|
Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Sáu, 2023, 04:58:18 pm - Tên sách: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử
- Tác giả: - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân - Năm xuất bản: 2011 - Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory BAN CHỈ ĐẠO HỘI THẢO * Trưởng ban: - Trung tướng NGUYỄN THÀNH CUNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; - Đồng chí NGUYỄN ĐỨC CHÍNH, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị. * Phó Trưởng ban: - Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN TUẤN DŨNG, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; - Thiếu tướng TRẦN HỮU TUẤT, Phó Tư lệnh Quân khu 4; - Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. * Các ủy viên: - Trung tướng PHẠM QUANG PHIÊU, Cục trưởng Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng; - Thiếu tướng NGUYỄN THANH TUẤN, Cục trưởng Cục Tuyên huấn - Tổng cục Chính trị; - Đại tá VŨ CHIẾN THẮNG, Cục trưởng Cục Đối ngoại - Bộ Quốc phòng; - Thiếu tướng NGUYỄN CHÍ HƯỚNG, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị; - Thiếu tướng VŨ VĂN HIÊN, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng; - Đại tá, PGS, TS NGUYỄN MẠNH HÀ, Phó Viện trưỏng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. BAN NỘI DUNG * Trưởng ban: - Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. * Phó Trưởng ban: - Thiếu tướng VÕ VĂN VIỆT, Phó Chính ủy Quân khu 4; - Đại tá, PGS, TS HỒ KHANG, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. * Các ủy viên: - Đại tá, TS NGUYỄN HUY THỤC, Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam; - Đại tá, PGS, TS TRẦN NGỌC LONG, Tổng biên tập Tạp chí Lịch sử quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam; - Thượng tá NGUYỄN HỮU BỘ, Trưởng ban Lịch sử quân sự Quân khu 4; - Thượng tá NGUYỄN TÀI TÌNH, Trưởng ban KH-LSQS Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị; - Thượng tá, ThS LÊ ĐỨC HẠNH, Phó Trưởng phòng Quản lý khoa học - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. TỔ CHỨC THỰC HIỆN VIỆN LỊCH SỬ QUÂN sự VIỆT NAM Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2023, 03:54:27 pm LỜI NÓI ĐẦU Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược (1954-1975), chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một trong những sự kiện lịch sử mang tầm chiến lược, không chỉ trực tiếp đánh bại cuộc thử nghiệm khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam cộng hòa - công cụ chủ yếu để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", mà còn phá tan mưu đồ ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh của đế quốc Mỹ. Đồng thời, chiến thắng này cũng là minh chứng sống động cho tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt của quân và dân hai nước Việt Nam - Lào trong những năm tháng chung sức, đồng lòng kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ, giành độc lập, tự do cho mỗi dân tộc. Đây cũng là bước đà, sự chuẩn bị thế và lực mới cho cuộc tiến công chiến lược giành thắng lợi quyết định năm 1972 của quân và dân ta. Chính bởi tầm vóc và ý nghĩa của chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 như vậy, nên trong nhiều năm qua, sự kiện này luôn là vấn đề hấp dẫn, thu hút sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu của các nhà quân sự, chính trị, nhất là các nhà khoa học trong nước và nước ngoài, trong đó có người Mỹ, nhưng với cách tiếp cận khác nhau. Cũng đã có một vài cuộc tọa đàm đi sâu phân tích về khía cạnh nghệ thuật sử dụng lực lượng, cách đánh chiến dịch... do Đại tướng Hoàng Văn Thái, Đại tướng Lê Trọng Tấn chủ trì. Tuy nhiên, nhiều vấn đề của sự kiện lịch sử này vẫn cần phải được tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ thêm. Quan trọng hơn, chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971, cần được tôn vinh xứng đáng với tầm vóc, ý nghĩa nhằm khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc; góp phần giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế cho tất thảy các thế hệ người Việt Nam, nhất là thanh thiếu niên, trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào (1971-2011), được sự nhất trí của Ban Bí thư Trung ương Đảng (công văn số 1278-CV/VPTW ngày 15 tháng 8 năm 2011), Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Quảng Trị tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: "Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 - Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử". Ban tổ chức Hội thảo đã nhận được hơn 70 bài tham luận của các vị lão thành cách mạng, nhăn chứng lịch sử, các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật, các quân khu, binh chủng và đơn vị; Tính ủy, Ủy ban nhân dân, một số ban ngành và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị; các nhà khoa học ở trong và ngoài quân đội. Đặc biệt, Hội thảo đã nhận 8 bài tham luận của các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Cục Khoa học - Lịch sử Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Nhìn chung, mỗi tham luận là một công trình nghiên cứu độc lập, tương đối trọn vẹn của từng tác giả, vi vậy ở một số bài còn có những khác nhau về đánh giá, nhận định cũng như về sự kiện, số liệu. Để bảo đảm tính tranh luận cần thiết của cuộc Hội thảo và cũng là sự tôn trọng ý kiến của tác giả, nên Ban nội dung không chỉnh trang lại, mà chỉ mạnh dạn lược bỏ những nội dung trùng lặp hoặc ít liên quan đến chủ đề của cuộc Hội thảo. Căn cứ vấn đề luận giải của các bản tham luận, chúng tôi nhóm thành bốn mảng nội dung, cụ thể: Phần I: Những vấn đề chung; Phần II: Quá trình tổ chức và thực hành chiến dịch - nét đặc sắc của Nghệ thuật quân sự Việt Nam; Phần III: Sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả của liên quân Việt - Lào; Phần IV: Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do thời gian dành cho biên tập không nhiều, nên những hạn chế, thiếu sót là không thể tránh khỏi. Rất mong được sự lượng thứ của bạn đọc. Nhân dịp này, chúng tôi chân thành cảm ơn các cơ quan chức năng, các nhà khoa học, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã tạo điều kiện thuận lợi, cộng tác nhiệt tình, hiệu quả để cuốn kỷ yếu ra đời kịp phục vụ cho cuộc Hội thảo. BAN CHỈ ĐẠO VÀ BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2023, 03:56:00 pm PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG PHÁT BIỂU CHÀO MỪNG TẠI HỘI THẢO KHOA HỌC "CHIẾN THẮNG ĐƯờNG 9 - NAM LẢO 1971 TẦM VÓC, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ" TS LÊ HỮU PHÚC Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Trị Hôm nay, tôi thật sự phấn khởi và xúc động đến tham dự cuộc Hội thảo khoa học: "Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971"- Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử" do Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Quảng Trị tổ chức. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hoà là chiến thắng của sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta, đường lối đoàn kết quốc tế, liên minh đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa hai nước Việt Nam - Lào. Chúng tôi hoan nghênh và trân trọng sáng kiến của Bộ Quốc phòng đã có kế hoạch phối hợp với Tỉnh ủy Quảng Trị, tổ chức Hội thảo nhằm đánh giá, khẳng định tầm vóc to lớn của chiến thắng, về ý nghĩa lịch sử của nó. Đồng thời đúc kết những bài học thực tiễn nóng hổi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Qua Hội thảo này, chúng ta bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với đồng bào, đồng chí, cùng cán bộ, chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Lào nói chung, hai tỉnh Quảng Trị và Xa Van Na Khẹt nói riêng đã hy sinh xương máu vì sự trường tồn và phồn vinh của mỗi nước, vì mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào. Thay mặt Đảng bộ, quân và dân tỉnh Quảng Trị, tôi xin gửi đến các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, các vị tướng lĩnh, cựu chiến binh hai nước Việt Nam và Lào, các nhà khoa học quân sự cùng toàn thể các đồng chí đại biểu lời chào mừng trân trọng nhất, xin chúc các đồng chí luôn luôn mạnh khoẻ, hạnh phúc, chúc Hội thảo của chúng ta hôm nay thành công tốt đẹp! Quảng Trị có vai trò quan trọng và một vị trí chiến lược trong lịch sử của sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Có thể nói, đây là một vùng đất địa linh của Tổ quốc. Với ý nghĩa đó, trong "Dư địa chí" Nguyễn Trãi đã ghi "Xưa là bộ Việt Thường Thị, đây là phên giậu thứ tư về phương Nam". Ngót 100 năm bền bỉ đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp, kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Hiệp định Giơnevơ (1954) được ký kết. Song, theo Hiệp định Giơnevơ sông Bến Hải - Quảng Trị (Vĩ tuyến 17) là giới tuyến quân sự tạm thời, 2 năm sau tiến hành tổng tuyển cử. Tuy nhiên, ngay sau đó đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm trắng trợn xoá bỏ Hiệp định, hòng chia cắt lâu dài đất nước ta. Kể từ đây vùng đất hai bờ con sông Bến Hải đã trở thành chiến trường trọng điểm đầy cam go, nơi diễn ra cuộc đụng đầu quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc tàn bạo. Hôm nay, đến tham dự Hội thảo khoa học: Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 - Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử", với tư cách lãnh đạo địa phương, chúng tôi xin phát biểu ý kiến trong phạm vi trách nhiệm của tỉnh lúc bấy giờ nhằm góp phần làm rõ hơn đường lối chiến tranh nhân dân và sự phối hợp tác chiến giữa binh đoàn chủ lực và bộ đội địa phương, giữa bộ đội hai nước Việt Nam - Lao góp phần làm nên chiến thắng oanh liệt này. Như các đồng chí đã biết, Quảng Trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Bởi Quảng Trị ở vào đầu cầu giới tuyến, nơi có Đường 9 đi sang nước bạn Lào, có 2 nhánh tuyến vận tải chiến lược - đường Hồ Chí Minh đi qua. Nhằm đánh phá, cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của ta từ gốc, hủy diệt cơ sở hậu cần chiến lược và làm cho lực lượng vũ trang ta ở miền Nam suy yếu, không thể tập trung đánh lớn trong mùa khô năm 1971-1972, và để dỗ dàng thực hiện kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh", giành thế chủ động trên chiến trường, Mỹ - ngụy mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh vào vùng Đường 9 - Nam Lào. Biết trước mứu đồ đen tối của địch, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, với quy mô lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, bảo vệ vững chắc tuyến hành lang vận chuyển chiến lược và hậu phương của ta, tạo điều kiện cho các chiến trường khác đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch và đánh phá "bình định" của chúng. Ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ - ngụy mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" tấn công lớn ra Đường số 9 và Nam Lào. Chúng huy động một lực lượng lớn, gồm nhiều đơn vị cơ động chiến lược tinh nhuệ nhất của quân ngụy (với hơn 3 vạn quân), gồm quân dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân... Quân Mỹ hậu thuẫn phía sau và tham chiến cùng quân ngụy với 12 tiểu đoàn bộ binh và bộ binh cơ giới. Chúng tập trung một khối lượng lớn binh khí kỹ thuật với 450 xe tăng, xe thiết giáp; 250 khẩu pháo; hơn 700 máy bay các loại, trong đó có 500 máy bay lên thẳng và lên thẳng vũ trang, đây là số lượng máy bay lên thẳng tham gia chiến đấu lớn nhất và duy nhất trong một chiến dịch kéo dài 3 tháng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Ngoài ra còn có 300 máy bay phản lực hầu hết là tiêm kích bom, 50 máy bay vận tải (C130, C123) và 50 máy bay chiến lược B-52 sẵn sàng tham chiến. Riêng trên Mặt trận Đường 9 - Quảng Trị, chúng bố trí 200 máy bay, 300 khẩu pháo và đủ các loại vũ khí kỹ thuật hiện đại. Chúng lập căn cứ dày đặc dọc Đường 9 từ thị xã Đông Hà đến Khe Sanh - Lao Bảo, lấy căn cứ Đông Hà, Khe Sanh làm bàn đạp chủ yếu để tấn công vào vùng Nam Lào. Tiếp tay cho quân Mỹ và ngụy Sài Gòn là bọn ngụy Viêng Chăn và lính đánh thuê Thái Lan, từ các căn cứ Xê Nô và Pắc Xế, đánh vào phía Tây Đường 9 và cao nguyên Bô Lô Ven. Để đối phó với sức tấn công của địch, chúng ta bằng mọi giá phải bảo vệ bằng được tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh; bất luận hoàn cảnh nào cũng phải sẵn sàng để đánh địch trên các hướng, nếu địch đánh ra Đường 9 thì đó là cơ hội cho ta tiêu diệt chúng. Đây là chiến trường nối liền với hậu phương, ta có nhiều điều kiện phát huy sức mạnh của hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến, tập trung nhiều lực lượng, nhiều binh chủng đánh những trận hiệp đồng tiêu diệt lớn. Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng ngày 31 tháng 1 năm 1971 và thực hiện quyết tâm của Quân khu ủy, Ban chỉ đạo chiến dịch của Đảng bộ tỉnh chủ trương mở đợt hoạt động phối hợp với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Các đơn vị bộ đội của tỉnh, của huyện đứng chân ở giáp ranh cùng với lực lượng du kích các xã tổ chức đánh địch trên các trục giao thông chính, tấn công, bắn súng cối vào căn cứ quân sự, kết hợp với công tác diệt ác, trừ gian, hạn chế ách kìm kẹp của địch. Đồng thời đây mạnh công tác binh vận, tăng cường tuyên truyền vận động, đoàn kết quần chúng ở nông thôn đồng bằng. Nhân dân ở nhiều nơi nổi dậy, tổ chức được một số cuộc đấu tranh tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Nguyễn Văn Thiệu. Nhờ vậy, phong trào cách mạng ở Triệu - Hải và Gio - Cam từng bước được phục hồi, củng cố. Tham gia trên cánh nam của Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, phần lớn cán bộ, bộ đội, du kích và dân công ở Hướng Hóa được huy động vào nhiệm vụ phục vụ, phối hợp với bộ đội chủ lực của Quân khu Trị - Thiên (B4) để chiến đấu, ngăn chặn kịp thời các mùi tấn công của địch. Khi bộ đội hai nước Việt Nam - Lào nổ súng đánh vào Sê Pôn (8-2-1971), một cứ điểm xung yếu của địch ở Nam Lào, các lực lượng của B5 đánh địch dồn dập hơn bằng những trận pháo kích và tập kích vào các căn cứ hậu cần, các sở chỉ huy của địch ở Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử Cửa Việt, gây cho địch nhiều tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh, hạn chế sự chỉ đạo điều kiện cho các chiến trường khác đẩy mạnh tác chiến, phản công địch. Ngày 28 tháng 2 năm 1971, Tiểu đoàn Đặc công của Bộ cùng với Đại đội 5 (Tiểu đoàn 33) đánh kho Ái Tử, đốt cháy 1,5 triệu lít xăng. Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 27) cùng với Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị đánh địch ở Tà Cơn, tiêu diệt tại chỗ hàng trăm tên địch. Lực lượng vũ trang của Mặt trận Bắc Quảng Trị đánh mạnh vào các đường giao thông, tập kích sân bay, kho tàng, bến cảng, buộc địch phải tăng thêm 2 lữ đoàn Mỹ và 3 tiểu đoàn pháo binh để giải tỏa. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2023, 03:56:34 pm Giữa tháng 3 năm 1971, bộ đội đặc công của quân khu đánh chìm 4 tàu, làm cho đoạn sông Hiếu từ Đông Hà đến Cửa Việt bị tắc nghẽn giao thông 7 giờ liền. Trên Đường 9, đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông, các trung đoàn 2, 24, 102 chốt chặn cắt đường rút lui của địch. Phía nam Đường 9, Sư đoàn 2 vây đánh bọn lính thủy đánh bộ. Từ phía bắc, các trung đoàn 64, 36, 66 được các đơn vị xe tăng và pháo binh chiến dịch chi viện, tràn xuống vây ép cụm cứ điểm Bản Đông do 2 lữ đoàn dù và 2 trung đoàn thiết giáp ngụy đóng giữ. Ngày 18 tháng 3 năm 1971, địch bỏ Bản Đông tháo chạy. Binh lính địch rút lui hỗn loạn, nhiều đơn vị bỏ xe pháo luồn rừng chạy, sĩ quan rút bằng trực thăng, lính ngụy bám càng máy bay. Ngày 20 tháng 3 năm 1971, Bản Đông hoàn toàn giải phóng.
Trong những ngày từ 19 đến 23 tháng 3 năm 1971, Bộ Tư lệnh chiến dịch chuyển dịch đội hình về phía đông, kết hợp truy kích địch với tác chiến ngăn chặn, lần lượt tiêu diệt địch co cụm ở các khu vực Cha Ky, Huổi San, Lao Bảo, Làng Vây. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, phối hợp với lực lượng ở Đường 9 - Nam Lào, Bộ đội Đặc công B5 đã tập kích địch ở Tà Cơn. Một bộ phận lực lượng của ta phát triển đánh vào khu vực Khe Sanh làm cho địch náo loạn, co cụm không dám phản kích. Trong tình thế bị uy hiếp từ nhiều phía, đặc biệt là các điểm chốt dọc Đường 9 do Trung đoàn 24 và Trung đoàn 102 đảm nhiệm đánh địch ngày đêm và giữ vững trận địa không cho quân địch vượt qua; hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, xe vận tải quân sự bị cháy, hỏng dọc các điểm chốt cũng góp phần cản trở, ùn tắc làm cho quân địch không thể cơ động trên Đường 9 để về Lao Bảo, Khe Sanh, địch buộc phải vứt bỏ lại toàn bộ xe tăng, pháo cơ giới còn đang nổ máy để vượt qua phía nam sông Sê Pôn, sông Sê Băng Hiên chạy bộ vào rừng. Hàng nghìn xe tăng, máy bay, pháo cối của Mỹ - ngụy bị hư hỏng đưa về bỏ la liệt ở Đông Hà, thị xã Quảng Trị, thành phố Huế. Trong số lính chết, bị thương có một số quê ở Quảng Trị, nên đã làm cho hàng nghìn gia đình có chồng, con, em đi lính cho Mỹ - ngụy vô cùng lo sợ, hoảng hốt. Bà con rủ nhau kéo đến căn cứ địch, quận lỵ, tỉnh lỵ ngụy quyền Sài Gòn đấu tranh đòi xác người thân bị chết trận. Thực hiện chủ trương của Ban Binh vận Khu, cơ sở chính trị, binh vận của ta ở vùng địch tạm chiếm, chủ yếu là các mẹ, các chị đã hòa theo dòng người đi tìm xác chồng con, tuyên truyền chính sách của Mặt trận và chủ trương của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đối với binh sĩ. Các gia đình binh sĩ thì vào căn cứ, đồn bốt vận động binh lính không tham gia càn quét, quấy phá cuộc sống nhân dân. Như vậy, sau hơn 50 ngày đêm chiến đấu, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào với 3 đợt (từ 31-1 đến 23-3-1971) đã kết thúc thắng lợi. Trong kết quả thắng lợi ấy, quân và dân Quảng Trị rất tự hào là đã góp phần công sức và sự hy sinh to lớn để làm nên chiến công đầy hiển hách này. Thời gian đã lùi xa 40 năm, nhưng Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào mãi trở thành một sự kiện trọng đại trong lịch sử chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam, là điểm son chói lọi truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân Quảng Trị. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào là nguồn cổ vũ lớn lao cho công cuộc đổi mới xây dựng đất nước của hai nước Việt Nam - Lào nói chung và tỉnh Quảng Trị cũng như các tỉnh bạn nói riêng. Đường 9 nối từ Cửa Việt lên Lao Bảo năm xưa là bãi chiến trường, ghi đậm bao chiến công oanh liệt của quân và dân ta với những trận đánh không cân sức với địch. Hầu hết các xã ven Đường 9 là vùng đất trắng, bị địch chà xát không biết bao nhiêu lần bởi xe tăng, pháo hạm bắn vào; rừng núi, sông suối ken dày bom đạn, cây cối xác xơ bởi chất độc da cam năm nào, nhưng đến nay đang từng bước hồi sinh - "Đường 9 xanh". Những cánh rừng trơ trọi, đồi núi trọc nay được phủ màu xanh trở lại bởi bạt ngàn cây cao su, cà phê, hồ tiêu. Quá trình phát triển sản xuất, thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng cho dân, các trận địa xưa biến thành vườn cây, vườn rừng, trang trại; cây sắn, cây chuối, cây dong riềng... đã trở thành hàng hóa, giúp đồng bào xóa đói, giảm nghèo. Vùng đất chiến trường xưa thực sự thay da, đổi thịt và phát triển, số hộ dân thu nhập 50 triệu đồng mỗi năm trở lên tăng nhanh, đời sống của người dân no ấm, sinh hoạt ngày càng tiện nghi hơn. Thủy điện Rào Quán với vốn đầu tư hơn 4.000 tỷ đồng được xây dựng, cùng công trình đập thủy lợi ở Sanh Tràng đã đi vào hoạt động, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Những địa danh như Cửa Việt, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh, Làng Vây, Lao Bảo... bây giờ là địa chỉ của các tour (tua) du lịch, thu hút đông khách trong nước và quốc tế đến tham quan và hoài niệm chiến trường xưa. Khai thác thế mạnh tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây, quốc lộ 9 nay là con đường xuyên Á, mở rộng, vươn dài ra các nước trong khu vực và quốc tế; tình đoàn kết hữu nghị, hợp tác và phát triển giữa Quảng Trị với 2 tỉnh bạn Lào là Xa Van Na Khẹt và Xa La Van không ngừng được xây đắp, tốt đẹp. Lao Bảo đã trở thành khu kinh tế - thương mại và đang từng bước được đầu tư xây dựng để trở thành thành phố miền Tây Quảng Trị trong tương lai. Xây dựng, củng cố huyện Hướng Hóa, Đắc Krông và các huyện trên tuyến Đường 9 trọng yếu trở thành cụm tuyến kinh tế - quốc phòng vững chắc. Chiến tranh lùi xa, nhưng tình đồng đội vẫn còn nguyên vẹn. Thời gian qua, hàng vạn liệt sĩ được tìm kiếm, quy tập đưa vào Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn và Nghĩa trang liệt sĩ Đường 9 và nghĩa trang liệt sĩ các huyện, xã trong tỉnh. Đội quy tập mộ liệt sĩ 584 thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị và các đơn vị khác đã không ngại gian khó, băng rừng lội suối, nỗ lực dò tìm lại địa hình để tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ, để đưa các anh, các chị về an nghỉ với đồng đội, mối thấy ấm lòng, mới tròn trách nhiệm với người đã khuât. Những bài học kinh nghiệm quý báu được rút ra từ chiến thắng lịch sử này vẫn còn nguyên giá trị nghiên cứu, vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; vào việc củng cố và phát triển tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào nói chung, Quảng Trị và Xa Van Na Khẹt, Xa La Van nói riêng hiện nay cũng như tương lai. Với tấm lòng chân thành của toàn thể Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị, một lần nữa cho phép tôi cảm ơn Bộ Quốc phòng đã phối hợp tổ chức cuộc Hội thảo khoa học về sự kiện lịch sử mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng này; cảm ơn các vị tướng lĩnh, cựu chiến binh, các nhà khoa học và các nhân chứng lịch sử của hai nước Việt - Lào đã đến dự và tham luận góp phần làm rõ tầm vóc của chiến thắng; cảm ơn các đồng chí đại biểu của các tỉnh bạn, các cơ quan thông tấn, báo chí cùng toàn thể các cơ quan phục vụ..., đã góp phần tạo nên sự thành công cho cuộc Hội thảo này. Trân trọng cảm ơn các đồng chí! Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2023, 04:17:32 pm BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC "CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 TẦM VÓC, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ" Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN TUẤN DŨNG Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Cách đây 40 năm, vào mùa Xuân 1971, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, quân dân ta đã tiến hành Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào thắng lợi, "mở ra những triển vọng vô cùng tốt đẹp đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng"1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 tập 6 - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Dỏng Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.277). Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào diễn ra trong hơn 50 ngày đêm (từ 31-1 đến 23-3-1971). Đi tới và làm nên chiến công huyền thoại ấy, ngay từ khi địch đánh sang Campuchia (1970), Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã nhận định địch sẽ còn tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới trong thời gian tới và chỉ rõ phương hướng tiến công của địch trong mùa khô 1970-1971 là hành lang chiến lược Trung, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Quyết tâm của ta là nhất thiết phải bảo vệ bằng được đường mòn Hồ Chí Minh, phải chuẩn bị sẵn sàng để đánh địch trên các hướng. Vì thế, khi địch bắt đầu cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân ủy Trưng ương nhất thiết phải thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Trực tiếp tham gia Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào có Binh đoàn 70 (gồm ba sư đoàn 308, 304, 320), Sư đoàn 324, Sư đoàn 2, các đơn vị vũ trang Mặt trận B5 (Đường 9 - Bắc Quảng Trị), B4 (Quân khu Trị - Thiên), Đoàn 559, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo cao xạ, 3 trung đoàn công binh; 3 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ. Về phía bạn Lào, thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Mặt trận Lào yêu nước, lực lượng chủ lực, lực lượng địa phương và nhân dân các tỉnh Trung Lào đã đẩy mạnh tiến công địch, phối hợp chặt chõ với bộ đội tình nguyện Việt Nam đánh địch. Có thể nói, chiến thắng Đường 9 - Nam Lào là thành quả cách mạng của quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương; tài tổ chức, chỉ huy của Bộ Quốc phòng và tinh thần chiến đấu, phục vụ chiến đấu của các lực lượng vũ trang và nhân dân Mặt trận Đường 9 cùng sự phối hợp chiến đấu của quân dân nước bạn Lào. Trong chiến dịch này, bằng tinh thần chiến đấu quả cảm, ngoan cường, quân và dân ta đã hoàn thành thắng lợi trọn vẹn các mục tiêu đề ra: Tiêu diệt lớn và làm tan rã nhiều sinh lực dịch; giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược; làm tròn nhiệm vụ của một chiến dịch trên hướng chủ yếu, v.v... Với những thành tích to lớn đó, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Thắng lợi này là một đòn chí mạng đánh vào âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Đông Dương, vào âm mưu "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương", đồng thời đánh bại một bước quan trọng chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh" của chúng, làm cho tinh thần của Mỹ - ngụy vốn đã suy sụp càng suy sụp nhanh chóng. Đối với nhân dân Đông Dương, thắng lợi của chiến dịch đã tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến tranh trên chiến trường ba nước Đông Dương, làm cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước phát triền mạnh mẽ. Qua thắng lợi này, so sánh lực lượng và thế chiến lược trên chiến trường miền Nam nói riêng và trên chiến trường Đông Dương nói chung thay đổi nhanh chóng. Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào phản ánh sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta cả về trí thông minh, tài thao lược lẫn trình độ tác chiến. Trên thực tế, mặc dù kẻ thù đã huy động đến mức cao nhất cái gọi là "tiềm lực" và "ưu thế tuyệt đối" của binh khí kỹ thuật và phương tiện chiến tranh, nhưng bộ đội ta đã chiến đấu dũng mãnh, kiên quyết phản công và tiến công, chia cắt và vây hãm đội hình hành quân của địch, giáng cho chúng những đòn sấm sét, giành thắng lợi giờn giã. Thời gian qua đi, những dấu tích một thời trận mạc trên mảnh đất này có thể bị mờ phai theo năm tháng nhưng tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử của chiến thắng Đường 9 - Nam Lào vẫn vẹn nguyên giá trị. Trên tinh thần đó, nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, đồng thời hướng tới kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (5.9.1962 - 5.9.2012) và 35 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác Việt Nam - Lào (18.7.1977 - 18.7.2012), Ban Bí thư Trung ương Đảng giao Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Quảng Trị tổ chức Hội thảo khoa học "Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 - Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử". Trong cuộc Hội thao hôm nay, chúng ta cần tập trung làm sâu sắc hơn, sáng tỏ hơn những vấn đề sau đây: Một là, cần nêu bật vai trò, sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương; sự phát triển, trưởng thành vượt bậc về chỉ đạo, điều hành chiến dịch của Bộ Quốc phòng trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Đã 40 năm trôi qua, cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, nhưng chưa có một công trình nào phản ánh một cách đầy đủ, toàn diện vai trò, sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sâu sát, kịp thời là đảm bảo hàng đầu cho thắng lợi to lớn cho chiến dịch. Hai là, đi sâu phân tích, đánh giá nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong tổ chức và điều hành chiến dịch. Điển hình như việc giành và giữ quyền chủ động suốt từ mở đầu đến khi kết thúc chiến dịch; phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực cơ động với lực lượng tại chỗ, tạo thành sức mạnh tổng hợp đánh thắng kẻ địch có quân đông, trang bị vũ khí hiện đại, v.v... Những nét độc đáo của nghệ thuật quân sự trong chiến dịch này cần được chắt lọc vận dụng sáng tạo vào yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, quyết tâm "bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ;... bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch...", theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Ba là, cần làm rõ sự chủ động, sáng tạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương nơi chiến dịch diễn ra; sự ủng hộ, giúp đỡ và tinh thần hết mình phục vụ chiến đấu của các địa phương trong thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Bốn là, làm rõ tình đoàn kết và liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, qua đó, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc và chia rẽ mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Lịch sử đã minh chứng, tình đoàn kết và liên minh chiến đấu Việt - Lào xuất phát từ những điểm tương đồng về địa lý, lịch sử, văn hoá, đặc biệt là nhu cầu chống thù chung vì nền tự do, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, vì hạnh phúc của nhân dân mỗi nước. Tình đoàn kết đó được củng cố, bồi đắp bằng mồ hôi, xương máu của biết bao cán bộ, chiến sĩ và nhân dân hai nước Việt - Lào. Tình đoàn kết đó phải tiếp tục được phát huy mạnh mẽ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay ở mỗi nước. Năm là, tiếp tục khẳng định và làm sáng tỏ tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử của chiến thắng Đường 9 - Nam Lào; phân tích nguyên nhân cơ bản dẫn đến thắng lợi, đúc rút những bài học kinh nghiệm, thông qua đó gợi mở, vận dụng và phát huy giá trị những bài học kinh nghiệm vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Lịch sử diễn ra một lần nhưng nhận thức về nó không chỉ một lần. Với ý nghĩa đó, xuất phát từ quan điểm khách quan, khoa học, dựa trên những tư liệu tin cậy và bằng phương pháp nghiên cứu đúng đắn, Hội thảo khoa học "Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 - Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử" sẽ góp phần nhìn nhận một cách đầy đủ, sâu sắc và có sức thuyết phục về tầm vóc, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi của chiến dịch này. Kết quả Hội thảo sẽ cung cấp những cứ liệu quan trọng để bổ sung vào lịch sử kháng chiến, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam và lịch sử mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Cuộc Hội thảo này còn nhằm tôn vinh và tri ân đối với các anh hùng, liệt sĩ, với đồng bào, đồng chí đã chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; khơi dậy niềm tự hào dân tộc và góp phần giáo dục truyền thống lịch sử, nhất là đối với thế hệ trẻ. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2023, 04:23:45 pm CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VẬN DỤNG TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY Đại tướng PHÙNG QUANG THANH Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quán ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên mỗi chặng đường chiến đấu và chiến thắng, quân và dân ta đã tổ chức những trận đánh với quy mô thích hợp, nhằm tạo bước ngoặt, tăng thế và lực cho ta, đồng thời đẩy địch vào thế bị động đối phó, từng bước đi đến thất bại hoàn toàn. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào diễn ra 40 năm trước là một trong những trận đánh như vậy. Đánh giá về tầm vóc, ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch này, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 21 (10-1973) khẳng định: "Chiến thắng Đường số 9 - Nam Lào là một đòn bất ngờ đánh vào chiến lược của Nichxơn, mở ra khả năng mới đánh bại chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 34, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 217). Thắng lợi trên chiến trường Đường 9 - Nam Lào đã làm thất bại hoàn toàn ý đồ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn hòng chặt đứt tuyến hậu cần chiến lược của ta, cô lập cuộc kháng chiến ở miền Nam cũng như ở Campuchia và Lào1 (Ý đồ của Mỹ trong việc mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương là nhằm cô lập đi tới bóp nghẹt cuộc kháng chiến của quân và dân ta trên chiến trường chính miền Nam. Để thực hiện ý đồ đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở 3 cuộc tiến công, gồm: Toàn Thắng 1-71 đánh sang Đông Bắc Campuchia, Quang Trung 4 đánh sang vùng 3 biên giới (Bắc Tây Nguyên - Tà Xẻng, Pa Kha, Sô Sụ (A Tô Pơ - Lào) và Lam Sơn 719 đánh sang khu vực Đường 9 - Nam Lào. Trong 3 cuộc tiến công nói trên, Lam Sơn 719 được xác định là trọng điểm, diễn ra trên địa bàn rộng, gồm tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào), nhằm mục tiêu chủ yếu là chặt đứt tuyến chi viện chiến lược của ta ở khu vực Đường 9 từ Bản Đông qua Sê Pôn, Mường Phìn đến Pha Lan). Tại đây, kế hoạch tiến công mang mật danh hành quân "Lam Sơn 719" được Mỹ và chính quyền Sài Gòn chuẩn bị kỹ càng, đặt nhiều tham vọng, nhằm nhiều mục tiêu, nhưng đã bị phá sản. Về mặt quân sự, Mỹ và chính quyền Sài Gòn muốn thử nghiệm công thức chiến lược của "Việt Nam hóa chiến tranh": bộ binh Sài Gòn + hỏa lực + hậu cần Mỹ, nhằm thông qua một cuộc hành quân quy mô lớn để thử thách và nếu thành công, sẽ chứng tỏ quân đội Sài Gòn đủ khả năng thay thế vai trò của quân chiến đấu Mỹ trên chiến trường. Để đạt được mục đích và tham vọng trên, Mỹ - ngụy đã huy động một lực lượng rất lớn lên tới 42 nghìn quân; trong đó, quân đội Sài Gòn có 33 nghìn (gồm các đơn vị thiện chiến nhất và cả lực lượng dự bị chiến lược là thủy quân lục chiến và quân dù2 (Lực lượng địch lúc cao nhất (10-3-1971) lên tới 55 nghìn quân, gồm có 15 trung đoàn bộ binh, dù, thủy quân lục chiến, 3 lữ đoàn thiết giáp (587 xe tăng xe bọc thép), 21 tiểu đoàn pháo binh (318 khẩu), 1.000 máy bay các loại .. Ngoài ra, còn có khoảng 9 tiểu đoàn bộ binh thuộc 2 binh đoàn cơ động ngụy Lào (GM 31, GM 33) tham gia phối hợp đánh ra vùng Mường Noọng, Mường Phìn ở phía Tây Đường 9)) và 9 nghìn quân Mỹ, với sự yểm trợ của không quân, hải quân, pháo binh... của Mỹ. Chúng dự định tiến hành chiến dịch trong khoảng 3 tháng, với 4 giai đoạn và kết thúc trước mùa mưa năm 19711 (Bốn giai đoạn: Từ ngày 30 tháng 1 đến 7 tháng 2 năm 1971, chiếm lĩnh bàn đạp xuất phát tiến công; từ ngày 8 đến 12 tháng 2 năm 1971, đánh chiếm các mục tiêu Bản Đông - Sê Pôn; từ ngày 15 tháng 2 đến 12 tháng 3 năm 1971, đánh phá các kho tàng ở các khu vực Sê Pôn - Bản Đông; từ 13 tháng 3 đến đầu tháng 5 năm 1971, chuyển hướng đánh phá các kho tàng ở phía Nam Sa Đê, Mường Noọng, A Túc, A Sầu, A Lưới (Trị Thiên)). Trên cơ sở bám sát diễn biến chiến trường, nắm chắc âm mưu của địch, Bộ Tổng Tham mưu đã sớm nhận định tình hình, nhất là về địch, phán đoán đúng ý đồ hành động của chúng, kịp thời xác định biện pháp đối phó. Cuối tháng 1 năm 1971, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đồng ý với nhận định của Bộ Tổng Tham mưu: Cuộc hành quân ra Đường 9 - Nam Lào, với lực lượng và phương tiện chiến tranh hiện đại, nhằm cắt đứt tuyến vận tải chiến lược Bắc - Nam của ta là một bước phiêu lưu quân sự cực kỳ nghiêm trọng của đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Hành động trên của địch sẽ gây cho ta nhiều khó khăn, nhưng lại tạo cho ta cơ hội và thời cơ thuận lợi để ta tranh thủ tiêu diệt địch. Đồng thời, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhấn mạnh: Trong bất cứ tình huống nào cũng phải đánh bại cuộc hành quân của địch, tiêu diệt cho được một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược của chúng, bảo vệ cho kỳ được kho tàng và bảo đảm công tác vận tải chi viện cho các chiến trường. Nhằm thực hiện quyết tâm đã xác định, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch phản công tiêu diệt lớn quân địch. Bộ Quốc phòng chỉ đạo các cơ quan triển khai xây dựng kế hoạch tác chiến, tổ chức lực lượng, chuẩn bị chiến trường chu đáo, chính xác, tạo thế trận phản công địch. Đặc biệt, về mặt lực lượng, chúng ta hình thành B70, tiếp đó là B702 - Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (tương đương quân khu), bao gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo cao xạ, 3 trung đoàn công binh, 3 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, một số tiểu đoàn đặc công cùng với lực lượng tại chỗ của các mặt trận: B5 (Đường 9 - Bắc Quảng Trị), B4 (Quân khu Trị - Thiên), Đoàn 559; chỉ huy chiến dịch là những cán bộ dày dạn kinh nghiệm1 (Theo Quyết định số 51/QĐ-QP, ngày 4 tháng 2 năm 1971, về thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào của Bộ Quốc phòng: Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Đại tá Cao Văn Khánh làm Phó Tư lệnh, Đại tá Phạm Hồng Sơn làm Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng, Đại tá Hoàng Phương làm Phó Chính ủy. Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng được cứ làm đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, trực tiếp chỉ đạo Mặt trận Đường 9). Có thể thấy, việc ta bố trí, sử dụng một lực lượng rất mạnh để đối phó với cuộc hành quân lớn của địch, ngay từ đầu đã tạo được một thế trận chủ động, khiến địch bất ngờ. Điều quan trọng là nhiều mục tiêu chiến lược mà chúng đặt ra cho cuộc hành quân đã sớm bị quân ta triệt tiêu. Bằng sức mạnh của lực lượng binh chủng hợp thành, trong quá trình chiến đấu, thế trận phản công của ta chuyển hóa thành thế trận tiến công truy kích, làm thất bại hoàn toàn kế hoạch tiến công của địch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2023, 04:24:49 pm Sau hơn 50 ngày đêm liên tục phản công và tiến công, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi vang dội. Ta đã đánh thiệt hại nặng 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 21.000 tên địch, bắn rơi và phá hủy 556 máy bay, 528 xe tăng, xe bọc thép, 112 khẩu pháo và súng cối, thu 2 máy bay trực thăng, 24 xe quân sự, 78 khẩu pháo và súng cối, hơn 2.000 súng bộ binh và nhiều trang dụng quân sự khác.
Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào đầu năm 1971 tác động mạnh đến cục diện chiến trường, giáng một đòn nặng vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Chiến thắng lịch sử đó thực sự đánh dấu bước trưởng thành mới của quân đội ta. Giờ đây, sau 40 năm nhìn lại, chúng ta có thểm điều kiện nhận thức sâu sắc hơn tầm vóc, ý nghĩa của chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, tài thao lược của Đảng ta, mà trực tiếp là Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương - bộ não chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là thắng lợi rực rỡ của khối đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung và tình hữu nghị thắm thiết của quân và dân Việt Nam - Lào, của quân và dân ba nước Đông Dương. Vì thế, tôi cho rằng cuộc Hội thảo này có ý nghĩa rất thiết thực về nhiều mặt. Mục đích của cuộc Hội thảo không chỉ dừng lại ở việc làm rõ và đi đến khẳng định thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971 đã tạo bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; mà điều quan trọng là thắng lợi đó đã để lại những bài học kinh nghiệm quý, cần được tiếp tục nghiên cứu vận dụng, phát huy trong công cuộc xây dựng quân đội, tăng cường quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Trước hết là, bài học về sự chỉ đạo chiến lược và chiến dịch tài tình, sắc bén trên cơ sở nắm vững tình hình địch, phán đoán chính xác âm mưu, khả năng, ý đồ hành động của chúng, đề ra chủ trưởng, quyết tâm và kế hoạch tác chiến đúng, kịp thời. Sự chỉ đạo ấy bắt nguồn từ đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo; từ nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân độc đáo; từ lập trường cách mạng triệt để, tư tưởng cách mạng tiến công, quyết tâm đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ - ngụy Sài Gòn. Trước hết, là đánh bại ý đồ của chúng: đánh chiếm Sê Pôn, phá tuyến vận tải chiến lược của ta từ gốc, triệt phá kho tàng, nhằm làm cho lực lượng chủ lực của ta bị suy yếu, không thể đánh tập trung lớn trong mùa khô 1971 và cả trong năm 1972, buộc phải quay về hoạt động nhỏ lẻ, phân tán. Sự chỉ đạo tài tình của Đảng còn được thể hiện tập trung trong việc nắm vững và đánh giá đúng kẻ địch, hạ quyết tâm chính xác, tổ chức thực hành chiến dịch chu đáo, linh hoạt, khẩn trương, đạt mục đích kiên quyết của chiến dịch, hoàn thành xuất sắc nhiêm vụ đề ra. Ngay từ giữa năm 1970, ta đã nhận định và đánh giá chính xác về thế chiến lược so sánh lực lượng giữa ta và địch, Bộ Chính trị dự đoán trong mùa khô sắp tới, đế quốc Mỹ có thể có những hành động phiêu lưu mới, có thể chúng sẽ đánh Trung - Hạ Lào và vùng giải phóng Đông Bắc Campuchia và chắc chắn sẽ đánh phá ác liệt tuyến đường Hồ Chí Minh. Bộ Chính trị chỉ thị cho các chiến trường chuẩn bị sẵn sàng đánh địch trên hướng Đường 9, vùng ba biên giới và Đông Bắc Campuchia, thực hiện quyết tâm chiến lược: phải đánh tiêu diệt lớn sinh lực địch bảo vệ bằng được tuyến vận tải Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh và cơ quan, kho tàng, làm thất bại hoàn toàn cuộc tiến công mùa khô của địch. Bộ Chính trị yêu cầu Quân ủy Trung ương chỉ đạo các cơ quan Bộ Quốc phòng xây dựng phương án tác chiến, tổ chức lực lượng mạnh để giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Cũng do nắm chắc âm mưu cơ bản của địch, trong quá trình thực hành chiến dịch (sau khi bẻ gãy các hướng tiến công dọc Đường 9 và khu vực phía bắc, phía tây và đông Đường 9 của chúng1 (Trong tuần đầu của chiến dịch: Từ ngày 8 đến ngày 14 tháng 2 năm 1971)) ta đã phán đoán đúng hai khả năng có thể xảy ra: một là, địch ngoan cố tiếp tục tiến công lên Sê Pôn để cố thực hiện mục đích đã vạch ra hoặc với mục đích hạn chế hơn nhằm vớt vát ảnh hưởng về chính trị; hai là, địch chuyển xuống hướng Nam. Trong hai khả năng này ta nhấn mạnh khả năng thứ nhất, do đó đã có những biện pháp để tăng cường phòng thủ ở Sê Pôn và thực tế đã diễn ra đúng như vậy, buộc địch phải điều chỉnh lại kế hoạch, từ bỏ âm mưu đánh chiếm Sê Pôn - mục tiêu quan trọng nhất trong cuộc hành quân của chúng. Điều đó cho thấy sự chỉ đạo chiến dịch sắc sảo của ta: đã nắm vững và khoét sâu sai lầm của địch trong cuộc hành quân, chủ động đánh địch, khiến cho địch ngày càng bị động đối phó và thất bại. Bài học trên còn nguyên giá trị trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. Là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược này, quân đội nhân dân phải nắm chắc, dự báo chính xác, đánh giá đúng tình hình, nhất là những diễn biến phức tạp liên quan, tác động đến quốc phòng - an ninh của đất nước. Trên cơ sở đó, chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chiến lược bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, có biện pháp đối phó hiệu quả với mọi tình huống xảy ra, kiên quyết không để bị động, bất ngờ, bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình ổn định để phát triển toàn diện đất nước. Hai là, bài học về sự chủ động chuẩn bị chiến trường và phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng cơ động kết hợp với lực lượng tại chỗ, của các binh chủng, của ba thứ quân trong suốt quá trình thực hành chiến dịch. Có thể khẳng định một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971 là ta đã chủ động tổ chức chiến trường, chuẩn bị lực lượng và hướng tiến công chiến lược. Với tầm nhìn chiến lược, tư duy quân sự sắc sảo, nên ngay sau khi quân Mỹ vào tham chiến ở chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chủ trương phân định, tổ chức lại chiến trường, nhằm đáp ứng yêu cầu tác chiến với đối tượng mới. Theo phương hướng đó, tháng 6 năm 1966, Quân ủy Trung ương đã quyết định thành lập Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (mật danh 135) phụ trách địa bàn từ Vĩ tuyến 17 đến Bắc sông Thạch Hãn từ Cửa Việt đến Khe Sanh, Hướng Hóa. Đây là hướng tiến công quan trọng, một chiến trường đánh tiêu diệt thu hút, giam chân một lực lượng lớn quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn; tạo điều kiện cho các chiến trường khác tiến công địch, đặc biệt là vùng đồng bằng Trị - Thiên đồng thời ngăn chặn chúng mở rộng chiến tranh trên bộ ra miền Bắc1 (Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (1966-1973), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001). Việc hình thành từ sớm một chiến trường có giá trị chiến lược đã cho phóp quân và dân ta tổ chức các trận đánh lớn bao vây, tiêu hao, tiêu diệt nhiều đơn vị quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn, tiêu biểu là Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (Xuân Hè 1968 - hướng phối hợp quan trọng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968). Qua những trận đánh trên, bộ đội ta được rèn luyện về mọi mặt, nhất là thuộc địa bàn, thành thạo tác chiến ở địa hình rừng núi. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2023, 04:26:41 pm Một trong những nét đặc sắc nhất về nghệ thuật tác chiến trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào - một chiến dịch mà ta đã sử dụng nhiều binh chủng kỹ thuật và thực hành tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn là đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các binh chủng; đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ trong suốt quá trình thực hành chiến dịch. Thực tiễn Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào cho thấy, việc tổ chức, chuẩn bị chiến trường cho chiến dịch có quy mô lớn như thế phải thực hiện tốt các nội dung: tổ chức hệ thống đường cơ động; trinh sát chiến trường tổ chức căn cứ hậu cần, kỹ thuật; dự trữ vật chất; bảo đảm hệ thống thông tin chỉ huy; xây dựng công sự trận địa vững chắc, v.v.
Vận dụng bài học này trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chúng ta phải coi trọng hơn nữa việc đẩy mạnh xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc về chiều sâu theo Nghị quyết 28/NQ-TW của Bộ Chính trị; đồng thời, tích cực xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, nhất là những địa bàn trọng điểm, chiến lược, nhằm không ngừng nâng cao khả năng phòng thủ đất nước. Trong quá trình xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh phải coi trọng tính toàn diện, với yêu cầu sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi xảy ra chiến tranh xâm lược. Đặc biệt, phải coi trọng xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang nhân dân (ba thứ quân), trước hết là quân đội nhân dân, nhằm đảm bảo cho các lực lượng phát huy tốt vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ba là, bài học về xây dựng khối chủ lực cơ động mạnh, đảm bảo cho những trận đánh then chốt, tiêu diệt lớn quân địch, giành thắng lợi quyết định. Bên cạnh việc chuẩn bị tốt chiến trường, còn phải có lực lượng mạnh (bao gồm lực lượng tại chỗ và chủ lực cơ động), đủ sức hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu chiến lược, chiến dịch đặt ra. Yêu cầu chiến lược đối với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào nhằm hai mục tiêu cơ bản: vừa tiêu diệt lực lượng chủ yếu của địch, vừa bảo vệ vững chắc tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Để hoàn thành nhiệm vụ trên, chúng ta đã chủ động thực hiện tốt công tác xây dựng, tổ chức lực lượng, trước hết là lực lượng tại chỗ (Đoàn 559, B4, B5); đồng thời, xây dựng khối chủ lực, gồm: các sư đoàn bộ binh có biên chế hỏa lực mạnh, phương tiện chiến đấu lớn, có khả năng cơ động cao. Ngay từ tháng 10 năm 1970, ta đã thành lập Binh đoàn B70 - một dạng tổ chức quân đoàn binh chủng hợp thành, gồm 3 sư đoàn (304, 308, 320) và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng. Đến đầu năm 1971, nhằm thống nhất chỉ huy các lực lượng trên toàn Mặt trận Đường 9, ta hình thành tổ chức mới mang mật danh B702, với nòng cốt 5 sư đoàn chủ lực (304, 308, 320, 324, 2). Quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của các sư đoàn gắn liền với những chiến dịch lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược. Trong số 5 sư đoàn ta sử dụng trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, có 3 đơn vị ra đời từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (304, 308, 320), 1 sư đoàn (324) ra đời tại chiến trường nóng bỏng Trị - Thiẽn và 1 sư đoàn (2) hình thành trên mảnh đất Khu 5 đi đầu diệt Mỹ. Đây là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội ta sử dụng 5 sư đoàn trong một chiến dịch. Điều đó cho thấy vị trí quan trọng của chiến dịch này trong tính toán chiến lược của cả ta và đối phương. Sử dụng khối chủ lực mạnh, đánh những đòn tiêu diệt lớn, quyết định chiến cục của một chiến dịch mang tầm chiến lược, sự tính toán ấy của Bộ Thống soái tối cao đã đạt được mục tiêu đặt ra. Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào giành thắng lợi, trong đó, vai trò khối chủ lực được khẳng định; đồng thời, cũng chứng tỏ sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả giữa lực lượng chủ lực - cơ động với lực lượng tại chỗ. Thực tế chiến dịch cho thấy, lực lượng chủ lực - cơ động muốn tiến hành phản đột kích lớn và chuyển phản công sang tiến công phải dựa trên cơ sở lực lượng tại chỗ mạnh, đánh địch rộng khắp, tạo thế, tạo thời cơ. Lực lượng tại chỗ thuộc Đoàn 559, B4 và 135 góp phần quan trọng trong việc tiêu hao, ngăn chặn địch, đánh máy bay, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực cơ động đánh những trận tập trung tiêu diệt lớn quân địch. Nếu lực lượng tại chỗ của Đoàn 559, 134 và B5 không mạnh, chiến đấu không có hiệu quả, thì chủ lực cơ động từ xa đến sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong chuẩn bị, tổ chức và thực hành chiến dịch, sẽ mất thời cơ diệt dịch và Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào không thể giành được thắng lợi lớn. Có thể nói, vấn đề tổ chức lực lượng chủ lực cơ động chiến lược luôn là vấn đề cốt yếu trong suốt quá trình xây dựng quân đội. Hiện nay, chúng ta phải quán triệt và đẩy mạnh thực hiện xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã xác định. Trong đó, tập trung đầu tư hiện đại hóa một số lực lượng quan trọng, mang tính cấp thiết như: Quân chủng Hải quân, Phòng không - Không quân, Binh chủng Thông tin liên lạc, tác chiến điện tử, trinh sát kỹ thuật. Đồng thời, chú trọng điều chỉnh tổ chức lực lượng phù hợp; xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn giỏi, đủ khả năng khai thác và làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật được giao. Trên cơ sở đó, không ngừng nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội, đảm bảo cho quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Bốn là, bài học về thực hiện tốt công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu chiến đấu liên tục, dài ngày, ác liệt của các lực lượng tham gia chiến dịch. Trong chiến tranh, công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật là nhiệm vụ không thể thiếu, một nhân tố quan trọng góp phần quyết định thắng lợi. Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971, chúng ta đã đưa vào chiến đấu một lực lượng lớn, tác chiến binh chủng hợp thành, đòi hỏi công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật phải được chuẩn bị tổ chức chu đáo, vững chắc, trên các quy mô: hậu cần các đơn vị chủ lực cơ động, hậu cần tại chỗ, hậu cần chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Thực tiễn chiến dịch cho thấy chúng ta đã thực hiện rất tốt yêu cầu trên. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2023, 04:28:50 pm Từ cuối năm 1970, cùng với sự hình thành Binh đoàn 70 lực lượng bảo đảm hậu cần cũng được chấn chỉnh, tổ chức thành đơn vị cấp cục (Cục Hậu cần Binh đoàn, gồm các bộ phận tham mưu, chính trị, vận tải, quân nhu, quân y, quân giới, xăng xe và các đơn vị trực thuộc). Với tinh thần chủ động, cơ quan hậu cần - kỹ thuật đã nhanh chóng triển khai lập kế hoạch bảo đảm theo ý định tác chiến, tổ chức nghiên cứu chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Bản Đông theo trục đường 16, hiệp đồng với Binh trạm 17 (Cục Vận tải) và Binh trạm 27 (Đoàn 559) để vận chuyển hàng từ binh trạm vào các cụm hậu cần chiến dịch. Quá trình chuẩn bị, bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho chiến dịch phản công rất phức tạp, nhiều khó khăn và thực sự là một kỳ công. Song, với sự nỗ lực cao, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, bộ phận bảo đảm của nhiều đơn vị, cùng với thuận lợi địa bàn chiến dịch gần hậu phương lớn miền Bắc, chúng ta đã tạo được mạng lưới hậu cần - kỹ thuật liên hoàn, vững chắc. Chỉ trong thời gian ngắn (1-1971), ngành Hậu cần - Kỹ thuật đã dự trữ được lượng vật chất bảo đảm trên các hướng chiến dịch lên tới 6.385 tấn, đủ cho 3 đến 6 vạn quân tác chiến trong thời gian từ 4 đến 5 tháng1 (Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập II (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 396-397).
Có thể nói, tuy đây là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta tổ chức một chiến dịch quy mô lớn, nhưng các đơn vị tham gia tác chiến đã được bảo đảm hậu cần - kỹ thuật đầy đủ, kịp thời, được bảo đảm cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật nhanh chóng, đạn dược đáp ứng đủ yêu cầu tác chiến, bộ đội ăn no, tỷ lệ quân số khỏe cao từ đầu đến cuối chiến dịch1 (Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Sđd, tr. 400). Nhờ đó, đã duy trì sức mạnh chiến đấu cao của các lực lượng tham gia chiến dịch trong điều kiện tác chiến liên tục, ác liệt và dài ngày. Hiện nay, trong bối cảnh đất nước hòa bình, công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho quân đội có những thuận lợi cơ bản. Nhưng kinh nghiệm về công tác này được rút ra qua Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào vẫn rất hữu ích, trước hết là đối với ngành Hậu cần, ngành Kỹ thuật trong quân đội. Đặc biệt, cần tiếp tục phát huy tính chủ động, sáng tạo, di trước một bước, chuẩn bị chu đáo, kịp thời, vững chắc trong công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng hệ thống tổ chức hậu cần, kỹ thuật các cấp (cả chiến lược, chiến dịch, chiến đấu) ngày càng hoàn thiện, đáp ứng tốt yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân trong cả thời bình và thời chiến. Năm là, bài học về sự phối hợp hoạt động chặt chẽ giữa các chiến trường, đặc biệt là sự phối hợp chiến đấu giữa quân và dân Việt Nam - Lào, phát huy hiệu quả liên minh đoàn kết chiến đấu của ba nước Đông Dương. Ngay từ khi địch có ý định và triển khai thực hiện kế hoạch hành quân trên ba hướng, trong đó tập trung lực lượng lớn cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719", chúng ta đã kịp thời nắm, đánh giá chính xác tình hình và nhận định đúng: địch đưa ra lực lượng tuyến ngoài thì ở tuyến trong sẽ bộc lộ sơ hở lớn, ta có điều kiện để đánh phá kế hoạch bình định của chúng. Do đó, Bộ Chính trị đã chỉ thị cho các chiến trường phải nhân cơ hội này, đẩy mạnh phong trào tiến công và nổi dậy, phối hợp chiến đấu chặt chẽ giữa các chiến trường. Ở Khu 5 và Tây Nguyên, ta đánh phá "bình định" có kết quả tốt; các chiến trường khác cũng đã đẩy mạnh được hoạt động phá lỏng, phá rã sự kìm kẹp của quân đội và chính quyền Sài Gòn. Đặc biệt, quân và dân chiến trường Tây Nguyên đã phối hợp nhịp nhàng với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, bẻ gãy cuộc hành quân ra vùng Phi Hà của địch. Ở Campuchia, ta đã phối hợp tốt với bạn, làm thất bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" của địch ở khu vực Công Pông Chàm, đập tan ý đồ của địch hành quân lên Kra Chiê, buộc chúng phải lui về củng cố tuyến đường 7. Tại đây, địch đã không thực hiện được âm mưu đánh vào vùng căn cứ, phá hoại hậu phương của ta, trái lại còn bị ta diệt nhiều sinh lực và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Trên chiến trường Lào, ta đã cùng với lực lượng vũ trang của bạn đẩy mạnh hoạt động tác chiến, thực hành tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực địch; giải phóng được một số vùng thuộc phía đông cao nguyên Bô Lô Ven, Bắc Luông Pha Băng và ở Cánh Đồng Chum; đặc biệt, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" sang khu vực Đường 9 - Nam Lào. Thực hiện phương châm chiến lược "Đông Dương là một chiến trường", "chung chiến hào đánh Mỹ", các lực lượng cách mạng trên ba chiến trường Nam Việt Nam, Lào và Campuchia đã phối hợp chặt chẽ với nhau trong mọi hoạt động tạo điều kiện cho nhau và cùng nhau giành thắng lợi to lớn. Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là minh chứng cho sự phối hợp chiến đấu nhịp nhàng, đơn vị bộ đội Pathét Lào thuộc Quân khu Nam Lào. Ta và bạn đã sát cánh chiến đấu, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch hòng chiếm Sê Pôn - mục tiêu then chốt của cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Thắng lợi trên chiến trường Đường 9 - Nam Lào là chiến công chung, thấm đẫm tình đoàn kết chiến đấu keo sơn của quân và dân hai nước Việt Nam - Lào. Đó chính là ý nghĩa quốc tế to lớn của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971. Liên minh đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương Việt - Lào - Campuchia trong những năm tháng kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, là di sản lịch sử quý báu góp phần quan trọng vào việc hình thành, củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị đặc biệt trong sáng, thủy chung giữa ba dân tộc. Ngày nay, trên cơ sở quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, chúng ta phải tiếp tục gìn giữ, vun đắp và phát triển mới quan hệ đoàn kết quốc tế đó lên tầm cao mới, vì sự nghiệp cách mạng của mỗi nước và sự trường tồn của mỗi dân tộc trên bán đảo Đông Dương. Hội thảo khoa học về Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào lần này, tôi đề nghị chúng ta cần tập trung đi sâu tìm hiểu, phân tích, luận giải những vấn đề mới, nhất là loại hình chiến dịch phản công làm cơ sở cho việc vận dụng trong xây dựng các phương án, kế hoạch, tổ chức lực lượng, huấn luyện... đáp ứng yêu cầu tác chiến mới của Quân đội nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Chín, 2023, 07:39:44 am CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971, BƯỚC PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG VỀ CHỈ ĐẠO TÁC CHIẾN CỦA BỘ TỔNG THAM MƯU TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC Trung tướng Đỗ Bá Tỵ Ủy viên Trung Ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng tham mưu trưởng QDNDVN, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 là thắng lợi rực rõ của đường lối kháng chiến chống Mỹ xâm lược, của đường lối quân sự và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta trong giai đoạn địch triển khai chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Đó cũng là thắng lợi của quân và dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung trên bán đảo Đông Dương. Thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là thắng lợi rất to lớn, toàn diện, có ý nghĩa chiến lược; để lại cho ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, làm phong phú thêm kho tàng lý luận quân sự Việt Nam. Ngay từ giữa năm 1970, cơ quan tham mưu chiến lược của ta đã sớm nhận định: sau khi kết thúc cuộc tiến công sang Campuchia, Mỹ và quân đội Sài Gòn sẽ mở một số cuộc hành quân lớn đánh phá hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam, trọng điểm là hướng Đường 9 - Nam Lào, nhằm triệt phá "đầu nguồn" và "bóp nghẹt từ cuống họng" tuyến chi viện chiến lược của ta. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã thống nhất nhận định, đây là hành động phiêu lưu quân sự cực kỳ nghiêm trọng, nhưng cũng là một sai lầm về chiến lược của địch. Phân tích kỹ tình hình địch, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu xác định nếu địch đánh ra Đường 9 Nam Lào sẽ là thời cơ để ta tập trung lực lượng mở chiến dịch phản công bằng sức mạnh tác chiến binh chủng hợp thành quy mô lớn, kiên quyết tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng, kiên quyết bảo vệ căn cứ kho tàng, giữ vững tuyến vận tải chiến lược chi viện chiến trường (không phải đánh xong rồi rút quân), sẵn sàng đánh địch tiến công ra Nam Khu 4; phối hợp chặt chẽ với các chiến trường trên toàn miền Nam và chiến trường hai nước bạn, làm thất bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và âm mưu "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương" của đế quốc Mỹ; đồng thời, là cơ hội để ta rèn luyện bộ đội chủ lực tác chiến hiệp đồng binh chủng ở chiến trường rừng núi. Như vậy, mục đích chiến dịch gắn liền với yêu cầu về chiến lược. Do đó, trong suốt quá trình tổ chức chuẩn bị và điều hành chiến dịch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương luôn yêu cầu "nhất thiết phải đánh thắng trận này", vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Đối với Bộ Tổng Tham mưu, đây là lần đầu tiên được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương giao trực tiếp tổ chức, chỉ huy chiến dịch phản công bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn trên chiến trường miền Nam. Quán triệt sâu sắc ý nghĩa chiến dịch, Đảng ủy và Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu tập trung lãnh đạo công tác chỉ đạo chiến trường, trong đó chỉ đạo tác chiến Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Để từng bước xây dựng một cơ quan chỉ huy đủ tầm tổ chức và điều hành chiến dịch quy mô lớn, tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã chấp thuận đề xuất của Bộ Tổng Tham mưu cho thành lập Bộ Tư lệnh 70 (B70) có quyền hạn tương đương Bộ Tư lệnh quân khu (với lực lượng bao gồm các sư đoàn bộ binh 304, 308, 320, Trung đoàn pháo binh 45, Trung đoàn cao xạ 241, Trung đoàn công binh 219, một số đơn vị binh chủng khác). Việc thành lập Bộ Tư lệnh 70 không chỉ đơn thuần đáp ứng cho yêu cầu nhiệm vụ chiến dịch trước mắt, mà còn là bước thử nghiệm cho sự ra đời của Bộ Tư lệnh các quân đoàn chủ lực được thành lập sau đó mấy năm. Bộ Tổng Tham mưu cùng Bộ Tư lệnh 70 khẩn trương hoàn chỉnh kế hoạch chiến dịch, trọng tâm là kế hoạch tác chiến báo cáo Quân ủy Trung ương thông qua lần cuối vào tháng 12 năm 1970. Đầu tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (gọi tắt Bộ Tư lệnh 702) chính thức được thành lập, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó phụ trách tác chiến làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Giúp việc trực tiếp cho Tư lệnh trong cơ quan tham mưu chiến dịch có các đồng chí Tư lệnh Binh chủng Pháo binh, Tư lệnh Binh chủng Tăng - thiết giáp, Tư lệnh Binh chủng Đặc công, đại diện Quân chủng Phòng không - Không quân, đại diện các binh chủng, Thông tin liên lạc, Công binh, cùng nhiều cán bộ chỉ huy - tham mưu tác chiến dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Bộ Tư lệnh 702 là một cơ quan chỉ huy được kế thừa và nâng cao từ Bộ Tư lệnh 70 theo yêu cầu nhiệm vụ của chiến dịch. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh 702 thực sự là một tổ chức mạnh, có đủ quyền hạn, khả năng lãnh đạo và chỉ huy tất cả các lực lượng ta và bạn ở khu vực Đường 9 và Nam Lào. Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cử làm đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh vào chiến trường (23-2-1971) trực tiếp theo dõi và chỉ đạo chiến dịch. Bộ Tư lệnh 702 được xem như là cơ quan tiền phương của Bộ có thể quyết định những vần đề quan trọng, kịp thời, nhất là về chỉ đạo tác chiến chiến dịch để giành thắng lợi trong mọi tình huống. Như vậy, về tổ chức cơ quan chỉ huy trong chiến dịch thể hiện rõ sự sáng tạo, được bổ sung hoàn thiện liên tục từ thấp đến cao, góp phần quyết định thành công trong chỉ đạo tác chiến của chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Chín, 2023, 07:40:57 am Trong công tác tham mưu, nội dung quan trọng nhất của giai đoạn chuẩn bị chiến dịch là làm các kế hoạch, trong đó kế hoạch tác chiến đóng vai trò trung tâm. Theo đó, các mặt công tác và kế hoạch khác đều lấy bảo đảm phục vụ cho kế hoạch tác chiến mà tổ chức thực hiện. Để đương đầu với khối binh lực lớn của địch với công thức "quân chủ lực ngụy + hỏa lực Mỹ"1 (Lúc đầu địch huy động 42.000 quân, lúc cao nhất lên tới 55.000 quân, bao gồm tất cả các lực lượng dự bị chiến lược cùng lực lượng cơ động của Quân khu 1 (Vùng chiến thuật I), đó là 3 sư đoàn (1 sư đoàn dù, 1 sư đoàn lính thủy đánh bộ, 1 sư đoàn bộ binh) với tổng số 47 tiểu đoàn bộ binh, 460 xe tăng - xe bọc thép, 280 khẩu pháo, 600 máy bay (có 300 máy bay lên thẳng). Đến ngày 10 tháng 3 năm 1971, địch tăng thêm 13.000 bộ binh, 120 xe tăng - xe bọc thép, 70 khẩu pháo, 300 máy bay lên thẳng. Ngoài ra còn có 2GM (30 và 33) với 9 tiểu đoàn quân của ngụy Lào hậu thuẫn từ phía tây. Được sự chi viện lớn hỏa lực của không quân Mỹ và một bộ phận bộ binh, thiết giáp Mỹ phối hợp tác chiến, yếm trợ ở phía sau), ta đã huy động lực lượng chủ lực tương đương một quân đoàn tăng cường, được trang bị và chi viện của nhiều loại pháo binh cỡ lớn, xe tăng - thiết giáp cùng lực lượng phòng không, công binh tương đối mạnh tham gia chiến dịch2 (Lực lượng ta tham gia trực tiếp chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh (304, 308, 320, 324 và Sư đoàn 2 của Quân khu 5), các lực lượng tại chỗ của Mặt trận Đường 9 (155), Trị - Thiên (B4), Đoàn 559, một số tiểu đoàn đặc công của Bộ; 3 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp (với 88 xe các loại, chiếm 50% tổng số xe hiện có của binh chủng); 4 trung đoàn pháo binh, một số phân đội pháo của 5 sư đoàn bộ binh, của Đoàn 559, với tổng số 351 khẩu pháo, cối lớn các loại; 4 trung đoàn pháo cao xạ cùng nhiều tiểu đoàn, đại đội phòng không của Đoàn 559, của các sư đoàn bộ binh; có 3 trung đoàn công binh và nhiều phân đội công binh của Đoàn 559. Ngoài ra còn có lực lượng vũ trang tại chỗ của các địa phương, kho trạm, v.v... Tổng cộng gần 58.800 cán bộ, chiến sĩ). Do đó, các kế hoạch - nhất là kế hoạch tác chiến phải là những kế hoạch của đội hình chiến đấu hiệp đồng gồm nhiều binh chủng, nhiều lực lượng trong chiến trường rừng núi rộng lớn trên cả đất bạn và ta. Các kế hoạch đều phải được xây dựng thành nhiều phương án có thể xảy ra, trên cơ sở dự kiến các tình huống về địch, với yêu cầu chung bảo đảm đánh thắng trong mọi tình huống. Đó là những đặc điểm ảnh hưởng lớn đến công tác chuẩn bị kế hoạch, huấn luyện bộ đội và chỉ đạo tác chiến.
Đồng thời với chuẩn bị các mặt ở chiến trường, ngay từ giữa năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo các cục Tác chiến, Quân huấn, Quân lực và Viện Khoa học quân sự nghiên cứu biên soạn tài liệu huấn luyện về cách đánh tập trung hiệp đồng binh chủng. Các chuyên đề "Một số vấn đề về chiến dịch tiến công của bộ đội chủ lực trên chiến trường lựa chọn ở vùng rừng núi", "Một số vấn đề về chiến dịch phản công khi địch đánh vào các căn cứ hậu phương, khu giải phóng của ta", "Một số vấn đề về đánh tiêu diệt chiến đoàn (trung đoàn, lữ đoàn) quân ngụy trong chiến dịch tiến công của bộ đội chủ lực trên chiến trường rừng núi", "Bao vây đánh lấn tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch trong công sự vững chắc" và "Cách đánh cụm cứ điểm có công sự vững chắc của địch bằng lực lượng binh chủng hợp thành sau khi vây lấn thời gian ngắn" lần lượt hoàn thành và nhanh chóng được tập huấn cho hơn 300 cán bộ toàn quân từ cấp trung đoàn trở lên trong tháng 9 năm 1970. Các đồng chí Tổng Tham mưu phó Vương Thừa Vũ - phụ trách công tác huấn luyện và Lê Trọng Tấn - phụ trách tác chiến, trực tiếp tham gia ban chỉ đạo lớp tập huấn. Qua học tập, cán bộ trung - cao cấp nhận thức sâu sắc thêm nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn; thấy rõ vị trí chức năng, nhiệm vụ của bộ đội chủ lực trong giai đoạn cách mạng mới và sự cần thiết phải đánh tập trung, đánh hiệp đồng binh chủng, đánh tiêu diệt gọn từng đơn vị lớn của địch; xây dựng được niềm tin thắng lợi vào cách đánh mới phù hợp với điều kiện vũ khí trang bị hiện có, đồng thời xác định trách nhiệm nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy trong tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng, quyết tâm đánh tiêu diệt lớn quân địch. Sau hơn một tháng nghiên cứu, cán bộ tập huấn tỏa về các đơn vị mang theo cách đánh mới vận dụng ngay vào huấn luyện với quyết tâm sớm được thử thách trên chiến trường. Một số đơn vị tham gia chiến đấu tại Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã kịp thời tranh thủ tổ chức cho bộ đội tập luyện đánh địch theo cách đánh mới tại thực địa, với nhiều phương án dự kiến trước. Chỉ đạo chiến trường đối phó với âm mưu đánh ra hành lang vận chuyển chiến lược của ta trong Đông - Xuân 1970 -1971, Bộ Tổng Tham mưu yêu cầu các đơn vị ở Mặt trận Đường 9 và Trị - Thiên cần xây dựng cả hai phương án: ta chủ động tiến công địch và ta phản công khi địch mở cuộc hành quân. Cả hai phương án đều phải quán triệt và nắm vững tư tưởng tiến công. Trong hoạt động tác chiến thường xuyên, phải coi trọng phát triển thật nhiều các tổ săn máy bay, tổ săn cơ giới; tích cực đánh bại các thủ đoạn biệt kích, phục kích, đẩy mạnh đánh giao thông và căn cứ địch trên các trục đường số 9, 13, 16 để tiêu hao sinh lực địch; tăng cường xây dựng cơ sở vùng địch hậu, phát động chiến tranh du kích, phối hợp chặt chẽ ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, phá bình định của địch, bảo vệ hành lang tiếp tế và phát triển thế làm chủ chiến trường. Nhằm tiêu diệt thật nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ bằng được tuyến vận chuyển chiến lược, tư tưởng chỉ đạo và phương châm tác chiến của chiến dịch được xác định rõ là: Đánh địch ngay từ khi chúng đang triển khai đội hình, đánh địch vận động, đồng thời tích cực đánh địch co cụm; tích cực nắm thời cơ và tạo thời cơ, buộc địch đánh theo ý đồ và trận địa có lợi do ta chuẩn bị sẵn; đánh hiệp đồng binh chủng từ tiểu đoàn, trung đoàn trở lên, đồng thời phát huy sức mạnh của các lực lượng nhỏ mà tinh, đánh những trận có hiệu suất cao, đánh tiêu diệt gọn, làm chủ chiến trường, thu vũ khí và bắt tù binh; kiên quyết chia cắt địch ra từng bộ phận, chặn tiếp tế đường bộ, đường không, tổ chức đánh cơ giới và trực thăng địch một cách rộng khắp, hạn chế mức cao nhất sức cơ động của địch, tạo điều kiện để tiêu diệt gọn chiến đoàn, trung đoàn địch. Thực hiện phương châm chỉ đạo tác chiến trên, trong những ngày dịch nghi binh và tập kết lực lượng chuẩn bị tiến công trên Đường 9 (30.1 - 7.2.1971), các lực lượng thuộc B4, B5, Đoàn 559 và lực lượng địa phương tại chỗ đã tiến hành nhiều trận phục kích giao thông, đánh vận động tiêu hao, bắn máy bay trực thăng chở quân, tập kích hỏa lực pháo binh nhằm tiêu hao và ngăn chặn quân địch triển khai đội hình tiến công. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Chín, 2023, 09:21:30 am Bước vào giai đoạn cao điểm đánh địch tiến công, các bức điện chỉ đạo của Quân ủy Trung ương luôn nhắc chỉ huy các cấp trong chỉ đạo tác chiến phải liên tục phát huy sức mạnh tiến công để tạo nên uy lực sức mạnh của bộ đội binh chủng hợp thành; nắm vững phương châm tác chiến kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, biết đánh nhỏ, đánh vừa, đồng thời phải tạo điều kiện để đánh những trận tiêu diệt lớn, tiêu hao rộng rãi và liên tục quân địch; kịp thời nắm thời cơ và tạo thời cơ phát triển chiến đấu, kết hợp chặt chẽ tác chiến với vận động binh lính địch đầu hàng, bắt tù binh, thu vũ khí; quyết tâm đánh thắng địch trong mọi tình huống, nhưng không vì thế mà ham đánh những trận tiêu hao lớn; nhanh chóng rút kinh nghiệm để kịp thời kiện toàn tổ chức chỉ huy các cấp, kiện toàn biên chế, tránh xé lẻ đơn vị; chú trọng bổ sung hỏa lực các loại và các cỡ, kịp thời phát triển cách đánh về kỹ thuật và chiến thuật; chú trọng xây dựng lực lượng dự bị các cấp, bảo đảm bộ đội tác chiến được lâu dài, càng đánh càng thắng, càng đánh càng mạnh.
Cụ thể hóa một bước tư tưởng chỉ đạo và phương châm tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho các đơn vị tham gia chiến dịch hết sức tranh thủ thời gian, tích cực, chủ động, linh hoạt, bí mật, bất ngờ, kết hợp chặt chẽ ba thứ quân, giữa các lực lượng, liên tục, bền bỉ tiến công địch mọi lúc, mọi nơi. Thời gian đầu khi địch mới đánh ra, ta sử dụng lực lượng nhỏ phân tán, chốt trước các điểm cao dự kiến địch có thể đổ quân đánh chiếm, tích cực diệt cơ giới địch một cách rộng khắp, đánh phủ đầu tiêu hao địch, tích cực phòng hóa và bắn máy bay địch, nhất là trực thăng chở quân, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực cơ động đánh tiêu diệt. Khi địch đổ quân lớn, ta kết hợp các loại hỏa lực đánh từ xa tới gần, kiên quyết bám địch đánh tiêu hao rộng rãi, làm chậm bước tiến quân của chúng, không cho địch củng cố phòng ngự nơi chiếm đóng, tạo điều kiện để tổ chức tác chiến tập trung tiêu diệt từng bộ phận quân địch, tiến tới đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công của địch. Đối với lực lượng cơ động của ta, bố trí ở nơi tiện cơ động, chuẩn bị thật chu đáo mọi mặt, cài thế và tạo thế tiến đánh những trận tiêu diệt lớn bằng sức mạnh binh chủng hợp thành, bằng mọi hình thức và thủ đoạn tác chiến, nhằm bẻ gãy từng cánh quân của địch trong quá trình hành quân cũng như khi rút lui. Tổ chức bao vây đánh lấn đi đến tiêu diệt nếu địch cụm lại. Kết hợp đánh địch ở phía trước với tổ chức các lực lượng tinh nhuệ và hỏa lực thường xuyên đánh địch ở phía sau (căn cứ hành quân, sở chỉ huy, trận địa pháo, bãi đáp trực thăng nơi tập trung cơ giới, kho tàng...). Các lực lượng bảo vệ kho tàng thực hiện đánh nhỏ nhưng đánh thật mạnh với tinh thần kiên quyết ở khu vực kho, nếu phải đánh lớn thì phải lừa dụ địch ra xa khu vực kho để đánh, kết hợp với phân tán, cất giấu, ngụy trang giữ bí mật kho tàng. Thực tế diễn biến chiến trường suốt giai đoạn đầu dịch tiến công, ta phản công (8.2 - 11.3.1971) và giai đoạn địch rút lui, ta chuyển từ phản công sang tiến công (13 - 23.3.1971), bộ đội ta luôn thực hiện rất tốt tư tưởng chỉ đạo và phương châm tác chiến, từng bước ngăn chặn và đánh bại hình thức tác chiến "trực thăng vận" và đột phá bằng xe tăng - thiết giáp của địch, không cho chúng thực hiện âm mưu đánh nhanh, chặn đứng không cho địch tiến đến Sê Pôn, thực hiện vây lấn "đánh mõm" quân địch ở khu vực Bản Đông, buộc địch phải bỏ dở cuộc hành quân để ta truy kích đánh địch rút chạy. Với ý chí quyết tâm cao, tinh thần chiến đấu dũng cảm, bộ đội ta đã sáng tạo nhiều cách đánh, nhiều thủ đoạn chiến đấu mưu trí, linh hoạt ở cả quy mô tác chiến chiến dịch và chiến thuật, trong chiến đấu chốt chặn - phòng ngự và phản công - tiến công, trong chiến đấu hiệp đồng và đánh độc lập, ban ngày và ban đêm, với nhiều trận phục kích, chia cắt, vây lấn, tập kích, đột phá... làm cho địch bị hết bất ngờ này đến bất ngờ khác, mất dần thế chủ động, bị dồn vào thế bị động đối phó và buộc phải tháo chạy. Một số trận đánh bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng như trận chốt giữ điểm cao 351 của Trung đoàn 24 (Sư đoàn 324) trên Đường 9, trận Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308) vây lấn tập kích tiêu diệt Tiểu đoàn 39 biệt động quân trên điểm cao 500, trận Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) đánh chiếm điểm cao 543 tiêu diệt Sở chỉ huy Lữ đoàn 3 dù của địch, trận đánh của Sư đoàn 2 (Quân khu 5) ở khu vực điểm cao 723... đạt kết quả cao, tỷ lệ thương vong thấp là những bằng chứng hết sức sinh động trong việc vận dụng linh hoạt cách đánh mới mà cán bộ ta vừa được tập huấn trước đó không lâu. Qua chiến đấu, ta đã giải quyết được vấn đề đánh cơ giới địch vận động, bước đầu sử dụng xe tăng đánh ban ngày, sử dụng đặc công và pháo binh tiến công, pháo kích căn cứ hậu cần địch có hiệu quả; trình độ tổ chức, tác phong chỉ huy của cán bộ và hiệu suất chiến đấu của bộ đội có tiến bộ rõ rệt. Điều đó khiến dịch từ chỗ chủ quan đánh giá thấp khả năng chiến đấu của bộ đội ta nay càng thêm bất ngờ, kinh ngạc trước những đòn đánh bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng rất hiệu quả của chủ lực ta. Tuy nhiên, từ thực tế chiến dịch cũng chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển trong xây dựng bộ đội chủ lực về tổ chức, biên chế, trang bị, huấn luyện, chuẩn bị chiến trường như thế nào để chủ lực ta có thể tác chiến lớn bằng sức mạnh binh chủng hợp thành đánh bại quân chủ lực Sài Gòn trong những năm tiếp theo. Như vậy, xét riêng về mặt tác chiến trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ta đã đánh bại các chiến thuật cơ động quân quy mô lớn bằng máy bay lên thẳng, dùng thiết giáp làm lực lượng xung kích tiến công và hình thức đóng chốt trên điểm cao bằng lực lượng tiểu đoàn hoặc trung đoàn của địch; tiêu diệt nhiều đơn vị tinh nhệ, dự bị chiến lược và phương tiện chiến tranh, đánh bại cuộc hành quân của địch; giữ vững hệ thống kho tàng, bảo đảm tuyến vận chuyển chiến lược không bị gián đoạn; làm tròn nhiệm vụ mặt trận chính trong Xuân - Hè 1971, tạo điều kiện cho các chiến trường khác phối hợp hoạt động để phân tán địch về chiến lược. Đánh giá về sự chỉ đạo tác chiến, báo cáo của Quân ủy Trung ương tại Hội nghị tổng kết chiến dịch (28-6-1971) đã nêu rõ: Xét về mặt chỉ đạo vận dụng nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa điển hình là một chiến dịch tiêu diệt lớn nhằm đập tan về mặt quân sự của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ. Nó mang kiểu cách Việt Nam uà phát triển tính độc lập sáng tạo trong cách đánh ở Việt Nam. Trong sự thành công trên, Bộ Tổng Tham mưu vừa làm tròn trọng trách của cơ quan tham mưu chiến lược để tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc, hướng dẫn đơn vị; vừa có lúc trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tham mưu chiến dịch - nhất là giai đoạn chưa thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch. Trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu luôn bám sát diễn biến chiến trường, kịp thời có điện chỉ đạo Bộ Tư lệnh chiến dịch về sử dụng lực lượng và cách đánh, nhất là đối với những trận có ý nghĩa then chốt quyết định. Đi đôi với chỉ đạo từ xa, nhiều cán bộ được tăng cường cho cơ quan tham mưu và chỉ huy tác chiến chiến dịch tại mặt trận, trong đó không chỉ có cán bộ là trợ lý mà còn có cả cán bộ cấp phòng, cấp cục phó. Đặc biệt, khi chiến dịch bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, cả đồng chí Cục trưởng Cục Tác chiến Vũ Lăng, Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn và đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đều có mặt trực tiếp theo dõi và chỉ đạo chiến dịch tại mặt trận. Đây cũng là một bài học kinh nghiệm về xây dựng cơ quan và tổ chức hoạt động của Bộ Tổng Tham mưu trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nếu có tình huống chiến tranh xảy ra. Nhìn lại toàn bộ diễn biến và kết quả chiến dịch, chúng ta thấy rằng, đây là lần đầu tổ chức chiến dịch phản công tác chiến binh chủng hợp thành quy mô lớn trên chiến trường miền Nam, chiến dịch được tiến hành thuận lợi ta giữ vững quyền chủ động tác chiến từ lúc mở đầu đến lúc kết thúc, giành thắng lợi toàn diện và gọn (chiến dịch không bị kéo dài). Điều đó chứng minh rõ rằng, cơ quan chủ nhiệm các binh chủng đã làm tốt chức năng tham mưu, chỉ đạo về sử dụng lực lượng và cách đánh của binh chủng mình, góp phần quan trọng làm cho sự chỉ đạo, chỉ huy tác chiến chiến dịch ăn khớp nhịp nhàng, đạt hiệu suất chiến đấu cao; đồng thời, khẳng định chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971, đánh dấu bước phát triển cao về nghệ thuật chiến dịch phản công bằng tác chiến binh chủng hợp thành của quân đội ta. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 đã chấm dứt quá trình tiến công - phản kích đánh ra vùng ngoài của liên quân Mỹ - quân đội Sài Gòn, tạo ra bước ngoặt rất quan trọng trong so sánh tương quan lực lượng và thế chiến lược có lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, không chỉ của nhân dân Việt Nam mà cả ba nước Đông Dương. Với ta, thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mở ra thời kỳ phát triển hết sức phong phú, đa dạng nhiều cách đánh của các lực lượng trong đội hình tác chiến binh chủng hợp thành. Vì vậy, ý nghĩa và sức lan tỏa của thắng lợi Đường 9 - Nam Lào 1971 đó vượt qua giới hạn thông thường cả về không gian và thời gian của nó. Hội thảo khoa học về chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 là dịp để chúng ta cùng nhau ôn lại lịch sử kháng chiến, những giá trị sáng tạo về nghệ thuật chiến dịch và chỉ đạo tác chiến của thế hệ cha anh trong chiến tranh chống Mỹ xâm lược. Tự hào với truyền thống lịch sử vẻ vang, trân trọng những bài học kinh nghiệm của thế hệ trước, chúng ta có trách nhiệm làm sáng tở những vấn đề có tính quy luật trong nghệ thuật chiến dịch và chỉ đạo tác chiến. Phải khái quát thành lý luận khoa học để vận dụng vào huấn luyện bộ đội, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng quân đội ta ngày càng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp, có sức mạnh và trình độ tác chiến hiệp đồng quân binh chủng trong điều kiện tác chiến hiện đại, có khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nếu xảy ra chiến tranh, chiến dịch phản công sẽ là loại hình chiến dịch phổ biến. Vì vậy, đi đôi với nghiên cứu một số hạn chế, thiếu sót không sao tránh khỏi của một chiến dịch trong điều kiện cụ thể của chiến tranh, việc làm rõ thành công diển hình của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971 sẽ góp phần rất quan trọng vào việc bổ sung, phát triển kho tàng lý luận nghệ thuật chiến dịch nói chung và nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng trong nền nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Những bài học và kinh nghiệm của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 40 năm trước vẫn còn nguyên giá trị và sẽ phát huy tác dụng trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hôm nay và mai sau. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Chín, 2023, 09:24:12 am CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971, THẮNG LỢI CỦA TƯ DUY VÀ NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC Trung tướng NGUYỄN THÀNH CUNG Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Cách đây 40 năm, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971 của quân và dân ta giành toàn thắng. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc. Với việc đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, chiến dịch đã góp phần quan trọng làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo ra sự thay đổi cục diện chiến trường và "đánh bại một bước quan trọng, mở ra triển vọng hiện thực đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ về quân sự"1 (Điện của Quân ủy Trung ương số 036 năm 1971, dẫn theo: Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1987, tr. 4). Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào là thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự đúng đắn và sáng tạo của Đảng, sự chỉ đạo tập trung, kiên quyết và chính xác của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương; là thắng lợi của trí tuệ và tài thao lược của Bộ Thống soái tối cao. Nói cách khác, đó là thắng lợi của tư duy và nghệ thuật chỉ đạo chiến lược sắc sảo, độc lập tự chủ và sáng tạo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chiến tranh là sự thử thách lớn nhất đối với một dân tộc, một quốc gia. Vì thế, cuộc đọ sức quyết liệt không chỉ diễn ra trên chiến trường - mặc dù tính chất ác liệt, sự hy sinh và những hậu quả lâu dài của nó đều tập trung ở đó - mà còn diễn ra căng thẳng, gay gắt từng giờ, từng phút ở các cấp chỉ huy, trước hết là ở cấp chiến lược, bộ tham mưu đầu não của hai bên. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là một trong những minh chứng về tài thao lược của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, từ sự lường định tình hình, phán đoán đúng âm mưu và ý đồ hành động của địch, nắm bắt những động thái chiến lược của chúng, quyết tâm tổ chức chiến dịch phản công, đến việc kiên quyết tập trung lực lượng, phát huy sức mạnh vật chất, tinh thần của cả tiền tuyến và hậu phương, đảm bảo cho chiến trường đánh thắng. 1. Sau thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển từ chiến lược "Chiến tranh cục bộ" sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", vừa tiến hành các cuộc hành quân "bình định cấp tốc" ở miền Nam, vừa đánh phá ác liệt tuyến đường vận chuyển chiến lược của ta, ngăn chặn nguồn chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho các chiến trường. Trước sự phản công quyết liệt của địch, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của ta bị tổn thất nặng nề; các đơn vị vũ trang bị đánh bật khỏi đô thị, vùng ven, vùng đồng bằng; một số phải rút qua bên kia biên giới hoặc về đứng chân ở Nam Quân khu 4. Trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, đây là giai đoạn cách mạng miền Nam đứng trước thử thách cực kỳ gay gắt. Song, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng ta đã bình tĩnh tìm hiểu, lợi dụng và khoét sâu những sai lầm của địch trong bước chuyển chiến lược, chỉ đạo các đảng bộ miền Nam, lực lượng vũ trang và nhân dân từng bước khôi phục lại thế và lực trên chiến trường, nắm lại quyền chủ động chiến lược; đồng thời, khẩn trương khôi phục kinh tế miền Bắc, tiếp tục chi viện sức người, sức của cho miền Nam, tập trung nâng cao một bước sức mạnh của lực lượng vũ trang, đặc biệt là nâng cao trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng của bộ đội chủ lực. Tháng 1 năm 1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 18 (khóa 111) nhận định: tình hình sẽ diễn biến phức tạp ở Campuchia, đường hành lang vận chuyển chi viện cho Nam Bộ và một phần Khu 5 có thể bị cắt đứt, gây khó khăn cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Hội nghị cũng đề ra nhiệm vụ quốc tế là tăng cường chi viện cho cách mạng Lào, góp phần cùng quân và dân Lào đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" của đế quốc Mỹ ở Lào. Đặc biệt, sau khi quân Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc tiến công xâm lược Campuchia, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra nghị quyết nêu rõ: "Mỹ và tay sai sẽ tiếp tục việc chuyển hướng chiến lược trên chiến trường miền Nam nước ta, từng bước rút một lực lượng lớn quân Mỹ, đồng thời để một bộ phận quân Mỹ nhất là không quân và hậu cần làm chỗ dựa để thực hiện "Việt Nam hóa chiến tranh"1 (Dẫn theo tài liệu số 218/Tg, ngày 26 tháng 6 năm 1971, lưu K4 Bộ Quốc phòng, phông Bộ Tổng Tham mưu). Trên cơ sở đánh giá chính xác âm mưu, quy luật hoạt động của địch trong năm 1969 và đầu năm 1970 trên chiến trường, Bộ Chính trị nhận định: địch sẽ tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới trong thời gian tiếp theo, đồng thời dự đoán chính xác phương hướng tiến công chiến lược của chúng trong mùa khô 1970-1971 sẽ là tuyến vận tải chiến lược của ta ở Trung Lào, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, thực hiện biện pháp được gọi là "Cuộc chiến tranh bóp nghẹt" nhằm ngăn chặn tận gốc con đường chi viện của ta cho chiến trường miền Nam. Về đối tượng tác chiến, Bộ Chính trị cũng cho rằng, trong khuôn khổ chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" thì trong các cuộc hành quân có tính chất phản công chiến lược của địch, lực lượng nòng cốt chủ yếu là quân đội Sài Gòn có sự chi viện mạnh về hỏa lực, phương tiện cơ động và một bộ phận quân Mỹ bảo đảm phía sau. Thực tế diễn biến tình hình trong năm 1970 chứng tỏ Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã bắt mạch đúng âm mưu và chủ trương chiến lược của địch. Đế quốc Mỹ đã bị thất bại nặng nề, buộc phải xuống thang từng bước, không thể duy trì cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô lớn trong một thời gian dài. Tuy nhiên, do bản chất ngoan cố, nên mỗi bước xuống thang chiến tranh, địch lại tăng cường nỗ lực chính trị, quân sự và ngoại giao hòng giành thế mạnh trên chiến trường để tạo điều kiện "xuống thang" chiến tranh trên thế mạnh, giúp Mỹ rút ra trong danh dự. Chính vì vậy, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã ra chỉ thị cho các lực lượng trên toàn tuyến vận chuyển chiến lược chuẩn bị tổ chức chiến trường, đặc biệt là hướng Đường số 9, sẵn sàng đánh bại quân địch khi chúng liều lĩnh đánh ra vòng ngoài. Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định thành lập Binh đoàn 70, binh đoàn chiến lược đầu tiên của quân đội ta, có nhiệm vụ sẵn sàng đánh địch khi chúng tiến công ra Nam Quân khu 4; đồng thời sẵn sàng phối hợp với các đơn vị tại chỗ thuộc B4, B5 và Đoàn vận tải chiến lược 559 đánh địch trên hướng Đường số 9. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Chín, 2023, 09:24:53 am Đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đầu năm 1971, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh chương trình bình định ở miền Nam Việt Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tăng cường chuẩn bị và tiến hành các cuộc hành quân quy mô lớn sang Lào và Campuchia1 (Cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71-NB" với quy mô trên 30 tiểu đoàn đánh từ Tây Ninh, Lộc Ninh (Việt Nam) sang CônKpông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia); cuộc hành quân "Lam Sơn 719", với lực lượng 34 tiểu đoàn đánh vào khu vực Đường số 9 - Nam Lào; cuộc hành quân Quang Trung 4 từ bắc Kon Tum (Việt Nam) ra hướng ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia) bằng lực lượng quân đội tay sai mà nòng cốt là quân đội Sài Gòn có sự hỗ trợ của quân Mỹ, nhằm triệt phá tuyến hành lang vận chuyển và hậu phương chiến lược trực tiếp của ta. Măc dù trước khi tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719", quân Mỹ và quân Sài Gòn đã tiến hành nghi binh trên cả ba hướng: Tây Nguyên, Đường số 9 và Nam Quân khu 4, nhưng do ta nắm chắc được ý đồ chiến lược thực sự của địch là đánh phá tận gốc tuyến vận tải chiến lược, nên đã sớm xác định hướng tiến công chủ yếu của chúng sẽ là Đường 9 - Nam Lào và khẩn trương chuẩn bị khá toàn diện cho chiến dịch phản công quan trọng này.
Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào là một trong những cuộc hành quân có quy mô lớn nhất của địch và cũng là sai lầm chiến lược của chúng trong quá trình thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Trên cơ sở phân tích tình hình chung trên toàn chiến trường cũng như trên từng khu vực, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương cho rằng, sai lầm của địch bắt nguồn từ bản chất ngoan cố, phiêu lưu, mạo hiểm của chúng, là hậu quả một chuỗi sai lầm chiến lược từ trước của Mỹ và nằm trong sai lầm của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Những sai lầm đó là: Thứ nhất, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã đánh giá sai khá năng của ta. Chúng cho rằng, sau Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam, lực lượng ta đã suy yếu không đủ sức mở các cuộc tiến công lớn; mặt khác, đánh ra Đường 9, chủ lực ở miền Bắc khó có điều kiện tập trung và cơ động kịp thời đến khu vực tác chiến. Đặc biệt, địch đánh giá thấp sức chiến đấu của lực lượng tại chỗ, sức cơ động và khả năng đánh hiệp đồng binh chủng của lực lượng chủ lực ta. Thứ hai, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đánh giá quá cao sức mạnh của lực lượng tổng dự bị của quân đội Sài Gòn như các đơn vị dù, thủy quân lục chiến với sự chi viện về hỏa lực của không quân, pháo binh của Mỹ. Thứ ba, Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở cuộc hành quân vào một chiến trường mà ta đã có tổ chức chuẩn bị, có điều kiện để tiếp nhận sự chi viện của miền Bắc và sử dụng lực lượng chủ lực với quy mô lớn. Thứ tư, Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở cuộc tiến công sang Lào bằng lực lượng lớn, đòi hỏi phải có thời gian chuẩn bị cả về dư luận, về lực lượng, phương tiện nên mất yếu tố bất ngờ, tạo điều kiện cho ta có thời gian chuẩn bị chiến dịch. Từ nhận định đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã đánh giá đúng tầm quan trọng của chiến dịch phản công của ta và coi việc địch đưa lực lượng ra khu vực Đường 9 - Nam Lào là một cơ hội hết sức thuận lợi để ta tiêu diệt chúng. Do vậy, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào thực sự "là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược, không những để giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch trong lúc tinh thần của chúng đang suy sụp, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng âm mưu "Việt Nam hóa chiến tranh" của địch, đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiên lên mạnh mẽ, để giải phóng miền Nam ruột thịt, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa yêu quý, làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang"1 (Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dẫn theo tài liệu: Một số nhận xét bước đầu về thắng lợi của ta trên Mặt trận Đường 9, số 029/VP-QƯ, ngày 25 tháng 3 năm 1971, Lưu K4 Bộ Quốc phòng, phông QUTƯ, hồ sơ 275). Vì vậy, "quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: tập trung lực lượng, kiên quyết tiêu diệt thật nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh của Mỹ, ngụy, bảo vệ bằng được con đường chi viện cho tiền tuyến, phối hợp với các chiến trường, với nhân dân các nước Lào và Campuchia anh em, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai"2 (Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dẫn theo tài liệu: Một số nhận xét bước đầu về thắng lợi của ta trên Mặt trận Đường 9, số 029/VP-QƯ, ngày 25 tháng 3 năm 1971, Lưu K4 Bộ Quốc phòng, phông QUTƯ, hồ sơ 275). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Chín, 2023, 09:25:38 am 2. Cuối tháng 1 năm 1971, khi địch bắt đầu điều động và triển khai lực lượng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trên cơ sở theo dõi chặt chẽ mọi động thái của đich diễn biến tình hình chiến trường, đã kịp thời hạ quyết tâm: nhất thiết phải đánh thắng trận này, dù phải động viên sức ngươi, sức của như thế nào, dù phải hy sinh như thế nào cũng phải quyết tâm đánh thắng vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược.
Có thể nói, quyết tâm chiến lược được đề ra dựa trên cơ sở phán đoán đúng âm mưu của địch, thấy rõ sai lầm của chúng, đánh giá đúng tình hình tương quan lực lượng hai bên. Để thực hiện quyết tâm đó, ta đã kiên quyết tập trung một bộ phận quan trọng binh lực trên cả hai miền, đặc biệt sử dụng gần hết lực lượng chủ lực cơ động và một bộ phận chủ lực ở miền Nam, với nhiều binh chủng kỹ thuật tham gia chiến dịch. Đồng thời, Quân ủy Trung ương đã kịp thời thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường số 9, tăng cường cho mặt trận nhiều cán bộ lãnh đạo và chỉ huy có kinh nghiệm và trong một thời gian ngắn đã huy động một khối lượng lớn vật chất đảm bảo cho chiến dịch. Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị "Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai, giành toàn thắng cho Chiến dịch X"1 (Chỉ thị số 009/QU-TƯ/A, lưu K4 Bộ Quốc phòng, phông QUTƯ, hồ sơ Số 713 (Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mang mật danh "Chiến dịch X")). Chỉ thị của Quân ủy Trung ương yêu cầu cấp ủy, chỉ huy các đơn vị phải "ra sức động viên chính trị, làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ đảng viên, đoàn viên nhận rõ tình hình, nhiệm vụ, ý nghĩa quan trọng, yêu cầu của chiến dịch, quyết thắng thật cao, động viên khí thế chiến đấu thật sôi sục, thật bền bỉ nêu cao lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, khơi sâu lòng căm thù giặc, có quyết tâm hy sinh chiến đấu, cống hiến lớn nhất cho dân tộc. Bất kể tình huống nào chúng ta cũng phải đánh thắng"2 (Tài liệu đã dẫn, hồ sơ số 713). Ngay từ khi quyết định mở chiến dịch, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã đề ra chủ trương hết sức cụ thể: Bề mục tiêu chiến dịch: tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, phá hủy, thu vũ khí trang bị, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược; Về hướng phản công chủ yếu: khu vực Đường số 9 từ Lao Bảo đến Bản Đông; Về phương chăm tác chiến: kết hợp lực lượng tại chỗ với lực lượng chủ lực cơ động đánh bại tập đoàn tiến công của địch. Các vấn đề trên được thể hiện trong quyết tâm và kế hoạch thống nhất, nhằm mục tiêu chiến lược là đánh một đòn nặng vào lực lượng dự bị chiến lược tinh nhuệ của quân đội Sài Gòn - lực lượng nòng cốt trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Trong quá trình chiến dịch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã lãnh đạo, chỉ đạo hết sức tập trung. Thường vụ Quân ủy Trung ương họp hàng ngày, Quân ủy họp mỗi khi có tình hình chuyển biến phức tạp và mọi quyết định đều được báo cáo với Bộ Chính trị. Trên thực tế, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã trực tiếp chỉ đạo xử lý các tình huống nảy sinh trong chiến dịch. Chẳng hạn, sau những thắng lợi của ta trong giai đoạn đầu chiến dịch, Quân ủy Trung ương đã kịp thời ra chỉ thị, trong đó nêu rõ: "Tuy địch đã thất bại bước đầu ngoài dự tính, nhưng với bản chất ngoan cố và còn lực lượng, nên qua mấy ngày lúng túng, chúng đang điều động thêm lực lượng với ý đồ củng cố trận địa Bản Đông thành một bàn đạp tương đối vững, đồng thời dùng lực lượng mới, thay đổi thủ đoạn tác chiến, cố gắng tiếp tục cuộc hành quân hòng vớt vát về chính trị... Tình huống cơ bản là cuộc chiến đấu có thể diễn ra quyết liệt trong một thời gian tương đối dài; chúng ta phải sẵn sàng đánh địch và thắng địch; đồng thời sẵn sàng tiêu diệt địch trong trường hợp chúng buộc phải rút sớm trước những thất bại mới"1 (Chỉ thị số 012/QU-TƯ/A ngày 2 tháng 3 năm 1971, lưu K4 Bộ Quốc phòng, phông QUTƯ, hồ sơ số 174)... Được sự chỉ đạo của Trung ương, Bộ chỉ huy chiến dịch đã kịp thời điều động lực lượng, tổ chức sẵn sàng đánh địch theo hai phương án: địch ngoan cố kéo dài cuộc hành quân và rút sớm, tránh bị tiêu diệt hoàn toàn. Chính vì vậy, sau khi bị thất bại nặng nề trên các hướng, địch có biểu hiện rút chạy, các lực lượng ta đã nhanh chóng bao vây, ngăn chặn, tiêu diệt, làm tan rã tập đoàn tiến công chủ yếu của địch trên khu vực Bản Đông, giành thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Chín, 2023, 09:26:01 am 3. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào thắng lợi đã để lại những bài học kinh nghiệm sâu sắc về tư duy và nghệ thuật chỉ đạo chiến lược.
Một là, trong chiến tranh, khi cục diện chiến trường ở vào thế giằng co, địch có những biểu hiện lúng túng về chiến lược, thì mặc dù lực lượng của ta còn hạn chế, để tạo ra bước ngoặt quyết định, cần kịp thời và kiên quyết tập trung nỗ lực cao độ cả về lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; cả về sử dụng lực lượng cũng như vũ khí, phương tiện và đảm bảo hậu cần cho các hoạt động tác chiến có ý nghĩa chiến lược. Chỉ có như vậy mới tạo ra chuyển biến lớn về thế và lực, đưa cuộc kháng chiến chuyển sang một giai đoạn mới. Hai là, chiến tranh là sự thử thách lớn, toàn diện và liên tục; là cuộc đấu trí, đấu lực giữa hai bên tham chiến. Mỗi lần địch thay đổi chiến lược và biện pháp chiến tranh là một lần khó khăn thử thách lớn đối với ta. Để vượt qua những thử thách trong chiến tranh, ta phải tập trung cao công sức, trí tuệ, lực lượng để giành và giữ vững quyền chủ động trong mọi tình huống. Trong thực tiễn chỉ đạo, ta đã tập trung lực lượng chủ lực lớn nhất có thể tập trung được và đã huy động đến mức cao nhất nhân lực, vật lực của cả tiền tuyến và hậu phương. Đặc biệt, để đảm bảo chắc thắng trong trận mở đầu và cho toàn chiến dịch, ta phải kịp thời và nhanh chóng cơ động lực lượng lớn chủ lực đến địa bàn chiến dịch, tạo so sánh lực lượng có lợi cho ta, đảm bảo thắng lợi cho chiến dịch. Ba là, trong chiến tranh, chiến dịch chịu sự chỉ đạo của chiến lược, thực hiện nhiệm vụ của chiến lược. Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược đúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm chắc thắng cho chiến dịch. Vấn đề đặt ra trước hết trong chỉ đạo chiến lược là phải trên cơ sở phân tích tình hình, nhận rõ những sai lầm, mạnh yếu của địch, khoét sâu những sai lầm chiến lược của chúng, quyết tâm mở chiến dịch quyết chiến chiến lược. Thực tế lịch sử chiến tranh cho thấy, một nước nhỏ chống lại chiến tranh xâm lược của nước lớn, một quân đội ít hơn địch về số lượng, yếu hơn địch về vũ khí trang bị, để đánh thắng, phải có nghệ thuật chỉ đạo chiến lược cao hơn địch, phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân đánh giặc, của nhân tố chính trị tinh thần và nghệ thuật tác chiến của lực lượng vũ trang; phải giữ vững và phát huy quyền chủ động trên chiến trường, điều được địch và buộc địch phải đánh theo cách của ta. Điều đó khẳng định, ta thắng Mỹ không phải chỉ bằng sự hy sinh, lòng dũng cảm mà trước hết là bằng bản lĩnh, trí tuệ, tài thao lược của con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam. Có thể nói, thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là thắng lợi của chủ trương đúng đắn, nghệ thuật chỉ đạo sắc sảo, cách đánh thích hợp và có hiệu quả. Thắng lợi to lớn và toàn diện của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào cho thấy mối quan hệ giữa cách đánh và nghệ thuật chỉ đạo chiến lược có vị trí rất quan trọng. Cách đánh sáng tạo được sự chỉ đạo kịp thời, sát sao có thể làm thay đổi nhanh chóng tình thế, thay đổi cục diện chiến trường, tạo ra bước ngoặt của chiến tranh. Những bài học về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong sự nghiệp xây dựng quân đội ta tiến lên chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Chín, 2023, 09:27:04 am SỰ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG ƯƠNG VÀ BỘ CHỈ HUY TỐI CAO QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN LÀO TRONG ĐỢT HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ MÙA KHÔ 1970 - 1971 Trung tướng CHĂNSAMỎN CHĂNNHALẠT Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Thứ trướng Bộ Quốc phòng Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Nhận lời mời của Bộ Quốc phòng Việt Nam và sự nhất trí của Bộ Quốc phòng Lào, tôi rất vinh dự được tham dự Hội thảo khoa học ngày hôm nay và được phép của Đoàn chủ tịch, tôi xin trình bày bài tham luận với chủ đề: "Sự chỉ đạo chiến lược của Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào trong đợt hoạt động quân sự mùa khô 1970-1971". Đầu năm 1969, tập đoàn Níchxơn lên cầm quyền ở Mỹ. Mặc dù, chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" ở Lào và chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam của Giônxơn đã bị phá sản, nhưng đế quốc Mỹ vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược Lào và các nước Đông Dương. Để tiếp tục thực hiện âm mưu đó, ngay sau khi lên cầm quyền, Níchxơn đã đề ra một chiến lược toàn cầu mới mang tên "Học thuyết Níchxơn" - dựa trên ba nguyên tắc: Sức mạnh Mỹ; chia sẻ trách nhiệm; sẵn sàng thương lượng trên thế mạnh. Ở Lào, "Học thuyết Níchxơn" được biểu hiện cụ thể bằng chiến lược "Chiến tranh đặc biệt tăng cường"; ở miền Nam Việt Nam là "Việt Nam hóa chiến tranh". Sau hai năm thực hiện, đế quốc Mỹ đã bị thất bại nặng nề, đã buộc phải xuống thang từng bước, không thể duy trì cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô lớn trong một thời gian dài. Như chúng ta đã biết, tính chất, đặc điểm của cuộc "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào và "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ thực chất là chiến lược của cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới hết sức thâm độc mà chúng gọi là: "Cuộc chiến của người Đông Dương", nghĩa là: "lấy người Đông Dương đánh người Đông Dương". Sau khi thất bại trong cuộc hành quân Ô Đô En (1969) và Kù Kiệt (1970), đế quốc Mỹ rơi vào thế bị động đối phó trên chiến trường Đông Dương, nhất là khi mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược sang Campuchia, tình thế đó càng trở nên nguy ngập đối với Mỹ. Tại nước Mỹ, xuất hiện nhiều cuộc biểu tình đòi chính quyền Mỹ phải chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược các nước Đông Dương và rút ngay quân đội về nước. Phong trào đấu tranh đó ngày càng lan rộng khắp nước Mỹ, ảnh hưởng rất lớn tới kế hoạch mở rộng chiến tranh của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Do vậy, mục đích chính của chiến lược quân sự của Mỹ là tiến hành các cuộc hành quân chiến lược ở chiến trường Đông Dương, mở đồng loạt các cuộc tấn công trên cả 3 chiến trường, nhằm cắt đứt liên lạc, tiếp tế cấp chiến lược trên cả 3 nước; giành được chiến thắng (sau một năm, 1971), chúng thực hiện cuộc tấn công vào Đông Bắc Campuchia, cuộc hành quân Quang Trung 4 vào Tây Nguyên - Việt Nam và cuộc hành quân chiến lược "Lam Sơn - 719" từ Nam Việt Nam tiến công theo trục Đường 9 (1971) đánh vào Bản Đông - Mường Phìn - Sê Pôn (Trung - Hạ Lào). Trong đó, cuộc hành quân "Lam Sơn - 719" là lớn nhất. Mục đích của cuộc hành quân này là "đánh phá tận gốc tuyến hành lang vận tải chiến lược" của cách mạng ba nước Đông Dương, chiếm toàn bộ địa bàn tỉnh Xa Van Na Khẹt, chia cắt vùng giải phóng của Lào, làm cho cách mạng Lào lâm vào thế khó khăn, dẫn đến thoái trào. Bên cạnh đó, Mỹ vẫn tăng cường viện trợ cho lực lượng ngụy Lào và lực lượng đặc biệt Vàng Pao, phối hợp cùng lính đánh thuê Thái Lan tăng cường hoạt động giành thế có lợi trên chiến trường Đông Dương nói chung và chiến trường Lào nói riêng. Trước diễn biến phức tạp của tình hình trên chiến trường Lào, Trung ương Đảng Nhân dân Lào (nay là Đảng Nhân dân cách mạng Lào) đã kịp thời phát động phong trào đấu tranh chính trị, kết hợp với đấu tranh quân sự rộng khắp. Ngày 6 tháng 3 năm 1970, Trung ương Mặt trận Lào yêu nước ra thông báo 5 điểm, nhằm giải quyết các vấn đề về Lào và cử Chủ tịch Xuphanuvông, Chủ tịch Mặt trận Lào yêu nước đến Viêng Chăn, để bàn bạc với Thủ tướng Xuvănna Phuma về việc thành lập Chính phủ liên hiệp. Đó chính là cuộc đấu tranh chính trị nhạy bén sáng suốt trong lãnh đạo cách mạng của Đảng Nhân dân Lào. Ngày 24 và 25 tháng 4 năm 1970, Hội nghị cấp cao 3 nước Đông Dương được tổ chức và đã thống nhất quan điểm đường lối đấu tranh phải kiên quyết chống lại đến cùng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Đông Dương. Ngày 25 tháng 6 năm 1970, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp Hội nghị, đã nhận định: "Tình hình diễn biến rất phức tạp, quyết liệt, nhưng Mỹ ít có khả năng chuyển "Chiến tranh đặc biệt" lên "Chiến tranh cục bộ" ở Lào... Nếu Mỹ có đưa quân Thái Lan vào thôm nữa thì cũng vẫn nằm trong phạm vi của Chiến tranh đặc biệt tăng cường"1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Bản tiếng Việt, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, ký hiệu: VL.3352, tr. 212). Trên cơ sở phân tích tình hình ta và địch trên chiến trường, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã xác định nhiệm vụ trong 2 năm 1970-1971 của cách mạng Lào là: 1. Động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đấu tranh bền bỉ lâu dài, nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, bảo vệ và phát huy thắng lợi đã giành được, phát huy thế chủ động tiến công địch về mọi mặt. 2. Ra sức củng cố vùng giải phóng, giữ thế liên hoàn, khi có thời cơ thì mở rộng vùng giải phóng ở những vùng chiến lược, những vùng đông dân. 3. Xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt làm cho lực lượng cách mạng không ngừng lớn mạnh, vững chắc. 4. Tăng cường đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia anh em trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai; 5. Tích cực chuẩn bị về mọi mặt để chuyển hướng đấu tranh khi tình hình có chuyển biến mới. Đặc biệt, Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào còn nêu rõ: Hướng Trung Lào, Hạ Lào trong hai năm tới sẽ trở nên đặc biệt quan trọng vì liên quan trực tiếp đến hành lang tuyến vận tải chiến lược Tây Phu Luổng (Trường Sơn) chi viện cho các chiến trường Nam Việt Nam, Lào và Campuchia. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Chín, 2023, 09:27:38 am Sau những thắng lợi của quân và dân Lào trong mùa khô 1970, đánh bại các cuộc hành quân của quân phái hữu Viêng Chăn phối hợp với quân Thái Lan như: "Can-nha-kiệt" đánh vào hành lang Tạt Hay, Mường Noòng, Mường Phìn (Xa Van Na Khẹt); cuộc hành quân "Tha-nông-kiệt" đánh vào Tha Thôm, Tha Viêng (Xiêng Khoảng)... Ngày 30 tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương Lào ra Nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch quân sự mùa khô 1970-1971, theo đó xác định: Phải nêu cao vai trò của ba thứ quân, phải phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường, giữa hai vùng chiến lược (vùng giải phóng và vùng sau lưng địch)... Chủ động tiến công địch mạnh mẽ liên tục, nhằm vào cả hai lực lượng chiến lược của địch, trước hết là nhằm vào lực lượng quân đặc biệt, đồng thời phải đánh thiệt hại nặng quân Thái Lan, đánh phá các cơ sở hậu cần, kỹ thuật của địch..., phải bảo vệ củng cố, xây dựng vững chắc vùng giải phóng đi đôi với việc đẩy mạnh hoạt động bằng các hình thức thích hợp ở từng vùng đối phương kiểm soát... Chuẩn bị sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của quân ngụy Sài Gòn và một số quân Mỹ, quân Thái Lan vào Trung, Hạ Lào và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, phối hợp chặt chẽ với chiến trường miền Nam Việt Nam và Campuchia, sẵn sàng đón thời cơ giành thắng lợi mới.
Căn cứ vào Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào quyết định thành lập 5 cục chiến đấu, bố trí ở các khu vực quan trọng trong đó có 2 cụm ở Nam Lào, 2 cụm ở Cánh Đồng Chum và 1 cụm ở Bắc Lào. Trên cơ sở quán triệt tư tưởng đấu tranh lâu dài, bền bỉ, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Lào đã phát huy tinh thần tự lực, tự cường, chủ động đánh địch trên tất cả các mặt trận, nhằm giữ vững và phát huy những thắng lợi đã giành được, ra sức xây dựng vùng giải phóng, giữ vững thế và lực, tích cực mở rộng các khu căn cứ, vùng giải phóng quan trọng, tạo thế có lợi cho cách mạng; phát huy sức mạnh tổng hợp, củng cố tăng cường đoàn kết, liên minh chiến đấu nhân dân ba nước Đông Dương, tạo mọi điều kiện thuận lợi, giành quyền chủ động, kiên quyết đấu tranh đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Bộ Chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào cũng ra chỉ thị tăng cường các hoạt động tiêu hao, tiêu diệt địch ở các chiến trường trên toàn quốc. Hai Bộ Tổng Tham mưu Việt Nam và Lào đã tăng cường chỉ đạo các lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam và Quân giải phóng Lào ở các quân khu Bắc - Trung - Nam Lào, tổ chức các mặt trận để bảo đảm chỉ huy, chỉ đạo chiến trường trong từng khu vực và toàn quốc, nhằm xử lý kịp thời với các tình huống xảy ra. Theo đó, Bộ Chỉ huy tối cao đã phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân tình nguyện Việt Nam mở "Chiến dịch 74B", "Chiến dịch 139" ở chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng để giải phóng vùng Mường Xủi; Xảm Thông - Long Chẹng, thành lập Mặt trận Đường 9, (khối 23) ở Nam Lào, nhằm đối phó với cuộc hành quân chiến lược "Lam Sơn 719" của Mỹ - ngụy vào Trung - Nam Lào; thành lập Mặt trận Y ở Hạ Lào để tấn công tiêu diệt lực lượng chủ lực quan trọng của địch. Đặc biệt, nhận rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng trong các chiến dịch phối hợp giữa quân đội hai nước Việt Nam, Lào, Trung ương Đảng và Bộ Chỉ huy tối cao Quân giải phóng Lào đã đề ra quyết tâm, tổ chức lực lượng tham gia giải phóng Trung Lào, xây dựng được thế chiến trường liên hoàn giữa Việt Nam và Lào. Tư tưởng chỉ đạo trên chiến trường của Quân ủy Trung ương Lào đều nhấn mạnh rằng: Phải tích cực mở các chiến dịch để tiêu diệt địch; đồng thời, giữ vững thế đánh địch liên tục là trọng tâm, đánh tiêu hao, đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở của địch. Kết hợp tiến công quân sự với đấu tranh chính trị, tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân, đứng lên đấu tranh hợp pháp, đánh phải bảo đảm chắc thắng; đánh trúng mục tiêu, giành thời gian củng cố bổ sung lực lượng, bảo đảm trang bị vũ khí, lương thực, thực phẩm... Các nội dung trên là những vấn đền cơ bản về tư tưởng chỉ đạo, phương hướng nhiệm vụ chiến lược trong hoạt động quân sự mùa khô năm 1970-1971 và những năm tiếp theo của Trung ương Đảng Nhân dân Lào và Bộ Chỉ huy tối cao Quân giải phóng Lào. Sự chỉ đạo và phương hướng chiến lược đó đã góp phần quyết định vào thắng lợi của nhân dân các bộ tộc Lào trong những năm quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trực tiếp là mùa khô 1970-1971 với việc đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai, mở ra cục diện mới trên chiến trường tạo thế, tạo lực đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn. Thực tiễn sự chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng Nhân dân Lào và Bộ Chỉ huy tối cao Quân giải phóng Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung và mùa khô 1970-1971 nói riêng, đã để lại những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu. Một là, trên cơ sở đường lối kháng chiến đúng đắn, trong suốt quá trình chiến tranh phải luôn nắm vững thời cơ, tiến hành chỉ đạo chiến lược một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với từng giai đoạn chiến tranh, nhằm giành thắng lợi từng bước, đi đến thắng lợi hoàn toàn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hai là, sự chỉ đạo chiến lược trong chiến tranh xuất phát từ nhận thức đúng đắn quan điểm "Đông Dương là một chiến trường", từ đó có sự phối hợp chặt chẽ giữa chiến trường ba nước Đông Dương cùng đánh kẻ thù chung. Ba là, trong chỉ đạo phải phát huy được tinh thần tự lực, tự cường của cả dân tộc, sức mạnh liên minh đoàn kết chiến đấu của ba nước Đông Dương, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đõ quốc tế. Nói cách khác, phải vận dụng cho được sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh bại mọi kẻ thù xâm lược. Những bài học kinh nghiệm về sự chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng Nhân dân Lào đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Lào hôm nay và mai sau. Nhân dịp trọng đại này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào đã tổ chức Hội thảo khoa học quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc về sự hợp tác liên minh chiến đấu giữa hai quân đội Việt Nam - Lào. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2023, 05:44:21 pm TINH THẦN QUYẾT CHIẾN, QUYẾT THẮNG CỦA QUÂN ĐỘI TA TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN TUẤN DŨNG Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quyết chiến, quyết thắng là truyền thống vô cùng vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam trên suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Kể từ khi được thành lập, trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, truyền thống quyết chiến, quyết thắng đó đã được hun đúc, bồi đắp và phát huy trong từng trận đánh, từng chiến dịch, trong các giai đoạn ác liệt của chiến tranh, góp phần tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, sau những thắng lợi vang dội của quân và dân ta trong mùa khô 1966-1967, 1967-1968, làm thất bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", với tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, quân và dân ta đã tiến hành nhiều chiến dịch tiến công, phản công. Trong đó tiêu biểu là Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971, đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, mở ra cục diện mới, tạo so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho cách mạng ba nước Đông Dương nói chung và cách mạng Việt Nam nói riêng. Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự đúng đắn và sáng tạo của Đảng, sự chỉ đạo tập trung, kiên quyết và chính xác của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương; là thắng lợi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, của tinh thần quyết chiến, quyết thắng, tinh thần đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể của cán bộ, chiến sĩ các đơn vị, các lực lượng tham gia chiến dịch; là thắng lợi của phương hướng xây dựng quân đội đúng đắn về mọi mặt... Trong đó, việc xây dựng, phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội là một thành công điển hình, một trong những yếu tố quyết định đưa chiến dịch đến toàn thắng. Đặc điểm của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là một chiến dịch có quy mô lớn, diễn ra trên địa bàn rừng núi, thưa dân, chủ yếu trên đất bạn Lào; là chiến dịch hiệp đồng binh chủng lớn nhất từ trước đến lúc đó; lực lượng địch đông, có vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại. Tình hình đó đòi hỏi công tác lãnh đạo tư tưởng phải nhạy bén, kịp thời và liên tục để không ngừng giữ vững quyết tâm cho bộ đội. Thực tiễn chiến dịch cho thấy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng đã được tiến hành ngay từ trước và suốt quá trình chiến đấu đến khi kết thúc chiến dịch. Quá trình đó có những đặc điểm và nội dung cụ thể như sau: Một là, trước khi mở chiến dịch, công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng đã được chú trọng thực hiện ngay trong từng bước chuẩn bị chiến dịch. Mùa Hè năm 1970, trên cơ sở nhận định và dự đoán chính xác âm mưu và thủ đoạn của địch, Bộ Chính trị đã ra lời kêu gọi, động viên nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hai miền Nam, Bắc kiên trì đẩy mạnh cuộc kháng chiến cứu nước, tăng cường liên minh chiến đấu với quân và dân hai nước Lào và Campuchia anh em, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, Bộ Tổng Tư lệnh đã trực tiếp chí thị cho các chiến trường, các hướng khẩn trương chuẩn bị các mặt bảo đảm, sẵn sàng đánh địch. Cùng với việc tổ chức chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng đánh địch, công tác tư tưởng trong toàn quân đã tập trung làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận rõ tình hình, quyết tâm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu, quyết tâm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân Lào và Campuchia. Cuối tháng 8 năm 1970, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng mở lớp tập huấn cho hơn 300 cán bộ cao cấp, trung cấp của các quân khu, đơn vị, cơ quan và nhà trường trong toàn quân. Nội dung học tập bao gồm đường lối quân sự của Đảng, một số cách đánh mới trong chiến dịch, chiến thuật; công tác tham mưu, công tác đảng, công tác chính trị, công tác hậu cần trong chiến dịch và chiến đấu. Qua tập huấn, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ ở chiến trường đều thông suốt tư tưởng, củng cố niềm tin vào cách đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Các đơn vị trên các chiến trường kết hợp vừa chiến đấu, vừa xây dựng; kết hợp tăng cường bổ sung trang bị vũ khí, kỹ thuật, bảo đảm hậu cần với huấn luyện theo phương châm tác chiến mới. Công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đã bám sát yêu cầu nhiệm vụ huấn luyện, kịp thời phổ biến kinh nghiệm các trận đánh có hiệu suất cao, tạo không khí phấn khởi, niềm tin cho bộ đội trong các đơn vị. Đặc biệt, Tổng cục Chính trị đã hướng dẫn các cơ quan, đơn vị gắn nội dung cuộc vận động "Năng cao chăt lượng đảng viên và kết nạp đảng viên Lớp Hồ Chí Minh"1 (Lớp đảng viên Hồ Chí Minh có 23.000 cán bộ, chiến sĩ ưu tú trong toàn quân được kết nạp vào Đảng) với nhiệm vụ huấn luyện và chiến đấu của đơn vị; đồng thời tổ chức đợt sinh hoạt chính trị "Học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh". Các cuộc vận động và sinh hoạt chính trị đã diễn ra sôi nổi, có tác dụng vô cùng quan trọng đối với việc nâng cao trình độ, tư tưởng cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trong toàn quân. Tháng 11 năm 1970, trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đã tiến hành cuộc động viên chính trị hương ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Chính phủ, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh. Cuộc động viên chính trị cùng với đợt sinh hoạt học tập Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 18, học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên những chuyển biến mới về nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ, dấy lên một khí thế cách mạng sục sôi trong toàn quân, nâng cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và ý chí quyết tâm đánh thắng địch nếu chúng liều lĩnh tiến công ra miền Bắc hoặc ra Đường 9 - Nam Lào. Cuộc động viên chính trị đó đã chủ động chuẩn bị về mặt tư tưởng, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội và thực sự đã có tác dụng trực tiếp chuẩn bị cho chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2023, 05:45:18 pm Hai là, khi chiến dịch được mở ra, công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng nhằm phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng đã bám sát mục tiêu, yêu cầu cụ thể của chiến dịch và tiến hành trong điều kiện diễn biến chiến dịch hết sức phức tạp và khẩn trương. Các đơn vị tham gia chiến dịch mặc dù có quá trình xây dựng và chiến đấu khác nhau, nhưng đều trải qua một thời gian xây dựng, huấn luyện, và được chuẩn bị kỹ cả về tư tưởng tổ chức, kỹ thuật, chiến thuật, trang bị vật chất. Sự chuẩn bị đó có quan hệ rất lớn đến thắng lợi của chiến dịch. Cán bộ, chiến sĩ bước vào chiến dịch với tinh thần quyết tâm cao, niềm tin sắt đá vào thắng lợi. Chính vì vậy ngay từ cuối tháng 1 năm 1971, khi quân Mỹ và quân ngụy bắt đầu điều động, triển khai lực lượng ra Đường 9, các lực lượng tham gia chiến dịch đã bày sẵn thế trận, bộ đội bừng bừng khí thế sẵn sàng đón đánh địch. Các đơn vị chủ lực cơ động được lệnh nhanh chóng hành quân, kịp thời triển khai lực lượng, hình thành thế tiến công và bao vây địch; các lực lượng tại chỗ đã tích cực bám đánh địch, tiêu hao tiêu diệt một bộ phận lực lượng khi chúng đang triển khai tiến công.
Ngày 8 tháng 2 năm 1971, địch mở cuộc tiến công vượt biên giới Việt - Lào bằng 7 trung đoàn bộ binh, dù, thủy quân lục chiến và các đơn vị thiết giáp của quân đội Việt Nam cộng hòa với sự chi viện mạnh của hỏa lực pháo binh, không quân Mỹ. Trước hành động tiến công của địch, Trung ương Đảng đã ra lời kêu gọi, trong đó khẳng định: Đây là một trong những trận đánh có ý nghĩa quyết định về chiến lược, không những để giữ vững tuyến vận tải chiến lược chi viện cho các chiến trường mà còn nhằm tiêu diệt các đơn vị dự bị chiến lược của địch trong lúc tinh thần của chúng đang suy sụp, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của chúng, đẩy cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ, đế giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang. Vì vậy, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: "Tập trung lực lượng, kiên quyết tiêu diệt thật nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh của Mỹ, ngụy; bảo vệ bằng được con đường chi viện cho tiền tuyến, phối hợp với các chiến trường, với nhân dân các nước Lào và Campuchia anh em, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai"1 (Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 9 tháng 2 năm 1971). Thực hiện quyết tâm chiến lược và lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 9 tháng 2, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: "Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quản sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành toàn thắng cho chiến dịch"2 (Chỉ thị số 09/QU-TƯ/A, ngày 9 tháng 2 năm 1971 của Quân ủy Trung ương, lưu K4, phông QUTƯ, hồ sơ số 713). Chỉ thị của Quân ủy Trung ương yêu cầu các cấp ủy chỉ huy các đơn vị phải ''Ra sức động viên chính trị, làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên nhận rõ tình hình, nhiệm vụ, ý nghĩa quan trọng, yêu cầu của chiến dịch, quyết thắng thật cao, động viên khí thế chiến đấu thật sôi sục, thật bền bỉ, nêu cao lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, khơi sâu lòng căm thù giặc, có quyết tâm hy sinh chiến đấu, cống hiến lớn nhất cho dân tộc, cho Đảng. Bất kể tình huống nào chúng ta củng phải đánh thắng..."1 (Chỉ thị số 09/QU-TƯ/A, ngày 9 tháng 2 năm 1971 của Quân ủy Trung ương, lưu K4, phông QUTƯ, hồ sơ số 713). Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương và Chỉ thị của Quân ủy Trung ương là ý chí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm đánh thắng địch, đồng thời thể hiện sự quan tâm và cổ vũ của Đảng đối với tất cả các lực lượng, các cán bộ, chiến sĩ có vinh dự tham gia chiến dịch. Ngày 14 tháng 2 năm 1971, Đảng ủy Bộ Tư lệnh chiến dịch họp để nghiên cứu, quán triệt lời kêu gọi của Đảng và Chỉ thị của Quân ủy Trung ương trong điều kiện chiến dịch bắt đầu triển khai và diễn biến hết sức khẩn trương. Đảng ủy yêu cầu các cấp ủy, chỉ huy các đơn vị phải vừa lãnh đạo tác chiến, vừa nhanh chóng phổ biến, truyền đạt lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương và chỉ thị của Quân ủy đến các cấp ủy cơ sở và cán bộ, đảng viên, đoàn viên nhằm quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, mục đích, ý nghĩa chiến dịch và nhiệm vụ từng hướng, từng đơn vị. Lời kêu gọi của Đảng và chỉ thị của Quân ủy Trung ương đã tạo sự nhất trí cao từ trên xuống dưới, tạo khí thế thi đua lập công trong các đơn vị hết sức sôi nổi. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, đoàn kết, hiệp đồng chiến đấu, lập công xuất sắc đã xuất hiện, nhiều đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đánh thắng địch ngay từ trận đầu. Tiếp sau thắng lợi trong những ngày đầu chiến dịch, bằng một loạt trận đánh tiêu diệt quân địch ở khu vực điểm cao 500, 456, 543, 530 và các trận đánh phá kho tàng, giao thông ở phía Đông Đường 9..., ta đã bẻ gãy cánh quân phía Bắc Đường 9, gây thiệt hại và đẩy lùi cánh quân phía Nam Đường 9 của địch, tạo thế bao vây lực lượng chủ yếu của chúng ở Bản Đông. Thắng lợi trong đợt đầu chiến dịch đã có sức cổ vũ, động viên tinh thần bộ đội trên toàn mặt trận. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã chỉ đạo công tác tư tưởng tập trung vào việc phát huy thắng lợi, biểu dương, khen thưởng kịp thời; tiếp tục quán triệt phương châm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến; nêu cao tinh thần đoàn kết, hiệp đồng chiến đấu, thi đua lập công; đồng thời chú trọng đề cao tinh thần liên tục chiến đấu, vừa đánh vừa củng cố lực lượng, chấp hành nghiêm kỷ luật chiến trường; kiên quyết tiến lên giành toàn thắng cho chiến dịch. Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch, các đơn vị trên toàn mặt trận đã ra sức thi đua lập công với khẩu hiệu "Diệt trực thăng, săn cơ giới, tiêu diệt địch giờn giã, bắt tù binh, thu vũ khí, làm chủ chiến trường". Trên đà thắng lợi và với thế tiến công áp đảo quân địch, ngày 2 tháng 3 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị trong đó nêu rõ: "Tuy địch đã thất bại bước đầu ngoài dự tính, nhưng với bản chất ngoan cố và còn lực lượng, nên qua mấy ngày lúng túng, chúng đang điều động thêm lực lượng với ý đồ củng cố trận địa Bản Đông thành một bàn đạp tương đối vững, đồng thời dùng lực lượng mới, thay đổi thủ đoạn tác chiến, cố gắng tiếp tục cuộc hành quân, hòng vớt vát về chính trị... Tình huống cơ bản là cuộc chiến đấu có thể sẽ diễn ra quyết liệt trong một thời gian tương đối dài; chúng ta phải sẵn sàng đánh địch và thắng địch; đồng thời sẵn sàng tiêu diệt địch trong trường hợp chúng buộc phải rút sớm trước những thất bại mới"1 (Chỉ thị số 012/QU-TƯ/A ngày 2 tháng 3 năm 1971, lưu K-1 Bộ Quốc phòng, phông QUTƯ, hồ sơ số 714)... Trên cơ sở nhận định tình hình, Quân ủy Trung ương đã biểu dương những thắng lợi đã đạt được, khẳng định khả năng giành thắng lợi to lớn của ta, chỉ ra những ưu, khuyết điểm vừa qua; đồng thời nhấn mạnh quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kiên quyết đánh thắng địch, giành thắng lợi cho chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2023, 05:46:36 pm Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã nhanh chóng quán triệt tinh thần cơ bản Chỉ thị của Quân ủy Trung ương đến các hướng, các đơn vị. Công tác lãnh đạo tư tưởng lúc này có nhiệm vụ hết sức quan trọng là tập trung làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là đánh bại quân địch đang tăng cường sang phía Nam Sê Pôn, động viên các đơn vị trên hướng Nam Sê Pôn nâng cao quyết tâm vừa diệt địch, vừa bảo vệ kho tàng, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược; đồng thời kiên quyết tiêu diệt địch nếu chúng liều lĩnh tiến đến Sê Pôn. Ở các hướng khác, tiếp tục động viên tinh thần tiến công liên tục, kiên quyết cắt đứt Đường 9, chuẩn bị tư tưởng đánh dài ngày với địch và sẵn sàng nắm vững thời cơ đánh địch nếu chúng rút chạy. Chiến sự diễn ra nhanh chóng và quyết liệt. Bằng các trận đánh tiêu diệt lớn khi địch đổ quân xuống các điểm cao, vây ép chúng tại các điểm cao 748, 723, 550, 532 ở cánh Nam Sê Pôn; các trận tập kích tiêu hao, tiêu diệt địch ở khu vực Bản Đông; ngăn chặn giữ vững các điểm tựa trên Đường 9, ta đã chia cắt, cô lập địch trên từng khu vực. Bị đánh thiệt hại nặng trên tất cả các hướng, cả phía trước và phía sau, trước nguy cơ bị bao vây và có thể bị tiêu diệt trên từng khu vực, địch buộc phải rút chạy từng bộ phận. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã hạ quyết tâm: không cho quân địch rút nhanh, rút có tổ chức; nhanh chóng chuyển sang tiến công, tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định. Công tác lãnh đạo tư tưởng ở các đơn vị đã tập trung vào việc nhận rõ tình thế, thời cơ thuận lợi, động viên khí thế anh dũng xốc tới, hành động táo bạo, kiên quyết vây chặt, ép sát, đánh mạnh, đánh liên tục, không cho địch chạy thoát. Ngày 14 tháng 3, Bộ Tư lệnh phát lệnh động viên tới các đơn vị trên toàn mặt trận: "Thời cơ tiêu diệt lớn quân địch và giành toàn thắng cho chiến dịch đã đến". Lệnh động viên đã có tác động cổ vũ sâu rộng và mạnh mẽ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội. Trên khắp các mặt trận, phong trào thi đua lập công diễn ra sôi nổi giữa các đơn vị, các hướng. Cán bộ, chiến sĩ bước vào giai đoạn cuối chiến dịch với khí thế quyết tâm cao, nắm chắc thời cơ tiêu diệt địch, với một nguyện vọng mong muốn lập công, góp phần xứng đáng vào thắng lợi. Trên các hướng, các đơn vị đều nỗ lực chiến đấu và giành thắng lợi.
Sau những thắng lợi liên tiếp của ta ở các điểm cao 723, 660, 550, 532 (Nam Đường 9) và trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn ở Bản Đông, ngày 18 tháng 3 năm 1971, địch bắt đầu rút chạy khỏi Bản Đông. Để phát huy thắng lợi, một bộ phận lực lượng ta tiếp tục đánh địch từ biên giới Lào - Việt về phía Đông. Ngày 23 tháng 3, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Như vậy, trải qua hơn 50 ngày đêm chiến đấu liên tục, vượt mọi khó khăn, gian khổ, thử thách quyết liệt trong chiến đấu, đơn vị nào, binh chủng nào cũng đánh thắng, hướng nào cũng lập công; tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội ta đã được phát huy cao độ, thể hiện trên các mặt sau đây: Thứ nhất, các đơn vị đã quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, kịp thời triển khai lực lượng trên các hướng. Đặc biệt, các đơn vị Binh đoàn B70 đã chạy đua với địch, hành quân cơ giới với khối lượng lớn binh khí kỹ thuật, vượt đường dài, vượt núi rừng hiểm trở, vượt trọng điểm đánh phá, kể cả ban ngày. Một số đơn vị đang làm nhiệm vụ khác, được lệnh tham gia chiến dịch đã khẩn trương hành quân, vượt cung trạm, vừa đi vừa chuẩn bị, đến vị trí đã tham gia chiến đấu được ngay. Trong quá trình phát triển chiến dịch, một số đơn vị được lệnh cơ động chuyển hướng đã chấp hành nhanh chóng mệnh lệnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến dịch. Thứ hai, các đơn vị tại chỗ và chủ lực đều quyết tâm thực hiện thắng lợi từng bước, từng nhiệm vụ của chiến dịch như quyết tâm đánh tiêu diệt một số căn cứ hỏa lực quan trọng, đánh bại một số trận phản kích có xe tăng, thiết giáp của địch; kiên quyết tiêu diệt cánh quân đột xuất của địch tiến ra nam Sê Pôn; tiến công và truy kích tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch ở Bản Đông rút chạy; đánh vào bàn đạp hành quân, hậu cứ, kho tàng, đường bộ, đường sông của địch; vừa đánh địch vừa vận chuyển chi viện liên tục cho các chiến trường. Thứ ba, các đơn vị đã quyết tâm thực hiện các cách đánh có hiệu quả như vây lấn kiên trì, áp sát vây chặt, lấn đến đâu giữ đến đó, xen kẽ với địch, đánh liên tục ngày đêm cho đến khi dứt điểm; các chốt kiên cường chặn đường tiến, đường rút của địch; đánh thiết giáp địch bằng vũ khí bộ binh, đánh bại các cuộc đổ quân bằng trực thăng; đánh tê liệt các cụm pháo binh địch; luồn sâu, đánh hiểm vào hậu cứ, kho tàng, sở chỉ huy địch... Trong chiến dịch, rất nhiều tấm gương hy sinh, chiến đấu dũng cảm, mưu trí. Cán bộ chỉ huy các cấp có trách nhiệm cao, tác phong sâu sát; đảng viên, đoàn viên gương mẫu xung phong, nhiều chiến sĩ mới đã trở thành dũng sĩ, nhiều đơn vị trở thành đơn vị quyết thắng, đơn vị anh hùng... Tất cả đều nêu cao quyết tâm vượt qua khó khăn gian khổ, ác liệt, lập chiến công, góp phần đưa chiến dịch đến toàn thắng. Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, tinh thần quyết chiến, quyết thắng là truyền thống vô cùng quý báu của quân đội ta. Truyền thống đó được xây dựng trên cơ sở giác ngộ về chính trị, lòng yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc. Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, việc phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng là nhân tố cơ bản, là cơ sở vững chắc để cán bộ, chiến sĩ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong từng đợt chiến dịch; đồng thời là nhiệm vụ trọng tâm của công tác lãnh đạo tư tưởng. Công tác lãnh đạo tư tưởng phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng trong chiến dịch đã đạt hiệu quả cao, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch. Từ thực tiễn công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng nhằm phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng trong chiến dịch có thể rút ra những kinh nghiệm chủ yếu sau đây: Một là, việc xây dựng và phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng trong chiến dịch phải gắn liền với quá trình giáo dục chính trị cơ bản từ trước. Đó là quá trình giáo dục những vấn đề cơ bản về lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng, tình hình nhiệm vụ cách mạng, chức năng của lực lượng vũ trang, truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc, bán chất và truyền thống cách mạng của quân đội. Kết quả của việc giáo dục cơ bản đó đã góp phần nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của bộ đội, xây dựng lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn nhận rõ tình hình nhiệm vụ, nhận rõ âm mưu của địch, đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của chúng, nhận rõ sức mạnh chính nghĩa và tất thắng của ta, không ngừng nâng cao ý chí chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng. Hai là, để phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng đòi hỏi phải quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, mục đích, yêu cầu tác chiến chiến dịch đến từng đơn vị, cán bộ, chiến sĩ, từ đó làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ có quyết tâm chiến đấu cao kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Thực tiễn chiến dịch cho thấy, ngay từ khi quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã đề ra yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của chiến dịch là: Tiêu diệt thật nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn tác chiến của chúng; kiên quyết bảo vệ tuyến vận tải chiến lược, căn cứ, kho tàng của ta; phối hợp với các chiến trường trên toàn miền Nam và các chiến trường Lào, Campuchia làm thất bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và âm mưu "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương" của đế quốc Mỹ. Về yêu cầu tác chiến là: tiến hành các trận đánh lớn hiệp đồng binh chủng, đánh liên tục, tiêu diệt thật nhiều địch, làm chủ chiến trường, thu nhiều vũ khí, giữ vững quyền chủ động trong điều kiện chiến dịch phản công diễn ra hết sức khẩn trương, phức tạp và ác liệt. Việc quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, yêu cầu chiến dịch đến các đơn vị đã động viên, khích lệ tinh thần chiến đấu của bộ đội trên tất cả các hướng và trong từng đợt chiến dịch. Các đơn vị tham gia chiến dịch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng lớn quân địch1 (Trong chiến dịch, ta đã tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn, 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pb, 4 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp; đánh thiệt hại nặng 2 trung đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn và 3 tiểu đoàn khác), giữ và bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược. Đặc biệt, bộ đội chủ lực, lực lượng cơ động chiến lược đã phát huy được sức mạnh chiến đấu hiệp đồng binh chủng giữa bộ binh, pháo binh, xe tăng phòng không và các binh chủng kỹ thuật khác, góp phần giành thắng lợi trong các trận then chốt chiến dịch ở cánh Bắc, cánh Nam Đường 9 và Bản Đông. Ba là, xây dựng, bồi dưỡng tinh thần chiến đấu giữ vững quyết tâm phải được tiến hành liên tục trong suốt quá trình chiến dịch, coi đó là một biện pháp quan trọng để duy trì, nâng cao sức chiến đấu của bộ đội. Trong chiến tranh nói chung và trong chiến đấu nói riêng, tư tưởng luôn diễn biến theo quy luật: thắng lợi thường phát sinh chủ quan, coi thường địch; khó khăn, ác liệt thường dẫn đến bi quan, thiếu tin tưởng vào khả năng đánh thắng. Vì vậy, kinh nghiệm lãnh đạo tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm trong chiến đấu là phải nhạy bén trước mọi diễn biến tình hình, từ những thay đổi trong quá trình phát triển chiến dịch, các tình huống phức tạp nảy sinh, đến diễn biến tư tưởng của bộ đội..., trên cơ sở đó dùng nhiều biện pháp giáo dục, động viên, khích lệ, kết hợp đấu tranh với những biểu hiện dao động, thiếu quyết tâm trong chiến đấu. Thực tiễn chiến dịch cho thấy, sau khi có phương châm và kế hoạch chiến dịch đúng, thì việc nhạy bén lãnh đạo, giải quyết tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm có tác dụng quyết định đối với việc thực hiện phương châm và kế hoạch để giành toàn thắng cho chiến dịch. Với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, việc xây dựng và phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng là một thành công điển hình, một trong những yếu tố quyết định đưa chiến dịch đến thắng lợi. Tinh thần quyết chiến, quyết thắng đó thể hiện ở chỗ: bộ đội ta "dám đánh, biết đánh và biết thắng địch". Việc coi trọng nhân tố tinh thần, xây dựng và củng cố quyết tâm cao trong chiến đấu bằng mọi biện pháp lãnh đạo tư tưởng kết hợp với công tác tổ chức là một bài học lớn rút ra từ thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Nó chứng tỏ, chiến tranh càng ác liệt thì tinh thần của bộ đội càng giữ vai trò quan trọng. Đúng như V.Lênin đã khẳng định: "Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tâm trạng của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường"1 (Dẫn theo: Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 257). Những bài học về xây dựng, phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đến nay vẫn còn nguyên giá trị, sẽ góp phần vào sự nghiệp xây dựng quân đội ta theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2023, 05:55:29 pm TỔNG HÀNH DINH CHỈ ĐẠO CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO Đại tá TRẦN TRỌNG TRUNG Cựu chiến binh Sau cuộc đảo chính ở Campuchia (18-3-1970), Tổng hành dinh đã nhận thấy đường chiến lược 559 - con đường vận chuyển duy nhất giữa hai miền Bắc - Nam, địch có thể tập trung đánh phá quyết liệt hòng cô lập chiến trường miền Xam. Nghiên cứu tài liệu Kế hoạch hỗn hợp - mục tiêu chiến lược do tướng Mỹ Abram và Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn ký tháng 2 năm 1970 và phân tích tình hình mấy tháng đầu năm 1970, Tổng hành dinh cho rằng dịch đang trù liệu kế hoạch phong tỏa các cảng biển sử dụng bộ binh đánh sang Campuchia, Lào và tuy tình hình, chúng có thể tiến công vào căn cứ, hành lang của ta. Tổng hành dinh cũng không loại trừ khả năng dịch dùng bộ binh có mức độ đánh ra phía Nam Khu 4. Do dự kiến trước âm mưu dịch, nên ngay từ cuối tháng 3 năm 1970 Tổng hành dinh đã chỉ đạo xúc tiến công tác chuẩn bị lực lượng, dự trữ hậu cần, xây dựng kế hoạch sẵn sàng chiến đấu bảo vệ hành lang. Cuối tháng 3 năm 1970, Mặt trận Trung - Hạ Lào (Đoàn 968) được thành lập, trực thuộc Quân ủy Trung ương để thống nhất chỉ huy các lực lượng ở Trung - Hạ Lào. Một trong những nhiệm vụ của mặt trận này là phối hợp với Bộ Tư lệnh 559 và với Quân đội cách mạng Lào, sẵn sàng đập tan mọi cuộc tiến công lấn chiếm của địch vào đường chiến lược 559. Ngay sau đó, một số đơn vị đã triển khai đánh giao thông của địch trên các khu vực Tam Tanh - Rào Quán - Làng Vây, đồng thời lực lượng công binh được tăng cường để mở thêm đường mới, nối đường 16 với đường 70, qua Đường 9 đến Ka Lung, tạo thếm điều kiện cho việc chuyển quân khi cần. Đầu tháng 6 năm 1970, sau khi phân tích khả năng địch có thể tiến công khu vực S9 - đường 45 - La Hạp, hành lang 559 - Bản Đông và lấn chiếm A Tô Pơ, Tổng hành dinh chỉ thị các lực lượng trên địa bàn (đặc biệt khu vực Bản Đông) triển khai sẵn sàng chiến đấu, nhằm đánh bại cuộc hành quân của địch. Sau khi quân Mỹ tiến công sang Campuchia và rút về (khoảng giữa năm 1970), Tổng hành dinh nhận định chúng có thể đánh sang Nam Lào trên hai hướng Đường 9 và vùng ba biên giới để chặn đường vận chuyển của ta. Trên cơ sở phán đoán mục tiêu và thủ đoạn tiến công của địch, cơ quan tham mưu Tổng hành dinh bắt đầu nghiên cứu các kế hoạch tác chiến và thiết bị chiến trường, kế hoạch điều động và triển khai lực lượng, đồng thời phối hợp với hậu cần "lót ổ" cơ sở vật chất kỹ thuật trên từng hướng... Ngày 24 tháng 8 năm 1970, khi nghe báo cáo tình hình chiến sự Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Thường trực Quân ủy Trúng ương nhấn mạnh quyết tâm: trong bất kỳ tình huống nào cũng phải giữ vững hành lang Trung - Hạ Lào, coi đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Thường trực Quân ủy Trung ương chỉ thị: theo tinh thần đó, khi xây dựng kế hoạch tác chiến mùa khô, Bộ Tổng Tham mưu cần dự kiến: nếu địch đánh ra Trung - Hạ Lào chúng có thể huy động từ 20 đến 25 tiểu đoàn quân đội Sài Gòn, một bộ phận quân Mỹ, khoảng 15-20 tiểu đoàn quân phái hữu Lào và không loại trừ khả năng có 1-2 trung đoàn quân Thái Lan đứng đằng sau. Trong dự thảo kế hoạch, phải quyết tâm giữ vững một số khu vực trên Đường 9, nhanh chóng tiêu diệt địch, giải phóng Sê Pôn, Mường Phìn (nếu địch đánh chiếm) và Pha Lan, Keng Kọc. Do tầm quan trọng của yêu cầu bảo vệ đường vận chuyển chiến lược và đánh bại một bước cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, Bộ Tổng Tham mưu được Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ chuẩn bị và trực tiếp điều hành chiến dịch phản công sắp tới. Ngày 10 tháng 10 năm 1970, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70 (B70), gồm các sư đoàn bộ binh 304, 308, 320 và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật, do Đại tá Cao Văn Khánh làm Tư lệnh. Đại tá Hoàng Phương làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy. Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70 là tổ chức trực thuộc Bộ Quốc phòng về mọi mặt, quyền hạn tương đương một Bộ Tư lệnh Quân khu. Binh đoàn 70 là lực lượng cơ động chiến lược của Bộ, có nhiệm vụ làm nòng cốt cùng các lực lượng tại chỗ tiêu diệt địch trong các chiến dịch lớn do Bộ chỉ đạo. Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70 ra đời thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bộ Thống soái tối cao về phương hướng tác chiến quy mô ngày càng lớn của lực lượng dự bị chiến lược. Riêng trên Mặt trận Đường 9, với chủ trưởng thành lập Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70, Tổng hành dinh đã đi trước một bước có ý nghĩa quyết định, trên cơ sở phán đoán âm mưu chiến lược mùa khô của địch. Do không loại trừ khả năng quy mô tác chiến chiến dịch có thể cao hơn, vượt khả năng đảm nhiệm của Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70, cho nên một số cán bộ trung cao cấp của Bộ Quốc phòng đã được dự báo sẵn sàng lên đường vào chiến trường nếu Tổng hành dinh tổ chức Binh đoàn chiến dịch quy mô lớn hơn Bộ Tư lệnh B70. Cũng do dự kiến như trên cho nên từ tháng 10, các phái đoàn của Bộ đã vào các quân khu 4 và 5, Bộ Tư lệnh 559 để truyền đạt quyết tâm của Quân ủy Trung ương, lấy ý kiến các chiến trường về phương hướng tác chiến chiến dịch phản công và thống nhất việc điều động lực lượng của các Bộ Tư lệnh nói trên trong chiến dịch sắp tới. Ngày 15 tháng 12 tháng 1970, trước những triệu chứng địch khẩn trương chuẩn bị hoạt động trên hướng Đường 9 và Quân khu 4, cơ quan tham mưu Tổng hành dinh điện cho các Bộ Tư lệnh B70, Mặt trận phía Đông Đường 9 và Quân khu 4, nhấn mạnh nhiệm vụ theo dõi chặt chẽ việc địch tăng cường hoạt động trinh sát đường không và vận chuyển dự trữ vật chất ở Đông Hà, đồng thời chỉ thị điều ngay lực lượng vào chiếm lĩnh địa bàn Bắc Khe Sanh sẵn sàng đánh địch bảo vệ hành lang vận chuyển trên đường 16, xây dựng căn cứ đứng chân lâu dài. Kế hoạch tác chiến chiến dịch phản công được Quân ủy Trung ương thông qua lần cuối vào tháng 12 năm 1970. Sau đó, trong diện gửi Tư lệnh Quân khu 5 - Chu Huy Mân và Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên - Hoàng Minh Thảo, Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn nêu rõ yêu cầu phối hợp tác chiến khi địch đánh ra hành lang 559 ở Hạ Lào. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2023, 05:57:02 pm Ngày 31 tháng 1 năm 1971, nhiều đài phát thanh nước ngoài đưa tin: địch điều một lực lượng cơ động chiến lược lớn của quân đội Sài Gòn, có sự yểm trợ hỏa lực của quân Mỹ, bắt đầu triển khai đội hình hành quân trên Đường 9, mở đầu cuộc tiến công lớn vào hành lang chiến lược của ta.
Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhận định: Cuộc hành binh của địch là nhằm mục đích đánh phá kho tàng, ngăn chặn đường vận chuyển chiến lược Bắc - Nam, phá cuộc tiến công mùa khô đồng thời thăm dò quyết tâm và khả năng phản ứng của ta. Đây còn là ý đồ chiến lược nhằm tăng cường rèn luyện để quân đội Sài Gòn có thể độc lập tác chiến, tạo điều kiện đẩy nhanh "Việt Nam hóa chiến tranh" và tiếp tục rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam. Đánh bại cuộc phản công chiến lược này của địch có ý nghĩa rất lớn không chỉ về quân sự, chính trị mà cả về ngoại giao, cả trước mắt cũng như lâu dài đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương xác định quyết tâm: Trong bất kỳ tình huống nào cũng phải đánh bại cuộc hành binh của địch, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược của chúng, bảo vệ cho kỳ được kho tàng và bảo đảm đường vận chuyển chi viện cho các chiến trường. Sau cuộc họp, cơ quan tham mưu Tổng hành dinh chuyển lệnh của Bộ Chính trị cho các chiến trường Nam Bộ, Đoàn 559, Tây Nguyên, Trị - Thiên và Khu 5, nêu rõ yêu cầu: nhân lúc một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược tinh nhuệ quân đội Sài Gòn bị điều ra Đường 9, lợi dụng thế dịch sơ hở, đẩy mạnh tác chiến (kể cả đánh phá bình định) tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp đắc lực với chiến trường chính. Trên cơ sở kế hoạch tác chiến đã được thông qua, ngày 1 tháng 2, Quân ủy Trung ương điện chính thức giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh B70 tham gia Chiến dịch Đường 9. Quân ủy Trung ương nhắc: - Cần nhận rõ ý nghĩa to lớn cả về quân sự và chính trị của việc đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch. Đây là trận chiến đấu đầu tiên của Bộ Tư lệnh B70 từ khi thành lập, vì vậy cần quán triệt quyết tâm của Quân ủy Trung ương, làm cho cấp ủy, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có quyết tâm cao, trong lần đầu xuất quân, nhất thiết phải hoàn thành tốt nhiệm vụ quan trọng này. - Cần phân tích cụ thể đặc điểm của cuộc hành quân của địch để chỉ đạo tác chiến có kết quả và phát huy sáng kiến của các cấp chỉ huy, cán bộ và chiến sĩ. Cuộc hành quân của địch gồm một lực lượng cơ động khá lớn, có nhiều binh chủng kỹ thuật và phương tiện cơ động, có sự yểm trợ hỏa lực mạnh của Mỹ. Tuy nhiên, địch có nhược điểm rất lớn là tinh thần chiến đấu rất kém, hành quân xa căn cứ, trên địa hình không thuận lợi và cơ động chủ yếu bằng trực thăng... Do đó, nếu ta có quyết tâm cao, có cách đánh giỏi, thì đây là cơ hội tốt để tiêu diệt lực lượng cơ động tinh nhuệ của địch. - Về lãnh đạo và chỉ huy tác chiến trong chiến dịch cũng như trong chiến đấu, Bộ Tư lệnh B70 cần nắm vững những điểm sau: + Tích cực và chủ động, cơ động và linh hoạt, bí mật, bất ngờ, phán đoán địch phải sắc bén, phát hiện những ý định mới của chúng. + Tranh thủ thời gian, hoạt động kịp thời và nhanh chóng sáng tạo thời cơ và nắm vững thời cơ đánh địch và tiêu diệt địch (cần có biện pháp cụ thể). + Kết hợp chặt chẽ giữa đánh vừa, đánh nhỏ và đánh lớn; trong lúc sáng tạo để đánh những trận tiêu diệt lớn, cần sử dụng lực lượng quy mô vừa và nho, vận dụng mọi hình thức chiến thuật để diệt địch rộng rãi (đây là điểm quan trọng). + Cần theo dõi sát hành động của địch, có dự kiến và kế hoạch đánh địch trong suốt thời gian cuộc hành binh của chúng, lúc chúng mới đánh ra, lúc cuộc hành binh đang diễn biến cũng như lúc chúng thu quân. + Chú trọng các công tác bảo đảm, phát huy hiệu suât chiến đấu của mọi lực lượng, mọi binh chủng, thực hiện đánh liên tục và dai sức. Tiếp theo điện ngày 31 tháng 1, ngày 2 tháng 2, Quân ủy Trung ương lại điện nhắc Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền: Cần tranh thủ thời gian đẩy mạnh hoạt động phối hợp, chú trọng hướng Tây Bắc Sài Gòn, đồng bằng sông Cửu Long cũng như chiến trường Campuchia, nhằm phối hợp có hiệu quả với Mặt trận Đường 9, đồng thời triệt để lợi dụng sơ hở của chúng, đẩy mạnh đánh phá bình định, tiêu diệt sinh lực địch. Ngày 6 tháng 2 năm 1971, Thường trực Quân ủy Trung ương nghe Cục Tác chiến báo cáo về tình hình chiến sự Mặt trận Đường 9. Sau khi nhắc lại binh lực của địch, mục đích và hướng của cuộc hành binh (Bản Đông - Sê Pôn - Mường Noòng), Cục Tác chiến dự kiến hai tình huống: một là, chúng đánh ra khu vực hành lang, phá kho tàng, ngăn chặn đường vận chuyển, thời gian khoảng ba tuần đến một tháng, rồi rút; hai là, chúng đánh ra khu vực hành lang, chốt lại suốt mùa khô để phá kho tàng, ngăn chặn vận chuyển hoặc đánh ra một thời gian ngắn rồi cụm lại ở khu vực Lao Bảo - Khe Sanh - Tà Cơn - Tam Tanh, làm căn cứ hành quân thường xuyên đánh phá kho tàng, ngăn chặn vận chuyển suốt mùa khô. Do đó, ta cần có kế hoạch đánh địch trong cả Đông - Xuân. Cục Tác chiến dự kiến cuộc hành binh của địch có thể diễn ra thành hai bước, trong đó bước hai chúng có thể dùng máy bay đổ quân chiếm các điểm cao, kết hợp với bộ binh cơ giới hành quân trên ba hướng: theo trục Đường 9, Làng Vây - Tam Luông và Tà Cơn - Cha Ky. Mục đích trước mắt là chiếm Bản Đông, Tam Luông, Mường Noòng (cần đề phòng địch đổ bộ xuống Sê Pôn). Sau đó, tùy theo tình hình hoạt động của ta mà địch có thể tiến ra khu vực Sê Pôn hoặc co cụm lại ở Bản Đông hoặc khu vực Lao Bảo - Khe Sanh - Tam Tanh. Sau khi nhắc lại chủ trương và quyết tâm của ta, nhiệm vụ của Mặt trận Đường 9, Cục Tác chiến dự kiến chiến dịch phản công của ta sẽ diễn ra thành 3 bước: bước một, đánh địch hành quân vượt biên giới; bước hai, nếu địch co cụm lại hoặc rút lui, ta sẽ tiến hành vây ép đi đến tiêu diệt các điểm co cụm của địch; bước ba, tùy tình hình sẽ phát triển tiến công trên hai hướng Tây Quảng Trị và Keng Kọc. Sau 10 ngày triển khai lực lượng trên Đường 9 nhằm thăm dò phản ứng của ta, ngày 8 tháng 2, dưới sự yểm trợ hỏa lực của pháo binh và không quân Mỹ, quân đội Sài Gòn chia thành ba cánh ồ ạt vượt biên giới Việt - Lào. Cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9 qua Lao Bảo. Cùng ngày, trên cơ sở dự kiến trước đây về quy mô chiến dịch phản công, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy Mặt trận 702 (Mặt trận Đường 9), dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương về mọi mặt. Đảng ủy Mặt trận 702 gồm các đồng chí Lê Quang Đạo (Bí thư), Hoàng Phương (Phó Bí thư). Tiếp đó, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận 702 (Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9), do Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Quang Đạo làm Chính ủy, Tư lệnh B70 Cao Văn Khánh làm Tư lệnh phó. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh 702 có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy tác chiến trên Mặt trận Đường 9, bao gồm các đơn vị thuộc B70, Khu 4, Khu 5 và các đơn vị thuộc 559 hoạt động trên Đường 9. Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng được cử làm dại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng tại mặt trận. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2023, 05:58:29 pm Cũng trong ngày 8 tháng 2 năm 1971, Bộ Quốc phòng triệu tập Hội nghị cán bộ cao cấp để thông báo tình hình chiến sự Đường 9 - Nam Lào. Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nói rõ nhận định trước đây của Bộ Chính trị và nghị quyết của Quân ủy Trung ương về tình hình và nhiệm vụ quân sự năm 1971 có quan hệ trực tiếp tới cục diện chiến trường Đường 9 hiện nay.
Thực tế cuộc phản công của địch đang chứng minh dự kiến chính xác của Tổng hành dinh về những hành động phiêu lưu mới của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Ta dự kiến Mỹ có thể tiến quân sang Campuchia, có thể đánh vào hành lang vận chuyển chiến lược và cũng có thể mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Cùng với nhận định đó, từ rất sớm Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo chuẩn bị chiến dịch này, nhằm tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn, bảo vệ đường chi viện cho tiền tuyến, phối hợp với các chiến trường bạn đập tan hành động phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định về chiến lược, ta phải có quyết tâm rất lớn, phải đánh tháng. Thắng lợi của chiến dịch ảnh hưởng rất lớn đến chiến trường miền Nam cả về quân sự và chính trị đồng thời ảnh hưởng lớn đến các chiến trường toàn Đông Dương, ảnh hưởng không những với Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hòa, mà còn đối với tình hình chính trị nước Mỹ và quan hệ trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc. Đại tướng Tổng tư lệnh phân tích chỗ mạnh chỗ yếu của địch, những thuận lợi khó khăn của ta và khẳng định quyết tâm của Tổng hành dinh là kiên quyết giành thắng lợi trong chiến dịch này. Sau khi nhắc lại nhiệm vụ của các cơ quan Tổng hành dinh, của các đơn vị phía trước và của hậu phương lớn, Đại tướng kết luận: Thời kỳ khẩn trương này là một dịp để chúng ta tiêu diệt địch đồng thời qua đó mà rèn luyện cơ quan, đơn vị, nâng cao chất lượng công tác và chiến đấu của toàn quân. Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Sau khi phân tích nguyên nhân hành động phiêu lưu quân sự của địch sau những thất bại ở miền Nam, Campuchia và Lào, chỉ rõ hành động phiêu lưu đó bộc lộ thế khốn quẫn bị động của Mỹ và tay sai, Quân ủy khẳng định quyết tâm và nhiệm vụ tiêu diệt thật nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đánh bại mọi âm mưu của chúng, kiên quyết bảo vệ đường Hồ Chí Minh bảo vệ tuyến vận tải tiếp tế, căn cứ kho tàng của ta để bảo đảm liên tục chi viện cho các chiến trường, làm thất bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và âm mưu "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương" của đế quốc Mỹ. Quân ủy yêu cầu các cấp ủy Đảng, các cấp chỉ huy phải ra sức động viên chính trị, làm cho mọi người nhận rõ tình hình và nhiệm vụ, ý nghĩa quan trọng và yêu cầu của chiến dịch, có quyết tâm chiến đấu, hy sinh cống hiến cao nhất cho dân tộc. Cuối cùng, bản chỉ thị của Quân ủy Trung ương viết: Thời cơ lập công diệt địch đã đến, hãy phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc và quân đội ta, tập trung tất cả tinh thần và sức lực, dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công, tiêu diệt thật nhiều sinh lực tinh nhuệ của địch, bảo vệ con đường Hồ Chí Minh, xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này. Hôm sau, Quân ủy Trung ương điện trực tiếp cho các Bộ Tư lệnh B70, 559, B5 và Trị - Thiên, quán triệt tinh thần đó của Tổng hành dinh. Điện chỉ rõ: cuộc hành binh của địch không những nhằm gây cho ta những khó khăn trước mắt mà còn tạo điều kiện thuận lợi mới để chúng thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" trong những năm tới và chuẩn bị cho cuộc bầu cử nhiệm kỳ 2 của Níchxơn. Sau khi nêu những điểm mạnh và khó khăn của địch, Quân ủy chỉ rõ những thuận lợi cơ bản của ta, đó là bộ đội và chiến trường đều được chuẩn bị tốt, hậu cần thuận lợi hơn chiến trường khác. Vì vậy, đây là cơ hội thuận lợi để ta tiêu diệt địch. Quân ủy Trung ương dự kiến: do địch mở cuộc hành quân quy mô lớn, trên diện rộng, diễn biến có thể phức tạp, cho nên trong chỉ đạo tác chiến cần phải phát huy sức mạnh tiến công của các đơn vị, các binh chủng và các cấp; nắm vững phương châm tác chiến kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, phải biết đánh nhỏ, đánh vừa, đồng thời phải tạo điều kiện để đánh những trận tiêu diệt lớn, tiêu diệt rộng rãi và liên tục quân địch, tiêu diệt từng đơn vị lớn của chúng. Có như vậy mới tranh thủ được thời gian, mới tạo được cơ hội và kịp thời nắm cơ hội giành thắng lợi lớn cho chiến dịch. Sau 7 ngày theo dõi diễn biến của chiến dịch, ngày 14 tháng 2 năm 1971, Bộ Tổng Tham mưu gửi điện chỉ đạo riêng Quân khu Trị - Thiên và Bộ Tư lệnh 559 về nhiệm vụ tác chiến phối hợp trực tiếp với Mặt trận Đường 9. Sau khi nhận định: quân ta đã giành được thắng lợi bước đầu, đã tạo được thế có lợi chuẩn bị cho những trận đánh tiêu diệt lớn hơn, Bộ Tổng Tham mưu nêu lên một số điểm cụ thể về nhiệm vụ của các Bộ Tư lệnh Trị - Thiên và 559: để phối hợp đắc lực với Mặt trận Đường 9, ngoài việc đẩy mạnh hoạt động ở đồng bằng, giáp ranh, tác chiến bảo vệ vận chuyển, kho tàng, chủ lực của Trị - Thiên cần trực tiếp tham gia tác chiến trên Đường 9. Riêng Bộ Tư lệnh 559 cần chỉ đạo bảo đảm vật chất cho Bộ Tư lệnh nhẹ của Sư đoàn 324 (của Quân khu 4) và Sư đoàn 2 (của Quân khu 5), tổ chức hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng tại chỗ của 559. Từ thực tế chiến trường sau gần một tháng chiến đấu, ngày 2 tháng 3 năm 1971, Thường vụ Quân ủy Trung ương điện bổ sung gửi Đảng ủy Mặt trận 702 về phương hướng lãnh đạo giành toàn thắng trong Chiến dịch Đường 9. Sau khi khẳng định quyết tâm nhất thiết phải giành thắng lợi trong chiến dịch quan trọng này, bức điện nhấn mạnh: sự chỉ đạo tác chiến, việc sử dụng lực lượng, động viên chính trị cũng như các mặt công tác khác đều phải bảo đảm đánh địch và thắng địch trong một thời gian dài càng đánh càng thắng, càng đánh càng mạnh. Sự chỉ đạo của các cấp ủy phải quán triệt phương châm nói trên, kiên quyết và vững chắc, táo bạo khi cần thiết, cơ động linh hoạt, đánh địch và thắng dịch trong một thời gian tương đối dài, đồng thời sẵn sàng tiêu diệt địch trong trưồng hợp chúng rút sớm. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2023, 05:59:56 pm Cuộc chiến đấu càng kéo dài trên chiến trường này thì cơ hội của ta càng lớn, ta có điều kiện tiêu diệt địch đồng thời giữ được địch trong thế phân tán chiến lược, tạo điều kiện để các chiến trường nội tuyến, ở nông thôn cũng như ở đô thị, kết hợp tiến công và nổi dậy, đập tan một bước quan trọng âm mưu bình định của địch. Đó là ý nghĩa quan trọng của chiến dịch đối với cục diện chung của cuộc kháng chiến.
Thường vụ Quân ủy Trung ương nêu lên 4 nội dung thắng lợi của chiến dịch này: 1. Tiêu diệt nhiều sinh lực địch đi đôi với rèn luyện và củng cố lực lượng ta; 2. Giữ vững được tuyến vận chuyển chiến lược; 3. Hậu phương lớn miền Bắc đủ sức mạnh đập tan mọi hành động phiêu lưu của địch; 4. Phối hợp với các chiến trường và tạo điều kiện tốt cho các chiến trường vừa tiêu diệt địch vừa đánh bai kế hoạch bình định của chúng. Sau khi chỉ rõ yêu cầu chỉ đạo tác chiến chiến dịch, về sử dụng và bố trí lực lượng, chỉ đạo công tác hậu cần, công tác chính trị trong những ngày tối, Thường vụ Quân ủy Trung ương nhắc Bộ Tư lệnh 702 cần nhanh chóng rút kinh nghiệm đổ kịp thời phát triển cách đánh của ta cả về kỹ thuật và chiến thuật, riêng B5 cần kết hợp hai nhiệm vụ tiến công quân sự đi đôi với đẩy mạnh công tác phá bình định, vận động nhân dân, phát triển lực lượng mọi mặt trong địa phương. Dựa vào tinh thần bức điện trên đây của Thường vụ Quân ủy Trung ương gửi Bộ Tư lệnh 702, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp thông báo tình hình chiến sự Đường 9 nhân cuộc hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân họp hôm sau (3-3-1971). Đồng chí Bộ trưởng nhận xét: Ngay từ đầu chiến dịch, cùng với kết quả tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch, ta đã làm thất bại nhiều thủ đoạn chiến thuật của địch, như chiến thuật vận động, đổ bộ bằng trực thăng (diệt hơn 200 máy bay lên thẳng) hay chiến thuật phòng ngự từng tiểu đoàn trong công sự dã chiến của địch... Thực tế chiến đấu đã chứng minh và khẳng định kết quả công tác huấn luyện vừa qua, nhất là đợt tập huấn cán bộ năm 1970. Trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ có nhiều tiến bộ, hiệu suất chiến đấu của bộ đội được nâng lên rõ rệt, là nguyên nhân khiến cho nhiều cách đánh của ta được phát triển như đánh xe tăng ban ngày, đánh cơ giới địch vận động tiến công căn cứ hậu cần của địch bằng pháo binh và đặc công có hiệu quả và thương vong ta ít. Tuy nhiên, quân ta còn phải cố gắng nhiều hơn nữa vì thắng lợi chưa đều khắp, có đơn vị đánh chưa tốt, có trận tiêu diệt chưa gọn. Sau khi nói về âm mưu và sự cố gắng mới của địch trên chiến trường Đường 9, về phương hướng nhiệm vụ của bộ đội ở phía trước và của các cơ quan Tổng hành dinh ở hậu phương lớn, đồng chí Võ Nguyên Giáp kết luận: Tóm lại, vừa qua ta thắng lớn nhưng mới chỉ là bước đầu. Bộ đội đang đứng trước thời cơ thuận lợi, phải cố gắng rất lớn để giành toàn thắng cho chiến dịch này... Trải qua hơn 50 ngày đêm chiến đấu liên tục, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Ngày 28 tháng 3, Bộ Tư lệnh 702 tổ chức hội nghị sơ kết chiến dịch. Thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng đã dự và phát biểu tại hội nghị. Sau khi nói về ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi của chiến dịch, đồng chí Văn Tiến Dũng phân tích từng đặc điểm và tính chất của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào: 1. Ta chủ động từ đầu đến cuối chiến dịch; 2. Chiến dịch thể hiện khả năng đánh tiêu diệt của bộ đội khá cao; 3. Hiệp đồng chiến đấu giữa các đơn vị, các binh chủng trong chiến dịch đạt trình độ rất cao và toàn diện; 4. Chiến dịch mang tính chất chiến lược. Về mặt thiếu sót của chiến dịch, Tổng tham mưu trưởng nêu lên mẩy vấn đề cụ thể về tổ chức chỉ huy ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả chiến dịch: 1. Trong bao vây chiến dịch, ta đã để lỡ thời cơ tiêu diệt hai lữ đoàn dù và thiết giáp địch sau khi tiến công vào Bản Đông, đặc biệt là để một lực lượng nòng cốt là sô sĩ quan địch chạy thoát; 2. Việc nắm tình hình còn chậm, còn qua nhiều khâu trung gian; 3. Thông tin chậm và không vững chắc, trinh sát mặt đất quá yếu. Riêng việc mã và giải mã các bức điện quá chậm. Từ thực tế kết quả chiến dịch, Tổng tham mưu trưởng rút ra những điểm chủ yếu cần suy nghĩ nghiên cứu sắp tới: 1. Quân ta đã tiêu diệt được chủ lực quân đội Sài Gòn quy mô lớn (có không quân Mỹ chi viện tác chiến mức độ cao nhất), điều đó khẳng định việc xây dựng lực lượng vũ trang của ta về phương hướng, tổ chức, trang bị, huấn luyện chiến thuật và kỹ thuật và các mặt khác đều chính xác, đúng đắn. Tuy nhiên cũng còn những vấn đề cần nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm và rút ra những kết luận để xây dựng cho phù hợp hơn nhằm nâng cao hơn nữa sức chiến đấu của bộ đội. 2. Việc tổ chức lực lượng và chuẩn bị tác chiến bảo vệ miền Bắc vừa qua (trước đối tượng tác chiến là quân Mỹ và quân đội Sài Gòn), cũng chỉ ra nhiều vấn đề mới. Về lâu dài, với những đối tượng khác, ta cần nghiên cứu những kinh nghiệm vừa qua để giải quyết một loạt vấn đề như: bảo vệ miền Bắc theo hướng chiến lược nào; xây dựng, sử dụng và cách đánh của lực lượng tại chỗ; xây dựng lực lượng cơ động và dự bị chiến lược như thế nào cho phù hợp, để có thể giành được thắng lợi có ý nghĩa quyết định trước nhiều đối tượng tác chiến chiến lược khác nhau, trên nhiều chiến trường khác nhau. Thực tế trên đây cho phép khẳng định: một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến thắng lợi to lớn của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là tầm nhìn chiến lược và dự kiến chính xác của Bộ Thống soái, là sự chủ động trong chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, toàn diện và cụ thể của Tổng hành dinh trong suốt quá trình diễn biên của chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2023, 06:03:26 pm SỰ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO ĐÚNG ĐẮN, CHÍNH XÁC CỦA ĐẢNG TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO Thượng tá, ThS ĐỖ NHUẬN Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Thiếu tá NGUYỄN NGỌC TÙNG Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Ngày 30 tháng 1 năm 1971 quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào. Chủ động đánh bại cuộc hành quân này của địch, Quân giải phóng miền Nam có sự phối hợp chiến đấu của Quân giải phóng nhân dân Lào đã mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Tuy bị thất bại nặng nề ở Cánh Đồng Chum (Lào) và nhất là trong cuộc tiến công xâm lược Campuchia, nhưng Tổng thống Níchxơn và giới hiếu chiến Mỹ vẫn chủ quan cho rằng kế hoạch "Bình định cấp tốc" ở miền Nam đã có kết quả, quân đội Sài Gòn đã ngày càng mạnh lên, trong khi trên chiến trường vẫn còn 28 vạn quân Mỹ thì cần "tranh thủ hành động" nhằm hoàn tất các mục tiêu của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Tình báo Mỹ ước tính 90% vật chất cung cấp cho các lực lượng cách mạng ở miền Nam được miền Bắc chuyển qua tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn. Nhằm tiêu diệt chủ lực đối phương, cắt đứt nguồn chi viện về người, vũ khí, lương thực, đạn dược, xăng dầu của đối phương, ngày 20 tháng 1 năm 1971, Tổng thống Níchxơn chính thức phê duyệt kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719". Đây là cuộc tiến công lớn nhất, quan trọng nhất của Mỹ và quân đội Sài Gòn trong thời kỳ "Việt Nam hoá chiến tranh". Những toan tính của Mỹ và quân đội Sài Gòn đã được Đảng ta tiên liệu từ rất sớm. 1. Đảng ta sớm đánh giá đúng âm mưu của địch. Đánh giá đúng bản chất hiếu chiến của Níchxơn cũng như những âm mưu thủ đoạn mới của Mỹ và quân đội Sài Gòn, ngay từ cuối năm 1969, đầu năm 1970, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã nhận định: trong mùa khô 1970-1971, địch có thể mở những cuộc tiến công quy mô vừa và lớn bằng lực lượng quân đội Sài Gòn, có sự hỗ trợ của hỏa lực và một bộ phận quân chiến đấu Mỹ. Mục tiêu của địch là đánh vào vùng Trung - Hạ Lào và vùng Đông Bắc Campuchia nhằm tiêu diệt cơ sở cách mạng, phá huỷ cơ sở hậu cần và cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược của ta, cô lập chiến trường miền Nam. Các chiến trường, nhất là các đơn vị ở khu vực Đường 9 - Nam Lào được lệnh khẩn trương chuẩn bị đối phó với địch. Theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, từ Xuân Hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu bắt đầu vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Nam Lào. Ngày 19 tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết chỉ rõ âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn hiện thời là: "Tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến miền Nam Việt Nam, cắt đứt đường tiếp tế và các cơ sở hậu phương của ta"1 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 222). Mỹ phải xuống thang chiến tranh nhưng "vừa xuống thang, vừa phản công bộ phận, giành giật quyết liệt với ta, không những trên chiến trường Việt Nam mà cả trên chiến trường Campuchia và Lào. Sắp đến... đế quốc Mỹ còn có những hành động phiêu lưu khác. Chúng có thể đánh vào lãnh thổ Lào, tăng cường tập kích bằng không quân đối với miền Bắc nước ta..."2 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Sđd, tr. 230 - 231). Việc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tập trung lực lượng tiến công ra Đường 9 - Nam Lào đã được Đảng ta sớm xác định: "...Tăng cường đánh phá hành lang chi viện của ta là một trong những âm mưu quan trọng nhất của Mỹ trên chiến trường Lào. Chúng sẽ đặc biệt chú trọng đánh phá vùng Trung, Hạ Lào, không những dùng không quân và lực lượng biệt kích, mà có thể bằng những lực lượng hỗn hợp ngụy Lào, ngụy miền Nam và quân Thái Lan, khi cần có thể dùng cả quân Mỹ để mở những đợt tấn công lớn"3 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Sdd, tr. 234). Bám sát diễn biến của cuộc kháng chiến trên toàn chiến trường ở ba nước, sớm nhận rõ những âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thể hiện tinh thần sáng tạo, chủ động của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh. Trên cơ sở đó Đảng đã kịp thời đề ra những chủ trương đối sách thích hợp, tối ưu để đánh bại kẻ địch. Trên cơ sở đánh giá đúng, kịp thời âm mưu và hành động của địch trên chiến trường, Đảng ta khẳng định: Việc địch mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" không phải là chúng đang mạnh lên, mà ngược lại chính thế và lực của chúng đã và đang yêu thêm bởi phải căng sức chống đỡ trên tất cả các mặt trận, trong khi quân chiến đấu Mỹ và đồng minh của Mỹ đang phải rút dần ra khỏi miền Nam. Mặt khác, một bộ phận quân đội Sài Gòn phải sang tác chiến trên chiến trường Campuchia. Chính bởi vậy, Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào sẽ là "điều kiện thuận lợi, cơ hội tốt để tiêu diệt lực lượng địch, phá vỡ từng mảng trong hệ thống bố trí của chúng"1 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Sđd, tr. 225); đánh bại một bước cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của chúng. 2. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Theo chủ trương của Bộ Chính trị, tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn 70 (B70) gồm 3 sư đoàn bộ binh (304, 308, 320) và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng. Binh đoàn có nhiệm vụ làm lực lượng nòng cốt cùng các đơn vị tại chỗ tiêu diệt địch trong các chiến dịch lớn. Việc thành lập Binh đoàn 70 đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến của quân đội ta trong giai đoạn mới và là tiền đề cho sự ra đời của các quân đoàn chủ lực sau này. Đồng thời, Bộ Tổng Tham mưu cũng chỉ đạo cho các đơn vị, lực lượng tham gia chiến dịch gấp rút làm công tác chuẩn bị mọi mặt, đáp ứng kịp thời, hiệu quả cho tác chiến khi chiến dịch mở màn. Theo đó, ở khu vực Đường 9, bộ đội Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5), Quân khu Trị - Thiên (B4) và Đoàn 559 gấp rút điều chỉnh lực lượng, bố trí thế trận, sẵn sàng phối hợp chiến đấu với các đơn vị chủ lực cơ động của Bộ. Quân chủng Hải quân được giao nhiệm vụ: đẩy mạnh đánh phá Cảng Cửa Việt, ngăn chặn tuyến giao thông đường thủy của địch từ Cửa Việt đến Đông Hà hòng tiếp tế cho các đơn vị của chúng ở Đường 9 - Nam Lào. Tổng cục Hậu cần thành lập cơ quan chỉ huy tiền phương cùng các đơn vị thuộc Đoàn 559 xây dựng tuyến hậu cần chiến dịch ở nam sông Gianh. Các đơn vị công binh, thanh niên xung phong trên tuyến chi viện chiến lược mở thêm một số đường mới, bảo đảm cho các đơn vị vận tải cơ giới đẩy mạnh vận chuyển vật chất vào các khu vực tập kết của bộ đội. Đến tháng 1 năm 1971, dự trữ vật chất của các binh trạm thuộc Đoàn 559 trên các hướng chiến dịch đã lên tới 6.000 tấn, cùng với dự trữ của Bộ Quốc phòng bảo đảm cho 5 đến 6 vạn quân tác chiến trong thời gian 4 đến 5 tháng. Ngoài ra, Đoàn 559 còn dự trữ hơn 3 vạn tấn hàng sẵn sàng đưa đến các khu vực chiến dịch trong thời gian từ 2 đến 3 đêm. Mạng lưới quân y chiến dịch được hình thành trên cơ sở các bệnh viện, bệnh xá của Đoàn 559 và của các mặt trận B4, B5 cùng các đội điều trị, trạm phẫu thuật của Cục Quân y, có khả năng cấp cứu và điều trị hàng nghìn thương, bệnh binh. Đề phòng tình huống địch có thể mở rộng tiến công bằng bộ binh ra phía Nam Quân khu 4, Bộ Tổng Tham mưu giao thêm nhiệm vụ cho Binh đoàn 70 chuẩn bị kế hoạch tác chiến, phối hợp với các lực lượng vũ trang Quân khu 4 sẵn sàng tiêu diệt địch, đồng thời điều vào Quân khu 4 mười tiểu đoàn pháo cao xạ nhằm tăng thêm lực lượng bảo vệ các tuyến giao thông vận tải và yếu địa, tăng cường cho các huyện ven biển từ Thanh Hóa đến Nam Hà 10 đại đội bộ đội địa phương sẵn sàng đánh địch tập kích đường biển. Đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ngày 30 tháng 1 năm 1971, được hỏa lực và một bộ phận quân chiến đấu Mỹ yểm trợ, quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào. Hơn 4 vạn quân chủ lực quân đội Sài Gòn gồm những đơn vị được coi là tinh nhuệ nhất như sư đoàn dù, sư đoàn lính thủy đánh bộ, Sư đoàn 1 bộ binh... cùng một lực lượng lớn binh khí kỹ thuật gồm 580 xe tăng và xe bọc thép, 320 khẩu pháo, 1.000 máy bay (trong đó có 600 máy bay lên thẳng, 45 máy bay chiến lược B-52) được huy động vào cuộc hành quân. Phối hợp với quân Sài Gòn, quân đội phái hữu Lào cũng huy động 4 tiểu đoàn thuộc GM30, GM33 từ Đồng Hến đánh ra khu vực Mường Pha Lan, phía Tây Đường 91 (Lịch sử Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn Đường Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 424). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2023, 06:13:17 pm Mục tiêu của địch trong cuộc hành quân này là cắt đứt hoàn toàn tuyến vận tải chiến lược của ta, làm cho lực lượng của ta ở các chiến trường không còn nguồn chi viện về người và vật chất kỹ thuật để mở các cuộc tiến công, tạo điều kiện rèn luyện và thử thách quân đội Sài Gòn - lực lượng chủ yếu để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" dần thay thế quân Mỹ ở chiến trường miền Nam và Đông Dương. Địch cho rằng thắng lợi của cuộc hành quân sẽ tạo thếm thế mạnh trên chiến trường nhằm ép ta nhân nhượng trong cuộc đàm phán ở Pari.
Có thể nói, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" cuộc hành quân đầy tham vọng, có quy mô lớn nhất, điển hình nhất trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ và cũng là đỉnh cao của cuộc chiến tranh ngăn chặn nhằm cắt đứt hoàn toàn tuyến chi viện chiến lược của ta. Kiên quyết đánh bại cuộc hành quân của địch, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở chiến dịch phản công tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào. Trên cơ sở lực lượng của Binh đoàn 70 đã được tổ chức trước đó, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là Mặt trận 702); cử Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam được cử làm đại diện Quân ủy Trung ương trực tiếp chỉ đạo Mặt trận 702 và các chiến trường phối hợp phản công, tiến công tiêu diệt địch. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 2 trung đoàn bộ binh (27, 278), 8 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn công binh, 3 tiểu đoàn xe tăng, 6 trung đoàn phòng không, 8 tiểu đoàn đặc công và các lực lượng binh chủng khác... Số quân chiến đấu và phục vụ chiến đấu lên tới trên 60.000 cán bộ, chiến sĩ1 (50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam (Biên niên sự kiện), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 269). Đầu năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Đường 9 - Nam Lào: "... trận này là một trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Không những để giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng âm mưu "Việt Nam hoá chiến tranh", đẩy cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, làm tròn nhiệm vụ quốc tế vẻ vang và rèn luyện bộ đội chủ lực... Quân đội ta nhất định phải đánh thắng trận này..."1 (Lịch sử Quân đội nhân dân, tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 377). Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Bộ Chính trị điện cho Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục khẳng định: "Đây là một cuộc hành quân lớn có ý nghĩa chiến lược quan trọng, thu hút một khối lượng và phương tiện chiến tranh lớn của Mỹ - ngụy, trong đó có phần lớn các đơn vị cơ động chiến lược... Đối với ta trận này là một trong những trận quan trọng"2 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Sdd, tr. 246), do vậy, phải coi đây là "cơ hội thuận lợi để đẩy mạnh mọi hoạt động, thực hiện nhiệm vụ trung tâm đã đề ra nhằm đập tan âm mưu Việt Nam hoá chiến tranh của địch, tiêu diệt địch, giữ vững hậu phương và hành lang chiến lược thì mới tạo được điều kiện gây chuyển biến trong cục diện quân sự, chính trị giành được thắng lợi lớn"3 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Sdd, tr. 246). Trung ương dự kiến "Cuộc hành binh ra Đường 9 của địch có thể kết thúc trong vòng một tháng, cũng có thể kéo dài vài tháng hay hơn nữa. Do đó cần có kế hoạch kịp lợi dụng cơ hội và kế hoạch tiếp tục lâu dài và giữ gìn lực lượng trong mọi tình huống"4 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Sdd, tr. 246). Với chủ trương đúng đắn, chính xác của Đảng, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta cùng với quân và dân Lào anh em đã đập tan cuộc hành quân của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Quân ta đã tiêu diệt phần lớn sinh lực địch, giáng một đòn nặng nề vào âm mưu kéo dài cuộc chiến tranh, trực tiếp là chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ, giữ vững hậu phương và hành lang chiến lược chi viện cho tiến tuyến lớn miền Nam. Thắng lợi ở Đường 9 - Nam Lào đã làm xoay chuyển căn bản cục diện chiến tranh. Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, của Quân ủy Trung ương, đồng thời là thắng lợi của nghệ thuật tổ chức, phối hợp chiến đấu ở quy mô lớn. Đường 9 - Nam Lào là chiến dịch lần đầu tiên ta tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn với sự tham gia của 5 sư đoàn, nhiều trung đoàn chủ lực cơ động của Bộ cùng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích của các quân khu các đơn vị binh chủng pháo binh, công binh, đặc công, phòng không, tăng thiết giáp, hải quân, đặc biệt hơn là có sự phối hợp chiến đấu kịp thời, hiệu quả của quân và dân Lào anh em. Với việc loại khỏi vòng chiến đấu 19.960 tên địch, bắt làm tù binh 1.142 tên, bắn rơi và phá hỏng 556 máy bay, 43 tàu cùng nhiều phương tiện chiến tranh, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã tạo nên bước đột biến, làm thay đổi cục diện chiến trường và so sánh lực lượng giữa ta và địch. Thắng lợi ở Đường 9 - Nam Lào đã tạo ra bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta. Quân đội Sài Gòn, lực lượng nòng cốt thực hiện học thuyết Níchxơn ở Đông Dương bị một đòn nặng nề. Thắng lợi của chiến dịch không chỉ khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành chiến tranh đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, mà còn là mốc son đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của nghệ thuật quân sự, trình độ tổ chức phối hợp chiến đấu quy mô lớn, quy mô rộng của Bộ Thống soái tối cao, sự phối hợp chặt chẽ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Lào. 40 năm đã trôi qua nhưng ý nghĩa và những kinh nghiệm của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2024, 08:52:41 pm CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO, SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỂ CÁCH ĐÁNH TÀI GIỎI Đại tá, TS LÊ VĂN THÁI Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử tư tưởng quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh - bộ phận trọng yêu trong tư tưởng Hồ Chí Minh - là tài sản tinh thần quý báu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Tư tưởng đó của Người gồm nhiều nội dung phong phú, trong đó có nội dung về cách đánh giặc. Theo Người để chiến thắng kẻ thù, các lực lượng vũ trang "phải có cách đánh rất tài giỏi", thực hiện nghệ thuật quân sự cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về cách đánh giặc, quân và dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc đều đánh giỏi, thắng lớn, từng bước đẩy đối phương vào thế thua không thể cứu vãn. Mùa Xuân năm 1971, phát huy thế tiến công chiến lược, quân và dân ta cùng với quân và dân Lào anh em đánh bại cuộc hành quân lớn của địch trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, giữ vững hành lang chi việnchiến lược Bắc - Nam Đông Dương, tạo đà cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiếp tục phát triển đến thắng lợi hoàn toàn. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách đánh giặc được đề cập phong phú trong nhiều tác phẩm; trong các chỉ thị, huấn thị của Người. Ngay trong thời kỳ mới về nước cùng Trung ương Đảng lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang, bên cạnh việc biên dịch hai cuốn sách"Phép dùng binh của Tôn Tử" và "Cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh", Người còn viết tác phẩm "Cách đánh du kích"1 (Trong nguyên bản, ngoài bìa sách ghi "Chiến thuật du kích", Việt Minh xuất bản, tháng 5 năm 1944) 13 chương. Trong tác phẩm đó, Người xác định 4 nguyên tắc chính của cách đánh du kích là: 1. Giữ quyền chủ động; 2. Hết sức nhanh chóng; 3. Bao giờ cũng giữ thế công; 4. Phải có kế hoạch thích hợp và chu đáo"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 tr. 474, 508). Khi quyết định thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Người chỉ rõ cách đánh của đội quân chủ lực đầu tiên là: "Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 tr. 474, 508). Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Người đề ra cách đánh cho lực lượng vũ trang là bám dân, bám đất, đẩy mạnh chiến tranh du kích; kết hợp chặt chẽ du kích chiến với vận động chiến và công kiên chiến; đánh địch cả trước mặt và sau lưng theo cách đánh do ta lựa chọn, không cho địch đánh theo cách sở trường củachúng... Cuối cuộc kháng chiến, Người còn nhấn mạnh đến phương châm hành động: "Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt" và nguyên tắc "Đánh chắc thắng". Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đối tượng tác chiến của lực lượng vũ trang thay đổi. Ta phải đương đầu với nhiều lực lượng, bao gồm quân Mỹ, quân các nước đồng minh Mỹ và quân Sài Gòn, được trang bị vũ khí và các phương tiện chiến tranh hiện đại. Trước tình hình đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng vũ trang thay đổi cách đánh cho phù hợp với đối tượngtác chiến và đặc điểm chiến trường. Khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam Việt Nam, tại cuộc họp Bộ Chính trị ngày 31 tháng 7 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu vấn đề: "Phải nghiên cứu cách đánh, xem có gì thay đổi không"1 (Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh -Biên niên tiểu sử, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008,tr. 281, 333). Hai tháng sau, tại cuộc họp Bộ Chính trị bàn vô tình hình miền Nam, Người nói: "Vì quân Mỹ đông, lại có hỏa lực mạnh, nên khi ta tiến công tiêu diệt sinh lực địch thì không chỉ tiêu diệt về số lượng, mà phải chú ý đến tiêu diệt những đơn vị chủ chốt, những cơ quan đầu não của chúng"2 (Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh -Biên niên tiểu sử, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 281, 333). Người căn dặn Bộ đội Phòng không: "Lúc chiến đấu phải hiệp đồng cho tốt, ai đánh tầng thấp, ai đánh tầng giữa, ai đánh tầng cao, phải phân công rõ ràng"3 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự, Chủ lịch Hồ Chí Minh vái sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việl Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 119). Với Bộ đội Không quân, Người dạy: "Các chú hãy học tập Quân giải phóng miền Nam: Phát huy lối đánh gần, bám thắt lưng địch mà diệt chúng"1 (Chủ tịch Hồ Chí Minh với Bộ đội Phòng không - Không quân, Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân xuất bản, Hà Nội, 1975, tr. 20). Sau cuộc họp Bộ Chính trị ngày 28 tháng 12 năm 1967 chính thức thông qua Kế hoạch chiến lược năm 1968, Người chỉ thị cụ thể cho các chiến trường: "Kế hoạch phải thật tỉ mỉ. Hợp đồng phải thật ăn khớp. Bí mật phải thật tuyệt đối. Hành động phải thật kiên quyết. Cán bộ phải thật gương mẫu"2 (Vũ Kỳ, Bác Hồ với Tết Mậu Thăn năm ấy, Báo Văn Nghệ, số Tết Mậu Dần 1998). Tiếp đó, trong thư chúc mừng năm mới gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước năm 1969, Người khái quát tư tưởng chỉ đạo chiến lược về cách đánh bằng câu thơ "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về cách đánh, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã nỗ lực chiến đấu đánh thắng giặc từng bước, càng đánh càng mạnh, tiến lên giành thắng lợi mới. Tháng 6 năm 1970, trên cơ sở đánh giá đúng bản chất gây chiến, phiêu lưu và những thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Bộ Chính trị đã nhận định trong mùa khô 1970 - 1971,địch có thể mở những cuộc tiến công đánh vào vùng Trung, Hạ Lào và vùng đông bắc Campuchia nhằm phá hoại cơ sở cách mạng hai nước này, phá hủy cơ sở hậu cần và cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược của ta, cô lập chiến trường miền Nam. Từ nhận định đó, Bộ Chính trị chủtrương: "Động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền nước ta, tăng cường khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, làm cho lực lượng ba nước trở thành một khối thống nhất, có một chiến lược chung, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ba nước chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai"1 (Nghị quyết Bộ Chính trị, ngày 19 tháng 6 năm 1970. Lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân uy Trung ương nhất thiết phải động viên sức người, sức của đánh thắng địch, làm thất bại cố gắng cao nhất của chúng trong quá trình thực hiện "Việt Nam hóa chiến tranh", tạo nên những chuyên biến căn bản có tính chất chiến lược cho phong trào cách mạng ba nước Đông Dương. Quán triệt và vận dụng sáng tạo luận điểm "ta phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 314) của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nghị quyết tháng 6 năm 1970 của Bộ Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu bắt đầu vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo việc chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Nam Lào. Tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn 70 gồm 3 sư đoàn bộ binh 304, 308, 320 và một số trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng, ở khu vực Đường 9, bộ đội Mặt trận B5, B4 và Đoàn 559 gấp rút tổ chức thế trận, sẵn sàng phối hợp chiến đấu với lực lượng chủ lực cơ động. Tổng cục Hậu cầnthành lập cơ quan chỉ huy tiền phương, cùng các đơn vị thuộc Đoàn 559 xây dựng tuyến hậu cần chiến dịch nam sông Gianh. Đến tháng 1 năm 1971, dự trữ vật chất của các binh trạm Đoàn 559 trên các hướng chiến dịch đã lên tới 6.000 tấn, cùng với dự trữ của Bộ, đủ đảm bảo cho năm đến sáu vạn quân tác chiến trong thời gian bốn đến năm tháng. Chủ độngđối phóvới mọi tình huống, Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho Binh đoàn 70 chuẩn bị kế hoạch tác chiến, phối hợp với lực lượng vũ trang Quân khu 4 sẵn sàng tiêu diệt địch, nếu chúng liều lĩnh mở rộng tiến công bằng bộ binh ra phía Nam Quân khu 4. Đúng như nhận định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, bước vào Đông Xuân 1970-1971, đế quốc Mỹ ráo riết chuẩn bị tiến hành các cuộc tiến công ra chiến trường ba nước Đông Dương. Tháng 11 năm 1970, Tổng thống Mỹ quyết định mở cuộc hành quân đánh ra Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và ngã ba biên giới. Ngày 2 tháng 2 năm 1971, giới cầm quyền Mỹ thông qua kế hoạch ba cuộc hành quân đó với mật danh "Lam Sơn 719", "Toàn Thắng 1-1971" và "Quang Trung 4". Trong ba cuộc hành quân đó thì cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào là có quy mô và ý đồ lớn nhất; bởi theo tính toán của Mỹ thì nơi đây tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược của đối phương, là "cuống họng" của đường Hồ Chí Minh, nếu chiếm được địa bàn chiến lược này thì chẳng những đe dọa miền Bắc, uy hiếp cách mạng Lào, mà còn bịt được tuyến vận tải chiến lược vào chiến trường miền Nam. Mặt khác, thông qua cuộc hành quân "Lam Sơn 719", giới cầm quyền Mỹ muốn kiểm nghiệm khả năng của quân đội Sài Gòn, qua đó kiểm nghiệm kết quả của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" sau hơn hai năm thực hiện. Đểđạtđược mục tiêu mang nhiều tham vọng chủ quan đó, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ và Sài Gồn đã huy động lực lượng lớn, gồm 42.000 quân (33.000 quân Sài Gòn, 5.000 quân Mỹ), có nhiều máy bay, xe tăng, thiết giáp và pháo binh yểm trợ1 (Lực lượng của địch trên địa bàn chiến dịch lúc cao nhất có 55.000 quân, gồm 15 trung đoàn bộ binh, 3 thiết đoàn 587 xe tăng, xe bọc thép, 318 pháo, 700 máy bay các loại. Ngoài ra còn có 2 Binh đoàn ngụy Lào). Mục tiêu đầu tiên của địch trong cuộc hành quân này là nhanh chóng chiếm Sê Pôn, chiếm giữ Đường 9 doạn Bản Đông - Sẽ Pôn, lập phòng tuyến ngăn chặn, cắt đôi Đông Dương, lùng sục đánh phá kho tàng, đường sá xung quanh Sê Pôn; tiếp đó chuyển xuống đánh phá kho tàng khu vực Sa Đi - Mường Noòng đến A Túc, A Sầu, A Lưới. Trước hành động liều lĩnh của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào tiêu diệt một bộ phận lớn quân địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Do tầm quan trọng của chiến dịch, Bộ Chính trị cử Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam làm đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh tại mặt trận. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh mặt trận được thành lập do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn,Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm Binh đoàn 70, Sư đoàn 2, Sư đoàn 324, 3 tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không, 3 trung đoàn công binh, một số tiểu đoàn đặc công và lực lượng chiến đấu tại chỗ của Mặt trận B5, B4, Đoàn 559 và các đơn vị bộ đội tình nguyện ở Hạ Lào; tổng quân số khoảng 6 vạn quân. Với lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu đó, lại có những cán bộ dày dạn kinh nghiệm chỉ huy tác chiến tập trung, khi địch bắt đầu triển khai đội hình hành quân thì quân ta đã nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa; do đó, thế trận tốt thuộc về ta. Theo binh pháp Tôn Tử mà Chủ tịch Hồ Chí Minh biên dịch thì: "Được thế tốt... lúc đánh, thì thế như lăn đá trên xuống dốc núi cao mấy nghìn thước"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 tr. 523). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2024, 08:54:36 pm Ngày 8 tháng 2 năm 1971, quân Sài Gòn được sự yểm trợ của quân Mỹ chia làm 3 cánh vượt qua biên giới Việt - Lào; cánh quân chủ yếu theo Đường 9 qua Lao Bảo tiến đến Bản Đông, hai cánh quân khác đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống một số điểm cao ở bắc và nam Đường 9, nhằm bảo vệ sườn cho cánh quân chủ yếu.
Theo kế hoạch tác chiến, Bộ Tư lệnh mặt trận nhanh chóng điều lực lượng chặn đánh địch. Do đây là một chiến dịch phản công, có nhiều lực lượng tham gia chiến đấu, lại diễn ra trên đất ta và đất Lào, nên việc "Hợp đồng phảithật ăn khớp" trong quá trình tác chiến. Do đó, khi quân địch bắt đầu hành quân, đồng thời với một bộ phận quân ta chặn đánh địch trên Đường 9 thì lực lượng vũ trang Mặt trận B5 liên tục tập kích, pháo kích các căn cứ quân Mỹ, phục kích trên các đường giao thông, đánh chìm nhiều tàu quân sự trên sông Cửa Việt. Cuộc chiến đấu của lực lượng tại chỗ đã gây nhiều thiệt hại cho giặc, góp phần làm chậm bước tiến của chúng. Trên hướngchủ yếu, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch, bộ đội ta đã chủ động đón đánh từng cánh quân của địch, kết hợp với lực lượng phòng không được bố trí dày đặc ở những nơi mà trước đó ta dự kiến địch sẽ đổ quân, bắn rơi nhiều máy bay lên thẳng. Từ ngày 12 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, lực lượng chủ lực của ta đã hiệp đồng chiến đấu, tiến công dồn dập, bẻ gãy cánh quân chủ lực của địch phía bắc Đường 9, tiêu diệt các cụm cứ điểm then chốt ở điểm cao 500, 543; đập tan cuộc phản kích của Lữ đoàn số 3 và Trung đoàn thiết giáp số 17, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ và toàn bộ ban tham mưu lữ đoàn địch. Trước đòn phản công mạnh của quân ta, địch điều lực lượng lớn từ Bản Đông lên phản kích hòng chiếm lại điểm cao 543. Suốt 6 ngày liền, Trung đoàn bộ binh 36 (Sư đoàn 308) và một bộ phận Trung đoàn bộ binh 64 có hai đại đội xe tăng phối hợp và pháo binh mặt trận chi viện hỏa lực, đã đập tan cánh quân phản kích của địch, uy hiếp mạnh căn cứ Bản Đông của chúng. Trong khi đó ở phía tây Trung đoàn 141 bộ binh (Sư đoàn 2) và Trung đoàn 48 bộ binh (Sư đoàn 320), phối hợp với một bộ phậncủa Quân giải phóng Lào đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn quân ngụy Lào1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 380). Cũng cần nói thêm là trước đó, thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Đoàn chuyên gia quân sự 565 và quân tình nguyện ở Hạ Lào đã tổ chức lực lượng, thường xuyên phối hợp chặt chẽ với bộ đội Lào nắm chắc địch và đẩy mạnh hoạt động sau lưng chúng. Sau khi mở đợt tiến công dãy điểm cao phía đông Bô Lô Ven tiêu diệt nhiều sinh lực địch, ngày 9 tháng 1 năm 1971, ta tiêu diệt căn cứ Huội Sài, cùng bạn chuẩn bị chiến trường. Đầu tháng 3, mặc dầu lâm vào tình thế bất lợi, Bộ chỉ huy hành quân địch vẫn quyết định tung lực lượng dự bị chiến dịch vào cuộc chiến. Lúc này, địch chuyển cánh quân phía nam thành hướng tiến công chủ yếu và tiếp tục thực hiện kế hoạch đánh lên Sê Pôn. Nhưng nỗ lực mới của địch vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của quân ta. Với tinh thần "Hành động phải thật kiên quyết", Bộ Tư lệnh mặt trận ra lệnh cho quân ta trên các hướng chiến dịch đồng loạt phản công địch. Hơn 4 vạn sĩ quan, binh lính quân đội Sài Gòn tham gia cuộc hành quân "Lam Sơn 719" rơi vào tình thế khốn đốn. Ngày 13 tháng 3 năm 1971, toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch của ta được lệnh gấp rút chuyển từ phản công sang tiến công trên toàn tuyến. Quân địch ở Đường 9, Bản Đông không chịu được sức ép ngày càng gia tăng của quân ta nên đã dồn lại, dựa lưng vào nhau để chống trả. Càng chống trả điên cuồng, thì dự trữ đạn dược càng chóng cạn; trong khi đó, nguồn tiếp tế chủ yếu bằng máy bay, nhưng máy bay lên thẳng vũ trang cũng như máy bay vận tải C130 chuyển hàng hóa và vũ khí tiếp viện cho tập đoàn cứ điểm Bản Đông không thể thực hiện được do mạng lưới phòng không nhiều tầng của ta khống chế quyết liệt1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 275). Trước nguy cơ bị tiêu diệt, quân địch phải tháo chạy khỏi Bản Đông. Chớp thời cơ, bộ đội ta nhanh chóng chuyển sang truy kích, diệt và bắt nhiều tên địch, bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép, phá hủy nhiều máy bay của chúng. Cùng thời gian này, quân ta cũng giành thắng lợi lớn, diệt nhiều sinh lực địch ở điểm cao 660, 550. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Thắng lợi của quân và dân ta trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng, đã "mở ra những triển vọng vô cùng tốt đẹp đứa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng2 (Thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi cán bộ, chiến sĩ, Đảng viên, đoàn viên trên mặt trận Đường số 9 ngày 31 tháng 3 năm 1971. Hồ sơ 594, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Phát biểu tại Hội nghị tổng kết Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào do Quân ủy Trung ương tổ chức (7-1971), đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định lại một lần nữa ý nghĩa chiến thắng Đường 9 - Nam Lào "không phải chỉ là tiêu diệt được một, hai vạn tên địch, mà ý nghĩa chiến lược của nó là ở chỗ ta đã đánh bại quânchủ lực ngụy, mở ra triển vọng hiện thực đánh bại chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ về quân sự"1 (). Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về cách đánh tài giỏi, quân và dân ta đã giành được thắng lợi to lớn trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh: "Trong những trận sắp tới, chúng ta phải tiếp tục nắm địch, nghiên cứu cách đánh"2 (Lê Duẩn, Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 417, 418) để giành thắng lợi to lớn hơn nữa. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2024, 09:03:31 pm CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO VÀ CUỘC ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TRONG NĂM 1971 Đại tá, PGS, TS HỒ KHANG Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong chiến tranh, quan hệ giữa quân sự và ngoại giao luôn là mối quan hệ chặt chẽ, quy định và chi phối lẫn nhau. Quan hệ giữa giành thắng lợi quyết định trên chiến trường và củng cố, mở rộng thắng lợi đó bằng hoạt động ngoại giao thể hiện đậm nét trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước qua thế đánh - đàm sau thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971. Thắng lợi này đã thúc đẩy đấu tranh ngoại giao phát triển lên những bước mới, phát huy hiệu quả tối ưu trên các bình diện khác nhau của mặt trận ngoại giao và quân sự. 1. Hình thành thế vừa đánh, vừa đàm. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, gắn kết chặt chẽ hai mặt đấu tranh quân sự - đấu tranh ngoại giao đã trở thành truyền thống, được nâng lên ở tầm nghệ thuật - nghệ thuật của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh quân sự kiên cường với đấu tranh ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt; lấy thắng lợi quân sự thúc đẩy đấu tranh ngoại giao, sử dụng đấu tranh ngoại giao để củng cố, mở rộng, nhân lên thắng lợi quân sự. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, tạo thế đánh, đàm thực sự là một nét độc đáo, in đậm dấu ấn vào kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Năm 1965, khi đưa quân trực tiếp xâm lược miền Nam và tiến hànhchiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, đế quốc Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc vận động ngoại giao, gọi là để giải quyết vấn đề Việt Nam, song lại đòi chúng ta thương lượng không điều kiện. Lúc này, Đảng nhấn mạnh hai nhiệm vụ song trùng: 1. Quyết tâm chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược; 2. Đập lại mọi luận điệu hoà bình giả hiệu, đòi thương lượng không điều kiện của đế quốc Mỹ. Bên cạnh đó, chúng ta cũng đã tính đến việc đưa Mỹ vào cục diện vừa đánh, vừa đàm và việc chọn đúng thời điểm là cả một vấn đề nghệ thuật. Quá trình đó diễn ra như sau: Trải qua hai năm (1965-1966) ráo riết tăng cường lực lượng và đẩy mạnh hoạt động quân sự, "nhằm chuyển biến hẳn cục diện trên chiến trường, giành lại thế chủ động"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tập 28, tr. 86), địch đã vấp phải những thất bại to lớn. Trên thế thắng, chúng ta đã "đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất; liên tục tiến công để mở rộng thắng lợi trong mùa mưa; bước đầu đánh bại cuộc "phản công chiến lược" mùa khô thứ hai; đánh bại chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc trên âm mưu cơ bản"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Sđd, tr. 87). Khẳng định về ý nghĩa, giá trị của những thắng lợi mang tính chiến lược đó, Đảng nêu rõ: "Thắng lợi có tầm quan trọng rất lớn về chính trị và quân sự, về chiến lược và chiến thuật. Đó là thắng lợi đối với hiệp đầu của chiến lược chiến tranh cục bộ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Sđd, tr. 89); những thắng lợi này đã khiến đế quốc Mỹ "bị một đòn phủ đầu choáng váng hết sức bất ngờ"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Sđd, tr. 89), đẩy Mỹ vào thế bị động và cùng với việc trên thế giới, "Mỹ bị cô lập chưa từng thấy, cả những đồng minh gần gũi của Mỹ cũng không ủng hộ chính sách, chiến tranh xâm lược Việt Nam"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Sdd, tr. 116), thì đây chính là những tiền đề cơ bản, vững chắc, để toàn quân, toàn dân ta bước sang năm 1967 một cách vững tin, chuẩn bị cho những phát triển mới của cuộc kháng chiến. Trong tình hình đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (1-1967) - Hội nghị bàn về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, quyết định đưa chiến tranh cách mạng miền Nam sang một giai đoạn mới - giai đoạn "ra sức đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sdd, tập 28, tr. 170). Hội nghị xác định: "Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao"5 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sdd, tập 28, tr. 170) và "đi đôi với đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam, ta cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp với hai mặt đấu tranh đó để giành thắng lợi to lớn hơn nữa"6 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sdd, tập 28, tr. 170). Như vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 đã chọn đúng thời cơ để mở đòn tiến công ngoại giao, kéo Mỹ vào bàn đàm phán, khi chúng ta đang ở thế thắng. Và bắt đầu từ Hội nghị Trung ương lần thứ 13 Đảng đã đưa ngoại giao lên thành một mặt trận với nguyên tắc "chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường"1 (Đảng Cộng sàn Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Sdd, tr. 170). Cũng từ thời điểm này, hai mặt đánh - đàm (trên nền tảng thắng lợi quân sự thúc đẩy thắng lợi ngoại giao và ngược lại) trong đấu tranh cách mạng ở miền Nam được kết hợp hết sức chặt chẽ cả trong nước lẫn trên trường quốc tế, đan quyện một cách khéo léo, linh hoạt, dựa trên những phân tích, phán đoán, nhận định tình hình một cách kịp thời, khách quan, khoa học, mang lại những hiệu quả to lớn, tạo ra những bước ngoặt mang tính đột phá để chúng ta có thể nhanh chóng kết thúc một cuộc chiến tranh diễn ra trên phạm vi một nước nhỏ, xa xôi, nhưng lại là nơi hội tụ những mâu thuẫn và xung đột mang tính thời đại, giữa tiến bộ và phản tiến bộ, giữa hòa bình và chiến tranh; trở thành tiêu điểm chú ý và thức tỉnh lương tri thời đại, lương tri loài người. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2024, 09:05:18 pm 2.Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào và cục diện của cuộc "Hòa đàm thế kỷ".
Lên làm Tổng thống Mỹ (đầu năm 1969) trong điều kiện quân viễn chinh Mỹ và quân một số nước đồng minh của Mỹ phải rút dần ra khỏi miền Nam Việt Nam, để tiếp tục theo đuổi và cứu vãn cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Níchxơn thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", lấy quân đội Sài Gòn làm nòng cốt dưới sự hỗ trợ của hỏa lực Mỹ, cố vấn Mỹ và hậu cần Mỹ. Đây đồng thời cũng được coi là "công thức chiến thắng mới" cho chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, trong các cuộc hành quân lớn, quân Mỹ vẫn tham gia trực tiếp, thậm chí đóng một vai trò quan trọng bên cạnh quân đội Sài Gòn. Trên lĩnh vực đối ngoại, chính quyền Mỹ thực hiện chính sách "tiến công hòa bình" với quy mô chưa từng có trong hoạt động ngoại giao của nước Mỹ sau Chiến tranh thế giỏi thứ hai. Mục đích của chính sách ngoại giao này là lôi kéo sự tham gia của các nước Tây Âu, Bắc Âu, châu Phi, châu Á, một số nước XHCN, các nước Không liên kết... làm trung gian trong vấn đề Việt Nam, bịt mắt dư luận thế giới và nhân dân Mỹ, gây chia rẽ giữa các nước với Việt Nam. Với chiến lược đó, Mỹ liên tục giằng dai trên bàn Hội nghị Pari, gây nên những bế tắc về ngoại giao trong suốt những năm 1968-1970. Đến đầu năm 1971, do phản ứng dữ dội từ dư luận trong nước và từ chính Quốc hội Mỹ1 (Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật bổ sung Cupơ Sớtsơ, hạn chế hoạt động của quân viễn chinh Mỹ tại chiến trường Đông Dương, cấm đưa lục quân Mỹ hoạt động ngoài biên giới miền Nam Việt Nam), trước khi rút quân Mỹ ra khỏi các cuộc hành quân ngoài biên giới miền Nam Việt Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn quyết định mở ba cuộc hành quân lớn2 (Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường số 9 - Nam Lào; cuộc hành quân "Toàn thắng 01/71 NB" với quy mô trên 30 tiểu đoàn từ Tây Ninh và Lộc Ninh đánh lên vùng Kôngpông Chàm và Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia); cuộc hành quân hành quân "Quang Trung 4" quy mô khoảng 1 sư đoàn đánh ra vùng ngã ba biên giới thuộc A Tô Pơ, Nam Lào (vùng Tà Xẻng,Pa Kha, Sô Sụ)) ở bên kia biên giới Việt - Lào, Việt - Campuchia. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" có quy mô lớn nhất và được Tổng thống Níchxơn đặt vào đó khá nhiều tham vọng: Thứ nhất, kiểm chứng khả năng tác chiến độc lập của quân đội Sài Gòn, qua đó kiểm nghiệm kết quả của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" sau hơn hai nămthực hiện; thứ hai, hủy diệt tuyến đường vận tải huyết mạch - đường mòn Hồ Chí Minh với hy vọng nếu "không còn đường mòn Hồ Chí Minh, hoặc bị gián đoạn chỉ trong một mùa khô, khả năng mở các cuộc tiến công lớn của Hà Nội ở miền Nam (và Campuchia) sẽ giảm đi một cách đáng kể nếu không phải là bị loại trừ trong một tương lai vô hạn định"1 (Henry Kítxinhgơ, Những năm ở Nhà Trắng (1968-1973), Trung tâm Thông tin Khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng, Sao lục, 1981, tr. 209); thứ ba, chuyển đến cử tri Mỹ thông điệp về tính khả quan của chiến tranh Việt Nam khi thời hạn bầu cử Tổng thống Mỹ (năm 1972) đang đến gần; thứ tư, làm suy yếu cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương, tạo nên thế mạnh trên chiến trường và thương lượng trên thế mạnh, ép ta nhân nhượng trên bàn đàm phán Hội nghị Pari, "buộc ta phải chấp nhận một giải pháp chính trị có lợi cho Mỹ"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 350). Như vậy, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đầu năm 1971 là toan tính lớn và đầy kỳ vọng của cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn, một nỗ lực cứu vớt sự thảm bại đã lộ rõ của "Việt Nam hóa chiến tranh". Thành, bại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" chắc chắn sẽ kéo theo rất nhiều hệ lụy. Sớm nhận rõ âm mưu của địch, cuối năm 1970, Bộ Chính trị hạ quyết tâm: "Ta phải đánh cho quân Mỹ bị thua đau hơn nữa, đánh cho ngụy quân, ngụy quyến phải sụp đổ"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn lập, tập 32, Stld, tr. 118). Bộ Chính trị cũng xác định phương hướng tiến công của địch trong mùa khô 1970-1971 là hành lang chiến lược Trung, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, chỉ rõ trong trường hợp dịch đánh ra Đường 9, thì đó là thời cơ để thực hiện chiến dịch phản công, tiêu diệt địch, tạo ra sự thay đổi trong cán cân lựclượng trên chiến trường có lợi cho ta, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pari và bên ngoài hội nghị. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào bắt đầu và kết thúc trong vòng hơn 50 ngày đêm1 (Chiến dịchbắt đầu ngày 31 tháng 1 và kết thúc ngày 23 tháng 3 năm 1971). Lúc này, cuộc đấu tranh bên bàn đàm phán Hội nghị Pari đang ở giai đoạn thứ hai2 (Giai đoạn thứ nhất: ngày 15 tháng 3 năm 1968 đến ngày 31 tháng 10 năm 1968; giai đoạn thứ hai: từ đầu năm 1969 đến giữa năm 1972; giai đoạn thứ ba: từ giữa năm 1972 đôn tháng 1 năm 1973) trong thế đàm phán giằng co. Tin tức từ chiến trường liên tục dội đến bàn đàm phán. Đến đầu tháng 3 năm 1971, chúng ta dồn dập đón tin thắng lợi3 (Ta đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân phía Bắc Đường 9của địch, tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù, Thiết đoàn 17, đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 21 biệt động quân, phá vỡ kế hoạch thiết lập các căn cứ hoả lực vừa bảo vệ sườn Bắc vừa chi viện cho cánh quân chủ yếu tiến công lên Sê Pôn của chúng; 2. Tiêu diệt quân địch ở điểm cao 723 - lực lượng mạnh nhất của Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn, thắng lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn 2 và các đơn vị ban trong chiến dịch bẻ gãy hoàn toàn cánh quân phía Nam Đường 9 của địch và ta khống chế được khu vực từ Sê Pôn đến Bản Đông; 3. Tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch trong cuộc hành quân của chúng ở Bản Đông). Cuộc hành quân đầy tham vọng giờ đây biến thành "cuộc hỗn loạn Lam Sơn 719" và sự tổn thất to lớn của quân đội Sài Gòn4 (Quân đội Sài Gòn bị tổn thất 21.102 lính, trong đó có 19.960 bị giết và bị thương, 556 máy bay bị bắn rơi và phá hủy, hàng ngàn xe cơ giới các loại, hàng trăm khẩu pháo và súng cối hạng nặng cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác bị phá hủy và thu giữ. (Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phản côngĐường 9 - Nam Lào năm 1971, Hà Nội, 1987, tr. 61-62)) đã đặt dấu chấm hết cho nỗ lực xây dựng "công thức chiến thắng" của chính quyền Mỹ. Kítxinhgơ đã phải cay đắng thốt lên: "Liệu Nam Việt Nam có thực sự hiểu cái mà chúng tađang cố gắng giành lấy không?"1 (Henry Kítxinhgơ, Những năm ở Nhà Trắng, Sđd, tr. 241-242). Thất bại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng không chỉ của quân đội Sài Gòn, mà còn của cả chính quyền Mỹ - điểm tựa và người bảo hộ cho họ. Thất bại đó đã cho thấy "quân đội Việt Nam cộng hòa là một quân đội mong manh một cách tuyệt vọng"2 (Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 446). Và thất bại nặng nề của quân đội Sài Gòn dưới sự yểm trợ hùng hậu của hỏa lực Mỹ, phương tiện chiến tranh Mỹ, cố vấn Mỹ "đã làm rung chuyển nước Mỹ, gây ra cho chúng những khó khăn rất lớn về nhiều mặt"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Sdd, tr. 195); tạo ra "khả năng kéo Mỹ xuống nữa để thắng một bước căn bản tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn cho cuộc cách mạng miền Nam"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Sđd, tr. 366). Muốn kéo Mỹ xuống, "phải triển khai cuộc đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao; dùng chính trị, ngoại giao kết hợp với quân sự để kéo Mỹ xuống; kéo Mỹ xuống để quân sự đánh to thắng lớn thúc đẩy phong trào chính trị trong nước Mỹ làm áp lực mạnh hơn buộc chính quyền Mỹ phải từ bỏ xâm lược, chấm dứt chiến tranh"5 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Sđd, tr. 366-367). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2024, 09:06:33 pm Thực hiện chủ trương trên, để dồn địch vào thế khó khăn hơn, vừa có thể chủ động tạo và đón thời cơ kéo Mỹ đi vào quỹ đạo đàm phán một cách thực chất6 (Cho đến giữa năm 1971, đàm phán tại Hội nghị Pari đi vào vòng luẩn quấn, bế tắc, không mang lại kết quả nào đáng kể, vì phía Mỹ vẫn muốn đàm phán trên thế mạnh. Mỹ cố tình hạ thấp Hội nghị, hy vọng xoay chuyển cục diện chiến trường để đạt kết quả đàm phán có lợi nhất cho Mỹ), chúng ta mở đợt tấn công ngoại giao mới. Ngày 26 tháng 6 năm 1971, Cố vấn Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy gặp riêng Kítxinhgơ. Bộ trưởng Xuân Thủy đưa ra Sáng kiến hòa bình 9 điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa1 (Trong tiến trình đàm phán, âm mưu của chính quyền Níchxơn là tách vấn đề quân sự và chính trị; chỉ giải quyết vấn đề quân sự nhằm thực hiện rút quân ngừng bắn toàn bộ với cả Mỹ và ngụy để duy trì và củng cố ngụy. Quan điểm của Việt Nam là phải giải quyết toàn bộ và chỉ ngừng bắn sau khi giải quyết cả vấn đề quân sự và chính trị, do đó phải giải quyết hai vấn đề quan trọng là: Mỹ phải định thời hạn rút quân khỏi miền Nam và Mỹ phải chấm dứt việc ủng hộ nhóm cầm quyền hiếu chiến do Thiệu cầm đầu); tuy nhiên, phía Mỹ vẫn làm ngơ trước những đề nghị thiện chí và thấu tình, đạt lý của chúng ta. Trước tình hình đó, ngày 10 tháng 7 năm 1971, Bí thư thứ nhât Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn đã điện cho Bộ trưởng Xuân Thủy và cố vấn Lê Đức Thọ, nhấn mạnh "vấn đề quan trọng hiện nay là làm thế nào ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp với nhau để có thể nắm vững thời cơ và giành được thắng lợi lớn nhất"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Sđd, tr. 408). Cùng ngày, đồng chí Lê Duẩn điện riêng cho Bộ trưởng Ngoại giao CPCMLTCHMNVN và VNDCCH chỉ rõ hai yêu cầu trước mắt trong cuộc đấu tranh ngoại giao giữa ta va địch: 1. Gây một sức ép mạnh trong nước Mỹ, ngay cả trong Thượng và Hạ nghị viện Mỹ để buộc Níchxơn phải đi đến có chủ trương dứt khoát rút quân ra khỏi miền Nam và phải tuyên bố thời hạn rút quân; 2. Ta phải kéo chính quyền bù nhìn Sài Gòn xuống một bước, buộc Mỹ phải đưa ra một chính quyền có thể nói chuyện với ta3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Sđd, tr. 109-410).
Phát huy thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào và những thắng lợi quân sự trong nửa cuối năm 1971, từ tháng 7 cho đến tháng 12 năm 1971, chúng ta liên tục mở các đợt tấn công ngoại giao quyết liệt hơn, nhằm đưa cuộc đàm phán đi vào thực chất, phản ánh đúng những diễn biến quân sự trên chiến trường có lợi cho chúng ta; đồng thời, kiên quyết làm thất bại âm mưu của Mỹ coi nhẹ, hạ thấp vai trò của đàm phán Pari. Chúng ta liên tục đưa ra những sáng kiến mới, tập trung vào các vấn đề như rút quân, thả tù binh, chấm dứt ủng hộ Thiệu - Kỳ - Khiêm, bồi thường chiến tranh, thực hiện ngừng bắn sau khi ký kết hiệp định, thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình... Có một điểm mới là những vấn đề nêu trên được thu hẹp trong phạm vi miền Nam, nhằm tạo ra những bước đột phá mới trong đàm phán và điều đáng nói là mỗi sáng kiến đưa ra đều kèm theo các giải pháp thực hiện1 (Đáng lưu ý là Sáng kiến 7 điểm, trong đó, sáng kiến thứ nhất gợi ý rõ một thời hạn rút quân là trong năm 1971, gắn việc rút an toàn quân đội Mỹ và thả tù binh hai bên bắt đầu cùng ngày và kết thúc cùng ngày. Sáng kiến thứ hai và ba tập trung yêu cầu lập chính phủ hòa hợp dân tộc rộng rãi ba thành phần. Sáng kiến thứ tư để nghị vấn đề các lực lượng vũ trang ở miền Nam sẽ do các bên Việt Nam cùng nhau giải quyết trên tinh thần hòa hợp dân tộc. Sáng kiến thứ năm về việc miền Nam Việt Nam và Mỹ sẽ thiết lập quan hệ chính trị, kinh tế - xã hội). Trả lời các sáng kiến của chúng ta, mặc dù các đại biểu phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn chưa hoàn toàn có thái độ thiện chí, song, thái độ đã lộ rõ ý muốn sớm giải quyết vấn đề, tỏ ra có một số điểm mềm dẻo: Không nhắc đến vấn đề quân miền Bắc rút khỏi miền Nam, đồng ý ngừng bắn sau khi có hiệp định, giải quyết vấn đề tù binh đồng thời với việc rút quân Mỹ và hé lộ sẽ có viện trợ không hoàn lại đáng kể sau chiến tranh. Nhìn chung, trong năm bản lề 1971, chúng ta "chủ yếu xoáy vào hai điểm chính: Vấn đề rút quân Mỹ và vấn đề thay thế chế độ Thiệu"1 (Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger lại Pari, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 178). Như vậy, kết hợp chặt chẽ giữa đánh - đàm; nắm vững quan hệ giữa thắng lợi quân sự với thắng lợi trên ban đàm phán, mềm dẻo trong điều chỉnh các điều kiện, yêu cầu đàm phán, sau thắng lợi mang tính chiến lược của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, các hoạt động ngoại giao của chính phủ Việt Nam đã thúc đẩy cuộc "Hòa đàm thế kỷ" hầu như không tiến triển, sau rất nhiều bế tắc có những diễn biến mới, bước vào giai đoạn đàm phán thực chất. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2024, 09:09:02 pm 3.Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào và cuộc vận động ngoại giao tranh thủ dư luận thế giới.
Khi đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao phục vụ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong bối cảnh quốc tế phức tạp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho ngành đối ngoại: "Ngoại giao của ta là cốt tranh thủ nhiều người ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước"2 (Xuân Thủy, "Một số vấn đề về Hiệp định Pari", Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1-2008, tr. 7). Và từ khi cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đang có bước leo thang mới, Trung ương Đảng đã chủ trương: "Tranh thủ rộng rãi hơn nữa sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới đốivới cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta và qua đó góp phần phát triển hành động chung của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ xâm lược và ủng hộ Việt Nam"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 30, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 202). Trên tinh thần đó, nhằm tranh thủ tối đa dư luận quốc tế, cô lập Mỹ và chính quyền Sài Gòn, bên cạnh cuộc đấu tranh trực tiếp với Mỹ trên bàn đàm phán, chúng ta còn tiến hành những hoạt động đối ngoại phong phú bên ngoài hội nghị, đặt trọng tâm vào việc tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, âm mưu của Mỹ - Thiệu kéo dài chiến tranh, cũng như chỉ rõ những thất bại của Mỹ trên chiến trường Đông Dương mà đối phương luôn luôn muốn che giấu. Khi Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện cuộc hành quân "Lam Sơn 719", với quyết tâm chiến lược "kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành toàn thắng cho Chiến dịch X (Đường 9 - Nam Lào)"1 (Chỉ thị 009/QUTW, do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, hồ sơ 594), với sự tin tưởng ở thắng lợi tất yếu, nhìn thấy trước sự thảm bại không tránh khỏi của quân đội Sài Gòn, chỉ vài ngày sau khi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào bắt đầu, ngày 9 tháng 2 năm 1971, Bộ Chính trị chỉ thị: "Cần gây nên một phong trào mạnh mẽ chống hành động phiêu lưu quân sự của Mỹ và Thiệu - Kỳ đưa quân đi đánh ở Lào, ở Campuchia kết hợp các khẩu hiệu đòi hoà bình dân chủ và dân sinh, đòi Mỹ rút quân"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Sđd, tr. 248). Quán triệt quan điểm đó, chúng ta sẵn sàng cho một cuộc vận động quy mô lớn vạch rõ âm mưu kéo dài chiến tranh của Mỹ, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của dư luận quốc tế, đặc biệt là nhân dân Mỹ - những người đã chán ngấy cuộc chiến tranh bẩn thỉu đang được tiến hành một cách vô vọng ở miền Nam Việt Nam; những người đã quá mệt mỏi trước những mất mát, hy sinh không đáng có của con em họ tại vùng đất xa xôi, hứa hẹn một tương lai mịt mù này. Điều vô cùng thuận lợi là dù bộ máy tuyên truyền của Sài Gòn đưa tin rùm beng về thắng lợi của "Quân lực Việt Nam cộng hòa" trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", nhưng các ký giả mặt trận Anh, Mỹ theo sát các cuộc hành quân của quân đội Sài Gòn đã truyền tải đầy đủ sự thật về thất bại của quân đội Việt Nam cộng hòa - một cuộc "tháo chạy trong hoảng loạn". Vô số những dòng tin như: "Quân lính Nam Việt Nam khiếp sợ, phải đánh lẫn nhau giành chỗ khi máy bay đáp xuống để nhặt bọn bị thương"1 (Tin Mỹ và thế giới, ngày 5 tháng 4 năm 1971); hay: "Số quân tinh nhuệ Sài Gòn quá tuyệt vọng không còn cách nào khác là liều mạng bám vào càng máy bay lên thẳng để rời khỏi trận địa. Nhiều nhân viên phi hành Mỹ phải lấy dây cột chặt người vào ghế để khỏi bị đẩy ra khỏi máy bay. Một số phi công khác phải mang theo dùi cui để hễ tên lính Sài Gòn nào trèo lên máy bay thì quật liền..."2 (Roi tơ, ngày 28 tháng 3 năm 1973); hoặc: "Thiệt hại thật khủng khiếp. Phía Mỹ và Nam Việt Nam ước tính thương vong gần 50% tổng số lực lượng tham gia cuộc hành quân"3 (Thời báo (Mỹ), ngày 5 tháng 4 năm 1971)... đã thực sự bóc trần những thất bại mà chính quyền Mỹ đang cố công che giấu, làm bùng lên một làn sóng phẫn nộ trong lòng nước Mỹ về những hứa hẹn thắng lợi của "Việt Nam hóa chiến tranh" mà Tổng thống Níchxơn vẫn luôn tô vẽ để trấn an người Mỹ. Tác giả Giô-dép A. Am-tơ trong cuốn Lời phán quyết về Việt Nam cũng cung cấp thêm thông tin: "Cuộc xâm chiếm là một thất bại và cuộc rút lui của quân đội Việt Nam cộng hòa là một cuộc tháo chạy... Điều nhục nhã này đã được hàng triệungười Mỹ xem trên màn ảnh truyền hình. Dù với sự yểm trợ ào ạt của không quân và sự chỉ huy của Lầu Năm Góc, đội quân đó đã thất bại thảm hại"1 (Giô-dép A. Am-tơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 323-324). Chính Tổng thống Níchxơn cũng phải thừa nhận rằng, tin tức báo chí, truyền hình về cuộc rút lui đã làm tinh thần ở miền Nam Việt Nam rệu rã, còn ở Mỹ dấy lên những nghi ngờ về khả năng leo thang và những tin tức đó "đã làm giảm lòng tin vào thắng lợi của Việt Nam hóa và triển vọng chấm dứt chiến tranh"2 (Giô-dép A. Am tơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd, tr. 325), khiến "lương tâm người Mỹ nổi giận". Nhân cơ hội này, hai Đoàn Ngoại giao Việt Nam (CPCMLTCHMNVN và VNDCCH) đã họp báo, vạch rõ thực chất của cái gọi là "Việt Nam hóa chiến tranh" và bày tỏ lòng công phẫn trước số phận của binh lính Sài Gòn bị ném vào chỗ chết để Tổng thống Níchxơn thổ nghiệm chiến lược của ông ta. Nhằm vận động dư luận ủng hộ lập trường của chúng ta, các Đoàn Ngoại giao Việt Nam đã đi thăm các nước châu Âu: Anh, Thụy Điển, Hà Lan, Đan Mạch, Italia... gặp gỡ các tổ chức, các nghị sĩ và nhân sĩ chống chiến tranh, tiếp xúc với báo giới, trả lời phỏng vấn, nói chuyện với sinh viên, gặp gỡ kiều bào... tuyên truyền về thắng lợi quân sự trên chiến trường của chúng ta, về cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đã "chuyển thành một thất bại khổng lồ cho ý đồ của chính quyền Mỹ và cho các kế hoạch họ đã vạch ra cho Việt Nam cộng hòa"3 (Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sdd, tr. 430), cũng như về sự phá sản hoàn toàn không gì cứu vãn được của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Những hoạt động này đãlàm bùng nổ một làn sóng chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam rộng khắp, dấy lên phong trào lên án giới cầm quyền Mỹ, thúc đẩy nhân dân Mỹ chống chiến tranh, làm rung động Nhà Trắng. Như thế, bên cạnh đàm phán Hội nghị Pari đang dần đi đến thực chất dưới sự tác động của diễn biến chiến trường, để tranh thủ dư luận thế giới, tập hợp bạn bè quốc tế, bên ngoài bàn đàm phán, hai Đoàn Ngoại giao Việt Nam phối hợp chặt chẽ hoạt động, tích cực tác động vào nội bộ nước Mỹ, phối hợp với phong trào của nhân dân Mỹ đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút nhanh, rút hết quân Mỹ khỏi Đông Dương. Và điều đó, ở một mức độ đáng kể, còn tác động vào nội tình miền Nam Việt Nam, góp phần phân hóa và cô lập thêm chính quyền Thiệu - Kỳ - Khiêm. Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã "đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của ngụy quân trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đánh dấu bước thất bại nghiêm trọng của chiến lược này"1 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 32). Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" chứa đầy những kỳ vọng của chính quyền Mỹ đã đi vào lịch sử những cuộc chiến tranh mà người Mỹ theo đuổi ở bên ngoài biên giới nước Mỹ như một dấu ấn đen tối, một "cuộc dạo chơi xuống địa ngục"2 (Gloria Emerson, To hell and back... The Straits Times, ngày 30 tháng 3 năm 1971). Thất bại này là hậu quả một chuỗi sai lầm mà chính quyền Mỹ mắc phải trong khi can dự và dấn sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, bắt đầu từ chính việc họ quyết định thách thức ý chí độc lập, tự do của dân tộc ta. Trong thế thua của địch, thế thắng của ta, nhận thức rằng, "quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến"1 (Võ Nguyên Giáp, Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 204), chúng ta đã nắm vững mối quan hệ giữa quân sự và ngoại giao, nâng ngoại giao thành một mặt trận có ý nghĩa chiến lược phối hợp chặt chẽ với mặt trận quân sự, tạo cục diện đan xen giữa đánh và đàm với một hiệu quả mới, tạo thế và lực mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang đi dần đến hồi kết thúc. Hiện nay, trên con đường hội nhập, phát triển nhanh và bền vững của đất nước, khi xu thế quốc tế hoá đời sống của các quốc gia dân tộc trên hành tinh đang trở thành xu thế nổi trội; khi thời cơ và thách thức vẫn đan xen, tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải, biển đảo vẫn tồn tại và thậm chí rất gay gắt..., thì việc xây dựng chiến lược ngoại giao đúng đắn song song với việc củng cố nền quốc phòng toàn dân, nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền đất nước vẫn đang là một đòi hỏi nóng bỏng. Thực hiện yêu cầu và trách nhiệm đó, các kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước về quan hệ thực lực và ngoại giao không những chưa bao giờ mòn cũ, chưa bao giờ mất đi ý nghĩa, mà còn ngày càng sáng lên giá trị đích thực của nó. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2024, 09:11:36 pm LỜI KÊU GỌI CỦA TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN LÀO YÊU NƯỚC GỬI NHÂN DÂN CÁC BỘ TỘC LÀO VÀ NHÂN DÂN YÊU CHUỘNG HÒA BÌNH TRẼN THẾ GIỚI TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 Trung tá SỈPIION KẸOSAMAY Cục Khoa học - Lịch sử quân sự, Bộ Quốc phòng Lào Đầu năm 1971, dưới sự điều khiển của Mỹ và được sự phối hợp từ phía lực lượng phái hữu Viêng Chăn, các lực lượng quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn và lực lượng lính đánh thuê Thái Lan với hàng chục nghìn tên được đưa vào trực tiếp tham gia cuộc hành quân "Lam Sơn 719" ở chiến trường Nam Lào. Trước khi triển khai và chi viện trực tiếp cho cuộc hành quân quy mô lớn này, lực lượng không quân Mỹ, đã huy động hàng trăm máy bay chiến đấu các loại, trong đó có cả B-52, ném bom đánh phá mạnh vào khu vực các tỉnh Nam Lào. Chúng đã đánh phá toàn bộ các địa bàn quan trọng, giết hại dân thường vô tội rất tàn khốc dã man. Hành động phiêu lưu của đế quốc Mỹ là nhằm thực hiện Học thuyết Níchxơn, mà thực chất là "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương" và "dùng người châu Á đánh người châu Á", tìm mọi cách để tạo dựng cho được chính quyền thuộc địa kiểu mới tại các nước Đông Dương. Để thực hiện âm mưu đó, đế quốc Mỹ đã trực tiếp đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược ở Lào, miền Nam Việt Nam và sau đó mở rộng sang Campuchia. Quân Mỹ - ngụy Sài Gòn, kết hợp với quân đội tay sai khu vực Đông Nam Á được tăng cường đưa vào cùng tham chiến ở Lào, tiến hành các bước leo thang chiến tranh mới rất nguy hiểm, đe dọa trực tiếp tới độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh tho của Lào một cách trắng trợn, phá hoại Hiệp định Giơnevơ về Lào, đe dọa hòa bình và sự ổn định trong khu vực Đông Nam Á và thế giới. Hành động khiêu khích đó là sự thách thức nhân dân Lào nói riêng cũng như nhân dân Đông Dương, nhân dân tiến bộ Mỹ và thế giới nói chung. Cuộc hành quân ra Đường 9 - Nam Lào của quân đội Sài Gòn kết hợp với quân phái hữu Viêng Chăn với sự yểm trợ của quân Mỹ đã phá hoại sự cố gắng không mệt mỏi của Mặt trận Lào yêu nước, và chúng cũng không cần biết đến nhân dân các bộ tộc Lào mong muốn sống trong hòa bình như thế nào? Mỹ, ngụy đưa quân vào tham chiến ở Nam Lào đã gây nên biết bao tội ác dã man, hậu quả lâu dài cho nhân dân Lào. Hành động khiêu khích đó tất sẽ không tránh khỏi thất bại thảm hại. Đất nước Lào không phải nơi mà chúng muốn gì là được, gây chiến tranh ở Hạ Lào càng làm cho nhân dân Lào tăng thêm lòng căm thù, lực lượng vũ trang ta sẵn sàng giáng trả chúng một cách kiên quyết. Trải qua nhiều năm, nhân dân Lào đã kề vai sát cánh cùng với nhân dân Việt Nam anh dũng chiến đấu chốnglại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đã giành được những thắng lợi vẻ vang. Quân và dân Lào đã bẻ gãy các bước leo thang chiến tranh của Mỹ và tay sai. Mỗi một lần đối phó với Mỹ và tay sai càng cho chúng ta biết rõ hơn ý đồ đen tối của chúng. Cho đến nay (1971) tình hình ở Lào có diễn biến phức tạp, mặc dù chúng ta giành được thắng lợi trong thời gian qua, nhưng chúng ta cũng sẵn sàng đập tan âm mưu thủ đoạn gây chiến tranh xâm lược kiểu mới của chúng và sẵn đánh thắng địch bằng mọi sự thử thách, chúng ta đều nhận thức rằng, dù khó đến mấy, cuối cùng ta vẫn giành được thắng lợi. Trên cơ sở đánh giá về tình hình Lào, Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào yêu nước đã ra Lời kêu gọi toàn thể đồng bào trong cả nước: "Hãy hun đúc tinh thần yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, đoàn kết chặt chẽ, đánh bại mọi âm mưu nham hiểm của đế quốc Mỹ và tay sai. Phát huy tinh thần tự lực tự cường, đưa cuộc chiến tranh nhân dân lên tầm cao mới, đánh địch ở mọi lúc, mọi nơi, với các loại vũ khí sẵn có, vượt mọi khó khăn, vươn lên đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước chúng ta". Để động viên tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Quân giải phóng nhân dân Lào, Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào yêu nước đã kêu gọi: "Hãy tăng cường, củng cố khối đoàn kết trong các lực lượng yêu nước và phối hợp cùng với lực lượng trung lập yêu nước, tăng cường tấn công vào lực lượng quân Mỹ và bò lũ tay sai, giành thắng lợi lớn hơn và nhiều hơn nữa". Đối với nhân dân trong vùng giải phóng, đặc biệt là nhân dân các tỉnh Trung - Hạ Lào, Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào yôu nước kêu gọi: "Hãy ra sức đấu tranh anh dũng bền bỉ, để bảo vệ lấy thành quả và căn cứ cách mạng đồng thời làm hậu thuẫn ủng hộ giúp đỡ hết lòng và phối hợp cùng với các lực lượng yêu nước, tiêu diệt sạch quân thù". Đối với đồng bào đang trong vùng địch tạm chiếm hoặc thuộc quyền kiểm soát của Mỹ, ngụy Viêng Chăn, các tầng lớp xã hội khác, các nhân sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên, công nhân, nông dân, toàn thể những người yêu nước, lời kêu gọi nêu rõ: Nguy cơ rất lớn đang tiến dần vào đất nước chúng ta, hãy kiên quyết phản đối chống lại hành động phiêu lưu quân sự mới của Mỹ và tay sai, hãy cùng hợp tác với Mặt trận Lào yêu nước và toàn thể đồng bào ta, kiên quyết làm thất bại âm mưu đen tối của đế quốc Mỹ và tay sai. Đối với những lực lượng yêu chuộng hòa bình ở khu vực Đông Nam Á và trên phạm vi toàn thế giới, Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào yêu nước cũng đã đưa ra một thông điệp: "Gửi tới những nước đã cùng ký Hiệp định Giơnevơ 1962 về Lào; gửi tới những chính phủ yêu chuộng hòa bình và nhân dân toàn thế giới và gửi tới các tổ chức quốc tế vì hòa bình, tự do, dân chủ, hãy ủng hộ, lên án, phản đối Mỹ, quân ngụy Sài Gòn tiến công xâm lược các tỉnh Lào, buộc Mỹ và tay sai chấm dứt mở rộng chiến tranh ở Lào, buộc chúng nhanh chóng rút toàn bộ lực lượng quân đội Mỹ ra khỏi nước Lào. Đó là nguyện vọng chính đáng trong cuộc đấu tranh của nhân dân Lào chống lại sự can thiệp, xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai". Thông điệp còn nêu rõ: Gửi tới nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ và những người Mỹ đã có truyền thống đấu tranh vì tự do dân chủ và sự công bằng xã hội hãy phản đối chiến tranh, chống lại chính sách mới của chínhquyền Níchxơn, tìm mọi cách để tạo được dư luận ủng hộ rộng rãi của người Mỹ, chống việc đưa quân vào trực tiếp tham chiến trong các chiến dịch ở Nam Lào; đồng thời, cũng để họ bắt buộc chính phủ Mỹ phải ngừng ngay lập tức cuộc chiến tranh trên đất nước Lào. "Lào là một đất nước độc lập, dân chủ, có chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của mình, không thể tách rời nhau. Sau khi tiến hành chiến tranh xâm lược Lào trong nhiều năm, đế quốc Mỹ đã gặp sự phản kháng chống lạiquyết liệt của nhân dân các bộ tộc Lào, làm cho chúng rơi vào thế bị động từ thất bại này đến thất bại khác và chúng cũng bị lên án tội ác do hành động dã man của chúng từ nhân dân yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới. Cho đến nay, Níchxơn... càng đưa quân vào tham chiến ở Hạ Lào, chắc chắn chúng sẽ bị thất bại thảm hại nhiều hơn nữa. Nhân dân ta luôn luôn yêu chuộng hòa bình và công lý, nhưng hòa bình phải kèm theo độc lập và tự do dân chủ, chúng ta sẽ không hối tiếc sự hy sinh thân phận vì sự bảo vệ nền độc lập tự do ấy. Chúng ta tiến hành cuộc đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ - tên sen đầm quốc tế, không phải chỉ đấu tranh giành độc lập, tự do, hòa bình cho nhân dân ta, mà còn đấu tranh vì hòa bình cho nhân dân trên toàn thế giới. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc đấu tranh chính nghĩa, chúng ta có được sức mạnh chính là sự thống nhất cao về chính trị tinh thần của nhân dân các bộ tộc Lào và tình đoàn kết liên minh chiến đấu của hơn 50 triệu nhân dân Đông Dương. Vì vậy, chúng ta có đủ sức mạnh để đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Tình đoàn kết của nhân dân Đông Dương ngày càng bền chặt, vững mạnh kể từ khi chúng ta tổ chức Hội nghị cấp cao của nhân dân ba nước Đông Dương, chúng ta rất tự hào, được sự giúp đỡ tận tâm, tận lực của nhân dân các nước Đông Dương. Chúng ta rất hài lòng với sự ủng hộ giúp dõ tận tình của các nước Xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, chúng ta có sức mạnh tổng hợp, thà hy sinh tất cả, kiên quyết, bền bỉ, đánh thắng địch, chúng ta nguyện sẽ kề vai sát cánh cùng với nhân dân Việt Nam và Campuchia, làm cho đế quốc Mỹ và tay sai bị thất bại hoàn toàn, nhân dân Lào có hòa bình, độc lập, có quyền tự do dân chủ, thống nhất và thịnh vượng. Góp phần vào xây dựng khu vực Đông Dương hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ". Có thể nói, Lời kêu gọi của Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào yêu nước đã có sức động viên, cổ vũ to lớnđối với quân và dân Lào; đồng thời làm cho nhân dân tiến bộ, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới hiểu rõ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Lào, ủng hộ nhân dân Lào, góp phần tạo nên sức mạnh đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2024, 09:14:33 pm ĐỊA BÀN ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NHỮNG TÍNH TOÁN CỦA TA VÀ ĐỊCH TRONG NĂM 1971 Thượng tá, ThS HOÀNG THỊ THẢO Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử quân sự Dân tộc - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường ba nước Đông Dương, đầu năm 1971, đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa bắt đầu thực hiện kế hoạch chiến lược đánh ra vòng ngoài (chiến trường Lào và Campuchia) bằng các cuộc tiến công quy mô lớn. Mỹ sử dụng quân đội Sài Gòn làm nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với chính quyền, quân đội phái hữu Lào, quân Lon Non Campuchia, với sự chi viện của không quân Mỹ nhằm triệt phá hành lang vận chuyển và hậu phương chiến lược trực tiếp của ta. Chúng huy động 88/214 tiểu đoàn, 15 thiết đoàn mở 3 cuộc hành quân: "Lam Sơn 719", đánh ra Đường 9 - Nam Lào; "Toàn thắng 1-71", đánh sang hai tỉnh Côngpông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia) và "Quang Trung 4", đánh ra vùng ngã ba biên giới. Trong đó, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" được xác định là hướng tiến công chủ yếu, có quy mô lớn nhất. Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao Mỹ và chính quyền Sài Gòn lại chọn địa bàn Đường 9 - Nam Lào là hướng tiến công chủ yếu trong năm 1971?. Chúng mưu tính những gì khi thực hiện cuộc tiến công này? Chủ trương và kế hoạch của ta trước âm mưu mới của kẻ thù? Đường 9 - Nam Lào là địa bàn rừng núi thưa dân, thuộc hai tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào). Địa hình vùng đất này rất đa dạng: có đồng bằng ven biển, có đồi núi trung du xen kẽ làng mạc, có núi cao rừng rậm từ Cửa Việt tới Lao Bảo (dài 80km), riêng khu vực Bản Đông, Sê Pôn khá trống trải, núi không cao; có Đường 9 - con đường nối liền hai nước Việt - Lào, được mở từ những năm đầu thế kỷ XX, do công sức của hàng vạn người dân hai nước, chạy từ Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) đến Bản Đông - Sê Pôn, tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào). Đây là tuyến đường chiến lược nối biển Đông (Việt Nam) với Xa Van Na Khẹt (Lào) và chia Đông Dương thành hai miền Nam - Bắc. Ở hai phía bắc - nam trục Đường 9 kéo dài từ Bản Đông đến Sê Pôn, hầu hết là những dãy núi kế tiếp nhau, cao từ 500 đến 800m, có những chỗ thoải dần xuống trục Đường 9, tạo thành những ngả giao thông chạy song song với dòng sông Sê Pôn sâu rộng, đồng thời các điểm cao này cũng tạo ra những bức bình phong án ngữ bảo vệ trục giao thông chiến lược số 9. Ngoài ra, trên địa bàn này còn có đường 16 chạy qua làng Ho xuống Bản Đông, nối với đường 22 đi Mường Noòng; đường 18 qua Thà Khống xuống Mường Noòng là những đường hành lang vận tải chiến lược ở khu vực này. Địa bàn Đường 9 - Nam Lào có vị trí trọng yếu đối với cả ta và địch. Đối với ta, đây là khu vực kề cận với hậu phương miền Bắc, là "cuống họng" của tuyến vận tải quân sự Trường Sơn -Đường Hồ Chí Minh chi viện sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa cho chiến trường miền Nam và Đông Dương. Đây cũng là nơi đặt cơ sở hậu cần chiến lược, tập trung hệ thống kho, trạm cất giữ vật chất đảm bảo cho các chiến trường. Đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, việc đánh chiếm toàn tuyến Đường 9 - Nam Lào, triệt phá tận gốc hành lang vận chuyển và phá hủy toàn bộ hệ thống kho, trạm hậu cần chiến lược đảm bảo kháng chiến của ta là một trong những mục tiêu chính yếu của chúng trong mưu đồ mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương. Các giới chức quân sự Mỹ khẳng định rằng: muốn thực hiện mục tiêu "bóp nghẹt" cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam phải bịt từ đầu con đường hành lang chiến lược Trường Sơn cắt đứt huyết mạch chính của việc đảm bảo hậu cần của ta. Trước năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn từng sử dụng nhiều biện pháp để hủy diệt con đường vận chuyển chiến lược của ta; đó là, thường xuyên tung biệt kích, tập trung máy bay đánh phá với quy mô, cường độ hủy diệt... nhưng chẳng những không ngăn chặn được nguồn chi viện nhân tài vật lực ngày mỗi tăng của ta, mà theo thời gian, cứ mỗi ngày lại có thêm những cung trạm mới được mở ra - một "trận đồ bát quái xuyên rừng rậm" được hình thành. Nay trong tính toán mới, chúng muốn tập trung lực lượng quân đội mạnh để trực tiếp "bịt" chặt con đường này, mà khu vực Đường 9 - Nam Lào là điểm then chốt. Kế hoach mở một cuộc hành quân để cắt đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào đã được một số quan chức cao cấp của Mỹ dày công nghiên cứu từ đầu năm 1970. Trong hồiký của mình, Kítxinhgơ viết: "Tôi cho phép nghiên cứu một cuộc hành quân ưu tiên để cắt đường mòn Hồ Chí Minh, để đánh kẻ thù trên đất Lào"1 (Hồi ký của Kítxinhgơ: Tài liệu đánh máy của Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, ký hiệu VL5241/79, tr. 6). Đây cũng là ý đồ của Bâncơ, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn và của Abram, Tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam. Tháng 11 năm 1970, đề nghị đánh sang Đường 9 - Nam Lào của Bâncơ và Abram được Tổng thống Mỹ Níchxơn phê chuẩn. Ngày 2 tháng 2 năm 1971, Tổng thống Níchxơn họp cùng Cố vấn Kitxinhgơ, Ngoại trưởng Râugiơ, Bộ trưởng Quốc phòng Ledơ và Tham mưu trưởng Liên quân Morơ thông qua kế hoạch mở ba cuộc hành quân, đánh vào tuyến hành lang vận chuyển chiến lược của ta trên các hướng: Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và ngã ba biên giới. Cuộc tiến công đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào mang mật danh "Lam Sơn 719", là cuộc hành quân có mục đích, quy mô và ý đồ lớn nhất. Theo Kítxinhgơ: "Mục tiêu của cuộc hành quân không phải là giành lấy bất động sản hay đồ tiếp tế, mà là phá hủy và cắt đứt đến mức tối đa con đường mòn và phá hủy tất cả những kho tàng phát hiện được"2 (Hồi ký của Kítxinhgơ, tài liệu đã dẫn, tr. 227). Chọn khu vực Đường 9 - Nam Lào mở cuộc tiến công lớn nhất trong mùa khô 1970-1971, phía Mỹ và tay sai tính toán rất kỹ trên mọi phương diện. Trước hết, Đường 9 - Nam Lào là nơi tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược, được ví như "yết hầu và dạ dày" của đối phương; là "cuống họng" của đường Hồ Chí Minh, huyết mạch đặc biệt quan trọng để nuôi sống cuộcchiến tranh cách mạng miền Nam Việt Nam và cách mạng Lào, Campuchia. Trong tính toán của Mỹ, nếu cắt đứt hoặc phá hủy hoàn toàn được tuyến vận tải này, cùng cơ sở hậu cần chiến lược ở khu vực Đường 9 - Nam Lào, sẽ chặn đứng và triệt bỏ được nguồn tiếp tế từ gốc khiến lực lượng vũ trang, trước hết là bộ đội chủ lực ở miền Nam không thểtổ chức được các cuộc đánh lớn trong mùa khô 1971-1972. Tư lẹnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam, tướng Abram hy vọng: Nếu cộng sản không còn đường mòn Hồ Chí Minh, hoặc con đường này chỉ cần bị gián đoạn trong một mùa khô thôi, khả năng mở các cuộc tiến công lớn của Hà Nội ở miền Nam (và Campuchia) sẽ giảm đi một cách đáng kể nếu không phải là bị loại trừ trong một tương lai vô hạn định. Khi tuyến vận tải và cở sở hậu cần chiến lược bị phá hủy thì sức chiến đấu của lực lượng cách mạng Đông Dương sẽ suy yếu, dần "tàn lụi" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" có thêm điều kiện thực hiện thành công. Thứ hai, đây là nơi quân đội Sài Gòn được thực nghiệm trong một kế hoạch quân sự cao nhất của âm mưu "Việt Nam hóa chiến tranh", rèn luyện quân đội Sài Gòn trở thành lực lượng nòng cốt của chính sách "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương", thành lực lượng mạnh có khả năng đương đầu với quân chủ lực miền Bắc và thay thế lực lượng quân Mỹ rút dần về nước. Thứ ba, địa bàn khu vực chiến trường Đường 9 - Nam Lào có nhiều thuận lợi để phát huy sức mạnh vũ khí, kỹ thuật hiện đại và hiệp đồngtác chiến giữa quân đội Sài Gòn với quân Mỹ. Hơn nữa, từ Cửa Việt đến Lao Bảo đã có sẵn một bộ phận lớn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, có hệ thống căn cứ hỏa lực, căn cứ hậu cần, có sân bay và đườnggiao thông thủy bộ, hình thành một thế phòng ngự vững chắc. Chúng sẽ dựa vào hệ thống phòng ngự này đẽ làm hậu phương chiến dịch, xây dựng bàn đạp xuất phát tiến công sang Lào, ra Nam Quân khu 4 và Tây Trị - Thiên, hoặc đối phó với sự phát triển tiến công của ta khi chúng buộc phải rút lui. Địch cũng trù tính thực thi kế hoạch này còn là nhằm để thử thách quyết tâm và khả năng quân sự của miền Bắc, hỗ trợ cho chiến tranh đặc biệt ở Lào và cuộc chiến tranh xâm lược Campuchia. Chúng cũng dự tính "toàn bộ cuộc tiến công sẽ mất từ 4 đến 5 ngày. Phần còn lại của mùa khô sẽ dùng để cắt con đường mòn và phá hủy khu hậu cần cho là nằm dọc theo con đường mòn và nhất là xung quanh Sê Pôn. Một chiến dịch thắng lợi sẽ tạo cho chúng ta ít nhất là hai năm để xây dựng lại cơ sở hậu cần, có thể còn lâu hơn"1 (Hồi ký của Kítxinhgơ, tài liệu đã dẫn, tr. 242). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2024, 09:15:40 pm Hiện thực hóa những toan tính trên, ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn bắt đầu mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Chúng huy động 42.000 quân, trong đó có 33.000 quân chủ lực Sài Gòn (gồm quân dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân...), 9.000 quân Mỹ, cùng một khối lượng lớn binh khí kỹ thuật: 464 xe tăng, xe thiết giáp; 250 khẩu pháo; hàng ngàn máy bay các loại trong đó có hơn 500 trực thăng và trực thăng vũ trang. Thủ đoạn của địch trong cuộc hành quân là thực hiện đánh nhanh tiến nhanh theo chính diện bằng nhiều cánh quân từ hướng Đông theo trục Đường 9 là chủ yếu, phối hợp với quân đội chính phủ phái hữu Lào, tiến công từ phía sau(hướng Tây) vào khu vực mục tiêu. Cơ động lực lượng tiến công bằng máy bay trực thăng chở quân kết hợp với hành quân bộ, trong đó cơ động bằng máy bay là chính. Với sức mạnh quân sự áp đảo như vậy, chúng tin rằng, nhất định kế hoạch của chúng sẽ thành công trước khi quân chủ lực miền Bắc cơ động vào tham chiến (chúng cho rằng đối tượng tác chiến chủ yếu ở đây chỉ là lực lượng bảo vệ hành lang, kho tàng của Đoàn 559, chỉ có khả năng hoạt động phân tán, còn bộ đội chủ lực của ta không thể cơ động đến kịp trước khi chúng đạt được mục đích cuộc hành quân).
Nhưng Mỹ và chính quyền Sài Gòn đâu biết rằng, ngay từ khi cuộc tiến công xâm lược Campuchia giữa năm 1970 của chúng bị đánh bại, ta đã sớm xác định, sớm muộn gì chúng cũng sẽ tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới, trong đó hướng tiến công ra hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia vào mùa khô 1970-1971 đã được ta dự kiến. Từ mùa Hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã xúc tiến chuẩn bị kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng chủ động ứng phó với âm mưu mới của địch. Tháng 10 năm 1970, Binh đoàn 70, một đơn vị tương đương quân đoàn được thành lập. Mặt trận B5, Quân khu Trị - Thiên, Đoàn 559 được lệnh điều chỉnh đội hình bố trí lực lượng, bày thế trận sẵn sàng phá tan âm mưu của địchđể bảo vệ tuyến vận tải huyết mạch và các cơ sở hậu cần chiến lược Trường Sơn. Khi địch bắt đầu mở cuộc hành quân đánh ra Đường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tập trung lực lượng mở chiến dịch phản công tiêu diệt quân địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào, nhằm đập tan bước phiên lưu quân sự mới của địch. Ngày 6 tháng 2 năm 1971, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào với mật danh Bộ Tư lệnh 702, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận; Đại tá Cao Văn Khánh làm Tư lệnh phó; Đại tá Phạm Hồng Sơn làm Tư lệnh phó, Tham mưu trưởng; Đại tá Hoàng Phương làm Phó Chính ủy. Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân ủy Trung ương nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của như thế nào, vì đây là trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Thắng trận này, ta sẽ tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực tinh nhuệ của quân ngụy Sài Gòn và phá hủy một mảng phương tiện chiến tranh của chúng, làm thất bại cố gắng cao nhất của địch trong quá trình thực hiện "Việt Nam hóa chiến tranh", tạo nên những chuyển biến căn bản có tính chất chiến lược cho phong trào cách mạng ba nước Đông Dương. Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị, trong đó nêu rõ nhiệm vụ cho Đảng ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch là: Tập trung lực lượng tiêu diệt và làm tan rã thật nhiều lực lượng chủ lực cơ động của "Quân lực Việt Nam cộng hòa", phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận quân Mỹ. Bảo vệ bằng được con đường vận tải chiến lược. Phối hợp với các chiến trường, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Chỉ thị nhấn mạnh: đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định vềchiến lược nên nhất định phải đánh thắng: "Thắng lợi của chiến dịch không những đảm bảo cho sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến mà còn tiêu diệt một lực lượng dự bị chiến lược quan trọng của quân ngụy trên chiến trường miền Nam và một bộ phận quan trọng của quân Mỹ, đánh một đòn rất mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ - ngụy"1 (Chỉ thị 009/QUTW do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, hồ sơ 594 - Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đặt ra, Quân ủy Trung ương kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên tham gia chiến dịch: "Tập trung cao nhất tinh thần và sức lực dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ con đường Hồ Chí Minh. Xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này"2 (Chỉ thị 009/QUTW do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, hồ sơ 594 - Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Sau hơn 50 ngày quyết liệt tiến công (31.1 - 23.3.1971), Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của quân dân ta kết thúc thắng lợi. Cùng với chiến công đánh bại hai cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4" của địch ở mặt trận Đông Bắc Campuchia và ngã ba biên giới, quân dân ta trên chiến trường miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, trực tiếp là của Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch trên từng địa bàn đã giáng cho quân đội Sài Gòn - xương sống của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" những đòn chí mạng, một bộ phận quan trọng của lực lượng này đã bị tiêu diệt. Âm mưu tiến công - phản kích đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn buộc phải chấm dứt. Mọi toan tính của chúng trong kế hoạch đánh vào hai đầu của tuyến vận tải chiến lược của chúng ta trong năm 1971 hoàn toàn bị đập tan. Những thắng lợi trên đã mở ra một triển vọng tốt đẹp để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn vào tháng 4 năm 1975. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2025, 09:24:59 pm LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MẶT TRẬN ĐƯỜNG 9 - BẮC QUẢNG TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯƠNG 9 - NAM LÀO 1971 Đại tá NGUYỄN HUY THỤC Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm Mậu Thân 1968, tuy phải chịu những thiệt hại không nhỏ về người và của, nhưng quân và dân miền Nam đã giáng đòn quyết định làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ", đẩy chính quyền thực dân mới của Mỹ ở Nam Việt Nam vào tình thế khủng hoảng nghiêm trọng; buộc Giônxơn phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam vô điều kiện và "nhường" chức Tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ tiếp theo cho Níchxơn. Nhậm chức Tổng thống ngày 20 tháng 1 năm 1969, Níchxơn quyết định triển khai chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" thay cho chiến lược "Chiến tranh cục bộ". Thực chất đây là sự tiếp tục thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam dưới một thủ đoạn mới: "thay màu da trên xác chết". Với vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mỹ và do Mỹ chỉ huy, quân đội Việt Nam cộng hòa trở thànhlực lượng xụng kích, còn quân chiến đấu Mỹ1 (Nói quân chiến đấu Mỹ là bao gồm cả quân viễn chinh Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam) rút về tuyến sau giữ các căn cứ quân sự và làm lực lượng dự bị, rồi từng bước rút dần về nước để giảm bớt gánh nặng chi phí chiến tranh và xoa dịu tình hình phản đối của dân chúng đang diễn ra rất gắt gao trên khắp nước Mỹ. Vì mục tiêu của "Việt Nam hóa chiến tranh" là "hủy diệt, giành dân và bóp nghẹt", nên các biện pháp chiến lược chính được xác định như sau: - Phát triển quân đội Sài Gòn cả về số lượng và chất lượng để từng bước thay quân Mỹ rút ra, làm cho quân đội Sài Gòn không chỉ đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam (cả quân đội miền Bắc), mà còn làm lực lượng nòng cốt cho cuộc xâm lược thực dân mới của Mỹ ở Đông Nam Á2 (Lợi dụng những thiệt hại lớn của ta sau Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chương trình bình định, đồng thời tăng cường đôn quân bắt lính, gia tăng số lượng quân đội Sài Gòn từ 717.000 (1968) lên 1.046.000 quân (1970)). - Tăng cường bình định, giành dân, tiêu hao và đẩy lùi lực lượng cách mạng, phá chỗ đứng chân của các đơn vị chủ lực Quân giải phóng. Đây là vấn đề có tính sống còn của chế độ Việt Nam cộng hòa. - Củng cố và xây dựng chính quyền các cấp của chế độ Việt Nam cộng hòa từ trung ương đến cơ sở ấp, xã. - Tiến hành cuộc chiến tranh "bóp nghẹt", tổ chức những cuộc hành quân lớn đánh phá và cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược, phá hủy cơ sở hậu cần chiến lược nhằm triệt tiêu sức chiến đấu của lực lượng vũ trang giải phóng. Đây là biện pháp có tính quyết định đối với sự thành bại của "Việt Nam hóa chiến tranh". Theo đó, mùa khô 1970-1971, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã huy động 88 tiểu đoàn bộ binh (trong tổng sô 214 tiểu đoàn), 15 thiết đoànđể mở 3 cuộc hành quân quy mô lớn, tiến hành trên 3 hướng đánh vào tuyến hành lang vận chuyển chiến lược của ta, gồm: hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra vùng Đường 9 - Nam Lào, hành quân "Toàn thắng 1-71" từ Tây Ninh, Lộc Ninh đánh lên vùng Kôngpông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia) và hành quân "Quang Trung 4" từ Bắc Kon Tum đánh ra hướng ngã ba biên giới (thuộc A Tô Pơ, Nam Lào). Trong đó, "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân có quy mô lớn nhất. Mục đích cuộc hành quân "Lam Sơn 719" được xác định: nhằm cắt đứt đường vận chuyển chiến lược của ta từ gốc triệt phá cơ sở kho tàng, hậu cần chiến lược làm cho quản chủ lực ta không thể đánh lớn trong năm 1971, 1972, mà chỉ có thể hoạt động nhỏ lẻ, chiến tranh du kích; thử thách quyết tâm và khả năng quân sự của miền Bắc; thực hiện vai trò rèn luyện khả năng quân đội Việt Nam cộng hòa để làm nòng cốt cho đội quân bản xứ của Mỹ ở các nước Đông Dương khi Mỹ rút quân dần theo kế hoạch1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân Hà Nội, 2001.tr. 264). Chủ động đối phóvới mưu đồ của địch, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các đơn vị tập trung nghiên cứu các thủ đoạn tiến công, cách đánh, những điểm mạnh yêu của địch để xây dựng phương án tác chiến phù hợp. Quyết tâm tác chiến của ta được xác định là: ''Nắm chắc thời cơ, tập trung lực lượng, kiên quyết tiêu diệt thật nhiều địch, bảo vệ bằng được đường Hồ Chí Minh; chuẩn bị sẵn sàng đê đánh địch trên các phương hướng: Đường số9, vùng ba biên giới đồng thời có kế hoạch tác chiến bảo vệ Nam Quân khu 4 bằng các lực lượng tại chỗ, kết hợp với lực lượng cơ động của Bộ, sẵn sàng đánh thắng địch khi chúng liều lĩnh tiến công ra Nam Quân khu 4"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (1966-1973), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 201). Đúng vào thời điểm công tác chuẩn bị chiến trường của ta đang diễn ra khẩn trương nhất, ngày 18 tháng 1 năm 1971, kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719", do quân đội Việt Nam cộng hòa tiến hành với sự yểm trợ tối đa của các lực lượng Mỹ, đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào được phê chuẩn. Từ ngày 20 tháng 1, trên hướng Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, địch gia tăng hoạt động biệt kích, thám báo ở khu vực ven Đường 9 kết hợp với nông quân càn quét ra 4 xã bờ Nam sông Bến Hải (thuộc khu phi quân sự). Ngày 30 tháng 1 năm 1971, một bộ phận lực lượng thuộc Sư đoàn 9 Mỹ mở trận càn Dewey Cayon dọc theo Đường 9, tái chiếm Khe Sanh tạo bàn đạp và nghi binh cho quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào. Lực lượng huy động cho cuộc hành quân này là những đơn vị sừng sỏ nhất của quân đội Sài Gòn: sư đoàn dù, sư đoàn lính thủy đánh bộ, Sư đoàn 1 bộ binh và lực lượng binh khí kỹ thuật gồm: 578 xe tăng, xe bọc thép, 318 khẩu pháo, 700 máy bay, với tổng quân số khoảng 55.000 tên; ngoài ra còn có các binh đoàn GM30, GM33 quân đội phái hữu Lào phối hợp. Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, bằng đường không và đường bộ, quân Sài Gòn đã vận chuyển 22 tiểu đoàn bộ binh và pháo binh ra khu vực Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh; cho Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ tập vượt sông phía Đông cầu Đông Hà, Lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ từ La Vang tiến ra cửa Thuận An xuống tàu thủy đi lên hướng Bắc khu phi quân sự, một số tàu của Hạm đội 7 Mỹ từ biển Đông tiến vào uy hiếp vùng biển phía Nam Quảng Bình (thực hiện mưu đồ nghi binh). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2025, 09:26:55 pm Thực hiện quyết tâm của Quân ủy Trung ương: kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, giành toàn thắng cho Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. "Chiến dịch này là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Thắng lợi của chiến dịch không những đảm bảo cho sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến mà còn tiêu diệt được một lực lượng dự bị chiến lược quan trọng của quân ngụy trên chiến trường miền Nam và một bộ phận quan trọng của quân Mỹ đánh một đòn rất mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ - ngụy1 (Chỉ thị 009/QUTƯ, do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, hồ sơ 594 - Trung tâm lưu trữ - Bộ Quốc phòng). Ngày 4 tháng 2 năm 1971, Bộ Quốc phòngra Quyết định số 51/QĐ-QP, thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (Bộ Tư lệnh 702). Ngay sau đó, Bộ Tổng Tham mưu đã điều động lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Binh đoàn B70, lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5), B4, Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5, Sư đoàn 324 Quân khu Trị - Thiên, 4 tiểu đoàn thiết giáp, 4 trung đoàn pháo, 3 trung đoàn cao xạ, 3 trung đoàn công binh, 1 số tiểu đoàn đặc công và Đoàn 559, với tổng quân số 58.791 cán bộ, chiến sĩ.
Được phân công đảm nhiệm trên hướng Đông chiến dịch, được Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh Quân khu 4 tăng cường các tiểu đoàn đặc công 19, 31, 35, tiểu đoàn cao xạ 13, 14, Đại đội 1 ĐKB thuộc Trung đoàn pháo binh 45 và 8 đại đội pháo mang vác, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị nhanh chóng thiết lập hệ thống chỉ huy đánh địch trên từng khu vực. Ngày 12 tháng 2, Ban chỉ huy khu vực B được thành lập, do Trung tá Trần Sĩ Kích làm Chỉ huy trưởng, Thiếu tá Chu Bá Trác làm Chính trị viên, có nhiệm vụ: chỉ huy Tiểu đoàn đặc công 33, Tiểu đoàn công binh 15, 8 đại đội pháo mang vác và súng cối, đại đội súng máy phòng không 12,7mm đánh địch ở Tân Lâm, Sa Mưu lên Bồng Kho, Rào Quán, Động Tri, La Rường, Tia Đông. Đây là đợt đầu bám đánh địch triển khai lực lượng hành quân đạt kết quả tốt. Tiếp đà thắng lợi, các lực lượng của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị liên tục tổ chức các trận đánh phá giao thông, kho tàng và các cụm quân dã ngoại của địch. Ngày 13 tháng 2 năm 1971, Tiểu đoàn 15 được lệnh chuyển phần lớn lực lượng từ hướng Đông sang hướng Tây, đánh cắt giao thông đoạn Úc Nghi đi Khe Sanh, Rào Quán. Ngày 15, tiểu đoàn thực hiện đánh 2 trận diệt 12 xe tăng, xe bọc thép và 1 đại đội địch ở Bồng Kho, điểm cao 620. Ngày 18 tháng 2, Tiểu đoàn đặc công 33 tập kích khu kho Ái Tử, Sa Mưu, đốt cháy hàng trăm tấn nhiên liệu và phá hủy hàng vạn quả đạn pháo của địch. Trung đoàn pháo binh 84 liên tục tập kích 6 trận vào Sa Mưu, 3 trận vào Đông Hà, 4 trận vào Tà Cơn, phá hủy 15 máy bay và hàng chục xe quân sự địch. Trước chuyển biến mau lẹ của chiến dịch, ngày 25 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị quyết định thành lập Ban chỉ huy khu vực C, do Thượng tá Bùi Thúc Dưỡng - Tư lệnh phó Mặt trận làm Chỉ huy trưởng, Trung tá Cao Bá Đồng - Phó Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận làm Chính ủy, trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 2 pháo phòng không thuộc Trung đoàn 368; đại đội ĐKB của Trung đoàn pháo binh 45, một số pháo mang vác triển khai đánh địch ở khu vực Tà Cơn, Khe Sanh, góp phần hình thành thế vây ép Tà Cơn. Mặt khác, phối hợp tác chiến với lực lượng vòng trong chiến dịch, từ ngày 25 đến 28 tháng 2, Trungđoàn 27 và các tiểu đoàn 7, 8 bộ đội địa phương Quảng Trị đánh địch nống ra khu vực Ba Lào, Tà Cơn loại khỏi chiến đấu 2 tiểu đoàn và 30 xe tăng, xe bọc thép của chúng. Ngày 2 tháng 3 năm 1971, Quân ủy Trung ương điện chỉ thị cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, trong đó có chỉ rõ: "... Tăng cường hoạt động ở hướng Đường 9 - Bắc Quảng Trị cắt giao thôngđánh hậu cứ... Kết hợp hoạt động tấn công quân sự với đẩy mạnh công tác phá bình định, vận động nhân dân, phát triển lực lượng mọi mặt của ta trong địa phương..."1 (Điện số 012/QUTƯ-A, Quân ủy Trung ương gửi đồng chí Văn Tiến Dũng và Đảng ủy Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (Mặt trận 702), dẫn theo Lịch sử Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị 1965-1973, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 222) đồng thời, "kiên quyết tập trung sức lực đập gãy các cánh quân của địch tiến ra phía Tây và phía Nam; tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ đường vận chuyển và kho tàng"2 (Chỉ thị số 01/CT của Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bác Quảng Trị cho các đơn vị, ngày 8 tháng 3 năm 1971, hồ sơ số 236 - Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Theo đó, trên hướng Đông chiến dịch, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị giao cho Trung đoàn pháo binh 84: ngoài nhiệm vụ thường xuyên đánh các mục tiêu và chi viện cho bộ binh, cần nhanh chóng bổ sung thêm cơ số đạn để sẵn sàng đánh địch trên các đoạn Bồng Kho, Tân Lâm đi Đầu Mầu, các điểm cao 241, 513, 300; các đơn vị bộ binh, đặc công, công binh, phòng không và bộ đội địa phương vừa đẩy mạnh tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch trên các địa bàn phụ trách, vừa chủ động sẵn sàng đánh địch rút chạy. Đêm 8 tháng 3 năm 1971, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 27 bí mật hành quân vào khu vực Cà Lu để đánh địch rút chạy trên Đường 9, đoạn từ Cà Lu đến úc Nghi; Trung đoàn 270 (thuộc Quân khu 4 được tăng cường cho Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị từ đầu tháng 3-1971), khẩn trương chiếm lĩnh trận địa chuẩn bị đánh địch ở khu vực tây điểm cao 554 đến Tây Bắc Tân Lâm. Các đơn vị khác sử dụng một bộ phận lực lượng bám đánh địch, đồng thời đưa một bộ phận lực lượng khác tham gia vận chuyển đạn, gạo bổ sung cho các đơn vị luồn sâu. Đêm 14 tháng 3 năm 1971, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 27 dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tiểu đoàn trưởng Nguyên Huy Hiệu đã khẩn cấp hành quân suốt đêm đến các khu vực Động Na, Kế Sóc, Ba Lào để tổ chức chặn đánh tiêu diệt quân địch rút chạy, diệt 30 xe quân sự và 120 tên địch. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi1 (Kết quả toàn Chiến dịch phản côngĐường 9 - Nam Lào năm 1971, quân và dân ta đã loại khỏi chiến đấu 21.012 tên địch các loại; phá hủy, phá hỏng 1138 xe quân sự (có 528 xe tăng và xe bọc thép) và 112 khẩu pháo và súng cối cỡ lớn, bắn rơi và phá hủy 556 máy bay (có 505 máy bay lên thẳng vũ trang) đánh chìm, bắn cháy 43 tàu xuồng chiến đấu (dẫn theo: BQP-VLQSVN; Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào năm 1971, Hà Nội. 1987. tr. 61, 62)). Với 446 trận đánh lớn nhỏ, loại khỏi chiến đấu gần 5.000 tên địch, bắn rơi 139 máy bay, phá hủy 153 xe quân sự, đánh đắm, đánh hỏng 43 tàu xuồng chiến đấu và nhiều phương tiện quân sự khác của địchtrên hướng Đông chiến dịch, lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị đã góp phần xứng đáng cùng với các đơn vị tham gia chiến dịch làm nên thắng lợi "có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng cả về quân sự và chính trị, giáng một đòn mạnh vào chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, mở ra những triển vọng vô cùng tốt đẹp đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng"2 (Trích: Thư của Ban Chấp hành Trung ương gửi cán bộ, chiến sỹ, đảng viên đoàn viên thanh niên Mặt trận Đường 9, ngày 31 tháng 3 năm 1971, Tài liệu TTLTBQP (K4), hồ sơ số 594). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2025, 09:27:52 pm Sau đòn chí mạng ở Đường 9 - Nam Lào, tại khu vực tuyến phòng thủ Bắc Quảng Trị (đã có sẵn), ngoài Trung đoàn 2 quân đội Sài Gòn và Lữ đoàn 1 Sư đoàn 5 bộ binh cơ giới Mỹ đóng chốt từ trước, địch còn bổ sung thêm 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ quân đội Sài Gòn, nhằm chống đỡ các đợt tiến công tiếp theo của ta.
Phát huy chiến quả của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị phối hợp với một số đơn vị chủ lực của Bộ mở chiến dịch A2, đánh bồi thêm một đòn khi quân địch chưa kịp hồi phục, hỗ trợ cho phong trào nổi dậy của quần chúng đấu tranh chống phá bình định ở đồng bằng phát triển lên một bước mới, rèn luyện thêm khả năng và trình độ tác chiến tập trung của lực lượng vũ trang ta. Nhiệm vụ cụ thể của chiến dịch A2 được Quân ủy Trung ương chỉ rõ: "Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy. Thu hút và giam chân nhiều lực lượng của chúng tại đây để phối hợp với các chiến trường khác. Thúc đẩy mạnh mẽ phong trào quần chúng phá kế hoạch bình định đặc biệt của địch tại khu vực này..."1 (Trích: Thư của Quân ủy Trung ương gửi cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, ngày 19 tháng 4 năm 1971, tr.8, hồ sơ số 5-18 - Trung tâm lưu trữ - Bộ Quốc phòng). Tuy thời tiết mưa lũ lớn, nhưng lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị vừa khẩn trương vận chuyển vật chất, chuẩn bị cho chiến dịch vừa tiến hành bám đánh tiêu hao lực lượng địch. Tháng 4 năm 1971, cáctiểu đoàn đặc công 15, 31, Đoàn 1A (Hải quân), bộ đội huyện Do Linh đã đánh 70 trận, loại khỏi chiến đấu 504 tên địch, bắn hạ 16 máy bay, phá hủy 30 xe quân sự, đánh chìm 7 tàu xuồng chiến đấu của địch. Tháng 5, ta liên tục tiến công địch ở Ái Tử, Đông Hà, chặn đánh địch trên đường 76, tập kích hỏa lực pháo binh vào miếu Bái Sơn, Cồn Tiên, ngăn chặn các mưu đồ hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của chúng. Cùng thời gian, các đơn vị phối thuộc trên cánh Bắc, gồm Trung đoàn 66, các tiểu đoàn đặc công 19 và 29, 3 tiểu đoàn pháo bố trí ở Nam Ba Hồ, Động Toàn, Động Ngô, Động Ché thực hiện nhiệm vụ vây lấn dứt điểm Động Toàn; cánh Bắc gồm các trung đoàn 9, 52, 2 tiểu đoàn độc lập của Bộ, 3 tiểu đoàn pháo bố trí ở Ba Hồ, Ba Tum, điểm cao 490, Động La Rường, Miệt Xá, sẵn sàng đánh địch giải tỏa và phát triển tiến công diệt căn cứ Đầu Mầu của địch. Mặc dù phải điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với tình hình thời tiết mưa lũ kéo dài gây khó khăn cho công tác chuẩn bị chiến trường và đảm bảo hậu cần kỹ thuật, nhưng từ cuối tháng 5 trở đi, lực lượng chiến dịch A2 đã lần lượt đánh bại các cuộc hành quân của địch mang mật danh "Sóng thần 4/369" và "Sóng thần 2/147" đánh ra vùng Động Ché, "Lam Sơn 720/3" đánh ra vùng núi Ta Lao. Ngày 30 tháng 6 năm 1971, chiến dịch A2 kết thúc. Lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu đặt ra: với 284 trận đánh, trong đó có 3 trận quy mô cấp trung đoàn, 7 trận cấp tiểu đoàn,loại khỏi chiến đấu 3.417 tên địch các loại, bắn rơi, bắn hỏng 110 máy bay, phá hủy, phá hỏng 107 xe quân sự, đánh chìm 13 tàu, xuồng quân sự của địch. Đồng thời, những kinh nghiệm về mở chiến dịch đánh bồi sau một chiến dịch lớn, kinh nghiệm đánh địch trong công sự vững chắc được đúc rút từ chiến dịch A2 thực sự có đóng góp rất hữu ích cho các chiến dịch tiếp sau ở chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị nói riêng và toàn miền Nam nói chung nghiên cứu, vận dụng trong quá trình tác chiến những năm tháng tiếp sau của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tựu trung lại, với trọng trách của thành phần lực lượng "bản địa" tham gia Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh địch tạo thế, tham gia vận chuyển vũ khí, lương thực bảo đảm cho chiến dịch..., mà còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phối hợp tác chiến trên hướng Đông, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch, hoàn thành mục tiêu chiến lược mà Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh giao phó: đánh bại chiến tranh bóp nghẹt - biện pháp chiến lược trọng yếu trong "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, con đường của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, trong đó khu vực Đường 9 - Nam Lào là một cung trạm "yết hầu". Những chiến công chói ngời của lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị giành được trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 chính là bước tiếp nối thành quả và kinh nghiệm của những chiến công đầu tiên trong việc mở hướng tiến công mới nhằm tiêu hao, tiêu diệt, giam chân một bộ phận lớn quân chiến đấu Mỹ (2 sư đoàn lính thủy đánh bộ), làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng, trực tiếp bảo vệ, mở rộng hành lang vận chuyển Bắc - Nam xuyên Trường Sơn, bước đầu đánh bại kế hoạch xây dựng hệ thống phòng thủ Mắc Namara, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào chiến tranh du kích ở miền Trung Trung Bộ nói chung và Trị - Thiên nói riêng phát triển mạnh mẽ trong những năm 1966-1967; tiếp đó là thực hiện thắng lợi đòn nghi binh chiến lược, thu hút, giam chân và tiêu hao một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động của quân Mỹ, để quân và dân toàn miền Nam tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Chiến công cứ nối tiếp chiến công, và Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 chính là cuộc tập dượt trực tiếp của lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị nói riêng, quân và dân Quảng Trị nói chung chuẩn bị cho cuộc Tiến công chiến lược 1972, giải phóng tỉnh Quảng Trị - phần lãnh thổ cấp tỉnh đầu tiên của chiến trường miền Nam sạch bóng quân xâm lược. Đi cùng với những thắng lợi của lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, tình đoàn kết chiến đấu gắn bó giữa quân và dân các địa phương có chung biên giới của hai nước Việt Nam và Lào ngày thêm được củng cố, phát triển về mọi mặt. Quảng Trị kết nghĩa vớiXa Van Na Khẹt là một minh chứng sống động đầy tình nghĩa thủy chung, bền chặt được thử thách trong cuộc chiến đấu sinh tử trong những năm tháng kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mà Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 thực sự là một trong những dấu ấn sâu đậm; và đây là nhân tố bảo đảm cho tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt của quân và dân 2 tỉnh nói riêng, hai nước Việt - Lào nói chung tiếp tục có bước phát triển mới, giành thêm những thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của hai quốc gia, dân tộc anh em. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2025, 09:33:03 pm BINH ĐOÀN 70 LỰC LƯỢNG CƠ ĐỘNG CHIẾN LƯỢC TRỌNG YẾU GÓP PHẦN LÀM NÊN THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Đại tá VŨ TRỌNG HOAN Phó Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Tổ chức quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Ngày 10 tháng 10 năm 1970, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 200/QĐ-QP thành lập Binh đoàn 70 gồm: 3 sư đoàn bộ binh (304, 308 và 320), Trung đoàn pháo mặt đất 45, Trung đoàn cao xạ 241, Trung đoàn công binh 219 và một số đơn vị binh chủng phục vụ, do Đại tá Cao Văn Khánh làm Tư lệnh, Đại tá Hoàng Phương làm Chính ủy. Nhiệm vụ ban đầu của Binh đoàn được xác định là lực lượng cơ động sẵn sàng chiến đấu trên các chiến trường, làm lực lượng nòng cốt cùng các đơn vị tại chỗ tiêu diệt địch trong các chiến dịch lớn. Việc thành lập Binh đoàn 70 và bố trí các đơn vị của binh đoàn đứng chân ở địa bàn "nhạy cảm" Nam Quân khu 4 cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong chuẩn bị lực lượng đón thời cơ mới. Có thể đánh giá việc thành lập Binh đoàn 70 và vai trò của binh đoàn trong các trận đánh quyết định củaChiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào trên một số phương diện chủ yếu sau. 1. Binh đoàn 70 được thành lập thể hiện quyết tâm chiến lược của Đảng trong xây dựng phát triển lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu tác chiến mới trên chiến trường Đông Dương. Khi chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", cùng với việc tiến hành các biện pháp bình định giành dân; tiến hành kiểu chiến tranh "bóp nghẹt" nhằm ngăn chặn các nguồn tiếp tế của ta từ tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn vào các chiến trường; tăng thêm viện trợ cho các chính quyến tay sai của Mỹ ở Lào và Campuchia, xây dựng cho lực lượng này mạnh lên để phối hợp tác chiến với quân đội Sài Gòn khi Mỹ rút đi; Mỹ đã ráo riết xây dựng phát triển quân đội Sài Gòn cả về số lượng và chất lượng để từng bước thay dần quân Mỹ rút ra, làm cho quân đội Sài Gòn không những đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, kể cả lực lượng chính quy miền Bắc, mà còn làm nòng cốt sau này cho các đội quân tay sai của Mỹ ở Đông Dương và Đông Nam Á. Với chủ trương đó, Mỹ tập trung tiền của xây dựng phát triển, hiện đại hoá nhành quân đội Sài Gòn. Về số lượng, năm 1968, quân đội Sài Gòn mới có 71 vạn tên, đến năm 1970 đã tăng lên 1 triệu 46 nghìn tên. Năm 1970, chủ lực quân đội Sài Gòn không còn bị trói buộc vào nhiệm vụ chiếm đóng mà được sử dụng làm nhiệm vụ cơ động trên toàn miền Nam. Chúng có 12 sư đoàn và 8 trung đoàn bộ binh. So với năm 1968, thành phần cơ động trong quân đội Sài Gòn tăng 2 lần (chiếm 42% tổng số quân chủ lực). Các binh chủng kỹ thuật được đặc biệt coi trọng và phát triển nhanh1 (Pháo binh có 60 tiểu đoàn với 990 khẩu pháo các loại, 18 chi đoàn và 44 chi đội xe tăng - xe bọc thép (1.310 chiếc). Không quân được tổ chức thành 20 phi đoàn (100 máy bay), trong đó có 6 phi đoàn máy bay chiến đấu (120 chiếc). Hải quân có 632 tàu các loại). So với thời kỳ cuối của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", quân đội Sài Gòn được tổ chức chính quy và trang bị hiện đại hơn, được cố vấn Mỹ tin tưởng đánh giá là "lực lượng nòng cốt", là "xương sống" của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Đánh giá đúng những nỗ lực mới của địch trong xây dựng lực lượng quân đội Sài Gòn thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 18 (1-1970) đề ra nhiệm vụ: "Động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, kiên trí và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triền chiến lược tiến công một cách toàn diện liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và kinh tế, kết hợp tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch vừa ra sức xây dựng lực lượng quản sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh. Đánh bại âm mưu của chúng xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam Việt Nam; làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước, đi đến giành thắng lợi quyết định"2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr. 40-41). Thực hiện nhiệm vụ của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 18, tháng 2 năm 1970, Quân ủyTrung ương họp hội nghị toàn thể tại Hà Nội thảo luận thống nhất vị trí của đấu tranh quân sự, vai trò của bộ đội chủ lực và yêu cầu đưa quân đội lên tác chiến hiệp đồng binh chủng ở các chiến trường. Hội nghị chỉ rõ: "Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của quân đội ta lúc này là xây dựng những binh đoàn chủ lực mạnh, làm trụ cột cho cả chiến trường Đông Dương; xây dựng bộ đội chủ lực ở miền Nam đủ mạnh để có thể đánh những trận tiêu diệt lớn; nâng cao sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng dự bị chiến lược trên miền Bắc sát với tính chất, yêu cầu, nhiệm vụ của những binh đoàn chủ lực cơ động, có khả năng tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng trên các chiến trường"1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.365). Theo phương hướng xây dựng đó, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần đã tập trung củng cố nâng cao sức mạnh chiến đấu và khả năng cơ động của 4 sư đoàn bộ binh chủ lực: 308, 304, 312 và 320. Hai sư đoàn 325 và 320B chuyển từ nhiệm vụ huấn luyện quân bổ sung thành sư đoàn cơ động trực thuộc Bộ, Sư đoàn 316 làm nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường Lào được tăng cường hoả lực và sức cơ động. Các binh chủng phục vụ tác chiến hiệp đồng binh chủng như Pháo binh, Tăng - thiết giáp, Công binh, Thông tin được tăng cường thêm cán bộ, nhân viên kỹ thuật và vũ khí, phương tiện để khi có nhu cầu sẽ tổ chức thành các đơn vị mới góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu hiệp đồng binh chủng của các khối chủ lực. Việc tổ chức thêm nhiều đơn vị mới, đặc biệt là các đơn vị binh chủng kỹthuật đã thể hiện chủ trương chiến lược của ta trong xây dựng phát triển lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu tác chiến mới trên chiến trường Đông Dương. Đây cũng là yếu tố quan trọng để Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm mở các chiến dịch lớn tiêu diệt nhiều sinh lực dịch khi có thời cơ. Giữa lúc ta đang khẩn trương xây dựng phát triển bộ đội chủ lực thì Mỹ và chính quyền Sài Gòn tập trung lực lượng, mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia. Trước những diễn biến quân sự mới ở ba nước Đông Dương, ngày 19 tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị họp quyết nghị về "Tình hình mới ở bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ mái của chúng ta". Phân tích thế trận giữa ta và dịch trên các chiến trường, Bộ Chính trị đặc biệt lưu ý tầm quan trọng chiến lược của Chiến trường Đường 9 - Nam Lào, bởi nó có ý nghĩa sống còn đối với tuyến vận tảichiến lược của ta từ Bắc vào Nam, bởi sự an nguy trực tiếp đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa và sự phát triển của cách mạng Lào; đồng thời dự đoán trong mùa khô 1970-1971, địch sẽ mở các cuộc hành quân lớn đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Dự đoán khả năng dịch đánh ra Đường 9 - Nam Lào, từ mùa hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu vạch kế hoạch tác chiến điều động lực lượng và chỉ đạo việc chuẩn bị chiến trường. Với lực lượng bộ đội chủ lực đã được chuẩn bị từ trước, tháng 10 năm 1970, Binh đoàn 70 nhanh chóng được thành lập với 3 sư đoàn chủ lực đã dày dạn kinh nghiệm, tác chiến trên chiếntrường Trị - Thiên (cả 3 sư đoàn 304, 308 và 320 đều đã tham gia chiến dịch Khe Sanh năm 1968 với những chiến công oanh liệt ở Làng Vây, Khe Sanh, Hướng Hoá) các đơn vị binh chủng pháo binh, xe tăng, công binh, thông tin trực thuộc Binh đoàn đều là những đơn vị tham gia các chiến dịch lớn ở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị. Các đơn vị trong Binh đoàn được bổ sung quân số đầy đủ theo biên chế, được trang bị thêm những vũ khí, trang bị mới với hoả lực mạnh, sức cơ động cao, đặc biệt là được huấn luyện tác chiến hiệp đồng binh chủng nhuần nhuyễn trên địa bàn Nam Quân khu 4 (một địa bàn có địa hình tương đối giống với khu vực Đường 9 - Nam Lào). Như vậy, từ tầm nhìn xa trông rộng trong tổ chức xây dựng lực lượng bộ đội chủ lực, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương mà trực tiếp là Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu đã tạo ra những yếu tố vô cùng thuận lợi để Binh đoàn 70 làm nhiệm vụ cơ động tác chiến đánh những trận then chốt quyết định trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2025, 09:34:04 pm 2. Binh đoàn 70 thực hiện nhiệm vụ cơ động chiến lược trong quá trình chuẩn bị và giai đoạn đầu chiến dịch.
Ngay sau khi được thành lập, trên cơ sở "Phương hướng nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến tại Trung - Nam Lào" đã được Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị từ tháng 5 năm 1970, Binh đoàn 70 đã soạn thảo kế hoạch "Chiến dịch Xuân 1971 Đường số 9 - Nam Lào". Kế hoạch đã được Bộ Tổng Tham mưu thông qua và cho Binh đoàn 70 diễn tập vào tháng 11 năm 1970. Bên cạnh việc tổ chức diễn tập và chuẩn bị chiến dịch theo sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng Tham mưu, một nhiệm vụ không kém phần quan trọng của Binh đoàn 70 trong giai đoạn này là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn Nam Quân khu 4 - Một địa bàn đặc biệt quan trọng khôngchỉ là tuyến đầu trực tiếp bảo vệ sự an nguy của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là đầu mối giao thông của tuyến vận tải chiến lược, nơi tập kết nhiều kho hàng, các phương tiện chiến đấu của ta mà còn là nơi đặt các sở chỉ huy quan trọng trực tiếp chỉ đạo công tác chuẩn bị chiến dịch của Bộ và các Tổng cục, các binh chủng. Về phía địch, cùng với việc ráo riết chuẩn bị cuộc hành quân quy mô lớn ra khu vực Đường 9 - Nam Lào, chúng tung tin sẽ đánh lớn ra Nam Quân khu 4 của ta. Chúng tập trung một lực lượng quân sự lớn ra Quân khu 1 (của địch), mở nhiều cuộc diễn tập dọc vĩ tuyến quân sự, đưa tàu chiến ra vùng biển Vĩnh Linh, Quảng Bình, Nghệ An, tiến hành các hoạt động quân sự thu hút sự chú ý của ta. Trong tháng 11 và 12 nam 1970, Mỹ sử dụng tới 16.746 lần chiếc máy bay, trong đó có 1.800 lần chiếc B-52 ném xuống tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn của ta hơn 81.000 quả bom các loại, gây ách tắc nhiều ngày trên các điểm xung yếu như khu vực Chà Lò, Song Hom, Pha Băng Nưa, Chà Lì... Máy bay địch còn mở từng đợt đánh phá vào các đoạn cửa khẩu Bắc Đường 9 trên các trục đường 12, 16, 18 và 20 hòng ngăn chặn, giữ chân quân chủ lực miền Bắc, phá hoại các đường cơ động chiến dịch, hạn chế việc di chuyển các binh khí kỹ thuật của ta vào chiến trường, đổ một số toán biệt kích thăm dò hoạt động của ta ở khu vực Đường 9... Những động thái trên của Mỹ và quân đội Sài Gòn đòi hỏibộ đội ta đóng quân ở địa bàn Quân khu 4 nói chung Binh đoàn 70 nói riêng phải cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao. Cuối năm 1970, để sẵn sàng cơ động đánh địch trong mọi tình huống trên địa bàn Nam Quân khu 4, Binh đoàn 70 đã bố trí đội hình sẵn sàng cơ động chiến đấu như sau: - Sư đoàn 308 triển khai lực lượng ở Nghệ An - Hà Tĩnh. - Sư đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 24) đứng chân ở Quảng Bình. - Sư đoàn 320 (thiếu Trung đoàn 52) bố trí Trung đoàn 48 sẵn sàng tác chiến trên hướng Mường Phìn, Pha Lan, Trung đoàn 64 triển khai trên hướng đi vào B3, sẵn sàng đánh địch ở khu vực Đường 9. Các đơn vị binh chủng triển khai lực lượng sẵn sàng chi viện bộ binh cơ động đánh địch trên các hướng. Các đơn vị trong toàn binh đoàn đều có sẵn 7 ngày lương khô với cơ số đạn cần thiết bảo đảm đến vị trí là triển khai đánh địch được ngay. Sự cảnh giác cao độ của bộ đội ta, đặc biệt là các đơn vị trong đội hình Binh đoàn 70 đã làm cho Mỹ và quân đội Sài Gòn dù rất muốn cũng không dám mạo hiểm đổ quân ra Hà Tĩnh, Quảng Bình như chúng đã từng tuyên bố. Hậu phương chiến dịch được giữ vững trong suốt quá trình chuẩn bị chiến dịch đã góp phần tạo ra thế và lực có lợi cho ta trong chiến dịch này. Trong chiến dịch phản công, điểm khó nhất là dự đoán đúng hướng, lực lượng và thủ đoạn tiến công của địch. Trong kế hoạch tác chiến ở khu vực Đường 9 - Nam Lào về khả năng địch đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào Bộ Tư lệnh chiến dịch dự đoán: - Địch có thể bất ngờ đánh chiếm các khu vực Bản Đông, Sê Pôn, Mường Noòng với lực lượng mỗi nơi một chiến đoàn. - Địch sử dụng khoảng 15 - 20 tiểu đoàn quân Sài Gòn phía Tây có sự phối hợp của quân đội chính phủ phái hữu Lào (khoảng 8-10 tiểu đoàn). Khu vực có thể đánh chiếm là Bản Đông, Sê Pôn, Mường Phìn, Pha Lan. - Sử dụng tập trung quân Sài Gòn (khoảng 25 - 30 tiểu đoàn) đánh ra Đường 9 doạn Na Bô, Tha Mé, ở phía Tây có khoảng 13 - 15 tiểu đoàn quân phái hữu Lào phối hợp. Khả năng quân Mỹ vượt biên giới sang Lào, trực tiếp tham chiến ít xảy ra (ngày 24 tháng 6 năm 1970, Thượng viện Mỹ đã hủy bỏ Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ năm 19641 (Theo Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ năm 1964, Quốc hội Mỹ trao cho tổng thống toàn quyền quyết định việc đưa Quân đội Mỹ ra nước ngoài tham chiến), Tổng thống Níchxơn không có quyền đưa Quân đội Mỹ ra ngoài Nam Việt Nam khi chưa được Quốc hội Mỹ cho phép). Dự đoán đúng khả năng tấn công của địch đã khó nhưng việc sử dụng lực lượng cơ động thế nào để đánh trả đối phương có hiệu quả lại phụ thuộc rất lớn vào hai yếu tố: việc sử dụng có đúng thời cơ không và lực lượng cơ động có kịp thời cơ động đến những địa bàn cần thiết để nổ súng đánh địch đạt hiệu quả không. Thực tế chiến trường cho thấy, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã sử dụng lực lượng cơ động hợp lý. Ban đầu ta không sử dụng lực lượng cơ động ngăn chặn các cuộc đổ quân của địch, mà chỉ sử dụng lực lượng tại chỗ kìm giữ, giam chân địch tạo điều kiện cho lực lượng cơ động của Binh đoàn 70 vận động đến tiến công tiêu diệt địch. Địch cho rằng với địa hình rừng núi, với sự đánh phá ngăn chặn ác liệt của hoả lực không quân Mỹ, chủ lực ta không thể tiếp cận tấn công các cụm quân của chúng. Nhưng ngay khi địch đổ quân xuống, chúng đã bị lực lượng tại chỗ của ta đánh trả quyết liệt, và khi địch vừa triển khai đội hình tấn công đã bị các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 chặn đánh. Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 tổ chức các chốt chiến dịch ở điểm cao 351, cầu Ka Ki trên trục Đường 9 ngăn chặn địch từ Lao Bảo lên Bản Đông. Các trung đoàn 64 (Sư đoàn 320), 88, 102 (Sư đoàn 308) nhanh chóng chiếmlĩnh các vị trí ở phía Bắc Đường 9 sẵn sàng cơ động diệt địch. Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) phối hợp với Quân giải phóng Lào đánh địch ở Pha Lan, Pha Dô Tuya, v.v... Như vậy, ngay trong giai đoạn địch triển khai đội hình tấn công, Binh đoàn 70 đã kịp thời cơ động phối hợp chặt chẽ với lực lượng tại chỗ ngăn chặn địch trên các hướng làm chậm bước tiến công của địch, gây cho chúng một số thiệt hại, tạo điều kiện để Bộ Tư lệnh chiến dịch tập trung lực lượng phản công tiêu diệt lớn sinh lực địch trong giai đoạn tiếp theo. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2025, 09:36:39 pm 3. Binh đoàn 70 trong các trân đánh then chốt quyết định góp phần làm nên thắng lợi của Chiến dịch phân công Đường 9 - Nam Lào.
Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: "Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành toàn thắng cho chiến dịch X" (Đường 9 - Nam Lào). Quân ủy Trung ương kêu gọi: "Toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên hãy ra sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính mến và quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng. Tập trung tất cả tinh thần và sức lực dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ con đường Hồ Chí Minh, xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này"1 (Chỉ thị số 09-QUTVV, hồ sơ 594 - Trung tâm Lưu trữ, Bộ Quốc phòng). Hưởng ứng chỉ thị của Quân ủy Trung ương, các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 liên tiếp tổ chức các trận tiến công tiêu diệt sinh lực dịch. Sau 5 ngày tiến công (8-13.2.1971), sinh lực dịch đã bị thiệt hại một phần, nhiềukế hoạch tấn công bị ta phá, phải hủy bỏ hoặc điều chỉnh, tốc độ tiến quân của địch chậm lại. Nắm chắc tình hình địch, quyết tâm của Bộ Tư lệnh chiến dịch lúc này là kiềm chế địch trên các hướng, tập trung tiêu diệt cánh quân bảo vệ sườn phía Bắc của chúng, thực hiện chia cắt Đường 9, bao vây cô lập cánh quân trung tâm ở Bản Đông, không để địch lên Sê Pôn. Nêu địch tới được Sê Pôn thì buộc chúng phải sa lầy và bị tiêu diệt ở đó. Thực hiện quyết tâm của Bộ Tư lệnh chiến địch, các đơn vị của Binh đoàn 70 được tung vào các trận đánh then chốt quyết định, mở đầu là trận tiêu diệt Tiểu đoàn 39 Liên đoàn 1 biệt động quân quân đội Sài Gòn ở điểm cao 500. Là vị trí tiền tiêu quan trọng, nằm sát trục đường 16B, nối đường 16A với Bản Đông, cách Bản Đông 14km về phía Nam, từ điểm cao 500 địch có thể khống chế cả đường 16 và khu hậu cần của ta ở Mường Chương, ngã ba Cha Ky, ngăn chặn ta triển khai binh khí kỹ thuật nặng xuống phía Nam và tiếp tế cho bộ đội ở tuyến trước. Tiểu đoàn 39 biệt động quân được đánh giá là "đơn vị công, thủ toàn diện" của quân địch, biên chế gần 500 quân, được trang bị hoả lực mạnh, được pháo binh từ các căn cứ hoả lực ở Tá Púc điểm cao 543, Bản Đông, Lao Bảo và không quân Mỹ chi viện. Với lực lượng đó, địch cho rằng điểm cao 500 sẽ là một "cánh cửa thép" ngăn chặn chủ lực ta từ hướng Bắc đánh xuống. Nhận thấy đây là trận đánh có ý nghĩa "mở cửa chiến dịch" Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70 đã sử dụng Trung đoàn bộ binh 102 (thiếu 1 tiểu đoàn), được tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 88 và 5 đại đội pháo của Mặt trận vào trận đánh quan trọng này. Sau 5 ngày đêm chiến đấu ác liệt (16 - 20.2.1971) ta đã tiêu diệt và bắt sống gần hết Tiểu đoàn 39 địch, mở toang "cánh cửa thép" phía bắc của chiến dịch. Tiếp theo trận diệt địch ở điểm cao 500, Binh đoàn 70 sử dụng Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) và các đơn vị tăng cường tiến công tiêu diệt căn cứ 31 ở điểm cao 543 - một vị trí quan trọng1(Điểm cao 543 có 4 mỏm liên tiếp do chỉ huy Lữ đoàn 3 quân đội Sài Gòn và Tiểu đoàn 3 dù chốt giữ. Lực lượng địch tại đây khoảng hơn 600 tên. Hỏa lực lại chỗ của địch có 6 khẩu pháo 105mm, 4 cối 81mm, 4 ĐKZ 57mm, 1 khẩu DKZ 106mm, 4 khẩu 12,8mm. Khi tác chiến căn cứ được sự chi viện tối đa của không quân Mỹ) của địch nằm án ngữ trên đường 16A, ngăn chặn lực lượng ta phát triển xuống Bản Đông. Với quyết tâm cao, cách đánh sáng tạo, được sự chi viện đắc lực của xe tăng, các chiến sĩ Trung đoàn 64 đã lần lượt đè bẹp các ổ đề kháng của địch. 16 giờ 30 ngày 25 tháng 2 năm 1971, ta làm chủ căn cứ 31, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn trưởng và toàn bộ Ban tham mưu lữ đoàn. Cùng thời gian này, các đơn vị khác của Binh đoàn 70 đánh địch phản kích ở Bản Đông lên và tiến công 2 tiểu đoàn dù ở điểm cao 655 (Pua Rinh). Đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, ta đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân bảo vệ sườn Bắc của địch, tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù, Thiết đoàn 17 và đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 1 biệt động quân. Kế hoạch dùng Lữ đoàn 3 dù thiết lập các căn cứ hoả lực vừa bảo vệ sườn Bắc vừa chi viện cho cánh quân chủ yếu đánh chiếm Sê Pôn của địch bị phá vỡ. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chủ lực của Binh đoàn 70 trên hướng chủ yếu của chiến dịch, ở phía Nam, các lực lượng chiến đấu của Đoàn 559 và Sư đoàn 324 đã chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều trực thăng, đập tan các cuộc đổ bộ đường không của địch, đẩy lùi cánh quân phía Nam. Ở phía Tây, Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) và các đơn vị bạn phối hợp với Quân giải phóng Lào đánh bại các cuộc tiến công của quân đội phái hữu Lào vào Pha Dô Tuya, Đồng Một, Huội Xan... ở hướng Đông, các lực lượng của Mặt trận B5 tiếp tục đánh mạnh vào các tuyến giao thông, kho tàng, các sở chỉ huy, trận địa hoả lực của địch... Bị đánh thiệt hại trên tất cả các hướng, cả phía trước lẫn phía sau, nhận thấy: "Nếu quân Nam Việt Nam tiếp tục tiến sâu vào Lào thì thương vong chắc chắn sẽ tăng lên và có nguy cơ thất bại hoàn toàn. Để tránh những hậu qua chính trị và quân sự mạo hiểm đó, tướng Lãm đã ra lệnh cho binh sĩ dừng lại và rút về biên giới"1 (J.Pimlott, Việt Nam những trận đánh quyết định, Trung tâm Thông tin Khoa học Cong nghệ và Môi trường Bộ Quốc phòng, 1997, tr. 138). Sau khi địch co cụm về Bản Đông, thực hiện quyết tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch, Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70 sử dụng Trung đoàn 36 (Sư đoàn 308), Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320), một bộ phận Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) và các đơn vị binh chủng tăng cường áp sát Bản Đông, dùng hoả lực đánh nát hệ thống phòng ngự và triệt tiếp tế đường không của địch, đồng thời sử dụng 2 trung đoàn (24 và 102) đưa lực lượng ra áp sát Đường 9, tổ chức tập kích, phục kích tiêu diệt xe cơ giới địch trên Đường 9. Ngày 18 tháng 3, phát hiện địch đang tìm cách rút chạy khỏi Bản Đông, Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng 3 trung đoàn (36, 64, 66), được tăng cường xe tăng, tiến công tiêu diệt cụm quân địch ở Bản Đông. Ngày 20 tháng 3, ta hoàn toàn làm chủ Bản Đông, diệt 1.763 tên, bắt 107 tên, thu và phá hủy 113 xe quân sự, 24 khẩu pháo, bắn rơi 52 máy bay địch. Sau trận then chốt quyết định này, cuộc rút lui của quân đội Sài Gòn khỏi khu vực Đường 9 - Nam Lào nhanh chóng trở thành một cuộc tháo chạy kinh hoàng: "xe tăng làm nghẽn đường khiến đội hình phía sau trở thành mục tiêu cho quân Bắc Việt Nam tấn công"1 (J.Pimlott, Sdd, tr.139). Nhà phân tích quân sự Briêngiênkin gọi cuộc tháo chạy của quân Sài Gòn khỏi Đường 9 - Nam Lào "là một thảm hoạ lớn nhất đã tiêu diệt số lớn sĩ quan trẻ của quân đội Sài Gòn", còn Thượng nghị sĩ Étuốt Kennơđi coi đây là "một cơn ác mộng". Ngày 31 tháng 3 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi thư khen cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Đường 9-Nam Lào đã "đánh giỏi, thắng giờn giã, lập nên thắng lợi rất quan trọng cả về quân sự và chính trị, giáng một đòn mạnh vào chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ, mở ra những triển vọng vô cùng tốt đẹp đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng"2 (Thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên thanh niên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào ngày 31 tháng 3 năm 1971, hồ sơ số 594, Trung tâm Lưu trữ - Bộ Quốc phòng). Góp vào thắng lợi to lớn đó, trong các thời điểm quan trọng và ở những trận đánh quyết định, các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng cơ động chiến lược, là "quả đấm thép" của Bộ trên chiến trường. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2025, 09:45:39 pm ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ TRONG NĂM 1971 VÀ CUỘC HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" Đại tá, ThS NGUYỄN VĂN QUANG Trưởng phòng Quản lý khoa học - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam Trung tá, ThS LÊ THANH BÀI Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Têt Mậu Thân (1968) của quân và dân ta trên toàn chiến trường miền Nam đã làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ" - cố gắng quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom đánh phá miền Bắc, chấp thuận đàm phán với ta tại Pari, rút dần quân chiến đấu Mỹ về nước. Tuy vậy, với bản chất hiếu chiến và ngoan cố, Mỹ đã chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tiếp tục cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam. Lợi dụng những khó khăn tạm thời của ta sau Tết Mậu Thân, Mỹ ráo riết đẩy mạnh chương trình bình định và tăng cường sức mạnh cho quân đội Sài Gòn. Sau hơn hai năm tiến hành chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", quân Mỹ và quân đội Sài Gòn đã thực hiện hàng vạn cuộc hành quân càn quét, bình định trên khắp chiến trường miền Nam. Đến đầu năm 1970, chúng chiếm lại hầu hết các vùng nông thôn rộng lớn, kể cả các vùng ta mởi mở trong dịp Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, nâng số đồn bốt từ 4.954 lên 9.224. Ở Khu 8, chúng lấy lại 119 xã, 680 ấp; cả khu chỉ còn 4 xã và 312 ấp giải phóng. Trên chiến trường miền Nam hơn 10 vạn cán bộ, chiến sĩ, cơ sở ta bị thương vong (xấp xỉ số thương vong trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp). Chỉ riêng Nam Bộ, số thương vong năm 1968 và 1969 gấp hai lần so với 7 năm trước đó (1961 - 1967), bằng 1/3 quân số chiến trường miền Nam ở thời điểm đó1 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 314 - 315). Đây là một trong hai thời kỳ khó khăn nhất, tổn thất lớn nhất của cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước2 (Thời kỳ 1 là 4 năm sau Hiệp định Giơnevơ 1955 - 1958). Hầu hết chủ lực của ta phải tạm thời rút ra miền Bắc, hoặc chuyển sang bên kia biên giới để bổ sung, củng cố; một số đơn vị phải giải thể. Thế và lực của ta bị suy giảm đáng kể. Tháng 3 năm 1970, Mỹ tiến hành cuộc đảo chính ở Campuchia, lật đổ Chính phủ Xihanúc, thành lập chính phủ do Lon Non cầm đầu. Tháng 4 năm 1970, 10 vạn quân Mỹ và quân Sài Gòn tràn sang Campuchia, phối hợp với quân Lon Non, mở cuộc hành quân đánh vào khu vực Móc Câuvà Mỏ Vẹt (Đông Bắc Campuchia), hòng diệt lực lượng ta và chụp bắt cơ quan đầu não cách mạng miền Nam. Đối với Lào, từ tháng 8 năm 1969, Mỹ và lực lượng Vàng Pao, quân chính phủ phái hữu, mở cuộc hành quân "Cù Kiệt" đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, làm bàn đạp tiến sâu vào vùng giải phóng, uy hiếp căn cứ địa cách mạng Sầm Nưa. Bên cạnh việc mở rộng chiến tranh, Mỹ tập trung xây dựng quân đội Việt Nam cộng hòa, coi đây là nhiệm vụ chủ yếu của "Việt Nam hóa chiến tranh". Theo đó, chúng đẩy mạnh đôn quân, bắt lính. Đến cuốỉ năm 1970, quân chủ lực Sài Gòn đã có hơn 700 nghìn và 268 nghìn bảo an, dân vệ, 90 nghìn cảnh sát vũ trang. Mỹ chú trọng xây dựng lực lượng hải quân và không quân, gia tăng số lượng và nhịp độ đào tạo phi công, thủy thủ, nhân viên kỹ thuật, hoa tiêu cho quân đội Sài Gòn; đồng thời tăng viện trợ quân sự, trang bị các loại vũ khí, kỹ thuật hiện đại cho lực lượng này. Không quân được trang bị máy bay F5, C119, C130 và 1.500 máy bay lên thẳng. Tháng 3 năm 1970, quân đội Sài Gòn thành lập thêm 1 sư đoàn không quân, cùng nhiều sư đoàn độc lập khác. Hải quân được trang bị thêm 1.600 thuyền chiến đấu các loại và tuần dương hạm DE. Để tăng thêm sức mạnh, Mỹ chuyển sang Nam Việt Nam 700 nghìn súng M16 - loại súng cá nhân hiện đại nhất lúc đó, 30 nghìn súng phóng lựu, 10 nghìn súng máy các loại, 200 xe tăng M41, M48, 100 xe bọc thép (nâng số xe tăng thiết giáp của quân đội Sài Gòn lên 1.879 chiếc). Mặt khác, Mỹ còn lập thêm 20 tiểu đoàn pháo, trang bị thêm 600 đại bác từ 105 đến 175mm, đưa tổng số đại bác của quân đội Sài Gòn lên 1.300 khẩu và 10 nghìn súng cối các loại; 20 nghìn máy thông tin, 24 nghìn xe vận tải1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập VI, Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 39, 50). Trong khi đó, dù có giảm nhưng năm 1970, số quân Mỹ trên chiến trường miền Nam vẫn còn 474 nghìn tên2 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 503). Cùng với việc tăng cường sức mạnh cho quân đội Sài Gòn, Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân xuống các tỉnh phía Nam Quân khu 4, các căn cứ hậu cần và tuyến chi viện chiến lược 559. Chỉ riêng 5 tháng đầu năm 1970, máy bay Mỹ đã ném hơn 600 nghìn tấn bom xuống các vùng giải phóng miền Nam và đường Hồ Chí Minh, xấp xỉ bằng số bom Mỹ thả trong cuộc chiến tranh Triều Tiên3 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập VI, Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 39, 50). Ngoài ra, Mỹ còn rải hàng triệu thùng chất độc diệt cỏ xuống miền Nam Việt Nam. Bằng những việc làm trên, Mỹ dự tính đến khoảng giữa năm 1971 sẽ cơ bản bình định toàn bộ các vùng đông dân quan trọng ở Nam Việt Nam, buộc lực lượng vũ trang giải phóng phải phân tán nhỏ lẻ, không thể hoạt động được ở quy mô từ đại đội trở lên; hoàn thành muc tiêu xây dựng quân đội Sài Gòn đủ sức đảm nhiệm tác chiến trên các chiến trường thay quân Mỹ rút dần về nước. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2025, 09:46:57 pm Về phía ta, vượt qua những khó khăn sau Tết Mậu Thân trong năm 1970, lực lượng ta trên các chiến trường đã từng bước được khôi phục, sẵn sàng thực hiện chỉ thịcủa Bộ Chính trị: "Đánh cho quân ngụy miền Nam những đòn chí mạng ở Campuchia, đồng thời phá kế hoạch bình định ở chiến trường miền Nam"1 (Điện Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục và Quân ủy Miền ngày 30 tháng 4 năm 1970), chuyển sang phản công và tiến công khi có thời cơ. Nhờ xác định chủ trương và hạ quyết tâm chiến lược chính xác, hành động kiên quyết nên chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn và toàn diện. Riêng tháng 7 năm 1970, trên chiến trường Campuchia ta và bạn đã loại khỏi vòng chiến đấu 54 nghìn tên địch, giải phóng hoàn toàn 5 tỉnh miền Đông và phần lớn nông thôn 10 tỉnh, bao gồm 61/102 quận với 4,5/7 triệu dân của đất nước Campuchia2 (Văn Tiến Dũng, về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 284, 289). Trên chiến trường Lào, liên quân chiến đấu Việt - Lào đã tiến công giải phóng A Tô Pơ và Xa Ra Van, nối liền Nam - Bắc hành lang chiến trường Đông Dương, hình thành căn cứ địa cách mạng ba nướcở vùng ngã ba biên giới. "Ba nước trên bán đảo Đông Dương đã trở thành một mặt trận chống Mỹ. Đông Dương trên thực tế đã trở thành một chiến trường thống nhất, hình thành thế chiến lược tiến công chung ngày "càng vững mạnh"3 (Văn Tiến Dũng, về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 284, 289).
Trên chiến trường miền Nam, trong đợt hoạt động Xuân Hè 1970, quân và dân ta từ Trị - Thiên đến Nam Bộ đã nỗ lực tiến công, làm cho chương trình bình định của địch bị chững lại. Kế hoạch "bình định đặc biệt" không thành công, buộc chúng phải kéo dài bằng kế hoạch "bình định bổ sung 1970". Việc địch tập trung đánh phá Nam Khu 4 cũng như tuyến chi viện chiến lược 559, tuy có gây cho ta một số khó khăn, nhưng chúng vẫn chưa thể thực hiện được mục tiêu "bóp nghẹt", ngăn chặn chi viện từ hậu phương miền Bắc, hòng làm cho cách mạng miền Nam phải "lụi tàn". Cay cú bởi những thất bại đầu năm 1970 đã khiến đế quốc Mỹ càng quyết tâm triệt tiêu sự chi viện từ miền Bắc cho miền Nam, "chặt dứt" bằng được tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh của ta. Đầu tháng 11 năm 1970, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương yêu cầu tướng Abram (Creigton Williams Abrams), Tư lệnh quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam Việt Nam soạn thảo kế hoạch hành quân tấn công vào khu vực Hạ Lào để cắt đứt đường Hồ Chí Minh1 (Ngay từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX, tướng W.Oétmolen (Westmoreland), Tư lệnh quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã nuôi ý đồ đánh thọc sang Lào, cắt đứt tuyến chi viện chiến lược 559, hòng "đánh gãy xương sống" của cách mạng miền Nam. Vào cuối năm 1966 đã có một loạt kế hoạch hành quân đã được xây dựng như Full Cry, rối Fire Break và cạ trước khi rời khỏi vị trí này (7-1968) ông ta vẫn lệnh cho thuộc cấp lập các kế hoạch chiến dịch El Paso I và II với mục tiêu trên. Nên kế hoạch tấn công vào Hạ Lào do Abram soạn thảo có kế thừa các kế hoạch do W.Oetmolen đã vạch ra), nhưng quân Mỹ chỉ đóng vai trò yểm trợ cho quân đội Sài Gòn trực tiếp tiến hành. Bởi, theo Sắc luật 91-652 (Public Law 91-652) đã được Quốc hội Mỹ thông qua, Tổng thống phê chuẩn2 (Luật này được hai thượng nghị sĩ John Sherman Cooper và Frank Church đề xuất sau khi Mỹ đưa quân sang xâm chiếm Campuchia, được Thượng viện Mỹ thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1970 và Hạ viện phê chuẩn ngày 22 tháng 12 năm 1970, có hiệu lực vào ngày 5 tháng 1 năm 1971, thường được gọi luật Cooper-Church), trong đó có điều khoản không cho phép quân chiến đấu Mỹ hỗ trợ quân đội Sài Gòn ngoài biên giới miền Nam Việt Nam. Ngày 7tháng 11, Đại sứ Bâncơ (Ellsworth Bunker) và tướng Abram hội kiến với Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu, trình bày những kế hoạch tấn công qua biên giới, Tổng thống Thiệu đồng ý. Ngày 11 tháng 1 năm 1971, Bộ trưởng Quốc phòng và Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ đến Sài Gòn kiểm tra tình hình và tiếp tục nhận được sự ủng hộ của người đứng đầu chính quyền Sài Gòn. Ngoài ra, Mỹ còn lôi kéo được quân đội chính phủ phái hữu Lào tham gia. Một kế hoạch tấn công với ba cuộc hành quân mang mật danh: "Lam Sơn 719", "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4" đã được phác thảo. Giới cầm quyền Nhà Trắng và Lầu Năm Góc kỳ vọng rằng thắng lợi của các cuộc hành quân này sẽ làm suy yếu sức chiến đấu của quân và dân ba nước Đông Dương, tạo thắng lợi có tính quyết định trong chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", để quân chiến đấu Mỹ về nước, buộc ta phải chấp nhận những điều kiện của chúng. Thực hiện kế hoạch trên, Mỹ và quân lực Việt Nam cộng hòa quyết định tập trung 88 tiểu đoàn (trong tổng số 214 tiểu đoàn bộ binh của quân đội Sài Gòn), 15 thiết đoàn xe tăng, xe thiết giáp, do tiểu đoàn pháo binh từ 105 đến 175mm, 3 sư đoàn không quân và hàng trăm tàu, xuồng chiến đấu các loại, cùng lúc tiến công quy mô lớn trên ba vùng chiến lược, nhằm triệt phá tuyến vận tải quân sự chiến lược của ta. Trong đó, "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân quy mô nhất, đặt mục tiêu lớn nhất trong kế hoạch quân sự đầu năm 1971 của chúng. Trong tính toán chiến lược của Mỹ, Đường 9 - Nam Lào là nơi ta tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược, là "cuống họng" của tuyến chi viện chiến lược 559, là huyết mạch đặc biệt quan trọng để nuôi sống cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam Việt Nam và cách mạng Lào, Campuchia. Mục tiêu của cuộc hành quân được xác định: cắt đứt, tiến tới phá hủy hoàn toàn tuyến vận tải và cơ sở hậu cần chiến lược ở khu vực Đường 9 - Nam Lào, từ đó sẽ chặn đứng và triệt bỏ được nguồn tiếp tế từ gốc khiến lực lượng vũ trang ta, mà trước hết là bộ đội chủ lực ở miền Nam không thể đánh lớn được trong mùa khô 1971 - 1972, buộc phải quay về hoạt động nhỏ lẻ, phân tán trong khuôn khổ một cuộc chiến tranh du kích, làm cho cách mạng miền Nam, Lào, Campuchia "lụi tàn"; kiểm chứng sức mạnh và khả năng tác chiến của quân đội Sài Gòn, "công cụ" chủ yếu để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và cũng là thử thách quyết tâm và khả năng quân sự của miền Bắc; đồng thời, cũng muốn qua chiến thắng này làm "yên lòng" nhân dân Mỹ, rằng: quân đội Sài Gòn đủ sức trở thành lực lượng nòng cốt và có khả năng thay thế quân Mỹ ở Đông Dương, là điều kiện căn bản để Mỹ rút quân chiến đấu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Tổng thống Níchxơn (Richard Milhous Nixon) cũng hy vọng thắng lợi của cuộc hành quân này, sẽ tạo chuyển biến có lợi cho Mỹ và tạo thếm cơ hội cho ông trong cuộc tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ tiếp theo sẽ diễn ra trong năm 1972. Kítxinhgơ (Henry Alfred Kissinger), Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ khẳng định: Mục đích của chiến dịch là gây nhiều thiệt hại cho phía bên kia để có thể rút quân đội Mỹnhanh hơn trong năm 1971 và 1972,... làm cho các lực lượng vũ trang của Sài Gòn có thể chống lại quân chủ lực Bắc Việt. Với tham vọng như vậy, cho dù còn có những tranh cãi chưa thống nhất, song Níchxơn vẫn quyết định: "kế hoạch đã được cân nhắc và chúng ta xốc tới"1 (Xem Jeffrey Kimball, Hồ sơ chiến tranh Việt Nam - tiết lộ bí mật của chiến lược thời kỳ Níchxơn, Hồ Tuyến dịch, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007. tr. 284,285). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2025, 09:48:14 pm Mỹ đã tính toán rất kỹ về mặt chiến lược khi mở cuộc tiến công ra Đường 9 - Nam Lào. Bởi địa hình nơi đây thuận lợi cho việc phát huy sức mạnh binh khí, kỹ thuật hiện đại và hiệp đồng tác chiến giữa quân Sài Gòn với quân Mỹ; là nơi có sẵn hệ thống căn cứ hoả lực, căn cứ hậu cần, các sân bay dã chiến để máy bay vận tải hạng nặng như C130 hoạt động; có mạng lưới giao thông thủy - bộ khá thuận tiện cho việc cơ động lực lượng và phương tiện chiến tranh. Mặt khác, sau khi cuộc hành quân kết thúc, việc chốt giữ hành lang Đường 9 - Nam Lào sẽ tạo thế chia cắt chiến trường Đông Dương, tạo bàn đạp cho quân đội Sài Gòn xuất phát tiến công sang Lào và ra Nam Quân khu 4, Tây Trị - Thiên, chủ động đối phó với sự tiến công, phản công của ta.
Để đạt mục tiêu đề ra, địch huy động 42 nghìn quân, trong đó 33 nghìn quân Sài Gòn, 9.000 quân Mỹ2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập VI, Sdd, tr. 250) cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719", gồm 11 trung đoàn bộ binh, trong đó có 10 trung đoàn quân đội Sài Gòn, 1 trung đoàn bộ binh Mỹ, 2 thiết đoàn thiết giáp với 464 xe tăng và bọcthép, 16 tiểu đoàn pháo (250 khẩu). Hỗ trợ cho bộ binh là 1.000 máy bay các loại, gồm 600 máy bay lên thăng (có 150 máy bay lên thẳng vũ trang), 300 máy bay phản lực, 50 máy bay vận tải hạng nặng C130, C123 và 50 máy bay chiến lược B-52... Hầu hết các lực lượng tham gia tiến công đều là những đơn vị thiện chiến, thuộc lực lượng dự bị chiến lược và lực lượng chủ lực cơ động của Quân khu 1 (Vùng I chiến thuật) của quân đội Sài Gòn. Lực lượng không quân và pháo binh Mỹ đảm nhiệm tiếp tế hậu cần, chi viện hoả lực cho các đơn vị tác chiến. Hỗ trợ cho hướng tiến công chính còn có các đơn vị quân Mỹ gồm 2 tiểu đoàn pháo binh (155 và 175mm) chi viện trực tiếp cho quân Sài Gòn vượt biên giớichiến đấu, 3 tiểu đoàn pháo binh (175 và 203mm), 1 trung đoàn thiết giáp (gồm 4 tiểu đoàn) đứng ở khu vực Kho Sanh sẵn sàng phối hợp ở phía sau. Bên kia biên giới, phía Tây Đường 9, 9 tiểu đoàn thuộc hai binh đoàn (GM30 và GM33) của quân phái hữu Lào từ Sê Nô, Đồng Hến cùng tiến đánh ra khu vực Sê Săng Soi, Sô Ta Mộc và dự kiến sẽ hội quân với các đơn vị quân đội Sài Gòn ở Pha Lan, Mường Phìn. Đây là cuộc hành quân điển hình thoo công thức Việt Nam hoá và Đông Dương hoá chiến tranh của Tổng thống Níchxơn. Kế hoạch tác chiến của địch là nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn, chiếm giữ đoạn đường Bản Đông - Sê Pôn đánh phá kho tàng, đường sá xung quanh Sẽ Pôn, phía bắc lên tới Kho Vinh, Na Thôn, phía Tây Nam đến Mường Phìn, nhằm phối hợp với lực lượng phái hữu Lào từ phía Tây tiến sang. Tiếp đó cơ động lực lượng xuống đánh phá kho tàng khu vực từ Sa Đi, Mường Noòng, A Túc đến A Sầu, A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên. Thời gian cuộc hành quân dự kiến sẽ kéo dài trong 90 ngày, kết thúc vào tháng 5 năm 1971, trước khi mùa mưa ở Nam Lào. Cụ thể gồm 4 giai đoạn: - Giai đoạn 1, từ ngày 30 tháng 1 đôn ngày 7 tháng 2 năm 1971, thực hiện cơ động lực lượng, chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công. - Giai đoạn 2, từ ngày 8 đến ngày 14 tháng 2 năm 1971, tiến công chiếm các mục tiêu Bản Đông và Sê Pôn. - Giai đoạn 3, từ ngày 15 tháng 2 đến ngày 12 tháng 3 năm 1971, lùng sục, đánh phá kho tàng, cơ sở hậu cần của ta. - Giai đoạn 4, từ ngày 13 tháng 3 đến đầu tháng 5 năm 1971, chuyển xuống đánh phá các kho tàng phía nam từ Sa Đi, Mường Noòng, A Túc đến A Sầu, A Lưới. Nhằm đánh lạc hướng, phân tán sự chuẩn bị và kế hoạch đối phó của ta, ngay từ tháng 11 năm 1970, địch đã tiến hành một loạt kế hoạch nghi binh lớn, tung tin chuẩn bị tiến công ra miền Bắc (Nam Quân khu 4) và để phục vụ cho cuộc hành quân, từ ngày 30 tháng 1 năm 1971, đang trong dịp Tết Tân Hợi, quân Mỹ dọc bờ nam sông Bến Hải lặng lẽ triển khai chiếm lĩnh các vị trí then chốt, tạo bàn đạp cho ba cánh quân của quân đội Sài Gòn gồm quân dù, thiết giáp và bộ binh vượt biên giới sang Lào. Địch hy vọng, với kế hoạch tác chiến như trên, sẽ nhanh chóng phá được kho tàng, chặn được tiếp tế và tránh những trận đối đầu lớn với chủ lực của ta. Bởi chúng cho rằng đối tượng tác chiến chủ yếu sẽ là bộ đội bảo vệ hành lang và khotàng, còn chủ lực của ta đang bị phân tán không thể cơ động đến kịp. Trái ngược với những tính toán của địch, ngay từ giữa năm 1970, sau khi bẻ gãy trận càn của địch vào Campuchia, ta đã sớm nhận định địch sẽ tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới. "Ta còn dự đoán chính xác là phương hướng tiến công của địch trong mùa khô 1970 - 1971 sẽ là hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia... Các chiến trường, nhất là khu vực Đường số 9 - Nam Lào đã được lệnh khẩn trương chuẩn bị đánh địch"1 (Văn Tiến Dũng, Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 295). Từ mùa hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo việc chuẩn bị chiến trường khu vực Đường 9 - Nam Lào. Tháng 10 năm 1970, Binh đoàn 70 - binh đoàn chiến lược đầu tiên của quân đội ta được thành lập, gồm các sư đoàn (304, 308, 320), sẵn sàng đánh địch trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Các đơn vị thuộc mặt trận B5 (Đường 9 - Bắc Quảng Trị), B4 (Quân khu Trị - Thiên) và Đoàn 559 gấp rút điều chỉnh lực lượng, chuẩn bị chiến trường sẵn sàng phối hợp đánh địch. Dự trữ hậu cần lên đến 6 nghìn tấn, đủ cho năm, sáu vạn quân tác chiến từ bốn đến năm tháng, công tác quân y, hậu cần dự bị đã được trù liệu cơ bản. Nhờ nhận định chính xác âm mưu thủ đoạn mới của Mỹ và quân đội Sài Gòn, ta đã chủ động chuẩn bị chu đáo mọi mặt, sẵn sàng đánh bại mọi mưu đồ quân sự của địch. Trải qua hơn 50 ngày đêm chiến đấu (31.1 - 23.3.1971), quân dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã thực hànhchiến dịch phản công, giáng cho quân đội Sài Gòn - lực lượng nòng cốt thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh những đòn chí mạng. Hơn 21 nghìn tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 556 máy bay, 528 xe tăng, xe bọc thép, 112 khẩu pháo, cối bị phá hủy. Ta thu được số lượng khá lớn vũ khí quân trang quân dụng. Đặc biệt, ta đã bảo vệ vững chắc tuyến chi viện chiến lược 559. Âm mưu cắt đứt tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn, chia cắt chiến trường Đông Dương của địch đã thất bại hoàn toàn. Thắng lợi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã "đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của ngụy quân trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đánh dấu bước thất bại nghiêm trọng của chiến lược này"1 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹi cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 32). "Lam Sơn 719" với những kỳ vọng cao độ đã trở thành "Cuộc dạo chơi xuống địa ngục"2 (Gloria Emerson, To hell and back... The Straits Times, ngày 30 tháng 3 năm 1971). Kítxinhgơ, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ phải thừa nhận: "Các sư đoàn Nam Việt Nam rõ ràng chưa đủ tốt để tiến hành một cuộc hành quân phức tạp như cuộc hành quân vào Lào"3 (Giôdép A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam (Nguyễn Tấn Cưu dịch), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 326, 325). Còn Níchxơn cho rằng kết cục đó "đã làm giảm lòng tin vào thắng lợi của Việt Nam hóa và vào triển vọng chấm dứt chiến tranh"4 (Giôdép A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam (Nguyễn Tấn Cưu dịch), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 326, 325). Cùng với chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, quân và dân ta đã đập tan cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" trên chiến trường Đông Bắc Campuchia, đánh bại cuộc hành quân "Quang Trung 4" của địch trên địa bàn Tây Nguyên, đã làm cho những toan tính của chúng trong năm 1971 phá sản. Chấm dứt quá trình tiến công - phản kích đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ và quân đội Sài Gòn, mở ra những triển vọng tốt đẹp đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Bảy, 2025, 08:31:02 pm TÁC CHIẾN CỦA QUÂN MỸ TRONG CUỘC HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" TS NGUYỄN THỊ MAI HOA Đại học Quốc gia Hà Nội Đại úy, ThS TRẦN ANH TUẤN Viện Lịch sử Quản sự Việt Nam Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của quân đội Sài Gòn và quân Mỹ tấn công ra Đường 9 - Nam Lào là cuộc hành quân điển hình theo công thức "Chủ lực quân Sài Gòn + hỏa lực yểm trợ tối đa của Mỹ" trong giai đoạn "Việt Nam hóa chiến tranh". Bằng cuộc tiến công của nhiều đơn vị cơ động chiến lược tinh nhuệ nhất của quân đội Sài Gòn, có sự yểm hộ tối đa của không quân, pháo binh và nhiều đơn vị bộ binh, thiết giáp Mỹ phối hợp tác chiến, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tin tưởng sẽ nhanh chóng cắt đứt tuyến vận chuyển chiến lược của đối phương từ gốc, làm cho lực lượng vũ trang Quân giải phóng suy yếu, không thể đánh tập trung lớn trong mùa khô năm 1971 và cả năm 1972 để chúng dễ dàng thực hiện chủ trương "Việt Nam hóa chiến tranh". Giữa tháng 1 năm 1971, các viên tướng chịu trách nhiệm lập kế hoạch là Suthơlan (J.Sutherland) và Hoàng Xuân Lãm đã độ trình lên Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ cho Việt Nam cộng hòa (MACV) kế hoạch hiệp đồng tácchiến của quân Mỹ và quân Việt Nam cộng hòa trong cuộc hành binh "Lam Sơn 719". Phần chiến dịch do Mỹ thực hiện được mang mật danh Dewey Canyon II, lấy tên theo chiến dịch Dewey Canyon do thủy quân lục chiến Mỹ thực hiện tại vùng Tây Bắc năm 1968 (tức trận Khe Sanh). Khi lấy mật danh đó, MACV hy vọng rằng sự trùng tên này sẽ làm Hà Nội nhầm lẫn về mục tiêu chính của cuộc tấn công. Phần của quân đội Sài Gòn dảm nhận trong cuộc hành quân này được đặt tên "Lam Sơn 719" (con số 719 được ghép từ năm 71 và Đường 9 - trục chính của cuộc tấn công). Trong hồi ký của mình, Kítxinhgơ (H.Kissinger) gọi "Lam Sơn 719" là một "dự án hoành tráng trên giấy tờ" (splendid project on paper). Trong hình dung của những người vạch kế hoạch hành quân, khi đó "các trực thăng Mỹ sẽ bay đến từ phía đông, hỏa điểm được đặt trên những đồi núi gồ ghề của xứ Lào lập tức hoạt động; đồng thời, những đoàn quân bọc thép sẽ xốc tới, hợp binh với quân đổ bộ đường không"1 (John Prados, The hidden history of the Vietnam war, Chicago Ivan R. Deo, 1995, p.248). Ngày 29 tháng 1 năm 1971, dự án này được Tổng thống Mỹ Níchxơn phê chuẩn lần cuối. Theo kế hoạch tác chiến, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" gồm 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: điều động lực lượng, chiếm lĩnh bàn đạp xuất phát; giai đoạn 2: tiến công chiếm các mục tiêu Bản Đông và Sê Pôn; giai đoạn 3: lùng sục, đánh phá kho tàng ở xung quanh Sê Pôn và Bản Đông; giai đoạn 4: chuyển xuống đánh phá các kho tàng phía Nam từ Sa Đi, Mường Noòng đến A Túc, A Sầu, A Lưới. Thời gian chiến dịch dự kiến trong khoảng 90 ngày, kết thúc trước mùa mưa (5-1971). Về lực lượng tham chiến, theo kế hoạch ban đầu, quân Mỹ là 9.000 binh lính, gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn thiết giáp, 5 tiểu đoàn pháo binh (cỡ 155mm, 175 và 203mm), 700 máy bay các loại (300 máy bay chiến đấu phản lực, 300 máy bay lên thẳng, 100 máy bay các loại khác). Trong quá trình diễn biến của cuộc hành quân, khi cao nhất - ngày 10 tháng 3 năm 1971, quân Mỹ tham chiến tăng lên đến 15.000 quân (vượt 6.000 quân so với dự kiến), bao gồm 7 tiểu đoàn bộ binh (tăng 6 tiểu đoàn), 5 tiểu đoàn thiết giáp (tăng 1 tiểu đoàn) và 8 tiểu đoàn pháo binh (tăng 3 tiểu đoàn) để chi viện trực tiếp cho quân đội Sài Gòn vượt biên giới chiến đấu và bảo vệ phía sau, 1.000 máy bay các loại (tăng 300 chiếc), trong đó quân đội Sài Gòn có 40 máy bay lên thẳng, quân Mỹ có 940 chiếc máy bay các loại. Theo kế hoạch phối hợp tác chiến, các đơn vị thuộc Quân đoàn 24 Mỹ do tướng ba sao Suthơlan (J.Sutherlan) làm Tư lệnh được điều động yểm trợ cuộc hành quân: Sư đoàn 101 nhảy dù, bản doanh đặt tại Dạ Lê (thuộc huyện Hương Thủy, cách Huế khoảng 5km) có nhiệm vụ thiết lập những vị trí phòng thủ dọc theo vùng phi quân sự kéo dài về hướng Đông trong thời gian các đơn vị quân đội Sài Gòn tham dự cuộc hành quân. Hai tiểu đoàn pháo binh hạng nặng của Liên đoàn 108 pháo binh có nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực pháo binh tầm xa từ Khe Sanh để tạo thành một màn lưới hỏa lực kéo dài đến biên giới Việt - Lào. Liên đoàn 45 công binh đảm nhiệm việc thiết lập một số căn cứ, tu sửa các đoạn đường hư hỏng và trục giao thông huyết mạch từ Đông Hà đến gần biên giới, bảo đảm giao thông thông suốt liên tục cho cả hai chiều. Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 5 bộ binh được không quân yểm trợ tổ chức cuộchành quân tảo thanh về hướng Tây, giữ Đường số 9 từ Đông Hà đến biên giới Lào - Việt, phía Tây tỉnh Quảng Trị. Sau đó, lực lượng này làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ hỏa lực Vandergriít và căn cứ Khe Sanh. Ngoài ra, các phi đoàn trực thăng của sư đoàn này cũng được điều động để thực hiện các cuộc chuyển quân, tiếp tế, chuyển thương binh cho các đơn vị quân đội Sài Gòn. Về lực lượng không quân, trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Mỹ đã huy động hơn 600 máy bay lên thẳng trực tiếp chi viện cho cuộc hành quân của quân đội Sài Gòn, 300 máy bay phản lực, 50 máy bay vận tải (loại C130, C123) và 50 máy bay chiến lược B-52 chi viện cho cuộc hành quân1 (Bộ Quốc phòng, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971, Viện Khoa học quân sự, Hà Nội, 1976, tr. 17). Các đơn vị không quân Mỹ được điều động tham gia chiến dịch và sẵn sàng tăng viện gồm: Không đoàn tác chiến 8, xuất phát từ căn cứ không quân Ubon Royal (Thái Lan). Không đoàn tác chiến 12, xuất phát từ sân bay Phù Cát (Bình Định). Không đoàn tác chiến 366, xuất phát từ căn cứ không quân Đà Nẵng. Cả ba không đoàn này đều sử dụng loại phản lực cơ F-4 Phantom để tiến hành các cuộc oanh kích vào các vị trí được ghi nhận là có quân của đối phương tập trung. Không đoàn tác chiến 35 sử dụng phản lực cơ F-100 xuất phát từ phi trường Phan Rang. Không đoàn 1 thủy quân lục chiến yểm trợ bằng phi cơ F-4, A-4 và A-6. Không đoàn hành quân đặc biệt dùng phi cơ cánh quạt A-1 Skyraider cho việc tìm kiếm, cấp cứu. Phi đoàn 18 hành quân đặc biệt, từ Nakhon Phanom (Thái Lan) cung cấp vận tải cơ vũ trang AC-119. Không đoàn 16 sử dụng máy bay vận tải vũ trang AC-130Spectre. Sư đoàn 384 không lực Mỹ từ Tân Sơn Nhất phụ trách không vận, cung cấp phi cơ C130 Hercules và C123 Caribou để chở quân. Các phi đoàn của sư đoàn này đảm nhiệm vận chuyển các đơn vị nhảy dù, thủy quân lục chiến từ Tân Sơn Nhất, từ Biên Hòa ra đến Quảng Trị và Đông Hà trong thời gianđầu của chiến dịch. Không đoàn 307 chiến lược sử dụng máy bay B-52 ném bom và phi cơ nhiên liệu KC-135. Ngoài ra còn có các đơn vị khác như Không đoàn quan sát chiến thuật 460 và 6 trung tâm điều hợp yểm trợ cho cuộc hành quân1 (Theo Vương Hồng Sơn, Không quân Hoa Kỳ và không yểm tại Hạ Lào, http://wwww.route 14.plciku.org). Để phối hợp chiến đấu và bảo vệ phía sau, quân Mỹ sử dụng 2 tiểu đoàn pháo binh (155 và 175mm) chi viện trực tiếp cho quân ngụy vượt biên giới chiến đấu; dùng 1 tiểu đoàn dù, 3 tiểu đoàn pháo binh (175 và 203mm), 1 trung đoàn thiết giáp (gồm 4 tiểu đoàn) đứng ở khu vực Khe Sanh sẵn sàng hỗ trợ cho cuộc hành quân của quân đội Sài Gòn; huy động các loại máy bay trực tiếp chi viện hỏa lực, chuyển quân, tiếp tế hậu cần cho cuộc hành quân; dùng 2 tiểu đoàn pháo binh và một số đơn vị bộ binh để bảo vệ phía sau quân Sài Gòn từ Tân Lâm đến Quảng Trị. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Bảy, 2025, 08:33:02 pm Giai đoạn I của cuộc hành quân "Lam Sơn 719", quân Mỹ khởi đầu bằng chiến dịch cục bộ mang tên Dewey Canyon II để chuẩn bị về địa bàn, hậu cần cho lính Việt Nam cộng hòa trực tiếp thực hiện cuộc hành quân, đồng thời nghi binh cho quân Sài Gòn triển khai lực lượng. Đêm 29 tháng 1 năm 1971, các đơn vị bộ binh, nhảy dù, pháo binh, công binh... thuộc Quân đoàn 24 Mỹ xuất phát khai thông quốc lộ 9, từ Đông Hà đến biên giới Việt - Lào. Đến ngày 2 tháng 2 năm 1971, công việc của các đơn vị Mỹ hoàn tất. Quốc lộ 9, từ Đông Hà đến Lao Bảo được khai thông. Các căn cứ hỏa lực, hậu cần nhanh chóng được thiết lập tại Cà Lu, Khe Sanh và Lao Bảo. Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, máy bay không vận (C130, C123), máy bay lên thẳng và xe cơ giới cơ động 22 tiểu đoàn lính dù, thủy,quân lục chiến và 7 tiểu đoàn pháo từ Sài Gòn, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên ra khu vực Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh chờ đến ngày N xuất phát vượt biên, ở phía sau, quân Mỹ triển khai Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 5 bộ binh cơ giới từ đông Hướng Hóa về Tân Lâm làm lực lượng hỗ trợ trực tiếp cho quân đội Sài Gòn. Cùng lúc đó, để thu hút sự chú ý của đối phương, một số tàu chiến thuộc Hạm đội 7 Mỹ, từ biển Đông tiến vào uy hiếp vùng biển phía Nam Quảng Bình.
Từ ngày 8 tháng 2 năm 1971, được sự chi viện hỏa lực của Mỹ, các đơn vị bộ binh, dù, thiết giáp quân đội Sài Gòn chia thành 3 cánh quân mở đầu cuộc tiến công vượt biên giới Việt - Lào. Trong những ngày đầu của chiến dịch, Mỹ đã huy động trên 300 máy bay lên thẳng, có cả máy bay lên thẳng cần cẩu để chở pháo, xe ủi đất xuống tổ chức các căn cứ ở Bản Đông; chiếm các điểm cao 500, 316, 456, 619, 537, 550, 532, 540; lập căn cứ hỏa lực ở các đồi 655, 543 với bí danh căn cứ 30, 31. Suốt cuộc hành quân "Lam Sơn 719", tùy theo diễn biến của chiến dịch và yêu cầu ứng cứu, yểm trợ của quân đội Sài Gòn, mức độ tham chiến và chi viện của quân Mỹ có sự điều chỉnh. Từ ngày 23 tháng 2 năm 1971, trước sự thất bại liên tiếp của ba cánh quân Sài Gòn, Mỹ phải điều động thêm lực lượng và phương tiện chiến tranh để bảo vệ tuyến sau và chi viện cho lực lượng tham chiến1 (Thời điểm cao nhất là ngày 10 tháng 3 năm 1971, số quân Mỹ tham gia chiến dịch lên đến 15.000 binh lính (7.000 quân trực tiếp tham chiến, 8.000 quân bảo vệ tuyến sau), 1.000 máy bay các loại (450 máy bay lên thăng vận tải, 150 máy bay lên thẳng vũ trang, 300 máy bay chiến đấu phản lực, 50 máy bay ném bom B-52, 50 máy bay C130 và C123), 5 tiểu đoán thiết giáp, 8 tiểu đoàn pháo binh). Cho đến ngày 18 tháng 3 năm 1971, khi quân đội Sài Gòn ở Bản Đông rút chạy, không quân Mỹ đã thực hiện một nỗ lực lớn với 270 lượt máy bay cánh cố định, 1.388 chuyến trực thăng chiến đấu, 11 lần chiếc B-52 rải thảm hòng ứng cứu cho quân đội Sài Gòn. Theo số liệu thống kê của Mỹ, từ ngày 8 tháng 2 năm 1971 đến ngày 5 tháng 3 năm 1971, máy bay lên thẳng Mỹ đã bay tới 26.000 lần chiếc vừa để đổ quân vừa để chi viện hỏa lực cho bộ binh quân đội Sài Gòn1 (Theo Dương Hảo: Một chương bi thảm, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980, tr. 91). Trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Mỹ đã sử dụng 3.050 lần chiếc CH-53 (máy bay lên thẳng vận tải), tiếp tế được 5.927 tấn vật chất, chuyển được 2.524 thương binh. Thống kê của tác giả Prađốt (Prados) cho biết, chỉ riêng Trung đoàn 77 của Sư đoàn không vận 101 đã bay tới 24.000 lượt, trên tổng số 34.000 lần cất cánh trong toàn chiến dịch. Máy bay lên thẳng của kỵ binh bay Mỹ tham chiến tới 12.000 lần chiếc trên tổng số 18.000 lần cất cánh. Tỷ lệ bay của các chuyến bay chở quân của Mỹ là 34.000/51.000, còn của các chuyến tiếp tế do phi công Mỹ thực hiện là 19.000/59.000 lượt trong toàn chiến cuộc. Thủy quân lục chiến Mỹ bay tới2.000 chuyến trực thăng chiến đấu, 3.000 chuyến khác chuyển quân Sài Gòn, cùng 950 chuyên máy bay cánh cố định, ném xuống 2.600 tấn bom đạn2 (John Prados, The hidden history of the Vietnam war, Chicago, Ivan R. Dee, 1995, p.257). Không quân chiến thuật Mỹ thực hiện hơn 9.000 chuyến bay, ném tới 14.000 tấn bom. Chung cho toàn khu vực hành quân "Lam Sơn 719", không quân Mỹ đã chi viện từ 160 đến 172 lần chiếc ngày. Chi viện hỏa lực của không quân Mỹ cho từng lữ đoàn là 30 đến 32 lần chiếc máy bay chiến thuật trong một ngày. Với từng tiểu đoàn quân Sài Gòn, chi viện hỏa lực bằng máy bay lên thẳng vũ trang từ 10 đến 12 lần chiếc trong một trận. Chi viện của máy bay ném bom chiến lược B-52 thường tập trung vào các mục tiêu như đường vận chuyển chiến dịch, sở chỉ huy và đội hình hành quân của đối phương. Trong chiến dịch "Lam Sơn 719", Mỹ đã sử dụng 50 pháo đài bay B-52, bay 1.358 lần chiếc, ném gần 32.000 tấn bom1 (Ngọc Thắng, Chi viện về không quân và hậu cần của Mỹ cho quân ngụy Sài Gòn trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 4-1991, tr. 44). Các đơn vị pháo binh Mỹ đã bắn hàng trăm ngàn quả đạn chi viện cho quân Sài Gòn suốt cả quá trình hành quân, tác chiến và rút lui. Theo số liệu thống kê, chỉ với hai tiểu đoàn tăng cường của Binh đoàn pháo 108 Mỹ, đã bắn sang Lào khoảng 209.000 quả đạn từ các trận địa dọc biên giới và ở Khe Sanh. Ngược với dự báo của quân báo MACV, rằng cuộc hành binh chỉ gặp "đụng độ lẻ tẻ" với khoảng 3 trung đoàn và 8 binh trạm bảo vệ hành lang và kho tàng, còn chủ lực của đối phương không thể nào điều động đến kịp trước khả năng cơ động nhanh của máy bay lên thẳng và sức đột kích của tăng thiết giáp..., trên thực tế, khi bắt đầu cuộc hành quân "Lam Sơn 719", đã có khoảng 8 trung đoàn tăng cường của Quân giải phóng và Pathét Lào ém quân chờ sẵn, cùng 20 tiểu đoàn cao xạ với khoảng từ 170 đến 200 khẩu pháo phòng không sẵn sàng bắn máy bay địch. Mạng lưới phòng không của Quân giải phóng đã hạn chế tối đa sự chi viện hỏa lực và tiếp vận của máy bay Mỹ, nhất là máy bay lên thẳng. Các loại máy bay cánh cứng Mỹ chỉ hoạt động ở tầm bay cao, nhưng theo Prađốt, Mỹvẫn mất 7 chiếc và 4 phi công, trong khi Chính phủ Mỹ chỉ thú nhận có 5 chiếc bị hạ1 (John Prados, The hidden history of the Vietnam war, Chicago, Ivan R. Dcc, 1995, p.258). Hỏa lực cao xạ và hỏa lực bộ binh của Quân giải phóng tạo thành một lưới lửa phòng không mạnh mẽ, tiêu diệt hơn 500 máy bay lên thẳng của Mỹ2 (Theo Viện Lịch sử Quân sự, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, Hà Nội, 10-1987, tr. 62: Quân giải phóng đã bắn rơi và phá hủy 556 máy bay các loại, trong đó có 505 máy bay lên thẳng; thu được 2 máy bay lên thẳng). Đây là số máy bay lên thẳng bị tiêu diệt nhiều nhất trong một chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹcủa nhân dân Việt Nam. Một phi công Mỹ lái máy bay lên thẳng đổ quân và yểm trợ cho quân đội Sài Gòn đã nói về nỗi khiếp sợ của họ rằng: "Chúng tôi giống như đội "Thần phong" Camicadê cảm tử của Nhật trong đại chiến thế giới thứ hai. Bay thấp thì vấp phải lưới lửa AK47, bay cao hơn thì bị đạn cao xạ đủ loại, đậu xuống thì bị pháo kích, hỏa tiễn đủ loại,... chỉ trong một cuộc tiến công trực thăng vận của Sư đoàn 1 đã có tới 38 trong số 60 chiếc tham gia trận đánh bị bắn hạ". Một sĩ quan khác của quân đội Mỹ cũng chia sẻ: "Chúng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng lại có thể có nhiều cao xạ được bố trí khéo đến thế, ngoài ra xe tăng đối phương đã xuất hiện với một con số chưa từng thấy, chính những xe tăng này đã bắn trả máy bay lên thẳng chính xác một cách kỳ lạ"3 (Báo Tuần tin tức, ngày 15 tháng 3 năm 1971). Cùng chung số phận với máy bay lên thẳng, 8 tiểu đoàn pháo binh của Mỹ và 13 tiểu đoàn pháo binh quân đội Sài Gòn tham chiến cũng bị thất bại nặng nề. Với 4 trung đoàn pháo binh được triển khai thành nhiều trận địa, bố trí trên cả bốn hướng, Quân giải phóng đã tổ chức hệ thống hỏa lực chế áp hầu như toàn bộ trận địa pháo binh Mỹ và quân đội Sài Gòn, gây thương vong nhiều binh lính. Quân giải phóng đã phá hủy 112 khẩu pháo, thu 57 khẩu pháo và nhiều súng cối. Lực lượng tăng thiết giáp Mỹ tham chiến trong chiến dịch này cũng bị tổn thất nặng với hơn 50 chiếc bị tiêu diệt trong tổng số 350 chiếc tham chiến. Tổn thất về người của quân Mỹ trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là 215 binh lính bị chết, 1.149 bị thương, 38 mất tích. Như vậy, trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Mỹ đã huy động nhiều quân binh chủng trực tiếp tham gia chiến đấu và chi viện đắc lực về hỏa lực, hậu cần cho quân Sài Gòn suốt cả quá trình chuẩn bị, tác chiến cho đến giai đoạn rút quân. Nếu như trong giai đoạn đầu, quân Mỹ chủ yếu đảm nhiệm việc nghi binh, chuẩn bị căn cứ hỏa lực, hậu cần, đường sá, vận chuyển binh lính cho cho quân Sài Gon, thi từ khi quân đội Sài Gòn tổ chức hành quân Mỹ đã tăng cường lực lượng pháo binh, tăng thiết giáp và không quân trực tiếp tham chiến và chi viện tối đa cho quân đội Sài Gòn. Thế nhưng, mọi nỗ lực hiệp đồng tác chiến giữa hỏa lực Mỹ với quân chủ lực Sài Gòn, giữa không quân Mỹ với bộ binh Sài Gòn, giữa tuyến trước với tuyến sau đã bị Quân giải phóng phá vỡ, chia cắt. Kế hoạch tác chiến theo công thức "Chủ lực quân Sài Gòn + hỏa lực yểm trợ tối đa của Mỹ" bị phá sản. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đầy tham vọng của Mỹ và quân đội Sài Gòn đã kết thúc bằng cuộc tháo chạy hoảng loạn của đội quân này. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Bảy, 2025, 08:42:28 pm PHẦN II QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC VÀ THỰC HÀNH CHIẾN DỊCH - NÉT ĐẶC SẮC CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM ĐÁNH QUỴ SƯ ĐOÀN 1 BỘ BINH QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA Thượng tướng NGUYỄN CHƠN Nguyên ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971 Sư đoàn 2 là Sư đoàn chủ lực của Quân khu 5. Tháng 6 năm 1970, Sư đoàn được lệnh hành quân ra địa bàn Bắc Đường 9, cùng các sư đoàn chủ lực của Bộ tham gia Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Nhân Hội thảo khoa học kỷ niệm 10 chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, tôi xin điểm lại những hoạt động của Sư đoàn 2 để chúng ta thấy được tầm nhìn xa của Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh cũng như tinh thần chiến đấu anh dũng, sáng tạo của bộ đội ta trong chiến dịch. Chuẩn bị cho trận đánh lớn. Ngay từ giữa năm 1970, phán đoán địch sẽ mở các cuộc hành quân lớn ra vùng Trung Lào, Hạ Lào, ngã ba biên giới và Đông Bắc Campuchia, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo các chiến trường điều chỉnh lực lượng, vạch kế hoạch tác chiến, chuẩn bị vật chất, thiết bị chiến trường, phối hợp với bạn Lào sẵn sàng đánh địch. Đang chiến đấu trên chiến trường Khu 5, ngày 10 tháng 6 năm 1970, Sư đoàn 2 nhận được lệnh hành quân ra bắc Đường 9 nhận nhiệm vụ mới. Một nhiệm vụ thật đột xuất, khó tin. Sư đoàn 2 là đơn vị chủ lực của Quân khu 5, sao lại hành quân ra tận bắc Đường 9. Bộ Tư lệnh Sư đoàn cho rằng cơ yếu dịch điện nhầm nên điện hỏi lại Quân khu. Từ đầu dây bên kia, Tư lệnh Quân khu trả lời dứt khoát: "Đó là mệnh lệnh, hãy nghiêm chỉnh chấp hành. Không hỏi lại!". Cuối tháng 6 năm 1970, Sư đoàn bắt đầu hành quân. Trung đoàn 141 được điều về đội hình của Sư đoàn, thay cho Trung đoàn 21 tiếp tục đứng chân chiến đấu ở Quảng Ngãi. Đến Binh trạm 61, Sư đoàn được lệnh bàn giao lại toàn bộ vũ khí nặng và đạn dược, sau đó theo Đường 559 Tây Trường Sơn ra Bắc. Sau hơn một tháng hành quân, đến giữa tháng 8, toàn bộ Sư đoàn đã tập kết ở vùng rừng núi Bắc Đường 9, thuộc huyện Mường Phìn, tỉnh Khăm Muộn của Lào. Tháng 9, Sư đoàn được bổ sung quân số. Lớp chiến sĩ mới đợt này có trình độ văn hóa cao, phần lớn tốt nghiệp phổ thông cấp 3, có nhiều đồng chí là sinh viên của các trường đại học, cao đẳng. Các tiểu đoàn đã đủ quân (trên 500 quân), trung đoàn có trên 2.000 quân, vũ khí, trang bị hoàn toàn mới, đầy đủ và khá hiện đại. Thời gian này trên cương vị Sư đoàn phó, tôi cùng một số cán bộ Sư đoàn ra Bắc dự lớp tập huấn cán bộ Quân khu, Binh chủng, Sư đoàn trong toàn quân do Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh mở. Ngày 24 tháng 8 năm 1970, lớp tập huấn khai mạc. Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp đến phát biểu chỉ đạo lớp tập huấn, xác định: đợt tập huấn này phải xác định tư tưởng đánh tập trung, hiệp đồng binh chủng; phải đánh lớn, thắng to, đánh tiêu diệt trung đoàn, chiến đoàn, sư đoàn địch... Trong những ngày tôi đi tập huấn ở miền Bắc, Sư đoàn trưởng Hoàng Anh Tuấn cùng một số cán bộ từ đại đội trưởng trở lên đi trinh sát thực địa dọc tuyến đường 9, từ Bản Đông đến Sê Pôn, Tha Mé... để nghiên cứu địa hình trên thực địa và lập phương án đánh địch theo kế hoạch của cấp trên. Đoàn cán bộ đối chiếu với bản đồ hầu hết các điểm cao, đồi trọc, khe suối trong khu vực; chọn khu vực đặt trận địa hỏa lực và đo đạc phần tử xạ kích cho các trận địa. Cũng thời gian này, Sư đoàn sôi nổi bước vào đợt huấn luyện quân sự, chính trị tương đối chính quy. Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp vạch kế hoạch và chỉ đạo. Trường Sĩ quan Lục quân cử một đoàn cán bộ giúp Sư đoàn tổ chức và thực hành huấn luyện. Một số đơn vị pháo binh, cao xạ, xe tăng cũng được lệnh của Bộ đến phối hợp tập luyện với Sư đoàn. Đây là lần đầu tiên Sư đoàn được huấn luyện chiến thuật, chiến dịch có hiệp đồng binh chủng, với vũ khí trang bị hiện đại. Một số cán bộ tiểu đoàn có tư tưởng cho rằng ra Bắc là để nghỉ ngơi nên tổ chức huấn luyện còn đơn giản. Song cán bộ Sư đoàn đã sớm kiểm tra, phát hiện và kiên quyết yêu cầu các đơn vị phải xây dựng thao trường, bãi tập đúng yêu cầu, bảo đảm huấn luyện có chất lượng. Trinh sát nghiên cứu địa hình và huấn luyện đơn vị là việc làm thường xuyên của bất kỳ người chỉ huy nào trong chiến trận, song đối với Sư đoàn 2 đợt này thực sự là đợt cóý nghĩa trước khi bước vào trận đánh lớn hiệp đồng binh chủng trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Tháng 12 năm 1970, đồng chí Hoàng Anh Tuấn, Sư đoàn trưởng được điều động về làm Tham mưu trưởng Quân khu 5, tôi được trên đề bạt làm Sư đoàn trưởng. Trung đoàn 31 hành quân trở lại chiến trường Tây Nguyên. Ngày 21 tháng 1 năm 1971, khi mà địch chưa mở cuộc hành quân thì Sư đoàn 2 nhận được lệnh của Bộ: "Triển khai đội hình chiến đấu, sẵn sàng đánh địch đổ bộ trong khu vực từ Bản Đông đến Sê Pôn. Nhiệm vụ của Sư đoàn là diệt nhiều sinh lực địch, bắn rơi nhiều máy bay, bảo vệ vững chắc đường vận chuyển chiến lược...". Như vậy, trước khi tham gia trận đánh lớn, Sư đoàn 2 đã có sự chuẩn bị rất chu đáo về mọi mặt. Sư đoàn đã được bổ sung quân số, trang bị, được huấn luyện về tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng, được nghiên cứu địa hình từ trước khi địch đến và hoàn toàn chủ động đón đánh cuộc tiến công của địch ở địa hình có lợi. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Bảy, 2025, 08:43:37 pm Qua việc Bộ chuẩn bị cho Sư đoàn 2 và sau này nghiên cứu, tôi càng thấy sự chủ động, tầm nhìn xa của Quân ủy Trung ương và Tổng Tư lệnh trong việc chuẩn bị cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào cũng như cho việc tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng lớn của quân đội ta.
Đầu năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã dự kiến địch sẽ tiến công chia cắt chiến lược trên ba hướng: một là, Đường 9 - Nam Lào, cắt đoạn Bản Đông - Sê Pôn; hai là, phản công ra vùng ngã ba biên giới và Hạ Lào; ba là, phản công sang Campuchia. Trong đó, Đường 9 - Bản Đông - Sê Pôn là hướng chủ yếu, địch hy vọng cắt ta từ "cuống họng", chặn nguồn chi viện tiếp tế từ "đầu nguồn". Từ nhận định trên, trên hướng Đường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương xác định đây là địa bàn gần miền Bắc, có nhiều kho dự trữ chiến lược, ta có điều kiện phát huy sức mạnh của các đơn vị chủ lực, tập dượt chiến đấu hiệp đồng binh chủng, giao cho Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ huy, điều hành chiến dịch phản công với lực lượng binh chủng hợp thành nhằm giành thắng lợi lớn, đánh bại bước đầu chiến lược "'Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Từ tháng 3 năm 1970, Cục Tác chiến đã bắt tay vào chuẩn bị kế hoạch chiến dịch, chủ yếu là nhận định tình hình, dự kiến sử dụng lực lượng trên các hướng, chuẩn bị hậu cần - kỹ thuật. Tháng 10, hoàn thành tổ chức Binh đoàn chiến dịch B70, gồm các sư đoàn 308, 304, 320 và một số đơn vị binh chủng (đây là lần đầu tiên ta hình thành tổ chức binh đoàn chiến dịch, tương đương quân đoàn). Tiếp đó, Bộ đã cử đoàn cán bộ có các đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Hoàng Nghĩa Khánh, Cục phó Cục Tác chiến vào Bộ Tư lệnh 559 và một số đơn vị phía Nam để phổ biến ý định của Quân ủy Trung ương và công việc chuẩn bị chiến trường 559, đồng thời trực tiếp thu thập các ý kiến từ chiến trường. Tháng 11 năm 1970, kế hoạch chiến dịch được Quân ủy Trung ương thông qua lần đầu, sau đó bổ sung và thông qua chính thức vào tháng 12 năm 1970. Tiếp đó, Quân ủy quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch do đồng chí Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Quang Đạo làm Chính ủy, đồng chí Cao Văn Khánh làm Tư lệnh phó chiến dịch, chỉ huy Binh đoàn 70, đồng chí Hoàng Phương là Chính ủy Binh đoàn 70. Quân ủy Trung ương nhấn mạnh: Đây là chiến dịch có ý nghĩa quyết định về chiến lược và do Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp tổ chức và chỉ huy đầu tiên ở phía Nam nên nhất định phải đánh thắng; phải nhân cơ hội địch ra lần này mà rèn luyện bộ đội chủ lực trưởng thành lên một bước mới trong tác chiến tập trung đánh lớn, hiệp đồng binh chủng. Về tổ chức lực lượng, Bộ Tổng Tham mưu xác định: Lực lượng ngăn chặn, tạo thế gồm Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 và các đơn vị tại chỗ của Đoàn 559; Cụm lực lượng trên hướng chủ yếu phía Bắc gồm Binh đoàn 70 (thiếu) và phần lớn xe tăng, pháo binh chiến dịch; Cụm lực lượng trên hướng thứ yếu phía Nam gồm Sư đoàn 324 (thiếu), Sư đoàn 2 và một bộ phận pháo binh, xe tăng, phòng không chiến dịch; Lực lượng đánh địch ở phía sau gồm lực lượng tại chỗ của B5, một số tiểu đoàn đặc công Bộ, Trung đoàn pháo binh 84 và Trung đoàn 2 Sư đoàn 324; Lực lượng đánh địch trên hướng phối hợp ở phía Tây có Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 và lực lượng tại chỗ. Cho đến trước ngày địch mở cuộc hành quân lớn, mọi công tác chuẩn bị của ta từ cấp chiến lược đến các đơn vị đã cơ bản hoàn thành. Trên địa bàn Bắc Nam Đường 9, Bộ đội 559 đã tổ chức 7 khu vực tác chiến tại chỗ; huy động tham gia chiến dịch 1 sư đoàn và 5 trung đoàn phòng không (có 1 trung đoàn tên lửa của Bộ), 10 tiểu đoàn pháo cao xạ, 25 đại đội và 33 trung đội súng máy cao xạ bố trí thành 8 cụm trên tâm điểm là tam giác Bản Đông - Tha Mé - La Hạp, hình thành lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều vòng đợi chờ địch. Các mạng đường chiến dịch đã được hoàn chỉnh thêm. Các kho vật chất ở khu vực Đường 9 có hơn 3.000 tấn. Hàng dự trữ chiến lược trên tuyến có hơn 3.000 tấn. Trước giờ nổ súng chiến dịch, tôi nhận được điện trực tiếp của đồng chí Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn hỏi về tình hình đạn dược, lương thực, thông tin đã bảo đảm chưa? Tôi vui mừng báo cáo: Bộ đội Trường Sơn đã bảo đảm cho Sư đoàn đầy đủ. Nhất định chúng tôi sẽ đánh thắng! Bên kia đầu dây, giọng đồng chí Tư lệnh trầm ấm động viên: Chúc Sư đoàn 2 giành thắng lợi. Phải kiên quyết chặn đứng, bao vây, tiêu diệt không cho địch có đường về! Ngày 31 tháng 1 năm 1971, Mỹ và quân ngụy Sài Gòn bắt đầu cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào. Chúng đã huy động một lực lượng khổng lồ gồm hơn 40.000 quân ngụy Sài Gòn, trên 6.000 quân Mỹ, với một lực lượng không quân, xe tăng, thiết giáp, pháo binh yểm trợ1 (Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch lúc cao nhất 55.000 quân gồm 15 trung đoàn bộ binh, 3 thiết đoàn thiết giáp, 578 xe tăng, xe bọc thép 318 pháo 700 máy bay các loại. Ngoài ra còn có 2 binh đoàn quân đội phải hữu Lào), hùng hổ để quân đánh chiếm các điểm cao dọc theo Đường 9, hy vọng nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn, chiếm giữ Đường 9 đoạn Bản Đông - Sê Pôn lập thành tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương, đe dọa miền Bắc Việt Nam, uy hiếp cách mạng Lào và bịt được "con đường sống" của ta vào chiến trường miền Nam. Địch không ngờ rằng chúng đang lọt vào thế trận đã giăng sẵn của ta. Các lực lượng tham gia chiến dịch được chuẩn bị kỹ càng đang chủ động chờ chúng "chui đầu vào rọ" đổ tổ chức những trận đánh lớn, quyết không cho chúng đường về. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Bảy, 2025, 08:47:28 pm Đánh quỵ Sư đoàn 1 quân đội Việt Nam cộng hòa.
Sau khi triển khai chiếm lĩnh xong khu vực tập kết, ngày 8 tháng 2, được sự yểm trợ của hoả lực Mỹ, 7 trung đoàn bộ binh, dù và thiết giáp ngụy hình thành 3 cánh quân vượt biên giới Việt - Lào. Cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9 lên Bản Đông. Hai cánh quân khác đổ bộ bằng máy bay lên thẳng chiếm một loạt các điểm caoở Nam, Bắc Đường 9, lập các căn cứ, hoả lực bảo vệ sườn cho cánh quân chủ yếu. Trên khu vực phía Bắc Đường 9, tuy bị lực lượng tại chỗ, nhất là phòng không của ta đánh trả quyết liệt nhưng Lữ đoàn 3 dù và Liên đoàn biệt động 2 địch cũng đổ được quân xuống các điểm cao 500, 316, 655, 543, 456 lập các căn cứ hoả lực. Trên khu vực phía Nam, Sư đoàn 1 bộ binh địch (thiếu) chiếm khu vực Cô Bốc và các điểm cao 619, 537, 550, 532, 540. Quân phái hữu Lào phối hợp hoạt động ở Tây Đường 9, đưa 2 binh đoàn (GM 30 và GM 33 gồm 9 tiểu đoàn) đánh ra khu vực Mường Pha Lan. Ngay từ khi địch tiến công, Đoàn 559 đã tổ chức các chốt ngăn chặn ở Cô Bốc, Cô Rốc, các điểm cao 660, 723; Trung đoàn 24 tổ chức chốt ở điểm cao 351, cầu Cha Ky; Sư đoàn 308 tổ chức chốt ở điểm cao 311; lực lượng của B5 và Đặc công Hải quân đánh chìm 9 tàu chở vũ khí của địch ở Xuân Khánh, Vinh Quang, phục kích địch ở Bông Kho, Đầu Mầu, tập kích địch ở Kế Sóc, Ba Lào... Tiếp đó, trên hướng chủ yếu Binh đoàn 70 đã phản công đánh tan cánh quân chủ yếu của địch ở phía Bắc Đường 9. Đặc biệt, ngày 19 đến ngày 25 tháng 2, Trung đoàn bộ binh 64 cùng Trung đoàn pháo binh 45 và 1 đại đội xe tăng đã thực hiện thành công trận then chốt tiêu diệt căn cứ 31 của địch ở điểm cao 543, xoá sổ Lữ đoàn 3 dù, bắt sống đại tá Thọ và ban tham mưu lữ đoàn. Bị chặn đánh cả ở phía trước, phía sau và 2 bên sườn, nhất là cánh quân phía Bắc Đường 9 bị tiêu diệt, địch đưa thê đội 2 vào chiến đấu, chuyển cánh quân phía Nam Đường 9 thành cánh quân chủ yếu tiến lên Sê Pôn. Ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn đổ quân xuống chiếm các điểm cao 660, 723, 748 làm bàn đạp chiếm Sê Pôn. Trong đó, Trung đoàn 1 ở điểm cao 723, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 ở các điểm cao 660, 462 và 651. Quyết tâm bẻ gãy cánh quân phía Nam, tiêu diệt Sư đoàn 1 địch, không cho chúng tiến lên Sê Pôn, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 2 (thiếu Trung đoàn 31) được tăng cường 1 tiểu đoàn (Trung đoàn 48, Sư đoàn 320), Trung đoàn pháo binh 368 thực hiện trận then chốt tiêu diệt Trung đoàn 1 địch ở điểm cao 723, tiếp theo là Trung đoàn 2 ở các điểm cao 660, 462. Điểm cao 723 nằm trong dãy Phu Rệp, phía Nam Đường 9 và sông Sê Pôn, cách Lao Bảo khoảng 15km về phía Tây. Điểm cao nằm trên trục đường vận tải chiến lược 559, gần dốc Nguyễn Chí Thanh nổi tiếng mà các đơn vị hành quân bộ vào Nam đều phải đi qua. 723 là một điểm cao đột xuất, có thể khống chế từ Sê Pôn xuôi về phía Đông đến ngã tư Bản Đông. Kế hoạch ban đầu đánh 723 của Sư đoàn là dùng sức mạnh hiệp đồng binh chủng của cả Sư đoàn được hoả lực của chiến dịch chi viện tiến công địch. Sau khi đi trinh sát, nghiên cứu lại, tôi thấy đánh theo phương án này có nhiều bất lợi. Địch ở trên cao, lại có hệ thống công sự, trận địa khá kiên cố nên ta tiến công sẽ rất khó khăn và tốn nhiều vật chất, lực lượng. Mặt khác, qua tin trinh sát tôi thấy địch đang muốn tiến về Sê Pôn, nên đề xuất phương án mới: đánh ép mặt trước, buộc địch phải rời công sự, kéo về Sê Pôn; ta sẽ dùng 6 tiểu đoàn thực hiện bao vây, đón lõng dọc đường địch hành quân để đánh địch ngoài công sự, tiêu diệt toàn bộ trung đoàn địch. Phương án mới được Đảng ủy Sư đoàn và Bộ Tư lệnh chiến dịch chấp nhận. Thực hiện theo phương án trên, Sư đoàn 2 sử dụng Tiểu đoàn 10 đặc công và Tiểu đoàn 15 công binh đón lõng ở phía Đông Bắc điểm cao 723. Trung đoàn 141 vây lấn từ phía Nam lên. Trung đoàn Ba Gia (được tăng cường Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48) vây lấn từ phía Tây và Tây Nam. Hai trung đoàn này sẵn sàng cơ động lực lượng tiêu diệt địch trong khu vực dự kiến ở thung lũng phía Đông Bắc điểm cao 723. Đêm 8 tháng 3 năm 1971, các lực lượng bao vây, đón lõng bắt đầu triển khai chiếm lĩnh trận địa. Sau khi hình thành thế bao vây, Sư đoàn tăng sức ép cả bằng hoả lực và xung lực đối với Trung đoàn 1 địch, đồng thời khống chế chặt chẽ đường không, cắt tiếp tế của chúng cho 723. Trong các ngày 13, 14, 15 tháng 3, các loại hoả lực của ta từ cối 82mm, ĐKZ 75, pháo Đ.74, cối 160... liên tục bắn vào 723. Pháo phòng không của Sư đoàn và chiến dịch cắt đứt đường không, không một máy bay trực thăng nào của địch tới được 723. Ngày 15 tháng 3, phát hiện địch có triệu chứng rút quân. Ngay trong đêm 15, tôi triệu tập Thường vụ Đang ủy hạ quyết tâm diệt Trung đoàn 1 dịch, đồng thời lệnh cho Tiểu đoàn 15 công binh nới vây để địch rút về Sê Pôn, đôn đốc các đơn vị bao vây đón lõng nắm chắc địch, không được bỏ lỡ thời cơ diệt địch. Vòng vây nới lỏng, sáng ngày 16 dịch bắt đầu rút khỏi 723 theo hướng Tây - Bắc để lên Sê Pôn. Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 141 được lệnh lên chiếm lĩnh 723 để đánh vào phía sau địch. Pháo binh được lệnh bắn chặn các ngả đường buộc dịch phải dồn vào khu vực ta có lực lượng đón sẵn. Theo kế hoạch, đợt bắn phá này pháo chiến dịch chỉ bắn 500 quả. Song trước thời cơ diệt gọn cả trung đoàn địch, Sư đoàn đã đề nghị bắn 1.000 quả và được chấp nhận nên mật độ pháo khá lớn, quân địch buộc phải đi vào các khu vực Sư đoàn đã dự kiến. Khi pháo ngừng bắn, các tiểu đoàn bộ binh được lệnh đồng loạt bám sát địch, thực hành tiến công, chia cắt để tiêu diệt từng cụm địch. Quân địch thoát ly công sự, lại bị ta tiến công từ cả bên sườn phía sau nên hoang mang ngay từ đầu. Máy bay địch liều mạng vượt qua lưới lửa phòng không của ta để ném bom chi viện cho bọn bộ binh. Bom napan, bom phá, bom sát thương nổ dữ dội. Cả khu rừng khói bụi, lửa cháy mù mịt song bộ đội vẫn dũng cảm bao vây, chia cắt tiêu diệt từng cụm quân địch. Đến 11 giờ ngày 16 tháng 3, vòng vây của ta đã xiết chặt và Tiểu đoàn 1 của địch đã bị tiêu diệt hoàn toàn, các tiểu đoàn khác của Trung đoàn 1 địch đang ở trong tình trạng hoang mang dao dộng, tinh thần rệu rã. Để vừa tiêu diệt được toàn bộ Trung đoàn 1, vừa không để Trung đoàn 2 của chúng đang ở điểm cao 660 có cơ hội chạy thoát, Thường vụ Sư đoàn đã táo bạo quyết định đưa một phần lực lượng sang vây ép 660, lực lượng còn lại nhanh chóng tiêu diệt Trung đoàn 1 rồi chuyển sang cùng các đơn vị vây ép, tiêu diệt địch ở điểm cao 660 Các đơn vị đã nghiêm chỉnh thực hiện quyết định mới của Sư đoàn. Trung đoàn 141, Tiểu đoàn 40 của Trung đoàn Ba Gia cùng các tiểu đoàn đặc công, công binh xốc lại lực lượng, áp sát đội hình địch, tiến công mãnh liệt vào các cụm quân địch còn lại dưới chân điểm cao 723. Cùng lúc, Trung đoàn Ba Gia (thiếu Tiểu đoàn 40) cùng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 va một bộ phận hoả lực nhanh chóng vận động sang vây ép Trung đoàn 2 địch ở điểm cao 660. 14 giờ ngày 16, trận chiến đấu ở khu vực 723 tiếp tục. Bộ đội ta từ các hướng xung phong mãnh liệt tiêu diệt Trung đoàn 1 địch. Từ phía Tây, Trung đoàn 141 đánh xuống. Từ hướng Đông Bắc, Tiểu đoàn 40 Trung đoàn Ba Gia đánh vào. Từ hướng Đông - Nam, Tiểu đoàn Đặc công và Tiểu đoàn công binh 15 đánh thốc lên. Trước sức tiến công liên tục của bộ đội ta, Trung đoàn 1 địch dần tan rã và bị tiêu diệt. 10 giờ 30 phút ngày 17 tháng 3, Sở chỉ huy Trung đoàn 1 bị tiêu diệt, viên đại tá, Trung đoàn trưởng đã bị bắn chết từ trước đó, trận đánh ở khu vực 723 kết thúc. Ta diệt và bắt sống 1.700 tên, bắn rơi nhiều máy bay, thu hàng trăm vũ khí và nhiều phương tiện, quân trang, quân dụng. Tin 723 bị diệt làm binh lính Trung đoàn 2 địch ở điểm cao 660 hết sức hoang mang. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, chỉ huy cuộc hành quân của địch cho Trung đoàn 2 tháo chạy. Song quyết định tháo chạy của địch đã quá muộn. Trung đoàn Ba Gia vượt qua bom đạn, chạy đua với thời gian, khẩn trương đến được khu vực điểm cao 660 và xiết chặt vòng vây trước khi quân địch nhận được lệnh tháo chạy. Cả trung đoàn địch cố tìm đường chạy nhưng đến đâu cũng gặp các chiến sĩ của Trung đoàn Ba Gia chặn đánh. Đêm 20 tháng 3, sau khi hội ý với Chính ủy Nguyễn Tá, Trung đoàn trưởng Trần Quang Lập quyết định đưa Tiểu đoàn 40 vừa mới từ 723 về, phối hợp với Đại đội 7 Tiểu đoàn 60 hình thành hai mũi tiến công vào cụm quân địch. 3 giờ 30 phút ngày 21, trận tiến công dứt điểm Trung đoàn 2 địch bắt đầu. Sau một loạt pháo chuẩn bị, bộ đội ta đồng loạt xung phong. Tiểu đội trưởng Nguyễn Ngọc Lũy cùng tiểu đội đánh thốc ngang đội hình địch, diệt và bắt 50 tên. Mũi tiến công khác, chiến sĩ Nguyễn Khắc Hoàng, trong trận đầu ở điểm cao 723 đã diệt 16 tên, trận này lại cùng đồng đội đánh thẳng vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch, bắt sống tên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 dịch là Nguyễn Xuân Huy. Vậy là, sau hơn ba ngày chiến đấu liên tục Trung đoàn Ba Gia đã gần như xoá sổ Trung đoàn 2 địch, diệt và bắt sống gần 1.300 tên, thu 4 khẩu pháo 105mm, 54 máy PRC 25, bắn rơi 36 máy bay. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, sau khi giải phóng Bản Đông, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc. Trong chiến dịch, Sư đoàn 2 đã đánh thắng hai trận lớn, tiêu diệt Trung đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 2,như vậy là đã đánh quỵ Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Việt Nam cộng hòa. Chiến công của Sư đoàn 2 đánh dấu một bước tiến bộ mới rất quan trọng của Sư đoàn và góp phần xứng đáng vào thắng lợi rất to lớn của chiến dịch lịch sử Đường 9 - Nam Lào 1971. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Bảy, 2025, 09:00:04 pm CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4 TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 Trung tướng MAI QUANG PHẤN Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 4 Sau thất bại nặng nề trong chiến lược "Chiến tranh cục bộ", cùng với sức ép của ta trên bàn đàm phán ở Hội nghị Pari và phong trào phản đối chiến tranh lan rộng khắp thế giới, đế quốc Mỹ đề ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", dùng quân đội Sài Gòn dần dần thay thế quân đội Mỹ. Đổ quân đội Sài Gòn đủ sức đương đầu với quân ta, mục tiêu có tính chiến lược của đế quốc Mỹ là cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam, trong đó Đường 9 - Nam Lào được chúng xác định là một huyết mạch đặc biệt quan trọng, là "cuống họng" của tuyến đường vận tải Hồ Chí Minh. Do vậy đầu năm 1971, địch mở cuộc hành quân mang tên "Lam Sơn 719" nhằm cắt đứt, tiến tới phá hủy hoàn toàn tuyến vận tải và căn cứ hậu cần chiến lược của ta tại khu vực Đường 9 - Nam Lào. Ngay từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nắm được ý đồ của địch, vì vậy đã khẩn trương xúc tiến mọi công tác chuẩn bị tác chiến, chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng và chủ động ứng phó. Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: nhất thiết phải đánh thắng trận này dù phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong nhưng trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương là chủ động đánh bại các cuộc hành quân của địch, ngày 13 tháng 10 năm 1970, Tổng cục Chính trị ra chỉ thị về "Công tác chính trị trong nhiệm vụ chiến đấu ở Đường 9 - Nam Lào". Chỉ thị khẳng định: Phải làm cho cán bộ và chiến sĩ nhận thức đầy đủ về tình hình, nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước hiện nay, nhiệm vụ của các lực lượng cơ động và nhiệm vụ trước mắt của các đơn vị; trên cơ sở đó xây dựng quyết tâm chiến đấu thật cao, xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn nhất, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, luôn luôn nêu cao tinh thần anh dũng chiến đấu, tích cực chủ động tiến công địch, vượt qua khó khăn gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong bất cứ tình huống nào, bất cứ chiến trường nào... Với vai trò là hậu phương trực tiếp, là bàn đạp tiến công của lực lượng tham gia chiến dịch, Quân khu 4 đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch. Để tạo nên sức mạnh về ý chí, tinh thần và vật chất cho chiến dịch, lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã làm tốt công tác đảng, công tác chính trị động viên cao nhất sức người, sức của, vượt qua mọi khó khăn, vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần quan trọng cho chiến dịch thắng lợi hoàn toàn. Trên cơ sở chỉ thị của Tổng cục Chính trị, bước vào giai đoạn chuẩn bị, cuối năm 1970, Thường vụ Quan khu ủy họp xác định lại một lần nữa vị trí, nhiệm vụ chính trị của Quân khu: tiếp tục làm bốn nhiệm vụ trên ba chiến trường, trong đó chi viện cho mặt trận Đường 9 - Nam Lào là nhiệm vụ hàng đầu; đồng thời tổ chức quán triệt, giáo dục xây dựng quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ; tiếp tục thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc vận động nâng cao chất lượng của tổ chức Đảng và kết nạp đảng viên; đẩy mạnh củng cố, kiện toàn cơ quan lãnh đạo và chỉ huy các cấp; tăng cường giáo dục chấp hành tốt chính sách, kỷ luật chiến đấu. Hội nghị tổng kết công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Quân khu, do Cục Chính trị Quân khu tổ chức, đã chỉ rõ phải tăng cường quán triệt và giáo dục làm cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận thức sâu sắc vị trí của mình là hậu phương trực tiếp của miền Nam, là quân khu đi đầu trong nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam, phải đáp ứng nhanh nhất, đủ nhất, tốt nhất và trước nhất mọi yêu cầu của tiền tuyến, là "Đội dự bị của miền Nam, trực tiếp là Trị - Thiên và Đường 9". Quán triệt và chấp hành chỉ thị của Tổng cục Chính trị, Nghị quyết của Quân khu ủy, khắp các địa phương, đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã dấy lên phòng trào thi đua sôi nổi khắc phục mọi khó khăn, trực tiếp tham gia và phục vụ chiến dịch. Các đơn vị công binh quân khu và các tỉnh đội, các đại đội thanh niên xung phong các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình làm việc suốt ngày đêm để sửa đường, sửa ngầm, sửa cầu, bắc cầu phao, sửa chữa các bến vượt bảo đảm cơ động cho các lực lượng, binh khí kỹ thuật từ hậu phương đến vị trí tập kết đúng thời gian quy định. Đến ngày 5 tháng 1 năm 1970, trên 200 xe cơ giới các loại, 80 nghìn tấn lương thực, đạn dược, thuốc men đã được tập kết ở Nam Long Đại. Nam Quảng Bình và Vĩnh Linh là nơi xuất phát tiến công của các binh đoàn chủ lực, là nơi tập kết hậu cần, phương tiện vật chất kỹ thuật, vì vậy, ngày 12 tháng 11 năm 1970, Đảng ủy Tỉnh đội Quảng Bình họp ra nghị quyết xác định rõ nhiệm vụ cấp bách của lực lượng vũ trang tỉnh: tập trung lực lượng phối hợp với lực lượng công binh của Bộ, của Quân khu và bộ đội Đoàn 559 tiếp tục mở mới và nâng cấp tuyến đường trục dọc Trường Sơn, các tuyến đường ngang và đường vòng tránh để đưa tuyến vận tải cơ giới lên hai chiều ban ngày. Với tinh thần "Chiến trường cần gì, hậu phương sẵn sàng đáp ứng", cấp ủy, chỉ huy các đơn vị lực lượng vũ trang tăng cường công tác tuyên truyền, động viên, chỉ đạo chặt chẽ, tổ chức lực lượng ra quân đồng loạt. Phối hợp với lực lượng công binh, quân dân địa phương ngày đêm hăng hái lao động khôi phục, bảo đảm giao thông trên tuyến quốc lộ 1A, 15A tạo thuận lợi tốt nhất cho các đơn vị chuẩn bị bước vào chiến dịch. Phong trào tòng quân, đi dân công hỏa tuyến diễn ra sôi nổi khắp các địa phương trong toàn Quân khu. Cuối năm 1970, toàn Quân khu đã tuyển được 12.607 tân binh. Với khẩu hiệu "Đưa nhiều hàng kịp thời phục vụ chiến dịch'', đến đầu tháng 1 năm 1971, các đại đội dân công hỏa tuyến của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh cùng với các lực lượng của Bộ, các ban ngành địa phương và đông đảo nhân dân đã vận chuyển vào chiến trường hàng vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực thực phẩm. Khắp các địa phương ở Nghệ An, Hà Tĩnh, đã diễn ra phong trào thi đua "Toàn dân đánh giặc", "Toàn dân bàn việc nước"; các đơn vị bộ đội, dân quân nô nức thi đua, ngày đêm hăng say lao động sửa đường, làm cầu bảo đảm giao thông, dành mọi ưu tiên cho nhiệm vụ ở tiền tuyến, bảo đảm tốt nhất cho các lực lượng sẵn sàng ra trận. Hàng vạn quân, hàng nghìn xe pháo và các phương tiện kỹ thuật trên mọi nẻo đường rầm rập hành quân ra tiền tuyến. Các lực lượng vũ trang Quảng Bình phát huy truyền thống quê hương ''hai giỏi" quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Chỉ hai ngày sau khi có lệnh, 7 đoàn dân công hỏa tuyến của các huyện, thị xã Đồng Hới và 4 đại đội dân công hỏa tuyến của các cơ quan cấp tỉnh, các trường Trung cấp Sư phạm, Nông nghiệp... đã lên đường với khí thế sôi nổi, đầy nhiệt huyết. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Bảy, 2025, 09:01:50 pm Trên địa bàn Quân khu, trên tất cả các tuyến đường giao thông, đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển, các binh đoàn ngày đêm cơ động lực lượng với số lượng hàng vạn quân, hơn 15.000 xe cơ giới vượt 500km từ miền Tây Nghệ An vào Bắc Đường 9. Trên khắp các nẻo đường hành quân, các mẹ, các chị đón đợi để động viên, tặng quà, nước uống... Không khí nô nức vào chiến trường như "đi trẩy hội".
Do làm tốt công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức, đặc biệt là việc tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu, giải quyết tốt mọi vướng mắc về tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ, đồng thời tổ chức bảo đảm chu đáo, hiệp đồng chặt chẽ, hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy được củng cố, nên các đơn vị tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu vượt qua mọi gian khó, hiểm nguy, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, lập được nhiều chiến công xuất sắc ngay từ đầu. Việc sẵn sàng chăm sóc, cứu chữa kịp thời cho thương, bệnh binh của chiến dịch cũng được Bộ Tư lệnh Quân khu quan tâm ngay từ đầu: tổ chức điếu động một đội điều trị tăng cường cho chiến dịch gồm 72 bác sĩ, y tá, dược sĩ của Viện Quân y 4 cùng trang bị, thuốc men khẩn trương hành quân vào chiến trường. Trong suốt chiến dịch, đội điều trị vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn và ác liệt trong điều kiện thời chiến đã cấp cứu, điều trị kịp thời ngay tại chiến trường cho 5.340 thương bệnh binh, góp phần bảo đảm sức chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ trên khắp mặt trận. Ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" với quy mô lớn nhất từ trước cho đến bấy giờ, gồm: 3 sư đoàn (sư đoàn dù, thủy quân lục chiến và Sư đoàn 1 bộ binh) với trên 40.000 quân (có 9.000 quân Mỹ), 2 trung đoàn thiết giáp (460 xe), 21 tiểu đoàn pháo binh (250 khẩu), 700 máy bay các loại. Ngay sau khi địch mở cuộc hành quân tiến công ra Đường 9 - Nam Lào, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra lời kêu gọi lực lượng vũ trang và hậu phương của chiến dịch, tiếp tục khẳng định đây là một trong những trận có ý nghĩa chiến lược, không những để giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của chúng, đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Để bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng đối với các lực lượng vũ trang ở khu vực Đường 9, ngày 8 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là Bộ Tư lệnh 702) và chỉ thị cho các lực lượng vũ trang Đường 9 kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, giành toàn thắng trong chiến dịch. Quân ủy Trung ương kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên hãy ra sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu và quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng: hãy phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc ta; tập trung tất cả tinh thần và sức lực, dũng mãnh tiến công, liên tục chiến đấu, tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ vững chắc tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này. Quán triệt sâu sắc chỉ thị và lời kêu gọi của Quân ủy Trung ương, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Quân khu 4 được cấp ủy, chỉ huy các cấp triển khai tích cực, xây dựng ý chí quyết tâm cao nhất cho mọi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên. Trên chiến trường, ngay từ đầu, cùng với các đơn vị của Bộ, các đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã nhanh chóng cơ động, triển khai đội hình chiến đấu tiến công tiêu diệt địch trên đường Bông Kho, Kê Sóc, Ba Lào. Trước sự phát triển nhanh của tình hình, ngày 27 tháng 2 năm 1971, Hội nghị Thường vụ Quân khu ủy 4 mở rộng đã phân tích, đánh giá tình hình và xác định: thời cơ lớn đã xuất hiện sớm hơn dự kiến của ta; địch muốn rút chạy, nhưng ta quyết tâm bao vây, tiêu diệt chúng. Thường vụ Quân khu ủy chỉ thị tăng cường giáo dục, động viên quân và dân trong Quân khu tiến công mạnh dạn, táo bạo, sâu hiểm, bằng mọi lực lượng và mọi phương thức đánh bại một bước bình định của địch, giành cho được nông thôn, phát triển phong trào thành thị, làm rối loạn hậu phương địch. Quán triệt sâu sắc quyết tâm của Trung ương Đảng và chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Thường vụ Quân khu ủy chỉ rõ: Phải làm cho toàn Đảng bộ, quân và dân trong Quân khu nhận rõ thời cơ chiến lược mới; cán bộ chỉ đạo và chỉ huy các cấp cần phân công đi xuống tận thôn, xã bố trí kế hoạch, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện phối hợp lực lượng và thống nhất chỉ đạo trong toàn khu vực; phải nghiêm túc hơn trong việc chấp hành chỉ thị và chế độ báo cáo kịp thời diễn biến hằng ngày của địch và ta. Sau Hội nghị, các địa phương, đơn vị lực lượng vũ trang trong Quân khu đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận rõ tình hình, xác định rõ nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, xây dựng quyết tâm chiến đấu cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Khắp mọi nơi trong địa bàn Quân khu dấy lên phong trào thi đua với khí thế hết sức sôi nổi. Ở Quảng Bình, các đơn vị bộ đội địa phương chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc. Các đơn vị dân công hỏa tuyến bám sát các lực lượng chiến đấu, không quản ngại hy sinh, gian khổ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từ mặt trận, ngày 8 tháng 3 năm 1971, Đại đội 3 hỏa tuyến gồm 104 đồng chí đã gửi "Thư quyết tâm" với chữ ký bằng máu của 88 đồng chí nam và 16 nắm tóc của các đồng chí nữ về cho Tỉnh ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch "xin hứa phát huy truyền thống quê hương "hai giỏi" quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu". Bước vào giai đoạn cuối của chiến dịch, từ ngày 12 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, được lệnh của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, Sư đoàn 324 được tăng cường một phân đội xe tăng, một phân đội cao xạ, một phân đội công binh và đại đội bộ đội địa phương huyện Hướng Hóa phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tiếp tế đạn dược, lương thực, thực phẩm đã vây chặt quân địch ở điểm cao 550, đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến. Ngày 14 tháng 3 năm 1971, sau 7 ngày vận chuyển gạo phục vụ chiến dịch, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 27 đã xung phong dũng mãnh đánh địch rút chạy trên Đường 9 (ở khu vực Động Na, Kế Sóc, Ba Lào), tiêu diệt đoàn xe 30 chiếc từ Nam Lào chạy về Sa Mưu, đốt cháy 28 chiếc, diệt 120 tên địch. Bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp với bộ đội đặc công của Quân khu đánh chìm 4 tàu trên sông Hiếu. Đặc biệt, ngày 23 tháng 3, Tiểu đoàn 33 đặc công của Quân khu cùng với tiểu đoàn đặc công của Bộ tập kích vào Tà Cơn, diệt hàng trăm tên địch, phá hủy 42 máy bay lên thẳng và 5 xe tăng... Trong quá trình chiến dịch, phối hợp với các lực lượng của B5, các phân đội bộ binh, súng máy 12,7mm, các tổ bắn tỉa của các địa phương tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng. Hai đại đội 12,7mm của dân quân các huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ bắn rơi ba máy bay Mỹ. Các đoàn dân công hỏa tuyến Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình ngày đêm vượt suối, trèo đèo, vượt qua bom đạn ác liệt chuyển gạo, đạn đều vượt kế hoạch chỉ tiêu trên giao, kịp thời cho các đơn vị ở phía trước và chuyển thương binh về tuyến sau. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Bảy, 2025, 09:02:45 pm Thi đua với tiền tuyến lớn, ở hậu phương, các lực lượng vũ trang ba thứ quân của Quân khu luôn cảnh giác, chiến đấu kiên cường, bảo vệ vững chắc địa bàn Quân khu và hành lang vận chuyển. Từ ngày 1 tháng 2 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, quân và dân trong Quân khu đã bắn rơi 14 máy bay, bắn chìm 3 tàu biệt kích địch khi chúng tăng cường đánh phá ra hậu phương hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương với tiền tuyến.
Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa hết sức to lớn, đánh dấu sự lớn mạnh của quân và dân ta, tạo một bước ngoặt quan trọng thay đổi cục diện chiến tranh, mở ra triển vọng hiện thực đánh bại hoàn toàn chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và học thuyết Níchxơn của đế quốc Mỹ ở Đông Dương. Các lực lượng vũ trang Quân khu 4 vui mừng phấn khởi vì đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch. Công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Quân khu 4 trong chiến dịch đã góp phần quan trọng cho những chiến công đó. Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị đã được chuẩn bị chu đáo, tiến hành sâu rộng chặt chẽ và cơ bản từ giữa năm 1970. Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của Quân ủy Trung ương và của Tổng cục Chính trị, Quân khu ủy luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang Quân khu; luôn bám sát diễn biên của chiến dịch, nắm chắc tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, kịp thời giải quyết những vướng mắc; luôn luôn củng cố, kiện toàn các tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng, các tổ chức quần chúng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đoàn viên. Cấp ủy Đảng và cơ quan chính trị các cấp tăng cường giáo dục nêu cao tinh thần yêu nước, lòng căm thù sâu sắc giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao, thực hiện dân chủ, phát huy trí tuệ của quần chúng trong việc hiến kế, lập công để hoàn thành nhiệm vụ ở mức cao nhất. Trong giai đoạn chuẩn bị cũng như trong suốt quá trình chiến dịch, sau khi chiến dịch kết thúc và trong từng trận đánh, công tác đảng, công tác chính trị được tiến hành liên tục, phát huy cao nhất truyền thống cách mạng của các lực lượng vũ trang, bồi dưỡng tinh thần quyết chiến, quyết thắng, vượt qua mọi thử thách, hiểm nguy, tự lực, tự cường, đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Phong trào thi đua được phát động mạnh mẽ khắp các đơn vị lực lượng vũ trang và các địa phương trong toàn Quân khu. Từ cơ quan Quân khu đến các phân đội, tất cả cán bộ, chiến sĩ các đơn vị bộ đội cũng như thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến đều nêu cao tinh thần thi đua quyết thắng, ai ai cũng nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã thực sự trở thành "linh hồn sống", là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang Quân khu vượt qua mọi khó khăn gian khổ, không sợ hy sinh, ác liệt, giành thành tích cao nhất để thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu, kính dâng lên Đảng, góp phần cùng chiến dịch giành thắng lợi hoàn toàn. Thực tiễn tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: Một là: luôn luôn quán triệt sâu sắc quan điểm và đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, mà trực tiếp là của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; nắm vững tư tưởng chỉ đạo, nghệ thuật quân sự và triệt để chấp hành những quyết sách, chỉ đạo của cấp trên; xác định đúng đặc điểm, vị trí, nhiệm vụ trọng tâm trong từng giai đoạn, từng thời kỳ để có chủ trương, quyết định đúng đắn và kịp thời, làm cơ sở cho các lực lượng của Quân khu xây dựng quyết tâm, mục tiêu, kế hoạch hành động, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hai là: xây dựng tổ chức Đảng các cấp vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của một địa bàn chiến lược, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, mọi mặt của Đảng trong bất kỳ tình huống nào. Công tác xây dựng Đảng phải luôn luôn được đặt lên hàng đầu, liên tục và toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, từ cấp ủy Đảng các cấp đến từng đảng viên. Thường xuyên giữ vững sự đoàn kết của Đảng, đoàn kết giữa Đảng với quần chúng. Mỗi đảng viên là tấm gương sáng, sẵn sàng xông pha nơi hiểm nguy và ác liệt, từ đó động viên được tinh thần, ý chí, trí tuệ của quần chúng, tạo thành sức mạnh chiến đấu thắng lợi. Ba là: thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho mọi cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định, luôn luôn đứng vững trên lập trường giai cấp và dân tộc. Quán triệt sâu, rộng đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy các cấp, nâng cao tinh thần yêu nước, phát huy truyền thống của dân tộc,của quê hương, nhận rõ kẻ thù, tình hình, nhiệm vụ của mình, từ đó xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao nhất cho cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ. Bốn là: công tác đảng, công tác chính trị thường xuyên bám sát thực tiễn, nắm chắc cục diện của chiến trường, mọi diễn biến của thực tiễn về thế trận, về lực lượng của cả ta và địch, đồng thời nắm được mọi diễn biến về tư tưởng, tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ cũng như các vướng mắc khác; trên cơ sở đó có quyết định, chủ trương, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, giải quyết thấu đáo mọi vướng mắc về tư tưởng, tập hợp sức mạnh của tất cả các lực lượng, chiến đấu giành thắng lợi trước mọi kẻ thù. Năm là: luôn luôn chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các địa phương, động viên toàn dân, phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân, phát động phong trào toàn dân tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, phát huy cao nhất tiềm lực chính trị, tinh thần và vật chất của toàn dân. Kết hợp chặt chẽ tiền tuyến với hậu phương, hậu phương là nơi nuôi dưỡng, tập kết lực lượng, là bàn đạp xuất phát tiến công, là nguồn lực chính để tiền tuyến phát huy cao nhất ý chí, tinh thần để chiến đấu thắng lợi. Những kinh nghiệm quý báu của công tác đảng, công tác chính trị trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã được vận dụng và phát huy trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần quan trọng dổ các lực lượng vũ trang Quân khu 4 cùng cả nước tiếp tục chiến đấu giành thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân 1975. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và chiến tranh vệ quốc trong tương lai (nếu xảy ra), những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị và phát huy tác dụng nhằm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu vững mạnh toàn diện, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Bảy, 2025, 09:05:47 pm CÔNG TÁC BẢO ĐẢM KỸ THUẬT TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 Trung tướng NGUYỄN CHÂU THANH Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 của quân và dân ta, chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ bị phá sản. Nhưng với bản chất phản động, ngoan cố và hiếu chiến, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, nhằm 3 mục tiêu: hủy diệt, giành dân và bóp nghẹt, với 4 biện pháp chính là phát triển quân đội, củng cố chính quyền Sài Gòn, tăng cường "bình định và tiến hành "chiến tranh bóp nghẹt". Đồng thời, chúng đẩy mạnh chính sách ngoại giao quỷ quyệt, bắt tay với các nước lớn để hạn chế, cắt viện trợ của quốc tế cho cuộc kháng chiến của quân và dân ta. Lợi dụng những sai lầm, sơ hở của ta sau Tết Mậu Thân (1968), trong hai năm 1969 - 1970, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, "bình định" cấp tốc, gây cho ta những tổn thất nặng nề, thực hiện được một phần mục tiêu mà chúng đề ra. Từ giữa năm 1970 đến đầu năm 1971, đi đôi với các biện pháp bình định, địch tập trung quân chủ lực Việt Nam cộng hòa, có sự chi viện tối đa của hỏa lực không quân, pháo binh Mỹ, liên tiếp mở các cuộc hành quân đánh phá hành lang vận chuyển và hậu phương chiến lược trực tiếp của ta ở Đông Bắc Campuchia, ngã ba biên giới và Đường 9 - Nam Lào, hòng "bóp nghẹt" nguồn chi viện nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến của nhân dân 3 nước Đông Dương. Nhưng đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn không ngờ rằng đây là những sai lầm chiến lược của chúng. Sau khi Mỹ và quân đội Sài Gòn thất bại trong cuộc hành quân đánh sang Đông Bắc Campuchia vào giữa năm 1970, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã sớm nhận định: sớm muộn địch cũng sẽ có những hành động phiêu lưu quân sự mới, và hướng tiến công chủ yếu của chúng trong mùa khô 1970 - 1971 sẽ là khu vực Đường 9 - Nam Lào. Đúng như dự đoán của ta, đầu năm 1971, Mỹ và chính quyền Sài Gòn huy động 88 tiểu đoàn bộ binh, 15 thiết đoàn xe tăng, hàng chục tiểu đoàn pháo binh, được không quân Mỹ yểm trợ, mở cuộc hành quân mang mật danh "Lam Sơn 719", đánh ra Đường 9 - Nam Lào, hòng cắt đứt tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, bóp nghẹt cuộc chiến tranh cách mạng của quân và dân ta ở miền Nam. Để chuẩn bị cho chiến trường Đường 9 - Nam Lào, ngay từ tháng 6 năm 1970, Quân ủy Trung ương đã chủ trương phát triển và củng cố lực lượng vận tải chiến lược của Đoàn 559, kết hợp các hình thức vận tải đường bộ, đường sông, đường ống, đường biển, kết hợp đánh địch với nghi binh phòng tránh... Đoàn 559 được bổ sung thêm lực lượng của Sư đoàn 968 và Đoàn chuyên gia quân sự 565 ở Hạ Lào thành đơn vị tương đương cấp quân khu, do Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo. Nhiều trung đoàn, tiểu đoàn vận tải, các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa, công binh..., cùng một khối lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật và phương tiện quân sự được tăng cường cho Đoàn 559. Nhờ đó, khối lượng vận chuyển của Đoàn 559 vào chiến trường năm 1970 tăng gấp đôi so với năm 1969. Tháng 10 năm 1970, Binh đoàn 70 được thành lập, sẵn sàng đón đánh địch nếu chúng tiến công ra khu vực Đường 9 - Nam Lào. Đây là binh đoàn chiến lược đầu tiên của quân đội ta, gồm 3 sư đoàn 304, 308, 320 và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng trực thuộc. Đại tá Cao Văn Khánh, nguyên Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị được cử làm Tư lệnh, đồng chí Hoàng Phương được cử làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Binh đoàn. Ngoài ra, Binh đoàn 70 còn được Mặt trận B5, một số đơn vị của Quân khu Trị - Thiên (134) và một số đơn vị thuộc Đoàn 559 sẵn sàng phối thuộc, chi viện. Tổng cộng lực lượng tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào lên đến 58.791 cán bộ, chiến sĩ, Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị và kế hoạch tác chiến của Bộ Quốc phòng, các đơn vị gấp rút chuẩn bị lực lượng, tổ chức thế trận, sẵn sàng phối hợp, hiệp đồng tác chiến. Để bảo đảm cho chiến dịch, Tổng cục Hậu cần chỉ đạo mở thêm đường 10, củng cố đường 16 trước khi chiến dịch mở màn. Hệ thống kho tàng, trạm, xưởng sửa chữa (cơ sở bảo đảm kỹ thuật) trên tuyến chi viện chiến lược 559 chủ động chuẩn bị vũ khí trang bị, phụ tùng, vật tư bảo đảm cho 7 đến 8 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn xe tăng và 1 trung đoàn pháo cao xạ có thể hoạt động liên tục trong 3 tháng. Mạng lưới bảo đảm kỹ thuật phục vụ chiến dịch được tổ chức và hoạt động khá hiệu quả. Đến trước ngày nổ súng, ngành Kỹ thuật đã dự trữ được khối lượng lớn vũ khí, khí tài, đạn dược và vật tư kỹ thuật. Các cục Quân giới, Quân khí, Quản lý xe máy và Cục Vận tải còn cử cán bộ, nhân viên kỹ thuật tăng cường cho các trạm, xưởng sửa chữa trên tuyến chi viện chiến lược 559 và Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, thành lập các tổ, đội, trạm sửa chữa cơ động phục vụ chiến dịch. Về công tác bảo đảm, ngành Kỹ thuật đã tổ chức theo tuyến từ Bộ Tư lệnh đến các sư đoàn bộ binh, trung, lữ đoàn, binh chủng và các đơn vị phối thuộc. Ngành Kỹ thuật phối hợp tổ chức mở đường mới đưa xe cơ giới vận chuyển lực lượng và vũ khí trang bị kỹ thuật vào các khu vực tập kết của bộ đội. Đến đầu tháng 1 năm 1971, lượng dự trữ vũ khí, khí tài, đạn dược và vật tư kỹ thuật đã đạt 6 nghìn tấn, bảo đảm cho 5 đến 6 vạn quân tác chiến trong 4 đến 5 tháng. Ngoài ra, trên tuyến chi viện chiến lược 559, ta còn dự trữ tại các kho, các hang, hầm hơn 3 vạn tấn vũ khí trang bị, sẵn sàng cấp phát, bổ sung cho các đơn vị trong quá trình chiến dịch. Đầu tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là Bộ Tư lệnh 702) được thành lập. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 2 trung đoàn bộ binh (27, 278), 8 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn công binh, 3 tiểu đoàn xe tăng, 6 trung đoàn cao xạ, 8 tiểu đoàn đặc công... Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng tham mưu phó được cử làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị được cử làm Chính ủy;Đại tá Cao Văn Khánh được cử làm Tư lệnh phó; Đại tá Phạm Hồng Sơn được cử làm Tư lệnh phó - Tham mưu trưởng, Đại tá Hoàng Phương được cử làm Phó Chính ủy. Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng là đại diện Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Đây là cơ quan chỉ huy mạnh, đủ khả năng tổ chức và phối hợp tác chiến với các chiến trường liên quan như Quân khu Trị - Thiên, Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5), Đoàn 559 và Liên quân Việt - Lào ở khu vực Nam Lào. Phối hợp với hoạt động tác chiến tại Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, ngày 6 tháng 2, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị ra chỉ thị, yêu cầu các đơn vị, các địa phương phát huy cao nhất khả năng của hai lực lượng, của ba thứ quân đánh mạnh vào các hậu cứ, hệ thống kho tàng chân hàng, cơ quan đầu não, căn cứ xuất phát hành quân các phương tiện giao thông, ngăn chặn tiếp tế đường bộ đường sông, hạn chế tiếp tế đường không của địch. Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị nhấn mạnh: đây là chiến dịch có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Thắng lợi của chiến dịch không những bảo đảm cho sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến, mà còn tiêu diệt một lực lượng dự bị chiến lược quan trọng của quân đội Sài Gòn, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Mỹ đánh một đòn rất mạnh vào ý chí xâm lược của chúng. Quân ủy Trung ương yêu cầu toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên hãy ra sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng..., tập trung tất cả tinh thần và sức lực, dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ đường Hồ Chí Minh, xốc tới giành toàn thắng trong chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Bảy, 2025, 09:07:03 pm Trước khi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mở màn, các lực lượng bảo đảm kỹ thuật như Cục Quân khí, Cục Quân giới, Cục Quản lý xe máy, Cục Vận tải và Đoàn 559 đã bảo đảm trực tiếp cho chiến dịch 3.152 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật. Các cục đều cử cán bộ chỉ huy, tham mưu kỹ thuật làm phái viên trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn công tác kỹ thuật của ngành mình. Trong chiến dịch này, lần đầu tiên chúng ta sử dụng số lượng lớn xe tăng, xe thiết giáp tham gia chiến đấu (89 chiếc). Do điều kiện địa hình và thời tiết, nên số lần xe hỏng hóc nhiều, nhưng nhờ chủ động chuẩn bị và có phương án sửa chữa chu đáo, lực lượng kỹ thuật đã sửa chữa được nhiều xe hỏng; có xe được sửa chữa trực tiếp tại trận địa, bảo đảm kịp thời cho chiến đấu. Quá trình chiến dịch, trên hướng chủ yếu, ngành Kỹ thuật bảo đảm cho 32 xe ô tô của Binh trạm 27 vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật và vật chất đến các cụm kho ở Mường Trương, Salít, Chaki, Alia; trực tiếp bảo đảm vũ khí, đạn dược và vật tư kỹ thuật đến kho sư đoàn và trận địa pháo. Tại hướng Tây và Nam, Ngành bảo đảm cho xe ô tô của Binh trạm 9, Binh trạm 33; trực tiếp bảo đảm vũ khí, đạn dược và vật tư kỹ thuật đến kho Sư đoàn 2, Sư đoàn 324; có nơi tổ chức đưa đạn đến tận trận địa pháo của sư đoàn. Ở hướng Đông, ngành bảo đảm cho Binh trạm 17 tổ chức vận chuyển vũ khí, đạn dược, vật tư kỹ thuật đến tập kết ở Bên Quang đổ phục vụ cho các đơn vị thuộc Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5). Ngoài ra, Ngành còn phối hợp bảo đảm kỹ thuật cho 1.217 lượt xe cơ động lực lượng, chuyên chở 27.935 người và binh khí kỹ thuật vào chiến trường; tổ chức bảo đảm cho 2 tiểu đoàn pháo Đ74, 2 trung đoàn pháo cao xạ 37mm và 57mm, 3 tiểu đoàn xe tăng và xe thiết giáp bí mật hành quân vào vị trí tập kết chiến đấu.
Trong quá trình chiến dịch, ngành Kỹ thuật đã lau chùi, bảo quản, tổ chức cấp phát 23.312 súng bộ binh; 770 súng cối, pháo và ĐKZ các loại; 670 súng pháo cao xạ; 603 xe ô tô; 98 xe xích; 89 xe tăng, xe thiết giáp. Trước khi bước vào chiến dịch, vũ khí trang bị kỹ thuật của các đơn vị đều được ngành Kỹ thuật tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng. Căn cứ quyết tâm và kế hoạch tác chiến của Bộ Tư lệnh chiến dịch, ngành Kỹ thuật tổ chức cấp mới từ 5 đến 6% xe vận tải, 25% xe quân binh chủng, 5 đến 6% xe xích... (so với tổng số xe tham gia chiến dịch). Tổ chức 11 trạm sửa chữa xe, 26 trạm sửa chữa vũ khí phục vụ chiến dịch. Ngoài ra, còn tăng cường cho chiến dịch 4 đội sửa chữa cơ động, với 172 nhân viên kỹ thuật thuộc các ngành xe máy, quân khí, quân giới, tăng thiết giáp (1 đội tiểu tu ô tô 1 đội sửa chữa xe, 1 đội sửa chữa tăng xích, 1 đội sửa chữa pháo). Kết quả, các trạm, đội sửa chữa cơ động đã sửa chữa, khắc phục được 2% súng bộ binh, 5 đến 7% súng cối pháo và ĐKZ các loại, 17 đến 37% súng pháo cao xạ, 61% xe ô tô, 63% xe xích, 50% xe tăng, xe thiết giáp... (so với tổng số hỏng hóc). Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công chiến lược Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Quân và dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20.000 tên, bắt sống hơn 1.000 tên địch, đánh thiệt hại nặng 6 trung lữ đoàn, 13 tiểu đoàn bộ binh, phá hủy 1.100 xe quân sự (có 580 xe tăng, xe bọc thép), hơn 100 khẩu pháo lớn, bắn rơi 550 máy bay, thu trên 3.000 khẩu súng các loại. Trong chiến dịch này, chúng ta đã phối hợp và hiệp đồng tác chiến chặt chẽ với các đơn vị Quân đội nhân dân Lào, làm nên thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự, chính trị và ngoại giao. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 là đòn đánh báo hiệu sự thất bại thảm hại của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ, mở ra triển vọng cho thắng lợi của những chiến dịch tác chiến quy mô lớn tiếp theo ở chiến trường miền Nam, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng. Thực tiễn công tác bảo đảm kỹ thuật cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho ngành Kỹ thuật; cụ thể: Một là, phải quán triệt và vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng; chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương và mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng vào quản lý, chỉ đạo và tổ chức bảo đảm kỹ thuật. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ngành Kỹ thuật đã đưa nghệ thuật quản lý, chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật trong chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn lên bước phát triển mới. Ngành Kỹ thuật đã nghiên cứu, sáng tạo trong tổ chức lực lượng kỹ thuật phục vụ yêu cầu chiến đấu, có kế hoạch và phương thức bảo đảm kỹ thuật để vũ khí trang bị có hệ số kỹ thuật cao, để bộ đội có sức chiến đấu và sức cơ động, có khả năng tác chiến liên tục,đạt hiệu suất chiến đấu cao, giành thắng lợi trong mọi tình huống, trong từng trận đánh, tiến tới giành thắng lợi trong toàn chiến dịch. Hai là, phải xây dựng được hệ thống tổ chức bảo đảm kỹ thuật tập trung, thống nhất, đúng với ý đồ và kế hoạch tác chiến của chiến dịch, phù hợp với khá năng khai thác, sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật và khả năng phối hợp tác chiến của bộ đội trong chiến dịch hợp đồng binh chủng. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ngành Kỹ thuật đã tổ chức và phát huy được vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của cơ quan, cơ sở kỹ thuật; nhất là các tổ, đội, trạm sửa chữa cơ động tại chiến trường. Việc tổ chức hệ thống bảo đảm kỹ thuật tập trung, thống nhất, khá vững chắc từ Bộ Tư lệnh chiến dịch đến các hướng, các đơn vị, nhất là hướng chủ yếu và đơn vị chủ công là một thành công của ngành Kỹ thuật trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Ba là, phải quán triệt nhiệm vụ và xây dựng quyết tâm cho đội ngủ cán bộ, nhân viên kỹ thuật phục vụ chiến dịch, xây dựng cho họ bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên món kỹ thuật giỏi. Đây là vai trò quyết định của nhân tố con người trong công tác kỹ thuật, nhất là công tác kỹ thuật trong một chiến dịch lớn ở chiến trường, nơi thử thách và đánh giá bản lĩnh, khẳng định ý chí và trình độ chuyên môn cao nhất đối với người lính kỹ thuật. Ngành Kỹ thuật đã giáo dục, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và rèn luyện toàn diện để đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật có ý chí quyết chiến quyết thắng, làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ. Bốn là, phải chủ động tạo nguồn, huy động vũ khí trang bị kỹ thuật theo kế hoạch tác chiến của chiến dịch, có lượng dự trữ vũ khí, đạn dược và vật tư kỹ thuật để sẵn sàng cấp phát, bổ sung cho bộ đội chiến đấu trong điều kiện chiến dịch phát triển, hoặc thời gian kết thúc chiến dịch chậm so với kế hoạch, ưu tiên bảo đảm kỹ thuật và huy động cao nhất, lớn nhất vũ khí trang bị kỹ thuật cho các đơn vị binh chủng, các đơn vị hỏa lực, đơn vị chủ công trên hướng chủ yếu và mũi đột kích của chiến dịch. Tổ chức tốt công tác quản lý, khai thác, sửa chữa kịp thời những hỏng hóc của vũ khí, khí tài tại chiến trường để duy trì chất lượng, phát huy hết uy lực của vũ khí trang bị. Tích cực nghiên cứu, cải tiến, cải biên vũ khí, khí tài, đạn dược theo yêu cầu chiến đấu của chiến dịch, không ngừng nâng cao hiệu suất chiến đấu cho bộ đội. Năm là, tổ chức và vận động các lực lượng tham gia chiến dịch làm tốt công tác bảo đảm kỹ thuật. Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là chiến dịch tác chiến hiệp đồng binh chủng, yêu cầu về vũ khí trang bị kỹ thuật rất lớn, nhiều loại vũ khí trang bị hiện, đại như xe tăng, pháo và cối các loại... cơ động trong điều kiện địa hình rừng núi. Vì vậy, chuẩn bị và thực hiện công tác bảo đảm kỹ thuật phải được tiến hành chu đáo. Lực lượng thực hiện công tác kỹ thuật ở chiến trường không chỉ có cán bộ, nhân viên kỹ thuật của Ngành, mà tất cả cán bộ, chiến sĩ và nhân dân khu vực Đường 9 - Nam Lào cùng tham gia làm công tác bảo đảm kỹ thuật. Đó là yếu tố quan trọng tạo cho ngành Kỹ thuật có sức mạnh tổng hợp, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật phục vụ chiến địch, góp phần cùng quân và dân Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc tiến công "Lam Sơn 719", làm phá sản chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Sau thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ngành Kỹ thuật tiếp tục bảo đảm cho các chiến dịch tác chiến chiến lược, với quy mô ngày càng lớn. Đặc biệt, ngành Kỹ thuật đã khắc phục khó khăn, nỗ lực vượt bậc bảo đảm kỹ thuật cho các chiến dịch tác chiến hợp đồng quân binh chủng trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của nhân dân ta. Nhìn chung lại, trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ngành Kỹ thuật đã đưa nghệ thuật chỉ đạo và tổ chức bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch hợp đồng binh chủng lên bước phát triển mới, phù hợp với sự phát triển của vũ khí trang bị kỹ thuật, với khả năng và trình độ công nghệ của ngành Kỹ thuật quân đội. Hiện nay, ngành Kỹ thuật nói chung, Tổng cục Kỹ thuật nói riêng đã và đang tập trung quy hoạch, đầu tư xây dựng, nâng cao khả năng công nghệ cho các cơ sở bảo đảm kỹ thuật để tăng cường tiềm lực khoa hoc kỹ thuật quân sự. Các cấp kỹ thuật trong toàn quân đang tích cực triển khai thực hiện các chương trình, dự án, đề án nhiệm vụ kỹ thuật theo yêu cầu Nghị quyết 382 của Quân ủy Trung ương về lãnh đạo công tác kỹ thuật quân sự trong tình hình mới. Tiềm lực khoa học kỹ thuật quân sự tiếp tục được tăng cường; đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹthuật của Ngành phát triển toàn diện, với chất lượng ngày càng cao hơn; vũ khí trang bị kỹ thuật không ngừng được bổ sung và phát triển theo yêu cầu nhiệm vụ. Lực lượng Kỹ thuật đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tám, 2025, 07:46:18 pm CÔNG TÁC BẢO ĐẢM HẬU CẦN CHO CHIẾN DỊCH ĐƯờNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Thiếu tướng NGUYỄN VĨNH PHÚ Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Thực hiện chỉ thị của Trung ương về việc mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch, công tác chuẩn bị bảo đảm hậu cần cho chiến dịch đã được tiến hành khẩn trương, kịp thời ở tất cả các cấp. Trên tuyến hậu phương, Tổng cục Hậu cần thành lập cơ quan chỉ huy tiền phương ở Nam sông Gianh, do đồng chí Đặng Quốc Tuyển - Tham mưu phó phụ trách để trực tiếp chỉ huy các binh trạm đẩy mạnh chi viện cho Đoàn 559, chiến trường Trị - Thiên Tây Nguyên, Nam Bộ và cùng các đơn vị của Đoàn 559 xây dựng tuyến hậu cần chiến dịch. Sau đó, đồng chí Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đã trực tiếp kiểm tra và giao nhiệm vụ cho Đoàn 559 chuẩn bị theo chỉ đạo của Quân ủy (ở cả ba hướng), đặc biệt là chuẩn bị bảo đảm hậu cần cho hướng Đường 9 - Nam Lào. Đồng thời, Tổng cục chỉ đạo tăng lượng vật chất dự trữ, đầu tư xây dựng hậu cần tại chỗ trên các chiến trường. Trong khi tăng cường công tác chuẩn bị và chi viện hậu cần cho các chiến trường, Tổng cục Hậu cần vẫn tích cực chuẩn bị bảo đảm cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào theo các phương án tác chiến của Bộ. Ngay trong mùa mưa năm 1970, Đoàn 559 đã chủ động chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng phục vụ tác chiến. Đầu mùa khô 1970 - 1971, Đoàn 559 mở thêm được 750km đường, bao gồm đường 16A từ Chà Lỳ vào Bản Đông, đường 18 từ Quảng Bình chạy thẳng vào Đường 9, hoàn thành xây dựng các cụm kho quanh khu vực Đường 9... Đặc biệt, Bộ Tư lệnh 559 chủ động điều 25 đại đội súng máy cao xạ 12,7mm của các binh trạm trên toàn tuyến bí mật bố trí ở khu vực Đường 9 phối hợp với các đơn vị pháo cao xạ, hình thành hệ thống phòng chống liên hoàn, gồm nhiều tầng lớp, sẵn sàng đón đánh địch, bảo vệ tuyến hành lang chiến lược trên địa bàn. Đầu năm 1971, tuyến đường ống phía Đông và Tây (mỗi tuyến dài 300 - 400km) cũng hoàn thành và đưa được nhiên liệu vào tới chiến trường. Trong chiến dịch này, ta sử dụng Binh đoàn 70 (B70) làm nòng cốt, cùng với lực lượng tại chỗ của Đoàn 559, Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Quân khu Trị - Thiên và Sư đoàn 2 thuộc Quân khu 5 (gồm Trung đoàn 141 và các đơn vị trực thuộc) từ Quế Sơn (Quảng Nam) được lệnh bí mật cơ động ra khu vực Đường 9... Tổng lực lượng tham gia chiến dịch lên đến 5 sư đoàn bộ binh, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không, 3 trung đoàn công binh, 4 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp, một số đơn vị đặc công, tổng quân số trên 62.000 người (có 58.000 người trực tiếp chiến đấu). Cục Hậu cần B70 lúc đầu chỉ có Phòng Tham mưu, gồm một số cán bộ rút từ cơ quan Tổng cục và các cục, sau đó mới tổ chức tương đối hoàn chỉnh, gồm các phòng (tham mưu, chính trị, vận tải, quân nhu, quân y, quân giới, xe xăng); đơn vị trực thuộc Cục có 3 đội điều trị, 1 đại đội xe, 1 tiểu đoàn vận tải bộ và 1 đại đội kho. Vừa được thành lập, hậu cần binh đoàn triển khai ngay việc lập kế hoạch bảo đảm theo ý định tác chiến, tổ chức nghiên cứu chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Bản Đông theo trục đường 16, hiệp đồng với Binh trạm 17 (Cục Vận tải) và Binh trạm 27 (559) để vận chuyển hàng từ binh trạm vào các cụm hậu cần. Nhu cầu bảo đảm hậu cần chiến dịch gồm 7.737 tấn vật chất các loại (trong đó có 3.000 tấn vật chất quân nhu, 571 tấn xăng dầu, 4.037 tấn đạn dược) cứu chữa thương binh, bệnh binh (khoảng 20% quân số tương đương 12.400 người); bảo đảm kỹ thuật cho 23.312 khẩu súng bộ binh, 770 khẩu súng cối các loại, 670 súng, pháo cao xạ, 603 xe ô tô, 98 xe xích và 88 xe tăng. Do chủ động đi trước một bước trong chuẩn bị, nên đến ngày 30 tháng 1 năm 1971 (khi có quyết tâm chiến dịch) dự trữ vật chất trên các hướng của chiến dịch đã đạt 6.385 tấn, đủ cho ba đến sáu vạn quân tác chiến trong thời gian 4 đến 5 tháng1 (Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 397). Trong đó, B5 có 2.746 tấn; B70 có 45 tấn; Binh trạm 107/B4 có 235 tấn... các binh trạm 7, 27, 32, 33, 41 có 3.751 tấn gạo và đạn2 (Công tác hậu cần chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Tổng cục Hậu cần, 1987, tr. 20-21). Ngoài ra, trên tuyến vận tải chiến lược 559 còn dự trữ sẵn hàng vạn tấn hàng hoá đồng bộ có thể đáp ứng cơ bản nhu cầu của chiến dịch. Sau khi Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm, ngày 4 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh chiến dịch (còn gọi là Bộ Tư lệnh 702) được thành lập, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo làm Chính ủy; Đại tá Lương Nhân - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần được chỉ định làm Tư lệnh phó về hậu cần và kiêm Chủ nhiệm hậu cần Mặt trận. Trên cơ sở phương án tác chiến, hậu cần chiến dịch đã tổ chức bố trí lực lượng hợp lý để bảo đảm cho các hướng. Trên hướng Bắc (hướng chủ yếu), do Cục Hậu cần B70 đảm nhiệm (quân số 336 người); được tăng cường 3 đội điều trị, 2 tiểu đoàn vận tải bộ, 1.500 dân công; triển khai thành 4 cụm hậu cần (2 cụm phía trước, một cụm ở giữa, một cụm ở phía sau); đứng phía sau có Binh trạm 27 của Đoàn 559. Ở hướng Tây có hậu cần Sư đoàn 2. Ở hướng Nam có hậu cần Sư đoàn 324 kết hợp với tiền phương của hậu cần B4 và Binh trạm 107 thuộc B4. Trên địa bàn chiến dịch còn có các binh trạm của Đoàn 559 (binh trạm 27, 9, 32, 33, 41) và các binh trạm của Cục Vận tải (binh trạm 16, 17). Mỗi binh trạm có khoảng 2.000 người, bao gồm các thành phần vận tải, công binh, kho, quân y, cao xạ, thông tin... có khả năng vận chuyển 5.000 tấn hàng/tháng. Các binh trạm này đã nhanh chóng chuyển hướng hoạt động từ nhiệm vụ vận tải chiến lược sang bảo đảm cho chiến dịch. Cơ quan hậu cần chiến dịch (Mặt trận 702), mặc dù không có cơ sở bảo đảm tại chỗ, nhưng đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan tiền phương của Tổng cục để huy động vật chất, trực tiếp chỉ huy các binh trạm 16, 17 và 27 bảo đảm cho B70 và lực lượng B5, đồng thời hiệp đồng với Đoàn 559 sử dụng binh trạm 32, 33 trực tiếp bảo đảm cho các sư đoàn 2 và 324 cùng các lực lượng ở Nam Đương 9. Suốt quá trình chiến dịch, dựa vào các cơ sở hậu cần chiến lược và hậu cần Mặt trận 134, B5 đã được chuẩn bị trước, hậu cần chiến dịch đã bảo đảm cho các đơn vị 8.271 tấn vật chất các loại (3.329 tấn đạn, 608 tấn xăng dầu, 4.196 tấn lương thực, thực phẩm và 138 tấn vật chất khác); cứu chữa 6.176 thương binh và chuyển về các bệnh viện hậu phương kịp thời và an toàn. Đồng thời, đã sửa chữa 50 - 60% số xe hỏng và hàng trăm súng, pháo các loại, góp phần quan trọng vào thắng lợi chiến dịch. Kết quả đó đánh dấu bước trưởng thành mới của ngành Hậu cần ở cả 3 cấp: chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Sau hơn hai tháng trực tiếp phục vụ (30.1 - 10.4.1971), với sự tham gia của nhiều lực lượng (hậu cần các đơn vị chủ lực cơ động, hậu cần tại chỗ, hậu cần chiến lược, chiến dịch và chiến đấu) được hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa hết lòng chi viện, công tác hậu cần Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Quân ủy Trung ương giao. Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các đơn vị chủ lực của ta tác chiến quy mô lớn đã được bảo đảm hậu cần đầy đủ, kịp thời, được bảo đảm cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật nhanh chóng, đạn dược đáp ứng đủ yêu cầu tác chiến, bộ đội ăn no, tỷ lệ quân số khoẻ cao từ đầu đến cuối chiến dịch. Hậu cần là cầu nối chuyển sức mạnh của đất nước tới lực lượng vũ trang để bảo đảm cho tác chiến thắng lợi. Mạng giao thông vận tải là mạch máu của nền kinh tế và hoạt động hậu cần. Bốn mươi năm trôi qua, những bài học kinh nghiệm về công tác hậu cần Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đặc biệt là các bài học về chuẩn bị, bảo vệ, tiềm lực và chuyển hoá thế trận hậu cần; kết hợp hậu cần chiến lược, chiến dịch và các đơn vị, để hình thành bảo đảm tại chỗ theo khu vực và theo hướng... vẫn còn nguyên giá trị, cần nghiên cứu kế thừa và phát triển phù hợp với điều kiện mới, nhằm xây dựng hậu cần tại chỗ trên từng vùng chiến lược và cả nước, đáp ứng yêu cầu tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Với nguồn lực to lớn của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bản lĩnh, trí tuệ, quyết tâm của mình, tin rằng ngành Hậu cần quân đội cùng toàn Đảng, toàn dân sẽ xây dựng được thế trận và tiềm lực hậu cần ngày càng vững mạnh góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tám, 2025, 07:49:24 pm QUÂN KHU 4 - HẬU PHƯƠNG TRỰC TIẾP, BÀN ĐẠP XUẤT PHÁT TIẾN CÔNG CỦA CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 Trung tướng NGUYỄN HỮU CƯỜNG Tư lệnh Quân khu 4 Cách đây 40 năm, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, đã tiến hành cuộc phản công chiến lược quy mô lớn - Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719", loại khỏi vòng chiến đấu một bộ phận lớn lực lượng chủ lực cơ động của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, thu và phá hủy một số lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa to lớn về mặt chiến lược, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng miền Nam - thời kỳ phản công giành những thắng lợi quyết định. Thắng lợi đó là thành quả tổng hợp của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, là sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt về chiến lược và sách lược của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương; sự chủ động về kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu; là tinh thần chiến đấu anh dũng, ngoan cường của các lực lượng tham gia chiến dịch. Trong chiến công chung đó có sự đóng góp quan trọng củaQuân khu 4 - hậu phương trực tiếp của chiến dịch, nơi cung cấp nhân lực, vật lực, bàn đạp xuất phát tiến công của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Địa bàn Quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương trực tiếp của chiến trường Trị - Thiên, Đường 9, Trung - Hạ Lào; cửa ngõ của chiến trường Nam Đông Dương. Quân khu 4 có địa thế dài và hẹp, với độ dốc lớn, tầm bao quát và khống chế rộng; phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp Thượng Lào, Trung Lào với các trục giao thông chiến lược 7, 8, 9, 217; phía Nam giáp với chiến trường Trị - Thiên; phía Bắc nối liền với hậu phương lớn miền Bắc; là nơi xuất phát của tuyến đường vận tải chiến lược Hồ Chí Minh chi viện nhân lực, vật lực cho chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia; đây cũng là bàn đạp xuất phát tiến công, phản công kẻ thù trên các hướng. Với vị trí địa lý đặc biệt đó, Quân khu 4 vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương; vừa làm nhiệm vụ trong nước, vừa làm nhiệm vụ quốc tế. Từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị đã nhận định: Mặc dù liên tiếp bị thất bại trên khắp các chiến trường, nhưng Mỹ và quân đội Sài Gòn sẽ tiếp tục có những hành động phiêu lưu quân sự mới. Chúng thay đổi chiến lược từ "tìm diệt" sang "quét và giữ"; đồng thời mở các cuộc hành quân đánh ra vòng ngoài nhằm phá vỡ hành lang vận chuyển chiến lược và hệ thống kho tàng, chân hàng hậu phương chiến lược của ta. Tháng 10 năm 1970, địch bắt đầu có những hành động nghi binh. Chúng tung tin sẽ mở các cuộc tiến công ra Nam Quân khu 4, đồng thời đưa một lực lượng lớn quân Mỹ ra Quảng Trị. Nắm được ý đồ của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhận định: địch có thể sẽ mở cuộc tiến công quy mô lớn trong mùa khô 1970 - 1971, đánh vào hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, đặc biệt là khu vực Đường 9 - Nam Lào. Bộ Chính trị chỉ thị: Trường hợp địch đánh ra Đường 9 thì đây là thời cơ thuận lợi cho ta tiêu diệt chúng. Nhất thiết phải đánh thắng trận này, dù có phải động viên sức người, sức của hy sinh đến thế nào. Vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Để chủ động sẵn sàng về thế trận, quyết tâm tiêu diệt địch, làm chuyển biến cục diện chiến trường có lợi cho ta, Quân ủy Trung ương lệnh cho Quân khu 4 phải chuẩn bị cả hai phương án: Tham gia chiến dịch nếu chúng đánh ra Đường 9 - Nam Lào và sẵn sàng đánh thắng địch nếu chúng tiến công hạn chế ra phía Nam Quân khu, bảo vệ hành lang vận chuyển chiến lược, bảo vệ giao thông vận tải chi viện chiến trường. Quán triệt chỉ thị của Quân ủy Trung ương, ngày 14 tháng 12 năm 1970, Quân khu ủy 4 họp xác định lại một lần nữa vị trí, nhiệm vụ chính trị của Quân khu: Tiếp tục làm bốn nhiệm vụ trên ba chiến trường; đồng thời hạ quyết tâm: Kiên quyết đập tan cuộc tiến công bằng bộ binh của địch ra Quân khu, bất kỳ địch đánh phá bằng hình thức nào, thời gian nào, với quy mô và lực lượng như thế nào. Tập trung sức người, sức của chi viện đắc lực cho chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của Mỹ uà tay sai. Theo đó, các lực lượng vũ trang Quân khu khẩn trương động viên sức người, sức của chi viện nhanh nhất, kịp thời nhất đáp ứng yêu cầu của chiến trường, nhằm đưa nhanh nguồn nhân lực, vật lực từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường. Trước khi mở màn chiến dịch, Quân khu 4 tập trung lớn lực lượng và phương tiện của các đơn vị công binh quân khu, công binh các tỉnh đội, các đội Thanh niên xung phong các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình nỗ lực làm việc suốt ngày đêm để sửa chữa đường, san lấp hố bom, sửa ngầm, sửa cầu phà, bến vượt... bảo đảm cho các đơn vị cơ động lực lượng, phương tiện, binh khí kỹ thuật từ hậu phương đến vị trí tập kết đúng thời gian quy định. Trung đoàn công binh 249 cùng với các tiểu đoàn công binh vượt sông 27, 37 của Quân khu bảo đảm các bến vượt ở Nam Đàn (Nghệ An), Đò Trai (Hà Tĩnh), Long Đại (Quảng Bình). Các bến ngầm từ Phú Quý vào đến Lệ Ninh (Quảng Bình) do Đại đội 8 Trung đoàn 249 đảm nhiệm. Các tuyến đường số 1, 10, 18, 20... được sửa chữa kịp thời phục vụ cho các lực lượng bộ binh, binh khí kỹ thuật nhẹ cơ động tốt; riêng đường 15 được củng cố ưu tiên cho binh khí kỹ thuật hạng nặng cơ động. Từ trung tuần tháng 10 đến thượng tuần tháng 12 năm 1970, tại Quảng Bình, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định mở chiến dịch "55 ngày đêm vận tải" chi viện cho Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Ngoài lực lượng chính của Quân khu 4, có sự tham gia của một bộ phận Đoàn 559, Cục Vận tải, dưới sự điều hành chung của Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Quân khu đã huy động hầu hết các phương tiện cơ giới của các đơn vị vận tải: Binh trạm 1, Binh trạm 2, xe vận tải của các sư đoàn, trung đoàn, các lực lượng vận tải bộ (kể cả của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị) để tham gia chiến dịch. Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, mỗi tỉnh huy động trên 2.000 dân công và hàng nghìn xe đạp thồ, thuyền nan để phục vụ chiến dịch vận tải, làm kho hàng, bốc dỡ hàng... tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chủ lực chuẩn bị bước vào chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tám, 2025, 07:50:27 pm Phát hiện thấy việc cơ động lớn lực lượng, phương tiện của ta, Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hòa huy động hàng ngàn lượt máy bay chiến đấu các loại, trinh sát, đánh phá các tuyến vận chuyển chiến lược, các trục vượt khẩu, kho, chân hàng, bãi đậu xe... hòng ngăn chặn chiến dịch vận chuyển. Trong hai ngày 21, 22 tháng 11, Mỹ đã huy động 53 tốp với 156 lần/chiếc đánh phá chân hàng ở cửa khẩu các tuyến đường 20, 10, 12 và đánh sâu xuống đồng bằng dọc quốc lộ 1 từ Hà Tĩnh đến phà Gianh (Quảng Bình). Với khẩu hiệu "sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm", "đưa nhanh, đưa nhiều hàng ra phía trước", phấn đấu trở thành "dũng sĩ vận tải", các đơn vị tham gia chiến dịch đã nêu cao quyết tâm vượt khó khăn, không ngại hy sinh, bám tuyến, bám hàng, tranh thủ ngày đêm vận chuyển hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch. Trong 55 ngày đêm, Binh trạm 1, Binh trạm 2 đã vận chuyển được 35.095 tấn hàng; tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đã vận chuyển được 70.000 tấn. Các đội dân công hỏa tuyến của Thanh Hóa; của các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Đô Lương (Nghệ An); Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (Hà Tĩnh) vừa làm tốt việc xây dựng lán trại, kho hàng, chăm sóc thương bệnh binh, vừa cùng các đơn vị tích cực vận chuyển được 5.468 tấn hàng (gồm 2.888 tấn đạn, 2.517 tấn lương thực, thực phẩm và 63 tấn hàng khác) từ căn cứ hậu cần chiến lược xuống căn cứ hậu cần chiến dịch và 3.148 tấn hàng từ căn cứ hậu cần chiến dịch xuống các đơn vị chiến đấu.
Với tinh thần "chiến trường cần gì, hậu phương sẵn sàng đáp ứng", đến đầu tháng 1 năm 1971, đã có trên 200 xe cơ giới các loại và 80.000 tấn lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc chiến thương được tập kết ở Nam Long Đại (Quảng Bình), sẵn sàng đáp ứng cho chiến dịch. Ngoài ra, các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh còn ủng hộ cán bộ, chiến sĩ Đường số 9 trên 500 con trâu, bò. Song song với nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho tuyến trước, kế hoạch bảo đảm hậu cần, phương án tác chiến bảo vệ hậu phương Quân khu cũng nhanh chóng được hoàn chỉnh. Ngày 17 tháng 2 năm 1971, Quân khu hoàn chỉnh kế hoạch bảo đảm hậu cần cho các lực lượng tham gia tác chiến trên địa bàn Quân khu. Phương án bảo đảm được xác định trên bốn khu vực: Khu vực A bao gồm hai tỉnh Nghệ An Hà Tĩnh. Khu vực B bao gồm Nam, Bắc sông Gianh, Xuân Sơn, Đồng Hới. Khu vực C bao gồm nam Long Đại đến Thác Cóc. Khu vực D gồm Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị và Vĩnh Linh, về vật chất, lương thực, thực phẩm khu vực Đường 9 - Bắc Quảng Trị đủ 6 tháng, các khu vực khác đủ 4 tháng; đến cuối tháng 2 năm 1971 trên các khu vực đã có 1.949,6 tấn, trong đó có 46,4 tấn thuốc quân y, đạt 70% nhu cầu kế hoạch. Đạn các loại: Khu vực C, D có từ 3 đến 7 cơ số; khu vực A, B có 2 đến 5 cơ số; các đảo có 7 đến 10 cơ số. Bảo đảm quân y: Tổ chức cấp cứu theo khu vực, kết hợp quân và dân y được bố trí theo từng tuyến. Bảo đảm giao thông vận tải: Tổng khối lượng vận chuyển là 5.689 tấn, trong đó cho khu vực A, B là 3.807 tấn; khu vực C, D là 1.882 tấn. Toàn bộ lực lượng vận tải Quân khu được huy động làm nòng cốt, kết hợp với lực lượng bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến và giao thông vận tải địa phương cùng tham gia vận chuyển. Phong trào động viên tuyển quân, đi Thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến được dấy lên sôi động trên khắp các địa phương trong Quân khu. Đến cuối năm 1970, toàn quân khu đã tuyển được 11.846 tân binh. Toàn Quân khu có 48.000 bộ đội chủ lực, 94.000 dân quân tự vệ; mỗi xã đều có một đến ba trung đội dân quân cơ động. Các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình tổ chức trung đoàn bộ đội địa phương, ở các huyện phần lớn tổ chức đến cấp tiểu đoàn, có huyện tổ chức hai đến ba tiểu đoàn được trang bị gần giống với bộ binh của bộ đội chủ lực. Các Tiểu đoàn 25 pháo binh (Nghệ An), Tiểu đoàn 8 pháo cao xạ (Hà Tĩnh), Tiểu đoàn 46 bộ binh (Quảng Bình), Đại đội 361 huyện Lệ Thủy, Đại đội 362 huyện Lệ Ninh (Quảng Bình); các phân đội súng máy phòng không 12,7mm của các huyện Thiệu Hóa, Nông Cống, Ngọc Lặc (Thanh Hóa) tất cả đều hăng hái xung phong vào tham gia chiến đấu ở chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị. Ở Quảng Bình có 7 đoàn dân công hỏa tuyến của các huyện: Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa, thị xã Đồng Hối và 4 đại đội dân công hỏa tuyến của các cơ quan cấp tính, các trường trung cấp sư phạm, nông nghiệp,... chỉ hai ngày sau khi có lệnh đã lên đường tham gia chiến dịch với khí thế khẩn trương, sôi nổi. Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của chiến trường, từ Nam Quảng Bình vào Vĩnh Linh được xác định là nơi tập kết lực lượng, phương tiện kỹ thuật, là địa bàn xuất phát tiến công của các đơn vị chủ lực, các binh chủng. Để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chuẩn bị bước vào chiến dịch, đồng thời bảo đảm đánh thắng địch trong mọi tình huống, kể cả khi địch liều lĩnh tấn công ra Nam Quân khu, Bộ Tư lệnh Quân khu đã nhanh chóng bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến cơ bản nhằm bảo vệ địa bàn trước tình hình mới, sử dụng dân quân tự vệ, bộ đội địa phương tỉnh kết hợp chủ lực Quân khu đánh địch bảo vệ dân bảo vệ kho tàng và các trục đường vận chuyển huyết mạch trong đó chú trọng giữ vững vùng rừng núi phía tây; bảo đảm tuyến giao thông cho chiến trường chính luôn được thông suốt, kết hợp đẩy mạnh tác chiến trên Đường số 9 Trung - Hạ Lào, buộc địch phải phân tán lực lượng bị động đối phó. Phương châm tác chiến được xác định là dựa vào làng xã chiến đấu, các điểm then chốt, kết hợp lực lượng cơ động đánh phủ đầu với hình thức chiến thuật kết hợp chốt với tập kích, phục kích đánh giao thông, đánh đổ bộ đường không. Lực lượng chủ lực Quân khu vừa chốt, vừa sẵn sàng cơ động, chuẩn bị chiến trường theo nhiệm vụ được giao. Các đơn vị pháo cao xạ của Quân khu và của Bộ trên địa bàn được bố trí lại đội hình bảo đảm đánh thắng địch bảo vệ lực lượng và phương tiện tập kết phục vụ cho chiến dịch. Trung đoàn 218 được tăng cường bảo vệ Quảng Bình và Vĩnh Linh; Trung đoàn 214 ở Bắc Quảng Bình và phà Xuân Sơn; Trung đoàn 250 ở phà Địa Lợi và ga Tân Ấp; Trung đoàn 222 ở Vinh và Đô Lương; Trung đoàn 282 theo trục đường số 8; Trung đoàn 284 theo trục đường số 12; Trung đoàn 280 theo trục đường 20. Ngoài việc bố trí lại lực lượng pháo cao xạ, Quân khu còn chỉ đạo sử dụng bố trí các đội súng máy phòng không 12,7mm của dân quân ở các tỉnh Nghệ An (21 đội), Hà Tĩnh (46 đội), Quảng Bình (18 đội), Vĩnh Linh (14 đội) làm lực lượng bắn máy bay bay thấp; trước mắt có nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị cao xạ của Quân khu và của Bộ có nhiệm vụ bắn máy bay trinh sát, máy bay thả biệt kích, bảo vệ các tuyến vận tải chiến lược, bảo vệ các kho trạm, chân hàng, các đơn vị tập kết đứng chân trên địa bàn quân khu để chuẩn bị tham gia chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tám, 2025, 07:51:38 pm Tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn 70 (gồm các sư đoàn 304, 308, 320) đóng quân trên địa bàn Quân khu vừa huấn luyện, vừa tham gia phòng thủ. Ở thời điểm này, lực lượng cơ động của Quân khu có hai trung đoàn bộ binh (270B, 271B); hai trung đoàn pháo mặt đất (164, 166) và các trung đoàn pháo cao xạ (không kể lực lượng bộ đội địa phương tỉnh và dân quân tự vệ là lực lượng chiến đấu tại chỗ). Để chuẩn bị lực lượng sẵn sàng tăng cường cho chiến dịch, Quân khu đã nghiên cứu bổ sung lực lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật để củng cố cho các đơn vị tham gia hoạt động trên Đường 9, tiến hành điều chỉnh Trung đoàn 270 từ khu Đông về khu Tây và đưa Tiểu đoàn 45 của Quảng Bình vào thay thế vị trí Trung đoàn 270 ở khu Đông; đồng thời đưa lực lượng bắn tỉa của dân quân Vĩnh Linh, tiểu đoàn bộ đội địa phương các huyện Gio Linh, Cam Lộ (Quảng Trị) và các đơn vị phối thuộc của Bộ vào hoạt động ở Đường 9.
Mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch đã hoàn thành, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Binh đoàn 70, lực lượng tại chỗ của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5), một số đơn vị của Quân khu Trị - Thiên và Đoàn vận tải chiến lược 559 cùng với các trung đoàn tiểu đoàn binh chủng. Ngày 30 tháng 1 năm 1971, chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào bắt đầu, các lực lượng tại chỗ của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, lực lượng chủ lực của Quân khu Trị - Thiên theo nhiệm vụ được phân công phối hợp với lực lượng của Bộ tích cực tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Ngày 6 tháng 2, Trung đoàn 27 - đơn vị chủ lực của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị phục kích trên đường Bông Kho, bắn cháy 9 xe quân sự, diệt 90 tên địch. Ngày 7 tháng 2, Đại đội 5 Tiểu đoàn 33 đặc công Quân khu tập kích phá hủy 8 ô tô, diệt 30 tên địch. Bước vào đợt 2 chiến dịch, các lực lượng của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị ở phía Nam tiến hành pháo kích và tập kích vào các căn cứ hậu cần, các sở chỉ huy của địch ở Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử, Cửa Việt... gây cho chúng những tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Ngày 28 tháng 2, Đại đội 2 Tiểu đoàn 33 đặc công tập kích kho Sa Mưu của địch, đốt cháy hơn 240.000 lít xăng. Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 27) cùng với Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị đánh quân địch nống lấn ra Ba Lào, Tà Cơn, diệt hàng trăm tên. Lực lượng của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị liên tục chặn đánh giao thông, tập kích sân bay, kho tàng, bến cảng nơi địch án ngữ, buộc địch phải tăng thêm hai lữ đoàn quân Mỹ và ba tiểu đoàn pháo binh để giải tỏa. Sư đoàn 324 (chủ lực Quân khu Trị - Thiên) trong hai ngày 27 và 28 tháng 2, tiến công tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 2, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 3 Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn ở điểm cao 619, bẻ gãy một trong những chốt quan trọng của địch ở cánh Nam. Tiếp đó, ngày 12 tháng 3, Sư đoàn được lệnh bao vây tiêu diệt Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến Mỹ ở điểm cao 550. Sau 5 ngày vây chặt quân địch tại điểm cao 550, được các lực lượng của hai Binh trạm 56, 51, Đại đội bộ đội địa phương huyện Hướng Hóa, dân quân dư kích các bản Việt - Lào phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu tiếp tế đạn dược, lương thực, thực phẩm... đến đêm 22 tháng 3, Sư đoàn tổ chức tiến công mãnh liệt, đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến Mỹ. Cùng với các đơn vị ở cánh Nam, ở cánh Đông lực lượng ta tiếp tục áp sát Đường 9, chặn đánh địch rút chạy. Ngày 14 tháng 3, sau 7 ngày vận chuyển đạn, gạo phục vụ chiến dịch, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 27 tổ chức chặn đánh các đoàn xe chở bọn tàn binh địch trên đường rút chạy. Với sở trường đánh gần, xung phong mãnh liệt, Tiểu đoàn 3 đã tiêu diệt đoàn xe 30 chiếc từ Nam Lào chạy về Sa Mưu, đôt cháy 28 xe, diệt 120 tên địch. Đặc biệt ngày 23 tháng 3, một tiểu đoàn đặc công của Bộ và Tiểu đoàn 33 đặc công Quân khu tập kích vào Tà Cơn, diệt hàng trăm tên địch, phá hỏng 42 máy bay lên thẳng và 5 xe tăng. Song song với chiến thắng liên tiếp của lực lượng chủ lực cơ động, lực lượng tại chỗ cũng tích cực hoạt động tiêu hao, tiêu diệt địch. Bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp với các phân đội đặc công của Quân khu đánh chìm 4 tàu địch trên sông Hiểu (đoạn từ Đông Hà - Cửa Việt). Trong suốt quá trình chiến dịch, phối hợp với lực lượng của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, các phân đội bộ binh, súng máy phòng không 12,7mm, các tổ bắn tỉa của các địa phương chiến đấu ở bắc Quảng Trị tích cực tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Hai đại đội súng máy phòng không 12,7mm của dân quân các huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ (Hà Tĩnh) đã bắn rơi 3 máy bay Mỹ. Các đoàn dân công hỏa tuyến của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày đêm vượt suối, trèo đèo, vượt qua bom đạn ác liêt, liên tục bám sát các đơn vị chủ lực chuyển gạo, đạn,... phục vụ kịp thời cho các đơn vị chiến đấu và chuyển thương binh về tuyến sau. Riêng đoàn dân công Quảng Bình phục vụ vận chuyển đã đạt 135% kế hoạch đề ra. Trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu xuất hiện những tập thể, cá nhân tiêu biểu như Đại đội 2 do đồng chí Hồ Thị Thu Hiền chỉ huy liên tục vận chuyển gạo, đạn, tải thương phục vụ chiến đấu đạt hiệu suất cao, sau đợt phục vụ chiến dịch, đơn vị được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai; đồng chí Dương Văn Tiên (xã Phú Trạch) thường xuyên gùi hàng với với mỗi chuyến 100kg; đoàn xe đạp thồ của tỉnh Thanh Hóa đạt năng suất vận chuyển cao. Chiếc xe đạp thồ của anh Nguyễn Đức Thọ (huyện Đông Sơn - Thanh Hóa) chở mỗi chuyến trên 500kg... Những chiến công của lực lượng dân công hỏa tuyến các địa phương Quân khu 4 đã góp phần quan trọng vào thắng lợi lịch sử của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Thi đua với tiền tuyến, ở hậu phương, các lực lượng vũ trang Quân khu thường xuyên cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ vững chắc địa bàn, bảo vệ các tuyến đường hành lang vận chuyển. Từ ngày 1 tháng 2 đến ngày 23 tháng 3, quân và dân Quân khu 4 đã bắn rơi 14 máy bay, bắn chìm 3 tàu biệt kích của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi, ta đã tiêu diệt và tiêu hao nhiều đơn vị tinh nhuệ thuộc lực lượng dự bị chiến lược của địch; bảo vệ vững chắc tuyến hành lang vận chuyển chiến lược, góp phần bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn âm mưu địch tiến công hạn chế ra Nam Quân khu 4. Thắng lợi của chiến dịch đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội chủ lực, thể hiện bước phát triển mới về nghệ thuật tác chiến chiến dịch của quân đội ta, mở ra thời kỳ mới - thời kỳ phản công giành thắng lợi quyết định bằng những chiến dịch đánh tập trung hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn của quân đội ta. Quân và dân Quân khu 4 hết sức phấn khởi và tự hào vì đã có những đóng góp xứng đáng của lực lượng bộ đội chủ lực cơ động, bộ đội địa phương, dân quân du kích, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến và các chiến sĩ gùi thồ,... đúng như lời khen ngợi của đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, tại buổi nói chuyện với cán bộ trung, cao cấp cơ quan Quân khu: "Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào ta thắng lớn, Quân ủy Trung ương nhiệt liệt biểu dương các lực lượng vũ trang, đồng bào Quân khu 4 đã góp phần xứng đáng chiến thắng Đường 9 - Nam Lào". Quân và dân Quân khu 4 đã thực hiện tốt vai trò hậu phương trực tiếp, bàn đạp xuất phát tiến công trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Thắng lợi to lớn của chiến dịch đã để lại một số những bài học kinh nghiệm trong thực hiện vai trò hậu phương trực tiếp, bàn đạp xuất phát tiến công của Quân khu 4. Một là, thường xuyên quán triệt sâu sắc đường lối cách mạng, đường lối quân sự của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên; kịp thời đề ra chủ trương, phương hướng lãnh đạo đúng đắn toàn diện. Hai là, đánh giá đúng tình hình, nhất là âm mưu thủ đoạn của địch, trên cơ sở đó xây dựng quyết tâm, kế hoạch chiến đấu, phục vụ chiến đấu phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ. Ba là nắm vững yêu cầu phát triển của chiến tranh kiên quyết, khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh toàn diện, xây dựng hậu phương quân đội và tổ chức chiến trường, hình thành thế trận hậu cần rộng khắp tâp trung vào hướng chính, địa bàn quan trọng, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống. Bốn là, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu cùng với cấp ủy, chính quyền các địa phương phải đặc biệt quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng và công tác tổ chức. Xây dựng kế hoạch chu đáo, hiệp đồng chặt chẽ với các cấp, các ngành nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực tổng hợp của toàn dân đáp ứng yêu cầu của chiến trường. Năm là, vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng vào thực tiễn chiến trường Quân khu, các lực lượng vũ trang Quân khu phối hợp tốt với cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành, các lực lượng, tập trung làm chủ ở những nơi trọng yếu, chống chia cắt của địch, giữ vững mạch máu giao thông thông suốt trong mọi tình huống. Những kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã được kế thừa, phát huy tác dụng to lớn trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Những bài học này vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn đối với nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh toàn diện, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng hiện nay cũng như tương lai. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tám, 2025, 08:00:00 pm HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP TÁC CHIẾN CỦA QUÂN VÀ DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VỚI CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 Trung tướng TRẦN PHI HỔ Tư lệnh Quân khu 9 Sau thất bại trong Mậu Thân năm 1968, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Mục tiêu cơ bản là nhằm giữ miền Nam Việt Nam, ngăn chặn phong trào cách mạng ở Đông Dương, giảm sự dính líu trực tiếp về quân sự và tránh sự thất bại của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Mỹ nhấn mạnh đến các biện pháp thực hiện là: Xây dựng quân đội Sài Gòn thành lực lượng mạnh, đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang của ta; củng cố chính quyền các cấp, ổn định tình hình kinh tế chính trị ở miền Nam Việt Nam; tập trung thực hiện chương trình bình định, bảo đảm cao nhất an ninh lãnh thổ, phản kích ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam; tập hợp liên minh phản động trong khu vực, do quân Sài Gòn đóng vai trò nòng cốt; chặn đứng các nguồn tiếp tế chi viện cho cách mạng nước ta, xúc tiến các hoạt động ngoại giao để kiểm chế, cô lập cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Ở đồng bằng sông Cửu Long (bao gồm Quân khu 8 và Quan khu 9), sau đòn tiến công bất ngờ và đồng loạt của ta trong năm Mậu Thân (1968), từ cuối năm 1968 đến năm 1971, địch nhanh chóng hồi phục, phản kích quyết liệt, đẩy lùi lực lượng ta ra khỏi vùng ven thị xã, thị trấn. Lực lượng vũ trang ta bị tiêu hao nặng phải lùi dần về phía sau để bổ sung, củng cố. Địch bắt đầu thực hiện kế hoạch bình định dài hạn, gồm các chương trình "Bình định cấp tốc", "Bình định đặc biệt", "Bình định xây dựng", "Bình định phát triển", "Bình định bổ túc"... Chúng tập trung toàn bộ lực lượng của Quân đoàn 4 Sài Gòn, dưới sự yểm trợ tối đa của không quân và hải quân Mỹ, liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân đánh vào các vùng căn cứ của ta như: vùng Bảy Núi (An Giang), Vùng 4 (Kiến Tường), Vùng 20/7 (Mỹ Tho), Giồng Trôm (Bến Tre)... Quy mô lớn, dài ngày và ác liệt nhất là các cuộc hành quân "Nhổ cỏ U Minh" (bao gồm U Minh Thượng và U Minh Hạ) của địch ở Rạch Giá, Cà Mau. Có thể nói, đây là thời kỳ đảng bộ, quân và dân đồng bằng sông Cửu Long gặp nhiều khó khăn nhất. Ta bị đẩy lùi từng bước, mất dần thế tiến công, lực lượng bị giảm sút. Ở nhiều địa phương, cán bộ, lực lượng vũ trang cơ sở "tróc" khỏi địa bàn; quần chúng sợ bom đạn, chạy ra vùng địch kiểm soát... Trước tình hình đó, Khu ủy và Bộ Tư lệnh hai quân khu 8 và 9 xác định chủ trương cụ thể về việc bám trụ đánh phá bình định là: Lực lượng vũ trang phải bám dân, sống trong dân, dựa vào dân và làm chỗ dựa cho dân, cùng với dân hình thành lực lượng tổng hợp thường xuyên tiến công địch; bộ đội chủ lực phải đóng trên địa bàn cơ động ở khu vực đông dân, thực hành tiến công linh hoạt, làm chỗ dựa cho phong trào đấu tranh chính trị... Việc thực hiện chủ trương bám trụ ở các địa phương, đơn vị diễn ra giằng co, ác liệt. Cán bộ, lực lượng vũ trang ở các xã vùng địch lấn chiếm "tróc" địa bàn, dần dần quay trở lại địa phương, thực hiện ba bám: bám đất, bám dân, bám địch, khôi phục lại phong trào chiến tranh du kích. Bước vào Đông Xuân 1970 - 1971, đế quốc Mỹ tiếp tục đẩy mạnh chương trình bình định nông thôn, ra sức đôn quân bắt lính, tích cực chuẩn bị các cuộc tiến công trên chiến trường ba nước Đông Dương nhằm triệt phá hành lang vận chuyển chiến lược của ta. Chúng thông qua kế hoạch mở ba cuộc hành quân lớn mang mật danh "Lam Sơn 719", "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4", trong đó cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh sang Đường 9 - Nam Lào có mục đích, quy mô và ý đồ lớn nhất trong việc kiểm nghiệm khả năng của quân đội Sài Gòn, đồng thời cũng để kiểm nghiệm kết quả sau hơn hai năm triển khai thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Về phía ta, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, với quyết tâm tiêu diệt lớn sinh lực và phá hủy phương tiện chiến tranh của địch, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Chiến dịch diễn ra trong hơn 50 ngày đêm (30.1 - 23.3.1971), được chia thành ba đợt: Đợt 1 (30.1 - 7.2), địch nghi binh, điều động, triển khai lực lượng chuẩn bị xuất phát tiến công. Ta cơ động và triển khai lực lượng chiến dịch, tạo thế chuẩn bị đánh địch. Đợt 2 (8.2 - 11.3), địch tiến công đánh chiếm Bản Đông, phát triển lên Sê Pôn. Ta ngăn chặn địch từng bước, tập trung lực lượng bẻ gãy cánh quân phía bắc, đánh thiệt hại nặng cánh quân phía nam, tích cực chuẩn bị để tiến công vào toàn bộ đội hình địch. Đợt 3 (12 - 23.3), địch dừng lại và rút lui. Ta chuyển sang tiến công vào toàn bộ đội hình địch và đánh địch rút chạy. Trong khi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào sắp diễn ra, tại đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù ở Mỹ Tho, Gò Công, Bên Tre, Kiến Phong (Quân khu 8), Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau (Quân khu 9), địch đánh phá rất ác liệt, nhưng Trung ương Cục và Quân ủy Miền vẫn tập trung chỉ đạo các địa phương trên khắc phục khó khăn gian khổ, tích cực đánh bại chương trình bình định của địch. Khu ủy và Bộ Tư lệnh hai quân khu xác định vị trí của cơ quan chỉ đạo trong đánh phá bình định: Cơ quan chỉ đạo, chỉ huy các cấp phải đứng vững ở vị trí có điều kiện và tạo nhiều biện pháp để nắm tình hình, nắm đơn vị, nắm phong trào, thực hành chỉ huy, xử trí tình huống kịp thời chính xác. Cơ quan, tỉnh, huyện, xã bám trụ xen kẽ với địch để hoạt động. Đảng bộ, quân và dân các địa phương cùng lực lượng chủ lực khu kiên trì bám trụ đánh địch, từng bước khôi phục và phát triển phong trào, chuyển tương quan lực lượng tại chỗ, phối hợp cùng chiến trường toàn Miền đánh phá bình định. Ở Quân khu 8, Tiền phương Quân khu, Tỉnh ủy Mỹ Tho và Trung đoàn 1 đóng trong xã Long Tiên; Tỉnh đội Mỹ Tho đóng ở xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tại chiến trường trọng điểm của khu, mỗi nơi chỉ cách đồn địch từ 300 đến 800m. Chính sự kiên cường bám trụ xen kẽ với địch của cơ quan lãnh đạo, chỉ huy đã động viên được các địa phương, đơn vị; đồng thời kịp thời phát hiện những vấn đề phát sinh của địch và ta để chỉ đạo phong trào, chỉ đạo và chỉ huy đánh địch có hiệu quả. Tháng 3 năm 1971, Tiểu đoàn Đặc công 269 quân khu táo bạo luồn sâu, tập kích các trận địa pháo của địch ở Cai Lậy, Vĩnh Kim, phá hủy 5 khẩu pháo 105mm, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên. Tiểu đoàn 261A, chủ lực khu, tập kích khu trù mật Mỹ Phước Tây, diệt đồn Bình Phú (Cai Lậy). Ở Quân khu 9, thực hiện chủ trương của Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quan khu xác định phương thức tác chiến đối với từng khu vực, từng lực lượng: Phòng ngự bám trụ chiến đấu theo hình thức phòng ngự linh hoạt, kết hợp phản công đánh vào một số cứ điểm; phòng ngự bám trụ tiêu hao địch, giữ vững trận địa, không được để "tróc" địa bàn; địch chốt ở đâu thì trụ bám vây lại và liên tục đánh địch bằng nhiều cách; các lực lượng phải đánh địch càn quét, liên tục tiêu hao, tiêu diệt địch, làm cho địch phải co lại; từng bước bao vây các cứ điểm, các chốt, kiên cường bám trụ đồng thời nắm vững thời cơ kiên quyết phản công. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tám, 2025, 08:02:39 pm Từ phương thức đã được xác định, Trung đoàn 1 ở Long Mỹ liên tục đánh địch, diệt 11 đại đội bảo an; Trung đoàn 3 bám đánh địch trên các địa bàn then chốt giữa hai tỉnh Vĩnh Long - Trà Vinh. Trước những khó khăn trong việc bám trụ đánh địch của các cơ quan Quân khu, Khu ủy có ý kiến đề nghị Bộ Tư lệnh quân khu di chuyển cơ quan về Nam Cà Mau để có điều kiện ổn định làm việc. Bộ Tư lệnh quân khu nhận định: nếu chuyển về Nam Cà Mau thì sẽ gặp trở ngại, khó khăn lớn trong việc chỉ đạo, chỉ huy và ảnh hưởng đến phong trào chung, đến khi chuyển trở lại càng khó khăn nhiều hơn; và nếu ta rút thì địch sẽ chiếm ngay. Từ đó, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định bám trụ ở U Minh Thượng, đồng thời triển khai tiền phương quân khu ở Long Mỹ (Cần Thơ), sát đồn địch. Đồng chí Lê Đức Anh, Tư lệnh quân khu thường xuyên ở đây từ những năm 1970 - 1973 để chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị thực hành đánh phá bình định.
Thời gian này, ở đồng bằng sông Cửu Long, Quân đoàn 4 địch liên tiếp tập trung lực lượng mở nhiều cuộc hành quân lấn chiếm U Minh. Địch quyết tâm bình định lấn chiếm cho bằng được U Minh vì chúng xác định đây là căn cứ, nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo kháng chiến ở miền Tây Nam Bộ, là căn cứ hậu cần, kỹ thuật của Quân khu. Đồng thời, địch cũng phát hiện lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh của ta được Trung ương chi viện cho Quân khu 9 qua đường 1C về đây. Chúng cho rằng, đây thực sự là một nguy cơ, mối đe dọa đến sự sống còn của chúng ở miền Tây Nam Bộ. Vì vậy, chúng tập trung quy mô lớn lực lượng, với mật độ bom pháo dày đặc kể cả máy bay chiến lược B-52 ném bom rải thảm, máy bay B-57 ném bom tọa độ và sử dụng cả chất độc hóa học, đánh phá ác liệt có tính hủy diệt tại vùng căn cứ U Minh và đường hành lang vận chuyển của ta trên tuyến đường 1C. Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 9 đề ra chủ trương hoạt động là: Tập trung nỗ lực đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm U Minh của địch, đồng thời đẩy mạnh phong trào chống phá bình định ở phía sau, hỗ trợ phong trào quần chúng giành quyền làm chủ trên diện rộng; tăng cường chỉ đạo giữ vững hành lang bảo đảm tiếp nhận tốt sự chi viện của Trung ương; tích cực xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân về mọi mặt, bảo đảm cho lực lượng vũ trang mạnh, hoàn thành mọi nhiệm vụ; tăng cường công tác hậu phương bảo đảm cung cấp vật chất tại chỗ. Đây là chủ trương hoạt động tích cực, chủ động, phù hợp với tình hình chung của toàn Miền. Tuy nhiên, trong thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn. Đến cuối năm 1970, sau hai cuộc hành quân "Nhổ cỏ U Minh" không đạt kết quả như mong muốn, đầu năm 1971, địch sử dụng Sư đoàn 21, một bộ phận Sư đoàn 9, hai liên đoàn biệt động quân (thay phiên nhau), Lữ đoàn B thủy quân lục chiến, Thiết đoàn 9, không quân, hải quân hạm đội nhỏ trên sông của Mỹ và điều động lực lượng bảo an từ các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh... mở cuộc hành quân "Nhổ cỏ U Minh" lần thứ ba. Lần này, thủ đoạn của chúng là lấn dần từng bước; lấn đến đâu đóng đồn đến đó. Đối phó với cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ ba của địch, ngay từ đầu, Bộ Tư lệnh Quân khu sử dụng Đoàn pháo binh 6 đánh thiệt hại nặng căn cứ Xẻo Rô (cửa ngõ U Minh Thượng), nơi tập trung tàu và quân địch, đánh chìm và cháy 10 tàu, buộc địch phải dừng lại để giải quyết hậu quả. Bộ Tư lệnh Quân khu tiếp tục chỉ đạo các đơn vị chủ lực đánh phá bình định trên chiến trường U Minh. Trung đoàn bộ binh 2 đánh địch trên địa bàn rộng từ An Biên, Vĩnh Thuận (Rạch Giá) đến Thới Bình (Cà Mau). Trung đoàn đã thực hành hàng chục trận đánh, có những trận điển hình, đạt hiệu suất chiến đấu cao, như trận tập kích sở chỉ huy Trung đoàn 33 địch ở kênh Thứ Mười Một, diệt hàng trăm tên địch, bắn chìm 11 tàu... Trong lúc đó, Trung đoàn bộ binh 1 phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ liên tục tiến công địch theo kênh Xáng Xẻo Rô, sông Trẹm. Trung đoàn 10 - đơn vị vừa được Bộ Tư lệnh Miền tăng cường, đánh địch ở U Minh Hạ... Ý định của Quân khu là đánh một trận diệt căn cứ trung tâm hành quân để đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm U Minh của địch. Thế nhưng, lúc này ta không còn khả năng thực hiện (quân số ít, đạn dược, nhất là đạn hỏa lực thiếu trầm trọng). Do đó, về cơ bản, địch đã lấn chiếm xong U Minh Thượng, một phần U Minh Hạ và đang có kế hoạch tô dày, lấp kín U Minh. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc. Thắng lợi của quân và dân ta trên mặt trận Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng cả về quân sự và chính trị. Cùng với chiến thắng ở Đường 9 - Nam Lào, quân và dân ta đã phản công đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và cuộc hành quân "Quang Trung 4" quy mô lớn của quân Sài Gòn ở Campuchia và Tây Nguyên. Tiếp đó, ta đánh bại cuộc hành quân Chenla 2 ở đường 6 - Campuchia, giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, phá âm mưu dùng quân Lon Non, có không quân Mỹ chi viện để thực hiện "Khmer hóa chiến tranh" và sử dụng quân Lon Non làm lực lượng cơ động đánh vào sau lưng ta. Những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trên đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đánh phá bình định của nhân dân miền Nam. Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền, Khu ủy, Bộ Tư lệnh hai quân khu ở đồng bằng sông Cửu Long đều có chủ trương, kế hoạch lợi dụng sơ hở của địch trên chiến trường chung, do quân chủ lực địch phải tập trung cho chiến trường chính, để đẩy mạnh đánh phá, bình định, khôi phục thế và lực của cách mạng ở cơ sở. Ở Quân khu 8, tỉnh Kiến Phong đã sắp xếp lại tổ chức, đưa đảng viên, cán bộ ra phía trước, bám sát động viên quân chúng đấu tranh, tạo được thế mới, lực mới, phong trào kháng chiến được khôi phục và từng bước củng cố, phát triển. Đáng chú ý là ta đã xây dựng được chi bộ vùng yếu, vùng tôn giáo như ở cù lao Tây, cù lao Long Khánh, Chợ Mới, các khu dinh điền và thị xã, thị trấn. Tại tỉnh Bến Tre, từ tháng 6 năm 1971, cơ quan Tỉnh ủy Tỉnh đội đã chuyển về đứng chân trên địa bàn Mỏ Cày Nam và Giồng Trôm, chỉ đạo phong trào tiến công ba mặt đạt nhiều kết quả. Đến cuối năm 1971, xã nào cũng mở thêm "lõm" du kích, 55 đảng bộ, 66 chi bộ của 115 xã trong tỉnh đã đứng vững trên địa bàn. Bộ đội tập trung được củng cố, bổ sung, nhiều đội du kích được phát triển và đánh địch tốt. Ở tỉnh Mỹ Tho, trọng điểm của Quân khu 8, từ hoạt động tiến công địch sau những chiến thắng của1 () chiến trường chung đến cuối năm ta đã mở được 14 ấp giải phóng, nâng tổng số ấp giải phóng toàn tỉnh lên 87 ấp với 67.000 dân. Ta phát triển được 927 đảng viên, 482 tân binh phát triển được 1.374 dân quân du kích... Trên chiến trường Quân khu 9, sau khi lấn chiếm được phần lớn vùng căn cứ U Minh, địch rất lạc quan với kết quả đã đạt được sau gần ba năm bình định lấn chiếm nơi đây.Ngày 1 tháng 6 năm 1971, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam cộng hòa xuống căn cứ Thứ Mười Một làm lễ khánh thành chi khu Hiếu Lễ và mừng chiến thắng U Minh. Thiệu đã huênh hoang tuyên bố: Bộ đội tập trung của "Việt cộng" không còn nữa, hiện nay chỉ còn 100 du kích ở U Minh Thượng và 100 du kích ở U Minh Hạ, chỉ hoạt động kiểu du kích mà thôi! Từ đó, chúng quyết tâm tô dày đồn bót, lấp kín U Minh. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tám, 2025, 08:03:44 pm Nắm được ý đồ tô dày, lấp kín U Minh của địch, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 nhận định: Tuy có nhiều khó khăn, nhưng nếu ta không tích cực, kiên quyết tiến công địch thì chúng sẽ lấp kín U Minh, mở rộng lấn chiếm Nam Cà Mau, khi đó ta sẽ gặp khó khăn hơn, tổn thất lớn hơn và tình thế sẽ xấu đi khó bề cứu vãn được. Cũng trong thời điểm này, trên chiến trường chung, ta đã giành được thắng lợi lớn ở Đường 9 - Nam Lào, khu vực ngã ba biên giới... Địch đang bị co kéo, đang bị động đối phó, ta cần tranh thủ thời cơ tích cực phối hợp với chiến trường bạn... Từ nhận định đó, Quân khu quyết định mở đợt phản công lớn vào mùa mưa năm 1971 ở U Minh, ngay trong vùng trọng điểm bình định của địch.
Mục đích của đợt phản công mùa mưa ở U Minh là: Bẻ gãy kế hoạch đóng thêm đồn bốt của địch, cải thiện một bước hình thái chiến trường, tạo điều kiện tiến lên đánh bại địch ở U Minh; đánh một đòn thôi động, tạo được ảnh hưởng chính trị, quân sự, hỗ trợ trực tiếp phong trào tại chỗ và các tỉnh. Tháng 9 năm 1971, Quân khu sử dụng Trung đoàn 10 và Trung đoàn 20 (của trên tăng cường cho Khu 9) đánh vào đội hình của Sư đoàn 21 địch - lực lượng chủ yếu đang chiếm đóng và cơ động ở U Minh. Đợt phản công do Bộ Tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ huy; thời gian nổ súng được quy định thống nhất là đêm 7 rạng sáng 8 tháng 9 năm 1971. Trưa ngày 6 tháng 9, một chiến sĩ của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 2 ra đầu hàng địch tại sở chỉ huy Trung đoàn 33 Sư đoàn 21 địch và khai báo Tiểu đoàn 7 của ta đang đóng quân tại kênh Bảy Rẫy, Biển Bạch huyện Thới Bình. Tư lệnh Sư đoàn 21 địch lập tức lệnh cho các trận địa pháo bắn cấp tập vào khu vực được chỉ điểm. Sau đó, địch cho 20 máy bay A37 ném bom bắn phá. Trung đoàn 33 địch được lệnh hợp vây tiêu diệt Tiểu đoàn 7 của ta. 14 giờ 30 phút cùng ngày, địch dùng 12 trực thăng đổ Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 33 và Đại đội trinh sát của Sư đoàn 21 xuống trận địa của Tiểu đoàn 7. Bộ Tư lệnh Quân khu ra lệnh cho Tiểu đoàn 7 nổ súng diệt gọn Tiểu đoàn 3 địch, mở màn cho đợt phản công. Quá trình Tiểu đoàn 3 và đại đội trinh sát địch đổ quân cũng là quá trình Tiểu đoàn 7 của ta hình thành thê bao vây. Đến chuyến trực thăng đổ quân sau cùng, Tiểu đoàn 7 nổ súng tiến công quyết liệt. Sau 2 giờ chiến đấu, ta diệt gọn Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 33 và đại đội trinh sát của Sư đoàn 21 địch. Đến 17 giờ, Trung đoàn 31 địch đổ quân cứu viện bị Trung đoàn 2 chặn đánh, làm thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn. Đêm 7 rạng 8 tháng 9, Trung đoàn 10 tập kích diệt căn cứ Nỗng Cạn, xã Khánh Lâm, huyện Trần Văn Thời (Cà Mau) - căn cứ này do sở chỉ huy nhẹ Trung đoàn 32 và một tiểu đoàn địch đóng giữ; ta diệt gần 600 tên. Cùng đêm, Trung đoàn 20 đánh thiệt hại nặng căn cứ dịch ở Rọ Ghe, huyện An Biên (Rạch Giá). Ngày 12 tháng 9 năm 1971, đợt phản công U Minh của ta kết thúc thắng lợi. Ta diệt 1 căn cứ, 1 đồn, diệt gọn 2 tiểu đoàn, 2 sở chỉ huy nhẹ trung đoàn, 5 đại đội, đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn khác, loại khỏi vòng chiến đấu trên 2.000 tên địch. Địch buộc phải rút bỏ 2 chốt cấp tiểu đoàn ở Rạch Mới và kênh Hai Mươi Hai (trên tuyến sông Cái Tàu). Ta làm chủ 7 khu vực theo tuyến sông này, giải phóng cụm đồn và trận địa pháo ở Đá Bạc, giải phóng xã Khánh Hưng B. Sư đoàn 21 địch bị thiệt hại nặng buộc phải bổ sung quân số, củng cố tổ chức, nên địch phải hủy bỏ kế hoạch tô dày, lấp kín U Minh. Phối hợp với chiến trường U Minh, lực lượng đặc công khu đánh thiệt hại nặng căn cứ Xẻo Rô và chi khu Thứ Ba, đánh chìm 2 tàu. Trung đoàn 1 ở Long Mỹ cơ bản đánh quỵ 11 đại đội bảo an, lần lượt diệt 3 đồn ở Xà Phiên, tạo thế cho du kích vây ép đồn bốt địch. Trung đoàn 3 ở Vĩnh Trà trước đó đã tiến công chi khu Càng Long (23.4.1971), đánh thiệt hại nặng hậu cứ Trung đoàn 14, Sư đoàn 9 địch, loại khỏi vòng chiến đấu trên 300 tên địch. Trung đoàn tiếp tục tiến công địch, tạo được thế mới cho phong trào diệt được một số đồn bốt địch mới chiếm đóng. Ở Sóc Trăng, một bộ phận đặc công và trinh sát diệt chi khu Phú Lộc. Tiểu đoàn U Minh 3 tỉnh Cà Mau tập kích địch ở Rau Dừa, phá hủy 2 pháo, diệt 100 tên; phối hợp với bộ đội địa phương huyện Cái Nước và du kích diệt 5 đồn ở tuyến Bình Hưng... Cuộc phản công của ta trong mùa mưa năm 1971 thắng lợi. Chiến thắng này có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ, động viên kịp thời tinh thần chiến đấu của quân và dân đồng bằng sông Cửu Long, củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào thắng lợi của cách mạng. Có được thắng lợi trong giai đoạn khó khăn này, quân và dân đồng bằng sông Cửu Long luôn ghi nhớ sự chi viện to lớn và kịp thời của Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng về người và của. Quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã kiên trì bám trụ đánh địch bình định lấn chiếm trong khó khăn gian khổ suốt thời gian chiến trường chung diễn ra Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Từ thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Đảng bộ, quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã kịp thời nắm thời cơ, đẩy mạnh phản công và tiến công địch, giành nhiều thắng lợi, từng bước khôi phục và phát triển phong trào chiến tranh nhân dân địa phương. Sau chiến thắng của quân và dân ta trên chiến trường Đường 9 - Nam Lào, qua các cuộc phản công và tiến công địch ở đồng bằng sông Cửu Long, thực lực cách mạng ở cơ sở bắt đầu được hồi phục, phong trào chiến tranh du kích được củng cố và hoạt động có hiệu quả. Bộ đội địa phương huyện, tỉnh và chủ lực khu được bổ sung một bước và đứng vững trên các địa bàn trọng điểm. Phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng có bước chuyển biến mới; thế tiến công ba mũi (quân sự, chính trị, binh vận) ở cơ sở được phát triển. Với tinh thần tích cực phản công và tiến công địch bằng nhiều phương thức thích hợp, ta đã phá lỏng, phá rã thế kìm kẹp của địch ở nhiều nơi; mở ra được nhiều "lõm" giải phóng, phát triển được thế làm chủ của nhân dân ở xã, ấp. Ta đã vượt qua được thử thách ác liệt của thời kỳ khó khăn nghiêm trọng (1969 - 1971), tạo ra những điều kiện mới để cùng toàn Miền thực hành cuộc tiến công chiến lược trong năm 1972 giành thắng lợi quyết định, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Quân và dân đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục tiến công địch, phối hợp với chiến trường chung thực hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy, góp phần cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc trong mùa Xuân năm 1975. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tám, 2025, 08:06:04 pm CÔNG BINH BẢO ĐẢM CƠ ĐỘNG TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 Thiếu tướng, TS PHẠM QUANG XUÂN Tư lệnh Binh chủng Công binh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (31.1 - 23.3.1971) là chiến dịch phản công có ý nghĩa chiến lược, tác chiến hiệp đồng binh chủng hợp thành quy mô lớn1 (Lực lượng tham gia chiến dịch có Binh đoàn B70 (tương đương quân đoàn; gồm các sư đoàn bộ binh 304, 308, 320) Trung đoàn 61, Sư đoàn bộ binh 2, Sư đoàn bộ binh 324; các lực lượng tại chỗ của bộ đội Trường Sơn và Mặt trận B5. Riêng bộ đội công binh đã được huy động với một lực lượng lớn, gồm có 2 trung đoàn (219, 7) và các đơn vị công binh B70, Quân khu Trị - Thiên, Trung đoàn công binh 98 thuộc Đoàn 559 và 11 tiểu đoàn công binh, 11 đội thanh niên xung phong thuộc các binh trạm vận tải trên địa bàn chiến dịch, các tiểu đoàn và đại đội công binh của các sư đoàn, trung đoàn bộ binh và binh chủng; riêng công binh có tới 28 tiểu đoàn, không kể 11 đội thanh niên xung phong, trong đó 60% là công binh các binh trạm), được chuẩn bị trước không qua giai đoạn phòng ngự chiến dịch, đã đánh quỵ lực lượng chủ lực tinh nhuệ nhất của quân đội Sài Gòn, khẳng định sự thất bại tất yếu của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Để làm nên thắng lợi có ý nghĩa chiến lược này, bộ đội Công binh đã góp một phần công sức quan trọng. Trước khi bước vào chiến dịch, bộ đội Công binh đã tập trung chuẩn bị mạng đường cơ động. Theo đó, lực lượng công binh Đoàn B70 và Đoàn 559 đã tập trung nỗ lực cho việc phát triển xây dựng và củng cố cơ bản các trục đường 18, 16, 20 và 12. Ở phía Đông Trường Sơn, Tiểu đoàn công binh 69 của Binh trạm 32 và Đội thanh niên xung phong số 25 tập trung hoàn thành tuyến đương từ Chà Lỳ - Mường Trương - Bản Đông, để phát triển tiến công xuống Đường 9; trong đó, đường 20 được mở rộng và rải đá từng đoạn do công binh Binh trạm 14 tiến hành. Hai tiểu đoàn công binh của Binh trạm 9 và 2 tiểu đoàn công binh của Binh trạm 31, 12 củng cố đường 18 với chiều dài hơn 100km, có những đoạn vòng tránh phải mở mới dài 8 - 13km, đến cuối tháng 10 năm 1970 hoàn thành. Trung đoàn công binh 98 và Tiểu đoàn 2 của Binh trạm 12 tập trung củng cố đường 16 dài hơn 140km, bao gồm đường 16A được kéo dài và nối thông từ Chà Lỳ đến Bản Đông, đường 16C từ Chà Lỳ đến Đường 9 (dài 70km) đến giữa tháng 1 năm 1971 hoàn thành. Tiểu đoàn công binh 93 Binh trạm 27 mở rộng và nâng cấp toàn bộ đường 16B dài 25km và hoàn thành vào cuối tháng 11 năm 1970. Công binh Binh trạm 41 và các trung đoàn công binh 7, 83 củng cố nâng cấp đường 70B, cuối tháng 10 năm 1970. Các bến vượt trên sông Sê Băng Hiêng, từ cửa khẩu Chà Lỳ trở đi cũng được lực lượng công binh 559 cải tạo để sử dụng được từ đầu mùa khô 1970 - 1971. Một số đường ngang và đường nhánh nối các trục đường dọc cũng được cải thiện. Đến giai đoạn chuẩn bị trực tiếp cho chiến dịch (cuối tháng 12 năm 1970 và đầu tháng 1 năm 1971) Trung đoàn công binh 219 đã khẩn trương làm đường từ Cha Ky - A Li A, đường Ta Pường - Xa Líp; Trung đoàn 98 (Đoàn 559) làm đường 16D. Trong khi đó lực lượng công binh Binh trạm 27 và bộ phận của Trung đoàn 98 tiếp tục củng cố nâng cấp đường 16, 16B và đường tránh khu vực Chà Lỳ. Toàn bộ hệ thống đường cơ động, đặc biệt là các trục dọc chiến dịch đã được chuẩn bị tương đối tốt, các đoạn trọng điểm xe chạy được 2 chiều, có đường vòng tránh ở những nơi cần thiết, hệ thống bến vượt tại khu vực chiến dịch có bến chính thức và bến dự bị và chuẩn bị thêm một số đường cơ động cho lực lượng cơ giới của ta. Đặc biệt đã cho sửa chữa nâng cấp nhiều tuyến đường quan trọng (10, 16, 18, 20...) trong quá trình chuẩn bị chiến dịch, bảo đảm cho một lực lượng lớn gồm 5 sư đoàn và nhiều trung đoàn độc lập (trên 200 xe cơ giới các loại, cùng 80.000 tấn lương thực, thực phẩm, đạn, thuốc quân y đen ngày 5 tháng 2) đã được chuyển đến các vị trí tập kết bí mật an toàn. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tám, 2025, 08:07:06 pm Khi bước vào chiến dịch, bộ đội Công binh đã triển khai lực lượng thực hành bảo đảm trong 3 đợt; trong đó:
- Đợt 1 bảo đảm cho các lực lượng cơ động triển khai đội hình tác chiến đánh địch tiến công từ biên giới Việt - Lào, theo Đường 9 vào Bản Đông, Sê Pôn. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, một lực lượng lớn bộ binh và cơ giới của địch có không quân yểm trợ vượt qua biên giới Viêt - Lào âm mưu đánh chiếm Bản Đông và Sê Pôn. Máy bay trực thăng đổ quân tạo thành hai cánh bảo vệ sườn phía Nam và Bắc. Ở phía Tây, quân phái hữu Lào cũng tiến ra chiếm Mường Pha Lan. Trên toàn mặt trận bộ đội ta nổ súng đánh địch. Phía Bắc, công binh bảo đảm cho xe tăng, pháo xe kéo chiến đấu. Thấy xe tăng ta xuất kích, địch cho máy bay oanh tạc dữ dội, các chiến sĩ công binh vẫn dũng cảm bảo đảm cho xe tăng tiến lên. Công binh Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320 phối hợp với một bộ phận của Trung đoàn công binh 219 bí mật mở đường cho Tiểu đoàn tăng 198 tiếp cận cùng Trung đoàn pháo 45 bất ngờ đột phá sở chỉ huy Lữ đoàn 3 dù địch, diệt 370 tên, bắt sống 137 tên (trong đó có Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 dù - đại tá Nguyễn Văn Thọ), thu 10 khẩu pháo. Hai phân đội công binh của Trung đoàn 219 bảo đảm cho pháo cơ động và bảo đảm cho bộ binh đánh bại Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù từ Bản Đông phản kích lên điểm cao 543. Công binh Binh trạm 27 và công binh 2 trung đoàn pháo 368 và 45 bảo đảm đường cho pháo vào trận địa bắn kiềm chế pháo địch ở A Rinh, tạo điều kiện cho Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 304 và Trung đoàn 88 thuộc Sư đoàn 320 tiến công địch ở Làng Sen, các điểm cao 655, 436, riêng Trung đoàn 102 của Sư đoàn 308 tiến công điểm cao 500, diệt gọn Tiểu đoàn 39 biệt động Sài Gòn. Ở khu vực Nam Đường 9, công binh các sư đoàn bộ binh cùng công binh các binh trạm chốt giữ các điểm cao 400B 595, 723, 199... sử dụng mìn định hướng, mìn chống tăng, bộc phá, B40, B41 chặn đánh địch quyết liệt nên đã hạn chế các hành động lùng sục, phá hoại kho tàng của địch. Hàng trăm xe thiết giáp, xe vận tải và máy bay trực thăng của cánh quân phía Nam Đường 9 của địch bị phá hủy. Ở phía Đông, Đại đội công binh 8 trong đội hình của Trung đoàn hải quân 126 rải thủy lôi trên các đoạn sông Xuân Khánh, Vinh Quang ở Cửa Việt, Đông Hà. Trong các ngày 5, 6 và 7 tháng 2 năm 1971, thủy lôi ta đánh chìm 9 tàu địch cùng hàng ngàn tấn vũ khí, quân dụng, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Sông Cửa Việt tắc nghẽn gần một tuần. Các lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên tổ chức nhiều trận phục kích, tập kích trên đường giao thông, các căn cứ Đông Hà, Ái Tử... gây cho địch nhiều tổn thất. Ở phía Tây, công binh thuộc các Trung đoàn 141 thuộc Sư đoàn 2 và Trung đoàn 48 của Sư đoàn 320 bảo đảm đường cho bộ binh, pháo binh tiến đánh địch ở Mường Pha Lan, Phu Đô Tuya, buộc chúng phải rút về Đồng Hến. - Đợt 2, bảo đảm cho các lực lượng cơ động triển khai đội hình tác chiến đánh địch co cụm ở khu vực Bản Đông, Tà Cơn và địch đổ bộ đường không xuống Đông Bắc Sê Pôn. Bị chủ lực ta đánh mạnh và bị thiệt hại nặng, quân địch buộc phải co cụm ở một số khu vực như Bản Đông, Tà Cơn; đồng thời dùng máy bay lên thẳng đổ hai tiểu đoàn xuống Đông Bắc Sê Pôn. Trước sức ép của ta, hai tiểu đoàn này vừa đến gần Sê Pôn đã phải vội vã rút lui. Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương chặn không cho địch lên Sê Pôn và điều động lực lượng lớn đến bao vây, chia cắt địch, chuẩn bị đánh trận then chốt chiến dịch. Nhiệm vụ mở thêm đường và bảo đảm cơ động rất khẩn trương nhằm đưa các Binh đoàn chủ lực có xe tăng, pháo xe kéo thực hành phản đột kích địch ở khu vực Bản Đông. Máy bay địch đánh phá quyết liệt các con đường dẫn đến Bản Đông, nhất là khu vực Binh trạm 27. Đường 16A bị tắc hai ngày 4 và 5 tháng 3. Trước tình hình đó, Bộ tăng cường cho mặt trận Trung đoàn công binh 7, một đơn vị có nhiều kinh nghiệm mở đường và bảo đảm giao thông, đã quen thuộc khu vực Đường 9. Trung đoàn 7 hành quân gấp bằng cơ giới và đi bộ vượt qua quãng đường 300km (từ cửa khẩu Ta Lê - đường 20), kịp cho Tiểu đoàn 3 của trung đoàn hỗ trợ Binh trạm 27 bảo đảm giao thông 16A,mở đường vòng tránh, khai thông đường; Tiểu đoàn 2 khôi phục đường A Li A đi A Đu Ấp và làm 18 trận địa pháo. Tiểu đoàn 1 vào thay thế Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 219 khôi phục tuyến đường ngang Tà Loi - Cha Ky và Làng Sen - A Li A. Trong hai ngày tiểu đoàn hoàn chỉnh 33km đường để pháo binh triển khai, bắn vào Tà Cơn. Được Trung đoàn 7 vào tăng cường, hai trung đoàn công binh 98 và 219 chuyển lên phía trước cùng Trung đoàn công binh 10 khôi phục các đường 16, 16A, 29A... tiến đến Bản Đông. Đây là những con đường cũ từ lâu không sử dụng, đã bị hư hỏng nặng. Với nỗ lực chung của các đơn vị các tuyến đường phía trước, phía sau liên tục thông suốt. Nhưng đang giữa mùa khô mà trời đổ mưa to, nước lũ tràn về. Ngầm qua sông Sê Băng Hiêng bị ngập sâu 1,8m, nước chảy xiết, Bộ đã điều gấp 4 xe lội nước K61 của Quân khu 4 vào ứng cứu, bảo đảm vượt sông Sê Băng Hiêng. Ngày 16 tháng 3, quân ta đánh Bản Đông và bước vào đánh phản đột kích trên toàn tuyến. Công binh Sư đoàn 2 cùng công binh Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 bảo đảm đường, phá gỡ mìn trên đường cho bộ đội các đơn vị này tiến công lực lượng Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn ở điểm cao 723. Công binh Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 bảo đảm cho trung đoàn vận động đánh cắt Đường 9 từ Hướng Hoá đến Bản Đông. Đêm 17 tháng 3, Đại đội 8 Trung đoàn công binh 219 mở đường qua bãi mìn trên đường 16 bảo đảm cho xe tăng cùng bộ binh Sư đoàn 304 đánh địch ở đôi Mâm Xôi. Mặc dù bị bom B-52 đánh trúng đội hình, một số cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương, Đại đội 8 đã vượt qua khó khăn, bảo đảm cho xe tăng và bộ binh tiến vào đúng lúc quân địch rút chạy. Công binh Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 mở đường, dọn mìn cho xe tăng đánh địch ở đồi Không Tên. Ngày 20 tháng 3, quân ta hoàn toàn làm chủ Bản Đông, diệt nhiều địch. Đại đội 8 Trung đoàn công binh 219 nhanh chóng hộ tống xe tăng phát triển theo Đường 9 đuổi đánh địch về Huổi San. Vượt qua các bãi mìn, hố bom, xác xe pháo và cầu Ka Ki bị địch phá sập, công binh đã phá gỡ mìn trên đường do địch bố trí, làm ngầm bảo đảm cho xe tăng ta đuổi kịp. Bị đánh mạnh, chiều ngày 22 tháng 3, quân địch tháo chạy vứt bỏ lại toàn bộ xe, pháo. Ở cánh nam, phân đội công binh Sư đoàn 324 chuẩn bị đường, mở cửa mở và hộ tống Tiểu đoàn xe tăng 397 đánh Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến địch ở điểm cao 550 (đêm 22 tháng 3), 2 giờ sáng ngày 23 tháng 3, sư đoàn làm chủ trận địa. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tám, 2025, 08:08:10 pm - Đợt 3, bảo đảm cho các lực lượng chuyển sang tiến công vào toàn bộ đội hình địch và đánh địch rút chạy trên toàn tuyến.
Sau khi địch bị kìm lại ở Bản Đông, co cụm lại ở một số điểm, ta một mặt giữ chặt Sê Pôn, một mặt dùng lực lượng vừa chốt chặn vừa cơ động đánh địch giải tỏa, triển khai lực lượng tiến công địch trên toàn tuyến. Mặt khác các đơn vị tại chỗ tập kích căn cứ địch ở Sa Mưu, Ái Tử... Trước sức tiến công của ta, địch tháo chạy khỏi Bản Đông (20-3), điểm cao 660. Hai ngày sau (22-3) Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến bị đánh thiệt hại nặng ở điểm cao 550. Địch bỏ chạy. Trong đợt này đổ bảo đảm triển khai, cơ động lực lượng lớn trên địa bàn chiến dịch, Bộ đã điều động Trung đoàn 7 đang hoạt động ở khu vực Ta Lê (đường 20) và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn công binh 219 vào tăng cường cho các binh trạm 16, 17 thi công trục đường 10 và 16A tới sông Sê Băng Hiêng. Hai tiểu đoàn còn lại được sử dụng làm các trục đường ngang để triển khai cụm pháo binh chiến dịch, pháo cao xạ và xe tăng. Tiểu đoàn 3 Trung đoàn công binh 219 làm nhiệm vụ khôi phục gấp tuyến đường Ta Loi - Làng Sen và Cha Ki - A Li A, để cơ động pháo vào đánh Tà Cơn. Ngày 9 tháng 3 các đoạn đường này được khôi phục xong với tổng chiều dài trên 40km. Sau đó Trung đoàn công binh 7 làm nhiệm vụ bảo đảm cơ động tuyến đường này. Nhờ đó, các cụm pháo binh của các trung đoàn 368 và 45 đã chi viện đắc lực cho các sư đoàn 324, 304 và 308 đánh và tiêu diệt địch ở khu vực Bản Đông, điểm cao 550 ở Tà Púc, Lao Bảo và đánh sâu vào sân bay Tà Cơn. Sau khi bàn giao tuyến Ta Loi - Làng Sen và Cha Ky - A Li A cho các trung đoàn công binh 7, 98 và 219 chuyển lên phía trước cùng Trung đoàn công binh 10 khôi phục và bảo đảm cơ động đường 16, 16A, 29A... tiến đến Bản Đông. Đây là con đường cũ từ lâu không sử dụng đã bị hỏng nặng, bộ đội công binh thi công liên tục cả ngày và đêm dưới bom đạn ác liệt của địch, ngày 16 tháng 3 đã hoàn thành bảo đảm đường cơ động cho các lực lượng của ta tiến đánh Bản Đông. Từ ngày 15 tháng 3 Trung đoàn công binh 7 vừa bảo đảm cơ động các tuyến được giao vừa làm tiếp các tuyến đường nhánh như đi A Đu Ấp và đường Cha Ky - Cô Hôn. Từ ngày 20 tháng 3 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 7 chuyển sang bảo đảm cơ động đoạn Đường 9 (Bản Đông - Lao Bảo), trong đó có 1 đại đội đi hộ tống xe tăng. Trong giai đoạn này công binh Binh trạm 27 được sử dụng tập trung vào làm đường ngang, đường nhánh và bảo đảm cơ động. Song song với công tác bảo đảm cơ động cho bộ đội và binh khí kỹ thuật phản công đánh địch trên toàn mặt trận, công binh các cấp trong chiến dịch còn làm sở chỉ huy các cấp, làm trận địa pháo binh, tên lửa và các công trình khác. Đặc biệt sở chỉ huy và trận địa pháo thường xuyên phải di chuyển theo yêu cầu chiến dịch, nên khối lượng xây dựng sở chỉ huy chiến dịch khá lớn. Từ ngày 16 tháng 3 lực lượng công binh làm nhiệm vụ bảo đảm cho Sư đoàn 2 cùng Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320, Sư đoàn 324 và Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 304 đánh địch tại các điểm cao 723, 550 và đánh địch từ Hướng Hóa đến Bản Đông. Đại đội công binh 8 Trung đoàn 219 và Đại đội công binh 4 Trung đoàn 7 làm nhiệm vụ hộ tống cho các mũi xe tăng, tăng cường cho Sư đoàn 308 đánh Bản Đông. Công binh đã phá gỡ hàng trăm mìn các loại, mở 4km đường vòng tránh, bảo đảm cho xe tăng cơ động, truy kích địch trên Đường 9 về Huội San. Đại đội công binh Sư đoàn 324 mở cửa, hộ tống Tiểu đoàn 397 xe tăng cùng bộ binh tiến công địch ở điểm cao 550. Công binh Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 mở đường cho xe tăng đánh điểm cao Không Tên ở Bản Đông và dùng mìn diệt xe cơ giới địch. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Đây là chiến dịch công binh tham gia với lực lượng đông, trên một địa bàn rất rộng (4.800km2). Công binh đã bảo đảm cho bộ binh và binh khí kỹ thuật từ hậu phương cơ động đến địa bàn chiến dịch, bảo đảm cho binh khí kỹ thuật triển khai và di chuyển đội hình trong những tình huống hết sức khẩn trương, dưới hỏa lực, phi pháo ác liệt của địch. Trong chiến dịch công binh đã mở mới trên 90km đường, khôi phục 116km đường cũ, mở trên 300km đường cho bộ binh và xe tăng, bảo đảm giao thông trên nhiều tuyến đường với tổng chiều dài trên 700km. Cấu trúc hàng nghìn hầm chữ A cho các sở chỉ huy, đội điều trị, xây dựng hàng chục trận địa pháo, phá gỡ trên 1.000 quả bom mìn; trực tiếp đánh 72 trận phục kích, tập kích, chốt chặn... loại khỏi chiến đấu hơn 1.700 tên địch, phá hủy gần 300 xe các loại, trong đó có 63 xe bọc thép, phá hủy 3 khẩu pháo 175mm của địch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Tám, 2025, 08:10:26 pm Nhìn lại kết quả bảo đảm cơ động và vượt sông trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm. Cụ thể:
Một là, công tác chuẩn bị đường cơ động và bến vượt sông phải đi trước một bước và phải giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ. Đặc điểm của nhiệm vụ bảo đảm đường cơ động và bảo đảm vượt sông trong chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn là bảo đảm trong một phạm vi rộng, khối lượng lớn, tiêu tốn nguyên vật liệu nhiều và thời gian làm công tác chuẩn bị trực tiếp ngày càng rút ngắn. Do đó, công tác chuẩn bị đường, bến vượt phải đi trước một bước. Để giảm khối lượng, thời gian khai thác vận chuyển nguyên vật liệu thi công, tăng tính bất ngờ và độ vững chắc cho công trình, bảo đảm bí mật ý định tác chiến, phải triệt để tận dụng địa hình, địa vật, nguyên vật liệu tại chỗ, tận dụng, cải tạo đường, bến vượt cũ trong khu vực tác chiến chiến dịch, đồng thời kết hợp ngụy trang, nghi binh khôn khéo. Để bảo đảm bí mật, an toàn cho các tuyến đường, công binh đã thực hiện một số biện pháp cần thiết như: chọn tuyến đường đi qua các rừng cây xanh che khuất; ở những nơi trống trải, dùng ống bương, thùng lương khô, hoặc đan sọt, đựng đất trồng cây leo hai bên để che khuất thành đường. Biện pháp ngụy trang này được tiến hành đồng thời với việc mở đường, mở tới đâu ngụy trang tới đó và hạn chế thi công bằng thuốc nổ; càng vào gần địch thì càng phải hạn chế hoặc không dùng thuốc nổ. Mặt khác, ở những nơi địch bố trí mìn chống bộ binh, lực lượng công binh phải nhanh chóng khắc phục kịp thời, bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi. Hai là, phải nắm chắc ý định và các tình huống chiến dịch, tổ chức bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông toàn diện, tập trung lực lượng, phương tiện vào khu vực, nhiệm vụ chủ yếu và luôn có lực lượng dự bị mạnh, đồng bộ. Trong tác chiến chiến dịch, các tình huống thường xảy ra liên tục, khẩn trương, nhiều tình huống có thể nằm ngoài dự kiến; vì vậy, cơ quan và người chỉ huy đơn vị phải nắm chắc ý định và các phương án tác chiến để có phương án bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông hợp lý. Nhiêm vụ bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông trong tác chiến chiến địch, thường phải triển khai cùng một lúc trên các hướng, nhiều khu vực, nhiều đối tượng và lực lượng tham gia. Do đó, phải có kế hoạch tổ chức, chỉ huy, chỉ đạo lực lượng công binh các cấp thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nhiệm vụ bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông theo quyết tâm của người chỉ huy (đầu chiến dịch Trung đoàn công binh 7 đang làm nhiệm vụ ở đường 20; Trung đoàn 7 tăng cường cho Bộ Tư lệnh chiến dịch để bảo đảm đường 10 và 16A và sau đó chuyển sang bảo đảm một số tuyến đường khác, chuẩn bị cho bộ đội ta phản công trên toàn tuyến); đồng thời, phải biết vận dụng linh hoạt kết quả bảo đảm đường của giai đoạn (tình huống) trước, cho giai đoạn (tình huống) tiếp theo một cách hợp lý, nhằm giảm bớt khối lượng phải thi công, nhất là trong điều kiện khó khăn, ác liệt do địch đánh phá. Mặt khác, để mở cửa mở cho xe tăng, công binh đã chủ động hiệp đồng và được pháo binh chi viện, dùng biện pháp bộc phá liên tục để mở cửa mở qua các bãi mìn và hàng rào của địch. Tuy nhiên, do hoả lực của địch quá mạnh, lực lượng công binh bị thương vong lớn. Nhưng, với tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm, các chiến sĩ công binh đã nhanh chóng củng cố đội hình, tiếp tục xông lên để mở cửa. Khi phát hiện thấy lực lượng công binh mở cửa mở khó khăn, Tư lệnh chiến dịch đã kịp thời lệnh cho pháo binh tăng cường bắn áp chế dồn dập, tạo điều kiện cho công binh mở cửa mở cho xe tăng đột phá thành công vào đội hình co cụm của địch. Đây là một nội dung hoàn toàn mới của nghệ thuật bảo đảm công binh chiến dịch phản công; trong đó công binh đã giải quyết tốt cả về chiến thuật (tổ chức đội hình bộc phá liên tục theo kinh nghiệm trong kháng chiến chống Pháp) cũng như về chiến dịch (hiệp đồng binh chủng có hiệu quả việc sử dụng pháo binh bắn chi viện cho công binh và bộ binh mở cửa mở). Trong tác chiến chiến dịch, tình huống diễn ra hết sức mau lẹ, khẩn trương, ác liệt, dài ngày... cần phải có biện pháp duy trì khả năng của lực lượng bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông các cấp. Phải luôn có lực lượng dự bị mạnh và khi đã sử dụng lực lượng dự bị, phải nhanh chóng tổ chức lực lượng dự bị mới, để kịp thời xử trí các tình huống tiếp theo. Ba là, bảo đảm đường cơ động và bảo đảm vượt sông, trước hết phải triệt đế tận dụng đường và bến vượt sông có sẵn; kết hợp sửa chữa, cải tạo đường và bến vượt cũ, chỉ làm đường mới ở những nơi cần thiết; đồng thời phải vận dụng nhiều hình thức chiến thuật hợp lý, linh hoạt và hành động nhanh. Triệt để tận dụng mạng đường và bến vượt có sẵn, bao gồm các đường, bến cũ, hẹp không bảo đảm cho binh khí kỹ thuật cơ động, cần tổ chức mở rộng, hạ bớt độ dốc; những nơi địa hình bằng phẳng, chỉ cần phát quang, đánh dấu để giảm bớt khối lượng đào, đắp; nơi địa hình vừa đào vừa đắp, cần chú ý gia cố vững chắc bên nền đường đắp, khi sử dụng một thời gian dài, đất đá phần đường đắp dễ bị lún sụt, đặc biệt vào mùa mưa rất dễ bị sạt lở, khối lượng khắc phục lớn sẽ làm ảnh hưởng đến cơ động lực lượng. Việc sửa chữa, cải tạo đường và bến cũ phải có kế hoạch ém lót sẵn lực lượng, phương tiện, vật liệu, nhất là các trọng điểm giao thông; tại đó, tổ chức các tổ, đội chốt đế sẵn sàng khắc phục do địch đánh phá, hoặc do xe cơ giới cơ động nhiều, do thiên tai gây ra. Trong đó, tập trung lực lượng, phương tiện bảo đảm ở những khu vực có đường hẹp, độc đạo, nơi núi cao, vực sâu, nơi có nền đất yếu, lầy lún, nơi có các đầu mối giao thông quan trọng. Chỉ tiến hành làm đường, thiết bị bến vượt mới khi thật sự cần thiết, theo yêu cầu nhiệm vụ tác chiến. Thông thường, khi có thay đổi hướng, khu vực tác chiến, hoặc khi bị địch đánh phá hư hỏng nặng, bị rải chất độc lâu tan, không đủ khả năng khắc phục. Việc mở đường, bến vượt mới phải chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, để vừa có lực lượng mở đường, làm bến mới; vừa có lực lượng sẵn sàng đánh địch trên không, địch mặt đất để bảo đảm cho việc mở đường, làm bến hoàn thành đúng kế hoạch trong mọi điều kiện địa hình, thời tiết và tình huống khó khăn phức tạp. Trong mọi trường hợp, phải có nhiều đường và bến dự bị để sẵn sàng thay thế khi bị địch đánh phá, hoặc do thay đổi hướng tiến công; đường, bến dự bị phải được thiết bị đầy đủ các công trình như chính thức và phù hợp với ý định tác chiến của người chỉ huy. Bốn là, sử dụng rộng rãi lực lượng công binh các cấp, lực lượng binh chủng hợp thành và các lực lượng khác, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp cho nhiệm vụ bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông tác chiến chiến dịch. Tổ chức lực lượng của công binh hầu như chưa có giai đoạn nào được hoàn thiện để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Mặt khác, không phải trận đánh (chiến dịch) nào, chúng ta cũng có thể tập trung lớn một lực lượng công binh, vì phải giữ yếu tố bí mật bất ngờ; do đó ta đã kết hợp khéo léo việc sử dụng lực lượng công binh chiến dịch; trong đó, lực lượng công binh của Bộ gồm các đơn vị công trình, vượt sông, được sử dụng vào bảo đảm một số trục đường cơ động quan trọng, khu vực địch đánh phá ác liệt thay thế lực lượng thanh niên xung phong; ngoài ra, phải có lực lượng tăng cường cho cấp dưới để bảo đảm cơ động, hộ tống cho xe tăng trong quá trình chiến dịch. Lực lượng công binh tại chỗ gồm các đơn vị công binh của B5, B70, các binh trạm 16, 27, 32, 35, 41 của Đoàn 559, được sử dụng để bảo đảm đường, bến vượt trên khu vực mình trong quá trình chuẩn bị chiến dịch. Lực lượng này vừa thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cho cấp mình, vừa thực hiện nhiệm vụ đánh phá giao thông địch. Lực lượng thanh niên xung phong hoặc dân công tập trung thực hiện nhiệm vụ bảo đảm giao thông, khôi phục và giữ đường ở tuyến sau. Việc huy động lực lượng công binh các cấp (chiến dịch, chiến thuật, địa phương...) cùng bộ đội các binh chủng thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm công trình trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch, đặc biệt trong chuẩn bị mạng đường cơ động và bến vượt đã tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội ta tiến hành chiến dịch bí mật, kịp thời, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của chiến dịch. Năm là, tiếp tục nghiên cứu phát triển về công tác tổ chức chỉ huy, chỉ đạo các lực lượng thực hiện nhiệm vụ bảo đảm đường cơ động, bảo đảm vượt sông trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Tổ chức chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng bảo đảm công binh tác chiến nói chung và bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông nói riêng là một nhân tố rất quan trọng. Vì vậy, ngay từ thời bình, cần phải nghiên cứu và có dự kiến, chuẩn bị trước một bước về mô hình tổ chức, cơ chế, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy điều hành nhiệm vụ bảo đảm đương, bảo đảm vượt sông; đồng thời phải có kế hoạch huấn luyện, diễn tập theo phương án, để không ngừng nâng cao khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có thể vận dụng nhiều loại hình tác chiến, nhiều lực lượng tham gia, trên không gian rộng và nhiều chiến trường, hướng chiến lược khác nhau; phụ thuộc rất nhiều vào thời cơ chiến lược, chiến dịch khác nhau và tổ chức bảo đảm đường cơ động, vượt sông cũng có những thuận lợi, khó khăn khác nhau; do đó, càng phải tập trung nghiên cứu phát triền về công tác tổ chức chỉ huy, chỉ đạo các lực lượng thực hiện nhiệm vụ. Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đã để lại những bài học đặc sắc về bảo đảm công binh cho các đơn vị tham gia chiến đấu hiệp đồng binh chủng. Các bài học này vẫn nguyên giá trị kể cả cho hôm nay và mai sau. Trước tình hình nhiệm vụ và yêu cầu mới, người chỉ huy, cơ quan và đơn vị công binh các cấp cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật bảo đảm công binh nói chung và nghệ thuật bảo đảm cơ động nói riêng, cũng như phát triển lý luận nhận thức và hành động thiết thực, để góp phần cùng cả nước xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2025, 08:36:29 pm VAI TRÒ CỦA BỘ ĐỘI ĐẶC CÔNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 Thiếu tướng TRẦN XUÂN HÒE Tư lệnh Binh chủng Đặc công Mùa Xuân 1971, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, nhạy bén của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương và Quân ủy Trung ương, lực lượng vũ trang ta đã thực hiện thắng lợi chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch ra Đường 9 - Nam Lào, bảo vệ vững chắc hệ thống kho tàng và tuyến hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam của ta. Đây là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta tiến hành thành công một chiến dịch phản công bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đọ sức với cuộc hành quân quy mô lớn nhất của quân đội Sài Gòn có sự yểm trợ, chi viện của quân đội Mỹ và sự phối hợp của quân đội chính phủ phái hữu Lào. Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa to lớn, tác độngđến cục diện chiến trường ba nước Đông Dương, đánh dấu một bước thất bại quan trọng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ, khẳng định bước phát triển, trưởng thành vượt bậc của các lực lượng vũ trang ta, nhất là lực lượng chủ lực đã vươn tới trình độcao về nghệ thuật tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Đối với Bộ đội Đặc công, đây là lần đầu tiên ta sử dụng lực lượng quy mô đoàn, trung đoàn và nhiều tiểu đoàn tham gia chiến dịch phản công, có cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của Bộ Tư lệnh Binh chủng trong cơ quan tham mưu chiến dịch. Với vai trò là lực lượng tác chiến đặc biệt tinh nhuệ của chiến dịch, Bộ đội Đặc công đã tham gia tác chiến liên tục trong suốt quá trình chiến dịch, đánh địch ở cả phía trước, phía sau và trong đội hình của chúng, gây nhiều thiệt hại cho địch về cả sinh lực và phương tiện chiến tranh, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến dịch. Trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", địch huy động phần lớn lực lượng tổng trù bị chiến lược cùng lực lượng cơ động của Vùng chiến thuật 1; với sự chi viện trực tiếp của hoả lực không quân, pháo binh Mỹ, một bộ phận quân chiến đấu Mỹ yểm trợ phía sau. Ngoài ra, địch còn huy động quân đội phái hữu Lào tham gia tác chiến phối hợp. Nhìn chung, địch có những điểm mạnh là lực lượng tham gia cuộc hành quân đông, gồm những đơn vị tinh nhuệ nhất của cả quân đội Sài Gòn và quân Mỹ, được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại. Hoả lực của không quân, pháo binh rất mạnh, sức đột kích của xe tăng- thiết giáp lớn. Khả năng cơ động nhanh, chủ yếu bằng máy bay trực thăng, máy bay vận tải và xe cơ giới, nên việc vận chuyển, chi viện, tiếp tế được kịp thời. Các căn cứ, bàn đạp xuất phát tiến công dựa được vào hệ thống trận địa của một chiến trường có chuẩn bị trước tương đối chu đáo, thuận tiện cho cơ động, triển khai lực lượng tiến công... Kiên quyết đánh tan các cuộc hành quân của quân độiSài Gòn, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương quyết định mở Chiến dịch phản công ở Đường 9 - Nam Lào. Ngày 4 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (gọi tắt là Bộ Tư lệnh 702), do các đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam làm Tư lệnh và Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam làm Chính ủy, được thành lập. Lực lượng chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn phòng không, 3 trung đoàn công binh cùng lực lượng tại chỗ của Đoàn 559 và các mặt trận B4, B5. Lực lượng đặc công tham gia chiến dịch có 3 tiểu đoàn đặc công cơ động của Bộ (25, 31, 35), Đoàn Đặc công nước 126 Quân chủng Hải quân, Tiểu đoàn đặc công 33 Quân khu Trị - Thiên, 5 tiểu đoàn và 10 đại đội của các sư đoàn bộ binh (Tiểu đoàn đặc công 19 thuộc Sư đoàn 308, Tiểu đoàn đặc công 19 thuộc Sư đoàn 304, Tiểu đoàn đặc công 19 của Sư đoàn 320, Tiểu đoàn đặc công 10 của Sư đoàn 2 và Tiểu đoàn đặc công 3 của Sư đoàn 324). Về phương châm chỉ đạo tác chiến, Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định: Chủ động tạo và nắm thời cơ đánh địch đang vận động, tích cực đánh địch dừng lại, co cụm chưa kịp củng cố; lấy tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng cấp tiểu đoàn, trung đoàn là chủ yếu, kết hợp với đánh nhỏ của các lực lượng binh chủng tinh nhuệ để tiêu diệt địch; sử dụng các phân đội nhỏ đặc công luồn sâu, tiến công tiêu diệt các mục tiêu hiểm yếu nhưng quan trọng sâu trong hậu phương và trong đội hình quân địch, phối hợp với chiến dịch. Bộ Tư lệnh chiến dịch cũng xác định khu vực tập trung tiêu diệt địch chủ yếu từ Bản Đông đến Lao Bảo,khu vực ngăn chặn địch từ Bắc Bản Đông đến Cha Ky, khu vực đánh phá hậu phương địch ỏ Đông Lao Bảo, Sa Mưu, Đông Hà, Cửa Việt. Chiến dịch diễn ra trên một địa bàn trải dài khoảng 90km theo trục Đường 9, từ Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) đến Sê Pôn, tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào) và rộng khoảng 60km, từ cao điểm 1.250, Mường Tương đến Mường Noòng. Đây là vùng đất vừa có rừng núi vừa đồng bằng ven biển; trong đó, rừng chiếm phần lớn diện tích, càng về phía tây đồi núi càng nhiều và cao, tương đối thuận lợi cho tác chiến phòng ngự, bất lợi cho tiến công. Khu vực phía đông từ Lao Bảo đến Quảng Trị, địa thế thấp dần từ tây sang đông, có dải đồng bằng hẹp chạy dọc bờ biển Quảng Trị, địa hình ở đây thuận lợi cho hoạt động tác chiến của bộ đội Đặc công, bộ đội địa phương và dân quân du kích đánh phá hậu phương dịch, phối hợp với chiến dịch. Chiến dịch chia làm 3 đợt. Hoạt động của Đặc công trong các đợt tác chiến như sau: Trong đợt 1 (31.1 - 7.2.1971), cả địch và ta đều cơ động triển khai lực lượng. Địch cơ động triển khai lực lượng chiếm lĩnh bàn đạp xuất phát tiến công. Ta triển khai thế trận chuẩn bị đánh địch. Để chủ động đánh địch ngay khi chúng cơ động lực lượng, ngày 1 tháng 2, Đoàn Đặc công nước 126 chính thức ra quân, chỉ trong ngày 2 tháng 2, đã hoàn thành nhiệm vụ thả thủy lôi. Ngày 3 tháng 2, một đoàn tàu vận tải quân sự của địch từ Cửa Việt lên Đông Hà đụng thủy lôi, một chiếc nổ tung. Tiếp đó, từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 2, ngày nào cũng có tàu địch bị đánh chìm trên đoạn sông Cửa Việt - Đông Hà. Đợt 2 (8.2 - 11.3.1971), địch vượt biên giới Việt - Lào, đánh chiếm Bản Đông, đồng thời hình thành hai cánh quân bảo vệ sườn Bắc và sườn Nam cho cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9, nhằm phát triển lên Sê Pôn đánh phá tuyến hành lang chiến lược của ta. Ta ngăn chặn địch từng bước, tập trung bẻ gãy cánh quân sườn Bắc, kiềm chế cánh quân sườn Nam, chặn đứng cánh quân chủ yếu của địch trên Đường 9 tại Bản Đông, buộc chúng phải chuyển vào phòng ngự, ta chuyển sang thế bao vây chiến dịch, chia cắt địch ra từng khu vực để tiêu diệt. Trước sự ngăn chặn, đánh trả ngày càng mạnh mẽ của các lực lượng ta ở phía trước, địch phải dốc hầu hết lực lượng chủ lực của Vùng chiến thuật 1 cơ động lên Nam Lào tiếp sức cho đồng bọn. Đồng thời, để đáp ứng nhu cầu về hậu cần và phương tiện chiến đấu cho lực lượng phía trước, mỗi ngày có từ 8 đến 10 tàu vận tải quân sự của địch ra vào Cửa Việt và lên Đông Hà, các kho tàng ở phía sau đội hình hành quân của chúng đầy ắp bom đạn, xăng dầu... xe vận tải quân sự ra vào tấp nập đưa hàng hoá vào kho và chuyển ra phía trước. Lúc này, đặc công tiếp tục hoạt động tác chiến sau lưng địch là chủ yếu. Đoàn Đặc công nước 126 bám đánh địch ở Cửa Việt, đánh cả trên cảng, trên sông và trên bộ. Ngày 16 tháng 2, các tổ bom phóng của Đoàn phối hợp với lực lượng hoả lực pháo, cối của Mặt trận B5 dội cấp tập hàng loạt bom, đạn vào các căn cứ Dốc Miếu, Cồn Tiên, Quán Ngang... vô hiệu hoá hoạt động của địch tại các căn cứ này. Lợi dụng lúc quân địch chui vào công sự tránh bom, pháo, Đoàn 126 cho các Đội 3 và 4 xuất kích. Vào lúc 4 giờ ngày 17 tháng 2, các đội thả xong thủy lôi ở các vị trí quy định. Trưa hôm đó, 2 tàu địch chạy trên sông Cửa Việt - Đông Hà đến khu vực Mai Xá vấp thủy lôi bị chìm cả hai. Tiếp theo, từ chiều 17 đến ngày 20 tháng 2, Đoàn 126 thả thêm 16 quả thủy lôi, đánh chìm 7 tàu vận tải quân sự cùng hàng trăm tấn vật chất, vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch, gây tắc nghẽn giao thông đường thủy Cửa Việt - Đông Hà trong nhiều ngày. Tiểu đoàn đặc công 33 Quân khu Trị - Thiên tham gia chiến dịch với nhiệm vụ tập kích các căn cứ, hậu cứ địch. Ngày 18 tháng 2, đơn vị tập kích trận đầu tiên vào kho Sa Mưu, mười ngày sau lại tập kích kho Sa Mưu lần hai (28-2), tiếp đó bám đánh hậu cứ địch liên tục. Tính từ khi được giao nhiệm vụ (12-2) cho đến kết thúc chiến dịch (23-3), Tiểu đoàn 33 đã đánh 7 trận vào kho Sa Mưu, 1 trận vào kho Ái Tử, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu, phá hủy hàng chục nghìn tấn đạn pháo, góp phần hạn chế đáng kể khả năng cơ động và hoả lực của địch. Trên khu vực sườn Bắc, từ Tây Bắc Bản Đông đến Cha Ky, trong lúc các sư đoàn chủ lực 308, 320, 304 cùng các lực lượng tại chỗ ngăn chặn địch quyết liệt, diệt nhiều sinh lực, phá huy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng ngày 11 tháng 2, đại đội đặc công thuộc Trung đoàn bộ binh 88 Sư đoàn 308 trên đường hành quân gặp địch đã nhanh chóng triển khai tiến công diệt gần hết một đại đội biệt động quân đóng dã ngoại, phối hợp có hiệu quả với Trung đoàn 88 đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn biệt động quân 21 ở điểm cao 316. Vào những ngày cuối đợt 2 chiến dịch (8 - 11.3), quân địch đã hoàn toàn mất sức chiến đấu: Cánh quân sườn Bắc bị bẻ gãy, cánh quân sườn Nam bị thiệt hại nặng, ý định phát triển lên Sê Pôn không thực hiện được, cánh quân chủ yếu cụm lại ở Bản Đông bị bao vây, uy hiếp ngày càng mạnh. Nhằm phối hợp tích cực và có hiệu quả hơn nữa với hướng chính của chiến dịch, Đoàn Đặc công nước 126 tiếp tục đánh phá mạnh hậu phương địch, đánh cả trên sông, trong cảng và cửa biển. Ngay chiều tối 8 tháng 3, các đội của Đoàn 126 đã lần lượt lên đường làm nhiệm vụ. 2 giờ 30 phút đến 4 giờ sáng ngày 9 tháng 3, các đội 1 và 3 đã thả xong thủy lôi ở những vị trí quy định. Đội 4, khi đưa được thủy lôi ra được gần mép sông thì bị địch phục kích, 3 chiến sĩ bị thương, đơn vị buộc phải triển khai đánh địch phục kích, bộ phận thả thủy lôi dù thiếu người nhưng vẫn hoàn thành nhiệm vụ tuy có chậm so với kế hoạch. Từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 3, nhiều tàu địch từ Cửa Việt lên Đông Hà bị thủy lôi phá hủy, phá hỏng. Trong khi đó lực lượng đánh địch bằng hoả lực bắn thẳng cũng chiến đấu quyết liệt và giành nhiều thắng lợi, tiêu diệt và làm bị thương một số tàu tuần tiễu trên sông, đánh bại quân bảo an lùng sục, phục kích trên bộ, buộc chúng phải co hết lực lượng về đồn, tạo điều kiện cho bộ phận thả thủy lôi hoàn thành nhiệm vụ. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2025, 08:37:19 pm Đợt 3 (12 - 23.3.1971), địch bị bao vây, chia cắt và buộc phải rút lui. Ta tiến công trên toàn tuyến, đánh địch rút chạy và kết thúc chiến dịch.
Về phía địch, mặc dù đã đưa Thê đội 2 vào chiến đấu, nhưng chúng vẫn không ngăn được chiều hướng thất bại của cuộc hành quân. Ngay cả khi địch thay đổi phương án tác chiến, sử dụng lực lượng của cánh quân sườn Nam (Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1 bộ binh) thay cánh quân chủ yếu (đang bị vây hãm ở Bản Đông) tiến lên Sê Pôn, nhưng không thực hiện được, phải rút về sau vị trí xuất phát, dừng lại ở điểm cao 660. Trong khi đó, hai lữ đoàn 147 và 258 thủy quân lục chiến thuộc lực lượng Thê đội 2 vừa đưa từ Khe Sanh và Tích Tường lên, nhưng chúng chỉ củng cố vị trí phòng thủ, không dám tiến công. Lực lượng ở các hướng, các cánh khác đều bị đánh thiệt hại nặng ở cả phía trước lẫn phía sau. Trước tình hình đó, ta nhận định địch không thể tiếp tục tiến lên Sê Pôn và cũng không thể lật cánh xuống phía Nam, mà chúng sẽ rút lui. Từ nhận định đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương: Phải kiên quyết cắt đứt đường rút lui của địch không cho chúng rút nhanh, rút có tổ chức, rút an toàn; phải nhanh chóng chuyển sang tiến công địch trên toàn tuyến, tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định. Theo đó, các lực lượng chủ lực, lực lượng tại chỗ, lực lượng các binh chủng... đã phối hợp chặt chẽ, tiến hành các trận đánh tiêu diệt bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng đạt hiệu suất cao. Lực lượng đặc công của các sư đoàn bộ binh ở phía trước phối hợp tác chiến tốt hơn đợt 1 và đợt 2. Ngày 16 tháng 3, Tiểu đoàn đặc công 10 Sư đoàn bộ binh 2 thực hiện một trận đánh xuất sắc, phá hủy trận địa pháo và làm tê liệt Sở chỉ huy Trung đoàn 1 Sư đoàn 1 địch tại điểm cao 723, tạo điều kiện cho Sư đoàn 2 chuyển thế từ vây lấn sang tiến công, tiêu diệt đại bộ phận quân địch tại điểm cao này. Ngày 22 tháng 3, Tiểu đoàn đặc công 3 Sư đoàn bộ binh 324 cùng với bộ binh trong thế vây lấn đã tiến hành trận tập kích có hiệu suất cao, phá hủy 1 trận địa pháo và diệt gọn 1 đại đội địch, tạo điều kiện cho Sư đoàn 324 chuyển sang tiến công, đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ quân đội Sài Gòn ở điểm cao 550. Tiểu đoàn đặc công 19 Sư đoàn bộ binh 320, tuy mãi đến ngày 11 tháng 3, mới được cấp trên giao nhiệm vụ chính thức, nhưng khi bước vào chiến đấu, chỉ trong thời gian ngắn của đợt 3 (12 - 23.3), Tiểu đoàn đã đánh liên tiếp 9 trận, đạt kết quả rất tốt. Các đơn vị đặc công hoạt động ở phía sau đội hình địch, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do địch tăng cường lùng sục, càn quét, đánh phá ác liệt bằng cả không quân, pháo binh, xe tăng và bộ binh, cả chủ lực và bảo an, dân vệ... nhằm dọn đường rút lui cho lực lượng bại trận ở phía trước, nhưng các đơn vị đã chủ động phối hợp, hiệp đồng với bộ đội địa phương, dân quân du kích để tiếp tục trụ bám đánh các căn cứ, hậu cứ, đánh phá giao thông, đánh địch càn quét... gây cho chúng nhiều thiệt hại. Đoàn Đặc công nước 126 giành giật với địch từng khúc sông để thả thủy lôi và liên tục chống trả các cuộc càn quét của địch ở trên bộ. Từ ngày 18 đến ngày 23 tháng 3, Đoàn đã đánh thắng nhiều trận, diệt được cả xe tăng, xe thiết giáp và sinh lực của địch, đánh lui, đánh bại nhiều đợt càn quét của chúng, bảo vệ và tạo điều kiện cho các phân đội thả thủy lôi hoàn thành nhiệm vụ, thả được hàng chục quả thủy lôi xuống các vị trí quy định ở Xuân Khánh, Mai Xá, Vinh Quang Thượng, Hà Lộc... Tiểu đoàn đặc công 35 của Bộ, tuy mối được thành lập gấp trong quá trình chiến dịch và nhận nhiệm vụ chiến đấu muộn, ngày 13 tháng 2 mới được cấp trên chính thức giao nhiệm vụ, sau đó phải mất nhiều thời gian hành quân đường dài từ Nghệ An và chiến trường, nhưng đến nơi Tiểu đoàn đã chủ động, tích cực triển khai bám nắm địa bàn mục tiêu và bước vào chiến đấu được ngay. Điển hình có trận sân bay Tà Cơn ngày 23 tháng 3, Đại đội 51 của Tiểu đoàn đã phá hủy trên 40 máy bay và 1 kho đạn, diệt hàng trăm giặc lái, nhân viên kỹ thuật và quân bảo vệ sân bay góp phần nâng cao hiệu quả chiến dịch. Hơn một tháng tham gia chiến dịch, vượt qua nhiều gian khổ hy sinh bám đánh địch liên tục ở cả phía trước, phía sau và đánh ngay trong đội hình quân địch, đánh trong mọi trường hợp địch cơ động triển khai lực lượng cũng như khi chúng đang tiến công và đánh cả lúc địch dừng lại, co cụm, tháo chạy, bộ đội Đặc công đã giành được những chiến công oai hùng. Thực tiễn đó cho ta khẳng định: Đặc công hoàn toàn có khả năng tham gia chiến dịch phản công như tham gia các loại hình chiến dịch khác, với vai trò là lực lượng tác chiến đặc biệt tinh nhuệ của chiến dịch, bí mật bất ngờ, luồn sâu đánh hiểm trong đội hình và trong hậu phương chiến dịch của địch, phối hợp và tạo điều kiện cho các lực lượng ta phát triển chiến đấu, chiến dịch. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên tham gia chiến dịch phản công bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, tác chiến đặc công cũng bộc lộ những khuyết điểm, hạn chế. Đó là, tham mưu cho Bộ chưa nhạy bén, kịp thời, Bộ giao nhiệm vụ cho đặc công muộn, đặc công ra quân chậm, lỡ thời cơ tiêu diệt địch, một số đơn vị đặc công đánh không đúng nhiệm vụ, không đúng đối tượng mục tiêu tác chiến của đặc công; hiệu suất chiến đấu của một số trận, một số đơn vị còn thấp, chưa tương xứng với khả năng của đặc công. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2025, 08:38:54 pm Nhìn lại hoạt động tác chiến của các lực lượng đặc công trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, với những thành công và hạn chế, có thể rút ra một số vấn đề sau:
Một là, nên sớm có ý định và kế hoạch sử dụng lực lượng Đặc công trong chiến đấu, chiến dịch. Để phát huy được vai trò cũng như sở trường tác chiến của bộ đội Đặc công, các cấp chiến lược, chiến dịch nên sớm có ý định và kế hoạch sử dụng đặc công, tạo điều kiện cho đặc công biết sớm nhiệm vụ và được triển khai công tác chuẩn bị trước càng sớm càng tốt. Vai trò chủ yếu của đặc công trong chiến dịch là tiến công tiêu diệt những mục tiêu hiểm yếu, quan trọng; phối hợp hiệp đồng và tạo điều kiện cho các lực lượng của chiến dịch tiêu diệt lớn quân địch, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Nhưng các mục tiêu hiểm yếu quan trọng thường được địch bố trí sâu trong đội hình và trong hậu phương của chúng, mục tiêu càng quan, trọng càng bố trí ở sâu và được bảo vệ càng chặt chẽ. Để đánh được các mục tiêu quan trọng, đòi hỏi công tác chuẩn bị phải được tiến hành một cách chu đáo với nhiều nội dung công việc và phải tiến hành trong điều kiện hoàn toàn bí mật, rất phức tạp và nguy hiểm, cần có một thời gian nhất định, không thể chỉ tiến hành trong ngày một ngày hai bằng một vài lần trinh sát mục tiêu... là có thể cơ động lực lượng tiếp cận tiến công mục tiêu được ngay. Thực tế cho thấy, những trận đánh của Bộ đội Đặc công vào các mục tiêu quan trọng có ý nghĩa chiến lược, chiến dịch của địch, bộ đội ta phải chuẩn bị hàng tháng, thậm chí nhiều tháng bám nắm liên tục mối có thể đánh được. Do đó, trên cơ sở nhận định tình hình, dự kiến các khu vực địa bàn, hướng chiến lược dịch có thể tiến công lớn và ta sẽ mở chiến dịch phản công bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, các cấp chiến lược, chiến dịch nên sớm có kế hoạch sử dụng đặc công, giao nhiệm vụ và tạo điều kiện cho đặc công vào hoạt động trong địa bàn chiến dịch càng sớm càng tốt để khi chiến dịch diễn ra đặc công có thể tham gia tác chiến được ngay từ đầu và tác chiến được liên tục, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu chiến dịch. Như vậy, bộ đội mới phát huy cao nhất vai trò của đặc công trong chiến dịch. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, tất cả các đơn vị đặc công cơ động đều được chiến dịch giao nhiệm vụ muộn, vì vậy chỉ có những đơn vị được bố trí sẵn trên địa bàn từ trước như lực lượng tại chỗ thì kết quả tác chiến khá, phát huy được vai trò lực lượng tác chiến đặc biệt tinh nhuệ của đặc công trong chiến dịch. Còn lại, các đơn vị đặc công cơ động của Bộ, của các sư đoàn bộ binh cơ động từ ngoài muộn, bỏ lỡ nhiều thời cơ tiêu diệt địch. Một số đơn vị do vào muộn, không được chuẩn bị chiến trường từ trước, nên hành động chiến đấu lúng túng, thậm chí có đơn vị không đánh được trận nào, không thể hiện được vai trò của đặc công trong chiến dịch. Hai là, sử dụng Đặc công đúng sở trường của từng thành phần, lực lượng và đúng thời cơ chiến dịch, một yếu tố răt quan trọng để phát huy vai trò đặc công trong chiến dịch. Đặc công là lực lượng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và cũng là lực lượng tác chiến đặc biệt tinh nhuệ của các chiến dịch, có sở trường nổi bật là luồn sâu, bí mật, bất ngờ, đánh hiểm, đánh nhanh, diệt gọn. Các cấp chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch sử dụng đặc công đúng với sở trường này sẽ tạo điều kiện tốt cho đặc công chiến đấu giành thắng lợi, phát huy được vai trò của đặc công trong chiến dịch. Trong chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nói chung và chiến dịch phản công nói riêng, đặc công thường tham gia gồm nhiều thành phần, lực lượng như Đặc công chủ lực, Đặc công địa phương, Đặc công cơ động, Đặc công tại chỗ; trong từng thành phần lực lượng lại có các loại Đặc công đánh bộ, Đặc công nước, Đặc công biệt động... Tuy cùng là đặc công có chức năng chiến đấu chủ yếu như nhau, tiến công tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện vật chất quan trọng ở sâu trong đội hình và trong hậu phương quân địch, nhưng từng thành phần, lực lượng, đơn vị lại có sở trường riêng không hoàn toàn giống nhau, có lực lượng chuyên đánh bộ, có lực lượng giỏi đánh trên sông nước, có lực lượng quen đánh tiểu khu, chi khu trong các tỉnh lỵ, quận lỵ, cũng có đơn vị giỏi đánh hiệp đồng nhưng có đơn vị chỉ quen đánh độc lập... Điều quan trọng để đặc công chiến đấu giành thắng lợi, phát huy tốt vai trò đặc công trong chiến dịch là phải sử dụng đúng sở trường của từng thành phần, lực lượng và từng đơn vị, phù hợp với từng khu vực địa bàn, mục tiêu tác chiến chiến dịch. Đó là nghệ thuật sử dụng lực lượng của người chỉ đạo, chỉ huy tác chiến chiến dịch. Để phát huy vai trò của đặc công, nâng cao hiệu quả tác chiến, bên cạnh việc sử dụng đúng sở trường còn phải sử dụng đặc công đúng thời cơ chiến dịch. Do tính chất, đặc điểm, cách đánh của chiến dịch phản công là lấy tiến công của ta đổ đánh bại tiến công của địch, tính chủ động của ta thường bị hạn chế, thông thường khi địch cơ động triển khai tiến công, ta mới phát hiện và mới hạ quyết tâm, thời cơ tiêu diệt địch xuất hiện không nhiều... Trong khi đó, đặc công tham gia chiến dịch gồm nhiều thành phần, đảm nhiệm tác chiến ở nhiều khu vực khác nhau, với những nhiệm vụ, mục tiêu tác chiến cụ thể khác nhau, thời cơ tiêu diệt địch đến với các lực lượng, các đơn vị cũng khác nhau... Điều quan trọng là người chỉ đạo, chỉ huy biết tổ chức, bố trí lực lượng khôn khéo, phù hợp với địa bàn, phù hợp với sở trường của từng lực lượng, từng đơn vị để bộ đội chủ động tạo thời cơ, đón và sử dụng tốt nhất thời cơ để tiêu diệt địch. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ta sử dụng Đoàn Đặc công 126 hoạt động tác chiến ở Cửa Việt - Đông Hà là phù hợp sở trường tác chiến trên sông nước ở phía sau đội hình quân địch của cán bộ, chiến sĩ đặc công nước. Tại đây, Đoàn đã đánh được địch ngay từ đầu cho đến khi kết thúc chiến dịch, các trận đánh được thực hiện đúng thời cơ, hiệu quả chiến đấu cao, có tác dụng phối hợp tốt với chiến dịch. Sử dụng đặc công cơ động của Bộ đánh các hậu cứ địch là đúng, phù hợp với sở trường luồn sâu, đánh hiểm của bộ đội nhưng sử dụng quá muộn, lỡ thời cơ tiêu diệt địch. Những kinh nghiệm tác chiến của đặc công trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971 đã được các cấp chỉ đạo, chỉ huy và các đơn vị đặc công nghiên cứu, vận dụng có hiệu quả cao trong các chiến dịch của cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 cũng như trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế (1975 - 1989). Ngày nay, trước những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, bộ đội Đặc công được Đảng và quân đội giao cho những nhiệm vụ quan trọng, là một trong những lực lượng tiên phong thực hiện các nhiệm vụ A2, chống khủng bố, tác chiến bảo vệ biển, đảo... Vì vậy, những kinh nghiệm tác chiến trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào huấn luyện, giáo dục để nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và lòng tự hào truyền thống, nâng cao sức mạnh chiến đấu cho bộ đội, nhằm đáp ứng kịp thời và hiệu quả cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay và tương lai. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2025, 08:43:08 pm BỘ ĐỘI PHÒNG KHÔNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Trung tướng VÕ VĂN TUẤN Phó Tổng Tham mưu trưởng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là chiến dịch điển hình mang tầm chiến lược (cả về quy mô sử dụng lực lượng và ý nghĩa quân sự, chính trị). Lần đầu tiên ta sử dụng khối chủ lực cơ động tập trung, với nhiều binh chủng kỹ thuật tương đối hiện đại để tiêu diệt khối chủ lực của quân đội Việt Nam cộng hoà (quân đội của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu do Mỹ viện trợ và dày công huấn luyện, chỉ huy). Thành công của chiến dịch chẳng những tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương, giáng đòn nặng vào chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ, mà còn đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam, nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không trong tác chiến chiến dịch. Lực lượng Phòng không tham gia Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lao gồm lực lượng Phòng không trong biên chế của Binh đoàn 70; 1 trung đoàn tên lửa Phòng không CA-75 (tầm trung); 2 trung đoàn pháo phòng không hỗn hợp gồm cả súng máy phòng không 12,7mm, pháo phòng không 57mm của Quân chủng Phòng không - Không quân; 1 trung đoàn pháo phòng không hỗn hợp gồm các loại từ súng máy phòng không 12,7mm đến pháo phòng không 57mm của Đoàn 559. Phối hợp tác chiến còn có Sư đoàn phòng không 367, phòng không của mặt trận B4, B5. Nhiệm vụ của lực lượng Phòng không chiến dịch là: - Hiệp đồng chặt chẽ cùng các đơn vị binh chủng hợp thành; nhanh chóng hình thành thế trận đánh địch rộng khắp, tiêu diệt nhĩều máy bay địch, đặc biệt là máy bay lên thẳng. - Không cho địch đổ quân tăng viện hoặc bốc quân rút chạy. - Triệt đường tiếp tế bằng đường không. - Trực tiếp chi viện cho bộ binh, xe tăng, pháo binh tiến công địch. - Tiêu diệt máy bay cường kích, máy bay ném bom chiến lược B-52. Bảo vệ các tuyến vận chuyển chiến dịch, kho tàng, chân hàng, sở chỉ huy... - Sẵn sàng sử dụng một bộ phận lực lượng đánh địch phản kích. Quân chủng Phòng không - Không quân đã tổ chức cơ quan chủ nhiệm phòng không chiến dịch và sở chỉ huy tiền phương để làm tham mưu về công tác phòng không cho Bộ Tư lệnh chiến dịch nhằm chỉ huy, hiệp đồng tập trung, thống nhất các lực lượng Phòng không tham gia chiến dịch. Về sử dụng lực lượng: - Trên hướng chủ yếu Bắc Đường 9 (hướng Binh đoàn 70): Trung đoàn pháo phòng không 241 bảo vệ đội hình tiến công trên hướng chủ yếu của Binh đoàn, Trung đoàn tên lửa phòng không 237 và Trung đoàn pháo phòng không 230 bảo vệ hậu phương và giao thông chiến dịch; - Trên hướng Đoàn 559: lực lượng Phòng không bí mật cơ động triển khai thành thế trận bảo vệ khu vực hậu cần và tuyến hành lang vận chuyển chiến lược. Đội hình bố trí cấp tiểu đoàn nhưng phân tán rộng, lấy đánh độc lập của các đại đội, trung đội làm chính. Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2, địch triển khai lực lượng thành thế đứng chân: quân đội Sài Gòn ở phía trước, quân Mỹ ở phía sau, quân phái hữu Lào ở phía Tây phối hợp. Phát hiện rõ âm mưu địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch kịp thời chuyển trọng tâm tác chiến chiến dịch vào khu vực Đường 9 - Nam Lào. Lực lượng Phòng không khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị, triển khai đội hình sẵn sàng chiến đấu. Các đơn vị phòng không chiến dịch vào chiếm lĩnh trận địa, tổ chức thành từng cụm hỏa lực đánh tập trung 2 đến 3 tiểu đoàn sẵn sàng đánh máy bay địch. Mờ sáng ngày 8 tháng 2 năm 1971, sau 3 đợt ném bom của 30 máy bay B-52 vào một số khu vực trọng điểm hai bên Đường 9, khu vực trận địa của Binh đoàn 70, các cao điểm ven đường, địch thực hành tiến công vượt qua biên giới Việt - Lào bằng đường bộ và đổ bộ đường không. Các lực lượng của ta tiến hành các trận đánh ngăn chặn. Hỏa lực phòng không của các binh trạm 27, 41 (Đoàn 559), của Mặt trận B5 và của Tiểu đoàn 24 (Trung đoàn pháo phòng không 241) bố trí đón lõng bên sườn núi, trên điểm cao ở khu vực Làng Sen, Cô Bốc, Đông Bắc Bản Đông nổ súng kịp thời, bắn rơi liên tiếp 76 máy bay lên thẳng của địch. Tại khu vực Cha Ky, lực lượng Phòng không của các đơn vị cũng bắn rơi 30 chiếc. Bị thất bại ngay từ trận đầu, địch lúng túng phải dừng lại đối phó. Đó là thời cơ có lợi cho ta. Vì vậy, từ ngày 12 tháng 2 trở đi, lực lượng Phòng không của ta trên hướng chủ yếu bắt đầu thực hiện các trận đánh tập trung quy mô lớn. Để bảo vệ và chi viện vững chắc đội hình chiến dịch, ta đã chủ động đưa lực lượng Phòng không từ phía sau lên tăng cường cho các hướng. Trung đoàn tên lửa phòng không 237 vào khu vực Km 66 (đường 10). Tiểu đoàn tên lửa 84 (Trung đoàn tên lửa phòng không 238) vào khu vực trận địa ở Coong Le (đường 18). Tiểu đoàn 39 súng máy phòng không 14,5mm mang vác phối hợp cho Trung đoàn bộ binh 64,... Trong những đợt đánh đầu tiên của chiến dịch này, lực lượng Phòng không của ta đã bắn rơi 92 máy bay của địch. Đặc biệt, Tiểu đoàn tên lửa 69 đã bắn rơi 1 máy bay B-52 trong trận then chốt chiến dịch ở Bản Đông. Đây là chiếc máy bay ném bom chiến lược đầu tiên của không lực Hoa Kỳ bị Bộ đội tên lửa phòng không của ta bắn rơi. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào kết thúc. Trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của quân và dân ta, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971 là chiến dịch phản công điển hình có ý nghĩa chiến lược, tiêu diệt một bộ phận lớn quân địch, góp phần làm thay đổi so sánh tương quan lực lượng có lợi cho ta, tạo ra sự thay đổi cục diện chiến trường, đánh bại một bước chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ. Lực lượng Phòng không tham gia chiến dịch là lực lượng nòng cốt đánh địch trên không. Trong quá trình phát triển của chiến dịch, lực lượng Phòng không được sử dụng từ đơn giản đến phức tạp, từ bảo vệ các phân đội bộ binh tiến công trên từng hướng, phát triển lên bảo vệ đội hình bộ đội binh chủng hợp thành trong không gian chiến dịch ngày càng lớn. Từ bảo vệ bộ đội trực tiếp chiến đấu, phát triển lên bảo vệ cả hậu phương, bảo vệ các trọng điểm giao thông chiến dịch và đã tạo điều kiện để phát triển quy mô chiến dịch binh chủng hợp thành ngày càng lớn, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung trên các loại địa hình và thời tiết khác nhau; đánh địch cả ban ngày, ban đêm, cả trong tiến công và phòng ngự,... Sự phát triển đó đã góp phần tạo nên sức mạnh để đẩy nhanh tốc độ, rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả tác chiến chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2025, 08:45:17 pm Chiến công của Bộ đội phòng không trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 có nghĩa to lớn và toàn diện, lực lượng Phòng không đã hoàn thành các nhiệm vụ và yêu cầu đề ra. Thắng lợi đó đã góp phần vào sự phát triển của nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không trong tác chiến chiến dịch. Từ thắng lợi này chúng ta có thể rút ra mấy bài học kinh nghiệm về nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không trong tác chiến chiến dịch binh chủng hợp thành như sau:
Thứ nhất: Phán đoán đúng hướng tiến công của địch, tiến hành công tác chuẩn bị lực lượng sớm là điều kiện cơ bản để giành thắng lợi của bộ đội Phòng không. Nghệ thuật chiến dịch xem việc nắm chắc địch và phán đoán đúng ý đồ của địch là yêu cầu hàng đầu. Trong chiến dịch phản công, đối với bộ đội Phòng không, yêu cầu đó lại càng quan trọng, đặc biệt là đoán đúng hướng tiến công bằng các loại máy bay của địch. Bởi vì, địch có thể chọn nhiều hướng tiến công khác nhau. Nhưng phán đoán đúng hướng tiến công của địch là cơ sở để tiến hành mọi công tác chuẩn bị sớm cho trận chiến đấu được chu đáo, toàn diện. Do tính chất cực kỳ quan trọng của chiến dịch, căn cứ vào quy luật hoạt động của địch trên không và do công tác tình báo chiến lược, ta nắm chắc tình hình hoạt động của địch, nên lực lượng Phòng không của ta đã nắm quyền chủ động trên không gian chiến dịch. Mặt khác, trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, lực lượng Phòng không đã phát hiện những mâu thuẫn và khó khăn của địch; địch muốn sử dụng nhiều máy bay trực thăng, ta đã bố trí đón lõng, xây dựng thế trận phòng không rộng khắp, nhưng tập trung có trọng điểm, về âm mưu, thủ đoạn tác chiến của địch, ta đã phát hiện rõ sai lầm của địch trong việc đánh giá khả năng của lực lượng Phòng không ta và ta đã biết lợi dụng triệt để sai lầm của địch để chuẩn bị tiêu diệt chúng đúng thời cơ. Thứ hai: sử dụng lực lượng Phòng không trong chiến dịch phải lấy việc bảo vệ mục tiêu, bảo vệ đội hình binh chủng hợp thành làm nhiệm vụ cơ bản nhất; tiêu diệt máy bay địch là một trong những biện pháp tích cực để bảo vệ mục tiêu. Phương pháp tác chiến chiến dịch phản công là: tiến hành ngăn chặn, vây hãm không cho không quân địch tiếp tế, tiếp viện, chi viện cho quân địch rút chạy đê lực lượng binh chủng hợp thành tiến hành bẻ gãy từng cánh quân địch, thực hiện thành công các trận then chốt chiến dịch.Và lực lượng Phòng không phải lấy việc bảo vệ mục tiêu, bảo vệ đội hình binh chủng hợp thành làm nhiệm vụ cơ bản. Đồng thời tiêu diệt máy bay địch là một trong những biện pháp tích cực để bảo vệ mục tiêu. Lần đầu tiên trong Chiến dịch phản công Đường 9 Nam Lào, ta đã chỉ đạo, sử dụng lực lượng Phòng không thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ bộ đội binh chủng hợp thành và tiến hành thành công các hình thức chiến thuật như chốt giữ và tiến công, bao vây đột phá để tiêu diệt các cụm quân có xe tăng, xe thiết giáp của địch, kết hợp chốt chặn lớn, cơ động tiêu diệt địch ở các điểm cao và truy kích địch rút chạy đạt hiệu suất chiến đấu cao. Thứ ba: Tập trung lực lượng hợp lý, bảo vệ các mục tiêu trọng điểm, trong các trận then chốt; kết hợp với các lực lượng đánh địch tại chỗ tạo nên hệ thống hoả lực phòng không vừa tập trung, vừa rộng khắp trong địa bànchiến dịch. Biết tập trung lực lượng hợp lý, trong thời điểm quyết định; kết hợp chặt chẽ giữa tập trung với phân tán; tập trung được mình, phân tán được địch vừa là yêu cầu, vừa là nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không trong chiến dịch Bằng việc tập trung lực lượng Phòng không hợp lý trong từng giai đoạn (từng đợt) chiến dịch, tập trung trên hướng chủ yếu, trong các trận then chốt, ở những mục tiêu trọng điểm của chiến dịch đã tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh bại các hoạt động tập trung đánh phá của không Cùng với sử dụng lực lượng Phòng không một cách hợp lý nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào còn kết hợp chặt chẽ giữa sử dụng lực lượng tập trung với sử dụng phân tán để tạo nên lưới lửa phòng không rộng khắp, máy bay địch từ hướng nào vào cũng bị đánh. Chính bằng sự kết hợp chặt chẽ đó mà ta vừa bảo vệ được mục tiêu trọng điểm, vừa bảo vệ được lực lượng trên hướng tiến công chủ yếu, ở các khu vực mục tiêu quan trọng, vừa bảo vệ được các hướng, các mục tiêu khác và khi cần đã có lực lượng xen kẽ cài thế sẵn sàng giúp ta nhanh chóng chuyển hoá thế trận, chuyển hướng tiến công được mau lẹ. Đồng thời vừa bảo vệ được lực lượng trực tiếp chiến đấu, vừa bảo vệ được cơ sở vật chất kỹ thuật, khả năng chi viện thường xuyên cho chiến dịch; bảo đảm cho chiến dịch hoạt động nhịp nhàng, liên tục theo một kế hoạch thống nhất. Thực tiễn sử dụng lực lượng Phòng không trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào cho thấy việc kết hợp giữa sử dụng lực lượng tập trung và phân tán là thể hiện nghệ thuật rất cao trong việc tạo sức mạnh tổng hợp, làm cho thế trận của lực lượng Phòng không luôn luôn biến động nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu chiến dịch; đồng thời làm cho địch khó phán đoán, khó đối phó với thế trận phòng không thiên biến vạn hoá của ta. Thứ tư: Sử dụng tập trung lực lượng Phòng không trên hướng trọng điểm, chủ yếu và trong các trận then chốt chiến dịch. Để phát huy sức mạnh của lực lượng Phòng không trong chiến dịch, ta đã căn cứ vào nhiệm vụ trên giao, mục tiêu và thời cơ chủ yếu cần bảo vệ, đối tượng và thủ đoạn hoat động của địch và những mặt mạnh, mặt yếu của chúng; những mặt mạnh, hạn chế của từng lực lượng, từng loại vũ khí để tập trung lực lượng cho thích hợp, vừa phát huy được sức mạnh đánh các loại máy bay, vừa bảo vệ được bộ đội chiến đấu; bảo vệ được giao thông vận chuyển, bảo vệ được căn cứ chiến đấu, hậu phương trực tiếp của chiến dịch. Nhờ sử dụng tập trung lực lượng Phòng không trên hướng trọng điểm (chủ yếu), trong các đợt và các trận đánh quan trọng (then chốt) mà ta đã có đủ sức mạnh bảo vệ cho các lực lượng tiến công tiêu diệt lần lượt các cụm cứ điểm, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch trên Đường 9 - Nam Lào. Trong điều kiện địch có lực lượng không quân hiện đại, mạnh. Trên hướng chủ yếu, hướng quan trọng Bắc Đường 9 (hướng Binh đoàn 70); ta sử dụng Trung đoàn pháo phòng không 241 bảo vệ đội hình tiến công trên hướng chủ yếu của Binh đoàn. Trung đoàn tên lửa phòng không 237 và Trung đoàn pháo phòng không 230 bảo vệ hậu phương và giao thông chiến dịch. Chính nghệ thuật sử dụng tập trung lực lượng Phòng không vào hướng chủ yếu, hướng quan trọng, vào các trận then chốt, trong những thời cơ, thời điểm có lợi đã góp phần quyết định đánh thắng các hoạt động của địch, góp phần quan trọng đưa chiến dịch đến thắng lợi hoàn toàn. Thứ năm: Kết hợp chặt chẽ giữa hoả lực tập trung có trọng điểm của lực lượng Phòng không với hoả lực của binh chủng hợp thành để đánh máy bay địch. Tác chiến với đội quân có lực lượng không quân mạnh, việc kết hợp chặt chẽ giữa hoả lực tập trung có trọng điểm của lực lượng Phòng không với hoả lực súng bộ binh của các đơn vị binh chủng hợp thành để đánh máy bay địch là một yêu cầu khách quan mà nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không phải giải quyết. Trong Chiến dịch phản công Đường. 9 - Nam Lào ta sử dụng súng máy phòng không mang vác 12,7mm và 14,5mm đi cùng bộ binh, xe tăng "cơ động phục kích", "vận động tiến công" đánh địch đổ bộ đường không, yểm hộ bộ binh ngăn chặn quân địch hành quân cơ giới và giữ các điểm cao quan trọng trong chiến dịch. Chiến dịch càng lớn, địch sử dụng không quân càng nhiều, tính chất chiến dịch càng quyết liệt, càng đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa hai lực lượng trên để đánh địch. Sử dụng lực lượng đánh tập trung hiệp đồng binh chủng: phòng không, bộ binh, xe tăng, pháo binh đánh địch đổ bộ đường không bằng trực thăng là điểm nổi bật nhất trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Số lượng 556 máy bay địch bị bắn rơi (chủ yếu là trực thăng)1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971, Hà Nội, 1987, tr. 62) đã nói lên sự thành công của cách đánh tập trung hiệp đồng binh chủng, lấy lực lượng Phòng không làm nòng cốt đánh máy bay địch trong chiến dịch. Sự kết hợp khéo léo và chặt chẽ giữa hai lực lượng hoả lực đã tạo được sức mạnh tổng hợp để vừa bỏ gãy các đợt tập kích của không quân địch, vừa tạo được lưới lửa phòng không rộng khắp trên không gian chiến dịch, đánh địch liên tục trong suốt quá trình chiến dịch và nhờ đó mà ta đủ mạnh để duy trì sự kết hợp tác chiến tập trung từng đợt với đánh địch liên tục; kết hợp tập trung lực lượng đánh địch có trọng điểm trên từng hướng, từng mục tiêu với đánh địch phân tán làm cho lực lượng Phòng không ta tuy ít"hóa" thành nhiều, nhỏ thành lớn, yếu thành mạnh để đánh thắng địch. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971 - một chiến dịch điển hình về nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không - là một chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn của bộ đội chủ lực cơ động, phối hợp chặt chẽ với lực lượng tại chỗ (B4, B5 và Đoàn 559). Chiến dịch được chuẩn bị chu đáo từ trước, diễn ra trên địa hình rừng núi, kế cận hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Thắng lợi của chiến dịch đã đánh dấu một bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam nói chung, nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không nói riêng. Nó khởi đầu thời kỳ mới của sự phát triển hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, trên không gian chiến dịch rộng, nhiều mục tiêu cần bảo vệ, tính khẩn trương, ác liệt và tính cơ động cao bảo đảm cơ sở vật chất nhiều, phức tạp. Đồng thời, cũng đánh dấu thời kỳ phát triển của lực lượng Phòng không về các hình thức tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng, các biện pháp tác chiến, các hình thức chiến thuật. Thắng lợi của bộ đội Phòng không trong chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, ta đã bảo vệ được tuyến vận chuyển chiến lược thông suốt trong suốt quá trình chiến dịch; tạo điều kiện cho các đơn vị bạn phối hợp chiến đấu chặt chẽ giữa các chiến trường và đã góp phần bảo vệ vững chắc các mục tiêu trọng điểm, trong đó có miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Những bài học kinh nghiệm về sử dụng lực lượng Phòng không trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đến nay vẫn còn nguyên giá trị; vẫn tiếp tục cùng chúng ta tiếp bước tiến lên trên con đường phát triển về nghệ thuật chiến dịch nói chung và nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không trong tác chiến chiến dịch ngày càng hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hôm nay và tương lai. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2025, 08:52:19 pm TỔ CHỨC BẢO ĐẢM THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Thiếu tướng VŨ DƯƠNG NGHI Chính ủy Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tác động mạnh đến cục diện chiến trường, giáng đòn nặng vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Trong thắng lợi chung đó, có sự đóng góp quan trọng của bộ đội thông tin liên lạc. Tổng kết Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Bộ Tư lệnh đã đánh giá: Trong chiến dịch lịch sử này, Bộ đội Thông tin liên lạc có công rất lớn trong việc bảo đảm chỉ huy chiến dịch, bảo đảm cho cơ quan chỉ huy thông suốt liên tục với các đơn vị và các hướng, tạo điều kiện cho việc chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch được cụ thể, kịp thời và thực hiện được tốt mối hiệp đồng ở các hướng, ở phía trước và phía sau... Ưu điểm nổi bật về bảo đảm thông tin liên lạc trong chiến dịch này là: Cơ quan thông tin chiến dịch nắm chắc được phương án tác chiến cơ bản của một chiến dịch phản công; dự kiến và triển khai được kế hoạch thông tin liên lac thích hợp; tranh thủ được sự lãnh đạo, chỉ đạo từng bước của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh và cơ quan tham mưu chiến dịch; phát huy được tinh thần chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong công tác chỉ đạo và tổ chức thông tin liên lạc theo yêu cầu của chỉ huy trong từng giai đoạn chiến dịch; tận dụng và phát huy tốt hệ thống thông tin liên lạc tại chỗ, đồng thời khẩn trương triển khai hệ thống thông tin liên lạc cơ động ở khu vực tác chiến; bảo đảm thông tin chỉ huy kịp thời, liên tục trong các tình huống. Trong quá trình tác chiến, luôn tìm mọi biện pháp tăng cường và cải tiến thiết bị kỹ thuật các trạm thông tin chiến lược trong địa bàn chiến dịch; coi trọng tổ chức thông tin liên lạc bảo đảm cho chỉ huy nắm chắc tình hình địch, thông tin liên lạc hiệp đồng, kết hợp chặt chẽ các loại phương tiện, các hệ thống thông tin liên lạc ở từng cấp và trong toàn chiến dịch, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ các trận đánh then chốt giành thắng lợi; đồng thời, coi trọng công tác bảo đảm vật chất kỹ thuật và bổ sung kịp thời lượng tiêu hao trong quá trình chiến đấu. Ngày 6 tháng 4 năm Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam đến thăm Trạm cơ vụ A72 đã đánh giá: Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư Lệnh, Bộ chỉ huy mặt trận rất tự hào về hệ thống thông tin liên lạc phục vụ chiến dịch. Có thể nói chưa bao giờ mạng lưới thông tin thông suốt như lần này. Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, công tác tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào còn bộc lộ những tồn tại khuyết điểm như: Cơ quan thông tin chiến dịch hình thành chậm nên không thực hiện được việc chỉ đạo, chỉ huy tập trung thống nhất ngay từ đầu, gây ảnh hưởng đến việc tổ chức và sử dụng các phương tiện thông tin ở các cấp; công tác tham mưu thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu của một chiến dịch tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô tương đối lớn; ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần cảnh giác giữ bí mật và trình độ nghiệp vụ của một số cán bộ, chiến sĩ thông tin còn yếu; người chỉ huy và cơ quan chiến dịch còn hiện tượng thích dùng hữu tuyến điện, ngại sử dụng vô tuyến điện sóng cực ngắn; yêu cầu tổ chức liên lạc vô tuyến điện sóng ngắn vượt cấp quá nhiều, gây nhiều khó khăn cho cấp dưới. Thành công của công tác tổ chức, bảo đảm thông tin liên lạc vô tuyến điện trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 đã để lại một số kinh nghiệm sau: Một là: Thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng thông tin vô tuyến điện vững mạnh về chính trị, tư tưởng; xây dựng quyết tâm cho cán hộ, nhân viên, chiến sĩ thông tin hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Thông tin vô tuyến điện là một công tác cơ mật, các bức điện chuyển nhận qua mạng vô tuyến điện đều có nội dung liên quan đến tình hình nhiệm vụ tác chiến, chỉ thị, mệnh lệnh của chỉ huy,v.v. Các nội dung trên khi truyền qua làn sóng điện dễ bị kẻ địch thư nghe trộm, giải mã để nắm tình hình của ta và tìm cách đối phó. Vì vậy, yêu cầu cao nhất đối với người chiến sĩ thông tin vô tuyến điện là phải thật sự trung thành, tin cậy, có tính kỷ luật cao và trình độ năng lực nghiệp vụ vững vàng mới hoàn thành được nhiệm vụ chuyên môn của mình. Do được giáo dục tốt về chính trị, tư tưởng, huấn luyện tốt về nghiệp vụ, trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, lực lượng thôngtin vô tuyến điện đã tỏ rõ tinh thần kiên quyết, chủ động, sáng tạo, có nhiều biện pháp cụ thể, tỉ mỉ, khoa học, vừa bảo đảm liên lạc thông suốt từ sở chỉ huy chiến dịch đến các đơn vị cấp dưới, vừa cầm súng chiến đấu tiêu diệt địch, bảo vệ an toàn cho đài trạm, bảo đảm thông tin kịp thời phục vụ chỉ huy đánh thắng nhiều trận then chốt trong giai đoạn 1 của chiến dịch; đồng thời góp phần làm tốt công tác truyền tin chiến thắng và động viên chính trị tinh thần có hiệu quả trong quá trình thực hành chiến dịch. Đi đôi với việc xây dựng quyết tâm còn chú trọng giáo dục tinh thần đoàn kết, hiệp đồng với các đơn vị bạn. Thông tin vô tuyến điện có thông suốt hay không là do sự phối hợp, hiệp đồng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, chiến sĩ quyết định. Vì vậy, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ thông tin vô tuyến điện phải có tinh thần đoàn kết, hiệp đồng cao, nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn về mình; có như vậy việc liên lạc hai chiều mới luôn được thông suốt. Trong chiến dịch này, việc hiệp đồng chặt chẽ giữa lực lượng thông tin của Trung đoàn 205 với lực lượng thông tin Binh đoàn 70, Sư đoàn 304 và Đoàn 559 đã tạo điều kiện cho nhau bảo đảm thông tin liên lạc đạt hiệu suất, chất lượng cao. Bên cạnh đó, đã coi trọng giáo dục cho cán bộ, nhân viên, chiến sĩ thông tin ý thức cần kiệm, yêu quý phương tiện, sử dụng hợp lý và có hiệu quả những trang bị kỹ thuật hiện có, nhất là trong điều kiện nước ta chưa sản xuất được đủ theo nhu cầu và những trang bị khí tài đang dùng đã phải hy sinh xương máu mới có được. Binh chủng Thông tin liên lạc là một binh chủng kỹ thuật, việc xây dựng lực lượng thông tin quân sự nói chung và thông tin vô tuyến điện nói riêng vững mạnh về chính trị tư tưởng là một yêu cầu tất yêu, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong tương lai nếu chiến tranh xảy ra sẽ là cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí, phương tiện công nghệ cao thì kinh nghiệm về xây dựng lực lượng thông tin vững mạnh về chính trị, tư tưởng vẫn còn giữ nguyên giá trị. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2025, 08:58:46 pm Hai là: Xác định đúng vai trò của lực lượng thông tin liên lạc quân sự, kết hợp chặt chẽ giữa phục vụ chiến đấu và xây dựng lực lượng; thường xuyên bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật, báo vụ viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến.
Trước khi bước vào chiến dịch này, Bộ Tư lệnh Binh chủng đã tập trung nghiên cứu chấn chỉnh cơ quan, đơn vị trực thuộc và thông tin toàn quân thực hiện điều chỉnh lại quân số theo yêu cầu tổ chức phải gọn, có số lượng thích hợp nâng được chất lượng, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ; ưu tiên quân số để tổ chức các đơn vị thông tin mới bổ sung vào chiến trường miền Nam và tổ chức các tiểu đoàn thông tin dự bị phục vụ các chiến dịch lớn do Bộ trực tiếp chỉ huy. Tháng 7 năm 1970, Binh đoàn 70 được thành lập, trong biên chế có Phòng Thông tin và các tiểu đoàn thông tin, được ưu tiên về quân số và phương tiện gấp đôi đơn vị thông tin cấp sư đoàn. Đầu năm 1971, Binh chủng tổ chức thêm Tiểu đoàn 2 mới, gấp rút làm công tác chuẩn bị chi viện cho chiến trường miền Nam. Tính đến đầu năm 1971, Binh chủng đã bổ sung cho chiến trường 500 báo vụ viên, thợ sửa chữa và một tiểu đoàn thông tin hỗn hợp cơ động hoàn chỉnh. Để chủ động chuẩn bị cho chiến dịch, một khối lượng rất lớn trang bị kỹ thuật thông tin từ miền Bắc được vận chuyển vào miền Nam, trong đó có một số khí tài vô tuyến điện loại mới như điện đài sóng ngắn 81 bán dẫn; đồng thời cử các đội sửa chữa lưu động vào Mặt trận 135, B4 để tăng thêm lực lượng sửa chữa, khôi phục các trang bị khí tài thông tin bị hư hỏng. Để thuận tiện cho việc chỉ huy điều hành, khai thác thông tin liên lạc, từ năm 1969, Binh chủng đã tổ chức di chuyển một số trạm máy trong tổng trạm thông tin về gần sở chỉ huy của Bộ, riêng các khu thu phát vô tuyến điện sóng ngắn vẫn duy trì ở vị trí cũ. Củng cố vững chắc các mạng vô tuyến điện sóng ngắn, các trạm vô tuyến điện sóng cực ngắn (và vô tuyến điện tiếp sức) trên các điểm cao, mở rộng mạng lưới và phát huy hết tính năng tác dụng của các phương tiện. Binh chủng đã tăng cường lực lượng, phương tiện cho Đoàn 559, nhờ đó các đơn vị thông tin của Đoàn 559 đã kết hợp chặt chẽ với thông tin bạn (Lào) sử dụng có hiệu quả cao phương tiện thông tin vô tuyến điện sóng ngắn, sóng cực ngắn và các phương tiện thông tin khắc phục vụ chỉ huy giành thắng lợi trong các chiến dịch mùa khô năm 1969, 1970, 1971 và các chiến dịch tiếp theo. Năm 1970, ngoài việc mở lại các lớp đào tạo cán bộ chỉ huy sơ cấp theo hướng cơ bản, toàn diện, có hệ thống, Binh chủng chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo báo vụ ở Đoàn 4, mở các lớp tập huấn hàng năm và tổng kết, nghiên cứu về tổ chức bảo đảm thông tin phù hợp với cách đánh mới. Bộ Tư lệnh Binh chủng cử nhiều đoàn cán bộ trực tiếp vào các chiến trường B4, B5, Đoàn 559 phổ biến kinh nghiệm tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc trong các chiến dịch đã được tổng kết, hướng dẫn sử dụng các loại phương tiện thông tin mới được biên chế, đồng thời tìm hiểu tình hình tại chỗ, đề xuất kịp thời biện pháp giải quyết khó khăn của đơn vị. Đối với Binh chủng Thông tin liên lạc - một binh chủng kỹ thuật, trên cơ sở giáo dục chính trị, tư tưởng còn phải hết sức coi trọng việc bồi dưỡng về mặt kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, xây dựng lực lượng thông tin vững mạnh toàn diện, động viên mọi cán bộ, chiến sĩ vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật - công nghệ; đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ trong xây dựng lực lượng, huấn luyện đào tạo, quan hệ giữa chiến đấu, công tác và xây dựng, giữa số lượng và chất lượng. Đó là kinh nghiệm được rút ra về xây dựng và phát triển lực lượng thông tin nói chung và thông tin vô tuyến điện nói riêng trong chiến dịch này và các chiến dịch tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để vận dụng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2025, 09:00:07 pm Ba là: Xây dựng kế hoạch tổ chức, bảo đảm thông tin vô tuyến điện kết hợp chặt chẽ với các loại phương tiện khác, không ngừng nâng cao nghệ thuật tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc quân sự.
Trên cơ sở quán triệt đường lối chính trị, quân sự của Đảng nắm vững phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân và phương thức chỉ huy của Bộ, đồng thời dựa vào khả năng thực tế của lực lượng thông tin quân sự và các loại phương tiện thông tin hiện có, Bộ Tư lệnh Binh chủng Thông tin đã từng bước chỉ đạo xây dựng hệ thống thông tin liên lạc quân sự một cách hợp lý với 3 loại phương tiện: hữu tuyến diện, vô tuyến điện và thông tin quân bưu. Từ năm 1968 trở đi, cùng với việc trang bị kỹ thuật thông tin được tăng cường về số lượng và chủng loại, thì hệ thống thông tin liên lạc quân sự đã có bước phát triển mới, bằng các loại phương tiện: vô tuyến điện sóng ngắn, sóng cực ngắn, vô tuyến điện tiếp sức, hữu tuyến điện và thông tin quân bưu, hình thành một hệ thống thông tin liên lạc tương đối hoàn chỉnh trên miền Bắc và nối liền đến các mặt trận ở chiến trường miền Nam. Trong các chiến dịch phản công (năm 1971), thành công của công tác tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc là sự kết hợp chặt chẽ hệ thống thông tin sẵn có tại chỗ ở khu vực mở chiến dịch với hệ thống thông tin cơ động triển khai theo phương án tác chiến cơ bản, kết hợp chặt chẽ các loại phương tiện thông tin của các cấp, hình thành hệ thống thông tin chiến dịch hoàn chỉnh. Từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, khi địch đã hình thành hai cánh quân phía bắc và phía nam theo hướng Bản Đông - Sê Pôn, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định đánh những trận then chốt bẻ gãy cánh quân phía bắc và đánh thiệt hại nặng cánh quân phía nam, đồng thời tích cực chuẩn bị để chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận thì hệ thống thông tin chiến dịch được khẩn trương củng cố và điều chỉnh. Đó là tăng cường điện đài cho cụm vô tuyến điện để bảo đảm liên lạc vô tuyến điện với tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch; tăng thêm phiên liên lạc với các hướng chủ yếu và hướng quan trọng của chiến dịch; tập trung các điện đài cơ động do Binh chủng mang theo vào cụm vô tuyến điện sở chỉ huy chiến dịch để sử dụng thống nhất; củng cố vững chắc hệ thống thông tin của các đơn vị trên từng hướng; tổ chức thêm các trạm trung gian chuyển tiếp vô tuyến điện sóng cực ngắn trên các điểm cao, bảo đảm cho chỉ huy đơn vị cơ động đánh địch ở các khu vực. Nhờ vậy mà thông tin liên lạc đã bảo đảm thông suốt, liên tục cho chỉ huy đánh thắng nhiều trận then chốt trong giai đoạn 1 của chiến dịch, tiêu biểu như: trận tiêu diệt Tiểu đoàn 39 biệt động quân ở điểm cao 500 (20-2-1971), trận tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù (cả sở chỉ huy) ở điểm cao 543 (23-2-1971), trận tiêu diệt Tiểu đoàn 2 và 3 thuộc Sư đoàn 1 bộ binh địch ở khu vực Tam Luông và điểm cao 619 (27-2 và 1-3-1971). Mặt khác, thông tin chiến dịch còn góp phần làm tốt công tác truyền tin chiến thắng và động viên chính trị trong quá trình thực hành chiến dịch. Đặc biệt, ngày 28 tháng 2 năm 1971, giữa lúc chiến dịch đang diễn ra gay go quyết liệt, Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tung tin là quân đội của chúng đã chiếm được Sê Pôn - đích cuối cùng của cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Để đập tan luận điệu tuyên truyền lừa bịp của địch, cơ quan thông tin Đoàn 559 đã chuyển kịp thời về Bộ Tổng Tham mưu băng ghi âm tuyên bố của ông Văn Đi - Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Sẽ Pôn là tại thị trấn Sê Pôn chưa hề có một tên địch nào đặt chân đến, nhân dân vẫn làm ăn bình thường và sẵn sàng chiến đấu. Băng ghi âm đó đã được nhanh chóng truyền đi trên làn sóng Đài tiếng nói Việt Nam, đưa lại một thắng lợi chính trị tinh thần rất lớn, cổ vũ động viên mạnh mẽ chiến sĩ và nhân dân cả nước tiếp tục giáng cho địch những thất bại thảm hại. Từ ngày 4 đến 11 tháng 3 năm 1971, khi địch đưa lực lượng dự bị chiến dịch vào đánh chiếm cũng là thời cơ ta chuẩn bị chuyến sang tiến công trên toàn tuyến. Cơ quan thông tin chiến dịch đã kịp thời điều chỉnh các mạng, hướng thông tin, xử lý linh hoạt các tình huống bảo đảm liên lạc chỉ huy và hiệp đồng thông suốt, nhất là với các đơn vị cơ động tác chiến. Phát huy hiệu quả cao hệ thống vô tuyến điện sóng ngắn (và mạng hữu tuyến điện) trong quá trình thực hành chiến dịch, việc sử dụng kết hợp giữa hệ thống thông tin liên lạc cấp trên, cấp dưới và các binh chủng có nhiều tiến bộ. Vì vậy, đã góp phần bảo đảm cho chỉ huy đánh thắng nhiều trận lớn, như trận tập kích hỏa lực vào sân bay Tà Cơn và cụm Bản Đông (13-3-1971), trận tiêu diệt cụm cứ điểm ở điểm cao 723 (18-3-1971), điểm cao 660 (20-3-1971), các trận đánh địch rút chạy khỏi cụm cứ điểm Bản Đông (18 - 20-3-1971), trận tiêu diệt Lữ đoàn 174 lính thủy đánh bộ ở điểm cao 550 (22-3-1971). Từ thực tiễn trên cho ta thấy: chỉ khi tổ chức, sử dụng kết hợp chặt chẽ các loại phương tiện mới phát huy được đầy đủ ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của mỗi loại phương tiện, nâng cao được tính vững chắc của cả hệ thống thông tin liên lạc. Mặt khác, đây còn là một biện pháp có hiệu quả để phòng chống sự phá hoại của địch đối với hệ thống thông tin liên lạc của ta, như trường hợp địch gây nhiễu nặng đối với vô tuyến điện, vô tuyến điện tiếp sức, việc liên lạc khó khăn nhưng nếu các phương tiện thông tin hữu tuyến điện, thông tin quân bưu vẫn đảm bảo tốt thì việc chỉ huy bộ đội vẫn duy trì được liên lạc. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2025, 09:01:45 pm Bốn là: Bảo vệ, giữ gìn bí mật thông tin liên lạc, phòng chống chiến tranh điện tử của địch, tích cực thực hành thông tin nghi binh lừa địch.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kẻ địch tổ chức hệ thống trinh sát điện tử với các trang bị kỹ thuật hiện đại để tiến hành chiến tranh điện tử: thả các khí tài (như "cây nhiệt đới") dọc đường hành quân của ta theo tuyến đường Hồ Chí Minh để thu nghe tiếng động; bố trí các trạm cố định theo dõi hệ thống rađa trinh sát của ta trên các điểm cao, vùng giới tuyến, ven biển kết hợp với các trạm trên hạm đội, trên không và vệ tinh tiến hành trinh sát, chụp ảnh, thu nghe tín hiệu vô tuyến điện của ta để phát hiện sở chỉ huy các cấp, các đường hành quân, các khu vực tập kết; tìm cách đánh cắp tin tức qua các bức điện báo được phát đi, qua đó tìm hiểu ý đồ chiến lược, chiến dịch, sử dụng lực lượng của ta. Nhưng hệ thống trinh sát điện tử của chúng không phát hiện được vị trí bố trí các sở chỉ huy của ta để đánh phá. Đó là do các đơn vị thông tin đã làm tốt công tác nghi binh lừa địch, chấp hành nghiêm kỷ luật thông tin liên lạc; nghiên cứu, áp dụng nhiều biện pháp linh hoạt, sáng tạo như: xê dịch, thay đổi tần số làm việc, dùng giờ giả, sóng giả, thay đổi báo vụ kết hợp với thay đổi tên sóng liên lạc, quy định nhiều tần số dự bị cho một hướng, mạng liên lạc; sử dụng kết hợp nhiều loại phương tiện thông tin trên một hướng (nhất là hướng quan trọng); thay đổi hình thức liên lạc vô tuyến điện khi cần thiết (từ liên lạc báo moóc chuyên sang liên lạc thoại và ngược lại); tổ chức liên lạc đường vòng; sử dụng ăngten định hướng; thay đổi công suất máy phát... Việc sử dụng linh hoạt, có hiệu quả các biện pháp trên đã góp phần bảo vệ thông tin liên lạc, giữ được bí mật ý định tác chiến, do đó cũng trực tiếp góp phần vào thắng lợi của các chiến dịch. Trên thực tế, ngay trước khi mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, để tạo yếu tố bất ngờ, ta đã chủ động tổ chức nghi binh thông tin bằng vô tuyến điện: Sư đoàn 304 tổ chức một cụm vô tuyến điện sóng ngắn, dùng quy ước cũ liên lạc với Bộ và Binh đoàn 70, chuyển nhận các bức điện giả làm cho địch bị lừa cho là Sư đoàn 304 đã vào Tây Nguyên. Đặc biệt, tiểu đội vô tuyến sóng cực ngắn của Trung đoàn 205 tham gia phục vụ chiến dịch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm đài trung gian chuyển tiếp trên địa bàn phía nam Quân khu 4, đồng thời còn dùng máy P105 phát sóng gây nhiễu đài địch và thực hiện nghi binh lừa địch rất hiệu quả. Từ thành công của công tác nghi binh thông tin nêu trên, càng khẳng định nghi binh thông tin là một bộ phận không thể thiếu trong kế hoạch nghi binh chiến dịch và chiến dịch thắng lợi có một phần đóng góp của hoạt động thông tin nghi binh lừa địch. Vì vậy, khi xây dựng và tiến hành kế hoạch, cần có sự chỉ đạo thống nhất, tập trung của cơ quan tham mưu để bảo đảm đạt kết quả cao nhất. Bảo vệ, giữ bí mật thông tin liên lạc, phòng chống trinh sát điện tử, tích cực nghi binh lừa địch là một bộ phận không thể thiếu trong nghệ thuật tổ chức và bảo đảm thông tin liên lạc của quân đội ta. Những kinh nghiệm quý báu nêu trên có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với Binh chủng Thông tin liên lạc trong chiến đấu và xây dựng trước mắt cũng như lâu dài. Trong giai đoạn hiện nay, những kinh nghiệm quý báu đó vẫn còn nguyên giá trị. Việc nghiên cứu, hoàn thiện, vận dụng các kinh nghiệm trên trong điều kiện mới theo vùng, miền cần phải được sự quan tâm một cách nghiêm túc, đầy đủ, đúng mức của mọi cấp, mọi ngành. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, nhằm góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp của Bộ đội Thông tin liên lạc trong chiến tranh hiện đại cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2025, 07:08:46 pm TÁC CHIẾN CỦA BỘ ĐỘI PHÁO BINH TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÕNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Thiếu tướng NGUYỄN VĂN CÔN Tư lệnh Binh chủng Pháo binh Cách đây 4 thập kỷ (1971 - 2011), Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã diễn ra và giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược: Không những giữ vững được tuyến vận chuyển Bắc - Nam mà còn tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch; đánh bại một bước quan trọng chiến Lược "Việt Nam hoá chiến tranh", góp phần đưa cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào còn đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật chiến dịch phản công của quân đội ta, cả về quy mô sử dụng lực lượng, phương pháp tác chiến hiệp đồng quân binh chủng và liên minh chiến đấu Việt - Lào. Đối với địch, Đường 9 - Nam Lào là mục tiêu chiến lược phải đánh chiếm nhằm chặn đứng tuyến vận chuyển Bắc - Nam của ta và để thực hiện âm mưu "bóp nghẹt", "bịt nguồn sống" của các lực lượng ta trên chiến trường. Để thực hiện mưu đồ đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Ngày 30 tháng 1 năm 1971, dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ, được không quân, pháo binh và một vạn quân Mỹ đứng phía sau yểm trợ, hơn ba vạn lính chủ lực quân đội Sài Gòn, gồm những đơn vị sừng sỏ nhất như: sư đoàn dù, sư đoàn lính thủy đánh bộ, sư đoàn 1 bộ binh và một lực lượng lớn binh khí kỹ thuật gồm 460 xe tăng, xe bọc thép, 250 khẩu pháo, 700 máy bay lên thẳng cùng phối hợp với 4 tiểu đoàn (GM30) của quân đội chính phủ phái hữu Lào từ Đồng Hến đánh ra khu vực Mường Pha Lan (phía tây Đường 9), hòng đánh chiếm bằng được khu vực Đường 9 - Nam Lào. Về ta, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết tâm tập trung lực lượng cùng với quân đội Pathét Lào đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch; đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của chúng, giữ vững tuyến vận chuyển Bắc - Nam, bảo vệ kho tàng và vùng căn cứ cách mạng trên đất bạn Lào. Lực lượng tham gia chiến dịch nòng cốt là 5 sư đoàn (308, 304, 320, 324 và Sư đoàn 2); cùng với lực lượng tại chỗ của B4, B5, Đoàn 559; 4 trung đoàn tăng thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn phòng không, 3 trung đoàn công binh cùng một số tiểu đoàn đặc công của Bộ, phối hợp với bộ đội Pathét Lào chặn địch từ phía tây Đường 9. Bởi vậy, mùa khô năm 1971, Đường 9 - Nam Lào là điểm đối đầu quyết liệt giữa ta và địch. Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, bộ đội pháo binh đã tham gia hàng chục trận đánh, và mỗi trận đánh đều phát huy hiệu quả hoả lực chi viện cho lực lượng binh chủng hợp thành, tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn, trung (lữ) đoàn địch; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao. Nghệ thuật tác chiến của bộ đội pháo binh được rút ra từ thực tiễn hoạt động trong chiến dịch là: 1. Nắm vững phương châm chiến lược của Bộ Chính trị, tích cực chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng đánh địch theo phương án. Đánh giá đúng bản chất hiếu chiến và phiêu lưu củạ Níchxơn, từ sớm, Bộ Chính trị nhận định: trong mùa khô 1970 - 1971, địch có thể mở cuộc tiến công quy mô vừa và lớn bằng lực lượng quân đội Sài Gòn, có một bộ phận quân Mỹ hỗ trợ vào vùng Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, nhằm phá hủy cơ sở hậu cần, cắt đứt hành lang vận chuyển Bắc - Nam, cô lập hơn nữa chiến trường miền Nam; đồng thời chỉ thị cho Bộ Quốc phòng và Tư lệnh các chiến trường, nhất là các Tư lệnh đang chỉ đạo hoạt động tác chiến ở khu vực Đường 9 - Nam Lào khẩn trương chuẩn bị mọi mặt đê kịp thời đánh địch. Nắm vững phương châm chiến lược của Bộ Chính trị và đươc sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, ngay từ đầu năm 1970, Bộ Tư lênh Pháo binh đã gấp rút chuẩn bị cả về lực lượng và chiến trường để đáp ứng với mọi yêu cầu, nhiệm vụ trên giao. - Về chuẩn bị lực lượng: Binh chủng Pháo binh đã tích cực chủ động ổn định biên chế tổ chức, bổ sung xe pháo, đạn và trang bị cho các trung đoàn pháo binh dự bị 38, 45, 675 204 16 và Trung đoàn Trinh sát kỹ thuật 97; tăng cường vật chất, khí tài và cán bộ chỉ huy đã qua đào tạo tại Trường Sĩ quan Pháo binh cho các trung đoàn 164, 166, 154, 178, 368 và Trung đoàn 84 của các quân khu, mặt trận. Điều Trung tá Nguyễn Trung Kiên của Trung đoàn 45 về làm Chủ nhiệm Pháo binh Binh đoàn 70 mới thành lập; phối hợp cùng với Sư đoàn bộ binh 2, Quân khu 5 điều động một số phân đội hoả lực để lại toàn bộ pháo mang vác và các trang bị nặng, bí mật cơ động từ huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam ra Mặt trận Đương 9 - Nam Lào nhận nhiệm vụ mới. Trung đoàn pháo binh 368 của Quân khu Trị - Thiên ở tây Thừa Thiên cũng được điều gấp ra Nam Lào, đồng thời bổ sung thêm đạn và trang bị cho Trung đoàn 84, Trung đoàn 38 thuộc Mặt trận bắc Quảng Trị (B5) và thành lập Ban pháo Đoàn 559 để sẵn sàng đánh địch theo phương án. - Về chuẩn bị chiến trường: Mùa hè năm 1970, Bộ Tư lệnh Pháo binh giao nhiệm vụ cho Trung đoàn Trinh sát kỹ thuật 97 cử một phân đội đo đạc vào Đường 9 - Nam' Lào tiến hành đo đạc, lập mạng làm dày mốc đo đạc pháo binh. Đồng thời, tổ chức một đoàn cán bộ của Bộ Tư lệnh kết hợp với Đoàn 70 vào nghiên cứu thực địa tại khu vực Đường 9 - Nam Lào. Đến đầu tháng 2 năm 1971, Binh chủng đã cơ bản hoàn thành kế hoạch điều động lực lượng và chuẩn bị chiến trường. Đây là một trong những chiến dịch mà lực lượng Pháo binh được huy động cao nhất so với các chiến dịch trước đó (cả về chuẩn bị lực lượng và thiết bị chiến trường), nên đã tạo ra thế trận chiến dịch có chuẩn bị trước; pháo binh có đầy đủ yếu tố để lựa chọn trận địa, bố trí đội hình chiến đấu và sử dụng lực lượng một cách hợp lý; có khả năng phát huy hoả lực theo yêu cầu tác chiến của bộ đội binh chủng hợp thành. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2025, 07:09:24 pm 2. Tổ chức sử dụng pháo binh hơp lý, bào đảm tính vững chắc, liên hoàn, hiểm hóc, có trọng điểm.
Sau nỗ lực chuẩn bị lực lượng, thiết bị chiến trường, ta chủ động điều động lực lượng, bố trí lại thế đứng chân của Trung đoàn pháo binh xe kéo 368, Trung đoàn 84 pháo phản lực mang vác ĐKB đang có mặt tại địa bàn dự kiến xảy ra chiến dịch và pháo binh Sư đoàn 2, Sư đoàn 324 tham gia chiến dịch; một số đại đội, tiểu đoàn pháo có trong biên chế của 5 sư đoàn bộ binh và các phân đội pháo của Đoàn 559. Lực lượng Pháo binh tham gia chiến dịch, bao gồm: 4 trung đoàn pháo binh của Bộ, trong đó có: 3 trung đoàn pháo xe kéo, 1 trung đoàn pháo mang vác, cùng với 277 khẩu pháo mang vác (gồm ĐKB, cối 120, cối 82 và ĐKZ) của các đơn vị: Trung đoàn 84, 38, 45, 368 và một số đại đội, tiểu đoàn của các trung đoàn pháo 16, 204, 675, Đoàn 559. Theo phương án, ngay từ tháng 1 năm 1971, Pháo binh đã hình thành 2 thành phần lực lượng chủ yếu là: Pháo binh của lực lượng tại chỗ và Pháo binh của lực lượng cơ động. Pháo binh của lực lượng tại chỗ bao gồm các đơn vị pháo binh của Mặt trận Trị - Thiên, của Đoàn 559 đang làm nhiệm vụ trên địa bàn chiến dịch. Pháo binh của lực lượng cơ động bao gồm các đơn vị pháo binh dự bị của Bộ, được tổ chức thành 4 cụm pháo binh. Lực lượng còn lại tăng cường cho các sư đoàn, trung đoàn bộ binh trên các hướng chiến dịch và được phân chia, bố trí theo chiều sâu nhiệm vụ từ Đông Hà qua Sa Mưu, Lao Bảo, Bản Đông và Sê Pôn... Theo cách bố trí này, Pháo binh tại chỗ có khả năng chi viện cho Đoàn 559, B4, B5 từng bước ngăn chặn địch khi chúng hành quân vượt qua biên giới và chặn địch ở khu vực Bản Đông - Lao Bảo, bảo vệ kho tàng và đường vận chuyển chiến lược. Pháo binh của lực lượng cơ động được bố trí ở tuyến sau, sẵn sàng chi viện cho các lực lượng cơ động thực hành phản công giành thắng lợi. 3. Tập trung ưu thế pháo binh hợp lý, đúng thời cơ vào các trận đánh quan trong, then chốt của chiến dịch. Sử dụng pháo binh tập trung, đạt được ưu thế cần thiết về hoả lực chi viện cho binh chủng hợp thành đánh thắng địch trong các trận đánh then chốt, đúng thời cơ để từng bước tạo ra đột biến có lợi cho sự phát triển của chiến dịch, là một trong những nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật tác chiến pháo binh. Tập trung pháo binh hợp lý được thể hiện ở kết quả hoả lực: chi viện kịp thời, liên tục, đạt hiệu quả cao trong chiến đấu, tạo nên những đòn hoả lực cần thiết, đủ mạnh để chế áp vào những đối tượng, mục tiêu chủ yếu và thời cơ quan trọng, là một trong những biện pháp tác chiến quan trọng của Bộ đội Pháo binh, nhằm bảo đảm chi viện cho bộ binh, xe tăng chiến đấu, giành thắng lợi trong mọi nhiệm vụ của chiến dịch. Xuất phát từ yêu cầu chung đó, trong chiến dịch này nguyên tắc tập trung luôn được các lực lượng Pháo binh vận dụng hết sức linh hoạt và sáng tạo, ngoài việc thể hiện ở số lượng, chất lượng Pháo binh được huy động, còn tập trung cả về con người, khả năng tổ chức chỉ huy, bảo đảm cho các trận đánh trọng điểm. Trong đợt mở đầu (30.1 - 7.2.1971), ta đã sử dụng 2 trung đoàn pháo binh (368 và 84) cùng với pháo binh của Đoàn 559, B5 tham gia chặn địch trên hướng Bản Đông, Trung đoàn 84 luồn sâu vào tây đường 71, nên đã tập kích hoả lực chính xác vào căn cứ hậu cần, sở chỉ huy địch ở Sa Mưu, Đông Hà điểm cao 544, 241, bãi đổ bộ đường không trên điểm cao 435 (bắc điểm cao 543), đồi Yên Ngựa (Ta Pang)... đập tan ý đồ lập căn cứ của Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn. Trận đánh địch trên điểm cao 723, ta đã khéo léo kết hợp giữa pháo xe kéo cùng với súng cối đi cùng chi viện cho Sư đoàn bộ binh 2 thực hành đánh chiếm điểm cao 723 giành thắng lợi, xoá sổ 2 trung đoàn địch tại đây. Từ ngày 15 đến ngày 23 tháng 3, ta sử dụng 4 khẩu Đ74 của Trung đoàn 368 bắn vào sở chỉ huy và trận địa pháo địch ở phía đông điểm cao 550, chi viện cho Sư đoàn 324 tiêu diệt gọn lữ đoàn thủy quân lục chiến địch trên điểm cao 550. Để mở đầu đợt tống công kích vào các lực lượng chủ yếu của địch, Pháo binh toàn chiến dịch đã tập trung hoả lực bắn phá mạnh mẽ vào 7 căn cứ hoả lực và lực lượng của địch tại Tà Cơn, Lao Bảo, Tà Púc, các điểm cao 462, bắc điểm cao 550 và 723, làm tê liệt hệ thống hoả lực pháo binh và hệ thống điều hành của chỉ huy địch. Cùng phối hợp với Pháo binh chiến dịch, trên hướng đông, Trung đoàn 84 sử dụng ĐKB bắn phá căn cứ đông Tà Cơn, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi. Khi Sư đoàn 2 và Sư đoàn 320 bước vào phản công, ta tập trung cả 2 trung đoàn pháo xe kéo (45, 368) cùng với súng cối đi cùng chi viện cho bộ binh, xe tăng đánh chiếm khu vực Bản Đông. Trước nguy cơ bị bao vây, tiêu diệt, đêm ngày 18 tháng 3, quân địch phải bỏ Bản Đông, để lại tất cả xe, pháo luồn theo đường rừng tháo chạy. Trung đoàn 45 tập trung hỏa lực phối hợp với pháo binh tại chỗ bắn vào đội hình rút chạy của địch. Có thể khẳng định, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là chiến dịch phản công có quy mô lớn và hiệp đồng tác chiến binh chủng bài bản. Cùng với sự phát triển của nghệ thuật chiến dịch, nghệ thuật sử dụng pháo binh chiến dịch có những bước phát triển mới: tổ chức hai lực lượng cơ bản là lực lượng pháo binh tại chỗ và lực lượng pháo binh cơ động để có thể đánh phủ đầu chi viện cho lực lượng chặn, cắt, đánh tiêu hao, tiêu diệt từng bước không cho địch thực hiện được ý đồ đánh chiếm Đường 9 - Nam Lào, đồng thời có lực lượng Pháo binh dự bị mạnh, sẵn sàng chi viện cho lực lượng cơ động thực hành phản công giành thắng lợi triệt để. Với thế bố trí pháo binh hợp lý, chúng ta đã tạo ra khả năng, thế đánh địch trên mọi hướng; cả phía trước, phía sau, bên sườn và có khả năng khống chế hoả lực trên phạm vi toàn chiến dịch. Việc phân chia pháo binh trong chiến đấu đã tạo ra cấp nào cũng có hoả lực nắm trong tay, tập trung nhiều hơn cho lực lượng cơ động tiến công để tạo sức mạnh tổng hợp, giải quyết triệt để nhiệm vụ chiến dịch. Sự tận dụng ưu thế hoả lực của từng loại pháo để giải quyết mâu thuẫn giữa đánh tập trung và đánh rộng khắp; phát huy hiệu quả hoả lực của pháo xe kéo, coi trọng hoả lực pháo đi cùng để luồn sâu, đánh hiểm, tạo ra thế đánh, thế chặn cắt và thế phản công hết sức hiệu quả. Như vậy, nghệ thuật sử dụng pháo binh trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971 đã khẳng định vai trò quan trọng của hoả lực pháo binh trong chiến dịch hiệp đồng binh chủng, mở đầu một thời kỳ mới của nghệ thuật sử dụng pháo binh trong các chiến dịch phản công, trong tác chiến hiệp đồng quân binh chủng những năm tiếp sau đó của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những kinh nghiệm sử dụng pháo binh trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào nói riêng, trong kháng chiến chống Mỹ nói chung vẫn còn có giá trị thực tiễn thiết thực cho công cuộc xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2025, 07:13:46 pm MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG TĂNG THIẾT GIÁP TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO Đại tá TẠ QUANG THỤC Phó Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (30.1 - 23.3.1971) là chiến dịch quy mô lớn của quân và dân ta phối hợp với các lực lượng vũ trang cách mạng Lào tiến hành và giành thắng lợi to lớn, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn, góp phần làm thất bại chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta phát triển thuận lợi, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân Lào anh em. Trong chiến dịch này, lực lượng Tăng thiết giáp được sử dụng với quy mô và số lượng lớn nhất tính đến thời điểm đó (3 tiểu đoàn, gồm 88 xe tăng, xe thiết giáp các loại), được Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng phối thuộc cho các trung đoàn, sư đoàn bộ binh, chiến đấu 5 trận trong giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của chiến dịch, trong đó có trận then chốt, then chốt quyết định. Một số trận đạt hiệu suất chiến đấu cao như trận tiến công tiêu diệt đich phòng ngự điểm cao 543 (25-2) và trận đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 quân đội Sài Gòn ở điểm cao 550 (22-3). Trong đợt 1 chiến dịch (30.1 - 7.2.1971), địch điều động lực lượng chuẩn bị tiến công, ta triển khai thế trận nhằm tiêu hao lực lượng và làm chậm bước tiến của địch. Các đơn vị xe tăng được lệnh cơ động đến vị trí tập kết bí mật, an toàn: Tiểu đoàn tăng 198 chiếm lĩnh các khu vực tập kết ở phía tây và bắc Đường 9; Tiểu đoàn tăng 297 hành quân theo trục đường 16 và đường 10 xuống khu vực phía bắc Bản Đông; Tiểu đoàn tăng 397 từ Quảng Bình cũng hành quân vào khu vực bắc Đường 9, chuẩn bị tham gia chiến đấu. Trong đợt 2 chiến dịch (8.2 - 11.3.1971), ta triển khai hoạt động tác chiến rộng khắp, nhằm ngăn chặn dịch từng bước, tập trung lực lượng bẻ gãy cánh quân phía bắc, đánh thiệt hại nặng cánh quân phía nam và tích cực chuẩn bị tiến công vào đội hình cơ động của địch. Ngày 25 tháng 2 Tiểu đoàn tăng 198 phối thuộc cho bộ binh tiến công địch phòng ngự ở điểm cao 543 và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh chiếm sở chỉ huy Lữ dù 3 và trận địa hoả lực của địch. Xe tăng 555 đã anh dũng chiến đấu, bắn rơi 1 máy bay F4, cùng các lực lượng chiến dịch tiêu diệt 1 tiểu đoàn bộ binh địch, 1 đại đội pháo, sở chỉ huy Lữ dù 3, bắt sống 138 tên, trong đó có viên lữ đoàn trưởng cùng ban tham mưu Lữ dù 3 quân đội Sài Gòn. Trong trận này, Tiểu đoàn tăng 198 đã làm tốt công tác chuẩn bị, từ ngày 18 tháng 2 Tiểu đoàn trưởng và các đại đội trưởng đã nhiều lần trinh sát thực địa và thấy rằng các hướng tây, tây bắc và đông bắc điểm cao 543 độ dốc lớn, xe tăng không thể lên được chỉ có hướng đông nam độ dốc thoải và thấp, xe tăng có thể lên được nhưng có nhiều cây to, nếu chặt cây để mở đường thì sẽ bị máy bay địch phát hiện. Vì vậy, để thực hiện quyết tâm đưa được 1 đến 3 xe tăng đánh vào sở chỉ huy Lữ dù 3 của địch, đơn vị đã đề nghị công binh mở đường cho xe tăng tiến công từ hướng đông nam. Để giữ bí mật, bất ngờ, các cây to không chặt đổ ngay mà chỉ cưa đứt phần lớn thân cây về hướng tiến của xe tăng, khi có lệnh xuất kích thì xe tăng sẽ húc đổ cây để cơ động. Bằng cách này, 3 xe tăng của Tiểu đoàn tăng 198 đã nhanh chóng vượt qua hoả lực ngăn chặn của pháo binh và máy bay địch, phối hợp hiệp đồng chiến đấu tốt, phát huy được sức đột kích mạnh, thọc sâu nhanh, trong đó xe tăng 555 đã dũng mãnh đánh thẳng vào sở chỉ huy Lữ dù 3 ở điểm cao 543. Xe tăng đã lợi dụng kết quả vây lấn của bộ binh, phối hợp với các lực lượng tiêu diệt gọn quân địch, nhanh chóng làm chủ chiến trường. Ngày 27 tháng 2, Đại đội tăng 7 thuộc Tiểu đoàn tăng 297 và Đại đội tăng 9 thuộc Tiểu đoàn tăng 198 phối thuộc cho bộ binh đánh địch phản kích chiếm lại điểm cao 543, tiêu diệt một bộ phận quân địch thuộc Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù đang dừng lại ở khu vực điểm cao 543 và tiến công địch ra phản kích ở đồi Không tên (nam điểm cao 543). Mặc dù thời gian chiến đấu gấp, công tác nắm địch và chuẩn bị chiến đấu chưa được tốt, nhưng xe tăng đã hoàn thành nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu, vừa đánh trả máy bay địch, vừa khắc phục đường lầy dốc, tiêu diệt nhiều xe tăng và bộ binh địch, đánh bật chúng khỏi điểm cao 543, tạo điều kiện cho bộ binh ta tiêu diệt Thiết đoàn 17 và đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 8 dù của quân đội Sài Gòn. Trong đợt 3 chiến dịch (12.3 - 23.3.1971), thực hiện kế hoạch tiến công địch rộng khắp, đồng thời tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định, ngày 20 và 21 tháng 3, xe tăng được sử dụng với lực lượng lớn (5 đại đội) phối thuộc cho các trung đoàn bộ binh tiêu diệt địch phòng ngự ở Bản Đông và đánh địch rút chạy khỏi Bản Đông. Tiếp đó, ngày 23 tháng 3, xe tăng phối thuộc cho bộ binh tiến công Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 phòng ngự điểm cao 550. Do chuẩn bị gấp, khắc phục vật cản cho xe tăng gặp khó khăn và bị máy bay địch đánh phá quyết liệt, nên cả hai hướng tiến công địch ở Bản Đông đều triển khai chiến đấu chậm, sáng 20 tháng 3, đến Bản Đông thì địch đã rút chạy, xe tăng được lệnh cùng bộ binh chuyển sang truy kích địch theo trục Đường 9 tới Huội San... Đến 21 tháng 3, xe tăng cùng các lực lượng ta đã hoàn toàn làm chủ Bản Đông. Kết quả đợt 3, lực lượng Tăng thiết giáp cùng với bộ binh đã tiêu diệt khoảng 1.600 tên địch, bắt 87 tù binh, thu 289 súng các loại, bắn rơi 51 máy bay, phần lớn là máy bay lên thẳng, riêng lực lượng Tăng thiết giáp bắn rơi 3 máy bay, thu 1 xe tăng M41, 3 xe bọc thép M113, cùng các lực lượng khác thu thêm 7 xe tăng, xe thiết giáp và một số xe quân sự của địch. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào khẳng định vai trò quan trọng của lực lượng Tăng thiết giáp trong đội hình binh chủng hợp thành. Lực lượng Tăng thiết giáp không chỉ tham gia chiến dịch tiến công mà còn hoàn thành tốt nhiệm vụ trong chiến dịch phản công và các loại hình chiến dịch khác. Mặc dù lực lượng Tăng thiết giáp được sử dụng tham gia tác chiến chưa nhiều, lần thứ hai tham gia chiến dịch phản công (sau Chiến dịch phản công 139 trên chiến trường Lào cuối 1969 - đầu 1970). Trong chiến dịch này, lực lượng Tăng thiết giáp tham gia với số lượng tương đối lớn và được tập trung sử dụng vào các trận then chốt, then chốt quyết định và các trận đánh quan trọng của chiến dịch. Tăng thiết giáp đã vận dụng nhiều hình thức chiến thuật như tiến công địch phòng ngự điểm cao, đánh địch phản kích và đánh đuổi địch rút chạy... Cán bộ, chiến sĩ thể hiện rõ tinh thần quyết tâm tiêu diệt địch, vận dụng linh hoạt, sáng tạo cách đánh của chiến dịch, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Việc chọn thời cơ nổ súng vào ban ngày và không cưa đứt hoàn toàn những cây to trên đường tiến công điểm cao 543, vừa tiết kiệm công sức bộ đội, vừa bảo đảm bí mật bất ngờ; sáng kiến lắp thêm súng máy 12,7mm trên xe tăng PT-76 góp phần bắn rơi máy bay địch, bảo vệ đội hình tiến công của ta. Đó là sự sáng tạo độc đáo xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn trong chiến đấu của bộ đội Tăng thiết giáp và những yêu cầu cụ thể của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Về đội hình chiến đấu của Tăng thiết giáp, trong điều kiện địa hình không cho phép, số lượng xe tăng, xe thiết giáp của ta có hạn và tiến công địch phòng ngự trên từng mỏm đồi như ở dãy điểm cao 543, thì tổ chức đội hình 1 thê đội và đội dự bị là phù hợp. Thực tế cho thấy đội hình này vừa tập trung được sức mạnh đột phá, vừa có điều kiện phát triển chiến đấu liên tục, sử dụng 1 đại đội tăng bí mật cơ động đến khu vực nam Đường 9 để tiến công địch ở điểm cao 550 là hành động gây bất ngờ đối với địch, góp phần làm cho trận đánh nhanh chóng giành thắng lợi. Trong cách đánh chung của binh chủng hợp thành, xe tăng đã lợi dụng kết quả vây lấn, tiến công của bộ binh để cô lập, tiêu hao lực lượng và phương tiện của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch dứt điểm bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng. Thực hiện cách đánh này, Tăng thiết giáp có điều kiện làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu, sau đó cơ động triển khai đội hình tiến công địch, nâng cao sức mạnh đột kích, hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trong thời gian ngắn. Với những ưu điểm đó, Tăng thiết giáp đã phát huy tốt vai trò là lực lượng đột kích quan trọng của lục quân, phát huy được tác dụng của mọi vũ khí trên xe, hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh, công binh và các lực lượng khác, đột phá mạnh, thọc sâu nhanh, kiên quyết tiêu diệt địch, làm chủ chiến trường. Tuy vậy, do công tác bảo đảm chưa chu đáo nhất là bảo đảm cơ động, phòng không, kỹ thuật, thông tin liên lạc... nên số lượng Tăng thiết giáp vào trực tiếp chiến đấu chưa được nhiều (toàn chiến dịch mới sử dụng 5/8 đại đội), có đơn vị như Đại đội tăng 9 thuộc Tiểu đoàn 198 có 9 xe tăng, khi đánh chiếm điểm cao 543, do chuẩn bị kỹ thuật không tốt nên chỉ có 5 xe bước vào chiến đấu. Có trường hợp do thông tin liên lạc không thông suốt nên nhận lệnh chiến đấu chậm (lực lượng dự bị của Đại đội tăng 9 thuộc Tiểu đoàn tăng 198 khi tiến công điểm cao 543 ngày 25-2). Sử dụng lực lượng Tăng thiết giáp có trận chưa phù hợp, như sử dụng lực lượng Tăng thiết giáp đánh vào quân địch mạnh ở trận đánh địch phản kích điểm cao 543 ngày 27 tháng 2, dịch có 70 xe tăng các loại, được hoả lực không quân chi viện, trong khi đó ta chỉ có 7 xe T54 và 3 xe PT-76. Do công tác nắm địch chưa tốt, ta không tổ chức hoả lực phòng không bắn máy bay địch, không tăng cường vũ khí chống tăng cho các đơn vị... nên bộ binh va xe tăng bị tổn thất lớn, riêng xe tăng cháy và hỏng 9 chiếc; sử dụng lực lượng Tăng thiết giáp còn thiếu tập trung nên không tạo được sức mạnh áp đảo quân địch, như trận tiến công tiêu diệt địch ở điểm cao 543, Đại đội tăng 9 có 6 xe tăng, cũng tổ chức thành 2 thê đội, môi thê đội 3 xe. Công tác chuẩn bị chiến đấu, tổ chức hiệp đồng có trận làm chưa tốt, nhất là giữa xe tăng với bộ binh, triển khai đánh địch chậm, hành động chiến đấu của bộ binh và xe tăng không nhịp nhàng, bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch (trận Bản Đông, xe tăng đã xuất kích chiếm tuyến triển khai, nhưng bộ binh chưa vào kịp nên xe tăng phải quay ra). Có trận do hiệp đồng chưa tốt nên xe tăng bị tổn thất lớn, Đại đội tăng 7 thuộc Tiểu đoàn 297 trong trận đánh Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 quân dù ở nam điểm cao 543, do nắm không chắc địch và địa hình, triển khai đội hình chiến đấu của xe tăng không có pháo binh, phòng không chi viện nên chỉ có 1 xe tăng vào chiến đấu, 6 xe còn lại đều bị máy bay địch đánh hỏng. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2025, 07:16:32 pm Từ thực tiễn kinh nghiệm tác chiến của lực lượng Tăng thiết giáp trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971, để lực lượng Tăng thiết giáp phát huy vai trò và khả năng của mình, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong chiến dịch phản công, chúng tôi xin nêu một số vấn đề để nghiên cứu:
Một là, nắm chắc tình hình địch, phán đoán đúng âm mưu, thủ đoạn, quy luật hoạt động, hướng tiến công của chúng, trên cơ sở đó xây dựng phương án tác chiến và sử dụng Tăng thiết giáp phù hợp. Đây là yêu cầu hàng đầu quyết định thắng lợi của chiến dịch phản công. Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, lực lượng Tăng thiết giáp đã quán triệt sâu sắc nhiệm vụ và cách đánh của chiến dịch, làm tốt công tác nghiên cứu, nắm vững tình hình địch, đề xuất với trên các phương án sử dụng phù hợp, do đó Tăng thiết giáp được sử dụng cùng binh chủng hợp thành đánh một số trận then chốt, then chốt quyết định như tiến công địch ở điểm cao 543, 550, tiến công địch phòng ngự Bản Đông... đạt hiệu suất chiến đấu cao. Tuy nhiên, có trận do nắm địch chưa tốt, chuẩn bị chiến đấu không chu đáo, hiệp đồng thiếu chặt chẽ dẫn đến tổn thất lớn. Trong tương lai, địch chiếm ưu thế về vũ khí công nghệ cao, về tác chiến điện tử, về sức cơ động..., tình huống diễn biến rất mau lẹ và phức tạp. Do đó nghiên cứu, nắm vững tình hình địch, dự đoán đúng âm mưu, thủ đoạn tác chiến của chúng là nội dung rất quan trọng, trên cơ sở đó để xác định phương án tác chiến và sử dụng Tăng thiết giáp phù hợp. Hai là, sử dụng tập trung Tăng thiết giáp vào hướng, mục tiêu tiến công chủ yếu, các trận then chốt, then chốt quyết định của chiến dịch. Chiến dịch phản công trong tương lai sẽ diễn ra rất ác liệt, lực lượng Tăng thiết giáp của ta hạn chế so với lực lượng Tăng thiết giáp và phương tiện chống tăng của địch nhiều lần cả về số lượng và chất lượng, nên chỉ có sử dụng Tăng thiết giáp tập trung mới tạo được lực lượng đủ mạnh để đánh thắng địch. Để đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong từng trận then chốt, then chốt quyết định, việc bố trí, sử dụng lực lượng Tăng thiết giáp trong chiến dịch phản công cần phải linh hoạt, sáng tạo, có thể tập trung lực lượng nhanh nhất vào nhiệm vụ, hướng, mục tiêu chủ yếu, tạo ra ưu thế hơn địch tại thời điểm quyết định để đánh bại lực lượng tiến công của chúng. Thực tiễn trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, so sánh tương quan lực lượng của ta và địch là 1/7, nhưng do ta biết tập trung lực lượng Tăng thiết giáp phù hợp nên trong nhiều trận đánh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tiêu biểu là trận then chốt chiến dịch ngày 20 và 21 tháng 3, sử dụng tới 5 đại đội tăng tham gia, nên trong thời gian ngắn ta đã tạo được sức mạnh tiến công địch co cụm phòng ngự Bản Đông, đồng thời cùng bộ binh hoàn thành tốt nhiệm vụ truy kích địch theo trục Đường 9 lên Huội San. Ba là, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật của xe tăng trong chiến dịch phản công. Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định khả năng hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của Tăng thiết giáp, vì có cách đánh phù hợp mới phát huy được sức mạnh đột kích, cùng bộ binh và các lực lượng chiến dịch tạo thành sức mạnh tổng hợp trong chiến đấu. Tăng thiết giáp phải căn cứ vào tình hình mọi mặt như nhiệm vụ và cách đánh chiến dịch, cách đánh của Tăng thiết giáp trong đội hình binh chủng hợp thành, đặc biệt là nắm vững trạng thái của địch trong từng thời điểm nhất định để vận dụng các hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu cho phù hợp. Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Tăng thiết giáp đã vận dụng nhiều hình thức chiến thuật như tiến công địch phòng ngự trận địa, tiến công tiêu diệt địch phản kích, co cụm, rút chạy...; với nhiều thủ đoạn chiến đấu được vận dụng như đột phá trận địa phòng ngự đột phá kết hợp thọc sâu vào sở chỉ huy... Từ thực tế trên có thể nghiên cứu vận dụng các hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu của Tăng thiết giáp trong từng trang thái dịch cụ thể: - Khi địch ở trạng thái cơ động tiến công, Tăng thiết giáp có thể vận dụng hình thức chiến thuật vận động tiến công và thủ đoạn đột kích là chủ yếu. - Khi địch ở trạng thái tạm dừng, Tăng thiết giáp có thể vận dụng hình thức chiến thuật vận động tập kích và thủ đoạn đột kích là chủ yếu, kết hợp với thủ đoạn thọc sâu khi có điều kiện. - Khi địch ở trạng thái co cụm, thì Tăng thiết giáp dựa vào thế trận khu vực phòng thủ địa phương, thế trận chiến dịch phản công, hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh và các lực lượng chiến dịch, có thể vận dụng hình thức chiến thuật tiến công trận địa, kết hợp với thủ đoạn đột phá là chủ yếu, đồng thời kết hợp linh hoạt các thủ đoạn thọc sâu vu hồi... để tiêu diệt địch. Bốn là, tổ chức chỉ huy hiệp đồng tác chiến chặt chẽ, liên tục giữa lực lượng Tăng thiết giáp với các lực lượng tham gia chiến dịch. Tăng thiết giáp thường được tăng cường, phối thuộc cho bộ binh, đảm nhiệm nhiệm vụ trên hướng tiến công chủ yếu, thực hiện các trận đánh then chốt, then chốt quyết định của chiến dịch. Người chỉ huy binh chủng hợp thành cần có nhiều biện pháp nắm chắc các đơn vị xe tăng trên các hướng, kịp thời điều chỉnh, bổ sung kế hoạch tác chiến, chỉ huy xử trí tình huống mau lẹ, quyết đoán. Để nâng cao hiệu quả tổ chức chỉ huy đối với lực lượng Tăng thiết giáp, chỉ huy binh chủng hợp thành cần thông qua đại diện Tăng thiết giáp và bảo đảm thông tin liên lạc vững chắc trong mọi tình huống. Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng cả về quân sự và chính trị. Đánh bại quân chủ lực ngụy dưới sự yểm trợ của Mỹ, đánh dấu một bước thất bại nghiêm trọng của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", mở ra thời cơ mới đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng. Bộ đội Tăng thiết giáp sau 4 năm chiến đấu trên chiến trường miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế, đã tham gia 4 chiến dịch, trong đó, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh dấu sự phát triển mới về quy mô sử dụng lực lượng và nghệ thuật tác chiến của Tăng thiết giáp trong đội hình binh chủng hợp thành. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ sử dụng Tăng thiết giáp trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào cách đây 40 năm vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Hiện nay, trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc nâng cao trình độ và khả năng chiến đấu của quân đội ta là vấn đề vừa cấp thiết trước mắt, vừa có tính cơ bản lâu dài. Vì vậy, Binh chủng Tăng thiết giáp đã nghiêm túc tổ chức tổng kết hoạt động tác chiến của lực lượng Tăng thiết giáp trong chiến dịch này nhằm tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của Tăng thiết giáp trong chiến tranh giải phóng dân tộc và vận dụng những bài học kinh nghiệm đó vào xây dựng và huấn luyện nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Binh chủng. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2025, 07:23:28 pm LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN VỚI CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO VÀ CÁC CHIẾN TRƯỜNG PHỐI HỢP NĂM 1971 Thiếu tướng, TS ĐỖ VĂN THUYẾT Viện trưởng Viện Lịch sử Công an - Bộ Công an Cách đây 40 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta phối hợp với quân và dân các bộ tộc Lào mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn, lập nên chiến công to lớn. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho cách mạng ba nước Đông Dương, làm phá sản một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ ở miền Nam, mở ra triển vọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào là kết quả hợp thành của nhiều yếu tố, trong đó có sự phối hợp chiến đấu của các lực lượng và liên minh đoàn kết đặc biệt giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Lào trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Dưới đây, chúng tôi xin đề cập chủ đề "Lực lượng Công an nhân dân với Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và các chiến trường phối hợp năm 1971". 1. Phối hợp tiến công địch, bảo đảm an ninh trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, đế quốc Mỹ đã tập trung lực lượng không quân, kể cả máy bay chiến lược B-52, kết hợp với chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý, đánh phá rất ác liệt đường hành lang tuyến vận chuyển chiến lược Trường Sơn của ta nhằm ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, nhưng ý đồ của chúng không thực hiện được. Vì vậy, giới cầm quyền Mỹ mà nòng cốt là Hội đồng An ninh quốc gia, đã đề nghị với Tổng thống Mỹ Níchxơn là phải bằng mọi cách đánh phá việc bảo đảm hậu cần của ta ngay từ gốc. Bước vào Đông Xuân 1970-1971, đế quốc Mỹ một mặt đẩy mạnh chương trình "bình định" nông thôn miền Nam mặt khác ráo riết chuẩn bị các cuộc tiến công lớn trên chiến trường ba nước Đông Dương. Ngày 2 tháng 2 năm 1971 Tổng thống Mỹ đã thông qua kế hoạch mở ba cuộc hành quân: "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào- cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" đánh lên vùng Đông Bắc Campuchia và cuộc hành quân "Quang Trung 4" đánh vào vùng Ba biên giới (Tây Nguyên) nhằm thực hiện âm mưu chặn đứng hướng tiếp tế của ta qua đường Hồ Chí Minh và cảng Kông Pông Xom (Campuchia), cô lập cách mạng miền Nam, uy hiếp miền Bắc, hỗ trợ cho chiến tranh đặc biệt ở Lào và xâm chiếm toàn bộ Campuchia. Trong ba cuộc hành quân nói trên, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào được Mỹ xác định là lớn nhất và chủ yếu hòng nhanh chóng phá vỡ "trung tâm hệ thống hậu cần chiến lược" và "bóp nghẹt từ cuống họng" tuyến huyết mạch chi viện của ta; làm cho cách mạng Đông Dương "tàn lụi", lực lượng ta suy yếu không còn đủ sức tập trung đánh lớn trong mùa khô 1971-1972. Với tham vọng đó, giới cầm quyền Mỹ coi cuộc hành quân này có ý nghĩa quyết định, tạo ra bước ngoặt thực sự cho cuộc chiến tranh xâm lược của chúng đang bế tắc ở Việt Nam. Từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã dự báo tình hình địch có thể mở cuộc tiến công lớn ra vùng Trung - Hạ Lào, vùng giải phóng Đông Bắc Campuchia và chắc chắn chúng sẽ đánh vào tuyến đường Hồ Chí Minh, đánh ra Đường số 9 hòng mở rộng chiến tranh trên chiến trường ba nước Đông Dương, ngăn chặn đường vận chuyển chiến lược của ta. Bộ Chính trị đã chỉ thị cho các chiến trường tích cực chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng và chủ động đánh địch làm thất bại mọi âm mưu của chúng, tạo bước chuyển biến có tính chiến lược cho cách mạng ba nước Đông Dương. Ngay từ khi cuộc hành quân của địch mới triển khai, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã thống nhất với Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào mở chiến dịch phản công lớn đập tan âm mưu của chúng. Bộ Chính trị chỉ thị cho các chiến trường "nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược". Chiến thắng trận này ta sẽ tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực tinh nhuệ của quân ngụy Sài Gòn và phá hủy một mảng phương tiện chiến tranh của chúng; tiêu hao một bộ phận quân Mỹ và làm thất bại cố gắng cao nhất của địch trong chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược, bảo vệ tốt kho tàng của ta, tạo nên những chuyển biến căn bản cho phong trào cách mạng ba nước Đông Dương, củng cố niềm tin cho nhân dân ta và bạn bè trên thế giới. Chỉ thị của Bộ Chính trị còn nêu rõ: các chiến trường cần nắm chắc cơ hội địch điều động phần lớn lực lượng cơ động của chúng ra tuyến ngoài mà đẩy mạnh tiến công và nổi dậy đánh phá "bình định" của địch. Đây không chỉ là nhiệm vụ phối hợp mà còn là "nhiệm vụ thiết thân" của mỗi chiến trường. Đầu năm 1971, Hội nghị lần thứ 19 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp xác định nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta là: Đoàn kết chặt chẽ với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia anh em, cùng chiến đấu đánh bại âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở ba nước Đông Dương, tiến tới đánh đuổi chúng ra khỏi khu vực này. Ngày 31 tháng 1 năm 1971, Trung ương Đảng kêu gọi quân và dân ta trên Mặt trận Đường 9 nhận rõ thời cơ lớn "quân địch đã ra cho ta đánh trên một chiến trường bất lợi cho chúng", hãy nêu cao tinh thần quyết thắng, tiến công quyết liệt tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ bằng được đường Hồ Chí Minh, giành toàn thắng cho chiến dịch. Lời kêu gọi của Trung ương Đảng động viên các lực lượng, làm tăng thêm sức mạnh đoàn kết chiến đấu và lòng tin vào thắng lợi, cổ vũ khí thế đánh giặc lập công của toàn quân và toàn dân ta trên khắp các chiến trường. Tư tưởng cách mạng tiến công là vũ khí sắc bén để chiến thắng kẻ thù, là một yêu cầu khách quan của cách mạng. Mục đích cao nhất và cũng là yêu cầu cơ bản của cuộc đấu tranh là phải bảo đảm an toàn cho cách mạng, không để kẻ địch phá hoại, tạo điều kiện cho cách mạng phát triển không ngừng. Muốn tích cực phòng ngừa, bảo vệ cách mạng phải quán triệt tư tưởng tiến công và tiến công liên tục. Đó là vấn đề có tính nguyên tắc. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2025, 07:26:18 pm Nắm vững quan điểm trên, phục vụ Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công an, Ban An ninh Trung ương Cục đã chỉ đạo an ninh các cấp tập trung lực lượng cho phía trước, phối hợp chặt chẽ với quân đội nhân dân và các lực lượng khác chủ động tiến công địch, đồng thời tích cực bảo vệ giao thông, giữ gìn bí mật các kế hoạch vận chuyển, bảo vệ các cuộc hành quân, trú quân, đảm bảo vũ khí nằm trong tay những người tin cậy; bảo vệ kho tàng đường hành lang vận chuyển, góp phần đảm bảo hậu cần, vũ khí, đạn dược cho chiến trường.
Tại Trị - Thiên, lực lượng an ninh chia thành nhiều tô công tác bám sát địa bàn, phối hợp với các lực lượng vũ trang bảo vệ nhân dân đi sơ tán; điều tra bắt giữ tên Pả Ker và đồng bọn lôi kéo người ở thôn Rò Leng, xã Thuận, huyện Hướng Hoá, sang Lào theo địch; bảo vệ các cơ quan lãnh đạo Khu ủy, Tỉnh ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch; truy bắt biệt kích thám báo ở khu vực ven Đường 9; đồng thời hướng vào đô thị, thị xã, thị trấn, vùng xung yếu cùng với các lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, đẩy mạnh diệt ác phá kìm, hạ uy thế địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy đấu tranh chống bình định, phát triển phong trào nông thôn đồng bằng và thành phố. Đầu năm 1971, Đội trinh sát vũ trang Cam Lộ (Quảng Trị) phối hợp với bộ đội đánh bốt Cu Hoan, diệt 14 tên địch; tiến công bọn biệt kích trên tuyến Trường Sơn, diệt 10 tên, thu nhiều vũ khí. Ở thị xã Quảng Hà, tổ trinh sát vũ trang cải trang là biệt động quân đột nhập Ty sắc tộc, diệt 7 tên, làm bị thương 11 tên. Cùng thời gian trên, Đội trinh sát vũ trang thành phố Huế, do đồng chí Vũ Hồng Sơn chỉ huy, phối hợp với lực lượng biệt động tập kích vào xã Thủy Phước, đánh sập trụ sở, diệt và làm bị thương 15 lính địa phương. Đêm 28 tháng 2 năm 1971, an ninh huyện Hương Trà phối hợp với lực lượng biệt động đột nhập vào ấp chiến lược Đốc Bưu, xã Hương Sơ (phía bắc thành phố Huế), diệt 2 tề điệp, làm bị thương 4 tên, thu 6 súng và một số lựu đạn. Tháng 2 năm 1971, đội trinh sát vũ trang thành phố Huế tập kích vào phân chi cảnh sát Việt Nam cộng hòa ở xã Mỹ Thủy - địa bàn bình định trọng điểm của địch ở huyện Hương Thủy, diệt 15 tên, phần lớn là cảnh sát nghĩa quân và nhân viên chính quyền xã của chúng. Tiếp đó, Đội trinh sát vũ trang phối hợp với Tổ biệt động tiến công trung đội bảo an, diệt và bắt 36 tên, thu nhiều vũ khí, gây thối động trong hàng ngũ địch. Thông qua phát động quần chúng phòng gian bảo mật, lực lượng an ninh Trị Thiên - Huế phối hợp với lực lượng khác đẩy mạnh tiến công chính trị vào bọn phản cách mạng, làm rõ 29 đối tượng làm tình báo viên cho địch ở vùng căn cứ nam Hướng Hoá; điều tra truy bắt tên Nguyễn Thám là mật báo viên của "Biệt đội sưu tầm" khu vực Phong Nhiêu, Phong Điền (Thừa Thiên); kịp thời ngăn chặn Nguyễn Hồng Minh là cán bộ Ban Binh vận Khu Trị - Thiên âm mưu trốn theo địch. Tháng 3 năm 1971, quân đội Sài Gòn tổ chức cái gọi là "mừng chiến thắng" ở rạp hát Tân Tân trên đường Trần Hưng Đạo, thành phố Huế. Nắm được tình hình, đội trinh sát vũ trang nội đô bố trí nữ trinh sát Nguyễn Thị Lài cải trang lọt vào đặt mìn hẹn giờ, diệt và làm bị thương hàng chục sĩ quan và binh lính địch, gây náo động trong thành phố. Trong trận địch càn quét vào xã Mỹ Thủy, huyện Hương Thủy, chúng đã phát hiện ra hầm bí mật của đồng chỉ huyện ủy viên và Xã đội trưởng. Đồng chí Nguyễn Đình Xướng, cán bộ an ninh vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ, cùng đồng đội dũng cảm dùng súng AK và lựu đạn chiến đấu diệt 12 tên địch, bắn bị thương một số tên khác. Bị trúng đạn gẫy chân, biết không thể thoát khỏi vòng vây địch, đồng chí Xướng đã chiến đấu, hút hoả lực địch về phía mình và đã anh dũng hy sinh để đồng đội đưa cán bộ lãnh đạo chuyển sang hầm bí mật khác an toàn1 (Đồng chí Nguyễn Đình Xướng được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 6 tháng 6 năm 1976). Đó là tấm gương của đồng chí Vũ Hồng Sơn, an ninh vũ trang thành phố suốt thời gian gần 2 năm hoạt động ở vùng Tứ Tây (Thủy An) luôn bị địch càn quét, lùng sục nhưng vẫn trung thành tuyệt đối với Đảng, bám trụ kiên cường, chiến đấu quên mình để bảo vệ cán bộ và cơ sở cách mạng. Ngày 17 tháng 3 năm 1971, địch càn quét phát hiện hầm bí mật của ta. Chúng cho cảnh sát bao vây, dùng loa gọi hàng. Đồng chí Vũ Hồng Sơn cùng đồng đội dũng cảm bất ngờ bật nắp hầm đánh trả địch quyết liệt, diệt 3 tên, làm bị thương 5 tên trước lúc hy sinh1 (Đồng chí Vũ Hồng Sơn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 29 tháng 1 năm 1996). Những trận diệt ác phá kìm, vũ trang tuyên truyền bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ sở cách mạng của an ninh Trị Thiên đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh chống địch càn quét, bình định, góp phần đưa 117 thôn tranh chấp giành được quyền làm chủ; 472/841 thôn có cơ sở quần chúng, 40 xã vùng giáp ranh có lực lượng an ninh xã và trung bình mỗi xã có 15 du kích. Những cuộc đấu tranh chống địch bắt lính, đôn quân, chống "quân sự hoá" học đường, chống vây ráp khủng bố, đòi chồng con tham gia chiến trận ở Đường 9 - Nam Lào trở về diễn ra hàng ngày. Qua đấu tranh, ta đã liên kết được mặt trận chống Mỹ rộng rãi, nhiều tổ chức yêu nước ra đời, làm cho hậu phương địch bị rối loạn, buộc phải phân tán lực lượng đối phó ở cả phía trước phía sau, hệ thống kìm kẹp của chúng ở cơ sở rệu rã và tan ra từng mảng. Đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, quân dân ta và các lực lượng cách mạng Lào đã đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn ở Đường 9 - Nam Lào, loại khỏi vòng chiến đấu 19.960 tên, bắt 1.142 tên; đánh thiệt hại nặng 3 sư đoàn tinh nhuệ của quân ngụy Sài Gòn; phá hỏng và thu được một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch. Lực lượng tình báo gián điệp, cảnh sát, tâm lý chiến, bình định nông thôn và bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở cũng bị tổn thất nặng nề. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2025, 07:33:27 pm 2. Đẩy mạnh hoạt động trên các chiến trường phối hợp.
Phối hợp với Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, an ninh các tỉnh Khu 5 đã cùng các lực lượng vũ trang tổ chức hàng trăm trận diệt ác, phá kìm, trấn áp hàng ngàn đối tượng là ngụy quyền ác ôn, tình báo gián điệp, phượng hoàng, cảnh sát, bình định của địch. Đáng chú ý là trận đánh ngày 9 tháng 2 năm 1971 của trinh sát vũ trang Hồ Thị Phương và Mai Thị Luận, an ninh quận 3 Đà Nẵng, đã bí mật gài mìn dưới gầm xe Jeép, diệt tên Hồ Diệp, trưởng ban hoạt vụ tình báo sưu tầm Vùng I chiến thuật và 3 sĩ quan ngụy. Tại Bình Định, an ninh phối hợp với lực lượng vũ trang liên tục tiến công địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên, bắt hàng trăm tề điệp, cảnh sát ác ôn, bình định; xoá 15 khu đồn, giải phóng hàng chục thôn ấp của huyện Phù Mỹ, Hoài Nhơn. Từ ngày 24 tháng 4 đến 4 tháng 5 năm 1971, an ninh vũ trang bảo vệ Tỉnh ủy Bình Định cùng lực lượng vũ trang địa phương phối hợp chống địch càn quét vào khu vực Đồi Chè, huyện Phù Cát, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm tên, trong đó có nhiều tên Mỹ và lính đánh thuê nước ngoài quân đội bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan và lãnh đạo của tỉnh. Ở Khu 6, an ninh phối hợp với lực lượng vũ trang được cơ sở hỗ trợ đánh diệt đoàn bình định số 13 tại ấp Lâm An, sát quận lỵ Thiên Giáo (Bình Thuận); diệt tên Nam Thiên, ấp phó an ninh ấp Dinh Cầu (Bình Tuy); trừng trị tên Quảng Đắc Trung, phó chủ tịch đảng "cộng hoà đại chúng" quận bộ Hàm Tân; tiến công làm tan rã đoàn bình định ở Nhuận Đức (Ninh Thuận). Tại Lâm Đồng, an ninh và lực lượng vũ trang địa phương tiến công Toà hành chính, Khu sĩ quan quân đội Sài Gòn ở thị xã Bảo Lộc; đột nhập ấp chiến lược Tân Lạc, Đồng Lạc và đoàn bình định ở quận lỵ Di Linh, gây cho địch nhiều thiệt hại. Trong những tháng đầu năm 1971, An ninh Tuyên Đức cùng các lực lượng khác đẩy mạnh tấn công chính trị vào hàng ngũ địch, tán phát trên 2 vạn truyền đơn, hàng trăm thư cảnh cáo bọn tề điệp, làm tan rã 6 ban tề ấp, trung đội phòng vệ dân sự; phối hợp với lực lượng vũ trang tiến công vào chi khu Đức Trọng, Tùng Nghĩa, Cầu Đất và 3 phân chi cảnh sát, làm cho địch hoang mang lo sợ, nhiều tên làm việc cầm chừng, có tên bỏ việc. Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, lực lượng An ninh kiên cường bám trụ, xây dựng cơ sở nắm tình hình, phối hợp với bộ đội và du kích địa phương đánh địch, trừng trị những tên đầu sỏ ác ôn và công an cảnh sát, tề điệp có nhiều nợ máu với nhân dân; làm tan rã nhiều đoàn bình định, hỗ trợ quần chúng nổi dậy đấu tranh phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ. Đêm 13 tháng 3 năm 1971, trinh sát vũ trang thị xã Long Khánh đột nhập rạp hát Đồng Tâm đặt mìn diệt 16 tên, trong đó có 2 sĩ quan cảnh sát đặc biệt, 2 đại úy quân cảnh, 1 ủy viên Toà thị chính tỉnh. Ngày 14 tháng 3, an ninh huyện Trảng Bom (Bà Rịa) điều tra bắt Nguyễn Thị Dê - mật báo viên của Chi cảnh sát Kiểm Tân, đã nhiều lần chỉ điểm cho địch đánh phá cơ sở cách mạng. Tiếp đó, An ninh phân khu miền Đông cùng du kích Long Cang tiến công đoàn bình định của địch ở xã Phước Vân, diệt 5 tên, trong đó có xã trưởng; An ninh xã Phước Tân kết hợp với binh vận tuyên truyền kêu gọi 150 phòng vệ dân sự và gần 100 bảo an rã ngũ về với gia đình. Giữa năm 1971, An ninh Bà Rịa - Long Khánh điều tra bắt giữ Thích Thông Ngộ, tên thật là Huỳnh Văn Tài (tức Huỳnh Cao Lãnh) quê ở Đức Phổ (Quảng Ngãi) làm tình báo viên cho địch. Y đã bị ta bắt khi đang xây dựng cơ sở mật báo cho dịch ở Xuân Lộc. Tại Sài Gòn - Gia Định, lực lượng trinh sát vũ trang phối hợp với biệt động liên tục tiến công vào các mục tiêu thuộc cơ quan đàn áp của địch như trại A Mắc (190 Trần Quốc Toản), bót Hàng Keo - Chi Lăng (Phan Đăng Lưu) gây cho chúng nhiều thiệt hại. Đặc biệt, ngày 10 tháng 11 năm 1971, trinh sát vũ trang Vũ Quang Hùng và Lê Văn Châu phục kích tại ngã tư đường Cao Thắng - Phan Thanh Giản (Điện Biên Phủ) trừ diệt tên phản động gây nhiều tội ác với nhân dân. Tại Tây Ninh, vận dụng phương thức đấu tranh "hai chân, ba mũi", lực lượng An ninh cùng bộ đội địa phương mở các đợt tấn công vào các thị trấn, huyện lỵ hỗ trợ quần chúng đấu tranh chính trị, chống phá kế hoạch bình định của địch, ở Gò Dầu, an ninh phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tấn công 3 chi khu cảnh sát, diệt 67 tên gây thôi động hàng ngũ địch. Hầu hết các cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm của địch bị quân và dân ta bỏ gãy. Vùng căn cứ giải phóng được giữ vững, lõm du kích, lõm chính trị phát triển, tạo thế đứng chân cho các lực lượng phá thế kìm kẹp của địch. Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, phong trào quần chúng đấu tranh chống địch càn quét, bình định gom dân diễn ra sôi động và quyết liệt. Căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Tho vừa chuyển về xã Long Tiên huyện Cai Lậy thì địch cho 2 tiểu đoàn, có máy bay yểm trợ đến càn quét. Lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ Tỉnh ủy phối hợp với bộ đội và du kích địa phương tích cực chống càn, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch. Trong lúc máy bay địch đang quần đảo, đồng chí Nguyễn Việt Thành (Tư Bốn) an ninh vũ trang bảo vệ Tỉnh ủy đã dũng cảm vượt qua lửa đạn, đưa các đồng chí lãnh đạo đến căn cứ dự bị an toàn. Trong 3 ngày chiến đấu, đồng chí Nguyễn Việt Thành đã diệt và làm bị thương 50 tên địch. Ngày 22 tháng 9, địch đổ quân càn quét vào xã Mỹ Phước Tây, lực lượng an ninh và vũ trang địa phương phối hợp chiến đấu diệt và làm bị thương 30 tên. Bọn chúng co cụm bị ta dùng dàn thun bắn lựu đạn gây sát thương hàng chục tên, phải bỏ dở cuộc càn quét. Tính đến cuối năm 1971, toàn tỉnh Mỹ Tho giải phóng 87 xã ấp với 67.000 dân, hàng trăm xóm ấp khác trước đây bị địch kìm kẹp gắt gao nay được nới lỏng. Chiến tranh du kích phục hồi. Thế tiến công bằng "hai chân, ba mũi" của quân và dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ngày càng mạnh mẽ quyết liệt làm cho địch lúng túng bị động đối phó Kế hoạch bình định của chúng bị đẩy lùi, hậu phương dịch ngày càng mất ổn định. Hòa chung chiến thắng vang dội trên khắp các chiến trường, ngày 31 tháng 5 năm 1971, quân và dân hai nước Việt Nam - Campuchia đã đánh thắng cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" của Mỹ và quân đội Sài Gòn, làm thất bại âm mưu của chúng hòng cô lập và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam và nhân dân Campuchia. Cùng thời điểm trên, quân và dân Tây Nguyên chủ động đánh địch, lập công xuất sắc, đập tan cuộc hành quân "Quang Trung 4" của quân đội Sài Gòn ra vùng Ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia, bảo vệ vững chắc căn cứ, kho tàng, đường vận chuyển chiến lược của ta. Sau gần 4 tháng (8.2 - 31.5.1971), quân và dân ta đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ hy sinh, phối hợp với quân và dân Lào, Campuchia đánh bại hoàn toàn ba cuộc hành quân "Lam Sơn 719", "Toàn thắng 1-71", "Quang Trung 4" của địch trên các địa bàn chiến lược Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và ngã ba biên giới. Chiến công to lớn đã làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam mở ra điều kiện mới cho quân và dân ta đẩy mạnh chống phá bình định, khôi phục thế trận chiến tranh nhân dân trên ba vùng chiến lược, đồng thời tạo thế mới, lực mới cho cách mạng Lào và Campuchia tiến lên giành thắng lợi cuối cùng. Chiến tranh đã lùi xa, thắng lợi Đường 9 - Nam Lào năm 1971 trở thành mốc son trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân hai nước Việt Nam - Lào. Thắng lợi đó để lại nhiều kinh nghiệm quý về nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân của Đảng ta; về tổ chức lực lượng cả nước đánh giặc, trong đó có sự phối hợp chiến đấu và bảo đảm an ninh của lực lượng công an nhân dân; về phát huy sức mạnh đoàn kết, liên minh chiến đấu với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, tạo điều kiện phát triển thế tiến công chiến lược vững chắc trên chiến trường ba nước Đông Dương, mở ra khả năng đánh thắng hoàn toàn chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2025, 07:35:02 pm HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÀ NHÂN DÂN THỪA THIÊN - HUẾ TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Đại tá ĐẶNG NGỌC NGHĨA Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy - Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên - Huế Năm tháng sẽ qua đi, nhưng sự tích anh hùng của một thời sục sôi "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" là những giá trị nhân văn cao cả của các thế hệ người Việt Nam vẫn sống mãi với thời gian, với lịch sử. Cùng với các lực lượng vũ trang có mặt trên chiến trường Quảng Trị, lực lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên - Huế đã tích cực tham gia phối hợp chiến đấu và đảm bảo chiến đấu trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, góp phần tô thắm chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh"1 (Quân đội Sài Gòn cộng với hỏa lực và hậu cần Mỹ là "công thức cơ bản" để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ), đầu năm 1971, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương, tổ chức những cuộc phản kích quy mô lớn, hòng giành thắng lợi có tính quyết định, làm chuyển biến cục diện chiến trường, tạo thế ổn định cho chính quyền Sài Gòn, rút thêm quân Mỹ về nước. Đối với chiến trường Trị - Thiên, mục tiêu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn khi mở cuộc hành quân đánh ra vòng ngoài là nhằm triệt phá kho tàng dự trữ chiến lược của ta; cắt đứt đường hành lang của tuyến vận tải quân sự chiến lược 559 - Đường Hồ Chí Minh; lập tuyến ngăn chặn cuộc tiến công của Quân giải phóng miền Nam; thử thách vai trò tác chiến của quân đội Sài Gòn thay thế cho quân Mỹ rút dân về nước; tạo thế gây sức ép đối với ta trên mặt trận ngoại giao. Nhằm mục tiêu đó, đầu tháng 2 năm 1971, địch, huy động 45.000 quân (gồm 30.000 quân đội Sài Gòn và 15.000 quân Mỹ), với sự chi viện trực tiếp của hỏa lực không quân, pháo binh Mỹ, mở cuộc hành quân mang tên "Lam Sơn 719", đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào. Ngoài ra tham gia cuộc hành quân này còn có một bộ phận quân phái hữu Lào phối hợp hoạt động ở phía tây Đường 9 và Mường Noòng. Kế hoạch tác chiến của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" được Bộ chỉ huy quân Mỹ và quân đội Sài Gòn xác định gồm các bước: trước hết, nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn làm chủ đoạn đường từ Bản Đông lên Sê Pôn, cắt đứt đường tiếp tế chính của ta; tiếp đó, đánh phá vùng Sa Đi - Mường Noòng, tiến vào Xa Van Na Khẹt; đánh phá vùng A Túc (Quảng Trị) đến A Sầu, A Lưới (Thừa Thiên) để mở rộng hành lang cơ động cho những cánh quân Mỹ yểm trợ phía sau tiến vào đất Lào. Đế quốc Mỹ dự dịnh sẽ kết thúc thắng lợi cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trước khi mùa mưa bắt đầu ở Lào (5-1971). Sớm nắm được ý đồ và dự đoán, đúng kế hoạch hành quân của địch, ngay từ đầu tháng 8 năm 1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Quân khu Trị - Thiên và Mặt trận Đường 9 khẩn trương chuẩn bị chu đáo để mở một chiến dịch phản công quy mô lớn, đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của chúng. Chấp hành chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Quân khu Trị - Thiên chuẩn bị những phương án đánh địch trong năm 1971. Mặt trận Đường 9 chuẩn bị sẵn sàng 3 phương án, cụ thể là: đánh địch tiến công hạn chế ra Nam Quân khu 4; phối hợp đánh địch hành quân lên khu vực Đường 9 - Nam Lào; chủ động tiến công trên tuyến phòng ngự theo kế hoạch mùa Xuân 1971. Trong chỉ thị cho Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm: "Nhất thiết phải thắng địch trong chiến dịch này, dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào cũng phải quyết tâm thắng lớn, vì đây là trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược"; các địa phương cần nắm cơ hội, đó là phần lớn lực lượng cơ động của địch được điều động ra tuyến ngoài (Đường 9 - Nam Lào) mà đẩy mạnh tiến công và nổi dậy đánh phá "bình định" của địch, mở rộng vùng giải phóng. Khi địch bắt đầu cuộc hành quân, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là Bộ Tư lệnh 702)1 (Theo Quyết định số 51/QD-QP, ngày 4 tháng 2 năm 1971, do đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng tham mưu phó làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy). Tham gia chiến dịch này gồm các đơn vị trong Binh đoàn 70 (các sư đoàn 304, 308, 320), Sư đoàn 2 (Quân khu 5), Sư đoàn 324 (134), 4 tiểu đoàn xe tăng, 3 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn pháo cao xạ, các trung đoàn, tiểu đoàn của Mặt trận B5, B4 và Đoàn 559. Sau hơn 50 ngày đêm chiến đấu (30.1 - 23.3.1971), quân và dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch, tiêu diệt và làm bị thương 19.960, bắt 1.142 tên; tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn, 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn, phá hủy và bắn rơi 556 máy bay, phá hủy 1.138 xe cơ giới1 (BQP-VLSQSVN, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002 tr.277)... Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn bị tổn thất lớn, trong đó có 5 tiểu đoàn bị thiệt hại từ 33 đến 50% quân số. Thiết đoàn 7 bị thiệt hại trên 50% quân số. Những tổn thất nặng nề về quân số và phương tiện chiến tranh trên đây càng gây tâm lý hoang mang, dao động trong binh lính và nhân viên chính quyền các cấp của chế độ Sài Gòn. Phối hợp với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, lực lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên - Huế đã tổ chức nhiều trận đánh ở vùng sâu, vùng ven, hỗ trợ cho việc khôi phục và phát triển phong trào ở vùng đồng bằng. Ở thành phố Huế, các đơn vị lực lượng vũ trang thành phố Huế tổ chức nhiều trận đánh ở vùng sâu, vùng ven. Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân có nhiều chuyển biến mới, diễn ra liên tục, dồn dập bao gồm nhiều tầng lớp, đã hình thành được nhiều tổ chức công khai hợp pháp, với những nội dung phong phú như: đòi dân sinh, dân chủ, đòi lật đổ Thiệu - Kỳ - Khiêm, đòi hoà bình, đòi Mỹ rút quân... Đặc biệt, sinh viên và học sinh Huế đã chủ động củng cố lại các tổ chức hợp pháp của mình; đưa người về nông thôn, đồng bằng các huyện Phú Vang, Phú Lộc, Quảng Điền, vào các thôn ấp bị địch tập trung để tổ chức các cuộc nói chuyện với nông dân về tình hình đấu tranh ở thành phố, tuyên truyền về thất bại của địch trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2025, 07:35:58 pm Phối hợp với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, thực hiện chỉ lệnh nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên, Trung đoàn 6 liên tục tiến công nhằm giam chân một bộ phận lực lượng lớn quân địch ở khu vực đường 12, không cho chúng tăng viện cho các cuộc hành quân "Lam Sơn 719".
Ở vùng đồng bằng, ngày 28 tháng 2 năm 1971, một số đơn vị vũ trang thành phố Huế cùng với lực lượng biệt động huyện Hương Trà đột nhập vào ấp chiến lược Đốc Bưu (xã Hương Sơ), tiêu diệt và làm bị thương nhiều tên dân vệ tịch thu toàn bộ súng và lựu đạn. Ở Hương Thủy, một đội trinh sát vũ trang đã đánh vào phân khu cảnh sát ở Mỹ Thủy tiêu diệt 15 tên địch, ở Phú Vang, ta bí mật tổ chức du kích ngay trong lực lượng phòng vệ dân sự như ở Phú Hồ trong lực lượng nghĩa quân như ở Phú Đa. Du kích mật ở những nơi này đã lấy vũ khí của địch để đánh địch và cung cấp cho lực lượng vũ trang huyện hàng trăm quả lựu đạn. Ở Phú Lộc, trong lúc Trung đoàn 4 được Quân khu giao nhiệm vụ đánh địch tạo thế, lực lượng vũ trang huyện và du kích ở Khu 1, 2 cùng đội biệt động huyện liên tục chiến đấu, giam chân lực lượng địch, không để chúng nống ra Đường 9 - Nam Lào tăng viện cho cuộc hành quân. Sau thất bại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719", thế và lực của địch bị suy sụp mạnh. Để cứu vãn tình thế, trấn an tinh thần binh lính và thăm dò lực lượng ta, địch tổ chức các cuộc hành quân lên miền Tây Quảng Trị và Thừa Thiên, tổ chức các buổi lễ "mừng thắng lợi" cuộc hành, quân "Lam Sơn 719"; đồng thời đẩy mạnh hoạt động bình định ở đồng bằng, ngăn chặn vùng giáp ranh, ra sức đôn quân, bắt lính để bổ sung quân số, ráo tiết tiến hành các hoạt động phục vụ cho cuộc bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ mới của chính quyền Sài Gòn. Từ tháng 4 năm 1971 trở đi, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân "tìm diệt" quy mô lớn lên miền núi như cuộc hành quân "Lam Sơn 720" của Sư đoàn 1 bộ binh quân lực Việt Nam cộng hòa và địa phương quân lên vùng Tà Lương, A Tây và một số cuộc hành quân khác lên vùng Nam Đông, Bình Điền. Với tinh thần cảnh giác cao, ngày 2 tháng 6, bộ đội ta đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến (2-6-1971) và đánh bại các cuộc hành quân khác, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, góp phần làm thất bại kế hoạch đánh phá căn cứ hậu phương, hậu cần của địch. Phát huy thắng lợi trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, vào cuối tháng 3 năm 1971, điệp báo thành phố Huế, gồm các đồng chí Nguyễn Quang Yên, Nguyễn Thị Lài..., bằng lối đánh "xuất quỷ, nhập thần", sử dụng bộc phá đánh vào nhiều căn cứ, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều tên ác ôn đầu sỏ. Tháng 4 năm 1971, một phân đội của lực lượng vũ trang do đồng chí Nguyễn Đình Xướng phối hợp với một tổ biệt động thành phố Huế, phục kích đánh vào một trung đội bảo an ở xã Thủy An, tiêu diệt và làm bị thương 36 tên địch. Kết quả, trong nửa đầu năm 1971, lực lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên - Huế đã đánh 912 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên (có 135 ác ôn), hỗ trợ hàng ngàn lượt quần chúng nổi dậy đấu tranh chính trị. 300 gia đình kéo đến bệnh viện Huế tìm người thân bị thương đưa về điều trị, 50 gia đình từ huyện Phú Lộc kéo ra Huế đến sở chỉ huy Sư đoàn 1 bộ binh địch đòi chồng, con làm cho chính quyền sở tại địch càng thêm bối rối. Sau thất bại tại Đường 9 - Nam Lào, Mỹ và chính quyền Sài Gòn càng thêm hoang mang, dao dộng. Tận dụng thời cơ thuận lợi này, đồng thời với việc đẩy mạnh đấu tranh quân sự với chính trị, Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế chủ trương nhanh chóng tập trung xây dựng phong trào, lấy những thôn xã làm bàn đạp mở ra những vùng mới, tiếp tục phát triển cơ sở cách mạng trên phạm vi địa bàn rộng lớn, gồm các xã Quảng Phước, Quảng Ngạn (Quảng Điền), Phong Chương, Phong Dinh (Phong Điền), Vinh Thái, Vinh Phú, Phú Da, Phú Lương, Phú Hồ (Phú Vang), Thủy Thanh, Thủy Phù (Hương Thủy), đưa hơn 2/3 số cán bộ cơ sở địa phương ra hoạt động hợp pháp. Ta đã từng bước khôi phục cơ sở Đảng, cơ sở chính trị ở vùng tranh chấp, vùng địch tạm chiếm, giữ vững và phát triển phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang tại chỗ tiến công tiêu diệt địch đạt hiệu quả cao. Ví như, từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1971, bộ đội địa phương và du kích Phong Điền tiến công trụ sở chính quyền cấp quận của địch; bộ đội huyện và du kích xã Quảng Điền tiêu diệt một trung đội bảo an địch ở An Lỗ, đánh vào Đồng Lâm và Phò Nam tiêu diệt một trung đội dân vệ và nhiều tên ác ôn khét tiếng của địch. Đi đôi với đấu tranh vũ trang, phong trào đấu tranh chống địch khủng bố, chống đôn quân, bắt lính, đòi chấm dứt chiến tranh, rải truyền đơn phản đối bầu cử tổng thống... thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân khắp các địa phương tham gia, kéo dài từ tháng này sang tháng khác. Từ sau thất bại của quân đội Sài Gòn trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", trung bình mỗi ngày có từ 500 đến 600 người kéo ra Quảng Trị đấu tranh đòi bồi thường tính mạng chồng, con chết trận. Mặt khác, phong trào phản chiến, đào ngũ, rã ngũ diễn ra ở các đơn vị quân lực Việt Nam cộng hòa, điển hình là, hơn 500 binh lính chủ lực thuộc Vùng I chiến thuật địch, đóng ở phía tây thành Huế đào ngũ, trong đó có cả những trung đội hỏa lực (súng máy) chạy sang hàng ngũ cách mạng, tham gia du kích. Được lực lượng vũ trang hậu thuẫn trực tiếp, nhân dân nhiều xã đã nổi dậy phá các khu tập trung, khu dồn dân của địch, trở về quê cũ làm ăn, như Thủy Châu, Thủy Phương (Hương Thủy), Lộc Bổn, Lộc Tụ (Phú Lộc)... Cùng với phong trào phát triển ở nông thôn, đồng bằng, ở miền núi, ta đẩy mạnh phong trào sản xuất tự túc, tạo nguồn hậu cần tại chỗ. Các lực lượng vũ trang cùng với nhân dân miền núi tập trung mở các tuyến giao thông, chuẩn bị cho các cuộc hành quân lớn như các đường: 71, 72, 73. Bộ đội, du kích và nhân dân miền núi nâng cao cảnh giác, phát hiện và tiêu diệt kịp thời các toán thám báo, biệt kích địch để bảo vệ kho tàng, căn cứ địa cách mạng. Thế chiến lược trên ba tuyến vùng được củng cố, căn cứ địa cách mạng ngày càng vững chắc. Vượt qua thời kỳ khó khăn, lực lượng vũ trang ba thứ quân ở chiến trường Trị Thiên - Huế không ngừng được củng cố phát triển lớn mạnh, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ của mỗi thứ quân, tạo sức mạnh hiệp đồng tác chiến, làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân địa phương phát triển và giành thắng lợi. Điều quan trọng nhất là, lực lượng vũ trang tại chỗ và nhân dân Thừa Thiên đã khẳng định được vai trò phối hợp, hiệp đồng tác chiến với bộ đội chủ lực cơ động để làm nên những thắng lợi lớn, mà chính Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một minh chứng tiêu biểu và sống động. Như vậy, kể từ sau thắng lợi chiến lược Xuân Mậu Thân (1968), Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 chính là dấu mốc quan trọng không chỉ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc ta nói chung mà thắng lợi này đã mở ra điều kiện thuận lợi để quân và dân Thừa Thiên - Huế tiếp tục củng cố lại lực lượng và phong trào cách mạng trên cả ba vùng chiến lược, chuẩn bị mọi mặt trực tiếp cho cuộc Tiến công chiến lược năm 1972. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2025, 08:04:18 pm ĐÒN TIẾN CÔNG CỘNG HƯỞNG VỚI CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO TẠI MIỀN ĐÔNG NAM BỘ Đại tá, PGS, TS HỒ SƠN ĐÀI Trưởng phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường - Quân khu 7 Đầu năm 1971, với hơn 1,1 triệu quân trên toàn chiến trường Nam Việt Nam, trong đó gần một phần ba là quân chiến đấu Mỹ, cùng với việc đẩy mạnh sâu rộng hoạt động bình định, Mỹ - ngụy cùng lúc mở ba cuộc hành quân lớn: "Lam Sơn 719" (Đường 9 - Nam Lào, từ 9-2 đến 23-3), "Toàn thắng 1-71" (miền Đông Nam Bộ - Đông Bắc Campuchia, từ 4-2 đến 31-5) và "Quang Trung 4" (Bắc Tây Nguyên - khu vực Ba biên giới, từ 27-2 đến cuối tháng 5-1971). Cả ba cuộc hành quân nói trên đều nằm trong một động thái thống nhất nhằm thực hiện có hệ thống biện pháp chiếm đất giành dân, truy diệt Quân giải phóng và triệt phá cơ sở hậu cần, ngăn cắt hành lang vận chuyển chi viện Bắc - Nam trong chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ khởi từ đầu năm 1969. Diễn biến của các chiến dịch phản công đánh bại các cuộc hành quân nói trên không diễn ra đơn lẻ, cục bộ, mà gắn kết thành một hệ thống, có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình chiến đấu. Chiến dịch phản công của Quân giải phóng đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và các hoạt động tiến công địch của quân và dân Đông Nam Bộ trong mùa Xuân 1971 là đòn tiến công thực hiện đồng thời nhịp nhàng, có hiệu quả với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Bước vào năm 1969, nước Mỹ đang lâm sâu vào vũng lầy của cuộc chiến ở Việt Nam. Mặc dù vậy, tập đoàn cầm quyền Mỹ vẫn ngoan cố kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược bằng những thủ đoạn mới rất thâm độc, xảo quyệt, kể cả việc mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương. Sau khi nhậm chức, Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ R.Níchxơn (Richard Nixon) buộc phải thay "Chiến lược phản ứng linh hoạt" đã bị phá sản bằng "Chiến lược ngăn chặn thực tế" với tên gọi "Học thuyết Níchxơn". Ứng dụng cụ thể của học thuyết Níchxơn là chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" với nội dung: chuyển giao dần nhiệm vụ chiến đấu cho quân đội Sài Gòn, đẩy mạnh "bình định", mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, ngoại giao nước lớn để tạo áp lực với ta hòng bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia. Tại Đông Nam Bộ, lợi dụng sai lầm của ta trong việc chậm chuyển hướng tiến công sau Tết Mậu Thân, Mỹ - chính quyền Sài Gòn triển khai liên tiếp các kế hoạch "bình định", chuyển từ "bình định cấp tốc", "bình định xây dựng và phát triển" sang "bình định đặc biệt", "bình định bổ túc", "chương trình cộng đồng tự vệ, cộng đồng phát triển địa phương"..., đồng thời tiến hành hàng nghìn cuộc hành quân càn quét, thiết lập mới hàng nghìn đồn bốt. Sau gần một tháng hoạt động cài thế, chiếm bàn đạp Thiện Ngôn - Xa Mát dọc trục lộ 22, sáng ngày 4 tháng 2 năm 1971, Liên đoàn biệt động quân số 6 và Lữ đoàn kỵ binh thiết giáp số 3 quân đội Sài Gòn bất ngờ tiến công thị xã Suông và sân bay Chúp thuộc tỉnh Kông Pông Chàm (Campuchia), mở đầu cuộc hành quân mang tên "Toàn thắng 1-71". Mục đích của cuộc hành quân là nhằm bao vây, tiêu diệt một bộ phận chủ lực Quân giải phóng, lập tuyến ngăn chặn hành lang vận tải chiến lược và phá hủy kho tàng của lực lượng kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ và Đông Bắc Campuchia. Để thực hiện cuộc hành quân, địch huy động một lực lượng lớn quân đội Sài Gòn gồm 3 sư đoàn bộ binh (3, 8, 25), 1 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp (số 3), 1 liên đoàn biệt động quân (số 3), 5 thiết đoàn tăng - thiết giáp (400 xe tăng, xe bọc thép), 12 tiểu đoàn pháo binh (216 khẩu từ 105 đến 175mm) và 5 tiểu đoàn quân Campuchia của Lon Non, chưa kể lực lượng không quân chi viện của Mỹ từ các sân bay trong khu vực. Như thế, hoạt động "bình định", cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và các hành động quân sự khác của Mỹ - quân đội Sài Gòn ở Đông Nam Bộ là một phần trong toàn bộ hoạt động trong các cuộc "chiến tranh giành dân", "chiến tranh hủy diệt" và "chiến tranh bóp nghẹt" trên toàn cõi Đông Dương của chúng. Hành động của địch gây ra cho cách mạng ở miền Nam những khó khăn tổn thất hết sức nặng nề. Ở Đông Nam Bộ cơ sở cách mạng bị vỡ từ Tết Mậu Thân chưa kịp phục hồi. Lực lượng vũ trang địa phương giảm đến mức thấp nhất do phần lớn quân đã "đôn" lên các đơn vị chủ lực và các tiểu đoàn mũi nhọn, số còn lại bị tổn thất trong các đợt chiến đấu chống phản kích, không còn đủ sức chống trả các cuộc hành quân "bình định" của địch. Quân đội Sài Gòn lần lượt tái chiếm hầu hết vùng nông thôn đồng bằng, xoá các căn cứ "lõm" xung quanh Sài Gòn, lấn dần và chia cắt các căn cứ kháng chiến như Chiến khu Đ, căn cứ địa Bắc Tây Ninh, Chiến khu Rừng Sác... Không còn chỗ dựa là thế trận chiến tranh nhân dân địa phương, các đơn vị chủ lực Quân giải phóng buộc phải rút về vùng biên giới. Các cơ quan Trung ương Cục miền Nam, Bộ chỉ huy Miền dời lên khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia. Bộ chỉ huy Phân khu 6 (nội đô Sài Gòn) dời về miền Tây Nam Bộ. Bộ chỉ huy các phân khu miền Đông phải liên tục di chuyển trong vùng Chiến khu Đ... Tình hình trên đặt ra nhu cầu khách quan cần phải thay đổi phương hướng đấu tranh cho phù hợp với tình hình. Ngay sau ngày Mỹ làm đảo chính ở Campuchia, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhận định: hành động phiêu lưu mở rộng chiến tranh của Mỹ đã làm cho ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia tuy có chế độ chính trị, đặc điểm lịch sử - văn hoá khác nhau nhưng giờ đây đều có chung một kẻ thù xâm lược và "Đông Dương đã trở nên một chiến trường thống nhất". Từ đó chủ trương: động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền nước ta, tăng cường khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương làm cho lực lượng của ba nước trở thành một khối thống nhất có một chiến lược chung. Ngày 9 tháng 2 năm 1971 Bộ Chính trị gửi điện cho Trung ương Cục, Quân ủy Miền trong đó chỉ đạo: phải nắm lấy thời cơ, đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, đập tan kế hoạch bình định của địch, hướng trọng điểm là đồng bằng Nam Bộ, xung quanh Sài Gòn và vùng biên giới Campuchia. Trên cơ sở đó, Trung ương Cục miền Nam chủ trương "chuyển mạnh hướng chỉ đạo, xây dựng thế chiến lược tiến công mới", triển khai các hoạt động quân sự và chính trị nhằm làm thất bại mọi âm mưu mới của địch, góp phần làm chuyển biến cục diện ở miền Nam và Đông Dương. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2025, 08:04:54 pm Quán triệt sự chỉ đạo của Đảng, tại Đông Nam Bộ, Phân khu ủy và Bộ chỉ huy các phân khu đã chỉ đạo các lực lượng vũ trang nắm vững tình hình, dự kiến âm mưu của địch, phân vùng, tổ chức lực lượng, xây dựng các phương án tác chiến nhằm bẻ gãy các hành động quân sự của địch, hỗ trợ phong trào đấu tranh ở vùng tạm bị chiếm phát triển. Các tình huống phương án được các đơn vị Quân giải phóng xây dựng đặt trong mối liên quan chung, có tính toán đầy đủ tới sự chi phối, tương tác với các chiến trường ở Việt Nam và cả ở Lào cũng như Campuchia.
Theo đó, ngay trước ngày quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" Bộ chỉ huy Miền đã dự kiến đúng âm mưu của địch và chuẩn bị sẵn phương án tác chiến. Một chiến dịch phản công của Quân giải phóng được chủ động triển khai với lực lượng gồm 3 sư đoàn bộ binh (5, 7, 9), 2 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn đặc công, các đơn vị binh chủng thông tin, công binh, vận tải cùng lực lượng chiến đấu tại chỗ. Diễn biến chiến dịch chia làm 3 giai đoạn. Trong giai đoạn 1 (từ 9-2 đến 4-3), quân địch tiến công đánh chiếm Suông, Chúp, thọc sâu xuống Đầm Be Xoheng. Quân giải phóng chặn đánh trên từng khu vực tổ chức nhiều cuộc tập kích, phục kích ở Chúp, Xnuôn, Cầu Cháy, đẩy đối phương lui về phòng ngự dọc tuyến đường 7. Trong giai đoạn 2 (từ 5-3 đôn 16-4), quân địch nống ra lập bàn đạp tái chiếm khu vực sân bay Chúp. Quân giải phóng sau khi tập trung lực lượng tiêu diệt địch ở Tun Trea, Lung Miên không thành công, chuyển sang bao vây tiến công địch ở Pona Ray - Khona. Trong giai đoạn 3 (từ 17-4 đến 31-5), Quân giải phóng tập trung toàn lực lượng vây ép Xnuôn, truy kích quân địch rút chạy và chặn đánh quân cứu viện, bao vây tiến công địch trên hướng sông Tongle Tok, đường 7. Kết quả, Quân giải phóng đã loại khỏi chiến đấu hơn 20.000 tên địch, bắn rơi 238 máy bay, phá hủy 1.500 xe quân sự, 167 khẩu pháo, thu gần 2.000 súng, hơn 300 tấn đạn và nhiều phương tiện binh khí kỹ thuật khác. Trong quá trình diễn ra chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71", quân và dân Đông Nam Bộ đẩy mạnh các hoạt động quân sự và chính trị trên các vùng rừng núi, đồng bằng và đô thị. Các sư đoàn chủ lực Miền vừa phối hợp đánh quân Sài Gòn, quân Lon Non ở chiến trường Campuchia vừa tích cực tác chiến trên địa bàn các tỉnh Đông Nam Bộ, đặc biệt là khu vực dọc biên giới hai nước. Lực lượng vũ trang các phân khu thuộc Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn trước đây liên tục tổ chức các trận giao chiến với Lữ đoàn 173 dù, Lữ đoàn 199, Trung đoàn 11 kỵ binh thiết giáp Mỹ, một số đơn vị lính đánh thuê... Tại Long An - Kiến Tường, quân và dân Phân khu 23 chống cuộc càn quét dài ngày của địch bắt đầu từ ngày 10 tháng 2 năm 1971, đánh hơn 600 trận, loại khỏi chiến đấu hàng nghìn tên địch. Riêng trên chiến trường biên giới, lực lượng vũ trang Phân khu đã đánh trên 38 trận, loại khỏi chiến đấu hàng trăm tên. Phần lớn cơ sở cách mạng ở nông thôn và vùng ven trên địa bàn tỉnh được khôi phục lại. Các lõm căn cứ được mở mới từ dọc sông Vàm Cỏ đến Vườn Thơm - Bà Vụ. Tại Tây Ninh, lực lượng vũ trang vận dụng phương thức "hai chân, ba mũi" mở các đợt hoạt động quân sự nhằm vào hệ thống đồn bốt địch trên dọc quốc lộ 13, quốc lộ 22 và các cuộc hành quân của quân đội Sài Gòn nống ra vùng giáp ranh. Đội biệt động thị xã và các đơn vị an ninh đột kích 120 ấp chiến lược, xây dựng lại gần 300 cơ sở mật. Toàn tỉnh phát động được 260 cuộc đấu tranh chính trị dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Trên 3.000 thanh niên thoát ly vào căn cứ kháng chiến. Tại Bà Rịa - Long Khánh, lực lượng vũ trang bám trụ đánh địch, bẻ gãy 3 cuộc hành quân lớn của quân đội Hoàng gia Úc vào Chiến khu Minh Đạm, làm phá sản chiến thuật ô, ụ của chúng. Các lực lượng kháng chiến kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, binh vận, kết hợp lực lượng bên ngoài với cơ sở nội tuyến bên trong, giải phóng hàng loạt xã, ấp, đặc biệt là các đồn điền cao su dọc tỉnh lộ 2. Tại Gia Định và vùng ven Sài Gòn, Trung đoàn 268 và Trung đoàn Quyết Thắng cùng lực lượng du kích xã đẩy mạnh hoạt động đánh địch, phát động phong trào chiến tranh du kích ở Củ Chi, Trảng Bàng, Gò Vấp, Hóc Môn, đặc biệt ở các xã An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng, Trung Lập Thượng... Chỉ trong tháng 4 năm 1971, du kích Củ Chi phá hủy gần 80 xe tăng, xe bọc thép của địch, diệt hàng chục ác ôn. Đoàn Đặc công 10 ở Rừng Sác tập kích tàu địch trong quân cảng Nhà Bè, bắn cháy tàu dầu 10.000 tấn nhiên liệu trên sông Lòng Tàu, phá vỡ thế bao vây của địch, nối lại các hành lang tiếp vận từ Rừng Sác đôn khu vực dân cư vùng tạm bị chiếm. Trong thành phố Sài Gòn và các tỉnh lỵ miền Nam, phong trào đấu tranh chính trị phát triển lên một mức độ mới từ sau khi Mỹ mở rộng chiến tranh ra các nước Đông Dương. Các cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau, gắn liền với từng biến cố chính trị diễn ra công khai, thành nhiều đợt liên tiếp nhau, có sự phối hợp nhiều lực lượng và kết nối giữa Sài Gòn với các đô thị khác. Lực lượng thanh niên, học sinh, sinh viên xuống đường biểu tình đòi Mỹ rút quân về nước, đả đảo Níchxơn, đả đảo Nguyễn Văn Thiệu, chống "quân sự hoá học đường", chống bắt lính, rồi đánh lính Mỹ, đốt xe Mỹ (chỉ tính từ tháng 12-1970 đến tháng 2-1971, đã có 37 xe Mỹ bị đốt cháy trên đường phố Sài Gòn). Giới văn nghệ sĩ dấy lên phong trào "Hát cho đồng bào tôi nghe" với những ca khúc yêu nước và cách mạng, thôi thúc lòng người. Giới văn hoá, trí thức phát động phong trào "Tìm về dân tộc" với nội dung tẩy chay nền văn hoá lai căng thực dân mới. Lực lượng công nhân nghiệp đoàn bãi công chống thuế lương bổng, chống sa thải. Các tầng lớp bình dân thành thị đấu tranh chống chiến tranh, đòi lập lại hoà bình, chống thủ đoạn gian lận, độc diễn trong bầu cử... Phong trào đấu tranh của thanh niên, học sinh, công nhân, trí thức, ký giả, tín đồ Phật giáo, Công giáo và các lực lượng chính trị đối lập với chính quyền Thiệu đã làm nên một mặt trận đấu tranh có quy mô lớn và rất sôi nổi, một đòn tiến công mạnh mẽ, có khả năng lan toả nhanh chóng. Chương trình "bình định đặc biệt" và cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" cùng với các cuộc hành quân quy mô lớn khác trên chiến trường ba nước Đông Dương nằm trong chuỗi nỗ lực của Mỹ-ngụy nhằm tạo bước đột biến tiến tới hoàn thành chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh", thực chất là nhằm giành chiến thắng cho chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ sau thất bại của chiến lược "chiến tranh cục bộ". Chuỗi nỗ lực ấy diễn ra trong bối cảnh cách mạng miền Nam nói chung và miền Đông Nam Bộ nói riêng đang trong thời đoạn khó khăn cùng cực. Nhận thức đầy đủ chủ trương của Trung ương Đảng trước sai lầm chiến lược của Mỹ khi mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, các cấp ủy Đảng và Bộ chỉ huy quân sự ở miền Đông Nam Bộ đã kịp thời nắm vững thời cơ, điều chỉnh chủ trương, kế hoạch và hệ thống biện pháp, huy động quân và dân toàn Miền vào cuộc phản công đánh địch bình định và hành quân càn quét trong thế trận chung của ba nước Đông Dương. Thắng lợi của quân và dân Đông Nam Bộ trong hoạt động chống địch bình định nói chung và chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" trong mùa Xuân 1971 nói riêng đã loại khỏi vòng chiến đấu một bộ phận lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, góp phần tạo ra thế và lực mới trên chiến trường Đông Nam Bộ, đặc biệt trên vùng biên giới Việt Nam - Campuchia. Trong tương quan chung, nó vừa có ý nghĩa chi phối, phân tán, cầm chân quân địch tại chỗ - địa Bản Đông Nam Bộ, trong đó có thành phố Sài Gòn - thủ đô của chính quyền Việt Nam cộng hòa, nơi phát ra chủ trương và chỉ đạo điều hành các hoạt động quân sự nói chung, chỉ đạo và điều hành các cuộc hành quân "Lam Sơn 719", "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4" nói riêng, nơi mà mỗi biến cố chính trị và quân sự đều có sức lan toả, ảnh hưởng nhanh chóng và sâu rộng đến nhiều nước trên thế giới, trong đó có nước Mỹ. Hoạt động chống bình định và chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" là đòn tiến công cộng hưởng với nỗ lực của toàn quân, toàn dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia nói chung, với Quân giải phóng miền Nam giành thắng lợi trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mùa Xuân năm 1971 nói riêng. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2025, 08:06:59 pm VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN XUNG PHONG QUẢNG TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO LÊ MINH TUẤN Bí thư Tỉnh đoàn Quảng Trị Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã trôi qua 40 năm, nhưng những bài học lịch sử từ chiến dịch này vẫn còn nguyên giá trị. Đó không chỉ là bản hùng ca được viết nên bởi tình hữu nghị anh em đặc biệt Việt - Lào, mà đó còn là một trong những chiến dịch thể hiện đầy đủ những nét đặc sắc của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam. Trong chiến công chung ấy, không thể không kể đến những đóng góp to lớn của lực lượng thanh niên xung phong trên mỗi nẻo đường chiến dịch đầy bom đạn, thử thách và hy sinh. 1. Đôi nét về lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị. Cách đây 60 năm, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt, với tầm nhìn chiến lược về vai trò của thế hệ trẻ trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo và giao cho Ban Thường vụ Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam chuẩn bị việc thành lập lực lượng xung phong nhằm phát huy sức mạnh dời non lấp biến của thế hệ trẻ, xung kích phục vụ kháng chiến thắng lợi và là "trường học lớn" đào tạo các cán bộ cho Đảng, Nhà nước phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội tương lai. Ngày 15 tháng 7 năm 1950, Bác Hồ đã quyết định thành lập đội thanh niên xung phong công tác đầu tiên, gồm 225 đội viên. Quyết định lịch sử ấy đã tạo ra môi trường để các thế hệ thanh niên Việt Nam thể hiện lòng yêu nước, rèn luyện tinh thần chịu đựng gian khổ, khó khăn, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Kể từ đó, các thế hệ thanh niên xung phong đã lập nên nhiều chiến công xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc và nhiều thành tích vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nên truyền thống thanh niên xung phong anh hùng. Là một bộ phận hợp thành trong phong trào cách mạng của thanh niên xung phong cả nước, tháng 4 năm 1965, Liên đội thanh niên xung phong giải phóng Quảng Trị ra đời với 300 đội viên, sau đó các đơn vị 331, 771, DKT2-XB, 368 và B30-VK2 lần lượt ra đời với hơn 1.000 đội viên. Nhiệm vụ chính của lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị là vận chuyển vũ khí, lương thực phục vụ bộ đội chiến đấu, tải đạn ra mặt trận, cáng tải và chăm sóc thương binh, đào hầm hào, làm nhà, lán trại, kho hàng, làm đường giao thông, trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ hành lang, bảo vệ các mục tiêu kinh tế trọng điểm. Lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị được chia thành 3 bộ phận để làm nhiệm vụ ở 3 tuyến: - Một bộ phận gồm 300 đồng chí thuộc liên đội thanh niên xung phong giải phóng chuyên bám vùng giáp ranh, cùng với các tiểu đoàn K8, K10, K14 trinh sát nắm tình hình hoạt động của địch, vừa chuyển vũ khí về đồng bằng phục vụ chiến đấu, vừa tiếp tế lên vùng hậu cứ, chuyển thương binh về nơi an toàn, vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến, khi cần thiết tăng cường lực lượng chiến đấu cho K8, K10. - Một bộ phận khoảng 400 đồng chí thuộc đơn vị 331, 771, B30-VK2 làm nhiệm vụ bám đường, bám tuyến suốt ngày đêm, chờ khi có hàng miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam là tiếp nhận. Bộ phận này hoạt động hết sức linh hoạt và sáng tạo, chia thành 10 tốp gùi cõng chạy tiếp sức từ trạm này qua trạm khác, từ đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh vào kho hầm, lán an toàn để phục vụ chiến đấu, phục vụ Khu ủy Trị - Thiên, Tỉnh ủy Quảng Trị. Họ luôn sát cánh cùng bộ đội Đoàn 559 san lấp hố bom, sửa chữa đường trên tuyến đường Hồ Chí Minh. - Một bộ phận thuộc đơn vị DKT2-XB có 368 đồng chí làm nhiệm vụ xây dựng hầm hào, lán trại, kho tàng phục vụ các cơ quan lãnh đạo và bảo vệ các công trình trọng điểm nơi địa đầu tuyến lửa khu vực Vĩnh Linh. Thanh niên xung phong Quảng Trị luôn bám trụ chiến trường từ những ngày đầu thành lập, vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, không tiếc máu xương, chiến đấu hy sinh lập nhiều chiến công hiển hách. Có thể khẳng định bất cứ một trận đánh nào, một chiến dịch nào diễn ra ở Mặt trận Quảng Trị đều có sự đóng góp xứng đáng của lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị, hoặc trực tiếp chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu, vận chuyển vũ khí lương thực ra mặt trận, cáng tải và chăm sóc thương binh, chôn cất liệt sĩ, đào hầm, làm nhà, lán trại, kho hàng, làm đường giao thông, trực tiếp cùng với các đơn vị bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực tham gia chiến đấu nhiều trận lớn nhỏ, góp phần lập nhiều chiến công vang dội. Trong kháng chiến chống Mỹ, thanh niên xung phong Quảng Trị đã vận chuyển trên 800 ngàn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc men chi viện cho chiến trường Trị Thiên; đưa hàng ngàn công văn, thư tín đến các cấp lãnh đạo, chỉ huy đảm bảo không thất lạc; chuyển về hậu cứ hàng trăm tấn tài liệu thu giữ được của địch; đưa đón hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ ra Bắc, vào Nam; vận động nhân dân vùng giải phóng đóng góp 900 tấn lương thực cho cách mạng; xây dựng nhiều căn cứ, hậu cứ cho Khu ủy Trị - Thiên và Tỉnh ủy Quảng Trị... Trong gian lao rèn luyện, thanh niên xung phong Quảng Trị đã hun đúc tinh thần yêu nước, yêu dân tộc, trung thành tuyệt đối với Đảng, kiên cường bám trụ, chịu đựng mọi gian khổ hy sinh, giữ vững niềm tin vào thắng lợi cuối cùng, sẵn sàng hiến dâng những năm tháng đẹp nhất của tuổi thanh xuân cho quê hương, đất nước. Hàng trăm đồng chí đã được kết nạp Đảng tại mặt trận, nhiều đồng chí được đề bạt bổ sung vào lực lượng chủ lực. Trên 100 đồng chí đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công, danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Trên 1.000 đồng chí được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị đã có 85 đồng chí hy sinh và 475 đồng chí bị thương, hàng trăm đồng chí khác bi bệnh tật, bị nhiễm chất độc da cam/điôxin và để lại nhiều di chứng nặng nề cho thế hệ sau... Ghi nhận những cống hiến, hy sinh và những thành tích xuất sắc của thanh niên xung phong Quảng Trị, ngày 22 tháng 2 năm 2010, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho thanh niên xung phong Quảng Trị. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2025, 08:07:35 pm 2. Vai trò của thanh niên xung phong Quảng Trị trong Chiến dịch phần công Đường 9 - Nam Lào.
Lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào gồm có: - Đại đội 771: Phụ trách tuyến đường từ bắc sông Bến Hải đến bắc sông Ba Lòng, có nhiệm vụ tham gia mở đường cho chiến dịch, vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men cho chiến trường, đưa đón bộ đội, cán bộ vào chiến dịch và đưa thương binh ra tuyến sau điều trị, làm bệnh viện dã chiến (Bệnh viện H9), cứu thương, trực tiếp tham gia chiến đấu, dẫn giải tù binh phản chiến của Trung đoàn 56 ra Bắc... - Đại đội 331, DKT2-XB, Trung đội nữ B30-VK2 và một số tiểu đội của Liên đội thanh niên xung phong giải phóng Quảng Trị: mở đường, vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm cho chiến dịch, đào hầm hào, làm lán trại, kho hàng... Bên cạnh lực lượng thanh niên xung phong Quảng Trị, tham gia phục vụ Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào còn có lực lượng thanh niên xung phong Quảng Bình, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Nghệ An và hàng trăm dân công hoả tuyến của các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa, Đắc Krông. Vào những lúc cao điểm, lực lượng thanh niên xung phong và dân công hoả tuyến tham gia chiến dịch lên đến trên 1.000 người. Trong không khí sục sôi đánh Mỹ của cả nước, hàng trăm thanh niên Quảng Trị và các tỉnh Bắc Trung Bộ đã hăng hái bước vào chiến dịch, không quản ngại gian khổ, nguy hiểm. Tinh thần của tuổi trẻ đã biến những nẻo đường chiến dịch dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù trở thành ngày hội của chí khí anh hùng cách mạng. Các chiến sĩ thanh niên xung phong luôn phải đối mặt với muôn vàn hiểm nguy rình rập: bom đạn do địch đánh phá cung đường ác liệt suốt ngày đêm, chất độc hóa học rải xuống khắp nơi thiêu rụi cả cánh rừng, cái đói, cái rét, ốm đau bệnh tật luôn đe dọa. Cuộc sống khổ cực, thiếu thốn trăm bề nhưng các anh, các chị vẫn cố gắng vượt lên tất cả dùng môn rừng thay cơm, tàn mái tranh thay muối, chặt cây giang, cây nứa để lấy nước uống thay nước suối đã bị nhiễm độc. Trong gian khổ hiểm nguy, các chiến sĩ thanh niên xung phong vẫn "vai trăm cân, chân vạn dặm, vững tay cuốc, tay xẻng mở đường tải đạn, vận chuyển hàng hóa, thư tín, vừa chăm sóc đưa thương binh về tuyến sau bảo vệ đường dây huyết mạch Bắc - Nam thông suốt. Có lúc địch đánh vào đội hình, hàng hóa, vũ khí không vận chuyển được bằng cơ giới, nhưng sau đó các chiến sĩ thanh niên xung phong đã tổ chức gùi thồ với số lượng hàng hóa nặng gấp đôi để đảm bảo cung câp đu yêu cầu nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, xứng đáng với danh hiệu "Kiện tướng hành lang, gương mẫu đảm đang, chân đồng vai sắt". Các chiến sĩ thanh niên xung phong thường xuyên cõng trên lưng từ 50 - 60kg hàng hóa trong khi rất nhiều chiến sĩ trọng lượng cơ thể chưa đến 45kg. Tuy vậy, trong gian khổ, ác liệt của chiến tranh, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, những người thanh niên xung phong vẫn luôn lạc quan yêu đời, giữ vững niềm tin sắt son vào Đảng, Bác Hồ và thành công của cuộc kháng chiến. Họ đã dùng lời thơ, tiếng hát để "át tiếng bom" và động viên nhau quyết tâm đánh giặc, cả ngày gùi cõng vũ khí, lương thực, làm đường, lưng áo ướt đẫm mồ hôi và bùn đất, nhiều người không có quần áo để thay, nhưng đêm đêm vẫn sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, kể chuyện quê nhà, tổ chức dạy văn hóa cho những người chưa biết chữ, trao đổi kinh nghiệm công tác, chiến đấu đánh giặc rất sôi nổi... Tình cảm đồng chí, đồng đội như trong một gia đình, sông đầm ấm yêu thương, động viên nhau chịu dựng gian khổ, hy sinh, giữ vững niềm tin về ngày chiến thắng. Thanh niên xung phong Quảng Trị và các tỉnh Bắc Trung Bộ đã có sự đóng góp tích cực vào thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Máu xương của biết bao thanh niên xung phong đã đổ xuống từng mét đường cho cung đường nối liền thông suốt, đảm bảo lực lượng, vũ khí, lương thực cho chiến dịch toàn thắng. 40 năm đã trôi qua, nhưng tinh thần sẵn sàng xung phong đảm nhận những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ, chấp nhận mọi thử thách ác liệt của các chiến sĩ thanh niên xung phong có sức cổ vũ mạnh mẽ lớp lớp thanh niên hôm nay vươn lên. Hào khí của thế hộ thanh niên xung phong đi trước vẫn âm vang, thôi thúc hàng triệu trái tim tuổi trẻ hôm nay tình nguyện, xung phong "lên rừng, xuống biển" làm nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, xoá đói giảm nghèo, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, sẵn sàng gia nhập lực lượng vũ trang bảo vệ an ninh trật tự, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của đất nước, luôn xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ kính yêu "Đâu cần thanh niên có /Việc gì khó có thanh niên". Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2025, 08:11:27 pm CÔNG TÁC BẢO ĐẢM PHÒNG HOÁ CỦA BỘ ĐỘI HOÁ HỌC TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO (1971) Đại tá, TS NGUYỄN THÀN HỮU Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu Đầu năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn bắt đầu thực hiện kế hoạch đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc tiến công trên chiến trường Lào, Campuchia nhằm triệt phá và cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược của ta... Trong các cuộc tiến công nói trên, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là lớn nhất, nhằm cắt đường vận chuyển chiến lược của ta từ gốc, triệt phá cơ sơ, kho tàng, hậu cần chiến lược, làm cho chủ lực ta không thể đánh lớn trong những năm 1971, 1972... Để đánh bại âm mưu của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương mở chiến dịch phản công ở Đường 9 - Nam Lào, nhằm giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến trường Đông Dương đánh bại một bước cơ bản chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Cục Hoá học được Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ tham mưu cho Bộ chỉ đạo công tác bảo đảm phòng hoá cho các lực lượng tham gia chiến dịch và sử dụng vũ khí đặc chủng chiến đấu tiêu diệt địch. Đây là lần thứ hai, Cục Hoá học được giao nhiệm vụ bảo đảm phòng hoá cho một chiến dịch lớn trên chiến trường Trị - Thiên. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, căn cứ tình hình, nhiệm vụ cụ thể, Cục Hoá học đã tăng cường cán bộ và phân đội hoá học vào Trị - Thiên, thành lập Phòng Hoá học chiến dịch trên cơ sở lực lượng hoá học B70 và Bộ Tư lệnh 702, trong đó có các đồng chí Kiều Đức Minh, Phạm Hường, Bùi Chương, Hồ Sĩ Bửu, Nguyễn Ngọc Linh... do đồng chí Trịnh Minh Quát làm trưởng phòng. Trực thuộc Phòng Hoá học chiến dịch có một đại đội hoá học của B70 và một tiểu đội hoá học của Bộ Tư lệnh 702. Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định trong chiến dịch này dịch sử dụng vũ khí hoá học chủ yếu là loại chứa chất độc CS dạng khói và bột với nồng độ cao, đánh vào các mục tiêu quan trọng của ta, nhất là các trận địa hoả lực, trận địa chốt, trận địa vây lấn. Từ nhận định trên, Bộ Tổng Tham mưu giao cho Bộ đội Hoá học nhiệm vụ bảo đảm cho các lực lượng tham gia chiến địch có đủ khả năng đề phòng được loại chất độc địch đang sử dụng với quy mô lớn, nồng độ cao; chủ yếu tập trung bảo đảm cho các đơn vị đánh hiệp đồng binh chủng trên hướng chính của chiến dịch, nhất là đối với các mục tiêu quan trọng. Riêng cơ quan, phân đội hoá học cấp chiến dịch phải chuấn bị để có thể làm được nhiệm vụ trong một số tình huống địch liều lĩnh sử dụng chất độc có độc tính cao hơn; nghiên cứu sử dụng phân đội hoá học tham gia chiến đấu hiệp đồng binh chủng để rút kinh nghiệm; dùng màn khói ngụy trang bảo đảm cho xe tăng và bộ binh chiến đấu ban ngày ở một số tình huống; dùng phân đội phun lửa phối hợp chiến đấu với bộ binh và đặc công. Nhiệm vụ cụ thể là lổ chức các đài quan sát bảo đảm cho sở chỉ huy các cấp; tiến hành trinh sát bảo đảm các trục đường cơ động chính từ phía sau ra phía trước, các khu vực trọng điểm thuộc hậu phương chiến dịch; làm nòng cốt hướng dẫn cách đề phòng, tiêu độc và khắc phục hậu quả chất độc hoá học do dịch tập kích cho tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch; tổ chức kho dự trữ khí tài hoá học sẵn sàng cấp phát bổ sung cho các đơn vị; sử dụng khí tài phát khói ngụy trang che khuất cho xe tăng và nghi binh đánh lừa địch trên một hướng chiến dịch; tổ chức thu tang vật hoá học của địch ở các vị trí bị ta đánh tiêu diệt và những nơi địch rút chạy. Trên cơ sở cán bộ, phân đội hoá học tại chỗ và được tăng cường, Phòng Hoá học chiến dịch bố trí tại sở chỉ huy Bộ Tư lệnh 702 hai cán bộ và một tiểu đội có nhiệm vụ làm nòng cốt phòng hoá cho cơ quan, các đơn vị trực thuộc và cơ động trinh sát các tình huống hoá học thuộc hậu phương chiến dịch. Tại Bộ Tư lệnh B70 (hướng chủ yếu của chiến dịch) có 5 cán bộ và một đại đội, bố trí trên đường cơ động của chiến dịch, các khu vực trọng điểm, bảo đảm cho chỉ huy sở B70; làm nòng cốt phòng hoá, tổ chức kho bổ sung khí tài và sẵn sàng cơ động bảo đảm cho các đơn vị ở các khu vực Cha Ky, Mường Trương; tăng cường cho Sư đoàn 308 một tổ và các trung đoàn binh chủng thuộc B70 không có biên chế hoá học làm nòng cốt phòng hoá; tăng cường một trung đội bảo đảm màn khói ngụy trang cho xe tăng chiến đấu; tham gia nghi binh chỉ huy sở giả; tăng cường súng phun lửa cho bộ binh và đặc công của B70 chiến đấu. Tại hướng đông, bố trí trong khu vực Sở chỉ huy 155 bảo đảm phòng hoá cho sở chỉ huy; sẵn sàng cơ động trinh sát các tình huống hoá học; sử dụng từng tổ đến các đơn vị, các khu vực chiến đấu huấn luyện và hướng dẫn phòng hoá; dùng khói nghi binh và ngụy trang bảo đảm cho pháo mặt đất chiến đấu. Các trung đoàn, sư đoàn hướng chủ yếu đặt đài quan sát bảo đảm cho sở chỉ huy trung, sư đoàn và làm lực lượng cơ động phòng hoá; tăng cường cho các tiểu đoàn bộ binh làm nhiệm vụ nòng cốt phòng hoá; thực hành trinh sát và thu tang vật hoá học. Trên hướng chủ yếu của chiến dịch, lực lượng phòng hoá được biên chế và tăng cường đủ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ; có lực lượng cơ động cho các khu vực chủ yếu phía trước và cả phía sau của chiến dịch, đáp ứng được với yêu cầu cơ động và kịp thời trong công tác bảo đảm. Những đơn vị trước đây không có lực lượng hoá học đã kịp thời tăng cường để triển khai nhiệm vụ phòng hoá. Lực lượng hoá học của các đơn vị còn lại như sau: Sư đoàn 308 có một đại đội; Sư đoàn 312 có ba cán bộ và một trung đội; Sư đoàn 324 có 4 cán bộ và 4 tổ; Sư đoàn 304 có một cán bộ; Trung đoàn 2 và Trung đoàn 6 Sư đoàn 304 mỗi trung đoàn có một cán bộ và hai tiểu đội; Trung đoàn 4 Sư đoàn 320 có một cán bộ và một tiểu đội; Trung đoàn 9 công binh B70 có một cán bộ; Sư đoàn 2 có ba cán bộ và một trung đội; B5 có ba cán bộ và hai tiểu đội. Trong giai đoạn chuẩn bị, Bộ đã tăng cường cho chiến dịch hai tiểu đội; giữa chiến dịch tăng cường cho B70 một đại đội súng phun lửa 24 khẩu. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2025, 08:12:15 pm Được giao nhiệm vụ bảo đảm khí tài phòng hoá, chỉ trong một thời gian ngắn, Kho 61 - Cục Hoá học đã cấp phát tại chỗ và trực tiếp vận chuyển cho chiến dịch 224.664 mặt nạ phòng độc các loại, 61 khẩu súng phun lửa nhẹ, 394 thùng khói hải quân, 10.462 hộp khói cỡ nhỏ, 2.000 hộp trinh độc; đồng thời ém sẵn 10.570 mặt nạ các loại tại Binh trạm 26 sẵn sàng cấp phát khi có lệnh. Trước khi bước vào chiến dịch, hướng chủ yếu B70 được bổ sung 15.000 mặt nạ M04, bảo đảm 90-100% số lượng, có dự trữ khoảng 30%; các đơn vị của Đoàn 559 chủ yếu dùng khí tài ứng dụng, sau được bổ sung 15.060 mặt nạ, 30 máy dò độc, bảo đảm 60%; các đơn vị của B5 được bảo đảm 100% cho lực lượng chiến đấu, dự trữ khoảng 25%; binh, quân chủng thuộc Bộ Tư lệnh 702 được bảo đảm từ 50-100% mặt nạ M04; Sư đoàn 312 và Sư đoàn 324 trang bị mặt nạ ứng dụng là chủ yếu, một số ít mặt nạ KT-68 và mặt nạ thu được của địch. Trong quá trình chiến dịch, Phòng Hoá học đã bổ sung cho các hướng và các đơn vị. Đồng thời B70 đã bố trí hai kho khí tài tại ngã ba Dân chủ và Cha Ky, đã cấp bổ sung 5.000 mặt nạ các loại cho các đơn vị. Việc vận chuyển bổ sung khí tài chủ yếu do xe vì các kho khí tài bố trí cùng với kho gạo và kho đạn.
Ta có quyết tâm rất lớn, trong khi địch cũng có nhiều âm mưu và tham vọng lớn, thể hiện tính chất ngoan cố, liều lĩnh phiêu lưu và mạo hiểm. Từ đó, tính chất chiến dịch sẽ rất gay go, ác liệt và phức tạp. Địch sẽ dốc hết lực lượng, khả năng và áp dụng mọi biện pháp, kể cả việc sử dụng chất độc hoá học để bảo đảm cuộc hành quân của chúng thắng lợi và cứu vãn tình thế bị thất bại. Vì vậy, chúng ta phai nghiên cứu, chỉ đạo công tác phòng hoá như thế nào cho phù hợp và đạt được hiệu quả cao nhất. Trước khi tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719", địch đã có sự chuẩn bị để sử dụng vũ khí hoá học. Mệnh lệnh tác chiến của tướng Hoàng Xuân Lãm - chỉ huy trưởng cuộc hành quân, đã quy định việc sử dụng các loại vũ khí hoá học. Giao nhiệm vụ cho các sư đoàn, lữ đoàn, địch đã chỉ thị cho các đơn vị phải đề phòng khi chúng sử dụng chất độc hoá học và đề phòng "Việt Cộng" có khả năng sử dụng đạn hoá học. Lực lượng bộ binh, dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, thiết giáp, pháo binh địch đều được trang bị 100% mặt nạ. Mỗi tên có từ 1-2 quả lựu đạn CS thể khói và bột. Súng M79 mỗi cơ số có từ 6 - 12 viên đạn CS. Mỗi đại đội có từ 3 - 4 máy phóng đạn SC kiểu E8. Ngoài ra, chúng còn trang bị ống phóng CS cỡ 40mm và được không quân, pháo binh Mỹ chi viện hoá học bằng không quân và pháo binh. Binh lính địch được huấn luyện từ 2 - 3 giờ về cách phòng chống hơi cay... Trên chiến trường miền Nam, địch còn nhiều cơ sở tàng trữ, lắp ráp và kho chứa chất độc. Riêng chiến trường Quảng Trị, địch tổ chức phòng ngự lâu ngày, có hệ thống công sự, chướng ngại vật tương đối vững chắc, địa hình quen thuộc, đường cơ động thuận tiện; địch tập trung mọi khả năng quyẽt giữ phòng tuyến nên nhiều năm địch đã sử dụng chất độc hoá học, chất cháy trong chiến đấu. Đặc điểm công tác phòng hoá của ta trong chiến dịch này là phải bảo đảm cho lực lượng lớn, trên một không gian rộng ước khoảng 2.400km2, lực lượng ta và địch đều tập trung, mật độ binh khí dày dặc, chiến đấu quyết liệt, hướng gió, địa hình có thể tạo điều kiện để dịch dùng chất độc và chất cháy. Mặt khác, trong điều kiện phải bảo đảm cho nhiều hướng với những nhiệm vụ khác nhau như tác chiến hiệp đồng binh chủng, tình huống chiến đấu diễn biến phức tạp và trong điều kiện khẩn trương, đánh xong chiếm giữ, củng cố và phát triển, việc bảo đảm trang bị và bổ sung khí tài phòng hoá có nhiều khó khăn. Trình độ đề phòng và xử lý tình huống hoá học của các đơn vị đều đã được huấn luyện, có kinh nghiệm đề phòng chất độc CS thể khói, được trang bị khí tài đầy đủ, ý thức phòng hoá có tiến bộ, song lực lượng nòng cốt phòng hoá có hạn, hệ thống tổ chức cơ quan, phân đội phòng hoá chưa hoàn chỉnh, trình độ còn thấp so với yêu cầu nên địch sử dụng vũ khí hoá học với quy mô lớn, độc tính cao ta sẽ gặp khó khăn. Các phân đội chuyên môn về tổ chức, trình độ và trang bị chưa đáp ứng được khi phải xử lý những tình huống tiêu độc cho mặt đất, cho người và binh khí kỹ thuật cỡ lớn... Ngày 8 tháng 2 năm 1971, đúng như nhận định của ta, lực lượng địch gồm 47 tiểu đoàn bộ binh, 9 thiết đoàn và 21 tiểu đoàn pháo của quân đội Sài Gòn, 7 tiểu đoàn thủy quân lục chiến và 2 tiểu đoàn cơ giới Mỹ, được hàng trăm máy bay trực thăng, máy bay cường kích và B-52 chi viện, mở cuộc hành quân đánh chiếm Đường 9 - Nam Lào. Chúng dự tính chậm nhất là sau hai ngày hành quân sẽ đặt chân tới Sê Pôn và sau đó sẽ ào ạt tiến xuống Xa Van Na Khẹt, hình thành tuyến ngăn chặn, chia cắt tuyến chi viện chiến lược Bắc - Nam. Nhưng thực tế cuộc hành quân của địch vừa bắt đầu đã liên tiếp bị quân ta phản công quyết liệt. Địch bị thiệt hại nặng buộc phải co cụm ở Bản Đông để chống đỡ và chúng đã sử dụng chất độc hoá học để đánh vào các khu vực trú quân, tập kết, các vị trí bố trí triển khai và các mục tiêu chiến đấu quan trọng của ta. Do được chuẩn bị chu đáo từ trước, ở hướng chủ yếu của chiến dịch, các phân đội hoá học của B70, Sư đoàn 308, Trung đoàn 6 Sư đoàn 320, Trung đoàn 2 Sư đoàn 304 đã tích cực làm công tác bảo đảm phòng hoá cho đơn vị mình. Lực lượng hoá học đã phân tán thành các tổ, nhóm bảo đảm cho bộ đội tác chiến, tổ chức quan sát, trinh sát, phát hiện địch đánh chất độc, dùng màn khói ngụy trang, nghi binh bảo đảm cho bộ đội chiến đấu. Chỉ trong một số ngày đầu, địch đã 15 lần đánh chất độc hoá học vào các chốt 311, 351, 402, 229, 863, 684; bốn lần đánh vào các trận địa hoả lực; 14 lần đánh vào các khu vực trú quân, sở chỉ huy, kho tàng, đài quan sát chỉ huy pháo của ta. Lực lượng hoá học được bố trí tại các đơn vị nói trên đã tích cực, chủ động phát hiện triệu chứng địch sử dụng chất độc hoá học, thông báo, báo động kịp thời để bộ đội phòng chống có hiệu quả, bình tĩnh xử lý kịp thời các tình huống địch tập kích hoá học, giữ vững sức chiến đấu và bảo đảm cho bộ đội chiến đấu liên tục giành thắng lợi. Nhiều tình huống địch đánh chất độc vào đội hình chiến đấu của ta đã được lực lượng hoá học trinh sát và khắc phục ngay hậu quả đã củng cố lòng tin cho các lực lượng chiến đấu đối với Bộ đội Hoá học. Bên cạnh nhiệm vụ phòng hoá, các phân đội hoá học còn sử dụng màn khói ngụy trang, nghi binh bảo đảm cho bộ đội chiến đấu. Từ ngày 17 tháng 2 đến ngày 25 tháng 2 năm 1971, tổ hoá học của B70 đã phối hợp với lực lượng thông tin dùng khói nghi binh khu vực sở chỉ huy giả, thu hút 6 đợt B-52 và 31 lần chiếc phản lực đến ném bom toạ độ. Tổ này còn trinh sát thực địa chuẩn bị khói ngụy trang bảo đảm cho tiểu đoàn xe tăng T54 cơ động phản kích đánh địch ở đồi Không tên, điểm cao 456 và Bản Đông, nhưng do tình hình địch và nhiệm vụ xe tăng thay đổi nên chưa thực hành thả khói. Phân đội hoá học của B5 cũng chuẩn bị bốn trận địa pháo giả, một tuyến khói nghi binh, một tuyến khói ngụy trang che khuất bảo đảm cho một trung đoàn pháo chiến đấu, nhưng chưa thực hiện trận thả khói nào vì không có thời cơ. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2025, 08:13:09 pm Ngày 18 tháng 3 năm 1971, địch ở Bản Đông rút chạy, tổ phun lửa do đồng chí Hoàng Văn Vẻ chỉ huy có các đồng chí Phùng Văn Thiện, Phạm Văn Nhuần, Đinh Xuân Tảng cùng Đại đội 1 thuộc Trung đoàn 36 vận động ra Đường 9 chặn địch, đã chiến đấu dũng cảm, bắn cháy 4 xe M113, diệt 57 tên địch. Đồng chí Hoàng Văn Vẻ được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, được công nhận là dũng sĩ diệt ngụy cấp I và dũng sĩ diệt cơ giới. Đồng chí Phạm Văn Nhuần và Phùng Văn Thiện được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, được công nhận là dũng sĩ diệt ngụy cấp II và dũng sĩ diệt cơ giới. Đồng chí Đinh Xuân Tảng được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba và được công nhận là dũng sĩ diệt ngụy cấp III. Đồng chí Hoàng Văn Vẻ sau này được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Ngày 19 tháng 3 năm 1971, địch cho máy bay và pháo binh bắn phá ác liệt vào trận địa chốt của Đại đội 1 trên Đường 9, nhằm chi viện cho bộ binh từ Bản Đông đánh bật ta ra khỏi khu vực cầu Cha Ky. Một tổ phun lửa đã cùng Đại đội 2 của Trung đoàn 36 phối hợp ba lần đánh bật quân địch ra khỏi khu vực chốt giữ, tiêu diệt nhiều tên, giữ vững trận địa. 15 giờ cùng ngày, các phân đội phun lửa cùng hai tiểu đoàn bộ binh 1 và 3 của Trung đoàn 36 cường tập vào Bản Đông. Phát hiện thấy ta đang tiếp cận, địch hốt hoảng bỏ xe pháo chạy tán loạn vào rừng. Ta thừa thắng xung phong tràn vào cứ điểm chiếm nhiều xe địch vẫn còn đang nổ máy, diệt nốt những tên còn ngoan cố chống cự, hoàn toàn làm chủ Bản Đông. Tiếp những trận sau, các phân đội phun lửa còn phối thuộc với Đại đội 2 và Đại đội 3 đánh địch trên Đường 9 và tăng cường cho các chốt chiến đấu. Nhiều chiến sĩ phun lửa đã anh dũng hy sinh, nhiều chiến sĩ bị thương vẫn không rời trận địa, góp phần cùng các đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đại đội hoá học của B70 hoạt động trên địa bàn rộng, phân tán, nhưng nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, bộ đội đã cấu trúc hầm và bảo đảm cho sở chỉ huy chiến dịch; tổ chức các vọng, đài quan sát hoá học góp phần phát hiện, báo động và kịp thời tổ chức phòng hoá bảo đảm sở chỉ huy và các hướng chiến dịch, ở các hướng, các mũi của các sư đoàn, các phân đội hoá học đã tích cực tranh thủ thời gian, khẩn trương huấn luyện cách cấp cứu, tiêu độc, khắc phục hậu quả chất độc của địch cho bộ đội. Kết quả 4.500 lượt cán bộ và chiến sĩ, 1.500 lượt dân công mặt trận đã được huấn luyện kỹ thuật phòng hoá. Những phân đội nghi binh đã làm sở chỉ huy chiến dịch giả thu hút 6 lần chiếc B-52 và ba lần bom tọa độ. Một số phân đội dùng màn khói để ngụy trang bảo đảm cho các đơn vị xe tăng triển khai chiến đấu tốt. Ngoài ra, chiến sĩ hoá học còn là những chiến sĩ giữ chốt kiên cường, cùng bộ binh đánh bật nhiều đợt phản kích của địch trên các điểm chốt tại các hướng chiến dịch. Tổ hoá học đi với Tiểu đoàn 37 pháo mặt đất chiến đấu ở Bản Đông đã bảo đảm cho pháo đánh tốt. Tổ đảm nhiệm kho khí tài ở Cha Ky đã tổ chức gùi, thồ, cất giấu, bảo vệ hàng trăm tấn hàng không để địch phát hiện đánh phá. Một số phân đội phòng hoá ngay sau chiến dịch còn nhận nhiệm vụ dẫn giải tù binh địch về phía sau... Qua hơn 50 ngày đêm chiến đấu, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã kết thúc thắng lợi. Các lực lượng vũ trang ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch; đập tan được âm mưu ngăn chặn, hòng bóp nghẹt sự chi viện của miền Bắc cho các chiến trường, bảo vệ được tuyến vận tải chiến lược thông suốt; làm tròn nhiệm vụ của mặt trận chính trong Xuân - Hè 1971, tạo điều kiện phối hợp chặt chẽ với các chiến trường; đánh bại một bước quan trọng âm mưu của địch, mở ra triển vọng đánh bại chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Về công tác phòng hoá, Bộ đội Hoá học đã thực hiện tốt nhiệm vụ chức năng của mình, bảo đảm khí tài phòng hoá, tổ chức huấn luyện đổ các lực lượng tham gia chiến dịch có đủ khả năng tự làm tốt công tác phòng hoá cho minh, giữ vững sức chiến đấu, góp phần bảo toàn và gìn giữ lực lượng chiến dịch. Suốt trong quá trình diễn ra chiến dịch, được sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh chiến dịch, thủ trưởng các binh quân chủng, các sư đoàn đều chú trọng nhắc nhở và kiểm tra công tác phòng chống vũ khí hoá học, nhấn mạnh biện pháp tích cực bắn máy bay bay thấp, kiềm chế và phá hủy các trận địa pháo binh địch, vây sát, bám sát, xen kẽ chiến đấu với địch, tăng cường công tác phòng không. Đồng thời, trên cơ sở chỉ đạo tác chiến chung, Bộ Tư lệnh chiến dịch chú trọng phát huy sức mạnh của các binh chủng, quân chủng trong tác chiến hiệp đồng nên đã hạn chế mặt mạnh về không quân, pháo binh địch, hạn chế có hiệu quả khả năng sử dụng vũ khí hoá học của địch. Bên cạnh đó, do có kế hoạch và biện pháp bảo đảm các mặt phòng hoá cho hướng chủ yếu tương đối chu đáo ngay từ đầu và trong quá trình chiến dịch như tăng cường và bố trí sử dụng lực lượng hoá học thích hợp; bảo đảm trang bị phòng hoá đủ số lượng và chất lượng, có kế hoạch bổ sung; kịp thời hướng dẫn huấn luyện bổ sung công tác phòng chống hoá học cho các đơn vị còn yếu; thông báo tình hình hoá học kịp thời, có dự kiến, nhận định khả năng sử dụng hoá học của địch và chỉ thị công tác tổ chức phòng chống hoá học của ta trong từng giai đoạn và từng trận chiến đấu... nên công tác bảo đảm phòng hoá đã đạt được yêu cầu đề ra, bảo đảm cho bộ đội giữ vững được sức chiến đấu suốt quá trình chiến dịch trong tình huống địch thường xuyên sử dụng vũ khí hoá học nhằm làm mất sức chiến đấu của ta. Hoạt động phòng hoá của Bộ đội Hoá học trong chiến dịch là cơ sở để rút ra những kinh nghiệm quý trong chỉ đạo, tổ chức hệ thống phòng hoá từ trên xuống dưới mà nội dung cơ bản là lấy quần chúng tự chuẩn bị đề phòng, cấp cứu, tiêu độc cho mình để giữ vững sức chiến đấu là chính, lực lượng hoá học chuyên môn chỉ làm nòng cốt, đảm nhiệm có trọng điểm và chi viện cho những nơi thật cần thiết. Các lực lượng tham gia chiến dịch có kế hoạch và biện pháp tích cực theo dõi địch về hoá học để kịp thời chỉ đạo công tác phòng hoá cho bộ đội; đã quán triệt và vận dụng tư tưởng chỉ đạo tích cực tấn công, luôn chủ động bám sát địch, phát huy sức mạnh của các quân binh chủng và bằng nhiều cách kiềm chế, phá hủy những phương tiện, vũ khí, làm hạn chế hoặc mất khả năng sử dụng vũ khí hoá học của địch. Việc bảo đảm khí tài phòng hoá đã đáp ứng được số lượng và chất lượng, có kế hoạch bổ sung kịp thời, bổ sung tại chỗ cho mọi lực lượng. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2025, 08:15:12 pm SƯ ĐOÀN 304 TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Đại tá PHẠM VĂN CHIẾN Chính ủy Sư đoàn 304 - Quân đoàn 2 Sự kiện quân sự quan trọng nhất của chiến tranh Việt Nam trong năm 1971 là cuộc hành quân mang tên "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn đánh ra Đường 9 - Nam Lào và Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân này của chủ lực Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau khi buộc phải chấm dứt ném bom miền Bắc, Mỹ tập trung lực lượng không quân chiến thuật, không quân chiến lược đánh phá hành lang vận chuyển chiến lược (559) của ta. Mặc dù đã gây cản trở trong việc tiếp tế và phá hủy được một số kho tàng của ta, nhưng chúng không thể bịt nổi tuyến vận tải quân sự Trường Sơn. Chính vì vậy, đầu năm 1971, Mỹ chủ trương tiến hành cuộc phiêu lưu quân sự mối với nỗ lực cao nhất của quân đội Sài Gòn có sự chi viện hỏa lực của quân Mỹ, mở cuộc hành quân vào các khu vực mà chúng cho là "yết hầu" trên tuyến vận tải chiến lược của ta. Chúng cho rằng, nếu bịt được con đường này, nhất là khu vực Đường 9 - Nam Lào, thì chiến tranh cách mạng miền Nam sẽ "tàn lụi", "Việt Nam hóa chiến tranh" sẽ thành công. Thực hiện mục tiêu chiến lược đó, chúng huy động 88 tiểu đoàn bộ binh (trong tổng số 214 tiểu đoàn - tức là trên 1/3 lực lượng hiện có), 15 thiết đoàn, mở 3 cuộc hành quân quy mô lớn, đánh vào tuyến vận tải chiến lược của ta. Đó là các cuộc hành quân: "Lam Sơn 719" đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào; "Toàn thắng 1-71", với quy mô 30 tiểu đoàn từ Tây Ninh và Lộc Ninh đánh lên vùng Kông Pông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia) và cuộc hành quân "Quang Trung 4", với quy mô khoảng 1 sư đoàn từ Bắc Kon Tum đánh ra hướng Ngã ba biên giới (vùng Tà Xẻng, Pa Kha, Sê Sụ) thuộc A Tô Pơ, Nam Lào. Trong 3 cuộc hành quân trên, "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân có quy mô lớn nhất, với mục đích: đánh phá, cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược chi viện nhân lực, vật lực từ hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia; tập trung hủy diệt cơ sở hậu cần, làm cho ta không thể đánh lớn trong mùa khô 1971 - 1972, từ đó buộc ta phải quay về hoạt động du kích; đưa quân đội Sài Gòn ra thực nghiệm vai trò thay quân Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", làm lực lượng nòng cốt cho các đội quân tay sai của Mỹ ở Đông Dương- đồng thời thử thách quyết tâm và khả năng quân sự của miền Bắc. Ngay từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã sớm nhận định: địch sẽ tiếp tục nhưng hành động phiêu lưu quân sự mới; hướng tiến công của chúng trong mùa khô 1970 - 1971 sẽ là hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Các chiến trường, nhất là ở khu vực Đường 9 - Nam Lào đã được lệnh khẩn trương chuẩn bị đánh địch; đồng thời cũng chủ động xây dựng phương án đối phó với khả năng dịch có thể đánh ra Nam Quân khu 4. Lực lượng tham gia chiến đấu gồm có Binh đoàn 70 (Sư đoàn 304, 308, 320); Sư đoàn 2; Sư đoàn 324 và Trung đoàn 65; 3 trung đoàn pháo (58, 64, 368); 2 trung đoàn pháo cao xạ 230 và 237; 3 trung đoàn công binh (219, 83,7); 3 tiểu đoàn xe tăng (297, 397, 198). Ngoài ra còn có lực lượng tại chỗ của 135, B4 và Đoàn 559. Cuối năm 1970, khi thành lập Binh đoàn 70, Sư đoàn 304 nằm trong đội hình chiến đấu của Binh đoàn. Các đơn vị trong Sư đoàn đã tiến hành trinh sát, diễn tập và chuẩn bị phương án đánh địch ở địa bàn Quân khu 4 (hướng mà địch nghi binh). Tuy nhiên, ngay từ tháng 6 năm 1970 Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 đã tổ chức đoàn cán bộ quân sự di trinh sốt thực địa, chuẩn bị chiến trường, tổ chức chỉ huy tiền phương, sở chỉ huy cơ bản, mạng trinh sát, thông tin, công binh và đã làm xong các đường để cơ động xuất kích ra Đường 9. Đến tháng 9 năm 1970, Trung đoàn 24 tiếp tục đi trinh sát thực địa lần thứ 2, đưa Tiểu đoàn 4 vào đứng chân ở Bản Búc, làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và vận chuyển; đồng thời tiến hành mở thêm đường mới từ Nam sông Sê Băng Hiêng vào khu vực tác chiến; tiến hành diễn tập tại thực địa theo phương án đánh địch trên Đường 9, đoạn từ Khe Sanh - Lao Bảo - Bản Đông; xây dựng các trận địa chốt và mạng giao thông giữa điểm cao 351 - điểm cao 311. Sau khi trinh sát xong, Trung đoàn 24 nhanh chóng đưa toàn bộ lực lượng vào chiến trường chuẩn bị các trận địa chốt và chuẩn bị các phương án đánh địch. Ngày 15 tháng 10 năm 1970, các đơn vị vào chiếm lĩnh vị trí, xây dựng trận địa, đến ngày 20 tháng 12, tất cả công tác chuẩn bị đã hoàn tất. Nhiệm vụ của Trung đoàn 24 được Bộ Tư lệnh 70 giao là: Xây dựng một hệ thống trận địa chốt ở các điểm cao 311, 351, 229... thuộc khu vực cầu Cha Ky, và tổ chức chuẩn bị các phương án đánh địch trên Đường 9, đoạn từ Khe Sanh - Lao Bảo - Bản Đông. Đây là một trong những trận địa chốt rất quan trọng trong hệ thống phòng thủ cách xa địch và nằm trong hậu phương của ta, nếu để mất trận địa chốt này thì địch dễ dàng có thể từ Bản Đông đánh lên Sê Pôn, ta sẽ rất khó khăn trong việc giữ vững hành lang vận chuyển chiến lược, sẽ khó giữ được các kho tàng phục vụ cho chiến trường miền Nam. Xác định được tính chất đặc biệt quan trọng của chiến dịch này, trong quá trình chuẩn bị chiến trường, yếu tố bí mật, bất ngờ được đặt lên hàng đầu, bộ đội được quán triệt và giáo dục rất kỹ. Theo sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh chiến dịch, các trận địa chốt phải được xây dựng kiên cố và có tính liên hoàn, các cuộc diễn tập đánh địch được thực hiện theo nhiều phương án, nhiều cách đánh khác nhau. Sau mỗi đợt diễn tập đều tổ chức rút kinh nghiệm kịp thời, vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 24 đã thuần thục tất cả các hình thức chiến thuật, thuộc hết các địa danh, địa hình trong khu vực tác chiến. Ngày 15 tháng 1 năm 1971, Sư đoàn nhận được lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch đưa tiếp Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 14, Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 19 và một số cán bộ, cơ quan sư đoàn hành quân gấp vào chiến trường làm lực lượng dự bị của chiến dịch. Ngày 23 tháng 1, chỉ huy Sư đoàn cùng các đơn vị tham gia chiến đấu đã có mặt ở vị trí quy định, sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Từ ngày 30 tháng 1 đến 7 tháng 2 năm 1971, địch triển khai lực lượng chuẩn bị tiến công: một bộ phận quân phái hữu Lào ở phía tây nống ra Pha Lan và Phu Đô Tuya, 26 tiểu đoàn quân đội Việt Nam cộng hòa từ Sài Gòn, Đà Nẵng được cơ động bằng máy bay trực thăng và xe cơ giới ra Đông Hà, Ái Tử. Chủ động đối phó với địch ở hướng tây, ta nhanh chóng triển khai lực lượng chủ lực, cùng lực lượng tại chỗ chuẩn bi tiêu diệt địch, bảo vệ kho tàng. Các đơn vị còn lại ở miền Bắc sẵn sàng đánh địch ở hướng Quân khu 4 (do địch nghi binh), ở hướng đông, các lực lượng của B5 đã nổ súng (4-2-1971). Các lực lượng tại chỗ bắn rơi nhiều máy bay trực thăng của địch. Ở cánh bắc, theo kế hoạch của Bộ Tư lệnh 70, các đồng chí Nguyễn Ân, Duy Sơn, Lê Đăng Dần và một số cán bộ cơ quan Sư đoàn 304 trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 66 và Trung đoàn 64. Trung đoàn 64 kết hợp với đại đội xe tăng diệt Tiểu đoàn 3 và Lữ đoàn 3 dù ở điểm cao 543, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn trưởng, cùng Bộ Tham mưu của Lữ đoàn 3 dù; Trung đoàn 36 và một lực lượng của Trung đoàn 64 diệt Trung đoàn 17 thiết giáp và Tiểu đoàn 8 dù từ Bản Đông lên chiếm lại điểm cao 543. Đôn ngày 3 tháng 3, cánh bắc của địch đã bị ta bẻ gãy. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2025, 08:16:00 pm Trong khi đó, trên hướng của Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 304 đảm nhiệm, cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng gay go, ác liệt.
Với một thế trận đã được chủ động xây dựng từ trước, kể cả việc chuẩn bị làm đường cơ động trong những năm 1969, 1970, với một địa hình quen thuộc và việc chuẩn bị nhiều phương án tác chiến, Trung đoàn 24 đã liên tục tiến công, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, đoạn đường từ Lao Bảo đến Bản Đông - nơi có các chốt của Trung đoàn 24 đảm nhiệm trở thành "con đường máu lửa" đối với địch, khi tiến quân cũng như khi rút chạy, cả trận tuyến của Trung đoàn 24 dọc theo Đường 9 thật sự trở thành "cơn ác mộng" của bọn chúng. Điển hình là trận ngày 9 và 10 tháng 2, với 1 tiểu đoàn dù địch đổ bộ bằng đường không xuống nam Pa Rinh, đánh thẳng vào đội hình đóng quân của Trung đoàn 24 và tiến công nhằm chiếm điểm cao 351, một điểm cao có tầm không chế toàn bộ khu vực, nhưng đã bị trung đoàn ngăn chặn quyết liệt, buộc chúng phải dừng lại. Ngày 11 tháng 2, dịch dùng 2 tiểu đoàn hỗn hợp dù, công binh cùng 30 xe tăng và thiết giáp, có hỏa lực không quân và pháo binh chi viện, từ Lao Bảo tiến lên Bản Đông. Ngay lập tức, chỉ huy Trung đoàn 24 lệnh cho toàn bộ lực lượng cơ động xuất kích ra khu vực bắc Kha Đáp - Cha Ky - 269, Bản Búc, điểm cao 206, A Mo, chỉ để lại một bộ phận chốt ở điểm cao 351. Tiểu đoàn 5 của Trung đoàn hình thành 3 mũi tiến công vào đội hình hành quân của địch. Đại đội 5 do đồng chí Lê Mã Lương chỉ huy, tiến công địch ở khu vực cầu Cha Ky và A Mo, sau gần 2 giờ chiến đấu đã bắn cháy 4 xe M113, tiêu diệt phần lớn quân địch, bộ phận sống sót quay đầu tháo chạy về hướng Lao Bảo. Đại đội 6 và Đại đội 7 nhanh chóng đánh vượt Đường 9, thọc thẳng lên điểm cao 206, đánh chiếm sở chỉ huy Tiểu đoàn 1 dù và trận địa cối, tiêu diệt phần lớn quân địch ở đây. Trên hướng Tiểu đoàn 4, Đại đội 2 giữ chốt điểm cao 351 sử dụng hỏa lực ĐKZ, cối 82 và 60, đánh lui nhiều đợt phản công của địch và tập kích gây thiệt hại cụm địch ở cầu Cha Ky. Riêng lực lượng cơ động của Tiểu đoàn 4, khi ra đến Đường 9, gặp xe tăng và bộ binh địch từ hướng Cha Ky rút lên Bản Đồng, đã kịp thời nổ súng, tiêu diệt 5 xe. Bị đánh đòn bất ngờ, địch huy động máy bay cùng pháo binh đánh phá ác liệt dọc Đường 9, thậm chí chúng còn dùng cả đạn hóa học bắn ngăn chặn sự truy kích của ta, tạo điều kiện cho lực lượng này rút chạy. Trận đánh kết thúc, Trung đoàn 24 đã tiêu diệt 5 đại đội địch, trong đó có 2 đại đội dù, bắt sống một thiếu tá tiểu đoàn trưởng, cùng một số binh sĩ địch; diệt gọn chi đoàn 3, thiết đoàn 4, phá hủy 25 xe tảng, xe bọc thép, bắn rơi 30 máy bay các loại của chúng. Tiếp đó, trong 7 ngày (14 - 20.3.1971), Trung đoàn 24 đã phối hợp cùng với các đơn vị bạn đánh bại ý đồ chiếm Sê Pôn của địch, diệt 350 tên thuộc Tiểu đoàn 7 dù, bắt sống 28 tên, trong đó có tên thiếu tá tiểu đoàn phó, tạo điều kiện thuận lợi để các lực lượng của ta tràn xuống Đường 9, bao vây Bản Đông, giữ chắc hệ thống chốt 498 - 402 và điểm cao không tên. Đây là lần đầu tiên Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 vừa làm tốt nhiệm vụ chốt chiến dịch, vừa vận dụng thành công cách đánh bao vây công kích liên tục, tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch cơ động ở vùng rừng núi. Ngày 21 và 22 tháng 3 năm 1971, địch ở các nơi, kể cả ở Bản Đông tháo chạy về khu vực chốt giữ của Trung đoàn. Bị các đơn vị của Trung đoàn chặn đánh quyết liệt, chỉ huy và binh sĩ địch mạnh ai nấy chạy, bỏ lại hàng trăm xe pháo các loại hòng thoát thân. Quyết không để chúng chạy thoát, chỉ huy Trung đoàn 24 lệnh cho các đơn vị tiếp tục vận động truy kích địch về phía nam Đường 9, quyết không cho chúng chạy thoát. Gần 60 ngày đêm chiến đấu ngoan cường, Trung đoàn 24 cùng với các đơn vị bạn đã chặn đứng được quân địch ở Bản Đông, không cho địch tiến lên Sê Pôn theo kế hoạch. Ta đã bẻ gãy hoàn toàn quân địch ở cánh bắc, đánh thiệt hại cánh nam và triển khai đội hình bao vây chiến dịch rất chắc. Tuy bị thiệt hại nặng nề, nhưng với bản chất hiếu chiến, địch tung lực lượng dự bị tiến công Sê Pôn và phía nam Đường 9. Nắm bắt được mưu đồ của địch, một mặt ta kiên quyết giữ vững Phu Ta Băng và sẵn sàng chặn địch chiếm Sê Pôn, Na Bo để bảo vệ tuyến vận chuyển chiến lược; mặt khác, khẩn trương chuẩn bị tiến công tiêu diệt lực lượng dự bị của địch. Theo đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch điều Trung đoàn 64 lên giữ Sê Pôn, nhích đội hình Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 lên phía tây vừa làm lực lượng dự bị cho Sự đoàn 2 tiến công Sư đoàn 1 bộ binh địch, vừa làm dự bị cho hướng Bản Đông; mặt khác, sử dụng Sư đoàn 324 (thiếu Trung đoàn 2) tiến công tiêu diệt Lữ 147 thủy quân lục chiến địch; tập trung lực lượng của Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324), Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308), Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) thực hiện nhiệm vụ chia cắt Đường 9, đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông và Lao Bảo về Hướng Hoá; Sư đoàn 308 chuẩn bị đánh địch ở Bản Đông. Trước sức mạnh áp đảo, thế trận và cách đánh linh hoạt, sáng tạo, quân và dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Ta đã tiêu diệt một bộ phận lớn lực lượng tinh nhuệ, phá hủy một số lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, làm tròn nhiệm vụ của hướng chiến lược chính trong Xuân Hè 1971, góp phần thắt chặt tình đoàn kết chiến đấu của quân và dân Việt Nam, Lào và Campuchia trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ. Trong chiến dịch này, Sư đoàn 304, trực tiếp là Trung đoàn 24 tham gia từ đầu đến cuối chiến dịch, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chốt chiến dịch, đồng thời là lực lượng nòng cốt ngăn chặn, truy kích địch rút chạy. Trung đoàn đã đánh 28 trận (cấp trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội), đánh nhỏ 46 trận (từ tiểu đội đến trung đội); tiêu diệt 2 tiểu đoàn dịch (Tiểu đoàn đặc nhiệm và Tiểu đoàn 7 thuộc Lữ đoàn 2 dù), đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn (Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 11 dù), loại khỏi chiến đấu 2.511 tên địch, trong đó có 2 cố vấn Mỹ, bắt sống 29 tên, thu 86 súng các loại, 33 máy vô tuyến điện. Trung đoàn 66, các tiểu đoàn 14, 16, 19 và một số cán bộ Sư đoàn, cơ quan Sư đoàn tăng cường chỉ huy cho một hướng chiến dịch, khi vào chiến trường làm lực lượng dự bị của B70, cuối chiến dịch tham gia một hướng đánh vào Bản Đông, phối hợp cùng với các trung đoàn 36, 64 đánh chiếm Bản Đông. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Trung đoàn 24 làm nhiệm vụ chốt chiến dịch, đây là một hình thức tác chiến mới, với một cụm chốt liên hoàn ở khu vực cầu Cha Ky nằm trên các điểm cao 351, 488, 311, 282, Trung đoàn 24 đã quần nhau với lữ đoàn đặc nhiệm của địch (2 thiết đoàn tăng 17, 11 và lữ đoàn dù) suốt 43 ngày đêm, khi địch đã lên đến Bản Đông và chiếm các điểm cao phía tây thì thực chất hoạt động của Trung đoàn 24 là nằm sâu trong lòng địch, trong thế cài răng lược, mọi tiếp tế từ phía sau lên đều rất khó khăn vì dễ bị địch phát hiện và ngăn chặn. Nhưng Trung đoàn 24 vẫn bám chắc khu vực. Tiểu đoàn 4 vẫn đứng vững ở điểm cao 351, 489. Tiểu đoàn 5 vẫn trụ vững ở Xê Đen - A Mo và Tiểu đoàn 6 vẫn kiên cường bám trụ ở Pa Cho - điểm cao 311. Trung đoàn 24 vừa kiên cường giữ chốt, vừa kiên quyết và liên tục đánh địch có hiệu quả, làm cho quân địch phải co lại, các kho tàng của ta trong khu vực vẫn được bảo đảm an toàn. Với một diện tích chưa đầy một kilômét vuông khu vực chốt 351, cầu Cha Ky, địch đã ném xuống 940 quả bom phá, 69 quả bom bi mẹ, bắn gần 8.000 quá đạn pháo, 2 lần thả chất độc hoá học. Những số liệu trên đã cho thấy sự khốc liệt của khu vực chốt mà Trung đoàn 24 đảm nhiệm. Nằm trong đội hình chiến đấu của Binh đoàn 70, việc Trung đoàn 24 được tham gia ngay từ đầu chiến dịch và các lực lượng dự bị của Sư đoàn tham gia chiến đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ đã góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng và cục diện chiến trường có lợi cho ta. Đây là đòn chí mạng báo hiệu sự thất bại của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", tác động mạnh mẽ đến cục diện chung cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2025, 08:16:40 pm Từ thắng lợi Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Sư đoàn 304 rút ra một số kinh nghiệm:
1. Xác định nhiệm vụ, nhận định đánh giá đúng tình hình mọi mặt, chuẩn bị lực lượng và công tác tổ chức chiến đấu chu đáo, chặt chẽ là yếu tố quan trọng hàng đầu, là cơ sở giành thắng lợi. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1970, Sư đoàn 304 đã giao cho Trung đoàn 24 tổ chức các đội đi trinh sát thực địa 2 lần, tổ chức diễn tập và chuẩn bị nhiều phương án đánh địch. Trung đoàn 24 là lực lượng đi trước thực hiện chốt chặn chiến dịch từ cuối năm 1970. Khi có lệnh của Bộ Tư lệnh 70 điều tiếp Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 14, 16, 19 và một số cán bộ Sư đoàn và cơ quan Sư đoàn vào gấp chiến trường làm lực lượng dự bị của chiến dịch, chỉ huy Sư đoàn chấp hành nghiêm mệnh lệnh nhanh chóng đưa các lực lượng vào chiến trường đúng thời gian quy định và thực hiện tốt nhiệm vụ. Khi Trung đoàn 24 vào chiến trường đã khẩn trương xây dựng, củng cố công sự, hầm hào, ngụy trang, vừa làm nhiệm vụ vận chuyển, vừa mở thêm đường mới vào khu vực tác chiến; đồng thời tổ chức diễn tập tại thực địa theo phương án đánh địch ở khu vực Đường 9 (từ Khe Sanh - Lao Bảo đến Bản Đông), xây dựng các trận địa chốt và mạng giao thông giữa các điểm cao 351 - 311 (khu vực cầu Cha Ky). Công tác chuẩn bị chiến trường tiến hành tích cực theo đúng kế hoạch của trên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 24 hành quân vào triển khai đội hình nhanh, gọn, kịp thời trước thời gian quy định. 2. Dự kiến chính xác các tình huống, nắm chắc địa bàn hoạt động là nhân tố đảm bảo thắng lợi trên chiến trường. Để chuẩn bị cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719", từ tháng 11 năm 1970, địch đã tiến hành một kế hoạch nghi binh lớn, đồng thời tung tin chuẩn bị tiến công ra miền Bắc (Nam Quân khu 4) nhằm đánh lạc hướng, phân tán sự chuẩn bị đối phó của ta trên hướng tiến công chính của chúng. Với toan tính trên, chúng hy vọng sõ thực hiện được mục đích của cuộc hành quân: chặn được tiếp tế, phá được kho tàng của ta. Nắm được ý đồ của địch, theo mệnh lệnh của Bộ, một số các đơn vị đã tổ chức diễn tập ở khu vực Hà Tĩnh, Quảng Bình để "phản nghi binh" với địch đồng thời khẩn trương chuẩn bị cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Trong đó, Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 được lệnh bí mật giấu quân ở Làng Ho, đưa Tiểu đoàn 4 lên chốt giữ điểm cao 351, chặn địch trên Đường 9. Đặc biệt hơn ngay từ năm 1968, các đơn vị của Sư đoàn 304 đã liên tục hoạt động trên địa bàn Đường 9 - Nam Lào, tổ chức nhiều đợt diễn tập đánh địch theo các phương án khác nhau. Có thể khắng định rằng, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã thuộc hết các địa danh, địa bàn trong khu vực tác chiến. Đây chính là một trong những yếu tố góp phần làm nên chiến thắng của Sư đoàn 304, nhất là Trung đoàn 24 trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 và những năm tiếp theo. 3. Tổ chức trận địa chốt vững chắc, hiệp đồng tác chiến tốt, cơ động lực lượng nhanh, xử lý linh hoạt các tình huống diễn ra trong chiến đấu, liên tục tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đây là một thành công lớn trong cụm chốt liên hoàn của chiến dịch mà Trung đoàn 24 đảm nhiệm. Thực hiện quyết tâm tác chiến của Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, các lực lượng ém quân trên các hướng, đặc biệt là Trung đoàn 24 có nhiệm vụ chốt và chia cắt Đường 9, đã có mặt đón lõng địch từ tháng 10 năm 1970, và hoàn thành mọi công tác chuẩn bị chiến trường xong trước tháng 12 năm 1970. Trong quá trình tác chiến, các chốt hỗ trợ nhau rất hiệu quả, địch hoàn toàn bị bất ngờ vì sự xuất hiện của bộ đội chủ lực ta. Chúng cho rằng ta tập trung đối phó ở hướng Quân khu 4; chính vì vậy, khi nổ súng tiến công, các chốt chặn của chiến dịch ngay từ đầu đã tạo thế chia cắt đội hình địch, ngăn chặn và làm giảm nhịp điệu tiến công của chúng, tạo yếu tố bất ngờ, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực, phương tiện chiến tranh của chúng. Các kho tàng, tuyến vận chuyển khu vực Trung đoàn 24 và các đơn vị bạn đảm nhiệm vẫn được giữ vững và thông suốt, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng cơ động, phục kích, tập kích, ngăn chặn địch ở Bản Đông không cho chúng tiến lên Sê Pôn. Chính vì thế trận chốt chiến dịch phát huy hiệu quả, đẩy địch vào thế bị động, lúng túng đối phó và sa lầy ở Mặt trận Đường 9, buộc chúng phải tung nốt lực lượng dự bị chiến lược vào cuộc hành quân, tạo ra những sai lầm mới. 4. Hoàn thành tốt nhiệm vụ giam chân, chia cắt địch ở Đường 9 là điều kiện thuận lợi để Bộ Tư lệnh chiến dịch điều chỉnh lực lượng, tổ chức các đòn phản công giành thắng lợi lớn. Năm ngày đầu chiến dịch (8.2 - 13.2.1971), các cụm chốt của Trung đoàn 24 và các đơn vị bạn đã bất ngờ giáng cho địch một đòn chí mạng, các cụm chốt của ta vẫn được giữ vững. Ngược lại, địch bị thiệt hại nặng, nhiều kế hoạch triển khai lực lượng bị phá vỡ, buộc phải điều chỉnh, làm cho tốc độ tiến quân và các mục tiêu đánh chiếm được của chúng rất thấp. Thế trận của ta được củng cố và giữ vững, tạo thế cho toàn chiến dịch kiềm chế địch trên các hướng, đồng thời chia cắt Đường 9 - con đường độc đạo nối từ Quảng Trị (Việt Nam) qua tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào) bị bao vây cô lập, lực lượng tinh nhuệ của địch ở Bản Đông bị chặn đứng không thể tiến lên Sê Pôn. Những trận thắng khởi đầu trên đã tạo cơ sở để Bộ Tư lệnh chiến dịch điều chỉnh lực lượng, lên kế hoạch triển khai thế trận phản công toàn chiến dịch (15-2-1971). Thực tế diễn biến chiến dịch đã diễn ra đúng như dự kiến của ta. Ở cánh bắc, địch đã bị vây hãm, ngăn chặn và bị diệt từng đơn vị, buộc lực lượng địch ở Bản Đông phải cơ động lên ứng cứu nhưng không được. Trong khi lực lượng ở Bản Đông bị chặn đứng, dù địch đã phải tung nốt thê đội 2 vào cuộc, nhưng vẫn không giải quyết được tình hình, mà còn bị tổn thất rất nặng nề. Sê Pôn vẫn được giữ vững, tuyến vận chuyển chiến lược của ta vẫn được đảm bảo an toàn. Trong quá trình ngăn chặn và phá thế tiến công của địch, các lực lượng của ta, trong đó có Trung đoàn 24 đảm nhiệm cụm chốt liên hoàn dọc Đường 9, đã phát huy tác dụng đánh ngăn chặn, diệt nhiều máy bay và xe cơ giới địch. Đặc biệt, cuối tháng 3 năm 1971, bị tổn thất quá lớn, quân địch hoảng loạn, từ các nơi tháo chạy dồn về và bị chặn lại tại khu vực chốt của Trung đoàn 24, và phần lớn trong số này đã bị tiêu diệt. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 toàn thắng, đã tạo ra cục diện chiến lược mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương. Với thắng lợi này, chúng ta đã giáng cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn một đòn chí tử; đồng thời rút ra được một số kinh nghiệm quý về chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; tạo đà cho Sư đoàn tiếp tục giành được những thắng lợi lớn hơn trong những năm tiếp theo. Trong quá trình tham gia chiến dịch, đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu ngoan cường, mưu trí, dũng cảm lập nên những chiến công đặc biệt xuất sắc. Đó là các tập thể như: Trung đoàn 24, Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 14, Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 19; về cá nhân có đồng chí Lê Mã Lương - Chính trị viên phó Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 (cuối chiến dịch đã được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân). Hành động anh hùng và với câu nói nổi tiếng của đồng chí: "Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù" đã động viên lớp lớp thanh niên hăng hái lên đường đánh Mỹ. Có thể khẳng định rằng, được tham gia và đóng góp chiến công trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (1971) thực sự là một trong những mốc son chói ngời, một trong những trang sử vàng truyền thống vinh quang của Sư đoàn 304 anh hùng. Đây chính là những hành trang quý giá và mãi trường tồn cùng với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Sư đoàn 304; đồng thời là động lực thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn tiếp tục phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và quân đội giao phó trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay và những năm tiếp sau. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Chín, 2025, 07:33:13 pm HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN CỦA SƯ ĐOÀN 2 CHỦ LỰC QUÂN KHU 5 TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Đại tá TRƯƠNG ĐỨC NGHĨA Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh 2 - Quân khu 5 Sau cuộc đảo chính phản cách mạng ở Campuchia (3-1970), đế quốc Mỹ chủ quan cho rằng chúng đã cắt đứt được con đường tiếp tế quan trọng của cách mạng miền Nam qua cảng Xihanúcvin. Đầu năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn lại tiến hành một cuộc phiêu lưu quân sự mới, đánh ra Đường 9 - Nam Lào. Đây là cuộc hành quân có tầm quan trọng đặc biệt đối với chúng trong điểm "nút" của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Nếu cuộc hành quân này thành công, cắt được đường hành lang chiến lược chạy dọc Trường Sơn, bịt nốt được con đường tiếp tế còn lại (sau khi đã bịt được con đường qua cảng Xihanúcvin) từ miền Bắc vào miền Nam của ta, là chúng đã thực hiện được mục tiêu "bóp nghẹt" cách mạng miền Nam. Bị cắt đứt mọi nguồn tiếp tế, cách mạng miền Nam sẽ tàn lụi, "Việt Nam hoá chiến tranh" của chúng sẽ thành công. Theo kế hoạch của địch, cuộc hành quân sẽ chia thành 4 giai đoạn: - Từ ngày 30 tháng 1 đến 8 tháng 2, triển khai chiếm lĩnh bàn đạp Tà Cơn, Khe Sanh, Lao Bảo. - Từ ngày 8 đến 14 tháng 2, tiến công chiếm các mục tiêu chiến dịch Bản Đông, Sê Pôn, lập thành tuyến ngăn chặn nhằm cắt đôi Đông Dương. - Từ ngày 15 tháng 2 đến 12 tháng 3, lùng sục đánh phá kho tàng ở xung quanh Sê Pôn và Bản Đông. - Từ ngày 13 tháng 3 đến đầu tháng 5 năm 1971, chuyển xuống phía nam đánh phá kho tàng của ta trong các khu vực Sa Đi, Mường Noòng, A Túc, A Sầu, A Lưới. Tháng 2 năm 1971, khi địch tập trung lực lượng, chuẩn bị vượt biên giới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nêu rõ quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: "Tập trung lực lượng kiên quyết tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, bảo vệ bằng được con đường chi viện cho tiền tuyến, phối hợp với các chiến trường, với nhân dân các nước Lào, Campuchia anh em, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai". Quán triệt quyết tâm của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Đây là một chiến dịch có ý nghĩa như một trận quyết chiến chiến lược trên một diện rộng. Lực lượng tham gia chiến dịch có Binh đoàn 70 (gồm các sư đoàn chủ lực 308, 304, 320, một số trung đoàn độc lập và các đơn vị binh chủng kỹ thuật), lực lượng của Bộ Tư lệnh 559, Sư đoàn 324 và Sư đoàn 2. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, quân địch bắt đầu vượt biên giới Việt - Lào. Cánh quân chủ yếu của địch do chiến đoàn đặc nhiệm gồm Lữ đoàn 1 dù và 2 thiết đoàn số 11, 17, tiến công theo Đường 9. Nhưng chủ lực ta đã bố trí sẵn sàng và xuất hiện ngay từ đầu. Đây là bất ngờ lớn nhất đối với chúng và đã làm cho địch từ chủ động chuyển sang bị động đối phó. Sau 23 ngày chiến đấu liên tục, ta đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân bảo vệ sườn phía bắc, tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù, Thiết đoàn 17, đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 1 quân biệt động Sài Gòn. Kế hoạch xây dựng các căn cứ hoả lực để chi viện cho cánh quân chủ yếu tiến công chiếm Sê Pôn của địch bị đập tan. Ở phía nam, ngay trong ngày đầu, lực lượng bảo vệ hành lang đã đánh địch ở Cô Bốc và điểm cao 550, bắn rơi 12 máy bay lên thẳng, tiêu diệt một đại đội và đánh thiệt hại nặng một đại đội khác của địch. Tiếp theo, lực lượng cơ động của ta tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 2, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 Trung đoàn 3 Sư đoàn 1 bộ binh địch. Từ ngày 3 tháng 3, máy bay lên thẳng của chúng lần lượt đổ Sư đoàn 1 bộ binh xuống các điểm cao 660, 723, 748 ở phía nam Đường 9. Sau khi tạo được bàn đạp, ngày 6 tháng 3 địch cho máy bay lên thẳng đổ 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 1, Sư đoàn 1 xuống đông bắc Sê Pôn. Tháng 7 năm 1970, Sư đoàn 2 (Sư đoàn 2 Quân khu 5 được thành lập ngày 20 tháng 10 năm 1965 lại làng An Lâm xã Phước Hà (nay là xã Tiên Hà), huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam) được lệnh chuyển ra bắc Đường 9 (Trung Lào). Theo kế hoạch của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận, Sư đoàn 2 được tăng cường một tiểu đoàn của Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 để tiến công tiêu diệt các đơn vị của Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn trên dãy điểm cao từ 462 đến 748 (dãy điểm cao nối tiếp nhau từ Bản Đông đến Sê Pôn dọc phía nam sông Sê Pôn). Trên một tuyến dài hàng chục kilômét, Sư đoàn 1 địch bố trí thành 3 cụm lớn: Trung đoàn 2 (thiếu) ở điểm cao 748; Trung đoàn 1 ở các điểm cao 723, 690; Trung đoàn 3 ở các điểm cao 462, 65. Sau khi kế hoạch đổ quân và họp báo ở Sê Pôn thất bại, ngày 12 tháng 3, Trung đoàn 2 địch bỏ đồi yên ngựa và điểm cao 748 co về điểm cao 660. Lúc này lực lượng địch đông và bố trí khá tập trung, nhưng do địa hình chi phối nên bao vây tiêu diệt từng trung đoàn quân địch đang co cụm trên điểm cao là một vấn đề khá phức tạp. Trong hội nghị bàn kế hoạch tác chiến, Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn đề nghị vận dụng hình thức "bao vây, đón lõng". Theo ông, muốn diệt gọn từng trung đoàn địch, ta phải cắt đứt các đường bộ, đường không, hãm địch trong thế bị vây ép liên tục, sau đó mới tập trung binh hoả lực tiến công dứt điểm, đánh như vậy có thể diễn ra hai tình huống. Do không còn lối thoát, địch sẽ đầu hàng để khỏi bị tiêu diệt, nhưng cũng có thể khiến chúng càng ngoan cố chống cự đến cùng. Sư đoàn 1 là một trong những đơn vị thiện chiến, phần lớn sĩ quan chỉ huy đều là tín đồ đạo Thiên chúa, nên khả năng đầu hàng là điều khó có thể xảy ra; vả lại, khi ta mới tiêu diệt được một cụm thì các cụm khác của địch đã có đủ thời gian tháo chạy. Vậy nếu ta giăng một cái bẫy, mở một hướng vây, tạo một khoảng trống cho địch rút, rồi đón lõng diệt chúng thì sẽ thuận lợi hơn. Phương án của Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn được hội nghị nhất trí thông qua. Theo đó, mục tiêu đánh trước tiên của Sư đoàn là tập trung lực lượng diệt nhanh, gọn Trung đoàn 1 địch ở điểm cao 723, tiếp đó là Trung đoàn 2 ở các điểm cao 660 và 462. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Chín, 2025, 07:34:27 pm Ngày 13 tháng 3, vòng vây của Sư đoàn quanh điểm cao 723 đã hình thành. Số phận Trung đoàn 1 địch đã được quyết định. Trong 3 ngày (13 - 15.3.1971), các loại hỏa lực của ta từ cối 82, DKZ75 đến pháo Đ74 và cối 160mm liên tục tập kích phá hủy công sự mới làm của địch. Hoả lực phòng không khống chế chặt chẽ bầu trời làm cho không một máy bay lên thẳng nào của địch dám đến gần. Chỉ huy Trung đoàn 1 địch liên tục điện kêu cứu cấp trên. Nhận thấy thời cơ dứt điểm đã đến, 1 giờ 30 phút ngày 16 tháng 3, Hội nghị Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn họp, quyết định "nới vây" để rồi "đón lõng" diệt quân địch rút chạy. Đúng như kế hoạch của ta, mờ sáng ngày 16, quân địch ở điểm cao 723 rút chạy về hướng đông bắc theo đúng ý định tác chiến của Sư đoàn. Lập tức, pháo binh ta đồng loạt bắn chặn các ngả đường buộc địch phải đi vào khu vực đã định sẵn. Hai tiểu đoàn của Trung đoàn 141 từ các sườn núi cao đánh xuống, kẹp chặt toàn bộ quân địch. Cùng lúc, Tiểu đoàn 40 của Trung đoàn Ba Gia vận động đánh cắt ngang sườn đội hình quân địch tháo chạy. Các chiến sĩ ta từ 3 hướng mãnh liệt xung phong vào đội hình đã rối loạn của địch. Tiểu đoàn Công binh 15 chốt chặn ở một đoạn đường mòn liên tục bẻ gãy 6 đợt đột kích phá vây của địch diệt 20 tên. Tuy địch sử dụng máy bay ném bom Napan cố ngăn sức tiến công của ta, nhưng đến 11 giờ ngày 16, ta đã tiêu diệt hoàn toàn Tiểu đoàn 1 của địch.
Lực lượng địch lúc này còn đông nhưng tinh thần hoang mang cực độ, chỉ huy rối loạn. Đến 12 giờ ngày 16 tháng 3 lực lượng còn lại của Trung đoàn 1 địch co lại thành từng cụm và tung hoả mù phân tuyến cho máy bay oanh kích vào đội hình bộ đội ta. 14 giờ ngày 16 khi máy bay địch vừa ngừng đánh phá, từ phía tây, Trung đoàn 141 đánh xuống; từ phía đông bắc, Tiểu doan 40 Trung đoàn Ba Gia đánh vào; trên hướng đông nam, tiểu đoàn đặc công và Tiểu đoàn 15 công binh đánh thốc lên. Quân địch hoàn toàn tan rã. Viên đại tá chỉ huy Trung đoàn 1 bộ binh bị tiêu diệt. Đến sáng 17 tháng 3, lực lượng còn lại và sở chỉ huy Trung đoàn 1 địch bị diệt. Để che giấu thất bại, địch vội vã cho 12 lần chiếc B-52 đến ném bom hủy diệt trận địa. Qua 2 ngày tiến công, Sư đoàn 2 đã tiêu diệt và bắt 1.750 địch, diệt gọn Trung đoàn 1 Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn, bắn rơi 50 máy bay các loại, thu hàng trăm súng, trong đó có 9 đại bác và 19 súng cối hạng nặng, 3 xe ủi đất, 2 máy nổ, 25 máy PRC25 và nhiều quân trang quân dụng. Trong lúc tiếng súng diệt địch ở điểm cao 723 còn chưa dứt, thì Trung đoàn Ba Gia (thiếu Tiểu đoàn 40) khẩn trương hành quân bôn tập về hướng điểm cao 660. Đến 12 giờ ngày 17 tháng 3, Trung đoàn đã đến vị trí tập kết và nhanh chóng chia thành từng mũi tiến vào vây quanh điểm cao 660. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, chỉ huy Trung đoàn 2 địch quyết định cho quân lính men theo sườn đông, các điểm cao 660, 651, Phurơtan tụt xuống rồi vượt qua đường ống dẫn dầu và đường Nava1 (Đường Nava là một con đường chiến lược do thực dân Pháp xây dựng khi xâm lược Lào) lên điểm cao 462 để lên trực thăng rút chạy. Dự kiến được mưu đồ của địch, Đại đội 6 Tiểu đoàn 60 và Đại đội 19 Tiểu đoàn 90 triển khai phục kích chờ địch. Giữa trưa ngày 18 tháng 3, khi tốp đi đầu của địch vừa mới tới đường ống dẫn dầu thì bị quân ta đánh đòn bất ngờ, một bộ phận quân địch bị tiêu diệt, số còn lại hốt hoảng chạy ngược trở lại và hình thành 3 cụm lớn ở sườn đông các điểm cao 660, 651 và đông bắc Phurơtan. Đây là thời cơ thuận lợi để diệt lớn sinh lực địch. Đêm 18 tháng 3, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn họp, quyết định: Tập trung hoả lực bắn phá các điểm cao 660, 651, Phurơtan, đồng thời nới rộng vòng vây nhử địch xuống thung lũng để đánh dứt điểm. Mặt khác, chủ động đánh chặn máy bay, không cho địch tháo chạy bằng đường không; tổ chức trận địa phục kích bí mật dọc bờ sông Sê Pôn đề phòng địch bất ngờ cho máy bay đến bốc quân theo hướng này. Mờ sáng ngày 19 tháng 3, một lần nữa Trung đoàn 2 địch tìm đường tháo chạy. Cụm quân ở điểm cao 651 vừa tụt xuống chân dốc liền bị Đại đội 11 Tiểu đoàn 90 của ta chặn đánh. Cùng lúc, lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 90 vận động bao vây, tiến công cả bên sườn và phía sau, diệt phần lớn Tiểu đoàn 5 dịch. Cùng lúc, quân địch ở điểm cao 660 và Phurơtan cũng bị Đại đội 7 Tiểu đoàn 60 chặn đánh, buộc chúng phải lui lại và đóng thành một cụm lớn ở sườn đông Phurơtan. Pháo binh ta liên tục bắn phá sở chỉ huy Trung đoàn 2 địch ở điểm cao 462. Do lực lượng của ta ít, địa bàn rộng, không thể vây kín được mọi chỗ, nên bộ phận còn lại của Tiểu đoàn 5 địch thừa cơ vượt khỏi vòng vây chạy đến đường Nava và được trực thăng cứu thoát. Cùng lúc, nhiều trực thăng khác của địch cũng liều chết hạ cánh xuống điểm cao 462 cứu thoát chỉ huy Trung đoàn 2. Quyết không cho địch chạy thoát, từ khắp các sườn đồi, khe suối, tất cả các cỡ súng của ta tập trung bắn mạnh vào đội hình máy bay địch, hạ một số chiếc, buộc chúng phải tháo lui. Đêm 20 tháng 3, chỉ huy Trung đoàn Ba Gia quyết định đưa Tiểu đoàn 40 vừa từ điểm cao 723 về phối hợp với Đại đội 7 Tiểu đoàn 60 hình thành 2 mũi tiến công vào các cụm quân của địch. Lực lượng còn lại "đón lõng" tiêu diệt những toán quân địch trên đường tháo chạy. Sau hơn 5 giờ chiến đấu quyết liệt, phần lớn Trung đoàn 2 địch bị diệt và bị bắt, số còn lại tháo chạy tán loạn vào rừng. Kết quả, ta loại khỏi chiến đấu gần 1.300 tên địch, diệt gọn Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3 và 2 đại đội của Tiểu đoàn 5, thu hàng trăm súng, có 4 đại bác 105mm, 54 máy PRC25, bắn rơi 36 máy bay. Với những chiến công giành được, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 2 Quân khu 5 đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971. Đánh giá hoạt động của Sư đoàn trong chiến dịch này, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch kết luận: Nhận trọng trách ở hướng tây và tây nam của mặt trận, Sư đoàn 2 hiệp đồng với các đơn vị bạn đã hoàn thành xuất sắc cả 2 nhiệm vụ: bảo vệ đường đường Hồ Chí Minh ở khu vực Sê Pôn; tiêu diệt được nhiều sinh lực, phá được nhiều phương tiện chiến tranh của địch, nêu cao được truyền thống của Quân khu 5. Các đồng chí đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của cấp trên, cơ động nhanh chóng, đoàn kết hiệp đồng tốt với các đơn vị bạn. Tích cực chủ động, mưu trí, linh hoạt, nắm vững thời cơ, liên tục chiến đấu, anh dũng lập công. Đặc biệt là tác chiến kết hợp với binh vận, đánh thắng 2 trận lớn tiêu diệt Trung đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 2 của Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn trên khu vực các điểm cao 723, 660, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, làm chủ chiến trường. Chiến công của các đồng chí đánh dấu một bước tiến bộ mới rất quan trọng của sư đoàn và góp phần xứng đáng vào thắng lợi rất to lớn của Chiến dịch lịch sử Đường 9 - Nam Lào năm 1971. Chiến công từ Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, không chỉ góp phần làm cho truyền thống "Trên tin, bạn mến, dân thương, đã đi là đến, đã đánh là thắng" của Sư đoàn được tô thắm thêm, mà còn bổ sung thêm bề dày thành tích chiến đấu, xây dựng và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chính những phần thưởng cao quý: 2 lần được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Thành đồng hạng Nhì, Huân chương Lao động hạng Ba, 14 Huân chương Quân công và Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất của Đảng và Nhà nước, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác của các Nhà nước Cu Ba, Triều Tiên, Lào, Campuchia dành cho Sư đoàn 2, là những minh chứng sống động ghi nhận thành tích phấn đấu không ngừng nghỉ của các thế hộ cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn trong suốt gần 50 năm qua. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Sư đoàn làm nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và cơ động chiến đấu trong mọi tình huống, từng bước xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện đáp ứng yêu cầu "Cơ động đánh thắng" và thực sự là đơn vị chủ lực cơ động đủ quân của Quân khu 5 và Bộ đứng chân trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Lịch sử sẽ được ghi tiếp những trang hào hùng trong chặng đường mới và truyền thống Anh hùng của Sư đoàn bộ binh 2. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Chín, 2025, 07:41:25 pm VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN QUẢNG TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Thiếu tướng NGUYỄN CHÍ HƯỚNG Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị Cách đây 40 năm, chiến dịch phản công quy mô lớn của quân và dân ta cùng với sự phối hợp của lực lượng vũ trang Pathét Lào đã đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Bằng chiến dịch này, quân dân ta không những tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch, giữ vững hành lang chiến lược mà còn giáng một đòn chí mạng vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ - ngụy. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị với vai trò là lực lượng tại chỗ đã cùng các đơn vị chủ lực xây dựng cơ sở, chuẩn bị chiến trường, hiệp đồng tác chiến đánh bại các đợt tiến công, tiêu diệt các cứ điểm phòng ngự giành thắng lợi hoàn toàn. Chiến thắng đó đã tạo nên sự thay đổi khá lớn về cục diện trên chiến trường có lợi cho ta là tiền đề quan trọng để lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị tiến lên giải phóng quê hương năm 1972. Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào diễn ra trên một địa bàn rộng, với chiều dài khoảng 140km theo hướng đông - tây, từ Cửa Việt, Đông Hà (Việt Nam) tới Mường Phìn, Pha Lan (Lào), chiều rộng (theo hướng bắc - nam) từ Mường Trương đến Mường Noòng, khoảng 60km. Trên địa bàn gồm khu vực đồng bằng ven biển, đồi núi trung du xen kẽ làng mạc và núi cao rừng rậm, từ Cửa Việt tới Lao Bảo dài 80km và có trục đường 9, tuyến đường huyết mạch có giá trị đặc biệt. Địa bàn tác chiến chủ yếu ở vùng rừng núi biên giới Quảng Trị (Việt Nam) và Lào, là nơi dân cư thưa thớt, gần hậu phương của cả ta và địch. Tình hình trên chiến trường Quảng Trị, việc xây dựng và phát huy sức mạnh của lực lượng vũ trang địa phương gặp nhiều khó khăn. Lực lượng thường xuyên của địch ở Quảng Trị lúc này có 2 sư đoàn bộ binh, 12 tiểu đoàn pháo 2 thiết đoàn xe tăng, 15.000 tên bảo an, dân vệ, tề điệp. Tính bình quân 6 người dân bị một tên lính kìm kẹp. Địch dốc sức bình định, biến nhiều vùng dân cư thành những vành đai trắng, bắn phá hủy diệt hòng tiêu diệt mầm mống lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng trong những làng xóm, thôn bản... Để thực hiện cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Mỹ - ngụy huy động lúc cao nhất có tới 15 trung đoàn bộ binh, hai trung đoàn thiết giáp, 2-1 tiểu đoàn pháo binh, hơn 700 máy bay, 4 tiểu đoàn quân ngụy Lào gồm trên 42.000 quân cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác. Đây là cuộc hành quân lớn nhất điển hình của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Với quyết tâm bằng mọi giá phải bảo vệ bằng được tuyến chi viện Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh; bất luận hoàn cảnh nào cũng phải sẵn sàng để đánh địch trên các hướng. Do đó lực lượng của ta tham gia chiến dịch khá lớn bao gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324 và 2), 4 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không, một số tiểu đoàn đặc công và lực lượng tại chỗ của các mặt trận B4, B5, Đoàn 559. Đây là bước phát triển mới về tổ chức lực lượng, thể hiện chủ trương của chiến dịch phản công, tác chiến hiệp đồng binh chủng, đánh tiêu diệt lớn, phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị chủ lực và lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị cùng quân và dân các bộ tộc Lào anh em. Vượt qua gian khổ của cuộc chiến tranh, sự kìm kẹp của kẻ thù, kiên cường đấu tranh toàn diện: quân sự, chính trị, binh vận, lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị có vai trò rất to lớn góp phần quyết đinh chiến thắng của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971. Sự đóng góp đó được thể hiện: Một là: Lực lượng vũ trang nhán dân Quảng Trị khắc phục khó khăn, đẩy mạnh đấu tranh, tạo thế và lực vững chắc, phối hợp cùng bộ đội chủ lực bố trí lực lượng, chuẩn bị thế trận sẵn sàng kịp thời đón đánh địch. Từ mùa Hè 1970, Quân ủy Trung ương đã dự kiến trước phán đoán đúng ý đồ của địch và đã chỉ đạo các đơn vị chuẩn bị tốt mọi mặt, chủ động chuẩn bị lực lượng, cơ sở vật chất; chỉ đạo chiến dịch tổ chức trinh sát thực địa, chuẩn bị chiến trường, xây dựng công sự trận địa phòng ngự, luyện tập phương án tác chiến, đồng thời từng bước cơ động triển khai và bố trí lực lượng tại chỗ, lực lượng cơ động đứng chân sẵn trên các khu vực kịp thời đón đánh địch. Lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị khẩn trương chuẩn bị, với nhiệm vụ cơ bản được xác định là: "... đánh bại thủ đoạn bình định và "Việt Nam hóa" chiến tranh của địch. Tấn công quân sự, chính trị, phá từng bước tuyến phòng ngự đồng bằng, phá phương tiện chiến tranh hậu cứ, đường giao thông của địch. Đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh ở đồng bằng, thành phố. Bảo vệ hành lang hậu phương, làm chủ vững chắc rừng núi, tạo thế đứng vững vùng giáp ranh, từng bước làm chủ đồng bằng. Tích cực chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực ta diệt địch. Tạo thế liên hoàn ba vùng tiến tới giành thắng lợi lớn". a) Quân và dân Quảng Trị không ngừng tiến công, giành nhiều thắng lợi trong đấu tranh vũ trang, xây dựng thế trận, sẵn sàng đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Để thu hút giam chân lực lượng địch tạo điều kiện cho các đơn vị bạn chuẩn bị chiến trường, từ tháng 6 năm 1970 lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị cùng với các đơn vị thuộc Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị liên tục mở các đợt tấn công vào lực lượng cơ động ngụy, đánh phá giao thông và mục tiêu nằm sâu trong hậu phương địch. Trong năm 1970, lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị đã tham gia cùng các đơn vị thực hiện 508 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 4.866 tên (trong đó có 635 tên Mỹ), thu 186 súng các loại, bắn cháy 33 máy bay, phá hủy hàng trăm xe quân sự và phương tiện chiến tranh các loại. Lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị cùng các đơn vị đã giam chân toàn bộ lực lượng cơ động của Sư đoàn 3 ngụy, gây nhiều khó khăn tổn thất đối với các đơn vị cơ động chiến đấu của ngụy quân, tiêu diệt hàng chục tiểu đoàn "bình định" của địch, phá vỡ nhiều kế hoạch vận chuyển của chúng ra các căn cứ Đông Hà, Ái Tử. Bên cạnh đó, các lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị đã tiến hành nhiều hoạt động, kịp thời ngăn chặn các mũi tiến công, các bước chuẩn bị của địch, đánh địch rộng khắp trên toàn địa bàn Quảng Trị, buộc chúng phải phân tán lực lượng để đối phó, hạn chế việc triển khai lực lượng, chuẩn bị hậu cần để tiến hành cuộc hành quân. Đặc biệt trong tháng 11, 12 năm 1970 và tháng 1 năm 1971, quân dân Gio Cam đã 7 lần đánh bại các cuộc thành quân nống ra đánh phá các bàn đạp của ta ở khu vực xã Trung Giang, Gio An và 4 xã phía bắc Cam Lộ. Nổi lên trong phong trào đánh địch là những hoạt động táo bạo, hiệu quả của du kích Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Hải, các xã Cam Chính, Cam Nghĩa, Trung Giang, Trung Hải, Gio An, Gio Hải, Hải Phú, Hải Thượng, Hải Lệ, 5 xã vùng trên của Triệu Phong, trinh sát và tự vệ mật của thị xã Quảng Trị. Cùng với hoạt động tác chiến, các đơn vị bộ đội địa phương Quảng Trị đã cùng các đơn vị của Đoàn 559 bí mật vận chuyển một khối lượng lớn vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện khổng lồ. Đảm bảo tốt công tác hậu cần, xây dựng hàng nghìn hầm trú ẩn, lán trại cho các đơn vị cơ động chiến đấu như Sư đoàn 2 - Quân khu 5 vừa bí mật cơ động từ Quế Sơn (Quảng Ngãi) ra khu vực Đường 9 tham gia chiến đấu. b) Lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị đấu tranh đạt nhiều thắng lợi trong công tác chính trị, binh vận và xây dựng cơ sở. Phá vỡ kế hoạch "bình định" của địch, làm chủ ở vùng rừng núi, tạo thế vững chắc ở vùng giáp ranh, từng bước làm chủ ở đồng bằng. Nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng chống cướp bóc kiểm tra, kiểm soát lương thực, thực phẩm, đòi chúng phải để cho nhân dân ở các khu tập trung trở về nương vườn cũ làm ăn; đấu tranh chống địch mở các đợt thanh lọc, đấu tranh chống lập phòng vệ dân sự, chống đôn quân bắt lính, kết hợp với công tác binh vận, vận động các gia đình kêu gọi chồng con trong hàng ngũ địch trở về làm ăn. Được sự hỗ trợ của các lực lượng vũ trang, nhân dân Quảng Trị tiến hành 200 cuộc đấu tranh chính trị chống bắt lính, kìm kẹp, tra tấn, đòi tự do đi lại, buôn bán, sản xuất, chống địch mở các cuộc "bình định", đòi về làng cũ làm ăn, đòi địch không pháo kích bừa bãi vào thôn xóm. Nhân dân các thôn Gio Hà và một số thôn của Gio Mỹ, Gio Hải, Gio Lễ bỏ khu tập trung Quán Ngang về làng cũ sinh sống. Song song với đấu tranh chính trị, nhân dân Quảng Trị, còn đẩy mạnh công tác binh vận, tổ chức tuyên truyền vận động, tổ chức nội ứng trong lực lượng phòng vệ dân sự, phát động các gia đình có con em đi lính giác ngộ, kêu gọi họ trở về với cách mạng. Tổ chức được 15 vụ nội ứng trong lực lượng phòng vệ dân sự, dân vệ, làm tan rã trên 1.200 phòng vệ dân sự, tiếp đón 15 hàng binh, vận động 100 lính đào bỏ ngũ về nhà làm ăn. Lực lượng vũ trang luồn sâu bám sát cơ sở, mở rộng cơ sở cách mạng trong vùng địch, đưa hơn 100 thanh niên trong vùng địch chiếm ra vùng giải phóng tham gia lực lượng vũ trang cách mạng. Như vậy, trước khi diễn ra Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị bằng ba mũi tiến công: quân sự, chính trị, địch vận đã góp phần tích cực tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, hạn chế chuẩn bị mọi mặt đảm bảo của địch cho cuộc hành quân. Đặc biệt ta đã giữ vững được các địa bàn trọng yếu, tạo nên các bàn đạp quan trọng ven đường 9, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chuẩn bị chiến trường và triển khai lực lượng cơ động đánh địch trên các hướng. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Chín, 2025, 07:42:24 pm Hai là: Lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị đóng vai trò quan trọng trong tạo thế ta, phá thế địch, hỗ trợ cho các don vị chủ lực đánh trận quyết định tiêu diệt lớn quân địch, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và thực hiện quyết tâm của Quân khu ủy, Ban chỉ đạo Đảng bộ tỉnh chủ trương lãnh đạo lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị phối hợp với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào tích cực tiến công quân sự, đấu tranh chính trị, cùng các lực lượng trên toàn mặt trận bẻ gãy từng đợt tiến công của địch, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang Quảng Trị đứng chân ở vùng giáp ranh cùng với lực lượng du kích các xã tổ chức đánh địch trên các trục đường giao thông, bắn súng cối vào căn cứ địch, kết hợp với công tác diệt ác trừ gian, hạn chế ách kìm kẹp của địch, tăng cường đoàn kết quần chúng ở nông thôn đồng bằng. Các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện đứng chân ở vùng giáp ranh đã cùng với du kích các xã mở đợt hoạt động ở các vùng giáp ranh và đồng bằng, thu được nhiều kết quả trong công tác đấu tranh chính trị, binh vận; kết hợp với diệt ác ôn làm cho thế kìm kẹp của địch lúc này có lỏng bớt, quần chúng tin nhau hơn, đoàn kết đấu tranh chống Mỹ - ngụy. Các hoạt động đấu tranh diễn ra quyết liệt ở các địa phương như huyện Triệu Hải, thị xã Quảng Trị. Lực lượng vũ trang và nhân dân Cam Lộ tổ chức diệt ác ôn ở các thôn Mai Lộc, Thiết Tràng (Cam Chính), thôn Nghĩa An (Cam Thanh) và ra sức đẩy mạnh đấu tranh ở các khu tập trung dân của địch như Tân Tường, Hoàn Cát, An Lạc. Lực lượng vũ trang Gio Linh đẩy mạnh các hoạt động quân sự, phát động quần chúng đấu tranh làm tan rã hàng trăm phòng vệ dân sự của địch, gọi hàng hàng chục binh lính ngụy; đẩy mạnh thực hiện các cuộc đấu tranh tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Nguyễn Văn Thiệu, từng bước hồi phục phong trào cách mạng ở Triệu - Hải và Gio Cam. Ở Hướng Hóa, phần lớn cán bộ, bộ đội du kích và dân công được huy động đi làm nhiệm vụ phục vụ, phối hợp với bộ đội chủ lực của Quân khu Trị Thiên (B4) chiến đấu ở cánh nam của Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Khi bộ đội hai nước Việt - Lào nổ súng tiến công địch ở vào Sê Pôn (8-2-1971) - một cứ điểm xung yếu của địch ở Nam Lào, lực lượng ta và bạn Lào đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn thuộc GM30, GM33, buộc chúng phải rút chạy về Xa Ra Van và Đồng Hến... Các đơn vị bộ đội địa phương cùng các lực lượng của B5 đánh địch ngày càng dồn dập bằng những trận pháo kích và tập kích vào các căn cứ hậu cần, các sở chỉ huy của địch ở Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử, Cửa Việt, gây cho địch nhiều tổn thất. Nhờ đó, Binh đoàn 70, lực lượng nòng cốt của chiến dịch đang bố trí ở nam Quân khu 4 để sẵn sàng đánh địch theo các phương án dự kiến, nhưng khi được lệnh cơ động vào khu vực địa bàn chiến dịch (cũng là lúc địch đã vượt qua biên giới - Lao Bảo và chiếm các điểm cao) đã tổ chức hành quân kịp thời triển khai đội hình đánh nhiều trận ác liệt với Lữ dù 3, Liên đoàn 1 biệt động và tập kích quân địch khi chúng vừa đổ quân chiếm các điểm cao... Điều đó càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của lực lượng vũ trang Quảng Trị trong việc tạo thế và lực cho chiến dịch. Ngày 28 tháng 2 năm 1971, Tiểu đoàn đặc công của Bộ cùng với Đại đội 5 (Tiểu đoàn 33) phối hợp với lực lượng du kích Triệu Hải đánh kho Ái Tử, đốt cháy 1,5 triệu lít xăng. Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp với Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 27) đánh địch nống ra ở khu vực Ba Lào, Tà Cơn, tiêu diệt 2 tiểu đoàn địch, diệt 30 xe tăng, xe bọc thép. Giữa tháng 3 năm 1971, bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp với các phân đội đặc công của Đoàn 1A Quân khu đánh chìm 4 tàu, làm dòng sông từ Đông Hà đến Cửa Việt bị tắc nghẽn giao thông hoàn toàn trong 7 ngày liền. Tuyến vận tải tiếp tế đường sông của quân ngụy do vậy cũng bị thiệt hại nặng nề. Là lực lượng chiến đấu chủ yếu của chiến trường khu vực phía đông, các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích và đồng bào yêu nước Quảng Trị tổ chức nhiều trận đánh mạnh vào các đường giao thông, tập kích sân bay, kho tàng, bến cảng, gây cho địch nhiều tổn thất về sinh lực và phương tiện, buộc chúng phải phân tán và buộc phải tăng thêm 2 lữ đoàn Mỹ, 3 tiểu đoàn pháo binh để giải tỏa. Lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị tổ chức các hoạt động tác chiến ngăn chặn kịp thời các mũi tiến công, đánh địch rộng khắp trên toàn địa bàn chiến dịch, buộc địch phải phân tán lực lượng để đối phó, cả phía trước, phía sau, bên sườn; cùng với đó, nghi binh, lừa địch vào những khu vực ta lựa chọn và chuẩn bị sẵn, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực thực hiện đánh những trận then chốt tiêu diệt, bẻ gãy từng mũi, từng cánh tiến đến đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công của chúng, giậnh thắng lợi hoàn toàn. Lực lượng vũ trang Quảng Trị hỗ trợ và cùng với các đơn vị chủ lực đánh trận then chốt thứ nhất từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 2, trận then chốt thứ 2 từ ngày 26 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 và nhất là trận then chốt quyết định (từ ngày 12 đến ngày 23-3) tiêu diệt tập đoàn chiến dịch chủ yếu của địch co cụm ở Bản Đông. Trong trận đánh then chốt quyết định (Bản Đông), lực lượng vũ trang địa phương cùng các đơn vị tại chỗ của Đoàn 559 đảm nhiệm chiến đấu đạt hiệu suất rất cao, tổ chức đánh địch từ nhiều hướng, đánh phối kết hợp vận chuyển tiếp tế hậu cần, lương thực, đạn dược, hỗ trợ các trung đoàn 64, 36, 66... bao vây, tiêu diệt, buộc địch phải tháo chạy. Bộ đội địa phương tỉnh nắm chắc địa hình, cùng các đơn vị chủ lực nhanh chóng truy kích địch. Sau thời gian chuẩn bị và chiến đấu liên tục, cuối tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã giành thắng lợi hoàn toàn, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ - ngụy. Lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị đã đạp bằng mọi gian khổ hy sinh, khắc phục mọi khó khăn, kiên cường, dũng cảm, mưu trí sáng tạo, đoàn kết hiệp đồng cùng bộ đội chủ lực và, lực lượng vũ trang nước bạn Lào vì thắng lợi chung của chiến dịch. Thực tiễn thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã khẳng định vai trò và sự đóng góp hết sức to lớn của lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Quảng Trị. Từ đó rút ra kinh nghiệm quý báu trong tổ chức, sử dụng và phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương là sự phối hợp sống còn, có tính tất yếu; có mối quan hệ tác động qua lại, dựa vào nhau, hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhau để phát huy sức mạnh và khả năng tác chiến của mỗi bên. Sự phối hợp tác chiến chặt chẽ, hiệu quả giữa bộ đội địa phương và các đơn vị chủ lực trong quá trình tiến hành chiến dịch, giành thắng lợi, hoàn thành mục tiêu đề ra: làm thất bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch, phát triển mạnh mẽ thế chiến lược tiến công không chỉ đối với cách mạng Việt Nam mà cả cách mạng ba nước Đông Dương, tạo thế và lực mới để tiếp tục mở những chiến dịch lớn hơn, có ý nghĩa to lớn trong tạo ra so sánh lực lượng và thế trận có lợi cho cuộc đấu tranh vũ trang tiến tới giải phóng Quảng Trị năm 1972. Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang không ngừng chống phá cách mạng nước ta. Với chiến lược đánh đòn phủ đầu, bằng hỏa lực mạnh, độ chính xác cao, khi chiến tranh xâm lược xảy ra, địch sẽ mở các chiến dịch tiến công quy mô lớn, phạm vi rộng, thực hiện đánh ác liệt trong thời gian ngắn nhằm đạt được mục đích chính trị của cuộc chiến tranh. Do vậy, để đánh bại chiến lược chiến tranh mới, ngay trong thời bình chúng ta phải tập trung thực hiện một số giải pháp sau: Một là: Đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, trên từng địa bàn, từng hướng chiến lược. Đồng thời xây dựng nên quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân phát triển, để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của các lực lượng, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt đánh bại chiến dịch tiến công của chúng. Hai là: Tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, có cơ cấu cân đối, hợp lý; trong đó, tập trung xây dựng Quân đội nhân dân "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại". Chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang địa phương cấp xã, huyện, tỉnh vững mạnh làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Ba là: Xây dựng cơ sở chính trị địa phương mạnh, phát huy vai trò của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và vai trò trách nhiệm của nhân dân trong xây dựng khu vực phòng thủ. Bốn là: Đẩy mạnh nghiên cứu phát triển nền khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự hiện đại của chiến tranh nhân dân Việt Nam lên tầm cao mới. Năm là: Tập trung tổ chức huấn luyện, coi trọng tiến hành diễn tập các cấp, nhất là trên các địa bàn chiến lược, khu vực phòng thủ, nhằm nâng cao khả năng hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng vũ trang địa phương với các đơn vị bộ đội chủ lực trong các loại hình chiến dịch. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971 giành thắng lợi đã giáng cho Mỹ - ngụy một đòn thất bại nặng nề về cả quân sự và chính trị. Thắng lợi to lớn và toàn diện đó là biểu tượng sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, một lần nữa thể hiện một cách rõ nét và sinh động về sự hy sinh, lòng dũng cảm, ngoan cường của lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chiến thắng đó để lại nhiều kinh nghiệm quý báu, làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần thiết thực vào việc chỉ đạo xây dựng huấn luyện và tác chiến, trong xây dựng khu vực phòng thủ địa phương vững chắc, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Chín, 2025, 07:43:48 pm TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC TRƯỜNG SƠN - ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO Thiếu tướng LƯƠNG SỸ NHUNG Tư lệnh Binh đoàn 12 Sau những thất bại lớn trong năm 1970, Tổng thống Mỹ Níchxơn vẫn cho rằng chương trình "Bình định" ở miền Nam Việt Nam đã có kết quả, quân đội Sài Gòn được xây dựng mạnh lên, do vậy cần tranh thủ hành động gấp, thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Đánh giá đúng bản chất hiếu chiến của Níchxơn và những âm mưu thủ đoạn mới của Mỹ - ngụy, Bộ Chính trị nhận định trong mùa khô 1970 - 1971, địch có thể mở cuộc tiến công quy mô vừa và lớn bằng lực lượng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, có một bộ phận quân Mỹ hỗ trợ. Mục tiêu của chúng là đánh vào Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia nhằm phá cơ sở cách mạng của Lào, Campuchia; phá cơ sở hậu cần và cắt đứt tuyến hành lang vận tải chiến lược của ta, cô lập chiến trường miền Nam, tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", giành thế mạnh trong đàm phán. Trước tình hình trên, tháng 9 năm 1970, tại một địa điểm thuộc nam Quảng Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng, Trung tướng Song Hào - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Trung tướng Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần trực tiếp kiểm tra và giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Sau khi phân tích tình hình và nhận định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về âm mưu, thủ đoạn, khả năng của địch, Đại tướng đặc biệt lưu ý: Tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn có lực lượng binh chủng hợp thành mạnh và có cơ sở dự trữ vật chất lớn, lại là lực lượng tại chỗ rất quen thuộc chiến trường, vì vậy phải là một trong những lực lượng tác chiến chủ yếu của chiến dịch, đồng thời là căn cứ hậu cần chiến dịch. Trong bất cứ tình huống nào, Bộ đội Trường Sơn củng phải thực hiện sự chi viện lớn hơn, sâu hơn, xa hơn, bảo đảm được các yêu cầu trước mắt, đồng thời có một phần dự trữ cho các chiến trường. Do vậy, Bộ đội Trường Sơn phải có phương án vừa chuẩn bị cho nhiệm vụ chi viện chiến lược, vừa chuẩn bị cho tác chiến tiêu diệt cuộc hành quân bằng bộ binh của địch. Xác định nội dung nhiệm vụ của Bộ đội Trường Sơn, đồng chí Võ Nguyên Giáp nêu rõ: - Tổ chức ngăn chặn tiêu hao sinh lực dịch, làm chậm bước tiến công của chúng ở hướng đông Đường 9, tạo điều kiện cho quân chủ lực của Bộ mở cuộc phản công đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân của địch. - Tổ chức tác chiến đánh bại cánh quân ở hướng tây Đường 9, không cho chúng hợp điểm với cánh quân hướng đông. - Chỉ huy các đơn vị tăng, pháo của Bộ vượt qua "túi lửa" ở các cửa khẩu để vào chiếm lĩnh trận địa trên các khu vực nam - bắc Đường 9. - Tổ chức lưới lửa phòng không mạnh trên toàn địa bàn chiến dịch, đánh tiêu diệt trực thăng ở mọi quy mô. - Tổ chức vận tải phục vụ chiến dịch, chiến đấu và bảo đảm hậu cần chiến dịch trên toàn mặt trận. Thời điểm trước chiến dịch, quân số lên tối 7 vạn người (chưa kể lực lượng Bộ tăng cường và các đoàn thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến). Từ nhiệm vụ mà Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Trường Sơn quán triệt tình hình nhiệm vụ mới. Theo đó, một bộ phận lực lượng cơ giới đưa ra Bắc để củng cố, bổ sung phương tiện; tuyệt đại đa số ở lại chuẩn bị thế trận cho nhiệm vụ chi viện chiến lược và chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng đối phó với các cuộc hành quân của địch; đồng thời tiếp tục củng cố xây dựng lực lượng, huấn luyện bộ đội. Trước mắt cần giữ vững và đẩy mạnh vận tải chiến lược, tranh thủ dồn nhanh hàng vào nam Đường 9, chủ động đối phó khi địch cắt đứt Đường 9. Chuẩn bị chiến trường, tổ chức vận chuyển chiến dịch đảm bảo hậu cần trực tiếp cho Mặt trận Đường 9 cả đông, tây Trường Sơn và Trị Thiên. Thống nhất chỉ huy các lực lượng tác chiến phía tây Trường Sơn thành một cánh của chiến dịch đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh Chiêh dịch Đường 9. Phối hợp với bạn Lào tiêu diệt cánh quân ngụy Lào và Thái ở phía tây, đẩy chúng ra xa, đảm bảo an toàn tuyến vận chuyển chiến lược và không cho chúng hợp điểm với cuộc hành quân của Mỹ - ngụy từ hướng đông lên. Được sự chỉ đạo sát sao của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã chủ động điều chỉnh lực lượng, chủ yếu là lực lượng cao xạ và công binh theo hướng phục vụ tác chiến chiến dịch. Bộ Tư lệnh họp với đại diện các quân, binh chủng Phòng không, Không quân, Pháo binh, Công binh... các sư đoàn 308, 304, 320 nhằm thống nhất kế hoạch hiệp đồng tác chiến. Về xây dựng thế trận, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chủ trương củng cố 4 cửa khẩu một cách vững chắc. Mỗi cửa khẩu có ít nhất 3 trục song song. Riêng cửa khẩu Chà Lỳ thuộc Binh trạm 27 ở hướng đông Trường Sơn phải mở 4 trục, bởi nó là cửa ngõ tiếp giáp với mặt trận phía đông Đường 9, giữ vai trò quan trọng trên hướng chủ yếu của chiến dịch. Xây dựng các kho dự trữ chiến dịch trên 2 khu vực nam, bắc Đường 9 để chủ động đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ chiến dịch. Về mạng đường phục vụ chiến dịch, đoạn từ Chà Lỳ vào đường số 9 đã thi công xong 2 trục dọc, 2 trục ngang. Các kho vật chất cho hướng Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã có 3.000 tấn hàng. Về mặt tác chiến chiến dịch, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chuyển hẳn một số binh trạm làm nhiệm vụ vận tải chiến lược sang nhiệm vụ vận tải phục vụ chiến dịch, kể cả nơi tiếp giáp Đường 9 và ở các hướng giao tranh giữa ta và dịch. Đồng thời "Bộ binh hóa" các lực lượng công binh và giữ kho ở những binh trạm trên hướng đó nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực dịch, làm chậm bước tiên quân của chúng cũng như bảo vệ tuyến vận tải chiến dịch và kho tàng của ta. Mặt khác tổ chức lưới lửa phòng không trên khu tam giác Bản Đông - La Hạp - Tha Mé, tăng cường các đơn vị phòng không cho các binh trạm đứng trên địa bàn chiến dịch. Tính đến ngày 28 tháng 1 năm 1971, lực lượng phòng không của Bộ đội Trường Sơn được huy động tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào lên tới 5 trung đoàn (trong đó có 1 trung đoàn tên lửa và 1 trung đoàn cao xạ do Bộ phối thuộc); 15 tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm và 57mm; 25 đại đội súng máy 12,7mm và 14,5mm. Tổng cộng có 326 nòng pháo cao xạ và 360 khẩu súng máy bố trí thành 8 cụm tạo thành lưới lửa liên hoàn nhiều tầng, nhiều lớp đủ khả năng tiêu diệt trực thăng của địch khi chúng đổ quân. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Chín, 2025, 07:44:48 pm Về tổ chức mặt trận phía tây Đường 9, Bộ Tổng tư lệnh giao cho Đại tá Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương ở mặt trận phía tây do Bộ Tư lệnh Trường Sơn phụ trách cùng với lực lượng thuộc quyền gồm Sư đoàn bộ binh 968 Sư đoàn bộ binh 2, Trung đoàn bộ binh 29 và 48 cùng các tiểu đoàn pháo binh, pháo mặt đất và xe tăng, có nhiệm vụ phối hợp tác chiến ở phía tây Trung - Hạ Lào, tiêu diệt trực thăng đổ quân xuống các cao điểm, diệt gọn cánh quân Lào, Thái, đập tan âm mưu chốt chặn tuyến chi viện chiến lược ở hướng tây, bảo vệ an toàn khu vực Sê Pôn - Tha Mé - La Hạp.
Riêng về nhiệm vụ vận chuyển chiến lược, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chủ trương bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ cho được hai trục đường 128 và 22, kiên quyết đánh địch bảo vệ cầu đường và đội hình xe, thực hành chiến dịch vận tải quy mô lớn với từng đợt tổng công kích dù trường hợp xảy ra chiến sự trên khu vực Đường 9. Như vậy, những yêu cầu Bộ giao chuẩn bị cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã cơ bản hoàn thành và sẵn sàng trong tư thế tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, dưới sự yểm trợ của quân Mỹ, 7 trung đoàn, lữ đoàn bộ binh, dù, thiết giáp quân đội Sài Gòn chia thành 3 cánh vượt qua biên giới Việt - Lào. Cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9 qua Lao Bảo. Hai cánh quân khác chuẩn bị đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống một số điểm cao ở bắc và nam Đường 9 để bảo vệ sườn cho cánh quân chủ yếu. Nắm chắc tình hình dịch, Bộ Tư lệnh Trường Sơn hạ lệnh: Đây là thời cơ diệt địch lập công, hãy nhử trực thăng địch vào sâu hơn nữa, kiên quyết tiêu diệt địch, cất vó một trận để cho chúng biết thế nào là lực lượng phòng không Đường Hồ Chí Minh. Do chuẩn bị sẵn chiến trường và phán đoán chính xác về hướng tiến quân cũng như các vị trí đổ quân của địch, lực lượng phòng không đã tránh được các đòn oanh kích dọn đường của máy bay chiến lược B-52 và các loại máy bay cường kích, chủ động nổ súng tiêu diệt các tốp trực thăng. Từ 8 giờ ngày 8 đến ngày 10 tháng 2 năm 1971, được yểm trợ hỏa lực của các tốp trực thăng, địch ồ ạt đổ quân xuống các điểm cao nam - bắc Bản Đông. Các cỡ súng cao xạ, súng bộ binh của ta tung lên lưới lửa dày đặc, bắn rơi hàng loạt máy bay khi chúng chưa kịp đổ quân. Mặc dù bị máy bay cường kích đánh phá quyết liệt vào trận địa, nhiều chiến sĩ bị hy sinh, các tiểu đoàn vẫn ngoan cường chiến đấu bắn rơi thêm nhiều máy bay. Các lực lượng phòng không của Bộ đội Trường Sơn đã bắn rơi 33 máy bay; bẻ gãy 10 đợt tiến công của đơn vị biệt động Sài Gòn, phá hủy một xe bọc thép, diệt 100 tên địch, trong đó có 4 tên Mỹ, làm chậm bước tiến của Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 3 quân đội Sài Gòn đang tiến quân trên đường B70. 21 giờ ngày 10 tháng 2, đài phát thanh BBC của Anh đưa tin: Quân đội cộng hòa miền Nam tiến quân lên đường mòn Hồ Chí Minh đã vấp phải lưới lửa phòng không dày đặc chưa từng thấy của Bắc Việt; 50 máy bay lên thẳng bị bắn hạ. Như vậy là trúng kế "điệu hổ ly sơn" của họ. Từ ngày 11 đến ngày 28 tháng 2, các lực lượng cao xạ, bộ binh của Bộ đội Trường Sơn đánh lui hàng chục đợt tiến công của địch, tiêu diệt và bắt hơn 600 tên, xóa sổ 1 tiểu đoàn địch, bắn rơi 68 máy bay. Như vậy, ngay từ những ngày đầu địch đổ quân xuống các cao điểm ở nam và bắc Đường 9 đã bị lực lượng phòng không, công binh, bộ binh của Bộ đội Trường Sơn đánh đòn rất đau, bị bắn rơi 118 máy bay lên thẳng, phá hủy hơn 20 xe tăng, thiết giáp và nhiều bộ binh địch. Bị tổn thất nặng nề, đội hình địch rối loạn, tinh thần hoang mang, tốc độ tiến quân chậm lại, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực từ xa kịp cơ động triển khai đội hình, chuẩn bị đánh những trận tập trung lớn. Trong những ngày đầu tiến quân lên Bản Đông, địch đánh dọn đường rất mạnh. Các địa bàn ngoại vi khu vực địch định đổ quân đều bị đánh nát. Các cửa khẩu trên đường 16, đường 18 đã trở thành túi lửa. Chỉ trong vòng 10 ngày từ 30 tháng 1 đến ngày 10 tháng 2 năm 1971, địch đã sử dụng 400 lần máy bay chiến lược B-52 và 2.246 lần chiếc máy bay cường kích giội bom rải thảm xuống các khu vực này cùng một số điểm cao ở nam - bắc Đường 9 nhằm cản phá các đơn vị, binh khí kỹ thuật của ta tiến vào trận địa. Tuy nhiên, do các binh trạm của Bộ đội Trường Sơn chuẩn bị thế vượt khẩu vững chắc, đồng thời tổ chức chiến đấu hiệp đồng binh chủng tốt nên trong 3 ngày đêm đã đảm bảo cho 8 trung đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn xe tăng, 3 trung đoàn cao xạ và nhiều phương tiện khác vượt khẩu đến vị trí tập kết an toàn. Đến ngày 11 tháng 2, lực lượng của ta tham gia chiến dịch lên đến 6 vạn quân, hàng nghìn xe, pháo và các loại vũ khí hạng nặng khác. Nhu cầu đảm bảo lương thực, đạn dược, thuốc men... cho chiến dịch tăng vọt với khối lượng lớn và đòi hỏi thời gian cấp bách. Mặc dù bị không quân địch khống chế, đánh phá ngăn chặn dữ dội, nhưng Bộ đội Trường Sơn đã vượt qua mọi hy sinh, vận chuyển, đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất cho các lực lượng tác chiến và thắng lớn trên chiến trường. Từ ngày 20 đến 25 tháng 2, lực lượng công binh và pháo cao xạ của Bộ đội Trường Sơn đã yểm trợ cho Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 phối hợp với xe tăng vây lấn cao điểm "Không tên", tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù, tiểu đoàn pháo binh và sở chỉ huy Lữ đoàn 3 dù, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ, chỉ huy trưởng lữ đoàn và toàn bộ ban tham mưu của chúng. Trong 3 ngày 27, 28 tháng 2 và ngày 5 tháng 3, tại khu vực nam Đường 9, địch đổ quân xuống dãy điểm cao 639, 229 liền bị Bộ đội Trường Sơn bắn rơi 40 máy bay lên thẳng, diệt gọn 8 đại đội, khiến chúng không thể đổ quân đánh chiếm khu vực này. Ngày 11 tháng 3, Tư lệnh chiến dịch Lê Trọng Tấn trực tiếp giao nhiệm vụ cho Binh trạm 27: Ngày 12 tháng 3, trước giờ nổ súng 30 phút, Binh trạm 27 phải đảm bảo cho hướng tiến công chủ yếu 2.000 quả đạn pháo 130mm. Tiếp đó mỗi ngày phải đảm bảo 200 tấn đạn và lương thực. Tư lệnh Lê Trọng Tấn kết luận: Quyết tâm tác chiến của đòn tiến công quyết định này đã được xác định, nhưng mở màn được hay không là do vận chuyển bảo đảm cơ sở vật chất quyết định. Binh trạm 27 cần phải hoàn thành cho được nhiệm vụ này. Cùng ngày, Đại tướng Tổng Tư lệnh và Thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo qua điện thoại cho Đại tá Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, yêu cầu phải bảo đảm đầy đủ vũ khí, đạn dược, lương thực cho các hướng chiến dịch. Chấp hành mệnh lệnh của trên, sáng ngày 12 tháng 3, 150 xe chở đạn của Binh trạm 27 dàn đội hình tiếp cận trọng điểm. Đến 3 giờ sáng, sau các loạt bom B-52, đội hình xuất kích theo phương án xác định, lợi dụng sương mù, Bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển cả ngày và đêm đưa hàng tới tận chiến hào và các trận địa pháo, đảm bảo kịp thời vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men cho các đơn vị, đồng thời chở thương binh về phía sau. Kế hoạch vận chuyển chiến dịch đảm bảo cho đợt tiến công mới do Bộ Tư lệnh chiến dịch giao, Bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành trọn vẹn. Tư lệnh Mặt trận phía đông Cao Văn Khánh gọi điện nhiệt liệt biểu dương và cảm ơn Bộ đội Trường Sơn. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Chín, 2025, 07:45:45 pm Ở phía tây, các đơn vị của Bộ đội Trường Sơn tăng cường bảo vệ khu tam giác Sê Pôn - Tha Mé - La Hạp. Sư đoàn 968 phối hợp với quân và dân bạn tiêu diệt nhiều sinh lực địch và ngụy Lào; diệt và bắt sống gần 300 tên, thu 115 súng. Ở phía tây nam, Binh trạm 41 Bộ đội Trường Sơn phối hợp với Sư đoàn 324 đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn thủy quân lục chiến Sài Gòn ở các điểm cao 550, 540, 532. Địch phải liều mạng cho trực thăng bốc số quân còn lại ở các cao điểm và đã bị hỏa lực của các đại đội súng máy thuộc Binh trạm 32, Binh trạm 33, Binh trạm 41 đánh mạnh, 40 trực thăng bị cháy và phá hủy.
Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Quân đội Sài Gòn - lực lượng nòng cốt thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở Việt Nam bị giáng một đòn tiêu diệt nặng nề. Âm mưu của địch hòng cắt đứt tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn bị thất bại. Trong chiến dịch này, các lực lượng của Bộ đội Trường Sơn đã chiến đấu thắng lợi giờn giã 481 trận, tiêu diệt 5.695 tên, bắt 778 tên; bắn rơi 356 máy bay địch trên tổng số 620 chiếc bị bắn rơi của toàn chiến dịch, thu 24 khẩu pháo, 116 xe tăng, xe bọc thép và ô tô. Đồng thời, Bộ đội Trường Sơn đã phối hợp với các lực lượng chủ lực của Bộ và của bạn tiêu diệt, bắt hàng vạn tên địch, phá hủy và thu nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch. Với những chiến công đó, ngày 31 tháng 3 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi thư khen cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Đường 9 - Nam Lào "Đánh giỏi, thắng giờn giã, lập công xuất sắc". Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của quân đội ta. Nó chứng tỏ quân chủ lực và nhân dân ta có đủ sức mạnh đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Thắng lợi của chiến dịch cũng khẳng định biện pháp tiến hành "cuộc chiến tranh ngăn chặn" tuyến đường Hồ Chí Minh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã bị phá sản. Ngày 15 tháng 5 năm 1971, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Trường Sơn họp kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chi viện mùa khô năm 1970 - 1971, trong đó nhấn mạnh, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng Bộ đội Trường Sơn đã nỗ lực cao độ, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ Quân ủy Trung ương giao, trong đó nhiệm vụ trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào được hoàn thành xuất sắc, với khối lượng hàng vận chuyển gần 1 vạn tấn, cao hơn chỉ tiêu dự báo ban đầu 8,6 lần, xấp xỉ bằng 35% tổng khối lượng đã giao cho các chiến trường, đảm bảo thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất cho chiến dịch. Đã chỉ huy và đảm bảo cho trên 2.000 xe pháo vượt Trường Sơn vào địa bàn chiến dịch. Bên cạnh đó, các đơn vị Bộ đội Trường Sơn bảo đảm và đưa đón được 88.000 quân vào các chiến trường, mở thêm cửa khẩu mới; khôi phục trên 4.000km đường cũ; làm lại hàng trăm cầu, phà, ngầm; mở thêm 1.153km đường mới, đảm bảo vững chắc cho vận chuyển chiến lược và chiến dịch. Đánh giá kết quả tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Trường Sơn nhấn mạnh: "Trong hoàn cảnh vừa làm nhiệm vụ phục vụ chiến dịch, vừa trực tiếp tác chiến chiến dịch trên cả hai hướng đông và tây Trường Sơn mà thực hiện được khối lượng như vậy là một cố gắng phi thường, một thắng lợi to lớn. Thắng lợi đó có ý nghĩa đảm bảo đầy đủ, kịp thời vật chất cho các hướng chiến trường ở thời điểm có tính quyết định". Thắng lợi của công tác vận tải chiến lược cùng với thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là thắng lợi tổng hợp của Bộ đội Trường Sơn. Trước hết là đánh bại âm mưu ngăn chặn, cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của đối phương ở khu vực trung tâm Đường 9; mở rộng căn cứ chiến lược với chính diện từ đông sang tây Trường Sơn khoảng 200km; phát triển thêm chiều sâu; mở thêm nhiều trục dọc, cải thiện thế trận vận tải chiến lược. Thắng lợi đó chứng tỏ các lực lượng trên toàn tuyến đã phát huy vai trò của một hướng chiến trường trọng yếu; hoàn thanh xuất sắc nhiệm vụ tổ chức chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành trên hướng phối hợp của chiến dịch; cùng quân dân Lào tiêu diệt nhiều binh đoàn của quân ngụy Lào, Thái Lan, đánh bại âm mưu hợp điểm với quân đội Sài Gòn, giữ vững thông suốt tuyến hành lang vận tải phía tây; thực hiện xuất sắc vai trò lực lượng tác chiến tại chỗ đánh bại chiến thuật "trực thăng vận"; ngăn chặn địch từ đầu và trong quá trình chiến dịch; tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh, làm rối loạn dịch cả trước và sau lưng; phối hợp tạo điều kiện cho binh đoàn chủ lực cơ động đánh địch tập trung tiêu diệt lớn quân địch. Đồng thời, tuyến chi viện Trường Sơn đã phát huy vai trò một căn cứ chiến lược làm nhiệm vụ tổng hợp, chuẩn bị chiến trường cho chiến dịch, xây dựng các khu tập kết, hệ thống đường cơ động cho các lực lượng binh khí kỹ thuật, xây dựng mạng thông tin, hệ thống kho tàng, hệ thống đảm bảo cấp cứu, chuyển thương, hệ thống cầu đường vận chuyển. Đó là hạ tầng cơ sở tạo nên những điều kiện cơ bản cho tổ chức chiến dịch và là yếu tố góp phần quyết định thắng lợi của chiến dịch. Thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã để lại những bài học sâu sắc cho quá trình tổ chức vận chuyển chiến dịch, chiến lược, phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng tham gia chiến đấu, đó là: - Sự nhận định và đánh giá đúng của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trưng ương Đảng, của Quân ủy Trung ương và Tổng Tư lệnh về âm mưu, thủ đoạn của địch khi chúng chuyển từ chiến lược "chiến tranh cục bộ" sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh"; sự chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời của Bộ Tổng tư lệnh; sự quyết đoán, táo bạo và sáng tạo của Bộ Tư lệnh chiến dịch. - Sự chuẩn bị đầy đủ, chu đáo của Bộ Tư lệnh Trường Sơn và Quân khu Trị Thiên về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, vũ khí đạn dược; đặc biệt là chuẩn bị thế trận và lực lượng phòng không hết sức mạnh mẽ của bộ đội Trường Sơn. - Đã kết hợp tốt lực lượng chiến đấu của Bộ, lực lượng trên chiến trường Trị Thiên và Bộ đội Trường Sơn; hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, ăn khớp trên các hướng đông, tây và Mặt trận Trị Thiên; phát huy tốt lực lượng chiến đấu tại chỗ. - Đoàn kết chiến đấu chặt chẽ của quân và dân Việt Nam - Lào, tiêu diệt địch ở phía tây Mường Phìn; đặc biệt là sự chủ quan của Mỹ và Sài Gòn khi đánh giá thấp sức mạnh của ta ở chiến trường này vào đầu năm 1971. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Chín, 2025, 07:47:21 pm QUÂN VÀ DÂN KHU 5 - TÂY NGUYÊN CHIA LỬA VỚI CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Thiếu tướng LÊ CHIÊM Tư lệnh Quân khu 5 Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Khu 5 là chiến trường ác liệt, quân và dân Khu 5 đã chiến đấu kiên cường đánh bại nhiều cuộc hành quân và các nỗ lực bình định của địch, đồng thời đã phối hợp và chia lửa với các chiến trường, trong đó có Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, góp phần tạo nên chuyển biến chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cuộc tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã giáng đòn quyết định làm thất bại chiến lược "chiến tranh cục bộ". Nhưng với bản chất ngoan cố, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" hòng kéo dài và mở rộng chiến tranh trên bán đảo Đông Dương. Chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" tập trung vào 3 mục tiêu: "Hủy diệt, giành dân và bóp nghẹt", với 3 biện pháp chiến lược: Phát triển quân đội Sài Gòn cả về số lượng và chất lượng; tăng cường bình định giành dân tiêu hao và đẩy lùi lực lượng cách mạng, củng cố và xây dựng chính quyền ở các cấp; tiến hành cuộc chiến tranh "bóp nghẹt", tổ chức những cuộc hành quân đánh phá cắt đứt đường hành lang vận chuyển chiến lược, phá vỡ các cơ sở hậu cần của ta, qua đó, làm suy yếu sức chiến đấu của lực lượng vũ trang cách mạng. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào là một nỗ lực quân sự cao nhất nhằm thực hiện "chiến tranh bóp nghẹt" của Mỹ và Sài Gòn; là cuộc hành quân có tầm quan trọng quyết định đối với chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Trên cơ sở lường định tình hình, dự đoán âm mưu và hành động của địch, từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ rõ: nắm vững thời cơ, tập trung lực lượng, kiên quyết tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ bằng được Đường Hồ Chí Minh, chuẩn bị sẵn sàng đánh địch trên các hướng: Đường số 9, vùng Ba biên giới và Đông Bắc Campuchia, sẵn sàng đánh thắng địch khi chúng liều lĩnh tiến công ra nam Quân khu 4. Khi cuộc hành quân của địch bắt đầu, Bộ Chính trị đã chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: "Nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược". Tham gia Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào lực lượng vũ trang Quân khu 5 có Sư đoàn bộ binh 2 - là sư đoàn chủ lực cơ động của Quân khu 5, sinh ra và lớn lên giữa những ngày cả nước sục sôi khí thế "quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược". Với truyền thống dũng cảm, kiên cường, mưu trí, chủ động, sáng tạo, đánh liên tục, đánh tập trung, đánh hiệp đồng binh chủng, đánh theo mệnh lệnh, "nắm thắt lưng địch mà đánh", có lệnh là đi, đã đánh là thắng, Sư đoàn 2 đại diện cho lực lượng vũ trang Quân khu trực tiếp chiến đấu trong đội hình chiến dịch có ý nghĩa chiến lược quan trọng này. Ngay từ tháng 9 năm 1970, khi vừa mới tạm ổn định vị trí đóng quân, Sư đoàn đã bắt tay ngay vào nhiệm vụ chuấn bị chiến đấu. Cán bộ các cấp trong Sư đoàn lần lượt nghiên cứu địa hình, nghiên cứu phương án tác chiến cho từng tình huống cụ thể. Đồng thời, Sư đoàn quán triệt nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị mà Quân ủy Miền đã xác định khi Mỹ thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" trên chiến trường miền Nam: "Tập trung mọi nỗ lực xây dựng cho toàn thể lực lượng vũ trang một lập trường cách mạng thật kiên định, một quyết tâm chiến đấu sắt thép thật cao, một khí thế tiến công thật mãnh liệt và một số lượng đông, chất lượng cao để bảo đảm cho các lực lượng vũ trang giải phóng sát cánh cùng toàn dân tộc liên tục đẩy mạnh tổng công kích... giành thắng lợi quyết định"1 (Hồ sơ 118CT, MQ47, tr. 152). Để phát huy cao độ nhân tố chính trị tinh thần cho bộ đội tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Sư đoàn bộ binh 2 đã xây dựng quyết tâm chiến đấu cao, ý thức kỷ luật nghiêm, nhất là kỷ luật chiến trường; nêu cao tinh thần đoàn kết, hiệp đồng chặt chẽ, động viên được khí thế giết giặc lập công; trong bất cứ tình huống nào cũng phải nỗ lực vượt bậc, quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi. Bước vào chiến dịch, Sư đoàn được Bộ tăng cường Trung đoàn bộ binh 64, Trung đoàn Pháo binh 368 và một lực lượng xe tăng, pháo phòng không cùng lực lượng tại chỗ thuộc Đoàn 559. Sư đoàn được chuẩn bị chu đáo về lực lượng hậu cần, kỹ thuật. Nhiệm vụ của Sư đoàn cùng với lực lượng tại chỗ đánh địch trên hai hướng: hướng từ phía tây Bản Đông đến Sê Pôn và hướng khu tam giác Tam Luông - Sa Đi - Mường Noòng. Lần đầu tiên tác chiến hiệp đồng binh chủng trong đội hình chiến dịch lớn gồm nhiều đơn vị pháo binh, cao xạ, thiết giáp, được bảo đảm đầy đủ về trang bị kỹ thuật, toàn Sư đoàn đều phấn khởi và quyết tâm cao. Song, bước vào chiến dịch, Sư đoàn lại gặp khó khăn lớn: toàn bộ cán bộ quân sự cấp trưởng, từ tiểu đoàn trở lên lúc bấy giờ đều đi chuẩn bị chiến trường ở Tây Nguyên. Trong khi đó, giai đoạn đầu chiến dịch, Sư đoàn lại phải chiến đấu trên hai hướng xa nhau, việc chỉ huy càng thêm khó khăn. Hội nghị Đảng ủy Sư đoàn, sau khi phân tích thuận lợi, khó khăn, đã quyết nghị động viên toàn thể cán bộ, chiến sĩ nêu cao quyết tâm, chiến đấu tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ vững chắc hành lang chiến lược và các căn cứ kho tàng trong phạm vi chiến đấu. Theo kế hoạch, Trung đoàn Ba Gia và các đơn vị trực thuộc của Sư đoàn kiên quyết chặn đánh không cho địch nối liền Bản Đông với Sê Pôn, Thà Khống, kiên quyết tiêu diệt địch ngay nếu chúng đổ quân xuống thị xã Sê Pôn; Trung đoàn 141 khẩn trương đánh tan quân ngụy Lào từ Phu Đơ Tuyn đến Pha Lan, Mường Noòng, trước khi quân ngụy Sài Gòn đánh Đường 9. Tiếp theo, Trung đoàn 141 có nhiệm vụ đánh quân Sài Gòn trong khu vực Sa Đi - Tam Luông - Mường Noòng. Quyết tâm chiến đấu của Sư đoàn được Thường vụ Đảng ủy và Mặt trận thông qua và nhanh chóng triển khai trước khi quân địch vượt qua biên giới sang Lào. Sư đoàn bộ binh 2 là sư đoàn có kinh nghiệm thành công trong việc chủ động tiến công đập tan các cuộc hành quân của địch. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Sư đoàn đã kịp thời phát hiện chiến thuật chủ yếu của địch, tìm ra cách đánh hiệu quả. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Chín, 2025, 07:53:26 pm Mở cuộc hành quân ra Đường 9 - Nam Lào, về lý thuyết, các đơn vị quân đội Sài Gòn nắm thế chủ động trong việc lựa chọn phương hướng, thời gian tiến công cũng như tổ chức lực lượng. Vì vậy, vấn đề quan trọng nhất đặt ra cho cán bộ, chiến sĩ sư đoàn là bằng cách nào để giữ cho được quyền chủ động chiến dịch và biết giữ vững quyền chủ động đó trong suốt quá trình chiến dịch, xây dựng kế hoạch tác chiến phù hợp. Trên thực tế, trong quá trình tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Sư đoàn bộ binh 2 luôn giữ được quyền chủ động và có kế hoạch tác chiến sáng tạo, phán đoán được các tình huống cơ bản của địch, xử lý linh hoạt, phù hợp với các tình huống, tiến hành nhiều trận đánh đạt hiệu quả cao mà tiêu biểu là các trận đánh tiêu diệt Trung đoàn 1/11 quân đội Sài Gòn ở Phu Rệp và diệt Trung đoàn 2/11 ở điểm cao 660. Những kết quả của Sư đoàn đã góp phần làm cho Thê đội 2 chiến dịch của địch không phát huy được tác dụng, bắt buộc địch phải dừng cuộc tiến công, chuyển dần vào phòng ngự ở Bản Đông và chuẩn bị rút chạy.
Cuộc hành quân "Lam Sơn 719", một cuộc hành quân có tầm quan trọng của một trận quyết chiến chiến lược của địch, đã thất bại hoàn toàn. Bằng thắng lợi ở các điểm cao 723, 660, tiêu diệt Trung đoàn 1, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 2, cũng tức là đã đánh quỵ Sư đoàn 1 quân Sài Gòn, Sư đoàn 2 đã góp phần tích cực vào chiến thắng vang dội của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Đánh giá hoạt động của Sư đoàn trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã kết luận: "Nhận trọng trách ở hướng Tây và Tây Nam của Mặt trận, Sư đoàn 2 hợp đồng với các đơn vị bạn đã hoàn thành xuất sắc cả hai nhiệm vụ: bảo vệ Đường Hồ Chí Minh ở khu vực Sê Pôn; tiêu diệt được nhiều sinh lực, phá được nhiều phương tiện chiến tranh của địch, nêu cao được truyền thống của Quân khu 5. Các đồng chí đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, cơ động nhanh chóng, đoàn kết hiệp đồng tốt với các đơn vị bạn. Tích cực chủ động, mưu trí, anh dũng lập công. Đặc biệt là tác chiến kết hợp với binh vận, đánh thắng hai trận lớn, tiêu diệt Trung đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 2 của Sư đoàn 1 ngụy trên khu vực điểm cao 723, 660, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, làm chủ chiến trường. Chiến công của các đồng chí đánh dấu một bước tiến bộ mới rất quan trọng của Sư đoàn và góp phần xứng đáng vào thắng lợi rất to lớn của Chiến dịch lịch sử Đường 9 mùa Xuân năm 1971"1 (Trích nhận xét của Đảng ùy và Bộ Tư lệnh chiến dịch). Hoà chung tiếng súng chiến đấu của chiến dịch đánh địch ở Đường 9 - Nam Lào, trên chiến trường Khu 5, quân dân quân khu đã tiến công đồng loạt hầu hết vào các thành phố, thị xã, căn cứ quân sự, các chi khu quận lỵ, thị trấn trên khắp các tỉnh ven biển của Khu 5, ngăn chặn từng bước mọi thủ đoạn đánh phá của kẻ thù. Tháng 3 và 4 năm 1971, khi quân địch đang sa lầy và rút chạy hỗn loạn ở Đường 9 - Nam Lào, trên chiến trường Khu 5, ta đã tiến công Tiểu đoàn 1/45 (thiếu) Lữ đoàn 196 Sư đoàn Amêricơn của Mỹ ở căn cứ Xã Đốc (Trà Mi - Quảng Nam, 27-3-1971), loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn này của quân Mỹ. Với trận đánh Núi Thành (26-5-1965) tiêu diệt đại đội Mỹ đầu tiên và trận Xã Đốc - diệt tiểu đoàn Mỹ cuối cùng, quân và dân Khu 5 đã vinh dự mở đầu và kết thúc nhiệm vụ đánh tiêu diệt từng đơn vị quân chiến đấu Mỹ, ghi các mốc son trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cùng với đòn tiến công của chủ lực, chiến tranh du kích cũng được phát triển mạnh ở thành phố, thị xã và vùng ven, nhất là thành phố Đà Nẵng, ở nội thành Đà Nang, ta đã tiến công địch trên một số đường phố. Ở nông thôn và vùng ven, các hoạt động tập kích, phục kích của quân và dân các địa phương ngày càng phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Nhiều đội du kích đã diệt gọn từng trung đội địch. Các hình thức đánh địch bằng vũ khí thô sơ và vũ khí tự tạo ngày càng phát triển. Có những bãi mìn liên hoàn của du kích Quảng Nam, Quảng Ngãi đã diệt một lúc hàng chục lính Mỹ, lính Sài Gòn, phá hủy nhiều xe cơ giới, bọc thép, xe tăng của địch. Phối hợp chặt chẽ ba mũi giáp công, quân và dân Khu 5 đã liên tục tiến công và nổi dậy giành nhiều thắng lợi trong việc chống phá kế hoạch "bình định" của địch, nhất là những vùng mà Mỹ cho là trọng điểm bình định trên địa bàn Khu 5. Hàng loạt các cứ điểm bị quân và dân các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đã bao vây bức hàng, bức rút. "Bình định nông thôn" - biện pháp chiến lược chủ yếu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong "Việt Nam hóa chiến tranh" đã bị đẩy lùi từng bước. Giữ vững thế chủ động liên tục tiến công trên khắp các chiến trường, quân dân Tây Nguyên liên tục đánh địch giành nhiều thắng lợi. Cuối tháng 1 năm 1971, trong lúc các đơn vị chủ lực của ta ở Mặt trận Tây Nguyên triển khai kế hoạch chiến dịch tiến công, cũng là lúc Quân đoàn 2 quân đội Sài Gòn cũng đang đánh chiếm bàn đạp, chuẩn bị tiến công qua vùng Ba biên giới. Trước tình hình đó, từ chuẩn bị mở chiến dịch tiến công, ta nhanh chóng chuyển sang mở chiến dịch phản công. Khi lực lượng ta cơ động đến khu vực chiến đấu thì quân địch đã chiếm được các tuyến bàn đạp. Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định hình thành thế bao vây tiêu diệt địch. Sau 2 ngày tiến công liên tục (ngày 27 và 28-2), ta đã tiêu diệt Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 42. Ngày 4 tháng 3 quân ta tiếp tục tiến công, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 42 và Tiểu đoàn 22 quân biệt động. Cuộc tiến công ra vùng Ba biên giới của Quân đoàn 2 đã bị đập tan ngay từ khi mới triển khai lực lượng. Tiếp đó, từ phản công, quân ta chuyển sang tiến công vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, đánh chiếm Ngọc Ring Rua, một điểm cao không chế có giá trị chiến thuật quan trọng trong tuyến phòng ngự Plei Cần - Đăk Mot - Đăk Tô. Mắt xích quan trọng nhất của tuyến phòng ngự hướng tây nam Tân cảnh bị phá vỡ. Đập tan cuộc hành quân ra vùng Ba biên giới, tiếp tục giành thắng lợi khi tiến công vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, chủ lực Tây Nguyên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt lớn sinh lực địch, phối hợp chiến trường, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân các địa phương đẩy mạnh hoạt động diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ, làm thất bại kế hoạch "bình định nông thôn" của địch. Nhân dân hai tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk nổi dậy phá banh hàng loạt ấp chiến lược trong khu vực trọng điểm "bình định". Hệ thống kìm kẹp của địch trong khu vực ngã ba đường 7, đường 14 bị phá vỡ một mảng lớn. Vùng làm chủ của ta mở rộng và từng bước tạo được thế liên hoàn. Bộ đội địa phương và du kích luồn sâu tập kích vào hàng chục mục tiêu quân sự địch, của các tuyến phòng thủ vòng trong. Sau 3 tháng hoạt động, ta đã giành lại quyền làm chủ với mức độ khác nhau ở 25 làng với trên 20 ngàn dân, làm thất bại một bước quan trọng chương trình "bình định nông thôn" của địch trên địa bàn Tây Nguyên. Thắng lợi to lớn của quân và dân Khu 5, Tây Nguyên đã chứng tỏ sự tiến bộ đồng đều của ba thứ quân về chính trị, tư tưởng và trình độ chiến thuật, kỹ thuật. Thắng lợi của quân và dân Khu 5, Tây Nguyên trong mùa Xuân 1971 đã góp phần quan trọng đánh bại bước đầu chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ. Phối hợp với Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, quân và dân Khu 5 đã đẩy mạnh, tiến công địch cả về quân sự, chính trị, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và phương tiện chiến tranh, phá rã nhiều khu dồn dân, mở rộng vùng giải phóng. Cùng với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, thắng lợi của quân và dân Khu 5 trong năm 1971 đã tạo được cơ sở vững chắc, chuẩn bị cho những năm sau giành thắng lợi to lớn hơn nữa, cùng quân dân cả nước hoàn thành công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thong nhất Tổ quốc. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Chín, 2025, 07:56:19 pm SƯ ĐOÀN 308 TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Đại tá NGUYỄN BÁ THÔNG Phó Chính ủy Sư đoàn 308 - Quân đoàn 1 Sư đoàn 308 là một trong những sư đoàn chủ lực của Bộ tham gia chiến đấu ngay từ đầu trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng quan trọng này, thay mặt toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, tôi xin được nêu rõ hơn về quá trình hoạt động của Sư đoàn 308 trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 - một chiến dịch quan trọng, góp phần đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ. Theo trục thời gian của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 22 tháng 7 năm 1968, sau khi Sư đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở Đường 9 - Khe Sanh được lệnh rút quân ra miền Bắc để tiến hành bổ sung quân số, tổ chức huấn luyện và làm công tác dân vận (tại Hải Dương và Hà Tây). 12 giờ ngày 1 tháng 2 năm 1971, tại thành phố Vinh (Nghệ An), Sư đoàn 308 được Bộ Tư lệnh Binh đoàn B70 giao nhiệm vụ hành quân cấp tốc vào chiến trường, thực hiện đánh địch trên hướng chủ yếu (bắc Đường 9), phối hợp chặt chẽ cùng toàn mặt trận đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Thực thi mệnh lệnh, toàn đội hình Sư đoàn, do Tư lệnh Nguyễn Hữu An và Chính ủy Nguyễn Hùng Phong chỉ huy, lập tức hành quân bằng phương tiện cơ giới của Đoàn 559 tiến thẳng rà mặt trận với khẩu hiệu: "Đang tiến gặp địch phải đánh, Đến nơi địch ra phải đánh Đảm bảo trận đầu phải thắng Quyết giành thắng lợi hoàn toàn" Chỉ sau 8 đến 10 ngày vừa hành quân cơ giới vừa đi bộ, đội hình cơ bản của Sư đoàn đã có mặt tại khu vực tác chiến thoo kế hoạch. Trung đoàn 88 là đơn vị đầu tiên của Sư đoàn xuất phát từ Lệ Thủy (Quảng Bình) vào tới vị trí tập kết ở A Lia, động Tà Púc ngày 8 tháng 2 năm 1971. Tiếp đến là Trung đoàn 102 và khối cơ quan Sư đoàn, các đơn vị trực thuộc hành quân từ Nghệ An, ngày 10 tháng 2 vào tới Mường Chương, Làng Ho, Tà Dịt. Bộ Tư lệnh Mặt trận để lại Trung đoàn 36 làm nhiệm vụ phòng thủ ở khu vực núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), nhưng sau đó ít ngày cũng được lệnh cơ động vào Đường 9, dừng chân ở khu vực Mường Chương - Sa Lít. Tại khu vực đường 16, sáng ngày 9 tháng 2 năm 1971, Trung đoàn 88 dẫn đầu đội hình Sư đoàn, vừa hành quân tới A Lia, gặp ngay lúc địch đổ quân xuống điểm cao 316, sát trận địa pháo của quân ta ở Làng Sen. Đại đội 10, Tiểu đoàn 6 lập tức vận động tiến công, đánh thiệt hại nặng Đại đội 2 Tiểu đoàn biệt động quân 21, diệt 80 tên địch, bảo vệ an toàn trận địa pháo này. Vào lúc 2 giờ sáng ngày 11 tháng 2, Trung đoàn 88 tiến công Tiểu đoàn biệt động quân 37 ở đông nam Tà Púc, diệt 62 tên, thu 7 súng và 2 máy thông tin PRC25. Cùng ngày 11 tháng 2, Đại đội cối 82mm thuộc Tiểu đoàn 14 của Sư đoàn phối hợp cùng Đại đội 15 súng ĐKZ75mm (Trung đoàn 88) tập kích căn cứ hoả lực và sở chỉ huy Liên đoàn biệt động quân Tà Púc phá hủy pháo 105mm, 1 pháo 155mm, diệt một số tên và làm hỏng nặng khu trung tâm thông tin của sở chỉ huy liên đoàn địch. Quân ta vừa đánh, vừa điều chỉnh bố trí lại lực lượng, gấp rút triển khai thế trận phản công địch. Thực hiện quyết tâm của Mặt trận, từ ngày 15 tháng 2, các lực lượng ta bắt đầu phản công tiêu diệt địch trên cả 3 hướng, tập trung vào hướng chủ yếu (bắc Đường 9). Điểm cao 500, do Tiểu đoàn số 39 Liên đoàn 1 biệt động quân Sài Gòn chiếm giữ, được chọn là mục tiêu đánh "mở cửa". Đây là vị trí tiền tiêu quan trọng nằm sát trục đường 16B, nối đường 16A với Bản Đông, cách Bản Đông về phía nam 14km. Địch ở đây có thể không chế được Đường 16A, khu kho hậu cần của ta ở Mường Chương, ngã ba Cha Ky, ngăn chặn quân ta triển khai binh khí kỹ thuật nặng xuống phía Nam và tiếp tế cho bộ đội tuyến trước. Tiểu đoàn 39 biệt động quân của địch là tiểu đoàn ác ôn khét tiếng "Vừa giỏi phòng ngự, vừa giỏi tiến công, quen đánh rừng núi", biên chế gần 500 quân, có hoả lực khá mạnh (2 ĐKZ 106,7mm, 2 ĐKZ 75mm, 4 cối 81mm, 9 đại liên), lại được hoả lực pháo binh từ các căn cứ động Tà Púc điểm cao 543, Bản Đông, Lao Bảo và không quân Mỹ sẵn sàng chi viện. Bộ chỉ huy quân đội Sài Gòn hy vọng điểm cao 500 sẽ là một "cánh cửa thép" ngăn chặn quân ta trên hướng bắc. Xác định đây là trận đánh có ý nghĩa quan trọng, tác động lớn đến quá trình phát triển toàn bộ chiến dịch, nên để đảm bảo chắc thắng, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định dùng chiến thuật vây lấn, tiến tới tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch trên điểm cao này. Lực lượng sử dụng cho trận đánh gồm Trung đoàn 102 (thiếu Tiểu đoàn 8 ), được tăng cường Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 và 5 đại đội pháo của mặt trận. Theo kế hoạch đã được phê chuẩn, đêm 15 rạng 16 tháng 2, Trung đoàn 102, do Trung đoàn trưởng Hoàng Ngọc Tý và Chính ủy Nguyễn Hữu Ích chỉ huy cùng các lực lượng tăng cường tiến vào xây dựng trận địa vây lấn quân địch ở điểm cao 500. Tiếp sau đó, liên tục trong 2 ngày 16 và 17 tháng 2, từ các trận địa vây lấn, quân ta vừa dùng hỏa lực bắn phá, vừa dùng bộ binh áp sát trận địa địch, đào công sự chiến đấu. Mặc dù phi pháo địch oanh kích dữ dội, vòng vây của quân ta ngày càng thắt chặt. Mạng lưới phòng không của Sư đoàn và mặt trận khống chế chặt chẽ bầu trời khu vực điểm cao 500, máy bay lên thẳng của địch hoàn toàn không hạ cánh được. Tiểu đoàn biệt động quân 39 bị cô lập hoàn toàn. Để phát triển thế trận, ngày 17 tháng 2, Sư đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 từ chiến hào vây lấn đánh chiếm mỏm số 2 dãy điểm cao 500. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 do dự. Bộ Tư lệnh Sư đoàn lập tức cách chức và giao quyền chỉ huy Tiểu đoàn cho Tiểu đoàn phó Nguyễn Hữu Sự. 23 giờ ngày 18 tháng 2, Tiểu đoàn 6 nổ súng tiến công đánh chiếm mỏm số 2. Theo kế hoạch, Trung đoàn 88 điều Đại đội 3, Tiểu đoàn 4 và một khẩu đội 12,7mm lên thay Tiểu đoàn 6 chốt giữ mỏm 2. Vào lúc 6 giờ ngày 19 tháng 2, địch bất ngờ ném bom vào chốt của ta rồi phản kích chiếm lại trận địa. Không để mất bàn đạp vừa giành được, 7 giờ cùng ngày, Đại đội 11 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 102 được lệnh theo đường hào vây lấn của Tiểu đoàn 6 tiến lên chiếm lại mỏm 2. Sau 30 phút chiến đấu, Đại đội 11 đánh bật quân địch, khôi phục lại trận địa, diệt tại trận 16 tên. Tình hình phát triển thuận lợi, 20 giờ ngày 19 tháng 2, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định dùng Tiểu đoàn 7, có pháo binh hiệp đồng đánh vào các vị trí còn lại của địch trên điểm cao 500. Sau 2 giờ chiến đấu, hai tiểu đoàn 7 và 9 tiêu diệt phần lớn lực lượng của Tiểu đoàn biệt động quân 39, lam chủ hoàn toàn mỏm số 3. Địch co cụm lại cố thủ ở mỏm số 4 và 5. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Chín, 2025, 07:58:41 pm Với phương châm đánh chắc, thắng chắc, Sư đoàn lệnh cho các đơn vị tạm dừng, giữ vững trận địa đã giành được, củng cố lực lượng để đánh dứt điểm vào ngày hôm sau. 16 giờ 30 phút ngày 20 tháng 2, ta hoàn toàn làm chủ điểm cao 500. Sau 6 ngày đêm vây lấn, Sư đoàn giành thắng lợi vang dội, diệt gọn Tiểu đoàn 39 biệt động quân, bắn rơi 6 máy bay, thu toàn bộ súng, đạn của chúng, mở tung cánh cửa phía bắc của chiến dịch.
Ngày 21 tháng 2, Bộ Tư lệnh điều Trung đoàn 102 vào bao vây Tiểu đoàn 21 biệt động quân ở điểm cao 316, thay cho Trung đoàn 88 chuyển sang bao vây Tiểu đoàn 2 dù ở điểm cao 655 (A Dinh). Sư đoàn chủ trương tiếp tục chiến thuật vây lấn tiêu diệt quân địch ở các điểm cao 316 và 655. Trước sự uy hiếp của quân ta, ngày 24 tháng 2, địch dùng máy bay lên thẳng bốc Tiểu đoàn 21 rút khỏi điểm cao 316, chuyển tiếp qua A Dinh, rồi sau đó về điểm cao 979 (Tà Púc). Tới đây, tuyến phòng thủ ngoài cùng của địch đã bị quân ta đập vỡ. Được lệnh của Bộ Tư lệnh Mặt trận, Sư đoàn sử dụng Trung đoàn 88 bao vây tiêu diệt Tiểu đoàn 2 dù ở điểm cao 655; đồng thời đưa Trung đoàn 102 ra phối hợp cùng Trung đoàn 24, Sư đoàn 304 chia cắt Đường 9 (đoạn Lao Bảo đến Bản Đông). Cùng lúc đó, Trung đoàn 36, cũng được lệnh từ Mường Chương tiến xuống phía đông đường 16B, tiến công tiêu diệt Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù của địch. Dưới quyền chỉ huy của Trung đoàn trưởng Chử Văn Trác và Chính ủy Nguyễn Quang Việt, trong 5 ngày đêm chiến đấu liên tục (27-2 - 3-3), Trung đoàn 36 được tăng cường Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64 và một đại đội xe tăng có pháo binh mặt trận chi viện, vận động tiến công vào đội hình quân địch trên một khu vực dài 5km từ đồi Không tên, chân điểm cao 543 đến đồi Mâm Xôi nằm sát đường 16B. Phát huy truyền thống của một đơn vị đánh vận động giỏi, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 36 vừa tìm địch vừa đánh, cùng các đơn vị bạn tiêu diệt hoàn toàn Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 7 dù, phá hủy 30 xe tăng M41, 51 xe M113, bắn rơi 3 máy bay F4H, 4 máy bay trực thăng vũ trang, diệt và bắt hơn 500 tên địch, thu nhiều vũ khí, phương tiện quân sự của địch, trong đó có 1 xe M41, 3 xe MI 13 còn nguyên vẹn. Trong trận chiến đấu này đã xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng. Đại đội trương Phạm Tuấn Bá linh hoạt, quyết đoán, chỉ huy Đại đội 2 bắn cháy, phá hủy 8 xe tăng, phá vỡ vành đai bên ngoài của địch, mở đường cho đơn vị tiến công. Đại đội trưởng Nguyễn Văn Toán dũng cảm thọc sâu phá hủy 7 xe tăng địch. Chiến sĩ nuôi quân Nguyễn Xuân Hoan tự chích máu viết đơn xin chuyển sang đơn vị chiến đấu và anh dũng hy sinh trong trận đánh, v.v. Cũng thời gian trên, tại khu vực điểm cao 655, Trung đoàn 88 vây lấn, tích cực chuẩn bị tiêu diệt Tiểu đoàn 2 dù. Trước tình hình Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn dù 8 bị tiêu diệt, Tiểu đoàn 2 bí mật luồn rừng chạy về Đường 9, bỏ lại ở điểm cao 655 toàn bộ xe ủi, pháo 105mm và các trang bị nặng khác. Do không nắm được tình hình địch, Trung đoàn bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt địch. Tuy Tiểu đoàn 2 dù chưa bị tiêu diệt nhưng cánh quân bảo vệ sườn bắc của địch đã hoàn toàn bị đập nát. Quân ta từ phía bắc trực tiếp uy hiếp cánh quân chủ yếu của địch trên Đường 9 và Bản Đông. Từ ngày 3 đến ngày 8 tháng 3, Sư đoàn đã đưa hầu hết lực lượng áp sát Đường 9. Trung đoàn 102 chỉ để lại Tiểu đoàn 7 ở khu vực điểm cao 500 làm lực lượng dự bị cơ động bảo vệ phía sau. Tiểu đoàn 9 ra giữ khu vực các điểm cao 400B và 334, khống chế đoạn Đường 9 giáp với Lao Bảo. Tiểu đoàn 8 ra điểm cao 311, cùng với Trung đoàn 24 ở điểm cao 351, khống chế đoạn Đường 9 từ Lao Bảo đến Bản Đông. Trung đoàn 88 tiếp tục truy lùng Tiểu đoàn dù 2 của địch. Trung đoàn 36 được lệnh quay trở lại đội hình Sư đoàn 308 tiến xuống bao vây, sẵn sàng cùng các đơn vị bạn tiến công tiêu diệt quân địch ở Bản Đông. Từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 3, cuộc chiến đấu giành quyền kiểm soát Đường 9 giữa ta và địch diễn ra vô cùng quyết liệt. Sau hơn 10 ngày truy lùng địch, Trung đoàn 88 bám sát bao vây và tiêu diệt gọn Tiểu đoàn dù 2 ở khu vực đồi Gùi, Thống Nhất (Bản Búc - Làng Con) xoá sổ hoàn toàn Lữ đoàn 3 dù. Trung đoàn 102 ra cắt Đường 9. Tiểu đoàn 8 liên tục chiến đấu dưới hoả lực ác liệt của phi pháo địch, đánh lui hơn 20 trận phản kích của Lữ đoàn dù 2, giữ vững điểm cao 311, tiêu diệt gần 450 tên địch, bắn cháy 65 xe tăng, thiết giáp, bắn rơi 3 máy bay. Tiểu đoàn 9 ở điểm cao 334 phá hủy 3 xe tăng và diệt 74 tên địch. Từ trung tuần tháng 3, trận địa chốt của Trung đoàn 102 ở các điểm cao 311 và 334, cùng trận địa của Trung đoàn 24 ở điểm cao 351 chặn đứng mọi hoạt động của địch trên Đường 9. Trung đoàn 102 và công binh Sư đoàn, đào gần 200 mét đường ở khu vực điểm cao 311 sát sông Sê Pôn, cắt đứt giao thông cơ giới của địch. Phán đoán khả năng quân địch sẽ rút chạy, Bộ chỉ huy Mặt trận lệnh cho Sự đoàn 308 và Sư đoàn 304 đưa lực lượng luồn sâu xuống phía nam Đường 9, kiên quyết ngăn chặn và tiêu diệt địch, không cho địch chạy thoát cả người lẫn phương tiện. Sư đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 102, tiến gấp xuống Phương Mọi (nam Đường 9). Kế hoạch của ta đang được triển khai, thì ngày 18 tháng 3, đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch bỏ Bản Đông tháo chạy. Cùng lúc đó, cánh quân phía Nam của địch bị quân ta tiến công tiêu diệt một bộ phận lớn. Số còn lại rút chạy hỗn loạn. Trên toàn Mặt trận, quân ta thừa thắng chuyển sang truy kích. Các đơn vị của Sư đoàn 308 cùng các đơn vị bạn tràn lên đánh vào đội hình địch, tiếp đó truy kích dịch, diệt 1.726 tên, bắt 100 tên, thu và phá hủy 113 xe tăng, xe bọc thép, 24 khẩu pháo, 50 máy bay các loại, ở phía đông, các lực lượng đặc công tập kích cụm cơ giới Mỹ ở Bông Kho, đánh tàu ở cảng Cửa Việt, tập kích dịch ở Tà Cơn, diệt nhiều giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 42 máy bay lên thẳng, 6 xe tăng... Đáng tiếc là do nắm tình hình không đầy đủ, bao vây không chặt, quân ta không đón lõng chặn địch ở nam Đường 9, nên để một bộ phận lớn quân địch vứt bỏ xe, pháo, luồn rừng, vượt sông Sê Pôn, từ Huội San thoát chạy về phía Lao Bảo và Khe Sanh. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc. Sau hơn 50 ngày đêm liên tục chiến đấu, quân ta thu được thắng lợi to lớn, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, bảo vệ tuyến vận chuyển chiến lược. Riêng Sư đoàn 308 loại khỏi chiến đấu 4.023 tên địch, băt 127 tên, diệt gọn Thiết đoàn 17 và 4 tiểu đoàn (Tiểu đoàn 39 biệt động quân, Tiểu đoàn 2 và 8 dù, Tiểu đoàn 44 pháo), đánh thiệt hại nặng, Liên đoàn 1 biệt động quân và Tiểu đoàn dù 1, phá hủy 337 xe các loại (có 205 xe tăng, xe bọc thép), 45 khẩu pháo cối cỡ lớn, thu gần 500 súng các loại (có 18 pháo cỡ lớn) cùng hàng chục tấn vũ khí, đạn dược, trang bị kỹ thuật. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Chín, 2025, 08:01:26 pm Với những chiến công và thành tích đã đạt được trong chiến dịch, Sư đoàn 308 và Trung đoàn 36 đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Hai. Trung đoàn 102 và 8 đơn vị khác được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba; 74 đơn vị từ trung đội đến tiểu đoàn và 611 cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng Huân chương Chiến công các loại. Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 36) và Đại đội 7 (Trung đoàn 102) lập công xuất sắc trong trận diệt Thiết đoàn 17 và chốt giữ điểm cao 311 đã được tuyên dương danh hiệu "Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân". Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cũng được phong cho Bác sĩ Nguyễn Ngọc Đắc, Tiểu đoàn quân y 24 và chiến sĩ Phạm Văn Đỡ thuộc Đại đội 11 Trung đoàn 88.
Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một trong những thắng lợi lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta. Bộ đội chủ lực ta đã thực hiện đánh tiêu diệt lớn, tiêu diệt gọn nhiều đơn vị tinh nhuệ thuộc lực lượng dự bị chiến lược của quân đội Sài Gòn có sự chi viện tối đa của hoả lực và cố vấn quân sự Mỹ. Đây là thắng lợi quan trọng trên hướng chiến lược chủ yếu, phối hợp cùng các chiến dịch khác trong Xuân - Hè 1971, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, làm chuyển biến cục diện chiến trường. Chiến công của Sư đoàn 308 trong chiến dịch là thành quả của quá trình huấn luyện, chiến đấu gian khổ, sáng tạo. Qua chiến dịch, Sư đoàn đã trưởng thành thêm một bước quan trọng và rút ra nhiều bài học bổ ích về cách tổ chức chốt giữ các mục tiêu chiến dịch, chiến thuật trong phòng ngự, cũng như trong tiến công, làm phong phú thêm truyền thống chiến đấu và chiến thắng của Sư đoàn. Đó là những bài học: 1. Phải có công tác giáo dục chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm cho bộ đội một cách kịp thời trước mỗi trận chiến đấu. Phải tổ chức kiện toàn biên chế, tổ chức. Nắm chắc chất lượng đội ngũ cán bộ vì cán bộ có tốt thì đơn vị mới tốt, mới hoàn thành được các nhiệm vụ được giao, tổ chức kết nạp Đảng cho những đồng chí có thành tích trong quá trình công tác, huấn luyện và chiến đấu, đưa tính Đảng vào trước mỗi trận đánh, kịp thời động viên khích lệ tinh thần bộ đội. Phải nắm bắt tư tưởng, kịp thời động viên bộ đội, có biểu dương khen thưởng kịp thời trong và sau mỗi trận chiến đấu. 2. Phải tổ chức rèn luyện bộ đội có sức khoẻ bền bỉ, dẻo dai, chịu đựng gian khổ, sẵn sàng chiến đấu cao, hành quân xa, mang vác nặng trong điều kiện địa hình phức tạp, khó khăn, đói khát nhưng khi gặp địch vẫn có thể chiến đấu được ngay và giành thắng lợi. 3. Công tác tổ chức phải chu đáo, nắm chắc được địa hình, làm tốt công tác chuẩn bị và xây dựng ý chí quyết tâm cao, biết vận dụng cách đánh vào từng địa hình để giành thắng lợi. 4. Tổ chức huấn luyện từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Bổ sung quân đến đâu thì đều phải huấn luyện thêm cho cán bộ, chiến sĩ thành thạo các động tác chiến đấu bộ đội phải được huấn luyện nhiều về kỹ thuật cá nhân luồn sâu, đánh gần, đánh trong điều kiện chuẩn bị gấp. 5. Đánh tập trung, đánh liên tục, đánh những đòn tiêu diệt lớn quân địch và phải phối hợp hiệp đồng giữa bộ binh và hoả lực một cách nhịp nhàng. Trải qua hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, hết đánh Pháp, đánh Mỹ đến chiến đấu bảo vệ Tố quốc, chống chiến tranh phá hoại, chống âm mưu "diễn biến hoà bình" của địch khi tác chiến ở chiến trường trọng điểm, khi làm nhiệm vụ chiến lược ở hậu phương, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 luôn quán triệt tốt quan điểm của Đảng, tư tưởng quân Sự Hồ Chí Minh, luôn luôn chăm lo xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, coi đây là yếu tố quyết định mọi thắng lợi. Trong những năm sắp tới, Sư đoàn không ngừng hoàn chỉnh về tổ chức biên chế trang bị cho phù hợp với yêu cầu chiến đấu trong tình hình mới và khả năng kinh tế của đất nước, từ đơn thuần bộ binh đến một tổ chức sư đoàn gồm nhiều đơn vị binh chủng hợp thành, từ bộ binh đến bộ binh cơ giới cho phù hợp với tình hình và yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Nhận rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với một sư đoàn chủ lực cơ động, toàn thể cán bộ, chiến sĩ đoàn Quân Tiên Phong luôn học tập các tấm gương dũng liệt của lớp lớp thế hệ đi trước về tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo đặc biệt trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 trong xây dựng đơn vị và huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Vận dụng linh hoạt lời dạy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp "Hễ đánh là thắng, hễ đánh là tiêu diệt sinh lực địch" vào thực hiện nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu ở đơn vị. Thường xuyên coi trọng rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật, huấn luyện cơ bản và ứng dụng, đổ mồ hôi trên thao trường để giành thắng lợi trên chiến trường, luyện quân để lập công, lập công để có thêm kinh nghiệm. Là đơn vị được Bộ và Quân đoàn giao cho nhiệm vụ thường xuyên đón các đoàn khách trong nước và quốc tế, trong bất cứ tình huống nào, Sư đoàn luôn làm tốt công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu cao, bảo đảm an toàn tuyệt đối không để xảy ra bất kỳ tình huống bất trắc nào. Luôn củng cố và xây dựng Sư đoàn là đơn vị có cảnh quan có môi trường "Sáng - Xanh - Sạch - Đẹp". Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười, 2025, 03:11:49 pm CHIẾN THẲNG LẠC SONG - TRẬN PHỤC KÍCH TIÊU BIỂU TRÊN SÔNG ĐÀ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá LÊ TRÙNG DƯƠNG Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trang lớn lực lượng tiến công lên Hòa Bình nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng, lập phòng tuyến ngăn chặn đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc và Liên khu 3 của ta; đồng thời âm mưu lập "Xứ Mường tự trị" hòng làm thay đổi so sánh lực lượng, giành quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, Sau khi chiếm được các mục tiêu, địch tổ chức hệ thống phòng ngự quy mô lớn gồm 28 cứ điểm mạnh, hình thành 2 tuyến phòng ngự dọc theo Đường số 6 và sông Đà. Toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch được chia thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà - Ba Vì ở phía Bắc, gồm 5 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù, 1 trung đội xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh; Phân khu Hòa Bình - Đường số 6 ở phía Nam, gồm 6 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội xe tăng. Ngoài ra, địch còn tổ chức lại Phân khu Chợ Bến, biến vị trí này trở thành 1 tiền đồn bảo vệ Hòa Bình ở phía Đông. Trước tình hình chiếm đóng của địch, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở chiến dịch Hòa Bình, nhằm mục đích tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực, tiến tới phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch; đồng thời, mạnh bạo đưa một bộ phận chủ lực vào hoạtđộng trong vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là vùng đồng bằng Bắc Bộ1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tất các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 365-366). Trên Mặt trận Hòa Bình Bộ Chỉ huy Chiến dịch sử dụng 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 304) và Đại đoàn công pháo 351; trong đó, Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đánh địch trên hướng chủ yếu, có nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực và phá vỡ tuyến phòng ngự Sông Đà của địch; Đại đoàn 304 đánh địch trên hướng thứ yếu, làm nhiệm vụ kiềm chế hoạt động của địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6. Thực hiện phương châm "đánh điểm, diệt viện", kết hợp chặt chẽ giữa đánh công kiên với đánh phục kích giao thông, tiêu diệt quân địch cả trên bộ và trên sông, trong đợt 1 (10 - 26.12.1951) trên hướng chủ yếu của chiến dịch, các đơn vị của Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đã khắc phục mọi khó khăn ác liệt, kiên quyết tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá vỡ phòng tuyến Sông Đà của địch, tạo thế trận và thời cơ thuận lợi để chiến dịch phát triển. Trong quá trình đó, Trung đoàn 36 (thiếu 1 tiểu đoàn) thuộc Đại đoàn 308 là đơn vị được giao nhiệm vụ đánh viện binh địch phía tả ngạn sông Đà, tạo điều kiện để Trung đoàn 88 được tăng cường lực lượng và hỏa lực, thực hiện thắng lợi trận đánh mở màn, tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ (10.12.1951), một cứ điểm mạnh nhưng rất hiểm yếu trên tuyến phòng thủ Sông Đà. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Trung đoàn 36 (thiếu 1 tiểu đoàn) sử dụng Tiểu đoàn 84 và 1 đại đội pháo binh 75mm được tăng cường, xây dựng trận địa phục kích ở khu vực Đoan Hạ (phía Bắc Tu Vũ 15km); Tiểu đoàn 80 cùng các phân đội pháo binh, phòng không thuộc Tiểu đoàn 387 tăng cường cho Trung đoàn 36, xây dựng trận địa phục kích ở khu vực Lạc Song (phía Nam Tu Vũ 10km). Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 và các lực lượng được tăng cường, nổ súng tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, mở đầu chiến dịch giành thắng lợi giòn giã. Cũng trong đêm 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 36 và các đơn vị được tăng cường, cơ động chiếm lĩnh trận địa phục kích ở cả 2 khu vực Nam và Bắc Tu Vũ, đảm bảo bí mật, sẵn sàng nổ súng đánh địch. Nắm chắc thời cơ đánh viện mở ra, từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 12 năm 1951, các đơn vị thuộc Trung đoàn 36 bám sát chiến trường, đánh 3 trận phục kích địch vận chuyển trên sông Đà ở các khu vực Đoan Hạ, Lạc Song và Yên Mão. Tuy nhiên, do chưa có kinh nghiệm đánh địch trên sông, bố trí pháo binh ở vị trí tầm bắn bị hạn chế, khả năng quan sát chỉ bao quát được một phần ba sông phía bờ đối diện nên Trung đoàn đã để lọt đoàn tàu, canô địch chạy qua trận địa1 (Bộ Tư lệnh Quân đoàn I, Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 100). Quyết tâm cắt đứt triệt để mọi hoạt động giao thông, vận chuyển của địch trên sông Đà, được sự chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch và chỉ huy Đại đoàn 308, Trung đoàn 36 tổ chức rút kinh nghiệm, điều chỉnh đội hình chiến đấu, quyết đánh một trận tiêu diệt gọn, tiến tới không cho một chiếc tàu chiến, canô nào của địch đi lại nữa2 (Đại đoàn Quân Tiên phong, Ký sự, Tập I, II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1978, tr. 400). Theo đó, Trung đoàn 36 tổ chức lại khu vực trận địa phục kích dài 6km, đoạn từ Lạc Song đến Đồng Việt, cách thị xã Hòa Bình10km; bố trí lực lượng thành 3 tuyến liên hoàn, mỗi tuyến đều có đủ các bộ phận pháo binh, phòng không và bộ binh, riêng Đại đội 241 của Tiểu đoàn phòng không 387 được bố trí tập trung ở tuyến giữa để bảo vệ đội hình chiến đấu; đoạn sông này có nhiều khúc quanh co, phía bờ đối diện có nhiều núi cao, có thể quan sát địch trên sông Đà từ xa, nên Trung đoàn 36 bố trí thêm một đài quan sát ở vị trí thuận lợi bên kia sông, báo hiệu bằng làn khói khi tàu chiến, canô địch sắp tới, giúp cho bộ đội ta kịp thờicơ động vào trận địa phục kích. Sau khi hoàn chỉnh tổ chức lại trận địa phục kích, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 36 kiên trì mai phục, giữ bí mặt trận địa, kiên quyết đánh một trận tiêu diệt gọn quân địch trên sông Đà. Đúng như nhận định của ta, sáng 22 tháng 12 năm 1951, một đoàn gồm 5 chiếc canô, 1 tàu chiến (loại LCT) thuộc Thủy đội xung kích số 2 của địch, xuất phát từ bến Ngọc (Hòa Bình) theo dòng sông Đà cơ động về Trung Hà. Bám sát diễn biến và nắm chắc tình hình địch, các bộ phận phục kích của Trung đoàn 36 được ngụy trang kín đáo, theo đường xuất kích dưới tán rừng, bí mật vận động, chiếm lĩnh các vị trí chiến đấu bên tả ngạn sông Đà. Đến 11 giờ ngày 22 tháng 12 năm 1951, đoàn tàu địch gồm 5 canô chạy trước, mỗi chiếc cách nhau khoảng hơn 100m, chiếc tàu chiến LCT chạy sau cùng, lọt vào trận địa phục kích. Ngay lập tức,4khẩu ĐKZ và đại liên ở tuyến đầu, bất ngờ nổ súng bắn mạnh vào chiếc tàu chiến LCT, khóa chặt đường rút của địch. Cùng lúc đó, ở tuyến giữa, Đại đội sơn pháo 75mm cùng bộ binh cũng đồng loạt nổ súng vào đội hình địch, tiêu diệt 4 chiếc canô. Quân địch chống trả quyết liệt và mở hết tốc độ, chạy thục mạng, hòng thoát khỏi trận địa phục kích nhưng khi chiếc tàu chiến LCT và 1 canô địch cố chạy đến tuyến phục kích thứ 3 của ta, bị 3 khẩu sơn pháo 75mm bắn tập trung 8 quả đạn, chiếc tàu chiến LCT bị tiêu diệt, chiếc canô bị hư hỏng dạt sang bờ đối diện. Lúc này, các đại đội bộ binh dùng hỏa lực tiêu diệt và bắt gần hết số binh lính địch bơi vào bờ. Trận đánh diễn ra trong vòng 20 phút, giành được thắng lợi giòn giã, ta diệt gọn Thủy đội xung kích số 2 và 2 đại đội yểm trợ của quân Pháp, bắn chìm 4 canô và 1 tàu chiến. Sau trận này, đường tiếp tế của địch trên sông Đã hoàn toàn bị tê liệt1 (Bộ Tổng Tham mưu, Ban Tổng kết - Biên soạn lịch sử, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr. 536). Ngay sau trận đánh địch trên sông Đà, các đại đội bộ binh và pháo binh nhanh chóng theo đường xuất kích rút vào rừng, Đại đội 241 của Tiểu đoàn phòng không 387 bố trí ở tuyến giữa rút sau cùng, sẵn sàng bắn máy bay địch, bảo vệ đội hình rút quân. Khi các đại đội bộ binh và pháo binh vừa rút khỏi, địch dùng pháo binh từ đồn Pheo bắn cấp tập hơn 200 quả đạn vào đúng những nơi bộ đội ta vừa rút quân; đồng thời không quân địch cho nhiều tốp máy bay nhào đến đánh phá, Đại đội phòng không 241 kiên cường đánh trả đến 5 giờ chiều ngày 22 tháng 12 năm 1951, bắn rơi 1 chiếc máy bay khu trạc và bắn bị thương 2 chiếc khác1 (Đại đoàn Quân Tiên phong, Ký sự, Tập I, II, Sđd, tr. 406), bảo vệ các đơn vị của Trung đoàn 36 và các đại đội pháo binh rút quân vào rừng an toàn. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười, 2025, 03:14:07 pm Có thể khẳng định, trận phục kích đánh địch cơ động trên sông Đà ngày 22 tháng 12 năm 1951 của Trung đoàn 36 và các đơn vị được tăng cường thực sự là một trận phục kích đường sông kiểu mẫu lúc bấy giờ. Trong trận đánh này, Trung đoàn 36 đã chấp hành nghiêm chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình, tổ chức kiểm điểm, rút kinh nghiệm nghiêm túc, thẳng thắn chỉ rõ những nguyên nhân không thành công của các trận phục kích không hiệu quả trước đó. Do vậy, Trung đoàn 36 đã đánh giá chính xác điều kiện địa hình, nắm chắc quy luật hoạt động trên sông Đà của địch, lựa chọn khu vực phục kích, tổ chức sử dụng lực lượng phù hợp, bố trí đội hình chiến đấu có chiều sâu, theo dõi chặt chẽ tình hình địch, chóp thời cơ thực hiện trận đánh và có cách đánh kiên quyết, sáng tạo, đạt hiệu quả chiến đấu cao. Chiến thắng Lạc Song cùng với Chiến thắng Tu Vũ và các trận phục kích địch ở Ninh Mít, Đường số 87 đã phá vỡ phòng tuyến sông Đà của địch. Đặc biệt, với Chiến thắng Lạc Song, ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu cắt đứt giao thông vận chuyển, tiếp tế trên sông Đà của địch,"một trong hai cái ống thực quản nối đến dạ dày là thị xã Hòa Bình bị chặn đứng"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), tập I, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 348), tạo thế trận có lợi thúc đẩy Chiến dịch Hòa Bình phát triển. Qua trận phục kích Lạc Song ngày 22 tháng 12 năm 1951 của Trung đoàn 36 và các đơn vị được tăng cường, có thể rút ra mấy kinh nghiệm trong chiến đấu phục kích đường sông.
Một là, lựa chọn khu vực trận địa phục kích đường sông: Để có được Chiến thắng Lạc Song (22.12.1951), Trung đoàn 36 đã kịp thời rút kinh nghiệm những thiếu sót về chọn trận địa phục kích ở Đoan Hạ (11.12.1951), Yên Mão (14.12.1951). Khu vực trận địa phục kích được chọn từ Lạc Song đến Đồng Việt dài 6km, nơi đây ta có điều kiện giấu quân trong những cánh rừng kín đáo, đoạn sông này có nhiều khúc quanh co, dòng chảy sát bờ tả ngạn, bên hữu ngạn nhiều chỗ bị sạt lở, vì vậy, tàu chiến, canô địch buộc phải đi gần bở phía tả ngạn hơn, ta có điều kiện phát huy hiệu quả các loại hỏa lực để tiêu diệt tàu địch. Thực tế đã chứng minh, sự lựa chọn trận địa phục kích của Trung đoàn 36 ở khu vực này là hoàn toàn chính xác, trận đánh diễn ra nhanh, gọn, đạt hiệu quả chiến đấu cao, giành thắng lợi giòn giã. Qua thắng lợi của trận phục kích Lạc Song, yêu cầu chung về lựa chọn trận địa phục kích đường sông được hình thành. Đó là phải chọn phục kích ở những nơi lòng sông hẹp, dòng sông có nhiều khúc quanh co, ta có điều kiện phát huy hỏa lực bắn thẳng, bắn gần để đạt hiệu quả sát thương cao. Trận địa phục kích phải đảm bảo giấu quân bí mật, tiện cơ động, thuận lợi cho bố trí đội hình chiến đấu và phát huy được hết khả năng, sức mạnh của các thành phần lực lượng, nhất là các loại hỏa lực, tạo bất ngờ và đẩy địch vào thế bất lợi. Những yêu cầu về lựa chọn trận địa phục kích rất quan trọng, trực tiếp tác động đến thắng lợi của hình thức chiến thuật phục kích đường sông của bộ đội ta. Hai là, tổ chức sử dụng lực lượng, bố trí đội hình phục kích: Sau khi xác định khu vực trận địa phục kích, Trung đoàn 36 đã tổ chức sử dụng lực lượng, bố trí đội hình chiến đấu thành 3 tuyến có chiều sâu tới 6km, mỗi tuyến có 1 đại đội bộ binh và 1 đại đội hỏa lực (pháo binh, phòng không, ĐKZ), hình thành các bộ phận chặn đầu, khóa đuôi, bộ phận tiến công chủ yếu, bộ phận hỏa lực mặt đất, bộ phận hỏa lực phòng không, bộ phận dự bị. Ngoài ra, Trung đoàn 36 còn căn cứ thực tiễn địa hình, bố trí thêm 1 đài quan sát của pháo binh ở sườn một ngọn núi cao bên phía bờ sông đối diện để kịp thời phát hiện tàu địch sắp cơ động tới khu vực trận địa phục kích và trực tiếp báo hiệu bằng đám khói, giúp cho các bộ phận nhanh chóng vào vị trí sẵn sàng chiến đấu. Trận địa các khẩu đội pháo binh, ĐKZ, đại liên đều được bố trí ở những vị trí gần bờ sông, có xạ giới rộng, bao quát được toàn bộ những khúc quanh của dòng sông, do vậy, khi mục tiêu xuất hiện, các loại hỏa lực của ta đều phát huy hiệu quả sát thương để tiêu diệt địch. Riêng tuyến giữa, Trung đoàn 36 sử dụng thêm 1 đại đội phòng không của Tiểu đoàn 387, bố trí ở khu vực giữa trận địa để bảo vệ đội hình chiến đấu. Sau trận phục kích đánh địch trên sông, Đại đội phòng không 241 đã kiên cường đánh máy bay địch hiệu quả, bảo vệ đội hình bộ binh, pháo binh rút quân an toàn. Như vậy, với việc tổ chức sử dụng lực lượng, bố trí đội hình chiến đấu phù hợp, có nhiều sáng tạo, linh hoạt, Trung đoàn 36 đã nắm chắc mọi hoạt động của địch, chớp thời cơ nổ súng, đánh trúng mục tiêu chủ yếu, tiêu diệt gọn quân địch trong thời gian ngắn, bảo vệ đội hình rút quân an toàn sau trận đánh. Đây là một trong những nguyên nhân làm nên Chiến thắng Lạc Song trong Chiến dịch Hòa Bình. Ba là, kiên trì mai phục, giữ bí mặt trận địa, hành động tiến công kiên quyết, táo bạo: Nguyên nhân không thành công của mấy trận phục kích ban đầu được Trung đoàn 36 chỉ ra là do "tư tưởng nóng vội, muốn "ăn ngay", chưa tổ chức trận địa chu đáo,...cảnh giới đặt quá gần. Công sự pháo làm nắp che kín. Xạ giới hẹp. Bắn xong một phát, khói tỏa mù mịt trong hầm, không tiếp lục nhìn rõ mục tiêu"1 (Đại đoàn Quân Tiên phong, Ký sự, Tập I, II, Sđd, tr. 400). Để khắc phục những khuyết điểm trên, Trung đoàn 36 đã kết hợp chặt chẽ các biện pháp trinh sát, nắm chắc địch, lợi dụng địa hình, lựa chọn đúng khu vực phục kích, tổ chức sử dụng lực lượng và bố trí lại đội hình chiến đấu cho phù hợp, nhất là vị trí bắn của các khẩu đội pháo binh, ĐKZ, đại liên, bảo đảm phát huy hết sức mạnh hỏa lực. Đồng thời, Trung đoàn tiến hành nhiều hình thức động viên bộ đội kiên trì mai phục, ngụy trang kín đáo, giữ bí mật mọi hành động, kiên quyết đánh một trận tiêu diệt gọn quân địch cơ động theo dòng sông Đà. Sau khi tổ chức lại trận địa phục kích, Trung đoàn 36 đã 4 lần phải thay lá ngụy trang, giữ bí mặt trận địa 6 ngày liền. Trước khi Thủy đội xung kích số 2 của quân Pháp rời bến Ngọc về Trung Hà, chúng cho 1 máy bay trinh sát bay dọc sông và thả nhiều bè nứa trôi sông, hòng nghi binh, đánh lừa bộ đội ta bộc lộ, nhưng nhờ có công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu tốt, toàn trận địa phục kích vẫn tuyệt đối giữ bí mật, khiến cho địch hoàn toàn bị bất ngờ. Chỉ đến khi toàn bộ đội hình đoàn tàu chiến, canô địch lọt hẳn vào khu vực trận địa phục kích, hỏa lực pháo binh, ĐKZ của ta mới bắt đầu phát hỏa mãnh liệt, chặn đầu, khóa đuôi, phát huy sức mạnh các loại hỏa lực, tiến công kiên quyết, tiêu diệt gọn quân địch. Có thể khẳng định, trong trận phục kích này, Trung đoàn 36 đã tận dụng triệt để yếu tố bí mật, bất ngờ, tiến công kiên quyết, táo bạo, đánh trúng mục tiêu chú yếu ngay từ đầu, đó là một trong những nhân tố quan trọng làm nên Chiến thắng Lạc Song ngày 22 tháng 12 năm 1951 của bộ đội ta. Bốn là, đánh nhanh, kết thúc chiến đấu, rút quân nhanh: Trận phục kích Lạc Song của Trung đoàn 36 diễn ra vào buổi trưa, tàu chiến, canô địch có khả năng cơ động nhanh, hỏa lực tự bảo vệ mạnh, ngoài ra chúng còn được hỏa lực pháo binh từ các trận địaở núi Chẹ, đồn Pheo, hỏa lực không quân chi viện, phản ứng linh hoạt. Do vậy, nếu không đánh nhanh, kết thúc chiến đấu và rút quân nhanh, Trung đoàn 36 có thể bị tổn thất lớn. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao, Trung đoàn 36 đã quán triệt rõ mục tiêu, yêu cầu của trận đánh, tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc và tiến hành công tác chuẩn bị chu đáo, xác định rõ mục tiêu bắn trên sông đối với hỏa lực pháo binh, ĐKZ, đại liên và các loại vũ khí bộ binh. Riêng hỏa lực phòng không vừa tham gia đánh địch trên sông, vừa thực hiện nhiệm vụ chủ yếu đánh máy bay địch. Do đó, các loại hỏa lực tham gia trận đánh đều phát huy hết uy lực, đánh trúng mục tiêu chủ yếu, trận đánh diễn ra trong vòng 20 phút đã tiêu diệt gọn Thủy đội xung kích số 2 và 2 đại đội yểm trợ của địch. Ngay sau trận đánh này, Trung đoàn 36 nhanh chóng tổ chức rút quân, trong đó, bộ binh và pháo binh rút trước, Đại đội phòng không 241 rút sau. Vừa bảo vệ đội hình rút quân, vừa đánh trả máy bay địch, Trung đoàn tránh được tổn thất do hỏa lực pháo binh, không quân địch gây ra. Qua trận đánh này, vấn đề đánh nhanh, kết thúc chiến đấu, rút quân nhanh trong chiến đấu phục kích càng được khẳng định và trở thành một kinh nghiệm quý của bộ đội ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trận phục kích Lạc Song của Trung đoàn 36 và các lực lượng tăng cường diễn ra trong đợt tiến công mở đầu Chiến dịch Hòa Bình, giành được thắng lợi giòn giã. Trong bối cảnh lực lượng vũ trang nói chung, các đại đoàn bộ đội chủ lực và một số binh chủng của Quân đội ta nói riêng đều đang trong quá trình củng cố tổ chức, huấn luyện và bổ sung vũ khí, trang bị, kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều, do đó, Chiến thắng Lạc Song không những cổ vũ, khích lệ tinh thần quyết đánh, quyết thắng của bộ đội ta, giành nhiều thắng lợi lớn hơn trong Chiến dịch Hòa Bình mà còn đem lại nhiều kinh nghiệm quý về lựa chọn khu vực trận địa, tổ chức sử dụng lực lượng, bố trí đội hình chiến đấu, cách đánh phụckích đường sông, góp phần phát triển nghệ thuật chiến đấu phục kích của Quân đội ta. Với những ý nghĩa đó, Chiến thắng Lạc Song thực sự là một trận phục kích điển hình về đánh địch cơ động đường sông, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười, 2025, 03:18:32 pm ĐỊCH VẬN - MŨI VU HỒI GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại úy, ThS NGUYỄN NGỌC TOÀN Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Kế thừa và phát huy truyền thống "đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo", đánh giặc bằng "tâm công", trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), quân và dân ta luôn chú trọng tuyên truyền tư tưởng nhân nghĩa, hòa hiếu, đánh vào tinh thần nhằm làm thức tỉnh lương tri binh sĩ quân đội địch, trong đó, nhiều người là con em đồng bào dân tộc ít người. Trong Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952), công tác địch vận được tiến hành thường xuyên và liên tục, trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, trở thành"mũi vu hồi" lợi hại góp vào thắng lợi chung của chiến dịch. Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông 1951 của ta. Ngày 9 tháng 11, quân Pháp sử dụng 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm khu vực Chợ Bến. Đến ngày 14 tháng 11, chúng tăng cường thêm 2 binh đoàn cơ động (GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng mở tiếp cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm thị xã Hòa Bình, Đường số 6, khu vực sông Đà - Ba Vì. Sau khi chiếm được Hòa Bình, Pháp huy động lực lượng và phương tiện nhanh chóng tổ chức tuyến phòng ngự tại đây. Đánh giá tình hình và âm mưu địch, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: Đây là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Từ đó, quyết định mở cuộc tiến công lớn trên hai mặt trận: Tập trung chủ lực trên mặt trận chính Hòa Bình, đồng thời đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình được thành lập do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng. Lực lượng tham gia chiến dịch trên mặt trận chính gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 304) và Đại đoàn công pháo 351; trên mặt trận phối hợp gồm 2 đại đoàn bộ binh 316 và 320. Để phối hợp có hiệu quả cùng với các lực lượng tiến công địch, công tác địch vận được tiến hành ngay từ khi có ta ý định mở chiến dịch. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, đồng chí Nguyễn Chí Thanh và Hoàng Văn Thái trực tiếp đi nắm tình hình chiến trường. Cùng đi với đoàn, ngoài cán bộ của Văn phòng và các cục: Tuyên huấn, Bảo vệ, Tổ chức, còn có cán bộ của Cục Địch vận. Đến ngày 19 tháng 11 năm 1951, cơ quan chính trị Chiến dịch ra chỉ thị "Tuyên truyền về cuộc hành binh của địch ở Hòa Bình" gửi toàn mặt trận để triển khai mọi hoạt động công tác chính trị trong chiến dịch, trong đó nhấn mạnh phối hợp tác chiến với công tác dân vận, địch vận... Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch", nhận định: "Đó là cơ hội tốt để ta đánh địch... Vậy ta phải nắm cơ hội tốt này tranh thủ thời gian để đánh địch, tiêu diệt sinh lực của địch trên mặt trận Chợ Bến,Hòa Bình, trên các mặt trận khác và khắp vùng du kích sau lưng địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596, 598). Trong đó nhấn mạnh: "Đồng thời với việc đánh địch trên mặt trận mới phải động viên lực lượng toàn dân phá kế hoạch chiếm đóng của địch, phá kế hoạch tổ chức ngụy quân, đặt cơ sở ngụy quyền, tuyên truyền lừa phỉnh nhân dân Mường, phá chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596, 598)... Ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, "là cơ hội tốt để tiến hành công tác vận động ngụy binh"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596, 598). Trong 2 ngày 23 và 24 tháng 11 năm 1951, Thường vụ Tỉnh ủy Hòa Bình họp hội nghị bất thường, xác định: Đẩy mạnh công tác địch ngụy vận, coi đây là một trọng tâm công tác. Tuyên truyền vạch rõ âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của thực dân Pháp, nêu bật chính sách khoan hồng của Đảng, Chính phủ. Bộ đội, du kích phải giữ nghiêm kỷ luật đối với tù, hàng binh, phải kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến với địch ngụy vận nhưng tránh hữu khuynh4 (Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hòa Bình, Tập 1: 1929 - 1954, Tỉnh ủy Hòa Bình xuất bản, 1993, tr. 279). Ngày 9 tháng 12 năm 1951, Thường vụ Tỉnh ủy Hòa Bình phát động cuộc thi đua lập công với ba nội dung: Phát triển chiến tranh du kích, thi đua giết giặc lập công, đẩy mạnh địch ngụy vận, tích cực phục vụ tiền tuyến. Theo đó, trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch, Ban địch vận các cấp, các đơn vị phối hợp cùng các lực lượng, đoàn thể, chính quyền địa phương, tích cực triển khai thực hiện với nhiều nội dung, biện pháp, hình thức phong phú như: Phát tán hàng nghìn bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ngụy binh, thông báo của Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Hòa Bình về việc thi hành chính sách khoan hồng của Đảng và Chính phủ đối với những người lầm đường theo giặc nay trở về với nhân dân, gọi loa vào đồn bốt địch, rải truyền đơn... Các cán bộ địch vận và các đoàn thể trực tiếp đến từng gia đình có con em đang đi lính cho giặc, để tuyên truyền, giải thích rõ về những lỗi lầm của người thân họ, về chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Chính phủ và thắng lợi tất yếu của chiến dịch, của cuộc kháng chiến. Động viên gia đình kêu gọi người thân của họ về quê làm ăn, sinh sống hoặc làm nội ứng, cung cấp tình hình địch cho cách mạng. Khi mọi công tác chuẩn bị được hoàn tất, 23 giờ đêm 10 tháng 12 năm 1951, ta nổ súng tiến công cứ điểm Tu Vũ - một vị trí quan trọng trên tuyến phòng ngự sông Đà, mở màn chiến dịch. Đến 5 giờ sáng 11 tháng 12, ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Trận đánh đã làm rung chuyển toàn tuyến phòng ngự sông Đà của địch. Sau đó, ta tổ chức nhiều trận phục kích cắt đứt tuyến vận chuyển của địch trên sông Đà, uy hiếp Đường số 6, đồng thời đánh mạnh ở vùng địch hậu Bắc Ninh. Thực dân Pháp buộc phải rút bớt lực lượng cơ động từ Hòa Bình về Bắc Ninh để đối phó, nhưng ngay sau đó lại đưa quân trở lại cửu nguy cho Hòa Bình. Trong đợt này, công tác địch vận chưa được chú ý đúng mức. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười, 2025, 03:20:21 pm Để đợt 2 Chiến dịch, công tác địch vận phát huy có hiệu quả, ngày 18 tháng 12 năm 1951, Tổng cục Chính trị ra Chỉ thị số 4/H3 về công tác chính trị đợt 2 Chiến dịch Hòa Bình. Chỉ thị nêu rõ: "Trong đợt 1 công tác địch vận không được chú trọng mấy, phần lớn các đơn vị vi phạm khuyết điểm đối với hàng binh, tù binh địch. Do ý thức căm thù chưa đúng đắn và việc giáo dục ý thức địch vận còn kém"1 (Tổng cục Chính trị - Cục Dân vận và tuyên truyền đặc biệt, Công tác dân vận và tuyên truyền đặc biệt trong Quân đội nhân dân Việt Nam 1947 - 2002 - Biên niên, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 146). Nhận định, trước mắt tinh thần địch còn rất yếu kém sau chiến thắng của ta, Chỉ thị nhấn mạnh: "Cần phải chú trọng công tác địch vận và đặc biệt lần này phải chú trọng vận động ngụy binh Mường. Ngoài ra, phải giáo dục tinh thần căm thù đúng đắn cho toàn thổ đội viên có ý thức địch vận đối với thường binh và nì binh, hàng binh địch"1 (Tổng cục Chính trị - Cục Dân vận và tuyên truyền đặc biệt, Công tác dân vận và tuyên truyền đặc biệt trong Quân đội nhân dân Việt Nam 1947 - 2002 - Biên niên, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 146, 147).
Sang đợt 2, ta tiếp tục đánh mạnh hướng sông Đà - Ba Vì, tập kích diệt địch ở các điểm cao 400 và 600; trên hướng Đường số 6, ta tiến công các cứ điểm Đồi Mồi, Hàm Voi. Quân Pháp cố gắng tăng viện cho Hòa Bình nhưng vẫn không đánh thông được tuyến Sông Đà, phải chuyển sang củng cố tuyến Đường số 6, bảo vệ thị xã Hòa Bình. Trước tình hình quân Pháp ở Mặt trận Hòa Bình đang dao động, ngày 24 tháng 12 năm 1951, Tổng cục Chính trị có chỉ thị gửi chính ủy và chủ nhiệm chính trị các đại đoàn, trung đoàn tham gia chiến dịch, nêu rõ: "Hiện nay tinh thần binh lính địch đang rất căng thẳng và khá hoang mang, ở khắp các chiến trường đã có những vụ đầu hàng lẻ tẻ, điều này chứng tỏ chúng đang có những mầm mống muốn chạy sang hàng ngũ ta... Tổng cục nhắc nhở các chính ủy và Chủ nhiệm Chính trị tích cực làm cho các cấp thấm nhuần sự quan trọng của công tác địch vận lúc này, tham gia tích cực làm tan rã hàng ngũ địch..."2 (Tổng cục Chính trị - Cục Dân vận và tuyên truyền đặc biệt, Công tác dân vận và tuyên truyền đặc biệt trong Quân đội nhân dân Việt Nam 1947 - 2002 - Biên niên, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 146, 147). Trước khi bước vào đợt 3 chiến dịch, ngày 2 tháng 1 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra Chỉ thị về công tác chính trị đợt 3 chiến dịch, trong đó nhấn mạnh: "Mở rộng địch vận, tiến công mạnh mẽ về tinh thần, kết hợp với tranh thủ thời gian liên tục diệt địch để khuếch trương chiến quả thu thêm nhiều thắng lợi mới"3 (Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945 - 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 122-123). Đến ngày 5 tháng 1 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra tiếp Chỉ thị về việc mở rộng công tác địch ngụy vận trên chiến trường Hòa Bình và quy định những điểm chính trong chính sách tù, hàng binh gửiđến các tỉnh ủy: Hòa Bình, Sơn Tây, Phú Thọ, các cấp ủy Đảng trong Quân đội, các cơ quan công tác chính trị và công tác địch vận của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương. Chỉ thị nhấn mạnh vai trò của lãnh đạo, chỉ huy trong giáo dục nhận thức, kiểm tra, tổ chức thực hiện; nhắc nhở, uốn nắn các đơn vị về những hành động, thái độ không đúng, nhất thời của cán bộ, chiến sĩ ở các phân đội với tù binh, hàng binh địch. Bước sang đợt 3 chiến dịch, ngày 7 tháng 1 năm 1952, ta chuyển hướng tiến công chủ yếu sang Đường số 6 và bao vây thị xã Hòa Bình. Sau nhiều ngày bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, sáng 23 tháng 2 năm 1952, quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình. Khi địch rút chạy khỏi Hòa Bình, bộ đội địa phương và du kích trên khắp địa bàn Hòa Bình vừa đánh địch vừa kêu gọi nhân dân và ngụy binh tìm mọi cách để thoát khỏi sự dồn ép của địch, trở về với làng xóm quê hương. Tại thị xã Hòa Bình, trong những ngày quân ta tập trung lực lượng vây đánh địch ở thị xã Hòa Bình và Đường số 6, quanh khu vực thị xã Hòa Bình từ Thịnh Lang đến Quỳnh Lâm, nơi nào cũng có cán bộ, cơ sở kháng chiến hoạt động thường xuyên, bám sát địch và vận động ngụy binh đào, bỏ ngũ, phản chiến. Đêm đến, các đồng chí được phân công vào tận các bản làng mà địch đang kiểm soát để gây dựng cơ sở. Các anh Thắng, anh Đài ở Thịnh Lang; chị Hữu, chị Khuyên trong Hội Phụ nữ thị xã liên hệ chặt chẽ với bộ đội, cung cấp tình hình hoạt động của địch, dẫn đường cho bộ đội làm công tác địch vận. Kết quả có hơn 50 tên, cả lính lê dương và ngụy quân bỏ đồn chạy ra đầu hàng, được ta đón tiếp và đối xử nhân đạo1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình, Hòa Bình - Lịch sử kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 -1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 143). Phối hợp với chiến trường chính, ở vùng địch hậu Bắc Bộ, Ban Chỉ huy Mặt trận đồng bằng được thành lập do đồng chí LêThanh Nghị - Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch ủy ban Kháng chiến hành chính Liên khu 3 làm Trưởng Ban Chỉ đạo. Thành phần Ban Chỉ huy gồm các đồng chí ủy viên Thường vụ Liên khu ủy 3 và Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320. Ngày 27 tháng 11 năm 1951, Ban Chỉ huy Mặt trận đồng bằng họp bàn quán triệt nhiệm vụ và xác định kế hoạch Đông - Xuân 1951 - 1952 nhằm đẩy mạnh phối hợp tác chiến với mặt trận chính diện; tập trung đánh mạnh ở vùng địch hậu phá vỡ hệ thống chiếm đóng của địch; phục hồi, mở rộng và củng cố các khu du kích, căn cứ du kích; đẩy mạnh công tác địch vận làm tan rã từng mảng khối ngụy quân, ngụy quyền, giành lại kho nhân tài, vật lực của Liên khu1 (Bộ Tổng Tham mưu, Chiến tranh du kích trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), Chuyên đề: Đặc trưng của chiến tranh du kích vùng đồng bằng Liên khu 3 trong kháng chiến chống Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 90). Ngày 25 tháng 2 năm 1952, tin chiến thắng từ Hòa Bình, cùng những hoạt động quân sự mạnh mẽ ở vùng sau lưng địch làm cho một bộ phận binh lính địch có tâm lý hoang mang, dao động, gia đình binh lính lo lắng cho tính mạng của chồng con. Trong khi đó, đông đảo nhân dân ngày càng phấn khởi, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Đây là điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh công tác địch vận. Tính chung toàn chiến dịch, Đại đoàn 320, các trung đoàn 42, 46 và các lực lượng địa phương đồng bằng Liên khu 3 đã tiêu diệt, bắt hơn 10.000 tên địch, vận động hàng nghìn lính ngụy bỏ ngũ, tiêu diệt 160 cứ điểm do chủ lực địch đóng giữ, cùng khoảng 1.000 vị trí tề vũ trang2 (Bộ Tổng Tham mưu, Chiến tranh du kích trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), Chuyên đề: Đặc trưng của chiến tranh du kích vùng đồng bằng Liên khu 3 trong kháng chiến chống Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 90). Với nhiều nội dung, hình thức, biện pháp vận động phong phú, như: Vận động và tổ chức gia đình ngụy binh, đến đồn bốt địch đòi trả chồng, con về sum họp gia đình, phụng dưỡng bổ, mẹ già, đòi cho biết tin chồng, con... Từ tháng 11 năm 1951 đến tháng 3 năm 1952, các tỉnh vùng địch hậu Bắc Bộ đã phát động được 167 cuộc đấu tranh của 40 vạn người nhà binh lính đòi trả chồng, con; giải thoát cho 31.070 thanh niên mới bị bắt lính; thả 37 lần, tổng cộng 7.803 tù binh người Việt; vận động cơ sở nhân mối là binh lính người Việt hỗ trợ bộ đội và du kích giành thắng lợi trong 176 trận nội ứng đánh đồn; vận động được 10.285 binh sĩ, 32 hạ sĩ quan người Việt bỏ ngũ, quay về với Tổ quốc, mang theo 1.145 súng các loại1 (Báo Cứu quốc, số 2016, ngày 1 tháng 4 năm 1952, tr. 1. Dẫn theo: Lê Văn Cử, Công tác địch vận trong Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952), Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 7.2016, tr. 53-54). Nhờ chủ trương và các biện pháp đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo, trong Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952), cùng với đòn tiến công quân sự, chính trị, mũi đấu tranh địch vận trở thành "mũi vu hồi", góp phần đập tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp. Qua đó, góp phần giương cao ngọn cờ chính nghĩa, đưa nguyện vọng hòa bình chân chính của nhân dân Việt Nam đến với các dân tộc trên thế giới; đồng thời, củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân từng bước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi cuối cùng. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười, 2025, 03:22:54 pm Phần thứ ba TẦM VÓC, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ BÀI HỌC VỀ NẮM BẮT THỜI CƠ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Thượng tướng, PGS, TS TRẦN VIỆT KHOA Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Giám đốc Học viện Quốc phòng Trong cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1951 - 1952, thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình cùng với những thắng lợi tại mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ đã tạo ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với thế trận có lợi cho ta. Đồng thời, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý về nghệ thuật chỉ đạo tiến hành chiến tranh, trong đó bài học về "nắm bắt thời cơ trong chiến dịch" - là một bài học lớn, khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời và kiên quyết của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh, thể hiện trên một số nội dung sau: Thứ nhất, nhận định, đánh giá đúng tình hình, nắm bắt thời cơ, đề ra phương hướng hoạt động phù hợp với thực tế chiến trường Trong tác chiến, việc đánh giá đúng tình hình, xác định chính xác đối tượng tác chiến có vị trí, vai trò rất quan trọng, là cơ sở để tiến hành công tác chuẩn bị, tạo lập thế trận, tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ hạ quyết tâm tác chiến, giành thắng lợi. Ngược lại, nếu đánh giá tình hình, xác định đối tượng tác chiến không đúng, dẫn tới chuẩn bị và hạ quyết tâm sai, thường khi tác chiến sẽ thất bại. Thực tế khi tiến hành Chiến dịch tiến công Hòa Bình năm 1951, ta đã đánh giá rất khách quan, cụ thể tình hình chung trên chiến trường: Về địch, sau thất bại ở biên giới Thu - Đông 1950, địch lâm vào thế bị động về chiến lược trên chiến trường chủ yếu Bắc Bộ; để giành lại quyền chủ động, địch có những nỗ lực rất lớn để binh định, đánh chiếm vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Nhất là, tiếp sau 3 chiến dịch tiến công lớn (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quans Trung) và 1 tháng phát động du kích chiến tranh của ta đạt kết quả hạn chế, đến Thu - Đông 1951, địch cho là đã ổn định được tình hình và thời cơ để giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ đã đến. Từ đó, chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương quyết định chủ trương tung phần lớn lực lượng cơ động chiến lược mở cuộc tiến công đánh chiếm Hoà Bình, mục đích mở rộng khu Chiếm đóng, tăng cường phòng ngự phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, nhằm bịt chặt con đường giao thông chiến lược từ Việt Bắc xuống phía Nam của ta; bảo vệ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, lập lại "Xứ Mường tự trị", mở rộng phạm vi thực hiện chính sách dùng người Việt đánh người Việt, gây ảnh hưởng chính trị với Mỹ, củng cố tinh thần binh sĩ và buộc ta phải tham chiến để tiêu hao, tiêu diệt lực lượng ta. Đồng thời, sử dụng một phần lực lượng tăng cường càn quét, bình định, đưa chiến tranh tổng lực lên cao, xoá bỏ một số căn cứ du kích của ta ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, tiến hành các hoạt động tạo bàn đạp cho cuộc hành quân đánh ra Hoà Bình. Về ta, ngay khi nhận được tin địch đánh chiếm Hòa Bình, Tổng Tham mưu trưởng đã trao đổi nhanh với một số cán bộ chủ chốt về tình hình thực tế và dự kiến kế hoạch đối phó để báo cáo lên Tổng Quân ủy. Ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, nhận định: Cuộc tiến công ra Hòa Bình của địch đã mở rộng được đất đai, giành lại quyền chủ động, chúng đã chiếm được một số vị trí chiến lược quan trọng, một đường giao thông trọng yếu, cắt đứt liên lạc của ta giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và miền Nam. Mặc dù, cuộc tiến công của địch chiếm đóng Hòa Bình gây cho ta nhiều khó khăn nhưng trên chiến trường rừng núi Hòa Bình, chúng ta có điều kiện thuận lợi để tiêu diệt sinh lực địch hơn như trên các chiến trường trung du, đồng bằng. Trong lúc địch tranh thủ tập trung lực lượng cơ động lớn tiến công ra vùng tự do để thực hiện một kế hoạch chiếm đóng mới, ta cần nắm cơ hội, tranh thủ sở hở của địch, tích cực hoạt động cả ở tuyến bên ngoài và trong lòng địch, thì nhất định ta sẽ thuận lợi trong nắm được cơ hội tiêu diệt một bộ phận lực lượng cơ động quan trọng của địch; đẩy mạnh chiến tranh du kích, ngoài và trong cùng phối hợp, đập tan âm mưu củng cố vùng địch hậu và ý định giành lại quyền chủ động ở Bắc Bộ, xoay chuyển tình thế cuộc chiến của Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp. Căn cứ vào phân tích tình hình địch - ta trên toàn chiến trường Bắc Bộ, nhận định đây là một cơ hội tốt cho ta, Trung ương Đảng đã quyết định mở cuộc tiến công lớn trên chiến trường Bắc Bộ, lấy Hòa Bình làm hướng chính, nhằm đánh bại ý đồ chiến lược của địch. Tổng Quân ủy đưa ra chủ trương: "Tranh thủ thời gian, lợi dụng lúc địch chưa được củng cố, tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, tiến tới phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, đồng thời, mạnh dạn đánh sâu vào địch hậu, đẩy mạnh du kích chiến tranh, phá âm mưu lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt của địch"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, Hà Nội, 1959, tr. 16). Thứ hai, tích cực điều chỉnh thế trận, tiến hành các hoạt động tác chiến tạo thế, tạo thời cơ, thúc đẩy thời cơ phát triển Thời cơ là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định, rất có lợi cho việc phát huy sức mạnh, tạo ra hiệu lực lớn, giành hiệu quả cao trong tác chiến. Thời cơ có thể do điều kiện khách quan đưa đến, cũng có thể do ta chủ động tạo nên hoặc do sai lầm của địch mang lại. Tạo thời cơ là cả một quá trình tiến hành công tác chuẩn bị về mọi mặt, nhất là chuẩn bị về thế trận và lực lượng. Trong Chiến cuộc Đông - Xuân 1951 - 1952, qua theo dõi tình hình, ta phát hiện ý đồ của địch ra sức củng cố tuyến phòng thủ giáp ranh, lập tuyến phòng thủ chiến lược; đồng thời, tập trung lực lượng cơ động chiến lược mở cuộc tiến công lên Hòa Bình... Khi địch mới tiến công ra Hòa Bình, ta chủ trương tiến hành ngay chiến dịch phản công để đánh bại cuộc tiến công của địch, nhưng sau khi cân nhắc, đánh giá kỹ tình hình mọi mặt về ta, về địch, nhận thấy thời cơ để tổ chức phản công không còn. Do địch có nhiều lợi thế về lực lượng, phương tiện vũ khí và khả năng cơ động nên chúng đã nhanh chóng đánh chiếm được khu vực Hòa Bình và chuyển sang trạng thái phòng ngự, xây dựng hệ thống cứ điểm mạnh, hình thành hai tuyến phòng ngự dọc Đường số 6 và dọc sông Đà. Trong khi chúng ta không dự kiến trước về cuộc hành quân đánh chiếm này của địch nên chưa có sự chuẩn bị tác chiến ở Hòa Bình"khi địch chưa đánh Hòa Bình, ta chỉ chuẩn bị cho hướng tác chiến chủ yếu ở Liên khu 3". Vì vậy, cần phải tích cực chuẩn bị mọi mặt, tiếp tục tạo lực, tạo thế, tạo thời cơ mới. Để tạo được thời cơ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác chiến thắng lợi, ta cần phải khắc phục khó khăn, tranh thủ thời gian, chủ động, linh hoạt, tích cực hoạt động, "có cơ hội là đánh, lại phải tạo ra cơ hội mà đánh"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Sđd, tr. 18). Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo cho cơ quan tham mưu chiến lược và các đơn vị gấp rút làm công tác chuẩn bị, hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến và giao nhiệm vụ cho các đơn vị, tạo lập thế trận sẵn sàng cho tác chiến. Hoạt động lập thế trận cho cuộc tiến công chiến lược của ta được tiến hành trong điều kiện thời gian chuẩn bị gấp, nhất là hướng chiến lược chủ yếu (Hòa Bình); tuy tiềm lực quân sự còn nhiều hạn chế, nhưng do ta có chủ trương đúng nên quá trình lập thế trận đã tổ chức bố trí triển khai lực lượng hợp lý. Tại Hòa Bình, ta bố trí các đại đoàn 308, 312, 304 và Đại đoàn công pháo 351; ở đồng bằng Bắc Bộ, ta bố trí các đại đoàn 320, 316 cùng với lực lượng vũ trang tại chỗ đẩy mạnh chiến tranh du kích, tranh thủ tiêu diệt sinh lực, phá vỡ hệ thống phòng ngự địch, mở rộng vùng giải phóng, biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta. Đồng thời, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các chiến trường từ Bình - Trị - Thiên trở vào Nam Bộ đẩy mạnh tác chiến để phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ; tổ chức hiệp đồng tác chiến chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau gây cho địch nhiều thiệt hại, buộc chúng phải kéo bớt lực lượng cơ động về đối phó với ta ở đồng bằng, tạo điều kiện, thúc đẩy thời cơ phát triển thuận lợi cho mở đầu tác chiến tiến công địch trên hướng chủ yếu Hoà Bình. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười, 2025, 03:25:00 pm Thứ ba, nắm bắt đúng thời cơ, nhanh chóng chuyển hóa thế trận, liên tục tiến công tiêu diệt địch
Nắm bắt thời cơ là một yếu tố đặc biệt quan trọng trong hoạt động tác chiến, nắm bắt và làm đúng thời cơ sẽ đạt kết quả cao ngược lại làm không đúng thời cơ thì kết quả thấp, thậm chí bị thất bại. Thời cơ tác chiến là hoàn cảnh có những điều kiện thuận lợi có thể phát huy sức mạnh tổng hợp cho thực hiện nhiệm vụ, nó chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian ngắn, có khi chỉ trong khoảnh khắc. Do đó, việc nắm bắt chính xác thời cơ để hạ quyết tâm, hành động kịp thời có vị trí, vai trò rất quan trọng, "là việc hộ trọng liên quan đến thành bại của tác chiến, đến việc giữ vững và phát triển những thành quả đã đạt được, đến xương máu của bộ đội"1 (Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thào, Nghệ thuật tác chiến mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 122). Để nắm bắt được thời cơ, đòi hỏi người lãnh đạo, chỉ huy phải có ý chí, trách nhiệm rất cao, có tầm nhìn sắc sảo nhạy bén, có phương pháp xem xét khách quan, toàn diện. Thực tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp, việc nhận định chính xác tình hình địch - ta, nắm bắt đúng thời cơ, nhanh chóng hạ quyết tâm mở Chiến dịch tiến công Hòa Bình là một trong những minh chứng, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy đã vượt lên trên mọi toan tính của thực dân Pháp. Từ nhận định, đánh giá tình hình và âm mưu của địch, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: "Đánh ra Hoà Bình, địch phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, núi rừng hiểm trở, địa hình đột xuất, công sự chưa vững chắc. Mặt khác vì phải tập trung phần lớn quân cơ động ra Hòa Bình nên lực lượng địch ở đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến trung du đều tương đối sơ hở hơn trước"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 9). Xác định rõ đây là một cơ hội hiếm cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch, Trung ương Đảng đã đồng ý với đề xuất của Tổng Quân ủy cho mở Chiến dịch Hòa Bình, kịp thời chuyển loại hình chiến dịch từ ý định ban đầu là phản công sang loại hình chiến dịch tiến công, chuyển hóa thế trận, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch ở nơi chúng mới chiếm đóng, mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích và nêu rõ, "đây là cơ hội tốt để ta đánh địch trên mặt trận Hòa Bình, trên các mặt trận khác và sau lưng địch"2 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 384). Đồng thời, chỉ rõ ràng cho toàn Đảng: Phải nhận rõ cơ hội thuận lợi đó, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích thật rộng rãi để phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch. Tạo thời cơ và nắm thời cơ là để hành động, thời cơ có trở thành sức mạnh, có tạo nên chiến thắng hay không là do hành động của con người quyết định, "nắm được thời cơ rồi mà không hành động hoặc hành động chậm thì thời cơ không có ý nghĩa gì, thậm chí có khi làm đảo ngược tình thế: Đang mạnh hóa yếu, đang thắng hóa thua"1 (Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo, Nghệ thuật tác chiến mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Sđd, tr. 125). Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng, quân và dân ta nỗ lực vượt bậc gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đảm bảo cho tác chiến. Các chiến trường đã nhanh chóng triển khai hoạt động tác chiến, khắc phục mọi khó khăn về cung cấp, về sức cơ động của bộ đội, vừa đánh vừa chuẩn bị, kiên quyết tiến công tiêu diệt địch, tranh thủ thời gian, mở rộng chiến tranh nhân dân, kết hợp đánh địch trên cả hai mặt trận (mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch). Kết hợp tác chiến của các đại đoàn chủ lực với chiến tranh du kích ở khắp nơi để phá kế hoạch chiếm đóng mới của địch, lợi dụng lúc địch sơ hở để đánh sâu vào vùng chúng chiếm đóng. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định: "Sử dụng các đại đoàn 308, 312, 304 và Đại đoàn công pháo 351 vào nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch trên hướng chính Hòa Bình; còn ở Đồng bằng Bắc Bộ, sử dụng các đại đoàn 320, 316 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh phá "bình định" ở các vùng sâu chúng tạm chiếm"2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết tác chiếnchiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 148), tranh thủ thời cơ tiêu diệt sinh lực địch, phá vỡ hệ thống phòng ngự của chúng, đẩy mạnh du kích chiến tranh, mở rộng vùng giải phóng, phá âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", thực sự biến hậu phương địch thành tiền phương của ta, giành lại sức người, sức của cho kháng chiến. Nhờ có sự nhận định đánh giá đúng tình hình, đề ra phương hướng hành động phù hợp; tích cực tạo lập thế trận, tạo thời cơ, nắm bắt đúng thời cơ; sự chỉ đạo chiến lược kịp thời, nhạy bén, quyết đoán của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của lực lượng chủ lực kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương, của mặt trận chính diện Hòa Bình và mặt trận địch hậu ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, chủ động tiến công, từng bước đánh bại kẻ thù, buộc chúng phải rút chạy khỏi Hòa Bình. Chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch phát triển mạnh, nhiều khu du kích, căn cứ du kích được phục hồi và mở rộng; ta đã đẩy địch vào thế bị động, lúng túng đối phó; âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, chiếm đóng "Xứ Mường", chia cắt chiến trường Bắc Bộ của địch đã hoàn toàn bị phá sản. Thế trận chiến lược đã thay đổi có lợi cho ta, phạm vi chiếm đóng của địch bị thu hẹp, tạo ra những thời cơ mới cho kháng chiến thắng lợi. Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Hòa Bình (1951 - 2021) là dịp để chúng ta ôn lại trang sử oanh liệt, hào hùng của dân tộc; đồng thời, tiếp tục khẳng định sự thành công về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng nói chung, nghệ thuật nắm bắt thời cơ, tận dụng thời cơ tiến công địch nói riêng. Bài học về nắm bắt thời cơ trong Chiến dịch Hòa Bình đã tiếp tục được vận dụng thành công dẫn đến thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta cũng đã tiếp tục thực hiện thành công bài học về nắm thời cơ, vận dụng và tận dụng thời cơ. Năm 1972, nắm được thời cơ nội bộ chính phủ Mỹ có xáo trộn, phong trào phản đổi chiến tranh trong nhân dân Mỹ dâng cao, quân và dân ta đã liên tục tiến công địch, giành nhiều thắng lợi quan trọng trên chiến trường, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút quân về nước. Mùa xuân 1975, xác định thời cơ chiến lược đã đến, ta chọn phương án hành động chính xác: Đánh trước vào Tây Nguyên. Khi ta giành được thắng lợi và làm chủ Tây Nguyên, địch đã phải rút chạy khỏi Tây Nguyên trong hoảng loạn. Thời cơ chiến lược mới đã đến, Bộ Chính trị chớp thời cơ, quyết định tập trung nhanh nhất lực lượng để giải phóng Sài Gòn và quyết tâm đó được thực hiện thành công trọn vẹn với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước chúng ta cũng đã nhiều lần vận dụng thành công bài học về nắm bắt thời cơ và tận dụng thời cơ. Năm 1986, Trung ương Đảng đã kịp thời nắm bắt tình hình, tận dụng thời cơ có sự chuyển biến trong lý luận và nhận thức để tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, đưa Việt Nam thoát ra khỏi những khó khăn của thời kỳ bao cấp và ảnh hưởng của chiến tranh. Năm 1991, những biến cố chính trị ở Liên Xô và các nước Đông Âu tạo ra cho chúng ta những thách thức rất lớn, nhưng chúng ta đã vượt qua và nắm bắt được thời cơ, chuyển hóa khó khăn thành cơ hội để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời rất linh hoạt và nhạy bén trong ngoại giao để mở rộng quan hệ đối với nhiều nước trên thế giới; nắm bắt tốt thời cuộc để gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995; gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới năm 2007... Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao gần 200 quốc gia, lãnh thổ với nhiều cấp độ khác nhau, đó là những cơ hội rất lớn giúp nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế. Theo quy luật vận động, phát triển của xã hội, đi liền với những cơ hội, vận hội mới luôn có những khó khăn, thách thức nảy sinh. Nếu biết vận dụng, nắm bắt tốt cơ hội và luôn nỗ lực vượt qua khó khăn, thử thách thì sẽ biến điều bất lợi thành có lợi. Trung ương Đảng ta đã nắm bắt rất rõ quy luật vận động ấy, từ đó thường xuyên, kịp thời có những nhận định, phân tích, định hướng, chỉ đạo mang tính chiến lược, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta "chủ động, nhạy bén nắm chắc thời cơ, quyết vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện thể chế, khơi dậy ý chí, tiềm năng, nguồn lực cho phát triển"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 204); phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống yêu nước, khát vọng vươn lên của toàn dân tộc lạo thế và lực mới cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu rất cao, song bài học kinh nghiệm về nghệ thuật nắm bắt thời cơ trong Chiến dịch Hòa Bình (1951) vẫn còn nguyên giá trị, cần được tiếp tục nghiên cứu, phát triển và vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong thực tiễn. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười, 2025, 03:28:29 pm PHÁT HUY SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ, TINH THẦN NHÂN TỐ GÓP PHẦN QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN BẠO Giám đốc Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Cách đây 70 năm, Chiến dịch Hòa Bình đã diễn ra theo 3 đợt từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952 và giành thắng lợi to lớn. Tại Mặt trận Hòa Bình ta đã diệt hơn 6.000 lính Pháp và ngụy binh, thu 24 khẩu pháo các loại, 788 súng, 98 máy vô tuyến điện, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm và bắn cháy 17 canô, tàu, xuồng, phá hủy 246 xe quân sự. Đồng thời, giải phóng 2.000km2 khu vực Hòa Bình - sông Đà với gần 2 triệu dân, giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng quân đội Pháp, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 39). Thắng lợi đó là kết quả tất yếu của những quyết sách đúng đắn, kịp thời của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Quân ủy, của tài thao lược sáng tạo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, đồng thời là thắng lợi của lực lượng vũ trang ta trong thực hành thành thạo những chiến thuật, kỹ thuật và khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên mặt trận rộng lớn, phức tạp. Trong đó, đặc biệt là việc phát huy cao độ sức mạnh chính trị,tinh thần của quân và dân ta tham gia chiến dịch, đây là nhân tốgóp phần quyết định thắng lợi của chiến dịch. Sau thất bại nặng nề ở Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông năm 1950, tiếp đó lại bị du kích gây cho những thiệt hại ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã khiến quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Trước tình hình đó, cuối tháng 10 năm 1950, Chính phủ Pháp đưa tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi trở lại Đông Dương nắm quyền Tổng Chỉ huy quân viễn chinh, kiêm Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Đờ Lát đờ Tátxinhi tuyên bố: Đã tới lúc giành lại chủ động trên chiến trường, buộc Việt Minh phải tiếp nhận chiến đấu trên một địa điểm do Pháp lựa chọn. Để giành lại quyền chủ động, quân Pháp mở liên tiếp các cuộc hành binh "Hoa Tuylíp" ngày 9 tháng 11 năm 1951, với 12 tiểu đoàn bộ binh cùng 5 cụm pháo binh và cuộc hành binh "Hoa Sen" - Lôtuýt ngày 14 tháng 11 năm 1951. Lực lượng quân Pháp gồm 16 tiểu đoàn, 8 cụm pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh, 2 đại đội xe tăng cùng với không quân tiến công lớn ra Hòa Bình. Chúng lập phòng tuyến Sông Đà nối liền với tuyến phòng thủ trung tâm nhằm nối lại "Hành lang Đông - Tây" bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4 của Việt Minh. Ở Hòa Bình, thực dân Pháp cho thành lập "Xứ Mường tự trị", thực hiện chính sách "Da vàng hóa chiến tranh", nhằm dùng các lợi ích về kinh tế, chính trị để lôi kéo người dân tộc thiểu số đi lính cho Pháp. Trước âm mưu, hành động của thực dân Pháp, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp, đề nghị Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch mới chiếm đóng. Tiến công địch ở Hòa Bình là hướng chính, các hoạt động tác chiến ở trung du (Bắc Giang, Bắc Ninh), Liên khu 3 và Bình - Trị - Thiên là hướng phối hợp. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình và nhận định: "Đó là một cơ hội hiếm có cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đánh ra Hòa Bình địch phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, núi rừng hiểm trở, địa hình đột xuất, công sự chưa vững chắc. Mặt khác, vì phải tập trung phần lớn quân cơ động ra Hòa Bình nên lực lượng địch ở đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến trung du đều tương đối sơ hở hơn trước"1 (Hồ sơ 514, Phông Bộ Tổng Tham mưu, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Phân tích tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Căn cứ vào nhận định trên, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương mở một cuộc tiến công lớn trên cả 2 mặt trận: Tập trung chủ lực ở hướng chính là Hòa Bình và mạnh bạo đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu ở đồng bằng Bắc Bộ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực, tiến tới phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ. Thực hiện chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy quyết định sử dụng 3 đại đoàn bộ binh: 308, 312, 304 cùng Đại đoàn công pháo 351 và lực lượng vũ trang địa phương thực hiện vây hãm và tiêu diệt quân Pháp ở Mặt trận Hòa Bình. Đại đoàn 320 và Đại đoàn 316 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân phá "bình định" phát triển chiến tranh ở vùng sau lưng địch. Đây là chiến dịch huy động lực lượng chủ lực lớn nhất kể từ khi diễn ra cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Để đảm bảo giành thắng lợi lớn trong một chiến dịch diễn ra dài ngày (78 ngày đêm), công tác chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương, toàn diện, từ quân sự, chính trị đến hậu cần, kỹ thuật. Trong đó, công tác chính trị được chú trọng nhằm phát huy cao nhất sức mạnh chính trị, tinh thần của các lực lượng tham gia chiến dịch, góp phần quyết định thắng lợi của chiến dịch. Sau hoạt động tác chiến Xuân - Hè năm 1951, các đại đoàn chủ lực của ta có thời gian tập trung huấn luyện quân sự và học tập chính trị. Các lớp chỉnh huấn chính trị cho đội ngũ cán bộ trung cấp và sơ cấp của các đại đoàn được tổ chức kịp thời, khẩn trương. Trong đó, chú trọng rút kinh nghiệm, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm về nhận thức tư tưởng, ý chí quyết tâm của bộ đội trong 3 chiến dịch Trần Hưng Đạo (25.12.1950 - 17.1.1951), Hoàng Hoa Thám (23.3 - 7.4.1951), Quang Trung (28.5 - 20.6.1951). Nhờ đó, ý chí quyết tâm, tinh thần chiến đấu của bộ đội được nâng lên với niềm tin vững chắc vào thắng lợi của cuộc kháng chiến và sẵn sàng bước vào chiến đấu trong Đông - Xuân 1951 - 1952. Đặc biệt, trong thời gian Chiến dịch Hòa Bình sắp được tiến hành, việc xây dựng ý chí quyết tâm, tạo lòng tin vào thắng lợi cho các lực lượng tham gia đã được các cấp lãnh đạo, chỉ huy trong Quân đội rất chú trọng nhằm phát huy nhân tố chính trị, tinh thần, đó là nhân tố mà như V.I. Lênin đã khẳng định: "Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường"1 (V.I.Lênin toàn tập, Tập 31, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 165). Với cương vị người chỉ huy cao nhất, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy trường Chiến dịch đã sớm có lòng tin tuyệt đối vào sự thắng lợi: "Tôi lên đường tư tưởng không một chút hoài nghi, phân vân. Chiến dịch này chỉ có thắnglớn hoặc thắng nhỏ, nhưng nhất định thắng. Đáp số đã hiện lên rõ mồn một: Ta sẽ tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ cũng như các vùng địch hậu sẽ được phục hồi"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 334, 347). Để tạo lòng tin và ý chí quyết tâm giành thắng lợi cho các lực lượng tham gia chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ra Huấn lệnh, kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích: "Tìm địch mà đánh, diệt các cứ điểm mới đóng của địch, diệt các đội càn quét của chúng, cắt đứt đường giao thông liên lạc của chúng, biến sông Đà thành sông Lô năm xưa, Đường số 6 thành Đường số 4, tiêu diệt sinh lực địch, phá tan âm mưu chiếm đóng Hòa Bình"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 334, 347). Bản Huấn lệnh của Đại tướng đã tiếp thêm sức mạnh chính trị, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là bộ đội và dân quân du kích trực tiếp tham gia Chiến dịch Hòa Bình trong cuộc chiến đấu chống lại đội quân viễn chinh Pháp mạnh hơn ta nhiều lần về vũ khí trang bị. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười, 2025, 03:30:25 pm Củng cố, giữ vững niềm tin vào thắng lợi, không ngừng tăng cường ý chí quyết chiến, quyết thắng, phát huy cao độ sức mạnh chính trị, tinh thần của các lực lượng tham gia chiến dịch đã được thực hiện trong suốt 3 đợt tiến công địch để góp phần quyết định làm nên thắng lợi to lớn.
Đợt 1 (10 - 26.12.1951), bộ đội ta vận động phục kích tiêu diệt một bộ phận lớn Tiểu đoàn dù số 1 của quân Pháp; tiến công Tu Vũ (huyện Thanh Thủy, Phú Thọ) - một vị trí phòng ngự then chốt của Phân khu Sông Đà do lực lượng lính Âu - Phi của Pháp chiếm đóng; đồng thời, kiên quyết đánh bại lực lượng địch tiếp ứng bằng đường sông bởi các tàu chiến và canô của quân Pháp từ Trung Hà lên. Khi tiến công Tu Vũ, một cứ điểm được cấu trúc kiên cố, do Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Marốc số 2 (1/2 RTM),cùng đại đội thuộc Tiểu đoàn ngụy Mường số 6 và 1 trung đội tăng thiết giáp chốt giữ, xung quanh được phát quang với nhiều lớp rào, bãi mìn rộng tới 24m, bộ đội của các đơn vị thuộc Đại đoàn 308 đã phát huy cao độ ý chí quyết tâm, kiên quyết tiến công tiêu diệt cứ điểm của địch. Đặc biệt, việc phát huy cao độ ý chí chiến đấu kiên cường, quyết tiêu diệt địch, trong trận phục kích ở làng Giang Mỗ (xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình), cách thị xã Hòa Bình khoảng 10km do Tiểu đoàn 352 Trung đoàn 9 thực hiện vào ngày 13 tháng 12 năm 1951 đã xuất hiện tấm gương chiến đấu dũng cảm quyết tâm đánh địch đến cùng. Đó là Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan một mình đuổi xe tăng địch, nhảy lên thành xe, ném lựu đạn vào buồng lái tiêu diệt địch tạo điều kiện cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Đợt 2 (27 - 31.12.1951), bộ đội ta tiếp tục phát triển tiến công, phá đánh tan tuyến phòng thủ Sông Đà, tiêu diệt địch ở các điểm cao 400, 600,... chặn đánh quân viện trên các trục Đường số 87, sông Đà, Mỹ Khê lên Ba Vì. Quá trình chiến đấu, bộ đội ta đã phải đương đầu với quân tinh nhuệ Pháp và lực lượng cơ giới hiện đại của địch, nên cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt. Việc phát huy cao độ ý chí quyết tâm, giữ vững niềm tin vào thắng lợi đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn cho các lực lượng tham gia chiến đấu của ta, đẩy quân đội Pháp ở thị xã Hòa Bình vào thế bị cô lập, khó khăn lúng túng. Đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), bộ đội ta tập trung lực lượng bao vây đánh địch ở thị xã Hòa Bình và trên Đường số 6. Trong đợt tiến công này, khi ta tiến đánh cứ điểm Pheo vào ngày 7 tháng 1 năm 1952 (đây một tiền đồn cách thị xã Hòa Bình 5km về phía Bắc do Tiểu đoàn 2 lính lê dương trấn giữ), lực lượng ta gặp khó khăn và tổn thất nhiều, nhưng các cấp chỉ huy đã kịp thời động viên, khích lệ bộ đội, củng cố quyết tâm và giữ vững niềm tin vào thắng lợi.Nhờ đó, ta đã phát huy được sức mạnh mọi mặt, nhất là sức mạnh về chính trị, tinh thần giúp cho cán bộ, chiến sĩ hăng hái tiếp tục chiến đấu. Cũng trong đợt này, khi Đại đội 41 nhận nhiệm vụ luồn sâu, bí mật đột nhập để tiêu diệt trận địa pháo của địch nằm kẹp giữa xóm Đúng và đồi Dè (thị xã Hòa Bình), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư tay động viên khích lệ cán bộ, chiến sĩ Đại đội 41: "Các đồng chí được nhận nhiệm vụ xung phong vào ngay tung thâm địch, diệt hỏa lực của chúng, giúp các bạn chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ của mình. Đó là một vinh dự lớn. Bí mật và bất ngờ, anh dũng và kiên quyết, nhanh và gọn! Tôi tin các đồng chí sẽ làm tròn nhiệm vụ và trước khi các đồng chí ra trận, tôi gửi đến các đồng chí lời chào Quyết thắng"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr. 363). Với sự động viên chính trị, tinh thần kịp thời của người chỉ huy cao nhất đã củng cố, nâng cao quyết tâm và phát huy tinh thần chiến đấu của các lực lượng tham gia chiến dịch. Nhờ đó, lực lượng của ta đã kiên cường chiến đấu, tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực tinh nhuệ và phương tiện chiến tranh của địch. Đẩy địch rơi vào tình thế đường sông bị cắt đứt, Đường số 6 bị uy hiếp, thị xã Hòa Bình liên tục bị tập kích. Quân Pháp đứng trước nguy cơ cô lập và bị tiêu diệt, cho nên từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 2 năm 1952, chúng buộc phải rút chạy khỏi Hòa Bình. Ngày 25 tháng 2 năm 1951, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Đánh giá về thất bại của quân Pháp ở Chiến dịch Hòa Bình, sau này trong cuốn sách "Đông Dương hấp hối", tướng Hăngri Nava - Tông Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương viết: Chúng ta đã bị thiệt hại nặng nề về chiến lược, không thu được một kết quả quyết định nào. Chiến dịch Hòa Bình đã giam chân các binh đoàn chủ lực cơ động tinh nhuệ của ta ở xa đồng bằng trong một thời gian dài. Do đó, đã tạo lợi thế cho đối phương đưa các binh đoàn chủ lực lọt vào đồng bằng hoạt động. Đối phương đã giành được thắng lợi quan trọng1 (Hăngri Nava, Đông Dương hấp hối, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.45). Với thắng lợi được lập nên sau nhiều ngày đêm chiến đấu của quân và dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình, ngay trong ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen ngợi Bộ Chỉ huy Chiến dịch và các chiến sĩ Mặt trận Hòa Bình, dân công phục vụ và đồng bào địa phương. Trong thư Người viết: "So với những thắng lợi trước, thắng lợi lần này là khá to. Thắng lợi lần này đã đánh dấu một bước tiến bộ mới của bộ đội ta, và đã làm cho địch phải thất bại nhục nhã trong âm mưu củng cố phòng ngự chuyển lên tiến công, nhưng bộ đội phải luôn luôn cố gắng thi đua giết giặc lập công và ra sức học tập chỉnh huấn, đồng bào phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất hơn nữa để tranh lấy thắng lợi to hơn nữa"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 331-332). Với sự ghi nhận, động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với các lực lượng đã lập được chiến công ở Chiến dịch Hòa Bình càng làm tăng thêm sức mạnh về chính trị, tinh thần để quân và dân ta hăng hái lập thêm những chiến công mới trong Đông - Xuân 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ, gian khổ. Chiến dịch Hòa Bình giành thắng lợi được tạo nên bởi nhiều nhân tố, trong đó nhân tố phát huy sức mạnh chính trị, tinh thần của các lực lượng tham gia chiến dịch có ý nghĩa quan trọng hàng đầu góp phần quyết định làm nên thắng lợi to lớn đó. Chiến dịch Hòa Bình Đông - Xuân 1951 - 1952 chính là kết tinh thành quả bởi những nỗ lực phi thường của quân và dân ta trong những năm chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược,dưới sự lãnh đạo hết sức tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. 70 năm đã trôi qua, nhưng thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình vẫn làm sáng ngời bài học về phát huy cao độ sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân lộc - nhân tố đã, đang và sẽ tiếp tục quyết định tạo nên những thắng lợi to lớn của dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười, 2025, 03:34:36 pm CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG THẾ TRẬN PHÒNG THỦ TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 3 HIỆN NAY Trung tướng NGUYỄN QUANG CƯỜNG Chính ủy Quân khu 3 Chiến thắng Hòa Bình là chiến công vang dội của quân và dân ta trên cả mặt trận chính tỉnh Hòa Bình và mặt trận phối hợp là vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ, đã đập tan âm mưu lập phòng tuyến sông Đà nổi liền với tuyến phòng thủ trung tâm nhằm mở thông "hành lang Đông - Tây", thực hiện khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4 của thực dân Pháp, làm cho "những hy vọng về chiến thắng vừa nhen nhóm trở lại trong chính giới Pháp đã tàn lụi"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 294). Với lực lượng vũ trang Quân khu 3, chiến thắng này để lại nhiều kinh nghiệm quý trong vận dụng xây dựng thế trận khu vực phòng thủ trên địa bàn hiện nay. Giữa tháng 11 năm 1951, quân Pháp huy động 20 tiểu đoàn gồm phần lớn lực lượng cơ động chiến lược đánh chiếm tỉnh Hòa Bình. Đánh giá tình hình và âm mưu địch, Tổng Quân ủy nhận định: Đánh Hòa Bình, địch đã phân tán lực lượng cơ động ra một địa hình rừng núi hiểm trở, binh lực ở đồng bằng Bắc Bộ bị dàn mỏng và tương đối sơ hở; đây là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch vì "phần lớn lực lượng cơ động đã tập trung vào Mặt trận Hòa Bình, cho nên lực lượng của địch ở vùng địch hậu đồng bằng bị dàn mòng", "các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến trung du đều tương đối sơ hở hơn trước"1 (Ban Nghiên cứu Lịch sử Quân đội, Tổng cục Chính trị, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1977, tr. 447). Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, sử dụng các đại đoàn 304, 308 312 vây hãm và tiêu diệt địch ở Mặt trận Hòa Bình; các đại đoàn 316, 320 phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đánh phá bình định, phát triển chiến tranh du kích vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch" nêu rõ: Ở mặt trận Hòa Bình, đồng thời với việc đánh địch, phải động viên lực lượng toàn dân phá kế hoạch chiếm đóng của chúng, phá kế hoạch tổ chức ngụy quân, đặt cơ sở ngụy quyền. Ở đồng bằng Bắc Bộ, cần hoạt động mạnh, liên tiếp tiêu diệt địch, khôi phục, củng cố, mở rộng căn cứ du kích, tiến hành công tác vận động ngụy binh. Tại Mặt trận Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch hạ quyết tâm và giao nhiệm vụ cho các đơn vị: Các đại đoàn 308, 312 tiến công trên hướng chủ yếu, phá vỡ tuyến phòng ngự Sông Đà của địch; Đại đoàn 308 (thiếu Trang đoàn 102) ở tả ngạn sông Đà, tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh quân tiếp viện trên sông Đà từ Tu Vũ đến thị xã Hòa Bình; Đại đoàn 312 ở hữu ngạn, diệt cứ điểm Chẹ, đánh quân tiếp viện trên đường từ Sơn Tây đi Đá Chông và từ Đá Chông đến Chẹ; Đại đoàn 304 ở hướng thứ yếu của chiến dịch, kiềm chế địch ở thị xã Hoà Bình và đánh địch trên Đường số 6; Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) làm lực lượng dự bị dừng chân ở Cổ Tiết (phía Nam thị xã Phú Thọ) cùng lực lượng vũ trang địa phương sẵn sàng đánh địch càn quét. Cách đánh chiến dịch được xác định là "đánh điểm, diệt viện", kết hợp đánh địch trong công sự với đánh địch vận động, càn quét hoặc tăng viện, ứng cứu bằng đườngbộ, đường sông, đường không, sẵn sàng đánh địch rút chạy. Chiến dịch diễn ra trên địa bàn từ Xuân Mai đến thị xã Hòa Bình và từ thịxã Hòa Bình đến Trung Hà (là vùng rừng núi sát với đồng bằng). Thực tiễn chiến đấu, Chiến dịch Hòa Bình diễn ra thành 3 đợt, trong đó, đợt 1 (10 - 26.12.1951), ta tập trung đột phá tuyến sông Đà. Ngày 9 tháng 12, khi phát hiện chủ lực ta vượt sông Đà sang hữu ngạn, địch điều Binh đoàn cơ động số 4 (GM4) càn quét vùng Ba Vì, Yên Lê, Làng Chúc, Đường số 87. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch lệnh cho Đại đoàn 312 hoãn đánh cứ điểm Chẹ, chuyển sang đánh địch đi càn; Đại đoàn 308 tiến công cứ điểm Tu Vũ. Sáng ngày 10 tháng 12, Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) vận động đến Ninh Mít chặn đánh địch càn vào Làng Chúc, cùng lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục đánh địch ở Gốc Bộp, Điểm cao 306, diệt 4 đại đội bộ binh và 1 trung đội cơ giới, buộc địch phải kết thúc cuộc càn, rút chạy về Trung Hà. Đêm mùng 10 tháng 12, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) được tăng cường 1 tiểu đoàn, 8 khẩu sơn pháo 75mm, 1 đại đội trọng liên 12,7mm tiến công và nhanh chóng làm chủ cứ điểm Tu Vũ, một vị trí quan trọng trên tuyén phòng ngự Sông Đà. Trận đánh đã làm rung chuyển tuyến phòng ngự Sông Đà của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi. Mất Tu Vũ, quân Pháp cố mở thông tuyến Sông Đà. Trong ngày 11 tháng 12, địch cho 2 đoàn canô từ Trung Hà lên và từ thị xã Hòa Bình xuống nhưng đều bị ta chặn đánh. Trên hướng thứ yếu, đầu tháng 12 tháng 1951, Đại đoàn 304 tới phía Nam Đường số 6; ngày 12 tháng 12, Trung đoàn 66 phục kích trên đoạn đường từ Cầu Dụ đến Hang Đá, Tiểu đoàn 322 (Trung đoàn 9) cùng 1 trung đội địa phương tỉnh Hoà Bình phục kích ở Giang Mỗ, diệt 1 đại đội Âu - Phi. Ngày 15 tháng 12, địch cho 2 đại đội vào xóm Bãi Bể (Cao Phong) càn quét, bị bộ đội địa phương tỉnh Hòa Bình chặn đánh, tiêu diệt và bắt trên 100 quân địch. Ở mặt trận vùng địch hậu, các đại đoàn 316, 320 đã cùng các lực lượng vũ trang địa phương tiến công rộng khắp, giành thắng lợi lớn, nhất là ở Lương Tài, Thuận Thành (Bắc Ninh), Phát Diệm (Ninh Bình), Ngô Khê (Hà Nam)... Địch phải rút quân cơ động từ Hoà Bình về đối phó. Khi bị ta uy hiếp mạnh ở Hòa Bình, địch phải bỏ dở cuộc càn ở địch hậu để điều quân về ứng cứu. Ngày 26 tháng 12, đợt 1 chiến dịch kết thúc. Hoạt động tác chiến của quân và dân vùng địch hậu Liên khu 3 đã khiến quân địch đối phó bị động, lúng túng giữa hai mặt trận. Đợt 2 của chiến dịch (27 - 31.12.1951) là giai đoạn ta phát triển tiến công nhằm phá vỡ phòng tuyến Sông Đà. Đêm 29 tháng 12, Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) bí mật tập kích các điểm cao 400, 600 (Ba Vì). Trên hướng Đường số 6, các trung đoàn 57,9 (Đại đoàn 304) tiến công cứ điểm Đồi Mồi, Hàm Voi. Trong thời gian này, ở mặt trận vùng địch hậu Liên khu 3, ta tiếp tục hoạt động mạnh, tiêu diệt, bức rút nhiều đồn bốt, chặn đánh nhiều cuộc càn lớn của địch, giữ vững và mở rộng các khu du kích. Địch phải điều thêm 2 binh đoàn cơ động từ đồng bằng lên tăng viện nhưng không khai thông được tuyến Sông Đà, Đường số 6 vẫn bị uy hiếp, thị xã Hoà Bình vẫn bị cô lập. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định chuyển hướng tiến công chủ yếu xuống Đường số 6, đồng thời tiếp tục khống chế tuyến vận chuyển của địch trên sông Đà, vây chặt địch trong thị xã Hòa Bình và sẵn sàng đánh địch rút chạy. Bước vào đợt 3 của Chiến dịch, đêm 7 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 102 tiến công cứ điểm Pheo (Bắc thị xã Hòa Bình), một vị trí quan trọng trên tuyến Đường số 6, Trung đoàn 66 tiến công vị trí Đầm Huống nhưng đều không thành công. Cùng ngày, Trung đoàn 36 bí mật đột nhập thị xã Hòa Bình tiêu diệt 4 vị trí và 1 trận địa pháo địch. Bị đánh mạnh tại Đường số 6 và thị xã Hòa Bình, ngày 8 tháng 1, địch rút toàn bộ lực lượng ở tuyến Sông Đà về giải vây cho thị xã và mở thông Đường số 6. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương tiếp tục chia cắt Đường số 6, bao vây thị xã Hòa Bình, tổ chức nhiều trận đánh nhỏ tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận địch, tác chiến kết hợp với phá hoại, chuẩn bị sẵn sàng đánh địch rút lui. Từ ngày 9 tháng 1, ta hoạt động mạnh và rộng khắp trên tuyến Đường số 6, tổ chức nhiều trận phục kích nhỏ và phá cầu, đường từ Phương Lâm đến Đồng Bến. Ngày 21 tháng 1, địch điều 11 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh rải ra đóng thêm nhiều vị trí từ Ao Trạch đến Hàm Voi. Ta tiếp tục bám địch, trong vòng 30 ngày đánh trên 10 trận vừa và nhỏ. Ngày 27 tháng 1, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định địch sẽ rút khỏi Hòa Bình và chỉ đạo cơ quan tham mưu lập kế hoạch đánh địch rút chạy. Bị bao vây cô lập ở mặt trận chính, đồng thời bị đánh mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ, từ ngày 23 tháng 2, quân Pháp rút khỏi Hòa Bình, ta tổ chức tiêu diệt một bộ phận quân địch, còn phần lớn chạy thoát về Xuân Mai. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc. Sau hơn 2 tháng chiến đấu, ở Mặt trận Hòa Bình ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 quân địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy hàng trăm xe vận tải, thu 24 khẩu pháo1 (Trung tâm Từ điền bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 176); giải phóng khu vực Hoà Bình - Sông Đà, giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4; đập tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp. Ở mặt trận địch hậu, ta loại khỏi vòng chiến đấu hàng vạn quân địch, thu 6.000 súng, mở rộng nhiều khu du kích và căn cứ du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, phối hợp và hỗ trợ cho mặt trận chính Hoà Bình giành thắng lợi. Sự chỉ đạophối hợp có hiệu quả giữa hai mặt trận là yếu tố quyết định trực tiếp thắng lợi của chiến dịch. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đà góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường chính Bắc Bộ có lơi cho ta và đưa nghệ thuật chiến dịch Việt Nam phát triển lên một bước mới. Đây không chỉ là "thắng lợi quân sự, mà còn là thắng lợi chính trị có tiếng vang trên thế giới"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập luận văn, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.263). Tướng Nava phải thừa nhận: "Chúng ta đã thiệt hại nặng nề về chiến lược, không thu được kết quả quyết định nào"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 40). Chiến thắng Hòa Bình đã khẳng định sự chủ động, nhạy bén, sáng tạo của Đảng ta; khẳng định sức mạnh của chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh; sự đoàn kết, kiên cường chiến đấu của quân dân, điển hình là mặt trận phối hợp Liên khu 3. Chiến dịch Hòa Bình cũng để lại nhiều kinh nghiệm quý về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, về công tác vận động quần chúng nhân dân, công tác binh địch vận, về phối hợp chiến đấu giữa các mặt trận, về vấn đề xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận khu vực phòng thủ trong tình hình mới... Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười, 2025, 03:36:12 pm Từ nghiên cứu diễn biến và kết quả của Chiến dịch Hòa Bình, có thể rút ra một số vấn đề vận dụng trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng thế trận khu vực phòng thủ trên địa bàn Quân khu 3 như sau:
Một là, chú trọng xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, cốt lõi là "thế trận lòng dân" làm cơ sở xây dựng thế trận khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu Thực tiễn trong Chiến dịch Hòa Bình, các đơn vị lực lượng vũ trang chiến đấu ở cả mặt trận chính và mặt trận phối hợp đã làm tốt công tác vận động nhân dân và công tác binh địch vận. Do đó, khơi dậy được lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc trong nhân dân. Đồng bào đã không tiếc vật chất, máu xương để ủng hộ kháng chiến. Ở tỉnh Hòa Bình, trong tháng 12 năm 1951, nhân dân đã tham gia 20 vạn ngày công làm nhiệm vụ vận chuyển, tải thương... phục vụ chiến đấu. Ở vùng địch hậu Liên khu 3, các địa phương đã ủng hộ lượng vật chất to lớn, đồng thời trực tiếp che chở, đùm bọc, dẫn đường, dùng phương tiện của gia đình để vận chuyển bộ đội, vũ khí, giúp bộ đội vượt qua nhiều đồn bốt, các vùng vành đai trắng mà quân địch không hay biết. Từ những thành công này, trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tập trang xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, phát huy vai trò của các đoàn thể trong tuyên truyền, vận động, tập hợp nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Tăng cường công tác giáo dục quốc phòng cho toàn dân. Thực hiện tốt công tác dân vận, công tác chính sách hậu phương Quân đội, giúp nhân dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, khắc phục thiên tai, phòng, chống dịch bệnh... tạo sự đồng thuận, nhất trí cao giữa cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương trong xây dựng khu vực phòng thủ. Hai là, làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng bản lĩnh chính trị và ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cho bộ đội Trong Chiến dịch Hòa Bình, các đơn vị tham gia chiến đấu ở mặt trận chính và mặt trận phối hợp Liên khu 3 đã làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ, giúp bộ đội nhận rõ cơ hội thuận lợi và nhiệm vụ quan trọng của cuộc chiến đấu; quán triệt thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ trương đánh địch trên cả mặt trận chính và địch hậu với phương châm tiêu diệt sinh lực địch, chiến đấu liên tục, dẻo dai, bền bỉ. Qua đó, khơi dậy tinh thần đoàn kết, quyết đánh, quyết thắng cho bộ đội và dân quân du kích. Trong chiến đấu, đã xuất hiện những tấm gương tiêu biểu như anh hùng liệt sĩ Cù Chính Lan ở mặt trận chính Hòa Bình, anh hùng liệt sĩ Trương Công Man, anh hùng Nguyễn Phú Vỵ... ở mặt trận đồng bằng. Trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong lực lượng vũ trang Quân khu Cần lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giúp cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vỉ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới. Tiếp tục làm tốt chức năng của "đội quân công tác" để xây dựng, rèn luyện phẩm chất "trung với nước, hiếu với dân", xây dựng tình cảm gắn bó máu thịt với nhân dân của bộ đội. Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh làm nòng cốt trong xây dựng khu vực phòng thủ và thế trận khu vực phòng thủ Phối hợp với Mặt trận Hòa Bình, Liên khu 3 cũng có các đơn vị chủ lực tinh nhuệ, giàu kinh nghiệm chiến đấu (các trung đoàn 42, 46); các đơn vị bộ đội địa phương đến cấp tiểu đoàn và lực lượng dân quân du kích đông đảo, làm nòng cốt cho cuộc chiến đấu ở địa phương. Các đơn vị chủ lực của Bộ, của Liên khu 3, địa phương và dân quân du kích đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ chiến đấu và vận động quần chúng nhân dân, liên tục bao vây, uy hiếp, tiêu diệt sinh lực địch. Ở mặt trận vùng địch hậu, bộ đội và nhân dân còn kết hợp phá tề, tổ chức binh địch vận, mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích. Trong giai đoạn hiện nay, cần tập trung xây dựng lực lượng thường trực theo hướng "tinh, gọn, mạnh". Chú trọng nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, bảođảm cho bộ đội làm chủ, sử dụng thành thạo vũ khí, trang bị trong biên chế, giỏi về kỹ thuật, chiến thuật, có khả năng cơ động hiệp đồng tác chiến với các lực lượng đứng chân trên địa bàn trong khu vực phòng thủ. Đối với lực lượng dự bị động viên, cần coi trọng từ khâu tạo nguồn, đăng ký, quản lý, huấn luyện cho đến việc bảo đảm chế độ chính sách; tổ chức, sắp xếp bảo đảm 100% quân số cho các đơn vị động viên. Tăng cường quản lý các phương tiện, vật tư, kỹ thuật của nền kinh tế trong khu vực phòng thủ, sẵn sàng động viên khi có tình huống. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ theo hướng "vững mạnh, rộng khắp", triển khai thực hiện hiệu quả Đề án "Xây dựng hải đội dân quân thường trực tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo trong tình hình mới". Bốn là, gắn xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh Trong Chiến dịch Hòa Bình, ta đã xây dựng được thế trận chiến dịch trên nền tảng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp; đã tổ chức và kết hợp hiệu quả giữa mặt trận chính và mặt trận phối hợp - nơi có sức người, sức của dồi dào, tạo nên hiệu quả chiến lược lớn, "vô hiệu hóa một đòn tiến công chiến lược của địch, đồng thời làm cho chúng rối tung không biết tìm cách nào đối phó"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Sđd, tr.295). Bộ Tổng Tư lệnh còn đưa 2 đại đoàn chủ lực về vùng địch hậu đồng bằng phối hợp đánh địch trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch. Ta đã kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu của bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương, dân quân du kích, phát động toàn dân tham gia đánh giặc, phá tề, trừ gian, bảo vệ bí mật, mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích. Đồng thời, ta cũng xây dựng được các cơ sở chính trị tin cậy, sẵn sàng hỗ trợ, che chở, thậm chí hy sinh đổ bảo vệ bộ đội. Trên địa bàn Liên khu 3, trước các trậnđánh, ta đã quán triệt cho bộ đội chủ trương, chính sách của Đảng, các nội dung tuyên truyền kháng chiến, nhất là ở các vùng công giáo, tạo dựng niềm tin trong đồng bào. Cán bộ được đưa về các địa bàn bám đất, nắm dân, chuẩn bị tổ chức quần chúng nổi dậy và phối hợp cùng bộ đội đánh địch. Trong giai đoạn hiện nay, cần kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng, hoạt động của khu vực phòng thủ tinh, thành phố với phòng thủ Quân khu, tạo thế bố trí phòng thủ liên hoàn, vững chắc. Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập bảo đảm khu vực phòng thủ của các sở, ngành, diễn tập phòng, chống lụt bão - tìm kiếm cứu nạn... gắn với xây dựng các kế hoạch, phương án về phòng thủ dân sự. Tập trung xây dựng lực lượng dân quân tự vệ cơ động, dân quân tự vệ binh chủng chiến đấu, dân quân thường trực, dân quân tự vệ biển ở các địa bàn trọng điểm. Thực hiện bố trí quốc phòng gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án phát triển kinh tế, xã hội bảo đảm tính lưỡng dụng, sẵn sàng phục vụ quốc phòng, an ninh. Làm tốt việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ. Chiến thắng Hòa Bình là thành công xuất sắc của Đảng ta trong chỉ đạo chiến dịch, đánh dấu bước phát triển mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật về khả năng chiến đấu liên tục, dài ngày trên hai mặt trận rộng lớn, phức tạp, đồng thời tạo ra cơ hội cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển lực lượng kháng chiến, mở rộng căn cứ cách mạng, từ đó làm thay đổi cục diện chiến trường ngày càng có lợi cho ta. Chiến thắng Hòa Bình cũng là cuộc tập dượt lớn cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng thời để lại cho lực lượng vũ trang Quân khu 3 những kinh nghiệm quý về xây dựng thế trận phòng thủ trên địa bàn, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Hai, 2026, 07:43:10 am BẢO ĐẢM VŨ KHÍ CHO CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO Thượng tá, ThS NGÔ NHẬT DƯƠNG Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của Bộ đội Việt Nam phối hợp với lực lượng cách mạng Lào diễn ra từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971 ở vùng biên giới Việt - Lào trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào) lấy Đường 9 làm trục. Để phục vụ chiến dịch thắng lợi, hậu cần chiến dịch phải tổ chức bảo đảm một khối lượng rất lớn vũ khí, đạn dược cho các lực lượng tham gia chiến dịch của nhiều binh chủng gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 4 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không, một số tiểu đoàn đặc công và lực lượng tại chỗ của Quân khu Trị - Thiên (B4), Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (135), Đoàn 559. Nhu cầu vũ khí, đạn dược chiến dịch lên đến 23.312 súng bộ binh, 770 cối, pháo, ĐKZ, 670 súng pháo cao xạ, 3.978 tấn đạn (340 tấn đạn bộ binh, 3.163 đạn cối, pháo, 475 tấn đạn cao xạ) và 59 tấn thuốc nổ, hỏa cụ. Lượng dự trữ đạn là 1 cơ số đạn bộ binh, 2 cơ số đạn cối, tăng; 3 cơ số đạn ĐKZ, 4 cơ số đạn pháo xe kéo, 2 cơ số đạn cao xạ 12,7mm, 14,5mm, 6 cơ số đạn cao xạ 37mm và 4 cơ số đạn cao xạ 57mm. Tổng cục Hậu cần trực tiếp bảo đảm vũ khí, đạn dược cho chiến dịch. Đại tá Lương Nhân - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Phó Tư lệnh hậu cần chiến dịch. Cục Quân khí cử Cục phó Lê Đình Tạo vào tham gia chỉ đạo công tác quân khí chiến dịch. Trước nhiệm vụ nặng nề khó khăn và yêu cầu khẩn trương của công tác bảo đảm Tổng cục sử dụng các lực lượng tiền phương Đoàn 559 hậu cần tiền phương B4, hậu cần B5 bảo đảm tất cả nhu cầu về vũ khí, đạn dược cho chiến dịch. Công tác chuẩn bị vũ khí, đạn dược cho chiến dịch bắt đầu được triển khai từ tháng 12 năm 1970. Dựa vào biên chế trang bị của các đơn vị tham gia chiến đấu và những kinh nghiệm về tiêu thụ, tổn thất vũ khí, đạn dược trên chiến trường Đường 9, Cục Quân khí tiến hành lập kế hoạch bảo đảm và cử người tham gia đoàn cán bộ hậu cần chiến dịch đi trinh sát khu vực mặt trận, xác định vị trí đặt kho, trạm chuẩn bị cho các đơn vị bước vào chiến đấu. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh chiến dịch điều một cán bộ từ Phòng Quân khí Bộ Tư lệnh B70 về giúp việc cho Phó Tư lệnh Lương Nhân để theo dõi kế hoạch, nắm tình hình tiêu thụ, tổn thất của các đơn vị, đề xuất yêu cầu bảo đảm vũ khí, đạn dược của chiến dịch với đại diện Cục Quân khí ở cơ quan tiền phương và Bộ Tư lệnh 559. Để trực tiếp phục vụ cho chiến dịch, theo chỉ lệnh hậu cần, việc tổ chức triển khai kho quân khí trên cả 4 hướng chiến dịch. Hướng bắc (B70) là hướng chủ yếu sử dụng các kho: Mường Trương - trữ lượng từ 50 đến 100 tấn, Cha Ky - trữ lượng 100 đến 150 tấn, một kho ở khu vực hậu cứ. Sư đoàn 308 bố trí một cụm kho ở khu vực Alia (kho H1 ở Phao Cút, kho H2 ở Làng Sen, một kho chuyển tiếp) với trữ lượng khoảng 160 tấn. Khu vực Thạch Bàn có một kho để tiếp nhận vũ khí trả về và cấp phát lẻ cho các đơn vị đi qua kho vào chiến trường. Trung đoàn 102 bố trí một kho ở Làng Ho, một kho chuyển tiếp tại dốc Tà Rít; Trung đoàn 84 bố trí một kho ở cao điểm 988; Trung đoàn 36 bố trí một kho ở Km 102 đường 16 và một trạm chuyển tiếp ở Km 107. Cấp tiểu đoàn chỉ có Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 102) khi đánh vào cao điểm 500 có đặt kho, còn các tiểu đoàn khác không đặt kho mà chỉ tìm chỗ an toàn bố trí kho tạm thời để cấp phát đạn và nhận vũ khí trả về. Hướng tây (hướng Sư đoàn 2): phía bắc sông Sê Pôn bố trí một kho thuộc cụm kho hậu cần. Sư đoàn gần kho Bộ Tư lệnh 559, phía nam bố trí một cụm kho tại khu vực đường 128, một cụm kho ở nam cao điểm 425. Hướng nam (Sư đoàn 324) có các cụm kho phía trước, bố trí từ Làng Con đến tây bắc cao điểm 546 và đông nam Làng Sen; các cụm kho phía sau, bố trí ở đông nam cao điểm 748, đông nam Phu Cốc Tôn của Binh trạm 33. Hướng đông có các cụm kho nằm trong hệ thống kho tàng của B5 đã bố trí sẵn trên các tuyến của binh trạm vận tải. Ngoài ra, phía sau có các kho của binh trạm vận tải, kho tuyến của Cục Quân khí. Kho đặt dưới quyền chỉ huy của Chủ nhiệm căn cứ hậu cần quân khí chiến dịch chỉ đạo công tác chuyên môn. Khi triển khai các kho tại các địa điểm đã xác định vì biên chế quân số quá ít, không xây dựng được hầm hố bảo vệ nên phải bố trí rải rác dọc hai ven đường, địa hình trống trải. Trên thực tế, khi bị phi pháo địch bắn phá, có kho bị tổn thất (kho Mường Khương mất 39 tấn). Một số kho tận dụng điều kiện địa hình tự nhiên như hầm (kho Alia) hố bom (kho Trung đoàn 88) sẵn có đổ cất chứa đạn nên giảm nhiều tổn thất. Đạn dược trong kho ở các căn cứ được kiểm tra, phân loại, sắp xếp đồng bộ nên quá trình cấp phát cho đơn vị ít bị nhầm lẫn. Đối với một số loại đạn có khả năng chất lượng không bảo đảm được, cán bộ, nhân viên kho kiểm định kỹ lưỡng trước khi cấp cho đơn vị. Đạn pháo ĐKB, pháo Đ74 gồm nhiều lô loại rất phức tạp, được mọi người chú ý phân biệt sắp xếp để khi bắn bảo đảm chính xác. Các kho tích cực làm đủ hòm hộp phục vụ vận chuyển đạn về tới kho sư đoàn, trung đoàn. Trong điều kiện các đơn vị cơ động nhanh, ngày nổ súng đến rất gần nên hậu cần chiến dịch đặc biệt quan tâm tới công tác dự trữ đạn dược cho tất cả các đơn vị tham chiến. Cục Quân khí cùng với Cục Vận tải xây dựng kế hoạch cụ thể bảo đảm đủ số lượng đạn dược dự trữ và kế hoạch do cấp trên phê duyệt. Khắc phục mọi khó khăn, binh trạm vận tải ở các hướng đã tổ chức vận chuyển cho chiến dịch 3.152 tấn đạn, 47,730 tấn thuốc nổ, hỏa cụ cho yêu cầu chiến đấu ban đầu cũng như trong quá trình diễn biến của chiến dịch (xem bảng). Binh trạm 27 (hướng B70) dự trữ được 260 tấn, Binh trạm 33 dự trữ 49 tấn, Binh trạm 9 dự trữ 237 tấn (hướng tây), Binh trạm 41 dự trữ 49 tấn (hướng nam), cụm kho của B5 dự trữ được 550 tấn vũ khí cho hướng đông. Sư đoàn được bảo đảm đủ cơ số đạn dược dự trữ thường xuyên theo từng người và khẩu đội, các trung đoàn dự trữ các loại đạn hoả lực cối 60mm, côi 82mm, B40, B41, DKZ75, 12,7mm, trữ lượng từ 2 đến 3 tấn. Chính vì vậy khi Sư đoàn 308 vào chiến trường, sau 2 ngày chuẩn bị đã đủ đạn chiến đấu được ngay. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Hai, 2026, 07:52:59 am (https://iili.io/qKDJ0LN.jpg) Nguồn tài liệu: Công tác hậu cần Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Tổng cục Hậu cần xuất bản, 1987, tr.121. Theo yêu cầu của hậu cần chiến dịch, phải tổ chức bộ máy quân khí hoàn chỉnh, mạnh, bảo đảm phục vụ trên các hướng chiến dịch. Một lực lượng với hàng trăm cán bộ, nhân viên và thợ sửa chữa quân khí có phẩm chất chính trị, trình độ nghiệp vụ kỹ thuật tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ đã nhanh chóng được bố trí ở các bộ phận. Nhiều người nhận nhiệm vụ ngoài khả năng chuyên môn, nhưng đều ra sức hoàn thành trách nhiệm. Cục Quân khí tăng cường lực lượng thợ sửa chữa pháo của Nhà máy Z133, Xưởng T667 cho chiến dịch. Do yêu cầu thực tế chiến trường, hướng B70 là hướng chủ yếu của chiến dịch, nên được tổ chức thành Phòng Quân giới với số cán bộ, nhân viên lên đến 20 người. Giữa chiến dịch, Cục Quân khí tăng cường thêm 4 cán bộ. Phòng Quân giới đã họp với quân giới đơn vị trực thuộc phổ biến chỉ lệnh hậu cần, phân công, phân cấp bảo đảm, quan hệ hiệp đồng. Phòng tăng cường 3 cán bộ trực tiếp xuống phụ trách các kho quân khí và cử cán bộ, nhân viên bảo quản vào Mường Khương, Cha Ky, Alia nghiên cứu, chuẩn bị bố trí kho tàng, bảo quản vũ khí, đạn dược. Ban Quân giới Sư đoàn 308 cũng tăng cường 1 trợ lý và 3 thợ sửa chữa xuấng các kho, kiểm tra tình hình, sửa chữa vũ khí. Trong phần lớn thời gian chuẩn bị, vũ khí, đạn dược vận chuyển đến vị trí tập kết trên địa hình phức tạp, lại bị địch thường xuyên đánh phá gây tổn thất, hư hỏng lớn. Vì vậy, công tác bảo đảm kỹ thuật hết sức nặng nề, phức tạp. Trước tình hình trên, thực hiện chủ trương của hậu cần chiến dịch, các đơn vị tham gia chiến đấu tiến hành kiểm tra khôi phục tình trạng kỹ thuật vũ khí, bổ sung vũ khí, đạn dược tổn thất trong hành quân và tiến hành sửa chữa dự phòng trước khi vào tác chiến, phát hiện kịp thời những hiện tượng bảo quản kém, sử dụng vũ khí không hợp lý để khắc phục. Để thực hiện điều này, chiến dịch bố trí 26 trạm sửa chữa vũ khí ở đơn vị để sửa chữa vũ khí hư hỏng nhẹ. Các trạm được biên chế đủ bộ đồ sửa chữa nhỏ, nhiều trạm được biên chế xe công trình nên bảo đảm cơ động sửa chữa nhanh các hỏng hóc vũ khí với phương thức là dồn lắp, thay thế bộ phận, thực hiện hỏng đâu sửa đấy. Tổng cục Hậu cần tăng cường cho chiến dịch đội sửa chữa pháo cơ động với quân số 32 người. Trạm sửa chữa pháo do kỹ sư Nguyễn Hồng Vân phụ trách đã sửa chữa phục hồi 3 khẩu cao xạ 37mm, 5 khẩu 85mm và 44 khẩu Đ74. Trong quá trình chiến dịch, mặc dù lực lượng có hạn nhưng các trạm tích cực đón nhận sửa chữa vũ khí và thường xuyên tổ chức các tổ, đội sửa chữa cơ động xuống giúp đơn vị sửa chữa tại chỗ. Kết quả trong chiến dịch sửa chữa được: 30% súng pháo cao xạ; 10% cối, pháo, ĐKZ; 2% súng bộ binh so với tổng số vũ khí bị hư hỏng. Đây là chiến dịch đầu tiên quân đội ta sử dụng một khối lượng đạn rất lớn lên đến 1.833,86 tấn, chiếm 33% tổng khối lượng vật chất kỹ thuật sử dụng trong 2 tháng chiến đấu; riêng hướng chủ yếu sử dụng đến 1.073 tấn, trong đó, đạn bộ binh tiêu thụ 108 tấn (5,9%), đạn cối, ĐKZ, pháo 1.666 tấn (90,8%), đạn cao xạ 50 tấn (2,6%), thuốc nổ hỏa cụ 8,7 tấn (0,4%). Đặc biệt, đạn hoả lực được sử dụng dồn dập và dày dặc trong các đợt pháo kích độc lập hoặc chi viện cho bộ binh. Riêng đạn pháo Đ74, loại hoả lực chủ yếu nhất của pháo binh trong chiến dịch này sử dụng trong 13 ngày hết 17.492 quả (chưa kể 1.617 quả bị tổn thất), bình quân một khẩu bắn 600 quả (7,5 cơ số), khẩu bắn nhiều nhất lên đến 800 quả (10 cơ số). Tuy còn một số hạn chế thiếu sót nhất định về mặt bảo đảm trong quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, quân khí chiến dịch đã khẩn trương sắp xếp bộ máy quân khí các cấp, nhanh chóng triển khai hệ thống kho, trạm bảo dưỡng sứa chữa vũ khí và cung cấp một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, phục vụ kịp thời, đầy đủ cho các đơn vị chiến đấu. Sau chiến dịch, số chiến lợi phẩm ta thu được gồm 57 khẩu pháo và cối hạng nặng, 24 khẩu cối 60 và 81mm, 7 khẩu ĐKZ, hơn 2.000 súng bộ binh... bổ sung kịp thời nguồn vũ khí cho đơn vị. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Hai, 2026, 07:55:48 am Việc hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm vũ khí, đạn dược cho Chiến dịch Đương 9 - Nam Lào đã đóng góp phần rất quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu cho các lực lượng vũ trang trong suốt thời gian chiến dịch. Chiến dịch giành thắng lợi còn để lại nhiều bài học, kinh nghiệm quý về công tác bảo đảm kỹ thuật trong chiến đấu:
Một là: phải kịp thời hình thành hệ thống tổ chức bảo đảm quân khí chiến dịch, có phân công hợp lý, tổ chức quan hệ hiệp đồng chặt chẽ với các cấp bảo đảm. Trên cơ sở chỉ lệnh hậu phương, cơ quan quân khí chiến dịch cần nghiên cứu dự kiến về tổ chức biên chế cán bộ, nhân viên kỹ thuật cho cơ quan và cơ sở, báo cáo với Chủ nhiệm hậu cần chiến dịch. Cơ quan hậu cần, quân khí từ chiến dịch đến trung đoàn nên bố trí một phó chủ nhiệm ở sở chỉ huy tiền phương để nắm diễn biến chiến đấu, tình hình tiêu thụ, tổn thất, quyết tâm chiến đấu của chỉ huy, yêu cầu bảo đảm quân khí và qua chỉ huy để chỉ đạo công tác quân khí với các đơn vị, đồng thời báo cáo với cơ quan quân khí ở sở chỉ huy cơ bản. Cấp đại đội phải có nhân viên quân khí để nắm và quản lý thực lực vũ khí, đạn dược. Đối với kho quân khí, cần biên chế đủ lực lượng cần thiết để bốc dỡ, vận chuyển, đào hầm hố, ngụy trang, canh gác và bảo vệ kho trong mọi tình huống. Cán bộ quân khí chiến dịch tham gia vào đoàn cán bộ hậu cần phải quan hệ hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bảo đảm để hợp đồng bảo đảm đạn cho toàn chiến dịch và cho từng hướng theo kế hoạch đã được phê duyệt, cần thống nhất về phương thức bảo đảm theo khu vực; phân công, phân cấp về vận chuyển, bốc dỡ; quy định và thủ tục giao nhận, thu hồi vũ khí... Hai là: cơ số đạn dự trữ thường xuyên mang theo đầy đủ tới từng chiến sĩ, từng khẩu đội, có dự trữ hợp lý ở từng cấp và bổ sung theo yêu cầu chiến đấu bằng cách tự điều chỉnh nội bộ các đơn vị trong chiến dịch. Với những chiến dịch nằm trên địa bàn hoạt động của tuyến vận tải chiến lược, có nhiều kho quân khí của các binh trạm thì cần xác định cơ số đạn cho sát với nhu cầu chiến đấu. Cấp chiến dịch chỉ nên tổ chức kho dự trữ đạn ở những nơi không có kho của cấp trên. Trên cơ sở lượng đạn được cấp trên phê duyệt cho từng hướng, chỉ huy đơn vị cần xác định lượng dự trữ ở từng cấp cho sát. Thực tế chiến dịch, ở cấp trung đoàn bộ binh chỉ nên có một lượng dự trữ tối thiểu cần thiết để bảo đảm cho các phân đội chiến đấu liên tục trong một thời gian nhất định, khối lượng còn lại nên để ở sư đoàn, phân trạm của binh trạm vận tải hoặc binh trạm của quân khu. Có như vậy thì bộ đội mới cơ động nhanh và không để xảy ra thiếu đạn. Trong quá trình chiến đấu, việc bổ sung vũ khí, đạn dược cho các đơn vị ngoài số cấp trên vận chuyển tới, cần tận dụng lượng thu hồi từ số bị thương vong, chiến lợi phẩm, hoặc điều chuyển nội bộ của các đơn vị tác chiến gần nhau chưa dùng đến. Thực tế trong chiến dịch, Sư đoàn 308 thu hồi lượng vũ khí đạn của 700 thương binh, Trung đoàn 36 điều chỉnh lấy ở các đơn vị bạn nên bảo đảm rất kịp thời theo yêu cầu chiến đấu và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ba là: kịp thời nắm vững tình hình tiêu thụ, tổn thất, từ đó bổ sung chính xác số lượng vũ khí, đạn dược cần thiết cho bộ đội chiến đấu. Trong chiến dịch, chiến đấu phải nắm được kế hoạch bảo đảm vũ khí, đạn dược đã được phê duyệt cho cả chiến dịch và từng nhiệm vụ được giao. Sau mỗi đợt chiến dịch, từng trận chiến đấu, hàng ngày phải nắm được thực lực của đơn vị, của kho; nắm được tình hình tiêu thụ, tổn thất của đơn vị, yêu cầu bổ sung cho đơn vị bằng cách thường xuyên tổng hợp báo cáo của cấp dưới. Kịp thời nắm tình hình vận chuyển vũ khí, đạn dược chiến dịch và tình hình thực nhận của đơn vị thông qua cơ quan vận tải, kho, cơ quan quân khí cấp dưới. Trên cơ sở quản lý chắc tình hình sẽ chủ động để xuất kế hoạch bổ sung của trên và điều chỉnh vũ khí, đạn dược trong nội bộ đơn vị mình và chấn chỉnh tình hình sử dụng, quan hệ hiệp đồng giữa vận tải đơn vị, kho... Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, thực tế ở cấp trung đoàn, tiểu đoàn có trận chiến đấu kết thúc đã 3 ngày nhưng vẫn chưa nắm được số lượng vũ khí, đạn dược đơn vị mình vì thế cấp sư đoàn, chiến dịch càng khó nắm chắc thực lực, xin trên vận chuyển bổ sung chưa sát. Có tình trạng vận chuyển một số loại đạn cho đơn vị nhiều hơn từ 1,5 đến 3 lần so với kế hoạch bảo đảm như đạn B41 kế hoạch là 1.600 quả vận chuyển đến 5.554 quả, đạn cối 81 mm là 18.720 quả vận chuyển đến 31.720 quả, đạn ĐKZ là 2.160 quả vận chuyển đến 3.543 quả hoặc pháo huy động chỉ sử dụng một nửa như ở hướng B70 có 32 khẩu Đ74, chỉ sử dụng 15 khẩu, gây tổn thất nhiều về con người và vật chất. Bốn là: phải huấn luyện cho bộ đội sử dụng hết tính năng kỹ thuật, chiến thuật của từng loại vũ khí, đạn dược được trang bị. Trước chiến dịch phải huấn luyện cho bộ đội biết sử dụng nhiều loại vũ khí, nhất là loại vũ khí mới đưa vào sử dụng; người giữ loại nào phải huấn luyện sử dụng thành thạo loại đó. Trong chiến đấu, phải tận dụng thời gian nhất định để huấn luyện cho người sử dụng, có như vậy thì mới phát huy hết khả năng của trang bị vũ khí, tiêu diệt được địch, bảo vệ được mình. Trong chiến đấu, quân số bị hao hụt do thương vong, chiến sĩ mối bổ sung vào đòi hỏi phải được huấn luyện bổ sung ngay về sử dụng vũ khí trang bị. Thực tế chiến dịch nhiều đơn vị sử dụng chưa tốt, chưa phát huy được tính năng của vũ khí, đạn dược: bộ đội bắn đạn AT vài lần không diệt được xe tăng, cho là khó sử dụng rồi loại bỏ; Trung đoàn 36 cấp 16 khẩu B41 giao cho chiến sĩ chưa được huấn luyện sử dụng, quá trình chiến đấu, bắn không trúng nên tiêu hao nhiều đạn. Sử dụng cối 60mm bắn liên tục bị chèn đạn làm vỡ nòng súng, gây thương vong; sử dụng đại liên K57, có khẩu đội khi xạ thủ chính hy sinh, trong khẩu đội không còn người biết bắn, nên không phát huy được hoả lực; sử dụng đạn pháo Đ74 bắn liều nguyên trong khi đó có thể bắn liều giảm. Trong giai đoạn hiện nay, vùng biên giới của Việt Nam có vị tri chiến lược rất quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng - an ninh. Để bảo đảm vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia, quân đội ta cần tiếp tục nghiên cứu, kế thừa và phát triển những bài học kinh nghiệm quý về công tác bảo đảm vũ khí, đạn dược cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Hai, 2026, 08:37:10 am QUÂN DÂN HƯỚNG HÓA (QUẢNG TRỊ) TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 ThS HOÀNG CHÍ HIẾU Đại học Huế Thượng úy NGUYỄN VĂN VIÊN Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, huyện Hướng Hóa - Quảng Trị có vị trí chiến lược quan trọng, là địa bàn tiếp giáp miền Bắc, một trong những bàn đạp để triển khai tuyến vận tải chi viện cho cách mạng miền Nam. Hướng Hóa còn là địa phương có tuyến Đường 9 cắt ngang nên đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đây chính là địa bàn lý tưởng để ngăn chặn "sự xâm nhập của Cộng sản". Từ năm 1969, thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh bình định, mở một số cuộc tấn công lớn lên miền núi Trị - Thiên hòng tiêu diệt chủ lực ta, đánh phá các kho tàng và chặt đứt các nhánh của đường Trường Sơn mà ta vừa mới mở trong năm 1968. Ngày 24 tháng 1 năm 1969, địch mở trận càn "Dewey Cayon" đánh vào vùng núi Cô Ca Va (Nam Hướng Hóa). Ngày 17 tháng 3 năm 1969, địch mở tiếp cuộc hành quân "Lam Sơn 271" đánh vào Tam Thanh, A Dơi (2 địa phương sản xuất lương thực chính vùng Nam Hướng Hóa)... Các cuộc hành quân của địch đều bị ta đập tan và cơ bản từ tháng 10 năm 1970, ta khôi phục thế làm chủ khu vực miền núi Trị - Thiên, giữ vững vùng giải phóng và tạo hành lang bảo vệ tuyến đường Trường Sơn. Từ cuối năm 1970, để chuẩn bị cho việc thực hiện kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719", địch sử dụng nhiều phương thức khác nhau nhằm thăm dò tình hình, thu thập tin tức vùng giải phóng. Chi cảnh sát Hướng Hóa (đóng lưu vong ở khu tập trung Cùa - Cam Lộ) tích cực tổ chức mạng lưới mật báo viên trong đồng bào khu tập trung để tung lên miền núi hoạt động, móc nối với số phản động còn rải rác trong vùng giải phóng. Chúng lợi dụng việc đi rừng làm ăn để trà trộn vào nhân dân. Mặt khác, địch tổ chức nhiều toán gián điệp hoạt động từ vùng giáp ranh dọc Đường 9 lên Khe Sanh, Lao Bảo và đi sâu vào vùng Thanh, Thuận, Xi, A Dơi, Tà Long, Ba Nang, A xốc. Ta đã phát hiện, bắt giữ một số tên, như A Đi, Pa Phong. Trong tháng 1 năm 1971, địch tung 3 tên (Ai Đi, Pa Xươi và Vi) cải trang làm thường dân lên Khe Sanh, Lao Bảo và vùng Thanh - Thuận. Những tên này đã thu thập được một số tin tức để dịch đánh phá như vụ tập kích Trường huấn luyện sĩ quan (ở xã Xi), bắn chết một số đồng chí, cướp một túi tài liệu; tập kích Cơ quan 107 (ở A Cha); trực thăng Mỹ nhiều lần bắn phá Viện 92 (ở Tuồi Muồi), máy bay oanh kích trúng các trận địa phòng không của ta ở Thanh - Thuận1 (A-B-T-N 54, Sơ kết 6 tháng đầu năm 1971, ngày 15-7-1971, tr. 2-3. Tài liệu lưu tại Phòng Lưu trữ, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị) ... Mặc dù trong những cuộc đụng độ với thám báo và biệt kích địch, hiệu quả diệt địch chưa cao bởi mỗi khi bị ta phát hiện địch đều nhanh chóng cho trực thăng bốc quân ngay nhưng tinh thần cảnh giác, thường trực chiến đấu của quân dân Hướng Hóa được thể hiện rõ và qua các cuộc đụng độ này, quân dân Hướng Hóa đã rút ra một số kinh nghiệm trong cách hạn chế chiến thuật "trực thăng vận" của địch, bố trí lực lượng mai phục ở những địa điểm địch sẽ đổ bộ, không cho chúng có cơ hội tẩu thoát. Việc phát hiện, đẩy lùi nhiều toán gián điệp và thám báo đã làm thất bại âm mưu sử dụng lực lượng này để thu thập tin tức, phát hiện bố trí lực lượng và kho tàng ta trong khu vực, cũng như ý đồ sử dụng những điểm cao dọc hai bên Đường 9 để bảo vệ sườn cho những cuộc hành quân sắp tới của địch. Bên cạnh việc tổ chức vây lùng, tiêu diệt các tổ chức thám báo, khi nhận chỉ lệnh của Trung ương chuẩn bị cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, lực lượng du kích Hướng Hóa đã cùng với bộ đội chủ lực tích cực chuẩn bị về mọi mặt. Du kích các xã được đưa về thôn, vừa để bảo vệ nhân dân vừa bám địa bàn chiến đấu. Từ chỗ chỉ có súng trường nay du kích được trang bị trung liên, đại liên, 12,7mm. Được trang bị vũ khí mới, ngày 19 tháng 1 năm 1971, du kích xã A Bung đã bắn rơi 1 trực thăng vũ trang ngay khi nó vừa xuất hiện. Đồng thời với việc tổ chức củng cố lực lượng, du kích Hưỏng Hóa còn tổ chức đưa dân sơ tán về nơi ở cũ1 (Tháng 8 năm 1969, toàn miền núi Trị - Thiên có chủ trương sơ tán dân về phía sau để tránh các hành lang cơ giới ta đang mở hoặc sẽ mở. Đây là một chủ trương sai lầm. Đã thế, các địa phương không thực hiện đúng kế hoạch nên càng khó khăn thêm. Nhân dân dồn về phía biên giới, bỏ lại một khoảng trống rất rộng, cắt đứt thế liên hoàn giữa miền núi với vùng giáp ranh, giữa vùng này với vùng khác, ở biên giới, người tăng lên gấp bội, đất đai cằn cỗi, hoa màu sẵn có của địa phương có hạn không đủ nuôi sống, dẫn đến khó khăn mới. [Đảng ủy miền núi Trị - Thiên, Tình hình miền núi Trị - Thiên sau 4 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng (8.1967 - 8.1971), tháng 8 năm 1971, tr. 12. Tài liệu lưu tại Phòng Lưu trữ, Vãn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị)) nhằm lấp kín những địa bàn quan trọng, lập thế trận đánh địch, đồng thời tiếp tục tham gia sản xuất, khắc phục khó khăn về lương thực trước mắt cũng như lâu dài. Mỗi xạ chọn 10 du kích, tổ chức thành một tổ sản xuất, tạo cơ sở ban đầu để đưa dân về. Những đội du kích này được cung cấp đủ lương thực, thuốc men, vũ khí và dụng cụ sản xuất để vừa đảm bảo sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu. Trong tháng 1 năm 1971, xã Tam Thanh đưa được 35 hộ, 95 lao động về chỗ cũ; các xã Tà Rụt, Ba Nang và A Túc, dân đã trở về làng cũ để sản xuất; xã A Túc đưa 7 hộ, 30 người và xã Thuận đưa 41 hộ về dọc sông Sê Pôn để sản xuất; xã Ba Tâng đưa 20 du kích và thanh niên cùng 1 tiểu đội bộ đội địa phương phục vụ sản xuất và chiến đấu1 (Báo cáo tình hình tháng 1-1971, ngày 10 tháng 2 năm 1971, tr. 4. Tài liệu lưu tại Phòng Lưu trữ, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị, số lưu trữ T.M.S21). Trong khi thế trận chiến tranh ở Hướng Hóa đang được triển khai, ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đưa quân đánh chiếm Khe Sanh làm bàn đạp cho cuộc tiến công sang Nam Lào, mở đầu cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Ngày 8 tháng 2 năm 1971, với lực lượng lớn (tương đương 6 trung đoàn), địch vượt biên giới đánh sang Lào, âm mưu đánh chiếm Bản Đông, qua đó cắt đôi Đông Dương, chặt dứt tuyến vận tải chiến lược của ta. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Hai, 2026, 08:44:46 am Ngay khi địch triển khai kế hoạch "Lam Sơn 719", Bộ Chính trị họp, quyết định mở chiến dịch tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào và chỉ thị cho Quân ủy Trung ương nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Sau cuộc họp, Bộ Chính trị gửi Điện số 332 về cuộc tấn công lớn của địch vào đường hành lang của ta và nhiệm vụ của các chiến trường, trong đó chỉ đạo các chiến trường đẩy mạnh hoạt động phối hợp với chiến trường chính.
Ngày 6 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5) ra chỉ thị cho các đơn vị và các địa phương trên địa bàn "phát huy cao nhất mọi khả năng của hai lực lượng, ba thứ quân, đánh mạnh vào các hậu cứ, kho tàng, chân hàng, cơ quan đầu não, căn cứ hành quân, các phương tiện giao thông, ngăn chặn tiếp tế đường bộ, đường sông, hạn chế tiếp tế đường không của địch"1 (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (1966 - 1973), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 209). Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Mặt trận, du kích Hướng Hóa đã nhanh chóng sơ tán những người già, phụ nữ có con nhỏ và tre em ra xa vùng chiến sự dọc hai bên Đường 9, chỉ để lại những người mạnh khỏe được huy động chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trước, trong và ngay sau chiến dịch, toàn vùng Nam Hướng Hóa đã bổ sung 47 tân binh cho bộ đội địa phương, trong đó nhiều nhất là xã Thanh có 13 người, xã A Vao có 7 người và xã Thuận có 5 người. Để phục vụ tải đạn, tải lương và tải thương, trong tháng 3 năm 1971, huyện Nam Hướng Hóa huy động 217 người ở các xã Thanh, Thuận, A Cha, Xi, A Dơi, Pa Tàng. Mỗi người tham gia phục vụ từ 15 ngày đến 1 tháng. Về lương thực, tuy sản xuất cuối năm 1970 chưa phục hồi và sự tàn phá của bom đạn trong suốt diễn biến chiến dịch nhưng với ý thức trách nhiệm của người dân đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân huyện Hướng Hóa đã hăng hái đóng góp lúa gạo nuôi quân. Toàn huyện đã động viên được 2.388 thùng gạo (so với yêu cầu đặt ra lúc đầu thì không đạt nhưng thực tế đã nói lên nhiệt tình đóng góp của nhân dân) trong đó 2 xã Thanh, Thuận đạt cao nhất (trên dưới 600 thùng mỗi xã). Ngoài lúa gạo, nhân dân còn góp được 1.900 thùng bắp hạt, hơn 424 thùng lúa ba trăng, 500 xấp thuốc lá, 75 cây rựa và 474.280 gốc sắn1 (Huyện ủy Nam Hướng Hóa, Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước trong năm 1971 số 01/TĐ, ngày 20-3-1972, tr. 7-8. Tài liệu lưu tại Phòng Lưu trữ, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị), trong đó A Vao góp 70.000 gốc, Kỳ Nơi 15.000 gốc, Tuồi Muồi 2.000 gốc, A Cha 10.000 gốc... Về đánh địch, được sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích các xã tích cực bám địch, chủ động đánh địch ngay khi chúng đổ quân xuống địa bàn. Du kích xã A Bung bắn rơi 8 máy bay tại chỗ và bắn bị thương 3 chiếc; xã A Túc bắn rơi 5 chiếc và bắn bị thương 1 chiếc đánh biệt kích diệt 10 tên và làm bị thương 6 tên; xã A Vao bắn rơi 4 chiếc máy bay, bắn bị thương 1 chiếc, đánh biệt kích diệt 5 tên địch và làm bị thương 1 tên; xã Tà Rụt bắn rơi 3 máy bay; xã Hải Phúc bắn rơi 1 máy bay; xã A Xốc bắn rơi 2 máy bay, diệt 14 tên biệt kích, làm bị thương 1 tên khác. Những xã trước đây chưa bắn được máy bay hoặc ít có kết quả nhưng nay cũng hạ được máy bay địch như A Cha, Xi, Thuận, Húc Nghi, Hải Phúc. Bộ đội địa phương huyện bắn rơi 7 máy bay, bắn bị thương 3 chiếc, đánh bộ binh 5 trận, diệt 70 tên địch, làm bị thương 6 tên2 (Huyện ủy Nam Hướng Hóa, Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước trong năm 1971, Tldd, tr. 6, 8, 9). Tổng cộng, trong toàn bộ chiến dịch, quân dân Hướng Hóa đã đánh 14 trận (gồm cả độc lập tác chiến và phối hợp với chủ lực), giết và làm bị thương 428 tên, bắt sống 4 tên tàn binh; bắn rơi 38 máy bay, có cả phản lực, khu trục AĐ6 và bắn bị thương 15 chiếc khác; thu 47 súng, 160 lựu đạn, 10 máy thông tin, 2 ông nhòm, 2 máy ảnh và nhiều đồ quân trang, quân dụng khác1 (Huyện ủy Nam Hướng Hóa, Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước trong năm 1971, Tlđd, tr. 6, 8, 9). Trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, nổi lên là nhiều cá nhân tiêu biểu. Chị Y Tùng (thôn A Xau, xã Kỳ Nơi), tuy gia đình neo dơn, chồng và các con lớn đều đi công tác xa nhà, một mình chị ở nuôi mẹ chồng, một con nhỏ và còn nuôi thêm một cháu bé mồ côi nhưng đã đóng góp 8 thùng gạo, 11 thùng ngô, 1.900 gốc sắn. Anh Cồn Năng (Xã đội phó A Túc) đã chỉ huy du kích đánh 3 trận, diệt 40 tên, chỉ huy khẩu đội 12,7mm bắn rơi 3 máy bay địch. Đội sản xuất của đồng chí góp được 100 gùi rau bí, 8 gùi sắn cho bộ đội. Đồng chí Thung (Xã đội trưởng, Bí thư xã đoàn thanh niên A Vao) trong suốt chiến dịch đã liên tục bám trụ trận địa pháo 12,7mm, dùng AK hạ được 1 trực thăng, chỉ huy đồng đội cứu 1 khẩu 12,7mm khi bị địch tập kích. Đồng chí Nam (Trung đội trưởng du kích xã A Bung), tham gia tất cả các trận đánh với du kích và bắn rơi 3 máy bay địch. Đặc biệt tại cao điểm 60, sau khi địch ném bom dọn bãi để đổ quân, trong 16 ngày đêm liên tục, đồng chí bám sát địch động viên anh em dũng cảm bắn máy bay, không cho chúng đổ quân. Kết thúc chiến dịch, quân dân Hướng Hóa được tặng thưởng 24 huân chương Chiến công hạng Ba cho cá nhân và đơn vị, hàng chục Bằng khen và Giấy khen cho lực lượng vũ trang, bán vũ trang. Những kết quả đạt được trên đây của quân và dân Hướng Hóa đối với toàn bộ diễn biến Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là không lớn nhưng đặt trong bối cảnh cụ thể của địa phương lúc bấy giờ thì đó là thành tích có ý nghía rất lớn. Bởi lẽ là địa phương miền núi, dân số Hướng Hóa chủ yếu là các dân tộc Tà Ôi, Vân Kiểu, Pahy, Pakô, sống phân tán vì chiến tranh, rồi khi ta mở các đường nhánh, nhân dân sơ tán ra xa để tránh bom đạn nên mật độ dân rất thấp. Trong tình hình đó, việc huy động được một lực lượng đáng kể thanh niên, du kích tham gia đánh địch, nuôi quân là bước tiến vượt bậc đối với nhân dân các dân tộc ít người huyện Hướng Hóa. Mặt khác, bộ đội địa phương và du kích Hướng Hóa từ tâm lý sợ hãi máy bay đến tham gia bắn trả, bắn rơi máy bay địch không chỉ là sự trưởng thành về nhận thức mà còn "chứng tỏ một dân tộc tuy còn lạc hậu về trình độ kinh tế kỹ thuật, nhưng được sự tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đánh giá đúng chỗ mạnh chỗ yếu của địch, biết phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc mình, lại đang ở trong thế thắng, thế tấn công, thế đi lên chung của cách mạng thì với súng trường có thể bắn rơi những máy bay phản lực hiện đại của địch, với chông tre, vũ khí thô sơ tự tạo có thể đánh thắng được quân Mỹ - ngụy trang bị hiện đại từ chân đến đầu. Rõ ràng, nhân dân miền núi chúng ta không phải đánh thắng giặc Mỹ bằng vũ khí hiện đại mà bằng lòng căm thù địch sâu sắc, lòng yêu nước nồng nàn và bằng tư thế của người dân đã làm chủ vùng giải phóng đang trong thế đứng trên đầu thù mà xốc tới"1 (Huyện ủy Nam Hướng Hóa, Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước trong năm 1971, Tldd, tr. 5). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Hai, 2026, 08:57:51 am THANH NIÊN XUNG PHONG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG TRỊ NHỮNG NĂM 1970 - 1971 Trung tá, TS TRƯƠNG MAI HƯƠNG Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là từ năm 1965, miền Bắc vừa là hậu phương lớn chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, vừa phải đương đầu với cuộc "chiến tranh phá hoại" bằng không quân và hải quân hết sức ác liệt của đế quốc Mỹ. Nhằm đáp ứng nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên cả hai miền Nam - Bắc, từ tháng 6 năm 1965, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các Đội thanh niên xung phong lần lượt được thành lập, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm giao thông, phục vụ chiến đấu ở các trọng điểm địch đánh phá ác liệt: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, khu vực Vĩnh Linh... Trong phạm vi bài viết, chúng tôi muốn đề cập đến lực lượng thanh niên xung phong trên chiến trường Quảng Trị những năm 1970 - 1971. Từ đầu năm 1970, sau thất bại của chiến lược "chiến tranh cục bộ" và "chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ thực hiện "Việt Nam hóa chiến tranh". Bản chất của chiến lược này là dùng quân đội Sài Gòn dần thay thế quân đội Mỹ và chư hầu trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Trong đó, Mỹ vẫn chỉ huy thông qua hệ thống cố vấn và viện trợ. Muốn thực hiện được điều đó, đế quốc Mỹ chủ trương cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh đó, Quảng Trị - điểm chia cắt tạm thời hai miền đất nước, nơi có Đường 9 đi qua có vị trí chiến lược quan trọng. Trước âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, tháng 5 năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã có công điện, chỉ thị cho Quân khu 4 và các lực lượng chiến đấu tại Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị sẵn sàng chiến đấu trước những hoạt động biệt kích, tập kích của địch và yêu cầu: "đánh mạnh vào các bàn đạp dùng để tấn công ra Mường Phìn - Sê Pôn và lợi dụng sơ hở của địch đưa lực lượng sang Lào, đẩy mạnh hoạt động sau lưng địch, đánh vào các hậu cứ địch1 (Điện số 188 TM, ngày 23 tháng 5 năm 1970, TL lưu Văn phòng Bộ Tổng tham mưu). Tiếp đó, tháng 6 năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu lập kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo các đơn vị chuẩn bị chiến trường và thành lập Hội đồng chi viện tiền tuyến Trung ương nhằm động viên hơn nữa nỗ lực của quân và dân miền Bắc phát huy sức mạnh của hậu phương lớn phục vụ các chiến trường. Hội nghị Quân ủy Trung ương họp tháng 6 năm 1970 cũng đề nghị những biện pháp cấp bách nhằm phát triển lực lượng, củng cố tuyến vận tải chiến lược, kết hợp các phương thức vận tải đường bộ, đường sông, đường ống, kết hợp đánh địch với nghi binh phòng tránh... để tăng cường khả năng vận chuyển. Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, cùng với các lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, Trung ương Đoàn đề ra nhiệm vụ cụ thể cho Thanh niên xung phong năm 1970, trong đó nhấn mạnh đến lực lượng thanh niên xung phong thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trên chiến trường Trị - Thiên là: Trong điều kiện địch đánh phá dữ dội, đặc biệt là trên chiến trường Trị-Thiên, thanh niên xung phong phải đẩy mạnh phong trào cải tiến và sử dụng công cụ mới, cùng với việc hợp lý hóa tổ chức các đội để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao"1 (Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Văn kiện Đoàn (1961-1968), Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1969, tr.166). Về tổ chức, biên chế của các đội thanh niên xung phong thời gian này không có gì thay đổi, số lượng thanh niên xung phong chỉ còn trên 6 vạn (tập trung chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn), giảm hơn 4 vạn so với giai đoạn trước năm 1970. Tổng số thanh niên xung phong phục vụ tại chiến trường Quảng Trị, Quảng Bình là hơn 1 vạn2 (Báo cáo tổng kết hoạt động của TNXP nhiệm kỳ II (1969-1972), Tài liệu lưu Văn phòng Trung ương Đoàn TNCSHCM). Trong đó, có một số đội do Đoàn 559 (Bộ Quốc phòng) và Ban 1367 (Bộ Giao thông Vận tải) quản lý, một số đội do tỉnh Quảng Trị phụ trách, về phương thức hoạt động theo ngành, sử dụng lực lượng thanh niên xung phong lo toàn bộ về kỹ thuật và mọi chế độ, chính sách. Ban Thanh niên xung phong Trung ương Đoàn phụ trách chung về chính trị, tư tưởng. Về nhiệm vụ của thanh niên xung phong rất đa dạng, phong phú: vận chuyển hàng hóa, thuốc men, lương thực, đạn dược bằng xe đạp thồ, khênh vác, đi bộ, vừa làm đường, đảm bảo giao thông các tuyến đường 16, 18, 12 do Đoàn 559 quản lý. Do tính chất khẩn trương, cấp bách và khác nhau của công việc nên các đội thường phân chia theo các tiểu đội, đại đội trực tiếp chịu sự quản lý của các binh trạm hoặc các Cục, Tổng cục Vận tải, Quân y, Hậu cần... Đặc biệt, Quảng Trị là vùng giáp ranh với địch nên một số tiểu đội thanh niên xung phong sang vùng địch tạm chiếm làm nhiệm vụ trinh sát, làm đường, làm kho trong đêm, sau lại rút về hậu cứ an toàn. Triển khai nhiệm vụ được giao, để bảo vệ hàng quân sự và hệ thống kho tàng, thanh niên xung phong đã phải vô hiệu hóa những vũ khí tối tân (bom từ trường, bom phá, bom bi), thành quả của nền khoa học Hoa Kỳ và họ đã chiến thắng trong cuộc đấu trí, đấu lực đó. Từ trong gian khổ, ác liệt của chiến tranh, nhiều tập thể và cá nhân điển hình đã xuất hiện. Với sức chịu đựng dẻo dai, kiên cường, thanh niên xung phong đã bám sát cầu đường, trụ bám ở những trọng điểm, lao động và chiến đấu hết mình với nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, khắc phục khó khăn, tìm cách thông đường nhanh nhất. Từ cuối năm 1970, cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ ngày càng thất bại, sa lầy trên các chiến trường. Chúng dùng tất cả các thủ đoạn ngăn chặn bằng không quân, chất độc hóa học, hàng rào điện tử, biệt kích, thám báo, v.v. trên tuyến vận chuyển chiến lược đều thất bại. Ở miền Nam, ta càng đánh càng thắng. Thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đế quốc Mỹ đã thúc ép quân đội Việt Nam cộng hòa mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào, phối hợp với quân đội phái hữu Lào ở phía Tây, hòng cắt đứt hoàn toàn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Mỹ và quân đội Sài Gòn đã huy động lực lượng lớn gồm 16 lữ đoàn bộ binh, hàng chục tiểu đoàn pháo binh và thiết giáp, xe tăng yểm trợ cùng với một lực lượng không quân lớn của Mỹ tham chiến. Trước những diễn biến khẩn trương của chiến dịch, ngày 9 tháng 2 năm 1971, Trung ương Đảng ra lời kêu gọi cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu thuộc Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Chỉ thị nêu rõ: "Toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên hãy ra sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính mến và quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng... Tập trung tất cả tinh thần và sức lực dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ con đường Hồ Chí Minh. Xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này"1 (Chỉ thị số 009/QUTW do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, Mồ sơ 594, Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng). Ngày 8 tháng 2 năm 1971, quân địch bắt đầu tiến công, kết hợp tiến quân theo đường bộ với đổ bộ đường không, dựa vào ưu thế binh hỏa lực chiếm Bản Đông và một số điểm cao ở nam bắc Đường 9. Lực lượng của ta, dưới sự chỉ huy của Bộ Tổng Tư lệnh đã phán đoán đúng âm mưu của địch và đã có sự chuẩn bị sớm. Tháng 10 năm 1970, ta thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch hiệp đồng tác chiến giữa các sư đoàn bộ binh với các lực lượng khác như: bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, thanh niên xung phong... làm tốt công tác chuẩn bị đường sá, hậu cần chu đáo. Thanh niên xung phong phối hợp với các lực lượng khác làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên Đường 9 và quốc lộ 1A. Tại đây, địch ngăn chặn quyết liệt, chúng chọn những đoạn độc đạo, hiểm yếu, không có chỗ tránh như một bên là vực sâu, một bên là vách đá dựng đứng, đánh bom khó trúng đường. Đồng thời chúng sử dụng tên lửa phóng vào vách núi làm sụt đá, gây tắc đường, sau đó rải mìn vướng, bom nổ chậm hòng hủy diệt con đường tiếp tế của ta. Không quản nguy hiểm, 4 trung đội vận tải thanh niên xung phong của tỉnh phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương ứng trực đảm bảo giao thông liên tục 24/24 giờ dưới bom đạn Mỹ. Đại đội 202 - N241 thanh niên xung phong Nghệ An được điều vào chiến trường Quảng Trị trong những ngày quyết liệt, chi viện cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào với nhiệm vụ phá bom nổ chậm. Bằng sự sáng tạo và dũng cảm, nữ đội viên Nguyễn Thị Hiến đã nghiên cứu tìm cách tháo ngòi nổ của quả bom trên mặt đường, giải phóng đường cho xe chở hàng và người trước khi trời sáng. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Hai, 2026, 08:58:51 am Trước yêu cầu ngày càng cao của chiến dịch, đại đội thành lập tổ cảm tử phá bom gồm 8 người do đội viên Nguyễn Thị Hiền làm đội trưởng. Trước khi nhận nhiệm vụ, tổ cảm tử làm lễ truy điệu sống. Hàng đêm, toàn đội thận trọng tiếp cận trận địa, phát hiện vị trí từng quả bom, mìn, gỡ dây, nhặt lựu đạn, sau đó cắm cọc tiêu an toàn. Sau hơn 6 giờ làm việc, tổ cảm tử đã hoàn thành nhiệm vụ mở đường vào trận địa an toàn, giúp Quân giải phóng thực hiện tác chiến trong chiến dịch thuận lợi hơn.
Đại đội 356 - N35 (Thanh niên xung phong Hà Nam) làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, phương tiện, công cụ, mở đường và bảo đảm giao thông trên đoạn đường 20/7 từ Nông trường cao su Quyết Thắng - Quảng Bình nối với Đường 9. Trên quãng đường hơn 80km, hàng hóa được thanh niên xung phong đưa từ Trạm trung chuyển vào Km0 của tuyến đường 20/7. Nhiều trận đánh quyết liệt với địch đã diễn ra, nhiều đội viên đã chiến đấu và anh dũng hy sinh nhưng quyết tâm không để kho, hàng bị phá hủy. Với tinh thần "Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường, dũng cảm", thanh niên xung phong đã đoàn kết, phối hợp hiệp đồng với các lực lượng bảo đảm giao thông tiến hành công việc giải tỏa trọng điểm tích cực, đồng bộ. Nhờ vậy, mặc dù đế quốc Mỹ đã trút nhiều loại bom đạn xuống các tuyến đường, đặc biệt là quốc lộ 1A và Đường 9, song vẫn không thể ngăn cản được các đoàn xe vận tải của ta tranh thủ từng giờ, từng phút vượt qua trọng điểm đến nơi tập kết hàng hóa an toàn. Cũng trong chiến dịch này, phương thức vận chuyển thô sơ, các cung chặng vận chuyển được rút ngắn. Địch đánh ban ngày, ta tổ chức vận chuyển ban đêm. Các cầu gỗ hỏng sau từng trận oanh kích, được sửa chữa gấp, có thể chưa đủ sức chịu tải xe ô tô, nhưng xe thồ, xe ba gác, người gánh bộ có thể qua lại dễ dàng. Một chiếc thuyền nan mười chiếc thuyền nan có thể thay thế cho một chiếc cầu bị đánh sập, trong một thời gian ngắn chưa sửa kịp thời. Bởi thuyền tuy nhỏ, lượng hàng chở được ít, nhưng dễ luồn lách trên các sông đào, kênh hẹp... hạn chế tầm kiểm soát, khống chế của máy bay địch. Đội vận tải bằng thuyền gỗ của thanh niên xung phong xã Gio Việt, thuộc Liên đội thanh niên xung phong giải phóng Quảng Trị làm nhiệm vụ thu chiến lợi phẩm của địch bỏ lại sau các cuộc giao tranh, chở những chiến sĩ quân giải phóng vào bờ nam Cửa Việt và chở thương binh ngược ra bờ bắc Cửa Việt. Trên quãng đường dài 20km máy bay địch quần đảo suốt ngày đêm, dọc bờ biển tàu dịch tuần tra gắt gao, các tàu chiến Hạm đội 7 của Mỹ bao vây, sục sạo khắp tuyến đường biển và các cửa sông của ta. Các đội viên phải đi từ sông Bến Hải, qua Cánh Hòm đến Gio Mai rồi mới vào đến Cửa Việt. Tuyến sông dài gần gấp đôi so với tuyến đường biển, nhưng là tuyến chính yếu mà Đội vận tải sử dụng vì chỉ có đi thoo con đường đó mới đảm bảo an toàn. Không kể ngày đêm, thanh niên xung phong luôn túc trực để làm nhiệm vụ vận chuyển hàng va cáng tải thương binh bằng thuyền gỗ bé nhỏ. Cùng thời gian này, nơi đóng quân của Trạm 7, Trạm 8 thuộc phía Nam Đường 9, địch không chỉ dùng bom phá bom bi với khối lượng lớn làm sụt lở hàng nghìn mét khối đất đá gây tắc nghẽn giao thông, chúng còn sử dụng bom từ trường, bom nổ chậm, mìn lá, mìn vướng để ngăn chặn và sát thương các lực lượng khắc phục hậu quả. Ở đó, nổi bật sự dẻo dai và táo bạo là Trung đội nữ B30-VK2 Quảng Trị, tuổi đời rất trẻ, từ 18 - 24 tuổi nhưng họ đã bình tĩnh gan góc, dũng cảm chống trả máy bay địch, bảo vệ từng đoạn đường, từng chiếc cầu và cất giấu hàng hóa an toàn trong những tháng ngày địch bắn phá dữ dội nhất. Đại đội 104 thanh niên xung phong Quảng Trị phục vụ chiến dịch, bị bom đạn địch bắn phá ác liệt, cả đoạn đường sụt lở, không còn biết đâu là mặt đường. Đại đội đã phải thức nhiều đêm phá bom nổ chậm còn sót lại trên mặt đường, nhiều đội viên đã ngã xuống. Đội viên Đoàn Viết Náo (Quảng Bình) bị chấn thương nặng, được đồng đội đưa về hậu cứ an toàn. Ngay sau đó, toàn đội xốc lại đội hình, tiếp tục phá bom nổ chậm, ứng cứu mặt đường, đảm bảo cho xe qua an toàn. Đại đội 771 thanh niên xung phong Quảng Trị bị địch bắn phá ngăn chặn quyết liệt trong quá trình bảo đảm giao thông, nhiều đội viên phải chống trả trực tiếp với địch để bảo vệ các kho hàng quân sự của ta an toàn. Trong báo cáo của đại đội ghi rõ: "Trong quá trình phục vụ Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, máy bay trực thăng và pháo kích của địch bắn phá liên tục. Đại đội chủ trương rút ra ngoài, chỉ để lại 11 đồng chí chiến đấu quyết liệt bảo vệ kho tàng, đạn dược, thuốc men. Bất chấp sự án ngữ của kẻ thù, chúng tôi vẫn chiến đấu kiên trung, giữ vững kho tàng"1 (Báo cáo về tình hình hoạt động của các đội TNXP phục vụ các chiến dịch tại Quảng Bình, Quảng Trị năm 1971, Tư liệu lưu Văn phòng Trung ương Đoàn TNCSHCM). Phối hợp với các mũi tấn công địch ở Tà Cơn, thanh niên xung phong tại khu vực Bắc Quảng Trị tập kích sân bay, kho tàng, cảng Cửa Việt, buộc Mỹ phải tăng thêm hai lữ đoàn Mỹ và ba tiểu đoàn pháo binh quân đội Sài Gòn đến giải tỏa. Giữa tháng 3 năm 1971, thanh niên xung phong phục vụ bộ đội đặc công của Quân khu Trị - Thiên đánh chìm tàu vận tải của Mỹ, làm cho giao thông đường thủy của Mỹ (đoạn Cửa Việt - Đông Hà) bị tắc nghẽn một thời gian. Sau một thời gian chiến đấu kiên cường, liên tục từ ngày 8 tháng 2 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, Quân giải phóng miền Nam và lực lượng vũ trang Nam Lào đã giành thắng lợi hoàn toàn, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Như vậy, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt trong những năm 1970-1971, Quảng Trị trở thành tâm điểm cuộc đọ sức quyết liệt giữa bản lĩnh, ý chí, mưu lược của người Việt Nam với các thủ đoạn đánh phá, ngăn chặn và nhiều loại khí tài, bom đạn tối tân của đế quốc Mỹ. Trong những năm tháng đó, để chiến thắng các chiến dịch có quy mô lớn của Mỹ và quân đội Sài Gòn, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, Chính phủ, trên chiến trường Quảng Trị đã giải quyết thành công nhiều vấn đề cơ bản trong công tác đảm bảo giao thông vận tải. Một trong những biện pháp độc đáo, hiệu quả, thể hiện lòng quả cảm và sức sáng tạo của con người trên mảnh đất kiên cường này là đã huy động, sử dụng tối đa khả năng, lực lượng vận tải, bảo đảm vận chuyển trong và ngoài quân đội bao gồm cả dân quân, du kích, thanh niên xung phong... Lực lượng thanh niên xung phong đã kịp thời giải quyết những khó khăn nhất về nhân lực đảm bảo giao thông vận tải phục vụ các chiến dịch tại chiến trường Quảng Trị. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, thanh niên xung phong không bị phụ thuộc bởi một loại đường nào, không có sự đe dọa nào về trục trặc kỹ thuật, họ đã tham gia vận chuyển hàng chiến lược bằng các phương tiện thô sơ như: gùi thồ, xe kéo, thuyền gỗ qua sông trong điều kiện chiến tranh ác liệt, đó chính là sức vóc và ý chí con người. Điều đó khẳng định, trong thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, lực lượng thanh niên xung phong đã đóng góp một vai trò trực tiếp và rất quan trọng. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Hai, 2026, 09:00:41 am NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP GIỮA BỘ ĐỘI CHỦ LỰC CƠ ĐỘNG VỚI LỰC LƯỢNG TẠI CHỖ TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Thiếu tướng TRẦN VIỆT THẮNG Phó Chính ủy Tổng cục II - Bộ Quốc phòng Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, với nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa lực lượng chủ lực cơ động với lực lượng tại chỗ đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, giành thắng lợi to lớn, làm thay đổi cục diện chiến trường, góp phần quan trọng làm phá sản chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ. Cụ thể: Thứ nhất, tạo thế trận vững chắc, hiểm hóc, đón đánh địch rộng khắp trên toàn địa bàn chiến dịch. Sau nhiều năm liên tục sử dụng không quân đánh phá quyết liệt, nhưng đế quốc Mỹ vẫn không ngăn chặn được tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn của ta. Vì vậy, năm 1970, Mỹ quyết định dùng lực lượng chiến đấu trên bộ đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào, hòng bịt đầu các con đường hành lang chiến lược Trường Sơn, cắt đứt "mạch máu chủ", chặn đường tiếp tế của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam; đồng thời còn để thăm dò khả năng quân sự của miền Bắc; để thử nghiệm khả năng tác chiến của quân đội Sài Gòn và xây dựng chúng thành chỗ dựa cho quân ngụy Lon Non và quân ngụy Lào. Để thăm dò lực lượng ta, ngày 30 tháng 1 năm 1971, một bộ phận quân Mỹ mở trận càn mang tên "Dewey Cayon" dọc Đường 9, phía nam khu phi quân sự, chiếm lại khu vực Khe Sanh để làm bàn đạp cho cuộc hành quân sang Lào của quân đội Sài Gòn và nghi binh cho việc triển khai lực lượng. Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, bằng đường không và đường bộ, Mỹ và quân đội Sài Gòn đã chuyển 22 tiểu đoàn bộ binh, 7 tiểu đoàn pháo binh từ Sài Gòn, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên ra Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh, cho Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến tập vượt sông tại phía nam cầu Đông Hà 1km và điều Lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến từ La Vang cơ động ra Thuận An, lên tàu thủy tiến về phía bắc, thực hiện kế hoạch nghi binh đánh ra phía bắc khu phi quân sự; đồng thời, sử dụng một số tàu chiến thuộc Hạm đội 7 của Mỹ tiến vào vùng biển nam Quảng Bình để uy hiếp ta. Nắm được ý định của địch, Bộ Tổng Tư lệnh đã khẩn trương tổ chức triển khai kế hoạch tác chiến, thiết bị chiến trường, chuẩn bị cơ sở hậu cần, cơ động lực lượng, dự kiến các tình huống và phương án tác chiến đánh địch trên chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Địa bàn chiến dịch nằm trong vùng rừng núi thưa dân thuộc hai tỉnh Quảng Trị và Xa Van Na Khẹt (Lào). Đường 9 chạy từ thị xã Đông Hà (Quảng Trị) đến Sê Pôn (Xa Van Na Khẹt) dài 90km, là con đường chiến lược nối liền hai 2 nước Việt - Lào và là đường độc đạo từ Đông Hà đi Bản Đông và Sê Pôn. Dọc Đường 9, từ biên giới Việt - Lào ra biển là khu vực phòng thủ kiên cố, gồm nhiều cụm cứ điểm vững chắc của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn. Phía tây có đường vận tải và hệ thống bảo đảm hậu cần chiến lược thuộc Đoàn 559. Đường 16 qua Làng Ho đến Bản Đông nối với đường 22 đi Mường Noòng. Đường 18 qua Thà Khống đến Mường Noòng là những đường vận tải chiến lược của ta qua khu vực này. Sông Sê Pôn chảy từ đông sang tây, chạy song song với Đường 9, rộng từ 150 đến 200m. Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định: Khu vực tác chiến chủ yếu từ Bản Đông đến Lao Bảo; khu vực ngăn chặn dịch ở tây bắc Bản Đông - Cha Ky; khu vực đánh giao thông kìm chân dịch ở đông Lao Bảo, Sa Mưu, Đông Hà, Cửa Việt. Hướng phản công chủ yếu từ phía bắc vào khu vực các điểm cao 316, 553, 543, Bản Đông, Lao Bảo. Hướng phản công thứ yếu từ phía nam vào khu vực dãy Phu Rệp, các điểm cao 550, 537. Để tạo thế vững, lực mạnh, cả lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ, ta đã bố trí theo một kế hoạch thống nhất của chiến dịch, hình thành thế trận vững chắc, hiểm hóc, cơ động để thực hiện tốt cách đánh của chiến dịch. Tại khu vực Đường 9, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã chỉ đạo bộ đội Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Quân khu Trị - Thiên và Đoàn 559 khẩn trương điều chỉnh lực lượng, tổ chức thế trận thiết bị chiến trường, sẵn sàng cùng lực lượng chủ lực cơ động đánh địch. Một số sư đoàn cơ động của Binh đoàn 70 được Bộ Tư lệnh chiến dịch bố trí ở bắc vĩ tuyến 17 để sẵn sàng cơ động vào triển khai tác chiến, đồng thời sẵn sàng đánh địch khi chúng liều lĩnh tiến công ra Nam Quân khu 4. Cụ thể: Sư đoàn 308 ở Hà Tĩnh, Sư đoàn 304 ở Quảng Bình, Trung đoàn 48 của Sư đoàn 320 ở Mường Phin, Pha Lan; điều Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320 đang trên đường vào Tây Nguyên về khu vực Cha Ky và điều chỉnh thế trận Sư đoàn 2 thuộc Quân khu 5, Sư đoàn 324 thuộc Quân khu Trị - Thiên sẵn sàng đánh địch theo kế hoạch tác chiến của chiến dịch. Tuy nhiên, ta đã phát hiện ngày càng rõ, Nam Quân khu 4 chỉ là hướng địch nghi binh nên đã kịp thời điều chỉnh lại thế trận, chuyển trọng tâm thế trận vào hướng Đường 9 - Nam Lào, vì vậy đã kịp thời cơ động các lực lượng chủ lực đang bố trí ở Nam Quân khu 4 vào bố trí ở các khủ vực trong địa bàn chiến dịch cùng các lực lượng tại chỗ hình thành thế trận sẵn sàng đánh địch. Theo kế hoạch, Trung đoàn 24 của Sư đoàn 304 đã cài sẵn thế trận tại khu vực Đường 9, tạo chốt chặn chiến dịch ở khu vực cầu Cha Ky và điểm cao 351, đồng thời phối hợp cùng lực lượng tại chỗ sẵn sàng chặn địch tiến công, tạo thế, tạo thời cơ cho lực lượng chủ lực cơ động ở phía sau sẵn sàng vào tác chiến thuận lợi. Đối với lực lượng tại chỗ chủ yếu là bộ đại địa phương và dân quân các huyện đang chiến đấu trên quê hương mình và các đơn vị chủ lực bố trí cài sẵn ở khu vực địa bàn dự kiến của chiến dịch như Trung đoàn bộ binh 24 Sư đoàn 304 và một số đơn vị Đoàn 559, giữ các điểm cao khống chế, chốt chặn địch, sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không, chặn đường tiến công trên bộ để tạo thế có lợi cho lực lượng chủ lực cơ động tiến công tiêu diệt quân địch trên hướng chủ yếu. Các lực lượng vũ trang ta khẩn trương hoàn thành tốt công tác chuẩn bị mọi mặt, thiết bị chiến trường, sẵn sàng đánh địch, bảo vệ đường vận chuyển và hệ thống kho tàng. Các lực lượng tại chỗ của ta được bố trí thế trận xen cài trong địa bàn chiến dịch. Các đơn vị cơ động chiến lược kịp thời cơ động vào vị trí tập kết làm công tác chuẩn bị tiến công địch. Trong thế trận đã được chuẩn bị trước, các lực lượng cơ động phối hợp với lực lượng tại chỗ của ta đã sẵn sàng ngăn chặn đón đánh địch. Vì vậy, ngay từ đầu cuộc hành quân "Lam Sơn 719", quân Mỹ và quân đội Sài Gòn đã phải bị động, bất ngờ đối phó với ta ở khắp nơi, cả phía trước, phía sau, bên sườn. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Hai, 2026, 09:02:08 am Thứ hai, nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng hợp lý trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã tạo ra sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi.
Để thực hiện chiến dịch phản công, tháng 10 năm 1970, Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn 70, gồm các sư đoàn 308, 320, 304 và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng chiến đấu và bảo đảm. Lần đầu tiên, quân đội ta có một Binh đoàn cơ động chiến lược hoàn chỉnh (tương đương 1 quân đoàn mạnh), có đủ các binh chủng chiến đấu và bảo đảm có thể độc lập tác chiến trên một hướng chiến lược với sự chỉ huy thống nhất. Ngay sau khi được thành lập Binh đoàn 70 đã nhanh chóng xây dựng kế hoạch tác chiến chiến dịch Xuân 1971 ở Đường 9 - Nam Lào. Dự đoán được ý đồ chiến lược của địch sẽ mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định sử dụng lực lượng Binh đoàn 70 và các sư đoàn 324, 2, các lực lượng tại chỗ của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị; của Quân khu Trị - Thiên; của Đoàn 559 và một số tiểu đoàn đặc công, tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp 297, 397, 198; các trung đoàn pháo binh cơ giới 368, 8, 45 và 1 tiểu đoàn pháo binh mang vác; các trung đoàn pháo phòng không 230 237, 291 và nhiều tiểu đoàn, đại đội phòng không tại chỗ của Đoàn 559; các trung đoàn công binh 7, 83, 219 và nhiều phân đội công binh của Đoàn 559. Phát hiện địch mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương tăng cường thêm lực lượng cho Binh đoàn 70, để mở chiến dịch phản công tiêu diệt lực lượng địch. Lúc này, lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn cao xạ, 3 trung đoàn công binh và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ, lực lượng tác chiến tại chỗ của Đoàn 559, của tỉnh Quảng Trị và các mặt trận 134 135 chốt chặn dọc Đường 9 để đánh địch ngay khi địch bắt đầu tiến công, tạo thế trận và thời cơ cho lực lượng chủ lực cơ động đánh các trận then chốt chiến dịch. Các lực lượng quần chúng địa phương đã phối hợp với các lực lượng trên địa bàn chiến dịch vận chuyển lương thực, đạn dược, chuyển thương binh, giúp bộ đội làm đường cơ động, giúp phương tiện vượt sông tham gia phá đường, cầu cống, làm các loại vật cản làm chậm bước tiến công của địch; ngoài ra còn giúp bộ đội nắm địch, nuôi dưỡng thương binh, chôn cất tử sĩ. Nhờ huy động được sức mạnh của quần chúng nhân dân, chiến dịch đã khắc phục được nhiều khó khăn trong bảo đảm tiếp tế, bảo đảm cơ động, vận chuyển thương binh, động viên bộ đội đã tạo ra sức mạnh tổng hợp đánh địch. Thứ ba, phối hợp chặt chẽ lực lượng cơ động với lực lượng tại chỗ thực hành đánh địch liên tục, rộng khắp, buộc địch từ chủ động tiến công sang bị động phòng ngự và rút chạy. Để thực hiện cuộc hành quân ra Đường 9 - Nam Lào, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã sử dụng tất cả các lực lượng dự bị chiến lược, với sự chi viện cao hoả lực không quân, pháo binh của Mỹ và một bộ phận bộ binh, thiết giáp Mỹ phối hợp tác chiến ở phía sau. về bộ binh, gồm 4 sư đoàn, 1 liên đoàn biệt động quân, tổng số khoảng 15 trung, lữ đoàn bộ binh (12 trung đoàn quân đội Sài Gòn, 3 lữ đoàn Mỹ) với tổng số 47 tiểu đoàn (40 tiểu đoàn quân Sài Gòn, 7 tiểu đoàn quân Mỹ); lực lượng tăng, thiết giáp gồm 2 lữ đoàn tăng cường (4 thiết đoàn quân đội Sài Gòn, 5 tiểu đoàn Mỹ với 578 xe các loại); lực lượng pháo binh gồm 21 tiểu đoàn (có 8 tiểu đoàn Mỹ, 318 khẩu từ 105mm trở lên); trên 1.000 máy bay các loại, riêng máy bay ném bom chiến lược B-52 tới 40 lần chiếc. Ngoài ra, còn có 2 binh đoàn (30 và 33) cùng với 9 tiểu đoàn bộ binh của quân đội chính phủ phái hữu Lào phối hợp hoạt động ở phía tây Đường 9 và Mường Noòng. Ngày 7 tháng 2, địch triển khai chiếm lĩnh khu vực tập kết phía trước là đội hình các đơn vị quân đội Sài Gòn, phía sau từ Hướng Hoá về Tân Lâm, Gio Linh (Quảng Trị) là các đơn vị quân Mỹ và lực lượng chiến lược của Mỹ. Sau khi tập kết xong lực lượng, ngày 8 tháng 2, được chi viện trực tiếp của hoả lực Mỹ, 7 trung đoàn bộ binh, lính dù và thiết giáp của quân đội Sài Gòn, chia thành 3 cánh quân, chính thức tiến quân vượt biên giới Việt - Lào. Cánh quân chủ yếu gồm các đơn vị cơ giới và xe tăng, xe thiết giáp theo Đường 9 qua Lao Bảo cùng với 1 tiểu đoàn dù đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống các khu vực ở Bản Đông. Ngày 10 tháng 2, cánh quân này đến Bản Đông. Hai cánh quân khác đổ bộ bằng máy bay lên thẳng chiếm một loạt điểm cao ở nam bắc Đường 9, lập căn cứ bảo vệ sườn cho cánh quân chủ yếu. Trong hai ngày đầu, địch tiên quân nhanh. Trên khu vực phía nam, Sư đoàn 1 bộ binh (thiếu) của địch chiếm các khu vực Cô Bốc và các điểm cao 619, 537, 550, 532, 540. Ở phía tây Đường 9, quân phái hữu Lào đưa hai binh đoàn (GM30 và GM33) gồm 9 tiểu đoàn đánh ra khu vực Mường Pha Lan và Phu Đô Tuya để phối hợp với quân đội Sài Gòn. Ngay sau khi địch tổ chức các đợt tiến công, Đoàn 559 đã tổ chức các chốt ngăn chặn ở Cô Bốc, Cô Rốc, các điểm cao 660, 723; Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 tổ chức chốt ở điểm cao 351, cầu Cha Ky; Sư đoàn 308 tổ chức chốt ở điểm cao 311; lực lượng của Mặt trận B5 và lực lượng đặc công hải quân đánh chìm 9 tàu chở vũ khí của địch ở Xuân Khánh, Vinh Quang, phục kích địch ở Bông Kho, Đầu Mầu, tập kích địch ở Kế Sóc, Ba Lào... Những hoạt động trên của lực lượng tại chỗ buộc địch phải đối phó từ phía trước, bên sườn, phía sau và phải co cụm vào các vị trí vừa chiếm được. Trên hướng chủ yếu của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (khu vực bắc Đường 9) từ 12 tháng 2 đến đầu tháng 3, đã diễn ra nhiều trận đánh ác liệt giữa các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 với Lữ đoàn 3 dù và Liên đoàn 1 biệt động quân đội Sài Gòn. Chủ lực ta phối hợp với lực lượng tại chỗ tiến công vào các cứ điểm vòng ngoài của địch. Trung đoàn 88 của Sư đoàn 308 tập kích Tiểu đoàn 21 biệt động quân ở điểm cao 316. Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320 tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn 6 dù ở điểm cao 456. Trung đoàn 102 của Sư đoàn 308 tiến công tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 39 biệt động quân ở điểm cao 500. Các đợt tiến công của các lực lượng ta đã làm cho hệ thống phòng ngự vòng ngoài của địch bị phá vỡ. Từ ngày 20 đến 25 tháng 2, Trung đoàn bộ binh 64 của Sư đoàn 320 phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn chiến dịch, được tăng cường xe tăng, pháo binh đã vây lấn đánh địch ở điểm cao 543, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù, tiểu đoàn pháo binh và sở chỉ huy lữ đoàn dù, bắt đại tá chỉ huy lữ đoàn Nguyễn Văn Thọ và toàn bộ cơ quan tham mưu của lữ đoàn địch. Đây là trận then chốt thứ nhất của chiến dịch phản công giành thắng lợi. Khi các căn cứ trên bị tiêu diệt, địch điều Thiết đoàn số 17 và Tiểu đoàn 8 dù từ Bản Đông ra phản kích chiếm lại điểm cao để khôi phục lại thế trận của cánh quân bảo vệ sườn phía bắc. Trong 6 ngày liên tục (26.2 - 3.3), Trung đoàn 36 thuộc Sư đoàn 308 cùng một bộ phận Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và các lực lượng khác trên địa bàn chiến dịch, được chi viện của xe tăng, pháo binh đã liên tục bám đánh địch và đánh tan cánh quân ra phản kích, thực hiện thắng lợi trận then chốt thứ hai của chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Hai, 2026, 09:02:50 am Như vậy, tính đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, nhờ phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng chủ lực cơ động với lực lượng vũ trang địa phương và các lực lượng khác; sự chỉ huy, điều hành thống nhất của Bộ Tư lệnh chiến dịch, quân và dân ta đã hoàn toàn bẻ gãy cánh quân bảo vệ sườn phía bắc của địch, tiêu diệt gần hết Lữ đoàn 3 dù, Thiết đoàn số 17 và đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 1 biệt động quân. Ta đã thành công trong việc đánh bại từng cánh quân của địch trong chiến dịch phản công, tạo áp lực mạnh từ phía bắc, uy hiếp trực tiếp tập đoàn chủ yếu của địch ở Bản Đông.
Ở khu vực phía nam, các chốt, điểm tựa phòng ngự trên các điểm cao của lực lượng tại chỗ của Đoàn 559 và lực lượng vũ trang địa phương đã tích cực, chủ động đánh địch, bắn rơi nhiều máy bay lên thẳng, phối hợp cùng Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 304 tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn 2, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 3 thuộc Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn. Mặt khác, do lực lượng tại chỗ tích cực bám đánh, ngăn chặn địch, tạo điều kiện cho lực lượng chủ lực cơ động tập trung lực lượng đẩy lùi mũi tiến công và đánh thiệt hại cánh quân bảo vệ sườn phía nam, hạn chế địch lùng sục, phá hoại hành lang vận chuyển và kho tàng của ta. Phối hợp với hướng phản công chủ yếu, ở khu vực phía đông, các lực lượng Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, gồm lực lượng chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và du kích, bằng nhiều trận phục kích địch trên bộ, trên sông, bằng pháo kích và tập kích vào các căn cứ hậu cần, sở chỉ huy của địch ở Kho Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử, Cửa Việt... gây thiệt hại nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Cùng thời điểm này, tại phía tây, lực lượng cơ động và tại chỗ của ta và bạn Lào đã phối hợp chặt chẽ, lần lượt đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn thuộc GM30 ở Phu Đô Tuya và GM33 ở Mường Pha Lan, buộc chúng phải rút chạy về Xa Ra Van và Đồng Hến. Bị lực lượng ta chặn đánh cả phía trước, hai bên sườn, phía sau và bất ngờ vì lực lượng chủ lực ta xuất hiện sớm, đặc biệt do lực lượng tại chỗ của ta bắn rơi nhiều máy bay lên thẳng chở quân, tiếp tế, đã gây cho địch thiệt hại rất nặng nề, làm cho địch hoang mang, lúng túng. Khi kế hoạch tiến công bị đảo lộn, địch buộc phải thay đổi quyết tâm và điều chỉnh lại lực lượng: Đưa Thê đội 2 chiến dịch vào chiến đấu, chuyển cánh quân phía nam Đường 9 thành cánh quân chủ yếu tiến lên Sê Pôn. Ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 1 địch đổ quân xuống chiếm các điểm cao 660, 723 478 làm bàn đạp, tiếp đó đổ 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 2 xuống chiếm đông bắc Sê Pôn, định bí mật luồn vào Sê Pôn. Phán đoán được ý đồ của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã sử dụng các lực lượng cơ động và tại chỗ ngăn chặn, buộc chúng phải vội vã rút lui và vượt qua sông Sê Pôn nhập với lực lượng đang chốt trên điểm cao 748. Một cánh quân khác cũng từ Bản Đông theo Đường 9 cơ động lên Sê Pôn để phối hợp với lực lượng trên, nhưng cũng bị lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ của ta ngăn chặn không lên được. Trên Đường 9, lực lượng chủ lực cơ động của ta phối hợp nhịp nhàng với lực lượng tại chỗ tiếp tục vận động tiến công, kết hợp chốt chặn tiêu diệt hàng trăm quân, phá hủy nhiều xe tăng, thiết giáp của địch. Tại Bản Đông, ta tiếp tục bao vây, áp sát, tập kích tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch và phương tiện chiến tranh. Mặc dù đưa Thê đội 2 vào tác chiến, nhưng địch không xoay chuyển được tình thế, buộc phải dừng cuộc tiến công, chuyển dần vào phòng ngự ở Bản Đông, tập trung lực lượng nhằm khai thông, giải toả Đường 9 (đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông), trong thế bị các lực lượng của ta chia cắt, bao vây, cô lập. Ta vẫn giữ được đường vận chuyển chiến lược, hình thành thế trận có lợi để chuyển sang tiến công lớn, tiêu diệt lực lượng chiến dịch của địch. Sau những thất bại liên tiếp, từ giữa tháng 3, dịch ngừng tiến công, co cụm và tìm đường rút chạy. Chớp thời cơ có lợi, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm: Kiên quyết chặn đường rút chạy của địch, không cho chúng rút nhanh, rút có tổ chức. Các lực lượng của ta chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận, đẩy mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng, đánh nhiều trận đạt hiệu suất chiến đấu cao. Các trung đoàn bộ binh 36, 64, 66 được xe tăng, pháo binh chi viện đã bao vây tiến công liên tục các lữ đoàn 1, 2 dù và 2 trung đoàn thiết giáp địch phòng ngự ở khu vực Bản Đông. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 18 tháng 3, địch bỏ Bản Đông, bỏ lại xe cơ giới, pháo hạng nặng, bí mật luồn rừng tháo chạy. Đoán được ý định tháo chạy của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã sử dụng các lực lượng tại chỗ đón đánh, ngăn chặn các ngả đường rút chạy của chúng. Các lực lượng chủ lực cơ động truy kích, tiêu diệt bộ phận lớn sinh lực địch, phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc toàn thắng. Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào cùng với các chiến dịch khác trong Xuân - Hè 1971, đã góp phần quan trọng làm thay đổi cục diện chiền trường, thay đổi so sánh tương quan lực lượng có lợi cho ta. Thắng lợi Đường 9 - Nam Lào đã đánh dấu một bước phát triển mới của nghệ thuật phối hợp nhiều thành phần lực lượng, trong đó bộ đội chủ lực là lực lượng trụ cột, cơ động, đảm nhận nhiệm vụ tác chiến trên từng mục tiêu trọng yếu, đánh những đòn quyết định thực hiện các trận đánh then chốt của chiến dịch. Bộ đội địa phương và dân quân du kích, các đơn vị làm nhiệm vụ tại chỗ đánh địch rộng khắp, bao vây ngăn chặn và phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực đã tạo được sức mạnh tổng hợp cho chiến dịch đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Đây là chiến dịch mở đầu thời kỳ quân ta mở chiến dịch tập trung, hiệp đồng binh chủng quy mô lớn..., đồng thời cũng là thời kỳ phát triển phong phú các hình thức, thủ đoạn, các biện pháp tác chiến, các hình thức chiến thuật của các lực lượng vũ trang ta trong điều kiện tác chiến mới. Ảnh hưởng của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã vượt xa phạm vi của bản thân nó cả về không gian và thời gian; tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của cuộc kháng chiến, không chỉ của nhân dân Việt Nam mà cả nhân dân ba nước Đông Dương. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào với nghệ thuật phối hợp các thành phần lực lượng chiến dịch tham gia tạo sức mạnh tổng hợp đánh địch vẫn còn nguyên giá trị. Để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, chống đế quốc và các thế lực thù địch gây chiến tranh xâm lược trong điều kiện đất nước ta còn nghèo, trang bị vũ khí, kỹ thuật cho quân đội còn hạn chế, muốn đánh thắng địch khi chúng liều lĩnh mở cuộc tiến công xâm lược Việt Nam, chúng ta không những phối hợp chặt chẽ sức mạnh của các thành phần lực lượng vũ trang, mà cần phối hợp sức mạnh của cả dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại để đánh địch giành thắng lợi. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2026, 09:04:32 pm CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO, BƯỚC PHÁT TRIỂN CAO CỦA NGHỆ THUẬT CHIẾN DỊCH VIỆT NAM Đại tá PHẠM HỮU THẮNG Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Nghệ thuật quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Thượng tá VŨ VĂN CÔNG Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Thực hiện kế hoạch chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn bắt đầu mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào, nhằm đánh chiếm Sê Pôn, chiếm giữ Đường số 9, đoạn Bản Đông - Sê Pôn, lập thành tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương, đe doạ miền Bắc Việt Nam, uy hiếp cách mạng Lào, phá hủy kho tàng trên tuyến hành lang chiến lược Tây Trường Sơn và bịt "con đường sống" của ta vào chiến trường miền Nam. Chúng đã huy động vào cuộc hành quân một lực lượng khổng lồ, gồm hơn 40.000 quân Sài Gòn, trên 6.000 quân Mỹ, 2 binh đoàn quân đội chính phủ phái hữu Lào, cùng một lực lượng lớn không quân, xe tăng, thiết giáp, pháo binh Mỹ yểm trợ1 (Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch lúc cao nhất 55.000 quân gồm 15 trung đoàn bộ binh, 3 thiết đoàn thiết giáp, 578 xe tăng, xe bọc thép 318 pháo, 700 máy bay các loại). Sau khi triển khai chiếm lĩnh xong khu vực tập kết, ngày 8 tháng 2, được sự yểm trợ của hoả lực Mỹ, 7 trung đoàn bộ binh, dù và thiết giáp của quân đội Sài Gòn, hình thành 3 cánh quân: cánh chủ yếu tiến theo Đường 9 lên Bản Đông, hai cánh quân khác đổ bộ bằng máy bay lên thẳng chiếm một loạt các điểm cao ở nam, bắc Đường 9, lập các căn cứ, trận địa hoả lực bảo vệ sườn cho cánh quân chủ yếu. Trên khu vực phía bắc Đường 9, tuy bị lực lượng tại chỗ, nhất là phòng không của ta đánh trả quyết liệt nhưng Lữ đoàn 3 dù và Liên đoàn 2 biệt động quân vẫn đổ được quân xuống các điểm cao 500, 316, 655, 543, 456 lập các căn cứ dã chiến. Trên khu vực phía nam, Sư đoàn 1 bộ binh (thiếu) địch chiếm khu vực Cô Bốc và các điểm cao 619, 537, 550, 532, 540. Quân phái hữu Lào phối hợp hoạt động ở tây Đường 9, đưa 2 Binh đoàn (GM 30 và GM 339 gồm 9 tiểu đoàn) đánh ra khu vực Mường Pha Lan. Do có sự chuẩn bị từ trước, các đơn vị tham gia chiến dịch của ta đã chủ động đón đánh địch, từng bước tiêu hao, ngăn chặn các cánh quân địch. Đoàn 559 tổ chức các chốt ngăn chặn ở Cô Bốc, Cô Rốc, các điểm cao 660, 723; Trung đoàn 24 tổ chức chốt ở điểm cao 351, cầu Cha Ky; Sư đoàn 308 tổ chức chốt ở điểm cao 311; lực lượng của B5 và đặc công hải quân đánh chìm 9 tàu chở vũ khí của địch ở Xuân Khánh, Vinh Quang, phục kích địch ở Bông Kho, Đầu Mầu, tập kích địch ở Kế Sóc, Ba Lào... Trên hướng phản công chủ yếu, ta sử dụng một số đơn vị tiến công vào các cứ điểm vòng ngoài của địch. Trung đoàn 88 (Sư đoàn 308) tập kích tiêu hao Tiểu đoàn 21 biệt động quân ở điểm cao 316. Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) tiến công Tiểu đoàn 6 dù ở điểm cao 456. Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308) tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 39 biệt đông quân ở điểm cao 500... Sau khi phá võ hệ thống phòng ngự vòng ngoài ở phía bắc của địch, ngày 17 tháng 2, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Trung đoàn bộ binh 64 cùng Trung đoàn pháo binh 45, 1 đại đội xe tăng thực hiện trận then chốt, tiêu diệt căn cứ 31 của địch ở điểm cao 543. Từ ngày 18 tháng 2, được sự chi viện của pháo binh chiến dịch, Trung đoàn 64 triển khai xây dựng trận địa vây lấn tiến công căn cứ địch ở khu vực điểm cao 543. Sau một thời gian liên tục vây ép địch, ngày 25 tháng 2, Trung đoàn 64 được pháo binh, xe tăng chi viện, tiến công dứt điểm, xoá sổ Lữ đoàn 3 dù, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ - lữ đoàn trưởng và ban tham mưu lữ đoàn, góp phần bẻ gãy hoàn toàn cánh quân phía bắc Đường 9 của địch, tạo điều kiện cho các hướng khác của chiến dịch kìm chân dịch bảo vệ được hành lang vận chuyển chiến lược. Bị chặn đánh cả ở phía trước, phía sau và hai bên sườn, cánh quân phía bắc Đường 9 bị tiêu diệt, địch đưa Thê đội 2 vào chiến đấu và chuyển cánh quân phía nam Đường 9 thành cánh quân chủ yếu tiến lên Sê Pôn. Ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn đổ quân xuống chiếm các cao điểm 660 723, 748 làm bàn đạp chiếm Sê Pôn. Trong đó, Trung đoàn 1 ở điểm cao 723, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 ở các điểm cao 660, 462 và 651. Quyết tâm bẻ gãy cánh quân phía nam, từ đêm 8 đến 17 tháng 3 năm 1971, Sư đoàn 2 liên tục tiến công, chia cắt tiêu diệt từng cụm quân địch, tiến tới tiêu diệt toàn bộ Trung đoàn 1 dịch, kết thúc thắng lợi trận then chốt ở khu vực điểm cao 723. Trong lúc Sư đoàn 2 và Sư đoàn 324 đang bao vây, tiến công cánh phía nam Đường 9 của địch, trên cơ sở thế trận bao vây chiến dịch đã hình thành, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tập trung 3 trung đoàn bộ binh (Trung đoàn 36 Sư đoàn 308, Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 và Trung đoàn 66 Sư đoàn 304), 2 trung đoàn pháo binh (368 và 45), 5 đại đội xe tăng, được lực lượng phòng không của chiến dịch chi viện tiến hành vây lấn tiến công, tiêu diệt tập đoàn chủ yếu trong cuộc hành quân của địch ở Bản Đông1 (Lực lượng địch ở Bản Đông có Lữ đoàn dù 1 (gồm 3 tiểu đoàn 7, 8, 9), Lữ đoàn dù 2 (thiếu 1 tiểu đoàn), 2 thiết đoàn thiết giáp (7 và 11) một bộ phận còn lại của Thiết đoàn 17, 2 tiểu đoàn pháo binh. Địch bố trí đội hình thành 3 cụm phòng ngự, có công sự trận địa vững chắc. Xung quanh căn cứ Bản Đông, địch rải hàng rào dây thép gai bao quanh, có nơi đến 6 lớp rào đặc biệt chúng còn bố trí các bãi mìn dày đặc (trong đó có cả các bãi mìn của ta do các đơn vị bao vây trước đó để lại)). Từ ngày 13 đến ngày 18 tháng 3 năm 1971, quân ta thực hành vây lấn tiến công vào căn cứ Bản Đông. Trước sức ép ngày càng mạnh của ta, để tránh nguy cơ bị tiêu diệt cận kề, ngày 18 tháng 3, địch bắt đầu rút khỏi Bản Đông. Bộ Tư lệnh Chiến dịch lệnh cho các đơn vị tiến công Bản Đông. Ngày 20 tháng 3, khi quân ta phát triển vào bên trong căn cứ thì một phần lớn quân địch đã tháo chạy. Các đơn vị nhanh chóng chuyển sang truy kích, tiêu diệt một bộ phận quân địch, thu nhiều vũ khí trang bị. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Kết quả, ta tiêu diệt và làm bị thương 19.960 ten, bắt 1.142 tù binh, bắn rơi, phá hủy 556 máy bay, 1.138 xe quân sự, 112 khẩu pháo cối, thu 2 máy bay trực thăng và nhiều vũ khí, phương tiện quân sự. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2026, 09:06:39 pm Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào toàn thắng. Lực lượng chủ lực và dự bị chiến lược của quân đội Sài Gòn đã bị tiêu diệt một bộ phận quan trọng, gây chấn động mạnh đối với binh sĩ dịch trên khắp chiến trường. Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào thể hiện sức mạnh vượt bậc của bộ đội chủ lực Việt Nam, đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam, thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau:
1. Phán đoán đúng âm mưu của địch, tổ chức chuẩn bị chu đáo, tạo được thế trận có lợi để đánh bại cuộc hành quân của địch. Ngay từ đầu năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã dự kiến dịch sẽ tiến công chia cắt chiến lược trên ba hướng: một là Đường 9 - Nam Lào, cắt đoạn Bản Đông - Sê Pôn; hai là, phản công ra vùng Ngã ba biên giới và Hạ Lào; ba là, phản công sang Campuchia. Trong đó, Đường 9 - Bản Đông - Sê Pôn là hướng chủ yếu. Từ nhận định trên, Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương xác định: hướng Đường 9 - Nam Lào là địa bàn gần miền Bắc, có nhiều kho dự trữ chiến lược, ta có điều kiện phát huy sức mạnh của các đơn vị chủ lực, tập dượt chiến đấu hiệp đồng binh chủng, và giao cho Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ huy, điều hành chiến dịch phản công với lực lượng binh chủng hợp thành lớn để đánh bại bước đầu chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Quân ủy Trung ương nhấn mạnh: Đây là chiến dịch có ý nghĩa quyết định về chiến lược và do Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp tổ chức và chỉ huy đầu tiên trên chiến trường miền Nam, nên nhất định phải đánh thắng; phải nhân cơ hội này mà rèn luyện bộ đội chủ lực trưởng thành lên một bước mới trong tác chiến tập trung đánh lớn, hiệp đồng binh chủng. Ngay từ tháng 3 năm 1970, Cục Tác chiến đã bắt tay vào chuẩn bị kế hoạch chiến dịch, chủ yếu là nhận định tình hình, dự kiến sử dụng lực lượng trên các hướng, chuẩn bị hậu cần, kỹ thuật. Tiếp đó, Bộ đã cử đoàn cán bộ có các đồng chí Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Hoàng Nghĩa Khánh - Cục phó Cục Tác chiến vào Bộ Tư lệnh 559 và một số đơn vị phía nam để phổ biến ý định của Quân ủy Trung ương và triển khai việc chuẩn bị chiến trường trên tuyến vận tải chiến lược 559, đồng thời trực tiếp thu thập các ý kiến từ chiến trường. Tháng 11 năm 1970, kế hoạch chiến dịch được Quân ủy Trung ương thông qua lần đầu, sau đó bổ sung và thông qua chính thức vào tháng 12 năm 1970. Trong kế hoạch, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức bố trí lực lượng đảm bảo có thể đánh địch ở cả phía bắc, phía nam, phía tây, phía đông và ở khu vực phía sau vào các căn cứ hậu cần, kỹ thuật của địch; cụ thể: Lực lượng ngăn chặn, tạo thế gồm Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 và các đơn vị tại chỗ của Đoàn 559; cụm lực lượng trên hướng chủ yếu phía bắc, gồm Binh đoàn 70 (thiếu) và phần lớn xe tăng, pháo binh chiến dịch; cụm lực lượng trên hướng thứ yếu phía nam, gồm Sư đoàn 324 (thiếu), Sư đoàn 2 và một bộ phận pháo binh, xe tăng, phòng không chiến dịch; lực lượng đánh địch ở phía sau, gồm lực lượng tại chỗ của B5, một số tiểu đoàn đặc công Bộ, Trung đoàn pháo binh 84 và Trung đoàn 2 Sư đoàn 324; lực lượng đánh địch trên hướng phối hợp ở phía tây có Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 và lực lượng tại chỗ. Cho đến trước ngày địch mở cuộc hành quân lớn, mọi công tác chuẩn bị của ta từ cấp chiến lược đến các đơn vị đã cơ bản hoàn thành. Trên địa bàn bắc, nam Đường 9, Bộ đội 559 đã tổ chức 7 khu vực tác chiến tại chỗ; huy động tham gia chiến dịch 1 sư đoàn và 5 trung đoàn phòng không (có một trung đoàn tên lửa của Bộ), 10 tiểu đoàn pháo cao xạ, 25 đại đội và 33 trung đội súng máy cao xạ, bố trí thành 8 cụm trên tâm điểm là tam giác Bản Đông - Tha Mé - La Hạp, hình thành lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều vòng sẵn sàng đánh địch. Các mạng đường chiến dịch đã được hoàn chỉnh thêm. Các kho vật chất ở khu vực Đường 9 có hơn 3.000 tấn. Hàng dự trữ chiến lược trên tuyến có hơn 3.000 tấn. Các lực lượng tham gia chiến dịch đã sẵn sàng chờ lệnh nổ súng của Bộ Tư lệnh chiến dịch. 2. Tổ chức, điều hành thành công chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đánh tiêu diệt quân địch. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn đầu tiên của quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ. Trong chiến dịch, ta đã sử dụng khoảng 60.000 quân (cả chiến đấu và phục vụ chiến đấu), gồm: 5 sư đoàn bộ binh; 4 tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp; 4 trung đoàn pháo binh; 4 trung đoàn phòng không, 3 trung đoàn công binh, một số tiểu đoàn đặc công và lực lượng chiến đấu tại chỗ của Mặt trận B4 và B5, Đoàn 559, các đơn vị bộ đội tình nguyện và bộ đội Trung - Hạ Lào. Trong tổ chức điều hành chiến dịch, từ tháng 10 năm 1970, Bộ đã tổ chức Binh đoàn chiến dịch 70 (B70), gồm các sư đoàn 308, 304, 320 và một số đơn vị binh chủng, đứng chân ở nam Khu 4, sẵn sàng tham gia chiến dịch (đây là lần đầu tiên ta hình thành tổ chức binh đoàn chiến dịch, tương đương quân đoàn). Tiếp đó, Quân ủy quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch do đồng chí Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Quang Đạo làm Chính ủy, đồng chí Cao Văn Khánh làm Phó Tư lệnh Chiến dịch, chỉ huy Binh đoàn 70. Bên cạnh Bộ Tư lệnh Chiến dịch còn có đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh (đồng chí Văn Tiến Dũng). Với một tổ chức chặt chẽ và đủ thẩm quyền chỉ huy mọi lực lượng trong khu vực, Bộ chỉ huy đã điều hành chiến dịch một cách chặt chẽ, chủ động và kịp thời, phát huy cao độ sức mạnh của các lực lượng tham gia chiến dịch, tạo ra sức mạnh hiệp đồng binh chủng lớn đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn của địch. Đặc biệt, trong các trận then chốt chiến dịch, cơ quan và người chỉ huy đã nắm chắc tình hình địch, xử lý đúng các tình huống chiến dịch và chiến thuật, nắm chắc thời cơ, sử dụng hơn một trung đoàn đến hơn một sư đoàn bộ binh, được tăng cường binh khí kỹ thuật, tổ chức hiệp đồng chặt chẽ, đánh tiêu diệt các tiểu đoàn, trung đoàn địch, giành thắng lợi lớn. Có thể nói, tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng lớn, đánh tiêu diệt quân địch là thành công nổi bật nhất của bộ đội ta trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Thành công này thực sự là nội dung quan trọng đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam nói chung, nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng; đồng thời, đánh dấu bước trưởng thành quân trọng của bộ đội ta trong tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, có ý nghĩa chiến lược. 3. Vận dụng sáng tao cách đánh chiến dịch phản công, phát huy mọi lực lượng trong địa bàn chiến dịch, đánh địch ở cả phía trước, bên sườn và phía sau, từng bước ngăn chặn địch, tạo thời cơ tập trung lực lượng tiến công vào bên sườn, bẻ gãy từng cảnh quân, tiến tới đánh bại cuộc hành quân của địch. Cách đánh chung trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là: Phát huy thế trận đã chuẩn bị trước, ngăn chặn địch từng bước, tập trung lực lượng bẻ gãy cánh quân phía bắc, đánh thiệt hại nặng cánh quân phía nam, rồi chuyển sang tiến công vào toàn bộ đội hình địch và đánh địch rút chạy. Trong giai đoạn đầu của chiến dịch, phần lớn quân địch đều phải dừng lại vì bị ta liên tục chặn đánh cả ở phía trước, bên sườn và phía sau đội hình hành quân. Ta đã dựa vào thế trận chiến dịch và thế trận chiến tranh nhân dân để căng kéo, không chế địch, phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ, trong đó chú trọng phát huy cao độ sức mạnh của lực lượng tại chỗ để ngăn chặn địch. Đặc biệt, ta đã tổ chức được lực lượng phòng không tầm thấp (của Đoàn 559) đánh máy bay trực thăng rất hiệu quả, kết hợp với các trận đánh vừa và nhỏ ở khắp địa bàn chiến dịch và ở phía sau đội hình hành quân của địch. Hoạt động rộng khắp của ta đã buộc địch phải dừng lại ở những khu vực dự kiến và chúng phải đối phó cả ở phía trước, phía sau và bên sườn. Trên cơ sở lực lượng chủ lực cơ động được bố trí hợp lý, ta đã tập trung lực lượng Binh đoàn 70 bẻ gãy cánh quân phía bắc. Tiếp đó, khi địch đưa Thê đội 2 vào chiến đấu, chuyển cánh quân phía nam Đường 9 thành cánh quân chủ yếu, tiến lên Sê Pôn, ta đã tập trung lực lượng vào cánh nam (Sư đoàn 2 và Sư đoàn 324) đánh quỵ Sư đoàn 1 của địch, bẻ gãy cánh quân phía nam; đồng thời tập trung 3 trung đoàn bộ binh cùng một bộ phận lớn lực lượng pháo binh, xe tăng vây lấn tiến công, tiêu diệt lực lượng chủ yếu trong cuộc hành quân của chúng ở Bản Đông. Có thể nói, cách đánh trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là sự kế thừa sáng tạo cách đánh trong các chiến dịch phản công trước đó. Đây là bước phát triển mới, góp phần quan trọng đưa nghệ thuật chiến dịch phản công trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lên bước phát triển cao1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945- 1975), Tập 2 (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.164). Ngoài các nội dung chủ yếu trên, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào còn có những thành công về nghệ thuật lập thế ta, phá thế địch; nghệ thuật kết hợp lực lượng chủ lực cơ động với lực lượng tại chỗ ở địa bàn rừng núi; nghệ thuật phát huy sức mạnh của mọi lực lượng (cả lực lượng vũ trang của bạn Lào) trên địa bàn chiến dịch... "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân lớn nhất và điển hình theo công thức "Lục quân ngụy + Hoả lực Mỹ" trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã huy động phần lớn lực lượng dự bị chiến lược cùng lực lượng cơ động của Vùng chiến thuật 1, các lực lượng tiếp vận của quân đội Sài Gòn, với sự chi viện tối đa của hỏa lực, hậu cần kỹ thuật và một bộ phận quân Mỹ yểm trợ ở phía sau, hòng nhanh chóng làm chủ và biến Đường 9 thành "lưỡi dao" cắt ngang tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh của ta, song chúng đã thất bại. Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mang lại ý nghĩa chiến lược to lớn, tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của cuộc kháng chiến của quân và dân ba nước Đông Dương anh em. Riêng về quân sự, thắng lợi của chiến dịch không chỉ khẳng định sức mạnh to lớn, sự trưởng thành của quân đội ta trong tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng, mà còn đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam nói chung và nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng, góp phần xây dựng lý luận nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2026, 09:08:37 pm ĐÁNH GIÁ ĐÚNG TÌNH HÌNH, TẠO LẬP THẾ TRẬN VỮNG CHẮC - YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO Đại tá NGUYỄN TRƯỜNG GIANG Trưởng phòng Tổng kết chiến tranh - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Ngày 30 tháng 1 năm 1971, địch tập trung một lực lượng lớn1 (Lực lượng địch sử dụng trong hành quân lúc cao nhất lên tới 55.000 tên, gồm 40.000 quân nguỵ và 15.000 quân Mỹ, trong đó, quân nguỵ làm nhiệm vụ tiến công, quân Mỹ yếm trợ phía sau và chi viện hoả lực. Các đơn vị đảm nhiệm tiến công: Quân ngụy Sài Gòn có 4 sư đoàn (1, 2 dù, thủy quân lục chiến), 1 liên đoàn biệt động quân, 2 lữ đoàn tăng thiết giáp (578 xe), 21 tiểu đoàn pháo binh (318 khẩu các loại), 1.000 máy bay các loại. Quân nguỵ Lào có 2GM (30, 33). Dẫn theo tài liệu Cách đánh của địch trong hành quân "Lam Sơn 719" của Cục Nghiên cứu - Bộ Tổng Tham mưu) mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào. Sau khi triển khai xong ở khu vực tập kết, ngày 8 tháng 2, được sự yểm trợ của quân Mỹ, 7 trung đoàn bộ binh, dù, biệt động quân và các đơn vị thiết giáp quân đội Sài Gòn hình thành 3 cánh quân vượt biên giới Việt - Lào đánh chiếm khu vực Bản Đông - Sê Pôn. Cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9 lên Bản Đông. Hai cánh quân khác cơ động bằng máy bay lên thẳng đổ bộ xuống chiếm một loạt các điểm cao khống chế ở các khu vực nam - bắc Đường 9. Tiến hành cuộc hành quân này, Mỹ và quân đội Sài Gòn hy vọng sẽ cắt đứt tuyến chi viện chiến lược của ta, qua đó làm suy yếu cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương, tạo nên thế mạnh trên chiến trường, hòng ép ta nhân nhượng trong đàm phán ở Pari, xoay chuyển cục diện chiến tranh có lợi cho chúng. Đây là cố gắng quân sự lớn nhất của Mỹ trong thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Nhưng cuộc hành quân có quy mô lớn nhất với nhiều tham vọng của Mỹ và quân đội Sài Gòn đã nằm trong dự kiến trước của ta và nhanh chóng bị quân dân ta đánh bại. Từ ngày 30 tháng 1 đến 23 tháng 3 năm 1971, ta đã tổ chức thành công chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch, tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn, 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn xe tăng, xe thiết giáp, đánh thiệt hại 1 lữ đoàn, 2 trung đoàn, 1 liên đoàn và 3 tiểu đoàn khác, diệt và làm bị thương 19.960 tên địch, bắt 1.142 tên; bắn rơi và phá hủy 556 máy bay các loại, 1.138 xe tăng thiết giáp, 112 khẩu pháo cối; thu 24 xe ô tô, 78 khẩu pháo, cối, 2.268 súng bộ binh, 274 máy vô tuyến điện. Thắng lợi của chiến dịch phản công hiệp đồng quân binh chủng với quy mô lớn có ý nghĩa chiến lược ở Đường 9 - Nam Lào phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan, khách quan. Nhưng điều quan trọng có tính quyết định nhất là ta đã dự doán đúng âm mưu chiến lược của địch, đánh giá chính xác tình hình dịch - ta, nắm chắc địa hình thời tiết, chủ động chuẩn bị, tạo lập một thế trận vững chắc để từ đó sử dụng lực lượng và xác định cách đánh thích hợp, phát huy thế mạnh của ta, hạn chế chỗ mạnh của địch, lần lượt bẻ gãy từng mũi, từng cánh quân tiến đến bẻ gãy hoàn toàn cuộc hành quân của chúng. Từ cuối năm 1969 đến năm 1970, quân và dân ta trên chiến trường đã vượt qua muôn vàn khó khăn, chịu nhiều hy sinh gian khổ, kiên trì bám trụ đánh địch. Từ hậu phương miền Bắc, ta không ngừng chi viện sức người, sức của cho các chiến trường. Với sự nỗ lực rất lớn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, thế và lực của ta trên chiến trường từng bước được khôi phục và phát triển. Ngay từ khi quân ta phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia đánh bại cuộc tiến công xâm lược của địch sang Đông Bắc Campuchia (29.4 - 30.6.1970), Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã dự kiến trong mùa khô 1970 - 1971 có thể địch sẽ tiến công vào hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Ta cũng dự kiến và chuẩn bị đối phó với khả năng chúng có thể đánh ra Nam Khu 4. Từ những phán đoán và dự kiến đúng đắn, chính xác nói trên, ngay từ tháng 5 năm 1970, ta đã tiến hành các công tác chuẩn bị. Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Đoàn 559 làm thêm đường 10, củng cố đường 16B, chuẩn bị khai thông đường 16D, củng cố tuyến đường B70. Tháng 9 năm 1970, cơ quan Bộ lại hướng dẫn Đoàn 559 và các mặt trận B4, B5 tiến hành chuẩn bị thêm một bước cụ thể tại chiến trường. Tháng 10 năm 1970, ta thành lập Binh đoàn B701 (Binh đoàn B70 gồm 3 sư đoàn (308, 304, 320) và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng do Đại tá Cao Văn Khánh làm Tư lệnh, Đại tá Hoàng Phương làm Chính ủy. Trước chiến dịch, Sư đoàn 308 ở Nghệ An - Hà Tình, Sư đoàn 304 (thiếu) ở Quảng Bình, Trung đoàn 24 (thiếu) ở Làng Ho. Sư đoàn 320 (thiếu) bố trí Trung đoàn 48 ở Mương Phin, Pha Lan; Trung đoàn 64 đang trên đường hành quân vào B3 được lệnh quay lại khu vực Cha Ky. Các đơn vị binh chủng bố trí ở Nam Khu 4), bố trí ở nam Quân khu 4 sẵn sàng phối hợp với lực lượng tại chỗ2 (Lực lượng tại chỗ gồm các đơn vị của Quân khu 4, Mặt trận B4, B5, Đoàn 559. Ngoài ra còn có Sư đoàn 2 (thiếu) là chủ lực của Quân khu 5 đang củng cố huấn luyện ở khu vực Đường 9) đối phó với mọi tình huống xảy ra. Các đơn vị đứng chân sẵn trên từng khu vực cũng được lệnh tích cực chuẩn bị sẵn sàng phối hợp với chủ lực. Binh đoàn B70 đã tổ chức chuẩn bị các điều kiện tác chiến cho từng trung đoàn, tiểu đoàn...; dự kiến các khu vực chốt chặn; sử dụng công binh cấu trúc sở chỉ huy, kho tàng trạm phẫu...; điều Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24) vào chốt trước tại chiến trường1 (Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24) bố trí phòng ngự ở điểm cao 351, cầu Cha Ky) cùng lực lượng tại chỗ. Tháng 1 năm 1971, ta triển khai xong sở chỉ huy nhẹ để kịp thời chỉ huy các lực lượng đánh địch; chuẩn bị 6.000 tấn vật chất trên các hướng đảm bảo cho 5 đến 6 vạn quân tác chiến trong thời gian từ 4 đến 5 tháng. Ngoài ra, trên tuyến vận tải chiến lược 559 ta còn dự trữ hơn 3.000 tấn vật chất, khi cần có thể cung cấp ngay cho các lực lượng tác chiến chiến dịch. Đề phòng tình huống địch mở rộng tiến công ra Nam Khu 4, Bộ đã tăng cường 10 tiểu đoàn pháo cao xạ từ phía Bắc vào Nam Khu 4 để bảo vệ giao thông và yếu địa; tăng cường cho các huyện ven biển từ Nam Hà đến Thanh Hoá 10 đại đội bộ binh sẵn sàng đánh địch nếu chúng liều lĩnh tập kích bằng đường biển. Sau khi phát hiện chính xác địch tiến công ra Đường 9 - Nam Lào, ngày 4 tháng 2 năm 1971, Bộ Tổng Tư lệnh ra Quyết định số 51/QĐ-QP thành lập Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (Mặt trận 702) do đồng chí Lê Trọng Tấn, Tổng tham mưu phó làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Nhiều đồng chí cán bộ phụ trách các tổng cục, các quân binh chủng được tăng cường cho cơ quan chiến dịch. Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng được cử làm đại diện của Bộ bên cạnh Bộ Tư lệnh chiến dịch. Đây là một cơ quan chỉ huy mạnh có đủ thẩm quyền chỉ huy các lực lượng tham gia chiến dịch và tổ chức hiệp đồng với các chiến trường liên quan như các Bộ Tư lệnh B4, B5, Quân khu 4, Đoàn 559 và lực lượng vũ trang cách mạng Lào. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm có 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 4 tiểu đoàn tăng thiết giáp (177, 297, 397, 198), 4 trung đoàn pháo binh (368, 38, 45, 84), 4 trung đoàn cao xạ (230, 237, 241, 491), 3 trung đoàn công binh (7, 83, 219), Đoàn 126 đặc công Hải quân và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ. Lực lượng tại chỗ gồm lực lượng của Đoàn 559 và các mặt trận B4, B5, lực lượng vũ trang cách mạng Lào. Đây là chiến dịch tập trung các đơn vị binh chủng hợp thành đông nhất, mạnh nhất của quân đội ta từ trước đến lúc đó. Khi giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhận định: Sử dụng một lực lượng lớn đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào, sức tiến công của địch rất mạnh, quân địch chủ yếu sẽ cơ động vận chuyển tiếp tế theo Đường 9 và bằng đường không. Cảng Cửa Việt sẽ là nơi tiếp nhận phần lớn vật chất của địch, từ đó chúng ngược sông Hiếu chuyển lên Đông Hà. Tuy nhiên, đánh ra Đường 9 - Nam Lào vào thời điểm này là thất sách lớn của chúng, chứng tỏ chúng không am hiểu địa hình thời tiết. Khu vực này từ sáng đến trưa sương mù thường dày đặc sẽ là một bất lợi đối với không quân, thiết giáp của địch. Từ những nhận định trên và từ cách đánh của chiến dịch phản công, sau khi giao nhiệm vụ cho các đơn vị, đồng chí Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho Hải quân phải bằng mọi cách chọc thủng "cái dạ dày" của địch ở Cửa Việt. Đoàn 559 có nhiệm vụ bảo vệ hành lang vận chuyển, kho tàng, tổ chức thêm các cụm chiến đấu, các khu chốt (ở các điểm cao trên dãy Phu Rệp, Sê Pôn; khu vực Cô Bốc, Cô Rốc...). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2026, 09:09:57 pm Thực hiện mệnh lệnh tác chiến của Bộ, Binh đoàn 70 bí mật cơ động bằng ô tô vượt qua chặng đường 500km vào tập kết ở bắc Đường 9. Sư đoàn 324 hành quân cấp tốc từ Mặt trận 134 lên tập kết ở nam Đường 9. Sư đoàn 2 tập kết ở phía tây Bản Đông. Lực lượng tại chỗ của các Mặt trân B4, B5, Đoàn 559 gồm các đơn vị bộ binh, đặc công công binh, phòng không và Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) tổ chức các trận địa chốt trên các điểm cao ở bắc, nam và dọc theo Đường 9. Đồng chí Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần quyết định xuất kho, cấp phát trực tiếp 300 khẩu súng máy 12,7mm cho Đoàn 559 (là số vũ khí đang trên đường chuyển vào chiến trường Nam Bộ theo mênh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu) để các đơn vị kịp thời sử dụng bắn máy bay bay thấp của địch. Đến đầu tháng 2 năm 1971, các công tác chuẩn bị của ta đã cơ bản hoàn thành. Các lực lượng tại chỗ cả của ta và bạn Lào cùng với khối chủ lực cơ động đã hình thành nên một thế trận vững chắc, có chiều sâu trên địa bàn chiến dịch.
Tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719" địch tin rằng với một lực lượng hùng hậu, nhất là ưu thế về xe tăng, thiết giáp và không quân, được đảm bảo tiếp tế đầy đủ; trong khi lực lượng của ta trên địa bàn tác chiến không đủ sức mạnh và cũng không thể kịp thời cơ động từ nơi khác đến trước khi chúng tiến công, chắc chắn cuộc tiến công sẽ giành thắng lợi. Trong cuộc tiến công này, địch đã sử dụng gần 700 máy bay lên thẳng, với 40 000 lần chiếc hoạt động trong một tháng, ngày cao nhất đến 4.000 lần chiếc. Số lượng lớn máy bay lên thẳng đó lại được sự hỗ trợ của hàng trăm máy bay cường kích phản lực các loại, kể cả B-52. Địch cho rằng sự kết hợp chặt chẽ giữa hoả lực và khả năng cơ động bằng máy bay lên thẳng sẽ cho phép 40.000 quân địch đảm nhiệm những nhiệm vụ lẽ ra phải cần đến từ 8 đến 10 vạn quân. Đó là chưa kể đến số lượng lớn xe tăng, xe thiết giáp. Với gần 600 xe tăng, xe thiết giáp, chúng sẽ tạo được sức đột kích mạnh và kịp thời để áp đảo đối phương. Địch còn thiết lập các "căn cứ hỏa lực" gồm hơn 300 khẩu pháo các loại để yểm trợ cho bộ binh, xe tăng, xe thiết giáp tiến công. Dựa vào thế trận đã chuẩn bị cùng với thế hiểm của địa hình, thời tiết, lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta đã lần lượt đánh bại các cánh quân của địch tiến tới bẻ gãy hoàn toàn cuộc hành quân với những thủ đoạn tác chiến hiện đại của chúng. Mỹ và quân đội Sài Gòn sử dụng nhiều máy bay lên thẳng, xe tăng, thiết giáp và pháo binh nhưng sức mạnh của chúng bị hạn chế bởi địa hình rừng núi thời tiết sương mù, đường độc đạo... và thế trận đã chuẩn bị sẵn của ta. Ngay từ lúc địch vượt biên giới, lực lượng phòng không của ta, đặc biệt là loại súng 12,7mm bố trí ở các điểm cao đã bắn rơi 50 máy bay địch khi chúng đang đổ quân. Các chốt của ta đã phá hủy hàng chục xe tăng thiết giáp, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Lực lượng pháo binh của ta kìm chặt các căn cứ hỏa lực của địch. Cách đánh sáng tạo, rộng khắp của lực lượng tại chỗ đã tạo thế cho chủ lực đánh những đòn quyết định. Không quân của địch, nhất là máy bay lên thẳng hoạt động hạn chế bởi thời tiết xấu, buộc phải bay thấp đó là cơ hội tốt cho lực lượng phòng không của ta, đặc biệt là loại súng máy cao xạ 12,7mm tiêu diệt. Ta tận dụng thời cơ có lợi đánh máy bay địch khi vận chuyển, đổ quân tiến công và cả lúc chúng rút chạy, tính trung bình mỗi ngày bắn rơi hàng chục máy bay, ngày cao nhất bắn rơi 42 chiếc. Đặc biệt, trong hai trận then chốt ở dãy Phu Rệp và Bản Đông, ta đã bắn rơi và phá hỏng 170 chiếc. Đây là chiến dịch ta bắn rơi và phá hủy nhiều máy bay lên thẳng nhất của địch. Xe tăng, thiết giáp của địch cũng không phát huy được thế mạnh ở khu vực rừng núi. Khi bị ta tiến công, đội hình xe tăng, xe thiết giáp của địch dễ bị chia cắt, hiệp đồng giữa bộ binh, thiết giáp và không quân của chúng dễ bị phá vỡ, chỉ huy rối loạn... làm "mồi" cho các hoả lực chống tăng của ta. Trong trận then chốt tiêu diệt căn cứ 543 và đánh địch phản kích, ta đã tiêu diệt toàn bộ Tiểu đoàn 8 dù và Thiết đoàn 17 gồm 120 xe tăng, xe thiết giáp của địch. Mỹ và quân đội Sài Gòn lập các căn cứ hỏa lực chi viện cho bộ binh, xe tăng, xe thiết giáp. Nhưng các căn cứ hoả lực này bị ta bao vây, kìm chặt, chia cắt chúng với nhau, chia cắt với không quân, nên khả năng chi viện bị hạn chế và lần lượt bị ta tiêu diệt. Cùng với các lực lượng tác chiến ở phía trước, trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, bộ đội Đoàn 126 đặc công Hải quân đã chấp hành nghiêm chỉ thị "đánh theo mệnh lệnh, đánh theo yêu cầu của Mặt trận" của Đại tướng Tổng Tư lệnh. Đơn vị đã vượt qua nhiều hy sinh khó khăn thử thách, chốt giữ, bám trận địa dài ngày chiến đấu ngoan cường, hiệp đồng chặt chẽ, đánh liên tục, đã đánh chìm 43 tàu vận tải và tàu chiến của địch, diệt hàng trăm tên, phá hủy hàng chục ngàn tấn vật chất, phương tiện chiến tranh của địch khiến quân cảng Cửa Việt của địch thường xuyên bị tê liệt, có thời gian bị tắc nghẽn liên tục 31 ngày đêm1 (Lịch sử Đoàn đặc công Hài quân 126 (1966 - 2006), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.185). Có thể khẳng định, trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Bộ đội Hải quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ "chọc thủng dạ dày Cửa Việt" của địch mà đồng chí Đại tướng Tổng Tư lệnh đã giao phó. Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, do nắm chắc tình hình, đánh giá chính xác những điểm mạnh, điểm yếu của địch, nắm chắc địa hình thời tiết, ta đã phát huy cao độ thế mạnh của ta, hạn chế những mặt mạnh của địch, chủ động xây dựng kế hoạch tác chiến, chuẩn bị lực lượng, thiết bị chiến trường... Khi phát hiện chính xác hành động của địch, ta đã kịp thời cơ động, điều chỉnh, bố trí và sử dụng lực lượng, tạo nên một thế trận vững chắc, rộng khắp có chiều sâu (mặc dù trong điều kiện ở khu vực tác chiến rất ít dân). Trên cơ sở đó, cùng với phương pháp tác chiến chiến dịch và vận dụng chiến thuật phù hợp, ta đã đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" - nỗ lực lớn nhất về quân sự trong chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của địch. Thắng lợi của ta trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa hết sức to lớn, nó tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của chiến trường ba nước Đông Dương; đánh dấu bước thất bại quan trọng của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" ở Việt Nam nói riêng và chiến lược "Đông Dương hoá chiến tranh" của Mỹ nói chung. Thắng lợi của chiến dịch đã khẳng định bước trưởng thành vượt bậc của quân đội ta về tổ chức xây dựng lực lượng và trình độ tác chiến hiệp đồng quân binh chủng. Chiến dịch diễn ra cách đây đã 40 năm, nhưng những bài học của nó nhất là bài học về nắm chắc, phân tích đánh giá chính xác tình hình địch; đánh giá đúng những yếu tố thuận lợi, khó khăn của địa hình, thời tiết... triệt để tận dụng để sử dụng lực lượng phù hợp, tạo lập thế trận tác chiến vững chắc rộng khắp, có chiều sâu là những bài học quý cho quân và dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2026, 09:11:55 pm GIÀNH VÀ GIỮ QUYỀN CHỦ ĐỘNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG - YẾU TỐ TRỰC TIẾP QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Đại tá, TS TRẦN VĂN THỨC Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Đại úy, ThS LÊ VĂN CỬ Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (30-1 - 23-3-1971) là chiến dịch phản công có ý nghĩa chiến lược. Thắng lợi của chiến dịch đã làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng và cục diện chiến trường, góp phần làm thất bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ mở ra thời cơ mới thuận lợi cho cách mạng Việt Nam Lào và Campuchia. Góp phần tạo nên thắng lợi đó bao gồm nhiều yếu tố tạo thành, trong đó, giành và giữ quyền chủ động chiến lược trên chiến trường là yếu tố trực tiếp quyết định. Điều đó được thể hiện: 1. Phán đoán đúng âm mưu, ý đồ hành động của địch, nghiên cứu nắm vững quy luật hoạt động tiến công của chúng. Đến cuối năm 1970, tuy liên tiếp bị thất bại trên chiến trường ba nước Đông Dương, nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", quan trọng là củng cố thế phòng ngự ở miền Nam Việt Nam, cố giữ cho tình hình Campuchia không xấu thêm và giằng co với ta ở Lào. Để đạt mục tiêu trên, đế quốc Mỹ tính toán rằng phải cắt đứt được hoàn toàn tuyến vận tải chiến lược từ Bắc vào Nam của ta, làm cho các lực lượng cách mạng ở miền Nam suy yếu, không thể đánh tập trung quy mô lớn trong mùa khô 1971 và cả trong năm 1972. Một trong những trọng điểm được chúng xác định là khu vực Đường 9 - Nam Lào do đây là nơi tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược của ta, là "cuống họng" của tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Thực hiện mục tiêu đầy tham vọng đó, chúng đồng thời mở ba cuộc hành quân chiến lược1 (Hành quân "Lam Sơn 719" đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào: hành quân Toàn thắng 1-71" đánh lên Kông Pông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia) và hành quân "Quang Trung 4" đánh ra vùng Ngã ba biên giới) tại ba địa điểm trên tuyến hành lang chiến lược Bắc - Nam, âm mưu phân tán lực lượng chủ lực ta để tập trung vào hướng Nam Lào đồng thời thực hiện chia cắt tuyến vận chuyển chiến lược của ta ở ba điểm Sê Pôn, A Tô Pơ, Mỏ Vẹt - Lưỡi Câu, trong đó Sê Pôn được xác định là trọng điểm. Sớm nhận rõ âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, ngay từ đầu năm 1970, Bộ Chính trị đã chỉ ra: địch tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam với các biện pháp chủ yếu: đẩy mạnh "bình định" nông thôn; tích cực xây dựng và phát triển quân Sài Gòn để thay quân Mỹ rút dần về nước; củng cố chính quyền các cấp; tập trung đánh phá hậu cần của ta để làm suy yếu lực lượng cách mạng. Để thực hiện ý đồ trên, đế quốc Mỹ sẽ mở rộng chiến tranh ra các nước khác trên bán đảo Đông Dương theo những phương thức và hạn độ mà chúng cho là thích hợp. Tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị họp ra Nghị quyết về Tình hình mới ở bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ mới của chúng ta, xác định nhiệm vụ cho quân và dân ta là: "tăng cường khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, trở thành một khối thống nhất có một chiến lược chung, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ba nước chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 31, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 250). Về âm mưu, thủ đoạn cụ thể của địch, Bộ Chính trị nhận định: Sau thất bại khi đánh sang Campuchia, địch sẽ còn tiếp tục các hành động quân sự mới và chỉ rõ phương hướng tiến công của địch trong mùa khô 1970-1971 là hành lang chiến lược Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Quyết tâm của ta là nhất thiết bảo vệ bằng được tuyến vân tải chiến lược Bắc - Nam, chuẩn bị sẵn sàng đánh địch trên các hướng: Đường 9, vùng Ba biên giới và Đông Bắc Campuchia. Trường hợp địch đánh ra Đường 9 thì đó là thời cơ thuận lợi cho ta tiêu diệt chúng. Về khả năng địch đánh ra Đường 9 - Nam Lào, ta phán đoán như sau: - Nếu địch đánh ra hướng Đường 9 - Nam Lào, chúng có thể bất ngờ đánh và chiếm các khu vực Bản Đông, Sê Pôn, Mường Noòng với lực lượng mỗi nơi một chiến đoàn. - Địch sẽ sử dụng 15 đến 20 tiểu đoàn quân Sài Gòn, phía tây có sự phối hợp với quân ngụy Lào và quân Thái Lan khoảng từ 8 đến 10 tiểu đoàn. Khu vực có thể đánh chiếm là Bản Đông, Sê Pôn, Mường Phìn, Pha Lan. - Sử dụng tập trung quân Sài Gòn, có quân Mỹ yểm trợ khoảng 25 đến 30 tiểu đoàn đánh ra Đường 9, đoạn Na Bô, Tha Mé. Ở phía tây có khoảng 13 đến 15 tiểu đoàn quân phái hữu Lào và quân Thái Lan hoạt động phối hợp. Trên cơ sở phán đoán đó, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các đơn vị nghiên cứu các thủ đoạn tiến công, cách ra quân đánh chiếm từng mục tiêu; nhận định về những điểm mạnh, yếu của địch đổ có các phương án tác chiến thích hợp. Cũng do phán đoán đúng âm mưu cơ bản của địch, nên khi thực hành chiến dịch, sau khi bẻ gãy cánh Bắc của chúng, ta tiếp tục phán đoán đúng hai khả năng có thể xảy ra: Một là, địch ngoan cố tiếp tục lên Sê Pôn để cố thực hiện mục đích ban đầu hoặc mục đích hạn chế hơn nhằm vớt vát ảnh hưởng về chính trị. Hai là, địch chuyển xuống hướng nam. Trong đó, ta nhấn mạnh khả năng thứ nhất và đã có những biện pháp thực tế để tăng cường phòng thủ Sẽ Pôn, buộc địch phải điều chỉnh kế hoạch, từ bỏ âm mưu đánh chiếm Sê Pôn. Vậy là, do phán đoán đúng ý đồ của địch, ta đã giành quyền chủ động, buộc địch phải điều chỉnh kế hoạch, bị động đối phó với ta. Không những phán đoán đúng âm mưu, ý đồ hành động của địch, ta còn nghiên cứu nắm vững quy luật hoạt động trong chiến dịch tiến công của chúng. Ngay từ đầu, ta đã phán đoán dịch có thể huy động 30 - 35 tiểu đoàn bộ binh, sử dụng hoả lực không quân, pháo binh tối đa cùng nhiều phương tiện cơ động để tạo ưu thế ngay từ đầu. Địch sẽ tiến công bằng nhiều cánh, nhiều mũi, dùng máy bay lên thẳng đổ bộ lớn, dùng lực lượng cơ giới lớn làm nòng cốt thọc sâu của các mũi đột kích chính. Các chiến đoàn, trung đoàn địch sẽ được sử dụng để tiến công thọc sâu, dùng máy bay lên thẳng để đổ quân chiếm các điểm cao. Với khu vực Đường 9 - Nam Lào, địch sẽ lấy Đông Hà làm hậu cứ, Khe Sanh - Lao Bảo làm tuyến triển khai lực lượng hành quân, Đường 9 làm trục tiến công chủ yếu có kết hợp với hai cánh bảo vệ sườn phía bắc và phía nam con đường này. Ta còn dự kiến, sau khi chiếm được Bản Đông, có thể địch sẽ tiến lên Sê Pôn hoặc lật cánh xuống Sa Đi - Mường Noòng. Thực tế chiến dịch, về cơ bản đã diễn ra như đúng dự kiến của ta. Với những phán đoán chính xác, ta đã sớm tích cực chuẩn bị chiến trường, lực lượng và công tác bảo đảm, bày sẵn thế trận, sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt địch trong thế chủ động. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2026, 09:13:13 pm 2. Tổ chức chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị mọi mặt bao dam và các lực lượng tham gia chiến dịch, kể cả lực lượng tại chỗ và cơ động.
Trên cơ sở phán đoán đúng âm mưu, ý đồ hành động của địch, từ mùa Hè năm 1970, Quân ủy Trung ương chủ trương chủ động chuẩn bị mọi mặt trên các chiến trường Trung Hạ Lào và nam Quân khu 4, đồng thời chỉ thị các Bộ Tư lệnh chiến trường 132 và B3 (Nam Bộ và Tây Nguyên) tiến hành chuẩn bị chiến trường ở Đông Bắc Campuchia và vùng Ba biên giới. Bộ Tổng Tham mưu vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng ém sẵn ở các hướng dự kiến địch có thể tiến công lớn. Xác định đây là chiến dịch tác chiến hiệp đồng binh chủng lớn, khối lượng vật chất phải tiêu thụ nhiều, bộ đội phải cơ động nhanh, kịp thời; một mạng lưới đường sá chiến dịch tương đối hoàn chỉnh, bao gồm đường trục dọc, đường ngang, đường nhánh, đường vòng, v.v. đã nhanh chóng được hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu vận chuyển của chiến dịch. Việc tổ chức tốt mạng lưới đường sá, công tác bảo đảm hậu cần được tiến hành chu đáo đã đáp ứng yêu cầu của một chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng lớn. Ngay từ tháng 11 năm 1970, các trạm hậu cần và các cụm kho chiến dịch bắt đầu được xây dựng. Công tác vận chuyển được tiến hành khẩn trương. Tính đến tháng 1 năm 1971, trước khi chiến dịch bắt đầu, lượng vật chất đưa vào các hướng chiến dịch đã lên tới 60 nghìn tấn, có thể bảo đảm cho 4 đến 5 vạn quân tác chiến trong thời gian từ ba đến bốn tháng. Ngoài ra, trên các tuyến vận tải thuộc Đoàn 559, hơn 30.000 tấn vật chất dự trữ cũng đã được tập kết, cất giấu1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập VI: Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.254). Các sư đoàn chủ lực cơ động được trang bị đầy đủ vật chất, tiến hành triển khai trinh sát thực địa, sẵn sàng bước vào trận đánh. Trên cơ sở các bệnh viện, bệnh xá của Đoàn 559, Mặt trận Trị - Thiên, Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị và các đội điều trị, đội phẫu thuật của Cục Quân y, mạng lưới quân y chiến dịch được xây dựng, có khả năng cấp cứu và điều trị ở tuyến một cho hàng ngàn thương, bệnh binh. Hệ thống thông tin liên lạc phục vụ tác chiến cũng được tổ chức chuẩn bị sẵn sàng. Do có sự chuẩn bị chu đáo, khi chiến dịch bắt đầu, lãnh đạo và chỉ huy chiến dịch đã sử dụng được mạng vô tuyến cơ bản để chỉ huy lực lượng tại chỗ đánh địch, kịp thời ngăn chặn bước tiến của chúng, đồng thời chỉ huy bộ đội chủ lực cơ động triển khai đội hình chiến dịch và đánh đòn phủ đầu một cách chủ động, tạo nên sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, đưa dịch vào thế trận của ta đã bày sẵn để tiêu hao, tiêu diệt chúng. Để chủ động đối phó với địch, ta đặc biệt chú trọng công tác tổ chức lực lượng tham gia chiến dịch, tổ chức trinh sát chiến trường chu đáo. Tháng 6 năm 1970, Bộ tăng cường cán bộ và cơ quan cho Đoàn 968 để trực tiếp tổ chức chuẩn bị chiến trường ở Trung Hạ Lào. Các lực lượng thuộc Mặt trận B4, B5 gấp rút điều chỉnh lực lượng, tổ chức thế trận sẵn sàng đánh địch. Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5 được bí mật điều động từ Quế Sơn lên khu vực này. Phần lớn cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên thuộc các lực lượng tham gia chiến dịch đều được đi nghiên cứu địa hình và đề ra kế hoạch tác chiến. Các lực lượng này bao gồm lực lượng tại chỗ thuộc quyền Bộ Tư lệnh 559, lực lượng các quân chủng, binh chủng phòng không, pháo binh, xe tăng, các sư đoàn chủ lực của Bộ và của Quân khu 5 lúc đó đang tập kết tại địa bàn. Đến tháng 9 năm 1970, một số đơn vị chủ lực của Bộ và của Quân khu 5 có mặt tại khu vực địa bàn chiến dịch, tiếp tục tiến hành nghiên cứu, xác định phương án tác chiến của mình và diễn tập theo phương án. Đến giữa tháng 10 năm 1970, việc nghiên cứu địa hình, chuẩn bị kế hoạch tác chiến đã xong một bước cơ bản ở chiến trường Trung, Hạ Lào. Hàng ngàn hầm trú ẩn, lán trại được các đơn vị công binh của Mặt trận bí mật xây dựng trong rừng, sẵn sàng tham gia chiến dịch. Về lực lượng tham gia chiến dịch, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quyết định huy động một lực lượng lớn, gồm Binh đoàn 70 (có các sư đoàn 304, 308, 320), Sư đoàn 324, Sư đoàn 2, các đơn vị vũ trang Mặt trận B5 (Đường 9 - Bắc Quảng Trị), B4 (Quân khu Trị - Thiên), Đoàn 559, bốn trung đoàn pháo binh, bốn trung đoàn pháo cao xạ, ba trung đoàn công binh, ba tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ. Nhờ có sự chủ động chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị lực lượng nên ngay khi địch bắt đầu triển khai lực lượng xuất phát tiến công (30-1-1971), các lực lượng chiến đấu của ta trên toàn mặt trận đã nhanh chóng tổ chức đội hình, tạo thế trận sẵn sàng đánh địch. Bộ Tư lệnh mặt trận ra lệnh cho các lực lượng tại chỗ đánh ngăn chặn, làm chậm bước tiến của địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực cơ động đánh những trận tiêu diệt lớn. Các bộ phận của Đoàn 559 khẩn trương chấn chỉnh tổ chức, bổ sung nhiệm vụ cho phù hợp với yêu cầu chiến đấu. Lực lượng phòng không được tăng cường để bảo vệ tuyến vận chuyển. Các kho tàng gần các trọng điểm địch đánh phá được sơ tán để bảo đảm an toàn. Các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 và Sư đoàn 2 khẩn trương hành quân đến các vị trí tập kết. Các lực lượng của B5 được gấp rút triển khai theo phương án đánh địch đã xác định. Tổ chức chuẩn bị chiến trường tốt, cụ thể, chuẩn bị mọi mặt bảo đảm và lực lượng tham gia chiến dịch chu đáo là yếu tố cơ bản để ta giành và giữ quyền chủ động chiến lược trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (1971). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2026, 09:14:18 pm 3. Có kế hoạch chiến dịch chính xác,: đầy đủ với nhiều phương án tác chiến.
Trên cơ sở các phán đoán và lực lượng đã được chuẩn bị, ta đã chủ động xây dựng quyết tâm, lựa chọn đúng khu vực tác chiến chủ yếu, làm tốt việc giành quyền chủ động từ tay dịch. Trên hình thái chung của chiến trường, ta không chọn đoạn từ Lao Bảo về phía đông là khu vực tác chiến chủ yếu vì địa hình trống trải, gần các căn cứ lớn do quân Sài Gòn và Mỹ phòng giữ. Nếu chọn khu vực này, khi ta tập trung lực lượng, binh khí kỹ thuật thì khó giữ bí mật bất ngờ, dễ bị hỏa lực của địch sát thương và không có khả năng tiêu diệt lớn quân địch. Kế hoạch tác chiến chiến dịch xác định đoạn từ Bản Đông - Lao Bảo - Khe Sanh là khu vực tiêu diệt địch chủ yếu, trong đó lấy Bản Đông - Lao Bảo làm khu vực quyết chiến, do địa hình khu vực này thuận lợi cho tác chiến hiệp đồng binh chủng, vừa đạt mục đích bảo vệ được các mục tiêu chiến dịch trọng yêu và vừa tiêu diệt lớn quân địch. Ta còn xác định phải kiên quyết chặn và tiêu diệt địch ở Bản Đông, nên đã chủ động không chặn đứng quân địch ở Lao Bảo, để cho chúng vượt qua, tổ chức lực lượng ngăn chặn từng bước và phòng giữ chắc phía tây Bản Đông, kiên quyết không cho địch tiến lên đánh chiếm Sê Pôn. sử dụng lực lượng tại chỗ ngăn chặn, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, tiêu diệt từng bộ phận, làm suy giảm sức tiến công của địch; đồng thời sử dụng lực lượng cơ động tập trung đánh những trận then chốt, bẻ gãy cánh quân phía Bắc, đánh thiệt hại nặng cánh quân phía nam, uy hiếp và bao vây cánh quân chủ yếu, đẩy địch từ thế chủ động ban đầu thành thế bị động, lúng túng, tiến không được, lật cánh, chuyển hướng cũng không thể thực hiện được. Ta còn xác định trong lúc đánh địch ở các khu vực tác chiến nói trên, phải tăng cường lực lượng đánh địch ở Đường 9 phía bên Việt Nam và phía sau lưng địch nhằm quấy rối, kéo căng lực lượng địch để tiêu diệt lớn. Bên cạnh kế hoạch tác chiến ở Đường 9 (gồm cả Trung, Hạ Lào), ta còn có kế hoạch tác chiến của Binh đoàn 70 phối hợp với lực lượng vũ trang Quân khu 4 sẵn sàng tiêu diệt địch nếu chúng liều lĩnh tiến công ra Quân khu 4. Ta còn dự tính có thể sử dụng Binh đoàn 70 chủ động tiến công vào một chiến trường khác trong trường hợp địch gặp khó khăn, không đánh ra Đường 9 hoặc Quân khu 4. Ngoài ra, còn có kế hoạch tác chiến của lực lượng Mặt trận B5 và của lực lượng trực thuộc Bộ Tư lệnh 559, chủ động đánh địch trước khi chúng tiến công ra Trung, Hạ Lào. Các tuyến giao thông vận tải và các mục tiêu trọng yếu thuộc Quân khu 4 được tăng cường lực lượng cao xạ bảo vệ. Các huyện ven biển từ Thanh Hoá đến Nam Định được tăng cường 10 đại đội bộ đội địa phương sẵn sàng đánh địch tập kích đường biển. Như vậy, kế hoạch tác chiến đã được ta chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, sẵn sàng đối phó với các tình huống có thể xảy ra một cách chủ động ngay từ đầu chiến dịch. 4. Chỉ đạo chiến dịch, nhất là chỉ đạo thực hành chiến dịch đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo. Khi cuộc hành quân của địch bắt đầu, Bộ Chính trị chi thị cho Quân ủy Trung ương nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược, và nhận định: địch đưa chủ lực đánh ra tuyến ngoài, lại là chiến trường rừng núi rất thuận lợi cho ta tiêu diệt chúng; mặt khác tạo nên sơ hở rất lớn ở tuyến trong của địch, ta có điều kiện để đánh phá "bình định" của chúng. Đây là thời cơ lớn phải hết sức tranh thủ để đẩy mạnh mọi hoạt động; phải tiêu diệt lực lượng tinh nhuệ của địch, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị ở nông thôn đồng bằng và ở các đô thị. Thắng trận này sẽ ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương. Giành thắng lợi ta giữ được tuyến vận tải chiến lược, tiêu diệt được một bộ phận quan trọng quân chủ lực địch, phá hủy một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh của chúng, làm thất bại cố gắng cao nhất trong quá trình thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", tạo chuyển biến căn bản có tính chiến lược cho phong trào cách mạng ba nước Đông Dương. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, đáp ứng yêu cầu về lãnh đạo, chỉ huy của chiến dịch phản công có tầm quan trọng đặc biệt này, Bộ Tư lệnh 702 được thành lập, gồm các đồng chí Thủ trưởng Bộ, có một số đồng chí thủ trưởng và cán bộ thuộc các cơ quan của Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Hậu cần cùng các quân chủng, binh chủng. Bộ Tư lệnh 702 có đủ khả năng và quyền hạn chỉ đạo, chỉ huy tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch, bảo đảm sự lãnh đạo chỉ huy thống nhất, sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả của các chiến trường phối hợp và các lực lượng giam gia chiến dịch. Về chỉ huy thực hành chiến dịch, lúc đầu, căn cứ vào âm mưu và sự triển khai lực lượng của địch, ta bố trí quân sẵn sàng ứng phó cả hai tình huống địch hành quân ra Đường 9 - Nam Lào và tiến công ra nam Khu 4. Đến cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 1971, nhận thấy phía nam Khu 4 chi là hướng địch nghi binh, nên Bộ Tổng Tham mưu quyết định chuyển trọng tâm chuẩn bị tác chiến vào hướng Đường 9 - Nam Lào. Vì vậy, ngày 7 tháng 2, khi địch triển khai xong toàn bộ lực lượng trên các khu vực bàn đạp thì cũng là lúc các sư đoàn chủ lực thuộc Binh đoàn 70 và lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị đã hoàn tất các mặt chuẩn bị chiến dịch và chiến đấu, sẵn sàng đón đánh địch, giành quyền chủ động chiến trường. Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch; nắm vững thời cơ chuyển sang tiến công trên toàn tuyến khi địch đã bị đánh thiệt hại tương đối nặng, không còn đủ sức tiếp tục tiến công mà phải dừng lại, chuẩn bị rút lui; dự đoán khá chính xác các tình huống cơ bản và xu thế phát triển của nó, nên đã chủ động sử dụng lực lượng tại chỗ, lực lượng cơ động, từng bước tạo thế chiến dịch có lợi, đưa địch vào mưu kế, thế trận đã chuẩn bị sẵn của ta; vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật và thủ đoạn tác chiến, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự ngoan cường, vững chắc với tích cực chủ động tiến công, thực hành đánh những trận then chốt tiêu diệt lớn quân địch, buộc địch phải dừng lại phòng ngự trong thế bị cô lập, tinh thần hoang mang, phải bỏ lại toàn bộ xe pháo, vũ khí nặng luồn rừng rút chạy. Bên cạnh những ưu điểm trên, Bộ chỉ huy chiến dịch đã thành công trong chỉ đạo chiến thuật đánh bại các thủ đoạn chiến thuật chính cũng là những điểm mạnh của địch. Ta đã đánh bại được chiến thuật dùng máy bay lên thẳng đổ quân lớn, chiến thuật dùng kỵ binh, thiết giáp làm lực lượng đột kích chính, chiến thuật dùng cụm chốt trên điểm cao để làm bàn đạp tiến công hoặc phòng thủ. Qua đó, vô hiệu hoá được những điểm mạnh của địch là không quân, thiết giáp, pháo binh và công sự, làm cho địch phải chuyển từ chủ động tiến công sang bị động đối phó trong nhiều tình huống chiến dịch. Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, để thực hành phản công có hiệu quả, ta đã giành và giữ quyền chủ động ngay từ đầu và trong suốt quá trình chiến dịch. Thành công và cũng là yếu tố quyết định trực tiếp thắng lợi của chiến dịch trước hết là, ta đã phán đoán chính xác hướng tiến công của địch, chủ động chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị hậu cần, kỹ thuật và lực lượng tham gia chiến đấu, làm tốt kế hoạch tác chiến, dự đoán các tình huống và chủ động đối phó; công tác chỉ đạo, chỉ huy thực hành chiến dịch đúng đắn, xác định chính xác khu vực diệt địch chủ yếu là từ Lao Bảo đến Bản Đông, phát hiện chỗ yếu của địch để có những đòn điểm huyệt chính xác tiêu diệt chúng. Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh dấu một bước phát triển cao của nghệ thuật, chiến dịch Việt Nam nói chung, nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng, trong đó có nghệ thuật giành và giữ quyền chủ động trên chiến trường - yếu tố trực tiếp quyết định thắng lợi của chiến dịch. Việc nghiên cứu và vận dụng những giá trị lịch sử của nghệ thuật giành và giữ quyền chủ động trên chiến trường trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào vào điều kiện tác chiến mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2026, 09:16:17 pm BẤT NGỜ - YẾU TỐ QUAN TRỌNG GIÀNH THẮNG LỢI TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Đại tá NGUYỄN VIẾT BÌNH Trưởng ban Tổng kết Lịch sử Lào - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 của quân và dân ta thắng lợi là một chiến thắng mang tầm cỡ chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Với việc đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của quân đội Việt Nam Cộng hòa có sự yểm trợ của quân Mỹ, chiến dịch đã làm sụp đổ một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, mở ra cục diện mới trên chiến trường, tạo so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho cách mạng ba nước Đông Dương. Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 xuất phát từ nhiều nguyên nhân, từ vai trò chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, nghệ thuật chỉ huy, điều hành của Bộ Tư lệnh Chiến dịch đến tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội ta, v.v... ở đây, chỉ đề cập đến một vấn đề liên quan đến nghệ thuật quân sự, đó là yếu tố bất ngờ - một nguyên tắc tác chiến quan trọng trong mọi cuộc chiến tranh nói chung trong chiến dịch và chiến đấu nói riêng. Vậy trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, bất ngờ đạt được thành tựu trên cơ sở nào và tác động như thế nào đến thắng lợi của ta và thất bại của địch? Có thể xem xét trên nhiều khía cạnh mới thấy hết ý nghĩa quan trọng của nó. Thứ nhất, bất ngờ đạt được bằng việc ta đã tập trung được một lực lượng lớn binh chủng hợp thành tại khu vực tác chiến, và ngay trong những ngày đầu, chủ lực ta đã xuất hiện với một loạt trận đánh vừa và lớn ở khu vực bắc Đường 9 mà Mỹ, ngụy không ngờ tới. Người ta được biết, đã có nhiều quan điểm khác nhau trong Bộ chỉ huy cuộc hành quân "Lam Sơn 719", thậm chí cả những tướng lĩnh ở Lầu Năm Góc về phản ứng của ta đối với cuộc hành quân. Theo các nguồn tin phương Tây, đầu năm 1971, tình báo Mỹ ước tính lực lượng của quân đội Bắc Việt Nam và Việt Cộng (tức ta-TG) tại khu vực là 22.000 người, gồm 7.000 lính chiến đấu, 10.000 người trong các đơn vị hậu cần, hỗ trợ và 5.000 quân Pathét Lào1 (David Fulgham & Terrence: South Vietnam on Trial, Boston Publishing Company, 1984, tr.66). Vì thế, tình báo Mỹ cho rằng cuộc hành quân sẽ bị chống cự yếu ớt, do ở đây chỉ có lực lượng bảo vệ hành lang, kho tàng... Mặt khác, khả năng tăng viện của họ được xác định là 2 sư đoàn đóng ở phía Bắc khu phi quân sự (nam Quân khu 4 của ta-TG) sẽ đến sau hai tuần và hy vọng các hoạt động nghi binh sẽ giữ chân các đơn vị này trong thời gian diễn ra cuộc hành quân2 (David Fulgham & Terrence, Sdd, tr.72)... Mặc dù tướng Abram (Abrams) ở Sài Gòn đã cảnh báo, không như ở Campuchia, tại các căn cứ ỏ Lào, quân đội đối phương sẽ trụ lại và chiến đấu đến cùng. Ngày 11 tháng 12 năm 1970 Abram đã báo cáo với đô đốc Mắc Kên (Mc. Cain) rằng: đội hình bộ binh, thiết giáp và pháo hạng nặng của quân đội Bắc Việt đã có mặt ở Nam Lào..., các đơn vị chủ lực đang ở xung quanh Sê Pôn và chắc chắn sẽ bảo vệ chặt các trung tâm hậu cần của họ trước bất kỳ hoạt động nào của "đồng minh". Lời khuyến cáo của Abram đã bị Bộ chỉ huy cuộc hành quân phớt lờ; thậm chí, các phi công Mỹ, lính biệt động quân, lính dù, lính thủy đánh bộ của quân đội Việt Nam Cộng hòa còn cho rằng cuộc hành quân sẽ là "cuộc dạo chơi" đến những ngọn đồi được đặt theo tên các nghệ sĩ lừng danh mà họ hâm mộ... Và chỉ đến khi chủ lực ta tiến hành một loạt các trận đánh như trận tiêu diệt Tiểu đoàn 21 biệt động quân, trận tiêu diệt 2 đại đội dù ở điểm cao 456 (bắc Đường 9) và hướng tiến công chủ yếu trên Đường 9 bị chặn đứng tại Bản Đông..., địch mới ngỡ ngàng không hiểu tại sao chủ lực Bắc Việt Nam lại xuất hiện sớm như vậy? Với lực lượng lớn binh chủng hợp thành bao gồm Binh đoàn B70 (gồm các sư đoàn 308, 320, 304), Sư đoàn 324, Sư đoàn 2; các đơn vị cỡ trung đoàn tăng, thiết giáp, pháo binh, pháo phòng không, công binh đã có mặt ngay từ những ngày đầu chiến dịch (chưa kể lực lượng tại chỗ của B4, B5, Đoàn 559), tham gia các trận đánh lớn ở bắc và nam Đường 9, thực sự là đòn bất ngờ lớn đối với các đơn vị được coi là tinh nhuệ của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Như vậy, "cuộc dạo chơi" trên vùng rừng núi Nam Lào của binh lính quân lực Việt Nam Cộng hòa trở thành "một cuộc tháo chạy"1 (J. Pimlot, Việt Nam - Những trận đánh quyết định, Trung tâm Thông tin khoa học công nghệ và môi trường, 1997 (tài liệu dịch), tr.139) hoảng loạn không gì ngăn giữ được trước sức tiến công mãnh liệt của bộ đội ta. Được biết, khi ta bao vây cứ điểm hỗn hợp Bản Đông, dùng hỏa lực pháo binh tập trung bắn phá kiên quyết vào khu vực, các đơn vị dù, thiết giáp của địch đã luồn rừng tháo chạy, bỏ lại toàn bộ pháo và xe tăng, thiết giáp trên Đường 9. Cuối cùng, hỏa lực không quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa lại phải tiêu hủy chính những vũ khí, trang bị của mình để tránh rơi vào tay đối phương. Thứ hai, bất ngờ đạt được bởi cách đánh sáng tạo và linh hoạt của bộ đội ta, và cũng bởi lần đầu tiên ta tiến hành một chiến dịch phản công hiệp đồng quân, binh chủng có quy mô lớn nhất từ trước đến lúc đó. Với lực lượng lớn binh chủng hợp thành, với thế trận đã được bày sẵn, ta đã kịp thời sử dụng lực lượng tại chỗ ngăn chặn, vây hãm các cánh quân địch, tập trung bẻ gãy cánh Bắc, đánh thiệt hại nặng cánh Nam, kiên quyết ngăn chặn dịch ở Bản Đông. Đặc biệt, về mặt chiến thuật, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo các lực lượng vận dụng nhiều hình thức chiến thuật như phòng ngự kết hợp với tiến công; bao vây kết hợp đột phá các cụm lực lượng địch có xe tăng, thiết giáp; chốt chặn đánh địch đổ bộ đường không kết hợp với cơ động tiêu diệt địch trên các điểm cao; lùng sục, vây quét kết hợp với truy kích địch rút chạy, luồn sâu đánh hiểm vào hạu cứ, kho tàng, sở chỉ huy của địch... Nét nổi bật là trong quá trình chiến dịch, không kể hiệp đồng chung về mặt chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức được nhiều trận đánh hiệp đồng binh chủng với sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ binh, pháo binh, xe tăng, thiết giáp, phòng không cỡ trung đoàn, hoặc trung đoàn tăng cường. Việc phát huy sức mạnh của các binh chủng thành sức mạnh tổng hợp biểu hiện bằng các trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng đã tạo điều kiện cho ta giành thắng lợi to lớn, liên tiếp đưa đến thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch. Có thể nói, những trận thắng chủ yếu trong chiến dịch đều diễn ra dưới hình thức chiến đấu hiệp đồng binh chủng: từ trận đánh cao điểm 500, 543, trận phản kích đồi 456, cao điểm 723, 660 đến trận Bản Đông và cuối cùng là trận điểm cao 550. Đó là những trận đánh "thể hiện sự thiện chiến và quyết tâm cao làm cho đối phương sửng sốt và ấn tượng"1 (Thời báo Niu Yoóc, ngày 28 tháng 3 năm 1973). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, "Đây là lần đầu tiên quân đội ta tiến hành thắng lợi một chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng có quy mô lớn đánh tiêu diệt quân địch"2 (Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.372). Đúng như các bình luận viên quân sự phương Tây lúc đó đã cho rằng: Chiến sự bùng nổ ở Hạ Lào không giống như bất cứ trận chiến nào trước đo trong chiến tranh Việt Nam. Đây là lần đầu tiên quân đội Bắc Việt (tức Quân đội nhân dân Việt Nam) bỏ chiến thuật cũ và tiến hành phản công theo kiểu chiến tranh chính quy truyền thống, lần đầu tiên họ mở các cuộc tấn công lớn bằng bộ binh với sự yểm trợ của thiết giáp và pháo binh hạng nặng để đè bẹp các vị trí của quân lực Việt Nam Cộng hòa. Mặc dù có sự cảnh báo của tướng Abơram, nhưng Bộ chỉ huy cuộc hành quân "Lam Sơn 719" vẫn tin rằng "chủ lực Bắc Việt chỉ có thể chiến đấu phân tán cỡ đại đội, tiểu đoàn" và "mối de dọa từ các đơn vị thiết giáp chỉ được coi là tối thiểu"3 (David Pulgham & Terrence,... Sdd, tr.72). Do sự đánh giá sai lầm đó mà Bộ chỉ huy cuộc hành quân "Lam Sơn 719" sinh ra chủ quan và hoàn toàn bất ngờ trước cách đánh của ta. Đến khi cánh Bắc bị bẻ gãy và cánh Nam bị tổn thất nặng, lực lượng chủ yếu trên hướng Đường 9 bị bao vây tại Bản Đông, buộc phải đưa thê đội hai vào chiến đấu, quân đội Việt Nam Cộng hòa mới hiểu rằng chúng khó mà tiến đến được Sê Pôn như Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: chỉ cần tiến đến Sê Pôn rồi rút. Người ta ngạc nhiên khi đài phát thanh Sài Gòn đưa tin quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đến được Sê Pôn. Sự thật thế nào? Một đơn vị cỡ trung đoàn thiếu gồm Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 2 biệt động quân được 271 trực thăng UH-1 đổ xuống cách đông bắc thị trấn Sê Pôn 4km đã bị Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 ta bao vây, truy lùng, buộc phải rút chạy về điểm cao 660 phía Nam Đường 9 và sau đó bị các đơn vị thuộc Sư đoàn 2 ta đánh thiệt hại nặng. Trong khi đó, trên hướng chính - Đường 9, các đơn vị dù, thiết giáp đã bị các cụm chốt của ta ở phía Tây Đường 9 chặn đứng tại Bản Đông, không thực hiện được ý định tiến đến Sê Pôn và đang có nguy cơ bị bao vây, tiêu diệt hoàn toàn... Còn ở phía Tây Đường 9, các binh đoàn cơ động GM30, GM33 của quân phái hữu Lào cũng bị liên quân Việt - Lào đánh thiệt hại nặng ở Pha Lan, Phu Đô Tuya buộc phải rút về Đồng Hến, Xa Ra Van, không tiến đến được Mường Phìn, Mường Noòng phối hợp với hướng chính trên Đường 9 theo dự kiến. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2026, 09:18:33 pm Thứ ba, ta đã giành được bất ngà bằng việc xây dựng được hệ thống phòng không dày đặc trong khu vực tác chiến (rộng chừng 2.200km2), gây bất ngờ lớn cho các phi đội trực thăng đổ quân của Mỹ. Khác với dự đoán của tình báo Mỹ trước đó cho rằng, các cuộc không kích chiến thuật và pháo sẽ làm mất tác dụng của số lượng vũ khí phòng không được ước tính là từ 170 đến 200 khẩu! Trong khi đó, với 4 trung đoàn pháo phòng không 37mm và 57mm (gồm các trung đoàn 230, 237, 241, 491) của Bộ, cùng nhiều tiểu đoàn, đại đội phòng không độc lập của Đoàn 5591 (Đoàn 559 có 7 binh trạm ở nam và bắc Đường 9, tổ chức mỗi binh trạm khoảng 5 đại đội súng máy phòng không 12,7mm và 14,5mm; toàn tuyến có 33 đại đội súng máy và 8 tiểu đoàn pháo cao xạ), của các đơn vị thuộc B5, B4 ngay từ những ngày đầu chiến dịch đã bắn rơi gần 100 trực thăng đổ quân, làm hạn chế việc cơ động lực lượng và chi viện của địch. Ngay ngày 10 tháng 2 năm 1971, Đài BBC đã đưa tin: "Quân đội Việt Nam Cộng hòa tiến lên đường mòn Hồ Chí Minh đã vấp phải lưới lửa phòng không dày đặc chưa từng có của Bắc Việt, 50 máy bay lên thẳng đã bị bắn hạ, như vậy là đã trúng kế điệu hổ ly sơn của họ"2 (Đài BBC, Anh, ngày 10 tháng 2 năm 1971). Đặc biệt, lực lượng bắn máy bay tầm thấp của Đoàn 559 được bố trí hết sức khéo léo và cực mạnh. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo tác chiến là "...vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa phá hủy phương tiện chiến tranh của chúng, chú trọng đánh máy bay, cơ giới và pháo binh của địch..."3 (Quân ủy Trung ương: Chỉ thị số 009/QUTƯ/A ngày 9 tháng 2 năm 1971, phông QUTƯ, Hồ sơ số: 713, lưu trữ K4 Bộ Quốc phòng), Đoàn 559 đã lấy hàng trăm súng máy phòng không 12,7mm, 14,5mm dự trữ trong kho chưa chuyển vào các chiến trường để trang bị rộng rãi cho bộ đội các binh trạm. Bằng số lượng lớn súng máy phòng không, kết hợp với các loại pháo phòng không của các đơn vị chủ lực và tại chỗ, ta đã tổ chức được mạng lưới bắn máy bay rộng khắp, đạt hiệu quả cao, làm thất bại chiến thuật "trực thăng vận" của địch, cần phải nói thêm rằng, cho đến thời điểm trước khi mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719", chiến thuật "trực thăng vận" vẫn được giới quân sự Mỹ tranh cãi là có hay không nhược điểm? Và so sánh trực thăng chở quân với xe bọc thép chở quân. Tuy nhiên, nhược điểm của chiến thuật "trực thăng vận" đã bộc lộ rõ khi lực lượng phòng không của ta được tổ chức chặt chẽ, nhiều tầm, kết hợp với pháo mặt đất tạo thành lưới lửa "trùm lên các phi đội trực thăng của địch đang lao xuống các bãi đổ bộ". Kết quả trong toàn chiến dịch, 556 máy bay, trong đó có 505 máy bay lên thẳng đã bị lực lượng phòng không ta bắn rơi và phá hủy. Đây là chiến dịch bộ đội ta bắn rơi nhiều máy bay nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Không còn nghi ngờ gì nữa, sau cuộc hành quân "Lam Sơn 719", thậm chí cho đến sau cuộc chiến tranh Viêt Nam, trong các mệnh lệnh hành quân và hoạt động tác chiến của quân đội Mỹ, vai trò của trực thăng đổ quân bị lu mờ, chiến thuật "trực thăng vận" bị coi nhẹ và người ta chú trọng đến chiến thuật "thiết xa vận" với vai trò của xe bọc thép chở quân và trực thăng vũ trang.
Thứ tư, ta đạt được bất ngờ bằng tốc độ cơ động nhanh lực lượng chủ yếu của chiến dịch đến khu vực tác chiến, đảm bảo bí mật, an toàn. Chúng ta biết rằng, để giành thắng lợi trong chiến dịch và chiến đấu, về mặt nghệ thuật phải giữ được quyền chủ động và đảm bảo tính cơ động cao. Yếu tố thứ nhất, đòi hỏi bất ngờ; yếu tố thứ hai, tạo ra bất ngờ. Nói cách khác, chủ động và cơ động linh hoạt có mối quan hệ hữu cơ với nhau, làm tiền đề cho nhau và là những nguyên tắc hàng đầu của nghệ thuật quân sự. Quyền chủ động của ta trong chiến dịch thể hiện ở chỗ: từ việc nắm chắc địch, nhất là âm mưu và thủ đoạn của chúng, ta đã bày sẵn thế trận, chủ động tiến công ngay từ khi địch chưa vượt qua biên giới và trong suốt quá trình tác chiến, quyền chủ động vẫn được giữ vững cho đến khi kết thúc chiến dịch. Để giành và giữ vững quyền chủ động đó, trong chiến dịch ta đã tạo được một loạt bất ngờ đối với địch cả về lực lượng, phương tiện và tốc độ cơ động. Chẳng hạn, việc cơ động lực lượng chủ yếu của Binh đoàn B70 với khối lượng lớn binh khí, trang bị kỹ thuật, vượt đường dài, vượt trọng điểm đánh phá, nhanh chóng triển khai chiến đấu ngay từ đầu chiến dịch cho thấy tốc độ cơ động cao của chủ lực ta. Được biết, để tiến hành cuộc hành quần "Lam Sơn 719", sau khi triển khai lực lượng ra Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh, Bộ chỉ huy cuộc hành quân đã đưa Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ tập vượt sông ở phía tây cầu Đông Hà, đưa Lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ ra cửa Thuận An xuấng tàu đi lên hướng Bắc, cho một số tàu thuộc Hạm đội 7 tiến vào vùng biển nam Quảng Bình, làm như chuẩn bị phối hợp tiến công ra bắc khu phi quân sự. Hành động nghi binh của quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã không thực hiện được do ta nắm được ý đồ chiến lược của địch là đánh phá tận gốc tuyến vận tải chiến lược nên đã kịp thời cơ động lực lượng chủ yếu đến khu vực Đường 9 - Nam Lào. Vậy là, hành động nghi binh của quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã bị thất bại, đã bị "tương kế, tựu kế". Việc cơ động lực lượng với tốc độ cao và nhanh chóng tnên khai đội hình chiến đấu đã tạo nên bất ngờ lớn đối với quân Mỹ và Việt Nam Cộng hỏa. Thực tế diễn biến chiến dịch còn cho thấy, chỉ bằng việc tập trung được ưu thế về lực lượng, phương tiện, tiến hành những trận tiêu diệt lớn các cụm quân chu yếu của địch tại khu vực từ Lao Bảo đến Bản Đông - khu vực tác chiến chủ yếu của chiến dịch, và bằng lối đánh vây ép, buộc địch phải ra phản kích hoặc rút chạy đã tạo điều kiện cho ta đánh vận động, giáng cho chúng những đòn bất ngờ liên tiếp. Như vậy, trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971, ta đã giành được bất ngờ ở cả cấp độ chiến dịch và chiến thuật. Đặc biệt, về phương diện nghệ thuật chiến dịch, bất ngờ đạt được trong những phạm vi hoạt động có ý nghĩa nhất: xác định đúng hướng, mục tiêu chiến dịch; tốc độ cơ động cao; sử dụng lực lượng khôn khéo và thực hiện cách đánh linh hoạt, sáng tạo... Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào giành toàn thắng đã khẳng định một nhận thức: bất ngờ luôn là yếu tố thường xuyên, quan trọng trong chiến tranh nói chung, trong chiến đấu nói riêng; bất ngờ có thể đạt được trong mọi cuộc chiến tranh, trong các loại hình tác chiến từ tiến công, phản công đến phòng ngự, v.v; bất ngờ thực sự là một trong những nguyên tắc của nghệ thuật quân sự mà không một lực lượng vũ trang nào không hết sức coi trọng và "Điều này đã, đang và sẽ vẫn là chân lý trong quân sự"1 (Tôn Ngô binh pháp, Nxb Công an nhân dân - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1994, tr. 39). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tư, 2026, 08:06:24 pm TỪ CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO ĐẾN QUÁ TRÌNH GIẢI PHÓNG CAO NGUYÊN BÔ LÔ VEN LẦN THỨ HAI (1971 - 1972) Đại tá SULIVĂN SẺNGCHĂN Phó Cục trưởng Cục Khoa học - Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng Lào Cách đây hơn một phần ba thế kỷ, hai quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào anh em đã cùng nhau liên minh, đoàn kết chiến đấu, tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai lâu dài, ác liệt, hy sinh, dũng cảm vẻ vang chưa từng có trong lịch sử của nhân dân hai nước chúng ta. Những năm 1968 - 1969, trước sự sụp đổ không thể cứu vãn của chiến lược "chiến tranh đặc biệt" và chiến lược "chiến tranh cục bộ" trên chiến trường Lào và miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai vẫn rất ngoan cố lao sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược, sử dụng mọi âm mưu, thủ đoạn chính trị, quân sự nhằm cứu vãn những thất bại nặng nề của chúng. Chính vì thế, đế quốc Mỹ đã thay đổi chiến lược, tiến hành chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam và mở rộng chiến tranh xâm lược sang Campuchia. Đầu năm 1971, thời tiết ở Lào vẫn đang trong mùa khô. Chính vào thời đoạn này, đế quốc Mỹ điên cuồng đẩy chiến tranh xâm lược lên cường độ cao nhằm chia cắt và cô lập phong trào cách mạng của ba nước Lào, Việt Nam và Campuchia, đồng thời nhằm chia cắt và cô lập, dập tắt cách mạng Lào trên hai miền Bắc Lào và Nam Lào. Theo đuổi chủ trương đó, cùng với các cuộc hành quân trên chiến trường Tây Nguyên Việt Nam và trên chiến trường Đông Bắc Campuchia, đế quốc Mỹ và tay sai đã mở cuộc hành quân quy mô lớn vào khu vực vĩ tuyến 17° bắc thuộc miền Trung Lào theo Đường 9 tỉnh Xa Van Na Khẹt. Đế quốc Mỹ gọi cuộc hành quân này là "Đêvê Khennhon 2", sau đổi thành cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Đây là bước phiêu lưu mới về quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai trong chiến tranh xâm lược Đông Dương. Đế quốc Mỹ đã huy động một lực lượng binh lực hỗn hợp khổng lồ cho cuộc hành quân, bao gồm trong đó cả quân Mỹ và cố vấn quân sự Mỹ, 45.000 quân ngụy Sài Gòn (bao gồm cả số đang tham chiến tại chiến trường Trung Bộ Việt Nam), 2 Binh đoàn cơ động (GM) quân ngụy Lào, lực lượng đặc biệt Vàng Pao, hơn 2.000 máy bay, gần 800 xe tăng và xe bọc thép, hơn 120 khẩu pháo các loại... Trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, quân và dân hai nước Việt Nam - Lào sát cánh chiến đấu đánh bại các thủ đoạn tác chiến trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn. Cùng thời gian cuối năm 1970 đầu năm 1971, nhằm chi viện cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719", đồng thời với việc huy động quân đội Sài Gòn và quân phái hữu Lào gồm 5 tiểu đoàn đổ bộ chiếm các vị trí chiến lược quan trọng trên địa bàn Đường 9 - Nam Lào, đế quốc Mỹ sử dụng 3 tiểu đoàn "đặc biệt" đánh chiếm khu vực Táthay, Tumlan (Xa Ra Van), sử dụng 11 tiểu đoàn chiếm giữ các vị trí quan trọng ở khu vực núi Lăng Kẹo, bản Xok, In Thi trên hướng cao nguyên Bô Lô Ven thuộc Hạ Lào. Đến thời điểm này, quân địch đã huy động lực lượng lên tới 20 tiểu đoàn quyết chiếm giữ toàn bộ Nam Lào, một địa bàn chiến lược quan trọng, một trung tâm trong thế chiến lược của cách mạng ba nước Đông Dương, đặc biệt trong đó là cao nguyên Bô Lô Ven là địa bàn chiến lược quan trọng của cách mạng Lào. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai diễn ra trong hơn 50 ngày đêm. Quân và dân hai nước Việt Nam - Lào sát cánh chiến đấu đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" quy mô lớn của địch, tạo điều kiện tiến lên đánh bại các cuộc hành quân khác của chúng tại Nam Lào và trên cả nước. Trước thất bại thảm hại trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", cuối năm 1971, đế quốc Mỹ và tay sai chia lực lượng thành hai bộ phận lớn, tiếp tục mở các cuộc hành quân chiếm đóng các địa bàn chiến lược trên hai miền Bắc Lào và Nam Lào. Ở miền Bắc Lào, đế quốc Mỹ và ngụy tay sai tiếp tục mở các cuộc hành quân nhằm vào khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Tại miền Nam Lào, chúng huy động tối 30 tiểu đoàn, trong đó có 4 tiểu đoàn lính đánh thuê, được không quân Mỹ chi viện, liên tục tiến công nhằm chiếm giữ cao nguyên Bô Lô Ven Lào Ngam tỉnh Xa Ra Van và một phần phía Tây tỉnh A Tô Pơ... Chủ động ứng phó với tình hình tại Nam Lào, Trung ương Đảng Nhân dân Lào, Trung ương Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào Hắc-xạt) và Bộ chỉ huy tối cao chủ trương và quyết định thành lập "Mặt trận 23 miền Nam Lào" để hiệp đồng với lực lượng chủ lực của Bộ chỉ huy tối cao, với quân tình nguyện Việt Nam mở đợt hoạt động quân sự mang tính chất chiến dịch tiến công và phản công dịch ngay trong mùa mưa và mùa khô 1971-1972. Đợt hoạt động quân sự này nhằm giải phóng cao nguyên Bô Lô Ven, A Tô Pơ và các vị trí quan trọng trên địa bàn chiến lược Nam Lào, tạo điều kiện nối liền các chiến trường miền Nam, miền Trung và miền Bắc Lào, nối liền chiến trường Lào với chiến trường miền Nam Việt Nam và chiến trường Campuchia. Để tạo sức mạnh tiến công giải phóng cao nguyên Bô Lô Ven, Bộ chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào thống nhất với Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ thị cho các lực lượng quân tình nguyện Việt Nam và Quân khu Nam Lào sáp nhập, thống nhất trong Mặt trận Y. Theo đó, "Mặt trận 23 miền Nam Lào" thống nhất trong Mặt trận Y. Bộ Tư lệnh Mặt trận Y về phía Việt Nam có đồng chí Hoàng Kiện - Phó Tư lệnh Đoàn 559 làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, đồng chí Hoàng Biền Sơn và Nguyễn Ngọc Sơn; về phía Lào có đồng chí Khămchăn, đồng chí Kalăng và các đồng chí bí thư tỉnh ủy, chỉ huy trưởng các tỉnh Nam Lào. Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương Đảng và Trung ương Mặt trận Lào yêu nước, các tỉnh Nam Lào đẩy mạnh phong trào đấu tranh. Các cấp ủy đảng, các căn cứ chiến đấu, các tổ chức quần chúng cách mạng sau nhiều năm khó khăn gian khổ, đến đây đã được củng cố, tăng cường về tổ chức và lực lượng,... tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai trong chiến dịch. Thực hiện kế hoạch chiến dịch, Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cho các đơn vị Quân khu miền Nam Lào phối hợp với các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam tiến công cứ điểm 38 (bản In Thi), cứ điểm 165 (Năm Tiêng), cứ điểm 22 (Huội Lực),... Phối hợp với các hướng, các lực lượng trong cuộc phản công chiến lược Đường 9 - Nam Lào, quân dân Việt - Lào trên Mặt trận Y đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường, giải phóng toàn bộ cao nguyên Bô Lô Ven miền Nam Lào ngày 21 tháng 2 năm 1971. Trong phong trào đấu tranh giải phóng đất nước, quân và dân các tỉnh Nam Lào đã cùng với quân và dân cả nước kết hợp chặt chẽ với quân tình nguyện Việt Nam, với quân và dân Campuchia đoàn kết chiến đấu giành thắng lợi. Sự kết hợp chặt chẽ đó đã mang lại những thắng lợi to lớn cho phong trào đấu tranh của chúng ta. Những thắng lợi tiêu biểu nổi bật trên địa bàn chiến lược Nam Lào đó là: Các đợt hoạt động quân sự ở Thàteng (cuối năm 1968 - 1969), ở A Tô Pơ (4-1970), tại Xa Ra Van (6-1970), ở cao nguyên Bô Lô Ven (cuối năm 1970 đến tháng 6-1971), đợt phối hợp hoạt động trong chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân chiến lược "Lam Sơn 719" tại Đường 9 - Nam Lào (1971), đợt tiến công giải phóng thị trấn Không Xê Đôn (Xa Ra Van)... Những thắng lợi đó đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của phong trào đấu tranh giải phóng đất nước ở các tỉnh Nam Lào. Đặc biệt, khu vực Xa Ra Van - cao nguyên Bô Lô Ven, một địa bàn chiến lược quan trọng, nơi tranh chấp giữa ta và địch, đồng thời cũng là khu vực nối liền với vùng giai phóng Quân khu 5 (Việt Nam), địch tìm mọi cách để chiếm giữ thế trận ở miền Nam Lào. Trong những năm đó mặc dù lực lượng địch đang ở thế yếu, thế thất bại, đi xuống nhưng chúng vẫn ngoan cố tung quân tiến công để làm chủ địa bàn chiến lược quan trọng này. Một mặt, chúng tăng cường hoạt động quân sự lấn chiếm các vị trí trong địa bàn và xây dựng công sự trận địa mang tính chất phòng ngự. Mặt khác, chúng sử dụng lực lượng lớn lấn chiếm các vùng giải phóng, càn quét, đàn áp tàn khốc nhân dân các bộ tộc vùng nông thôn rừng núi. Trước những thủ đoạn chiến tranh mới của địch, Quân giải phóng nhân dân Lào cùng với quân tình nguyện Việt Nam và nhân dân các bộ tộc miền Nam Lào đã thắt chặt tình đoàn kết, chiến đấu anh dũng, đập tan các thủ đoạn, kế hoạch chiến lược của đế quốc Mỹ, góp phần làm phá sản bước đầu "Học thuyết Níchxơn" ở Lào và Đông Dương. Quân dân Nam Lào cùng với quân dân cả nước, với quân tình nguyện Việt Nam liên tiếp đánh bại âm mưu và thủ đoạn chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai, nhất là từ Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đến đợt hoạt động quân sự giải phóng cao nguyên Bô Lô Ven lần thứ hai (1971 - 1972) với những thắng lợi to lớn. Những thắng lợi to lớn đó trước hết là thắng lợi của tư tưởng chỉ đạo chiến tranh nhân dân, chỉ đạo đường lối chiến lược, sách lược của hai Trung ương Đảng, của Mặt trận Lào yêu nước, của Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ chỉ huy tối cao hai quân đội Việt Nam - Lào, của quan hệ đặc biệt, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong những năm 1971 - 1972, trong quá trình quân và dân hai nước tiến lên đánh bại đế quốc Mỹ và tay sai trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" tại miền Nam Việt Nam. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tư, 2026, 08:10:22 pm PHẦN III SỰ PHỐI HỢP NHỊP NHÀNG, HIỆU QUẢ CỦA LIÊN QUÂN VIỆT - LÀO CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 - DẤU MỐC QUAN TRỌNG CỦA SỰ HỢP TÁC LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU GIỮA QUÂN ĐỘI VÀ NHÂN DÂN HAI NƯỚC LÀO - VIỆT NAM, VIỆT NAM - LÀO TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐỂ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC Thiếu tướng VỈXÂY CHĂNTHAMẠT Cục trưởng Cục Khoa học - Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng Lào Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai của nhân dân ba nước Đông Dương, của nhân dân hai nước Lào - Việt Nam trong những năm (1968 - 1971) đã diễn ra rất gay go, quyết liệt và phức tạp, nhưng giành được những thắng lợi vô cùng to lớn. Thắng lợi điển hình và trở thành dấu mốc quan trọng của sự hợp tác liên minh chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam Việt Nam - Lào trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai trong giai đoạn chiến tranh ác liệt này là "Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971". Đó là một chiến thắng mang tầm chiến lược, có ý nghĩa quốc tế to lớn và để lại những bài học lịch sử sâu sắc. Thực hiện sự thỏa thuận giữa Trung ương Đảng Nhân dân Lào và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, nhằm đập tan âm mưu và kế hoạch chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở nước Lào, chiến lược "chiến tranh cục bố và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ và tay sai, Quân ủy Trung ương Lào đã phối hợp rất chặt chẽ với Quân ủy Trung ương Việt Nam để đề ra quyết tâm, tăng cường chi viện, hợp tác, liên minh chiến đấu giữa Quân đội nhân dân Lào1 (Thời điểm đó gọi là Quân giải phóng nhân dân Lào) và Quân đội nhân dân Việt Nam, giữa nhân dân hai nước Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào liên tiếp mở các chiến dịch tiến công và phản công với quy mô ngày càng lớn trên các chiến trường, trên các địa bàn chiến lược tại đất nước Lào, đập tan các bước phiêu lưu quân sự, leo thang chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai, tạo ra sự phát triển đột biến trong cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước Lào - Việt Nam nói riêng, của nhân dân ba nước Đông Dương nói chung. Những tháng mùa khô 1968-1969, sát cánh chiến đấu bên nhau, quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam đã đập tan các âm mưu và các thủ đoạn chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai trong chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam, trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào. Tại Việt Nam, quân và dân trên chiến trường miền Nam tiếp tục cuộc Tổng tiến công và nổi dậy; quân và dân ở hậu phương lớn miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, tiếp tục chi viện chiến lược cho tiền tuyến lớn miền Nam và cho cách mạng của nhân dân Lào anh em. Tại Lào, quân và dân các bộ tộc Lào trên cả ba miền Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào cùng quân tình nguyện Việt Nam kề vai sát cánh liên tiếp đánh bại đế quốc Mỹ và quân đội phái hữu tay sai phản động trong các cuộc hành quân "Samakhi" (Đoàn kết), các cuộc hành quân trên địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng... tăng cường thế và lực mới cho sự phát triển vững chắc của cách mạng Lào. Đứng trước những thất bại nặng nề trên chiến trường ba nước Đông Dương, nhất là những thất bại về quân sự, đế quốc Mỹ và tay sai buộc phải thay đổi chiến lược, chính sách theo đuổi chiến tranh xâm lược đối với Đông Dương nói chung, đối với hai nước Lào - Việt Nam nói riêng. Năm 1969, Níchxơn lên làm Tổng thống Hoa Kỳ. Níchxơn đề ra một chiến lược toàn cầu mối mang tên "Học thuyết Níchxơn" dựa trên ba nguyên tắc "sức mạnh của Mỹ", "chia sẻ trách nhiệm" và "thương lượng trên thế mạnh". Thực hiện "Học thuyết Níchxơn" ở Đông Dương, đế quốc Mỹ quyết định mở rộng chiến tranh xâm lược sang Campuchia, tiến hành chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam và chiến lược "chiến tranh đăc biêt tăng cường" ở Lào. Theo đuổi các chiến lược chiến tranh đó, thực chất đế quốc Mỹ nhằm biến cuộc chiến tranh xâm lược bán đảo Đông Dương thành "chiến tranh của người Đông Dương, lấy người Đông Dương giết người Đông Dương". Đối với hai nước Lào và Việt Nam nói riêng, đế quốc Mỹ kỳ vọng tạo ra một thế liên minh khu vực bền vững va sự tương hỗ lẫn nhau giữa chiến lược "chiến tranh dăc biệt tăng cường" ở Lào và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" tại miền Nam Việt Nam. Đến đây, quân và dân ba nước Đông Dương, quân và dân hai nước Lào - Việt Nam anh em đang đứng trước một tình hình mới, những khó khăn và thử thách mới. Trung ương Đảng Nhân dân Lào và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã phân tích tình hình, đánh giá âm mưu, thủ đoạn chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai; đồng thời tập trung chỉ đạo quân và dân hai nước tăng cường liên minh hợp tác, chủ động chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu đập tan các bước leo thang chiến tranh, nhất là các hành động quân sự của chúng. Tháng 6 năm 1970, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào xác định nhiệm vụ cho quân và dân cả nước, trước mắt là cho mùa khô 1970 - 1971, trong đó chỉ rõ: "Ra sức củng cố vùng giải phóng vững mạnh, duy trì thế liên hoàn và mở rộng có trọng điểm ở những địa bàn chiến lược quan trọng và vùng đông dân khi có thời cơ thuận lợi", "tích cực chuẩn bị mọi mặt để chuyển hướng đấu tranh khi tình hình chuyển biến có lợi cho ta, nhằm phát huy thắng lợi, đưa cách mạng tiến lên một bước mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước", "phát huy thế chủ động tiến công địch về mọi mặt", "tăng cường đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia anh em trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai phản động". Đặc biệt, về quân sự, Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã xác định hướng hoạt động trong hai năm tối là Trung - Hạ Lào, vì đây là một trong những địa bàn chiến lược quan trọng liên quan trực tiếp đến chiến trường ba nước Đông Dương, đặc biệt trong đó là tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Cùng với sự chuẩn bị của quân và dân Việt Nam, tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương Lào ra nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch quân sự mùa khô 1970 - 1971, trong đó chỉ rõ "chuẩn bị sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của quân ngụy Sài Gòn và một số quân Mỹ, quân Thái Lan vào Trung - Hạ Lào và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, phối hợp chặt chẽ với chiến trường miền Nam Việt Nam và Campuchia, sẵn sàng đón thời cơ giành thắng lợi lớn". Bộ chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào đẩy mạnh củng cố kiện toàn quân đội và lực lượng vũ trang nhân dân, quyết định thành lập 5 cụm chiến đấu (mỗi cụm tương đương trung đoàn), bố trí sẵn ở các khu vực quan trọng, trong đó ở địa bàn chiến lược Nam Lào có 2 cụm; đồng thời chỉ đạo quân và dân cả nước, trực tiếp là quân và dân các tỉnh Trung Lào và Hạ Lào chuẩn bị sẵn sàng, liên minh phối hợp chiến đấu cùng quân và dân Việt Nam trên địa bàn chiến lược Nam Lào. Đầu năm 1971, Trung ương Đảng Nhân dân Lào một lần nữa xác định "nhiệm vụ trung tâm số một của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Lào trong lúc này là đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi to lớn cho cách mạng Lào và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang của mình". Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua thực hiện khẩu hiệu "Tất cả vì tiền tuyến", "Tất cả để đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai". Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tư, 2026, 08:12:33 pm Đúng như nhận định của hai Trung ương Đảng Lào và Việt Nam, nhằm thoát khỏi thất bại nặng nề và cố gắng tìm kiếm một chiến thắng quân sự hòng làm chuyển biến tình thế và cục diện chiến tranh, đế quốc Mỹ đã mở rộng và đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ba nước Đông Dương, trong đó chúng đã đẩy cường độ "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào lên đến đỉnh cao. Theo đó, trong nửa cuối mùa khô 1970 - 1971, đế quốc Mỹ đồng thời mở ba cuộc hành quân quy mô lớn trên các chiến trường Nam Lào, Tây Nguyên (Việt Nam) và Đông Bắc Campuchia.
Trên chiến trường Nam Lào, đế quốc Mỹ và tay sai mở cuộc hành quân quy mô lớn vào vùng vĩ tuyến 17 độ bắc thuộc Trung Lào dọc theo Đường số 9 chạy qua tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào). Chúng gọi cuộc hành quân này là "Đêvê Khennhon 2" (Dewey Canyon II), sau đổi thành cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Đế quốc Mỹ và tay sai mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" một mặt nhằm thử nghiệm vai trò của các đội quân tay sai và lính đánh thuê, nhất là quân ngụy Sài Gòn, nhằm phô trương sức mạnh quân sự của chúng,... trong chiến tranh xâm lược ba nước Đông Dương nói chung, đối với hai nước Lào - Việt Nam nói riêng theo "Học thuyết Níchxơn". Mặt khác, mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719", mục đích và các mục tiêu chủ yếu của đế quốc Mỹ và tay sai là nhằm cắt đứt tuyến đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn, triệt phá cơ sở kho tàng hậu cần chiến lược của lực lượng cách mạng hai nước Việt Nam - Lào, chặn đứng nguồn tiếp tế từ miền Bắc Việt Nam đi các chiến trường Đông Dương, lập tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương, cô lập hai miền Bắc Lào và Nam Lào... Đế quốc Mỹ đã tập hợp, huy động vào cuộc hành quân "Lam Sơn 719" cả một lực lượng quân sự khổng lồ, gồm có cố vấn quân sự Mỹ, lính ngụy Sài Gòn hơn 45.000 tên, kết hợp với lực lượng lính ngụy Lào gồm 2 GM (binh đoàn cơ động của địch, tương đương trung đoàn), cùng với vũ khí trang bị gồm máy bay các loại hơn 2.000 chiếc, phương tiện vận tải quân sự gần 800 xe các loại, pháo binh hơn 320 khẩu, lực lượng lính ngụy đang tham chiến ở miền Trung Việt Nam và lực lượng lính đánh thuê đặc biệt của Vàng Pao. Các lực lượng được tung vào cuộc hành quân này được sự chi viện hỏa lực tối đa của pháo binh và không quân Mỹ. Giữ vững quyền chủ động chiến lược, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương Việt Nam cùng Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương Lào đã quyết định sử dụng một bộ phận binh lực lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào tiến hành Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai. Đế quốc Mỹ và tay sai đã tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trong hơn 50 ngày đêm (từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971) với âm mưu, kế hoạch và thủ đoạn tác chiến rất thâm độc. Sử dụng binh hỏa lực mạnh, sức cơ động và hành động nhanh, chúng hy vọng và huênh hoang tuyên bố sẽ nhanh chóng làm xoay chuyển tình thế nhanh như "trở bàn tay". Thực hiện kế hoạch tác chiến của Bộ Tư lệnh chiến dịch, các đơn vị tham gia chiến dịch của quân đội Việt Nam - Lào trên thế trận đã chuẩn bị sẵn, kề vai sát cánh đánh trả các cánh quân địch trên các hướng. Quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn, quân ngụy Viêng Chăn và lính đặc biệt Vàng Pao bị chặn đánh, bị tiêu hao, tiêu diệt nặng nề trên khắp mặt trận. Chúng không thể nào đạt được mục tiêu hành quân vượt qua được ranh giới Bản Đông (ở Lao Bảo) để tiến vào Sê Nô - Xa Van Na Khẹt, Nam Lào. Cuộc hành quân trong từng ngày của chúng đều bị quân đội nhân dân hai nước Lào và Việt Nam giáng cho những đòn mạnh mẽ, đánh cho thất bại nặng nề. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai đã đi đến kết cục thảm bại, đã bị đập tan. Những điểm nổi bật trong chiến thắng vĩ đại của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của quân đội nhân dân hai nước Lào và Việt Nam anh em đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai là: Thắng lợi to lớn rực rỡ đã giành được trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai ở Nam Lào, trước hết là do có đường lối, chủ trương lãnh đạo đúng đắn, khôn khéo, mưu trí, sáng tạo kết hợp với nghệ thuật chỉ đạo tác chiến rất tinh nhuệ, dứt khoát về mặt chiến lược và chiến thuật của hai Trung ương Đảng, hai Quân ủy Trung ương và của hai Bộ chỉ huy mặt trận trong chiến dịch. Đó chính là nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của chiến dịch. Đó cũng còn là yếu tố quan trọng làm cho các lực lượng chiến đấu của Lào và Việt Nam có sức mạnh vượt qua được mọi khó khăn, gian khổ, phức tạp trong chiến đấu, có điều kiện phản công lại kẻ thù, đánh bại được từng bộ phận, tiến tới đánh bại toàn bộ lực lượng địch, làm tiêu tan mục đích chiến lược trong cuộc hành quân quy mô lớn của đế quốc Mỹ và tay sai. Chiến thắng của quân và dân hai nước Lào - Việt Nam trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai thể hiện sự tiến bộ vượt bậc và nổi bật trong sự hợp tác và liên minh chiến đấu đặc biệt của nhân dân, của các lực lượng vũ trang nhân dân, của quân đội nhân dân hai nước Lào - Việt Nam. Sự hợp tác liên minh chiến đấu đặc biệt đó đã từng được và ngày càng được tôi luyện, thử thách, nhất là về mặt ý chí chiến đấu lâu dài qua nhiều trận chiến đấu trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Điều đó khẳng định sự thành thạo trong tác chiến, sự tập trung vật lực, sức mạnh tổng hợp trong chiến đấu không ngừng được tăng cường bằng chính nội lực của bản thân để tiêu diệt lực lượng quy mô lớn của kẻ thù. Điều đó cũng chứng tỏ chúng ta có đủ khả năng để bảo vệ, giữ vững được địa bàn chiến lược về mặt quân sự; đồng thời cũng khẳng định sự mưu trí sáng tạo của quân đội nhân dân, của các lực lượng vũ trang nhân dân, kể cả lực lượng chính quy và lực lượng địa phương hai nước Lào - Việt Nam anh em, đặc biệt trong đó là sự lãnh đạo chỉ đạo, chiến dịch bằng niềm tin chiến thắng, khả năng vận dụng nghệ thuật chiến tranh nhân dân một cách tài giỏi để giành thắng lợi quyết định vượt bậc cho các lực lượng vũ trang cách mạng hai nước. Các trận chiến đấu đầy gay go quyết liệt, vô cùng dũng cảm và anh dũng hy sinh trong suốt hơn 50 ngày đêm của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 của quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam anh em, trước đó chưa từng có trong lịch sử. Trong cuộc chiến đấu đầy hy sinh gian nan vất vả đó, quân và dân hai nước đa giành được thắng lợi rất to lớn bằng sự hợp tác liên minh chiến đấu đặc biệt ở địa bàn chiến lược dọc Đường 9 - Nam Lào. Cuộc chiến đấu đó một lần nữa khẳng định quân và dân hai nước luôn kề vai sát cánh bên nhau, cùng phối hợp chiến đấu hiệu quả giữa quân đội và nhân dân ba nước Lào - việt Nam - Campuchia anh em trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược trên bán đảo Đông Dương. Thắng lợi rất to lớn của quân và dân hai nước Lào - Việt Nam anh em ở Đường số 9 - Nam Lào năm 1971 băt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Trước hết, giành được thắng lợi to lớn đó là do đường lối chính trị và quân sự đúng đắn; sự mưu trí, khôn khéo, sáng tạo trong lãnh đạo về mặt chiến lược và chiến thuật; sự tài tình mưu trí, khôn khéo trong nghệ thuật quân sự hơn hẳn kẻ thù của hai Đảng chúng ta. Mặt khác, thắng lợi to lớn đó đã và luôn xuất phát từ lòng yêu nước mãnh liệt, lòng căm thù địch tận gốc của quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam anh em. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Lào nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia là một sự kiện lịch sử trọng đại. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai của nhân dân ba nước Đông Dương đã đi vào lịch sử hơn một phần ba thế kỷ. Cuộc chiến đấu hào hùng của quân và dân hai nước Lào - Việt Nam anh em trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai đã đi vào lịch sử tròn 40 năm. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971 để lại nhiều bài học lịch sử cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay trên hai đất nước Lào và Việt Nam anh em. Nổi bật lên trong các bài học lịch sử đó là bài học về không ngừng vun đắp phát huy mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào; về hợp tác, liên minh chiến đấu giữa quân đội nhân dân hai nước anh em. Luôn khắc sâu, nhớ mãi không bao giờ quên những hình ảnh về tinh thần chiến đấu rất quả cảm anh hùng của quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam, về những nụ cười phấn khởi và những tiếng hoan hô mừng chiến thắng của cán bộ, chiến sĩ Lào và Việt Nam, về sự giúp đỡ nhau với nghĩa tình trong sáng thủy chung, thấm đẫm mồ hôi xương máu của biết bao đồng chí, đồng đội, cán bộ, chiến sĩ Lào và Việt Nam đã kề vai sát cánh bên nhau cùng chung một chiến hào chiến đấu. Tất cả những hình ảnh đó vẫn luôn khắc sâu, in đậm trong lịch sử vẻ vang của hai dân tộc, trong trí nhớ của nhân dân, quân đội hai nước Lào - Việt Nam anh em mãi mãi không bao giờ phai mờ. Với tầm vóc, ý nghĩa và những bài học kinh nghiệm lớn lao như vậy, chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 đã trở thành một cột mốc quan trọng của sự hợp tác liên minh chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tư, 2026, 08:15:44 pm CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971, MỘT MINH CHỨNG CHO MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT, TÌNH ĐOÀN KẾT LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU BỀN CHẶT, THUỶ CHUNG GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO TS. TRƯƠNG MINH TUẤN Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân hai nước Việt Nam - Lào đã đi vào lịch sử như bản anh hùng ca của mỗi dân tộc, đồng thời đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ ấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, quân dân hai nước đã luôn sát cánh bên nhau, thực hiện nhiều chiến dịch giành thắng lợi to lớn, tạo ra bước ngoặt phát triển của cuộc kháng chiến. Chiến thắng lịch sử Đường 9 - Nam Lao năm 1971 là một trong những chiến dịch như thế. Nó sẽ mãi mãi được khắc ghi trong tâm thức toàn dân hai nước anh em Việt Nam - Lào. Đầu năm 1971, Mỹ và chính quyền Sài Gòn huy động đến 88 tiểu đoàn bộ binh (trong tổng số 214 tiểu đoàn), 15 thiết đoàn cùng các lực lượng pháo binh, không quân... mở 3 cuộc hành quân lớn đồng loạt đánh vào tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn của ta - cuộc tiến công mang mật danh cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào; cuộc tiến công mang mật danh "Toàn thắng 1-71" đánh lên vùng Kông Pông Chàm Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia); cuộc tiến công với quy mô khoảng 1 sư đoàn đánh ra vùng ngã ba biên giới (vùng Tà Xẻng, Pa Kha, Sê Sụ) thuộc A Tô Pơ, Nam Lào. Trong ba cuộc hành quân đó, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là lớn nhất. Địch đã tung vào cuộc hành quân này 42.000 quân (33.000 quân đội Sài Gòn, 9.000 quân Mỹ), trong đó có những đơn vị thiện chiến nhất thuộc lực lượng dự bị chiến lược (sư đoàn dù, sư đoàn thủy quân lục chiến) và lực lượng chủ lực cơ động của Vùng I chiến thuật. Phối hợp với bộ binh là hai thiết đoàn thiết giáp với 464 xe tăng, xe bọc thép, 16 tiểu đoàn pháo binh với 250 khẩu các loại1 (Lúc cao nhất (từ ngày 10-3-1971), địch huy động tới 55.000 quân, gồm 15 trung đoàn bộ binh, ba thiết đoàn thiết giáp với 587 xe, 21 tiểu đoàn pháo binh với 318 khẩu pháo các loại. Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Tập VI - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.250)... Cuộc hành quân được sự yểm trợ tối đa của hậu cần, hỏa lực của pháo binh và không quân Mỹ (kể cả máy bay ném bom chiến lược B-52). Ngoài ra ở phía Tây Đường số 9, chính phủ phái hữu Lào đã huy động 9 tiểu đoàn của hai binh đoàn (GM30, GM33) tham gia phối hợp với cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Có thể nói, đây là cuộc hành quân lớn nhất và điển hình theo công thức "Đông Dương hóa chiến tranh", là nỗ lực cao nhất của Mỹ nhằm cắt tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, cắt đôi chiến trường Đông Dương, tạo sức ép trên bàn đàm phán. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã đặt tình đoàn kết liên minh chiến đấu quân dân hai nước anh em Việt Nam - Lào đứng trước thử thách rất ngặt nghèo, có ảnh hưởng quyết định đến cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân ba nước Đông Dương cho đến thời điểm ấy. Ngay từ đầu năm 1970, khi đế quấc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh trên bộ ra toàn chiến trường Đông Dương, Trung ương Đảng ta đã sớm nhận định rằng địch sẽ tiếp tục có những hành động phiêu lưu quân sự mới trong thời gian tới. Ta đã dự đoán chính xác trong mùa khô 1970-1971, phương hướng tiến công của địch là hành lang vận chuyển chiến lược của ta, đặc biệt là khu vực Đường 9 - Nam Lào - nơi tập kết khối lượng hàng hóa lớn trên tuyến vận tải Trường Sơn. Trung ương Đảng ta và Trung ương Đảng bạn Lào đã bàn bạc và thống nhất lãnh đạo quân dân hai nước sẵn sàng đánh bại mọi hành động quân sự của địch. Từ mùa hè 1970, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu vạch kế hoạch tác chiến, điều chỉnh lực lượng và chỉ đạo chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Nam Lào. Tháng 10 năm 1971, Binh đoàn 70 - binh đoàn chiến lược đầu tiên của quân đội ta được thành lập, gồm 3 sư đoàn bộ binh (304, 308, 320) và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng. Ở khu vực Đường số 9, lực lượng của các mặt trận: B5 (Đường 9 - Bắc Quảng Trị), B4 (Quân khu Trị - Thiên) và Đoàn 559 cũng được lệnh gấp rút điều chỉnh, sẵn sàng phối hợp chiến đấu. Các đơn vị hậu cần nhanh chóng củng cố đường vận tải, mở thêm một số tuyến đường mới. Đến tháng 1 năm 1971, ta đã vận chuyển được trên 6.000 tấn vật chất, đảm bảo cho 6 vạn bộ đội chiến đấu trong vòng 4-5 tháng. Các mạng thông tin liên lạc, quân y, kỹ thuật... từng bước được kiện toàn phục vụ chiến dịch, về phía Lào, trên cơ sở thống nhất chung với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, ngày 25 tháng 6 năm 1970, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Lào họp đã có nhận định: hướng Trung, Hạ Lào trong thời gian tới sẽ càng trở nên đặc biệt quan trọng, địch sẽ tăng cường đánh phá vì liên quan trực tiếp đến tuyến vận tải chiến lược 559. Tiếp đó, tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương Lào đã ra nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch quân sự mùa khô 1970 - 1971, trong đó nhấn mạnh: "Phải chuẩn bị sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của quân ngụy Sài Gòn và một số quân Mỹ, quân Thái Lan vào Trung, Hạ Lào và Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng... Phải phối hợp chặt chẽ với chiến trường miền Nam Việt Nam và Campuchia sẩn sàng đón thời cơ giành thắng lợi lớn hơn..."1 (Đảng Nhân dân cách mạng, Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 462). Đầu tháng 1 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp hội nghị và ra nghị quyết: "Nhiệm vụ trung tâm số một của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Lào trong lúc này là đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi to lớn cho cách mạng Lào và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang của mình"2 (Ban chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng: Lào Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 155). Trên cơ sở dự đoán âm mưu của địch, từ nửa cuối năm 1970 đến tháng 1 năm 1971, bộ đội Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với Quân giải phóng nhân dân Lào mở nhiều cuộc tiến công vào các vị trí phòng tuyến của địch trên đất Lào, giải phóng nhiều vùng phía Đông Bô Lô Ven, Huội Sài, Pha Lan, Sê Săng Soi...; đồng thời tổ chức theo dõi nắm chắc tình hình, đẩy mạnh các hoạt động sau lưng địch nhằm phá bước chuẩn bị chiến trường của chúng. Để đẩy mạnh phối hợp với hướng chính của chiến dịch, ngay từ khi địch chuẩn bị mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Bộ Tổng chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ chỉ huy Quân giải phóng nhân dân Lào đã chỉ đạo một số đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam và các đơn vị vũ trang Quân khu Nam Lào thành lập Mặt trận Y (mặt trận Xa Ra Van) do đồng chí Hoàng Kiện - Phó Tư lệnh Đoàn 559 trực tiếp chỉ huy. Tham gia Mặt trận Y, về phía Lào có các đồng chí là Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh đội trưởng các tỉnh Nam Lào. Ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn bắt đầu cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Từ 30 tháng 1 đến 7 tháng 2 năm 1971, địch đã chuyển một bộ phận lớn lực lượng tập trung tại khu vực biên giới Việt Nam - Lào, triển khai chiếm lĩnh các khu vực tập kết tiến công. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, hàng chục trận địa với hàng trăm khẩu pháo các loại cùng hàng chục tốp máy bay phản lực địch đã bắn phá dữ dội vào các mục tiêu dọc hai bên Đường 9 - Nam Lào, yểm trợ cho 3 mũi tiến công bộ binh vượt biên giới. Trước âm mưu và hành động của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 được thành lập, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Quốc phòng, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn chủ lực (304, 308, 320, 324, 2), các đơn vị vũ trang của mặt trận B5, B4, Đoàn 559, cùng nhiều đơn vị binh chủng khác. Trong thời gian này, các chuyên gia Đoàn 565 đã cùng với Đoàn 968 Quân tình nguyện Việt Nam tập trung giúp Quân khu Trung Lào huy động toàn bộ lực lượng Quân khu và tỉnh Xa Van Na Khẹt (địa bàn chủ yếu của chiến dịch) nhanh chóng triển khai thế trận, bố trí sẵn lực lượng tại các khu vực được phân công theo phương án tác chiến chung, phối hợp với bộ đội Việt Nam tiến công quyết liệt địch ngay từ đầu. Quân dân Việt Nam - Lào đã sẵn sàng bước vào cuộc đọ sức quyết liệt. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Hỏa lực pháo binh, không quân địch bắn phá dữ dội vào các mục tiêu đánh chiếm. Khói lửa bom đạn bốc lên trùm kín cả một vùng trời Đường 9 - Nam Lào. Với tinh thần chiến đấu ngoan cường, quân dân Việt - Lào từng bước đánh bại các cuộc tiến quân, bẻ gãy từng hướng tiến công của địch. Từ ngày 12 tháng 2 đến 3 tháng 3 năm 1971, bộ đội chủ lực Việt Nam tiến công dồn dập, diệt gọn các cụm cứ điểm then chốt trên nhiều điểm cao (500, 543), đập tan các cuộc phản kích của lính dù, lính thủy quân lục chiến quân đội Sài Gòn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu giữ và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, ở phía tây Đưồng 9, Quân giải phóng Lào đã tiến công các binh đoàn cơ động GM31, GM33 của quân đội phái hữu Lào khi chúng từ Huội Mun, Tùm Lan tiến về Mường Noòng, từ Mường Pha Lan tiến về Đồng Một - Huội Xa Lan..., không cho chúng phối hợp với quân đội Sài Gòn. Trên hướng đông, các đơn vị bộ đội Lào cũng tích cực tham gia phối hợp chiến đấu vô cùng quả cảm, giành giật từng mét đất, tiêu diệt dịch và làm chủ nhiều vị trí quan trọng (điểm cao 723, điểm cao 560...). Những cuộc chiến đấu của bộ đội Lào đã làm đảo lộn kế hoạch phối hợp chiến đấu của địch, tạo điều kiện để các đơn vị bộ đội chủ lực Việt Nam đẩy mạnh tiến công. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tư, 2026, 08:17:14 pm Vượt qua mưa bom bão đạn của quân thù, lực lượng phục vụ chiến đấu cũng nêu cao quyết tâm cùng bộ đội đánh giặc. Trên các nẻo đường chiến dịch, nhân dân Việt Nam cùng nhân dân các bộ tộc Lào hăng hái tham gia gùi lương, tải đạn phục vụ bộ đội Lào - Việt chiến đấu, vận chuyển, cứu chữa thương binh. Tình đoàn kết chiến đấu Việt - Lào được phát huy cao độ. Nhiều gia đình dem bán các vật dụng thường ngày đổi lấy lương thực phục vụ chiến dịch, sẵn sàng cho con em mình theo bộ đội kháng chiến xung phong nơi tuyến lửa. Nhiều đồng bào, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trên đường chiến dịch. Tình đoàn kết chiến đấu Lào-Việt càng thêm gắn bó. Đồng chí Đồng Sĩ Nguyên - nguyên Tư lệnh Đoàn 559 đã nói rất cảm động về Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào: "Trong cuộc chiến này, khi mà đối phương huy động tối đa sức mạnh tổng lực, hòng xóa đường Trường Sơn; khi mà biết bao đồng chí, đồng bào ngã xuống, nằm lại vĩnh viễn với những đồi lau xơ xác, những bìa rừng khuất nẻo... vì sự sống của con đường, vì sự toàn thắng của chiến dịch, nếu như ai đó thi vị hóa hết thảy sẽ là tội lỗi. Nhưng nếu không tìm thấy cội nguồn chiến thắng từ những bước chân nhún nhảy của những chàng trai, cô gái Pa Cô trên đường tải đạn trong âm vang réo rắt tiếng đàn Ta-lư, hay điệu Lăm-vông của những nam nữ chiến sĩ Quân giải phóng Lào sau từng trận đánh..., thì cũng khó lý giải hết tầm thế của chiến công này..., và vì sao ta chiến thắng!''1 (Đồng Sĩ Nguyên, Đường xuyên Trường Sơn (Duy Tường và Ký Văn thể hiện), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 224).
Cuộc chiến đấu dần đi vào những bước quyết định. Do bị thương vong nhiều, nội bộ quân địch nảy sinh mâu thuẫn, tinh thần chiến đấu giảm sút. Nắm bắt thời cơ, ngày 4 tháng 3 năm 1971, Quân ủy Trung ương đã điện chỉ thị cho quân dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào nêu rõ quyết tâm của ta tập trung nỗ lực giành toàn thắng trong chiến dịch này. Từ ngày 8 tháng 3 năm 1971, quân ta trên các hướng chiến dịch đồng loạt phản công địch. Phối hợp với các hướng chính của chiến dịch, quân dân các tỉnh Nam Lào cùng với Quân tình nguyện Việt Nam đồng loạt tiến công vào nhiều vị trí của địch ở các cứ điểm 38 (In Thi), cứ điểm 165 (Nậm Tiêng), cứ điểm 22 (Nậm Lực)... Tính đến cuối tháng 3 năm 1971, quân dân các tỉnh Nam Lào đã chiến đấu 116 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn địch, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Qua hơn 50 ngày đêm chiến đấu (30-1 đến 23-3-1971), ta loại khỏi vòng chiến đấu trên 21.000 dịch, bắn rơi, phá hủy và thu giữ trên 500 máy bay, hàng ngàn xe bọc thép, hàng trăm khẩu pháo của chúng, giữ vững tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, giải phóng một vùng rộng lớn ở Nam Lào. Qua chiến đấu, trình độ tác chiến của bộ đội ta được nâng cao một bước rõ rệt... Về phía địch, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là một thất bại nặng nề, làm "rung động" cả cơ sở học thuyết Níchxơn áp dụng ở ba nước Đông Dương; điều đó cho thấy: "Quân đội Việt Nam Cộng hòa là một quân đội mong manh một cách tuyệt vọng"1 (Gabriel Kolko: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.446. Còn Henry Kissinger cho rằng cuộc hành quân vào Lào và Campuchia năm 1971 đã hạn chế nhiều sự chi viện của Bắc Việt Nam vào Nam Việt Nam, do đó, tạo điều kiện cho Mỹ và quân đội Sài Gòn chặn được cuộc tiến công chiến lược của Bắc Việt năm 1972. Tuy nhiên, ông ta cũng thừa nhận rằng: "Về phần Nam Việt Nam, cuộc hành quân ở Lào đã để lộ rất nhiều chỗ yếu kéo dài của họ. Việc vạch kế hoạch của họ trở nên trừu tượng. Họ rập khuôn một cách hình thức điều được dạy ở các trường chỉ huy và tham mưu của chúng ta, mà không vận dụng tới những điều kiện của địa phương. Trái lại, tôi đã đi đến nghi ngờ rằng liệu Nam Việt Nam có thực sự hiểu cái mà chúng ta đang cố gắng giành lấy không?". Henry Kissinger: Những năm ở Nha Trắng (1968-1973), Trung tâm thông tin khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng sao lục, 1981. Ký hiệu kho VL-485, tr.241-242). Đánh giá về ý nghĩa thắng lợi ở Đường 9 - Nam Lào, Trung ương Đảng hai nước đã khẳng định: "Thắng lợi ở Đường 9 - Nam Lào đã đánh gục vai trò nòng cốt của quân ngụy Sài Gòn trong âm mưu "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương" của Mỹ, mở ra triển vọng mới cho cách mạng Lào và toàn bộ chiến trường Đông Dương. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào không chỉ khẳng định sức mạnh to lớn của quân đội và nhân dân Việt Nam, mà còn là sự khẳng định sức mạnh vĩ đại của tình đoàn kết Việt Nam - Lào trong suốt cuộc kháng chiến"2 (Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Làu - Việt Nam (1930-2007), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.464). Nhận rõ sức mạnh của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, các thế lực thù địch đã ra sức tuyên truyền những luận điệu sai trái, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, gây chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam và hiện nay chúng lại càng gia tăng mạnh mẽ. Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng chiến thắng lịch sử Đường 9 - Nam Lào 1971 mãi đi vào lịch sử như một minh chứng cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Mối quan hệ đặc biệt này được phát triển từ quan hệ truyền thống do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng Chủ tịch Cayxỏn Phômvihan, Chủ tịch Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp. Trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt, đầy hy sinh gian khổ vì độc lập tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước, đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới những thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới đưa hai nước cùng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tư, 2026, 08:18:38 pm LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG VÀ NHÂN DÂN CÁC BỘ TỘC LÀO TỈNH XA VAN NA KHẸT TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 Đại tá XIỂN XAYNHẠLẠT Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Xa Van Na Khẹt Đối với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân chiến lược với quy mô lớn mang tên "Lam Sơn 719" năm 1971, có một số điểm nổi bật về sự đóng góp của lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân các bộ tộc Lào tỉnh Xa Van Na Khẹt trong chiến thắng Đường 9 - Nam Lào như sau: Địa bàn tỉnh Xa Van Na Khẹt nằm ở trung tâm của đất nước Lào, có tuyến đường chiến lược số 9 cắt ngang, phía đông sang Việt Nam, phía tây sang Thái Lan; đồng thời nằm trên tuyến trục của vĩ tuyến 17° bắc; địa hình rộng lớn, dân cư đông đúc, nhân dân các bộ tộc có truyền thống đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất, có nền văn hóa lâu đời, tài nguyên thiên nhiên phong phú. Do vậy, đây là nơi có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Trong những năm 1969 - 1971, cuộc "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào đã bị đẩy lên mức độ cao nhất. Toàn chiến trường Lào nói chung, chiến trường Trung Lào và khu vực Đường 9 - Nam Lào nói riêng, địch đã sử dụng không quân tiến hành đánh phá ác liệt ngày đêm vào khu giải phóng Mường Phìn, Na Nhôm, Sê Pôn, Ang Khăm, Tà Oi, Tum Lan... Vì khu vực Đường 9 - Nam Lào có tuyến đường Hồ Chí Minh chạy qua, lại là vùng căn cứ kháng chiến Trung - Hạ Lào nên cuộc chiến đấu lần này hết sức ác liệt. Lực lượng vũ trang địa phương và nhân các bộ tộc tỉnh Xa Van Na Khẹt đã liên minh, phối hợp chặt chẽ; kề vai sát cánh cùng với lực lượng chủ lực Việt Nam - Lào, quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu dũng cảm bền bỉ. Để tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719", dịch đã sử dụng lực lượng gồm nhiều tiểu đoàn bộ binh, các quân chủng, binh chủng dưới sự chi viện trực tiếp của không quân Mỹ, mở cuộc hành quân chiến lược với quy mô lớn vào phía đông tỉnh Xa Van Na Khẹt một cách ác liệt. Trước khi cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch xảy ra, tháng 1 năm 1971, Trung ương Đảng Nhân dân Lào Mặt trận Lào yêu nước đã ra chỉ thị cho toàn dân kiên trì đấu tranh và xác định nhiệm vụ trước mắt: nhiệm vụ trung tâm số một của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân lúc này là phải kiên quyết đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi cho cách mạng Lào với khẩu hiệu: "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì chiến thắng đế quốc Mỹ và tay sai". Căn cứ vào sự chỉ đạo của Trung ương Đảng Nhân dân Lào và Mặt trận Lào yêu nước, lực lượng vũ trang địa phương, chính quyền tỉnh cùng với nhân dân các bộ tộc đã tiến hành cuộc chiến đấu kiên cường, tham gia phục vụ chiến đấu, chủ động đánh tiêu hao, tiêu diệt địch bằng mọi thủ đoạn hình thức tác chiến; vận dụng địa hình, sử dụng lực lượng phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chủ lực Việt Nam - Lào và quân tình nguyện Việt Nam. Nhằm phối hợp cùng chiến đấu giành thắng lợi trong chiến dịch này, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã sử dụng 2 tiểu đoàn (Tiểu đoàn 14 và Tiểu đoàn 18) làm lực lượng chính tham gia chiến dịch và tổ chức các đội dân quân du kích của các mường phía đông và phía tây làm lực lượng quan trọng, chủ động đánh nhỏ lẻ phân tán, đánh cắt giao thông, chặn đánh địch rút chạy. Hàng nghìn thanh niên nam, nữ và nhân dân xung phong ra mặt trận phục vụ chiến đấu, mang vác vận chuyển vũ khí trang bị, cấp cứu thương binh, bệnh binh, chôn cất tử sĩ, dẫn đường cho bộ đội... Để thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền cách mạng cấp tỉnh đã cử đồng chí Khămpan phụ trách đội tuyên truyền vận động giúp đỡ di dời nhân dân ra khỏi khu vực tác chiến đến khu an toàn. Được sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và của bộ đội tình nguyện Việt Nam, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, quân và dân Xa Van Na Khẹt đẩy mạnh chiến tranh nhân dân địa phương. Nhiều tấm gương tiêu biểu về tinh thần không sợ hy sinh, gian khổ, không quản khó khăn của dân quân du kích, nhân dân các mường Sê Pôn, Mường Noòng, Tà Ôi, Mường Phin, Ang Khăm... xuất hiện trong chiến dịch. Dân quân du kích và nhân dân thống nhất hành động, sử dụng vũ khí thô sơ, phối hợp với lực lượng chủ lực để tiêu diệt địch, dấy lên phong trào toàn dân đánh giặc rộng khắp trên các hướng của chiến dịch. Thực hiện yêu cầu, mục tiêu tiêu diệt địch của Mặt trận tỉnh và của tỉnh trưởng đề ra, lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh tích cực thi đua diệt giặc, tham gia bắn máy bay, bảo vệ khu căn cứ, ra sức tăng gia sản xuất... Những tấm gương đó luôn khắc sâu trong trái tim, trí nhớ của nhân dân Lào trong suồt 40 năm qua và sẽ mãi mãi về sau. Những thành tích góp phần vào thắng lợi trong chiến dịch của quân và dân Xa Van Na Khẹt là chiến công nổi bật, thể hiện tinh thần dũng cảm tiêu diệt địch; tiêu biểu như: Tiểu đoàn 14, Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 5; Đại đội 4 thuộc Tiểu đoàn 4; Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 3, Đội du kích huyện Sê Pôn, xã Ang Khăm; bản Nặm Pa Khên; xã Tăng Alay, Xạ Kỵ Phi... Nhiều tấm gương tiêu biểu trong lực lượng vũ trang và nhân dân như các đồng chí xổmphavăn, Nangmạnivăn, Khăm, Amkum, Xỷkhay... Trong những tháng cuối năm 1971, sau thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, quân và dân tỉnh Xa Van Na Khẹt tiếp tục phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam và chủ lực khu Nam Lào đẩy mạnh tiến công địch, giải phóng một số địa bàn quan trọng. Ngày 3 tháng 5 năm 1971, lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam và chủ lực khu Nam Lào giải phóng các Mường Pha Lan, Mường Phìn. Tiếp đó, ngày 17 tháng 5 năm 1971, lực lượng vũ trang tỉnh cùng quân tình nguyện Việt Nam và chủ lực khu Nam Lào phối hợp giải phóng Mường Đồng Hên, uy hiếp chính quyền ngụy và quân đội phái hữu ở Sê Nô, Noong Hung, Phu Mon Tháu; Keng Koọc... Đồng thời, tỉnh cũng nhanh chóng củng cố tổ chức, bổ sung kiện toàn lại lực lượng vũ trang từ tỉnh xuống các huyện, dân quân du kích ở các làng, bản phù hợp với điều kiện thực tiễn, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tư, 2026, 08:20:12 pm QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN LÀO TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 Đại tá PHALÔM LINTHOONG Sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh 4 Như chúng ta biết, bước vào năm 1971, ở khu vực Trung Lào, cuộc chiến tranh đặc biệt mà đế quốc Mỹ đang tiến hành ngày càng tăng cường lên mức độ cao. Chúng đã sử dụng không quân đánh phá rất ác liệt vào khu giải phóng Mường Phìn, Na Nhôm, Sê Pôn, Ang Khăm, Tum Lan, Mường Noòng..., cả ngày lẫn đêm, vì khu vực đó có tuyến chi viện Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh đi qua. Trong thời gian hơn 50 ngày đêm mở cuộc hành quân, đế quốc Mỹ đã tiến hành tiến công trên không và trên bộ vào phía Đông của tỉnh Xa Van Na Khẹt hết sức ác liệt. Quân giải phóng nhân dân Lào1 (Nay là Quân đội nhân dân Lào), lực lượng vũ trang địa phương, nhân dân các bộ tộc Trung, Hạ Lào đã liên minh, kề vai sát cánh cùng các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu vô cùng dũng cảm, kiên cường. Trung ương Đảng Nhân dân Lào, Mặt trận Lào yêu nước đã giao nhiệm vụ: Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai là nhiệm vụ trọng tâm số một, thực hiện khẩu hiệu "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai". Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng Nhân dân Lào và Mặt trận Lào yêu nước, trước và trong chiến dịch, lực lượng chủ lực, lực lượng địa phương, chính quyền các tỉnh Trung Lào (Khăm Muộn, Xa Van Na Khẹt) cùng với toàn dân đã chủ động đứng lên đẩy mạnh đấu tranh vũ trang bằng nhiều hình thức tác chiến, đã phối hợp liên minh chiến đấu chặt chẽ với bộ đội tình nguyện Việt Nam và nhân dân các huyện ở phía đông Đường số 9. Mặt trận tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh cũng ra chỉ thị về các phương pháp đấu tranh, hình thức tác chiến, phát động thi đua lập công diệt địch, bắn máy bay địch, ra sức tăng gia sản xuất, tham gia vận tải, tiếp tế, dẫn đường cho bộ đội. Nhiều tấm gương cá nhân và tập thể tiêu biểu trong lực lượng vũ trang, trong nhân dân xuất hiện, góp phần cùng quân và dân hai nước trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào làm nên thắng lợi của chiến dịch. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai diễn ra vào thời gian chiến tranh rất ác liệt, rất khó khăn gian khổ mà quân và dân hai nước chúng ta đã tiến hành trong những năm 1969 - 1971. Đế quốc Mỹ đã mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại trên đất nước Lào. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mở ra nhằm đánh bại "Học thuyết Níchxơn", đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam và chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào của đế quốc Mỹ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam và Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy Lào đã trao đổi bàn bạc, thống nhất hành động nhằm bảo đảm giành thắng lợi cho chiến dịch. Lực lượng chủ lực và địa phương Quân khu Trung Lào tham gia chiến dịch gồm: Tiểu đoàn bộ binh 14 đóng quân ở Huội Nhạphứt, hoạt động đánh địch phía nam Đường số 9, Tăng Vai, Văn Khôn, cùng quân tình nguyện Việt Nam đánh chia cắt chiến dịch giữa phía trước và phía sau lưng địch. Tiểu đoàn 18, Đại đội độc lập 28, Tiểu đoàn pháo binh 19, Tiểu đoàn pháo phòng không 16 phối hợp cùng lực lượng địa phương và quân tình nguyện Việt Nam đánh và bao vây địch ở Huội Kaky, Bản Phin và phía bắc Đường số 9, Na Nhôm, Na Kụt Chan. Đại đội độc lập 19, Đại đội độc lập 93 và lực lượng địa phương các mường: Mường Noòng, Tum Lan, Xa Ra Van phục kích và bao vây chia cắt địch ở nam Đường số 9, chia cắt đường 23 hướng Mường Noòng, kiên quyết không cho địch phát triển xuống phía Hạ Lào. Thời gian chiến dịch diễn ra hơn 50 ngày đêm, bằng tinh thần chiến đấu dũng cảm, bền bỉ, quyết liệt, một mất một còn, các lực lượng tham gia chiến dịch đã trực tiếp chiến đấu với địch trên phạm vi rất rộng lớn. Các đơn vị Quân đội giải phóng nhân dân Lào tham gia chiến dịch đã chiến đấu ngày đêm không quản ngại hy sinh gian khổ, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Đặc biệt, các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam tại điểm cao 450 trên hướng bắc Bản Đông - Sê Pôn đã phối hợp với một số đơn vị Quân đội nhân dân Lào chiến đấu giành giật với địch từng chiến hào. Sau khi địch chiếm được điểm cao 450, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho hai lực lượng Việt Nam - Lào sử dụng lực lượng đặc công vào tập kích điểm cao 450. Nhưng do địa hình khu vực điểm cao 450 quá hiểm trở, không thể tập kích được, nên ta phải sử dụng pháo binh đánh phá trước vào nơi đóng quân của địch. Chúng phát hiện ta và phản pháo trở lại, đồng thời dùng không quân đánh phá rất ác liệt. Cuộc chiến đấu tại khu vực điểm cao 450 kéo dài nhiều ngày đêm. Với quyết tâm cao, lòng căm thù giặc cao độ, không chịu khuất phục trước bom đạn địch, lực lượng vũ trang Việt Nam và Lào sát cánh quyết tâm đánh chiếm bằng được điểm cao đó. Cuối cùng, địch buộc phải bỏ chạy trước sửc tiến công mãnh liệt của bộ đội ta. Đặc biệt, từ ngày 4 đến ngày 17 tháng 2 năm 1971, địch sử dụng 3 tiểu đoàn ngụy Lào (BC.7, BC.101, BCr.303) tiến công rất mạnh nhằm chiếm Mường Pha Lan. Trên hướng này, địch đã bị Tiểu đoàn 14, Tiểu đoàn 18 Quân khu Nam Lào và các lực lượng tại chỗ cùng quân tình nguyện Việt Nam đánh trả quyết liệt, địch bị thiệt hại nặng và bị giam chân tại chỗ. Hình ảnh sống động về tinh thần chiến đấu, hy sinh dũng cảm của các chiến sĩ chúng ta luôn khắc sâu mãi mãi trong trái tim, trong trí nhớ, trong tâm khảm của mỗi người chúng ta. Sau Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai trên Đường số 9 - Nam Lào, quân và dân các bọ tộc Lào đã nhanh chóng củng cố lực lượng, phát huy thắng lợi, tiếp tục mở nhiều trận đánh lớn, nhỏ, giải phóng và mở rộng các khu căn cứ, uy hiếp các lực lượng lính ngụy và chính quyền bù nhìn Viêng Chăn tại Xa Van Na Khẹt và tại các tỉnh khác thuộc khu vực Trung - Hạ Lào, góp phần cùng cô, giữ vững vùng giải phóng. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tư, 2026, 08:21:49 pm QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM PHỐI HỢP TÁC CHIẾN VỚI QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN LÀO TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Tổ chức quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Quân giải phóng miền Nam Việt Nam - bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu ở chiến trường miền Nam là nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong kháng chiến chống Mỹ, Quân giải phóng miền Nam đã nhiều lần phối hợp tác chiến với quân và dân Lào. Điển hình là Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, chiến dịch phản công giành thắng lợi vẻ vang, tạo bước ngoặt phát triển mới cho cuộc kháng chiến của quân và dân hai nước Việt Nam - Lào. 1. Mở Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, quyết tâm lớn của quân đội hai nước Việt Nam và Lào. Đánh giá đúng bản chất hiếu chiến và âm mưu, thủ đoạn mới của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong mùa khô 1970-1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã sớm nhận định: Địch có thể sử dụng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, có sự hỗ trợ của một bộ phận quân Mỹ và quân đội chính phủ phái hữu Lào mở các cuộc tiến công quy mô vừa và lớn vào vùng Trung Lào, Hạ Lào. Trên cơ sở nhận định đó, Bộ Chính trị chỉ thị cho các chiến trường, nhất là các đơn vị ở khu vực Đường 9 - Bắc Quảng Trị và Quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở vùng Nam Lào cần khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để đánh địch. Quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu xây dựng phương án tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo các đơn vị chuẩn bị chiến trường, ở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (Mặt trận B5), quân và dân ta khẩn trương chuẩn bị thế và lực mạnh hơn những năm trước. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, t,ừ giữa năm 1970, Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5 gồm 2 trung đoàn (1 và 141) và các đơn vị trực thuộc để lại trang bị nặng, bí mật cơ động từ Quế Sơn (Quảng Nam) ra khu vực Đường 9. Tại đây, Sư đoàn giấu quân trong các lán trại và nhiều hầm trú ẩn, do công binh Mặt trận B5 xây dựng; đồng thời được bổ sung quân số, vũ khí trang bị và huấn luyện theo cách đánh mới với yêu cầu cao hơn. Tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương chủ trương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn 70 gồm 3 sư đoàn bộ binh (304, 308, 320) và một số đơn vị binh chủng ở Nam Quân khu 4, sẵn sàng cơ động vào Mặt trận B5 chiến đấu. Đến cuối tháng 10 năm 1970 việc nghiên cứu địa hình, chuẩn bị lực lượng, thế trận và kế hoạch tác chiến ở Mặt trận B5 và vùng Trung Lào Hạ Lào đã cơ bản hoàn thành. Giữa lúc quân và dân ta tích cực chuẩn bị chiến trường ở khu vực Mặt trận B5, ngày 30 tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương Lào ra nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch quân sự mùa khô 1970-1971, trong đó xác định: "Phải phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường, giữa hai vùng chiến lược (vùng giải phóng và vùng sau lưng địch)... Chuẩn bị sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công, quy mô lớn của quân đội Sài Gòn và một số quân Mỹ, quân Thái Lan vào Trung Lào, Hạ Lào... Phối hợp chặt chẽ với chiến trường miền Nam Việt Nam và Campuchia, sẵn sàng đón thời cơ giành thắng lợi lớn hơn"1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Lào - bản tiếng Việt, lưu Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr. 213). Để phù hợp với nhiệm vụ quân sự trong giai đoạn cách mạng mới, đáp ứng yêu cầu tác chiến quy mô ngày càng lớn, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Lào quyết định thành lập 5 cụm chiến đấu (tương đương trung đoàn), trong đó Nam Lào có 2 cụm. Theo yêu cầu của bạn, Bộ Tư lệnh 559 cử chuyên gia giúp bạn tổ chức lực lượng, huấn luyện, hiệp đồng chiến đấu giữa các cụm và sẵn sàng phối hợp tác chiến với các đơn vị Quân tình nguyện và Quân giải phóng miền Nam. Trước tình hình địch ở Hạ Lào tăng quân từ 25 lên 44 tiểu đoàn, bố trí phòng ngự thành các cụm cứ điểm mạnh ở Tha Teng, Pắc Xoòng, Bô Lô Ven, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam ta chỉ thị cho Đoàn 968 Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Quân giải phóng nhân dân Lào đẩy mạnh các hoạt động ở vùng sau lưng địch, phá thế chuẩn bị chiến trường của chúng. Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh 559, từ ngày 20 đến 24 tháng 11 năm 1970, Đoàn 968 phối hợp với một số đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào, mở đợt tiến công dãy điểm cao phía đông Bô Lô Ven, các điểm cao PS38, LS165, Phu Lẳng Kẹo, buộc địch phải tháo chạy về Pắc Xế, Pắc Xoòng. Tiếp đó, ta và bạn tiến công tiêu diệt căn cứ Huội Sài; đồng thời giúp Quân giải phóng nhân dân Lào chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng phối hợp tác chiến với Quân giải phóng miền Nam. Trên cơ sở các nội dung hội đàm được lãnh đạo Đảng hai nước Việt Nam và Lào nhất trí, đầu năm 1971, Thường vụ Quân ủy Trung ương ta ra nghị quyết giúp cách mạng Lào về quân sự với 6 mục tiêu cụ thể, trong đó nhấn mạnh phải tích cực chuẩn bị lực lượng để đẩy mạnh các đợt hoạt động khi có thời cơ và xác định Trung Lào, Hạ Lào là chiến trường trọng điểm phối hợp tác chiến giữa quân đội hai nước. Trong khi Quân giải phóng miền Nam khẩn trương chuẩn bị mọi mặt ở Mặt trận B5 và Quân giải phóng nhân dân Lào chuẩn bị đánh địch ở vùng Trung Lào, Hạ Lào, thì Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 thuộc tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và vùng Nam Lào thuộc tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào). Theo dõi chặt chẽ và sớm dự đoán âm mưu, thủ đoạn của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ta quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, nhằm tiêu diệt lớn quân địch, bảo vệ vững chắc tuyến hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam ở khu vực Đường 9 và vùng Trung - Hạ Lào, tạo điều kiện cho các chiến trường đẩy mạnh tiến công địch, giành thế chủ động trong mùa khô 1971-1972. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 (Bộ Tư lệnh 702) do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng được cử làm đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ đạo mặt trận. Tham gia chiến dịch, về phía Quân giải phóng miền Nam1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr.115) có 5 sư đoàn bộ binh (308, 320, 304, 2, 324), 4 tiểu đoàn tăng thiết giáp (177, 287, 397, 198), 4 trung đoàn pháo binh (368, 38, 45, 84), 4 trung đoàn pháo phòng không (230, 237, 241, 491); 3 trung đoàn pháo binh (7, 83, 219) và một số tiểu đoàn đặc công, thông tin. Đây là khối chủ lực cơ động mạnh, là lực lượng nòng cốt thực hiện những trận đánh lớn, những đòn đánh mạnh trong chiến dịch. Lực lượng Quân giải phóng tại chỗ gồm các đơn vị bộ binh, đặc công, phòng không, công binh của các mặt trận B4, B5 và Đoàn 559. Đây là lực lượng huy động nhanh nhất, có khả năng đánh địch ngay từ đầu với quy mô và cách đánh thích hợp, tạo thuận lợi cho lực lượng cơ động chiến lược phản công đánh lớn, tiêu diệt địch. Các đơn vị tham gia chiến dịch tổ chức thành 5 bộ phận: Bộ phận tác chiến ngăn chặn, tạo thế gồm Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304), lực lượng tại chỗ của Đoàn 559 và một số đơn vị pháo binh, phòng không. Bộ phận phản công trên hướng chủ yếu gồm Sư đoàn 308, Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320), Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) và phần lớn xe tăng, pháo binh, phòng không chiến dịch. Bộ phận phản công trên hướng thứ yếu gồm Sư đoàn 324 (thiếu), Sư đoàn 2 (thiếu) và một số xe tăng, pháo binh chiến dịch. Bộ phận đánh địch phía sau gồm lực lượng tại chỗ của B5, các trung đoàn 27, 246 (B4), Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324), một số tiểu đoàn đặc công của Bộ và Trung đoàn pháo binh 64. Bộ phận đánh địch trên hướng phối hợp gồm Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) và bộ phận dự bị chiến dịch gồm Sư đoàn 304 (thiếu), ở phía tây Đường 9 có một số đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào tham gia phối hợp chiến đấu. Ngoài ra, ta còn huy động lực lượng lớn quần chúng nhân dân tham gia vận chuyển lương thực, đạn dược... phục vụ chiến dịch. Như vậy, thực hiện chủ trương của lãnh đạo hai nước, từ giữa năm 1970 đến đầu năm 1971, các đơn vị chủ lực cơ động và lực lượng tại chỗ của Quân giải phóng miền Nam được giao nhiệm vụ đã nhanh chóng cơ động đến các vị trí tập kết chiến dịch ở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị bí mật, an toàn, sẵn sàng phối hợp với các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào ở khu vực Nam Lào đánh địch. Thế phối hợp tác chiến giữa Quân giải phóng miền Nam với Quân giải phóng nhân dân Lào được hình thành, tạo thuận lợi để thực hiện quyết tâm của lãnh đạo hai nước là phản công tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tư, 2026, 08:23:38 pm 2. Phối hợp tác chiến trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, điển hình mẫu mực về tình đoàn kết chiến đấu đăc biệt giữa quân đội hai nước Việt Nam và Lào.
Thực hiện quyết tâm của lãnh đạo hai nước Việt Nam và Lào, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: Phải tập trung các đơn vị chủ lực và lực lượng tại chỗ của Quân giải phóng miền Nam phối hợp với Quân giải phóng nhân dân Lào phản công tiêu diệt lớn quân địch trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, bởi đây là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, cần phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa quân đội hai nước. Trên cơ sở phương án tác chiến của chiến dịch, Bộ Tổng Tham mưu điều động, giao nhiệm vụ cho các đơn vị Quân giải phóng miền Nam phối hợp với các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào đánh địch. Quá trình thực hành chiến dịch, sự phối hợp tác chiến giữa Quân giải phóng miền Nam với Quân giải phóng nhân dân Lào được thực hiện linh hoạt, sáng tạo, từng bước phát huy hiệu quả qua 3 đợt tác chiến chiến dịch. Đợt 1 (30-1 - 7-2-1971), khi địch bắt đầu mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719"; ta và bạn gấp rút cơ động lực lượng, triển khai thế trận, tổ chức các chốt ngăn chặn địch ở Cô Bốc, Cô Rốc, các điểm cao 660, 723, 351, khu vực cầu Cha Ky án ngữ trục Đường 9. Đồng thời, bộ đội đặc công và lực lượng vũ trang Mặt trận B5 đánh địch ở Xuân Khánh, Vinh Quang Thượng, Vinh Quang Hạ, Bông Nho, Đầu Mầu, Kế Sóc, Ba Lào, gây cho địch một số thiệt hại, làm chậm bước triển khai lực lượng để tiến công của chúng. Trong khi đó, tại khu vực Nam Lào, ta giúp bạn huy động toàn bộ lực lượng của Quân khu Nam Lào và tỉnh Xa Van Na Khẹt triển khai thế trận, bố trí lực lượng, sẵn sàng phối hợp với các đơn vị Quân giải phóng miền Nam đánh địch. Đợt 2 (8-2 - 11-3-1971), địch tổ chức tiến công đánh chiếm Bản Đông, phát triển lên Sê Pôn. Lực lượng ta trên các hướng dũng cảm chiến đấu, ngăn chặn, làm chậm bước tiến của quân địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực cơ động triển khai đội hình, đánh những trận tập trung tiêu diệt lớn như: các trung đoàn bộ binh 88, 102 (Sư đoàn 308), Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) đánh địch ở các điểm cao 316, 456, 500. Điển hình là trận đánh của Trung đoàn 64 ở điểm cao 543, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 và 1 tiểu đoàn pháo binh, bắt toàn bộ ban tham mưu Lữ đoàn 3 dù địch, bẻ gãy cánh quân phía Bắc. Tại khu vực chủ yếu trên trục Đường 9, Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 304) đánh ngăn chặn địch ở Bản Đông, ở khu vực phía Nam, Sư đoàn 324 (thiếu) và lực lượng tại chỗ Đoàn 559 đánh thiệt hại nặng cánh quân phía Nam của địch. Trong khi đó, ở phía tây Đường 9, Trung đoàn 141 bộ binh (Sư đoàn 2) và Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) phối hợp với một bộ phận Quân giải phóng nhân dân Lào đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn quân ngụy Lào ở Pha Đô Tuya. Thực hiện ý định của Bộ Tư lệnh mặt trận, Trưng đoàn 1 (Sư đoàn 2) tổ chức các điểm tựa phòng ngự ở khu vực ngã ba đường 18, câu chữ S, cây số 27 phía tây Bản Đông. Tiếp đó, Sư đoàn 2 (thiếu) cùng Sư đoàn 324 (thiếu) và lực lượng vũ trang địa phương bao vây Sư đoàn 1, Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến địch tại các điểm cao 723, 550, 532, diệt 8 đại -đội đich, bắn rơi 40 máy bay trực thăng. Trung đoàn 1 (Sư đoàn 2) liên tục bám đánh 2 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 bộ binh địch ở đông bắc Sê Pôn, buộc chúng phải tháo chạy về điểm cao 748. Đến ngày 11 tháng 3, ta và bạn đã chặn đứng các mũi tiến công của địch, giữ vững hệ thống kho tàng, hành lang vận chuyển chiến lược phía tây đường Trường Sơn, tạo thế phát triển chiến dịch, từ phối hợp tác chiến phản công chuyển sang phối hợp tác chiến tiến công địch quy mô lớn hơn. Đợt 3 (12 - 23-3-1971), phát huy thắng lợi, Quân giải phóng miền Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào liên tục tiến công các vị trí quân địch trên toàn tuyến. Ở phía nam Đường 9, từ ngày 12 đến 16 tháng 3, Sư đoàn 2 (thiếu) được tăng cường 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) vây lấn tiến công địch ở điểm cao 723 (Phu Riệp), loại khỏi vòng chiến đấu Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 địch. Tiếp đó, ngày 22 tháng 3, Sư đoàn 2 và Sư đoàn 324 được tăng cường xe tăng, pháo binh sau một thời gian vây ép tiến công, loại khỏi vòng chiến đấu 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 2 Sư đoàn 1 ở điểm cao 660, đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở các điểm cao 532, 550, 540. Ở phía tây Đường 9, các tổ công tác của Đoàn 565 phối hợp với các đại đội 91, 93 Quân giải phóng nhân dân Lào và du kích chặn đánh tiêu diệt nhiều sinh lực của GM33 khi chúng từ Huội Mun, Tùm Lan tiến ra hỗ trợ quân đội Sài Gòn đánh vào Mường Noòng. Một tổ chuyên gia khác cùng Tiểu đoàn 14 Quân khu Trung Lào tổ chức các trận phục kích GM31 ở khu vực Đồng Một, Huội Xa La, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn và sở chỉ huy GM31, buộc chúng phải rút chạy về Sê Săng Soi. Ở Phu Tin Tốc, hoả lực ĐKB của Quân giải phóng nhân dân Lào đánh thiệt hại nặng GM32 khi chúng triển khai đội hình chiến đấu. Trong khi đó, ở hướng Đường 9, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tập trung các trung đoàn: 64 (Sư đoàn 320), 36 (Sư đoàn 308), 66 (Sư đoàn 304) bao vây Bản Đông và Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304), Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308) áp sát Đường 9. Bị vây chặt, cô lập ở Bản Đông và thiệt hại nặng, địch hoang mang buộc phải rút lui. Bộ đội ta giải phóng Bản Đông, rồi chuyển sang truy kích địch rút chạy. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Các đơn vị Quân giải phóng miền Nam được giao nhiệm vụ đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch phối hợp tác chiến với các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tư, 2026, 08:24:38 pm Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược to lớn, đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng của quân đội ta, trong đó có sự phối hợp tác chiến chặt chẽ, hiệu quả giữa quân đội hai nước Việt Nam và Lào. Tuy nội dung về quá trình phối hợp tác chiến giữa Quân giải phóng miền Nam với Quân giải phóng nhân dân Lào trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào chưa được đề cập đầy đủ, trọn vẹn, nhưng có thể rút ra một số nét mang tính đặc thù sau đây:
Một là, để không ngừng củng cố và tăng cường mối quan hệ hợp tác, phối hợp tác chiến giữa Quân giải phóng miền Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đánh bại quân Mỹ, quân Sài Gòn và quân đội phái hữu Lào, vấn đề quan trọng là phải nắm vững đường lối, quan điểm quốc tế của lãnh đạo Đảng hai nước trong suốt quá trình phối hợp tác chiến trước, trong và sau khi chiến dịch kết thúc. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong mối quan hệ liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân đội hai nước Việt Nam - Lào, do Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Hai là, kể từ khi cùng tiến hành cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược, lãnh đạo hai nước Việt Nam và Lào đã thống nhất chủ trương phối hợp tác chiến trên các chiến trường Lào, trong đó xác định Nam Lào là một địa bàn chiến lược rất quan trọng của chiến trường Lào và chiến trường Đông Dương, nên đã quyết định phối hợp tác chiến chặt chẽ. Đặc biệt là, từ ngày 30 tháng 1 đến 23 tháng 3 năm 1971, khu vực Đường 9 thuộc tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và vùng Nam Lào thuộc tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào) đã trở thành trung tâm phối hợp tác chiến giữa Quân giải phóng miền Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào, biểu hiện sinh động về đoàn kết quốc tế, giúp đỡ tận tình lẫn nhau giữa quân đội hai nước. Đây là một tất yếu khách quan, đáp ứng yêu cầu phát triển cuộc kháng chiến hai nước Việt Nam - Lào, góp phần tạo ra bước phát triển mới cho cuộc kháng chiến của quân và dân ba nước Đông Dương. Ba là, thực hiện đường lối, chủ trương của lãnh đạo hai nước, Quân giải phóng miền Nam đã phối hợp chặt chẽ với Quân giải phóng nhân dân Lào về mặt tác chiến ở phía Tây Đường 9 trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch, quyết tâm chiến đấu ngăn chặn, gây cho địch một số thiệt hại, làm chậm bước tiến quân của chúng. Trên cơ sở đó, quân đội hai nước nhanh chóng chuyển từ thế phối hợp tác chiến phản công sang phối hợp tác chiến tiến công, phát huy sức mạnh của lực lượng chủ lực cơ động, đánh các đòn then chốt, bẻ gãy từng cánh quân của địch, tạo thế và thời cơ thuận lợi chuyển sang tiến công tiêu diệt lực lượng lớn quân địch và truy kích chúng rút chạy, kết thúc chiến dịch. Từ đây, thế phối hợp tác chiến giữa Quân giải phóng miền Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào ở Nam Lào cũng như trên các chiến trường Lào có điều kiện phát triển thuận lợi. Bốn là, thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là thắng lợi của mối quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào, trong đó có sự đóng góp to lớn của Quân giải phóng miền Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào. Thắng lợi của chiến dịch này mở ra khả năng quân đội hai nước Việt Nam và Lào hoàn toàn có đủ lực lượng, trình độ phối hợp tác chiến đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn tiêu diệt quân chủ lực tinh nhuệ, lực lượng tổng dự bị chiến lược của địch; giải phóng từng địa bàn chiến trường quan trọng. Như vậy, trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Quân giải phóng miền Nam đã phối hợp tác chiến chặt chẽ, hiệu quả với Quân giải phóng nhân dân Lào, đánh dấu bước phát triển mới về nghệ thuật phối hợp tác chiến trong chiến dịch phản công, tiêu diệt lớn quân đội Sài Gòn, bảo vệ được tuyến vận tải chiến lược Bắc - Nam. Kế tiếp Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, quân đội hai nước tiếp tục phối hợp tác chiến mạnh mẽ trên các chiến trường Lào, đánh nhiều trận, điển hình là phối hợp tác chiến trong các chiến dịch phản công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, chiến dịch tiến công Cánh Đồng Chum - Long Chẹng và chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, góp phần đánh bại hoàn toàn chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" của đế quốc Mỹ ở Lào. Truyền thống và kinh nghiệm về phối hợp tác chiến của quân đội hai nước Việt Nam và Lào trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, cũng như các chiến dịch khác trong sự nghiệp giải phóng dân tộc là tài sản vô giá, cần giữ gìn và tiếp tục phát huy, phát triển cao hơn, lớn hơn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân mỗi nước. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2026, 08:14:18 pm QUÂN VÀ DÂN CÁC TỈNH NAM LÀO TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NỬA CUỐI MÙA KHÔ 1970-1971 Đại tá TRẦN MINH CAO Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trung úy LÊ THANH HẢI Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ba nước Đông Dương, địa bàn Nam Lào có vị trí chiến lược quân sự quan trọng. Đó là một trong những chiến trường giành giật quyết liệt giữa các lực lượng cách mạng và phản cách mạng. Trên địa bàn chiến lược quan trọng này, với mối quan hệ đặc biệt, chi viện và liên minh chiến đấu Việt - Lào, Lào - Việt, quân và dân các tỉnh Nam Lào luôn kề vai sát cánh cùng quân và dân Việt Nam, trực tiếp là các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, các đơn vị chủ lực cơ động của Quân đội nhân dân Việt Nam sang chiến đấu trên đất Lào đã liên tiếp đánh bại các âm mưu và thủ đoạn chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai. Ngay sau sự kiện Mỹ tổ chức đảo chính lật đổ Chính phủ Nôrôdôm Xihanúc, dựng lên chính quyền tay sai Lon Non - Xirích Matắc ở Campuchia (3-1970), Bộ Chính trị và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã đánh giá đúng bản chất hiếu chiến, phiêu lưu của Níchxơn, những âm mưu và thủ đoạn mới của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Bộ Chính trị nhận định: trong mùa khô 1970-1971, địch có thể mở những cuộc tiến công quy mô vừa và lớn bằng lực lượng quân Sài Gòn là chủ yếu, có một bộ phận quân Mỹ hỗ trợ. Mục tiêu của địch là đánh vào vùng Trung - Hạ Lào và vùng Đông Bắc Campuchia nhằm phá cơ sở cách mạng của bạn, phá hủy cơ sở hậu cần của ta và cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược Trường Sơn, cô lập chiến trường miền Nam. Các chiến trường, nhất là các đơn vị ở khu vực Đường 9 - Nam Lào được lệnh khẩn trương chuẩn bị đánh địch1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 374-375). Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo công tác chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Nam Lào ngay từ mùa hè 1970. Chuẩn bị cho quân và dân Lào đối phó với các âm mưu và hành động leo thang mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, ngày 26 tháng 6 năm 1970, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp ra nghị quyết về nhiệm vụ cách mạng Lào trong hai năm tới. Thường vụ nhận định: đế quốc Mỹ ít có khả năng đưa "chiến tranh đặc biệt tăng cường" thành "chiến tranh cục bộ" ở Lào; nếu có đưa thêm quán đánh thuê vào cũng chỉ là "chiến tranh đặc biệt tăng cường" mức độ cao hơn. Thường vụ quyết định trong hai năm tới: Phát huy thế chủ động tiến công địch về mọi mặt; ra sức củng cố vùng giải phóng thật vững mạnh, giữ vững thế liên hoàn chặt chẽ của vùng giải phóng, khi có điều kiện thì mở rộng thêm vùng giải phóng vào những khu vực chiến lược quan trọng, đông dân; phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt; tăng cường đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia anh em trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai phản động1 (Ban chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào (Tóm lược), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.153). Thường vụ nhận định, hướng Trung - Hạ Lào sẽ càng trở nên đặc biệt quan trọng vì liên quan trực tiếp đến tuyến vận tải chiến lược chi viện chiến trường ba nước Đông Dương. Những diễn biến mới trên các chiến trường ba nước Đông Dương sát đúng với nhận định của Trung ương Đảng ta và bạn. Đó là, nhằm xoay chuyển cục diện chiến trường ba nước Đông Dương sau những thất bại trong mùa khô 1969-1970, cùng với việc ráo riết thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" dùng quân Sài Gòn thay vai trò quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam và mở rộng chiến tranh xâm lược sang Campuchia, đế quốc Mỹ đẩy lên đỉnh cao "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào. Theo đó, với biện pháp chiến lược "chiến tranh bóp nghẹt", tháng 11 năm 1970, Mỹ và quân đội Sài Gòn quyết định mở cuộc tiến công quy mô lớn tại khu vực Đường số 9 - Nam Lào. Đồng thời, chúng mở một cuộc hành quân đánh sang Kông Pông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia) và một cuộc hành quân đánh vào vùng Ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia để phối hợp với cuộc tiến công ở hướng Đường 9 - Nam Lào. Quân và dân hai nước Việt - Lào, trực tiếp là quân và dân các tỉnh trong khu vực Đường 9 - Nam Lào đang đứng trước một cuộc thử thách quyết liệt mới với đế quốc Mỹ và đồng minh của Mỹ ở khu vực. Các tỉnh Nam Lào quán triệt nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào, xúc tiến các mặt công tác chuẩn bị bảo đảm chiến đấu. Các đơn vị chủ lực Bộ trên địa bàn, các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, mường, các tổ đội dân quân du kích xã, bản tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, huấn luyện quân sự, chuẩn bị bảo đảm hậu cần,... nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng hai nước về liên minh chiến đấu, cùng với cả nước, hệ thống tổ chức chuyên gia quân sự và Quân tình nguyện Việt Nam tại Nam Lào có sự thay đổi để đáp ứng với yêu cầu tình hình mới. Theo kiến nghị của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào1 (Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Nam Lào (gọi tắt là Bộ Tư lệnh 959) trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập theo quyết định của Bộ Quốc phòng ngày 15-7-1970), ngày 29 tháng 7 năm 1970, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam ra quyết định chuyển giao lực lượng quân tình nguyện ở Nam Lào (Đoàn 968) trước đây do Bộ Tư lệnh Quân khu 4 chỉ huy nay thuộc quyền lãnh đạo, chỉ huy của Bộ Tư lệnh 559. Bộ Quốc phòng tăng cường 50 cán bộ sang Mặt trận Nam Lào. Bộ Tổng Tham mưu điều Trung đoàn 9 thuộc Mặt trận Trị - Thiên tăng cường cho Đoàn 968. Ngày 30 tháng 10 năm 1970, Tổng Quân ủy Quân giải phóng nhân dân Lào ra nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch quân sự mùa khô 1970-1971, trong đó xác định "chuẩn bị sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của quân đội Sài Gòn và một số quân Mỹ, quân Thái Lan vào Trung, Hạ Lào và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, phối hợp chặt chẽ với chiến trường Nam Việt Nam và Campuchia, sẵn sàng đón thời cơ giành thắng lợi lớn"1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 325). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2026, 08:15:30 pm Thực hiện xây dựng lực lượng vũ trang theo nghị quyết về nhiệm vụ và kế hoạch quân sự mùa khô (1970-1971), Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào quyết định thành lập 5 cụm chiến đấu (mỗi cụm tương đương trung đoàn) bố trí sẵn ở những khu vực quan trọng, trong đó ở địa bàn Nam Lào có 2 cụm. Công tác tổ chức xây dựng 2 cụm chiến đấu ở Nam Lào được triển khai khẩn trương nhằm tập trung bảo đảm cho nhiệm vụ trước mắt và lâu dài ở chiến trường trọng điểm Nam Lào.
Tháng 1 năm 1971, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhân dân Lào quyết định: "Nhiệm vụ trung tâm số một của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Lào trong lúc này là đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi to lớn cho cách mạng Lào và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang của mình". Khẩu hiệu "Tất cả vì tiền tuyến", "Tất cả để đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai"2 (Ban chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào, Lịch sử Dàng Nhân dân cách mạng Lào (Tóm lược), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 154). Đầu năm 1971, trên cơ sở các nội dung hội đàm giữa Trung ương Đảng hai nước, Thường vụ Quân ủy Trung ương Việt Nam ra nghị quyết giúp cách mạng Lào về quân sự, trong đó xác định: phải tập trung chuẩn bị mọi mặt cho nhiệm vụ trước mắt ở chiến trường trọng điểm Trung - Hạ Lào. Chấp hành nghị quyết của Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào được lệnh tách ra, trở lại hoạt động với tên gọi Đoàn chuyên gia quân sự 959 như trước đây. Ở Nam Lào, Quân khu 4 giúp bạn từ nam đường 7 đến bắc đường 12, trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy cả chuyên gia và quân tình nguyện ở Nam Lào. Đoàn 559 phụ trách Bộ Tư lệnh 968 và Trung đoàn 29 quân tình nguyện, giúp bạn từ nam đường 12 đến cực Nam Nam Lào. Đoàn 565 trực thuộc Bộ Tư lệnh 559 giữ nguyên các tổ chuyên gia ở Nam Lào, tiến hành chuyên gia cho Quân khu và các tỉnh; đồng thời hình thành khung chuyên gia tổ chức 2 cụm chủ lực ở Đường 9 và Nam Lào. Quân và dân các tỉnh Nam Lào phối hợp với Quân tình nguyện Đoàn 968 ngăn chặn đẩy lui các đợt tiến công lấn chiếm cao nguyên Bô Lô Ven của quân đội phái hữu Lào, phá thế chuẩn bị hoạt động mùa khô của địch ở Nam Lào. Các địa phương Nam Lào vận động sơ tán dân và kho tàng, tổ chức lực lượng chiến đấu, chống biệt kích, thám báo, thu phục phỉ làm trong sạch địa bàn; sẵn sàng phối hợp với bộ đội chủ lực Việt Nam tác chiến trên địa bàn chiến lược Đường 9 - Nam Lào. Thực hiện chỉ thị của đồng chí Tư lệnh Đoàn 559, Binh trạm 41 thuộc Đoàn 559 vừa tiến hành công tác chuẩn bị chiến đấu vừa "liên hệ gấp với Huyện ủy Sê Pôn, để nghị bạn tổ chức khẩn trương sơ tán dân. Nếu bạn thiếu gạo, muối thì hỗ trợ"1 (Đồng Sĩ Nguyên, Đường xuyên Trường Sơn (Hồi ức)... Sđd, tr. 215-216). Cùng với nhân dân Mường Sê Pôn, nhân dân các mường khác của tỉnh Xa Van Na Khẹt sơ tán ra các vùng an toàn, tổ chức sản xuất, bảo đảm ổn định cuộc sống khi có chiến sự. Nhân dân một số tỉnh Nam Lào vừa sơ tán vừa tổ chức các đoàn dân công đi phục vụ hỏa tuyến. Ngày 30 tháng 1 năm 1971, quân Sài Gòn dưới sự yểm trợ của hỏa lực pháo binh và không quân Mỹ bắt đầu triển khai lực lượng tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn có mục đích chủ yếu nhằm cắt đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn, triệt phá cơ sở kho tàng, hậu cần chiến lược của lực lượng cách mạng, chặn đứng luồng tiếp tế từ hậu phương lớn miền Bắc Việt Nam, lập tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương, tạo cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn thế mạnh để cô lập cách mạng miền Nam, uy hiếp miền Bắc Việt Nam, hỗ trợ cho "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào và tiến công xâm lược Campuchia... Đây là cuộc hành quân lớn nhất và điển hình theo công thức "Lào hóa chiến tranh", "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Binh lực Mỹ và quân đội Sài Gòn huy động vào cuộc hành quân ngày càng lớn1 (Lực lượng địch lúc đầu gồm 3 sư đoàn (Sư đoàn bộ binh số 1, sư đoàn dù, sư đoàn thủy quân lục chiến), 1 liên đoàn biệt động quân, 2 lữ đoàn thiết giáp, 16 tiểu đoàn pháo binh, 700 máy bay các loại (có cả máy bay ném bom chiến lược B-52. Trong quá trình hành quân, địch đưa thêm 1 lữ đoàn (369 thủy quân lục chiến), 1 trung đoàn bộ binh (Trung đoàn 4, Sư đoàn bộ binh 2) và một số đơn vị hỏa lực, nâng tống quân số toàn cuộc hành quân lên 55.000 tên, 578 xe tăng, xe thiết giáp, 318 khẩu pháo từ 105mm trở lên), trong đó có một số binh đoàn (GM) quân đội chính phủ phái hữu Lào tham gia phối hợp. Địa bàn hành quân của địch chủ yếu trên khu vực dọc Đường 9 từ Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) đến mường Sê Pôn, tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào), với chiều dài khoảng 900km, chiều rộng khoảng 60km. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam cùng Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy Lào thống nhất quyết định sử dụng một bộ phận binh lực lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào tiến hành chiến dịch phản công tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào1 (Lực lượng Việt-Lào trong chiến dịch gồm: 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2); 4 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp (177, 197, 241, 491); 4 trung đoàn pháo binh (368, 38, 45, 84); 4 trung đoàn phòng không (230, 237 241 491); 3 trung đoàn công binh (7, 83, 219), một số tiểu đoàn đặc công của Bộ; một số lực lượng chiến đấu tại chỗ của Đoàn 559; Mặt trận B4, B5; một số tiểu đoàn đại đội độc lập chủ lực Bộ và địa phương Quân giải phóng nhân dân Lào). Thực hiện kế hoạch của Bộ Tư lệnh chiến dịch, chấp hành chỉ thị của Bộ chỉ huy tối cao và Bộ chỉ huy Quân khu Nam Lào, Tỉnh đội Xa Van Na Khẹt điều động các đơn vị pháo binh và phòng không, các tiểu đoàn 14, 18 và các đại đội địa phương Sê Pôn, Mường Phìn, Mường Noòng, Tà Ôi cùng các lực lượng Việt Nam gấp rút chuẩn bị trận địa và phương án tác chiến. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, quân Mỹ và quân Sài Gòn chia thành 3 cánh ồ ạt vượt biên giới Việt - Lào đánh sang Nam Lào. Ngày 10 tháng 2, cánh quân chủ yếu của địch đến Bản Đông. Cùng thời gian, quân phái hữu Lào huy động một số binh đoàn ở phía Bắc tỉnh Xa Ra Van chuẩn bị hoạt động phối hợp với quân Sài Gòn ở phía tây Đường 9. Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ rõ ý đồ của Mỹ và quân đội Sài Gòn đánh sang Nam Lào nhằm nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn, chiếm giữ Đường 9 (đoạn Lao Bảo - Sê Pôn) lập phòng tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương; sau đó lùng sục, đánh phá kho tàng, phá hủy nguồn tiếp tế và dự trữ cho các chiến trường miền Nam Việt Nam, Trung - Hạ Lào và Campuchia. Các đơn vị tham gia chiến dịch của hai quân đội Việt - Lào thực hiện kế hoạch tác chiến của Bộ Tư lệnh chiến dịch, trên thế trận đã chuẩn bị sẵn, đánh trả quyết liệt các cánh quân địch ngay từ những ngày đầu. Các tiểu đoàn, đại đội độc lập chủ lực Bộ và địa phương Quân giải phóng nhân dân Lào chủ yếu chặn đánh các binh đoàn quân phái hữu Lào, phá tan ý đồ phối hợp tác chiến và hợp điểm của chúng với quân đội Sài Gòn ở phía tây Đường 9. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2026, 08:17:12 pm Tại phía bắc Đường 9, du kích mường Sê Pôn, tỉnh Xa Van Na Khẹt tích cực tham gia cùng các đơn vị chủ lực Việt Nam tiến công dồn dập, bẻ gãy cánh quân ở phía bắc Đường 9 của địch, diệt gọn những cụm cứ điểm then chốt trên các cao điểm 500, 543, đập tan cuộc phản kích lớn của Lữ đoàn 3 dù và Trung đoàn 17 thiết giáp của quân đội Sài Gòn, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ cùng ban chỉ huy lữ đoàn, đánh thiệt hại Liên đoàn 1 biệt động quân (12.2 - 3.3.1971). Tham gia chiến đấu và dẫn đường cho các đơn vị đặc công Việt Nam đánh vào Sở chỉ huy, bắt sống đại tá, chỉ huy trưởng Lữ đoàn 3 địch, có đồng chí Amkum, du kích bản A Ho, xã Xa Ky Phim, huyện Sê Pôn, tỉnh Xa Van Na Khẹt1 (Đồng chí Amkum được Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tuyên dương Anh hùng tháng 4-1979. Đồng chí mất tại quê nhà tháng 7-1995).
Trên hướng phía tây Đường 9, các đơn vị chủ lực và địa phương Quân giải phóng nhân dân Lào cùng Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 Quân đội nhân dân Việt Nam chặn đánh các binh đoàn quân đội phái hữu Lào, không cho chúng tiến tới hợp điểm với quân đội Sài Gòn tại Mường Phin. Binh đoàn 33 phái hữu Lào từ Huội Mun, Tum Lan tiến lẽn hỗ trợ cho cánh quân Sài Gòn đánh vào Mường Noòng đã bị các đại đội độc lập 91, 93 của Quân giải phóng Lào cùng với du kích chặn đánh và bị tiêu hao nặng tại Phu Đô Tuya. Binh đoàn 31 từ Mường Pha Lan cơ động theo đường tắt về Đồng Một - Huội Xa La và lọt ngay vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 14 Quân khu Nam Lào. Tiểu đoàn đi đầu và Ban chỉ huy của Binh đoàn 31 bị tập kích bất ngờ, tổn thất nặng, buộc phải rút về Sê Săng Soi. Binh đoàn 32 dừng quân ở địa điểm Pu Tin Tốc để triển khai chiến đấu thì bị hỏa lực ĐKB của Quân giải phóng Lào tập kích mãnh liệt, phải bỏ dở cuộc tiến quân. Kết cục, các binh đoàn quân đội phái hữu Lào ở hướng tây Đường 9 đều bị chặn đánh, bị tiêu hao nặng, phải bò dỏ kế hoạch hành quân. Ở phía đông Đường 9, ngày 18 tháng 3 năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn không thực hiện được ý đồ đánh chiếm Sê Pôn và chúng buộc phải rút chạy khỏi Bần Đông. Các đơn vị chủ lực cơ động Quân giải phóng miền Nam chuyển sang truy kích địch. Tại Hạ Lào, các lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam và Quân khu Nam Lào được tổ chức thành Mặt trận Y. Ban chỉ huy Mặt trận Y về phía Lào có các đồng chí Khămchăn, Kalăng và các đồng chí bí thư Tỉnh ủy, tỉnh đội trưởng các tỉnh Nam Lào; về phía Việt Nam có đồng chí Đại tá Hoàng Kiện, Phó Tư lệnh Đoàn 559, trực tiếp chỉ huy tác chiến và các đồng chí Hoàng Biền Sơn, Nguyễn Ngọc Sơn. Ngày 21 tháng 2 năm 1971, khi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đang diễn ra quyết liệt, Bộ chỉ huy Mặt trận Y giao nhiệm vụ cho các đơn vị Nam Lào phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam tổ chức tiến công các vị trí địch ở cứ điểm 38 (In Thi), cứ điểm 165 (Nặm Tiêng) và cứ điểm 22 (Nặm Lực). Lực lượng điều động cho các trận đánh có 2 tiểu đoàn chủ lực của Quân khu Nam Lào, các đại đội địa phương các tỉnh Xa Ra Van, miền Đông (Tà Ven Oọc), A Tô Pơ và Bô Lô Ven; Quân tình nguyện Việt Nam có Trung đoàn 29 (ở ven Đường 9), Trung đoàn 9, Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 20, Tiểu đoàn 46 và một số đại đội binh chủng ở Nam Lào. Các đơn vị Quân khu Nam Lào, các đơn vị địa phương tỉnh phối hợp Quân tình nguyện Việt Nam đi trinh sát, chuẩn bị cho các trận đánh. Ngày 7 tháng 3 năm 1971, các đơn vị Nam Lào phối hợp với bộ đội tình nguyện Việt Nam nổ súng tiến công địch ở cứ điểm 165 (Nặm Tiêng) do 2 tiểu đoàn lính Lon Non (Campuchia) đóng giữ, với 7 cụm phòng thủ được bao bọc bởi 5 lớp rào kẽm gai và nhiều bãi mìn bảo vệ. Trận đánh diễn ra quyết liệt. Ta và địch giành giật nhau từng chiến hào, lô cốt. Đến 17 giờ ta làm chủ căn cứ Nặm Tiêng. Cùng thời gian, du kích Nam Lào phối hợp với Tiểu đoàn 2 Quân tình nguyện Việt Nam bao vây, tiến công quân Lon Non ở cứ điểm 38 (In Thi). Đến tối ngày 9 tháng 3 năm 1971, địch mở đường máu tháo chạy, ta truy kích và làm chủ cứ điểm In Thi. Đồng thời với trận đánh ở cứ điểm 38 (In Thi), Bộ chỉ huy Mặt trận Y sử dụng Tiểu đoàn 11 Quân khu Nam Lào, bộ đội địa phương A Tô Pơ và dân quân du kích trong khu vực cùng Trung đoàn 9 Quân tình nguyện Việt Nam tiến đánh cụm cứ điểm 22 (Nặm Lực). Cùng với bộ đội chiến đấu, nhân dân các bản, mường hăng hái đi dân công tiếp lương, tải đạn, tải thương cho các đơn vị. Đúng 5 giờ sáng ngày 8 tháng 3 năm 1971, dưới sự chi viện của tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp của Mặt trận, bộ đội Lào - Việt trên các mũi tiến công tổ chức vượt cửa mở đánh vào cứ điểm địch. Trận đánh giằng co và kéo dài, đến 21 giờ 15 phút ngày 9 tháng 3, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm Nặm Lực. Ngay trong đêm ngày 9 rạng sáng ngày 10 tháng 3, du kích địa phương cùng Đại đội 9 (Tiểu đoàn 3) được lệnh truy kích địch rút chạy. Trận đánh cụm cứ điểm 22 (Nặm Lực) đã thực hiện hiệu quả nhiệm vụ kìm chân một lực lượng lớn quân địch ở phía Nam Lào, góp phần tạo điều kiện cho các đơn vị Việt - Lào trên hướng Mặt trận Đường 9 - Nam Lào tập trung tiêu diệt địch... Quân địch ở cứ diễm 22 (Nặm Lực) và cứ điểm 165 (Nặm Tiêng) bỏ chạy về Huội Koong, Bộ Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật quân đội phái hữu Lào liền điều BV.47 từ Không Xê Đôn xuống Pắc Xoòng nhằm bảo vệ tuyến đường 23. Địch ra sức củng cố các cụm cứ điểm Huội Sài, Tha Teng, Pắc Xoòng và tuyến phòng ngự từ Pắc Xoòng đến cao nguyên Bô Lô Ven, nhằm chặn đứng lực lượng ta ở phía đông. Cuối tháng 3 năm 1971, Mặt trận Y được tăng cường lực lượng 1 trung đoàn thuộc Sư đoàn 2 Quân khu 5 Việt Nam. Bộ chỉ huy Mặt trận Y được bổ sung đồng chí Hoàng Thế Thiện, Phó Chính ủy Đoàn 559 và đồng chí Nguyễn Chơn, Sư đoàn trương Sư đoàn 2 Quân khu 5 Việt Nam. Quân và dân Nam Lào cùng Quân tình nguyện Việt Nam đẩy mạnh tiến công địch, góp phần cùng các đơn vị Lào - Việt trên địa bàn Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, trong lúc Bộ chỉ huy Mặt trận Y xây dựng phương án giải phóng Pắc Xoòng, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào quyết định kết thúc chiến dịch. Trải qua 45 ngày đêm (tính từ ngày nổ súng mở màn chiến dịch) chiến đấu anh dũng, kiên cường, quân và dân Lào, trực tiếp là quân và dân trên địa bàn các tỉnh Nam Lào với hình thức phối hợp chiến đấu với các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam trên địa bàn chiến dịch, chủ yếu là trên địa bàn tỉnh Xa Van Na Khẹt (Trung Lào) và chiến đấu phối hợp bên ngoài phạm vi địa bàn chiến dịch đã góp phần đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Trong toàn chiến dịch, quân và dân Việt - Lào tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn, 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp; đánh thiệt hại nặng 2 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn và 3 tiểu đoàn khác. Số địch chết và bị thương 19.960 tên, bị bắt 1.142 tên. Bắn rơi và phá hủy 556 máy bay các loại, 1.138 xe cơ giới, 112 khẩu pháo cối, thu 2 máy bay trực thăng, 24 xe các loại, 57 khẩu pháo, 21 súng cối, 2.268 súng bộ binh, 274 máy thông tin vô tuyến điện1 (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.277). Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào đánh dấu sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng hai nước Việt Nam - Lào, đánh dấu sự trưởng thành của quân và dân các tỉnh Nam Lào, trong đó có quân dân tỉnh Xa Van Na Khẹt. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào góp phần tăng cường hơn nữa liên minh chiến đấu Việt - Lào, Lào - Việt và động viên cổ vũ mạnh mẽ quân và dân Lào, cùng quân dân Việt Nam anh em tiến lên giành thắng lợi cuối cùng trong cuộc khang chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2026, 08:18:58 pm VAI TRÒ CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO TRÊN ĐỊA BÀN CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯờNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Thiếu tá, ThS NGUYỄN VĂN QUYỀN Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Cử nhân LÊ MINH NAM Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược - kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương, quân và dân các bộ tộc Lào đã phối hợp chặt chẽ với quân và dân Việt Nam mở nhiều chiến dịch tiến công và phản công giành thắng lợi to lớn, tạo ra các bước ngoặt xoay chuyển cục diện cuộc chiến tranh. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một trong những chiến dịch như thế. Để làm nên chiến thắng đó, có sự đóng góp rất quan trọng của đồng bào các dân tộc Việt Nam và Lào trên địa bàn diễn ra chiến dịch. Sau hai năm triển khai chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" (1969-1970), Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn tiếp tục gặp phải những khó khăn nghiêm trọng. Với tham vọng thay đổi cục diện cuộc chiến tranh xâm lược, đầu năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn mở 3 cuộc hành quân lớn đánh vào hành lang tuyến vận tải chiến lược của ta: cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào; cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" từ Tây Ninh và Lộc Ninh đánh lên vùng Kông Pông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia); cuộc hành quân "Quang Trung 4" từ bắc Kon Tum đánh ra vùng ngã ba biên giới (vùng Tà Xẻng, Pha Kha, Sê Sụ) thuộc A Tô Pơ, Nam Lào. Trong đó, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân có quy mô lớn nhất, cuộc tiến công chủ yếu của địch1 (Lực lượng địch lên tới 55.000 quân (có 15.000 Mỹ), bao gồm 4 sư đoàn bộ binh (sư đoàn dù, sư đoàn thủy quân lục chiến, sư đoàn 1, 2) liên đoàn 1 biệt động quân tương đương 47 tiểu đoàn, 587 xe tăng, xe bọc thép, 318 khẩu pháo các loại, 1.000 máy bay các loại. Ngày 10-3-1971, địch tăng cừờng thêm 13.000 lính bộ binh, 120 xe tăng-xe bọc thép, 70 khẩu pháo, 300 máy bay lên thăng. Ngoài ra, còn có 9 tiểu đoàn thuộc hai binh đoàn cơ động (GM30 và GM33) quân phái hữu Lào ở phía tây đánh sang. Cuộc hành quân được sự hỗ trợ tối đa của pháo binh và không quân Mỹ). Theo kế hoạch tác chiến của Mỹ và quân đội Sài Gòn, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" gồm 4 giai đoạn: giai đoạn 1 từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, chiếm lĩnh bàn đạp xuất phát tiến công; giai đoạn 2 từ ngày 8 tháng 2 đến ngày 14 tháng 2 năm 1971, đánh chiếm Bản Đông và Sê Pôn; giai đoạn 3 từ ngày 15 tháng 2 đến ngày 12 tháng 3 năm 1971, tổ chức đánh phá kho tàng ở xung quanh Sê Pôn và Bản Đông; giai đoạn 4 từ ngày 13 tháng 3 đến đầu tháng 5 năm 1971, chuyển xuống đánh phá các kho tàng phía Nam từ Sa Đi, Mường Noòng, A Túc, A Sầu A Lưới (Thừa Thiên). Như vậy, địch dự kiến kết thúc cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trong vòng 90 ngày, trước khi mùa mưa đến (tháng 5 năm 1971). Dự kiến sát ý đồ của địch, ngay từ tháng 9 năm 1970 Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ thị cho các chiến trường Trung - Hạ Lào, Khu 5, Đoàn 559, các quân binh chủng, sư đoàn chủ lực phối hợp chặt chẽ với Quân giải phóng nhân dân Lào tích cực chuẩn bị chiến trường về mọi mặt, đặc biệt là trên địa bàn khu vực Đường 9 - Nam Lào, sẵn sàng đánh bại âm mưu và hành động của chúng. Quyết tâm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta là: phải đánh thắng trận này, dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào. Địa bàn chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào có chiều dài khoảng 90km (từ Đông Hà, Quảng Trị đến Sê Pôn, Xa Van Na Khẹt), rộng khoảng 60km (từ Mường Trương đến Mường Noòng). Địa hình chủ yếu là rừng, đồi núi trống trải. Dân cư ở đây thưa thớt, sinh sống chủ yếu là đồng bào các dân tộc thuộc miền Tây Bắc tỉnh Quảng Trị như Vân Kiều, Pa Cô, Tà Ôi... và nhân dân các bộ tộc Lào ở phía tây Đường 9. Đường số 9 chạy từ thị xã Đông Hà đến thị xã Xa Van Na Khẹt là một trong những con đường chiến lược nối liền hai nước Việt Nam và Lào. Đồng bào các dân tộc sinh sống nơi đây vốn có truyền thống yêu nước, bám đất, bám làng bản, đoàn kết chiến đấu chống Mỹ xâm lược, một lòng hướng thoo cách mạng, theo tiếng gọi thiêng liêng của cuộc kháng chiến. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch phản công được khẩn trương xúc tiến từ tháng 9 năm 1970 cho đến tháng 1 năm 1971 về cơ bản hoàn tất. Trong những tháng ngày khẩn trương, sôi động đó, đồng bào các làng, bản, mường Việt Nam và Lào trên địa bàn dự kiến sẽ diễn ra chiến dịch, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đã tích cực tham gia vào công tác chuẩn bị chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Ngày ngày, trên khắp những nẻo đường hành quân, đồng bào các dân tộc tây bắc Quảng Trị cùng với nhân dân các bộ tộc Lào anh em không quản mưa rừng, thác lũ, ngày đêm sát cánh cùng với các đơn vị bộ đội chủ lực, thanh niên xung phong bạt núi, mở đường, đào đắp, vận chuyển hàng vạn mét khối đất đá, xây dựng cầu, cống; truy bắt lực lượng thám báo địch bảo vệ sự an toàn và bí mật ý định chiến lược của ta; tích cực tham gia xây dựng các trận địa bắn máy bay và vận chuyển các loại vũ khí, đạn dược, hàng hóa khác vào các vị trí tập kết chiến dịch đúng kế hoạch. Những chiếc xe trâu, xe bò, xe đạp thồ... là cả gia tài đối với đồng bào nơi đây nhưng khi cách mạng cần họ sẵn sàng đóng góp phục vụ yêu cầu vận chuyển đạn dược, quân trang, quân nhu... Hòa cùng với nhịp bước chân của các đoàn dân công là những khẩu hiệu thể hiện quyết tâm và tinh thần chiến đấu tất cả vì chiến thắng: "Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường dũng cảm", "Đưa nhanh, đưa nhiều hàng ra phía trước". Những chàng trai, cô gái Vân Kiều, Pa Cô... và các bộ tộc Lào cùng trang lứa với sức trẻ và lòng nhiệt huyết cách mạng đã đưa năng suất gùi thồ lên đến 90-100kg mỗi chuyến. Nhiều người tuy sức khỏe yếu hay vừa chữa lành vết thương vẫn xung phong phục vụ chiến dịch; có em nhỏ mới chỉ 13-14 tuổi đã tình nguyện đóng góp công sức của mình vào việc khuân vác, chặt cây ngụy trang mặt đương, làm liên lạc... Đang làm nương rẫy, dân bản thấy bộ đội hành quân liền tìm cách gây tiếng ồn, để át đi tiếng động của các đoàn quân, tránh sự phát hiện của thám báo dịch. Thi thoảng, người dân ra bờ suối vắng nhìn thấy những vết chân bộ đội in trên cỏ ướt đã bảo nhau lùa trâu, bỏ ra để xáo trộn, xóa di dấu chân người. Một số đồng bào khi bị địch bắt, mặc dù bị địch dụ dỗ, mưa chuộc hay tra tấn dã man nhưng vẫn chịu đựng, kiên quyết không khai báo, sắt son một lòng một dạ trung thành với cách mạng. Sự mưu trí, sáng tạo và tấm lòng thủy chung, kiên cường của đồng bào các dân tộc Việt Nam và Lào trên địa bàn Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã góp phần quan trọng vào việc vận chuyển, phòng gian, giữ bí mật cho ý định chiến dịch của ta, tạo bất ngờ lớn đối với kẻ địch. Nhờ nỗ lực cố gắng cao độ của quân và dân hai nước Việt Nam và Lào, đặc Liệt là sự tham gia đóng góp tích cực của đồng bào các dân tộc trên địa bàn Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đến cuối tháng 1 năm 1971, phía quân ta đã mở được hàng trăm kilômét đường hành quân cơ động; xây dựng hàng trăm cầu, công; vận chuyển được hàng vạn tấn vật chất các loại, đủ đảm bảo cho khoảng 5 vạn bộ đội tác chiến trong vòng 4 đến 5 tháng1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.296). Với quyết tâm đập tan hành động quân sự phiêu lưu của địch, ngay khi chúng vừa mở cuộc hành quân, Bộ Chính trị đã chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: "Nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược''2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào năm 1971, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, tr.21). Ngày 4 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào được thành lập, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng tham mưu phó làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, chỉ huy mọi lực lượng tham gia chiến dịch phản công. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2026, 08:20:53 pm Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, qua đường không và đường bộ, Mỹ và quân đội Sài Gòn đã điều động một bộ phận lớn binh lực ra Vùng I chiến thuật tổ chức hành quân chiếm lĩnh các địa bàn làm căn cứ xuất phát tiến công (Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh...); thực hiện nhiều hoạt động nghi binh chiến lược. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, một số đơn vị quân Mỹ và quân đội Sài Gòn bắt đau tổ chức vượt biên giới, tiến về phía khu vực Đường 9 - Nam Lào. Hàng chục trận địa pháo với hàng trăm khẩu bố trí dọc biên giới Việt Nam và Lào đồng loạt đánh phá dữ dội các mục tiêu, hỗ trợ cho các cánh quân bộ binh tiến công.
Dựa vào thế trận đã bố trí sẵn sàng, liên quân Việt Nam và Lào kiên cường giáng trả quyết liệt các hướng tiến công của địch; đẩy lui và làm chậm bước tiến quân của chúng; tập trung lực lượng và hỏa lực tiêu diệt một bộ phận lớn quân địch ở các điểm cao 316, 456, 500 543... Trong những ngày này, đồng bào các dân tộc trên địa bàn chiến dịch đã tích cực tham gia phục vụ chiến đấu và chiến đấu. Tiêu biểu như đồng chí Âmkum, du kích bản A Ho, xã Xa Ky Phim, huyện Sê Pôn1 (Tháng 4-1979, đồng chí Âmkum được Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào tuyên dương Anh hùng), đã tham gia chiến đấu và dẫn đường cho các đơn vị chủ lực, đặc công Việt Nam đánh vào sở chỉ huy địch (từ ngày 12 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971), diệt gọn các cụm cứ điểm then chốt trên điểm cao 500 và 543, đập tan cuộc phản kích lớn của lữ đoàn dù số 3 và trung đoàn thiết giáp số 17 của quân đội Sài Gòn, bẻ gãy cánh quân ở phía Bắc Đường 9. Đến ngày 11 thang 3 năm 1971, các mũi tiến công của địch đã bị chặn đứng. Ngày 13 tháng 3 năm 1971, toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch của ta được lệnh gấp rút chuyển từ phản công sang tiến công trên toàn tuyến, đánh vào đội hình hành quân của địch. Trước yêu cầu của cuộc tiến công, lượng vật chất bảo đảm cho bộ đội chiến đấu ngày càng lớn, đòi hỏi phải tăng cường nguồn bổ sung tiếp tế. Dưới sự dẫn dắt, động viên của các già làng, trưởng bản, con em đồng bào các dân tộc Việt Nam và Lào nơi đây tiếp tục tự nguyện phối hợp cùng với các lực lượng vận tải tham gia vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men.., phục vụ bộ đội chiến đấu. Có những cung đường vận chuyển, quân địch đánh phá dữ dội suốt ngày đêm, nhưng từng đoàn người gùi lương, tải đạn vẫn không ngừng tỏa đi các hướng phục vụ bộ đội. Nhiều nơi, đồng bào còn tự nguyện chỉ ăn củ mài và rau rừng, dành cho các chiến sĩ những hạt gạo, lát sắn, củ khoai cuối cùng để "ăn no mà đánh thắng giặc Mỹ". Muối là thứ rất quý giá đối với đồng bào các dân tộc nhưng khi bộ đội cần họ không ngần ngại đem biếu, phần mình thiếu muối họ đốt cả rễ cỏ tranh để ăn. Nhiều gia đình còn mang cả những vật dụng quý giá đem đổi lấy lương thực, thực phẩm để tiếp tế cho bộ đội chiến đấu. Đồng bào còn giúp bộ đội xây dựng lán trại, kho tàng, may vá quần áo, tải thương, cứu chữa thương bệnh binh. Dưới làn mưa bom, bão dạn, đồng bào các dân tộc trên địa bàn đã bất chấp sự nguy hiểm đến tính mạng, không quản đường xa, núi cao, vực sâu gửi đến cho bộ đội những miếng cơm, manh áo nghĩa tình. Từng đoàn dân công là con em các dân tộc ngày đêm gùi lương, tải đạn ra chiến trường, rồi lại tham gia vận chuyển thương binh về tuyến sau. Có khi trên đường tải thương bị địch bắn phá, nhiều đồng bào lại lấy thân mình che cho cán bộ, chiến sĩ. Nhiều bà mẹ Lào tuy đời sống còn rất khó khăn, cơm chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc vẫn chắt chiu từng lon gạo để nuôi dưỡng các thương bệnh binh, tận tình chăm sóc, cứu chữa như chính con em ruột thịt của mình. Nhiều thôn bản thành lập các đội đi tìm kiếm chôn cất cán bộ, chiến sĩ hy sinh1 (Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt, lực lượng ta cũng không tránh khỏi tổn thất: 2.163 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, 6.176 bị thương. Dẫn theo: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ; cứu nước (1954-1975) - Tập 6 - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.276). Có những con đường nếu tính theo "đường chim bay" thì chỉ đi trong chốc lát là đến nhưng dân công không quen địa hình, đường đi lại rất ngoằn ngoèo, hiểm trở, dốc cao, đá dựng nếu không có đồng bào các dân tộc Việt Nam và Lào dẫn đường, chỉ lối thì cũng khó có thể đưa phương tiện, vật chất đến điểm tập kết, chưa kể tính mạng luôn bị đe dọa bời "rừng thiêng, nước độc". Trên các nẻo đường ra chiến trường, đồng bào các dân tộc Việt Nam và Lào đã tích cực phục vụ chiến đấu, nêu cao quyết tâm cùng bộ đội đánh giặc. Bom đạn kẻ thù có thể tàn phá nhà cửa, ruộng vườn nhưng không thể làm phai nhạt tình cảm quân dân thắm thiết. Nhiều con em đồng bào đã anh dũng ngã xuống, máu của họ đã thấm vào lòng đất, hòa vào mỗi con suối để cho mỗi bản làng mãi mãi xanh tươi. Đáp lại sự thương yêu, che chở, đùm bọc và hy sinh đó, các cán bộ, chiến sĩ hai nước Việt Nam và Lào đã biến đau thương thành sức mạnh, chiến đấu quên mình, bảo vệ đồng bào, nhanh chóng chấm dứt chiến tranh để đồng bào được yên ổn làm ăn, sinh sống. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của ta kết thúc thắng lợi2 (Ta loại khỏi vòng chiến đấu 21.102 tên địch, trong đó giết và làm bị thương 19.960 tên, có nhiều đơn vị thiện chiến tinh nhuệ và binh chủng kỹ thuật hiện đại; bắn rơi và phá hủy 556 máy bay, phá hủy và bắn chìm 43 tàu và sà lan, phá hủy 1.138 xe cơ giới, 112 khẩu pháo và súng cối hạng nặng. Dẫn theo: Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào năm 1971, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, tr.61-62), tạo bước ngoặt lớn cho cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương1 (Đánh giá về thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971, Bộ Chính trị khẳng định: "Chiến thắng Đường số 9 - Nam Lào của ta đã chấm dứt quá trình tiến công - phản kích đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ - ngụy trên chiến trường cả ba nước Đông Dương". Dẫn theo: Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.83. Còn Bộ Quốc phòng Mỹ thừa nhận: "Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" thể hiện sự kém cỏi trong cá việc vạch kế hoạch và thực hiện. Cuộc hành quân này phơi bày rõ ràng những điểm yếu nghiêm trọng của các lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa, những hành động chiến lược đó đã làm tăng sức ép của công chúng và sự kiềm chế của Quốc hội đối với chính quyền". Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, Tập 6 (Tiến hành chiến tranh), Viện Lịch sử quân sự Việt Nam dịch, 1982, tr.26). Thắng lợi đó đã góp phần tô thắm thêm tình đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt Việt Nam và Lào, in đậm sự đóng góp to lởn của đồng bào các dân tộc Việt Nam - Lào trên địa bàn chiến dịch. Đúng như đồng chí Đồng Sĩ Nguyên - nguyên Tư lệnh Đoàn 559 đã nói rất cảm động về Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào: "Trong cuộc chiến này, khi mà đối phương huy động tối đa sức mạnh tổng lực hòng xóa đường Trường Sơn; khi mà biết bao đồng chí, đồng bào ngã xuống, nằm lại vĩnh viễn với những đồi lau xơ xác, những bìa rừng khuất nẻo... vì sự sống của con đường, vì sự toàn thắng của chiến dịch, nếu như ai đó thi vị hóa hết thảy sẽ là tội lỗi. Nhưng nếu không tìm thấy cội nguồn chiến thắng từ những bước chân nhún nhảy của những chàng trai, cô gái Pa Cô trên đường tải đạn, trong âm vang réo rắt tiếng đàn Ta-lư, hay điệu Lăm-vông của những nam nữ chiến sĩ Quân giải phóng Lào sau từng trận đánh..., thì cũng khó lý giải hết tầm thế của chiến công này..., và vì sao ta chiến thắng!"2 (Đồng Sĩ Nguyên, Đường xuyên Trường Sơn (Hồi ức)... Sđd, tr.224). Qua bao mùa lúa chín, nơi đại ngàn sâu thẳm vẫn còn lưu giữ những ký ức đẹp đẽ giữa đồng bào các dân tộc Việt Nam và Lào với các cán bộ, chiến sĩ năm xưa. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong chiến dịch lịch sử này cho đến nay phần mộ vẫn còn nằm lại đâu đó trên chiến trường chờ ngày quy tập. Lịch sử đã bước sang trang mới, đồng bào các dân tộc Việt - Lào vẫn tiếp tục đóng góp công sức vào việc tìm kiêm, bảo quản hài cốt những cán bộ, chiến sĩ. Tên các liệt sĩ đã trở thành huyền thoại nơi những bản mường xa xôi1 (Đồng báo các dân tộc nơi đây không biết nhiều chữ, để dễ nhớ, họ đặt tên các liệt sĩ cho những cây cổ thụ, lưu truyền từ năm này sang năm khác tên các liệt sĩ trở thành tên rừng, tên bản làng). Điều đó thể hiện, đâu phải chỉ có trong bom đạn ác liệt của chiến tranh, tình đoàn kết quân dân thắm thiết mới được bộc lộ. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2026, 08:26:26 pm PHẦN IV TẦM VÓC, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ VẬN DỤNG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 THÀNH QUẢ CỦA Ý CHÍ QUYẾT TÂM, TƯ DUY MƯU LƯỢC, LINH HOẠT VÀ SÁNG TẠO CỦA QUÂN VÀ DÂN TA Thiếu tướng, PGS, TS vũ QUANG ĐẠO Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Cách đây 40 năm, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, quân và dân ta phối hợp với quân và dân Lào tiến hành cuộc phản công chiến lược, đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" - cuộc hành quân lớn nhất, điển hình nhất của Mỹ và quân đội Sài Gòn trong giai đoạn "Việt Nam hóa chiến tranh", loại khỏi vòng chiến đấu một bộ phận lớn sinh lực địch, thu và phá hủy hàng vạn tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh. Thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là thành quả của nhiều nhân tố. Trước hết, đó là thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự đúng đắn và sáng tạo của Đảng, sự chỉ đạo tập trung, kiên quyết và chính xác của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Đó còn là thắng lợi của ý chí quyết tâm, tư duy mưu lược, cách đánh linh hoạt và sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ Việt Nam và các lực lượng vũ trang Pathét Lào. 1. Nắm chắc địch, quyết tâm cao, giữ thế chủ động chiến lược và chiến dịch. Sau thắng lợi của ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ - ngụy bị phá sản. Với âm mưu tiếp tục cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", một mặt tập trung xây dựng quân đội Sài Gòn thành một quân đội hiện đại, đủ sức thay thế quân Mỹ khi chúng rút về nước, mặt khác ráo riết thực hiện chương trình "bình định cấp tốc", "bình định đặc biệt" tại miền Nam Việt Nam, đồng thời, mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia nhằm tiêu diệt lực lượng của ta trong vùng; cắt đứt tuyến chi viện chiến lược từ miền Bắc. Thực hiện tham vọng đó, đầu năm 1971, địch đã huy động 88 trong tổng số 214 tiểu đoàn bộ binh, 15 thiết đoàn mở cuộc tiến công quy mô lớn trên ba hướng, với ba cuộc hành quân mang mật danh: "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào; "Toàn thắng 1-71" đánh lên vùng Kông Pông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia) và cuộc hành quân quy mô 1 sư đoàn, từ Tây Nguyên đánh ra vùng ngã ba biên giới (vùng A Tô Pơ của Lào). Theo đánh giá của Mỹ, khu vực Đường 9 - Nam Lào có vị trí hết sức quan trọng, bởi đó là vùng đối phương tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược, là "cuống họng" của tuyến chi viện chiến lược 559, là huyết mạch đặc biệt quan trọng để nuôi sống cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam Việt Nam và cách mạng Lào, Campuchia. Với cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Mỹ và quân đội Sài Gòn đặt ra mục tiêu: cắt đứt, tiến tới phá hủy hoàn toàn tuyến vận tải và cơ sở hậu cần chiến lược ở khu vực Đường 9 - Nam Lào, chặn đứng và triệt bỏ tận gốc nguồn tiếp tế, khiến lực lượng vũ trang ta, mà trước hết là bộ đội chủ lực ở miền Nam không thể đánh lớn được trong mùa khô 1971-1972, buộc phải quay về hoạt động nhỏ lẻ, phân tán trong khuôn khổ một cuộc chiến tranh du kích; làm cho cách mạng miền Nam, Lào, Campuchia "lụi tàn"; đồng thời để kiểm chứng sức mạnh và khả năng tác chiến của quân đội Sài Gòn "công cụ" chủ yếu để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Ngoài các mục tiêu trên, cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn muốn thông qua chiến thắng của chiến dịch này để làm "yên lòng" nhân dân Mỹ, rằng: quân đội Sài Gòn đủ sức đảm đương cuộc chiến tại Việt Nam và Đông Dương. Đó là điều kiện căn bản để Mỹ có thể rút quân khỏi miền Nam Việt Nam trên thế mạnh. Riêng với Tổng thống Níchxơn, ông hy vọng rằng, thắng lợi của cuộc hành quân này sẽ cho ông thêm cơ hội trúng cử trong cuộc tranh cử Tổng thống diễn ra vào năm 1972. Thực hiện mưu đồ đó, từ đầu năm 1971, địch bắt đầu có những hành động nghi binh, chúng chuyển sở chỉ huy Vùng 1 chiến thuật (Quân đoàn 1) từ Đà Nẵng tới Đông Hà, sau đó chuyển về đặt tại Khe Sanh; đưa một lực lượng lớn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn ra Quảng Trị, đồng thời còn tung tin sẽ mở các cuộc tiến công sang bên kia vĩ tuyến 17, đánh vào Nam Quân khu 4. Hiểu rõ âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhận định: mọi hoạt động của quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tại vùng giáp ranh vĩ tuyến 17 chỉ là hoạt động nghi binh. Mục tiêu chính của chúng là sẽ thực hiện cuộc hành quân tiến công chia cắt chiến lược trên ba hướng, trong đó hướng Đường 9 - Bản Đông - Sê Pôn là hướng chủ yếu. Không những phán đoán đúng âm mưu, ý đồ của địch, ta còn nắm vững quy luật hoạt động của chúng. Bộ Tổng Tư lệnh xác định: địch có thể huy động 30 - 35 tiểu đoàn bộ binh, phối hợp với hoả lực không quân và pháo binh mở cuộc tiến công thọc sau trên mũi đột kích chính; dùng máy bay lên thẳng để đổ quân đánh chiếm các điểm cao. Tại khu vực Đường 9 Nam Lào, chúng sẽ lấy Đông Hà làm hậu cứ, Khe Sanh - Lao Bảo làm tuyến triển khai lực lượng và Đường 9 sẽ là trục tiến công chủ yếu. Do nhận định và phán đoán đúng tình hình, ngay từ khi cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đang trong giai đoạn chuẩn bị, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã bàn bạc, thống nhất với Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào quyết tâm mở chiến dịch phản công lớn, đập tan âm mưu của chúng, đồng thời chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: "Nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược... Thắng lợi của trận phản công này sẽ ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương''1 (Bộ Quốc phòng, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Viện Khoa học Quân sự, Hà Nội, 1976, tr.25). Trên tinh thần đó, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị và kêu gọi: ... Tập trung cao nhất tinh thần và sức lực, dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ con đường Hồ Chí Minh, xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này"1 (Chỉ thị 009/QUTYV do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, hồ sơ 594 - Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2026, 08:28:28 pm 2. Tập trung binh lực, chỉ đạo kiên quyết, chủ động phản công
Tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh 70 (B70) có quyền hạn tương đương Bộ Tư lệnh Quân khu (với lực lượng bao gồm các sư đoàn bộ binh 304, 308, 320, Trung đoàn pháo binh 45, Trung đoàn cao xạ 241, Trung đoàn công binh 219, một số đơn vị binh chủng khác). Việc thành lập Bộ Tư lệnh 70 không chỉ đáp ứng cho chiến dịch trước mắt mà còn là bước thử nghiệm cho sự ra đời của Bộ Tư lệnh các quân đoàn chủ lực sau này. Sau khi thành lập, Bộ Tổng Tham mưu cùng Bộ Tư lệnh 70 khẩn trương hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến. Trên cơ sở kế hoạch tác chiến đã đề ra, đầu tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (gọi tắt Bộ Tư lệnh 702) chính thức được thành lập, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó phụ trách tác chiến làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Giúp việc trực tiếp cho Tư lệnh trong cơ quan tham mưu chiến dịch có các đồng chí Tư lệnh Binh chủng Pháo binh, Tư lệnh Binh chủng Tăng - thiết giáp, Tư lệnh Binh chủng Đặc công, đại diện các quân chủng Phòng không, Không quân, Thông tin liên lạc, Công binh, cùng nhiều cán bộ chỉ huy - tham mưu tác chiến dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Bộ Tư lệnh 702 thực sự là một tổ chức mạnh, có đủ quyền hạn, khả năng lãnh đạo và chỉ huy tất cả các lực lượng ta và bạn ở khu vực Đường 9 và Nam Lào, đồng thời được xem như là cơ quan tiền phương của Bộ có thể quyết định những vấn đề quan trọng, kịp thời, nhất là về chỉ đạo tác chiến chiến dịch để giành thắng lợi trong mọi tình huống. Cùng với việc tổ chức Bộ Tham mưu chiến dịch mưu lược, ta còn tích cực triển khai công tác chuẩn bị chiến trường. Trước đó, từ tháng 6 năm 1970, Bộ đã tăng cường tổ chức cán bô vào cùng các đơn vị tại chỗ nghiên cứu địa hình, chuẩn bị kế hoạch tác chiến ở chiến trường Lào, đồng thời hướng dẫn các đơn vị diễn tập phương án tác chiến đã được dự kiến. Lực lượng thanh niên xung phong, Đoàn 559 được lệnh làm thêm đường 10, củng cố đường 16B, chuẩn bị khai thông đường 16D, củng cố tuyến đường B70. Binh đoàn B70 được lệnh chuẩn bị các điều kiện tác chiến cho từng trung đoàn, tiểu đoàn. Lực lượng tại chỗ cũng được lệnh sẵn sàng chiến đấu... Ta cũng đã chuẩn bị được 6.000 tấn vật chất, đảm bảo cho từ 5 đến 6 vạn quân tác chiến trong thời gian từ 4 đến 5 tháng. Ngoài ra, để đề phòng tình huống địch mở rộng tiến công ra Nam Khu 4, Bộ đã tăng cường 10 tiểu đoàn pháo cao xạ từ phía Bắc vào Nam Khu 4 nhằm bảo vệ giao thông và những vùng yếu địa; tăng cường cho các huyện ven biển từ Nam Hà đến Thanh Hóa 10 đại đội bộ binh sẵn sàng đánh địch nếu chúng liều lĩnh tập kích bằng đường biển. 3. Kiên quyết tiến công, tác chiến linh hoạt, mưu trí, sáng tạo Đúng như dự kiến, ngày 8 tháng 2 năm 1971, quân đội Sài Gòn được sự yểm trợ của quân Mỹ, chia làm 3 cánh vượt qua biên giới Việt - Lào. Cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9, phối hợp với lực lượng đổ bộ đường không đánh chiếm Bản Đông, làm bàn đạp để tiến lên Sê Pôn; cánh quân thứ hai và thứ ba đánh chiếm hai bên Đường 9. Ngay sau khi phát hiện địch đánh ra khu vực Đường 9, Bộ Tư lệnh Mặt trận nhanh chóng điều lực lượng chặn đánh địch trên Đường 9, đồng thời, ra lệnh cho lực lượng vũ trang Mặt trận B5 tiến hành tập kích, pháo kích vào các căn cứ quân sự của Mỹ; phục kích trên các đường giao thông. Trên hướng chủ yếu, nhờ nắm chắc tình hình, bộ đội ta đã bình tĩnh, chủ động đón đánh từng cánh quân của địch, kết hợp với lưới lửa phòng không được bố trí sẵn, bắn rơi nhiều máy bay lên thẳng. Trong các ngày từ ngày 12 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, các lực lượng chủ lực của ta tổ chức hiệp đồng tác chiến, tiến công dồn dập, bẻ gãy cánh quân chủ lực của địch ở phía Bắc Đường 9, tiêu diệt các cụm cứ điểm then chốt ở điểm cao 500, 543; tiêu diệt Trung đoàn thiết giáp số 17 và Lữ đoàn dù 3, bắt đại tá Nguyễn Văn Thọ và toàn bộ Ban tham mưu lữ đoàn. Trước đòn phản công mạnh của quân ta, địch điều lực lượng lớn từ Bản Đông lên phản kích hòng chiếm lại điểm cao 543. Suốt 6 ngày liền, Trung đoàn bộ binh 36 Sư đoàn 308 và một bộ phận Trung đoàn bộ binh 64, có hai đại đội xe tăng phối hợp và pháo binh mặt trận chi viện hỏa lực, đã đập tan cánh quân phản kích của địch, uy hiếp mạnh căn cứ Bản Đông. Ở phía Bắc Bản Đông, lực lượng Đoàn 70 phối hợp với lực lượng tại chỗ, tiến công tiêu diệt Lữ đoàn dù 1, đánh thiệt hại nặng Liên đoàn biệt động số 1, khiến thế trận địch rơi vào rối loạn, ở phía Nam, lực lượng tại chỗ Đoàn 559 tích cực đánh tiêu hao, ngăn chặn địch, tạo điều kiện cho bộ đội cơ động đánh tiêu diệt hai tiểu đoàn và hai đại đội chủ lực quân đội Sài Gòn. Ở phía Tây Sư đoàn 2 Quân khu 5 và Sư đoàn 320 phối hợp với bộ đội Pathét Lào đánh thiệt hại nặng GM30, GM33 quân đội chính phủ phái hữu Lào ở Pha Đô Tuya, Pha Lan, mở thông đường 16B. Trong lúc ở Nam Lào, địch bị ta đánh thiệt hại nặng, thì ở Đường 9 (Quảng Trị), pháo binh ta bắn phá căn cứ Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử, gây thiệt hại nặng cho hậu phương chiến dịch của địch. Bị bất ngờ vì chủ lực ta xuất hiện sớm, lưới lửa phòng không dày đặc, thế trận cuộc hành quân của địch bị phá vỡ hoàn toàn, khiến lực lượng địch mất thế chủ động, tinh thần chiến đấu sa sút nghiêm trọng, đội hình chiến đấu của từng đơn vị rối loạn. Trên đà thắng lợi và với thế tiến công áp đảo quân địch, ngày 2 tháng 3 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị, trong đó nêu rõ: Tuy địch đã thất bại bước đầu ngoài dự tính, nhưng với bản chất ngoan cố và còn lực lượng, nên qua mấy ngày lúng túng, chúng đang điều động thêm lực lượng với ý đồ củng cố trận địa Bản Đông thành một bàn đạp tương đối vững, đồng thời dùng lực lượng mới, thay đổi thủ đoạn tác chiến, cố gắng tiếp tục cuộc hành quân, hòng vớt vát về chính trị... Tình huống cơ bản là cuộc chiến đấu có thể sẽ diễn ra quyết liệt trong một thời gian tương đối dài; chúng ta phải sẵn sàng đánh địch và thắng địch; đồng thời sẵn sàng tiêu diệt địch trong trường hợp chúng buộc phải rút sớm trước những thất bại mới1 (Chỉ thị số 012/QU-TƯ/A ngày 2 tháng 3 năm 1971, lưu K4 Hộ Quốc phòng, phông QUTƯ, hồ sơ 714)... Trên cơ sở nhận định đúng tình hình, Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch đã nhanh chóng quán triệt tinh thần cơ bản Chỉ thị của Quân ủy Trung ương đến các hướng, các đơn vị; động viên các đơn vị trên hướng Nam Sê Pôn nâng cao quyết tâm vừa diệt địch, vừa bảo vệ kho tàng, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược; đồng thời kiên quyết tiêu diệt địch nếu chúng liều lĩnh tiến đến Sê Pôn. Ở các hướng khác, tiếp tục động viên tinh thần tiến công liên tục, kiên quyết cắt đứt Đường 9, chuẩn bị tư tưởng đánh dài ngày với địch và sẵn sàng nắm vững thời cơ đánh địch nếu chúng rút chạy. Chiến sự diễn ra nhanh chóng và quyết liệt. Bằng các trận đánh tiêu diệt lớn khi địch đổ quân xuống các điểm cao, vây ép chúng tại các điểm cao 748, 723, 550, 532 ở cánh Nam Sê Pôn; các trận tập kích tiêu hao, tiêu diệt địch ở khu vực Bản Đông; ngăn chặn giữ vững các điểm tựa trên Đường 9, ta đã chia cắt, cô lập địch trên từng khu vực. Bị đánh thiệt hại nặng trên tất cả các hướng, cả phía trước và phía sau, trước nguy cơ bị bao vây và có thể bị tiêu diệt trên từng khu vực, địch buộc phải rút chạy từng bộ phận. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch hạ quyết tâm: không cho quân địch rút nhanh, rút có tổ chức; nhanh chóng chuyển sang tiến công, tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định. Ngày 14 tháng 3, Bộ Tư lệnh phát lệnh động viên tới các đơn vị trên toàn mặt trận: "Thời cơ tiêu diệt lớn quân địch và giành toàn thắng cho chiến dịch đã đến". Lệnh động viên đã có tác động cổ vũ sâu rộng và mạnh mẽ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội. Trên khắp các mặt trận, phong trào thi đua lập công diễn ra sôi nổi giữa các đơn vị, các hướng. Cán bộ, chiến sĩ bước vào giai đoạn cuối chiến dịch với khí thế quyết tâm cao, nắm chắc thời cơ tiêu diệt địch, với một nguyện vọng mong muốn lập công, góp phần xứng đáng vào thắng lợi. Trên các hướng, các đơn vị đều nỗ lực chiến đấu và giành thắng lợi. Đầu tháng 3, mặc dầu lâm vào tình thế bất lợi, địch vẫn quyết định tung lực lượng dự bị chiến dịch vào cuộc chiến, chuyển cánh quân phía Nam thành hướng tiến công chủ yếu và tiếp tục thực hiện kế hoạch đánh lên Sê Pôn. Trước thủ đoạn mới của địch, ta chủ trương một mặt kiên quyết ngăn chặn địch, không cho chúng đến Sê Pôn, mặt khác khẩn trương cơ động lực lượng tổ chức bao vây chia cắt tạo điều kiện, thời cơ đánh trận tiêu diệt quyết định. Đến ngày 11 tháng 3, ta đã chặn đứng được các mũi tiến công của địch, hệ thống kho tàng, hành lang vận chuyển chiến lược được giữ vững. Từ ngày 12 tháng 3 năm 1971, toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch của ta được lệnh gấp rút chuyển từ phản công sang tiến công. Quân địch ở Đường 9, Bản Đông không chịu được sức ép buộc phải dồn lại, dựa lưng vào nhau để chống trả. Càng chống trả điên cuồng, thì dự trữ đạn dược càng chóng cạn; trong khi đó, nguồn tiếp tế chủ yếu bằng máy bay, nhưng máy bay lên thẳng cũng như máy bay vận tải C130 không thể cất cánh do bị lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều lớp của ta khống chế1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 275). Trước nguy cơ bị tiêu diệt, quân địch phải tháo chạy khỏi Bản Đông, bị bộ đội ta truy kích, diệt và bắt sống nhiều tên địch, bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép, phá hủy nhiều máy bay của chúng. Cùng thời gian này quân ta còn giành thắng lợi lớn ở điểm cao 660, 550. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2026, 08:29:19 pm 4. Thắng lợi vẻ vang, trưởng thành vượt bậc
Sau hơn một tháng chiến đấu kiên cường, sáng tạo ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Quân giải phóng miền Nam và các lực lượng vũ trang Pathét Lào đã tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp, đánh thiệt hại nặng một số lữ đoàn, trung đoàn khác, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 21.000 địch (bắt 1.142), bắn rơi và phá hủy 556 máy bay, 528 xe tăng, xe bọc thép, 112 khẩu pháo, cối, thu 2 máy bay trực thăng, 24 xe quân sự, 78 khẩu pháo, cối, hơn 2.000 súng bộ binh... Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa chiến lược, tác động mạnh đến cục diện toàn chiến trường, giáng một đòn mạnh vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa Quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004). Cùng với việc đánh bại hai cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4", chiến thắng Đường 9 - Nam Lào đã đánh dấu chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ đang đứng trước nguy cơ bị phá sản hoàn toàn, không thể cứu vãn được. Ông Kítxinhgơ, người thay mặt Chính phủ Mỹ đang đàm phán với Việt Nam tại Pari đã thú nhận: Cuộc tiến công mùa khô 1971 là một cái mốc đánh dấu cuộc hành quân cuối cùng mà quân đội Mỹ còn tham chiến ở Đông Dương, kể cả trong vai trò hỗ trợ. Cuộc tiến công vào Sê Pôn không cắt đứt được việc xây dựng hậu cần của Bắc Việt Nam, không đủ để ngăn chặn cuộc tiến công của Hà Nội năm 1972. Riêng về mặt quân sự, thắng lợi của chiến dịch không chỉ khẳng định sức mạnh to lớn, sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta trong tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng, mà còn đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam nói chung và nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng, góp phần làm phong phú thêm lý luận về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Với một ý chí quyết tâm cao, một Bộ chỉ huy mưu lược, sáng tạo, trong quá trình thực hành chiến dịch, các lực lượng vũ trang Quân giải phóng miền Nam đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang Pathét Lào vận dụng cách đánh linh hoạt, sáng tạo, nắm vững quyền và thế chủ động chiến lược, chiến dịch; các lực lượng vũ trang ta đã chuyển hóa mau lẹ thế trận, bố trí một thế trận sâu kín, vững chắc vừa bảo đảm thế chặn, thế kìm, thế bao vây tiến công địch, vừa bảo đảm thế đuổi địch khi thời cơ đến. Đó là một thế trận chuyển hóa linh hoạt, phá vỡ thế trận của địch, phát triển thế trận của ta từ ngăn chặn tiến công đến truy kích địch tháo chạy. Thế trận đó bảo đảm cho các đơn vị, binh chủng trên chiến trường hợp đồng chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau kịp thời trong các tình huống. Một nhân tố khác vô cùng quan trọng tạo nên chiến thắng của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đó là tinh thần chiến đấu dũng cảm vô song, mưu trí, linh hoạt, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam và các lực lượng vũ trang Pathét Lào. Tất cả những yếu tố trên, cùng với sức mạnh chiến tranh nhân dân và sự chi viện kịp thời, hiệu quả của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã tạo thành sức mạnh tổng hợp, lắp nên chiến công vang dội. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa to lớn về mặt chiến lược, đánh bại một bước chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tạo cục diện mới cho cách mạng Việt Nam và ba nước Đông Dương, mở ra một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2026, 08:30:40 pm ĐÁNH BẠI CUỘC HÀNH BINH "LAM SƠN 719", LÀM PHÁ SẢN CĂN BẢN CHIẾN LƯỢC "VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH" VÀ "HỌC THUYẾT NÍCHXƠN" Đại tá NGUYỄN VĂN MINH Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam 1. Nắm quyền chủ động, điều địch vào phương án đã chọn Trước khi luận bàn về cuộc hành binh "Lam Sơn 719", chúng ta điểm qua đôi nét về "Học thuyết Níchxơn" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" để thấy rõ kỳ vọng to lớn của Oasinhtơn và Sài Gòn trong cuộc hành quân này. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Mỹ có bước suy yếu mới như Kítxinhgơ nhận xét: Năm 1969, Mỹ không còn ở vào cái thế có thể thực hiện được những chương trình toàn cầu của mình, không còn có thể gán ghép cho các nước khác những giải pháp mà Mỹ ưa chuộng. Níchxơn bước vào Nhà Trắng làm Tổng thống nước Mỹ giữa lúc thế giới đã đổi thay, chiến lược "Phản ứng linh hoạt" không chống đỡ nổi với các cuộc tiến công cách mạng trên thế giới, mà tiêu biểu là ở Việt Nam. Mỹ thấy không còn khả năng làm sen đầm tràn lan như trước đây, nhưng vẫn khẳng định vị thế lãnh đạo thế giới tự do. So sánh lực lượng, tiềm lực, khả năng của Mỹ trước măt cũng như tương lai, Níchxơn công bố chính sách mới thích hợp với hoàn cảnh mang tên "Học thuyết Níchxơn" và chiến lược quân sự toàn cầu "Răn đe thực tế". Nội dung "Học thuyết Níchxơn" là: Ra sức phá hoại phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế; tìm cách đàn áp phong trào giải phóng dân tộc; duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới, giữ vững địa vị lãnh đạo của Mỹ đối với thế giới tự do. Đối với phe xã hội chủ nghĩa, "Học thuyết Níchxơn" chủ trương đẩy mạnh tuyên truyền chiêu bài "thương lượng", "hòa hoãn Đông - Tây", thực hiện âm mưu chia rẽ, kiềm chế và đẩy lùi. Đối với các dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, "Học thuyết Níchxơn" tìm cách hạn chế việc sử dụng quân Mỹ ở nước ngoài, ra sức thực hiện "liên minh khu vực" "dùng người địa phương đánh người địa phương". "Việt Nam hóa chiến tranh" là sự ứng dụng "Học thuyết Níchxơn" vào Việt Nam mà nội dung chính là tăng cường quân đội Việt Nam Cộng hòa về số lượng, trang bị kỹ thuật và chất lượng chiến đấu cao, đồng thời mở rộng chương trình bình định, làm cho chính quyền Sài Gòn kiêm soát được toàn bộ Nam Việt Nam; đánh bật lực lượng vũ trang giải phóng ra khỏi nông thôn, thành thị; tiêu diệt hạ tầng cơ sở của Việt cộng... Trong hai năm 1969 - 1970, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ráo riết thực hiện chương trình "bình định cấp tốc" rồi "bình định đặc biệt", đồng thời đem quân chủ lực đánh sang Campuchia, coi đó là màn dạo đầu chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Mặc dù thời gian này quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa đã tăng lên 1.100.000 tên, được trang bị hiện đại hơn trước, nhưng liên tiếp thua trận, đẩy chương trình "bình định cấp tốc", "bình định đặc biệt" đến bờ vực phá sản. Bộ chỉ huy Mỹ ở Nam Việt Nam cho rằng không ngăn chặn được đường tiếp tế của Bắc Việt Nam cho "Việt cộng", thì chính quyền, quân đội Việt Nam Cộng hòa khó đứng vững và tồn tại. Thời W.Oetmolen còn làm Tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam, viên tướng này đã mơ tưởng đến một cuộc tiến công quy mô lớn sang đất Lào để cắt đứt đường Hồ Chí Minh, mà điểm nút là Sê Pôn. W.Oetmolen đã chỉ thị cho các cố vấn, chuyên gia trong Bộ Tư lệnh viện trơ quân sự Mỹ (MACV) soạn thảo kế hoạch sử dụng lực lượng Mỹ cấp quân đoàn mở cuộc hành quân sang Lào. Nhưng thời thế đã đổi thay, sau "cơn địa chấn" Tết Mậu Thân (1968), Oétmolen thôi giữ chức Tư lệnh MACV, Mỹ bổ chiến lược "tìm diệt", ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhận đàm phán với ta. Tiếp theo, là sự thất bại nặng nề của hai cuộc hành quân hỗn hợp của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn vào vùng "Lưỡi Câu", "Mỏ Vẹt" của Campuchia, khiến cho Quốc hội Mỹ phản ứng gay gắt, hủy bỏ Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ và cấm Tổng thống Mỹ đưa quân ra nước ngoài khi không được Quốc hội cho phép. Vì vậy, Níchxơn đồng ý với "sáng kiến" của Bộ Tư lệnh Mỹ ở miền Nam do A. Bram cầm đầu là sử dụng quân tinh nhuệ Sài Gòn đánh sang Lào có Mỹ hỗ trợ, tiện thể tạo điểm nhấn, làm nổi bật vai trò của quân đội Việt Nam Cộng hòa trong thực hiện chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh". Đây là đòn thử thách sức mạnh cuối cùng của quân đội Việt Nam Cộng hòa trước khi quân Mỹ tiếp tục rút đại bộ phận lực lượng ra khỏi miền Nam Việt Nam. Thắng hay thua trong cuộc hành quân này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn vong của "Học thuyết Níchxơn" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, và tên tuổi, uy tín của Níchxơn. Cho nên cả Mỹ lẫn chính quyền Sài Gòn đều dốc sức vào cuộc hành quân này với tinh thần lạc quan: "Quân đội Việt Nam Cộng hòa sẽ chiếm Sê Pôn 4 hoặc 5 ngày sau giờ H". v.v... Ngày 3 tháng 2 năm 1971, Níchxơn quyết định phê chuẩn kế hoạch đánh sang Lào và cam kết với Thiệu sẽ dùng không quân, pháo binh yểm trợ tối đa cho quân Việt Nam Cộng hòa thực hành tấn công. Tất cả tình hình và kế hoạch cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trên đây, được tình báo ta báo cáo về Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đầy đủ và cụ thể về lực lượng, thời gian, quy mô cuộc hành quân. Do nắm chắc tình hình, âm mưu địch, nên trước khi địch khai triển cuộc hành quân "Lam Sơn 719", đầu tháng 12 năm 1970 Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp vào thăm Bộ đội Trường Sơn - Đoàn 559. Sau khi nghe Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên báo cáo tình hình đường sá và lực lượng Đoàn 559 Đại tướng nói: sắp đến, Mỹ và quân đội Sài gòn sẽ mở cuộc hành quân đánh sang Đường 9 - Nam Lào quy mô lớn, ý định của Bộ là sẽ đưa tiếp hai sư đoàn cơ động vào chiến trường này. Cuối tháng 12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại vào Đường 9 lần thứ hai. Lần này Đại tướng giao nhiệm vụ cụ thể cho Bộ đội Trường Sơn đảm nhiệm tác chiến khu vực phía Tây. Đại tướng nói đây là thời cơ cho ta diệt địch các lực lượng ở Đoàn 559 không được bộc lộ, phải tuyệt đối giữ bí mật cho đến phút cuối, cần phải làm cho địch lầm tưởng lực lượng ta yếu để chúng đưa quân lên càng nhiều càng tốt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn dặn lực lượng phòng không Đường 9 mạnh, nhưng chỉ được nổ súng khi máy bay trực thăng của địch bay từ 50 chiếc trở lên. Phải cho chúng nếm đòn đau bất ngờ bay lên nhiều mà không về được. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương mở chiến dịch phản công lần này là nhằm đánh bại ý đồ của địch, buộc chúng phải vĩnh viễn chấm dứt âm mưu ngăn chặn đường vận tải chiến lược Trường Sơn của ta. Đại tướng dặn thêm: việc chuẩn bị cho bước phát triển mới làm xoay chuyển chiến lược, ta sẽ hoàn toàn chủ động cả về chiến đấu và chi viện; cần khẩn trương, quyết liệt, không được chậm trễ. Khi quân Mỹ chiếm Khe Sanh chuẩn bị bàn đạp cho quân Sài Gòn mở cuộc hành quân, ta thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào mang mật danh Bộ Tư lệnh 702. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có 5 sư đoàn bộ binh và hàng chục trung đoàn, tiểu đoàn pháo binh, cao xạ, tăng thiết giáp, công binh, thông tin, đặc công, cùng lực lượng Bộ đội Trường Sơn, các mặt trận B4, 135 được bố trí trên các khu vực dự kiến sẽ diễn ra cuộc hành binh của địch. Khi quân Mỹ chiếm Kho Sanh làm bàn đạp yểm trợ cho quân Nam Việt Nam chuẩn bị triển khai cuộc hành quân đánh sang Lào cũng là lúc thế trận chiến dịch phản công của ta đã hình thành. Bộ đội ta đã ém sẵn ở những vị trí được lựa chọn, bí mật xây dựng trận địa, sẵn sàng hành động. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2026, 08:31:25 pm Phản công, trên một ý nghĩa nào đó là ở thế bị động chống đỡ cuộc tiến công của đối phương. Nhưng tại Đường 9 - Nam Lào, thì ngược lại, ta hoàn toàn chủ động chuẩn bị trước một chiến dịch phản công quy mô lớn. Xét trên bình diện chiến lược, sau năm 1968, Đảng ta đã dự đoán thế nào quân Mỹ, quân đội Sài Gòn cũng đánh sang Lào và Campuchia để cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của ta và phá căn cứ cách mạng miền Nam trên đất bạn. Qua cuộc đảo chính Xihanúc và cuộc tiến công của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn vào vùng "Lưỡi Câu", "Mỏ Vẹt" của Campuchia những tháng đầu của năm 1970 thì trên thực tế ý đồ của địch đã lộ rõ, làm sáng tỏ thêm nhận định của Đảng ta. Bới vậy, ngay từ tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn 70 gồm ba sư đoàn bộ binh 320, 308, 304 để sẵn sàng đối phó với tình huống địch liều lĩnh đánh sang Lào hoặc Nam Khu 4. Đó là biểu hiện cụ thể của thế chủ động về chiến lược của Đảng ta. Mặt khác, địch sử dụng lực lượng lớn quân đội Việt Nam Cộng hòa đánh sang Nam Lào trong tình hình kế hoạch "Việt Nam hóa" của địch bị quân và dân miền Nam đánh bại một bước nghiêm trọng, chương trình bình định cấp tốc, bình định đặc biệt của chúng bị phá sản; quân Mỹ đang rút khỏi Việt Nam, làm tác động mạnh đến tinh thần ý chí chiến đấu của quân đội Sài Gòn. Bây giờ một mình quân đội Sài Gòn mở cuộc hành binh đánh sang Lào, mặc dù có quân Mỹ yểm trợ bằng hỏa lực ở phía sau, nhưng chúng vẫn cảm thấy "trống lưng hở sườn" chẳng khác nào "Mỹ đem con bỏ chợ". Mất lòng tin vào quân Mỹ, nên tinh thần sĩ quan, binh lính Việt Nam Cộng hòa càng hoang mang dao động. Trong khi đó, Quân đội nhân dân Việt Nam ở thế chủ động, được trang bị mạnh, đồng bộ, bừng bừng khí thế chiến thắng, sẵn sàng xung trân, quyết tiêu diệt thật nhiều địch để làm xoay chuyển chiến lược có lợi cho cách mạng, ở cái thế "đứng trên đầu thù" thì sức mạnh một sẽ hóa thành mười, thành trăm; khi xung trận, cán bộ, chiến sĩ đủ bản lĩnh bình tĩnh, vận dụng sáng tạo các cách đánh giặc truyền thống kết hợp với hiện đại, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Như vậy, về mặt chiến lược, Mỹ và quân đội Sài Gòn hoàn toàn bị động và ở thế yếu hơn đối phương. Kế hoạch hành binh bị lộ trước khi khai triển. Trong tác chiến chiến lược, chiến dịch, chiến đấu, yếu tố bí mật được đặt lên hàng đầu; bên nào giữ được bí mật ý định, kế hoạch, bên đó sẽ chiến thắng. Ta nắm chắc toàn bộ âm mưu, kế hoạch hành binh đánh ra Đường 9 - Nam Lào của địch ngay từ đầu, nên đã chủ động chuẩn bị và điều dịch vào phương án chọn sẵn. Về chiến dịch ta cũng hoàn toàn chủ động. Chiến trường rừng núi hạn chế các binh chủng kỹ thuật như tăng, thiết giáp, không quân, pháo binh phát huy sức mạnh chi viện cho bộ binh. Ta đã triển khai các hoạt động nghi binh chiến dịch khiến địch lầm tưởng lực lượng đối phương yếu và vì thế chúng đã đưa nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật vào cuộc hành quân hòng tiêu diệt nhanh gọn lực lượng ta, chiếm giữ Sê Pôn dài ngày. Thật vậy, trong cuộc nghi binh chiến dịch này, ta đã "bỏ ngỏ" khu vực Khe Sanh để quân Mỹ tiến chiếm dễ dàng không bị một cản trở nào. Viên tướng Mỹ Suthơlan cho rằng chúng đã thắng quân Bắc Việt Nam trong cuộc chạy đua vào Khe Sanh! Gặp thuận lợi đầu tiên trong bước một cuộc hành binh là điều động binh lực, triển khai lực lượng, binh khí kỹ thuật, chiếm bàn đạp phía Nam Đường 9 (từ Khe Sanh đến Lao Bảo), nên cả Bộ chỉ huy Mỹ và Việt Nam Cộng hòa thúc quân đội Sài Gòn dấn sâu vào chiến trường rừng núi Nam Lào. Chúng đã đưa vào đây 578 xe tăng, thiết giáp, 318 khẩu đại bác từ 105mm trở lên cùng ba sư đoàn bộ binh, dù, thủy quân lục chiến, một tiểu đoàn biệt động quân, điều đó có nghĩa là, toàn bộ lực lượng tinh nhuệ tổng trù bị chiến lược quân Nam Việt Nam được tung vào "canh bạc" này. Bộ chỉ huy Mỹ và Sài Gòn không ngờ rằng lúc chúng đang triển khai quân thì Bộ chỉ huy chiến dịch của ta cũng đã cài xong thế trận phản công, các đơn vị chủ lực của ta đang xây dựng trận địa chốt, chặn ở Cô Rốc, điểm cao 660, 723 phía Bắc và Đông Nam Bản Đông và khu vực Cha Ky..., sẵn sàng nổ súng. Lực lượng phòng không của ta ở mặt trận này rất mạnh đã ngụy trang kỹ, đánh lừa địch. Máy bay trinh sát, trực thăng địch bay lượn thám thính, thăm dò, nhưng ta không bắn, địch không phát hiện được gì và điều đó càng khiến chúng lầm tưởng lực lượng phòng không Đường 9 - Nam Lào của đối phương mỏng yếu. Chúng đã ném vào chiến trường này hơn 700 máy bay các loại và hai tiểu đoàn hàng không chiến đấu Mỹ 223, 158 chở quân đội Sài Gòn đổ xuống phía Nam và Bắc Đường 9 - Nam Lào. Quá trình bố trí lực lượng và tạo thế, ta giữ được bí mật mọi ý định và chặt chẽ mọi hành động. Ta đã kết hợp chặt chẽ giữa nghi binh và kế hoạch tác chiến chiến dịch, nên thế trận của ta càng kín và vững chắc. Thế trận đó cho phép đánh vào toàn bộ đội hình hành quân tiến công của địch bằng việc sử dụng lực lượng, binh chủng thích hợp, đồng thời bảo đảm cho việc tập trung lực lượng mạnh đánh những trận then chốt quyết định, những khu vực, mục tiêu trọng điểm của chiến dịch. Đó là một thế trận hiểm và kín có khả năng phá thế của địch, điều khiển địch theo ý định của mình. Thế trận của ta ở Đường 9 - Nam Lào là một thế trận hoàn chỉnh, tạo điều kiện phối hợp tác chiến giữa các binh chủng, luôn luôn chuyển hóa theo sự phát triển của chiến dịch, do đó, ta luôn nắm quyền chủ động chiến trường, chủ động trong chiến đấu. Trong tác chiến chiến lược, chiến dịch, chiến đấu, bên nào nắm quyền chủ động bên đó nắm chắc phần thắng. Nhờ nắm quyền chủ động bộ đội ta đã bình tĩnh tìm mọi cách phát huy các cách đánh của mình, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta và ta đã điều địch vào khu vực Bản Đông, đánh trân then chốt quyết định của chiến dịch, tiêu diệt Lữ đoàn dù 3, bắt lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ. Đó là kết quả của việc giữ vững quyền chủ động chiến trường, chủ động chiến lược và chiến dịch của ta trong chiến tranh. Lúc quân đội Sài Gòn đánh sang Nam Lào, Hoàng thân Xihanúc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia đang ở thăm Hà Nội, đến chào Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Xihanúc nói đại ý: Chắc Đại tướng đang bận chỉ đạo cuộc chiến ở Nam Lào, tôi đến thăm e chưa phải lúc. Nguyễn Văn Thiệu vừa tuyên bố trên đài, quân của chúng sẽ ở lại Sê Pôn đến tháng 9. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời: Ngài không phải bận tâm, việc đó đã có các đồng chí của tôi lo rồi. Tôi bảo đảm với Ngài rằng "cùng lắm cuối tháng 3, chúng tôi sẽ đuổi hết địch khỏi Nam Lào". Quả nhiên, đúng ngày 23 tháng 3 năm 1.971, toàn bộ đội quân Sài Gòn bỏ cả xe, pháo, tháo chạy khỏi Đường 9 - Nam Lào. Sau này, Hoàng thân Xihanúc nói với nhà báo Bớc Sét: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà chiến lược thiên tài không chỉ ở thời đại chúng ta, mà ở mọi thời đại (Hồi ký của Bớc Sét). Câu chuyện trên đây càng tỏ rõ ta hoàn toàn chủ động cả về chiến lược, chiến dịch, cả về xây dựng thế trận và điều khiển địch vào phương án đã chọn. Không nắm quyền chủ động, không bố trí được thế trận tốt thì không thể biết trước kết quả thắng lợi của chiến dịch phản công như tiên đoán của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp.
Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2026, 08:32:25 pm 2. Sự chuyển hóa về thế trận, tạo cho ta sức mạnh giải quyết kịp thời và hiệu quả các tình huống đánh ngăn chặn, phản công và tiến công, truy kích địch
Sau khi thiết lập được căn cứ bàn đạp ở Khe Sanh, Đường 9, ngày 8 tháng 2, pháo binh Mỹ bắn hàng trăm quả đạn, yểm trợ cho quân Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Địch dùng 6 trung đoàn, lữ đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh 1 và Sư đoàn dù, chia làm 3 cánh vượt biên giới đánh sang Nam Lào. Cánh quân chủ yếu do Lữ đoàn dù 3 và hai thiết đoàn 11, 17 theo Đường 9, kết hợp với đổ quân bằng máy bay trực thăng đánh chiếm Bản Đông, làm bàn đạp đổ tiến lên Sê Pôn. Hai cánh quân khác đổ bộ bằng máy bay lên thẳng chiếm hai bên Đường 9. Lữ đoàn dù 1 và Liên đoàn biệt động quân đánh chiếm các điểm cao 500, 316, 655, 543, 456 phía Bắc Đường 9; Sư đoàn bộ binh 1 chiếm khu vực Cô Bốc, các điểm cao 619, 550, 532, 540... phía Nam Đường 9, bảo vệ hai bên sườn cho đội hình tiến công của hướng chủ yếu. Thế trận tiến công của địch như vậy là tương đối kín và chặt chẽ. Song, địch không ngờ những khu vực địch đổ quân và đánh chiếm là những trận địa chuẩn bị sẵn của bộ đội ta. Cuộc ra quân của địch ngay từ ngày đầu đã bị ta đón đánh quyết liệt: chỉ trong hai ngày 8 và 9 tháng 2, quân ta đã bắn rơi 50 máy bay trực thăng, diệt hàng trăm tên và nhiều xe tăng, xe bọc thép. Quân ta kiên quyết ngăn chặn địch ở Bản Đông và cơ động lực lượng đến đánh gãy cánh quân phía Bắc của địch, đồng thời tăng cường lực lượng cho phía Nam đánh chặn địch ở Đường 9, không cho chúng tiến xuống Sa Đi, Mường Noòng. Ngày 10 tháng 2, cánh quân trung tâm địch dù chiếm được Bản Đông nhưng bị ta bao vây chặt, không phát triển được lên Sê Pôn theo ý định. Đồng thời với việc bao vây, tiến công cụm quân địch ở Bản Đông, trong hai ngày 11 và 12, tại khu vực cầu Cha Ky, ta bắn rơi thêm 30 máy bay lên thẳng. Quân ta cắt Đường 9 đoạn phía Đông Bản Đông, tiêu diệt một tiểu đoàn dù, một đại đội công binh, phá hủy, phá hỏng 22 xe quân sự. Binh lính, sĩ quan địch hốt hoảng lo co cụm chống đỡ với các cuộc tiến công của ta. Thế trận của chúng bắt đầu rối loạn. Mặc dù trong thời gian cuộc hành quân của quân đội Sài Gòn, quân Mỹ đã bắn sang Nam Lào 210.000 quả đạn đại bác, máy bay B-52 ném 32.000 tấn bom; không quân chiến thuật Mỹ ném xuống Nam Lào 14.000 tấn bom..., nhưng chúng không ngăn được cuộc phản công và tiến công của quân ta. Thừa thắng, Binh đoàn 70 cơ động sang phía Bắc Bản Đông phối hợp với lực hại nặng Liên đoàn biệt động 1 quân, đập tan các cụm quân bảo vệ sườn phía Bắc của cánh quân chủ yếu. Ở phía Nam Bản Đông, lực lượng tại chỗ Đoàn 559 tích cực đánh tiêu hao, ngăn chặn địch, tạo điều kiện cho bộ đội cơ động đánh diệt hai tiểu đoàn, hai đại đội chủ lực quân Sài Gòn. Ở phía Tây, Sư đoàn 2 Quân khu 5 phối hợp với bộ đội Pathét Lào đánh thiệt hại nặng GM30, GM33 quân đội chính phủ phái hữu Lào ở Pha Đô Tuya, Pha Lan, mở thông đường 16B. Trong lúc ở Nam Lào, địch bị ta đánh thiệt hại, bao vây lực lượng còn lại ở Bản Đông, thì ở Đường 9 (Quảng Trị), pháo binh ta bắn phá căn cứ Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử, gây thiệt hại nặng cho hậu phương chiến dịch của địch. Bị bất ngờ vì chủ lực ta xuất hiện sớm, lưới lửa phòng không dày đặc, thế trận cuộc hành quân của địch bị phá vỡ hoàn toàn, khiến lực lượng địch mất thế chủ động, tinh thần chiến đấu sa sút nghiêm trọng, đội hình chiến đấu của từng đơn vị rối loạn. Trong tình thế ấy, địch tung lực lượng dự bị chiến dịch vào vòng chiến, đổ thêm hai tiểu đoàn xuống Đông Bắc Sê Pôn và chuyển cánh quân phía Nam do Sư đoàn bộ binh 1 đảm trách thành hướng chủ yếu. Địch dùng máy bay lên thẳng chở Sư đoàn 1 đổ xuống các điểm cao phía Nam Sê Pôn. Thế trận của ta từ phòng ngự đánh ngăn chặn địch nhanh chóng chuyển hóa thành thế trận tiến công và truy kích địch trên toàn tuyến chiến dịch. Chiến sự diễn ra quyết liệt suốt trong tháng 2 và đầu tháng 3. Quân ta diệt thêm 8 đại đội địch, bắn rơi 40 máy bay, phá hủy nhiều xe tăng và thiết giáp, cắt đứt đường bộ, không chế đường không, làm cho 50.000 quân Sài Gòn rơi vào cảnh khốn đốn trăm bề. Ngày 12 tháng 3, quân ta chuyển sang tiến công, đánh thiệt hại nhiều trung đoàn bộ binh địch và đột phá Bản Đông. Ngày 18 tháng 3, địch ở Bản Đông tháo chạy tán loạn. Nắm vững thời cơ, quân ta tiến công tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù. Một bộ phận sống sót cố chạy về hướng Quảng Trị kéo theo 17 xe tăng và thiết giáp đến phía Đông A Lưới thì bị ta tiến công diệt gần hết. Sư đoàn 1 lên cách Sê Pôn khoảng 1km phải vội vã tháo lui. Từ bên kia đại dương, W.Oetmolen theo dõi cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của quân đội Sài Gòn đã nhận xét: "Quân Bắc Việt Nam bắt đầu phản công, sức ép của họ hết sức nặng nề, hỏa lực bắn máy bay của họ hết sức ác liệt đến mức trong một số trường hợp không thể tiếp tế được mà việc dùng máy bay trở thành phương tiện duy nhất còn lại. Thế rồi bắt đầu việc làm khó khăn nhất trong tất cả các hoạt động quân sự, rút lui trước cuộc tiến công mãnh liệt của địch"1 (Westmoreland, Tường trình của một quân nhân (Edition Doubleday Incorporation Garden City, New York, 1976), Nxb Trẻ ấn hành bản tiếng Việt (do Phòng Khoa học Quân khu 9 biên dịch), Thành phố Hồ Chí Minh 1988 tr. 97). Cùng với việc tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù ở Bản Đông, quân ta tiến công tiêu diệt địch ở các điểm cao xung quanh Bản Đông và Sê Pôn, đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở điểm cao 500. Ngày 23 tháng 3, quân ta quét sạch dịch ở Đường 9 - Nam Lào, kết thúc thắng lợi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đánh thiệt hại nặng Sư đoàn dù, Sư đoàn 1 bộ binh và Sư đoàn thủy quân lục chiến quân đội Sài Gòn, bắn rơi 505 máy bay lên thẳng phá hỏng, phá hủy 528 xe tăng và bọc thép... Theo J.Pimlott trong "Việt Nam những trận đánh quyết định" thì toàn chiến dịch có 1.529 binh sĩ ngụy chết, 5.483 bị thương; phía Mỹ có 219 chết, 1.149 bị thương cùng 107 máy bay trực thăng bị phá hủy, 618 chiếc khác bị thương. Cùng với cuộc hành binh "Lam Sơn 719", Mỹ hỗ trợ cho quân ngụy miền Nam mở đồng thời hai cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" đánh sang Campuchia và cuộc hành quân "Quang Trung 4" đánh ra vùng ba biên giới ở Tây Nguyên. Cả hai cuộc hành quân này cũng cùng chung số phận thất bại với "Lam Sơn 719". Theo Kítxinhgơ thì: Cuộc tiến công mùa khô 1971 là một cái mốc đánh dấu cuộc hành quân cối cùng mà quân đội Mỹ còn tham chiến ở Đông Dương kể cả trong vai trò hỗ trợ. Cuộc tiến công vào Sê Pôn không cắt đứt được việc xây dựng hậu cần của Bắc Việt Nam, không đủ để ngăn chặn cuộc tiến công của Hà Nội năm 1972. Đây là lời thú nhận thất bại của Kítxinhgơ, người thay mặt Chính phủ Mỹ đang đàm phán với Việt Nam tại Pari. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là cố gắng cao nhất cũng là cuối cùng của Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trong nỗ lực thực hiện kế hoạch "Việt Nam hóa" chiến tranh. Chúng đã ném vào "canh bạc" này toàn bộ lực lượng tinh nhuệ, tổng trù bị chiến lược của Nam Việt Nam cùng hàng chục vạn tấn phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại của Mỹ để mong chiếm được Sê Pôn, cắt đứt được tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Cố gắng càng cao thì thất bại càng nặng, không chỉ thất bại về quân sự, mà cả thất bại về chính trị, kinh tế. Vì vậy thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của ta là vô cùng to lớn và toàn diện. Cùng với việc đánh bại hai cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4", chiến thắng Đường 9 - Nam Lào của quân và dân hai nước Việt Nam - Lào, về cơ bản đã làm thất bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và "Học thuyết Níchxơn" ở Việt Nam, Đông Dương; chiến thắng đó là mốc đánh dấu chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ từ đây sẽ bị phá sản hoàn toàn, kẻ địch không có cách gì cứu vãn được. Trên ý nghĩa đó, có thể khẳng định, chiến thắng Đường 9 - Nam Lào mang tầm vóc mà còn có ý nghĩa thắng lợi về mặt chiến lược, tạo ra tiền đề cho những thắng lợi to lớn trong năm 1972. Nguyên nhân thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, trước hết là thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng Tư lệnh trong việc quyết định mở chiến dịch phản công kịp thời và sử dụng lực lượng binh chủng hợp thành hợp lý; nắm vững quyền và thế chủ động chiến lược, chiến dịch; bố trí một thế trận sâu kín, vững chắc vừa bảo đảm thế chặn, thế kìm, thế bao vây, tiến công địch, vừa bảo đảm thế đuổi địch khi thời cơ đến. Đó là một thế trận chuyển hóa linh hoạt, phá vỡ thế trận của địch, phát triển thế trận của ta từ ngăn chặn tiến công đến truy kích địch tháo chạy, thế trận đó bảo đảm cho các đơn vị, binh chủng trên chiến trường hợp đồng chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau kịp thời trong các tình huống tác chiến. Nguyên nhân thắng lợi thứ hai vô cùng quan trọng là tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí của cán bộ, chiến sĩ các đơn vị binh chủng tham gia chiến dịch, khó khăn không nản ác liệt không sờn, kiên cường trong đánh chặn, dũng mãnh trong tiến công và truy kích địch, luôn luôn chủ động và sáng tạo giải quyết đúng, kịp thời các tình huống nảy sinh trong chiến đấu, chiến dịch. Nguyên nhân thắng lợi thứ ba là sức mạnh của chiến tranh nhân dân, miền Bắc cung cấp kịp thời, đầy đủ nhân tài, vật lực cho chiến dịch bảo đảm cho bộ đội ăn no đánh thắng, động viên, khích lệ bộ đội kịp thời, nhân dân địa bàn chiến dịch trực tiếp đưa đón dẫn đường cho bộ đội, giữ bí mật chiến dịch và cùng chiến đấu với bộ đội. Tất cả những nguyên nhân trên tạo thành sức mạnh tổng hợp chiến thắng quân thù trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào lịch sử. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Năm, 2026, 08:44:39 pm CUỘC HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" - SỰ THẤT BẠI CỦA "HỌC THUYẾT NÍCHXƠN" Ở LÀO VÀ ĐÔNG DƯƠNG Đại tá VIÊNGSAY SỔMVICHÍT Phó Cục trưởng Cục Khoa học - Lịch Sử quân sự - Bộ Quốc phòng Lào Mùa khô 1970-1971, nhằm đập tan kế hoạch của đế quốc Mỹ và tay sai trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào, thực hiện phương châm chỉ đạo tác chiến trên hai chiến trường Lào - Việt Nam của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam thống nhất với Bộ Tổng Tham mưu Quân giải phóng nhân dân Lào1 (Nay là Quân đội nhân dân Lào), quân đội và nhân dân hai nước chúng ta đã tăng cường đoàn kết, liên minh chiến đấu đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trên địa bàn chiến lược Đường 9 - Nam Lào, một trong những cuộc hành quân chiến lược quy mô lớn, điển hình theo "Học thuyết Níchxơn" trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của đế quốc Mỹ. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719", là một trong những cuộc hành quân lớn nhất, khốc liệt nhất của đế quốc Mỹ mà trước đó chúng chưa hề tiến hành trên chiến trường nước nào trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Sau những thất bại nặng nổ, liên tiếp trên các mặt trận, trên chiến trường các nước Đông Dương trong những năm 1968-1969, đế quốc Mỹ và tay sai đang lâm vào tình thế bất lợi mà không có lôi thoát. Vì vậy, đô thoát khỏi tình thế bất lợi, thất bại nặng nề, chúng buộc phải tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719" nhăm xoay chuyên cục diện, hình thái chiến tranh trên chiến trường ba nước Đông Dương. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai nhằm theo đuổi mục đích, cô lập phong trào cách mạng ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia nói chung; chia cắt, cô lập cách mạng Lào trên hai miền Bắc Lào và Nam Lào nói riêng... Đế quốc Mỹ và tay sai mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" với quy mô lớn nhất, với trọng điểm đánh vào khu vực vĩ tuyến 17° Bắc, theo con Đường 9 chạy ngang tỉnh Xa Van Na Khẹt trên địa bàn chiến lược miền Trung nước Lào. Đây là bước phiêu lưu mạo hiểm về quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Đế quốc Mỹ đã huy động vào cuộc hành quân một binh lực khổng lồ, gồm cố vấn quân sự Mỹ và quân ngụy Sài Gòn (kể cả quân ngụy đang tham chiến ở miền Trung Việt Nam), đưa tổng quân số lên đến hơn 45.000 tên, kết hợp với lực lượng quân ngụy Lào có 2 GM (Binh đoàn cơ động), quân đặc biệt Vàng Pao, lính đánh thuê Thái Lan; hơn 2.000 máy bay các loại, 800 xe tăng và xe bọc thép các loại, hơn 320 khẩu pháo... Đế quốc Mỹ và tay sai đã tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trong thời gian hơn 50 ngày đêm, nhưng chúng đã bị Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân đội nhân dân Lao và nhân dân hai nước đánh cho thất bại thảm hại. Kết cục đế quốc Mỹ và tay sai đã không đạt được mục đích của cuộc hành quân, không làm xoay chuyển được cục diện, hình thái chiến tranh, không giải thoát được tình thế bất lợi và những thất bại nặng nề trên các chiến trường ba nước Đông Dương. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, chiến trường Lào có vị trí quan trọng trên bán đảo Đông Dương. Đặc biệt trong đó, địa bàn Nam Lào nổi lên là một chiến trường nối liền với chiến trường Nam Trung Bộ Việt Nam và chiến trường Đông Bắc Campuchia, là một địa bàn tranh chấp giành giật quyết liệt giữa ta và địch. Chính vì thế, trong các bước leo thang chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ và tay sai luôn tìm mọi phương sách để chiếm đóng và giữ thế chủ động chiến trường trên mọi miền của đất nước Lào. Liên tiếp trong các mùa khô ở Lào từ năm 1968 đến năm 1971, mặc dù đế quốc Mỹ và tay sai đã và đang ở thế yếu, bị động, thất bại, nhưng chúng vẫn rất ngoan cố, vẫn tăng cường leo thang chiến tranh xâm lược chủ yếu bằng hành động quân sự. Đế quốc Mỹ và tay sai ra sức củng cố, phát triển binh lực, tổ chức chiến trường mang tính chất phòng ngự cố thủ, đề phòng bị tiến công. Mặt khác, chúng vẫn sử dụng lực lượng quy mô lớn mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào Hắcxạt), càn quét, đàn áp nhân dân các bộ tộc các vùng sâu, vùng xa rất tàn khốc. Thực hiện liên minh chiến đấu, Quân giải phóng nhân dân Lào cùng với các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào trên mọi miền đất nước đã thắt chặt tình đoàn kết, phối hợp chiến đấu anh dũng, đánh bại các âm mưu thủ đoạn, kế hoạch, chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai, góp phần từng bước làm phá sản "Học thuyết Níchxơn" ở Lào và ở Đông Dương, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh vì hòa bình ổn định trên bán đảo Đông Dương và trên thế giới. Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, liên minh chiến đấu giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào ngày càng tăng cường bền chặt và trở thành một trong những nhân tố quan trọng đem lại những thắng lợi to lớn của cách mạng hai nước nói chung, của cách mạng Lào nói riêng. Những thắng lợi quân sự của quân và dân Lào cùng với quân và dân Việt Nam anh em giành được trong các mùa khô từ năm 1968 đến năm 1971 qua các chiến dịch, đợt hoạt động quân sự tiêu biểu trên các chiến trường, mặt trận và các địa phương khắp cả nước có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng. Đó là, các đợt hoạt động quân sự ở Nam Lào (cuối năm 1968 đầu năm 1969); Chiến dịch 139 ở địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (đầu năm 1970); cuộc tiến công lực lượng "đặc biệt" tại A Tô Pơ (4-1970), tại Xa Ra Van (6-1970); đợt hoạt động quân sự giải phóng cao nguyên Bô Lô Ven lần thứ hai (cuối năm 1970 đầu năm 1971); Chiến dịch phản công "Đường 9 - Nam Lào" đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai (nửa cuối mùa khô 1970-1971)... Những thắng lợi trên các chiến trường tại miền Nam Lào đã góp phần tạo điều kiện cho chúng ta mở đợt tiến công địch, giải phóng thị trấn Không Sê Đôn (Xa Ra Van). Những thắng lợi quân sự to lớn đó đã góp phần quan trọng làm cho "Học thuyết Níchxơn" ngay từ đầu đã đứng trước nguy cơ phá sản. Thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân của quân và dân các tính Nam Lào trong những năm 1968-1971 đã góp phần tạo nên bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Lào, đã góp phần tăng cường hơn nữa tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương cùng chống kẻ thù chung. Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (4-1970) một lần nữa khẳng định tình đoàn kết chiến đấu kiên cường bền bỉ của nhân dân ba nước Lào, Việt Nam và Campuchia quyết tâm đánh bại chính sách "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương" của đế quốc Mỹ. Nhân dân ba nước Đông Dương thống nhất trong mặt trận chung, thắt chặt hơn bao giờ hết tinh đoàn kết trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và các bè lũ tay sai bán nước. Nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhân dân tiến bộ Mỹ ủng hộ mạnh mẽ nhân dân ba nước Đông Dương chống đế quốc Mỹ xâm lược. Nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc bởi cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Đông đảo các tầng lớp nhân dân Mỹ xuống đường dấy lên phong trào phản đối chiến tranh. Giới cầm quyền Mỹ mâu thuẫn, bộc lộ chính kiến khác nhau về cuộc chiến tranh Đông Dương. Đế quốc Mỹ đang sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược ba nước Đông Dương, nhưng chúng vẫn ngoan cố tìm kiếm chiến thắng để làm xoay chuyển cục diện cuộc chiến. Năm 1972, đế quốc Mỹ và tay sai tiếp tục huy động lực lượng lớn bao gồm nhiều thành phần các quân binh chủng lục quân, không quân, hải quân, pháo binh... mở các chiến dịch quy mô lớn trên chiến trường hai nước Lào và Việt Nam. Nhưng mọi nỗ lực bằng hành động quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai đều bị quân và dân hai nước Việt Nam và Lào đánh bại. Chiến thắng của quân và dân hai nước Lào - Việt Nam trên chiến trường Lào trong những năm 1968-1971 mang ý nghĩa to lớn. Đó là thắng lợi của nghệ thuật chỉ đạo của hai Trung ương Đảng, của Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ chỉ huy tối cao hai quân đội Việt Nam - Lào, là thắng lợi của tình đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân và dân hai nước trong cuộc chiến đấu chống chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào, chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", chống "Học thuyết Níchxơn" ở Đông Dương của đế quốc Mỹ. Đặc biệt, sự thất bại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" tại Trung - Nam Lào năm 1971 cũng đồng nghĩa với sự thất bại của "Học thuyết Níchxơn", một học thuyết từng được đế quốc Mỹ cho rằng: "Không ai có thể phá vỡ được", đồng nghĩa với bước phá sản đầu tiên của học thuyết đó ở Lào và ở Đông Dương. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Năm, 2026, 08:47:19 pm CUỘC HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" - MỘT THẤT BẠI QUAN TRỌNG CỦA MỸ TRONG CHIẾN LƯỢC "VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH" PGS, NGND LÊ MẬU HÃN Đại học quốc gia Hà Nội Trung úy, ThS TRẦN HỮU HUY Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong lịch sử chiến tranh xâm lược Đông Dương (1954-1975), cuộc hành quân "Lam Sơn 719" năm 1971 đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào là một trong những cuộc hành quân "mang nhiều tham vọng nhất" của Mỹ - quân đội Sài Gòn với hai mục đích cơ bản là cắt đứt tuyến chi viện chiến lược của đối phương (đường Trường Sơn) và thử nghiệm công thức điển hình của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" (quân đội Sài Gòn + cố vấn Mỹ + hỏa lực và hậu cần Mỹ), qua đó, giành thắng lợi có tính bước ngoặt1 (Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ R.Níchxơn (Richard Nixon) cho biết: "Ngày 18 tháng giêng, trong một cuộc họp có Lai, Rôgơ, Hem, Kítxinhgơ và Đô đốc Thomát Mo, Tham mưu trưởng liên binh chủng, tôi cho phép nghiên cứu một cuộc hành quân ưu tiên để cắt đường mòn Hồ Chí Minh để đánh kẻ thù trên đất Lào. Vì công luận ở Mỹ và vì Nam Việt Nam muốn chứng minh sự thành công của công cuộc Việt Nam hóa, chúng tôi quyết định cuộc hành quân này sẽ là công việc của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ chỉ đảm bảo không phận và pháo binh trợ chiến. Trách nhiệm chính của Mỹ sẽ vận chuyển người và vũ khí bằng trực thăng, trợ chiến bằng pháo binh và máy bay ném bom B-52. Tên của chiến dịch bằng tiếng Việt: Lam Sơn 719". Xem Hồi ký Richard Nixon, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 600). Tuy nhiên, mục tiêu cơ bản đề ra đã không thực hiện được, trái lại, đối phương lại mở cuộc phản công quy mô lớn giáng cho Mỹ - quân đội Sài Gòn những đòn nặng nề, đưa chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Níchxơn đến thất bại to lớn. Thứ nhất, sự phá sản công thức điển hình của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Đầu năm 1969, khi bước vào Nhà Trắng, Níchxơn đề ra học thuyết mới mang tên mình - "Học thuyết Níchxơn"1 (Học thuyết chỉ đạo chính sách của Mỹ trong những năm 70, được Níchxơn công bố tại Guam (25-7-1969) và trước Quốc hội Mỹ (18-2-1970), thay cho chiến lược "phản ứng linh hoạt" không còn phù hợp. Nội dung chính: lấy việc tăng cường sức mạnh, nhất là "sức mạnh quan sự làm chỗ dựa cơ bản" trên cơ sở đồng minh "cùng chia sẽ trách nhiệm" làm chỗ dựa trung tâm, đồng thời sử dụng thương lượng làm biện pháp chiến lược quan trọng để giải quyết các vấn đề quốc tế nhằm thay đổi tương quan lực lượng, ngăn chặn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc. Xem thêm Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Num, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.487), lấy Đông Dương làm nơi thí điểm cho học thuyết mới, đề ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", "Lào hóa chiến tranh", "Khơme hóa chiến tranh", trong đó trọng tâm là chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Níchxơn lên làm Tổng thống Mỹ trong điều kiện quân viễn chinh Mỹ và quân một số nước đồng minh của Mỹ phải rút dần về nước. Do đó, để tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược, Níchxơn buộc phải lấy quân đội Sài Gòn làm nòng cốt, vẫn duy trì sự hỗ trợ của hỏa lực và hậu cần Mỹ. "Việt Nam hóa chiến tranh" thực chất là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ được tiến hành bằng quân đội tay sai là chủ yếu, có sự phối hợp của một bộ phận đáng kể lực lượng chiến đấu Mỹ, vẫn do Mỹ chỉ huy thông qua hệ thống cố vấn quân sự, cung cấp tiền bạc, vũ khí kỹ thuật, phương tiện chiến tranh nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân miền Nam. Công thức điển hình để giành chiến thắng trong chiến lược này của Níchxơn là: quân đội Sài Gòn + cố vấn Mỹ + hỏa lực và hậu cần Mỹ1 (Trong hồi ký, Níchxơn đã giải thích thêm cho chiến lược mới của mình: "Trong quá khứ, chính sách của chúng tôi là cung cấp vũ khí và vật chất để giúp đỡ các nước tự bảo vệ, chống lại mọi sự tấn công. Việc này đã được chúng tôi thực hiện ở Triều Tiên và bây giờ là Việt Nam. Nhưng từ nay, tôi nói, chúng tôi chỉ cung cấp vật chất và giúp đỡ kinh tế, quân sự, còn các nước phải tự chịu trách nhiệm tự cung tự cấp người để tự bảo vệ mình. Chỉ có một loại trừ; đó là trường hợp một lực lượng hạt nhân mạnh đánh một nước đồng minh hay một nước bạn bè nào đó của chúng tôi, chúng tôi sẽ dùng vũ khí hạt nhân". Xem Hồi ký Richard Nixon, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 469). Trong hai năm 1969-1970, để triển khai chiến lược mới, Mỹ tăng cường bắt lính đẩy mạnh xây dựng lực lượng quân đội Sài Gòn cả về số lượng và trang bị, tiến hành các cuộc hành quân bình định, lấn chiếm và đạt được một số kết quả nhất định, đẩy cách mạng miền Nam vào tình trạng rất khó khăn2 (Phản ánh sự khó khăn của cách mạng miền Nam từ giữa năm 1968 đến đầu năm 1970, Đại tướng Văn Tiến Dũng cho biết: cách mạng bị mất đất, mất dân, thế và lực tiến công suy giảm. Đây là một trong hai thời kỳ khó khăn nhất, tổn thất lớn nhất (cùng với giai đoạn 1954-1958). Địch đã đóng thêm 4.270 đồn bốt trên toàn miền Nam, chiếm lại phần lớn vùng nông thôn rộng lớn, kể cả vùng cách mạng mới giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dạy Tết Mậu Thân 1968... Số lượng thương vong riêng ở Nam Bộ trong hai năm 1968-1969 đã lớn gấp 2 lần số thương vong trong 7 năm trước đó (1961-1967). Hầu hết các đơn vị chủ lực của ta hoặc phải kéo ra miền Bắc để củng cố hoặc chuyển sang bên kia biên giới, một vài đơn vị giải thể. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân. Hà Nội, 2005, tr.270). Tuy nhiên, trong các cuộc hành quân lớn, quân Mỹ vẫn tham gia trực tiếp cùng quân đội Sài Gòn và đóng một vai trò quan trọng. Đến đầu năm 1971, do sự phản đối dữ dội từ dư luận trong nước, từ Quốc hội3 (Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật bổ sung Cupơ Sớtsơ hạn chế hoạt động của quân viễn chinh Mỹ tại chiến trường Đông Dương, trong đó cấm đưa lục quân Mỹ hoạt động ngoài biên giới Nam Việt Nam), Níchxơn buộc phải đẩy nhanh tiến độ bàn giao nhiệm vụ chính cho quân đội Sài Gòn trong các cuộc hành quân ngoài biên giới Nam Việt Nam. Cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn đều chủ quan cho rằng quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đủ sức đương đầu với chủ lực của đối phương (cả Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và chủ lực Bắc Việt Nam)1 (Vào thời điểm cuối năm 1970, quân đội Sài Gòn đã đạt 700.000 quân. Các quân binh chủng được Mỹ trang bị vũ khí, kỹ thuật hiện đại. Quân chủng Không quân thành lập thêm một sư đoàn không quân, được trang bị máy bay F5, C119, C130 và 1.500 máy bay trực thăng các loại. Hải quân được trang bị 1.600 tàu chiến và tuần dương hạm DE. Mỹ cũng chuyến giao cho chủ lực quân đội Sài Gòn 700.000 súng M16 (loại súng trường cực nhanh và hiện đại nhất của quân Mỹ lúc đó), 30.000 súng phóng lựu, 10.000 súng máy. Về thiết giáp Mỹ đưa sang Nam Việt Nam thêm 200 xe tăng M41, M48, 1.000 xe bọc thép nâng tổng số xe tăng, xe thiết giáp quân đội Sài Gòn lên 1.897 chiếc. Về pháo binh, quân đội Sài Gòn lập thêm 20 tiểu đoàn pháo, trang bị thêm 600 đại bác từ 105mm đến 175mm, đưa tổng số đại bác lên 1.300 khẩu và 10.000 súng cối các loại. Ngoài ra, Mỹ còn trang bị thêm 20.000 máy thông tin, 24.000 xe vận tải phục vụ tác chiến. Số liệu dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) - Tập 6 - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.39-40). Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu khẳng định: trong điều kiện hỗ trợ to lớn của cố vấn, hỏa lực và hậu cần Mỹ, quân lực Việt Nam Cộng hòa sẵn sàng gánh vác trọng trách do quân viễn chinh Mỹ để lại. Để thí điểm sự thành công công thức chiến thắng của chiến lược mới, Mỹ - chính quyền Sài Gòn quyết định mở ba cuộc hành quân lớn đánh vào tuyến vận tải chiến lược của đối phương ở bên kia biên giới Việt Nam - Lào: cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào; cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" với quy mô trên 30 tiểu đoàn từ Tây Ninh và Lộc Ninh đánh lên vùng Kông Pông Chàm và Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia); cuộc hành quân với quy mô khoảng 1 sư đoàn đánh ra vùng ngã ba biên giới (vùng Tạt Xẻng, Pa Kha, Sô Sụ) thuộc A Tô Pơ, Nam Lào. Trong ba cuộc hành quân trên, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Nam Lào có quy mô lớn nhất. Mỹ - chính quyền Sài Gòn đã tung vào cuộc hành quân này những đơn vị thiện chiến thuộc lực lượng dự bị chiến lược (Sư đoàn dù, Sư đoàn thủy quân lục chiến) và chủ lực cơ động của Quân khu 1 - Vùng 1 chiến thuật, bao gồm 42.000 quân, trong đó có 33.000 quân Sài Gòn, 9.000 quân viễn chinh Mỹ. Về hỏa lực, địch huy động tới 464 xe tăng, xe bọc thép, 16 tiểu đoàn pháo với 250 khẩu1 (Lúc cao nhất (10-3-1971), Mỹ - chính quyền Sài Gòn đã huy động đến 55.000 quân gồm 15 trung đoàn bộ binh 3 thiết đoàn thiết giáp với 587 xe các loại, 21 tiểu đoàn pháo binh với 318 khẩu các loại. Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Tập 6 - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 250)... Quân viễn chinh Mỹ đảm bảo hậu cần, cơ động và hỏa lực hỗ trợ phía sau2 (Nhà sử học Mỹ Giôdép A. Amtơ cho rằng: Quân đội Sài Gòn không thể thực hiện được thắng lợi chiến lược Việt Nam chiến tranh, bởi họ không thể chiến đấu mà không có sự yểm trợ mạnh mẽ của Mỹ. Và đó là một sự phụ thuộc nặng nề không thể thay thế. Ngay cuộc hành quân "Lam Sơn 719" được xem là cuộc hành quân điển hình của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" cũng cho thấy rõ điều đó. Ông khẳng định: "Một lần nữa, như trong trường hợp của Campuchia, sự yểm trợ bằng không quân này là cần thiết bởi vì không có nó, nghĩa là không có máy bay Mỹ ném bom, bắn phá, chở quân Việt Nam Cộng hòa, chở pháo hạng nặng, chở quân nhu và thực phẩm, thì cuộc hành quân không thể tiến một bước qua biên giới". Xem Giôdep A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 322). Cuộc hành quân còn được sự tham gia phối hợp của quân đội phái hữu Lào (9 tiểu đoàn của hai binh đoàn cơ động GM 30 và GM 33) ở phía Tây Đường 9, dự tính sẽ cùng với quân đội Sài Gòn "mừng công" ở Pha Lan, Mường Phìn. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ M.R.Lai đã cho rằng: "Một cuộc hành quân tiến công lớn đầu tiên của quân đội Nam Việt Nam mà không hề có bất kỳ sự hỗ trợ nào trên bộ của Mỹ sẽ là một bằng chứng rõ ràng về thắng lợi của Việt Nam hóa"1 (Dẫn theo Henry Kissinger, Những năm ở Nhà Trắng (1968-1973) Trung tâm thông tin khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng sao lục, 1981 Ký hiệu kho VI-485, tr.213). Như vậy, trong toan tính của Mỹ - chính quyền Sài Gòn, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân điển hình theo công thức Việt Nam hóa và Đông Dương hóa chiến tranh. Khu vực Đường 9 - Nam Lào sẽ là nơi chứng minh rõ rệt cho công thức chiến thắng ấy của Mỹ. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Năm, 2026, 08:48:15 pm Thực tế diễn biến của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" lại đi ngược lại những kỳ vọng của cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Từ ngày 30 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, quân đội Sài Gòn được sự giúp đỡ, hỗ trợ đắc lực của quân Mỹ đã dần tập kết, chuyển quân lên Quân khu 1 - Vùng 1 chiến thuật, chiếm lĩnh nhiều căn cứ làm bàn đạp xuất phát (Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh, Lao Bảo...). Từ ngày 8 tháng 2 năm 1971, dưới sự chi viện hỏa lực dữ dội, quân đội Sài Gòn bắt đầu mở cuộc tiến công vào khu vực Đường 9 - Nam Lào ở bên kia biên giới. Tuy nhiên, cuộc hành quân vấp phải sự chống trả quyết liệt của đối phương. Các cánh quân trên các hướng tiến công lần lượt bị chặn lại. Từ ngày 8 tháng 3 năm 1971, quân đội Sài Gòn lâm dần vào bị động, lúng túng do đối phương mở cuộc phản công bao vây, cắt nguồn hậu cần tiếp tế. Từ ngày 13 tháng 3 năm 1971, đối phương mở cuộc tiến công trên toàn tuyến. Quân đội Sài Gòn ở khu vực Đường 9 - Nam Lào rơi vào trạng thái hỗn loạn, hoảng loạn bỏ các vị trí then chốt tháo chạy, được các sử gia phương Tây gọi là "cuộc hỗn loạn Lam Sơn 719". Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" bị thất bại nặng nề. Quân đội Sài Gòn bị tổn thất 21.102 lính, trong đó có 19.960 bị giết và bị thương, 556 máy bay bị bắn rơi và phá hủy, hàng ngàn xe cơ giới các loại, hàng trăm khẩu pháo và súng cối hạng nặng cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác bị phá hủy và thu giữ1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phản công Dương sô 9 - Nam Lào năm 1971, Hà Nội, 1987, tr.61-62. Về phía ta bộ đội ta cũng chịu những hy sinh và tổn thất lớn: 2.163 cán bộ, chiến sĩ hy sinh 6.176 người bị thương trong chiến đấu. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Tập 6 - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 276).
Như vậy, Mỹ đã thất bại trong âm mưu sử dụng lực lượng quân đội Sài Gòn như một lực lượng xung kích, nòng cốt, gánh vác vai trò, nhiệm vụ chiến đấu thay cho quân viễn chinh Mỹ đang rút dần về nước. Hay nói một cách khác, Mỹ đã thất bại trong việc xây dựng công thức chiến thắng cho chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Ngay cả một người luôn tự tin vào thắng lợi của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" như H. Kítxinhgơ cũng phải đặt câu hỏi nghi ngờ: "Về phần Nam Việt Nam, cuộc hành quân ở Lào đã để lộ rất nhiều chỗ yếu kéo dài của họ. Việc vạch kế hoạch của họ trở nên trừu tượng. Họ rập khuôn một cách hình thức điều được dạy ở các trường chỉ huy và tổng tham mưu của chúng ta, mà không vận dụng với những điều kiện của địa phương. Trái lại, tôi đã đi đến nghi ngờ rằng liệu Nam Việt Nam có thực sự hiểu cái mà chúng ta đang cố gắng giành lấy không?"2 (Henry Kissinger, Những năm ở Nhà nắng (1968-1973), Trung tâm thông tin khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng sao lục, 1981. Kí hiệu kho VL-485, tr.241-242. Sau này, so sánh cuộc hành quân vào Campuchia năm 1970 và cuộc hành quân "Lam Sơn 719" vào khu vực Đường 9 - Nam Lào, tài liệu tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ thừa nhận: "Những tổn hại về chính trị của cuộc hành quân muộn màng vào Campuchia và Lào, cuộc tiến công bất ngờ vào Campuchia trì hoàn được ít nhiều thời gian, nhưng cuộc hành quân "Lam Sơn 719" thể hiện sự kém cỏi trong cả việc vạch kế hoạch và thực hiện. Cuộc hành quân này phơi bày rõ ràng những điểm yếu nghiêm trọng của các lực lượng vũ trang Việt Nam Cộng hòa, những hành động chiến lược đó đã làm tăng sức ép của công chúng và sự kiềm chế của Quốc hội đối với chính quyền". Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, Tập 6 (Tiến hành chiến tranh), Viện Lịch sử quân sự Việt Nam dịch, 1982, tr. 9). Thất bại của quân đội Sài Gòn trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719" không chỉ là nỗi ám ảnh to lớn đối với chính bản thân họ mà còn là nỗi ám ảnh thực sự đối với cả những người đang "giúp đỡ" họ, đúng như nhà sử học Mỹ Giôdép A. Amtơ đã viết: "Mặc dù có sự yểm trợ mạnh của không quân Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã thất bại thảm hại. Cuộc xâm chiếm là một thất bại và cuộc rút lui của quân đội Việt Nam Cộng hòa là một cuộc tháo chạy... Điều nhục nhã này đã được hàng triệu người Mỹ xem trên màn ảnh truyền hình. Dù với sự yểm trợ ào ạt của không quân và sự chỉ huy của Lầu Năm Góc, đội quân đó đã thất bại thảm hại"1 (Giôdép A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 323-324). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Năm, 2026, 08:49:44 pm Thứ hai, Mỹ đã thất bại trong nỗ lực lớn nhất nhằm ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược của đối phương.
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã tìm mọi cách để ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam và cho rằng việc ngăn chặn thành công sự chi viện đó có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cuộc chiến. Tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn trở thành một trong những mục tiêu đánh phá dữ dội nhất trong lịch sử chiến tranh2 (Trong 16 năm (1959-1975), Mỹ đã thực hiện hơn 150.000 trận đánh phá bằng không quân, ném xuống tuyến đường Trường Sơn hơn 4 triệu tấn bom đạn, tiến hành hàng ngàn cuộc hành quân đánh phá bằng bộ binh. Dẫn theo Lịch sử Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, Nxb Quan đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 658-659). Đề ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Níchxơn cũng đưa mục tiêu phải ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam là ưu tiên hàng đầu. Để thực hiện âm mưu để ra, bất chấp sự phản đối của dư luận trong nước và quốc tế, từ tháng 3 năm 1969, Níchxơn đã cho phép không quân Mỹ tiến hành các hoạt động ném bom ác liệt vào lãnh thổ Campuchia ở khu vực gần biên giới Việt Nam. Tháng 3 năm 1970, Mỹ chỉ đạo các thế lực tay sai tiến hành đảo chính, xóa bỏ nền trung lập, đưa Campuchia vào quỹ đạo cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương. Ngày 30 tháng 4 năm 1970, Mỹ huy động 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc tiến công vượt biên giới vào lãnh thổ Campuchia. Tất cả những hành động đó của Mỹ đều nhằm một mục tiêu cơ bản là đánh phá cơ sở hậu cần, cắt đứt sự chi viện từ bên ngoài vào miền Nam qua lãnh thổ Campuchia (cảng Xihanúcvin và tuyến đường Trường Sơn). Tuy đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng tuyến chi viện chiến lược của đối phương vẫn chưa bị ngăn chặn hoàn toàn. Theo Níchxơn: "Khi chúng tôi chặn được con đường này (qua lãnh thổ Campuchia - tác giả), tất cả những thứ đó (hàng chi viện - tác giả) đều đi qua Lào bằng đường mòn Hồ Chí Minh. Giữa tháng chạp năm 1970, nước Lào bị tràn ngập người và vũ khí mà phần lớn sẽ được chuyến qua Campuchia để chuẩn bị cho cuộc tiến công đầu Xuân 1971"1 (Hồi ký Richard Nixon, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 600). Do đó, đầu năm 1971, Mỹ quyết định mở ba cuộc hành quân lớn nhằm chặn cắt hoàn toàn đường Trường Sơn. Vấn để đặt ra chọn vị trí khu vực nào làm trọng điểm tiến công? Vào cuối năm 1970, Nhà Trắng cử Tướng A.Haig và một nhóm nhân viên Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ sang Nam Việt Nam nghiên cứu kế hoạch đó. Theo hồi ký Kítxinhgơ: "Haig trở về với bản báo cáo là Bâncơ, Abram và Thiệu nghĩ rằng một cuộc tiến công mùa khô là cấp bách. Tuy nhiên, họ đề đạt một ý kiến còn táo bạo hơn nhiều ý kiến của tôi. Họ đề nghị xử lý với việc xây dựng hậu cần của địch bằng một cuộc đột kích ác liệt thông qua việc cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào gần khu phi quân sự"1 (Henry Kissinger. Những năm ở Nhà Trắng (1968-1973), Trung tâm thông tin khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng sao lục, 1981. Ký hiệu kho VL- 185. tr. 208-209). Và khu vực Đường 9 - Nam Lào đã được chọn để mở cuộc hành quân quy mô lớn nhất. Tướng Abram - Tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam (MACV) khẳng định tầm quan trọng của cuộc hành quân lớn này về Oasinhtơn: "nếu cộng sản không còn đường mòn Hồ Chí Minh, hoặc bị gián đoạn chỉ trong một mùa khô thôi, khả năng mở các cuộc tiến công lớn của Hà Nội ở miền Nam (và Campuchia) sẽ giảm đi một cách đáng kể nếu không phải là bị loại trừ trong một tương lai vô hạn định"2 (Henry Kissinger. Những năm ở Nhà Trắng (1968-1973), Trung tâm thông tin khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng sao lục, 1981. Ký hiệu kho VL- 185. tr. 208-209). Việc chọn khu vực Đường 9 - Nam Lào thực sự còn là một quyết định táo bạo của Mỹ. Bởi ngay trong thời kỳ tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ" (1965-1968), khi quân viễn chinh Mỹ và quân một số nước đồng minh của Mỹ có mặt ở Nam Việt Nam hơn nửa triệu quân, chưa kể lực lượng hải, lục, không quân ở các căn cứ Đông Nam Á cộng với hơn nửa triệu chủ lực quân đội Sài Gòn tướng Oétmolen, Tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ Mỹ ở miền Nam Việt Nam (MACV) lúc đó cũng không mở cuộc hành quân bộ binh quy mô lớn nhằm chặn cắt tuyến đường Trường Sơn của đối phương. Tại khu vực Đường 9 (đặc biệt là Khe Sanh), Oétmolen cũng chỉ xây dựng một hệ thống phòng thủ và việc mở cuộc hành quân bộ binh lớn cũng chỉ nằm trong dự kiến1 (Trong hồi ký của mình, Tướng Oétmolen viết: "Ngoài việc được dùng làm căn cứ tuần tiễu bình thường nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của địch từ Lào sang theo Đường 9, Khe Sanh còn là một căn cứ cho nhiều hoạt động của SOG ở Lào và sân bay của nó là nơi cất cánh của các máy bay trinh sát Tiger Hound. Ngoài ra, tôi vẫn hy vọng đến một ngày nào đó được phép mở cuộc tấn công lớn vào Lào để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, trong trường hợp đó tôi sẽ cần đến Khe Sanh làm căn cứ mở cuộc hành quân". General William C. Westmoreland: A soldier reports, Doubleday and Company Inc Garden City. Nưw York, 1976, page. 198). Tuy nhiên, cuộc hành quân này không những không chặn cắt được đường Trường Sơn mà trái lại, sau cuộc hành quân này, tuyến đường chiến lược lại được củng cố thêm một bước vững chắc, tiếp tục vận chuyển hàng hóa chi viện cho chiến trường miền Nam. Những diễn biến tình hình chiến trường trong những tháng còn lại của năm 1971 và năm 1972 đã phản ánh rõ thực tế đó. Thất bại này cũng là một minh chứng khẳng định rằng: "Mỹ không thể chặn đứng được luồng tiếp tế hậu cần trên đường mòn Hồ Chí Minh. Đường mòn là một sản phẩm kỳ diệu của tài năng, sự kiên nhẫn và sự hy sinh không bờ bến của con người"2 (Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.211). Rõ ràng, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là một trong những thất bại quan trọng của Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Còn về phía đối phương, đó thật sự là một thắng lợi to lớn, mang tính bước ngoặt, đúng như Đại tướng Văn Tiến Dũng đã khẳng định: "Chiến thắng của quân và dân Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa chiến lược to lớn về quân sự và chính trị. Ảnh hưởng của chiến dịch lịch sử này vượt xa phạm vi của bản thân nó cả về không gian và thời gian. Nó tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương"1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.303). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Năm, 2026, 08:51:04 pm CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO PHÁ TAN KỲ VỌNG CỦA MỸ VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI THIỆN CHIẾN CHO VIỆT NAM CỘNG HÒA PGS, TS LÊ VĂN YÊN Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Đại úy, ThS LÊ QÚY THI Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Đầu năm 1971, đế quốc Mỹ quyết định mở ba cuộc tiến công cùng một lúc trên các khu vực hành lang chiến lược ở Đông Dương: cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào, cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" đánh lên Côngpông Chàm - Kra Chiê (Đông - Bắc Campuchia) và cuộc hành quân "Quang Trung 4" đánh ra vùng ba biên giới (Tây Nguyên), trong đó cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân lớn nhất. Mỹ cho rằng, Đường 9 - Nam Lào là mục tiêu chiến lược hết sức quan trọng, đánh vào đây, chúng có thể nhanh chóng phá vỡ trung tâm hậu cần và cắt đứt hệ thống vận tải chiến lược, làm cho cách mạng ba nước Đông Dương khó khăn. Mục tiêu của chiến dịch là: Một mặt, làm cho đối phương thiếu thốn trầm trọng về hậu cần và vũ khí trong vòng từ 12 đến 18 tháng; đồng thời có thể trì hoãn cuộc tấn công lớn của đối phương trong vòng một năm, thậm chí có thể hai năm. Mặt khác, làm một cuộc kiểm nghiệm về khả năng độc lập tác chiến của quân đội Sài Gòn và năng lực hoạt động độc lập của chính quyền Sài Gòn khi Mỹ rút dần ra khỏi miền Nam. Kế hoạch tác chiến của cuộc hành quận "Lam Sơn 719" là nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn chiếm Đường 9 - đoạn từ Lao Bảo đến Sê Pôn, lập thành tuyến ngăn chặn, "cắt đôi" Đông Dương, lùng sục đánh phá kho tàng trên phạm vi rộng xuống tận A Sầu, A Lưới phía Tây - Nam Thừa Thiên. Chiến thuật cơ bản là "đánh nhanh và rút nhanh" với sự yểm trợ của không quân và khá năng di chuyển bằng máy bay Mỹ. Chúng dự tính sẽ kết thúc "thắng lợi" vào trước mùa mưa năm 1971. Đây là cuộc hành quân có quy mô lớn nhất với sự phối hợp cao nhất, đánh dấu sự cố gắng cao nhất của Mỹ để giành thang lợi có ý nghĩa quyết định ở cả chiến trường miền Nam và chiến trường Đông Dương. Để thực hiện chiến dịch này, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa huy động một lực lượng lớn gồm 55.000 quân (quân đội Sài Gòn là 40.000 quân Mỹ là 15.000), trong đó, có toàn bộ lực lượng cơ động chiến lược của quân đội Sài Gòn với sự hỗ trợ của pháo binh và không quân Mỹ. Ngoài ra, chúng còn "sử dụng 6 tiểu đoàn quân đội phái hữu Lào mở cuộc hành quân phối hợp đánh ra phía Tây Đường 9. Để dọn đường cho chiến dịch, ngày 27 tháng 1 năm 1971 trên hướng Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, địch tung nhiều toán biệt kích, thám báo ra khu vực ven Đường 9 thăm dò lực lượng của ta; đồng thời, chúng tổ chức các hoạt động nghi binh vào khu vực Nam Quân khu 4. Ngay sau khi địch triển khai lực lượng, Bộ Tư lệnh Mặt trân Đường 9 - Bắc Quảng Trị đã khẩn trương cơ động lực lượng đánh địch, nhằm làm chậm bước tiến của chúng tiêu hao một phần sinh lực, phương tiện để tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực của ta triển khai đánh địch trên các hướng. Sau khi dịch đánh phá ác liệt vào các mục tiêu ven Đường 9 và sâu vào các tuyến vận tải của ta ở phía Tây Bắc Đường 9 lên giáp biên giới Việt - Lào, ngày 30 tháng 1 năm 1971, Trung đoàn hỗn hợp của Sư đoàn bộ binh số 9 mở trận càn dọc Đường 9 nhằm chiếm khu vực Khe Sanh để làm bàn đạp và nghi binh cho quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân đánh sang khu vực Nam Lào. Ngay khi cuộc hành quân của địch mới bắt đâu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta và Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lào quyết định mở chiến dịch phản công lớn đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch và chỉ thị cho Quân ủy Trung ương nhất thiết phải đánh thắng trận này. Đồng thời, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là Bộ Tư lệnh 702) do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, Đại tá Cao Văn Khánh làm Phó Tư lệnh, Đại tá Hoàng Phương làm Phó Chính ủy mặt trận. Chấp hành Chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã tập trung lực lượng lớn cho chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh, 26 trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng và hàng chục trung đoàn, tiểu đoàn tại chỗ thuộc Đoàn 559, Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5), Quân khu Trị - Thiên (134)... cùng phối hợp với lực lượng vũ trang Lào tác chiến. Sau các đợt bắn phá dữ dội của hàng trăm khẩu pháo 105 và 175mm dọc biên giới Việt - Lào và các phi vụ ném bom của B-52 dọc hai bên Đường 9 nhằm dọn đường cho mở màn chiến dịch, ngày 8 tháng 2 năm 1971, từ khu vực Khe Sanh, nơi triển khai chiếm lĩnh trận địa xuất phát, được sự yểm trợ của không quân và hoả lực Mỹ, 6 trung đoàn (lữ đoàn) địch theo Đường 9, kết hợp đổ bộ bằng máy bay lên thẳng với tiến quân bằng cơ giới, hình thành ba cánh quân ồ ạt vượt biên giới Việt - Lào tiến công sang Nam Lào. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" bắt đầu bằng 4.000 quân thuộc Lữ đoàn 3 thiết giáp và các tiểu đoàn 1 và 8 dù tiến theo Đường 9 về Bản Đông. Để bảo vệ hai bên sườn, Tiểu đoàn 39 biệt động quân được không vận đến các điểm cao ở phía Bắc Đường 9, còn Tiểu đoàn 21 biệt động quân được không vận đến các điểm cao ở phía Nam Đường 9. Tiểu đoàn 2 dù đổ xuống Cứ điểm 30, còn sở chỉ huy Lữ đoàn 3 dù cùng Tiểu đoàn 3 dù đổ xuống Cứ điểm 31. Đồng thời, các đơn vị của Sư đoàn 1 bộ binh đánh chiếm các cứ điểm che chắn sườn phía Nam của đội hình chính. Đội hình chính của địch tiến dọc thung lũng Sê Pôn. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Năm, 2026, 08:51:50 pm Trước diễn biến của tình hình chiến trường, tiếp theo Bức điện số 331, ngày 9 tháng 2 năm 1971, Bộ Chính trị lại gửi Trung ương Cục miền Nam bức điện, trong đó quán triệt:
"1. Đây là một cuộc hành quân lớn có ý nghĩa chiến lược quan trọng thu hút một khối lượng và phương tiện lớn của Mỹ - ngụy, trong đó có phần lớn các đơn vị cơ động chiến lược. Đối với ta trận này là một trong những trận 785 316, 305 758, 942 quan trọng vì vậy Bộ Chính trị quyết định tập trung 302 778, 323 777, tập trung 113, phối hợp chặt chẽ và mạnh mẽ với các chiến trường, 325 747 383 597 cuộc phiêu lưu quân sự của địch, 914 Đường 990 HCM 2. Đối với các chiến trường đặc biệt là 222, tình hình hiện nay đã tạo nên một cơ hội thuận lợi để đẩy mạnh hoạt động mọi mặt thực hiện nhiệm vụ trung tâm đã đề ra, nhằm đập tan âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh của địch (...). Chỉ có nắm vững chiến trường chính hơn nữa, nắm vững nhiệm vụ trung tâm hơn nữa đi đôi với việc tiêu diệt địch và giữ vững hậu phương và hành lang chiến lược ở 045 thì mới tạo được điều kiện gây chuyển biến trong cục diện quân sự và chính trị, giành được thắng lợi lớn"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, t.32, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 266 - 267). Quán triệt tinh thần chỉ thị của Bộ Chính trị, ngay khi địch vừa tiến công, quân ta đã dự đoán được các hướng tiến công của địch, nên đã chủ động thực hiện phòng ngự - phản công. Dựa vào thế trận bố trí sẵn, quân ta nổ súng đánh chặn hướng tiến quân của bộ binh địch, diệt hàng trăm tên, phá hủy hàng chục xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi nhiều máy bay địch. Lưới lửa phòng không của Đoàn 559 chặn đánh máy bay địch, pháo kích dữ dội vào đội hình và cắt đường tiếp tế vận tải của chúng, bắn rơi 50 máy bay lên thẳng trong những ngày đầu địch hành quân. Sáng ngày 9 tháng 2, Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 tăng cường cho Sư đoàn 308 liên tiếp đánh bại 5 đợt tiến công của Chiến đoàn đặc nhiệm dù tại chốt 351 cầu Cha Ky, diệt 2 đại đội địch. Cùng ngày, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 đánh thiệt hại nặng Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 21 biệt động quân bảo vệ trận địa pháo làng Sen. Đêm 11 tháng 2, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 88 và Tiểu đoàn 7 Trưng đoàn 64 Sư đoàn 320 tập kích Tiểu đoàn 2 dù ở bắc Sô Num... Quân ta đã đánh đòn phủ đầu quân địch, làm chậm bước tiến, buộc chúng phải đối phó cả phía trước và phía sau, tạo điều kiện cho lực lượng cơ động từ xa vận động đến kịp triển khai đội hình đánh những đòn tiêu diệt. Chủ trương của ta là chặn đứng quân địch ở Bản Đông, bẻ gãy từng cánh quân, tạo thời cơ đánh trận quyết định vào tập đoàn chính của địch, đánh bại cuộc hành quân của chúng. Thực hiện quyết tâm trên, từ ngày 1.2 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, quân ta tấn công mạnh ở Bắc Đường 9, diệt gọn những cụm cứ điểm then chốt trên các điểm cao 500, 543, đập tan cuộc phản kích lớn bằng xe tăng của địch, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù và Thiết đoàn 17, bắt đại tá Nguyễn Văn Thọ và toàn bộ Ban Tham mưu Lữ đoàn dù, đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 1 Biệt động quân đội Sài Gòn. Như vậy, sườn phía Bắc của địch đã bị bẻ gãy, trực tiếp uy hiếp tập đoàn chủ yếu của địch tại Bản Đông. Cùng thời gian này, ở sườn phía Nam Đường 9, quân ta kiềm chế mạnh, chuyển từ chốt chặt sang tiến công, đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn của Sư đoàn 1 bộ binh và Sư đoàn thủy quân lục chiến quân đội Sài Gòn, phá tan các đợt "nhảy cóc" lùng sục đánh phá kho tàng và hậu cần của ta. Ở phía Tây, quân ta phối hợp với quân giải phóng Lào đánh thiệt hại 2 trung đoàn cơ động (GM) quân đội phái hữu Lào ở Pha Đô Tuya, Pha Lan buộc chúng phải tháo chạy. Bị đánh thiệt hại nặng ngay từ đầu, quân địch hoang mang, lúng túng. Chúng buộc phải đưa lực lượng dự bị vào tham chiến để nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn. Phát huy thế chiến thắng, quân ta vừa kiên quyết chặn địch không cho chúng đánh chiếm Sê Pôn, vừa tích cực bao vây chia cắt địch dọc Đường 9, tạo điều kiện để đánh đòn quyết định tiêu diệt lực lượng chủ yếu của địch ở Bản Đông. Các chiến thắng của ta đã phá tung cánh cung phía Bắc và phía Nam Đường 9, tạo điều kiện cho quân ta triển khai lực lượng tiến công vào đội hình cơ bản của quân Sài Gòn. Ngày 2 tháng 3, Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận 702 tập trung tiêu diệt địch trong khu vực Bản Đông với thời gian càng nhanh càng tốt. Sư đoàn 308 và các Trung đoàn 64 Sư đoàn 320, Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 được lệnh bao vây tiến công tập đoàn cứ điểm Bản Đông. Sư đoàn 2 Quân khu 5 hoạt động ở hướng Nam, bao vây, kìm chân hai trung đoàn của Sư đoàn 1 bộ binh, không cho chúng chi viện Bản Đông. Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 và một số tiểu đoàn của Mặt trận chốt giữ Đường 9 (giữa Bản Đông và Lao Bảo), quyết chặn không cho quân địch rút chạy. Bị bất ngờ trước những đòn tiến công quyết liệt của chủ lực ta và bị thiệt hại nặng về quân số và vũ khí, địch phải đưa Sư đoàn 1 vào hỗ trợ để tiếp tục tiến vào khu vực Sê Pôn, nhưng bị Sư đoàn 2 của ta chặn đánh phải co cụm lại ở điểm cao 723 và núi Phù Rệt phía Nam Đường 9. Để tăng cường, hai tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 2 quân đội Sài Gòn được trực thăng Mỹ thả xuống phía Tây nhà thờ Sê Pôn, nhưng bị pháo cao xạ của ta bắn dữ dội, chúng vội vã tháo chạy. Ngày 8 tháng 3 năm 1971, Đảng ủy Mặt trận kêu gọi: Thời cơ chuyển sang tấn công trên toàn mặt trận đã đến, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch, bảo vệ con đường hậu cần huyết mạch. Theo đó, trên Đường 9, đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông, các trung đoàn 2, 24, 102 được lệnh của Bộ chỉ huy Mặt trận chốt chặn, cắt đường rút lui của địch. Sư đoàn 2 vây đánh lực lượng thủy quân lục chiến ở phía Nam Đương 9. Xung quanh Bản Đông ta càng ngày càng xiết chặt vòng vây, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Trên đà thắng lợi, từ ngày 12 đến ngày 17 tháng 3, Trung đoàn 36 Sư đoàn 308, Trung đoàn 64 Sư đoàn 320, Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 và các đơn vị hỏa lực xe tăng, pháo binh, cao xạ của ta đã bao vây và tiến công dồn dập tập đoàn cứ điểm Bản Đông - điểm mấu chốt của chiến dịch. Trận đánh còn được gọi là "Đại phá Bản Đông". Trước nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 18 tháng 3 năm 1971, quân địch buộc phải rút khỏi Bản Đông. Nắm thời cơ, quân ta lập tức công kích khu vực Bản Đông. Cuộc rút quân nhanh chóng biến thành cuộc tháo chạy hỗn loạn. Hầu như toàn bộ binh sĩ địch vứt bỏ súng đạn, chạy cắt rừng hòng thoát thân, nhưng phần lớn bị ta tiêu diệt hoặc bắt làm tù binh. Ngày 20 tháng 3 năm 1971, ta làm chủ khu vực Bản Đông và tiếp tục truy kích quân địch rút chạy. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc toàn thắng. Với chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, quân và dân ta đã đánh thắng một bước rất cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là một điển hình thành công về một chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất của quân chủ lực cơ động của ta đánh bại quân chủ lực Sài Gòn - những đơn vị dự bị chiến lược tinh nhuệ với sự chi viện hỏa lực ưu thế của không quân và pháo binh Mỹ. Chiến thắng còn đánh dấu bước trưởng thành của quân đội ta trong tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Lần đầu tiên quân đội ta tiến hành phản công lớn bằng bộ binh với sự yểm trợ của thiết giáp và pháo binh để tiêu diệt địch, bảo vệ được hệ thống tiếp tế và hậu cần chiến lược, mở ra điều kiện thuân lợi để quân và dân ta tiến hành cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là thất bại nặng nề đối với Mỹ và quân đội Sài Gòn; buộc chúng phải chuyển dần vào thế phòng ngự theo khu vực. Kỳ vọng về việc xây dựng một quân đội thiện chiến cho chính quyền Sài Gòn nhằm thay thế quân chiến đấu Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ cũng tiêu tan. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Năm, 2026, 09:00:05 pm NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO Đại tá, TS ĐỖ NGỌC TUYÊN Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự Công tác đảng - công tác chính trị (CTĐ - CTCT) là "linh hồn", "mạch sống" của quân đội ta, góp phần quan trọng vào thắng lợi của mỗi trận đánh, của từng chiến dịch. Như thế, thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 đã chứng tỏ thành công của CTĐ - CTCT, đồng thời thể hiện rõ vị trí, vai trò của mặt công tác này đối với quá trình tổ chức và thực hành chiến dịch. Với ý nghĩa như vậy và thông qua diễn biến sinh động, phong phú của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, chúng ta có thể đúc rút những bài học kinh nghiệm có giá trị trong giáo dục, bồi dưỡng, phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của bộ đội, đặc biệt là việc thực hiện CTĐ - CTCT trong quân đội ta hiện nay. Bài học kinh nghiệm công tác đảng - công tác chính trị đầu tiên rút ra từ Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là phải coi trọng và tiến hành sớm, thường xuyên công tác tổ chức, cán bộ, kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, liên tục, xuyên suốt, hiệu quả đối với quá trình chuẩn bị và tác chiến chiến dịch. Ngày 31 tháng 12 năm 1970, sau khi nắm bắt được ý đồ của địch, được sự đồng ý của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã ra Quyết định số 078/NQ thành lập Đảng ủy Bộ Tư lệnh 70 để sẵn sàng đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn của địch. Tiếp đó, ngày 6 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào kiêm Bộ Tư lệnh 701 (Theo Quyết nghị số 04/QUTW, Đảng ủy Mặt trận 702 gồm 8 đồng chí do đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư, đồng chí Hoàng Phương là Phó Bí thư đồng chí Lê Trọng Tấn là Ủy viên Thường vụ. Còn theo Quyết định 51/QĐ-QP của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Mặt trận 702 (mật danh "Bộ Tư lệnh 702") kiêm Bộ Tư lệnh 70 gồm 6 đồng chí do đồng chí Lê Trọng Tấn, Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Dạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Đồng chí Văn Tiến Dùng, Tổng Tham mưu trưởng là đại diện của Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng bên cạnh Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào) đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về mọi mặt. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào được trao đầy đủ khả năng và quyền hạn để lãnh đạo, chỉ huy tất cả các lực lượng tham gia Chiến dịch và tổ chức hiệp đồng với các chiến trường, lực lượng liên quan như Quân khu Trị - Thiên, Mặt trận Bắc Quảng Trị (B5), Đoàn 559, liên quân Việt - Lào ở Nam Lào. Dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận, công tác tổ chức, cán bộ đã nhanh chóng đi vào bổ sung, kiện toàn tổ chức lãnh đạo, chỉ huy và các tổ chức quần chúng của các đơn vị tham gia chiến dịch. Trong đó, các đơn vị tập trung điều chỉnh, bổ sung cán bộ và xây dựng kế hoạch bảo đảm lượng dự trữ cán bộ cho chiến đấu liên tục dài ngày, khẩn trương, ác liệt, nhất là ở các bộ phận làm nhiệm vụ tiến công trên các mũi, hướng chủ yếu; vào những thời điểm gay go, quyết liệt. Đồng thời, lãnh đạo, chỉ đạo nắm chắc tình hình đội ngũ cán bộ, đảng viên và tư tưởng bộ đội; chú ý bố trí cán bộ, đảng viên có khả năng và kinh nghiệm chiến đấu cho bộ phận làm nhiệm vụ quan trọng, trọng yêu; bố trí xen kẽ cán bộ, đảng viên đã qua chiến đấu với số mới được bổ sung; kết hợp chặt chẽ giữa điều chỉnh, sắp xếp, kiện toàn tổ chức với công tác giáo dục, động viên tư tưởng để định hướng cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đúng tình hình, đoàn kết, thông suốt với nhiệm vụ, giữ vững quyết tâm chiến đấu, biết vận dụng các thủ đoạn chiến đấu để kiên quyết tiến công, tiến công liên tục tiêu diệt địch, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chỉ đạo chặt chẽ công tác xây dựng Đảng, Đoàn, phát huy vai trò xung kích của Đoàn trong giáo dục, xây dựng, củng cố quyết tâm chiến đấu, động viên đoàn viên, thanh niên thi đua vận chuyển, giết giặc lập công. Khen thưởng kịp thời những đơn vị, cá nhân có thành tích và xử lý nghiêm minh những trường hợp thoái thác nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật chiến trường... Chủ động phòng ngừa và đấu tranh với tư tưởng chủ quan, đơn giản, mọi biểu hiện thụ động, dựa dẫm, ỷ lại vào cấp trên hoặc vin vào hoàn cảnh thực hiện nhiệm vụ khó khăn, gây ảnh hưởng xấu tới việc hoàn thành nhiệm vụ của từng đơn vị. Bên cạnh đó, công tác tổ chức chiến dịch còn tập trung vào việc lãnh đạo, chỉ đạo bảo đảm hậu cần cho chiến dịch. Ngay từ tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị đã quyết định thành lập Hội đồng chi viện tiền tuyến do Phó Thủ tướng Chính phủ Đỗ Mười làm Chủ tịch để huy động và động viên sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến. Tiếp đó, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã tổ chức lại Đoàn 559 thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn và bổ sung thêm cho đơn vị hơn 20 ngàn cán bộ, chiến sĩ và hàng ngàn phương tiện vận tải, hỏa lực. Thành lập Đoàn hậu cứ tại Nam Quảng Bình để thu dung điều trị thương bệnh binh... Tuy chiến dịch diễn ra rất khẩn trương nhưng các đơn vị đều được bổ sung kiện toàn thường xuyên, bảo đảm đủ số lượng và chất lượng. Tỷ lệ lãnh đạo ở tất cả các loại hình chi bộ được bảo đảm từ 15% đến 45% quân số là đảng viên, duy trì được sự lãnh đạo dài ngày, liên tục. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Năm, 2026, 09:01:03 pm Cùng với việc tiến hành thường xuyên, chặt chẽ công tác tổ chức, cán bộ, công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch đã đặt lên hàng đầu việc quán triệt sâu sắc đường lối kháng chiến của Đảng để tiến hành công tác chính trị tư tưởng tạo cơ sở chính trị - tinh thần vững chắc cho xây dựng ý chí quyết tâm, năng cao sức mạnh chiến đấu của các đơn vị.
Chiến đấu là sự thử thách cao nhất, quyết liệt nhất giữa ta và địch. Chính sự quyết liệt, đòi hỏi hy sinh ấy đã tác động rất lớn đến tư tưởng, tình cảm, tâm lý, ý chí, quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ. Vì vậy, việc xây dựng ý chí quyết tâm cao, bền vững của cán bộ, chiến sĩ và lòng tin vào thắng lợi để nâng cao sức mạnh chiến đấu của các đơn vị luôn là nhân tố cơ bản, quan trọng hàng đầu tạo nên sức mạnh tổng hợp cho đơn vị; là động lực thúc đẩy hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ, bảo đảm cho họ chiến đấu và chiến thắng. Nhận thức rõ điều đó, trong suốt quá trình chuẩn bị và tác chiến chiến dịch, Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị Đảng ủy và Bộ chỉ huy Chiến dịch cũng như cấp ủy, chỉ huy các đơn vị đã chú trọng quán triệt sâu sắc đường lối, quyết tâm kháng chiến của Đảng để lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, liên tục, sát sao, cụ thể và kịp thời công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Qua đó, làm cho mọi cán bộ chiến sĩ tham gia chiến dịch nhận thức đầy đủ việc đế quốc Mỹ và bè 10 tay sai mở cuộc hành quân "Lam Sơn - 719" là một sai lầm lớn trong thế bị động chiến lược của chúng và đây là cơ hội rất thuận lợi cho ta tiêu diệt chúng; thấy được thắng lợi có ý nghĩa quyết định về chiến lược của chiến dịch không những giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn tiêu diệt một phần lớn lực lượng dự bị chiến lược của địch, góp phần đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của chúng. Dù là một chiến dịch phản công, nhưng mọi cán bộ, chiến sĩ đều được giáo dục, quán triệt để nắm vững tư tưởng tích cực, chủ động tiến công địch của Đảng ta; những thuận lợi, khó khăn về địa hình, thời tiết, con người; sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, con người, trang bị; hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn, lực lượng, phương tiện và cách đánh của địch, nhất là đối tượng tác chiến bộ binh, bộ binh cơ giới của địch được yểm trợ hỏa lực mạnh đang chiếm giữ những điểm cao và địa hình có lợi, trong thế liên hoàn. Đồng thời, nắm vững mục tiêu, nhiệm vụ của chiến dịch và của từng binh chủng, đơn vị trong từng giai đoạn; kế hoạch, phương án, cách đánh của ta; các yêu cầu, quy định về kỷ luật chiến trường, về phòng gian giữ bí mật, về hiệp đồng, bảo đảm và các chính sách trong chiến đấu, chính sách đối với tù, hàng binh... Từ đó, đánh giá đúng kẻ thù, so sánh lực lượng ta - địch; tạo sự thống nhất trong nhận định, tác động về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật của chiến dịch, nâng cao ý thức triệt để chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy, có lòng tin vào khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và bản thân, có tinh thần chủ động, liên tục tiến công, biết đánh và biết đánh thắng địch trong mọi tình huống. Cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị tham gia chiến dịch cũng thường xuyên chú trọng việc tìm hiểu, nắm bắt, phân tích và giải quyết đúng tình hình tư tưởng, nhận thức và thái độ, hành vi của bộ đội; tình hình kỷ luật, tác phong, lối sống, suy nghĩ của từng con người. Gặp gỡ, động viên cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị và bộ phận làm nhiệm vụ quan trọng, khó khăn. Phát động phong trào thi đua giết giặc lập công, phát huy tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống của đơn vị... Trước mỗi thắng lợi của ta hay sự xuyên tạc của địch thì từ Bộ Tư lệnh Chiến dịch tới các đơn vị đã rất chú trọng công tác cổ động chiến trường, nhanh chóng thông tin cho cán bộ chiến sĩ tình hình để định hướng tư tưởng, hành động. Mỗi đơn vị lập chiến công đều được Bộ Tư lệnh Mặt trận gửi điện khen ngợi. Tận dụng ưu thế chiến dịch mở ra gần với hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương đã sát cánh cùng tiền phương không chỉ bằng sự chi viện sức người, sức của mà còn bằng cả việc tuyên truyền nhanh chóng, kịp thời về chiến dịch trên sóng phát thanh gửi hàng vạn lá thư thăm hỏi, cổ vũ, động viên cán bộ chiến sĩ ta... Tất cả đã góp phần hun đúc ý chí quyết tâm phẩm cách cao thượng, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của cán bộ, chiến sĩ, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các đơn vị để làm nên thắng lợi của chiến dịch. Cũng trong chiến dịch này, một bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị nữa được rút ra là để có được ý chí quyết tâm cao, dám đánh và biết đánh một cách sáng tạo thì cần phải khơi dậy và phát huy tinh thần dân chủ của cán bộ, chiến sĩ trong chuẩn bị và tác chiến. Cùng với việc quán triệt, giáo dục để cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ về tình hình, nhiệm vụ, chỗ mạnh chỗ yếu của địch, những thuận lợi, khó khăn, hạn chế của ta và của địa bàn tác chiến trực tiếp; về phát huy sức mạnh tổng hợp... cấp ủy, chỉ huy các đơn vị đã tổ chức các cuộc hội nghị, sinh hoạt quân sự chính trị, phổ biến kinh nghiệm đã rút ra từ các giai đoạn trước và phát động thi đua, động viên cán bộ, chiến sĩ, nhất là số những đồng chí đã kinh qua thực tiễn chiến đấu hiến kế, tìm tòi sáng tạo cách đánh để sao cho có hiệu suất cao nhất mà vẫn hạn chế được thương vong, bảo toàn lực lượng của ta... Thông qua dân chủ thảo luận, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã chỉ ra rằng, địch có ít thuận lợi hơn ta vì chúng tác chiến xa căn cứ hậu phương chiến lược. Còn ta, đây là chiến trường hoạt động quen thuộc của nhiều sư đoàn chủ lực của ta nối liền với hậu phương rất thuận lợi cho phát huy sức mạnh của hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến, cho tập trung nhiều lực lượng, phương tiện để tác chiến hiệp đồng binh chủng. Song để tiêu diệt được địch có ưu thế về quân số, trang bị, sử dụng chiến thuật tiến công có lực lượng Mỹ đứng đằng sau yểm trợ hỏa lực tối đa (theo công thức chủ lực quân ngụy + hỏa lực yểm trợ tối đa của Mỹ) thì về phía ta phải kết hợp sáng tạo hai phương thức tiến hành chiến tranh của chiến tranh nhân dân; kết hợp giữa đánh rộng khắp với tập trung, giữa đánh nhỏ, đánh vừa với đánh lớn để tiêu hao và tiêu diệt địch; kết hợp tốt các hình thức, biện pháp tác chiến chiến dịch với các hình thức chiến thuật... Đồng thời, phải chủ động, kiên quyết, liên tục tiến công địch đổ chúng bộc lộ sơ hở cho ta tận dụng. Phải biết tạo thế và lực, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp và sử dụng nhiều cách đánh cả phía trước và phía sau, bên sườn... Đặc biệt, phải xây dựng trận địa vững chắc; bảo đảm đầy đủ vũ khí, đạn dược các loại; nắm chắc ý đồ và hoạt động của chúng; bao vây địch thật chặt; kiên quyết chặn đứng sự tiếp tế, chi viện đường không của địch bằng bố trí và sử dụng nhiều tầng hỏa lực của vũ khí bộ binh, cao xạ, đánh khi máy bay địch trên đường tới mục tiêu, khi chúng đổ quân, thu quân... Đối với từng đơn vị, lực lượng đảm bảo, chiến đấu cụ thể thì phải căn cứ vào từng hình thức chiến thuật mà địch sử dụng để lựa chọn cách vận chuyển binh khí kỹ thuật, cách đánh thích hợp khi chúng sử dụng máy bay, xe tăng thiết giáp trong co cụm, chi viện, đột kích, hình thành các cụm phòng ngự hoặc hộ tống khi rút chạy... Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Năm, 2026, 09:02:33 pm Bài học thứ tư là, chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tốt việc phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các đơn vị tham gia chiến dịch và giữa quân đội, nhân dân ta với quân đội và nhân dân Lào anh em tạo sự đoàn kết, thống nhất và sức mạnh tổng hợp cho chiến thắng
Đoàn kết phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các đơn vị, lực lượng tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là đòi hỏi tất yếu của hoạt động quân sự, đặc biệt khi Chiến dịch phát triển về quy mô, đòi hỏi cao về mục tiêu yêu cầu, có sự tham gia của nhiều đơn vị binh chủng và lượng binh khí kỹ thuật, hậu cần bảo đảm cho chiến dịch là rất lớn1 (Chúng ta đã huy động vào chiến dịch một số đơn vị thuộc các sư đoàn bộ binh 2, 304, 308, 320 và 324 với 88 xe tăng T-34, T-54, PT-76; một số tiểu đoàn đặc công; ba trung đoàn pháo binh cơ giới 368, 38, 45; Trung đoàn pháo mang vác 84; 3 trung đoàn pháo phòng không 230, 241, 591; 3 trung đoàn công binh 219, 83, 7. Bảo vệ hậu phương chiến lược, trực tiếp của chiến dịch là một bộ phận của Sư đoàn phòng không 367 gồm 3 trung đoàn pháo phòng không 282, 284, 224 và hai trung đoàn tên lửa 238, 237. Ngoài ra, còn có sự tham gia của lực lượng vũ trang tại chỗ được hình thành từ các đơn vị kho trạm, giao liên, vận tải, công binh, cảnh vệ... trên tuyến vận tải chiến lược. Về cơ sở vật chất, kỹ thuật, ta đã chuẩn bị 6.000 tấn vật chất - kỹ thuật bảo đảm cho 5 đến 6 vạn quân chiến đấu trong thời gian từ 4 đến 5 tháng. Hệ thống bệnh viện, bệnh xá, trạm phẫu thuật phục vụ cáp cứu thương binh, điều trị và nuôi dưỡng được hình thành trên cơ sở quân y khu vực của Đoàn 559, Mặt trận B5, Quân khu Trị - Thiên và Cục Quân y tăng cường). Thông qua công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến dịch, lãnh đạo và chỉ huy các đơn vị đã làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nắm và hiểu rõ về yêu cầu, nhiệm vụ chung của chiến dịch và nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị, từng mũi, từng hướng của chiến dịch. Chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp trên, đơn vị bạn, lực lượng tại chỗ trong khu vực tác chiến để nắm địch, đảm bảo thông tin liên lạc, ngụy trang, nghi binh, giữ bí mật, cơ động, phối hợp hiệp đồng trong chiến đấu, bảo đảm hậu cần và thực hiện các chính sách. Xây dựng tinh thần đoàn kết, hiệp đồng, lập công tập thể, tin tưởng lẫn nhau trong cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng và hoàn thiện các phương án, kế hoạch tác chiến chiến dịch và ở từng trận đánh với những quy định cụ thể về thời gian, dịa diểm, nội dung, biện pháp phối hợp hiệp đồng giữa các lực lượng phía trước với phía sau, giữa các binh chủng, đơn vị với nhau, giữa các lực lượng chiến đấu với bảo đảm và duy trì nghiêm việc giáo dục, tổ chức cho bộ đội chấp hành đúng những quy định đó. Khắc phục những biểu hiện xem nhẹ, hạ thấp vai trò của đơn vị bạn, hoặc ỷ lại trên, thiếu sự phối hợp tác chiến, tranh công đổ lỗi giữa các lực lượng làm ảnh hưởng đến hiệu suất chiến đấu của cả chiến dịch và trong từng trận đánh. Là lực lượng chủ yếu bảo đảm hậu cần cho chiến dịch, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị thuộc quyền vượt qua khó khăn gian khổ của địa hình, thời tiết, sự đánh phá ác liệt của địch để làm tốt việc xây dựng thế trận vận chuyển chiến lược kết hợp với thế trận tác chiến, vừa vận chuyển, vừa tác chiến; mở thêm nhiều tuyến đường vận tải, hướng vượt khẩu, bến vượt, cầu nổi, các tuyến đường ống xăng dầu, mạng thông tin mới và nâng cấp, sửa chữa cầu đường; chủ động điều chỉnh lực lượng theo hướng tác chiến chiến dịch. Đồng thời, hiệp đồng với các đơn vị để vận chuyển, tiếp nhận vũ khí, đạn dược, lương thực... Đặc biệt, nắm chắc tư tưởng "Đông Dương là một chiến trường thống nhất" trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị đã giáo dục sâu rộng trong cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch hiểu rõ tư tưởng của Đảng để tôn trọng pháp luật, đường lối, chính sách, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của Đảng và nhân dân các bộ tộc Lào. Bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân Lào. Tổ chức các lực lượng thường xuyên phối hợp với bộ đội Lào nắm địch và đẩy mạnh các hoạt động sau lưng địch để vừa phá bước chuẩn bị chiến trường của chúng, vừa triển khai thế trận, bố trí sẵn lực lượng ở các khu vực được phân công theo phương án tác chiến chung của chiến dịch, chủ động đánh địch ngay từ đầu và phối hợp với bộ đội bạn tiến công quyết liệt vào các binh đoàn (GM) 30, 33 của quân ngụy Lào. Do vậy sức mạnh tổng hợp của con người, vũ khí được nhân lên gấp bội góp phần làm nên thắng lợi có ý nghĩa chiến lược làm thay đổi quan trọng cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Ngày nay, tình hình thế giới và khu vực đang biến động nhanh chóng, phức tạp khó lường. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dù đang đứng trước những cơ hội lớn nhưng vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Thực tiễn các cuộc chiến tranh do Mỹ và NATO tiến hành vài năm trở lại dây, đặc biệt là từ đầu năm 2011 tới nay cho thấy một khi có chiến tranh xâm lược xảy ra đối với nước ta, thì đó sẽ là những chiến dịch tiến công xâm lược có quy mô, phạm vi rộng và có sức hủy diệt lớn... Trong bối cảnh đó, để giành thắng lợi, thì ngay từ bây giờ Đảng Nhà nước, nhân dân và quân đội ta cần phải chủ động, tích cực chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt. Vận dụng những bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào cũng như của các chiến dịch khác vào thời kỳ mới chính là một trong những việc làm cho sự chuẩn bị ấy. Nó đòi hỏi chúng ta phải hết sức coi trọng việc tiếp tục nghiên cứu tổng kết thực tiễn chiến tranh, chiến dịch để rút ra những bài học cho vận dụng sáng tạo, phù hợp với hiện tại, nhất là khi theo thời gian những chứng nhân của thời kỳ chiến tranh, chiến dịch đã qua sẽ ngày càng ít dần đi. Đặc biệt, chúng ta cần nghiên cứu để làm rõ những âm mưu, thủ đoạn và những phát triển về nội dung, hình thức tác chiến của địch; những phát triển trong chức năng, nhiệm vụ của quân đội; các nội dung, hình thức quân đội tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Đồng thời, đổi mới nội dung, hình thức tiến hành công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách trong các loại hình đơn vị quân đội, ở các hình thái chiến tranh, loại hình chiến dịch mới; trong bảo vệ Tổ quốc từ xa, ở bên ngoài đất nước hay trong tác chiến phi quân sự chống bạo loạn chính trị lật đổ chính quyền dưới các dạng thức phi vũ trang. Đổi mới nội dung, hình thức quân đội tham gia xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội; trong vận động người dân Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, nhân dân các nước; trong làm nhiệm vụ giúp cách mạng Lào, Campuchia và trong hợp tác quân sự với các nước theo khuôn khổ luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2026, 08:30:35 pm CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971, MỘT ĐÒN CHÍ MẠNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA Trung tá PHÙNG THỊ HOAN Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Năm 1971 là năm của những thắng lợi quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; là năm quân ta đã tiến hành phản công thắng lợi, giành quyền chủ động trên các chiến trường, trong đó, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào chiếm vị trí rất quan trọng: là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân hai nước Việt Nam - Lào, đồng thời đó là một đòn chí mạng đối với quân đội Sài Gòn và cũng là một thất bại nặng nề của Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". 1. Ý đồ của địch và quyết tâm của ta. Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh sang khu vực Đường 9 - Nam Lào quy mô lớn nhằm kiểm nghiệm khả năng tác chiến độc lập của quân đội Sài Gòn và qua đó cũng kiểm nghiệm kết quả của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" sau hơn hai năm triển khai thực hiện... Theo tính toán của Mỹ, Đường 9 - Nam Lào là nơi ta tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược, là "cuống họng" của đường Hồ Chí Minh, là "huyết mạch" đặc biệt quan trọng để "nuôi sống" cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam Việt Nam và cách mạng Lào, Campuchia. Việc cắt đứt và tiến tới phá hủy hoàn toàn tuyến vận tải và cơ sơ hậu cần chiến lược ở khu vực Đường 9 - Nam Lào sẽ chặn đứng và triệt bỏ được nguồn tiếp tế từ gốc khiến lực lượng vũ trang ta, mà trước hết là bộ đội chủ lực ở miền Nam không thể đánh lớn được trong mùa khô 1971-1972, buộc phải quay về hoạt động nhỏ lẻ, phân tán trong khuôn khổ một cuộc chiến tranh du kích. Điều này sẽ làm cho cách mạng miền Nam phải bị "tàn lụi" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" có thêm điều kiện để thực hiện thành công; đồng thời quân đội Việt Nam Cộng hòa qua các hoạt động quy mô lớn và qua việc giành chiến thắng sẽ có thêm cơ sở để mạnh lên đủ sức thay thế vai trò của quân Mỹ trên chiến trường và là lực lượng nòng cốt cho quân đội tay sai Mỹ ở các nước Đông Dương. Nhằm đạt được mục tiêu đầy tham vọng trên, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã huy động tới 42.000 quân, trong đó có 33.000 quân Việt Nam Cộng hòa, 9.000 quân Mỹ tham gia chiến dịch này. Toàn bộ lực lượng trên gồm 11 trung đoàn bộ binh, trong đó có 10 trung đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa, một trung đoàn bộ binh Mỹ, hai thiết đoàn thiết giáp với 464 xe tăng xe bọc thép, 16 tiểu đoàn pháo với 250 khẩu... Trong quá trình diễn ra chiến dịch, lúc cao nhất, địch đã huy động tới 55.000 quân, gồm 15 trung đoàn bộ binh, ba thiết đoàn thiết giáp với 587 xe, 21 tiểu đoàn pháo binh với 318 khẩu)1 (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập VI, thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 250). Hầu hết các lực lượng tham gia đều là những đơn vị thiện chiến, thuộc lực lượng dự bị chiến lược và lực lượng chủ lực cơ động của Quân khu 1 (Vùng 1 chiến thuật). Đảm bảo cho tiếp tế hậu cần, chi viện hỏa lực cho các đơn bị tham gia chiến dịch là lực lượng tiếp vận trung ương, không quân và pháo binh Mỹ. Hỗ trợ cho hướng tiến công chính còn có một bộ phận lực lượng bộ binh và thiết giáp Mỹ phối hợp ở phía sau. Ở hướng Tây Đường 9, quân đội phái hữu Lào bao gồm chín tiểu đoàn thuộc hai binh đoàn (GM30 và GM33) ở Sê Nô, Đồng Hến tiến hành đánh ra khu vực Sê Săng Soi, Sê Ta Mộc và dự kiến sẽ hội quân với các đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa ở Pha Lan, Mường Phin. Như vậy, với một kế hoạch được nghiên cứu và thảo ra tỉ mỉ, với lực lượng quân sự vừa đông, vừa mạnh; với những biện pháp chuẩn bị chu đáo, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tin tưởng quân đội Việt Nam Cộng hòa "có đủ khả năng, đủ niềm tin và sức mạnh" để giành thế chủ động tiến công và đạt được thắng lợi trước khi chủ lực miền Bắc kịp thời cơ động tới chiến trường tham chiến. Phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa càng chắc tin vào việc cùng một lúc mở ba cuộc hành quân ra ba điểm quan trọng ở Sê Pôn, Ngã Ba biên giới Tây Nguyên và Đông Bắc Campuchia sẽ gây bất ngờ lớn cho đối phương, tạo ra tuyến chia cắt nhiều tầng, chặn đứng hoàn toàn hướng tiếp tế từ miền Bắc qua đường Hồ Chí Minh và cảng Côngpông Xom (Campuchia), lập tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương, cô lập cách mạng miền Nam, uy hiếp miền Bắc, hỗ trợ cho chiến tranh đặc biệt ở Lào và xâm chiếm toàn bộ Campuchia. Về phía ta, ngay từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã lường tính được khả năng địch có thể mở cuộc tiến công quy mô lớn trong mùa khô 1970 - 1971 ra các vùng Trung, Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia. Chính vì thế, ngay từ mùa Hè 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã xúc tiến việc chuẩn bị kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị lực lượng và công tác đảm bảo để sẵn sàng và chủ động ứng phó với tình huống này. Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân ủy Trung ương nhất thiết phải đánh thắng trận này vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Chiến thắng trận này ta sẽ tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực tinh nhuệ của quân đội Việt Nam Cộng hòa và phá hủy một mảng phương tiện chiến tranh của chúng. Ta đã huy động một lực lượng lớn tham gia chiến dịch với quyết tâm giành thắng lợi hoàn toàn, bẻ gãy xương sống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2); 4 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp (177, 297, 397, 198); 4 trung đoàn phòng không (230, 237, 241, 491); 3 trung đoàn công binh (7, 83, 219) và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ. Ngoài ra, lực lượng tham gia chiến dịch còn có một số đơn vị chiến đấu tại chỗ của Đoàn 559, Mặt trận B4, Mặt trận B5. Ngày 9 tháng 9 năm 1971, một ngày sau khi quân đội Việt Nam Cộng hòa ồ ạt đánh sang Đường 9 - Nam Lào, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: "Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành toàn thắng cho Chiến dịch X" (Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào). Sau khi chỉ rõ tầm quan trọng của chiến dịch có ý nghĩa quyết định về chiến lược, bản chỉ thị xác định: "Thắng lợi của chiến dịch không những bảo đảm cho sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến mà còn tiêu diệt một lực lượng dự bị chiến lược quan trọng của quân ngụy trên chiến trường miền Nam và một bộ phận quan trọng của quân Mỹ, đánh một đòn chí mạng vào ý chí xâm lược của Mỹ - ngụy"1 (Chỉ thị 009/QƯTW, hồ sơ 594 - Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng); đồng thời kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ "tập trung cao nhất tinh thần và sức lực dũng mãnh tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết tâm bảo vệ con đường Hồ Chí Minh, xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này"2 (Chỉ thị 009/QƯTW, hồ sơ 594 - Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2026, 08:32:15 pm 2. Đập tan đạo quân chủ lực tinh nhuệ của Quân đội Việt Nam Cộng hòa - lực lượng nòng cốt thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh"
Từ ngày 30 tháng 1 năm 1971, bằng đường không và đường bộ, quân đội Việt Nam Cộng hòa được sự hỗ trợ của quân đội Mỹ đã vận chuyển 22 tiểu đoàn lính dù, lính thủy đánh bộ và 7 tiểu đoàn pháo từ Sài Gòn, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên ra khu vực Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh. Để nghi binh, ngày 2 tháng 2, địch cho Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ diễn tập thực binh trên sông Hiếu cách phía Đông thị trấn Đông Hà 1km và cho Lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ từ La Vang (Quảng Trị) vào cửa biển Thuận An (Huế) xuống tàu thủy đi lên hướng Bắc Cửa Tùng. Từ biển Đông, Hạm đội 7 Mỹ cho một số tàu khu trục tiến vào uy hiếp biển phía Nam Quảng Bình tham gia nghi binh hòng thu hút sự chú ý của ta. Sau gần 10 ngày nghi binh một cách có dụng ý, ngày 8 tháng 2 năm 1971, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" bắt đầu khi trời chưa sáng hẳn. Với sự chi viện tối đa về hỏa lực và được sự yểm trợ của Lữ đoàn 1 bộ binh cơ giới Mỹ, 47 tiểu đoàn bộ binh, gần 9 tiểu đoàn cơ giới (khoảng 600 xe tăng, thiết giáp) và 21 tiểu đoàn pháo binh (khoảng 300 khẩu) cùng các loại binh chủng đảm bảo khác của quân đội Việt Nam Cộng hòa chia làm ba cánh vượt biên giới Việt - Lào. Cánh quân trên hướng tiến công chủ yếu - chiến đoàn đặc nhiệm do Phan Hòa Hiệp chỉ huy gồm Lữ đoàn 1 dù, hai thiết đoàn (11, 17) là lực lượng đột kích tiến đánh Đường 9 và chiếm Bản Đông (cách Lao Bảo 18km về phía Tây). Cánh quân bảo vệ sườn bắc cơ động bằng máy bay lên thẳng, để xuống chiếm các điểm cao và thiết lập các căn cứ hỏa lực ở các điểm cao 500, 316, 655, 543, 532, 546... Cánh quân phía Nam là Sư đoàn 1 bộ binh do Phạm Văn Phú chỉ huy, chiếm khu vực Kubốc và các cao điểm 619, 550, 532, 540. Lính Việt Nam Cộng hòa tỏ ra yên tâm vì họ được biết ở phía sau, dọc Đương 9, những khẩu canông tầm xa 175mm "vua chiến trường" của quân Mỹ đã triển khai trận địa kéo dài từ Lao Bảo sang hướng Tây, sẵn sàng yểm trợ hỏa lực cho phía trước. Với số lượng quân đông, trang bị vũ khí mạnh và một kế hoạch tiến công có vẻ rất hoàn hảo, quân đội Việt Nam Cộng hòa trù tính cuộc hành binh sẽ diễn ra ba bước. Bước thứ nhất, nhanh chóng chiếm cho được Bản Đông, cắt đối phương ra làm đôi để họ không kịp điều động lực lượng đối phó và phân tán kho tàng. Bước thứ hai, mục tiêu là Sê Pôn với việc phải phá cho được hệ thống chân hàng của Bắc Việt Nam ở đây, sau đó dừng lại ba tháng, một khoảng thời gian cần và đủ để làm tê liệt đường tiếp tế của đối phương. Bước thứ ba, khi mùa mưa tới cũng là lúc rút quân. Theo chủ quan của địch, lúc này đối phương cũng đành bó tay vì mưa đã trở thành "người thay thế" để vô hiệu hóá con đường vận chuyển chiến lược của Bắc Việt Nam. Thực tế đã trái ngược với những gì quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã trù tính. Trong một vài ngày đầu của cuộc hành quân, tốc độ tiến quân của địch khá nhanh. Quân đội Việt Nam Cộng hòa chiếm lĩnh hầu hết các dãy điểm cao hai bên Nam - Bắc Đường 9, thiết lập bình phong bảo vệ đội hình hành quân chủ yếu ở Bản Đông. Nhưng đến đây, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã bị quân và dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào chặn đánh quyết liệt. Và đội quân thiện chiến nhất của quân đội Việt Nam Cộng hòa trong cuộc hành quân này - chiến đoàn đặc nhiệm của Đại tá Phan Hoà Hiệp, hay còn gọi là "mũi lao thép" cũng chỉ dừng đến Bản Đông. Mặc dù chiếm được Bản Đông, nhưng chiến đoàn đặc nhiệm phải trả một cái giá khá đắt với hơn 300 lính chết, 18 xe tăng bị diệt, 20 trực thăng bị rơi... Sê Pôn - mục tiêu chính của bước thứ hai chỉ cách đó 20km nhưng xa vời vợi. Ngày 11 tháng 2, quân đội Việt Nam Cộng hòa vội vã xốc lại tổ chức của chiến đoàn đặc nhiệm, chuẩn bị cho "mũi lao thép" tiến thẳng đến Sê Pôn. Nhưng điều mà tướng tá Thiệu và các cố vấn của họ không lường được là yếu tố bất ngờ đã không còn. Trái ngược với điều mong đợi của họ, quân ta đã kịp điều động binh lực lớn đến nơi. Các đợt đột phá của quân đội Việt Nam Cộng hòa lần lượt bị đẩy lùi. "Mũi lao thép" buộc phải co về Bản Đông. Như thế, trên hướng chính, mũi đột kích chủ yếu của quân đội Việt Nam Cộng hòa đã bị bẻ gãy và trên các hướng khác cũng phải chịu chung số phận là điều không thể tránh khỏi. Ở cánh Bắc, như trên đã nói trong vài ngày đầu tình hình diễn biến có vẻ thuận lợi vì chưa gặp đối phương. Trên 300 lần chiếc trực thăng, gồm cả "cần cẩu bay" CH.54 bay kín bầu trời, ồ ạt đổ Lữ đoàn 3 dù và Liên đoàn 21 biệt động quân xuống cùng với pháo, xe ủi đất chiếm lĩnh hết điểm cao này đến điểm cao khác... nhưng rồi quân đội nhân dân Việt Nam xuất hiện sớm hơn so với dự kiến. Toàn bộ trận địa lâm thời phòng ngự của quân đội Việt Nam Cộng hòa bị vây hãm từ ngày 10 tháng 2, tức là chỉ 2 ngày sau khi đổ quân. Mười ngày sau, tiểu đoàn biệt động quân đầu tiên bị diệt, tiếp đó là Lữ đoàn 3 dù bị xóa sổ. Đại tá Lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ bị bắt. Cánh Bắc bị bẻ gãy. Trên hướng Nam, Chuẩn tướng Phạm Văn Phú, Sư trưởng Sư đoàn 1 hy vọng đơn vị mình đảm nhiệm hướng thứ yếu thì tình hình sẽ đỡ căng thẳng hơn. Nhưng ngay từ ngày đầu, khi mới đổ Trung đoàn 3 xuống mà hàng chục trực thăng đã bị hạ. Phải mất 7 giờ, trung đoàn này mới đổ quân xong. Hai trung đoàn 1 và 2 cũng không gặp may mắn hơn. Ngày 1 tháng 3, Tiểu đoàn 3 đổ xuống Đông Nam Sê Pôn với một giá quá đắt: 14 máy bay lên thẳng bị hạ, cả Ban chỉ huy tiểu đoàn thiệt mạng. Cánh Nam ngày càng ở vào thế bất lợi sau 12 ngày đọ sức với đối phương. Tháng 2 đã trôi qua, trên cả ba hướng tiến công của quân đội Việt Nam Cộng hòa đều bị quân và dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào bẻ gãy. Mục tiêu cuối cùng là Sê Pôn vẫn còn xa lắc. Mặc dù lâm vào thế bất lợi như vậy, nhưng Bộ chỉ huy hành quân địch vẫn quyết định tung lực lượng dự bị chiến dịch và cũng là lực lượng dự bị chiến lược của quân lực Việt Nam Cộng hòa, bao gồm Lữ đoàn 2 dù, hai thiết đoàn (1.1 và 17), hai lữ đoàn lính thủy đánh bộ (147 và 258) cùng với hai trung đoàn còn lại của Sư đoàn 1 vào cuộc chiến. Ngày 5 và 6 tháng 3, quân đội Việt Nam Cộng hòa dốc sức lần cuối để tiến công Sê Pôn và chuyển cánh quân phía Nam của Phạm Văn Phú thành hướng chủ yếu vì "mũi lao thép" trên hướng chính đã bị đánh bại. Sư đoàn 1 cùng các lực lượng lính thủy đánh bộ, lính dù sử dụng máy bay lên thẳng và xe thiết giáp để cơ động lực lượng nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn. Nỗ lực mới này của quân đội Việt Nam Cộng hòa đã vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của các sư đoàn 2, 324, 304 và các lực lượng binh chủng kỹ thuật tăng cường. Tại khu vực cách Đông Bắc Sê Pôn khoảng 2km, chiến sự giưa ta và địch diễn ra giằng co, quyết liệt trong suốt một tuần. Địch sử dụng nhiều trực thăng, nhiều tốp máy bay ném bom chi viện nhưng bị lưới lửa phòng không của ta ở Đường 9 Nam Lào làm cho khiếp sợ. Ở Nam Đường 9, đoạn từ Bản Đông đi Sê Pôn, Sư đoàn 304 chặn đánh quyết liệt số quân địch đến giải tỏa, diệt 300 lính Việt Nam Cộng hòa phá hủy 16 xe thiết giáp, bắn rơi 15 máy bay. Ở hướng Đông Sê Pôn, Sư đoàn 2 diệt 200 địch, bắn rơi 8 máy bay. Quân địch chốt giữ Bản Đông ngày càng bị vây chặt. Do đường bộ bị cắt đứt và đường không bị khống chế, nên hơn 30.000 binh sĩ quân đội Việt Nam Cộng hòa đang đứng chân ở khu vực từ Lao Bảo đến giáp Sê Pôn rơi vào tình thế khốn quẫn và phải đối mặt với nguy cơ bị tiêu diệt từng bộ phận. Những giờ phút bi thảm nhất của đạo quân chủ lực tinh nhuệ Việt Nam Cộng hòa đã diễn ra. Trên Đường 9 - Nam Lào, đoạn từ Bản Đông về Lao Bảo, hơn 100 xe tăng, thiết giáp bị ta chặn đánh. Hàng trăm binh sĩ Việt Nam Cộng hòa vứt bỏ súng đạn, chạy tắt rừng hòng thoát thân đã bị bắt. Ngày 20 tháng 3, tại khu vực Bản Đông - nơi được chọn làm khu vực đánh trận then chốt đã hoàn toàn giải phóng. Trong trận then chốt quyết định này, bộ đội ta đã diệt và bắt hơn 1.800 dịch, thu và phá hủy 113 xe tăng, xe bọc thép, 24 khẩu pháo, bắn rơi 52 máy bay. Ở các hướng phản công khác, bộ đội ta cũng giành thắng lợi giòn rã. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Qua gần 50 ngày đêm liên tục phản công, tiến công địch, quân và dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã đánh cho quân đội Việt Nam Cộng hòa - lực lượng nòng cốt thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh một đòn chí mạng. Trên hai vạn tên gồm 6 trung đoàn, lữ đoàn, 13 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh bị loại khỏi chiến đấu; hai sư đoàn dự bị chiến lược gồm sư đoàn dù, sư đoàn lính thủy đánh bộ bị đánh thiệt hại nặng. Ngoài ra, lực lượng không quân, lực lượng tăng thiết giáp quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa cũng bị tổn thất lớn. Một số lực lượng lớn đáng kể vũ khí đạn dược, quân trang, quân dụng của địch bị phá hủy hoặc lọt vào tay đối phương1 (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập VI, Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương... Sđd tr. 976 972)... Như thế, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đã "chuyển thành một thất bại khổng lồ cho ý đồ của chính quyền Mỹ và cho các kế hoạch họ đã vạch ra cho Việt Nam Cộng hòa"2 (Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.430). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2026, 08:34:00 pm 3. Cuộc tháo chạy hoảng loạn và những tác động đối với tinh thần chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng hòa.
Trong những ngày cuối cùng của cuộc hành quân, mặc dù mục tiêu đánh chiếm Sê Pôn không thực hiện được nhưng bộ máy tuyên truyền của Sài Gòn vẫn tổ chức quay phim chụp ảnh, đưa tin rùm beng: Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đặt chân vào Sê Pôn! Nhưng các ký giả Anh, Mỹ bám sát mặt trận đã nói lên sự thật về thất bại của quân đội Việt Nam Cộng hòa, một thất bại mở đầu cho cuộc chạy hoảng loạn "vô kế hoạch" về bên này biên giới bởi quân chết quá nhiều mà trực thăng cứu trợ của Mỹ bị bắn rơi cũng lắm. Chính Nguyễn Văn Thiệu đã phải thừa nhận: "Người Mỹ đã có quá nhiều thương vong trong số máy bay lên thẳng đến nỗi họ giảm cả máy bay tải thương. Đây là lý do tại sao binh sĩ Việt Nam đã không thể tiến quân nhanh hơn. Điều này đem lại thuận lợi cho quân đội Bắc Việt Nam phản công Ngươi Mỹ đã không chấp thuận trả giá cao bằng cả máy bay lên thẳng lẫn phi công"3 (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập VI, Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương... Sđd tr. 976 972). Ngày 15 tháng 3, tờ "Tuần tin tức (Mỹ) viết: Chỉ trong một cuộc trực thăng vận của Sư đoàn 1 (cánh Nam), 38 trong số 60 máy bay lên thẳng đã bị bắn rơi. Hơn 40 ngày đã qua, cái đích cuối cùng của cuộc hành quân đã không thể chạm tới được dù địch bằng trực thăng, cơ giới. Quân đội Việt Nam Cộng hòa đứng nhìn Sê Pôn từ xa để rồi phải ngậm ngùi quay gót trở lại hướng Đông. Cuộc lui quân của địch bắt đầu từ ngày 18 tháng 3 năm 1971 khiến người ta nhớ lại những con số, những lời tuyên bố được đưa ra khi bắt đầu xuất quân: hơn 2.000 máy bay các loại được điều động cho cuộc hành quân; tính từ ngày 8 tháng 2 đến ngày 7 tháng 3 đã có tới 26.000 lần chiếc trực thăng dùng vào việc đổ quân và chi viện hỏa lực cho bộ binh; B-52 đã ném tới 36.000 tấn bom, trung bình 1.500 tấn/ngày... Tướng Uâyen cũng đã tuyên bố rằng, cuộc tiến quân sang Lào là trận đánh lớn nhất trong toàn cuộc chiến tranh Đông Dương. Và giờ đây, mục tiêu của cuộc hành quân Sê Pôn chưa đạt được nhưng cuộc "lui quân" đã diễn ra. Thực chất đây là một cuộc "tháo chạy", hay nói chính xác hơn là một cuộc "tháo chạy trong hoảng loạn" - như báo chí Mỹ và phưưng Tây đã miêu tả: "Nhờ phi công Mỹ lái máy bay lên thẳng suốt ngày này sang ngày khác, vượt qua lửa đạn mới cứu nổi một số quân đang bị bao vây. Số quân tinh nhuệ Sài Gòn quá tuyệt vọng không còn cách nào khác là liều mạng bám vào càng máy bay lên thẳng để rời khỏi trận địa. Nhiều nhân viên phi hành Mỹ phải lấy dây cột chặt người vào ghế để khỏi bị đẩy ra khỏi máy bay. Một số phi công khác phải mang theo dùi cui để hễ tên lính Sài Gòn nào trèo lên máy bay thì quật liền..."1 (Roitơ, ngày 28 tháng 3 năm 1973). Và đây là cảnh tượng kinh hoàng của những người lính thất trận trong quá trình tháo chạy: "Quân lính Nam Việt Nam khiếp sợ, phải đánh lẫn nhau giành chỗ khi máy bay đáp xuống để nhặt bọn bị thương"1 (Tin Mỹ và thế giới, ngày 5 tháng 4 năm 1971). Hoặc ở trên hướng Nam, người ta được biêt rằng, khi Sư đoàn 1 đang ở vào thế tiên thoái lưỡng nan vì bị bao vây chặt thì Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ (mệnh danh là Cọp biển) được điều gấp sang ứng cứu. Nhưng rồi đến lượt chính lữ đoàn bất hạnh này cũng bị vây đánh và nó vội lo mở đường máu thao chạy thoát thân... Kết quả là, "nhóm 2.000 người cuối cùng của Lữ đoàn Cọp biển lên rừng này suýt nữa thì không chạy được về bên này biên giới, dù đường biên chỉ còn cách đó 6 dặm dù họ đã phải bỏ lại cả xe pháo, bỏ cả đồng bọn bị thương, bị chết. Đám tàn quân này, lấm láp như vừa được moi từ dưới đất lên, cố chạy thục mạng về bên này biên giới vì quân cộng sản ngồi trên xe tăng Nga và cả M.41 của Mỹ mà họ tịch thu được, đuổi đánh tơi bời. Cuối cùng chỉ còn sống sót chừng 1.000 người đặt chân được về phần đất Việt Nam..."2 (Thời báo (Mỹ), ngày 5 tháng 4 năm 1971). Sau cuộc ra quân rồi tháo chạy thảm hại này, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam Cộng hòa cũng như Tổng hành dinh của tướng Abram chưa làm báo cáo tổng kết để trình Tổng thống - Tổng tư lệnh R. Níchxơn về kết quả "trận đánh lớn nhất" này thì chính báo chí phương Tây đã lần lượt lên tiếng giúp họ! Hãng tin AFP ngày 25 tháng 3 năm 1971 đã đưa ra một ví dụ rất điển hình về sự thảm bại của các đơn vị chủ lực tinh nhuệ quân lực Việt Nam Cộng hòa như sau: "Sư đoàn 1 xuất quân thấm thoát đã 5 tuần. Cũng ra đi còn có những đơn vị được coi là thiện chiến nhất như biệt động quân, thủy quân lục chiến, quân dù... Cái tên "mũi lao thép" được gán cho giờ đây chỉ còn là một cái bóng. Một tiểu đoàn trưởng lên đường với 400 quân trong tay, nay trở về với 83 tàn binh, 210 chiến xe tăng gầm rú hùng hổ lên đường, để rồi chỉ còn 71 chiếc thoát chết trở về...". Còn tờ Thời báo (Mỹ) ngày 5 tháng 4 năm 1971 đã ngay lập tức đưa tin: "Thiệt hại thật khủng khiếp. Phía Mỹ và Nam Việt Nam ước tính thương vong gần 50% tổng số lực lượng tham gia cuộc hành quân". Hãng tin UPI ngày 30 tháng 3 năm 1973 cũng phải thừa nhận: "Sự kiện (Lam Sơn 719) này đã làm cho chính quyền (thân Mỹ) ở Phnôm Pênh và Viêng Chăn bị ảnh hương rất lớn về mặt chính trị, không kém gì Sài Gòn. Người ta thấy không quân Mỹ đã mất hết phép mầu nhiệm. Trái lại, người ta cũng thấy quân cộng sản trên khắp chiến trường Đông Dương được sự cổ vũ tinh thần rất mạnh mẽ, khiến họ hết sức phấn khởi... Chẳng thế mà các quan chức trong chính quyền (Oasinhtơn) không còn dám lên tiếng tô vẽ cho cuộc hành quân sang Lào nữa. Điều mà họ thừa nhận là: cuộc hành quân mang dáng dấp một thảm họa hơn là một chiến thắng". Thất bại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đã tác động nặng nề đến quân đội Việt Nam Cộng hòa. Bị thua đau với con số thương vong cao đã là đòn nặng giáng vào quân đội Việt Nam Cộng hòa, nó "phá hủy mất phần tinh nhuệ nhất" của đội quân này. Những người lính quân đội Việt Nam Cộng hòa giờ đây chỉ nghĩ đến chạy trốn khỏi chiến trường trong nỗi kinh hoàng, mong thoát thân bằng mọi giá, kể cả giẫm đạp, chém giết lẫn nhau. Điều đó không bao giờ có thể "hâm nóng" được tinh thần chiến đấu và chiến thắng của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Thảm bại ở Nam Lào đã làm cho lực lượng tổng dự bị chiến lược của quân đội Việt Nam Cộng hòa suy yếu một bước nghiêm trọng, tổ chức bị xộc xệch, tinh thần quân sĩ ngày càng suy sụp nặng nề. Một số quan chức của quân đội Việt Nam Cộng hòa đã phải thừa nhận: phục hồi về quân số có lẽ làm được, nhưng về hiệu quả và tinh thần thì không thể lấy lại được. Những cảnh tượng quân đội Việt Nam Cộng hòa vứt cả súng đạn, quăng cả xe pháo,... để chạy tháo thân đã chứng tỏ rằng, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa không thiếu súng, nhưng thiếu tinh thần. Họ không có "chất keo" nào kết dính giữa súng và người cho có hiệu lực. Chính Níchxơn cũng phải thừa nhận, đây là "một thất bại về tâm lý cả ở Nam Việt Nam, nơi mà tinh thần đã bị tan rã do tin tức báo chí về cuộc rút lui, lẫn ở Mỹ là nơi mà những nghi ngờ về khả năng leo thang đã được dấy lên với những hình ảnh, tin tức đã làm giảm lòng tin vào thắng lợi của Việt Nam hóa và tricn vọng chấm dứt chiến tranh"1 (Giôdép A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 325). Cuộc hành quân đã tắt ngấm nhưng vẫn tác động mạnh mẽ đến tinh thần và tâm lý cả bộ máy chính quyền cũng như quân đội Nam Việt Nam. Đêm đêm, trong các phòng trà vẫn vang lên những khúc ca ai oán của các ca sĩ Khánh Ly, Duy Khánh về số phận của những người lính đã chết "cong queo, chết vội vàng, chết không manh áo..." ở A Sầu, Ai Lao. Và, người ta có cảm tưởng, cuộc tháo chạy hoảng loạn cùng với sự sa sút nghiêm trọng về tinh thần của binh lính quân đội Sài Gòn ở "Lam Sơn 719" là bước khởi đầu cho cuộc rút lui chiến lược mùa Xuân 1975 của quân đội này, đưa tới sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ Việt Nam Cộng hòa và chấm dứt cuộc chiến 21 năm giữa đế quốc Mỹ với nhân dân Việt Nam. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2026, 08:35:58 pm PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ANH DŨNG, KIÊN CƯỜNG CỦA QUÂN VÀ DÂN QUẢNG TRỊ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC, QUYẾT TÂM XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG NGÀY CÀNG GIÀU ĐẸP THÁI VĨNH LIỆU Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Quảng Trị Cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi bằng việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, nền độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và Lào, Campuchia đã được công nhận. Đó là kết quả của tinh thần đoàn kết, nhất trí, anh dũng chiến đấu của nhân dân và quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng do những toan tính thâm hiểm của đế quốc Mỹ, nên đất nước ta bị chia cắt, vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải - Quảng Trị) làm ranh giới. Miền Bắc hoàn toàn độc lập, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam lại chịu ách thông trị của chủ nghĩa thực dân mới, phải tiếp bước cuộc đấu tranh dân tộc dân chủ lâu dài và gian khổ. Chính từ mốc lịch sử này, Việt Nam trở thành nơi thử thách sức mạnh và uy tín của đế quốc Mỹ như chính giới cầm quyền Nhà Trắng đã xác nhận: Chiến tranh xâm lược Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Bằng tiềm lực siêu cường về quân sự và kinh tế, chúng tin tưởng rằng có thể khuất phục Việt Nam, từ đó đè bẹp phong trào giải phóng dân tộc và chặn đứng bước tiến của chủ nghĩa xã hội ở các nơi trên thế giới. Vì lẽ đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam là một cuộc đọ sức điển hình, là tiêu điểm của cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới, là cuộc chiến tranh giải phóng mang tính chất thời đại sâu sắc. Trong bối cảnh đó, Quảng Trị - điểm chia cắt hai miền đất nước, nơi hội tụ của khát vọng và đau thương, đã trở thành chiến trường của cuộc đọ sức giữa hai lực lượng, hai chế độ. Quảng Trị là đầu cầu giới tuyến, tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa - hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam; vì vậy, ngay sau khi ký kết Hiệp định Giơnevơ, chính quyền Ngô Đình Diệm được dựng lên, đế quốc Mỹ đã tập trung lực lượng đánh phá Quảng Trị vô cùng khốc liệt, nhằm biến vùng đất này thành vành đai trắng, xây dựng một phòng tuyến chống cộng vững chắc, khống chế Đường 9, cắt đứt hoàn toàn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam làm cho cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam "tàn lụi" và khi đó, Mỹ có điều kiện mở cuộc chiến tranh xâm lược ra miền Bắc. Theo đuổi âm mưu này, sau khi hai bên đã hoàn thành việc chuyển quân tập kết, lợi dụng việc ta chấp hành và thực hiện các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ, tranh thủ thời cơ đấu tranh thống nhất nước nhà bằng con đường hòa bình; Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã sử dụng nhiều biện pháp, thủ đoạn hết sức xảo quyệt nhằm tàn sát cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước. Cũng như các địa phương trên toàn miền Nam, lực lượng cách mạng Quảng Trị bị tổn thất nghiêm trọng chưa từng có. Sự hy sinh của hàng nghìn cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước khắc sâu thêm lòng căm thù, tiếp thêm ý chí cho Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị phát huy truyền thống anh hùng, bất khuất, dũng cảm, sáng tạo, từng bước xây dựng thực lực cách mạng, vừa tìm tòi phương pháp đấu tranh. Trong những tháng năm thử thách đầy cam go đó, Đảng bộ, quân và dân khu vực Vĩnh Linh với tình cảm ruột thịt, đã vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh, mở lối, xoi đường, âm thầm chi viện cho Quảng Trị. Quân và dân Quảng Trị vừa xây dựng cơ sở cách mạng vùng đồng bằng, đô thị vừa xây dựng và giữ vững căn cứ địa miền núi, đảm bảo cho con đường chi viện Bắc - Nam thông suốt, giúp đỡ Đảng Nhân dân cách mạng Lào củng cố lực lượng, nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ các tỉnh miền Nam trên đường ra Bắc. Bằng ý chí can trường, gan góc, quân và dân Quảng Trị đã vượt qua thời kỳ khó khăn nhất, đưa phong trào đấu tranh toàn tỉnh tiến lên hoà nhịp với phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam. Lực lượng cách mạng Quảng Trị không ngừng phát triển, đánh địch mạnh mẽ trên 3 vùng chiến lược, tạo ra những điều kiện cơ bản để Trung ương mở Mặt trận Đường 9. Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng trên toàn miền Nam gắn liền với quá trình mở rộng và phát triển tuyến hành lang chi viện Bắc - Nam mà Quảng Trị là một cửa ngõ hết sức quan trọng. Chính vì vậy mà Vĩnh Linh, vùng khu phi quân sự, vùng miền núi phía Tây, dọc hai bên Đường 9 và vùng giáp ranh đồng bằng trở thành những nơi quân Mỹ và quân đội Sài Gòn dùng bom đạn, chất độc hóa học hủy diệt. Xây dựng hàng rào điện tử Mắc Namara, Mỹ đã biến Quảng Trị thành nơi thử nghiệm những vũ khí tối tân nhất mà khoa học quân sự Mỹ mới phát minh. Chiến trường Quảng Trị ác liệt, nóng bỏng hơn bao giờ hết. Dưới mưa bom, bão đạn, quân và dân toàn tỉnh đoàn kết một lòng, nêu cao quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, tích cực phối hợp với bộ đội chủ lực đánh địch giành nhiều thắng lợi giòn giã. Khí phách anh hùng, lòng dũng cảm và trí thông minh của quân và dân Quảng Trị đã chiến thắng vũ khí tối tân của Mỹ, hàng rào điện tử Mắc Namara - niềm tự hào của các nhà khoa học quân sự Mỹ nhanh chóng mất tác dụng. Đồng bào Quảng Trị ở trong khu tập trung đấu tranh quyết liệt với địch để sản xuất, bảo vệ sản xuất, cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi dưỡng hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ các sư đoàn, trung đoàn đứng chân trên địa bàn, tạo điều kiện vững chắc cho bộ đội triển khai chiến dịch. Quân và dân Vĩnh Linh kiên cường chiến đấu bảo vệ quê hương, vượt qua lưới lửa dày đặc của địch, vận chuyển lương thực, vũ khí, các nhu yếu phẩm thiết yếu vào chiến trường, cùng với quân và dân Quảng Trị đảm bảo cho con đường chi viện Bắc - Nam luôn thông suốt. Ý chí kiên cường, bất khuất của quân và dân Quảng Trị đã góp phần to lớn vào chiến thắng Mậu Thân (1968), giải phóng hoàn toàn quận lỵ Khe Sanh - Hướng Hóa, mở ra một thời kỳ phát triển cao hơn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2026, 08:37:01 pm Việc thay thế chiến lược "chiến tranh cục bộ" bằng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" là bước xuống thang của đế quốc Mỹ. Nhưng với tiềm lực quân sự mạnh, Mỹ ra sức củng cố, trang bị vũ khí hiện đại cho quân đội Sài Gòn, để thay thế quân Mỹ mở các chiến dịch hành quân càn quét, bình định lớn trên khắp chiến trường miền Nam. Tại Quảng Trị, Mỹ - ngụy tập trung lực lượng lớn mở các cuộc hành quân đánh phá, càn quét, bình định, thanh lọc địa bàn, bốc hót dân vào các khu tập trung kết hợp với các thủ đoạn chiêu hồi, chiêu hàng cán bộ, đảng viên cách mạng. Ở nhiều vùng, địch dùng bom đạn, chất độc hoá học, phi pháo đốt trụi xóm làng, phát quang các vùng trọng điểm ở rừng núi, bến sông, ngăn chặn ta hoạt động. Cuộc đấu tranh chống bình định, lấn chiếm, giữ đất, giành dân, bảo vệ vững chắc tuyến hành lang vận chuyển Bắc - Nam của quân và dân Quảng Trị diễn ra dai dẳng, quyết liệt. Quân và dân toàn tỉnh nêu cao truyền thống anh hùng, bất khuất, kiên cường đánh địch, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, binh vận, tiếp tục xây dựng và củng cố lực lượng, ra sức sản xuất lương thực, thực phẩm, giành những thắng lợi quan trọng, góp phần tạo ra "nhân tố mới và triển vọng mới" cho cuộc chiến đấu chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Trên tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, lực lượng dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong của tỉnh tích cực tham gia mở đường, vận chuyển hàng hóa, bảo vệ các kho, trạm hậu cần chiến lược.
Hòng tìm kiếm một chiến thắng quân sự mang tính chiến lược, giới chức quân sự hiếu chiến Lầu Năm Góc khẳng định: phải đánh phá việc bảo đảm hậu cần của Nam Việt Nam ngay từ gốc (Bắc Việt Nam). Vì lẽ đó, cuối năm 1970, Mỹ đã chủ trương mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh vào Đường 9 - Nam Lào, cắt tuyến vận chuyển chiến lược của ta, làm cho lực lượng vũ trang ta ở miền Nam suy yếu, không thể đánh tập trung quy mô lớn trong mùa khô 1971, 1972 để Mỹ dễ dàng thực hiện âm mưu "Việt Nam hóa chiến tranh" giành lại thế chủ động trên chiến trường. Đối với ta, ngay từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã lường tính khả năng địch có thể mở cuộc tiến công quy mô lớn trong mùa khô 1970-1971 ra các vùng Trung, Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia. Vì thế, từ mùa hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã xúc tiến kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến trường, lực lượng sẵn sàng ứng phó với tình huống này. Với quyết tâm "nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào", Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ bằng được đường Hồ Chí Minh, sẵn sàng ứng phó khi địch có những hành động phiêu lưu quân sự khác. Quân và dân Quảng Trị nhận lệnh của Trung ương với tinh thần và quyết tâm cao nhất: tham gia đánh bại quân địch ở Đường 9 - Nam Lào; giữ vững giáp ranh, đẩy mạnh phong trào đồng bằng; bảo vệ căn cứ địa miền Tây và tăng cường sản xuất tự túc. Để thu hút và giam chân lực lượng địch tạo điều kiện cho các đơn vị bạn chuẩn bị chiến trường, những tháng cuối năm 1970, lực lượng vũ trang Quảng Trị phối hợp với liên quân chiến đấu Việt - Lào liên tục mở các đợt tiến công vào lực lượng cơ động quân đội Sài Gòn; đánh phá giao thông và các mục tiêu nằm sâu trong hậu phương địch. Ba tháng cuối năm 1970, quân và dân Quảng Trị và bộ đội chủ lực đánh hơn 500 trận lớn, nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, bắn rơi 50 máy bay, phá hủy nhiều xe quân sự, 12 tàu, xuồng vận tải và nhiều phương tiện chiến tranh của địch; ghìm chân toàn bộ lực lượng của Sư đoàn 3 quân Sài Gòn, phá vỡ kế hoạch vận chuyển hàng hóa quân sự ra Ái Tử, Đông Hà của địch. Hai tháng cuối năm 1970 và tháng 1 năm 1971, quân và dân hai huyện Gio Linh, Cam Lộ 7 lần đánh bại các cuộc hành quân nống lấn của địch hòng đánh phá các bàn đạp của ta ở hai xã Trung Giang, Gio An (Gio Linh) và bốn xã phía Bắc huyện Cam Lộ. Quân và dân Hướng Hóa phối hợp với bộ đôi chủ lực đánh bại cuộc càn của một bộ phận quân Mỹ đánh ra Đường 9, hòng chiếm lại khu vực Khe Sanh đê làm bàn đạp xuất phát tiến công sang Đường 9 - Nam Lào. Phối hợp với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, bộ đội, du kích tổ chức nhiều trận đánh trên các trục đường giao thông, pháo kích vào căn cứ địch. Quân và dân Hướng Hóa tập trung làm nhiệm vụ phục vụ và tham gia chiến đấu ở cánh Nam mặt trận. Khi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mở màn, lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn tỉnh tấn công địch càng dồn dập, tiêu biểu là những trận pháo kích vào các căn cứ quan trọng, sân bay, kho tàng, bến bãi của địch trên trục Đương 9 và trung tâm đầu não, đốt cháy kho xăng Ái Tử, diệt hàng trăm tên địch ở cứ điểm Tà Cơn; làm tắc nghẽn giao thông vận chuyển tiếp tế của địch trên sông Hiếu; buộc địch phải điều thêm quân đến Quảng Trị, góp phần quan trọng để bộ đội chủ lực chiến thắng oanh liệt trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Hơn 40 ngày đêm chiến đấu kiên cường, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của quân và dân hai nước Việt - Lào kết thúc thắng lợi. Để góp phần làm nên chiến tích anh hùng đó, lớp lớp những người con ưu tú của Quảng Trị xung phong kế tiếp nhau lên đường, bất chấp gian khổ, hy sinh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuẩn bị, phối hợp chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Có thể khẳng định rằng: chiến thắng Đường 9 - Nam Lào là dấu ấn quan trọng trong tiến trình kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, là bản anh hùng ca về truyền thống anh hùng, bất khuất của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với chiến thắng oanh liệt này, quân và dân Quảng Trị mãi mãi tự hào vì đã góp phần xứng đáng, cùng quân và dân hai nước Việt - Lào ghi thêm một mốc son chói lọi trong trang sử vàng của mối quan hệ hữu nghị đặc biệt trên con đường đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc của mỗi nước. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa cực kỳ to lớn, tạo ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và dân Quảng Trị. Tinh thần đấu tranh cách mạng của toàn quân, toàn dân ta càng lên cao, tư tưởng dao động, chán nản chiến tranh trong binh lính ngụy quyền càng lan rộng. Quân và dân Quảng Trị có điều kiện thuận lợi mới để đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận, phát huy thế chủ động, phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của bộ đội chủ lực giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong năm 1972, giải phóng quê hương, tạo thế và lực mới cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam vào mùa xuân 1975. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2026, 08:38:20 pm Tự hào về truyền thống anh hùng, bất khuất trong kháng chiến chống ngoại xâm nói chung, chống Mỹ, cứu nước nói riêng, Đảng bộ, quân và dân càng vui mừng trước những thành tựu đạt được gần 40 năm xây dựng quê hương kể từ ngày giải phóng đến nay.
Khó có thể quên những tháng ngày vừa bước ra khỏi chiến tranh, Quảng Trị phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, phức tạp. Làng quê tiêu điều xơ xác, ruộng đồng trù phú đã biến thành bãi đất hoang, bom mìn dày đặc khắp nơi, núi rừng bị bom đạn và chất độc hóa học Mỹ tàn phá. Hàng vạn người dân khắp nơi hội tụ về quê cũ, mà tài sản chỉ là đôi quang gánh trên vai. Những di hại của chủ nghĩa thực dân cùng những vấn đề xã hội bức xúc không thể giải quyết một sớm một chiều. Trước tình hình đó, Đảng bộ vừa tập trung xây dựng, củng cố bảo vệ chính quyền cách mạng, vừa chăm lo nơi ăn, chôn ở ổn định đời sống nhân dân; phát động các phong trào cách mạng để rà phá bom mìn, khôi phục sản xuất, nhanh chóng giải quyết vấn đề lương thực. Mồ hôi và máu của nhiều cán bộ, đảng viên, nhân dân thêm một lần quyện chặt trong đất để có những cánh đồng lúa xanh tươi, những nương khoai, sắn bạt ngàn. Theo lời kêu gọi của Đảng, hàng nghìn đồng bào đã tự nguyện rời nơi chôn nhau cắt rốn đến các vùng kinh tế mới ở trung du và miền núi xây dựng quê hương mới. Trong bộn bề lo toan, quân và dân Quảng Trị đã một lòng đoàn kết, yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ nhau khắc phục khó khăn, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, xây dựng nếp sống mới, từng bước giải quyết những hậu quả chiến tranh. Những năm tháng hợp nhất trong tỉnh Bình - Trị - Thiên, Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị đã phát huy truyền thống đoàn kết, ra sức lao động sản xuất, từng bước hàn gắn vết thương chiến tranh, giải quyết những vấn đề bức thiết về đời sống; không ngừng chăm lo phát triển các mặt văn hóa, xã hội làm "thay da đổi thịt" bộ mặt quê hương. Tháng 7 năm 1989, tỉnh Quảng Trị được tái lập. Trải qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Quảng Trị có những bước tiến toàn diện trên các lĩnh vực. Về kinh tế: đã chuyển sang sản xuất hàng hóa nhiều thành phần; văn hóa - xã hội phát triển toàn diện, đời sống của nhân dân được cải thiện, niềm tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền được củng cố; quốc phòng - an ninh được tăng cường và giữ vững. Trong những năm gần đây, bằng sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quảng Trị đã nắm bắt thời cơ và vị thế của đất nước, phát huy tinh thần cách mạng tiến công, chủ động, sáng tạo vượt qua những khó khăn, thách thức do dịch bệnh, thiên tai; tạo ra những chuyển biến rõ rệt trên tất cả các mặt. Riêng về kinh tế: tốc độ tăng trưởng GDP năm 2010 đạt 10,6%. Giá trị GDP của ngành sản xuất và doanh thu dịch vụ đạt và vượt kế hoạch, trong đó: công nghiệp - xây dựng tăng 17,4%; nông - lâm - ngư nghiệp tăng 3,3%; dịch vụ tăng 9,3%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tiến bộ: tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong GDP tăng dần, tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp giảm dần. Cùng với cây lúa, Quảng Trị còn chú trọng phát triển mạnh cây công nghiệp xuất khẩu như cao su, hồ tiêu, cà phê... tập trung ở huyện Hướng Hóa, Đa Krông, Gio Linh, Vĩnh Linh, Cam Lộ và miền Tây Triệu Phong. Kinh tế biển cũng được quan tâm đầu tư đúng hướng nên đã có nhiều khởi sắc. Nghề biển của ngư dân bây giờ không còn dừng lại ở những ngành nghề truyền thống như xăm bãi, lưới rê, mà đã có tàu thuyền với đầy đủ phương tiện đánh bắt hiện đại, có thiết bị định vị tầm ngư và có khả năng ra khơi dài ngày. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 16 triệu đồng, tăng 17% so với năm 2009. Tổng thu ngân sách vượt dự toán 30,1% và tăng 270 tỷ đồng so với năm 2009. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội vượt 10,2% kế hoạch và tăng 25,7% so với năm 2009. Các công trình trọng điểm được tập trung đầu tư, một số đã hoàn thành và đưa vào sử dụng góp phần đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hoạt động kinh tế đối ngoại và xúc tiến đầu tư được triển khai và bước đầu đạt kết quả tốt. Chính trị - xã hội ổn định, diện mạo tỉnh nhà ngày càng đổi thay, sự nghiệp xóa đói giảm nghèo đạt nhiều kết quả khả quan, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện trên nhiều mặt. 100% số xã được sử dụng điện lưới quốc gia và có đường ô tô đến trung tâm; tỷ lệ hộ đói nghèo giảm xuống còn 12%. Công tác đền ơn đáp nghĩa thường xuyên được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm và trở thành ý thức tự giác của các tầng lớp nhân dân. Các đối tượng chính sách, nạn nhân chất độc da cam và các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm, giúp đỡ có hiệu quả. Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được khuyến khích làm giàu chính đáng. Sau những cản trở và mò mẫm, tìm tòi khám phá, nhiều người dân đã mạnh dạn vay vốn, góp vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh và rất nhiều nông dân đã trở thành triệu phú, tỷ phú ngay trên quê hương mình. Thông qua Đường 9, sự giao lưu, buôn bán hàng hóa giữa các bộ tộc Lào và Việt Nam đã góp phần làm cho chợ Phiên (Cam Lộ) hưng thịnh một thời và Đông Hà trở thành trung tâm thương mại du lịch của tỉnh; trong thời kỳ mới Đường 9 xuyên Á đã trở thành trục hành lang kinh tế Đông - Tây sôi động không chỉ của Quảng Trị mà của cả khu vực miền Trung, trong đó, khu vực Lao Bảo - Khe Sanh trở thành khu kinh tế thương mại đặc biệt đang phát triển mạnh mẽ, sẽ là đòn bẩy cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội toàn tỉnh. Nhìn lại hành trình 40 năm qua, Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị vô cùng tự hào với những thành quả đã đạt được. Con đường cách mạng ở phía trước có vận hội và thời cơ mới nhưng cũng có nhiều khó khăn, thử thách; Đảng bộ, quân và dân Quảng Trị sẽ không ngừng phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng vẻ vang của mình, đoàn kết một lòng quyết tâm chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, nỗ lực phấn đấu viết tiếp những trang sử mới trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2026, 08:39:56 pm TỪ CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO VÀ SỰ PHỐI HỢP Ở CHIẾN TRƯỜNG ĐÔNG NAM BỘ MÙA XUÂN 1971 NGHĨ VỀ CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC Thiếu tướng TRẦN ĐƠN Ủy viên Trung ương Đảng Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 7 Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" - thực chất là cuộc tiến công chiến lược của 42.000 quân, chủ yếu thuộc lực lượng tổng trù bị chiến lược của quân đội Sài Gòn, được sự yểm trợ tối đa của không quân, hải quân, pháo binh Mỹ. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng về tiếp tục phát triển chiến lược tiến công toàn diện, liên tục, mạnh mẽ cả về chính trị, quân sự, ngoại giao để đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ trong bôi cảnh "Đông Dương là một chiến trường", Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các chiến trường gấp rút lập kế hoạch tác chiến, phản công tiêu diệt địch trong mùa khô 1970-1971, trọng điểm là các địa bàn Trung - Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia. Trong đó, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là chiến dịch trung tâm, có ý nghĩa chiến lược và tác động lớn đến thế và lực của cách mạng. Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (30.1 - 23.3.1971), lần đầu tiên ta sử dụng tập trung một lực lượng binh chủng hợp thành với quy mô lớn, gồm: 5 sư đoàn bộ binh, 4 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn pháo cao xạ và tên lửa phòng không, 3 trung đoàn công binh (quân chủ lực Bộ Quốc phòng); kết hợp với các sư đoàn chủ lực của Quân khu 5, Quân khu Trị - Thiên và lực lượng chiến đấu tại chỗ của các địa phương và Đoàn 559, do Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ huy. Sau gần hai tháng chiến đấu, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 19.960 tên, bắt hơn 1.000 tù binh, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công chiến lược của địch theo công thức "Quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa + hỏa lực, hậu cần của Mỹ" nhằm thực hiện âm mưu thâm độc là bịt kín tuyến hành lang vận chuyển chiến lược Trường Sơn, "huyết mạch" chính bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho cách mạng miền Nam. Nằm trong ý đồ chiến lược lớn của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, cùng với thời điểm ở Quảng Trị, địch mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào, thì ở miền Đông Nam Bộ, sáng ngày 4 tháng 2 năm 1971, Quân đoàn 3 được sự yểm trợ của 15 phi đoàn máy bay Mỹ (262 chiếc) mở cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" đánh vào vùng Đông Bắc Campuchia. Lực lượng địch gồm: 3 sư đoàn bộ binh, lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp, liên đoàn 3 biệt động quân, lực lượng đặc nhiệm của hải quân, 12 tiểu đoàn pháo, 3 thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép. Tổng quân số khoảng 23.000 tên, biên chế thành 9 chiến đoàn hỗn hơp cộng với hai tiểu đoàn quân Lon Non. Mục tiêu cuộc hành quân nhằm bất ngờ bao vây tiêu diệt một bộ phận quan trọng chủ lực của ta, phá hủy căn cứ, kho tàng, giải tỏa đường 7, lập tuyến ngăn chặn ở Đông và Đông Bắc Campuchia. Địch coi đây là một mũi tiến công lớn phối hợp với cuộc tiến công chiến lược ở Đường 9 - Nam Lào nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và hậu phương trực tiếp của B2. Bộ chỉ huy Miền chủ trương nắm thời cơ này thực hiện trận quyết chiến nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, làm tan rã một bộ phận quân Lon Non, mở rộng vùng giải phóng, phát triển lực lượng cách mạng Campuchia, bảo vệ căn cứ đầu não của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và các căn cứ hậu cần của Miền. Do nắm được ý định chiến lược của địch và một phần kế hoạch cuộc hành quân, Bộ Tư lệnh Miền tổ chức chiến dịch phản công với quy mô lớn nhất từ trước tới nay ở chiến trường phía Nam để đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" của địch. Lực lượng tham gia chiến dịch của ta tương đương cấp quân đoàn (3 sư đoàn: 9, 7, 5, một sư đoàn pháo binh và các đơn vị binh chủng phối hợp với các lực lượng thuộc các khu căn cứ Campuchia). Trên hướng phản công chủ yếu, ta sử dụng hai sư đoàn bộ binh (Sư đoàn 9 và Sư đoàn 7) và phần lớn sư đoàn pháo binh, tập trung bẻ gãy và tiêu diệt cánh quân chủ yếu của địch tiến công lên Suông, Chúp, Đầmbe - Salông. Trên hướng thứ yếu (đường 13), ta sử dụng Sư đoàn bộ binh 5 sẵn sàng đánh bại cánh quân thứ yếu của địch, tạo điều kiện cho hướng phản công chủ yếu tiêu diệt địch. Ở hướng phối hợp (đường 1), sử dụng 1 trung đoàn của Khu 8, kết hợp đánh vừa với đánh nhỏ, tạo điều kiện đánh tập trung tiêu diệt lớn quân địch ở các khu vực quyết chiến Suông, Chúp, Đầmbe, đánh tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn bộ binh, chi đoàn thiết giáp, tiến tới tiêu diệt chiến đoàn địch, kết hợp đánh địch tiến công ra phía trước với đánh vào sau lưng chúng bằng lực lượng 3 thứ quân, lấy tiêu diệt địch ngoài công sự làm chủ yếu. Chiến dịch phản công Đông Bắc Campuchia kết thúc thắng lợi (31-5-1971). Cùng với chiến thắng có ý nghĩa chiến lược ở Đường 9 Nam Lào, thắng lợi của chiến dịch phản công Đông Bắc Campuchia, đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" của Quân đoàn 3 địch, tạo nên sự suy sụp mới cho quân đội Sài Gòn, giáng một đòn nặng vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, định dùng quân Sài Gòn thay quân Mỹ làm lực lượng xung kích và nòng cốt trên chiến trường Nam Việt Nam và cả chiến trường Lào và Campuchia. Khác với các loại hình tác chiến tiến công và phòng ngự thường được vận dụng trong các quy mô chiến lược, chiến dịch và chiến thuật thì phản công là một dạng đặc biệt của tác chiến tiến công, được vận dụng ở quy mô cấp chiến lược và chiến dịch. Thắng lợi của các chiến dịch phản công đánh dấu thêm một bước phát triển mới về nghệ thuật phản công của Quân giải phóng miền Nam, lấy số lượng ít nhưng có chất lượng cao đánh bại một lực lượng địch đông hơn, trong điều kiện quân địch đã hình thành thế chiếm đóng tương đối ổn định và vững chắc. Đó là nghệ thuật tạo thế chia cắt, bao vây địch, tập trung lực lượng tiến công, tiêu diệt, làm tan rã từng cụm lớn quân địch và truy kích chúng; nghệ thuật chủ động chọn đúng mục tiêu, chuyển hướng tiến công chiến dịch khi quân địch chuẩn bị kết thúc cuộc hành quân, để tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận khi chúng rút chạy. Trên cơ sở đó, giành thế chủ động chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tạo điều kiện để quân và dân miền Nam chuyển sang tiến công chiến lược, tiến tới tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc chiến tranh. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2026, 08:40:40 pm Miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ là địa bàn chiến lược quan trọng. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quán triệt sâu sắc quan điểm "quốc phòng toàn dân" của Đảng, thực hiện sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, nhân dân và lực lượng vũ trang Quân khu 7 đang tập trung xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh đáp ứng yêu cầu: vững trên toàn cục và mạnh ở từng trọng điểm, trên từng hướng, từng địa bàn, từng khu vực, nhất là ở những địa bàn trọng yếu như: biên giới, biển đảo; đặc biệt coi trọng xây dựng "thế trận lòng dân" - một sức mạnh cơ bản của nền quốc phòng toàn dân; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng tỉnh (thành phố) thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, theo tinh thần Nghị quyết 28/NQ-BCT của Bộ Chính trị khoá X. Khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) là một thành phần quan trọng của thế trận quốc phòng toàn dân, tạo nên lực lượng và thế trận tại chô có khả năng ngăn chặn, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, chiến đấu bảo vệ địa phương trong mọi tình huống với tư tưởng "tỉnh giữ tỉnh, huyện giữ huyện, xã giữ xã". Đây là nền tảng cho việc tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương, là chỗ dựa cho các đơn vị bộ đội chủ lực tác chiến, thực hiện tốt việc kết hợp tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực. Trong tác chiến phòng thủ, quân khu sử dụng tổng hợp các lực lượng của khu vực phòng thủ, lực lượng của quân khu, có thể có bộ phận lực lượng của Bộ tham gia; đồng thời kết hợp, vận dụng nhiều hình thức tác chiến, tác chiến phòng thủ, phòng ngự, phản công, tiến công và các hoạt động khác. Trong đó, tác chiến phản công là một trong những hình thức thường được vận dụng trong tác chiến phòng thủ của quân khu.
Những kinh nghiệm được rút ra từ hai chiến dịch phản công Xuân 1971: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và Đông Bắc Campuchia là những bài học vô cùng quý giá để chúng ta kế thừa, vận dụng, phát triển trong điều kiện mới. Khác với cuộc kháng chiến chống Mỹ khi địch đã chiếm đóng trên lãnh thổ đất nước chúng ta, ngày nay, trong điều kiện đất nước có hoà bình, độc lập tự do và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ, nếu chiến tranh xảy ra, chúng ta phải chống lại quân xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao, tiến công từ bên ngoài vào bằng nhiều hướng. Vì vậy, việc bảo vệ các mục tiêu, địa bàn trọng yếu, bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc có ý nghĩa chiến lược vô cùng to lớn. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chiến dịch phản công thường được kế tiếp tác chiến phòng thủ, phòng ngự là chủ yếu (bao gồm tác chiến của khu vực phòng thủ địa phương, tác chiến phòng thủ của quân khu, tác chiến phòng thủ chiến lược) có thể diễn ra ngay thời kỳ đầu chiến tranh, bởi chúng ta có thế trận các khu vực phòng thủ địa phương và thế trận phòng thủ của các quân khu cũng như cả nước được xây dựng từ thời bình. Khi có chiến tranh xảy ra, thế trận đó sẽ chuyển hoá thành thế trận chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc do lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Vì vậy, kẻ thù tiến công xâm lược nước ta bằng hình thức và lực lượng như thế nào (đường bộ, đường biển hay đổ bộ đường không) cũng đều bị lực lượng các khu vực phòng thủ địa phương chặn đánh ngay từ ngày đầu, giờ đầu khi quân xâm lược đặt chân lên đất nước chúng ta, ở bất cứ khu vực, địa phương nào. Ở những hướng chiến trường trọng yếu, ta có thể tổ chức tác chiến phòng thủ cấp quân khu, chiến dịch phòng ngự; quá trình tác chiến phòng thủ, phòng ngự sẽ ngăn chận, thực hiện tiêu hao lớn, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, làm chậm bước tiến công của chúng, bảo vệ và giữ các địa bàn trọng yếu buộc địch rơi vào thế bị động, sa lầy, ta nắm thời cơ thực hành tiến công trong phòng thủ, phòng ngự hoặc mở chiến dịch phản công hay chuyển sang phản công chiến lược. Như vậy, cần phân biệt các hoạt động tiến công trong phòng thủ, phòng ngự là những hoạt động của các lực lượng cơ động tiến công (một thành phần lực lượng của tác chiến phòng thủ, phòng ngự) nhằm đánh địch giữ vững các khu vực phòng thủ, phòng thủ then chốt hoặc các khu vực phòng ngự chủ yếu, bảo vệ giữ địa bàn, làm thất bại cuộc tiến công của quân địch. Còn khi ta chủ động mở chiến dịch phản công hoặc chuyển sang phản công chiến lược, phải được tính toán cân nhắc kỹ về điều kiện, thời cơ khách quan, chủ quan cả phía ta và phía địch. Chính vì vậy, tác chiến phòng thủ, phòng ngự có vai trò rất quan trọng trong lập thế chặn, thế cắt, thế đánh rộng khắp, thế bao vây, kìm giữ, nghi binh lừa địch tạo ra những điều kiện, thời cơ thuận lợi nhất để chuyển sang tác chiến phản công bằng các binh đoàn chủ lực cơ động, đánh đòn quyết định vào những lực lượng chủ yếu của địch giành thắng lợi hoàn toàn cho tác chiến phản công. Trong chiến dịch phản công, ta và địch đều ở trạng thái đang cơ động. Tuy vậy, ta có lợi thế hơn địch là có cả "thế động" và "thế tĩnh". Hai thế trận đó được kết hợp chặt chẽ, hỗ trợ bổ sung cho nhau. Đó cũng chính là sự kết hợp tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương với tác chiến của các binh đoàn chủ lực cơ động, được kết hợp chặt chẽ với các hình thức đấu tranh chính trị, ngoại giao tạo thành sức mạnh tổng hợp để thắng địch. Đây cũng là điểm phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch phản công trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Về tổ chức phản công, nếu ở quy mô chiến dịch phản công, thường là những chiến dịch phản công trong tác chiến phòng thủ quân khu hoặc trong quá trình tác chiến phòng thủ chiến lược, do Bộ Tư lệnh Quân khu hoặc Tư lệnh các chiến trường trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy các chiến dịch phản công đó theo ý định và kế hoạch tác chiến của Tư lệnh Quân khu hoặc Tư lệnh chiến trường; trong chiến dịch phản công có các trận then chốt, then chốt quyết định theo nội dung của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Nếu ở quy mô phản công chiến lược, thường do Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức hoặc Bộ ủy quyền cho Tư lệnh chiến trường tổ chức, lựa chọn ở chiến trường trọng điểm, đánh bại những lực lượng tiến công chủ yếu của địch; trong phản công chiến lược sẽ có các chiến dịch, chiến dịch chiến lược và chiến dịch quyết chiến chiến lược, do các binh đoàn chủ lực của Bộ kết hợp với các khu vực phòng thủ địa phương và tác chiến phòng thủ quân khu tiến hành, cùng với sự tham gia tác chiến phối hợp hỗ trợ ở các chiến trường khác hoặc được sự phối hợp hỗ trợ của chiến trường cả nước, tạo điều kiện, thời cơ thuận lợi cho chiến trường diễn ra phản công chiến lược giành thắng lợi. Chính vì vậy, công tác hiệp đồng phối hợp giữa các khu vực tác chiến, các chiến trường, các mặt đấu tranh phải được tổ chức chặt chẽ, theo kế hoạch tác chiến phản công thống nhất, cùng với các mặt bảo đảm về thông tin liên lạc thông suốt phục vụ cho lãnh đạo, chỉ huy kịp thời các lực lượng tác chiến, tạo ra sức mạnh tổng hợp vào những thời điểm quyết định của tác chiến phản công. Diễn biến phức tạp của tình hình chính trị - kinh tế quốc tế và những phát triển mới của đối tượng tác chiến (cả về vũ khí trang bị và cách đánh) cũng như những yêu cầu mới trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra rất nhiều vấn đề mới cho nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự của ta nói chung và những nội dung mới của nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng, phải được tiếp tục nghiên cứu giải quyết cả về lý luận và thực tiễn, bảo đảm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược trong mọi tình huống. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2026, 08:43:03 pm CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 BIỂU TƯỢNG CỦA TÌNH ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM - LÀO TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC TS NGHIÊM THỊ HẢI YẾN Khoa Lịch sử - Đại học sư phạm Thái Nguyên Thượng úy LÊ VĂN PHONG Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một trong những minh chứng sinh động của tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào. Năm 1969, sau khi bước vào Nhà Trắng làm Tổng thống Mỹ, Níchxơn tiếp tục tăng cường và mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Đến năm 1971, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc phiêu lưu quân sự mới. Ngày 2 tháng 2 năm 1971, Níchxơn thông qua kế hoạch mở ba cuộc hành quân: cuộc hành quân "Lam Sơn 719", đánh vào Đường 9 - Nam Lào; cuộc hành quân với quy mô trên 30 tiểu đoàn từ Tây Ninh và Lộc Ninh đánh lên Kôngpông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia); cuộc hành quân quy mô khoảng 1 sư đoàn, từ Tây Nguyên đánh ra hướng ba biên giới (vùng A Tô Pơ của Lào). Trong ba cuộc hành quân nói trên, "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân lớn nhất. Lực lượng địch sử dụng trong cuộc hành quân này gồm: Về quân đội Sài Gòn có 3 SƯ đoàn và 3 lữ đoàn, trung đoàn bộ binh, 4 thiết đoàn và 2 chi đoàn thiết giáp, 13 tiểu đoàn (thiếu 3 đại đội) pháo binh. Về quân Mỹ, có 12 tiểu đoàn bộ binh và bộ binh cơ giới, 8 tiểu đoàn pháo binh (cỡ 155mm, 175mm và 203mm), 1.000 máy bay các loại, trong đó có 50 máy bay chiến lược B-52. Về quân đội chính phủ phái hữu Lào, có 26 tiểu đoàn bộ binh điều từ Bắc Xa Ra Van lên Xa Van Na Khẹt (nhưng thực tế chỉ có 9 tiểu đoàn). Mục đích cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch là cắt tuyến vận tải chiến lược của ta, đánh phá kho tàng nhằm làm cho lực lượng vũ trang của ta ở miền Nam suy yếu, không thể đánh tập trung lớn trong mùa khô năm 1971 và cả trong năm 1972 để chúng dễ dàng thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Không những vậy, cuộc hành quân này còn nhằm thử thách quyết tâm và khả năng quân sự của miền Bắc...; hy vọng rèn luyện cho quân đội Sài Gòn trở thành lực lượng nòng cốt cho chính sách "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương", trở thành lực lượng mạnh có khả năng thay thế quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia1 (Bộ Quốc phòng: Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Viện Khoa học Quân sự, Hà Nội, 1976, tr. 15-16)... Quyết tâm đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch, ngày 8 tháng 2 năm 19712 (Theo sách: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 265, 266 có ghi: "... ngày 4 tháng 2, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 51/QĐ-QP, thành lập Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (gọi tắt là Bộ Tư Lệnh 702)..."), theo đề nghị của Tổng Tham mưu trưởng và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ký quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 91 (Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào diễn ra trên một địa bàn rộng, với chiều dài khoảng 140km theo hưỏng Đông - Tây, từ Cửa Việt, Đông Hà (Việt Nam) tới Mường Phìn, Pha Lan (Lào); chiều rộng (theo hướng Bắc - nam) từ Mường Trương đến Mường Noòng, khoảng 60km) với mật danh Bộ Tư lệnh 702, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Quốc phòng. Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận2 (Lực lượng tham gia Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2); 4 tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp (177, 297, 397, 198); 4 trung đoàn pháo binh (368, 38, 45, 84); 4 trung đoàn phòng không (230, 237, 241, 491); 3 trung đoàn công binh (7, 83, 219) và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ. Ngoài ra còn một số lực lượng chiến đấu tại chỗ của Đoàn 559, Mặt trận B4, B5)... Có thể nói, đến thời điểm này, quân và dân Việt Nam đã sẵn sàng cho trận quyết chiến trên chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Khẳng định tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt với nhân dân Việt Nam anh em, đầu tháng 1 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp hội nghị và một lần nữa xác định: "Nhiệm vụ trung tâm số một của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Lào trong lúc này là đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi to lớn cho cách mạng Lào và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang của mình''3 (Ban chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 155). Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng Nhân dân Lào, ngay từ khi quân và dân Việt Nam quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, nhân dân các bộ tộc Lào ở khắp mọi miền đất nước đã hăng hái thi đua, quyết tâm làm hết sức mình đoàn kết cùng quân dân Việt Nam đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch. Khẩu hiệu "Tất cả vì tiền tuyến", "Tất cả để đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai" trở thành phương châm hành động của quân và dân Lào trong những ngày lịch sử sôi động này. Theo đó, Bộ Chỉ huy Quân khu Trung Lào và Tỉnh đội Xa Van Na Khẹt đã lệnh cho các đơn vị phòng không, các Tiểu đoàn 14, 18 Quân giải phóng nhân dân Lào và các đại đội bộ đội địa phương ở Sê Pôn, Mường Phìn, Tà Ôi tiến hành công tác chuẩn bị, sẵn sàng nổ súng đánh địch khi có hiệu lệnh. Nhân dân nhiều nơi tích cực tham gia chuẩn bị tiếp tế hậu cần cho bộ đội Lào - Việt. Đặc biệt, nhiều gia đình đã đem cả những vật dụng quý giá đổi lấy lương thực phục vụ cho chiến dịch. Chính sự tham gia tích cực của nhân dân các bộ tộc Lào đã cổ vũ bộ đội Lào và Việt Nam vượt qua mọi gian khó của địa hình, thời tiết, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Bộ chỉ huy chiến dịch giao phó. Về phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn, sau một thời gian chuẩn bị, ngày 8 tháng 2 năm 1971, chúng bắt đầu tiến công khu vực Đường 9 - Nam Lào. Hàng chục trận địa pháo và hàng chục tốp máy bay phản lực các loại đồng loạt đánh phá dữ dội các mục tiêu dọc hai bên Đường 9, mở màn cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Khi cuộc hành quân bắt đầu, Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: "Nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược... Thắng lợi của trận phản công này sẽ ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương"1 (Bộ Quốc phòng: Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Viện Khoa học Quân sự, Hà Nội, 1976, tr. 25). Trên tinh thần đó, ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: "Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ uà tay sai, giành toàn thắng cho Chiến dịch X (Đường 9 - Nam Lào)". Quân ủy Trung ương kêu gọi: "Toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên hãy ra sức thực hiện "Di chúc" thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng... Tập trung cao nhất tinh thần và sức lực dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ con đương Hồ Chí Minh, xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này"2 (Chỉ thị 009/QUTW do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, hồ sơ 594 - Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng). Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, toàn quân, toàn dân trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào khẩn trương bước vào chiến dịch phản công với khí thế quyết tâm cao nhất. Do được chuẩn bị sẵn từ trước, từ ngày 12 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, lực lượng chủ lực Việt Nam tiến công dồn dập, bẻ gãy cánh quân ở phía Bắc Đường 9, diệt gọn các cụm cứ điểm then chốt trên các điểm cao 500 và 543, đập tan cuộc phản kích lớn của Lữ đoàn dù số 3 và Trung đoàn 17 thiết giáp của quân đội Sài Gòn. Góp phần làm nên chiến công này, phía Lào có đồng chí Am Kum, du kích bản A Ho, xã Xa Ky Phim, huyện Sê Pôn3 (Tháng 4 năm 1979, đồng chí Am Kum được nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào tuyên dương Anh hùng), đã tham gia chiến đấu và dẫn đường cho các đơn vị đặc công Việt Nam đánh vào sở chỉ huy địch. Ở phía Tây Đường 9, khi Binh đoàn cơ động 33 của địch từ Huội Mun, Tùm Lan tiến lên hỗ trợ cho cánh quân đánh vào Mường Noòng, ngay lập tức, các đại đội 91, 93 Quân giải phóng nhân dân Lào cùng du kích Mường Noòng đã chặn đứng sự tiếp viện của Binh đoàn cơ động 33, làm cho chúng không hợp quân được với nhau. Tiếp đó, Tiểu đoàn 14 Quân khu Trung Lào tổ chức phục kích Binh đoàn cơ động 31 từ Mường Pha Lan tiến về Đồng Một - Huội Xa Lan. Tiểu đoàn đi đầu trong đội hình và sở chỉ huy của địch bị tập kích bất ngờ nên tổn thất nặng, do vậy, toàn bộ Binh đoàn cơ động 31 phải rút về Sê Săng Xoi. Cùng lúc đó, Binh đoàn cơ động 32 ở Pu Tin Tốc bị các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào tập kích phải bỏ dở cuộc hành quân. Những nỗ lực chiến đấu của quân và dân Lào đã góp phần to lớn trong việc làm đảo lộn kế hoạch hành quân của Mỹ và quân đội Sài Gòn, tạo điều kiện cho các đơn vị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tiến lên tiêu diệt địch. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2026, 08:44:50 pm Trên đà thắng lợi, Quân ủy Trung ương trong bức điện gửi Thượng tướng Văn Tiến Dũng và Đảng ủy Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (Điện số 012QU/TU/A, ngày 4-3-1971) đã chỉ rõ: "Tập trung tiêu diệt địch trong khu vực Bản Đông. Tăng cường chỉ đạo đối với cánh Nam. Tổ chức trận địa tập kích đối với Khe Sanh (pháo binh và bộ đội đặc công). Tăng cường hoạt động ở hướng Đông Đường 9 - Bắc Quảng Trị, cắt giao thông, đánh hậu cứ..."1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 6 - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 tr. 273).
Phối hợp tiến công vởi quân và dân Việt Nam, quân và dân các bộ tộc Lào cũng tích cực chiến đấu ngăn chặn quân địch trên Đường 9. Trên hướng Đông, khi các đơn vị chủ lực Việt Nam chặn đánh địch tại điểm cao 723 và 600, các đơn vị vũ trang Lào đã nhanh chóng cùng bộ đội Việt Nam vây ép Bản Đông. Để giải vây cho Bản Đông, địch liền tung lực lượng dự bị chiến dịch là Sư đoàn 1 bộ binh ra đánh điểm cao 723. Nắm bắt được ý đồ của địch, Quân giải phóng nhân dân Lào liền tung phần lớn lực lượng phòng ngự ở Sê Pôn, phối hợp với các đơn vị chủ lực của Quân giải phóng miền Nam mở đòn tiến công đánh vào Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn trên điểm cao 723. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt, hai bên giành nhau từng mét đất trên một điểm cao chật hẹp. Kết quả, ta đã tiêu diệt Trung đoàn 1, chiếm lĩnh hoàn toàn trận địa của địch trên điểm cao 723. Thừa thắng, các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào tiếp tục triển khai tiến công điểm cao 560, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1 bộ binh, phá vỡ vòng yểm trợ sườn phía Nam của cụm Bản Đông, tiếp đó phát triển tiến công Lữ đoàn 147 trên điểm cao 550 và đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 258 trên dãy núi Cô Bốc, uy hiếp trực tiếp Đường 9 đoạn từ Hướng Hoá đến Lao Bảo (Quảng Trị). Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, quân địch tháo chạy khỏi Bản Đông (18-3-1971). Một cảnh tượng bi thảm của quân đội Sài Gòn đã diễn ra trên Đường 9 - đoạn từ Bản Đông về Lao Bảo, hơn 100 xe tăng, xe thiết giáp địch bị chặn đánh, hàng trăm binh sĩ, sĩ quan quân đội Sài Gòn phải trút bỏ vũ khí, chạy cắt rừng hòng thoát thân, nhưng đã bị quân ta truy kích tiêu diệt và bắt sống. Ngày 20 tháng 3 năm 1971, Bản Đông được hoàn toàn giải phóng. Trong trận then chốt chiến dịch này, được sự phối hợp tác chiến Quân giải phóng nhân dân Lào, chúng ta đã loại khỏi vổng chiến đấu hơn 1.800 tên địch, thu và phá hủy 113 xe tăng, xe bọc thép, 24 khẩu pháo, bắn rơi 52 máy bay. Cũng cần phải thấy rằng, để làm nên thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, không thể không nhắc tới những đóng góp của nhân dân các tỉnh Nam Lào. Ngay từ khi địch chuẩn bị tổ chức cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ chỉ huy Quân giải phóng nhân dân Lào đă chỉ thị cho các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam và các đơn vị vũ trang của Quân khu Nam Lào thành lập Mặt trận Y (Mặt trận Xa Ra Van) do đồng chí Hoàng Kiện - Phó Tư lệnh Đoàn 559, trực tiếp chỉ huy tác chiến. Tham gia Mặt trận Y, về phía Lào có đồng chí Khăm Chăn, đồng chí Ka Lăng và các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh đội trưởng các tỉnh Nam Lào. Ngày 21 tháng 2 năm 1971 (13 ngày sau khi cuộc hành quân "Lam Sơn 719" mở màn), Bộ Tư lệnh Mặt trận Y giao nhiệm vụ cho các đơn bị ở Nam Lào phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam tổ chức tiến công các vị trí của địch ở cứ điểm 38 (In Thi), cứ điểm 165 (Nậm Tiêng) và cứ điểm 22 (Nậm Lực). Lực lượng tham gia đánh các cứ điểm này, ở Nam Lào có 2 tiểu đoàn chủ lực của Quân khu Nam Lào, các đại đội địa phương tỉnh Xa Ra Van, Miền Đông, A Tô Pơ và Bô Lô Ven; Quân tình nguyện Việt Nam có Trung đoàn 29 (ở ven Đường 9), ở Nam Lào có Trung đoàn 9, Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 20, Tiểu đoàn 46 và một số đại đội binh chủng trực thuộc. Trận đánh đầu tiên diễn ra tại cứ điểm 165 (Nậm Tiêng). Cứ điểm này có độ cao 1.090m so với mặt nước biển, nằm ở hướng Đông Nam thị xã Pạc Xoòng. Sáng 7 tháng 3 năm 1.971, quân và dân Nam Lào phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam nổ súng tấn công cứ điểm 165; đến 17 giờ cùng ngày, làm chủ cứ điểm. Phát huy thế tiến công, quân dân Nam Lào tổ chức bao vây cứ điểm 38 (In Thi). Đến đêm 9 tháng 3, quân địch tại In Thi tháo chạy. Cùng thời gian trên, Liên quân Lào - Việt nhanh chóng triển khai đánh chiếm cứ điểm 22 (Nậm Lực). Lực lượng tham gia đánh cứ điểm 22 về phía Lào có Tiểu đoàn 11 Quân giải phóng nhân dân Lào, bộ đội địa phương tỉnh A Tô Pơ và dân quân du kích trong khu vực; Quân tình nguyện Việt Nam có Trung đoàn 9 do Trung đoàn trưởng Le Viết Á và Chính ủy Nguyễn Tiến Thưởng chỉ huy. Để đảm bảo cho trận đánh đạt kết qua tốt, nhân dân nhiều bản mường trong khu vực đã hăng hái đi tiếp thương, tải đạn, tải thương cho các đơn vị chiến đấu. Sáng ngày 8 tháng 3, quân ta bắt đầu nổ súng tấn công. Sau hai ngày chiến đấu, Liên quân Lào - Việt đã làm chủ căn cứ 22 (9-3-1971). Tính đến cuối tháng 3 năm 1971, phối hợp chiến đấu với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, quân dân các tỉnh Nam Lào đã đánh tổng cộng 116 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 836 tên địch, thu 172 súng các loại, bắn rơi 4 máy bay1 (Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh Hạ Lào (1945-1975), Viêng Chăn, 2005, tr.321 (bản dịch tiếng Việt)). Đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, trải qua hơn 50 ngày chiến đấu gian khổ, ác liệt, được sử ủng hộ, phối hợp chiến đấu hiệu quả của quân và dân các bộ tộc Lào, chúng ta đã kết thúc thắng lợi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào1 (Ta tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn, 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn xe tăng thiết giáp; đánh thiệt hại nặng hai trung đoàn bộ binh, 1 liên đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn và 3 tiểu đoàn khác. Số địch chốt và bị thương 19.960 tên, bị bắt 1.142 tên. Ta bắn rơi và phá hủy 556 máy bay các loại, 1.138 xe cơ giới, 112 khẩu pháo cối, thu 2 máy bay trực thăng, 24 xe các loại, 57 khẩu pháo, 21 súng cối, 2.268 súng bộ binh, 274 máy thông tin vô tuyến điện. Số liệu trong sách: Tóm tắt các chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 277). Chiến thắng này có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng cả về quân sự và chính trị, tác động mạnh mẽ đến cục diện chung chiến trường ba nước Đông Dương, đánh dấu một bước thất bại quan trọng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ ở Việt Nam và "mở ra những triển vọng vô cùng tốt đẹp đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng"2 (Thư của Ban Chấp hành Trung ương gửi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên thanh niên trên Mặt trận Đường 9, ngày 31 tháng 3 năm 1971, hồ sơ 594, Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng). Có thể nói, chiến thắng Đường 9 - Nam Lào là một trong những biểu tượng sinh động của tình đoàn kết đặc biệt và liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đã tròn 4 thập kỷ trôi qua, những dấu tích chiến sự của thắng lợi Đường 9 - Nam Lào năm xưa có thể bị bào mòn bởi thời gian, nhưng tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào vẫn không ngừng được nâng nên những tầm cao mới; những bài học kinh nghiệm đúc kết từ chiến dịch này đến nay vẫn nguyên giá trị vận dụng vào việc phát triển quan hệ đặc biệt giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội hai nước hôm nay và mai sau. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Năm, 2026, 09:25:55 pm HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" QUA ĐÁNH GIÁ CỦA PHƯƠNG TÂY Đại tá, PGS, TS TRẦN NGỌC LONG Tổng Biên tập Tạp chí Lịch sử quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" do quân đội Sài Gòn thực hiện với sự yểm trợ của không quân và pháo binh Mỹ diễn ra từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971. Mục tiêu của cuộc hành quân là đánh phá hành lang chiến lược, phá hủy hệ thống kho tàng hậu cần của đối phương tại Lào và cắt đứt đường Hồ Chí Minh tại thị trấn Sê Pôn (cách biên giới Việt - Lào 42km về phía Tây); đây là một phần của chủ trương "chiến tranh bóp nghẹt", làm cho lực lượng cách mạng ở miền Nam Việt Nam suy yếu một cách cơ bản không còn khả năng tập trung đánh lớn. Đồng thời, thông qua chiến dịch này để thử nghiệm khả năng quân lực Việt Nam Cộng hòa có thể tự chiến đấu trong tình huống Mỹ tiếp tục rút quân ra khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam được hay không? Thử nghiệm về chiến lược và phô trương kết quả sau gần 3 năm tiến hành "Việt Nam hoá chiến tranh". Điều đáng lưu ý là khác với trước, lần này để bảo tồn lực lượng và né, đánh lừa sự phản đối của dư luận trong nước và thế giới, quân Mỹ đáp ứng tất cả mọi yêu cầu yểm trợ về hoả lực, hậu cần, vận tải cơ động của lực lượng quân Sài Gòn ở tuyến trước; nhưng bộ binh cơ giới của Mỹ chỉ hoạt động ở phía sau (trên đất Việt Nam) mà không vượt qua biên giới Việt - Lào. Lực lượng quân Mỹ mang "tên Mỹ": "Dewey Canyon II" (tháng 1-1969 đã từng có cuộc hành quân mang tên "Dewey Canyon I" đánh qua biên giới Việt - Lào ở khu vực A Sầu); lực lượng quân đội Sài Gòn mang tên: "Lam Sơn 719" (ghép số 71 với Đường 9 - trục chính của cuộc tiến công). Theo những tư liệu của Trung tâm lưu trữ văn khố quốc gia Mỹ công bố năm 2002 thì cuộc hành quân "Lam Sơn 719" huy động một lực lượng tương đương 3 sư đoàn và được triển khai qua 4 giai đoạn. Giai đoạn 1: (Chủ yếu do quân Mỹ phụ trách), mục tiêu là giải toả quốc lộ 9, đoạn từ Đông Hà đến Lao Bảo (biên giới Việt - Lào); tái chiếm căn cứ Khe Sanh để thiết lập Bộ chỉ huy tiền phương của cuộc hành quân; sửa chữa sân bay Khe Sanh làm đầu cầu không vận chính. Giai đoạn 2: Quân đội Việt Nam cộng hoà tiến theo trục quốc lộ 9 lên đánh chiếm Bản Đông. Giai đoạn 3: Sau khi củng cố, xốc lại lực lượng, trực thăng vận sẽ bốc quân dù từ Bản Đông đổ xuống chiếm Sê Pôn. Song song với đó, lực lượng kỵ binh thiết giáp tiến theo trục quốc lộ 9 lên hợp điểm với lực lượng ỏ Sê Pôn. Giai đoạn 4: Sau khi chiếm Sê Pôn và phá hủy toàn bộ các căn cứ hậu cần của đối phương ở đây, các đơn vị của quân đội Sài Gòn sẽ quay về phá hủy các căn cứ của đối phương ở A Sầu, A Lưới... Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" dự định kéo dài trong 3 tháng, mở màn sau Tết Tân Hợi, kéo dài cho tới tháng 5, khi vùng Hạ Lào bắt đầu đón mùa mưa. Cuối năm 1970, tin tình báo Mỹ cho biết có 90% lượng quân nhu của đối phương đang được đưa vào 3 tỉnh cực bắc của Việt Nam Cộng hòa. Điều này cảnh báo cho cả Oasinhtơn và Bộ Tư lệnh MACV ở Sài Gòn hối thúc về sự cần thiết phải mở một cuộc hành quân đánh qua Hạ Lào. Cho đến nay, trong số các nhân vật chóp bu của bộ máy chiến tranh Mỹ lúc bây giờ chưa thấy ai nhận là tác giả của bản kế hoạch này. Trong hồi ký của những nhân vật chóp bu của Nhà Trắng có liên quan như H.Kítxinhgơ, R. Haldeman, Thômát Mo, A. Haig... cũng chỉ tiết lộ một cách mập mờ rằng bản kế hoạch do Ban tham mưu Liên quân chuẩn bị qua sự thúc giục của Níchxơn và Kítxinhgơ. Chính A. Haig (phụ tá quân sự cho H. Kítxinhgơ lúc bấy giờ) là người trực tiếp đem huấn lệnh của Tổng thống Níchxơn qua Sài Gòn để thông báo Kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719" cho Bộ Tư lệnh MACV. Kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719" được chuẩn bị, tính toán kỹ càng đến từng chi tiết; các mục tiêu cũng được cất nhắc, đặt ra rất cụ thể. Còn nhớ, khi vạch kế hoạch "Lam Sơn 719", Kítxinhgơ ngạo mạn tuyên bố: "Cán cân ở Đông Dương đã lệch về phía có lợi cho Nam Việt Nam"1 (H. Kissinger, Những năm ở Nhà Trắng, Bản dịch lưu tại Thư viện Quân đội, 1979, tr. 1004). Còn sáng 8 tháng 2 năm 1971, khi phát lệnh mở cuộc tiến công nhằm cắt đứt đường Hồ Chí Minh của đối phương, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lớn tiếng huênh hoang rằng "sẽ đón các nhà báo quốc tế tại Sê Pôn". Ấy vậy mà mới chỉ đi được nửa đường, cuộc hành quân chiến lược này đã bị phá sản. Đây quả là một thảm họa đối với quân lực Việt Nam Cộng hòa; làm tiêu tan những đơn vị thiện chiến nhất của quân lực Việt Nam Cộng hòa gây khủng hoảng lòng tin vốn sau gần 3 năm "Việt Nam hóa chiến tranh". "Việt Nam hóa chiến tranh" - chiến lược mà nhiều quan chức dân sự và quân sự Mỹ coi là phương cách tốt nhất để cứu Việt Nam Cộng hòa và để Mỹ hoàn thành việc rút quân đã thể hiện sự thất bại. Dẫu còn có sự khác nhau trong đánh giá mức độ, nguyên nhân thất bại; nhất là về con số thiệt hại của các bên tham chiến; song điều dễ nhận thấy là phần đông các ý kiến nhận xét, đánh giá của đối phương đều giống nhau ở một điểm khi cho rằng: Thất bại của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa ở Đường 9 - Nam Lào là một thất bại chiến lược; đánh dấu bước thất bại cơ bản về quân sự của "Việt Nam hoá chiến tranh". Những mục tiêu chiến lược của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đều không đạt: Không "bóp nghẹt" được hành lang vận chuyển chiến lược của đối phương; không triệt phá được các căn cứ hậu cần ở Sê Pôn (tin tức tình báo Mỹ phát hiện ngay trong tháng 5 đã có nhiều kho hàng ở Sê Pôn); không làm suy yếu được khả năng tập trung lực lượng đánh lớn của đối phướng... Ngược lại, nó tạo ra thời cơ thuận lợi mới cho phong trào kháng chiến của 3 nước Đông Dương (sự rút lui của quân Việt Nam Cộng hòa khỏi Sê Pôn, sự cắt giảm yểm trợ không quân của Mỹ đã phá vỡ sự cân bằng của hai bên tại Lào. Nhiều nhà quan sát thạo tin đã kết luận là các lực lượng chống Cộng tại Lào sắp hết thời"1 (R. Cole, The Vietnam war, Nxb Salamander, London, 1979). Và đáng buồn hơn đó lại là hiện thân của kết quả sau gần 3 năm "phát triển và tối tân hoá" quân đội Việt Nam Cộng hoà trong chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ. Hành quân "Lam Sơn 719" là một trong những sự kiện được nhắc tới khá nhiều trong quân sử, cũng như trong hồi ký của các tướng lĩnh Mỹ và Việt Nam Cộng hòa; trong các công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam của các học giả nước ngoài. Trong khi phần lớn các ý kiến đều cho rằng cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là một thất bại về chiến lược hết sức quan trọng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì vẫn có những ý kiến cố tình bào chữa cho thất bại của cuộc hành quân; thậm chí đổ lỗi cho nhau trong phần gánh trách nhiệm. H. Kítxinhgơ - một trong những kiến trúc sư của Kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719" đã than phiền rằng: "Sự thành công thì có nhiều người cha. Nhưng thất bại là đứa con không người nhận"1 (H.Kissinger, Những năm ở Nhà Trắng, Sđd, tr. 1004). Còn Tướng Cao Văn Viên - cựu Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, hơn 30 năm sau, trong hồi ký của mình vẫn khẳng định: "Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đã chặn đứng được kế hoạch phản công của Cộng sản Bắc Việt ở Vùng 1. Mặc dù không thành công mỹ mãn như cuộc hành quân qua Cambốt, nhưng cuộc hành quân đánh qua Hạ Lào đã phá hủy một số lớn kho quân nhu ở Sê Pôn và làm gián đoạn sự xâm nhập của Cộng sản Bắc Việt vào Nam". Chưa hết, Cao Văn Viên còn biện minh "Có nhiều nhận định cho rằng cuộc hành quân "Lam Sơn 719" thất bại. Những nhận định này có thể đến từ suy luận cuộc hành quân là một cố gắng tối khẩn để kết thúc cuộc chiến. Lối suy diễn đó không đúng"1 (Những ngày cuối của Việt Nam Cộng hòa. Bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, 2003, tr. 289). Tướng Sơthơlan - Tư lệnh Quân đoàn 24 của Hoa Kỳ, lực lượng chủ chốt tham gia "Dewey Canyon II" cũng cho rằng "Lam Sơn 719" đã làm chậm lại cuộc tiến công định sẵn của quân Bắc Việt"2 (R. Cole, The Vietnam war, Nxb Salamander, London, 1979). Thực ra, ngay sau khi cuộc hành quân vừa kết thúc, kết cục bi thảm của nó đã được phơi bày trên nhiều mặt báo ở Mỹ và phương Tây. Tờ New York time ra ngày 5 tháng 4 năm 1971 nhận xét "Thật là khủng khiếp. Phía Mỹ và Nam Việt Nam ước tính bị thương vong gần 50% lực lượng tham gia cuộc hành quân". Tờ Người quan sát mới ra ngày 5 tháng 4 công bố: "Các nhà quan sát trung lập ước tính trong 5 tuần, số quân Nam Việt Nam bị tổn thất lên tới chừng 10.000 người. Và kết quả là mạng lưới đường mòn kéo dài trên 1.000km vẫn còn đó, núi rừng và quân đội của Tướng Giáp vẫn còn đó". Hãng AFP ngày 25 tháng 3 năm 1971 thì bình luận "Ra quân là những đơn vị thiện chiến như biệt động quân, thủy quân lục chiến, quân dù... Cái tên "Ngọn lao thép" được gán cho giờ đây chỉ còn là cái bóng"... Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Năm, 2026, 09:27:56 pm Với độ lùi thời gian 40 năm; đặc biệt là với những nguồn tư liệu đã được giải mật càng giúp cho các nhà nghiên cứu có được sự nhìn nhận, đánh giá về cuộc hành quân "Lam Sơn 719" một cách khách quan và phản ánh đúng sự thật lịch sử hơn. Các tác giả Nguyễn Tiến Hưng và L.Schêctr trong cuốn Hồ sơ cung đình (The palace file) cho rằng "Lam Sơn 719" là thử thách đầu tiên đối với quân đội Thiệu sau 2 năm "Việt Nam hoá". Người Mỹ thì thúc giục quân đội Sài Gòn làm cái điều mà đặt ra trước đó từ lâu nhưng chưa làm được, đó là mở cuộc tiến công vào các căn cứ hậu cần của đối phương nằm trên đất Lào nhằm cắt đứt tuyến chi viện chiến lược xuyên Trường Sơn. Ngược lại, Nguyễn Văn Thiệu lại muốn chứng tỏ cho người Mỹ thấy rằng Quân đội Việt Nam Cộng hoà đã trưởng thành, có đủ khả năng làm được việc đó.
Phần lớn các công trình nghiên cứu xuất bản những năm gần đây đều tập trung mổ xẻ, phân tích nguyên nhân dẫn đến sự ra đời cũng như nguyên nhân thất bại của "Lam Sơn 719". Các nhà nghiên cứu cho rằng có hai lý do chính thúc đẩy sự ra đời của "Lam Sơn 719". Thứ nhất, về chính trị: Năm 1972 là năm bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ, Níchxơn phải cho cử tri Mỹ thấy được cuộc chiến Việt Nam đang phát triển khả quan; đồng minh Việt Nam Cộng hòa đang thắng thế. Kítxinhgơ thì hy vọng "một cuộc tiến công qua Lào sẽ gây thiệt hại nặng nề cho đối phương. Và nêu đối phương có khôi phục lại được, đủ sức de doạ đồng minh Việt Nam Cộng hòa thì chí ít cũng phải mất hơn 1 năm - nghĩa là lúc đó kết quả bầu cử ở Mỹ đã an bài. Vả lại, từ tháng 8 năm 1969, Hoa Kỳ bắt đầu rút quân, nếu cuộc tiến công qua Lào thành công thì chương trình rút quân và chiến lược "Việt Nam hoá" sẽ thành công theo ý muốn"1 (R. Cole, The Vietnam war, Sđd). Thứ hai, về quân sự: Kết quả các cuộc tiến công ở Đông Bắc Campuchia cùng với những khó khăn nhất định của đối phương trên chiến trường trong hai năm 1969-1970; đặc biệt là số quân Mỹ ở Nam Việt Nam đến thời điểm cuối năm 1970 vẫn đang còn 334 nghìn... đã thúc đẩy các chiến lược gia Hoa Kỳ cho ra đời kế hoạch "Dewey Canyon II". Họ cho rằng nếu đánh sang Lào là phải đánh ngay, nếu chần chừ, hoả lực yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ sẽ giảm dần theo đà rút quân. Lý giải về nguyên nhân thất bại, các nhà nghiên cứu cho rằng, đối phương đã dự đoán sẵn một nỗ lực quân sự tiếp theo tất yếu của "Việt Nam hóa chiến tranh" và bày sẵn thế trận tiêu hao đối thủ. Tuy thời gian đầu đối phương cố giấu lực lượng để nhử quân Sài Gòn về phía Tây; chỉ đến khi yếu tố bí mật không còn mới tiến hành trận đánh "Đại phá Bản Đông". Rõ ràng là quân lực Việt Nam Cộng hòa đã thất bại từ trong trứng. Trong khi đó, cũng có ý kiến cho rằng Việt Nam Cộng hòa đã biết chắc thất bại nhưng vẫn tiến hành chiến dịch đẫm máu vì những lý do chính trị mà như Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã chỉ thị "chỉ cần đến Sê Pôn rồi rút". Về nguyên nhân thất bại trực tiếp thì có nhiều nhưng tựu trung lại có mấy nguyên nhân chính như sau: Thứ nhất là sự thiếu đồng thuận trong quá trình soạn thảo và thông qua kế hoạch; thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Các tư liệu từ phía bên kia cho thấy quá trình thai nghén kế hoạch hành quân này cũng không phải thuận chiều. Tổng trưởng Ngoại giao W.Rôgiơ phản đối kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719" (phải qua nhiều lần Níchxơn thuyết phục mối chịu đồng ý một cách lưỡng lự); còn Đại tướng Oétmolen thì hoài nghi và đòi "cuộc hành quân phải có ít nhất 4 sư đoàn để tấn công vào Sê Pôn. Và phải tấn công chớp nhoáng bằng trực thăng vận chứ không thể đánh theo đường bộ"1 (H. Kissinger, Những năm ở Nhà Trắng, Sđd). Thứ hai, quân lực Việt Nam Cộng hòa không đủ quân để đè bẹp áp lực của đối phương trong khu vực hành quân; tinh thần binh lính bạc nhược, khả năng chiến đấu kém, không đương đầu nổi trước sức mạnh của quân đối phương; hệ thống chỉ huy và điều hành cuộc hành quân "có vấn đề"; hoả lực và không vận của Quân đoàn 24 không hoàn thành nhiệm vụ yểm trợ cho lực lượng hành quân... Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" kết thúc sau 44 ngày. Quân đội Sài Gòn không đặt chân đến được Sê Pôn cho dù trước đó, Thiệu đã chỉ thị cho Trung tướng Hoàng Xuân Lãm - Chỉ huy cuộc hành quân là bằng mọi giá hãy chiếm lấy Sê Pôn "rồi cố nán lại ở đó đủ để đái một bãi rồi rút ngay, chứ đừng cố gắng giữ nó"2 (Tạp chí Lịch sử quân sự, số 4, năm 1991). Các chính trị gia, các tướng lĩnh Sài Gòn lên án người Mỹ đã phạm sai lầm lại thiếu tinh thần yểm trợ. Những tài liệu được giải mật từ kho lưu trữ của MACV cho thấy Quân đoàn 24 có gần 600 trực thăng được tập trung cho "Lam Sơn 719". Tuy nhiên khả năng hoạt động của số trực thăng này không được phát huy hết do hoả lực không chế của lực lượng phòng không đối phương quá mạnh. Đây là một điều hoàn toàn bất ngờ mà phải qua gần hai tuần đụng độ, kể cả Bộ Tư lệnh MACV lẫn Bộ chỉ huy cuộc hành quân mới nhận ra. Theo Đại tướng Abram thì khả năng không vận và không lực của quân Mỹ lúc bấy giờ đã được huy động tới mức tối đa. Chính Abram, mới hai ngày sau khi cứ điểm 31 của Lữ đoàn dù 3 bị thất thủ đã phải thốt lên rằng "Chúng ta đang ngập đầu với gánh nặng ở Cam bốt cũng như ở Lào"1 (The Abram Tapas, tr. 545). Trong khi đó thì Mỹ đánh giá quân đội Sài Gòn non kém về đủ thứ, không đủ sức để vượt qua thử thách đầu tiên này. R.H.Côle cho rằng tổn thất nặng nề mà 3 sư đoàn thiện chiến nhất của quân đội Việt Nam Cộng hòa đã hứng chịu trong cuộc hành quân đã làm cho các nhà quân sự Sài Gòn thất vọng rất lớn. Lực lượng tổng dự bị của Nguyễn Văn Thiệu và sư đoàn "con cưng" giỏi nhất của Tướng Hoàng Xuân Lãm, được yểm trợ tối đa của không lực Hoa Kỳ tại Đông Dương, các đoàn quân tinh nhuệ của Sài Gòn rời vùng cán xoong ở Lào dưới áp lực mạnh với những tổn thất lớn. "Không có yểm trợ không quân lớn lao của Hoa Kỳ, chẳng rõ binh lính Nam Việt Nam có thể rút khỏi Lào với tổn thất 50% hay không?"2 (R.Cole, The Vietnam war, Sđd). Bình luận về "Lam Sơn 719", Oétmolen chua chát thừa nhận: "Thế là bắt đầu phải làm cái việc khó khăn nhất trong tất cả các hoạt động quân sự, rút lui trước cuộc tiến công của đối phương. Đến lúc này, mọi yếu kém của quân lực Việt Nam Cộng hòa trong công tác chuẩn bị cho cuộc hành quân này trở thành hiện nhiên. Việc bố trí chỉ huy không tốt, kế hoạch vạch ra vội vàng, phối hợp thiếu chặt chẽ"3 (Tường trình của người lính. Bản dịch. T.3. tr. 79). R.H.Côle thì cho rằng: "Lam Sơn 719" đã bộc lộ tất cả các điểm yếu trong chỉ huy và huấn luyện của quân đội Sài Gòn" và mô tả "Bắt đầu hành quân, không gặp nhiều kháng cự, quân đội Sài Gòn tỏ ra quá tự tin. Nhưng khi cuộc hành quân bị sa lầy, điều tự tin biến mất, nhanh chóng nhường chỗ cho việc ỷ lại tất cả vào yểm trợ không qiiân, máy bay lên thẳng và pháo binh Hoa Kỳ. Quân Bắc Việt đã chứng tỏ một kỹ năng chiến thuật thông thường nhưng có hiệu quả cao chống lại một lực lượng đặc nhiệm mạnh của Sài Gòn"1 (R.Cole, The Vietnam war, Sdd). Nhiều tướng lĩnh Mỹ cho rằng: Chiến dịch "Lam Sơn 719" đã sụp đổ khi đối mặt với sự phản kháng kiên quyết và khéo léo của đối phương. Các nhà nghiên cứu thì cho răng: Chiến dịch này đánh dấu bước phát triển mới của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chiến sự bùng nổ ở Hạ Lào không giống như bất cứ trận chiến nào trước đó trong chiến tranh Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Quân đội nhân dân Việt Nam bỏ chiến thuật cũ và tiến hành phản công theo kiểu chiến tranh chính quy truyền thống, lần đầu tiên Quân đội nhân dân Việt Nam mở các đợt tấn công lớn bằng bộ binh với yểm trợ của thiết giáp và pháo binh hạng nặng để đè bẹp các vị trí của quân lực Việt Nam Cộng hòa tại các cánh sườn của đội hình chính. Sự hiệp đồng tác chiến của hỏa lực phòng không đối phương đã làm cho yểm trợ không quân chiến thuật và tăng viện bằng không quân của Mỹ trở nôn khó khăn và chịu nhiều thiệt hại. Tóm lại, tuy còn có sự nhận thức chưa đồng thuận xung quanh một số vấn đề liên quan đến nhìn nhận, đánh giá về "Lam Sơn 719", song phần lớn đều gặp nhau ở một điểm mà như nhà nghiên cứu W.Nôlan đã nhận xét: "Lam Sơn 719" - cuộc tấn công vào hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh là cuộc hành quân thiệt hại nặng nề nhất đối với quân lực Viêt Nam Cộng hòa. Nếu xét phương diện đây là một cuộc thử nghiệm lớn của Việt Nam hóa chiến tranh thì "Lam Sơn 719" là một thất bại nặng nề. Một lực lượng lớn đã bị thương vong1 (Wiliam Nolan, Into Laos, Novato CA. Presidio press. 1986, tr.359). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Năm, 2026, 09:30:37 pm TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC TÂY TRƯỜNG SƠN TRONG MÙA KHÔ 1970-1971, SAU 40 NĂM NHÌN LẠI Thiếu tá XỶPIIAY KẸOBUNMY Cục Khoa học - Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng Lào Năm 2004-2005, chúng tôi có dịp di thực tế khảo sát, khai thác tư liệu vồ quá trình hình thành huyện Ka Lưm, huyện Đác Trưng của tỉnh Xê Kông và huyện Xản Xay tỉnh A Tô Pơ. Mỗi một lần đi đều được kinh qua con đường chiến lược lịch sử - đường Hồ Chí Minh. Sau này, đến năm 2010, chúng tôi lại được giao nhiệm vụ đi khai thác tư liệu về con đường ấy. Đoàn chúng tôi đến cửa khẩu Cha Lo, phía Đông của tỉnh Khăm Muộn, nơi đó chính là xuất phát điểm của con đường, đi qua Bua La Pha, đến huyện Mương Phin, Sê Pôn, và Mường Noòng. Qua các cuộc tiếp xúc với các đồng chí nguyên là chiến sĩ, dân quân du kích năm xưa, ở tỉnh Khăm Muộn, tỉnh Xa Van Na Khẹt, chúng tôi mới biết rằng, trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, có thể nói hai bên con đường mòn, không có gang tấc nào không có hố bom mà không quân Mỹ ném xuống làm cho không có thứ gì có thể sống sót được; các thành vách núi đá cao vót cũng bị sụp đổ. Mặc dù vậy, cuộc chiến đấu một mất, một còn giữa ta và địch diễn ra liên tục cả ngày lẫn đêm, với tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược của can bộ, chiến sĩ quân đội hai nước Lào - Việt Nam trong thời gian diễn ra Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lao năm 1971 đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719 của Mỹ và tay sai. Thời gian thấm thoát trôi đi 40 năm, nhưng những hình ảnh của cuộc chiến ác liệt, đầy hy sinh gian khố, còn in sâu vào ký ức của nhân dân các bộ tộc trên dãy núi Phu Luổng phía Tây mãi không bao giờ phai nhạt. Đó là những hình anh chiến đấu kiên cường, dũng cảm của các chiến sĩ Pathét Lào và Quân tình nguyện Việt Nam. Biết bao đồng chí đồng đội đã ngã xuống trên dãy Trường Sơn do các cuộc tập kích, tấn công của kẻ thù để giành lại sự yên bình của chúng ta ngày hôm nay. Hiện nay, những mảnh xác bom đạn, máy bay, những kỷ vật, hố bom đạn của cuộc chiến vẫn còn đó. Đoàn của chúng tôi đã đi vào từng mường, bản làng nơi xảy ra những cuộc chiến đấu ác liệt nhất, nhân dân ai cũng kể và ca ngợi rằng các chiến sĩ giải phóng quân Việt Nam - Lào, lúc bấy giờ đã chiến đấu rất dũng cảm, đứng vững trên từng ngọn đồi, vừa cầm súng sẵn sàng bắn máy bay bay thấp, vừa dùng súng bộ binh bắn vào đội hình tấn công của quân Mỹ, quân ngụy dọc theo Đường 9. Đường Tây Trường Sơn còn được gọi là đường Hồ Chí Minh được bắt đầu xây dựng từ đầu những năm 1960, sau khi có sự thống nhất của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào. Trước tình hình diễn biến của cuộc cách mạng ở miền Nam Việt Nam, để chi viện cho các chiến trường Đông Dương, trong đó có chiến trường Lào, đặc biệt là các khu căn cứ kháng chiến, giúp cho mọi hoạt động tác chiến của Quân đội nhân dân Lào, lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam, ở Trung Lào, Hạ Lào và phía Tây Bắc Campuchia, Trung ương Đảng nhân dân Lào và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã quyết định xây dựng tuyến đường chiến lược Phu Luổng phía Tây. Con đường nay đi qua các tỉnh Khăm Muộn; tỉnh Xa Van Na Khẹt; tỉnh Xa Ra Van; tỉnh Ta Vên Oc (nay tỉnh Xê Koong), qua hai huyện Phu Vông Bắc và Phu Vông Nam, tỉnh A Tô Pơ. Dãy Phu Luổng phía Đông nằm ở phân đất của Việt Nam, con đường mòn đã được xây dựng từ giữa năm 1959, chủ yếu là đường tiếp tế vận chuyển mang vác trên bộ (có thể có ô tô), rất hiểm trở, đường mòn phía Tây ở đất Lào, cũng là phục vụ cho vận chuyển tiếp tế bằng đường bộ. Từ năm 1965, hai chính phủ Lào - Việt Nam, đã thống nhất xây dựng các tuyến vận chuyển vào Lào như: từ Tây Trang Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Lai Châu vào Xô Phum, tỉnh Phong Xa Lì, phục vụ các tỉnh Thượng Lào; theo đường 217, có điểm chuyển giao số 10 Na Mọ (Việt Nam); theo đường 7, có hai điểm bàn giao số 11, 13, ở Mường Xén, Bản Ban (Xiêng Khoảng); theo đường 8 Hà Tĩnh, cầu Treo đi vào Khăm Kợt - Lạc Sao, Khăm Muộn; theo đường 12 Quảng Binh đi Cha Lo, đèo Mụ Dạ đi vào Khăm Muộn; theo Đường 9, Quảng Trị - A Lưới, Lao Bảo đi vào Xa Van Na Khẹt và các tỉnh Hạ Lào, đi đôi với xây dựng mạng các tuyến đường, Bộ Quốc phòng Việt Nam lại thành lập Đoàn vận tải chiến lược 559, đảm nhiệm các tuyến đường 8, 12 đi xuống khu vực Hạ Lào, trở thành lực lượng chiến lược vận chuyển tiếp tế đường mòn Phu Luổng phía Tây Lào. Tuyến đường đó "là huyết mạch chiến lược quan trọng sống còn của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân các nước Đông Dương". Cùng với chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, chiến trường Hạ Lào cũng là chiến trường chính, vì vậy, đường Tây Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng của tình đoàn kết liên minh chiến đấu giữa hai quân đội Lào - Việt Nam anh em. Những chiến công, những tình cảm của con người trên tuyến đường Tây Trường Sơn đã được ghi chép, ca ngợi nhiều bài thơ, bài ca tình lãng mạng, mà nổi bật nhất những bài hát về núi Phu Luổng "Trên đỉnh Trường Sơn ta hát, Gửi anh bộ đội Pathét Lào "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây",... Tất cả nói lên tình đoàn kết thủy chung, trong sáng, son sắt về sự liên minh chiến đấu đặc biệt giữa hai dân tộc Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào anh em. Thời gian đã lùi xa, cuộc chiến tranh hủy diệt trên tuyến đường Hồ Chí Minh do Mỹ tiến hành rất tàn khốc, không ai có thể tưởng tượng được sự mất mát hy sinh, tổn thất trên con đường đó, nó "như là cuộc chiến tranh ở đâu đó", cuộc chiến tranh hủy diệt toàn bộ sự sống trên mặt đất, cuộc chiến tranh bí mật giết hại con người. Đó là, cảm nhận của những ai đi qua con đường đó hôm nay. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, sự ác liệt của chiến tranh vẫn là sự thật lịch sử. Ngày nay, sự sống lại hồi sinh sau khói lửa, đạn bom. Cây cỏ lại mọc lên, những cánh rừng cà phê, cao su, nương lúa lại đem đến sự sống cho con người. Con Đường 9 vẫn nối liền từ Đông Hà, Lao Bảo Bản Đông, Sê Pôn đến Xa Van Na Khẹt và tỏa đi dọc dãy Trường Sơn. Tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh vẫn là sợi dây tình cảm thắt chặt mối tình Lào - Việt, Việt - Lào mãi mãi. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Năm, 2026, 09:38:14 pm SÁCH BÁO MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY VIẾT VỀ "LAM SƠN 719" Thiếu tá LÊ QUANG LẠNG Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Cử nhân NGÔ QUANG CHÍNH Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Có thể nói, ở vào thời điểm trước, trong và ngay sau cuộc hành quân đầy tham vọng "Lam Sơn 719" của quân đội Sài Gòn, dư luận được cung cấp một lượng thông tin rất lớn xung quanh sự kiện này. Vậy thì vì sao cuộc hành quân "Lam Sơn 719" (Operation Lam Son 719) lại thu hút sự quan tâm của giới truyền thống và các nhà nghiên cứu, phân tích chính trị, nhất là của Mỹ và phương Tây? Hẳn rằng, lý do gây chú ý trong cuộc hành quân này không chỉ bởi nó nhằm những mục tiêu cụ thể như: Cắt đứt tuyến vận tải chiến lược Hồ Chí Minh - Trường Sơn, phá hủy hệ thống kho tàng của Việt cộng trên đất Lào..., mà đặc biệt, nó được coi như là một "phép thử" để đánh giá khả năng chiến đấu, đảm đương nhiệm vụ của quân đội Sài Gòn khi quân Mỹ không còn ở bên cạnh - điểm mấu chốt của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Quả thực, nhìn nhận, đánh giá về cuộc hành quân "Lam Sơn 719", các học giả và chính trị gia phương Tây đều cho rằng: sự kiện đáng chú ý nhất trong năm 1971 là cuộc xâm nhập ngắn, không thành công của quân đội Sài Gòn phá hủy đường Hồ Chí Minh - Trường Sơn trên đất Lào (Tây Đường 9). Nhận định trên đây là điều các viên tư lệnh Mỹ ồ Sài Gòn không muốn nghe và có thể chẳng bao giờ nghĩ tới. Trong tính toán của giới quân sự Mỹ và Sài Gòn thì cuộc hành quân "Lam Sơn 719" buộc "người Bắc Việt Nam sẽ phải hoặc lùi trở lại và rời bỏ những trung tâm giao thông và các kho của họ, như ở Campuchia, hoặc chiến đấu đến chiến hào cuối cùng để giữ quyền kiểm soát con đường mòn; và trận này sẽ là trận Oatéclô "Waterloo" của họ"1 (F. Fitzgerald, Fire in the lake (Lửa trong hồ), Me Milan, New York 1972, p.22). Nếu có chút hoài nghi cũng chỉ là: cuộc mạo hiểm của quân lực Việt Nam Cộng hòa vào căn cứ được thiết lập từ lâu của Bắc Việt trên đường mòn Hồ Chí Minh rất có thể phát triển thành một trong những trận giao tranh nóng bỏng nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh2 (Armed Forces Journal (Tạp chí Lục quân) số ra ngày 15 tháng 2 năm 1971); và, "Địa hình hiểm trở và quyết tâm rất lớn của Hà Nội không chịu để mất con đường vào Nam Việt Nam và Campuchia có thể biến thành mọi mưu toan, bóp nghẹt con đường mòn ở Lào, và biến thành một chiến trường mới cho một cuộc chiến tranh vô hạn định"3 (Orr Kelly, Cuộc tiến công trên bộ vào Lào đang được cân nhắc, Ngôi sao Oasinhtơn (Washington Star), số ra ngày 11 tháng 8 năm 1970). Với cách đặt vấn đề như trên, chúng tôi muốn nói rằng: những diễn biến, những tình huống của "Lam Sơn 719" đã được giới truyền thống, các nhà nghiên cứu, phân tích chính trị Mỹ và phương Tây mô tả rõ nét, phân tích cặn kõ, do đó, công việc của chúng tôi ở đây chỉ là tổng hợp, sắp xếp lại theo trình tự của sự kiện, ngõ hầu giúp độc giả có hình dung toàn diện hơn về một trận chiến đấu quyết liệt, có thắng, có thua và nó tác động, ảnh hưởng đến toàn cục của cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ xâm lược. Những nguyên nhân của cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Nhận thấy rõ vai trò của đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh, chính giới Mỹ, Việt Nam Cộng hòa luôn cho rằng: chừng nào "cộng sản" Việt Nam còn dùng đường Hồ Chí Minh ở Đông Lào để đưa lực lượng tăng viện và chiến liệu vào Campuchia và Nam Việt Nam thì nỗ lực của Hoa Kỳ tại Campuchia không thể nào thật sự hiệu lực được1 (New York Times (Thời báo New York), số ra ngày 16 tháng 5 năm 1970). Ngay từ năm 1965, đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh ngăn chặn hết sức quyết liệt trên tuyến đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. Mùa Hè năm 1966, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara yêu cầu các nhà khoa học Mỹ nghiên cứu khả năng "xây dựng một hàng rào chống thâm nhập, hệ thống báo động, các bộ phận do thám (đặc biệt về ban đêm), các kỹ thuật làm trụi lá cây và các vũ khí phá hủy cả một khu vực"2 (Cục Chính trị - Tổng cục Xây dựng kinh tế, Trận đồ bái quái xuyên rừng rậm, 1979, tr. 394). Theo đó, bên cạnh những vũ khí thông thường thì những vũ khí công nghệ cao, ứng dụng kỹ thuật mới được "ưu tiên" sử dụng trên chiến trường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. Nhưng, những nỗ lực về kỹ thuật quân sự không ngăn chặn và cắt đứt nối tuyến đường, giới quân sự Mỹ quay về giải pháp cổ điển là trực tiếp đưa bộ binh vào ngăn chặn tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. "Chúng tôi thường xuyên đánh giá nỗ lực không quân của chúng tôi để ngăn chặn người và đồ tiếp tế vận chuyển trên đường mòn và cố gắng xác định xem phải chăng nhiệm vụ này có thể thực hiện kết quả hơn trên mặt đất"1 (Orr Kelly, Cuộc tiến công trên bộ vào Lào đang được cân nhắc, Ngôi sao Oasinhtơn (Washington Star), số ra ngày 11 ngày 8 liiáng 1970). Thực ra, không phải đến lúc này giới cầm quyền Mỹ mới nảy ra ý tưởng dùng bộ binh để cắt đứt đường Hồ Chí Minh. Trong hồi ký của mình - cuốn "A soldier reports: Một quân nhân tường trình", Oétmolen cho biết: "Ngay từ đầu, tôi đã trù tính việc chuyển quân sang Lào để cắt đứt và ngăn chặn các đường thâm nhập của con đường mòn Hồ Chí Minh và trong năm 1966 và 1967, bộ tham mưu của tôi đã chuẩn bị vài kế hoạch chi tiết cho một cuộc hành quân như vậy... Nhưng tôi nhận thấy chặn một con đường mòn đòi hỏi ít nhất một lực lượng cỡ quân đoàn gồm 3 sư đoàn và tôi thấy không thể trong một thời gian dài rút nhiều quân như vậy ra khỏi cuộc chiến đấu quan trọng trong nội địa Việt Nam". Trong âm mưu của đế quốc Mỹ, với việc khóa chặn Sihanúcvin, với việc ném bom các kho tiếp tế và với việc các tàu tuần tiễu của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa hoạt động để bịt kín bờ biển miền Bắc Việt Nam, Quân giải phóng phải dựa chủ yếu vào nguồn tiếp tế qua đường Hồ Chí Minh. Tiến công đường mòn bằng quân trên bộ hiển nhiên là bước tiếp theo1 (W.C. Westmoreland, A soldier reports (Một quân nhân tường trình), Double Day and Company, New York, 1972, p.389) với mục tiêu là cắt đứt hệ thống nhằng nhịt các con đường từ miền Bắc Việt Nam suốt dọc cán chảo, thường được gọi gộp là đường Hồ Chí Minh. Từ đầu năm 1970, Lầu Năm Góc đã gợi ý Tổng thống Níchxơn nên có một cuộc can thiệp của Việt Nam Cộng hòa, Thái Lan và Mỹ vào Lào. Đôn tháng 5 năm 1970, chán ngấy về cuộc can thiệp vào Campuchia, Bộ chỉ huy quân sự tối cao Mỹ ở Sài Gòn muốn đưa những "lực lượng đặc biệt" vào vùng dễ công kích nhất của con đường Hồ Chí Minh, giữa đèo Mụ Giạ và con Đường 9. Một khi tới nơi, những lực lượng đặc biệt, bao gồm những lính mũ nồi xanh của Mỹ, lính nhảy dù của miền Nam Việt Nam, lính Mẹo ở Lào sẽ đặt những trạm tiền tiêu và dùng hỏa lực liên tục không chế quãng đường dài 75km của con đường Hồ Chí Minh2 (Van Geirt, La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh), Editions Spéciales, Paris, 1971, p.317). Ý định này nhận được sự đồng tình của chính quyền Viêng Chăn và Phnôm Pênh. Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Lào, Đại tá Thong Phanh Knosky nói trong một buổi họp báo: "Xét theo quan điểm thuần túy quân sự, một hành động can thiệp quân sự của Nam Việt Nam để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh là một sự cần thiết". Trong khi đó, các lãnh tụ cực hữu ở Lào nói rằng đồng thời với việc đánh vào vùng đất thánh Campuchia, Hoa Kỳ phải đánh vào đường mòn Hồ Chí Minh ở Nam Lào3 (New York Times, số ra ngày 16 tháng 5 năm 1970). Đến khi những cơ quan tình báo quân sự Việt Nam cộng hòa đã được tin chắc chắn là "Hà Nội đang sửa soạn một cuộc tấn công quan trọng nhằm kìm hãm bớt sự rút lui của khoảng 150.000 lính Mỹ dự tính cho năm 1971. Những cuộc giao chiến dữ dội được trù tính vào "mùa khô". Nắm được những tin tức ấy, Lầu Năm Góc đã quyết định, đã đến lúc phải dứt khoát phá hủy "con đường mòn Hồ Chí Minh", con đường huyết mạch thực sự nối liền tiền tuyến với hậu phương lớn1 (Van Geirt, La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh), Editions Spéciales, Paris, 1971, p.316, 318). Giới quân sự Mỹ cho rằng: Một cuộc hành quân như thế chắc chắn sẽ là một cuộc tấn công tương đối "vào nhanh, rút nhanh" tương tự như cuộc thọc sâu của quân Nam Việt Nam vào Đông Bắc Campuchia trong những giai đoạn cuối cùng của cuộc hành quân đánh vào vùng đất thánh2 (Orr Kelly, Cuộc tiến công trên bộ vào Lào đang được cân nhắc, Ngôi sao Oasingtơn (Washington Star), số ra ngày 11 tháng 8 năm 1970). Bên cạnh đó, trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Tổng thống Níchxơn và tướng Abrams, đến tháng 6 năm 1971, quân đội Sài Gòn có thể tự mình đảm nhận tất cả các chiến dịch và để cho lính Mỹ có thể trở về Mỹ trong thời kỳ bầu cử. Muốn như vậy, phải có một cuộc thử thách, đấy là cuộc hành quân sang Lào3 (Van Geirt, La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh), Editions Spéciales, Paris, 1971, p.316, 318). Cuộc hành binh tiến công vào đường mòn Hồ Chí Minh là nhằm giáng cho ta một đòn quyết định. "Rất nhiều chuyện, có thể là kết quả của ngay của cuộc chiến tranh nữa đều xoay quanh thắng lợi hay thất bại của chiến địch và chính quyền Níchxơn hình như thực tâm tin tưởng rằng canh bạc rất mạo hiểm này sẽ thắng. Đối với những ai hoài nghi, nêu lên khả năng ghê sợ của sự phản công ác liệt của Bắc Việt Nam, các quan chức Mỹ mạnh bạo trả lời "chúng ta vẫn đối phó được"1 (Time (Thời báo) số ra ngày 22 tháng 2 năm 1971)... Lam Sơn 719 còn nhằm một mục tiêu tham lam hơn nữa. Trước hết đó là một cuộc thử thách chính sách Việt Nam hóa chiến tranh của Níchxơn, và nếu quân Nam Việt Nam chiến thắng thì ít nhất cũng phần nào đem lại giá trị cho cam kết của Níchxơn, trao chiến tranh cho Nam Việt Nam. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Năm, 2026, 09:40:48 pm Tên gọi và tác giả của cuộc hành quân.
Theo các tài liệu của Mỹ và phương Tây thì cuộc hành quân sang Lào của quân đội Sài Gòn được chuẩn bị rất kỹ. Ngay từ năm trước Bộ chỉ huy Mỹ đã xây dựng một loạt vị trí và sân bay cho những máy bay nhẹ và máy bay lên thẳng ở Lào. Cuộc hành quân trước lấy tên là "Dewey Canyon II" sau được thay thế bằng một tên Việt Nam là "Lam Sơn 719", việc thay đổi này nằm trong một cố gắng nhỏ bé nhằm gây ấn tượng: đó là một cố gắng hoàn toàn của Nam Việt Nam, mặc dầu nó được đề ra, vạch kế hoạch ở Nhà Trắng và duyệt bởi tướng Abrams2 (Time (Thời báo) số ra ngày 22 tháng 2 năm 1971). Cùng một luận điệu như vậy, tác giả của cuốn La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh) - Van Geirt cũng cho rằng: "Để nhân nhượng, tránh một số tự ái của Bộ Tư lệnh Nam Việt Nam chiến dịch Dewey Canyon II sẽ đổi tên và được gọi la "Lam Sơn 719". Tạp chí Lục quân Mỹ (Armed Forces Journal) số ra ngày 15 tháng 2 năm 1971 khẳng định: Cuộc hành quân "Dewey Canyon II" là một hành động ngăn chặn. Trong khi quân lực Việt Nam Cộng hòa và lục quân Mỹ khóa chặt biên giới, thì không quân tiếp tục lùng sục các bãi để hàng... Quân lực Việt Nam Cộng hòa sẽ sục sạo tìm các bãi kho... Như vậy, nhiều học giả phương Tây cho rằng, "Lam Sơn 719" là cái tên Việt hóa của chiến dịch "Dewey Canyon II" và tác giả của nó là Abrams. Thực ra, như đã trình bày ở trên, kế hoạch chi tiết cho một cuộc chuyển quân sang Lào là của Oétmolen và bộ tham mưu của ông chuẩn bị từ năm 1966. Abrams là người thừa hưởng và hoàn thiện kế hoạch đó. Trong cuộc hành quân sang Lào năm 1971, phần yểm trợ bằng không quân, pháo binh và vận chuyển quân, tiếp tế hậu cần do Mỹ thực hiện được đặt tên "Dewey Canyon II", lấy tên theo chiến dịch Dewey Canyon do thủy quân lục chiến Mỹ thực hiện tại vùng Tây Bắc Việt Nam Cộng hòa năm 1969, với hy vọng rằng sự trùng tên này sẽ làm Hà Nội nhầm lẫn về mục tiêu chính của cuộc tấn công. Phần hành binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa được đặt tên "Lam Son 719", con số 719 được ghép từ năm 1971 và Đường 9 - trục chính của cuộc tấn công. Cũng có thể có sự giúp đỡ của các tư lệnh Mỹ trong việc soạn thảo phần hành quân do Việt Nam Cộng hòa đảm nhiệm. Chúng ta có thể đồng tình với quan điểm của Thời báo (Times) số ra ngày 22 tháng 2 năm 1971 là "Luận điệu của chính quyền nói chiến dịch là hoàn toàn do Nam Việt Nam chủ động vạch ra là không đúng, kiến trúc sư thật sự là Abrams". Nhưng chắc chắn một điều "Lam Sơn 719" không phải là "Dewey Canyon II" đổi tên mà thành. Sự lừa dối dư luận của chính quyền Mỹ và Sài Gòn. Trong khoảng tuần lễ đầu tiên của cuộc hành quân ở Lào, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã đe dọa là quân đội Việt Nam Cộng hòa sẽ đột nhập Bắc Việt Nam bằng đường bộ. Rõ ràng là lời tuyên bố có ý lừa bịp. Nhưng ví thử cuộc hành quân ở Lào mà thắng lợi thì người Bắc Việt Nam sẽ luôn luôn thấp thỏm bị quân đội Việt Nam Cộng hòa xâm lăng trong tương lai. Như thế, bây giờ Níchxơn chỉ biết trông cậy vào không lực của ông ta mà thôi1 (F. Fitzgerald, Fire in the lake (Lửa trong hồ), Me Milan, New York, 1972, p.25). Ngày 12 tháng 2, Tổng thống Thiệu tuyên bố cuộc hành quân thắng lợi vì nó đã làm thất bại kế hoạch của Bắc Việt Nam đánh chiếm các tỉnh miền Trung của Nam Việt Nam nhằm cải thiện vị trí mặc cả của họ ở Hội nghị Pari. Tuy nhiên, tuyên bố này đập lại tuyên bố trước đây của Thiệu rằng mục tiêu của cuộc hành quân là ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh2 (Edgar O’ Ballance, The war in Viet Nam (Cuộc chiến tranh ở Việt Nam), Hippoerence books, New York, 1975). Ngày 8 tháng 3, tại một cuộc họp báo ở Khe Sanh, người ta tuyên bố hai mục tiêu chủ yếu của cuộc hành quân là phá vỡ hệ thống của Việt cộng và ngăn chặn thâm nhập đã hoàn thành, 6.000 Việt cộng bị giết trong cuộc hành quân. Những lời lẽ tốt đẹp đó khó mà xác minh vì Sê Pôn di chuyển ngày 8 và 9 tháng 3, và tin tức không được tiết lộ cho đến ngày 11 tháng 3. Ngày 15 tháng 2, chỉ huy sở hành quân của quân Nam Việt Nam đặt tại Khe Sanh nói rằng đường mòn Hồ Chí Minh đã bị cắt và tiếp tế của Việt cộng chấm dứt. Nhưng không phải như vậy. Qua cuộc hành quân này, giao thông của Việt cộng vẫn tiếp tục theo các đường cái và đường mòn hơi xa hơn về phía Tây1 (Edgar O’ Ballance, The war in Viet Nam (Cuộc chiến tranh ờ Việt Nam), Hippocrence books, New York, 1975, p. 161). Chính quyền Mỹ nói không có quân Mỹ tham gia chiến đấu ở Lào bị hoài nghi. Một sĩ quan phụ trách chòi canh thừa nhận rằng có chừng 100 Pathfinder (quân biệt kích chỉ điểm) Mỹ ở Lào hướng dẫn cho trực thăng hạ cánh và việc các đội trực thăng Mỹ đang hoạt động trên bộ từ biên giới đến Sê Pôn không còn là chuyện bí mật nữa2 (Newsweek (Tin trong tuần) số ra ngày 22 tháng 2 năm 1971). Bộ chỉ huy Nam Việt Nam báo tin là đã chiếm được Sê Pôn và Tổng thống Thiệu đã gửi lời khen đến những người chiến thắng. Thực tế những đơn vị do máy bay lên thẳng đưa đến đã chiếm được những đỉnh cao chế ngự phía Đông thị trấn, cách đó 3km. Nhưng họ chưa vào được Sê Pôn. "Lam Sơn 719" chấm dứt sau 43 ngày trong sự hỗn loạn. Sài Gòn vẫn còn công bố là chiến dịch đã thành công vì rằng 12.637 quân Bắc Việt Nam đã bị hạ và 110 chiến xa bị phá hủy... người ta nhắc lại rằng mục tiêu đề ra là phá hủy con đường mòn Hồ Chí Minh, kiểm soát con đường ấy và đặt những quân thường trực ở đó đã thực hiện không được. Thương vong của quân đội Việt Nam Cộng hòa tăng lên và vị trí của các đơn vị của họ suy yếu đến mức một số chỉ huy tiểu đoàn đã phải xin lệnh cho rút lui. Đề nghị của họ bị từ chối, Bộ Tư lệnh Mỹ và Nhà Trắng đã rêu rao rằng quân đội Việt Nam Cộng hòa sẽ ở lại Lào và chiếm đóng con đường mòn cho đến hết mùa khô, vào tháng 5, và các sĩ quan Việt Nam Cộng hòa không dám trái ý người Mỹ. Mãi cho đến khi một vài viên chỉ huy trên chiến trường đe sẽ tự động rút quân về, và cuộc rút lui đã bắt đầu rồi mới có lệnh chính thức cho rút lui1 (F. Fitzgerald, Fire in the lake (Lửa trong hồ), Me Milan, Now York, 1972, p.22). Thất bại lớn như thế, cay đắng là vậy, nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn không chịu chấp nhận sự thật đau đớn này. Họ vẫn lừa dối dư luận rằng: Dù sao "Lam Sơn 719" chưa kết thúc. Thầng 4 năm 1971, ở Đông Hà, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã tuyên bố trước những biệt kích sống sót sau cuộc hành quân sang Lào: "Chúng ta đã tấn công Cao Miên, chúng ta đã tấn công Lào và chúng ta đã tấn công Bắc Việt Nam". Ông Thiệu cho người của ông ta biết rằng quân đội Sài Gòn có đu sức mạnh cần thiết để tiến hành một chiến dịch như vậy2 (Van Geirt, La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh), Editions Spéciales, Paris, 1971, p.318). Tại sao ông Thiệu lại lừa dối dư luận như vậy. Đơn giản là, tới mùa thu năm 1971 sẽ tiến hành bầu Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, "Lam Sơn 719" có thể được chuyển thành thắng lợi, hoặc ít ra cũng là hòa. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Năm, 2026, 09:43:33 pm Nỗi khiếp sợ và thất vọng.
Một cố vấn Mỹ công tác ở một đơn vị lính nhảy dù Việt Nam Cộng hòa nói: Đây là một cuộc chiến tranh bằng máy bay. Máy bay lên thẳng là phương tiện duy nhất để chở người và đồ tiếp tế. "Không có cách gì khác, quân đội Việt Nam Cộng hòa không thể sống còn được ở Lào nếu không cơ động, không có sân bay nữa, và địch kiểm soát mặt đất". "Ngoài công việc cố hữu là chở xạ thủ, nhân viên quan sát, quân lính và hàng tiếp tế, các máy bay lên thẳng trong chiến dịch ở Lào này còn chở các cố vấn Mỹ" bay lượn trên không để làm nhiệm vụ và chỉ huy chiến đấu qua máy vô tuyến điện vì họ bị cấm đặt chân xuống đất Lào1 (AP ngày 8 tháng 3 năm 1971). Ở quãng cuối đường Hồ Chí Minh, súng phòng không 12,7mm và 37mm dàn thành một lưới lửa dày đặc, làm cho trực thăng Mỹ "rụng như sung". Ít nhất mỗi ngày cũng có một đại đội trực thăng bị trúng đạn. Các phi công quan sát và xạ thủ ước tính trung bình mỗi ngày có 4 máy bay lên thẳng bị bắn rơi và bị hỏng nặng, vì hỏa lực của súng phòng không, như vậy tổng số máy bay bị mất trong 5 tuần là 140 chiếc2 (AP ngày 8 tháng 3 năm 1971). Trong vài ngày, 40 máy bay lên thẳng bị bắn rơi trong khi cố gắng di tản những người bị bao vây. Một phi công Mỹ kể rằng sự hoảng sợ trong vị trí đã đến mức mà dưới làn đạn súng cối của đối phương, những chùm người bâu vào càng của máy bay lên thẳng để chuồn cho nhanh3 (Le G. Quang, La Guerrc Americaine à Indochine 1964-1975 (Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương), Paris Press Universitaire, 1973 p.171). Máy bay lên thẳng bị bắn rơi ở Lào và biên giới phía Bắc của Nam Việt Nam nhiều đến nỗi một số phi công cảm thấy họ đang trở thành "những phi công cảm tử" (liên tưởng tới Đội "Thần phong" của Nhật trong Đại chiến thế giới thứ hai) mới trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Một tay súng ở cửa (máy bay lên thẳng) bay chuyến thứ ba ở Lào coi đó là một chuyến bay tự sát. Các phi công lâu năm của không quân đã lái những chiếc máy bay có cánh cố định trên đất Lào và Bắc Việt Nam so sánh hỏa lực mặt đất trên đường mòn Hồ Chí Minh như là hỏa lực ở Hà Nội và Hải Phòng1 (AP ngày 8 tháng 3 năm 1971)... Chỉ gần một tháng sau khi bắt đầu chiến dịch, quân Sài Gòn rút lui, những đoàn xe thiết giáp Mỹ được gửi đến để ứng cứu bị chặn lại do những cuộc phục kích cách biên giới vài kilômét. Một vài đơn vị cho rằng họ bị gửi đến nơi để bị tàn sát và đã từ chối không đi xa hơn nữa. Sự khiếp sợ và chán nản khiến việc đào ngũ càng tăng mạnh. Năm 1970 trong cuộc hành quân lần thứ nhất sang Campuchia, tỷ lệ đào ngũ từ mức bình thường là 8.000 trong một tháng tăng lên 12.000 sau cuộc hành quân sang Lào. Sự phá sản của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Cuộc hành quân sang Lào đánh dấu một bước được hay thua trong cuộc chiến tranh tàn ác vô tận ở Đông Dương. Nếu Nam Việt Nam không làm nổi việc ở Lào thì sự nhận định làm cơ sở cho canh bạc của Níchxơn tức là Nam Việt Nam có thể gánh vác toàn bộ nhiệm vụ chiến đấu trên mặt đất sẽ tỏ ra sai lầm. Một quan chức chính quyền Níchxơn đã cay đắng mà nói rằng: "Với các loại sức mạnh không quân và pháo yểm hộ họ ở Lào mà họ không làm nổi việc thì họ sẽ không bao giờ làm được cả, và thà chúng tôi biết được điều đó ngay bây giờ còn hơn sau này mới biết". Lúc đó Níchxơn thực sự không còn cách gì khác ngoài việc giảm bớt tổn thất và rút quân Mỹ về nước, với tốc độ nhanh nhất mà sự an toàn cho phép ra khỏi Nam Việt Nam1 (Time (Thời báo) số ra ngày 22 tháng 2 năm 1971). Nhưng nếu như kết quả là Nam Việt Nam làm được việc tức là cắt đứt cái gọi là đường mòn Hồ Chí Minh ở Nam Lào trong mùa khô hiện thời, thì nó sẽ là "một cuộc chiến tranh khác". Với đường biển qua Sihanúcvin bị đóng cửa, việc đó sẽ có nghĩa là toàn bộ sự thâm nhập và hệ thống tiếp tế của Bắc Việt Nam rất cần thiết cho Bắc Việt Nam tiến hành chiến tranh sẽ bị phá hoại2 (Newsweek (Tin trong tuần) số ra ngày 22 tháng 2 năm 1971). Khoảng 10 vạn quân Bắc Việt Nam phụ thuộc vào hệ thống tiếp tế ỏ Lào sẽ đứng trước một thảm họa... "Lam Sơn 719" là một thất bại lớn đầu tiên của Việt Nam hóa chiến tranh, như Tổng thống Níchxơn đã nêu ra. Nó cho thấy, nếu không có sự yểm trợ của không quân, quân đội Sài Gòn huấn luyện theo kiểu Mỹ, chỉ có thể chịu đựng những đòn của đối phương một cách khó khăn và đối với họ, lúc này chưa phải lúc tiến hành những chiến dịch lớn để tấn công những mục tiêu xa hậu phương của họ3 (Le G. Quang, La Guerre Américaine à Indochine 1964-1975 (Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương), Paris Press Universitaire, 1973, p.171). Cuộc tấn công Lào, nếu đo lường nó theo những tiêu chuẩn cổ điển cũng là một thất bại dễ thấy hơn. Không những chỉ những tiểu đoàn biệt động, không gì có thể thay thế được, đã bị tiêu diệt, mà toàn bộ lực lượng tinh nhuệ ấy đã bị đánh đuổi chạy toán loạn, đã chứng tỏ cho thế giới, và quan trọng hơn, cho các chính trị gia và dư luận công chúng Mỹ rằng, quân đội Nam Việt Nam thật quả không thể thay thế và sẵn sàng đảm nhiệm vai trò chiến đấu trên bộ do Mỹ trao lại... Một trong những điểm lý thú nhất của cuộc tấn công Lào, là sự bất lực của người Nam Việt Nam để tự giúp mình, thậm chí cả với một khối lượng trực thăng và yểm trợ không quân chưa từng thất1 (Peter Dale Scott, War conspiracy: the second road to the Indochina war, The Boobbs-Momll Company, New York, 1972, p.180)... Cuộc hành binh sang Lào là một thất bại về quân sự theo các mục tiêu mà Bộ tư lệnh Mỹ đã đề ra cho nó. Nó cũng là một thất bại về chính trị nữa. Trong giai đoạn đầu của chiến dịch "Lam Sơn 719" Tổng thống Nichxơn nói rằng cuộc hành quân này, cũng như các chiến dịch hành quân trước đó sang Campuchia, là nhằm cứu tính mạng của quân đội Mỹ ở Việt Nam... "Lam Sơn 719" chỉ cho người Nam Việt Nam thấy rằng Việt Nam hóa có nghĩa là tăng thêm số người Việt Nam chết để theo đuổi mục tiêu của chính sách Mỹ, là rút quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam mà không cần có thương lượng hòa bình. Trong chiến dịch "Lam Sơn 719" người Mỹ đã thật sự liều, thì một cuộc thất bại của quân đội Việt Nam Cộng hòa để theo đuổi các mục tiêu trước mắt như vậy. Và mưu đồ của họ đã không thành1 (F. Fizgerald, Fire in the Lahe (Lửa trong hồ), Mc Milan, New York 1972 p.24). Một viên chỉ huy Mỹ đã diễn tả: Cuộc tấn công Lào như một trận đánh lớn nhất của chiến tranh, một trận đánh mà kẻ địch chiến thắng được hết thảy. Những đơn vị tinh nhuệ hết sức cần thiết cho an ninh của Việt Nam cộng hòa nay bị đánh tan tác trong nhiệm vụ phòng ngự từ xa. Có thể trong một hai năm mới lại có thể xây dựng được các đơn vị đó, nếu như phần lớn các "con thỏ già" - sĩ quan chỉ huy có kinh nghiệm - không bị chết trận hoặc bị bắt sống2 (Franfuter Allgemeine Zeitung ngày 18 tháng 3 năm 1971). Họ tự an ủi mình rằng: Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" cũng có phần nào tác dụng trong việc ngăn cản một chương trình tấn công lớn hoặc vào mùa Thu 1971 hoặc năm 1972 của Quân giải phóng. Thất bại ở Lào ảnh hưởng sâu sắc đến tương lai của Việt Nam Cộng hòa. Một quan chức cao cấp trong chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thổ lộ: "Chúng tôi ở trong một tình thế rất bất lợi. Hiện nay quân đội Bắc Việt Nam được trang bị tốt hơn quân đội chúng tôi, về tinh thần họ lại mạnh hơn. Nếu người Mỹ bỏ rơi chúng tôi, chúng tôi sẽ thất bại. Tôi chẳng muốn nghĩ đến chuyện ấy nhưng người Mỹ vẫn nghĩ đến chuyện ấy, một cách nghiêm chỉnh và người Bắc Việt Nam biết rõ điều ấy"3 (Van Geirt, La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh) Edilions Spéciales, Paris, 1971, p.319). Trái với điều người ta hy vọng, cuộc tấn công vào Lào không củng cố thêm cơ sở của Việt Nam hóa và cũng không thể thuyết phục được Hà Nội về một giải pháp thỏa hiệp. "Thất bại ở Lào càng làm cho người ta nghi ngờ rằng, liệu quân đội Nam Việt Nam có làm được nhiệm vụ thực sự của họ là "bảo vệ đất nước" hay không?"1 (Franfuter Allgemeine Zeitung ngày 18 tháng 3 năm 1971). Tháng 4 năm 1971, một sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa công bố cho các nhà báo Sài Gòn: "Bắt đầu từ ngày hôm nay, không một đơn vị quân đội nào của Việt Nam Cộng hòa còn ở trên đất Lào. Những lực lượng địch đang đuổi họ về biên giới... Xin lỗi, tôi không muốn nói như vậy, họ (những người Bắc Việt Nam) đã theo gót quân đội ta về phía biên giới"2 (Van Geirt, La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh), Editions Spéciales, Paris. 1971, p.318). Bởi khi viên tướng Đỗ Cao Trí cùng với chiếc trực thăng chỉ huy của ông ta bị bắn rơi, thì cuộc hành quân này biến thành một cuộc rút chạy mất hết tinh thần... Như vậy là, cuộc hành binh rầm rộ, với nhiều kỳ vọng, mang cái tên "Việt Nam hóa" - "Lam Sơn 719" đã thất bại - một thất bại biết trước. "Lam Sơn 719" bộc lộ sự bất lực của quân đội Việt Nam Cộng hòa trong việc phối hợp một chiến dịch lớn và trong việc sử dụng ưu thế hỏa lực một cách hợp lý. Các nhà báo luôn luôn lặp đi lặp lại lập luận rằng quân đội Việt Nam Cộng hòa không bao giờ thay thế, càng không thể tiên bộ hơn binh lính Mỹ"3 (Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân. Hà Nội, 2003, tr. 439). Quả là, trong thế chiến lược bị động, quân Mỹ phải rút khỏi chiến trường miền Nam, quân đội Việt Nam cộng hòa "lại phải" mạnh lên để đảm đương nhiệm vụ của chính mình và của quân Mỹ để lại, thì rõ ràng, đó là một việc làm quá sức tưởng tượng ngay cả với những người lạc quan nhất. Thất bại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đã phơi tỏ nghịch lý vừa nêu ở trên. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Năm, 2026, 09:49:27 pm CUỘC HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" VÀ CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG SỐ 9 - NAM LÀO - SỐ LIỆU VÀ SỰ KIỆN Đại tá BÙI THU THỦY Phó trưởng Phòng Thõng tin - Tư liệu Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trung tá ĐỖ ĐÌNH VY Trợ lý Phòng Thông tin - Tư liệu Viện Lịch sử quân sự Việt Nam I. CUỘC HÀNH QUÂN LAM SƠN 719: 1. Lực lượng địch tham gia cuộc hành quân "Lam Sơn 719"1 (Các số liệu trong phần này được trích từ cuốn "Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971" của Viện Khoa học quân sự xuất bản năm 1976 và tài liệu "Tổng kết cuộc hành quân Lam Sơn 719" của Cục Nghiên cứu - Bộ Tổng Tham mưu xuất bản năm 1974): Địch đã tập trung một lực lượng lớn, bao gồm tất cả lực lượng dự bị chiến lược, cùng lực lượng cơ động của Quân khu 1 (Vùng chiến thuật 1), các lực lượng tiếp vận trung ương của quân Việt Nam Cộng hòa với sự chi viện cao của hoả lực và không quân Mỹ, một bộ phận bộ binh và thiết giáp Mỹ phối hợp tác chiến hỗ trợ ở phía sau. Cụ thể là: + Lực lượng lúc bắt đầu hành quân (8-2-1971): Quân số: 42.000, trong đó: - Quân Việt Nam Cộng hòa: 33.000, gồm: Lực lượng trực tiếp tham chiến: 27.000 (vượt biên giới 20.000; dự bị: 7.000) Lực lượng dự bị phía sau: 6.000 - Quân Mỹ: 9.000, gồm: Lực lượng trực tiếp tham chiến: 6.000 (hỗ trợ) Lực lượng dự bị phía sau: 3.000 Bộ binh: 34 tiểu đoàn, gồm: - Quân Việt Nam Cộng hòa: 33 tiểu đoàn, trong đó: Lực lượng trực tiếp tham chiến: 26 tiểu đoàn (vượt biên giới: 20 tiểu đoàn; dự bị: 6 tiểu đoàn) Lực lượng dự bị phía sau: 7 tiểu đoàn - Quân Mỹ: trực tiếp tham chiến 1 tiểu đoàn (hỗ trợ) Thiết giáp: 7 tiểu đoàn (464 xe), trong đó: - Quân Việt Nam Cộng hòa: trực tiếp tham chiến 3 tiểu đoàn vượt biên giới (174 xe) - Quân Mỹ: trực tiếp tham chiến 4 tiểu đoàn hỗ trợ (290 xe) Pháo binh: 16 tiểu đoàn (258 khẩu) - Quân Việt Nam Cộng hòa trong đó: 11 tiểu đoàn (186 khẩu): Lực lượng trực tiếp tham chiến: 8 tiểu đoàn (132 khẩu): vượt biên giới: 7 tiểu đoàn (114 khẩu), dự bị: 1 tiểu đoàn (18 khẩu) Lực lượng dự bị phía sau: 3 tiểu đoàn (54 khẩu) - Quân Mỹ: 5 tiểu đoàn (72 khẩu), trong đó: Lực lượng trực tiếp tham chiến: 3 tiểu đoàn hỗ trợ (36 khẩu) Lực lượng dự bị phía sau: 2 tiểu đoàn (36 khẩu) Không quân: có 700 máy bay các loại (300 máy bay chiến đấu phản lực, 300 máy bay lên thẳng, 100 máy bay các loại khác). + Lực lượng tham gia lúc cao nhất (10-3-1971): Quân số: 55.000, gồm: - Quân Việt Nam Cộng hòa: 40.000, trong đó: Lực lượng trực tiếp tham chiến: 34.000 (vượt biên giới: 30.000; dự bị: 4.000) Lực lượng dự bị phía sau: 6.000 - Quân Mỹ: 15.000 trong đó: Lực lượng trực tiếp tham chiến: 7.000 (hỗ trợ) Lực lượng dự bị phía sau: 8.000 Bộ binh: 47 tiểu đoàn, gồm: - Quân Việt Nam Cộng hòa: 40 tiểu đoàn, trong đó: Lực lượng trực tiếp tham chiến: 35 tiểu đoàn (vượt biên giới: 31 tiểu đoàn; dự bị: 4 tiểu đoàn) Lực lượng dự bị phía sau: 5 tiểu đoàn - Quân Mỹ: 7 tiểu đoàn, trong đó: Lực lượng trực tiếp tham chiến: 1 tiểu đoàn (hỗ trợ) Lực lượng dự bị phía sau: 6 tiểu đoàn Thiết giáp: 9 tiểu đoàn (587 xe) - Quân Việt Nam Cộng hòa: trực tiếp tham chiến 4 tiểu đoàn vượt biên giới (237 xe) - Quân Mỹ: trực tiếp tham chiến 5 tiểu đoàn hỗ trợ (350 xe) Pháo binh: 21 tiểu đoàn (- 3 đại đội) (318 khẩu), gồm: 3 tiểu đoàn pháo 175 và 203, 4 tiểu đoàn pháo 155 (-1 đại đội), 14 tiểu đoàn pháo 105 (- 2 đại đội) - Quân Việt Nam Cộng hòa: 13 tiểu đoàn (210 khẩu), trong đó: Lực lượng trực tiếp tham chiến: 11 tiểu đoàn (174 khẩu): vượt biên giới: 10 tiểu đoàn (162 khẩu), dự bị: 1 tiểu đoàn (12 khẩu) Lực lượng dự bị phía sau: 2 tiểu đoàn (36 khẩu) - Quân Mỹ: 8 tiểu đoàn (108 khẩu), trong đó: Lực lượng trực tiếp tham chiến: 4 tiểu đoàn hỗ trợ (48 khẩu) Lực lượng dự bị phía sau: 4 tiểu đoàn (60 khẩu). Không quân: có 1.000 chiếc các loại (450 chiếc lên thẳng vận tải, 150 chiếc lên thẳng vũ trang, 300 chiếc chiến đấu phản lực, 50 chiếc B-52, 50 chiếc C.130, C.123; quân Việt Nam Cộng hòa có 40 máy bay lên thẳng, còn quân Mỹ có 960 chiếc). - Tính theo phần trăm, địch đã sử dụng: - 100% lực lượng cơ động chiến lược quân Việt Nam Cộng hòa (2 sư đoàn 12 sư đoàn). - 100% lực lượng cơ động Quân khu 1 quân đội Việt Nam Cộng hòa (22 tiểu đoàn/22 tiểu đoàn). - 34% máy bay lên thẳng toàn miền Nam (600/2.500 chiếc). - 47% không quân chiến thuật (300/700 chiếc). - 66% máy bay B-52 (50/75 chiếc). + Quân ngụy Lào để phối hợp hoạt động ở phía Tây Đường 9 và phía Mường Noòng, địch sử dụng 26 tiểu đoàn bộ binh điều từ Bắc Xa Ra Van lên XaVan Na Khét. Thực tế chỉ có 9 tiểu đoàn thuộc 2 trung đoàn bộ binh cơ động là GM33 và GM30 tham gia tác chiến. + Phiên hiêu đơn vị địch trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719": a- Quân Việt Nam Cộng hòa: Sư đoàn dù Việt Nam Cộng hòa gồm có: - Lữ đoàn 1 dù (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 9) - Lữ đoàn 2 dù (Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 11) - Lữ đoàn 3 dù (Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 6) Sư đoàn thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng hòa gồm: - Lữ đoàn 147 (Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 7) - Lữ đoàn 258 (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 8) - Lữ đoàn 369 (Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 6, Tiểu đoàn 9). Sư đoàn bộ binh 1 Việt Nam Cộng hòa gồm: - Trung đoàn bộ binh 1 (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 4) - Trung đoàn bộ binh 2 (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 5) - Trung đoàn bộ binh 3 (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 4) - Trung đoàn bộ binh 54 (Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 4) Sư đoàn 2 bộ binh Việt Nam Cộng hòa (thiếu) gồm: - Trung đoàn bộ binh 4 (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3) - Trung đoàn bộ binh 5 (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3) Lữ đoàn 1 kỵ binh gồm: - Thiết đoàn 4 (thiếu) - Thiết đoàn 7 (thiếu) - Thiết đoàn 11 - Thiết đoàn 17 - Chi đoàn 1/1 - Chi đoàn 1/8 Liên đoàn 1 biệt động quân gồm: Tiểu đoàn 21, Tiểu đoàn 37, Tiểu đoàn 39, Tiểu đoàn 77BF b- Quân Mỹ: - Lữ đoàn 11 bộ binh Mỹ (thiếu) gồm: Tiểu đoàn 4/3, Tiểu đoàn 1/1, Tiểu đoàn 2/1 - 2 lữ đoàn thuộc Sư đoàn dù 101 Mỹ (thiếu) gồm: Tiểu đoàn 2/502, Tiểu đoàn 3/506, Tiểu đoàn 1/506, Tiểu đoàn 2/327. - Lữ đoàn 1 - Sư đoàn 5 cơ giới Mỹ gồm 5 tiểu đoàn (có 1 tiểu đoàn /Lữ đoàn 11) Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Năm, 2026, 09:54:13 pm 2. Kế hoạch tác chiến của địch.
Gồm 4 giai đoạn: - Giai đoạn 1 (từ ngày 30-1 đến ngày 7-2-1971): điều động lực lượng, chiếm lĩnh bàn đạp xuất phát tiến công. - Giai đoạn 2 (từ ngày 8 đến ngày 14-2-1971): tiến công chiếm các mục tiêu chiến dịch Bản Đông và Sê Pôn. - Giai đoạn 3 (từ ngày 15-2 đến ngày 12-3-1971): lùng sục, đánh phá kho tàng ở xung quanh Sê Pôn và Bản Đông. - Giai đoạn 4 (từ ngày 13-3 đến đầu tháng 5-1971): chuyển xuống đánh phá các kho tàng phía Nam từ Sa Đi, Mường Noọng đến A Túc, A Sầu, A Lưới (Trị - Thiên). 3. Tổ chức phân chia sử dụng lực lượng của quân Việt Nam Cộng hòa. Đội hình chiến dịch tiến công của quân Việt Nam Cộng hòa vượt biên giới sang Lào chia thành ba cánh quân: - Cánh giữa đi dọc theo Đường 9 là cánh chủ yếu do 1 chiến đoàn đặc nhiệm phụ trách. Chiến đoàn đặc nhiệm này (do Đại tá Phan Hòa Hiệp chỉ huy), gồm có: Lữ đoàn 1 dù, 2 thiết đoàn 11 và 17 (sau tăng thêm Lữ đoàn 2 dù). Cánh chủ yếu này có nhiệm vụ đánh chiếm Bản Đông, Sê Pôn và khu vực Đông Bắc, Tây Nam Sê Pôn. - Cánh Bắc do Lữ đoàn 3 dù (do Đại tá Nguyễn Văn Thọ chỉ huy) và Liên đoàn 1 biệt động quân phụ trách, có nhiệm vụ bảo vệ sườn Bắc từ Ta-púc đến Tây Bắc điểm cao 530 (Đông Bắc Sê Pôn). - Cánh Nam do Sư đoàn 1 bộ binh (đủ 3 trung đoàn - do Chuẩn tướng Phạm Văn Phú chỉ huy), sau tăng cường 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến (147 và 258) phụ trách, có nhiệm vụ bảo vệ sườn Nam từ Lao Bảo đến Nam Sê Pôn, chiếm lĩnh khu vực Sa Đi - Mường Noòng và các điểm cao 640, 550, 462, 723, 748. - Lực lượng dự bị phía sau có Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến và Trung đoàn 54 bộ binh thuộc Sư đoàn 1 bộ binh và trung đoàn 4, 5 thuộc Sư đoàn 2 làm dự bị chiến dịch, đồng thời bảo vệ vận chuyển trục đường từ Huê ra Quảng Trị. 4. Thiệt hại của địch trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719"1 (Các số liệu trong phần này được trích từ cuốn "Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971" của Viện Khoa học quân sự xuất bản năm 1976 và tài liệu "Tổng kết cuộc hành quân Lam Sơn 719" của Cục Nghiên cứu Bộ Tổng Tham mưu xuất bản năm 1974). (Chỉ tính: Thời gian từ 8-2-1971 đến 24-3-1971; Lực lượng tham chiến phía trước, không kể lực lượng phía sau): Quân số: Tổng số bị diệt: 13.500/41.000, chiếm tỉ lệ 32%, trong đó: - Quân Việt Nam Cộng hòa: 12.000/34.000, chiếm tỉ lệ 35% - Quân Mỹ: 1.500/7.000, chiếm tỉ lệ 21% Đơn vị (bộ binh và thiết giáp) bị tiêu diệt: - 4 trung đoàn/11 trung đoàn, chiếm tỉ lệ 37%: Lữ đoàn 3 dù: 64% quân số bị diệt. Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến: 52% quân số bị diệt Trung đoàn bộ binh 1/ Sư đoàn 1: 56% quân số bị diệt Lữ đoàn 1 kỵ binh: 55% quân số bị diệt - 15 tiểu đoàn /39 tiểu đoàn, chiếm tỉ lệ 37%: Tiểu đoàn 8 Lữ dù: 65% quân số bị diệt Tiểu đoàn 2 Lữ 3 dù: 74% quân số bị diệt Tiểu đoàn 3 Lữ 3 dù: 70% quân số bị diệt Tiểu đoàn 6 Lữ 3 dù: 66% quân số bị diệt Tiểu đoàn 7 Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến: 62% quân số bị diệt Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 Sư đoàn 1: 55% quân số bị diệt Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 1 Sư đoàn 1: 74% quân số bị diệt Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 2 Sư đoàn 1: 68% quân số bị diệt Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 Sư đoàn 1: 68% quân số bị diệt Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 3 Sư đoàn 1: 65% quân số bị diệt Tiểu đoàn 39 Liên đoàn 1 biệt động quân; 91% quân số bị diệt Thiết đoàn 4 (thiếu) Lữ đoàn 1 kỵ binh: 54% quân số bị diệt Thiết đoàn 7 (thiếu) Lữ đoàn 1 kỵ binh: 53% quân số bị diệt Thiết đoàn 11 Lữ đoàn 1 kỵ binh: 64% quân số bị diệt Thiết đoàn 17 Lữ đoàn 1 kỵ binh: 69% quân số bị diệt + Bị thiệt hại nặng: - 2 sư đoàn/3 sư đoàn, chiếm tỉ lệ 66%: Sư đoàn dù: 35% quân số bị diệt Sư đoàn 1 bộ binh: 40% quân số bị diệt - 4 trung đoàn/11 trung đoàn, chiếm tỉ lệ 37%: Lữ đoàn 1 dù: 50% quân số bị diệt Trung đoàn 2 Sư đoàn 1: 37% quân số bị diệt Trung đoàn 3 Sư đoàn 1: 35% quân số bị diệt Liên đoàn 1 biệt động quân: 47% quân số bị diệt - 7 tiểu đoàn 39 tiểu đoàn: chiếm tỉ lệ 18%: Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn 1 dù: 49% quân số bị diệt Tiểu đoàn 9 Lữ đoàn 1 dù: 49% quân số bị diệt Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến: 49% quân số bị diệt Tiểu đoàn 4 Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến: 47% quân số bị diệt Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 Sư đoàn 1: 48% quân số bị diệt Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 3 Sư đoàn 1: 39% quân số bị diệt Tiểu đoàn 21 Liên đoàn 1 biệt động quân: 49% quân số bị diệt Xe tăng thiết giáp: Bị diệt 4 thiết đoàn (4, 7, 11 17) Tổng số bị diệt: 220/587 chiếc, chiếm tỉ lệ 38%, trong đó: - Quân Việt Nam Cộng hòa: 170/237 chiếc, chiếm tỉ lệ 78%. - Quân Mỹ: 50/350 chiếc, chiếm tỉ lệ 14%. Pháo: Bị diệt 8 tiểu đoàn pháo (3 tiểu đoàn Sư đoàn 1 2 tiểu đoàn sư đoàn dù, 1 tiểu đoàn Lữ đoàn 147, 1 tiểu đoàn Liên đoàn 1 biệt động quân, 1 tiểu đoàn Lữ kỵ binh) bị đánh thiệt hại nặng 5 tiểu đoàn. Tổng số bị diệt: 130/210 khẩu, chiếm tỉ lệ 66%, trong đó: - Quân Việt Nam Cộng hòa: 120/162 khẩu, chiếm tỉ lệ 74%. - Quân Mỹ: 10/48 khẩu, chiếm tỉ lệ 14%. Máy bay lên thẳng: - Bị bắn rơi, bắn cháy: 120/600 chiếc, chiếm tỉ lệ 20% - Bị thương: 380/600 chiếc, chiếm tỉ lệ 63%. Xe vận tải: bị hủy và bị tịch thu 300/1.700 chiếc, chiếm tỉ lệ 18%. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2026, 11:13:27 pm II- CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO
1. Lực lượng tham gia chiến dịch Bộ quyết định huy động những lực lượng sau đây tham gia chiến dịch, lấy Binh đoàn 70 làm lực lượng nòng cốt: - Về bộ binh: 5 sư đoàn (308, 324, 304, 320, 2), các lực lượng tại chỗ của B5, B4, Đoàn 559 và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ. - Về xe tăng, thiết giáp: 3 tiểu đoàn (297, 397, 198). - Về pháo binh: 4 trung đoàn (3 trung đoàn pháo binh cơ giới là: 368, 38, 45 và Trung đoàn pháo 84 khiêng vác) - Về phòng không: 4 trung đoàn (230, 237, 241, 491) và nhiều tiểu đoàn, đại đội độc lập của Đoàn 559. - Về công binh: 3 trung đoàn (7, 83, 219) và nhiều phân đội công binh của Đoàn 559. Quân số chiến đấu và phục vụ chiến đấu lên tới 60.000 cán bộ, chiến sĩ. 2. Diễn biến chiến dịch Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 diễn ra trong hơn 50 ngày đêm (30-1-1971 - 23-3-1971), hình thành 3 đợt như sau: Đợt 1 (từ ngày 30-1 đến ngày 7-2): Địch nghi binh, điều động triển khai lực lượng chuẩn bị khu xuất phát tiến công. Ta cơ động và triển khai lực lượng chiến dịch, tạo thế trận chuẩn bị đánh địch. Đợt 2 (từ ngày 8-2 đến ngày 11-3): Địch tiến công đánh chiếm Bản Đông, tiếp tục kế hoạch phát triển lên Sê Pôn. Ta ngăn chặn địch từng bước, chặn đứng địch ở Bản Đông, phản đột kích bẻ gãy cánh Bắc, đánh thiệt hại cánh Nam, cơ động lực lượng phòng giữ Sê Pôn, tích cực chuẩn bị điều kiện để chuyển sang phản công lớn toàn mặt trận. Đợt này có thể chia thành hai bước: - Bước thứ nhất (từ ngày 8-2 đến ngày 3-3-1971): Địch tiến công chiếm được Bản Đông và hình thành được 2 cánh bảo vệ sườn Nam và sườn Bắc. Ta tập trung bẻ gãy cánh Bắc, kiềm chế cánh Nam, chặn đứng được cánh chủ yếu ở Bản Đông, hình thành thế bao vây chiến dịch. - Bước thứ hai (từ ngày 4 đến ngày 11-3-1971): Địch củng cố phòng thủ ở Bản Đông, chúng sử dụng thê đội 2 chiến dịch tiếp tục kế hoạch tiến công Sê Pôn với mục tiêu hạn chế. Ta bảo vệ Sê Pôn, bảo đảm an toàn tuyến vận chuyển chiến lược, tích cực đánh địch, điều động lực lượng bao vây chia cắt địch, chuẩn bị điều kiện để thực hành phản đột kích lớn tiêu diệt lực lượng chiến dịch của địch. Đợt 3 (từ ngày 12/3 đến ngày 23/3): Địch dừng lại và rút lui. Ta chuyển sang tiến công vào toàn bộ đội hình địch và đánh địch rút chạy. 3. Kết quả chiến dịch (Các số liệu trong phần này được trích từ cuốn "Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)". Tập 6, của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, cuồn "Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971" của Viện Lịch sừ quân sự Việt Nam xuất bản năm 1987 và cuốn "Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971" của Viện Khoa học quân sự xuất bản năm 1976). Qua hơn 50 ngày đêm tiến hành chiến dịch (từ ngày 31-1 đến ngày 23-3-1971), ta đã thu được những kết quả to lớn sau: - Về sinh lực: Loại khỏi vòng chiến đấu 21.102 tên địch, trong đó loại khỏi vòng chiến đấu 19.960 tên, bắt 1.142 tên. - Về phương tiện chiến tranh: Bắn rơi và phá hủy 556 máy bay (trong đó có 505 máy bay lên thẳng); phá hủy và bắn chìm 43 tàu và xà lan; phá hủy 1.138 xe cơ giới (trong đó có 528 xe tăng và xe bọc thép), 112 khẩu pháo và súng cối hạng nặng (cỡ lớn), phá hủy, đốt 25 kho (chứa trên 2 triệu lít xăng và 1.000 tấn đạn dược). - Ta thu được: 2 máy bay lên thẳng, 24 xe các loại (trong đó có 1 xe tăng M41, 5 xe bọc thép M113, 6 xe húc, 12 ô tô), 57 khẩu pháo và súng cối hạng nặng, 24 súng cối cỡ 81 và 60mm, 7 khẩu ĐKZ, 2.268 súng bắn thẳng các loại, 274 máy vô tuyến điện, trên 100 tấn đạn và quân dụng. - Riêng lực lượng tại chỗ thuộc Đoàn 559 đã tiêu diệt 2.396 tên địch, bắn rơi, phá hủy 255 máy bay các loại, phá hủy 37 xe. - Tuy nhiên, trong chiến dịch này, bộ đội ta cũng chịu tổn thất lớn: 2.163 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và 6.176 bị thương trong chiến đấu. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2026, 11:16:34 pm * Công tác hậu cần chiến dịch1 (Các số liệu về công tác hậu cần chiến dịch được trích từ cuốn: "Công tác hậu cần Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào" của Tổng cục Hậu cần, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987)
+ Công tác giao thông vận tải: - Khối lượng hàng đã giao cho các hướng trên toàn mặt trận như sau; Hướng B70: 4.393 tấn Hướng Tây: 1.227 tấn Hướng Nam: 1.057 tấn Hướng Đông: 1.594 tấn Cộng toàn mặt trận: 8.271 tấn Khối lượng hàng trên đây (trừ hướng Đông) chiếm 21% khối lượng hàng vượt khẩu trong thời gian trên Tuyến 559. Tuyến chiến lược cũng đã phục vụ chuyển quân với khoảng 1.217 chuyên xe chở 27.935 người vào chiến trường, bảo đảm cho 2 tiểu đoàn pháo binh Đ74, 2 trung đoàn cao xạ, 3 tiểu đoàn tăng vào vị trí tập kết; chuyển trên 3.000 thương bệnh binh và 1.100 tù hàng binh từ chiến trường về hậu phương. Số xe sử dụng đảm bảo cho một sư đoàn tác chiến hiệp đồng binh chủng, mỗi đêm 10 xe (loại 4 tấn) chạy liên tục từ tuyến chiến lược đến tuyến chiến dịch. + Công tác bảo đảm vật chất: a- Tổng số tiếp nhận: 8.271 tấn. Thống kê theo các mặt hàng và tỷ trọng so với tổng khối lượng hàng nhập là: Đạn: 3.329 tấn, chiếm tỷ trọng 40,2% Lương thực, thực phẩm: 4.196 tấn, chiếm tỷ trọng 50,7% Xăng dầu1 (Không tính xăng dầu đã sử dụng của các binh trạm vận tài chiến lược phục vụ chiến dịch): 608 tấn, chiếm tỷ trọng 7% Hàng quân y: 56,6 tấn, chiếm tỷ trọng 0,7% Hàng khác: 81,4 tấn, chiếm tỷ trọng 0,9%. b- Tổng số tiêu thụ: 5.580 tấn. Phân chia theo mặt hàng và tỷ trọng so với tổng số tiêu thụ là: Đạn: 1.833 tấn, chiếm tỷ trọng 32% Lương thực, thực phẩm: 3.171 tấn, chiếm tỷ trọng 57% Xăng dầu2 (Xăng dầu của các binh trạm vận tải chiến lược phục vụ chiến dịch sử dụng không tính vào lượng tiêu thụ): 514 tấn, chiếm tỷ trọng 9,2% Hàng khác: 61 tấn, chiếm tỷ trọng 1,1%. + Phân tích tiêu thụ đạn: Đạn bộ binh: 108 tấn, chiếm 5,9% tổng số tiêu thụ Cối, pháo, ĐKZ: 1.666 tấn, chiếm 90,8% tổng số tiêu thụ Đạn cao xạ: 50 tấn, chiếm 2,6% tổng số tiêu thụ Thuốc nổ, hỏa cụ: 8,7 tấn, chiếm 0,4% tổng số tiêu thụ Tổng số đạn cối, pháo, ĐKZ (từ cối 60 trở lên) đã tiêu thụ là 68.235 quả bằng 1.666 tấn. Trong đó có 17,981 quả L122 và Đ74 bằng 1.258 tấn chiếm 68% lượng đạn, tiêu thụ và 75% lượng đạn lớn. + Phân tích tiêu thụ đạn Đ74 theo cơ số: - Bình quân mỗi khẩu ở hướng B70 sử dụng 682 quả = 8,5 cơ số - Ngày bắn nhiều nhất: 864 quả - Ngày bắn ít nhất: 46 quả - Khẩu bắn nhiều nhất: 800 quả = 10 cơ số - Khẩu bắn ít nhất: 400 quả = 5 cơ số - Các mục tiêu bắn nhiều nhất: Cao điểm 500: 537 quả Cao điểm 655: 609 quả Lao Bảo, Tà Phúc, Tà Cơn, Cha Ky mỗi nơi: 700-800 quả Cao điểm 456: 1.258 quả Bản Đông: 3.122 quả + Phân tích tiêu thụ lương thực thực phẩm (tính theo tỷ trọng % lượng tiêu thụ lương thực thực phẩm): Gạo: 2.355 tấn, chiếm tỷ trọng 74,2% Lương khô: 259 tấn, chiếm tỷ trọng 8,1% Muối: 71 tấn, chiếm tỷ trọng 2,2% Đường: 106,5 tấn, chiếm tỷ trọng 3,3% Sữa: 50 tấn, chiếm tỷ trọng 1,3% Thực phẩm: 330 tấn, chiếm tỷ trọng 10,3%. c- Tổng số tổn thất: 600 tấn, chiếm tỷ lệ 11% so với tiêu thụ, trong đó: Đạn: 370,2 tấn = 20% lượng tiêu thụ Xăng dầu: 19,5 tấn = 3,7% lượng tiêu thụ Lương thực thực phẩm: 210 tấn = 6,6% lượng tiêu thụ. + Công tác bảo đảm kỹ thuật: a- Số lượng và chủng loại binh khí kỹ thuật sử dụng nhiều trong chiến dịch: Súng bộ binh: 23.312 khẩu Cối, pháo, ĐKZ: 770 khẩu Súng, pháo cao xạ: 670 khẩu Xe ô tô (không kể của các binh trạm chiến lược): 603 chiếc Xe xích: 98 chiếc Xe tăng: 88 chiếc b- Lực lượng bảo đảm kỹ thuật sử dụng trong chiến dịch gồm: Trạm sửa chữa xe đơn vị: 11 trạm Trạm sửa chữa vũ khí đơn vị: 26 trạm Các đội sửa chữa xe và vũ khí do Tổng cục tăng cường: 4 đội (1 đội tiểu tu ô tô: 30 người; 1 đội sửa chữa xe cơ động: 60 người; 1 đội sửa chữa tăng xích cơ động: 50 người; 1 đội sửa chữa pháo cơ động: 32 người). c- Tình hình mất mát, hư hỏng: Súng bộ binh: 1.738 khẩu = 7,4% số lượng trang bị Cối, pháo, ĐKZ: 145 khẩu = 18,8% số lượng trang bị Súng, pháo cao xạ: 96 khẩu = 14,3% số lượng trang bị Xe ô tô: 284 chiếc = 47,08% số lượng trang bị Xe xích: 68 chiếc = 69% số lượng trang bị Xe tăng: 42 chiếc = 47,7% số lượng trang bị. Trong số trang bị hư hỏng ở hướng B70, số còn có khả năng sửa chữa được có tỷ trọng: Súng bộ binh: 23% Súng, pháo cao xạ: 35% Cối, pháo mặt đất: 60% Trong số xe bị hỏng trên các hướng, số còn có khả năng sửa chữa được chiếm tỷ trọng: Xe tăng: 52% Xe hơi: 61% Xe xích: 55%. d- Kết quả sửa chữa trong thời gian chiến dịch: Súng bộ binh: Đạt 2% số hư hỏng Cối, pháo, ĐKZ: Đạt từ 5 đến 10% số hư hỏng Súng cao xạ: Đạt từ 17 đến 37% số hư hỏng Xe ô tô: 61% số hư hỏng Xe xích: 63% số hư hỏng Xe tăng: 50% số hư hỏng Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2026, 11:17:43 pm + Công tác cấp cứu, điều trị thương binh và bệnh binh:
a- Lực lượng quân y chiến dịch: Mặt trận đã sử dụng một lực lượng quân y rất lớn: 22 đại đội quân y trung đoàn, 3 tiểu đoàn quân y sư đoàn, 11 đội điều trị chiến dịch, 2 bệnh viện và 2 đội điều trị hậu phương, 6 trạm chuyển thương cơ giới, 1 khung hộ tống chuyển thương bộ, 11 xe chuyển thương chuyên dụng, 7 kho thuốc dã chiến. Ngoài ra, ở phía sau, lực lượng dự bị quân y chiến dịch còn có: 1 đội phẫu, 1 đội vệ sinh phòng dịch, 1 đội điều trị. Các cơ sở điều trị trên có khả năng thu dung được 4.600 thương bệnh binh. b- Số lượng thương binh: - Tổng số thương vong: 8.339 người = 13,4% quân số Trong đó: Bị thương: 6.176 người = 9,9% quân số Hy sinh: 2.163 người = 3,4% quân số - Tỷ lệ giữa bị thương và hy sinh: cứ 28 người bị thương thì có 1 người hy sinh. - Số thương vong ở hướng chủ yếu bằng 57,2% số thương vong toàn mặt trận. - Số thương binh ở 3 SƯ đoàn cơ động (308, 324, 2) chiếm 56% tổng số thương binh toàn mặt trận. - Số thương vong thấp nhất là ở hướng B5 (6,2% số quân). - Tỷ lệ giữa thương binh và bệnh binh: 15 thương binh/1 bệnh binh (bình thường ở các chiến dịch khác tỷ lệ này là 1/1-1/2). c- Phân loại thương binh: Nặng: 15%; vừa: 25%; nhẹ: 60%. d- Cấp cứu, điều trị: - Tỷ lệ điều trị khỏi trở về đơn vị trong chiến dịch từ 33 đến 38%. - Riêng ở 3 sư đoàn cơ động: 308, 324 và 2, cho đến ngày 30 tháng 3 năm 1971 đã trả về được 1.097 thương binh, đạt tỷ lệ 30,7% tổng số thương binh của 3 sư đoàn. - Đến ngày 30 tháng 4 năm 1971, toàn mặt trận đã trả về các đơn vị 2.779 thương binh, đạt tỷ lệ 44% tổng sô thương binh. - Tỷ lệ chết tại các trạm quân y: 2,1%. e- Chuyển thương cơ giới: - Từ ngày 24 tháng 2 đến 30 tháng 4 năm 1971 đã chuyển về hậu phương 3.555 thương binh. - Riêng ở hướng chủ yếu đã chuyển về hậu phương được 2.174 thương binh bằng 63% thương binh ở hướng này. + Một số tỷ lệ so sánh về bộ binh, pháo và xe tăng giữa ta và địch: * Nhìn chung trong toàn chiến dịch, nếu so sánh về bộ binh thì lực lượng địch - ta xấp xỉ bằng nhau, nhưng trên hướng tác chiến chủ yếu ta tập trung lực lượng với tỷ số địch: 1 - ta: 1,6. Riêng trong một số trận chiến đấu, ta đánh địch theo tỷ lệ: - Địch: 1 - ta: 1 trong trận đánh điểm cao 543. - Địch: 1 - ta: 1,5 trong trận đánh điểm cao 660. - Địch: 1 - ta: 2 trong trận đánh các điểm cao 550, 723. - Địch: 1 - ta: 5 trong trận đánh điểm cao 500. * Pháo binh của ta đã tiêu diệt và chế áp hoàn toàn các trận địa pháo binh địch với tỷ lệ so sánh lực lượng ta: 1 - địch: 8 trong toàn chiến dịch. Ta đã vận dụng đến mức cao hoả lực để tạo được ưu thế thắng địch. Ví dụ: - Trong trận tiêu diệt Tiểu đoàn 39 biệt động quân ở điểm cao 500, ta đã sử dụng tập trung 230 quả B40, B41; 2.964 quả cối 60, 82; 208 quả ĐKZ; 712 quả Đ74 và 9.988 viên 12,7mm. - Trong trận tiến công Trung đoàn 1 bộ binh ngụy ở điểm cao 723, ngoài các loại đạn nói trên sử dụng rất tập trung, ta còn dùng thêm 369 quả đạn pháo 85. - Trong trận tiến công Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở điểm cao 550 ta cũng dùng thêm 735 quả cối 120mm nữa. Với số lượng đạn pháo như vậy, ta đã giảm được số lượng bộ binh mà vẫn tạo được ưu thế áp đảo địch. - Trong cách đánh độc lập, pháo mặt đất đã diệt 4.118 tên địch, phá hủy 178 khẩu pháo và súng cối lớn, 88 máy bay 154 xe quân sự, 20 sở chỉ huy và khu trung tâm thông tin các cấp, 65 kho đạn và xăng dầu. Súng máy và pháo cao xạ đánh độc lập đã hạ phần lớn số máy bay lên thẳng trong chiến dịch. Các số liệu thống kê cho thấy: Phần lớn xe tăng, thiết giáp địch đều bị tiêu diệt bởi các phân đội nhỏ ĐKZ và các chiến sĩ bắn B40, B41; 67% số máy bay lên thẳng bị bắn rơi do các phân đội nhỏ súng máy cao xạ 12,7mm, 14,5mm (tỷ số so sánh giữa súng máy và pháo cao xạ như sau: 1 khẩu 12,7mm hoặc một khẩu 14,5mm hạ được 1 máy bay địch tương đương với 4 khẩu pháo cao xạ 85, hoặc 8 khẩu 57, hoặc 2 khẩu 37). Điểm này có ý nghĩa quan trọng đối với ta để ta có thể đánh thắng địch trên chiến trường trong hoàn cảnh địch sử dụng nhiều máy bay lên thẳng vận tải và chiến đấu mà binh khí kỹ thuật nặng của ta có hạn. * Xe tăng ta tham gia chiến dịch theo tỷ lệ so sánh ta: 1 - địch: 9, nhưng đã cùng bộ binh đánh thắng trong nhiều trận then chốt của chiến dịch, kể cả những trận đánh tiêu diệt các căn cứ lớn của địch có công sự tương đối vững chắc. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2026, 11:19:20 pm III- NHỮNG SỰ KIỆN ĐÁNG GHI NHỚ:
+ Về phía địch: - Tháng 11 năm 1970, Tổng thống Mỹ Níchxơn phê chuẩn đề nghị của Bâncơ - Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn và Abram - Tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam đánh ra Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và ngã ba biên giới. - Tháng 12 năm 1970, Bộ tham mưu Mỹ - quân Việt Nam Cộng hòa đưa ra 10 phương án đem quân đánh sang đất Lào - Ngày 2 tháng 2 năm 1971, Tổng thống Mỹ Níchxơn họp cùng Cố vấn Kítxinhgơ, Ngoại trưởng Râugiơ, Bộ trưởng Quốc phòng Leđơ và Tham mưu trưởng Liên quân Morơ thông qua kế hoạch ba cuộc hành quân mang các mật danh: "Lam Sơn 719", "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4". - Ngày 3 tháng 2 năm 1971, Níchxơn ký lệnh bảo đảm với Nguyễn Văn Thiệu là Mỹ sẽ dùng không quân đến mức cao để yểm trợ cho quân Việt Nam Cộng hòa đánh lên Đường 9 - Nam Lào. - Ngày 7 tháng 2 năm 1971, trước cuộc hành quân một ngày, Níchxơn họp với 30 thượng nghị sĩ Mỹ chính thức tuyên bố tiến quân sang Nam Lào. - Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Nguyễn Văn Thiệu cũng ra tuyên bố tiến quan sang Nam Lào. Địch thực hiện một kế hoạch nghi binh quân sự lớn trước chiến dịch: - Đầu tháng 1 năm 1971, địch tổ chức họp báo "công khai" tiến công cùng một lúc sang Đông Nam Campuchia, cao nguyên Bô Lô Ven (Lào), A Sầu, A Lưới (Thừá Thiên). - Giữa tháng 1 năm 1971, địch tung tin sẽ dùng hải - lục - không quân vượt vĩ tuyến 17 đánh ra Nam Khu 4 để "trả đũa Bắc Việt Nam gia tăng hoạt động ở Nam Việt Nam". - Chứng minh cho "kế hoạch đã dự kiến này", đầu tháng 2 năm 1971, địch cho 3 lữ đoàn (258, 147, 369) lính thủy đánh bộ thuộc quân đội Sài Gòn bấy giờ đang đứng chân ở Trị - Thiên "tập dượt" vượt phá Tam Giang, sông Bồ, sông Thạch Hãn đánh vào các địa hình đồi núi và đồng bằng ven biên... - Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971: địch điều động, triển khai lực lượng chuẩn bị bàn đạp tiến công. Bằng đường không và đường bộ, quân đội Sài Gòn được sự hỗ trợ của quân Mỹ đã vận chuyển 22 tiểu đoàn lính dù, lính thủy đánh bộ và 7 tiểu đoàn pháo từ Sài Gòn, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên ra khu vực Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh. Quân ngụy Lào cũng nống ra Pha Lan và Pha Đô Tuya để phối hợp với cuộc hành quân "Lam Sơn 719" ở Đường 9. - Hạ tuần tháng 1 năm 1971, một bộ phận của quân Mỹ (một tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn thiết giáp) được sự chi viện tối đa của không quân và pháo binh, mở trận càn mang mật danh Điuêcunion đánh ra Đường 9 phía Nam khu phi quân sự, chiếm lại khu vực Khe Sanh. Trận càn này của quân Mỹ vừa nhằm lập bàn đạp, vừa nghi binh cho các đơn vị quân đội Sài Gòn chuẩn bị mở cuộc tấn công ra Đường 9 - Nam Lào. - Để nghi binh, ngày 2 tháng 2, địch cho Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ diễn tập thực binh trên sông Hiếu ở phía Đông thị trấn Đông Hà 1km và cho Lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ từ La Vang (Quảng Trị) vào cửa biển Thuận An (Huê) xuống tàu thủy đi lên hướng Bắc Cửa Tùng. Từ biển Đông, Hạm đội 7 Mỹ cho một số tàu khu trục tiến vào uy hiếp vùng biển phía Nam Quảng Bình tham gia nghi binh hòng thu hút sự chú ý của ta. Bước vào chiến dịch: - Ngày 7 tháng 2 năm 1971: địch triển khai xong toàn bộ lực lượng của chúng trên các khu vực bàn đạp như Làng Vây, Ta Kút, Tà Púc, động A Hai, Làng Cát, từ Khe Sanh lên Lao Bảo, Làng Vây, từ Tân Lâm đến Hướng Hóa, Pha Lan và Pha Đô Tuya. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Bộ chỉ huy quân Mỹ và quân đội Sài Gòn ở Vùng một chiến thuật do tên tướng Sơthơlen và tướng hai sao Hoàng Xuân Lãm chỉ huy được lệnh bắt đầu tấn công khu vực Đường 9 - Nam Lào, mở màn cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719". - Sáng 10 tháng 2 năm 1971, Chiến đoàn đặc nhiệm dù với hơn 100 xe tăng, xe bọc thép và hơn 3.000 lính dù được sự chi viện tối đa của pháo binh và máy bay (kể cả máy bay B-52)... đã ồ ạt đánh qua các điểm chốt, tiến về phía Bản Đông và 16 giờ cùng ngày, quân địch trên hướng chủ yếu đã chiếm được Bản Đông. Tuy nhiên sau đó chúng đã bị vây chặt và không phát triển được lên Sê Pôn.. - Ngày 26 tháng 2 năm 1971, địch phải chuyển nhiệm vụ mà Sư đoàn dù từ chỗ là lực lượng chủ yếu để phát triển lên Sê Pôn thành lực lượng phòng giữ Bản Đông và giải tỏa Đường 9 khỏi áp lực chia cắt của ta. - Ngày 18 tháng 3 năm 1971, trước nguy cơ bị tiêu diệt quân địch phải bỏ Bản Đông tháo chạy. Bị truy quét gắt gao, những giờ phút bi thảm nhất của đạo quân chủ lực tinh nhuệ quân đội Việt Nam Cộng hòa thực hiện cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đã đến. + Về phía ta: - Ngày 19 tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và ra Nghị quyết về Tình hình mới ở bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ mới của chúng ta. Nghị quyết chỉ rõ: miền Bắc là hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam và là hậu phương của cách mạng các nước Campuchia và Lào. Các lực lượng vũ trang có nhiệm vụ giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và làm nhiệm vụ quốc tế, sát cánh cùng quân và dân Campuchia và Lào đánh bại kẻ thù chung trên chiến trường ba nước Đông Dương. Bộ Chính trị quyết định tập trung xây dựng bộ đội chủ lực lớn mạnh làm lực lượng cơ động chiến lược trên các chiến trường, đủ sức đánh những trận tiêu diệt lớn. - Tháng 6 năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu vạch kế hoạch tác chiến, bắt đầu điều động lực lượng và chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Nam Lào - Tháng 7 năm 1970, Quân ủy Trung ương quyết định sát nhập Bộ Tư lệnh Đoàn 986 và Bộ Tư lệnh Đoàn 559 với nhau để thống nhất lãnh đạo và chỉ huy việc vận chuyển chiến lược và việc tác chiến ở Trung - Hạ Lào. - Tháng 10 năm 1970, Bộ quyết định thành lập Binh đoàn 70 gồm các sư đoàn 304, 308, 320 và các đơn vị binh chủng trong biên chế để làm lực lượng cơ động nòng cốt của chiến dịch. - Ngày 31 tháng 12 năm 1970, Quân ủy Trung ương ra Quyết định số 078/NQ: thành lập Đảng ủy Bộ Tự lệnh 70 gồm 5 đồng chí, do đồng chí Hoàng Phương làm Bí thư kiêm Chính ủy, đồng chí Cao Văn Khánh làm Phó Bí thư kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh 70. Đảng ủy Bộ Tư lệnh 70 đã khẩn trương triển khai lãnh đạo các mặt công tác trong các đơn vị của Binh đoàn và phối hợp, hiệp đồng tác chiến với các lực lượng của Mặt trận B5, Quân khu Trị - Thiên và Đoàn 559 sẵn sàng đánh địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2026, 11:20:34 pm - Ngày 31 tháng 1 năm 1971, Trung ương Đảng kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào: Trận này là một trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Không những để giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo một bước đánh bại quan trọng âm mưu "Việt Nam hóa chiến tranh"... Quân đội ta nhất định phải đánh thắng trận này.
- Ngày 4 tháng 2 năm 1971, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 51/QĐ-QP: thành lập Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (gọi tắt là Bộ Tư lệnh 702), do đồng chí Lê Trọng Tấn (Tổng Tham mưu phó) làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) làm Chính ủy. - Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương chính thức ra Quyết định số 04/QUTW: thành lập Đảng ủy Mặt trận 702, gồm 8 đồng chí (Ban Thường vụ 3 đồng chí), do đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư, đồng chí Hoàng Phương làm Phó Bí thư, đồng chí Lê Trọng Tấn làm ủy viên thường vụ. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh 702 đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và sự lãnh đạo của Bộ Quốc phòng về mọi mặt, có nhiệm vụ thống nhất lãnh đạo và chỉ huy tác chiến đối với các lực lượng hoat động trong khu vực Nam - Bắc Đường 9. - Ngày 11 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh 702 đến vị trí triển khai sở chỉ huy và chính thức chỉ huy các đơn vị - Ngày 7 tháng 2 năm 1971, các sư đoàn chủ lực thuôc Binh đoàn 70 và lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị đã hoàn tất các mặt chuẩn bị chiến dịch và chiến đấu, sẵn sàng đón đánh địch. - Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: "Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành toàn thắng cho Chiến dịch X" (Đường 9 - Nam Lào). - Đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, trên hướng chính ta đã chặn đứng được địch ở Bản Đông, không cho địch tiến lên Sê Pôn, bảo vệ được đường vận chuyển chiến lược của ta thông suốt. - Ngày 4 tháng 3 năm 1971, Quân ủy Trung ương đã gửi bức điện số 012 QU/TU/A cho Thượng tướng Văn Tiến Dũng và Đảng ủy Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Nội dung bức điện đã phân tích tình hình địch, ta và đề ra nhiệm vụ cho quân dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào: Tập trung tiêu diệt địch trong khu vực Bản Đông; tăng cường chỉ đạo đối với cánh Nam; tổ chức trận địa tập kích đối với Khe Sanh; Tăng cường hoạt động ở phía Đông Đường 9 - Bắc Quảng Trị, cắt giao thông, đánh hậu cứ... - Ngày 8 tháng 3 năm 1971, quân ta trên các hướng chiến dịch đồng loạt phản công địch. Hơn 40.000 sĩ quan, binh lính quân đội Việt Nam Cộng hoà tham gia cuộc hành quân "Lam Sơn 719" bắt đầu rơi vào tình thế khốn đốn. - Ngày 13 tháng 3 năm 1971, toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch được lệnh gấp rút chuyển từ phản công sang tiến công trên toàn tuyến vào đội hình hành quân của địch. - Ngày 20 tháng 3 năm 1971, khu vực Bản Đông - nơi được chọn làm khu vực đánh trận then chốt, đã được giải phóng hoàn toàn. - Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. * Các trận then chốt trong chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào1 (Nguồn trích: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật đánh trận then chốt trong chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam trung kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nọi, 2007, tr. 367-378): - Trận then chốt đầu tiên tiêu diệt căn cứ 31 của địch ở điểm cao 543 (từ ngày 25-2 đến ngày 4-3-1971): Ta đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân phía Bắc Đường 9 của địch, tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù, Thiết đoàn 17, đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 21 biệt động quân, phá vỡ kế hoạch thiết lập các căn cứ hoả lực vừa bảo vệ sườn Bắc vừa chi viện cho cánh quân chủ yếu tiến công lên Sê Pôn của chúng. Thắng lợi của trận then chốt này còn tạo điều kiện cho các hướng khác của chiến dịch kìm chân địch, bảo vệ được hành lang vận chuyển chiến lược. - Trận then chốt quan trọng của chiến dịch tiêu diệt quân địch ở điểm cao 723 (từ ngày 12 đến ngày 18-3-1971): Đánh trận then chốt tiêu diệt quân địch ở điểm cao 723 - lực lượng mạnh nhất của Sư đoàn 1 ngụy, thắng lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn 2 và các đơn vị bạn trong chiến dịch bẻ gãy hoàn toàn cánh quân phía Nam Đường 9 của địch và ta không chế được khu vực từ Sê Pôn đến Bản Đông. - Trận then chốt quyết định tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch trong cuộc hành quân của chúng ở Bản Đông (từ ngày 13 đến ngày 20-3-1971): Ta chiếm được Bản Đông nhưng không thực hiện được trận then chốt quyết định tiêu diệt lớn quân địch. Nguyên nhân chính là: khi rút quân địch đã thực hiện nghi binh chặt chẽ, ta nắm địch không chắc; trong tiến công, việc tổ chức hiệp đồng giữa các hướng không cụ thể, kém hiệu lực, tổ chức bao vây không chặt, đón lõng chưa tốt; việc tổ chức khắc phục mìn cho bộ binh và xe tăng tiến công còn chậm và sót dẫn đến tốc độ tiến công của ta chậm, lỡ thời cơ. Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2026, 11:22:11 pm IV - MỘT VÀI CON SỐ VÀ SỰ KIỆN QUA ĐÁNH GIÁ CỦA MỘT SỐ TÁC GIẢ NƯỚC NGOÀI VỀ CUỘC HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" VÀ CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO
- "Tháng 2 năm 1971, tám tháng sau khi đột nhập vào Campuchia, các đơn vị quân cộng hòa miền Nam lợi dụng một lần nữa sự yểm trợ quan trọng của không quân Mỹ, xâm nhập vào Lào trong kế hoạch hành quân như H. Kítxinhgơ nói: "Thụ thai trong ngờ vực và bị nghi hoặc dày vò". Có đến gần 30.000 quân đưa sang Lào, song họ đã nhận chỉ thị của Sài Gòn phải kết thúc cuộc hành quân với hơn 3.000 người thiệt mạng. Đó là trường hợp họ dừng lại nửa đường đến mục tiêu và trở về trong tình trạng hoàn toàn lộn xộn. Kế hoạch "Lam Sơn 719" không làm chậm hoạt động trên đường Hồ Chí Minh; tệ hại nhất quân cộng hoà miền Nam đã thất bại thảm hại ngay trận ra quân đầu tiên không có sự yểm trợ của bộ binh Mỹ. Điều đó không ngăn cản Tổng thống Níchxơn tuyến bố với đất nước ngày 7 tháng 4 rằng Việt Nam hoá đã thành công. Chắc chắn đó không phải là trường hợp sự tan vỡ lớn hơn trong tinh thần mọi người và làm tăng gay gắt hơn áp lực lên những lực lượng ốm yếu của quân Mỹ hiện còn ở miền Nam". (Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương/Peter Macdonald; Người dịch: Nguyễn Viết Quyền, Nguyễn Đình Cao. H.: QĐND, 2004, tr.361-362) - "Ngày 18 tháng 1 năm 1971, với sự tán thành của Hội đồng An ninh quốc gia, Tổng thống Níchxơn đã cho phóp một cuộc xâm lược tại Lào. Lực lượng bộ binh không tham dự, nhưng pháo binh, không quân - nhất là máy bay trực thăng của Mỹ (bao gồm 10.000 người) sẽ yểm trợ cho cuộc tấn công của 17.000 quân Sài Gòn. Cuộc hành quân được mang tên "Lam Sơn". Mục tiêu chính là căn cứ thị xã Sê Pôn, cách biên giới Lào 25 dặm. Lực lượng quân đội Sài Gòn tiến chậm chạp, phải mất một tháng chiến đấu dễ đi đến Sê Pôn. Sau đó, quân Bắc Việt phản công. Trong cuộc hành quân kéo dài một tháng, một số đơn vị Sài Gòn bị tiêu diệt. Nhằm ngăn ngừa một thảm kịch lớn hơn, phải triển khai máy bay lên thẳng Mỹ. Nó phải chở quá nặng vì lúc bay trở về, những người lính Sài Gòn tuyệt vọng đã bám vào càng hạ cánh của máy bay. (Việt Nam - cuộc chiến tranh mười nghìn ngày/Mai-cơn Mác-lia.- H.: Sự thật, 1990. tr. 192). - "Trong việc chuẩn bị cho chiến dịch, SOG1 (Liên đoàn hành quân đặc biệt, gọi tắt là SOG (Spécial Opération Group), sau đó đổi tên thành Đoàn nghiên cứu, quan sát để giữ bí mật, mặc dù vẫn viết tắt là SOG (Study and Observation Group). Đây là một đơn vị thuộc Bộ chỉ huy trợ giúp quân sự Mỹ ở Việt Nam đảm nhiệm những hoạt động bí mật của CIA) thực hiện hàng loạt động thái đánh lạc hướng đê thu hút sự chú ý của đối phương, ở vùng phía Tây của Khe Sanh, họ thả dù có gắn thuốc nổ và giả tạo ra các vụ xâm nhập biệt kích. Ngoài ra, SOG còn bố trí các toán thám báo và các đơn vị hỗ trợ vào khu vực này. Trong suốt chiến dịch "Lam Sơn 719", các toán của SOG tiếp tục hoạt động nghi binh ở thung lũng A Sầu để giam chân lực lượng miền Bắc và thu thập tình báo. Con đường 922 chạy qua A Sầu là một phần tuyến đường rút lui của quân đội Nam Việt Nam. Tướng Giáp - Tổng Tư lệnh quân đội Bắc Việt Nam đã chuẩn bị kỹ để đón quân đội Nam Việt Nam. Ông biết rõ lực lượng của Sài Gòn đi đâu và không bị mắc lừa các hoạt động nghi binh của SOG". (Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội - Việc sử dụng gián điệp, biệt kích và thám báo của Kenedy và Johnson ở miền Bắc Việt Nam/Richard H. Shultz; Người dịch: Hoàng Anh Tuyên, Hiệu đính: Anh Thái.- H.: Văn hoá - Thông tin, 2002, tr. 388). - "Kế hoạch cuộc hành quân "Lam Sơn 719" được hoạch định với mục tiêu tấn công phá hủy các căn cứ tiếp vận, đóng quân, hậu cần, phá hủy hệ thống đường giao thông của quân đội Bắc Việt trong mùa khô (1970-1971), cũng như trận vượt biên đánh sang Campuchia năm 1971. Xuất phát từ Khe Sanh, lực lượng quân đội Sài Gòn sẽ tiến quân về hướng Tây, theo trục Đường 9, nhằm phá hủy các căn cứ của đối phương xung quanh Sê Pôn, rồi quay xuống phía Nam theo trục đường 92 để tấn công Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh tiền phương Đoàn 559 của đối phương. Cuối cùng, theo trục đường 922 trở về lãnh thổ Việt Nam qua thung lũng A Sầu. Đã ba lần, Chỉ huy trưởng SOG báo cáo cho Tướng Abrams, cùng viên tướng trưởng phòng 2 Bộ Tư lệnh MACV1 (MACV: Bộ Tư lệnh Viện trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam) và viên tướng Tư lệnh Quân đoàn 24 của Mỹ: "Phải tránh xa chỗ đó (Lào)!". Đại tá Sađơ là người biết rõ trong vòng 4 tháng vừa qua, chỉ có 40% toán biệt kích hoạt động trong lòng đối phương quá 24 giờ đồng hồ. Đối phương đã đề phòng và bố trí lực lượng đối phó với lực lượng biệt kích vì: "Họ đã ở vào thế phản công và biết trước phe ta sẽ tấn công. Tử thần đang chờ đợi!". Đại tá Pinkơtơn là sĩ quan hành quân SOG kể tiếp: 'Khi chúng tôi thuyết trình cho Bộ Tham mưu Quân đoàn 24, Tướng Sơthơlen nói rằng ông lo nhất vấn đề đưa họ (quân đội Sài Gòn) vào vùng hành quân. Nhưng tôi trả lời, điêu ông nên lo nhất là làm sao để đưa họ ra khỏi đó". (Cuộc chiến bí mật - Hồ sơ lực lượng biệt quán ngụy, người dịch: Vũ Đình Hiếu.- H.: Nxb Lao động, 2009, tr. 210-211. Tài liệu lược dịch dựa vào những tài liệu đã giải mã của Lâu Năm Góc như: "SOG The Secret War Of Americas Comanandos in VietNam" của John L. Plato; "How American Lost The Secret War in VietNam" của Kênen Conboy Dale Andrale, United Press, 2000; và "Why American Lost The Secret War in North VietNam" của Kenneth Conboy Dale Andrale, United Press, 2000). - "Lãnh đạo SOG cho rằng "Lam Sơn 719" là không thể thực hiện được. Theo Sađờ, kế hoạch đó chỉ mang lại thảm họa. Dựa trên sự quan sát trực tiếp bằng mắt thường của các toán biệt kích, Sađơ đến báo cáo với tướng Hoàng Xuân Lãm - Tư lệnh của quân đội Nam Việt Nam và Trung tướng Sơthơlen - người sẽ tiến hành yểm trợ bằng không kích và pháo kích từ lãnh thổ Việt Nam, về những thực tế xác đáng ở Lào. Trong buổi báo cáo, Sơthơlen cho rằng vấn đề lớn nhất của "Lam Sơn 719" là đưa lực lượng Nam Việt Nam vào các vị trí ở Lào để cắt đứt đường mòn. Măc dù thừa nhận đó là việc không dễ dàng, Sađơ lưu ý Tướng Lãm rằng "mối lo ngại nhất" lại là việc rút ra bằng cách nào". SOG tỏ ra rất chính xác. ... "Lam Sơn 719" bắt đầu ngày 8 tháng 2. Những lời cảnh báo của SOG không được ai để ý và chiến dịch là một thảm bại lớn. Lực lượng quân đội Nam Việt Nam bị lực lượng Bắc Việt Nam đón sẵn đánh tơi bời... Trong sáu tuần giao tranh, quân đội chủ lực miền Bắc nghiền nát các đơn vị tinh nhuệ nhất của miền Nam, trong đó, một số đơn vị bị tổn thất tới 50%. Điều tệ hại hơn là thất bại này mở cửa cho Hà Nội khống chế phần phía Tây Quân khu 1. Đường đã rộng mở tới Huế. Trong thời gian còn lại của năm 1971, quân đội miền Bắc tiếp tục được tăng cường để chuẩn bị cho cuộc tấn công năm 1972". (Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội - Việc sử dụng gián điệp, biệt kích và thám báo của Kenedy và Johnson ở miền Bắc Việt Nam/ Richard H. Shultz; Người dịch: Hoàng Anh Tuyên, Hiệu đính: Anh Thái.- H.: Văn hoá - Thông tin, 2002, tr. 387-388). - "Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" chính thức chấm dứt ngày 6 tháng 4. Tính đến lúc này đã có 1.529 binh sĩ Việt Nam Cộng hòa tử trận và 5.438 bị thương. Phía Mỹ có 219 tử trận và 1.149 bị thương cùng với 107 trực thăng bị phá hủy, 618 chiếc khác bị thương. Cũng như hầu hết các trường hợp khác, cuộc hành quân được đưa tin là thắng lợi, chẳng hạn quân Bắc Việt Nam bị thương vong gần 2.000 và không thể mở được cuộc tiến công vào Quân khu 1, nhưng không ai có thể che giấu sự kém cỏi của quân Nam Việt Nam. Nếu không có không quân và pháo binh Mỹ yểm trợ, có lẽ tổn thất của họ còn lớn hơn. Những nhược điểm của họ - về sự sáng tạo của chỉ huy hợp tác giữa các đơn vị và kỹ năng chiến thuật - đã bộc lộ rõ rêt". (Việt Nam - Những trận đánh quyết định/ J. Pimlott; người dịch: Lê Mỹ, Lý Văn Sáu, Trần Minh; Hiệu đính: Lê Mỹ.- H.: Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Môi trường - Bộ Quốc phòng, 1997, tr. 139). - "Mặc dù có sự yểm trợ mạnh của không quân Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã thất bại thảm hại. Cuộc xâm chiếm là một bước thất bại và cuộc rút lui của quân đội Việt Nam Cộng hòa là một cuộc tháo chạy. Lực lượng Việt Nam Cộng hòa vào khoảng 25.000 người đã chịu thương vong là 1.445 chết và 4.016 bị thương. Điều nhục nhã này đã được hàng triệu người Mỹ xem trên màn ảnh truyền hình. Dù với sự yểm trợ ào ạt của không quân và sự chỉ huy của Lầu Năm Góc, đội quân đó đã thất bại thảm hại". (Lời phán quyết về Việt Nam - tiếng nói của một công dân/Giôdép A. Amtơ; Người dịch: Nguyễn Tấn Cưu.- H.: QĐND, 1985, tr. 323-324). Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2026, 11:23:37 pm "CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 TẦM VÓC, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ" (Tổng hợp tham luận Hội thảo) Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một trong những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của ta, một thất bại nặng nề của địch. Cuộc Hội thảo của chúng ta ở đây - mảnh đất của nhiều trận đánh quyết định, cũng là nơi ghi dấu sự kiện của 40 năm về trước, nhằm đánh giá toàn diện hơn, sâu sắc hơn về tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử của thắng lợi này. Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân đối với các anh hùng, liệt sĩ, các đồng chí thương binh, bệnh binh, các cựu chiến binh, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến cùng đồng bào các dân tộc Việt Nam - Lào trong hiểm nguy, gian khó đã không tiếc máu xương, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng làm nên chiến thắng. Ban tổ chức Hội thảo đã nhận được gần 70 tham luận khoa học của các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí đã từng giữ trọng trách cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội qua các thời kỳ; của các tướng lĩnh, sĩ quan, các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội; của các nhân chứng lịch sử. Đặc biệt, Ban tổ chức Hội thảo cũng nhận được các bài tham luận khoa học của nhiều tướng lĩnh, sĩ quan Quân đội nhân dân Lào. Các tham luận khoa học đã đề cập khá toàn diện, hệ thống về Chiến dịch lịch sử Đường 9 - Nam Lào, trong đó tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau: 1. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 - một thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương. Sau 2 năm triển khai chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" (1969-1970), Mỹ - chính quyền Sài Gòn vẫn gặp phải những khó khăn to lớn. Với âm mưu nhằm tạo ra bước ngoặt mới cho cuộc chiến tranh xâm lược, đầu năm 1971, địch huy động lực lượng mở 3 cuộc hành quân lớn đánh vào tuyến vận tải chiến lược (đường Trường Sơn) của ta, trong đó cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào có quy mô lớn nhất, mang nhiều tham vọng nhất với hai mục đích cơ bản là cắt đứt tuyến chi viện chiến lược của đối phương (đường Trường Sơn) và thử nghiệm công thức điển hình của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" là quân đội Sài Gòn + cố vấn Mỹ + hỏa lực và hậu cần Mỹ. Về phía ta, ngay từ giữa năm 1970, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã sớm nhận định trong thời gian tới địch sẽ tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới và dự đoán chính xác phương hướng tiến công chủ yếu của địch trong mùa khô 1970-1971 là tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, trọng tâm đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào. Từ nhận định đó, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương nêu rõ quyết tâm cơ bản của ta là nắm vững thời cơ, tập trung lực lượng, kiên quyết phản công tiêu diệt thật nhiều binh lực địch, bảo vệ cho kỳ được tuyến chi viện huyết mạch Bắc - Nam. Quán triệt sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu sớm xây dựng kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo chuẩn bị chiến trường, đặc biệt là khu vực Đường 9 - Nam Lào. Chính sự lường định và đánh giá chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch, kịp thời chỉ đạo các hướng chiến trường là một đảm bảo rất quan - trọng cho quá trình chuẩn bị, giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược, tạo ra sức mạnh đập tan cuộc hành quân quy mô lớn của địch. Trên cơ sở phân tích những âm mưu và hành động của địch, làm rõ chủ trương chiến lược đúng đắn, kịp thời, sự chỉ đạo sâu sát, linh hoạt, chủ động của ta, nhiều tham luận đã đi đến khẳng định: chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, thể hiện rõ được bản lĩnh, tư duy và trí tuệ Việt Nam trong cuộc đương đầu với bộ máy điều hành chiến tranh khổng lồ của Mỹ. Đề cập đến chủ đề này có tham luận của các đồng chí: Đỗ Bá Tỵ, Nguyễn Thành Cung, Chănsamỏn Chănnhalạt, Trần Trọng Trung, Lê Văn Thái... 2. Quá trình tổ chức và thực hành chiến dịch - nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đây là nội dung được các tham luận khoa học đề cập nhiều nhất. Ngay sau khi được giao nhiệm vụ, các quân, binh chủng, đơn vị chủ lực, Đoàn 559 cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương trên địa bàn chiến dịch khẩn trương bắt tay vào chuẩn bị các mặt: cơ động lực lượng, xây dựng kế hoạch tác chiến, đảm bảo hậu cần - kỹ thuật, thông tin liên lạc, mở đường... Toát lên từ những hoạt động chuẩn bị đó là không khí sôi sục, là quyết tâm cao độ của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các địa phương cả Việt Nam và Lào, vì sự toàn thắng của chiến dịch. Nhờ đó, đến cuối tháng 1 năm 1971, trước khi bước vào chiến đấu, công tác chuẩn bị mọi mặt cơ bản hoàn thành, đảm bảo cho hàng vạn bộ đội chủ lực tác chiến trong thời gian 3 - 4 tháng. Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào diễn ra từ ngày 30 tháng 1 năm 1971 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, thực sự là cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch. Điều đó được phản ánh sinh động, trung thực trong nhiều tham luận. Vượt qua mưa bom, bão đạn của quân thù, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bằng sự hiệp đồng nhịp nhàng và chặt chẽ, các đơn vị chiến đấu trong đội hình chiến dịch đã kiên quyết chặn đánh, bẻ gãy các mũi tiến công trên các hướng của địch; bao vây, chia cắt, cô lập và tiến công tiêu diệt chúng. Thắng lợi Đường 9 - Nam Lào không chỉ là chiến công của các quân chủng, binh chủng, các đơn vị chủ lực, lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu, mà còn là kết quả của sự phối hợp trên khắp chiến trường sự phối hợp chặt chẽ với quân và dân Lào anh em. Trên cơ sở tìm hiểu quá trình tổ chức và thực hành chiến dịch một số tham luận đã đi sâu trình bày, phân tích những nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam chứa đựng trong chiến thắng lịch sử này, như: nắm bắt đúng âm mưu và hành động của đạch để chủ động xây dựng quyết tâm chiến đấu hình thành thế trận phản công và tiến công; tổ chức và sử dụng lực lượng; tổ chức lãnh đạo, chỉ huy chiến lược, chiến dịch; hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng tham gia chiến dịch phối hợp chiến đấu với quân và dân Lào anh em... Nội dung này đã được đề cập trong tham luận của các đồng chí: Nguyễn Chơn, Mai Quang Phấn, Nguyễn Châu Thanh, Nguyễn Vĩnh Phú, Nguyễn Hữu Cường, Trần Phi Hổ, Vũ Dương Nghi, Nguyễn Chí Hướng, Lương Sỹ Nhung, Lê Chiêm, Hồ Sơn Đài, Phạm Hữu Thắng, Sulivăn Sẻngchăn... Tiêu đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2026, 11:25:12 pm 3. Tình đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trường kì gian khổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, quân và dân hai nước Việt Nam - Lào đã luôn sát cánh bên nhau, thực hiện nhiều chiến dịch giành thắng lợi to lớn, tạo ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến. Chiến thắng lịch sử Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một trong những chiến dịch như thế. Về vấn để này, một số tác giả đã đề cập khá cụ thể, sinh động, đầy đủ tình đoàn kết đặc biệt, sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước. Đó là sự đồng thuận, nhất trí cao của Trung ương Đảng và Bộ chỉ huy tối cao hai nước trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến dịch; sự phối hợp chặt chẽ, luôn kề vai, sát cánh bên nhau giữa bộ đội chủ lực cùng lực lượng vũ trang tại chỗ và nhân dân các địa phương trên địa bàn diễn ra chiến dịch. Sự chủ động tham gia của đồng bào các dân tộc Việt Nam - Lào trong việc mở đường, gùi lương, tải đạn, cứu chữa thương binh, hết lòng ủng hộ, giúp đỡ, đùm bọc, chở che cán bộ, chiến sĩ... Tất cả điều đó làm sâu sắc thêm quan hệ đoàn kết đặc biệt, gắn bó thủy chung của quân và dân hai nước Việt Nam - Lào, đúng như Trung ương Đảng hai nước đã khẳng định: "Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào không chỉ khẳng định sức mạnh to lớn của quân đội và nhân dân Việt Nam, mà còn là sự khẳng định sức mạnh vĩ đại của tình đoàn kết Việt Nam - Lào trong suốt cuộc kháng chiến"1 (Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 464). Tham luận của các đồng chí: Vixẩy Chănthamạt, Xiển Xaynhạlạt, Phalôm Linthoong, Dương Đình Lập, Trần Minh Cao, Trương Minh Tuấn..., trong khi trình bày rõ những nội dung trên, đều toát lên niềm tin vững chắc về tình đoàn kết chiến đấu thủy chung, bền chặt được xây dựng, củng cố, bồi đắp bằng mồ hôi, xương máu của biết bao cán bộ, chiến sĩ và nhân dân hai dân tộc Việt Nam - Lào. Đó là tài sản vô giá, là đảm bảo quan trọng để quân và dân hai nước Việt Nam - Lào xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong giai đoạn mới của cách mạng. 4. Đánh giá của phương Tây về chiến dịch lịch sử Đường 9 - Nam Lào. Ngay từ khi còn đang diễn ra, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã thu hút được sự quan tâm của các phương tiện truyền thống, tướng lĩnh và học giả phương Tây. Cho đến tận hôm nay, nó vẫn là một trong những vấn đề được nhắc đến nhiều khi nghiên cứu về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Trên cơ sở khai thác những nguồn tư liệu của các tác giả Mỹ và phương Tây, một số tham luận tập trung trình bày sự nhìn nhận, đánh giá của các nhà chính trị, tướng lĩnh "bên kia chiến tuyến", các học giả, nhà báo nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ. Dù còn những đánh giá khác nhau về các khía cạnh liên quan đến cuộc hành quân này, nhưng dư luận Mỹ và phương Tây bấy giờ và sau này đều khẳng định chiến dịch này là một thắng lợi có ý nghĩa to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam, một thất bại lớn của Mỹ - quân đội Sài Gòn, và họ gọi thất bại ấy là "cuộc hỗn loạn Lam Sơn 719"1 (Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 446). Thất bại trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719" không chỉ là một đòn quyết liệt giáng vào nỗ lực của chính quyền và quân đội Sài Gòn, mà còn là một thất bại nặng nề của đế quốc Mỹ trong nỗ lực "Việt Nam hóa chiến tranh". Nhà sử học My Giôdép A. Amtơ trong cuốn sách Lời phán quyết về Việt Nam đã viết: "Mặc dù có sự yểm trợ mạnh của không quân Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã thất bại thảm hại. Cuộc xâm chiếm là một thất bại và cuộc rút lui của quân đội Việt Nam Cộng hòa là một cuộc tháo chạy... Điều nhục nhã này đã được hàng triệu người Mỹ xem trên màn ảnh truyền hình. Dù với sự yểm trợ ào ạt của không quân và sự chỉ huy của Lầu Năm Góc, đội quân đó đã thất bại thảm hại''2 (Giôdép A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Mà Nội, 1985, tr. 323-324). Đó là một ghi nhận rõ ràng cho sự bất lực của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, sự phá sản bước đầu của "Học thuyết Níchxơn". Và một lần nữa, chiến thắng trong cuộc chiến Đông Dương ngày càng trở nên rất xa vời đối với Chính phủ Níchxơn giống như khoảng cách của chính bán đảo này đối với nước Mỹ. Phản ánh về vấn đề này tập trung ở các bài viết của các đồng chí: Trần Ngọc Long, Lê Quang Lạng... 5. Tầm vóc, ý nghĩa và những bài học kinh nghiệm vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Sau 40 năm, nhìn nhận lại toàn bộ cuộc kháng chiến, với những nguồn tư liệu mới được công bố từ hai phía, trong tham luận gửi tới Hội thảo của các đồng chí Phùng Quang Thanh, Vũ Quang Đạo, Thái Vĩnh Liệu, Trần Đơn, Viêngxay Sổmvichít, Nguyễn Văn Minh, Lê Mậu Hãn, Lê Văn Yên,... và một số tác giả, đã tập trung nêu bật tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử rút ra từ chiến thắng lịch sử Đường 9 - Nam Lào năm 1971. Đối với ta, chiến thắng đó đã giáng đòn sấm sét vào quân đội Sài Gòn, một đội quân được đế quốc Mỹ dày công xây dựng, trang bị, huấn luyện để đảm nhận vai trò nòng cốt trong âm mưu "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương" của Mỹ. Đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đầy tham vọng của Mỹ và quân đội Sài Gòn, quân và dân ta đã làm thất bại âm mưu ngăn chặn từ gốc tuyến vận tải chiến lược Bắc - Nam của địch; giữ vững mạch máu giao thông chiến lược đê tiếp tục chi viện liên tục, mạnh mẽ toàn diện cho chiến trường; tạo thêm thế mạnh trên bàn đàm phán Pari; đồng thời, qua chiến đấu, trình độ tác chiến của bộ đội ta được nâng cao một bước rõ rệt; cổ vũ cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Đông Dương đẩy mạnh tiến công giành những thắng lợi mới. Đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, thất bại nặng nề tai Đường 9 - Nam Lào đã gây nên những hậu quả và hệ lụy nghiêm trọng: bị tổn thất lớn về lực lượng, phương tiên chiến tranh, khiến giới lãnh đạo, tướng lĩnh, sĩ quan chỉ huy và binh lính Sài Gòn càng trở nên hoang mang, lo lắng. Thất bại đó báo hiệu sự phá sản không thể cưỡng lại của chiến lược "Đông Dương hóa chiến tranh" mà đế quốc Mỹ đang triển khai thực hiện. Tin tức từ chiến trường Đường 9 - Nam Lào qua các tổ hợp truyền thống khổng lồ của Mỹ và phương Tây đã tác động mạnh mẽ đến phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân tiến bộ Mỹ, thức tỉnh và cổ vũ họ đấu tranh chống lại cuộc chiến tranh mà Chính phủ Mỹ đang tiếp tục theo đuổi ở Việt Nam. Từ những phân tích, đánh giá và luận giải về tầm vóc, ý nghĩa trên nhiều mặt đó, tựu chung, các tham luận đều đi đến kết luận: Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa chiến lược to lớn cả về quân sự và chính trị. Ảnh hưởng của chiến dịch lịch sử này vượt xa phạm vi của bản thân nó cả về không gian và thời gian, đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam nói riêng, của nhân dân ba nước Đông Dương nói chung chuyển sang một thời kỳ phát triển mới. Từ chiến thắng ấy, nhiều bài học kinh nghiệm đã được rút ra và vẫn còn nguyên giá trị, được vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đó là bài học về sớm nắm bắt âm mưu và hành động của địch để chủ động hình thành các phương án đánh địch; bài học phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng cơ động kết hợp với lực lượng tại chỗ, của các quân chủng, binh chủng và các lực lượng tham gia chiến dịch. Đó còn là bài học về công tác đảm bảo hậu cần - kỹ thuật; bài học về sự phối hợp chiến đấu giữa quân và dân hai dân tộc Việt Nam - Lào, phát huy hiệu quả liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương vì nền độc lập, tự do của mỗi nước... Thời gian có thể xóa mờ dấu chân con người trên các nẻo đường chiến dịch năm nào, nhưng ký ức về những tháng ngày gian khổ, ác liệt để làm nên chiến thắng hào hùng của 40 năm về trước sẽ còn mãi trong tâm trí chúng ta. Kỷ niệm 40 năm chiến thắng lịch sử Đường 9 - Nam Lào, cuộc Hội thảo khoa học của chúng ta một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn và tài thao lược trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; khẳng định tình đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào; góp phần quan trọng giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, niềm tự hào dân tộc cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân hai nước; rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tại cuộc Hội thảo khoa học này, chúng ta có điều kiện trao đổi, làm sâu sắc hơn những kết quả nghiên cứu về chiến thắng Đường 9 - Nam Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trên ý nghĩa đó, cho phép tôi thay mặt Ban chỉ đạo, Đoàn Chủ tịch Hội thảo, một lần nữa bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lời chúc sức khỏe đến toàn thể các quý vị đại biểu, các nhà khoa học, các đồng chí đã tham dự, đóng góp vào thành công của Hội thảo. |