàn tăng cường (Tiểu đoàn 4 trong hai trận và tăng cường Đại đội 13 của Tiểu đoàn 6 trong trận thứ hai) mà đã diệt được hơn 400 tên của tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 4 lính thủy đánh bộ Mỹ. Tiểu đoàn địch coi như bị xóa sổ, chỉ còn vài chục tên chạy thoát lên máy bay trực thăng. Chiến thắng lớn ở Phu Nhoi của ta chỉ diễn ra trong vòng 3 ngày là trận mà quân Mỹ thiệt hại nhiều nhất trong chiến dịch, đã góp phần buộc quân Mỹ phải tháo chạy khỏi Khe Sanh. Tinh thần binh lính của chúng vốn đã dao động lại càng thêm hoang mang, cùng với những thắng lợi của các đơn vị bạn từ trước đã gây nên những chấn động cho quân viễn chinh Mỹ. Có tin trong những đơn vị Mỹ ở Khe Sanh, sau trận đánh Phu Nhoi lần thứ nhất, binh lính Mỹ đã đòi chỉ huy cho rút bỏ nam Khe Sanh. Sau hai lần đánh Phu Nhoi, lực lượng của Trung đoàn còn sung sức. Có nhiều dấu hiệu cho thấy địch đã rút khỏi Khe Sanh vì không chịu nổi cuộc đọ sức với chủ lực cùng với hỏa lực pháo binh tầm xa của ta. Trước tình hình đó, theo lệnh của Mặt trận, Sư đoàn điều Trung đoàn 88 ra áp sát đường 9 cùng với Trung đoàn 246 bao vây quân địch và giao cho Trung đoàn 88 tổ chức đánh vào vị trí Rômơ ở khu vực của địch ở Làng Cát mà Trung đoàn 102 đã đánh ngày 28 tháng 5 năm 1968 (một tháng trước). Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Mười, 2023, 04:07:06 pm Theo đồng chí Đỗ Trình, Phó Tư lệnh Mặt trận phán đoán địch ở Làng Cát có thể rút chạy. Lo lỡ thời cơ diệt địch, đồng chí trực tiếp lệnh cho Trung đoàn trưởng Trịnh Tráng vội vã chuẩn bị một bộ phận nhỏ đi cùng đồng chí Tráng ra Làng Cát, thậm chí không kịp hội ý cả với tôi, không kịp cùng Tham mưu trường Trung đoàn mang theo đài 15W đi cùng đồng chí. Tình hình quá khẩn trương đến nỗi đồng chí quát mẳng những chiến sĩ đang luống cuống chuẩn bị đi cùng đồng chí, lúc đồng chí vừa đi khỏi thì điện thoại của chỉ huy réo lên. Trực ban báo cáo với tôi là Bộ Tư lệnh Mặt trận cần gặp Trung đoàn trưởng, tôi cầm máy nghe thì được biết đầu dây bên kia là đồng chí Đỗ Trình. Tôi báo cáo với đồng chí là Trung đoàn trưởng đã đi rồi. Tôi được đồng chí nhắc lại là phải chuẩn bị gấp để đánh địch ở Làng Cát kẻo địch chạy mất và Trung đoàn phải đánh địch ngay trong phạm vi ngày mai. Tôi trình bày với đồng chí rằng: Trung đoàn 102 đã hai lần đánh Làng Cát cách đây một tháng mà chưa dứt điểm. Trong một tháng đó, địch đã củng cố tăng cường công sự và chắc chắn đã chuẩn bị kỹ mọi mặt để đối phó với ta, vì vậy đề nghị cho thời gian tiến công lùi lại để chúng tôi có đủ thời gian trinh sát thực địa, chuẩn bị tổ chức chiến đấu chu đáo. Tôi không hiểu đồng chí Phó Tư lệnh Mặt trận đã nghe gì qua đề nghị của tôi. Tôi chỉ nghe thấy đồng chí nói nhiều về ý định rút chạy của địch, về quyết tâm diệt địch của ta, về trách nhiệm của chúng tôi. Cuối cùng, bằng một giọng đanh thép, đồng chí nói:
- Nếu để địch chạy mất, các đồng chí phải chịu trách nhiệm!. Sau ý kiến của đồng chí Đồ Trình là đồng chí Vũ Yên, Tư lệnh Sư đoàn 308 vừa đi chuẩn bị chiến trường ở Huế ra. Rồi đến đồng chí Cao Văn Khánh, Phó Tư lệnh Mặt trận được giao phụ trách Mặt trận, trước kia cũng là thủ trưởng cũ của tôi từ khi tôi là cán bộ tiểu đoàn. Cả hai anh đã hiểu rõ tôi, nên nhẹ nhàng động viên tôi cố gắng khắc phục khó khăn để làm tốt nhiệm vụ, nhưng cả hai anh đều không nói gì tới đề nghị thêm thời gian chuẩn bị của tôi với đồng chí Đỗ Trình. Điều đó làm tôi cũng tin là địch có ý định tháo chạy và thời gian của chúng tôi là khẩn trương thật. Cuộc nói chuyện đó kéo dài tới hơn 40 phút, chủ yếu là thời gian đồng chí Đỗ Trình nói với tôi. Lúc này, chỉ còn một bộ phận rất nhỏ tại Sở chỉ huy, trong đó có đồng chí Bùi Đình Bìa, Trợ lý cán bộ được Ban Chính trị phân công ở lại đi với tôi. Còn toàn bộ Trung đoàn và cơ quan do đồng chí Quốc Bảo, Trung đoàn phó chỉ huy đã cấp tốc hành quân đến vị trí tập kết để hôm sau đánh Làng Cát theo lệnh cấp trên. Tôi và đồng chí Bìa đi hầu như không nghỉ cho kịp đến với đơn vị. Đi qua Ho Lé là nơi Đại đội Quân y của Trung đoàn ở đó cùng một số thương binh nhẹ đang điều trị, tôi gặp đồng chí Đỗ Trọng, bác sĩ, Đại đội trưởng Quân y, dặn dò anh em cần tổ chức sẵn sàng chiến đấu cho tốt, đề phòng địch bắn phá hoặc dùng trực thăng đổ quân tập kích, vì nơi đó ban ngày khá trống trải, có thể động viên và giao vũ khí cho anh em thương binh nhẹ, nếu địch tiến công thì cùng tham gia chiến đấu. Khi tôi và đồng chí Bìa tiếp tục lên đường thì trời đã gần tối. Tối hôm đó, chúng tôi đi một đêm không nghỉ vì đường vùng núi rất khó đi ban đêm. Thỉnh thoảng từ trên cao, chúng tôi nhìn thấy một vài chiếc ô tô của địch bật đèn gầm chạy trên đường 9. Mãi đến sáng, chúng tôi mới đến được nơi đơn vị tập kết. Gặp đồng chí Trung đoàn phó Quốc Bảo, tôi được biết đồng chí Tham mưu trường đem máy thông tin 15W đã đi lạc nên chưa đến. Tôi hỏi việc trinh sát thực địa và nắm địch được đến đâu rồi và đồng chí Trịnh Tráng đang ở đâu, Bảo cũng lắc đầu không rõ và tỏ vẻ chán ngán. Tôi cảm thấy tình hình không ổn và thực sự lo lắng. Có liên lạc về báo lệnh của Trung đoàn trưởng cho bộ đội hành quân đến vị trí xuất phát chiếm lĩnh trận địa. Tôi phân công đồng chí Trung đoàn phó cùng các bộ phận của các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần ở lại tại chỗ, chỉ cần cử rất ít cán bộ cần thiết ra Sở chỉ huy nhẹ. Riêng Cơ quan Chính trị, tôi chỉ định đồng chí Tạ Như Đôn, Trợ lý Tuyên huấn cùng tôi ra Sở chỉ huy Tác chiến. Đi trong đội hình của đơn vị, tôi thấy cán bộ, chiến sĩ có khí thế kỷ luật tốt do được động viên phổ biến đánh địch chuẩn bị rút chạy. Việc sử dụng lực lượng thế nào, Trung đoàn trưởng và bộ phận cán bộ các đơn vị đi trước đã thống nhất. Với trách nhiệm của người Chính ủy, tôi không lo về mặt tinh thần bộ đội trước khí thế quyết chiến của họ, nhưng vẫn băn khoăn về kế hoạch tác chiến không biết có được chuẩn bị chu đáo không vì thời gian quá gấp. Ra đến nơi, tôi thấy có vài cái hầm kèo ở chân đồi Làng Cát của Sở chỉ huy, nhưng không rõ đây có phải Sở chỉ huy cũ của Trung đoàn 102 không. Đêm hôm đó, Trung đoàn trưởng vẫn lệnh cho các đơn vị nổ súng tiến công. Trước lúc nổ súng, tôi đề nghị cùng lên đỉnh đồi với Trung đoàn trưởng để quan sát, nhưng anh yêu cầu tôi ở lại Sở chỉ huy vì trên đó đông người rất dễ bị lộ. Nhưng trận đánh không thành công, nhiều đợt xung phong của bộ đội ta bị địch đánh bật lại. Ban ngày, máy bay địch bắn phá rất mạnh, bộ đội không thể phát triển được. Trung đoàn trưởng buộc phải lệnh ngừng tiến công và lui quân để bảo toàn lực lượng. Buổi sáng, tôi ra chỗ khu vực đưa thương binh về phía sau, anh em cho biết đường tiến công xung phong rất trống trải, hỏa lực của địch mạnh không thể tiến lên được mặc dù cán bộ, chiến sĩ chiến đấu rất dũng cảm. Khả năng tổ chức tiến công tiếp rất khó vì đạn dược, nhất là đạn cối đã cạn kiệt, phía sau chưa tiếp tế lên được. Đến ngày hôm ấy, máy thông tin 15W mới đến và đồng chí Trung đoàn trưởng mới liên lạc được với Bộ Tư lệnh Mặt trận, báo cáo tình hình trận đánh. Cũng từ đợt đó, không quân địch hoạt động rất ráo riết, chúng thả bom cháy đốt tất cả các đồi cỏ tranh có đường mòn của ta về phía sau và bắn phá xung quanh rất mạnh. Đại đội phòng không 12,7mm của Trung đoàn dũng cảm chiến đấu với máy bay địch, bắn rơi được hai chiếc F-4 vào ngày 26 tháng 6 năm 1968. Sở chỉ huy Trung đoàn và các đơn vị vẫn trụ lại ở đó để chuẩn bị sẵn sàng đánh địch nếu chúng rút hoặc sục sạo ra ngoài. Cũng từ đó, hằng ngày từ khoảng 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều, địch cho máy bay "bà già" L-19 hoặc OV-10 thay nhau bay vòng quanh khu vực trú quân của Trung đoàn, hòng trinh sát phát hiện các điểm bị lộ của bộ đội ta để thông báo cho máy bay oanh tạc hoặc chỉ điểm cho pháo bắn. Sau những ngày cho máy bay trinh sát liên tục, địch cũng phát hiện những dấu vết của ta, Sở chỉ huy Trung đoàn đã bị pháo địch bắn đạn ngày vài lần, đã có người bị thương. Vì lúc đó, các đài liên lạc vô tuyến của ta ít hoạt động, nên máy bay trinh sát địch dễ phát hiện máy liên lạc vô tuyến 15W của ta. Một buổi tối, địch đã thả một quả bom khoan cỡ lớn xuống đúng vị trí của Sở chỉ huy Trung đoàn. Hầm kèo của Trung đoàn trưởng và tôi chỉ cách miệng hố bom to bằng một cái giếng khơi (khoảng hơn 1 mét) bị đất phủ đầy, máy liên lạc 15W của Trung đoàn cách đó khoảng 15 mét đặt ở hầm không có nắp cũng bị đất bắn tung tóe phủ lên, nhưng may mắn không có ai thương vong. Biết là đã bị lộ, chúng tôi phải rời Sở chỉ huy nhẹ đến một chỗ khác bất ngờ hơn, cách chỗ cũ khoảng gần 500 mét. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Mười, 2023, 04:07:56 pm Tôi cho rằng, căn cứ của địch ở Làng Cát là một căn cứ buộc địch phải cùng cố vững chắc cố thủ, bảo đảm cho việc rút quân từ từ từng bước của chúng trên đường 9. Và ta đã đánh giá sai địch trong vấn đề này, không phải là chúng rút một cách náo loạn như một đạo quân ô hợp mất tinh thần. Tôi thầy thấm thìa nguyên nhân của một trận đánh không thành công của đơn vị mình, bởi cách đánh giá không đúng địch, dẫn tới trận đánh không thành công và thương vong không đáng có cho đơn vị. Dẫu rằng, trong cuộc chiến đấu của chúng ta với kẻ địch rất mạnh có trận thắng, có trận không thành công là điều khó tránh khỏi, nhưng những tổn thất không đáng có do sai lầm của người chỉ huy vẫn là trách nhiệm không thể chối bỏ trước xương máu của đồng đội mình. Nghĩ tới những chiến sĩ trẻ măng vẻ mặt đầy hứng khởi, những cán bộ rất tận tụy trong công việc và gương mẫu trong chiến đấu hy sinh trong trận đánh đó, những người con ưu tú của đất nước, cả lúc đó và cho đến bây giờ, tôi vô cùng thương tiếc và nhớ những đồng đội của mình đã ngã xuống vì Tổ quốc.
Tuy nhiên, không thể vì những tổn thất như thế mà không thấy thắng lợi to lớn và ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng trên Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, trong đó có sự đóng góp của hai trung đoàn (102 và 88) thuộc Sư đoàn 308. Phối hợp với đợt 2 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam trong năm Mậu Thân 1968, "Sư đoàn 308 vinh dự tham gia chiến đấu và lập chiến công trong đợt 4 Chiến dịch. Đây là lần đầu tiên Sư đoàn trực tiếp đánh Mỹ trên chiến trường miền Nam. Hơn một tháng tham gia chiến dịch, Sư đoàn đã đánh hàng chục trận, quy mô từ đại đội đến tiểu đoàn, nhiều trận chủ động đánh địch ban ngày, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên lính thủy đánh bộ Mỳ, bắn rơi 39 máy bay, phá hủy 11 khẩu pháo, cối các loại cùng nhiều vũ khí, khí tài của địch"1 (Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 - Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân tiên phong (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 244). Tuy còn một số thiếu sót, nhưng những chiến thắng của Sư đoàn tại Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh đã đánh dấu một bước trưởng thành mới trong cuộc chiến đấu với một đội quân chủ lực tinh nhuệ vào loại bậc nhất của bọn xâm lược Mỹ. Riêng Trung đoàn 88 Tu Vũ của chúng tôi, góp phần quan trọng vào chiến công chung của Mặt trận và của Sư đoàn, đã tiêu diệt được 519 tên Mỹ, bắn rơi 3 máy bay địch trong đó có chiến thắng nổi tiếng ở Phu Nhoi (điểm cao 690) đã làm tăng thêm nỗi kinh hoàng của lính Mỹ trước sức mạnh tinh thần và cách đánh của chủ lực ta. Nếu ai chú ý theo dõi thì thấy trong bài diễn văn nhậm chức Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ đầu tiên của Barack Obama (Đảng Dân chủ Mỹ) vào ngày 20 tháng 1 năm 2009 (đúng ngày mở màn chiến sự tại Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh 41 năm về trước), ông ta đã nhắc đến và tưởng nhớ đến những người lính Mỹ "đã chiến đấu và chết trận ở Khe Sanh", mà lại không nói tới toàn bộ hơn năm vạn lính Mỹ đã bỏ mạng ở Việt Nam, cũng "vì nước Mỹ". Rất tự hào về chiến thắng của quân ta trên toàn Mặt trận, của Sư đoàn và Trung đoàn mình ở Đường 9 - Khe Sanh, song với riêng Trung đoàn 88 thân yêu của mình, tôi luôn có một số tiếc nuối. Nếu như không có sự xáo trộn, thiếu vắng của những cán bộ chủ chốt đã xây dựng Sư đoàn, Trung đoàn nhiều năm (như đồng chí Sư đoàn trưởng Vũ Yên phải chuẩn bị chiến trường ở Huế, phải "mượn" đồng chí Thái Dũng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 thay, Trung đoàn trưởng Ngô Thế Lương không bị ốm, đồng chí Trịnh Tráng phải thay), đơn vị không rơi vào tình trạng "quân không phải vay, nhưng tướng lại phải mượn", thì sức mạnh chiến đấu của đơn vị chắc hẳn sẽ tăng lên rất nhiều. Nếu như có được trận đánh thứ hai ở Phu Nhoi với quy mô trung đoàn thì Trung đoàn 88 có đủ sức tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 4 lính thủy đánh bộ Mỹ. Ước mơ của chiến sĩ Trung đoàn 88 tiêu diệt gọn một tiểu đoàn Mỹ theo ý nghĩa đầy đủ của khái niệm "tiêu diệt gọn", nghĩa là không có tên nào chạy thoát, thu được toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng của nó, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng ủy Trung đoàn có thể đã trở thành hiện thực. Nếu như không có sự đánh giá chủ quan về bọn địch ở Làng Cát để đến nồi trận đánh không thành công, thương vong không đáng có, thì niềm vui chiến thắng của cán bộ, chiến sĩ toàn Trung đoàn sẽ được toàn vẹn. Không biết tôi có cầu toàn quá không? Có điều tôi biết chắc rằng với khả năng và vị thế của mình lúc đó, tôi đã không khắc phục nổi và vượt qua những khó khăn đó... Địch vẫn ngoan cố trụ lại ở căn cứ Làng Cát. Còn chúng tôi cũng vẫn trụ lại xung quanh đó, chờ thời cơ có địch xông ra có cơ hội đánh địch vận động ngoài công sự. Song địch cũng vẫn dè dặt không dám ra ngoài, trừ một vài hoạt động của các toán nhỏ sục sạo ra xung quanh căn cứ của chúng để phát hiện quân ta. Trong khi đó, việc tiếp tế đạn dược và lực lượng của Trung đoàn chúng tôi gặp khó khăn, vì vậy buộc phải lui quân. Chúng tôi nhận thức rõ cuộc lui quân của Trung đoàn phài tuyệt đối bí mật và tiến hành vào ban đêm, không được để địch phát hiện hòng dùng máy bay, pháo binh gây thương vong cho đơn vị. Song đường về phía sau đã bị địch rải bom đốt cháy hoặc bom phá rất khó nhận ra vào ban đêm. Rất may là đồng chí Chu Xuân Điềm (người Tày), cần vụ của tôi quả quyết là đồng chí quen đi rừng và nhớ rõ đường cũ, tình nguyện đi đầu để dẫn đường. Đồng chí đã thực hiện nhiệm vụ xuất sắc, dẫn đơn vị về phía sau rất an toàn. Trong thời gian này, tuy bị các đơn vị của ta còn ở lại bao vây, quân Mỹ vẫn tiếp tục bí mật rút chạy khỏi Khe Sanh. Chúng có kế hoạch rút từ từ, bí mật nên cuộc rút chạy của chúng phải kéo dài. Ngày 26 tháng 6 năm 1968, Mỹ tuyên bố rút bỏ Khe Sanh. Tuy nhiên, trước sự bám đánh quyết liệt của ta, cuộc rút chạy phải kéo dài. Đến ngày 7 tháng 7 năm 1968, chúng mới rút hết lực lượng khỏi căn cứ chính tại Tà Cơn. Và ngày 15 tháng 7 năm 1968, Mỹ rút hết toàn bộ quân khỏi địa bàn Khe Sanh. Âm mưu chiếm đóng Khe Sanh và ý đồ "quyết bảo vệ Khe Sanh đến cùng" hoàn toàn phá sản trước sức tiến công của lực lượng chủ lực (chủ yếu là Sư đoàn 304, Sư đoàn 308, Trung đoàn 246 và pháo binh tầm xa) cùng các lực lượng vũ trang địa phương của ta. Huyện Hướng Hóa được giải phóng hoàn toàn. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Mười, 2023, 04:09:07 pm Khoảng cuối tháng 7 năm 1968, Sư đoàn 308 được lệnh hành quân trở về hậu phương. Trải qua mấy tháng trời chiến đấu trên chiến trường Khe Sanh, cán bộ, chiến sĩ ta rất căm giận trước sự tàn phá bằng bom đạn với rất nhiều cuộc ném bom rải thảm của máy bay B-52 Mỹ. Trên mảnh đất Hướng Hóa, đâu đâu cũng thấy hố bom dày đặc, đồi núi bị đốt cháy, đất đai bị cày xới. Nhiều khu vực trước đây là bản làng thì nay không thấy hình bóng một nhà dân, chỉ còn những cột nhà cháy dở, thỉnh thoảng chỉ thấy một số vết chân con người vội chạy bom, không có bóng một người. Cảnh vật hoang tàn, thê thảm, hoàn toàn giống một vùng đất chết.
Cùng đi trong hàng quân của một đơn vị, tôi rất xúc động khi một số chiến sĩ trẻ reo lên: "A, ruộng mạ!" khi thấy một vạt nhỏ ruộng mạ sau mấy tháng vắng bóng, dấu hiệu đầu tiên của sự sống. Theo đường giao liên sau hai tháng hành quân bộ, Trung đoàn 88 được bố trí đóng quân ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Trung đoàn đóng ở thôn Luận Văn, gần đập Bái Thượng, sông Chu, trong khu vực lịch sử Lam Kinh còn nhiều di tích lịch sử thời Hậu Lê. Sau những ngày chiến đấu gian khổ ác liệt, lại ở vùng đất nhiều muỗi, tỷ lệ sốt rét trong cán bộ, chiến sĩ khá cao. Nhân dân đón bộ đội chiến đấu trở về thân tình, niềm nở, sẵn sàng nhường nhà cửa cho bộ đội ở. Lúc này, đồng chí Ngô Thế Lương vẫn tiếp tục ở quân y điều trị, đồng chí Trịnh Tráng trở về Phòng Tham mưu Sư đoàn; chỉ huy Trung đoàn chỉ còn tôi, đồng chí Quang Việt, Phó Chính ủy, đồng chí Quốc Bảo và đồng chí Nguyễn Mạnh Cường là hai trung đoàn phó. Bên Phòng Tham mưu bố trí tôi ở tại nhà với chị phụ nữ trẻ khoảng ngoài 20 tuổi có một con nhỏ, chồng đang học về hàng hải bên Liên Xô. Chị đang là Ủy viên ủy ban kháng chiến hành chính xã phụ trách công tác văn hóa, là một phụ nữ đẹp lại là "gái một con". Tôi thấy không tiện! Không những không tiện trước con mắt của đồng đội, mà còn có ý đề phòng cái bản năng đàn ông của mình trỗi dậy, khi không thể kiềm chế nổi sẽ mang tội vào thân và làm hại người khác. Do đó, tôi đã chuyển sang nhà bên cạnh ở cùng đồng chí Quang Việt là nhà của một ông già phúc hậu, có một thời phụ trách công an xã. Căn nhà tranh tre nhỏ, xinh xắn, sạch sẽ và yên tĩnh, có một bộ bàn ghế bằng tre ngà ở gian ngoài rất tiện để làm việc. Đồng chí cán bộ đến thu xếp nhà cửa cho cơ quan nói với tôi rằng: Thấy tôi sang nhà bên cạnh, chị khóc và nói với đồng chí rằng chị có vấn đề gì mà lại không ở nhà chị. Tôi phải nói với chị là để dành cho khách cấp trên về làm việc và tôi cũng phải nói thêm chính là để bảo vệ cho chị. Trong nhiều trường hợp về sau này, tôi cũng nghiêm khắc với bản thân mình như thế. Có lần đồng chí Hùng Phong, Phó Chính ủy Sư đoàn xuống công tác tại đơn vị, thấy tôi đang làm việc tại bộ bàn ghế bằng tre nhà chị ấy, vì nhà tôi ở không có bàn, nhìn tôi và nhìn chị rồi hỏi một câu đầy ẩn ý: "Này, ông ở đây à?". Tôi cười trả lời anh là tôi cùng với Quang Việt ở nhà ông cụ bên cạnh. Đó, hồi đấy cấp trên sợ mất cán bộ, kiểm tra và nhắc khéo cán bộ cấp dưới như thế. Sau khi đơn vị đã ổn định chỗ ăn ở, chúng tôi bắt đầu tiến hành tổng kết đợt hoạt động chiến đấu ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh vừa rồi. Theo kế hoạch hướng dẫn của Sư đoàn từ dưới lên trên. Có thể nói, với tinh thần tự phê bình và phê bình rất nghiêm túc. Từng cán bộ, chiến sĩ, từng đơn vị đều thấy rõ mặt mạnh, mặt yếu của mình. Nhưng qua đợt chiến đấu chống Mỹ đầu tiên, từng cán bộ, chiến sĩ, từng đơn vị và toàn bộ Trung đoàn đều có bước trưởng thành rõ rệt. Với tôi, điều thấy tiếc là đồng chí Trung đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy đơn vị chiến đấu thời gian đó lại không chuẩn bị và không có mặt tại Hội nghị tổng kết của Trung đoàn. Nỗi buồn về sự không thành công trong trận đánh cuối cùng ở Làng Cát vẫn lởn vởn trong đầu tôi. Sau Hội nghị tổng kết chiến đấu là chuẩn bị cho Đại hội đại biểu của Đảng bộ Trung đoàn. Tôi trực tiếp viết dự thảo báo cáo và nghị quyết, Cơ quan Chính trị chỉ cung cấp những tư liệu, số liệu cần thiết. Trước hôm Đại hội làm việc, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Sư đoàn Nguyễn Kiện đến chỗ tôi để nghe báo cáo về sự chuẩn bị và chương trình làm việc. Trông thấy anh, cụ Truyền chủ nhà đứng sững và nói: "Chào... đồng chí!". Có lẽ ít khi cụ thấy một "ông" bộ đội lớn tuổi như vậy. Cụ nhận ra Nguyễn Kiện là người cụ biết. Khi chỉ còn tôi với cụ, cụ nói rằng anh Nguyễn Kiện là một trong những đồng chí lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa) và là Chủ tịch Ủy ban nhân dân lâm thời huyện. Cụ kể một câu chuyện có tính chất giai thoại về cụ thân sinh ra anh Kiện, là một đại địa chủ có một đồn điền lớn ở Thọ Xuân rất có thế lực, bọn quan Tây ở Thanh Hóa rất nể. Những tên công sứ Pháp đến nhận chức ở Thanh Hóa đều chủ động đến chào và thăm hỏi. Mỗi lần như thế, cụ ngang nhiên cưỡi trâu ra đón. Anh Nguyễn Kiện vốn là một đảng viên cộng sản lão thành được kết nạp Đảng trước những năm 40 của thế kỷ XX. Tôi cũng không hỏi anh về chuyện này có thật hay không vì tôi nghe láng máng cũng có chuyện không được vui của gia đình anh trong cải cách ruộng đất. Lại nói về Đại hội đại biểu Đảng bộ Trung đoàn. Lúc này, sau thắng lợi của quân, dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom miền Bắc, vì vậy, chúng tôi tổ chức tuy không phô trương nhưng cũng đàng hoàng hơn, Hội trường cũng được trang trí cẩn thận hơn, nội dung chuẩn bị cũng khá kỹ. Mặc dù chưa có hướng dẫn về khẩu hiệu, nhưng Ban Chính trị Trung đoàn và tôi đều thống nhất trích câu nói nổi tiếng của Bác Hồ: "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi" làm khẩu hiệu chính của Đại hội. Đại hội lần này vắng nhiều khuôn mặt cũ, một số đồng chí bí thư chi bộ, chính trị viên đại đội đã hy sinh trong đợt chiến đấu vừa qua. Toàn bộ các đồng chí đó là những đồng chí gương mẫu, dũng cảm đi đầu trong các trận chiến đấu, đặc biệt là những lúc khó khăn nhất. Các đảng viên khác trong các đơn vị đều nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu trong các trận chiến đấu, ý kiến của quần chúng đều thừa nhận vai trò của đảng viên, không có đảng viên nào bị thi hành kỷ luật về ý chí chiến đấu. Nguồn để xây dựng đội ngũ cán bộ và phát triển đảng viên qua chiến đấu rất dồi dào. Có những anh em mà chúng tôi tuyển quân năm 1967 ở Quảng Ninh, qua chiến đấu đã là Đại đội phó, Đại đội trưởng, Chính trị viên phó, Chính trị viên đại đội, cá biệt có đồng chí là Tiểu đoàn phó, hay Chính trị viên phó Tiểu đoàn. Thay mặt Đảng ủy Trung đoàn, tôi báo cáo kiểm điểm tình hình xây dựng và chiến đấu của đơn vị, Đảng bộ từ khi thành lập và phương hướng xây dựng trong nhiệm kỳ tới. Đại hội thảo luận sôi nổi và nói chung thống nhất với dự thảo. Khi bầu Đảng ủy Trung đoàn, số phiếu bầu rất tập trung, các đồng chí được bầu đều xứng đáng vì vừa mới trải qua một thử thách chiến đấu còn nóng hổi ở đường 9 - Khe Sanh. Riêng tôi được 100% phiếu bầu và tôi rất tự hào với sự tín nhiệm của đồng chí, đồng đội đối với mình. Tuy nhiên, tôi cũng còn thấy mình có những nhược điểm và thiếu sót trong việc xử lý một số tình huống phức tạp, còn lúng túng hoặc thiếu kiên quyết mà lẽ ra có thể hạn chế bớt những ảnh hưởng tiêu cực. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Mười, 2023, 04:10:27 pm Từ chiến trường về vị trí trú quân, nhân dân rất nhiệt tình giúp đỡ, sẵn sàng nhường nhà cửa, giường phản cho bộ đội, sức khỏe cán bộ, chiến sĩ dần dần hồi phục, quan hệ với nhân dân ngày càng thân mật, thắm thiết. Nhưng đồng thời, ờ đơn vị cũng như ở cơ quan Trung đoàn cũng phát sinh những vấn đề mới cần giải quyết.
Việc thứ nhất là, quan hệ tình cảm nam nữ, một vấn đề rất nhạy cảm trong quan hệ đoàn kết giữa bộ đội và thanh niên địa phương. Thường thì nữ thanh niên, các mẹ, các chị đều tỏ ra quan tâm chăm sóc bộ đội. Đó là tình cảm đẹp đẽ, trong sáng trong quan hệ quân dân. Nhưng cá biệt, có trường hợp cũng vượt quá giới hạn. Một buổi tối khoảng 10 giờ, tôi và đồng chí Phó Chính ủy Quang Việt vừa chợp mắt ngủ, thì trực ban tham mưu hốt hoảng gọi dậy báo cáo: Có một đồng chí tiểu đội phó ở thu dung mới về được vài hôm đang đợi quân lực làm thủ tục giới thiệu về một đơn vị, được bố trí ở nhà một phụ nữ còn trẻ có chồng đi dân công, vì các nhà khác cán bộ cơ quan đã ở. Một số thanh niên ập vào và đòi bắt trói đồng chí bộ đội và chị chủ nhà. Trực ban đến giải quyết không được nên đến xin chỉ thị. Tôi và đồng chí Quang Việt thấy khả năng có thể thành to chuyện, nếu tự mình ra giải quyết không khéo chỉ đổ thêm dầu vào lửa. Cụ Truyền chủ nhà cũng vừa thức dậy, tôi đề nghị với cụ ra giải quyết giúp, chỉ cần nói với anh em thanh niên là, nếu đồng chí bộ đội có khuyết điểm thì Quân đội sẽ thi hành kỷ luật, nếu làm to chuyện thì chỉ làm ảnh hưởng xấu đến quan hệ quân, dân, kẻ xấu sẽ lợi dụng. Cụ sốt sắng đi ngay cùng với đồng chí trực ban. Cụ ra chì nói thế và yêu cầu anh em thanh niên bình tĩnh và giải tán về nhà. Việc xảy ra được giải quyết rất nhẹ nhàng, mọi người đều nghe theo lời cụ ra về. Sau này khi kiểm điểm, đồng chí Tiểu đội phó cũng nhận là hai người có tình ý với nhau thật và nhận kỷ luật. Còn một chuyện nữa, lần này là do người phụ nữ chủ động. Chị vào tuổi trung niên, chưa có con và chồng thì ốm yếu. Đồng chí cán bộ phụ trách câu lạc bộ lại góa vợ. Lúc trò chuyện với nhau, chị tỏ vẻ thông cảm với đồng chí ấy. Một đêm, chị lên đến cạnh giường anh đề nghị "tâm sự và sẵn sàng chia sẻ cùng anh". Anh hốt hoảng quá, ngồi dậy và nhẹ nhàng từ chổi. Sáng hôm sau, anh báo cáo nhỏ với đồng chí Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn. Việc dừng tại đó và câu chuyện được giữ kín không để lan rộng, tránh để cho chồng chị biết. Tôi thấy cách giải quyết của hai trường hợp trên là hợp lý, êm thấm và cho rằng những chuyện như thế là dễ xảy ra, khó tránh khỏi đối với bộ đội. Những cán bộ lãnh đạo làm công tác chính trị không nên quá quan trọng hóa, tránh để "cái sảy nảy cái ung" trong lúc cần phải tập trung vào những việc lớn. Việc thứ hai là, thời gian này, đơn vị mất một số dụng cụ nhà bếp bằng nhôm như đĩa đựng thức ăn, xoong nồi nhỏ... Vì ở chung với dân, mới đầu có một số người tham lam lấy giấu đi. Ở chung với các gia đình, anh em ở đơn vị nể nang không nói gì. Về sau, việc mất dụng cụ đó thành khá phổ biến ở các thôn xóm vì nhiều người quan niệm việc đó không có gì quan trọng nên "hồn nhiên" lấy sử dụng. Ít lâu sau, hậu cần Trung đoàn kiểm tra thấy thiếu nhiều quá nên đồng chí Trung đoàn phó bị Sư đoàn khiển trách và thông báo cho toàn Sư đoàn. Tôi thấy vấn đề này không khó giải quyết, nếu đặt vấn đề với chi bộ và chính quyền địa phương vận động nhân dân trả lại bộ đội thì sẽ giải quyết được. Chúng tôi tiến hành tổng kết chiến đấu ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh và Đại hội đại biểu Đảng bộ Trung đoàn xong ít hôm thì Sư đoàn triệu tập để tổng kết hoạt động chiến đấu của Sư đoàn. Cuộc họp gồm các cán bộ cấp trưởng từ tiểu đoàn trở lên và cán bộ chủ chốt của Cơ quan Tham mưu Trung đoàn và Sư đoàn, có cấp trên là Tư lệnh Mặt trận Cao Văn Khánh và Phó Tư lệnh Đỗ Trình dự, nhưng tôi cũng tiếc là đồng chí Thái Dũng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 thay đồng chí Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308 trong chiến dịch không có mặt. Trước khi vào họp, anh Nguyễn Kiện, Chính ủy Sư đoàn, nhân lúc chỉ có anh với tôi, anh nhắc đến trận Làng Cát và nói: "Có thể lúc đó chưa đánh ngay, mà cho một bộ phận bao vây, tổ chức chiến đấu tốt rồi hãy đánh thì tốt hơn nhỉ?". Trời! Ngay hôm đó, nếu có gợi ý như thế của Sư đoàn thì tôi sẽ tìm mọi cách để nói với đồng chí Trịnh Tráng nên theo phương án đó và tự trách mình không nghĩ ra, để Trung đoàn trưởng Trịnh Tráng quá lệ thuộc vào thời gian quy định của đồng chí Phó Tư lệnh Đỗ Trình, chuẩn bị chưa chu đáo đã đánh, vì mục đích cuối cùng là diệt được địch giành thắng lợi, chứ không phải chấp hành mệnh lệnh đánh đúng thời gian là mục đích cuối cùng... Trong ba ngày tổng kết, tôi không phát biểu điều gì, vì cũng có nhiều đồng chí đã phát biểu những điều giống như trong suy nghĩ của mình, chỉ có điều không có những điểm cụ thể và những con người cụ thể mà mình biết. Thậm chí, hôm đó, đoàn đại biểu của nhân dân địa phương đến Hội nghị chúc mừng thắng lợi của Sư đoàn tại Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, đồng chí Hùng Phong đến bên tôi, bảo tôi thay mặt Hội nghị đáp từ và cảm ơn, tôi cũng chẳng muốn nói gì và từ chối, đề nghị anh Hùng Phong nói luôn. Có một điều an ủi nhất với tôi và tôi thấy hài lòng là kết luận của Hội nghị: "Khuyết điểm lớn nhất là Sư đoàn chưa thực hiện được yêu cầu đánh tập trung, đánh liên tục, chưa có những đòn tiêu diệt lớn quân địch. Việc sử dụng binh lực còn phân tán, không mạnh dạn đánh tập trung diệt gọn quân địch trong Làng Cát, đến trận Phu Nhoi cũng không tập trung đủ lực lượng cần thiết để diệt gọn tiểu đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ"1 (Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong (1949 - 1994), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 205 -206). Tôi cũng không cần ai biết và không nói là tôi đã đề nghị đồng chí Thái Dũng cho chúng tôi dùng Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 6 ở quy mô trung đoàn thiếu đánh Phu Nhoi lần thứ hai để tiêu diệt tiểu đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ theo đúng nghĩa "tiêu diệt gọn"; và cả ý kiến đề nghị đồng chí Đỗ Trình đánh giá đúng địch, đồng thời cho lùi thời gian nổ súng để đơn vị chuẩn bị thêm cho chu đáo sau đó mới tiến công tiêu diệt địch ở Làng Cát. Tôi cho đây là nhược điểm hoặc có thể gọi là thiếu sót của mình vì sợ rằng người khác cho mình là "tranh công đổ lỗi" hoặc tự đề cao mình. Tôi đã thiếu thẳng thắn, thiếu kiên quyết đấu tranh trong những trường hợp như vậy. Mặc dù nắm vững tâm lý thuộc về mình nên "dĩ hòa vi quý" không ích gì cho đồng đội và cả bản thân mình nữa. Chuyện đó đã thành bài học rất sâu sắc cho bản thân tôi sau này. Tiến hành xong Hội nghị tổng kết ở Sư đoàn ít lâu, đoàn cán bộ của Sư đoàn từ cấp Trung đoàn trưởng, Chính ủy Trung đoàn trở lên từ Thanh Hóa ra Hà Nội dự Hội nghị tổng kết Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh do Bộ triệu tập. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Mười, 2023, 04:11:05 pm Hội nghị họp tại Câu lạc bộ quân nhân, do Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp chủ trì, bao gồm đại biểu các đồng chí tham gia chiến dịch này và các quân khu, sư đoàn phía Bắc. Đại tướng giới thiệu có đoàn đại biểu Quân khu 5 do đồng chí Võ Chí Công dẫn đầu cùng tham dự. Trong thời gian diễn ra Hội nghị, tất cả các cán bộ tham dự đều được chăm sóc, bồi dưỡng sức khỏe rất tốt, từ việc ăn uống đến việc kiểm tra sức khỏe, thuốc men cho từng cán bộ.
Hội nghị tập trung việc thực hiện kế hoạch tác chiến chiến lược Xuân - Hè 1968, phối hợp với đòn tập kích chiến lược quy mô toàn miền Nam đánh vào các thành phố, thị xã kết hợp với nổi dậy của quần chúng ở nông thôn và đô thị (trọng điểm là Sài Gòn, Huế), có đòn tiến công chiến lược của bộ đội chủ lực nhằm tiêu diệt, phân tán lực lượng chủ lực của địch mà chiến trường chính là hướng đường 9 - Khe Sanh tạo điều kiện cho các chiến trường khác trước hết cho Thừa Thiên Huế hoàn thành nhiệm vụ tiến công và nổi dậy. Điều đặc biệt sau Hội nghị này, Đại tướng, Tổng Tư lệnh gặp riêng đoàn cán bộ của Sư đoàn 308 trong một buổi tối tại nhà nghỉ Quảng Bá - Hồ Tây. Cuộc gặp gỡ này gây cho tôi một ấn tượng rất sâu sắc không thể nào quên về con người, phong thái của một nhân cách lớn ở người Anh Cả của Quân đội. Trong một không khí ấm áp, Đại tướng tiếp đoàn trong một căn phòng giản dị. Tất cả anh em chúng tôi cùng Đại tướng ngồi xung quanh một chiếc bàn dài lớn, trước mặt mọi người là một cốc sữa lớn và một tách trà. Đại tướng nhỏ nhẹ, thân mật khen ngợi tinh thần cố gắng khắc phục khó khăn của cán bộ, chiến sĩ, biểu dương những thắng lợi của toàn Sư đoàn trong chiến dịch, vẫn bằng giọng nói nhỏ nhẹ và thân mật, đột nhiên đồng chí hỏi: - Nghe nói Trung đoàn 88 có trận đánh thương vong hơi nhiều có phải không? Vì sao thế? Tôi nghĩ rằng anh Vũ Yên hoặc anh Nguyễn Kiện sẽ trả lời câu này. Nhưng không ngờ anh Nguyễn Kiện ngồi đối diện ở cạnh bàn bên kia, khẽ hất đầu ra hiệu cho tôi trả lời. Không thể làm gì hơn, tôi đứng dậy nhìn về phía Đại tướng lỗ phép nói: - Thưa anh, vì đánh giá địch không đúng. Nói đánh địch rút chạy, nhưng quân Mỹ không giống như quân Pháp, quân ngụy rút chạy ở phòng tuyến Nậm Hu, chúng ta đuổi đánh bọn này như chẻ tre, còn bọn Mỹ thì không như thế. Đại tướng rất chú ý lắng nghe tôi trình bày ngắn gọn như vậy, vẻ suy nghĩ và khẽ gật gật đầu, dường như đồng tình với trình bày của tôi và không gặng hỏi gì thêm nữa. Chính thái độ thân mật và nhẹ nhàng của Đại tướng đã giúp tôi bình tĩnh nói được đúng bản chất của vấn đề mà không cần phê phán, đô lỗi cho ai cả. Không khí trong phòng vẫn vui vẻ thoải mái như lúc ban đầu. Một bài học cho tôi về cách ứng xử trước những khuyết điểm, thiếu sót của cấp dưới, đặc biệt là trong chiến đấu. Từ những kinh nghiệm tổng kết ở Bộ và của Sư đoàn trong chiến đấu chống Mỹ, chúng tôi đã rút ra nhiều bài học về xây dựng và huấn luyện một đơn vị chủ lực cơ động chiến lược để đáp ứng được nhiệm vụ: Ví dụ như tác chiến trong điều kiện ít hoặc không có thời gian chuẩn bị để không, bỏ lỡ thời cơ diệt địch, huấn luyện và ứng dụng những kỹ thuật mới... Sau khi dự tổng kết ở Bộ, Sư đoàn được lệnh rời Thanh Hóa hành quân ra phía Bắc, Trung đoàn 88 chúng tôi hành quân sau các đơn vị bạn một thời gian. Trong khoảng thời gian đó, tôi nhớ có một sự việc gấp trong quan hệ quân, dân cần có quyết định của Sư đoàn, nhưng vì chỉ có thể liên lạc được bằng máy vô tuyến điện 15W, nên không kịp xin chỉ thị Sư đoàn. Đó là một thai phụ do dân đưa đến quân y Trung đoàn đề nghị làm phẫu thuật để cứu sống chị. Hai đồng chí bác sĩ Chủ nhiệm và Đại đội trưởng Quân y Trung đoàn lên báo cáo với tôi về trường hợp này: Chị là người theo Công giáo, cái thai đã chết lưu trong bụng đang trong tình trạng nguy kịch, nếu không mổ ngay sẽ tử vong. Nhưng muốn mổ phải mở cơ số thuốc sẵn sàng chiến đấu của Trung đoàn, mà mở cơ số thuốc này phải được phép của Sư đoàn. Để cứu được tính mạng chị, phải xin chỉ thị của Sư đoàn bằng máy 15W và đợi trả lời sẽ không kịp, tôi quyết định cho mở cơ số thuốc để có đủ thuốc cứu chị và chịu trách nhiệm về việc này. Chị đã có 6 đứa con, sức khỏe kém. Trong tình huống khó khăn như vậy, mà hai đồng chí bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật gấp và cứu sống được chị. Ông chồng sau ca mổ rất mừng rỡ và còn hỏi bác sĩ: "Thưa các anh, vợ tôi còn có thể đẻ được nữa không?". Việc cứu sống người phụ nữ này của Trung đoàn đã có tác động rất tốt trong đồng bào Công giáo, cha xử đạo Thọ Xuân đã cảm ơn Trung đoàn và các đồng chí bác sĩ. Tôi đã báo cáo với Sư đoàn về lý do mở cơ số thuốc sẵn sàng chiến đấu của Trung đoàn khi chưa được phép của Sư đoàn. Các anh lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn rất đồng tình và hoan nghênh. Tiếp sau các đơn vị bạn, Trung đoàn chúng tôi hành quân ra phía Bắc trong tình cảm lưu luyến của đồng bào ở Thọ Xuân - nơi đơn vị trú quân. Ở làng Luận Văn, nơi trú quân của Trung đoàn bộ cũng vậy, trước khi chia tay, cụ Truyền chỗ tôi và đồng chí Quang Việt có nói vui: "Nước, đất ở làng Luận Văn lành lắm, các chú ở đây so với khi mới về khỏe hẳn ra!". Quả thật, ở nơi nào quan hệ quân, dân tốt, tình cảm quân, dân sâu đậm thì còn rất nhiều điều tốt khác nữa. Thời gian này, về nhân sự của Trung đoàn có nhiều thay đổi: Đồng chí Nguyễn Văn Thận, Trung đoàn phó Trung đoàn 102 được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 thay đồng chí Ngô Thế Lương về Bộ; đồng chí Quang Việt, Phó Chính ủy Trung đoàn 88 chuyển về công tác tại Trung đoàn 36; đồng chí Phạm Bá Hòa, một cán bộ của Tổng cục Chính trị về thay đồng chí Quang Việt. Ở các đơn vị, số chiến sĩ quê Quảng Ninh trong kỳ tuyển quân đầu năm 1967, nhiều đồng chí đã là cán bộ tiểu đội, trung đội; một số khá đông được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó, Chính trị viên phó Tiểu đoàn. Ở Sư đoàn, trong tháng 3 năm 1969, đồng chí Vũ Yên chuyển đi nhận nhiệm vụ Phó Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, đồng chí Nguyễn Kiện nhận chức Phó Chính ủy Quân khu Tây Bắc. Đồng chí Nguyễn Hữu An được điều về làm Tư lệnh Sư đoàn, đồng chí Hoàng Phương giữ chức Chính ủy Sư đoàn. Từ Thanh Hóa trở về Hòa Bình, Trung đoàn trú quân ở khu vực huyện Lương Sơn, bên kia Dốc Kẽm phía Hòa Bình. Đơn vị tiếp tục tranh thủ hành quân diễn tập theo kinh nghiệm đã tổng kết và yêu cầu tác chiến mới của đơn vị chủ lực cơ động chiến lược. Học tập, rèn luyện có phần còn vất vả hơn những lần trước nhưng cán bộ, chiến sĩ rất hăng hái học tập, rèn luyện. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:15:14 am Sau đợt huấn luyện, theo chế độ nghỉ phép năm, lại tương đối gần nhà, tôi xin phép Sư đoàn về thăm gia đình, đồng thời kiểm tra việc học hành của các con. Về nhà, tôi được biết Đức - con trai thứ hai của tôi đang học lớp 10 chuyên văn, Trường chuyên Lê Hồng Phong (Nam Định) vừa đi thi văn toàn miền Bắc về. Đức lấy máu viết đơn xin vào bộ đội đi chiến đấu, được chấp nhận và được đặc cách tốt nghiệp phổ thông trung học. Đức học khá, có sức khỏe nên cả tôi và mẹ nó đều yên tâm. Hôm làm bữa cơm thân mật để tiễn con lên đường nhập ngũ, nhà tôi mời thầy Đạt - người bí thư chi bộ cộng sản đầu tiên của huyện, bạn rất thân của bố tôi đến dự. Thầy đã về hưu và từ Phủ Lý lên thăm con dâu đang là Hiệu phó Trường trung học phổ thông Kim Bảng. Được gặp thầy bất ngờ trong ngày vui tiễn con lên đường nhập ngũ, tôi rất phấn khởi về tình cảm của thầy đối với Kim Bảng, với các gia đình cơ sở cách mạng vẫn nguyên vẹn như cách đây đã hơn 40 năm. Thầy thân mật nói với tôi, cỏ cháu Đức ở đó: "Này, gia đình anh ba đời làm cách mạng đấy". Tôi coi đó là một lời khen ngợi, động viên của một đảng viên cộng sản lão thành và là một lời nhắc nhở tôi và cháu Đức phải có trách nhiệm phát huy truyền thống cách mạng, yêu nước của gia đình.
Trên đường trở về đơn vị, tôi vui mừng vì thấy con mình đã trưởng thành, học tập tốt, có chí khí phấn đấu, nhưng cũng lo ngại không biết con mình có vượt qua được gian khổ, hy sinh của một chiến sĩ trong thời chiến hay không. Tôi căn dặn Đức: "Học tập, rèn luyện và chiến đấu trong Quân đội, không phải như một cuộc du lịch, một cuộc cắm trại đâu mà đòi hòi phải có một nghị lực rất cao để vượt qua mọi thử thách gian khổ, hy sinh đấy. Nhưng đồng chí, đồng đội mình làm được thì mình cũng làm được. Phải cố gắng, phải chiến thắng được chính mình". Tôi trở về đơn vị đang vào mùa mưa, Trung đoàn và các đơn vị bạn trong Sư đoàn được cấp trên điều động đi chống lũ lụt ở Hà Nội và Hà Tây. Trung đoàn tôi phụ trách những đoạn đê, kè tại Thanh Trì. Cán bộ, chiến sĩ toàn Trung đoàn không quản mưa nắng, ngày đêm lao động cật lực để gia cố, hàn gắn những chỗ có nguy cơ dễ bị vỡ, sạt lở, bảo đảm an toàn cho Hà Nội. Trong những ngày ấy, tôi và đồng chí Phó Chính ủy Phạm Bá Hòa thay phiên nhau ngày đêm có mặt trên đê để kiểm tra đôn đốc bộ đội. Hòa không nói với tôi là vợ con Hòa ở ngay Hà Nội, cách nơi chúng tôi ở khoảng hai kilômét và vì công việc cũng không dám tranh thủ về. Nhưng không hiểu sao vợ Hòa lại biết, chị đạp xe đến thăm chồng vì đã lâu không được gặp anh. Nghe tin báo vợ đến thăm, anh có vẻ không bằng lòng vì đang bận việc. Tôi nhắc anh ra gặp vợ ngay và cứ nói chuyện với chị thoải mái, công việc đã có tôi lo và nhân tiện cùng anh ra hỏi thăm chị. Thấy chồng có vẻ không vui, chị hơi tủi thân. Trước đây, tôi được Hòa cho biết, chị là con độc nhất của một gia đình khá giả, bố mẹ đều là cán bộ nên rất chiều con. Chị đã tốt nghiệp Đại học Kinh tế tài chính, hiện đang công tác ở ngành Tài chính. Anh chị đã có hai con trai, cháu lớn đã được hơn 10 tuổi, chị còn trẻ đẹp và có vẻ khỏe mạnh. Tôi thường nói đùa với Hòa: "Ông đúng là chuột sa chĩnh gạo", Hòa chỉ cười. Nhân một buổi chiều rỗi rãi, tôi đề nghị anh dẫn tôi về thăm chị và các cháu. Nể tôi, anh dẫn tôi về nhà. Gọi là nhà nhưng chỉ là một góc nhà ở nhờ, trống trải, tuệnh toàng. Chị và cháu lớn đang thổi cơm chiều trên một cái bếp kê bằng ba hòn đá, bên cạnh là một rá rau muống luộc. Cuộc sống của cán bộ, nhất là cán bộ Quân đội lúc đó còn khó khăn, ăn uống đạm bạc như vậy. Liên tưởng tới vợ con mình, tự nhiên thấy trong lòng nao nao thương nhớ và thông cảm với những khó khăn của những người vợ bộ đội. Việc tham gia chống lũ lụt của Sư đoàn hoàn thành tốt đẹp. Sư đoàn được Quốc hội và Chính phủ tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì. Nhiều cán bộ, chiến sĩ được tặng Bằng khen, Giấy khen. Trở về vị trí trú quân, tháng 6 năm 1969, Sư đoàn tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ đánh giá sự lãnh đạo của Đảng bộ trong 4 năm xây dựng và chiến đấu (1964 - 1968), ra nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ lãnh đạo trong tình hình mới đối với việc nâng cao trình độ kỹ, chiến thuật, chất lượng chính trị đáp ứng yêu cầu chiến đấu ngày càng cao của Sư đoàn. Trong Đại hội này, tôi tiếp tục trúng cử vào Đảng ủy Sư đoàn, là Đảng ủy viên chính thức. Đầu tháng 9 năm 1969, một ngày trước khi có thông báo cho toàn dân biết tin rất đau thương (Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời), Đảng ủy Sư đoàn được triệu tập và thông báo trước. Khi đồng chí Bí thư Đảng ủy Sư đoàn Hoàng Phương báo tin dữ này, toàn Đảng ủy lặng đi, rưng rưng nước mắt. Đồng chí Nguyễn Bá Lục, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ đô) nức nở: "Chúng ta chưa hoàn thành được nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước khi Bác Hồ còn sống để Bác còn vào thăm đồng bào miền Nam ruột thịt". Mọi người ai cũng nghẹn ngào nhớ tới công lao trời biển của Người đối với cách mạng, với đất nước, với Quân đội, với sự trưởng thành của mỗi người. Trước đau thương, mất mát này, toàn Sư đoàn biếu thị sự tin tưởng tuyệt đối vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tiếp tục sự nghiệp cách mạng thiêng liêng của Người đến thắng lợi cuối cùng. Trong không khí vô cùng xúc động đó, Đảng ủy đã trao đổi về công tác tư tưởng trong đơn vị, biến đau thương thành hành động cụ thể, xây dựng và chiến đấu trên chặng đường tiếp theo. Trở về đơn vị, tôi triệu tập gấp cán bộ chủ chốt của các cơ quan, các tiểu đoàn để thông báo tin Bác Hồ mất và những yêu cầu đối với đơn vị và cán bộ, chiến sĩ. Vừa nghe tin Bác mất, một cán bộ của Cơ quan Hậu cần ngã lăn ra bất tỉnh vì quá xúc động phải đưa đi cấp cứu. Không khí của đơn vị chìm ngập trong đau thương, mất mát quá lớn một thời gian dài. Mọi người ít nói hơn, những chiến sĩ trẻ hiếu động giảm đùa nghịch hơn những lúc bình thường. Hiện tượng vi phạm kỷ luật cũng hầu như không xảy ra... Từ tháng 9 năm 1969 cho đến hết tháng 3 năm 1970, Trung đoàn thực hiện liên tục các đợt huấn luyện, diễn tập đánh địch ở địa hình núi cao, rừng rậm tại vùng đồi núi Hòa Bình. Toàn Trung đoàn trú quân ở huyện Lương Sơn và ăn Tết âm lịch ở đó. Trước Tết, Ban chỉ huy Trung đoàn in thư chúc Tất tới các gia đình cán bộ, chiến sĩ trong Trung đoàn và thông báo cho gia đình tiến bộ của mọi người, do từng cán bộ, chiến sĩ gửi kèm với thư của mình về cho gia đình. Thư có tác dụng tốt, mọi người đều yên tâm phấn khởi ăn Tết ở đơn vị cùng với nhân dân, vơi đi nỗi nhớ nhà, còn các gia đình cũng yên tâm về con em mình được sống trong một đơn vị giàu tình cảm ấm áp giữa đồng chí, đồng đội, giữa cấp trên và cấp dưới. Tết năm ấy, trên bàn thờ đón Giao thừa, theo sáng kiến của chiến sĩ có ảnh thờ Bác Hồ, có đủ bánh chưng xanh, giò chả, hoa quả ngày Tết. Chính ủy Hoàng Phương rất xúc động và thú vị về hình ảnh đó. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:16:01 am Sau Tết (từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1970), Trung đoàn có những cuộc rèn luyện cơ động, nâng cao sức dẻo dai của bộ đội bằng các cuộc hành quân đường dài, nhất là ban đêm trên các địa hình phức tạp của rừng núi. Trung đoàn còn được huấn luyện, diễn tập có thực hành trong đội hình của Sư đoàn, hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, trong một số tình huống có bắn đạn thật. Kết quả của các đợt huấn luyện, diễn tập này đã nâng cao thêm trình độ và sức mạnh chiến đấu của đơn vị.
Cuối tháng 10 năm 1970, tôi nhận được quyét định của Tổng cục Chính trị điều động lên Cục Tuyên huấn và được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Giáo dục chính trị cán bộ và Nhà trường. Đồng chí Phạm Bá Hòa, Phó Chính ủy được bổ nhiệm làm Chính ủy Trung đoàn thay tôi. Sau khi bàn giao công việc cho đồng chí Hòa, tôi ở lại đơn vị mấy ngày để đến một số đơn vị chia tay với những đồng đội đã cùng mình đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi trong 5 năm trời xây dựng và chiến đấu của đơn vị. Hôm cuối cùng, tôi đang ở Tiểu đoàn 6, thì Trung tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị xuống thăm đơn vị. Trong lúc đồng chí Chính ủy mới của Trung đoàn đang tiếp và báo cáo tình hình với Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thì một chuyện không may đã xảy ra ở Tiểu đoàn 5, cách Trung đoàn chỉ hơn một kilômét. Tiểu đoàn phó Lại Cá Phềnh và Đại đội trưởng Duy trong khi chuẩn bị đạn đi tập đã sơ ý làm một quả đạn cối phát nổ. Cả hai đồng chí và một chiến sĩ hy sinh ngay tại chỗ. Cả hai cán bộ đó đều là người đã chiến đấu rất dũng cảm ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh và trưởng thành rất nhanh. Đặc biệt là đồng chí Duy mới 19 tuổi, đã tốt nghiệp Phổ thông trung học và là một cán bộ rất có triển vọng. Trước khi qua Sư đoàn để chào các thủ trường Sư đoàn, tôi đã đến nghĩa trang liệt sĩ của huyện Lương Sơn - nơi an táng các chiến sĩ của Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ đô) trong Chiến dịch Hòa Bình thời đánh Pháp để viếng các đồng chí và thắp hương tiễn biệt các đồng chí vừa tử nạn hôm trước trong nỗi ngậm ngùi, xót thương. Khi rời khỏi Trung đoàn, trong tôi dạt dào một tình cảm lưu luyến khó tả đối với những người đã cùng mình chia sẻ những gian truân vất vả, ác liệt trong xây dựng và chiến đấu của đơn vị. Điều mà tôi tự hào nhất khi rời đơn vị, không chỉ là những thành tích trong xây dựng và chiến đấu, mà cái chính với tư cách là một chính ủy, tôi đã chú trọng góp phần xây dựng mối quan hệ gắn bó đồng chí, đồng đội, gắn bó tình cảm giữa những người bạn chiến đấu. Tôi cho rằng phẩm chất cao đẹp nhất trong những người chiến sĩ cầm súng, từ những vị tướng cho đến người binh nhì là sự hy sinh quên mình, trong đó có cả hy sinh tính mạng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Không thể nói sự hy sinh của vị tướng lớn hơn sự hy sinh của binh nhì. Nếu có khác là ở chỗ sự cống hiến của vị tướng lớn hơn, năng lực cao hơn, là quan hệ giữa những người chỉ huy và người phải chấp hành mệnh lệnh của cấp trên. Từ nhận thức đó, tôi cho ràng giữa người chỉ huy và người lính là sự bình đẳng về nhân cách. Người cán bộ chỉ huy không được phép xúc phạm đến nhân cách của người dưới quyền trong bất cứ trường hợp nào mà phải tôn trọng nhân cách cấp dưới. Bằng nhiều cách như giáo dục, hướng dẫn, tự mình làm gương, thực sự thương yêu cấp dưới, thương yêu chiến sĩ..., tôi yêu cầu cán bộ chính trị, quân sự trong Trung đoàn mình phải như vậy. Do đó, trong hơn 5 năm ở Trung đoàn tôi không có những vụ việc nghiêm trọng nào xảy ra trong quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa cấp trên với cấp dưới, lúc thường cũng như lúc chiến đấu. Tôi thực sự tự hào về điều đó. Đối với Sư đoàn, khi chuyển đi công tác ở nơi khác, những kỷ niệm và tình cảm tốt đẹp luôn in đậm trong trái tim tôi. Nếu tính cả 3 năm đi học ở Liên Xô, thì tôi đã công tác và chiến đấu ở Sư đoàn 308 hơn 19 năm (6.1951 - 10.1970). Tôi rất phấn khởi khi được về công tác và chiến đấu ở Sư đoàn 308 - Sư đoàn Quân tiên phong - Sư đoàn chủ lực cơ động chiến lược đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tôi tự hào vì được sống, chiến đấu và công tác ở một đơn vị trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, mà kẻ thù luôn kiêng nể, khiếp sợ. Tình báo của chúng thường xuyên theo dõi đơn vị, vì đến đâu, đánh ở đâu là ở đó có đánh lớn, ở đó chúng sẽ gặp phải một đối thủ thiện chiến gồm những chiến sĩ quả cảm "có tâm hồn của những người chiến thắng". Ở đó, tôi đã được sống trong một không khí chủ đạo đầy ắp tình cảm gắn bỏ đồng chí, đồng đội; giữa cán bộ, chiến sĩ, giữa cấp trên cấp dưới, dù ở đó có cả anh em Bắc, Trung, Nam. Điều đó là một yếu tố đã tạo nên sức mạnh của đơn vị, đúng như vậy! Tôi đến chào các đồng chí Thủ trưởng Sư đoàn với tình cảm lưu luyến ấm áp trong một bữa cơm chia tay đạm bạc và một tặng phẩm nhỏ của Sư đoàn là một cái bút máy có khắc một dòng chữ rất đẹp: "Thân tặng đồng chí Đinh Mộng Tiên". Tôi xin phép các anh, trước khi về Tổng cục nhận công tác, được đến Viện Quân y 108 "đại tu" sức khỏe, nhưng chủ yếu là mổ lấy long siêu ở mắt rất khó chịu mặc dù thị lực còn rất tốt. Tháng 11 năm 1970, từ Viện Quân y 108 tôi về Cục Tuyên huấn với một tâm trạng khó tả. Ở đó, tôi sẽ được gặp anh Hồng Cư là Thủ trưởng cũ khi tôi ở Trung đoàn 36 và khi công tác ở Ban Tuyên huấn Sư đoàn, lúc này là Cục phó Cục Tuyên huấn; gặp đồng chí Đỗ Hữu Lâm trước cũng công tác ở Ban Tuyên huấn Sư đoàn, nay công tác ở phòng mà tôi sắp đến nhận nhiệm vụ. Như vậy là tôi đã có những đồng chí thân quen để có thể học hỏi những kinh nghiệm công tác ở đây. Tôi được thu xếp ở khu nhà tập thể cấp 4 cho những anh em gia đình không ở Hà Nội, mà anh em nói vui với nhau là thuộc vào loại "ăn nhà tập thể, ngủ giường cá nhân". Phòng Giáo dục chính trị cán bộ và Nhà trường là một trong vài phòng chủ chốt của Cục Tuyên huấn. Nơi làm việc là một căn phòng lớn khoảng 60 mét vuông của một trong những tòa nhà hai tầng được xây dựng rất kiên cố, có hành lang rộng và mát mẻ. Trước đây, khu này là doanh trại của những binh đoàn cơ động lính lê dương của thực dân Pháp, nằm trong nội thành, nay là nơi làm việc của Bộ Quốc phòng và những cơ quan chủ yếu trực thuộc Bộ như Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần... Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:16:58 am Hôm đầu tiên tôi đến phòng làm việc đã được gặp ngay những nụ cười thân thiện của nhiều đồng chí. Có lẽ đồng chí Đỗ Hữu Lâm trước đây đã công tác với tôi vài năm ở Ban Tuyên huấn của Sư đoàn 308 đã giới thiệu sơ qua với các đồng chí về tôi. Tuổi chúng tôi cũng sàn sàn như nhau, chỉ hơn kém nhau khoảng một hai tuổi, đều tham gia cách mạng và nhập ngũ sớm nên cũng dễ hòa đồng. Quan sát thấy mỗi đồng chí ngồi làm việc ở một bàn, mỗi người một góc, hơi lộn xộn, tôi "bạo phổi" đề nghị sắp xếp lại thành hai hàng bàn quay mặt vào nhau thẳng tắp, chẳng sợ các đồng chí mất lòng. Các đồng chí hưởng ứng ngay, có đồng chí giải thích trước đây sở dĩ như thế là vì sợ ngồi đối diện với nhau mất tập trung, mà việc viết lách đòi hỏi phải tập trung suy nghĩ nhiều. Hôm sau, đồng chí Đoàn Chương, Cục phó Cục Tuyên huấn phụ trách khối giáo dục chính trị, văn hóa và nhà trường đến thăm cười nói: "A! Trông gọn ghẽ đàng hoàng nhỉ!", mọi người đều cười vui vẻ. Anh Đoàn Chương trước đây là Thư ký riêng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (đã mất năm 1967). Anh Chương đã qua một số công tác ở đơn vị, trong đó có thời gian làm Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân, sau được điều về làm Cục phó Cục Tuyên huấn. Nghe anh em nói, anh Chương là người có trí nhớ rất tốt, thông minh, viết lách chặt chẽ, trình độ nghiên cứu tốt. Anh em cũ trong phòng cho biết Cục trưởng là đồng chí Nguyễn Trọng Yên - con trai của cố nhà văn Nguyễn Trọng Thuật, tác giả tiểu thuyết "Quả dưa đỏ", đã tốt nghiệp tú tài, tham gia khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Quảng Yên và là Chủ tịch Ủy ban nhân dân lâm thời tỉnh Quảng Yên, sau được điều vào bộ đội. Các đồng chí Cục phó gồm có; anh Hồng Cư phụ trách mảng tuyên truyền, thông tấn quân sự, báo chí. Anh Chính Hữu, phụ trách khối công tác văn nghệ, văn công. Anh Đỗ Chính, phụ trách công tác nội bộ và vấn đề giáo dục chiến sĩ, đồng thời là Bí thư Đảng ủy Cục Tuyên huấn. Cục Tuyên huấn lúc đó có quân số cán bộ rất đông, phụ trách nhiều nội dung lớn trong công tác chính trị.
Tôi từ một chính ủy trung đoàn nặng về công tác lãnh đạo, công tác thực tế và chiến đấu, tuy có thời gian làm công tác tuyên huấn ở đơn vị và đã qua đào tạo cơ bản, nhưng công tác ở cơ quan chiến lược không dễ dàng thích nghi được trong thời gian ngắn. Nhận rõ như vậy, nên tôi hết sức chú ý đến việc học hỏi các đồng chí cũ đã có thời gian công tác lâu ở cơ quan, đặc biệt là những anh em đang công tác ở trong phòng do tôi phụ trách. Anh em cho biết, trước tôi đã có hai đến ba đồng chí là cán bộ giỏi ở đơn vị được điều về phụ trách phòng nhưng vì chậm thích nghi nên không trụ nổi ở đây. Tôi có phần lo lắng, nhưng tự xác định là phải cố gắng, kiên trì học hỏi các đồng chí xung quanh, quyết phấn đấu nhanh chóng thích nghi với công việc mới. Tôi có một thuận lợi lớn là các đồng chí cùng công tác ở trong phòng thấy tôi có thái độ khiêm tốn học hỏi, không giấu dốt nên rất ủng hộ, thân tình, thẳng thắn góp ý kiến. Trong phòng cỏ hai phó phòng là các đồng chí Lê Ngọc Tuân và Đào Thế Châu. Đây là hai đồng chí lão thành, tham gia hoạt động đấu tranh trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Đồng chí Nguyễn Văn Định trước là Tổ trưởng giáo viên chính trị tại Học viện Hậu cần cũng là một đồng chí lão thành cách mạng là trợ lý, đều là những đồng chí khiêm tốn, đúng mực nên trong phòng rất đoàn kết, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, tuyệt nhiên không có chuyện kèn cựa cá nhân. Cho đến bây giờ, khi tất cả đã về hưu, tình cảm của chúng tôi vẫn nguyên vẹn như lúc còn công tác cùng nhau. Việc đầu tiên tôi được giao là nghiên cứu về vấn đề giáo dục chính trị ở các nhà trường trong Quân đội. Một đề án công tác quá lớn, phải huy động kinh nghiệm và trí tuệ của cả phòng, nhất là đối với những anh em đã qua công tác giáo dục chính trị ở các trường. Đề án do tôi chủ trì và chấp bút vừa hoàn thành bước đầu, thì một sự kiện rất bất ngờ không ai có thể nghĩ tới. Khoảng cuối năm 1970, giặc Mỹ liều lĩnh dùng máy bay trực thăng mang vũ trang bí mật tập kích ban đêm khu đền Và (Sơn Tây) chỉ cách Hà Nội khoảng 40 kilômét hòng cứu bọn tù binh phi công bị ta bắt giam tại đó (nhưng trước đó ta đã di chuyển tù binh đi nơi khác). Cuộc giải cứu tù binh của địch không đạt được mục đích, nhưng cũng đặt ra cho ta phải nâng cao cảnh giác đối với những hành động liều lĩnh của chúng. Đồng thời, đế quốc Mỹ dùng không quân tiếp tục đánh phá một số nơi trên miền Bắc và đưa Hạm đội 7 của chúng vào Vịnh Bắc Bộ. Tình hình diễn ra trong bối cảnh chiến lược "Chiền tranh cục bộ" của chúng đã bị phá sản sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở miền Nam của quân và dân ta. Do đó, địch bị động chuyển sang một chiến lược khác mà chúng gọi là "Việt Nam hóa chiến tranh" theo học thuyết Níchxơn (viên Tổng thống Mỹ cực kỳ hiếu chiến thuộc Đảng Cộng hòa). Chiến lược này theo báo chí phương Tây lúc đó gọi một cách mỉa mai là chiến lược "thay màu da trên xác chết". Có nghĩa là, chúng muốn đẩy quân ngụy Sài Gòn tự gánh lấy cuộc chiến tranh do chính bọn xâm lược Mỹ gây ra, đồng thời cũng nhằm mục đích hòng đề cao bọn ngụy tay sai Sài Gòn thực hiện mưu đồ của chúng, mà chúng chỉ giữ vai trò trợ giúp. Đây là một âm mưu rất thâm độc của đế quốc Mỹ. Trước sự đánh phá ác liệt của không quân địch ở Hà Nội, các bộ phận không cần thiết của cơ quan Bộ Quốc phòng phải gấp rút sơ tán về những nơi an toàn đã chuẩn bị từ trước. Riêng phòng chúng tôi phải sơ tán lên xóm Đợn, một xóm hẻo lánh thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình để tiếp tục làm việc. Ngày 30 tháng 1 năm 1971, địch bắt đầu cuộc hành quân Lam Sơn - 719 hòng đánh phá hành lang vận chuyển của ta ở Trung, Nam Lào, cắt đứt sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam; đồng thời nuôi tham vọng giành thắng lợi để chứng minh sức mạnh của lực lượng ngụy quân tay sai và cũng là để chứng minh cho thắng lợi của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Vì vậy, chúng huy động một lực lượng rất lớn, gồm những đơn vị thiện chiến và trừ bị chiến lược, lực lượng lúc cao nhất lên tới 55.000 quân (quân đội Sài Gòn: 40.000; quân Mỹ: 15.000), huy động hơn 500 xe tăng và xe bọc thép, gần 300 khẩu pháo và 1.000 máy bay các loại; đồng thời còn nhận được sự hỗ trợ từ quân đội phái hữu Lào (chín tiểu đoàn thuộc hai binh đoàn cơ động GM30 và GM33) phía tây đường 91 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Viện Lịch sử quân sự, Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào năm 1971, Viện Khoa học quân sự xuất bản 1987, tr. 13). Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:18:02 am Đúng lúc ấy, tôi nhận được lệnh của Cục trở về Hà Nội gấp để nhận nhiệm vụ. Về đến nơi, tôi được biết phải chuẩn bị tư trang và những thứ cần thiết cùng đồng chí Cục phó Hồng Cư ra trận phục vụ Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Anh Hồng Cư sơ bộ cho tôi biết, anh mang theo thư của Bộ Chính trị gửi cán bộ, chiến sĩ toàn Mặt trận Đường 9 - Nam Lào vào trong đó sẽ in gửi cho các đơn vị tham gia chiến dịch, coi đó là nội dung chủ yếu trong công tác tư tưởng động viên mọi người có quyết tâm cao, kiên quyết giành thắng lợi trong Chiến dịch này.
Tôi rất phấn khởi lại được tham gia một chiến dịch, lại được cùng đi với anh Hồng Cư - người tôi từng làm việc nhiều năm ở Sư đoàn 308. Sớm tinh mơ hôm sau, trên chiếc "Com măng ca" của Liên Xô, theo đường 1, chúng tôi hướng thẳng về phía Nam. Đường trong chiến tranh rất xấu, có chỗ phải qua phà, mãi 12 giờ trưa chủng tôi mới tới được Thanh Hóa. Dừng chân ăn qua loa bữa trưa, chúng tôi đến trạm giao liên ở ngoại ô Vinh. Trên đường đi từ Hà Nội vào Vinh, xe của chúng tôi thường gặp một chiếc xe buýt Hải Âu của Liên Xô chở khoảng 40 cô gái mặc quân phục Trung Quốc, đầu đội mũ lưỡi trai mềm, lúc đi trước, lúc đi sau. Khi thấy xe chúng tôi có biển đỏ quân sự, bên trong lại có hai anh bộ đội Việt Nam, các cô gái tươi cười vẫy tay chào thân thiện. Vào đến trạm khách ở Vinh, tôi mới được biết đấy là các nữ chiến sĩ Campuchia được đào tạo ở Trung Quốc trên đường về nước chiến đấu. Trưởng đoàn của chiếc xe đó là một người đàn ông trung niên lầm lỳ, mặt lạnh tanh1 (Năm 1979, khi tham gia đánh bọn diệt chủng Pôn Pốt ở Campuchia, xem ảnh Tà Mốc, một trong những lãnh tụ Khơme Đó khét tiếng tàn bạo, tôi thấy đúng là tên dẫn dầu trên chuyến xe buýt hôm đó). Đoàn Campuchia được anh chị em ở trạm khách giao liên đón tiếp rất trọng thị, ăn ở rất chu đáo. Sau một đêm ngủ đẫy giấc ở Vinh, sớm hôm sau vượt phà Bến Thủy, chúng tôi phóng xe một mạch đến Quảng Bình, rẽ vào khu vực Sở chỉ huy chiến dịch. Đến nơi, tôi ngạc nhiên thấy Sở chỉ huy đã được tổ chức rất chắc chắn ở một khu rừng kín đáo, gần cạnh các bản của đồng bào Vân Kiều. Bộ máy chỉ huy đã hoạt động nhộn nhịp, không khí rất khẩn trương. Trong Sở chỉ huy đã thấy các đồng chí Văn Tiến Dũng, Lê Quang Đạo, Lê Trọng Tấn. Cơ quan Chính trị Mặt trận: Chủ nhiệm là đồng chí Ngô Thành Vân ở Đoàn 559 cử sang, Phó Chủ nhiệm là đồng chí Hồng Cư, Cục phó Cục Tuyên huấn và đồng chí Nguyễn Văn Thường, Cục phó Cục Địch vận thuộc Tổng cục Chính trị, những người khá quen biết với tôi. Anh Hồng Cư thông báo cho tôi biết: Tôi được phân công phụ trách tuyên huấn của Mặt trận, được bố trí ở một cái lán khá rộng, cách Sở chỉ huy khoảng 300 mét ở phía ngoài, gần sát với một bản Vân Kiều. Việc đầu tiên tôi phải làm là cho in bức thư của Bộ Chính trị gửi các đơn vị tham gia chiến dịch và chuẩn bị kế hoạch hướng dẫn quán triệt nội dung bức thư đó cho cán bộ, chiến sĩ Mặt trận. Khi nghiên cứu bức thư tôi cảm nhận rất rõ mấy quan điểm khác với chiến dịch chống Pháp và chống Mỹ mà tôi đã từng trài qua: - Thư rất súc tích, ngắn gọn - Khẳng định rất rõ âm mưu của Mỹ, ngụy - Biểu thị rất rõ quan điểm của lãnh đạo - Toát lên một vẻ lạc quan, tin tưởng tất thắng - Được quán triệt sau một số trận của các đơn vị tham gia chiến dịch một điều hiếm thấy. Có nghĩa là chiến dịch đã được chuẩn bị rất gấp và lá thư kêu gọi bộ đội nêu cao quyết tâm: "Nhất thiết đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào; vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược"1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Viện Lịch sử quân sự, Chiến dịch phản công Đường sổ 9 - Nam Lào năm 1971, Viện Khoa học quân sự xuất bản 1987, tr. 21). Tất cả những cảm nhận khi nghiên cứu bức thư này đưa tôi đến một linh cảm, đúng hơn là sự tin tưởng chiến dịch này sẽ thắng to. Tôi khẩn trương tiến hành việc phổ biến nội dung bức thư và kế hoạch hướng dẫn quán triệt đến các đơn vị đầu mối của chiến địch với một tinh thần hứng khởi, lạc quan đặc biệt. Ở các đầu dây điện thoại bên kia của các đầu mối đơn vị, các đồng chí phụ trách cơ quan chính trị hay phụ trách tuyên huấn khi nhận được nội dung thư và hướng dẫn cũng đều tiếp thu một cách rất phấn chấn và không hề có một băn khoăn nào. Khu vực xung quanh Sờ chỉ huy chiến dịch, địch vẫn cho máy bay ném bom, bẳn phá nhưng đều ở khoảng cách xa, gần nhất là độ một kilômét, chứng tỏ Sở chỉ huy vẫn giữ được bí mật. Trong khi đó, các đoàn cán bộ ở hậu phương vào công tác ở đây vẫn ùn ùn kéo đến. Để tránh lộ Sở chỉ huy, các đoàn vào chỉ được phép ở một địa điểm cách đó ba kilômét và Sở chỉ huy sẽ cử người ra làm việc, trừ một số trường hợp cá biệt. Để quán triệt thư của Bộ Chính trị cho các đoàn cán bộ mới vào anh Hồng Cư thường báo cho tôi biết, rồi tôi phải ra gặp và phổ biến cho anh em nội dung tinh thần bức thư đó. Có một điều lạ là khi nghe xong, ai cũng phấn chấn hẳn lên. Tôi thấy rất rõ sức mạnh động viên của bức thư Bộ Chính trị đến mọi người. Tình hình đó lại càng củng cố thêm lòng tin vững chắc cho chúng tôi ở thắng lợi của chiến dịch. Khi giao ban ở Sờ chỉ huy, có tin chiến thắng hoặc tin gì quan trọng, anh Hồng Cư lại truyền cho tôi để tôi chuyển về Cục Tuyên huấn ở Hà Nội. Có hôm mở đài bán dẫn nghe đồng chí Cục trưởng Nguyễn Trọng Yên nói về Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào với học viên Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương và những thắng lợi đầu tiên của chiến dịch với khí thế sôi nổi vốn có ở anh, tôi thấy rõ hậu phương quan tâm và phấn khởi đối với những chiến thắng đầu tiên của chiến dịch như thế nào. Các văn nghệ sĩ, cán bộ Xưởng phim Quân đội cũng được khẩn trương cử vào công tác. Tất nhiên đó là "khách" mà tôi phải tiếp và tiến hành những việc cần thiết với anh em, trong đó việc chính là truyền đạt tinh thần nội dung bức thư của Bộ Chính trị. Đoàn văn nghệ sĩ có khoảng sáu đến bảy người do nhạc sĩ Huy Du và nhà văn Nguyễn Khải dẫn đầu. Xưởng phim Quân đội chỉ có một mình đồng chí Nguyễn Thông (sau này là Nghệ sĩ Nhân dân) mang cả máy quay phim đi theo. Tất cả làm việc với tôi xong, nghỉ lại một đêm, rồi hôm sau chia nhau về các đơn vị theo hướng dẫn và thu xếp của anh Hồng Cư. Chỉ có anh Nguyễn Thông là ở lại với tôi. Cái lán của tôi khá rộng, đủ chỗ ngủ cho các vị khách đó, một vài anh có vẻ thao thức không yên giấc, nhưng sáng hôm sau đều vui vẻ phấn khởi xuống các đơn vị công tác. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:19:45 am Diễn biến chiến dịch giữa ta và địch ngày càng sôi động. Sở chỉ huy liên tiếp nhận được tin chiến thắng của các đơn vị, nhất là từ khoảng trung tuần tháng 2 đến gần cuối tháng 3 năm 1971, trong đó có những trận đánh tiêu biểu gây cho địch những thiệt hại rất nặng nề, có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng lớn đến cục diện của chiến dịch có lợi cho ta. Đặc biệt là từ đầu tháng 3, khi Sở chỉ huy chiến dịch phát hiện địch đã rơi vào tình thế khốn quẫn, có nhiều dấu hiệu sẽ rút chạy. Đó là trận đánh ngày 25 tháng 2 của Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 được pháo binh và xe tăng của ta chi viện tiến công tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn 3 cùng một tiểu đoàn pháo và lữ đoàn bộ lữ đoàn 3 quân dù địch, diệt và bắt 500 tên trong đó có tên đại tá Nguyễn Văn Thọ, lữ đoàn trưởng. Đó là trận đánh trong ngày 16 tháng 3 của Sư đoàn 2 quân ta tiến công tiêu diệt hầu hết trung đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 bộ binh ngụy, diệt hơn 1.800 tên, bắt 80 tên, sau đó diệt tiếp hai tiểu đoàn của sư đoàn 1 bộ binh ngụy.
Để động viên kịp thời các đơn vị đánh thắng, Bộ chỉ huy Mặt trận có những bức điện biểu dương, khen ngợi. Việc thảo những bức điện này là nhiệm vụ của công tác tuyên huấn. Có lúc quá bận, tôi phải nói qua nội dung với đồng chí Nguyễn Thông, nhờ đồng chí giúp thêm thảo bức điện đó. Anh Thông là người rất nhiệt tình say mê làm phim, vừa biên kịch, vừa đạo diễn lại vừa quay phim, việc nào cũng làm giỏi, nhưng không quen với việc này. Khi anh thảo xong, tôi thấy không đạt, phải viết lại. Hóa ra việc nào làm cũng phải có nghề mới làm được! Có lần đồng chí Lê Quang Đạo gọi tôi lên trực tiếp giao cho việc thảo bức điện động viên một đơn vị đang làm nhiệm vụ chốt chặn trên đường 9, quyết tâm ngăn chặn không để địch chạy về Đông Hà. Trong bức điện, tôi có dùng một cụm từ "bằng bất cứ giá nào không để địch chạy thoát" và nghĩ rằng nói mạnh như vậy để đơn vị thấy rõ quyết tâm của cấp trên và trách nhiệm chặn địch, tiêu diệt địch của đơn vị. Tôi ngồi tại chỗ để thảo bức điện và đưa cho đồng chí. Xem xong, đồng chí suy nghĩ một lúc rồi bảo tôi: Không nên nói "bằng bất cứ giá nào". Tôi chưa nghĩ ra được nên sửa thế nào, thì đồng chí nói tiếp: Nên viết là "tìm mọi cách không để địch chạy thoát" được không? Tôi sửa lại bức điện thay cụm từ mà anh vừa gợi ý vì thấy nó đúng mức và chính xác. Qua việc này tôi học thêm được một điều, trong công tác tư tưởng đối với nhiệm vụ chiến đấu, người làm công tác chính trị không nên cường điệu, áp đặt theo ý muốn chủ quan mà phải đúng mức, khêu gợi được sự tự giác và tính sáng tạo của cấp dưới, của quần chúng để thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất, tránh được những hành động cực đoan, gây tổn thất không cần thiết, không đáng có, nhất là đối với xương máu của chiến sĩ. Cũng qua việc này, tôi thấy ở anh một phẩm chất, một sự thận trọng của người lãnh đạo, người chỉ huy đối với xương máu của cán bộ, chiến sĩ thế nào. Vào ngày cuối trung tuần tháng 3, nhận được điện thoại của anh Hồng Cư, tôi thấy anh Nguyễn Thông tất tả vác máy quay phim chỉ kịp nói nhỏ với tôi: "Anh Văn đến". Tôi cũng vội vàng theo anh chạy vội vào Sở chỉ huy đứng ở một góc thuận lợi nhất cho việc quay phim. Chỉ vài phút sau thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí đi cùng theo đường mòn vào Sở chỉ huy. Đại tướng mặc quân phục giản dị, không đeo quân hàm, đứng lại cười tươi với đồng chí đứng gác. Gặp ai đi qua đồng chí cũng trao đổi vài lời mà chúng tôi nghe không rõ nhưng thấy mọi người đều rất vui vẻ. Đồng chí Nguyên Thông quay được hết những cảnh đó và chạy theo ghi lại những cảnh tiếp theo sau khi Đại tướng vào gặp các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chiến dịch. Trong không khí phấn khởi trước những Chiến thắng vang dội của các đơn vị, Sở chỉ huy Chiến dịch càng thêm nhộn nhịp. Có những đơn vị đã hoàn thành xong nhiệm vụ, các đồng chí chỉ huy về báo cáo trực tiếp với Bộ Tư lệnh Chiến dịch và nhận chỉ thị mới. Có một chuyện còn in đậm trong trí nhớ của tôi. Đó là cuộc gặp gỡ giữa đồng chí Xuân, Chủ nhiệm Chính trị của Binh chủng Tăng - Thiết giáp với đồng chí Hồng Cư và tôi khi chúng tôi đang trao đổi công việc. Tôi đã gặp anh Xuân một vài lần khi về công tác tại Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Khuôn mặt đẹp trai vốn có của anh, trong dáng vẻ cân đối và cường tráng của một chàng trai thành thị, sau những trận đánh ác liệt của đơn vị, lúc này gầy đi, mặt đượm buồn. Anh kể rằng, những đại đội tăng của ta lần này đối đầu với một lực lượng lớn xe tăng, thiết giáp của bọn ngụy quân hơn hẳn ta về số lượng. Các chiến sĩ tăng của ta chiến đấu rất anh dũng, xông thẳng vào đội hình địch đê tiêu diệt chúng, hiệu suất chiến đấu rất cao. Nhưng khi trận đánh đã kết thúc, địch đã bị tiêu diệt thì xe tăng của ta cũng bị cháy hỏng gần hết và rất ít những chiến sĩ dũng cảm của chúng ta sống sót và anh rất buồn. Nghe anh kể, tôi rất cảm thông với nỗi đau của người chỉ huy khi mất những đồng đội, chiến sĩ dũng cảm của mình, một cái giá rất đắt để đổi lấy chiến thắng. Anh Hồng Cư nét mặt cũng trầm hẳn, nhưng rất nhanh, anh nói với anh Xuân: "Dù có mất xe, cầm cờ chạy bộ thì ta cũng giành thắng lợi lớn, vẫn là người chiến thắng có phải không?". Nét mặt anh Xuân giãn ra sau câu nói đó. Tuy không nói ra nhưng nỗi buồn của anh Xuân khi nói về đồng đội của mình cũng gợi cho tôi nỗi nhớ và tiếc thương khi được tin đồng chí Nguyễn Quang Việt, nguyên Phó Chính ủy Trung đoàn 88, khi tôi là Chính ủy, anh chuyển sang làm Chính ủy Trung đoàn 36 và đã hy sinh trong chiến dịch này. Tôi cũng nhớ tới đồng chí Khổng Quốc Mão, Tham mưu phó Trung đoàn 88, cùng với các cán bộ, chiến sĩ Đại đội 3, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 88 đã chiến đấu và hy sinh trong trận đánh tiểu đoàn 39 biệt động quân ngụy và nhiều cán bộ, chiến sĩ tôi còn nhớ tên trong nhiều trận đánh khác của chiến dịch. Một câu chuyện bi hài khác mà "bi" nhiều hơn "hài", tôi được biết qua đồng chí Nguyễn Văn Hường, Cục phó Cục Địch vận, Tổng cục Chính trị đang là Phó Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận. Anh đưa cho tôi xem một trong những lá thư của vợ một lính ngụy gửi cho chồng mà chiến sĩ ta thu được trong một trận đánh thắng. Chị ta viết đại ý: "Anh ơi, ra đánh trận nếu anh thấy cái nồi, cái xoong nhôm nào của Việt cộng, anh lấy về cho em; xoong, nồi nhôm của Việt cộng tốt lắm!". Nghe rất khôi hài, nhưng đọc xong tôi không thể cười được. Không hiểu sao người vợ lính ngụy ấy thấy cuộc đời lính đánh thuê cho bọn Mỹ xâm lược của chồng mình lại quá đơn giản như một trò đùa vậy. Nếu như không có cuộc chiến tranh tội ác của Mỹ, chị ta có thể là một người vợ, một người phụ nữ tốt biết lo việc nội trợ của gia đình, còn anh lính tội nghiệp kia sẽ là một người chồng hạnh phúc, bây giờ có thể đã phơi xác thay cho bọn lính Mỹ ở đường 9 - Nam Lào. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:20:36 am Theo những tài liệu tổng kết, trong chiến dịch lịch sử này, ta đã tiêu diệt hai lữ đoàn, một trung đoàn bộ binh, tám tiểu đoàn pháo binh, bốn thiết đoàn xe tăng, thiết giáp, đánh thiệt hại nặng một số lữ đoàn, trung đoàn khác, loại khỏi chiến đấu hơn 21.000 địch (bắt 1.142), bắn rơi và phá hủy 556 máy bay, 528 xe tăng, xe bọc thép, 112 khẩu pháo, cối, thu hai máy bay trực thăng, 24 xe quân sự, 78 khẩu pháo, cối, hơn 2.000 súng bộ binh...1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Viện Lịch sử quân sự, Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào năm 1971, Viện Khoa học quân sự xuất bản 1987, tr. 61 -62). Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào là một trong những chiến thắng lớn nhất của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng các chiến dịch khác trong Xuân - Hè 1971 góp phần quyết định làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng, chuyển biến cục diện chiến trường có lợi cho ta.
Theo tôi bây giờ nhìn lại, phải đánh giá cao hơn ý nghĩa của thắng lợi Đường 9 - Nam Lào. Nếu như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) là một đòn đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải ngồi đàm phán với ta ở Hội nghị Pari, phải bị động chuyển từ chiến lược "Chiến tranh cục bộ" sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", là tiếng cồng báo hiệu sự cáo chung âm mưu xâm lược bằng quân sự Mỹ đối với nước ta, thì thất bại thảm hại của địch tại đường 9 - Nam Lào là dấu hiệu đi xuống không thể gượng dậy được nữa và tất yếu sẽ dẫn đến sự tan rã của chúng sau này. Trở về Hà Nội, tôi thấy trong lòng phơi phới như mở hội. Suốt cả chiến dịch, nhờ công tác hậu cần tiếp tế cho Mặt trận rất chu đáo, ăn uống rất tốt, sữa, đường, thuốc lá "Thăng Long", "Thủ Đô" tương đối đủ, nên dù vất vả nhưng sức khỏe tốt. Anh Hồng Cư yêu cầu tôi cùng anh chuẩn bị dự thảo Tổng kết công tác chính trị chiến dịch, tôi tham gia viết một phần về nội dung. Anh không có ý kiến gì và đồng ý, nhưng về cách thể hiện, anh nói vui: "Văn ông là văn giáo dục". Tôi nhớ có một lần anh Đoàn Chương lại bảo tôi: "Văn ông là văn tuyên truyên". Tôi nghĩ đúng là mình chưa đạt được tốt ở các thể văn chính luận và phải tiếp tục phấn đấu học tập, nhưng vẫn phải giữ nét riêng của mình. Phục vụ xong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, tôi lại trở về bắt tay vào những công việc chuyên môn của Phòng mình. Phòng Giáo dục chính trị cán bộ và Nhà trường của chúng tôi là một phòng nghiên cứu và đề xuất những vấn đề cơ bản trong giảo dục chính trị cho cán bộ và các trường Quân đội, có những sản phẩm phục vụ công tác giáo dục tương đối cơ bản lâu dài nhằm nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng cho cán bộ tác chiến cũng như đang học ở các nhà trường, nâng cao trình độ lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện những nhiệm vụ chính trị trọng tâm là kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, có những việc đột xuất trước mắt cấp bách cũng phải có sản phẩm, tài liệu giáo dục. Theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị, chúng tôi phải biên soạn một tài liệu bồi dưỡng cấp tốc tại chức cho cán bộ chính trị ở đại đội chiến đấu về công tác đảng và công tác chính trị. Sở dĩ đặt vấn đề như vậy, vì việc đào tạo cán bộ chính trị đại đội dài hạn ở Trường Sĩ quan Chính trị lúc đó không thể đáp ứng nổi số lượng cán bộ chính trị sơ cấp cho các đơn vị chiến đấu theo yêu cầu của chiến trường. Tài liệu phải ngắn gọn, thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ, dùng để bồi dưỡng tại chức trong một thời gian ngắn cho những anh em chưa được qua đào tạo dài hạn ở trường, nhưng có triển vọng trở thành cán bộ chính trị ở các cơ sở, để phục vụ kịp thời cho chiến đấu. Lúc sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cùng đồng chí Song Hào, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị rất quan tâm tới việc tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội và trực tiếp chỉ đạo làm việc này. Cho đến nay, những tổng kết đó vẫn là tài liệu căn bản để các trường Quân đội đưa vào biên soạn các giáo trình về công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Cũng dựa vào đó, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Cục phó Đoàn Chương, anh em trong Phòng một số lớn đã trưởng thành từ cán bộ chính trị cơ sở, phân công nhau làm. Vận dụng những vấn đề lý luận đã tổng kết, kết hợp với những kinh nghiệm nóng hổi qua thực tế chiến đấu ở đại đội, chúng tôi soạn thành 12 bài công tác chính trị ở đại đội, in thành một tập khoảng 400 trang. Với tôi, trưởng thành từ chiến sĩ đã qua công tác chính trị từ trung đội, đại đội đến chính ủy trung đoàn và ở cương vị này khoảng hơn 5 năm, tôi rất thú vị với công việc này, vì thấy mình cũng tạm đủ vốn sống để viết. Tôi nhận trực tiếp viết hai bài chính: "Công tác chi bộ đại đội" và "Nhiệm vụ, yêu cầu đối với chính trị viên đại đội". Tập sách sẽ được in với số lượng lớn khoảng 20.000 cuốn và phải được nhanh chóng gửi tới các đơn vị, các nhà trường. Đó là một việc đột xuất trước mắt nhằm phục vụ yêu cầu cấp thiết đào tạo cán bộ chính trị cơ sở cho chiến đấu. Với đòi hỏi cấp bách đó, Phòng chúng tôi hầu như tập trung toàn bộ lực lượng và tâm sức vào việc đó để đảm bảo chất lượng và xuất bản càng sớm càng tốt. Sau khi hoàn thành các bài của cuốn sách và soát lại lần cuối cùng, chúng tôi gửi đi in. Vì các nhà in của Quân đội và của các ngành ờ Hà Nội một mặt rất nhiều việc, mặt khác cũng phải lo sơ tán để bảo vệ máy móc, bảo vệ tài sản nên không nơi nào nhận in. Mãi sau mới tìm được một nơi nhận in là nhà máy in của tỉnh Ninh Bình. Tôi cử một đồng chí trợ lý của Phòng trực tiếp mang tài liệu xuống Ninh Bình và ở luôn đó để sửa "morát" xong xuôi mới trở về. Sách in xong do Ban Hành chính của Cục vận chuyển về và gửi tới các đơn vị trong toàn quân theo kế hoạch. Tôi trực tiếp đọc lại tất cả các bài thấy có rất nhiều lỗi về chấm, phẩy và một số lỗi khác do sự sơ suất, thiếu tỷ mỷ, chu đáo của người sửa "morát" và không được hài lòng. Tôi phê bình để đồng chí trợ lý ấy cũng thấy thiếu sót của mình. Với hai vạn cuốn đã nhận và gửi đi, nhà in không có trách nhiệm sửa lại, nên chúng tôi phải khắc phục bàng cách gửi thông báo cho các đầu mối sửa những lỗi quan trọng nhất. Đây cũng là một kinh nghiệm cho những người chịu trách nhiệm về in ấn tài liệu. Đầu tháng 3 năm 1972, cấp trên có nghị quyết về kế hoạch tiến công chiến lược năm 1972. Đen cuối tháng 3, ta bắt đầu mở chiến dịch tiến công trên Mặt trận Quảng Trị. Cuộc chiến đấu của quân ta ở đây diễn ra cực kỳ ác liệt, đặc biệt là ở Thành cổ Quảng Trị. Lúc này, đế quốc Mỹ đã trở lại và đánh phá quyêt liệt nhiều nơi trên miền Bắc, đặc biệt là Hà Nội, Hải Phòng. Ở cơ quan, chúng tôi bồn chồn theo dõi tình hình chiến sự và trước những cuộc ném bom bắn phá liên tiếp của địch ở Hà Nội, chúng tôi vẫn phải làm việc ở nơi sơ tán tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vào khoảng đầu tháng 12 năm 1972, những bộ phận còn lại ở nơi làm việc tại Hà Nội cũng phải sơ tán ngay trong thành phố, không làm việc trong các tòa nhà cũ vì địch đã bắn phá bằng tên lửa ngay các tòa nhà ở nội thành, có quả đã trúng gần sát hai tòa nhà của Văn phòng Tổng cục Chính trị và Cục Tuyên huấn. Cục trưởng Nguyễn Trọng Yên cũng rời ra làm việc tại Thư viện Quân đội ở cuối phố Lý Nam Đế và cũng bị tên lửa của máy bay địch bắn sát gần đó. Nhờ có công sự kiên cố nên vẫn được an toàn. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:21:33 am Cuối tháng 12, trước thất bại của quân ngụy trên chiến trường Quảng Trị, trong khi cuộc đàm phán giữa ta và địch vẫn đang diễn ra tại Pari, thì đế quốc Mỹ điên cuồng huy động một lượng lớn không quân của chúng trong đó có cả pháo đài bay B-52, lực lượng không quân chiến lược tối tân nhất của chúng lúc đó, đánh phá dữ dội Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh, thành miền Bắc hòng khuất phục nhân dân ta. Chúng không từ một tội ác nào, bắn phá và ném bom vào các khu dân cư như khu phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai và nhiều nơi khác ở Thủ đô của ta. Tình hình này diễn ra đúng như Bác Hồ đã tiên đoán trong bài phát biểu tại Hội nghị Chính trị đặc biệt năm 1965 được tổ chức tại Hội trường Ba Đình ngay sau khi giặc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh bằng không quân đánh phá ác liệt toàn miền Bắc. Cả nhân loại tiến bộ, trong đó có cả nhân dân Mỹ, hết sức phẫn nộ lên án tội ác dã man của bọn cầm quyền Mỹ, cổ vũ mạnh mẽ Quân đội và nhân dân ta. Cả nước, đặc biệt là Hà Nội, đứng trước một thử thách nặng nề, vô cùng khốc liệt. Song nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, phán đoán đúng âm mưu của địch, chủ động chuẩn bị từ trước, Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo trực tiếp, sát sao, lực lượng phòng không và không quân dũng cảm, mưu trí đánh địch; nhân dân Thủ đô nêu cao truyền thống cách mạng, trong 12 ngày đêm vẫn hiên ngang đứng vững cùng bộ đội đánh giặc giành thắng lợi lớn, đánh bại hoàn toàn âm mưu hành động của địch, làm nên một chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" oanh liệt, diệt 81 máy bay trong đó có 34 máy bay B-52, năm chiếc F-111.
Giữa khoảng 12 ngày đêm ấy, tôi được Thủ trưởng Cục gọi về tham gia Đoàn cán bộ của Tổng cục Chính trị do đồng chí Lê Đình Sô, Cục phó Cục Cán bộ phụ trách vào dự Tổng kết chiến đấu của Sư đoàn 308 rút từ chiến trường Quảng Trị ra huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh để củng cố. Tôi mang theo một số cuộn 12 bài công tác chính trị ở đại đội vào hướng dẫn cho một số anh em cán bộ của Phòng Chính trị Sư đoàn để bồi dưỡng kịp thời cho cán bộ chính trị đại đội. Được trở về công tác ít hôm tại đơn vị cũ, trên đường đi tôi bồi hồi nhớ lại những khuôn mặt bạn bè thân quen trong Sư đoàn và anh em cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 88 đã cùng mình xây dựng và chiến đấu trên 5 năm trời. Trước khi đi, tôi cũng đã biết tin nhiều đồng chí đã hy sinh trong chiến dịch này, nhất là những anh em đã tham gia bảo vệ Thành cổ và Đông Hà. Khu vực trú quân của Sư đoàn 308 ở Hương Khê những ngày này thỉnh thoảng cả ban ngày và ban đêm vẫn bị máy bay bắn phá. Có buổi tối, địch cho cả máy bay B-52 đến ném bom rải thảm. Nhưng nói chung, cả nhân dân và bộ đội ở đây đều có hầm chống máy bay ném bom bắn phá, nên địch cũng không gây được tổn thất gì nhiều cho ta. Tuy nhiên, tối hôm địch ném bom rải thảm bằng B-52 xong, tôi cũng nghe thấy tiếng khóc của vài gia đình ở gần chỗ nhà một người dân chúng tôi ờ nhờ. Nhờ kế hoạch phòng không chu đáo, nên Hội nghị tổng kết chiến dịch của Sư đoàn vẫn diễn ra an toàn. Trong tổng kết về quân sự, tôi chú ý đến một báo cáo chiến lệ rất hay của đồng chí Đỗ Trung Dương, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 71 trung đoàn 102. Ngày 19 tháng 4 năm 1972, Tiểu đoàn được lệnh đánh địch ở điểm cao 37, đến 7 giờ sáng, do chưa chuẩn bị kịp, nên Tiểu đoàn dũng cảm triển khai giấu quân ở một địa hình chỉ có cây lúp xúp và đã giữ được bí mật từ rạng sáng cho đến tối ở một khu vực xung quanh có các cứ điểm của địch, chỉ cách vài trăm mét mà chúng không phát hiện được. Đến tối, Tiểu đoàn tổ chức tập kích mãnh liệt tiêu diệt gọn một cụm bộ binh thiết giáp, gồm một đại đội biệt động quân và sáu xe tăng của địch. Đồng chí Đỗ Trung Dương đã áp dụng cách giấu quân bí mật ban ngày trên địa hình chỉ có cây lúp xúp mà đồng chí Sư đoàn trưởng Vũ Yên đã huấn luyện cho cả Sư đoàn từ năm 1967. Trận đánh giành được thắng lợi tuyệt vời do đã sáng tạo, vận dụng được khoa mục huấn luyện trước đây, giữ được yếu tố tuyệt đối bí mật, bất ngờ. Chỉ tiếc là trong báo cáo, người đã có sáng kiến và chỉ đạo luyện tập cho bộ đội cách giấu quân là Sư đoàn trưởng Vũ Yên nhưng không được ai nhắc tới1 (Đồng chí Đỗ Trung Dương sau này trưởng thành rất nhanh là Trung tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam). Sau khi dự tổng kết của Sư đoàn, tôi được phân công của Đoàn thâm nhập xuống đơn vị cũ là Trung đoàn 88. Gặp đồng chí Phạm Bá Hòa, Chính ủy Trung đoàn (khi tôi còn ở Trung đoàn anh Hòa là Phó Chính ủy), tôi đề nghị cho tôi xuống Tiểu đoàn 5 - Tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn đã từng phối hợp với Trung đoàn 48 bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Trước khi đi, đồng chí Hòa nói với tôi: "Tiểu đoàn 5 trong nhiệm vụ cùng đơn vị bạn bảo vệ Thành cổ Quảng Trị thương vong nhiều, đề nghị anh đừng quá xúc động!". Điều này nói chung tôi đã biết khi đang ờ Hà Nội được nghe về tình hình chiến sự. Những cuộc chiến đấu ở Quảng Trị rất ác liệt, bộ đội ta thương vong nhiều, đại đội chỉ còn 10 đến 12 tay súng, có lúc tiểu đoàn chỉ còn 40 người, đặc biệt là các đơn vị bảo vệ Thành cổ. Có đại đội được bổ sung quân vào ban đêm, cán bộ chưa biết mặt, chưa thuộc hết tên, hôm sau chiến đấu nhiều anh em đã hy sinh hoặc bị thương. Có đại đội, cán bộ chỉ huy trong thời gian bắt đầu cho đến cuối chiến dịch phải 9 lần thay thế do thương vong. Khi tôi đến Tiểu đoàn 5, đồng chí Chính trị viên phó Tiểu đoàn - quyền cấp trưởng cho biết khi kết thúc nhiệm vụ bảo vệ Thành cổ, vượt sông Thạch Hãn về tới Trung đoàn, cả Tiểu đoàn chỉ còn năm anh em trong đó có đồng chí. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 5 đã chiến đấu rất dũng cảm, xứng đáng là tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn. Trở về Trung đoàn hỏi về tình hình Đại đội Quân y, đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, vì đã có thành tích xuất sắc trong việc xây dựng đơn vị, cứu chữa thương binh trong hai chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh 1968 và Đường 9 - Nam Lào 1971, về bác sĩ, Đại đội trưởng Đỗ Trọng - người bác sĩ có tinh thần trách nhiệm đối với thương bệnh binh, luôn sôi nổi, lạc quan, người đã trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật cứu một sản phụ Công giáo khi đơn vị trú quân tại Thọ Xuân (Thanh Hóa), tinh thông cả Đông - Tây y mà trước đây tôi rất tin cậy và yêu mến, thì anh em cho biết đồng chí Đỗ Trọng đã hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ ở chiến dịch này. Bác sĩ Đỗ Trọng cũng là người có công đầu trong việc xây dựng Đại đội Quân y trở thành đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do Chủ tịch nước phong tặng. Tôi bùi ngùi thương tiếc một đồng đội có phẩm châất của một lương y, có kiến thức sâu rộng và năng lực thực hành cả Tây và Đông y. Trước khi trở lại Hà Nội, tôi cũng đã kịp giới thiệu cuốn 12 bài công tác chính trị ở đại đội cho đồng chí Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn và các anh em phụ trách công tác giáo dục trong Ban Tuyên huấn. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:22:35 am Hôm 26 tháng 1 năm 1973 là ngày cuối cùng tại Sư đoàn, chúng tôi chuẩn bị quay trở lại Hà Nội. Cả ngày hôm đó, máy bay Mỹ bắn phá, hết tốp này đến tốp khác xuống khu vực trú quân của Sư đoàn suốt từ sáng đến chiều. Sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973, qua máy thu thanh bán dẫn, chúng tôi được tin Hiệp định Pari đã được ký kết.
Cả Đoàn tràn ngập niềm vui, ô tô bon bon trở về Hà Nội. Chủng tôi mở đài bán dẫn nghe không biết chán ca khúc "Đường chúng ta đi" của nhạc sĩ Huy Du liên tục được Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi. Dọc hai bên đường 1, từ Hà Tĩnh ra Hà Nội, ở các làng xóm xen lẫn với các tán lá xanh tươi của cây côi là những lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ và những khuôn mặt phấn khởi tươi rói của khách bộ hành. Cảnh vật tuyệt đẹp của các làng quê hai bên đường và tiếng nhạc, tiếng hát mượt mà trữ tình, hùng tráng của ca khúc nổi tiếng của Huy Du tạo nên trong lòng người một sự rộn ràng vui sướng và tự hào vô cùng. Quân dân ta, dặc biệt là lực lượng phòng không, không quân của bộ đội chủ lực phối hợp chặt chẽ với lực lượng phòng không của dân quân tự vệ đã đánh bại lực lượng không quân hùng mạnh, kể cả lực lượng không quân chiến lược B-52 hiện đại nhất của giặc Mỹ, lập nên một "Điện Biên Phù trên không", giành thắng lợi vang dội đúng như dự báo của Bác Hồ lúc sinh thời. Đến Phủ Lý, tôi mời các đồng chí trong đoàn rẽ vào nhà tôi chơi vì chỉ cách Phủ Lý khoảng bảy kilômét, các anh vui vẻ đồng ý. Về đến nhà, tôi hơi bị bất ngờ, vì Phúc (vợ tôi) vừa sinh được thêm một cháu gái hôm 18 tháng 1 năm 1973 (cách đây mới được 9 hôm). Các anh vui vẻ chúc mừng và đồng chí Trưởng đoàn Lê Đình Số chủ động bào tôi ở lại nhà ăn Tết cùng gia đình, đến mùng 3 Tết có mặt tại cơ quan, anh sẽ báo cáo với Thủ trường Tổng cục Chính trị và thông báo cho Cục Tuyên huấn. Tôi rất phấn khởi cảm ơn các anh, mời các anh ở lại ăn cơm nhưng các anh viện cớ phải về gấp để chuẩn bị báo cáo với Tổng cục Chính trị về đợt công tác xuống Sư đoàn 308 vừa rồi. Tết năm đó, Đinh Gia Đức - con trai thứ hai của tôi cũng được về ăn Têt cùng gia đình sau tôi vài hôm. Sau đợt huấn luyện tân binh năm 1969, Đức được biên chế trong một đơn vị tân binh bổ sung cho miền Nam. Sau một cuộc hành quân vượt Trường Sơn, Đức được bổ sung cho một đại đội bộ binh của Trung đoàn 141 thuộc Sư đoàn 312. Trong trận chiến đấu đầu tiên, là Tổ trường một tổ B41, Đức đã bắn trúng và tiêu diệt hai xe tăng địch, được tặng danh hiệu "Dũng sĩ diệt tăng", sau đó ít lâu được kết nạp Đảng ở tuổi 18. Đến trận thứ hai, chiến đấu gần như là giáp lá cà ở đường 22 Tây Ninh, thì bị thương nặng do mảnh lựu đạn của địch bắn vào làm hỏng một mắt và một mảnh găm vào gáy. Đức được chuyển ra Bẳc điều trị và đang ôn thi vào đại học trong một trường văn hóa của Quân đội. Do điều kiện về kỹ thuật lúc đó còn hạn chế, nên con mắt hỏng về mặt thẩm mỹ làm không được tốt lắm, anh chàng có vẻ mặc cảm về điều này. Một hôm trước Tết Nguyên đán, Đức đưa cho tôi xem một tập phong bì thư khoảng độ trên dưới 20 lá thư của một bạn gái tên là Ngọc Châu gửi cho Đức. Lần này, Đức mới được ở gần bố nhiều ngày, qua chuyện trò tâm sự với bổ, thấy có thể chia sẻ nên mới mạnh dạn đưa toàn bộ tập thư của bạn gái Đức cho bố. Lúc đưa tập thư này, Đức có nói với tôi chuyện quan hệ của hai đứa. Bạn gái của Đức là một bạn học sinh cùng ở Trường chuyên Phổ thông trung học Lê Hồng Phong tại thành phố Nam Định. Sau khi Đức cùng tốp học sinh giỏi văn của Trường đi thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc trở về Trường, thì có một đợt tuyển quân. Đức trích máu viết đơn tình nguyện xin gia nhập Quân đội đi chiến đấu. Nhà trường nhiệt liệt biểu dương, nêu gương trong toàn Trường, cho tốt nghiệp đặc cách và đồng ý cho Đức đầu quân, lúc đó Đức mới chớm bước sang tuổi 18. Từ lúc Đức vào chiến đấu ở miền Nam, cô bạn gái đó liên tục gửi thư cho Đức, nhưng vì số hiệu hòm thư quân sự thay đổi, thư lại quay trở về với người gửi, nhưng Châu cứ kiên trì gửi tiếp. Khi Đức được chuyển ra miền Bắc để điều trị vết thương, vì mặc cảm với thương tật của mình, Đức quyết định không liên lạc với cô bạn gái đó (đang là sinh viên Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội), mặc dù trong thâm tâm đó là một việc Đức không muốn làm. Song cô bạn gái đó quyết tìm kỳ được. Qua các nguồn tin từ bạn bè của Đức, Châu cùng một cô bạn thân đến trại điều dưỡng thương binh và xin được gặp Đức. Không thể lảng tránh được nữa, Đức buộc lòng phải ra gặp. Châu rất xúc động, lẳng lặng đưa toàn bộ những lá thư Châu viết cho Đức bị trả về để Đức đọc. Đến đó thì Đức không nói thêm gì với tôi nữa, tôi cũng không hỏi thêm. Tôi chú ý đọc từng lá thư theo thứ tự thời gian. Trong tất cả khoảng 20 lá thư đó, tuyệt nhiên tôi không thấy có những lời nói yêu đương một cách rõ ràng, vẫn là tình cảm của những người bạn học và những lời động viên thân mật giữ vững quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ, nhưng lời lẽ ngày càng thắm thiết. Nhưng tôi hiểu tình cảm giữa hai đứa đã đến mức sâu nặng lắm rồi. Trong bối cảnh chính trị lúc đó, quan hệ giữa ta và Trung Quốc đang căng thẳng, cái họ Tần của Châu tôi đoán có thể gia đình Châu là người Hoa. Tôi hỏi Đức về gia cảnh của Châu thì Đức nói ông nội của Châu là một người Hoa, là thợ kim hoàn có một cửa hiệu kim hoàn nhỏ ở phố Hàng Bạc (Hà Nội), bà nội là người Việt Nam. Như vậy, bố Châu là người Hoa lai Việt Nam, nhưng mẹ lại hoàn toàn gốc Trung Quốc, cả hai người đang là giáo viên của một trường tiểu học ở thành phố Nam Định. Tôi nghĩ tình cảm giữa Đức và Châu trong sáng, chúng có thể đã thực sự yêu nhau, song nếu tiến tới hôn nhân trong bổi cảnh chính trị lúc bấy giờ, người Hoa ùn ùn kéo về nước hoặc đi các nước khác, tình hình có thể sẽ không được thuận lợi. Nghĩ như vậy, tôi hỏi Đức: - Đã thực sự hiểu nhau và yêu nhau chưa? Đức trả lời: - Khá sâu rồi ạ!. Trong thâm tâm, tôi lo lắng tình yêu ấy nếu đi tới hôn nhân của hai đứa sẽ gặp trắc trở, qua những lá thư của Châu gửi cho Đức và việc Châu tìm cho được Đức và trao những bức thư của mình cho Đức, ít nhiều tôi cũng có cảm tình vì nghĩ rằng đó là một người con gái tốt, có một tình yêu sâu sắc, không thực dụng, vụ lợi. Sáng mồng 1 Tết, nhà tôi đang sửa soạn làm cỗ cúng năm mới thì bất ngờ có hai cô gái trẻ, ăn mặc giản dị, quân dài đen, áo sơ mi trắng, áo len cộc tay vào nhà lễ phép chào hỏi vợ chồng tôi. Đức luống cuống nói nhỏ lý nhí với bố mẹ: - Châu và bạn đến chơi đấy ạ!. Tôi vui vẻ thân mật hỏi: - Thế cháu nào là Châu?. Một trong hai cháu chỉ vào cháu xinh đẹp hơn và cười: - Châu đây ạ! Còn cháu là Hoa. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:23:12 am Hai cháu gái đó vào và làm quen rất nhanh với các con tôi. Các cháu thay nhau ẵm Mai Hạnh, con gái út của vợ chồng tôi mới được hơn 10 ngày tuổi rất bụ bẫm, lúc mới sinh dù là con thứ 8 nhưng đã cân nặng 3,8kg. Hai cháu gái thích thú truyền tay nhau bế em nhỏ rất khéo, không khí gia đình ngày đầu Xuân rất ấm áp. Qua chuyện trò, tôi biết gia đình Châu đang tản cư ở một xã của huyện Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam), cách nhà tôi khoảng 10 kilômét để tránh bom đạn Mỹ, hôm nay vẫn đang ở đó gồm bà nội, bà ngoại của Châu, bố mẹ, một em gái và hai em trai, các em đều học giỏi. Tôi hiểu đó là một gia đình đông người nhưng có nền nếp, có văn hóa, con cái được giáo dục chu đáo.
Sau buổi gặp gỡ ấy, vợ tôi cũng tỏ ra rất ưng ý nếu có được một cô con dâu như Châu. Còn Đức thì phấn khởi vì phía gia đình thế là thuận lợi, nhưng tôi cũng thấy ở Đức với sự nhạy cảm về chính trị của một đảng viên cũng đã hình dung được một phần những khó khăn và có thể nói là rào cản mà mình sẽ gặp phải trong bối cảnh chính trị lúc đó. Sở dĩ tôi kể tỷ mỷ và hơi dài về chuyện này vì nó là một chuyện đeo bám tôi trong một thời gian dài mà với tư cách là một đảng viên, một cán bộ trong Quân đội, tôi phải ứng xử sao để khỏi có những sai lầm đáng tiếc đối với nhiệm vụ của mình cũng như đối với tình cảm gia đình. Do đó, khi trở về đơn vị, tôi tự xác định cho mình một cách ứng xử tốt nhất là phải tuyệt đối trung thực với Đảng, với Quân đội, đồng thời quan tâm theo dõi sự phát triển về quan hệ tình cảm của con trai mình và người yêu của nó, nếu thực sự trong sáng, tốt đẹp thì phải ủng hộ, bảo vệ chứ không thể phũ phàng, phủ định để cốt yên thân mình một cách hèn nhát, thiếu tình người. Vì vậy, lúc về cơ quan, với anh em trong phòng, tôi tâm sự về chuyện riêng của mình, về tình yêu của Đức trong từng chi tiết cụ thể. Và trong một cuộc họp chi bộ Đảng của phòng, tôi báo cáo với chi bộ một cách tóm tắt chuyện của Đức và nói rõ cách ứng xử của tôi và nói chung để được các đồng chí trong chi bộ cảm thông và nhất trí. Mặt khác, đối với các đồng chí ở các cơ quan mà tôi quen thân như Cục Cán bộ, Cục Bảo vệ... tôi cũng tâm sự, trao đổi và tranh thủ ý kiến của các đồng chí ấy để có thể có cách ứng xử đúng đắn nhất sao cho họp lý, hợp tình. Sau những ngày ăn Tết được coi là khá vui vẻ với gia đình, tôi trở về cơ quan trong tâm trạng vui, buồn, lo lẫn lộn. Vui vì thắng lợi của ta ở trên chiến trường cũng như trên bàn thương lượng tại Hội nghị Pari, được gặp thằng con trai thương binh tội nghiệp, có thêm được một đứa con gái kháu khỉnh. Buồn và thương nhớ những đồng đội của mình ở đơn vị cũ là Trung đoàn 88 đã anh dũng hy sinh trong Chiến dịch Quảng Trị. Lo vì tình yêu của đứa con trai thương binh thông minh mà mình kỳ vọng sẽ là đứa con có khả năng phát triển cống hiến được nhiều cho đất nước không gặp được thuận lợi và cũng phải nói rõ là làm mình rơi vào một tình thế khó xử. Nhưng tôi tin ở sự trung thực, bản lĩnh vượt qua khó khăn, thái độ khiêm tốn đoàn kết của mình với đồng chí, đồng đội sẽ giúp mình có cách ứng xử và giải quyết vấn đề tốt nhất, trọn vẹn nhất. Tôi đã làm đúng những điều tôi đã suy nghĩ. Về đến cơ quan, một việc cấp thiết trước mắt phải khẩn trương làm là chuẩn bị một nội dung giáo dục cho các cán bộ, chiến sĩ của ta bị địch bắt làm tù binh. Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, có cuộc trao đổi tù binh giữa ta và Mỹ. Bên ta trao cho Mỹ mấy trăm tên phi công bị ta bắt khi máy bay của chủng bị ta hạ trên bầu trời miền Bắc. Phía địch phải trao trả ta những cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt khi chiến đấu ở miền Nam, bị chúng giam ở Côn Đảo, Phú Quốc. Tôi nghĩ ra một chủ đề rất đúng đắn với anh em là những người "chiến thắng trờ về" để cổ vũ những con người anh dũng bất khuất trong nhà tù vô cùng khắc nhiệt và tàn bạo của Mỹ, ngụy, trở về tiếp tục cống hiến cho đất nước. Nhưng dưới sự chỉ đạo của đồng chí Cục phó Đoàn Chương, nội dung các bài chúng tôi viết làm tài liệu giáo dục lại nặng về việc chống những ảnh hưởng chiến tranh tâm lý của địch. Tôi đã bị địch bắt cùng anh Lê Hoàng, một ủy viên Ban Cán sự Việt Minh (Hài Phòng) đã hy sinh và anh Phạm Thái (tức Trần Kiên - Phó Tổng biên tập Báo Nhân dân sau này) là một học sinh đã đậu tú tài phần thứ nhất, cùng hoạt động bí mật ở Hải Phòng trước Cách mạng Tháng Tám 1945, theo tiêu chí bây giờ đều là những lão thành cách mạng. Cả ba chúng tôi tuy bị địch bắt mà không bị lộ mình là bộ đội cách mạng và chỉ phải ở tù gần ba tháng, chỉ bị địch hành hạ bằng lao động khổ sai nặng nhọc, kể cả lúc ốm đau đói khát cực khổ, mà không bị địch dùng cực hình tra tấn, không có tổ chức đảng lãnh đạo nhưng cũng biết giữ vững khí tiết cách mạng, có lòng tự tôn dân tộc, biết giữ vững nhân cách trước bọn giặc ngoại xâm và bọn tay sai của chúng. Huống chi, các đồng chí của ta bị địch bắt làm tù binh, bị cực hình tra tấn dã man, bị đầy đọa vô cùng cực khổ lâu dài mà giữ vững được khí tiết cách mạng, giữ vững phẩm chất của người đảng viên, người cán bộ, chiến sĩ của quân đội cách mạng, hơn nữa lại có tổ chức đảng trong nhà tù lãnh đạo, giáo dục, giám sát. Với trải nghiệm thực tế của bản thân, tôi thấy cách đặt vấn đề nặng nề, gột rửa những ảnh hưởng chiến tranh tâm lý của địch là không thỏa đáng, là xúc phạm đến lòng tự trọng của anh em, là đánh giá thấp đối tượng giáo dục. Tôi trao đổi với một số anh em trong phòng mình nhưng sự đồng tình cũng không rõ lắm, tôi cũng báo cáo với anh Đoàn Chương về suy nghĩ của mình nhưng chắc không được chấp nhận, mặc dù chẳng ai phê phán hay phản đối mạnh mẽ ý kiến của tôi. Tài liệu được hoàn thành, được thông qua và đưa đi in với số lượng khá lớn đủ để anh em "chiến thắng trở về" có tài liệu học tập. Khi sử dụng cho lớp đầu tiên, anh em phản ứng khá dữ dội, nghĩ rằng coi thường anh em. Ngay lập tức, đồng chí Dương Quốc Chính (tức đồng chí Lê Hiến Mai), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị yêu cầu viết lại cho các lớp sau với tinh thần thật sự tôn trọng anh em đúng với tinh thần những người "chiến thắng trở về" chứ không phải là nạn nhân chiến tranh tâm lý của địch. Đồng chí Lê Hiến Mai là đồng chí thuộc thế hệ thứ nhất của cách mạng và cũng là người đã từng bị bọn thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai của chúng bắt và bỏ tù khá lâu. Như vậy, tài liệu lại phải gấp rút biên soạn lại cho đúng đối tượng. Qua việc này, tôi thấy vốn sống thực tế là vô cùng quan trọng đối với người làm nhiệm vụ giáo dục, đồng thời phải nghiên cứu thật kỹ đối tượng trước khi viết tài liệu cho họ. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:24:06 am Khi làm xong tài liệu này, anh em chúng tôi từ chỗ sơ tán được trở về Hà Nội và làm việc ở trong Thành như cũ. Việc tiếp sau đó đã in đậm trong trí nhớ và làm tôi phải suy nghĩ là những chuyện đã diễn ra trong Hội nghị tổng kết Chiến dịch Quảng Trị do Quân ủy Trung ương triệu tập. Là Trưởng phòng Giáo dục chính trị cán bộ và Nhà trường, lại là một thành viên trong đoàn cán bộ của Tổng cục Chính trị đã dự Hội nghị tổng kết Chiến dịch Quảng Trị của Sư đoàn 308, nên tôi cũng được triệu tập tham dự. Thành phàn được triệu tập là các cán bộ chủ chốt sư đoàn, trung đoàn đã tham gia chiến dịch, cán bộ chủ chốt của các cơ quan Bộ như Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần. Trên bàn Chủ tịch đoàn Hội nghị có đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Văn Tiến Dũng, đồng chí Song Hào, đồng chí Lê Quang Đạo... Khi Trung tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh chiến dịch lên đọc Báo cáo Tổng kết nêu rõ thắng lợi to lớn của chiến dịch, đồng thời vạch rõ những hạn chế, thiếu sót và lúc nói về tình trạng thương vong nhiều, tôi thấy đồng chí rất xúc động. Bằng cách "nói bộ", không nhìn vào văn bản, đồng chí nêu rõ một trong những thương vong nhiều nhất là do tư tưởng chỉ đạo về việc vận dụng cách đánh. Trong chiến dịch, cán bộ, chỉ huy không ai dám nói đến "phòng ngự", mà chỉ nói "tiến công", "tiến công" nên rất hao quân. Tôi không rõ đồng chí chỉ trích ai, nhưng ý thì nói tới cấp "thượng đỉnh" và bằng một giọng gay gắt đồng chí nói: "Nếu ai nói rằng chỉ nói "tiến công" thôi, mà không nói tới "phòng ngự" để giành chiến thắng thì là không đúng". Tôi hiểu đây không phải là nói tới cấp cao nhất trong Quân đội. Tôi được biết đồng chí Lê Trọng Tấn là một trong những tướng đánh giỏi, giàu kinh nghiệm trận mạc, cũng là một vị tướng rất trung thực, cương trực, giàu tình cảm đối với cấp dưới, với chiến sĩ, là vị tướng được nhiều cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ngưỡng mộ, kính trọng và yêu mến, trong đó có tôi. Tôi suy nghĩ và cũng có thể hiểu được ý đồng chí Lê Trọng Tấn là không nên chỉ nói "một chiều tiến công" mà trong chiến tranh và trong một chiến dịch phải nắm vững tư tưởng tiến công là chính, nhưng trong một số trường hợp cụ thể, thời điểm cụ thể phải có phòng ngự và tác hại của tư tưởng quân sự một chiều này ảnh hưởng tiêu cực đến các cấp chỉ huy trong Quân đội...
Thắng lợi của ta ở Mội nghị Pari đánh dấu việc thực hiện thắng lợi mong ước "Đánh cho Mỹ cút" của Bác Hồ, nhưng quân dân cả nước ta còn đứng trước một nhiệm vụ rất nặng nề nữa là "Đánh cho ngụy nhào" để đạt tới mục đích thiêng liêng: Thống nhất đất nước. Và toàn quân, toàn dân ta đang nỗ lực hết mình hướng tới mục tiêu lớn lao, cao cả ấy. Trước đây, tôi được trên quyết định bổ sung vào Đàng ủy Cục Tuyên huấn. Đầu năm 1973, sau khi Hiệp định Pari được ký kết thì Cục Tuyên huấn tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ đề ra Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ của nhiệm kỳ tới, bầu Đảng ủy Cục và đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Tổng cục Chính trị. Trong Đại hội đại biểu Đảng bộ Cục, tôi trúng cử vào Đảng ủy với số phiếu tuyệt đối và được Đảng ủy mới phân công làm Phó Bí thư Đảng ủy. Ngoài nhiệm vụ chuyên môn, bây giờ tôi phải kiêm nhiệm thêm những nhiệm vụ của công tác đảng nữa. Trong khi đó, tại Chi bộ Phòng Giáo dục chính trị cán bộ và Nhà trường, các đồng chí vẫn tín nhiệm và bầu tôi làm Bí thư Chi bộ mà không thể từ chối. Một hôm, đồng chí Bí thư Đảng ủy Cục cho tôi biết là trên định cử tôi làm Trưởng đoàn cán bộ chính trị đi Liên Xô học, làm nghiên cứu sinh tại Học viện Quân chính Lênin ở Mátxcơva vì tôi đã tốt nghiệp ở Trường Đảng cao cấp trực thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tôi vốn ham học và nếu được học thêm thì cũng tốt, đồng thời cũng thấy mình có điều kiện thuận lợi để chuẩn bị cho một luận án phó tiến sĩ. Tuy nhiên, tôi suy nghĩ thấy mình đã lớn tuổi, 44 tuổi rồi cũng muốn ở nhà để tham gia sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vì vậy, tôi đề nghị với đồng chí Bí thư Đảng ủy Cục cho tôi ở nhà công tác sẽ có ích hơn và nên cử những đồng chí trẻ tuổi hơn đi học. Tôi tiến cử đồng chí Lê Hoa - một trợ lý của phòng tôi (đã từng học tại Học viện Quân chính Lênin) và được chấp nhận. Tôi tiếp tục bắt tay vào một công việc mà từ trước đến nay chưa được đề cập tới. Anh Đoàn Chương, Cục phó trao đổi với tôi là hiện nay cán bộ trung, cao cấp của Quân đội rất nhiều người muốn đi vào nghiên cứu, học tập những tài liệu kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và nên tập trung vào việc học tài liệu nào mà gắn được với thực tế và đặc biệt phục vụ cho nhiệm vụ trước mắt. Tôi suy nghĩ đến hai tác phẩm của Lênin có thể giới thiệu cho cán bộ trung, cao cấp toàn quân nghiên cứu tại chức: 1- Tác phẩm "Bệnh ấu trĩ "tả khuynh" trong phong trào cộng sản quốc tế". Nội dung tác phẩm này có nhiều ý nghĩa về sách lược. Lúc đó nghe phong thanh, nếu thống nhất đất nước, có thể có một chính phủ liên hiệp nhiều thành phần. Tài liệu này giúp cán bộ nhận rõ mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược, giữ vững mục đích, nguyên tắc chiến lược và mềm dẻo về sách lược. 2- Tác phẩm "Cách mạng vô sàn và tên phản bội Causky" khẳng định vai trò có tính nguyên tắc của chuyên chính vô sản và sự ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhằm giúp cán bộ nâng cao được lập trường giai cấp công nhân, khẳng định nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hơn gấp nhiều lần nền dân chủ tư sản. Khi báo cáo lên Tổng cục Chính trị, đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị phụ trách khối tư tưởng, văn hóa quyết định cho cán bộ học tác phẩm thứ hai. Học chuyên đề toàn vẹn một tác phẩm kinh điển, có mấy khó khăn chính: Thứ nhất, tất nhiên là tôi phải chuẩn bị nội dung là chính. Trong khi đó, thời học ở trường Đảng tại Liên Xô, chưa bao giờ chúng tôi được học trọn vẹn một tác phẩm kinh điển dài như hai tác phẩm trên, mà chỉ đọc từng đoạn có tính chất tham khảo phục vụ cho bài giảng chính theo hướng dẫn của giảng viên. Muốn hướng dẫn tốt cho cán bộ nghiên cứu, bản thân tôi phải đọc toàn văn tác phẩm đó rất kỹ, hiểu được bối cảnh và ý nghĩa, mục đính ra đời của nó. Thứ hai, để giúp cho mỗi cán bộ có một cuốn để đọc nghiên cứu nghiền ngẫm kỹ đòi hỏi một số lượng sách vài vạn cuốn, không thể in kịp. Không thể để tình trạng hàng chục cán bộ mới có một cuốn thì chất lượng nghiên cứu học tập sẽ rất hạn chế. Tôi báo cáo tình hình này với Cục, rất may là các đồng chí đã tìm ra giải pháp: Đó là nhờ Đại sứ quán Liên Xô giúp đỡ và đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình. Chưa đầy hai tháng, chúng tôi đã nhận được khoảng hai vạn cuốn "Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky" bằng tiếng Việt Nam in tại Mátxcơva gửi đến. Chúng tôi nhanh chóng gửi tới các đơn vị và nhà trường. Trong khi tôi tập trung toàn bộ trí lực, thời gian để nghiên cứu tác phẩm và chuẩn bị bài giới thiệu, để khai thác sự giúp đỡ của Học viện Chính trị quân sự, tôi đề nghị các đồng trí ở đó soạn kế hoạch hướng dẫn cho các đơn vị nghiên cứu. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Giêng, 2024, 07:35:45 pm Hơn một tháng sau, tôi đã chuẩn bị xong bài giới thiệu. Đồng chí Nguyễn Trọng Yên, Cục trưởng và đồng chí Đoàn Chương, Cục phó dành một buổi sáng để thông qua và góp ý kiến, trước khi tôi giới thiệu cho đơn vị đầu tiên là cán bộ trung cao cấp của Tổng cục Chính trị. Anh Nguyễn Trọng Yên và anh Đoàn Chương cũng đã qua một lớp cơ bản tại Trường Đảng ở Trung Quốc, chắc hẳn các anh cũng thông cảm với tôi phải giới thiệu một vấn đề lý luận trước một đối tượng khó tính như cán bộ trung, cao cấp của Tổng cục Chính trị. Các anh rất chú ý lắng nghe và tôi thực sự ngạc nhiên, rất phấn khởi khi cả hai đều đồng ý với nội dung tôi chuẩn bị và nhắc tôi biên soạn một kế hoạch hướng dẫn nghiên cứu tài liệu này cho các đơn vị ngắn gọn, có trọng tâm, trọng điểm.
Tôi về nghiên cứu dự thảo kế hoạch hướng dẫn của Học viện Chính trị quân sự theo yêu cầu của Thủ trưởng Cục, có thể tiếp thu được một số ý nhưng chưa đạt, tôi phải viết lại để các anh thông qua. Hôm xuống trình bày kế hoạch để đồng chí Cục trưởng thông qua thì gặp anh Chính Hữu, Cục phó phụ trách khối văn nghệ, văn công cũng sắp làm việc với Cục trưởng. Anh Nguyễn Trọng Yên có thói quen trước khi chờ đợi vào làm việc chính thức, hay tán gẫu những chuyện vui. Hôm nay, anh hỏi anh Chính Hữu và tôi: - Các ông có biết diễn viên văn công sướng nhất lúc nào không? Chúng tôi chưa kịp trả lời thì anh nói: - Các cô, các cậu ấy sướng nhất là lúc khán giả vỗ tay. Tôi đế thêm: - À, cũng như trợ lý sướng nhất là lúc thủ trưởng cấp trên thông qua cho tài liệu được giao viết!. Các anh đều cười, anh Yên nói thêm: - Cậu này láu cá!. Kế hoạch hướng dẫn cho cán bộ nghiên cứu tài liệu, do tôi đã nắm vững nội dung cuốn sách, nên tôi chỉ viết ngắn gọn có hai trang, đồng chí Cục trưởng rất hài lòng, không thêm bớt một chữ nào. Hôm tôi giới thiệu nội dung tác phẩm "Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky" tại Hội trường chính của Tổng cục Chính trị cho cán bộ trung, cao cấp của Tổng cục, Hội trường hôm đó không trống một ghế nào, có tới hơn 300 người, trongđó có cả một số cán bộ tuyên huấn của đơn vị ở gần Hà Nội và các trường trực thuộc Bộ đến nghe. Nhiều nơi mang máy ghi âm đến đặt sẵn ở bục giảng. Có lẽ đây là lần đầu tiên, cán bộ trong Quân đội được nghe giới thiệu về một tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tôi thấy rõ tinh thần ham học hỏi của cán bộ ta như thế nào và thấy trách nhiệm rất lớn đối với công việc của mình. Tuy nhiên, tôi cũng rất tự tin vì bài giới thiệu đã được cấp trên thông qua. Và bài giới thiệu của tôi trình bày gần 4 giờ đồng hồ trong buổi sáng hôm đó được cử tọa chú ý lắng nghe, không hề có một phản ứng tiêu cực nào, kể cả ngủ gật. Tôi cho đấy là một phàn thưởng rất quý giá đối với mình, vui sướng quên cả mệt. Trong lòng nghĩ như vậy, nhưng tôi vẫn chưa biết được phản ứng cụ thể đánh giá chất lượng của cán bộ về nội dung bài giới thiệu như thế nào. Ngay sau đó, có hai cơ quan quan trọng nhất và đông cán bộ trung, cao cấp nhất của Bộ Quốc phòng là Bộ Tổng Tham mưu và Tổng cục Hậu cần đã đề nghị Cục Tuyên huấn và mời tôi đến giảng. Với hai cơ quan này, tôi được biết cán bộ phần lớn có trình độ học vấn cao, nhiều cán bộ có trình độ nghiên cứu sâu, nên cũng hơi "ngại". Được Thủ trường Cục đồng ý, tôi đến giới thiệu ở Bộ Tổng Tham mưu trước. Để phù hợp với đối tượng là cán bộ quân sự, tôi phải chuẩn bị thêm những nội dung liên hệ thực tế với những vấn đề về quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta. Tại Hội trường chính của Bộ Tổng Tham mưu, số cán bộ đến nghe cũng rất đông, hơn cả buổi giới thiệu ở Tổng cục Chính trị và tôi được biết thêm, Đại tướng Tổng Tư lệnh cũng cử thư ký riêng đến nghe. Trước một giảng viên chỉ là cấp trưởng phòng, nhưng các đồng chí cán bộ ở Bộ Tổng Tham mưu rất tập trung lắng nghe một cách trọng thị. Buổi giới thiệu ở Tổng cục Hậu cần, cán bộ đến dự cũng chật cả Hội trường chính của Tổng cục, trong đó có rất đông cán bộ, bác sĩ được đào tạo ở Liên Xô cũng có trình độ học vấn khá cao, có trình độ ngoại ngữ. Nguyên bản tác phẩm có những thuật ngữ nếu chỉ đọc qua cũng khó phân biệt. Để giúp các đồng chí nghiên cứu tác phẩm được thấu đáo, không có sự nhầm lẫn, tôi phải tra cứu những thuật ngữ đó cả bằng tiếng Nga và tiếng Pháp để giúp các đồng chí phân biệt cho rõ trong khi nghiên cứu. Ví dụ như cụm từ "cách mạng bạo lực" và "bạo lực cách mạng"... Qua ba buổi giảng ở ba cơ quan chủ yếu của Bộ Quốc phòng, tôi thấy có một điều rất đáng phấn khởi là các cán bộ chuyên môn, khoa học kỹ thuật của ta rất quan tâm tới chính trị, chứ không rơi vào tình trạng chuyên môn, kỹ thuật đơn thuần. Hơn nữa, tinh thần hiếu học, khao khát tri thức cũng rất nổi bật và có lẽ đây là một đặc điểm rất hiếu học của dân tộc ta. Với nghiên cứu tác phẩm kinh điển được cán bộ trung, cao cấp trong Quân đội tiếp nhận thuận lợi, tôi rất vui thấy mình cũng đã đóng góp được phần nhỏ đáp ứng yêu cầu học tập của cán bộ ta. Trong thời kỳ này, tôi nhớ có một số việc có liên quan đến công tác giáo dục, công tác tư tưởng trong Quân đội ta, trong đó có chức năng, nhiệm vụ của phòng tôi phụ trách. Khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 20 về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, thông thường thì hai phòng giáo dục cán bộ và chiến sĩ trong Cục Tuyên huấn phải có kế hoạch nghiên cứu quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ. Phòng giáo dục cho chiến sĩ thường phải dựa vào tinh thần nghị quyết để viết một tài liệu riêng dễ hiểu cho chiến sĩ. Nhưng lần này không thấy giao cho chúng tôi, mà do các đồng chí Thủ trưởng Cục trực tiếp viết theo chỉ thị của Tổng cục. Mới đầu tôi cũng không rõ lý do. Nhưng khi được đọc toàn văn nghị quyết, tôi thấy nội dung toàn bộ tập trung vào vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội của miền Bắc. Tôi nghĩ đây là một nghị quyết chuyên đề nên không nói gì về miền Nam. Quân đội đối với bất cứ nghị quyết nào của Đảng cũng đều phải tổ chức quán triệt để thực hiện gắn với nhiệm vụ của mình bằng các cuộc sinh hoạt rất nghiêm túc. Tôi suy nghĩ nếu căn cứ vào nghị quyết này để viết tài liệu thì rất khó, vì với Quân đội, việc quan trọng hàng đầu vẫn phải hướng vào nhiệm vụ chiến đấu để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vì vậy, các đồng chí Thủ trưởng Cục Tuyên huấn phải trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ khó khăn đó trước Quân ủy Trung ương, đảm bảo cho việc quán triệt nghị quyết của Đảng được nghiêm túc, đồng thời công tác chính trị, tư tưởng với Quân đội vẫn phải hướng vào việc chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Giêng, 2024, 07:36:59 pm Khi tôi đọc tài liệu do các đồng chí Thủ trưởng Cục soạn thảo, được Tổng cục Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua, tôi thấy tài liệu được viết rất khéo và chặt chẽ. Phần đầu của tài liệu khẳng định những quan điểm cơ bản trong Nghị quyết số 20 của Bộ Chính trị. Đến bây giờ trong trí nhớ của tôi còn ghi rõ hai điểm trong những điểm được khẳng định:
1- Chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của nhân dân, Quân đội ta. 2- Xây dựng chủ nghĩa xã hội vững mạnh ở miền Bắc để miền Bắc thành hậu phương lớn, thành căn cứ địa vững mạnh để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau đó, theo đề nghị của Quân ủy Trung ương, một hội nghị đã được tổ chức gồm các bí thư tỉnh ủy trên địa bàn các quân khu ở miền Bắc và cán bộ chủ chốt của Bộ Quốc phòng tại Hội trường nhà khách của Bộ tại số 33 Phạm Ngũ Lão do đồng chí Võ Nguyên Giáp chủ trì. Tôi cũng được đồng chí Cục trưởng cho đi dự thính tại cuộc họp đó. Ngày đầu nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp trình bày. Sau khi Hội nghị kết thúc, đồng chí Nguyễn Trọng Yên đưa cuộn băng ghi âm bài kết luận của đồng chí Võ Nguyên Giáp cho cả phòng nghe và giao cho một đồng chí ghi thành văn bản. Theo thiển nghĩ của tôi, tổ chức Hội nghị này là một việc làm rất cần thiết và rất xây dựng để toàn Đảng có một nhận thức đúng đắn về Nghị quyết số 20 của Bộ Chính trị và để có một nhận thức không lệch lạc, coi nhẹ đối với sự nghiệp trước mắt rất thiêng liêng của của toàn dân, toàn quân ta là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bất kỳ một việc làm nào trong công cuộc chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và việc huy động sức người, sức của đều phải nhằm thực hiện mục đích tối thượng này. Hiểu khác đi, hành động khác đi gây nên ít nhiều ảnh hưởng xấu cho việc tiến tới mục đích thiêng liêng đó là sai lầm, là không thể chấp nhận. Có một lần, theo chỉ thị của đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Quang Đạo giao cho Cục Tuyên huấn thu thập tât cả các tài liệu giáo dục chính trị trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước chuyên sang bên Ban Tuyên huấn Trung ương. Việc này được giao cho phòng tôi. Sau khi thu thập đủ, thành một gói khá lớn, tôi buộc đằng sau "gácbaga" xe đạp sang nộp cho Vụ Huấn học. Khệ nệ bê gói tài liệu lên tầng hai vào phòng đồng chí Vụ trưởng, té ra lại gặp người quen. Đó là đồng chí Phan Thủy. Anh là bạn học cùng với tôi trong ba năm tại Trường Đảng cao cấp thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và lại là đồng hương cùng quê ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Anh Thủy rất vui gặp bạn cũ và giới thiệu với tôi chị Hạnh - vợ đồng chí Tố Hữu là Vụ phó. Ngồi hàn huyên với nhau một lúc, tôi hỏi vui: "Có gì phải kiểm tra thế?", Thủy chỉ cười không nói gì. Sau đó chúng tôi cũng không nhận được ý kiến phản hồi gì về nội dung các tài liệu giáo dục cho Quân đội. Một lần khác, tôi lại nhận được chỉ thị của Thủ trưởng Cục sang gặp đồng chí Tôn Thất Vĩ, Phó ban Tuyên huấn Trung ương để báo cáo và làm việc về vấn đề giáo dục chiến sĩ. Lúc này, Phòng Giáo dục chính trị chiến sĩ đã sáp nhập vào phòng tôi và gọi là Phòng Giáo dục chính trị và Nhà trường. Đồng chí hỏi tôi nhiều về tình hình học tập văn hóa của bộ đội. Thực ra đối với chiến sĩ khi làm nghĩa vụ quân sự, không có học thêm văn hóa nói chung, chỉ có học bổ túc văn hóa ở các lớp tập trung để bảo đảm tiêu chuẩn trình độ văn hóa cho những anh em sẽ học ở các trường đào tạo sĩ quan thôi. Anh em chiến sĩ làm nghĩa vụ quân sự bây giờ phần lớn đã tốt nghiệp cấp II, cấp III, vấn đề chất lượng học tập của anh em thế nào là do hệ thống giáo dục ngoài Quân đội chịu trách nhiệm, Quân đội không có thời gian và không thể đủ sức giáo dục văn hóa chung cho tất cả. Nghe tôi trình bày cụ thể, đồng chí không có ý kiến gì thêm. Thời gian này một đồng chí ở miền Nam mới ra nhận nhiệm vụ, gọi tôi lên góp ý kiến về vấn đề giáo dục chính trị cho chiến sĩ. Tôi được biết anh từ khi là Chính ủy Sư đoàn 312, Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn, sau vào miền Nam làm Chủ nhiệm Chính trị, Phó Chính ủy Quân giải phóng. Tôi rất thích cách nói, cách viết rất sinh động, hấp dẫn của anh có tác dụng động viên lớn đối với bộ đội. Đây là lần đầu tiên tôi được làm việc trực tiếp với anh. Anh không yêu cầu phải báo cáo gì mà chỉ trực tiếp góp ý với tôi về tài liệu giáo dục chính trị cho chiến sĩ mà Phòng Giáo dục chính trị chiến sĩ biên soạn trước đây với sự chỉ đạo của anh Đoàn Chương. Anh cho rằng cách viết như tài liệu cũ mang tính áp đặt chứ chưa khêu gợi được sự tự giác của người chiến sĩ, chưa trang bị cho họ kiến thức để tự họ rút ra những vấn đề về nhận thức và hành động cho bản thân mình, mà chỉ chốt lại những điều có tính võ đoán, ví dụ: Đặt một đầu đề "Đất nước ta giàu đẹp", hay "Nhân dân ta rất anh hùng" rồi giải thích những đầu đề đó, như vậy có vẻ áp đặt, gò ép. Tôi tuy chưa đi sâu vào nghiên cửu việc học chính trị cho chiến sĩ vì mới nhận nhiệm vụ đó, nhưng đã từng thực hành ở đơn vị theo những nội dung tài liệu trước đây nên rất rõ lý do tại sao cần biên soạn theo cách đó. Tôi trình bày với anh rằng: "Thời gian huấn luyện cho một chiến sĩ tân binh cả về chính trị lẫn quân sự chỉ 6 tháng,có khi do yêu cầu bổ sung cho chiến trường còn gấp hơn. Trong 6 tháng đó, phải đảm bảo cho người chiến sĩ đến chiến trường là chiến đấu được ngay. Tỷ lệ thời gian phải dành nhiều cho việc huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật; giáo dục chính trị được khoảng 20% thời gian. Vì vậy, nội dung giáo dục chính trị phải chốt lại những điểm cơ bản nhất và giải thích để anh em hiểu, cùng với các hình thức bổ trợ ngoài giờ khác. Nếu như phải trang bị cho anh em đủ kiến thức để chiến sĩ tự rút ra vấn đề với mình thì không thể đủ thời gian; việc đó chỉ có thể làm được khi anh em học cấp II, cấp III khi chưa nhập ngũ". Và theo tôi nghĩ, làm được như anh nói là rất tốt, nhưng thời gian khổng cho phép ta làm được như vậy. Cho nên, cách chốt lại nội dung cơ bản rồi diễn giải là phù hợp. Nghe tôi trình bày, anh không nói gì thêm. Qua những việc tôi nhớ lại và kể ra ở trên và được nghe ý kiến từ nhiều nguồn, nhiều người lúc đó, tôi rút ra được một bài học cho riêng mình là: Người làm công tác giáo dục cần phải có một trình độ, một tác phong nghiên cứu thật tỷ mỷ, thấu đáo trước khi đưa ra một sản phẩm giáo dục của mình, đưa ra được mục đích, nội dung, phương pháp phù hợp với đối tượng, đáp ứng tốt nhất cho yêu cầu của thực tiễn, không thể hời hợt, tuỳ tiện, phiến diện đại khái theo ý muốn chủ quan của bản thân. Tất cả những ý kiến khác dù đúng hay sai đều là những ý kiến phản biện có ích cho công việc của mình. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Giêng, 2024, 07:38:24 pm Khoảng đầu tháng 2 năm 1975, tôi được chỉ định tham gia đoàn kiểm tra của Tổng cục Chính trị do đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Lê Quang Hòa dẫn đầu đi Quân khu 4 kiểm tra tình hình sẵn sàng chiến đấu và về mặt chính trị của Quân khu. Trước khi lên nhận nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đồng chí Hòa đã là Chính ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Đây là lần đầu tiên tôi được đi công tác cùng đoàn với anh. Trước đó, tôi được nghe nói anh là người làm việc rất nghiêm túc, đĩnh đạc, lịch sự trong giao tiếp, kể cả đối với cấp dưới và có một trí nhớ rất tốt, kể cả tên họ cán bộ cấp dưới đã từng một lần làm việc với anh. Anh thường nói: "Thật là bất lịch sự khi có người đã từng làm việc với mình, gặp mình chào hỏi mà mình lại quên mất tên người ta!". Một nét đẹp đặc sắc không dễ gì học được.
Đây cũng là lần đầu tiên tôi được đến công tác tại Quân khu 4, lúc đó do đồng chí Đàm Quang Trung làm Tư lệnh. Các cơ quan của Bộ Tư lệnh Quân khu đặt tại một vùng bán sơn địa tại Nghệ An, có cơ ngơi rất đẹp và nổi tiếng về vấn đề cải thiện đời sống bằng các hồ nuôi cá từ sáng kiến của Tư lệnh. Cũng do đó mà chúng tôi được thiết đãi liên tục những bữa có món ăn cá tươi rất ngon, khi thì của Bộ Tư lệnh, khi thì của cơ quan cùng ngành. Trong đoàn kiểm tra của Tổng cục Chính trị có anh Phạm Chí Nhân, có một thời trong kháng chiến chống thực dân Pháp là Chính trị viên Tiểu đoàn 80 của Trung đoàn 36 thuộc Sư đoàn 308. (Anh Phạm Chí Nhân sau này là người chấp bút cuốn hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp "Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng"). Trong một buổi họp giữa đoàn kiểm tra với Quân khu, bất ngờ tôi và anh Nhân gặp anh Nguyễn Ích Tỷ cũng là Tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn 80 trước đây, nay là Tham mưu phó Quân khu. Ba anh em chúng tôi trước đây đều là cán bộ của Tiểu đoàn 80, đã lâu mới gặp nhau, tay bắt mặt mừng rất vui vẻ. Anh Lê Quang Hòa nhìn thấy hỏi: - Ô! Các anh quen nhau à? - Thưa anh, trước đây chúng tôi cùng chiến đấu và công tác ờ Trung đoàn 36 Sư đoàn 308, tôi đáp. Anh với tình cảm hòa chung gặp lại nhau giữa ba chúng tôi thốt lên: - Chà! Qua hai cuộc chiến tranh gặp lại nhau đúng là quý hóa! Làm việc tại Quân khu 4 hai ngày, đoàn của chúng tôi đi tiếp vào phía trong, tôi cũng không rõ là đi đơn vị nào nữa. Đến nơi, tôi mới biết đó là Sư đoàn 316 đang tạm trú quân tại đó. Lần này theo phân công của Trưởng đoàn, các thành viên trong đoàn phải phân công nhau xuống đơn vị, thâm nhập xuống cả tiểu đoàn, đại đội để nắm tình hình chất lượng tư tưởng, chính trị của bộ đội để về báo cáo cho Trưởng đoàn về tình hình chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu của bộ đội. Sư đoàn 316 còn gọi là Đoàn Bông Lau, có chiến sĩ phần lớn là người dân tộc ở ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn. Tôi xuống một đơn vị, thấy có một số khá đông anh em được đi phép chưa về lại đơn vị. Theo các đồng chí cán bộ phụtrách cho biết là các anh em sắp tới sẽ về đủ. Mặc dù không ai nói ra, có thể đơn vị đang chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sắp tới. Ngày cuối cùng có cuộc họp cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên toàn Sư đoàn để đánh giá về tình hình sẵn sàng chiến đấu về mọi mặt của đơn vị. Thượng tá Hải Bằng, Sư đoàn trưởng báo cáo chung với đồng chí Lê Quang Hòa về tình hình sẵn sàng chiến đấu và biểu thị sự tin tưởng ở sự chuẩn bị chu đáo của đơn vị mình. Sau khi nghe báo cáo bổ sung của các đơn vị, kết hợp với báo cáo trước đó của các thành viên trong đoàn kiểm tra, đồng chí Lê Quang Hòa biểu dương những việc làm tốt của đơn vị và nhắc nhở những việc cần chú ý làm tiếp. Đoàn trở về Hà Nội, nhưng tôi cũng chưa thể hình dung được sắp tới quy mô chiến đấu của bộ đội ta sẽ như thế nào và đánh ở đâu. Tôi lại bắt tay vào những công việc hằng ngày của một phòng chuyên môn làm công tác nghiên cứu vấn đề giáo dục cơ bản. Chỉ vài chục ngày sau, sự phân vân của tôi về bộ đội ta sẽ chiến đấu như thế nào và ở đâu sau khi đi công tác ở Sư đoàn 316 về đã được giải đáp bước đầu: Ngày 10 và 11 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 316 đã tiến công với sức mạnh hiệp đồng binh chủng giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Và cũng đúng lúc này, tôi được tin con trai thứ ba của tôi là Đinh Cao Tài, đang học lớp 10 thuộc loại giỏi, đã được tốt nghiệp đặc cách phổ thông trung học và nhập ngũ khi mới bước vào tuổi 18 được vài tháng. Gặp Tài, tôi hỏi tại sao không thi tốt nghiệp rồi hãy nhập ngũ, Tài nói: "Lúc đó có khi không còn Mỹ để đánh nữa!". Thì ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này đã được Bộ Chính trị chỉ đạo chuẩn bị từ những tháng cuối năm 1974. Việc chuẩn bị được tiến hành tuyệt mật cho một kế hoạch chiến lược hai năm 1975 - 1976, tranh thù thời cơ chiến lược để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nắm tình hình và chỉ đạo rất chặt chẽ các quân đoàn, binh đoàn chủ lực đã được thành lập trước đó hoặc vừa mới được tổ chức để tiến công trên khắp các mặt trận ở miền Nam. Tình hình các chiến trường ở miền Nam phát triển đến chóng mặt. Những tin tức chiến thắng ở Tây Nguyên, mặt trận Huế - Đà Nẵng và nhiều nơi khác dồn dập bay về làm nức lòng người. Các phòng của Cục Tuyên huấn thuộc khối tuyên truyền như các phòng: Tuyên truyền, Thông tấn quân sự, Phát thanh, Vô tuyến truyền hình luôn ở trong giai đoạn khẩn trương, hối hả, nhộn nhịp. Không khí của các cơ quan và Tổng cục Chính trị náo nức phấn khởi như ngày hội. Ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị quyết định giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam trước mùa mưa (5.1975). Và ngày 31 tháng 3, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4, không để chậm! Ngày 8 tháng 4, Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được thành lập do Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam làm Tư lệnh và đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam làm Chính ủy. Đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị thay mặt Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo. Ngày 14 tháng 4, theo đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch, Bộ Chính trị đồng ý Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Những ngày ấy, anh em chúng tôi trong lúc làm việc cũng như khi về nghỉ ở nhà tập thể lúc nào đài thu thanh bán dẫn cũng ở bên mình để theo dõi tin tức chiến sự. Mặc dù phần lớn anh em chúng tôi đã qua trận mạc, nhưng chưa bao giờ tâm trạng luôn luôn xáo trộn như những ngày này. Lúc thì phấn khởi khi nhận được tin thắng lớn, lúc hồi hộp trước một trận tiến công quan trọng, lúc lo âu khi bộ đội ta gặp khó khăn, luôn luôn ở trạng thái bồn chồn, căng thẳng. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Giêng, 2024, 07:39:43 pm Ngày 30 tháng 4 là ngày anh em ở phòng tôi không ai còn bụng dạ để làm việc được nữa, dù biết rằng không đúng với kỷ luật công tác. Chúng tôi chỉ tập trung vào nghe từng chi tiết tin tức trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Tin tức của Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi cũng rất thận trọng, mọi người như nín thở chờ đợi thắng lợi cuối cùng.
Mãi đến buổi phát thanh lúc 5 giờ chiều mới có tin chính thức xe tăng của ta đã tiến vào dinh Độc Lập và cờ giải phóng đã được kéo lên lúc 11 giờ 30 phút trưa và nội các của Dương Văn Minh đã đầu hàng. Tôi cảm thấy cả không gian Hà Nội vỡ òa ra, vội lấy xe đạp ra Cửa Đông theo đường ra Hồ Hoàn Kiếm để được chứng kiến nỗi sung sướng của mọi người như thế nào. Nhưng chỉ đạp được gần 100 mét, nước mắt tôi trào ra không thể ngăn nổi vìquá xúc động. Sợ mình sẽ ngất xỉu vì không kiềm chế nổi cảm xúc, tôi phải đạp xe quay trờ lại. Hôm sau, ngày 1 tháng 5, mọi người vẫn vào cơ quan nhưng cũng như hôm 30 tháng 4, chẳng ai làm việc được cả, xúm lại kể cho nhau nghe không khí ở đường phố. Khoảng 9 giờ sáng, đồng chí Cục trưởng Nguyễn Trọng Yên triệu tập các cục phó và các trưởng phòng đến phòng làm việc của anh họp. Vừa đến đủ để ngồi xung quanh chiếc bàn dài, chúng tôi rất bất ngờ thấy Đại tướng, Tổng Tư lệnh vẻ mặt rất hân hoan tươi vui bước vào. Cục trưởng hô "nghiêm" và báo cáo với Đại tướng là anh em đã đến đủ. Đại tướng vẫy tay ra hiệu cho mọi người ngồi xuống. Với giọng nói ấm áp quen thuộc mà tôi đã được nghe khá nhiều lần, Đại tướng nói rằng, anh vừa qua thăm anh em ở Cục Tác chiến, Cục Quân báo của Bộ Tổng Tham mưu rồi đến Cục Tuyên huấn của Tổng cục Chính trị là những cơ quan làm việc vất vả ngày đêm để phục vụ chiến đấu, khen ngợi tinh thần làm việc của anh em. Tôi nghĩ vui thầm trong bụng "làm việc ngày đêm vất vả và hay được uốn nắn nữa chứ", nhưng tôi thấy một điều lạ ở vị Đại tướng lừng danh này với một sự giản dị, đặc biệt tâm sự với chúng tôi - những cán bộ cấp dưới như những người bạn, những đồng chí, đồng đội thân thiết, là ông không thể tưởng tượng được chiến thắng nhanh đến với nhân dân và Quân đội ta dù đã thấy trước, nhưng vẫn đến với mình như một giấc mơ. Tôi rất cảm động khi Đại tướng có một cảm xúc bình dị như một người bình thường trước chiến thắng vĩ đại mà lại là người có sự đóng góp rất lớn. Dường như ông đã quên mình là một trong những người lãnh đạo ưu tú nhất đã kiến tạo nên chiến thắng đó. Những lời tâm sự sao mà gần gũi, chân thành đến thế. Tôi nhớ lại những lần Đại tướng đã gây cho tôi những ấn tượng đẹp đẽ như vậy: Khi ông đến Sư đoàn 308, mỗi lúc nhắc tới Bác Hồ và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, lần nào ông cũng rơm rớm nước mắt. Và trong cuộc gặp gỡ cán bộ Sư đoàn 308 buổi tối ở nhà nghỉ Quảng Bá sau Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh cũng vậy, khi ông hỏi về thương vong của cán bộ, chiến sĩ đơn vị tôi khi đánh Làng Cát với một thái độ thông cảm thật sự. Vào thượng tuần tháng 5, dăm ngày sau khi giải phóng miền Nam, được sự đồng ý của Tổng cục, đồng chí Cục trưởng Nguyễn Trọng Yên cùng một cán bộ của Cục Tuyên huấn đi khảo sát tình hình thực tế, chủ yếu là ở Quân khu 9 phục vụ cho những chương trình công tác lâu dài. Tôi được chỉ định tham gia, đến thứ 3 tuần sau thì lên đường. Chiều thứ 7 tuần ấy, tôi tranh thủ đi xe lửa về quê thăm vợ con. Ở nhà được tối thứ 7 và sáng chủ nhật, trong khi chơi đùa với hai đứa con gái nhỏ, tôi thấy người gây gây sốt, khó chịu. Hai cháu nhỏ thay nhau đấm lưng cho bố. Tuy vậy, tôi vẫn tranh thủ kiểm tra vở của Hạnh Mai, cháu gái lớn đang học lớp hai. Tôi phì cười khi xem bài văn của cháu tả một bác nông dân trong đó có câu: “… Bác ấy có đôi mắt lá dăm, lông mày lá liễu...". Tôi giải thích cho cháu là "mắt lá dăm, lông mày lá liễu" là để chỉ người phụ nữ đẹp chứ đàn ông thì không phải như thế. Cháu cãi với tôi: "Con thấy cô giáo nói thế mà!". Tôi thấy vui vui trước sự ngộ nghĩnh của con gái nhỏ của mình, muốn ở chơi lâu với các cháu rồi đi chuyến tàu tối về Hà Nội. Nhưng cơn sốt mỗi lúc một tăng, tôi quyết định phải đi chuyến tàu xế chiều để về cơ quan vì sợ lỡ việc đi miền Nam. Nhưng đêm đó tôi sốt rất cao, toàn thân đau ê ẩm, thỉnh thoảng có những cơn giật rất đau. Sáng hôm sau, tôi được đưa đến Viện Quân y 108 lúc đó vẫn còn sơ tán gần thị xã Hà Đông. Ngực tôi và phía sau lưng bên phải nổi lên những nốt phồng như phải bỏng, thỉnh thoảng lại giật giật đau co rúm người. Sau khi kiểm tra, bác sĩ cho tôi biết là tôi bị bệnh "zona vùng liên sườn". Bác sĩ hỏi tôi: "Anh có cháu nhỏ không?". Tôi nói có, tôi mới về thăm nhà. Anh cho biết là nếu tôi tiếp xúc với các cháu thì các cháu sẽ lây bệnh nhưng dưới dạng bệnh thủy đậu. Thấy tôi có vẻ lo lắng cho con, anh giải thích là bệnh đó với trẻ con không đáng lo vì nó không giống như "zona" của người lớn. (Về sau đúng như bác sĩ nói, cả hai đứa con gái nhỏ của tôi đều bị bệnh thủy đậu). Vì tôi phải đi bệnh viện, nên người thay tôi đi với Cục trường là đồng chí Đỗ Hữu Lâm - một trợ lý chủ chốt của phòng tôi. Nhưng "họa vô đơn chí", đi đến quá Đà Nẵng thì đồng chí Lâm bị chảy máu dạ dày nặng phải đưa vào Viện Quân y của Quân khu 5 để cấp cứu, suýt nguy hiểm đến tính mạng; do vậy, đồng chí Cục trưởng phải hủy chuyến đi và quay trở về Hà Nội. Phải nằm viện điều trị khoảng 40 ngày, tôi mới khỏi và ra viện trở về công tác. Trước đó ít hôm, đồng chí Đồ Hữu Lâm cũng được Viện Quân y Quân khu 5 cứu sống và cũng đã trở về. Được ít hôm sau, khoảng cuối tháng 6 năm 1975, đồng chí Cục trưởng và tôi có chuyến đi vào Quân khu 9 để khảo sát và nghiên cứu tình hình mà chuyến trước đã bị lỡ. Chúng tôi đi thẳng xuống Quân khu 9 và được xếp ở một phòng của khách sạn Ninh Kiều, lúc đó tạm gọi là Nhà khách Quân khu 9. Gọi là Nhà khách cho sang, chứ lúc đó mới giải phóng nên mọi thứ chưa được phục hồi, còn xơ xác. Ăn uống theo tiêu chuẩn "trung táo" của bộ đội còn xoàng hơn ở miền Bắc, chỉ có một món cá kho rẻ tiền và một bát canh nhạt nhẽo. Đầu tiên, anh Yên và tôi làm việc với đồng chí Lê Văn Tưởng, trước đây là Phó Chính ủy Quân giải phóng miền Nam, nay về nhận nhiệm vụ Chính ủy Quân khu 9. Anh Yên báo cáo với anh Tưởng ý định công tác của chúng tôi. Anh Tưởng cho chúng tôi biết qua tình hình của Quân khu, rồi giới thiệu chúng tôi sang làm việc với Cục Chính trị Quân khu. Làm việc với các đồng chí, chúng tôi thấy tình hình công việc của miền Nam mới giải phóng rất bề bộn như việc tiếp quản các cơ sở của địch, việc quản lý giáo dục các sĩ quan ngụy và ngụy quân, việc tập huấn cho cán bộ của ta để có thể làm tốt các công việc đó... và rất nhiều việc khác. Làm việc với các đồng chí Quân khu 9, chúng tôi cũng hình dung được một phần các công việc mà Cục phải chuẩn bị các mặt công tác đối với miền Nam. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Giêng, 2024, 07:40:28 pm Vào thời gian này, Cục Hậu cần và Cục Chính trị thuộc Tổng cục Chính trị đã xây dựng một khu nhà cấp 4 ở số 32A phố Lý Nam Đế để cấp cho một số cán bộ cấp Cục và cấp phòng không có gia đình ở Hà Nội, tiêu chuẩn mỗi người một căn phòng và không phải ở nhà tập thể trong nội thành nữa. Đây là một nhu cầu mới phát sinh vì nhiều đồng chí cần có một nơi để tiếp vợ con ở quê lên thăm và tiếp bạn bè ngày thường cũng như ngày nghỉ. Mỗi phòng khoảng 25 mét vuông, trong đó có một ngăn rộng khoảng 5 mét vuông làm nhà tắm và nhà vệ sinh. Với tôi và nhiều đồng chí được nhận phòng riêng ở ngoài phố lúc đó là hạnh phúc lắm rồi. Trên thực tế, có một số chị đã lên ở hẳn với chồng trong căn phòng đó. Một số thì thỉnh thoảng vợ mới lên thăm ít hôm rồi về vì phải làm ăn ở quê, tôi cũng ở trong số đó. Nhưng với tôi, rất tiện là con trai thứ hai của tôi (Đức - thương binh) đã trúng tuyển vào học ở Khoa Văn - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cũng có thể thăm bố hoặc ở đó để học tập.
Ở Quân khu 9 về được ít hôm, tôi lại nhận được nhiệm vụ vào Đà Nẵng để tổ chức Hội nghị giáo dục chiến sĩ mới ở khu vực phía Nam. Trước khi đi, chị Sương - chị dâu đồng chí Cục phó Đoàn Chương và là vợ của đồng chí Đoàn Khuê (Tư lệnh Quân khu 5) đang công tác ở Phòng Quân y của Tổng cục Chính trị gửi tôi một lá thư và một gói quà nhỏ cho chồng. Đất nước hòa bình đã lâu rồi mà vợ chồng một Tư lệnh Quân khu vẫn chưa giải quyết được việc hợp lý hóa gia đình, được sống gần nhau, có lẽ chỉ có Quân đội cách mạng mới có tình hình này. Tôi lên máy bay ở sân bay Gia Lâm thì đã có hai vị tướng ngồi ở đó là Trung tướng Lê Đức Anh, Tư lệnh Quân khu 9và Thiếu tướng Đồng Văn Cống, Tư lệnh Quân khu 7. Tôi chào hai anh, tuy chưa làm việc với các anh bao giờ, nhưng hai anh đều chỉ vào cái ghế đối diện "ngồi ở đây cho vui" và hỏi chuyện về công tác của tôi. Chắc các anh vừa họp ở Bộ trở về. Máy bay hạ cánh ở sân bay Đà Nẵng, tôi chào hai anh rồi ra xe của Quân khu đã chờ sẵn về nhà khách, gần địa điểm tổ chức Hội nghị. Hội nghị sơ kết công tác giáo dục chiến sĩ mới ở khu vực phía Nam do tôi chủ trì được tổ chức suôn sẻ nhờ sự giúp đỡ chu đáo của Quân khu. Hôm bế mạc, đồng chí Đoàn Khuê, Tư lệnh Quân khu cũng đến dự và phát biểu ý kiến. Trở về Hà Nội được vài hôm, tôi lại được giao nhiệm vụ cùng một số anh em vào Quân khu 9 để kiểm tra việc giải quyết công tác chính sách đối với gia đình quân nhân ở huyện Long Mỹ - vốn là một căn cử của Quân khu 9 trong kháng chiến chống Mỹ. Khi đi, tôi cũng không rõ là tại sao lại giao cho Phòng Giáo dục chính trị, trong khi có cả một Cục Chính trị chuyên về việc này. Lấy xong giấy giới thiệu của Quân khu, chúng tôi xuống thẳng Long Mỹ, liên hệ với Huyện ủy và Huyện đội, đề nghị cho xuống một vài xã để chúng tôi làm nhiệm vụ. Song đợi đến năm hôm, chúng tôi vẫn không được cấp giấy giới thiệu, anh em không biết vì lý do gì mà bị cản trở như thế. Đến ngày thứ năm, khi có một đồng chí ở Huyện đội ra nhà khách vốn dĩ khá nhếch nhác, tôi nói thẳng với đồng chí ấy về báo cáo với các đồng chí có trách nhiệm ở Huyện ủy và Huyện đội là chúng tôi không có sự cộng tác của địa phương nên không thể làm tròn nhiệm vụ được và buộc phải trở về. Khi tôi đi công tác lần này thì Đức - con trai thứ hai của tôi đề nghị cho phép đến ở phòng tôi ở 32A Lý Nam Đế để chuẩn bị làm luận văn tốt nghiệp sau khi học hết năm thứ 4 của Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Khi mở khóa vào phòng, tôi thấy giường chiếu bừa bãi, lộn xộn, chăn màn cụng chưa được xếp gọn. Tôi để nguyên hiện trạng, định bụng về giáo dục anh chàng có nếp sống ngăn nắp. Lúc ở trường về, thấy tôi và giường chiếu vẫn lộn xộn như vậy, chàng ta hoảng hốt nhảy bổ vào xếp gọn lại giường chiếu, chăn màn. Tôi đứng nhìn và chì nói một câu ngẳn gọn: "Cậu xem có khác gì một cái chuồng lợn không?" Đức im lặng cảm thấy có lỗi. Ở được ít hôm, tôi lại được đồng chí Cục trưởng giao cho nhiệm vụ vào Quân khu 5 và Quân đoàn 3 khi đó trú quân tại Nha Trang để truyền đạt một vấn đề về tình hình thời sự ở Trung Quốc và một vài công việc khác. Tình hình của cuộc "Đại cách mạng văn hóa vô sản" ở Trung Quốc lúc đó rất lộn xộn và quan hệ giữa ta và Trung Quốc vẫn trong tình trạng căng thẳng. Tôi làm việc ở Đà Nẵng với một đồng chí cán bộ tuyên huấn của Quân khu chỉ trong vài tiếng. Hôm sau, Quân khu có xe công tác vào Nha Trang, tôi tranh thủ đi cùng đến Quân đoàn 3. Lúc này, Đinh Cao Tài - con trai thứ ba của tôi nhập ngũ tháng 3 năm 1975 được huấn luyện cấp tốc và lên đường vào Nam, nhưng chưa được chiến đấu thì miền Nam đã hoàn toàn giải phóng. Tài được đơn vị chọn cho đi học lớp trung cấp của Trường Sĩ quan Không quân ở Nha Trang, chuyên ngành ra đa. Tôi làm việc với đồng chí Chính ủy Quân đoàn Đặng Vũ Hiệp và Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn Lã Ngọc Châu trongmột buổi tối những nội dung giống như Quân khu 5. Anh Đặng Vũ Hiệp nghe tình hình thời sự về Trung Quốc có vẻ miễn cưỡng, không tin lắm ở lực lượng chống lại "Cách mạng văn hóa vô sản". Gặp Tài trông còn rất trẻ con, mặc bộ quân phục đeo phù hiệu của Quân chủng Không quân, tôi cảm thấy mừng vì con mình đã trưởng thành và đã có định hướng phấn đấu. Tôi động viên Tài cố gắng phấn đấu học tập, công tác và cho biết qua tình hình mẹ và các em ở nhà. Tài muốn tôi vào thăm các đồng chí lãnh đạo Nhà trường nhưng tôi từ chối. Ngày hôm sau, anh Đặng Vũ Hiệp và anh Lã Ngọc Châu ra Hà Nội họp, tôi đã đi nhờ xe cùng ra. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Giêng, 2024, 07:41:36 pm Chỉ có mấy tháng đầu sau giải phóng miền Nam, mà tôi như con thoi vào Nam, ra Bắc với những việc như thế, không đi vào được những công việc chính của phòng. Không biêt đó có phải là ngẫu nhiên hay nằm trong ý đồ của Thủ trưởng Cục, nhưng dù thế nào cũng là tốt cho tôi. Bởi vì để giúp Tổng cục Chính trị nắm chắc tình hình miền Nam và để chỉ đạo kịp thời các công việc ở đây, Tổng cục đã tổ chức một bộ phận khá mạnh thường trực gồm hầu như tất cả các cục và các bộ phận cần thiết phải cử người vào làm nhiệm vụ thường trực dưới sự chỉ đạo của Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Quang Hòa, làm việc trong một số ngôi nhà tại sân bay Tân Sơn Nhât. Tôi làm nhiệm vụ thường trực cho Cục Tuyên huấn, vừa làm việc vừa ở trong một căn phòng thuộc khu nhà trước đây dành cho các thành viên của Ủy ban quốc tế. Căn phòng của tôi thuộc ngôi nhà của các sĩ quan Iran ở trước đây, do ngụy quyền xây dựng làm chỗ cho Ủy ban quốc tế. Khu nhà này do một công ty Nhật Bản trúng thầu xây dựng lắp ghép bằng gỗ. Tuy nhiên, thiết bị gồm cả nội thất khá hiện đại và đầy đủ tiện nghi, sinh hoạt phù hợp với cách sống của các nước tham gia Ủy ban quốc tế. Nhà có đủ hệ thống thông gió, điều hòa nhiệt độ, nhà vệ sinh, nhà tẳm, giường đệm, bàn ghế cho từng phòng. Nhưng thật đáng tiếc là từ khi ta quản lý và ở thì hệ thống thông gió, điều hòa nhiệt độ bị cháy hỏng, chậu sứ, gương bị tháo gỡ lấy đi, không chỉ ở đây mà toàn bộ sân bay đều như vậy. Tôi rất tiếc khi thấy một cơ sở bệnh viện của không quân Mỹ, ngụy làm nhiệm vụ sơ cứu cho phi công của chúng rất hiện đại, một nửa ngầm dưới đất thiết bị bên trong không biết bị ai tháo gỡ hết, nhìn tan hoang không thể sử dụng được nữa. Tôi cho rằng tất cả tình trạng đáng tiếc ở trên là do sự chỉ đạo, bảo vệ, quản lý các cơ sở của địch không kịp thời, thiếu cụ thể, kỷ luật chiến trường, nhất là đối với chiến lợi phẩm dù lớn nhỏ còn chưa nghiêm, mặc dù đã có chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng.
Người tôi gặp đầu tiên là đồng chí Phạm Ngọc Điển, Phó Văn phòng của Tổng cục Chính trị. Anh Điển trước đây là Trưởng ban Hành chính Phòng Chính trị của Sư đoàn 308. Sau Chiến thắng Điện Biên Phù, anh về Tổng cục Chính trị cùng đồng chí Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục. Tôi chính là người về thay thế anh Điển. Anh cho tôi biết một số tình hình anh nắm được, trong đó có những tin khá thú vị. Ví dụ như một đội viên bộ đội địa phương của ta dùng mìn đánh cháy một xe tăng địch và tiêu diệt được nhiều Mỹ. Anh ta được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nhưng rồi anh ta bị địch bắt và phản bội cách mạng, vào làm một nhân viên trong bộ máy chiến tranh tâm lý của địch. Địch đem anh ta về nơi anh ta lập chiến tích ngày trước (cũng là quê của anh ta) định giở trò phảncông ta về mặt tuyên truyền, buộc dân làm chứng. Nhưng nhân dân ở đó nhất định không nhận anh ta là người đã đánh chiếc xe tăng và diệt tụi lính Mỹ đó. Âm mưu của bọn Mỹ, ngụy hoàn toàn thất bại. Thật ra, hành động lúc đầu của anh ta đúng là dũng cảm, thành tích đáng được tuyên dương và đã được nêu gương nhiều lần trên sóng của Đài phát thanh Giải phóng và Ha Nội, nhưng không ngờ sau đó anh ta lại phản bội. Như vậy, nhờ dân mà ta đã thấy rõ hơn mặt trận tuyên truyền chống lại đòn chiến tranh tâm lý của địch. Người thứ hai tôi gặp là đồng chí Trần Quốc Hạnh, Phó phòng Tuyên huấn của Quân chủng Phòng không - Không quan cũng thường trực ở phía Nam. Anh Hạnh cho biết một tin mật mà các phương tiện thông tin đại chúng của ta chưa hề biết tới. Đó là ngày 3 tháng 5 năm 1975, bọn Pôn Pốt đổ bộ lên định chiếm đảo Phú Quốc nhưng lại rút lui. Đến ngày 10 tháng 5 năm 1975, chúng cho khoảng một tiểu đoàn đổ bộ đánh chiếm đảo Thổ Chu thuộc chủ quyền của ta, bắt đi và thủ tiêu hơn 500 đồng bào ta. Sau nhờ một bé trai khoảng 14-15 tuổi chạy thoát bơi ra biển được thuyền đánh cá của ta cứu báo tin. Theo lệnh cấp trên, ta phải đánh lấy lại. Lúc này, trên danh nghĩa ta và Pôn Pốt vẫn là "bạn" nên trận đánh hoàn toàn được giữ bí mật. Để bảo đảm chiến thắng, chúng ta dùng một lực lượng hải quân cùng phối hợp với trực thăng vũ trang ta thu được của Mỹ ngụy. Nhưng với loại máy bay này, các chiến sĩ không quân của ta sư dụng chưa thạo, nên phải trưng dụng một số phi công của quân đội Sài Gòn đã đầu hàng ta. Và ta đã tiêu diệt toàn bộ bọn Pôn Pốt ở đảo và chốt giữ ở đó. Nhờ những chuyển đi công tác ở Quân khu 9, Quân khu 5 và một số anh em quen biết1(Ví dụ như đồng chí Lương Văn Cành, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 88 được bổ sung cả Tiểu đoàn cho miền Nam năm 1967, lúc này là Trưởng phòng Tổ chức của Quân khu 7 thường đến chỗ tôi chơi), nên tôi cũng không bỡ ngỡ đối với công việc thường trực. Lại được biết thêm đồng chí Vũ Quang Đạo - bạn học với tôi cùng ở một đại đội học viên trung sơ cấp ở Vân Nam - Trung Quốc năm 1950 - 1951, nay là Thư ký riêng cho đồng chí Lê Quang Hòa, nên công việc của tôi càng thêm thuận lợi. Anh Vũ Quang Đạo sau khi học ở Trung Quốc về vào chiến đấu ở miền Nam, bị thương hỏng một mắt và bị địch bắt làm tù binh đưa đi đày ở Côn Đảo, anh được trở về sau đợt trao đổi tù binh năm 1973 và tiếp tục công tác ở Tổng cục Chính trị. Một hôm, Vũ Quang Đạo đến chỗ tôi cho biết là tôi phải chuẩn bị cho đồng chí Lê Quang Hòa một bài giảng cho khoảng hơn 300 anh em cán bộ người miền Bắc đã chiến đấu ở miền Nam, động viên anh em tiếp tục ở lại làm nhiệm vụ quản giáo các sĩ quan và binh lính ngụy đã trình diện. Đồng thời, tôi cũng được anh Trần Đình Cửu, Cục trưởng Cục Cán bộ cho biết, động viên anh em tiếp tục ở lại là một việc tương đối khó khăn vì anh em phần lớn đã chiến đấu lâu ngày ở miền Nam, nay đa phần có nguyện vọng trở về miền Bắc. Nếu động viên được khoảng 80% ở lại coi như đạt yêu cầu. Tôi cũng thấy đây là một việc làm không dễ gì, trong tay lại không có tài liệu để tham khảo. Tuy nhiên, tôi thấy đây là một việc làm rất cần thiết, có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ thành quả cách mạng mà nhân dân và Quân đội ta đã đổ bao xương máu mới giành được. Trong khi đó, mặc dù Mỹ đã cút khỏiViệt Nam, chính quyềnngụy tay sai đã sụp đổ, nhưng không phải âm mưu quay trở lại của chúng đã kết thúc, vì chúng có cả một kế hoạch hậu chiến sau thất bại tại Việt Nam. Tôi cũng rất quý trọng và tin tưởngsàng vì lợi ích của đất nước, của các thể hệ con cháu mình mà nhận rõ trách nhiệm này. Tôi nhớ trong lòng một câu nói của Bác Hồ đại ý: "Cần có người cách mạng vì còn có kẻ địch phản cách mạng", và nghĩ rằng việc quản giáo những sĩ quan, binh lính của chế độ cũ để họ nhận ra lẽ phải, thấy rõ thắng lợi vừa qua của toàn đất nước cũng là thắng lợi của dân tộc, trong đó có họ để cùng toàn dân chung tay xây dựng đất nước, đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người là một việc làm rất cần thiết. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Giêng, 2024, 07:43:32 pm Trên tinh thần đó, tôi tập trung rất cao, cả về tình cảm và tri thức để chuẩn bị một bài giảng có chất lượng cho đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Bài giảng được anh thông qua toàn bộ và được nhanh chóng in rônêô đủ cho cán bộ nghiên cứu. Sau gần một buổi sáng lên lớp với toàn văn tài liệu được sử dụng và thêm một ngày rưỡi thảo luận, lớp học đã đạt được kết quả rất tốt ngoài sự mong đợi. Theo thông báo của Cục trưởng Cục Cán bộ Trần Đình Cửu, trên 98% trong số hơn 300 cán bộ tham gia học tập tình nguyện ở lại miền Nam làm công tác quản giáo sĩ quan và binh lính ngụy. Chỉ có hơn 1% do có những việc quá cấp bách của gia đình không thể ở lại được. Đồng chí Cửu rất phấn khởi khi cho tôi biết tỷ lệ này và tôi cũng rất vui, cho đó là một phần thưởng quý giá nhất đối với mình đã có đóng góp một phần công sức vào kết quả đó.
Ngoài những việc lớn như thế tôi còn có nhiệm vụ nắm vững tình hình các đơn vị, đặc biệt là các đơn vị chủ lực của Bộcòn ở lại miền Nam về chính trị, tư tưởng để báo cáo về Cục và giúp đỡ việc triền khai các công việc trước mắt đột xuất của Cục do cán bộ của Cục cử vào làm. Tình hình và công việc ở vùng mới giải phóng còn rất bề bộn và phức tạp. Nói chung sau khi được giải phóng, nhân dân rất quý trọng và yêu mến bộ đội ta, trừ một số vẫn còn mặc cảm ví dụ như số có quan hệ chặt chẽ với Mỹ, ngụy hoặc một số trong đồng bào công giáo di cư từ miền Bắc vào. Nhưng cũng còn một số nhỏ trong cán bộ, chiến sĩ ta đã bị lóa mắt trước vẻ phồn vinh giả tạo và hàng hóa của địch, kề cả một số ít cán bộ các ngành ở ngoài vào tiếp quản hoặc bổ sung cho Miền, nặng nề thu vén cá nhân. Một số bà con ở miền Nam từ trước được gặp lại nhau. Bên cạnh những quan hệ tình cảm trong sáng, vui mừng, cũng có những biểu hiện lợi dụng nhau, vụ lợi. Thậm chí có một số thời điểm rộ lên một dư luận miền Nam nhận "họ", miền Bắc nhận "hàng" gây nên ảnh hưởng không tốt đối với miền Bắc xã hộị chủ nghĩa. Những báo cáo tôi gửi về thường được đánh giá tốt. Dù có bận việc, nhưng khi Cục Tuyên huấn cử người của Phòng Giáo dục vào bồi dưỡng nội dung giáo dục chính trị cho các chiến sĩ mới ở miền Nam, tôi cũng phải tổ chức và tạo điều kiện để các đồng chíấy thực hiện có chất lượng nhiệm vụ được giao và tranh thủ thêm sự chỉ đạo của đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục thường trực. Với chức năng tham mưu cho Thủ trưởng Tổng cục, tôi chuẩn bị một bài phát biểu ngắn gọn cho anh Lê Quang Hòa. Hôm khai mạc lớp bồi dưỡng, đi xe cùng anh đến lớp, tôi đưa bài phát biểu chuẩn bị sẵn cho anh,tuy anh không chỉ thị phải làm. Cầm bài phát biểu tôi đưa, anh hài hước nửa đùa nửa thật: - Anh phát biểu hay tôi phát biểu đây? - Thưa anh, với trách nhiệm của mình, tôi phải chuẩn bị cho anh, chỗ nào dùng được thì anh dùng, không dùng được đề nghị anh bỏ! Anh Hòa không nói gì, vẻ mặt vui và hài lòng. Và khi tôi giới thiệu với cuộc họp, anh lên phát biểu đầy đủ những ý tôi đã chuẩn bị cho anh. Năm 1976, tôi nhận được quyết định phong quân hàm Thượng tá sau 9 năm giữ cấp Trung tá. Trong khi đó, từ khi về công tác tại Cục Tuyên huấn, hầu như năm nào, phòng tôi cũng được khen thưởng hoặc biểu dương là một phòng đoàn kết, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Gặp các đồng chí đơn vị cũ trước đây tôi chỉ là cấp Đại úy, Thượng úy, anh thường "thắc mắc hộ" tại sao lại chậm thế? Thực ra, có lúc tôi cũng hơi chạnh lòng thấy cấp dưới đã thăng cấp Trung tá, thậm chí Thượng tá, nhưng rồi cũng tự nhủ và nói với anh em rằng điều đó là bình thường, vì đều xuất phát từ nhu cầu, ở đơn vị cán bộ phát triển nhanh hơn là điều không có gì đáng ngạc nhiên. Khi nhận nhiệm vụ vào thường trực cho Cục Tuyên huấn ở miền Nam, tôi có ý định tranh thủ làm một số việc có liên quan đến gia đình. Việc đầu tiên mà tôi quan tâm là tìm gia đình người chị ruột thứ hai của tôi mà gia đình đã mất liên lạc từ năm 1954 đến nay, vì tôi chưa biết rõ gia đình này hiện nay như thế nào. Chỉ biết rằng năm 1960, mẹ tôi cho tôi biết là có một người họ xa là anh Hoàng Văn Cương, gia đình cũng vào Nam từ năm 1954, gửi bưu thiếp báo cho mẹ tôi là chị tôi đã mất từ tháng 6 năm đó. Mẹ tôi rất thương chị. Và tôi từ nhỏ đến lớn cũng rất yêu quý chị bởi sự chăm chỉ, dịu dàng, hiền hòa của chị. Đặc biệt là chị rất quan tâm săn sóc đứa em trai duy nhất hay ốm đau, yếu đuối của chị là tôi. Chồng chị (như tôi đã nói ở phần I) vốn là một đội nhất thể lại khố xanh, ngày đảo chính Nhật - Pháp (9.3.1945), Nhật đã cử thay tên giám binh người Pháp ở Phú Thọ chỉ huy trại bảo an ở tỉnh lỵ. Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, anh đã nộp toàn bộ vũ khí cho cách mạng và được Bộ Quốc phòng cử về làm huấn luyện dân quân ở tỉnh Nam Định. Năm 1954, quê tôi được giải phóng, khi về nhà, tôi được biết tin anh đã vào "thành" từ trước, và từ đỏ tôi hoàn toàn mất liên lạc. Đồng thời, tôi cũng muốn tìm chị ruột vợ tôi là chị Lại Thị Yên, vốn là một cảm tình của Đảng cùng theo chồng vào Nam còn sống mà tôi cũng đã biết địa chỉ. Trước hết, để lần tìm được tin tức, tôi phải liên lạc được với chị Yên. Việc này tôi trao đổi với anh Phạm Ngọc Điển, Phó Văn phòng của Tổng cục Chính trị và nhờ anh giúp đỡ đến trước nhà của chị Yên, xem tôi có thể đến được không. Anh rất nhiệt tình giúp đỡ và báo cho tôi biết là nhà chị rất nghèo, gần chợ Bàn Cờ và có thể đến được. Anh hẹn với chị,tôi sẽ đến thăm vào sáng chủ nhật tới. Buổi tối, khi đến đầu một con hẻm ở phố Lý Thái Tổ, có một tốp trẻ nhỏ đang vui đùa ở đó. Tôi phát hiện một cháu có những nét rất giống cậu em ruột vợ tôi, là liệt sĩ Lại Kim Lĩnh hy sinh tại Lào trong chống Mỹ. Cháu độ khoảng trên dưới 10 tuổi, tôi gọi cháu và hỏi cháu có phải là con bà Yên không, cháu bẽn lẽn gật đầu và dẫn tôi vào nhà. Đó là một căn nhà nhỏ ở cuối hẻm có gác xép, đồ đạc tuềnh toàng, chỉ có một cái phản. Chị gặp tôi rơm rớm nước mắt và giới thiệu một người đàn ông lớn tuổi ốm hom hem ngồi trên phản là chồng. Tôi không ngạc nhiên vì đã biết là người chồng trước của chị ở quê tôi vô sinh, khi vào Nam đã lấy một cô gái trẻ đã có bầu. Chị lấy anh chồng thứ hai và đã có với nhau 4 đứa con trai. Hiện nay, chị bán xôi chè, quà sáng để nuôi cả gia đình. Chị cho biết chị ruột tôi đã mất, vẫn còn một đứa con gái cả ở đây nhưng chị không biết nó ở đâu và có lẽ vợ anh Hoàng Văn Cương biết rõ. Chị cho tôi địa chỉ nhà anh Cương ở đường Lê Quang Định. Tôi thấy việc tìm mộ chị tôi ở Sài Gòn - Gia Định mênh mông này rất khó khăn, xong tôi quyết tâm tìm kỳ được để ít nhất cũng được đến thăm chị, thắp một nén hương lên mộ chị ruột mình. Rất may tôi gặp được đồng chí Mai Chi, Chính trị viên Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 88 đã cùng tôi đánh trận Phu Nhoi ở đường 9 - Khe Sanh, khi tôi là Chính ủy Trung đoàn. Anh Chi chuyển vào đây công tác, hiện đang là Chính trị viên Quận đội, là Ủy viên Thường vụ của Quận ủy. Nghe tin tôi vào công tác và thường trực ở đây đã đến thăm tôi. Mai Chi vốn tính tình trầm tính, sống thiên về nội tâm, cũng trạc tuổi tôi, gặp tôicũng không giấu nổi nỗi vui mừng xúc động giữa những người bạn chiến đấu đã cùng nhau trải qua những ngày tháng gian khổ, quyết liệt nhất của chiến tranh, đặc biệt là ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Anh cho biết đường Lê Quang Định thuộc quận anh đang công tác, ở gần trụ sở Quận đội. Tôi cho anh biết địa chỉ nhà anh Cương và nhờ anh xác minh xem có thể đến được không. Anh mời tôi chủ nhật đến chỗ anh chơi và anh sẽ trả lời. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Giêng, 2024, 07:44:14 pm Đúng hẹn tôi đến trụ sở Quận đội, anh cho biết là gia đình đó có thể đến được. Cơm trưa xong ở chỗ Mai Chi, tôi sang nhà anh Cương, thì chỉ gặp chị Chữ vợ anh ở nhà. Hai anh chị không có con nên nuôi một người cháu gái ở miền Bắc từ lúc anh chị vào Nam. Chị Chữ cho biết là ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn - Gia Định thì anh Cương ra phố, trên mình chỉ mặc một bộ quần áo "pijama" rồi từ đó mất tích, có người nói anh đã di tản sang Mỹ, trước khi đi anh cũng không nói điều gì với chị.
Về gia đình này có nhiều điều bí ẩn mà cho đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu. Anh chị đều có họ với gia đình tôi vì mẹ anh Cương với bố tôi là hai chị em con bá con dì ruột. Bà mẹ anh vốn rất quý chị ruột tôi (đã mất mà tôi đang tìm mộ) muốn hỏi chị tôi cho anh Cương nhưng bố mẹ tôi không đồng ý vì còn có họ tương đối gần nên từ chối. Khi chị tôi mất, chính anh Cương là người đã gửi bưu thiếp báo tin cho gia đình tôi. Sau đó, anh Cương lấy một người vợ ở một làng khác xinh đẹp nhưng nghe nói chị đã có người yêu nhưng bị gia đình ép lấy anh Cương. Hai người có với nhau một đứa con gái cũng xinh đẹp như mẹ,nhưng về sau, hai người ly dị, đứa con gái ở lại với anh Cương rồi anh Cương lấy chị Chừ. Khi giặc Pháp chiếm đóng quê tôi, gia đình anh tản cư vào Cốc Nội cũng thuộc Kim Bảng, mở một quán giải khát trên đường 21 mà mỗi lần về phép tôi đều tạt vào quán của hai anh chị. Quán giải khát của hai anh chị cũng là nơi đi lại của cán bộ nhiều ngành như công an, quân giới, công nhân của các công binh xưởng... sơ tán trong các khu rừng kín đáo quanh khu vực đồn điền Chi Nê thuộc châu Lạc Thủy (lúc đó vẫn thuộc tỉnh Hà Nam). Khi quê tôi sắp được giải phóng, thì anh chị vào "thành", người ta thường gọi là "dinh tê"1 (Rời bỏ vùng tự do vào sống ở vùng Pháp tạm chiếm thời kháng chiến). Đứa con gái riêng của anh Cương ở lại và được anh Trần Lung lúc đó là Trưởng ty Công an Hà Nam nhận làm con nuôi. Khi đến tuổi trưởng thành, người con gái đó được anh Trần Lung gả cho một đại úy công an, lúc đó anh Trần Lung đã là một cán bộ cao cấp thuộc Bộ Công an. Chị Chữ cho biết người con gái riêng của anh Cương đã vào đây vài lần và cũng được chị tặng quà, tiền nhưng chị cũng phàn nàn nhiều về chuyện đã có lần lấy tiền vàng của chị lúc chị vắng nhà. Chị luôn buồn rầu về việc anh Cương bỏ đi mà không cho chị biết gì, trong khi cơ ngơi của anh chị khá lớn. Chị cho biết: Từ ngày anh Cương vào đây, anh kinh doanh vật liệu xây dựng, việc kinh doanh phát đạt nên ngoài ngôi nhà chị đang ở tuy chỉ có một tầng nhưng rất rộng rãi, còn một khu kho nữa ở gần đây. Tôi thoáng nghĩ có lẽ anh là cơ sở mật của công an, nhưng cũng không dám chắc vì thấy vấn đề phức tạp quá. Riêng với chị, tôi biết từ trước chị là một phụ nữ hiền lành, chỉ biết làm ăn chứ không quan tâm tới nhữngchuyện khác. Tôi khuyên chị cứ yên tâm kiên nhẫn chờ đợi sẽ có ngày liên lạc được với anh Cương, còn bây giờ nên chấp hành tốt chủ trương, chính sách của chính quyền cách mạng không nên nghe theo những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của bọn xấu. Chị cho tôi địa chỉ của đứa con gái cả của chị ruột tôi và cho biết cháu Quyên lấy chồng đã lâu và đã có ba bốn đứa con rồi. Và vợ chồng nó đang sống ở một làng ngoại ô thị xã Bà Rịa. Từ địa chỉ đó, tôi viết một lá thư cho Quyên hẹn cháu đến nhà chị Yên vào một ngày chủ nhật. Nếu gặp được cháu thì việc tìm mộ mẹ nó không còn gì khó khăn nữa. Đúng ngày đã hẹn, tôi đến nhà chị Yên mang theo nửa cân đường kính tiêu chuẩn tháng của tôi và một số viên sinh tố tôi chưa dùng mang đến làm quà cho chồng chị đang bị ốm. Ngồi chưa nóng chỗ thì một thiếu phụ gầy gò bước vào nhà. Tôi nhận ra ngay đứa cháu ruột gọi mình bằng cậu, bởi một số nét giống chị ruột tôi. Gần 30 năm cậu cháu mới gặp nhau, cháu cũng nhận ra tôi ngay không một chút ngỡ ngàng. Để cháu ngồi nghỉ một lát, tôi bảo cháu dẫn tôi đến nghĩa trang nơi có mộ của mẹ cháu. Đi xe đò đến Gò vấp, Quyên dẫn tôi đi vòng vèo một lúc mới tới một nơi cây cối rậm rạp, vào một khu đất nhỏ có khoảng trên dưới 100 ngôi mộ nhỏ. Cháu nói đây là một nghĩa trang do một ngôi chùa ở gần đó quản lý. Nhìn qua toàn cảnh thấy rõ đây là một nghĩa trang dành cho người nghèo vì toàn bộ các ngôi mộ đều được xây rất sơ sài, kích thước nhỏ, bia mộ làm đại khái khắc chữ nguệch ngoạc cho khỏi lẫn. Tôi thắp hương cắm lên mộ và cúng, cháu ngồi cạnh mộ im lặng. Những kỷ niệmvề chị hiện lên trong trí nhớ tôi, người chị bất hạnh chết trẻ ở tuổi 40 của mình, trên bia đề ngày 18 tháng 6 năm 1960. Tôi nhớ ngày chị đi lấy chồng năm 17 tuổi, lúc đó tôi học lớp dự bị ở trường huyện mới 8 tuổi. Hôm lại mặt sau ngày cưới về nhà chồng, thấy tôi, chị nhào tới ôm em vào lòng cứ như là đi xa lắm lâu ngày mới gặp mặt. Tôi nhớ vào tháng 2 năm 1950, lúc đó tôi 21 tuổi đã là Chính trị viên Huyện đội dân quân, Huyện ủy viên, được Tỉnh ủy chỉ định đi học lớp Chính trị viên Đại đội Lê Hồng Phong ở Việt Bắc. Trước khi tôi lên đường, chị lặng lẽ trao cho tôi chiếc đồng hồ Wiler chữ nhật mạ vàng, có lẽ của chồng tặng, không nói gì. Và đó là lần cuối cùng chị em được ở bên nhau. Trong lúc đợi cho hương cháy hết, cháu Quyên kể cho tôi nghe: Mẹ cháu có lẽ bị sốt xuất huyết, nằm ở một bệnh viện làm phúc. Lúc mất, bố cháu đi vắng xa, chỉ có cháu bên cạnh, rất lúng túng không biết lo việc tang và chôn cất mẹ thế nào thì được một người hàng xóm theo đạo Thiên Chúa di cư vào Nam năm 1954 giúp đỡ rất tận tình. Cháu cho biết là ông ta ở ngay gần đây. Tôi ngỏ ý muốn đến thăm và cảm ơn ông ta thì cháu đồng ý ngay, rồi dẫn tôi đi. Đi khoảng 200 mét thì tôi đến một căn nhà lá ở một mảnh vườn um tùm cây côi, trong đó chi có một người đàn ông đang nằm trên một cái võng. Căn nhà trông hoác, không có giường phản, bàn ghế gì hết. Tôi đến chào ông ta và tự giới thiệu tôi là cậu ruột của cháu Quyên và là em ruột của bà Truật đến cảm ơn ông đã giúp đỡ cháu lúc mẹ cháu qua đời. Ông ta vẫn nằm yên trên võng, thậm chí không mời khách ngồi, có lẽ ông ta đang có tâm trạng rất nặng nề. Tôi đứng bên cạnh võng nhìn ông ta vẫn nằm, mắt không thèm nhìn khách,lạnh lùng với một giọng buồn, đều đều nói: "Tôi không hiểu ông Tâm là người thế nào mà đối xử với bà ấy như thế. Bà ấy là một người vợ đẹp người, đẹp nết mà ông ấy không màng đến lúc ốm đau cũng chẳng thèm chăm sóc, lại đi theo một con điếm, chẳng còn ra làm sao cả!". Anh Tâm là chồng chị tôi (bố của Quyên), nhưng cháu không hề nói với tôi chuyện này, hình như cháu không muốn nhắc đến những chuyện đau buồn đấy nữa. Biết không thể nói gì thêm, một lần nữa tôi cảm ơn ông, rồi cùng Quyên ra về. Trên đường đi, Quyên cho tôi biết thêm là bố cháu sau khi đi theo người đàn bà ấy rồi chết ở đâu cháu cũng không rõ. Còn ba đứa em trai Quyên, một đứa là Nguyễn Thượng Dân - trung úy ngụy quân, làm ở sân bay Tân Sơn Nhất đã chạy sang Mỹ hôm 30 tháng 4 năm 1975; một đứa là Nguyễn Thượng Quân - thiếu úy ngụy quân đã chết trận ở miền Trung; hai đứa này tôi đã biết chúng khi còn ở miền Bắc là hai đứa trẻ bụ bẫm, đẹp và khỏe mạnh, tôi thường dắt đi chơi. Còn đứa thứ ba là Nguyễn Khôi Việt, chị tôi sinh nó năm 1955, sau khi đã theo chồng vào Nam, vừa mới bị bắt vào lính ngụy được mấy ngày thì miền Nam giải phóng, sau khi trình diện không phải đi cải tạo. Chồng của cháu Quyên là một hạ sĩ quan ngụy làm ở sân bay, nhưng bây giờ cũng hay rượu chè, bê tha. Qua những câu chuyện cháu cho tôi biết, tuy cháu không hề có một yêu cầu giúp đỡ gì, nhưng tôi cũng hiểu là đời sống của gia đình cháu hiện nay rất khó khăn. Với việc đôn đáo hàng ngày buôn rau, chạy chợ để nuôi chồng con trong lúc này thật cực kỳ vất vả... Tôi cố suy nghĩ để có thể giúp đỡ được cháu phần nào trong lúckhó khăn này. Vì vậy, tôi lại hẹn cháu chủ nhật sau đem con và bảo Việt đến gặp tôi ở nhà bà Yên. Đúng hẹn, tôi đến nhà chị Yên, đã thấy hai vợ chồng cháu cùng hai đứa con gái đã chờ ở đó. Quyên cho tôi biết, em trai út của cháu Nguyễn Khôi Việt được cháu báo và sẽ cùng đi với chị đến gặp tôi; nhưng đến giờ hẹn không thấy đến, cháu sợ nhỡ hẹn với tôi nên đành phải đi trước. Hai đứa con gái của vợ chồng Quyên, một đứa đầu lòng đã 12 tuổi, còn đứa út mới hơn 2 tuổi, khỏe mạnh và ngoan, khác hẳn sự gầy yếu của mẹ chúng, chứng tỏ mẹ chúng chăm nuôi con rất tốt. Tôi hỏi chuyện làm ăn của hai vợ chồng định như thế nào rồi dụ ý khuyên răn chồng nó chung sức với vợ làm ăn lương thiện nuôi con. Vợ chồng nó cho biết sẽ cố gắng dành dụm ít tiền để mua vài công ruộng cày cấy lo đủ gạo ăn, giúp thêm vào việc buôn rau quả chạy chợ của Quyên. Tôi mừng vì vợ chồng nó đã có hướng giải quyết tốt để cải thiện hơn đời sống của gia đình. Còn tôi cũng đã có hướng để giúp thêm cho các cháu. Rất may là trước đó, ta có chủ trương đổi tiền để thống nhất đồng tiền chung của cả nước, lương tháng đó tôi mới lĩnh theo đồng tiền mới. Tôi dành một nửa tháng lương cho gia đình cháu. Lần này tôi chỉ tiếc là không được gặp Khôi Việt, thằng con trai út của chị tôi để trao đổi, dặn dò nó có hướng phấn đấu cho tốt. Khoảng một tháng sau, tôi nhận được thư của Quyên báo cho tôi biết cháu đã dùng số tiền tôi tặng và thêm vào chút ít mua được 4 sào ruộng để trồng lúa. Tôi rất mừng đã giúp cháu thiết thực và chúng đã sử dụng đồng tiền được giúp có hiệu quả. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Giêng, 2024, 07:45:53 pm Chương tám ĐẾN CAMPUCHIA - NHIỆM VỤ DÂN TỘC VÀ NGHĨA VỤ QUỐC TẾ Bắt đầu từ tháng 5 năm 1975, đã có những dấu hiệu phản bội đầu tiên của chính quyền Pôn Pốt đối với Việt Nam qua các cuộc đổ bộ của binh lính Khơme Đỏ lên đảo Phú Quốc, rồi đến đảo Thổ Chu, giết hại hơn 500 đồng bào ta. Trước tình hình đó, phía ta đã tự kiềm chế và nhiều lần đề nghị với chính quyền Pôn Pốt cùng ta đàm phán để giải quyết xung đột một cách hòa bình. Nếu tôi nhớ không nhầm thì trong năm 1975, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã có lần sang Phnôm Pênh hội đàm với Trung ương Đảng Cộng sản Khme (KCP) và có chấp nhận một vài yêu sách của họ. Và cũng trong cuối năm 1975, để "đáp lại" thiện ý của ta, một đoàn đại biểu của chính quyền Pôn Pốt do Khiêu Xăm Phon và Iêng Xari cầm đầu đã đến Việt Nam để hội đàm với Đảng Lao động Việt Nam. Tôi cũng như nhiều đồng chí khác trong Cục Tuyên huấn không rõ nội dung của những buổi hội đàm đó là gì nhưng theo những gì chúng tôi biết hoặc tin tức qua báo chí của chúng ta, có những biểu hiện không bình thường. Ví dụ, qua bài phát biểu Khiêu Xăm Phon lời lẽ rất thiếu thân thiện, không hề có một ý tốt đẹp nào trongquan hệ lịch sử Việt Nam - Campuchia khi có chung một đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương, cũng không hề nhắc tới sự vô tư hào phóng kể cả xương máu của cán bộ, chiến sĩ ta với cách mạng Campuchia, không hề nhắc tới Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã một thời sáng lập và đứng đầu Đảng Cộng sản Đông Dương... Hay trong buổi chiêu đãi văn nghệ do Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị biểu diễn (lúc đó Đoàn Văn công do Cục Tuyên huấn chỉ đạo và quản lý). Theo anh chị em văn công kể lại, mặt chúng lạnh như tiền, không hề có một tiếng vỗ tay, một lời cảm ơn. Có lẽ trước những biểu hiện lạ lùng như vậy, Cục trưởng Nguyễn Trọng Yên đã mời đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng lúc đó là Thiếu tướng đến nói chuyện. Đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng trước kia khi còn là Đảng Cộng sản Đông Dương vốn là Phó Bí thư Ban Cán sự Miền của Đảng (lúc đó gọi như vậy, từ sau Đại hội II của Đảng (1951), Campuchia và Lào mới tách ra thành Đảng riêng). Nay đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng là Phó ban Liên lạc Đối ngoại của Đảng phụ trách vấn đề Campuchia. Đồng chí Nguyễn Trọng Yên chỉ triệu tập các đồng chí là Cục phó và trưởng phòng nghiên cứu chính ở trong Cục đến dự, với hy vọng qua cuộc nói chuyện của đồng chí Hoàng có thể khai thác để nắm được thực chất tình hình bạn, phục vụ cho công tác. Tuy nhiên, đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng chỉ nói chung chung như báo chí và đài phát thanh của ta đã đưa tin chứ không có thông tin gì mới. Song theo thời gian và thực tế tình hình diễn biến sau này, với những quan điểm, chủ trương, đường lối quái gở với chủnghĩa dân tộc cực đoan, bệnh hoạn và cực kỳ phản động của chúng, Pôn Pốt đã trở thành bọn ác quỷ ngoài sức tưởng tượng của con người. Đối với Việt Nam, một nước có cùng cảnh ngộ như Campuchia bị chủ nghĩa thực dân xâm lược, bóc lột, thống trị, đã cùng sát cánh với nhân dân Campuchia tiến hành cuộc đấu tranh chống xâm lược giành độc lập, tự do cho đất nước, thì nay tập đoàn phản động Pôn Pốt coi "Việt Nam là kẻ thù số 1, kẻ thù truyền kiếp",... Pôn Pốt còn nói trên Đài phát thanh Phnôm Pênh: "Trong đời tôi, tôi hy vọng giải phóng Sài Gòn"... và từ cuối tháng 4 năm 1977, chúng mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới, giết hại đồng bào ta cực kỳ dã man, tàn bạo. Cuộc tiến công Việt Nam cũng là nhằm lấy cớ để thanh trừng nội bộ, giết hết những người đối lập với chúng dưới chiêu bài "làm trong sạch nội bộ nhân dân" mà thực chất là một cuộc diệt chủng vô cùng man rợ đối với chính nhân dân Campuchia. "Theo thống kê của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, sau 3 năm 8 tháng 20 ngày cầm quyền, bọn diệt chủng Pôn Pốt đã gièt hại hơn 2.700.000 người trong đó có nhiều nhà văn, nhà báo, nhà giáo, giáo sư, sinh viên, nghệ sĩ và trí thức từ nước ngoài về"1 (Những đoạn trong ngoặc kép là tư liệu lấy trong bài tham luận của Trung tướng Lê Hai trong Hội thảo quốc tế "Việt Nam trong thế kỷ XX"). Tôi được biết, theo yêu cầu của chúng khi đàm phán với ta, có một số anh em gốc Campuchia mà ta cho về nước để như chúng nói "tham gia xây dựng đất nước" hầu như bị chúng giết sạch. Sau khi Campuchia được giải phóng, có một số chị ngườiViệt Nam có chồng là người Campuchia về nước đã sang Campuchia tìm chồng thì thấy chồng mình đã"mất tích". Còn số 300 học sinh về nước, khi chúng đón các cháu ở Snoul (Xnun) thuộc tỉnh Côngpông Chàm giáp với biên giới ta, một đồng chí cán bộ cao cấp của Quân đội ta có mặt lúc đó cho tôi biết: Khi đi vào sâu đất Campuchia khoảng gần 300 mét trong rừng, bọn lính Pôn Pốt đã xả súng liên thanh giết sạch các cháu. Các đồng chí chúng ta đã rất đau lòng nghe các cháu kêu khóc "các chú ơi cứu chúng cháu với" mà không làm gì được. Bọn ác quỷ Pôn Pốt với chủ nghĩa dân tộc cực đoan phản động đã nhìn bạn thành thù, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới phía Tây Nam nước ta, tàn sát dã man đồng bào ta ở nhiều nơi trong các tỉnh có biên giới với Campuchia, đặc biệt là ở An Giang và Tây Ninh. Đồng thời, chúng thực hiện một chính sách diệt chủng ở trong nước còn tàn bạo hơn cả những tên bạo chúa thời trung cổ, biến xã hội Campuchia thành một trại khổ sai khổng lồ, một địa ngục trần gian rộng lớn với những hố chôn người dày đặc trên khắp đất nước. Viết đến đây, tôi nhớ khi tôi được cử sang Campuchia với tư cách là phụ trách tiền phương của Cục Tuyên huấn, khi đi công tác ở tỉnh Xiêm Riệp trong những ngày dầu tiên sau khi Campuchia được giải phóng ít hôm, ở đâu tối cũng ngửi thấy mùi hôi thối của xác chết trong những hố chôn người tập thể, dưới đáy các giếng cạn, trong giao thông hào của các trận địa cũ, dưới những cái ao cạn. Sọ người và xương người có nơi chất đống, có nơi rải rác khắp mặt đất. Trong tôi trào lên một sự căm giận, một sự ghê tởm tột cùng đối với bọn dã thú mặt người, ghê tởm các dấu tích vật chất của chúng để lại và ghê tởm cả tâm hồn cực kỳ bệnh hoạn, lòng dạ độc ác của chúng nữa. Khoảng nửa cuối năm 1976, Cục Tuyên huấn đã rục rịch về sự thay đổi nhân sự. Đồng chí Nguyễn Trọng Yên chuyển sang công tác khác. Người về thay là đồng chí Văn Phác, vốn là Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân giải phóng miền Nam, trước đó đã có một thời là Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ quân đội, Cục phó Cục Tuyên huấn. Đồng chí Văn Phác chỉ ở có một thời gian ngắn, sau đó nhận nhiệm vụ làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (11.1976). Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Giêng, 2024, 07:46:47 pm Cuối tháng 12 năm 1976, tôi nhận thông báo được Tổng cục Chính trị cử đi học Khóa đầu tiên của Học viện Quân chính cao cấp. Được đi học ở Học viện cấp cao nhất của Quân đội, tôi rất phấn khởi vì đó là một dịp rất tốt để nâng cao kiến thức một cách cơ bản về học thuyết quân sự của Việt Nam, mà trước kia tôi chỉ được tập huấn từng vấn đề theo kiểu "ăn đong" phục vụ cho yêu cầu của những nhiệm vụ trước mắt. Học viên tới dự khóa này có đầy đủ các cán bộ cao cấp của các đơn vị trong toàn quân từ Bắc đến Nam và các cơ quan trực thuộc Bộ đã từng có nhiều năm chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược. Chỉ riêng việc gặp mặt và làm quen với nhau cũng đủ vui rồi. Trường được xây dựng ở khu vực Nghĩa Đô, tuy mới làm nhưng khá bề thế. Chương trình học chỉ kéo dài trong một năm từ tháng 1 năm 1977 đến tháng 1 năm 1978. Nội dung học tập khá phong phú, chủ yếu là vấn đề quan điểm, đường lối quân sự của ta và vấn đề chiến dịch; có một số vấn đề kiến thức về chiến tranh hiện đại, ví dụ như chiến tranh nguyên tử... nhưng hãy còn sơ lược. Đối tượng học viên dự học là những cán bộ đã qua hai cuộc chiến tranh liền nhau, mỗi người đều mang trong mình những kinh nghiệm chiến đấu rất phong phú còn nóng hổi của chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Riêng tổ học tập của chúng tôi cũng có nhiều thành phần khác nhau, có đồng chí là sư đoàn trưởng bộ binh, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh, cán bộ cao cấp của Đoàn 559 - Đường Hồ Chí Minh trên bộ, chỉ huy các "đoàn tàu không số" - Đường Hồ Chí Minh trên biển, cán bộ hậu cần, chính trị ở cấp chiến dịch và chiến lược...
Một trong những nội dung cực kỳ quan trọng mà chúng tôi nghiên cứu là tài liệu "Đường lối quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân trong giai đoạn mới". Tài liệu được in tuyệt mật nhưng không nói rõ cấp nào biên soạn và cũng không có giới thiệu ở trên lớp, chỉ đưa về tổ học tập cho cá nhân nghiên cứu và thảo luận ở tổ. Có thể nói, đây là một tài liệu được biên soạn khá công phu, dựa trên những tổng kết chiến tranh của ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Khoảng gần cuối khóa học, Nhà trường tổ chức cho toàn thể học viên chúng tôi hai lần về tỉnh Nam Định. Lần thứ nhất là tham quan Nam Ninh, huyện thí điểm về cơ giới hóa toàn bộ nông nghiệp; lần thứ hai là tổ chức diễn tập một tưởng định chiến dịch không có thực binh. Trong lần tham quan việc cơ giới hóa toàn bộ nông nghiệp ở huyện Nam Ninh, Tỉnh ủy Nam Định tổ chức đón tiếp cán bộ Nhà trường và học viên khá chu đáo. Chúng tôi được bố trí ăn tại khách sạn Vị Hoàng là một khách sạn lớn nhất của thành phố Nam Định lúc đó. Đồng chí Hồng Thanh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được chỉ định trực tiếp làm Bí thư Huyện ủy Nam Ninh để thực hiện thí điểm xây dựng huyện cơ giới hóa nông nghiệp. Đồng chí Hồng Thanh và tôi đã từng hoạt động với nhau ở Kim Bảng trong khoảng thời gian trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Công việc mới được triển khai nên kết quả về cơ giới hóa nông nghiệp ở miền Băc cũng chưa thật rõ lắm. Lần diễn tập chiến dịch không có thực binh diễn ra trên một khu vực rộng của tỉnh Nam Định. Nhưng trên đường đi từ Hà Nội về Nam Định xảy ra một sự cố rất đáng tiếc. Chiếc xe Commăngca bị húc lùi lại đến 15 mét, may là ở quãng đường thẳng nên xe không bị lật. Giám đốc Hoàng Minh Thảo bị thương ở đầu phải cấp cứu và quay lại. Tuy nhiên, cuộc diẫn tập vẫn được tiếp tục và cũng đạt được kết quả nhât định. Song, qua tưởng định diễn tập chiến dịch với những phương tiện chiến tranh tương đối hiện đại (có xe tăng, thiết giáp, pháo binh nặng... trong tưởng định) trên địa hình điển hình của đông quê Việt Nam là những con đường nhỏ hẹp, hai bên phần lớn là ruộng nước, có nhiều sông ngòi, tôi vẫn thấy băn khăn ở nhiều điểm chưa phù hợp cả về địch và ta. Tôi liên tưởng tới ông cha ta đời Trần đã ba lần đánh thắng quân Mông Nguyên hùng mạnh, trong đó có một vấn đề lớn đã đưa đến chiến thắnglà ta đã hạn chế được tối đa chỗ mạnh của quân Nguyên Mông là kỵ binh của chúng. Với lực lượng kỵ binh hùng mạnh, chúng đã tiến quân như vũ bão trên địa hình trung bình và đã dễ dàng thôn tính được nhiều nước châu Ầu. Riêng ở Việt Nam, sức mạnh đó đã không phát huy được. Ông cha ta đã vận dụng tài tình cả ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để đánh thắng giặc. Những trận thắng lớn thường diễn ra ở sông, biển. Các cuộc di chuyển trong các cuộc vận động rút lui, hoặc tiến công của đầu não cuộc kháng chiến hầu hết đều dùng đường sông. Phải chăng đó là mưu lược để hạn chế và triệt phá cái mạnh về kỵ binh địch của ông cha ta. Tôi nghĩ, nhân dân ta, Quân đội ta hoàn toàn có quyền tự hào rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ta đã biết phát huy một cách sáng tạo truyền thống chiến đấu và bài học kinh nghiệm khoét sâu cái yếu, hạn chế và triệt phá cái mạnh của địch, tận dụng mọi thế mạnh của ta về chính trị, quân sự, ngoại giao, kết hợp chặt chẽ sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại đã đánh thắng hai đế quốc to là Mỹ và Pháp. Chẳng mấy chốc đã đến những tháng cuối của khóa học bổ túc một năm cho cán bộ cao cấp của toàn quân. Để đánh giá kết quả học tập và khai thác những kinh nghiệm chiến đấu rất phong phú của cán bộ, Nhà trường hướng dẫn học viên làm khóa luận. Thật ra khi đó, vì là lớp cao cấp đầu tiên nên trình độ giảng viên hướng dẫn khóa luận cho mỗi học viên không có gì khác nhau lắm, có khi người hướng dẫn còn "đuối" hơn,trừ các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Nhà trường như đồng chí Giám đốc Hoàng Minh Thảo, các đồng chí phó giám đốc Nam Long, Hoàng Đan... Hơn nữa đề tài do học viên tự chọn, có những vấn đề mà người hướng dẫn chưa từng nghiên cứu nên giúp được rất ít. Riêng tôi, tôi chọn đề tài về "Truyền thống chiến đấu trong sức mạnh chính trị tinh thần của nền quốc phòng toàn dân", một vấn đề của thực tiễn chiến đấu trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Tôi cảm nhận được rất rõ trong quá trình chiến đấu của mình, đặc biệt là thời gian tôi được chiến đấu trong đội hình của Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong, sau này là Sư đoàn 308, đơn vị cơ động chiến lược được thành lập đầu tiên năm 1949 của Quân đội ta. Cả trong hai cuộc kháng chiến, đơn vị thường được giao những nhiệm vụ khó khăn nhất, lập nhiều chiến công vang dội và có một truyền thống chiến đấu rất vẻ vang. Các đơn vị bạn thường gọi vui là Sư đoàn "Anh cả Đỏ" còn địch thì đặc biệt "chăm sóc", "theo dõi" tình hình và sự di chuyển của đơn vị để phán đoán hành động của chúng ta. Học viên chúng tôi chỉ có 12 ngày để viết khóa luận. Đề tài khóa luận là vấn đề tôi thường quan tâm suy nghĩ và đọc các tài liệu có liên quan nên chỉ trong 12 ngày tôi đã viết được một tài liệu hơn 40 trang đánh máy theo chủ đề tôi đã lựa chọn. Tôi nhớ mấy nội dung chính để tập trung công sức viết là về truyền thống chiến đấu chống ngoại xâm của ông cha ta, của Quân đội ta. Tôi tập trung chống quan điểm coi thường truyền thống, coi nhẹ những gì tốt đẹp của quá khứ, tách rời quá khứvới hiện tại và tương lai, phê phán đó là tự tước bỏ một bộ phận sức mạnh tinh thần quý báu của chúng ta, một thái độ thiếu khoa học của một phương pháp luận duy tâm, siêu hình, là có tội với lịch sử, với các thế hệ con cháu mai sau. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Tư, 2024, 08:53:51 pm Tôi dành nhiều trang nhắc tới lời biểu dương của Bác Hồ với Quân đội ta nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội (22.12.1944 - 22.12.1964) trong cuộc mít tinh tại Trường Đại học nhân dân (nay là cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô): "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".
Tôi phân tích và lý giải kỹ đó là sự khái quát ngắn gọn, đầy đủ và chính xác nhất truyền thống chiến đấu vinh quang của Quân đội ta đã xây dựng nên bằng mồ hôi và xương máu của cán bộ, chiến sĩ ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong suốt 20 năm qua. Đồng thời, đó cũng là những yêu cầu rất cao của việc nâng cao bản chất giai cấp của Quân đội, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng đất nước được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Và đó là tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của Quân đội, không được phép để mai một, nghiêm chỉnh thực hiện lời dạy và xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ. Điều tôi không ngờ tới là trong bài phát biểu tổng kết khóa học của Trung tướng Hoàng Minh Thảo, Giám đốc Học viện có ý biểu dương đề tài khóa luận của tôi. Đặc biệt là sau đó đề tài khóa luận đã được Nhà trường đánh máy lại toàn văn gửi về Tạp chí Quân đội nhân dân (sau này đổi thành Tạp chí Quốc phòng toàn dân). Tạp chí Quân đội nhân dân đã mời tôi đến để tóm tắt lại. Kết thúc khóa học, Học viện tổ chức Lễ bế giảng vào một ngày đầu tháng 1 năm 1978. Buổi lễ được tổ chức tương đối trọng thể, có đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đến dự. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Chu Huy Mân, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đều là Ủy viên Bộ Chính trị, đồng chí Hoàng Tùng, Bí thư Trung ương Đảng, Tổng biên tập Báo Nhân dân và một số khách mời quan trọng khác cũng có mặt. Tôi biết sơ sơ đồng chí Hoàng Tùng, vì khi làm Chính ủy Trung đoàn 88, có một vài lần qua Hà Nội, tôi ghé thăm anh Trần Kiên bạn cùng Nam tiến năm 1945 và cùng bị Tây bắt với tôi và anh Lê Hoàng ờ bãi biển Ninh Chữ (tỉnh Ninh Thuận), nay là Phó Tổng biên tập Báo Nhân dân và Hà Đăng bạn cùng học tại Trường Đảng cao cấp trực thuộc Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô đang làm việc ở Báo Nhân dân. Tôi đã giúp hai anh tìm đồng chí Vũ Tuất Việt, vốn là phóng viên của báo Đảng chuyển ra là Chính trị viên đại đội thuộc Tiểu đoàn 6 trong Trung đoàn tôi, được bổ sung cả tiểu đoàn cho chiến trường khi chúng tôi đang trên đường hành quân ở Trường Sơn. Các anh đề nghị cho đồng chí Vũ Tuất Việt trở lại làm báo cho Trung ương Cục vì trong đó đang thiếu cán bộ có tay nghề. Tôi đã giúphai anh việc này và Vũ Tuất Việt sau khi miền Nam được giải phóng trở thành Tổng Biên tập của Báo Sài Gòn giải phóng. Sau khi kết thúc khóa học đầu tiên của Học viện Quân chính cao cấp, tôi trở về Cục Tuyên huấn tiếp tục công tác, với sự phấn khởi vì có thêm được những kiến thức mới về quân sự và cũng tạm hài lòng với kết quả học tập, nhất là bản khóa luận của mình. Đồng thời, tôi cũng rất băn khoăn về việc xác định đối tượng tác chiến chiến lược của Quân đội ta, về tình hình ở biên giới phía Bắc và cả biên giới Tây Nam ngày càng phức tạp mà các đồng chí học viên ở miền Nam tỏ ra rất bức xúc về những hành động của bọn Pôn Pôt. Một điều rất bất ngờ đối với tôi, chỉ chưa đầy một tháng sau khi bế giảng lớp học, tôi nhận được Quyết định số 31/CP-QP ngày 27 tháng 2 năm 1978 do Phó Thủ tướng Chính phủ Võ Nguyên Giáp ký, bổ nhiệm làm Cục phó Cục Tuyên huấn. Lúc này đồng chí Văn Phác, Cục trưởng đã có quyết định bổ nhiệm lên làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Hoàng Kim Chính ủy Sư đoàn 308 được bổ nhiệm làm Cục trưởng thay đồng chí Văn Phác. Tôi được phân công phụ trách khối giáo dục chính trị và văn hóa, trước đây do anh Đoàn Chương phụ trách. Tôi quen biết anh Hoàng Kim khi anh được điều về làm Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 308, còn tôi đang chuẩn bị về nhận nhiệm vụ Trưởng phòng Giáo dục chính trị cán bộ vàNhà trường ở Cục Tuyên huấn. Với nhiệm vụ là Cục phó phụ trách khối giáo dục chính trị và văn hóa rất nặng nề, nhưng lần này tôi tự tin hơn là từ một chính ủy trung đoàn được điều lên làm Trưởng phòng Giáo dục chính trị cán bộ và Nhà trường. Tôi tự thấy mình sau 6 năm công tác ở Cục đã phần nào thích nghi và nhập cuộc nhanh hơn công tác nghiên cứu ở một cơ quan cấp chiến lược, chứ không bỡ ngỡ lúng túng như lúc mới được điều động từ đơn vị lên vào cuối năm 1970. Hơn nữa, trong thời gian đó tôi được làm việc với những anh em có kinh nghiệm chuyên môn trong một tập thể đoàn kết, tôn trọng nhau và quan tâm đến nhau, thương yêu giúp đỡ nhau trong công tác cũng như trong đời tư. Cũng phải kể đến Cục phó Đoàn Chương, người tiền nhiệm của tôi, người đã từng làm thư ký riêng cho Đại tướng Nguyên Chí Thanh. Anh là một cán bộ có năng lực, miệng nói tay làm và rất có ý thức bồi dưỡng cho cấp dưới. Khi mới nhận nhiệm vụ Trưởng phòng, từ đơn vị lên, chưa quen công tác cơ quan, tôi có một vài lần va vấp nhờ vả anh, nhưng càng làm việc với anh tôi càng thấy ở anh có nhiều điều tốt về tính tình, về kinh nghiệm công tác mà mình phải học tập. Tôi cũng tự thấy mình có điểm mạnh như đã kinh qua thực tế chiến đấu từ chiến sĩ lên đến cấp trung đoàn, từ khởi nghĩa vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám, qua cả công tác quân sự địa phương đến chủ lực, ở các chiến trường Nam, Bắc và quốc tế; tôi lại được đào tạo tương đối cơ bản về quân sự ở lớp bổ túc cán bộ trung sơ cấp thuộc trường Lục quân Việt Nam khóa 6 ở Trung Quốc, được học lý luận cơ bản một khóa 3 năm và tốt nghiệp tại Trường Đảng cao cấp thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (1961 - 1964) và cuối cùng là học lớp bổ túc một năm tại Học viênQuân chính cao cấp của ta (1.1977 - 1.1978). Trong thời gian tôi giữ cương vị Trường phòng, năm nào phòng tôi cũng được Cục biểu dương khen thưởng là một phòng đoàn kết, đều tay và làm việc có chất lượng. Nhưng nếu trong trường hợp nào đó mà Cục trường vắng mặt phải giải quyết công việc ngay thì tôi tự thấy mình còn phải cố gắng rất nhiều, ví dụ như chỉ đạo về công tác tuyên truyền, thông tấn quân sự, văn hóa văn nghệ, báo chí xuất bản, phim ảnh... về các vấn đề này, kiến thức của tôi quá ít ỏi. Trong khi những "cây đại thụ" của Cục như Cục trưởng Nguyễn Trọng Yên, các cục phó như đồng chí Hồng Cư, Đoàn Chương, Chính Hữu... từ khi Đại tướng Chu Huy Mân làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Đặng Vũ Hiệp về làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục, các anh đều đã được chuyển đi nhận các công tác khác. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Tư, 2024, 08:55:19 pm Tôi giữ cương vị Cục phó từ tháng 2 năm 1978 đến đầu tháng 3 năm 1979 là thời điểm giao thời có sự thay đổi về nhân sự khá lớn ở Tổng cục, nhất là Cục Tuyên huấn, nên công việc chung vẫn chưa có sự thay đổi rõ rệt lắm. Tuy nhiên lại có những sự kiện in đậm trong ký ức cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ.
Từ tháng 3 năm 1977, đồng chí Chu Huy Mân nhận nhiệm vụ làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thay đồng chí Song Hào chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, việc thay đổi về nhân sự ở cấp phó diễn ra trong một thời gian khá dài. Ngoài một số đồng chí đã chuyển đi từ trước, giờ chỉ còn có hai đồng chí cấp phó giúp đồng chí Chu Huy Mân là đồng chí Lê Quang Đạo (đến tháng 10 năm 1978 mới chuyển ra làm Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội) và đồng chí Phạm Ngọc Mậu (giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục đến năm 1988). Đến tháng 10 năm 1977, đồng chí Đặng Vũ Hiệp được bổ nhiệm giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục khi còn đang học ở Học viện Quân chính cao cấp; đồng chí Lê Hai cũng được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục trong thời gian đó (11.1977). Tình hình ở biên giới phía Bắc lúc này rất phức tạp. Dân Trung Quốc ở bên kia biên giới nhiều nơi lấn chiếm sang đất của ta. Ở cửa khẩu Hữu Nghị quan, hai bên đã có những xô xát. Trong nước, vấn đề người Hoa cũng đang là vấn đề rất căng thẳng và nặng nề và cả những ai có gì quan hệ chút ít với người Hoa. Riêng tôi cũng ở trong một tình hình khó xử. Đức, con trai thứ hai của tôi, là một thương binh, một đảng viên, đang là cán bộ của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và người yêu của nó là một cô gái lai Hoa, một kỹ sư cơ khí đang công tác ở thành phố Nam Định cũng đang có tâm trạng rất hoang mang. Nhưng tôi đã công khai chuyện này từ lâu và luôn tin tưởng vào sự trong sáng của chúng trong tình yêu, nên tôi cho rằng tình hình đó sẽ không thể gây rắc rối đối với mình và nếu có chăng nữa thì tôi cũng đủ bản lĩnh để vượt qua. Một buổi, tôi được thông báo sẽ tham gia Đoàn cán bộ của Tổng cục ra đảo Bạch Long Vĩ để kiểm tra tình hình đơn vị ở đó. Tôi nhớ năm 1956, khi Thủ tướng Quốc Vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai sang thăm ta và có ký một hiệp định trao trả đảo này chủ yếu là người Trung Quốc đang sinh sống ở đó cho ta và đến thắp hương ở đền thờ Hai Bà Trưng ở quận Hai Bà Trưng bây giờ (theo tin của Báo Nhân dân). Nhưng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta, người Hoa vẫn sinh sống và có cả một tiểu đoàn Quân giải phóng Trung Quốc ở đó. Sau này, họ đã phải trao trả lại ta, số người Hoa về nước và tiểu đoàn Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc cũng rút. Bây giờ ta đã có một tiểu đoàn đến đóng ở đó và trên đảo chưa có dân. Đoàn cán bộ của Tổng cục Chính trị gồm hơn 10 người của các cơ quan chính như Cục Cán bộ, Cục Tổ chức, Văn phòng... đều có mặt. Cục Tuyên huấn chỉ có một mình tôi. Đoàn do đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Trưởng đoàn. Vùng 5 hải quân đã chuẩn bị cho Đoàn một chiếc tàu nhỏ để ra đảo. Hôm đó, trời đẹp, biển lặng, chúng tôi đi từ khoảng 7 giờ sáng đến gần 12 giờ trưa thì đến đảo. Lần này đi biển nhiều giờ đứng trên boong tàu lộng gió, nhưng tôi thấy vẫn bình thường chứ không nôn nao như lần đầu đi mảng ở Sầm Sơn khi ở trại hè năm 1942. Có lẽ, sự rèn luyện trong Quân đội đã giúp mình có một bộ thần kinh tốt hơn rất nhiều. Bữa cơm trưa hôm đó chúng tôi được tiểu đoàn đóng quân ở đảo thiết đãi khá sang trọng, trong đó có một món hải sản quý giá là bào ngư. Đó là nguồn sống của những Hoa kiều trước ở đây vì nó là một đặc sản rất giàu dinh dưỡng, được họ khai thác và cho xuất khẩu. Các đồng chí cán bộ tiểu đoàn không biết kiếm được nguồn tin ở đâu, nói vui với chúng tôi là khẩu phần ăn của nữ hoàng Anh mỗi tuần chỉ có hai con. Còn chúng tôi mỗi người một bữa ăn đến hàng chục con. Vì thế chỉ thêm bữa sau, một số anh em bị rối loạn tiêu hóa. Trong hai ngày ở Bạch Long Vĩ, ngoài một số thời gian cán bộ tiểu đoàn báo cáo tình hình mọi mặt và công tác hiện tại của đơn vị chúng tôi dành nhiều thời gian đi thực địa. Trước hết, chúng tôi xem cách bố trí các công trình chiến đấu trước kia của Tiểu đoàn quân Trung Quốc. Thì ra toàn bộ công sự chiến đấu của họ được bố trí hướng vào đất liền của ta, nhẹ về các hướng khác. Chẳng biết họ có dụng ý gì? Lúc đó, ở đảo cây cối còn ít, trừ khu vực hiện nay bộ đội ta đang ở. Nhà cửa nói chung có ít, có thể khi họ buộc phải rút khỏi đã dỡ đi. Ta cũng chưa kịp đưa dân ra, diện tích còn nhiều khoảng trống chưa khai thác hết. Bây giờ Bạch Long Vĩ đã thành một huyện đảo thuộc thành phố Hải Phòng trở thành một địa danh ngày càng phát triển và có một vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự và dân sinh đối với ta ở khu vực phía Bắc của vịnh Bắc Bộ. Tôi nghĩ, nếu như ta không nhanh tay dựa vào pháp lý giành lại chủ quyền ở đảo Bạch Long Vĩ thì việc giành lại các đảo của ta bây giờ còn cực kỳ khó khăn hơn. Sau chuyến đi Bạch Long Vĩ, tôi và một số anh em ở Phòng Giáo dục chính trị lại được cử đi cùng với anh Lê Hai, Phó Chủ nhiệm Tổng cục vào công tác ở biên giới Tây Nam. Vào thời điểm gần cuối năm 1978, bọn Pôn Pốt thực sự đã tiến hành một cuộc chiến xâm lấn lãnh thổ của ta, tàn sát đồng bào ta. Cuối tháng 7 năm 1978, Quân ủy Trung ương ra quyết định tổ chức Tiền phương Bộ Quốc phòng do Trung tướng Lê Đức Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng là Chỉ huy trưởng và thay mặt Bộ chỉ đạo ở đó. Nhiều đơn vị của ta như Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, một số sư đoàn của Quân khu 7, Quân khu 5 đã mở các đợt tiến công phối hợp với những lực lượng còn non trẻ của bạn chạy sang ta được ta giúp đỡ đánh lại chúng. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Tư, 2024, 08:57:11 pm Chúng tôi đi trên một xe Commăngca từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Tây Ninh. Một không khí chiến tranh đã bao trùm toàn bộ vùng này. Dấu vết của sự tàn phá của pháo binh địch đã thấy rải rác ở nhiều nơi. Đến gần Trảng Bàng đã rất ít bóng người trên đường, trong làng, trên phố. Xe chạy đã bắt đầu phải đề phòng đạn pháo của địch bẳn. Đến đây thì đường vắng không một bóng người, xe chúng tôi rẽ vào một khu rừng của Tây Ninh, nơi bộ phận tiền phương Bộ Quốc phòng đang làm nhiệm vụ chỉ huy các đơn vị tác chiến. Anh Lê Hai vào làm việc với Bộ Chỉ huy còn chúng tôi ở một cái lán để đợi. Ngày hôm đó, tôi gặp anh Nguyễn Văn Thường là Cục trưởng Cục Địch vận và anh Phạm Đình Thức, Cục phó đang công tác ở đó. Đến sáng sớm hôm sau, anh Lê Hai và chúng tôi lại xuất phát bằng ô tô và anh cho biết sẽ đến công tác ở Sở chỉ huy liền phương Quân đoàn 4, đang ở bên kia biên giới khoảng năm đến sáu kilômét. Xe chúng tôi theo đường ô tô qua Mộc Bài. Một không khí yên lặng rợn người, ngoài tiếng rì rì của động cơ xe và tiếng nẩy của xe do đường rất xóc. Được báo từ trước nên Sở chỉ huy tiền phương của Quân đoàn 4 cử người ra đón và dẫn chúng tôi rẽ vào một phum của người Campuchia không còn bóng người dân nào. Anh Vũ Cao, Tư lệnh phó Quân đoàn 4 tiếp đoàn chúng tôi trên sàn một ngôi nhà của một gia đình Campuchia đã chạy đi nơi khác.
Vừa mới ngồi chưa làm việc và còn đang chuyện trò thăm hỏi nhau thì một tiếng đạn đại bác nổ ngay gần đó và tiếp theo là vài tiếng nổ nữa. Anh Vũ Cao cho biết là địch vẫn thường chỉ bắn thế rồi thôi, có lẽ chúng cũng phải tiết kiệm đạn pháo, vì thời gian này không có những trận đánh lớn. Anh và tất cả đoàn chúng tôi vẫn ngồi yên trên sàn nhà và tiếp tục làm việc. Anh Vũ Cao báo cáo với anh Lê Hai tình hình địch và các hoạt động của ta. Hiện nay chỉ có những hoạt động trinh sát của những toán nhỏ của ta và của địch nên tình hình cũng không có gì đặc biệt. Đồng chí cho biết, ta phải chiếm lĩnh và bố trí sâu vào bên kia biên giới là để ngăn chặn không cho địch tiến qua biên giới sang đất ta lấn chiếm, gây tội ác và chuẩn bị sẵn sàng nhận những nhiệm vụ tiếp sau. Vì ở sát tiền duyên nên cuộc làm việc của chúng tôi chỉ diễn ra không đầy hai giờ. Chiếc ô tô của chúng tôi theo đường cũ ra về, khi xe vừa ra đến đường nhựa vài trăm mét thì một quả đạn pháo của địch bắn rơi ở giữa lòng đường cách mũi xe độ 30 mét, nhưng xe không bị trúng mảnh đạn nào. Tôi nghĩ, lần này đoàn chúng tôi đến Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 4 cũng chẳng có nhiệm vụ gì quan trọng mà chỉ là nắm sơ qua tình hình và làm quen với không khí của chiến trường biên giới Tây Nam thôi... Chúng tôi trở về Hà Nội, tình hình ở biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam ngày càng phức tạp. Công tác của Cục Tuyên huấn chủ yếu xoay quanh việc vạch mặt và lên án cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới, tội ác của bọn Pôn Pốt và hành động lấn chiếm khiêu khích ở biên giới phía Bắc. Những công việc cơ bản lâu dài ít được bàn tới. Thực ra, xung quanh vấn đề Campuchia, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ta đã chủ động và có sự chuẩn bị rất chu đáo về các mặt. Là Cục phó chuyên phụ trách mảng công tác giáo dục chính trị, giáo dục văn hóa và công tác nhà trường nên tôi không nắm được những quyết định rất quan trọng và những công việc rất khẩn trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và tình hình biên giới phía Bắc. Tôi chỉ biết rằng, anh Vũ Chính, Cục phó, nguyên là Bí thư Đảng ủy Cục khoảng giữa tháng 12 năm 1978 được điều vào công tác ở phía Nam. Trước khi đi, anh đến gặp tôi và đề nghị tôi lúc đó là Phó Bí thư Đảng ủy Cục đến gặp anh Hoàng Kim, Cục trưởng mới về thay anh Văn Phác được ít lâu. Trong cuộc gặp chỉ có hai chúng tôi và anh Hoàng Kim, anh Vũ Chính với trách nhiệm của Bí thư Đảng ủy Cục đã có một thái độ rất chân thành và xây dựng. Tôi tuy chưa hiểu sâu về anh Hoàng Kim, nhưng qua vài lần tiếp xúc với anh khi còn ở Sư đoàn 308 và thời gian anh về Cục, tôi nghĩ anh cũng là người ngay thẳng và cần giúp đỡ để anh đoàn kết được anh em trong Cục hoàn thành tốt nhiệm vụ. Anh đã lắng nghe ý kiến của chúng tôi với một thái độ tin cậy, đúng mực... Những ngày cuối tháng 12 năm 1978, chính quyền Pôn Pốt huy động một lực lượng lớn mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam hòng đánh chiếm sâu vào nhiều nơi ở Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang. Quân đội ta đã mở cuộc tiến công đẩy toàn bộ quân Pôn Pốt về bên kịa biên giới. Đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia tổng phản công đánh đổ chế độ Pôn Pốt, cứu nước nhân dân Campuchia thoát khỏi diệt chủng. Cuộc phản công như vũ bão của các cánh quân của ta đã nhanh chóng giải phóng Phnôm Pênh ngày 7 tháng 1 năm 1979, đồng thời tiếp tục truy quét hoặc truy kích chúng ở các mũi tiến công. Và chỉ hai ngày sau, chúng tôi ở Hà Nội đã được xem một đoạn băng hình ghi từ trên máy bay do phóng viên truyền hình Quân đội gửi về. Đoạn phim ghi cuộc tiến quân của ta vào Phnôm Pênh bằng ô tô trong đó có cả xe buýt dân dụng. Trong những ngày đó, tình hình biên giới phía Bắc ngày càng căng thẳng, có lúc lên đến đỉnh điểm. Các phương tiện thông tin đại chúng của ta luôn đưa tin về những hành động khiêu khích, gây hấn từ phía Trung Quốc, kêu gọi tinh thần yêu nước, tinh thần cảnh giác, quyết tâm giữ vững chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc. Các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị tuyên bố mạnh mẽ, kêu gọi toàn quân quyết tâm không để địch xâm chiếm một tấc đất nào của Tổ quốc. Phòng Thông tấn quân sự do đồng chí Trần Dũng là Trưởng phòng hằng ngày làm việc rất khẩn trương và giữ liên lạc rất chặt chẽ với Thông tấn xã Việt Nam. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Tư, 2024, 09:00:29 pm Ngày 17 tháng 2, tức là ngay ngày hôm sau, quân TrungQuốc đã tiến hành cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc và tiến sâu vào lãnh thổ của ta. Và trước cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, đặt Quân đội ta trước một nhiệm vụ rất nặng nề là phải đánh đuổi chúng ra khỏi đất nước mình.
Mươi ngày sau cuộc tiến công của Trung Quốc trên toàn biên giới phía Bắc, Quân đoàn 2 đang chiến đấu trên chiến trường nước bạn Campuchia cũng được lệnh trở về Tổ quốc để tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới ở phía Bắc. Để tăng cường lực lượng bảo vệ Thủ đô ngay thời gian đó, cấp trên quyết định thành lập Sư đoàn Thủ đô. Đồng chí Lê Đình Số, Cục phó Cục Cán bộ gặp tôi thăm dò: "Trên định cử anh về nhận nhiệm vụ Chính ủy Sư đoàn Thủ đô, anh thấy thế nào?". Tôi trả lời vui, cũng rất thật lòng: "Tôi sẵn sàng và nêu chúng đến đây, sẽ quyết tử bảo vệ Thủ đô!". Nói vậy, nhưng tôi cho rằng việc đó sẽ không thể được thực hiện...!. Vào một ngày cuối tháng 2 năm 1979, đồng chí Cục trưởng Hoàng Kim mời tôi lên phòng anh, nói: "Anh sẽ thay anh Vũ Chính, phụ trách Tiền phương của Cục Tuyên huấn, chúng ta rồi sẽ luân phiên vào thôi". Tôi vui vẻ rất thực lòng nhận sự phân công. Tôi cho rằng như thế là hợp lý và vì tôi cũng muốn thay đổi không khí trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới phức tạp và khó khăn hơn, muốn ở một cương vị độc lập để thể hiện mình. Trước khi đi, tôi bàn với Đức, con trai thứ hai của tôi, lúc này đang ở cùng với tôi trong một phòng ở Lý Nam Đế và đang là cán bộ tuyên huấn của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội về công việc của gia đình, nhất là quan tâm tới mẹ nó và việc học tập của các em. Châu, người yêu của Đức cũng đã tốt nghiệp kỹ sư Khoa Chế tạo máy tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đang công tác tại xí nghiệp đóng tàu xi măng lưới thép tại Nam Định. Đức cũng nói với tôi là nó và người yêu đã viết đơn lên Thủ tướng Phạm Văn Đồng xin được kết hôn với nhau trong khi có những ý kiến trái chiều của cơ quan chúng làm việc. Xem qua đơn của chúng, tôi đồng ý cho các cháu gửi đơn đi, nhưng cũng dặn Đức là phải có nghị lực, bản lĩnh để vượt qua những khó khăn sẽ đến với mình thì mới đặt vấn đề chung sống với nhau được, nếu không như thế thì sau này dễ dẫn đến bi kịch. Tôi bay vào Thành phố Hồ Chí Minh đến chỗ ở của đồng chí Lê Hai khi ở Campuchia về nước có việc trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất và gặp anh Vũ Chính ở đó. Khi ở Hà Nội tôi chỉ có một ít lần làm việc với anh Lê Hai, cũng chưa quen lắm, còn anh Vũ Chính có lẽ được làm việc nhiều hơn nên anh hiểu rõ hơn. Cuộc gặp chỉ có ba người, gọi là để anh Vũ Chính bàn giao công việc cho tôi, cho nên nội dung cũng chẳng có gì vì anh chỉ mới đi được hợn một tháng phục vụ cho chiến dịch phản công trên toàn tuyến của quân ta, sau khi giải phóng Phnôm Pênh được ít lâu thì anh được lệnh rút về Hà Nôi. Mở đầu anh Vũ Chính nói: -Anh Tiên vào lúc này là rất phù hợp, bây giờ cần giúp bạn đi vào những vấn đề cơ bản nhiều hơn. Từ nhận thức trước khi nhận nhiệm vụ ở Hà Nội, tôi hình dung nhiệm vụ lần này của mình rất phức tạp và nặng nề nên chẳng cần suy nghĩ gì nhiều, tôi cười và nói ngắn gọn: -Tôi nghĩ cuộc chiến tranh này bây giờ mới thực sự bắt đầu. Anh Lê Hai cũng nói ngắn: -Giá kể anh Vũ Chính tiếp tục nhận nhiệm vụ ở đây thì tốt hơn. Anh Lê Hai nói thực lòng mà không ngại tôi mếch lòng và tôi hiểu là anh muốn làm việc với người mà anh biết rõ hơn. Đó là việc bình thường. Vì vậy, tôi cũng không chạnh lòng và tự nhủ phải cố gắng làm tốt nhiệm vụ của mình. Ngay hôm sau (3.3.1979), anh Lê Hai và tôi đi trên chuyến máy bay trực thăng sang Phnôm Pênh. Chỗ làm việc của Tiền phương Cục Tuyên huấn là tòa nhà của Đại sứ quán Đan Mạch thời Pôn Pốt, trong khu vực Điện Chămcamon. Đó là nơi trước kia Quốc vương Campuchia và các nhân vật chủ chốt của Hoàng gia ở đó. Hiện tại là nơi làm việc của Tiền phương Bộ Quốc phòng ta và các cơ quan trực thuộc. Đại sứ quán Đan Mạch thời Pôn Pốt là một tòa biệt thự nằm trong một khuôn viên rất lý tưởng. Có lẽ vì giàu có nên người Đan Mạch xây một biệt thự ba tầng rất đẹp nằm trong một khuôn viên mà họ bố trí rất gần với thiên nhiên: Nhiều cây cối, có hơn một chục cây xoài các loại và nhiều loại cây khác, có bể bơi, rải rác trong vườn có những phiến đá lớn, có võng nằm nghỉ ngơi, thư giãn, có cột đu…, tầng một có một tiền sảnh rộng rãi, thoáng mát. Nội thất của biệt thự có nhiều phòng có hệthống thông gió, có điều hòa nhiệt độ, có thiết bị tập thể dục... Xung quanh khuôn viên là một hệ thống đèn cao áp bảo vệ, tường rào xung quanh kiên cố, trồng xen kẽ hoa giấy. Nhưng khi Phnôm Pênh được giải phóng thì toàn bộ những thiết bị hiện đại nhất đã bị bọn Pôn Pốt phá hỏng, nhà cửa của Đại sứ quán này cũng như các nhà cao tầng, lâu đài của Hoàng gia đều ở trong tình trạng như vậy và rác thải bẩn thỉu, bị chúng phóng uế bừa bãi. Mặc dù nơi này đã được bộ đội ta dọn dẹp nhưng những dấu vết cũ còn lại chưa được khắc phục hết, những thiết bị phục vụ cho đời sống hoàn toàn chưa được sửa chữa hoặc thay thế. Tiền phương Cục Tuyên huấn lúc đó cũng chỉ có lẻ tẻ vài người, dần dần được bổ sung từ Hà Nội sang. Trong số được bổ sung sang đầu tiên đáng chú ý có đồng chí Trần Dũng, Trưởng phòng Thông tấn quân sự, đồng chí Việt Thanh, Phó phòng Tuyên truyền, đồng chí Lê Bảo, Trợ lý của Phòng Giáo dục chính trị chiến sĩ trước đây, đồng chí Lê Thiệu, Trợ lý Phòng Dân vận và một số anh em trợ lý khác. Ngoài ra, chúng tôi còn phải tiếp đón nhiều bộ phận sang làm nhiệm vụ đột xuất trong thời gian ngắn như các đội làm phim, anh em ở Tạp chí Văn nghệ quân đội, các đoàn, đội văn công... Tôi được anh Lê Hai phân công đặc trách dự các cuộc giao ban của B68, lúc đầu do đồng chí Lê Xuân Đồng, Phó Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương phụ trách, mỗi tuần họp một lần. Tôi trực tiếp phụ trách giúp Tiền phương Tổng cục Chính trị và Tiền phương Bộ Quốc phòng về công tác vận động quần chúng xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở. Ngoài ra, tôi còn được phân công như một sĩ quan liên lạc của tiền phương Bộ và tiền phương Tổng cục Chính trị quan hệ với các đoàn chuyên gia khác bên B68 khi cần thiết, đặc biệt là các công tác thuộc phạm vi tư tưởng, văn hóa và các mặt công tác chính trị khác. Làm nhiệm vụ ở một đất nước hoàn toàn xa lạ với mình, tôi tự xác định việc quan trọng đầu tiên của tôi là phải vừa làm tốt công việc trước mắt vừa phải tìm hiểu sâu tình hình. Vì mới giải phóng nôn bọn tàn quân địch còn hoạt động mạnh ở nhiều nơi. Các đơn vị của ta như Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và nhiều sư đoàn của các quân khu vẫn đang phải ráo riết truy quét địch. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Tư, 2024, 09:01:50 pm Trong một buổi giao ban của Tiền phương Bộ, có báo cáo địch vừa tập kích vào một phum thuộc huyện Rômêhét ở Soài Riêng gần biên giới ta, là nơi căn cứ của Trung ương Cục ta trong thời gian kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chúng đã bắn chết một cán bộ phụ nữ của bạn. Đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Lê Hai giao nhiệm vụ cho tôi xuống nghiên cứu trường hợp này vì nơi đây vốn là vùng tương đối an toàn. Tôi cho đây là một dịp tốt để tôi được tiếp cận với tình hình ở cơ sở. Tôi cùng hai đồng chí trợ lý, phiên dịch và đồng chí lái xe mang theo một khẩu AK đi Soài Riêng. Chúng tôi đến chỗ đồng chí trưởng đoàn chuyên gia quân sự tỉnh là đồng chí tỉnh đội phó của Long An, sơ bộ nắm tình hình. Đồng chí cho biết cùng ở với chị cán bộ phụ nữ của bạn còn có cháu Lan, một cô gái chiến sĩ biệt động của ta cũng có mặt đêm đó. Đồng chí cử Lan dẫn chúng tôi đi. Lan là một nữ chiến sĩ biệt động còn rất trẻ, khoảng 20 tuổi, da bánh mật, nhỏ người nhưng rất khỏe. Từ lúc khoảng 14-15 tuổi cháu đã hoạt động ra vào Sài Gòn, khithì làm liên lạc, khi thì đưa vũ khí vào. Cháu được cử đi cùng chị cán bộ phụ nữ của bạn tên là Saran trạc tuổi cháu. Cả gia đình Saran gồm bố mẹ và anh chị em đều bị bọn Pôn Pốt giết hại. Cả hai cô gái xuống phum làm công tác vận động quần chúng và tổ chức phụ nữ bạn. Ngày công tác, tối về ngủ tại một ngôi nhà tranh mới dựng là chỗ làm việc của chính quyền phum. Đêm hôm đó, một số tên địch tiếp cận ngôi nhà và tập kích bằng súng. Vì có quần chúng báo cho biết trước nên hai chị em cảnh giác. Khi chúng ờ ngoài bắn vào, hai cô gái đã bắn trả lại nên chúng rút chạy. Đêm hôm sau, chúng trở lại và vẫn ở ngoài tiếp tục bắn vào nhà. Có lẽ vì mệt, Saran nằm trên võng ngủ bị trúng đạn hy sinh. Một mình Lan đã dũng cảm dùng AK bắn lại, bọn địch lại rút chạy. Từ chỗ làm việc của Trưởng đoàn chuyên gia quân sự tỉnh, Lan dẫn chúng tôi đến chỗ địch tập kích đêm đó. Hiện trường không có gì đặc biệt. Tôi đề nghị được làm việc với một số thành viên của chính quyền và đoàn thể của phum. Họ đến 5-6 người phần lớn ở tuổi 40, 50, chỉ có một anh còn trẻ độ ngoài 30 tuổi. Trông họ có vẻ lo lắng. Tôi đặt một số câu hỏi về tình hình phum và về vụ tập kích của địch. Tất cả mọi câu hỏi của tôi, chỉ duy nhất có anh thanh niên trả lời, còn tất cả đều im lặng. Qua cung cách trả lời quanh co và lúng túng của cậu ta, tôi không có khó khăn gì để thấy rõ họ đã thống nhất với nhau để đối phó, nhưng vẫn không giấu nổi sự dối trá và cũng dễ dàng nhận thấy phum này có chính quyền hai mặt. Sau hơn 1 giờ chỉ có đổi thoại giữa tôi và anh ta, hỏi một vài người khác, họ đều chỉ vào anh ta hoặc anh ta giành lấy trả lời. Buổi làm việc kết thúc và chúng tôi tiếp tục lên đường để gặp Chủ tịch huyện Rômôhét. Tôi không quên dặn anh emđi theo là phải hết sức cảnh giác khi làm việc ở vùng này. Chủ tịch huyện tên là Tích Ron, một người khỏe mạnh trạc gần 50 tuổi. Đang ở nhà mình, chứ không phải trụ sở huyện vì lúc đấy đã gần chiều tối. Anh niềm nở tiếp chúng tôi và chuẩn bị cơm chiều cho chúng tôi ăn. Chúng tôi góp gạo và thức ăn mang theo vì biết dân còn gặp rất nhiều khó khăn về đời sống. Tuy nhiên, bữa cơm mặc dù thanh đạm nhưng cũng không đến nỗi nào và anh còn lấy những ống nước đường thốt nốt đã được chế biến với men mà anh gọi đùa đây là "la de" Campuchia để thết đãi chúng tôi. Thấy cách đối xử thoải mái, cởi mở của anh và nét mặt đôn hậu tôi nghĩ đây là một người tốt. Nhà anh ở là một căn nhà gỗ không có tường rào gì tại một khu đất thoáng đãng. Tuy anh bảo ở khu vực này an toàn, nhưng chúng tôi vẫn phải thay nhau thức để gác.
Sáng hôm sau chúng tôi làm việc ngay tại nhà anh. Anh cho biết tình hình mọi mặt và công việc của huyện đang tiến hành, anh tỏ ra nắm vững công việc. Anh rất chú ý đến các vấn đề chống lại tàn quân Pôn Pốt, vấn đề sản xuất chống đói cho dân và tổ chức các đoàn thể. Ngoài vụ địch tập kích giêt chị Saran ra, trong huyện vẫn chưa xảy ra vụ nào nghiêm trọng. Nhưng anh vẫn tỏ ra chưa thật yên tâm. Có lúc đang làm việc thì một anh thanh niên đến gặp anh, tôi hỏi anh ta là ai thì anh trả lời đó là một tên lính Pôn Pốt mới ra hàng. Tôi hơi chột dạ nhưng anh có vẻ rất tự tin và tiếp tục công việc tôi hỏi anh về cách vận động nhân dân làm theo chủ trương của chính quyền cách mạng thế nào. Anh nói rằng, huyện tổ chức các cuộc họp của cán bộ các phum để phổ biến công việc, sau anh tổ chứctuyên thệ ở một ngôi chùa. Anh lấy một viên đạn ngâm vào rượu rótra cho mọi người cùng nhau thề nếu ai không làm đúng hoặc phản lại thì sẽ chết bằng những viên đạn. Hỏi trước đây anh làm gì thì anh nói là anh đi tu, sau hoàn tục. Tôi hỏi kết quả về lời thề của mọi người thì anh nói là mọi người về đều làm tốt chưa có ai phản bội. Tôi được biết những người đi tu ở Campuchia thường được học hành tử tế, như vậy anh là người có học. Chúng tôi đến một phum khác để kiểm tra xem ý kiến của Chủ tịch huyện Tích Ron nói có chính xác không. Trưởng phum cũng là một nhà sư hoàn tục nhưng lớn tuổi hơn Tích Ron. Cháu Lan cũng đã từng công tác ở phum này, nói nhỏ với tôi "trưởng phum vừa cưới một cô vợ rất trẻ". Tôi cười nghĩ bụng, nhà sư trở lại đời thường cũng thích nghi rất nhanh với đời sống phàm tục. Khi chúng tôi làm việc với ông thấy ông rất đạo mạo, điềm đạm. Ông cho biết tình hình và những việc phum đang làm tương tự như Tích Ron đã nói. Quả thật khi qua phum này tôi thấy cây cối xanh tốt, đường sá, nhà cửa sạch sẽ, ruộng vườn đã có tác động của bàn tay con người. Tuy mới mấy tháng giải phóng, người còn thưa thớt, mọi người đều bình thản trong một không khí yên lành. Những dấu hiệu đầu tiên của sự hồi sinh đã bắt đầu sau những năm tháng khủng khiếp dưới chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Có một đại đội ta đang đóng quân tại phum khác gần đấy. Đại đội này hoạt động trong đội hình của tiểu đoàn đứng chân ở địa bàn huyện, phụ trách khu vực một số phum được phân công. Tôi thấy Đại đội trưởng mặc thường phục, hỏi tại sao không mặc quân phục, đồng chí ấy trả lời là quân phục không đủ mặc, phải mặc thêm quần áo này. Kiểm tra các ba lô của chiến sĩ thấy đúng là như vậy, mỗi người chỉ có một bộ để thay trong ba lô lép kẹp, một số anh em đang mặc quần áo đã rách. Ăn uống của bộ đội ngày càng kham khổ, đôi khi tiếp tế đến muộn hoặc không đủ. Hỏi về công tác, đơn vị chỉ nhận thức được việc bảo vệ dân, nếu cần cùng bạn truy quét tàn quân Pôn Pốt, còn các việc khác nhận thức còn lơ mơ, nhất là việc vận động quần chúng, xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Tư, 2024, 09:03:12 pm Trở lại tỉnh, chúng tôi làm việc với đồng chí trưởng đoàn chuyên gia quân sự tỉnh và cho đồng chí ấy biết tình hình ở những nơi chúng tôi đã làm việc. Trao đổi với đồng chí ấy, chúng tôi thống nhất với nhau: Tuy chỉ sau mấy tháng được giải phóng, thời gian còn rất ngắn nhưng ta và bạn đã đạt được một số điểm: Những chủ trương của cấp trên đã được cán bộ, chiến sĩ ta giúp đỡ bạn tương đối tốt như vận động nhân dân sản xuất, cứu đói, cứu đau, tình hình một số nơi ổn định. Qua đó thấy trong cán bộ và nhân dân bạn có nhiều người tốt, việc làm tốt. Ở những nơi địch còn hoạt động có người rất dũng cảm như chị Saran.
Tuy nhiên qua mấy ngày công tác ở cơ sở, chúng tôi thấy có những vấn đề cần chú ý: -Tình hình phát triển còn chưa đều. Ở những nơi địch còn hoạt động có dấu hiệu rõ của chính quyền hai mặt. -Cán bộ bạn trình độ còn thấp, cũng như cán bộ, chiến sĩ ta hoạt động ở địa bàn nhận thức nhiệm vụ còn sơ sài, đơn giản, có biểu hiện còn mất cảnh giác với những hoạt động chống phá của địch. Cần phải bồi dưỡng, giúp đỡ nhiều để khắc phục tình hình trên. -Đời sống của bộ đội ta còn quá khó khăn nhất là những đơn vị hoạt động tại cơ sở, cần được quan tâm giải quyết. Đồng chí Trưởng đoàn chuyên gia quân sự mời đoàn chúng tôi ngày hôm sau đi dự "đấu tố" một tên "Pôn Pốt" nằm vùng để "phát động quần chúng" và đồng chí cùng đi với chúng tôi. Hôm sau, chúng tôi đến địa điểm của cuộc "đấu tố". Đó là một bãi đất rộng, trên đó đã thấy khoảng độ 100 người, phần lớn là các cháu thiếu niên, lẻ tẻ có một số ít là thanh niên và người lớn tuổi, ở giữa có một người khoảng trên dưới 50 tuổi tay bị trói đứng ở giữa. Không biết có phải vì phiên dịch kém hay vì lý do gì khác, tôi nghe một vài thanh niên lên tố cáo tội ác của người này, nhưng tội cũng không rõ ra tội, mỗi người nói một vài câu rồi thôi. Cuối cùng người bị "đấu" phát biểu. Tôi nghe phiên dịch rõ nhất là câu "các cháu yêu quý...". Mặt mày hắn ta lỳ lợm, những câu sau tôi nghe hắn nói luyên thuyên như lên lớp các cháu thiếu niên quanh đó chứ chẳng phải là nhận tội với cách mạng hay biện hộ cho mình. Thật tình tôi thấy ngán ngẩm với buổi đấu tố đó và không rõ ai đã "đạo diễn" cho buổi "đấu tố" này. Sau buổi đó, anh em trong đoàn cũng có cảm giác như tôi. Chúng tôi nói thẳng ý kiến nhận xét của mình về cuộc đấu tố đó với đồng chí chuyên gia quân sự. Tuy nhiên, trong cuộc đi cơ sở năm ngày ở huyện Rômêhét và ở tỉnh Soài Riêng, tôi cũng thu hoạch cho riêng mình và bước đầu hình dung được một số nét về cuộc đấu tranh chống lại bọn Pôn Pốt ở một vùng chưa phải là quyết liệt nhất. Về Phnôm Pênh, tôi có báo cáo lại với đồng chí Lê Đức Anh và Lê Hai về tình hình chúng tôi nắm được. Khoảng vài hôm sau, đồng chí Lê Đức Anh gọi tôi sang cho biết, đồng chí Lê Đức Thọ sắp đến chỗ Tiền phương Bộ để làm việc và chỉ thị cho tôi chuẩn bị báo cáo với đồng chí Lê Đức Thọ trong phạm vi thời gian khoảng nửa tiếng. Tôi hỏi có báo cáo tình hình đại đội tôi đến không, nhất là về đời sống, anh nói: "Cứ báo cáo, càng rõ càng tốt". Khi đồng chí Lê Đức Thọ đến, sau khi đã làm việc với hai đồng chí Lê Đức Anh và Lê Hai, tôi được gọi sang để báo cáo. Vì quá gấp, trời lại nóng nên tôi chì mặc áo sơ mi sang làm việc. Thời gian được báo cáo quá ngắn, tôi bắt đầu xin phép được làm việc luôn. Tôi báo cáo gọn, đúng thời gian quy định về những địa điểm chúng tôi đã đến, những việc đã làm, những chuyện cụ thể thú vị để minh họa cho những nhận định của mình. Các đồng chí có vẻ hài lòng về nội dung báo cáo, riêng đồng chí Lê Đức Thọ rất thích thú việc Chủ tịch huyện Rômêhét Tích Ron tổ chức tuyên thệ "uống rượu ngâm viên đạn" ở chùa với các trưởng phum trong huyện, coi như đó là một việc làm sáng tạo, có hiệu quả, phù hợp với trình độ quần chúng trong công tác vận động quần chúng của cán bộ bạn. Từ sau chuyến đi công tác ở huyện Rômêhét, tôi còn có nhiều lần xuống các vùng quê khác, tiếp xúc với nhân dân,cán bộ chính quyền huyện, phum, các đội công tác của bạn. Thỉnh thoảng, Trung ương bạn có những cuộc họp của các tổ chức quần chúng như thanh niên hoặc bàn về công tác của ngành có giấy mời đại biểu Quân tình nguyện, tôi thường được Bộ Tư lệnh cử đi hoặc đi cùng các anh dự, đặc biệt là nội dung đó có liên quan đến công tác chính trị của Quân đội. Tôi coi đó là những dịp rất tốt đối với mình để ngày càng rõ hơn về tình hình Campuchia, cung cấp cho tôi tài liệu ngày càng phong phú hơn để nghiên cứu, rút ra được những vấn đề thực tiễn phục vụ công tác. Cũng từ đó, tôi phát hiện ra một điều là ở Campuchia có rất nhiều người biết tiếng Pháp, ngay ở các phum thôn quê, cũng có những anh chị em cũng từng học ở những trường trung học nói được tiếng Pháp, có người có trình độ khá tốt. Tôi biết mình không đủ thời gian để học tiếng Campuchia vì công việc rất bận, nên tôi quyết định tìm cách học thêm tiếng Pháp, phát huy vốn sẵn có của mình, tuy chưa giỏi và đã lâu không dùng. Tôi đề nghị với anh Trần Dũng có quan hệ với các đồng chí chuyên gia của Thông tấn xã Campuchia (SPK) và có anh em Campuchia ở đó, xin cho một bản tin hằng ngày bằng tiếng Pháp. Và mỗi tối tôi dành ra một giờ để đọc bản tin đó, đối chiếu với một bản tin tiếng Việt đã có. Phần lớn các bản tin đó là những từ về chính trị, được viết theo phong cách hiện đại, lại được lặp lại nhiều lần trong các bản tin nên tôi thấy cũng dễ nhớ. Chỉ trong một thời gian ngắn, tôi thấy việc dùng tiếng Pháp của mình có tiến bộ trông thấy nên cũng có hứng thú. Khi tiếp xúc với cán bộ hoặc dân bạn bằngtiếng Pháp, tôi đều thật thà nói với anh chị em rằng tôi đã lâu không dùng nên quên nhiều, đề nghị họ nói một cách đơn giản, không dùng những câu phức hợp. Thường họ cũng rất vui và có vẻ "nể" trong lúc đối thoại. Rất nhiều lần đi công tác tôi không phải dùng phiên dịch. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Tư, 2024, 09:05:58 pm Lần thứ hai đi công tác ở vùng nông thôn và vùng núi, tình hình nóng và phức tạp hơn rất nhiều so với lần về huyện Rômêhét tỉnh Soài Riêng. Đó là khi ở Mặt trận 979, Bộ Tư lệnh quyết định cùng bạn mở chiến dịch truy quét tàn quân Pôn Pôt đang ẩn náu ở dãy núi Tượng Lăng (chaine des Elépphants) tại huyện Trầm Cốc, tỉnh Tà Keo. Ở đây, bọn Pôn Pốt gây nhiều vụ mất an ninh và làm cho công tác vận động quần chúng của ta và bạn gặp nhiều khó khăn. Vùng này trước đây do tên Tà Mốc là một tên khét tiếng tàn bạo của chính quyền Pôn Pốt cầm đầu. Lần này, kể cả lái xe, chúng tôi có sáu người, không có phiên dịch vì xuống đó có thể có phiên dịch tại chỗ. Trước hết, tôi xuống ngay tiểu đoàn của ta dừng chân ở huyện gặp đồng chí tiểu đoàn trưởng để nắm tình hình và yêu cầu bố trí cho chúng tôi một chỗ ở tương đối an toàn tại đây. Tiểu đoàn trưởng giới thiệu chúng tôi đến một gia đình có nhà cửa tương đổi rộng, ở gần đơn vị. Anh nói đây là nhà chú ruột đồng chí Pensôvan, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia.
Tuy ở gần tiểu đoàn ta nhưng chúng tôi cũng không muốn phiền anh em phải giúp đỡ phục vụ mình mà tự làm lấy tất cả,kể cả việc canh gác. Tôi đề nghị với anh em trong đoàn cho tôi cũng gác nhưng anh em không chịu. Tôi đề nghị cho tôi gác đầu giờ từ 9 giờ đến 10 giờ 30 phút đêm, còn những giờ sau mỗi người thay phiên nhau gác cho đến 5 giờ 30 phút sáng, lúc đó anh em mới đồng ý. Trước khi xuống đây, tôi qua chỗ anh Tư Phán, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận 979 để biết chiến dịch truy quét địch ở vùng núi Tượng Lăng của Mặt trận. Anh Tư Phán cho biết, ta phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Tà Keo mở chiến dịch này nhưng chỉ quy mô nhỏ. Ta cho một tiểu đoàn vào vùng làng mạc địch kiểm soát phối hợp với bạn làm công tác vận động quần chúng ở cơ sở và địch vận. Còn Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn địa bàn dừng chân ở Tràm Cốc thì cho chúng tôi biết, xuống công tác đợt này có đồng chí Trần Xuân Soạn, nguyên là Phó Bí thư Tỉnh ủy Nam Định hiện đang làm Trưởng đoàn chuyên gia Việt Nam ở tỉnh Tà Keo, một đồng chí nữ của bạn là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy và đồng chí Huyện đội trưởng dân quân huyện Trầm Cốc của bạn. Anh Soạn đến gặp chúng tôi có vẻ yên tâm, mới nói qua cho chúng tôi biết kế hoạch của tinh, về chị cán bộ của tỉnh Tà Keo, anh cho chúng tôi biết: Chị là một giáo viên cấp III trường tỉnh, chồng bị bọn Pôn Pốt giết, có năng lực và đáng tin cậy. Chúng tôi gặp chị Srey Sron (Xrây Xrông), Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, trạc ngoài 30 tuổi và Dim Khụth, Huyện đội trưởng Trầm Cốc. Họ cho biết, hôm sau họ sẽ xuống một phum sát khu rừng Tượng Lăng để nói chuyện với bà con. Tôi hỏi chị Srey Sron có nói được tiếng Pháp không, chị nói có. Từ đó, khi thảo luận về công việc,tôi thường trao đổi bằng tiếng Pháp với chị. Chúng tôi đề nghị cùng đi với họ xuống phum và được họ đồng ý. Cuộc họp ở phum đó có khoảng 40-50 người. Người dân tham gia cuộc họp nhìn xanh xao, có lẽ đo thiếu ăn và bệnh tật nên đón cán bộ tỉnh huyện xuống có vẻ lạnh nhạt. Khi đến gần, tôi định hỏi chị một câu, chị ra hiệu cho tôi không nói. Tôi hiểu chị không muốn để chúng tôi tham gia vào bất cứ việc gì của chị. Chúng tôi tôn trọng ý định của chị và bảo nhau đứng ở vòng ngoài hơi xa một chút để chị làm việc. Dim Khụth nói ngắn, có lẽ là giới thiệu chị để chị nói chuyện. Phiên dịch đi cùng chúng tôi là một chiến sĩ người miền Bắc của tiểu đoàn địa bàn, không dịch nổi. Đứng ở ngoài quan sát, tôi đã thấy dấu hiệu phá đám trong số người nghe. Một tên ngồi ở hàng cuối, buộc một cuống lá chuối khô vào đuôi một con chó của hắn rồi xua chó vào giữa đám người ngồi nghe. Một số người trông thấy cười nhạo có vẻ hưởng ứng. Chị nói khoảng nửa tiếng đồng hồ một cách bình tĩnh và kết thúc. Tôi không được biết rõ chị nói những gì, nhưng cho rằng buổi nói chuyện ít kết quả. Dù sao tôi cũng thấy rằng việc chị dám đi đến một nơi địch đang hoạt động mạnh để nói chuyện với dân cũng là một việc làm dũng cảm, đáng để noi theo. Ra về, chị Srey Sron cho tôi biết là nguồn sống của bà con những phum gần khu rừng núi Tượng Lăng là đốn củi để bán và đào củ rừng để chống đói. Nay bộ đội truy quét địch, cấm bà con vào rừng nên đời sống của bà con rất khó khăn. Tôi cũng được biết thêm cuộc truy quét địch của tiểu đoàn trong một vùng rừng núi rộng bát ngát như vậy chưa có kết quả gì. Tôi trao đổi với chị Srey Sron là nên để bà con tiếp tục được vào rừng để giải quyết vấn đề đời sống. Chỉ cần cử cán bộ đến các phum hướng dẫn cho dân nếu gặp tàn quân Pôn Pốt thì vận động họ trở về làm ăn, nói rõ chính sách khoan hồng của cách mạng đối với họ, đồng thời bí mật gài người tốt của ta vào những tốp dân vào rừng cùng họ và nắm thêm tình hình địch. Tôi cũng đề nghị chị nếu chị thấy việc đó nên làm thì chị về báo cáo với tỉnh ủy bạn và tranh thủ ý kiến của chuyên gia Việt Nam, dứt khoát không để dân phải đói khổ do lệnh cấm vào rừng. Chị rất vui và đồng ý với ý kiến này, coi như gỡ được một vấn đề nan giải. Khoảng hai hôm sau, chị đến chỗ tôi và báo là tỉnh ủy cũng như chuyên gia Việt Nam đồng ý hoàn toàn với chủ trương này và bắt đầu triển khai thực hiện. Tôi cũng mừng về chuyến đi này không những nắm thêm được tình hình ở một vùng khá phức tạp mà còn ít nhiều góp được ý kiến có ích cho địa phương. Về nhà ở cũ, tôi được anh em cho biết là lên tầng hai của nhà ông chú đồng chí Pensôvan sẽ thấy có bàn thờ, câu đối bằng chữ Hán. Tôi cũng không biết rõ đó là thuộc văn hóa của người Hoa hay là người Việt và Pensôvan là người gốc Hoa hay là người gốc Campuchia. Khi Đoàn đã hoàn thành công việc, trước khi về, tôi gặp chị Srey Sron, anh Dim Khụth cảm ơn, chúc mạnh khỏe, công tác tốt và chào tạm biệt, nhưng không cho biết thời gian và đường đi về của chúng tôi, vì thật ra tôi cũng chưa hiểu rõ Dim Khụth lắm. Sáng hôm sau đi qua chỗ nhà chị Srey Sron ở gần đó, anh em chúng tôi chào chị lần nữa. Khi bắt tay tôi, chị nắm tay khá lâu, vẻ mặt xúc động, cảm ơn tôi nhiều lần. Lên xe, anh em nói đùa "chị Srey Sron có vẻ "mê" thủ trưởng đấy"1 (Năm 2010, khi ở trong Đoàn đại biểu chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam do đồng chí Vũ Oanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị dẫn đầu sang Campuchia theo lời mời của Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia, tôi hỏi chị Men Săm On - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ thì được biết chị Srey Sron đang là Chủ nhiệm của một Ủy ban của Quốc hội Vương quốc Campuchia). Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Tư, 2024, 09:20:52 pm Sau những chuyến đi, trở về cơ quan công việc ngập đầu. Trong khi đó tiền phương Cục Tuyên huấn chưa có biên chế rõ ràng, chưa đủ người của các ngành để giải quyết những công việc hằng ngày. Cũng may là lúc đầu có những đồng chí cấp phòng giàu kinh nghiệm như đồng chí Trần Dũng, Trưởng phòng Thông tấn quân sự, đồng chí Việt Thanh, Phó phòng Tuyên truyền giúp đỡ, vì thế, công việc của chúng tôi vẫn được tiến hành suôn sẻ. Có những bộ phận công tác của Hà Nội cử vào thường xuyên như các tổ quay phim, nhà văn, nhà báo, văn công..., Tiền phương Cục cũng phải tiếp đón, hướng dẫn cho anh chị em công tác nên anh em chúng tôi làm việc rất vất vả, cường độ rất cao. Chúng tôi vừa phải làm những công việc theo chức năng của mình nhưng cũng thường phải phân công kiêm nhiệm những việc khác. Riêng tôi có thể nói là ít khi được đi ngủ trước 12 giờ đêm. Công tác vận động quần chúng giúp bạn xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở là một việc làm lớn có ý nghĩa chiến lược. Bộ Tư lệnh giao cho Tiền phương Cục Tuyên huấn, trong khi đó lúc đầu chỉ có một đồng chí trợ lý giúp việc. Rất may, trước Cách mạng Tháng Tám 1945 và sau khi tham gia Nam tiến vào làm Chính trị viên huyện đội dân quân, biệt phái làm Bí thư Đảng Đoàn thanh niên, Bí thư chi bộ cán bộ dân vận huyện và là Huyện ủy viên một thời gian khoảng hơn ba năm, nên tôi ít nhiều có kinh nghiệm trong hoạt động. Lúc này, tôi mới cảm thấy kinh nghiệm của thời gian đó rất quý giá đối với công tác hiện nay của mình, tránh được những sai lầm ngớ ngẩn, ấu trĩ trong công tác. Đồng chí Phó Tư lệnh Chính trị giao cho tôi trực tiếp phụ trách, vì vậy mọi văn bản hướng dẫn các đơn vị về công tác vận động quần chúng xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở tôi phải viết để cụ thể hóa các chủ trương trên.
Ngoài ra, có những vấn đề quan hệ với bạn có dính dáng đến chuyên gia quân sự hoặc các đơn vị Quân đội ta, tôi cũng được phân công theo dõi và giải quyết. Có một lần tôi được phái đi dự một hội nghị ở B68 do Đoàn chuyên gia quân sự 478 đề xuất. Bộ Quốc phòng bạn đề nghị với Đoàn 478 xây dựng một khán đài ở ngay khán đài cũ của Quốc vương Campuchia vẫn thường dùng trước đây ở ngay cửa Hoàng cung. Việc đó đòi hỏi phải phá cái cũ để xây một khán đài lớn quy mô vài nghìn người. Thiếu tướng Vũ Hải, lúc đó là Trưởng đoàn Chuyên gia quân sự 478 trình bày ý kiến của Bộ Quốc phòng bạn. Chủ trì cuộc họp hôm đó do một đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng ta phụ trách Phó Tổng đoàn trưởng Chuyên gia đoàn Campuchia điều khiển. Đồng chí Nguyễn Bắc, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội nay là chuyên gia của Bộ Văn hóa bạn cũng có mặt. Sau khi đồng chí Vũ Hải trình bày, mọi người còn đang suy nghĩ, tôi cảm thấy đây là một ý kiến rất nông cạn và sai lầm. Tôi vội phát biểu ngay quan điểm của mình là phải thuyết phục bạn bỏ ý định ngay. Vì đây là một công trình kiến trúc, gắn liền với tổng thể kiến trúc của hoàng cung, rất hài hòa với cảnh quan xung quanh, phải bảo vệ những công trình như thế, chứ không được xóa bỏ. Nếu bạn muốn có một quảng trường và một khán đài cho hàng nghìn người thì nên nghiên cứu làm chỗ khác. Còn nếu muốn có một khán đài ở đây cho đông người dự thì nên làm tạm thời bằng gỗ ghép có thể dỡ bỏ được và không nên động chạm đến quần thể kiến trúc cũ. Người tán thành đầu tiên ý kiến của tôi là đồng chí Nguyễn Bắc và nói chung hội nghị các chuyên gia hôm đó hoàn toàn nhất trí với quan điểm của tôi. Tôi cũng không ngờ là ý kiến của mình dễ được chấp nhận nhanh đến thế và toàn bộ kiến trúc ở khán đài hoàng cung vẫn được bảo tồn. Kỷ niệm một năm giải phóng Campuchia - ngày 7 tháng 1 năm 1980 đã được làm ở nơi khác với khán đài lắp ghép bằng gỗ cho hàng nghìn người. Ngay sau đó, Bộ Văn hóa bạn gửi một công văn cho Bộ Tư lệnh 719, đề nghị các đơn vị bộ đội ta trên toàn Campuchia không đóng quân ở các chùa chiền trên toàn lãnh thổ vì trước đây bọn Pôn Pốt cũng sử dụng lung tung. Tôi đã thảo một công văn yêu cầu các đơn vị ta không được đóng quân ở các chùa. Nơi nào đang ở phải tìm chỗ khác và trước khi đi phải dọn dẹp vệ sinh thật chu đáo và bàn giao cho bạn ở địa phương. Việc này được bạn rất hoan nghênh. Những công việc như thế tưởng như đơn thuần là việc hành chính nhưng chiếm rất nhiều thời gian của chúng tôi. Bộ phận tiền phương của Cục lúc đó có ít người, công việc nhiều, có lúc tất bật như "nhà có người bị cảm cần cấp cứu", nhưng anh em rất tự giác, nhiều khi không đúng chuyên môn của mình vân vui vẻ nhận làm. Ăn uống ở cơ quan kham khổ, chúng tôi thường ăn cá linh kho - loại cá rất rẻ và rau muống luộc. Không hiểu sao kinh phí riêng cho công tác Tuyên huấn không có đến một xu, nhưng chẳng ai có đòi hỏi gì. Các anh em ở trong nước sang công tác thời gian ngắn rồi về cũng thông cảm với nỗi vất vả và thiếu thốn trong sinh hoạt, nên cũng tự mình tìm cách khắc phục khó khăn mà không kêu ca, phàn nàn. Riêng tôi phải làm việc khuya thường xuyên nên thỉnh thoảng cũng được vài chục gói mì ăn liền bồi dưỡng do Văn phòng Tiền phương Bộ cho. Tuy mì tôm từ Sài Gòn gửi sang lúc đó chất lượng rất thấp, lại chỉ ăn suông, nhưng có hôm đói xài đến hai gói mới đủ và vẫn thấy ngon. Tất cả những công việc được coi như là công tác hành chính thường xuyên, song qua tiếp xúc với bạn, với chuyên gia B68, nghe phản ánh tình hình của những anh em công tác ngắn ngày, tôi cũng tiếp cận với tình hình thực tế rất tốt và coi đó là một nguồn cung cấp tình hình để nghiên cứu những công tác lâu dài về sau của mình. Giữa tháng 6 năm 1979, Quân đoàn 3 rút quân về nước sau khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ truy quét bọn Pôn Pốt đến tận Tà Sanh - Săm Lốt, phía tây tỉnh Batambang. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Tư, 2024, 09:22:37 pm Một tin buồn, thật đau xót đến với Cơ quan Tiền phương Bộ ở Phnôm Pênh: Thiếu tướng Kim Tuấn, Tư lệnh Quân đoàn 3 trên đường từ Tà Sanh về Tiền phương Bộ, ngồi trong ca bin một chiếc xe tải đi lẻ, khi đi qua địa phận huyện Môngcônbôdây của Batambang, bị một toán tàn quân Pôn Pốt phục kích bắn vào chiếc xe đó và đồng chí đã hy sinh. Có lẽ, anh cho là đi trên một chiếc xe tải lẻ như thế thì dễ bất ngờ đối với địch. Nhưng thật không may, chẳng ai có thể lường trước được. Đó là vị tướng duy nhất hy sinh ở chiến trường nước bạn Campuchia, trong khi các đơn vị của ta và bạn đánh địch như chẻ tre, trong đó Quân đoàn 3 đã đánh địch suốt từ biên giới Đông Nam giáp Việt Nam tới sát biên giới Tây Bắc giáp biên giới Thái Lan mà rất ít cán bộ, sĩ quan hy sinh.
Chúng tôi chỉ biết một số tình hình cụ thể ban đầu về Quân đoàn 3 khi đồng chí Vinh, một đại úy của Xưởng phim Quân đội đi theo Quân đoàn trở về Phnôm Pênh. Đồng chí Vinh dẫn một tổ quay phim theo Quân đoàn đến tận Tà Sanh sát biên giới Thái Lan, là sào huyệt của bọn đầu sỏ Pôn Pốt. Tôi nhớ có hai việc mà đồng chí về báo cáo ngay với đồng chí phụ trách Tiền phương Bộ. Việc thứ nhất là, khi đơn vị đầu tiên của Quân đoàn 3 tiến công đến giáp biên giới Thái Lan thì thấy một bàn tiệc còn đang ăn dở, gần đó có một chiếc xe du lịch. Có lẽ bọn địch, trong đó có cả cố vấn của chúng đang ăn với nhau. Xe ô tô để ngay bên cạnh, khi cần thì lên xe vượt biên giới chạy sang Thái Lan chúng không thể ngờ được quân ta lại ập đến nhanh như thế. Bọn chúng vội vã tháo chạy bằng chân, không kịp lên xe ô tô đúng như kiểu "quàng chân lên cổ mà chạy". Trên bàn, đồng chí Vinh nhặt được một hộ chiếu đi mang tên "Chu Hao", nhưng trong ảnh lại là một tên đầu sỏ khét tiếng gian ác rất quen mặt, nhiều người biết, đó là tên Iêng Xari. Bàn tiệc và chiếc xe còn để gần đó được máy ảnh của đồng chí ghi lại và tấm hộ chiếu được đồng chí mang theo về. Chuyện thứ hai là, khi đồng chí từ Tà Sanh về thị xã Batambang. Tại đây, trong mấy ngôi nhà một đơn vị Quân đoàn 3 đang ở, đồng chí gặp một gia đình Campuchia khoảng 15 người có cả đàn ông, đàn bà, bà già và trẻ con. Đồng chí Vinh đến hỏi chuyện một người đàn ông khoảng trên dưới 40 tuổi gầy gò, đen đủi do thiếu ăn và đi nắng nhiều, có vẻ là chủ gia đình đó. Đồng chí Vinh biết nói tiếng Pháp tương đối tốt và qua nói chuyện biết ông ta cũng nói tiếng Pháp rất tốt. Ông ta kể với đồng chí Vinh, ông ta tên là Hô Nam Hông, trước đây là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Vương quốc Campuchia tại Cuba. Ông được bọn Pôn Pốt gọi về nước (khi đó ông Xihanúc cũng đang bị bọn Pôn Pốt giam lỏng ở Phnôm Pênh). Chúng cho ông và gia đình ở trong một khu tập trung các đại sứ ở nước ngoài được chúng gọi về cho học tập và cải tạo. Đang ở đó thì ta và bạn tiến công giải phóng Phnôm Pênh. Ông cùng gia đình, trong đó có mẹ đẻ ông tìm đường chạy sang Thái Lan trên các con đường mòn trong rừng. Đến Batambang, trên đường đi biên giới Thái Lan thì gặp một trạm chốt trên đường củaQuân đoàn 3. Bộ đội ta chặn lại hỏi thì ông ta khai thật là đang tìm cách đưa gia đình sang Thái Lan. Trước tình cảnh đói khát của một gia đình người Campuchia chạy loạn, anh em bộ đội ta khuyên ông ta cho gia đình quay lại, cấp gạo cho ăn đường để trở về thị xã, đến ở gần một đơn vị của ta để được giúp đỡ tiếp. Đến đây, ông thấy rất lạ là trời nóng nực, nhưng không hề thấy bộ đội ta lấy dừa có rất nhiều trên cây trong vườn để uống nước. Ông ta hỏi tại sao thì chiến sĩ ta trả lời "đây là dừa của dân, người ta sẽ về, bộ đội không bao giờ tự ý lấy của dân dùng và đó là kỷ luật của quân đội cách mạng". Đồng chí Vinh đến gặp, thăm hỏi mẹ ông ta thì bà cụ vừa khóc vừa nói bằng tiếng Việt Nam, kể lể sự cực khổ của gia đình khi ở với bọn Pôn Pôt và trên đường chạy sang Thái Lan. Đây là một bà mẹ gốc người Nam Bộ. Toàn bộ lời kể và tiếng khóc của cụ được đồng chí Vinh ghi lại trong máy ghi âm. Nghe chuyện tôi rất vui và trong thâm tâm thấy cán bộ điện ảnh Quân đội ta, ngoài sự dũng cảm theo sát đơn vị chiến đấu để ghi lại những thước phim rất có giá trị còn có cả một sự nhạy cảm về chính trị rất đáng khen. Sáng ngày hôm sau, trong cuộc giao ban của Tiền phương Bộ tôi được đồng chí Lê Hai đưa cho một tờ giấy. Đó là thư của ông Hô Nam Hông gửi "Ngài Tổng chỉ huy Quân đội Việt Nam tại Campuchia" đã được dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Đại ý trong thư, ông Hô Nam Hông nói, ông là Đại sứ của Vương quốc Campuchia tại Cuba. Trong thời gian ở Cuba ông có quen biết Đại sứ Hà Văn Lâu của ta. Ông và gia đình được bộ đội Việt Nam đối xử và giúp đỡ rất tốt. Ông rất khâm phục kỷ luật và tư cách của các chiến sĩ bộ đội Việt Nam. Ông là cử nhân Luật đã tốt nghiệp tại Pháp và đề nghị được làm một việc gì đó để phục vụ đất nước, tốt nhất là được làm công việc ở ngành Ngoại giao. Nghe đồng chí Vinh kể lại và được đọc lá thư của ông gửi đồng chí Lê Đức Anh, tôi thấy những phẩm chất tốt đẹp của cán bộ, chiến sĩ ta trong cách đổi xử với gia đình ông đã khiến ông quyết định đi theo cách mạng phục vụ đất nước. Một hành động cụ thể nói lên phẩm chất cao quý, lòng nhân ái của bộ đội cách mạng có một ý nghĩa lớn như thế nào! Ngay ngày hôm sau, đồng chí Lê Đức Anh đã điều một trực thăng lên Batarabang đón toàn bộ gia đình ông về Phnôm Pênh và bố trí cho gia đình Hô Nam Hông ở một ngôi nhà ngoài điện Chămcamon, không xa Sở chỉ huy của Tiền phương Bộ. Ý của đồng chí là muốn gợi ý bạn nghiên cứu sử dụng một trí thức vào một công việc hợp lý, có thể phát huy được khả năng của ông phục vụ cho chính quyền mới. Trong khi đợi bạn thỏa thuận với ý định của ta, đồng chí Lê Đức Anh đã chỉ thị cho cơ quan cung cấp cho gia đình Hô Nam Hông một mức sống tốt. Một hôm, gặp tôi đồng chí bảo: "Cậu nên bố trí thời gian đến gia đình ông ta thăm hỏi và chuyện trò với ông ấy". Tôi thấy đó cũng là một công việc thú vị, nên tôi đề nghị với đồng chí cử một đồng chí khác có nhiều thời gian hơn tôi để làm việc này. Đồng chí cũng đồng ý mà không hề có ý kiến bắt tôi phải làm. Ít lâu sau, ông Hô Nam Hông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Campuchia, giúp Hun Xen khi đó là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ này. Tôi nghĩ đây là một ý định thật tốt đẹp, vô tư, trong sáng của các đồng chí lãnh đạo Tiền phương Bộ Quốc phòng của ta đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ cho bạn, trong đó phải kể đến công của đồng chí Vinh, phụ trách đội quay phim của Xưởng phim Quân đội và các đồng chí chiến sĩ của Quân đoàn 3. Khi những đơn vị cuối cùng của Quân đoàn 3 bắt đầu hành quân về nước, đồng chí Phạm Sinh, Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân đoàn (người thay thế Thiếu tướng Kim Tuấn đã hy sinh) đến Tiền phương Bộ báo cáo tình hình của đơn vị với các đồng chí lãnh đạo. Sau đó, anh sang chỗ tôi theo ý kiến của đồng chí Lê Hai. Anh cho tôi biết, trong quá trình truy quét bọn tàn quân Pôn Pốt, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 đã nhặt được của địch một số vàng và những của cải khác. Anh cho biết khi lãnh đạo, chỉ huy của Quân đoàn phát hiện tình hình đó, đã phát động trong toàn Quân đoàn một phong trào những ai nhặt được tự nguyện nộp cho đơn vị để trả lại cho chính phủ bạn. Một kết quả không ngờ: Tổng số vàng thu được từ những thứ nhỏ nhât cộng lại được tới 21 kilôgam và một va li, trong đó có hơn 400 đồng hồ đeo tay loại đắt tiền. Tất cả số của cải này đã được làm thủ tục trao lại toàn bộ cho bạn. Một hành động đẹp đẽ mà chỉ có quân đội cách mạng mới có được. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Tư, 2024, 09:24:05 pm Một dịp nữa để tôi có thêm tư liệu về tình hình Campuchia. Đó là việc Trung tướng Hoàng Cầm, Phó Tư lệnh Quân tình nguyện đi thị sát tình hình biên giới phía Bắc Campuchia.Đoàn được tổ chức khá đầy đủ cán bộ các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Kỹ thuật đi theo đến một số đơn vị chốt giữ những vị trí trọng yếu ở phía Bắc giáp giới với Thái Lan, tức là đến với các đơn vị chủ lực của ta.
Nơi đầu tiên chúng tôi đến là Sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh Đoàn 479, sau gọi là Mặt trận 479 gồm hai tỉnh Batambang và Xiêm Riệp. Có thể nói, khu vực hai tỉnh này có nhiều điểm nóng nhất so với các nơi khác vì còn nhiều tàn quân của nhiều đầu sư đoàn bọn Pôn Pốt hoạt động ở đây. Trụ sở của Bộ Tư lệnh 479 đặt tại một khu vực vắng vẻ ở Trung tâm Xiêm Riệp, chỉ cách khu đền Ăngco nổi tiếng của Campuchia bảy kilômét. Trong khu đền Ăngco chỉ có Ăngco Vát là khu vực chính, đồ sộ nhất và tương đối an toàn, còn từ đó vào phía trong Ăngco Thom, bọn tàn quân Pôn Pốt còn lén lút hoạt động. Sau khi làm việc ở Bộ Tư lệnh Mặt trận, theo ý kiến đồng chí Hoàng Cầm chúng tôi vào khu đền Ăngco Vát trước. Có lẽ, anh cũng muốn kết hợp cho nhiều anh em trong đoàn được tham quan một di tích nổi tiếng. Đi với anh, một cán bộ dầy dạn trận mạc, trưởng thành từ cán bộ cơ sở của Sư đoàn 312, chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ những ngày đầu tiên, tính tình cởi mở, gần gũi rất dễ mến. Trước khi anh nhận nhiệm vụ làm Phó Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, anh là Tư lệnh Quân đoàn 4. Cùng đi với đoàn có một phiên dịch tiếng Campuchia. Khi chúng tôi đến Ăngco Vát, người hướng dẫn viên giới thiệu quản lý khu đền là một người khoảng gần 40 tuổi. Trông anh ta bủng beo như người bị bệnh sốt rét rừng, quần áo còn tồi tàn, nhưng giới thiệu về Ăngco Vát rất nhiệt tình, hiểu biết thấu đáo, lịch sự đối với khách tham quan. Khi kết thúc cuộc tham quan, Đoàn cảm ơn anh ta thì anh nói bằng tiếng Pháp muốn đề nghị với chúng tôi một việc. Trong số anh em chúng tôi chắc cũng có người nói được tiếng Pháp nhưng các anh cũng rụt rè chưa muốn nói. Tôi nói với anh ta "có gì anh cứ nói", anh ta tiếp tục nói bằng tiếng Pháp: "Tôi đề nghị với các ông, ở đây có ai biết ông G. (tôi quên mất tên) là nhà khảo cổ học người Pháp đã từng gắn bó với Ăngco nhiều năm, giúp chúng tôi trùng tu, nghiên cứu, quản lý khu đền này. Ông là một chuyên gia khảo cổ học giỏi, là thầy dạy chúng tôi. Từ khi Pôn Pốt cầm quyền, ông G. bỏ về Pháp nay chế độ Pôn Pốt đã sụp đổ, đề nghị các vị ở đây, ai có thể báo cho ông ấy trở lại giúp chúng tôi, chúng tôi xin cảm ơn!". Tôi trả lời anh ta là trong chúng tôi không ai biết ông ấy, anh nên đề nghị với chính quyền cách mạng Campuchia việc này. Tôi thấy điều rất đáng quý ở anh là trách nhiệm của một người công dân đối với việc bảo tồn văn hóa lịch sử của đất nước mình và tình nghĩa thầy trò đối với nhà khảo cổ học người Pháp. Sáng hôm sau, rời Mặt trận 479, chúng tôi đi bằng trực thăng đến một địa điểm giáp biên giới Thái Lan. Vị trí này vừa là điểm nóng, vừa là vùng cực kỳ trọng yêu. Đó là khu đền Prết Vihia (Preah Vihcar) cổ kính, trên đó có một tiểu đoàn mạnh của ta đang chốt giữ. Ngôi đền này tọa lạc trên một cao điểm của rặng núi Đăngrếch (Dangrek) (nếu tôi nhớ không lâm) ở độ cao 600 mét so với mực nước biển, về phía Campuchiaphải đi qua một dốc đá khá dài gần như dốc đứng, quanh co khúc khuỷu và phải mất vài giờ đồng hồ mới tới nơi. Còn về phía Thái Lan có một con đường trải nhựa đến tận cổng của khu đền, xe cơ giới có thể đi tốt. Khu vực dưới chân dốc phía Campuchia có một sư đoàn của Quân khu 5 bố trí ở đó. Sư đoàn này vừa làm nhiệm vụ truy sát tàn quân Pôn Pốt còn lẩn trốn ở đó khá nhiều, vừa bảo vệ khu đền. Trực thăng tiếp đất trên một bãi phẳng tương đối kín đáo trong khu vực đóng quân của sư đoàn. Từ đó, chúng tôi đi bộ qua những khu vực đóng quân của một số đơn vị. Cán bộ, chiến sĩ trú quân ở đây rất tích cực trồng các loại rau, bí để cải thiện sinh hoạt. Đi qua những giàn bí đao trĩu quả, được bộ đội đan lưới đỡ từng quả một, đoàn chúng tôi thấy bộ đội rất trân trọng với thành quả lao động của mình. Tôi nói vui "bí được đeo xu chiêng", anh Hoàng Cầm cũng rất thú vị cười "đúng là xu chiêng thật". Bắt đầu leo dốc khoảng độ một giờ đồng hồ, nhiều người đã đổ mồ hôi như tắm, những vị nặng cân đã bắt đầu thở phì phò. Đến khu vực đền, mọi người ngạc nhiên thấy đó là một bãi đất khá phẳng phiu, cây cối mọc khá đẹp. Các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn cho biết diện tích khu đền rộng khoảng 50 hécta. Nhà chỉ huy và lán của bộ đội nền được đào chìm khoảng hơn một mét để tránh pháo, cối của địch bắn từ xa. Công sự chiến đấu được bố trí tương đối tốt. Anh Hoàng Cầm và anh em chúng tôi đi theo thấy đơn vị bố trí phòng thủ như vậy, anh đã kịp thời biểu dương anh em và tham gia một số ý kiến bổ sung cho kế hoạch tác chiến phòng ngự. Đứng ở cổng đền sát ngay đầu đường trải nhựa bên phía Thái Lan, xa xa khoảng một kilômét, tôi nhìn thấy một "barie" chắn ngang đường nhựa, thấp thoáng thấy một vài bóng người lính Thái Lan đi lại có vẻ bình yên. Từ trước đến lúc này chưa có sự va chạm nào giữa binh lính Thái Lan và bộ đội ta. Khoảng 2 đến 3 giờ chiều, chúng tôi tụt dốc trở lại nơi trực thăng đậu để trở về Batambang, còn một điểm nữa cần kiểm tra đó là Nimít, một cửa khẩu trước đây giáp Thái Lan. Trực thăng khởi hành lúc hơn 5 giờ chiều, bay dọc theo dãy núi Đăngrêch. Đi được một lúc thì trời bỗng tối sầm và một cơn mưa như trút nước đổ xuống kèm theo sấm chớp. Trực thăng bay giữa không gian tối như bưng, thỉnh thoảng một tia chớp lóe lên thấy nước mưa sối vào các ô cửa kính. Một không khí yên lặng rất căng thẳng trong máy bay, không ai nói với ai một câu nào, chỉ thấy tiếng nước mưa quật vào thân trực thăng. Tôi nghĩ mọi người đang lo lắng cho sự an toàn của chuyến bay. Cũng không thấy anh em tổ lái thông báo gì. Tôi nghĩ sẽ rất nguy hiểm nếu trực thăng bay vào một đám mây tích điện thì tai nạn là không thể tránh khỏi, rất may là chuyện đó không xảy ra. Khi gần đến sân bay Batambang thì mưa dần dần tạnh và trực thăng tiếp đất an toàn. Ra khỏi máy bay, dưới ánh điện mờ mờ, tôi thấy mình rất mệt và nhìn vẻ mặt của mọi người thấy rõ sự mệt mỏi sau một chuyến bay rất nguy hiểm và căng thẳng. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 18 Tháng Bảy, 2025, 08:28:44 pm Đến một điểm nữa do bộ đội chủ lực ta chốt giữ đó là Nimít, trong thời bình là một cửa khẩu sầm uất giữa Campuchia và Thái Lan. Chúng tôi phải đi bằng ô tô theo đường bộ, trong khi đi vẫn cần đề phòng địch phục kích. Đến vị trí của đơn vị bố trí ở đó, anh Hoàng Cầm yêu cầu tất cả ở lại để làm việc với đơn vị, chỉ có anh và tôi được đến đài quan sát bí mật ở bên này một chiếc cầu ngắn khoảng 70 đến 80 mét bắc qua một dòng sông nhỏ giữa Campuchia và Thái Lan. Cây cối ở hai đầu cầu mọc rất rậm rạp. Đài quan sát được đặt trên lưng chừng một cây um tùm rất kín đáo. Anh Hoàng Cầm và tôi được đưa lên đài để quan sát bên kia cầu. Vì cây cối quá rậm rạp nên tầm nhìn rất hạn chế. Đồng chí cán bộ của đơn vị chỉ nói thì thầm với chúng tôi về hoạt động của địch. Địch hoạt động cũng rất thận trọng, chỉ thỉnh thoảng lẻ tẻ bắn vu vơ sang bên phía ta chứ chưa có một cuộc đánh lớn nào.
Đoàn cán bộ do anh Hoàng Cầm dẫn đầu đi thị sát một số điểm ở biên giới đã hoàn thành nhiệm vụ. Chuyến đi giúp tôi hình dung khá rõ hoạt động của các đơn vị chủ lực của ta. Thêm một vốn sống thực tế về bộ đội chủ lực của ta ở Campuchia. Trong khi làm nhiệm vụ theo sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện, tôi rất quan tâm tới năng lực thực tế của bạn, hiệu quả của việc tiếp nhận và sử dụng sự trợ giúp của ta và của bạn bè quốc tế. Tôi cho rằng đó là một việc làm rất cần thiết để ta hiểu được đối tác và có biện pháp thích hợp và xử sự đúng đắn trong việc giúp đỡ bạn. Tôi phát hiện ra có một số chuyên gia quân sự của ta ít chú ý đến vấn đề này, cho nên thường chủ quan, ít nhiều có biểu hiện coi thường cán bộ bạn, chỉ muốn áp đặt một cách đơn giản ý kiến của mình trong công việc,không hiểu được tâm lý tự ty hoặc nể nang chuyên gia nên có việc bạn chưa thật thông suốt mà vẫn nghe và làm theo. Từ đó không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cán bộ bạn. Có một số chuyên gia chỉ ưa những người dễ dàng làm theo ý kiến của mình chứ không thích những người có ý kiến phản biện, trung thực đánh giá phẩm chất và năng lực của người mình giúp đỡ không khách quan, không đúng, dễ dẫn tới quan hệ đoàn kết không tốt. Khi có việc, tôi đã tiếp xúc với cán bộ cơ sở của bạn trong gần ba năm từ đầu năm 1979 đến đầu năm 1981, kể cả việc tiếp xúc với cán bộ quân sự của bạn qua các hội nghị mà tôi được tham dự, chỉ qua hai việc lớn giúp bạn nữa là tôi có thể tạm hình dung được trình độ của cán bộ bạn. Đó là hai lần giúp bạn tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày giải phóng Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt và Ngày bầu cử Quốc hội Campuchia(1.5.1981). Cùng với chuyên gia các ngành, chuyên gia quân sự và quân tình nguyện đã giúp bạn và cùng bạn tổ chức kỷ niệm ngày 7 tháng 1, hai năm (1980 - 1981) hoành tráng, có ảnh hưởng tốt đối với dư luận cả trong nước và quốc tế. Bạn rất quan tâm đến việc tổ chức kỷ niệm ngày 7 tháng 1 với kỳ vọng thể hiện được sự trưởng thành nhanh chóng của chế độ mới và sự hồi sinh của đất nước đã đạt được những thành quả đáng tự hào như thế nào. Tổ chức những ngày lễ lớn như vậy đối với ta không mới lạ gì, nhưng đối với bạn lại là một công việc rất lớn, rất mới với một khối công việc đồ sộ, phải huy động hầu như toàn bộ các ngành tham gia với những kế hoạch rất tỷ mỷ, phối hợp với nhau chặt chẽ, chi phí khá lớn và bảo vệ chu đáo, đề phòng mọi hoạt động phá hoại của địch, kể cả việc vũ trang quấy rối và pháo kích. Phải nói rằng công tác giúp bạn chuẩn bị cho những ngày này rất bận rộn và khẩn trương. Ở bên nước ta, các ngành đã cử những cán bộ có kinh nghiệm nhất sang giúp bạn. Riêng về phía Quân đội, Bộ Quốc phòng đã cử nhiều cán bộ giỏi nhất về huấn luyện đội ngũ, về duyệt binh, về hậu cần, kỹ thuật,... do đồng chí Phùng Thế Tài, Tổng Tham mưu phó dẫn đầu sang để giúp đỡ bạn. Riêng về mặt chính trị, Tiền phương Cục Tuyên huấn, Cục Bảo vệ cũng cùng với chuyên gia tuyên huấn và bảo vệ của Đoàn 478 trong những ngày này cũng phải làm việc cật lực để giúp bạn, bồi dưỡng cho cán bộ bạn về nội dung công việc và cách tiến hành phục vụ cho những ngày lễ này. Riêng về công tác tuyên huấn, những công việc công phu và tổn nhiều thời gian nhất là giúp bạn tổ chức cuộc triển lãm mà nội dung phần lớn là do quân đội phụ trách và chuẩn bị. Ngoài ra, toàn bộ nội dung tường thuật tại chỗ cuộc diễu binh và điều hành của bộ đội và nhân dân bạn trong ngày lễ, ngoài ra còn đón và tổ chức hoạt động cho đoàn văn công quân đội và các đoàn văn công của các quân khu phía Nam sang biểu diễn... đều do Tiền phương Cục Tuyên huấn phụ trách. Ngoài lực lượng tuyên huấn của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện và chuyên gia tuyên huấn của Đoàn 478, Cục Tuyên huấn ở Hà Nội còn cử các đồng chí cánbộ làm công tác triển lãm và cán bộ các ngành có liên quan do đồng chí Chính Hữu, Cục phó Cục Tuyên huấn dẫn đầu sang giúp đỡ thêm. Với sự giúp đỡ rất tận tình của ta, Lễ kỷ niệm Ngày giải phóng Campuchia (7.1.1980) lần đầu tiên do bạn tự điều hành từ đầu đến cuối, diễn ra rất tốt đẹp, phong phú, hoành tráng và an toàn. Buổi lễ lần thứ hai (7.1.1981) lớn hơn, phong phú hơn. Sự giúp đỡ của ta vẫn còn nhưng không cần nhiều chuyên gia như năm 1980. Bạn đã biết tổ chức và điều hành buổi lễ rất tự tin và thành công tốt đẹp. Một kỷ niệm trong cuộc diễu hành của quần chúng ngày 7 tháng 1 năm 1980 rất đáng nhớ là đội ngũ các nữ thanh niên Campuchia xinh đẹp, nét mặt rạng rỡ, tay vẫy cờ và những cành hoa, bước đi khỏe khoắn, tươi vui. Tôi bỗng nhớ tới những ngày đầu tiên của năm 1979, trên đường phố Phnôm Pênh tôi luôn luôn gặp những người phụ nữ gầy yếu, ốm đau, liêu xiêu từ các nơi trở về, trong tôi trào lên một cảm xúc rưng rưng khó tả. Nhìn sang bên cạnh, tôi thấy cháu thanh niên lái xe của cơ quan tôi, cũng sang từ những ngày đầu, mắt đỏ hoe. Còn trong ngày bầu cử mùng 1 tháng 5 năm 1981, với sự giúp đỡ của chuyên gia các ngành của ta, bạn đã tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội rất bài bản và thành công ngoài sức tưởng tượng của tôi trong tình hình tàn quân Pôn Pốt còn hoạt động khá mạnh ở nhiều nơi. Quân tình nguyện, nhất là các tiểu đoàn của ta đứng chân ở huyện đã cùng bộ đội bạn truy quét địch, bảo đảm an toàn cho cuộc bầu cử, đồng thời cùng các đội công tác và đại đội hai chức năng bạn vận động nhân dân đi bầu cửrất có hiệu quả. Hôm đó, tôi đi đến một số điểm bầu cử ở nội, ngoại thành và một số điểm ở hai tỉnh Côngpông Chơnăng và Canđan thấy cử tri đi bầu rất trật tự. Ở các điểm bầu cử đều có ảnh của các ứng cử viên và tóm tắt tiểu sử được treo rất trang trọng. Theo tổng kết của bạn đã có tới hơn 97% cử tri đi bỏ phiếu và đến cuối tháng 6 năm 1981, trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội Campuchia đã bầu ra Hội đồng nhà nước, Hội đồng bộ trưởng và thông qua Hiến pháp của nước Cộng hòa nhân dân Campuchia. Một đất nước có chủ quyền, có thể chế dần dần hoàn chỉnh đang tiến lên từng bước vững chắc. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 18 Tháng Bảy, 2025, 08:29:32 pm Qua những việc như giúp bạn tổ chức bầu cử Quốc hội, tổ chức các cơ quan nhà nước, tổ chức những cuộc kỷ niệm lớn... đòi hỏi công tác tổ chức phải rất tỷ mỷ, chu đáo, có sự phối hợp rất chặt chẽ với các ngành của bạn, phối hợp giữa ta và bạn. Tôi có một cảm nhận và đánh giá cao là bạn đã tiếp nhận rất tốt sự giúp đỡ, rất năng động và sáng tạo trong việc thực hiện. Không phải ngẫu nhiên mà một đồng chí cấp tướng trong Đoàn cố vấn của Liên Xô giúp Campuchia đã tâm sự với ta mong ở Ápganixtan cũng được như thế (lúc đó Liên Xô cũng đang có lực lượng quân sự ở Ápganixtan giúp Chính phủ Nagibula, nhưng đã không thành công và người đứng đầu đã bị những lực lượng phản cách mạng bắt treo cổ).
Vừa làm việc vừa tìm hiểu sâu hơn về tình hình đã giúp tôi ngày càng tích lũy được những hiểu biết cần thiết để phục vụcho công tác. Riêng về những lực lượng quân sự chống lại chính quyền cách mạng Campuchia như bọn Pôn Pốt, bọn Xrâyca, về bản chất con người của chúng như thế nào thì chúng tôi chưa hiểu rõ lắm, chỉ biết chung chung. Nhưng may mắn có hai sự kiện giúp tôi hiểu sâu về chúng hơn. Chuyện thứ nhất: Trong một buổi giao ban tại Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện, Mặt trận 979 thuộc Quân khu 9 báo cáo: Tại thị xã Côngpông Xpư, cách thủ đô Phnôm Pênh khoảng 40 kilômét, do sơ suất của bạn, đã bị bọn Pôn Pốt tập kích vào trại giam hơn 300 tù binh Pôn Pốt bị ta và bạn truy quét bắt được. Cuộc tập kích của chúng đã giúp cho hơn 300 tên tù binh đó trốn thoát. Bộ Tư lệnh đã chỉ đạo cho Mặt trận 979 cùng bạn rút kinh nghiệm trong việc quản lý tù binh, hàng binh. Khoảng gần hai tháng sau, cũng trong một buổi giao ban, Mặt trận 979 báo cáo là gần hết trong số hơn 300 tên tù, hàng binh Pôn Pốt được đồng bọn tập kích phá trại giam, giúp cho chúng trốn thoát đã lục tục trở về xin được tiếp tục ở tù vì ờ với bọn Pôn Pốt khổ quá! Tinh thần của chúng là như thế. Tôi và nhiều đồng chí rất thú vị về tin này. Riêng tôi đang loay hoay suy nghĩ là nên xử lý với bọn này như thế nào thì đồng chí Tư lệnh Lê Đức Anh phát biểu: "Thả hết cho họ về với gia đình, bắt họ viêt cam kết không được trở lại hàng ngũ Pôn Pốt, báo cho gia đình họ lên đón và yêu cầu gia đình họ cũng viết cam kết không để chồng con đi theo Pôn Pốt". Tôi rất hoan nghênh, đồng tình với cách giải quyết khoan hồng và nhân đạo đó và tin rằng như vậy sẽ có ảnh hưởng tốt đẹp đến công tác địch vận của bạn sau này. Chuyện thứ hai: Có một đơn vị hơn 400 tên Xrâyca (Khơme tự do) của bọn Son San thân Mỹ đem toàn bộ vũ khí ra hàng ở Batambang. Tôi được đồng chí Phó Tư lệnh Chính trị Lê Hai đang công tác ở đó gọi lên Batambang làm việc. Từ Phnôm Pênh, tôi và trung tá Ngô Ry, chuyên gia dân vận, địch vận của Đoàn 478 đi trực thăng đến Batambang thì được anh Lê Hai cho biết: Toàn bộ hơn 400 tên đó ra hàng tập thể, được bạn bố trí cho ở một trại giống nông nghiệp ở huyện Môngcônlôrây. Trại giống này ở giữa một khu ruộng nước chỉ có một con đường độc đạo dài khoảng gần hai kilômét đi được bằng ô tô vào. Bạn đã cử một phó chủ tịch tỉnh đến giải thích cho họ về chính sách khoan hồng của cách mạng đối với hàng binh, khuyên họ giao nộp vũ khí. Anh yêu cầu chúng tôi đến đó để nghiên cứu tình hình ra sao. Thật ra, việc này không phải thuộc lĩnh vực của tôi đảm nhiệm, mà có đồng chí Phạm Đình Thức, Cục phó Tiền phương Cục Địch vận đang thường trực ở Phnôm Pênh phụ trách. Không tiện hỏi anh vì sao lại không gọi anh Thức làm việc này, tôi và anh Ngô Ry cùng một trợ lý tuyên huấn dùng một chiếc xe commăngca, qua thị trấn Sisôphôn đến Môngcônlôrây và vào trại giống. Tôi được báo là đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh của bạn đã đến rồi, nên không kịp trao đổi với bạn. Ngồi trên xe, tôi đã suy nghĩ dự kiến các tình huống có thể xảy ra như thế nào và thấy vào giữa một toán giặc mà vũ khí đang còn trong tay chúng sẽ là một việc khá mạo hiểm cả cho bạn và cho mình. Tuy nhiên, tôi cho rằng đây cũng là dịp tốt để hiểu thêm về trạng thái tinh thần của một lực lượng mạnh thứ hai sau bọn Pôn Pốt chống lại chinh quyền cách mạng và Quân tình nguyện Việt Nam. Hơn nữa, dù sao việc chúng đầuhàng cũng chứng tỏ tinh thần của chúng đã rệu rã nên khó có thể dám manh động một cách dại dột. Sở dĩ chúng vẫn đang giữ trong tay toàn bộ vũ khí mà chưa nộp có lẽ là muốn có điều kiện để mặc cả một điều gì đó đối với chính quyền cách mạng. Vì vậy, tôi nghĩ mình chỉ cần có một thái độ đàng hoàng, đúng mực, không nên có những lời nói hoặc cử chỉ gì làm chúng tự ái, kích động tính chất lưu manh của chúng. Đến gần trại giống, trên đường cái lớn thỉnh thoảng tôi thấy có một số người lẻ tẻ đi trên đường, đầu tóc bù xù, quần áo nhếch nhác, mặt mày lấm lét, trong đó có một vài tên còn trẻ, đeo kính trắng có vẻ trí thức đi về phía Sisôphôn, có lẽ là những tên trong đơn vị đầu hàng được phép của chỉ huy của chúng và cán bộ của bạn cho phép ra ngoài về thăm gia đình gần đó. Chúng tôi để xe ở ngoài cổng trại và ung dung đi vào trại thì được biết đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh của bạn vừa bắt đầu nói chuyện với bọn chúng ở một ngôi nhà rộng gần đó. Nhưng bọn chúng vẫn bố trí một số tên lăm lăm súng trong tay có vẻ sẵn sàng chiến đấu, đi lại quanh trại và nơi đang họp. Người đầu tiên tôi gặp, có vẻ chăm chú theo dõi chúng tôi là một tên to cao, vẻ mặt bặm trợn, tay xách một khẩu súng trung liên, hai vai đeo bắt chéo hai băng đạn lắp đầy, mắt trừng trừng nhìn chúng tôi, lầm lỳ không nói không rằng, chúng tôi đi đâu hắn đi theo đến đó. Tôi thấy hắn giống như một tên phỉ hay một tên bảo vệ chống lại chính quyền Xôviết như trong một số phim của Liên Xô trước đây. Còn những tên khác, khi chúng tôi đi qua chỉ yên lặng đứng nhìn và có vẻ sợ sệt tên đang đi theo chúng tôi. Chúng tôi đi quanh trại và quan sát khoảng một giờđồng hồ rồi ra về trong khi đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh vẫn còn nói chuyện với số hàng binh Xrâyca. Chúng tôi trở lại Batambang, báo cáo với anh Lê Hai những gì mà chúng tôi quan sát thấy và những suy nghĩ và nhận xét của mình rồi trở về Phnôm Pênh. Về sau, bạn giải quyết vụ này như thế nào, tôi cũng không theo dõi tiếp vì không phải là chức trách của mình và cũng vì bận quá nhiều việc. Song qua hai việc trên cũng giúp tôi hiểu biết thêm những khía cạnh về trạng thái tinh thần của bọn lính Pôn Pốt và Xrâyca. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 18 Tháng Bảy, 2025, 08:30:51 pm Trong khi làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, mặc dù đã được hơn một năm, nhưng tôi vẫn chưa thỏa mãn với những gì mình hiểu về Campuchia giúp cho một cán bộ chính trị có một cái nhìn chính xác, đầy đủ. Để có những việc làm sát, đúng với tình hình thực tế, có hiệu quả thực sự trong nhiệm vụ giúp bạn, nhất là hiểu về dân, về lực lượng cách mạng của bạn. Có lần, anh Lê Hai phân công cho tôi trực tiếp giúp Bộ Tư lệnh về công tác vận động quần chúng xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở trong một cuộc họp của các cơ quan Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện. Hôm đó đồng chí Tư lệnh Lê Đức Anh cũng có mặt, khi tôi phát biểu rằng đây là một công việc rất lớn, rất quan trọng trong việc giúp bạn, coi đó như một cuộc vận động cách mạng thì anh Lê Hai không đồng ý với ý kiến của tôi. Anh nói là tôi "quan trọng hóa" vấn đề, nhưng đồng chí Lê Đức Anh thì không nói gì. Tôi không tranh luận gì, nhưng trong thâm tâm tôi vân giữ ý kiến của mình và trong công tác tôi dành nhiều công sức vào việc này vì tôi nghĩ ràng nếu làm tốt, nó sẽ có ý nghĩa rất quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Campuchia. Vì vậy, tôi không bỏ lỡ một cơ hội nào để thu thập tình hình, tích lũy những hiểu biết của mình về Campuchia, kể cả những chuyện cụ thể và tìm mọi cách để thực hiện, kể cả việc đọc sách.
Qua việc tiếp cận tài liệu giúp tôi hiểu thêm về tình hình lịch sử quan hệ giữa Campuchia và Việt Nam từ trước tới nay vốn không được thuận lợi lắm. Trong khi đó, các chế độ cai trị khác nhau ở Campuchia đều có chung một điểm giống nhau, đặc biệt là bọn Pôn Pốt với một thứ chủ nghĩa dân tộc bệnh hoạn không ngừng nhồi nhét cho nhân dân Campuchia tâm lý thù hằn dân tộc, căm ghét người Việt Nam. Đó là một vấn đề đo được, đặc biệt là ở một số không nhỏ trong giới trí thức. Về phía người dân Campuchia là như thế, còn trong cán bộ ta, cũng không phải là không có những anh em không có những quan niệm, suy nghĩ không đúng về người dân và anh em cán bộ Campuchia. Có lẽ vì rất rõ tình hình đó nên anh Lê Xuân Đồng đã tổ chức một cuộc hội thảo ở Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề này. Tôi cũng tham dự cuộc hội thảo ấy và tôi cho đó là một việc làm có ích trong công tác tư tưởng đối với chuyên gia và cán bộ, chiến sĩ ta đang công tác và chiến đấu ở Campuchia. Trong hội thảo, có đồng chí đem những nghiên cứu của các học giả tư sản nói về người dân Campuchia và ít nhiều cóảnh hưởng đến một số cán bộ ta. Nào là tượng thần Bayon bốn mặt ở đền Ăngco với nụ cười bí hiểm phản ánh một tính cách khó hiểu hay thay lòng đổi dạ. Nào là đặc điểm tính cách người dân Campuchia là hời hợt (superpicieux), nhẹ dạ (naïf), mộ đạo (zeligiexu) và tàn bạo (brutal) và trong cách đối xử cũng "sớm nắng chiều mưa"... Cuộc hội thảo diễn ra nhẹ nhàng, không có những tham luận dài dòng, nặng nề. Có nhiều ý kiến phản bác lại những luận điệu như vậy. Ý kiến nói chung là, tất nhiên mỗi dân tộc có thể do điều kiện lịch sử có những đặc điểm khác nhau, nhưng nhân dân ở đâu cũng đều phân biệt được thiện ác, đúng sai, phải trái, tốt xấu... Tôi đặc biệt có ấn tượng với một đồng chí khá lớn tuổi, hình như ở Cần Thơ, là một đảng viên lão thành của Đảng đã hoạt động nhiều năm ở Campuchia khi còn là một bộ phận của Đảng cộng sản Đông Dương. Đồng chí kịch liệt phản đổi việc nói người dân Campuchia là hay thay lòng đổi dạ, là tàn bạo... Đồng chí dẫn ra những chuyện đồng chí đã trải qua, khi đồng chí hoạt động ở nhiều địa phương Campuchia, trong khi bị mật thám Tây và bọn tay sai bản xứ theo dõi truy bắt, đồng chí đã được nhân dân bảo vệ, đùm bọc, nuôi dưỡng, an toàn như thế nào. Suốt một thời gian hoạt động nhiều năm ở Campuchia, chưa bao giờ đồng chí bị phản bội cả. Phát biểu của đồng chí rất chân thực và thuyết phục. Tôi rất tán thành về cách đánh giá đó qua thực tế thái độ của nhân dân Campuchia rất quý mến và biết ơn cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam. Và tình hình này là rất phổ biết ở mọi nơi. Tôi cũng hình dung được rằng, cuộc đấu tranh để có được những nhận thức đúng đắn và xây dựng được tình đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia còn khó khăn, gian khổ, nhất là với những hậu quả của lịch sử đã để lại. Trong thắng lợi chung to lớn của cách mạng ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia hiện nay, có những bước thăng trầm khác nhau của mỗi nước, song đó là thắng lợi tất yếu vĩ đại dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản. Riêng đối với Việt Nam và Campuchia, hiểu về những vấn đề lịch sử để lại trong quan hệ hai nước, cũng rất cần chú ý thêm đặc biệt là tình hình Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia và những vấn đề về quan hệ giữa hai đảng. Tôi hết sức quan tâm tới vấn đề này vì nghĩ rằng đây là vấn đề cốt lõi nhất bảo đảm sự đoàn kết giữa cách mạng và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Trong việc tìm hiểu tình hình đó, tôi phải nhớ lại, lắng nghe những tin tức có chọn lọc, bảo đảm sự chính xác từ những nguồn tin đáng tin cậy và nghiêm túc phân tích chứ không chủ quan, hời hợt được. Đó là những sự kiện như sau: Ai cũng biết rằng cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia có chung một cảnh ngộ là đều bị thực dân Pháp xâm lược, đều bị đặt dưới ách thống trị của chúng. Từ khi chưa có Đảng, ở mỗi nước đều có những cuộc nổi dậy của những người yêu nước nhưng còn rời rạc, lẻ tẻ. Từ khi có sự chỉ đạo của Quốc tế cộng sản, quan hệ giữa các lực lượng yêu nước chặt chẽ hơn, nhất là khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập, trong đó bộ phận Đảng ở Việt Nam mạnh hơn cả. Có sự giúp đỡ của Việt Nam, cách mạng Lào và Campuchia ngày càng phát triển, trưởng thành. Vì vậy, đến Đại hội lần thứ II của Đảng ta, Đảng bộ ở Lào và Campuchia mới tách ra thành đảng riêng. Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc mình, sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa ba đảng ngày càng chặt chẽ. Sau chiến thắng vang dội tại Điện Biên Phủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại Hội nghị Giơnevơ và kết quả của nó được coi như sự cáo chung của nền thống trị của thực dân Pháp ở ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Và khái niệm về xứ Đông Dương thuộc Pháp cũng không còn nữa. Song do so sánh lực lượng lúc đó, kết quả cụ thể chỉ miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra được hoàn toàn giải phóng. Còn bạn Lào có được hai tỉnh Sầm Nưa và Phongxalỳ được giải phóng. Riêng Campuchia, chế độ Hoàng gia cai trị vẫn tồn tại không còn sự cai trị của thực dân Pháp. Nếu tôi nhớ không nhầm thì lúc đó trong thành phần chính phủ Campuchia có ba đảng viên cộng sản (trong Đảng nhân dân cách mạng Campuchia) là Khiêu Xăm Phon, Hu Nim, Hu Yun. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 18 Tháng Bảy, 2025, 08:32:15 pm Sau thắng lợi của ta ở Hội nghị Giơnevơ, tôi đang công tác ở Phòng Chính trị Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong. Tôi còn nhớ, trong đợt sinh hoạt chính trị, học tập về thắng lợi của phái đoàn ta tại Hội nghị Giơnevơ của cán bộ trung cấp toàn Đại đoàn, nhiều cán bộ rất băn khoăn về việc cách mạng Campuchia không được vùng đất nào, không được như cách mạng Lào. Thắc mắc đó được giải thích chung là so sánh lực lượng chi cho phép giành thắng lợi như thế, đồng thời hai tỉnh Lào giáp với miền Bắc Việt Nam có chỗ dựa, không bị cô lập bảo đảm giữ được, thành căn cứ địa cách mạng của Lào. Còn Campuchia nếu có khu vực nào đó cũng dễ bị cô lập. Với cán bộ, chiến sĩ ta giải thích như thế cũng dễ thông. Tôi không thể ngờ ràng đó lại là chuyện thắc mắc kéo dài cho đến nay của các đảng viên Campuchia, cho rằng lợi ích của cách mạng Campuchia không được quan tâm đúng mức. Và nỗi băn khoăn đó đã đeo bám trong tâm trí các đồng chí mấy chục năm trời.
Lịch sử từ khi có Đảng Cộng sản Đông Dương đã gắn bó lực lượng cách mạng và nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia trong cuộc đấu tranh chung chống lại bọn xâm lược Pháp và sự thống trị, bóc lột của chúng. Đó là một thuận lợi lớn giúp cho việc xây dựng tình hữu nghị và một biên giới hòa bình lâu dài và bền vững giữa hai nước. Tuy nhiên, trong khi tìm hiểu tình hình Campuchia, tôi nắm được một số sự kiện đặt ra cho chúng ta cần phải có một sự nghiên cứu sâu sắc để hiểu đúng bản chất của vấn đề để từ đó có chủ trương và cách xử lý đúng đắn. Đây chỉ là những việc rất cụ thể nhưng tôi nghĩ là rất có ích cho việc nghiên cứu. Sự kiện thứ nhất là, khi bọn Pôn Pốt bộc lộ rõ ràng bộ mặt cực kỳ phản động của chúng. Cùng với tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, cũng là lúc chúng ra sức trấn áp và thanh trừng nội bộ rất tàn bạo các lực lượng nổi dậy ở trong nước chống lại chính sách đối ngoại và đối nội của chúng. Trong số các lực lượng đó, ở Quân khu miền Đông, giáp biên giới ta do đồng chí Xurama, một ủy viên Bộ Chính trị trong Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bí thư Quân khu ủy lãnh đạo nổi lênchống lại chúng quyết liệt (đồng chí Hêng Xomrin là một sư đoàn trưởng, Quân khu ủy viên lúc đó). Đồng chí Xurana vốn là đảng viên cũ mà ta biết thân mật theo tên Việt Nam là đồng chí Mười Xu. Bọn Pôn Pốt đưa một lực lượng mạnh có xe tăng và pháo binh đi kèm đến đàn áp. Đồng chí Nguyễn Bá Ngọc là một Thượng úy quân báo, sau này là Đại úy, Thư ký riêng của Tư lệnh Lê Đức Anh cho tôi biết là đồng chí Lê Đức Anh giao nhiệm vụ cho đồng chí ấy chỉ huy một tổ quân báo vượt biên giới theo đường rừng để liên lạc với đồng chí Mười Xu. Sau nhiều ngày tìm kiếm, chuyến đi không thành công, về sau tôi được các đồng chí Việt Nam ở Đoàn chuyên gia quân sự Bộ Quốc phòng Campuchia cho biết thêm là đồng chí Mười Xu đã trực tiếp chỉ huy lực lượng của mình chiến đấu anh dũng chống lại bọn Pôn Pốt nhưng vì lực lượng quá chênh lệch, đồng chí Mười Xu đã bị tử thương. Trước khi qua đời, đồng chí Mười Xu đã nói một câu cuối cùng với các đồng chí thân cận lúc đó: "Hãy chạy về phía Đông!". Nghe xong câu chuyện này, tôi suy nghĩ và tự hỏi: Tại sao đồng chí Mười Xu không theo ta? Đồng chí ấy là một đồng chí tốt đối với ta, quân khu do đồng chí chỉ huy lại giáp biên giới ta, rất thuận lợi để liên lạc với ta mà đồng chí không làm. Chỉ đến lúc chết đồng chí mới trăng trối lại cho cấp dưới mình chạy sang Việt Nam. Một chuyên khác cũng diễn ra tương tự như thể. Hun Sen lúc bấy giờ mới 26 tuổi là Trung đoàn phó của một trung đoàn sát biên giới ta. Ngày 20 tháng 6 năm 1977, Hun Sen cùng một số ít cán bộ và lính của mình chạy sang ta. Theo bản tường trình của Hun Sen với cán bộ ta thì ở Trung đoàn của Hun Sen cũng có nhiều người chống lại bọn Pôn Pốt, trong đó có người Chính ủy Trung đoàn, là bạn thân của anh. Một hôm, người Chính ủy đó được bọn Pôn Pốt triệu tập về Phnôm Pênh họp. Dự đoán sẽ có chuyện chẳng lành đối với mình, trước khi đi anh nói với Hun Sen: "Nếu 3 ngày không thấy tôi về thì anh hãy cùng một số bạn tin cậy chạy sang Việt Nam vì có thể chúng sẽ giết tôi. Đúng là về sau người Chính ủy ấy đã bị bọn Pôn Pốt giết hại. Tôi nghĩ tính chất của vụ việc này và cách xử sự của người Chính ủy Trung đoàn ấy tương tự như cách xử sự của đồng chí Mười Xu. Tại sao anh biết là có thể bọn Pôn Pôt sẽ giết mình nhưng vẫn về Phnôm Pênh theo triệu tập của chúng mà lại không chạy sang Việt Nam, nhưng lại khuyên những bạn của mình làm thế. Với hai trường hợp trên của đồng chí Mười Xu và người Chính ủy Trung đoàn ở cùng trung đoàn với Hun Sen, có điều kiện rất thuận lợi để liên lạc với ta tranh thủ sự giúp đỡ mà họ không làm? Phải chăng đó là do ý thức tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc thái quá, hay còn ảnh hưởng bởi một thiên kiến, một mặc cảm nào đó chưa thực sự tin cậy ta? Hay bị ảnh hưởng ít nhiều một cách vô thức do sự kích động của bọn Pôn Pốt gây ra cho nhân dân Campuchia một tâm lý hằn thù đối với Việt Nam? Đó là một vấn đề ta phải nghiên cứu và tìm lời giải đáp. Riêng tôi nghĩ, có lẽ chỉ có các đồng chí Campuchia mới giải đáp đúng được chuyện này khi đã có sự tin cậy và thực sự mở lòng chia sẻ với chúng ta. Tôi nghĩ rằng, trong số các đảng viên Campuchia chân chính cũng có người gặp phải những trường hợp có lẽ trong quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam, đã dũng cảm bày tỏ nỗi lòng của mình và đã xác định được cho mình thái độ đúng đắn, biết gạt bỏ ấm ức cá nhân, đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước mình lên trên. Đó là trường hợp của đồng chí Sại Bu Thoong, Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách công tác tổ chức của Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, được chính đồng chí nói lại trong một hội nghị cán bộ cao cấp, trung cấp của Quân đội nhân dân Campuchia, có mặt cả chuyên gia các ngành chủ chốt của Đoàn 478. Đồng chí Nguyễn Trọng Hợp, Đoàn trưởng Đoàn 478 cũng ở đó. Lúc đó, tôi là Phó Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị của Quân tình nguyện, được Bộ Tư lệnh cử đi dự Hội nghị đó theo lời mời của bạn. Tôi được nghe nói, đồng chí Sại Bu Thoong trước cũng đã chiến đấu trong hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam trong cả cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sau đó xin trở lại Campuchia chiến đấu dưới chế độ Pôn Pốt, đồng chí là Tỉnh đội trưởng Cô Công. Ở Hội nghị đó, đồng chí Sại Bu Thoong có một bài phát biểu khá dài. Trong lúc đang phát biểu bằng tiếng Campuchia với Hội nghị, đột nhiên đồng chí nói: "Vấn đề này tôi xin được phát biểu bằng tiếng Việt". Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 18 Tháng Bảy, 2025, 08:33:30 pm Đồng chí nói rằng, khi là "Tỉnh đội trưởng Cô Công đã thấy rõ sự phản động của bọn Pôn Pốt trong chính sách đối với Việt Nam và việc thanh trừng nội bộ rất tàn bạo của chúng. Biết chắc chắn chúng sẽ tìm cách tiêu diệt mình, tôi và đồng chí Tia Banh1 (Đồng chi Tia Banh là cháu của đồng chí Sại Bu Thoong, sau này là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Vương quốc Campuchia) đã đưa hai tiểu đoàn của tỉnh Cô Công chạy sangThái Lan để bảo toàn lực lượng, được phía Thái Lan đồng ý. Đồng thời, tìm cách liên hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng không được. Dù như thế nhưng tôi vẫn nghĩ rằng đoàn kết với Việt Nam, đối với Campuchia cần thiết như cơm ăn, như nước uống, như không khí để thở, không thể khác được. Tôi đề nghị với các đồng chí Campuchia và các đồng chí Việt Nam phải luôn luôn giáo dục cho các thế hệ con cháu chúng ta mãi mãi coi trọng và vun đắp cho tình đoàn kết đó". Đồng chí Sại Bu Thoong là một đồng chí đã lớn tuổi, có lẽ phải đến gần 70 rồi, nhưng còn khỏe mạnh và minh mẫn, nói về vấn đề này rất tha thiết và xúc động. Tôi cảm nhận thấy đây là một con người trung thực, cương trực mới có thể có những lời lẽ và thái độ thẳng thắn như thế. Tôi tin đó là những lời tâm huyết, từ đáy lòng của một con người thực sự quan tâm đến lợi ích của đất nước, của cách mạng. Đồng thời, cũng suy nghĩ, chắc có thể có nhiều lý do mà có sự từ chối không gặp đồng chí Sại, nhưng tôi cũng cho rằng ta có thiếu sót trong việc năm tình hình, còn chủ quan, đơn giản, ảnh hưởng tới lòng tin của bạn. Nói rõ hơn là lòng tin của bạn đối với Việt Nam chưa được vững chắc.
Đến lúc chúng ta đã nhận ra sự phản bội và tội ác của chúng, đã giúp bạn và cùng bạn đập tan được bộ máy thống trị của bọn Pôn Pốt giành thắng lợi lớn ngày 7 tháng 1 năm 1979 và đã lập được chính quyền cách mạng từ trung ương tới cơ sở rồi, nhưng trong quá trình truy quét bọn tàn quân, còn có những thiếu sót ảnh hưởng tới lòng tin của bạn. Không thể cầu toàn để ta sẽ không mắc một thiếu sót nào trong công tác giúp bạn,nhưng vì ta chưa nghiêm túc rút kinh nghiệm kịp thời và tích cực sửa chữa nên vẫn tiếp tục phạm những khuyết điểm không đáng có, hoàn toàn có thể tránh được để không tổn hại đến lòng tin của bạn đối với ta. Tóm lại, ý định của tôi là vừa tiến hành công tác vừa chú ý tìm hiểu sâu thêm tình hình trong hai năm 1979 - 1980 cũng thu được một số kết quả nhất định. Sự hiểu biết thêm về quá khứ lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia, về bạn, về địch, và ta sau thắng lợi ngày 7 tháng 1 đến nay cũng giúp tôi nắm sâu thêm về tình hình, tự tin hơn trong công tác theo chức trách của mình để giúp Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện có hiệu quả hơn. Ngay từ cuối năm 1978, khi được cùng đồng chí Lê Hai đi công tác ở biên giới Tây Nam sau khi bọn Pôn Pốt tiến hành cuộc chiến tranh lấn chiếm nước ta trên toàn tuyến biên giới, có một nhận thức lớn trong tôi ngày càng trở nên sâu sắc. Đó là chính sách diệt chủng của bọn Pôn Pốt ở Campuchia cùng với việc phát động cuộc chiến tranh chống Việt Nam dẫn tới một tất yếu khách quan là: Nhân dân Campuchia, những người cách mạng chân chính của Campuchia và nhân dân Việt Nam cùng có một kẻ thù chung cần phải đánh đổ. Vì lợi ích sống còn của nhân dân hai nước. Chưa bao giờ tôi thấy nhiệm vụ dân tộc thiêng liêng và nghĩa vụ quốc tế cao cả của Đảng và nhân dân ta lại gắn chặt với nhau như thế, chưa bao giờ di huấn của Bác Hồ: "Giúp bạn tức là mình tự giúp mình" lại sáng tỏ như lần này. Nhiệm vụ của công tác chính trị, tư tưởng cần làm cho di huấn của Người được sáng tỏ trong cán bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang ta. Đồng thời, chúng ta cùng cần làm cho bạn bè quốc tế và nhân dân thế giới thấy rõ việc chúng ta tiến vào Campuchia là hoàn toàn chính đáng vì cả lợi ích của chúng ta và cả lợi ích sống còn của nhân dân Campuchia. Từ nhận thức đó, thực tế dư luận quốc tế và ngay cả tình hình trong nước, công tác tư tưởng trong nội bộ ta và công tác tuyên truyền quốc tế lúc đó quá nhấn mạnh và chỉ nhấn mạnh đến việc cứu giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng theo kiểu "ban ơn" mà nhẹ việc vạch trần tội ác chiến tranh man rợ của chúng đối với nhân ta và chúng ta phải diệt chúng vì cả lợi ích chính đáng của chúng ta nữa. Sự lệch lạc này gây một ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đối với một sự nghiệp chính nghĩa, trong sáng của Đảng ta và nhân dân ta. Các thế lực thù địch với đất nước ta nhân cơ hội này lớn tiếng rêu rao là "Việt Nam xâm lược Campuchia", dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ và cô lập Việt Nam. Điều đó dĩ nhiên là sẽ như thế. Vì đối với ta, chúng đã quen đổi trắng thay đen, thiện chúng vẫn bào là ác, tốt chúng cũng bảo là xấu... Bạn bè quốc tế, nhân loại tiến bộ vổn trước kia ủng hộ rất nhiệt tình Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chính nghĩa chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, thì nay một số khá lớn hoài nghi động cơ của cuộc tiến quân của ta vào đất Campuchia đánh bọn Pôn Pốt, mà không nhận rõ sự bức bách và sự cần thiết trong hành động đó của Việt Nam chính vì lợi ích của bản thân mình nữa. Tôi nghĩ làm rõ điều này bạn bè quổc tế dễ thông cảm hơn với Việt Nam. Ngay cả đối với một bộ phận của giới trí thức Campuchia, họ biết ơn Việt Nam đã cứu dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, nhưng có người hoài nghi hỏi thẳng cán bộ ta: "Chúng tôi không hiểu tại sao Việt Nam, Quân tình nguyện Việt Nam còn quá khổ, quá khó khăn mà lại quá tốt với dân Campuchia như thế?". Tôi nghĩ, nếu như công tác tuyên truyền đối ngoại, cũng như trong công tác tư tưởng đối với nhân dân và Quân đội ta, chúng ta thẳng thắn nói rõ sự thật về việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả của chúng ta. Với nội bộ chúng ta, công tác tư tưởng cần làm rõ đây vừa là nhiệm vụ dân tộc thiêng liêng, vừa là nghĩa vụ quốc tế cao cả của nhân dân và Quân đội ta. Ta giúp bạn và bạn cũng giúp ta cùng diệt kẻ thù chung, chứ không phải chỉ thấy một chiều ta giúp bạn theo kiểu "ban ơn". Sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau là một tất yếu phải thấy ở cả hai phía, không thể khác được. Và nếu không có sự cộng tác của lực lượng cách mạng, sự giúp đỡ ủng hộ của nhân dân Campuchia, dù ta có mạnh bao nhiêu, giỏi bao nhiêu cũng không thể giành được thắng lợi. Tôi thuộc lớp người giác ngộ cách mạng sớm, khi còn là một thiếu niên, được các bậc thầy và đàn anh dậy dỗ chỉ bảo, lớn lên và trưởng thành qua cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trở thành một cán bộ chính trị của Quân đội trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, nên ít nhiều cũng có kinh nghiệm và sự nhạy cảm về chính trị. Qua chuyện trên, tôi thấy rõ thêm một điều, trong công tác tuyên truyền, giáo dục, nếu chúng ta có lòng tin vững chắc vào chính nghĩa của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp chiến đấu của mình thì phải kiên trì làm cho quần chúng, nhân dân hiểu rõ sự thật, hiểu rõ chân lý trọn vẹn của sự nghiệp đó một cách khách quan, chứ không phải chủ quan theo ý muốn của mình, muốn nói thế nào cũng được. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 18 Tháng Bảy, 2025, 08:34:57 pm Vào khoảng đầu năm 1981, sau hơn hai năm giúp bạn, căn cứ vào chủ trương của Bộ Chính trị Đảng ta và Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia; về Đảng thành lập Ban Cán sự Đảng của Quân tình nguyện, bảo đảm cho sự lãnh đạo tập thể của Đảng đối với công cuộc chiến đấu và giúp bạn Campuchia.
Đây là một sự chuyển đổi về tổ chức lãnh đạo, chỉ huy rất quan trọng nhằm mục đích thống nhất việc lãnh đạo, chỉ huy Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả hơn. Từ Tiền phương Bộ Quốc phòng nay chuyển thành Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện (phiên hiệu là Bộ Tư lệnh 719) do Thượng tướng Lê Đức Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh, Trung tướng Lê Hai, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Phó Tư lệnh Chính trị. Đồng thời, theo Quyết định, Bộ Tư lệnh 719 trực thuộc Bộ Quốc phòng vẫn là cơ quan đại diện của Bộ Quốc phòng ở hướng Tây Nam được ủy quyền của các tổng cục, các quân khu, quân chủng binh chủng trong nhiệm vụ bảo đảm chiến đấu, bảo đảm hậu càn, kỹ thuật cho các đơn vị lực lượng vũ trang của mình trong việc cùng bạn và giúp bạn chiến đấu. Đoàn chuyên gia quân sự ở Campuchia cũng hoạt động dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh 719. Ban Cán sự Đảng của Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia cũng được thành lập do đồng chí Lê Đức Anh làm Bí thư và đồng chí Lê Hai là Phó Bí thư. Như vậy, Bộ Tư lệnh 719 có nhiệm vụ rất lớn và quyền hạn rất cao là đại diện của Bộ Quốc phòng ở phía Nam chỉ đạo toàn bộ hoạt động chiến đấu và giúp bạn Campuchia. Riêng về tiền phương của các cục thuộc Tổng cục Chính trị, theo Quyết định cũng được tổ chức thành Cơ quan Chính trị thuộc Bộ Tư lệnh 719. Và tôi có quyết định của Bộ, nhận nhiệm vụ làm Phó Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Vì chưa có người bố trí làm Chủ nhiệm (theo tôi biết là sẽ bố trí một thiếu tướng) nên đồng chí Lê Hai vẫn phải kiêm chỉ đạo trực tiếp Cơ quan Chính trị. Một hôm, tôi được đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Lê Hai gọi lên giao nhiệm vụ chuẩn bị một dự thảo nghị quyết cho cuộc họp đầu tiên của Ban Cán sự Đảng. Tôi hơi ngạc nhiên và thấy quá khó khăn đối với mình, vì trong hai năm qua tôi chỉ làm theo chức năng của một người phụ trách Tiền phương Cục Tuyên huấn nên nhiều mặt khác không đi sâu để nắm vững tình hình mọi mặt được. Tôi trình bày với các anh về khó khăn đó và đề nghị trao cho Văn phòng Bộ Tư lệnh mà trước đây là Văn phòng Tiền phương Bộ Quốc phòng và xin công tác chuẩn bị theo chức trách của mình. Nhưng các anh không nghe và nhất thiết động viên tôi viết, tôi không thể thoái thác được. Các anh cũng không có sự chỉ đạo nào về mặt nội dung. Tôi đề nghị với anh Lê Hai, trong thời gian tôi viết, các công việc khác của Cơ quan Chính trị anh giao cho các đồng chí khác, để tôi có thời gian tập trung soạn thảo dự thảo nghị quyết và được anh đồng ý. Tôi suy nghĩ rất lâu, tìm mọi cách thu thập các tài liệu để đánh giá tình hình và đề ra chủ trương công tác mọi mặt tiếp theo. Sau 3, 4 hôm thì tôi viết xong lần thứ nhất, nhưng tôi cảm thấy không hài lòng lắm về nội dung chuẩn bị lần đầu của mình, còn vụn vặt không xứng tầm với tổ chức đảng làm nhiệm vụ lãnh đạo chiến đấu rất nặng nề và còn giúp về mặt quân sự cho cả một quốc gia. Tôi đem bản chuẩn bị lên đọc cho đồng chí Lê Đức Anh nghe. Anh rất chăm chú lắng nghe và suy nghĩ một lát rồi nói: "Tôi muốn cuộc họp đầu tiên của Ban Cán sự bàn và ra nghị quyết về những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo cho nhiệm vụ chiến đấu và giúp bạn lâu dài cho đến thắng lợi". Không hiểu sao lúc đó, xuất thần tôi nghĩ ra là những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, tôi đã được nghe nhiều lần đồng chí Lê Đức Thọ truyền đạt ý kiến của Bộ Chính trị của ta và giải thích của đồng chí trong nhiều hội nghị quan trọng với các cán bộ chủ chốt của các ngành đang giúp bạn trong 1, 2 năm qua và là những công việc đã và đang làm có hiệu quả. Đó chính là những vấn đề lớn có ý nghĩa chiến lược mà tôi đã tiếp thu được và đã tham gia thực hiện trong hai năm qua. Nếu viết dự thảo nghị quyết cho Ban Cán sự theo ý kiến của đồng chí Lê Đức Anh, chỉ cần khái quát tái hiện lại thành văn bản. Trong hai năm đó, tôi cũng đã nắm được những công việc chính và hiểu sâu hơn tình hình mọi mặt nên phải viết làm sao cho phù hợp với sự phát triển của tình hình để có những yêu cầu mới cho chính xác, đúng đắn. Như vậy, tôi thấy đó là một thuận lợi rất lớn, để chấp bút rồi. Nghĩ rằng đã có lối thoát để bảo đảm một nội dung có chất lượng, tôi "bạo gan" nói với anh: "Vâng. Tôi đã hiểu ý anh, tôi về viết lại và đề nghị 5 giờ chiều mai anh cho thông qua". Về phòng mình, tôi bắt tay vào viết. Tôi nhớ lại, suốt những lần nghe đồng chí Lê Đức Thọ phát biểu, tôi thấy toát lên ba vấn đề lớn nhất: Một là, cùng bạn và giúp bạn đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Hai là, giúp bạn để bạn tiến lên, đủ sức tự mình đảm nhiệm được nhiệm vụ đánh địch và xây dựng đất nước. Ba là, bảo đảm củng cố và tăng cường tinh thần đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam và Campuchia. Đó là thu hoạch lớn nhất của tôi, sau mỗi lần họp, ngày càng sâu thêm. Tôi thấy rõ đây là ba điều cốt tử trong công tác giúp bạn. Hiệu quả chiến đấu và công tác giúp bạn phải dựa vào ba điểm này để đánh giá là đúng hay sai, tốt hay xấu. Đó cũng là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong mọi suy nghĩ và hành động của chuyên gia và bộ đội ta, không được phép sai lầm hoặc chệch hướng. Sau khi viết xong phần đánh giá tình hình và ưu khuyết điểm lớn trong hai năm 1979 - 1980, tôi tập trung suy nghĩ cách thể hiện làm sao cho bộ đội và chuyên gia quân sự ta quán triệt sâu sắc ba vấn đề trên. Trong phần phương hướng nhiệm vụ và các biện pháp công tác lớn trong nhiệm vụ giúp bạn, sau khi suy nghĩ kỹ, tôi dùng cụm từ Ba mục tiêu chiến lược với ý nghĩ giản đơn ban đầu là chỉ đạo cho mọi người dễ hiểu, dễ nhớ. Tôi nhớ rõ khi nêu ra Ba mục tiêu chiến lược, để thực hiện các mục tiêu đó phải có những biện pháp quan trọng đã làm, đang làm tốt và phải tiếp tục làm vì những biện pháp đó đã đưa đến những hiệu quả rất thiết thực, được coi như những biện pháp có ý nghĩa chiến lược. Trong những biện pháp đó có những biện pháp rất quan trọng như: Vận động sản xuất để cứu đói và chữa bệnh cho dân ngay từ đầu mà anh em quen gọi là "cứu đói, cứu đau", bây giờ vẫn cần tiếp tục đẩy mạnh, việc vận động quần chúng xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở, việc giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng có thê độc lập tác chiến và ngày càng phát triển... Để thực hiện các biện pháp đó cần có các lực lượng của ta và bạn cỏ tầm quan trọng chiến lược. Trong các lực lượng này, ta đặc biệt chú ý đến việc xây dựng và sử dụng tốt các tiểu đoàn của ta đứng chân ở huyện, các tiểu đoàn địa phương tỉnh, các đại đội hai chức năng(chiến đấu và vận động quần chúng), các đội du kích, các tổ công tác ở phum của bạn... Tôi cho rằng đây là sự vận dụng rất sáng tạo những kinh nghiệm của Việt Nam, của lãnh đạo và chỉ huy các cấp của ta, phù hợp với tình hình thực tế Campuchia. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 18 Tháng Bảy, 2025, 08:36:24 pm Trong khi viết tôi cũng tính tới chuyện vì lý do gì đó rơi vào tay những thế lực thù địch, làm sao trong nội dung của nghị quyết tránh không để lộ bí mật mà địch có thể lợi dụng, hoặc những ngôn từ chúng dễ xuyên tạc hoặc kích động để vu cáo ta... Tôi cặm cụi viết suốt đêm hôm đó và cả ngày hôm sau hầu như không nghỉ, chỉ dừng lại ăn hoa quả để lấy sức. Đúng 5 giờ chiều hôm sau tôi đem đến đọc chậm cho anh Lê Đức Anh nghe đểanh tham gia và thông qua theo như đã hứa. Anh rất hài lòng chỉ thêm vài chữ. Tôi cũng rất phấn khởi vì mình đã thể hiện được bằng văn bản những quan điểm tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị ta và những chủ trương công tác của Tiền phương Bộ đã, đang tiến hành một cách có hiệu quả và sẽ tiếp tục đẩy mạnh. Văn bản được nhanh chóng đánh máy dài hơn 40 trang và được gửi tới các Ủy viên Ban Cán sự Đảng và các đồng chí chủ chốt của các cơ quan Tham mưu, Hậu cần, Kỹ thuật... tham gia ý kiến. Nói chung, dự thảo được hoàn toàn nhất trí, có một số ý kiến nhỏ được bổ sung thêm. Trong Hội nghị Ban Cán sự được mở rộng tới Tư lệnh và Bí thư đảng ủy các mặt trận và Thủ trưởng các cơ quan Bộ Tư lệnh 719, Tư lệnh và Bí thư đảng ủy các quân khu 5, 7, 9 được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Đức Anh giao cho tôi nhiệm vụ đọc tại hội nghị. Hội nghị nói chung nhanh chóng nhất trí với dự thảovà trở thành Nghị quyết chính thức đầu tiên của Ban Cán sự Đảng Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia vào khoảng tháng 7 năm 1981.
Ngay sau Hội nghị, đồng chí Lê Đức Anh đề nghị với Bộ Chính trị Đảng bạn để đồng chí Lê Hai, Phó Bí thư Ban Cán sự sang báo cáo lại Nghị quyết này và được bạn đồng ý. Tôi nghĩ rằng, đấy là một ý kiến rất hay vì không những việc làm đó biểu thị một sự trọng thị, tin cậy đối với cấp lãnh đạo của bạn mà còn để bạn nắm vững chủ trương của lãnh đạo và chỉ huy Quân tình nguyện để hợp tác và giúp đỡ thực hiện đạt được kết quả tốt nhất. Sau buổi làm việc với bạn, khi gặp tôi ở cơ quan, anh Lê Hai nói với vẻ không được vui vẻ lắm. Anh nói nhỏ với tôi, bạn nghe nhưng chưa được chú ý và mặn mà lắm. Tôi nghĩ việc đó có thể có nhiều lý do nhưng cũng thấy rõ là nội dung Nghị quyết có rất nhiều vấn đề lớn trong đó có nhiều việc đã và đang làm, hầu như không có những vấn đề mới, nên một mặt không dễ chốc lát nhận thức được ngay vì nội hàm của nó phong phú, mặt khác còn chưa thu hút, hấp dẫn được người nghe vì có nhiều việc đã làm trong hai năm qua, dễ có cảm giác là không có gì mới. Mãi đến ngày 15 tháng 2 năm 1983, với sự giúp đỡ của các đồng chí chuyên gia dân, chính, Đảng (B68), Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia họp ra Nghị quyết số 39/NQ-TƯ về điều chỉnh tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang (1983 - 1986). Trong Nghị quyết này, bạn mới xác định ba mục tiêu chiến lược của cách mạng Campuchia: 1-Tiếp tục làm cho bọn Pôn Pốt tan rã, suy tàn hơn nữa. 2-Tiếp tục xây dựng thực lực cách mạng Campuchia mạnh hơn lên cả về số lượng và chất lượng, đủ sức đảm nhiệm cuộc chiến đấu thắng lợi với mọi kẻ thù, bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng, bảo vệ và xây dựng đất nước. 3-Bảo đảm đoàn kết liên minh chiến lược, chiến đấu Campuchia - Việt Nam trên một thế vững chắc hơn và mạnh hơn. Ba tháng sau, ngày 14 tháng 5 năm 1983, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta ra Nghị quyết số 11/NQ-TƯ về "trách nhiệm giúp bạn đẩy mạnh lên tự đảm đương cuộc đấu tranh với địch trong những năm tới". Nghị quyết có một nhận định rất quan trọng và nêu rõ: "Cách mạng Campuchia tuy có bước trưởng thành đáng kể nhưng chưa đủ mạnh để tự đảm đương cuộc đấu tranh với địch. Nhiệm vụ của ta rất nặng nề và khẩn trương. Trong khoảng 3-5 năm trước mắt, ta phải giúp cách mạng Campuchia đạt được ba mục tiêu chiến lược: 1-Tiếp tục làm cho địch suy tàn đến mức không thể gượng dậy được, không thể bám trụ được trong nội địa lãnh thổ Campuchia. 2-Làm cho bạn đủ mạnh, dần dần đáp ứng được cuộc đấu tranh với địch, bảo vệ và phát triển thành quả của cách mạng, bảo vệ và xây dựng đất nước trong tình hình như hiện nay. 3-Liên minh chiến lược và chiến đấu Việt Nam - Campuchia được tăng cường trên một thế mới vững chắc hơn. Khi được đọc và nghiên cứu Nghị quyết của Đảng bạn nói về ba mục tiêu chiến lược và sau đó là Nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng ta cũng nói về ba mục tiêu chiến lược phù hợp với vị trí của mỗi Đảng và sự phát triển đi lên của cách mạng Campuchia, tôi rất phấn khởi. Bởi lẽ cho đến giữa năm 1983, ba mục tiêu chiến lược đã đạt tới sự thống nhất về nhận thức và hành động giữa ta và bạn. Ba mục tiêu chiến lược đã trở thành một hướng đi, một cái đích của ta và bạn, của lãnh đạo, chỉ huy và quần chúng, của cản bộ và chiến sĩ, là nền tảng chính trị tạo nên sức mạnh của sự đoàn kết dẫn tới thắng lợi sau này. Tác giả nội dung của ba mục tiêu chiến lược đó là Bộ Chính trị của Đảng ta, được thể hiện đầu tiên trong Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Đối với tôi, khi chuẩn bị dự thảo nghị quyết của Ban Cán sự theo chỉ định của đồng chí Lê Đức Anh, tôi chỉ nghĩ đơn giản là dùng một cụm từ cho dễ nhớ, dễ hiểu là "ba mục tiêu chiến lược", chứ hoàn toàn chưa hình dung được tác dụng lớn lao của nó sau này đã trở thành một khái niệm lớn trong nghị quyết của hai Bộ Chính trị của Đảng bạn và Đảng ta, là cơ sở chính trị cho sức mạnh của nhận thức và hành động trong đấu tranh chung của Campuchia và Việt Nam để có chiến thắng cuối cùng đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Tôi cũng rất tự hào trong khi làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia đã có một trong những đóng góp ý nghĩa của mình với việc dùng cụm từ "ba mục tiêu chiến lược". Và tôi cũng cảm thấy sự khéo léo, rất khiêm tốn và tế nhị của Bộ Chính trị Đảng ta khi ra nghị quyết sau Nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng bạn với sự nhiệt tình, chân thành, hưởng ứng thực hiện "ba mục tiêu chiến lược" mà bạn đề ra, với một nội dung rất chuẩn xác, phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn mà tôi sẽ nói rõ ở phần sau trong hồi ký này. Sau khi Ban Cán sự Đảng đã có nghị quyết chính thức, tôi được cử ra Hà Nội báo cáo Nghị quyết với Tổng cục Chính trị và sau đó đến chỗ đồng chí Lê Đức Thọ báo cáo về tình hình mới nhất ở Campuchia với đồng chí. Buổi báo cáo ở Tổng cục Chính trị chỉ có đồng chí Cục trưởng Cục Tổ chức và đồng chí Chánh Văn phòng của Tổng cục nghe; các đồng chí ấy không hỏi gì thêm. Ngay buổi chiều hôm đó, tôi sang nhà riêng của đồng chí Lê Đức Thọ để làm việc. Sau khi tôi báo cáo tình hình khoảng nửa tiếng, đồng chí Lê Đức Thọ phát biểu liên khoảng gần 2 giờ, chỉ đạo cho những công việc ở Campuchia. Tôi tập trung nghe và ghi một mạch nội dung phát biểu của đồng chí. Phải nói rằng, đồng chí là người nắm rất vững tình hình Campuchia và làm việc với đồng chí cũng thoải mái. Phát biểu đến nửa chừng, đồng chí bảo nghỉ và sai người pha sữa cho uống. Theo yêu cầu của Văn phòng Tổng cục, tôi phải viết lại những phát biểu chỉ đạo của đồng chí Lê Đức Thọ để các đồng chí đánh máy báo cáo lại với Thủ trưởng Tổng cục, đồng thời in cho tôi một bản để đem về Campuchia. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 18 Tháng Bảy, 2025, 08:38:09 pm Sau đó ít hôm, đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng sang Campuchia làm việc với Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện và Thủ trưởng một số cơ quan của Bộ Tư lệnh. Việc đầu tiên trong buổi làm việc, đồng chí Lê Đức Anh giao cho tôi đọc toàn văn bản Nghị quyết của Ban Cán sự báo cáo với đồng chí Lê Trọng Tấn. Sau khi đọc xong, đồng chí Lê Trọng Tấn nói rằng Nghị quyết đã đề cập rất đầy đủ các vấn đề công tác, chiến đấu của Quân tình nguyện, công tác giúp bạn và đồng chí rất tán thành. Hình như đồng chí Bí thư Ban Cán sự muốn tranh thủ sự giúp đỡ của các đồng chí có trách nhiệm của Bộ trong việc thực hiện Nghị quyết này.
Vui chuyện, đồng chí Lê Trọng Tấn kể lại hai mẩu chuyện của bạn Lào và bạn Campuchia. Chuyện ở Lào là thế này: Sau khi được giải phóng, đất nước Lào do chính quyền, do Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo. Tuy nhiên, bọn phỉ Vàng Pao còn hoạt động rất mạnh chống lại Nhà nước cách mạng Lào. Lúc đó, đồng chí Lê Trọng Tấn là Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam vẫn chỉ huy các đơn vị giúp bạn và cùng bạn Lào diệt bọn phỉ mà chúng còn có những căn cứ mạnh. Lúc đó cũng có một số đơn vị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giúp Lào ở phía Bắc, chủ yếu là làm đường. Bạn đột nhiên yêu cầu cả Trung Quốc và Việt Nam cùng rút quân ra khỏi Lào (việc này đồng chí không nói rõ lý do) nhưng đồng chí nắm vững là bạn chưa đủ mạnh để đánh bọn Vàng Pao. Theo lệnh của trên, ta rút khỏi Lào, nhưng đồng chí đề nghị cho các đơn vị của ta đóng quân ngay sát biên giới để giúp bạn được nhanh chóng khi cần thiết. Quả nhiên, phỉ Vàng Pao đã lợi dụng cơ hội đó tràn ra đánh phá dữ dội. Không đủ sức chống lại chúng; bạn lại khẩn thiết đề nghị ta đưa quân vào giúp. Sau này ta đã giúp bạn mạnh lên và cùng bạn dẹp tan được bọn Vàng Pao. Còn chuyện ở Campuchia lại có những nét khác: Khi đó, đồng chí Lê Trọng Tấn đang là một trong những đồng chí chỉ huy đánh lại bọn Pôn Pốt xâm lược ở biên giới Tây Nam. Khi ta liên lạc được với đồng chí Chia Xim và đoàn của đồng chí chạy sang ta, đồng chí Lê Trọng Tấn đến gặp, thăm hỏi chuyện khai thác tình hình để có kế hoạch giúp đỡ thì có một anh trong đoàn của đồng chí Chia Xim nói ngay một câu hỏi không đúng lúc về vấn đề biên giới Việt Nam - Campuchia. Đồng chí Lê Trọng Tấn kể, nghe anh ta nói thế, đồng chí ngạc nhiên và rất bực, nhưng đồng chí ôn tồn nói: "Bọn Pôn Pốt đang tàn sát nhân dân Campuchia rất dã man, việc cấp thiết của chúng ta bây giờ là cứu nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng chứ không phải là bàn chuyện biên giới". Nghe thật khôi hài. Ai cũng bật cười nhưng đó lại là chuyện có thật. Trong 9 năm công tác ở Campuchia, tôi cũng chưa gặp anh ta lần nào. Trong khi ta có sự chuyển đổi về mặt tổ chức cho phù hợp với sự phát triển mới về tình hình mọi mặt trên chiến trường nhằm tăng cường sức mạnh chiến đấu của ta và đẩy mạnh sự giúp đỡ bạn đánh địch và xây dựng lực lượng có hiệu quả hơn, thì về phía địch tình hình cũng có nhiều thay đổi. Trong mùa khô 1981 - 1982, bọn Pôn Pốt ra sức củng cố lại tàn quân thành các đầu sư đoàn của chúng như trước kia và tiến hành xây dựng căn cứ của chúng dọc biên giới Campuchia - Thái Lan, đẩy mạnh hoạt động trong nội địa tuy mức độ yếu hơn không được như các năm trước. Đồng thời, đến cuối năm 1981, các lực lượng chống lại chính quyền cách mạng thỏa hiệp với nhau thành lập cái gọi là "Chính phủ liên hiệp ba phái". Trong đó, bọn Pôn Pốt vẫn là lực lượng mạnh hơn cả giữ vai trò nòng cốt, còn lại là phái Moulinaka của ông Hoàng Xihanúc (tên gọi tắt của "Mouvement de libénation nationcale du Kampuchea, có nghĩa là Phong trào giải phóng dân tộc Campuchia) và bọn Xrâyca. Chính phủ Liên hiệp ba phái do ông Hoàng Xihanúc đứng đầu, có trụ sở tạm thời ở Caomêlai, một vùng núi rất hiểm trở ở Tây Bắc Campuchia thuộc tỉnh Batambang giáp ngay biên giới Thái Lan. Sự xuất hiện của Chính phủ ba phái do Xihanúc đứng đầu, đã gây được một ảnh hưởng chính trị nhất định cả trong và ngoài nước Campuchia. Chính vì vậy hoạt động chống phá của địch được đẩy mạnh hơn ở nhiều nơi cả về mặt quân sự và chính trị. Tình hình trên đặt ra yêu cầu cấp thiết là ta phải đẩy nhanh việc giúp đỡ bạn để tốc độ trưởng thành của bạn nhanh hơn. Tôi nhận thấy lúc này về chủ trương giúp bạn có những biện pháp mới có hiệu lực tốt hơn. Cách giúp bạn của ta là từng bước, đồng bộ, chuẩn bị mọi điều kiện để bạn tiếp thu được sự giúp đỡ và sử dụng sự giúp đỡ đó nhanh chóng, có hiệu quả thực tế. Định giúp đỡ việc gì ta chuẩn bị rất kỹ mọi điều kiện vật chất, bồi dưỡng tập huấn cán bộ của bạn và chuyên gia của ta. Vì vậy, Trường 481 được thành lập tháng 4 năm 1981 ở Thành phố Hồ Chí Minh. Trường tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ ta sang làm chuyên gia giúp bạn những vấn đề cơ bản, cần thiết nhất, do một đồng chí Thiếu tướng đã từng làm Trưởng đoàn chuyên gia Bộ Quốc phòng bạn (Đoàn 478) làm Hiệu trưởng.Về mặt kỹ thuật, các ngành cũng cử những cán bộ giỏi sang để giúp cán bộ bạn nhanh chóng có trình độ chuyên môn kỹ thuật tương ứng với yêu cầu, sử dụng tốt viện trợ của ta và bạn bè quốc tế. Vì vậy, thời gian này bạn cũng tiến bộ rất nhanh. Ở huyện Puốc, một vùng nóng ở tỉnh Xiêm Riệp, nơi có tàn quân của mấy đầu sư đoàn Pôn Pốt mà chúng tập hợp lại được hoạt động khá mạnh. Bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch huyện Chia Xô Phát đã lãnh đạo, chỉ huy bộ đội địa phương và du kích bạn, được nhân dân giúp đỡ đã cùng tiểu đoàn của ta truy quét tàn quân địch có hiệu quả; hiệu suất chiến đấu của bộ đội và du kích bạn có nhiều trận hơn cả hiệu suất chiến đấu của ta. Do đó, Sư đoàn 317 của ta thuộc Quân khu 7 làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch ở huyện Puốc đã có thể rút quân về nước đợt đầu tiên và tháng 7 năm 1982, chỉ còn ở lại tiểu đoàn đứng chân ở huyện tiếp tục nhiệm vụ. Cơ quan chính trị trước đó đã có hướng dẫn về công tác chính trị cho đợt rút quân này. Tôi và hai đồng chí ở cơ quan đã đi ô tô từ Phnôm Pênh đến Xiêm Riệp để cùng Mặt trận 479 hướng dẫn, theo dõi và rút kinh nghiệm về đợt rút quân đầu tiên này. Đường đi lúc đó chưa được an toàn lắm. Phóng viên nước ngoài rất quan tâm tới cuộc rút quân. Nhưng trên đường tới Xiêm Riệp, chúng tôi chỉ thấy có một chiếc ô tô dân dụng của một phóng viên người Nhật tự lái cùng đi về hướng Xiêm Riệp. Con đường quốc lộ Phnôm Pênh - Xiêm Riệp rải đá rất xấu, xe đi rất xóc, suốt dọc đường không một bóng người, đi cũng thấy hơi rờn rợn. Nhưng tôi nghĩ rằng tiểu đoàn đứng chân ở các huyện dọc đường cũng đã được giao nhiêm vụ bảo đảm an toàn nên cũng yên tâm. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 18 Tháng Bảy, 2025, 08:39:50 pm Đến làm việc tại Bộ Tư lệnh Mặt trận 479, tôi gặp đồng chí Được, nguyên là Trung đoàn phó của Trung đoàn 88A chi viện cho miền Nam từ cuối năm 1965, nay là Tham mưu trưởng Mặt trận. Được gặp đồng đội trước đây cùng Sư đoàn 308, tôi rất vui và được anh cho biết là đã có kể hoạch hành quân về nước chu đáo cho Sư đoàn 317. Cơ quan chính trị Mặt trận cho biết cũng đã chuẩn bị kỹ cho Sư đoàn 317 về mặt công tác chính trị. Tỉnh Xiêm Riệp được sự giúp đỡ của bạn từ Trung ương tổ chức cuộc mít tinh tiễn đưa gồm các đại biểu của Sư đoàn 317 tại hội trường lớn của tỉnh rất trọng thể. Phía bạn nói nhiều đến sự biết ơn Quân tình nguyện, biết ơn cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã không quản ngại hy sinh, gian khổ giúp nhân dân Campuchia nói chung và nhân dân Xiêm Riệp nói riêng thoát khỏi nạn diệt chủng.
Sáng hôm sau, cuộc tiễn đưa cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn diễn ra trên đường phổ Xiêm Riệp. Nhân dân đứng hai bên đường tay cầm cờ hai nước, vẫy cờ tiễn đưa đoàn xe của đơn vị đi qua với tình cảm lưu luyến thật sự. Tôi quan sát thấy những cặp vợ chồng trẻ trên tay bế các cháu nhỏ khoảng 2-3 tuổi, nét mặt xúc động cầm tay con vẫy vẫy, tiễn đưa các chiến sĩ ta. Tôi và các đồng chí cùng đi trên chiếc YAZ, nhập vào đoàn xe của bộ đội tiến về hướng Phnôm Pênh. Một điều tôi không ngờ tới là trên dọc đường, bạn đã huy động dân ở các phum gần đường quốc lộ đứng sẵn trước để tiễn bộ đội. Suốt chặng đường mấy trăm cây số, có dăm chỗ như vậy. Có một sự cố xảy ra, khi cả đoàn xe đang đi bỗng bị ùn lại rồi dừng hẳn. Đợi một lúc không thấy nhúc nhích gì, tôi cho xe tách ra vượt lên xem chuyện gì đã xảy ra. Đi được một đoạn thì thấy có một chiếc xe chết máy. Cán bộ chỉ huy tiểu đoàn có mặt nhưng không có thợ sửa nên đành chịu để cả đội hình đứng lại. Tôi lên gặp đồng chí ấy, yêu cầu đẩy chiếc xe sang rìa đường để cho đội hình tiếp tục hành quân. Tôi không đeo quân hàm, đi trong đội hình với tư cách phái viên cấp trên nên đồng chí ấy không nghe. Tôi phải giải thích cho đồng chí ấy là nếu không giải quyết vấn đề như thế thì toàn bộ đội hình đằng sau sẽ không đi được, như thế sẽ không thực hiện được kế hoạch của Sư đoàn là đến tối phải đến vị trí trú quân gần doanh trại của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 trên địa phận tỉnh Côngpông Chơnăng, cách Phnôm Pênh vài chục cây số. Đồng chí ấy cũng không nghe, nói rằng một mình xe ở lại sẽ không an toàn. Một đồng chí đi cùng tôi phải nói tôi là Đại tá, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân tình nguyện góp ý đúng, đồng chí nên làm theo. Tôi cười không nói gì, lúc ấy đồng chí mới cho bộ đội xuống xe và đẩy xe sang rìa đường, đội hình đằng sau mới tiến lên được. Kể cả thời gian ùn đến lúc đi được phải mất đến hơn nửa giờ đồng hồ, thế mà trong kế hoạch hành quân một tình huống đơn giản như vậy cũng không được nhắc đến và hướng dẫn cho bộ đội cấp dưới xử trí. Vì vậy, mãi tới gần 8 giờ tối cả Sư đoàn mới tới được chỗ trú quân theo quy định. Có một chuyện nhỏ khác cũng nằm trong kế hoạch rút quân. Trước khi đi Xiêm Riệp, đồng chí Lê Hai bảo tôi đến Hội trường Chắcđamúc xem bạn chuẩn bị tổ chức mít tinh tiễn đại biểu của Sư đoàn 317 thế nào. Đến đó đã thấy bạn chuẩn bị đầy đủ. Một cán bộ bạn của Mặt trận Dân tộc cứu nước trong Ban Tổ chức lễ tiễn do Chính phù và Mặt trận của Campuchia phối hợp tổ chức. Tôi biết anh biết tiếng Pháp vì đã gặp vài lần. Tôi ngại các phóng viên quốc tế sẽ gây mất trật tự trong cuộc mít tinh. Anh trả lời là không ngại vì bạn đã có kế hoạch chu đáo và cả vấn đề bảo đảm an ninh nữa. Rồi anh chỉ lên một chiếc "băng rôn" viết bằng hai thứ tiếng Việt Nam - Campuchia chào mừng các cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 317, trên là tiếng Việt Nam, dưới là tiếng Campuchia và hỏi tôi như thế có được không. Tôi trả lời anh: Các đồng chí Campuchia là chủ, theo tôi nên đặt chữ Campuchia lên trên, dưới là tiếng Việt Nam. Tôi nghĩ việc này chắc bạn đã cân nhắc và thấy bạn rất cẩn thận, tế nhị. Nghe tôi trả lời, anh có vẻ hài lòng. Đến hôm diễn ra cuộc mít tinh tại Hội trường trên, tôi thấy bạn thực hiện rất chu đáo, tỷ mỷ, buổi lễ diễn ra trang trọng, thân mật; phóng viên quốc tế khá nhiều nhưng trật tự. Nhìn lên "băng rôn" bạn đã sửa lại và dán chữ Campuchia ở hàng trên. Việc tiễn đưa Sư đoàn 317 trở lại Việt Nam, bạn tổ chức ở Phnôm Pênh rất tốt. Cuộc rút quân của ta lần đầu tiên diễn ra suôn sẻ, an toàn. Thắng lợi về mặt chính trị có ý nghĩa quan trọng ở trong nước và quốc tế, thể hiện rõ thiện ý của ta trong việc thực hiện cam kết sẽ dần dần rút quân ra khỏi Campuchia, đồng thời cũng chứng minh bước đầu về sự trưởng thành của bạn trong việc tự đảm đương công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước mình. Qua cuộc rút quân lần đầu, ta và bạn cũng rút ra được nhiều kinh nghiệm về công tác chính trị cho những lần sau. Tôi còn phụ trách giúp Bộ Tư lệnh 719 về công tác chính trị 5 đợt rút quân nữa, tức là đợt rút quân lần thứ 6 vào cuối năm 1988 và càng làm về sau càng tốt. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 18 Tháng Bảy, 2025, 08:41:38 pm Trong năm 1981 và đầu năm 1982, tôi có nhiều lần đi lại bằng đường hàng không giữa Phnôm Pênh và Hà Nội vì có những cuộc họp do Trung ương triệu tập, cũng là năm có những sự kiện lớn không thể quên.
Việc thứ nhất là việc riêng, nhưng tôi không thể không quan tâm. Đó là việc Đinh Gia Đức, con trai thứ hai của tôi và người yêu của nó đang gặp rất nhiều khó khăn trong bối cảnh tình hình quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đang cực kỳ căng thẳng và ngày càng xấu đi. Hai đứa đang nóng lòng mong mỏi được chuyển tình yêu của chúng đã kéo dài trong chín năm để đi tới hôn nhân. Đối với chuyện cưới nhau của hai đứa, trong người thân và bạn bè của chúng đều có hai luồng ý kiến khác nhau. Ý kiến tán thành, ủng hộ là số đông bạn học trước kia của chúng ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Bách khoa Hà Nội, cùng một số thầy giáo trẻ. Ý kiến thứ hai, chủ yếu là một số đồng chí lãnh đạo của hai trường cũng thông cảm cho rằng đó là một tình yêu trong sáng, nhưng thấy rất khó trong bối cảnh chính trị lúc bấy giờ, "đành phải hy sinh thôi", số ít thì thấy cần phải cảnh giác. Trong họ hàng, gia đình và ngay cả bạn bè của tôi, dù ý kiến có những khía cạnh cụ thể khác nhau những về đại thể cũng nằm trong hai loại ý kiến đó. Sự việc càng trở nên khó khăn và gay cấn hơn khi gia đình Châu không thể vượt qua được áp lực của tình hình chính trị lúc đó nên xin được xuất biên và buộc Châu phải đi cùng. Lúc này, Đức đã tổt nghiệp đại học và được giữ lại công tác tại trường, còn Châu trước đó đã tốt nghiệp kỹ sư chế tạo máy và đang công tác tại Xưởng đóng tàu Xi măng lưới thép tại thành phố Nam Định. Nhưng Châu, theo tiếng gọi trái tim không thể rứt nổi tình yêu với Đức, kiên quyết không đi, trốn gia đình ở lại. Một cuộc săn tìm ráo riết của gia đình Châu trước khi xuất biên nhưng vô ích vì Châu được bạn bè và nhiều người thân giúp đỡ. Bố mẹ và các em Châu đành ngậm ngùi lên đường. Câu chuyện này tôi được nghe nói lại vì thời gian đó tôi đang ở Campuchia nên hoàn toàn không biết gì. Khi nghe chuyện, thú thực là tôi rất thương hai đứa, một tình yêu sâu thẳm từ đáy lòng mình, tuy tôi chẳng nói với ai. Một ngày trung tuần tháng 2 năm 1981, tôi từ Phnôm Pênh về Hà Nội dự một cuộc họp để nghe phổ biến nghị quyết của Trung ương về vấn đề kinh tế do Ban Bí thư triệu tập. Từ sân bay Nội Bài tôi về thẳng căn phòng của mình ở 32A Lý Nam Đế. Lúc đó vào khoảng gần 10 giờ sáng, các đồng chí cùng ở dãy căn nhà tập thể đều đang làm việc trong nội thành, các cháu nhỏ ở với bố còn đang đi học, chỉ có đồng chí bảo vệ đang ở căn buồng của đồng chí ấy. Căn phòng tôi ở, cửa khóa. Đức xuống Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội công tác chưa về. Tôi thấy một lá thư gài ở trên cửa, tôi vội lấy xuống xem. Liếc qua tôi thấy đó là một lá thư của Văn phòng Phủ Thủ tướng gửi cho Đinh Gia Đức. Tôi lặng người đi vì tôi nghĩ đó là một chuyện rất quan trọng. Tôi nhớ ra trước khi đi, Đức cho tôi biết Đức và Châu đã viết thư lên trình bày với Thủ tướng Phạm Văn Đồng về tình yêu của chúng, xin ý kiến giúp đỡ và hứa hẹn sẽ tận tâm công tác phục vụ đất nước. Tôi đóng cửa lại, rất hồi hộp và xúc động mờ ra đọc. Đó là một lá thư viết tay của Thủ tướng Phạm Văn Đồng Nội dung lá thư nguyèn văn như sau: "Hai cháu Đức và Châu thân mến! Bác đã xem hai bức thư của hai cháu. Nếu tình hình đúng như hai cháu đã trình bày trong thư thì các cháu có quyền và có nghĩa vụ cùng nhau kết hôn, xây dựng hạnh phúc gia đình thương yêu giúp đỡ nhau làm tròn mọi công việc của mình. Bác thân ái chúc hai cháu làm tốt mọi việc nhằm tranh thủ mọi người có liên quan giúp hai cháu thực hiện những điều mong ước chính đáng của hai cháu. Bác chúc hai cháu khỏe mạnh về cơ thể và tinh thần, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn nhất là làm tốt công việc của hai cháu ở nơi làm việc. Thân ái! 12-2-1981 Ký tên: Phạm Văn Đồng" Chữ viết của Thủ tướng rõ ràng và rất đẹp. Đọc xong, nước mắt tôi trào ra. Tôi đọc lại nhiều lần, mỗi lần đọc không thề kìm được cảm xúc của mình. Tôi cực kỳ xúc động trước trái tim nhân ái, cao cả của một nhà lãnh đạo, một người cộng sản, dù chồng chất công việc nặng nề của đất nước vẫn quan tâm sâu sắc tới hạnh phúc của con người và có những lời khuyên bảo ân cần và cụ thể như vậy đối với một cặp trai gái trẻ yêu nhau. Trong cảm xúc tột cùng đó còn có sự cảm kích của tôitrước sự chia sẻ của một con người có lòng nhân ái bao la và trí tuệ kiệt xuất đối với mình. Đó là sự chia sẻ về tình cảm của một người cha với con mình đang có một tình yêu chính đáng trong một bối cảnh rất phức tạp, không dễ gì có sự chia sẻ của nhiều người. Về câu chuyện xúc động của tôi khi đọc lá thư của Thủ tướng, tôi chưa hề nói với ai kể cả với những người thân nhất. Đây là lần đầu tiên tôi thổ lộ ra trong hồi ký. Có thể nói, đến bây giờ ở tuổi 86, chỉ có hai lần tôi xúc động đến tận cùng nỗi xúc động mà tôi không thể kiềm chế nổi mình. Trường hợp thứ hai là ngày 30 tháng 4 năm 1975, lúc đó tôi đang làm việc ở cơ quan trong nội thành Hà Nội; Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin Sài Gòn đã hoàn toàn được giải phóng lúc 11 giờ 30 phút; ngụy quyền Sài Gòn đã đầu hàng vô điều kiện. Từ trong thành, tôi lấy xe đạp qua Cửa Đông đi theo đường ra bờ Hồ Hoàn Kiếm để được hưởng không khí ngày toàn thắng của đất nước sau 30 năm vượt qua bao nhiêu gian khổ hy sinh, mất mát đau thương. Nhưng chỉ đi được vài trăm mét, tôi không thể kìm nổi nước mắt phải dắt xe quay lại. Tôi bỗng nhớ tới đồng đội của mình mà rất nhiều người đã nằm lại chiến trường không được thấy ngày hôm nay. Trong chiến đấu trước sự hy sinh của đồng đội, cả thời gian dài đằng đẵng ấy, nước mắt tôi chảy vào trong, tích tụ lại trong lòng; bây giờ đến ngày toàn thắng mới được vỡ òa ra... Ít lâu sau, tôi nhận được tin từ bên nước ta sang. Đám cưới của hai đứa con đã được tổ chức rất giản dị trước sự vui mừngcủa bạn bè chúng và những người thân trong gia đình. Thủ tướng trong ngày hôm đó cũng cử cán bộ Văn phòng Chính phủ tặng hai chiếc bút máy Hồng Hà cho Châu và Đức. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Bảy, 2025, 08:25:30 pm Sau khi chuyển tổ chức từ Tiền phương Bộ Quốc phòng sang thành Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia ít lâu, tôi nhớ khoảng cuối năm 1981 đầu năm 1982, đồng chí Lê Khả Phiêu đang là Tư lệnh Mặt trận 979 được điều về làm Chủ nhiệm Chính trị Cơ quan Chính trị của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện. Trước đó nữa, anh là Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu 9. Tôi nghe nói, anh sắp sửa được phong quân hàm Thiếu tướng.
Trước đây, tôi chưa quen anh Phiêu nhưng biết anh tại Hội nghị tổng kết Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh cuối năm 1968 tại Câu lạc bộ Quân đội Hà Nội do Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp chủ trì. Khi đó, anh là Trung tá, Chính ủy Trung đoàn 9 Sư đoàn 304. Sư đoàn 304 là sư đoàn đã quần nhau với bọn thủy quân lục chiến và sư đoàn kỵ binh bay, lực lượng thuộc loại tinh nhuệ nhất của Mỹ trong một thời gian khá dài. Tháng 5 năm 1968, Sư đoàn 308 cũng nhận được mệnh lệnh tham gia chiến đấu phối hợp với đợt 2 Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 toàn miền Nam cùng với Sư đoàn 304 và các lực lượng địa phương đánh địch từ trước ở chiến trường Đường 9 - Khe Sanh. Còn tôi, lúc đó là Trung tá, Chính ủy Trung đoàn 88 Sư đoàn 308. Khi anh lên nhận nhiệm vụ thì ngay liền sau đó thêm hai đồng chí nữa cũng được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị. Đó là Đại tá Lưu Hồng Nghị, Chính ủy Sư đoàn 9 Quân đoàn 4 lên phụ trách về công tác tổ chức, Thượng tá Phạm Đình Thức phụ trách công tác tuyên truyền đặc biệt (tức là địch vận) và là Bí thư Đảng ủy Cơ quan, phụ trách công tác nội bộ. Tôi rất mừng vì Cơ quan Chính trị được kiện toàn khá mạnh. Vì vậy, tôi có thể tập trung sức vào ba việc chính đang làm là công tác tư tưởng, văn hóa, công tác vận động quân chúng xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở và quan hệ với chuyên gia các ngành của ta và với bạn. Phải nói rằng, suốt từ đầu năm 1979 đến lúc đó, công việc bận đến nỗi không mấy khi tôi được ngủ trước 12 giờ đêm. Những tưởng là từ đó sẽ nhàn nhã đôi chút, nhưng với công tác ngày càng phát triển, ngày càng phải đi sâu hơn đối với cả lực lượng của ta và của bạn nên bận vẫn hoàn bận. Tôi lại thường được bổ sung vào thành phần đoàn công tác tới các đơn vị khi có Thủ trưởng của Bộ Tư lệnh dẫn đầu. Một buổi, tôi thấy anh Lê Khả Phiêu triệu tập gấp cả ba phó chủ nhiệm ra phòng họp cơ quan. Vừa nhìn thấy anh, tôi chắc có việc gì gấp rất quan trọng, nhưng không thấy có đồng chí phụ trách Văn phòng của cơ quan. Anh cho biết tình hình bạn ở tỉnh Xiêm Riệp đang rất nghiêm trọng. Có thông tin của ta phát hiện bọn địch chui vào hoạt động phá hoại đảng bộ và các cơ quan của bạn. Bộ Tư lệnh 479 do đồng chí Tám Hoa (Nguyễn Xuân Ôn) là Phó Tư lệnh Chính trị đã cho đình chỉ hoạt động, bộ đội ta canh gác không cho ra khỏi nhà một số phần tử chống đối cách mạng, tình hình rất rối ren, coi như đảng bộ và các cơquan ở tình, huyện và cả nhiều xã bị tê liệt, một số ít các đồng chí của bạn được cho là tốt, rất hoang mang... Tôi xin nói thêm là địa bàn Mặt trận 479 gồm hai tỉnh Xiêm Riệp và Batambang được coi như là khu vực nóng bỏng nhất ở Campuchia. Tàn quân của các đầu sư đoàn địch hoạt động rất mạnh. Tình hình Xiêm Riệp diễn ra như vậy khi đồng chí Lê Đức Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Tư lệnh Quân tình nguyện kiêm Tổng đoàn trưởng chuyên gia Campuchia đi Liên Xô chữa mắt. Đồng chí Phó Tư lệnh Chính trị Lê Hai bị ốm chuẩn bị đi viện. Việc đánh giá tình hình địch ở bên Xiêm Riệp và chủ trương rà soát ở đó được tiến hành bí mật. Rất nhiều chuyên gia các ngành có cả ủy viên Trung ương Đảng phụ trách, các cơ quan của Bộ Tư lệnh, kể cả cơ quan chính trị cũng không hề hay biết. Trước khi trao đổi vấn đề này, tôi đề nghị có nên để đồng chí phụ trách Văn phòng dự, cho ý kiến và viết biên bản cuộc họp không? Ý tôi là muốn khẳng định về trách nhiệm đối với ý kiến của mỗi người và của các đồng chí lãnh đạo Cơ quan Chính trị, tránh những rắc rối sau này, có thể vì tôi nghĩ rằng từ khi tôi công tác ở đây đã có một số vụ xảy ra trong quan hệ với bạn, gây hậu quả xấu và một số đồng chí đã bị kỷ luật. Anh Phiêu nói rằng không cần thiết và nhắc mọi người phát biểu ý kiến. Ở đây, tôi và anh Thức là người công tác ngay từ đầu khi có Tiền phương Bộ cho đến nay, nhưng phạm vi nắm tình hình và quan hệ với bạn của tôi rộng hơn anh Thức, nên tôi có trách nhiệm nói về tình hình và ý kiến của tôi trước để các đồng chí khác dễ phát biểu. Tôi cho các anh biết là cách đây không lâu có cuộc họp của Bộ Tư lệnh với các đồng chí tư lệnh và tư lệnh phó chính trị của các mặt trận và các đồng chí phụ trách của các đầu mối. Trong cuộc họp đó có một nội dung mà hội nghị phải bàn là xét trao cờ thi đua. Cơ quan Chính trị phải báo cáo gọn tình hình thi đua nói chung và từng nơi cho hội nghị. Lúc đó anh Lê Khả Phiêu chưa về nhận nhiệm vụ Chủ nhiệm Chính trị nên tôi phải làm việc này. Theo báo cáo thi đua của các nơi và những gì mà chúng tôi nắm được thì có hai nơi cần cân nhắc là Mặt trận 479 và Mặt trận 579 là hai nơi nóng bỏng trong việc truy quét tàn quân Pôn Pốt và cũng là nơi thực hiện có hiệu quả nhất nhiệm vụ giúp bạn để bạn phấn đấu tự đảm nhiệm được nhiệm vụ cũng có nhiều tiến bộ. Riêng Mặt trận 479, cỏ nơi như huyện Puốc địch hoạt động nhiều, Sư đoàn 317 của ta đã rút về nước, nhưng huyện đã huy động được hàng nghìn nhân dân ủng hộ và cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích truy quét địch, hiệu suất diệt địch còn hơn cả tiểu đoàn của ta dừng chân ở huyện. Các đồng chí của Mặt trận 579 cũng thấy như vậy, đề nghị xin rút và trao cờ cho Mặt trận 479. Như vậy theo tôi: 1-Cho rằng địch đã chui vào cơ quan của bạn phá hoại, lũng đoạn thì tình và huyện không thể vận động được quần chúng tốt như thế và hiệu suất diệt địch cao như thế. Vì vậy, tôi khẳng định đó là một nhận định sai dẫn đến một đánh giá sai và dẫn đến việc xử lý sai. 2-Cứ để anh Lê Hai có điều kiện chữa bệnh. 3-Báo cáo với đồng chí H., Ý kiến đánh giá của Cơ quan Chính trị và ngay lập tức đình chỉ việc bắt bớ và tìm cách ổn định tình hình. 4-Báo cáo gấp về Tổng cục Chính trị xin chỉ thị và đề nghị giúp đỡ. Các đồng chí khác không có ý kiến gì thêm và anh Lê Khả Phiêu cũng nhất trí. Sau đó, anh Phiêu đi trao đổi ngay với đồng chí H. và viết điện khẩn báo cáo về Tổng cục Chính trị. Tôi thấy trong cả thời gian làm việc ở Campuchia cho đến lúc ấy, dù công tác có nhiều lúc gian khổ, vất vả có khi cũng khá nguy hiểm nhưng chưa bao giờ tôi thấy căng thẳng như vậy. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Bảy, 2025, 08:27:20 pm Được vài hôm thì tôi được biết, sau khi nhận được điện thoại anh Phiêu gửi về nước, Thủ trưởng Tổng cục báo cáo việc này với đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Thọ cũng gọi gấp đồng chí Lê Đức Anh đang điều trị ở Liên Xô về nước.
Cuộc họp Ban Cán sự Đảng của Quân tình nguyện diễn ra ngay sau khi đồng chí Lê Đức Anh về tới Phnôm Pênh. Riêng với Mặt trận 479, đồng chí Tám Hòa, Phó Tư lệnh Chính trị được mời tới dự. Tôi cũng được gọi có mặt dự để phục vụ hội nghị. Không khí buổi họp nặng nề, nhưng không có những lời lẽ gay gắt. Sau khi đồng chí Tám Hòa báo cáo, nhiều đồng chí trong Ban Cán sự Đảng phát biểu và đồng tình với việc đánh giá tình hình sai. Đồng chí Lê Đức Anh có một kết luận,phân tích khá dài và sâu sắc về việc này. Đồng thời, đồng chí nêu yêu cầu và những biện pháp sửa sai để ổn định tình hình. Dựa vào phát biểu của đồng chí Bí thư Ban Cán sự, tôi viết theo thể biên bản cả hội nghị và đưa đồng chí thông qua. Đồng chí Bí thư không bổ sung gì thêm, chỉ nói: "Nếu viết là nghị quyết thì tốt hơn" và giao nhiệm vụ cho tôi phổ biến văn bản của Ban Cán sự cho Cơ quan Chính trị Mặt trận 479 để thông báo cho cán bộ. Tôi điện lên cho đồng chí Ba Bao, Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị Mặt trận 479 về Phnôm Pênh gấp. Khi làm việc với đồng chí Ba Bao, tôi có ý định tìm hiểu chi tiết hơn về tình hình của Mặt trận 479 lúc này, nhưng đồng chí không nói gì thêm. Tôi nhắc đồng chí khẩn trương phổ biến cho cán bộ, nhất là cán bộ của cơ quan trực thuộc Bộ Tư lệnh để quán triệt chủ trương và biện pháp sửa sai của Ban Cán sự theo chỉ thị của đồng chí Lê Đức Anh. Chỉ hai hôm, sau ngày làm việc với đồng chí Ba Bao, tôi lại được đồng chí Lê Đức Anh giao cho nhiệm vụ cùng với 1 đồng chí của Đoàn chuyên gia Đảng đi Xiêm Riệp để giúp đỡ và theo dõi việc sửa sai của Mặt trận 479. Đi với tôi là đồng chí Phi Hùng, có lẽ chỉ hơn tôi vài tuổi. Nghe nói trước đây khi Đảng Cộng sản Đông Dương chưa tách thành 3 đảng, đồng chí là bí thư một chi bộ ở Xiêm Riệp, sau đó về làm ở Văn phòng Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia thời kỳ đồng chí Sơn Ngọc Minh làm Tổng Bí thư. Việc đầu tiên là chúng tôi đến chỗ đồng chí Tám Hòa để báo cáo về công việc của mình. Đến đó, tôi lại gặp thêm Thiếu tướng Sáu Hưng, Tư lệnh phó Quân khu 7 vừa được điều về Mặt trận 479 thay đồng chí Tư Thanh. Trong thời gian đợi đồng chí Tám Hòa triển khai các công việc với anh em trong cơ quan để hiểu thêm tình hình, đồng chí Sáu Hưng rất vui vẻ, có thời gian rỗi nên cùng đi với chúng tôi gặp các đồng chí cán bộ ở các cơ quan chính trị. Tôi đến gặp đồng chí Ba Bao hỏi về việc triển khai phổ biến văn bản của Ban Cán sự Đảng thì việc đó chưa làm theo ý đồng chí Tám Hòa. Tôi đề nghị cho gặp đồng chí Tỉnh đội phó của bạn đang ở trụ sở Tỉnh đội. Tôi gặp một con người mới ngoài ba mươi tuổi mà trông già xọm như một người ngoài năm mươi, ủ rũ, thảng thốt như người mất hồn. Tôi và đồng chí cán bộ ở cơ quan chưa kịp hỏi gì thì đồng chí ấy đã mếu máo nói bằng tiếng Việt chưa thạo: -Không biết bộ phận mình sẽ như thế nào. Biết đồng chí đang rất hoang mang và xúc động, tôi chỉ nói một câu ngắn để trấn an đồng chí ấy: -Đồng chí cứ yên tâm không sợ gì cả, không ai có thể động đến đồng chí nữa. Tuy nhiên, tôi vẫn thấy có vẻ đồng chí ấy không tin lắm với câu trấn an đó. Anh Tám Hòa cho chúng tôi biết là sáng hôm sau sẽ tiến hành việc đầu tiên trong sửa sai là gặp gỡ các cán bộ chủ chốt của bạn bị bắt giam, xin lỗi các đồng chí đó và yêu cầu họ cùng cộng tác trong việc sửa sai. Tiếp sau sẽ triệu tập một cuộc họprộng rãi cán bộ các ngành trong tỉnh của bạn để anh Tám Hòa nói chuyện và xin lỗi. Anh nói, anh mời tôi và anh Phi Hùng đến dự cuộc họp đó. Tôi có cảm giác là không khí căng thẳng và ngột ngạt có phần đã giảm bớt. Cuộc họp thứ nhất diễn ra trong một căn phòng nhỏ. Tôi thấy khoảng hơn một chục cán bộ bạn là những người mới được phóng thích từ trại giam. Anh Sáu Hưng và anh Tám Hòa chủ trì cuộc họp. Trước khi bắt đầu cuộc họp, tôi hỏi mới được biết trong số đó có một đồng chí Tỉnh ủy viên phụ trách tuyên huấn của bạn, một đồng chí trong ủy ban tỉnh và Chia Xô Phát, Bí thư Huyện ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Puốc ma tôi đã biết khi Sư đoàn 317 rút quân về nước. Anh Tám Hòa, với giọng nói nhỏ nhẹ, ôn tồn và chân thành nhận những sai lầm trong đánh giá tình hình và việc làm của lãnh đạo, chỉ huy Mặt trận 479, xin lỗi anh em về những sai làm của mình và đề nghị anh em phát biểu ý kiến. Người phát biểu đầu tiên là Chia Xô Phát, tuổi khoảng 25 26, trước đây là học sinh đã tốt nghiệp tú tài. Anh mở đầu bằng câu: "Mẹ tôi là người Việt Nam, gia đình tôi có 9 người bị Pôn Pốt giết...". Nói đến đây anh quá xúc động, khóc nức nở và không nói tiếp được nữa, không khí trong phòng chìm hẳn xuống xúc động. Tôi rót cho anh một chén nước đưa anh uống để trấn tĩnh lại. Sau một hớp nước, anh nói tiếp. Bằng một giọng nói Việt Nam rất chuẩn và khúc triết đến không ngờ mà lần trước gặp anh tôi không hề biết. Anh nói, anh còn sống sót là khi bị bọn Pôn Pốt bắt đi tập trung lao động và giấu được tung tích của mình. Khi Quân tình nguyện Việt Nam và các đơn vị cách mạng Campuchia đánh đến Xiêm Riệp, bọn Pôn Pốt bỏ chạy. Lợi dụng tình hình đó, anh và nhiều người trốn thoát và ngay lập tức đi theo cách mạng và trưởng thành, làm Bí thư và Chủ tịch huyện Puốc. Khi Sư đoàn 317 rút về Việt Nam năm 1982, anh và các cán bộ trong huyện ra sức củng cố, xây dựng lực lượng và vận động nhân dân truy quét tàn quân Pôn Pốt có kết quả tốt. Trong việc phối hợp với tiểu đoàn đứng chân ở huyện của Việt Nam, có việc ý kiến anh khác với các cán bộ tiểu đoàn vì anh hiểu tình hình nhiều hơn các đồng chí Việt Nam, nên có những ý kiến anh đề nghị không được tiếp nhận mà còn nghi ngờ, không tin anh. Trong đợt vừa qua, anh bị bắt giam mà anh không hiểu vì lý do gì... Người phát biểu tiếp sau là đồng chí lớn tuổi nhất là cán bộ của Ủy ban tỉnh với một thái độ rất vui vẻ, phấn khởi cũng nói rằng "mình bị bắt không biết vì lý do gì". Nhưng đồng chí ấy tin rằng thể nào mình cũng được minh oan và đã đúng như thế. Đồng chí luôn luôn tin rằng cách mạng rất sáng suốt và hứa sẽ tiếp tục tích cực công tác. Nói chung, có nhiều ý kiến tỏ ra phấn khởi khi được trả lại tự do và hứa sẽ làm việc tốt hơn. Tôi để ý thấy người Tỉnh ủy viên phụ trách tuyên huấn của Tỉnh ủy nét mặt trầm xuống và không nói gì. Trông anh ta có vẻ là một trí thức, tuổi chạc ngoài 30, ăn mặc chải chuốt, nước da trắng trẻo, mặt vẫn đượm buồn, lúc nghỉ giải lao cũng không nói chuyện với ai. Tôi lại gần anh ta chủ động làm quen, nét mặt anh ta tươi lên một chút, có vẻ lịch sự tiếp nhận đối thoại. Tôi nói bằng tiếng Việt như tâm sự với anh ta: "Trong một cuộc cách mạng lớn, có lúc cũng không tránh khỏi được sai lầm. Cách mạng Việt Nam cũng có lúc như thế. Nhưng quan trọng là phải phát hiện được sai lầm và tích cực sửa chữa. Tôi nghĩ rằng cách mạng Campuchia cũng có thể có sai lầm như thế". Anh ta lắng nghe nhưng không nói gì, nét mặt vẫn rất buồn. Cuộc họp kết thúc với lời phát biểu ngắn gọn của anh Tám Hòa, cổ vũ anh em tiếp tục công tác tốt và báo anh em vài hôm nữa sẽ có cuộc họp rộng rãi cán bộ các ngành trong toàn tỉnh. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Bảy, 2025, 08:30:17 pm Tôi trở về nhà khách của Bộ Tư lệnh 479, đối diện với trụ sở Bộ Tư lệnh, chỉ cách một con đường nhỏ rộng hơn một chục mét và đợi dự cuộc họp thứ hai. Trước khi cuộc họp diễn ra, vào lúc 9 giờ sáng, đồng chí Chia Xim đã có buổi làm việc với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh 719 về vấn đề Xiêm Riệp.
Cuộc họp lần hai gồm các thành phần rộng rãi hơn, là đại diện cán bộ các ngành của tỉnh diễn ra ở một hội trường lớn có đến vài ba trăm người dự trong một không khí cởi mở và nhẹ nhõm hơn. Anh Tám Hòa là diễn giả chính ngày hôm đó. Nội dung anh phát biểu, ý chính vẫn là nội dung của cuộc họp hẹp lần trước, được kết thúc bằng những tràng vỗ tay và nét mặt hồ hởi của mọi người. Việc sửa sai mở đầu như vậy, theo tôi là đạt kết quả tốt. Tiểp xúc với anh em ở Cơ quan Chính trị Mặt trận 479, tôi thấy mọi người cũng phấn khởi, thở phào nhẹ nhõm. Tôi viết một bức điện báo cáo tóm tắt với đồng chí Lê Đức Anh về kết quả đầu tiên của việc sửa sai và thái độ phấn khởi nói chung của cán bộ bạn, đưa cho anh Tám Hòa xem qua và nhờ chuyển về Phnôm Pênh giúp. Là một quân nhân đã từng gắn bó với những người cách mạng và nhân dân Campuchia trong cuộc đấu tranh đập tan bọn diệt chủng, tôi nhớ lại những kỷ niệm đã cùng ngồi ăn với ông Chia Xim1(Khi tôi viết đến đây cũng là lúc định kết thúc những câu chuyện về ông Chia Xim... thì cách đây hơn hai giờ ngày hôm nay (9.6.2015), lúc hơn 6 giờ sáng, tôi được tin qua vô tuyến truyền hình Việt Nam ông đã qua đời ở tuổi 83, khi còn đương nhiệm Chủ tịch Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, Chủ tịch Thượng viện Vương quốc Campuchia) một bữa cơm đạm bạc sau Hội nghị thanh niên toàn Campuchia cuối năm 1979 và vài lần nghe ông nói chuyện. Một con người tướng mạo phúc hậu, điềm đạm, nói chuyện ôn tồn, sâu sắc, và quan trọng hơn, đó là một con người đã vì nghĩa lớn, gạt ra những ấm ức cá nhân, trở thành một nhà lãnh đạo xuất sắc của nhân dân Campuchia, góp phần quan trọng xây dựng tình hữu nghị Campuchia - Việt Nam và được nhiều người kính trọng. Sau những sự việc trên, ở Tổng cục Chính trị quan tâm hơn tới nhiệm vụ quốc tế đối với Lào, Campuchia. Cùng với đó,trước những đòi hỏi mới trong việc xây dựng lực lượng chủ lực của bạn, cần phải có nhiều chuyên gia ta giúp đỡ nhằm đáp ứng sự phát triển khá nhanh của quân đội bạn. Đầu tiên là đồng chí Nguyễn Nam Khánh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị sang Campuchia làm việc một ngày với Cơ quan Chính trị Bộ Tư lệnh 719. Hôm đó tôi đi vắng nên đồng chí làm việc với đồng chí Phạm Đình Thức, có lẽ là để chuẩn bị cho đồng chí Chu Huy Mân sang để khảo sát tình hình ở Campuchia. Ít hôm sau thì đồng chí Chu Huy Mân sang và làm việc với một đoàn chuyên gia cấp tỉnh trong một buổi. Tôi được đồng chí Lê Đức Anh cử đi cùng dẫn đồng chí Chu Huy Mân đến gặp đồng chí Trưởng đoàn chuyên gia ta ở Cô Công nhưng còn đang ở Cơ quan của Mặt trận 979 chỉ cách Phnôm Pênh khoảng hơn 30 kilômét. Đồng chí chỉ hỏi hoạt động của Đoàn chuyên gia cấp tỉnh và hỏi về tiểu đoàn đứng chân ở huyện. Nghe báo cáo khoảng hai giờ đồng hồ thì đồng chí trở lại Phnôm Pênh rồi về Việt Nam. Đồng chí Lê Đức Anh có hỏi tôi là anh Chu Huy Mân có phát biểu gì không, nhất là đối với tiểu đoàn đứng chân ở huyện. Tôi báo cáo với đồng chí là đồng chí Chu Huy Mân chỉ nghe chứ không thấy phát biểu gì. Ít lâu sau, một đồng chí cán bộ của Tạp chí Quân đội nhân dân đem một tài liệu chủ đề là "Công tác chuyên gia giúp bạn ở Campuchia" của đồng chí Chu Huy Mân và yêu cầu góp ý kiến. Tôi cũng ít chú ý đến tài liệu này xem nó có ảnh hưởng tới chuyên gia ta ở Campuchia như thế nào. Ai cũng biết rằng, đồng chí Chu Huy Mân đã từng có thời kỳ là người đứng đầu phụ trách đoàn chuyên gia ở Lào và viết tài liệu này với ý định giúp cho các chuyên gia ta ở Campuchia những kinh nghiệm của mình đã trải qua. Đó là nét mới thứ nhất trong thời gian này. Nét mới thứ hai của thời gian này là tình hình về mọi mặt ở Campuchia phát triển đi lên khá nhanh, trong đó có sự phát triển rất đáng khích lệ của lực lượng vũ trang bạn. Tình hình đó đòi hỏi công tác chuyên gia các mặt giúp bạn phải đáp ứng cả về số lượng lẫn chất lượng theo yêu cầu phát triển của bạn, đặc biệt là về mặt xây dựng thực lực quân sự cho bạn cả về quân sự và chính trị. Vì vậy ta cần có sự thay đổi. Trước hết là người phụ trách. Đồng chí Nguyễn Trọng Hợp, Đoàn trưởng Đoàn 478, vốn là một cán bộ chính trị đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giúp bạn, được chuyển về nước và được bổ nhiệm trọng trách Cục trưởng Cục Cán bộ thuộc Bộ Quốc phòng1 (Tại thời điểm này có hai Cục Cán bộ, một thuộc Bộ Quốc phòng và một thuộc Tổng cục Chính trị). Thay cho đồng chí Nguyễn Trọng Hợp là đồng chí Mai Xuân Tần, Cục phó Cục Tác chiến thuộc Bộ Tổng Tham mưu, vốn là một cán bộ quân sự có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và xây dựng bộ đội chủ lực, kiêm chuyên gia. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bạn lúc đó là đồng chí Bu Thoong. Công tác của tôi trong thời gian này tuy có thêm hai phó Chủ nhiệm nữa để giúp đồng chí Chủ nhiệm Lê Khả Phiêu, nhưng vẫn khá bận rộn với những việc đã được phân công. Một việc lớn cần phải làm theo ý kiến của đồng chí Lê Đức Anh với đồng chí Lê Hai trước khi đồng chí đi Liên Xô chữa mắt là ở nhà nên tổ chức sơ kết việc giúp bạn vận động quần chúng xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở. Đó là một công việc chính của tôi giúp Bộ Tư lệnh ngoài toàn bộ nội dung công tác tuyên huấn về văn hóa và tư tưởng. Tôi có một thuận lợi trong khi phụ trách việc này là đã có chút ít kinh nghiệm trong thời kỳ hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám và khoảng ba năm từ năm 1947 đến năm 1950 làm Chính trị viên huyện đội, sau đó tham gia Huyện ủy Kim Bảng, Hà Nam; biệt phái làm Bí thư Đảng Đoàn thanh niên, Bí thư Chi bộ Cán bộ dân vận của huyện, đã cùng anh chị em lăn lộn làm công tác quần chúng, kể cả lúc bình thường cũng như nhiều lần địch càn quét ở địa phương. Vì vậy, khi được phân công làm công tác này tôi cũng đã có chút ít vốn liếng thực tế trong công tác vận động cách mạng, không đến nỗi bỡ ngỡ, không biết gì. Anh Lê Hai bàn với tôi triệu tập cán bộ chuyên trách về việc này ở các đầu mối và làm theo phương thức: Để các nơi báo cáo ở hội nghị và cùng anh chuẩn bị bài kết luận. Cách làm này cũng có điểm hay vì nếu làm tốt sẽ rất sinh động và sát thực tế. Cách làm này đồng chí Lê Đức Anh thường làm, tôi cũng có dự vài lần, thấy anh phát hiện những vấn đề mới, khái quát và chỉ thị, hướng dẫn những việc cần phải làm rất sinh động, sắc sảo. Nhưng tôi thấy cũng rất khó và thời gian để chuẩn bị thường rất gấp, khó có thể có chất lượng, nên tôi đề nghị với anh Lê Hai cần nghiên cứu kỹtình hình thực tế đã nắm được, đề xuất những vấn đề mới và viết thành văn bản để anh em dựa vào đó phát biểu. Từ những ý kiến hội nghị bổ sung, ta sẽ kết luận, chỉnh lý lại thành tài liệu chính thức cho các đơn vị. Việc này là trách nhiệm của tôi phải chuẩn bị văn bản dự thảo cho anh trước khi tiến hành hội nghị và được anh đồng ý ngay. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Bảy, 2025, 08:31:43 pm Sau vài ngày chuẩn bị, văn bản dự thảo khoảng 30 trang đánh máy, tôi đưa anh thông qua, anh hoàn toàn đồng ý. Hội nghị gồm các phó tư lệnh chính trị các mặt trận, các đầu mối là trợ lý giúp việc, được tổ chức ngay sau đó. Sau khi anh Lê Hai thay mặt Bộ Tư lệnh báo cáo, các đại biểu tham gia Hội nghị về cơ bản nhất trí với những đánh giá và đề xuất vấn đề cần tiếp tục thực hiện trong thời gian tới. Anh Lê Hai và tôi đều vui mừng thấy Hội nghị đạt kết quả tốt vì thấy nội dung tài liệu sơ kết sát với thực tế và được các đơn vị thừa nhận.
Riêng tôi, chỉ một tuần sau, tôi nhận một tài liệu in ti pô bỏ túi của Mặt trận 779 của Phó Tư lệnh Chính trị là anh Ba Cung (tức là anh Phùng Đình Ấm), sau này là Thiếu tướng được phong cùng đợt với tôi, gửi cho. Anh nói là anh đã lấy tài liệu tại Hội nghị này làm nội dung tập huấn cho cán bộ chuyên trách và cán bộ chỉ huy của các tiểu đoàn đứng chân ở huyện. Anh Ba Cung là một cán bộ Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia từ năm 1946, đã có hồi phải đi tu làm chú tiểu ở một ngôi chùa ở Đông Bắc Campuchia, rất giỏi và hiểu rất sâu về Campuchia. Tôi rất phấn khởi, coi đó là một phần thưởng rất quý đối với mình nên đã biên tập tài liệu đó giúp Bộ Tư lệnh, và cảm ơn những năm tháng đầu tiên hoạt động ở địa phương trước đây đã cho mình một số vốn thực tế rất quý. Ở những phần trên tôi đã nói kỹ về nghị quyết đầu tiên của Ban Cán sự Đảng 719 vào khoảng giữa năm 1982 khi nói về ba mục tiêu chiến lược, các biện pháp chiến lược. Đặc biệt là khi nói về các lực lượng có ý nghĩa chiến lược về mặt quân sự như tiểu đoàn của ta đứng chân ở huyện, các đại đội hai chức năng và lực lượng dân quân du kích của bạn. Theo tôi, đó là sự vận dụng rất sáng tạo những kinh nghiệm của ta về xây dựng và sử dụng ba thứ quân chủ lực, địa phương và dân quân du kích trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Sự vận dụng những kinh nghiệm đó hoàn toàn phù hợp với tình hình Campuchia, không rập khuôn máy móc và có hiệu quả thực tế. Ngày 12 tháng 5 năm 1983, Bộ Chính trị bạn ra Nghị quyết số 39 cũng đề cập tới 3 mục tiêu chiến lược theo vai trò, khả năng và hoàn cảnh của bạn. Ba tháng sau, ngày 14 tháng 5 năm 1983, Bộ Chính trị Đảng ta ra Nghị quyết số 11/NQ-TƯ về "Trách nhiệm giúp bạn mạnh lên tự đảm đương cuộc đấu tranh với địch trong những năm tới". Việc xác định 3 mục tiêu chiến lược từ Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng 719 đến Nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng ta, đó là một sự nhất trí rất cao trong tư tưởng và hành động giữa bạn và ta, giữa trên và dưới, tạo nên một sức mạnh to lớn để đi tới chiến thắng. Đặc biệt, ở đây tôi nhận thức được có một điểm mới, một chuyển biến về chất sẽ tạo nên bước ngoặt trong cuộc đấu tranh để xóa bỏ hoàn toàn bọn Pôn Pốt. Đó là nội dung cụ thể của mục tiêu 1 trong nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng ta là "'Tiếp tục làm cho địch suy tàn đến múc không thể gượng dậy được, không thể bám trụ được trong nội địa Campuchia". Tất nhiên, để thể hiện được điểm mới, tạo nên bước ngoặt này, ta và bạn phải có những hoạt động quân sự rất mạnh mẽ, rất có hiệu quả mới đạt được. Nhớ lại ngày 7 tháng 1 năm 1979, Phnôm Pênh được giải phóng. Bọn Pôn Pốt tháo chạy, chủ yếu lên phía biên giới giáp Thái Lan, một bộ phận tan rã trong dân. Với bộ phận chạy lên biên giới Thái Lan, chúng thực hiện âm mưu xây dựng các hậu cứ là chỗ đứng cho các cơ quan trung ương, hệ thống hậu cần, kho tàng, bệnh viện, hậu cứ của các sư đoàn, các khu huấn luyện... Các hậu cứ này ở sâu trong đất Thái Lan từ 2 đến 10 kilômét, hòng xây dựng những căn cứ địa vững chắc, đồng thời làm chỗ dựa cho bọn tàn quân mà chúng cố gắng tập hợp, củng cố lại để hoạt động trong nội địa. Về mặt chính trị, đến cuối năm 1981, bọn Pôn Pốt cùng bọn Moulinaka (Mouvement de libezation nationale du Kampuchia do phái Sihanouh lãnh đạo) cùng với bọn Xrâyca (Khơme tự do, do Son San lãnh đạo) thành lập "Chính phủ liên hiệp ba phái". Lực lượng quân sự mạnh nhất của chúng vẫn là bọn Pôn Pốt. Tuy nhiên, với sự câu kết này, chúng cũng gây được ít nhiều ảnh hưởng chính trị về đối nội cũng như đối ngoại. Để thực hiện được một đòn "nốc ao" làm cho địch không thể gượng dậy được phải phá tan được sào huyệt của địch. Vì vậy, cần huy động một lực lượng đủ mạnh của ta và bạn nhằm thực hiện yêu cầu này. Trong bối cảnh chung như vậy, không những Quân tình nguyện cần tăng cường lực lượng mà Đoàn chuyên gia quân sự bên cạnh Bộ Quốc phòng của bạn cũng cần được tăng cường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng quân sự của bạn. Tháng 4 năm 1984, với sự giúp đỡ của Quân đoàn 4 và Đoàn 478, Sư đoàn 196 của bạn đã được thành lập. Và trận ra quân đầu tiên của sư đoàn gần như độc lập tác chiến. Sư đoàn bạn đã giành được thắng lợi giòn giã tại Tà Sanh, khu vực mỏ kim cương và đá quý giáp biên giới Thái Lan, diệt bọn địch bảo vệ và phá tan hơn 40 máy đào đất của địch. Khi sư đoàn trưởng của bạn báo cáo về trận đánh trên sa bàn, Đại tướng Lê Trọng Tấn có tham dự, đã khen ngợi bạn đánh rất giỏi. Vào khoảng thời gian đó, tôi được các đồng chí trong Bộ Tư lệnh 719 báo cáo cho biết sẽ điều động tôi về Đoàn 478 làm Phó Đoàn trưởng về Chính trị để giúp đồng chí Đoàn trưởng Mai Xuân Tần thực hiện nhiệm vụ giúp bạn ngày càng nặng nề hơn. Khi được tin này tôi có suy nghĩ và báo cáo với đồng chí Lê Hai ý kiến của mình. Tôi cho rằng để giúp bạn tốt hơn, nên bố trí đồng chí Lê Khả Phiêu sang đó vì đồng chí Phiêu đã qua cấp sư đoàn, quân đoàn và đã là Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu 9. Với những chức vụ đã kinh qua như vậy, đồng chí Phiêu với kinh nghiệm của mình sẽ giúp bạn có hiệu quả hơn, phù hợp hơn đối với bạn. Đó là những suý nghĩ rất chân thành của tôi, nhưng ý kiến đó không được chấp nhận, tôi đành phải chấp hành lệnh điều động sang Đoàn 478 với cương vị là Phó Đoàn trưởng Chính trị. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Bảy, 2025, 11:33:18 am Được làm việc với đồng chí Mai Xuân Tần, với tôi cũng có nhiều thuận lợi. Tôi biết đồng chí Mai Xuân Tần từ hồi còn ở Sư đoàn 308. Tôi thường đi theo Tiểu đoàn 80 khi đồng chí còn là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 80, nên đồng chí cũng biết rõ tôi. Tôi còn nhớ hôm Tiểu đoàn 80 đánh trận Đồi Chò - Núi Quyết trong trận Chân Mộng - Trạm Thản, một trận vận động phục kích nổi tiếng của Trung đoàn 36 - Trung đoàn Bắc Bắc. Trong trận đó, khi là phái viên đi theo tiểu đoàn, mệt quá tôi ngủ thiếp đi đến 8 giờ sáng hôm sau. Trận đánh diễn ra suốt đêm, tôi ngủ gục không biết trời đất gì nữa. Tỉnh dậy trời nắng chói chang, thấy cách chỗ tôi một đồng chí hy sinh, quần áo dính đầy khói đạn, thì đồng chí Tần ở hầm chỉ huy trên sườn đồi gần đấy phát hiện thấy tôi gọi lên vào hầm chỉ huy cùng đồng chí và đồng chí Chính trị viên Tiểu đoàn. Tôi nhớ mãi kỷ niệm đó. Bây giờ gặp nhau cùng làm nhiệm vụ quốc tế, gặp anh tôi rất vui. Anh hơn tôi bốn tuổi, đã tốt nghiệp tú tài toán học, làm việc rất có kế hoạch nên tôi sẽ học tập ở anh nhiều. Còn anh đối xử với tôi cũng rất thân tình như hồi còn trẻ ở Đại đoàn 308.
Trong thời gian chờ đợi quyết định chính thức của Bộ, tôi vẫn làm việc ở Cơ quan Chính trị 719. Mãi đến tháng 10 năm 1984, tôi mới nhận được quyết định của Bộ điều động sang Đoàn 478 và được Ban Cán sự Đảng 719 chỉ định là Phó Bí thư Đảng ủy Đoàn. Tôi được phân công giúp anh Mai Xuân Tần về công tác nội bộ Đoàn vì lúc đó số lượng chuyên gia giúp Bộ Quốc phòng bạn cộng với số anh chị em phục vụ đã lên tới hơn 2.000 người, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp và trung cấp. Trong thời gian đầu làm việc với anh Tần có một tình huống mà tôi rất băn khoăn trong một thời gian dài. Đó là một câu chuyện khá phức tạp của bộ đội bạn. Có một đơn vị bạn được phân công đóng chốt ở biên giới giáp với Thái Lan trong điều kiện về tiếp tế rất khó khăn, thời tiết rất khắc nghiệt, lại ở vùng sốt rét, cuộc sống của đơn vị rất căng thẳng và gian khổ. Do bị những phần tử xấu kích động, đơn vị đã tự động bỏ vị trí về sâu trong nội địa và có dấu hiệu phản chiến, cấp trên của bạn chỉ thị cho họ quay lại nhưng đơn vị đó không chấp hành. Bạn định tước vũ khí của họ nhưng họ không chịu và không cho bất kỳ ai vào khu vực của đơn vị nếu không cho họ về nhà. Bạn cầu cứu Quân tình nguyện can thiệp. Tuy chỉ là một đơn vị khoảng một tiểu đoàn không đầy đủ quân số, nhưng hành động của họ nếu không kịp thời giải quyết sẽ lan rộng và có một ảnh hưởng rất xấu cho tinh thần của bộ đội bạn. Bộ Tư lệnh giao cho hai nơi giúp bạn giải quyết việc này là Quân đoàn 4 và Đoàn 478. Anh Mai Xuân Tần có hội ý với tôi và định cử tôi lên giúp bạn giải quyết. Nhưng tôi chỉ phụ trách công tác nội bộ của Đoàn, không có tư cách gì để góp ý kiến với bạn. Tôi trình bày ý kiến đó với anh Tần vì vậy anh cũng không ép tôi phải làm, mặc dù trong đầu tôi cũng có phương án sơ bộ để giải quyết là sư sãi và hội phụ nữ của bạn cử người vào đơn vị đó thuyết phục họ trả lại vũ khí, không phải dùng đến vũ lực của bộ đội bạn và Quân tình nguyện giải quyết, tránh đổ máu. Nhưng tôi không muốn nói ra, ngại rằng nói thì dễ nhưng làm mới khó. Cuối cùng vụ việc này cũng được giải quyết, nhưng phải dùng vũ lực của cả ta và bạn. Tuy việc đó hoàn toàn không phải là phận sự của tôi, nhưng tôi cứ băn khoăn mãi vì không giúp gì được cho anh Tần, cho bạn trong việc này, và tự thấy mình có thiếu sót không mạnh dạn, chân thành góp ý kiến với anh Tần. Trở lại việc đồng chí Đoàn Khuê được Bộ Chính trị điều sang Campuchia, tôi chỉ hiểu đơn giản là đồng chí thay đồng chí H. sau vụ Xiêm Riệp, chứ hoàn toàn chưa hiểu được việc có liên quan đến việc thực hiện những yêu cầu mới cao hơn trong mục tiêu chiến lược số 1 "... làm cho địch suy tàn đến mức không thể gượng dậy được, không thể bám trụ được trong nội địa Campuchia". Khoảng cuối tháng 12 năm 1984, dù đang ở Đoàn 478, tôi được chỉ thị theo đồng chí Đoàn Khuê đi lên Mặt trận 579 ở Xtung Treng công tác. Ở Cơ quan Chính trị 579 được vài hôm thì tôi được báo đến dự họp bàn về kế hoạch tác chiến của Mặt trận. Tôi ngạc nhiên khi thấy chủ trì cuộc họp lại là đồng chí Nguyễn Chơn, Tư lệnh Quân khu 5, đồng chí Đoàn Khuê cũng có mặt. Tôi chắc đây là một trận đánh rất quan trọng. Đồng chí Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 là Trương Hồng Anh còn rất trẻ, trình bày kế hoạch tác chiến trong cuộc họp cán bộ từ cấp trung đoàn, tiểu đoàn và cán bộ các đơn vị trực thuộc và phối hợp trong trận đánh vào một căn cứ của bọn địch sát biên giới, có một phần ở đất Thái Lan thuộc tỉnh Prêt Vihia. Sau một hồi thảo luận trao đổi ý kiến, đồng chí Nguyên Chơn, Tư lệnh Quân khu 5 góp ý kiến chỉ đạo và thông qua kế hoạch (mãi sau này tôi mới biết Sư đoàn trưởng Trương Hồng Anh mới 34 tuổi, là một Sư đoàn trưởng trẻ rất có triển vọng và là con rể anh Trần Giang - Thiếu tướng, bạn chiến đấu của tôi trước đây hồi cùng ở trong Trung đoàn 36 - Trung đoàn Bắc Bắc thuộc Sư đoàn 308). Sau đó mấy hôm, tôi được biết trận đánh của Sư đoàn 2 đã giành thắng lợi lớn khi tiêu diệt được khá nhiều địch, thu nhiều vũ khí và quan trọng hơn là phá tan được một căn cứ khá lớn của địch ở biên giới cả phần ở trên đất Thái Lan. Nhưng cũng biết một tin buồn là Sư đoàn trưởng Trương Hồng Anh sau thắng lợi của trận đánh, trên đường lui quân, chiếc xe tăng chỉ huy có anh ở trên đó bị trúng mìn và anh đã hy sinh. Vẫn biết rằng trong chiến đấu khó tránh khỏi, nhưng tôi cảm thấy cái giá phải trả cho thắng lợi của trận này là quá lớn. Mãi về sau này tôi vẫn không quên được hình ảnh của một Sư đoàn trưởng rất trẻ, rất tự tin và mạch lạc khi trình bày kế hoạch tác chiến hôm ấy. Dần dần sau này tôi mới được biết đó là một trận đánh nằm trong kế hoạch của chiến dịch Đông - Xuân 1984 - 1985, đánh tất cả bọn địch trên tuyến biên giới, của tất cả các lực lượng địch từ Pôn Pốt là lực lượng mạnh nhất, đến cả bọn Xrâyca và Moulinaka, đánh vào sào huyệt chính ở Caomêlai, một khu vực rất hiểm trở ở biên giới Batambang - Thái Lan. Trong hơn 3 tháng tiến hành chiến dịch, ta và bạn đã phá tan toàn bộ căn cứ chiến lược quan trọng của địch ở tuyến biên giới mà bọn chúng, đặc biệt là bọn Pôn Pốt đã đổ công xây dựng trên 5 năm để làm chỗ dựa, làm căn cứ để tiến công vào nội địa và củng cố xây dựng lực lượng lâu dài. Tôi cũng được biết thêm là các tư lệnh quân khu phía Nam của ta (các quân khu 5, 7 và 9) đều tham gia chỉ đạo trực tiếp các trận đánh của các mặt trận trực thuộc ở Campuchia. Nhiều sư đoàn chủ lực của các quân khu, của Quân đoàn 4 đã trở về nước, được điều động sang để tăng cường cho chiến dịch đánh vào các căn cứ trọng yếu của địch. Các đơn vị chủ lực của bạn cũng đã cùng ta tích cực tham gia chiến dịch. Tôi hiểu thêm được rằng, việc đồng chí Đoàn Khuê được điều động sang Campuchia có liên quan trực tiếp đến chiến dịch này để thực hiện "yêu cầu đánh cho địch không thể gượng dậy được". Và theo tôi, một trong những yếu tố giành được thắng lợi một phần rất quan trọng là giữ được bí mật chung. Tôi có cảm giác rằng, đơn vị nào nhận nhiệm vụ ở đâu chỉ biết ở đó mà không hiểu hết được ý đồ chung của chiến dịch. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Bảy, 2025, 11:35:50 am Theo cuốn "Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Campuchia (1978 - 1984)" thì trong chiến dịch này ta và bạn đánh 260 trận, trong đó 14 trận cấp sư đoàn, 20 trận cấp trung đoàn, 90 trận cấp tiểu đoàn, bằng sức mạnh binh chủng hợp thành. Ta đã phá tan 8 căn cứ của bọn Pôn Pốt ở biên giới giáp Thái Lan mà chúng đã xây dựng suốt hơn 5 năm từ năm 1979 đến năm 1985; 7 căn cứ của bọn Xrâyca (bọn Khơme tự do của Son San); 1 căn cứ được bảo vệ bởi các đơn vị mạnh của bọn Pôn Pốt, Xrâyca, Moulinaka và nhiều căn cứ lẫn trong nội địa...
Trong chiến dịch này, ta và bạn đã phá tan toàn bộ căn cứ chiến lược quan trọng của địch, đánh trúng bọn đầu sỏ phản động, xây dựng được thế trận làm chủ lực của ta trên toàn tuyến biên giới, mở ra một cục diện mới ở chiến trường Campuchia. Theo tôi, sau đòn tiến công lớn này của ta, do mất chỗ dựa là các căn cứ lớn ở biên giới, địch phải bị động chuyển hướng chiến lược, cố gắng phục hồi lực lượng, đưa các lực lượng còn lại vào nội địa ngoan cố chống phá. Tuy nhiên, tinh thần của chúng sa sút rất rõ, cường độ hoạt động giảm đi nhiều. Quân lính địch ra hàng nhiều hơn, trong đó có cả tên sư đoàn phó được cử vào Phnôm Pênh hoạt động. Tôi nghĩ rằng, trong cuộc chiến ta cùng bạn đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt ở Campuchia, có hai thời điểm nổi bật đáng ghi nhớ nhất: Một là, cuộc phản công chiến lược như vũ bão của bộ đội ta cùng những đơn vị đầu tiên của bạn bắt đầu từ ngày 23 tháng 12 năm 1978 đến ngày Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng (7.1.1979) và sau đó tất cả các thành phố, thị xã, thị trấn của Campuchia cũng lần lượt được giải phóng (17.1.1979). Toàn bộ bộ máy chính quyền diệt chủng của bọn Pôn Pốt đã bị đập tan từ trung ương đến cơ sở. Hai là, những đòn liên tiếp của bộ đội ta và bộ đội bạn trong hơn 3 tháng của chiến dịch cuối năm 1984 đầu năm 1985 đã lần lượt phá tan hệ thống các căn cứ của địch ở biên giới Campuchia - Thái Lan làm cho "hậu phương", bàn đạp của chúng bị phá nát. Sau thất bại này, sức mạnh của địch sụt giảm, xuống dốc nhanh chóng không thể gượng dậy được nữa, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chúng, buộc chúng phải thay đổi chiến lược một cách bị động là đưa bọn tàn quân vào nội địa hòng phục hồi lại lực lượng chống phá cách mạng Campuchia. Khi chuyển từ Cơ quan Chính trị Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện sang Đoàn chuyên gia 478 được ít lâu, ngày 9 tháng 9 năm 1985, tôi nhận được quyết định của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa nhân dân Campuchia tặng thưởng Huân chương Bảo vệ tổ quốc hạng Nhất do Chủ tịch Hêng Xomrin ký. Đó là đợt trao tặng huân chương đầu tiên của nhà nước Campuchia tặng cho một số chuyên gia và được đích thân Chủ tịch Hêng Xomrin gắn sau vài ngày có quyết định. Tôi tự hào được nhận phần thưởng cao quý đó không những đó là đợt khen thưởng đầu tiên của bạn đối với chuyên gia quân sự ta mà huân chương đó là một huân chương cao quý, chỉ đứng hàng thứ hai sau Huân chương Ăngco là huân chương cao nhất của bạn. Tôi hài lòng với cái tên Huân chương Bảo vệ Tổ quốc của bạn tặng cho cán bộ ta làm nghĩa vụ quốc tế cao cả giúp bạn, nhưng cũng chính là "Bảo vệ Tổ quốc mình", tôi tự nghĩ như thế. Vài tháng sau, theo Quyết định số 389/CT ngày 21 tháng 12 năm 1985 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng, tôi được thăng quân hàm từ Đại tá lên Thiếu tướng. Song, sau những sự kiện lớn rất phấn khởi như thắng lợi của ta và bạn phá tan được các căn cứ của địch trên tuyến biên giới Campuchia - Thái Lan của chiến dịch 1984 - 1985, đồng thời với sự suy tàn, đi xuống của địch và niềm vui cá nhân được bạn khen thưởng và được phong quân hàm cấp tướng thì tình hình hậu phương, gia đình tôi gặp không ít khó khăn, buồn phiền. Trong khoảng thời gian này, tôi thường phải đi lại từ Phnôm Pênh về Hà Nội để dự các cuộc họp do Tổng cục Chính trị tổ chức, nên có điều kiện biết rõ hơn về tình hình gia đình,phát hiện những vấn đề mình phải có ý kiến giải quyết, thu xếp để yên tâm công tác. Chuyện làm tôi lo lắng và buồn phiền nhất là đứa con trai thứ 5 của tôi đang tại ngũ thì đột nhiên bị bệnh tâm thần. Cháu là Đinh Cao Năng, đang là học sinh năm cuối của bậc phổ thông trung học, chớm tuổi theo Luật Nghĩa vụ quân sự thì nhập ngũ. Lúc Năng đi bộ đội tôi không có ở nhà. Ít lâu sau tôi nhận được thư của Năng là đang ở Trung đoàn pháo binh cơ giới nòng dài thuộc Sư đoàn 3 Quân đoàn 14 đang đóng quân tại Đồng Mỏ (Lạng Sơn) và đơn vị đang trong tình huống sẵn sàng chiến đấu vì lúc đó chiến tranh biên giới phía Bắc vẫn đang tiếp diễn. Trong thư, Năng hứa hẹn sẽ phấn đấu tốt. Tôi mừng là con mình sớm được rèn luyện trong một môi trường tốt. Song, tôi cũng hơi băn khoăn vì tôi biết, từ nhỏ Năng là một đứa trẻ thông minh, lanh lợi, nhưng thần kinh yếu dễ bị xúc động so với những đứa con khác. Trong lá thư thứ 2 và thứ 3, sau hơn một năm ở bộ đội, tôi đã thấy nó nói đến những chuyện tiêu cực ở đơn vị, tuy không nói cụ thể, và hứa hẹn mạnh mẽ hơn, theo gương Paven Coócxaghin, nhân vật trong tác phẩm "Thép đã tôi thế đấy" của Nicôlai Ôxtơrốpxki và hứa sẽ không bao giờ đào ngũ. Là một cán bộ chính trị trưởng thành từ cơ sở lên, đã chiến đấu từ chiến sĩ đến cấp trung đoàn, tiếp xúc nhiều và hiểu rất rõ lớp thanh niên, tội đã cảm thấy có gì đó bất ổn, có gì đó đang giằng xé trong tâm hồn, tư tưởng của con mình. Dù rất bận, tôi cũng vội viết thư động viên Năng tiếp tục vượt qua gian khổ và nếu thấy có gì tiêu cực trong đơn vị thì trong sinh hoạt dân chủ ở đại đội nên góp ý với tinh thần thật chân thành và xây dựng. Nhưng chỉ ít lâu sau, tôi nhận được thư của anh trai Năng, đang là một cán bộ kỹ thuật về ra đa máy bay chiến đấu MiG-21, công tác tại sân bay Kép, Bắc Giang viết thư cho biết, Năng bị tâm thần, nhảy tàu hỏa tại Đồng Mỏ xuống ga Kép vào đơn vị anh. Thấy em mình ở trạng thái không bình thường, anh nó phải xin phép đơn vị dẫn em về nhà. Thư còn cho biết thêm là đơn vị cũng có điện về địa phương nói là Năng "đào ngũ", và anh nó tỏ thái độ rất bất bình về chuyện này. Nhận được tin, tôi sửng sốt và rất buồn. Nhân có dịp công tác về Hà Nội, tôi xin phép các đồng chí ở Bộ Tư lệnh được về nhà ít hôm để giúp gia đình giải quyết việc bất hạnh này. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Bảy, 2025, 11:37:35 am Về nhà, tôi xót xa vô cùng khi thấy Năng từ một học sinh mạnh khỏe, hóm hỉnh nay ghẻ lở, đờ đẫn, nhếch nhác, tuy không hung hãn phá phách gì nhưng cũng không nói năng, chuyện trò gì với bố. Được Cơ quan Tổng cục Chính trị giúp đỡ và giới thiệu, tôi động viên Năng cùng đi với tôi lên đơn vị của nó với mục đích tìm hiểu nguyên nhân và cách giải quyết việc của Năng. Ngồi trên chiếc xe con, tôi tìm cách hỏi chuyện Năng về đơn vị của nó, nhưng chỉ nhận được những câu trả lời hờ hững, không rõ. Tôi đến Trung đoàn vào lúc chiều, gặp Phó Trung đoàn trưởng về Chính trị hỏi cho rõ chuyện Năng mắc bệnh, anh cũng chỉ nói chung chung, không giúp được gì thêm và đề nghị tôi xuống nghỉ đêm ở tiểu đoàn vì đã chuẩn bị chu đáo ở đó.
Sáng hôm sau, hai bố con tôi xuống đại đội của Năng thì được đồng chí Phó Đại đội trưởng về Chính trị ân cần tiếp đón. Đối với Năng, anh cũng vẫn hỏi han và Năng cũng nói chuyện với anh bình thường. Qua đó, tôi hiểu rằng đối với người cán bộ chính trị ở đại đội này, quan hệ đối với anh em vẫn bình thường nếu không muốn nói là có vẻ tốt. Tôi hỏi đồng chí Phó Đại đội trưởng về Chính trị đồng chí đại đội trưởng đi đâu thì anh trả lời là đi công tác. Lựa lúc Năng lủi thủi ngồi một mình ở ngoài hiên, tôi hỏi đồng chí Phó Đại đội trưởng về Chính trị về trường hợp mắc bệnh của Năng. Anh kể với tôi chuyện đó như sau: Một buổi tối, đơn vị tổ chức họp mặt toàn đại đội liên hoan tiễn một số ít anh em chiến sĩ của đơn vị đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự được giải ngũ, để sáng hôm sau anh em ra quân. Trong số đó, Năng có một anh bạn thân lớn tuổi hơn Năng, quê Hà Nội, hai cậu tâm sự với nhau. Đêm hôm đó Năng được phân công gác từ lúc đó đến giờ đi ngủ. Năng đứng gác suốt từ lúc đó mà không gọi chiến sĩ gác tiếp sau, và một mình gác suốt đêm đến sáng hôm sau, đến hôm sau cũng diễn ra tình hình như vậy. Một ngày sau, Năng được đơn vị phân công kiếm củi ở trong rừng cho đại đội. Gần đến trưa, Phó Đại đội trưởng về Chính trị ngạc nhiên thấy Năng gánh một gánh củi nhỏ chạy rất nhanh về đơn vị, đằng sau có một người đàn ông trung niên đuổi theo. Anh thấy Năng vừa chạy vừa la to: "Rèn luyện đây, rèn luyện đây!" và gọi tên anh "Anh ơi cứu em với!". Hỏi ra mới biết người đuổi theo là ông hàng phở ở gần đơn vị. Năng vào ăn và sau khi trả tiền, thấy gánh củi để gần, liền bốc lên vai chạy về đơn vị. Phó Đại đội trưởng về Chính trị thấy gì đó không bình thường, định tìm cách tâm sự và theo dõi tiếp. Nhưng đêm đó có đội văn công đến biểu diễn, cả đại đội đi xem. Anh chưa kịp làm gì với Năng thì sáng hôm sau, Năng tìm cách lên xe ô tô của đội văn công đi ra ga Đồng Mỏ. Từ đó Năng đã trốn lên toa than để về Hà Nội và xuống ga Kép vào đơn vị không quân ở gần sân bay để gặp anh trai. Tôi hỏi Phó Đại đội. trưởng về Chính trị vì sao lại có điện của đơn vị báo về quê tôi là Năng đào ngũ: Anh trả lời là thấy Năng bỏ đơn vị đi, anh chỉ báo cáo lên trên như thể, còn đơn vị điện như thế nào anh không biết. Lúc đó, tôi nghĩ ràng có lẽ tôi chỉ có thể biết được từng đó thôi. Tôi tin ở người Phó Đại đội trưởng về Chính trị đã nói với tôi một phần sự thật vì có những chi tiết phù hợp với tính cách của Năng mà tôi đã biết. Nhưng có những lý do sâu xa đẩy tới tình hình Năng có những hành động biểu hiện sự rối loạn về tâm thần thì tôi chưa hình dung nổi. Suốt buổi hôm ấy vẫn không thấy Đại đội trưởng về. Trước khi trở về Hà Nội, tôi dẫn Năng lên Trung đoàn gặp Phó Trung đoàn trưởng về Chính trị xin phép cho Năng về khám bệnh ở Viện Quân y 103, vì nghe nói ở đó có khoa tâm thần có kinh nghiệm điều trị. Đồng chí ấy đồng ý và nói như để làm tôi yên lòng và hy vọng: "Khi cháu lành bệnh, thủ trưởng (ý nói tôi) có đồng ý để cho Năng đi học một lớp sĩ quan không?". Tôi chỉ ầm ừ cho qua chuyện và cáo từ ra về. Thật ra, trong thâm tâm tôi không tin tưởng con mình được chữa khỏi bệnh vì tôi được biết có nhiều trường hợp tương tự không thể chữa khỏi. Tuy nhiên, với tình thương và trách nhiệm đối với con mình, tôi tự xác định cho mình phải tìm mọi cách để chữa bệnh cho con và cố gắng làm giảm nhẹ gánh nặng cho mẹ nó. Tôi tìm đến Bộ Thương binh, Xã hội (lúc đó đồng chí Thượng tướng Song Hào nguyên là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã được điều sang làm Bộ trưởng) để mong có được sự tư vấn có ích. Tôi xin gặp đồng chí Hiếu, nguyên là Cục trưởng Cục Chính sách cũng được điều sang và bổ nhiệm làm Thứ trưởng. Vốn quen biết vì khi anh còn ở Tổng cục, phòng làm việc của anh ở cùng một tầng, bên cạnh phòng làm việc của tôi và chúng tôi đã cùng đi công tác với nhau vài lần. Anh ân cần tiếp tôi và sau khi nghe tôi trình bày, anh giới thiệu cho tôi đến một bác sĩ là chuyên gia thuộc bộ môn chuyên về các thương bệnh binh tâm thần để đồng chí đó góp ý. Tôi hỏi tiếp anh là Bộ có cơ sở điều trị cho thương bệnh binh tâm thần không và có thể gửi đến đó được không? Anh rất chân tình nói với tôi rằng nếu nó không phá phách gì thì nên để gia đình chăm sóc chứ không nên "đầy đọa" nó vì đến đó rất khổ, cơ sở vật chất của ta rất thiếu thốn, nghèo nàn, ở đó toàn bệnh nhân nặng cả. Tôi trao đổi với đồng chí bác sĩ chuyên gia kia chỉ nhận được một lời khuyên: "Anh không nên nhọc công tìm nguyên nhân làm gì vì y học thế giới đối với bệnh nhân tâm thần, tỷ lệ không rõ nguyên nhân là rất lớn, không thể biết được". Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng phải có một cú sốc rất mạnh, mà bây giờ thuật ngữ y học gọi là "sang chấn" thì mới dẫn đến bệnh được. Khi đưa Năng về Viện Quân y 103 kiểm tra thì được biết Năng bị bệnh tâm thần phân liệt, điều trị ở đó ít lâu cũng không chuyển biến gì. Gia đình tìm mọi cách đưa đến các cơ sở khác, nghe ở đâu chữa tốt cũng đưa đến, kể cả Đông y,nhưng cũng không có tiến triển. Đồng chí Sư đoàn trưởng, Phó Sư đoàn trưởng về Chính trị Sư đoàn 308 là bạn cũ của tôi biết chuyện, rất thông cảm và chủ động nhận đưa Năng về đơn vị chăm sóc giúp đỡ vì cũng đang nhận nuôi con đồng chí Trần Lương (nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị nay đang công tác ở miền Nam) cũng bị bệnh tâm thần đang ở đó. Nhưng cuối cùng cũng không có kết quả gì. Ít lâu sau, một lần khi về Hà Nội công tác, tôi được biết đơn vị cũ của Năng là Trung đoàn pháo binh cơ giới thuộc Sư đoàn 3, Quân đoàn 14 có quyết định cho Năng giải ngũ kèm theo hơn 10 kilôgam gạo bằng tem phiếu. Năng được mẹ và anh chị em chăm sóc khá chu đáo với một tình thương sâu sắc. Việc đó kéo dài hơn 25 năm. Khi tôi về hưu thì chủ yếu tôi và mẹ nó chăm sóc, nhưng cũng không xuể. Từ khi bị bệnh về nhà, Năng đã bỏ nhà đi ba lần, lâu nhất đến ba đến bốn tháng. Mỗi lần như thế, gia đình rất vất vả nhất là anh chị em phải đi tìm kiếm. Cả gia đình, họ hàng rất thương Năng có người đề xuất ý kiến nên lấy vợ cho nó may ra khỏi, nhưng phần lớn trong gia đình thấy không ổn, không nên trút gánh nặng, làm khổ người khác. Hàng xóm cũng rất thông cảm vì thấy nó hiền lành, không phá phách gì ngoài việc lẩn thẩn và mất khả năng lao động, đôi khi chỉ phát khùng đối với người, trong gia đình thôi. Vì thương nó, để nuôi dưỡng tình thương đó và tránh sự bực bội do bệnh tình của nó gây ra, mọi người động viên nhau rằng "nó gánh tội cho cả nhà đấy!". Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Bảy, 2025, 11:39:10 am Nhưng rồi nỗi đau vẫn đến với gia đình. Buổi tối ngày 10 tháng 9 năm 2007 (27 tháng 9 năm Đinh Hợi) nhà bị mất điện,mẹ nó gọi về ăn cơm nhưng hơi nặng lời một chút thì Năng bỏ đi. Chỉ sau vài phút không thấy Năng về, anh chị em nó chia nhau các ngả tìm suốt đêm và những ngày sau đó nhưng không thấy.
Tự nhiên tôi linh cảm thấy điều xấu nhất sẽ xảy ra, vì gần đây sức khỏe của Năng rất kém. Trước đây mỗi buổi sáng, thỉnh thoảng, tự tay tôi chuẩn bị cho Năng ăn, khi tôi hỏi Năng còn khen ngon, nhưng bây giờ thì ăn uống uể oải, thần sắc ủ dột, ít nói, đôi khi than vãn một mình về sức khỏe như một người tỉnh táo bình thường. Lúc đó, Năng đã bước sang tuổi 45 (sinh ngày 23 tháng 3 năm 1963). Rất nhiều lần gia đình nghe tin ở đâu có người bị tâm thần đều tìm đến nhưng vô vọng. Từ đó, cùng với bệnh tật tuổi già, mẹ nó vì nhớ thương con, sức khỏe bắt đầu suy sụp; có lúc nằm khóc một mình gọi tên con và luôn đòi anh em nó phải đi tìm dù chẳng biết ở đâu. Những lúc như vậy, tôi rất xót xa, vừa thương con, vừa thương vợ, nhưng vẫn cố phải giữ bình tĩnh để khỏi ảnh hưởng tới không khí trong gia đình, làm buồn thêm những đứa con khác. Nhà tôi bệnh tình ngày càng nặng thêm, trước khi mất khoảng gần hai năm, tâm thần rối loạn và ra đi vào một buổi sáng ngày 23 tháng 5 năm 2009 (29 tháng 4 âm lịch) sau hơn 60 năm làm người bạn đời chung thủy của tôi. Còn Năng, đứa con bất hạnh của vợ chồng tôi, khi tôi viết những dòng này đã biệt tích hơn tám năm rồi. Gia đình lấy ngày Năng bỏ nhà đi là ngày giỗ Năng, coi như người đã mất. Trong quãng thời gian này, ngoài nỗi buồn về chuyện gia đình, về bệnh tình và chuyện Năng bỏ đi biệt tích, đời sống của gia đình tôi cũng có nhiều khó khăn. Tình hình kinh tế của đất nước lúc đó cực kỳ khó khăn, tôi nghĩ rằng không chỉ riêng gia đình tôi, mà rất nhiều gia đình, đặc biệt là các gia đình bộ đội đều trong một tình trạng thiếu thốn chung như vậy. Trước đây, ở quê Hợp tác xã Quyết Thành được thành lập từ 1954 sau khi giải phóng miền Bắc sản xuất đồ gốm mà vợ tôi là một xã viên. Được một đồng chí bộ đội phục viên về làm chủ nhiệm, từ một làng nghề truyền thống ra đời cách đây hàng trăm năm trước, nhưng bị giặc phá sạch để xây đồn sát đó, mỗi xã viên chỉ góp 15 đồng vốn ban đầu, đã trở thành một hợp tác xã làm ăn giỏi, có doanh thu khá nhất trong số các hợp tác xã thủ công nghiệp của tỉnh. Đời sống của các gia đình xã viên được cải thiện rất nhanh, là một thôn có đời sống cao nhất ở huyện. Thế mà bây giờ làm ăn trầy trật, sa sút, những người thợ giỏi nhất bỏ làng đi làm ở nơi khác. Vợ tôi cũng đã đến tuổi "nghỉ hưu", phải chạy chợ, buôn bán vặt kiếm thêm thu nhập, có lúc phải đi bán nước vối dạo cho dân công thủy lợi ở quê để kiếm them tiền nuôi mấy con nhỏ ăn học. Sau hơn 40 năm với nghề gốm và hơn 30 năm gắn bó với hợp tác xã, lúc nghỉ việc vợ tôi được quản trị tặng một kỷ niệm chương của hợp tác xã to bằng đồng xu, ngoài ra không có gì khác. Có dịp về nhà tôi không khỏi xúc động và khâm phục thấy dân làng mình quá khổ, tuy ít nhiều có kêu ca nhưng vẫn một lòng tin Đảng, tự lực vượt qua khó khăn để sống. Với tôi lúc đó đã hưởng lương đại tá, và cuối năm 1985 đã hưởng lương tướng, thông cảm với hoàn cảnh chung của những người lao động và rất thương vợ con mình, nên tôi tự xác định là mình phải hết sức tiết kiệm để dành tiền giúp đỡ gia đình. Nhưng thật ra, đồng lương của cán bộ cao cấp lúc đó còn rất eo hẹp, việc dành dụm để giúp đỡ một gia đình đông con như vợ chồng tôi cũng không thể có một đời sống khá được. Tôi có những kỷ niệm nhỏ không thể quên. Có lần, tôi và một đồng chí lái xe trẻ, từ Phnôm Pênh đi Đà Lạt để tôi giới thiệu tình hình và chủ trương của ta ở Campuchia cho các học viên ở Học viện Quân sự Đà Lạt. Dọc đường phải cho xe nghỉ để nguội máy, hai chú cháu vào một quán giải khát, tôi gọi hai cốc cà phê đá cho tôi và cháu uống cho tỉnh táo. Khi làm xong nhiệm vụ, từ Đà Lạt trở về, đến lúc phải cho xe nghỉ, ở một dãy quán ăn và giải khát ở dọc đường, cháu chủ động nói với tôi: "Hôm nay cháu mời chú ăn cơm hàng với cháu". Tôi nghĩ, có lẽ cháu được nghe các bạn khác ở tổ lái xe thường đi công tác với tôi nói chuyện về sự tiết kiệm của tôi, nên rất chân thành và thân mật mời tôi. Tôi cười hỏi cháu: "Đời sống của gia đình bố mẹ cậu ở quê có khá không, cậu có dành được tiền để giúp đỡ không, ở nông thôn bây giờ đời sống khó khăn lắm!" Cháu đáp: "Cũng tàm tạm, chú ạ! Cháu không phải giúp đỡ gì". Nó nói vậy, nhưng tôi thấy bọn trẻ thường vô tâm lắm, cũng như mình lúc trẻ thường ít chú ý đến những khó khăn của bố mẹ. Vì vậy, tôi để cháu gọi món ăn và cơm, nhưng tôi trả tiền. Tôi có một điểm yếu là dễ xúc động, có nhiều lần trong những bữa liên hoan sang trọng, đã không nghĩ gì thì thôi, nhưng nghĩ đến cảnh gia đình khó khăn, thiếu thốn là ăn không còn thấy ngon nữa, nhất là khi thấy thức ăn quá thừa thãi, nước mắt cứ muốn trào ra, phải cố kiềm chề để khỏi ảnh hưởng tới người khác. Bởi vì có một chuyện nhỏ nhưng đến mấy chục năm sau tôi vẫn không thể quên được, một lần về thăm nhà, vợ tôi làm một bữa nem rán cho cả nhà. Khi ăn cơm, thằng anh học lớp 6 khen: - Cơm hôm nay ngon quá! Lập tức, đứa con gái 7 tuổi học lớp 2 nói luôn: -Gớm! Hôm nay bố không về, đừng có hòng... Tôi nghe, miệng thì cười mà khóe mắt thấy ướt. Tôi biết rất rõ, tuy đông con nhưng vợ tôi chăm sóc sức khỏe, ăn uống cho con thì không thể chê vào đâu được. Ăn uống đạm bạc nhưng phải no, đủ, ốm đau có thuốc thang chu đáo, nên đứa nào cũng hồng hào, kháu khỉnh. Còn mình thì ăn uống thế nào cũng xong. Tóm lại là, mọi khả năng tài chính của vợ chồng dồn vào việc nuôi các con ăn học, cực nhọc khó kể xiết. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Bảy, 2025, 11:41:10 am Còn nơi ăn chốn ở của gia đình trong khoảng thời gian đó cũng khó khăn không kém. Ở quê nhà, đất thì rộng nhưng tềnh toàng, ngoài mấy cái giường phản ọp ẹp để ngủ thì đồ dùng trong nhà hầu như không có gì, bàn ghế cũng chẳng có. Ở Hà Nội, dãy nhà cấp 4 xây dựng để chia cho cán bộ cao cấp không có vợ ở Hà Nội mỗi người một phòng ở số 32 phố Lý Nam Đế bây giờ phải nhường chỗ cho gia đình một thủ trưởng mới về và vài phòng dành cho Ban Thanh niên Quân đội. Những cán bộ cao cấp đang ở đó được điều đi các nơi khác. Riêng tôi được chia một phòng khoảng 18 mét vuông trong dãy nhà cấp 4 ở số 8 Lý Nam Đế, đằng sau Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân. Dãy nhà này trước đây là kho vũ khí, đạn dược thuộc Tổng cục Chính trị. Năm 1978, cấp trên thấy để đó rất nguy hiểm, không an toàn cho cả khu nhà xung quanh nên quyết định chuyển đi. Nhưng không may, hôm chuyển đi do một số cháu nữ chiến sĩ trong Cục quản lý chuyển đạn dược ra xe, dẫm quả đạn bị nổ, gây thương vong cho nhiều cháu và người đi đường. Dãy nhà kho đó được sửa qua loa lại để chia cho một số gia đình anh em ở Tổng cục Chính trị mỗi người một phòng. Tôi được chia một phòng ở đầu hồi và khi tôi công tác ở Campuchia, thì vợ chồng Đức, con trai thứ hai của tôi đến ở đó và chúng đã có một con nhỏ, cùng bà cụ ngoại đến trông con cho chúng đi làm. Mỗi khi tôi từ Campuchia về Hà Nội công tác cũng ở trong phòng đó, rồi vợ con ở quê lên thăm cũng ở luôn đó. Có khi căn phòng 18 mét vuông đó có tới 6, 7 người cùng ăn ngủ. Một lần vì trong nhà quá chật chội, tôi phải đưa một chiếc giường cá nhân ra hiên ngủ để sớm hôm sau kịp lên sân bay Nội Bài bay sang Phnôm Pênh. Tôi được biết tin, chỉ vài giờ sau khi tôi đi, trần nhà chỗ tôi nằm đổ ụp xuống gãy thang giường, cả nhà và mọi người trong dãy nhà đều mừng cho tôi thoát chết, chuyện này xảy ra khi tôi đã được phong Thiếu tướng. Còn vợ chồng Phong, con cả tôi, cả hai đều là giảng viên đại học. Chồng là giảng viên tiếng Đức ở Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, vợ là giảng viên của Trường Đại học Tổng họp Hà Nội, đã có một con gái, được phân một gian nhà lợp tranh ở Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, to hơn cái lều vịt một chút, nên cũng không thể ở nhờ được.
Tôi kể những khó khăn, vất vả, thiếu thốn của gia đình thời kỳ đó một cách chi tiết như vậy, không phải để oán thán, mà chỉ hy vọng rằng khi con cháu mình đọc những dòng hồi ký này, thấy rõ ông cha mình đã trải qua những khó khăn của cuộc sống gia đình thế nào, và đó chỉ là một phần nhỏ của những khó khăn phải vượt qua để phấn đấu thực hiện một lý tưởng, một hoài bão cách mạng cao cả nhằm giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước, xây dựng một xã hội hạnh phúc hơn cho con cháu mình. Tôi cho đó là những khó khăn khó tránh khỏi, mà còn vì tôi cũng được chứng kiến rất nhiều hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của nhiều đồng chí mình, nhất là các đồng chí ở khu vực nông thôn, đã hy sinh rất nhiều cho sự nghiệp cách mạng mà mình đã tự nguyện cống hiến cả cuộc đời cho mục đích cao cả đó. Và tôi nghĩ đó cũng là lòng tự trọng của nhưng người chiến sĩ chân chính, không thể vì những khó khăn thiếu thốn, thiệt thòi nhất thời mà than vãn, nản chí. Cuối cùng, đó là sự trân trọng học tập những tấm gương biểu thị lòng biết ơn đối với những đồng đội, đồng chí mình đã hy sinh cả tính mạng của mình cho đất nước, cho sự nghiệp cách mạng cao cả, cho cuộc sống hạnh phúc, tươi đẹp của các thế hệ mai sau mà bản thân những anh hùng liệt sĩ đó không hề được hưởng. Tuy nhiên, tôi cũng thấy trong thực tế cuộc sống, không ít những người lãnh đạo, chỉ huy do vô cảm, quan liêu hoặc nhũng định kiến sai lầm khác mà thiếu trách nhiệm, không quan tâm phát hiện và cảm thông những khó khăn, bức thiết về đời sống, về tình cảm của cấp dưới, mà nếu như có trách nhiệm, có sự nhạy cảm và hơn hết là có lòng nhân ái thì đã chủ động có những biện pháp để giảm bớt những khó khăn, những bức xúc không đáng có của cấp dưới, của đồng đội và đồng chí mình. Còn đối với những trường hợp cá biệt, cán bộ đã thoái hóa, biến chất không từ một thủ đoạn xấu xa, độc ác nào để thu vén cho cá nhân, xúc phạm nghiêm trọng đến nhân cách cấp dưới cần phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm. Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi tình hình khó khăn chung của đất nước, gia đình có những khó khăn trong cuộc sống, thậm chí có chuyện buồn, nhưng tôi tự xác định phải phấn đấu vượt qua để tập trung vào nhiệm vụ. Tuy nhiên, cùng với hoàn cảnh riêng, trong khoảng thời gian từ 1982, có những sự kiện lớn liên quan đến nhiệm vụ, đòi hỏi phải tập trung tâm sức vào làm như tham gia khắc phục sai lầm của vụ Xiêm Riệp, việc tiến hành công tác chính trị trong các đợt rút quân, việc chuyển công tác từ Cơ quan Chính trị 719 sang môi trường công tác mới ở Đoàn 478..., tôi cảm thấy, sức khỏe của mình giảm sút rất rõ. Ở tuổi 56, 57, có lúc tôi có cảm giác, không biết mình có thể vượt qua được tuổi 60? Có một phần, tôi nghĩ đến ảnh hưởng của di truyền từ đời ông nội, đến chú, bác ruột và bố tôi thường mất ở tuổi ngoài 30, 40, 50. Người thọ nhất là bố tôi cũng chỉ sống được 56 tuổi. Có lúc nghĩ mình chẳng sống được bao lâu nữa, tôi đã viết một lá thư cho Đức, con trai thứ hai của tôi đang công tác ở Hà Nội (vì con cả đang có nhiệm vụ phiên dịch cho lớp cán bộ của thanh niên học tại Cộng hòa dân chủ Đức). Trong thư, tôi nêu một số nội dung có tính chất di chúc cho con cái về những việc lớn của gia đình, tuy không nói ra tình hình sức khỏe của mình. Trong tình hình sức khỏe như vậy, khoảng nửa cuối năm 1986 diễn ra một loạt sự kiện lớn, với mức độ khác nhau mà tôi phải tham gia: Khoảng cuối tháng 6 năm 1986, tôi có việc phải về Hà Nội họp. Lúc này, sau sự cố sập trần tại trước phòng của tôi ở số 8 Lý Nam Đế, cấp trên thu xếp chuyển gia đình được lên ở số 3 Ông Ích Khiêm trong một căn hộ khoảng 30 mét vuông vẫn do cặp vợ chồng Đức - Châu ở. Vợ tôi ở quê dẫn thằng con bị tâm thần lên bàn chuyện định tiếp tục chạy chữa cho nó. Nhưng đêm hôm đó, nó đã cạy cửa lúc mọi người đang ngủ say và đi mất. Sáng hôm sau mọi người chia nhau đi tìm vẫn không thấy. Mặc dù sức khỏe yếu, tôi vẫn thẫn thờ đi bộ ở các phố xung quanh hy vọng tìm được nó, nhưng cũng như các lần trước không có kết quả gì. Trong lúc trong lòng đang buồn bực thì được tin Tổng Bí thư Lê Duẩn tạ thế ngày 10 tháng 7 năm 1986 và được thông báo đến Trạm 66 tham gia đoàn cán bộ dự lễ viếng. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Bảy, 2025, 11:43:29 am Trở lại với nhiệm vụ của tôi ở Campuchia, sự phát triển lớn mạnh về lực lượng quân sự của cách mạng Campuchia và sự trưởng thành trong chiến đấu và công tác thời điểm này là khá nhanh. Sự lớn mạnh đó diễn ra khá đều ở cả 3 thứ quân: Chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích. Trong sự phát triển đó, việc xây dựng lực lượng chủ lực của bạn có sự cố gắng rất lớn của ta và bạn. Với sự giúp đỡ của Quân đoàn 4 Quân tình nguyện, Sư đoàn 196 đầu tiên của bạn được thành lập vào tháng 4 năm 1984.
Trong tình hình đó, lực lượng chuyên gia của Đoàn 478 cũng được tăng cường để giúp Bộ Quốc phòng bạn chỉ đạo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xây dựng và chiến đấu. Sau khi Thiếu tướng Mai Xuân Tần, Cục phó Cục Tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu vốn trưởng thành trong chiến đấu ở nhiều đơn vị chủ lực của ta được bổ nhiệm làm Đoàn trưởng, cấp phó giúp việc cho đồng chí Mai Xuân Tần có thêm 3 người: Đồng chí Đặng Thiết, nguyên là Cục trưởng Cục Dân quân của Bộ Tổng Tham mưu, vừa được phong quân hàm Thiếu tướng. Đại tá Nguyễn Đóa, một cán bộ trưởng thành từ bộ đội chủ lực của ta giúp đồng chí Tần về mặt quân sự và tôi được chuyển từ Cơ quan Chính trị Bộ Tư lệnh 719 sang phụ trách Phó Đoàn trưởng về Chính trị và được quyết định là Phó Bí thư Đảng ủy Đoàn, phụ trách công tác nội bộ. Về mặt nhân sự, việc tăng người ở bộ phận chỉ huy để quán xuyến, đi sâu vào các lĩnh vực công tác là cần thiết. Nhưng theo tôi, vấn đề quan trọng bậc nhất là tổ chức và cách làm việc hợp lý thì mới nâng cao được hiệu quả trong công tác giúp bạn. Về phía chuyên gia, ta vốn có kinh nghiệm trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, ta cũng đã từng nhận viện trợ của các nước anh em trong hệ thống xã hội chủ nghĩa và các tổ chức tiến bộ phi chính phủ ở các nước, nhằm tiếp thu kinh nghiệm của bạn bè và sử dụng sự giúp đỡ về vật chất (vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật...) một cách sáng tạo, phù hợp với đặc điểm hoàn cảnh và điều kiện của mình. Được sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Ban Cán sự Đảng và Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện ta đã làm tốt việc này. Việc tiến hành giúp đỡ bạn phải được tiến hành rất cụ thể, tỷ mỷ, song theo tôi nghĩ cách giúp của Đoàn 478 là phải được tiến hành từng bước, đồng bộ để bạn thực hiện có hiệu quả thực tế. Phải nắm vững việc bồi dưỡng con người (cả chuyên gia ta và cán bộ bạn). Muốn làm việc gì phải bồi dưỡng, tập huấn cho chuyên gia, thống nhất nội dung, cách làm. Sau đó phải tập huấn bồi dưỡng kỹ cho cán bộ bạn. Trong vấn đề này, vai trò của Trường 481 là rất quan trọng. Tất cả mọi chuyên gia của ta đến giúp bạn đều được tập huấn những vấn đề chung nhất mà mọi chuyên gia các ngành đều phải nắm vững. Vì vậy, một đồng chí thiếu tướng đã từng làm Đoàn trưởng Đoàn 478 được điều động làm Hiệu trưởng và một bộ máy làm việc gồm phần lớn giáo viên có khả năng đã từng chiến đấu và công tác tại Campuchia. Đồng thời, các quân chủng, binh chủng kỹ thuật khi cử chuyên gia giúp bạn cũng phằi bồi dưỡng những nội dung cần giúp. Về phía bạn, ta cũng phải giúp bạn tập huấn bồi dưỡng cho cán bộ các ngành của bạn, trong số đó có một số người ở từng ngành đã được học ở các trường của Quân đội ta, chuyên gia các ngành của Đoàn 478 cũng cần thống nhất nội dung và cách làm việc với số anh em này. Trong khi phụ trách công tác nội bộ, tôi thường chú ý đến một vấn đề rất quan trọng là quan hệ giữa chuyên gia ta với cán bộ bạn. Về phía chuyên gia ta, tôi thấy anh em có một tinh thần làm việc rất tận tình, thông cảm với khó khăn, thiếu thốn của bạn, nhất là lúc ban đầu, không nề hà bất cứ một việc gì, kể cả việc dọn dẹp vệ sinh, thu xếp cơ quan làm việc khiến nhiều cán bộ bạn rất cảm động trước tinh thần đó. Bên cạnh những ưu điểm rất cơ bản trên, việc cần phải luôn luôn chú ý khắc phục trong một số ít chuyên gia ta là những biểu hiện của tư tưởng nước lớn hoặc "ban ơn". Có một số đồng chí trong khi làm việc với cán bộ bạn, thường áp đặt, muốn làm theo ý mình, trong khi đó thì cán bộ bạn lại "nể chuyên gia, có ý kiến khác cũng dè dặt, không thẳng thắn nói ra; trái lại cán bộ bạn có ý kiến trái chiều, phản biện thì chuyên gia ta lại có ấn tượng không tốt, cho là thiếu tích cực... Hoặc trong cán bộ bạn cũng có người ỷ lại, dựa dẫm vào chuyên gia, rơi vào tình trạng chuyên gia làm thay, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của cán bộ bạn. Những biểu hiện trên được quan tâm nhắc nhở nên quan hệ giữa chuyên gia ta với cán bộ bạn nói chung là rất tốt, đoàn kết, thân ái, tôn trọng nhau, không có vụ việc nào mất đoàn kết nghiêm trọng xảy ra. Tôi cho rằng, đó là một thành công lớn trong việc xây dựng tinh thần đoàn kết, hữu nghị giữa chuyên gia ta với cán bộ bạn. Đối với Đoàn 478, một đơn vị gồm chuyên gia các ngành và cán bộ, nhân viên phục vụ quân số luôn luôn biến động, nhất là chuyên gia vì làm việc luân phiên có thời hạn, thường là trên dưới 2.000 người (ngoài một số chuyên gia chủ chốt phải làm việc lâu dài). Vì vậy, công tác đảng, công tác chính trị đối với cán bộ rất phức tạp. Ngoài đối tượng chính là chuyên gia, công tác đảng, công tác chính trị nắm vững nhiệm vụ trung tâm là phải lãnh đạo, bảo đảm thật tốt quan hệ đoàn kết ta - bạn nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giúp bạn, thì những công việc cụ thể về nội bộ trong Đoàn cần quan tâm như công tác chính trị, tư tưởng, đời sống vật chất, tinh thần của anh chị em, chính sách, chế độ đối với từng loại... mặc dù Đoàn có biên chế Cơ quan Chính trị, Văn phòng, Cơ quan Hậu cần (nhưng trừ hậu cần phải có đủ người để phục vụ), còn Cơ quan Chính trị và Văn phòng, mỗi nơi chỉ có vài cán bộ nên công việc rất bận rộn. Nhiều lúc, tôi cảm thấy khó quán xuyến được hết. Đó chỉ là những công việc rất cụ thể, rất thiết thực nhưng lại có ý nghĩa lớn, tác động đến tâm tư tình cảm, đến tinh thần công tác của mọi người. Đảng bộ của Đoàn có nhiều chi bộ. Vai trò của chi bộ trong việc giải quyết những vấn đề nội bộ như trên là rất quan trọng, và trong thực tế cũng phát huy rất tốt. Song, có những việc chi bộ không đủ thẩm quyền hoặc chưa biết cách giải quyết phản ánh và đề nghị cấp trên giúp đỡ. Tôi nhớ, có những việc tự mình phải suy nghĩ và trực tiếp bắt tay vào làm mới có thể đạt kết quả. Ví dụ, có trường hợp trước đây khi tôi chưa về công tác tại Đoàn, một đồng chí đại tá có quê ở một tỉnh thuộc Quân khu 4, làm chuyên gia cho bạn bị bệnh nặng phải đưa về nước điều trị. Nhưng vì bệnh quá nặng, đồng chí không qua khỏi và mất tại quê nhà. Theo chế độ thì cán bộ, chiến sĩ chiến đấu hoặc bị bệnh hy sinh trên chiến trường Campuchia thì được công nhận là liệt sĩ, nhưng trường hợp đồng chí này lại mất ở Việt Nam nên không được hưởng chế độ liệt sĩ. Khi được biết chuyện này, tôi thấy không hợp lý. Tôi liền làm một công văn đề nghị Cục Chính trị Quân khu 4 xét công nhận đồng chí là liệt sĩ để gia đình được hưởng đúng chính sách của Nhà nước vì đồng chí bị bệnh nặng khi làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia thì chết ở Campuchia hay ở Việt Nam đều đáng được công nhận. Tôi cử đồng chí Phó Văn phòng của Đoàn, trực tiếp đem công văn đến Cục Chính trị Quân khu và trình bày thêm. Quân khu 4 rất hoan nghênh cách giải quyết có tình, có lý của Đoàn và quyết định công nhận chế độ liệt sĩ cho đồng chí đại tá này. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Tám, 2025, 09:33:26 pm Trường hợp thứ 2 mà tôi phải suy nghĩ và trực tiếp giải quyết là trường hợp hôn nhân của một nữ nhân viên cấp dưỡng của Đoàn. Chị khoảng 24, 25 tuổi, trước đây đã có chồng, nhưng vì không hợp nhau nên chia tay. Chị nghe tin anh ta đã lấy vợ và chị quyết định yêu một đồng chí cán bộ ở B68 (Đoàn chuyên gia dân, chính, Đảng) và xin được kết hôn chính thức. Khi được biết, tôi gửi một công văn cho Hội phụ nữ xã ở quê chị, nói rõ nguyện vọng của chị khi chị nghe tin ở quê chồng cũ đã lấy vợ và đề nghị Hội phụ nữ xã của chị xác nhận chuyện này và có ý kiến về đề nghị được kết hôn với người yêu của chị. Chỉ ít lâu sau, Đoàn nhận được công văn phúc đáp của Hội phụ nữa xã xác nhận là chồng cũ của chị đã lấy vợ khác và đồng ý với đề nghị của chị. Như vậy, tôi đã đủ bằng chứng pháp lý để làm công văn gửi Đại sứ quán ta ở Phnôm Pênh làm thủ tục cho chị và người yêu kết hôn. Khoảng một năm sau, hai người đã có con và bế con đến thăm, cảm ơn tôi. Có những đồng chí cán bộ, vợ con ở bên nước có khó khăn về nhà cửa phải đi ở nhờ người thân, Đoàn cũng phải tìm cách đề nghị với đơn vị cũ xét cấp nhà ở cho gia đình các đồng chí đó. Có đồng chí chỉ muốn mua một máy khâu về cho vợ làm thêm để tăng thu nhập giải quyết khó khăn cho gia đình, xin giấy chứng nhận để qua cửa khẩu (vì cũng có một số lợi dụng buôn lậu). Tất cả những yêu cầu chính đáng đó đều được Đoàn bằng cách này hay cách khác giúp đỡ và đều có kết quả.
Những chuyện cụ thể như trên diễn ra khá nhiều đòi hỏi phải được giải quyết thích đáng và cũng mất nhiều thời gian. Tuy các chi bộ gồm phần lớn là cán bộ có kinh nghiệm, chủ động giải quyết được rất nhiều việc nhưng các cơ quan chức năng của Đoàn quy định về biên chế rất hạn chế, về nhân sự nhất là chuyên gia có hạn định thời gian phục vụ luôn thay đổi hoặc bổ sung nên cũng có nhiều trường hợp bị bỏ sót, Đoàn không quán xuyến được hết. Nhưng nếu lãnh đạo quan tâm, khắc phục khó khăn, cũng có thể giải quyết được tốt hơn. Tôi lấy ví dụ như tổ chức gặp mặt cán bộ, chiến sĩ là thương binh hay gia đình có liệt sĩ vào những ngày kỷ niệm khác trong năm thường bị bỏ quên. Đó là những thiếu sót trong công tác chính trị. Trong ba năm (1985 - 1987) công tác tại Đoàn chuyên gia quân sự 478, có một số sự kiện quan trọng và một vài tình huống đáng nhớ. Việc thứ nhất diễn ra đã đẩy tôi vào một tình huống rất khó xử. Khi tôi được quyét định bổ nhiệm làm Phó Đoàn trưởng về Chính trị Đoàn 478 vào tháng 10 năm 1984 sau gần hai năm là Cục phó phụ trách Tiền phương Cục Tuyên huấn và ba năm là Phó Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam, tôi yên chí nhiệm vụ của mình chỉ là giúp Đoàn trưởng Mai Xuân Tần về công tác nội bộ của Đoàn. Tôi hoàn toàn không biết ý định của cấp trên về việc sử dụng lâu dài đối với mình ra sao. Khi Thiếu tướng Nguyễn Như Ngà có quyết định điều về đoàn làm Phó Đoàn trưởng về Chính trị sang làm việc với Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị của Quân đội nhân dân Campuchia, và có quyết định của Tổng cục Chính trị ta bổ sung là Đảng ủy viên Đảng ủy Đoàn 478, tôi cũng yên chí đồng chí là chuyên gia Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị của bạn. Nhưng tôi thấy anh Mai Xuân Tần cũng không giới thiệu ở trong Đoàn là anh Ngà làm chuyên gia cho bạn. Đến khi tôi nhận được Quyết định số 244/QP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng ký ngày 23 tháng 8 năm 1986 về việc bổ nhiệm "Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên, Phó Đoàn trưởng Đoàn 478, nay giữ chức Phó Đoàn trưởng về Chính trị Đoàn 478 kiêm chuyên gia Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Campuchia", tôi mới biết rõ ý định lâu dài này của cấp trên. Khi nhận được quyết định này, tôi rất phân vân bởi vì người làm việc với Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội bạn lâu nay vẫn là Thiếu tướng Nguyễn Như Ngà và tôi cứ yên chí anh Ngà đã là chuyên gia Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị của quân đội bạn. Tôi cảm thấy mình bị rơi vào một tình thế rất khó xử vì nếu tôi nhận nhiệm vụ này thì Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị của bạn sẽ có "2 chuyên gia" là anh Ngà và tôi. Như vậy sẽ rất khó cho anh Ngà và tôi, khó cả cho bạn. Tôi hiểu rằng được bổ nhiệm làm chuyên gia Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội bạn là một vinh dự lớn, đồng thời trách nhiệm cũng rất nặng nề. Và tôi cũng tự hào là các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy quân sự ở Campuchia cũng tin tưởng ở phẩm chất, năng lực của mình mới đề nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ta quyết định giao nhiệm vụ đó cho tôi. Bởi thế, vì lòng tự trọng của một đảng viên, một cán bộ cao cấp, không muốn mình là một người gây khó dễ cho cấp trên, là một người ham muốn địa vị, tôi phải tìm cách giải quyêt để thoát ra khỏi "tình thế nhùng nhằng" đó. Lúc này, tôi cảm thấy rõ là sức khỏe của mình giảm sút khá rõ nên khi nhận được quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi nói với anh Mai Xuân Tần rằng, "sức khỏe của tôi dạo này giảm sút, mà đã nhận nhiệm vụ thì tôi phải cùng bạn đi sát thực tế, đòi hỏi sức khỏe phải tốt. Nếu không thế, vì mới đi làm đã ốm sẽ vừa khó cho bạn, khó cho trên". Tôi đề nghị trên hoãn cho tôi. Tôi nói chung chung như vậy vì không biết rõ cấp trên ai là người giải quyết việc này. Vài hôm sau, anh Mai Xuân Tần về nói với tôi: Rằng nghe nói có ý định cho tôi nghỉ hưu. Quả thật, lúc đó sức khỏe của tôi giảm sút rất rõ, leo lên thang gác có lúc đã vấp, tôi có cảm giác là mình sẽ "không sống nổi" nếu hiện tượng này tiếp tục kéo dài. Tôi đã viết một lá thư cho con ở nhà dặn những điều cơ bản cần thiết nhất nếu mình "về với tổ tiên". Vì vậy, không do dự tôi nói với anh Tần: "Tôi sẵn sàng về hưu nếu được như thế anh ạ". Việc thứ hai là, anh Mai Xuân Tần nói tôi phải chuẩn bị cho Đại hội đại biểu của Đảng bộ Đoàn 478 lần thứ ba. Đây là một đại hội quan trọng nằm trong kế hoạch chuẩn bị cho cả Đại hội đại biểu của Đảng bộ Quân đội và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng được tiến hành vào khoảng trung tuần tháng 12 năm 1986. Đại hội đại biểu của Đảng bộ Đoàn 478 được tiến hành từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 10 năm 1986 nhằm đánh giá kết quả đạt được của công tác chuyên gia, xác định phương hướng nhiệm vụ giúp Bộ Quốc phòng bạn trong tình hình mới, đẩy mạnh việc thực hiện ba mục tiêu chiến lược mà Đảng ta và Đảng bạn đã đề ra, đồng thời bầu đại biểu đi dự Đại hội đại biểu của Đảng bộ Quân đội. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Tám, 2025, 09:38:05 pm Để chuẩn bị cho nội dung của Đại hội đảng bộ Đoàn, tôi và anh Mai Xuân Tần phải chuẩn bị trước hằng tháng. Và sau đó tôi bị mắc một bệnh khó chữa phải nằm bệnh viện hai tháng. Do làm việc căng thẳng, bệnh viêm da dị ứng toàn thân của tôi tái phát. Căn bệnh quái ác này tuy không gây nguy hiểm chết người nhưng toàn thân bị viêm da, ngứa ngáy thật khổ sở, bàn chân nứt nở, sạm đen..., sức khỏe giảm sút ăn không ngon, ngủ không yên (tôi bị bệnh này sau khi hành quân trên đường Trường Sơn và ở Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh qua nhiều điểm Mỹ rải chất độc da cam). Tôi cố gắng dự xong Đại hội và tuy được đề cử đi dự Đại hội đại biểu toàn quân, tôi xin phép được nghỉ đi chữa bệnh và được Đại hội đồng ý. Sau Đại hội Đảng của Đoàn 478, tôi được đưa về Quân y viện 175 tại Thành phố Hồ Chí Minh để điều trị. Viện 175 mời cả chuyên gia da liễu của thành phố vào chẩn đoán. Tôi được đi xét nghiệm máu, không biết bác sĩ yêu cầu xét nghiệm thế nào mà chị y sĩ ở phòng xét nghiệm nhìn tôi trừng trừng ra vẻ ngạc nhiên. Hôm sau tôi đến lấy kết quả xét nghiệm, chị nhìn tôi cười: "May, âm tính chú ạ".
Trời ạ! Các ông ấy nghi tôi bị nhiễm HIV. Viện 175 không có khả năng chữa khỏi nên chuyển tôi ra Bắc, vào Khoa Da liễu của Viện 108. Ở Viện 108 chữa Tây y không có chuyển biến gì nên cho tôi ra viện, điều trị ngoại trú. Tôi gặp giáo sư Nguyễn Xuân Hiền, chuyên gia đầu ngành về da liễu của Quân đội đã nghỉ hưu và xin lời khuyên của anh thì anh nói: "Phải "chung sống hòa bình" với nó thôi anh ạ!". Tôi rất buồn, nghĩ "có lẽ minh sẽ bị loại khỏi vòng chiến đấu vì bệnh này rồi". Trước khi ra viện, gặp Chủ nhiệm Khoa Da liễu, tôi hỏi anh 3 điều: Một là, "bệnh này có lây sang người khác được không, để tôi tránh người thân trong nhà" được trả lời "không"; Hai là, "có chữa khỏi được không" - trả lời "khó chữa"; Ba là, "dùng xà phòng được không?" - trả lời "được, nhưng hạn chế". Tuy thất vọng nhưng tôi thấy mình không thể bó tay. Tôi xin giấy giới thiệu của cơ quan đến Viện Y học dân tộc Quân đội. Viện trưởng, Viện phó cắt cho tôi năm thang thuốc bắc dùng trong 10 hôm và yêu cầu chữa ngoại trú. Uống xong 10 thang thuốc này tôi thấy có dấu hiệu đỡ bệnh, nhưng hai vợ chồng con trai thứ hai của tôi rất vất vả, vừa phải chăm sóc bố, nuôi con nhỏ, lại phải vừa công tác. Tôi xuống Viện đề nghị cho tôi chữa nội trú, Viện trưởng Huỳnh Thủ không nhận vì ở Viện "không có phòng ở cho cấp tướng, lúc này Viện còn nghèo, trừ một ngôi nhà hai tầng, chỗ làm việc chung cho thủ trường và cơ quan, còn chỗ cho bệnh nhân toàn nhà một tầng cấp 4". Tôi phải khẩn khoản đề nghị với các đồng chí cho tôi ở lại nội trú và cho tôi ở chỗ nào cũng được, miễn là được theo dõi thường xuyên. Các đồng chí lãnh đạo Viện chấp nhận yêu cầu và bố trí cho tôi ở cùng phòng với một số anh em chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng cũng có bệnh da liễu khó chữa đang điều trị tại Viện. Đó là một căn nhà lá có hai gian, vách ghép sơ sài bằng những tấm ván gỗ, gió lùa qua khe hở lạnh giá. Tôi vui vẻ ở chung với anh em trong một gian hẹp không có tiện nghi gì đáng giá trừ một cái giường, màn và một cái chậu thau. Anh em cùng phòng rất tốt và giúp đỡ tôi rất nhiều trong sinh hoạt. Ngay hôm đầu tiên, tập thể các đồng chí lãnh đạo của Viện đã bàn về phương hướng điều trị cho tôi. Sau đó tôi được đồng chí bác sĩ trực tiếp phụ trách một số anh em bị bệnh da liễu xuống phổ biến cho tôi về phương hướng điều trị đã được các đồng chí lãnh đạo Viện nhất trí là "Lương huyết - thanh khí - tiêu độc - chống dị ứng" và yêu cầu tôi kiên trì theo phương hướng này. Tôi rất phấn khởi, tin tưởng vì các đồng chí đã làm việc với một tinh thần rất nghiêm túc và có trách nhiệm với bệnh nhân, về phần mình tôi cũng rất nghiêm túc làm theo hướng dẫn của bác sĩ. Đồng chí bác sĩ trực tiếp phụ trách là một bác sĩ Tây y, có bố là một lương y thuốc bắc và thuốc nam, nên rất tâm huyết với y học dân tộc cổ truyền, luôn luôn ân cần thăm hỏi bệnh nhân và giải thích cặn kẽ, hướng dẫn tỷ mỷ cho bệnh nhân. Một sinh hoạt tôi rất thích là mỗi tuần, Viện trưởng Huỳnh Thủ đều triệu tập bệnh nhân lên lớp vài giờ, truyền bá những kiến thức phổ thông về y học dân tộc rất bổ ích cho mọi người. Trong thời gian tôi điều trị ở Viện, chủ nhật nào Châu - con dâu thứ hai, hoặc Mai - con gái tôi cũng đến thăm và giặt giũ quần áo cho tôi. Mọi người trong Viện, kể cả các chị đang điều trị tại đó rất quý các cháu. Nhờ sự chăm sóc chu đáo của Viện và của gia đình nên mặc dù bệnh rất khó chữa, nhưng tôi cảm thấy rất thoải mái, và tin tưởng sẽ được chữa khỏi. Quả nhiên, chỉ sau 2 tháng, tôi khỏi bệnh. Tôi đã được Tây y chữa khỏi nhiều bệnh nhưng lần này thấy rõ thêm sự kỳ diệu của y học dân tộc. Tưởng lần này sẽ tuyệt vọng, "bị loại khỏi vòng chiến đấu" vì Tây y đã bó tay và khuyên "chung sống hòa bình" với nó nhưng y học dân tộc đã chữa khỏi. Da tôi sau khi lành bệnh trở nên đẹp hơn cả lúc tôi còn khỏe mạnh. Một hôm, tôi thấy Chủ nhiệm Khoa Da liễu của Viện Quân y 108 đến chỗ tôi hỏi chuyện về quá trình điều trị và làm việc với Viện Y học dân tộc Quân đội, có lẽ để rút kinh nghiệm cho Khoa Đông y của Viện 108. Tuy nhiên, khi tôi ra viện, các đồng chí của Viện Y học dân tộc Quân đội cũng nhắc thêm là bệnh này có thể tái phát nếu khả năng miễn dịch suy yếu và khi tinh thần quá căng thẳng. Trên thực tế thì 12 năm sau, bệnh lại tái phát đúng như dự đoán của Viện. Tôi lại dùng bài thuốc đó, với 30 thang thì lại lành bệnh. Có vài người quen bị bệnh tương tự như tôi, tôi giới thiệu nên đến Viện Y học dân tộc Quân đội lấy thuốc chữa, nhiều người khỏi, nhưng cũng có người không khỏi. Từ việc này tôi thấy sự phát triển của khoa học là không giới hạn, đặc biệt là trong y học; cho nên không thể võ đoán một cách cứng nhắc mà cần nghiêm túc nghiên cứu với một tinh thần thực sự cầu thị. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Tám, 2025, 09:39:37 pm Sau hai tháng chữa bệnh ở Viện Y học dân tộc Quân đội, bệnh viêm da dị ứng của tôi được chữa khỏi, sức khỏe dần dần hồi phục. Tôi rất phấn khởi trở lại Campuchia tiếp tục công tác. Chỉ ít ngày sau, tôi nhận được Quyết định số 301/QP-QĐ do Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh ký ngày 25 tháng 10 năm 1987 điều tôi trở lại nhiệm vụ cũ là Phó Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện. Lúc này Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (thay đồng chí Đoàn Khuê về nước nhận nhiệm vụ mới) là Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.
Tôi nhanh chóng bàn giao công việc cho Đại tá Lê Văn Ba, Phó Tư lệnh Chính trị, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận 579 về thay tôi và về cơ quan cũ làm việc. Tôi được biết đồng chí Lê Khả Phiêu, Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị vừa có quyết định của trên bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Chính trị và vẫn kiêm Chủ nhiệm Chính trị. Việc đầu tiên tôi phải bắt tay vào làm là giúp Bộ Tư lệnh triển khai ngay công tác chính trị trong đợt rút quân lần thứ 6 của một bộ phận Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia về nước. Đối với tôi, công việc này không có gì khó khăn vì cả 5 đợt rút quân trước của quân tình nguyện tôi đều được Bộ Tư lệnh giao cho chủ trì giúp Bộ Tư lệnh. Song, việc rút quân lần này được tiến hành trên một phạm vi rộng lớn hơn từ đông bắc đến nam của Campuchia trong đó có cả một bộ phận hải quân của ta. Vì vậy, tôi phải đi lại nhiều hơn khi tình hình sức khỏe không được tốt. Việc đi từ Phnôm Pênh sang Xiêm Riệp bằng trực thăng không có gì lớn về an toàn, nhưng khi đi một mình trên máy bay, không hiểu phát hiện thấy gì ở tôi, một đồng chí trong tổ lái đến hỏi: "Thủ trường mệt lắm phải không". Tôi vẫn tin là mình còn có thể làm việc, nên trả lời qua loa với đồng chí ấy là tôi vẫn bình thường. Nhưng khi bắt đầu bay tôi cảm thấy người mệt mỏi, ngủ gà ngủ gật và có lúc thiếp đi. Làm việc xong với các đồng chí ở Bộ tư lệnh 479 và Cơ quan Chính trị ở đó, tôi phải trở về Phnôm Pênh ngay để hôm sau xuống cảng Xihanúc Vin làm việc với đơn vị hải quân của ta. Chuyến đi ấy của chúng tôi có hai chiếc xe: Một xe là của Cơ quan Tham mưu do Thiếu tướng Nguyễn Trân, Tham mưu phó phụ trách và một vài trợ lý; một xe của Cơ quan Chính trị có một mình tôi và đồng chí lái xe. Đường từ Phnôm Pênh đi Xihanúc Vin khoảng 300 kilômét (nếu tôi nhớ không nhầm), phải qua đèo Pícnin, nơi thường có bọn tàn quân Pôn Pôt phục kích nên không được an toàn lắm, nhưng không hiểu sao Cơ quan Tham mưu không tổ chức một bộ phận bảo vệ chung, nên mạnh ai nấy đi. Nhiều đoạn đường vắng ngắt không có người đi lại nên xe phóng rất nhanh, nhất là khi đi qua đèo Pícnin. Tôi nghĩ bụng đấy là một chuyến đi khá mạo hiểm và Cơ quan Tham mưu có vẻ giản đơn coi nhẹ vấn đề an toàn. Nhưng rồi thật may mắn, chúng tôi vẫn tới nơi an toàn, nhưng tôi cũng đã thấm thìa với chuyến đi mệt mỏi ấy. Làm việc với các đồng chí chỉ huy các đơn vị hải quân về kế hoạch cho việc rút quân của một bộ phận tương đổi lớn ở cảng nói chung là suôn sẻ nhưng cũng có một việc phải thống nhất với các đồng chí Campuchia đó là việc sử dụng phương tiện và chi phí cho việc rút quân bằng đường biển về Việt Nam cho đơn vị hải quân của ta. Theo ý kiến của đồng chí Trân trao đổi với tôi thì nên đề nghị với bạn để bạn phụ trách việc này. Trong thâm tâm tôi thấy việc này không nên đặt vấn đề với bạn vì bạn còn nghèo và nhiều khó khăn. Tôi đề nghị việc này cần bàn với đồng chí chuyên gia ta giúp bạn ở cảng. Tôi đến gặp đồng chí Trưởng đoàn của ta ở cảng là một đồng chí của Thành ủy Hải Phòng cử sang thì đồng chí không đồng tình với ý định đó vì bạn còn rất nhiều khó khăn. Tôi thấy ý kiến đó là chính xác và không nên đặt vấn đề đó với bạn. Trở về, tôi nói lại với đồng chí Trân thì đồng chí có vẻ không vui vì sợ ta tốn kém nhiều cho đợt rút quân. Sau khi đã góp ý kiến và kiểm tra kế hoạch công tác chính trị đối với việc rút quân ở cảng Xihanúc Vin thấy đã ổn định, chúng tôi trở về Phnôm Pênh. Cũng như các lần trước, kể hoạch của việc tổ chức tiễn đưa các đơn vị của ta rút quân lần thứ 6 về nước được bạn và ta tổ chức rất chu đáo; chỉ cần bám sát việc thực hiện và tổ chức rút kinh nghiệm với bạn ra sao thôi. Hôm các đơn vị của ta triển khai đội hình và đoàn xe của bộ đội ta diễu qua quảng trường, nhân dân Phnôm Pênh trong tình cảm biết ơn, lưu luyến tiễn đưa bộ đội ta rất trọng thể trước con mắt của nhiều phóng viên quốc tế đến theo dõi. Trong khi đứng trên nóc của một tòa nhà cao tầng, tôi và đồng chí Lê Khả Phiêu theo dõi, quan sát đoàn xe của bộ đội ta từ từ lăn bánh rất đẹp và không khí tiễn đưa của nhân dân Campuchia thì tôi cảm thấy lạnh và trong người rùng mình khó chịu. Lúc đó, trời có mưa phùn và gió thổi hơi mạnh. Tôi vội nói với anh Phiêu là tôi xin về trước vì cảm thấy khó ở. Trở về nhà, tôi khá mệt và nằm nghỉ. Sáng hôm sau, theo chương trình đã định từ trước, bạn tổ chức rút kinh nghiệm có sự tham gia của đại biểu Cơ quan Tham mưu và Chính trị của Quân tình nguyện. Tuy còn mệt nhưng tôi cũng cố gắng đến dự vì cũng còn tin là mình đủ sức dự cuộc họp để kết thúc công việc của đợt rút quân lần thứ 6. Họp xong, trở về cơ quan tôi mệt rã rời. Tôi mở chai rượu vốtca Nga do Tùy viên quân sự Đại sứ quán Nga tại Campuchia vừa tặng mới đây, khi tôi còn công tác ở Đoàn 478 ra uống một ly nhỏ, hy vọng tăng tuần hoàn máu cho đỡ mệt, nhưng không có tác dụng gì. Tôi bảo đồng chí công vụ gọi đồng chí y sĩ ở cơ quan lên đo huyết áp cho tôi. Y sĩ của cơ quan là Uông Sỹ Phi, trước đó là công vụ của Tiền phương Cục Tuyên huấn làm việc rất tốt, được tôi cử đi học lớp quân y sĩ, sau khitốt nghiệp đã trở lại cơ quan làm việc. Sau khi đo huyết áp, Phi có vẻ hoảng hốt nói với tôi: "Chú ơi, nhịp tim cửa chú rối loạn ở mức rất nguy hiểm, chú phải đi viện ngay". Phi vừa mới ra trường tôi nghĩ thầm rằng, Phi còn thiếu kinh nghiệm nên dễ "quan trọng hóa" và cũng vốn chủ quan với sức khỏe của mình, tôi nói với Phi: - Còn việc cuối cùng chú phải giải quyết là chú bảo văn phòng chuẩn bị báo cáo thường kỳ hằng tháng với Tổng cục và về đợt rút quân lần thứ 6, còn chú đi viện bây giờ nhất định họ sẽ giữ lại. Nhưng rồi tôi cứ xỉu dần và chỉ kịp nói với Phi: - Chú quỵ thật rồi Phi ạ!. Rồi không biết ai quyết định đưa tôi về Bệnh viện Quân y 175 ở Thành phố Hồ Chí Minh bằng trực thăng để được cấp cứu ngay. Từ lúc đó tôi ở trong trạng thái lúc tỉnh lúc mê; đi hộ tống là Phi. Lúc này, anh Lê Hai với sự chăm sóc của chị Phúc cũng đang điều trị tại Bệnh viện Quân y 175. Khi xe đến cổng bệnh viện, tôi bỗng tỉnh và vẫn gắng đi được. Tôi thấy chị Phúc chạy ra đón, bảo Phi vào làm thủ tục nhập viện cho tôi. Còn chị dẫn tôi vào nhà dành cho cấp tướng và rất ân cần nói với tôi: - Tôi pha cốc sữa nóng cho chú uống nhé!. Sau khi uống hết cốc sữa nóng của chị, tôi bắt đầu hôn mê hoàn toàn và từ đó không biết gì nữa. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Tám, 2025, 09:41:21 pm Sau này tôi được nghe chị nói lại, Hội đồng Giáo sư, bác sĩ của Bệnh viện Quân y 175 kết luận là bệnh rất nặng không có khả năng cứu sống được nữa. Tôi hôn mê sâu đến mức có lúc đi tiểu lại mở tủ quần áo và đái vào trong đó, có lúc không đủ sức lên giường và ngã ngay dưới sàn. Trước tình hình đó, anh Lê Hai và chị Phúc lấy cuốn lịch túi tôi đang dùng tìm được địa chỉ của chị vợ tôi là chị Yên và địa chỉ của Tài con thứ ba của tôi là cán bộ trung cấp về ra đa MiG-21 của Liên Xô và gọi đến. Chị Yên thì nhà rất nghèo ở gần chợ Bàn Cờ, thấy tình cảnh đó của tôi cũng chẳng biết phải làm gì. Còn Tài từ Biên Hòa lên thăm bố, nghe lỏm là không thể cứu sống tôi được nữa chỉ biết khóc sướt mướt. Trong tình thế hiểm nghèo đó, chị Phúc vốn là bác sĩ, Phó Chủ nhiệm Khoa Tim mạch của Viện Quân y 108, đề nghị tôi chuyển ra Viện 108 để điều trị theo tinh thần "còn nước còn tát". Ý kiến đó được anh Lê Hai đồng tình và anh chị đã thu xếp cho tôi ra Hà Nội bằng đường hàng không, có giáo sư bác sĩ Cự - Viện phó Bệnh viện Quân y 175 kết hợp về công tác ở Hà Nội đi theo hộ tống. Sau 7 ngày hôn mê tại Bệnh viện 175, nhờ có quyết định đúng đắn với tình cảm đồng chí sâu sắc đó của anh chị mà tôi được kịp thời đưa về Hà Nội và nếu như có chết cũng được chết ở gần nhà. Việc điều trị cho tôi ở Bệnh viện 108 cũng gặp không ít gian nan trắc trở. Sau này, tôi được biết Hội đồng Giáo sư, bác sĩ của Viện 108 xác định là tôi bị thiểu năng tuần hoàn não nghiêm trọng và cũng không thể cứu sống được nữa. Riêng đồng chí Phạm Tử Dương, Viện phó kiêm Chủ nhiệm Khoa A1 (khoa phụ trách chăm sóc sức khỏe và điều trị cho cán bộ cao cấp toàn quân) không nhất trí với kết luận đó và tìm mọi cách duy trì cuộc sống cho tôi. Lúc này, Phúc - vợ tôi và chị cả tôi là chị Kỳ cũng đã thay nhau thường xuyên có mặt để chăm sóc tôi. Tôi vẫn hôn mê sâu trong ba tuần nữa, tưởng như cuộc sống sẽ kết thúc. Cơ thể tôi teo tóp chỉ còn lại 31 kilôgam (từ 50 kilôgam lúc khỏe). Tất cả các đồng chí quen biết trong Tổng cục Chính trị, trong đó có cả Thượng tướng Phạm Ngọc Mậu, Phó Chủ nhiệm Tổng cục phụ trách mảng công tác tổ chức cán bộ đến thăm đều lắc đầu thất vọng. Thiếu tướng Nguyễn Sỹ Quốc, Cục trưởng Cục Quân y quen biết tôi từ Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, cũng đến thăm vài lần và cũng cho rằng không còn hy vọng cứu sống, nhưng không hiểu sao tôi vẫn còn thoi thóp thở...
Nhưng điều kỳ diệu đã đến. Sau 28 ngày hôn mê, một chuỗi giấc mơ lạ lùng xuất hiện. Lúc thì tôi ở cảng Xihanúc Vin cùng đồng đội ra biển đuổi đánh bọn Pôn Pốt, lúc thì đi thăm nước Ý, đến nước Pháp, nước Angiêri và cuối cùng đi an dưỡng tại Cộng hòa dân chủ Đức là những nước tôi chưa hề đến bao giờ. Trong lúc chập chờn như vậy, tôi bỗng nghe thấy một giai điệu rất êm dịu quen thuộc văng vẳng bên tai. Giai điệu của bài ca đó từ chiếc đài bán dẫn của một đồng chí Đại tá nằm đối diện với tôi ở phòng cấp cứu của Viện 108 cho những bệnh nhân nặng. Sau này khi tỉnh rồi, tôi mới nhớ ra, đó là bài hát "Đất nước tình yêu" do chị Lê Giang sáng tác, thiết tha được thể hiện rất thành công; một ca khúc mà tôi rất yêu thích. "Khi em nói yêu anh, vườn cây đầy hoa trái. Khi anh nắm tay em, mây giăng giang bay chỉ còn ánh trăng mờ - Và khi chúng ta yêu nhau, không kẻ thù nào làm cho con tim ta yếu mềm. Ôi! Việt Nam - đất nước tình yêu...". Theo tôi, bài hát đã biểu đạt được sự hòa quyện giữa tình yêu riêng tư và tình yêu đất nước của hàng triệu những cặp vợ chồng trẻ và những cặp trai gái đang yêu nhau, trong các cuộc đấu tranh sinh tử chống lại kẻ thù để giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta. Cũng trong lúc chập chờn đó, tôi cảm nhận thấy một hơi ấm rất quen thuộc và một bàn tay ấm áp nắm cổ tay mình. Tôi chợt bừng tỉnh, thoát khỏi cơn hôn mê kéo dài 28 ngày và đã sát cái chết. Mắt còn chưa mở nổi, tôi hỏi: - Tôi đang ở đâu thế này? Một câu trả lời: - Anh đang ở Viện 108. Tôi nhận ra ngay đó là giọng nói của Phúc - vợ tôi. Dù chưa mở được mắt và chưa thấy gì, nhưng tôi thấy mình trẻ ra và có một yêu cầu ngớ ngẩn với vợ: - Lấy xe đạp cho anh để anh đi mấy vòng - và tôi ngồi dậy. Nhưng vừa cất đầu lên khỏi gối thì lập tức đầu lại rơi xuống gối... Sự tỉnh lại của tôi và thoát khỏi lưỡi hái của tử thần, gây nên sự ngạc nhiên của Bệnh viện, đặc biệt là Khoa A1 và tất cả bạn bè của tôi, trong đó có cả các giáo sư, bác sĩ của Bệnh viện. Mọi người đều rất mừng cho tôi và vợ tôi. Chị Mạc Thị Phúc, vợ anh Lê Hai, khi từ Campuchia ra Hà Nội có việc lần thứ hai kể từ khi tôi được chuyển về Bệnh viện 108, khi nhìn vào cái giường tôi nằm khi chị ra lần trước, chị kinh ngạc, mở to mắt nhìn toàn phòng, chắc tưởng tôi đã chết. Cũng lúc đó, tôi thấy chị đứng ở cửa phòng, tôi gọi: - Chị Phúc. Chị nhào đến chỗ tôi: - Ôi! Anh Tiên, không thấy anh, tôi tưởng... Tôi rất cảm động khi nhìn thấy chị và sự vui mừng của chị khi thấy tôi còn sống. Tôi rất quý chị, coi chị như một người chị hiền, rất đôn hậu khi tôi làm việc với anh Lê Hai. Thỉnh thoảng, chị cho ăn những bữa cơm đạm bạc nhưng ngon miệng,và sự chăm sóc của chị đối với tôi khi tôi bị ốm. Tôi thường nghĩ rằng, chị là một trong những ân nhân đã giúp tôi thoát khỏi cái chết cận kề. Những người tôi mang ơn, cũng là những anh chị em bác sĩ, hộ lý của Khoa A1, đặc biệt là Giáo sư, bác sĩ Phạm Tử Dương, Viện phó Viện Quân y 108 kiêm Chủ nhiệm Khoa A1. Trong một buổi vợ tôi dìu tôi tập đi để phục hồi chứcnăng dọc tầng 2 khu A1, tôi và vợ ngồi nghỉ trên một cái ghế dài thì anh Phạm Tử Dương đi qua. Thấy hai vợ chồng tôi,anh ngồi xuống cạnh tôi và nói một câu làm tôi ngạc nhiên hết sức: - Anh sống được là nhờ ở chị ấy đấy!. Tôi vội nói: - Sao anh lại nói thế, đó là nhờ Bệnh viện, nhờ anh và anh chị em ở Khoa A1 chứ! Anh không nói gì thêm, đứng dậy đi thăm các bệnh nhân của mình. Tôi biết anh là người kiệm lời, rất nghiêm túc, chắc chắn không phải là những lời nói để lấy lòng. Tôi hỏi Phúc: - Tại sao bác sĩ Dương lại nói thế? Vợ tôi trả lời: - Em thấy anh đái rất nhiều, mất nước ngày nào cũng phải thay ga, thay đệm. Một lần, mẹ ốm em chăm sóc cũng thấy mẹ đái nhiều và hôn mê như anh. Em thấy người ta tiếp đạm cho mẹ, được vài lần thì mẹ khỏi bệnh. Khi bác sĩ Dương đến thăm anh, em đánh bạo kể lại chuyện đó và đề nghị bác sĩ tiếp đạm cho anh và bác sĩ cho truyền xen kẽ cho anh hai bình huyết thanh, hai bình đạm thì anh tỉnh lại". Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Tám, 2025, 09:43:51 pm Tôi không biết vợ tôi đã nói gì, làm gì khi chăm sóc tôi. Tôi thấy cánh nữ bác sĩ và trợ lý trẻ gọi vợ tôi là "mẹ Đốp", một nữ nhân vật chính diện trong vở chèo kinh điển nổi tiếng "Quan âm thị kính" của ta. Đó là "mẹ Đốp" - vợ một ông mõ làng yêu chồng, chống lại những thói xấu xa của bọn cường hào, "kỳ mục - kỳ nát". Nhưng tôi biết rõ tình yêu hồn nhiên, giản dị, trong trẻo của vợ mình, thỉnh thoảng có đôi chút đáo để, bỗ ba với chồng thường được tôi bỏ qua. Tôi thấy yêu cái không khi ấm cúng đó của chị em Khoa A1 thân mật, gần gũi giữa anh chị em của khoa với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân. Tôi nghĩ đây cũng là một biểu hiện rất tốt đẹp, giàu tính nhân văn góp phân tích cực đáng kể cho việc điều trị cho bệnh nhân, trong đó có vai trò của người phụ trách.
Tôi quý trọng anh Dương ở nhiều điểm, trong đó là sự quyết tâm phấn đấu vươn lên từ một nhân viên quân y của cơ sở trở thành một giáo sư, tiến sĩ y khoa, thầy thuốc nhân dân, có nhiều cống hiến cho y học quân sự cũng như y học nói chung, ở tình thương và sự tận tình với bệnh nhân, đặc biệt là sự khiêm tốn, sự trung thực hiếm có của một nhà khoa học, lắng nghe một cách nghiêm túc người thân của bệnh nhân giúp cho công tác điều trị của mình. Khi tôi sắp ra viện, anh yêu cầu tôi viết, kể tỷ mỷ về trường hợp mắc bệnh của mình để anh có thêm tài liệu cho một vấn đề gì đó đang nghiên cứu. Một bác sĩ trẻ dưới quyền anh nói cho tôi biết: - Chú khỏi bệnh, được cứu sống mà không biết rõ là bệnh gì. Bác sĩ Dương không nhất trí với kết luận của Hội đồng Giáo sư, bác sĩ là chú bị thiểu năng tuần hoàn não. Về điểm này, một hôm tôi hỏi anh: - Theo anh thì tôi bị bệnh gì? Anh trả lời tôi: - Có lẽ anh bị viêm não cấp tính. Sau này có vài hôm tôi gặp anh và có những kỷ niệm thú vị. Tôi không thể ngờ được là anh lại mất trước tôi; anh qua đời ngày 13 tháng 12 năm 2009 ở tuổi 80. Hôm tiễn biệt anh ở nhà tang lễ Viện Quân y 108 có rất đông người đến viếng. Trong đó có khá đông là những trí thức, cán bộ cao cấp ăn mặc trang trọng và cùng khá đông những người lao động ăn mặc bình thường. Tôi rất ít thấy có đám tang lớn như thế ở Nhà tang lễ số 5 Trần Nhân Tông. Rất nhiều vòng hoa để hàng dãy dài ở ngoài sân. Không biết có bao nhiêu người đã được anh cứu chữa. Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam (27.2.2015), tôi có viết bài "Nhớ về một lương y áo lính", một hồi ức về anh nhân ngày giỗ lần thứ 5 của anh gửi Viện Quân y 108 và Báo Quân đội nhân dân. Nhưng rất tiếc là không có hồi âm, tôi không hiểu vì lý do gì. Sau đó, tôi gửi đến gia đình anh và được con trai anh hiện đang là Viện phó của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 để biểu thị lòng biết ơn và sự ngưỡng mộ của tôi đối với anh. Con trai anh đã tiếp nhận và gọi điện thoại cảm ơn tôi. Cùng nằm viện với tôi thời gian đó, sau khi tôi đã tỉnh lại còn có Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Thúc Mậu. Chúng tôi được bố trí ở một phòng rộng chỉ có hai người và được ưu tiên cho người nhà ở cùng để chăm sóc. Một sự ngẫu nhiên là người chăm sóc lại là hai người vợ: Chị Lịch - vợ anh Mậu và vợ tôi. Anh Mậu lớn tuổi hơn tôi, dễ gần chục tuổi. Anh là Thiếu tướng, Giám đốc Học viện Quân y, đã có một thời gian dài phục vụ ở chiến trường miền Nam trong chiến tranh chống Mỹ, một trí thức được đào tạo ở Trường y dược Đông Dương dựới chế độ cũ. Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp anh đã công tác ở ngành Quân y. Còn chị là một phụ nữ dân tộc Tày, quê ở thị xã Cao Bằng nghe nói là Hiệu trưởng một trường phổ thông cơ sở ở Hà Nội đã về hưu. Nghe anh Thái Dũng, Thiếu tướng nguyên là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308, Thủ trưởng cũ của tôi cũng nằm viện lúc đó nói chuyện với chị vì hai người quen biêt nhau từ khi chị còn là một thiếu nữ xinh đẹp, được mệnh danh là hoa khôi của tỉnh thời đó. Anh và chị đã để lại ấn tượng rất đẹp đối với vợ chồng tôi vì anh chị rất đôn hậu. Chị rất yêu anh và ngày đêm ở cạnh anh để chăm sóc chồng. Còn anh chị cũng tỏ ra yêu mến vợ chồng tôi. Với vợ tôi, một thợ thủ công đồ gốm, ít học, quê mùa nhưng tính tình cởi mở, chân chất, thực thà cũng đang chăm sóc chồng ốm, nên hai người phụ nữ ấy cũng dễ thân nhau. Anh cũng hay chuyện trò với tôi và thường hỏi tôi về tình hình Campuchia. Tôi cũng vui vẻ, luôn nói chuyện với anh, nói cả những cảm nghĩ của mình về những vấn đề lớn và những câu chuyện thú vị về đất nước bạn. Anh biết tôi là một cán bộ chính trị, hơn tôi đến cả chục tuổi nhưng một lần sau một câu chuyện, bỗng nhiên anh nói: "Tôi thấy anh rất hợp với tôi". Riêng tôi, đối với anh tôi cũng rất quý trọng và yêu mến nhân cách, sự đôn hậu và tấm lòng của anh đối với Quân đội và đất nước. Gần anh, tôi thường liên tưởng đến các anh Trần Đại Nghĩa, Đặng Văn Ngữ, Lương Đình Của, Nguyễn Văn Tố, Tạ Quang Bửu, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng..., những trí thức được đào tạo dưới chế độ cũ, theo tiếng gọi của Bác Hồ, của Đảng, trong đó có nhiều người không hề luyến tiếc, bỏ lại đằng sau cuộc sống nhung lụa, đầy đủ, lương cao, bổng lộc để hòa mình cùng với nhân dân trong cuộc đấu tranh gian khổ, ác liệt, thiếu thốn để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc mình, một lòng son sắt với chế độ mới, với con đường mình đã chọn. Với tôi, một học sinh nhỏ tuổi, thuộc lớp hậu sinh đi theo cách mạng, rất quý trọng những con người ấy, coi đó là những nhân cách lớn, những tấm gương trong sáng về lòng yêu nước nồng nàn mà mình phải noi theo, phấn đấu rèn luyện đức, tài cống hiến được nhiều cho chế độ mới, cho đất nước. Tôi thầm nghĩ, đồng chí Nguyễn Thúc Mậu là một con người trong những vị tôi nói ở trên. Anh âm thầm lặng lẽ phục vụ Quân đội, phụng sự đất nước, chịu đựng gian khổ hy sinh, bị bệnh hiểm nghèo, nhưng rất khiêm tốn. Ở cạnh anh trong hơn một tháng, nhưng tôi không thấy anh nói một lời nào về công lao của mình, không một lời kêu ca, đòi hỏi gì về chế độ đãi ngộ, chăm sóc mình. Tôi thấy một số đồng nghiệp trẻ đến thăm anh đều rất kính trọng, yêu mến anh một điều "thưa thầy", hai điều "thưa thầy" với thái độ rất xúc động và anh cũng rất thân ái với họ. Gần đến Tết Nguyên đán, cháu Mai - con gái tôi, đang là sinh viên năm thứ nhất Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn) được nghỉ Tết. Cháu Mai đến thay mẹ chăm sóc tôi để mẹ về lo Tết cho gia đình. Cháu cũng được anh chị rất yêu quý vì ngoài việc chăm sóc bố, đôi lúc cháu cũng giúp chị chăm sóc anh khi cần thiết. Có lần, anh chị nói bóng gió có ý muốn giới thiệu Mai cho con trai mình là một kỹ sư đang công tác. Nhưng tôi thấy cháu Mai mới bước sang tuổi 18, còn quá trẻ vả lại còn đang tuổi học tập nên tôi cũng không tỏ vẻ hưởng ứng. Ngày 28 tháng Chạp năm đó (tháng 2 năm 1988), tôi được ra viện trước Tết hai ngày. Tôi lưu luyến chào từ biệt anh chị và chúc anh mau bình phục. Chị cùng các cháu nhà tôi mang giúp tôi một túi đồ dùng, tiễn tôi ra viện. Vừa ra khỏi phòng, chị khóc và cho tôi biết là anh bị ung thư và đã đến giai đoạn di căn, không thể qua khỏi. Tôi rất xúc động và thông cảm với nỗi đau của chị, thấy sẽ rất thừa nếu có những lời an ủi chị lúc đó. Tôi buồn rầu cảm ơn và từ biệt chị. Tôi được Viện Quân y 108, chủ yếu là Khoa A1 do Viện phó Phạm Tử Dương kiêm Chủ nhiệm Khoa cứu sống sau một cơn đột quỵ ở Campuchia và hôn mê sâu trong suốt 28 ngày, tưởng như không thể qua khỏi. Tôi vẫn nói vui với bạn bè rằng "quan thổ địa cai quản nghĩa trang Văn Điển không cấp hộ khẩu, nên vẫn phải sống", nhưng cảm thấy mình còn rất yếu dễ bị "loại khỏi vòng chiến đấu" lắm. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Tám, 2025, 09:45:00 pm Trong khi tôi đang ở với vợ chồng con trai thứ hai tại căn hộ trong khu tập thể 3B Ông ích Khiêm của Quân đội thì nhận được quyết định của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng cho nghỉ dài hạn để tiếp tục chữa bệnh, do đồng chí Trưởng phòng Cán bộ của Cục Chính trị thuộc Tổng cục Chính trị mang đến. Tôi ngạc nhiên khi thấy trong quyết định ghi tôi là Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị Bộ Tư lệnh 719 (Quân tình nguyện tại Campuchia). Tôi nói với đồng chí ấy rằng tôi chưa hề nhận được quyết định bổ nhiệm là Chủ nhiệm và cũng chẳng hiểu vì sao lại có quyết định đó. Đồng chí đem về cơ quan và hôm sau đưa cho tôi quyết định chữa lại là Phó Chủ nhiệm. Ít lâu sau, tôi được đồng chí Nguyễn Trọng Hợp, Cục trưởng Cục Cán bộ trực tiếp thông báo bằng miệng rằng Quân ủy Trung ương vừa quyết định cho 9 cấp tướng trong Quân đội bị bệnh nặng được nghỉ dài hạn để chữa bệnh và được hưởng nguyên lương và các chế độ đãi ngộ khác cho đến khi khỏi bệnh. Từ đáy lòng, tôi rất cảm động và biết ơn Quân ủy Trung ương đã quan tâm chăm sóc cán bộ, nhất là đối với những đồng chí không may gặp nạn. Và tôi nghĩ rằng tôi khỏi bệnh có thể tiếp tục nhận công tác. Riêng tôi cũng cảm thấy mình trong gần 10 năm công tác ở Campuchia có bước trưởng thành đáng kể, đang ở độ chín chắn về mặt chính trị, nếu sức khỏe tốt vẫn còn có thể tiếp tục cống hiến cho Quân đội và đất nước. Thời gian đó, nhiều đồng chí thiếu tướng ngoài 70 tuổi sức khỏe tốt vẫn tiếp tục công tác, chứ không như sau này Luật Sĩ quan Quân đội thay đổi quy định 60 tuổi là về hưu.
Trước khi được cử đi làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, tôi là Cục phó Cục Tuyên huấn. Nhưng để tiện việc quản lý cán bộ, tôi đề nghị Tổng cục cho tôi sinh hoạt chi bộ ở Cục Chính trị để tiện việc thực hiện chế độ và được chấp nhận. Từ đó, hằng tháng đến kỳ sinh hoạt chi bộ, Cục Chính trị thường cho xe đến đón tôi đi họp. Sự chăm sóc của anh chị em ở Cục Chính trị cũng rất chu đáo và thân tình nên tôi cũng rất yên tâm. Theo tiêu chuẩn cấp tướng, tôi được điều chỉnh từ căn hộ tại khu tập thể 3B Ông ích Khiêm về một căn hộ rộng rãi hơn tại chung cư E3 thuộc phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, về nơi ở mới, nhà cửa chưa được hoàn chỉnh, còn bề bộn nhưng tôi rất thích vì con trai cả và con trai thứ hai của tôi đang công tác tại trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và Trường Đại học tổng hợp Hà Nội. Một sự đoàn tụ với con cái ngoài sự mong đợi của tôi. Hôm chuyển nhà là ngày 16 tháng 8 năm 1988. Cơ quan cho một chiếc xe tải đến để chở đồ đạc về nơi ở mới. Xếp lên xe chỉ lỏng chỏng có hai cái giường được tháo ra để chưa hết một góc xe. Bà con, đồng đội ở khu tập thể 3B Ông ích Khiêm nhiều người lắc đầu và thông cảm vì thấy gia đình nghèo quá. Đúng là thời gian đó, đất nước còn quá khó khăn, không cứ là gia đình tôi mà nhiều người cũng trong hoàn cảnh như vậy. Mấy hôm sau, Cục Hậu cần của Tổng cục cho xe chở đến cấp cho một chiếc giường đôi, một chiếc tủ đứng và một chiếc quạt trần do Quân đội ta sản xuất (riêng quạt trần đến nay tôi vẫn còn dùng, sau 28 năm vẫn còn tốt). Căn hộ ở đầu hồi tầng 1, rộng khoảng hơn 80 mét vuông, là căn hộ loại một của chung cư gồm 3 phòng, một bếp, khu vệ sinh, một hành lang nhỏ, 4 ban công, thiết kế tương đổi tốt, thoáng mát nhưng cũng còn có chỗ không hợp lý ví dụ chỉ có một bể con chứa độ 200 lít nước... Cả chung cư cũng như toàn căn hộ còn ở dạng thô, bẩn thỉu, còn cần nhiều công và tiền của để hoàn chỉnh. Tôi có may mắn là có nhiều con công tác gần đó nên chúng nó xúm lại giúp nên cũng tạm ổn. Tuy nhiên, đồ dùng trong nhà còn thiếu thốn đủ thứ nhưng cũng là có chỗ trú ngụ sung sướng lắm rồi. Từ đó, Mai con gái tôi đang ở ký túc xa về ở với bố trong khi vợ tôi vẫn ở quê. Lúc này vẫn còn là thời kỳ bao cấp, lương thiếu tướng của tôi chỉ có 68đ/tháng cùng với trợ cấp thâm niên. Vợ ở quê đã đến tuổi nghỉ lao động ở hợp tác xã thủ công đồ gốm, phải buôn thúng bán mẹt kiếm sống. Tôi phải trích tiền lương gửi về giúp đỡ thêm vì vợ còn phải nuôi thằng con trai thứ 5 bị tâm thân phân liệt ở bộ đội về. Có thể nói, đời sống của nhân dân và bộ đội nhất là đối với những gia đình đông con như gia đình tôi cực kỳ khó khăn. Đời sống của giáo viên, sinh viên ở các trường đại học xung quanh khu vực tôi ở cũng nằm trong tình trạng đó. Con dâu cả của tôi là giáo viên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (chồng là giáo viên Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội) phải đi bán trứng thêm ở chợ mới tạm đủ sống. Tôi khoán cho Mai, con gái tôi mỗi ngày chỉ được chi 5 hào tiền thức ăn. Có bữa, bạn thân của nó đến chơi ở lại ăn cơm, ba bố con, bác cháu chỉ có một quả trứng vịt rang mặn, bó rau muống làm thức ăn. Chung cư E3 tôi ở đều là cán bộ Quân đội được chia, dần dần đưa gia đình về ở. Bên cạnh căn hộ của tôi là căn hộ loại hai của gia đình đồng chí Võ Bá - Thượng tá, trợ lý của Cục Cán bộ. Chị là công nhân viên của Xí nghiệp trồng dâu nuôi tằm ở Mai Lĩnh, cách chỗ chúng tôi ở hơn 10 kilômét. Anh chị mỗi khi được cơ quan chia cho thực phẩm đều xẻ bớt cho tôi và Mai, khi thì một mớ cá rô phi, khi thì bơ nhộng. Chị Nhu, cán bộ của Trường Đại học Y, chồng là đồng chí Hoàng Văn Hoan - Thượng tá, Phó Chủ nhiệm Chính trị một sư đoàn của Quân khu 3, thấy hai bố con tôi đời sống quá đạm bạc, chị có ý định giúp lấy các loại thuốc thông thường mở một tủ bán thuốc ở căn hộ tầng 1 của tôi, bán được mới phải trả tiền sau, nhưng tôi thấy không thể thực hiện được vì cháu Mai còn bận học, còn tôi thì quá yếu. Trong hoàn cảnh khó khăn, trước những nghĩa cử chia sẻ với nhau như vậy, tôi rất cảm động và thấy ấm lòng vì tình nghĩa hàng xóm láng giềng. Tiêu đề: Những năm tháng không quên Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Tám, 2025, 09:46:43 pm THAY LỜI KẾT Bố đã đi xa hơn 3 năm nhưng hình ảnh người cha, người ông mẫu mực vẫn như còn đâu đây, trong tâm thức của các con, cháu trong gia đình chúng tôi. Ngược thời gian trở về hơn 30 năm trước (năm 1987), khi vừa hoàn thành nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị cho đợt rút quân lần thứ 6 Quân tình nguyện Việt Nam về nước, Bố tôi - Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên bị đột quỵ tại Phnôm Pênh (Campuchia). Từ đây bắt đầu chặng đường hơn 7 năm ông kiên trì rèn luyện, kết hợp với thuốc thang và sự chăm sóc, chữa chạy của các y bác sĩ cùng gia đình. Ý chí, nghị lực của một người cán bộ cách mạng, tướng lĩnh Quân đội cùng sự chăm sóc tận tình của thầy thuốc và gia đình đã đưa ông trở lại với cuộc sống bình thường. Tháng 12 năm 1994, ông được Nhà nước, Quân đội cho nghỉ hưu ở tuổi 65 với gần 50 năm hoạt động và cống hiến cho cách mạng. Khép lại chặng đường sự nghiệp, đối với ông - một người đã kinh qua nhiều cương vị công tác, cả ở Quân đội và cơ quan của Đảng, cả ở trong nước và ngoài nước, chắc chắn chất chứa biết bao nhiêu kỷ niệm gắn liền với lịch sử dân tộc, đất nước, quê hương, gia đình. Nói cách khác, cuộc đời của Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên gắn với sự nghiệp cách mạng của đất nước,với sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Thế hệ các ông nhiều người trải qua như vậy, nhưng ông là một trong số ít người tự ghi lại chặng đường đời và sự nghiệp của mình. Giờ đây, trang đời quý giá ấy được ông tái hiện vô cùng sống động, phong phú, thông qua những câu chuyện, sự kiện, hình ảnh, đặc biệt là những ngẫm suy về gia đình, đồng chí, đồng đội, về những cung bậc cảm xúc của chiến tranh và hòa bình gắn liền với lịch sử đầy biến thiên của đất nước, dân tộc. Có thể nói, gần như cả cuộc đời ông gắn với sự nghiệp cách mạng của đất nước, với sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Những năm tháng hoạt động công tác đó và cuộc sống gia đình đã để lại trong đồng chí, đồng đội và con cháu những ký ức khó phai mờ. Sinh ra trong một gia đình nhà Nho tiến bộ, giàu lòng yêu nước; lớn lên trên quê hương giàu truyền thống cách mạng, được sự dìu dắt, giáo dục, rèn luyện của Đảng, Quân đội, ông không ngừng phấn đấu, học tập, trưởng thành và đã được tổ chức tin tưởng, bố trí vào những vị trí công tác phù hợp với sở trường, năng lực, trình độ của ông. Trải qua quá trình công tác từ trước Cách mạng Tháng Tám đến khi về với thế giới người hiền, ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao phó. Dù công việc bộn bề, song ông luôn kết hợp hài hòa công việc của tổ chức với chăm lo cuộc sống gia đình, cùng người vợ hiền, thủy chung hết mực yêu thương nuôi dạy các con, cháu nên người. Anh em chúng tôi lớn lên, trưởng thành từ truyền thống cách mạng cùng sự yêu thương đùm bọc của bà con quê hương và tình cảm gia đình ấm áp như thế. Chúng tôi còn nhớ mãi, khi nghỉ hưu, sức khỏe của bố vẫn còn yếu lắm. Lúc giao mùa hay khi thời tiết thay đổi cũng làm bố muốn ngất đi. Năm 1999, vết thương do mảnh mìn ở chiến trường Thượng Lào còn sót lại tái phát1 (Ông bị liệt nửa người phía dưới. Khi nhập viện, ông đề nghị được mổ. Người thực hiện ca mổ là Bác sĩ, Tiến sĩ Nguyễn Tiến, chuyên gia đầu ngành về chấn thương chỉnh hình đã gắp ra được mành mìn và một lít rưỡi máu, mủ), bố tưởng mình sẽ bị liệt vĩnh viễn. Lúc này, bố tôi nghĩ mình hình như sắp quy tiên nên vội nghĩ đến gia đình, con cái và cố gắng sắp xếp theo ý tưởng của người chuẩn bị làm di chúc. Nhưng thật may mắn và nhờ hồng phúc tổ tiên, sức khỏe của ông dần được hồi phục và ông được sống trong tình yêu thương của gia đình và người thân gần 20 năm nữa. Trước đó (năm 1996), với số tiền lương hưu cấp tướng của bố không đủ để mua nhà thanh lý, chúng tôi góp cùng bố, mẹ mới mua được căn nhà 101, E3, Thanh Xuân Bắc do Quân đội cấp, bán và ở đó đến cuối đời, quây quần bên các con, cháu. Bốn năm sau, Nhà nước có chính sách hỗ trợ 100% tiền nhà nên bố đã được hoàn lại số tiền nho nhỏ. Bố dùng khoản tiền này cùng một phần lương hưu gửi tiết kiệm làm Quỹ khuyến học cho các con, cháu trong gia đình và Quỹ hương hỏa để giỗ tết; một phần còn lại bố tôi dùng xây dựng quỹ hỗ trợ để giúp đỡ các con, cháu trong gia đình lúc gặp khó khăn. Bố cũng quy định hằng năm đại gia đình phải sum họp vào các ngày tết, ngày lễ... và nhất thiết không được ai vắng mặt. Ngày có ý nghĩa nhất đối với gia đình chúng tôi là ngày 2 tháng 9 hằng năm. Đó vừa là ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là ngày sinh nhật của bố và trong ngày này cũng là ngày bố, mẹ tôi luôn ôn lại truyền thống gia đình, biểu dương, khen thường các con, cháu, chắt học giỏi, có thành tích cao trong học tập, công tác và nâng đỡ, động viên mọi cố gắng của các con, cháu khác. Bố, mẹ tôi đã về với tổ tiên, ông bà nhưng đến nay gia đình chúng tôi vẫn giữ nếp gặp mặt các con cháu vào ngày này tại tổ ấm - nơi bổ, mẹ, anh em tôi đã có những ngày tháng vô cùng vui vẻ, hạnh phúc trong điều kiện còn nhiều gian khó. Nhờ sự định hướng, dìu dắt và chăm lo của bố, mẹ mà tất cả anh em, con cháu chúng tôi đã xây dựng gia đình là những gia đình độc lập, làm ăn chân chính, không có ai vướng vào tệ nạn. Ông, bà có tám người con và mười một người cháu, hai chắt thì hai vợ chồng con trai trưởng và cháu nội đều là giảng viên đại học. Con trai thứ sáu và con gái thứ bảy công tác ở Văn phòng Quốc hội. Con trai thứ ba là sĩ quan cao cấp và con gái út phục vụ trong Quân đội. Nhờ truyền thống hiếu học và sự khích lệ của ông bà, bố mẹ mà đại gia đình tôi cả con đẻ, con dâu, con rể đã có một tiến sĩ, một là bác sĩ chuyên khoa cấp II, bốn thạc sĩ; bốn cháu nội, ngoại đi du học ở nước ngoài trong đó có một cháu đang làm luận án Tiến sĩ ở Hàn Quốc. Trong ký ức của chúng tôi, bố là người cha nghiêm khắc, nhưng lại rất hiền từ, rất thương con. Bố nghiêm khắc với chính mình và con mình, nhưng lại bao dung, nhân ái với mọi người. Bố xa nhà nhiều năm, công việc của một người lính lúc nào cũng bận rộn, nên ít có thời gian gần gũi anh em chúng tôi. Tuy vậy, việc học hành, công tác của chúng tôi, ông đều sát sao và định hướng khi cần thiết. Bố không giáo huấn nhiều lời, mà bằng hành động, bố giáo dục chúng tôi tính tự lập, quý trọng lao động và người lao động; không phân biệt giàu nghèo, sống có trước, có sau và biết quan tâm, chia sẻ với mọi người. Không những trong gia đình, với họ hàng, quê hương ông cũng có những đóng góp cho các hoạt động chung, ông đã vận động bà con, họ hàng đóng góp xây dựng nhà thờ chi họ Đinh ở thị trấn Quế, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam - đây đã là nơi quy tụ bà con thân quyến mỗi khi tết đến, xuân về và cũng là nơi thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên của huyện Kim Bảng năm 1930 do thầy giáo Nguyễn Văn Đạt làm Bí thư. Ông đã tìm kiếm và kết nối họ Đinh ở Phượng Dực, Hà Nội với chi họ Đinh ở thị trấn Quế sau nhiều năm mất liên lạc để con cháu tìm về cội nguồn của mình, ông đã đóng góp tiền lương ít ỏi để cùng với nhân dân thị trấn Quế tu tạo Đình Xuân - nơi trước Cách mạng Tháng Tám, chi bộ cộng sản đầu tiên đã chọn là một trong những địa điểm họp kín để bàn bạc xây dựng, mở rộng cơ sở cách mạng của huyện... Khi bố khuất bóng, cùng với sự ra đi của mẹ nhiều năm trước đã để lại trong chúng tôi những khoảng trống thiếu vắng không gì bù đắp nổi. Mặc dù vậy, anh, em, con, cháu chúng tôi thường xuyên gắn bó, động viên nhau nên dường như vẫn cảm thấy bố, mẹ, ông, bà luôn luôn ở bên mỗi chúng tôi cả những lúc vui, buồn, luôn khích lệ, động viên chúng tôi trong quá trình trưởng thành, trong học tập, công tác cũng như cuộc sống. Cuốn hồi ký "Những năm tháng không quên" được bố tôi - Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên viết nên bằng tâm huyết, sự minh mẫn và trí nhớ tuyệt vời của ông, dù đã phải trải qua lần đột quỵ, hôn mê sâu tưởng như không thể qua khỏi. Tất cả cuộc đời ông lần lượt tái hiện qua từng trang viết, đọng lại những ký ức khó phai mờ. Mỗi một sự kiện, con người trong cuốn hồi ký đều gắn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, với chặng đường phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam và quê hương, gia đình thân yêu. Cuốn sách cung cấp những thông tin bổ ích về đạo đức, tác phong, những cống hiến của ông cho Đảng, Quân đội cũng như những tình cảm của ông thể hiện trong quá trình công tác, trong cuộc sống với đồng đội, người thân. Nhân kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22.12.1944 - 22.12.2021), cuốn sách được xuất bản là bó hoa thơm kính dâng lên người cha, người ông của chúng tôi; đồng thời cũng là lời tri ân của gia đình đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội đã giáo dục, đào luyện ông trưởng thành; là lời cảm ơn đối với đồng đội, người thân và gia đình đã gắn bó, chia sẻ giúp đỡ những lúc khó khăn để ông yên tâm công tác, hoàn thành nhiệm vụ. Cuối cùng, gia đình chúng tôi xin chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, các đồng chí cán bộ Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã giúp đỡ, tạo điều kiện xuất bản cuốn hồi ký của bố tôi - Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên! Hà Nội, tháng 10 năm 2021 ĐINH CAO PHONG (Con trai cả) |