Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:52:46 am



Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:52:46 am
- Tên sách: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
- Năm xuất bản: 2012
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


BAN CHỈ ĐẠO HỘI THẢO:

* Trưởng ban:

- Thượng tướng NGUYỄN THÀNH CUNG, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

- Đồng chí TRƯƠNG QUANG NGHĨA, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Sơn La (đồng Trưởng ban).


* Phó Trưởng ban:

- Đồng chí NGUYỄN NGỌC TOA, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La.

- Trung tướng MAI QUANG PHẤN, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

- Thiếu tướng NGUYỄN NGỌC LIÊN, Chính ủy Quân khu 2.

- Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


* Các ủy viên:

- Trung tướng PHẠM QUANG PHIẾU, Cục trưởng Cục Tài chính, Bộ Quốc phòng.

- Thiếu tướng NGUYỄN THANH TUẤN, Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị.

- Đồng chí LÒ MAI KIÊN, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sơn La.

- Thiếu tướng VŨ VĂN HIỂN, Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng

- Đại tá HOÀNG DŨNG, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La.

- Đồng chí LÊ HỒNG LONG, Tỉnh ủy viên, Chánh văn phòng Tỉnh ủy Sơn La.

- Đại tá, PGS, TS HỒ KHANG, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


BAN NỘI DUNG:

* Trưởng ban:

- Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

- Đồng chí HOÀNG VĂN CHẤT, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La.


* Phó Trưởng ban:

- Thiếu tướng PHẠM NGỌC CHÂU, Phó Chính ủy Quân khu 2.

- Đại tá, PGS, TS TRẦN NGỌC LONG, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

- Đồng chí LÊ HỬU ĐÊ, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sơn La.    


* Các ủy viên:

- Đồng chí PHẠM QUANG AN, Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Sơn La.

- Đồng chí VƯƠNG NGỌC OANH, Phó Chủ tịch Hội Khoa học - Lịch sử tỉnh Sơn La

- Đại tá, TS TRẦN VĂN THỨC, Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

- Thượng tá NGụYỄN CÔNG DANH, Trợ lý Ban Lịch sử quân sự Quân khu 2.

- Thượng tá LÊ NHẬT THANH, Trưởng ban Khoa học Lịch sử quân sự Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La.


TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
   BỘ MÔN LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
   VÀ PHÒNG QUẢN LÝ KHOA HỌC,
   VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 08:37:32 am
LỜI NÓI ĐẦU


Cách đây tròn 60 năm, vào Thu Đông năm 1952, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta ở Tây Bắc với sự phối hợp của các chiến trường, địa phương cả nước đã giành thắng lợi to lớn trong Chiến dịch Tây Bắc. Chiến thắng này là sự kiện lịch sử quan trọng, có ý nghĩa lịch sử mang tầm chiến lược, đánh dấu bước phát triển mới, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tiến lên giành thắng lợi quyết định.


Kể từ ngày chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi đến nay đã có khá nhiều công trình, bài viết của các nhà quân sự, chính trị, các vị tướng lĩnh, nhân chứng lịch sử, học giả, nhà nghiên cứu, v.v. trong và ngoài nước đề cập đến sự kiện lịch sử này theo nhiều cách tiếp cận, với nguồn tư liệu khác nhau. Tuy thế, nhiều nội dung, vấn đề về chiến dịch này cần được tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ, đầy đủ hơn. Mặt khác, chiến thắng Tây Bắc 1952 cần được tôn vinh xứng đáng với tầm vóc và ý nghĩa của nó, nhằm khơi dậy niềm tự hào dân tộc; góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là đối với vùng Tây Bắc; cho các thế hệ người Việt Nam, quan trọng là thế hệ trẻ, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc (1952 - 2012), đầu tháng 12 năm 2012, tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Sơn La tổ chức cuộc Hội thảo khoa học "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử".


Ban Tổ chức cuộc hội thảo nhận được gần 70 bài viết của các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật, các quân khu 2, 1, 3, 4, các binh chủng và đơn vị; Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành thuộc tỉnh Sơn La; Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Lai Châu, Thanh Hóa, v.v. các nhà khoa học thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội..., tập trung vào các chủ đề sau đây: Bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước; âm mưu, thủ đoạn chính trị, quân sự của thực dân Pháp. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc; nghệ thuật chỉ đạo, tiến hành và phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam; ý thức và tinh thần đại đoàn kết toàn dân, trong đó điểm nhấn là Tây Bắc; sự phối hợp chiến đấu của các lực lượng; sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong chiến dịch. Quá trình chuẩn bị, diễn biến, kết quả và nghệ thuật quân sự đặc sắc; các trận đánh then chốt... Tầm vóc, nguyên nhân, ý nghĩa thắng lợi và những bài học kinh nghiệm của chiến thắng Tây Bắc; vận dụng và phát huy tinh thần chiến thắng Tây Bắc 1952 trong Đông - Xuân 1953-1954 và trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.


Cuốn sách này giới thiệu một số bài viết của các tác giả tham gia hội thảo nói trên, với tiêu đề: "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tấm nhìn chiến lược của ĐẢng và bài học lịch sử".

Mỗi tham luận là một công trình nghiên cứu độc lập, khá trọn vẹn của từng tác giả, bởi thế nên ở một số bài viết, trong chừng mực nhất định, còn có sự khác nhau về nhận định, đánh giá, cũng như về tư liệu, sự kiện. Với tinh thần tôn trọng ý kiến, kết quả nghiên cứu bảo lưu của tác giả và để đảm bảo tính tranh luận của cuộc hội thảo nên Ban biên tập không chỉnh trang lại. Tuy thế, để đảm bảo chuyển tải các thông tin cần thiết, ở một số bài trong chừng mực nhất định. Ban biên tập đã lược bở những nội dung trùng lặp, ít liên quan đến chủ đề của cuộc hội thảo.


Do thời gian biên tập không nhiều, nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Mong được sự lượng thứ của bạn đọc.

Bởi khuôn khổ của cuốn sách có hạn và để tập trung vào chủ đề đã được xác định, nên Ban biên tập không thể giới thiệu được tất cả các bài viết tham gia cuộc Hội thảo vào cuốn sách này. Rất mong các tác giả không có bài được sử dụng trong cuốn sách này thông cảm.


Nhân dịp này chúng tôi xin trân trọng cảm ơn các cơ quan, các bậc nhân chứng lịch sử, các vị tướng lĩnh, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động quân sự, chính trị - xã hội đã tham gia, tạo điều kiện cho cuộc Hội thảo thành công tốt đẹp và cho sự ra đời tập sách này.

BAN CHỈ ĐẠO VÀ BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 08:39:01 am
PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI THẢO KHOA HỌC
"CHIẾN THẮNG TÂY BẮC 1952 - TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ"


Thượng tướng NGUYỄN THÀNH CUNG
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo


- Kính thưa các đồng chí Đại biểu đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng;

- Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, tướng lĩnh, sĩ quan;

- Thưa các nhà khoa học cũng toàn thể quý vị đại biểu!


Trong không khí phấn khởi của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và lập thành tích tiến tới kỷ niệm 68 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 23 năm ngày Hội Quốc phòng toàn dân, hôm nay Bộ Quốc phòng phối hợp với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức Hội thảo khoa học: "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử" nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc.


Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Ban chỉ đạo Hội thảo, tôi nhiệt liệt chào mừng các vị đại biểu cùng toàn thể các đồng chí về dự cuộc Hội thảo quan trọng này. Chúc các đồng chí mạnh khỏe và hạnh phúc; chúc Hội thảo thành công tốt đẹp!

Thưa các đồng chí!

Thu Đông năm 1952, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, trực tiếp là Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, quân và dân ta mở chiến dịch tiến công Tây Bắc, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng và lập "Xứ Thái tự trị" của thực dân Pháp, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng, nối thông Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc, vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, Thượng Lào và căn cứ địa cả nước.


60 năm trôi qua, nhìn lại sự kiện lịch sử quan trọng này, càng khẳng định tầm nhìn chiến lược đúng đắn, nhạy bén của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy trong chỉ đạo chiến tranh. Chiến dịch này đã giáng cho thực dân Pháp một đòn thất bại nặng nề về quân sự, tạo bước ngoặt quan trọng trong cuộc chiến tranh, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược phát triển lên một giai đoạn mới mang tính quyết định.


Trong cuộc Hội thảo khoa học hôm nay, chúng ta cùng nhau tiếp tục khẳng định và làm sáng tó thêm một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn và tầm nhìn chiến lược sáng suốt của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh; nghệ thuật chỉ đạo, điều hành chiến dịch và nghệ thuật chỉ huy tác chiến của các cấp chỉ đạo, chỉ huy; tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của các lực lượng tham gia chiến dịch.


Thứ hai: Âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp trong việc mở rộng chiếm đóng và lập "Xứ Thái tự trị" tại khu vực Tây Bắc; ý đồ co cụm chiến lược, xây dựng các tập đoàn cứ điểm mạnh nhằm thu hút và tiêu diệt lực lượng chủ lực của Việt Minh, từ đó hòng xoay chuyển tình thế trên chiến trường của thực dân Pháp.


Thứ ba: Vai trò và đóng góp của đồng bào các dân tộc Tây Bắc, của lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh trên địa bàn, trực tiếp là quân và dân tỉnh Sơn La và của các chiến trường phối hợp trên cả nước.


Thứ tư: Nhìn nhận sâu sắc và đầy đủ hơn tầm nhìn chiến lược của Đảng trong chiến dịch Tây Bắc, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi, đúc rút những kinh nghiệm và bài học lịch sử về chỉ đạo chiến tranh và sự phát triển của nghệ thuật quân sự; nghệ thuật chiến dịch và chiến lược; về phối hợp và hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng vũ trang, vận dụng và phát huy những bài học kinh nghiệm vào công cuộc xây dựng khu vực phòng thủ, tăng cường quốc phòng - an ninh trong giai đoạn cách mạng mới.


Thưa các đồng chí!

Kết quả cuộc Hội thảo hôm nay còn là một hoạt động thiết thực góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho toàn dân, toàn quân, hun đúc tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí độc lập, tự chủ, tinh thần quật khởi và truyền thống đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc đổi mới nhằm tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.


Với tinh thần đó, thay mặt Ban chỉ đạo Hội thảo tôi xin tuyên bố khai mạc Hội thảo khoa học "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử".


Xin trân trọng cảm ơn!


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 08:46:56 am
PHÁT BIỂU CHÀO MỪNG HỘI THẢO KHOA HỌC
"CHIẾN THẲNG TÂY BẮC 1952 - TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ"

HOÀNG VĂN CHẤT
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Sơn La


Kính thưa các đồng chí lãnh đạo các cơ quan Trung ương và địa phương.

Thưa toàn thể các đồng chí và các bạn!

Tỉnh Sơn La rất phấn khởi được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm chọn làm nơi tổ chức Hội thảo khoa học "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử". Đây là vinh dự rất lớn đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La; thay mặt Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, tôi xin nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, lãnh đạo các tổng cục thuộc Bộ Quốc phòng, các đồng chí lãnh đạo Bộ Tư lệnh Quân khu 1, Quân khu 2, Quân khu 3, Quân khu 4, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Binh chủng Pháo binh, Binh chủng Công binh và Binh chủng Thông tin.


Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh: Hòa Bình, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh; và lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn 308, Sư đoàn 312, Sư đoàn 316 và Trung đoàn 148.


Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí đại biểu lãnh đạo Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Viện Chiến lược quân sự, Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn quân sự, Học viện Quốc phòng, Học viện Chính trị, Học viện Hậu cần, Học viện Kỹ thuật quân sự, Học viện Quân y, Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, Cục Khoa học Công nghệ và Môi trường, Viện sử học Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng, Viện Lịch sử Công an, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, các cơ quan khoa học, học viện, trường đại học trong và ngoài quân đội (khu vực phía Bắc); các tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ đã từng công tác, tham gia chiến đấu, phục vụ trong chiến dịch Tây Bắc.


Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo và phóng viên các cơ quan báo chí, Thông tấn xã, Đài phát thanh, Đài truyền hình của Trung ương, các Quân khu và địa phương đến theo dõi, đưa tin phục vụ Hội thảo khoa học tại tình Sơn La!


Kính chúc các đồng chí mạnh khoẻ, chúc Hội thảo thành công tốt đẹp!

Kính thưa các đồng chí đại biểu,

Thưa các đồng chí và các bạn,

Sơn La là một tỉnh miền núi cao, có diện tích tự nhiên là 14.174 km2, có 250 km đường biên giới giáp tỉnh Hủa Phăn và Luông Pha Băng - nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; dân số trên 1,108 triệu người với 12 dân tộc anh em cùng sinh sống. Tỉnh có 10 huyện, 1 thành phố và 204 xã, phường, thị trấn; có 3.233 bản, tiểu khu, tổ dân phố (trong đó có 5 huyện nghèo; 89 xã, 1.105 bản còn đặc biệt khó khăn; 17 xã, 308 bản biên giới). Đảng bộ tỉnh (tại thời điểm 31-8-2012) có 17 đảng bộ trực thuộc, 985 tổ chức cơ sở đảng (673 chi bộ, 312 đảng bộ); 4.633 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở, 62.866 đảng viên.


Trong những năm qua được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương; tỉnh Sơn La đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP 5 năm (2006 - 2010) 13,99%, năm 2010 tăng 12.8%, năm 2011 tăng 12,4%, 9 tháng đầu năm 2012 ước đạt 8,5% (cùng kỳ năm 2011 tăng 6,9%); thu nhập bình quân đầu người năm 2011 đạt 820 USD; thu ngân sách trên địa bàn năm 2011 đạt 1.394 tỷ; tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 theo tiêu chí mới là 34,1%. Cơ cấu kinh tế năm 2011: nông lâm nghiệp 44,54%; công nghiệp, xây dựng 20,02%; dịch vụ 34,94%.


Về phát triển công nghiệp, tỉnh Sơn La tập trung cho phát triển thủy điện; trên địa bàn tỉnh hiện nay đang được đầu tư xây dựng 3 nhà máy thủy điện lớn (thủy điện Sơn La 2.400 MW - khánh thành năm 2012; thủy điện Huổi Quảng 520 MW - khánh thành vào năm 2015; thủy điện Nậm Chiến 200 MW - khánh thành năm 2012) và một số nhà máy thủy điện vừa và nhỏ; đến ngày 15 tháng 4 năm 2010 tỉnh Sơn La đã hoàn thành việc di chuyển 12.584 hộ đến 221 điểm tái định cư tập trung và 38 điểm tái định cư xen ghép; ngày 15 tháng 5 năm 2010 đồng chí Thủ tướng Chính phủ đã quyết định đóng cống dẫn dòng, tích nước hồ thủy điện Sơn La; ngày 17 tháng 12 năm 2010 đã đưa vào hoạt động tổ máy số 1, ngày 28 tháng 9 năm 2012 đã đưa vào hoạt động tổ máy số 6, đang chuẩn bị khánh thành Nhà máy thủy điện Sơn La vào cuối năm 2012. Cùng với phát triển thủy điện, trên địa bàn tỉnh đã xây dựng Nhà máy xi măng lò quay Mai Sơn công suất 1 triệu tấn/năm, đưa vào sản xuất ngày 1 tháng 5 năm 2012, sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng PC40, PCB30, PCB40.


Về phát triển nông nghiệp, cây ngô phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá cả ở vùng sâu và vùng cao; năm 2012 diện tích ngô là 120.878 ha, sản lượng ước đạt 50 vạn tấn (đứng thứ hai sau tỉnh Đắc Lắc); tỉnh Sơn La có 2 doanh nghiệp sản xuất được các loại giống ngô lai, nhất là giông ngô lai LVN10, cung cấp đủ giống có năng suất cao cho sản xuất ngô thương phẩm. Trong những năm gần đây, tỉnh Sơn La đang đẩy mạnh phát triển các loại cây công nghiệp và chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung:

1. Về phát triển cây cao su, tỉnh đã mời Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam thành lập Công ty cổ phần cao su Sơn La trực tiếp đầu tư kinh doanh và tiếp nhận người trong hộ gia đình có góp giá trị quyền sử dụng đất vào làm cán bộ công nhân viên; vận động các hộ gia đình góp giá trị quyền sử dụng đất và mua cổ phần trở thành cổ đông của Công ty cổ phẩn cao su Sơn La để cùng đầu tư kinh doanh cây cao su. Năm 2007 là năm đầu tiên trồng được 69,6 ha, đến hết năm 2012 đã trồng được gần 7.000 ha cây cao su; thu hút được 6.705 hộ gia đình góp giá trị quyền sử dụng đất, mua cổ phần để trở thành cổ đông, được chia cổ tức; công ty đã nhận 4.691 người thuộc các hộ gia đình có góp giá trị quyền sử dụng đất vào làm cán bộ, công nhân của công ty; theo đánh giá của Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam thì cây cao su tại Sơn La sinh trưởng và phát triển ngang bằng với các tỉnh miền Nam.

2. Về các cây công nghiệp: Năm 2012 diện tích cây công nghiệp hiện có là 14.341 ha; trong đó: cây chè 3.819 ha cây cà phê 6.112 ha, cây mía 4.410 ha, sản lượng gần 3 vạn tấn đường năm.

3. Tỉnh đã xây dựng Khu nông nghiệp công nghệ cao tại huyện Mộc Châu, đang sản xuất các loại rau hoa chất lượng cao theo quy mô công nghiệp và phát triển mô hình trồng dưa hấu, bắp cải, cải cuốn bằng phủ màng nông nghiệp... cung cấp cho thị trường Hà Nội và một số địa phương lân cận. Tỉnh đang xem xét quy hoạch, chính sách để mở rộng phát triển ở huyện Mộc Châu và các huyện, thành phố trong tỉnh.

4. Về chăn nuôi, đàn bò sữa của Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu năm 2011 có 8.727 con (hết năm 2012 có khoảng 10.000 con), sản lượng sữa tươi đạt gần 28 triệu lít và chế biến các loại sản phẩm sữa, doanh thu trên 1.500 tỷ, nộp ngân sách trên 70 tỷ đồng.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 08:47:30 am
Về công tác phòng chống ma tuý: từ tháng 3 năm 2006 tỉnh đã tập trung cao để ban hành cơ chế, chính sách phát động được toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tích cực thực hiện; từ đó nâng cao được nhận thức về hiểm hoạ của ma tuý, nhất là trong thế hệ trẻ, không phát sinh người nghiện ma tuý mới, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng thuận và ra sức thực hiện. Đến hết tháng 9 năm 2012, sau 75 tháng liên tục tỉnh đã giữ được tỷ lệ không tái nghiện ma tuý đang từ đạt 94 - 95%; từ ngày 17 tháng 3 năm 2006 đến hết tháng 9 năm 2012 đã bắt giữ tới 5.759 vụ với 8.896 đối tượng phạm tội ma tuý, làm trong sạch địa bàn, hỗ trợ đắc lực cho công tác phòng chống tái nghiện ma tuý; đến hết năm 2011 tỉnh đã xây dựng được 4.721/5.457 đơn vị đạt và cơ bản đạt tiêu chuẩn không có ma tuý chiếm 86.51% tổng số đơn vị trong toàn tỉnh.


Về củng cố các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sơ, đến hết tháng 9 năm 2012 đã có 4.219 cơ sở (bản, tiểu khu, tổ dân phố, trường học, trạm y tế) có đảng viên đạt 100% tổng số cơ sở; có 3.926 cơ sở có chi bộ chiếm 93,1% tổng số cơ sở; quyết định phụ cấp hàng tháng cho 13 chức danh với trên 41.000 cán bộ bản, tiểu khu, tổ dân phố theo hệ số trên mức lương tối thiểu; tháng 3 và tháng 4 năm 2011 (sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII), tỉnh đã mở 94 lớp tại cấp huyện, tổ chức 17 đợt gặp mặt tại tỉnh với 6.064 bí thư và trưởng bản, tiểu khu, tổ dân phố trong toàn tỉnh để bồi dưỡng nghiệp vụ công tác trong nhiệm kỳ 2011 - 2016; mở được 7 lớp với 891 học viên học đại học và trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ xã, phường, thị trấn theo địa chỉ sử dụng.


Về tăng cường mối quan hệ đặc biệt với các tỉnh Bắc Lào và đảm bảo quốc phòng, an ninh trong tỉnh: đến nay tỉnh Sơn La đã ký kết biên bản ghi nhớ với 8 tỉnh Bắc Lào (Hủa Phăn, Luông Pha Băng, U Đôm Xay, Bò Kẹo, Phong Xa Lỳ, Luông Nậm Thà, Xay Nhạ Bu Ly, Xiêng Khoảng); đã giao cho 5 huyện biên giới ký kết hợp tác và giao ban định kỳ để chủ động giải quyết các vấn đề phát sinh từ cơ sở; tháng 4 năm 2012, tỉnh Sơn La đã phối hợp với các cơ quan Quốc hội tổ chức thành công Hội nghị "Quan hệ hợp tác Quốc hội Việt Nam - Lào, đoàn kết - hữu nghị"; từ ngay 18-21 tháng 8 năm 2012, tỉnh tổ chức các hoạt động trong năm "Đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào 2012" trong đó, một trong những điểm nhấn quan trọng là tổ chức Lễ mít tinh trọng thể kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao, 35 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào, tổ chức Tuần lễ văn hóa các dân tộc tỉnh Sơn La và trao tặng Huân chương, Huy chương của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào cho tập thể 8 tỉnh Bắc Lào và các tập thể và cá nhân của tỉnh Sơn La có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ tăng cường tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào, Sơn La và các tỉnh Bắc Lào; tham dự các hoạt động kỷ niệm có đồng chí Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào tại Việt Nam và các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, bí thư tỉnh ủy, tỉnh trưởng và lãnh đạo 8 tỉnh Bắc Lào, các em lưu học sinh, sinh viên Lào đang học tập tại Sơn La.


Kết quả đạt được trên đây đã và đang tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của tỉnh Sơn La trong thời gian tới.

Kính thưa các đồng chí đại biểu,

Thưa các đồng chí và các bạn,

Cách đây 60 năm, vào mùa thu năm 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Tổng Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng và lập "Xứ Thái tự trị" của thực dân Pháp, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một vùng đất đai và dân cư rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng, nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh và Thượng Lào, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược phát triển lên một giai đoạn mới, góp phần quan trọng quyết định thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Đây là một sự kiện lịch sử quan trọng, là niềm tự hào to lớn của quân và dân các dân tộc Tây Bắc nói riêng, quân và dân cả nước nói chung.


Kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chọn Sơn La - địa bàn chính diễn ra chiến dịch Tây Bắc làm nơi tổ chức Hội thảo khoa học "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử". Đây là vinh dự và là sự cổ vũ, động viên, khích lệ đối với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La. Và đây cũng là dịp để các bộ, ngành Trung ương, các quân khu, các tỉnh tìm hiểu, cảm thông và chia sẻ cùng với Sơn La trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của một tỉnh miền núi, biên giới, nhiều dân tộc ở vùng Tây Bắc của Tổ quốc; đồng thời là cơ hội để tỉnh Sơn La có thểm những tư liệu quý, những bài học kinh nghiệm từ chiến dịch Tây Bắc, để vận dụng và phát huy trong sự nghiệp xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Nhân dịp này, thay mặt Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chiến sĩ, nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La, tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và giúp đỡ to lớn của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, các quân khu và các sư đoàn, trung đoàn, các học viên, nhà trường trong và ngoài quân đội, các tỉnh, thành phố và đồng bào, chiến sĩ trong cả nước đã đóng góp công sức cho chiến dịch Tây Bắc 1952, cũng như đang giúp đỡ tỉnh Sơn La trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Một lần nữa, xin kính chúc các đồng chí đại biểu khách quý, cùng toàn thể các đồng chí và các bạn mạnh khoẻ; chúc Hội thảo thành công tốt đẹp. Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 08:50:13 am
BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC "CHIẾN THẮNG TÂY BẮC 1952 - TÂM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ"


Trung tướng MAI QUANG PHẤN
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Quân đội nhân dân Việt Nam


Cách đây 60 năm, quân và dân ta làm nên thắng lợi chiến dịch Tây Bắc. Đó là thắng lợi của sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; là thắng lợi của lòng quyết tâm cao độ vượt qua mọi khó khăn thử thách; là thắng lợi của tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, thông minh, sáng tạo,... Thắng lợi đó có ý nghĩa chiến lược, là một trong những sự kiện quan trọng của lịch sử 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) nói riêng và lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh nói chung.


Đi tới và làm nên chiến công đó, từ những tháng đầu năm 1952, sau những cân nhắc thế lực giữa ta và địch, Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh đã chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc với mục đích tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, cố gắng tranh thủ giải phỏng một phần đất đai, phát triển du kích chiến tranh tiến tới phá âm mưu của địch trên chiến trường Tây Bắc.


Trực tiếp tham gia chiến đấu trên Mặt trận Tây Bắc gồm nhiều đơn vị, lực lượng, mà quan trọng 7 trung đoàn y chủ lực thuộc các đại đoàn 308, 312, 316 cùng các đơn vị binh chúng phối hợp; 10 đại đội bộ đội địa phương các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai và dân quân, du kích Khu Tây Bắc; là sự tham gia phục vụ của lực lượng thanh niên xung phong, dân công cùng sự đóng góp sức người, sức của của đồng bào các dân tộc trên địa bàn. Chiến dịch còn được thực hiện trong một thế trận chung, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường trên cả nước từ Bắc Bộ, đến Trung Bộ và Nam Bộ, từ đồng bằng đến miền núi, thành thị và nông thôn.


Với chủ trương đúng đắn, hình thành phương án chặt chẽ về hướng, mục tiêu tiến công chủ yếu, trận đánh then chốt; chuẩn bị về lực lượng, trang bị vũ khí, đảm bảo hậu cần chu đáo,... sau gần hai tháng (14.10 - 10.12.1952), trải qua ba đợt tiến công, quân và dân ta đã tiêu diệt và bắt sống hơn 6.000 địch (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội), giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 28.500km với 250.000 dân), nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào.


Thắng lợi đó có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự và chính trị, kinh tế. Với chiến thắng Tây Bắc, cục diện chiến trường thay đổi có lợi cho ta. Ta đã giữ vững và từng bước mở rộng quyền chủ động về chiến lược; các lực lượng vũ trang nhân dân có thểm kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, cao hơn trên chiến trường rừng núi, xa hậu phương cách đánh hệ thống cứ điểm mạnh của địch.


Đối với các nhà cầm quân thực dân, "thất bại ở Tây Bắc báo hiệu một mùa đông đáng lo ngại nữa cho Pháp, mùa đông thứ tám của cuộc chiến tranh ngày càng gợi ra những hình ảnh lo âu thất vọng".

Theo cùng năm tháng, với độ lùi của thời gian cùng với quan điểm, những phân tích, nhận định mới cho chúng ta thấy rõ hơn tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử của chiến thắng Tây Bắc. Trên tinh thần đó, nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc, Ban Bí thư Trung ương Đảng giao cho Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Sơn La tổ chức Hội thảo khoa học "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến Lược của Đảng và bài học lịch sử", với mục đích:

- Khẳng định và làm sáng tỏ, đầy đủ, sâu sắc hơn về sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, tài tình của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự phát triển, trưởng thành vượt bậc trong chỉ đạo, điều hành chiến dịch đến nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh.

- Hệ thống hoá và phục dựng lại quá trình chuẩn bị, tổ chức, thực hành chiến dịch, tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của quân dân cả nước, trực tiếp là quân và dân các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Phú Thọ... tạo nên sức mạnh to lớn của cuộc chiến tranh nhân dân chiến thắng kẻ thù xâm lược, tạo thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam. Thông qua đó, làm nổi bật sự trưởng thành toàn diện của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

- Nêu bật tầm vóc to lớn, ý nghĩa quan trọng; phân tích nguyên nhân cơ bản dẫn đến thắng lợi, đúc rút những bài học kinh nghiệm, trong đó quan trọng là về tổ chức và thực hành chiến dịch, chọn hướng để mở chiến dịch tiến công; nghệ thuật chọn mục tiêu chủ yếu, đánh trận then chốt của chiến dịch. Thông qua đó, nhằm gợi mở, vận dụng và phát huy giá trị những bài học kinh nghiệm vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

- Tôn vinh và tri ân đối với các anh hùng, liệt sĩ, với đồng bào, đồng chí đã chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Đồng thời, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và góp phần giáo dục truyền thống lịch sử, nhất là đối với thế hệ trẻ.


Tại cuộc Hội thảo này, Ban tổ chức đã nhận được gần 70 tham luận khoa học của các tướng lĩnh, các bậc lão thành cách mạng, các vị lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương trên địa bàn Tây Bắc, các nhà khoa học trong và ngoài quân đội,... Hội thảo sẽ tập trung vào các nội dung chính sau đây:

1. Bối cảnh chung của cuộc kháng chiến chống Pháp trước khi diễn ra chiến dịch Tây Bắc 1952; âm mưu, thủ đoạn và quá trình thực hiện kế hoạch mở rộng chiếm đóng và lập "Xứ Thái tự trị" tại khu vực Tây Bắc của thực dân Pháp;

2. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc; nghệ thuật chỉ đạo, tiến hành và phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân, đại đoàn kết toàn dân, đặc biệt là tổ chức bảo đảm, phối hợp, hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng; tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong chiến dịch;

3. Quá trình chuẩn bị và thực hành kế hoạch tác chiến của các lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Bắc cùng quân và dân cả nước trong chiến dịch Tây Bắc. Diễn biến, kết quả và nghệ thuật quân sự đặc sắc trong các trận đánh quan trọng làm nên thắng lợi của chiến dịch;

4. Tầm vóc, nguyên nhân, ý nghĩa thắng lợi và những bài học kinh nghiệm của chiến thắng Tây Bắc, vận dụng và phát huy trong sự nghiệp xây dựng nển quốc phòng - an ninh nhân dân hiện nay.

Thông qua những bài viết tập trung ở những chủ đề trên đây, chúng tôi tin tưởng rằng, các tham luận tại Hội thảo sẽ góp phần làm rõ hơn, sâu hơn, có hệ thống và đầy đủ hơn về thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc 1952, một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp "kháng chiến, kiến quốc" của dân tộc ta.

Xin chúc sức khỏe các đồng chí đại biểu cùng toàn thế các đồng chí!

Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp!

Xin trân trọng cảm ơn!


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 08:58:43 am
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC THU ĐÔNG 1952 - BỐI CẢNH LỊCH SỬ


PGS, TS VŨ QUANG HIỂN
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội


Chiến dịch Tây Bắc Thu Đông 1952 diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến chuyển. Cách mạng thế giới đang phát triển mạnh. Cục diện Chiến tranh lạnh lên tới đỉnh cao, nhưng xu thế hoà hoãn cũng bắt đầu xuất hiện.


Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp ngày càng phát, huy mạnh mẽ thế tiến công chiến lược ở cả mặt trận chính diện và sau lưng địch. Theo Phơrăngxoa Gioayô (François Joyeaux), "Bộ chỉ huy Pháp không chỉ đối phó với một cuộc nổi dậy có tính dân tộc, mà là chống đối một sự nghiệp, không phải không có lý do để có thể xem như một trong những biểu hiện của cuộc chạm trán Đông - Tây trong khung cảnh chiến tranh lạnh"1 (François Joyeaux: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Nxb Thông tin lý luận. H 1981, tr. 89).


Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhận định: "Ở Đông Dương, không phải chỉ có quyền lợi của nhân dân ta và thực dân Pháp xung đột nhau, mà thực ra của hai phe dân chủ và đế quốc trên thế giới xung đột nhau1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 11. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr. 84).

1. Phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh, có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam

Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa nối liền từ Tây sang Đông, không ngừng được củng cố và lớn mạnh. Sự đoàn kết, thống nhất trong phe xã hội chủ nghĩa tạo chỗ dựa cho phong trào đấu tranh cách mạng trên thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, tạo thế đối trọng với Mỹ và các nước phương Tây trong Chiến tranh lạnh và trật tự Ianta.


Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu đã hoàn thành khôi phục kinh tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai, từ năm 1951, bắt tay vào thực hiện những kế hoạch kinh tế - xã hội dài hạn nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Liên minh chính trị - kinh tế và quân sự giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục được củng cố. Ngày 14 tháng 2 năm 1950, Liên Xô và Trung Quốc ký Hiệp ước Hữu nghị, Đồng minh và Tương trợ có giá trị trong 30 năm. Theo Hiệp ước này, hai bên cam kết thi hành mọi biện pháp cần thiết nhằm không để Nhật hoặc một nước nào khác trực tiếp hay gián tiếp liên kết với Nhật, có hành động đe dọa hoà bình hoặc gây chiến tranh xâm lược một lần nữa2 (Xem: Dieter Heizing, The Soviet Union and Communist China 1945-1950. The Arduous Road to The Alliance, Armonk, New York. M E.Shape. 2004, p. 263). Liên minh Liên Xô - Trung Quốc trở thành trụ cột của phe xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng thế giới.


Trong xu thế tiến công, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa dâng lên mạnh mẽ khắp nơi. Cuộc kháng chiến anh dũng của ba dân tộc ở Đông Dương, những cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân các nước Đông Nam Á như Philippin, Inđônêxia, Malaixia, Miến Điện, cuộc kháng chiến của nhân dân Triều Tiên... thể hiện sự phát triển không gì cưỡng nổi của phong trào giải phóng dân tộc. Trong khi đó, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ củng phát triển ngay tại các nước tư bản chủ nghĩa.


Cách mạng Việt Nam có điều kiện mở rộng quan hệ với các Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc, Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân, các lực lượng hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ vật chất và tinh thần từ bên ngoài, làm cho cuộc kháng chiến có thểm sức mạnh để phát triển thế tiến công chiến lược. Trong điện gửi Thống chế Xtalin (20-12-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ niềm tin "sự thành công của nhân dân Liên Xô sẽ đảm bảo chắc chắn cho thắng lợi của công cuộc xây dựng các nước dân chủ nhân dân, công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức và công cuộc gìn giữ hoà bình và dân chủ thế giới"1 (Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 258).


Tháng 4 năm 1951, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà lập cơ quan sứ quán và cử đại sứ sang Bắc Kinh, lập hai cơ quan tổng lãnh sự ở Hoa Nam và tiếp nhận đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam. Hai bên cử các đoàn đàm phán về việc Trung Quốc giúp Việt Nam vật tư, khí tài và ký hiệp định mậu dịch giữa hai nước. Trung Quốc cử chuyên gia, cố vấn quân sự, chính trị sang giúp Việt Nam, nhận đào tạo cán bộ cho Việt Nam. Thời gian này, quan hệ hữu nghị và tin cậy lẫn nhau giửa hai nước Việt Nam, Trung Quốc được thiết lập và phát triển. Với chính sách "Viện Triều chống Mỹ" và "Giúp Việt kháng Pháp", nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có ảnh hưởng tích cực đến phong trào cách mạng ở các nước trong khu vực.


Mặc dù Liên Xô vẫn còn cân nhắc mức độ công khai trong quan hệ với nước Việt Nam dân chủ cộng hoà1 (Đầu năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Mátxcơva. Trong một buổi làm việc với Xtalin, thấy có cuốn họa báo Liên Xô để trên bản, Người cầm đưa Xtalin, đề nghị ký một chữ làm kỷ niệm, Xtalin vui vẻ ký rồi chuyển cho Môlôtốp, Cadanôvich ngồi bên ký tiếp Người mang tờ báo về nhà khách. Nhưng hôm sau không còn thấy tờ báo. Xem Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân, H 1995, tr. 412. Tháng 9 năm 1952, từ Bắc Kinh, Người điện cho Xtalin: "Tôi rất muốn đến Mátxcơva dự Đại hội lần thứ XIX, Đảng Cộng sản Liên Xỏ. Nhưng tôi cho rằng, nếu tôi đến Mátxcơva một cách công khai, thứ nhất kẻ thù có thể ùa vào để chống lại Việt Nam, thứ hai có thể có nhiều bất tiện khi đón tôi". "Vì lý do này, tôi có ý định đến Mátxcơva dưới một cái tên khác", xem: Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 500), nhưng viện trợ vật chất của Liên Xô cho Việt Nam ngày càng tăng. Từ tháng 5 năm 1952, Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô đã đi vào hoạt động. Liên Xô coi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà là đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Việt Nam; đề cao cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam trong công tác tuyên truyền quốc tế; phê phán âm mưu mở rộng và tăng cường chiến tranh Đông Dương của Mỹ - Pháp; phủ quyết yêu cầu của chính quyền Bảo Đại và ủng hộ yêu cầu của Việt Nam dân chủ cộng hoà trong việc gia nhập Liên Hợp Quốc; đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc trực tiếp giúp đỡ cuộc kháng chiến của Việt Nam.


Tháng 10 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật đến Mátxcơva dự Đại hội XIX Đảng Cộng sản Liên Xô1 (Theo Hồi ký của nữ Đồng chí Giôhanna (Phu nhân của cố Chủ tịch Đảng xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức Ôttô Grốttơvôn) thì Hồ Chí Minh có dự Đại hội XIX Đảng Cộng sản Liên Xô. Tham khảo thêm: Trấn Dương: Bác Hồ như chúng tôi đã biết, Nxb Công an nhân dân. H. 2005, tr. 187-202), bày tỏ tình đoàn kết với Đảng Cộng sản và nhân dân Liên Xô; khẳng định quyết tâm đấu tranh vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Người tiếp xúc với đại biểu các đảng anh em, tạo ra bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác, ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau giữa Đảng và nhân dân Việt Nam với các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế. Gặp Đại sứ và Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô, Người nhắc nhở nhiệm vụ của cán bộ ngoại giao lúc đó là làm thế nào để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.


Phong trào bảo vệ hoà bình thế giới ngày càng phat triển mạnh. Cuối năm 1951. Hội đồng hoà bình thế giới họp ở Viên ra nhiều nghị quyết đòi năm cường quốc ký Công ước hoà bình, tài giảm binh bị, cấm vũ khí nguyên tử đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Triều Tiên, Việt Nam và đề nghị giải quyết các việc xung đột khác trên thế giới bằng phương sách hoà bình. Nghị quyết về Việt Nam đật vấn đề đàm phán để đình chiến và quân đội Pháp phải rút khỏi Việt Nam.


Ngày 24 tháng 12 năm 1951, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông tri hoan nghênh Nghị quyết của Hội đồng hoà bình thế giới và vạch rõ chúng ta luôn chủ trương hòa bình. "Nhưng giặc Pháp đã phá hoại ý ngụyện hoà bình đó của ta, chúng âm mưu cướp nước ta. Cho nên chúng ta phải kiên quyết kháng chiến đến toàn thắng. Vì vậy, cuộc kháng chiến của ta là một công cuộc xây dựng hoà bình ở Việt Nam, trái lại giặc Pháp là kẻ phá hoại hoà bình ở Việt Nam". Nhân dân Việt Nam phải đẩy mạnh cuộc kháng chiến. "Chúng ta phải đánh cho giặc những đòn thật nặng. Có thế thì địch mới bỏ kế hoạch xâm lược nước ta và bắt buộc phải nhận giải pháp của Hội đồng hoà bình thế giới là rút quân viễn chinh về Pháp... được sự ủng hộ của thế giới, chúng ta càng phải nỗ lực phấn đấu mạnh hơn nữa để mau đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng, đánh đuổi hết quân xâm lược thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ ra khỏi bờ cõi, giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng. Toàn tập, Sđd tập 12 tr. 620-621).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 09:00:10 am
2. Mỹ tiếp tục can thiệp sâu hơn vào cuộc chiến tranh Đông Dương

Bước vào năm 1952, nước Pháp gặp thêm những khó khăn mới, ngân sách thiếu hụt, nội bộ giới cầm quyền phân hoá, nội các phải thay đổi liên tiếp. Phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp và nhân dân Bắc Phi ngày càng lên mạnh. Khả năng tăng quân của Pháp vào Đông Dương rất hạn chế. Lợi dụng Pháp gặp khó khăn, Mỹ tăng viện trợ, bắt Pháp phải nhân nhượng trong vấn đề tổ chức quân đội của cái gọi là "Quốc gia Việt Nam", nắm giữ chính quyền bù nhìn Bảo Đại. Giới cầm quyền Mỹ thay đổi chiến lược đối ngoại, từ chính sách không can thiệp trong những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chuyển sang can thiệp bằng cách viện trợ kinh tế và quân sự cho Pháp ở Đông Dương. Sự can thiệp ngày càng tăng do những lý do khác nhau nhưng tựu trung lại Mỹ ngăn chặn sự phát triển chủ nghĩa cộng sản ở Viễn Đông, trong đó "Đông Dương và đặc biệt là Việt Nam là then chốt trong việc bảo vệ Đông Nam Á". Mặc dù Mỹ có mâu thuẫn với Pháp, phản đối việc duy trì chính sách thực dân cũ của Pháp, nhưng trước khả năng "Pháp có thể thất bại, đồng thời lúc đó, cộng sản đã thắng lợi ở Trung Quốc, nên từ đầu năm 1950 Mỹ quyết định hỗ trợ cho Pháp ở Đông Dương"1 (George C. Hering. Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ. Nxb Chính trị quốc gia. H. 1998, tr. 14), đưa cuộc chiến tranh Đông Dương vào quỹ đạo chiến lược "Chiến tranh lạnh"; biến Đông Dương, Đài Loan, Triều Tiên... thành những cứ điểm chống cộng.


Ngày 7 tháng 2 năm 1950, ngay sau khi Hạ viện Pháp phê chuẩn Hiệp định Élysée (29-1-1950) công nhận nền độc lập của "các quốc gia liên kết" Việt Nam, Lào và Campuchia, Chính phủ Mỹ công nhận cái gọi là "Quốc gia Việt Nam". Ngày 8 tháng 5 năm 1950, tại một cuộc họp ở Pari, Dean Acheson thông báo việc Chính phủ Mỹ sẽ viện trợ kinh tế và quân sự cho "các quốc gia liên kết" ở Đông Dương và Pháp. Ngày 2 tháng 8 năm 1950, Phái bộ cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) được thành lập ở Sài Gòn với nhiệm vụ chuyển giao viện trợ quân sự trực tiếp cho người Việt Nam, Lào và Campuchia.


Trong suốt nửa đầu những năm 50 của thế kỷ XX, thái độ của các nước lớn đối với cuộc chiến tranh Đông Dương có nhiều thay đổi, làm cho cuộc chiến tranh này "lồng vào cuộc xung đột toàn cầu giữa phương Đông và phương Tây"2 (Yves Gras. Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Nxb Plon. Paris. 1979. bản dịch lưu Thư viện quân đội. tr.610). "Nó đã được quốc tế hoá và trở thành một bộ phận của cuộc thập tự chinh chống cộng của Mỹ"3 (Archimedes L.A. Patti: Tại sao Việt Nam, Nxb Đà Nẵng. 2001. tr. 770).


Ngày 7 tháng 9 năm 1951, Mỹ ký với Bảo Đại một hiệp định viện trợ kinh tế trực tiếp. Ngày 18 tháng 9 năm 1951, hai ngày sau khi kết thúc chuyến thăm Mỹ của tướng Đờ Lát, chiếc tàu vận tải Eartham Bay của Mỹ từ Manila đến Sài Gòn chở theo nhiều vũ khí các loại, đồng thời Mỹ cũng chuyển cho Pháp 30 máy bay B26 từ Philíppin đến sân bay Cát Bi (Hải Phòng).


Đối với Mỹ, các cuộc chiến tranh Triều Tiên và Đông Dương có mối quan hệ mật thiết với nhau trong sự nghiệp chống cộng của họ ở bờ Tây Thái Bình Dương.

Cuộc Chiến tranh Triều Tiên thực chất là một cuộc đọ sức giữa hai phe nhưng không phân thắng bại. Các nước lớn bắt đầu nhận thấy tương quan lực lượng thế giới đang ở thế cân bằng. Từ ngày 7 tháng 10 năm 1951, Hội nghị bốn bên (Trung Quốc, Mỹ và hai miền Triều Tiên) bàn về cuộc chiến tranh Triều Tiên được khai mở tại Kaesong, nhưng chưa mang lại kết quả (đầu năm 1953, hội nghị này chuyển về Bàn Môn Điếm). Trước triển vọng cuộc chiến tranh Triều Tiên có thể chấm dứt, Mỹ sợ rằng xu thế hoà hoãn ở Triều Tiên làm cho Pháp nản chí, nên mặc dù không đồng tình với chính sách thực dân cũ của Pháp, nhưng Mỹ vẫn thấy cần phải giúp Pháp tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương.


Chính sách của Mỹ về Đông Dương được Hội đồng An ninh quốc gia khẳng định trong "Tuyên bố về chính sách năm 1952 của Mỹ về các mục tiêu ở Đông Nam Á" với cam kết "sẽ kiến nghị với Quốc hội (Mỹ) có sự viện trợ thích đáng về quân sự và kinh tế, tài chính cho Pháp và các quốc gia liên kết"1 (Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ, tập I. IV, Thư viện Bộ Ngoại giao, tr. 39).


Tháng 6 năm 1952, Mỹ mời Lơ Tuốcnô (Le Tourneau), Bộ trưởng Bộ các quốc gia không liên kết kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương, đến Oasinhtơn để lên dây cót tinh thần cho Pháp "giữ vững tay súng" trong cuộc chiến chống cộng ở Đông Dương. Bản thông báo chung về cuộc gặp Mỹ - Pháp khẳng định cuộc chiến tranh Đông Dương "là một bộ phận của cuộc chiến đấu chung trên phạm vi toàn thế giới chống lại những cố gắng chinh phục và lật đổ của cộng sản". Chính phủ Mỹ cam kết tăng cường viện trợ quân sự để "các nước liên kết xây dựng thành công các quân đội quốc gia nhằm chặn đứng và đánh bại chủ nghĩa cộng sản trên bán đảo Đông Dương"1 (Dẫn theo Trần Trọng Trung: Nhà Trắng với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H- 2005, tr. 155). Bên cạnh Pháp là kẻ thù cũ, Mỹ từng bước trở thành một kẻ thù mới của cách mạng Việt Nam.


Dựa vào sự trợ giúp của Mỹ, Pháp tăng cường phát triển quân đội tay sai, tập trung lực lượng cơ động phối hợp với các đội GAMO2 (GAMO: Grupemenl administratif mobile (quân thứ hành chính lưu động)) liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá các vùng du kích kháng chiến, "bình định hậu phương" của chiến tranh xâm lược, hòng cứu vãn tình hình đang ngày càng xấu đi đôi với quân Pháp ở Bắc Bộ. Những cuộc hành binh lớn của quân Pháp có gây cho lực lượng kháng chiến một số khó khăn, nhưng vẫn không làm thay đổi được tình thế khi cả vùng đồng bằng đang rung chuyển mạnh.


Trong bối cảnh quốc tế lúc đó, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ là một cuộc chiến tranh vừa mang tính chất giải phóng dân tộc, vừa mang tính chất bảo vệ Tổ quốc. Nó khác với cuộc chiến tranh Triều Tiên ở chỗ lực lượng chiến đấu trên chiến trường là quân và dân Việt Nam. Ngoài một số cố vấn Trung Quốc, không có quân đội nước ngoài. Tuy nhiên, khi trật tự thế giới hai cực được thiết lập, thì nó không thể không chịu sự chi phối của cục diện Chiến tranh lạnh và sự tranh giành ảnh hướng giữa hai phe.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 09:01:58 am
3. Khối đoàn kết và liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương được củng cố và tăng cường

Ở Đông Dương, ba dân tộc Việt Nam, Lào và Campuchia cùng đoàn kết chống kẻ thù chung, nhưng ở mỗi nước cũng có những đặc điểm riêng. Từ năm 1945, vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong phạm vi mỗi nước; mỗi nước thành lập một mặt trận riêng, tạo cơ sở để tiến tới hình thành ở mỗi quốc gia một nhà nước dân tộc độc lập. Trong điều kiện lịch sử mới của cuộc kháng chiến, cần thành lập ở mỗi nước một đảng cách mạng để đề ra đường lối chính trị phù hợp với điều kiện của từng nước. Mặt khác, phải không ngừng củng cố và tăng cường đoàn kết giữa ba dân tộc.


Để sự lãnh đạo cách mạng dân tộc giải phóng Campuchia, Lào thích hợp với tình hình của hai nước và tình hình thế giới hiện tại, Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951) quyết nghị giúp đỡ những người cách mạng Lào, Campuchia thành lập ở mỗi nước một chính đảng nhân dân cách mạng, gồm những người yêu nước và dân chủ, trung thành, hăng hái và có ý thức nhất trong hàng ngũ kháng chiến. Quan hệ giữa Đảng Lao động Việt Nam và "Nhóm" hay Đảng Nhân dân là quan hệ của hai tổ chức bạn, dựa trên tinh thần quốc tế chủ nghĩa.


Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tích cực thúc đẩy quan hệ đoàn kết ba nước Đông Dương trên cơ sở tôn trọng đường lối cách mạng độc lập tự chủ và lợi ích dân tộc của mỗi nước. Tuyên ngôn của Đảng Lao động Việt Nam nêu rõ: "Đảng Lao động Việt Nam chủ trương đoàn kết chặt chẽ và giúp đỡ hai dân tộc Miên, Lào kháng chiến giành độc lập, cùng Việt Nam hoàn toàn giải phóng Đông Dương".


Ban Chấp hành Trung ương Đảng phân tích: "Vì mối quan hệ khăng khít về địa lý, quân sự, chính trị, v.v. mà ta với Miên, Lào cũng như môi với răng. Hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng, thì cuộc giải phóng của ta mới chắc chắn, hoàn toàn. Cho nên nhiệm vụ của ta là phải ra sức giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào một cách tích cực thiết thực hơn. Đó là nhiệm vụ quốc tế của chúng ta"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập. Sđd, tập 13, tr. 152).


Ngày 11 tháng 3 năm 1951. Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương họp tại Việt Bắc, gồm đại biểu các mặt trận Liên Việt, Ítxala và Íxarắc, tuyên bố thành lập khối liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, nhằm mục tiêu đánh đuổi bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, làm cho mỗi nước hoàn toàn độc lập.


Sự giúp đỡ lẫn nhau và sự phối hợp chiến đấu giữa ba dân tộc chống kẻ thù chung được nâng lên tầm cao mới. Đoàn kết Đông Dương tạo ra một nhân tố chiến lược đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến ở mỗi nước, tạo ra thế tiến công chiến lược chung của cuộc kháng chiến ở cả ba nước.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 09:03:47 am
4. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam ngày càng phát triển và sự điều chỉnh phương hướng tiến công chiến lược

Từ chiến dịch Biên Giới - Thu Đông 1950, quân đội và nhân dân Việt Nam đã giành, giữ và phát triển thế tiến công chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.

Trong hoàn cảnh mới của cuộc kháng chiến, Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951) quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để đưa cuộc kháng chiến mau tới ngày thắng lợi. Đại hội xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược, và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập và thống nhất hoàn toàn, bảo vệ hoà bình thế giới. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, phải tích cực xây dựng bộ đội chính quy, củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích.


Tháng 3 năm 1951, Đại hội Việt Minh và Liên Việt quyết định thống nhất hai mặt trận thành Mặt trận Liên Việt, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, tạo cơ sở chính trị vững chắc cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.


Từ tháng 12 năm 1950 đến tháng 6 năm 1951, bộ đội chủ lực Việt Nam liên tiếp mở ba chiến dịch tiến công lớn vào các phòng tuyến của quân Pháp ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, phá kế hoạch củng cố lực lượng và bình định đồng bằng của địch. Tuy nhiên, cả ba chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám và Quang Trung đều không đạt được mục tiêu chiến lược và chiến dịch. Phong trào chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch có phát triển trong khi mở chiến dịch, nhưng rồi lại lắng xuống và gặp nhiều khó khăn khi mỗi chiến dịch kết thúc, do địch quay về càn quét, bình định. Nguyên nhân chính là do chủ quan, nóng vội, không đánh giá đúng so sánh lực lượng trên địa bàn, chọn hướng tiến công vào nơi có địa hình trống trải, đối phương có ưu thế về hỏa lực và khả năng cơ động nhanh. Thực tế đó cho thấy, mở những chiến dịch lớn ở đồng bằng và trung du là chưa có lợi, cần có sự điều chỉnh hướng tiến công của bộ đội chủ lực về địa bàn rừng núi. Khi thực dân Pháp mở cuộc hành quân lớn ra Hoà Bình, với hy vọng giành lại quyền chủ động đã mất trên chiến trường chính Bắc Bộ, nối lại hành lang Đông - Tây chia cắt Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, "buộc đối phương phải xuất trận" và gây "ảnh hướng quốc tế lớn" tạo tiếng vang đế tranh thủ viện trợ Mỹ,... Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhận rõ thời cơ tiêu diệt địch, kịp thời chỉ thị về nhiệm vụ phá cuộc tiến công Hoà Bình của địch; kết hợp mặt trận chính diện với mặt trận sau lưng địch ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.


Chiến dịch Hoà Bình đã làm thất bại kế hoạch chiến tranh lớn của thực dân Pháp trong Đông - Xuân 1951-1952. Thắng lợi đó khẳng định địa bàn rừng núi là nơi quân đội và nhân dân Việt Nam có ưu thế hơn địch; đó là hướng tiến công chiến lược đúng, hạn chế được những chỗ mạnh của đối phương về hoả lực phi pháo và khả năng cơ động nhanh.


Từ sau chiến dịch Hoà Bình, chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch ngày càng phát triển mạnh, làm ruỗng nát hệ thống chiếm đóng của quân Pháp, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ. "Nếu người ta nghiên cứu bản đồ vùng đồng bằng Bắc Bộ, người ta sẽ nhận thấy nó giống như một chiếc muôi hớt bọt. Mỗi lỗ của cái muôi là một căn cứ lớn hay nhỏ của chiến tranh du kích"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 537).


Hậu phương kháng chiến được xây dựng và củng cố kể cả hậu phương chiến lược và hậu phương tại chỗ, bao gồm căn cứ địa Việt Bắc, các vùng tự do ở Khu 4, Khu 5, miền Đông, miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và cả những căn cứ du kích trong lòng địch. Báo Pháp Thế giới (Le Monde) viết: "Kinh nghiệm đã cho thấy các tuyến phòng thủ đồng bằng không có tác dụng ngăn chặn, và từng toán quân nhỏ hoàn toàn có thể luồn qua các đồn luỹ của Pháp vào ban đêm". Trong thời gian chiến dịch Hoà Bình, có tới hai đại đoàn chủ lực có thể tiến sâu vào vùng địch hậu Bắc Bộ để hoạt động. Đó là hiện tượng kỳ lạ chưa từng có trong lịch sử Chiến tranh thế giới. "Khi mười lính Pháp di chuyển thì Việt Minh biết, nhưng khi 10 nghìn Việt Minh di chuyển thì các lính Pháp không hay"2 (Léon Doutbien: Jereviens d' Indochine, Les échos, Paris. 1950, p. 26).


Không chỉ ở các vùng tự do, mà ngay trong các vùng tạm bị địch chiếm, người dân không đóng thuế cho chính quyền thực dân, mà đóng thuế cho cách mạng. Trong cuốn Cuộc chiến tranh Đông Dương, Giắc Đalo (Jarque Dalloz), giảng viên Học viện Chính trị Pari viết:

"Hầu hết mọi người Việt Nam sống trong vùng kiểm soát của Pháp đều tự giác hay bắt buộc đóng thuế cách mạng. Thuế được thu hồi qua các cán bộ tài chính được lựa chọn kỹ mà sự trung thực tương phản với sự tham ô thường có"3 (Jarque Dalloz: La Guerre d' Indochine 1945-1954. Édition du Seuil. Paris. 1987, p. 55).


Giắc Đalo nhận xét: "Ở trong lòng hệ thống của Pháp, Việt Minh lúc này có trong tay hơn 60.000 người được vũ trang thích hợp... Quân đội Việt Nam đã xây dựng những điểm chốt: các làng có công sự, các kho vũ khí và lương thực đặt ở đó... Các cuộc tấn công ban đêm của một kẻ thù được trang bị bằng vũ khí càng ngày càng đáng sợ hơn các cuộc càn quét vô bổ liên tiếp. Đó là chuyện thường ngày trong cuộc chiến ở đồng bằng. Bị bao vây bởi một vùng hoàn toàn do Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm soát, bị đe doạ tan rã từ bên trong, Bắc Bộ - địa bàn quan trọng hữu ích làm các tướng lĩnh Pháp phải lo lắng"1 (Jarque Dalloz: La Guerre d' Indochme 1945-1954, Édition du Senil, Paris. 1987. p 217).


Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng, mùa hè năm 1952, các đơn vị trong toàn quân tiến hành chính huấn chính trị, nâng cao tinh thần giác ngộ và quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng cho cán bộ và chiến sĩ. Công tác chấn chỉnh tổ chức, biên chế và trang bị cũng được tăng cường. Trình độ chỉ huy chiến đấu, trình độ chiến thuật và kỹ thuật của bộ đội có nhiều tiến bộ mới.


Lực lượng vũ trang ba thứ quân ngày càng trưởng thành, làm nòng cốt để toàn dân đánh giặc. Đến cuối năm 1952, bộ đội chủ lực trực thuộc Bộ Quốc phòng đã có 6 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công binh và pháo binh. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích ta là người thừa kế những truyền thống vẻ vang của Quân Giải phóng. Nhò toàn dân ra sức giúp đỡ, nhờ phong trào dân chủ thế giới, nhất là nhân dân các nước bạn ủng hộ, lực lượng vũ trang của ta đã phong trào mạnh. Trong mấy năm kháng chiến chống giặc Pháp và bọn can thiệp Mỹ, ta càng đánh càng mạnh, càng hăng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. tập 7. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 261).


Thấy rõ phương hướng tiến công chiến lược có lợi là chiến trường rừng núi, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy chủ trương: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh, và quyết định mở chiến dịch tiến công địch ở Tây Bắc. Đây là nơi "địch yếu hơn hết ở Bắc Bộ, thành phần ngụy binh nhiều, bố trí tương đối phân tán, địa hình có phần thuận lợi cho ta". Mục đích của chiến dịch là "tiêu diệt sinh lực địch", "tranh thủ nhân dân", "giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr. 304).


Chiến dịch Tây Bắc Thu Đông 1952 của quân và dân Việt Nam diễn ra vào lúc cục diện đối đầu và Chiến tranh lạnh đã lên tới đỉnh cao. Thế và lực của cuộc kháng chiến đều lớn mạnh, lại có sự ủng hộ về chính trị và giúp đỡ về vật chất từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đó là thuận lợi rất lớn, nhưng yếu tố quyết định thắng lợi vẫn là sức mạnh bên trong của cuộc kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Bây giờ chúng ta quân nhiều, tướng mạnh, mọi người lại đều quyết tâm. Cho nên ta nhất định thắng lợi"3 (Hồ Chí Minh. Toàn tập. tập 7. Sđd, tr. 485). Người cũng căn dặn: "Đừng để cho mình say sưa vì chiến thắng. Không được bao giờ đánh giá thấp kẻ thù. Hãy luôn nhớ rằng Chiến tranh yêu nước sẽ thắng lợi, nhưng nó sẽ lâu dài và gian khổ. Thắng lợi càng gần thì kẻ thù càng hung hãn, và chúng ta có nhiều khó khăn hơn. Hãy luôn luôn cánh giác và sẵn sàng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tặp, tập 7. Sđd, tr. 537).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 09:16:11 am
TÂY BẮC QUA GÓC NHÌN ĐỊA - CHÍNH TRỊ, ĐỊA - QUÂN SỰ


PGS, TS PHẠM XANH
Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân vân,
Đại học Quốc gia Hà Nội


Sau chiến thắng Biên Giới năm 1950, cánh cửa thông với thế giới bên ngoài được mở toang, đặc biệt sau những thắng lợi dồn dập của quân ta trong các chiến dịch Trần Hưng Đạo (12-1950), chiến dịch Hoàng Hoa Thám (3-1951) và chiến dịch Quang Trung (5-1951), sức ép theo hướng châu thổ sông Hồng và Hà Nội ngày càng tăng lên quân đội viễn chinh Pháp. Trong bối cảnh đó, tướng Pháp Đờ Lát vừa được điều sang chiến trường Đông Dương, đã có chuyến thăm Hoa Kỳ để xin thêm viện trợ. Trong buổi làm việc với Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ tại Lầu Năm Góc, Tướng Pháp đã cảnh báo chính quyền Oasinhtơn trong sự so sánh với cuộc chiến ở Triều Tiên: "Nếu các ngài mất Triều Tiên thì châu Á vẫn còn, nhưng nếu tôi mất Đông Dương thì châu Á sẽ mất. Bắc Bộ là chìa khóa dẫn tới Đông Nam Á. Nếu như Đông Nam Á mất thì Ấn Độ sẽ bị thiêu trụi và rồi không gì cản nổi chủ nghĩa cộng sản sẽ tiến tới trước Xuyê và châu Phi. Và nếu như thế giới Hồi giáo bị nhấn chìm, đạo Hồi ở Bắc Phi cũng ngã gục, thì châu Âu bị đánh vào sườn..."1 (Dẫn theo Ronald H. Spector, Advice and Support: The Early years of the United States Army in Vienam 1941-1960. Free Press Edition. NY. 1985. p.143). Trong con mắt của giới chóp bu Mỹ đã hiển hiện mồn một trò chơi đôminô với hiệu ứng khủng khiếp của nó. Vì thế, Hoa Kỳ đã lấy từ những khoản chi cho NATO để viện trợ khẩn cấp cho Pháp ở Đông Dương. Tính đến trước khi ta mở chiến dịch Tây Bắc, Pháp và chính quyền Bảo Đại đã tiếp nhận chuyến hàng thứ 150 và Mỹ đã gánh 40% chiến phí Đông Dương, tức 146 tỷ Phrăng, trong đó là 86 tỷ phương tiện chiến tranh2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), tập 2. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 185). Trong khi đó, Thu Đông năm 1952, ta chủ động mở chiến dịch Tây Bắc là "nơi địch yếu, sơ hở, nhưng lại là nơi hiểm yếu", không theo hướng như Pháp - Mỹ đã phán đoán qua lời của Lơ Tuốcnô ngày 27 tháng 9: "Thu Đông 1952, Việt Minh sẽ tiến công đồng bằng".


Tại sao? Chỉ có thể trả lời câu hỏi này từ góc nhìn địa - chính trị và địa - quân sự của chính vùng Tây Bắc Bắc Bộ nước ta.

Nhìn lên bản đồ Việt Nam, vùng Tây Bắc và vùng Đông Bắc được giới hạn bằng con sông Thao và khi chảy tới Việt Trì hợp lưu với các dòng sông khác như sông Lô, sông Đà để trở thành tên gọi sông Hồng nổi tiếng, về hành chính, vùng đất chiến lược đó, thời kháng chiến chống thực dân Pháp mà ta đang bàn thảo ở đây, bao gồm các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái và Nghĩa Lộ. Trong Việt Nam - Lãnh thổ và các vùng địa lý, Lê Bá Thảo xác định rõ thêm: "Nếu như người ta có thể dễ chấp nhận Tây Bắc là một đơn vị miền núi thống nhất, thì vấn đề ranh giới phía đông đang còn bàn cãi một phần: về mặt địa lý tự nhiên, ranh giới này được vạch theo thung lũng sông Hồng, nhưng về mặt hành chính và kinh tế thì tỉnh Lào Cai có 4 huyện (Mường Khương, Bắc Hà, Bảo Thắng, Bảo Yên), tỉnh Yên Bái có hai huyện (Yên Bình và Lục Yên) nằm ở tả ngạn sông đó"1 (Lê Bá Thảo, Việt Nam - Lãnh thổ và các vùng địa lý. Nxb Thế giới, H. 2002 tr. 251).


Vùng Tây Bắc thời kháng chiến chống thực dân Pháp bao gồm 5 tỉnh như trên đã nói là một vùng rừng núi rộng lớn, hiểm trở, nằm ở phía Tây Bắc Bắc Bộ nước ta. Phía Tây là biên giới Việt - Lào, giáp hai tỉnh của nước Lào là Phong Xa Lỳ và Sầm Nưa. Phía Đông giáp với căn cứ địa Việt Bắc (vùng Đông Bắc, Bắc Bộ). Phía Bắc là biên giới Việt - Trung, đối diện với tỉnh Lào Cai là tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Phía Nam là tỉnh Hòa Bình, thông với các tỉnh thuộc Liên khu 3 và Liên khu 4. Nói như vậy là để xác định vùng Tây Bắc là một vùng chiến lược, ai làm chủ ở đây là làm chủ một vùng rộng lớn có địa hình rừng núi hiểm trở, nhất là dãy Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phan Xi Păng cao trên 3.000m, có đèo Pha Đin dài 30 km. một địa giới tự nhiên ngăn cách hai tỉnh Sơn La và Lai Châu và đồng thời khống chế vùng Bắc Lào rộng lớn.


Ngoài yếu tố tự nhiên (vùng rừng núi hiểm trở, có những dãy núi cao chia cắt và có biên giới tiếp giáp với Lào và Trung Quốc), khi nói tới địa - chính trị của vùng này không thể không đề cập tới những cộng đồng tộc người đang quần tụ và sinh sống nơi đây.


Các cộng đồng tộc người như Mông, Dao, Kinh, Mường, Thái... trước sau đến định cư ở đây, nhưng đông nhất là cộng đồng người Thái. Họ thuộc những cộng đồng tộc người có lịch sử phát triển lâu đời, văn minh, có chữ viết và một nền văn hóa vật thể và phi vật thể đa dạng, phong phú. Người Thái ở vùng Tây Bắc nổi tiếng với những dòng họ như họ Đèo, họ Cầm, họ Hoàng... Và yếu tố tộc người trong địa - chính trị đã được người Pháp chú ý khai thác và sử dụng như một thứ vũ khí lợi hại trong suốt thời kỳ cai trị của chúng ở vùng đất này. Yếu tố đó trong những năm 1945-1954, được người Pháp nâng lên thành nghệ thuật. Nó được thể hiện rất rõ trong việc Pháp cho thành lập Xứ Thái tự trị, tức trao cho người Thái quyền lực cai quản vùng đất đầy biến động này. Nếu đặt chính sách dựa vào người Thái để cai quản vùng này trong chính sách vĩ mô của Pháp "dùng người Việt trị người Việt" trong cuộc chiến tranh 9 năm, ta thấy mức độ nham hiểm của người Pháp. Yếu tố này còn được thể hiện rất rõ trong việc thành lập những tiểu đoàn người Thái cùng những đại đội độc lập chốt chặn những ngả đường chủ yếu vào "vương quốc" của mình. Điều này sẽ được nói rõ ở phần sau trong yếu tố địa - quân sự.


Với vị trí chiến lược đó, vùng Tây Bắc xa xưa đã trở thành vùng đất quan trọng của các thế lực chống đối các vương triều phong kiến. Thời Lê sơ. Đèo Cát Hãn là một thế lực mạnh. Khi đang còn bao vây đánh thành Đông Quan (Hà Nội ngày nay), Lê Lợi đã phái Chủ thư thị sử Trần Hổ lên châu Minh Lễ chiêu dụ Đèo Cát Hãn. Viên thổ quan này quy thuận. Nhưng sau đó, Cát Hãn làm phản, đánh chiếm vùng đất Mường Muỗi, nay là Thuận Châu, Sơn La. Hiểu rõ tầm quan trọng của vùng đất này đối với lãnh thổ và sự an ngụy của đất nước nên "tháng 12 năm Tân Hợi (1431), vua bèn sai Tư đồ Lê Sát và Quốc vương Tư Tề dẫn quân đánh Mường Lễ. rồi vua lại thân chinh. Năm Nhâm Tý (1432), mùa Xuân tháng Giêng, quan quân đánh được Mường Lễ, Kha Lại bị giêt, Đẽo Cát Hãn chạy trốn, quan quân bắt hết dư đảng, bèn đổi Mường Lễ thành Phục Lễ. Ngày 3 tháng 3, vua kéo quân trở về... Tháng 11, Cát Hãn và con là Mạnh Vượng xin hàng, được nhà vua tha tội. Khi Cát Hãn tới kinh tạ tội, được phong chức Tư Mã"1 (Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Nxb..., tr 92-94).


Sau khi bình định xong, trên đường đại quân quay về Thăng Long, vua Lê Thái Tổ có làm hai bài thơ chữ Hán. Bài thơ thứ nhất có tên Thân chinh Phục Lễ châu Đèo Cát Hãn (tự mình đi đánh Đèo Cát Hãn ở châu Phục Lê) cho khắc trên vách núi Pú Huổi Chỏ (bên tả ngạn sông Đà, thuộc Mường Lễ, nay thuộc xã Lê Lợi, huyện Sình Hồ, tỉnh Lai Châu) và bài thơ thứ hai có tên Chinh Đèo Cát Hãn, quá Long Thủy đê (đi đánh Đèo Cát Hãn trở về, qua đường đê Long Thủy) cho khắc trên vách đá Hào Tráng (gần chợ Bờ, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình ngày nay). Hai bài thơ của vua Lê Thái Tổ khẳng định quyền thống lĩnh của vương triều nhà Lê trên vùng Tây Bắc.


Đến thời Lê - Trịnh, vùng đất này từng là căn cứ địa của thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Hoàng Công Chất (1706- 1769). Ông quê ở Vũ Thư, Thái Bình. Ông dấy nghĩa ở vùng Sơn Nam, nhưng có ngụy cơ thất bại nên năm 1750, ông theo đường núi tiến lên vùng Hưng Hóa. Sau khi bị Lê Đình Châu đánh tan tác, ông rút quân lên động Mãnh Thiên, châu Ninh Biên, tức Mường Thanh, Điện Biên xây dựng căn cứ kháng cự lâu dài. Lúc đầu tạm dựa vào thành Tam Vạn do người Lự xây dựng từ trước, nhưng nhận thấy thành ở địa thế bất lợi nên ông cho xây thành Bản Phủ làm căn cứ. Với những chính sách có lợi cho dân nên Hoàng Công Chất được lòng dân bản địa. Ông đánh tan giặc cướp và phát triển lực lượng ra khắp vùng Tây Bắc. Ông được dân bản địa yêu mến và gọi ông là Vua Hoàng. Ông lâm bệnh nặng và qua đời khi chiến sự với quân Trịnh Sâm đang diễn ra ác liệt.


Hiện nay ở Điện Biên, trong di tích thành Bản Phủ còn có miếu thờ Hoàng Công Chất và 6 viên tướng nổi tiếng của ông là Bun Xao, Cầm Phẳn, anh em Ngãi, Khanh, cha con Cầm Ton, Cầm Phanh (di tích này đã đươc xếp hạng).


Thời chống Pháp cuối thế kỷ XIX, trong phong trào Cần Vương vùng Tây Bắc trở thành căn cứ chống Pháp của Nguyễn Quang Bích, Đốc Ngữ... trong nhiều năm.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Tám, 2023, 09:17:10 am
Ngay sau bình định xong vùng Tây Bắc, thực dân Pháp chưa phân chia vùng này về hành chính, mà thành lập các Đạo quan binh, chẳng hạn như Sơn La và Lai Châu năm 1891 thuộc Đạo quan binh số 4, chủ yếu sử dụng quân đội để cai trị nhằm ổn định vùng Tây Bắc rộng lớn và quan trọng về chiến lược này. Mãi đến năm 1904, người Pháp mới thành lập một đơn vị hành chính cấp tỉnh là Sơn La và năm 1909 thành lập tỉnh Lai Châu.


Cùng với sự hiện diện của lực lượng quân sự Pháp trên vùng đất này, để đảm bảo cho an ninh lâu dài trong vùng, thực dân Pháp bắt đầu quan tâm tới hệ thống đường sá, đầu tiên như một phương tiện quân sự hơn là kinh tế để nhanh chóng di chuyển quân đội đàn áp những cuộc nổi dậy của nhân dân ta. Người Pháp đã từng nhận xét: "Ở những nơi nào mà cùng với đường bộ còn có đường thủy thì đường bộ có giá trị thứ yếu: việc lưu thông trên đường bộ không được bảo đảm, nhất là khi người ta hình dung đến đường dài hoặc trung bình"1 (Jean-Pierre Aumiphin, Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859-1939). Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản. H. 1994, tr. 116-117). Vì thế, người Pháp đầu tiên sử dụng triệt để phương tiện vận tải thủy trên các dòng sông như sông Thao, sông Đà để vận chuyển những hàng hóa, thiết bị nặng và có khối lượng lớn. Khi xây dựng tuyến đường sắt Hải Phòng - Lào Cai - Côn Minh những thiết bị siêu trường, siêu trọng đều được vận chuyển theo đường thủy, đặc biệt là sông Hồng, sông Thao lên đến tận Lào Cai hoặc theo dòng sông Đà ngược lên tận Lai Châu. Với Nghị định ngày 18 tháng 6 năm 1918 do Toàn quyền Đông Dương Anbe Xarô ký, hệ thống đường bộ được sắp xếp thành hệ thống theo tầm quan trọng của nó, bắt đầu từ đường thuộc địa số 1, tức con đường chạy suốt Bắc Nam, theo chiều dài đất nước. Liên quan tới vùng chúng ta đang đề cập tới là con đường thuộc địa số 6, xuất phát từ Hà Nội, thủ phủ của Liên bang Đông Dương lên Hòa Bình, Sơn La, từ đây chia thành hai nhánh: một nhánh chạy sang Lào và một nhánh đi Thuận Châu vượt đèo Pha Đin sang Tuần Giáo, tại đây một ngả rẽ vào Điện Biên Phủ và một ngả đi Lai Châu. Từ Yên Bái theo đường số 13 đi vào Nghĩa Lộ2 (Vấn đê tên các con đường quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ ở vùng này hết sức phức tạp do mỗi thời kỳ có những tên gọi khác nhau. Chẳng hạn như đường quốc lộ số 6 xuất phát từ Hà Nòi có tài liệu cho là chạy lên tới Lai Châu, nhưng cũng có tài liệu cho là chạy đến Hòa Bình, từ Hòa Bình đến Mộc Châu là đường só 41. Chúng tôi dựa theo tài liệu của người Pháp viết trước đây). Đến năm 1922, có thểm những đường đất đi sâu vào nội địa hòa vào một mạng lưới đường sá, từ quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ cùng những đường mòn đi sâu vào các vùng thưa dân nhưng thường là rất phì nhiêu của vùng sâu, vùng xa.


Cùng với đường bộ và đường thủy, vùng đất chiến lược này có thểm một phương tiện giao thông hiện đại đường sắt. Đó chính là tuyến đường sắt Hài Phòng - Côn Minh (Vân Nam), được khởi công từ Hải Phòng cuối thế kỷ XIX qua Hà Nội, lên Việt Trì (1905), Yên Bái và đến Lào Cai (1906), từ đây tiếp tục chạy sang Côn Minh năm 1910. Năm 1912, tuyến đường sắt Hải Phòng - Lào Cai - Côn Minh đi vào khai thác trên toàn tuyến.


Dù vào vùng Tây Bắc với các loại hình giao thông nào đi nữa, nhưng, như Jean - Pierre Aumiphin trong công trình của mình, đã nhận định một cách xác thực: Liên bang Đông Dương chỉ có thể trở thành một thực thể kinh tế và chính trị hữu hiệu với sự phát triển của đường giao thông, và trước hết với các đường bộ"1 (Jean Pierre Aumiphin. Sdd, tr. 119).


Như trên đã nói, vùng đất chiến lược này, người Pháp, sau khi đã chinh phục được, đã áp dụng một chính sách cai trị hết sức thận trọng - từ Đạo quan binh, tức dùng lực lượng quân sự để cai trị sang đơn vị hành chính tỉnh. Đến cuộc đảo chính của phát xít Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân Pháp ở vùng này dưới sự chỉ huy của Alếcxanđri đã chạy sang Trung Quốc. Cho đến khi nước Pháp quyết định tái chiếm Đông Dương, thì tàn quân này quay lại chiếm đóng vùng đất này, biến vùng đất này thành vùng tạm chiếm đầu tiên của Pháp. Trước khi chúng ta tiến quân vào Tây Bắc, trên tất cả những ngả đường vào Tây Bắc, đặc biệt ở những đầu mối giao thông, những giao điểm của các con đường liên tỉnh. Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương đều bố trí các đơn vị quân sự từ cấp đại đội đến tiểu đoàn. Nhìn lên Bản đồ quân sự của Pháp thời này, vùng Tây Bắc được phân chia thành các phân khu và tiểu phân khu, khu phòng thủ (Mộc Châu) và các cứ điểm như cứ điểm Nà Sản, tùy theo tầm quan trọng về quân sự của nó. Lực lượng quân Pháp được bố trí, chốt chặn trên 14 cứ điểm gồm có 8 tiểu đoàn và 43 đại đội với 11 khẩu pháo. Điều đặc biệt cần lưu ý là lực lượng quân địch ở đây phần lớn là ngụy quân: Tiểu đoàn Thái số 1 và 8 đại đội đóng ở Phân khu Nghĩa Lộ; Tiểu đoàn Thái số 2 và 7 đại đội đóng ở Phân khu Sông Đà; Tiểu đoàn Thái số 3 và 14 đại đội đóng ở Phân khu Sơn La; Tiểu đoàn GFOT và 14 đại đội đóng ở Phân khu Lai Châu; một tiểu đoàn ngụy đóng tại Tiểu khu Tuần Giáo. Ngoài lực lượng đó ra, tại đây quân Pháp có 3 tiểu đoàn Âu - Phi đóng chốt tại hai thị xã Sơn La và Lai Châu làm nhiệm vụ cơ động. Nếu vùng này bị uy hiếp về quân sự thì Bộ chỉ huy Pháp sẽ điều động các tiểu đoàn dù đóng ở Hà Nội và sử dụng đường hàng không cơ động đến ứng chiến1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), tập 2. Sđd, tr. 205-206).


Vùng đất Tây Bắc, Bắc Bộ nước ta qua góc nhìn địa - chính trị, địa - quân sự nổi lên vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng nên trong tiến trình lịch sử Việt Nam, nó được các loại chính quyền bằng mọi cách làm chủ và khai thác một cách triệt để nhằm bảo toàn lãnh thổ cương vực quốc gia và an ninh nội địa. Nhận thấy tầm quan trọng về vị trí chiến lược vùng Tây Bắc nên sau khi làm chủ vùng Đông Bắc, một phần vùng trung du Bắc Bộ, dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Chính phủ và Tổng Quân ủy, quân ta không mở chiến dịch theo hướng đồng bằng như Pháp - Mỹ đã từng phán đoán, mà huy động lực lượng tiến công lên Tây Bắc, làm chủ vùng chiến lược rộng lớn này.


Chiến dịch Tây Bắc được khai hỏa vào ngày 14 tháng 10 năm 1952 bằng việc tiến công tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ, đập tan tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Trận đánh mở màn thắng lợi đó báo hiệu sự kết thúc chiến dịch đại thắng của quân ta. Mà thắng lợi quan trọng nhất là ta làm chủ vùng đất chiến lược ở phía Bắc từ Tây sang Đông và cả một vùng trung du rộng lớn, đẩy quân địch vào thế bị động và đối phó, để sau đó không lâu Tướng Giáp đã chủ động tạo ra những cú đấm mạnh, buộc Pháp phải điều động binh lực chạy như đèn cù trên toàn chiến trường Đông Dương và cuối cùng giáng đòn sấm sét ở chiến trường Điện Biên Phủ, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình và công nhận toàn vẹn lãnh thổ nước ta.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 07:39:29 am
SỰ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

PGS, TS NGUYỄN MẠNH HÀ
Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng,
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh


Thắng lợi của chiến dịch tiến công địch đánh ra Hòa Bình trong Đông - Xuân 1951-1952 tiếp tục củng cố và khẳng định quyền chủ động chiến lược của ta trên chiến trường chính Bắc Bộ. Chiến thắng đó cũng khẳng định khả năng và sở trường tác chiến trên địa bàn rừng núi của bộ đội ta. Hòa Bình và các vùng phụ cận được giải phóng đã mỏ toang cánh cửa tiến vào Tây Bắc từ phía Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tác chiến của ta trôn hướng chiến lược trọng yếu này.


Sau chiến dịch Hòa Bình, các đơn vị chủ lực lớn của ta được lệnh củng cố, tiến hành chính Đảng, chỉnh quân, chuẩn bị cho đợt chiến đấu mới. Trong khi đó, ở cấp chiến lược, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh khẩn trương xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952. Trong kế hoạch dự kiến này, hướng tiến công chính được xác định là Tây Bắc Bắc Bộ; đồng bằng Bắc Bộ là hướng chiến lược quan trọng.


Theo đánh giá và nhận định của Trung ương Đảng, cụ thể là của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, thì Tây Bắc là một chiến trường rộng lớn, phía Tây là biên giới Việt - Lào, giáp hai tỉnh Phong Xa Lỳ và Sầm Nưa, phía Đông giáp với căn cứ địa Việt Bắc, phía Bắc là biên giới Việt - Trung, phía Nam là tỉnh Hòa Bình, nối liền với các tỉnh thuộc Liên khu 3, Liên khu 4. Địa hình Tây Bắc chủ yếu là rừng núi hiểm trở, đi lại khó khăn, dân cư ít, chủ yếu là đồng bào các dân tộc ít người sinh sống; kinh tế tự cấp, tự túc, phân tán, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Đây cũng là địa bàn chính quyền kháng chiến còn yếu, cơ sở Đảng, cơ sở chính trị của quần chúng chưa phát triển. Tuy nhiên, đây cũng là nơi có vị trí chiến lược hiểm yếu, nhưng lại là nơi lực lượng địch không đông, lại phải phân tán trên một địa bàn rộng, vì thế có nhiều sơ hở; khi bị quân ta tiến công, nhất định Bộ chỉ huy Pháp phải điều động lực lượng từ các nơi khác đến đối phó.


Nhân dân Tây Bắc có truyền thống yêu nước, cách mạng. Các đội vũ trang tuyên truyền, đội xung phong công tác, các đại đội độc lập hoạt động ở nhiều địa phương, đã phát động được phong trào chiến tranh du kích. Trong chiến dịch tiến công Biên Giới - Thu Đông 1950, quân và dân trên địa bàn đã phối hợp đánh địch, giành thắng lợi ở Đại Bục, Đại Phác, Phố Lu, Phố Ràng, Bản Lầu, Vạn Yên, Nghĩa Lộ, giải phóng một phần Lào Cai...


Lực lượng địch chiếm đóng Tây Bắc chủ yếu là thành phần thuộc "quân đội quốc gia" của Bảo Đại, người dân tộc Thái. Trong số này, Tiểu đoàn Thái số 1 và 8 đại đội đóng giữ Phân khu Nghĩa Lộ; Tiểu đoàn Thái số 2 và 7 đại đội đóng ở Phân khu Sông Đà; Tiểu đoàn Thái số 3 và 14 đại đội đóng ở Phân khu Sơn La; 1 tiểu đoàn ngụy (DAZANO) đóng ở Tiểu khu Tuần Giáo. Lực lượng Âu - Phi có 3 tiểu đoàn 5e, 7e Tabo và 2e RTA đóng tại Sơn La, Lai Châu làm nhiệm vụ cơ động. Bộ chỉ huy Pháp còn bố trí sẵn sàng một số tiểu đoàn dù cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ để tăng viện cho Tây Bắc khi cần, nhằm bảo vệ các vị trí trọng yếu, các tuyến đường số 41 (Hòa Bình - Mộc Châu) và số 13 (Yên Bái - Nghĩa Lộ), uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc và che chở cho Thượng Lào.


Từ tháng 4 năm 1952, nhằm phát huy thắng lợi to lớn đã giành được trong chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh xúc tiến công tác chuẩn bị mở chiến dịch với quyết tâm tiêu diệt quân địch tại đây, giải phóng phần lớn địa bàn Tây Bắc. Các đơn vị tình báo, trinh sát được lệnh bám nắm tình hình địch một cách cụ thể.


Trên cơ sở cân nhắc tình hình địch, khả năng của ta, đồng thời có tính đến những khó khăn cụ thể như: mở chiến dịch ở địa bàn hiểm trở, vận chuyển tiếp tế khó khăn, xa hậu phương đồng bằng hàng trăm kilômét, cơ sở kinh tế nghèo nàn, khả năng huy động nhân lực, vật lực tại chỗ hạn chế... Tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm chỉ huy trưởng chiến dịch. Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng. Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm chính trị. Chủ nhiệm cung cấp là đồng chí Nguyễn Thanh Bình.


Bộ Tổng tham mưu xây dựng kế hoạch tác chiến, dự kiến chia chiến dịch làm hai đợt hoạt động. Đợt 1 tập trung lực lượng tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ, Tiểu khu Phù Yên, áp sát sông Đà, tạo điều kiện cho đợt tiến công thứ 2. Đợt 2, đưa lực lượng tiến sâu vào Tây Bắc, phối hợp các hướng, trong đánh ra, ngoài đánh vào, giải phóng toàn bộ tỉnh Sơn La. Hướng tiến công chủ yếu xác định là Nghĩa Lộ; hướng tiến công thứ yếu là Quỳnh Nhai, Tuần Giáo.


Lực lượng của ta tham gia chiến dịch có các đại đoàn 308, 312, 316 (thiếu 1 trung đoàn); Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148, 6 đại đội sơn pháo 75mm gồm 24 khẩu; 3 đại đội súng cối 120mm gồm 12 khẩu; 3 tiểu đoàn công binh thuộc Trung đoàn công binh 151; Đại đoàn công pháo 351 và 11 đại đội địa phương của các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai. Số lượng vật chất đảm bảo cho chiến dịch dự kiến lên tới 9.000 tấn lương thực, thực phẩm; 120 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men. Số dân công huy động 35.000 người, làm nhiệm vụ tiếp tế, tải thương và sửa chữa đường sá, cầu cống, để đảm bảo cung cấp vật chất, giao thông, hệ thống kho tàng, bến bãi phục vụ chiến dịch một cách đầy đủ, hiệu quả nhất.


Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao nhiệm vụ cho các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc trực tiếp phụ trách phục vụ hướng Nghĩa Lộ; các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nam... trực tiếp phụ trách phục vụ hướng đường số 41 - Sơn La.


Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo cơ quan hậu cần chiến dịch do đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, trực tiếp phụ trách cung cấp tiền phương, chuẩn bị sẵn sàng vật chất, vũ khí, lương thực ở bên tả ngạn sông Hồng để giữ bí mật, bất ngờ, đến khi chiến dịch mở màn sẽ nhanh chóng đưa hàng vượt sóng, bám theo các đơn vị phục vụ tác chiến.


Ngày 6 tháng 9 năm 1952, Bộ Tổng tư lệnh mở hội nghị cán bộ phổ biến kế hoạch tác chiến chiến dịch Tây Bắc. Đồng chí Võ Nguyên Giáp, thay mặt Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chủ trì, phổ biến kế hoạch, nêu lên 3 nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch là: tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, tranh thủ nhân dân. Đây là những nhiệm vụ quan trọng và có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nhiệm vụ chủ yếu, quan trọng nhất là tiêu diệt sinh lực dịch. Đề cập, phân tích từng nhiệm vụ. Đại tướng Tổng tư lệnh nhấn mạnh: ở đồng bằng cũng như ở Tây Bắc, ta đều có điều kiện tiêu diệt dịch, nhưng trên địa bàn Tây Bắc ta có thuận lợi để đánh tập trung và tiêu diệt địch hơn. Ta cần xác định tiêu diệt cả quân cơ động và quân chiếm đóng vì hai lực lượng này đều rất quan trọng. Đối với nhiệm vụ tranh thủ nhân dân, ở đồng bằng và ở Tây Bắc ta đều phải làm nhiệm vụ trọng yếu này, song ở Tây Bắc, việc tranh thủ nhân dân có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng, nhằm làm thất bại âm mưu phá khối đoàn kết, chia rẽ dân tộc của địch. Thực dân Pháp đã từng đề ra và thực hiện âm mưu lập các xứ Tày, Nùng, Mường, Thái tự trị ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Lào Cai, Hòa Bình... nhưng đã bị thất bại. Còn ở Tây Bắc, các lực lượng phản động, thù địch đang khống chế nhân dân các dân tộc còn mạnh, vì thế, chúng ta cần phải tranh thủ nhân dân Tây Bắc để đánh bại âm mưu chia rẽ, chia để trị, âm mưu dùng người Việt đánh người Việt của địch.


Về nhiệm vụ giải phóng đất đai, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng đây là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm thực hiện phương châm có ý nghĩa chiến lược mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, giữ vững giao thông liên lạc quốc tế giữa Lào Cai với Vân Nam  (Trung Quốc) và tạo điều kiện giúp đỡ cách mạng Lào. Nếu giải phóng được đại bộ phận đất đai Tây Bắc, ta sẽ có điều kiện lấy Tây Bắc làm căn cứ đế tác chiến ở đồng bằng và cơ động lực lượng.


Việc đề ra 3 nhiệm vụ chủ yếu, phân tích, nhấn mạnh vị trí, vai trò của từng nhiệm vụ, thể hiện tầm nhìn chiến lược và sự chỉ đạo sắc sảo của Đảng khi quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, coi đây là hướng hoạt động chính trong Thu Đông 1952. Việc xác định đồng bằng Bắc Bộ là hướng chiến lược quan trọng cũng cho thấy Đảng ta đã phân tích thấu đáo, đánh giá đúng so sánh lực lượng địch - ta, khả năng còn hạn chế của bộ đội khi tác chiến ở đồng bằng (qua 3 chiến dịch đánh vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ đầu năm 1951). Đảng chủ trương sử dụng một bộ phận chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh hoạt động nhằm kiềm chế, giam chân địch ở đồng bằng, tạo điều kiện cho các đơn vị tác chiến ở Tây Bắc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 07:40:36 am
Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc. Người dặn dò: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến, và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, còn phải để các chú cân nhắc kỹ, thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm cũng chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống mọi người chiến sĩ. Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên... Gặp thuận lợi thì phải quyết tâm phát triển, gặp khó khăn thì phải quyết tâm khắc phục... Phải quyết tâm chiến đấu, quyết tâm chịu khổ, chịu khó, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm chấp hành chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ. Nghĩa là trong thái độ, trong tư tưởng, trong hành động, trong chiến đấu, bất kỳ mọi việc lớn hay nhỏ đều phải có quyết tâm làm cho bằng được".


Người động viên bộ đội hậu cần: "Anh em bên cung cấp phải có quyết tâm để có lương thực, vũ khí cho bộ đội. Còn bên bộ đội thì phải có quyết tâm: lúc thiếu thốn cũng vui vẻ chịu đựng; lúc cần thì ra sức giúp đỡ anh em cung cấp; lương thực, vũ khí là mồ hôi, nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy phải quý trọng nó, phải tiết kiệm, ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý... Từ đại đoàn trưởng đến tiểu đội trưởng phải đồng cam cộng khổ với anh em chiến sĩ, chăm nom săn sóc giúp đỡ nhau, coi nhau như chân tay, ruột thịt...".


Những căn dặn cụ thể, thiết thực của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên thực tế đã truyền được quyết tâm chiến đấu và chiến thắng của Đảng cho mọi cán bộ, chiến sĩ, động viên khích lệ họ vượt mọi gian khổ, hiểm ngụy, quyết thực hiện nhiệm vụ chiến dịch đề ra.


Sau một thời gian khẩn trương chuẩn bị về lực lượng, kế hoạch tác chiến, cách đánh, chuẩn bị đảm bảo tiếp tế, làm đường, vượt sông, vận chuyển, lập kho trạm, bố trí các đơn vị bảo vệ hậu phương,... ngày 14 tháng 10 năm 1952, bộ đội ta nổ súng mở màn chiến dịch Tây Bắc.


Bộ chỉ huy chiến dịch phân tích: đối với toàn bộ chiến trường Tây Bắc thì Phân khu Nghĩa Lộ vừa là bình phong bảo vệ Tây Bắc của địch, nhưng cũng là bàn đạp của ta để tấn công Tây Bắc. Còn các phân khu Sơn La, Lai Châu bố trí các cứ điểm theo tuyến dài, dọc đường số 41, song song với sông Đà, lực lượng tương đối mỏng yếu. Vì thế, mở màn đợt 1, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tập trung binh lực để tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời tranh thủ tiêu diệt địch ở Tiểu khu Phù Yên, giải phóng hai nơi này, phát triển tiến công tới sát sông Đà, tạo điều kiện tiến đánh Sơn La.


Trước khi tiến công Phân khu - thị trấn Nghĩa Lộ, các đơn vị nổ súng đánh chiếm hai vị trí Ca Vịnh và Sài Lương; quân địch bị bất ngờ, rút bỏ cả Thượng Bằng La, Ba Khe vào hai đêm 15 và 16 tháng 10. Mặc dù Bộ chỉ huy Pháp điều các tiểu đoàn dù từ đồng bằng lên Nà Sản, Tú Lệ nhằm chặn đường tiến công của bộ đội ta, giữ Sơn La và bảo vệ Nghĩa Lộ, nhưng đêm 17 tháng 10 năm 1952, Đại đoàn 308 vẫn sử dụng hai trung đoàn tiến công cả Nghĩa Lộ phố và Nghĩa Lộ đồi (còn gọi là cứ điểm Pú Chạng) giành thắng lợi, phá vỡ một mảng quan trọng tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Lo ngại bị tiêu diệt, một loạt vị trí địch rút chạy về Nà Sản, một số đơn vị rút sang hữu ngạn sông Đà.


Sau 11 ngày đêm liên tục tiến công, đợt 1 chiến dịch đã kết thúc thắng lợi. Bộ chỉ huy Pháp đã phải bở khu vực tả ngạn sông Thao, lặp cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản, tăng cường lực lượng lập tuyến phòng thủ sông Đà và tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Quân số địch ở Tây Bắc tăng lên 16 tiểu đoàn, 32 đại đội, chia nhau đóng giữ trên hai mặt trận chính là Sơn La và Lai Châu, đồng thời Bộ chỉ huy Pháp mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ nhằm kéo giãn chủ lực của ta trên chiến trường Tây Bắc.


Trước những động thái khẩn trương của địch, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh vẫn sáng suốt nhận định: các hành động của địch vừa qua về cơ bản vẫn là bị động đối phó, dù có tăng cường lực lượng cho Tây Bắc hay đánh lên Phú Thọ, cũng là nhằm đối phó với sự chủ động của ta. Những nhược điểm căn bản của địch, đặc biệt là sự bạc nhược về tinh thần, vẫn còn tồn tại, thậm chí nghiêm trọng hơn. Đây là nhận định rất quan trọng về tình thế chiến lược, khẳng định quyết tâm tiếp tục tiến công vào Tây Bắc và giúp Bộ chỉ huy chiến dịch đề ra phương án tác chiến trong đợt 2 một cách hiệu quả, đó là vượt sông Đà, đánh mạnh vào Tiểu khu Mộc Châu, buộc địch phải rút khỏi Phú Thọ. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương tận dụng việc địch phải tập trung đối phó ở Tây Bắc, đánh mạnh ở đồng bằng đang bị sơ hơ để phối hợp với chiến trường chính, và hướng chính nhằm thực hiện bằng được các mục tiêu, nhiệm vụ chiến dịch đã đề ra.


Bộ Tổng tư lệnh một mặt sử dụng lực lượng đối phó với cuộc hành binh Loren, mặt khác lệnh cho các đơn vị bí mật vượt sông Đà, tiến công Mộc Châu và các vị trí xung quanh, phối hợp với Mặt trận Y13 Lai Châu đã nổ súng đánh địch mở màn đợt 2 chiến dịch. Trước đó, tuyến phòng ngự của địch ở cao nguyên Mộc Châu bị lung lay dữ dội, một số cứ điểm rút chạy về Nà Sản. Thừa thắng, bộ đội ta tiến công Thuận Châu, khiến quân địch ở đây và cả ở thị xã Sơn La phải rút về Nà Sản. Như vậy, đến 30 tháng 11, bộ đội ta đã kết thúc đợt 2 chiến dịch, diệt, bắt hơn 3.000 địch giải phóng một vùng đất đai rộng lớn hơn 17.000km, tính Sơn La (trừ Nà Sản) và một phần tỉnh Lai Châu.


Lúc này, Nà Sản đã trở thành nơi tập kết lực lượng địch từ các nơi trên địa bàn Tây Bắc rút về, và là một trong hai nơi (cùng với Lai Châu) ở Tây Bắc còn cứ điểm địch. Tại Nà Sản, Bộ chỉ huy Pháp đã xây dựng một tập đoàn cứ điểm với 17 cứ điểm, tổng số binh lực lên tới 10.000, hình thành 2 vành đai phòng ngự, có sân hay, sở chỉ huy, trận địa pháo binh, hệ thống hầm ngắm, lô cốt được nối bởi hào giao thông, bao quanh là hàng rào thép gai.


Do không nắm đầy đủ tin tức, phân tích, đánh giá tình hình thiếu chính xác, bộ đội thương vong, mệt mỏi nhiều sau 2 đợt tác chiến căng thẳng, dài ngày, địch tổ chức phòng thủ quá mạnh và dày đặc, trong khi bộ đội chưa có kinh nghiệm đánh hình thức phòng ngự tập đoàn cứ điểm, nhưng Đảng ủy chiến dịch họp lại nhận định: địch bị động tập trung về Nà Sản, lâm vào tình thế tiến thoái lường nan, nếu rút thì thất bại rất lớn ở Tây Bắc, lại có thể bị ta tiêu diệt, nếu giữ thì ở trong tình thế cô lập và cũng có thể bị ta tiêu diệt. Từ nhận định đó, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tập trung lực lượng mở đợt tiến công thứ 3 của chiến dịch nhằm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Nà Sản, giành toàn thắng.


Bộ chỉ huy chiến dịch cho rằng trận Nà Sản không phải là cuộc chiến đấu đơn giản, mà là một đợt tác chiến quan trọng hơn những đợt trước.

Lực lượng tham gia đánh Nà Sản lên tới 12 tiểu đoàn của 3 đại đoàn chủ lực đã tổ chức liên tiếp các cuộc tiến công vào các vị trí như Pú Hồng, Bản Vây, Bản Hời, Nà Si... trong nhiều ngày nhưng không thành công, bị thương vong nặng. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch Tây Bắc ngày 10 tháng 12 năm 1952.


Trải qua gần 2 tháng với 3 đợt tác chiến dài ngày, ác liệt, trên một địa bàn rộng lớn, hiểm trở, quân và dân ta đã giành dược thắng lợi cơ bản, đã hoàn thành cả 3 nhiệm vụ đề ra là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai và tranh thủ nhân dân. Chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng tỏ sự đúng đắn và sáng suốt bởi các nhiệm vụ đề ra đã được thực hiện, bởi sự chọn hướng hoạt động chủ yếu là chiến trường Tây Bắc là chính xác - Đó là nơi có vị trí chiến lược, hiểm yếu nhưng địch lại có những điểm yếu, sơ hở, trong khi đó sở trường tác chiến của bộ đội ta lại phát huy được. Với 8/10 diện tích Tây Bắc được giải phóng, cùng với khu căn cứ địa Trung ương Việt Bắc, gần như toàn bộ vùng rừng núi Bắc Bộ đã thuộc quyền kiểm soát của ta. Thế đứng chân của cuộc kháng chiến ngày càng được củng cố vững chắc. Thế chủ động tiến công chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ tiếp tục được giữ vững, đẩy quân địch ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự bị động.


Tuy có sự hạn chế trong chỉ đạo tác chiến đợt 3, đánh vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thành công, nhưng nhìn chung, sự chỉ đạo chiến lược của Đảng trong toàn bộ chiến dịch Tây Bắc đánh dấu sự trưởng thành, dày dạn, quyết đoán và nhạy bén trong khói lửa chiến tranh ngày càng quyết liệt. Những kinh nghiệm chỉ đạo, được rút ra từ chiến dịch Tây Bắc thực sự quý giá, giúp Đảng ta giành được những kết quả to lớn hơn trong chỉ đạo các chiến dịch tiếp sau, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ 18 tháng sau đó, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 07:46:45 am
TẦM NHÌN VÀ TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá, TS LÊ VĂN THÁI
Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Tư tưởng quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Đại úy LÊ MẠNH TIẾN
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Ngay từ đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược nổ ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích dễ hiểu về quy luật chiến tranh và khẳng định cuộc kháng chiến của nhân dân ta dù phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Người, cuộc kháng chiến của ta ngày càng lớn mạnh, tinh thần chiến đấu của quân dân ta ngày càng lên cao. Nhằm thúc đẩy cuộc kháng chiến phát triển lên một bước mới mang tính quyết định, sau chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định chuyến hướng tiến công chủ yếu của bộ đội chủ lực lên Tây Bắc. Đây là chủ trương đúng đắn, thể hiện tầm nhìn và tư tưởng chỉ đạo sáng suốt của cơ quan lãnh đạo kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Tây Bắc là địa bàn chiến lược quan trọng của Bắc Bộ Việt Nam nói riêng, của Bắc Đông Dương nói chung. Phía Tây là biên giới giáp hai tỉnh Phong Xa Lý và Sâm Nưa của Lào. Phía Bắc là biên giới giáp tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Phía Đông là căn cứ địa Việt Bắc. Phía Nam là tỉnh Hòa Bình, nối liền với các tỉnh thuộc Liên khu 3 và Liên khu 4. Phần lớn đất đai vùng này là núi cao, rừng rậm; núi xen kẽ cao nguyên và thung lũng. Đường vào Tây Bắc vừa ít lại phải qua nhiều sông suối. Hai trục đường lớn đi vào là con đường 41 từ Hòa Bình đi vào Mộc Châu và đường 13 từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Với một địa hình như vậy, khi tiến quân vào Tây Bắc, ta thuận lợi trong việc giấu quân, bất ngờ khi tiến công; hạn chế được ưu thế về vũ khí kỹ thuật quân sự của đối phương, khoét sâu chỗ yếu của chúng trong quá trình tác chiến. Hơn nữa ở Tây Bắc, địch tương đối sơ hở, lực lượng của chúng chỉ có 8 tiểu đoàn và 41 đại đội, phân tán trên 144 cứ điểm1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr.364), nên ta có điều kiện tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực đối phương.


Tiến công làm chủ được Tây Bắc, ta không những bảo vệ vững chắc khu đầu não kháng chiến Việt Bắc, tạo thành thế liên hoàn nối liền một dải với hậu phương kháng chiến rộng lớn mà còn có điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu quốc tế, đặc biệt là tăng cường thêm tình đoàn kết chiến đấu Việt - Lào cùng chống kẻ thù chung. Mặt khác, tiến công vào Tây Bắc, thông qua tuyên truyền vận động nhân dân và hoạt động tác chiến, ta không những giải phóng nhân dân và phần lớn đất đai mà còn đập tan mưu đồ chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của thực dân Pháp.


Do chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa quân sự, chính trị to lớn, nên từ tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị xúc tiến công tác chuẩn bị và sự chuẩn bị cho chiến dịch đó phải khẩn trương chu đáo về mọi mặt, trong đó chú trọng đến vấn đề xây dựng phương án tác chiến và kế hoạch hậu cần.


Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu nhanh chóng triển khai lập phương án tác chiến. Qua nghiên cứu, Bộ Tổng tham mưu dự kiến chia chiến dịch làm ba đợt: Đợt 1, tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho một bộ phận chủ lực thâm nhập vùng Quỳnh Nhai phối hợp với bộ đội địa phương kiềm chế địch; đợt 2, nhanh chóng đánh Sơn La kết hợp với việc cắt đường 41 và hoạt động ở vùng sau lưng địch để cô lập Sơn La; đợt 3, tiến công Sơn La1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Viẻt Nam, Tóm tát cac chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2000, tr.390). Để phân tán lực lượng đối phương, ta tổ chức nghi binh ở Bắc Giang, Phúc Yên và giao nhiệm vụ cho các tỉnh tả ngạn, hữu ngạn sông Hồng tích cực hoạt động phối hợp. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm các đại đoàn 308 (3 trung đoàn), 312 (3 trung đoàn), 316 (2 trung đoàn), Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148; 6 đại đội sơn pháo 75mm, 3 đại đội cối 120mm, ba tiểu đoàn thuộc Trung đoàn công binh 151, Đại đoàn công pháo 351 và 11 đại đội bộ đội địa phương Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai. Hoạt động vùng sau lưng địch ở Liên khu 3 là các đại đoàn 320, 304.


Về hậu cần, dự kiến lượng vật chất đảm bảo cho chiến dịch khoảng 9.000 tấn lương thực, thực phẩm, 120 tấn vũ khí, đạn và dụng cụ thuốc men. Để vận chuyển lượng vật chất đó từ hậu phương ra tiền tuyến cần huy động khoảng 35.000 dân công1 (Bộ Quốc phòng. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tạp 2. Nxb Quân đội nhân dân. H. tr.206).


Trước nhu cầu về nhân lực, vật lực phục vụ chiến dịch, Chính phủ giao các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La... trực tiếp phục vụ hướng đường 41 Sơn La; các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái trực tiếp phục vụ hướng Nghĩa Lộ. Để tạo điều kiện cho công tác huy động dân công được thuận lợi, Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về huy động và sử dụng dân công. Điều lệ quy định chế độ làm việc và tiêu chuẩn tính công cho dân công gánh trên đường rừng núi. Bộ Tổng tư lệnh phân công đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp trực tiếp phụ trách cung cấp tiền phương, đồng thời lệnh cho cơ quan đảm bảo hậu cần không được chuyển vật phẩm lên trước lập chân hàng mà phải chuẩn bị ở tả ngạn sông Hồng, khi chiến dịch mở màn mới tổ chức vận chuyển theo sát các mục tiêu tiến công nhằm đảm bảo bí mật, bất ngờ cho chiến dịch.


Trong không khí khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch, ngày 24 tháng 6 năm 1952, Tổng Quân ủy tổ chức Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất. Đến dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ bổn phận của cán bộ cung cấp "là phục vụ chiến sĩ đi đánh giặc và những người dân công đi giúp chiến dịch. Đối với chiến sĩ phải săn sóc họ, làm sao cho họ đã ăn, đủ mặc, đủ súng, đủ thuốc. Đối với dân công cũng phải như vậy, nếu để họ đói, họ ốm, ảnh hưởng đến công tác của các chú trước, rồi ảnh hưởng đến cả chiến dịch. Các chú phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc một tấc vải, phải đi thẳng đến chiến sĩ"1 (Hồ Chí Minh - Những bài viết và nói về quân sự, tập 2. Nxb Quân đội nhân dân. H 1987, tr 146). Tiếp đó, nhằm tăng cường hoạt động quân sự sau lưng địch phối hợp với chiến trường Tây Bắc, từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 15 tháng 8, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy tổ chức Hội nghị chiến tranh du kích Bắc Bộ. Phát biểu tại hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Trước hết nội bộ, tức là quân, dân, chính, Đảng phái đoàn kết chặt chẽ... Phải nghiên cứu kỹ, áp dụng đúng và triệt để thi hành những chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương và của Chính phủ. Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lây dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám sát lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu... Bộ đội chủ lực trong địch hậu có nhiệm vụ giúp đỡ bộ đội địa phương và dân quân du kích về tổ chức, huấn luyện mọi mặt, giúp đỡ chứ không bao biện. Hơn nữa phải giúp đỡ cả nhân dân..."2 (Hồ Chí Minh. Toàn tập. tập 6 (1950 - 1952). Nxb Chính trị quốc gia. H 2009. tr 525).


Tây Bắc là địa bàn chiến lược quan trọng nhưng dân cư thưa, lúc đó chỉ có khoảng 14 vạn dân gồm nhiều đồng bào dân tộc thiểu số3 (Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952). Nxb Quân đội nhân dân. H 1992. tr 12). Để động viên nhân dân ủng hộ, hăng hái tham gia kháng chiến nhiều hơn nữa, tháng 8 nủm 1952, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về chính sách vận động dân tộc ít người. Cũng trong tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự tay soạn thảo "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Dân chủ cộng hòa Việt Nam" (công bố ngày 9-9). Đây là những quy định cụ thể nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản, nghề nghiệp của nhân dân; xử lý tài sản của giặc Pháp và bọn phản quốc; bảo vệ chùa chiền, nhà thờ, trường học, bệnh viện và các cơ quan văn hóa, xã hội; bảo vệ tính mạng, tài sản của kiều dân nước ngoài; giữ gìn trật tự trị an; thưởng người có công, phạt người có tội; tổ chức lại nhân dân để tăng gia sản xuất và để giúp chính quyền, quân đội. Tinh thần cơ bản của Tám điều mệnh lệnh là "Giải phóng cho đồng bào khỏi ách nô lệ và giúp đỡ đồng bào xây dựng một đời sống tự do, sung sướng hơn"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sđd, tr. 564-567).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 07:48:27 am
Cuối tháng 8 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày kế hoạch tác chiến chiến dịch Tây Bắc. Cuối buổi làm việc, Người chỉ rõ: "Đây là lần đầu tiên ta mở chiến dịch lớn, địa hình hiểm trở; cần nắm chắc địa hình và chú trọng thực hiện đúng chính sách dân tộc, giúp đỡ đồng bào dân tộc, bộ đội phải giữ kỷ luật dân vận''2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hồ Chí Minh - Biên niên sự kiện quân sự (1919 - 1969), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2011, tr. 360).


Đầu tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm mục đích: "Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, Toàn tập. tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 304). Ngày 9 tháng 9, Bộ Chính trị và Người quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch, chỉ định các đồng chí: Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng, Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm chính trị, Nguyễn Thanh Bình - Chủ nhiệm Cung cấp. Cũng trong ngày 9 tháng 9, mặc dù trời mưa to, lại phải qua con suối nước chảy mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vượt qua con suối đến dự Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc do Bộ Tổng tư lệnh tổ chức. Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Người nhấn mạnh: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi, Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, còn phái để các chú cân nhắc kỹ thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm cũng chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống đến mọi người chiến sĩ. Quyết tâm đó từ Trung ương qua các chú mà đến người chiến sĩ. Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên... Phải quyết tâm chiến đấu, quyết tâm chịu khổ, chịu khó, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm chấp hành chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ. Nghĩa là trong thái độ, trong tư tưởng, trong hành động, trong chiến đấu, bất kỳ một việc lớn hay nhỏ đều phải có quyết tâm làm cho bằng được"1 (Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 6, Sdd. tr. 558). Biết công tác đảm bảo hậu cần chiến dịch rất khó khăn vì địa bàn tác chiến xa hậu phương Việt Bắc và Thanh - Nghệ - Tĩnh nên Người càn dặn: Cán bộ, chiến sĩ bên cung cấp phải có quyết tâm để có đủ lương thực, vũ khí cho bộ đội. Còn bên bộ đội thì phải có quyết tâm chịu đựng lúc thiếu thốn, lúc cần thì ra sức giúp đỡ anh em cung cấp. Phải quán triệt sâu sắc rằng "lương thực, vũ khí là mồ hôi, nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy phải quý trọng nó, phải tiết kiệm, ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6. Sđd, tr. 559, 560, 573, 575), về chính sách đối với đồng bào thiểu số "Chính phủ đã có quy định, các chú và bộ đội phải làm đúng. Đó là một cách tranh thủ nhân dân để phá tan âm mưu của địch "lấy người Việt hại người Việt". Phải làm cho mỗi chiến sĩ là một người tuyên truyền"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6. Sđd, tr. 559, 560, 573, 575).


Sau Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc, các đơn vị phấn khởi xuất quân với quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi. Ngày 1 tháng 10 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai bức thư đến bộ đội và dân công. Trong "Thư gửi các cán bộ và chiến sĩ chiến dịch Tây Bắc" Người nhấn mạnh: Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng. Các chú phải đánh cho thắng. Tất cả cán bộ và chiến sĩ đều phải: Quyết tâm chiến đấu, triệt để chấp hành mệnh lệnh; bền bỉ, dẻo dai khắc phục mọi khó khăn, gian khổ; thương dân, trọng dân và tốt với dân; tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giành cho được toàn thắng3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6. Sđd, tr. 559, 560, 573, 575). Trong "Thư gửi các chiến sĩ dân công ở Mặt trận Tây Bắc" Người khẳng định: Các cô, các chú cũng là chiến sĩ, cũng có công như các chiến sĩ... Tất cả các cô, các chú đều phải: Quyết tâm làm tròn nhiệm vụ phục vụ bộ đội... khắc phục mọi khó khăn; đảm bảo việc cung cấp đầy đủ cho bộ đội; cùng bộ đội giành toàn thắng cho chiến dịch"4 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6. Sđd, tr. 559, 560, 573, 575).


Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc cũng như trong hai bức thư gửi cán bộ, chiến sĩ và dân công ở Mặt trận Tây Bắc cổ vũ mạnh mẽ các lực lượng tham gia chiến dịch quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.


Trên cơ sở chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc mở màn. Trải qua gần hai tháng chiến đấu, quân dân ta tiêu diệt các vị trí của địch từ sông Thao đến tả ngạn sông Đà; tiếp đó vượt sông Đà giải phóng một vùng rộng lớn từ Mộc Châu đến Điện Biên Phủ, đồng thời đánh bại cuộc hành quân của địch lên hậu phương chiến dịch ở Phú Thọ, Tuyên Quang. Ngày 10 tháng 12 năm 1952, ta chủ động kết thúc chiến dịch. Trong chiến dịch này ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch (nếu tính cả trung du và đồng bằng thì ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 13.800 tên), giải phóng 28.500km2 với 25 vạn dân; đập tan âm mưu củng cố "Xứ Thái tự trị", "Xứ Nùng tự trị" của Pháp.


Theo dõi sát diễn biến chiến sự ở Mặt trận Tây Bắc và đồng bằng. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi bộ đội và dân công: "Bác được tin các chú, các cô thắng trận, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, giải phóng đồng bào và một phần đất đai Tây Bắc, đánh du kích mạnh ở đồng bằng... Chiến dịch này các cô, các chú quyết tâm từ trên xuống dưới: bộ đội thì quyết tâm chiến đấu, dân công thì quyết tâm phục vụ, chịu gian khổ nhiều. Đơn vị nào, đoàn nào cũng có thành tích"1 (Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 6, Sđd. tr.590). Ngày 29 tháng 1 năm 1953, tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ biểu dương cán bộ, chiến sĩ, dân công, Người nói: "Trung ương, Chính phủ khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ. Trung ương, Chính phủ, Bác bằng lòng các chú, lần này chưa phải hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước"2 (Những tài liệu chỉ đạo chiến dịch của Trung ương Đảng. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 1963. tập 4. tr. 419).


Chiến thắng của quân và dân ta trong chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa chiến lược về quân sự, chính trị, kinh tế. Chiến thắng đó bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trước hết là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Người, quân và dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, chiến đấu anh dũng, giành thắng lợi vẻ vang; tạo đà cho những thắng lợi tiếp theo trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 07:56:51 am
CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC (1952) - MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Trung tướng MAI QUANG PHẤN
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Quân đội nhân dân Việt Nam


Thắng lợi của chiến dịch Hoà Bình - Đông Xuân 1951-1952 đã làm thay đổi cục diện trên chiến trường chính Bắc Bộ có lợi cho ta. Cùng với thắng lợi đó, bộ đội ta đã khẩn trương tiến hành tổng kết kinh nghiệm tác chiến chiến dịch. Từ tháng 5 năm 1952, các đơn vị đã bước vào chỉnh huấn chính trị nhằm nâng cao nhận thức và trình độ giác ngộ ý thức dân tộc và ý thức giai cấp. Đây là cuộc chỉnh huấn chính trị tập trung lớn nhất của quân đội ta kể từ khi thành lập. Cuộc chỉnh huấn chính trị kết thúc, các đơn vị lại chuyển ngay sang cuộc chỉnh huấn quân sự. Cùng với các cuộc chỉnh huấn nói trên, các đơn vị chủ lực còn được tiến hành chấn chỉnh tổ chức biên chế, trang bị và thực hiện Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng về "Tổ chức Đảng trong bộ đội chủ lực" trong toàn quân từ ngày 1 tháng 7 năm 1952.


Để phát huy thắng lợi đã giành được và kết quả của các cuộc chỉnh huấn, đồng thời từ kinh nghiệm chọn hướng chiến lược qua chiến dịch Hòa bình, Tổng Quân ủy nhận định chiến trường Tây Bắc có tầm chiến lược quan trọng, là địa bàn ta có nhiều điều kiện để tác chiến tập trung tiêu diệt lớn sinh lực địch và lúc này không có hướng nào địch yếu như Tây Bắc.


Tây Bắc là một vùng chiến lược quan trọng của thực dân Pháp. Từ đây có thể uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc và che chở cho Thượng Lào. Trên địa bàn chiến dịch, địch chia làm bốn phân khu gồm: Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La; và ba tiểu khu độc lập là: Thuận Châu, Phù Yên và Tuần Giáo. Nhân dân Tây Bắc chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, kinh tế nghèo nàn, cơ sở chính trị non yếu, đường vận chuyển tiếp tế khó khăn, khả năng huy động nhân lực, vật lực tại chỗ rất hạn chế.


Đầu tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm: "Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc, giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc". Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch mở màn và được tiến hành qua ba đợt: Đợt 1, tấn công Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên; đợt 2, tấn công chủ yếu vượt sông Đà, đánh vào khu phòng thủ của địch trên cao nguyên Mộc Châu; đợt 3, tấn công Sơn La. Sau gần hai tháng chiến đấu quyết liệt, chiến dịch đã kết thúc thắng lợi to lớn. Địch bị tiêu diệt 13.800 tên ở cả hai mặt trận Tây Bắc và đồng bằng. Nhiều tiểu đoàn, đại đội thuộc các binh đoàn cơ động của địch bị tiêu diệt gọn. Nhiều tên chỉ huy phân khu, tiểu khu, đồn trưởng tham chiến lâu năm ở Tây Bắc đã bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống. Hầu hết quân ngụy người địa phương, chỗ dựa của địch để chiếm đóng Tây Bắc bị tan rã. Tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản), bốn huyện phía Nam Lai Châu, hai huyện phía Tây Yên Bái rộng 28.000km2 với 25 vạn dân được giải phóng. Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng và củng cố thêm vững chắc. Sau chiến thắng Tây Bắc, cách mạng Việt Nam có điều kiện phối hợp thuận lợi hơn với cách mạng Lào.


Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, cả khách quan và chủ quan, trong đó có vai trò rất quan trọng của công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch. Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch Tây Bắc có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm chủ yếu sau:

Một là, quán triệt sâu sắc chủ trương, quyết tâm của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, ra chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị đúng đắn, kịp thời.

Đây là bài học kinh nghiệm hàng đầu đối với hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong tác chiến chiến dịch. Khác với các chiến dịch trước đó, chiến dịch Tây Bắc diễn ra trên một địa bàn rộng lớn, rừng núi hiểm trở, việc cơ động của bộ đội và công tác bảo đảm cho chiến đấu, cứu chữa thương, bệnh binh gặp rất nhiều khó khăn. Hơn nữa, nơi đây chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Vì vậy, việc quán triệt sâu sắc chủ trương, quyết tâm của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, ra chỉ thị công tác Đảng, công tác chính trị đúng đắn, kịp thời là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết.


Ngay sau khi Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc, từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh đã tổ chức Hội nghị cán bộ chiến dịch Tây Bắc. Hội nghị vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự và nói chuyện. Hội nghị tập trung thảo luận và quyết định nhiều vấn đề quan trọng nhằm bảo đảm cho chiến dịch thắng lợi.


Về mục đích của chiến dịch, Hội nghị nhất trí ba vấn đề lớn đã được Bộ Chính trị xác định là: "Tiêu diệt sinh lực địch - Tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc - Giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc". Hội nghị cho rằng, ba nhiệm vụ này bao gồm cả nội dung quân sự và chính trị, có quan hệ mật thiết với nhau và đều quan trọng, trong đó, tiêu diệt sinh lực địch mới giành được dân và giải phóng được đất đai, làm cho chiến dịch thắng lợi to lớn, tạo điều kiện và cơ sở vững chắc để thúc đẩy kháng chiến mau thành công.


Về chủ trương tác chiến được Tổng Quân ủy xác định là: Tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, sau đó hết sức tranh thủ thời gian tiến quân ngay lên Sơn La để nhanh chóng tiêu diệt địch, giải phóng Sơn La. Trong mọi trường hợp, dù phải tác chiến hai hay ba bước, nhưng tinh thần của Tổng Quân ủy là quyết tâm giải phóng Sơn La.


Tổng Quân ủy chỉ rõ những việc cần chú ý trong chỉ đạo tổ chức hoạt động công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch phải nắm vững là: Chiến dịch này thời gian dài, bộ đội phải liên tục chiến đấu, cho nên về tổ chức, phải được bổ sung chấn chỉnh một cách nhanh chóng. Phải chuẩn bị sẵn tân binh và cán bộ để kịp thời bổ sung. Phải chú trọng chăm sóc thương binh và bệnh binh để họ mau trở về đơn vị chiến đấu...


Quán triệt sâu sắc và nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, quyết tâm của Đảng, Tổng Quân ủy, ngày 19 tháng 9 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra "Chỉ thị về công tác chính trị chiến dịch Thu Đông 1952" nêu rõ những công việc cụ thể cần thực hiện như: "A. Động viên sâu rộng, nhiều lần và kế tiếp để làm cho thấm nhuần quyết tâm tứ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, làm cho ai nấy đều hăng hái, phấn khởi, tích cực hoàn thành nhiệm vụ của mình; B. Bảo đảm cung cấp kịp thời, tìm đủ mọi cách tăng cường công tác cung cấp, hết sức giúp đỡ, động viên ngành cung cấp, làm cho bộ đội luôn luôn được khỏe mạnh để củng cố sức chiến đấu; C. Bảo đảm chiến thuật được hoàn thành, kết hợp với kỹ thuật...; D. Bảo đảm chấp hành chính sách dân tộc thiểu số của Trung ương và kiên quyết thi hành 8 điều mệnh lệnh của Hồ Chủ tịch (tức là giữ vững kỷ luật của quần chúng); E. Hoàn thành công tác ngụy vận, làm đúng chính sách tù, hàng binh để mở đường tốt đẹp cho công việc tranh thủ nhân dân...; F. Tăng cường công tác chính sách đối với dân công...; G. Nâng cao tinh thần thương yêu nhau ngoài mặt trận, giải quyết chu đáo công tác thương binh..."1 (Công tác chính trị chiến dịch. tập 3, phần VIII, Tổng cục Chính trị, H 1959, tr 43).


Chỉ thị còn yêu cầu các cấp ủy phải thảo luận kỹ lưỡng để hiểu rõ quyết tâm của Trung ương và bàn kỹ về công tác lãnh đạo; đồng thời phải làm như thế nào để động viên các cấp ủy dưới, nhất là cấp chi bộ hoàn thành nhiệm vụ.


Cùng với chỉ thị chung, cơ quan chính trị chiến dịch còn ra những chỉ thị, hướng dẫn chuyên ngành, đi sâu vào lãnh đạo đảm bảo các mặt, các khâu công tác chuyên môn như: "Chuẩn bị công tác chính trị chiến dịch Tây Bắc của các ban, ngành trong cơ quan chính trị", "Chỉ thị về công tác chính trị đối với dân công phục vụ tiền tuyến", "Chỉ thị về thưởng, phạt trong Thu Đông 1952", "Chỉ thị về mấy vấn đề trong phong trào anh hùng và chiến sĩ thi đua",...


Chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị đúng đắn, kịp thời, toàn diện là yếu tố hết sức quan trọng để cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức tốt việc giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ được Trung ương, Tổng Quân ủy giao. Vấn đề này cần được nghiên cứu, vận dụng, bổ sung, phát triển trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nêu xảy ra.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 07:59:51 am
Hai là, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, động viên cổ vũ kịp thời tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, bền bỉ, dẻo dai của bộ đội trong cả quá trình diễn ra chiến dịch.


Quán triệt quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin: "Trong mọi cuộc Chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường, lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của anh em là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng những khó khăn chưa từng thấy"1 (V. I. Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ. M. 1977, tr. 147). Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 560).


Xuất phát từ đặc điểm tình hình địch, ta, địa hình, thời tiết; mục tiêu nhiệm vụ của chiến dịch và quyết tâm của Tổng Quân ủy; kế thừa kinh nghiệm của các chiến dịch trước đó, ngay trong Hội nghị cán bộ chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huấn thị: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến, và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, cần phải để các chú cân nhắc kỹ thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm cũng chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống đến mọi người chiến sĩ". "Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên". "Gặp thuận lợi thì phải quyết tâm phát triển, gặp khó khăn thì phải quyết tâm khắc phục". "Phải quyết tâm chiến đấu, quyết tâm chịu khổ, chịu khó, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm chấp hành chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ. Nghĩa là trong thái độ, trong tư tưởng, trong hành động, trong chiến đấu, bất kỳ mọi việc lớn hay việc nhỏ đều phải có quyết tâm làm cho bằng được"1 (Hồ Chí Minh, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1972, tr. 272 - 273).


Thực hiện lời huấn thị của Bác, hội nghị đã xác định: Về tư tưởng, cần thấy rõ tất cả những khó khăn của vấn đề lãnh đạo tư tưởng trong liên tục chiến đấu. Phải có dự kiến và bám sát diễn biến để lãnh đạo kịp thời, đề phòng những tư tưởng thắng thì chủ quan, tự mãn, bại thì bi quan dao động; đề phòng những tư tưởng lo ngại thương vong, lo ngại cho việc xây dựng đơn vị, phải thấy rõ rằng chịu đựng gian khổ và liên tục tác chiến là cách rèn luyện tốt nhất cho đơn vị. Công tác chính trị phải lãnh đạo đảm bảo thực hiện tốt về chỉ đạo chiến thuật là: Bảo đảm hành quân nhanh chóng, bao vây chặt, truy kích đến cùng, tiêu diệt gọn... Nói tóm lại, việc lãnh đạo tư tưởng cần làm cho thấu triệt quyết tâm, động viên liên tục chiến đấu, phát huy đến cùng tinh thần khắc phục khó khăn, chịu dựng gian khổ. Đối với dân thì bảo đảm giữ vững kỷ luật chính trị, đối với đơn vị bạn thì giữ đúng tinh thần đoàn kết phối hợp. Đó là một bảo đảm rất quan trọng cho chiến dịch được thành công.


Nắm vững chủ trương của Tổng Quân ủy, Chỉ thị của Tổng cục Chính trị, cơ quan chính trị khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức phổ biến quán triệt mục đích ý nghĩa, yêu cầu về lãnh đạo và chỉ huy đối với mọi tư tưởng và hành động của bộ đội trước, trong và sau chiến dịch. Tiến hành học tập thấu suốt chỉ thị của Đảng về "Thi hành chính sách dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc", "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà" về chính sách dân vận trong chiến dịch, "Huấn thị của Hồ Chủ tịch tại Hội nghị cán bộ chính trị chiến dịch Tây Bắc"...


Nhờ làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng nên cán bộ, chiến sĩ trên hướng tấn công chủ yếu cũng như thứ yếu, trực tiếp chiến đấu cũng như bảo đảm, lúc thuận lợi cũng như khó khăn... đều xác định tốt nhiệm vụ, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của từng trận đánh và cả chiến dịch, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ.


Thực tiễn trên chiến trường sau thắng lợi đợt 1, bộ đội ta bước vào chuẩn bị tấn công đợt 2 bên hữu ngạn sông Đà. Lúc này địch thấy nguy cơ mất Tây Bắc nên chúng đã điều lực lượng cơ động đến tăng viện lên tới 10 tiểu đoàn Âu - Phi, xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm mạnh và lập cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản. Đồng thời, để đỡ đòn cho Mặt trận Tây Bắc, địch đã tập trung 12 tiểu đoàn bộ binh và dù cùng nhiều phân đội hoả lực mạnh đánh sâu vào hậu phương ta ở Phú Thọ - Đoan Hùng, hòng uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc, kéo lực lượng chủ lực của ta từ Tây Bắc về, làm giảm sức mạnh và nhịp độ tấn công của ta trên hướng chính, để chúng xoay xở đối phó lại kế hoạch Thu Đông của ta.


Đây là một tình huống hết sức phức tạp, ảnh hướng đến quyết tâm chiến lược. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo hết sức sáng suốt của Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch, cùng với công tác quân sự và các mặt công tác khác, công tác giáo dục chính trị tư tưởng đã kịp thời động viên bộ đội tuyệt đối phục tùng chỉ huy, khẩn trương cơ động lực lượng, triển khai đội hình chiến đấu, giữ vững quyết tâm thực hiện thắng lợi đợt 2 chiến dịch.


Bài học về công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng trong chiến dịch Tây Bắc vẫn còn nguyên giá trị đối với hiện nay, nhất là trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với nhân dân ta.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 08:03:17 am
Ba là, chủ động, kịp thời củng cố kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng lãnh đạo, chỉ huy, đặc biệt chú trọng các đơn vị tác chiến trên hướng chủ yếu.

Quy mô của chiến dịch Tây Bắc lớn, chiến đấu khốc liệt; mọi mặt công tác quân sự, chính trị, tư tưởng và tổ chức càng trở nên phức tạp. Đó là đòi hòi khách quan phải không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, của các cấp ủy đang từ Tổng Quân ủy đến các chi bộ; phải kịp thời củng cố, kiện toàn tổ chức cả trước, trong và sau chiến dịch.


Một vấn đề hết sức quan trọng liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chiến dịch là: Đầu tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng ra Nghị quyết về tổ chức Đảng trong bộ đội chủ lực. Nghị quyết chỉ rõ: "Khi có chiến dịch lớn và cần thiết thì sẽ tổ chức ra Đảng ủy mặt trận do Trung ương chỉ định"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia. H. 2001, tr. 191). Tiếp đó, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng ra Nghị quyết thành lập Khu ủy Tây Bắc và xác định: "Khu ủy Tây Bắc chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng Quân ủy về những công tác có liên quan đến việc chuẩn bị và thực hiện kế hoạch quân sự trong khu này"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13. Sđd, tr. 211); "Công tác trọng tâm của Khu ủy hướng vào việc chuẩn bị chiến trường, đồng thời chuẩn bị và xây dựng các căn cứ du kích và thu hồi các vùng được giải phóng"3 (Đảng Cộng sàn Việt Nam. Văn kiện Đảng. Toàn tập, tập 13, Sđd, tr. 212).


Đầu tháng 10 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch gồm: Đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng; đồng chí Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng; đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Chính trị; đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Chủ nhiệm Cung cấp.


Cùng với các nghị quyết, quyết định quan trọng của Trung ương Đảng, trong Chỉ thị về công tác chính trị chiến dịch của Tổng cục Chính trị còn nêu rõ: "... Phải phát huy cho được sức mạnh của công tác lãnh đạo của chi bộ, nghĩa là tất cả mọi quyết tâm và kế hoạch của thượng cấp đều nhờ sự lãnh đạo của chi bộ mà được hoàn thành"4 (Công tác chính trị chiến dịch, tập 3. phần VIII, Sđd, tr. 51).


Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị trên, công tác xây dựng, củng cố kiện toàn tổ chức đảng, chỉ huy được tiến hành hết sức khẩn trương phù hợp với biên chế tổ chức các đơn vị tham gia chiến dịch. Guồng máy hoạt động chuẩn bị cho chiến dịch làm việc liên tục ngày đêm và đạt kết quả tốt ngay từ khi chuyển quân từ hậu phương ra tiền tuyến, mở đường vận tải bảo đảm cung cấp chiến dịch đều khẩn trương, giữ bí mật, an toàn mặc dù vô cùng gian nan vất vả. Việc củng cố kiện toàn tổ chức lãnh đạo, chỉ huy được tiến hành chặt chẽ, kịp thời trong các đợt tấn công của chiến dịch, cũng như kết thúc chiến dịch, trọng tâm là các đơn vị tác chiến trên hướng chủ yếu như: các đại đoàn 308, 312, 316; Đại đoàn công pháo 351, Trung đoàn bộ binh 148... Nhờ đó, quyết tâm chiến đấu của Bộ chỉ huy được giữ vững ngay trong những lúc khó khăn, quyết liệt nhất.


Diễn biến và kết quả thắng lợi to lớn của chiến dịch Tây Bắc đã chứng minh việc củng cố, kiện toàn tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, biên chế tổ chức các đơn vị; sự phối hợp giữa các đơn vị trên các chiến trường, trên hướng chiến lược, chú trọng các đơn vị chủ lực, trên hướng chính và hướng nghi binh sau lưng địch. Trong Thông báo của Ban Bí thư về chiến thắng Tây Bắc đã nêu rõ: "Các chiến trường phối hợp đánh khá, đã chia xẻ được lực lượng địch. Đặc biệt, ta điều động một đơn vị chủ lực ở Tây Bắc về tác chiến ở Phú Thọ, có thể đã khiến địch hiểu lầm đại bộ phận chủ lực của ta đã rút về và phán đoán sai kế hoạch đợt 2 ở Tây Bắc"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng. Toàn tập, tập 14. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr. 4).


Bài học về chủ động, kịp thời củng cố kiện toàn tổ chức lãnh đạo, chỉ huy trong chiến dịch Tây Bắc được nghiên cứu, vận dụng, kế thừa và phát huy trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 08:04:08 am
Bốn là, tích cực, chủ động làm tốt công tác dân vận, địch vận; phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân.

Xuất phát từ đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng. Để huy động một lực lượng lớn dân công, cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương cho chiến dịch, bước vào thời kỳ chuẩn bị cho chiến dịch, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị liên quan đến công tác dân vận, địch vận, huy động sức mạnh tổng hợp cho chiến tranh nhân dân. Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của trên, các đơn vị tham gia chiến dịch đã tăng cường giáo dục về quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng, cụ thể hóa trong việc hướng dẫn cán bộ, chiến sĩ về công tác dân vận, địch vận; chủ trương liên hệ, phối hợp, thống nhất với cấp ủy, chính quyền địa phương trong các hoạt động phá tề, trừ gian, diệt đồn bốt... cả trước, trong và sau chiến dịch. Các đơn vị chủ lực còn tích cực tham gia xây dựng cơ sở, dìu dắt, giáo dục huấn luyện trang bị cho lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương có nhận thức đúng đắn về mục đích của chiến dịch, phương châm tác chiến, cách đánh của ta và âm mưu, thủ đoạn của địch thực hiện chiến lược xây dựng "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị" ở Tây Bắc, dùng người Việt đánh người Việt. Nhò đó, ta đã huy động được một lực lượng lớn dân công tham gia làm đường, sửa đường vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men,... phục vụ chiến dịch; phong trào du kích phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hêt; tình cảm quân dân nhất trí và cùng quyết tâm cao thực hiện thắng lợi chiến dịch.


Công tác địch vận cũng dược các đơn vị quan tâm qua rút kinh nghiệm của các chiến dịch trước. Quán triệt chủ trương của trên, các đơn vị đã thống nhất kế hoạch và hành động giữa tác chiến và địch vận trong quá trình phát triển chiến đấu. Do nhận thức đúng đắn tác dụng của công tác địch vận và biết nắm thời cơ tiến hành, nên các đon vị chủ lực của ta đã áp sát địch, triển khai đội hình tấn công mà vẫn giữ được bí mật. Ta vừa đánh vừa kêu gọi binh lính địch đầu hàng, tiêu biểu như trận chiến đấu tấn công vào Phân khu Nghĩa Lộ và một số nơi khác.


Đánh giá về kết quả đạt được của công tác dân vận, địch vận, trong Báo cáo của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chiến dịch Tây Bắc đã chỉ rõ: "Chính sách dân tộc thiếu số đúng của Đảng và Tám điều mệnh lệnh của Hồ Chủ tịch đã làm cơ sở cho công tác chính trị của ta được thắng lợi đối với nhân dân địa phương, đã huy động được họ ủng hộ bộ đội và làm tan rã ảnh hưởng của địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, Toàn tập. tập 14, Nxb Chính trị quốc gia. H 2001. tr. 4).


Bài học kinh nghiệm về công tác dân vận, địch vận trong chiến dịch Tây Bắc, sau này đã được Đáng, Nhà nước, Quân đội kế thừa và phát triển sáng tạo trong chiến dịch Điện Biên Phủ, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc cách đây 60 năm, nhưng những bài học kinh nghiệm về hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch vẫn còn nguyên giá trị. Nắm vững những bài học đó, vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển trong xây đựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị các cấp trong toàn quân cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau:

Thứ nhất, quán triệt sâu sắc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Quản ủy Trung ương, chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chủ động, kịp thời ra chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị, hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong học tập, công tác và trong thực hiện nghiêm túc, triệt để; bảo đảm cho công tác đảng, công tác chính trị thực sự giữ vị trí, vai trò quan trọng trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.


Thứ hai, thường xuyên đẩy mạnh và không ngừng đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tinh thần yêu nước, bản chất, truyền thống anh hùng của quân đội; xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần "quyết tâm", "thống nhất" cao, lối sống trong sạch lành mạnh, phương pháp, tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật của người quân nhân cách mạng, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" cho mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội.


Thứ ba, trên cơ sở quán triệt sâu sắc nguyên tắc lãnh đạo, nguyên tắc tổ chức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; thường xuyên chăm lo xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, đội ngũ chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị các cấp, các tổ chửc quần chúng trong cơ quan, đơn vị và toàn quân vững mạnh về mọi mặt. Đây chính là nhân tố quyết định bảo đảm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu, lao động sản xuất và công tác được giao.


Thứ tư, trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng nước ta; những tác động mặt trái của kinh tế thị trường... đòi hỏi toàn quân phải nêu cao cảnh giác cách mạng, phân biệt rõ đối tượng, đối tác; nhạy bén, sắc sảo trong phân tích đánh giá và xử lý kịp thời các tình huống; tích cực chủ động và làm tốt công tác dân vận, xây dựng quan hệ quân dân cá nước; giữ gìn đoàn kết nội bộ; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ... Đó chính là những việc làm thiết thực nhất góp phần tôn vinh và làm tỏa sáng những thắng lợi của quân và dân ta đã giành được trong chiến dịch Tây Bắc nói riêng và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nói chung.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 08:05:36 am
QUÂN VÀ DÂN KHU TÂY BẮC TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Trung tướng DƯƠNG ĐỨC HOÀ
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Tư lệnh Quân khu 2


Thu Đông 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã giành thắng lợi trong chiến dịch Tây Bắc, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển lên một giai đoạn mới. Chiến thắng Tây Bắc đã trở thành một sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc. Quân và dân Khu Tây Bắc, địa bàn diễn ra chiến dịch rất tự hào vì đã có những đóng góp không nhỏ sức người, sức của trực tiếp chi viện cho chiến trường, làm nên chiến thắng.


Nằm ở phía Tây Bắc Bộ, có đường biên giới dài tiếp giáp với Trung Quốc và Lào, có rừng núi bao la hùng vĩ, tài nguyên phong phú, nơi tụ cư của 34 dân tộc anh em, Tây Bắc luôn giữ vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tây Bắc trở thành chiến trường chính trong cuộc quyết đấu giữa thực dân Pháp, sự can thiệp Mỹ với nhân dân Việt Nam. Trải qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt từ khi có Đảng tiền phong lãnh đạo, truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân Khu Tây Bắc luôn được giữ vững và ngày càng phát huy mạnh mẽ.


Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân còn trong trứng nước đã phải đương đầu với thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam. Tây Bắc là địa bàn mà thực dân Pháp đặt chán lên rất sớm. Tại đây, chúng lập ra "Xứ Thái tự trị", đồng thời tổ chức ra "Khu quân sự độc lập Tây Bắc", thực hiện âm mưu thâm độc "chia để trị"; "dùng người Việt, đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Sau chiến dịch Biên Giới (Thu Đông năm 1950), địch ra sức củng cố, phát triển vùng chiến lược quan trọng này, nhằm khống chế, uy hiếp bên sườn và sau lưng ta, cắt liên lạc giữa căn cứ Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4, che chở cho Thượng Lào.


Quân địch ở Tây Bắc được tổ chức thành khu quân sự độc lập Tây Bắc, gồm 8 tiểu đoàn, trong đó có 5 tiểu đoàn ngụy Thái và 3 tiểu đoàn cơ động người Phi. Ngoài ra có 40 đại đội ngụy Thái làm nhiệm vụ chiếm đóng. Địch bố trí thành bốn phân khu gồm: Phân khu Nghĩa Lộ; Phân khu Sông Đà; Phân khu Sơn La; Phân khu Lai Châu và các tiểu khu Tuần Giáo, Thuận Châu, Phù Yên; chia quân đóng ở 400 cứ điểm, phần lớn cấp trung đội, có 40 cứ điểm cấp đại đội. Riêng ở Nghĩa Lộ, Mộc Châu, mỗi nơi có một tiểu đoàn.


Về phía ta, từ sau chiến dịch Hòa Bình, trong khi các đơn vị trong toàn quân bước vào chỉnh đốn Đảng, chỉnh quân sối nổi, rầm rộ, thì Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo xây dựng, hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến Thu Đông năm 1952, phương hướng tiến công chính là Tây Bắc Bắc Bộ. Thực hiện chủ trương trên, từ tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị xúc tiến công tác chuẩn bị chiến dịch với quyết tâm tiêu diệt dịch, giải phóng Tây Bắc. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giải phóng Tây Bắc, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách 4 tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái thuộc Liên khu Việt Bắc để thành lập Khu Tây Bắc.


Từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh quán triệt, giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia giải phóng Tây Bắc. Theo kế hoạch tác chiến, lực lượng vũ trang Tây Bắc tham gia chiến dịch gồm 10 đại đội bộ đội địa phương tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La và lực lượng du kích được huy động mức cao nhất, phối hợp với các đại đoàn 308, 312, 316, Trung đoàn pháo binh 151 (Đại đoàn 351). Lực lượng dân công phục vụ chiến dịch được Trung ương Đảng và Chính phủ huy động ở tất cả các tỉnh.


Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, cuối tháng 9 năm 1952, Bộ Tư lệnh Khu Tảy Bấc mở Hội nghị cán bộ chủ chốt toàn Khu để phổ biên mục tiêu, nhiệm vụ của chiến dịch giải phóng Tây Bắc, học tập các chỉ thị của Trung ương về thi hành chính sách dân tộc thiểu số, công tác dân vận, học Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đồng thời triển khai cho nhân dân và các lực lượng vũ trang toàn Khu chuẩn bị mọi khả năng phục vụ và tham gia chiến dịch. Qua học tập quán triệt, đội ngũ cán bộ chủ chốt của Khu Tây Bắc đã nắm vững mục đích của chiến dịch là: Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc, giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc; thống nhất nhận thức: Tiêu diệt sinh lực địch là nhiệm vụ chính yếu, vì có tiêu diệt sinh lực địch mới giành được dân và giải phóng được đất đai, làm cho chiến dịch thắng lợi, tạo điều kiện cho các cơ sở cách mạng trong dân hoạt động, thúc đẩy kháng chiến thành công.


Chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, sau gần 2 tháng tiến hành chiến dịch, quân và dân ta đã tiêu diệt 1.050 tên địch, bắt 5.024 tên (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội, đánh thiệt hại nặng nhiều tiểu đoàn tinh nhuệ), phá hủy và thu toàn bộ vũ khí, đồ dùng quân sự, các kho lương thực, thực phẩm của địch.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vùng Tây Bắc của Tổ quốc; là mốc lịch sử trên con đường tiếp tục phát triển thế chủ động chiến lược của cuộc kháng chiến; thắng lợi này biểu hiện sự trưởng thành về nhiều mặt của lực lượng vũ trang. Đây cũng là thắng lợi của tinh thần hết lòng, hết sức vì tiền tuyến, với tinh thần hy sinh phục vụ của nhân dân các dân tộc Tây Bắc.


Để góp phần phục vụ chiến dịch, theo sự chỉ đạo của Khu ủy, các tinh Yên Bái, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang huy động nhân lực, vật lực trực tiếp phục vụ hướng Nghĩa Lộ. Các tỉnh Sơn La, Lai Châu cùng với các tỉnh Liên khu 3, Liên khu 4 phục vụ hướng đường 41 Sơn La. Nhận thức sâu sắc mục đích, ý nghĩa của chiến dịch, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã nô nức tình ngụyện đi phục vụ chiến dịch, góp phần giải phóng quê hương. Mọi gia đình tự ngụyện ủng hộ thóc gạo, lợn gà, trâu bò, ngựa thồ, cử người thân đăng ký xung phong được tham gia chiến dịch. Chỉ trong 3 tháng, các tỉnh đã huy động được 35.000 lượt dân công làm nhiệm vụ mở đường, bắc cầu phục vụ bộ đội hành quân tiến vào Tây Bắc. Các đơn vị dân công đã xây dựng 4 khu kho trên hai hướng, làm nhiều trạm cứu thương dã chiến, làm mới hàng nghìn cáng thương, vận chuyển được 50.000 tấn hàng từ hậu phương ra tiền tuyến dưới làn bom đạn ác liệt của địch, vượt qua gian nan vất vả của rừng núi hiểm trở.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2023, 08:10:22 am
Tỉnh ủy Phú Thọ, Yên Bái đã huy động được hơn 430 thuyền nan, trong 3 ngày đêm đã chở 30.000 lượt bộ đội, dân công mang theo vũ khí, lương thực vượt sông Thao an toàn. Con đường từ Cổ Phúc đến Sài Lương, qua Mậu A, Khâu Vác, Nậm Mười phải qua nhiều suối sâu, đèo cao, bộ đội và dân công phải huy động cả xe trâu, xe bò của dân trong vùng, kết hợp với xe đạp thồ, gồng gánh, mang vác để chuyển hàng vào được vị trí tập kết. Suốt dọc đường, trong đêm tối, trong cơn mưa lũ, giá rét, gánh nặng, đường trơn, nhưng mọi người đều hăng hái, không ai để hàng bị ướt; có lúc qua núi đá sắc nhọn, chân đau, mỏi, nhưng giữa núi rừng Tây Bắc hàng vạn bộ đội, dân công ra trận, khắc sâu lời cản dặn của Bác Hồ: "Chiến dịch này rất quan trọng, các cô, các chú cũng là chiến sĩ, cũng có công như các chiến sĩ, phải cùng bộ đội giành cho được thắng lợi. Tất cả các cô các chú đều phải quyết tâm làm tròn nhiệm vụ phục vụ bộ đội. Bền bỉ dẻo dai, vượt qua mọi gian khổ, khắc phục mọi khó khăn, bảo đảm việc cung cấp đầy đủ cho bộ đội, cùng bộ đội giành toàn thắng cho chiến dịch".


Thấm nhuần lời căn dặn của Bác, mặc dù tình hình đời sống nhân dân Tây Bắc còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, phải huy động một khối lượng sức người, sức của lớn, nhiều nơi giáp hạt, thiếu ăn, thiếu nhân công gặt mùa, nhưng nhân dân vẫn tự nguyện góp lương thực, thực phẩm, hăng hái đi dân công, vừa đánh giặc hảo vệ hậu phương, vừa tham gia phục vụ tiền tuyến.


Nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh Sơn La đã đóng góp một phần không nhỏ xương máu và vật chất cho chiến dịch toàn thắng, ở khắp nơi, bộ đội địa phương và dân quân du kích đều đi chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tham gia thu dọn chiến trường; đồng thời đã huy động đóng góp 1.421.220 ngày công, cung cấp hơn 694 tấn gạo, 88 tấn ngô, 48.321kg thịt các loại, vận chuyển 135 tấn gạo từ Phú Thọ lên kho mặt trận tiền phương.


Quân và dân Phú Thọ đã thể hiện tinh thần hết lòng phục vụ tiền tuyến, vừa trực tiếp chiến đấu tại chỗ để bảo vệ hậu phương, vừa trực tiếp chi viện cho chiến trường, đã huy động 134.190 người, đóng góp 3.333.576 ngày công, cung cấp và vận chuyển 2.446 tấn gạo, 40 tấn muối, hơn 300 thuyền nan, 275 con trâu, bò, hàng trăm con lợn phục vụ cho chiến dịch, tu sửa 200km đường giao thông, đảm bảo cho bộ đội hành quân thuận lợi.


Với Lai Châu, tuy các cơ sở mới được phục hồi, nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng nhân dân trong tỉnh đã cung cấp cho bộ đội 116 tấn gạo, 93 tạ ngô, 5.984kg thịt và 56 con trâu, bò, lợn, 100 con ngựa để vận chuyển hàng hóa; huy động 2.243 người đi dân công phục vụ chiến dịch.


Mặc đù đang tiến hành chiến dịch tiễu phỉ, nhưng tỉnh Yên Bái đã huy động nhân dân tham gia đóng góp được 739 tấn thóc, 16.000 ngày công phục vụ chiến dịch; riêng nhân dân Nghĩa Lộ, nơi xảy ra những trận chiến đấu ác liệt, then chốt mở đầu chiến dịch cũng tự ngụyện đóng góp 250 tấn gạo, 7 con trâu, 5 con bò, 9 con lợn để nuôi quân.


Tính chung, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã huy động được 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 41 tấn thực phẩm khác, cùng với 150.000 ngày công đóng góp cho chiến dịch. Sự đóng góp của quân và dân Khu Tây Bắc đã góp phần vào thắng lợi của chiến dịch, khẳng định chủ trương huy động sức người, sức của của vùng mới giải phóng, hậu phương tại chỗ của Đảng ta cho chiến dịch là đúng đắn. Những cử chỉ và tấm lòng nhân hậu, bao dung của đồng bào dân tộc Tây Bắc đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần chiến đấu cho bộ đội ra trận, làm nên chiến thắng Tây Bắc.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đã đập tan kế hoạch chiếm đóng, bình định lâu dài và thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp lập nên "Xứ Thái tự trị", giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân khỏi ách kìm kẹp của quân thù. Thắng lợi đó đã tạo nên hình thái chiến trường có lợi cho ta. Ta đã giữ vững và từng bước mở rộng quyền chủ động về chiến lược; các lực lượng vũ trang nhân dân tích lũy thêm kinh nghiệm tác chiến quy mô lớn hơn, hiệp đồng binh chủng cao hơn trôn chiến trường rừng núi, xa hậu phương; đặc biệt bộ đội chủ lực của ta dần làm quen với cách đánh hệ thống cứ điểm mạnh. Chiến thắng Tây Bắc thể hiện sự chỉ đạo nghệ thuật quân sự đúng đắn, chính xác và sáng tạo của Đảng ta về phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân; về chọn chiến trường thích hợp, phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường, các lực lượng vũ trang. Đồng thời, để lại nhiều kinh nghiệm về tổ chức một chiến dịch chính quy ở một chiến trường xa, khó tiếp tế, vận chuyển. Đối với quân và dân Tây Bắc, thắng lợi đó đã để lại những bài học kinh nghiệm quý, đó là:

- Coi trọng công tác tuyên truyền vận động quần chúng các dân tộc. thực hiện tốt chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, có như vậy mới củng cố được lòng tin của nhân dân các dân tộc vào Đáng, vào kháng chiến và kiến quốc.


- Chăm lo xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc, xây dựng được lòng dân, thế trận chiến tranh nhân dân, để tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù. Thấm nhuần đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, Khu ủy Tây Bắc và các cấp ủy địa phương đã nắm vững quan điểm quần chúng, động viên, tổ chức lãnh đạo các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong Khu đứng lên đánh giặc. Không ngừng củng cố, xây dựng mở rộng mặt trận đoàn kết toàn dân trên nền liên minh công nông; vận động, tuyên truyền giác ngộ và xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, biến toàn Khu thành một mặt trận, mỗi bản làng là một trận địa, mỗi người dân là một chiến sĩ.


- Thường xuyên xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu, tinh thần khắc phục mọi khó khăn gian khổ, ý thức tự lực, tự cường cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân, trên cơ sở đó nâng cao bản lĩnh chính trị, sức mạnh chiến đấu đánh thắng mọi âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù. Có được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, song muốn chiến thắng kẻ thù, chúng ta phải có lực lượng vũ trang mạnh, vì lực lượng vũ trang là nòng cốt trong thế trận toàn dân đánh giặc. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, lực lượng vũ trang Tây Bắc ngày một lớn mạnh, trưởng thành, đã góp phần to lớn trong nhiệm vụ chiến đấu và phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực của Bộ, giải phóng và bảo vệ vững chắc quê hương.


Đối với quân dân Khu Tây Bắc, thắng lợi của chiến dịch là niềm tự hào và nguồn cổ vũ vô cùng lớn lao trong những chặng đường cách mạng tiếp theo. Phát huy truyền thống chiến thắng Tây Bắc, nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang Tây Bắc đã làm tròn trách nhiệm trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Với tinh thần đó, cùng với đồng bào các dân tộc, lực lượng vũ trang Quân khu 2 tập trung xây dựng Đảng bộ Quân khu vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, xây dựng củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng hậu phương vững mạnh; nâng cao chất lượng khu vực phòng thủ, tập trung xây dựng Quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, nâng cao chất lượng tổng hợp, đủ sức bảo vệ chủ quyền biên giới, làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, xây dựng Tây Bắc trở thành một vùng kinh tế giàu đẹp, quốc phòng - an ninh ngày càng vững mạnh.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:35:38 pm
CÔNG TÁC BẢO ĐẢM KỸ THUẬT TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Trung tướng NGUYỄN CHÂU THANH
Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật


Đầu năm 1952, cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đã bước sang năm thứ 7. Chúng ta đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng, nhất là thắng lợi của chiến địch Biên Giới và chiến dịch Hoà Bình, thế và lực của ta trên chiến trường không ngừng lớn mạnh. Các đại đoàn chủ lực sau khi thành lập được củng cố và phát triển, lực lượng quân sự của ta chiếm ưu thế, chúng ta chuyển từ phân công sang tiến công chiến lược trên các chiến trường. Nhưng với bản chất hiếu chiến của kẻ xâm lược, thực dân Pháp thi hành chính sách "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Chúng thực hiện chiến lược phòng ngự, ráo riết bình định vùng tạm chiếm, mở nhiều cuộc càn quét lớn; tăng cường bắt lính để phát triển ngụy quân; lập "vành đai trắng" và xây dựng nhiều phòng tuyến đồn bốt, v.v. Tuy nhiên, trước sức tiến công quyết liệt của quân và dân ta trên khắp các chiến trường, chúng không cải thiện được tình hình mà càng lún sâu vào thế bị động chiến lược.


Tháng 4 năm 1952, Hội nghị Trung ương 3 (khoá II) xác định nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn hiện tại là tiêu diệt sinh lực địch, phát động Chiến tranh du kích, phá chính sách lấy chiến tranh nuôi Chiến tranh của địch, bồi dưỡng lực lượng kháng chiến... Thực hiện nhiệm vụ chiến lược trên, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân và giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc, phá âm mưu lập "Xứ Thái", "Xứ Mường" và "Xứ Nùng" tự trị của địch.


Quyết định mở chiến dịch Tây Bắc của Bộ Chính trị là chủ trương đúng đắn thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng. Trong đó, tài thao lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy là nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch. Đặc biệt, công tác bảo đảm và sự phối hợp hiệp đồng tác chiến của các lực lượng vũ trang, cùng với đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã tạo nên sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi có tầm vóc lịch sử. Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành chiến dịch Tây Bắc có giá trị rất quý báu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Tại Hội thảo khoa học này, tôi xin phép cùng các đồng chí điểm lại một số sự kiện nổi bật của "Công tác bảo đảm kỹ thuật trong chiến dịch Tây Bắc 1952". Thể hiện trên 3 vấn đề:

1. Chuẩn bị kỹ thuật cho chiến dịch

Sau khi phê duyệt kế hoạch tác chiến chiến dịch tiến công Tây Bắc, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ định Bộ chỉ huy chiến dịch gồm các đồng chí cán bộ chủ chốt của Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh: đồng chí Võ Nguyên Giáp Tổng Tư lệnh làm Tư lệnh chiến dịch; Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng chiến dịch; Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ nhiệm Chính trị chiến dịch va đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp làm Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch. Đảng ủy chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư. Các cơ quan: Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Cung cấp tổ chức bộ phận tiền phương để hình thành cơ quan chiến dịch.


Lực lượng của ta tham gia chiến dịch Tây Bắc có khoảng 3 đại đoàn: Đại đoàn 308 có 3 trung đoàn, Đại đoàn 312 có 3 trung đoàn, Đại đoàn 316 có 2 trung đoàn Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148, 6 đại đội sơn pháo với 24 khẩu 75mm, 3 đại đội cối 120mm với 12 khẩu, Trung đoàn 151 công binh, một tiểu đoàn pháo cao xạ và một đại đội súng máy cao xạ 12,7mm, cùng với 10 đại đội bộ đội địa phương của các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Sơn La và Lào Cai. Tổng quân số tham gia tác chiến khoảng 35.000 người.


Chiến dịch tiến công Tây Bắc năm 1952 là chiến dịch tiến công có ý nghĩa chiến lược, yêu cầu bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch cao hơn nhiều so với các chiến dịch trưởc. Theo quyết tâm chiến đấu và kế hoạch tác chiến của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, các drtn vị thuộc ngành kỹ thuật của Tổng cục Cung cấp phải huy động hàng trăm nghìn lượt dân công cùng với bộ đội công binh sửa chữa và mở đường để cơ động lực lượng, cơ động binh khí kỹ thuật và vận tải vật chất hậu cần phục vụ chiến dịch. Lượng vũ khí trang bị kỹ thuật phải bảo đảm cho chiến dịch khoảng 127 tấn, lượng vật chất hậu cần bảo đảm cho chiến dịch hàng chục nghìn tấn. Ngoài ra còn các phương tiện khác như xe thồ, ca nô, tàu thuyền, cầu phà, v.v. Trong khi đó, bộ đội ta tác chiến trong điều kiện chiến trường rừng núi, xa cơ sở bảo đảm kỹ thuật; vận chuyển và cơ động lực lượng cũng như binh khí kỹ thuật trên chặng đường dài, phải vượt qua nhiều đèo núi cao và suối sâu, vực thăm... Đây là những khó khăn và thách thức rất lớn đối với ngành kỹ thuật. Những yếu tố trên đòi hỏi ngành kỹ thuật phải nghiên cứu kỹ chiến trường, chủ động, tích cực và khẩn trương chuẩn bị kỹ thuật phục vụ chiến dịch.


Từ đầu năm 1952, các đại đoàn 308, 312, 316 và Đại đoàn công pháo 351, cùng các đơn vị công binh, phòng không, thông tin, vận tải, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã được bổ sung vũ khí trang bị kỹ thuật. Trong đó, các đơn vị chủ lực được bổ sung và trang bị vũ khí đạn từ nguồn viện trợ khoảng 1.018 tấn. Để bảo đảm kỹ thuật vũ khí đạn cho chiến dịch, Cục Quân khí tổ chức đội ngũ quân khí viên từ cấp đại đội đến cấp trung đoàn. Chỉ đạo các Ban Quân khí ở các đại đoàn chia làm hai bộ phận: Bộ phận nhẹ, cơ động cùng các trung đoàn vào vùng địch hậu để sửa chữa nhẹ vũ khí đạn trong hành quân cơ động và chiến đấu. Bộ phận nặng, bố trí ở vùng giáp ranh để sửa chữa vũ khí đạn sau khi tập kết và sau mỗi đợt chiến dịch.


Tại Hôi nghị giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia chiến dịch Tây Bắc (9-9-1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi...", về bảo đảm vũ khí trang bị và lương thực cho bộ đội, Bác căn dặn "Lúc thiếu thốn cũng vui vẻ chịu đựng, lúc cần thì ra sức giúp đỡ anh em cung cấp. Lương thực và vũ khí trang bị là mồ hôi, nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy, phải quý trọng nó, tiết kiệm ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý"1 (Công tác bảo đảm vũ khí trang bi kỹ thuật trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954, Biên niên sự kiện lịch sử, Nxb Quân đội nhân dân, H. tr. 172). Thấm nhuần lời dạy của Bác, tổ chức bảo đảm cho chiến dịch với yêu cầu khẩn trương bí mật bất ngờ, công tác bảo đảm kỹ thuật không thể bố trí các kho ở khu vực tập kết mà phải bố trí ở tả ngạn sông Hồng. Khi bộ đội vượt sông cơ động vào khu vực tập kết, lực lượng kỹ thuật khẩn trương tổ chức tuyến, rải trạm để vận chuyển hàng theo các hướng tiến công. Với quyết tâm vượt mọi khó khăn trở ngại, đầu tháng 8 năm 1952, Cục Quân khí đã chuẩn bị đủ 127 tấn vũ khí đạn cho chiến dịch. Tập kết chân hàng tại kho Mậu A (28 tấn), kho Yên Bái (58 tấn), kho Thu Cúc (41 tấn) để vận chuyển phục vụ cho hướng chủ yếu (Nghĩa Lộ). Ngoài ra, còn bố trí một kho ở Thạch Kiệt phục vụ hướng Nha Phù, một kho dự trữ ở Đoan Hùng để bổ sung cho chiến dịch. Ngành kỹ thuật còn được Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường cán bộ và nhân viên để tổ chức bảo đảm kỹ thuật.


Thực hiện phương châm bảo đảm: "Tích cực vận chuyển từ hậu phương lên, tận dụng khả năng của địa phương và cố gắng lấy của địch mà dùng", Tổng cục Cung cấp phân công và chỉ đạo hiệp đồng bảo đảm giữa các ngành, các địa phương và các sở của những tỉnh có liên quan. Sau khi Tiền phương Cung cấp chiến dịch thành lập, công tác bảo đảm được chỉ đạo tích cực, việc bảo đảm được phân theo 2 hướng. Hướng từ Việt Bắc lên, bảo đảm chủ yếu cho đợt 1; lấy Yên Bái, Phú Thọ làm căn cứ hậu phương chiến dịch; lập 4 khu kho phục vụ các mũi tiến công1 (Khu Mậu A đảm bảo cho tuyến chính, theo đường Khâu Vác - Nậm Mười tiến vào Nghĩa Lộ, Gia Hội; Khu Cổ Phúc đảm bảo hướng Sài Lương, Khu Văn Phu theo đường Âu Lâu - Đèo Bụt vào Ba Khe - Cửa Nhì, sau khi nổ súng sẽ dung ô tô chở vào theo đường số 13; Khu Thu Cúc - Thạch Kiệt đảm bảo cho mũi Nha Phù - Bão Mo (Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952) - Viện LSQSVN, xuất bản 1992. Sđd. tr. 22, 23)). Hướng Liên khu 3, Liên khu 4 đảm bảo cho chiến dịch phát triển vào Sơn La; lấy Suối Rút làm căn cứ hậu phương chiến dịch; lập khu kho, trạm phục vụ bộ đội tác chiến trên hành lang đường số 41. Phương tiện vận chuyển ở cả 2 hướng chủ yếu là mang vác kết hợp với xe thồ, thuyền nan, xe trâu, v.v. Ngoài ra, có 68 xe ô tô vận tải, nhưng phần lớn chạy bằng động cơ hơi nước nên khả năng vận chuyển hạn chế.


Từ ngày 20 tháng 9 đến đầu tháng 10 năm 1952, các đơn vị bí mật cơ động vào vị trí tập kết ở Mậu A, Âu Lau, Nước Nóng, Lan Đình. Để bảo đảm cho lực lượng lớn bộ đội và binh khi kỹ thuật quạ sông nhanh gọn, an toàn, Bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức Ban chỉ huy vượt sông, mỗi bến đều có ban chỉ huy riêng. Mặc dù lực lượng và binh khí kỹ thuật rất lớn, trong khi các phương tiện vượt sông còn ít và thô sơ, khả năng bảo đảm của công binh rât hạn chế... Nhưng nhờ chỉ huy và chỉ đạo chặt chẽ, lực lượng kỹ thuật, nhất là bộ đội công binh và dân công đã khắc phục mọi khó khăn bằng nhiều biện pháp bảo đảm, từ cầu phao, xà lan, ca nô tàu thuyền đến bè mảng, v.v. bảo đảm cho các lực lượng vượt sông bí mật, an toàn theo dúng kế hoạch.


Công tác chuẩn bị kỹ thuật trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch gặp rất nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, với khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", ngành kỹ thuật đã phối hợp cùng các lực lượng tham gia chiến dịch nỗ lực bảo đảm đủ vũ khí trang bị kỹ thuật theo kế hoạch tác chiến. Ngoài ra, còn dự trữ được hàng trăm tấn vũ khí trang bị để sẵn sàng bảo đảm cho phát triển tác chiến chiến dịch.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:36:39 pm
2. Bảo đảm kỹ thuật trong tác chiến chiến dịch

Chiến dịch tiến công Tây Bắc diễn ra từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, tiến hành trong 3 đợt:

Đợt 1 từ 14 đến 23 tháng 10: Thực hiện kế hoạch tác chiến chiến dịch của Bộ Tổng tư lệnh lấy Phân khu Nghĩa Lộ làm hướng tiến công chủ yếu, tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cơ động một bộ phận chủ lực thâm nhập vào Quỳnh Nhai phối hợp với bộ đội địa phường kiềm chế địch, giải phóng vùng tả ngạn sông Đà. Đêm 14 tháng 10, các đơn vị nổ súng tiến công: Lực lượng kỹ thuật của các ngành quân khí, công binh, thông tin, pháo binh cơ động và bảo đảm cho Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 và Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 tiến công giải phóng Ca Vịnh, Sài Lương mở thông đường 13 vào Nghĩa Lộ. Cùng lúc, lực lượng kỹ thuật bảo đảm cho Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 (thiếu) bí mật luồn sâu để tiến công Nghĩa Lộ, Pú Chạng, mật phục đánh viện ở Gia Hội, phục kích địch ở Nậm Mười... thực hiện trong ngoài cùng đánh, buộc địch phải rút khỏi Gia Hội, Tú Lệ về co cụm ở hữu ngạn sông Đà.


Ở hướng thứ yếu, lực lượng kỹ thuật cơ động bảo đảm cho bộ đội tiến công tiêu diệt địch ở Gia Phù, Bản Mo và Quỳnh Nhai, Nậm Sỏ. Như vậy từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 10, những trận then chốt mở màn chiến dịch giành thắng lợi, làm cho địch choáng váng, tạo thế cho ta phát triển tiến công. Đêm 19 tháng 10, các đơn vị đồng loạt nổ súng, lực lượng kỹ thuật các ngành quân khí, xe máy, thông tin, công binh, pháo binh bám đội hình tiến công ở các mũi, các hướng để sửa chữa, khắc phục hỏng hóc của vũ khí trang bị. Trong các ngày 20, 21, 22 và 23 tháng 10, các đơn vị liên tục tiến công, truy kích địch, đánh chiếm và bức rút nhiều đồn bốt, buộc địch phải tháo chạy về khu vực hữu ngạn sông Đà.


Vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật bảo đảm cho tác chiến lúc này chủ yếu theo đường 13, lực lượng kỹ thuật các ngành xe máy, công binh, quân khí bảo đảm kỹ thuật cho ô tô, cầu phà, vũ khí đạn dược, cùng với dân công lập cung, rải trạm vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật từ khu kho Mậu A qua đèo Khâu Vác vào Nậm Mười, từ khu kho Cổ Phúc vào Sài Lương và từ khu kho Âu Lâu vào Ca Vịnh. Ở hướng Phú Thọ, lực lượng kỹ thuật cùng dân công vận chuyển vũ khí đạn dược theo cung, trạm vào Thu Cúc và Thạch Kiệt bảo đảm cho Trung đoàn 98 Đại đoàn 316 tiến công Gia Phù, Bản Mo. Việc vận chuyển vũ khí đạn dược theo bộ đội ra mặt trận được thực hiện tốt ở Âu Lâu vào Ca Vịnh, ở Phú Thọ vào Thu Cúc và Thạch Kiệt, nhưng ở phía Bắc gặp nhiều khó khăn, nhất là hướng chủ yếu từ hữu ngạn sông Hồng qua đèo Khâu Vác vào Nậm Mười. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch kịp thời chỉ đạo sửa chữa đường 13. Lực lượng kỹ thuật sửa chữa đường 13 có 6 đại đội công binh, một tiểu đoàn pháo cao xạ và một đại đội súng máy 12,7mm, cùng hơn 4.000 dân công. Lực lượng kỹ thuật và dân công làm việc không kể ngày đêm, vượt qua mưa lũ, bom đạn để bảo đảm thông đường phục vụ vận chuyển.


Sau 10 ngày đêm chiến đấu, đợt 1 chiến dịch kết thúc thắng lợi. Ta đã tiêu diệt đại bộ phận địch ở Phân khu Nghĩa Lộ. Tiêu khu Phù Yên và Tiểu khu Than Uyên. Ta diệt 500 tên, bắt trên 1.000 tên, trong đó có 300 lính Âu - Phi; thu 1.400 súng trường và tiểu liên, 75 trung liên, 22 trọng liên và đại liên, 34 súng cối, 3 khẩu ĐKZ, 2 pháo 105mm, 14 máy vô tuyến điện và nhiều trang thiết bị quân sự khác; giải phóng một vùng đất đai quan trọng từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai... Trong đợt 1, chiến dịch phát triển nhanh, công tác bảo đảm kỹ thuật được tiến hành trực tiếp tại trận địa, ở các hướng, các mũi, nhất là hướng chủ yếu, mũi đột kích; vũ khí trang bị kỹ thuật được bổ sung đầy đủ để bộ đội phát triển tiến công.


Đớt 2, từ ngày 7 đến 22 tháng 11: Sau đợt 1, ta chưa thể chuyển ngay sang đợt 2 như dự kiến, do chưa chuẩn bị đủ vật chất hậu cần theo kế hoạch. Mặt khác, ta chưa nắm chắc địch ở hữu ngạn sông Đà, cần thời gian để nắm địch và chấn chỉnh bộ đội, rút kinh nghiệm chiến đấu và vận chuyển vật chất cho chiến dịch.


Trước nguy cơ mất địa bàn chiến lược Tây Bắc, địch vội vã đổ quân tăng viện, ráo riết củng cố tuyến phòng thủ mới ở Tây Bắc trên hai mặt trận: Phân khu Lai Châu và Phân khu Sơn La1 (Từ ngày 15 tháng 10 đến ngày 2 tháng 11, địch đã điều 5 tiểu đoàn từ đồng bằng lên và 1 tiểu đoàn từ Lào sang. Binh lực địch bố trí ở Phân khu Lai Châu (Tiểu khu độc lập Tuần Giáo, Tiểu khu Thuận Châu) 7 tiểu đoàn và 14 đại đội, trong đó tập trung ở Lai Châu 5 tiểu đoàn và 14 đại đội; Phân khu Sơn La có 6 tiểu đoàn và 13 đại đội). Đồng thời, chúng huy động 3 binh đoàn cơ động mở cuộc hành quân "Loren" đánh lên Phú Thọ, nhằm uy hiếp hậu phương của ta. Cuộc hành quân này ta đã dự kiến nên đã có kế hoạch đối phó, buộc dịch phái rút lui. Thực hiện kế hoạch tác chiến, trên hướng chủ yếu, ta sử dụng 3 đại đoàn: 308, 312 và 316 mỗi đại đoàn có 2 trung đoàn và Đại đoàn công pháo 351, vượt sông Đà, đánh địch trên trục đường 41, đập tan khu vực phòng ngự Mộc Châu, giải phóng Sơn La. Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch yêu cầu: Hướng chủ yếu phải tích cực tiêu diệt dịch, đánh chắc tiến chắc, vây chặt diệt gọn, truy kích đến cùng. Hướng phối hợp đánh nhỏ ăn chắc, đánh du kích diệt từng bộ phận, không chắc không đánh, cơ động linh hoạt, không bỏ lỡ thời cơ khi địch rút chạy. Các hướng giữ gìn lực lượng để tác chiến đến hết chiến dịch.


Quán triệt yêu cầu trên, Cục Quân khí chỉ đạo các ban quân khí tổ chức vận chuyển, cấp bổ sung vũ khí đạn cho các đơn vị chiến đấu ở Phú Thọ, Yên Bái và hữu ngạn sông Hồng; cơ động bảo đảm vũ khí đạn dược cho bộ đội tiến công đánh sâu vào tung thâm. Tổ chức lực lượng đến các đơn vị sửa chữa số vũ khí hỏng hóc; thu hồi và sửa chữa số vũ khí đạn dược thu được của địch bổ sung cho đơn vị. Khi bộ đội tiến công địch trên đường 41, các ngành công binh, thông tin, pháo binh cơ động và trực tiếp bảo đảm kỹ thuật tại trận địa. Việc vận chuyển vũ khí trang bị cho tác chiến lúc này gặp nhiều khó khăn, do đường dài và địch đánh phá ác liệt. Để khắc phục, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo sửa và mở rộng đường 41 từ Suối Rút lên Xồm Lồm (64km) tới Cò Nòi (87km), để sử dụng ô tô và kết hợp với nhân dân địa phương tổ chức vận chuyển. Trung đoàn công binh 151 mở đường từ Ba Khe qua đèo Lũng Lô đến Tạ Khoa; Đại đội công binh 250 bắc cầu phao từ bến Vạn Yên sang Tạ Khoa, phối hợp với công binh các đại đoàn 308, 312 và 316 bảo đảm kỹ thuật. Đội 83 công binh (Trung đoàn 151) phá gỡ nhiều mìn, bom nổ chậm như bom cam, bom bươm bướm trên dường 13, bảo đảm cho xe ô tô vận chuyển vũ khí đạn dược và vật chất hậu cần ra mặt trận.


Ngày 17 tháng 11, các đơn vị tiến công địch trên đường 41; các cứ điểm Ba Lay, Bản Hoa, Mường Lụm và Mộc Châu của địch bị tiêu diệt. Lực lượng còn lại của chúng rút chạy về Nà Sản, tổ chức thành tập đoàn cứ điểm. Ngày 23 tháng 11, đợt 2 chiến dịch kết thúc thắng lợi. Ta diệt và bắt trên 3.000 tên, trong đó có 3 tiểu đoàn bị diệt gọn, 2 tiểu đoàn bị thiệt hại nặng, thu nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, giải quyết được một phần khó khăn về bảo đảm kỹ thuật.


Đợt 3, từ 30 tháng 11 đến 10 tháng 12: Sau khi đợt 2 giành thắng lợi. Bộ chỉ huy chiến dịch rút kinh nghiệm và giao nhiệm vụ tiến công đợt 3 để tiêu diệt tập đoàn cứ điểm ở Nà Sản. Thực hiện kế hoạch tác chiến, đêm 30 tháng 11 và ngày 1 tháng 12, ta nổ súng tiến công các cứ điểm Pú Hồng, Bản Hời, Nà Si, Bản Vây, nhưng phòng giữ không tốt, địch phản công chiếm lại Pú Hồng, chưa nắm chắc địch nên hai trận Nà Si và Bản Vây ta thương vong tổn thất lớn. Trước tình hình đó. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch vào ngày 10 tháng 12 năm 1952.


Bảo đảm kỹ thuật trong tác chiến ở đợt 3 cơ bản như đợt 2. Lực lượng kỹ thuật các ngành quân khí, thông tin, công binh, pháo binh cơ động cùng bộ đội, trực tiếp bảo đảm kỹ thuật cho các đơn vị tại các hướng, các mũi tiến công; hướng dẫn bảo quản và sửa chữa tại chỗ, nhanh chóng thu hồi vũ khí trang bị kỹ thuật thu được của địch để cấp bổ sung hoặc dự trữ chiến đấu.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:38:06 pm
3. Kết thúc chiến dịch

Chiến dịch tiến công Tây Bắc thắng lợi, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, loại khỏi vòng chiến đấu 13.800 tên; thu một lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật của địch, gồm: 3.002 súng trường, 500 súng tiểu liên, 205 trung liên, 35 đại liên, 65 súng cối 60mm và 81 mm, 11 khẩu pháo (có 2 khẩu 105mm), 89 máy vô tuyến điện, 7 xe Jeép, 100 tấn đạn, bắn rơi 6 máy bay... Mục tiêu có ý nghĩa quan trọng của chiến dịch ta đã đạt được là giải phóng một vùng rộng lớn đất đai (28.500km2) và 250.000 nhân dân các dân tộc Tây Bắc, tranh thủ dân và mở rộng căn cứ địa kháng chiến, nối liền Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc, mở rộng hành lang sang Bắc Lào, phá thế uy hiếp của địch đối với căn cứ địa Việt Bắc ở phía tây, với Khu 3 và Khu 4. Đập tan âm mưu lập và củng cố "Xứ Thái", "Xứ Mường", "Xứ Nùng" tự trị và chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt của địch.


Kết thúc chiến dịch, các ngành kỹ thuật nhanh chóng thu hồi, dồn dịch vũ khí trang bị thu được của địch và của ta trên chiến trường để cấp phát bổ sung cho bộ đội; bí mật, khẩn trương tổ chức bảo đảm và bố trí đủ lực lượng kỹ thuật cho các đơn vị ở lại làm nhiệm vụ nghi binh, kiềm chế địch ở Nà Sản và Sơn La. Ngoài ra, lực lượng kỹ thuật còn cơ động bảo đảm cho bộ đội rút quân bí mật, an toàn về Thanh Hoá, Điện Biên và sang Bắc Lào. Trên đường rút quân, tiếp tục bảo đảm cho các đơn vị đánh địch để cổ vũ khí thế chiến thắng cho đồng bào các dân tộc; tiếp tục sửa chữa, sản xuất, xây dựng kho tàng, trạm xưởng, tiếp nhận vũ khí trang bị kỹ thuật do Liên Xô và Trung Quốc viện trợ để chuẩn bị cho những chiến dịch tiếp theo. Có thể nói thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là cuộc diễn tập tiến công chiến lược chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, kết thúc oanh liệt 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân dân ta.


Thực tiên "Công tác bảo đảm kỹ thuật trong chiến dịch Tây Bắc 1952" để lại nhiều kinh nghiệm quý báu đối với ngành kỹ thuật. Những bài học kinh nghiệm chủ yếu là:

Một là: Ngành kỹ thuật đã quán triệt sâu sắc đường lối kháng chiến của Đảng, nắm vững đặc điểm tình hình chiến trường, chủ động bảo đảm kỹ thuật theo quyết tâm chiến đấu và kế hoạch tác chiến chiến dịch.


Trong chiến dịch Tây Bắc, các chuyên ngành kỹ thuật (thuộc Tổng cục Cung cấp) đã quán triệt sâu sắc quan điểm tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính trong đường lối kháng chiến kiến quốc của Đang. Cán bộ, nhân viên kỹ thuật của các chuyên ngành quân khí, xe máy, công binh, thông tin, pháo binh đã khắc phục mọi khó khăn ở các khu căn cứ kháng chiến, đề cao trách nhiệm tự lực tự cường, chủ động sáng tạo trong sản xuất và sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật ở hậu phương cũng như ngoài mặt trận. Kịp thời phối hợp với các ngành, các cấp, các địa phương, các sở và Ủy ban hành chính - kháng chiến các tỉnh có liên quan; phân công cán bộ trực tiếp tổ chức chuẩn bị kỹ thuật. Lực lượng kỹ thuật tham gia chiến dịch đã nêu cao tinh thần hy sinh quả cảm, đến tận các đại đội, tiểu đoàn để sửa chữa vũ khí trang bị, vượt qua mưa lũ, bom đạn của địch để sửa chữa và mở đường phục vụ chiến dịch. Trong lúc phương tiện cơ giới còn vô cùng thiếu thốn, nhiều cán bộ và nhân viên kỹ thuật đã cùng với dân công trực tiếp gùi, gánh, thồ, vác vũ khí đạn dược tiếp tế mật trận.


Khi Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, các chuyên ngành kỹ thuật đã quán triệt, nhận rõ những thuận lợi và khó khăn của đặc điểm chiến trường Tây Bắc. Đặc điểm nổi bật trong công tác bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch là: Phải khắc phục địa hình có nhiều đèo núi cao, vực sâu, rừng rậm, ít đường giao thông, nhiều sông suối, dân cư thưa thớt, kinh tế nghèo nàn... nên cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật gặp rất nhiều khó khăn. Trong chiến dịch này, hậu phương chiến dịch, các cơ sở kỹ thuật và các khu kho vũ khí trang bị kỹ thuật đều ở xa mặt trận, không thể tổ chức khu kỹ thuật tại địa điểm tập kết. Ngành kỹ thuật đã khắc phục khá tốt những khó khăn trên, cán bộ và nhân viên kỹ thuật quân khí đã nỗ lực bảo đảm đủ 127 tấn vũ khí đạn dược theo kế hoạch tác chiến trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch; tiếp tục bảo đảm hàng trăm tấn vũ khí đạn dược cho đợt 2 và dợt 3 chiến dịch. Cán bộ và nhân viên kỹ thuật công binh đã vượt mưa lũ, bom đạn để sửa chữa và mở đường, rà phá hàng nghìn bom, mìn của địch trên đường 13, bảo đảm an toàn cho dân công và ô tô vận chuyển phục vụ đợt 2 và đợt 3 chiến dịch. Nhiều cán bộ và nhân viên kỹ thuật của các chuyên ngành đã anh dũng hy sinh tại mặt trận.


Tuy đầu năm 1952, các ngành quân khí, xe máy, thông tin, công binh và pháo binh đã nhận được viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô một số loại vũ khí trang bị kỹ thuật. Nhưng so với nhu cầu trang bị của quân đội và yêu cầu tác chiến ở các chiến trường còn rất hạn chế. Vũ khí trang bị kỹ thuật của ta phần lớn là mang vác, chủ yếu là vũ khí lục quân hạng nhẹ đã lạc hậu, tính năng kỹ chiến thuật và uy lực hạn chế so với vũ khí trang bị kỹ thuật của địch. Xuất phát từ thực trạng trên, ngành kỹ thuật tập trung chỉ đạo xây dựng, phát triển trạm, xưởng để sản xuất và sửa chữa vũ khí, đồng thời tích cực sửa chữa và đồng bộ số vũ khí trang bị kỹ thuật thu được của địch để cấp phát và dự trữ. Vì vậy, tiếp sau chiến dịch Hoà Bình là chiến dịch Tây Bắc, với quy mô chiến dịch ngày càng lớn, lực lượng đông, thời gian tác chiến dài... nhưng ngành kỹ thuật đã chủ động bảo đảm đủ vũ khí trang bị kỹ thuật cho chiến dịch.


Hai là: Khắc phục khó khăn của chiến trường rừng núi, tổ chức chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật tập trung cho hướng chủ yếu, kịp thời xử lý tình huống để đáp ứng yêu cầu tác chiến chiến dịch.

Ngay sau khi kế hoạch tác chiến được xác định, lường trước những khó khăn trong công tác bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch, các chuyên ngành đã chủ động chuẩn bị kỹ thuật ở hậu phương. Có kế hoạch sẵn sàng vận chuyển, cấp phát, bổ sung vũ khí trang bị sau khi bộ đội vượt sông Hồng cơ động vào khu tập kết. Vì vậy, khi các đơn vị vượt sông trên các bến Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu, lực lượng kỹ thuật ở các trạm, các khu kho cùng dân công tận dụng mọi phường tiện vượt sông cùng bộ đội vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật. Khi bộ đội cơ động vào vị trí tập kết chiến đấu, ngành kỹ thuật cơ động lực lượng cùng các đơn vị vào triển khai tuyến, rải trạm để vận chuyển vũ khí đạn dược. Đợt 1, lực lượng kỹ thuật cơ động theo 4 tuyến, rải 3 đến 7 trạm vận tải tỏi khu trung tuyến. Đợt 2 và đợt 3, lực lượng kỹ thuật phải cơ động hơn 160 km trên đường 41 để tiếp tế và bảo đảm kỹ thuật cho bộ đội chiến đấu.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:38:45 pm
Cơ động lực lượng để bảo đảm kỹ thuật gắn với tổ chức chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm tập trung cho hướng chủ yếu, mũi đột kích là vàn đề có ý nghĩa về nghệ thuật quân sự của ngành kỹ thuật trong chiến dịch Tây Bắc. Trong chiến dịch này, các chuyên ngành đã chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm và xử lý tình huống theo đúng tinh thần đó. Cục Quân khí cử đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật xuống các đại đội, tiểu đoàn chủ lực ở hướng chủ yếu như Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên trong đợt 1; các cứ điểm Mộc Châu, Bản Hoa, Ba Lay, Mường Lụm trên trục đường 41 trong đợt 2; các cứ điểm Pú Hồng, Bản Hời, Bản Vây và Nà Si xung quanh tập đoàn cứ điểm Nà Sản trong đợt 3. Cán bộ và nhân viên kỹ thuật quân khí trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ bảo quản, sửa chữa tại chỗ những vũ khí trang bị hòng hóc; nhanh chóng thu hồi, sửa chữa và đồng bộ số vũ khí trang bị thu được của địch để bổ sung cho đơn vị. Lực lượng phòng không được Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo tổ chức các trận địa bảo vệ đường giao thông, bảo vệ các mục tiêu yếu địa như bến bãi, cầu phà, trọng điểm... bảo đảm an toàn cho bộ đội và dân công vượt sòng, vận chuyển vũ khí trang bị và vật chất hậu cần. Lực lượng công binh, ngoài nhiệm vụ hiệp đồng với các đơn vị trên hướng chủ yếu để bảo đảm kỹ thuật cho các trận then chốt, còn kịp thời làm cầu, phá gỡ bom mìn và cùng dân công sửa chữa, mở rộng đường bảo đảm cho xe ô tô và dân công vận chuyển. Lần đầu tiến công binh đã giải quyết được các vấn đề kỹ thuật, chiến thuật, khắc phục bom, mìn, bảo đảm giao thông trong chiến dịch.


Khi Bộ Tổng tư lệnh quyết định ngừng hoạt động quân sự, tập trung mọi lực lượng để vận chuyển. Thực hiện chỉ thị của Bộ chỉ huy chiến dịch, lực lượng kỹ thuật cùng với bộ đội và dân công kịp thời sửa chữa và mở rộng đường 13, mở thêm đường mới, trực tiếp gánh vác, gùi thồ hàng, góp phần giảm bớt khó khăn trong vận chuyển. Việc xử lý kịp thời tình huống trong tác chiến chiến dịch dược xem là khâu quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc.


Ba là: Huy động khả năng bảo đảm kỹ thuật tại chỗ để giảm bớt khó khăn, tiết kiệm công sức, nâng cao hiệu suất chiến đấu của bộ đội.

Trong chiến dịch Tây Bắc, các chuyên ngành kỹ thuật đã huy động cho chiến dịch hàng chục vạn dân công, với gần chục triệu ngày công. Lực lượng dân công của các địa phương đã vận chuyển gần một trăm tấn vũ khí đạn dược, hàng chục nghìn tấn vật chất hậu cần phục vụ chiến dịch. Từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đến lúc này chưa bao giờ ta huy động được một khối lượng lớn sức người, sức của như vậy. Đường vận tải tiếp tế từ các khu kho xa mặt trận, phải vượt qua nhiều đèo núi cao và sông suối sâu, thời tiết khắc nghiệt, phương tiện thô sơ, vận chuyển chủ yếu bằng sức người. Đây là một cố gắng phi thường, chứng tỏ lòng cảm thù giặc sâu sắc, là biểu hiện vô cùng cao đẹp về ý chí cách mạng và lòng yêu nước của quân và dân ta.


Thực hiện phương châm "... tận dụng khả năng của địa phương và cố gắng lấy của địch mà dùng", khi đợt 1 và đợt 2 của chiến dịch kết thúc thắng lợi, lực lượng kỹ thuật đã nhanh chóng thu hồi, sửa chữa số lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật thu được của địch đê cấp phát bổ sung cho các đơn vị. Gồm: 100 tấn đạn, hơn 3.000 súng trường, 500 súng tiểu liên, hơn 200 trung liên, 35 đại liên, 65 súng cối 60mm và 81mm, 11 khẩu pháo (trong đó có 2 khẩu 105mm), gần 90 máy vô tuyến điện, 7 xe Jeép và nhiều trang thiết bị quân sự khác. Số vũ khí trang bị kỹ thuật này đã góp phần quan trọng vào công tác bảo đảm kỹ thuật tại chỗ, giảm việc vận chuyển tiếp tế từ tuyến sau ra mặt trận, bớt được khó khăn cho bảo đảm kỹ thuật trong tác chiến chiến dịch. Ngoài ra, trong điều kiện dân cư thưa thớt, kinh tế của đồng bào các dân tộc Tây Bắc còn rất nghèo nàn, lại trải qua gần một trăm năm bị địch chiếm đóng, vơ vét cướp phá. Với hàng nghìn tấn gạo, gần một trăm tấn thịt và các loại thực phẩm khác, cùng gần hai trăm nghìn ngày công giúp lực lượng kỹ thuật mà đồng bào các dân tộc Tây Bắc chắt chiu phục vụ chiến dịch, có ý nghĩa to lớn và vô cùng sâu sắc đối với ngành kỹ thuật; nói lên khát vọng độc lập tự do của đồng bào các dân tộc. Khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng, cũng như chủ trương huy động sức người, sức của tại chỗ cho chiến dịch Tây Bắc của Bộ Chính trị, của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Một tấn vật chất kỹ thuật huy động tại Tây Bắc có giá trị bằng hàng chục tấn vận chuyển từ Khu 3, Khu 4 lên. Nhưng giá trị to lớn hơn và ý nghĩa to lớn hơn, đó là một trong những yếu tố góp phần tiết kiệm nguồn vật chất kỹ thuật, tiết kiệm công sức, mồ hôi và xương máu của đồng bào, đồng chí trên đường vận chuyển tiếp tế; là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu suất chiến đấu của bộ đội trong chiến dịch.


Tuy nhiên, công tác bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch còn những thiếu sót phải rút kinh nghiệm: Một số đơn vị, lực lượng kỹ thuật chưa nắm chắc thực lực trang bị, nhất là vũ khí đạn dược nên phải bổ sung nhiều lần; có những trường hợp đạn và lựu đạn hỏng, liều phóng đạn cối ẩm, đuôi đạn cong vênh nhưng đề nghị cấp đổi chậm nên bảo đảm kỹ thuật quân khí gặp khó khăn. Khi địch hành quân lên Phú Thọ, Cục Quân khí thông báo chậm, kho Tiểu đoàn 5 ở Đoan Hùng không kịp sơ tán, bị tổn thất gần 100 tấn đạn dược. Vận chuyển vũ khí đạn dược và vật chất hậu cần phục vụ hướng chủ yếu trong đợt 2 chiến dịch, do tư tưởng chủ quan, cán bộ thiếu kiểm tra đôn đốc, nên không đủ khối lượng quy định, làm chậm sự phát triển tiến công chiến dịch. Khó tránh khỏi thiếu sót khuyết điểm trong chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật cho tác chiến chiến dịch, nhưng nhận rõ khuyết điểm, kịp thời khắc phục để chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm tốt hơn, hiệu quả hơn, giành thắng lợi lớn hơn cho những chiến dịch tiếp theo. Đó cũng là bài học có ý nghĩa sâu sắc trong công tác bảo đảm kỹ thuật của chiến dịch Tây Bắc.


Trải qua 60 năm chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, ngành kỹ thuật quân đội từ một số ít chuyên ngành thuộc Tổng cục Cung cấp trong chiến dịch Tây Bắc 1952; đến nay, ngành kỹ thuật quân sự đã và đang lớn mạnh không ngừng theo sự phát triển của vũ khí trang bị kỹ thuật, với gần hai mươi chuyên ngành kỹ thuật, cơ quan và cơ sở kỹ thuật không ngừng phát triển. Từ chỉ đạo và tổ chức bảo đảm kỹ thuật cho các chiến dịch hiệp đồng binh chủng trong kháng chiến chống Pháp xâm lược, đến các chiến dịch hiệp đồng quân binh chủng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngành kỹ thuật đã khẳng định rõ vai trò to lớn trong chiến tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ bão, vũ khí trang bị kỹ thuật không ngừng phát triển, đòi hỏi ngành kỹ thuật phải phát triển đê quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả những vũ khí trang bị kỹ thuật đó. Đây là vấn đề tất yếu trong xây dựng quân đội. Thực hiện các nghị quyết 05, 26, 27... của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp quốc phòng và kỹ thuật quân sự. Đặc biệt là Nghị quyết 382 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về lãnh đạo công tác kỹ thuật trong tình hình mới. Ngành kỹ thuật quân sự đang ra sức phấn đấu xây dựng các chuyên ngành kỹ thuật vững mạnh bảo đảm cho xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:40:27 pm
CÔNG TÁC BẢO ĐẢM HẬU CẦN - NHÂN TỐ QUAN TRỌNG
GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Trung tướng NGUYỄN VĨNH PHÚ
Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần


Sau các chiến dịch Trung Du, Đường số 18, Hà Nam Ninh, Tổng Quân ủy nhận thấy mở các chiến dịch tiến công trên hướng trung du và đồng bằng là không phù hợp, vì địch phát huy được thế mạnh về hỏa lực, cơ động và tương quan lực lượng bất lợi cho ta. Vì vậy, sau chiến dịch Hòa Bình, Trung ương Đang chủ trương mở chiến dịch tiến công địch trên chiến trường Tây Bắc, nơi địch có nhiều sơ hở, lực lượng mỏng (8 tiểu đoàn và 41 đại đội, đóng ở 144 cứ điểm, trong đó 40 cứ điểm có 1 đến 2 đại đội), ta có thể tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng đất đai, mở rộng vùng tự do, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo điều kiện cho Mặt trận Thượng Lào đẩy mạnh hoạt động. Nhưng Tây Bắc xa hậu phương, địa hình rừng núi hiểm trở, thưa dân, kinh tế nghèo nàn, giao thông vận tải rất khó khăn; nguồn lực hậu cần tại chỗ rất hạn chế... phải vận chuyển từ Việt Bắc sang và từ Liên khu 3, Liên khu 4 lên là chủ yếu.


Nhận rõ khó khăn to lớn đó, từ tháng 5 năm 1952, Tổng cục Cung cấp đã chủ động chuẩn bị chiến trường và phân công ba Đảng ủy viên trực tiếp chỉ đạo trên hướng Tây Bắc; ở Việt Bắc, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp và Cục trưởng Cục Quân nhu chỉ đạo; ở Liên khu 3 và 4, do một Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp chỉ đạo. Tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban cán sự đường 41 (gồm các đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp và hai Khu ủy viên liên khu (3 và 4), trực tiếp chỉ đạo công tác mở đường phục vụ chiến dịch.


Công tác chuẩn bị được tiến hành một cách khẩn trương, Liên khu Việt Bắc tổ chức mở đường chạy dọc theo bờ tả ngạn sông Hồng từ Phú Thọ đến Yên Bái và đẩy nhanh tu sửa tuyến đường sắt Yên Bái - Mậu A để có thế chạy tàu thường xuyên. Các địa phương khẩn trương thu thuế nông nghiệp, tổ chức xay giã, chuyển gạo về các khu vực tập kết và bến vượt ở tả ngạn sông Hồng. Liên khu 3 sửa đường từ Ghểnh, Nho Quan đi Hòa Bình; đường 41 từ Hòa Bình qua Chợ Bờ đẽn Suốt Rút; chuẩn bị và chuyển gạo từ Yên Mô, Yên Khánh (Ninh Bình) lên Chợ Bờ, Suối Rút. Liên khu 4 sửa đường từ Thanh Hóa lên Ngọc Lạc, Hồi Xuân, Bãi Sang và chuyển gạo từ Tĩnh Gia lên. Ba tháng hè năm 1952, Liên khu 3 và 4 sửa được 170 km đường ô tô, 150 km đường vận tải bộ, huy động được 5.254 tấn gạo nhưng chuyển lên đến Suốt Rút - Bãi Sang chỉ còn 1.390 tấn, vì dân công đã sử dụng hơn 70%.


Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc với phương châm đánh liên tục, dài ngày, từng bước vững chắc, nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng, bao vây chặt, truy kích đến cùng, diệt gọn. Lực lượng tham gia gồm các đại đoàn 308, 312, 316; một số đơn vị pháo binh, công binh và lực lượng vũ trang địa phương; tổng quân số hơn 5.000 người, thời gian dự kiến 4 tháng, chia thành 3 đợt. Đợt 1, ta tập trung diệt địch giải phóng Nghĩa Lộ và Phù Yên; đợt 2, phát triển tiến công, quét sạch địch tới bờ sông Đà, tiến lên Sơn La; đợt 3, tiến công địch ở Nà Sản. Nhu cầu hậu cần chiến dịch gồm: 5.250 tấn lương thực, thực phẩm (có 4.335 tấn gạo), 127 tấn vũ khí đạn, cứu chữa hơn 5.000 thương binh, bệnh binh.


Bộ máy hậu cần chiến dịch được thành lập. Sở chỉ huy Tiền phương Tổng cục Cung cấp ở Yên Bái do Chủ nhiệm Tổng cục trực tiếp chỉ huy, làm nhiệm vụ huy động nhân lực, vật lực ở hậu phương và tổ chức các trạm phục vụ bộ đội trên đường hành quân vào khu vực chiến đấu. Cục trưởng Cục Quân nhu - Phó Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch đi cùng Sở chỉ huy cơ bản; Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp - Phó Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch - Bí thư Ban cán sự đường 41 đặt sở chỉ huy ở Suối Rút phụ trách việc huy động nhân lực, vật lực từ Liên khu 3 và 4 lên và bảo đảm cho hướng đường 41 trong đợt 2 chiến dịch.


Trên hướng chủ yếu (Phân khu Nghĩa Lộ), hậu cần chiến dịch tập trung hơn 2.000 tấn gạo và 38.000 dân công bên bờ tả ngạn sông Hồng ở Yên Bái, bảo đảm cho các đơn vị hành quân vào tập kết. Đêm 10 và 11 tháng 10 năm 1952, các đơn vị vượt sông Hồng, bí mật tiến quân vào Tây Bắc. Trong ba đêm tiếp theo, hậu cần chiến dịch đã huy rộng 2 phà và 432 chiếc thuyền, trong đó có 415 thuyền nan trọng tải 400 - 500kg để chuyển hơn 1.000 tấn gạo, đạn và thực phẩm vượt sông Hồng ở các bến Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu. Dân công vượt sông được tổ chức thành từng đại đội, mang theo vật chất, sau đó được rải trạm trên ba tuyến. Tuyến Âu Lâu vào Ca Vịnh - Ba Khe triển khai thuận lợi; nhưng tuyến Cổ Phúc - Sài Lương và Mậu A - Khâu Vác - Nậm Mười rất khó khăn do đường nhỏ hẹp, trơn lầy, qua nhiều đèo dốc, sông suối, có nơi phải bắc "cầu khỉ", chỉ đi được từng người. Từ Mậu A đến Nậm Mười phải vượt qua 4 đèo cao (Khe Giang, đèo Quế, đèo Khâu Vác nhỏ và đèo Khâu Vác lớn) phải tổ chức thành 7 cung. Lực lượng hành quân trên tuyến này lại rất lớn (gồm Đại đoàn 308, 312 và một số đơn vị trợ chiến). Bộ đội chưa tới Nghĩa Lộ, Gia Hội thì dân công đã vào tuyến, chưa kịp triển khai trạm nên đã bị ùn tắc. Dân công chờ đợi, phải ăn vào gạo của bộ đội. Theo kế hoạch, từ ngày 15 tháng 10, phải đưa đến Nậm Mười 14,8 tấn gạo/ngày, nhưng ba ngày sau, gạo mới đến và ngày cao nhất được 7 tấn, có ngày chỉ được gần 1 tấn. Trong 20 ngày, tuyến vận tải Khâu Vác chỉ chuyển vào Nậm Mười được 83 tấn (đạt 28% kế hoạch). Trên tuyến Cổ Phúc - Sài Lương, chỉ chuyển được 3 tấn gạo (đạt 50% kế hoạch), toàn đợt vận chuyển được 40 tấn (60% kế hoạch), sở chỉ huy cung cấp ở hậu phương không nắm được khó khăn ở hai tuyến này nên chỉ huy, chỉ đạo có phần chủ quan dẫn đến hậu cần tuyến Khâu Vác không hoàn thành nhiệm vụ (còn gọi là "Hận Khâu Vác"). Đồng chí Tổng Tư lệnh - Chỉ huy trưởng chiến dịch nghiêm khắc phê bình. Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch đã nhận trách nhiệm về mình và tổ chức rút kinh nghiệm, xác định quyết tâm và đề ra biện pháp sửa chữa tích cực để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong các đợt sau.


Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc bắt đầu với các trận tiêu diệt các mục tiêu Ca Vịnh, Sài Lương. Tiếp đó, ta diệt Phân khu Nghĩa Lộ, Pú Chạng, Cửa Nhì, bức địch rút khỏi Gia Hội, Tú Lệ. Ở hướng Phù Yên, các vị trí Gia Phù, Bản Mo bị tiêu diệt, địch ở Tiểu khu Phù Yên rút chạy... Nhiều trận công đồn ác liệt đã diễn ra, thương binh lên tới 1.014 người. Quân y chiến dịch triển khai ba đội điều trị (1, 2, 5) ở Nghĩa Lộ, Nậm Mười, Ca Vịnh, Ba Khe cùng đội điều trị các đại đoàn cứu chữa thương binh. Nhưng do thiếu lực lượng, phương tiện, đường sá khó khăn, việc chuyển thương binh về tuyến sau còn chậm, có lúc bị ứ đọng ở các tiểu đoàn, trung đoàn. Vì vậy, quân y chiến dịch đã mở rộng Đội điều trị 1 thành bệnh viện đã chiến để cứu chữa thương binh của các đơn vị. Đợt 1 chiến dịch kết thúc, ta giải phóng khu vực rộng lớn từ Quỳnh Nhai đến Vạn Yên, trong đó có các cánh đồng Nghĩa Lộ, Quang Huy, Than Uyên là cơ sở huy động nguồn lực trong đợt sau.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:41:42 pm
Tây Bắc là vùng có nhiều đồng bào các dân tộc ít người; trước khi bộ đội tiến quân lên Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ cho bộ đội và nhân dân vùng mới giải phóng". Chấp hành mệnh lệnh của Người, các đơn vị vừa đánh địch, vừa làm công tác dân vận, chiến lợi phẩm được quản lý sử dụng hợp lý nên đã góp phần tích cực khắc phục khó khăn trong bảo đảm hậu cần.


Chuẩn bị cho đợt 2, Bộ chỉ huy chiến dịch yêu cầu các đơn vị tổ chức lực lượng tham gia sửa đường, vận chuyển gạo, đạn, chuyển thương binh về tuyến sau... Hậu cần chiến dịch được trang bị một số phương tiện thông tin vô tuyến và hữu tuyến để chỉ huy các tuyến vận tải. Do không phù hợp nên tuyến Khâu Vác và Sài Lương được giải thế, lực lượng tập trung về đường 13, tổ chức tuyến vận tải từ Âu Lâu, Ba Khe đến Tông Cao, Gia Phù. Đồng thời, khẩn trương củng cố tuyến Thu Cúc, Quang Huy và Tông Cao, mở đường và tổ chức tuyến vận tải từ Tông Cao đến Suối Cao, Tạ Khoa nối với đường 41 ở Cò Nòi và mở tuyến vận tải xuống Vạn Yên nối với đường 41 ở Lồm Xồm. Liên khu Việt Bắc gấp rút huy động thêm 12.000 dân công, Liên khu 4 huy động 11.000 dân công. Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường cho hậu cần nhiều cán bộ trung, cao cấp để tổ chức chỉ huy các đoàn dân công trên đường 41 phục vụ chiến dịch. Các tuyến vận tải được mở rộng, các trạm bố trí cung độ hợp lý, đời sống dân công được quan tâm hơn... Hậu cần chiến dịch đã sửa chữa 64km (đường 41) từ Suối Rút qua Mộc Hạ đến Lồm Xồm và 61 kín (đường 13) từ Yên Bái đến Ba Khe cho ô tô vận tải hoạt động. Toàn bộ dân công vận tải bộ trên tuyến này được dồn lên phía trước. Tiếp đó, ta tiếp tục sửa đương cho ô tô chạy đến Tông Cao, Gia Phù. Những nỗ lực đó đã đẩy nhanh tiến độ mở đường và vận chuyển tốt hơn đợt 1.


Đồng thời, nhiều đơn vị đã tham gia gặt lúa giúp dân ở vùng mới giải phóng ở Tây Bắc và cùng cán bộ địa phương vận động nhân dân bán gạo cho bộ đội và đi dân công phục vụ chiến dịch. Đồng bào Tây Bắc đã huy động đóng góp 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 15.000 lượt người đi dân công (150.000 ngày công). Riêng Nghĩa Lộ, huy động được 160 tấn gạo, 16 tấn thịt... kịp thời đáp ứng nhu cầu tác chiến, đỡ phải huy động, chuyển từ xa lên.


Giữa lúc ta khẩn trương chuẩn bị cho đợt 2, ngày 29 tháng 10, 5 binh đoàn cơ động mở cuộc tiến công lên Phú Thọ, Yên Bái nhằm phá hoại hậu phương chiến dịch của ta cắt đường vận tải từ Việt Bắc sang Tây Bắc. Đồng thời, chúng dùng không quân đánh phá ác liệt các tuyến vận tải từ Việt Bắc sang Tây Bắc. Đèo Giàng trên đường số 3 bị tắc 6 ngày; Đèo Khế tắc 10 ngày... Để đập tan âm mưu của địch, Trung đoàn 36, Đại đoàn 308 nhận lệnh về Phú Thọ cùng Trung đoàn 246, Liên khu Việt Bắc và Trung đoàn 176, Đại đoàn 316 đánh địch, bảo vệ hậu phương. Tổng cục tiền phương giao nhiệm vụ cho các cơ sở hậu cần ở Phú Thọ, Yên Bái gấp rút sơ tán kho tàng, sử dụng lực lượng tại chỗ vừa phục vụ bộ đội chiến đấu ngăn chặn địch, vừa tiếp tục chuẩn bị cho đợt 2. Bị ta chặn đánh quyết liệt, cuối tháng 11, địch phải rút lui.


Bước vào đợt 2, ngày 15 tháng 11, bộ đội ta vượt sông Đà tiêu diệt các mục tiêu bên bờ hữu ngạn, phá vỡ hệ thống phòng ngự của địch ở Mộc Châu; truy kích diệt địch trên đường 41. Hướng vu hồi, ta đánh vào nam Lai Châu và bắc Sơn La, giải phóng Tuần Giáo, Điện Biên Phủ, Thuận Châu, Sơn La. Ngày 22 tháng 11 năm 1952, địch bỏ các vị trí trên đường 41 từ bắc Sơn La về tập trung quân xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm để ngăn chặn ta tiến công.


Ban cán sự đường 41 tổ chức dân công gánh gạo, đạn bám sát bộ đội, bảo đảm cho các đơn vị tiến công và truy kích địch trên đường 41. Đồng thời gấp rút sửa đường từ Xồm Lồm lên Mộc Châu, Cò Nòi. Việc vận chuyển được thực hiện theo cung, chặng và cuốn chiếu. Thời gian đầu tập trung lực lượng, phương tiện trên tuyến Suối Hút - Xồm Lồm (64 km), tiếp đó là cung Xồm Lồm - Cò Nòi (87 km). Lực lượng vận tải (gồm: dân công gánh bộ, bộ đội, 461 xe đạp thồ, 168 xe trâu bò kéo, 24 thuyền, 30 ô tô) đã chuyển 528 tấn gạo (410 tấn từ Suối Rút lên, 70 tấn huy động ở Mộc Châu, 23 tấn chiến lợi phẩm ở Mộc Châu và 25 tấn đưa từ đường 13 sang), kịp bảo đảm cho đội phát triển tiến công và dự trữ một phần cho đợt sau. Trên hướng đường 13, hậu cần tập trung chuyển gạo, đạn, từ Yên Bái sang bảo đảm cho các đơn vị vượt sông đánh địch ở hữu ngạn sông Đà. Ta đã mở tiếp đường 13 từ Ba Khe vượt các đèo: Lũng Lô, Bản Ban, Nhọt, Chẹn đến Tạ Khoa, Cò Nòi (130km). Lực lượng vận tải chính trên hướng này là dân công, kết hợp với vận tải ô tô trên một số đoạn. Ngoài 25 tấn gạo đưa sang hướng đường 41, hậu cần đã chuẩn bị 140 tấn cho các đơn vị tiếp tục ở lại Tây Bắc hoạt động sau chiến dịch và chuẩn bị 313 tấn bảo đảm cho bộ đội lui quân.


Ngày 30 tháng 11 năm 1952, đợt 3 bắt đầu với các trận đánh vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản (Sơn La) nhưng không thành công, thương binh nhiều (1.200 người). Ngày 10 tháng 12 năm 1952, ta kết thúc chiến dịch, chỉ để lại 2 trung đoàn kìm chân địch và củng cố vùng mới giải phóng.


Sau 58 ngày đêm chiến đấu, ta tiêu diệt 6.000 tên địch (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội), giải phóng vùng đất rộng 28.500km2 với 250.000 dân, mở rộng căn cứ kháng chiến, mở đường sang Thượng Lào, phá thế uy hiếp của địch đối với căn cứ địa Việt Bắc ở phía tây. Hậu cần chiến dịch đã bảo đảm 9.360 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt, 33 tấn đạn dược, cứu chữa 2.535 thương binh. Để có kết quả trên, ta đã huy động ở 10 tỉnh thuộc các Liên khu Việt Bắc, 3, 4 và ở 4 huyện thuộc Tây Bắc mới giải phóng, gồm hơn 1.000 tấn lương thực, 191.000 lượt dân công (hơn 7 triệu ngày công), 1.101 xe đạp thồ, 258 xe trâu bò và 556 thuyền vận tải, 2 phà, 8 ca nô phục vụ chiến dịch... góp phần quan trọng vào thắng lợi to lớn của chiến dịch. Tổng Quân ủy nhận định: "Thắng lợi của chiến dịch đặt nền tảng cho một căn cứ địa mới - căn cứ địa Tây Bắc. Rồi đây, dù tình hình trở nên khó khăn hay thuận lợi, căn cứ địa Việt Bắc và căn cứ địa Tây Bắc sẽ là một bảo đảm cho cuộc kháng chiến lâu dài của chúng ta và sẽ có ảnh hưởng đối với cách mạng Lào".


Chiến dịch Tây Bắc để lại nhiều bài học quý về tổ chức bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch lớn, dài ngày ở chiến trường rừng núi, xa hậu phương, hệ thống đường sá và bảo đảm hầu như chưa có,... Nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, trực tiếp là Tổng Quân ủy, quân và dân ta đã khắc phục mọi khó khăn, tổ chức bảo đảm chặt chẽ với sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa hậu cần ở hậu phương với hậu cần ở tiền tuyến trong nắm tình hình, chỉ huy, chỉ đạo huy động nhân vật lực và bảo đảm cho tác chiến, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Trong đó có bài học sâu sắc về quan điểm thực tiễn, bám sát bộ đội trong tổ chức bảo đảm. Những kinh nghiệm đó đã được nghiên cứu vận dụng, phát triển trong giai đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. 60 năm đã trôi qua, những bài học kinh nghiệm đó vẫn nguyên giá trị, cần nghiên cứu kế thừa, phát triển trong xây dựng thế trận và tiềm lực hậu cần tại chỗ trên các địa bàn chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:42:57 pm
BẢO ĐẢM THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Thiếu tướng VŨ DƯƠNG NGHI
Chính ủy Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc


Thu Đông 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta giành thắng lợi trong chiến dịch Tây Bắc, tiếp tục giữ vững và phát huy quyền chủ động của cuộc kháng chiến. Trong chiến dịch này, vượt qua những khó khăn về địa hình, phương tiện còn nhiều hạn chế, bộ đội thông tin đã tổ chức thông tin liên lạc chặt chẽ, bảo đảm chỉ huy thông suốt vững chắc trong mọi tình huống, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của chiến dịch.


Tại Hội nghị phổ biến nhiệm vụ, kế hoạch của chiến dịch (9-9-1952), Cục Thông tin liên lạc được giao nhiệm vụ tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc cho Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch Tây Bắc và nam Liên khu 3. Triển khai nhiệm vụ, Cục chia thành hai bộ phận: một ở lại căn cứ địa Việt Bắc do Cục trương trực tiếp điều hành để giữ liên lạc với bộ phận tiền phương sở chỉ huy chiến dịch, liên lạc với các đại đoàn, với Liên khu 3 ở chiến trường vùng sau lưng địch. Một bộ phận do Bí thư Đảng ủy Hoàng Bửu Đón làm Trưởng ban và Cục phó Nguyễn Văn Tình làm Phó ban cùng cơ quan, đơn vị trực thuộc đi phục vụ Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Bắc. Lực lượng tham gia phục vụ Mặt trận Tây Bắc có Ban Ba chiến dịch, Tiểu đoàn 303 (gồm 2 đại đội điện thoại với 40 máy, 3 tổng đài và 100 km dây bọc, 1 đại đội liên lạc chuyển đạt); đại đội liên lạc vô tuyến điện 101 (có 3 liên đài với 6 máy, 2 đài MK2, 2 đài 694, 2 đài V101). Đội liên lạc chuyển đạt đường dài 231 tổ chức đường chuyển đạt từ tiền phương về hậu phương. Thông tin liên lạc ở các đại đoàn được trang bị được thống nhất, số quân được tăng cường, chất lượng phương tiện kỹ thuật tốt hơn, cán bộ được biên chế sắp xếp đầy đủ.


Để đảm bảo yếu tố bí mật, Cục đã thảo chỉ thị giữ bí mật vô tuyến điện (được Tổng tham mưu trưởng phê chuẩn) quy định việc phát sóng liên lạc vô tuyến điện của tất cả các điện đài phải theo sự chỉ đạo thống nhất của Cục. Những cụm liên lạc vô tuyến điện ở hậu phương được tổ chức trong chiến dịch (Hòa Bình), gồm những điện đài được bố trí ở nơi ổn định, công suất máy phát lớn, máy thu có độ nhạy cao liên lạc xa tốt nay lại phát huy tác dụng, là cụm điện đài tin cậy của Bộ Tổng tư lệnh khi bước vào chiến dịch.


Thực hiện kế hoạch nghi binh của Bộ Tổng tham mưu, Cục đã chỉ đạo các điện đài ở Bộ và các đơn vị tham gia nghi binh trên sóng vô tuyến điện, nhiều bức điện giả được phát xen lẫn với thật. Một số điện đài của các đại đoàn 308, 312, 316, Đại đoàn công pháo 351 và Trung đoàn 148 vẫn ở lại vị trí cũ phát sóng liên lạc với đài của Bộ, sau đó mới hành quân đuổi theo đơn vị. Hoạt động trên sóng vô tuyến điện lúc rầm rộ lúc bình thường kéo dài từ ngày 20 tháng 9 đến 14 tháng 10 năm 1952, khi các đơn vị nổ súng mở màn chiến dịch. Trong khi đó điện đài Ban Ba và các đơn vị tham gia chiến dịch hoàn toàn giữ im lặng trong suốt thời gian hành quân.


Bước vào chiến dịch, để bảo đảm thông tin liên lạc cho công tác chỉ đạo, chỉ huy một lực lượng lớn gồm 3 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo vượt sông Hồng trong 2 đêm (10 và 11-10) được nhanh gọn, không ùn tắc và an toàn, một mạng liên lạc điện thoại vượt sông tại các bên được hình thành. Một đường dây từ sở chỉ huy tiền phương chiến dịch đến Ban chỉ huy vượt sông. Từ ban chỉ huy vượt sông có các đường điện thoại tới ban chỉ huy từng bến, ở mỗi bến có một tổ liên lạc điện thoại trang bị gọn, nhẹ rải dây trước qua sông, đặt máy liên lạc. Nhờ có đường liên lạc điện thoại mà sở chỉ huy chiến dịch có thể nắm chắc tình hình các đơn vị vượt sông từ khi khởi đầu cho đến khi kết thúc.


Khi bộ đội vượt sông an toàn, tiến hành "bôn tập", là lúc chiến sĩ thông tin liên lạc, nhất là chiến sĩ điện thoại dây bước vào giai đoạn gian nan vất vả, nhanh chóng thu dây, thu máy kịp hành quân theo hướng phát triển của chiến dịch. Ngay đêm đầu tiên vượt sông Hồng, trời mưa như trút nước. Trên vai mỗi người phải mang vác trung bình từ 30 đến 35 kg dây, máy, lương thực và quân trang, kèm thêm 8 nắm cơm ăn trong 4 ngày. Theo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, sau 4 ngày đêm hành quân, các đơn vị thông tin phải tới vị trí đặt máy, rải dây. Vượt qua mọi khó khăn, thử thách, các chiến sĩ thông tin đã hoàn thành nhiệm vụ đúng ngày giờ quy định.


Theo kế hoạch tiến công đợt 1, Ban Ba chiến dịch có nhiệm vụ dùng ba liên đài tổ chức mạng liên lạc vô tuyến điện để Bộ chỉ huy chiến dịch nắm tình hình của các đại đoàn 304, 320 đang hoạt động ở vùng sau lưng địch ở nam Liên khu 3 và các trung đoàn đang hoạt động ở Phú Thọ; tổ chức mạng lưới thông tin đến các đơn vị của các đại đoàn 308, 304 và 312. Đúng giờ quy định, chiều ngày 14 tháng 10 năm 1952, các điện đài của sở chỉ huy chiến dịch, mở máy phát sóng liên lạc. Điện đài ở các nhánh, các mũi đều nhận được và phát tín hiệu đã sẵn sàng nhận lệnh.


Mở đầu chiến dịch, Trung đoàn 174 tiến công Ca Vịnh, Trung đoàn 141 đánh vào Sài Lương. Để chỉ đạo Trung đoàn 141, khi sở chỉ huy chiến dịch vào đến Khe Lóng, một đôi dây điện thoại đã bí mật được kéo từ Khe Lóng đến Sở chỉ huy trung đoàn để Bộ chỉ huy chiến dịch trực tiếp theo dõi đơn vị. Đường dây rải đúng vào lúc những trận mưa đột ngột, kéo dài, nước lũ làm các con suối ngập tràn chảy xiết, đường vào phải qua địa hình phức tạp, thời gian lại khống chế, nhưng cán bộ, chiến sĩ trung đội điện thoại đã vượt qua hoàn thành nhiệm vụ trước giờ quy định. Tuy vậy, địch đã bỏ chạy trước giờ nổ súng, thông qua liên lạc vô tuyến và điện thoại, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho các đơn vị truy kích địch.


Để Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch ở Thẩm Cố chỉ đạo các đơn vị tấn công Nghĩa Lộ. Đường dây được đấu vào tổng đài đặt ở Bản Tư, từ đây kéo xuống Đại đoàn 308 ở bắc điểm cao 793 và Đại đoàn 312 ở suối Lô. Như vậy, hệ thống liên lạc đã được thiết lập từ sở chỉ huy cơ bản chiến dịch ở Khe Lóng đến sở chỉ huy tiền phương với các đại đoàn 308, 312. Để lập nên hệ thống dây này, cán bộ và chiến sĩ liên lạc đã lợi dụng pháo sáng của địch thả từ máy bay xuống để xoi đường và chiếu theo đường thẳng trên bản đồ để rải dây theo đúng ý định.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:43:57 pm
Theo kế hoạch, đêm 17 tháng 10, Đại đoàn 308 tiến công Nghĩa Lộ. nhưng khi phát hiện địch tăng cương lực lượng và rời sở chỉ huy Phân khu Pú Chạng, nên Bộ chỉ huy chiến dịch thay đổi kế hoạch, quyết định tấn công Pú Chạng. Bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ đạo, chỉ huy, Ban Ba cho rải một đường dây điện thoại từ sở chỉ huy đại đoàn tới sở chỉ huy Trung đoàn 102. Qua đường dây này có thể liên lạc với Tiểu đoàn súng máy phòng không 387, với đại đội cối 120mm và Trung đoàn 88 đang chuẩn bị đánh vào Nghĩa Lộ. Còn ở Trung đoàn 102, từ sở chỉ huy có ba đường điện thoại xuống ba tiểu đoàn. Mặc dù gặp khó khăn về địa hình (đoạn suối Nậm Đông nước chảy xiết, lòng suối toàn đá hộc phủ đầy rêu trơn) lại phải giữ bí mật tuyệt đối, nhưng trong đêm 16 tháng 10, cán bộ, chiến sĩ liên lạc điện thoại của đại đoàn và trung đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ. Tuy vậy, do không kịp ngụy trang nên trưa ngày 17 tháng 10, địch phát hiện và cắt đoạn dây vượt đường lớn, đồng thời huy động súng cối, đại bác 105mm và máy bay ném bom na-pan làm ta thương vong 34 người. Đây là bài học cho thông tin liên lạc của Trung đoàn 102 trong công tác ngụy trang, bảo đảm bí mật. Bất chấp hiểm nguy, các chiến sĩ thông tin nhanh chóng nối dây, đảm bảo liên lạc được thông suốt. Đúng 17 giờ 5 phút, qua điện thoại, trung đoàn trưởng ra lệnh nổ súng, sau 3 giờ 25 phút chiến đấu ác liệt, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm, liên lạc chỉ huy được giữ vững từ đầu đến cuối trận đánh.


Trên hướng khác, thông tin liên lạc của Trung đoàn 88 (Đại đoàn 309) nhanh chóng tỏa mạng điện thoại bảo đảm cho bộ binh và pháo binh chiếm lĩnh trận địa tiến công dịch ở Nghĩa Lộ. Triển khai nhiệm vụ khi yếu tố bất ngờ không còn, thời gian đòi hỏi rất gấp, lại không nắm vững địa hình, trong lúc máy bay, đại bác địch liên tục bắn phá, trong khi yêu cầu đường dây điện thoại từ sở chỉ huy trung đoàn phải tỏa đi 6 hướng. 18 giờ toàn trung đoàn bắt đầu vào chiếm lĩnh trận địa. Tuy vậy, đường điện thoại từ đại đoàn đã không theo kịp, nên giữa đại đoàn và trung đoàn bị gián đoạn, buộc phải lùi giờ nổ súng từ 2 giờ 00 ngày 18 tháng 10 đến 3 giờ 5 phút, khi tất cả các đường điện thoại từ đại đoàn xuống và từ trung đoàn đến các mũi các trận địa hỏa lực đều thông suốt. Sau hơn 2 giờ chiến đấu ta đã chiếm xong cứ điểm. Từ khi nổ súng cho đến khi kết thúc trận đánh đường dây điện thoại luôn an toàn thông suốt. Thắng lợi của Đại đoàn 308 ở Nghĩa Lộ chứng minh sự trưởng thành của bộ đội ta, trong đó Bộ đội Thông tin liên lạc có bước tiến vững chắc. Đặc biệt là thông tin liên lạc điện thoại đã đảm bảo thông tin cho chỉ huy đánh địch khi yếu tố bất ngờ không còn.


Sau khi làm chủ Nghĩa Lộ, theo lệnh của Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308, Ban Ba cấp tốc cho rải đường điện thoại sang phía Trung đoàn 36 (đơn vị đánh đồn Cửa Nhì), đường dây vừa tới nơi thì trung đoàn phát hiện thấy địch trong đồn hoang mang, chuẩn bị rút nên đã đề nghị cho đánh sớm. Đêm 18 tháng 10, Trung đoàn 36 vây chặt, kịp thời nổ súng ngay khi địch chưa kịp tháo chạy. Trong suốt quá trình chiến đấu (khoảng 20 phút) việc liên lạc giữa trung đoàn với Bộ chỉ huy chiến dịch, với Bộ chỉ huy đại đoàn luôn được giữ vững.


Phía Đại đoàn 312, khi đường dây từ tổng đài Bản Tư kéo đến Sở chỉ huy đại đoàn, Bộ chỉ huy chiến dịch đã trực tiếp theo dõi, chỉ đạo đại đoàn chiến đấu. Sau khi làm chủ Nghĩa Lộ, biết địch đã tăng cường quân dù cho Tú Lệ, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho Đại đoàn 312 tấn công Gia Hội. Trận chiến đấu diệt viện, công đồn trên đường Gia Hội - Nghĩa Lộ trở thành cuộc chiến đấu truy kích đường rừng dài gần 100 km, từ Gia Hội - Làng Chàng - Tú Lệ - Cao Pha - Ít Ong đến sát tả ngạn sông Đà. Đây là tình huống bất ngờ, khó khăn đối với thông tin liên lạc Đại đoàn 312. Chiến thuật rải dây điện thoại truy kích địch đã được nghiên cứu, học tập nhưng chưa được thực hành trong diễn tập. Hơn nữa lại truy kích đường rừng, liên lạc vô tuyến điện thuận lợi hơn liên lạc điện thoại. Tuy vậy, trước đây bảo đảm liên lạc vô tuyến điện vẫn thường làm việc theo phiên, theo giờ quy định, nay theo yêu cầu mới phải tìm mọi cách thực hiện bằng được liên lạc vô tuyến điện. Điện đài phải canh liên tục giữ vững liên lạc giữa tham mưu trưởng trung đoàn với đại đoàn. Trong truy kích việc canh liên tục hết sức khó khăn, chỉ sơ suất nhỏ là lệnh không kịp nhận, báo cáo bị thất lạc. Đối với chiến sĩ liên lạc phải dồn lại thành một tiểu đội máy và các tiểu đội dây. Một tiểu đội dây chạy trước ra dây, tiểu đội máy bám theo, các tiểu đội dây khác, dây sừng bò trên vai vượt lên trước đón đường rải dây tiếp. Dây, máy có hạn anh em lại phải cuốn dây, đưa máy từ phía sau lên phía trước, cố gắng bám sát chỉ huy, bám sát đơn vị giữ thông liên lạc. Bằng biện pháp sáng tạo rải dây theo kiểu "sâu đo", "cuốn chiếu", suốt 4 ngày 5 đêm đường dây điện thoại đã bám sát đội hình truy kích địch từ Gia Hội đến Tú Lệ, bảo đảm liên lạc cho các đơn vị.


Ở hướng thứ yếu, Đại đoàn 316 chỉ huy Trung đoàn 98 từ Phú Thọ vào nổ súng trước thu hút sự chú ý của địch. Đêm 14 tháng 10, đại đội thông tin liên lạc tổ chức bảo đảm liên lạc để trung đoàn chỉ huy các tiểu đoàn tiêu diệt địch ở Nha Phù và đêm 17 tiêu diệt sở chỉ huy Tiểu khu Phù Yên ở Bản Mo, quét địch ra khỏi tiểu khu. Ngày 18, đơn vị tiến đến Vạn Yên buộc địch bỏ chạy sang hữu ngạn sông Đà.


Phía đông nam Lai Châu, Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) từ Lào Cai tiến xuống Quỳnh Nhai. Tiểu đoàn được lệnh vừa tiến quân vừa phát sóng vô tuyến điện làm cho địch lầm tưởng rằng đây là một cánh quân lớn. Sau khi diệt các vị trí Nậm Sỏ, Nà Mu, Quỳnh Nhai, Pắc Nà... tiểu đoàn nhanh chóng tiến sát tả ngạn sông Đà.


Trong suốt đợt 1 của chiến dịch (từ 14 đến 23-10), bộ đội thông tin đã bảo đảm tốt thông tin liên lạc cho công tác chỉ đạo, chỉ huy các cánh, các mũi, góp phần vào những thắng lợi mở đầu. Trong số chiến lợi phẩm thu được của địch có 14 máy vô tuyến điện. Cán bộ, chiến sĩ thông tin liên lạc lại cùng các đơn vị tỏa về đóng ở các bản làng tiến hành công tác tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ và Bác Hồ, giác ngộ nhân dân các dân tộc và giúp đỡ cán bộ địa phương xây dựng chính quyền mới.


Sau những thất bại ở Nghĩa Lộ và Phù Yên, địch co hết sang hữu ngạn sông Đà, lập thành một phòng tuyến ngăn chặn quân ta tiến vào Sơn La, đồng thời mở cuộc hành quân tấn công lên Phú Thọ. Trước tình hình đó, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh vẫn chủ trương tiếp tục chiến dịch tiến công Tây Bắc, điều Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) về cùng với lực lượng tại chỗ đánh tiêu hao thật nhiều sinh lực dịch buộc chúng rút khỏi Phú Thọ, bảo vệ hậu phương, tích cực hoạt động ở đồng bằng Bắc Bộ phối hợp với chiến trường Tây Bắc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:44:31 pm
Ban Ba chiến dịch được Bộ chỉ huy giao nhiệm vụ: tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị ở hướng chủ yếu vượt sông Đà đánh địch bên hữu ngạn. Tổ chức giữ vững liên lạc vô tuyến điện với Mặt trận Y13, vượt cấp đến Trung đoàn 165 và các tiểu đoàn 542, 564, 115 (Trung đoàn 165), với Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148); giữ vững liên lạc vô tuyến điện với Trung đoàn 36 cả khi đang hành quân và đánh địch ở Phú Thọ; giữ chắc liên lạc vô tuyến điện với các đơn vị đã vượt sông Đà, cụ thể: với Đại đoàn 312, vượt cấp đến hai trung đoàn 209, 141 đánh địch ỏ Tà Phình, Bản Hoa, Ba Lay...; với Đại đoàn 316, vượt cấp đến hai trung đoàn 98, 174 đánh địch trên cao nguyên Mộc Châu; với Đại đoàn 308, vượt cấp đến Trung đoàn 88 tiến đánh Hát Tiếu, Mường Lụm, đánh địch trên đường 41 và cắt liên lạc giữa Mộc Châu với Yên Châu trên đường 41, vượt cấp đến Trung đoàn 143 ở Sốp Bao làm lực lượng dự bị chiến dịch. Nếu điều kiện thuận lợi, tổ chức gấp đường liên lạc điện thoại giữa sở chỉ huy chiến dịch với Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312.


Những trường hợp thông tin bị gián đoạn trong truy kích địch ở đợt 1 đã được rút kinh nghiệm và chấn chỉnh, nên bước vào đợt 2, ngay từ đầu thông tin đã được giữ vững. Đêm 16 tháng 11, Đại đội điện thoại 99 (Tiểu đoàn thông tin 303) đã triển khai rải dây phục vụ cho các đơn vị vượt sông 2 đôi dây điện thoại của các đại đội 99 và 110 (Tiểu đoàn thông tin 303) kéo từ sở chỉ huy chiến dịch theo hai mũi xuống Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312, một đôi dây được kéo dựa vào cầu phao phía hạ lưu rồi thả qua sông bằng bè chuối vào Đại đoàn 308 ở suối O (Long Ma, Mường Lụm). Còn đôi dây xuống Đại đoàn 312, các chiến sĩ liên lạc điện thoại phải bơi qua sông để rải dây đến Tà Lài, Bản Hoa. Cả hai đôi dây đều thông suốt ngay trong đêm 18 tháng 11 khi các đơn vị ở hướng chủ yếu bắt đầu nổ súng. Như vậy, bằng hai phương tiện thông tin liên lạc cơ bản vô tuyến điện và điện thoại, Ban Ba chiến dịch có thể bảo đảm thông tin thông suốt đê Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo, chỉ huy các mũi ở hướng chủ yếu đánh địch trong đợt 2.


Sau khi hệ thống phòng ngự của địch bị đập vỡ, để bảo đảm cho chỉ đạo, chỉ huy cuộc truy kích, Tiểu đoàn thông tin 303 tổ chức một bộ phận nhẹ đi trước gồm một trung đội liên lạc điện thoại, một tổ tổng đài và một trung đội liên lạc chuyển đạt, một tổ điện đài vô tuyến điện do Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 303 trực tiếp chỉ huy. Anh em đã hành quân cấp tốc liên tục 3 ngày 3 đêm, theo kịp các đơn vị chiến đấu đến Cò Nòi. Khi sở chỉ huy tiền phướng do đồng chí tham mưu trưởng chiến dịch dừng lại ở Cò Nòi, các phân đội trên đã bảo đảm ngay liên lạc. Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái đã có nhận xét: Thông tin liên lạc của Bộ bảo đảm liên lạc từ đầu chiến dịch đến đây vẫn duy trì rất tốt. Tuy nhiên, ở các đơn vị cấp dưới do chỉ dùng liên lạc chuyển đạt để chỉ huy truy kích địch nên tốc độ truy kích chậm, thiếu những mũi thọc sáu, chặn đầu, không bao vây chặt nên để địch chạy dồn về Nà Sản.


Ở hướng thứ yếu phía nam Lai Châu, bộ đội ta nổ súng và tiến hành nghi binh tốt, thu hút được sự chú ý của địch, ở hướng này việc tăng thêm lực lượng Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) và Mặt trận Y13 nên số lượng điện đài đáng kể. Từ 1 điện đài của Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) nay tăng lên thành 7 điện đài. Bốn tiểu đoàn đồng thời phát sóng liên lạc vô tuyến điện ở 4 mũi, cùng với 3 điện đài của mặt trận và của Trung đoàn 165, nên địch lầm tưởng đây là hướng tiến công chủ yếu của ta với lực lượng 3 đại đoàn. Thấy địch hoang mang, qua vô tuyến điện, Tư lệnh Mặt trận Y13 lệnh Tiểu đoàn 542 vượt sông sớm hơn dự định 8 ngày, để cùng các tiểu đoàn 910 và 564 tiến công địch. Ngày 8 tháng 11, địch bỏ Tuần Giáo, rồi bỏ tiếp Thuận Châu, Điện Biên, Quỳnh Nhai, Mường Sài... rút về Lai Châu, Nà Sản. Tiểu đoàn 115 - lực lượng dự bị cũng được tung ra tiến về Thuận Châu. Biết địch đã rút chạy, Tư lệnh Mặt trận Y13 dùng liên lạc vô tuyến diện cho tiểu đoàn quay xuống Mường La, 11 giờ ngày 22 tháng 11, Tiểu đoàn 115 tiến công giải phóng thị xã Sơn La, sau đó tiến sát Nà Sản. Như vậy, chỉ với lực lượng bốn tiểu đoàn, biết phát huy tốt phương tiện thông tin liên lạc vô tuyến và tiến công kiên quyết ta đã giải phóng 6 huyện (Than Uyên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Mường La, Điện Biên, Thuận Châu) và thị xã Sơn La.


Địch co cụm về Nà Sản, tổ chức thành tập đoàn cứ điểm. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy và Đang ủy chiến dịch quyết tâm tập trung lực lượng mỏ đợt tiến công thứ 3, tiêu diệt địch ở Nà Sản, giành toàn thắng cho chiến dịch Tây Bắc. Mặc dù ta đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thành công, song chiến dịch tiến công Tây Bắc vẫn giành thắng lợi rất to lớn và xuất sắc về nhiều mặt theo mục đích đề ra, nhất là nhiệm vụ giải phóng đất đai và nhân dân vùng Tây Bắc.


Trong thắng lợi rất to lớn và xuất sắc đó, Bộ đội Thông tin liên lạc đã trưởng thành lên một bước vững chắc. Cán bộ và chiến sĩ đã tham gia thực hiện tốt nhiệm vụ nghi binh chuẩn bị chiến dịch theo kế hoạch chung đã bảo đảm liên lạc chỉ đạo, chỉ huy thông suốt vững chắc cho lực lượng lớn bộ đội vượt sông Hồng, tiến công giải phóng Nghĩa Lộ, phá vỡ tuyến phòng thủ sông Đà, giải phóng tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản).


Lịch sử xây dựng, phát triển và trưởng thành của Bộ đội Thông tin liên lạc một lần nữa ghi nhận tinh thần bền bỉ, dũng cảm tuyệt vời của cán bộ và chiến sĩ thông tin trong chiến dịch Tây Bắc. Cùng với bộ binh, cán bộ, chiến sĩ thông tin đã vượt qua đèo cao, suối sâu, thác ghềnh đầy khó khăn hiểm trở, bom đạn ác liệt để triển khai mạng điện thoại, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt cả trong trường hợp tấn công mục tiêu và cả khi truy kích địch đường dài. Đồng thời, chiến dịch Tây Bắc đã ghi nhận kết quả của các chiến sĩ liên lạc vô tuyến điện ở hướng thứ yếu - Mặt trận Y13 vừa tiến hành giữ vững liên lạc chỉ huy tiến công, vừa tiến hành nghi binh ở các mũi, của từng tiểu đoàn độc lập đánh địch. Chiến dịch Tây Bắc giành thắng lợi, Bộ đội Thông tin liên lạc rút được nhiều bài học bổ ích, đặc biệt là bài học kinh nghiệm bảo đảm cho đánh vận động truy kích địch trên địa hình rừng núi và kinh nghiệm tổ chức thông tin liên lạc trong đánh tập đoàn cứ điểm, một kiểu tổ chức phòng ngự mới của địch. Những bài học kinh nghiệm đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với Binh chủng Thông tin liên lạc. Những kinh nghiệm đó đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng Binh chủng "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại" đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2024, 09:57:49 pm
PHÁO BINH TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC NĂM 1952

Thiếu tướng NGUYỄN VĂN CÔN
Tư lệnh Binh chủng Pháo binh


Sau thắng lợi to lớn, toàn diện trong chiến dịch Hòa Bình và hoạt động du kích chiến ở vùngđồng bằng Bắc Bộ, thế và lực của ta ngày càng được củng cố và phát triển; phạm vi chiếm đóng của thực dân Pháp và ngụy quyền bị thu hẹp, từ chỗ chủ động tiến công nay phải chuyển sang bị động đối phó... Trong khi đó, từ những năm 1949-1951, các đại đoàn 304, 308, 312, 320 và Trung đoàn pháo binh 675, công binh 151... lần lượt ra đời đã tạo ra thời cơ mới, đủ điều kiện để mở những chiến dịch quy mô lớn, hiệp đồng binh chúng.


Để lấy lại thế chiến lược đã mất ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Chính phủ Pháp phải thay quân, đổi tướng, bố trí lại lực lượng và thay đổi thủ đoạn chiến tranh, cử Đờ Lát đờ Tátxinhi sang Đông Dương làm Tổng tư lệnh kiêm Cao ủy Pháp thay cho tướng Pinhông và Cácpăngchiê.


Ngay sau khi đặt chân tới Việt Nam, Đò Lát đã gấp rút xây dựng phòng tuyến boong ke, khoảng 800 lô cốt xi măng..., bố trí từ Hòn Gai, Đông Triều, qua Bắc Giang, Bắc Ninh lên Sơn Tây và mở rộng xuống Ninh Bình, Phát Diệm. Đồng thời, tăng cường tuyển mộ binh lính bản địa, lập hệ thống hương lý để cai trị, càn quét, bắn giết, cướp của hòng thực hiện chính sách: "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và "kéo bộ đội chủ lực của ta đánh xuống đồng bằng để tiêu diệt".


Đánh giá đúng bản chất hiếu chiến và âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng triệu tập hội nghị chuyên đề về chiến tranh du kích nhằm kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 2 và bàn phương châm, nhiệm vụ đấu tranh trong vùng sau lưng địch; đồng thời gấp rút chuẩn bị lực lượng, thực hiện đánh lớn, chắc thắng vào nơi sơ hở, mỏng yếu của địch; tránh rắn, đánh mềm, nhằm tiêu diệt lớn sinh lực dịch, giải phóng một phần đất đai, mở rộng vùng chiến khu cách mạng... Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy nhận định: trên chiến trường Bắc Bộ lúc này, không có hướng nào địch "bố phòng" yếu như ở Tây Bắc, nếu ta đánh vào Tây Bắc ta sẽ đạt được 2 mục đích "tiêu diệt sinh lực" và "mở rộng đất đai" và đã quyết định chọn Tây Bắc để mở chiến dịch.


Trên địa bàn Tây Bắc, địch có 4 phân khu là: Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La và 3 tiểu khu độc lập gồm: Thuận Châu, Phù Yên, Tuần Giáo. Toàn bộ lực lượng dịch chiếm đóng có 3 tiểu đoàn Âu - Phi, 5 tiểu đoàn và 43 đại đội ngụy, 4 trung đội pháo, rải ra trên 144 cứ điểm (trong đó 40 cứ điểm, địch bố trí tới 2 đại đội đóng giữ). Các cứ điểm cơ bản bố trí độc lập, khó cơ động ứng cứu cho nhau, dễ bao vây cô lập.


Về ta, lực lượng tham gia chiến dịch gồm: 3 đại đoàn chủ lực; 1 trung đoàn công binh và 11 đại đội địa phương. Riêng pháo binh tham gia chiến dịch gồm có: Trung đoàn pháo binh 675 (trang bị sơn pháo 75mm), Tiểu đoàn 83 (súng cối 120mm) và 3 tiểu đoàn pháo binh trong 3 đại đoàn chủ lực.


Lực lượng pháo binh được sử dụng theo 3 đợt chiến dịch, như sau:

Đợt 1, gồm 4 đại đội pháo binh (2 đại đội sơn pháo 75mm và 2 đại đội côi 120mm) chi viện cho 2 trung đoàn bộ binh tiêu diệt các cứ điểm vòng ngoài, trước mắt tập trung hỏa lực và xung lực, đánh chiếm cứ điểm Sài Lương và Ca Vịnh, sau đó mở rộng đánh chiếm các cứ điểm còn lại.


Đợt 2, sử dụng 3 đại đội sơn pháo và 1 đại đội cối 120 chi viện cho Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) tiến công tiêu diệt địch ở Phú Thọ. 7 đại đội còn lại phối thuộc cho các hướng sau: 4 đại đội phối thuộc cho Đại đoàn 316 tiến công trên hướng chủ yếu đánh vào Mộc Châu, 2 đại đội phối thuộc cho Đại đoàn 312 tiến công cứ điểm Ba Lay trên hướng thứ yếu, 1 đại đội làm dự bị chiến dịch.


Đợt 3, chiến dịch sử dụng 2 tiểu đoàn pháo, bao gốm tiểu đoàn sơn pháo 75mm và tiểu đoàn cối 120mm chi viện cho Đại đoàn 308 và 312 tiến công tiêu diệt tập đoàn Nà Sản.


Sau 4 ngày khiêng pháo theo đội hình bộ binh, ngày 13 tháng 10, pháo binh được lệnh chiếm lĩnh đội hình chiến đấu. Đêm ngày 14 tháng 10, được lệnh nổ súng tiến công đánh địch vòng ngoài. Đại đội sơn pháo và Đại đội cối 120 bắn vào cứ điểm Sài Lương. Đại đội pháo 752 và Đại đội cối 111 bắn vào cứ điểm Ca Vinhmở màn chiến dịch. Với hàng trăm phát đạn đại bác cùng bắn vào hai cứ điểm nhưng do ta không chú ý đến đặc điểm của quân địchở Tây Bắc là "dễ tan nhưng khó diệt" nên khi pháo ta bắn chuẩn bị, địch đã lợi dụng đêm tối và đường rừng rút chạy, khi bộ binh xung phong đánh chiếm hai mục tiêu nói trên thì cả hai mục tiêu này không còn một tên địch. Được lệnh phát triển tiến công, đánh chiếm các mục tiêu vòng ngoài còn lại, lực lượng pháo binh đã nhanh chóng cơ động, triển khai đội hình chiến đấu, chi viện cho Trung đoàn bộ binh 174 (Đại đoàn 316) nhanh chóng đánh chiếm cứ điểm Bản Mo, Trung đoàn bộ binh 141 đánh chiếm cứ điểm Nậm Mười, Dốc Bàng, Đồng Bồ... Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức thuận lợi, trong 11 ngày tác chiến, vừa cơ động, vừa liên tục tiến công hàng loạt cứ điểm nhỏ dọc đường; vừa bao vây, đánh chiếm các cụm cứ điểm vòng ngoài, vừa chế áp quân địch tăng viện đường không xuống Tú Lệ, vu hồi đường bộ vào đông nam Lai Châu. Được pháo binh chi viện đắc lực, bộ binh ta đã nhanh chóng làm chủ hoàn toàn tuyến vòng ngoài của địch (trừ Phong Thổ - Lai Châu) từ hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn sông Đà; từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai. Kết thúc đợt 1 chiến dịch, ta đã đánh tan rã tiểu đoàn Âu - Phi và một số đại đội quân ngụy, tuyến vòng ngoài của địch được giải phóng.


Tuy vậy, quá trình diễn biến của đợt 1, địch đã phán đoán được hướng tiến công chủ yếu của ta nên khi đợt 1 chiến dịch diễn ra, địch đã kịp tăng thêm 5 tiểu đoàn Âu - Phi cho hướng Lai Châu và Nà Sản; lập cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản; xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm để quyết đánh bại hướng tiến công chủ yếu của ta. Đồng thời tập trung 12 tiểu đoàn, kết hợp với xe tăng, pháo binh mở cuộc hành quân Loren đánh sâu vào hậu phương của ta ở Phú Thọ, Đoan Hùng nhằm đỡ đòn cho Tây Bắc.


Giữ vững quyết tâm đã xác định, Bộ chỉ huy chiến dịch đã lệnh cho Trung đoàn 36 cùng với 3 đại đội sơn pháo và 1 đại đội cối 120mm lui về phối hợp với lực lượng tại chỗ đánh địch ở Phú Thọ. Lực lượng chủ yếu ở Tây Bắc tổ chức thành 2 mũi tiến công. Mũi chủ yếu tiến công vào Tuần Giáo, phát triển đánh chiếm Điện Biên Phủ. Mũi thứ yếu đánh chiếm Thuận Châu và truy kích địch trên hướng Sơn La. Trên hướng Tây Bắc, sau khi tổ chức vượt sông Đà, lực lượng pháo binh đã nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa, kịp thời nổ súng chi viện cho các đại đoàn tiến công tiêu diệt địch ở Mộc Châu (trên hướng chủ yếu), tiêu diệt và bức hàng gần 4 tiểu đoàn quân địch ở Chiềng Đông, Cò Nòi, Tạ Khoa, về đến Nà Sản. Trên hướng phối hợp, 3 đại đội sơn pháo và 1 đại đội cối 120mm cũng phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 36, 176 và dân quân du kích tỉnh Phú Thọ, tổ chức nhiều trận đánh đạt hiệu suất cao, buộc cuộc hành binh Loren của giặc Pháp phải kết thúc. Kết quả đợt 2 chiến dịch, ta đã giải phóng được một vùng đất đai rộng lớn, bao gồm 6 huyện với gần 10 vạn dân, phá vỡ hoàn toàn tuyến phòng thủ phía nam Lai Châu của địch.


Nhưng đến đợt 3 của chiến dịch, với 2 trận thành công (ở Pú Hồng, Bản Hời, nhưng bị địch phản kích chiếm lại) và 2 trận không thành công (ở Nà Si, Bản Vây), Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận thấy, ta chưa đủ lực đánh thắng một tập đoàn cứ điểm lớn như Nà Sản. Ngày 10 tháng 12 Bộ chỉ huy ra lệnh kết thúc chiến dịch, lui về củng cố hậu phương và vùng mới giải phóng.


Kết quả của chiến dịch ta đã diệt và bắt gần 10 nghìn tên địch, giải phóng khoảng 28.500km2 đất đai, với 250.000 dân, nối liền Tây Bắc với Việt Bắc và Thượng Lào.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2024, 09:59:18 pm
Từ thực tế tham gia chiến dịch cho thấy: nếu pháo binh được tổ chức sử dụng hợp lý, lựa chọn cách đánh hay thì dù ở bất cứ địa hình nào, rừng núi hay đồng bằng, hỏa lực pháo binh cùng đủ sức chi viện cho bộ binh tiến công, tiêu diệt cứ điểm, cụm cứ điểm trong công sự vững chắc, có lực lượng chiếm đóng từ hai đại đội đến một tiểu đoàn địch. Ưu, nhược điểm của bộ đội pháo binh qua thực tiễn chiến đấu trong quá trình chiến dịch được rút ra là:


1. Nghệ thuật sử dụng pháo binh có bước phát triển mới, phù hợp với quy mô tác chiến và cách đánh của binh chủng hợp thành.

Việc Trung ương chọn Tây Bắc để mở chiến dịch là một chủ trương hết sức sáng suốt, có tầm nhìn chiến lược sâu rộng; phù hợp với khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang ta và tình hình địch trên chiến trường miền Bắc lúc bấy giờ: phát triển chiến tranh đu kích ở vùng sau lưng địch, buộc địch phải tăng cường lực lượng, xây dựng hệ thống lô cốt boong ke để quyết giữ, bình định "vùng đồng bằng hữu ích, Bắc Bộ", tạo thế và thời cơ cho ta tập trung lớn lực lượng để tiến hành chiến dịch Tây Bắc giành thắng lợi.


Nắm chắc quyết tâm của chiến dịch và nhiệm vụ hỏa lực được giao, lực lượng pháo binh tham gia chiến dịch được sử dụng hết sức hợp lý. Trên các hướng tiến công (chủ yếu, thứ yếu, vu hồi và phối hợp...) đều có hỏa lực pháo binh chi viện. Tập trung nhiều hơn cho hướng chủ yếu, trận đánh then chốt ở Nghĩa Lộ và Mộc Châu; có lực lượng dự bị để xử trí tình huống: đánh địch vu hồi đường bộ (hướng đông nam Lai Châu), địch đổ bộ đường không xuống Tú Lệ...


Đây là bước phát triển vế nghệ thuật sử dụng pháo binh so với các chiến dịch trước đó: lần đầu tiên ta hình thành lực lượng pháo binh 3 cấp để chi viện bộ binh tiến công địch phòng ngự trong còng sự vững chắc có 1 tiểu đoàn dịch chiếm giữ. Tuy nhiên, do chưa hình thành được lực lượng pháo binh chi viện chung, nên thế trận pháo binh còn thiếu tính vững chắc, bỏ lỡ cơ hội diệt dịch ở Yên Châu, Cò Nòi, Thuận Châu và không đủ sức huy động hỏa lực tập trung để kiềm chế, chế áp pháo binh, sinh lực địch tập trung ở tập đoàn cứ điểm Nà Sản.


2. Lập thế trận pháo binh hiểm, bất ngờ, vận dụng cách đánh sáng tạo

Từ giữa năm 1952, cùng với việc bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ, trên hướng Tây Bắc, thực dân Pháp đã ráo riết củng cố "Xứ Thái tự trị" gồm 8.000 quân chiếm đóng, lập ra 144 cứ điểm (trong đó có 40 cứ điểm có trên 2 đại đội địch đóng giữ), bố trí thành 4 phân khu và 3 tiểu khu độc lập, để bóc lột, đàn áp nhân dân, che chở cho Thượng Lào và uy hiếp, đe dọa vùng tự do của ta ở Việt Bắc. Đồn bốt địch tuy nhiều nhưng cách xa nhau, biệt lập, khó chi viện cho nhau bằng cả hỏa lực và xung lực. Vì vậy, bộ đội pháo binh đã vác pháo vào gần, len lỏi vào các phân khu, đặt pháo bắn thẳng sát hàng rào... nên khi pháo binh bắn vào Sài Lương và Ca Vịnh, địch ở 2 cứ điểm này đã hoảng hốt bỏ chạy. Một số cứ điểm khác trong tuyến phòng thủ vòng ngoài như: Bản Mo, Nậm Mười, Ba Khe, Đồng Bồ... đều bị hỏa lực của pháo binh bắn bất ngờ, mãnh liệt, địch trong các cứ điểm luống cuống đối phó, chỉ sau 35 phút chiến đấu, bộ binh ta đã làm chủ hoàn toàn tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch.


Bằng cách đánh này, đợt 2 của chiến dịch, pháo binh đã phát huy hiệu quả hỏa lực chi viện cho các hướng tiến công giành thắng lợi. Điển hình là trận Mộc Châu, trên hướng chủ yếu của chiến dịch, bộ đội pháo binh đã triệt để lợi dụng địa hình hiểm trở, đưa 2 khẩu sơn pháo 75mm của Đại đội 756 vào đỉnh cao điểm 230 để ngắm bắn trực tiếp vào hàng rào kẽm gai, bắn phá một số hỏa điểm của địch bố trí trước cửa mở để tham gia mở cửa và kiềm chế các hỏa điểmngụy hại; đồng thời đưa 4 khẩu cối 120mm của Đại đội 113 vào chân điểm cao 241 để chế áp trận địa pháo binh địch bố trí ở tây Mộc Châu và Ba Lay... tạo được hỏa lực áp đảo ngay từ giai đoạn đầu pháo bắn chuẩn bị.


3. Phải nắm chắc địch để lựa chọn cách đánh, kết hợp với hiệp đồng pháo - bộ chặt chẽ để giành thắng lợi triệt để trong từng tình huống chiến dịch.

Hiểu địch và nắm chắc địch để chuẩn bị và thực hành đánh thắng địch là một yếu tố quan trọng bậc nhất đối với bất ký chiến dịch nào. Đặc biệt, ở Mặt trận Tây Bắc, tiến công địch trong công sự vững chắc, lại được bố trí rải rác trên nhiều cứ điểm, nơi có địa hình hiểm trở, nên việc nắm chắc địch càng có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi triệt để của chiến dịch.


Thực tế, khi bộ binh ta đánh vào hai cứ điểm Sài Lương và Ca Vịnh, địch đã bỏ chạy không còn một tên cho thấy ta nắm địch ở hai cứ điểm này chưa chắc, khâu hiệp đồng pháo - bộ còn thiếu cụ thể nên ta đã bỏ lỡthời cơ tiêu diệt địch tại đây, còn để địch tổ chức lui quân về phía sau, củng cố thêm lực lượng chống trả. Ngay cả khi ta đánh chiếm cứ điểm Tà Phình (đợt 2 của chiến dịch) cũng mắc phải sai lầm này: theo kế hoạch, chiến dịch sẽ tiến hành đánh cứ điểm Tà Phình trước để chia cắt Bản Hoa với La Hay, sau đó mới tập trung lực lượng đánh chiếm La Hay nhưng sau khi pháo bắn chuẩn bị, bộ binh ta thực hành xung phong cũng bị dịch lợi dụng thời cơ tổ chức chạy về La Hay toàn bộ. Bộ chỉ huy chiến dịch phải lệnh cho Đại đoàn 312 quay lại đánh La Hay. Đặc biệt, khi đợt 2 của chiến dịch kết thúc, tuy ta đã giải phóng được vùng đất đai rộng lớn, đánh chiếm được nhiều cứ điểm nhưng việc ngăn chặn, đánh quân rút chạy ta lại không thực hiện được. Pháo binh không chuẩn bị các phần tử bắn chặn dự kiến, còn để lực lượng lớn của địch ở Sơn La kịp lui về co cụm ở Nà Sản. Sau đợt 2 của chiến dịch, lực lượng địch ở Nà Sản đã lên tới 10 tiểu đoàn, có 2 tiểu đoàn dù và 1 tiểu đoàn pháo binh.


Tuy nhiên, nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch Tây Bắc có bước phát triển mới so với các chiến dịch trước đó về tổ chức sử dụng lực lượng, bố trí đội hình, sáng tạo ra cách đánh hay và tổ chứcchỉ huyhỏa lực chặt chẽ, nhất là trong điều kiện trang bị pháo, đạn của ta còn hạn chế. Trong đó, ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm, đưa pháo vào gần mục tiêu để ngắm bắn trực tiếp là tư tưởng chỉ đạo và cách đánh xuyên suốt trong cả quá trình chiến dịch.


Tựu chung lại, thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đã mở ra thế chiến lược mới. Bộ đội Pháo binh đã tiến bộ về chính trị cũng như về kỹ, chiến thuật đánh địch ở địa hình rừng núi.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:01:52 pm
BỘ ĐỘI CÔNG BINH BẢO ĐẢM CƠ ĐỘNG
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952


Thiếu tướng TS PHẠM QUANG XUÂN
Tư lệnh Binh chủng Công binh


Cách đây 60 năm, vào Thu Đông 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc và giành thắng lợi to lớn, có ý nghĩa chiến lược. Cùng với quân dân cả nước, bộ đội công binh kể cả cấp chiến dịch và cấp chiến thuật, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ mở đường, sửa đường và bảo đảm vượt sông cho lực lượng lớn, bí mật và an toàn, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch.

- Bảo đảm vượt sông cho chiến dịch: Công binh có nhiệm vụ bảo đảm cho các đơn vị qua sông Thao trong ba đêm (10 đến 12-10-1952). Đây là nhiệm vụ rất quan trọng và có nhiều khó khăn vì sông rộng, lực lượng qua sông rất lớn, phải bảo đảm bí mật, an toàn. Để điều hành việc qua sông đạt được các yêu cầu đề ra, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ định ủy ban vượt sông gồm đại biểu tỉnh ủy, ủy ban, công chính, công đoàn tỉnh Yên Bái và Trung đoàn 151. Đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp làm chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Đoan, Trung đoàn phó Trung đoàn 151 là chỉ huy phó ủy ban vượt sông, phụ trách kế hoạch và kỹ thuật.


Khu vực vượt sông dài 45km gồm ba bên: Âu Lâu, Cổ Phúc, Mậu A. Tiểu đoàn công binh 555 được tăng cường 1.100 dân công biết chèo lái thuyền, sử dụng 381 chiếc thuyền nan, 46 thuyền gỗ, 20 xuồng đơn, 5 máy đẩy, đảm nhiệm việc đưa bộ đội qua sông. Công tác tổ chức và chuẩn bị được tiến hành tỉ mỉ theo kế hoạch. Đêm 10 tháng 10 năm 1952 bộ đội bắt đầu qua sông. Trời đổ mưa to, máy đẩy ở bên Mậu A bị hỏng nên hết đêm mà bộ đội vẫn chưa qua hết, xảy ra ùn tắc. Lợi dụng sương mù, máy bay địch không hoạt động được, chỉ huy bến vượt đã huy động và tập trung lực lượng công binh cùng với dân công tích cực chèo thuyền bằng tay. Đến 9 giờ sáng ngày 11 tháng 10, đội hình chính của hai đại đoàn đã được đưa qua sông theo đúng kế hoạch. Đến đêm thứ ba, trên 41.000 người, 338 lừa ngựa và hàng trăm tấn trang bị, lương thực, thuốc men đã qua sông bí mật, an toàn. Đây là cuộc bảo đảm qua sông lớn, được tổ chức chặt chẽ, bí mật, an toàn, hoàn thành xuất sắc trong lịch sử bảo đảm vượt sông của Công binh Việt Nam.


Đợt 2 chiến dịch, Tiểu đoàn công binh 333 (thiếu) chuẩn bị bắc cầu qua sông Đà ở Sa Piệt. Phát hiện có địch ở bờ hữu ngạn, tiểu đoàn chuyển xuống bắc cầu ở Vạn Yên và Long Mú. Tuy nhiên, do lũ lên to nước chảy xiết, nên đêm 14 tháng 11 năm 1952, Đại đội 260 không bắc được cầu qua Long Mú. Hai đêm sau (15 và 16-11), đại đội khắc phục khó khăn tổ chức bắc xong cầu, đảm bảo cho Đại đoàn 308 qua sông bí mật an toàn, tiến vào tiêu diệt vị trí Mường Lum (đêm 18-11). Ở bến Vạn Yên, cũng do nước chảy xiết, có nhiều đá ngầm, lại bị máy bay địch đánh vỡ mảng, đứt dây nên qua hai đêm Đại đội 250 vẫn không bắc xong cầu. Không còn thời gian trinh sát và chuyển bến, đơn vị phải tháo cầu, dùng mảng để chèo chở bộ đội qua sông, được Trung đoàn 151 tăng cường thêm Đại đội 126 cùng một số thuyền nan nên trong hai đêm (15 và 16-11-1952), Đại đoàn 312 đã vượt sông Đà tiến vào tiêu diệt Bản Hoa (đêm 17-11). Tại bến Lánh cách bến Vạn Yên 3km, Đại đội công binh 150 (Đại đoàn 316) chèo thuyền đưa bộ đội qua sông tiêu diệt 3 đại đội địch ở Mộc Châu (đêm 20-11). Hệ thống phòng ngự của địch trên cao nguyên Mộc Châu bị đập vỡ, quân địch ở ven sông Đà tháo chạy. Bộ đội địa phương Khu Tây Bắc tiến vào vùng sau lưng địch, giải phóng Tuần Châu, Tuần Giáo, Thuận Châu, Sơn La (từ 17 đến 22-11) và Điện Biên Phủ (ngày 30-11-1952).


- Bảo đảm đường cơ động cho chiến dịch:

Từ ngày 8 tháng 10 năm 1952, Tiểu đoàn 333, 444 cùng công binh các đại đoàn bí mật mở 5 đường cơ động, mỗi đường dài 50 đến 60km... Thời gian gấp, đường dài vượt qua nhiều núi cao, rừng rậm, lại phái tránh các đường mòn và gỡ các mìn bẫy của địch,... Nhưng được sự giúp đỡ của dân quân địa phương, các con đường đều được mở đúng hướng. Những đoạn vượt qua đèo cao đều được làm đường vòng, đánh bậc, làm tay vịn để người đi bộ và khiêng vác pháo được dễ dàng. Đèo Khâu Vác cao 1.230m nhiều chỗ dốc đứng được các chiến sĩ công binh bạt dốc, làm hơn 10.000 bậc. Đoạn đường từ Cổ Phúc đi Sài Lương qua 10 đèo, trong đó có bốn đèo cao trên 1.000m đều có bậc để đi qua. Trên đường đi chiến dịch, Đại tướng Tổng tư lệnhVõ Nguyên Giáp đã khen ngợi cán bộ, chiến sĩ công binh đang làm nhiệm vụ trên đoạn đường này.


Đến ngày 13 tháng 10 năm 1952, trên các hướng tiến quân, công binh đã mở được 258km đường xuất kích. Đường mở đến đâu, bộ binh tiến đến đấy. Đêm 14 tháng 10, các đại đoàn đồng loạt nổ súng tiến công địch, mở màn đợt 1 chiến dịch Tây Bắc. Trong 5 ngày đêm, ta đánh chiếm và bức rút nhiều đồn bốt địch, giải phóng Nghĩa Lộ, Phù Yên, Ca Vịnh, Sài Lương... Chiến dịch phát triển nhanh, đạn dược, lương thực, thuốc men đều được vận chuyển theo đường 13 lên mặt trận, nhưng đây là con đường đất, lâu ngày không sử dụng, trời lại mưa to, đường bị lầy lún, sạt lở nhiều đoạn, khối lượng công việc sửa chữa rất lớn. Bộ chỉ huy chiến dịch thành lập ủy ban sửa đường 13, gồm đại biểu Bộ Giao thông công chính, Tỉnh ủy Yên Bái và Ban chỉ huy Trung đoàn 151. Sau đó, do yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ vận chuyển, đế chống địch phá hoại, bộ đội công binh được giao chỉ huy toàn bộ lực lượng sửa đường gồm 6 đại đội công binh của Trung đoàn 151, hơn 4.000 dân công, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ và 1 đại đội súng máy cao xạ 12,7mm. Để phát huy khả năng của các lực lượng dân công, Ban chỉ huy Trung đoàn 151 đã tổ chức giáo dục, động viên và biên chế dân công thành các đại đội, trung đội, tiểu đội. Các ban cán sự dân công có cán hộ công binh làm nòng cốt. Do tổ chức chặt chẽ, phân công hợp lý, nên sau 6 ngày đêm, lao động khẩn trương dưới trời mưa tầm tã và bom đạn của máy bay địch, các lực lượng đã sửa xong 18km đường từ Âu Lâu đến địa bàn chiến dịch, bảo đảm cho các đoàn xe vận tải tiếp tế cho mặt trận.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:09:11 pm
Sau đợt 1, mặt trận phát triển rộng. Mặc dù bộ đội công binh, vận tải và dân công đã cố gắng rất lớn trong việc sửa đường và vận tải, nhưng việc tiếp tế vẫn không bảo đảm kịp theo yêu cầu của chiến trường. Theo chỉ thị củaBộ chỉ huy chiến dịch, công binh khẩn trương mở đường 13 từ Âu Lâu đến Khe Địa dài 47km. Dưới trời mưa tầm tã, máy bay địch liên tục đánh phá, nhưng cán bộ, chiến sĩ của 4 đại đội thuộc Trung đoàn 151, cùng 2.500 dân công, thanh niên xung phong vẫn thực hiện nhiệm vụ mở đường. Để ngăn chận ta, máy bay địch ném bom nổ chậm, bom (mìn) bươm bướm, thả đinh ba ngạnh ở các khu vực Suối Rút, Bãi Sang. Chống phá bom nổ chậm trở thành một nhiệm vụ cấp bách. Trung đoàn công binh 151 thành lập Đội 83 nghiên cứu phá bom. Sau một thời gian ngắn nghiên cứu, với lòng dũng cảm và trí thông minh, các chiến sĩ Đội 83 đã nghiên cứu tìm ra nguyên lý hoạt động của ngòi nổ M124-A1 và cơ cấu chống tháo của nó. Từ thành công bước đầu này, Đội 83 đã viết tài liệu phổ biến rộng rãi trong công binh. Trung đoàn 151 tổ chức một lớp học ngắn ngày phổ biến kinh nghiệm phá bom nổ chậm, bom bươm bướm cho cán bộ trong trung đoàn và cán bộ công binh các đại đoàn. Tuy còn đơn giản, nhưng biện pháp tổ chức chống phá bom địch, đã kịp thời bảo đảm thông suốt dường 13 và đặt cơ sở cho chiến thuật "chống phá bom mìn địch, bảo đảm giao thông" của Công binh Việt Nam sau này.


Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi, hình thành nên vùng giải phóng rộng lớn nối liền từ căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, thếchủ động tiến công của ta được giữ vững; âm mưu chiếm đóng, lập "Xứ Thái tự trị" của địch bị phá sản. Với thành tích phục vụ chiến dịch, công binh được tặng thưởng 3 Huân chương Quân công hạng Ba, 3 Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen tặng Bộ đội Công binh lá cờ thêu bốn chữ vàng: "Mở đường thắng lợi". Đây là lời khái quát sâu sắc của Bác về vị trí, vai trò vàtruyền thống vẻ vang của Bộ đội Công binh, từ đây "Mở đường thắng lợi" trở thành truyền thống của Bộ đội Công binh Việt Nam Anh hùng.


Tổng kết bảo đảm cơ động trong chiến dịch Tây Bắc, chúng ta có thể rút ra những bài học lớn, cả về lý luận và thực tiễn của nhiệm vụ bảo đảm đường cơ động và bảo đảm vượt sông trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai.


Một là: Công tác chuẩn bị đường cơ động và bến vượt sông phải đi trước một bước và giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ.

Đặc điểm của nhiệm vụ bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông trong chiến đấu hiệp đồng binh chúng phải bảo đảm trong phạm vi rộng, khối lượng lớn, tiêu tốn nguyên vật liệu nhiều và thời gian làm công tác chuẩn bị trực tiếp ngắn. Do đó, công tác chuẩn bị đường, bến vượt phải đi trước một bước. Trong chiến dịch Tây Bắc khu vực vượt sông Thao dài 45km gồm ba bến Âu Lâu, Cổ Phúc, Mậu A, lòng sông rộng, lực lượng qua sông lớn. Sau khi qua sông công binh bảo đảm cơ động cho các đơn vị tham gia chiến dịch trên 5 tuyến đường, mỗi đường 50 đến 60km, qua nhiều địa hình đèo dốc phức tạp, khối lượng làm đường lớn. Nhưng do có sự chuẩn bị trước về bến vượt, mạng đường, huy động được phương tiện của nhân dân, tận dụng được vật liệu tại chỗ; việc tận dụng mạng đường, bến vượt cũ kết hợp với nguỵ trang, nghi binh khôn khéo đã làm giảm khối lượng và thời gian công tác chuẩn bị, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ làm cho địch không kịp đối phó. Đó là những yếu tố đế lực lượng công binh đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo đảm cơ động cho chiến dịch.


Để bảo đảm bí mật, an toàn cho các tuyến đường, công binh đã thực hiện một số biện pháp cần thiết như các tuyến đường đi qua những rừng cây che khuất, ở những đoạn đường qua đèo trống trải, dùng ống bương, đan sọt, dựng đất trồng cây leo hai bên để che khuất thành đường; biện pháp nguỵ trang này vận dụng đồng thời với việc mở đường, mở đến đâu nguỵ trang đến đó; hạn chế dùng thuốc nổ đặc biệt khi vào gần địch. Mặt khác ở những nơi địch bố trí mìn bẫy, chống bộ binh, lực lượng công binh đã kịp thời khắc phục nên các tuyến đường giữ được bí mật, an toàn và góp phần bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi.


Hai là: Phải nắm chắc ý định và các tình huống chiến dịch, tổ chức bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông toàn diện; tập trung lực lượng, phương tiện bảo đảm cơ động vào nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch.

Trong tác chiến chiến dịch, các tình huống có thể xảy ra liên tục, khẩn trương, nhiều tình huống có thể nằm ngoài dự kiến. Vì vậy, cơ quan và người chỉ huy đơn vị bảo đảm cơ động phải nắm chắc ý định, các phương án tác chiến của người chỉ huy bảo đảm cơ động để có phương án bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông hợp lý. Nhiệm vụ bảo đảm vượt sông và bảo đảmđường trong tác chiến chiến dịch, thường phải triển khai cùng một lúc trên các hướng, nhiều khu vực, nhiều đối tượng và lực lượng tham gia. Do đó, phải có kế hoạch tổ chức, chỉ huy, chỉ đạo lực lượng công binh các cấp thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nhiệm vụ bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông theo quyết tâm của người chỉ huy.


Trong chiến dịch Tây Bắc, Bộ chỉ huy đã tập trung công binh vào bảo đảm cơ động, kết hợp chặt chẽ giữa trung đoàn công binh chiến dịch, công binh các đại đoàn với lựclượng lớn dân công, thanh niên xung phong, trong đêm đầu tiên tổ chức vượt sông ở bến Mậu A do gặp trời giông bão, mưa to gió lớn, trời đã sáng mà bộ đội vẫn chưa qua sông hết, xảy ra ùn tắc bên bờ hữu ngạn. Lợi dụng sương mù, máy bay không hoạt động được, chỉ huy bến vượt sông đã tập trung toàn bộ lực lượng, phương tiện động viên bộ đội quyết tâm tiếp tục chèo thuyền chuyên chở bộ đội qua sông, đến 9 giờ sáng, đội hình chính của hai đại đoàn đã được đưa qua sông theo đúng kế hoạch.


Trong quá trình bảo đảm cơ động cho chiến dịch, Trung đoàn 151 chỉ huy lực lượng sửa chữa đường 13 (gồm 6 đại đội công binh, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, 1 đại đội 12,5mm và 4.000 dân công). Để phát huy khả năng của toàn bộ lực lượng, chỉ huy trung đoàn đã xây dựng kế hoạchcụ thể hợp lý, tập trung lực lượng công binh cho nhiệm vụ bảo đảm cơ động và sửa chữa đường, lực lượng phòng không tập trung bảo vệ các trọng điểm địch tập trung đánh phá, lực lượng dân công được giáo dục động viên, biên chế thành các đại đội, trung đội, tiểu đội có ban cán sự dân công trong đó cán bộ công binh làm nòng cốt. Chính được sự tổ chức hợp lý, phân công và hiệp đồng chặt chẽ, nên chỉ sau 6 ngày đêm, lao động khẩn trương, dưới trời mưa tầm tã và đánh phá ác liệt, liên tục của máy bay địch, 18km đường từ Âu Lâu đến mặt trận đã sửa xong, bảo đảm cho các đoàn xe vận tải tiếp tế kịp thời cho chiến dịch. Kết hợp cùng sửa chữa và bảo đảm đường, bộ đội công binh đã kịp thời thành lập Đội phá bom 83 tìm ra biện pháp, đơn giản nhưng hiệu quả và sáng tạo chống phá bom nổ chậm của địch, kịp thời bảo đảm thông suốt đường 13 và đặt cơ sở cho chiến thuật "chống phá bom mìn địch, bảo đảm giao thông" của Công binh Việt Nam sau này.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:10:03 pm
Ba là: Phải kết hợp chặt chẽ giữa tận dụng khôi phục sửa chữa đường, bên vượt sông cũ với mở đường bến vượt mới. Đồng thời, phải vận dụng nhiều hình thức chiến thuật hợp lý, linh hoạt và khẩn trương bảo đảm cho chiến đấu.


Trong chiến dịch, khối lượng công việc chuẩn bị mạng đường, bến vượt rất lớn, thời gian gấp. Nếu chí tập trung làm đường và bến vượt mới sẽ không bảo đảm được đủ số lượng đường và không kịp thời gian chiến đấu, do đó phải kết hợp chặt chẽ giữa khôi phục sửa chữa đường, bến vượt cũ với mở đường và làm bến vượt mới.


Trong chiến dịch Tây Bắc khi tổ chức vượt sông Thao, công binh đã tận dụng 3 bến vượt là Âu Lâu, Mậu A, Cổ Phúc là những bến đò có sẵn của nhân dân địa phương, chỉ tập trung làm và sửa đường lên xuống bến hai bên bờ, cho xe, pháo cơ động lên xuống phà qua sông. Khi tổ chức bảo đảm cơ động đường cho chiến dịch, Bộ đội Công binh đã tận dụng, cải tạo đường mòn đi rừng của nhân dân địa phương, kết hợp với làm đường mới, bảo đảm được 285km trên 5 hướng của chiến dịch để bộ đội cơ động xuất kích. Chính nhờ tận dụng bến vượt, đường cũ nên đã giảm bớt rất nhiều thời gian, công sức của bộ đội nhưng vẫn bảo đảm cho các đại đoàn cơ động bí mật, an toàn, đúng thời gian quy định của Bộ Tư lệnh chiến dịch.


Khi tận dụng mạng đường và bến vượt cũ, cần tập trung vào những công việc cụ thể và cấp thiết như: các đường, bến cũ hẹp không bảo đảm cho binh khí kỹ thuật cơ động, cần phải tổ chứcmở rộng, hạ bớt độ dốc; những nơi địa hình bằng phẳng, chỉ cần phát quang, đánh dấu để giảm khối lượng đào, đắp; nơi địa hình vừa đào vừa đắp, cần gia cố vững chắc bên nền đường đắp, khi sử dụng một thời gian dài, đất đá phần đường đắp dễ bị sụt lún, đặc biệt vào mùa mưa dễ bị sạt lở, khối lượng khắc phục lớn sẽ ảnh hưởng đến cơ động lực lượng. Việc sửa chữa, cải tạo đường và bến vượt cũ, phải có kế hoạch ém lót sẵn, phương tiện, vật liệu, nhất là các trọng điểm giao thông; tại đó, tổ chức các tổ, đội chốt để kịp thời khắc phục tình huống do địch đánh phá, hoặc do xe cơ giới cơ động nhiều, do thiên tai gây ra. Trong đó, tập trung lực lượng, phương tiện bảo đảm ở những khu vực có đường hẹp, độc đạo, nơi núi cao, vực sâu, nơi có nền đất yếu, lầy lún, nơi có các đầu mối giao thông quan trọng. Chỉ tiến hành làm đường, thiết bị bến vượt mới khi thật sự cần thiết, khi có thay đổi hướng, khu vực tác chiến, hoặc khi bị địch đánh phá hư hỏng nặng, không đủ khả năng khắc phục. Việc mở đường, bến vượt mới phải chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, để vừa có lực lượng mở đường, làm bến mới; vừa có lực lượng sẵn sàng đánh địch trên không, địch mặt đất để bảo đảm cho việc mở đường, làm bến hoàn thành đúng kế hoạch trong mọi điều kiện địa hình, thời tiết và tình huống khó khăn phức tạp. Trong mọi trường hợp, phải có kế hoạch dự phòng, chuẩn bị đường và bến dự bị đế sẵn sàng thay thế khi bị địch đánh phá, hoặc do thay đổi hướng tiến công; đường, bến dự bị phải được thiết bị đầy đủ các công trình như chính thức và phù hợp với ý định tác chiến của người chỉ huy.


Bốn là: Phát huy sức mạnh của mọi lực lượng tham gia, lấy lực lượng công binh làm nòng cốt thực hiện các nội dung chủ yếu, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông trong tác chiến chiến dịch.


Nhiệm vụ bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông trong chiến đấu, chiến dịch rất phức tạp, khối lượng lớn, thờigian gấp, tình huống khẩn trương, riêng lực lượng công binh không có khả năng chuẩn bị và bảo đảm đầy đủ mạng đường và bên vượt, thường phải huy động nhiều lực lượng tham gia bảo đảm cơ động. Trong chiến dịch Tây Bắc, để bảo đảm cho 3 đại đoàn vượt sông, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức ra ủy ban vượt sông gồm tỉnh ùy, ủy ban, công chính, công đoàn tỉnh Yên Bái, do đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng tham mưu trưởng chỉ huy. Ngoài công binh là lực lượng chủ yếu bảo đảm vượt sông, chiến dịch đã huy được 1.100 thanh niên xung phong biết chèo thuyền, 447 thuyền nan, thuyền gỗ... của nhân dân hai bờ sông Thao. Chính vì được tổ chức chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo, huy động được nhiều lực lượng tham gia, mặc dù bảo đảm lực lượng lớn qua sông kéo dài liên tục trong 3 đêm trên 3 bến vượt, trong điều kiện mưa to, gió lớn và sự đánh phá ác liệt của máy bay địch, nhưng vẫn bảo đảm vượt sông bí mật, an toàn đúng thời gian quy định của Bộ Tư lệnh chiến dịch.


Việc huy động công binh các cấp (chiến dịch, chiến thuật, địa phương...) cùng các lực lượng tham gia chiến dịch thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cơ động trong suốt giai đoạn chuẩn bị và thực hành chiến dịch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội ta cơ động và thực hành chiến dịch bí mật, kịp thời, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến dịch. Trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cơ động đã có phân công, phân cấp tương đối rõ ràng, lực lượng công binh của Bộ bảo đảm vượt sông, bảo đảm đường cho chiến dịch; lực lượng công binh của các đại đoàn khắc phục vật cản, bảo đảm cơ động cho từng trận đánh của chiến dịch; lực lượng thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến có lực lượng công binh làm nòng cốt tham gia cùng công binh bảo đảm cơ động cho chiến dịch.


Bảo đảm cơ động trong chiến dịch Tây Bắc đã chứng tỏ sự trưởng thành, phát triển quan trọng trong nghệ thuật tổ chức, chỉ huy thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cơ động cho chiến dịch tiến công của Bộ đội Công binh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Những bài học rút ra từ bảo đảm cơ động trong chiến dịch Tây Bắc là bài học quý của suốt chặng đường 66 năm xây dựng, phát triển, trưởng thành của Bộ đội Công binh.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:12:25 pm
NÉT ĐẶC SẮC CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952


Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Thu Đông năm 1952, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở cuộc tiến công vào Tây Bắc - chiến trường rừng núi có vị trí chiến lược quan trọng ở Bắc Bộ, nhằm "tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân và giải phóng đất đai ở Tây Bắc". Sau gần hai tháng với ba đợt chiến đấu quyết liệt (từ ngày 14-10 đến ngày 10-12-1952), chiến dịch kết thúc thắng lợi. Ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, giải phóng khoảng 28.500km2 với 25 vạn dân.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc 1952 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự, chính trị, kinh tế, khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta. Với chiến dịch này, nghệ thuật quân sự Việt Nam đã phát triển lên một bước mới, thể hiện ở những nét đặc sắc sau:


Thứ nhất, chủ động mở hướng tiến công địch trên địa bàn rừng núi và xác định mục đích chiến dịch đúng đắn, phù hợp.

Chủ động mở chiến dịch, chọn hướng tiến công địch là vấn đề mang tính chiến lược, chiến dịch và là một nghệ thuật. Chọn đúng hướng chiến dịch không chí phát huy được sở trường của ta mà còn đánh trúng vào chỗ yếu chí tử của địch, từ đó sẽ đưa ra chủ trương sử dụng lực lượng và triển khai thế trận thích hợp, tổ chức thực hành các trận đánh then chốt vào các mục tiêu chủ yếu, thực hiện thắng lợi mục đích, nhiệm vụ chiến dịch. Thu Đông 1950, ta chủ động mở chiến dịch Biên Giới, trên địa bàn các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, giành được thắng lợi lớn. Một trong những yếu tố dẫn tới thành công của chiến dịch nói trên là do ta chọn đúng hướng chiến dịch, phát huy được sở trường, ưu thế của mình; khoét sâu chỗ yếu, hạn chế tối đa sức mạnh về vũ khí, phương tiện Chiến tranh của địch.


Nhằm khuếch trương thắng lợi của chiến dịch Biên Giới, trong xuân hè 1951, ta chủ động mở liên tiếp 3 chiến dịch (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung) tiến công địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, song cả ba chiến dịch này đều không đạt được mục đích, lực lượng ta bị tôn thất không nhỏ. Nguyên nhân chính là do ta chọn hướng tiến công không chính xác, đánh vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ lúc đó là không phù hợp, vì ở địa bàn này, địch phát huy được ưu thế về vũ khí, trang bị, hoả lực và khả năng cơ động bằng cơ giới; còn bộ đội chủ lực ta khó phát huy được sức mạnh và sở trường của mình. Ngoài ra, sau khi nối thông biên giới với Trung Quốc, ta nhận dược một số viện trợ của các nước anh em, điều này ít nhiều làm nảy sinh tư tưởng dựa vào viện trợ của nước ngoài, tỏ ra nôn nóng, muốn đánh lớn, thắng nhanh, đánh giá không chính xác tương quan lực lượng địch, ta.


Từ thực tế đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (4-1952), Trung ương Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm, đồng thờiquán triệt sâu sắc hơn đường lối kháng chiến trường kỳ, phương châm, nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn hiện tại. Hội nghị nhấn mạnh: về lực lượng cơ động, ta mới xấp xỉ địch, nhưng về vũ khí, trang bị kỹ thuật chúng còn mạnh hơn ta; tuy ta đã nắm quyền chủ động nhưng chưa đủ ưu thế áp đảo. Vì vậy, việc chọn hướng mở chiến dịch phải phù hợp với thế và lực của ta, cần tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, khoét sâu nhược điểm cơ bản của địch, làm chúng suy yếu dần trong khi ta từng bước trưởng thành, giành thắng lợi từng phần, tạo ra chuyển biến so sánh lực lượng có lợi cho ta, tiến lên tiến hành những trận quyết chiến chiến lược, giành thắng lợi quyết định.


Trên cơ sở những phân tích trên, Trung ương Đảng nhận định phương hướng tiến công có lợi cho ta lúc này là chiến trường rừng núi Tây Bắc và chủ động xúc tiến công tác chuẩn bị chiến dịch. Với chủ trương: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh, tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch tiến công Tây Bắc. Mục đích chiến dịch bao gồm cả nội dung quân sự và chính trị là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai và giành dân, phá âm mưu lạp "Xứ Thái tự trị" của Pháp.


Chọn hướng Tây Bắc để tiến công, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đã có sự phân tích đúng đắn, đánh giá chính xác tương quan lực lượng cũng như sở trường, sở đoản của ta và đối phương. Tây Bắc có vị trí chiến lược hết sức quan trọng nhưng lại là nơi địch có lực lượng phòng thủ yếu, hỏa lực pháo binh, không quân khó phát huy sức mạnh và hiệu quả do địa hình rừng núi. Tráilại, đây lại là nơi phù hợp với trình độ tác chiến và sở trường của bộ đội ta, nơi ta có thể khắc phục chỗ yếu của mình, hạn chế sức mạnh và khoét sâu chỗ yêu của địch, buộc chúng phải đối phó với ta ở chiến trường do ta chủ động lựa chọn.


Không chỉ chọn đúng hướng tiến công chiến lược để mởchiến dịch, mà trong quá trình thực hành chiến dịch, ta còn xác định và chỉ đạo hình thành hoàn chỉnh hai hướng chủ yếu và thứ yếu của chiến dịch, có tác dụng hỗ trợ nhịp nhàng và hiệu quả cho nhau trong suốt hai đợt đầu. Đó là sự phối hợp giữa hướng tiến công phía trước (hướng chủ yếu, tiêu biểu là hai trận then chốt Nghĩa Lộ và Mộc Châu), phá vỡ hệ thống phòng ngự chiều sâu của địch từ hữu ngạn sông Thao đến hữu ngạn sông Đà, với hướng thứ yếu vu hồi, luồn sâu, chia cắt và nghi binh chiến dịch, góp phần giải phóng một phần rộng lớn phía nam Lai Châu.


Mục đích chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai, phá âm mưu lập "Xứ Thái tự trị" của địch, thể hiện được mối quan hệ biện chứng giữa quân sự với chính trị trong chiến dịch phù hợp với sự phát triển của chiến trường trong giai đoạn này.


Chọn đúng hướng tiến công, đúng đối tượng tác chiến, có cách đánh phù hợp, ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch, làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn có vị trí chiến lược quan trọng cùng hàng chục vạn dân ở Tây Bắc.


Qua chiến dịch Tây Bắc, trình độ lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, trình độ chỉ đạo, chỉ huy của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh ngày càng được nâng cao trong việc chọn hướng tiến công chiến lược và xác định mục tiêu chiến dịch. Thực tế đã chứng minh đó là sự lựa chọn chủ động, chính xác, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chiến lược, phù hợp với tương quan lực lượng địch - ta và thực tế chiến trường lúc bấy giờ; đồng thời khẳng định bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật chiến dịch nói riêng của quân đội ta.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:13:38 pm
Thứ hai, thực hiện thành công phương châm "đánh điểm, diệt viện" và công tác nghi binh chiến dịch.

Căn cứ vào đặc điểm địa hình và thế bố trí của địch, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh nhận định rằng trên chiến trường Tây Bắc, ta có nhiều thuận lợi để đánh viện và cũng có điều kiện tương đối thuận lợi hơn so với đồng bằng để đánh địch phòng thủ trong công sự vững chắc. Do lực lượng địch ở Tây Bắc phần lớn là nguỵ binh người địa phương (63%) rất thông thuộc địa hình nên ta xác định trong thực hành chiến dịch cần hành quân nhanh chóng, bao vây chặt, chặn đường rút lui của chúng, truy kích mạnh và tiêu diệt gọn khi địch rút chạy. Qua diễn biến chiến dịch có thể thấy "đánh điểm, diệt viện" là phương châm đúng đắn, thể hiện tính tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, nhất là trong điều hành cách đánh chiến dịch ở các trận then chốt và trong truy kích địch rút chạy.


Trong chỉ huy, điều hành chiến dịch, khi tập trung lực lượng tiến công địch ở hướng chủ yếu trong đợt 1, ta sử dụng lực lượng chia cắt địch ở Phù Yên, chặn đường rút và chặn viện binh của địch, sẵn sàng vận động tiêu diệt cả lực lượng địch rút chạy lẫn lực lượng tăng viện ở ngoài công sự. Trình độ cả đánh điểm và diệt viện của ta đều tiến bộ. Về đánh điểm, bộ đội ta đã diệt được cứ điểm do một tiểuđoàn tăng cường của địch chiếm giữ trong một đêm dưới điều kiện phi pháo, hoả lực ác liệt của địch (Nghĩa Lộ). Về diệt viện, ta đủ khả năng truy kích đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn Âu - Phi rút chạy trên chặng đường dài ở địa hình rừng núi (đợt 1 chiến dịch). Rõ ràng đây là bước trưởng thành quan trọng của quân đội ta.


Giữa lúc trên chiến trường Tây Bắc bộ đội ta đang giành nhiều thắng lợi quan trọng, thì ngày 28 tháng 10, quân Pháp mở cuộc hành quân Loren (Lorraine) đánh lên vùng tự do Phú Thọ "nhằm cắt đứt đường tiếp tế vận chuyển lương thực, vũ khí của ta, hòng phá kế hoạch của ta ở mặt trận chính và che giấu những thất bại của chúng ở tả ngạn sông Đà"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, tập 4,Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 1963. tr. 401). Qua kinh nghiệm trong chiến dịch Biên Giới ta đã đối phó với cuộc hành quân Phoque của địch đánh lên Thái Nguyên, lần này ta giữ quyền chủ động, vừa quyết tâm tiến hành đợt 2 chiến dịch Tây Bắc, vừa bảo vệ được vùng tự do Phú Thọ. Giữ vững quyết tâm thực hiện đợt 2 chiến dịch, Bộ chỉ huy chủ trương tập trung binh lực ở Tây Bắc, chỉ điều động một trung đoàn (Trung đoàn 36, Đại đoàn 308) về phối hợp với lực lượng tại chỗ đánh địch ở Phú Thọ. Với quyết tâm và sử dụng lực lượng hợp lý, ta vừa giữ vững thế chủ động tiến công địch ở mặt trận chính diện Tây Bắc, đồng thời đánh bại cuộc hành quân Loren, tiêu biểu là trận thắng lớn ở Chân Mộng, Trạm Thản, tiêu diệt và bắt 484 tên địch, phá hủy 44 xe, trong đó có 17 xe tăng, xe bọc thép2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975). tập 1. Nxb Quân đội nhân dân. H. 2003, tr. 383). Đây là trận vận động tiêu diệt địch ngoài công sự xuất sắc ở hướng phối hợp trong chiến dịch Tây Bắc.


Cùng với thực hiện thành công phương châm "đánh điểm, diệt viện", trong chiến dịch Tây Bắc, ta còn thực hiện tốt kế hoạch nghi binh, giữ bí mật, tạo bất ngờ lớn đối với địch ngay từ khi chuẩn bị chiến dịch. Điểm nổi bật về nghi binh trong chiến dịch này là: tiến hành nghi binh bằng nhiều biện pháp tích cực, kết hợp chặt chẽ nghi binh với phòng gian giữ bí mật; nghi binh trên nhiều hướng, sử dụng nhiều lực lượng, nhiều đơn vị làm công tác nghi binh; nghi binh trong mọi thời gian, từ khi chuẩn bị cho đến khi kết thúc chiến dịch.


Kế hoạch nghi binh được chuẩn bị chu đáo và triển khai thực hiện nghiêm túc, nhịp nhàng. Các biện pháp nghi binh được thực hiện có hiệu quả, nổi lên là tiến công địch ở hướngphối hợp, thay đổi phiên hiệu đơn vị, tung tin giả, cơ động lực lượng, phô trương thanh thế, dùng kỹ thuật lừa địch trên làn sóng vô tuyến điện. Trung đoàn 238 ở Bắc Ninh, Bắc Giang mang phiên hiệu mới là Đại đoàn 316, Trung đoàn 246 ở Vĩnh Yên mang tên Đại đoàn 308, Trung đoàn 91 ở Sơn Tây, Phú Thọ mang tên Đại đoàn 312. Điện đài thường trực của các đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch vẫn bố trí ở vị trí cũ, tiếp tục phát tin liên lạc định kỳ theo mật mã cũđể đánh lừa địch. Đặc biệt, ta tổ chức nghi binh ở hướng trung du và đồng bằng, làm cầu, sửa đường qua Tu Vũ để xuống Liên khu 3 nhằm thu hút sự chú ý của địch rằng đây sẽ là hướng chủ yếu trong hoạt động của ta. Mọi lực lượng trong các hoạt động nghi binh đều được tổ chức điều hành nhịp nhàng, hoạt động đúng lúc, đúng thời gian quy định, ăn khớp nhau như là hoạt động của lực lượng chuẩn bị chiến dịch.


Các hoạt động nghi binh của ta đã có kết quả to lơn. Trước những chuyển biến của lực lượng ta, địch đã ráo riết điều lực lượng cơ động đến những nơi bị thu hút để đề phòng cuộc tiến công lớn của ta, tuy nhiên chúng đã bị lừa. Trước khi ta nổ súng đánh vào Pú Chạng vài giờ, tướng Xalăng, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, vẫn đinh ninh ta sẽ tiến công vào đồng bằng. Chúng bố trí 29 trong số 32 tiểu đoàn cơ động vào việc phòng thủ hai bờ nam, bắc sông Hồng và sẵn sàng đón đợi chủ lực ta tiến đánh. Đến khi chúng nhận thấy tình hình nghiêm trọng ở Phân khu Nghĩa Lộ và thả Tiểu đoàn dù số 6 xuống Tú Lệ để cứu nguy, thì tình hìnhđã quá muộn. Bộ đội ta đã vây chặt Pú Chạng, Nghĩa Lộ và sau đó tiêu diệt các vị trí này.


Không chỉ nghi binh bảo đảm bí mật hướng tiến công chiến lược mà trong quá trình diễn ra chiến dịch, ta vẫn tiếp tục thực hiện nhiều biện pháp nghi binh, làm cho địch bất ngờ về hướng tiến côngchủ yếu của ta trong đợt 2. Trong khi địch lầm tưởng ta sẽ đánh lên Lai Châu và điều lên đây 2 tiểu đoàn tăng cường thì các trung đoàn chủ lực của ta bí mật vượt sông Đà tiến công tiêu diệt vị trí Mộc Châu, mở toang cánh cửa vào Sơn La.


Trong đợt 3, ta tiến đánh Nà Sản không thành công và chủ động kết thúc chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch đã hết sức chủ động, linh hoạt tiến hành nhiều biện pháp nghi binh có hiệu quả nhằm đánh lừa địch, bảo đảm an toàn, tránh bị tiêu hao lực lượng. Ta để lại một lực lượng cùng với địa phương tích cực củng cố các vùng mới giải phóng, đồng thời tiếp tục bao vây, uy hiếp địch ở Nà Sản. Vì vậy, khi ta đã chủ động ngừng tiến công Nà Sản thì địch vẫn vừa ráo riết củng cố công sự để đối phó với ta ở đây, vừa vội vã điều quân cơ động lên củng cố Sầm Nưa (Lào), đề phòng mặt sông Mã. Trong khi đó, ta khéo léo bí mật đưa một lực lượng sang hoạt động rám rộ ở khu vực sông Mã, kết hợp với việc rút quân về Liên khu 4, tổ chức tiến công một số vị trí địch nhằm khuếch trương thắng lợi và thu hút sự chú ý của địch. Một bộ phận khác, theo yêu cầu của phía bạn Lào, tiến sang đánh địch ở Phong Xa Lỳ, Mường Khoa nhằm đánh lạc hướng chú ý của địch. Có thể nói, đây là một bất ngờ lớn đối với địch, đồng thời là một thành công lớn của ta trong việc kết thúc chiến dịch, nghi binh lừa địch.


Như vậy, có thể thấy trong chiến dịch Tây Bắc, cùng với thực hiện thành công phương châm "đánh điểm, diệt viện", ta đã tiến hành nghi binh bằng nhiều biện pháp tích cực trên nhiều hướng, sử dụng nhiều đơn vị, nhiều lực lượng. Chúng ta đã điều hành được chiến dịch theo ý đồ của ta, làm cho địch luôn bị bất ngờđối phó. Đây thực sự là một bước tiến quan trọng thể hiện sự phát triển mới của nghệ thuật quân sự nói chung, nghệ thuật chiến dịch nói riêng trong kháng chiến chống Pháp.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:15:13 pm
Thứ ba, tập trung ưu thế lực lượng trong những trận then chốt, phá vỡ khu vực phòng ngự mạnh của địch.

Ở Tây Bắc, địch bố trí lực lượng trên diện rộng, đồng thời tập trung lực lượng mạnh tổ chức phòng ngự tại một số cứ điểm như Nghĩa Lộ, Mộc Châu. Để đối phó trong trường hợp bị ta tiến công, địch thực hiện cách phòng ngự co dãn, nếu bị đánh các điểm nhỏ sẽ co về cụm quanh các điểm lớn, tạo thế liên hoàn chống đỡ. Căn cứ vào thế bố trí lực lượng của địch, ta xác định cách đánh chiến dịch là tập trung lực lượng phá vỡ một số khu vực then chốt, kết hợp vu hồi đón lõng, truy kích kịp thời, mạnh dạn thọc sâu, chia cắt địch, kết hợp trong ngoài cùng đánh.


Để thực hiện cách đánh trên, ta tập trung lực lượng binh, hoả lực lớn gồm ba đại đoàn chủ lực 308, 312, 316 (2 trung đoàn); Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148), 6 đại đội sơn pháo 75mm (24 khẩu), 3 đại đội cối 120mm (12 khẩu), 1 tiểu đoàn công binh (Đại đoàn công pháo 351) và 11 đại đội bộ đội địa phương. Trong khi đó, toàn bộ binh lực chiếm đóng của địch trên địa bàn Tây Bắc có 3 tiểu đoàn Âu - Phi, 5 tiểu đoàn và 43 đại đội ngụy, 4 trung đội pháo, rải ra trên 104 cứ điểm (quá trình diễn biến chiến dịch, địch tăng viện 11 tiểu đoàn)1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975) tập 1: Trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954, Nxb Quân đội nhân dân,H.1994. tr. 175).


Với binh, hoả lực mạnh, trong quá trình thực hành chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tập trung lực lượng và vật chất bảo đảm, quyết tâm giành thắng lợi trong các trận then chốt. Trong đợt 1, ta sử dụng 2 đại đoàn và 1 trung đoàn bộ binh cùng toàn bộ pháo chiến dịchtiến công địch ở khu vực Nghĩa Lộ, tạo thế áp đảo cần thiết về lực lượng (binh lực ta gấp 5,5 lần, hoả lực gấp 15 lần của địch)2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Chiến dịch tiến côngTây Bắc (Thu Đông 1952). H. 1992, tr. 62). Do có ưu thế về binh, hỏa lực, ta đã nhanh chóng tiêu diệt hoàn toàn cụm cứ điểm Nghĩa Lộ, đập tan phòng tuyến vòng ngoài của địch ởTây Bắc, tạo thời cơ thuận lợi cho chiến dịch phát triển. Đợt 2 chiến dịch, ta sử dụng 6 trung đoàn và toàn bộ pháo chiến dịch tiến công khu vực Mộc Châu, Ba Lay, Bản Hoa, Mường Lụm, chỉ dùng 1 trung đoàn và 1 tiểu đoàn ở hướng phối hợp. Trong đó sử dụng 2 trung đoàn đánh trận then chốt tiêu diệt cứ điểm Mộc Châu, phá vỡ "lá chắn thép" vào Tây Bắc trên đường số 6 của địch, buộc chúng phải rút khỏi các vị trí như Tạ Khoa, Tạ Say, Chiềng Phan, v.v..., đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để mũi thọc sâu do Trung đoàn 165 đảm nhiệm, giải phóng Mường Sài, Sơn La và vùng nam Lai Châu.


Xác định đúng mục tiêu then chốt và tập trung lực lượng chiếm ưu thế tiêu diệt các mục tiêu đó của địch, ta đã nhanh chóng phá vỡ thế trận phòng ngự của địch, dồn địch vào thế lúng túng, bị động đối phó. Với việc đập vỡ các khu vực phòng ngự then chốt của địch, ta đã tạo được thế đánh địch ngoài công sự, mởđường đưa lực lượng chiến dịch vào tung thâm, tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ tiếp theo của chiến dịch. Thắng lợi trong hai trận then chốt quan trọng Nghĩa Lộ và Mộc Châu đã tạo ra những điều kiện thuận lợi phát triển chiến dịch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đây thực sự là một nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự đã được vận dụng thành công trong chiến dịch Tây Bắc.


Thứ tư, chủ động kết thúc chiến dịch đúng đắn, linh hoạt.

Sau khi cả bốn trận tiến công vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản đều không thành công, bộ đội ta bị thương vong nhiều, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy ta chưa nắm chắc tình hình địch, trước mắt ta chưa đủ khả năng tiêu diệt Nà Sản, cần có thời gian chuẩn bị chu đáo, huấn luyện bộ đội, nghiên cứu kỹ về kiểu phòng ngự mới của địch, nên đã quyết định dừng tiến công Nà Sản, chủ động kết thúc chiến dịch Tây Bắc để tránh thương vong, không có lợi cho việc xây dựng lực lượng lâu dài.


Kết thúc chiến dịch là một nghệ thuật. Trong khí thế tiến công đang giành thắng lợi, việc chủ động kết thúc chiến dịch vào thời điểm có lợi nhất đã khó, kết thúc trong tình huống bất lợi càng khó gấp bội.


Chủ động kết thúc chiến dịch Tây Bắc là một quyết định sáng suốt, linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế lúc đó. Đây là một nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự trong việc chủ động kết thúc chiến dịch. Không những ta đã biết kết thúc chiến dịch đúng lúc cần phải kết thúc mà còn biết khéo léo kết thúc một cách có lợi nhất cho ta. Nhờ vậy, ta đã tránh được những tổn thất không cần thiết, bảo toàn được lực lượng, đặc biệt là giữ vững được khí thế và niềm tin của cán bộ, chiến sĩ sau khi đã giành một loạt thắng lợi trong đợt 1 và đợt 2 chiến dịch, nhanh chóng chuyển sang nhiệm vụ củng cố và xây dựng vùng mới giải phóng. Việc kết thúc chiến dịch đúng lúc còn thể hiện và khẳng định bản lĩnh vững vàng, tinh thần dám chịu trách nhiệm, sự quyết đoán của người chỉ huy, không để tư tưởng hiếu thắng chi phối, ảnh hưởng đến nhiệm vụ lâu dài. Tổng Quân ủy đã nhận định: đánh thì không chắc thắng, trong khi đó thì vùng mới giải phóng của ta rất rộng mà chưa được củng cố, cho nên Tổng Quân ủy chủ trương đình chỉ cuộc tiến công Nà Sản và chuyển sang nhiệm vụ củng cố căn cứ địa Tây Bắc để giữ vững những thắng lợi vừa qua. Quyết định này vừa phát huy được kết quả trước đó của chiến dịch, vừa bào toàn lực lượng, tạo thuận lợi để thực hiện nhiệm vụ tiếp theo, nhất là tạo tiền để cho chủ trương mở chiến dịch Thượng Lào 1953.


Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, nếu trước khi bước vào đợt 3, Bộ chỉ huy không nóng vội, dành nhiều thời gian cần thiết để nắm vững tình hình địch và tình hình bộ đội hơn, hạ quyết tâm không tiến công Nà Sản, hoặc quyết tâm đánh nhưng dành thời gian chuẩn bị đầy đủ hơn, bảo đảm chắc thắng (như Bộ chỉ huy nhấn mạnh trong Hội nghị cán bộ chuẩn bị đợt 3), thì thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc sẽ trọn vẹn hơn.


Mặc dù Nà Sản là trận không thành công, nhưng qua trận đánh này, với hình thức tác chiến mới là tiến công vào tập đoàn cứ điểm, Bộ chỉ huy chiến dịch đã rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu. Một quyết tâm chính xác cần phải dựa trên sự nhận định đúng về tình hình địch, tình hình ta, dựa trên cơ sở thực tế. Đặc biệt, trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình, cần phải đánh giá chính xác để đưa ra quyết định đánh hay không nên đánh, đánh ở thời điểm nào. Điều này thể hiện bản lĩnh, sự tài giỏi và quyết đoán của người chỉ huy. Những bài học đó đã phát huy giá trị và có ý nghĩa đặc biệt sau này. Khi ta quyết định tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ năm 1954, căn cứ vào tình hình thực tế, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuyển phương châm tác chiến, từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Đó là một quyết định chính xác và vô cùng quan trọng dẫn đến thắng lợi của chiến dịch.


Thắng lợi lịch sử của chiến dịch Tây Bắc đã đưa cuộc kháng chiến của dân tộc ta tiến lên một bước mới trong việc tiếp tục giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, thế và lực của ta ngày càng phát triển, tiến lên giành những thắng lợi có tính chất quyết định. Chiến thắng đó đã khẳng định sự trưởng thành vượt bậc, toàn diện và vững chắc của quân đội ta, trong đó nghệ thuật quân sự nói chung, nghệ thuật chiến dịch nói riêng đã có những bước phát triển mới. Những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Tây Bắc cũng chính là những bài học kinh nghiệm quý báu đã được vận dụng thành công trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ và nhiều chiến dịch sau này. Những bài học kinh nghiệm quý báu đó vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục được gìn giữ và phát huy.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:18:24 pm
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC - BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI
VỀ NGHỆ THUẬT CHIẾN DỊCH VIỆT NAM

Đại tá PHẠM HỮU THẮNG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Sau chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc là vùng rừng núi duy nhất địch còn kiểm soát được tại Bắc Bộ. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược, ảnh hưởng đến tiến trình cuộc kháng chiến của dân tộc ta và nước bạn Lào. Tuy vậy, so với các vùng khác ở Bắc Bộ, lực lượng địch ở Tây Bắc mỏng và yếu nhất. Lực lượng chiếm đóng của địch ở Tây Bắc có 3 tiểu đoàn Âu - Phi, 5 tiểu đoàn và 43 đại đội ngụy Thái, 4 trung đội pháo, rải ra trên 144 cứ điểm, phần lớn là cứ điểm trung đội, có 40 cứ điểm đại đội. Riêng 2 vị trí Nghĩa Lộ, Mộc Châu, được coi là hai lá chắn bảo vệ cửa ngõ Tây Bắc, mỗi nơi có 1 tiểu đoàn.


Trước tình hình đó, tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm mục đích: "Tiêu diệt sinh lực địch - Tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc - giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc"1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 1963, tập 2. tr. 140). Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: 3 đại đoàn chủ lực (308, 312, 316), 6 đại đội sơn pháo 75mm, 3 đại đội súng cối 120mm, 1 trung đoàn công binh, 1 tiểu đoàn bộ binh và 11 đại đội bộ đội địa phương. Bộ chỉ huy chiến dịch gồm: đồng chí Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng; đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm chính trị; đồng chí Trần Đăng Ninh - Chủ nhiệm cung cấp.


Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc mở màn. Trải qua ba đợt tiến công kéo dài gần hai tháng, chiến dịch đã thực hiện được các mục tiêu đề ra, loại khỏi vòng chiến đấu 6.029 tên địch (diệt 1.005 tên)1 (Thương vong của ta theo dự kiến là 6.000 người (2.000 vong)); diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội địch. Giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 28.500km2 với 250.000 dân).


Chiến thắng Tây Bắc khẳng định sự trưởng thành vượt bậc, toàn diện và vững chắc của quân đội ta. Về nghệ thuật chiến dịch đã có bước phát triển vững chắc, đặc biệt có những phát triển mới, quan trọng, thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau:

Tập trung lực lượng phá vỡ từng khu vực phòng thủ then chốt của địch, tạo sự chuyến biến lớn cho chiến dịch.

Địch ở Tây Bắc bố trí trên một khu vực rất rộng. Sau khi bị ta tiến công trong chiến dịch Lý Thường Kiệt (tháng 10-1951), địch đã tăng cường phòng ngự ở một số điểm then chốt như Nghĩa Lộ, Mộc Châu, Lai Châu để tạo các lá chắn bảo vệ khu trung tâm Sơn La, Lai Châu. Ngoài việc tăng cường lực lượng, xây dựng hệ thống công sự, vật cản vững chắc cho các cụm cứ điểm này, địch còn thực hiện cách phòng ngự linh hoạt: khi bị tiến công mạnh, các cứ điểm nhỏ sẽ co về phòng ngự quanh các cứ điểm lớn để chống trả cuộc tiến công của ta; nếu nhận thấy không đủ sức chống trả, chúng sẽ tập trung lực lượng, tổ chức rút quân về các khu trung tâm.


Trước đặc điểm phòng ngự của địch, để thực hiện mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, Bộ chỉ huy chiến dịch đã đề ra cách đánh: tập trung lực lượng phá vỡ một số khu vực then chốt, buộc địch rút chạy, tạo thời cơ cho các bộ phận đón lõng, truy kích, thọc sâu tiêu diệt sinh lực địch, tạo sự chuyển biến lớn cho chiến dịch.


Trên thực tế, Bộ chỉ huy chiến dịch đã kiên quyết tập trung lực lượng, tập trung các mặt bảo đảm để đánh thắng các trận then chốt, phá vỡ một số khu vực then chốt của địch. Trong đợt 1, ta sử dụng 2 đại đoàn, 1 trung đoàn bộ binh và toàn bộ pháo binh chiến dịch đánh địch ở khu vực Nghĩa Lộ. Sau khi tiêu diệt một loạt vị trí chung quanh Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời đưa lực lượng hao vây kiềm chế các cứ điểm lân cận không cho địch tổ chức ứng cứu, chi viện, Bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng 2 trung đoàn cùng lực lượng pháo binh chiến dịch tiến công cụm cứ điểm Pú Chạng - Nghĩa Lộ. Do có ưu thế về binh hỏa lực, ta đã nhanh chóng tiêu diệt hoàn toàn cụm cứ điểm, đập tan phòng tuyến vòng ngoài của địch ở Tây Bắc, tạo thời cơ thuận lợi cho chiến dịch phát triển nhanh chóng.


Trong đợt 2 chiến dịch, ta sử dụng 3 đại đoàn thiếu (6 trung đoàn) và toàn bộ pháo binh chiến dịch để đánh địch ở khu vực Mộc Châu, Bản Hoa, Ba Lay... Trong đó, sử dụng 2 trung đoàn tiến hành trận then chốt tiêu diệt cứ điểm Mộc Châu, do Tiểu đoàn ngụy Thái số 2 chiếm giữ. Các trận tiến công ưu thế của ta trên khu vực này, đặc biệt là trận Mộc Châu đã phá vỡ chiếc lá chắn của địch trên đường 41, buộc chúng phải rút khỏi các vị trí Chiềng Pan, Sông Con, Tạ Say, Sa Piệt, Tạ Khoa..., khai thông con đường 41 vào Tây Bắc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để Trung đoàn 165 trên hướng thọc sâu giải phóng Mường Sài, Sơn La và một vùng đất đai rộng lớn Nam Lai Châu.


Chọn đúng và tập trung lực lượng ưu thế đập vỡ các khu vực then chốt, hiểm yếu, ta đã nhanh chóng phá vỡ thế trận phòng ngự của địch, làm rối loạn chỉ huy, dồn địch vào thế bị động đối phó, tạo ra những thuận lợi để chiến dịch phát triển nhanh chóng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai. Đây thực sự là một nét phát triển mới so với các chiến dịch trong năm 1951, đầu 1952.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:19:29 pm
Tổ chức nghi binh, giữ bí mật chặt chẽ, tạo bất ngờ lớn đối với địch.

Chiến dịch Tây Bắc là chiến dịch lớn, tiến hành trên một địa bàn rộng, với lực lượng và binh khí kỹ thuật lớn, đường hành quân xa, huy động nhân lực, vật lực ở nhiều địa phương, song ta đã giữ bí mật được hướng chiến dịch cho tới giờ phút chót, tạo bất ngờ lớn đối với địch. Bộ Tổng tư lệnh đã có kế hoạch chu đáo để che giấu mọi hoạt động chuẩn bị và tìm cách đánh lạc hướng Bộ chỉ huy Pháp. Các biện pháp bảo mật, phòng gian được tiến hành chặt chẽ từ khi chuẩn bị đến suốt quá trình thực hành chiến dịch. Trong quá trình chuẩn bị, việc sửa chữa những trục đường vận chuyển bằng ô tô, đường 13 từ Chủ Chè đi Yên Bái vào Ba Khe, đường 6 từ Hoà Bình lên Suối Rút và đường Hồi Xuân lên Suối Rút, được tiến hành từ nơi xa địchtrước. Cơ quan hậu cần không chuyển hàng hoá lên lót ổ, lập chân hàng bên hữu ngạn sông Hồng, mà phải tập kết bên tả ngạn, tổ chức vận chuyển theo sát các mũi tiến công khi chiến dịch mở màn.


Bộ chỉ huy đã tiến hành một kế hoạch nghi binh lớn, hiệu quả để lừa địch. Trung đoàn 238 ở Bắc Ninh, Bắc Giang mang tên mới là Đại đoàn 316; Trung đoàn 246 ở Vĩnh Yên mang tên Đại đoàn 308; Trung đoàn 91 ở Sơn Tây, Phú Thọ mang tên Đại đoàn 312; điện đài thường trực của các đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Tây Bắc đều bố tríở vị trí cũ, tiếp tục phát tin liên lạc định ký theo mật mã cũ để đánh lừa địch. Đúng ngày triển khai chiến dịch, Bộ Tổng tham mưu cho thay đổi mật mã, tổ chức tập trung dân quân tiến hành các cuộc chuyển quân rầm rộ ở Vĩnh Phúc, Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình; tổ chức làm cầu, sửa đường qua Tu Vũ để xuống Khu 3; đồng thời đưa 2 đại đoàn 304 và 320 vào địch hậu cùng thời điểm các đơn vị tham gia chiến dịch Tây Bắc lên đường.


Các hoạt động nghi binh của ta trên nhiều hướng đã đánh lừa được Bộ chỉ huy Pháp ở Hà Nội. Chúng vẫn đinh ninh ta sẽ đánh đồng bằng và bố trí 29 trong số 32 tiểu đoàn cơ động vào việc phòng thủ hai bờ Nam, Bắc sông Hồng. Ngay cả khi một loạt vị trí chung quanh Phân khu Nghĩa Lộ bị tiêu diệt, Bộ chỉ huy Pháp ở Hà Nội vẫn chưa biết hướng tiến công chủ yếu của ta. Chỉ đến ngày 16 tháng 10, quân địch ở các vị trí Thượng Bằng La, Ba Khe và một loạt vị trí nhỏ xung quanh những cứ điểm bị diệt, tự động bỏ đồn rút chạy. Lúc này địch mới nhận thấy tình hình nghiêm trọng ở phân khu, vội ném Tiểu đoàn dù 6 xuống Tú Lệ, hòng làm giảm áp lực tiến công của ta, song đã quá muộn, Pú Chạng - Nghĩa Lộ đã bị bao vây chặt.


Nói về các biện pháp nghi binh của ta, Yves Gras viết: "Các cơ quan tình báo hoạt động ráo riết trong suốt tháng 9, không thể xác nhận giả thuyết về cuộc tiến công rộng lớn ở miền thượng du này. Những biện pháp mà Việt Minh áp dụng để giữ bí mật về ý đồ của họ tỏ ra rất có hiệu lực. Đặc biệt là họ đã thay đổi mật mã ngày 20 tháng 9, làm cho người Pháp trong một thời gian nhất định mất hẳn nguồn tin tức tình báo tốt nhất qua theo dõi điện đài..."1 (Yves Gras, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Nxb Plon. Paris.1979, Hoàng Thanh Quang dịch, tr. 398).


Trong quá trình tiến hành chiến dịch, ta vẫn tiếp tục thực hiện các biện pháp nghi binh, bảo mật làm cho địch bất ngờ về hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch trong đợt 2. Ta đã sử dụng Trung đoàn 165 (gồm 4 tiểu đoàn) tiến công trên hướng thọc sâu, ở khu vực phía Nam Lai Châu làm cho địch lầm tưởng đây là hướng chính, lập tức điều lên Lai Châu 2 tiểu đoàn đồng thời tăng viện cho Nà Sản 2 tiểu đoàn. Trong khi đó, trên hướng chủ yếu (Nam Sơn La), các trung đoàn của ta vượt sông Đà bí mật, an toàn, triển khai lực lượng đánh địch thắng lợi.


Có thể nói, trong chiến dịch Tây Bắc, ta đã kết hợp chặt chẽ giữa nghi binh với phòng gian, giữ bí mật; tiến hành nghi binh bằng nhiều biện pháp tích cực, tổ chức nghi binh trên nhiều hướng, sử dụng nhiều lực lượng, nhiều đơn vị làm công tác nghi binh. Chúng ta đã lừa được địch trong một chiến dịch lớn, tạo được yếu tố bất ngờ để giành thắng lợi. So với các chiến dịch trước đó, đây thực sự là bước tiến quan trọng, thể hiện sự phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch trong giai đoạn này.


Về chiến thuật, trình độ tổ chức đánh công kiên trong chiến dịch đã có bước tiến mới. Ta đã tổ chức thành công các trận then chốt tiêu diệt các cụm cứ điểm mạnh của địch ở địa hình rừng núi. Trận Pú Chạng - Nghĩa Lộ (17, 18-10-1952) là trận công kiên quy mô 2 trung đoàn, đánh vào hai cứ điểm có 1 tiểu đoàn địch chiếm đóng. Đây là cụm cứ điểm mạnh nhất của Phân khu Nghĩa Lộ, có hoả lực khá mạnh và hệ thống công sự vật cản kiên cố, lại xây dựng trên điểm cao có giá trị về chiến thuật. Trong trận này ta đã tập trung ưu thế hơn hẳn địch; tổ chức đội hình hợp lý, có bộ phận xung kích trên hai hướng tiến công (mỗi hướng lại tổ chức theo đội hình hai thê đội), có bộ phận nghi binh, dương công, có bộ phận hoả lực chi viện chung và chi viện trực tiếp cho bộ binh trên từng hướng; ta lại còn tổ chức cả bộ phận sẵn sàng đánh quân dù và bộ phận phòng không bắn máy bay bảo vệ cho bộ binh, về thực hành chiến đấu công kiên, như bao vây, chiếm lĩnh trận địa, đột phá tiền duyên, chiến đấu tung thâm, củng cố giữ vững trận địa, rút lui, hiệp đồng giữa bộ binh và pháo binh, cũng như kiềm chế pháo binh địch... bộ đội ta cũng có nhiều tiến bộ.


Thêm nữa, để đánh Pú Chạng - Nghĩa Lộ, chiến dịch đã tổ chức tiêu diệt một loạt các vị trí nhỏ tiền tiêu, đồng thời đưa lực lượng bao vây kiềm chế các cứ điểm lân cận không cho địch tổ chức ứng cứu, chi viện. Rõ ràng trong điều hành chiến dịch, ta đã có một kế hoạch chu đáo vừa nghi binh lừa địch, vừa tổ chức lực lượng chiến đấu tạo thế, kiềm chế địch để tạo điều kiện chắc thắng cho trận đánh.


Trong đợt 2, ta cũng đã tổ chức thành công trận công kiên quy mô hai trung đoàn, tiêu diệt cứ điểm Mộc Châu (19-11-1952), do Tiểu đoàn ngụy Thái số 2 chiếm giữ.

Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch khẳng định trong Hội nghị sơ kết chiến dịch ngày 10 tháng 12 năm 1952: "Thu Đông 1952 là Thu Đông chiến thắng Tây Bắc. Nếu nhìn rộng ra toàn chiến trường Bắc Bộ thì đó là thắng lợi lớn của ta trên con đường tiếp tục giành thế chủ động..."1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn. Bộ Tổng tham mưu xuất bản, 1963 tập 2 tr. 217). Thắng lợi đó đã rèn luyện nhiều cho bộ đội ta, đồng thời đánh dấu sự phát triển vững chắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam và bước phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Bảy, 2025, 08:09:13 pm
NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA BỘ ĐỘI CHỦ LỰC VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952


Đại tá. TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Tổ chức quân sự
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Sức mạnh tiến công của chiến tranh nhân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là sự phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương trong các chiến dịch diễn ra trên các chiến trường Bắc, Trung, Nam. Thắng lợi của chiến dịch Hoà Bình và cả Đông - Xuân 1951-1952 đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật tác chiến của quân đội ta, trong đó có sự phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, làm thay đổi cục diện chiến trường chính Bắc Bộ, buộc địch từ thế tiến công, chuyển sang phòng ngự, bị động đối phó ở cả mặt trận chính diện và nơi địch hậu. Vùng giải phóng của ta được củng cố, mở rộng, nối liền các tỉnh đồng bằng lên vùng trung du và miền núi, địch ở vùng Tây Bắc bị cô lập. Nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng vùng đất đai rộng lớn trên địa bàn chiến lược miền Tây, quân và dân ta mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952.


1. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định sử dụng bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương mở chiến dịch Tây Bắc.

Để chuẩn bị cho các hoạt động quân sự lớn, những tháng đầu năm 1952, tất cả các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương từ Liên khu 5 trở ra tiến hành chính huấn chính trị. Đây là cuộc vận động học tập chính trị tập trung nhất, rộng lớn nhất kê từ ngày thành lập quân đội ta. Tiếp đó, bộ đội ta chấn chỉnh về tổ chức biên chế, trang bị và chỉnh huấn quân sự. Đến tháng 6 năm 1952, khối bộ đội chủ lực trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh đã lớn mạnh, gồm 6 đại đoàn bộ binh (308, 304, 312, 320, 316, 325), 2 trung đoàn bộ binh (148, 126), 1 đại đoàn công pháo (351). Ở mỗi liên khu có từ 1-2 trung đoàn chủ lực.


Trong khi các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương bước vào cuộc chỉnh cán, chỉnh quân sôi nổi thì Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo xây dựng hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình địch ở chiến trường Bắc Bộ, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh nhận định không có hướng nào địch yếu như Tây Bắc và xác định hướng tiến công chính trong Thu Đông 1952 là chiến trường Tây Bắc.


Thực hiện chủ trương đó, từ tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị xúc tiến mọi công tác chuẩn bị với quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng địa bàn chiến lược quan trọng Tây Bắc. Ngay sau đó, Bộ Tổng tham mưu cử cán bộ trinh sát nắm tình hình địch xây dựng công sự, bố trí lực lượng, khả năng tăng viện và rút lui của chúng khi bị tiến công, tình hình ta trên địa bàn chiến dịch.


Quân địch chiếm đóng vùng Tây Bắc gồm 8 tiểu đoàn bộ binh (5 tiểu đoàn nguỵ, 3 tiểu đoàn Âu - Phi) và 41 đại đội lẻ, trấn giữ 144 cứ điểm (có 40 cứ điểm hơn 1 đại đội, còn lại từ 1 trung đội đến 1 đại đội). Các cứ điểm phần lớn cách nhau gần 10 km đường rừng. Quá trình chiến dịch địch tăng thêm 9 tiểu đoàn bộ binh và dù Âu - Phi, 3 tiểu đoàn nguỵ, 1 tiểu đoàn biệt kích hỗn hợp, 1 tiểu đoàn pháo binh. Chúng chia Tây Bắc thành 4 phân khu: Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La và các tiểu đoàn độc lập Thuận Châu, Phù Yên, Tuần Giáo. Với quân số và cách bố trí như vậy, địch hy vọng sẽ uy hiếp Liên khu Việt Bắc, chia cắt giao thông giữa Liên khu 3 và Liên khu 4, ngăn chặn đường liên lạc giữa ta với cách mạng Trung Quốc, chia rẽ cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước Việt Nam - Lào.


Về phía ta, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mở chiến dịch Tây Bắc, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách 4 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái thuộc Liên khu Việt Bắc để thành lập Khu Tây Bắc. Đây là địa bàn diễn ra chiến dịch, vì thế ta khẩn trương củng cố, ổn định các tổ chức Đảng, chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương, trong đó có 17 chi bộ bộ đội địa phương. Tại các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, lực lượng vũ trang địa phương tổ chức quy mô cấp đại đội và lực lượng du kích ở các thôn, bản.


Công tác chuẩn bị của bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương cho chiến dịch Tây Bắc được tiến hành bí mật, khẩn trương. Căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc và cử Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Tổng Quân ủy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp làm Chỉ huy trưởng.


Lực lượng bộ đội chủ lực trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh tham gia chiến dịch gồm có các đại đoàn bộ binh 308, 312, 316 (thiếu), Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148), 6 đại đội sơn pháo 75mm (24 khẩu), 3 đại đội cối 120mm (12 khẩu), Trung đoàn công binh 351 (Đại đoàn công pháo 351). Lực lượng vũ trang địa phương có 11 đại đội bộ đội địa phương các tỉnh Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và lực lượng dân quân du kích trên địa bàn chiến dịch.


Giữa lúc bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương náo nức chuẩn bị mọi mặt thì từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh tổ chức Hội nghị cán bộ phổ biến kế hoạch chiến dịch và giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia. Căn cứ vào kế hoạch tác chiến chiến dịch, các đơn vị bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương được giao nhiệm vụ cụ thể như sau:


Hai trung đoàn 88 và 102 (Đại đoàn 308) được phối thuộc Tiểu đoàn 16 (thuộc Trung đoàn 141, Đại đoàn 312), 3 đại đội sơn pháo 75mm, 1 đại đội súng cối 120mm, 2 đại đội phòng không 12,7mm; 2 đại đội công binh có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công tiêu diệt các cứ điểm Nghĩa Lộ, Pú Chạng, Cửa Nhì; đồng thời sẵn sàng đánh quân dù địch tiếp viện cho Nghĩa Lộ, Cửa Nhì. Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) do Bộ chỉ huy chiến dịch trực tiếp chỉ huy tiến công bao vây Cửa Nhì, đánh quân ứng viện địch ở Nghĩa Lộ.


Hai trung đoàn 209 và 165 (Đại đoàn 312) được phối thuộc 1 đại đội sơn pháo 75mm, 1 trung đội súng cối 120mm 1 đại đội công binh có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công diệt quân dù địch trên đoạn đường Gia Hội - Nghĩa Lộ, tiêu diệt cứ điểm Sài Lương và chuẩn bị đánh cứ điểm Gia Hội. Trung đoàn 141 (trừ Tiểu đoàn 16) thuộc Đại đoàn 312 sau khi phối hợp với 2 trung đoàn 209 và 165 tiến công tiêu diệt cứ điểm Sài Lương chuyển về Bản Tủ làm lực lượng dự bị chiến dịch.


Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) do Bộ chỉ huy chiến dịch trực tiếp nắm được tăng cường 1 đại đội sơn pháo 75mm, 1 đại đội súng cối 120mm, 1 đại đội công binh phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công tiêu diệt các cứ điểm Ca Vịnh, Ba Khe. Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) do Đại đoàn trực tiếp chỉ huy được tăng cường 1 đại đội sơn pháo 75mm, 2 đại đội công binh phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công các cứ điểm Bản Mo, Đèo Hồng và đánh chặn địch từ Thượng Bằng La, Đồng Bồ rút lui về khi bị ta tiến công.


Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) có nhiệm vụ luồn sâu vào địch hậu Quỳnh Nhai (cách Sơn La 68 km về phía tây bắc), gây dựng cơ sở chính trị, phát triển Chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương.


Trong quá trình chiến dịch gặp khó khăn, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định giao nhiệm vụ cho một số đơn vị chủ lực chuyển hướng đánh xuống vùng nam Sơn La, đưa một bộ phận lực lượng vào vùng địch hậu gây dựng cơ sở chính trị, phát triển chiến tranh du kích, tạo điều kiện thuận lợi đánh vào Sơn La. Đồng thời chuyển hai trung đoàn thuộc Đại đoàn 308 về bảo vệ vùng hậu phương tỉnh Phú Thọ.


Xác định ý nghĩa và tầm quan trọng của chiến dịch Tây Bắc, ngày 9 tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với cán bộ dự hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch. Người nhấn mạnh: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm của chiến dịch này là phải đánh cho thắng lợi"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. tập 6. Nxb Sự thật. H. 1986, tr. 307, 308). Muốn giành thắng lợi cho chiến dịch, Người căn dặn: "Gặp thuận lợi thì phải quyết tâm phát triển, gặp khó khăn thì phải quyết tâm khắc phục... Gặp cái dễ mà không quyết tâm phát triển thì nó có thể biến thành cái khó, gặp cái khó mà quyết tâm khắc phục thì cũng thành cái dễ". Tiếp đó, ngày 1 tháng 10 năm 1952, Người gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch Tây Bắc quyết tâm giết giặc lập công, giành thắng lợi to lớn.


Những lời căn dặn ân cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, đề cao quyết tâm chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương tác chiến hiệu quả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến dịch mà Đảng và Bác Hồ giao cho.


Như vậy, thực hiện chủ trương tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng vùng đất đai rộng lớn trên địa bàn chiến lược miền Tây, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Ngay sau đó, các đơn vị bộ đội chủ lực được giao nhiệm vụ đã nhanh chóng hành quân đến các vị trí tập kết chiến dịch ở Mặt trận Tây Bắc bí mật, an toàn, sẵn sàng phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn Tây Bắc đánh địch. Thế phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực Bộ với lực lượng vũ trang địa phương trong chiến dịch Tây Bắc được hình thành, tạo thuận lợi để thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi vẻ vang.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Bảy, 2025, 08:12:24 pm
2. Phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương.

Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ thị cho các đơn vị bộ đội chủ lực tập trung phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công tiêu diệt lớn quân địch trong chiến dịch Tây Bắc; bởi đây là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược quan trọng, cần phối hợp tác chiến chặt chẽ, hiệu quả giữa ba thứ quân (bộ đội chủ lực Bộ với bộ đội địa phương và dân quân du kích) trên địa bàn chiến dịch.


Trên cơ sở phương án tác chiến của chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch điều động, giao nhiệm vụ cho các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh địch. Quá trình thực hành chiến dịch, sự phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương được thực hiện linh hoạt, sáng tạo, từng bước phát huy hiệu quả qua 3 đợt chiến dịch:


Đợt 1 (14 - 23.10.1952), trên hướng Nghĩa Lộ (hướng chủ yếu), Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) được lệnh bất ngờ mở cuộc tiến công vào các cứ điểm Ca Vịnh; Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) tiến công cứ điểm Sài Lương ở tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, mở đầu chiến dịch. Tiếp đó, hai trung đoàn 88 và 36 (Đại đoàn 308) tiến công diệt đồn Cửa Nhì, cứ điểm Pú Chạng rồi phát triển tiến công đánh thọc sâu vào Phân khu Nghĩa Lộ (trận then chốt mở đầu). Trong khi đó, trên hướng Phù Yên (hướng thứ yếu), Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) tiến công tiêu diệt cứ điểm Nha Phù, sở chỉ huy Tiểu khu Phù Yên, buộc địch ở Vạn Yên phải rút chạy, ở phía nam Lai Châu (hướng phối hợp), Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) tiến công dữ dội, buộc địch phải rút khỏi Quỳnh Nhai, Pắc Ná.


Phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và các đơn vị du kích Cao Phạ, Mường La nhanh chóng tổ chức từng bộ phận lực lượng tiến hành truy kích, gọi hàng tàn binh địch ở các cứ điểm trên đường chúng rút chạy. Các đội du kích Văn Bàn, Văn Chấn tổ chức bao vây Làng Chàng, Bản Lin, vừa truy kích, vừa kêu gọi tàn binh địch chạy trốn. Cùng thời gian này, Đại đội 802 bộ đội địa phương tỉnh Lai Châu phối hợp với Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) bảo vệ các vùng Quỳnh Nhai, Pắc Ná vừa được giải phóng. Sau 10 ngày liên tục chiến đấu, bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đã tiêu diệt và bức rút hàng loạt cử điểm địch trên tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, giải phóng vùng hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, kết thúc đợt 1 chiến dịch.


Trong lúc các đơn vị bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đang chuẩn bị cho đợt 2 chiến dịch thì địch mở cuộc hành quân Loren đánh lên vùng hậu phương Phú Thọ. Trung đoàn 176 (Đại đoàn 316), Trung đoàn 246 phối hợp với bộ đội địa phương tính Phú Thọ, dân quân du kích các huyện Tam Nông, Hạc Trì, Đoan Hùng, Phù Ninh, Thanh Ba và nhân dân địa phương đánh bại cuộc hành quân Loren của địch, bảo vệ vững chắc vùng hậu phương, tạo điều kiện cho quân và dân ta tiếp tục phát triển tiến công trong chiến dịch Tây Bắc.


Trong đợt 2 (7 - 22.11.1952), các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục đánh vào các mục tiêu quân địch theo kế hoạch đề ra. Trên hướng Lai Châu (hướng thứ yếu), một bộ phận lực lượng của hai trung đoàn 148 và 165 cùng với lực lượng vũ trang địa phương được lệnh nổ súng đánh vào Quỳnh Nhai, mở đầu đợt 2 đề nghị binh làm cho địch phán đoán là hướng tiến công chủ yếu của ta, buộc chúng phải gấp rút điều quân về giữ thị xã. Trên hướng nam Sơn La (hướng chủ yếu), Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) được tăng cường Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) vượt sông Đà tiến công vào hệ thống phòng ngự của địch, diệt cứ điểm Mộc Châu (trận then chốt thứ 2), địch hoảng sợ phải rút quân khỏi các cứ điểm Chiềng Pan, Sông Con, Ta Say, Sa Piệt, Tạ Khoa, Cò Nòi, Yên Châu về cố thủ ở Nà Sản. Phát huy thắng lợi, bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục tiến công, kết hợp vu hồi chiến dịch từ hướng Lai Châu tiêu diệt nhiều địch, lần lượt giải phóng Thuận Châu, Tuần Giáo, Điện Biên Phủ và thị xã Sơn La, truy kích quân địch rút chạy về Nà Sản, kết thúc đợt 2 chiến dịch.


Bước sang đợt 3 (30.11 - 10.12.1952), bộ đội chủ lực tập trung đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Mở đầu là Tiểu đoàn 115 thuộc Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) tiến công cứ điểm Bản Hời (cách Nà Sản 2km về phía tây bắc); Trung đoàn 102 và một tiểu đoàn của Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiến công cứ điểm Pú Hồng. Tiếp đó, các trung đoàn 209 (Đại đoàn 312), 88 (Đại đoàn 308), 174 (Đại đoàn 316) đánh vào các cứ điểm Bản Vây, Nà Si. Bộ đội chủ lực ta chiến đấu rất kiên cường, nhưng quân địch dựa vào công sự trận địa kiên cố, có máy bay và hỏa lực chi viện ngoan cố chống cự, ta không phát triển được. Qua 4 trận đánh lớn vào các cứ điểm ở tập đoàn cứ điểm Nà Sản, bộ đội ta thương vong nhiều, nhưng vẫn không đạt mục tiêu đề ra. Để tránh tổn thất nặng không có lợi cho việc xây dựng lực lượng sau này, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định ngừng trận đánh, kết thúc chiến dịch và ra lệnh rút các đơn vị ra vùng hậu cứ củng cố lực lượng, giúp nhân dân xây dựng hậu phương, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới.


Chiến dịch tiến công Tây Bắc năm 1952 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng một vùng rộng lớn trên địa bàn chiến lược quan trọng, nối liền Tây Bắc với Việt Bắc và Thượng Lào. Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật tác chiến của quân đội ta, trong đó có sự phối hợp tác chiến chặt chẽ, hiệu quả giữa hộ đội chủ lực trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh với lực lượng vũ trang địa phương (bộ đội địa phương tinh, huyện và dân quân du kích) trên địa bàn chiến dịch. Đến dự Hội nghị tổng kết chiến dịch Tây Bắc (19-1-1953), Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đã "tích cực phối hợp, đơn vị nào cũng có chiến thắng, cả chủ lực, địa phương và dân quân du kích"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sđd, tr.351).


Có thể nói, trong thời điểm cuộc kháng chiến diễn ra gay go, quyết liệt ở vùng sau lưng địch trong năm 1952, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đã có những thành công lớn về nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương trên chiến trường Tây Bắc. Về quy mô tổ chức lực lượng phối hợp tác chiến, ta đã sử dụng bộ đội chủ lực tương đương cấp quân đoàn gồm các đại đoàn 308, 312, 316 (thiếu), Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) và các đơn vị binh chủng pháo binh, pháo phòng không, công binh của Bộ phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương (gồm 11 đại đội bộ đội địa phương và dân quân du kích trên địa bàn chiến dịch). Trong quá trình chiến dịch, ta tổ chức lực lượng bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tác chiến trên các hướng chủ yếu, thử yêu, hoặc hướng phối hợp đánh vào các mục tiêu theo kế hoạch tác chiến đề ra. Nhờ có sự phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương, trong đó bộ đội chủ lực là lực lượng tác chiến chủ yếu, đạt hiệu quả chiến đấu cao (nổi bật là hai trận then chốt Nghĩa Lộ và Mộc Châu), nên ta đã giành thắng lợi lớn trong đợt 1 và đợt 2 chiến dịch. Đến đợt 3 chiến dịch, bộ đội ta đã chiến đấu rất dũng cảm, nhưng do lực lượng địch ở Nà Sản mạnh, có công sự kiên cố và hỏa lực chi viện dữ dội; do sự phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương hạn chế, ta không phát triển tiến công được và tổn thất nặng, cho nên Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định ngừng tiến công Nà Sản, kết thúc chiến dịch. Đây là một chủ trương kết thúc chiến dịch đúng đắn, linh hoạt, phù hợp với tình hình của ta hồi đó.


Thắng lợi của chiến dịch tiến công Tây Bắc có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự, chính trị, kinh tế. Riêng về mặt nghệ thuật quân sự, ta đã sử dụng và phát huy vai trò phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch. Chiến dịch tiến công Tây Bắc năm 1952 để lại nhiều bài học kinh nghiệm, trong đó có kinh nghiệm về phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương. Trên cơ sở nắm vững kế hoạch, phương châm, hình thức tác chiến chiến dịch, bộ đội chủ lực phải liên tục phối hợp tác chiến chặt chẽ, linh hoạt, sáng tạo với lực lượng vũ trang địa phương từ lúc bắt đầu diễn ra chiến dịch đến khi kết thúc chiến dịch. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong quá trình vận dụng hình thức tác chiến, phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, đồng thời củng là quy luật phát triển tiến công của Chiến tranh nhân dân Việt Nam. Chúng ta cần trân trọng giữ gìn, tiếp tục nghiên cứu, phát triển sáng tạo nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương trong chiến dịch Tây Bắc, cùng như các chiến dịch trong 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-1975), phù hợp với điều kiện mới của đất nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp của nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược trong bất cứ tình huống nào, kể cả Chiến tranh công nghệ cao, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Bảy, 2025, 08:14:13 pm
NGHI BINH TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC


Đại tá, PGS, TS TRẦN NGỌC LONG
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Tây Bắc ngày 29 tháng 1 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: "Trung ương, Chính phủ, Bác bằng lòng các chú; lần này chưa phải hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước"1 (Tài liệu chiến dịch của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu, tập 3, tr. 419). Đúng như vậy, trong chiến dịch Tây Bắc dẫu ta chưa tiêu diệt được mục tiêu Nà Sản, song đây vẫn là một thắng lợi to lớn có ý nghĩa vế nhiều mặt. Đóng góp quan trọng vào thắng lợi to lớn đó có công tác nghi binh, lừa địch.


Chiến dịch Tây Bắc diễn ra trên một địa bàn rộng, có địa hình hiểm trở, thời gian kéo dài, thời tiết khắc nghiệt; lực lượng tham gia chiến dịch lớn, đường hành quân xa, công tác bảo đảm hậu cần kỹ thuật gặp rất nhiều khó khăn; đặc biệt là tình hình địa bàn diễn ra chiến dịch khá phức tạp, cơ sở chính trị ở "miền Việt Tây" này còn mỏng và yếu... Những yếu tố đó chi phối, tác động không nhỏ đến quá trình triển khai các hoạt động nghi binh, lừa địch; phòng gian giữ bí mật.


Tuy nhiên, nhờ đúc rút được kinh nghiệm công tác nghi binh của các chiến dịch trước, trong chiến dịch Tây Bắc,công tác phòng gian giữ bí mật, nghi binh lừa địch đã được chuẩn bị một cách bài bản; được xây dựng thành kế hoạch và có sự hiệp đồng chặt chẽ ngay từ đầu. Hoạt động nghi binh được triển khai bằng nhiều biện pháp, với sự tham gia của nhiều lực lượng; được tiến hành liên tục trên nhiều hướng từ lúc bất đầu chiến dịch cho đến khi kết thúc; có sự kết hợp chặt chẽ giữa công tác nghi binh với công tác phòng gian, giữ bí mật... Nếu so sánh với các chiến dịch kể từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến năm 1952 thì có thể khẳng định rằng chiến dịch Tây Bắc là chiến dịch thành công nhất về mặt nghi binh, lừa địch xét trên các phương diện: nghi binh chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.


1. Ngày 10 tháng 8 năm 1952, Ban chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc đã họp quyết định một số công việc cần được gấp rút triển khai, trong đó có việc xây dựng kế hoạch nghi binh, bảo vệ, bảo mật phòng gian. Hai mươi ngày sau (30-8), bản kế hoạch đó được Bộ Tổng tham mưu gửi xuống các đơn vị. Trong Kế hoạch nghi binh, bảo vệ, bảo mật phòng gian xác định rõ:

- Ở trung du lấy Vĩnh Phúc làm hướng nghi binh chính. Giao cho Trung đoàn 246 lấy phiên hiệu giả là Đại đoàn 308, Tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Thọ lấy phiên hiệu giả là Trung đoàn 246 hoạt động ở vùng Vĩnh Phúc. Trung đoàn 176 (Đại đoàn 316) lấy phiên hiệu giả là Đại đoàn 312 hoạt động ở vùng Phú Thọ, Sơn Tây. Trung đoàn 238 của Liên khu Việt Bắc lấy phiên hiệu giả là Đại đoàn 316 và Tiểu đoàn bộ đội địa phương Bắc Giang lấy phiên hiệu giả là Trung đoàn 238 hoạt động ở vùng Bắc Giang.


- Tại Liên khu 3, hướng nghi binh chính là Hà Đông, Hà Nam và Ninh Bình; trong đó trọng trách của hướngNinh Bình có phần nặng nề hơn bởi vừa thực hiện nghi binh, vừa phải làm công tác chuẩn bị "lót ổ" cho hai đại đoàn 320 và 304 vào hoạt động ở vùng địch hậu để phối hợp với chiến trường chinh Tây Bắc.


Về phương thức nghi binh, Bộ Tổng tham mưu yêu cầu: Trên tất cả các hướng đều phải duy trì hoạt động liên tục của các tổ trinh sát vũ trang. Bí mật mở các cung đường mới, sửa chữa đường cũ; bố trí hệ thống kho tàng. Tổ chức tập trung dân công. Tổ chức di chuyển quân thật rầm rộ trên các hướng nghi binh để đánh lạc hướng phán đoán của địch. Triển khai các biện pháp phong tỏa tin tức địch, truy quét các ổ gián điệp, giám sát các phần tử phản động dọc các trục đường dự kiến hành quân lên Mặt trận Tây Bắc. Để đánh lừa địch, các đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Tây Bắc đều phải để các đài phát vô tuyến ở tại vị trí cũ, sử dụng mật mã cũng như tần số, tần suất phát như cũ...


Để thực hiện tốt kế hoạch trên, Bộ Tổng tham mưu yêu cầu công tác nghi binh, bảo vệ, bảo mật phòng gian phải đi vào thực chất, liên tục nhưng tránh lãng phí nhân vật lực.

Có thể nói đây là lần đầu tiên, trước khi bước vào một chiến dịch lớn chúng ta có hẳn một kế hoạch nghi binh được xây dựng bài bản, chi tiết và khoa học đến như vậy.

Trong khi đó thì về phía Pháp, tháng 8 năm 1952, sau chuyến trở về Pari để trả lời chất vấn trước quốc hội về tình hình Đông Dương, tướng Xalăng quay trở lại Hà Nội với một câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp - đó là Thu Đông 1952, đối phương sẽ tiến công theo hướng nào? Qua tin tức tình báo, Xalăng biết rằng đối phương đã có trong tay 6 đại đoàn chủ lực bộ binh được rải đều trên khắp các chiến trường trọng yếu và 1 đại đoàn công pháo. Xalăng nhận thức được rằng với một lực lượng như vậy, đối phương có thể mở cuộc tiến công ở bất cứ nơi nào. Tuy nhiên, cũng tương tự như những lần phán đoán trước đó, lần này vị Tổng chỉ huy quân Pháp vẫn giành sự chú ý và quan tâm đặc biệt cho việc bảo vệ địa bàn trọng yếu vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng - nơi đang có những hoạt động quân sự mạnh của Việt Minh. Cho đến hạ tuần tháng 9 năm 1952, Bộ chỉ huy quân Pháp vẫn chưa xác định chính xác hướng tiến công chủ yếu của ta trong Thu Đông 1952. Thậm chí khi phát hiện các đại đoàn 304 và 320 của ta tiến vào vùng địch hậu, chúng còn cho điều chỉnh lại thế bố trí trong vùng tạm chiếm và tập trung lực lượng để ứng cứu rnà không hề mảy may biết rằng đang sa vào cái "bẫy nghi binh" của Việt Minh. Giữa lúc địch đang tập trung sự chú ý, lo đối phó ở hướng trung du và phòng tuyến sông Đáy thì các đại đoàn chủ lực của ta đã bí mật tập kết lên hướng Tây Bắc. Đầu tháng 10, Đờ Linarét ra lệnh báo động toàn khu Tây Bắc. Mặc dù vậy, sau chiến dịch Lý Thường Kiệt của Đại đoàn 312, cả Xalăng và Bộ chỉ huy quân Phápở Bắc Kỳ vẫn chủ quan cho rằng "còn lâu đối phương mới đủ sức trở lại Nghĩa Lộ". Thậm chí đến tận ngày 14 tháng 10, khi ta mở một số trận đánh nhỏ ở ngay cửa ngõ Phân khu Nghĩa Lộ địch vẫn "chưa nhìn thấy tầm vóc của cuộc tiến công", Xalăng vẫn chỉ thị cho Đờ Linarét rằng "hãy đợi xem hoạt động của Việt Minh phát triển thế nào rồi hãy hành động"1 (Tổng tư lệnh VõNguyên Giáp, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2006. tr. 601).


Cùng lúc các lực lượng đang bí mật cơ động về vị trí tập kết chiến dịch thì ta tổ chức nghi binh rầm rộ trên hai hướng trung du và Liên khu 3 nhằm thu hút sự chú ý của địch. Trên hướng đồng bằng Liên khu 3, cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động quấy rối của các đại đoàn 304 và 320, một đại đội trinh sát của Bộ được tung xuống hoạt động ở vùng Ninh Bình. Trên hướng trung du, các đơn vị đều được mang phiên hiệu giả để hoạt động nhằm đánh lạc hướng kẻ địch như đã nêu ở trên. Hoạt động nghi binh của các lực lượng ở các hướng này được triển khai liên tục và kéo dài nhưng tập trung cao điểm và rầm rộ nhất là thời gian mà các lực lượng tham gia chiến dịch Tây Bắc cơ động từ hậu phương vềvị trí tập kết. Ngoài ra, Bộ còn thành lập thêm một số trung đoàn để tăng cường sức mạnh bảo vệ hậu phương và phục vụ cho công tác nghi binh.


Những hoạt động nghi binh kể trên đã đánh lừa được kẻ địch, dẫn đến những phán đoán sai lầm về chiến lược của chúng mà như Cao ủy Lơ Tuốcnô đã từng tiết lộ trong cuộc trả lời báo chí: "Thu Đông 1952, Việt Minh sẽ đánh đồng bằng Bắc Bộ" (Cao úy Lơ Tuốcnô trả lời báo chí Pháp ngày 17 tháng 9 năm 1952. Bản lưu tại tủ sách của Đại tá Lê Kim). Phán đoán của vị Cao ủy càng được củng cố khi chúng phát hiện các đại đoàn 304 và 320 của ta đang tiến vào vùng đồng bằng châu thổ cùng với sự gia tăng đáng kể các hoạt động quân sự của ta tại Phủ Lý, Bắc Giang, Hưng Yên... Và như một phản ứng mang tính logic, 29 trong tổng số 32 tiểu đoàn cơ động chiến lược ở Bắc Kỳ đã được Bộ chỉ huy quân Pháp tập trung triển khai bố trí bảo vệ vùng châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, để lại một "khoảng trống" đáng kể trên chiến trường Tây Bắc xa xôi.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Bảy, 2025, 08:19:07 pm
2. Trước chiến dịchTây Bắc, thông thường các chiến dịchđều đượcmở đầu bằng những trận đánh lớn thenchốt, thu hút sự tập trung chú ý của quân địch và làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủcủa chúng. Tuy nhiên, chiến dịch Tây Bắc được mở đầu lại không theo tiền lệ như vậy. Chiến dịch này được mở màn bằng những trận đánh nhỏ tiêu diệt những vị trí vành ngoài của Nghĩa Lộ như: Sài Lương, Bản Trại, Ca Vịnh, Ba Khe... bức rút một loạt đồn bốt như: Thượng Bằng La, Đồng Bồ, Khe Địa, Vạn Yên, Bản Muỗng... Chính đòn nghi binh chiến dịch này đã làm cho địch chủ quan phán đoán sai nên dẫn đến đối phó lúng túng. Chỉ đến khi Phân khu Nghĩa Lộ bị tiêu diệt (ngày 17-10), Bộ chỉ huy quân Pháp mới khẳng định một cách chắc chắn rằng hướng tiến công mùa khô của các đại đoàn chủ lực Việt Minh là Tây Bắc chứ không phải là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Có điều sự khẳng định đó đã trở nên vô nghĩa vì quá muộn. Sau này, trong hồi ký của mình, Xalăng tiết lộ rằng trưa ngày 18, y cùng hai vị Bộ trưởng là Lơ Tuốcnô và Đờ Xơvinhê vừa hạ cánh xuống phi trường Gia Lầm thì cùng lúc đó máy bay của Đờ Linaret cũng vừa từ Tây Bắc đáp xuống. Câu nói ngắn gọn thay cho báo cáo thốt ra từ vị chỉ huy chiến trường: C'est fini! (Thế là hết!) đã làm cho Xalăng hết sức bàng hoàng bởi y hiểu được rằng để mất Phân khu Nghĩa Lộ là một đòn đau đớn; đối với quân Pháp, Nghĩa Lộ là tấm bình phong chắc chắn nhất che chở cho cả vùng Tây Bắc, còn đối với Việt Minh thì Nghĩa Lộ lại là bàn đạp để tiến vào Tây Bắc. Xalăng thừa nhận đã từng có một lòng tin vào khả năng phán đoán của mình nhưng lần này thì đối phương đã bất ngờ tập trung nỗ lực vào hướng Nghĩa Lộ, các hướng khác chỉ là nghi binh.


Trong chiến dịch Tây Bắc, xét phạm vi toàn cục có sự phối hợp hoạt động khá hiệu quả của mặt trận vùng châuthổ sông Hồng với mặt trận chính Tây Bắc; trong phạm vi chiến dịch có sự phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động nội tuyến với ngoại tuyến (tổ chức vu hồi sang hướng tây) buộc địch phải bị động đối phó cả phía trước lẫn phía sau, phía trước là Nghĩa Lộ, Phù Yên, phía sau là cả một vùng rừng núi điệp trùng kéo từ hữu ngạn sông Hồng đến bên kia sông Đà. Chiến dịch Tây Bắc cho thấy một sự kết hợp có hiệu quả cao giữa hoạt động nghi binh, lừa địch với công tác phòng gian, giữ bí mật tại mặt trận.


Như đã nêu ở trên, chiến dịch Tây Bắc diễn ra trên một địa bàn rộng mà ở đó cơ sở chính trị còn mỏng và yếu: trình độ nhận thức của người dân, đặc biệt là của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế; các tổ chức, phần tửphản động trà trộn vào trong dân ngấm ngầm thu thập tin tức, chống phá cách mạng quyết liệt. Mặc dù trước đó các đội gây dựng cơ sở của các đơn vị Tây tiến đã hết sức cố gắng để phát triển cơ sở chính trị, làm trong sạch địa bàn nhưng do địa hình hiểm trở, đời sống khó khăn, phức tạp nên sau mấy năm nhưng cũng chỉ cải thiện được tình hình trong một chừng mực nhất định. Chính vì vậy mà Bộ chỉ huy chiến dịch, một mặt tích cực triển khai nghi binh chiến dịch; mặt khác tăng cường công tác phòng gian giữ bí mật. Không phải ngẫu nhiên mà trong chiến dịch này, Bộ chỉ huy đã ban hành "Mười điều kỷ luật", mà trong đó chủ yếu là kỷ luật dân vận, bởi có làm tốt công tác dân vận mới củng cố và phát triển được cơ sở chính trị. Có mạng lưới cơ sở chính trị rộng khắp sẽ tạo môi trường thuận lợi cho công tác phòng gian bảo mật. Trong văn kiện "Chủ trương tác chiến ở chiến trường Tây Bắc" do Hội nghị cán bộ chiến dịch họp từ ngày 6 đến 9 tháng 9 thông qua nhấn mạnh: "Nhân dân ta nói chung rất tốt nhưng do sai lầmcủa ta và cũng do dịch khủng bố trước đây nên phần lớn mất liên lạc hoặc cơ sở bị tan vỡ; cơ sở phần lớn ở men vùng tạm chiếm, chưa phát triển được vào sau lưng địch. Ở Sơn La, Lai Châu cơ sở hầu như không có... Chính vì vậy mà phải giáo dục cho bộ đội ngoài học tập kỹ thuật làm công sự, phòng không, phòng pháo, ngụy trang nghi binh, phòng gian bảo mật, còn phải làm tốt công tác dân vận để gây dựng, phát triển cơ sở chính trị"1 (Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr. 588).


Cùng với việc tổ chức các cuộc hành quân nghi binh rầm rộ và gia tăng các hoạt động tại vùng đồng bằng Liên khu 3 và trung du, bên cạnh việc các đài vô tuyến của các đại đoàn chủ lực vẫn dùng mật mã cũ nhằm thu hút, đánh lạc hướng chiến dịch đối với địch thì Bộ Tổng tham mưu đã cho thay đổi bộ luật mật mã mới dùng tại mặt trận; các đơn vị, cán bộ chỉ huy các cấp đều liên lạc với nhau qua mật danh. Việc tu bổ đường sá lên Tây Bắc được tiến hành từ nơi xa địch trước; các chân hàng đều được tập kết ở bên tả ngạn sông Hồng chờ khi mở màn chiến dịch mới vận chuyển vào theo các hướng tiến công. Là một chiến dịch có lực lượng tham gia lớn nhưng quá trình cơ động vào vị trí tập kết của tất cả các đơn vị kể cả bộ đội và dân công đều diễn ra vào ban đêm và không bám theo các trục đường chính. Các khu vực tập kết lực lượng, các bến bãi vượt sông... đều được lựa chọn kỹ càng và được "làm sạch địa bàn" từ trước.


Có thể nói, trong chiến dịch Tây Bắc do kết hợp tốt giữa hoạt động nghi binh với công tác phòng gian, giữ bí mật nên ta đã làm cho kẻ địch liên tục phạm sai lầm trong phán đoán cả về chiến lược và chiến dịch. Chúng tưởng Thu Đông năm 1952 với 6 đại đoàn chủ lực trong tay ta sẽ mở cuộc tiến công vào vùng châu thổ sông Hồng thì đại quân ta lại tiến công lên Tây Bắc; trong khi ta chỉ tung lực lượng khoảng hơn một trung đoàn lên quấy phá ở Lai Châu thì địch lại lầm tưởng là 3 đại đoàn của ta đang chuẩn bị mở cuộc tiến công vào Lai Châu; khi phần lớn lực lượng chủ lực của ta đã rời Tây Bắc rút về hậu cứ thì chúng vẫn cứ đinh ninh ta tập trung lực lượng để tiếp tục đánh Nà Sản...


Tóm lại, địch bị đánh lạc hướng cả trước, trong và sau khi chiến dịch kết thúc. Đây được coi là thành công lớn của công tác nghi binh, bảo vệ, bảo mật phòng gian trong chiến dịch Tây Bắc mà các chiến dịch trước đó chưa bao giờ đạt tới. Chính vị Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương - Henri Nava, sau này trong hồi ký của minh cũng đã thừa nhận: "Chưa bao giờ chúng ta dự kiến một cách nghiêm túc rằng sẽ có một ngày Việt Minh lại có thể mở một chiến dịch lớn ở một nơi ngoài đồng bằng Bắc Bộ, Thu Đông năm 1952, Việt Minh chuyển hướng tiến công lên xứ Thái. Dó là một sự chuyển hướng cơ bản trong chiến lược của Việt Minh. Sự chuyển hướng đó làm chúng ta bất ngờ hoàn toàn"1 (Henri Nava Thời điểm của những sự thật. Nxb Công an nhân dân,H.1994, tr 46).


Dẫu rằng chiến dịch Tây Bắc kết thúc với một vài trận đánh cuối cùng chưa thành công mà như cách nói của Bác Hồ là "Lần này chưa phải hoàn toàn"; song xét một cách toàn cục thì đây vẫn là một thắng lợi hết sức to lớn, trong đó có vai trò quan trọng của công tác nghi binh, bảo vệ, bảo mật phòng gian.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Bảy, 2025, 08:25:07 pm
CÔNG TÁC THAM MƯU TÁC CHIẾN TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC


Đại tá, ThS NGUYỄN BÁ QUANG
Trưởng ban Đào tạo sau đại học - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Xét các yếu tố "binh yếu địa chí", thì vị thế "cao cao tại thượng" của vùng Tây Bắc rộng lớn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ địa chiến lược với chiến trường Đông Dương. Gắn với nó là "một miền" xã hội nhân văn của nhiều tộc người Thái, Mường, Mông, Dao... Đồng bào sống trên các triền núi trong sự cương tỏa của phía, tạo, lang đạo... phần lớn là tay sai của thực dân Pháp. Tây Bắc còn là một vùng địa mạo phức tạp, liền sông, liền núi với Việt Bắc, là thành vách tự nhiên án chắn đồng bằng Bắc Bộ, liên thông với Thượng Lào và tiếp giáp với tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Không phái ngẫu nhiên mà sau khi hoàn thành nhiệm vụ vây hãm quân Pháp ở địa bàn Liên khu 2, 3 Hà Nội (2-1947), Bộ Tổng tư lệnh thay vì điều lực lượng này vượt sông Hồng lên phía Bắc bằng tổ chức thành Trung đoàn 521 (Trung đoàn 52 (con gọi Trung đoàn Tây Tiến) nòng cốt là Tiểu đoàn 212, Tiểu đoàn 62 của Liên khu 3 và Liên khu 1 Hà Nội) chặn địch ở đường số 6 (Hòa Bình), sau đó vượt sông Đà tiến lên Tây Bắc. Cũng với ý định đó, từ năm 1948, nhiều "Đội xung phong quyết tiến" vượt sôngThao, sông Đà đến với các thôn cùng bản vắng ở vùng đất này để xây dựng cơ sở chính trị nhằm thực hiện kế sách lâu dài.


Từ "kinh nghiệm của việc chọn hướng tiến công chiến lược không đúng đầu năm 1951 và qua kinh nghiệm nóng hổi của chiến dịch Hòa Bình trong Đông - Xuân 1951-1952" Bộ Tổng tham mưu chủ trương "Tránh chỗ địch mạnh, đánh chỗ địch yếu" và "Tập trung đánh giao thông trên bộ, trên sông, khoét sâu vào khó khăn phương châm đánh điểm diệt viện"1 (Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945-1975, Nxb Quân đội nhân dân, H.1995, tr. 138-142). Sau nhiều chiến dịch, công tác tham mưu và đội ngũ cán bộ tiến hành mặt công tác này đã trưởng thành vượt bậc. Do vậy, đến chiến dịch Tây Bắc, các vấn đề: đánh giá địch - ta trên một môi trường tác chiến, phân tích đặc tính chiến thuật của địa hình để hình thành phương án tác chiến, phương án bảo đảm đã trở thành tác phong, nền nếp. Tiến bộ hơn là trình độ điều hành, điều tiết nhịp độ chiến đấu; dự kiến tình huống và cách xử trí; chọn thời cơ thời điểm kết thúc chiến dịch, những mặt này được cơ quan tham mưu vận dụng thuần thục và linh hoạt. Thắng lợi chiến dịch Tây Bắc là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, là sự cống hiến, hy sinh to lớn của hàng nghìn bộ đội, dân công và những người tham gia. Nhưng, để có quyết tâm, phương án tác chiến sát với thực tiễn chiến trường, công tác tham mưu tác chiến đã thể hiện tốt vai trò, năng lực, tác phong, trí tuệ của cơ quan chuẩn bị và điều hành chiến dịch. Trong chiến dịch Tây Bắc, những điểm đó được biểu hiện ở những vấn đề sau:

1. Cơ quan tham mưu chiến lược đã phân tích đánh giá đúng hình thái chiến trường Đông Dương, địa bàn tác chiến và sở trường chiến đấu của bộ đội.

Phân tích, đánh giá hình thái chiến trường đồng thời với nhận định đánh giá đối tượng tác chiến là yếu tố khách quan có ý nghĩa quyết định đến việc lựa chọn địa bàn và hình thành quyết tâm chiến dịch. Thời điểm tháng 3 năm 1952, tham mưu đánh giá: cuộc chiến Đông Dương đã bước sang năm thứ 7, ở Pari người ta muốn kết thúc sớm cuộc chiến và tỏ ra "bất lực và thoái chí". Trong khi đó, bằng viện trợ quân sự1 (Trong 17 tháng, từ giữa năm 1950 đến tháng 2 năm 1952, Mỹ viện trợ cho Pháp 120.000 tấn hàng quân sự, chiếm 40% chi phí chiến tranh ở Đông Dương), Hoa Kỳ không giấu giếm ý đồ muốn "cầm cái" cuộc chiến tranh này. Tình hình Đông Dương, Đờ Lát "Người lính lớn của chiến tranh thế giới lần thứ hai"2 (Michel Bodin. Từ điển cuộc chiến tranh Đông Dương 1945-1954) đã "ra đi" (1-1952) cùng với phương châm "Chặn đứng đối phương giành quyền chủ động chiến lược, thay đổi tận gốc cục diện chiến trường". Hình ảnh viên đại tướng 5 sao, xông xáo, quyết liệt nhảy xuống chiến hào tiền duyên ở Vĩnh Yên để hô hào, khích lệ binh sĩ và không ngần ngại lệnh thả bom Napan3 (Lần đầu tiên không quân Pháp thả bom cháy Napan xuống chiến trường Đông Dương) xuống đội hình chiến đấu của cả hai bên ở Núi Đanh (điểm cao 210), chỉ còn là ký ức. Người kế nhiệm, Xalăng, mặc dù "được coi như một số ít những chuyên gia về Đông Dương" và "Tên của ông được gắn liền với cuộc chiến tranh Đông Dương vì ông luôn tham dự dù gần hay xa vào những quyết định lớn. Ông là người thông thạo Việt Minh nhất"4 (Michel Bodin, Từ điển cuộc chiến tranh Đông Dương 1945-1954) vẫn chưa đề ra một chiến lược rõ ràng. Theo đánh giá của tham mưu: Xalăng rất lo lắng cho sự "không yên ổn" ở vùng đồng bằng và đặt cược sinh mệnh chính trị của mình bằng những cuộc hành binh lớn vào đồng bằng Bắc Bộ1 (Điển hình là hành quân Amphibia (Lội nước) tháng 3 năm 1952 vào Nam Hà. Hành quân Mercure (Thủy ngân) tháng 3 năm 1952 vào các huyện nam Thải Binh. Hành quân Poóctô, Pôlô, Tuyếccô vào tỉnh Bắc Ninh... tuy số lượng các cuộc hành quân vào đồng bằng Bắc Bộ không nhiều nhưng quy mô, lực lượng rất lớn và thời gian kéo dài). Đối với viên tổng chỉ huy mới thì "mối lo thường trực là ở châu thổ sông Hồng". Chính vì thế, khi thanh minh cho cuộc triệt thoái khỏi Hòa Bình ông ta buột miệng "Quân Pháp rút quân khỏi Hòa Bình là để bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ"2 (Trả lời của Xalăng trước báo giới Pháp ngày 24 tháng 2 năm 1952). Còn đối với Tây Bắc, viên Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương vẫn hy vọng vào sự "yên ổn" của "Xứ Thái tự trị" và cho rằng "thất bại" của Đại đoàn 312 hồi tháng 1 năm 1951 ở Nghĩa Lộ là bài học đất giá cho Việt Minh. Từ tư duy ấy, cả Xalăng và tham mưu trưởng của ông ta, tướng Ala đều đánh giá, Việt Minh thắng ở Hòa Bình, nhưng Tướng Võ Nguyên Giáp và Tướng Hoàng Văn Thái chưa đủ điều kiệnđể có thể đưa quân đánh lớn ở Tây Bắc. Nên, hè thu 1952, dưới cái gậy chỉ huy của mình, Xalăng xua quân thực hiện gần 100 cuộc càn quét vào các vùng tạm chiếm nhất là nơi có căn cứ du kích. Trên bản đồ hình thái của Bộ Tham mưu quân Pháp ở Sài Gòn, lực lượng cơ động ứng chiến bị dồn hút về các thành phố, thị xã và đồng bằng. Riêng ở đồng bằng Bắc Bộ, quân Pháp tiến hành 21 cuộc hành quân với lực lượng từ 8 đến 20 tiểu đoàn bộ binh, 3 đến 7 tiểu đoàn pháo và cơ giới, thời gian kéo dài từ 3 - 4 tuần. Hành động đó của quân Pháp đã gây cho ta rất nhiều khó khăn, tổn thất, nhất là các căn cứdu kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Trướctình hình đó, Hội nghị Trung ương 2 ra nghị quyết về nhiệm vụ chiến đấu sau lưng địch. Bộ Tổng tham mưu tổ chức Hội nghị chuyên đề chiến tranh du kích (7-1952) nhằm "biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta" làm phá sản âm mưu "lấy Chiến tranh nuôi Chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xàm lược (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân. H. 2005. tr. 93) của Pháp. Cũng phải nói rằng, Tây Bắc là chiến trường rừng núi còn lại ở Bắc Bộ, trước đây ta cho rằng đây là chiến trường thứ yếu và chưa có điều kiện để nắm vững. Theo đánh giá của Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, Tây Bắc lúc này đã trở thành vấn đề thế và lực trên bàn cờ chiến lược Đông Dương. Chọn Tây Bắc làm địa bàn chiến dịch là đã quán triệt phương châm tránh chỗ địch mạnh, đánh chỗ địch yếu và phát huy tốt nhất sở trường chiến đấu của bộ đội. Ngày 26 tháng 4 năm 1952, Tổng Quân ủy quyết định thành lập Ban chuẩn bị chiến dịch, ban do Trần Đăng Ninh - Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp2 (Ban chuẩn bị chiến dịch gồm: Trần Đăng Ninh - Trưởng ban, các đồng chí Hoàng Văn Thái, Lê Liêm, Nguyễn Văn Nhạn, Phan Mỹ thuộc Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị. Chu Văn Tấn, Bùi Quang Tao, Trần Quyết, Đồng Sỹ Học, Bằng Giang ở Liên khu Việt Bắc) làm Trưởng ban. Để chuẩn bị tốt cho lực lượng tham gia chiến dịch là một Số đại đoàn chủ lực, Bộ Tổng tham mưu tiến hành củng cố biên chế, tổ chức, chỉnh quân, chỉnh huấn. Trong chỉnh quân huấn luyện, về kỹ thuật tập trung vào 5 môn kỹ thuật cơ bản, về chiến thuật tập trung vào chiến thuật công đồn, diệt viện lấy tưởng định địch phòng ngự trong công sự vững chắc, chi viện đường bộ và đổ bộ đường không lực lượng cỡ một tiểu đoàn.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Bảy, 2025, 08:28:07 pm
2. Tham mưu nắm vững tình hình địa bàn, xây dựng quyết tâm, lập kể hoạch tác chiến, kịp thời chính xác.

Để biến ý định thành quyết tâm chiến đấu, là chuỗi những hoạt động đồng thời của nhiều bộ phận thuộc cơ quan tham mưu như: trinh sát, cơ yếu, tình báo, quân huấn, bản đồ, thông tin, tác chiến. Chiến dịch Tây Bắc do Tổng Quân ủy lãnh đạo, Bộ Tổng tư lệnh chỉ huy, Bộ Tổng tham mưu điều hành nên từ chuẩn bị đến thực binh, hoạt động của các bộ phận trên luôn phải thống nhất, dồng bộ. Trước hêt là nắm địa bàn, từ tháng 3 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu đã phái lực lượng trinh sát tiến hành điều nghiên và lập binh yếu địa chí. Từ kết quả điều nghiên của trinh sát và tổng hợp của tham mưu, Ban chuẩn bị chiến dịch nhận định: Tây Bắc có địa bàn rộng, địa hình phức tạp, xa hậu phương chiến dịch nên cơ động lực lượng và bảo đảm hậu cần kỹ thuật rất khó khăn. Tuy nhiên, quân địch mỏng và bố trí thành cụm, trong đó Nghĩa Lộ, Mộc Châu (Sơn La) là hai lá chắn của Tây Bắc thì lực lượng ở đây không nhiều, hỏa lực không mạnh1 (Mỗi nơi chỉ 1 tiểu đoàn lính Thái, 8 đến 14 đại đội độc lập và hỏa lực Nghĩa Lộ có 2 khẩu pháo, Phân khu Sơn La có 3 khẩu pháo). Từ nhận định đó, Ban chuẩn bị chiến dịch cho rằng nếu làm tốt công tác chuẩn bị, giữ được yếu tố bí mật bất ngờ, nhất định đạt được 3 mục tiêu: Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân và giải phóng một bộ phận lỏn đất đai. Trong những ngày tiến hành công tác chuẩn bị, cán bộ tham mưu chiến dịch, chỉ huy các đại đoàn, cán bộ Liên khu Việt Bắc phải đối mặt với nhiều khó khăn gian khổ để bám địa hình, bám địch. Đồng chí Vương Thừa Vũ - Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308, cùng trinh sát bí mật tiếp cận căn cứ địch ở Nghĩa Lộ, Pú Chạng để trực tiếp quan sát,đánh giá địa hình, lựa chọn phương án tiến công ngay trên thực địa. Đến tháng 4 năm 1952, tham mưu đã sơ bộ hình thành phương án, sau đó là quá trình hoàn thiện để đến ngày 4 tháng 7 năm 1952, Tham mưu trưởng chiến dịch báo cáo quyết tâm với Bộ Chính trị1 (Nội dung phương án có 3 điểm chính: 1. Chọn Nghĩa Lộ làm hướng chủ yếu và là trận then chốt mở màn chiến dịch. Lực lượng 6 trung đoàn (phương án 1 là 8 trung đoàn); 2. Phù Yên, là hướng thứ yếu. Lực lượng 2 trung đoàn; 3. Phối hợp là lực lượng còn lại đánh vào Sơn La, Yên Châu, Mai Sơn, Mường Lay...).


3. Tổ chức giao nhiệm vụ hiệp đồng chặt chẽ giữa các bộ phận; điều hành cơ động đội hình bảo đảm bí mật, giữ vững yếu tố bất ngờ.

Quyết tâm chiến dịch được tham mưu chuẩn bị kỹ và liên tục bổ sung. Ngày 8 tháng 9 năm 1952, dưới sự chủ trì của Chỉ huy trưởng chiến dịch, cơ quan tham mưu tổ chức giao nhiệm vụ, hiệp đồng giữa các bộ phận. Trong cuộc họp này, Tham mưu trưởng chiến dịch quán triệt, các bộ phận khi cơ động phải tuyệt đối giữ bí mật. Đồng chí chỉ rõ, đến lúc này đối phương vẫn chưa dò ra ý định của ta, chính vì vậy việc cơ động lực lượng nếu giữ được bí mật sẽ tạo bất ngờ và giành thế chủ động, về tổ chức sử dụng lực lượng, tham mưu hình thành 2 phương án và dự kiến tác chiến từ 2 đến 3 đợt. Cuộc họp được các bộ phận tham gia dân chủ thảo luận, cùng tham mưu hoàn chỉnh phương án. Ngày 9 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm. Người rất hài lòng về công tác chuẩn bị và tinh thần quyết chiến quyết thắng của chỉ huy các đơn vị. Người căn dặn, chiến dịch phải đạt được mục tiêu đề ra, đồng thời phải làm tốt Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ đối với đồng bào Tây Bắc.


Đối với chiến dịch Tây Bắc, công tác bảo đảm hậu cần là một "chiến dịch", chiến dịch "bảo đảm" cho chiến dịch"tác chiến". Xác định rõ điều này, tham mưu đã chủ động phối hợp với hậu cần cân nhắc số lượng người "cần thiết" tham gia, để lập phương án. Trên cơ sở quyết tâm chiến dịch, tham mưu cùng hậu cần lựa chọn sự phân hướng, phân tuyến, đường cơ động, cách thức và lực lượng tham gia. Cho đến trước giờ nổ súng, tham mưu đã hiệp đồng chặt chẽ giữa các bộ phận, giữ vững yếu tố bí mật, điều hành cơ động một lực lượng lớn bộ đội, trang bị kỹ thuật vượt sông Thao, sông Đà từ khu vực tập kết đến vị trí chiếm lĩnh trận địa xuất phát xung phong.


Trong quá trình thực hiện kế hoạch hiệp đồng, tuy rất cố gắng song sức người vẫn bị thiên nhiên ngăn can, hạn chế. Điều này xảy ra với công tác bảo đảm hậu cần chiến dịch. Tuyến vận tải từ Mậu A qua đèo Khâu Vác vào Nghĩa Lộ mức quy định 15 tấn/ngày, nhưng mưa nhiều, đường trơn, quân số có lúc chỉ 60%, dù rất nỗ lực nhưng có ngày chỉ chuyển được 6-7 tấn hàng. Bộ đội đánh xong Nghĩa Lộ, hết gạo, ảnh hưởng đến thời cơ diệt địch. Trong việc này, đồng chí đồng chí Trần Đăng Ninh - Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, nói: "Đây là cái hận Khâu Vác của ngành cung cấp"1 (Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), tr. 614).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Bảy, 2025, 08:31:18 pm
4. Tổ chức đội hình sử dụng lực lượng phù hợp, giành thắng lợi trận mở đầu then chốt tạo thế và lực cho các trận tiếp theo của chiến dịch.

Quá trình chuẩn bị, tham mưu xây dựng hai phương án tổ chức đội hình sử dụng lực lượng, Bộ Chính trị phê chuẩn phương án 2 và đánh giá cao tính khả thi của phương án này. Theo phương án, ta sử dụng Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 36), 312 (thiếu Trung đoàn 141) đánh trận mở đầu chiến dịch để "Đập vỡ khu vực phòng ngự Nghĩa Lộ, Phù Yêngiải phóng vùng tả ngạn sông Đà"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Chiến dịch Tây Bắc Thu Đông 1952, H.1992. tr. 30). Trong trận này, tuy để mất cơ hội tiêu diệt Tiểu đoàn 6 dù địch ở Tú Lệ, nhưng đã tạo thế trận tốt cho các trận tiếp theo. Về so sánh lực lượng (chỉ tính xung kích) ta sử dụng 3 đại đoàn (308, 312, 316), 9 đại đội hỏa lực, 10 đại đội bộ đội địa phương. Tỷ lệ địch/ta, khoảng 1/1,5. Tỷ lệ này không lớn đối với một chiến trường rộng như Tây Bắc. Theo phương án, tham mưu vẫn đề xuất sử dụng 4 tiểu đoàn làm nhiệm vụ thọc sâu chiến dịch (Mặt trận Y13) hướng Quỳnh Nhai - Tuần Giáo - Điện Biên Phủ. Hướng này do đồng chí Bằng Giang chỉ huy và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng nghi binh chiến dịch là cuộc đấu trí giữa ta và địch. Tham mưu đã sử dụng lực lượng nghi binh trên các hướng Bắc Giang, Bắc Ninh, Sơn Tây. Mục đích, dụ, hút địch vào hướng đồng bằng Bắc Bộ. Quả vậy, đến ngày 17 tháng 9 năm 1952 Lơ Tuốcnô Cao ủy Pháp ở Đông Dương vẫn cho rằng "Việt Minh sẽ đánh ở đồng bằng". Trong hồi ký của mình Nava xác nhận "Bộ chỉ huy quân Pháp vẫn hướng vào một cuộc tiến công diễn ra ở đồng bằng". Chưa hết, tướng Đờ Linarét chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ, nghe tin Nghĩa Lộ bị tiến công vội bay lên thị sát vào ngày 16 tháng 10, ngày 17 tại Hà Nội, Đờ Linarét vẫn cho rằng không có dấu hiệu nào cho thấy Việt Minh đánh lớn ở Tây Bắc.


Về dự kiến tình huống, tham mưu cho rằng, nhất định sẽ có cuộc hành quân của Pháp vào hậu phương chiến dịch của ta. Như đã hẹn, ngày 9 tháng 11 hành quân Loren do Đờ Linarét chỉ huy từ Việt Trì, Trung Hà hướng lên Phú Thọ, Tuyên Quang. Tại đây, Trung đoàn 176, Trung đoàn 246, Trung đoàn sơn pháo 75 của Đại đoàn 351, Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) quay về sau khi hoàn thành nhiệm vụ ỏ Cửa Nhì (18-10), cùng bộ đội địa phương Phú Thọ, Tuyên Quang "tiếp đón". Hành quân Loren, "đòn tập kích" vào hậu phương chiến dịch của Việt Minh được Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương trù tính rất kỹ nhưng chỉ kéo dài từ 9 tháng 11 đến ngày 14 tháng 11, còn những ngày tiếp theo là một cuộc triệt thoái nhọc nhằn. Quân Pháp bị đánh tơi tả ở Chân Mộng, Thái Ninh... ngày 23 tháng 11, số còn lại mới lết vế đến Việt Trì với một chân dung không như khi xuất phát.


5. Bám sát diễn biến chiến trường, chủ động xử lý các tình huống chiến dịch, không bất ngờ trước các thủ đoạn tác chiến của đối phương.

Chiến dịch Tây Bắc có thời gian chuẩn bị dài, vì vậy ta có điều kiện để từng bước hoàn chỉnh quyết tâm, kịp thời bổ sung, điều chỉnh ý định tác chiến. Tuy nhiên, khi chiến dịch xảy ra, xuất hiện nhiều tình huống ngoài dự kiến. Như trận tiến công các đồn tiền tiêu ở Ca Vịnh, Ba Khe, Gia Phù... ngày 14-15 tháng 10 không triệt để, tham mưu chỉ thị ngay cho Đại đoàn 308 phải vây chặt Nghĩa Lộ - Pú Chạng quyết không để mất thời cơ tiêu diệt mục tiêu quan trọng này. Việc địch nhảy dù xuống Tú Lệ hoặc liên tiếp tăng viện và xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm mạnh... ở ngoài dự kiến, nhưng do bám sát diễn biến nên tham mưu không bị động bất ngờ, kịp thời đề xuất phương án xử trí, giúp Bộ chỉ huy chiến dịch duy trì nhịp độ và đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời.


6. Đánh giá đúng so sánh lực lượng, kết thúc chiến dịch đúng thời cơ.

Có nhiều quan điểm cho rằng, chiến địch Tây Bắc không giành thắng lợi trọn vẹn vì ta không làm chủ được Nà Sản. Cách đánh giá đó chỉ xuất phát từ góc nhìn vào một sự kiện cụ thể. Giả định, nếu quân Pháp không bất ngờ đổ xuống Nà Sản một lực lượng lớn và xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm mạnh thì chắc chắn nó sẽ bị tiêu diệt như nhiều đồn bốt khác ở Tây Bắc. Xét toàn cục, thắng lợi của chiến dịch đã làm thay đổi thế và lực trên chiến trường Đông Dương theo hướng có lợi cho ta. Cái gọi là "con đê chắn sóng" (Nà Sản) mà quân Pháp cố tạo ra chỉ góp phần làm loãng thêm thế bố trí lực lượng của chúng. Trong khi đó, 3 mục tiêu chiến dịch đề ra đã hoàn thành, "Xứ Thái tự trị" bị phá sản. Ta không thể chỉ lấy tinh thần "quyết chiến quyết thắng" để bảo đảm cho thắng lợi khi tiến công vào nơi địch đang mạnh. Đến lúc này, sức khỏe của bộ đội bị giảm sút nghiêm trọng sau nhiều ngày chiến đấu và khả năng bảo đảm hậu cần kỹ thuật cũng rất khó khăn. Vấn đề Nà Sản tham mưu cũng thấy rằng "Nắm không vững tình hình địch ở Nà Sản, do đó nhận định tình hình địch - ta không đúng, và đề rachủ trương tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đây" là không phù hợp1 (Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), tr. 641). Trận Pú Hồng, Bản Hời (30-11), Nà Si, Bản Vây (1-12)... giúp tham mưu đánh giá lại tình hình và đi đến đề xuất dừng tiến công Nà Sản. Đây là một quyết định khó khăn, nhưng đúng đắn, quyết định này bảo đảm cho ta giữ vững kết quả thắng lợi của chiến dịch.


Năm tháng đi qua, dấu ấn chiến trường xưa đã ẩn vào sau những thay đổi của cuộc sống. Nhưng vẫn còn đó, những triền núi, dòng sông Tây Bắc hùng vĩ từng chứng kiến sự kiện lớn lao của hơn 60 năm về trước. Đối với những người làm công tác tham mưu tác chiến, công trạng, sự hy sinh to lớn của họ vẫn còn in dấu trên tấm bản đồ quyết tâm chiến dịch Tây Bắc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Bảy, 2025, 08:38:11 pm
CHỦ ĐỘNG KẾT THÚC CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952
MỘT QUYẾT ĐỊNH KỊP THỜI, SÁNG SUỐT CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VÀ BỘ TỔNG TƯ LỆNH


Thiếu tướng, PGS, TS HÀ QUỐC HƯU
Chủ nhiệm Khoa Chiến dịch, Học viện Quốc phòng


Từ cuối chiến dịch Hòa Bình (2-1952), Bộ Chính trị đã có ý định mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc; tháng 9 năm 1952, dựa trên cơ sở đánh giá so sánh thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường, đồng thời căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch tiến công Tây Bắc nhằm: tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc; giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc. Chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị, từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã tiến hành chiến dịch và giành được thắng lợi to lớn về nhiều mặt: Ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng đất đai và tranh thủ nhân dân; góp phần làm đảo lộn thế bố trí chiến lược, khoét sâu thêm mâu thuẫn và chỗ yếu của địch; phá vỡ "bình phong" che chở cho địch ở Thượng Lào. Chiến thắng Tây Bắc khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh,sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời và kiên quyết của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Chiến dịch tiến công Tây Bắc thể hiện sự phát triển không ngừng của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trên nhiều nội dung, trong đó có nội dung về nghệ thuật kết thúc chiến dịch; việc chủ động kết thúc chiến dịch đúng thời cơ là một quyết định kịp thời, sáng suốt của Trung ương Đảng và Bộ Tư lệnh chiến dịch.


1. Kế hoạch, diễn biến và kết thúc chiến dịch tiến công Tây Bắc (1952).

Kế hoạch chiến dịch tiến công Tây Bắc (1952), ta dự đinh chia làm 3 đợt:

Đợt 1, tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho một bộ phận chủ lực thâm nhập vùng Quỳnh Nhai phối hợp với bộ đội địa phương kiềm chế dịch.

Đợt 2, nếu trường hợp đánh Nghĩa Lộ được thuận lợi, lực lượng ta còn sung sức, địch chưa kịp tăng cường thì nhanh chóng đánh chiếm Sơn La. Nếu gặp khó khăn thì đánh vùng đông nam Phân khu Sơn La (từ Mộc Châu trở lên Sơn La), kết hợp cắt đường số 41 (quãng Cò Nòi) và hoạt động ở vùng sau lưng địch để cô lập Sơn La.

Đợt 3, tiến công Sơn La thành một đợt riêng nếu đợt trước gặp khó khăn.

Thời gian chiến dịch: dự kiến 3 tháng rưỡi, bắt đầu từ ngày 14 tháng 10 năm 1952, đánh ngoại vi; ngày 15 tháng 10, đánh Nghĩa Lộ (nếu còn mưa thì bắt đầu vào hạ tuần tháng 10-1952).

Mức yêu cầu cao nhất của chiến dịch là giải phóng Sơn La. Mức thấp nhất là giải phóng Nghĩa Lộ và Quang Huy.

Diễn biến và kết thúc chiến dịch.

Từ ngày 20 tháng 9 đến đầu tháng 10 năm 1952, chiến dịch bắt đầu triển khai thế trận. Các đơn vị từ các địa điểm tạm dừng tiến vào vị trí tập kết, đại bộ phận lập két ở tả ngạn sông Hồng (từ Yên Bái đến Trái Hút và Trung đoàn 98 ở vùng Thạch Kiệt). Các đơn vị đến vị trí tập kết theo đúng chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, không bị ùn tắc, bảo đảm quân số, sức khỏe. Tại đây, bộ đội tiếp tục làm công tác chuẩn bị chiến đấu và vượt sông. Trong hai đêm (ngày 10 và 11-10), 3 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công pháo vượt sông ở 4 bến: Mậu A, Âu Lâu, Nước Nóng và Lan Bình; riêng Trung đoàn 98 vượt sông ở Phú Thọ. Tât cả đã hình thành các mũi tiến công theo đúng kế hoạch đã xác định. Địch có phát hiện được một phần hoạt động của ta, nên đã dùng máy bay để trinh sát, bắn phá thăm dò một vài nơi trong khu vực tập kết và một số bến vượt nhưng không gây thiệt hại đáng kể. Ở Tây Bắc, trước giờ nổ súng ít ngày, địch phát hiện lực lượng nhỏ của ta thâm nhập khu vực Nghĩa Lộ nhưng vẫn không đoán được Tây Bắc là hướng tiến công chủ yếu của ta.


Từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 10 năm 1952, ta tiến hành đợt 1 chiến dịch, đập vỡ khu vực phòng ngự Nghĩa Lộ, Phù Yên, giải phóng vùng tả ngạn sông Đà.

Từ ngày 7 đến ngày 22 tháng 11 năm 1952, ta tiến hành đợt 2 chiến dịch vượt sông Đà, đập vỡ khu vực phòng ngự Mộc Châu, giải phóng Sơn La - Điện Biên Phủ.

Từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, ta tiến hành đợt 3 chiến dịch, tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Sau trận Bản Vây và Nà Si đêm ngày 1 tháng 12, Tổng Quân ủy nhận thây, ta tiếp tục tiến công Nà Sản không có lợi, nên đã quyết định kết thúc chiến dịch.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Bảy, 2025, 08:39:59 pm
2. Chủ động kết thúc chiến dịch - một quyết định kịp thời, sáng suốt của Trung ương Đảng và Bộ chỉ huy chiến dịch.

Kết thúc chiến dịch là giai đoạn cuối cùng của quá trình tổ chức điều hành chiến dịch, đây là một nội dung quan trọng của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Trong các chiến dịch tiến công, thời cơ kết thúc chiến dịch thường là sau khi hoàn thành kế hoạch tác chiến đã vạch ra; tuy nhiên, có chiến dịch, khi không còn điều kiện, không còn khả năng tiếp tục tiến công nữa, ta cũng chủ động kết thúc chiến dịch. Với chiến dịch tiến công Tây Bắc (1952), ta đã chủ động kết thúc chiến dịch đúng thời cơ, mưu trí tim cách lừa địch để bảo đảm an toàn lực lượng, tạo thuận lợi cho các nhiệm vụ tiếp theo. Đây là một quyết định kịp thời, sáng suốt của Trung ương Đảng và Bộ Tư lệnh chiến dịch, được biểu hiện ở những nội dung chủ yếu sau:


Một là, chủ động kết thúc chiến dịch đúng thời cơ.

Nhiệm vụ của đợt 3 của chiến dịch tiến công Tây Bắc là: "Tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản".

Đánh giá tình hình địch, lúc đầu, Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch nhận định: địch ở tập đoàn cứ điểm Nà Sản có số quân đông, có nhiều cứ điểm dựa vào nhau, có thể phát huy uy lực của pháo binh và không quân, có sân bay, nhưng bị cô lập, việc tiếp tế chi viện chỉ dựa vào đường không công sự còn sơ sài, tinh thần binh lính bạc nhược. Tuy là hình thức phòng ngự mới, nhưng tập đoàn cứ điểm này được thành lập trong thế bị động, địch đang ở thế "tiến thoái lưỡng nan", rút thì bị thất bại rất lớn, giữ thì bị cô lập và có thể bị tiêu diệt.


Tình hình ta, thương vong trong đợt 2 tương đối ít so với đợt 1, nhưng bộ đội hành quân và chiến đấu liên tục, ăn uống kém, sức khoe giảm sút. Đường tiếp tế xa, địch lại tăng cường đánh phá giao thông, kho tàng... Để khắc phục những khó khăn trên, ta phải có nỗ lực lớn.


So sánh tương quan lực lượng ta - địch: Lực lượng ta tuy không tuyệt đối ưu thế hơn địch, nhưng trong từng trận ta có điều kiện tập trung tạo ưu thế hơn địch. Mặt khác, bộ đội ta trên đà phấn khởi, tin tưởng; việc huy động nhân lực, vật lực ở vùng mới giải phóng có triển vọng giảm được nhiều khó khăn về hậu cần. Căn cứ vào nhận định trên, Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch hạ quyết tâm tập trung lực lượng mở đợt tiến công thứ 3, tiêu diệt địch ở Nà Sản, giành toàn thắng cho chiến dịch.


Quá trình diễn biến đợt 3 chiến dịch: Đêm ngày 30 tháng 11, Trung đoàn 102 cùng một bộ phận của Trung đoàn 88 (tương đương 1 tiểu đoàn) chiếm được Pú Hồng, nhưng sau đó bị địch phản kích chiếm lại. Tiểu đoàn 115 Trung đoàn 165, chiếm được Bản Hời. Đêm 1 tháng 12 Trung đoàn 174 cùng một bộ phận của Trung đoàn 88 đánh chiếm Nà Si không thành công; cũng trong đêm 1 tháng 12, Trung đoàn 209 đánh Bản Vây không kết quả. Hai trận này ta đều bị thương vong nặng. Bốn trận trên, ta đều gặp khó khăn, nhất là hai trận Nà Si và Bản Vây. Trước tình hình trên, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy ta chưa nắm chắc và đánh giá đúng tình hình địch (chúng vừa tăng thêm lực lượng từ phía sau lên, vừa rút các lực lượng còn lại từ Tây Bắc về, hình thành một tập đoàn cứ điểm lớn ở Nà Sản); trước mắt ta chưa đủ khả năng tiến công diệt địch trong tập đoàn cứ điểm, cần có thời gian chuẩn bị chu đáo, huấn luyện bộ đội, nghiên cứu kỹ lưỡng vế kiểu phòng ngự mới của địch nên đã quyết định kết thúc chiến dịch để tránh thương vong, không có lợi cho việc xây dựng bộ đội lâu dài.


Thực tiễn trên cho thấy, khi đã nắm chắc và đánh giá đúng tình hình địch, Bộ chỉ huy chiến dịch đã cân nhắc, tự lượng sức của bộ đội, quyết định rút khỏi Nà Sản, kết thúc chiến dịch đúng thời cơ. Đây là một trong những bài học sâu sắc của chiến dịch này. Không những ta kết thúc chiến dịch đúng thời cơ, mà còn khéo léo kết thúc chiến dịch một cách có lợi nhất, tránh được những thương vong, tổn thất không cần thiết, bảo toàn được lực lượng, giữ vững được khí thế và niêm tin của cán bộ, chiến sĩ. Nhờ vậy ta đã có điều kiện nhanh chóng bước vào củng cố và xây dựng vùng mới giải phóng.


Quyết định kết thúc chiến dịch trong thời điểm có lợi, khẳng định bản lĩnh vững vàng, tinh thần dám chịu trách nhiệm, sự quyết đoán của người chỉ huy, không để tư tưởng hiếu thắng cay cú chi phối, ảnh hưởng đến nhiệm vụ lâu dài. Tổng Quân ủy nhận định: "Đánh thì không chắc thắng, trong khi đó thì vùng mới giải phóng của ta rất rộng mà chưa được củng cố", cho nên Tổng Quân ủy chủ trương đình chỉ cuộc tiến công Nà Sản và chuyển sang nhiệm vụ củng cố căn cứ địa Tây Bắc để giữ vững những thắng lợi vừa qua. Đây là một quyết định sáng suốt, kịp thời. Việc đột nhiên ngừng tiến công Nà Sản, kết thúc chiến dịch, trong lúc bộ đội đang ở tư thế chuẩn bị tiếp tục tiến công và say sưa thắng lợi, đã nảy sinh ra nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau, cán bộ, chiến sĩ đã phải trải qua một quá trình đấu tranh tư tưởng để thống nhất nhận thức đúng. Bộ chỉ huy chiến dịch đã phát hiện và lãnh đạo kịp thời.


Hai là, mưu trí tìm cách lừa địch để bảo đảm an toàn lực lượng, tạo thuận lợi cho các nhiệm vụ tiếp theo.

Kết thúc chiến dịch là một nghệ thuật. Kết thúc chiến dịch trong tình huống thuận lợi đã khó, kết thúc trong hoàn cảnh bất lợi càng khó khăn gấp bội. Nhận rõ điều này, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tích cực, chủ động, tiến hành nhiều biện pháp có hiệu lực nhằm đánh lừa địch, đảm bảo an toàn cho lực lượng chiến dịch. Ta để lại một lực lượng tiếp tục bao vây, đánh địch ở Nà Sản, đồng thời khéo léo tiến hành nghi binh, bí mật đưa bộ phận lực lượng sang hoạt động rầm rộ khu vực sông Mã, kết hợp với việc rút quân về Khu 4. Một bộ phận khác từ Điện Biên Phủ tiến sang đánh địch ở Phong Xa Lỳ, Mường Khoa nhằm đánh lạc hướng chú ý của địch. Do các hoạt động trên của ta, địch lại thêm một bất ngờ. Khi ta đã rút khỏi Nà Sản, chúng vẫn không rõ thực hư, vừa ráo riết củng cố công sự để đối phó với ta ở Nà Sản, vừa vội vã điều quân cơ động của Lào lên củng cố Sầm Nưa, phòng mặt sông Mã.

Gần một tháng sau địch mới biết là ta đã rút quân, nhưng cũng là lúc các lực lượng chiến dịch của ta đã về tới hậu phương an toàn.

Như vậy, trong tình huống bất lợi, ta đã biết kết thúc chiến dịch một cách có lợi nhất, vừa bảo toàn lực lượng, vừa tạo thuận lợi cho nhiệm vụ tiếp sau, nhất là tạo được tiền đề cho chủ trương mở chiến dịch Thượng Lào sau đó.


Tóm lại, nghệ thuật tổ chức điều hành các chiến dịch tiến công trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm kết thúc chiến dịch trong tình huống thuận lợi. Nhưng chiến dịch tiến công Tây Bắc (1952), đã bổ sung thêm cho chúng ta kinh nghiệm thành công về kết thúc chiến dịch trong tình huống khó khăn, bất lợi. Nghệ thuật chỉ đạo đó đã đưa nghệ thuật chiến dịch tiến công Việt Nam thêm nét phát triển mới. Kinh nghiệm chỉ đạo này cũng đã được vận dụng thành công trong kháng chiến chống Mỹ, góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng và sự phát triển đến đỉnh cao, toàn diện của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam.


Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai (nếu xảy ra) để đánh bại địch trên chiến trường, chúng ta vẫn phải tiến hành thắng lợi các chiến dịch, nhất là các chiến dịch tiến công. Tuy nhiên, trong điều kiện tác chiến mới, các yếu tố về địch, ta và địa bàn chiến dịch đều có những thay đổi khác với chiến tranh giải phóng trước đây, kẻ thù là những nước có nền kinh tế, kỹ thuật cao hơn ta, Quân đội của chúng được trang bị rất hiện đại, sử dụng vũ khí công nghệ cao, tác chiến điện tử mạnh. Vì vậy, kinh nghiệm về kết thúc chiến dịch nêu trên vẫn giữ nguyên giá trị trong chiến tranh tương lai, cần được tiếp tục nghiên cứu vận dụng và phát triển phù hợp, đáp ứng yêu cầu chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Bảy, 2025, 08:46:05 pm
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 - QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ

Trung úy NGUYỄN THỊ THẢO
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Đầu năm 1952, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý định Thu Đông sẽ mở chiến dịch ở hướng Tây Bắc. Tháng 4 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu sơ bộ dự thảo kế hoạch chiến dịch Tây Bắc báo cáo lên Tổng Quân ủy. Cũng trong tháng 4, Tổng Quân ủv họp phổ biến chỉ thị của Trung ương Đảng về mở chiến dịch ở hướng Tây Bắc, quyết định thành lập Ban chuẩn bị chiến dịch. Đồng chí Trần Đăng Ninh đại diện Tổng Quân ủy làm Trưởng ban, các đồng chí Hoàng Văn Thái, Bùi Quang Tạo, Bằng Giang, Lê Liêm, Nguyễn Văn Nhạn, Phan Mỹ, Chu Văn Tấn, Trần Quyết, Đồng Sỹ Học, làm ủy viên. Quy định thời gian chuẩn bị là 3 tháng rưỡi. Việc lãnh đạo và chỉ đạo các cơ quan đơn vị chuẩn bị cho chiến dịch là rất cần thiết: "Tổ chức một chiến dịch, nhất là một chiến dịch lớn như hiện nay, thì thắng hay bại một phần quan trọng đã quyết định từ lúc chuẩn bị"1 (Những tải liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lênh, Bộ Tổng tham mưu xuất bản năm 1963, tr. 428).


Qua bước đầu tìm hiểu chiến trường, Bộ Tổng tham mưu đã đưa ra nhận định: Chiến trường Tây Bắc là chiến trường rừng núi, địa hình phức tạp, dân cư thưa thốt, giao thông đi lại khó khăn. Mật độ dân cư thưa thớt cùng với trình độ hạn chế vì bị thực dân bóc lột kìm hãm, bởi vậy, việc tranh thủ nhân dân và giữ bí mật cho bộ đội hoạt động cũng sẽ gặp nhiều trở ngại. Trong khi đó, lực lượng địch ở Tây Bắc có 8 tiểu đoàn và 43 đại đội, đóng ở 144 cứ điểm, lực lượng chủ yếu là quân ngụy. Địch chia Tây Bắc thành 4 phân khu: Sông Đà, Nghĩa Lộ, Lai Châu, Sơn La, và 3 tiểu khu độc lập Thuận Châu, Phù Yên, Tuần Giáo. Tại Phân khu Nghĩa Lộ, lực lượng địch tương đối mạnh, công sự vững chắc, bởi nó là những tấm chắn bảo vệ cửa ngõ Tây Bắc. Nhưng ở Tây Bắc, địch có nhiều sơ hở chủ quan, so với đồng bằng Bắc Bộ, ở Tây Bắcđịch yếu hơn. Tại đây, quân Âu - Phi ít, hoạt động của máy bay và pháo binh địch bị hạn chế nhiều bởi núi cao, rừng rậm. Về mặt tiếp tế địch cũng gặp nhiều khó khăn, vì thiếu sân bay lớn, sương mù nhiều, khả năng tiếp tế bằng đường không sẽ vô cùng hạn chế. Còn tiếp tế bằng đường bộ đối với quân Pháp càng gập khó khăn hơn. Qua những nhận định trên, ta đề ra chủ trương: "Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, cố gắng tranh thủ giải phóng một phần đất đai, phát triển du kích chiến tranh để tiến tới phá âm mưu của địch trên chiến trường Tây Bắc"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lênh. Sđd, tr.239). Tây Bắc là chiến trường rộng lớn, nếu ta giải phóng được vùng nào thì địch ít có khả năng chiếm lại. Trước những nhận định đó, Bộ Tổng tham mưu đã tiến hành các công tác chuẩn bị nhằm nhanh chóng đạt được mục tiêu đã đặt ra.


Tháng 5 năm 1952 việc điều tra tình hình địch được tiến hành. Chiến dịch này ta dự kiến đánh dài ngày, đánh liên tục, tiến chắc từng bước, đồng thời nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng. Bởi vậy việc nắm chắc địch, nắm chắc địa hình và dân tình Nghĩa Lộ, sẽ có quyết tâm đánh đúng và đánh thắng. Phòng Quân báo được giao nhiệm vụ trinh sát tình hình địch. Việc trinh sát được tiến hành theo 2 bước. Bước đầu, phối hợp với trinh sát địa phương điều tra về việc bố trí lực lượng, các trạm tuần tra, thói quen thăm dò thám báo. Nhiệm vụ của Phòng Quân báo là phải thu thập đầy đủ các tài liệu về sự bố trí lực lượng của địch ở Tây Bắc, về các khả năng tăng viện và rút lui của chúng, tìm hiểu về tình hình cơ sở quân chúng nhân dân. Bước 2, sau khi đã sơ bộ xác định kế hoạch tác chiến và nhiệm vụ cụ thể. Các đơn vị tiến hành trinh sát chỉ huy, nhiệm vụ này được giao cho các cán bộ chỉ huy các đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn trực tiếp đi điều tra đường hành quân, địa hình và tình hình địch ở các vị trí mà đơn vị đảm nhiệm tiến công. Dự kiến, trong đợt 1 của chiến dịch Tây Bắc, hướng tiến công vào Nghĩa Lộ giao cho Đại đoàn 308. Đồng chí đại đoàn trưởng đã trực tiếp chỉ huy một đoàn cán bộ gồm các đồng chí tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng, cán bộ hậu cần, thông tin, công binh, pháo binh thâm nhập vào thung lũng Nghĩa Lộ để chuẩn bị chiến trường. Cũng từ những thông tin chính xác từ quá trình nghiên cứu thực địa, điều tra các cụm cứ điểm, ta đã mở đầu chiến dịch thành công với trận mở màn tiến công vào cứ điểm Pú Chạng.


Việc chuẩn bị cơ sở quần chúng được Trung ương Đảng giao cho Khu ủy Tây Bắc. Liên khu ủy Việt Bắc đã mở lớp đào tạo cán bộ cơ sở sau đó chuyển cán bộ sang Khu Tây Bắc hoạt động. Đồng thời bố trí một số đồng chí ủy viên liên khu thâm nhập vào Sơn La và vùng tạm chiếm Yên Bái để xây dựng cơ sở chính trị, tổ chức, trang bị, huấn luyện lực lượng vũ trang. Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ cho mỗi đồng chí phụ trách một đến hai huyện. Liên khu Việt Bắc mở lớp tập huấn cho cán bộ và quần chúng ở Tây Bắc, cứ 2 đồng chí sang Tây Bắc tăng cường chỉ đạo xây dựng cơ sở. Các đồng chí có nhiệm vụ thâm nhập vào vùng địch, vận động đồng bào, chuẩn bị tư tưởng cho nhân dân, huấn luyện các lực lượng vũ trang địa phương. Nếu chuẩn bị cơ sở quần chúng tốt, trong quá trình chiến đấu sẽ phát huy được nhiều tác dụng, ở Tây Bắc việc tranh thủ nhân dân có tính chất vô cùng đặc biệt. Âm mưu của địch ở Tây Bắc là phá khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ tôn giáo, chia rẽ dân tộc để nhằm lập các xứ tự trị nhằm cai trị lâu dài và vơ vét lương thực, thực phẩm phục vụ cho âm mưu quân sự. Ở đây Pháp đã thực hiện được một phần quan trọng âm mưu đó, chúng lợi dụng giày xéo và thống trị nhân dân, vơ vét hết tài nguyên, lâm thổ sản, thực hiện âm mưu thâm độc "giết Kinh lấy muối, giết Thổ lấy ruộng, giết Mán lấy bạc, giết Mông lấy thuốc phiện". Vì thế, nếu chúng ta tranh thủ được đồng bào, làm cho những đồng bào bị địch lợi dụng quay trở về hàng ngũ kháng chiến, thì có thể nói rằng trên chiến trường Bắc Bộ, âm mưu chia rẽ dân tộc của chúng cũng bị thất bại nặng nể.


Tháng 5 năm 1952, tất cả các đơn vị bộ đội tiến hành giáo dục chính trị cho cán bộ và chiến sĩ. Với trình độ giác ngộ giai cấp được nâng cao thêm một bước, với khí thế mới, tất cả đều phấn khởi, quyết tâm giành thắng lợi lớn trong Thu Đông tới. Các mặt yếu về kỹ thuật, chiến thuật được rèn luyện bổ sung, súng đạn dụng cụ phương tiện chiến đấu được sửa chữa, thay thế. Chi bộ Đảng, hội đồngquân nhân họp, hạ quyết tâm lập công. Các phó chính tri viên đại đội và tiểu đoàn được học tập riêng về chính sách đối với dân công đi chiến dịch. Các lớp huấn luyện quân sự được mở để các đơn vị chủ lực huấn luyện 5 kỹ thuật cơ bản, học cách đánh công sự cải tiến, đánh cả ban ngày và ban đêm. Nhiều trung đoàn được diễn tậptác chiến hiệp đồng bộ pháo. Bên cạnh đó được phổ biến các kinh nghiệm chiến đấu của chiến dịch Hòa Bình, từ những đơn vị cơ sở đến đại đoàn đều được biên chế lại để phù hợp với cách đánh công kiên và vận động, giảm quân số không chiến đấu, tăng thêm lực lượng trực tiếpchiến đấu. Trang bị vũ khí mạnh hơn, thống nhất, biên chế các đơn vị đều gọn nhẹ và có sức chiến đấu cao. Thực hiện việc bổ sung quân số cho chiến dịch, dự kiến động viên 6.000 tân binh để giao cho các đơn vị vừa huấn luyện vừa làm lực lượng vận tải và bổ sung cho các đơn vịchiến đấusau mỗi trận đánh. Mở lớp bổ túc cán bộ sơ cấp để làm lực lượng dự trữ cán bộ cho chiến dịch và chuẩn bị mở thêm một lớp cán bộ địch hậu. Bộ đội được học tập thảo luận quán triệt mục đích, yêu cầu của chiến dịch và "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ". Ngày 6 tháng 9 năm 1952, Hội nghị cán bộ bàn kế hoạch tác chiến được tổ chức, Bác Hồ đã vượt mưa lũ để đến, điều đó đã để lại cho cán bộ, chiến sĩ bài học sâu sắc về quyết tâm đối với chiến dịch. Lực lượng tham gia chiến dịch có Đại đoàn 308 (3 trung đoàn), Đại đoàn 312 (3 trung đoàn) Đại đoàn 316 (2 trung đoàn), Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148, sáu đại đội sơn pháo 75mm (24 khẩu); 3 đại đội cối 120mm (12 khẩu),3 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn công binh 151, Đại đoàn công pháo 351 và 11 đại đội bộ đội địa phương Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai.


Vì khả năng huy động tại chỗ hạn chế, đường tiếp tế, vận tải qua nhiều núi cao rừng rậm đèo dốc do địa hình phức tạp nên Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã tăng cường cán bộ, tập trung cho cung cấp. Nhân vật lực phục vụ chiến dịch dụ kiến do các tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An Hà Nam, đảm nhiệm. Để vận chuyển được khối lượng lớn vật chất vào chiến trường cần sửa lại hệ thống đường sá ở Tây Bắc. Do đó, một lực lượng lớn dân công và công binh được huy động sửa chữa đường 13 từ Chủ Chè đi Yên Bái vào Ba Khe. Đường số 6 từ Hòa Bình lên Suối Rút và đường Hồi Xuân (Thanh Hóa) lên Suối Rút. Khôi phục quãng đường sắt từ Yên Bái đi Mậu A để dùng ô tô ray vận chuyển lương thực và nhu yếu phẩm bằng mọi phương tiện. Xây dựng nên một hệ thống kho trạm, bố trí lại các kho trạm cấp phát ở vùng tả ngạn sông Thao và khu vực Suối Rút (Hòa Bình).


Hướng Việt Bắc được giao nhiệm vụ đảm bảo cho đợt 1, lấy Yên Bái, Phú Thọ làm hậu phương chiến dịch. Lập 4 kho chính: ở Mậu A lập kho đảm bảo cho tuyến chính từ Khâu Vác - Nậm Mười tiến vào Nghĩa Lộ. Ở cổ Phúc lập kho đảm bảo cho bộ đội tiến công hướng Sài Lương.


Về lương thực, dự kiến, gạo cho hướng chính trong đợt 1 gần 1.400 tấn cho cả bộ đội và dân công. Hướng phụ là 104 tấn cho bộ đội và 43 tấn cho dân công.

Về nhân lực, dân công trực tiếp phục vụ chiến đấu là 4.300 người, dân công vận chuyển là 27.750 người. Dự kiến chuyển khoảng 120 tấn vũ khí đạn dược và dụng cụ thuốc men để cứu chữa cho khoáng 5.000 thương binh.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Bảy, 2025, 08:48:15 pm
Ngày 14 tháng 7 năm 1952, Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về huy động dân công, Ban dân công ở các tỉnh cũng được thành lập. Theo đề nghị của Tổng Quân ủy, tháng 9 năm 1952 ta đã thành lập Tổng cục Cung cấp do đồng chí Trần Đăng Ninh làm Chủ nhiệm Tổng cục. Ban Chấp hành Trung ương Đảng thành lập Ban cán sự đường 41 được thành lập do đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, đại diện Tổng cục phía nam làm Trưởng ban, hai đồng chí Liên khu ủy Liên khu 3 và Liên khu 4 làm ủy viên, đảm nhiệm việc chuẩn bị hậu cần chiến dịch từ hướng nam lên. Để đảm bảo yêu cầu bí mật bất ngờ cho chiến dịch, lần này công tác đảm bảo hậu cần không được chuyển vật phẩm lên trước lót ổ lập chân hàng mà phải tổ chức vận chuyển theo sát các mũi bộ đội tiến quân. Cũng trong chiến dịch này, lần đầu tiên mỗi chiến sĩ được cấp phát 3 lạng đường. Tại các địa điểm tập kết lực lượng và lương thực, ta lập các bến vượt sông, biên chế các Ban vượt sông cho bộ đội và dân công.


Ngày 30 tháng 8 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu xây dựng kế hoạch nghi binh gửi đến các đơn vị. Theo kế hoạch, mặt trận trung du hướng nghi binh chính là Vĩnh Phúc, ở hướng này giao cho Trung đoàn 246 lấy phiên hiệu giả là Đại đoàn 308, tiểu đoàn địa phương Phú Thọ lấy tên giả là Trung đoàn 246. Hướng Bắc Giang giao cho Trung đoàn 238 ở Bắc Ninh, Bắc Giang mang tên mới là Đại đoàn 316. Hướng Phú Thọ, Sơn Tây giao cho Trung đoàn 176 thuộc Đại đoàn 316 đổi tên mới là Đại đoàn 312. Ở Liên khu 3, hướng nghi binh chính là Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình. Riêng ở Ninh Bình vừa nghi binh vừa chuẩn bị cho hai đại đoàn 304 và 320 vào địch hậu để hoạt động phối hợp với chiến trường chính. Các hoạt động nghi binh cụ thể như sau: trinh sát vũ trang trên các hướng, cho phát đường bí mật, sửa chữa đường sá, cầu cống, bố trí kho tàng, tổ chức tập trung dân công. Tổ chức chuyển quân rầm rộ để đánh lạc hướng sự phán đoán của địch. Phong tỏa tin tức, truy quét các ổ gián điệp trên các đường hành quân ta dự kiến tiến vào Tây Bắc. Tất cả các đơn vị nghi binh được lệnh phải thực sự liên tục và rầm rộ để thu hút sự chú ý của địch.


Tháng 7 năm 1952, ta đã bắt đầu lên kế hoạch tác chiến. Theo kế hoạch này, hướng tiến công chính là Nghĩa Lộ - Yên Bái, hướng phối hợp là Phù Yên, hướng phụ là Lai Châu1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Sđd, tr.254, 255). Tháng 9 năm 1952, căn cứ vào đề nghị của Bộ Tổng tư lệnh, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc với mục tiêu "Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia. H. 2000. tr 304). Đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh làm Chỉ huy trưởng chiến dịch, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị, đồng chí Trần Đăng Ninh3 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, H 2010. tr. 824) làm Chủ nhiệm Cung cấp. Lực lượng chủ lực của ta tham gia chiến dịch có Đại đoàn 308 (3 trung đoàn), Đại đoàn 312 (3 trung đoàn), Đại đoàn 316 (2 trung đoàn), Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148, Đại đoàn công pháo 351, cùng các binh chủng phối thuộc và lực lượng bộ đội địa phương Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai phối hợp.


Ngày 6 tháng 9 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu tổ chức Hội nghị cán hộ, giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị tham gia chiến đấu. Hội nghị này có sự tham dự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù thời tiết xấu, trời mưa, nước ở các sông suối đều dâng cao nhưng Người vẫn đến Hội nghị và căn dặn: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm đó từ Trung ương qua các chú mà đến người chiến sĩ..."1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. tập 6. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 558). Đánh Tây Bắc, cần có quyết tâm lớn, đó là điều mà Trung ương Đảng, Bác, Tổng Quân ủy đã để cho các chiến sĩ và cán bộ ghi nhớ sâu sắc trước khi bước vào chiến dịch.


Trong quá trình chuẩn bị cũng gặp một số khó khăn như việc bổ sung quân số cho một vài trung đoàn tiến hành chậm, quá trình chuẩn bị cơ sở địa phương, sửa chữa đường không đúng theo dự kiến. Vận chuyển thu gom gạo vào các kho quá sớm nên bị hỏng. Khi công tác chuẩn bị mọi mặt cơ bản đã ổn định, đi vào nền nếp, Ban chuẩn bị tiếp tục xây dựng kế hoạch hành quân, kế hoạch phòng không, xây dựng kế hoạch vượt sông, bảo vệ, bảo mật phòng gian. Dự thảo các vấn đề về công tác chính trị, các chính sách để thông qua Tổng Quân ủy. Sau đó, chuẩn bị Hội nghị giao nhiệm vụ cho các đơn vị, bởi vậy các công việc trên phải hoàn thành sớm để bước vào chiến dịch.


Việc chuẩn bị chiến dịch dự kiến diễn ra 3 tháng rưỡi nhưng trong quá trình chuẩn bị đã phải mất 6 tháng. Thời gian chuẩn bị và quá trình chuẩn bị diễn ra dài ngày cũng gặp nguy hiểm vì bị địch phát hiện, tìm cách phá hoại.


Nhưng với quyết tâm cao và sự chịu dựng gian khổ, hy sinh, các cán bộ, chiến sĩ tham gia công tác chuẩn bị cho chiến dịch đã hoàn thành nhiệm vụ. Khi công việc chuẩn bị chiến dịch cơ bản hoàn thành, chiến dịch Tây Bắc đã mở màn bằng trận đánh diễn ra ngày 14 tháng 10 năm 1952, đến ngày 10 tháng 12 năm 1952 chiến dịch kết thúc thắng lợi.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2025, 08:30:20 pm
NGHĨA LỘ - CHIẾN THẮNG MỞ MÀN CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Thượng úy LÊ VĂN PHONG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cách đây 60 năm, vào Thu Đông năm 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc, giành nhiều thắng lợi to lớn. "Thắng lợi đó đã rèn luyện cho bộ đội ta về kỹ thuật, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, củng cố và mở rộng khối đoàn kết toàn dân, tăng cường lực lượng kháng chiến của nhân dân, nâng cao lòng tin tưởng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đối với Đảng và Hồ Chủ tịch..."1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu xuất bản năm 1963. tập 2, tr 217). Đi cùng năm tháng, chiến dịch Tây Bắc đã trở thành một sự kiện lịch sử trọng đại, trong đó, chiến thắng Nghĩa Lộ mãi là một dấu ấn quan trọng.


Như chúng ta đã biết, sau khi kết thúc chiến dịch Hòa Bình, quân đội ta khẩn trương tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm tác chiến chiến dịch. Từ tháng 5 năm 1952, các đơn vị chủ lực bước vào đợt chính huấn chính trị nhằm nâng cao nhận thức chính trị và trình độ giác ngộ ý thức dân tộc và ý thức giai cấp. Đây là cuộc chỉnh huấn chính trị tập trung lớn nhất của quân đội ta kể từ khi thành lập. Khi cuộc chính huấn chính trị kết thúc, bộ đội ta chuyển sang chỉnh huấn quân sự. Cùng với các cuộc chỉnh huấn nói trên, các đơn vị chủ lực còn tiến hành chấn chỉnhtổ chửc biên chế, trang bị và thực hiện Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng về "Tổ chức Đảng trong bộ đội chủ lực".


Trong lúc bộ đội chủ lực đang tập trung rèn quân, chỉnh cán nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu, thì từ mùa hè đến cuối năm 1952, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn binh lực vào những cuộc càn quét để bình định vùng tạm chiếm ở trung du, đồng bằng và ven biển nhằm hạn chế sự uy hiếp của ta tại hậu phương của chúng.


Không để cho địch rảnh tay bình định, củng cố thế chiếm đóng của chúng ở đồng bằng và trung du, nhất là trên chiến trường chính Bắc Bộ, đồng thời từ kinh nghiệm của chiến dịch Hòa Bình trong Đông - Xuân 1951- 1952, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã cân nhắc, chọn hướng tiến công chiến lược của ta trong Đông - Xuân 1952-1953. Sau khi phân tích tình hình mọi mặt, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã quyết định chọn Tây Bắc1 (Ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định thành lập Khu Tây Bắc, gồm 4 tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, rộng 44.300km2, dân số 440.000 người) - nơi địch yếu và sơ hở làm hướng tấn công của ta trong Đông - Xuân 1952-1953.


Tây Bắc là chiến trường rừng núi rộng lớn nằm ở phía Tây Bắc Bắc Bộ nước ta. Phía tây là biên giới Việt - Lào, giáp hai tỉnh Phong Xa Lỳ và sầm Nưa. Phía đông tiếp giáp với căn cứ địa Việt Bắc. Phía bắc là biên giới Việt - Trung, đối diện với tỉnh Lào Cai là tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Phía nam là tỉnh Hòa Bình, nối liền với các tỉnh thuộc Liên khu 3, Liên khu 4.


Phần lớn đất đai Tây Bắc là núi cao, rừng rậm, dân thưa, kinh tế nghèo nàn, đường sá ít, sông suối nhiều, việc cơ động vận chuyển đối với các đơn vị lớn có nhiều khó khăn; về mùa thu và mùa đông có sương mù bao phủ hầu như suốt ngày, hạn chế tầm quan sát và hoạt động của không quân, nhưng lại có nhiều thuận lợi trong việc di chuyển và tiếp cận của bộ đội ta.


Đối với địch, Tây Bắc là vùng chiến lược quan trọng, ở đây, lực lượng dịch có 8 tiểu đoàn và 41 đại đội, phân tán trên 144 cứ điểm, trong đó có 40 cứ điểm có từ 1 đến 2 đại đội, còn thường là cứ điểm từ 1 đến 2 trung đội. Công sự ở một số vị trí then chốt đã được cải tiến, có lô cốt, hầm ngầm xi măng cốt sắt, còn phần lớn vẫn bằng gỗ, đất.


Tháng 9 năm 1952, dựa vào so sánh thế lực giữa ta và địch trên chiến trường, căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm mục đích: "Tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc và giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952), H. 1992, tr. 10).


Vì đây là chiến dịch có ý nghĩa quan trọng, Bộ Chính trị đã quyết định cử Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh làm Chỉ huy trưởng chiến dịch; đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng, làm Tham mưu trưởng chiến dịch; đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch; đồng chí Trần Đăng Ninh1 (Về đồng chí Chủ nhiệm Cung cấp có tài liệu viết là Nguyễn Thanh Bình, ở đây, chúng tôi dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký. Nxb Quân đội nhân dân. H. 2006, tr. 824), Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, làm Chủ nhiệm cung cấp chiến dịch. Đảng ủy chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư. Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp tổ chức các bộ phận tiền phương hình thành cơ quan của chiến dịch.


Tổng Quân ủy quyết định sử dụng lực lượng trong chiến dịch Tây Bắc gồm 4 đại đoàn chủ lực (308, 312, 316 (thiếu 1 trung đoàn) bộ binh và Đại đoàn công pháo 351) cùng 1 tiểu đoàn và 11 đại đội bộ đội địa phương, tiến công vào 4 phân khu và 3 tiểu khu của địch trên địa bàn Tây Bắc.


Để đảm bảo việc tổ chức và thực hành chiến dịch thắng lợi. từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh tổ chức hội nghị giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia chiến dịch Tây Bắc. Tại hội nghị, trên cương vị là Tổng tư lệnh và Tư lệnh chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày phương án chiến dịch, nêu rõ: "Đối với toàn bộ chiến trường Tây Bắc, Phân khu Nghĩa Lộ là một binh phong của địch để bảo vệ Tây Bắc, đồng thời nó cũng là bàn đạp của ta để tiến công Tây Bắc''2 (Bộ Quốc phòng. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, tập 2. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 208-209).


Từ kết quả hội nghị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đề ra hai phương án tác chiến. Phương án một, lấy Phân khu Nghĩa Lộ làm hướng tiến công chủ yếu, tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Nghĩa Lộ trước, đồng thời cho một bộ phận lực lượng chiến dịch vào hoạt động ở Phù Yên, Quỳnh Nhai, phát động nhân dân đấu tranh. Sau đó đưa Đại đoàn 308 về bảo vệ hậu phương. Đại đoàn 312, Đại đoàn 316, Trung đoàn 148 tiếp tục tiến công giải phóng Sơn La. Phương án hai, tập trung Đại đoàn 312, Đại đoàn 308, Trung đoàn 148 tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ; Đại đoàn 316 tiêu diệt Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho một tiểu đoàn của Trung đoàn 176, một tiểu đoàn của Trung đoàn 148 vào Yên Châu, Mai Sơn, Mường La phát động quần chúng đấu tranh, quấy rối hậu phương địch, chuẩn bị cho tiến công Sơn La. Giải quyết xong Nghĩa Lộ, Đại đoàn 308 về bảo vệ hậu phương, các lực lượng còn lại tiếp tục tiến đánh Sơn La.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2025, 08:33:35 pm
Sau khi tính toán kỹ lưỡng, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định: "Tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời tiêu diệt Tiểu khu Phù Yên, giải phóng hai nơi trên, phát triển thắng lợi, quét sạch địch tới sát bờ sông Đà, tạo điều kiện để tiến công Sơn La, sau đó nhanh chóng tiến quân vào Sơn La"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân,H.2000, tr. 393).


Về kế hoạch chiến dịch, ta dự kiến chia làm ba đợt. Đợt 1, tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho một bộ phận chủ lực thâm nhập vùng Quỳnh Nhai, phối hợp với bộ đội địa phương kiềm chế địch. Đợt 2, nhanh chóng đánh Sơn La, kết hợp với việc cắt đường số 41 và hoạt động ở vùng sau lưng địch để cô lập Sơn La. Đợt 3, tiến công Sơn La2 (Công tác bảo đảm hậu cần, gạo ở hướng chính trong đợt 1 là 1.195 tán cho bộ đội và 142 tấn cho dân công. Hướng phụ là 104 tấn cho bộ đội và 43 tấn cho dân công. Dân công đi theo bộ đội là 4.300 người; dân côngvận chuyển khác là 27.750 người. Đợt 2 và 3 là 3.400 tấn (không kể số gạo dân công ăn trên dọc đường). Hai tỉnh Phú Thọ, Yên Bái huy động 450 chiếc thuyền, phà đưa 30.000 bộ đội,dân công cùng với binh khi kỹ thuật qua sông).


Theo kế hoạch trên, Phân khu Nghĩa Lộ là mục tiêu tiến công đầu tiên để mở màn chiến dịch Tây Bắc. Đây là một thung lũng có chiều dài 15km, chiều ngang chỗ rộng nhất 8km, chỗ hẹp nhất hơn 3km, chính giữa là thị trấn cuối thị trấn về phía tây - nam là cứ điểm Nghĩa Lộ phố (còn gọi là Nghĩa Lộ), được xây dựng trên một quả đồi có khoảng 500 quân đồn trú. Sân bay dã chiến của phân khu trải dài từ cứ điểm Nghĩa Lộ phố về phía đông. Cứ điểm Pú Chạng (còn gọi là Nghĩa Lộ đồi) có 300 quân chiếm đóng, địa thế rất hiểm trở, có 8 lô cốt, 15 ụ súng, có hầm ngầm kiên cố với nhiều hỏa điểm từ trên các điểm cao bố trí rất lợi hại, có 3 đến 4 hàng rào dây thép gai, xen kẽ là các bãi mìn dày đặc.


Phát hiện các dấu hiệu quân ta tiến công vào Nghĩa Lộ, từ ngày 13 tháng 10 năm 1952, Thiếu tá Tiriông, Chỉ huy trưởng Phân khu Nghĩa Lộ đã đưa Bộ chỉ huy phân khu lên Nghĩa Lộ đồi và ra lệnh cho Boalô, Chỉ huy phó phân khuở lại Nghĩa Lộ phố củng cố thêm hệ thống phòng ngự và bắt liên lạc với tề điệp dò la tình hình quân ta.


Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc mở màn. Để tạo thế cho Đại đoàn 308 chiếm lĩnh trận địa tiêu diệt Nghĩa Lộ, Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 đánh trước vị trí Ca Vịnh: Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 đánh trước vị trí Sài Lương, đồng thời bố trí lực lượng đánh viện trên đường Gia Hội.


Bị đánh bất ngờ, địch không kịp đối phó, chúng vội rút khỏi Ca Vịnh và Sài Lương. Ngày 15 tháng 10, rút khỏi Thượng Bằng La và sang ngày 16 tháng 10, bỏ cả Ba Khe về Làng Nhì.


Ngày 15 tháng 10 năm 1952, tướng Đờ Linarét, chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ đã điều Tiểu đoàn 3 lê dương từ đồng bằng lên Nà Sản. Ngày 16 tháng 10, thả Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 xuống Tú Lệ đế chặn đường tiếp tế của ta, hòng giữ Sơn La và giải tỏa cho Nghĩa Lộ.


Phát huy thế tiến công, ngày 17 tháng 10 năm 1952, Đại đoàn 308 sử dụng hai trung đoàn đánh Nghĩa Lộ phố và Nghĩa Lộ đồi. Kế hoạch của Đại đoàn là diệt Nghĩa Lộ đồi trước, sau đó gọi hàng hoặc diệt Nghĩa Lộ phố trong cùng một đêm.


Theo kế hoạch tác chiến của Đại đoàn 308, trong đêm 17 tháng 10 năm 1952, Trung đoàn 102 có nhiệm vụ tiêu diệt nhanh, gọn cứ điểm Nghĩa Lộ đồi, để nếu thời cơ thuận lợi Trung đoàn 88 tiến đánh và diệt xong đồn Nghĩa Lộ phố trước rạng sáng ngày 18 tháng 10, không cần đợi tớiđêm 18 tháng 10.


Để tấn công Nghĩa Lộ đồi, Trung đoàn 102 được tăng cường 2 đại đội của Tiểu đoàn 322 thuộc Trung đoàn 88, 3 khẩu sơn pháo 75mm và 3 khẩu súng cối 120mm.


Với sự chuẩn bị chu đáo, rạng sáng ngày 17 tháng 10 năm 1952, theo lệnh của Trung đoàn trưởng Vũ Yên, các đơn vị của Trung đoàn 102 bí mật vận động vào chiếm lĩnh các trận địa gần địch, siết chặt vòng vây quanh Nghĩa Lộ đồi.


Tới 15 giờ cùng ngày, địch từ trong cứ điểm Nghĩa Lộ đồi phát hiện thấy bộ phận cảnh giới của Tiểu đoàn 54 (hướng chủ yếu), chúng liền dùng pháo binh và 4 máy bay ném bom, bắn phá vào đội hình của Đại đội 267 (đơn vị chủ công của Tiểu đoàn 54), làm hơn 30 cán bộ, chiến sĩ bịthương vong.


Trước diễn biến mau lẹ của tình hình, Trung đoàn trưởng Vũ Yên đề nghị với Bộ Tư lệnh Đại đoàn 308 cho Trung đoàn 102 được nổ súng tiến công sớm hơn 30 phút, vào lúc 17 giờ. Nhận được báo cáo, không bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch, Đại đoàn nhanh chóng ra lệnh: 16 giờ 30 Đại đoàn sẽ cho sủng côỉ 120mm bắn dồn dập vào đồn Nghĩa Lộ phố để đánh lạc hướng dịch, tạo điều kiện thuận Lợi cho Trung đoàn 102 tiến công Nghĩa Lộ đồi.


17 giờ ngày 17 tháng 10 năm 1952, các đơn vị của Trung đoàn 102 đồng loạt nổ súng tiến công cứ điểm Nghĩa Lộ đồi. Trên hướng tiến công chủ yếu, khẩu sơn pháo 75mm nhanh chóng phá hủy các lô cốt của địch, dập tắt kịp thời các hỏa điểm, chi viện đắc lực cho Tiểu đoàn 04 mở cửa đột phá. Trên các hướng thứ yếu, các chiến sĩ đã khắc phục mọi khó khăn, tiến lên phía trước phối hợp với hướng chủ yếu. Sau 3 giờ giao tranh ác liệt, Trung đoàn 102 đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Nghĩa Lộ đồi, diệt và bắt trên 300 tên, thu và phá hủy toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.


Chiến thắng Nghĩa Lộ đồi đã tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 88 tiến công Nghĩa Lộ phố ngay trong đêm 17 rạng ngày 18 tháng 10 năm 1952.


Theo kế hoạch, đêm ngày 18 tháng 10 năm 1952, Trung đoàn 88 mới đánh đồn Nghĩa Lộ phố, nhưng khi nhận thấy Trung đoàn 102 có khả năng dứt điểm sớm Nghĩa Lộ đồi, Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ đã lệnh cho Trung đoàn 88 xuất kích đánh đồn Nghĩa Lộ phố ngay. Bởi vậy, trong khi Trung đoàn 102 đang đánh đồn Nghĩa Lộ đồi, thì dưới ánh pháo sáng của địch, Trung đoàn 88 nhanh chóng tiến vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tấn công.


Pháo 75mm và súng cối 82 của Trung đoàn 88 dồn dập bắn vào các vị trí tập trung hỏa lực của địch. Các tiểu đoàn vừa đánh bộc phá, vừa cắt rào dây thép gai, tấn công vào các lô cốt vòng ngoài.


Ở mũi Tiểu đoàn 23, Đại đội 209 đánh bộc phá mở cửa mở vào chiếm lô cốt đầu cầu. Khi thấy mũi Đại đội 219 (Tiểu đoàn 29) gặp khó khăn ở cửa mở (vì 3 quả bộc phá bị thối không nổ), Tiểu đoàn trưởng lệnh cho Đại đội 211 phát triển sang đánh chiếm lô cốt đầu cầu do Tiểu đoàn 29 đảm nhiệm, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 29 bắc ván, trải chăn qua hàng rào tiến vào trong đồn.


Ở mũi Tiểu đoàn 322, Đại đội 229 và Đại đội 231 không có bộc phá, Tiểu đoàn trưởng nhanh chóng ra lệnh cho các đơn vị dùng hỏa lực chế áp địch để cho bộ đội dùng kéo cắt hàng rào thép gai, mở cửa mở.


Hơn lúc nào hết, cuộc chiến đấu ở khu vực tiền duyên diễn ra vô cùng ác liệt. Tuy nhiên, bằng tinh thần quả cảm anh dũng chiến đấu quên mình, đến 5 giờ 30 phút sáng ngày 18 tháng 10 năm 1952, Trung đoàn 88 đã hoàn toàn làm chủ Nghĩa Lộ phố; diệt gần 100 tên dịch, bắt 235 tên, thu hơn 250 khẩu súng các loại, trong đó có 1 khẩu đại bác 105mm, 2 khẩu ĐKZ 57mm.


Như vậy, đến ngày 18 tháng 10 năm 1952, những trận đánh then chốt đầu tiên của chiến dịch Tây Bắc ở Phân khu Nghĩa Lộ đã giành thắng lợi vang dội1 (Kết quả toàn chiến dịch,tuy đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thành công, nhưng ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 6.029 tên địch (diệt 1.005 tên), diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội địch. Giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 30.000km2 với 250.000 dân). Ta thương vong gần 6.000 người. Số liệu trong Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân. H. 2000. tr.400). Báo cáo về tình hình Nghĩa Lộ, tướng Đờ Linanét, chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ thừa nhận: "Quân đồn trú ở đó đã bị choáng váng, mê muội đi vì mật độ và tính chính xác đến ghê rợn của hỏa lực pháo binh, súng cối của đối phương... Khi màn đêm vừa buông xuống, lớp lớp người đã xung phong vào đồn cao. Súng không giật và bộc phá nổ nhức tai. Không đầy một giờ, đồn cao bị tiêu diệt, có nghĩa là bản án tử hình đối với Phân khu Nghĩa Lộ đã kỹ xong"1 (Trần Đông: Trận tiêu diệt cứ điểm Pú Chạng, đêm ngày 17 tháng 10 năm 1952, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 5 năm 1997, tr. 57).


Chiến thắng Nghĩa Lộ không chỉ khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và sửc sáng tạo tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến đấu mà qua đó còn thấy được sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời và kiên quyết của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh trong những trận chiến đấu quyết định của một chiến dịch có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Năm tháng qua đi, nhưng bài học kinh nghiệm của chiến thắng Nghĩa Lộ trong chiến dịch Tây Bắc 1952 rất cần được đúc kết, chắt lọc và vận dụng sáng tạo vào huấn luyện, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đảm bảo đánh tháng địch trong mọi tình huống, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2025, 08:41:06 pm
MỘC CHÂU - TRẬN THEN CHỐT TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
Trưởng phòng Tổng kết chiến tranh
- Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Sau thất bại ở Hoà Bình và đồng bằng Bắc Bộ, quân Pháp gặp nhiều khó khăn về kinh tế, chính trị, quân sự, buộc phải chuyển vào phòng ngự chiến lược. Được đế quốc Mỹ viện trợ, thực dân Pháp tuyển mộ thêm 160.000 quân ngụy thực hiện từng bước cuộc chiến tranh tổng lực nhằm làm suy yếu ta. Ý định của địch sẽ tiến hành càn quét vùng tạm chiếm, triệt hạ các khu căn cứ du kích của ta, cướp phá kinh tế, tăng cường các hoạt động phá hoại, củng cố ngụy quân, ngụy quyền, phát triển quân ngụy để tập trung quân viễn chinh đối phó với chủ lực của ta.


Về ta với thắng lợi ở Hòa bình, ta đã giành lại quyền chủ động chiến lược. Tuy nhiên, căn cứ vào so sánh lực lượng trên chiến trường, Trung ương Đảng ta nhận định: Lực lượng của ta đã trưởng thành và mạnh lên, nhưng tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch chưa có gì thay đổi lớn, ta vẫn ở thế yếu hơn địch cả về lực lượng và vũ khí trang bị kỹ thuật. Từ nhận định đó, tháng 3 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định chọn hướng Tây Bắc để mở chiến dịch tiến công địch, vì đây là chiến trường phù hợp với thế và lực của ta, nó quyết định bước phát triển mới nhằm giữ vững và phát huy thế chủ động chiến lược. Mục đích của chiến dịch nhằm "tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược". Lực lượng tham gia trên hướng chính của chiến dịch1 (Ngoài hướng chính, chiến dịch còn xác định hướng phối hợp nghi binh ở trung du và Liẻn khu 3. Ở trung du, hướng nghi binh chính là Vĩnh Phúc, hướng nghi binh phụ ở Bắc Giang. Ở Liên khu 3, ta tiến hành nghi binh trên ba hướng Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình; riêng hướng Ninh Bình, ta vừa nghi binh, vừa chuẩn bị cho 2 đại đoàn 320 và 304 vào hoạt động ở địch hậu. Hướng đề phòng địch đánh lên Phú Thọ) được sử dụng gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 316), Trung đoàn 148 của Mặt trận Tây Bắc và bộ đội địa phương của Yên Bái, Sơn La và miền Tây Phú Thọ; 1 trung đoàn sơn pháo 75mm (24 khẩu), 3 đại đội súng cối 120mm (12 khẩu); 2 tiểu đoàn SMPK 12,7mm và 3 tiểu đoàn công binh.


Tây Bắc là vùng rừng núi rộng lớn, có 4 cánh đồng lớn là Phù Yên, Than Uyên, Nghĩa Lộ và Mường Thanh, có nhiều dãy núi cao trên 1.000m, cao nhất là dãy Hoàng Liên Sơn, có đỉnh Phan Xi Păng cao 3.142m. Đi vào Tây Bắc có 2 đường chính là đường 13 từ Yên Bái vào Ba Khe, Phù Yên, Tạ Khoa, Cò Nòi gặp đường 41 và đường 6 từ Hoà Bình lên Mộc Châu, nối liền đường 41 đi lên Sơn La, Lai Châu. Các con đường này ô tô có thể đi được nhưng đã bị phá hoại nhiều, chỉ đi được từng quãng ngắn (giữa các đồn bốt địch), đặc biệt là các đoạn gần vùng tự do của ta bị phá hoại hoàn toàn, lâu ngày biến thành rừng không còn dấu vết. Ngoài ra muốn tiến vào Tây Bắc phải vượt qua 2 con sông lớn đó là sông Hồng và sông Đà (hồi đó là ranh giới giữa ta và địch).


Tây Bắc là một khu vực quan trọng có ý nghĩa chiến lược không chỉ với ta mà còn cả với địch. Đối với địch, chiếm giữ địa bàn vùng này chúng sẽ uy hiếp, khống chế bên sườn, phía sau vùng căn cử địa, chia cắt căn cứ địa Việt Bắc với Liên khu 3 của ta và che chở cho chúng ở Thượng Lào. Để giữ Tây Bắc, địch tổ chức lực lượng thành một liên khu độc lập gồm 4 phân khu là Nghĩa Lộ, Sơn La, Lai Châu, Sông Đà và 1 tiểu khu độc lập Tuần Giáo. Lực lượng địch ở Tây Bắc có 8 tiểu đoàn bộ binh, 40 đại đội Thái làm nhiệm vụ chiếm đóng và 11 khẩu pháo các loại. Cụ thể: Phân khu Nghĩa Lộ có Tiểu đoàn Thái số 1 và 8 đại đội; Phân khu Sông Đà có Tiểu đoàn Thái số 2 và 7 đại đội; Phân khu Sơn La có Tiểu đoàn Thái số 3 và 14 đại đội; Phân khu Lai Châu có Tiểu đoàn Thái thuộc địa và 14 đại đội; Tiểu khu Tuần Giáo có Tiểu đoàn độc lập Thái. Lực lượng cơ động có 3 tiểu đoàn Phi ở Sơn La và Lai Châu. Toàn bộ khu vực địch chiếm đóng có 400 cứ điểm, trong đó có 40 cứ điểm đại đội, riêng ở 2 vị trí Mộc Châu và Nghĩa Lộ án ngữ đường 41 và đường 13 mỗi nơi địch đóng 1 tiểu đoàn, công sự vật cản được chúng xây dựng kiên cố vững chắc.


Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh dự kiến 2 phương án tác chiến1 (Phương án 1: Tập trung toàn bộ 8 trung đoàn, tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời cho một bộ phận lực lượng vào Phù Yên, Quỳnh Nhai phát động quần chúng đấu tranh. Sau đó 2 trung đoàn của Đại đoàn 308 về Phú Thọ bảo vệ hậu phương, lực lượng còn lại đánh chiếm Sơn La. Phương án 2: Tập trung 6 trung đoàn thuộc 2 đại đoàn 308 và 312 (trừ 1 trung đoàn) và Trung đoàn 174 cùng lực lượng binh chủng tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ. Hai trung đoàn thuộc Đại đoàn 316 cùng lực lượng binh chủng tiêu diệt Tiểu khu Phù Yên. Sử dụng một số tiểu đoàn của Đại đoản 316 và Trung đoàn 148, thâm nhập vào hậu địch ở Sơn La, Yên Châu, Mai Sơn, Mường Lay phát động quần chúng nhân dân đấu tranh, chuẩn bị điều kiện thuận lợi để tiến đánh Sơn La sau này. Sau khi giải quyết song Nghĩa Lộ, 2 trung đoàn của Đại đoàn 308 quay về đại đoàn để bảo vệ hậu phương chiến dịch, lực lượng còn lại đánh vào Sơn La), sau khi phân tích ta quyết định thực hiện theo phường án 2, với quyết tâm: Tập trung binh hoả lực tiêu diệt dịch ở Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời tiêu diệt Tiểu khu Phù Yên giải phóng 2 khu vực trên, phát triển thuận lợi quét sạch địch đến bờ sông Đà, tạo điều kiện thuận lợi để tiến công giải phóng Sơn La. Trong kế hoạch tác chiến chiến dịch. Bộ Tư lệnh xác định: Trên hướng chính sử dụng lực lượng 2 đại đoàn 308 và 312 (trừ Trung đoàn 36), Trung đoàn 174, lực lượng các binh chủng phối thuộc, 4 đại đội địa phương Yên Bái. Trên hướng phụ, sử dụng Trung đoàn 98, các binh chủng phối thuộc và Tiểu đoàn địa phương Phú Thọ. Hướng Lai Châu, sử dụng Trung đoàn 148 và 2 đại đội địa phương. Chiến dịch chia thành 3 đợt: Đợt 1, ta tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho một bộ phận thâm nhập vào Quỳnh Nhai phối hợp với lực lượng địa phương kiềm chế địch. Trận Nghĩa Lộ sẽ là trận đánh lớn có ý nghĩa then chốt. Đợt 2, ta dự kiến 2 tình huống; nếu đợt 1 hoàn thành nhiệm vụ thuận lợi, ta phát triển nhanh dùng đại bộ phận lực lượng đánh vào Sơn La, đồng thời dùng một bộ phận lực lượng cắt đường 41 ở Cò Nòi và đánh xuống phía nam đường 41; nếu đợt 1 gặp khó khăn thì đánh vùng Nam Sơn La trước bằng 2 cánh quân; cánh quân thứ nhất từ Tạ Khoa theo đường 13 tiến ra Cò Nòi cắt đường 41, tiến xuống phía đông nam; cánh thứ 2, từ Vạn Yên tiến ra Mộc Châu, từ đông nam đánh lên, đồng thời cho một bộ phận vào địch hậu phát động quần chúng tạo điều kiện cho đợt 3 đánh vào Sơn La.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2025, 08:43:08 pm
Theo kế hoạch, ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch mở màn. Sau 10 ngày tiến công, ta đã đánh chiếm Phân khu Nghĩa Lộ, diệt 500 tên địch, bắt 1.000 tên, giải phóng một vùng quan trọng từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, rộng khoảng 1.000km2. Trước tình hình trên, địch vội vã tăng cường cho Tây Bắc 4 tiểu đoàn giữ phòng tuyến sông Đà và Nà Sản, nâng lực lượng ở Tây Bắc lên 16 tiểu đoàn và 32 đại đội, tổ chức ở Tây Bắc thành 2 mặt trận Sơn La và Lai Châu. Tại Mặt trận Sơn La, địch lấy Nà Sản làm căn cứ hành quân chính, lập phòng tuyến mới (Lansade) ở hữu ngạn sông Đà. Địch bố trí dọc tuyến sông Đà 3 chi đoàn, chi đoàn Béthenot phụ trách khu vực Hát Tiêu - Mường Lụm, chi đoàn Favreau phụ trách khu vực Tạ Khoa, chi đoàn Rouquette phụ trách khu vực Bản Hoa. Trong lúc ta đang chuẩn bị cho đợt 2 thì địch huy động 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 hai đoàn, 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn cơ giới, 7 đại đội công binh mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ.


Bước vào đánh đợt 2 của chiến dịch ta dự kiến 2 phương án1 (Phương án 1, đánh ngay vào Sơn La; phương án 2, giải phóng vùng Đóng Nam Sơn La trước (Mộc Châu, Cò Nòi) sau đó tổ chức thém đợt thứ 3,giải phóngTây Bắc Sơn La): Do điều kiện thực hiện ở phương án 1 gặp khó khăn2 (Sau đợt 1 của chiến dịch, địch đã kịp thời tăng cường lực lượng lập phòng tuyến ở hữu ngạn sông Đà vững chắc. Việc đảm bảo hậu cần của ta gặp khó khăn), Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch chọn phương án 2, hướng chính của chiến dịch là vùng đông nam Sơn La, lực lượng sử dụng trên hướng chính là 6 trung đoàn cùng lực lượng binh chủng có nhiệm vụ phá vỡ thế trận của địch ở nam Sơn La. Tại đây, địch có các cứ điểm chính là Mộc Châu do 1 tiểu đoàn Thái đóng giữ. Phía bắc Mộc Châu là vị trí Bản Hoa do phần lớn Tiểu đoàn Marốc thứ 3 chiếm giữ, quân số khoảng hơn 300 tên do tên quan ba Rukét chỉ huy, vũ khí nặng có pháo 57mm, súng cối và đại liên... Phía đông Bản Hoa là Ba Lay do Đại đội 10 của 1 tiểu đoàn Maroc thứ 3 đóng tại đây trên một quả đồi cao có 2 mỏm. Phía bắc Bản Hoa. giữa Tạ Khoa và Ba Lay là các vị trí Mường Lụm và Hát Tiêu, mỗi vị trí do khoảng 1 đại đội của địch đóng giữ, án ngữ phía đông Yên Châu.


Trong đó, cứ điểm Mộc Châu được xây dựng trên một núi đá tai mèo độc lập, cao 35m so với mặt đất, rộng 40m và dài 100m, hình bầu dục, bên cạnh ngã ba đường 41 và đường 43, thuộc thị trấn Mộc Châu (Sơn La). Tiếp giáp xung quanh cứ điểm của địch cách từ 300 đến 500m là các dãy núi đá, đồi đất, rừng cây rậm rạp. Phía đông bắc khoảng 300m có 2 núi đá Pom Lót và Pom Thắm cao khoảng 80m, địch đã lợi dụng xây dựng thành tiền tiêu để bảo vệ cứ điểm. Sườn phía đông nam cứ điểm có yên ngựa nối với dãy Pom Lót, dốc thoái, còn các hướng khác là vách đá dựng đứng. Sau khi mất Nghĩa Lộ, địch xây dựng nơi đây thành tiền đồn vững chắc bảo vệ Sơn La. Địch bố trí 1 lô cốt mẹ, cao 2,5m, mỗi cạnh rộng từ 3 đến 4m, tường dày 0,8m (dưới có hầm ngầm, từ đây có hào nối thông với các lô cốt 2 và 3 ở phía bắc và lô cốt 7, 8 ở phía nam). Xung quanh lô cốt mẹ có 3 lô cốt nhỏ, mỗi cái cao 2m. Ra xa hơn xung quanh cứ điểm, địch xây dựng 9 lô cốt nhỏ khác, xen kẽ giữa các lô cốt có các nhà lính (có tường dày 0,3m). Ngoài ra địch còn lợi dụng các hốc, khe đá ở sườn núi để xây dựng các công sự chiến đấu và các đoạn hào để cơ động. Xung quanh cứ điểm, địch xây tường đá cao 1,5m, dày 1m với nhiều lỗ bắn. Bên ngoài tường đá là 4 lớp hàng rào kẽm gai kiểu mái nhà và cũi lợn, mỗi lớp hàng rào cách nhau từ 5 đến 7m, xen kẽ có các bãi mìn chống bộ binh. Từ cứ điểm có lối ra ở phía bắc có đặt 4 cự mã. Lực lượng địch chốt giữ tại đây là Tiểu đoàn ngụy Thái; vũ khí có: 1 pháo 94mm, 1 khẩu cối 81mm, 4 khẩu cối 61mm, 1khẩu 12,7mm, 2 đại liên, 27 trung liên, còn lại là súng trường. Phần lớn lực lượng đóng trong cứ điểm, có 2 tiểu đội giữ Pom Lót và Pom Thắm, 2 trung đội địa phương quân ở trại tập trung dân (cách cứ điểm 500m về phía nam).


Tổ chức trận đánh lớn then chốt trên hướng chính. Bộ chỉ huy chiến dịch sử dụng Đại đoàn 312 (thiếu trung đoàn 165) được phối thuộc 1 trung đội cối 120mm, 1 đại đội 12,7mm có nhiệm vụ tiêu diệt Tiểu đoàn 3 Marốc ở Ba Lay, Bản Hoa. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đại đoàn sẽ về làm dự bị cho chiến dịch. Đại đoàn 316 (thiếu Trung đoàn 176), được tăng cường 1 đại đội sơn pháo 75mm, 1 đại đội cối 120mm, tiến công cứ điểm Mộc Châu, ngăn chặn Tiểu đoàn 3 Marốc không cho chạy về Mộc Châu và Cò Nòi; trường hợp Tiểu đoàn 3 Marốc bị diệt thì tập trung 2 trung đoàn đánh Mộc Châu. Đại đoàn 308 (trừ Trung đoàn 36) có nhiệm vụ tiêu diệt vị trí Mường Lụm, Hát Tiêu, sử dụng Trung đoàn 102 thiếu làm dự bị. Để hỗ trợ cho hướng chính Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường Trung đoàn 165 cho hướng thọc sâu (Mặt trận Y13) thành 4 tiểu đoàn, có nhiệm vụ lợi dụng sơ hở của địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng, tranh thủ nhân dân, phát triển du kích chiến tranh...


Thực hiện theo kế hoạch tác chiến chiến dịch, trong lúc quân ta trên hướng chính cơ động vượt sông vào tiến công địch thì trên hướng thọc sâu nam Lai Châu của Trung đoàn 165, ngày 7 tháng 11, ta nổ súng trước, địch tương đây là hướng tiến công chính của ta lập tức điều động 2 tiểu đoàn tăng cường cho Lai Châu và 2 tiểu đoàn tăng cường cho Nà Sản. Chớp thời cơ đó, các đơn vị của ta trên hướng chính đã vượt sông an toàn vào tiến công địch. Đêm 16 tháng 11 năm 1952, quân ta hành quân vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, bao vây chặt quân dịch. Trong quá trình đó, một bộ phận của Đại đoàn 316 bị địch phát hiện, 2 trung đội địa phương quân của chúng rút chạy, ta giải tán trại tập trung, đưa dân ra vị trí an toàn. Ngày 17, Trung đoàn 209 tiêu diệt vị trí Bản Hoa; ngày 19, Trung đoàn 141 tiêu diệt vị trí Ba Lay. Như vậy các đơn vị của Đại đoàn 312 đã xoá sổ Chi đoàn Ru Két. Ngày 18, Trung đoàn 102 tiêu diệt vị trí Hát Tiêu, Trung đoàn 88 tiêu diệt vị trí Mường Lụm, Chi đoàn Bê Thơ Nõt của địch bị tan rã, Chi đoàn Pha Vơ Rêở Tạ Khoa tháo chạy về Cò Nòi. Các đơn vị của ta truy kích quét sạch toàn bộ phòng tuyến hữu ngạn sông Đà của địch.


Tại vị trí Mộc Châu, đúng 23 giờ 30 phút ngày 19, trên các hướng bộ đội ta đã chiếm lĩnh xong và thực hành tiến công. Trong khi pháo cối của ta chế áp vào các mục tiêu trong cứ điểm. Đại đội 653 bí mật tiếp cận tập kích tiêu diệt 2 tiểu đội địch ở mỏm Pom Lót và Pom Thắm, sau đó dùng súng máy yểm trợ cho đơn vị mở cửa mở. Qua những phút đầu hoảng sợ lúng túng, địch tổ chức hoả lực chi viện cho bộ binh phản kích bịt các cửa mở của quân ta, trên các hướng bộ đội không đột phá được buộc phải dừng lại. Trước tình hình đó, chỉ huy trận đánh lệnh cho các đơn vị củng cố lực lượng và đội hình, tập trung pháo, cối chế áp các hoả điểm ngụy hại của địch. Lợi dụng kết quả bắn của pháo binh, quân ta trên các hướng nhanh chóng mở thông cửa mở. Trên hướng thứ yếu, quân ta chiếm xong lô cốt đầu cầu, phát triển sang cổng chính thì bị địch chặn lại. Cùng lúc, trên hướng chủ yếu, Đại đội 317 sau khi vượt qua cửa mở đã lợi dụng các mô đá, góc tử giác tiếp cận tiêudiệt địch ở lô cốt số 9, sau đó được sự chi viện hỏa lực kịp thời của pháo binh, nhanh chóng thọc sâu đánh vào sở chỉ huy, trận địa pháo binh địch; quân ta vừa tiến, vừa đánh dấu đường cho các lực lượng phía sau tiến vào đánh các mục tiêu trong tung thâm. Đại đội 317 nhanh chóng đánh chiếm được sở chỉ huy, trận địa pháo địch đã nhanh chóng phát triển, tổ chức các mũi từ trên cao đánh tỏa xuống. Bị mất đỉnh núi, bị đánh từ bên trong và cả bên ngoài, quân địch bắt đầu rối loạn. Chớp thời cơ đó, trên các hướng của Tiểu đoàn 255 và 251 đánh vào từ bên ngoài, phối hợp chặt chẽ với Tiểu đoàn 249 từ bên trong đánh ra, diệt gần hết địch. Một bộ phận còn lại chạy ra phía sân bay, bị Tiểu đoàn 439 đón lõng bắt gọn. Đúng 2 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 11, quân ta làm chủ cứ điểm, diệt và bắt toàn bộ Tiểu đoàn 3 Marốc, thu toàn bộ vũ khí, kho tàng, giải phóng 1.000 dân.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2025, 08:44:44 pm
Trước tình hình trên, quân Pháp ở các vị trí Chiềng Pan, Sông Con, Tạ Say, Sa Piệt, Tạ Khoa... Sơn La vội vã rút chạy. Đường số 6 được khai thông, cửa ngõ vào Tây Bắc được mở rộng. Chớp thời cơ vô cùng thuận lợi đó, lực lượng trên hướng thọc sâu chiến dịch đã liên tục tiến công tiêu diệt địch ở Mường Sài, Mường Piềng, Thuận Châu và tiến vào tiếp quản Sơn La. Ta giải phóng một vùng rộng lớn gồm 6 huyện: Than Uyên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Mường La, Thuận Châu và Điện Biên, với diện tích khoảng 28.500km2 và 250.000 dân; rút ngắn thời gian chiến dịch, không phải mở đợt 3 đánh vào Sơn La. Tổ chức thắng lợi trận then chốt trong đợt 2 của chiến dịch Tây Bắc đã để lại cho ta những bài học quý giá chủ yếu sau:


Một là, ta đã lựa chọn chính xác hướng, mục tiêu đánh trận then chốt, có công tác chuẩn bị chu đáo.

Thành công của trận đánh trước hết ngay từ đầu Bộ chỉ huy chiến dịch đã chọn hướng tiến công chính xác, xác định đúng khu vực mục tiêu đánh trận then chốt. Việc xác định hướng (khu vực) tiến công chủ yếu, phải phụ thuộc vào mục đích của chiến dịch. Mục đích chính của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân và giải phóng một bộ phận đất đai quan trọng về chiến lược. Từ tổ chức nắm chắc địch, ta đã xác định tổ chức phòng ngự của địch bên ngoài mạnh, bên trong yếu. Trong kế hoạch tác chiến chiến dịch đã xác định, sau khi phá vỡ tuyến phòng ngự cơ bản của địch trên hướng Nghĩa Lộ, ta sẽ phát triển vào Sơn La. Tuy nhiên do ta có khó khăn về công tác đảm bảo nên chuẩn bị chậm, do đó sau đợt 1 của chiến dịch, địch đã kịp thời tăng cường lực lượng, lập ngay tuyến phòng ngự (Lansade) ở hữu ngạn sông Đà. Bước vào đợt 2 của chiến dịch, ta chọn hướng (khu vực) tác chiến chủ yếu ở đông nam Sơn La là hoàn toàn chính xác. Đây là khu vực mà từ căn cứ địa, vùng tự do ở Việt Bắc, Hoà Bình, Thanh Hoá của ta có điều kiện huy động nhân lực, vật chất đảm bảo cho tác chiến. Đây cũng là hướng ta có thể nhanh chóng cơ động lực lượng chủ lực chuyển hướng tiến công sang. Giải phóng được khu vực này còn đáp ứng được mục đích, yêu cầu của chiến dịch là phá vỡ thế phòng ngự của địch, mở toang cánh cửa tiến vào Tây Bắc. Về mục tiêu tiến công đánh trận then chốt, trong khu vực đông nam Sơn La, địch bố trí các mục tiêu chính ở Mộc Châu, Bản Hoa, Ba Lay, Mường Lụm và Hát Tiêu. Các vị trí này của địch đều án ngữ trên con đường từ Vạn Yên về Mộc Châu và từ Vạn Yên theo dọc tuyến sông Đà, tạo thành một lá chắn che chở cho cao nguyên Mộc Châu; đặc biệt là vị trí Mộc Châu án ngữ ngã ba hai con đường 41 và 13. Từ các căn cứ trên, Bộ chỉ huy chiến dịch hạ quyết tâm, tập trung đại bộ phận lực lượng chủ lực tiến công đập vỡ "cối lá chắn thép" của địch.


Từ lựa chọn hướng tiến công và khu vực mục tiêu đánh trận then chốt, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo tiến hành chu đáo các công tác chuẩn bị. Do địch thường xuyên sử dụng không quân đánh phá ác liệt, thời tiết khác nghiệt, kế hoạch bảo đảm hậu cần của ta chưa sát, công tác chuẩn bị cho trận đánh then chốt được chiến dịch chuẩn bị rất khẩn trương. Để nắm chắc địch, chiến dịch đã phải trinh sát vào Tạ Khoa, Cò Nòi, Hát Tiêu, nhất là ở Mộc Châu, Yên Châu nơi xác định hướng tiến công chủ yếu. Để cơ động bộ đội vào tiến công, chiến dịch ra chỉ thị hướng dẫn cho các đơn vị vượt sông bí mật, an toàn. Việc đảm bảo vật chất cho bộ độita khó khăn, nặng nề nhất, chiến dịch đã huy động lực lượng sửa đường 13, làm gấp đoạn đường bộ từ Ba Khe qua đèo Lũng Lô xuống Quang Huy và đường từ Tổng Cao, Thu Cúc, Quang Huy để đưa gạo từ Phú Thọ lên, sửa gấp đường từ Suối Rút lên Mộc Hạ, Xồm Lồm dài 200km, huy động 30 xe ô tô, 1.000 xe đạp thồ chuyển gạo từ Hồi Xuân, Thanh Hoá lên. Ngoài ra chiến dịch còn tận dụng thời cơ giải phóng Nghĩa Lộ, huy động 2 vựa lúa Quang Huy và Phù Yên được 160 tấn gạo, 16 tấn thịt. Tổng số ta đã huy động được 1.160 tấn gạo, 40 tấn thịt bảo đảm cho bộ đội. Ngoài công tác bảo đảm, các phân đội còn tăng cường thang ván, giày để vượt núi đá tai mèo. Kết quả của trận then chốt đã khẳng định việc lựa chọn hướng và mục tiêu đánh trận then chốt hoàn toàn chính xác.


Hai là, ta đã xác định phương pháp tác chiến phù hợp, vận dụng linh hoạt chiến thuật và các thủ đoạn tác chiến đánh trận then chốt.

Từ nắm chắc địch, lựa chọn chính xác hướng (khu vực) mục tiêu đánh trận then chốt, Bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng 6 trung đoàn cho trận đánh then chốt, dự kiến đúng các khả năng hành động có thể của địch, chuẩn bị sẵn các phương án, lực lượng, thế trận và chỉ đạo tốt về vận dụng chiến thuật và cách đánh. Từ đặc điểm của chiến dịch Tây Bắc là tiến công quân địch phòng ngự trên chiến trường rừng núi, lực lượng của chúng phân tán, cô lập. Tuy nhiên địch có thể nhanh chóng tăng viện bằng quân nhảy dù, hoặc cơ động từ các vị trí lớn ra tiếp ứng. Về trình độ công sự trận địa, địch có một số cứ điểm có công sự vững chắc ở các phân khu, tiểu khu phía ngoài, còn ở phía sau các cứ điểm đều có công sự sơ sài, các cứ điểm nhỏ, lẻ khi bị đánh có thể nhanh chóng rút chạy co về các cứ điểm lớn. Từ đó, về phương pháp tác chiến chiến dịch, Bộ chỉ huy đã kiên quyết tập trung lực lượng đủ mạnh đột phá chiến dịch phá vỡ hệ thống cứ điểm phòng ngự mạnh bên ngoài bảo vệ cho cao nguyên Mộc Châu; đồng thời kiên quyết tăng cường lực lượng (Trung đoàn 165) cho hướng thọc sâu (Mặt trận Y13) để có thể nhanh chóng khiến quân của chúng nhanh chóng rối loạn, tạo thời cơ tiến công phá vỡ thế trận của địch. Trong tổ chức tiến công, ta cũng dự kiến sẵn các tình huống đánh địch nhảy dù cứu viện, chặn cắt và ngăn chặn tiêu diệt quân địch rút chạy.


Về vận dụng chiến thuật đánh trận then chốt, ta đã vận dụng các hình thức chiến thuật công kiên, tập kích, phục kích, truy kích và các thủ đoạn chiến đấu bao vây,thọc sâu, đón lõng, phòng ngự... cũng được vận dụng linh hoạt trong quá trình chiến đấu. Đặc biệt là trong tổ chức tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc, ta đã quán triệt nguyên tắc cơ bản của chiến thuật, kiên quyết sử dụng binh hoả lực đủ sức đột phá (1 tiểu đoàn tăng cường hoặc trung đoàn tiến công cứ điểm đại đội hoặc đại đội tăng cường của địch; 1 trung đoàn được tăng cường 1 tiểu đoàn bộ binh và các phân đội hoả lực, đảm bảo chiến đấu tiến công cứ điểm tiểu đoàn của địch). Một bước phát triển trong vận dụng chiến thuật công kiên là ta tổ chức tiến công vào một cứ điểm tiểu đoàn địch phòng ngự trong công sự vững chắc, trên một địa hình phức tạp núi đá tai mèo ở Mộc Châu, ta đã phát huy được trí tuệ của tập thể, chọn cách đánh phù hợp, xác định hướng tiến công chính xác, có công tác chuẩn bị chu đáo, tổ chức đội hình hợp lý, tạo được thế bao vây chia cắt, sử dụng lực lượng tập trung vào hướng chủ yếu, có ưu tiên hợp lý hướng khác, có lực lượng tiến công, có lực lượng bao vảy đón lõng, đồng thời có lực lượng dự bị mạnh sẵn sàng sử đụng vào hướng tiến công chủ yếu. Trình độ hiệp đồng củng phát triển cao hơn, bộ binh và pháo binh hiệp đồng chặt chẽ, tạo nên được sức mạnh đột phá. Lực lượng thọc sâu đã thực hiện dược ý định của chỉ huy, thọc sâu nhanh đánh chiếm địa hình có lợi nhanh chóng diệt mục tiêu chủ yếu, phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng bên trong và các hướng, mũi bên ngoài. Trong đó, ta phát huy được tổ 3 người trong chiến đấu, nên đã phát triển tiến công nhanh, vững chắc, nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu. Tuy nhiên trong vận dụng chiến thuật và thủ đoạn tác chiến, ta vẫn còn có những hạn chế, thực hiện truy kích không nhanh, mạnh, có những trận bao vây không chặt, không đón lõng...


Ba là, ta đã tạo lập thế trận vững chắc, tổ chức chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ các Lực lượng đánh trận then chốt.

Đây là lần đầu tiên ta sử dụng lực lượng ở quy mô 3 đại đoàn (thiếu) được tăng cường binh khí kỹ thuật tiến công đột phá tuyến phòng ngự mạnh của địch ở chiến trường Tây Bắc. Để đánh trận then chốt phá vỡ "lá chắn thép" của địch, trước hết người chỉ huy đã nắm chắc tình hình địch mới có thể xác định chính xác phương pháp tạo lập thế trận tiến công, chỉ đạo việc vận dụng chiến thuật trong tạo lập thế trận và đánh trận then chốt. Mở chiến dịch quy mô lớn tiến công địch ở Tây Bắc, ta cần đề phòng địch thọc vào hậu phương chiến dịch và đặc biệt chú ý yêu cầu đảm bảo bí mật, vì muốn giành thắng lợi lớn phải giữ bí mật thật tốt phải tổ chức khéo nghi binh lừa địch. Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo và tiến hành rất tốt vấn đề này. Ngay trong chuẩn bị và tiến hành đợt 1, các hướng nghi binh chiến dịch ở trung du và Liên khu 3 có sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ chỉ huy chiến dịch, đã đẩy mạnh các hoạt động khiên Bộ chỉ huy quân Pháp đã phán đoán ta sẽ hoạt động ở vùng đồng bằng, nên đã điều động lực lượng tăng cường cho hướng này. Khi ta tiến côngở Tây Bắc, địch hoàn toàn bị bất ngờ. Tổ chức trận then chốt trong đợt 2, Bộ chỉ huy tiếp tục chỉ đạo các hướng nghi binh đẩy mạnh các hoạt động để phối hợp, đặc biệt là kết quả của hai đại đoàn 320 và 304 ở vùng địch hậu. Ta còn tận dụng được kết quả do đợt 1 tạo ra chuyến hướng tiến công sang đông nam Sơn La thuận lợi.


Từ nắm rõ cách bố trí phòng ngự của địch, thực hiện nghi binh ở hướng chính của chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch còn tăng cường Trung đoàn 165 cho hướng Quỳnh Nhai thành lập Mặt trận Y13, tổ chức thọc sâu vào namLai Châu đã trở thành mũi thọc sâu vu hồi rất lợi hại, có tác dụng lớn; không những đã tạo điều kiện chủ lực trên hướng chính cơ động vào tiến công, mà còn chớp được thời cơ do lực lượng trên hướng chính tạo ra, phát triển rất nhanh và mạnh. Đây là một kinh nghiệm rất quý, có như vậy ta mới giành được thắng lợi to lớn. Do dự kiến chính xác tình huống chiến dịch, điều hành chặt chẽ, trong quá trình chuẩn bị, ta còn tận dụng được kết quả của việc đánh tiêu diệt lớn cánh quân địch thọc lên Phú Thọ. Trong thực hành đánh trận then chốt, Bộ chỉ huy chiến dịch trực tiếp chỉ đạo, hiệp đồng chặt chẽ giữa các hướng, giữa các đơn vị và lực lượng. Chính tận dụng được thời cơ đó đợt 1 tạo ra, sự phối hợp giữa các hướng chiến dịch và việc tổ chức thành công các trận đánh của các đại đoàn trong các ngày từ 16 đến 20 tháng 11 dưới sự điều hành trực tiếp của Bộ chỉ huy chiến dịch là một quá trình tạo thế liên tiếp mà đòn quyết định là tiêu diệt cứ điểm Mộc Châu, phá vỡ hoàn toàn "cái lá chắn thép" mà Bộ chỉ huy quân Pháp đã dày công nghiên cứu tổng kết áp dụng vào chiến trường Tây Bắc, giành thắng lợi vượt mửc yêu cầu đề ra.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2025, 08:51:44 pm
ĐÁNH BẠI CUỘC HANH QUÂN LOREN LÀM PHÁ SẢN MỘT ÂM MƯU LỚN CỦA ĐỊCH TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Thượng úy LÊ VĂN THÀNH
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cách đây 60 năm, vào Thu Đông năm 1952, thực hiện chỉ lệnh của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy về mở chiến dịch tiến công địch trên hướng Tây Bắc, nhằm "tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 13. Nxb Chính trị quốc gia, H 2000, tr.304), quân và dân ta với tinh thần liên tục tiến công, quyết tâm thực hiện mục tiêu chiến dịch. Sau 3 đợt chiến dịch2 (Đợt 1 (14-23.10.1952): Đập vỡ khu vực phòng ngự Nghĩa Lộ, Phù Yên, giải phóng vùng tả ngạn sông Đà. Đợt 2 (7-22.11.1952): Vượt sông Đà, đập vỡ khu vực phòng ngự Mộc Châu, giải phóng Sơn La, Điện Biên Phủ. Đợt 3 (30.11-10.12.1952): Tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản), ta đã giành thắng lợi, thực hiện được theo đúng ý định chiến dịch đề ra. Đặc biệt, ta đã giữ vững và từng bước mở rộng quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường, đẩy địch ngày càng lún sâu vào tình thế bị động, đối phó lúng túng. Một trong những nguyên nhân thành công góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch là ta đã kịp thời đánh tan cuộc hành quân Loren (đánh lên Phú Thọ) của địch, làm phá sản một âm mưu lớn của chúng, có tầm ảnh hưởng lớn đối với toàn bộ kết quả của chiến dịch Tây Bắc.


Sau một thời gian dài chuẩn bị, đến tháng 10 năm 1952 mọi công tác chuẩn bị chiến dịch đã hoàn tất. Ngày 14 tháng 10 năm 1952, đợt 1 chiến dịch được bắt đầu, ta tiến công đồng loạt các vị trí như Phân khu Nghĩa Lộ, Tiểu khu Phù Yên, tiêu diệt và bức rút hàng loạt cứ điểm (Ca Vịnh, Sài Lương, Pú Chạng, Nghĩa Lộ phố...), đập tan toàn bộ phòng tuyến vành ngoài của địch từ hữu ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, cánh cửa vào Tây Bắc mở tung, thì lúc này Bộ chỉ huy Pháp ở Đông Dương mới biết Tây Bắc là hướng chính của ta trong Thu Đông năm 19521 (Trước đó, tướng Xalăng (Salan) cho rằng Thu Đông năm 1952, Việt Minh sẽ tiến công ở đồng bằng và đã cho rải lực lượng ở dọc tuyến trung du và sông Đáy. Trong 32 tiểu đoàn cơ động ở Bắc Bộ. Xalăng dùng 29 tiểu đoàn vào việc phòng thủ đồng bằng). Nhưng biết thì đã muộn. Mà đã muộn thì càng phải bị động đối phó để chuốc thêm thất bại.


Giữa lúc chiến dịch đang diễn ra sôi nổi, đợt 1 kết thúc, địch thua đau ở Nghĩa Lộ, Lai Châu, Sơn La lại bị uy hiếp dữ dội. Hoảng hốt trước sức tiến công mãnh liệt của ta, địch một mặt vội vàng tăng cường lực lượng2 (Bộ chỉ huy Pháp quyết định bỏ vùng là ngạn sông Thao rút sang hữu ngạn sông Đà. Dồn hết quân ở Tây Bắc chạy về Nà Sản, nhanh chóng thiết lập cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản. Tăng cường lực lượng lập tuyến phòng thủ sông Đà xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm để quyết giữ vùng còn lại ở Tây Bắc. Từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 10, tiểu đoàn lê dương (3/3 e REI) đến Sơn La. Ngày 20 và 21 thêm một tiểu đoàn lê dương (3/5 REI) và một Tiểu đoàn Ma rốc (3/10 RTM) đổ bộ xuống NàSản. Tiếp đến, ngày 26, hai tiểu đoàn ngụy từ đồng bằng Bắc Bộ lên tăng cường cho Nà Sản. Phía Lai Châu, địch tăng cường Tiểu đoàn Bắc Phi (27 e BMTS) đến đóng chốt ở thị xã, Tiểu đoàn Angiêri (2/2 RTA) chiếm giữ vùng Phong Thổ và Tiểu đoàn Tabo số 5 (5 e TABOR) đóng ở Puxămcáp. Ngày 2 tháng 11, Tiểu đoàn ngụy Lào (58 e BCL) từ Thượng Lào sang Điện Biên Phủ để củng cố Tiểu khu Quỳnh Nhai mới thành lập. Sau khi tăng cường lực lượng và co cụm về phía tả ngạn sông Đà, quân địch ở Tây Bắc tổ chức thành 2 mặt trận Sơn La và Lai Châu) cho Tây Bắc nhằm củng cố phòng tuyến Sơn La - Lai Châu, mặt khác Xalăng đã vội nghĩ đến một cuộc hành binh đánh lên Phú Thọ, Yên Bái với mục đích "cốt nhằm cắt đứt đường tiếp tế vận chuyển lương thực, vũ khí của ta, hòng phá kế hoạch của ta ở mặt trận chính và che giấu những thất bại của chúng ở tả ngạn sông Đà"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy vá Bộ Tổng tư lệnh. Bộ Tổng tham mưu xuất bản, 1963. tập 4, tr. 401). Do vậy, ngày 28 tháng 10, khi đợt 1 chiến dịch Tây Bắc vừa chấm dứt được 5 ngày và ta đang chuẩn bị tiến công đợt 2 thì Bộ chỉ huy quân sự Pháp cử tướng Đờ Linarét (De Linaries) Tư lệnh Bắc Bộ trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân Loren (Lorraine2 (Lorraine là tên một miền đất của nước Pháp bị Đức chiếm từ 1871 đến 1918 mới trở về Pháp. Suối 47 năm đó, hai bén tranh chấp nhiều lần. Đặt tên cho cuộc hành quân này, Pháp coi Phú Thọ là vùng tranh chấp giữa địch và ta)) đánh lên Phú Thọ, Yên Bái. Địch huy động 4 trung đoàn cơ động (gồm 13 tiểu đoàn bộ binh), 1 trung đoàn dù gồm 3 tiểu đoàn, 1 chi đoàn cơ giới (gồm 2 tiểu đoàn), 4 tiểu đoàn pháo, 2 thủy đội du kích, 3 tiểu đoàn công binh, tổng cộng 30.000 quân, có máy bay yểm hộ đánh lên Phú Thọ theo trục quốc lộ số 2, đồng thời cho quân nhảy dù xuống Đoan Hùng. Quân Pháp từ Trung Hà - Việt Trì theo đường sông Hồng, quốc lộ số 2 tiến vào Phú Thọ.


Sự kiện đó diễn ra không ngoài dự kiến của Bộ Tổng tham mưu ngày 21 tháng 9: "Phú Thọ là nơi kinh tế dồi dào, có nhiều nhân vật lực, lại có đường giao thông quan trọng, nối liền Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3, 4, nối liền trung du Việt Bắc với miền thượng du Tây Bắc. Cho nên thu đông năm nay địch có thể đánh ra để thực hiện âm mưu của chúng"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, Sđd, tr. 394. 401. 402). Do vậy, Bộ Tổng tham mưu đã ra lệnh cho Trung đoàn 246, Trung đoàn 176 và bộ đội địa phương chuẩn bị phương án chiến đấu.


Với cuộc hành quân này, Bộ chỉ huy Pháp hy vọng có thể sẽ kéo được chủ lực của ta ở mặt trận chính Tây Bắc quay trở lại đối phó, và như thế, sức tiến công vào Tây Bắc sẽ giảm đi. Nhưng chúng đâu biết rằng trong chỉ thị về việc địch đánh lên Phú Thọ và nhiệm vụ của ta, Trung ương Đảng ta đã nhận định: "Đó là cuộc tấn công bị động đểđối phó với ta... Mưu mô đó của địch có gây cho ta ít nhiều khó khăn... nhưng không gây ảnh hưởng lớn đối với mặt trận chính của ta ở Tây Bắc vì ta đã kịp chuẩn bị để phòng"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, Sđd, tr. 394. 401. 402). Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh vẫn giữ vững quyết tâm tiếp tục tiến công vào Tây Bắc, tập trung lực lượng mở đợt tiến công đánh mạnh vào Mộc Châu và hữu ngạn sông Đà.


Đối với Phú Thọ, Trung ương chỉ thị: "Phải nhanh chóng thực hiện thống nhất chỉ huy các lực lượng bộ đội chủ lực, địa phương và dân quân du kích, ra sức bám sát địch, phá hoại, đánh phục kích các đường giao thông thủy bộ, tập kích các vị trí pháo binh và đánh cạnh sườn của địch để kiềm chế, tiêu hao và tiêu diệt những bộ phận nhò của địch"3 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, Sđd, tr. 394. 401. 402), đồng thời chỉ thị cho Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) quay trở về Phú Thọ để phối hợp với lực lượng tại chỗ đánh địch.


Ngay sau khi cho quân tấn công ào ạt vùng hữu ngạn sông Thao, càn quét huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Sơn, chiếm đường 11, địch cho chốt giữ một sốcứ điểm ở hữu ngạn. Ngày 2 tháng 11, địch bắt đầu tấn công sang tả ngạn, đánh chiếm thị xã Phú Thọ, rải quân chiếm giữ quốc lộ số 2 và các đường giao thông liên huyện. Đồng thời, chúng điều một đơn vị Âu - Phi bảo vệ quốc lộ số 2 từ Đông Anh lên Việt Trì, nhằm giữ thông đường vận chuyển phục vụ cuộc hành binh. Tiếp đến, ngày 9 tháng 11, địch dùng cơ giới phối hợp với quân nhảy dù chiếm Đoan Hùng và sau đó thọc lên Yên Bái, vẫn không gặp phản ứng gì lớn của ta.


Ngày 13 tháng 11 một mũi tiến đến Bến Hiên. Đi đến đâu, chúng cũng lùng sục, đốt phá kho tàng, thóc lúa. Tại Tam Nông, Đoan Hùng, Đồn Vàng... chúng phá 3 kho gạo, một kho muối, một kho vũ khí hơn 100 tấn ta chưa kịp di chuyển. Để để phòng địch có thể tiến sâu hơn nữa, quấy rối hậu phương, đánh phá cơ quan, kho tàng và cắt đường tiếp tế của ta. ngày 9 tháng 11, Trung đoàn 36 tách khỏi đội hình Đại đoàn 308 cấp tốc hành quân về chặn địch ở phía hữu ngạn sông Thao. Một đại đội công binh, pháo binh và cơ quan đoàn bộ của Trung đoàn 151 trên đường số 13 cùng cơ động sang thị xã Yên Bái, tổ chức thành một đơn vị phòng thủ. Đảng bộ, chính quyền nhân dân các địa phương nơi xảy ra chiến sự phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, thống nhất phương án đánh địch, kiên quyết bảo vệ hậu phương chiến dịch.


Trước sức tiến công ồ ạt ban đầu của địch, lực lượng vũ trang cùng nhân dân địa phương phá hoại cầu đường, cất giấu tài sản, đánh địch khắp nơi, chiến đấu ngoan cường. Mặc dù địch có số lượng lớn, thủ đoạn thâm độc và hành động điên cuồng, man rợ, nhưng quân và dân Phú Thọ đã từng bước bẻ gãy nhiều mũi tiến công, nhiều trận đánh của chúng. Lực lượng vũ trang của tỉnh đã đánh nhiều trận đạt kết quả tốt như bộ đội địa phương và dân quân du kích huyện Tam Nông, Hạc Trì, Phù Ninh1 (Bộ đội địa phương và dân quân du kích Tam Nông đánh 19 trận, diệt và làm bị thương 108 tên. Quân dân Hạc Trì đánh 27 trận loại khỏi vòng chiến đấu 109 tên, giải thoát hơn 300 thanh niên bị bắt, bảo vệ tốt hàng trăm tấn thóc và hàng hóa), v.v.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2025, 08:55:24 pm
Ngày 14 tháng 11, Đờ Linarét cho một mũi đánh thọc lên Yên Bình, nhưng thị trấn này trống không, thì cũng là lúc Bộ Tham mưu quân đội Pháp nhận ra nguy hiểm, bởi Yên Bình là một thị trấn nằm xa căn cứ xuất phát trên 150km, lại chỉ gặp lực lượng nhỏ của ta đánh tiêu hao, nên vội vàng cấp tốc lệnh rút quân ngay, mặc dù từ Yên Bình đến thị xã Yên Bái chẳng còn bao xa, mà Yên Bái mới là cái đích phải tới của cuộc hành quân Loren.


Địch lúc này gặp khó khăn. Thực tế cuộc hành quân, đánh lên Phú Thọ không đem lại lợi ích gì về tầm cỡ chiến lược, không cứu ngụy được cho tuyến phòng thủ Tây Bắc và bản thân nó càng gặp khó khăn về tiếp tế vì đã vào quá sâu vùng tự do của ta. Việc tiếp tế cho 30.000 quân lên Phú Thọ đã thu hút hầu hết lực lượng vận tải của địch, trong lúc tập đoàn cứ điểm Nà Sản đang hình thành và yêu cầu không quân phải tiếp tế hàng ngày. Và, việc hầu hết các lực lượng cơ động bị giam chân ở Tây Bắc và Phú Thọ, miền châu thổ sông Hồng trở nên nóng bỏng, du kích của ta hoạt động mạnh. Mặt khác, địch phát hiện một bộ phận chủ lực ta quay về Phú Thọ nên địch phải cân nhắc rút sớm.


Về ta, sớm đoán trước tình hình, nước cờ mà địch sẽ phải đi "trước sau địch cũng phải rút Phú Thọ"1 (Văn kiện quân sự của Đảng, tập 3, Nxb Quân đội nhân dân, H.1977, tr. 351). Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy dã chủ động chỉ đạo các chiến trường nhịp nhàng hoạt động theo kế hoạch đã định. Nhất là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nhân thời cơ đẩy mạnh hoạt động. Tại Tây Bắc, các đại đoàn chủ lực đang đi vào giai đoạn chót của công việc chuẩn bị vượt sông Đà để làm nhiệm vụ đợt 2 của chiến dịch. Riêng đối với Phú Thọ Trung ương chỉ thị: "Phải sáng suốt nắm vững tình hình, ra lệnh cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích tích cực chống càn quét đồng thời chuẩn bị sẵn sàng kế hoạch đánh địch trên các đường sống và đường bộ chúng sẽ rút lui"2 (Chỉ thị của Ban Bi thư gửi Ban chỉ huy chung Mặt trận Phú Thọ, Văn kiện quân sự của Đảng, tập 3. Nxb Quân đội nhân dân, H.1977, tr. 351).


Đúng như ta dự định, ngày 14 tháng 11, địch bắt đầu rút khỏi Đoan Hùng theo đường số 2. Bộ Tổng tư lệnh lệnh cho Trung đoàn 36 (lúc này đang trú quân ở vùng Tăng Mỹ, phía nam Đoan Hùng) tìm cách đánh địch ngay, nếu chậm sẽ mất thời cơ. Nhận định địch sẽ phải rút quân trên đoạn đường Chân Mộng - Trạm Thản, đây là khu vực phục kích lý tưởng trên đường số 2 cho Trung đoàn tổ chức trận địa phục kích, hai bên là hai rặng núi và đồi thắt lại hai đầu bọc kín một cái thung lũng hẹp và dài gần 4km, những cánh rừng già lấn đến ven đường cái, những nương sắn xanh mọc la liệt trên các vạt đồi, là những tấm màn ngụy trang kín đáo che chở bộ đội ta mai phục. Đêm ngày 16 tháng 11 năm 1952 Tiểu đoàn 72 Phú Thọ điều Đại đội 310, chia làm 3 trung đội cùng du kích địa phương dẫn đường cho các tiểu đoàn của Trung đoàn 36 lần lượt vào chiếm lĩnh trận địa phục kích trên quốc lộ 2 đoạn Chân Mộng - Năng Yên - Trạm Thản. Ngoài trận địa phục kích chính của Trung đoàn 36, trên quốc lộ 2, Tiểu đoàn 72 bố trí Đại đội 319 phục kích ở Phú Hộ, Đại đội 315 ở Phú Lộc, cùng du kích địa phương đánh cản đường, tạo thời cơ để bộ đội chủ lực tiêu diệt nhiều quân địch.


Ngày 17 tháng 11, địch rút khỏi Đoan Hùng. Đến Chân Mộng chúng dừng lại xem xét tình hình cái thung lũng bí hiểm, sục sạo vào sâu các khu rừng một cách thận trọng và dè dặt. Bộ đội ta chấp hành mệnh lệnh rất nghiêm. Địch sục sạo đến đâu thì ở đó lặng lẽ lui lại, tránh ra, tuyệt đối không nổ súng. Suốt từ 7 giờ 30 phút đến 9 giờ tên trung tá Kécgaravát (Kergaravat) chỉ huy cuộc rút lui vẫn thận trọng chỉ huy cuộc lùng sục xung quanh thung lũng Chân Mộng - Trạm Thản, tình hình vẫn yên tĩnh, không thấy dấu hiệu gì nguy hiểm, hắn nhảy lên xe cho lệnh hành quân. Ngoài đường số 2, xe nổ máy ầm ầm, bộ binh địch lúc nhúc bám theo xe. Đơn vị đầu tiên của địch đã vào thung lũng Chân Mộng còn thận trọng, Kécgaravát và cơ quan chỉ huy của cuộc hành quân cũng đi tới đơn vị ấy. Tiếp đến là Tiểu đoàn Lê dương. Bọn này yên trí, "đầu xuôi, đuôi lọt" chẳng phòng bị gì. Lính ngồi trên xe phi phèo thuốc lá. Lính đi bộ lộn xộn, chỗ hàng hai, chỗ hàng ba, chỗ túm tụm vừa đi vừa đùa. Nhưng chỉ mấy phút sau đó, chúng đã rơi vào cảnh hoảng loạn vì pháo đạn khắp nơi ụp xuống đầu chúng.


Đúng 9 giờ 45 phút, khi cả đoàn quân lọt vào trận địa phục kích, các loại hoả lực của ta từ đồi cao hai bên đường đồng loạt nhả đạn, đội hình quân địch bị cắt thành đôi,những toán đi đầu thoát chết chạy về phía Phú Hộ. Quân ta từ trên đồi, trên rừng tràn xuống đường nhằm địch mà bắn, mà đâm và dùng thủ pháo diệt cơ giới của địch. Tiếng nổ vang trời, khói bay nghi ngút trên cả đoạn đường rừng núi âm u.


Với phương châm đánh nhanh diệt gọn, chỉ gần 30 phút chiến đấu, đoàn xe cơ giới của địch lọt vào trận địa phục kích của ta bị bốc cháy, một chiếc xe tăng và hàng trăm tên giặc phải đền tội. Thừa thắng xốc tới, quân ta truy kích địch đến gần Phú Hộ, phá hủy 13 xe cơ giới, diệt và bắt sống thêm nhiều tên địch. Kết quả sau một ngày chiến đấu quyết liệt, với tinh thần dũng cảm, mưu trí, quân ta đã diệt và bắt hơn 400 tên địch, phá hủy 44 xe cơ giới, trong đó có 17 xe tăng, xe bọc thép, thu nhiều quân trang quân dụng của địch. Hai binh đoàn cơ động (GM1 và GM4) bị thiệt hại nặng, trong đó Tiểu đoàn 2 lê dương (2/2 RFl thuộc GM4) bị xoá sổ.


Trong khi đó, tại mặt trận chính Tây Bắc, quân ta vượt sông Đà thắng lợi. Các đơn vị vượt sông Đà nhanh chóng khắc phục khó khăn, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu của Bộ Tổng tư lệnh. Liên tiếp trong các ngày 17, 18 và 19 tháng 11, ta đã phá tan phòng tuyến hữu ngạn sông Đà của địch.


Trở lại Mặt trận Phú Thọ, sau trận đánh ở Chân Mộng - Trạm Thản, ngày 23 tháng 11 Trung đoàn 36 tiếp tục phối hợp với bộ đội địa phương và du kích các xã Đông Quan, Chi Lăng (Phù Ninh) tấn công vị trí trú quân của địch ở đồi Chò và núi Quyết (xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh). Với yếu tố bí mật, bất ngờ chỉ trong 30 phút chiến đấu, quân ta đã diệt 180 tên địch, bắt 76 tên, đưa tổng số quân địch bị tiêu diệt và bắt sống trên địa bàn Phù Ninh trong đợt tiến công này lên hơn 600 tên địch.


Bị thiệt hại nặng nề, ngày 25 tháng 11 năm 1952, Bộ chỉ huy quân Pháp phải hạ lệnh cho Đờ Linarét phải rút khỏi Phú Thọ, kết thúc cuộc hành quân Loren đầy tham vọng của các nhà cầm quân Pháp về đối phó với mặt trận đồng bằng và Tây Bắc.


Như vậy, gần một tháng đánh lên Phú Thọ, cuộc hành quân phản kích vào hậu phương chiến dịch được Bộ chỉ huy Pháp tinh toán rất kỹ, đã không đem lại kết quả gì đáng kể. Đối sách của tướng Xalăng đã không làm thay đổi được quyết tâm chiến lược của đối phương mà còn bị tổn thất nặng nề: 1.884 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, trong đó bắt 173 tên, 60 xe cơ giới bị phá hủy1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952), H. 1992. tr. 46), hậu phương của ta được bảo vệ vững chắc. Những thắng lợi ở hậu phương đã góp phần động viên và cổ vũ mạnh mẽ quân và dân các chiến trường, đặc biệt trên mặt trận chính Tây Bắc đánh địch thu được nhiều kết quả.


Chiến thắng này đã rõ ràng, nhưng càng có sức thuyết phục hơn khi chính bên phía đối phương cũng phải thừa nhận vế thất bại của cuộc hành quân này (Loren): "Kết quả đã phá hủy được một vài kho tàng, nhưng chiến dịch đó (cuộc hành quân Loren) vẫn không có ảnh hưởng gì đến diễn biến chung của chiến đấu. Cuối cùng chúng ta bắt buộc phải rút lui trong hoàn cảnh khó khăn và không đạt được mục đích của ta"2 (Navarre, Đông Dương hấp hối, Hiệu sách Plon, tr. 27 (Bản dịch tiếng Việt lưu tại Thư viện Trung tâm Thông tin khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng, số ký hiệu VL119)). Như vậy, qua lời thú nhận này từ phía đối phương, một lần nữa khẳng định ý nghĩa to lớn của việc đánh bại cuộc hành quân Loren mang lại, góp phần làm phá sản một âm mưu lớn của địch, có ý nghĩa to lớn vào thắng lợi chung của chiến dịch Tây Bắc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2025, 08:58:15 pm
TẬP ĐOÀN CỨ ĐIỂM NÀ SẢN
THÁCH THỨC MỚI ĐỐI VỚI QUÂN VÀ DÂN TA

Trung tá PHÙNG THỊ HOAN
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Tập đoàn cứ điểm là hệ thống các cứ điểm, cụm cứ điểm hoặc các khu vực phòng ngự được xây dựng liên kết chặt chẽ với nhau theo ý định và kế hoạch tác chiến thống nhất, có tác dụng chủ yếu là phòng thủ một khu vực quan trọng, thực hiện chia cắt chiến lược, ngăn chặn hoặc hạn chế cơ động lực lượng cấp chiến dịch, chiến lược của đối phương giữa các chiến trường tác chiến, làm bàn đạp để mở các cuộc hành quân tiến công với quy mô chiến dịch, chiến lược đánh ra vùng dơ đối phương kiểm soát. Hình thức phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm xuất hiện từ Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918). Tiêu biểu nhất là trận Vecđoong (21.2-18.12.1916), quân Pháp đã tiến hành phòng ngự thắng lợi, đánh bại quân Đức trên đường tiến công vào thủ đô Pari. Tại đây, quân Pháp đã tổ chức một khu vực phòng ngự kiên cố sâu 15-18km. Mặc dù lực lượng quân Đức đông gấp 3-4 lần, nhưng đã vấp phái sự kháng cự ngoan cường của quân Pháp. Sau sáu tháng rưỡi tiến công, quân Đức cũng chỉ tiến được 7-10km và buộc phải lui về phòng ngự. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai(1939-1945), quân đội phát xít Đức cũng đã vận dụng chính hình thức phòng ngự này dưới tên gọi chiến thuật con nhím nhằm ngăn chặn các cuộc tiến công của quân đội Liên Xô.


Điều đó cho thấy, quân đội Pháp có thể coi là một trong những đội quân bậc thầy về khả năng tổ chức khu vực phòng ngự. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng đánh giá: "Quân đội Pháp đặc biệt giỏi trong bố trí phòng ngự"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Hồi ức, Hữu Mai thể hiện. Nxb Quân đội nhân dân. H. 2001. tr. 299). Và Đại tướng lấy dẫn chứng ngay trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, tại Đông Khê, không đầy 3 đại đội của địch có thể đương đầu với 2 trung đoàn chủ lực của ta trong suốt 52 giờ. Đồn Pheo trong chiến dịch Hòa Bình được chính các chuyên gia quân sự Pháp coi là một mẫu mực trong tổ chức phòng ngự cứ điểm. Nhưng quan trọng nhất là qua mỗi đợt tác chiến, quân đội Pháp bao giờ cũng luôn biết rút kinh nghiệm kịp thời những trận đánh thất bại.


Từ năm 1950, đối phó với sự trưởng thành của bộ đội ta, quân Pháp đã xây dựng những cứ điểm đại đội, tiểu đoàn có công sự vững chắc với lô cốt, hầm ngầm, hàng rào dây thép gai và bãi mìn bao quanh. Nhiều nơi, quân Pháp tổ chức thành cụm cứ điểm để hỗ trợ cho nhau. Với lưới hỏa lực bảo vệ từ xa, quân đồn trú cố gắng kéo dài cuộc chiến đấu qua đêm chờ quân cứu viện và máy bay đến can thiệp trước khi trời sáng. Cách đối phó này tỏ ra hữu hiệu ở địa hình đồng bằng và trung du, nhưng lại khó thực hiện ở vùng rừng núi là nơi bộ đội ta chỉ chờ quân viện tới để tiêu diệt. Trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám, địch chấp nhận để một số vị trí bị bao vây tiêu diệt chứ không đưa quân viện tới. Ở vùng rừng núi, vị trí đại đội, tiểu đoàn, tiểu đoàn tăng cường của địch không còn đứng vững trước những cuộc tiến công của quân ta. Do vậy, quân Pháp tiến hành áp dụng hình thức phòng ngự tập đoàn cứ điểm. Hình thức này xuất hiện ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1951, từ chiến dịch Hòa Bình. Theo nhận định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hình thức chiến thuật mới này ra đời một cách tự nhiên. Quân địch chiếm đóng một thị xã giữa rừng núi. Thị xã nằm dưới thung lũng. Chỉ huy quân Pháp tại đây buộc phải chiếm những điểm cao xung quanh nếu không muốn mất thị xã. Những điểm cao này liên kết bằng các trận địa hỏa lực, bảo vệ sườn cho nhau khi bị tiến công.


Trong những thất bại ở đợt 1 và đợt 2 của chiến dịch Tây Bắc, quân Pháp không sử dụng quân viện khi một cứ điểm bị tấn công, cũng không dùng lực lượng cơ động để chiếm lại những vị trí đã mất. Giống như cuối chiến dịch Cao Bằng, khi một cứ điểm bị tiêu diệt là quân đồn trú ở hàng loạt cứ điểm xung quanh bỏ chạy, nhưng khác với chiến dịch Biên Giới, những cuộc rút chạy ở Tây Bắc nằm trong ý đồ của chỉ huy quân Pháp nhằm tránh bị tiêu diệt và co cụm lại để đối phó với cuộc tiến công của ta. Từ những cứ điểm rải rác, quân Pháp đã tập trung lại thành tập đoàn cứ điểm tại Nà Sản. Trước khi ta mở chiến dịch Tây Bắc, quân địch ở Nà Sản có một đại đội ngụy, do một viên hạ sĩ quan Pháp chỉ huy, đóng một vị trí, một điểm tựa bằng bê tông, làm nhiệm vụ bảo vệ sân bay1 (Sau khi quân Pháp tái chiếm Sơn La, sân bay Nà Sản được người Pháp xây dựng vào năm 1950 với mục đích làm cầu hàng không vận chuyển, tiếp tế lương thực, các phương tiện chiến tranh phục vụ cho việc chiếm đóng, cai trị ở vùng Tây Bắc) và bảo đảm cho máy bay lên xuống.


Cũng giống như Hòa Bình, Nà Sản là một thung lũng dài chừng 2km, rộng khoảng 1km, xung quanh có 24 ngọn đồi bao bọc. Nà Sản nằm trên đường liên tỉnh số 41 có vị trí chiến lược quan trọng ở giữa đường tiến quân từ hướng đông và bắc qua hướng tây nam "Xứ Thái". Và quan trọng hơn ở đây đã có sẵn sân bay có thể lập cầu hàng không từ Hà Nội lên. Về chiến thuật, những ngọn đồi bao quanh thung lũng Nà Sản là những vị trí mà từ đó có thể quan sát, bố trí trận địa nhằm khống chế đối phương tiến công.


Mục đích của quân Pháp khi thiết lập Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm nhằm đón lực lượng từ các vị trí, đồn bốt bị cô lập ở Tây Bắc về để tránh bị tiêu diệt trước thế tiến công của lực lượng vũ trang ta; ngăn chặn lực lượng vũ trang ta đang thừa thắng ở Nghĩa Lộ tiến về Lai Châu (thực hiện được mục tiêu này, quân Pháp hy vọng xoay chuyển chiều hướng chiến sự đang rất khó khăn, bất lợi của quân Pháp ở Tây Bắc); dựa vào hình thức phòng ngự tập đoàn cứ điểm với những ưu điểm của thế bố trí lực lượng trên ngọn đồi cao, độc lập, dựa vào hệ thống công sự, trận địa, vật cản có lợi, quân Pháp vừa có khả năng chống đỡ, vừa có thể tiêu hao sinh lực bộ đội ta.


Việc xây dựng tập đoàn cứ điểm ở Nà Sản đòi hỏi phải có thời gian từ 4-5 tuần lễ. Ở đây đã có sẵn sân bay dã chiến và căn cứ của đơn bị bảo vệ sân bay. Quân Pháp phải lập cầu hàng không để vận chuyển vật liệu, phương tiện, vũ khí từ Hà Nội lên và huy động nhân lực lớn để xây dựng một hệ thống cứ điểm nhiều lớp, nhiều tầng theo mô hình vòng cung khép kín, xung quanh sân bay. Thời gian địch xây dựng tập đoàn cứ điểm tại Nà Sản gần như trùng với đợt 2 của chiến dịch Tây Bắc. Trong suốt thời gian này,tập đoàn cứ điểm vừa được xây dựng vừa không ngừng được tăng cường binh lực củng cố công sự trận địa. Mỗi ngày địch huy động hàng chục lần chiếc máy bay chở quân, vũ khí phương tiện từ Hà Nội lên Nà Sản. Lợi dụng các đồi cao, quân Pháp thiết lập 17 cử điểm hình vành đai trong khu vực phòng ngự. Vành đai phía trong bao gồm sở chỉ huy, trận địa pháo, sân bay, kho tàng và quân dự bị, nối liền với nhau bằng hào giao thông va mạng rào dây thép gai. Vành đai ngoài gồm 7 cứ điểm cấu trúc trên những quả đồi cách xa trung tâm ở cự ly ngoài tầm hỏa lực súng cối. Đến cuối tháng 11 năm 1952, tổng số lực lượng địch gồm 8 tiểu đoàn bộ binh và dù (2-12-1952 được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn dù), 1 tiểu đoàn pháo, 8 đại đội độc lập và 1 đại đội công binh, 2 chi đội xe thiết giáp1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân độinhân dân, H. 2004, tr. 912). Sân bay Nà Sản được tăng phương tiện bảo vệ nhằm bảo đảm sự tiếp tế bằng đường không Hà Nội -Nà Sản.


Với hệ thống bố phòng mạnh như vậy, Bộ chỉ huy Pháp tin rằng hỏa lực không quân, pháo binh có thể chặn đánh quân ta từ bên ngoài; lực lượng cơ động dự bị sẵn sàng tăng cường có khả năng phản kích khi bị tiến công, không cho đối phương đứng chân được vào ban ngày trước các điểm cao đã bị khống chế. Nà Sản được tập trung lực lượng đông vũ khí trang bị hiện đại, có cầu hàng không bảo đảm tiếp tế cấu trúc được nhiều điểm tựa hiểm hóc, tác chiến trong điều kiện có hỏa lực của không quân, pháo binh chi viên... thực sự trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của quân Pháp ở Đông Dương vào thời điểm đó. Bộ chỉ huy Pháp coi Nà Sản là "con đê ngăn sóng", hy vọng chặn được đà tiến công của quân ta ở Tây Bắc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2025, 08:59:48 pm
Khi địch xây dựng xong tập đoàn cứ điểm tại Nà Sản thì cũng là lúc quân ta kết thúc đợt 1 và 2 chiến dịch Tây Bắc. Mặc dù giành được nhiều thắng lợi quan trọng, nhưng bộ đội ta càng tiến sâu vào Tây Bắc, càng xa hậu phương chiến dịch, việc tiếp tế, hậu cần càng gặp khó khăn hơn trước. Trên đường truy kích địch, bộ đội thiếu lương thực nghiêm trọng, chủ yếu phải ăn bằng lương khô. Mặt khác, do chiến đấu liên tục, nhiều ngày nên sức lực của bộ đội giảm sút, lực lượng hao mòn bởi thương vong và bệnh tật, trong khi đó tin tức báo về Bộ chỉ huy chiến dịch không thật đầy đủ, phân tích đánh giá tình hình thiếu chính xác, khách quan, khiến cơ quan chỉ huy chiến dịch không nắm chắc được tình hình. Ngày 30 tháng 11 năm 1952, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: "Địch bị động tập trung về Nà Sản, lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, quyết tâm không dứt khoát, rút thì thất bại lớn ở Tây Bắc mà lại có thể bị tiêu diệt, giữ thì trong thế cô lập và cũng có thể bị ta tiêu diệt tại chỗ"1 (Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 1963, tập 2, tr. 205). Trên cơ sở nhận định trên, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định triển khai đợt 3 chiến dịch theo đúng kế hoạch. Mục tiêu của đợt 3 là tập trung toàn bộ lực lượng tiến công tiêu diệt địch ở Nà Sản, giành toàn thắng cho chiến dịch. Phương châm tác chiến là đánh chỗ yếu trước, chỗ mạnh sau, bao vây toàn diện, công kích có trọng điểm, đánh ngoại vi trước, tranh thủ mở một mặt rồi đánh vào tung thâm.


Mở đầu đợt 3 chiến dịch, ta chủ trương tập trung lực lượng đột phá vào các điểm tựa vòng ngoài, từ đó khống chế pháo binh địch vào sân bay, phát triển chiến đấu vào trong, tạo thời cơ tiêu diệt tập đoàn cứ điểm. Đêm 30 tháng 11, hai tiểu đoàn của Đại đoàn 308 cùng phối hợp đánh vị trí Pú Hồng (điểm cao 753). Cùng lúc, một tiểu đoàn của Đại đoàn 312 tiến công vị trí Bản Hời. Sau hơn một giờ chiến đấu, bộ đội ta tiêu diệt hoàn toàn quân địch đóng tại các vị trí trên. Nhưng ngày hôm sau, dưới sự yểm trợ của máy bay và đại bác, địch mở nhiều đợt xung phong đánh bật bộ đột ta ra khỏi Pú Hồng và chiếm đóng lại vị trí.


Đêm ngày 1 tháng 12, Trung đoàn 209 ở hướng tây nam tiến công Bản Vây, cứ điểm chính trong cụm cứ điểm phòng ngự phía nam Nà Sản do hai đại đội lê dương bảo vệ; Trung đoàn 174 được phối thuộc một tiểu đoàn của Đại đoàn 308, đánh vị trí Nà Si. Cả hai trận đánh đều không thành công. Khi trời sáng, địch dùng máy bay oanh tạc vào đội hình quân ta và bắn trên 5.000 quả đạn pháo để cứu ngụy cho các cứ điểm. Trong ngày 2 tháng 12, địch thả dù tăng cường thêm cho Nà Sản hai tiểu đoàn. Những ngày tiếp theo, địch sử dụng máy bay ném bom và pháo binh bắn hàng nghìn quả đạn vào nhiều vị trí vừa để tiêu hao lực lượng ta, vừa để củng cố tinh thần binh lính.


Nhận thấy bộ đội ta chưa đủ khả năng tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Nà Sản, ngày 10 tháng 12, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định ngừng tiến công địch và kết thúc chiến dịch Tây Bắc. Tại Hội nghị sơ kết chiến dịch được tổ chức ngay tại sở chỉ huy tiền phương ở Tạ Khoa, một vấn đề bức thiết đặt ra là: những cứ điểm quân ta thực hành tiến công trong đợt 3 chỉ có quân số từ đại đội tăng cường đến 2 đại đội; về thực lực rõ ràng không mạnh hơn Nghĩa Lộ, Pú Chạng, Mộc Châu. Trong từng trận đánh, ta đều sử dụng những đơn vị có kinh nghiệm và tập trung ưu thế binh lực, nhưng tại sao phần lớn trận đánh đều không giành thắng lợi? Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, "một nguyên nhân là do bộ đội mỏi mệt sau nhiều ngày truy kích địch, đội hình các đơn vị đều xộc xệch. Nhưng so với chiến dịch Biên Giới thì sự mệt mỏi và xáo trộn trong đội hình lần này chưa bằng. Trong từng trận đánh, cán bộ và chiến sĩ ta đều có quyết tâm tiêu diệt địch rất cao. Nguyên nhân chính là do những cứ điểm này nằm trong hệ thống cấu trúc chặt chẽ của tập đoàn cứ điểm. Người Pháp coi đây là một hình thức ngăn chặn mới. Muốn đánh bại chiến lược này, cần phải có thời gian"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tời Điện Biên Phủ..., Sđd. tr. 343).


Rõ ràng, tập đoàn cứ điểm phòng ngự của quân Pháp tại Nà Sản đã trở thành một thách thức mới đối với cuộc kháng chiến của quân và dân ta. Đối với bộ đội ta, trong quá trình chiến đấu đã mất nhiều thời gian nghiên cứu, rèn luyện, chuẩn bị mới tiêu diệt được cứ điểm trung đội, rồi đại đội của địch. Khả năng hiện thời của quân ta là dùng trung đoàn tiêu diệt vị trí tiểu đoàn địch đóng riêng lẻ. Tập đoàn cứ điểm Nà Sản không chỉ lớn gấp bội về quân số mà còn có thêm sân bay, trận địa pháo, những đơn vị thiết giáp tại chỗ để đối phó với các cuộc tiến công của quân ta. Nó đã hạn chế khả năng giành chiến thắng của bộ đội chủ lực ta ngay trên địa hình chiến trường được coi là thuận lợi từ trước tới nay. Quân ta chưa thể tiêu diệtmột vị trí trong một tập đoàn cứ điểm mà tránh khỏi tổn thất lớn. Chiến thuật đánh điểm diệt viện, đánh dịch trong vận động, đánh địch trên đường giao thông đều khó có điều kiện vận dụng vì tập đoàn cứ điểm tự nó có thể đương đầu với những cuộc tiến công, quân tăng viện cũng như đồ tiếp tế tới tập đoàn cứ điểm qua đường không được các vị trí bảo vệ vòng trong vòng ngoài. Chính Xalăng đã tuyên bố việc thiết lậpở Nà Sản tập đoàn cứ điểm sẽ "buộc kẻ thù chiến đấu trên một địa hình thuận lợi cho sự phối hợp các loại vũ khí của chúng ta, sẽ có một sân bay bảo đảm cho việc tiếp tế thường xuyên những đơn vị chiến đấu"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ.... Sđd. tr. 355). Với tập đoàn cứ điểm, địch còn khai thác một chỗ yếu của ta là không thể duy trì số đông bộ đội tại rừng núi dài ngày vì thiếu lương thực và khả năng vận chuyển có hạn. Địch chỉ cần chờ khi ta rút quân, lại từ tập đoàn cứ điểm tỏa ra chiếm đóng lại những vị trí đã bỏ. Việc duy trì vùng mới giải phóng sẽ gặp nhiều khó khăn.


Để giải quyết tình thế khó khăn trên, Bộ Tổng tham mưu đã triệu tập hội nghị nghiên cứu cách đánh tập đoàn cứ điểm vào cuối tháng 2 năm 1953. Hội nghị đã bước đầu đánh giá chỗ mạnh, chỗ yếu của tập đoàn cứ điểm và điều đó đòi hỏi bộ đội ta trong cách đánh tập đoàn cứ điểm không phải chỉ là tiêu diệt quân chiếm đóng ở từng cứ điểm, mà phải giữ được vị trí đó để tiếp tục chiếm đóng ở từng cứ điểm, đồng thời phải giữ được vị trí đó để tiếp tục phát triển vào sâu trong suốt quá trình tiến công. Như vậy, bộ đội ta sẽ phải chiến đấu liên tục cả ban đêm và ban ngày, vừa tiến công hộ hinh địch vừa phải đối phó với đại bác, xe tăng và máy bay. Điều quan trọng là phải hạn chế được sức mạnh hỏa lực của bản thân tập đoàn cứ điểm. Đối với một tập đoàn cứ điểm như Nà Sản, nhất thiết các cuộc tiến công của ta phải có thêm sự trợ lực của trọng pháo và các cao xạ khác.


Việc quân đội Pháp thiết lập thành công tại Nà Sản một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc đã trở thành một biện pháp ngăn chặn mới có tính chiến lược và bước đầu đã mang lại hiệu quả trong quá trình ngăn chặn các cuộc tiến công của bộ đội ta trên địa bàn rừng núi và "nó mang hình thái đặc thù của Chiến tranh xâm lược Việt Nam"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ..., Sđd, tr 355). Tưởng rằng, với hình thái chiến lược mới này, quân Pháp sẽ nhanh chóng giành thắng lợi. nhưng cuối cùng, trước sức ép, bao vây, tiến công của quân dân ta, tập đoàn cứ điểm Nà Sản bị vô hiệu hóa và bị cô lập, buộc quân Pháp phải rút bỏ vào tháng 8 năm 1953. Không lâu sau, với sự thất thủ của tập đoàn cử điểm Điện Biên Phủ, hình thái chiến lược mới của quân đội Pháp tại Đông Dương đã bị phá sản hoàn toàn.


Thắng lợi của quân và dân ta trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng tại tập đoàn cứ điểm phòng ngự Điện Biên Phủ cho thấy, "nhờ kịp thời tổng kết kinh nghiệm Nà Sản, người chỉ huy cao nhất và tập thể Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đã quyết định chính xác một cách vô cùng quan trọng đối với tư tưởng chỉ đạo, diễn biến và thắng lợi cuối cùng của chiến dịch Điện Biên Phủ, đó là thay đổi cách đánh"2 (Nguyễn Quốc Dũng, Từ Nà Sản đến Điện Biên Phủ, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 1-1994). Vì vậy, có thể khẳng định, có trận Nà Sản mới có chiến thắng Điện Biên Phủ và Nà Sản chính là bản anh hùng ca bi tráng, bước tập dượt cho cuộc tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Chín, 2025, 08:38:42 pm
ĐÓNG GÓP CỦA ĐỒNG BÀO KHU TÂY BẮC
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC NĂM 1952

Thượng tá, ThS ĐỖ NHUẬN
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Thiếu tá NGUYỄN NGỌC TÙNG
Phó Trưởng phòng Chính trị - Hành chính
- Viện lịch sử quân sự Việt Nam


Nhằm đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến, theo đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, từ tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo các cấp, các ngành khẩn trương chuẩn bị mọi mặt phục vụ hoạt động tác chiến Thu Đông 1952. Đầu tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược.


Trung ương nhận định, công tác bảo đảm cho chiến dịch sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì hậu phương Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh đều cách xa Tây Bắc. Chính vì vậy việc huy động sức người, sức của tại chỗ có ý nghĩa rất quan trọng.


Tuy nhiên, vùng Tây Bắc rất hiểm trở, địa hình phức tạp; nhiều núi cao, suối sâu, trong đó có dãy núi Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phan Xi Păng cao 3.142m. Có biên giới phía tây dài 552km, giáp với hai tỉnh Hủa Phăn và Phong Xa Lỳ (Lào) và biên giới phía bắc dài 215km giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Tây Bắc là nơi sinh sống của hơn 30 dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, phân bố thưa thớt. Sông Đà, sông Mã nhiều ghềnh thác, nước chảy xiết quanh năm, cùng với sông Hồng và các sông khác chia cắt Tây Bắc thành nhiều khu vực. Vào Tây Bắc chỉ có hai con đường chính: đường số 41 từ Hoà Bình đi Suối Rút, đường số 13 từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Cả hai con đường này đều là đường rừng núi bị hư hỏng nhiều do lâu ngày không được sửa chữa, tu bổ. Tại các ngã ba, ngã tư tuyến đường liên tỉnh, huyện đều bị địch khống chế và thường xuyên tổ chức tuần tiễu, lùng sục khiến cho cán bộ, bộ đội ta vào hoạt động rất khó khăn. Kinh tế khu vực Tây Bắc nghèo nàn, dân cư thưa thớt, lại bị địch chiếm đóng khủng bố và bóc lột tàn tệ nên đời sống nhân dân rất thấp. Nền kinh tế chủ yếu là tự cung, tự cấp, khả năng huy động sức người, sức của tại chỗ rất hạn chế.


Để chỉ đạo kịp thời, thống nhất nhằm phục vụ nhiệm vụ quân sự tiêu diệt địch, giải phóng Tây Bắc, ngày 17 tháng 7 năm 1952 Trung ương Đảng quyết định tách một số tỉnh trong Liên khu Việt Bắc thành lập Khu Tây Bắc gồm 4 tỉnh là Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái.


Sau khi thành lập, công tác xây dựng cơ sở là một trong những vấn đề quan trọng, cấp bách được Khu ủy hết sức chú trọng. Mục đích của công tác xây dựng cơ sở trong vùng địch hậu là nhằm tổ chức giác ngộ nhân dân tham gia kháng chiến bảo đảm hcành quân, trú quân, dẫn đường cho bộ đội trinh sát nắm địch và tìm hiểu khả năng huy động nhân lực, vật lực của các địa phương trong Khu sẵn sàng phục vụ chiến dịch.


Tháng 8 năm 1952, Bộ Chính trị ra nghị quyết và ban hành chính sách vận động đồng bào các dân tộc ít người. Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, cho bộ đội và nhân dân vùng mới giải phóng" quy định những chính sách lớn của cách mạng đối với vùng mới sắp được giải phóng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ và dân công tham gia chiến dịch Tây Bắc.


Cuối tháng 9 năm 1952, Khu ủy Tây Bắc triệu tập hội nghị cán bộ mở rộng quán triệt chính sách vận động các dân tộc thiểu số của Đảng. Hầu hết các đồng chí bí thư tỉnh ủy, huyện ủy và cán bộ các ban, ngành đều tham gia hội nghị. Hội nghị đã nghiên cứu chỉ thị thành lập Khu Tây Bắc, học tập chính sách dân tộc thiểu số. Chỉ thị 15 của Trung ương về thực hiện chính sách dân tộc ở vùng mới giải phóng; đồng thời đặt chương trình công tác 3 tháng cuối năm để động viên cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân trong toàn Khu huy động mọi khả năng phục vụ chiến dịch.


Chấp hành chỉ thị của Trung ương, Ban Thường vụ Khu ủy đã đề ra nhiệm vụ trung tâm của toàn Khu đến hết năm 1952 là "Động viên toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân vùng tự do củng như vùng bị tạm chiếm, huy động mọi khả năng nhân vật lực ở Tây Bắc để phục vụ cho chiến dịch"1 (Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Lai Châu, Ba mươi năm phấn đấu và xây dựng của Đảng bộ Lai Châu (1949-1979). Xuất bản năm 1980, tr. 43, 44).


Căn cứ vào tình hình trong tỉnh và nhiệm vụ của Trung ương, Khu ủy, Ban cán sự tỉnh Lai Châu chủ trương "Đẩy mạnh củng cố cơ sở chính trị và cơ sở vũ trang để bảo đảm cho nhu cầu quân sự". Trước mắt cần tập trung chuẩn bị lương thực, thực phẩm, dân công, thuyền mảng sẵn sàng phục vụ các lực lượng vượt sông chiếm lĩnh trận địa...


Đầu tháng 9 năm 1952, đồng chí Phó ban cán sự tỉnh Lai Châu cùng một đoàn cán bộ, bộ đội hơn 100 người xuống tận các cơ sở phổ biến cho các huyện quán triệt nhiệm vụ chuẩn bị cho chiến dịch. Cán bộ, bộ đội cũng được tăng cường hỗ trợ cho việc xây dựng cơ sở chính trị, vũ trang, làm nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường.


Vận dụng kinh nghiệm công tác vùng địch tạm chiếm những năm 1948 - 1950, sang năm 1952 ta đã xây dựng được nhiều cơ sở kháng chiến trên rẻo cao Hồ Thầu, Giang Ma, Tả Hồ Chải, Gai Khâu Chải, Cắn Tỉ, Lan Nhì Thàng, Tà Lèng. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, các cơ sở cách mạng tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xây dựng các cơ sở kháng chiến trên rẻo cao. Cán bộ trực tiẽp hướng dẫn quần chúng đấu tranh với địch bằng nhiều hình thức rào làng, chống bắt phu, bắt lính (Hồ Thầu), chống thuế (Tam Đường, Lai Châu). Nhân dân Suối Giàng đấu tranh chống địch dồn dân, xây dựng thêm một số cơ sở ở khu vực Tà Suối Láng, Trông Trà, Trạm Tấu, nối Phình Hồ - Suối Giàng thành khu du kích liên hoàn với Phù Yên (Sơn La) phục hồi một số cơ sở ở Mường Khoa, Mường Than.


Từ tháng 7 năm 1952 sau khi được giao nhiệm vụ tham gia chuẩn bị chiến trường, phục vụ và phối hợp với chủ lực, các tỉnh Lào Cai, Yên Bái tập trung chỉ đạo thực hiện phát triển các cơ sở dọc các đường giao thông quan trọng, tăng cường công tác địch ngụy vận tại vùng địch tạm chiếm, củng cố khối đoàn kết, đẩy mạnh phong trào sản xuất tiết kiệm, hoàn thành thu thuế nông nghiệp và công tác tạm vay, động viên nhân tài vật lực phục vụ tiền tuyến đánh thắng.


Nắm vững hướng phát triển cơ sở xuống vùng đồng bằng Tam Đường, Bình Lư, Sình Hồ (Lai Châu), trong đó lấy Sình Hồ làm chính, từ cuối tháng 9 năm 1952 Lào Cai đã cử nhiều đoàn cán bộ xuống các địa bàn. Nhận thức của đồng bào ngày càng tiến bộ, "người Việt người Thái... sống với nhau thân mến như một gia đình"1 (Trần Đăng Ninh, Con người và lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, H 1996, tr. 472). Nhờ vậy hầu hết các cơ sở cách mạng cũ của ta đều được phục hồi. Ở Phong Thổ ta đã vận động và tổ chức thành lập chính quyền và du kích ở 55 cơ sở.


Nhân dân các khu cơ sở của ta đều tích cực tham gia chuẩn bị chiến trường: Nắm địch, thu gom lương thực, đi dân công. Khu Bản Bo được giao nhiệm vụ chuẩn bị cho một tiểu đoàn hành quân vào Nậm Sỏ, Quỳnh Nhai. Nhân dân trong vùng đã làm một con đường bí mật qua Nà Khương, Nà Can, bắc cầu phao qua suối Nậm Hu2 (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hoàng Liên Sơn, Hoàng Liên Sơn lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), 1989, tr. 236).


Tỉnh Yên Bái cũng đưa cán bộ cốt cán xuống các cánh đồng lớn như Mường Than, Nghĩa Lộ hoạt động. Sau một thời gian ngắn đã phục hồi và phát triển thêm được nhiều cơ sơ mới. Văn Chấn xây dựng thêm cơ sở ở vùng Man La, Hố Pèng, Man Bó Siêu, Nga Hai, Văn Ngân, Dao Luôn và Khe Lóng; củng cố các cơ sở Sơn Lương, Gia Hội và phát triển vào Nghĩa Lộ. Than Uyên gây dựng cơ sở ở Mường Khoa, Thân Thuộc và 48 bản. Tỉnh Sơn La tăng cường cán bộ cho các trọng điểm hoạt động đã phát triển thêm cơ sở gần khắp cánh đồng Quang Huy, khu Mông 99, hữu ngạn sông Đà. Các tổ vũ trang tuyên truyền đã vào được Tạ Khoa, Cò Nòi, Hát Lót và gần thị xã Sơn La.


Ở các vùng tạm bị chiếm thuộc địa phận Yên Bái, cơ sơ kháng chiến phát triển vào các thôn, bản nằm trên trục đường giao thông quan trọng và các khu kinh tế. Các cơ sơ vùng cao được củng cố cùng với cơ số vùng đồng bằng tạo thành một thế đứng chân liên hoàn, vững chắc. Những ngày chuẩn bị cho chiến dịch mở màn, lực lượng vũ trang huyện Văn Chấn, Trấn Yên cùng các đại đội 85, 87, 97, lực lượng trinh sát và nhân dân, đồng bào dân tộc ít người đều tổ chức nắm địch thông báo cho mặt trận, giữ vững các tuyến đường giao thông liên lạc vào vùng địch như đường 13, đường Mậu A qua đèo Quế, Khâu Vác... ở những nơi sát địch, với sự giúp đỡ của đồng bào, du kích phối hợp với bộ đội địa phương bám sát các đồn địch, tham gia chuẩn bị chiến trường theo yêu cầu của chủ lực. Du kích Việt Long, du kích Cát Thịnh cùng với quân báo bám địch ở Ba Khe. Du kích Hưng Khánh vừa bám đồn địch vừa làm nhiệm vụ bảo vệ kho tàng.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Chín, 2025, 08:40:14 pm
Trước khi chiến dịch Tây Bắc mở màn, để phá âm mưu gây phỉ của Pháp - Mỹ, ổn định khu vực biên giới, ngay từ tháng 5 năm 1952, Trung ương Đảng và Liên khu ủy Việt Bắc chủ trương phối hợp với Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc mở chiến dịch truy quét phỉ, đặc vụ của Tưởng Giới Thạch, giải phóng nhân dân, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ.


Qua gần 1 năm đánh phỉ, quân và dân ta càng hiểu rõ thêm về âm mưu thủ đoạn hoạt động của địch, thấy được tính chất gay go, phức tạp của sự nghiệp kháng chiến trên địa bàn; đồng thời cũng giúp cho lãnh đạo, chỉ huy các cấp nhận thức rõ hơn việc phải làm tốt công tác vận động quần chúng; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ đánh phỉ với xây dựng lực lượng, đẩy mạnh sản xuất, không ngừng nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho đồng bào các dân tộc xây dựng khối đoàn kết dân tộc vững chắc để phá tan mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù.


Sau thắng lợi của chiến dịch tiễu phỉ, nhân dân hai tỉnh Lao - Hà đã thu lợi gần 1.000 con trâu, ngựa; tẩy chay tiền bạc trắng của Pháp, sử dụng tiền do Ngân hàng Việt Nam phát hành. Ruộng, nương rẫy trước kia bỏ hoang hóa nhiều, nay được khai khẩn trồng lúa, hoa màu, đời sống của các dân tộc dần dần ổn định1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Tây Bắc lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1990, tr.165). Nhận thức của đồng bàoTây Bắc ngày càng tiến bộ. "Cụ Hồ tốt, Chính phủ tốt, tôi đi gánh gạo cho Cụ Hồ, cho Chính phủ. Tây không tốt, tôi không đi phu cho Tây"2 (Trần Đăng Ninh, Con người lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, H.1996, tr. 469).


Để đẩy mạnh việc huy động nhân lực phục vụ tiền tuyến, ngày 14 tháng 7 năm 1952 Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về huy động và sử dụng dân công. Tiếp đó ban dân công các tỉnh cũng được thành lập cùng với lực lượng dân công trên toàn tuyến, đồng bào các dân tộc Tây Bắc cũng được huy động và tổ chức thành từng đoàn, từng đợt phục vụ chiến dịch. Nhân dân các dân tộc và đồng bào dân tộc ít người tỉnh Lai Châu đã góp 2.243 dân công đi phục vụ từ 1 đến 15 ngày và 100 con ngựa thồ đi 5 ngày3 (Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Lai Châu, Ba mươi năm phấn đấu và xây dựng của Đảng bộ Lai Châu (1949-1979), Xuất bản năm 1060, tr 46). Nhân dân Yên Bái huy động 5.428 dân công thường trực (chiếm 20% số dân) 1.000 lượt người đi dân công 1 tháng, 2.312 lượt người đi dân công 7 ngày1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Tây Bắc lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp. Sđd, tr 181).


Mặc dù phải tập trung cho công tác tiễu phỉ nhưng nhân dân Lào Cai cũng đóng góp được 16.000 ngày công phục vụ mặt trận. Dân công tham gia phục hồi đường ray xe lửa Yên Bái - Lang Thít, làm đường 13 từ km 50 lên giáp đường 41 và khai thông đường từ Chợ Hiên vào Nghĩa Lộ dài trên 100km qua nhiều núi cao, suối sâu. Trong suốt chiến dịch, mặc dù bị địch đánh phá ác liệt... dân công vẫn kiên cường bám trụ, khai thác được hàng ngàn mét khối gỗ, phá được 3 vạn mét khối đá, hoàn thành việc làm đường phục vụ chiến dịch và vận chuyển hàng vạn tấn lương thực, vũ khí ra tiền tuyến.


Vượt qua mọi khó khăn, với ý chí, lòng quyết tâm và sự sáng tạo, nhân dân Tây Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong chiến dịch Tây Bắc, quân nhu đã cung cấp cho bộ đội và dân công 9.360 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt và 71 tấn thực phẩm khác1 (Cục Quân nhu Lịch sử Quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H 1998. tr. 181). Trong đó nhân dân Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 và các vùng mới giải phóng thuộc Khu Tây Bắc đã huy động 191.000 lượt người đi dân công, đóng góp hơn 7 triệu ngày công, 1.011 xe đạp thồ, 258 xe trâu, xe bò và 556 thuyền vận tải trên sông Hồng, sông Đà, cung cấp cho chiến dịch 9.360 tấn gạo, 359 tấn muối và thực phẩm, 33 tấn đạn, 2.535 thương binh được cứu chữa tại mặt trận và đưa về các bệnh viện hậu phương an toàn.


Đây là thắng lợi của tinh thần phục vụ hết lòng, hết sức vì tiền tuyến của quân dân Khu Tây Bắc. Khu ủy Tây Bắc coi đây là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi tập trung sự lãnh đạo chặt chẽ từ trên xuống tận cơ sở. Nhiều nơi giáp hạt thiếu ăn, thiếu nhân công gặt mùa, nhưng nhân dân vẫn tự nguyện góp lương thực, thực phẩm, hăng hái đi dân công, vừa phục vụ tiền tuyến vừa đánh giặc bảo vệ hậu phương. Trong điều kiện sinh sống không tập trung, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu lại bị địch vơ vét cướp phá nhưng đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã huy động tại chỗ phục vụ chiến địch 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 41 tấn thực phẩm khác cùng với 150.000 ngày công. Khi bộ đội về, mặc dù các cơ sở của ta mới phục hồi, nhưng nhân dân các dân tộc Lai Châu đã hăng hái tham gia phục vụ chiến dịch, đi dân công vận tải giúp đỡ bộ đội đánh giặc, cung cấp cho bộ đội 116 tấn gạo, 9.300 kg ngô, 5.984 kg thịt lợn, thịt bò, 56 con trâu, bò, lợn1 (Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Lai Châu, Ba mươi năm phấn đấu và xây dựng của Đảng bộ Lai Châu (1949-1979). Xuất bản năm 1980. tr. 46). Nhân dân Yên Bái cung cấp cho mặt trận 730 tấn gạo, 622 con trâu, 386 con lợn, 72 tấn muối và 16 tấn đậu, lạc, vừng. Mặc dù phải tập trung phục vụ cóng tác tiễu phỉ, nhân dân Lào Cai cũng đóng góp được 719 tấn thóc. Thực hiện chủ trương huy động hậu cần tại chỗ, nhân dân Nghĩa Lộ nơi diễn ra những trận chiến đấu ác liệt, then chốt cũng đóng góp được 250 tấn gạo, 7 con trâu, 5 con bò, 9 con lợn thịt để nuôi quân2 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Tây Bắc lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp. Sđd. tr 181).
   Sau thắng lợi của đợt chiến đấu đầu tiên, tiền phương Tổng cục Cung cấp chủ trương huy động nhân vật lực tại các vùng mới giải phóng trong đó có hai cánh đồng lớn Nghĩa Lộ và Quang Huy. Bộ đội tham gia công tác dân vận cùng cán bộ địa phương, giúp dân gặt vụ mùa. Kết quả đã huy động được ở Nghĩa Lộ, Quang Huy, Mộc Châu, Mai Đà 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt và 15.000 dân công thành 150.000 ngày công1 (Tổng cục Hậu cần, Hậu cần chiến dịch trong kháng chiếnchống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 80).
   Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc cho thấy việc tổ chức, phát huy vai trò của nhân dân các dân tộc có vị trí hết sức quan trọng. Công tác hậu cần không chỉ đơn thuần là đảm bảo vũ khí, đạn dược, thóc gạo, đường sá... mà trên hết và trước hết là công tác vận động nhân dân của các cấp uy Đáng, chính quyền các cấp.
   Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc khẳng định việc nhận thức rõ vai trò của quần chúng và phát huy vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng là một trong những vấn đề có tính nguyên tắc trong quá trình lãnh đạo của Đảng. Kinh nghiệm đó, bài học đó vẫn giữ nguyên giá trị trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Chín, 2025, 08:41:52 pm
ĐẠI ĐOÀN 308 TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá NGUYỄN BÁ THÔNG
Phó Chính ủy Sư đoàn 308


Sư đoàn 308 là một trong những Sư đoàn chủ lực đầu tiên ra đời trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (28-8-1949). Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Sư đoàn từng tham gia 16 chiến dịch lớn, nhỏ, trong đó có chiến dịch Tây Bắc (Thu Đông 1952).


Sau thắng lợi to lớn của chiến dịch Hoà Bình, chiến trường Việt Nam và Đông Dương có nhiều thay đổi. Trong khi thực dân Pháp gặp nhiều khó khăn, lúng túng, phải điều chỉnh bố trí lực lượng ở khắp các chiến trường, đặc biệt là chiến trường chính Bắc Bộ, thì lực lượng ta có điều kiện củng cố và tiếp tục lớn mạnh. Sau khi nhận định và đánh giá tình hình, từ tháng 2 năm 1952. Bộ Chính trị đã có ý định mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc và tiến hành công tác chuẩn bị chiến dịch. Tháng 9 năm 1952, căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm mục đích: Tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc; giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc.


Lực lượng tham gia chiến dịch được Bộ Tư lệnh chiến dịch lựa chọn gồm: Đại đoàn 308, Đại đoàn 312, hai trung đoàn của Đại đoàn 316, Tiểu đoàn 910 của Trung đoàn 148, Đại đoàn công pháo 351 và 11 đại đội thuộc các địa phương: Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai.


Cùng với thời điểm này, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về chính sách vận động các dân tộc thiểu số; Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ cho bộ đội và nhân dân trong vùng mới giải phóng".


Ngày 9 tháng 9 năm 1952, trước khi chiến dịch mở màn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm, động viên và cản dặn bộ đội tham gia chiến dịch, trong đó có Đại đoàn 308.


Sau khi hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, đêm 10 tháng 10 năm 1952, chiến dịch bắt đầu. Quân ta chia làm bốn cánh tiến lên Tây Bắc. Các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái huy động hàng trăm chiếc thuyền chở bộ đội vượt sông Thao tiến vào Tây Bắc. Trên hướng phối hợp, Đại đoàn 320 và Đại đoàn 304 luồn sâu, hoạt động phối hợp, phán tán sự đối phó của địch ở Liên khu 3.


Tây Bắc là địa bàn quen thuộc đối với Đại đoàn 308, song cuộc hành quân của Đại đoàn lần này cũng gặp nhiều khó khăn vì sức khỏe bộ đội giảm, lại hành quân xa, mang vác nặng, thời tiết mưa lũ không thuận lợi.


Mở đầu chiến dịch trên hướng chủ yếu. Đại đoàn 308 được tăng cường một tiểu đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 312, một tiểu đoàn pháo 75mm, một tiểu đoàn cối 120mm, hai đại đội phòng không của Sư đoàn 316 có nhiệm vụ: Tiến công vị trí đầu não của địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, cụ thể là các mục tiêu Nghĩa Lộ phố, Pú Chạng và Cửa Nhì, cụ thể là Trung đoàn 102 có nhiệm vụ tiêu diệt Pú Chạng, Trung đoàn 88 tiêu diệt Nghĩa Lộ phố và Trung đoàn 36 tiêu diệt Cửa Nhì.


Ngày 17 tháng 10 năm 1952, bộ đội Đại đoàn 308 bắt đầu vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, tổ chức lực lượng bao vây các cứ điểm của địch.


Rạng sáng ngày 18 tháng 10 năm 1952, sau đợt pháo kích chuẩn bị phát huy hiệu quả, Trung đoàn 102 chia làm 3 hướng tiến công Pú Chạng, nơi có khoảng 300 tên địch chốt giữ. Trận đánh diễn ra ác liệt, địch thả bom Napan trúng đội hình xung phong của ta, làm 34 cán bộ, chiến sĩ ta bị thương, trong đó có trung đoàn phó Hùng Sinh. Khi vượt cửa mở qua bãi mìn lại thêm 12 đồng chí bị thương vong. Bị tiến công dữ dội, địch cho máy bay ném bom vào trận địa, Tiểu đoàn trưởng Vũ Phương hy sinh ngay dưới chân đồi. Song, với tinh thần chiến đấu dũng cảm của bộ đội, đến 20 giờ cùng ngày ta làm chủ cứ điểm Pú Chạng, chỉ huy sở Phân khu Nghĩa Lộ. Toàn bộ quân địch bị tiêu diệt và bị bắt, trong đó có tên thiếu tá chỉ huy của địch.


Ở hướng Nghĩa Lộ phố, nhận thấy kết quả của Trung đoàn 102 có chiều hướng tốt, Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ ra lệnh ngay cho Trung đoàn 88 chớp thời cơ tiến đánh Nghĩa Lộ phố, không chờ pháo binh chi viện. Chỉ sau hơn 2 giờ chiến đấu, đến 5 giờ 37 phút ngày 18 tháng 10 năm 1952. Trung đoàn 88 tiêu diệt xong Nghĩa Lộ phố, diệt hơn 100 tên, bắt hơn 200 tên, thu toàn bộ vũ khí trang bị chiến đấu.


Ngày hôm sau, 19 tháng 10 năm 1952, Trung đoàn 36 tiến đánh Cửa Nhì, bị địch ném bom Napan và bắn phá dữ dội, thương vong nhiều. Sau khi củng cố lực lượng, Trung đoàn 36 nổ súng tiến công vào lúc 22 giờ, đúng thời điểm địch tập trung quân để rút chạy, rất nhanh gọn, ta tiêu diệt 100 tên, bắt 82 tên (có 2 sĩ quan chỉ huy).


Trong đợt 1 chiến dịch, Đại đoàn 308 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu diệt và làm tan rã hơn 800 tên địch, thu hơn 600 khẩu súng, pháo các loại (trong đó có 2 khẩu pháo lựu, 10 khẩu súng cối, 54 khâu trung liên, đại liên và trọng liên).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Chín, 2025, 08:43:23 pm
Sau khi kết thúc đợt 1, các lực lượng ta tích cực chuẩn bị cho đợt tiến công thứ 2. Trong khi đó, địch mở cuộc hành quân Loren với lực lượng lớn, gồm 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn xung kích, 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn cơ giới, 7 đại đội công binh do Đờ Linarét, Tư lệnh Bắc Bộ trực tiếp chỉ huy đánh lên Phú Thọ nhằm phá hủy kho tàng và tiêu diệt chủ lực của ta phân tán lực lượng ta ở hướng Tây Bắc. Trung đoàn 176 phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tích cực ngăn chặn địch. Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) được lệnh cấp tốc hành quân về Phú Thọ phối hợp chiến đấu với Trung đoàn 176 và Tiểu đoàn 183 (thuộc Trung đoàn 246) và bộ đội địa phương. Các đơn vị khác kiên quyết vượt sông Đà tiếp tục chiến dịch Tây Bắc. Trung đoàn 102 và Trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 cùng với 2 đại đoàn 316 và 312 tiến công và cao nguyên Mộc Châu.


Trung đoàn 36 vượt hơn 200 km trở về Phú Thọ, cán bộ các cấp vừa hành quân vừa bàn phương án đánh địch. Địch được tin ta đưa chủ lực về nên vội vã ra lệnh rút lui. Từ phương án dự kiến đánh đồn Chân Mộng. Trung đoàn 36 chuyển sang phục kích địch ở Chân Mộng - Trạm Thản. 10 giờ sáng, sau khi được máy bay và pháo binh dọn đường, địch bắt đầu rút quân. Đúng theo dự kiến của ta, chờ cho 40 xe địch vượt qua Trạm Thản, quân ta bắt đầu nổ súng, trận địa phục kích kéo dài hơn 1km. Địch hoàn toàn bị bất ngờ, quân địch ở đồn Chân Mộng cũng vội vã rút chạy, Tiểu đoàn 84 hành quân gấp rút tới truy kích và tiêu diệt thêm một số tên. Trung đoàn 36 giành thắng lợi giòn giã, phá hủy 44 xe cơ giới (có 18 xe tăng, xe học thép), diệt hơn 200 tên địch và bắt 84 tên. Tuy nhiên, trong trận chiến đấu này, ta cũng bị thương vong một số, Tiểu đoàn trưởng Sơn Mã đã anh dũng hy sinh.


Phát huy thắng lợi, Trung đoàn 36 mở trận tập kích vào vị trí núi Quyết, diệt 1 đại đội và sở chỉ huy Tiểu đoàn 3 ngụy.

Cùng trong thời gian đó, Trung đoàn 102 và Trung đoàn 88 vượt sông Đà tiêu diệt địch ở Tây Bắc. Ngày 18 tháng 11 năm 1952, Tiểu đoàn 79 (Trung đoàn 102) tiến đánh Hát Tiếu, bắt 90 tên, diệt 8 tên. Ngày 19 tháng 11 năm 1952, trên đường hành quân tới Mường Lụm, Tiểu đoàn 29 (Trung đoàn 88) bắt gọn một tiểu đoàn địch. Qua khai thác tù binh, chỉ trong vài giờ làm công tác chuẩn bị, sẩm tối, Tiểu đoàn 29 dùng tù binh dẫn đường, sau 25 phút tiến công tiêu diệt xong vị trí Mường Lụm, tiêu diệt gần 100 tên, 200 tên bị bắt. Đây là trận tiến công cứ điểm đạt hiệu suất chiến đấu cao (ta hy sinh và bị thương 10 người). Trung đoàn 88 tiếp tục truy kích địch trên đường 41, hướng Chiềng Đông, Cò Nòi, Hát Lót, diệt gọn Tiểu đoàn ngụy số 55 và 1 đại đội dù lê dương. Truy kích địch đến Nà Sản thì bị địch chặn lại, Trung đoàn 88 tập kích Pú Hồng không thành công nên phải lui quân chờ lệnh mới.


Các đơn vị bạn tiến công vào Thuận Châu và Mộc Châu tiêu diệt một loạt cứ điểm.

Trước sức mạnh tiến công của ta, địch ờ Chiềng Đông, Cò Nòi vội rút về Nà Sản.

Đến ngày 22 tháng 11 năm 1952, toàn bộ quân địch ở Thuận Châu, Sơn La cũng rút lui về Nà Sản, ta giải phóng hoàn toàn thị xã Sơn La.

Ngày 19 tháng 11 địch ở Tú Lệ và một số vị trí khác hoảng hốt chạy về Nà Sản. Tướng Xalăng lập cầu hàng không từ Hà Nội lên tăng cường cho Nà Sản, lập tuyến phòng thủ sông Đà, biến Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm mạnh. Đến cuối tháng 11 năm 1952, quân địch tại Nà Sản tăng lên 8 tiểu đoàn và 8 đại đội bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo, 1 đại đội công binh với 1.200 tên.


Nhận thấy tình hình địch hoang mang, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tập trung 3 đại đoàn: 308, 312, 316 mở đợt tiến công thứ 3 của chiến dịch vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản.


Trung đoàn 102 và Tiểu đoàn 322 (Trung đoàn 88) tổ chức tiến công cứ điểm Pú Hồng, chỉ chưa đầy 1 giờ đã chiếm gọn trận địa. Tuy nhiên, địch cho máy bay ném bom, dùng bộ binh phản kích rất quyết liệt, gây cho ta nhiều thương vong và chiếm lại vị trí Pú Hồng.


Các đơn vị bạn tổ chức tiến công ở các hướng khác vào Nà Sản không thành công.

Trước tình hình bộ đội mệt mỏi, lại chưa quen đánh Tập đoàn cứ điểm, ta chủ động kết thúc chiến dịch.

Sau gần 2 tháng tham gia chiến dịch Tây Bắc, Đại đoàn 308 đã chiến đấu nhiều trận xuất sắc, giành được thắng lợi lớn (tiêu diệt và làm tan rã, bắt hơn 1.000 tên địch, phá hủy và thu được hàng trăm xe cơ giới, tiêu biểu là trận phục kích ờ Chân Mộng - Trạm Thảm trận Nghĩa Lộ phố, Pú Chạng. Chỉ riêng trong đợt đầu chiến dịch cả 3 trung đoàn đều lập công, số vũ khí thu được lên tới 600 khẩu súng các loại (có 2 khẩu lựu pháo 105mm, 10 súng cối, 5 đại liên, trung liên và trọng liên).


Với những thành tích xuất sắc trong chiến dịch, Đại đoàn 308 được nhận giải thưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các đơn vị thuộc đại đoàn như Trung đoàn 88 được thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì, Trung đoàn 36 và Trung đoàn 102 được thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, Tiểu đoàn 54 (Trung đoàn 102) được thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì. Ngoài ra, còn nhiều cán bộ, chiến sĩ được khen thưởng. Các đồng chí Trung đoàn trưởng Phạm Hồng Sơn, Thái Dũng, Vũ Yên và Chính ủy Trung đoàn 36 Lê Linh được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.


Có được những thành tích xuất sắc đó là do đại đoàn thường xuyên giáo dục về đường lối Chiến tranh nhân dân của Đảng và vai trò của ba thứ quân trong lực lượng vũ trang nhân dân, biết dựa vào dân để khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong quá trình huấn luyện và chiến đấu, đại đoàn luôn đề cao kỷ luật, khắc phục mọi khó khăn, nêu cao quyết tâm, giữ vững mối quan hệ hiệp đồng tác chiến với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân trên các địa bàn tác chiến. Đó cũng chính là những bài học kinh nghiệm quý báu cần được vận dụng và phát huy.


Ngày nay trong hoà bình, cùng với nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 vẫn giữ vững truyền thống Quân Tiên Phong anh hùng, luôn luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Chín, 2025, 08:46:11 pm
ĐẠI ĐOÀN 312 TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC NĂM 1952

ĐẢNG ỦY - CHỈ HUY SƯ ĐOÀN 312


Đại đoàn 312 thành lập ngày 27 tháng 12 năm 1950, là một trong những đơn vị chủ lực, cơ động của Bộ. Trải qua 62 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Đại đoàn luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, trong đó, vào mùa thu năm 1952 dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng. Sư đoàn 312 đã trực tiếp tham gia chiến đấu trong chiến dịch Tây Bắc, giành được nhiều thắng lợi to lớn, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lên một giai đoạn thắng lợi mới.


Tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm mục đích: Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, giải phóng một phần đất đai có tính chiến lược quan trọng. Đại đoàn 312 được vinh dự lên đường tham gia chiến dịch.


Trước khi lên đường vào chiến dịch Tây Bắc, cán bộ, chiến sĩ đại đoàn được học tập tài liệu "Cách mạng Việt Nam" "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi", qua đó thấm nhuần ý thức giai cấp, nhận rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào cuộc kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi. Đồng thời, các đơn vị tích cực tập luyện quân sự, diễn tập kỹ thuật, chiến thuật công kiên, quân số, vũ khí trang bị được bổ sung đầy đủ, cán bộ được sắp xếp bố trí đủ, ai cũng náo nức được nhận nhiệm vụ, lập công.


Đợt 1 chiến dịch. Đại đoàn 312 được phối thuộc 1 đại đội sơn pháo 75mm, một trung đội súng cối 120 (2 khẩu), 1 đại đội công binh, có nhiệm vụ diệt quân địch trên đường Gia Hội đi Nghĩa Lộ, tiêu diệt vị trí Sài Lương (đông bắc Nghĩa Lộ 14km) và chuẩn bị đánh vị trí Gia Hội.


Sau khi tiêu diệt Sài Lương, Trung đoàn 141 (thiếu Tiểu đoàn 16) về Bản Tủ (bắc Nghĩa Lộ 6km) là lực lượng dự bị cho chiến dịch. Tiểu đoàn 16 phối thuộc cho Đại đoàn 308 diệt các cứ điểm Nghĩa Lộ, Pú Chạng, Cửa Nhì.


Để tạo bất ngờ, các lực lượng tham gia chiến dịch tập kết ở tả ngạn sông Thao. Đêm 10 tháng 10 năm 1952, các trung đoàn chia làm 4 mũi vượt sông bằng hàng trăm chiếc thuyền nan của nhân dân Phú Thọ, Yên Bái.


Đại đoàn 312 tiến theo 2 mũi. Trung đoàn 209, Trung đoàn 165 và Đại đoàn bộ từ hướng Bắc vượt qua đèo Nậm Bằng tiến vào bao vây Nậm Mười, Bán Tú (trên đường diệt một đồn nhỏ để mở đường). Trung đoàn 141 vượt đèo Khe Lóng, tiến vào Sài Lương. 15 giờ ngày 14 tháng 10. Trung đoàn 141 nổ súng mở màn chiến dịch. Địch trong đồn Sài Lương bí mật rút xuống hầm, gọi máy bay oanh tạc dữ dội xung quanh đồn. Sau 20 phút, ta phá xong hàng rào, bộ đội xông vào đồn, nhưng lên đồn mới biết được lực lượng lớn của địch đã rút xuống khe suối, chỉ để lại một bộ phận nhỏ để đối phó với ta bằng lựu đạn, tiểu liên rồi rút chạy.


Ta chỉ diệt được 5 tên, bắt 4 tên. Tù binh khai ngay từ ngày 3 tháng 10 địch đã phát hiện dấu vết vào trinh sát của ta.

Chiếm được cứ điểm Sài Lương nhưng Trung đoàn 141 không hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch do nắm địch không kỹ càng, tỉ mỉ, lộ bí mật, vây không kín. Tuy vậy, với việc chiếm được Sài Lương, ta đã nhổ được 1 điểm án ngữ của địch, mở đường cho các đơn vị bạn vào đánh Nghĩa Lộ.


Đêm ngày 17 tháng 10. Đại đoàn 308 tiêu diệt đồn Pú Chạng và Nghĩa Lộ, bắt toàn hộ chỉ huy phân khu. Mất Nghĩa Lộ, đồn Gia Hội bị cô lập. Địch cho máy bay ném bom chặn ta rồi lặng lẽ rút lui. Sau khi Đại đoàn 308 chiếm được Nghĩa Lộ, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 sử dụng Tiểu đoàn 542 chặn đường địch bỏ chạy trên đoạn Phong Du - Tú Lệ,đồng thời điều Tiểu đoàn 115 và Tiểu đoàn 564 chuẩn bị đánh công kiên Gia Hội. Bộ đội đã vào chiếm lĩnh trận địa, phát hiện địch đã rút chạy. Tiểu đoàn 115 vội quay ra đuổi địch theo hướng Gia Hội - Tú Lệ.


Tối 18 tháng 10, khi Tiểu đoàn 115 vận động đến cách Tú Lệ 7km thì gặp địch, ta nổ súng. Địch chạy vào cứ điểm, dùng hỏa lực chống trả. Các chiến sĩ lao theo địch vào đồn, nhưng do không tổ chức yểm trợ chu đáo nên bị hoả lực và chướng ngại vật địch ngăn lại, bị thương vong. Trước tình hình đó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 lệnh cho Tiểu đoàn 115 phải đánh ngay Tú Lệ nếu không địch sẽ bỏ chạy. Do chưa nắm chắc địch, không có bộc phá,hỏa lực chế áp nên Tiểu đoàn 115 chấp hành lệnh bằng cách vây chặt đồn, dùng một bộ phận nhỏ đánh vào chỗ sơ hở bên ngoài, vừa đánh vừa điều tra địch, chờ trung đoàn chi viện.


Đến 23 giờ ngày 18, Đại đội 505 tiến vào sát sân hay vừa lúc gặp toán địch từ Gia Hội chạy về. Ta nổ súng. Địch bỏ chạy. Ta bắt 15 tên và đuổi đến cổng đồn. Tiểu đoàn 115 nhận định địch đang lúng túng, đánh có thể thắng và hạ quyết tâm đánh đồn ngay không cần phải tiếp tục trinh sát. Đúng 1 giờ sáng ngày 19, Tiểu đoàn nổ súng. Hai đại đội 501 và 503 xung phong bị dây thép bùng nhùng cản lại, bãi mìn nổ. Địch dùng hoả lực mạnh chống trả. Bộ đội bị thương vong nhiều ở cửa mở.


Như vậy là do nhận định sai, nắm địch không chắc, hành động vội vàng, Tiểu đoàn 115 mắc sai lầm. Quân số địch đông (500 tên) và tổ chức trận địa khá vững chắc, có dây thép gai và mìn là hệ thống chướng ngại vật, lại nghi binh rút chạy để lừa ta vào túi lớn. Ta thương vong nhiều ngay ngoài cửa mở. Tuy vậy, Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên vẫn quyết tâm chiếm bằng được điểm cao, tiếp tục lệnh cho các mũi xung phong. Một lần nữa tiểu đoàn lại thương vong trước hàng rào địch. Trời sáng, địch dùng hoả lực giội vào đội hình ta, thương vong lên cao hơn.


Khi nhận ra tình hình nguy hiểm, Tiểu đoàn lệnh rút ra để chặn đường rút chạy của địch thì đã muộn. Nhìn địch rút chạy mà đơn vị không còn sức đuổi, lại mất liên lạc với trung đoàn, tiểu đoàn phải rút vào khe núi băng bó thương binh, củng cố đội hình. Tiểu đoàn 115 đã không hoàn thành nhiệm vụ.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Chín, 2025, 08:47:39 pm
Trong khi Tiểu đoàn 115 gặp khó khăn ở Tú Lệ thì đêm 18, Sở chỉ huy đại đoàn mất liên lạc với các đơn vị. Đại đoàn trưởng và Chính ủy cùng một số tổ điện đài xuống Tiểu đoàn 154 (Trung đoàn 209) động viên bộ đội, trực tiếp nắm Tiểu đoàn này đuổi địch. Trước nhiệm vụ khẩn trương, dù cơm đang nấu dở, anh em đang đói, nhưng tất cả cơ động ngay và đuổi địch thâu đêm. Sáng ngày 19, khi lực lượng ta đến Tú Lệ thì vừa lúc địch rút khỏi cánh đồng. Quên cả đói, mệt, các chiến sĩ Tiểu đoàn 154 leo lên đèo Cao Phạ bám sát địch.


Chiến sĩ Chu Viết Sòi cắp trung liên tắt rừng đón đầu bắn quét địch ở ngang dốc và xông thẳng vào đội hình địch. Đuổi địch đến dốc vừa đói, vừa mệt, có lúc Sòi gục xuống, nhưng lại vùng dậy đuổi tiếp. Anh đã nêu tấm gương thọc sâu,chiến đấu anh dũng. Trận truy kích này ta diệt được hai đại đội lính dù thuộc Tiểu đoàn 2 (2èBPC), bắt 27 tên.


Đêm ngày 19 tháng 10, Đại đoàn trưởng gọi Trung đoàn trưởng 165 và Tiểu đoàn trưởng 115 lên phân tích khuyết điểm và phê bình nghiêm khắc. Chính trị viên Tiểu đoàn 115 Ngọc Châu đã xin với đại đoàn cho đơn vị lập công để sửa chữa. Đại đoàn cho Tiểu đoàn 115 thay Tiểu đoàn 154 đuổi địch theo hướng Tú Lệ - Cao Phạ - Ngọc Chiên - Ít Ong với chỉ thị: Tiểu đoàn trưởng và hoả lực đi đầu khi đuổi địch, gặp địch phải phát huy hoả lực mạnh, đuổi nhanh, chia cắt địch từng mảng, đuổi sát bọn đi đầu. Hàng binh, thương binh để phía sau giải quyết.


Lúc 10 giờ ngày 20 tháng 10, Tiểu đoàn 115 vượt đèo Cao Phạ. Trên đường tiến ta gọi hàng được 80 tên. Địch dùng một toán phục kích trên đèo, cùng máy bay chặn ta. Chiến sĩ thi đua toàn quốc Hoàng Đình Kỳ cùng 7 chiến sĩ đã lao thẳng lên đèo bất ngờ đánh vào sau lưng toán phục kích, bắt 20 tên lính ngụy và 1 thiếu úy Pháp. Địch cho máy bay ném bom dữ dội làm Tiểu đoàn 115 bị chia cắt làm đôi. Tuy nhiên, toán đầu 50 người do Tiểu đoàn trưởng chỉ huy, đến 18 giờ tối gặp địch ở chân đèo bên kia đã chia thành 2 mũi, tập kích ngay, diệt và bắt 1 trung đội địch thuộc Tiểu đoàn 57 vừa nhảy dù xuống chặn ta. Sau đó Tiểu đoàn 115 quyết định chọn 80 người lập một đội xung kích lao về phía Ít Ong. Vào lúc 4 giờ 30 phút sáng ngày 21, địch bí mật rút khỏi Ít Ong. Chạy về đến Sơn La, chúng gặp bộ đội ta truy kích. Anh em kêu gọi, bắt được một số hàng binh, số còn lại chạy thoát, cả vùng Mường La được giải phóng.


Trong trận truy kích Tú Lệ - Ít Ong, Tiểu đoàn 115 đã bắt 187 tên, thu 12 trung liên, 8 đại liên và hơn 100 súng các loại.

Sau 13 ngày chiến đấu, ta quét sạch địch khỏi khu vực sông Thao và sông Đà, bộ đội ở lại Ít Ong giúp củng cố chính quyền địa phường và chuẩn bị đợt 2 chiến dịch Tây Bắc.

Trong đợt 1 chiến dịch, Đại đoàn 312 căn bản hoàn thành nhiệm vụ, diệt 150 tên, bắt 450 tên. Nhưng nhiệm vụ chính là tiêu diệt sinh lực địch chưa đạt yêu cầu do nắm địch không chắc, lúng túng, thiếu mưu trí, linh hoạt, đối phó với tình hình khi địch có nhiều thay đổi. Các đơn vị đã tổ chức tự phê bình và phê binh ngay tại trận.


Kết thúc đợt 1 chiến dịch, do mưa lũ, việc tiếp tế vận chuyển trên địa bàn rừng núi gặp khó khăn. Mặt trận phát động "Chiến dịch gạo". Đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Cung cấp của mật trận trực tiếp huy động lực lượng vận tải và tổ chức quyên góp trong nhân dân. Để tiết kiệm gạo trong lúc dừng chuẩn bị đợt 2 chiến dịch, bộ đội ăn cháo, đào củ mài, dè sẻn từng hạt gạo để dành cho đợt chiến đấu tiếp theo.


Để đối phó với hoạt động của ta, địch đổ thêm 9 tiểu đoàn cơ động xuống Tây Bắc, đưa số quân lên 16 tiểu đoàn và 32 đại đội, đồng thời mở cuộc hành quân Loren dùng ba binh đoàn cơ động đánh Phú Thọ, phá hậu phương chiến dịch của ta. Nhưng cuộc hành quân của địch đã bị Trung đoàn 246 và Trung đoàn 176 của Đại đoàn 316 cùng các lực lượng dân quân du kích địa phương đập tan. Ta giữ vững quyền chủ động về chiến lược và chiến dịch.


Bước vào đợt 2 chiến dịch Tây Bắc, Tổng Quân ủy chủ trương tập trung 6 trung đoàn mở hướng tiến công chủ yếu vượt sông Đà, đánh vào cao nguyên Mộc Châu, đồng thời tổ chức mũi vu hồi cùng các đơn vị của Tây Bắc do đồng chí Bằng Giang chỉ huy mang mật danh "Mặt trận Y13" đánh vào sau lưng địch ở Sơn La, nam Lai Châu. Bộ tăng cường Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) cho mặt trận này.


Quân địch ở Mộc Châu, Sơn La tổ chức 2 khu vực phòng thủ. Khu Lai Châu - Sơn La do đại tá Gin (Gillé) chỉ huy. Phòng tuyến Tạ Khoa - Mộc Châu do Lăngsađơ (Lansade) chỉ huy.

Đêm ngày 15 và 16 tháng 11 năm 1952. Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 165) vượt sông ở khu vực Vạn Yên, có nhiệm vụ tiêu diệt Tiểu đoàn Marốc số 3 và phối hợp với các cánh quân bạn để phá vỡ phòng tuyến hữu ngạn sông Đà. Cầu phao chưa bắc xong, Trung đoàn trưởng Vũ Nam Long đã nhảy xuống bơi thử và quyết định tổ chức Trung đoàn 141 thành nhiều đội gồm những người biết bơi vượt sóng sang trước để kịp thời làm nhiệm vụ.


Trưa ngày 18 tháng 11, Trung đoàn 209 do Trung đoàn trưởng Hoàng Cầm chỉ huy áp sát Bản Hoa, bao vây và điều tra địch giữa ban ngày. Qua trinh sát, ta biết Bản Hoa do đại bộ phận Tiểu đoàn Marốc số 3 gồm hơn 300 tên chiếm giữ, quan ba Rukét (Roenquett) chỉ huy.


Đêm 18 rạng ngày 19 tháng 11, lực lượng ta chiếm lĩnh trận địa Bản Hoa. Tổng tư lệnh đã gọi điện đến Trung đoàn trưởng trực tiếp động viên cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 209. Vào lúc 3 giờ sáng ngày 19, bộ đội nổ súng. Địch bị bất ngờ. Sau 20 phút bộc phá mở cửa, xung kích tràn vào từ 3 hướng, chia cắt địch ra để tiêu diệt. Mũi nhọn của đồng chí Trần Can chọc thắng vào cứ điểm địch, vừa đánh vừa gọi hàng được 20 tên. Tân binh Trần Thành vừa phá xong hàng rào đã xung phong vào đánh chiếm hầm ngầm địch. Đến õ giò 30 phút sáng ngày 19, địch phá rào chạy. Lực lượng ta bao vây, truy quét địch, diệt và bắt 300 tên. Quan ba Rukét bị bắt sống. Nhiều đồng bào người dân tộc bị địch bắt giam được giải phóng.


Đây là lần đầu tiên đại đoàn đánh công kiên không có chuẩn bị trước. Trận đánh giành thắng lợi giòn giã.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Chín, 2025, 08:49:07 pm
Trong khi đó, Trung đoàn 141 tiến vào đánh Tà Pình, phát hiện địch đã rút chạy, nên Trung đoàn nhanh chóng quay về đánh Ba Lay, một vị trí nằm trên đường Vạn Yên đi Mộc Châu. Tại đây địch có hai đại đội đóng trên mỏm cao.

Lúc 4 giờ sáng ngày 20, pháo và cối 120mm của ta bắn chuẩn bị. Sau 7 phút bắn pháo, đội bộc phá của Lê Văn Tý chiến sĩ thi đua toàn quốc đã phá xong các lớp rào thép gai. Bị đạn xuyên qua ngực, đồng chí Tỷ vẫn động viên anh em trong tổ hoàn thành nhiệm vụ rồi mới ngã xuống.Tiểu đội trưởng Tống Tinh bị thương gãy tay vẫn cắp tiểu liên xung phong cho đến khi loạt đạn địch xuyên qua người mới chịu ngã. Tiểu đội trưởng Lê Văn Húm bị thương, tự băng bó rồi tiếp tục chỉ huy tiểu đội chiến đấu. Tiểu đoàn 16 phát triển vào tung thâm. Trong khi đó, mũi phía tây của Tiểu đoàn 11 bị hàng rào cản chưa phá được. Tiểu đội trưởng Hội đã đứng lên nâng hàng rào cho bộ binh vượt qua. Các chiến sĩ Mão, Lâm tự động ghép thành tổ chiến đấu đánh địch dưới hầm ngầm, gọi hàng 50 tên. Ta chiếm được Ba Lay, Tiểu đoàn Marốc số 3 hoàn toàn bị xoá sổ.


Trong lúc Đại đoàn 312 đánh Ba Lay, các đại đoàn bạn cũng công phá thắng lợi các cứ điểm Mường Lụm (19-11) và Mộc Châu (20-11). Hệ thống phòng thủ Mộc Châu của địch bị tan vỡ. Địch ở các cứ điểm ven sông Đà từ Hát Tiếu đến Tạ Khoa bỏ chạy co cụm về Nà Sản. Ta đuổi địch đến tận Nà Sản.


Ở hướng thọc sâu, đồng chí Lê Thủy, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 chỉ huy hai tiểu đoàn 542 và 564 vượt sông Đà (Tiểu đoàn 115 đang đuối địch ở Ít Ong). Tiểu đoàn của Tây Bắc vượt sông, đêm 7 tháng 11 tập kích Nậm Dín. Tiểu đoàn 542 và 910 phát triển, thọc vào Quỳnh Mai. Bị bất ngờ, địch ở cả hai tiểu khu Tuần Châu và Tuần Giáo đều bỏ chạy. Đường 41 từ Sơn La đi Lai Châu bị ta cắt đứt một đoạn dài 60km. Lai Châu và Tiểu khu Điện Biên Phủ cô lập.


Trước tình hình đó, địch cấp tốc điều hai tiểu đoàn chiếm lại Tuần Giáo - Lai Châu rồi hội quân chiếm lại Quỳnh Mai, khôi phục vùng hậu phương vừa bị mất.

Tiểu đoàn 542 phục kích trên đường 41 đánh tan Tiểu đoàn 57 (BVN), diệt 92 tên, bắt 183 tên, thu 2 cối 81mm và 200 súng các loại.

Tiểu đoàn 564 vượt sông Đà nhằm Tiểu khu Mường Sài tiến vào.

Tiểu đoàn 115 mất liên lạc với Trung đoàn, Đảng ủy Tiểu đoàn vẫn quyết nghị vượt sông, bám theo trung đoàn. Tiểu đoàn đã dùng một trung đội đốt đuốc hành quân qua đèo, khiến địch đoán nhầm là lực lượng lớn của ta đã vượt sông. Toàn tiểu đoàn vượt sông ở Mường Phin bằng thuyền độc mộc của nhân dân rồi thọc sâu với tốc độ 50km/ngày. Dọc đường trên Mường Pú, tiểu đoàn bất được 25 tù binh.


Đại đội 950 Tiểu đoàn 115 gặp địch ở dọc đường đã mưu trí bao vây rồi bất ngờ ập tới bắt hai tên chỉ huy, buộc chúng lệnh cho toàn đơn vị đầu hàng. Ta bắt 250 tên mà chỉ mất 1 băng tiểu liên thị uy. Đại đội 950 tiếp tục tiến công, diệt một đại đội Âu - Phi khác, bắt 1 đại úy Pháp, buộc bọn này phải dẫn đường đến Điện Biên Phủ.


Tiểu đoàn 564 (Trung đoàn 165) tiến vào Mường Phủi thắng liền 2 trận với hiệu suất cao do đánh bất ngờ và tổ chức đánh chính diện kết hợp vu hồi, diệt 16 tên, bắt 381 tên (có 2 quan ba, 3 quan hai, 7 quan một); thu 12 súng cối, 5 đại liên, 36 trung liên và 600 súng Pháp. Tổ liên lạc Nguyễn Văn Luân của Tiểu đoàn 115 dùng mưu lừa địch khiến địch tưởng ta có hàng đại đội, bắt một trung đội địch đầu hàng.


Bộ Tư lệnh "Y13" (Tư lệnh Bằng Giang, Phó Tư lệnh Lê Thuý, Chính ủy Song Hào) lệnh cho Tiểu đoàn 115 vận động gấp bao vây thị xã Sơn La. Tiểu đoàn đốt đuốc hành quân suốt đêm, đến nơi chỉ còn chặn được chiếc xe cuối cùng của địch đang rút chạy, bắt một trung đội do trung úy tình báo Pháp Cơvít chỉ huy. Tiểu đoàn tiếp tục truy lùng, gọi hàng 450 lính, 5 sĩ quan, 1 tri châu; thu 4 cối 81mm, 6 đại liên, 32 trung liên, 12 điện đài và 400 súng khác.


Khoảng 8 giờ sáng ngày 20 tháng 11 năm 1952, Tiểu đoàn 542 (Trung đoàn 165) tiến vào cánh đồng Điện Biên. Ta vừa nổ súng đánh trung đội cảnh giới thì cả tiểu khu địch đã bỏ chạy. Tiểu đoàn chủ lực Pháp do thiếu tá Găngxica chỉ huy bị ta truy đuổi. Địch bị bắt và ra hàng 552 tên.


Liên tiếp bị thua đau, đêm 22 tháng 11, tàn quân địch ở các nơi vùng bắc Sơn La tập trung về Nà Sản lập thành tập đoàn cứ điểm lớn gồm 28 cứ điểm có 8 tiểu đoàn phòng thủ. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch hạ quyết tâm tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản.


Đêm 30 tháng 11, Tiểu đoàn 115 (Trung đoàn 165) gấp rút tiến công Bản Hời phía bắc Nà Sản, cách trung tâm tập đoàn cứ điểm 2km để phối hợp với đơn vị bạn đánh Pú Hồng. Do phải nổ súng gấp để chấp hành mệnh lệnh phối hợp với đơn vị bạn, Tiểu đoàn 115 phải khắc phục rất nhiều khó khăn dùng thuốc bom thay bộc phá. Mọi việc chuẩn bị của tiểu đoàn đều diễn ra dưới các đợt phi pháo dịch. Trận đánh công kiên diễn ra vô cùng ác liệt ngay từ phút đầu. Do hết bộc phá, mở không hết rào, bộ đội ùn tắc ở cửa mở, bị thương vong nhiều. Sau hơn 1 giờ chiến đấu dũng cảm. Tiểu đoàn 115 làm chủ Bản Hời, diệt gần một đại đội địch.


Phát huy thắng lợi, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho Đại đoàn: Tiếp tục công kích tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Trung đoàn 209 được tăng cường lực lượng tiêu diệt Bản Vậy - cứ điểm chính trong cụm cứ điểm phòng ngự phía nam Nà Sản. Địch ở cứ điểm Bản Vậy, có hai đại đội lê dương, có hoả lực cầu vồng, pháo 57mm, với nhiều lô cốt, hầm ngầm vững chắc. Do một mũi tiến công của ta bị lộ, địch đã chủ động đối phó. Trung đội bộc phá mở cửa hầu như thương vong hết. Sau khi mở được cửa, bộ phận xung kích chiếm được một đoạn hào, nhưng do thương vong không đủ sức phát triển phải dừng lại. Gần sáng địch tăng cường hoả lực và phản kích. Ta không đủ sức đánh tiếp phải rút lui. Trận đánh không thành công.


Đêm ấy đơn vị bạn tiến công Nà Sản cũng không thắng lợi. Hôm sau địch cho quân nhảy dù tăng cường cho Nà Sản.

Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy Nà Sản là một tập đoàn cứ điểm vững chắc, mà ta chưa có kinh nghiệm đánh tập toàn cứ điểm nên kết thúc chiến dịch vào ngày 10 tháng 12. Trên cả hai mặt trận Đồng bằng và Tây Bắc, ta diệt 13.800 địch, giải phóng tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản) với diện tích 28.500km2, 250.000 dân. Căn cứ địa của ta được mở rộng.


Đài đoàn 312 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, diệt trên 4.000 địch, thu nhiều vũ khí. Qua chiến dịch, đại đoàn đã trưởng thành trong đánh công kiên và đánh vận động tiến công liên tục. Các đơn vị của đại đoàn đã vận dụng thành công nghệ thuật đánh thọc sâu, truy kích, kết hợp với địch vận và vận động nhân dân đấu tranh với địch bằng nhiều hình thức, nên hiệu suất chiến đấu cao. Nhiều gương chiến đấu dũng cảm, kiên cường, mưu trí xuất hiện. Tuy nhiên, qua những trận đánh không thành công ởNà Sản, đại đoàn tự nhận thấy sức mạnh chiến đấu và năng lực chỉ huy của cán bộ mới có khả năng giải quyết từng cứ điểm, cụm cư điểm, chứ chưa đánh được tập đoàn cứ điểm. Thực tế đó đã đặt ra trước đại đoàn yêu cầu mới về nâng cao sức mạnh chiến đấu, đủ sức hoàn thành những nhiệm vụ ngày càng nặng nể trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Chín, 2025, 08:52:02 pm
ĐẠI ĐOÀN 316 TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

ĐẢNG ỦY - CHỈ HUY SƯ ĐOÀN 316


Đại đoàn 316 được thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1951, tại làng Cốc Lùng, huyện Thoát Lãng (nay là huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, gồm có Trung đoàn 174 (tiền thân là Trung đoàn Cao - Bắc - Lạng), Trung đoàn 98, Trung đoàn 176, với quân số hơn 9.000 người. Cán bộ, chiến sĩ hầu hết là con em các dân tộc ở Việt Bắc, Đông Bắc đã từng tham gia chiến đấu nhiều trận, lập nhiều chiến công xuất sắc. Hơn một năm sau ngày thành lập, đại đoàn đã tham gia chiến đấu trong chiến dịch Tây Bắc 1952, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch.


Trước khi chiến dịch Tây Bắc diễn ra, theo kế hoạch chung của Bộ Tổng tư lệnh, đầu tháng 7 năm 1952, toàn đại đoàn bước vào đợt huấn luyện quân sự. Nội dung huấn luyện gồm các khoa mục kỹ thuật bộ binh, chiến thuật đánh công sự vững chắc, vận động, quân ứng chiến của địch... Sau huấn luyện đều có diễn tập thực binh tới cấp tiểu đoàn. Kết thúc đợt huấn luyện, các đơn vị đều hoàn thành vượt mức chỉ tiêu do Bộ đề ra. Qua quá trình củng cố và huấn luyện, các đơn vị trong đại đoàn đều trưởng thành lớn mạnh.


Đến tháng 9 năm 1952, trên cơ sở đánh giá đúng tình hình và tương quan lực lượng địch, ta, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch giải phóng Tây Bắc. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm các đại đoàn 316, 308, 312, 351 và Trung đoàn 148.


Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Bộ Tổng tư lệnh triệu tập Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch. Hội nghị được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và chỉ đạo. Người nói: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi...".


Đại đoàn 316 tham gia chiến dịch với nhiệm vụ của từng đơn vị như sau: Trung đoàn 174 cùng một bộ phận hỏa lực của đại đoàn, phối thuộc với Đại đoàn 308. Tiểu đoàn phòng không phối thuộc với Trung đoàn 36 đánh địch trên hướng Nghĩa Lộ. Trung đoàn 98 (thiếu Tiểu đoàn 938) và Tiểu đoàn 888 (Trung đoàn 176) do đại đoàn trực tiếp chỉ huy, đánh địch tại vùng Phù Yên - Sơn La. Trung đoàn 176 (thiếu Tiểu đoàn 888) và Tiểu đoàn 938 (Trung đoàn 98) ỏ lại Phú Thọ, sẵn sàng cơ động đánh địch và bảo vệ hậu phương chiến dịch. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đợt 1 chiến dịch, đại đoàn sẽ tập trung lực lượng vượt sông Đà, tiến đánh Tiểu khu Mộc Châu (Sơn La), mở thông đường 41, bảo đảm vận chuyển, tiếp tế của chiến dịch, phối hợp cùng các đơn vị bạn giải phóng tiếp các khu vực còn lại của Tây Bắc.


Ngày 12 tháng 9 năm 1952 Đại đoàn 316 lên đường đi chiến dịch.

Từ Phúc Trìu, Đèo Khế, Trung đoàn 174 và một bộ phận hỏa lực của đại đoàn tách khỏi đội hình vượt sông Lô ở Bình Ca, sang Yên Bái vượt sông Thao ở Âu Lâu tiến vào vị trí tập kết ở vùng Đá Trắng phối thuộc với Đại đoàn 308 trong đợt 1 của chiến dịch. Lực lượng còn lại của đại đoàn tiếp tục hành quân qua đèo Kháng Nhật rồi vượt sông Lô ở Phan Lương sang Phú Thọ, vượt tiếp sông Hồng ở Chí Chủ tiến vào Yên Lập, tập kết ở Thu Cúc, Lai Đồng (Thanh Sơn).


Ngày 22 tháng 9, Đại đội 813 được lệnh tách khỏi đội hình của Tiểu đoàn 888 cùng bộ phận trinh sát vượt lên trước đội hình bí mật qua sông Đà trong đêm, luồn sâu vào Mộc Châu chuẩn bị chiến trường cho nhiệm vụ của đại đoàn trong đợt 2 chiến dịch.

Sau khi vượt sông Lô đến Phú Thọ, các tiểu đoàn 970, 999 (Trung đoàn 176) và Tiểu đoàn 938 (Trung đoàn 98) được lệnh dừng lại để phối hợp với các lực lượng địa phương chuẩn bị phương án tác chiến và địa bàn hoạt động sẵn sàng cơ động đánh địch, đề phòng địch từ hướng Trung Hà, Việt Trì bất ngờ đánh vào sau lưng ta, cứu ngụy cho bọn địch ở mặt trận chính.


Ngày 12 tháng 10, tất cả các đơn vị của đại đoàn đã vào vị trí tập kết theo đúng kế hoạch, trong tư thế sẵn sàng đánh địch.

Ở hướng Nghĩa Lộ, Trung đoàn 98 đánh Bản Trại, Trung đoàn 174 đánh Ca Vịnh. Ba Khe. Đây là hai vị trí án ngữ khu vực ngã ba từ Yên Bái đi Sơn La và Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Trận địa của địch được bố trí rất kiên cố. 17 giờ 45 phút pháo binh ta bắt đầu nổ súng, ngay từ phút đầu đã mở xong cửa mở, ta nhanh chóng chiếm lô cốt đầu cầu, phát triển sâu vào đồn địch. Trước ngụy cơ bi tiêu diệt, địch bỏ chạy. Ta để lại 1 trung đội truy quét địch lực lượng còn lại gấp rút chấn chỉnh đội hình tiếp tục tiến công Ba Khe. Trong các đêm 14 và 15 tháng 10, địch ở Ba Khe, Thượng Bằng La, Đông Bồ, Khe Địa, Gốc Báng đều bỏ đồn chạy vào rừng. Trung đoàn 174 chuyển sang lùng quét quân địch, bắt 95 tên, diệt 28 tên trong đó có 3 tên sĩ quan Pháp.


Trên hướng Phù Yên, Trung đoàn 98 đánh Bản Trại (La Phù) và Bản Mo (Sở chỉ huy Tiểu khu Phù Yên).

Tiểu đoàn 439 đánh Bản Trại đã nhanh chóng giành thắng lợi. Địch ở Bản Trại và các đồn xung quanh hoảng loạn bỏ chạy về Bản Mo.

Ngày 17, Trung đoàn 98 chuẩn bị tiến công Bản Mo. 1 giờ sáng ngày 18 tháng 10 pháo ta đã ngắm bắn trực tiếp vào các lô cốt bê tông, cùng đại liên nhanh chóng bịt chặn các lỗ châu mai và hỏa điểm địch. Đạn cối các loại bắn vào đài chỉ huy thông tin, trận địa pháo tạo đòn phủ đầu khiến địch choáng váng. Các mũi xung kích của ta nhanh chóng thọc sâu đập tan sức đế kháng địch. Sau 55 phút chiến đấu, toàn bộ quân địch bị tiêu diệt và bắt sống, trong đó có tên quan ba chỉ huy tiểu khu và tên tri châu Phù Yên.


Các hướng khác của chiến dịch đã giành được thắng lợi dồn dập. Mặt trận được mở rộng nhanh chóng. Trong 10 ngày chiến đấu bộ đội chủ lực cùng với các lực lượng địa phương đã quét sạch địch trong cả một khu vực rộng lớn giữa sông Thao và sông Đà từ Vạn Yên (Sơn La) đến Quỳnh Nhai (Lai Châu).


Để củng cố phòng tuyến còn lại ở hữu ngạn sông Đà, thực dân Pháp một mặt điều gấp 9 tiểu đoàn cơ động lên Tây Bắc; mặt khác mở cuộc hành quân Loren với một lực lượng lớn đánh lên Phú Thọ hòng phá hậu phương chiến dịch của ta, buộc chủ lực ta phái quay về đối phó. Tình huống này đúng như ta đã dự đoán trước. Ta vẫn quyết tâm phát huy thắng lợi tiếp tục bước vào đợt 2 của chiến dịch, đồng thời sẵn sàng đập tan cuộc hành quân Loren của địch.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Chín, 2025, 08:53:28 pm
Ngày 28 tháng 10 năm 1952, địch bắt đầu đánh lên Phú Thọ bằng cả đường thủy và đường bộ. Trung đoàn 176 cùng với Trung đoàn 246 và lực lượng địa phương liên tiếp đánh địch ở sông Thao, Vĩnh Lại, Ngọc Tháp, thị xã Phú Thọ rồi ở Cầu Tráng, Trù Mật, Đồi Trà... tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Sau đó để đương đầu với một lực lượng địch đông gấp nhiều lần, ta phân tán thành những đơn vị nhỏ lẻ đánh phục kích, tập kích tiêu hao và kiềm chế địch, bảo vệ nhân dân và kho tàng. Trung đoàn 176 đánh địch tại Năng Yên, Nậu Phó, Phú Lộc, Mai Đình, Thanh Mại diệt trên 100 tên. Ngày 27 tháng 11, sau những thất bại hết sức nặng nề địch phải rút về Việt Trì, Trung Hà. Âm mưu đánh chiếm Phú Thọ để cứu ngụy cho Tây Bắc của địch đã thất bại.


Trên chiến trường chính Tây Bắc quân và dân ta đã tích cực chuẩn bị cho đợt 2 của chiến dịch, đặc biệt là công tác chuẩn bị bộ đội và công tác bảo đảm.

Đêm ngày 27 tháng 10. Trung đoàn 98 lặng lẽ vượt sông Đà bí mật, an toàn và nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Tới hết đêm ngày 6 tháng 11, các đơn vị của đại đoàn đều đã vượt sông theo đúng kế hoạch. Phát hiện lực lượng ta vượt sông Đà, ngày 5 tháng 11 địch điều gấp Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn cơ động Marốc) từ Bản Hoa về Ba Lay để thăm dò và đẩy lực lượng ta ra xa.


Ngày 7 tháng 11, Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) đang vây ép Ba Lay thì được lệnh bàn giao nhiệm vụ đánh đồn cho Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) để hành quân về làm lực lượng dự bị cho Trung đoàn 174 tiến đánh Mộc Châu.

Mộc Châu là vị trí sở chỉ huy tiểu khu của địch nằm án ngữ trên ngã ba đường 41 từ Hòa Bình lên Sơn La và từ Mộc Châu qua Pa Háng sang sầm Nưa (Thượng Lào). Kiểm soát được Mộc Châu sẽ quyết định cho việc triển khai tuyến hậu cần chiến dịch từ Hòa Bình lên, bảo đảm cho các đơn vị chủ lực tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm. Vì vậy, quyết tâm của Đảng ủy và chỉ huy đại đoàn là tập trung phần lớn lực lượng của đại đoàn kiên quyết tiêu diệt địch ở Mộc Châu, mở thông đường 41, tạo điều kiện cho ta tiến vào giải phóng Sơn La và các địa bàn quan trọng khác.


Đồn Mộc Châu nằm trên ngọn núi đá tai mèo độc lập có nhiều vách đứng, hiểm trở. Lợi dụng các mỏ đá, địch triển khai một hệ thống lô cốt kiên cố chia thành nhiều tầng hỏa lực, có khả năng chi viện đắc lực cho nhau. Các hầm cố thủ, hầm chỉ huy đều bằng bê tông, cốt sắt, hệ thống thông tin liên lạc được triển khai tốt nối với Sơn La, Hà Nội. Đồn trưởng là quan ba Vanhxăng có kinh nghiệm trong đàn áp và dày dạn trong ứng phó với các hoạt động của ta trên vùng rừng núi. Thực hiện chính sách dồn dân, ngăn cách dân với cách mạng, cách đồn khoáng 500m về phía tây nam địch tổ chức một khu tập trung với hàng nghìn dân.


Để đánh Mộc Châu, lực lượng của đại đoàn được bố trí như sau:

- Trung đoàn 174 được tăng cường 1 đại đội sơn pháo 75mm, 1 đại đội cối 120mm là lực lượng tiến công chủ yếu.

- Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) là lực lượng dự bị.

- Tiểu đoàn 439 (Trung đoàn 98) và Tiểu đoàn 888 (Trung đoàn 176) làm nhiệm vụ hao vây, chặn viện, đánh quân đổ bộ đường không.

Cách đánh đồn Mộc Châu được xác định là vận dụng mạnh bạo lối đánh luồn nhanh, thọc sâu bất ngờ chiếm đỉnh núi rồi từ trên cao đánh tỏa xuống phối hợp với các mũi đánh từ dưới lên.

Ngày 16 tháng 11 năm 1952, đại đoàn bắt đầu triển khai lực lượng áp sát đồn địch. Ngày 19, quân ta đã siết chặt vòng vây. Đêm ngày 19 ta đột nhập giải tán khu tập trung, đưa dân ra vùng an toàn. Địch phát lệnh báo động toàn khu vực.

23 giờ 30 phút, ta nổ súng tiến công, các loại hỏa lực và vũ khí của ta dồn dập bắn vào khu trung tâm. Địch hốt hoảng bỏ chạy, ta lợi dụng thế có lợi dùng đại liên bắn xối xả xuống đồn chính. Các đội bộc phá lao lên đánh mở hàng rào trên các hướng. Địch dùng hỏa lực chống trả quyết liệt. Tiểu đoàn 255 từ hướng đông bắc lợi dụng lúc địch bị hỏa lực ta chế áp, nhanh chóng vượt qua cửa mở đánh chiếm lô cốt đầu cầu rồi từ đó đánh tỏa ra chiếm cổng chính đồn. Phía đông nam, Tiểu đoàn 249 vượt qua cửa mở, lợi dụng địa hình nhanh chóng đánh chiếm đỉnh cao, giành được thế đứng trên đầu địch. Các tổ chiến đấu của Đại đội 317 nhanh chóng tỏa xuống chiếm ụ pháo và sở chỉ huy địch. Tại đây quan ba Vanhxăng chỉ huy đồn và các sĩ quan tham mưu địch bị ta bắt sống. Kết thúc trận đánh ta tiêu diệt và bắt 350 tên, thu toàn bộ trang bị và vũ khí của địch. Trận đánh mở màn cho đợt 2 của chiến dịch toàn thắng. "Lá chắn thép" trên cửa ngõ phía nam Tây Bắc bị đập tan. Đường 41 từ Hòa Bình lên Sơn La được nối liền tạo điều kiện cho chủ lực ta tiến nhanh lên phía trước.


Với chiến công này, Trung đoàn 174 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.

Để tiếp tục chiến dịch, công tác hậu cần được đặc biệt coi trọng. Chính ủy Chu Huy Mân được giao nhiệm vụ phụ trách tuyến hậu cần Xồm Lồm - Mộc Châu.

Đêm ngày 22 tháng 11 năm 1952, Trung đoàn 174 theo lệnh của Bộ hành quân lên Chiềng Đông nhận nhiệm vụ phối thuộc với Đại đoàn 308 đánh Nà Sản. Trung đoàn 98 đánh Mường Hung trên phòng tuyến sông Mã của địch. Lực lượng còn lại của Đại đoàn 316 chuyển về Yên Châu cùng địa phương xây dựng cơ sở, đồng thời củng cố và bảo vệ tuyến vận chuyển của mặt trận trên đường 41 từ Mộc Châu tới Yên Châu, Cò Nòi. Trong các đêm ngày 30 tháng 11 và 1 tháng 12, ta diệt đồn Bản Hời và Pú Hồng rồi Bản Vời. Cùng lúc, Trung đoàn 174 nổ súng tiến công Nà Si, một cứ điểm nằm ở đông nam Nà Sản do Tiểu đoàn lê dương số 3 và 1 đại đội commăngđô chiếm giữ. Ngay khi vào chiếm lĩnh trận địa, Trung đoàn 174 đã gặp khó khăn, có đơn vị bị lạc trong rừng rậm, có đơn vị bị pháo địch bắn chặn, do vậy đến 24 giờ đơn vị cuối cùng mới vào chiếm lĩnh được trận địa.


0 giờ 5 phút ngày 8 tháng 12, khi trung đoàn nổ súng tiến công, đến gần sáng, thấy kéo dài trận đánh sẽ không có lợi, Bộ chỉ huy Đại đoàn 308 lệnh cho các đơn vị rút khỏi trận địa. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo, Nông Văn Vương, chiến sĩ Trung đoàn 174 đã một mình băng qua lửa đạn lần lượt đưa 7 thương binh ra khỏi trận địa an toàn, nêu một tấm gương sáng vế tinh thần chiến đấu và lòng thương yêu đồng đội.


Sáng ngày 2 tháng 12, địch cho 2 tiểu đoàn nhảy dù xuống tăng cường cho tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Tình hình đã thay đổi, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy các nhiệm vụ cơ bản đã hoàn thành, bộ đội ta lại chưa có sự chuẩn bị đầy đủ để chắc thắng tập đoàn cứ điểm mạnh của địch, do vậy đã ra lệnh kết thúc chiến dịch Tây Bắc vào ngày 10 tháng 12 năm 1952.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Chín, 2025, 08:54:45 pm
Qua hai đợt chiến đấu, chiến dịch Tây Bắc đã kết thúc thắng lợi. Đại đoàn 316 đã góp phần xứng đáng, diệt và bắt 1.602 tên địch, tiêu diệt gọn 2 tiểu khu, giải phóng hoàn toàn 2 huyện Mộc Châu và Quang Huy... Cán bộ, chiến sĩ đại đoàn đã không ngừng rèn luyện, phát huy truyền thống, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, với đơn vị bạn, nêu cao quyết tâm, kiên cường chiến đấu tiêu diệt dịch.


Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi, nhưng nhiệm vụ củng cố, xây dựng và bẳo vệ vùng giải phóng cũng rất nặng nề và phức tạp. Trước tình hình đó, Đại đoàn chỉ thị cho các đơn vị chủ động đánh địch, không cho địch từ Nà Sản đánh nống và móc nối với bọn phản động. Đại đoàn phân chia khu vực hoạt động cho từng đơn vị: Trung đoàn 176 bám đánh địch ở Nà Sản; Trung đoàn 174 hoạt động ở Mộc Châu, Yên Châu, Tà Vài; Trung đoàn 98 lên Điện Biên Phủ thay thế cho đơn vị bạn đi nhận nhiệm vụ khác. Cơ quan đại đoàn và các đơn vị trực thuộc trở về Mộc Châu.


Tại hội nghị quân chính để tổng kết chiến dịch, Đại đoàn trưởng Lê Quảng Ba đánh giá thành tích, kết quả đã đạt được, bài học trong đánh tập đoàn cứ điểm. Tiếp đó, đai đoàn mở đợt sinh hoạt chính trị nhằm quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, động viên cán bộ, chiến sĩ yên tâm ở lại xây dựng và chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng Tây Bắc.


Nhờ chỉ đạo chặt chẽ và có những biện pháp cụ thể, chính xác, cán bộ, chiến sĩ lại sẵn có lòng yêu mến nhân dân cộng với kinh nghiệm vận động nhân dân qua những đợt hoạt động ở Cao - Bắc - Lạng và ở Tây Bắc thời gian qua, nên chỉ trong một thời gian ngắn phong trào quần chúng ở các địa phương đã chuyển biến rõ rệt. Cán bộ, chiến sĩ học nói tiếng dân tộc, tìm hiểu phong tục, tập quán và nguyện vọng nhân dân, giữ nghiêm kỷ luật dân vận, giúp đỡ đồng bào sản xuất và dạy chữ, xây dựng nếp sống mới ở các bản mường, quan hệ quân dân ngày càng khăng khít. Tình hình an ninh, trật tự ở vùng mới giải phóng được củng cố ngày càng vững chắc, đời sống của nhân dân các dân tộc dần được ổn định và ngày càng được nâng cao.


Chiến thắng Tây Bắc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó đã giải phóng đồng bào Tây Bắc khỏi ách áp bức của giặc, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, một vùng chiến lược quan trọng. Quân và dân ta đã tiêu diệt và chiếm lại 10 vị trí lớn nhỏ của địch ở Tây Bắc, còn có tác dụng phá phần lớn âm mưu thâm độc định lập "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị", "Xứ Nùng tự trị" của địch nhằm chia rẽ người Thái và người Kinh, người Thái với các dân tộc thiểu số khác.


Chiến thắng Tây Bắc khẳng định chủ trương, đường lối đúng đắn của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong việc hoạch định chiến dịch, đánh giá đúng tình hình tương quan lực lượng. Củng cố lòng tin của quân và dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo thế trận lòng dân vững chắc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.


Cán bộ, chiến sĩ của các lực lượng vũ trang nói chung và Đại đoàn 316 nói riêng được tôi luyện lòng dũng cảm, ý chí kiên cường trước quân thù; nâng cao khả năng và kinh nghiệm chiến đấu, làm chủ các loại vũ khí, khí tài, trang bị. Lực lượng quân đội nhân dân ngày càng được củng cố và lớn mạnh, cùng với thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, tạo tiền đề cho chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, chấn động địa cầu, chấm dứt gần 100 năm thực dân Pháp đô hộ Việt Nam.


Hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng, vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh, Sư đoàn 316 tự hào đã góp phần cùng với cả dân tộc viết nên những trang sử hào hùng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc. Sư đoàn 316 vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều phần thưởng cao quý khác; được Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào tặng thưởng hai Huân chương Ítxala. 17 tập thể, 22 cá nhân được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (trong đó Trung đoàn 148, Tiểu đoàn 17 được hai lần tuyên dương). Các anh hùng La Văn Cầu, Bế Văn Đàn... đã trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Ngoài ra, còn có hàng trăm tập thể, hàng vạn cá nhân được tặng thưởng huân, huy chương và huy hiệu các loại. Hơn 70 đồng chí là cán bộ, chiến sĩ của sư đoàn đã phát triển trở thành những cán bộ, tướng lĩnh giữ nhiều cương vị trọng trách của Đảng, Nhà nước và quân đội. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống (1.5.1951-1.5.2011), Sư đoàn 316 lại vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì "Vì đã có thành tích xuất sắc trong huấn luyện, phục vụ chiến đấu, xây dựng lực lượng quân đội nhân dân, củng cố quốc phòng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Đây là sự ghi nhận và đánh giá cao của Đảng, Nhà nước về những cống hiến của cán bộ, chiến sĩ sư đoàn trong những năm qua.


Hiện nay và trong những năm sắp tới nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đã và đang đặt ra cho quân đội nói chung, Sư đoàn 316 nói riêng những yêu cầu mới, nhiệm vụ mới hết sức to lớn và nặng nề. Ngoài nhiệm vụ chính trị trung tâm là huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, sư đoàn còn tham giakhắc phục hậu quả thiên tai,giúp dân xóa đói giảm nghèo, tích cực tham gia chương trình"xây dựng nông thôn mới"; cùng với cấp ủy,chính quyền địa phương giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ,đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn luôn quán triệt sâu sắc đường lối, chủ chương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không ngừng xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, niềm tin và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, luôn sẵn sàng chiến đấu, không ngừng phát huy mạnh mẽ tinh thần cách mạng tiến công và truyền thống vẻ vang của sư đoàn. Cán bộ, chiến sĩ sư đoàn thực hiện đoàn kết, thống nhất, năng động, đổi mới và sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn thử thách; hăng hái phấn đấu vươn lên dành nhiều chiến công và thành tích mới trong xây dựng, huấn luyện, học tập và công tác; thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; quyết tâm xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Sư đoàn vững mạnh toàn diện, chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu ngày càng được nâng cao, thực sự là một trong những sư đoàn chủ lực mạnh của quân đội ta, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Chín, 2025, 07:58:14 pm
TRUNG ĐOÀN 148 TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Thượng tá VÕ KIM HÀ
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 148


Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ địa bàn chiến lược Tây Bắc, ngày 22 tháng 12 năm 1945, tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, Chi đội 3 Sơn La được thành lập. Đến tháng 1 năm 1948, Chi đội 3 Sơn La được đổi tên thành Trung đoàn 148 cho đến ngày nay. Ngay sau khi ra đời, trung đoàn đã tích cực cùng cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng hậu phương căn cứ địa, tham gia hầu hết các chiến dịch cũng như các đợt hoạt động quân sự như trong Thu Đông 1947-1948, Đông - Xuân 1948-1949, chiến dịch Lê Hồng Phong 1950, chiến dịch Lý Thường Kiệt... Đầu tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một vùng đất đai Tây Bắc của Tổ quốc, phát triển chiến tranh du kích tiến lên phá tan ám mưu của địch ở vùng đất rộng lớn có vị trí chiến lược quan trọng. Trung đoàn 148 được giao nhiệm vụ đảm nhiệm hướng thứ yếu, phía bắc tỉnh Lai Châu.


Về tổ chức biên chế, lúc này Trung đoàn 148 gồm 3 tiểu đoàn bộ binh 910, 920 và 930, do đồng chí Vũ Lập làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Minh Nghĩa làm Chính ủy. Thực hiện kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh, Tiểu đoàn 910 do trung đoàn trực tiếp chỉ huy, được tăng cường một số phân đội trực thuộc và dân công của tỉnh Lào Cai, đã thực hành chiến đấu luồn sâu đánh vào huyện Quỳnh Nhai, tạo điều kiện cho hướng chính chiến dịch đánh vào Phân khu Nghĩa Lộ và Phù Yên (Sơn La).


Trong đợt 1 của chiến dịch, Tiểu đoàn 910 bí mật hành quân từ Bắc Hà qua Sa Pa vào Nậm Sỏ. Sáng ngày 11 tháng 10 năm 1952, chỉ huy tiểu đoàn lệnh cho Đại đội 225 tiến công địch ở đồn Nậm Sỏ, sử dụng thuốc nổ để mở cửa mở dưới sự chi viện của hỏa lực ĐKZ 57mm. Chỉ một thời gian ngắn, đồn Nậm Sỏ đã được giải phóng, tên quan hai chỉ huy đồn bị tiêu diệt. Sau khi tiêu diệt địch ở Nậm Sỏ, tiểu đoàn sử dụng Đại đội 220 truy kích đánh ở Nậm Mòn, bắt sống gần 1 trung đội địch rồi tiếp tục tiến công Mường Giơn, Na Mu, tiêu diệt gần hết 1 đại đội lính Thái. Trước sự tiến công liên tiếp của Tiểu đoàn 910 vào Pắc Ma, Bản Mấn và huyện lỵ Quỳnh Nhai, tinh thần binh lính địch rất hoang mang. Khi trung đoàn hành quân đến Pắc Ma, toàn bộ lực lượng địch ở Quỳnh Nhai bỏ chạy, đến ngày 15 tháng 10 năm 1952, huyện Quỳnh Nhai được giải phóng. Tuy nhiên, đến ngày 19 tháng 10 năm 1952, địch sử dụng Tiểu đoàn Tabo số 17 đánh chiếm lại Quỳnh Nhai và tổ chức chốt giữ ở Pắc Ma.


Quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng Quỳnh Nhai, đêm ngày 23 tháng 10 năm 1952, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tiểu đoàn trưởng Lê Lâm và Tiểu đoàn phó Nguyễn Đình Thưởng, Tiểu đoàn 910 tập trung toàn hộ lực lượng tiến công đánh đồn Pắc Ma, tiêu diệt gọn 1 đại đội Âu - Phi của Tiểu đoàn Tabo số 17, số còn lại vội vàng bổ Quỳnh Nhai chạy sang hữu ngạn sông Đà.


Kết thúc đợt 1 của chiến dịch, sau 11 ngày đêm chiến đấu. Trung đoàn 148 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giải phóng huyện Quỳnh Nhai, tạo bàn đạp để các lực lượng vượt sông Đà tiến vào Lai Châu.


Để cứu ngụy, Pháp tăng cường quân số lập tuyến phòng thủ sông Đà, đồng thời tập trung xây dựng Nà Sản thành một cứ điểm mạnh để giữ vững những vùng còn lại của Tây Bắc. Sau khi tăng cường lực lượng, địch tổ chức Tây Bắc thành 2 mặt trận: Mặt trận Sơn La (do đại tá Gin chỉ huy) và Mặt trận Lai Châu (do đại tá Đờnaoa chỉ huy). Tập đoàn Nà Sản thuộc khu vực trung tâm bao gồm nhiều cứ điểm và sân bay được củng cố tạo thành 1 cụm cứ điểm vững chắc. Với sự củng cố và cách bố trí như vậy, địch hy vọng có thể đối phó có hiệu quả với các cuộc tiến công, sẵn sàng đè bẹp các đại đoàn chủ lực của ta. Cùng lúc này, Bộ chỉ huy Pháp ở Bắc Bộ còn mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ nhằm phá vùng hậu phường chiến dịch và kéo dần lực lượng chủ lực của ta ở hướng Tây Bắc, phá cuộc tiến công của ta lên Tây Bắc.


Trước tình hình đó, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh nhận định: Địch cơ bản là ở vào thế bị động, dù chúng có tăng cường lực lượng ở Tây Bắc hoặc đánh lên Phú Thọ cũng chí là để đối phó với ta. Chúng ta vẫn tiếp tục tiến hành đợt 2 chiến dịch.

Bước vào đợt 2 của chiến dịch, trên hướng nam Lai Châu, cùng với Trung đoàn 165 và lực lượng vũ trang địa phương, Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) tổ chức vượt sông Đà, khai thông đường tiến công vào Luân Châu, Thuận Châu và Tuần Giáo. Khi phát hiện được lực lượng ta, địch cho 2 tiểu đoàn thiện chiến gồm 1 tiểu đoàn dù lê dương (2C BEP) và 1 tiểu đoàn Tabo (17c) tiến công mở rộng địa bàn, ép Đại đội 221 (Tiểu đoàn 910) ở phía nam và phía bắc ở ngã ba Nậm Dín. Đại đội 221 chiếm lĩnh điểm cao chủ yếu tại chỗ ngăn chặn, đánh bại nhiều đợt tiến công của địch. Khi Đại đội 634 (Tiểu đoàn 910) đến kịp đã triển khai các loại hoả lực (cối 81mm, ĐKZ 57mm, đại liên) bắn vào đội hình tiến công của địch, chi viện cho Đại đội 221 chiến đấu. Trận đánh diễn ra quyết liệt trong khoảng 6 giờ (từ 10 giờ đến 16 giờ chiều), Trung đoàn vẫn giữ vững trận địa ở Nậm Dín. Hai tiểu đoàn địch bị tiến công quyết liệt, không thể liên lạc được với nhau buộc phải lui quân rút chạy. Tuy nhiên, trong trận này Tiểu đoàn 910 cũng bị tổn thất lớn (hơn 60 đồng chí hy sinh và bị thương, trong đó có Tiểu đoàn trưởng Lê Lâm. Trung đội trưởng Ngô Bá Tiên). Sau khi đánh bại 2 tiểu đoàn địch, Tiểu đoàn 910 tổ chức Đại đội 220 do đồng chí Tiểu đoàn phó Nguyễn Đình Thưởng chỉ huy phục kích địch ở Mường Húa (đường từ Tuần Giáo đến Điện Biên Phủ). Tuy nhiên, địch phát hiện không dám hành quân qua, đại đội rút quân về Mường Mùn, Luân Châu.


Tại đèo Cờ La Vô, Trung đoàn 148 sử dụng 1 trung đội của Đại đội 220 phòng ngự giữ đèo, khi đơn vị mới đào công sự xong thì phải chiến đấu ngay với hai tiểu đoàn địch từ đồn Cờ La Vô và Mường Thung ra. Hai trung đội còn lại của Đại đội 220 hành quân lên Tủa Chùa. Khi hành quân đến nơi gặp Đại đội 225 đang có mặt tại đó, Đại đội 220 được lệnh quay về tăng cường phòng ngự tại đèo Cờ La Vô. Tại đây, địch dùng đại bác 130mm và đại bác Bôpho bắn trả quyết liệt vào trận địa của trung đoàn trên đỉnh đèo, nhằm đẩy ta xuống Pa Ham.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Chín, 2025, 07:58:57 pm
Sau 20 ngày đêm phòng ngự chiến đấu quyết liệt trên đình đèo, Đại đội 220 vẫn giữ vững được trận địa, địch bị tổn thất nhiều buộc phải rút về Lai Châu. Sau đó, Trung đoàn 148 rút về Pa Ham, Nậm Nén.

Sau khi các đại đoàn 308, 312, 316 tiến công địch ở Nà Sản không thành công, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch Tây Bắc (ngày 10-12-1952). Tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản) và Tuần Giáo, Điện Biên Phủ của tỉnh Lai Châu được giải phóng.

Sau khi chiến dịch Tây Bắc kết thúc, Trung đoàn 148 được lệnh hành quân về tập kết tại Điện Biên Phủ để chuẩn bị tham gia chiến dịch Thượng Lào. Tiểu đoàn 930 ở lại Sình Hồ cùng với bộ đội địa phương tổ chức tuyên truyền, tham gia xây dựng chính quyền và xây dựng lực lượng ở khu vực mới giải phóng.


Nhìn chung, trong chiến dịch Tây Bắc, Trung đoàn 148 đã chiến đấu tiêu diệt gần 1 đại đội lính Thái, 1 đại đội Âu - Phi, bắt sống gần 1 trung đội địch, đánh thiệt hại 2 tiểu đoàn địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn: huyện Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Điện Biên Phủ, kiểm soát được tuyến đường từ Sơn La đi Lai Châu dài 60km, phá vỡ hệ thống phòng ngự phía nam Lai Châu của địch, tạo điều kiện để hướng chủ yếu của chiến dịch ở Sơn La giành thắng lợi.


Tuy nhiên, trong chiến dịch này, trung đoàn cũng chịu tổn thất không nhỏ về lực lượng và phương tiện (chỉ trong một trận ở ngã ba Nậm Dín, hơn 60 đồng chí hy sinh và bị thương).

Sau chiến dịch Tây Bắc, Trung đoàn 148 còn tiếp tục tham gia chiến dịch Thượng Lào năm 1953, chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trung đoàn có liên tục 9 năm làm nhiệm vụ quốc tế các tỉnh Bắc Lào (từ 1965 đến 1973). Với những thành tích xuất sắc, Trung đoàn 148 đã được Quốc hội, Chính phủ tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương các loại, 3 đại đội và 2 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, xứng đáng với 10 chữ vàng truyền thống "Kiên định, bền bỉ, đoàn kết, anh dũng, chiến thắng". Trung đoàn 148 đã 2 lần được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".


Những thành tích xuất sắc đó là do sự nỗ lực phấn đấu bền bỉ của bao lớp cán bộ, chiến sĩ nối tiếp nhau của trung đoàn, sự lãnh đạo sát sao của các cấp chỉ huy, sự giúp đỡ đùm bọc của cán bộ và nhân dân các địa phương nơi trung đoàn hoạt động. Từ buổi đầu thành lập,khó khăn chồng chất, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn luôn bền bỉ, vượt qua mọi thử thách gian ngụy từng bước giành thắng lợi và trưởng thành. Chiến trường Tây Bắc trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, chính là nơi khai sinh và thử lửa đầu tiên của trung đoàn. Địa bàn hoạt động rộng, đơn vị phân tán, vừa đánh địch vừa xây dựng cơ sở, đánh địch lấn chiến trong những điều kiện và hoàn cảnh rất khó khăn thiếu thốn, kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều. Bên cạnh những trận chiến đấu giành thắng lợi, hiệu suất rất cao nhưng vẫn còn những trận hiệu quả chiến đấu chưa cao, hy sinh tổn thất lớn, có lúc còn mất đất, mất dân, mặc dù vậy với tinh thần "thắng không kiêu, bại không nản", trung đoàn vẫn bền gan bám dân, bám địa bàn, thực hiện nhiệm vụ theo đúng yêu cầu chỉ đạo của cấp trên. Những ngày tháng chiến đấu trên đất bạn Lào, trung đoàn đã anh dũng, bền bỉ chiến đấu bám trụ dài ngày, bất chấp bao khó khăn, vượt qua những mùa mưa, mùa khô khắc nghiệt ở những cánh rừng Lào, cùng hạn Lào chiến đấu và chiến thắng.


Thắng lợi của trung đoàn trong 67 năm qua còn bắt nguồn từ tinh thần chiến đấu anh dũng và quyết thắng. Dù ở đâu, hay bất cứ trong điều kiện, hoàn cảnh nào, từ Tây Bắc đến Đông Bắc, từ trung du, miền núi tới đồng bằng đô thị, trên đất bạn Lào, trung đoàn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu anh dũng, ngoan cường để làm nên chiến thắng. Dòng máu thắm của nhiều lớp cán bộ, chiến sĩ trung đoàn đã đổ xuống trên nhiều ngả đường chiến dịch, cả trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và khi làm nghĩa vụ quốc tế trên chiến trường Bắc Lào. Trong những năm tháng chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc, tinh thần chiến đấu anh dũng và những hy sinh cao cả ấy đã góp phần làm nên chiến thắng chung của dân tộc, làm rạng ngời thêm lá quân kỳ quyết thắng của đơn vị. Từ đánh tập trung quy mô lớn đến các mũi đánh nhỏ lẻ, phân tán, có lúc bí mật luồn sâu vào sào huyệt địch, có lúc hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, ở đâu và trong hoàn cảnh nào cán bộ, chiến sĩ trung đoàn cũng luôn nêu cao tinh thần anh dũng, chiến thắng. Phẩm chất ấy đã trở thành nét đẹp truyền thống quý báu của trung đoàn mà lớp cán bộ, chiến sĩ hôm nay và mai sau ngụyện tiếp tục giữ vững và phát huy.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Chín, 2025, 08:02:40 pm
TIỂU ĐOÀN 910 TRUNG ĐOÀN 148 TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Thiếu tá, ThS PHAN SỸ PHÚC
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc, mở rộng, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, giữ vững đường giao thông quốc tế (Lào Cai - Vân Nam) và tạo điều kiện mới cho cách mạng Lào. Là một địa bàn chiến lược quan trọng, một chiến trường rừng núi rộng lớn phía Tây Bắc của Tổ quốc, giải phóng được địa bàn này, ta có điều kiện để tập trung lực lượng tác chiến ở đồng bằng và có địa bàn tương đối rộng để cơ động lực lượng tiêu diệt địch, bảo vệ căn cứ nếu địch liều lĩnh đánh ra vùng tự do.


Trong thành phần bộ đội chủ lực tham gia chiến dịch có Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148. Trung đoàn 148 một trong những trung đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta và của Khu 2. Tiền thân của trung đoàn là những đại đội từ miền xuôi lên chiến đấu đánh địch và xây dựng cơ sở - các đơn vị Tây tiến sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Liên tục chiến đấu trên địa bàn Tây Bắc từ 1947 đến 1952, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trung đoàn đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, lập nhiều chiến công vang dội, được nhân dân địa phương tin yêu. Trước ngày tham gia chiến dịch, Trung đoàn 148 vừa trải qua 5 tháng chiến đấu liên tục và giành những thắng lợi quan trọng trong chiến dịch tiễu phỉ ở vùng biên giới Việt - Trung thuộc hai tỉnh Lào Cai và Hà Giang.


Trong đợt 1 chiến dịch, ta chủ trương tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời tranh thủ tiêu diệt địch ở Tiểu khu Phù Yên, giải phóng Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, phát triển thắng lợi, quét sạch địch tới sát bờ sông Đà, tạo điều kiện để tiến công Sơn La. Hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch là Nghĩa Lộ, hướng thứ yếu là Quỳnh Nhai và Tuần Giáo. Lực lượng đảm trách đánh địch trên hướng này có Trung đoàn 165 do đồng chí Lê Thuỳ làm Trung đoàn trưởng. Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148, bộ đội địa phương Yên Bái, Lai Châu do đồng chí Bằng Giang - Tư lệnh Khu Tây Bắc chỉ huy. Đây là hướng vu hồi đánh vào phía sau lưng địch ở bắc Sơn La - nam Lai Châu.


Ngay từ tháng 8 năm 1952, Trung đoàn 148 đã tập kết tại Bắc Hà, Lào Cai làm công tác chuẩn bị. Thực hiện mệnh lệnh được giao. Tiểu đoàn 910, được tăng cường một số phân đội trực thuộc và một số dân công Lào Cai luồn sâu vào huyện Quỳnh Nhai (Lai Châu) đánh địch, tạo điều kiện thuận lợi cho hướng chủ yếu của chiến dịch là hướng đánh vào Phân khu Nghĩa Lộ, Phù Yên.


Ngày 10 tháng 10 năm 1952, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh điện chỉ thị chi tiết về nhiệm vụ và phương châm hoạt động của Tiểu đoàn 910 trên hướng nam Lai Châu. Theo đó, đồng chí nhắc nhở: "Lần này bộ đội các đồng chí vào sâu trong địch hậu, hoạt động ở một vùng cơ sở của ta còn mới và chưa vững chắc, địch thì yếu về số lượng và thành phần nhưng ở trong hình thái bao vây bốn phía có thể tập trung lực lượng để đối phó với ta. Việc tiếp tế lương thực, đạn dược nếu không giải quyết được tại chỗ mà chỉ dựa vào khu tự do đưa vào thì sẽ gặp khó khăn nhiều. Bộ đội tiễu phỉ một thời gian, có thành tích đến bây giờ rất dễ chủ quan khinh địch.


Hoàn cảnh như vậy, các đồng chí cần thống nhất nhận định, thống nhất nhận xét về những điều kiện khó khăn thuận lợi để không chủ quan khinh địch, giữ vững tin tưởng và tinh thần, kế hoạch đầy đủ đề phòng trong mọi tình huống"1 (Điện chỉ thị về nhiệm vụ và phương châm hoạt động gửi Tiểu đoàn 910 trong sách Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh (từ Việt Bắc đến Điện Biên Phủ), tập IV. Bộ Tổng tham mưu xuất bản năm 1963, tr 320-324).


Đại tướng chỉ rõ nhiệm vụ của tiểu đoàn là tranh thủ nhân dân, củng cố và mở rộng cơ sở chính trị. Phát triển chiến tranh du kích, mở rộng căn cứ, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Có kế hoạch tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch. Trong ba nhiệm vụ trên, nhiệm vụ tranh thủ nhân dân, củng cố và mở rộng cơ sở chính trị là trọng tâm. Có làm được nhiệm vụ này thì hai nhiệm vụ sau mới làm được. Mục đích tiêu diệt sinh lực dịch củng là để mở rộng và phát triển cơ sở chính trị, và cơ sở du kích chiến tranh mạnh mẽ2 (Điện chỉ thị về nhiệm vụ và phương châm hoạt động gửi Tiểu đoàn 910 trong sách Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh (từ Việt Bắc đến Điện Biên Phủ), tập IV. Bộ Tổng tham mưu xuất bản năm 1963, tr 320-324).


Về phương thức hoạt động của tiểu đoàn, Đại tướng nhấn mạnh 4 nội dung cần quán triệt: Một là, phải đánh nhỏ, ăn chắc. Đánh điểm nhỏ chắc thắng. Đánh tuần tiễu và càn quét nhỏ. Hai là, cần có một kế hoạch cụ thể chu đáo, dự kiến các tình huống khi mới vào cũng như khi bắt đầu hoạt động nếu địch phát giác ta hoặc sau một vài trận đánh của ta, địch có thể cho lực lượng từ Lai Châu hoặc từ các hướng khác về càn quét và chiếm đóng lại những vị trí vừa bị ta tiêu diệt. Ba là, hoạt động vũ trang phải đi đôi với tuyên truyền và tổ chức nhân dân, cho nên cần thiết trong và sau mỗi hoạt động quân sự, cần có kế hoạch khuếch trương những thắng lợi đó về mặt chính trị, tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu rõ chủ trương, chính sách của Chính phủ, của Hồ Chủ tịch, hiểu rõ bộ đội. căm thù quân cướp nước. Phải giúp nhân dântổ chức sinh hoạt và công tác, xây dựng dân quân du kích, hướng dẫn canh gác, phòng gian, báo động. Nói trước cho nhân dân biết trước địch có thể càn quét để tránh chủ quan và có kế hoạch chuẩn bị giúp nhân dân. Bốn là, tổ chức sinh lực, lấy đại đội là đơn vị chính, có thể phân tán đến trung đội nhưng luôn luôn phải giữ lại một bộ phận tập trung độ 1 đại đội, không nên phân tán hết. Khi có cơ hội có thể tập trung 2 đại đội, thật thuận lợi mới tập trung toàn tiểu đoàn1 (Điện chỉ thị về nhiệm vụ và phương châm hoạt động gửi Tiểu đoàn 910. Sđd. tr 320-323).


Đồng chí Tổng tư lệnh cũng chỉ rõ hướng hoạt động và những điểm mà chỉ huy tiểu đoàn và các lực lượng trên hướng nam Lai Châu cần chú ý để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Nhận nhiệm vụ và triển khai phân công cho các bộ phận, đêm 7 tháng 10 năm 1952, sau khi bí mật vượt sông Đà.Tiểu đoàn 910 đã tập kích tiêu diệt gọn tiểu đoàn bộ tiểu đoàn ngụy Thái và đánh tan tiểu đoàn này1 (Đại tướng Lê Trọng Tấn, Từ Đồng Quan đến Điện Biên (hồi ký), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2001, tr 218-219).


Tiếp đó, Tiểu đoàn 910 bí mật hành quân trên một quãng đường khá dài từ Bắc Hà qua Sa Pa vào Nậm Sỏ. Đêm 10 tháng 10 năm 1952, đơn vị đã có mặt tại vị trí tập kết và hoàn tất mọi công tác chuẩn bị. Ngày 14 tháng 10 chiến dịch mới chính thức mở màn nhưng ở hướng vu hồi Nam Lai Châu, tiểu đoàn 910 lại được lệnh nổ súng trước. Sáng 11 tháng 10, Tiểu đoàn 910 nổ súng tiến công Nậm Sỏ. Ngay từ lúc mở đầu trận đánh, đơn vị dã sử dụng ĐKZ 57mm bắn trúng mục tiêu căn cứ địch. Tên quan hai chỉ huy đồn bị tiêu diệt tại chỗ. Đơn vị nhanh chóng làm chú căn cứđịch và tiếp tục tiến vào Mường Giơn. Ngày 12 tháng 10, đơn vị tiên đánh Nà Nục. Khi tiến đến Na Mu, Tiểu đoàn 910 chạm trán với một đại đội lính Thái, nổ súng chiến đấu tiêu diệt đại đội này2 (Trung đoàn 148 - 50 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, Nxb Quân đội nhân dân, H 1995. tr. 55-56). Ngày 14 tháng 10, một đại đội thuộc Tiểu đoàn Thái số 2 đến tăng viện cũng bị đánh tan.


Đại đội 225 do các đồng chí Thuận Úng và Trọng Khanh chỉ huy, nhanh chóng vượt qua Pắc Ma, Bản Mấn, đánh vào huyện lỵ Quỳnh Nhai. Khi đơn vị hành quân đến Pắc Ma, nghe tin có lực lượng ta tiến quân lên, số địch đóng giữ ở đây khiếp sợ, bỏ đồn tháo chạy. Ngày 15-10, huyện Quỳnh Nhai được giải phóng.


Theo dõi sát diễn biến chiến đấu trên hướng này, Bộ chỉ huy chiến dịch và Bộ Tổng tư lệnh đã có những chỉ thị kịp thời định hướng hoạt động của tiểu đoàn và các đơn vị trên hướng này. Ngày 21 tháng 10 năm 1952, Phòng Tham mưu chiến dịch đã có điện số 36/TL cho ý kiến đề nghị về kế hoạch tác chiến ở bắc Lai Châu - nam Sơn La. Cụ thể, bước 1 Tiểu đoàn 910 tiêu diệt Tà Hùa và đánh địch trên đường Quỳnh Nhai - Than Uyên phối hợp với địa phương củng cố Quỳnh Nhai. Trong khi bộ đội chủ lực hoạt động cần tranh thủ xâm nhập hữu ngạn sông Đà để gây cơ sở, tổ chức nhân dân tạo điều kiện cho chủ lực tiến vào.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Chín, 2025, 08:04:53 pm
Bước thứ hai, sau khi giải phóng Than Uyên, Tiểu đoàn 910 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 165 tiến vào Quỳnh Nhai - Tuần Giáo hoạt động đánh địch trên đường 41 cắt đường giao thông giữa Lai Châu và Sơn La... Kế hoạch đánh địch trên đường 41 tuỳ theo tình hình mà định sau1 (Ý kiến đề nghị về kế hoạch tác chiến ở Nam Lai Châu - Bác Sơn La trong sách Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng. Tổng Quân ủy và Bộ Tồng tư lệnh (từ Việt Bắc đến Điện Biên Phủ), Sđd. tr. 340-341).


Tiếp đó, ngày 22 tháng 10, Đại tướng Tổng tư lệnh lại có mệnh lệnh gửi đồng chí Bằng Giang, Bộ Tư lệnh Đại đoàn 312, Ban cán sự Lai Châu và các đồng chí Vũ Lập, Lê Thuỳ. Sau khi nhận định về tình hình địch, mệnh lệnh chi rõ cho từng đơn vị tác chiến trên hướng nam Lai Châu - bắc Sơn La: "Lực lượng gồm có Tiểu đoàn 910, Trung đoàn 165, bộ đội địa phương Yên Bái, Văn Bàn, Lai Châu, có thể thêm 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 209 trong thời gian đầu và pháo phối thuộc: 1- Lợi dụng sơ hở của địch để tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, phát động chiến tranh du kích, phối hợp với hướng Nghĩa Lộ - Sơn La. 2- Cụ thể: Bước đầu tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch ở Than Uyên, củng cố cơ sở nhân dân ở đó.-   Bước thứ hai tiêu diệt địch ở Quỳnh Nhai, mở rộng khu căn cứ Quỳnh Nhai, củng cố Quỳnh Nhai thành một chỗ đứng vững chắc, phát triển về phía huyện Luân Châu, Thuận Châu và Tuần Giáo"1 (Mệnh lệnh gửi đồng chí Bằng Giang, Bộ Tư lệnh Đại đoàn 312, Ban cán sự Lai Châu và các đồng chí Lê Thùy, Vũ Lập trong sách Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh (từ Việt Bắc đến Điện Biên Phủ), Sdd, tr. 343-345).


Về phía địch, đến ngày 19 tháng 10, chúng điều tiểu đoàn Tabo 17 đến đánh chiếm lại Quỳnh Nhai và Pắc Ma. Nắm chắc lực lượng và hành động của địch, đêm 23 tháng 10, Tiểu đoàn 910 tập trung toàn đơn vị, dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Tâm - Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Nguyễn Đình Thương - Tiểu đoàn phó tổ chức đánh chiếm lại đồn Pắc Ma. Trong trận này, đơn vị tiêu diệt một đại đội Âu - Phi của Tiểu đoàn Tabo số 17. Ngày 23 tháng 10, số địch còn lại ở tả ngạn sông Thao, hoảng sợ bỏ cả Quỳnh Nhai, tháo chạy sang phía hữu ngạn sông Đà. Kết hợp với hoạt động của Tiểu đoàn 910, Đại đội 820 tỉnh Lai Châu nhanh chóng làm chủ khu vực.


Đến ngày 23 tháng 10, trải qua 11 ngày đêm chiến đấu trong đội hình chiến dịch, Trung đoàn 148 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao của đợt 1 chiến dịch. Trung đoàn đã giải phóng vùng hữu ngạn sông Thao, tả, hữu sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, tạo bàn đạp chuẩn bị cho các lực lượng chiến dịch vượt sông Đà tiến vào Lai Châu.


Sau những thất bại trong các cuộc tiến công của ta trong đợt 1 chiến dịch, ở Mặt trận Lai Châu, địch có những sự điều chỉnh lại lực lượng. Tiểu đoàn 27e BMTS chiếm giữ thị xã. Tiểu đoàn Tabo vượt sông chiếm lại Pắc Ma, Tiểu đoàn 2/2e RTA lên Phong Thổ, Tiểu đoàn 58 ngụy Lào giữ Điện Biên Phủ và Quỳnh Nhai. Tại Thuận Châu, Tuần Giáo, mỗi nơi có một tiểu đoàn. Bước vào đợt 2 chiến dịch, hướng Lai Châu địch vẫn sơ hở. Lúc này, Bộ chỉ huy chiến dịch coi đây là hướng phối hợp quan trọng nên đã hình thành mặt trận mang bí danh Y13. Bộ chỉ huy chiến dịch còn tăng cường thêm lực lượng cho mặt trận này thực hiện đánh sâu vào phía sau đội hình chiến dịch.


Mật trận Y13 gồm có lực lượng của Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148. Trung đoàn 165 và lực lượng vũ trang địa phương được lệnh nổ súng sớm đánh vào Quỳnh Nhai nhằm khai thông tuyến đường tiến quân vào Luân Châu, Thuận Châu, Tuần Giáo. Nhiệm vụ của Mặt trận Y13 trong giai đoạn tiếp theo của chiến dịch là tiêu diệt địch, đồng thời làm nghi binh lừa địch, làm cho chúng phán đoán Lai Châu là hướng tiến công chủ yếu của ta.


Theo chủ trương của Bộ chỉ huy chiến dịch, để tranh thủ yếu tố bất ngờ và cũng để nghi binh lừa địch, Mặt trận Y13 nổ súng trước mở đầu đợt 2 chiến dịch.

Đêm 7 tháng 11, Tiểu đoàn 910 nổ súng đánh tan một tiểu đoàn ngụy ở Nậm Dín. Quân ta vừa vượt sông Đà thì địch ở Tuần Giáo, Lai Châu biết tin hoàng sợ rút chạy. Tiểu đoàn cùng đơn vị bạn tiêu diệt Tiểu đoàn BGT và Tiểu đoàn ngụy Thái từ Điện Biên Phủ ra tăng cường, bắt sống tên quan tư chỉ huy quân Pháp ở Nậm Rốm. Tiếp đó, Tiểu đoàn 910 nhanh chóng đánh chiếm Luân Châu, Nậm Mùn. Đại đội 820 do đồng chí Nguyễn Đình Thương chỉ huy tiến lên hướng Điện Biên Phủ. Các đơn vị khác thuộc tiểu đoàn tiếp tục truy kích địch dọc đường số 6 qua cầu Chiềng Pấc, tiến sát cửa ngõ Lai Châu. Tuy nhiên địch sử dụng phi pháo đánh phá ác liệt, đơn vị phải lui lại. Trong trận đánh ác liệt ở Luân Châu, đồng chí Lê Lâm - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 910 và đồng chí Ngô Bá Tiến - Trung đội trưởng, đều là những chiến sĩ thi đua toàn quốc, đã anh dũng hy sinh. Đại đội 820 được lệnh chốt giữ trên đỉnh đèo Bờ Ra Vô và tiếp tục uy hiếp địch ở Lai Châu cho đến lúc kết thúc chiến dịch.


Đòn tiến công của các đơn vị Mặt trận Y13 đã khiến cho chỉ huy quân Pháp phán đoán Lai Châu là hướng tiến công chủ yếu của ta lúc này. Sau khi Tiểu đoàn Thái ở Nậm Dín bị ta tiêu diệt, địch ở Tuần Giáo, Luân Châu rút chạy, vị trí Mường Sài, thị xã Lai Châu bị uy hiếp, đường số 41 từ Sơn La lên Lai Châu bị chặt đứt một đoạn dài 60km. Ngày 14 và 15 tháng 11 địch điều 2 tiểu đoàn (2e BPC và 56e BNV) đến chiếm lại Luân Châu, Nậm Dín nhằm khôi phục Tiểu khu Quỳnh Nhai, giữ vững trận địa bảo vệ thị xã.


Tiểu đoàn 910 cùng hai tiểu đoàn 542 và 564 hình thành hai mũi tiến công, sau khi vượt sông Đà đã nhanh chóng thọc sâu vào Nậm Dín. Ngày 16 tháng 11, Tiểu đoàn 910 tiến công tiểu đoàn dù của địch ở ngã ba Nậm Dín, tiêu hao khoảng 1 đại đội. Ngày 17 tháng 11 Tiểu đoàn 542 đánh địch ở Nong Bò, Cha Mong, diệt 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 56 địch.


Bị uy hiếp mạnh từ nhiều phía, tuy vẫn giữ được ngã ba Nậm Dín nhưng quân địch hết sức hoang mang, cuối cùng buộc phải rút về Luân Châu phòng ngự, một bộ phận rút về Mường Sài. Được nhân dân địa phương dẫn đường Tiểu đoàn 564 kịp thời chặn đánh phá tan đội hình địch không cho chúng tập trung co cụm. Thừa thắng, ta phát triển tiến công địch tới Thuận Châu, địch hoảng sợ bỏ chạy quân ta tiếp tục truy kích tới Sơn La. Ngày 22 tháng 11 trước sức ép của ta, toàn bộ quân địch dồn hết về Nà Sản xã Sơn La, lùng quét và bắt gần 400 tàn binh địch.


Đến cuối tháng 11, trước sức tiến công của các đơn vị bộ đội ta trên hướng Lai Châu, quân địch ở các vị trí còn lại và ở thị xã Sơn La phải rút về Nà Sản, ta tiếp quản thị xã Sơn La, Thuận Châu. Các đơn vị tham gia tác chiến trên Mật trận Y13 đã hoàn thành nhiệm vụ Bộ chỉ huy chiến dịch giao phó.


Như vậy, "cánh quân vu hồi (của Tiểu đoàn 910 và Trung đoàn 165) không những hoàn thành kế hoạch tiến công cứ điểm, truy kích địch rút chạy, giải phóng một vùng rộng lớn, phá vỡ phòng tuyến phía nam Lai Châu của địch, mà còn phát huy tác dụng nghi binh chiến dịch. Địch cho ràng hướng tiến công của ta trong đợt 2 là Lai Châu nên chúng tập trung quân ở các vị trí xung quanh về giữ thị xã"1 (Dẫn theo Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945-1975 (In lần thứ hai). Nxb Quân đội nhân dân. H.1995, tr 144).


Như vậy, trong đội hình tham gia chiến dịch Tây Bắc, qua hai đợt chiến dịch, Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148 đã chiến đấu nhiều trận ác liệt, tiến công vào hệ thống phòng ngự của địch ở Quỳnh Nhai, từ Luân Châu đến Thuận Châu, Tuần Giáo. Với tinh thần tiến công liên tục, tận dụng thời cơ, có cách đánh táo bạo, ở hướng phối hợp, Tiểu đoàn 910 cùng với các lực lượng khác tham gia chiến dịch trên hướng này đã nhanh chóng phá vỡ tuyến phòng ngự phía Nam Lai Châu của địch, diệt và bắt hơn 1.400 tên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một hướng của chiến dịch - hướng vu hồi, nghi hinh. Tính chung cả hai đợt chiến dịch, trên hướng này, các đơn vị đã đánh tan rãnhiều đại đội địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, thu nhiều vũ khí, giải phóng các huyện Than Uyên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Mường La, Thuận Châu, Điện Biên Phủ với diện tích rộng trên 3.000km2 và 10 vạn dân. Thắng lợi của hướng Lai Châu còn tạo điều kiện để hướng Sơn La giành thắng lợi lớn, cũng như góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của chiến dịch Tây Bắc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Chín, 2025, 08:09:22 pm
ĐÓNG GÓP CỦA PHỤ NỮ TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Thượng tá. ThS HOÀNG THỊ THẢO
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, nữ giới - một lực lượng khá đông đảo trong xã hội đã có nhiều đóng góp quan trọng. Khí thế, sức mạnh và tài năng đánh giặc giữ nước của thế hệ Bà Trưng, Bà Triệu trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược đầu tiên của dân tộc đã tạo dựng và mở đầu cho truyền thống anh hùng bất khuất của những người phụ nữ Việt Nam.


Nhận thức rõ vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và bảo vệ đất nước, ngay từ những ngày đầu thành lập, Đảng ta đã xác định: "Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc đấu tranh cách mạng thì cách mạng không thể thắng lợi"1 (An nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị năm 1930, "Về phụ nữ vận động". Văn kiện Đảng. Nxb Sự thật. H 1960, tr 159). Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ tối cao của cách mạng Việt Nam cũng khẳng định: "An Nam cách mệnh phải có nữ giới tham gia mới thành công"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2. Nxb Chính trị quốc gia. H. 1995. tr. 298). Bởi vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định phụ nữ là một trong những nòng cốt của lực lượng cach mạng, một bộ phận quan trọng trong khối đoàn kết toàn dân.


Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), nhân dân ta phải chiến đấu trong hoàn cảnh tương quan lực lượng quá chênh lệch. Để đánh thắng đạo quân xâm lược có sức mạnh vượt trội, Đảng ta đã đề ra đường lối kháng chiến "toàn dân toàn diện" nhằm huy động sức mạnh toàn dân tộc. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, thay mặt Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo đảng phái, dân tộc, hễ ai là người Việt Nam thì phải đứng lên chống thực dân Pháp để cứu Tổ quốc". Đáp lời kêu gọi của non sông, những người mẹ, người chị, người em gái trên khắp mọi miền đất nước hăng hái đứng lên cùng toàn dân quyết tâm bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của chính mình với sức mạnh của lòng yêu nước, ý chí kiện cường và tinh thần quả cảm. Phát huy truyền thống "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh", bất chấp mọi hiểm nguy, chị em đã có mặt ngay từ nhưng ngay đầu của cuộc kháng chiến, tích cực tham gia mọi công việc ở hậu phương cũng như tiền tuyến.


Sau chiến dịch Biên Giới (Thu Đông 1950), cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp của quân dân ta chuyển sang một thời kỳ mới: Lực lượng vũ trang của ta đã trưởng thành và liên tiếp chủ động mở các chiến dịch tiến công địch trên các địa bàn từ đồng bằng, trung du cho đến miền rừng núi. Đáp ứng yêu cầu của các chiến dịch, một lực lượng lớn nhân lực được huy động trong mọi tầng lớp nhân dân. Phục vụ chiến dịch là công việc vất vả, phải đối mặt với nhiều gian ngụy, khó khăn nhưng lực lượng nữ tham gia phục vụ các chiến dịch khá đông đảo. "Trong số 18 chiến dịch của cuộc kháng chiến, phụ nữ đã đóng góp 9.578.000 ngày công. Số ngày công phục vụ của phụ nữ trong các chiến dịch lớn chiếm tới 50% tổng số ngày công. Riêng chiến dịch Biên Giới phụ nữ đóng góp 6.000.000 công chiếm tới 68% số ngày công"1 (Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam, tập 1, Nxb Phụ nữ, H 1980. tr. 161).


Thu Đông năm 1952, với quyết tâm "tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai có tính quan trọng về chiến lược"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng. Toàn tập, tập 13. Nxb Chính trị quốc gia. H 2000, tr. 304), Bộ Chính trị, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch tiến công Tây Bắc. Đây là một địa bàn trọng yếu ở chiến trường Bắc Bộ, đồng thời có vị trí quan trọng đối với cách mạng Đông Dương. Từ những ngày đầu trở lại xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thành lập "Xứ Thái tự trị" và tổ chức "Liên khu độc lập Tây Bắc" nhằm thống trị lâu dài và lôi kéo, mua chuộc đồng bào các dân tộc theo chúng chống phá cách mạng. Sau đó, chúng ra sức củng cố phát, triển vùng chiến lược quan trọng này nhằm uy hiếp, khống chế bên sườn và sau lưng ta, cắt liên lạc của ta giữa căn cứ địa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4 và bảo vệ lực lượng của chúng ở Thượng Lào.


Mở chiến dịch trên địa bàn rừng núi, bên cạnh những thuận lợi nhất định, ta cũng gặp không ít khó khăn. Tây Bắc là vùng rừng núi trùng điệp, nhiều dãy núi cao hơn 1.000m, địa hình rất hiểm trở, khó cơ động; chiến trường lại cách xa hậu phương Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh; sự chi viện tại chỗ rất hạn chế. Việc đảm bảo hậu cần cho chiến dịch là một trong những công tác cấp bách và khó khăn... Chúng ta cần huy động lớn nguồn nhân lực để tu bổ nhiều đoạn đường đi qua đèo cao, sông rộng, suối lớn và vận chuyển một số lượng lớn vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm phục vụ bộ đội.


Trong không khi náo nức tập trung sức người, sức của cho chiến trường Tây Bắc, phụ nữ ở nhiều địa phương đã không quản ngại gian nan. hăng hái gia nhập các đoàn dân công tham gia phục vụ chiến dịch, vẫn biết Tây Bắc là vùng núi cao, rừng sâu hiểm trở, có nhiều ruồi vàng, bọ chó, rắn rết; thời tiết thất thường: khi giá lạnh, lúc nắng thiêu; điều kiện sinh hoạt rất khó khăn... nhưng lực lượng nữ tham gia phục vụ chiến dịch vẫn không hề ít hơn so với các chiến dịch trước đó. Ở bất cứ địa phương nào trong đoàn dân công ra hỏa tuyến đều có mặt những người phụ nữ. Chị em đến từ các làng, xã của vùng đồng bằng Liên khu 3, 4, từ các làng, bản của vùng núi rừng phía Bắc...


Tại Sơn La - một trong những chiến trường chính, đồng bào các dân tộc tích cực chuẩn bị nhân lực, vật lực sẵn sàng phối hợp với các đơn vị lực lượng vũ trang bước vào chiến dịch. Được sự tuyên truyền, giác ngộ của cán bộ cách mạng, phụ nữ các dân tộc ở Sơn La thấu hiểu cần phải giúp bộ đội đánh giặc để giải phóng quê hương và mở ra một cuộc sống mới cho chính bản thân mình. Vượt qua những uy hiếp của kẻ thù, những hiểm ngụy kề cận và cả những rào cản của phong tục tập quán địa phương, nhiều chị em đã rời bản, xuống núi tham gia vào các đội dân công. Đã có 2.622 phụ nữ các dân tộc Sơn La gia nhập đội quân tham gia phục vụ chiến dịch. Thanh Hóa - một vùng tự do trong kháng chiến, có tới hai phần ba số dân công phục vụ chiến dịch là phụ nữ1 (Những Chặng đường lịch sử vẻ vang của phụ nữ Thanh Hoa. Nxb Thanh Hóa, 1980, tr 35). Nhiều chị em trong vùng địch tạm chiếm đã bí mật vượt qua sự kiểm soát của địch ra vùng tự do đến với các đội dân công lên Tây Bắc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Chín, 2025, 08:11:37 pm
Không chỉ có mặt trong các đội dân công, chị em còn gia nhập lực lượng thanh niên xung phong - một lực lượng không chỉ cần có sức khỏe mà còn phải có tinh thần xung kích. Nhiều nữ thanh niên đã có mặt trong các đội "Thanh niên xung phong công tác" ngay từ những ngày đầu thành lập để sửa chữa cầu đường và vận tải phục vụ các chiến dịch. Tháng 9 năm 1952. Đội thanh niên xung phong công tác Trung ương thứ hai được lệnh điều 8 liên phân đội (1, 2, 3, 4,5, Liên phân đội Hoàng Hữu Nam, Trần Hưng Đạo và Tô Hiệu) phục vụ chiến dịch Tây Bắc trong thời gian từ ngày 14 tháng 10 đến 10 tháng 12 năm 1952. Nhiều chị em đã có mặt trong các đội tăng cường cho chiến dịch.


Tham gia phục vụ trực tiếp chiến dịch, chị em đảm nhận nhiều công việc khác nhau: sửa chữa cầu đường, đảm bảo giao thông vận tải, bảo vệ kho tàng, tải thương, làm cấp dưỡng cho bộ đội, chăm sóc thương binh... Mặc dù phải làm việc trong rừng sâu, núi cao, thời tiết khắc nghiệt, điều kiện ăn ở thiếu thốn nhưng ở bất cứ công việc nào, người phụ nữ cũng tỏ rõ sự bền bỉ, dẻo dai, dũng cảm... Trên đường vận chuyển, các chị không ngại đường xa, gánh nặng, tất cả đều đem hết khả năng để đảm bảo kế hoạch được giao với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến".


Là một bộ phận trong hàng vạn dân công và thanh niên xung phong tham gia phục vụ chiến dịch, lực lượng nữ đã góp công sức của mình vào việc đào đắp hàng vạn mét khối đất đá để khôi phục và mở mới hàng trăm kilômét đường, củng cố hàng chục bến sông và vận chuyển11.750 tấn gạo, 164 tấn muối, 235 tấn thịt, 44 tấn thực phẩm, 83 tấn vũ khí đạn, quân trang, quân dụng1 (Tổng cục Hậu cần, Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Nxb Quân đội nhân dân. H. 1994, tr.75), cùng nhiều dụng cụ y tế cần thiết và thuốc chữa trị cho khoảng 5.000 thương binh. Trong tổng số 7 triệu ngày công của lực lượng dân công phục vụ chiến dịch, chị em đã đóng góp 1.691.000 ngày công2 (Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam. tập 1, Nxb Phụ nữ. H. 1980 tr 161).


Trong công tác tải thương, nhiều chị đã vấp ngã trên các mỏm đá, đầu gối tróc máu nhưng thương binh vẫn được an toàn trong cáng. Tại các trạm phẫu, các chiến sĩ được các chị tận tụy hết lòng chăm sóc bằng tình cảm của những người chị, người em gái. Tình cảm chân thành của những người phụ nữ trên các tuyến đường lên Tây Bắc luôn là nguồn động viên tinh thần cho những người chiến sĩ khi bị thương hoặc lúc ốm đau. "Một chị dân công gặp một đồng chí thương binh đang được đưa về trạm quân y. Chị lấy chăn của mình đắp cho anh thương binh, đồng chí thương binh ngước nhìn cảm động: Thôi chị để mà dùng, tôi mình mẩy máu me thế này... Chị dân công kéo chăn đắp cho người chiến sĩ nghẹn ngào: Chiếc chăn của tôi chưa xứng đáng với tinh thần hy sinh của các anh"1 (Trần Đăng Ninh - Con người và lịch sử. Nxb Chính trị quốc gia H 1996 tr. 464).


Cùng với những hoạt động tích cực của chị em trực tiếp phục vụ chiến dịch, chị em ở hậu phương hăng hái tham gia quyên góp lương thực, thực phẩm. Với sự góp sức của phụ nữ, từ nhiều địa phương hàng nghìn tấn gạo, hàng trăm tấn thịt cùng hàng chục tấn thực phẩm khác đã được tập trung về các khu kho để vận chuyển lên chiến trường. Tại Tây Bắc, mặc dù điều kiện rất khó khăn, nhiều gia đình phải ăn khoai, sắn thay cơm nhưng phụ nữ ở các địa phương vẫn tích cực động viên người thân trong gia đình đóng góp đủ số lương thực đã được giao. Hàng nghìn chị em các dân tộc Thái, Mường, Mông, Dao... tham gia vào các tổ xay xát, thức trắng nhiều đêm xay thóc, giã gạo để kịp thời cho bộ đội "ăn no đánh thắng". Phụ nữ và đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã dành cho các lực lượng tham gia chiến dịch 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 41 tấn thực phẩm khác. Đó là những đóng góp có ý nghĩa to lớn của phụ nữ và nhân dân nơi đây vì Tây Bắc là vùng ít dán, kinh tế nghèo nàn, luôn bị ké thù cướp phá vơ vét. "Một tấn gạo huy động tại Tây Bắc có giá trị bằng 12 tấn đưa từ Khu 3, Khu 4 lên. Ngoài tác dụng kịp thời, nó còn tiết kiệm mồ hôi xương máu trong quá trình vận chuyển"1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Chiến dỊch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1992, tr. 74). Những hoạt động của chị em nơi diễn ra chiến trận đã góp phần đảm bảo kịp thời cho bộ đội có đủ lương ăn trong những ngày chiến dịch.


Sau gần hai tháng, vượt qua những gian nan vất vả của địa bàn rừng núi xa hậu phương, của bom đạn kẻ thù ngày đêm uy hiếp, chiến dịch tiến công Tây Bắc của quân và dân ta đã giành thắng lợi to lớn. Phụ nữ đã có nhiều hoạt động tích cực phục vụ chiến dịch. Không chỉ có mặt trong các đội tu sửa cầu đường, vận tải, tải thương, chăm sóc thương binh nơi chiến trường. Ở hậu phương, chị em là một bộ phận quan trọng trong công việc huy động, quyên góp lương thực, thực phẩm, động viên những người thân lên đường ra chiến trường. Những thành tích, bài học từ chiến dịch Tây Bắc được chị em kế thừa, phát huy trong các chiến dịch tiếp theo, đặc biệt là trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954) để cùng toàn dân đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi cuối cùng.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Chín, 2025, 08:15:30 pm
CÔNG TÁC ĐỊCH VẬN TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại úy, ThS LÊ VĂN CỬ
Viện Lịch sửquân sự Việt Nam


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), công tác địch vận được Đảng ta xác định là nhiệm vụ có tầm quan trọng chiến lược, "tác chiến quan trọng như thế nào thì địch vận cũng cần như thế... Phải dùng mọi hình thức, nắm lấy mọi cơ hội mà tuyên truyền làm tan rã tinh thần địch, làm cho binh lính địch nhận rõ ta với địch có chung một kẻ thù là bọn thực dân phản động Pháp, khiến cho họ thỏa hiệp với ta, vác súng chạy sang ta"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8 (1945-1947). Nxb Chính trịquốc gia, H. 2000. tr 197), "công tác vận động ngụy hinh là công tác vận động quần chúng và phải huy động quần chúng tham gia". Thực hiện chủ trương của Đảng, cùng với mũi tiến công quân sự, công tác địch vận đã được tiến hành thường xuyên liên tục với nhiều nội dung, hình thức và phương pháp phong phú, có hiệu quả. Chiến dịch Tây Bắc (14.10 - 10.12.1952) là một trong những chiến dịch đã tiến hành công tác binh - địch vận có kết quả.


Sau thất bại trong chiến dịch Hoà Bình, từ mùa hè năm 1952, thực dân Pháp huy động binh lực lớn (quy mô từ 8 đến 20 tiểu đoàn bộ binh, 3 đến 7 tiểu đoàn pháo binh và nhiều phương tiện chiến tranh gồm nhiều xe cơ giới, tàu chiến, lực lượng công binh) mở những cuộc càn quét kéo dài từ 3 đến 4 tuần lễ để bình định vùng tạm chiếm ở trung du và đồng bằng, ven biển trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam với tổng số 75 cuộc, nhằm hạn chế sự uy hiếp của ta ở hậu phương của chúng.


Trước những diễn biến mới của tình hình, không để cho địch có điều kiện củng cố thế chiếm đóng của chúng ở đồng bằng và trung du, nhất là ở chiến trường chính Bắc Bộ, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã cân nhắc và chọn hướng tiến công của ta trong Đông - Xuân 1952-1953 là hướng Tây Bắc. Hướng này vừa là chiến trường có tầm chiến lược quan trọng, vừa có nhiều điều kiện để phát huy sở trường, cách đánh và trình độ tác chiến của bộ đội ta. Do vậy, Trung ương và Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Tây Bắc.


Tây Bắc là một vùng chiến lược quan trọng. Từ đây địch có thể uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc và che chở cho Thượng Lào. Lực lượng chiếm đóng Tây Bắc của địch có 8 tiểu đoàn và 43 đại đội, 11 khẩu pháo bố trí phân tán trên 14 cứ điểm, gồm phần lớn là quân ngụy: Tiểu đoàn Thái số 1 và 8 đại đội đóng ở Phân khu Nghĩa Lộ; Tiểu đoàn Thái số 2 và 7 đại đội đóng ở Phân khu sông Đà; Tiểu đoàn Thái số 3 và 14 đại đội đóng ở Phân khu Sơn La; Tiểu đoàn GFOT và 14 đại đội đóng ở Phân khu Lai Châu; tiểu đoàn ngụy (DAZANO) đóng ở Tiểu khu Tuần Giáo. Lực lượng Âu - Phi có 3 tiểu đoàn (5e, 17e Tabo,2/2e RTA) chốt ở Sơn La, Lai Châu làm nhiệm vụ cơ động. Ngoài ra còn có các tiểu đoàn dù (10eBPC, 2e BEP) ở Hà Nội, khi cần sẽ sẵn sàng tăng viện cho Tây Bắc bằng đường hàng không.


Với lực lượng địch như trên, để đánh bại chúng, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy xác định cùng với tiến công quân sự phải tiến hành tốt công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch, trong đó địch vận được xác định là một mũi tiến công quan trọng.

Thực hiện chủ trương của Trung ương và Tổng Quân ủy, ngay từ cuối tháng 6 năm 1952, để chuẩn bị cho chiến dịch, Tổng cục Chính trị đã tổ chức Hội nghị cán bộ chủ trì các cơ quan trong Tổng cục bàn việc nắm tình hình, giúp các địa phương khu vực Tây Bắc củng cố, xây dựng và phát triển cơ sở chính trị; giao nhiệm vụ chuẩn bị cụ thể cho các cơ quan trong Tổng cục. Đối với ngành địch vận, ngay sau hội nghị, Cục Địch vận đã cử cán bộ đi cơ sở trực tiếp chỉ đạo và cùng cơ quan địch vận các cấp nghiên cứu tình hình địch ở Tây Bắc, trọng tâm là các nội dung: tinh thần, tư tưởng, tâm lý, thành phần quân số các đơn vị địch, trong đó chú trọng quân ngụy, sĩ quan là người địa phương; mâu thuẫn nội bộ, thái độ của quân Pháp đối với quân ngụy địa phương; dự kiến sự chuyển biến tình hình tư tưởng, thái độ, sự tan rã của chúng khi chiến sự diễn ra. Qua quá trình nghiên cứu, chuẩn bị, Cục Địch vận đã tham mưu, đề xuất Tổng cục Chính trị chỉ đạo kế hoạch, nội dung, khẩu hiệu, phương thức tuyên truyền vận động và bố trí hệ thống lãnh đạo công tác; chuẩn bị kế hoạch giáo dục, quản lý và thả tù binh, hàng binh; phổ biến những quy định về kỷ luật và thái độ địch vận áp dụng trong chiến dịch.


Tiếp sau Hội nghị cán bộ cơ quan Tổng cục Chính trị. Hội nghị địch vận các đơn vị chủ lực cũng được tổ chức để nghiên cứu phương pháp tuyên truyền và phổ biến các điều quy định về chính sách tù, hàng binh, đặc biệt là chính sách giáo dục và phóng thích nhanh chóng các tù binh ngụy người địa phương.


Do mục đích và tính chất quan trọng của chiến dịch, nên ngay từ khi triển khai công tác chuẩn bị chiến dịch, Trung ương Đảng và Chính phủ đã có những chỉ thị, mệnh lệnh cho can bộ và bộ đội thi hành trong quá trình tiến hành chiến dịch. Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Chính phủ ban hành "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Cộng hoà dân chủ Việt Nam'', trong đó. Điều 5 về "Thưởng người có công, phạt người có tội" quy định: "Bọn phản quốc, đại gian, đại ác, sẽ bị trừng trị. Những người bị giặc bắt ép phải theo chúng, nay không chống lại chính quyền và Quân đội nhân dân, thì sẽ được Chính phủ khoan hồng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6 (1950-1952), Nxb Chính trị quốc gia, H.2000. tr. 565), về "Giữ gìn trật tự trị an", Điều 6 quy định:

"Tàn quân của giặc Pháp và bọn thổ phỉ đều phải ra thú với quân đội và chính quyền nhân dân.

Ai tự động ra thú và nộp hết vũ khí, sẽ được Chính phủ khoan hồng.

Ai chống cự, không ra thú, hoặc giấu giếm vũ khí sẽ bị trừng phạt.

Ai che giấu cho bọn thực dân, bù nhìn hoặc dung túng giúp bọn thổ phỉ, sẽ bị truy tố.

Ai có công giúp chính quyền và quân đội nhân dân đuổi bắt bọn tàn quân của thực dân Pháp và bọn thổ phỉ hoặc kêu gọi bọn đó ra đầu thú thì sẽ được thưởng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6 (1950-1952), Nxb Chính trị quốc gia. H. 2000. tr 566).


Có thể nói, những mệnh lệnh của Chính phủ là kim chỉ nam hướng dẫn công tác dân vận và địch vận cho cán bộ và bộ đội thực hiện trong quá trình diễn ra chiến dịch Tây Bắc.

Nghiêm chỉnh chấp hành Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ, ngày 19 tháng 9 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra chỉ thị "Về công tác chính trị trong chiến dịch Thu Đông 1952", nêu rõ những công việc cụ thể để thực hiện công tác chính trị trong chiến dịch Tây Bắc. Về công tác địch vận, chỉ thị yêu cầu: "Hoàn thành công tác ngụy vận, làm đúng chính sách tù, hàng binh để mở đường tốt đẹp cho công việc tranh thủ nhân dân"2 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị chiến địch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945-1975. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1998. tr. 136).


Với tinh thần nghiêm túc và tích cực của các cấp, các ngành mà cơ quan dịch vận quân đội là nòng cốt, đến khi bộ đội ta nổ súng mở màn chiến dịch Tây Bắc, những điều kiện cần thiết để tiến hành công tác địch vận chiến dịch đã được chuẩn bị khá chu đáo.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Chín, 2025, 08:17:39 pm
Chiến dịch Tây Bắc diễn ra từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, được chia làm 3 đợt. Lực lượng tham gia gồm các đại đoàn chủ lực là 308, 312, 316 (thiếu), Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148), 6 đại đội sơn pháo 75mm, 3 đại đội súng cối 120mm, 1 trung đoàn công binh và 11 đại đội bộ đội địa phương, do Bộ Tổng tư lệnh tổ chức, chỉ huy; tiến công vào 4 phân khu (Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La) và 3 tiểu khu độc lập (Thuận Châu, Phù Yên, Tuần Giáo) của địch. Để thực hiện tốt công tác địch vận trong chiến dịch quan trọng này, đồng chí Trần Văn Quang - Cục trưởng Cục Địch vận cùng một số cán bộ trong Cục đã trực tiếp tham gia bộ phận tiền phương của Tổng cục Chính trị. Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch, nhiều đơn vị đã làm tốt công tác địch vận kết hợp với tác chiến, có nhiều hình thức sáng tạo, thu được thắng lợi nhanh chóng và hạn chế đổ máu. Bộ đội ta đã chấp hành đúng chính sách dân tộc của Đảng và Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ, thi hành tốt chính sách tù binh, hàng binh, tranh thủ được nhân dân, góp phần đập tan âm mưu chia rẽ dân tộc của địch ở Tây Bắc.


Về công tác tuyên truyền, vận động, căn cứ vào kết quả điều tra tình hình tư tưởng binh lính địch và các tài liệu của tham mưu, báo cáo của cấp ủy các địa phương, cơ quan địch vận đã đề ra những khẩu hiệu tuyên truyền phù hợp. Với ngụy binh là người địa phương, nhất là ngụy binh người Thái, ta đề ra khẩu hiệu: "Súng của giặc mang qua mình, ở với giặc thì chết, bỏ giặc về thì sống". Với binh lính Âu - Phi, ta đề ra khẩu hiệu: "Đừng chết vô ích, chịu bắt làm tù binh sẽ được đối đãi tử tế, được phóng thích và hồi hương". Do thành phần binh lính địch có nhiều quốc tịch, dân tộc khác nhau, ta đã dùng nhiều truyền đơn in bằng các thứ tiếng: Việt, Thái, Pháp,... kể cả tranh vẽ, minh hoạ cho những đối tượng không biết chữ để phát tán vào hàng ngũ địch. Sau đợt 1 của chiến dịch, ta dùng những lời tuyên bố, kêu gọi của chính sĩ quan và binh lính địch bị bắt trong đợt 1 để tuyên truyền. Với các đối tượng địch khác nhau như sĩ quan, binh lính Pháp, binh lính ngụy người Sơn La, Lai Châu, binh lính các tiểu đoàn dù..., ta có các loại truyền đơn phù hợp cho từng đối tượng. Sau đợt 2 chiến dịch, ta có truyền đơn cho các tiểu đoàn Bắc Phi, tiểu đoàn lê dương, v.v...


Cùng với phát hành các loại truyền đơn, việc kêu gọi địch trong tác chiến được thực hiện trong nhiều trận đánh. Nhiều đơn vị dùng cả hàng binh, tù binh để kêu gọi địch đầu hàng.

Trong trận đánh căn cứ Pú Chạng (Nghĩa Lộ đồi) ngày 17 tháng 10 năm 1952 do Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) đảm nhận, sau khi ta làm chủ mặt đất, địch chui xuống hầm ngầm cố thủ và chống cự lại bằng lựu đạn và tiểu liên. Khi phát hiện ra hầm ngầm của địch, ta kêu gọi địch đầu hàng, tuy nhiên chúng vẫn ngoan cố chống cự. Ta cho đánh một quá bộc phá 10kg và kêu gọi, địch vẫn dùng tiểu liên và lựu đạn tiếp tục chống cự quyết liệt. Ta cho nổ quả bộc phá 25kg, địch vẫn dựa vào hầm ngầm kiên cố tiếp tục bán và ném lựu đạn đánh trả. Trước tình hình đó, bộ đội ta hô lớn: Nếu không đầu hàng, ta cho nổ quá bộc phá 35kg và đếm to từ 1 đến 10. Khi ta đếm đến 9, không còn đường nào khác, quân địch kéo nhau ra hàng, tất cả có 84 tên, trong đó có một tên thiếu tá chỉ huy Phân khu Nghĩa Lộ1 (Trận tấn công cứ điểm Nghĩa Lộ - Pú Chạng, Cục nghiên cứu Khoa học quân sự Bộ Tổng tham mưu, xuất bản năm 1960. Dẫn theo Lịch sử Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt (1947-2007), Nxb Quân đội nhân dân, H 2008, tr 136-137).


Ở hướng Nghĩa Lộ phố (hướng thứ yếu) do Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) đám nhiệm, do vào chiếm lĩnh trận địa chậm nên 3 giờ sáng ngày 18 mới nổ súng tiến công. Dựa vào lô cốt chữ H và phía sau còn một khu vực an toàn, địch ngoan cố chống cự. Khi bộ đội ta đánh sập được một góc của lô cốt chữ H, một số tên mới ra hàng, trong đó có tên đại úy chỉ huy phó phân khu. Sau đó, bộ đội ta vừa tiếp tục tiến công, vừa kết hợp kêu gọi. Trước sự tiến công quân sự mạnh mẽ kết hợp với sức ép tâm lý do sự kêu gọi của ta, cuối cùng toàn bộ quân địch dưới hầm ngầm đã kéo nhau ra hàng.


Đêm 20 tháng 10 năm 1952, tại trận Ba Khe do Trung đoàn 174 đám nhiệm, bộ đội ta không tiến công địch trong đồn mà truy tìm tàn binh địch đang chạy trốn tan tác trong rừng. Cơ quan địch vận tổ chức rải truyền đơn ở những đoạn đường gần khu vực tàn binh địch lẩn trốn, viết những khẩu hiệu cắm ở những nơi tàn binh địch có thể đi lại. Kết quả trong 5 ngày, quân ta đã bắt được gần 100 tên, trong đó có một quan hai chỉ huy đồn Ca Vịnh và tên đồn trưởng đồn Ba Khe. Có trường hợp địch đói ăn, vào ăn trộm của dân hoặc xin ăn, bị dân bắt được đem giao cho bộ đội. Một số tên còn tự động vác súng đến nộp cho bộ đội. Ta động viên những tên này đi gọi những tên khác trong rừng. Một số tên còn chỉ chỗ trốn của sĩ quan để bộ đội ta đến bắt, chỉ chỗ địch giấu súng, điện đài để bộ đội ta đến thu...


Trận Mường Say, sau 3 ngày bao vây và phát động nhân dân kêu gọi địch đầu hàng, khi địch rút chạy, cả nhân dân địa phương và bộ đội vừa truy kích vừa kêu gọi địch đầu hàng, kết quả có 1 đại đội ngụy ra hàng. Bộ đội ta đã linh hoạt kết hợp công tác địch vận với dân vận thông qua việc thả tù binh, dùng tù binh và gia đình họ tiếp tục kêu gọi, vận động số binh linh còn trong các đơn vị ngụy. Một số gia đình ngụy binh có con em còn lẩn trốn trong rừng đã tự giác báo cáo với bộ đội và được các đơn vị ta giúp tìm, kêu gọi ra hàng và đưa về gia đình an toàn.


Cùng với công tác tuyên truyền, vận động, kêu gọi địch đầu hàng, công tác tù, hàng binh trong chiến dịch cũng có nhiều tiến bộ. Tây Bắc là chiến dịch đầu tiên ta sử dụng được đại đa số tù binh là sĩ quan Pháp, Phi, ngụy viết những tài liệu có giá trị, kịp thời phục vụ công tác tuyên truyền địch vận ngay trong chiến dịch. Những tài liệu như lời kêu gọi của sĩ quan và binh lính Pháp ở Nghĩa Lộ, của tù binh thuộc 6e B.P.C, thuộc 3/I RTM đều có chữ ký của hầu hết tù binh, binh lính và sĩ quan. Chúng ta đã dùng phương pháp giải thích vận động theo đúng đường lối quần chúng, dùng một số tù binh tương đối tiến bộ hơn để vận động những tù binh khác cũng như binh lính đang còn trong hàng ngũ địch.


Nghiêm chỉnh thực hiện mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, vấn đề đối xử với tù, hàng binh trong chiến dịch có nhiều tiến bộ đáng kể. Những hiện tượng tự phát trước đây đã từng diễn ra như ngược đãi và tàn sát tù binh, thương binh địch đã không còn. Trong nhiều trường hợp, bộ đội ta đã có nhiếu hành động nhân đạo như chia phần cơm cho tù binh hoặc kiên quyết không nhận những thứ như đồng hồ, bút máy hay tiền bạc do tù binh đưa trong khi bị dẫn giải. Đồng thời, giải thích cho tù binh hiểu về tính chất của quân đội ta, làm cho tù binh tin tưởng và cảm phục bộ đội, tạo được tâm lý yên tâm cho tù binh khi đang bị ta bắt giữ.


Công tác giáo dục và phóng thích ngụy binh người địa phương đã được thực hiện nhanh chóng và kịp thời.Tất cả các ngụy binh trước khi được phóng thích về địa phương đều được giáo dục từ 2 đến 4 ngày, được cấp giấy tờ, cá biệt một số còn được cấp lương thực khi phóng thích để hỗ trợ họ có điều kiện trở về gia đình ở xa. Nói chung, chỉ khoảng 10 ngày sau khi giải phóng Tây Bắc, hầu hết tàn binh địch đều mang vũ khí nộp cho chính quyền.


Tuy đạt được những thành tích đáng kể nhưng công tác địch vận trong chiến dịch Tây Bắc vẫn còn một số hạn chế nhất định như việc phổ biến chính sách trong nhân dân và vận động, hướng dẫn nhân dân tham gia chưa được rộng rãi, đặc biệt là chính sách đối với ngụy binh và gia đình ngụy binh. Trong khi tác chiến, việc kêu gọi địch nhiều nơi thực hiện chưa phù hợp ví dụ như bao vây địch chưa chặt, chưa chắc thắng đã kêu gọi, làm cho địch chạy thoát. Công tác vận động tàn binh cũng có khuyết điểm như ở Sài Lương, trong khi kêu gọi vẫn bắn súng lung tung làm địch sợ hãi không dám ra hàng. Thái độ đối với tù binh lẻ tẻ còn có hiện tượng lệch lạc như đánh tù binh, dùng tù binh khiêng thương binh của ta. Trái lại, có nơi xảy ra hiện tượng thực hiện máy móc chính sách tù binh, ưu đãi tù binh thái quá như cho tù binh bị thương nằm điều trị trong quân y viện cùng với thương binh của ta, dùng bộ đội khiêng tù binh bị thương, v.v...


Mặc dù còn một số khuyết điểm nhưng nhìn chung, công tác địch vận trong chiến dịch Tây Bắc đã thu được nhiều thành tích. Cùng với tinh thần chiến đấu dũng cảm của bộ đội với những đòn tiến công quân sự mạnh mẽ, đường lối, chính sách của ta đối với tù binh, hàng binh đã được thực hiện nghiêm chỉnh, có tác dụng tốt cho việc tuyên truyền, kêu gọi dịch ra hàng. Cán bộ, chiến sĩ và cấp ủy địa phương đã phối hợp chặt chẽ trong công tác địch vận. Có thế khẳng định, những thành tích địch vận đạt được đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến dịch Tây Bắc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Chín, 2025, 08:21:01 pm
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

Đại tá, TS NGUYỄN THÀNH HỮU
Ban Tổng kết biên soạn lịch sử Bộ Tổng tham mưu


Tháng 9 năm 1952, từ so sánh thế lực giữa ta và địch trên chiến trường, căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc; giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc1 (Kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn. Bộ Tổng tham mưu, tập II, tr. 139).


Tuy thời gian được chuẩn bị dài nhưng trong chiến dịch ta gặp nhiều khó khăn do nhận thức trước đây cho Tây Bắc là chiến trường thứ yếu, ít quan tâm nên nắm không chắc. Mặt trận Tây Bắc lúc này gồm bốn tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu2 (Quyết định thành lập Khu Tây Bắc ngày 17 tháng 7 năm 1952) rộng chừng 44.300km2 với khoảng 440.000 dân gồm nhiều dân tộc, trong đó người Thái chiếm đa số3 (Người Thái: 200 000 người (45%), người Mông: 70.000 người (16%), người Thổ: 47.000 người (10%), người Mường: 36.000 người (8%) cỏn các dân tộc thiểu số khác: 87.000 người (21%)).


Lợi dụng chính quyền ta sau Cách mạng tháng Tám còn non yếu, tàn binh Pháp sau ngày Nhật đảo chính chạy sang Trung Quốc quay về chiếm hai tỉnh Lai Châu Sơn La, các huyện Văn Chấn, Văn Bàn, Than Uyên,Phong Thổ, Bình Lư; lập xứ Thái tự trị để chia rẽ dân tộc đưa bọn tay sai cũ Đèo Văn Long, Bạc Cầm Quỳ ra làm tay sai kìm kẹp nhân dân.


Về phía ta, bộ đội và cán bộ ta hầu hết chưa quen địa bàn, cơ sở nhân dân chưa vững chắc, nhân dân chưa hiểu hết các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ...

Tây Bắc có nhiều dãy núi cao trên 1.000m, cao nhất là Hoàng Liên Sơn, có đỉnh Phan Xi Păng 3.142m; có hai đường chính vào Tây Bắc là đường 13 từ Yên Bái đi Ba Khe, Phù Yên, Tạ Khoa, Cò Nòi gặp đường 41 và đường 6 từ Hoà Bình lên Mộc Châu nối đường 41 lên Sơn La Lai Châu... Tiến vào Tây Bắc phải qua hai con sông lớn là sông Hồng và sông Đà. Sông Hồng lúc này là ranh giới giữa ta và địch. Tây Bắc có 4 cánh đồng lớn là Mường Thanh, Nghĩa Lộ, Than Uyên và Phù Yên.


Nghiên cứu chiến trường Tây Bắc, Bộ Tổng tham mưu nhận thấy rõ những thuận lợi và khó khăn, đặc biệt khó khăn về việc nắm tình hình chưa chắc và vấn đề tiếp tế, cung cấp cho lực lượng lớn chủ lực ta hoạt động. Cơ sở chính trị ở Tây Bắc yêu, bị xáo trộn nhiều sau chiến dịch Lý Thường Kiệt không thành công, bị địch khủng bố chỉ còn lại một số nơi1 (Cơ sở Văn Chấn có Sài Lương, Gia Hội, Phù Nhâm, Sơn Tịnh, Hạnh Sơn, Thạch Tương, Sơn A, Sơn Lương, Trạm Tấu, Đả Sỏi, Ba Khe, Suối Đá, Ba Cầu, Than Uyên có Mường Khoa, Thân Thuộc, Mường Thản, Mường Cay, Mường Kim, Khao Mảng, Lao Chày, Pún Mún, Tú Lệ. Phù Yên có Quang Huy, Tương Gia Phù, Tấn Tượng Phong, Khu Mông 99. Mai Sơn có Hát Lót, Chiềng Bang, Mai Ly). Đồng bào Tây Bắc ít có điều kiện tiếp xúc với cách mạng, lại bị lừa bịp, khống chế, dùng Chiến tranh tâm lý, chia rẽ, phá hoại chính sách của Đảng, nên vấn đề tranh thủ nhân dân, vấn đề vận động quần chúng là nhiệm vụ hết sức quan trọng của chiến dịch. Cơ sở yêu ảnh hưởng nhiều đến vấn đề nắm địch, vấn đề phối hợp chiến đấu, đẩy mạnh du kích Chiến tranh và vấn đề huy động nhân vật lực của địa phương.


Phân tích sâu các mặt nói trên, Bộ Tổng tham mưu cùng Tổng cục Cung cấp bàn cụ thể kế hoạch bảo đảm vật chất cho chiến dịch... Bộ Tổng tham mưu đề nghị Tổng Quân ủy tăng cường cán bộ dân vận cho Tây Bắc làm công tác chính trị, dân vận, gây cơ sở và nắm quần chúng.


Đầu tháng 4 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu sơ bộ dự thảo xong kế hoạch chiến dịch báo cáo Tổng Quân ủy. Ngày 16 tháng 4 năm 1952, Tổng Quân ủy họp mở rộng có đại biểu tham mưu, chính trị, cung cấp, Văn phòng Thủ tướng phủ, Văn phòng Trung ương, Liên khu ủy Việt Bắc, phổ biến chỉ thị của Trung ương Đảng mở chiến dịch Tây Bắc; phổ biến sơ bộ kế hoạch tác chiến. Tổng Quân ủy quyết định thành lập Ban chuẩn bị chiến trường gồm các đồng chí Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Thái, Lê Liêm, Nguyễn Văn Nhạn, Phan Mỹ, Chu Văn Tấn. Bùi Quang Tạo, Trần Quyết, Đồng Sỹ Học và đồng chí Bằng Giang đại biểu Mặt trận Tây Bắc.


Trong hai ngày 27 và 28 tháng 4 năm 1952, Ban chuẩn bị chiến trường họp nghe Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái báo cáo tình hình trong đó có việc cử đoàn cán bộ và chiến sĩ Cục Quân báo do đồng chí Lê Quang Vũ phụ trách đi nghiên cứu địch ở Nghĩa Lộ. Ngoài ra còn có một số cán bộ địa phương của Phù Yên đi xây dựng cơ sở, một số cán bộ tác chiến đi nghiên cứu địa hình, đặt kế hoạch hành trú quân, tập kết cho các đơn vị. Số cán bộ này sẽ lên đường đi Tây Bắc vào ngày 2 tháng 5 năm 1952. Liên khu Việt Bắc cử hai liên khu ủy đi Tây Bắc, tăng cường chỉ đạo xây dựng cơ sở. Đồng chí Đồng Sỹ Học phụ trách Văn Chấn và Nghĩa Lộ; đồng chí Trần Quyết phụ trách Vạn Yên và Quang Huy. Đồng thời Liên khu mở lớp bồi dưỡng cán bộ cơ sở là các huyện ủy viên và quần chúng tết ở địa phương Tây Bắc, Cán bộ Bộ Tổng tham mưu được cử tới lớp học nắm thêm tình hình địch, tình hình cơ sở và binh yếu địa chí để bổ sung kế hoạch tác chiến...


Trong các ngày 2 và 3 tháng 6 năm 1952, Ban chuẩn bị chiến trường họp kiểm tra thêm mật chuẩn bị. Đồng chí Bùi Quang Tạo báo cáo khả năng huy động nhân vật lực ở Phú Thọ, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Yên Bái. Đợt đầu chiến dịch dự kiến 4.335 tấn gạo, 90 tấn muối, 125 tấn thịt, 527 tấn vũ khí đạn dược. Liên khu 4 sẽ chuẩn bị lương thực cho đợt 2... Trong khi vật chất phải bảo đảm cho chiến dịch ước tính khoảng 9.000 tấn lương thực, thực phẩm, 120 tấn vũ khí đạn dược; khoảng 35.000 dân công.


Ngày 4 và 5 tháng 7 năm 1952 Tổng Quân ủy họp mở rộng. Tổng Tham mưu trưởng thông báo tin tức của đoàn đi trinh sát. Ta đã bắt được liên lạc với một số cán bộ cơ sở ở Nghĩa Lộ, Phù Yên, Quỳnh Nhai, nhưng phần nhiều còn ở trên núi cao chưa xuống được đồng bằng và chưa phát triển được sâu vào vùng địch tạm chiếm.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Chín, 2025, 08:22:56 pm
Để đáp ứng đủ nhân vật lực phục vụ kịp thời cho tiền tuyến, ngày 14 tháng 7 năm 1952, Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về huy động dân công. Ban dân công các tỉnh được thành lập. Việc điều khiển gom lương, vận chuyển chủ yếu dựa vào nguồn nhân vật lực địa phương, do Ban cung cấp tiền phương, Ban cán sự đường 41 - Tổng cục Cung cấp đảm nhiệm.


Ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách 4 tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái thuộc Liên khu Việt Bắc, thành lập Khu Tây Bắc. Đồng chí Bùi Quang Tạo được cử làm Chính ủy, Bí thư Khu ủy; đồng chí Bằng Giang là Tư lệnh; đồng chí Đồng Sỹ Học là Phó Chính ủy Khu. Từ ngày 30 tháng 7 năm 1952, Khu ủy Tây Bắc triển khai thực hiện các nhiệm vụ Trung ương giao. Trước mắt ổn định các tổ chức Đảng, chính quyền trong Khu, kiện toàn bộ máy lãnh đạo1 (Toàn Khu Tây Bắc có 145 chi bộ với 3.846 Đảng viên và 495 cán bộ (trong đó có 17 chi bộ bộ đội địa phương, 76 chi bộ xã, 51 chi bộ cơ quan, 1 chi bộ Xí nghiệp. Trong tổng số Đảng viên có 3.775 là đảng viên chính thức. Trong số 495 cán bộ có 5 khu ủy viên, 49 tỉnh ủy viên, 205 huyện ủy viên, 236 cán bộ xã (HS sỗ 1-K4, VPBQP)). Công tác xây dựng cơ sở hậu địch được Khu ủy hết sức chú trọng nhằm đảm bảo hành quân, trú quân, dẫn đường cho bộ đội, trinh sát nắm địch và tìm hiểu khả năng huy động nhân vật lực của các địa phương trong Khu phục vụ chiến dịch.


Tỉnh Yên Bái đưa cán bộ cốt cán xuống các cánh đồng lớn Mường Thanh, Nghĩa Lộ hoạt động; phục hồi và xây dựng thêm nhiều cơ sở mới ở Man La, Hố Pèng, Man Bó Siêu, Nga Hai, Văn Ngân, Dao Luôn và Khe Lóng; củng cố các cơ sở cũ ở Sơn Lương, Gia Hội và phát triển sâu vào Nghĩa Lộ; gây lại cơ sở ở Mường Khoa. Thân Thuộc, 48 bản của Than Uyên đã xây dựng được cơ sở mới.


Tỉnh Sơn La đã tăng cường cán bộ cho các trọng điểm, phát triển thêm cơ sở gần khắp Quang Huy, khu Mậu A,hữu ngạn sông Đà. Các tổ vũ trang tuyên truyền đã vào được Tạ Khoa, Cò Nòi, Hát Lót và gần thị xã...

Ngày 10 và 11 tháng 8 năm 1952, Ban chuẩn bị chiến trường hợp kiểm điểm thấy việc chuẩn bị cơ sở địa phương và gạo còn chậm... nên quyết định xúc tiến gấp việc điều tra thêm tình hình địch ở Bản Lìu, Cửa Nhì, Nghĩa Lộ; chuẩn bị thêm cơ sở ở Nghĩa Lộ, chủ yếu ở Sài Lương; củng cố thêm cơ sở ở Phù Yên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, gáy lại cơ sởở Yên Châu, Mường La và Than Uyên; xúc tiến bố trí các kho hậu cần khu vực hành quân ở tả ngạn sông Hồng; trước mắt lấy Yên Bái làm căn cứ hậu phương dựa vào các tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc làm nguồn cung cấp chủ yếu về dân công và lương thực... Ngoài ra Ban cán sự đường 41 lấy Suối Rút cây số 22 làm căn cứ hậu phương, dựa vào vùng tự do của Liên khu 3 Hoà Bình, Ninh Bình và chủ yếu là Thanh Hoá để huy động nhân vật lực phục vụ cho chiến dịch. Chấn chỉnh biên chế và trang bị cho bộ đội địa phương ở Tây Bắc thích hợp với nhiệm vụ thâm nhập vào địch hậu.


Từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu tổ chức hội nghị giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Bí thư Tổng Quân ủy phổ biến nghị quyết của Trung ương Đảng mở chiến dịch Tây Bắc. Tổng Tham mưu trưởng trình bày kế hoạch chiến dịch trong đó giao cho Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148 Mặt trận Tây Bắc luồn sâu vào địch hậu Quỳnh Nhai (tây bắc Sơn La 68km) để tranh thủ nhân dân, củng cố và mở rộng cơ sở chính trị, phát triển du kích chiến tranh, mở rộng căn cứ, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, có kế hoạch tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; lấy nhiệm vụ tranh thủ nhân dân, củng cố và mở rộng cơ sở chính trị làm trọng tâm. Tổng Tham mưu trưởng nhấn mạnh việc sử dụng bộ phận nhỏ bộ đội vào địch hậu phát động nhân dân, hoạt động du kích nhằm cô lập Sơn La.


Từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc được triệu tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm; Người nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ nhiều vấn đề trong đó đặc biệt nhấn mạnh chính sách đối với đồng bào thiểu số khi ta tiến quân vào Tây Bắc.
   

Thay mặt Tổng Quân ủy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết luận hội nghị nêu rõ ba nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch và nhấn mạnh nhiệm vụ tranh thủ nhân dân. Ở Tây Bắc việc tranh thủ nhân dân có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng vì ở đây âm mưu phá khối đại đoàn kết, chia rẽ dân tộc của địch rất thâm độc. Thực dân Pháp đã thất bại trong việc lập xử Tày, xứ Nùng, xứ Mường, xứ Thái tự trị ở Cao - Bắc - Lọng, Lào Cai, Hoà Bình, nhưng ở Tây Bắc các thế lực thù địch còn mạnh, còn khống chế được đại bộ phận các dân tộc. Ta phải tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc để đánh bại hoàn toàn âm mưu thâm độc chia để trị, "dùng người Việt đánh người Việt" của địch.


Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định cử đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh làm Tư lệnh: đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng; đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ nhiệm Chính trị; đồng chí Trần Đăng Ninh1 (Về đồng chí Chủ nhiệm Cung cấp có tài liệu viết là Nguyễn Thanh Bình. Ở đây, chúng tôi dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2006, tr. 824), Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp làm Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch. Đảng ủy chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư. Các cơ quan tổ chức các bộ phận tiền phương hình thành cơ quan chiến dịch.


Tiếp đó Hội nghị nghe phổ biến chỉ thị ngày 16 tháng 8 năm 1952 của Trung ương Đảng về "Thi hành chính sách dân tộc thiểu số ở Khu Tây Bắc", "Tám điều mệnh lệnh" của Chính phủ về chính sách dân vận trong chiến dịch và huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại hội nghị..., Bộ Tổng tư lệnh cũng phổ biến 10 điều kỷ luật chung của quân đội và 3 điều kỷ luật chiến trường Tây Bắc...


Cuối tháng 9 năm 1952, Khu ủy Tây Bắc triệu tập Hội nghị cán bộ mở rộng quán triệt chính sách vận động số của Đảng. Hầu hết các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, huyện ủy và cán bộ các ban, ngành khu đều có mặt. Hội nghị đã nghiên cứu chỉ thị thành lập Khu Tây Bắc, học tập chính sách dân tộc thiểu số, Chỉ thị 15 của Trung ương về việc thực hiện chính sách dân tộc ở vùng mới giải phóng, đặt chương trình công tác 3 tháng cuối năm để động viên cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân toàn Khu huy động mọi khả năng phục vụ chiến dịch.


Ngày 16 tháng 9 năm 1952,Bộ Tổng tham mưu ra chỉ thị về hành quân, yêu cầu các đơn vị cho công binh sửa đường. Tổng Quân ủy giao nhiệm vụ cho Bộ Tổng tham mưu đặt kế hoạch vượt sông Hồng và chỉ đạo trực tiếp các đơn vị vượt sông ở hướng chính. Ngày 19 tháng 9 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra chỉ thị "Về công tác chính trị chiến dịch Thu Đông 1952" nêu rõ những công việc cụ thể để thực hiện nhiệm vụ công tác chính trị trong chiến dịch Tây Bắc, nhấn mạnh việc chấp hành chính sách dân tộc thiểu số của Trung ương và kiên quyết thi hành Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ; làm đúng chính sách tù hàng binh để mở đường cho công việc tranh thủ nhân dân; tăng cường công tác chính sách đối với dân công; nâng cao tinh thần thương yêu nhau ngoài mặt trận...


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Chín, 2025, 08:24:34 pm
Do những khó khăn đặc biệt của việc vượt sông, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định thành lập Ban chỉ huy vượt sông do Tổng Tham mưu trưởng làm trưởng ban để thống nhất điều khiển bộ đội, dân công vượt sông Thao vào chiếm lĩnh trận địa. Một số cán bộ tham mưu, công binh được cử vào Ban vượt sông. Ngoài ra Bộ Tổng tư lệnh điều thêm một số cán bộ thuộc các tổng cục, Liên khu Việt Bắc trong đó có nhiều cán bộ công binh và bảo vệ để bảo đảm an toàn và bí mật. Nhiệm vụ của Ban chỉ huy bên vượt là chuẩn bị đầy đủ phương tiện vượt sông, đặt kế hoạch, tổ chức các bến vượt. Ngày 7 tháng 10 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu ra mệnh lệnh tác chiến cho các đơn vị, xác định lại nhiệm vụ và quy định vượt sông cho các đơn vị...


Mặc dù lực lượng vượt sông rất lớn cả bộ đội và dân công, chưa kể binh khí kỹ thuật. Nhưng do làm tốt công tác vận động quần chúng, nên Ban chỉ huy vượt sông đã huy động trong nhân dân hai tỉnh Phú Thọ, Yên Bái được hơn 400 thuyền nan, gần 350 thuyền gỗ... để chở bộ đội và dân công. Các khu vực Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu tổ chức nhiều bến vượt, có bến chở bộ đội, có bến dành cho dân công. Suốt trong hai đêm (10 và 11-10-1952), Ban chỉ huy vượt sông đã bảo đảm cho 8 trung đoàn với trên 30.000 bộ đội, dân công tham gia chiến dịch đợt 1 vượt sông Thao một cách an toàn.


Do khả năng huy động lương thực từ hậu phương lên khó khăn, Tổng Quân ủy chủ trương huy động lương thực tại chỗ. Tây Bắc có bốn cánh đồng lúa, ta giải phóng hai, trừ Mường Thanh và Than Uyên. Lúc này đúng vào vụ mùa lúa chín. Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho bộ đội giúp dân gặt hái, xay giã và vận động nhân dân cho bộ đội vay hoặc bán. Do cán bộ địa phương tích cực vận động nên chỉ riêng Nghĩa Lộ đã huy động được 160 tấn gạo, 16 tấn thịt. Tính cả Tây Bắc sau này Tổng cục Cung cấp đã huy động được 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 15.500 dân công. Một con số tuy chưa nhiều so với số tiêu thụ trong chiến dịch1 (Chiến dịch Tây Bắc ta huy động 11.750 tấn gạo (tiêu thụ hét 9.890 tấn), 164 tấn muối, 235 tấn thịt, 02 tấn thực phẩm khác), nhưng đã giải quyết được một phần khó khăn cho bộ đội.


Đêm 14 tháng 10 năm 1952, ta mở màn chiến dịch Tây Bắc và sau gần hai tháng anh dũng chiến đấu, chiến dịch đã kết thúc thắng lợi. Quân và dân ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch2 (Diệt 1.005 lên, bắt 5.024 tên,tiêu diệt 4 tiểu đoàn, 28 đại đội, đánh thiệt hại nặng nhiều tiểu đoàn tinh nhuệ, phá hủy và thu toàn bộ vũ khí, đồ dùng quân sự, các kho lương thực, thực phẩm của địch); hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng đất đai và tranh thủ nhân dân. Vùng mới giải phóng rộng 28.500km2 với 250.000 dân là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, cả bốn cánh đồng lớn Mường Thanh, Nghĩa Lộ, Phù Yên, Than Uyên đã thuộc về ta. Tây Bắc trở thành căn cứ địa nối liền với căn cứ địa Việt Bắc là một bảo đảm cho cuộc kháng chiến lâu dài của ta và có tác động lớn đến cách mạng Lào.


Chiến thắng Tây Bắc đã đập tan cái gọi là "Xứ Thái tự trị" mà địch cho là "một thành công điển hình" trong âm mưu chia rẽ dân tộc "dùng người Việt đánh người Việt" của chúng.

Đây cũng là thắng lợi của tinh thần giác ngộ cách mạng, phục vụ hẽt lòng hết sức vì tiền tuyến của quân dân Khu Tây Bắc. Khu ủy Tây Bắc coi đây là nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi tập trung sự lãnh đạo chặt chẽ từ trên xuống cơ sở. Nhiều nơi giáp hạt thiếu ăn, thiếu nhân công gặt mùa, nhưng nhân dân vẫn tự nguyện góp lương thực, thực phẩm, hăng hái đi dân công, vừa phục vụ tiền tuyến vừa đánh giặc bảo vệ hậu phương. Anh chị em dân công chịu đựng gian khổ, khó khăn không kém bộ đội, ngày đêm xông pha hoả tuyến; nhiều người bị thương và hy sinh vì bom đạn địch. Khẩu hiệu "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng" đã quán triệt sâu sắc và trở thành hành động cách mạng của quần chúng.


Mặc dù gặp nhiều khó khăn, phải huy động một khối lượng lớn sức người, sức của, đường tiếp tế xa, lắm đèo nhiều suối, lại phải vượt qua sông Hồng và sông Đà, thời tiết khắc nghiệt, phương tiện vận chuyển thô sơ, chủ yếu bằng đôi vai, nhưng quân và dân Tây Bắc đã quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ phục vụ chiến dịch1 (Gần 20 vạn dân công với 7 triệu ngày công; 11.750 tấn gạo, 164 tấn muối 235 tấn thịt, 44 tấn thực phẩm, 83 tấn vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng đã được huy động và vận chuyển kịp thời phục vụ chiến đấu).


Có thể nói, tiềm lực to lớn của hậu phương là nhân tố quan trọng góp phần làm nên chiến thắng. Tiềm lực ấy được nhân lên, được phát huy cao độ, là thành công của công tác vận động quần chúng của Đảng mà cụ thể là sự nỗ lực của tất cả các lực lượng trong chiến dịch. Từ chủ trương, chính sách của Đảng đến hoạt động không biết mỏi của cán bộ cơ sở các cấp và bộ đội, đã luồn sâu, đi sát, sống giữa lòng dân, năm tình hình, giác ngộ, động viên quần chúng, vận động quần chúng nhận thức, tin theo và làm theo sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, một lòng một dạ tin tưởng, theo Đảng, tận tâm phục vụ và tham gia đóng góp sức người sức của cho chiến dịch. Điều đó được thể hiện trong điều kiện sinh sống không tập trung kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, lại bị địch vơ vét, cướp phá, nhưng đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã huy động tại chỗ phục vụ cho chiến dịch 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 41 tấn thực phẩm khác cùng với 150.000 ngày công. Đây là con số mang ý nghĩa to lớn, khẳng định chủ trương huy động sức người, sức của ở vùng mới giải phóng, hậu phương tại chỗ của Đảng ta là rất sáng suốt. Thực hiện quyền làm chủ của mình, nhân dân các dân tộc vùng mới giải phóng đã hăng hái đóng góp phục vụ chiến dịch, qua đó người dân càng gắn bó với cách mạng với sự nghiệp giải phóng quê hương. Riêng tỉnh Yên Bái đã huy động 5.428 dân công thường trực, chiếm 20% số dân, 1.000 dân công xung phong đi phục vụ một tháng và 2.312 dân công đi phục vụ trong 7 ngày; 730 tấn gạo, 622 con trâu, 368 con lợn, 16 tấn đậu, lạc, vừng và 722 tạ muối ăn. Thực hiện chủ trương huy động hậu cần tại chỗ, nhân dân Nghĩa Lộ nơi diễn ra những trận chiến đấu ác liệt, then chốt mở đầu chiến dịch Tây Bắc cũng tự nguyện đóng góp 250 tấn gạo, 7 con trâu, 5 con bò, 9 con lợn thịt để nuôi quân. Nhân dân Yên Bái đã làm tròn nghĩa vụ của mình cùng quân dân cả nước đưa chiến dịch đến toàn thắng.


Ngày 29 tháng 1 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm Hội nghị tổng kết chiến dịch, Người nói các chú đã làm đúng chính sách của Trung ương đối với đồng bào thiểu số Tây Bắc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết luận việc chấp hành chính sách dân tộc thiểu số của Trung ương đạt được yêu cầu.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đã đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiến lên một bước mới trên con đường tiếp tục giữ vững và phát huy thế chủ động chiến lược. Quân dân cả nước nói chung các dân tộc thiểu số Tây Bảc nói riêng càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài tình của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch. Bộ đội ta đã chấp hành đúng chính sách dân tộc của Đảng và Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ, vận động quần chúng tích cực, tranh thủ được nhân dân, góp phần đập tan âm mưu chia rẽ dân tộc của địch ở Tây Bắc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2025, 08:55:47 pm
CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG - NHÂN TỐ GÓP PHẦN THẮNG LỢI TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

TS CHU ĐÌNH LỘC
Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang
Trung tá CHU VĂN LỘC
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cuộc kháng chiến chống Pháp từ sau năm 1950 đã chuyển sang giai đoạn mới, quân ta giành được thế chủ động, mở những đợt hoạt động lớn gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại. Phát huy thế và lực mới, ngay từ cuối chiến dịch Hoà Bình (2-1952), Bộ Chính trị đã có ý định mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc. Trên cơ sở lực lượng, so sánh giữa ta và địch. Tổng Quân ủy nhận định: "Trên chiến trường Bắc Bộ lúc này, không có hướng nào địch yếu như Tây Bắc"1 (Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975). tập 1, Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 175). Căn cứ đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm "tiêu diệt sinh lực dịch; tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân vùng Tây Bắc và cuối cùng là giải phóng một bộ phận đất đai ở vùng Tây Bắc"1 (Bộ Tổng tham mưu, Kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, tập 2. Sđd. tr. 139). Các đơn vị tham gia chiến dịch gồm các đại đoàn 308, 312, 316, Trung đoàn 351 Đại đoàn công pháo 351, Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148 và một số đơn vị bộ đội địa phương... Chỉ huy trường chiến dịch: đồng chí Võ Nguyên Giáp; Tham mưu trưởng: đồng chí Hoàng Văn Thái; Chủ nhiệm chính trị: đồng chí Nguyễn Chí Thanh; Chủ nhiệm cung cấp: đồng chí Trần Đăng Ninh2 (Về Đồng chí Chủ nhiệm Cung cấp có tài liệu viết là Nguyễn Thanh Bình. Ở đây, chúng tôi dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân. H. 2006, tr 824). Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc mở màn và kết thúc ngày 10 tháng 12 năm 19523 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị. Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và bài học. Nxb Chính trị quốc gia H.1996. tr. 186), diễn biến thành 3 đợt: Đợt 1, từ 14 đến 23 tháng 10; đợt 2, từ 7 đến 22-11; đợt 3, từ 30 tháng 11 đến 10 tháng 12 năm 1952.


Chiến dịch tiến công Tây Bắc là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho bộ đội và dân công tham gia chiến dịch có vai trò hết sức quan trọng. Ngay từ những ngày chuẩn bị công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đã được Đảng và Bác Hồ hết sức coi trọng. Đầu năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở lớp chỉnh Đảng với mục đích và yêu cầu là: "Lấy tư tưởng Mác-Lênin của giai cấp vô sản khắc phục những tư tưởng sai lầm trong Đảng..., do đó mà củng cố lập trường chính trị của cán bộ, đảng viên, làm cho... tư tưởng, cán bộ, Đảng viên nhận rõ ta, bạn, địch, nắm vững chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng, nắm vững tư tưởng trường kỳ kháng chiến tự lực cánh sinh..."1 (Văn kiện Đảng, Toàn tập. tập 13. Nxb Chính trị quốc gia. H 2001.tr. 103,66. 72. 74).


Để thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, tháng 4 năm 1952, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3, khẳng định: "Kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhân dân ta đoàn kết yêu nước, nhân dân thế giới giúp đỡ ta. Nên ngay từ đầu, ta hơn địch về chính trị, về tinh thần. Song ta kháng chiến về mọi mặt: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa. Đối với toàn bộ cuộc chiến tranh, thì chính trị và tinh thần là một nhân tố quyết định thắng lợi"2 (Văn kiện Đảng, Toàn tập. tập 13. Nxb Chính trị quốc gia. H 2001. tr. 103, 66. 72. 74). Hội nghị đánh giá tình hình, chỉ ra những sai lầm, trong đó nhấn mạnh "coi nhẹ chất lượng chính trị của quân đội"3 (Văn kiện Đảng, Toàn tập. tập 13. Nxb Chính trị quốc gia. H 2001.tr. 103,66. 72. 74), nguyên nhân là "phương pháp tư tưởng của ta còn tính chất chủ quan, một chiều. Lập trường giai cấp và quan điểm quần chúng trong Chiến tranh nhân dân của ta chưa được vững"4 (Văn kiện Đảng, Toàn tập. tập 13. Nxb Chính trị quốc gia. H 2001.tr. 103,66. 72. 74) và đề ra những nhiệm vụ thiết thực chuẩn bị tổng phản công, trong đó nhấn mạnh: "Xây dựng quân đội mạnh hơn nữa, tiến hành chính quân để đề cao chất lượng chính trị của bộ đội, đề cao tư tưởng của cán bộ cũng như đề cao trình độ chiến thuật, kỹ thuật của toàn quân; tăng cường tổ chức, trang bị, cái thiện cung cấp..."5 (). Quán triệt sâu sắc quyết tâm của Trung ương Đảng, xây dựng tinh thần chủ động, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách dân tộc, tích cực tiến công địch, Tổng Quân ủy chỉ rõ: "Việc thống nhất tư tưởng, quán triệt sâu sắc quyết tâm mở chiến dịch của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được để đánh thắng quân địch"6 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952),H.1992. tr 76).


Từ quan điểm trên, các đơn vị tiến hành đợt chính quân chính trị, chỉnh huấn quân sự theo chủ trương của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 3, nhằm nâng cao quan điểm, lập trường tư tưởng, khắc phục những nhận thức sai lầm về tổng phản công, nôn nóng, muốn thắng nhanh, hoặc ý lại sự viện trợ của nước ngoài... Việc lãnh đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, trong Hội nghị Tuyên huấn toàn quân cũng đã xác định: "Phải đặt thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong quân đội"1 (Nghị quyết Hội nghị Tuyên huấn toàn quân lần thứ nhất (từ 21- 30.8 1952)), rèn cho cán bộ, chiến sĩ có một tư tưởng chính trị vững vàng, nhận rõ thù, bạn và ta, nâng cao ý thức chính trị. Xây dựng tư tưởng kháng chiến lâu dài, gian khổ, niềm tin nhất định thắng lợi, rèn luyện tư tưởng tự lực cánh sinh, vượt mọi khó khăn, quét sạch các tư tưởng sai lầm và các bệnh đã mắc phải, củng cố phát triển bộ đội, quyết tâm chiến đấu tiêu diệt địch, bảo đảm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Kết hợp chặt chẽ giáo dục giác ngộ giai cấp với giác ngộ dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước cao độ và tinh thần quốc tế. Hiểu rõ tính chất quân đội nhân dân với mục đích xây dựng quân đội nhân dân, kết hợp giáo dục chính trị với nhiệm vụ quân sự, giáo dục chính trị với giải quyết vấn đề tư tưởng. Đây là một cuộc vận động học tập chính trị tập trung nhất, rộng lớn nhất kể từ ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944).


Nắm vững mục đích, yêu cầu, nội dung công tác chính trị đã tập trung đi sâu giáo dục tình hình nhiệm vụ chính trị ý nghĩa của chiến dịch, giáo dục cho bộ đội những chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, 10 điều kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ và dân công vùng Tây Bắc, 3 điều kỷ luật  chiến trường và các tài liệu có liên quan đến nhiệm vụ tiến quân vào Tây Bắc. Cán bộ các cấp còn được quán triệt thêm một bước về phương châm, nhiệm vụ chiến lược, đường lối quân sự của Đảng trong giai đoạn hiện tại. Cán bộ từ đại đội trở lên học tài liệu "Mấy vấn đề cách mạng", cán bộ trung đội, tiểu đội và chiến sĩ học tài liệu "Quân đội nhân dân Việt Nam" và "Kháng chiến trường kỳ gian khổ nhất định thắng lợi".


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2025, 08:59:27 pm
Biện pháp tiến hành chỉnh quân chính trị theo phương châm: phát huy tự do tư tưởng, liên hệ lý luận với thực tiễn, liên hệ nhận thức mới với nhận thức cũ, thảo luận, phân tích làm rõ đúng, sai, thực hành tự phê bình và phê bình để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Những vấn đề "ai là bạn", "ai là thù", "kháng chiến để làm gì", "vì sao kháng chiến phải lâu dài gian khổ nhưng nhất định thắng lợi", "Quân đội ta là quân đội của ai", "trách nhiệm và đạo đức cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân như thế nào?"... được tranh luận sôi nổi. Nguyên tắc của lãnh đạo tư tưởng là lấy tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin làm tiêu chuẩn để xem xét và giải quyết mọi vấn đề. Những biểu hiện sai lầm như quyết tâm chiến đấu chưa cao, tinh thần phục vụ nhân dân, yêu thương đồng đội chưa đầy đủ, ngại khó, ngại khổ... được phân tích và phê phán nghiêm khắc. Kiên quyết chống các tư tưởng sai lầm, tích cực xây dựng tư tưởng đúng đắn, giải quyết vấn đề tận gốc, giáo dục tư tưởng căn bản, phòng ngừa và sửa chữa cái sai, phát huy cái đúng, đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng hữu khuynh, lấy lợi ích cách mạng làm nguyên tắc cao nhất. Việc giáo dục chính trị cần phải tiến hành thường xuyên, có kế hoạch, có hệ thống, có nền nếp để bắt đầu xây dựng một chế độ giáo dục chính trị. Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ các cấp phải chấp hành học tập lần nhau và giúp nhau sửa chữa, khắc phục thiếu sót, nhược điểm.


Chỉnh huấn chính trị là trọng tâm của việc chỉnh quân, vì có chỉnh huấn chính trị mới đạt được cơ sở cho sự tiến bộ về chiến thuật và kỹ thuật, đề cao được sức chiến đấu của bộ đội, chuẩn bị thực sự cho bộ đội để đón những thuận lợi, hoặc vượt qua những khó khăn, mới làm được nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng trong giai đoạn cầm cự và chuẩn bị tổng phản công. Muốn cho quân đội ta quyết chiến, quyết thắng hơn nữa thì phải chăm sóc đời sống, nâng cao trình độ kỹ, chiến thuật, nhất là giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho họ có lập trường rõ rệt, chắc chắn, tức là lập trường quân đội của nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, và nâng cao tư tưởng giai cấp vô sản, khắc phục những tư tưởng không vô sản, phải làm cho quân đội ta trở nên một quân đội cách mạng của nhân dân, một quân đội vô địch1 (Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, (từ 22- 28.14.1952)). Cùng với chỉnh quân chính trị là chỉnh huấn quân sự, trong chính huấn quân sự là "chỉnh biên" theo nguyên tắc tinh binh, tinh cán, giảm quân số không chiến đấu, tăng thành phần chiến đấu. Các đơn vị chủ lực đều được củng cố, bổ sung thêm quân số, một số cán bộ trung đội, đại đội mới tốt nghiệp ở các trường lục quân và bổ túc sơ cấp được điều về làm lực lượng cán bộ dự trữ cho chiến dịch, "được huấn luyện 5 kỹ thuật cơ bản, học các cách đánh công sự cải tiến, đánh cả ban ngày lẫn ban đêm, nhiều đơn vị có diễn tập tác chiến hiệp đồng bộ pháo"2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952), H.1992. tr. 21). Ngoài ra, phổ biến kỹ các kinh nghiệm chiến đấu của các chiến dịch trước, các trang bị được bổ sung tương đối đầy đủ, thống nhất, bộ đội có thời gian nghỉ ngơi, dưỡng sức. Bộ đội địa phương và dân quân du kích thời gian này cũng có bước phát triển mới.


Nhờ giáo dục chính trị, tư tưởng đúng đắn, thiết thực, nhất là được học tập, quán triệt kỹ, đầy đủ các chỉ thị, mệnh lệnh, các quy định của chiến trường nên cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao giác ngộ giai cấp cho quân đội, hiểu rõ mục đích chính trị của cuộc chiến đấu, phân rõ ranh giới giữa thù, bạn và ta, hiểu rõ bản chất và nhiệm vụ quân đội nhân dân, nâng cao lòng yêu nước, tinh thần quốc tế, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, phát huy tinh thần chịu đựng gian khổ, chiến đấu anh dũng, dẻo dai, hoàn thành một nhiệm vụ Đảng, quân đội giao. Đặc biệt lần này, do tầm quan trọng của công tác tranh thủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp soạn thảo và ký "Tám điều mệnh lệnh" của Chính phủ1 (Hồ Chí Minh, với các lực lượng vũ trang, Nxb Quân đội nhân dân. H. 1962, tr 136 140). Lúc này, bộ đội ta muốn tranh thủ được nhân dân thì phải hòa mình cùng với nhân dân, khi đồng bào khó khăn phải chung vai gánh vác giúp đỡ, nhất là ở vùng mới giải phóng; phải cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt (làm việc) để hiểu về phong tục, tập quán của đồng bào; để đồng bào luôn coi bộ đội như con em của dân tộc mình, đây là nguồn cổ vũ, động viên lớn lao, một yếu tố tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần cho bộ đội trước những thử thách ác liệt ở chiến trường Tây Bắc. Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Người đã vượt suối, lũ và bao khó khăn dọc đường để đến dự Hội nghị cán hộ hàn kế hoạch tác chiến. Tại hội nghị, Người chỉ rõ mục đích, ý nghĩa của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng đất đai, trong đó nhiệm vụ chính là tiêu diệt sinh lực địch. Người dặn: "... Làm cách mạng và kháng chiến là việc khó, nhưng quyết tâm thì cũng thành công. Quyết tâm không phải ở hội trường, ở lời nói mà phải quyết tâm trong công tác, trong hành động", "Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhà kỷ luật nghiêm". "Phải nhớ rằng những quân đội cách mạng, trước hết là những người đảng viên, không sợ khó khăn mà phải khắc phục khó khăn, khi gặp một việc gì khó khăn, đơn vị nào được phụ trách thì rất lấy làm vẻ vang, những đơn vị không được phụ trách thì lấy làm buồn vì thấy mình chưa đủ trình độ và năng lực để làm việc đó... Từ đại đoàn trưởng cho đến tiểu đội trưởng phải đồng cam cộng khổ với anh em chiến sĩ, chăm nom săn sóc giúp đỡ nhau, coi nhau như chân tay ruột thịt"1 (Hồ Chí Minh. Với các lực lượng vũ trang. Sđd. tr. 136-140).


Bên cạnh việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho bộ đội thì công tác giáo dục cho dân công cũng là một nội dung đặc biệt quan trọng góp phần đưa đến thắng lợi của chiến dịch. "Các đơn vị đều có một số đồng bào đi theo giúp. Đối với đồng bào, dân công, phải giáo dục, phải chăm nom thân mật, phải giải thích tuyên truyền cổ động, làm cho đồng bào vui vẻ công tác. Phải làm cho giữa dân công và bộ đội có tinh thần thân ái, đoàn kết khăng khít. Phải làm cho họ không muốn về mà muốn luôn luôn đi theo giúp bộ đội. Điều đó giúp cho mình chiến thắng. Nếu không làm được như thế thì sẽ gặp nhiều khó khăn"2 (Hồ Chí Minh. Với các lực lượng vũ trang. Sđd. tr. 136-140). Từ lời dạy của Bác, ta đã tổ chức quân sự hỏa lực lượng dân công thành từng đoàn, từng đội. Xác định lực lượng dân công là một lực lượng của chiến dịch và được quan tâm toàn diện như đối với bộ đội. Từ đầu kháng chiến chống Pháp đến lúc này, chưa bao giờ ta huy động một khối lượng sức người, sức của lớn như vậy, với hơn 2 vạn dân công và 7 triệu ngày công, 11.750 tấn gạo, 164 tấn muối, 235 tấn thịt, 44 tấn thực phẩm, 83 tấn vũ khí, quân trang, quân dụng1 (Tổng cục Hậu cần, Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống thục dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994. tr 83). Có được kết quả đó là do chúng ta hết sức coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và quan tâm tới đời sống vật chất, tinh thần của anh chị em dân công.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2025, 09:02:57 pm
Cùng với việc giáo dục cho bộ đội và dân công, công tác chính trị còn phải nắm bắt được tâm lý, đời sống, sinh hoạt của nhân dân vùng Tây Bắc để có biện pháp vận động quần chúng ở địa phương. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, đồng bào nơi đây phải chịu áp bức bóc lột của thế lực phong kiến và thực dân Pháp. Chúng coi Tây Bắc như một giang sơn riêng; thả sức khai thác tài nguyên, lôi kéo một số con em các dân tộc Tây Bắc vào các tiểu đoàn lính Thái, lính Mường... phục vụ cho cái gọi là "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị" và chính sách "dùng người bản xứ đánh người bản xứ"; vừa lấy người bán xứ làm bia đỡ đạn, vừa thực hiện âm mưu chia rẽ miền xuôi với miền ngược, biến Tây Bắc thành vùng "trắng" cách mạng. Đồng bào vùng Tây Bắc tuy rất căm ghét sự thống trị của giặc Pháp và tay sai, song sự hiểu biết về cách mạng còn sơ sài, cơ sở quần chúng chưa phát triển mạnh. Do bị địch khủng bố và lừa bịp, xuyên tạc nên cơ sở quần chúng được xây dựng từ năm 1948 phần lớn đã bị tan rã hoặc bị mất liên lạc. Một số nơi đã bắt được liên lạc nhưng phần lớn lại là vùng rẻo cao như Nghĩa Lộ, Phù Yên, Quỳnh Nhai. "Âm mưu phá hoại đoàn kết, chia rẽ dân tộc của địch rất thâm độc, các thế lực thù địch còn mạnh, còn khống chế được đại bộ phận nhân dân"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đường tới Điện Biên Phủ. Nxb Quân đội nhân dân.H. 2001.tr. 321). Do vậy, việc "tranh thủ nhân dân có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đường tới Điện Biên Phủ. Nxb Quân đội nhân dân.H. 2001.tr. 321) đến hoạt động tác chiến của quân đội cách mạng. Ngày 16 tháng 8 năm 1952, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị về chính sách dân tộc thiểu số của Đảng ở Khu Q.T (Tây Bắc) nhấn mạnh: "Ra sức tuyên truyền, giáo dục tinh thần đoàn kết kháng chiến và yêu nước nồng nàn của đồng bào thiểu số, làm cho họ thêm tin tưởng vào kháng chiến nhất định thắng lợi"1 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia. H 2001, tr. 242). Công tác chính trị, tư tưởng lúc này là phải chuẩn bị tốt cơ sở quần chúng cách mạng ở đây. Muốn tranh thủ được nhân dân phải gây dựng được cơ sở, muốn tuyên truyền giác ngộ được nhân dân thì phải học tiếng địa phương và phải giữ nghiêm kỷ luật dân vận. Phải hiểu "phong tục tập quán" và "những điều cấm kỵ" của đồng bào thiểu số vùng Tây Bắc, ví như một số bản người Thái ở huyện Than Uyên có tục nếu người lạ đến nhà mà tự động thò tay khoắng vào lòng cái chõ thổi xôi thì dân sẽ đốt nhà, dọn đi nơi khác. Người Mông theo Pháp, nếu bị bắt làm tù binh mà bị trói hai tay quặt ra đằng sau thì họ sẵn sàng cắn lưỡi chết... Chính vì được học tập kỹ lưỡng về phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc nên bộ đội ta ít mắc phải những điều không hợp lòng dân. Cũng trong thời gian này, Trung ương đã tổ chức Khu ủy Tây Bắc để lãnh đạo việc chuẩn bị cơ sở quần chúng và bổ nhiệm đồng chí Bùi Quang Tạo, Ủy viên Liên khu Việt Bắc, nguyên Bí thư Khu 10 làm Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Khu Tây Bắc, đồng chí Bằng Giang được bổ nhiệm Tư lệnh, đồng chí Vũ Nhất làm Phó Chính ủy, đồng chí Phan Đức Hóa được cử làm Tham mưu trưởng1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Lịch sử Bộ Tham mưu Quân khu 2 (1946-2001). Nxb Quân đội nhân dân. H. 2002, tr. 134). Để đáp ứng kịp thời cho nhiệm vụ, Liên khu ủy Việt Bắc đã mở lớp đào tạo cán bộ cơ sở và tổ chức thâm nhập vào vùng địch. Một số đồng chí ủy viên liên khu đã được cử vào Sơn La và vùng tạm chiếm ở Yên Bái để trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng cơ sở chính trị, tổ chức, trang bị và huấn luyện các lực lượng vũ trang.


Trong quá trình cơ động lực lượng từ hậu phương đến các vị trí tập kết chiến dịch, do làm tốt công tác tư tưởng nên ta luôn giữ được bí mật trên các tuyến đường, cung đường hành quân, giữ nghiêm kỷ luật và bảo đảm an toàn. Bộ đội hành quân vào ban đêm theo các đường mòn, trật tự, chặt chẽ, thống nhất. Các đơn vị luôn chấp hành nghiêm mật danh, bí danh của đơn vị và cấp chỉ huy, ý thức phòng gian bảo mật cả quân và dân được phát huy cao độ ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi, với phương châm "3 không" (không biết, không nghe, không thấy).


Do tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho bộ đội và nhân dân, tranh thủ được nhân dân nên công tác chuẩn bị chiến trường đạt kết quả tốt, khai thông mở nhiều tuyến đường để cơ động lực lượng, phương tiện chiến đấu, tiếp tế hậu cần bảo đảm cho chiến dịch...


Từ ngày 20 tháng 9, đến đầu tháng 10 năm 1952,chiến dịch bắt đầu triển khai, các đơn vị từ các điểm tạm dừng tiến vào vị trí tập kết, bộ đội tiếp tục chuẩn bị chiến đấu và vượt sông. Mặc dù lực lượng rất lớn, phương tiện vượt sông lại ít và thô sơ, bộ đội công binh thiếu, nhưng do tổ chức tỉ mỉ, chu đáo, chặt chẽ và bộ đội có nhiều biện pháp khắc phục khó khăn nên việc vượt sông bảo đảm an toàn, đúng kế hoạch. Trong 2 đêm đầu, ta đã vận chuyển được gần 3 vạn bộ đội và 2 đêm sau gần 3 vạn dân công cùng hàng chục tấn vũ khí, trang bị, phương tiện, lương thực, thực phẩm cho chiến dịch1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952),H.1992. tr. 28). Bên cạnh việc chỉ đạo, chỉ huy chặt chẽ trong hành, trú quân, ta còn làm tốt công tác chính trị, tư tưởng trong vượt sông, nên bộ đội và dân công đã tích cực, chủ động, tận dụng mọi nguyên liệu tại chỗ như tre, bương, vầu, nứa, chuối... ghép lại làm bè, mảng, dân công khiêng, vác thuyền nan từ Phú Thọ lên làm phương tiện vượt sông. Những thanh niên quen sông nước đã được tổ chức thành từng đội chở thuyền. Nhờ vậy, ta đã giải quyết thành công một khó khăn lớn là đưa được toàn bộ lực lượng chiến dịch (khoảng 60.000 người) qua sông an toàn, đầy đủ, đúng thời gian2 (Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952). Sđd, tr. 69).


Sau cả ba đợt tiến công liên tục, ta đã phá vỡ thế phòng thủ của địch, diệt Phân khu Nghĩa Lộ, chiếm toàn bộ phòng tuyến sông Đà của địch từ Tuần Giáo đến Mộc Châu (Sơn La). Quân địch bị đánh thiệt hại nặng và buộc phải tháo chạy về Nà Sản tổ chức phòng ngự theo hình thái tập đoàn cứ điểm. Ngày 10 tháng 12 năm 1952, nhận thấy các đơn vị chưa đủ khả năng tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Nà Sản, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch Tây Bắc. Chiến dịch Tây Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch (diệt và bắt gần 10.000 tên), phá hủy và thu được nhiều vũ khí của địch, giải phóng một vùng rộng lớn trên địa bàn chiến lược quan trọng 28.500km2 và 250.000 dân1 (Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975),tập 1, Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 179. (Cũng có tài liệu đưa ra "ta tiêu diệt được 6.029 địch trong đó có 1.200 Âu - Phi, nhiều sĩ quan và hạ sĩ quan")). Chiến thắng Tây Bắc đã mở ra một thế chiến lược mới rất thuận lợi cho ta. Vùng giải phóng đã nối liền Tây Bắc với Việt Bắc và Thượng Lào.


Để đạt được những kết quả đó là do có sự lãnh đạo sáng suốt, chặt chẽ, sâu sát, sự quan tâm đầy đủ của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự chỉ đạo đúng đắn, kiên quyết, kịp thời của Tổng Quân ủy, Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch, nắm vững nhiệm vụ trọng tâm, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đã tập trung đi sâu tiến hành nhiều biện pháp tích cực, đồng bộ, chủ động, liên tục, xây dựng cho bộ đội và dân công, ý thức tự giác trách nhiệm và niềm tự hào trong nhiệm vụ. Cán bộ, chiến sĩ luôn được giáo dục, quán triệt đường lối kháng chiến, trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao kỷ luật, tự giác nghiêm minh, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế, hết lòng thương yêu đồng chí đồng đội. Ngày 29 tháng 1 năm 1953, Tổng Quân ủy tổ chức Hội nghị tổng kết chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và biểu dương: "Trung ương, Chính phủ, Bác bằng lòng các chú, lần này không phải là hoàn toàn nhưng hơn mọi lần trước"1 (Hồ Chí Minh, về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân. H. 1970. tr. 277).


Chiến dịch tiến công giải phóng Tây Bắc thắng lợi là cái mốc lịch sử trên đường tiếp tục phát triển thế chủ động chiến lược để nỗ lực chuẩn bị lực lượng giành thắng lợi trong những trận tiếp theo: là biểu hiện của sự đoàn kết, đồng lòng giữa các dân tộc anh em, bộ đội cũng như các đồng bào dân tộc thiểu số, một lòng theo Đảng, hết lòng hết sức vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng. Đồng thời, thắng lợi Tây Bắc đã góp phần quan trọng, đập tan âm mưu "Xứ Thái tự trị". "Xứ Mường tự trị", "Xứ Nùng tự trị" mà thực dân Pháp cho là "một thành công điển hình" để chia rẽ chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, chia rẽ người Thái với người Kinh, người Thái với các đồng bào dân tộc thiểu số và âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt".


Chiến thắng Tây Bắc còn có ý nghĩa to lớn đối với cục diện chiến trường Bắc Bộ, bởi địch cho rằng duy trì được ở đây ngoài tầm với của Việt Minh một căn cứ có thể tỏa ra xung quanh2 (Giuyn Roa. Trận Điện Biên Phủ. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. H 1998, tr. 18) vì đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng làm chủ được Tây Bắc và Thượng Lào sẽ tạo nên thế đứng vững chắc ở chiến trường Đông Dương.


Với chiến thắng Tây Bắc, quân đội ta đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu, nhiệm vụ mà Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra; góp phần làm đảo lộn thế bố trí chiến lược và làm cho nội bộ đối phương càng thêm mâu thuẫn. Qua chiến dịch này, quân đội ta có sự trưởng thành vượt bậc về nhiều mặt, đặc biệt, trong công tác giáo dục chính trị, đã phát huy tốt tinh thần tích cực, chủ động, khắc phục khó khăn gian khổ, kiên cường anh dũng trong chiến đấu và đó là một nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2025, 09:09:21 pm
KẾT HỢP CÁC PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG, TỔ CHỨC VẬN CHUYỂN, BẢO ĐẢM HẬU CẦN - KỸ THUẬT TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Đại úy, ThS CÔNG PHƯƠNG KHƯƠNG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Thực hiện chủ trương chuyển hướng tiến công chiến lược, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc với mục đích "Tiêu diệt sinh lực địch - tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc, giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc"1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 1963. tập 2. tr. 140), mở rộng vùng tự do, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo điều kiện cho Mặt trận Thượng Lào đẩy mạnh hoạt động. Ngày 9 tháng 9 năm 1952, tại Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định "Quyết tâm của chiến dịch là phải đánh cho thắng lợi"2 (Hồ Chí Minh, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân. H. 1972. tr. 272).


Trung ương nhận định công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho chiến dịch sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Lượng vật chất bảo đảm cho chiến dịch ước tính khoảng 9.000 tấn lương thực, thực phẩm, 120 tấn vũ khí đạn và dụng cụ, thuốc men cần thiết. Trong khi đó, hậu phương Việt Bắc,Thanh - Nghệ - Tĩnh đều cách xa địa bàn chiến dịch. Khả năng huy động sức người, sức của tại chỗ rất hạn chế. Đây lại là địa bàn có địa hình hiểm trở, rừng núi xen kẽ với cao nguyên và thung lũng. Sông Đà, sông Mã nhiều ghềnh thác, nước chảy xiết, cùng với sông Hồng và các sông khác chia cắt Tây Bắc thành nhiều khu vực. Vào Tây Bắc chỉ có hai con đường chính: đường số 41 từ Hoà Bình đi Suối Rút, đường số 13 từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Cả hai con đường này đều là đường rừng núi bị hư hỏng nặng. Ngã ba, ngã tư các tuyến đường liên tỉnh, huyện đểu bị địch khống chế và thường xuyên tổ chức tuần tiễu, lùng sục...


Nhận rõ những khó khăn về bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho bộ đội tác chiến, Tổng cục Cung cấp xác định bên cạnh việc tận dụng năng lực tại chỗ phải dựa vào việc huy động, vận chuyển từ Việt Bắc sang và từ Liên khu 3, Liên khu 4 lên. Ngày 19 tháng 9 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra chỉ thị "Về công tác chính trị chiến dịch Thu Đông năm 1952" trong đó nhấn mạnh "Bảo đảm cung cấp kịp thời, tìm đủ mọi cách tăng cường công tác cung cấp, hết sức giúp đỡ động viên ngành cung cấp, làm cho bộ đội luôn luôn được khỏe mạnh để củng cố" sức chiến đấu"1 ("Về công tác chính trị chiến dịch Thu Đông năm 1952" Dẫn theo Lịch sử Công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân. H.1998, tr.136).


Theo đề nghị của Tổng Quân ủy, các đồng chí Trần Đăng Ninh, Nguyễn Thanh Bình... được phân công trực tiếp chỉ đạo các địa bàn Việt Bắc, Liên khu 3 và Liên khu 4. Tháng 7 năm 1952, Ban cán sự đường 41 cũng được thành lập chỉ đạo công tác mở đường và chuẩn bị phục vụ chiến dịch.


Theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Chính phủ, các liên khu khẩn trương sửa chữa đường sá, mở thêm các tuyến đường mới và chuẩn bị lương thực, thực phẩm. Liên khu Việt Bắc mở đường chạy dọc theo tả ngạn sông Hồng từ Phú Thọ đến Yên Bái và đẩy mạnh tu sửa tuyến đường sắt từ Yên Bái đến Mậu A, bảo đảm cho một camiôngray có thể kéo một toa tàu chạy thường xuyên. Liên khu 3 sửa chữa đường từ Ghềnh, Nho Quan lên Hòa Bình, đường 41 từ Hòa Bình qua Chợ Bờ, Suối Rút (dài 160km). Liên khu 4 sửa chữa đường từ Thanh Hóa lên Ngọc Lạc, Hồi Xuân, Bãi Sang và bắt đầu chuyển gạo từ Tĩnh Gia lên. Trong 3 tháng hè năm 1952, nhân dân Liên khu 3 và Liên khu 4 sửa chữa được 170km đường ô tô, 100km đường cho dân công và huy động được 5.254 tấn gạo.


Bộ Giao thông công chính đặt kế hoạch khẩn trương tu bổ các tuyến đường cho dân công, xe ô tô lên Tây Bắc. Hệ thống kho tàng được thiết lập ở vùng Mậu A, Cổ Phúc, Văn Phúc, Giới Phiên, Thạch Kiệt (tả ngạn sông Thao), vùng Suối Rút (Hoà Bình). Ban quân y chiến dịch cũng được thành lập do bác sĩ Nguyễn Thúc Mậu làm trưởng ban. Sinh viên ở các trường quân y sắp tốt nghiệp cũng được điều động bổ sung cho các đội điều trị và cơ quan quân y các đơn vị.


Ban chỉ huy vượt sông cũng được thành lập gồm cán bộ tham mưu, công binh, hậu cần, bảo vệ, công đoàn vận tải sông. Thuyền mảng của nhân dân cũng được huy động. Các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ đã huy động 432 chiếc thuyền có trọng tải trên dưới 5 tạ làm công tác vận chuyển. Thuyền được tổ chức thành từng đơn vị dưới sự chỉ huy thống nhất của Công đoàn thuyền và của Ban chỉ huy vượt sông. Các khu vực Mậu A,Cổ Phúc, Âu Lâu mỗi nơi tổ chức thêm nhiều bến vượt, có bến riêng dành cho từng loại đối tượng, phương tiện theo khối lượng vận chuyển. Trong 2 đêm 10 và 11 tháng 10 năm 1952, các đơn vị chiến đấu vượt sông Hồng, bí mật tiến quân vào Tây Bắc. Trong 3 đêm tiếp theo, lực lượng hậu cần chiến dịch, trong đó có 24.840 dân công chuyển hơn 1.000 tấn gạo, đạn và thực phẩm (gồm cả một số trâu, bò) vượt sông Hồng ở các bến Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu. Chỉ tính riêng hướng Nghĩa Lộ đã có 27.800 bộ đội và 32.000 dân công mang theo vũ khí, lương thực vượt sông an toàn, đúng thời gian quy định.


Bảo đảm cho phương châm tác chiến là "đánh dài ngày, đánh liên tục, từng bước tiến chắc"1 (Những tài liệu chỉ đạo cac chiến địch, tâp 4, tr. 240), nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng, bao vây chặt, truy kích đến cùng, diệt gọn nên khối lượng vật chất hậu cần - kỹ thuật là rất lớn. Sau khi tính toán, cân nhắc, Tổng cục Cung cấp thấy trong quá trình chiến dịch ta có thể tận dụng được nhiều chiến lợi phẩm để bổ sung cho bộ đội nên chủ trương chỉ chuẩn bị 81 tấn ở các kho trung tuyến nhằm hạn chế việc huy động nhiều dân công. Số vũ khí đạn còn lại bố trí hai kho ở Hào Gia và Mậu A phục vụ hướng Nghĩa Lộ. Ngoài ra, Cục Quân khí còn bố trí một kho nhỏ ở Thạch Kiệt phục vụ cho hướng Gia Phù, đồng thời chuẩn bị sẵn thêm một số dự trữ ở kho Đoan Hùng...


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2025, 09:11:59 pm
Để đẩy mạnh việc huy động nhân lực phục vụ tiền tuyến, ngày 14 tháng 7 năm 1952, Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về huy động và sử dụng dân công. Ban dân công các tỉnh cũng được thành lập. Các địa phương khẩn trương thu thuế nông nghiệp, tổ chức xay giã và tập trung gạo ở các khu vực dự kiến sẽ tập kết bộ đội và bên vượt sông ở bờ tả ngạn sông Hồng. Việc gom lương, vận chuyển chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực, vật lực địa phương do Ban cung cấp tiền phương, Ban cán sự đường 41 của Tổng cục Cung cấp đảm nhiệm. Khả năng huy động nhân vật lực ở hậu phương đã bị hạn chế. Song việc vận chuyển từ hậu phương tới chiến trường càng khó khăn hơn. Tiền phương Tổng cục chủ trương huy động nhân vật lực tại các vùng mới giải phóng trong đó có hai cánh đồng lớn Nghĩa Lộ và Quang Huy. Bộ đội tham gia công tác dân vận cùng cán bộ địa phương, giúp dân gặt vụ mùa. Kết quả đã huy động được ở Nghĩa Lộ, Quang Huy, Mộc Châu, Mai Đà 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt và 15.000 dân công thành 150.000 ngày công1 (Tổng cục Hậu cần, Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân. H. 1994, tr. 80).


Đến tháng 8 năm 1952, số vũ khí đạn chuẩn bị cho chiến dịch đã bảo đảm đủ. Tại kho Mậu A có 28 tấn, kho Yên Bái có 58 tấn, kho Thu Cúc 41 tấn. Số vũ khí đạn dự trữ cũng được chuyển về các kho Đoan Hùng, Sơn Dương. Các đơn vị tham gia chiến dịch trước khi hành quân tới vị trí tập kết được Cục Quân khí cấp phát đủ cơ số vũ khí đạn. Ở hướng phối hợp (Liên khu 3, 4), Ban cán sự đường 41 ở Suối Rút, Chợ Bờ chuẩn bị vũ khí đạn dược, phương tiện sẵn sàng chi viện cho chiến dịch theo hướng Mộc Châu - Sơn La.


Trong chiến dịch này bộ đội tác chiến trên một chiến trường rừng núi, khí hậu xấu nên việc chuẩn bị thuốc sốt rét và thuốc uống phòng bệnh cho bộ đội được quan tâm chú ý. Quân y bố trí các kho thuốc ở các khu vực chính để tiện cấp phát cho các đơn vị và các cơ sơ quân y, điều động 3 đội điều trị bổ sung đầy đủ thuốc men và phương tiện để có thể phục vụ từ 500 đến 800 thương binh. Quân y chiến dịch phải chuẩn bị thuốc chiến thương cho 5.000 thương binh và đầy đủ thuốc phòng bệnh cho bộ đội, phía Liên khu 3, Liên khu 4 cũng phải chuẩn bị cho chiến dịch phát triển sang hướng đường 41 và lên Sơn La.


Đầu tháng 9 năm 1952, Cục Thông tin liên lạc nhận kế hoạch bảo đảm thông tin cho chiến dịch và các đại đoàn (308, 312, 351), Trung đoàn 148 ở hướng chính, bảo đảm cho các đại đoàn 304, 320 ở hướng phối hợp. Giữa tháng 9, lực lượng thông tin lên đường thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến dịch. Tiểu đoàn 303 được bổ sung thêm 1 đại đội điện thoại mang theo 40 máy lẻ, 3 tổng đài, 100km dây bọc. Đại đội 101 vô tuyến điện được trang bị 1 máy MK2, 2 bộ GRC 694, hai bộ V101. Ban Thông tin chiến dịch đã tổ chức 4 mạng liên lạc từ sở chỉ huy xuống các đại đoàn và các mạng liên lạc vượt cấp xuống các trung đoàn. Trung đội chuyển đạt 231 được giao nhiệm vụ tổ chức đường, trạm liên lạc từ tiền tuyến về hậu phương. Các đơn vị tham gia chiến dịch đều được Cục Thông tin liên lạc bổ sung trang bị phục vụ công tác liên lạc thống nhất và đồng bộ. Tận dụng các tuyến dây trần của ngành bưu điện, Ban thông tin chiến dịch đã bảo đảm cho sở chỉ huy tổ chức chỉ huy chặt chẽ, kịp thời trên 3 bến vượt sông Hồng (Mậu A, Áu Lâu, Lan Đình) mỗi bến cách nhau 10km.


Để giữ yếu tố bí mật, bất ngờ, cơ quan bảo đảm hậu cần - kỹ thuật không được chuyển vật phẩm lên trước lót ổ, lập chân hàng, bố trí kho tàng ở khu vực chiến đấu mà phải chuẩn bị sẵn ở tả ngạn sòng Hồng. Khi bộ đội vượt sông tiến vào vùng địch, hậu cần - kỹ thuật mới rải trạm vận chuyển phục vụ cho các đơn vị.


Chuẩn bị cho bộ đội đánh địch trên hướng chủ yếu (Phân khu Nghĩa Lộ), lực lượng hậu cần - kỹ thuật tập trung hơn 2.000 tấn gạo và 38.000 dân công ở Yên Bái, bên bờ tả ngạn sông Hồng phục vụ các đơn vị hành quân đến khu vực tập kết và chuẩn bị rải trạm theo đường tiến quân của bộ đội vào Tây Bắc. Liên tục trong các đêm từ 10 đến đêm 13 tháng 10, hậu cần chiến dịch đã huy động 24.840 dân công chuyển hơn 1.000 tấn gạo, đạn và thực phẩm vượt sông Hồng ở các bến Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu.


Đêm ngày 14 tháng 10 năm 1952, các đại đoàn đồng loạt nổ súng mở màn đợt 1 chiến dịch. Sau 5 ngày đêm chiến đấu liên tục, bộ đội ta đã đánh chiếm, bức rút nhiều đồn bốt, giải phóng Nghĩa Lộ, Phù Yên, Ca Vịnh, Sài Lương... Chiến dịch phát triển nhanh, lực lượng phục vụ chiến dịch cũng hết sức cố gắng vận chuyển vũ khí đạn, lương thực, thực phẩm theo sát bộ đội, bổ sung đầy đủ theo yêu cầu của các đơn vị.


Đợt 1 chiến dịch diễn ra nhiều trận công đồn ác liệt, số thương binh lên tới 1.014 người, cơ quan quân y chiến dịch triển khai ba đội điều trị (1, 5, 2) ở khu vực Nghĩa Lộ, Nậm Mười và Ca Vịnh. Ba Khe, cùng các đội điều trị đại đoàn cứu chữa thương binh. Trong đợt chiến đấu từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 10 ta liên tiếp tiến công tiêu diệt Pú Chạng, Nghĩa Lộ, Cửa Nhi, Bản Mo, số thương binh lên tới 1.014 người. Ban Quân y tiền phương điều động 3 đội điều trị của Cục phục vụ cho các đơn vị ở mũi tiến công chủ yếu.


Nhằm kéo lực lượng chủ lực của ta rút khỏi Tây Bắc, địch vội và huy động 3 binh đoàn cơ động mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ. Trước tình hình đó, Tổng cục Cung cấp đã chỉ thị cho các cơ sởở khu vực bị dịch tiến công phải cấp tốc sơ tán và tổ chức chiến đấu bảo vệ công xưởng. Cùng với cuộc tiến công trên hộ, địch dùng không quân đánh phá ác liệt các tuyến vận chuyển của ta từ Việt Bắc sang. Các trọng điểm như Đèo Giàng, Đèo Khế thường xuyên bị tác từ 6 đến 10 ngày. Các tuyến vận tải từ hậu phương ra tiền tuyến trở thành mặt trận chiến đấu quyết liệt. Bảo đảm giao thông, vận tải chống địch phá hoại trở thành nhiệm vụ chiến đấu của các lực lượng trên tuyến hậu cần - kỹ thuật.


Chuẩn bị cho đợt 2, Tổng cục Cung cấp tổ chức vận chuyển vũ khí đạn, lương thực từ Phú Thọ, Yên Bái sang hữu ngạn sông Hồng. Các đơn vị đều tổ chức bộ phận sửa chữa đường, vận tải gạo, đạn và chuyển thương binh về tuyến sau. Lực lượng trên hai tuyến Khâu Vác, Sài Lương sau khi giải thể được tập trung lên đường 13, tổ chức tuyến vận tải từ Âu Lâu, Ba Khe đến Tông Cao, Gia Phù, đồng thời khẩn trương củng cố tuyến Thu Cúc, Quang Huy, Tông Cao...


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2025, 09:14:55 pm
Liên khu Việt Bắc gấp rút huy động thêm 12.000 dân công để bổ sung và thay thế. Liên khu 4 huy động thêm 11.000 dân công của tỉnh Nghệ An. Do các tuyến vận tải đều được mở rộng, các trạm bố trí cung đường hợp lý cùng với việc áp dụng định mức khoán nên năng suất đều vượt xa dự kiến. Mỗi đoàn dân công khoảng 1.000 người, gồm nhiều đội, tổ chức theo địa phương. Hậu cần chiến dịch khoán nhiệm vụ cho từng đoàn, trung bình mỗi chuyến 15 tấn. Do các tuyến vận tải đều được mở rộng, các trạm bố trí cung độ hợp lý, việc bảo đảm đời sống vật chất tinh thần cho dân công được quan tâm, chú ý, cán bộ cung cấp đi sát từng đoàn, kịp thời giải quyết khó khăn vướng mắc, nên dân công rất phấn khởi, năng suất mở đường và vận tại đều tăng hơn đợt 1. Ngoài dân công, trong đợi 2, hậu cần chiến dịch đã sử dụng ô tô vận tải ở một số đoạn. Trên đường 41 đoạn từ Suối Rút qua Mộc Hạ đến Lồm Xồm dài 64km được sửa chữa gấp rút cho 30 xe ô tô hoạt động. Trên đường 13 đoạn từ Yên Bái đến Ba Khe dài 61km cũng được tu bố cho 34 xe ô tô hoạt động.


Sau đợt tác chiến thứ nhất, một số vùng Tây Bắc được giải phóng. Bước vào chuẩn bị đợt 2, việc huy động nhân lực, vật lực tại chỗ được đẩy mạnh. Nhiều đơn vị cử cán bộ, chiến sĩ tham gia thu hoạch lúa với dân, đồng thời vận động nhân dân bán gạo cho bộ đội và đi dân công phục vụ chiến dịch. Nhân dân các dân tộc Lai Châu đã hăng hái tham gia phục vụ chiến dịch, đi dân công vận tải giúp đỡ bộ đội đánh giặc và cung cấp cho bộ đội 116 tấn gạo, 9.300kg ngô, 5.984kg thịt lợn, thịt bò, 06 con trâu, bò, lợn, 2.243 dân công đi phục vụ từ 1 đến 15 ngày và 100 con ngựa thồ đi 5 ngày1 (Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Lai Châu. Ba mươi năm phấn đấu và xây dựng của Đảng bộ Lai Châu (1949-1979), Xuất bản năm 1980. tr. 46). Nhân dân Yên Bái cung cấp cho mặt trận 730 tấn gạo, 622 con trâu, 386 con lợn, 72 tấn muối và 16 tấn đậu, lạc, vừng; huy động 5.428 dân công thường trực (chiếm 20% số dân), 1.000 lượt người đi dân công 1 tháng, 2.312 lượt người đi dân công 7 ngày2 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2. Tây Bắc - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp. 1990. tr.181)... Tính chung toàn chiến dịch, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã đóng góp 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, hơn 15.000 dân công. Riêng khu vực Nghĩa Lộ, hậu cần chiến dịch huy động được 160 tấn gạo, 1,6 tấn thịt1 (Tổng cục Hậu cần. Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam. tập 1 (1944-1954). Nxb Quân đội nhân dân. H. 1995. tr. 211. 214).


Trong đợt 2 chiến dịch (bắt đầu từ ngày 7 đến ngày 22 tháng 11), Ban cán sự đường 41 tổ chức vận chuyển gạo, đạn theo sát bộ đội trong tiến công và truy kích địch. Việc vận chuyển được tổ chức theo cung chặng và cuốn chiếu. Phương tiện vận tải có 461 xe đạp thồ, 168 xe trâu bò kéo, 24 thuyền, 30 ô tô đã vận chuyển được 528 tấn gạo (trong đó có 410 tấn từ Suối Rút lên và 70 tấn huy động ở Mộc Châu, 25 tấn từ đường 13 sang), bảo đảm kịp thời cho bộ đội tiến công và một phần dự trữ.


Trên hướng đường 13, lực lượng hậu cần tập trung chuyển gạo, đạn từ Yên Bái sang, bảo đảm cho các đơn vị hành quân vượt sông Đà và trong các trận đánh ở hữu ngạn sông Đà. Đường 13 từ Ba Khe đến Tạ Khoa, Cò Nòi tiếp tục được mở vượt đèo Lũng Lô, đèo Bản Ban, đèo Nhọt, đèo Chẹn dài 130km. Ở bên Tạ Khoa công binh làm cầu phao, ngày tháo, đêm lắp cho bộ đội và dân công qua sông. Ngoài 25 tấn gạo chuyển sang hướng đường 41, lực lượng hậu cần trên tuyến đường 13 đã chuẩn bị được 140 tấn cho các đơn vị tiếp tục ở lại Tây Bắc hoạt động sau chiến dịch và rải 313 tấn gạo dọc đường bộ đội hành quân2 (Tổng cục Hậu cần. Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam. tập 1 (1944-1954). Nxb Quân đội nhân dân. H. 1995. tr. 211. 214).


Trong đợt 2, thương binh ít hơn so với đợt 1, nhưng sang đợt 3 chỉ tính riêng trong 4 trận tấn công ngoại vi Nà Sản, số thương binh đã nên tới 1.200 người. Rút kinh nghiệm của đợt 1, việc cấp cứu thương binh và chuyển thương đã được chú trọng hơn. Tuy nhiên sự liên hệ giữa các tuyến quân y chưa chặt chẽ, nên thương binh phải chuyển đi chuyển lại nhiều lần. Trong khi đó, các lực lượng tham gia chiến dịch phải tập trung chuẩn bị phương án đề phòng địch ở Nà Sản đánh ra. Tổng Quân ủy giao cho Ban cán sự đường 41 chuyển 1.291 thương binh trong các cơ sở điều trị từ Bản Ngà, Bản Hẻm, Chiềng Đông, Ba Lay về Phương Lâm (Hòa Bình). Ban cán sự đường 41 thành lập ban chuyển thương và chủ trương chuyển thương binh nhẹ bằng ô tô, thương binh vừa và nặng mới dùng dân công cáng. 28 xe ô tô, 2.223 dân công và hơn 1.000 nhân viên chuyên môn và phục vụ của các cơ sở quân y được huy động chuyển thương1 (Quân đội nhân dân Việt Nam, 30 năm phục vụ và xây dựng của ngành quân y Quân đội nhân dân Việt Nam 1945-1975, Cục Quân y. 1976. tr. 172). Do tập trung lực lượng và tổ chức chu đáo nên chỉ sau 22 ngày toàn bộ thương binh đã được chuyển về hậu phương an toàn.


Với phương châm: đánh chỗ yếu trước, chỗ mạnh sau, bao vây toàn diện, công kích có trọng điểm, đánh ngoại vi trước, tranh thủ đột phá đánh vào tung thâm... từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt địch ở Nà Sản. Ngày 10 tháng 12 năm 1952, Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch. Đó là "thắng lợi lớn của ta trên con đường tiếp tục giành thế chủ động"2 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn. Bộ Tổng tham mưu xuất bản, 1963. tập 2. tr. 217), mở ra một thế chiến lược mới; "Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác bằng lòng các chú, lần này chưa phải là hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước"3 (Hồ Chí Minh, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1972, tr. 277).


Trong chiến dịch Tây Bắc, lực lượng bảo đảm hậu cần - kỹ thuật đã kịp thời lập phương án tạo chân hàng và xây dựng các kho dọc theo hướng phát triển của chiến dịch, đồng thời mạnh dạn tính toán khối lượng chiến lợi phẩm cung cấp ngay cho bộ đội chiến đấu. Nhờ đó, lương thực, thực phẩm, vũ khí trang bị phục vụ yêu cầu của chiến dịch đã được bảo đảm đầy đủ, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn gần 28.500km2 và 250-000 dân. Ta thu được nhiều vũ khí trang bị trong đó có 3.002 súng trường, 500 tiểu liên, 205 trung liên, 35 đại liên, 65 súng cối, 11 khẩu pháo (có 2 khẩu 105mm), 98 máy vô tuyến điện, 7 xe Jeép, 100 tấn đạn các loại1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân H.2002, tr 299, 300).


Khác với chiến dịch Biên Giới và Hòa Bình công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật chiến dịch Tây Bắc phải phục vụ cho một lực lượng lớn tập trung tổ chức tiến công liên tục, đột phá tiêu diệt từng khu vực phòng ngự gồm nhiều cứ điểm tiểu đoàn, đại đội của địch có công sự vững chắc đồng thời phục vụ lực lượng làm nhiệm vụ ngăn chặn, đón lõng để tiêu diệt quân địch chi viện hoặc rút lui.


Vượt qua mọi khó khăn, với ý chí, lòng quyết tâm và sự sáng tạo, lực lượng bảo đảm hậu cần - kỹ thuật đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong chiến dịch Tây Bắc, quân nhu đã cung cấp cho bộ đội và dân công 9.360 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt và 71 tấn thực phẩm khác2 (Cục Quân nhu, Lịch sử quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1998, tr. 181). Trong đó nhân dân Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 và các vùng mới giải phóng Tây Bắc đã huy động 191.000 lượt người đi dân công, đóng góp hơn 7 triệu ngày công, 1.011 xe đạp thồ, 258 xe trâu, xe bò và 556 thuyền vận tải trên sông Hồng, sông Đà, cung cấp cho chiến dịch 9.360 tấn gạo, 359 tấn muối và thực phẩm, 33 tấn đạn, 2.535 thương binh được cứu chữa tại mặt trận và đưa về các bệnh viện hậu phương an toàn. Trong chiến dịch, tổng số thuốc quân y đã phát gồm 27kg Sulfamid, 607 lọ Pênixilin, 566gam Novocain, 8.858ml Cloruafooc, 253kg bột bó, 101kg bông hút, 759m gạc hút, 16.451 cuộn băng các loại...1 (Bộ Quốc phòng. Lịch sử quân y Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Tổng cục Hậu cần, 1991, tr. 359).


Chiến dịch Tây Bắc cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm về tổ chức và bảo đảm hậu cần - kỹ thuật. Đó là sự phân công phối hợp giữa công tác hậu cần ở hậu phương với việc huy động nhân lực, vật lực phục vụ tiền tuyến và bảo đảm các nhu cầu của chiến dịch ở phía trước. Chiến dịch lớn, dài ngày nên hậu cần chiến dịch đặc biệt là hậu cần tiền phương không chí quan tâm đến việc huy động lực lượng, vật chất ở phía sau mà đòi hỏi phải hướng ra phía trước, bám sát chiến trường, nắm chắc tình hình hành quân và chiến đấu của bộ đội.


Việc tổ chức các tuyến vận tải và thực hành công tác vận tải có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chiến dịch xa hậu phương. Trong chiến dịch Tây Bắc, hậu cần đã có những sáng tạo về tổ chức vận tải như rải trạm vận tải theo sát bộ đội hành quân vào chiến đấu và truy kích địch, kết hợp các phương thức vận tải bằng sức người, bằng các phương tiện thô sơ và cơ giới. Các hình thức "vận tải đèn lồng" "vận tải cuốn chiếu", "vận tải tiếp sức", vật chất được bố trí theo "hình thức búp măng" (ngoài nhiều, trong ít) cùng được áp dụng và phát huy hiệu quả. Lực lượng vận tải có thêm nhiều kinh nghiệm về tổ chức chỉ huy vượt sông, vận tải phục vụ bộ đội truy kích, chuyển thương binh bảng xe cơ giới về hậu phương sau chiến dịch. Đây cũng là lần đầu tiên hậu cần chiến dịch "vận chuyển thương binh bằng cơ giới"1 (Tổng cục Hâu cần, Lịch sử vận tải Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1992. tr. 60) và cũng là "lần đầu tiên sử dụng xe đạp làm phương tiện vận chuyển"2 (Cục Quân nhu. Lịch sử quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1998, tr. 178) phục vụ chiến dịch.


Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Anh em bên cung cấp phải có quyết tâm để có lương thực, vũ khí cho bộ đội"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6. Nxb Sự thật. tr. 311), bằng những phương án táo bạo đồng thời rút kinh nghiệm sau từng đợt, lực lượng trên tuyến hậu cần - kỹ thuật đã khắc phục mọi khó khăn để huy động, mở đường và vận tải tiếp tế lương thực, đạn dược cho bộ đội, phục vụ bộ đội tiến công, truy kích địch... đóng góp vào thắng lợi chung của toàn chiến dịch.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2025, 09:18:35 pm
NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC TỈNH SƠN LA
VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

CẦM NGỌC MINH
Phó Bí thư Tính ủy,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La


Tháng 4 năm 1952, sau khi phân tích tình hình, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định tiến hành công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch và hạ quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng Tây Bắc. Ngày 12 tháng 1 năm 1952, liên tỉnh Sơn - Lai được tách thành hai tỉnh Sơn La, Lai Châu và nhập vào Khu Tây Bắc gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Khu ủy Tây Bắc chủ trương động viên toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân vùng tự do cũng như vùng tạm chiếm, huy động mọi khả năng nhân, vật lực ở Tây Bắc để phục vụ chiến dịch. Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu được giao cho các tỉnh theo 2 hướng chiến địch là Nghĩa Lộ và đường số 41 Sơn La. Tỉnh Sơn La được giao nhiệm vụ trực tiếp phục vụ hướng đường 411 (Tuyến đường khai thông từ Suối Rút (Hòa Bình) nối với Mộc Châu (Sơn La) đi lên Điện Biên)


Việc chuẩn bị cho chiến dịch chủ yếu dựa vào nguồn nhân, vật lực địa phương. Nhân dân các dân tộc Sơn La đã tích cực thực hiện lệnh huy động dân công của Chính phủ,dùng sức mang vác của con người, sử dụng tất cả phương tiện sẵn có như xe bò, xe trâu, xe đạp thồ, xe goòng... phục vụ công tác vận chuyển chuẩn bị chiến dịch.


Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc.

Trước khi bước vào chiến dịch, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: ở Tây Bắc, việc tranh thủ nhân dân có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng, vì âm mưu phá khối đoàn kết, chia rẽ dân tộc của địch rất thâm độc. Thực dân Pháp đã thất bại trong việc lập xứ Tày, xứ Nùng, xứ Mường, xứ Thái tự trị ở Cao - Bắc - Lạng, Lào Cai, Hòa Bình, nhưng ở Tây Bắc thế lực của địch còn mạnh, còn khống chế được phần lớn các dân tộc. Vì vậy, ta phải tranh thủ được nhân dân vùng Tây Bắc để đánh bại âm mưu chia rẽ của thực dân Pháp. Tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, tranh thủ dân là 3 nhiệm vụ quan trọng, liên quan mật thiết với nhau, nhưng nhiệm vụ có vị trí đặc biệt hơn cả là tiêu diệt sinh lực địch.


Vài ngày trước khi chiến dịch mở màn, ngày 9 tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện tại Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch, trực tiếp giao nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch... Người căn dặn: Muốn giành thắng lợi phải có quyết tâm cao; hậu cần chiến dịch là vấn đề quan trọng và khó khăn; lương thực, vũ khí là mồ hôi, nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội, phải quý trọng nó, phải tiết kiệm, sử dụng hợp lý... Quân và dân các dân tộc Sơn La khắc ghi lời dạy của Người, nêu cao tinh thần chiến đấu, sẵn sàng vượt mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, quyết tâm cùng cả nước giành thắng lợi trong chiến dịch.


Thực hiện nhiệm vụ được giao, Đảng bộ tỉnh Sơn La xác định trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh là phải nắm rõ tình hình, sẵn sàng tham gia phục vụ chiến dịch. Các đồng chí Tỉnh ủy viên được phân công trực tiếp về các huyện chỉ đạo cuộc chiến đấu của quân, dân trong tỉnh. Tại các huyện Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, các ban cán sự và các huyện đội được thành lập, cán bộ phụ trách dân quân được tăng cường. Quân và dân Sơn La ra sức tập trung chuẩn bị lực lượng để phối hợp với các đơn vị bộ đội chủ lực, đảm bảo giành thắng lợi như mục tiêu, kế hoạch của Bộ Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh và làm tròn nhiệm vụ trên hướng chiến dịch mà Khu ủy Tây Bắc giao cho.


Chiến dịch Tây Bắc diễn ra từ ngày 14 tháng 10 năm 1952 và kết thúc thắng lợi vào ngày 10 tháng 12 năm 1952. Đợt 1 của chiến dịch diễn ra từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 10 năm 1952. Ở hướng thứ yếu, quân, dân trong tỉnh tham gia chiến đấu nhiều trận phối hợp với bộ đội chủ lực. Quân dân Tiểu khu Phù Yên, Mường La... anh dũng chiến đấu, phối hợpvới bộ đội chủ lực tiêu diệt sinh lực địch. Đợt 1 chiến dịch kết thúc thắng lợi, ta đánh tan lực lượng địch đóng ở Phân khu Nghĩa Lộ - Phù Yên, giải phóng trên 10.000km2 từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai. Một bộ phận đất đai Sơn La thuộc vùng tả ngạn sông Đà được giải phóng gồm Phù Yên, Mường La, Quỳnh Nhai, đồng bào thoát khói ách kìm kẹp của thực dân.


Bị thiệt hại nặng nể, Bộ chỉ huy quân đội Pháp quyết định rút sang vùng hữu ngạn sông Đà, tăng cường lực lượng phòng thủ sông Đà, xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm mạnh để giữ Tây Bắc. Địch chia Tây Bắc thành 2 một trận: Sơn La và Lai Châu. Mặt trận Sơn La là hướng chính.



Trong thời gian trước khi quân, dân ta bước vào đợt 2 của chiến dịch, quân Pháp mở cuộc hành quân Loren đánh phá Phú Thọ, hậu phương chiến dịch nhằm kéo quân chủ lực của ta từ Tây Bắc về, phá kế hoạch tiến công Tây Bắc của ta. Tuy nhiên trong cuộc hành quân này, địch tiếp tục chịu nhiều thiệt hại về quân số và vũ khí, không đạt được mục tiêu đặt ra, phải rút quân về Mặt trận Tây Bắc và củng cố đồng bằng Bắc Bộ. Trong tình hình đó, Bộ Tổng tư lệnh quyết tâm tiếp tục mở đợt tiến công thứ 2 của chiến dịch giải phóng Tây Bắc, đánh mạnh vào các vị trí địch ở Mộc Châu và hữu ngạn sông Đà. Lực lượng chủ lực của ta tập trung cho hướng Sơn La gồm 6 trung đoàn của các đại đoàn 308, 312, 316. Nhân dân các địa phương Sơn La tích cực tham gia công tác hậu cần, vận chuyển lương thực, vũ khí đạn dược vào mặt trận.


Mở đầu đợt 2, ngay trong đêm 7 tháng 11, bộ đội Trung đoàn 148 vượt sông Đà, tiêu diệt vị trí địch ở Bản Hoa, sáng 18 tháng 11, tập kích địch ở Ba Lay, quân địch thiệt hại gần một tiểu đoàn. Kết thúc đợt 2 chiến dịch, quân dân ta giải phóng một vùng rộng lớn trên 17.700km2. Tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản) và một phần Lai Châu được giải phóng.


Trước những thất bại nặng nề, để cứu vãn tình thế, quân Pháp xây dựng Nà Sản thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh nhất Tây Bắc - "một con đê ngăn sóng" với hệ thống phòng thủ liên hoàn 17 cứ điểm, có sân bay, trận địa pháo...

Đêm 30 tháng 11 năm 1952, mở đầu đợt 3 chiến dịch ta đánh vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Sau nhiều trận chiến đấu quyết liệt, bộ đội ta thương vong nhiều nhưng vẫn không giải quyết được mục tiêu. Nhận thấy ta chưa có kinh nghiệm đánh tập đoàn cứ điểm phòng thủ liên hoàn như Nà Sản, chưa đủ mạnh để giành thắng lợi hoàn toàn, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định ngừng tiến công vào ngày 10 tháng 12 năm 1952, kết thúc chiến dịch. Đợt tiến công cứ điểm Nà Sản (từ ngày 30-11 đến ngày 10-12-1952) tuy chưa giành được thắng lợi nhưng chính là bước tập dượt quan trọng, tạo tiền đề kinh nghiệm cho một chiến thắng chấn động địa cầu chiến thắng lịch sử Điện Biện Phủ 1954.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2025, 09:20:12 pm
Kết thúc chiến dịch Tây Bắc, quân dân ta đã tiêu diệt 6.000 tên địch, phá tan âm mưu xây dựng "Xứ Thái tự trị" của thực dân Pháp. Trong quá trình chuẩn bị toàn diện cho chiến dịch, Đảng bộ tỉnh Sơn La vừa chỉ đạo xây dựng lực lượng, tích lũy nguồn nhân lực, vật lực, vừa làm tốt công tác hậu cần tại chỗ. Đồng thời, các lực lượng vũ trang của tỉnh thường xuyên chiến đấu với các ổ nhóm gián điệp, biệt kích và bọn phản động địa phương, bảo vệ an toàn các tuyến cầu đường vận chuyển, các trạm tổng kho hậu cần và giữ gìn trật tự trị an địa bàn. Tính chung trong chiến dịch, quân dân Sơn La đã đóng góp 1.421.220 ngày công phục vụ hàng tháng trời vận chuyển cho chiến dịch, cung cấp hơn 693 tấn gạo, 8 tấn ngô, hơn 48 tấn thịt, v.v...


Với những đóng góp trong chiến dịch Tây Bắc, nhân dân các dân tộc Sơn La đã khẳng định vai trò và sức mạnh to lớn của đồng bào khi được Đảng tin tưởng, giao phó. Tinh thần yêu nước của nhân dân đã được phát huy cao độ, cùng bộ đội chủ lực đánh bại mọi lực lượng chiếm đóng của địch, làm nên những chiến thắng vẻ vang trong kháng chiến.


Đối với Sơn La, thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đó là:

1.Xác định đúng và quán triệt đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực tự cường, dựa vào sức mình là chính trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong tỉnh.

2.Kết hợp chặt chẽ và đúng đắn nhiệm vụ chống thực dân với nhiệm vụ chống phong kiến, trong đó chủ yếu là nhiệm vụ chống thực dân.

3.Vừa chỉ đạo kháng chiến vừa chỉ đạo xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.

4.Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng.

Vận dụng những bài học kinh nghiệm của chiến dịch Tây Bắc, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, sự giúp đỡ có hiệu quả của Trung ương, các bộ, ngành, đoàn thể và các tỉnh bạn, tỉnh Sơn La đã đạt được những thành tựu quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố, tăng cường tiềm lực an ninh - quốc phòng. Kinh tế phát triển với tốc độ khá, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của một số sản phẩm chủ yếu từng bước được nâng lên; thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt dự toán; các ngành, các lĩnh vực, các vùng, các thành phần kinh tế đều có bước phát triển tiến bộ. Lĩnh vực an sinh xã hội ngày được quan tâm; công tác di dân, tái định cư dự án Thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Sơn La được triển khai đảm bảo an toàn, đúng tiến độ; chủ động đối phó với những tác động bất lợi của tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới, cũng như sự thay đổi bất thường của thời tiết, sự tàn phá của thiên tai; ngăn chặn kịp thời các loại dịch bệnh nguy hiểm. Kết cấu hạ tầng phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ngày càng được hoàn thiện, bộ mặt của tỉnh ngày một đổi mới, đặc biệt tính đã thoát khỏi tình trạng tỉnh đặc biệt khó khăn. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; văn hóa, giáo dục, y tế đều có bước phát triển tiến bộ. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân được củng cố; giữ vững ổn định an ninh, chính trị, trật tự an toàn xây dựng được đảm bảo; quan hệ đối ngoại được mở rộng và phát triển.


Kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc (1952-2012) diễn ra trong bối cảnh đất nước ta nói chung, tỉnh Sơn La nói riêng đã giành được nhiều thành tựu to lớn. Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc, chiến sĩ các lực lượng vũ trang toàn tỉnh đang tập trung thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII. Đây là dịp chúng ta ôn lại chiến công vẻ vang của dân tộc, tôn vinh các anh hùng, liệt sĩ, những người con của đất nước đã cống hiến máu xương, tuổi xuân, công sức, trí tuệ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; khơi dậy niềm tự hào, tinh thần đại đoàn kết dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Mặc dù còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, song với quyết tâm cao, phát huy truyền thống cách mạng và sức mạnh đoàn kết các dân tộc cùng với việc vận dụng những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước, trong đó có bài học kinh nghiệm từ thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc năm 1952, chắc chắn rằng Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La sẽ vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, sớm đưa Sơn La trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực miền núi phía Bắc, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2025, 09:23:22 pm
VAI TRÒ CỦA QUÂN, DÂN SƠN LA TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

TS THÀO XUÂN SÙNG
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương,
nguyên Bí thư Tỉnh ủy Sơn La


Trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, địa bàn Tây Bắc giữ vị trí rất quan trọng. Tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Tây Bắc. Trong thư gửi các chiến sĩ bộ đội Tây tiến ngày 1 tháng 2 năm 1947, đồng chí Võ Nguyên Giáp - Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam cũng đã xác định vị trí chiến lược quan trọng của "miền Việt Tây Tổ quốc".


Trong chiến dịch Tây Bắc, địa bàn Sơn La giữ vị trí trung tâm và là chiến trường chính, nên luôn được Trung ương Đảng và Khu ủy Tây Bắc (Tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách một số tỉnh Liên khu Việt Bắc lập ra Khu Tây Bắc (Khu 20), gồm các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, để tổ chức chỉ đạo được kịp thời thống nhất, đảm bảo sự thành công của chiến dịch. Khu ủy Tây Bắc đã bổ sung hai Đồng chí Khu ủy viên cho Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La, trong đó có đồng chí Trần Quyết làm Bí thư Tỉnh ủy. Khu ủy quán triệt: "Phải động viên toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân vùng tự do cũng như vùng tạm chiếm, huy động mọi khả năng nhân, vật lực ở Tây Bắc để phục vụ kháng chiến") chỉ đạo sát sao và tăng cường bổ sung cán bộ cho Đảng bộ tỉnh để lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ giao phó trên địa bàn trọng yếu này.


Nhận thức rõ tầm quan trọng của chiến trường chính, chiến trường mang tính chiến lược, trọng yếu, tỉnh Sơn La đã khẩn trương và chuẩn bị tích cực về mọi mặt, phục vụ, phối hợp chiến đấu cùng bộ đội chủ lực nhằm đảm bảo những điều kiện cho chiến dịch Tây Bắc thắng lợi. Đây là một trong những nhân tố quan trọng có tính chất quyết định, góp phần to lớn làm nên thắng lợi của chiến dịch.


Sử sách của Đảng bộ địa phương đã ghi lại khá sinh động vai trò của quân và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đối với chiến dịch Tây Bắc năm 1952. Tuy nhiên, sau 60 năm nhìn lại chặng đường lịch sử đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất vẻ vang ấy, chúng tôi muốn tiếp tục khẳng định rõ nét và nhận thức sâu sắc hơn vai trò, vị trí của Sơn La với chiến dịch Tây Bắc năm 1952 trong buổi hội thảo khoa học hôm nay những nội dung chủ yếu sau:


1.Quá trình phát triển lực lượng kháng chiến ở Sơn La trước chiến dịch Tây Bắc.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh về việc xây dựng lực lượng cách mạng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc, ngay từ những ngày đầu kháng chiến, dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La, công tác xây dựng lực lượng kháng chiến đã từng bước phát triển, phát huy tốt vai trò ờ địa phương. Ngay sau khi khởi nghĩa giành chính quyền Cách mạng tháng Tám năm 1945, các đội vũ trang tập trung địa phương đã ra đời, tiêu biểu là Trung đoàn Giải phóng quân Sơn La được thành lập vào ngày 22 tháng 12 năm 1948, mang phiên hiệu Trung đoàn 148, do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Trung đoàn trưởng. Đặc biệt, thực hiện Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc của Trung ương Đảng, SơnLa đã được Bộ Quốc phòng tăng cường một số đại đội bộ đội vừa làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị, vừa chiến đấu, ngăn chặn bước tiến của quân thù. Cùng với các đơn vị bộ đội tăng cường lên, Tỉnh ủy Sơn La tập trung chỉ đạo với quyết tâm bám đất, bám dân, biến hậu địch thành hậu phương cách mạng, vì vậy các đội xung phong vũ trung tuyên truyền của tỉnh được thành lập, sát cánh các đội xung phong vũ trang của Khu ủy X và XIV, làm nhiệm vụ "nhảy cóc" vào vùng hậu địch xây dựng cơ sở chính trị, phát triển lực lượng du kích. Từ cuối năm 1945 đến năm 1950, các huyện Phù Yên, Mộc Châu, Yên Châu, Mường La, Mai Sơn, Thuận Châu của tỉnh Sơn La đã xây dựng được các cơ sở chính trị vững chắc, các đội du kích, khu du kích nổi tiếng như Y Lương, Mường Mần, Hát Lót, Mường Sại (Mai Sơn), Mường Bú, Mường Chùm, Mường Bằng (Mường La), Long Hẹ, Mường Bám (Thuận Châu), Mường Do, Mường Bang, Mường Lang, Mường Cơi (Phù Yên), Mường Lựm (Yên Châu), Bản Mòn, A Má, Bó Sập, Chiềng Khừa, Tú Nang (Mộc Châu). Có thể khẳng định, cục diện chiến trường ở Sơn La đã thay đổi có lợi cho lực lượng cách mạng kháng chiến.


Trước yêu cầu thực tiễn phong trào và diễn biến tình hình ở địa phương, ngày 11 tháng 5 năm 1950, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng đã ra nghị quyết và xác định rõ: "Phải khẩn trương xây dựng bộ đội địa phương vững mạnh, củng cố và phát triển dân quân du kích rộng rãi, tăng cường địch vận, thường xuyên chuẩn bị chiến trường". Về nhiệm vụ công tác quân sự, Hội nghị chỉ rõ: "Bộ đội chủ lực rút về tập trung, giao nhiệm vụ giữ đất cho bộ đội địa phương và dân quân du kích. Phải xây dựng bộ đội địa phương vững mạnh củng cố và phát triển dân quân du kích rộng rãi để giữ vững và phát triển cơ sở". Thực hiện chủ trương trên, lực lượng bộ đội địa phương được củng cố và phát triển mạnh. Bên cạnh đó, các lực lượng chính trị cũng ngày càng phát triển. Năm 1950, tổng số đảng viên so với năm 1949 tăng 71%, các cơ sở đảng phát triển nhanh, phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo ở địa phương.


Đến năm 1952, sau 7 năm bền bỉ đấu tranh gian khổ, địa bàn Sơn La từ chỗ "mất đất" đã vươn lên xây dựng được các cơ sở chính trị ban đầu và không ngừng mở rộng; các lực lượng vũ trang phát triển vững mạnh. Có thể khẳng định, trước khi diễn ra chiến dịch Tây Bắc năm 1952, lực lượng kháng chiến, bộ đội địa phương, dân quân du kích, lực lượng quần chúng cách mạng ở Sơn La đã phát triển mạnh về số lượng cũng như về tổ chức và cả trình độ kỹ chiến thuật, sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến dịch thắng lợi.


2.Quân và nhân dân Sơn La phối hợp với bộ đội chủ lực chiến đấu, phục vụ chiến đấu, kết thúc thắng lợi chiến dịch.

Trên cơ sơ nhận định đúng tình hình địch, khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực trên chiến trường rừng núi, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chuyển hướng tấn công chiến lược từ vùng trung du sang hướng chính là Tây Bắc. Tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị hạ quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng Tây Bắc.


Nhận rõ vị trí quan trọng của chiến dịch đối với Sơn La, để kịp thời chỉ đạo quân và dân Sơn La chuẩn bị tích cực về mọi mặt và thực hiện tốt sự phối hợp hành động giữa địa phương với lực lượng bộ đội chủ lực trong chiến dịch giải phóng Tây Bắc, tháng 9 năm 1952, Ban chấp hành Tỉnh ủy Sơn La họp Hội nghị mở rộng và ra Nghị quyết "Nhận rõ tình hình, tích cực làm tròn nhiệm vụ". Hội nghị nhận định: bộ đội chủ lực lên hoạt động tác chiến trên địa bàn tỉnh, tiêu diệt sinh lực địch, sẽ giúp địa phương trong công tác tranh thủ nhân dân, phục hồi cơ sở, giải phóng đại bộ phận đất đai Sơn La, do đó tỉnh phải gấp rút chuẩn bị lực lượng mọi mặt để tiếp quản vùng giải phóng sau Chiến tranh thắng lợi, ổn định đời sống đồng bào các dân tộc, xây dựng cuộc sống mới.


Mọi mặt công tác diễn ra rất khẩn trương, đặc biệt là công tác chuẩn bị lực lượng phối hợp cùng các đơn vị chủ lực để giải phóng tỉnh Sơn La. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La phân công các đồng chí Tỉnh ủy viên trực tiếp chỉ đạo từng huyện, đồng thời tiếp tục thành lập ban cán sự và huyện đội ở các huyện Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu, tăng cường cán bộ phụ trách công tác dân quân cho ba huyện mới thành lập ban cán sự. Đồng thời, Tỉnh ủy quyết định thành lập "Ban cung cấp tiền phương của tỉnh", do một đồng chí Thường vụ Tỉnh ủy làm trưởng ban, nhằm phục vụ chiến dịch được kịp thời, hiệu quả nhất.


Về quân sự, các đơn vị bộ đội địa phương được bố trí ở các địa bàn theo kế hoạch, sẵn sàng phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Đại đội 428, bộ đội địa phương của tỉnh tiến sâu vào khu Tranh Đấu - Mai Sơn, tại đây đơn vị tổ chức tuyên truyền vũ trang, phục hồi cơ sở, làm hậu thuẫn đắc lực cho dân quân du kích các xã, bản, củng cố khu du kích. Bộ đội địa phương huyện Mộc Châu, Yên Châu hoạt động mạnh trên đường số 41 từ Hát Lót, Yên Châu đến Mộc Lỵ. Đại đội 310 bộ đội địa phương của tỉnh trực tiếp hoạt động bảo vệ khu căn cứ Mộc Hạ, bố trí các điểm phục kích đề phòng địch càn quét, tấn công vào căn cứ trung tâm đầu não của tỉnh. Các trung đội bộ đội huyện Phù Yên, Mộc Châu, Mai Sơn tạo mọi điều kiện giúp đỡ và phối hợp với đại đội quân báo của Bộ Tổng tham mưu nắm tình hình, luồn sâu vào khu vực đồn bốt của địch điều tra trinh sát, vẽ sơ đồ, phục vụ công tác chuẩn bị chiến dịch giải phóng quê hương - một trong những yếu tố quan trọng quyết định thắng lợi trong chiến dịch.


Về chính trị, mặc dù địch ra sức càn quét, khủng bố, bắt nhân dân về tập trung quanh đồn để tạo vành đai nhằm khống chế hoả lực tiến công của ta, dùng nhiều chiêu bài để lôi kéo, lừa mỵ nhân dân, tung nhiều gián điệp vào phá cơ sở... nhưng tỉnh Sơn La đã triển khai nhiều biện pháp thiết thực, bí mật đưa cán bộ, đáng viên trung kiên vào hoạt động, phát triển nhân tố mới của ta trong hàng ngũ binh lính địch. Các đội vũ trang tuyên truyền đẩy mạnh hoạt động trong vùng hậu địch, vận động, hướng dẫn nhân dân đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn của địch, ủng hộ kháng chiến. Ở các vùng tự do, cùng với tuyên truyền, giáo dục nâng cao cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch, nhân dân được phổ biến chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, tích cực tăng gia sản xuất để có lương thực, thực phẩm ủng hộ kháng chiến. Với những định hướng đúng đắn đó, đồng bào các dân tộc Sơn La đã phát huy tốt vai trò của mình, góp phần ủng hộ tích cực về lương thực, thực phẩm, bảo vệ, giữ bí mật, vận lương, tải đạn, dẫn đường, kéo pháo phục vụ kháng chiến, phục vụ chiến dịch.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười, 2025, 09:24:49 pm
Trước chiến dịch Tây Bắc bắt đầu, Đại đội 85 - Đoàn trinh sát 426 (mật hiệu là Tinh Cầu NS) thuộc Bộ Tổngtham mưu gồm 90 cán bộ, chiến sĩ nhận lệnh hành quân (tháng 8-1952) từ Đại Từ (Thái Nguyên) tiến sâu vào địa bàn Tây Bắc. Điểm hoạt động chính của Đoàn trinh sát 426 là "bám chắc trục đường 41 từ Cò Nòi đến tỉnh lỵ Sơn La"1 (Tinh Cầu trinh sát Nà Sản, tài liệu do các cựu chiến binh Đoàn trinh sát 426 biên soạn). Đầu tháng 9 năm 1952, Đại đội 85 - Đoàn trinh sát 426 bí mật hành quân vượt qua các đồn địch ở các vùng Quang Huy, Hồng Ngài (lúc đó thuộc Phù Yên), vượt sông Đà, qua đồn Tạ Khoa, Bản Chẹn, Pơm Bau (Yên Châu) đến điểm tập kết Cò Nòi, huyện Mai Sơn an toàn.


Đi tới đâu, Đại đội trinh sát 85 đều được nhân dân địa phương bảo vệ, giữ bí mật, tiếp tế lương thực, thực phẩm.

Đặc biệt, hơn 2 tháng hoạt động trên địa bàn Cò Nòi, Nà Sản - địa bàn trung tâm, nơi sở chỉ huy chiếm đóng Tây Bắc của giặc Pháp, trong khi đại bộ phận nhân dân bị địch tập trung về quanh đồn để khống chế, nhưng Đại đội trinh sát 85 vẫn được nhân dân cung cấp lương thực, thực phẩm, bảo vệ, giữ bí mật tuyệt đối an toàn cho đến ngày kết thúc chiến dịch.


Qua 2 đợt tấn công từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 20 tháng 11 năm 1952, các đơn vị thuộc các đại đoàn 316, 312,308 có sự phối hợp của bộ đội địa phương, dân quân du kích đã chiến đấu anh dũng, tiêu diệt các đồn địch, giải phóng hoàn toàn Phù Yên, Mường La, Quỳnh Nhai, Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu.


Địch ở các đồn lẻ còn lại và tàn quân của chúng rút chạy, co cụm về Nà Sản cố thủ. Đêm 30 tháng 11 năm 1952, đợt 3 của chiến dịch Tây Bắc tiếp tục tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Bộ chỉ huy chiến dịch xét thấy ta chưa đủ điều kiện đánh tập đoàn cứ điểm nên ngày 10 tháng 12 năm 1952, Bộ chỉ huy chủ động kết thúc chiến dịch. Tỉnh Sơn La hoàn toàn giải phóng (trừ Nà Sản).


Chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi, quân và dân Sơn La đã phối hợp cùng quân, dân Tây Bắc tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; giải phóng một vùng rộng lớn, góp phần làm đảo lộn thế bố trí chiến lược, khoét sâu thêm mâu thuẫn và chỗ yếu của kẻ địch; phá vỡ "bình phong" che chở cho địch ở Thượng Lào.


Chiến thắng Tây Bắc thể hiện sự trưởng thành về nhiều mặt của các lực lượng vũ trang nói chung, Sơn La nói riêng trong việc chấp hành mệnh lệnh, khả năng phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương, dân quân du kích. Sau chiến dịch, bộ đội địa phương Sơn La có 3 đại đội được Bộ chỉ huy chiến dịch biểu dương, khen thưởng vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham gia phối hợp chiến đấu, phục vụ chiến đấu.


Đây cũng là thắng lợi của tinh thần giác ngộ cách mạng của nhân dân, hết lòng hết sức vì tiền tuyến. Nhân dân Sơn La dù bị kẻ địch khủng bố, càn quét, dồn về tập trung quanh đồn, thường xuyên bị vơ vét, cướp phá, nhưng vẫn tự nguyện gom góp lương thực, thực phẩm, hăng hái đi dân công vừa phục vụ tiền tuyến vừa đánh giặc bảo vệ quê hương. Với khẩu hiệu "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", nhân dân Sơn La đã đóng góp 1.421.220 ngày công, có đợt tới 4.000 dân công phục vụ liên tục hàng tháng, tỉnh đã vận động nhân dân cung cấp được 693.434kg gạo, 8.000kg ngô, 48.321kg thịt các loại; vận chuyển 135 tấn gạo từ Phú Thọ lên các kho tiền phương. Quân và dân Sơn La đã làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, phối hợp với quân dân cà nước đưa chiến dịch Tây Bắc 1952 lịch sử tới thắng lợi, góp phần to lớn giải phóng quê hương.


Thắng lợi to lớn của quân và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La trong chiến dịch Tây Bắc đã khẳng định sự trưởng thành nhanh chóng về nhiều mặt, nhất là về vai trò hạt nhân lãnh đạo của mỗi đảng viên, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh. Từ thực tiễn chiến dịch, có thể khẳng định một số điểm chính như:

Một là, mặc dù số lượng đảng viên ít, địa bàn rộng, giao thông đi lại, điều kiện sản xuất khó khăn: âm mưu và thủ đoạn khủng bố, chia rẽ, lôi kéo đồng bào của kẻ địch thâm độc... nhưng dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các đồng chí đảng viên trong toàn Đảng bộ đã phát huy tốt vai trò trong việc tập hợp, mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc thực hiện mục tiêu cách mạng. Vì vậy trong chiến dịch Tây Bắc, Sơn La đã huy động hiệu quả, đạt mức cao sự đóng góp sức người, sức của phục vụ kháng chiến, giải phóng quê hương.


Hai là, nắm vững chủ trương của Đảng, quy định trách nhiệm rõ ràng, cụ thể, xây dựng kế hoạch hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng.

Công tác chuẩn bị để phối hợp phục vụ chiến dịch Tây Bắc có nhiều nội dung liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, các địa phương trong tỉnh. Thực hiện sự chỉ đạo của Khu ủy Tây Bắc, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã phân tích rõ điều kiện, tình hình thuận lợi, khó khăn nhất là trong việc huy động thu gom lương thực, thực phẩm góp phần chuẩn bị đảm bảo hậu cần, cũng như trong việc phối hợp chiến đấu, thu dọn chiến trường, tiếp quản vùng giải phóng...


Ba là, xây dựng tinh thần chủ động, thường xuyên giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đối với quân và nhân dân.

Việc thống nhất tư tưởng, quán triệt sâu sắc quyết tâm của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Nắm vững yêu cầu, nhiệm vụ được giao, công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên, nhân dân về tình hình, nhiệm vụ, mục đích của chiến dịch được đặc biệt chú trọng, được tiến hành bằng nhiều biện pháp tích cực, liên tục từ trước, trong quá trình phục vụ chiến dịch, làm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nâng cao ý thức tự giác, tự hào trong việc hoàn thành nhiệm vụ của mình.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là mốc son chói lọi, là niềm tự hào về truyền thống đấu tranh cách mạng bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam nói chung, của nhân dân các dân tộc Sơn La nói riêng. Phát huy thành quả của chiến dịch Tây Bắc, trong những năm qua Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh vượt qua mọi khó khăn, thử thách vươn lên thoát đói, giảm nghèo, xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh và cùng nhân dân cả nước phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2025, 05:15:51 pm
TỈNH ỦY SƠN LA LÀM TỐT CÔNG TÁC DÂN VẬN
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

HOÀNG VĂN CHẤT
Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy,
Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La


Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp xâm lược, thực hiện âm mưu thâm độc "chia để trị", thực dân Pháp cùng các thế lực phản động đã ráo riết thiết lập các xứ tự trị giả hiệu ở vùng Tây Bắc nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, đồng thời duy trì lâu dài sự bóc lột, thống trị của chúng. Tuy nhiên, với sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, phong trào cách mạng Khu Tây Bắc nói chung, tỉnh Sơn La nói riêng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Trong những năm tháng lịch sử oanh liệt ấy, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, cách mạng và đoàn kết, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng phong trào quần chúng, thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động, cảm hóa, giác ngộ, dân vận, binh vận... Từ đó, đã thành lập được các tổ chức quần chúng cứu quốc, các đoàn thể cách mạng, xây dựng được các phong trào cách mạng rộng khắp, tạo nên sức mạnh to lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tinh và Khu ủy Tây Bắc. Trong chiến dịch Tây Bắc 1952, quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng về việc mở hướng tiến công chiến lược lên Tây Bắc, Tỉnh ủy Sơn La đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành trong tỉnh thực hiện tốt công tác dân vận, góp phần làm nên chiến thắng của chiến dịch.


Tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị hạ quyết tâm phải giải phóng Tây Bắc và lãnh đạo xúc tiến việc chuẩn bị cho chiến dịch, trước hết là chuẩn bị đường sá, lương thực, thực phẩm. Để tập trung việc lãnh đạo kháng chiến sát hợp với tình hình khu vực, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết về thành lập Khu Tây Bắc, gồm 4 tỉnh: Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và Sơn La. Từ đây, Đảng bộ tỉnh Sơn La thực hiện nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy Tây Bắc. Điều đó tạo thuận lợi to lớn cho việc tập trung lãnh đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ phục vụ công cuộc kháng chiến nói chung, chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc nói riêng.


Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chính thức quyết định mở chiến dịch Tây Bắc với mục tiêu tiêu hao sinh lực địch, giải phóng đồng bào các dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng một bộ phận đất đai vùng Tây Bắc. Nhiệm vụ quan trọng lúc này được Ban Thường vụ Khu ủy Tây Bắc xác định là huy động mọi khả năng nhân lực, vật lực để phục vụ chiến dịch Tây Bắc, phá tan "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị" giả hiệu của địch, tạo đà tiến lên giải phóng hoàn toàn Tây Bắc.


Nhận thức được mục đích, tầm quan trọng của chiến dịch Tây Bắc, Tỉnh ủy Sơn La đã triệu tập Hội nghị Ban chấp hành mở rộng, đề ra Nghị quyết: "Nhận rõ tình hình, tích cực làm tròn nhiệm vụ" và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng huyện, từng đồng chí tỉnh ủy viên trực tiếp phụ trách chỉ đạo từng địa bàn trong tỉnh. Xác định rõ tỉnh Sơn La là một tỉnh giữ vị trí trọng yếu, là chiến trường chính trong chiến dịch, bên cạnh việc quan tâm củng cố tổ chức và sức mạnh đoàn kết, củng cố căn cứ và cơ sở kháng chiến, đẩy mạnh công tác hậu địch, xây dựng bộ đội địa phương để phối hợp với lực lượng bộ đội chủ lực cùng chiến đấu, Đảng bộ tỉnh Sơn La đặc biệt quan tâm đến phát triển công tác mặt trận và dân vận, địch vận để mở rộng mặt trận đấu tranh, chuẩn bị cho chiến dịch, thực hiện tốt nhiệm vụ của Trung ương và Khu ủy đề ra; vận động nhân dân các dân tộc trong tỉnh đóng góp sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến, vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất.


Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ nhất (diễn ra từ ngày 20-3 đến ngày 2-4-1951), đã đề ra chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Sơn La trong giai đoạn tới; ra nghị quyết về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, quân sự, văn hoá, dân vận ở địch hậu... Đại hội xác định cùng với quan tâm củng cố tổ chức và sức mạnh đoàn kết, phải đặc biệt quan tâm đến phát triển Mặt trận Liên Việt và công tác dân vận để mở rộng mặt trận đấu tranh: "Công tác dân vận là một bộ phận công tác quan trọng của Đảng, Đảng có vận động được nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng đưa ra thì kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công", và "Nhiệm vụ của công tác dân vận lúc này là phải tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đập tan âm mưu chia rẽ của địch; phải đẩy mạnh phát triển hội quần chúng, xây dựng mặt trận sâu rộng để thu hút nhân dân ủng hộ kháng chiến kiến quốc".


Sau đại hội, công tác dân vận ở các Cơ sở Đảng được tăng cường, góp phần quan trọng trong việc cùng Trung ương làm tốt công tác chuẩn bị, chiến đấu và giành thắng lợi trong chiến dịch Tây Bắc.

Ngày 14 tháng 10 năm 1952, đợt 1 chiến dịch Tây Bắc được mở màn, hướng tiến công của bộ đội ta là Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên. Đến ngày 23 tháng 10 năm 1952, đợt 1 chiến dịch Tây Bắc kết thúc, ta giải phóng vùng tả ngạn sông Đà, hoàn toàn kiểm soát từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, đường 13 nối liền Yên Bái - Nghĩa Lộ. Đợt 2, ta tập trung tấn công các huyện thuộc hữu ngạn sông Đà như Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, tỉnh lỵ Sơn La và Thuận Châu. Ngày 20 tháng 11 năm 1952, ta giải phóng Mộc Châu. Đến ngày 22 tháng 11 năm 1952, hầu hết các huyện lỵ của tỉnh Sơn La được giải phóng (trừ Nà Sản). Đêm 30 tháng 11 năm 1952, quân ta mở chiến dịch tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Nhưng do lực lượng địch mạnh, nhận thấy bộ đội chưa đủ sức đánh tập đoàn cứ điểm này, Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch vào ngày 10 tháng 12 năm 1952.


Chiến dịch Tây Bắc kết thúc, ta đã tiêu diệt và bắt hơn 6.000 quân địch (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội), giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 28.500km2 với 250.000 dân), nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, giữ vững thế chủ động tiến công, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng của địch. Căn cứ kháng chiến của ta được mở rộng và thêm vững chắc, âm mưu xây dựng "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị" giả hiệu của thực dân Pháp bị đập tan.


Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi có một phần đóng góp quan trọng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2025, 05:17:38 pm
Đảng bộ tỉnh đã nhận thức đúng đắn và lãnh đạo công tác dân vận một cách có hiệu quả, huy động được đông đảo lực lượng nhân dân các dân tộc tham gia góp sức người, sức của cho chiến dịch. Để nâng cao nhận thức trong toàn quân, toàn dân, Tỉnh ủy đã tổ chức tốt đợt tuyên truyền về nội dung bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 1 tháng 10 năm 1951 đến cán bộ, Đảng viên và nhân dân Sơn La: "Quyết tâm làm tròn nhiệm vụ; bền bỉ, dẻo dai vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, khắc phục mọi khó khăn; đảm bảo việc cung cấp đầy đủ cho bộ đội; cùng bộ đội giành toàn thắng cho chiến dịch". Đồng thời, tiến hành tuyên truyền, giáo dục nhân dân các dân tộc về tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm, tạo sự đồng tình trong nhân dân để sẵn sàng phối hợp chặt chẽ với các lực lượng bộ đội chủ lực, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, tiếp lương, tải đạn, phục vụ cáng thương, chăm sóc thường binh, dẫn đường cho bộ đội truy kích địch, trực tiếp tham gia thu dọn chiến trường, v.v...


Phục vụ tiền tuyến được Tỉnh ủy xác định là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu. Để huy động sự đóng góp sức người, sức của của nhân dân các dân tộc, Đảng bộ tỉnh Sơn La tích cực trang bị cho cán bộ, đảng viên phương pháp vận động quần chúng trong công tác dân vận. Với khẩu hiệu "Tất cả cho chiến dịch, tất cả cho chiến thắng", Mặt trận Liên Việt tỉnh và các tổ chức quần chúng như Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông hội đã phát huy mạnh mẽ vai trò tập hợp, động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia đóng góp lương thực cung cấp cho bộ đội; tự nguyện gia nhập lực lượng vũ trang để chiến đấu giải phóng Tây Bắc; xung phong đi dân công tích cực vận chuyển hàng hóa phục vụ tiền tuyến... Phong trào thi đua"Góp công sức để kháng chiến kiến quốc" trong nhân dân được phát động rộng khắp ở vùng căn cứ và cả vùng tạm chiếm. Các tổ chức quần chúng phát động nhiều phong trào thi đua thiết thực như: Thanh niên có phong trào thi đua tòng quân đánh giặc cứu nước; phụ nữ có phong trào thi đua giúp đỡ bộ đội, vận tải vũ khí, ủng hộ vải may quần áo. Ở vùng địch tạm chiếm, phong trào đấu tranh cũng được khơi dậy và phát triển, cá bí mật lẫn công khai.


Những nỗ lực của các cấp, các ngành Sơn La trong công tác dân vận đã tạo được sự đồng thuận cao của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Trong 2 đợt của chiến dịch, Sơn La đã huy động nhân dân đóng góp trên 1.421.000 ngày công, có đợt động viên trên 4.000 dân công phục vụ chiến dịch liên tục trong một tháng; 693.434kg gạo, 8.000kg ngô, 48.321kg thịt các loại, vận tải được 135 tấn gạo từ Phú Thọ về kho mặt trận tiền phương. Đặc biệt, đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao ở nhiều nơi của tỉnh không trong diện vận động như dân tộc Mông, Dao, Khơ Mú... vẫn xung phong đi dân công và tự nguyện cho Chính phủ vay lương thực, thực phẩm. Hàng trăm thanh niên các dân tộc hăng hái tự nguyện nhập ngũ, làm nghĩa vụ quân sự, tham gia dân công... góp phần to lớn vào thắng lợi của chiến dịch.


Chiến thắng của chiến dịch Tây Bắc 1952 có ý nghĩa hết sức to lớn đối với vùng Tây Bắc nói chung và đối với tỉnh Sơn La nói riêng. Kế hoạch chiếm đóng bình định lâu dài và âm mưu lập "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị" nhằm chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc, dùng người địa phương và bọn tay sai phản động địa phương đánh phong trào cách mạng địa phương của địch bị đập tan. Đồng thời, thắng lợi của chiến dịch còn có ý nghĩa to lớn đối với cục diện chiến trường Bắc Bộ, cục diện chiến trường chung của ba nước Đông Dương, đập tan ảo tưởng giành lại thế chủ động trên chiến trường của thực dân Pháp.


Chiến thắng của chiến dịch Tây Bắc thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tài tình của Trung ương về nghệ thuật quân sự, về phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân, đó là: chọn chiến trường thích hợp để tiêu diệt địch, kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các địa bàn, các chiến trường, giữa ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và lực lượng dân quân du kích), giữa quân và dân. Đồng thời, cũng ghi nhận đóng góp quan trọng của Đảng bộ tỉnh Sơn La trong công tác dân vận, huy động dân công, lương thực, thực phẩm tại chỗ cho chiến dịch... Qua đó, phong trào cách mạng ỏ địa phương, hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở thêm trưởng thành, vững mạnh, nhân dân các dân tộc Sơn La (trừ vùng Nà Sản) thoát khỏi ách thống trị, nô dịch của thực dân Pháp xâm lược.    Thắng lợi to lớn của chiến dịch Tây Bắc đã khẳng định sự trưởng thành nhanh chóng về nhiều mặt của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La, đặc biệt là vai trò chủ động, sáng tạo của Tỉnh ủy Sơn La trong việc chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền, ban ngành, đoàn thể trong tỉnh chuẩn bị chu đáo về mọi mặt; lãnh đạo các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích và các lực lượng cách mạng khắc phục vụ và phối hợp tác chiến hiệu quả với các đơn vị bộ đội chủ lực, góp phần quan trọng đưa chiến dịch Tây Bắc đến toàn thắng.


Sau chiến dịch, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La quyết tâm giữ vững vùng mới giải phóng, ổn định đời sống nhân dân, động viên nhân dân ra sức phát triển sản xuất, khôi phục kinh tế, đẩy mạnh văn hóa, giáo dục, bước đầu tiến hành cải cách ruộng đất chia ruộng cho dân cày, tiếp tục góp phần tích cực cùng toàn Đảng, toàn quân cả nước làm nên chiến thắng lịch sử của chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2025, 05:19:50 pm
Những kinh nghiệm và thành tựu trong lãnh đạo công tác dân vận của Tỉnh ủy Sơn La trong chiến dịch Tây Bắc cách đây 60 năm, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, trở thành những bài học vừa mang tính lý luận sâu sắc, vừa là những kinh nghiệm quý báu, có ý nghĩa thời sự cho mọi giai đoạn cách mạng của tỉnh. Những bài học đó là:

Một là: Quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc, dựa vào dân, tin dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, tuyên truyền vận động, tổ chức, tập hợp nhân dân với các hình thức phù hợp. Thực tiễn đã chứng minh quần chúng nhân dân là lực lượng to lớn và quyết định của sự nghiệp cách mạng. Lực lượng đó phải được giác ngộ, tập hợp, đoàn kết thống nhất, được tổ chức thành đội ngũ chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việc tuyên truyền vận động, tổ chức, tập hợp nhân dân với các hình thức thích hợp là một trong những bài học quan trọng của công tác dân vận. Nếu biết vận động, phát huy được sức mạnh của quần chúng thì nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Quần chúng nhân dân là lực lượng hùng hậu và vô tận để dựng nước và giữ nước; một khi dân đã hiểu, đã thông và tập hợp đoàn kết lại thì khó khăn, gian khổ hy sinh mấy cũng vượt qua và giành thắng lợi: "Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong".


Hai là: Kế thừa, phát huy ý thức dân tộc, truyền thống yêu nước, đoàn kết gắn bó và tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân các dân tộc trong tỉnh một cách có chọn lọc; quán triệt và thực hiện chính sách đại đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam, là nguồn sức mạnh to lớn "dời non, lấp biển" trong sự nghiệp cách mạng. Qua thử thách của các cuộc chiến tranh, nó được hun đúc, nuôi dưỡng và phát triển mạnh mẽ, giúp quân và dân ta đập tan bao cuộc xâm lăng, thống trị, giữ vững và phát triển non sông đất nước. Phát huy truyền thống đó, công tác dân vận luôn đặt vấn đề đại đoàn kết các dân tộc là nền tảng vững chắc cho mọi thắng lợi, đặc biệt đối với một tỉnh miền núi có nhiều dân tộc như Sơn La. Đây là một bài học lớn trong công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh xuyên suốt trong lịch sử phát triển.


Ba là: Nắm vững, quán triệt đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng về công tác vận động quần chúng, đồng thời biết vận dụng một cách sáng tạo đường lối ấy phù hợp với tình hình thực tế của một tỉnh miền núi, nhiều dân tộc. Mục tiêu, nhiệm vụ của công tác dân vận bao giờ cũng gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng. Mỗi một giai đoạn lịch sử đòi hỏi phải có nội dung và phương thức vận động quần chúng nhân dân phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của giai đoạn đó. Việc xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược là điều cơ bản nhất, song khi đã có mục tiêu, nhiệm vụ đúng đắn thì điều quyết định là tổ chức thực hiện tốt, làm cho đường lối, chính sách phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, tạo ra động lực thúc đẩy phong trào hành động cách mạng của nhân dân.


Bốn là: Công tác dân vận luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng gắn chặt với công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Thực tiễn phong trào cách mạng khẳng định: công tác dân vận phải gắn chặt với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; ngược lại, công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền cũng phải gắn liền với công tác dân vận mới có hiệu quả. Bên cạnh đó, việc nâng cao vai trò của cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, vận động nhân dân có ý nghĩa quyết định trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo tốt công tác phối hợp giữa chính quyền với mặt trận và các đoàn thể trong vận động quần chúng, làm tốt sự phối hợp công tác dân vận giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị; đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo công tác dân vận dưới sự giám sát đóng góp xây dựng của nhân dân phải được quan tâm thường xuyên, giám sát chặt chẽ thông qua Quy chế dân chủ ở cơ sở.


Năm là: Chú trọng công tác xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận; không ngừng đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống dân vận. Trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công tác chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân vận luôn được Tỉnh ủy chú trọng phù hợp với một tỉnh có nhiều dân tộc. Qua thực tiễn của phong trào cách mạng, nhiều lớp cán bộ đã trưởng thành, trong đó có nhiều cán bộ địa phương đi lên từ phong trào vận động quần chúng, được quần chúng yêu mến, tin tưởng. Điều đó khẳng định việc củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống dân vận, tăng cường làm tốt công tác vận động quần chúng đã được chú trọng đúng mức. Với phương châm hướng về cơ sở, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia quản lý xã hội; xây dựng phong cách làm việc gần dân, hiểu dân; tiếp tục củng cố, kiện toàn và phát huy tốt vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị, công tác dân vận ngày càng được sự quan tâm của Đảng và chính quyền các cấp. Tỉnh ủy Sơn La đã chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận các cấp có phẩm chất chính trị, năng lực và uy tín với quần chúng; quy hoạch tạo nguồn bồi dưỡng, đào tạo lại theo hướng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở cơ sở, đặc biệt là cán bộ người dân tộc tại chỗ, am hiểu phong tục tập quán, ngôn ngữ của dân tộc, địa phương đó..., đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.


Chiến thắng Tây Bắc 1952 là một trong những mốc son của lịch sử hào hùng của cách mạng Việt Nam. Chiến thắng ấy đã từng gắn với mỗi địa danh trên quê hương Sơn La anh hùng. Cùng với niềm tự hào to lớn được góp một phần vào thắng lợi chung, những bài học quý báu về công tác dân vận được rút ra qua thực tiễn chiến đấu đã trở thành tài sản quan trọng trong kho tàng lý luận về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh Sơn La, đến nay tiếp tục được vận dụng, phát huy trong việc lãnh đạo sự nghiệp đổi mới. Chính những bài học này đã được Tỉnh ủy Sơn La vận dụng một cách sáng tạo trong triển khai các nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước, mang lại hiệu quả cao trong xoá đói giảm nghèo, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc, củng cố được niềm tin vào Đảng, vào chế độ của đồng bào các dân tộc. Các chương trình lớn của tỉnh như xoá đói giảm nghèo; chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; chương trình di dân tái định cư thủy điện Sơn La; chương trình phát triển cây cao su; công tác phòng chống ma tuý và các tệ nạn xã hội; chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi... đã thu được nhiều kết quả to lớn và tốt đẹp, từng bước đưa Sơn La trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực, góp phần vào thắng lợi chung trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2025, 05:24:18 pm
HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG SƠN LA TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá CẦM VĂN CÂU
Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La


Sau chiến dịch Hòa Bình, không để cho địch rảnh tay bình định, củng cố thế chiếm đóng của chúng ở đồng bằng và trung du, nhất là trên chiến trường chính Bắc Bộ, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã cân nhắc và lựa chọn hướng tiến công của ta trong Đông - Xuân 1952-1953; trong đó xác định: không có nơi nào địch yếu và sơ hơ hơn là hướng Tây Bắc. Hướng này, vừa là chiến trường có tầm chiến lược quan trọng, vừa có nhiều điều kiện để phát huy sở trường, cách đánh và trình độ của bộ đội ta qua bài học thực tiễn của mấy chiến dịch trước. Vì thế. Trung ương và Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Tây Bắc.


Để đảm bảo cho chiến dịch Tây Bắc giành thắng lợi, cùng với các hoạt động quân sự, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy yếu tố chính trị - tinh thần trong chiến đấu của bộ đội ta. Đối với lực lượng vũ trang tỉnh Sơn La, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cũng được các cấp ủy hết sức chú trọng. Rút kinh nghiệm từ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của một số chiến dịch trước đây cho thấy, một số cấp ủy vẫn coi nhẹ hoạt động này, nhất là công tác xây dựng Đảng và giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang địa phương, nên đứng trước những khó khăn, thử thách, ác liệt, thương vong, một số người dao động, chùn bước, giảm sút ý chí chiến đấu. Nhằm khắc phục tình trạng đó, trước khi bước vào chiến dịch Tây Bắc, Tỉnh ủy Sơn La đã xác định: Phải coi trọng và thực hiện công tác đảng, công tác chính trị, trước mắt là củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng trong lực lượng dân quân du kích và bộ đội địa phương; tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong tình hình mới; phối hợp chặt chẽ và duy trì mối quan hệ giữa tổ chức đảng, đoàn ở địa phương và công tác chính trị trong lực lượng vũ trang, thực hiện tốt nhiệm vụ kháng chiến. Trong đánh giá chất lượng lực lượng dân quân tự vệ, Tỉnh ủy nhận thấy, lực lượng này còn yếu về tư tưởng, tổ chức, nhất là nhận thức về chiến tranh du kích, còn ỷ lại bộ đội chủ lực. Bởi vậy, cần phải làm tốt công tác giáo dục chính trị, động viên tư tưởng, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ chính trị, quân sự, kháng chiến; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, sự gắn bó, phối hợp giữa bộ đội chủ lực và dân quân du kích. Lực lượng vũ trang tỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, mà trực tiếp là sự chỉ đạo của Tỉnh ủy đã xác định nhiệm vụ phục vụ kháng chiến cũng cần kíp và quan trọng như nhiệm vụ chiến đấu. Công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch là tổ chức huy động lực lượng dân công phục vụ cho chiến dịch Tây Bắc được tiến hành chu đáo, cả trước, trong và sau chiến dịch. Đây là nhiệm vụ rất vất vả, khó khăn, dân công phải chịu đựng gian khổ, ác liệt không kém gì bộ đội. Nhận rõ đặc điểm đó, từ Tỉnh ủy đến chi ủy đều cử cán bộ, đảng viên sâu sát cơ sở, chỉ huy, lãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục, xây dựng quyết tâm, nhắc nhở, động viên dân công giữ nghiêm kỷ luật, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.


Nằm trong đội hình chiến đấu và phục vụ chiến đấu phối hợp với bộ đội chủ lực và các tỉnh bạn trong chiến dịch Tây Bắc, nên hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Sơn La vừa tuân thủ nội dung, hình thức hoạt động chung, vừa mang tính đặc thù phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trên địa bàn.


Trước chiến dịch, cấp ủy các cấp đã làm tốt công tác chỉnh huấn chính trị, giáo dục, quán triệt nhiệm vụ, phương châm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến chiến dịch. Chỉ rõ những việc cần chú ý trong tổ chức hoạt động công tác chính trị chiến dịch là: chiến dịch này thời gian dài, bộ đội phải liên tục chiến đấu, cho nên về tổ chức phải được củng cố, chấn chỉnh một cách nhanh chóng; phải chuẩn bị sẵn tân binh và cán bộ để kịp bổ sung trong chiến dịch; phải chú trọng chăm sóc thương, bệnh binh để họ mau trở về đơn vị chiến đấu. Về tư tưởng, các cấp ủy phải dự kiến và bám sát diễn biến tình hình để lãnh đạo, chấn chỉnh kịp thời; đề phòng tư tưởng thắng thì chủ quan, tự mãn, bại thì bi quan, dao động; đồng thời, khắc phục những biểu hiện ngại khó, ngại khổ, sợ thương vong, về cung cấp, giáo dục động viên bộ đội và dân công làm tốt nhiệm vụ bảo đảm vật chất cho chiến dịch, giữ vững sức khỏe bộ đội tác chiến dài ngày trên địa hình rừng núi. Lực lượng vũ trang Sơn La cũng đã tiến hành học tập, thấu suốt Chỉ thị ngày 16 tháng 8 năm 1952 của Trung ương Đảng về "Thi hành chính sách dân tộc thiểu số ở Khu Tây Bắc" "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa" về chính sách dân vận trong chiến dịch, "Huấn thị của Hồ Chủ tịch tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc" (9-9-1952). Ngoài ra, lực lượng vũ trang tỉnh còn được quán triệt những chỉ thị, hướng dẫn chuyên ngành, đi sâu lãnh đạo bảo đảm các mặt công tác, như: "Chỉ thị về công tác chính trị đối với dân công phục vụ tiền tuyến", "Chỉ thị về thưởng phạt trong Thu Đông 1952"... Để phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang tỉnh, Tỉnh ủy Sơn La đã chỉ đạo tiến hành kiện toàn hệ thống tổ chức đảng các cấp. Theo đó, các tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh và các đại đội bộ đội địa phương huyện sinh hoạt theo tổ chức đảng ủy quân sự. Lực lượng dân quân, du kích thuộc chi bộ xã, thôn, bản thì sinh hoạt theo tổ chức đảng ở địa phương. Các tổ chức đảng tiến hành đại hội chi bộ để bầu cấp ủy mới; đồng thời, quán triệt tinh thần nghị quyết Hội nghị Đảng toàn quân, trong đó quy định mới về chức năng, nhiệm vụ của chi bộ. Tỉnh cũng yêu cầu, khi bộ đội đến đóng ở địa phương nào thì phải liên hệ chặt chẽ với cấp ủy địa phương để phối hợp hành động và phải tôn trọng nghị quyết, chủ trương của đảng bộ, chính quyền địa phương ấy.


Trong chiến dịch, công tác đảng, công tác chính trị luôn bám sát diễn biến trên chiến trường và mọi hoạt động của các đơn vị. Ngày 14 tháng 10 năm 1952, quân ta nổ súng mở màn đợt 1 của chiến dịch Tây Bắc, tiêu diệt các vị trí dọc đường, luồn sâu vào tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ, tạo cơ hội để quân ta tiêu diệt tiếp một tiểu đoàn dù ứng chiến nhảy xuống Tú Lệ và truy kích địch trên đường từ Tú Lệ đến Ít Ong. Bộ đội vừa tiến công địch ở phía trước, vừa hình thành sớm mũi vu hồi ở đông - nam Lai Châu. Qua 11 ngày chiến đấu, quân và dân ta đã giải phóng Nghĩa Lộ, Phù Yên, Quỳnh Nhai, đập tan phòng tuyến vòng ngoài của địch. Hòng cứu vãn tình thế nguy ngập, Bộ chỉ huy quân Pháp đã tăng cường cho Tây Bắc 7 tiểu đoàn, nhằm củng cố phòng tuyến Sơn La - Lai Châu đang bị quân ta uy hiếp nghiêm trọng. Tại Sơn La, chúng gấp rút củng cố các bốt, xây dựng hầm hào, lô cốt kiên cố ở nhiều vị trí xung yếu. Sau khi rút kinh nghiệm đợt 1 và củng cố lực lưựng, Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Bắc quyết định bước vào đợt 2, với nhiệm vụ vượt sông Đà, tiến công khu vực Tạ Khoa, Ba Lay, Mộc Châu, nhằm phá vỡ tuyến phòng thủ chủ yếu của địch trên tuyên sông Đà, tạo điêu kiện giải phóng Sơn La - Lai Châu. Với công tác chuẩn bị chu đáo, cách đánh táo bạo, tinh thần chiến đấu dũng cảm, đợt 2 chiến dịch Tây Bắc kết thúc, tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản) và một phần tỉnh Lai Châu được giải phóng. Đứng trước nguy cơ bị mất hoàn toàn vùng Tây Bắc, thực dân Pháp cấp tốc thu gom toàn bộ số quân còn lại co về Nà Sản; đồng thời, tăng cường thèm lực lượng, củng cố, xây dựng Nà Sản thành một tập đoàn cứ điểm mạnh. Bước vào đợt 3 của chiến dịch, quân ta tập trung tấn công tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Song, do lực lượng địch mạnh, ta mở nhiều đợt tiến công nhưng không có kết quả. Nhận thấy quân ta chưa đủ sức đánh tập đoàn cứ điểm này, Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch vào ngày 10 tháng 12 năm 1952. Chiến dịch Tây Bắc kết thúc, quân và dân ta đã tiêu diệt 6.000 tên địch, đập tan hoàn toàn âm mưu củng cố cái gọi là "Xứ Thái tự trị" của thực dân Pháp. Riêng quân và dân Sơn La đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, chiến đấu kiên cường, dũng cảm, lợi dụng sự thông thạo địa hình, địa vật, làm chủ chiến trường; vận chuyển, cung cấp bảo đảm kịp thời vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm phục vụ chiến đấu; làm tốt công tác thu dung điều trị, chăm sóc thương binh... công tác đảng, công tác chính trị luôn bám sát mọi hoạt động của bộ đội và dân công hỏa tuyến, động viên, khích lệ, giúp đỡ nhau khắc phục khó khăn, tiếp tục phục vụ cho kháng chiến lâu dài. Ở đâu có bộ đội, dân công, ở đó có tổ chức đảng, có hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, giải quyết kịp thời những vướng mắc về chính trị, tư tưởng, tổ chức; kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện nhiệm vụ tác chiến với chấp hành đúng chính sách dân tộc, dân vận, địch vận trong chiến dịch. Trên địa bàn tỉnh, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều đi chiến đấu, phục vụ chiến đấu, thu dọn chiến trường, tạo không khí sôi nổi, rộng khắp trong suốt quá trình chiến dịch.


Sau chiến dịch, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Sơn La tập trung vào tổng kết, đánh giá kết quả chiến đấu và phục vụ chiến đấu, củng cố lực lượng, xây dựng địa phương sau giải phóng. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của tình hình mới, Tỉnh ủy Sơn La quyết định triển khai chương trình công tác đặc biệt: "Những nhiệm vụ cần kíp củng cố vùng giải phóng", nhằm làm cho cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân thấy rõ ý nghĩa của chiến dịch Tây Bắc, âm mưu mới của địch và chủ trương đối phó của ta. Chỉ đạo các huyện, các ngành, các đơn vị nhanh chóng củng cố chính quyền các cấp ở Yên Cháu, Mai Sơn, Mường La; tổ chức hệ thống chính trị nhanh chóng đi vào hoạt động. Với bộ đội địa phương, củng cố lực lượng, chấn chỉnh đội hình, ổn định quân số, tiến hành kiểm điểm kết quả tham gia chiến dịch Tây Bắc; kiểm tra vũ khí, trang bị, bổ sung tân binh để tổ chức huấn luyện chống càn, bảo vệ dân. Ngoài nội dung trên, các địa phương còn khẩn trương làm tốt công tác bình xét, khen thưởng cho những tập thể, cá nhân đạt thành tích tốt trong tham gia chiến dịch; triển khai lực lượng bảo vệ kho tàng, bản, Mường, củng cố hạ tầng cơ sở, bảo đảm giao thông thông suốt; thực hiện tốt chính sách tù, hàng binh...


Chiến dịch Tây Bắc đã đi vào lịch sử dân tộc 60 năm, song vẫn còn nguyên giá trị về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc; về ý chí quyết tâm cao, tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của quân và dân ta; về đường lối nghệ thuật quân sự độc đáo, sáng tạo của Đảng. Đặc biệt, những kinh nghiệm hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng vũ trang Sơn La nói riêng trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, sẽ là bài học kinh nghiệm thực tiễn phong phú trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2025, 05:27:34 pm
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG TỈNH SƠN LA
VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá HOÀNG NGỌC DŨNG
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy,
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La


Ngày 2 tháng 8 năm 1947, Trung đội vũ trang tuyên truyền đầu tiên của tỉnh Sơn La được thành lập. Đó là một sự kiện lịch sử không chỉ của lực lượng vũ trang Sơn La, mà còn đối với cả đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Đó cũng là sự khởi đầu của chặng đường 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang Sơn La. Trong suốt chặng đường vẻ vang đó, không thể không nhắc đến sự đóng góp quan trọng của lực lượng vũ trang Sơn La đối với chiến dịch Tây Bắc 1952.


Nhận rõ Tây Bắc là một vùng chiến lược quan trọng: địch chiếm thì uy hiếp sườn, sau lưng ta; chặn giao thông giữa ta và Trung Quốc; ngăn cản liên lạc giữa ta với cách mạng Lào; uy hiếp đường giao thông giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4. Mở chiến dịch này, không những có lợi cho cuộc kháng chiến của ta, mà cả cho cách mạng Lào. Đây là nơi địch yếu nhất, đánh vào khu vực này, địch nhất định phải đối phó ở chiến trường có lợi cho ta; do đó, ta có điều kiện tiêu diệt sinh lực địch trên chiến trường và giữ được ưu thế tương quan so sánh lực lượng. Qua một số chiến dịch chưa thật thành công (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung), Đảng ta càng thày rõ vai trò của Mặt trận Tây Bắc. Vì vậy, tháng 4 năm 1952, Hội nghị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Huấn thị đế chỉ đạo chiến dịch này, trong đó Người nhấn mạnh: Nhiệm vụ chính là tiêu diệt sinh lực địch. Trung ương Đảng xác định phương châm của chiến dịch là: Tiêu diệt sinh lực địch, đánh chắc tiến chắc. Sau khi có nghị quyết của Trung ương về mở chiến dịch Tây Bắc, Tổng Quân ủy tiến hành nhiều cuộc họp để nhận định tình hình, đề ra các phương án tác chiến, công tác chuẩn bị chiến trường và bảo đảm hậu cần cho mặt trận. Trên cơ sở đánh giá tình hình địch, tình hình ta và khảo sát chiến trường, Tổng Quân ủy đã hoàn chỉnh "Quyết tâm chiến dịch", trong đó xác định, thời kỳ thứ nhất, tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời tranh thủ tiêu diệt địch ở Tiểu khu Phù Yên, giải phóng Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, phát triển thắng lợi, quét sạch địch tới sát bờ sông Đà, tạo điều kiện để tiến công địch ở Sơn La. Tổng Quân ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch xác định, nếu thuận lợi, bộ phận lớn lực lượng của ta nhanh chóng đánh thốc vào hướng Sơn La, cắt đường 41, tiến sâu vào vùng địch hậu để phát động nhân dân tranh đấu, cô lập Sơn La, làm rối loạn hậu phương của địch. Tuy nhiên, Tổng Quân ủy cũng nêu tình huống: nếu diễn biến không thuận lợi, thì đợt 2 ta sẽ dùng một bộ phận chủ lực chia làm hai cánh để giải quyết vùng đông nam Phân khu Sơn La.


Thực hiện quyết tâm của Tổng Quân ủy và nhận rõ vị trí quan trọng của chiến dịch đối với Sơn La, tháng 9 năm 1952, Tỉnh ủy Sơn La triệu tập Hội nghị Ban chấp hành mở rộng đề ra Nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân tham gia chiến dịch. Trong đó, Tỉnh ủy xác định: toàn thể lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc trong tỉnh phải nhận rõ tình hình, khẩn trương triển khai thực hiện nhiệm vụ do Khu ủy Tây Bắc giao. Đảng bộ và ủy ban hành chính tỉnh cùng nhận thức rõ rằng: việc bộ đội chủ lực lên hoạt động tác chiến trên địa bàn, tiêu diệt sinh lực địch là điều kiện thuận lợi để tỉnh tranh thủ nhân dân, phục hồi cơ sở, tôi luyện, thử thách và phát triển lực lượng vũ trang. Đặc biệt, tỉnh coi đó là thời cơ để giải phóng đại bộ phận đất đai nên gấp rút chuẩn bị lực lượng để tiếp thu vùng mới giải phóng. Với nhận thức như vậy, Hội nghị đã giao nhiệm vụ cụ thể cho từng huyện, phân công các Tỉnh ủy viên trực tiếp chỉ đạo từng mặt công tác được phân công; thành lập Ban cán sự và huyện đội các huyện Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu; đồng thời, tăng cường cán bộ phụ trách công tác dân quân cho 3 huyện mới hình thành ban cán sự. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban chỉ huy Tỉnh đội đã chỉ đạo lực lượng vũ trang tỉnh, một mặt chủ động củng cố dân quân du kích xã, bản, mở rộng địa bàn hoạt động, phát triển các tổ du kích địa phương, làm nòng cốt cho nhân dân đẩy mạnh việc diệt tề, trừ gian và tăng cường công tác binh, địch vận; mặt khác, phối hợp cùng các lực lượng tích cực tham gia công tác chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị nhân, vật lực phục vụ chiến dịch theo đúng yêu cầu của Ban Thường vụ Khu ủy Tây Bắc. Cụ thể là, trong quá trình chuẩn bị chiến dịch, lực lượng vũ trang tỉnh giúp bộ đội chủ lực nắm địa hình, nắm địch, tình hình địa phương, chỉ, đưa đường và cảnh giới. Cùng thời gian này, lực lượng vũ trang tỉnh còn tích cực tổ chức vận động quần chúng tham gia đấu tranh với địch, làm tốt công tác binh vận, lôi kéo binh lính địch về phía ta; đồng thời, cử thanh niên ta bí mật thâm nhập hàng ngũ của địch để lấy súng của chúng. Trong quá trình thực hành tiến công địch, lực lượng vũ trang tỉnh đã có 3 đại đội bộ đội địa phương và nhiều tổ, đội dân quân du kích tham gia phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu, bảo đảm cơ động, hậu cần cho chiến dịch. Trong suốt quá trình chiến dịch, ngoài việc tham gia cắt đường 41, cô lập, bao vây một số đồn, bốt của địch, tạo thế và lực cho bộ đội chủ lực triển khai, tiến công tiêu diệt địch, lực lượng vũ trang Sơn La còn phối hợp với ủy ban hành chính các cấp và quần chúng nhân dân đế kịp thời tiếp thu, quản lý và bảo vệ vùng mới giải phóng.


Thực hiện nhiệm vụ Trung ương và Khu ủy giao, lực lượng vũ trang Sơn La còn tiếp tục củng cố các căn cứ và cơ sở kháng chiến; đẩy mạnh công tác địch hậu, xây dựng bộ đội địa phương vững mạnh để phối hợp với bộ đội chủ lực cùng chiến đấu, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch. Dựa vào tình hình cụ thể địa phương và Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ cho bộ đội và nhân dân vùng giải phóng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy đã mở lớp tập huấn cấp tốc cho cán bộ về nội dung tiếp quản vùng giải phóng; thành lập Ban Cung cấp tiền phương, cử một đồng chí Thường vụ Tỉnh ủy làm Trưởng ban. Để chuẩn bị cho chiến dịch, thực hiện nhiệm vụ của Khu ủy đề ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Sơn La đã hăng hái đóng góp lương thực cung cấp cho bộ đội; nhiều thanh niên dân tộc tự nguyện gia nhập lực lượng vũ trang để chiến đấu giải phóng Tây Bắc. Đặc biệt, trong huy động vận tải chuẩn bị cho chiến dịch, nhân dân đã xung phong đi dân công phục vụ chiến trường. Mặc dù máy bay địch bắn phá dữ dội, nhân dân vẫn không quản khó khăn, gian khổ, tích cực vận chuyển hàng hóa, vũ khí, trang bị, góp phần to lớn vào thắng lợi của chiến dịch.


Với quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng Tây Bắc, đầu tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Mục tiêu của chiến dịch nhằm tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân; giải phóng một bộ phận đất đai vùng Tây Bắc Tổ quốc, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, phát triển Chiến tranh du kích, tiến lên phá tan âm mưu của địch ở vùng đất rộng lớn có vị trí chiến lược quan trọng này. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm các đại đoàn bộ binh 308, 312, 316, Trung đoàn công binh 151 (Đại đoàn công pháo 351), Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148), 8 đại đội bộ đội địa phương của các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu. Riêng Sơn La, có 3 đại đội bộ đội địa phương và các đơn vị dân quân du kích tham gia phối hợp chiến đấu và phục vụ hậu cần chiến dịch.


Để kịp thời động viên các lực lượng tham gia chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi 2 bức thư động viên cản bộ, chiến sĩ và dân công ở Mặt trận Tây Bắc. Trong thư gửi cán bộ và chiến sĩ, Người nhấn mạnh:

"Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng. Các chú phải đánh cho thắng.

Tất cả các chú, cán bộ cũng như chiến sĩ, đều phải:

- Quyết tâm chiến đấu, triệt để chấp hành mệnh lệnh.

- Bền bỉ dẻo dai, vượt qua mọi gian khổ, khắc phục mọi khó khăn.

- Thương dân, trọng dân và tốt với dân.

- Tiêu diệt thật nhiều địch, giành cho được toàn thắng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia. H. 2002. tr. 573).


Đối với các chiến sĩ dân công, Bác động viên quyết tâm: "Các cô, các chú cũng là chiến sĩ, cũng có công như các chiến sĩ, phải cùng anh em bộ đội giành cho được thắng lớn.

Tất cả các cô, các chú đều phải:

- Quyết tâm làm tròn nhiệm vụ phục vụ bộ đội.

- Bền bỉ, dẻo dai vượt qua mọi gian khổ, khắc phục mọi khó khăn.

- Đảm bảo việc cung cấp đầy đủ cho bộ đội;

- Cùng bộ đội giành toàn thắng cho chiến dịch"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia. H. 2002. tr. 573).

Nhận được thư Bác, lực lượng vũ trang Sơn La cùng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ở Mặt trận Tây Bắc vô cùng phấn khởi, càng tích cực chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng chiến đấu giành chiến thắng.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2025, 05:28:51 pm
Tháng 10 năm 1952, các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương đã tập kết ở vị trí quy định. Công tác hậu cần đảm bảo đúng theo kế hoạch. Bộ đội chủ lực, quân và dân Tây Bắc sẵn sàng bước vào chiến dịch. Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc bắt đầu.

Chiến dịch Tây Bắc được chia làm 3 đợt:

- Đợt 1: Từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 10 năm 1952.

- Đợt 2: Từ ngày 7 đến ngày 22 tháng 11 năm 1952.

- Đợt 3: Từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952.

Chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi, quân và dân ta đã tiêu diệt và bắt khoảng 10.000 tên địch, thu nhiều vũ khí, trang bị kỹ thuật của chúng. Nhiều tiểu đoàn, đại đội thuộc các binh đoàn cơ động của địch bị tiêu diệt gọn. Nhiều tên chỉ huy phân khu, tiểu khu, đồn trưởng là những tên thực dân lâu năm ở Tây Bắc bị diệt hoặc bị bắt. Hầu hết quân ngụy người địa phương, chỗ dựa của địch để chiếm đóng Tây Bắc bị tan rã. Ta đã giải phóng một vùng đất đai rộng lớn trên một địa bàn chiến lược quan trọng, mở toang mạch nối giữa Tây Bắc với Việt Bắc và Thượng Lào; tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản), bốn huyện phía nam Lai Châu, hai huyện phía tây Yên Bái (rộng 28.500km2, với 25 vạn dân). Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng sang vùng Tây Bắc và củng cố thêm vững chắc.


Thắng lợi to lớn của chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vùng Tây Bắc của Tổ quốc, đặc biệt đối với Sơn La. Chiến thắng đó đã đập tan kế hoạch chiếm đóng, bình định lâu dài và thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp lập nên "Xứ Thái tự trị" giả hiệu, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, dùng bọn tay sai phản động đánh phá phong trào cách mạng địa phương. Địch mất quyền kiểm soát về chiến lược đối với Tây Bắc. Chiến thắng Tây Bắc còn có ý nghĩa to lớn với cục diện chiến trường Bắc Bộ, cục diện chung của ba nước Đông Dương, đập tan ảo tưởng của thực dân Pháp hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường. Chiến thắng Tây Bắc thể hiện sự chỉ đạo nghệ thuật quân sự đúng đắn, chính xác và sáng tạo của Đảng ta về phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân; về chọn chiến trường thích hợp, kết hợp nhịp nhàng giữa các địa bàn, giữa các chiến trường và ba thứ quân. Đồng thời, để lại nhiều kinh nghiệm về tổ chức một chiến dịch chính quy ở một chiến trường xa, khó tiếp tế, vận chuyển.


Nói cách khác, thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc, cùng với thắng lợi của quân, dân ta trên một số chiến trường phối hợp, đã mở ra thế và lực mới cho ta bước vào chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954, kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm lâu dài, gian khổ bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Với thắng lợi to lớn đó, Trung ương Đảng đánh giá: Chiến dịch Tây Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đó là kết quả của tư duy quân sự đúng đắn, thể hiện sự lựa chọn hướng chiến trường, địa bàn tác chiến, phát huy được khả năng của ta, song lại hạn chế được sức mạnh của địch; đồng thời, còn thể hiện sự đoàn kết giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc Tây Bắc, trong đó có Sơn La. Thực tế cho thấy, trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, bộ đội địa phương và dân quân du kích của tỉnh đều hăng hái đi tiếp lương, tải đạn, vận chuyển thương, bệnh binh, hỗ trợ bộ đội chủ lực tiến công và truy kích địch. Chỉ tính từ khi có "Quyết tâm chiến dịch" (tháng 9-1952), quân và dân Sơn La đã đóng góp gần 1,5 triệu ngày công, có đợt số dân công phục vụ liên tục chiến dịch lên tới 4.000 người; cung cấp cho chiến dịch gần 700 tấn gạo, trên 48 tấn thịt; vận chuyển 135 tấn gạo từ Phú Thọ lên các kho tiền phương... Đó là những con số đầy ý nghĩa, thể hiện tinh thần yêu nước và cách mạng của Đảng bộ, quân và dân Sơn La.


Kết thúc chiến dịch, mặc dù khu vực Nà Sản của Sơn La còn nằm trong vùng địch kiểm soát, song đại bộ phận địa bàn tỉnh Sơn La được giải phóng. Từ đây, đồng bào các dân tộc Sơn La càng thêm tin tưởng vào Bác Hồ, vào Đảng và quân đội nhân dân. Ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đối với Sơn La còn có nhiều giá trị thực tiễn to lớn, bởi trước chiến dịch, do địch khủng bố gắt gao nên phần lớn cơ sở của ta bị mất liên lạc hoặc tan vỡ, lực lượng vũ trang của tinh chưa có điều kiện phát triển. Nhưng thông qua chiến dịch, các cơ sở của tỉnh được củng cố, kiện toàn về số lượng và được bồi dưỡng, rèn luyện về năng lực lãnh đạo, tổ chức quần chúng. Trước khi diễn ra chiến dịch Tây Bắc, lực lượng vũ trang tỉnh chỉ có một số đại đội đã qua tham gia chiến đấu; dân quân du kích chủ yếu mới tham gia vào công tác địch vận. Song, quá trình diễn ra chiến dịch cũng là quá trình lực lượng vũ trang tỉnh được trang bị về kiến thức quân sự, về trình độ tổ chức, chỉ huy chiến đấu và phục vụ chiến đấu, thật sự trở thành lực lượng nòng cốt cho toàn dân tiếp tục đấu tranh với kẻ địch cho đến ngày quê hương được hoàn toàn giải phóng. Như vậy có thể thấy, nếu Trung ương Đảng không mở chiến dịch Tây Bắc, thì các tổ chức đảng, cơ sở chính quyền của tỉnh không có điều kiện để củng cố và phát triển; bộ đội địa phương và dân quân du kích không có điều kiện học tập, trao đổi với bộ đội chủ lực về phương thức tác chiến, thủ đoạn chiến đấu và các biện pháp bảo đảm chiến đấu. Ngược lại, không có quân - dân Tây Bắc, không có "thế trận lòng dân" Tây Bắc, không có sự phối hợp chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại chỗ của lực lượng vũ trang Tây Bắc, trong đó có Sơn La, bộ đội chủ lực tham gia chiến dịch sẽ không có chỗ đứng chân triển khai lực lượng và tiến công địch, và do đó, chiến dịch không thể giành thắng lợi... Đó là biện chứng của Chiến tranh nhân dân. Điều đó cũng nói lên vai trò hết sức quan trọng của Đảng bộ, quân và dân Sơn La đôì với chiến dịch Tây Bắc.


Sự trưởng thành bộ đội địa phương và dân quân du kích Sơn La qua chiến dịch Tây Bắc đã tạo ra cơ sở mới để lực lượng vũ trang của tỉnh phát triển, trưởng thành cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đó là yếu tố quan trọng để Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc trong tỉnh tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước và cách mạng, góp phần cùng quân dân cả nước kết thúc thắng lợi hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2025, 05:33:15 pm
PHỤ NỮ CÁC DÂN TỘC TỈNH SƠN LA
VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH SƠN LA


Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Ngay từ những buổi đầu lập nước, khi gặp nạn ngoại bang xâm lược, Bà Trưng, Bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi quân thù. Thế kỷ XX, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lịch sử lại ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ, các chị, các mẹ không ngại gian khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, lao động, hy sinh, cống hiến không chỉ cuộc đời mình mà cả con em cho độc lập tự do của Tổ quốc. Phụ nữ không chỉ chiến đấu anh hùng mà đã lao động cần cù, gian khó để vượt lên cảnh đói nghèo và lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước ngày càng to đẹp và Đảng hoàng hơn. Đảng, Bác Hồ phong tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" trong thời kỳ kháng chiến và "Trung hậu, đảm đang, tài năng, anh hùng" trong thời kỳ đổi mới đất nước không chỉ là sự khích lệ, động viên mà còn là sự thừa nhận và đánh giá vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam.


Cùng với phụ nữ cả nước, phụ nữ các dân tộc Tây Bắc, trong đó có Sơn La, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trải qua những năm tháng kháng chiến anh dũng, viết nên trang sử vẻ vang của dân tộc. Trong chiến dịch Tây Bắc năm 1952, phụ nữ Sơn La đã đóng góp một phần không nhỏ cho thắng lợi của chiến dịch.


Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, từ ngày 14 đến 19 tháng 4 năm 1950, Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất đã diễn ra tại Chiến khu Việt Bắc, quyết định hợp nhất tổ chức Phụ nữ cứu quốc và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Đại hội bầu ra Ban chấp hành Trung ương Hội do đồng chí Lê Thị Xuyến làm Chủ tịch. Sau Đại hội, tổ chức phụ nữ ở các tỉnh được kiện toàn. Sơn La được tăng cường các cán bộ phụ nữ từ Việt Bắc sang như: chị Cầm, chị Mễ, chị Cúc, chị Tiến, chị Hồng, chị Đới... Hội đã đề ra công tác cấp bách trước mắt: củng cố các tổ chức phụ nữ cứu quốc ở các cơ sở, đào tạo cán bộ phụ nữ địa phương để làm nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ các dân tộc. Một số đồng chí như chị Hảo, chị Hom, chị Vinh, chị Vân Sinh, chị Phấn, chị Hoá... đã trở thành những cán bộ phụ nữ thoát ly đầu tiên của tỉnh. Các chị được phân công về các huyện để tuyên truyền, vận động, hướng dẫn chị em công tác. Được sự quan tâm lãnh đạo, chị em các huyện càng phấn khởi, tích cực tham gia tăng gia sản xuất để tự cung cấp lương thực, chống đói, đẩy mạnh công tác văn hoá, giáo dục và y tế trong khu căn cứ kháng chiến. Ngoài ra, chị em còn tích cực tham gia các lớp học xoá mù chữ, học cứu thương, chữa bệnh để kịp thời chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ, bộ đội và nhân dân; vận động nhân dân ở sạch, ăn chín, uống sôi, giữ gìn vệ sinh phòng các loại dịch bệnh.


Thu Đông năm 1952, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai và xây dựng Tây Bắc thành căn cứ địa vững chắc.

Sơn La là chiến trường chính của chiến dịch, nên mọi công việc chuẩn bị đòi hỏi phải sâu sát, tỉ mỉ, chu đáo và cấp bách. Thực hiện Nghị quyết "Nhận rõ tình hình, tích cực làm tròn nhiệm vụ" của Tỉnh ủy đề ra, nhân dân các dân tộc Sơn La, trong đó có tổ chức phụ nữ, đã tích cực chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng phối hợp với các đơn vị bộ đội bước vào chiến dịch. Các cán bộ phụ nữ xuống cơ sở tuyên truyền cho chị em hiểu rõ đi dân công để phục vụ chiến dịch, giúp bộ đội đánh giặc giải phóng quê hương. Từ đó, chị em đã hiểu rõ và tích cực tham gia. Trong điều kiện chiến đấu gian khổ, thuốc men thiếu thốn, chị em đã tìm kiếm thuốc bằng các lá cây rừng để cứu chữa cho thương binh. Chị em còn tích cực đóng góp thực phẩm, rau quả cho chiến dịch. Hàng vạn phụ nữ các dân tộc đã tham gia xay thóc, giã gạo để cung cấp lương thực cho tiền tuyến. Công tác bảo quản lương thực được chị em thực hiện rất tốt. Mặc dù nhà phải ăn khoai, sắn, củ mài thay cơm, nhưng chị em vẫn giữ đúng số lượng thóc, gạo đã được giao, tổ chức thành tổ xay giã, đội vận chuyển, sẵn sàng giúp đỡ nhau. Có khi thóc ở hậu phương chuyển lên chưa kịp xay giã, chị em đã thức suốt đêm giã gạo cho bộ đội ăn no đánh thắng. Chị em các dân tộc Thái, Mường, Mông và Dao, Khơ Mú... ở Phù Yên, Mộc Châu, Yên Châu và Mai Sơn tích cực tham gia mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch.


Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch Tây Bắc, Hội phụ nữ Sơn La đã vận động được 2.622 chị xung phong đi tiếp tế vận tải lương thực, đạn dược cho bộ đội chiến đấu. Bất chấp gian khổ, hiểm nguy, các chị đã hăng hái tham gia vào các đội thanh niên xung phong, làm đường, vận chuyển lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc men ra chiến trường; tải thương, nuôi dưỡng thương binh, chống lầy, phá bom, đắp đường sạt lở, bắc cầu. Chị em dũng cảm thực hiện nhiệm vụ ngay cạnh những quả bom nổ chậm, ... Nhiều chị xông pha giữa bom đạn để cứu hàng, ngụy trang hàng hóa. Hết lòng vì thương binh, nhiều chị quỵ ngã trên đá tai mèo, đầu gối tóe máu nhưng thương binh vẫn được nằm an toàn trong cáng. Gặp trời mưa phùn, giá rét, các chị nhường áo mưa, áo bông cho thương binh, làm hầm, dựng lán cho thương binh. Tham gia công tác vận chuyển, chị em luôn có ý thức thi đua gắng sức vận chuyển thật nhiều đảm bảo kế hoạch trên giao. Nhiều tấm gương tiêu biểu như chị Hiếu, chị Cảnh, chị Huệ, ngoài nhiệm vụ của mình còn gánh giúp chị em trong đơn vị trèo qua dốc cao hay vượt suối và những nơi ngụy hiểm để đưa hàng đến nơi an toàn. Đường dài, gánh nặng, đi đêm, vượt qua những quãng bom nổ chậm của địch nhưng chị em không nao núng tinh thần và không chị nào trốn về, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều chị đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ.


Chia lửa với chiến trường, phụ nữ ở hậu phương cũng tích cực lao động sản xuất làm ra nhiều lúa gạo tiếp tế cho tiền tuyến; tham gia dân quân du kích, đấu tranh chống giặc bắt lính, làm công tác địch vận, biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi thị, tuyên truyền vạch trần mọi âm mưu thâm độc của kẻ địch, đấu tranh trên các mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa... gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề.


Với vai trò người vợ, người mẹ, chị em đã hết lòng chăm sóc nuôi dưỡng dạy dỗ các con trưởng thành, tận tình chăm sóc cha mẹ giả, giữ trọn đạo thủy chung, trở thành nguồn động viên, cổ vũ to lớn, tiếp thêm sức mạnh cho người chiến sĩ vững tay súng nơi chiến trường.


Các bà, các chị hiểu rằng nơi trầm mạc lành ít, dữ nhiều nhưng vẫn động viên, khuyến khích chồng, con, người thân lên đường ra trận. Ở đâu chị em cũng sẵn sàng hy sinh những tình cảm riêng tư của mình, vận động chồng con, người thân tòng quân giết giặc.


Chiến dịch Tây Bắc kết thúc, quân và dân ta đã tiêu diệt 6.000 tên địch, đập tan hoàn toàn âm mưu củng cố "Xứ Thái tự trị" giả hiệu của thực dân Pháp, giải phóng 2/3 đất đai và 25 vạn dân. Quân và dân Sơn La, trong đó có chị em phụ nữ các dân tộc đã góp một phần công sức và cả máu xương cho chiến dịch thắng lợi. Nhân dân Sơn La đã đóng góp 1.421.220 ngày công, có đợt tới 4.000 dân công phục vụ liên tục hàng tháng, trong số đó một nửa là phụ nữ, cung cấp 693.434kg gạo, 8.000kg ngô, 48.321kg thịt các loại, vận chuyển 135 tấn gạo từ Phú Thọ lên các kho tiền phương. Điều đó minh chứng chủ trương sử dụng nhân lực tại chỗ của Đảng là đúng đắn, xác hợp. Tổng kết chiến dịch, có 50 chị em các dân tộc Sơn La được Bộ Tổng tư lệnh tặng Bằng khen.


Có thể nói, phụ nữ nói chung, phụ nữ Sơn La nói riêng đã đóng vai trò quan trọng vào chiến thắng Tây Bắc 1952. Chính thực dân Pháp cũng phải thừa nhận: "Các ông đã thắng vì các ông có dân, không những nam giới mà cả phụ nữ cũng có mặt ở tiền tuyến". Quá khứ vẻ vang song hiện tai và tương lai cũng đang đặt lên đôi vai người phụ nữ nhiều trọng trách đòi hỏi phải nỗ lực nhiều hơn nữa để đóng góp sức mình vào sự phát triển của tỉnh nhà và của đất nước. Tiếp bước truyền thống vẻ vang của phụ nữ các thời kỳ, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Sơn La xin nguyện tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, chủ động phối hợp nhiều hơn nữa với các cấp, các ngành đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phong trào phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc trong các tầng lớp phụ nữ; tích cực chú trọng nhân rộng các điển hình phụ nữ giúp nhau xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm tăng thu nhập, phát triển kinh tế gia đình, làm giàu chính đáng, xây dựng tổ chức Hội ngày càng vững mạnh, thu hút đông đảo các tầng lớp phụ nữ vào tổ chức Hội. Thông qua phong trào và hoạt động của mình phấn đấu xây dựng Hội trở thành nơi đào tạo nguồn cán bộ nữ cho Đảng; là tổ chức tuyên truyền, giáo dục, vận động phụ nữ cả nước đóng góp sức lực, tài năng, trí tuệ vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2025, 05:38:31 pm
ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC HUYỆN MAI SƠN
VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

LÊ HỒNG MINH
Bí thư Huyện ủy Mai Sơn


Trong kháng chiến chống Pháp, huyện Mai Sơn có vị trí quan trọng của Sơn La, nơi có nhiều cơ quan đầu não kháng chiến của tỉnh đóng. Nằm ở vị trí ngã tư chiến lược, nơi có nhiều phong trào lạc quyên ủng hộ kháng chiến, nên thực dân Pháp xác định đây là một địa bàn có vị trí địa - chính trị hết sức quan trọng, vì vậy chúng đã tập trung một lực lượng mạnh để chiếm giữ Mai Sơn, trong đó có cao nguyên Nà Sản. Một mặt chúng dùng lực lượng quân sự càn quét khủng bố, mặt khác tung gián điệp vào hàng ngũ ta để dò xét, phá hoại. Với lực lượng thiện chiến kết hợp với đội quân tay sai phản động, thực hiện chính sách "chia để trị", kẻ địch điên cuồng tiến công trên khắp địa bàn Mai Sơn, làm cho Huyện ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính châu Mai Thuận (liên huyện Mai Sơn - Thuận Châu) và khu du kích Dong Nơi (Chiềng Dong) bị võ. Từ đây, nhân dân các dân tộc Mai Sơn cũng chính thức bước vào cuộc chiến không cân sức với kẻ thù. Nhưng với một quyết tâm sắt đá và ý chí kiên cường, tuyệt đối tin tưởng vào sự thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến, Đảng bộvà nhân dân các dân tộc Mai Sơn vẫn tích cực tham gia các hoạt động kháng chiến, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.


Thu Đông năm 1952, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, với mục đích: Tiêu diệt sinh lực địch; giải phóng cho nhân dân các dân tộc Tây Bắc; giành lại vùng đất rộng lớn của Tây Bắc; tạo thế và lực cho cách mạng nước bạn Lào.

Ngày 14 tháng 10 năm 1952 chiến dịch Tây Bắc chính thức bắt đầu. Sau 11 ngày đêm chiến đấu, toàn bộ phòng tuyến vòng ngoài của địch từ hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn sông Đà đã bị đập tan. Lực lượng chủ lực của ta gồm 6 trung đoàn lần lượt bóc từng "chiếc áo giáp sắt" của địch dọc đường 41. Trước nguy cơ phá sản chiến lược phòng thủ và bị đánh bật khỏi vùng Tây Bắc, thực dân Pháp đã vội vã tăng cường thêm 10 tiểu đoàn cùng với đám tàn quân co cụm về Nà Sản, lập cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản, tổ chức xây dựng Nà Sản thành cứ điểm mạnh, là "con đê chắn sóng" hòng chắn giữ con đường 41 (quốc lộ 6), chia cắt Sơn La với Yên Châu, Mộc Châu, khống chế Mặt trận Thượng Lào và Lai Châu.


Dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính, quân dân các dân tộc Mai Sơn phối hợp với 12 tiểu đoàn quân chủ lực thuộc các đại đoàn 308, 312, 316 đã nhất loạt đứng lên phá trại tập trung, diệt bọn tề gian, trở về bản quán của mình, làm cho đội ngũ quân địch hoảng loạn và hoang mang đến cực độ. Thừa thắng xông lên tiến công các cứ điểm xung quanh Nà Sản, tiêu diệt và làm bị thương hơn 404 tên địch, bắt sống và gọi hàng 266 tên, thu 218 súng các loại... buộc thực dân Pháp phải bỏ Nà Sản tháo chạy ngày 12 tháng 8 năm 1953, "Tập đoàn cứ điểm Nà Sản - bức tường thép thứ 2 ở Tây Bắc..." phá sản. Trong chiến công này, quân dân Mai Sơn đã đóng góp một phần quan trọng không chỉ bằng của cải vật chất mà bằng cả xương máu, điển hình trong đó là sự đóng góp của quân dân các xã Cò Nòi, Mường Bon, Mường Bủng, Hát Lót, Chiềng Lương, Chiềng Mung... Giải phóng Nà Sản, giải phóng Mai Sơn, Sơn La, tuyến đường huyết mạch chi viện cho cả chiến trường Tây Bắc và Thượng Lào được khai thông.


Tháng 12 năm 1952, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Dưới sự chỉ đạo của Khu ủy và Tỉnh ủy Sơn La, Mai Sơn đã tích cực khắc phục hậu quả Chiến tranh, phục hồi sản xuất, từng bước mở rộng, củng cố vùng giải phóng chuẩn bị cơ sở vật chất, lương thực, thực phẩm phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ và hàng vạn bộ đội, dân công, thanh niên xung phong ở khắp các địa phương được huy động lên chiến trường Tây Bắc. Hàng trăm con em các dân tộc Mai Sơn đã tham gia các chiến dịch mở đường, vận chuyển lương thực, súng đạn phục vụ chiến dịch và gia nhập các lực lượng vũ trang, tham gia các trận đánh tại các mặt trận Bắc Lào, Mộc Châu... góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ.


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, thực dân Pháp cho rằng, Cò Nòi là giao điểm của hai con đường giao thông trọng yếu chi viện lên Điện Biên Phủ. Hòng cản bước tiến của ta, chúng đã biến nơi đây thành trọng điểm bắn phá của máy bay địch. Theo ngành công binh Việt Nam tổng kết: Tại đèo Lũng Lô địch thả xuống đây mỗi ngày trên 31 tấn bom, bến phà Tạ Khoa là trên 13 tấn, đèo Pha Đin là trên 17 tấn. Trong đó ngã ba Cò Nòi là điểm nút, trọng điểm ác liệt nhất, nhằm cắt đứt con đường huyết mạch của ta, chúng ném xuống đây với mật độ bom dày đặc. Cứ 13 phút chúng lại tổ chức đánh phá một lần, có ngày chúng thả xuống đây 300 quả bom các loại, như: Bom phá, bom nổ chậm,bom napan, bom bươm bướm, không ngày nào vắng tiếng bom, chúng đánh dồn dập, tập trung vào điểm nút ngã ba Cò Nòi hòng biến ngã ba Cò Nòi thành một bãi lầy, đã phải hứng chịu hơn 69 tấn bom các loại mỗi ngày.


Trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, nhất là trong chiến dịch Tây Bắc, quân dân Mai Sơn đã tham gia chiến đấu (cả độc lập và phối thuộc) trên 200 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 894 tên địch, trong đó có 8 sĩ quan Âu - Phi, làm tan rã toàn bộ hệ thống ngụy quân, ngụy quyền cơ sở, góp phần quan trọng vào chiến công chung của dân tộc. Trong đó chiến thắng Nà Sản đã mở ra một cục diện mới cho cả chiến trường Tây Bắc, từ đây Mai Sơn thực sự là căn cứ hậu cần lớn mạnh phục vụ tổng tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.


Trong suốt những năm tháng kháng chiến trên mảnh đất quê hương, trong chiến dịch "Mở đường thắng lợi" với quy mô lớn, hàng trăm nam, nữ thanh niên Mai Sơn tham gia cùng với lực lượng thanh niên xung phong mở đường 13 (quốc lộ 37 ngày nay) dài hơn 100 km nối liền Sơn La với Yên Bái, bất chấp máy bay địch ngày đêm tăng cường đánh phá, họ vẫn kiên cường bám trụ trên tuyến đường để san lấp hố bom, tải thương, chuyển đạn, lương thực, thực phẩm từ ngoài vào các tổng kho trung chuyển chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ. Trọng điểm ngã ba Cò Nòi là nơi hơn 100 nam, nữ thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh vì tuyến đường chi viện từ Việt Bắc sang chiến trường Tây Bắc.


Từ những đóng góp trên của quân và dân Mai Sơn trong chiến dịch Tây Bắc, có thể khẳng định rằng, những đóng góp, hy sinh đó là hết sức lớn lao, rất đáng trân trọng. Tuy ta chưa chiến thắng trọn vẹn việc tiêu diệt cứ điểm Nà Sản, song chiến dịch Tây Bắc, đặc biệt là chiến trường Nà Sản đã cho ta nhiều kinh nghiệm, nhiều bài học quý giá về tổ chức đánh công kiên vào các cứ điểm, kinh nghiệm tiến, lùi trong các trận đánh, Nà Sản cho ta hình dung được đầy đủ về một kiểu co cụm lớn theo kiểu tập đoàn cứ điểm, cho ta thấy được điểm mạnh, điểm yêu của ta và của địch, giúp cho ta rút ra được những bài học lớn trên chiến trường, từ đó tìm ra những cách đánh, cách phòng thủ phù hợp, hạn chế được những hy sinh, mất mát. Và trong chiến dịch này cũng đã để lại cho Đáng, Nhà nước ta nói chung, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Mai Sơn nói riêng bài học quý giá về sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Nhờ kịp thời tổng kết kinh nghiệm chiến dịch Tây Bắc, chiến trường Nà Sản, mà Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đã quyết định chính xác tư tưởng chỉ đạo, diễn biến và thắng lợi cuối cùng của chiến dịch Điện Biên Phủ, đó là cách đánh.


Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhiều đơn vị, cá nhân được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như Đảng bộ, nhân dân xã Mường Chanh; Đảng bộ và nhân dân xã Cò Nòi; Đảng bộ và nhân dân xã Mường Bằng; Liệt sĩ Hà Văn Ang, Lò Văn Hắc (Mường Chanh) và 172 huân, huy chương kháng chiến hạng nhất, nhì; 11 kỷ niệm chương cho cán bộ cách mạng bị bắt và bị tù đày; 25 bằng khen của Chính phủ.


Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Mai Sơn được Đảng, Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, năm 2001.

Từ những thành tích trên cho chúng ta thấy rằng trong khó khăn gian khổ, nhân dân các dân tộc Mai Sơn đã không sợ hy sinh, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm giải phóng quê hương... Đó là truyền thống yêu quê hương, đất nước của nhân dân các dân tộc Mai Sơn. với truyền thống đó, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Mai Sơn sẽ thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới của Đảng, phấn đấu xây dựng quê hương Mai Sơn cách mạng ngày càng giàu đẹp, đạt danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ đổi mới.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2025, 05:42:07 pm
ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC MỘC CHÂU
VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

NHÂM THỊ PHƯƠNG
Bí thư Huyện ủy Mộc Châu


Cách đây vừa tròn 60 năm, vào tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, với mục tiêu: Tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đồng bào Tây Bắc khỏi ách áp bức của giặc, giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc, phá âm mưu lập "Xứ Thái tự trị" của Pháp. Xác định đây là chiến dịch rất quan trọng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho cán bộ và chiến sĩ tham gia chiến dịch "Phải đánh cho thắng".


Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu với truyền thống cách mạng, ý chí tự lực tự cường đã tích cực đóng góp sức người, sức của và tập trung chuẩn bị mọi mặt phối hợp với các lực lượng tổ chức đánh địch, góp phần tạo nên thắng lợi của chiến dịch.


Trong 2 ngày 11 và 12 tháng õ năm 1950, Tỉnh ủy Sơn La đã tổ chức Hội nghị Ban chấp hành mở rộng tại khu căn cứ Mộc Hạ để thảo luận và thông qua Nghị quyết về những nhiệm vụ gấp rút phải tiến hành trong thời gian diễn ra chiến dịch, cụ thể:

Về quân sự: Khẩn trương xây dựng bộ đội địa phương vững mạnh, củng cố và phát triển dân quân du kích rộng rãi; tăng cường địch vận, thường xuyên chuẩn bị chiến trường, đồng thời rút ngay các đại đội độc lập về xây dựng những đơn vị chủ lực lớn mạnh.

Về chính trị: Củng cố liên huyện Mộc - Yên và phát triển cơ sở hậu địch ở các huyện khác.

Về kinh tế: Tích cực tham gia sản xuất để cải thiện dân sinh.

Đồng thời, Tỉnh ủy chỉ thị cho các đảng bộ trực thuộc gấp rút củng cố phong trào, đặc biệt chú ý đến các vùng giáp địch; ra sức phòng gian, trừ gian, xúc tiến việc tổ chức lực lượng vũ trang để mỗi huyện có đủ một đại đội, ít cũng phải có một trung đội bộ đội địa phương. Ra sức củng cố các đội du kích tập trung, nhất là ở những nơi giáp địch, chú trọng tổ chức du kích ở vùng đồng bào dân tộc Mông, Dao và du kích bí mật trong vùng địch. Các huyện tích cực chuẩn bị mọi mặt đề phòng địch tấn công vào khu tự do. Riêng huyện Mộc Châu phải giữ vững đường liên lạc và phối hợp chặt chẽ với Đà Bắc, Mai Thuận, Phù Yên và Thanh Hoá.


Về lực lượng bộ đội địa phương, ngày 8 tháng 4 năm 1950, Đảng bộ huyện Mộc Châu quyết định thành lập trung đội bộ đội địa phương đầu tiên, gồm 90 chiến sĩ. Ngày 19 tháng 5 năm 1950, để lập thành tích mừng sinh nhật Bác, lực lượng bộ đội địa phương của huyện xuất quân đánh đồn Tà Phểnh giành thắng lợi, diệt 4 tên địch, thu toàn bộ vũ khí, trang bị.


Để đối phó với ta, thực dân Pháp lập thêm tuyến phòng thủ sông Đà, củng cố phòng tuyến đường 41 (quốc lộ 6) và sông Mã, chia cắt Sơn La với Liên khu Việt Bắc và các tỉnh khác, đồng thời tăng quân số và phương tiện chiến tranh lên gấp bội, chia quân chiến đấu trên 30 cứ điểm lớn nhỏ trong toàn tỉnh. Lúc này, địch liên tiếp tổ chức các cuộc hành quân càn quét lớn vào huyện Mường La, Mai Sơn, Thuận Châu, Yên Châu. Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhận định: sau khi phá phong trào ở Thuận Châu, Yên Cháu, Mai Sơn, Mường La, địch sẽ tập trung quân tiến công quyết liệt vào vùng tự do ở Mộc Châu. Đúng như dự đoán của ta, tháng 4 năm 1950, thực dân Pháp tập trung hàng nghìn quân, chia thành nhiều mũi, ồ ạt đánh vào khu căn cứ Mộc Hạ.


Được sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, huyện Mộc Châu đã vận động nhân dân củng cố lũng lán kháng chiến lâu dài trong rừng, sơ tán của cải, tài sản, người già, trẻ em. Lực lượng dân quân du kích phối hợp với bộ đội địa phương bảo vệ bản, phục kích tiêu diệt địch. Nhờ có sự chuẩn bị trước nên các mũi tiến công của địch đã bị ta chặn đánh và bị tổn thất lớn, song do lực lượng quá chênh lệch, địch lại thực hiện chính sách "đốt sạch, phá sạch, giết sạch", gây cho ta rất nhiều khó khăn và thiệt hại đáng kể về của cải, tài sản.


Sau chiến dịch Biên Giới - Thu Đông năm 1950, địch buộc phải rút một số đơn vị lính Âu - Phi ở Sơn La sang tăng viện cho Việt Bắc. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng Sơn La, lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích đã tập trung đánh mạnh dọc đường 41 và vùng Tạ Khoa. Nhờ vậy, các cơ sở đã bị địch phá vỡ, các phong trào đấu tranh dần dần được khôi phục và phát triển. Sang đầu năm 1951, thực dân Pháp ra sức dồn quân bắt lính, dồn mọi lực lượng để đánh phá khu căn cứ Mộc Hạ và tiêu diệt bằng được các cơ quan đầu não của ta.


Ngày 28 tháng 3 năm 1951, chúng huy động gần 1.500 tên với đầy đủ vũ khí cá nhân, 15 súng máy, 10 súng cối do tên quan tư Vandrey phụ trách Tiểu khu Sơn La, trực tiếp xuống chỉ huy càn quét vào khu tự do, chúng tổ chức thành 5 mùi tiến công đánh thẳng vào Mộc Hạ. Mũi thứ nhất theo đường 41 đánh vào Phù Mẫu. Mũi thứ hai, từ huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình đánh lên Nà Bai ra Bó Bụt và đóng tại đây. Mũi thứ ba, theo đường dây thép cũ đánh vào Mường Men. Mũi thứ tư từ Mộc Lỵ đánh vào Kê Siển, Mường Khủa. Mũi thứ năm từ Vạn Yên theo dọc sông Đà đánh vào Bó Hoi, Bó Bụt.


Các mũi chia thành từng tốp từ 1 đến 2 trung đội, sử dụng chiến thuật luồn rừng, leo núi, tấn công nhiều mặt, sục vào từng bản, từng lũng đánh úp cơ quan và lực lượng của ta. Địch tấn công khi ta đang tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất tại Mường Men (thuộc khu căn cứ Mộc Hạ), song các toán địch đi đến đâu cũng vấp phải sự chống trả quyết liệt của du kích. Quân dân khu căn cứ đã chiến đấu anh dũng, chặn đánh 30 trận lớn nhỏ, tiêu diệt và bắn trọng thương hơn 100 tên địch, trong đó có 10 tên chỉ huy của Pháp. Bị thất bại liên tiếp, địch buộc phải rút khỏi các vị trí chiếm đóng ở Mộc Hạ. Âm mưu càn quét nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não tỉnh Sơn La của thực dân Pháp bị thất bại, ta bảo toàn được lực lượng và bảo vệ được cơ quan đầu não của tỉnh, giữ vững khu tự do, tạo điều kiện thúc đẩy chiến tranh du kích phát triển mạnh. Trong lúc địch tăng cường càn quét ác liệt, Đảng bộ tỉnhvẫn tiến hành lãnh đạo, tổ chức thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất. Thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ nhân dân khu căn cứ, tạo niềm tin vào sự tất thắng của chiến dịch.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2025, 05:47:02 pm
Tiếp tục triển khai thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Tỉnh ủy. Đảng bộ huyện Mộc Châu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ và thu được một số kết quả nhất định, góp phần vào sự thành công của chiến dịch. Kết quả cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với công tác xây dựng Đảng: Đảng bộ đã chú trọng đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đáng viên, những tư tưởng cầu an, nhiệm kỳ... đã được đưa ra trong các cuộc kiểm thảo, lớp huấn luyện, các cuộc họp và cán bộ tự học tập. Do vậy, những tư tưởng đó đã được khắc phục, có nhiều chuyển biến trong cán bộ, đảng viên. Đảng bộ cũng đã giáo dục tư tưởng, cải tiến phương pháp lãnh đạo, chấn chỉnh, giải quyết những vướng mắc trong nội bộ đảng, ổn định tổ chức đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân về thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu mới của kẻ địch.


Thứ hai, đối với công tác tuyên truyền: Đảng bộ đã tích cực chỉ đạo các chi bộ, các tổ chức đoàn thể phân tích làm rõ luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch. Phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dưới mọi hình thức, như: nói chuyện, mít tinh, phân phát tài liệu, họp bàn, thảo luận... Đặc biệt, thực hiện Chỉ thị 15 của Trung ương về thực hiện chính sách dân tộc thiểu số, Nghị quyết về vận động các dân tộc ít người, Đảng bộ huyện đã chỉ đạo các tổ chức đảng, chính quyền các xã tuyên truyền vận động nhân dân tích cực đóng góp sức người, sức của phục vụ chiến dịch Tây Bắc, nên chỉ trong 2 tháng 11 và 12 năm 1952, nhân dân các dân tộc Mộc Châu đã huy động 2.894 dân công, phục vụ gần 50.000 ngày công, đóng góp 43.500kg gạo, 42.600kg thịt và trên 50 tấn rau xanh, huy động gần 100 thanh niên lên đường nhập ngũ. Những đóng góp đó thể hiện niềm tin của nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu đối với sự lãnh đạo của Đảng và quyết tâm thực hiện thắng lợi chiến dịch.


Thứ ba, về lĩnh vực kinh tế: Đảng bộ huyện đã mở cuộc vận động thực hiện chính sách tạm vay lương thực, sản xuất tiết kiệm, huy động dân công và thu thuế nông nghiệp, tích cực vận động nhân dân làm nương để đóng góp lương thực, kết quả 3 xã khu tự do đã đóng góp gần 400 tấn lương thực; vận động 1.000 dân công tham gia vận chuyển hàng trăm tấn thóc gạo từ dưới xuôi lên cung cấp cho bộ đội; động viên cán bộ, chiến sĩ, nhân dân tích cực tăng gia sản xuất, vận chuyển muối, công cụ... tiếp tế cho dân, kết quả đã tiếp tế 20 tạ giống lúa chiếm, ngô cho nhân dân các xã khu căn cứ Mộc Hạ, Đoàn Kết, Tú Nang. Đồng thời Đảng bộ đã chỉ đạo việc chỉnh lý thuế, tiếp tế những mặt hàng thiết yếu và tiêu thụ lâm thổ sản cho dân, mở một số chợ để trao đổi mua bán hàng hoá, phục vụ nhu cầu thiết yếu của nhân dân.


Thứ tư, về lĩnh vực văn hóa - xã hội: Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo gắn việc thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động (sản xuất tiết kiệm, làm ăn tập thể...), phong trào bình dân học vụ, từ đó trình độ của nhân dân đã được nâng lên rõ rệt. Sách báo được đưa vào phổ biến trong các cơ quan, đoàn thể và các lớp bình dân học vụ. Nhờ đó, một số hủ tục lạc hậu dần được loại bỏ, nếp sống văn hóa mới được áp dụng và đã thu hút được đông đảo nhân dân tin tưởng đi theo cách mạng.


Thứ năm, về lĩnh vực quốc phòng - quân sự địa phương: Theo chỉ thị của Tỉnh ủy, từ tháng 4 năm 1952, bộ đội Mộc Châu (gồm Đại đội 403 và du kích Mộc Hạ, Mộc Thượng, Tú Nang) đã liên tiếp mở các cuộc tấn công nhằm tiêu hao sinh lực địch. Các trận đánh thu được thắng lợi đã tạo niềm tin và quyết tâm kháng chiến của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt qua 3 cuộc chỉnh huấn, đã có nhiều chiến sĩ phấn khởi, hăng hái thi đua tiêu diệt địch, kỹ thuật và trình độ tác chiến của lực lượng dân quân, du kích được nâng lên rõ rệt. Phong trào dân quân du kích ở địa phương cũng trưởng thành về mọi mặt, đảm bảo thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, nhất là trong việc thực hiện nhiệm vụ chiến đấu tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ sơ tán nhân dân khi xảy ra chiến sự.


Khi tiếng súng mở màn đợt 1 của chiến dịch tại Phân khu Nghĩa Lộ, Tiểu khu Phù Yên nổ ra, Đảng bộ huyện và nhân dân các dân tộc Mộc Châu đã phối hợp chặt chẽ với quân chủ lực điều tra, nắm tình hình bố trí hầm hào, công sự, đồn bốt, lực lượng địch trên địa bàn. Trong quá trình đó, Đảng bộ cũng tập trung tuyên truyền vận động nhân dân đóng góp ở mức cao nhất sức người, sức của phục vụ chiến dịch Tây Bắc.


Sau đợt 1, đêm ngày 16, 17 tháng 11 năm 1952 nhân dân các dân tộc Mộc Châu tiếp tục giúp đỡ các đơn vị bộ đội chủ lực vượt sông Đà và giúp Trung đoàn 209, một tiểu đoàn của Trung đoàn 141 do đồng chí Nam Long chỉ huy, tiến công và tiêu diệt đồn Bản Hoa (thuộc xã Tân Lập),diệt hơn 300 tên dịch; tập kích đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch tại Ba Lay (thuộc xã Quy Hướng), đồng thời nhân dân đã cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích nhận tiếp quản, thu dọn chiến trường.


Đặc biệt trong 2 ngày 19 và 20 tháng 11 năm 1952 quân và dân Mộc Châu đã tích cực phối hợp với bộ đội chủ lực tiến đánh đồn Mộc Lỵ, đây là trận đánh vô cùng ác liệt. Đồn địch xây dựng trên núi đá tai mèo, hiểm trở; với một hệ thống lô cốt, công sự kiên cố, được trang bị nhiều loại vũ khí, nhiều tầng hỏa lực; xung quanh được bảo vệ bằng nhiều bãi mìn, dây thép gai, tháp canh. Đảng bộ huyện xác định việc đánh chiếm đồn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì khu vực này là tuyến đường huyết mạch chuyên chở lương thực, đạn dược cho chiến dịch. Đảng bộ cũng chỉ thị cho nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu tích cực phối hợp với các lực lượng vũ trang trong công tác địch vận, làm giảm ý chí chiến đấu của địch và tích cực vận động đóng góp sức người, sức của phục vụ trận đánh. Kết quả, trận đánh đồn Mộc Lỵ đã giành thắng lợi rực rỡ, đã loại 309 tên địch ra khỏi vòng chiến đấu, thu hơn 500 khẩu súng các loại cùng toàn bộ kho tàng, vũ khí, quân trang, quân dụng và lương thực, thực phẩm, giải phóng gần 1.000 dân ở khu tập trung của địch, góp phần giải phóng hoàn toàn Mộc Châu, đồng thời tạo bàn đạp cho ta tiếp tục tiến lên chiếm đánh giải phóng toàn bộ tỉnh Sơn La (trừ khu vực Nà Sản) và một bộ phận khu vực Lai Châu.


Ngày 20 tháng 11 năm 1952. Mộc Châu hoàn toàn giải phóng, đây là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là sức mạnh cả về ý chí, tinh thần và vật chất của một dân tộc khát khao độc lập, tự do, không cam chịu nô lệ. Chiến thắng Mộc Châu là một mốc son trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung, của tỉnh Sơn La, huyện Mộc Châu nói riêng. Thắng lợi đó còn là một sự kiện có ý nghĩa về chính trị, xã hội, quân sự, ảnh hưởng sâu rộng trong toàn tỉnh Sơn La và các vùng lân cận. Đó là những trang sử được viết bằng máu và nước mắt của bao cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các dân tộc Mộc Châu đã sát cánh bên nhau, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ, không sợ hy sinh, gian khổ, mất mát, anh dũng kiên cường, trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Mốc son đó mãi mãi là dấu ấn trường tồn trong tâm khảm của mỗi người dân Mộc Châu nói riêng, tỉnh Sơn La nói chung. Khẳng định điều đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh chiến dịch đã nhận xét, đánh giá như sau: "Trận tiến công trên khu Mộc Châu là trận đánh then chốt thứ 2 của chiến dịch Tây Bắc; vị trí này được Pháp coi là lá chắn trên đường số 41 ngăn chặn ta tiến sâu vào Tây Bắc từ hướng đông nam... Chiến thắng này chứng tỏ các đồng chí đã tiến bộ nhiều sau thời kỳ chỉnh huấn và sau đợi 1 của chiến dịch, đã tích cực khắc phục khó khăn quyết tâm thi hành mệnh lệnh để hoàn thành nhiệm vụ".


Ngày 10 tháng 12 năm 1952 chiến dịch Tây Bắc kết thúc, kết quả toàn chiến dịch quân ta loại khỏi vòng chiến đấu 6.023 tên địch, hầu hết các tên chỉ huy ở các vị trí lớn đã bị quân ta bắt. Ta chiếm lại 85 vị trí địch, thu 3.785 súng các loại, 90 máy vô tuyến điện, 1.450 dù và 6 máy bay, giải phóng 28.500km2, gồm 25 vạn dân. Chiến thắng Tây Bắc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đã giải phóng đồng bào Tây Bắc khỏi ách áp bức của giặc, giải phóng một bộ phận đất đai rộng lớn, một vùng chiến lược quan trọng. Quân và dân ta đã tiêu diệt và chiếm lại 10 vị trí lớn nhỏ của địch ở Tây Bắc. Chiến thắng còn có tác dụng phá phần lớn âm mưu thâm độc định lập "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị", "Xứ Nùng tự trị" của địch nhằm chia rẽ người Thái và người Kinh, người Thái với các đồng bào dân tộc thiểu số khác.


Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Mộc Châu luôn tự hào được đóng góp sức người, sức của góp phần tạo nên chiến thắng của chiến dịch Tây Bắc. Ghi nhận những chiến công, đóng góp, cống hiến to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lực Lượng vũ trang nhân dân cho xã Mộc Hạ và huyện Mộc Châu. Điều đó thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng bộ, sự hy sinh đóng góp của nhân dân các dân tộc Mộc Châu trong chiến dịch Tây Bắc 1952.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Mười, 2025, 07:52:42 pm
ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC TỈNH YÊN BÁI
VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

ĐỖ VĂN CHIẾN
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái


Chiến thắng Tây Bắc năm 1952 có ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những giải phóng một vùng chiến lược, phần lớn đồng bào Tây Bắc thoát khỏi ách thống trị của giặc Pháp mà còn xóa bỏ sự uy hiếp của địch đối với căn cứ địa Việt Bắc từ phía tây. Âm mưu thâm độc của thực dân Pháp lập "Xứ Thái tự trị" nhằm chia rẽ người Thái với người Kinh và người Thái với đồng bào các dân tộc thiểu số khác bị phá sản hoàn toàn. Cùng với cả nước, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái đã có những đóng góp không nhỏ làm nên chiến thắng đó.


Là tỉnh có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quân sự, nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc, Yên Bái là khu đệm giữa hậu phương và mặt trận. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, 2/3 diện tích Yên Bái bị thực dân Pháp chiếm đóng. Đặc biệt, phía tây tỉnh Yên Bái, thực dân Pháp thành lập khu quân sự Tây Bắc bao gồm nhiều phân khu trực thuộc, dưới phân khu là các tiểu khu. Trên địa bàn tỉnh Yên Bái có Phân khu Nghĩa Lộ là một trong những phân khu mạnh nhất của Pháp trong vùng Tây Bắc với 4 tiểu khu trực thuộc là Nghĩa Lộ, Ba Khe, Gia Hội và Than Uyên.


Qua các chiến dịch Sông Thao (1949), Lê Hồng Phong (1950), Lý Thường Kiệt (1951), hệ thống phòng thủ của thực dân Pháp bị vỏ từng mảng, nhất là vùng Đông Bắc của tỉnh, vì vậy, vùng tự do của Yên Bái được mở rộng hơn. Khu quân sự Tây Bắc bị uy hiếp nặng nề, tinh thần của lính Pháp và tay sai, đặc biệt ở Phân khu Nghĩa Lộ sa sút nghiêm trọng.


Trước tình hình đó, thực dân Pháp tìm mọi cách củng cố, bảo vệ Tiểu khu Nghĩa Lộ và Than Uyên. Về chính trị, Pháp tổ chức thăng cấp và thưởng huân chương cho một số sĩ quan, binh lính nguỵ, thêm cho tay sai một số quyền lợi hòng cột chặt chúng vào cỗ xe chiến tranh, về quân sự, chúng củng cố đồn bốt, mở rộng thêm sân bay Gia Hội, trang bị thêm vũ khí cho các đơn vị, ra sức bắt lính, phát triển quân nguỵ, lập nhiều đội biệt kích người cùng dân tộc, dùng đơn vị dân tộc này đi khủng bố, đàn áp, cướp phá vùng dân tộc khác, hòng gây mâu thuẫn chia rẽ giữa các dân tộc. Đồng thời, địch tiến hành càn quét, dồn dân vào sống tập trung quanh các đồn bốt nhằm cắt đứt mối quan hệ giữa cán hộ vùng địch hậu với nhân dân. Về kinh tế, chúng tăng cường bóc lột, vơ vét lương thực, thực phẩm phục vụ chiến tranh, dùng muối và hàng hoá khác để mua chuộc, lôi kéo nhân dân. Bên cạnh đó, thực dân Pháp tập trung thâm nhập, đánh phá vùng tự do của tỉnh. Tính riêng 4 tháng đầu năm 1951, Pháp đã 31 lần tấn công quân sự, tung biệt kích, gián điệp hoạt động để nắm tình hình, thăm dò lực lượng kháng chiến.


Tháng 1 năm 1951, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ II đã tiến hành, trong đó đề ra một số công tác cấp bách trước mắt. Đối với công tác vùng địch tạm chiếm, Đảng bộ Yên Bái chủ trương vừa củng cố vừa phát triển cơ sở, chuẩn bị mọi mặt để khi có điều kiện thì phát động đấu tranh vũ trang với quy mô rộng lớn hơn. Đồng thời, coi trọng công tác vùng địch tạm chiếm ngang tầm với công tác vùng tự do; đẩy mạnh địch vận để làm đà cho các hoạt động khác. Việc xây dựng, phát triển bộ đội địa phương được đặc biệt chú ý, nâng cao cả số lượng và chất lượng, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường trang bị và hậu cần. Chú trọng xây dựng dân quân du kích ở nơi ta có cơ sở, quanh các căn cứ quan trọng của địch và vùng tự do sát địch. Các hoạt động quân sự phải nhằm vào nơi địch sơ hở, bố phòng yếu, có tác dụng hỗ trợ cho việc xây dựng cơ sở và địch vận.


Tháng 12 năm 1951, tỉnh Yên Bái tổ chức Hội nghị tổng kết công tác vùng địch tạm chiếm, tiếp đó tiến hành hội nghị bàn việc phối hợp và phục vụ chiến dịch Tây Bắc (năm 1952). Hai hội nghị đưa ra nhận định, những tháng cuối năm 1951, công tác vùng địch tạm chiếm có thuận lợi và phát triển. Cơ sở của ta được mở rộng, chiến tranh du kích được đẩy mạnh. Nhưng sang năm 1952, khó khăn tăng lên do địch đã bổ sung lực lượng, củng cố lại vùng chiếm đóng và tăng cường khủng bố, càn quét. Trong khi đó, cán bộ trong vùng địch hậu chưa am hiểu phong tục, tập quán và tiếng nói của đồng bào các dân tộc. Việc tiếp tế cho các đơn vị, cán bộ trong vùng địch gặp nhiều trở ngại. Song ta có thuận lợi rất cơbản: nhân dân các dân tộc có truyền thống yêu nước, tin tưởng và quyết tâm theo Đảng kháng chiến; hầu hết các cơ sở của ta bị địch cànquét liên tục vẫn đứng vững, cán bộ, chiến sĩ ta có tinh thần dũng cảm, chịu đựng gian khổ, hy sinh, khắc phục mọi khó khăn trong công tác; mâu thuẫn giữa nhân dân các dân tộc với giặc Pháp và tay sai, mâu thuẫn nội bộ kẻ thù ngày càng sâu sắc, tinh thần bọn ngụy hoang mang, dao động mạnh.


Từ tình hình đó, Tỉnh ủy chủ trương củng cố vững chắc các cơ sở ở vùng cao, dựa vào đó tiến xuống xây dựng cơ sở vùng thấp. Ra sức phát triển cơ sở ven các trục đường Nghĩa Lộ và những địa bàn có khả năng kinh tế. Một trong những nhiệm vụ rất quan trọng lúc này là đánh thông liên lạc từ vùng tự do vào với cơ sở trong vùng địch, vũ trang và cán bộ chính trị vào hoạt động. Công tác trong vùng địch phải có nhiều hình thức, biện pháp linh hoạt, trong đó hết sức coi trọng vận động nhân dân chống bắt lính, bắt phu, vận động ngụy quân, ngụy quyền bỏ hàng ngũ.


Ở vùng tự do, các cấp ủy đảng và chính quyền tổ chức tốt việc phòng chống gián điệp, biệt kích do thám tình hình, phá các cơ quan, kho tàng. Lập kế hoạch chi tiết cho việc huy động dân công, cung cấp lương thực, thực phẩm cho hộ đội chủ lực khi có chiến dịch lớn.


Nhờ các chủ trương, biện pháp đúng đắn, phong trào kháng chiến trong vùng địch tạm chiếm của tỉnh có bước phát triển mạnh mẽ. Cán bộ chính trị và các đội vũ trang đã gây dựng hàng loạt cơ sở vùng thấp Nghĩa Lộ - Than Uyên và ở hầu khắp các làng ven đường vào Nghĩa Lộ. Đường dây liên lạc bằng cơ sở nhân dân từ vùng tự do vào trong vùng địch thông suốt. Những kết quả này tạo thêm thuận lợi cho quân dân Yên Bái phục vụ chiến dịch Tây Bắc.


Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng; theo phương châm tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm sơ hở của địch mà đánh, bộ đội chủ lực của ta mở chiến địch tiến công vào Tây Bắc.

Từ tháng 5 năm 1952, quân dân tỉnh Yên Bái bước vào chuẩn bị mọi mặt để phối hợp và phục vụ chiến dịch. Dân quân du kích các xã Việt Long, Hưng Khánh, Đại Đồng, Tân Hợp (huyện Trấn Yên), Cát Thịnh, Thượng Bằng La, Minh An, Bình Thuận, Chấn Thịnh (huyện Văn Chấn) cùng các đại đội 85, 87, 97 bộ đội địa phương đã dẫn đường đưa quân báo của Đại đoàn 308 vào vùng địch và bảo vệ an toàn các con đường từ vùng tự do vào Nghĩa Lộ như đường 13A, đường từ Mậu A qua đèo Quế, đèo Khâu Vác, nắm tình hình địch ở các đồn Ba Khe, Ca Vịnh, Sài Lương, Thượng Bằng La, Đồng Bồ.


Tỉnh Yên Bái đã thành lập Hội đồng cung cấp tiến phương, bố trí cán bộ phụ trách việc huy động và chỉ huy dân công phục vụ chiến dịch.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Mười, 2025, 07:59:01 pm
Cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1952, các đơn vị từ địa điểm tạm đứng chân đã tiến vào vị trí tập kết. Dòng sông Hồng cắt ngang là trở ngại lớn nhất cho các đơn vị trên đường tiến công vào Mặt trận Tây Bắc. Tại tỉnh Yên Bái có 4 địa điểm vượt sông bên tả ngạn từ thị xã Yên Bái lên tới Trái Hút là Âu Lâu, Lan Đình, Mậu A, Nước Nóng. Đại đoàn 308 vượt sông Hồng qua bến Mậu A theo đường Đại Bục, Khâu Vác vào Pú Chạng - Nghĩa Lộ. Trung đoàn 36, Trung đoàn 174 vượt sông ở bến Âu Lâu, qua đèo Bụt, Ca Vịnh, đèo Hồng tiến vào Cửa Nhì. Đại đoàn 312 vượt sông ó bến Nước Nóng theo đường Thụy Cuông, Nậm Bằng vào Gia Hội. Trung đoàn 141 vượt sông ở bến Lan Đình qua Y Can, khe Lóng vào Sài Lương. Bến Âu Lâu là điểm vượt sông của các đơn vị pháo hạng nặng. Pháo được tháo rời từng bộ phận để tiện cho các nhóm từ 2 - 4 người vận chuyển, tại các bến đều thành lập Ban chỉ huy vượt sông. Nhân dân các xã ven bến đã ủng hộ tre, nứa, lá cọ dựng các lán trại cho các đơn vị tập kết chuẩn bị vượt sông; phối hợp, tạo điều kiện cho bộ đội công binh lắp cầu phao, đóng thuyền, bè, mảng, dẫn đường cho bộ đội chủ lực, vũ khí, đạn dược qua sông an toàn, đúng kế hoạch.


Không chỉ phối hợp với các đơn vị tại các bến vượt sông Hồng, nhân dân ở các xã vùng tự do tham gia dân công vận chuyển lương thực, vũ khí... phục vụ chiến dịch, ủng hộ lương thực, thực phẩm cho bộ đội. Phục vụ chiến dịch Tây Bắc, toàn tỉnh Yên Bái đã vận động 5.428 lượt người đi dân công; huy động 730 tấn gạo, 622 con trâu, 386 con lợn, 72 tấn muối, 16 tấn đỗ, lạc, vừng cho bộ đội. Dân công Yên Bái cùng các đơn vị bộ đội đã khắc phục khó khăn, vượt qua đèo cao, suối sâu, mưa rét và bom đạn của địch vận chuyển được hàng vạn tấn đạn dược, lương thực, thực phẩm vào mặt trận. Riêng khối lượng vận chuyển qua sông Hồng tới 47.309 tấn. Nhiều cán bộ, đảng viên và dân công đã anh dũng hy sinh trong khi phục vụ chiến dịch.


Mặc dù nhiệm vụ phục vụ chiến dịch trong toàn tỉnh rất khẩn trương, ráo riết, song tại những vị trí trọng yếu địch không phát hiện được kế hoạch mở chiến dịch lớn vi công tác bảo mật, phòng gian được tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, chiến dịch được đảm bảo bí mật đến lúc khai hoả. Chỉ trong vòng 4 ngày đầu của chiến dịch (14-18.10), một vùng rộng lớn bên tả ngạn sông Đà gồm các huyện Văn Chấn, Than Uyên tỉnh Yên Bái đã được giải phóng. Nhân dân các xã vừa mới được giải phóng đã vận động dược 1.000 lượt người dân công đi một tháng, 2.312 lượt người dân công đi 7 ngày, huy động được 250 tấn gạo và vận chuyển hàng chục vạn tấn lương thực, vũ khí cho bộ đội trong đợt 2 cua chiến dịch Tây Bắc.


Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chiến thắng Tây Bắc đã giành được thắng lợi vẻ vang. Chiến thắng Tây Bắc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đã giải phóng đồng bào Tây Bắc khỏi ách áp bức của giặc, giải phóng một bộ phận đất đai rộng lớn, một vùng chiến lược quan trọng. Quân và dân ta đã tiêu diệt và chiếm lại 10 vị trí lớn nhỏ của địch ở Tây Bắc còn có tác dụng phá phần lớn âm mưu thâm độc định lập "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị", "Xứ Nùng tự trị" của địch nhằm chia rẽ người Thái và người Kinh, người Thái với các đồng bào dân tộc thiểu số khác. Trong chiến công đó, có sự đóng góp to lớn về nhân lực, vật lực của quân dân Yên Bái.


Nhằm trân trọng, tôn vinh, biết ơn những đóng góp, hy sinh của nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng cho các thế hệ sau, coi truyền thống lịch sử là nguồn động lực vô cùng quý báu trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương, tỉnh Yên Bái đã có nhiều chính sách đầu tư khôi phục xây dựng, tôn tạo nhiều điểm di tích lịch sử cách mạng, trong đó di tích bến Âu Lâu, đồn Nghĩa Lộ, mảnh đất ghi dấu nhiều chiến công của chiến dịch Tây Bắc xửng đáng với tầm vóc lịch sử.


Phát huy truyền thống quyết chiến, quyết thắng của chiến dịch Tây Bắc 60 năm trước đây và truyền thông đoàn kết, yêu nước của quê hương Yên Bái anh hùng, bước vào giai đoạn cách mạng mới, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Yên Bái tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội với tăng cường khả năng quốc phòng - an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", "bạo loạn lật đổ" của các thế lực thù địch; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.


Trên con đường đổi mới, hào khí của chiến thắng Tâv Bắc vẫn ngời sáng và cổ vũ đưa Yên Bái cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Mười, 2025, 08:07:08 pm
QUÂN VÀ DÂN PHÚ THỌ VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

NGUYỄN DOÃN KHÁNH
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ


Phú Thọ là một tỉnh miền núi, trung du nằm ở trung tâm Bắc Bộ, là địa bàn chuyển tiếp giữa rừng núi và đồng bằng, cửa ngõ giao thông nối liền Thủ đô Hà Nội với Tây Bắc và Việt Bắc. Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trong khu vực phòng thủ ngày nay với (rừng cọ, đồi chè), Phú Thọ là căn cứ đứng chân của các đại đoàn chủ lực vừa xây dựng, vừa huấn luyện, cơ động chiến đấu trên khắp vùng Bắc Bộ và chi viện cho các chiến trường ở Lào. Một số huyện phía Bắc của tỉnh còn là căn cứ địa cách mạng để phát triển chiến tranh du kích. Khi dịch tiến công, các lực lượng tác chiến trên địa bàn Phú Thọ có điều kiện lợi dụng địa hình, địa vật, bố trí thế trận phòng ngự, bảo toàn lực lượng tạo thời cơ tiến công tiêu diệt địch, vừa có thể rút lui an toàn. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Phú Thọ là cửa ngõ quan trọng để bảo vệ chiến khu Việt Bắc; là nơi đứng chân cho các đơn vị vũ trang tiến quân lên miền Tây Bắc - địa bàn chiến lược cho cuộc kháng chiến trường kỳ với tinh thần quả cảm, với ý chí quậtcường "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" đã làm nên chiến thắng Đoan Hùng vang dội, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch phản công Việt Bắc Thu Đông 1947; đưa các đoàn quân vượt sông Đà làm nên chiến thắng Tu Vũ trong chiến dịch Hòa Bình 1951,... Cùng với đó, đồng bào Phú Thọ ra sức đóng góp sức người, sức của, làm tròn trách nhiệm của một hậu phương với chiến trường chính Bắc Bộ.


Thu Đông 1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch tiến công trên hướng Tây Bắc nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân và giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc, thực hiện nhiệm vụ chiến lược "giữ vững và phát triển thế tiến công" của cuộc kháng chiến. Thêm một lần nữa quân dân Phú Thọ lại nỗ lực hết mình, góp phần vào thành công của chiến dịch.


Mở hướng tấn công lên Tây Bắc là một quyết định đúng đắn, đầy táo bạo của Trung ương Đảng, bởi đây là địa bàn xa hậu phương, núi rừng hiểm trở, dân cư thưa thớt, kinh tế nghèo nàn, giao thông vận tải khó khăn; nhân lực, vặt lực tại chỗ hạn chế... Để đảm bảo cho chiến dịch, nhất thiết phải huy động sức người, sức của các địa phương quanh địa bàn tác chiến. Theo đó, vùng tự do Phú Thọ được xác định là "hậu phương trực tiếp chuẩn bị chiến trường và phối hợp chiến đấu"1 (Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Phú Thọ (1945-2005), Nxb Quân đội nhân dân, H 2007, tr. 118) cho chiến dịch Tây Bắc.


Thực hiện nhiệm vụ hết sức quan trọng, đầy nặng nề đó, Tỉnh ủy Phú Thọ đã quán triệt đến các cấp, các ngành trong toàn tỉnh tập trung vào nhiệm vụ huy động sức người, sức của phục vụ chiến trường; lực lượng vũ trang nêu cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu lập công. Với tinh thần "tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", quân dân Phú Thọ đã làm hết sức mình, huy động tối đa dân công đi phục vụ chiến trường; động viên, quyên góp thóc gạo, thực phẩm,... sẵn sàng phục vụ cho chiến dịch. Những ngày chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc, trên toàn tỉnh Phú Thọ đã dấy lên tinh thần "chưa có chiến dịch nào mà khí thế, quyết tâm lại được chuẩn bị, động viên lớn như chiến dịch này"1 (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Phú Thọ (1945-1954). Nxb Quân đội nhân dân, H.1999. tr271). Cùng với tiến hành phục vụ chiến trường, quân dân Phú Thọ thực hiện nhiệm vụ nghi binh, kiềm chế địch. Tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh phối hợp với Trung đoàn 89, Đại đoàn 316 tiến hành nghi binh địch ở hướng tây nam; các đơn vị khác phối hợp với bộ phận của Đại đoàn 308 làm nhiệm vụ bảo vệ hậu phương, sẵn sàng chống địch càn quét.


Cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1952, khi các đơn vị ta bắt đầu tiến quân lên Tây Bắc, quân dân Phú Thọ cùng nhân dân Yên Bái đã huy động 450 thuyền nan, bè mảng góp sức cùng bộ đội công binh thực hiện thành công cuộc vượt sông lớn nhất trong lịch sử 30 năm tiến hành chiến tranh giải phóng. Chỉ trong đêm 10 tháng 10 năm 1952, đã đưa 41.000 người, 338 lừa ngựa và hàng trăm tấn trang bị, lương thực, thuốc men đã qua sông Thao bí mật, an toàn.


Những hoạt động phục vụ của quân dân Phú Thọ đã góp sức cho các đơn vị chủ lực hoàn thành nhiệm vụ của đợt 1 chiến dịch, đập tan Phân khu Nghĩa Lộ, giải phóng một vùng đất quan trọng, rộng trên 1 vạn kilômét vuông,trái từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, mở toang cánh cửa vào địa bàn Tây Bắc.


Để cứu vãn tình hình, cứu ngụy cho phòng tuyến sông Đà, ngày 28 tháng 10, dưới sự chỉ huy của tướng Đờ Linarét - tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ, lực lượng gồm 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn xung kích, 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn cơ giới, 7 đại đội công binh, thực dân Pháp mở cuộc hành quân Loren (Lorraine1 (Lorraine là tên một miền đất của nước Pháp bị Đức chiếm từ 1871 đến 1918 mới trở về Pháp. Suốt 47 năm đó, hai bên tranh chấp nhiều lần. Đặt tên cho cuộc hành quân này, Pháp coi Phú Thọ là vùng tranh chấp giữa địch và ta)) đánh lên Phú Thọ, Yên Bái "nhằm cắt đứt đường tiếp tế vận chuyển lương thực, vũ khí của ta, phá kế hoạch của ta ở mặt trận chính và che giấu những thất bại của chúng ở tả ngạn sông Đà"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Bộ Tổng tham mưu xuất bản, 1963, tập 4, tr 401). Phối hợp với bộ binh, địch cho quân nhẩy dù xuống Đoan Hùng, theo quốc lộ số 2 đánh lên Yên Bái, sử dụng hàng trăm lượt máy bay oanh tạc, ném hàng nghìn tấn bom phá huy đường sá, cầu cống, sát hại đồng bào,...


Hành động trên của địch không nằm ngoài dự tính của ta. Ngày 21 tháng 9 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu nhận định "Phú Thọ là nơi kinh tế dồi dào, có nhiều nhân vật lực, lại có đường giao thông quan trọng, nối liền Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3, 4, nối liền trung du Việt Bắc với miền thượng du Tây Bắc. Cho nên thu đông năm nay địch có thể đánh ra để thực hiện âm mưu của chúng"3 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bô Tổng tư lênh. Sđd. tr. 394). Trên cơ sở đó, Tổng Quân ủy đã chỉ thị cho Tỉnh ủy phú Thọ, nêu rõ: "Trong khi chủ lực ta đánh mạnh trên các chiến trường chính thì địch sẽ đối phó bằng cách tấn công ra Phú Thọ để kiềm chế, chia sẻ lực lượng ta đồng thời phá hoại kinh tế kho tàng, mùa màng của ta, khủng bố nhân dân, bắt thanh niên đi lính. Tóm lại, chúng nhằm phá hoại nguồn cung cấp nhân vật lực của ta, gây khó khăn cho tiền tuyến. Vì vậy, nhiệm vụ của Đảng bộ và các lực lượng vũ trang là phải tích cực đánh địch bằng mọi cách để bảo vệ kho tàng, mùa màng, bảo vệ nhân dân"1 (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Phú Thọ (1945-1954). Sđd. tr. 272-273).


Chấp hành chỉ thị của Tổng Quân ủy, Tỉnh ủy Phú Thọ nhanh chóng phổ biến đến các cấp bộ Đảng, chính quyền về tình hình, âm mưu địch và đề ra các phương án tác chiến chống địch càn quét. Nhiệm vụ chủ yếu của Phú Thọ lúc này là vừa tổ chức lực lượng chống càn vừa làm công tác sơ tán cơ quan, kho tàng về nơi an toàn. Tỉnh ủy đã phân công các đồng chí tỉnh ủy viên về các huyện trọng điểm giúp địa phương hoàn thành nhiệm vụ.


Tuy vậy, công tác phòng tránh, sơ tán gặp rất nhiều khó khăn. Là tỉnh hậu phương, trên địa bàn Phú Thọ tập trung nhiều kho tàng với tống trọng lượng hàng hoá lên tới 15.000 tấn. Ngoài ra, còn có nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp quốc phòng và dân dụng cùng 2 phân viện điều trị với 500 thương bệnh binh. Thực hiện nhiệm vụ trên cân một số lượng lớn nhân lực, nhưng lúc này phần lớn nhân công khỏe mạnh đều tập trung lên phía trước, phương tiện lại thiếu thốn,... đòi hỏi phải có sự cố gắng của toàn Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân Phú Thọ.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Mười, 2025, 08:15:12 pm
Giữa lúc Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ đang dốc toàn sức, gấp rút hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ thương bệnh binh, phân tán bảo vệ kho tàng, dịch ồ ạt tấn công vào vùng hữu ngạn sông Thao, càn quét huyện Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, chiếm đường 11. Sau khi chốt giữ một số cứ điểm ở hữu ngạn, ngày 2 tháng 11, chúng tấn công sang tả ngạn, đánh chiếm thị xã Phú Thọ, rải quân chiếm giữ quốc lộ số 2 và các đường giao thông liên huyện. Đồng thời điều lực lượng Âu - Phi bảo vệ tuyến quốc lộ số 2 từ Đông Anh lên Việt Trì, nhằm giữ thông đường vận chuyển phục vụ cuộc hành binh. Tiếp đến, ngày 9 tháng 11, chúng dùng cơ giới phối hợp quân nhảy dù chiếm Đoan Hùng, thực hiện âm mưu phá kho tàng, cắt đứt đường tiếp tế của ta từ Phú Thọ lên Tuyên Quang, Yên Bái. Chỉ trong một thời gian ngắn, địch đã làm chủ nhiều vị trí quan trọng ở các huyện phía tả ngạn sông Thao. Chúng nhanh chóng thiết lập công sự, móc nối bọn phản động, triệt hạ làng mạc, cướp thóc gạo, của cải của đồng bào, uy hiếp đồng bào, phá hoại cơ sở kho tàng ta chưa kịp di chuyển1 (Địch đã giết chết 189 người, làm bị thương 105 người, cưỡng hiếp 102 phụ nữ, đốt 2.881 ngôi nhà, phá huỷ 547 nhà dân, 12 chùa, 6 nhà thờ, bắn chết 4.170 con trâu, 9.900 con bò, 33.694 con lợn, phá huỷ 2.000 mẫu lúa, ngót 1.000 tấn lương thực, hàng trăm tấn chè, cà phê).


Nhờ có sự chuẩn bị từ trước, Tỉnh ủy Phú Thọ đã kịp thời chỉ đạo triển khai lực lượng, bố trí tác chiến trên tất cả các hướng. Cùng với đó, Bộ Quốc phòng nhanh chóng tăng cường cho Phú Thọ 2 tiểu đoàn bộ đội chủ lực thuộc Trung đoàn 176, cùng quân dân Phú Thọ đánh địch. Ngày 11 tháng 11, Tổng Quân ủy quyết định thành lập Ban chỉ huy Mặt trận Phú Thọ gồm các đồng chí Trần Mạnh Quỳ, Cục trưởng Cục Dân quân làm Chỉ huy trưởng, Nguyễn Tấn Phúc, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ và đồng chí Chu Dốc, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 176 là Chỉ huy phó. Tỉnh ủy quyết định các cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở đều chia thành 2 bộ phận, một chỉ đạo chung, một theo sát lực lượng vũ trang để trực tiếp nắm tình hình, giúp đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Tỉnh ủy cũng ban hành chỉ thị yêu cầu các lực lượng vũ trang và nhân dân tích cực tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, bảo vệ hậu phương.


Dưới sự chỉ đạo của Ban chỉ huy Mặt trận Phú Thọ, của các cấp ủy Đảng, được sự phối hợp của bộ đội chủ lực, quân dân Phú Thọ đã chủ động phá hoại cầu đường, cất giấu tài sản, chiến đấu ngoan cường, kịp thời ngăn chặn, bẻ gãy nhiều mũi tiến công, nhiều trận càn của địch. Bộ đội địa phương và dân quân du kích Tam Nông đánh 19 trận, diệt và làm bị thương 108 tên. Quân dân Hạc Trì đánh 27 trận loại khỏi vòng chiến đấu 109 tên, giải thoát hơn 300 thanh niên bị bắt, bảo vệ hàng trăm tấn thóc và hàng hoá. Tại xã Cao Mại (Lâm Thao), trong một ngày bộ đội địa phương và du kích đã ba lần đánh bật địch ra khỏi làng, diệt hàng chục lính Âu - Phi,...1 (Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Phú Thọ, Sđd. tr. 275). Đó là những điển hình của quân dân Phú Thọ trong cuộc chiến đấu chống lại trận càn Loren của địch. Liên tục bị tiến công, lực lượng lại dàn mỏng trên địa bàn dài 80km, khiến cho mục tiêu phá hoại hậu phương Phú Thọ, hút chủ lực ta về giao chiến không thể thực hiện được, trong khi tiếp tế hậu cần gặp nhiều khó khăn1 (Việc tiếp tế cho 30.000 quân lên Phú Thọ đã thu hút hầu hết lực lượng vận tải của địch, trong lúc tập đoàn cứ điểm Nà Sản đang hình thành và yêu cầu không quân phải tiếp tế hàng ngày), tư tưởng quân lính mệt mỏi, thực dân Pháp buộc phải kết thúc cuộc hành quân sớm hơn dự kiến.


Dự đoán được âm mưu của địch, ngày 9 tháng 11, Bộ Tổng tư lệnh đã điều Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) từ chiến trường Tây Bắc về hậu phương Phú Thọ chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch. Trung đoàn đã nhanh chóng vượt qua 200km đường rừng núi, kịp thời phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh triển khai phương án tác chiến.


Ngày 14 tháng 11, khi biết địch bắt đầu rút khỏi Đoan Hùng theo đường số 2, Ban chỉ huy Mặt trận Phú Thọ cùng Ban chỉ huy Trung đoàn 36 lập kế hoạch tổ chức trận địa phục kích trên quốc lộ số 2, đoạn Chân Mộng - Trạm Thản. Đêm ngày 16 tháng 11 năm 1952, 3 trung đội của Đại đội 310 (Tiểu đoàn 72 bộ đội địa phương Phú Thọ) phối hợp với du kích dẫn đường cho các tiểu đoàn của Trung đoàn 36 lần lượt chiếm lĩnh trận địa phục kích. Ngoài ra, Tiểu đoàn 72 còn bố trí Đại đội 319 phục kích ở Phú Hộ. Đại đội 315 ở Phú Lộc, cùng du kích địa phương đánh cản đường, tạo thời cơ để bộ đội chủ lực tiêu diệt địch.


Các trận địa phục kích của ta từ hai bên đường độc đạo sẵn sàng nổ súng. 9 giờ 45 phút, khi đoàn xe địch lọt vào trận địa, các loại hoả lực của ta từ đồi cao hai bên đường đồng loạt nhả đạn, đội hình quân dịch bị cắt thành đôi, những toán đi đầu thoát chết chạy về phía Phú Hộ. Từ triền đồi, bìa rừng, bộ đội nhanh chóng tràn xuống đường đánh giáp lá cà, dùng thủ pháo diệt cơ giới của địch. Sau 30 phút chiến đấu, hàng trăm tên địch đã bị loại khỏi vòng chiến đấu, 1 xe tăng bị phá hủy. Thừa thắng xốc tới, quân ta truy kích địch đến gần Phú Hộ, phá huỷ 13 xe cơ giới, diệt và bất sống thêm nhiều tên địch. Kết quả sau một ngày chiến đấu quyết liệt, với tinh thần dũng cảm, mưu trí, ta đã diệt và bắt hơn 400 tên địch, phá huỷ 44 xe cơ giỏi, trong đó có 17 xe tăng, xe bọc thép, thu nhiều quân trang quân dụng của địch. Phát huy thắng lợi, bộ đội ta tiến hành truy kích địch ở vùng Phú Hộ, núi Voi, núi Chò, núi Quyết,... diệt thêm 180 tên, bắt 7 tên, đưa tổng số quân địch bị tiêu diệt hơn 600 tên.


Bị thiệt hại nặng nề, ngày 25 tháng 11 năm 1952, Bộ chỉ huy quân Pháp phải lệnh cho Đờ Linarét rút lui, hủy bỏ cuộc hành quân Lorén. Sau gần một tháng tiến quân lên Phú Thọ, cuộc hành binh đầy tham vọng của thực dân Pháp đã bị thất bại thảm hại. Được chuẩn bị kỹ càng, được sự trợ giúp của bộ đội chủ lực, quân dân Phú Thọ đã làm thất bại âm mưu phá hoại hậu phương, đỡ đòn cho đồng bọn trên núi rừng Tây Bắc của địch, tạo điều kiện cho quân và dân ta tiếp tục phát triển tiến công. Thắng lợi đó là một đóng góp to lớn của quân dân Phú Thọ với chiến dịch Tây Bắc.


Những chiến công trên Mặt trận Phú Thọ đã cổ vũ mạnh mẽ, góp phần động viên quân ta trên chiến trường chính Tây Bắc, đấy mạnh tiến công, đập vỡ khu vực phòng ngự ở Mộc Châu của địch, giải phóng Sơn La (trừ Nà Sản), vùng tự do ở Tây Bắc đã chiếm 80% đất đai và 350.000 dân. Từ đây trở đi Tây Bắc đã trở thành căn cứ địa, nối liền với căn cứ địa Việt Bắc, là cơ sở vững chắc cho cuộc kháng chiến. Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đã góp phần quan trọng giữ vững và phát triển thế chủ động chiến lược của cuộc kháng chiến.


Trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, quân và dân Phú Thọ đã huy động 134.190 người, góp hơn 3 triệu ngày công, cung cấp và vận chuyển gần 2.500 tấn gạo, 40 tấn muối, 275 con trâu, bò và hàng trăm con lợn thịt, hơn 300 chiếc thuyền, tu sửa 200km đường giao thông, bảo đảm giao thông thông suốt. Cùng với đó, lực lượng vũ trang và nhân dân Phú Thọ cũng đã sát cánh cùng bộ đội chủ lực tiến hành nhiều trận đánh, giành được những thắng lợi quan trọng. Bộ đội địa phương, dân quân, du kích tỉnh đã tác chiến 176 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 856 tên địch, trong đó có 402 tên bị tiêu diệt, đã bảo vệ được kho tàng của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân1 (Lịch sử vũ trang nhân dân tỉnh Phú Thọ (1945-2005), Nxb Quân đội nhân dân. H. 2007. tr. 118). Phá tan âm mưu tìm diệt bộ đội chủ lực và phá hậu phương kháng chiến của địch. Như vậy, trong chiến dịch Tây Bắc quân dân Phú Thọ không chỉ làm tròn vai trò "hậu phương trực tiếp chuẩn bị chiến trường" mà còn góp phần kiềm chế, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ "phối hợp với chiến dịch Tây Bắc".


Phát huy thắng lợi chiến thắng Tây Bắc, quân dân Phú Thọ đẩy mạnh thi đua lập công, tiếp tục đóng góp sức người sức của cho cuộc kháng chiến. Từ năm 1953 đến đầu năm 1954, hàng chục vạn lượt thanh niên và nhân dân Phú Thọ đã xung phong và có mặt trên các tuyến đường 13, 41, bạt núi, xẻ đồi, mở đường nối căn cứ địa Việt Bắc với Tây Bắc và vùng tự do Liên khu 3. Trong chiến dịch mở đường lên Tây Bắc, nhân dân Phú Thọ đã đóng góp gần 2.5 triệu ngày công, làm mới 82 cầu, 352 km đường; đã huy động hơn 9 vạn dân công với tổng số 4,2 triệu ngày công, 937 xe đạp thồ, 1.377 thuyền mảng phục vụ các mặt trận. Để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, toàn tỉnh lại huy động hàng vạn dân công, động viên hơn nghìn thanh niên nhập ngũ, nhân dân trong tỉnh đóng góp hơn nghìn xe đạp thồ, trên 3.000 thuyền mảng, 87 xe trâu, trên 4 nghìn tấn gạo và hàng trăm tấn thực phẩm... đã có hàng nghìn con em Phú Thọ ngã xuống trên các chiến trường, trên các cung đường vận chuyển. Đó là sự hy sinh, là đóng góp to lớn của quân và dân Phú Thọ vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp1 (Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến thắng Điên Biên Phủ, mốc vàng lịch sử chân lý thời đai, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2004. tr. 258. 259).


Phát huy truyền thống anh dũng kiên cường, khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ, trong những năm kháng chiến chống Mỹ, quân và dân Phú Thọ lại làm tốt vai trò hậu phương, tiếp tục chi viện sức người, sức của, cùng quân dân miền Bắc đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, cùng cả nước hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.


Hoàn thành nhiệm vụ đánh giặc, giữ nước, quân dân Phú Thọ ra sức thi đua, xây dựng quê hương giàu đẹp. Sau hơn 20 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, quê hương Phú Thọ đã có nhiều khởi sắc nhanh chóng vượt qua khó khăn, thử thách để giành được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội. GDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 14,5 triệu đồng, tăng 4,8 lần so năm 2000 và tăng 2.7 lần so năm 2005. Cơ cấu kinh tế đã có sự dịch chuyển tích cực. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư với tốc độ nhanh. Bộ mặt nông thôn đã có nhiều khởi sắc. Lĩnh vực văn hóa - xã hội có những tiến bộ trên nhiều mặt; sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển, hệ thống trường lớp được quan tâm đầu tư xây dựng. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ vượt bậc, chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên.


Tiếp tục đổi mới và phát triển, quân và dân Phú Thọ nỗ lực phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu: giữ vững an ninh, quốc phòng trên địa bàn, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 12 - 13%/năm để đến năm 2015 GDP bình quân đầu người đạt 1.500 - 1.600 USD, tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa Phú Thọ cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp.


Tự hào với những thành tích đà đạt được trong chiến dịch Tây Bắc, với truyền thống được dựng xây trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, quân và dân Phú Thọ sẽ hoàn thành được mục tiêu trên, thực hiện thành công nhiệm vụ đã được Đại hội đại biểu lần thứ XVII của Đảng bộ tỉnh xác định, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Mười, 2025, 08:21:58 pm
ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC LAI CHÂU
VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

LÒ VĂN GIÀNG
Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu


Cách đây 60 năm, vào Thu Đông năm 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc và giành thắng lợi to lớn. Chiến dịch Tây Bắc 1952 đã góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta phát triển lên một giai đoạn mới mang tính quyết định. Chiến thắng của chiến dịch Tây Bắc 1952 đã trở thành một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc ta.


Đầu năm 1951, địch liên tục mở các cuộc càn quét vào các khu du kích của ta, càn đến đâu chúng dồn dân về ở sát đồn để dễ kiểm soát nhằm cô lập dân với cán bộ và bộ đội, thực hiện kế hoạch "tát cạn nước để bắt cá". Chúng đốt phá nhà cửa, phá hoại hoa màu, giết hại cán bộ, bộ đội và trung kiên của ta. Cùng với khủng bố, địch còn giở các thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc bọn cầm đầu ở các địa phương, xây dựng tổ chức phản động có vũ trang ở địa phương để phá hoại cơ sở của ta. Trước tình hình đó, ngày 27 tháng 7năm 1952, Trung ương Đảng ra nghị quyết tách 4 tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai trong Liên khu Việt Bắc, thành lập Khu 20 (tiền thân của Khu Tây Bắc), tạo điều kiện để Trung ương chỉ đạo địa phương được thuận lợi, nhanh chóng và trực tiếp hơn. Liên khu ủy Việt Bắc đã san sẻ cán bộ cũng như hỗ trợ các mặt cho Khu 20.


Thực hiện phương châm tác chiến: "Tránh chỗ mạnh, đánh vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu". Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng nhân dân và một phần đất đai ở Tây Bắc, phá tan "Xứ Thái tự trị" của địch, tạo đà tiến lên giải phóng hoàn toàn vùng Tây Bắc. Trong chiến dịch này, hơn 3 vạn bộ đội, dân công được điều lên Tây Bắc để chiến đấu và phục vụ chiến đấu.


Để chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết về chính sách vận động dân tộc thiểu số. Ngày 1 tháng 10 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ dân chủ cộng hòa Việt Nam" với các nội dung chính như sau:

1. Bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

2. Bảo vệ nghề nghiệp làm ăn của nhân dân.

3. Tịch thu tài sản của bọn giặc Pháp và bọn phản quốc.

4. Bảo vệ đền chùa, nhà thờ, trường học, nhà thương và các cơ quan văn hóa xã hội khác.

5. Thưởng người có công, phạt người có tội.

6. Giữ gìn trật tự và trị an.

7. Nhân dân, đặc biệt là nông dân, nên tổ chức lại.

8. Bảo vệ tính mạng, tài sản của kiểu dân nước ngoài.

Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Ban cán sự Đảng Lai Châu đã tổ chức cho nhân dân các khu tranh đấu học tập, giúp đồng hào yên tâm, tin tưởng vào chế độ, ổn định sản xuất và xây dựng cuộc sống mới.

Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, Khu ủy 20 đã kịp thời chỉ đạo các tỉnh khẩn trương chuẩn bị chiến trường phục vụ chiến dịch Tây Bắc. Khu ủy 20 đề ra nhiệm vụ trọng tâm của toàn Khu cuối năm 1952 là: "Động viên toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân vùng tự do cũng như vùng bị tạm chiến, huy động mọi khả năng nhân, vật lực ở Tây Bắc để phục vụ cho chiến dịch Tây Bắc".


Thực hiện nhiệm vụ của Khu ủy 20 đề ra. Ban cán sự Đảng Lai Châu có chủ trương "Đẩy mạnh và củng cố cơ sở chính trị và cơ sở vũ trang để đảm bảo cho nhu cầu quân sự trước mắt". Được Trung ương và Khu ủy 20 tăng cường cán bộ, Ban cán sự Đảng Lai Châu đã điều động hơn 100 cán bộ, bộ đội do đồng chí Trần Quốc Mạnh chỉ huy, chia làm 5 đợt tiến vào nội tỉnh để phục hồi cơ sở chính trị và vũ trang, tích cực chuẩn bị chiến trường đón bộ đội vượt sông Đà sang tiêu diệt địch. Dưới sự chỉ đạo của Khu ủy 20, tỉnh đã phối hợp với Trung đoàn 148 do đồng chí Vũ Lập chỉ huy thảo luận kế hoạch chung phục vụ cho chiến dịch. Ban cán sự Đảng Lai Châu đã phân công: đồng chí Hoàng Bắc Dũng chịu trách nhiệm chung, đồng chí Hoàng Hoa Thưởng cùng hai trung đoàn 148 và 165 sang Tuần Giáo để phối hợp hoạt động và xây dựng bộ đội địa phương, thay mặt Ban cán sự Đảng tỉnh giải quyết mọi công việc trong nội địa, giúp đỡ số cán hộ của Điện Biên làm nhiệm vụ gây dựng lại cơ sở, đồng chí Trần Quốc Mạnh phụ trách huyện Quỳnh Nhai để xây dựng căn cứ.


Sự quyết tâm của Ban cán sự Đảng Lai Châu, tinh thần tận tụy vượt qua mọi gian lao vất và của cán bộ, đảng viên hoạt động trong lòng địch, cùng với sự hỗ trợ của các cán bộ, bộ đội mới được tăng cường đã tiếp sức nhanh chóng để phục hồi và phát triển các cơ sở mới chuẩn bị cho chiến dịch. Sau khi nhận được chỉ thị của Khu ủy 20 về việc chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc, Ban cán sự Đảng Lai Châu đã cử cán bộ vào 2 huyện Tuần Giáo, Quỳnh Nhai để truyền đạt nghị quyết của Trung ương Đảng về mở chiến dịch Tây Bắc và phổ biến chủ trương công tác chuẩn bị cho chiến dịch. Một mặt đưa cán bộ quân sự vào củng cố, xây dựng dân quân, du kích ở các xã Vinh Quang, Thống Nhất, Quyết Tiến A, Quyết Tiến B, mặt khác, điều một trung đội bộ đội chủ lực của tỉnh phối hợp với giao thông mở con đường hành quân từ Sa Pa đi Quỳnh Nhai vào Sình Hồ. Ban chỉ huy Tình đội dân quân và một trung đội vào hoạt động tại Quỳnh Nhai, trưng dụng một số cán bộ trong văn phòng Ban cán sự Đảng tỉnh đi phục vụ chiến dịch, chuẩn bị nếu có điều kiện sẽ chuyển văn phòng vào nội địa (hiện đang ở Lào Cai). Điều động các đồng chí trước đây sang phối hợp hoạt động với huyện Than Uyên và Phong Thổ về để vào nội tỉnh hoạt động.


Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc mở màn, đợt 1 ta tấn công Phân khu Nghĩa Lộ và Tiêu khu Phù Yên giành thắng lợi, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn. Phối hợp với các mũi tiến công, Tiểu đoàn 910 từ Lào Cai tiến xuống giải phóng Quỳnh Nhai. Đến ngày 26 tháng 10 năm 1952. sau 13 ngày chiến đấu, bộ đội ta đã quét sạch địch ở khu vực giữa sông Thao và sông Đà, từ Vạn Yên lên tới Quỳnh Nhai. Đợt 1 kết thúc, Lai Châu có huyện Quỳnh Nhai được giải phóng.


Đợt 2 của chiến dịch, quân ta vượt sông Đà đánh vào Mộc Châu, Yên Châu dồn quân địch co cụm lại khu vực Nà Sản. Cánh quân vu hồi của ta gồm Trung đoàn 165, Tiểu đoàn 910 và bộ đội địa phương tỉnh Yên Bái, Lai Châu do đồng chí Bằng Giang chỉ huy vượt sông Đà, thọc sâu vào Quỳnh Nhai đánh vào phía sau lưng địch ở bắc Sơn La và nam Lai Châu. Trung đoàn 148 được nhân dân đôi bờ sông Đà trong đó có xã Huổi Só huy động tới 50 chiếc thuyền để chở bộ đội qua sông. Ngoài ra, nhân dân còn huy động hàng trăm con ngựa giúp bộ đội, dân công vận chuyển vũ khí, đạn dược và hăng hái đưa đường cho bộ đội bao vây, đánh tan Tiểu đoàn ngụy số 56 ở ngã ba Nậm Dín, bắt sống tên quan ba Pháp Đuyrăng. Ngày 17 tháng 11 năm 1952, Trung đoàn chiếm được Luân Châu. Ngày 20 tháng 11 năm 1952, giải phóng Tuần Giáo, truy kích địch qua cầu Nậm Mức sát thị trấn Lai Châu, một bộ phận tiến lên Sình Hồ đuổi địch về phía huyện lỵ. Ngày 30 tháng 11 năm 1952, Tiểu đoàn 542 tiến về giải phóng Điện Biên, bắt sống thiếu tá Giăng Xica.


Đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, chiến dịch đã kết thúc thắng lợi, đại bộ phận Tây Bắc được giải phóng với 28.500km2 và 25 vạn dân. Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng và củng cố thêm vững chắc. Ta đã tiêu diệt được 6.000 tên địch, phá tan âm mưu lặp "Xử Thái tự trị" của địch.


Dưới sự lãnh đạo của Ban cán sự Đảng Lai Châu, cán bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tích cực tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đã đóng góp cho chiến dịch 1.595 tạ gạo, 93 tạ ngô, 21 tạ thóc, 21 tạ thịt bò, 38 tạ thịt lợn, 5 con trâu, 20 con bò, 31 con lợn và 130 tạ rau. Đã có 2.243 người đi dân công từ 1 đến 15 ngày, huy động được 100 con ngựa để vận chuyển lương thực, thực phẩm. Tỉnh Lai Châu có 3 huyện được giải phóng hoàn toàn là Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Điện Biên, phần lớn huyện Sình Hồ và một phần huyện Châu Lai cũng được giải phóng. Địch chỉ còn đóng ở Mường Bum, Mường Tè, thị trấn Lai Châu, huyện lỵ Sình Hồ và một số điểm quanh huyện. Có thể khẳng định, hầu hết các vùng trong tỉnh được giải phóng trong chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa rất quan trọng đối với Lai Châu. Bởi đây là lần đầu tiên đại bộ phận nhân dân các dân tộc Lai Châu được giải phóng, thoát khỏi ách nô lệ, lầm than, đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Vùng tự do của Lai Châu đã được nối liền với căn cứ địa Việt Bắc và các tỉnh của Khu 20 tạo thành một thế liên hoàn vững chắc. Cũng từ đây sự chỉ đạo của Trung ương, của Khu ủy 20, sự hỗ trợ của các chiến trường các tỉnh bạn đối với Lai Châu đã được thuận lợi hơn. Thắng lợi của chiến dịch đã khẳng định những đóng góp to lớn của quân và dân các dân tộc Lai Châu, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao, góp phần tạo thế và lực cùng nhân dân cả nước đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược.


60 năm qua, kể từ khi chiến dịch Tây Bắc thắng lợi, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân các dân tộc Lai Châu đã một lòng, một dạ tuyệt đối trung thành với Đảng, đang tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của chiến dịch Tây Bắc lịch sử, cần cù trong lao động sản xuất, dũng cảm trong chiến đấu, vượt qua vô vàn khó khăn, thứ thách, tập trung đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhất là sau 8 năm chia tách và thành lập tỉnh Lai Châu mới. Phát huy thành tựu, tiếp nối truyền thống cách mạng, nắm chắc thời cơ, vượt qua khó khăn thách thức, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Lai Châu tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tập trung phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đưa Lai Châu cơ bản ra khỏi tình trạng kém phát triển.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Mười, 2025, 08:26:00 pm
LIÊN KHU 3 PHỐI HỢP VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Thiếu tướng PHẠM HỒNG HƯƠNG
Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 3


Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, trong đó xác định đồng bằng Bắc Bộ là hướng chiến lược quan trọng. Liên khu 3 được Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy giao nhiệm vụ: "Tăng cường hoạt động để phối hợp với chiến trường chính Tây Bắc, kìm giữ lực lượng địch không cho chúng tiếp viện lên Tây Bắc hoặc đánh ra vùng tự do, đồng thời lợi dụng những điều kiện thuận lợi mới do hoạt động của ta ở hướng chính tạo nên; đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch hậu, chống càn quét, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tranh thủ mở rộng khu du kích, căn cứ du kích; tăng cường địch vận, ngụy vận, phá tề trừ gian, chống gián điệp, phá âm mưu của địch dùng chính trị và kinh tế kết hợp với quân sự để bình định từng vùng quan trọng ở địch hậu"1 (Bộ Tổng tham mưu, Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, tập 3, Nxb Quân đội nhân dân. H 1963. tr. 365).


Để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo chiến trường, Trung ương Đảng chí định Ban chỉ đạo mặt trận phía nam đồng bằng gồm các đồng chí trong Thường vụ Liên khu ủy và đồng chí Văn Tiến Dũng, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn 320; đồng chí Lê Chưởng, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn 304; đồng chí Lê Thanh Nghị, Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 3 làm Trưởng ban chỉ đạo mặt trận.


Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy giao, Liên khu ủy 3, Khu ủy Tả Ngạn đã tổ chức quán triệt, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo các hoạt động phối hợp tác chiến với chiến trường chính Tây Bắc, tiếp tục giữ vững và thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích đồng bằng Bắc Bộ.


Để phối hợp với chiến trường chính Tây Bắc, về mặt hậu cần, Liên khu 3 và Liên khu 4, chủ yếu là Thanh Hóa và các tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình được giao nhiệm vụ bảo đảm vật chất cho chiến dịch khi chiến dịch phát triển đến Sơn La. Từ đồng bằng Liên khu 3 đã hình thành con đường vận chuyển chính Nho Quan - Vụ Bản - Hòa Rình - Suối Rút dài 130 km. Chủ yếu là dân công mang vác, thuyền nan, xe trâu đưa gạo và thực phẩm lên phục vụ chiến trường.


Về mặt quân sự, cùng với việc giữ bí mật, ta tổ chức nghi binh trên 2 hướng: trung du và Liên khu 3. Lực lượng dân công Liên khu 3 được huy động tu sửa cầu đường, làm đường bí mật, chuẩn bị thuyền mảng, lập kho, tìm vị trí tập kết cho bộ đội, huy động dân công và tổ chức hành quân rầm rộ nghi binh. Từ ngày 10 tháng 9 năm 1952, hai đại đội công binh tu sửa cầu, làm đường qua Tu Vũ, Hòa Bình xuống Liên khu 3. Bộ còn điều 1 đại đội trinh sát xuống hoạt động ở vùng Ninh Bình thực hiện hoạt động nghi binh theo chủ trương của chiến dịch.


Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy giao, Ban chỉ đạo mặt trận phía nam đồng bằng quyết định sử dụng Đại đoàn 320 và Trung đoàn 48 tác chiến trên hướng chính Ninh Bình, Nam Định; Trung đoàn 64 tác chiến trên hướng Hà Nam; Trung đoàn 46 hoạt động ở Hà Đông; Trung đoàn 52 hoạt động ở Thái Bình; Trung đoàn 42 hoạt động ở Hải Dương, Hưng Yên. Quyết tâm của Ban chỉ đạo mặt trận là chuẩn bị lực lượng và chiến trường chu đáo, sử dụng kết hợp cả ba thứ quân đánh mạnh, đánh liên tục, đánh cả ở tuyến ngoài và ở trong lòng địch. Trước mắt đánh vào tuyến đường 10 vừa thực hiện các đòn đánh tập trung tiêu diệt từng đơn vị, từng bộ phận địch. Sau đó, vừa đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển tiêu hao địch rộng khắp, vừa tác chiến tranh thủ củng cố xây dựng lực lượng, củng cố địa bàn đứng chân để đánh được liên tục, lâu dài.


Công tác phòng gian, giữ bí mật và thực hiện nghi binh được thực hiện tốt nên đến trước ngày nổ súng địch vẫn không biết ta đánh Tây Bắc, mà nghĩ ta sẽ đánh đồng bằng. Cho đến cuối tháng 9 năm 1952, khi ta tiếp tục nghi binh trên hướng trung du, địch điều lực lượng 2 binh đoàn cơ động (GM1, GM2) lên càn quét và điều Binh đoàn cơ động số 4 (GM4) từ Nam Định xuống chặn Cầu Cổ (Ninh Bình), điều 2 tiểu đoàn từ Hà Nội xuống chặn Phủ Lý. Đến lúc đó, địch vẫn đinh ninh hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch Thu Đông 1952 của ta ở đồng bằng Bắc Bộ.


Cùng với các động thái trên, địch tổ chức cho một số đơn vị nhỏ lẻ tổ chức càn phá cơ sở của ta ở các khu du kích, nhất là tại các khu du kích của các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, nơi chúng nghi hướng chính của ta trong Thu Đông 1952. Trong khi cơ động hoạt động địch tung tin sẽ càn phía nam Nam Định, cho nhiều tay sai bắt liên lạc với bọn phản động để chuẩn bị, đồng thời tranh thủ lập và củng cố các ban tể, sử dụng ngụy quân tăng cường tuần tiễu, phục kích, sục sạo phá cơ sở chung quanh nơi đóng quân hay trên các đường giao thông. Các hoạt động trên đã gáy cho ta khó khăn nhất định trong việc chuẩn bị.


Đêm ngày 8 tháng 10 năm 1952, trong khi trên hướng chiến trường chính Tây Bắc, các đại đoàn chủ lực ta và lực lượng vũ trang Liên khu 10 còn đang tiến vào cài thế, tạo thế, thì tại miền đồng bằng châu thổ quân và dân Liên khu 3, Khu Tả Ngạn và các đại đoàn 304, 320 bắt đầu nổ súng tiến công địch. Mở màn là trận tiến công cứ điểm Bích Đào (một vị trí then chốt của địch trên đường 10) tiêu diệt 1 đại đội lính Âu - Phi. Tiếp theo là hàng loạt các trận phục kích đánh chặn địch ở Hà Nam, Thái Bình, gây cho địch nhiều thiệt hại.


Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích trên toàn vùng đồng bằng Bắc Bộ đồng loạt đẩy mạnh các hoạt động quân sự, chính trị, binh địch vận. Thực hiện bao vây tiêu diệt các đồn bốt địch, phá tề, trừ gian, xây dựng, củng cố cơ sở chính trị. Chỉ trong 6 ngày đầu của chiến dịch, bộ đội địa phương, dân quân du kích Hà Nam đã đánh 30 trận, diệt 143 tên địch, bắt sống 58 tên, phá 8 xe quân sự và liên tục vây hãm, uy hiếp một loạt các cứ điểm của địch. Ở các hướng khác, bộ đội chủ lực phối hợp cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích cùng đẩy mạnh hoạt động gây cho địch nhiều tổn thất.


Trước hoạt động mạnh của ta trên đồng bằng châu thổ sông Hồng, địch buộc phải tăng cường lực lượng cơ động ứng cứu. Ngày 14 tháng 10 chiến trường chính Tây Bắc nổ súng, địch mới phát hiện ra hướng hoạt động chính của ta trong Thu Đông 1952. Chúng vội vã ngừng tiếp viện quân cho nam đồng bằng mà tập trung lực lượng mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ hòng chia sẻ lực lượng, gây khó khăn cho ta, đỡ đòn cho Tây Bắc. Để đánh lạc hướng phán đoán của ta, trước khi rút cơ động đi, địch tung tin đánh Nho Quan, Vụ Bản rồi thọc sâu ra vùng tự do của ta ở Ba Vì và chuyển vận nghi binh trên đường số 1, 21,...


Kiên quyết thu hút, căng kéo lực lượng địch góp phần chặn đứng cuộc tiến công của địch ra vùng tự do trung du, hậu phương trực tiếp của chiến dịch Tây Bắc, quân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ dồn dập tiến công tuyến phòng thủ đường số 10, đẩy mạnh tiến công vùng sau lưng địch. Đặc biệt, ngày 8 tháng 11, ta tấn công tiêu diệt Yên Lộc Thượng (Kim Sơn), Giang Nai (Yên Mô), chặn viện trên đường giao thông. Ngày 13, 14 tháng 11 ta tấn công Phát Diệm, diệt vị trí Cầu Xanh, bức rút 7 vị trí ở xung quanh Phát Diệm, uy hiếp mạnh ở mặt Ninh Bình. Địch lúng túng gom quân tiếp viện Ninh Bình thì sơ hở Nam Định, ta tiếp tục diệt và bức rút một số vị trí ven đường số 21 và 52, đánh viện, cắt tiếp tế giữa Nam Định và Bùi Chu, uy hiếp phía nam Nam Định.


Từ cuối tháng 11, Ban chỉ đạo mặt trận phía nam đồng bằng quyết định điều động thêm Trung đoàn 48 vào Nam Định cùng Trung đoàn 9 và lực lượng địa phương đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động sau lưng địch. Đại đoàn 304 (thiếu) vẫn bám chắc đường số 10 tiếp tục hoạt động ở vòng ngoài. Trong khi đó, các chiến trường khác trên khắp đồng bằng Bắc Bộ cũng đẩy mạnh phối hợp với Tây Bắc, gây cho dịch nhiều khó khăn, lúng túng.


Trước tình hình bị đánh mạnh trên cả các chiến trường phía trước và sau lưng, để tránh bị bao vây, tiêu diệt, thực dân Pháp quyết định bãi bỏ cuộc hành quân Loren, rút bớt các đồn lẻ ở Tây Bắc, tập trung lực lượng co cụm lại thành một tập đoàn cứ điểm ở Nà Sản. Tại đồng bằng Bắc Bộ, được tăng cường thêm lực lượng từ Mộc Châu, Phú Thọ co về, chúng tập trung 21 tiểu đoàn cùng lực lượng xe tăng, xe lội nước, tàu chiến mở cuộc hành quân càn quét Brơtanhơ đánh vào miền nam Nam Định nhằm tiêu diệt, đẩy lùi chủ lực của ta ra khỏi địa bàn, xóa bỏ căn cứ du kích, bắt thanh niên bổ sung quân, củng cố hệ thống phòng thủ miền nam đồng bằng của chúng. Trong thời gian tiến hành trận càn Brớtanhơ, ở các nơi khác, lực lượng cơ động và quân ngụy địa phương cũng phối hợp càn nhổ ven các trục giao thông (Hà Đông), yểm trợ cho lực lượng tại các vị trí bị vây (Hà Nam), mở tới 11 trận càn lớn nhỏ (lực lượng từ 1 đến 3 tiểu đoàn) vào chung quanh Phát Diệm, khu du kích Yên Khánh nhằm bảo vệ Phát Diệm và ngăn chặn sự chuyển vận của ta giữa Nam Định với bên ngoài.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Mười, 2025, 08:27:20 pm
Về phía ta, ngay khi địch vừa tổ chức trinh sát và dân quân tạo thế chuẩn bị mở càn lớn, Ban chỉ đạo phía nam đồng bằng đã gấp rút vạch kế hoạch đánh trả địch và chỉ đạo các lực lượng vũ trang trên chiến trường theo dõi chặt chẽ mọi hành động của chúng để kịp thời đối phó. Ban chỉ đạo mặt trận chỉ đạo quân và dân phía nam đồng bằng bám sát địch. Các đơn vị chủ lực và bộ đội địa phương tỉnh chủ động, tích cực tiến công tiêu diệt địch. Bộ đội địa phương huyện và du kích xã được lệnh phát triển cách đánh du kích tiêu hao địch, hết sức tránh lối đánh cô thú, bị động, vừa đánh vừa luồn tránh thoát vây, không cho địch "cất vó". Dân quân du kích ở Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình,... phải đánh mạnh ở vòng ngoài để phối hợp và thu hút phân tán lực lượng địch.


Giai đoạn đầu từ ngày 1 đến ngày 8 tháng 12 năm 1952, địch tiến đánh 2 huyện Trực Ninh, Nam Trực (Nam Định). Do địch bao vây rộng nên toàn bộ Trung đoàn 48 và bộ đội địa phương tỉnh Nam Định đều lọt vào vòng càn. Sau khi tổ chức một số trận đánh quyết liệt gây cho địch một số thiệt hại, Trung đoàn 48 luồn càn chuyển sang vùng khác hoạt động, bộ đội địa phương và dân quân du kích 2 huyện tiếp tục bám địa bàn đánh địch.


Giai đoạn 2 địch chuyển lực lượng sang càn Xuân Trường, Giao Thủy, tiếp đến Hải Hậu (Nam Định) rồi chuyển sang bắc sông Ninh Cơ. Địch tập trung cơ động càn từng vùng nên phía sau địch sơ hở, mặt khác do bị thất bại liên tiếp nên tinh thần binh lính địch dao động. Đây là điều kiện để lực lượng vũ trang ta tấn công tiêu diệt địch. Trong khi đó, các lực lượng vòng ngoài, chấp hành nhiệm vụ của Ban chỉ đạo mặt trận giao, đã đánh mạnh vào tuyến chiếm đóng của địch, buộc chúng phải đưa một số đơn vị đang tiến hành cuộc hành quân Brơtanhơ đi đối phó.


Gần một tháng đánh trả cuộc hành quân Brơtanhơ của địch (ngày 1 đến cuối tháng 12-1952), mặc dù bị một số thiệt hại1 (Quân Pháp đốt hơn 5.000 nóc nhà, hơn 1.000 tấn thóc, bắt và giết hàng nghìn trâu bỏ, bắt đi hơn 3.000 thanh niên), nhưng quân và dân ta đã kiên quyết bám sát địa bàn tiêu diệt địch, đánh bại mục đích của cuộc hành quân của chúng. Chủ lực ta bảo toàn được lực lượng, trụ vững trên chiến trường và phối hợp cùng các lực lượng tại chỗ tiến công địch khắp nơi. Các căn cứ du kích đứng vững và mồ rộng, san phẳng và bức rút nhiều đồn bốt địch, buộc chúng phải kết thúc cuộc hành quân trong khi phòng tuyến sông Đáy và đường 10 vẫn ở tình trạng rạn nứt nghiêm trọng.


Từ sự phối hợp chặt chẽ giữa chiến trường chính Tây Bắc với chiến trường đồng bằng Bắc Bộ cho thấy sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt về chiến lược của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy. Trong gần 3 tháng thực hiện chiến dịch Thu Đông 1952, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt trong việc lựa chọn chiến trường chính Tây Bắc2 (Tháng 4 năm 1952, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 đã đánh giá: Các chiến dịch vừa qua như chiến dịch Trần Hưng Đạo (chiến dịch Trung Du), chiến dịch Hoàng Hoa Thám (chiến dịch Đường số 18). chiến dịch Quang Trung (chiến dịch Ha - Nam - Ninh) tiến hành ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, tuy lực lượng ta trưởng thành, lớn mạnh, nhưng ở đây địch phát huy sức mạnh binh khi kỹ thuật. Vì thế, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc trong Thu Đông 1952, chiến trường rừng núi quan trọng duy nhất còn lại ở Bắc Bộ, nơi ta có điều kiện phát huy ưu thế). Chiến trường chính mở, lực lượng địch bị thu hút, bị sơ hở trên chiến trường đồng bằng. Đây là điều kiện, thời cơ thuận lợi cho quân và dân Liên khu 3, Khu Tả Ngạn phát triển chiến tranh du kích, tích cực tiêu diệt địch, củng cố và mở rộng các căn cứ du kích. Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định kịp thời việc địch đánh lên trung du để ứng cứu Tây Bắc, nên đã chỉ thị cho cácđịa phương nắm vững thời cơ, đẩy mạnh hoạt động diệt địch phối hợp với chiến trường chính.


Trên chiến trường Liên khu 3, Trung ương Đảng và Tong Quân ủy kịp thời chỉ đạo thành lập Ban chỉ đạo mặt trận nam đồng bằng để chỉ đạo lực lượng vũ trang tiến hành các hoạt động phối hợp với chiến trường chính một cách thống nhất, chặt chẽ và hiệu quả. Nhờ tinh thần chủ động, kiên quyết, phối hợp hoạt động có hiệu quả của lực lượng vũ trang ba thứ quân. Từ việc chuẩn bị chiến trường cho chủ lực mau chóng, sẵn sàng cơ sở cho chủ lực tạm trú tương đối đầy đủ, là điều kiện phát triển và củng cố các khu du kích, căn cứ du kích, nhất là căn cứ du kích Hà Nam, khu du kích bắc và nam Nam Định.


Trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ phối hợp Mặt trận Tây Bắc, Liên khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu 3, trực tiếp là Ban chỉ đạo mặt trận phía nam đồng bằng Bắc Bộ đã kiên quyết thực hiện đúng sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, đẩy mạnh chiến tranh du kích phối hợp với tác chiến của các đơn vị chủ lực, buộc địch phải căng kéo lực lượng, bị động đối phó trên khắp chiến trường đồng bằng, không có điều kiện gom quân tiếp ứng cho Mặt trận Tây Bắc. Đặc biệt, đã thực hiện tốt công tác nghi binh chiến lược, đồng thời tiến hành có hiệu quả chiến thuật vây điểm, diệt viện (chuyển một lực lượng chủ lực vào uy hiếp Nam Định, Phát Diệm, buộc địch viện để bố trí diệt viện). Khi địch đánh lên trung du, Ban chỉ đạo điều thêm một lực lượng vào Nam Định uy hiếp Bùi Chu, phối hợp chặt chẽ với chiến trường Tây Bắc, buộc địch rút quân từ trung du về đối phó. Do đó, địch đã bị thu hút và thiệt hại ở chiến trường Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, quân vàdân liên khu có điều kiệnđẩy mạnh hoạt động phối hợpvới chiến trường chính. Trong chiến dịch Thu Đông 1952, phối hợp cùng chiến trường chính Tây Bắc, quân và dân Liên khu 3 lập thành tích xuất sắc đánh 1.290 trận, tiêu diệt 1.915 tên địch (chết 3.453 tên, bị thương 821 tên, bắt 604 tên, 37 tên ra hàng)1 (Nếu kể cả chủ lực, ta đánh 1.328 trận (trừ 304 trận chưa có thống kê và Nam Định chưa thống kê hết), diệt 9.793 tên địch).


Cùng với các hoạt động quân sự, quân và dân Liên khu 3, Liên khu 4 (chủ yếu là Thanh Hóa và Ninh Bình, Hòa Bình) đã huy động nhiều dân công, phương tiện vận chuyển được 5.254 tấn gạo, 54 tấn muối, 5 tấn thịt, 12 tấn thực phẩm phục vụ chiến dịch. Những đóng góp trên thiết thực góp phần trực tiếp làm nên chiến thắng trong chiến dịch Thu Đông 1952 của quân và dân ta trên chiến trường Tây Bắc.


Chiến thắng Tây Bắc 1952 là một thắng lợi lịch sử có ý nghĩa quan trọng, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta tiến lên một bước mới: giữ vững và phát huy quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, đẩy địch lún sâu vào thế bị động chiến lược, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai, phá âm mưu thâm độc của thực dân Pháp lập "Xứ Thái tự trị", phá vỡ "bình phong" che chở cho địch ở Thượng Lào. Chiến thắng Tây Bắc 1952 còn là bài học lịch sử sâu sắc về phối hợp tác chiến trên chiến trường chính và vùng sau lưng địch.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Mười, 2025, 08:34:05 pm
QUÂN VÀ DÂN VIỆT BẮC VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC NĂM 1952

Trung tướng BẾ XUÂN TRƯỜNG
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Tư lệnh Quân khu I


Sau chiến dịch Hòa Bình, ta đã giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, Trung ương Đảng quyết định chọn hướng chiến lược lên Tây Bắc. Trước khi thực hành chiến dịch lớn, từ giữa năm 1952, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở đợt chỉnh huấn trong toàn quân. Các đơn vị chủ lực luân phiên ra vùng tự do trên địa bàn Việt Bắc để chỉnh huấn. Đầu tháng 9 năm 1952, với chủ trương tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc với quyết tâm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng Tây Bắc, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, giữ vững đường giao thông quốc tế Lào Cai - Vân Nam (Trung Quốc). Trong chiến dịch Tây Bắc, Liên khu Việt Bắc có nhiệm vụ bảo vệ vững chắc khu căn cứ địa của Trung ương và cung cấp sức người, sức của phục vụ chiến dịch. Tiến hành kế hoạch nghi binh, đẩy mạnh tác chiến vùng sau lưng địch. Mở rộng các khu căn cứ du kích, buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó, không thể chi viện cho hướng chính hoặc đánh ra vùng tự do; đồng thời tăng cường công tác địch vận, tiễu phỉ, phá tề, trừ gian, củng cố cơ sở dọc biên giới, tập trung ở vùng Lao - Hà (Lào Cai, Hà Giang), Lạng Sơn, Móng Cái (Quảng Ninh). Căn cứ vào nhiệm vụ trên giao, Bộ Tư lệnh liên khu đã xây dựng kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952-1953, dự kiến các tình huống và có phương án chiến đấu cụ thể, đặc biệt chú ý hai hướng địch có thể tiến công là Thái Nguyên và Bắc Giang.


Để bảo vệ căn cứ kháng chiến, bảo vệ cơ quan đầu não lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, các đơn vị chủ lực của liên khu và lực lượng vũ trang các địa phương Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang đã xây dựng, chuẩn bị chu đáo kế hoạch, dự kiến các tình huống, đề ra các phương án chiến đấu sát thực. Trước hết để làm trong sạch địa bàn, bảo đảm cho các đơn vị chủ lực bí mật cơ động từ căn cứ địa Việt Bắc ra tiền tuyến và cho lực lượng dân công vận chuyển tiếp tế cho chiến dịch, Bộ Tư lệnh liên khu đã chỉ đạo 4 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang và Tuyên Quang tổ chức tiễu phỉ trừ gian trong vòng 5 tháng liền. Kết quả, ta đã tiêu diệt hàng trăm tên và bắt được một số tên đầu sỏ, lực lượng còn lại rất hoang mang, dao động và rời đi nơi khác hoạt động, tai mắt của địch hầu như bị vô hiệu hoá. Chính vì vậy, chúng ta đã giữ được bí mật trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch. Như Bécna Phôn đã viết về tình hình chiến dịch như sau: "Các sư đoàn Việt Minh ngay trước mắt người Pháp đang Làm chủ trên không, đã vượt qua 180 dặm trong 6 tuần liền mà chẳng phải dùng đến một con đường bay hay một xe cơ giới nào...1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân.H.2006).


Trong xây dựng thế trận Chiến tranh nhân dân, Bộ Tư lệnh liên khu đặc biệt chú trọng thế cài xen kẽ giữa bộ đội chủ lực của liên khu và lực lượng vũ trang địa phương, nhằm chia địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt. Liên khu chỉ đạo các đơn vị, địa phương thực hiện một kế hoạch nghi binh lớn. Các trung đoàn 238, 246 đổi phiên hiệu là đại đoàn 316, 308, mở rộng địa bàn hoạt động khắp các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, phối hợp cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích tăng cường đánh địch trên nhiều hướng. Các đơn vị chủ lực của liên khu ngoài nhiệm vụ bảo vệ vững chắc căn cứ kháng chiến theo kế hoạch đã định, còn điều động một số đơn vị về các địa phương trọng điểm hỗ trợ lực lượng địa phương tiêu diệt các đồn bốt, ngăn chặn địch tiến công theo các phương án dự kiến.


Đầu tháng 10 năm 1952, Liên khu Việt Bắc đã hoàn thành việc triển khai nhiệm vụ cho các địa phương, đơn vị: Tiểu đoàn 181 thuộc Trung đoàn 246 và 1 đại đội của tỉnh Thái Nguyên hoạt động hỗ trợ các huyện Kim Anh, Đa Phúc, Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) đề phòng địch đánh lên Thái Nguyên. Tiểu đoàn 431 thuộc Trung đoàn 238 vượt đường 18 vào nam Bắc Ninh. Các tiểu đoàn 432, 433 thuộc Trung đoàn 238 đứng chân ở Việt Yên (Bắc Giang) sẵn sàng thay thế các đơn vị vùng hậu địch và để phòng địch đánh lên hướng tây Bắc Giang và đường 1. Bộ đội địa phương và dân quân du kích tỉnh Hải Ninh đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền ở vùng tam giác Bình Liêu, Đình Lập, Tiên Yên. Đặc khu Hòn Gai tổ chức hoạt động vũ trang ở Uông Bí, đầu mối đường 18. Tiểu đoàn 143 thuộc Trung đoàn 246 phối hợp bộ đội địa phương hữu ngạn sông Lô, hoạt động nghi binh làm giả Trung đoàn 88 của Đại đoàn 308, bí mật tiếp cận bàn đạp trên hướng chủ yếu chiến dịch tại Nghĩa Lộ. Những hoạt động nghi binh và làm nhiễu loạn tin tức đã góp phần đánh lạc hướng phán đoán của địch. Lo sợ ta tiến công đồng bằng Bộ chỉ huy Pháp vẫn phải bố trí một lực lượng đáng kể trong tổng số 32 tiểu đoàn cơ động tinh nhuệ để phòng thủ trên tuyến trung du.


Trong điều kiện địa bàn hoạt động rộng, việc bảo đảm thông tin liên lạc gặp nhiều khó khăn, Bộ Tư lệnh và các cơ quan phải phân tán hoạt động trên các hướng trọng điểm. Tư lệnh Lê Quảng Ba và đoàn cán hộ cơ quan kiểm tra và chỉ đạo tác chiến trên hướng Bắc Giang. Chính ủy Chu Văn Tấn và đoàn cán bộ cơ quan kiểm tra và chỉ đạo tác chiến trên hướng Vĩnh Phúc. Tham mưu trưởng Đoàn Thế Hùng cùng đoàn cán bộ cơ quan kiểm tra và chỉ đạo tác chiến trên hướng Bắc Ninh. Nhờ tổ chức chỉ huy và chỉ đạo chặt chẽ, quân và dân liên khu đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tác chiến Thu Đông 1952 - 1953, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng tham gia chiến dịch Tây Bắc. Khi Đại đoàn 308 nổ súng tiến đánh Phân khu Nghĩa Lộ mở màn chiến dịch, địch đã kéo các đơn vị cơ động lên Tây Bắc. Để đánh bại âm mưu, thủ đoạn của địch phối hợp với chiến trường chính, các lực lượng vũ trang liên khu đã tổ chức đánh địch ở nhiều nơi, xây dựng và phát triển thêm nhiều khu du kích tạo thế uy hiếp các tuyến đường phía bắc Hà Nội.


Tại Bắc Ninh, Bắc Giang, các đơn vị bộ đội địa phương dựa vào nhân dân tăng cường quấy rối, tiêu hao sinh lực dịch tại nhiều vị trí trên dọc các trục đường 18, 38, 13; đẩy mạnh phong trào "Lấn vành đai trắng". Các tiểu đoàn 432,433 thuộc Trung đoàn 238 của liên khu phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh mạnh vào các trung tâm chính trị, quân sự của địch ở Lạng Giang, Sen Hồ, Thái Đào, Ngô Khẽ, Võ Giàng, Cầu Do. Đầu tháng 12 năm 1952, Tiểu đoàn 20 pháo binh liên khu đưa súng cối vào sát thị xã Bắc Ninh, tập kích nhiều vị trí đóng quân của địch, diệt gần 100 tên, phá hỏng hai khẩu pháo 105mm và nhiều khí tài khác. Các phân đội nhỏ bộ đội địa phương cùng dân quân du kích chủ động tiến công tiêu diệt các tháp canh, đồn bốt bảo an nhỏ lẻ; tích cực chặn đánh địch ở các bốt đi lùng sục càn quét; phá tề trừ gian trong hậu địch. Giữa tháng 12 năm 1952, sau khi cố gắng vơ vét, thu gom được hai tiểu đoàn, có máy bay, pháo binh và 9 xe tăng yểm trợ, địch càn vào khu du kích Gia Lương. Lực lượng ta ở đây chỉ có 2 trung đội địa phương huyện và dân quân du kích vẫn chiến đấu kiên cường, đánh bật 8 đợt xung phong của giặc, diệt 72 tên. Nhiều khu du kích ở sau lưng địch được xây dựng và phát triển, nhất là ở các huyện Gia Lương, Thuận Thành, Gia Lâm, Từ Sơn (Bắc Ninh) và Lạng Giang (Bắc Giang). Nhiều đội du kích còn tổ chức vũ trang tuyên truyền vào các làng tề, móc nối gây cơ sở, xây dựng phong trào đấu tranh.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Mười, 2025, 08:35:37 pm
Tại Quảng Yên, Hải Ninh ngay trong ngày 14 tháng 10 khi chiến dịch Tây Bắc bắt đầu, Đại đội 908 và 911 đã tập kích tiêu diệt gọn 1 đại đội Bảo chính đoàn ở Đông Xá. Ngày 15 tháng 10, các đại đội 910, 911 và 923 đã tổ chức chống càn đạt hiệu quả tiêu diệt hơn 500 tên tại xã Văn Đức, Duy Linh, Duy Tân, Giang Hạ. Trong tháng 12, quân và dân các địa phương liên tục phục kích ở Đông Triều, Chí Linh, An Lạc, Văn Đức, Tân Dân, tiêu diệt quân địch và giải tán các hội tề, dõng ở Đông Triều, Đáp Khê, Phả Lại.


Khi đợt 1 chiến dịch Tây Bắc kết thúc, ngày 28 tháng 10, quân Pháp mở cuộc hành quân Loren gồm 3 binh đoàn với 20 tiểu đoàn bộ binh, lính thủy đánh bộ cùng cơ giới tiến đánh lên Phú Thọ. Cuộc hành quân nhằm phá hoại hậu phương chiến dịch, ngăn cản lực lượng của ta chi viện cho chiến trường Tây Bắc và thu hút lực lượng chủ lực của ta về ứng cứu. Tiểu đoàn 183 thuộc Trung đoàn 246 cùng Trung đoàn 36 thuộc Đại đoàn 308, Trung đoàn 176 thuộc Đại đoàn 316 được giao nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương cùng nhân dân liên tục tổ chức chặn đánh địch.


Từ ngày 8 đến ngày 25 tháng 11, chiến sự liên tiếp diễn ra trên địa bàn các huyện Phù Ninh, Lâm Thao. Ta tổ chức nhiều trận phục kích chặn đánh địch ở Chân Mộng, Năng Yên, Trạm Thản, trên đường từ Phù Ninh về Hạc Trì, địch thiệt hại nặng. Sau gần 18 ngày chiến đấu, ta đã tiêu diệt 1.800 tên, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, đến ngày 25 tháng 11 địch buộc phải rút khỏi Phú Thọ.


Tại Vĩnh Phúc, ngày 16 tháng 11, Tiểu đoàn 185 thuộc Trung đoàn 246 (liên khu) cùng lực lượng vũ trang địa phương tập kích tiêu diệt gọn địch ở Đồi Uy, phục kích tiêu diệt 90 tên khi chúng đưa quân từ Mán Tép sang ứng cứu. Từ ngày 16 đến ngày 22 tháng 11 năm 1952, Tiểu đoàn 426 (Thái Nguyên) phối hợp với Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 246 đã liên tiếp chặn đánh địch tiến công trên đường số 2 qua địa phận Vĩnh Phúc, đẩy lui nhiều đợt tấn công bằng xe tăng và bộ binh địch. Tổng kết lại, từ cuối tháng 11 đến hết tháng 12 năm 1952, các lực lượng vũ trang Vĩnh Phúc đã đánh 59 trận gồm chống càn, diệt viện, nhổ các vị trí địch, diệt và bắt gọi hàng trên 1.000 tên, phá 20 tháp canh, buộc địch phải thu hẹp phạm vi kiểm soát.


Ngoài công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, Bộ Tư lệnh Liên khu Việt Bắc đã chỉ đạo các tỉnh làm tốt công tác tổ chức, huy động nhân tài, vật lực cho chiến dịch. Công tác chuẩn bị huy động sức người, sức của bảo đảm cho chiến dịch được liên khu triển khai hết sức khẩn trương, sôi động. Nhờ tích cực, chủ động trong tuyên truyền, cổ động, vận động nhân dân; tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, nên chỉ trong thời gian ngắn, toàn liên khu đã huy động được 4.820 tấn lương thực, hàng trăm tấn thực phẩm, 258 con trâu, bò, hàng nghìn xe đạp thồ, 2 phà, 432 thuyền mảng. Các tỉnh trong liên khu đã huy động 76.000 lượt dân công tham gia đóng góp hàng trăm vạn ngày công để sửa chữa, mở rộng và làm mới hàng trăm kilômét đường giao thông từ Cao Bằng xuống Thái Nguyên sang Tuyên Quang, Yên Bái; tu sửa 20km đường sắt từ Yên Bái đến Mậu A; cải tạo, mở rộng bốn bãi tuyến vận tải thuỷ sông Hồng từ Phú Thọ - Đoan Hùng - Yên Bái - Mậu A, để vận chuyển kịp thời hơn 5.000 tấn lương thực, thực phẩm, 127 tấn đạn cho tiền tuyến. Trên hướng chính từ Yên Bái đến Phân khu Nghĩa Lộ đã có 24.840 dân công cùng hành quân theo bộ đội, đảm nhận vận chuyển trên 1.000 tấn lương thực, thực phẩm và hàng trăm tấn đạn, cứu thương, tải thương trực tiếp phục vụ cho các đơn vị chiến đấu (riêng đợt 1 của chiến dịch đã có 1.014 bộ đội bị thương). Trên tuyến đường tiếp tế từ Cao Bằng về Thái Nguyên sang Tuyên Quang đi Yên Bái, dân công hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn đã huy động hơn 60 vạn ngày công để tu sửa đường, làm đường vòng tránh Đèo Giàng và tham gia vận chuyển hàng hoá, bảo đảm giao thông vận chuyển kịp thời cho chiến dịch. Trên các cung chặng vận chuyển, đặc biệt là những đoạn đường phải tu sửa, làm mới từ Đèo Giàng đến Mỹ Vi, Chợ Mới đến Nà Cù, từ Bắc Kạn sang Tuyên Quang, từ Yên Bái lên Tây Bắc liên tục bị máy bay địch đánh phá ác liệt. Một số cầu, cống, ngầm, bến phà bị phá hỏng nhiều lần, gây ùn tắc giao thông hàng chục ngày. Lực lượng phòng không của các tỉnh, đã cùng dân công bám trụ kiên quyết đánh trả máy bay địch, làm giảm hiệu quá ném bom của chúng. Ngoài dùng hoả lực khống chế máy bay, các đơn vị còn tổ chức tốt việc nguỵ trang, mở nhiều đường vòng, tránh để nghi binh lừa địch, nhờ vậy đã tiết kiệm được 70% công sức của dân công, bảo đảm an toàn cho những đoàn quân cơ động ra tiền tuyến và dân công đi phục vụ chiến dịch.


Chiến dịch Tây Bắc kết thúc với kết quả đạt được vượt ngoài dự kiến. Trong chiến công chung, quân và dân Việt Bắc đã đóng góp một phần đáng kể đế chiến dịch giành thắng lợi. Hàng nghìn thanh niên trai tráng của Việt Bắc đã tình nguyện tòng quân, gia nhập các đại đoàn chủ lực để trực tiếp lên chiến trường Tây Bắc chiến đấu, trong số đó đã có nhiều người con ưu tú của núi rừng Việt Bắc đã hy sinh, cống hiến tuổi thanh xuân của mình để giải phóng Tây Bắc. Các tỉnh trên địa bàn Việt Bắc mặc dù còn khó khăn, thiếu thốn đã huy động tối đa sức người, sức của để chi viện cho tiền tuyến. Phối hợp với chiến trường Tây Bắc lực lượng vũ trang Liên khu Việt Bắc đã đánh 622 trận lớn nhỏ, diệt 2.270 tên, làm bị thương hàng nghìn tên khác, bắt và gọi hàng hơn 500 tên; thu và phá hủy nhiều vũ khí trang bị; phá 30 km đường giao thông, cất 109 km dây thông tin, bắn cháy 54 xe ô tô các loại, 11 xe tăng, thiết giáp, 1 ca nô, 1 phà. Trong chiến đấu, nhiều cán bộ, chiến sĩ dã dũng cảm, kiên cường, hy sinh vì quê hương, đất nước. Chỉ tính trong 3 tháng cuối năm 1952, lực lượng vũ trang liên khu có 126 đồng chí hy sinh, 114 đồng chí bị địch bắt, 58 đồng chí bị mất tích.


Nhân dân các dân tộc Việt Bắc vốn có lòng yêu nước nồng nàn, dù khó khăn gian khổ đến đâu vẫn không chùn bước, không quản hy sinh, một lòng một dạ theo Đảng, theo cách mạng, đóng góp sức người, sức của, tất cả cho tiền tuyến; thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững nền tự do và độc lập đó"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H 2009 tr 480 - 481). Nhân dân các dân tộc Việt Bắc thật xứng đáng là tấm gương sáng vì độc lập, vì tự do, xứng đáng với lời khen của Bác "Làm kiểu mẫu trong việc động viên nhân lực, vật lực, tài lực cho kháng chiến..."2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Sđd. tr.435).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Mười, 2025, 08:39:58 pm
Chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá về nghệ thuật chỉ đạo, điều hành và phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng của chiến tranh nhân dân, đặc biệt là về nghệ thuật tác chiến việc tổ chức bảo đảm, phối hợp hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng vũ trang và nhân dân trên khắp các chiến trường... Trong chiến dịch Tây Bắc, Liên khu Việt Bắc tuy không được xác định là chiến trường phối hợp sau lưng địch như Liên khu 3, nhưng những hoạt động bảo vệ an toàn căn cứ kháng chiến Trung ương, giữ bí mật trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch; nghi binh và tổ chức chiến đấu kìm chân, ngăn chặn, tiêu hao, tiêu diệt địch: huy động sức người, sức của bảo đảm mọi mặt cho tiền tuyến... đã góp phần to lớn cho chiến dịch toàn thắng. Những bài học rút ra từ hoạt động tác chiến của quân và dân Liên khu Việt Bắc trong chiến dịch Tây Bắc Thu Đông năm 1952 cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị để vận dụng vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


Thứ nhất: Phải xây dựng hệ thống căn cứ địa trên cơ sở khu vực phòng thủ vững chắc, tạo thành thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh.

Từ thực tiễn và vai trò của căn cứ địa Việt Bắc trong chiến tranh giải phóng cho thấy: không có chỗ đứng chân, không có căn cứ địa và khu giải phóng thì cách mạng không thể thành công, kháng chiến không thể thắng lợi. Trong kháng chiến, căn cứ địa rất được coi trọng; hệ thống căn cứ địa của các quân khu, chiến khu, liên khu trong cả nước được xây dựng và phát triển rộng khắp ở cả vùng rừng núi, trung du,đồng bằng và ven đô thị. Từ chỗ xây dựng cơ sở an toàn khu, giành quyền làm chủ ở rừng núi, ở nông thôn trên các địa bàn trọng yếu, ta còn xây dựng được các căn cứ ở đồng bằng, thậm chí ngay sau lưng địch. Căn cứ địa đã thực sự là hậu phương tại chỗ vững chắc, là nơi củng cố sức chiến đấu, là bàn đạp để tổ chức tiến hành các chiến dịch và bảo đảm tác chiến, thắng lợi.


Ngày nay, chúng ta đang sống trong hoà bình, nhưng vẫn luôn tiềm ẩn ngụy cơ chiến tranh. Trong tương lai, nếu chiến tranh xảy ra, chúng ta sẽ phải đối mặt với cuộc chiến tranh công nghệ cao, kẻ thù sẽ sử dụng những vũ khí, trang bị hiện đại, không gian chiến trường rộng mở, không xác định được rõ ràng đâu là tiền tuyến, đâu là hậu phương. Việc bảo toàn lực lượng và vũ khí trang bị, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân phải được đặt lên hàng đầu. Vì vậy, ngay từ thời bình, từ Trung ương tới địa phương, trên địa bàn của từng quân khu phải thường xuyên chăm lo xây dựng hệ thống căn cứ vững chắc, sẵn sàng đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đẩy mạnh xây dựng khu vực phòng thủ theo hướng cơ bản, liên hoàn, vững chắc, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, xây dựng kinh tế làm trung tâm, quốc phòng - an ninh làm trọng yếu; coi trọng việc kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Phát huy thế mạnh của từng địa phương, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh, tạo nền tảng bền vững trong khu vực phòng thủ, phát huy mọi tiềm năng, tạo ra mặt bằng tổng hợp vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng - an ninh. Các đơn vị chủ lực cần phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng; bổ sung hoàn thiện các kế hoạch, phương án phòng thủ. Các địa phương cần không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, điều hành quân lý của chính quyền, trình độ tham mưu của cơ quan quân sự và các ban, ngành, đoàn thể địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.


Thứ hai: Chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh làm nòng cốt của quốc phòng toàn dân và tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Nhiệm vụ cơ bản của lực lượng vũ trang là chiến đấu giành và giữ độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ nhân dân, Đảng và chế độ. Vì vậy, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, lực lượng vũ trang cũng phải được quan tâm, xây dựng vững mạnh, chú trọng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; bảo đảm có bản lĩnh vững vàng, luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, có sức chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu cao. Bộ đội chủ lực của quân khu là lực lượng cơ động tác chiến độc lập, hoặc hiệp đồng quân binh chủng, phối hợp với các lực lượng vũ trang tại chỗ để tiến hành các chiến dịch phòng ngự, phản công, tiến công tiêu diệt địch. Trong thời bình, các đơn vị chủ lực của quân khu cần biên chế gọn, có số lượng hợp lý, trang bị ngày càng hiện đại; tổ chức huấn luyện thuần thục, có trình độ kỹ, chiến thuật giỏi; sẵn sàng chiến đấu cao, có sức cơ động nhanh, thành thạo tác chiến trên các địa bàn, trong mọi điều kiện địa hình, thời tiết bằng các loại vũ khí có trong biên chế và được tăng cường. Bộ đội địa phương là lực lượng chủ yếu, nòng cốt trong hoạt động tác chiến giữ vững khu vực phòng thủ tỉnh, huyện. Vì vậy, phải xây dựng lực lượng bộ đội địa phương vững mạnh toàn diện thực sự là lực lượng chủ lực cơ động chiến đấu trên địa bàn đế làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân địa phương. Bộ đội địa phương phải có khả năng vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu độc lập tác chiến bảo vệ khu vực phòng thủ; có thể tăng cường phối hợp chiến đấu với chủ lực trong các chiến dịch phản công, tiến công trên địa bàn; khi có điều kiện tổ chức các trận đánh tập trung tiêu diệt lực lượng cấp tiểu đoàn, đại đội địch, chủ yếu là cấp đại đội.


Phải xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Lực lượng dân quân tự vệ phải được xây dựng, tổ chức bố trí đều khắp ở các điểm dân cư, được trang bị ngày càng tốt, được huấn luyện chu đáo, được dân nuôi dưỡng, bảo đảm tại chỗ và chiến đấu tại chỗ tốt theo phương châm làng giữ làng, xã giữ xã.


Thứ ba: Phải kết hợp chặt chẽ hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương với tác chiến của các đơn vị chủ lực.

Trong chiến tranh giải phóng, sự kết hợp hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương với tác chiến của bộ đội chủ lực rất được coi trọng kể cả phối hợp trực tiếp trên chiến trường chính và phối hợp gián tiếp ở chiến trường sau lưng địch. Sự phối hợp đó đã tạo ra một hình thức chiến tranh nhân dân với thế trận cài xen rất hiểm hóc có phản tuyến mà không phân tuyến, quân địch bị chia cắt, bao vây, bị tiến công từ mọi phía, buộc phải phân tán đối phó khắp mọi nơi, đông hoá ít, mạnh hoá yếu dẫn đến bị tiêu diệt. Trong tương lai nếu chiến tranh xảy ra, các hình thức tác chiến sẽ diễn ra trên nền tảng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố và thế trận chiến tranh nhân dân phát triển đã được chuẩn bị sẵn từ thời bình. Để tiêu hao, tiêu diệt địch giữ vững địa bàn, ngoài những trận đánh lớn có quy mô chiến lược, chiến dịch, chúng ta vẫn phải chú trọng tới tác chiến rộng khắp của lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn tác chiến chủ yếu và cả trên địa bàn phối hợp chiến đấu sau lưng địch. Phải tạo sự phối, kết hợp,hiệp đồng chặt chẽ mọi thành phần lực lượng, từ đó phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân cho tác chiến phòng thủ bảo vệ địa phương cũng như khi bộ đội chủ lực mở các chiến dịch và hoạt động tác chiến trên địa bàn. Hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương phải thống nhất với tác chiến của các đơn vị chủ lực theo một kế hoạch chung. Bộ đội chủ lực phải dìu dắt giúp đỡ, bồi dưỡng về trình độ kỹ chiến thuật, nâng cao khả năng tác chiến cho lực lượng vũ trang địa phương, tham gia phát động quần chúng, khi cần có thể phân tán một phần lực lượng làm nòng cốt cho phong trào Chiến tranh nhân dân. Lực lượng vũ trang địa phương cần đẩy mạnh các hoạt động thường xuyên, rộng khắp với quy mô nhỏ để quấy rối, phá hoại, kiềm chế địch, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân; mở các đợt hoạt động hoặc chiến dịch địa phương để thu hút, kìm chân lực lượng cơ động địch, tạo thế cho chủ lực tiến công tiêu diệt địch ở chiến trường chính, đồng thời phải hết sức tranh thủ thời cơ thuận lợi do các đòn tiến công của chủ lực tạo ra để đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở địa phương. Có như vậy, mới tạo được thế bao vây uy hiếp, căng kéo địch, tiêu hao, tiêu diệt địch rộng khắp, tạo điều kiện cho chủ lực đánh những đòn quyết định để kết thúc chiến dịch.


Thứ tư: Phải thường xuyên chăm lo xây dựng thế trận lòng dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội nhằm phát huy cao nhất mọi nguồn lực bảo đảm cho nhu cầu tác chiến.

Thực tế trong chiến tranh giải phóng cho thấy, hậu phương vững chắc nhất là lòng dân, trước hết phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, phải có sự giúp đỡ, ủng hộ của dân mới bền vững lâu dài. Mặc dù điều kiện kinh tế lúc bấy giờ rất khó khăn, nhưng do làm tốt công tác xây dựng cơ sở chính trị, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân ngay từ thôn bản; có sự tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, nên trong từng chiến dịch cũng như suốt cả quá trình kháng chiến, nhân dân cả nước nói chung và nhân dân các dân tộc Việt Bắc nói riêng đã huy động đến mức cao nhất nhân tài vật lực cho nhu cầu tác chiến theo tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Có thể khẳng định: biết dựa vào dân, huy động được sức mạnh của toàn dân thực hiện Chiến tranh nhân dân rộng khắp trên cơ sở lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy vũ khí kém hiện đại để thắng hiện đại là điều cơ bản, quyết định để dân tộc ta đánh thắng kẻ thù.


60 năm đã qua, các thế hệ con cháu chúng ta không ai có thể quên được những công lao to lớn mà nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã đóng góp cho thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ nói chung và chiến dịch Tây Bắc nói riêng. Phát huy truyền thống cách mạng, quân và dân Việt Bắc - Quân khu 1 sẽ luôn thấm nhuần sâu sắc những bài học được rút ra từ xương máu của các thế hệ đi trước và vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện mới, không ngừng phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, góp phần cùng toàn Đáng, toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:28:09 pm
QUÂN VÀ DÂN LIÊN KHU 4 VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC NĂM 1952

Trung tướng NGUYỄN HỮU CƯỜNG
Tư lệnh Quân khu 4


Sau chiến dịch Biên Giới Thu Đông năm 1950 và nhất là sau chiến dịch Hòa Bình đầu năm 1952, cục diện chiến tranh trên chiến trường cả nước thay đổi, ta chuyển sang giai đoạn chủ động phản công, tiến công địch trên các chiến trường, buộc địch càng lún sâu vào thế bị động, phòng ngự. Bộ chỉ huy Pháp ở Đông Dương chủ trương tập trung lực lượng cơ động chiến lược để đối phó với phong trào chiến tranh du kích đang phát triển mạnh ở khắp các vùng địch tạm chiếm. Ngoài ra, chúng ra sức củng cố, chiếm giữ vùng rừng núi Tây Bắc còn lại - một địa bàn chiến lược quan trọng để mở rộng chiến tranh ở Lào, nhằm ổn định tình hình, thoát khỏi thế bị động. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, quân và dân ta đã mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc nhằm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, mở rộng và củng cố khu căn cứ địa, nối liền Tây Bắc với vùng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh và Việt Bắc,góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dânPháip phát triển lên một giai đoạn mới mang tính quyết định.


Liên khu 4 thời kỳ này có vùng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh và tiền tuyến Bình - Trị - Thiên. Quân và dân Thanh - Nghệ - Tĩnh vừa chiến đấu bảo vệ hậu phương, vừa đóng góp sức người, sức của chi viện cho chiến trường chính Bắc Bộ, tiền tuyến Bình - Trị - Thiên và chiến trường Lào. Bình - Trị - Thiên kiên cường bám trụ, chiến đấu giữ đất, giành dân, phá tề, thu hút, phân tán lực lượng địch, tiêu hao, tiêu diệt địch, góp phần không nhỏ cùng cả nước giành thắng lợi hoàn toàn. Liên khu 4 được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá là "căn cứ địa vững chắc thứ hai của cả nước sau Việt Bắc". Trong chiến dịch Tây Bắc năm 1952, quân và dân Liên khu 4 đã vượt qua nhiều khó khăn, hy sinh, gian khổ, vừa huy động một lực lượng to lớn cả về sức người và sức của ở hậu phương chi viện cho chiến dịch, vừa tích cực chủ động chiến đấu, thu hút, phân tán lực lượng địch ở tiền tuyến đóng góp một phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.


Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy giao, tháng 5 năm 1951, Đại hội Đảng bộ liên khu đã đề ra hai nhiệm vụ chính của toàn liên khu là tiếp tục xây dựng lực lượng quân sự, tiêu diệt sinh lực địch và đẩy mạnh sản xuất, đặc biệt là sản xuất lương thực, bảo đảm cung cấp nhu cầu cho tiền tuyến, cải thiện dân sinh. Đối với hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, Đại hội nhấn mạnh: "Tiếp tục động viên nhân tài, vật lực phục vụ tiền tuyến, phục vụ chiến trường chính, chiến trường Bình - Trị - Thiên và Lào, cung cấp lương thực, dân công, cán bộ chiến sĩ...; đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm cung cấp cho tiền tuyến, xây dựng 3 tỉnh thành hậu phương vững chắc, bảo đảm cho kháng chiến lâu dài. Thanh - Nghệ - Tĩnh phải đảm nhiệm cả trước mắt và lâu dài nhiệm vụ cung cấp phần lớn nhân lực và vật lực cho Quân đội, nên việc đẩy mạnh sản xuất ở Thanh - Nghệ - Tĩnh là tối quan trọng".


Sau chiến dịch Quang Trung, tháng 6 năm 1951, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái vào kiểm tra tình hình và giao nhiệm vụ cho Liên khu 4. Đại tướng chỉ rõ Liên khu 4 có vị trí và vai trò rất quan trọng, một mặt vẫn tiếp tục đẩy mạnh tác chiến ở Bình - Trị - Thiên, mặt khác "Liên khu vừa phải tập trung sự nỗ lực cao nhất xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương Thanh - Nghệ - Tình, vừa sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho chiến trường chính Bắc Bộ, cho các chiến trường Binh - Trị - Thiên, Tây Bắc và Thượng Lào". Triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao, Liên khu ủy đã xác định quyết tâm, động viên quân và dân toàn liên khu đoàn kết, khắc phục khó khăn, gian khổ, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp, vừa xây dựng lực lượng đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, tiêu diệt sinh lực địch bảo vệ hậu phương, góp phần phân tán lực lượng dịch, vừa thi đua lao động sản xuất cả lương thực, thực phẩm và các loại hàng hóa chi viện cho các chiến trường mà trực tiếp là phục vụ cho chiến trường Tây Bắc.


Bước sang năm 1952, mặc dù ở trong thế bị động và buộc phải đối phó ở khắp nơi, song được Mỹ làm hậu thuẫn, thực dân Pháp vẫn ngoan cố chưa chịu từ bỏ ý đồ xâm lược.

Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, quân Pháp đã tiến hành hàng trăm cuộc hành quân càn quét, những cuộc càn quét này diễn ra ác liệt hơn cả về quy mô và cường độ đánh phá, chúng thi hành những chính sách tàn bạo như "phú sạch, đốt sạch, cướp sạch" để tiêu diệt lực lượng và khủng bố tinh thần của nhân dân ta. Cuộc đấu tranh ở Mặt trận Bình - Trị - Thiên diễn ra giằng co, quyết liệt, các lực lượng vũ trang đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, mở nhiều đợt hoạt động như tiến công địch ở Nam Đông (Thừa Thiên), Hà Thanh, Đông Hà (Quảng Trị), Bố Trạch, Quảng Trạch (Quảng Bình)... tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và củng cố thế đứng chân vững chắc cho ta, buộc quân Pháp phải thay đổi thế bố trí lực lượng, bổ sung thêm quân để đối phó, tăng cường càn quét, bắt lính hòng giành lại những vị trí đã mất và củng cố vùng đang chiếm giữ. Đây là một thắng lợi của quân và dân ta xét trên cục diện chiến trường cả nước, vì ta đã thu hút một lực lượng lớn quân Pháp ở Đông Dương, thực hiện chủ trương phân tán, dàn mỏng lực lượng địch để tiêu diệt. Bộ Tư lệnh Mặt trận Bình - Trị - Thiên chủ trương tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động quân sự phối hợp với chiến trường chính, nhiệm vụ trọng tâm là tiêu diệt sinh lực địch, kiềm chế quân ứng chiến, phá chính sách tổng động viên của địch, bảo vệ mùa màng và bảo đảm hoàn thành chỉ tiêu sản xuất lương thực.


Đối với vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, một địa bàn rộng lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với cả ta và địch, tuy nhiên do bị rơi vào thế bị động trên toàn chiến trường, nên quân Pháp khó có thể thôn tính được, nhưng chúng lại tăng cường thực hiện âm mưu phá hoại và càng đánh phá toàn diện hơn, hòng làm cho tiềm lực kinh tế kháng chiến của ta bị suy yếu, chúng cho máy bay ném bom phá hoại các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất như các đập nước, đê điều, kho tàng và các cơ sở kinh tế, quốc phòng như đập Bái Thượng ở Thanh Hoá, đập Ba Ra Đô Lương ở Nghệ An, cống Trung Lương ở Hà Tĩnh, làm cho 125.000 mẫu ruộng bị hạn hán, úng lụt. Đồng thời chúng cấu kết với bọn tay sai, phản động gây ra các vụ phản loạn ở Tràng Nứa, Xã Đoài (Nghệ An), Thạch Hà, Hương Khê (Hà Tĩnh), Ba Làng, Hòn Mê (Thanh Hoá)... và cho biệt kích đánh phá nhiều địa bàn phía tây và ven biển các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh. Thực hiện chủ trương của Đảng và Quân ủy Trung ương, Đảng bộ, chính quyền các cấp Liên khu 4 anh dũng, mưu trí chiến đấu, kiên quyết bảo vệ, xây dựng và củng cố hậu phương thành chỗ dựa vững chắc cho tiền tuyến, phát huy sức mạnh về quân sự, kinh tế, chính trị, nêu cao tinh thần cảnh giác, kịp thời đánh bại các hành động phá hoại của địch, củng cố vững chắc các tuyến phòng thủ ven biển và vùng biên giới.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:30:36 pm
Hưởng ứng phong trào chung của cả nước, từ cuối tháng 3 năm 1952, Liên khu 4 phát động cuộc vận động toàn dân hăng hái thi đua sản xuất, tiết kiệm chào mừng ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh với khí thế "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Nhân dân các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và vùng căn cứ du kích Bình - Trị - Thiên thi đua khắc phục mọi khó khăn, hăng hái lao động sản xuất, tăng năng suất lao động cả trồng trọt, chăn nuôi và sản xuất hàng hoá công nghiệp để đóng góp nhiều hơn cho kháng chiến. Cuộc đại vận động này diễn ra rất sôi nối, rộng khắp, đã thu hút hàng triệu đồng bào trong Liên khu 4 tham gia, đạt hiệu quả cao cả về bề rộng và chiều sâu, thu được nhiều lương thực, thực phẩm,hàng hóa tiêu dùng, nhờ đó nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến ngày càng được bảo đảm hơn cả về số lượng và chất lượng.


Cường độ đánh phá của địch vào hậu phương Thanh - Nghệ - Tinh và vùng tự do, vùng căn cứ Bình - Tri - Thiên diễn ra ngày càng ác liệt, giặc Pháp tiến hành "cuộc chiến tranh lúa gạo" hòng triệt phá nguồn lương thực, thực phẩm cho kháng chiến, chúng đánh nống ra các vùng, cắt đứt đường giao thông, chặn các con đường tiếp tế ra vào các khu căn cứ. Mặt khác, nhận thấy vị trí của hậu phương là nhân tố quyết định trong việc cung cấp sức người, sức của cho các mặt trận, nhất là trong việc phục vụ trực tiếp cho các chiến dịch lớn, giặc Pháp đã dùng máy bay ném bom, bắn phá hầu hết các công trình thuỷ lợi lùng sục, đốt phá các kho tàng để ngăn chặn nguồn tiếp tế của hậu phương Thanh - Nghệ -Tĩnh, gây đói kém để nhân dân giảm sút tinh thần chiến đấu.


Vượt lên trên tất cả những khó khăn, ác liệt, quân và dân ở hậu phương Liên khu 4 đã thể hiện sức sống mãnh liệt của lực lượng kháng chiến. Đảng bộ và chính quyền các cấp trong liên khu đã huy động hàng vạn lượt dân công tham gia chống thiên tai địch họa, khắc phục hậu quả chiến tranh, hàn gắn những đoạn đê, cầu cống xung yếu, sửa chữa các công trình thuỷ lợi, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất. Nông dân hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An thực hiện tiêu úng, cấy được 147.000 mẫu lúa, nông dân Hà Tĩnh đã đào được hàng nghìn mét mương tưới nước, cấy thêm được 4.143 mẫu lúa. Thiếu sức kéo, nhân dân các huyện Nghĩa Đàn, Diễn Châu, Anh Sơn, Hưng Nguyên đã cuốc hàng trăm mẫu đất để gieo cây.


Năm 1952 là năm đầu tiên thực hiện chính sách thu thuế nông nghiệp, cùng với cuộc vận động thi đua sản xuất, tiết kiệm, Liên khu 4 được Trung ương giao mức thuế nông nghiệp vụ chiếm xuân 1952 là 110.000 tấn thóc, tăng gấp 3 lần so với số lượng tạm thu cuối năm 1951. Nhận thức rõ trách nhiệm của hậu phương đối với tiền tuyến, Liên khu ủy đã phát động phong trào giao nộp thuế đủ và đúng thời hạn đã trở thành một phong trào thi đua yêu nước rộng rãi, các cấp bộ Đảng và chính quyền vận động nhân dân phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đối với sự nghiệp đánh giặc cứu nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế ủng hộ kháng chiến thành công, do vậy các tỉnh Thanh Hóa. Nghệ An đạt được 80-90% chỉ tiêu, riêng Hà Tĩnh sau 2 đợt tiến hành thu đã đạt 89% chỉ tiêu liên khu giao.


Song song với nhiệm vụ huy động đóng góp lương thực và các loại vật lực khác cho các chiến trường, Liên khu 4 đã huy động một lực lượng lớn sức người, sức của phục vụ cho chiến dịch tây Bắc, từ tháng 5 năm 1952, Khu ủy, Bộ Tư lệnh liên khu đã huy động trên 45.000 nhân công, 90 xe trâu bò kéo, 550 xe đạp thồ và 4 xe ô tô chạy bằng than của hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa; mở và sửa tuyến đường từ Thanh Hóa qua Hồi Xuân lên ngã ba Sang dài 190 km. Đây là lần đầu tiên liên khu sử dụng ô tô, xe đạp thồ vào việc vận chuyển phục vụ cho chiến dịch. Tháng 7 năm 1952, thực hiện quy định mới của Hội đồng Chính phủ, Liên khu ủy 4 thành lập Hội đồng Cung cấp mặt trận sau đó các tỉnh cũng thành lập Ban huy động dân công để huy động nhanh và nhiều nhất sức người, sức của cho chiến dịch.


Để đáp ứng yêu cầu về lực lượng cho chiến trường, tỉnh Nghệ An đã điều 3.852 tân binh và 7 đại đội bổ sung cho các mặt trận. Các tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh huy động 35.000 dân công cùng với các đơn vị sửa đường và vận tải hàng tiếp tế cho chiến dịch Tây Bắc. Riêng tỉnh Nghệ An, từ tháng 4 năm 1952 đã huy động 30.000 dân công làm nhiệm vụ vận tải từ hậu phương ra tiền tuyến, trực tiếp phục vụ hướng đường 41 từ Hòa Bình đi Sơn La, tỉnh đảm nhiệm vận chuyển 1.000 tấn lương thực cung cấp cho tiền phương và chuẩn bị 2.100 tấn lương thực để cung cấp cho dân công trong hai tháng. Đoàn dân công Nghệ An vượt qua nhiều khó khăn, vất vả và ác liệt để hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển được giao. Hai tháng liền xuyên rừng, lội suối, đạn, bom, bệnh tật nhưng cán bộ, chiến sĩ dân công đã vượt qua tất cả, bám sát đội hình chiến đấu của các đại đoàn chủ lực, vượt Suối Rút, qua đường 12 lên Mộc Châu, Cò Nòi, Hát Lót, Yên Châu, Ba Hang, Sơn La hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ chiến dịch.


Phong trào tuyển quân, đi dân công ở các địa phương trong toàn liên khu diễn ra rất sôi nổi, không ngừng tăng cường lực lượng cho các chiến trường. Năm 1950, liên khu có 20 vạn người đăng ký xung phong tòng quân, riêng Nghệ An, Hà Tĩnh có 12 vạn người, đến chiến dịch Tây Bắc có hàng vạn bộ đội, dân công là con em của đồng bào liên khu trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, mặc dù lực lượng vũ trang kháng chiến đã tiêu diệt được nhiều vị trí quan trọng ở bắc Quảng Bình, nam Thừa Thiên nhưng lực lượng địch vẫn còn nhiều và chúng thay đổi phương thức hoạt động mở nhiều cuộc hành quân càn quét với quy mô vừa và nhỏ đan xen, liên tục đánh sâu vào vùng căn cứ du kích nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng giành lại thế chủ động. Hè thu năm 1952, chúng liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân phản kích với quy mô lớn và dài ngày đánh vào các vùng căn cứ của ta, quân và dân Bình - Trị - Thiên đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, anh dũng chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn một vạn tên địch, bức rút trên 20 đồn bốt và 6 tháp canh, lực lượng vũ trang ba thứ quân được củng cố, phong trào chiến tranh du kích được củng cố và tiếp tục phát triển, phá âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của địch.


Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định chính thức mở chiến dịch Tây Bắc. Liên khu ủy 4 triệu tập hội nghị nhằm triển khai nhiệm vụ phối hợp với chiến dịch Tây Bắc, đề ra biện pháp đẩy mạnh hoạt động quân sự trên chiến trường Bình - Trị - Thiên cho phù hợp với tình hình mới, phát triển chiến tranh du kích, thu hút và tiêu hao sinh lực địch, hỗ trợ cho chiến trường chính và huy động cao nhất sức người, sức của của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh chi viện cho chiến dịch Tây Bắc. Các cấp ủy trong lực lượng vũ trang liên khu phát động phong trào thi đua giết giặc lập công và kìm giữ lực lượng quân ứng chiến, đẩy mạnh các hoạt động quân sự, chính trị và kinh tế, góp phần cùng với các chiến trường khác tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, cổ vũ nhân dân trong toàn liên khu phấn khởi tin tưởng vào thắng lợi, vượt qua tất cả mọi khó khăn, hăng hái tham gia kháng chiến.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:35:05 pm
Đáp ứng lời kêu gọi của Mặt trận Tây Bắc, hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh mặc dù cùng một lúc phải trực tiếp chi viện cho nhiều mặt trận: Bình - Trị - Thiên, Liên khu 5,chiến trường Lào, song chỉ trong một thời gian ngắn, đã tập trung triển khai nhiệm vụ chi viện hậu cần cho chiến dịch theo sự phân công của Bộ chỉ huy mặt trận, tổ chức nhiều đoàn dân công tiếp tế cho chiến dịch đạt và vượt chỉ tiêu, yêu cầu nhiệm vụ được giao. Tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa đã huy động tới 180.196 lượt dân công với trên ba triệu ngày công. Dân công đã phá đá mở đường và vận chuyển trên 20.000 tấn lương thực, thực phẩm lên Tây Bắc. Hai tỉnh đã huy động 9.350 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt cùng nhiều thực phẩm các loại. Trong điều kiện đường sá xa xôi, địa hình hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt, hàng vạn dân công đã cùng bộ đội bí mật mở đường, huy động các phương tiện hiện có cùng với gùi thồ, gồng gánh, vận chuyển hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm, vũ khí hoàn thành nhiệm vụ phục vụ chiến dịch.


Sau gần hai tháng chiến đấu (từ 14-10 đến 10-12-1952), chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi, quân và dân ta đã giải phóng đại bộ phận địa bàn Tây Bắc rộng 28.500 km2 với trên 25 vạn dân, mở rộng và củng cố căn cứ địa, tạo điều kiện cho các chiến trường trung du và đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục đẩy mạnh phản công, tiến công địch. Thắng lợi của chiến dịch đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần của quân và dân Liên khu 4. Quân và dân Thanh - Nghệ - Tĩnh tiếp tục củng cố hậu phương, chi viện cho tiền tuyến và xây dựng lực lượng chặn đánh các cuộc tập kích, phản kích của địch. Phong trào chiến tranh du kích ở Mặt trận Bình - Tri - Thiên tiếp tục được củng cố và phát triển, quân và dân ta vừa chủ động chống địch càn quét, bảo vệ nhân dân, vừa phân tán lực lượng tiêu diệt nhiều đồn hốt, phá vành đai trắng, mở rộng vùng tự do. Quân và dân Liên khu 4 tự hào đã vượt qua nhiều hy sinh, gian khổ góp phần quan trọng cùng với quân và dân cả nước anh dũng chiến đấu để chiến dịch Tây Bắc giành thắng lợi. Với những thành tích trực tiếp phục vụ chiến dịch Tây Bắc, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hóa vinh dự được Hồ Chủ tịch và Chính phủ tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Hai.


Với vai trò vừa là tiền tuyến, tổ chức xây dựng lực lượng, trực tiếp chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt sinh lực dịch, vừa là hậu phương chi viện cho các chiến trường, chỉ trong một thời gian ngắn, quân và dân Liên khu 4 đã huy động được một số lượng lớn cả về nhân lực, vật lực chi viện cho chiến dịch Tây Bắc góp phần không nhỏ vào thắng lợi của chiến dịch, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đã được vận dụng thành công trong những năm cuối của kháng chiến chống thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay:


Một là, thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vận dụng sáng tạo đường lối chính trị, quân sự của Đảng vào thực hiện nhiệm vụ trên giao. Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, hướng nhân dân một lòng, một dạ đi theo Đảng, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một trong những nhân tố hàng đầu, quyết định mọi thắng lợi.


Hai là, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, trước hết là thế trận lòng dân phải không ngừng được củng cố và ngày càng vững chắc; bảo đảm vừa chiến đấu, phục vụ chiến đấu; vừa sản xuất, củng cố xây dựng tại chỗ và chi viện kịp thời cho các hướng chiến trường.


Ba là, xây dựng và không ngừng củng cố hậu cần liên khu ngày càng vững mạnh, hình thành thế trận hậu cần rộng khắp đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; huy động nguồn lực tổng hợp của toàn quân và toàn dân để phục vụ chiến dịch.


Bốn là, xác định đúng vai trò, vị trí của địa bàn là hậu phương chiến lược của cả nước, nơi tập trung nhân tài, vật lực; có khi là bàn đạp xuất phát tiến công của các lực lượng trong các chiến dịch, trên các hướng chiến trường. Do đó phải thường xuyên quan tâm xây dựng căn cứ địa cách mạng, căn cứ hậu cần chiến lược để luôn luôn chủ động, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ trên giao.


Suốt chặng đường đấu tranh đầy gian khổ, hv sinh của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đặc biệt là trong những năm cuối của cuộc kháng chiến, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta dốc sức, dốc lòng, huy động toàn bộ lực lượng để giáng những đòn quyết định trong các chiến dịch nối tiếp nhau từ năm 1952 đến năm 1954 và đi đến thắng lợi cuối cùng trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ; quân và dân Liên khu 4 vinh dự, tự hào được Đáng, Bác Hồ tin tưởng giao nhiệm vụ và đã hoàn thành xuất sắc vai trò vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương chiến lược của cả nước, góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:39:43 pm
QUÂN VÀ DÂN THANH HÓA VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá ĐẶNG TRỌNG QUÂN
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa


Với vị thế cửa ngõ vùng tự do, phía Bắc giáp với chiến trường Bắc Bộ, trên hành lang chiến lược nối liền vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh với Tây Bắc thủ đô kháng chiến, Thanh Hóa vừa là căn cứ địa vừa là chiến trường. Do vị trí giáp ranh với chiến trường nên Thanh Hóa luôn ở vào tình trạng có thể xảy ra chiến sự và thường xuyên bị địch ném bom, bắn phá, tiến hành các hoạt động phá hoại bằng gián điệp, hoặc gây dựng các ổ nhóm phản động. Tình hình đó đã đặt ra trước Đảng bộ, quân và dân Thanh Hóa cùng một lúc hai nhiệm vụ hết sức nặng nề là: đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội để nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, cung cấp sức người, sức của cho kháng chiến. Trong chiến dịch Tây Bắc, quân và dân Thanh Hóa đã có những đóng góp đáng kể, cụ thể, Trung ương giao cho Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh và Liên khu 3 cùng tập trung chi viện sức người sức của cho chiến trường chính.


Trước khi bước vào thực hiện nhiệm vụ vận chuyển phục vụ chiến dịch Tây Bắc, tháng 5 năm 1952, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu 4 đã huy động trên 45.000 nhân công, 90 xe trâu bò kéo, 550 xe đạp thồ và xe ô tô chạy bằng than của Nghệ An và Thanh Hóa mở, sửa tuyến đường từ Thanh Hóa qua Hồi Xuân lên ngã ba Sang dài 190km. Đây là lần đầu tiên liên khu sử dụng ô tô, xe đạp thồ vào việc mở đường và phục vụ cho chiến dịch1 (Lịch sử hậu cần lực lượng vũ trangQuân khu 4, Nxb Quân đội nhân dân, tr 139).


Trước yêu cầu của chiến dịch, Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương (do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo thành lập ngày 15-7-1950, là tổ chức đầu tiên, khai sinh cho các tổ chức thanh niên xung phong sau này), trong đó có lực lượng thanh niên xung phong Thanh Hóa hăng hái lên đường làm nhiệm vụ sửa chữa cầu đường, vận chuyển lương thực, thuốc men đạn dược ra mặt trận.


Tổng kết 3 tháng phục vụ chiến dịch Tây Bắc, nhiều tập thể, cá nhân thanh niên xung phong được khen thưởng. Liên phân đội Tô Hiệu được thưởng Huân chương và Cờ thi đua khá nhất của Hồ Chủ tịch. Liên phân đội 3 (trong đó có rất nhiều thanh niên xung phong Thanh Hóa) có nhiều thành tích phá bom nổ chậm, bảo đảm giao thông được thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng Ba và được mang tên Hăngri Mactanh - người thanh niên Pháp tiêu biểu đã anh dũng đấu tranh phán đối cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam2 (Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Thanh Hóa thời kỳ 1945-1954, Nxb Thanh Hóa, tr 440).


Một trong những nhiệm vụ cực kỳ quan trọng mà cũng là thành quả to lớn mà quân và dân Thanh Hóa đã đóng góp cho chiến dịch là hoàn thành xuất sắc công tác hậu cần,công tác vận chuyển lương thực, thực phẩm, hàng hóa và vũ khí... trong đó lực lượng dân công là nòng cốt; đã cung cấp cho chiến dịch 99.897 dân công dài hạn và 41.703 dân công ngắn hạn, chiếm 70% số dân công của toàn chiến địch. Trong thời gian đầu, việc huy động dân công gặp rất nhiều khó khăn, bọn phản động chui vào các đoàn dân công ngấm ngầm kích động những người kém giác ngộ bỏ ngũ nhằm phá kế hoạch phục vụ chiến dịch. Nhưng cán bộ lãnh đạo, chỉ huy dựa vào quần chúng nhân dân, cùng với các chiến sĩ công an đã nhanh chóng phát hiện phá tan âm mưu của chúng. Công tác giáo dụcchính trịtư tưởng, tuyên truyền thi đua, bảo đảm vật chất, chăm sóc sức khỏe được tiến hành chặt chẽ, vì thế, phong trào xung phong đi dân công phát triển rầm rộ trong các ngành và đoàn thể quần chúng. Thanh niên rèn luyện sức khỏe để được đi dân công, hoãn cưới hỏi đế kịp đi chiến dịch. Các đoàn dân công hăng hái, phấn khởi lên đường, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong thực hiện nhiệm vụ, đoàn dân công tiếp vận của Thanh Hóa luôn hoàn thành và vượt mức kế hoạch trên giao, được Bác Hồ tặng cờ "Phục vụ tiền tuyến khá nhất".


Để động viên kịp thời đội ngũ dân công tham gia chiến dịch, chính quyền các cấp và các tổ chức đoàn thể đã tạo điều kiện cho lực lượng dân công hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, động viên khuyến khích nhân dân trong tỉnh tích cực ủng hộ vật chất cho những người đang trực tiếp làm nhiệm vụ. Nhân dân ở hậu phương đã nêu cao tinh thần đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Toàn tỉnh đã giúp những gia đình có người đi dân công hỏa tuyến hàng chục nghìn công tát nước, cấy hàng nghìn mẫu ruộng và hoa màu. Đây chính là nguồn động viên khích lệ vô cùng to lớn của nhân dân Thanh Hóa dành cho lực lượng dân công tỉnh nhà, những người có "bước đi vạn dặm, vai vác ngàn cân" góp phần làm nên thắng lợi to lớn của chiến dịch Tây Bắc.


Khẳng định Thanh Hóa là kho người, kho của vùng bắc Trung Bộ, là nơi phát tích dân công hỏa tuyến với xe thồ huyền thoại, đồng thời là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm lớn cho các mặt trận quả không sai. Đợt 1 của chiến dịch Tây Bắc, Thanh Hóa đã huy động gần 2 vạn dân công vận chuyển 2.000 tấn gạo từ Vạn Mai qua Suối Rút (sở chỉ huy hậu cần chiến địch phía tây nam) theo đường Xồm Lồm - Cò Nòi lên Mộc Châu (Tây Bắc)1 (Lịch sử hậu cần lực lượng vũ trang Quân khu 4. Nxb Quân đội nhân dân. tr. 138-139). Với thành tích này, Hồ Chủ tịch và Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Hai cho Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa.


Đợt 2 của chiến dịch, chiến trường mở rộng, công tác vận chuyển khó khăn hơn nhiều, nhất là trên tuyến chủ yếu. Từ hữu ngạn sông Hồng qua đèo Khâu Vác vào Nậm Mười, đường rừng núi nhỏ hẹp, nhiều suối, nhiều dốc. Trời liên tục đổ mưa, sông, suối ngập nước gây cản trở cho việc đi lại. Trong khi đó, lực lượng hành quân của gần 2 đại đoàn và các đơn vị binh chủng đã hơn 20.000 người. Số lượng người di chuyển đông, lại có cả pháo binh mang vác nặng nề, cồng kềnh, di chuyển trên một tuyến đường độc đạo nên tình trạng ùn tắc xảy ra thường xuyên. Công tác tải lương vì thế cũng không hoàn thành đúng tiến độ, làm cho khẩu phần của bộ đội bị giảm sút nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định bỏ tuyến vận chuyển Khâu Vác, huy động dân công gấp rút sửachữa đường 13, nối thông từ Phú Thọ lên... Đồng thời, đường 14 từ Hồi Xuân (Quan Hóa - Thanh Hóa) lên Xồm Lồm cùng được sửa chữa để vận chuyển gạo từ Thanh Hóa, Nghệ An ra. Lúc này, Ban cán sự đường 41 (do một đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, đại diện Tổng cục phía Nam, làm Trưởng ban) đã huy động được từ Thanh Hóa và Ninh Bình 5.254 tấn gạo. Trong quá trình vận chuyển, nhận thấy việc gồng gánh trên đường đèo dốc ít hiệu quả mà lại tốn nhiều sức lực, dân công Thanh Hóa đã có sáng kiến dùng xe đạp thồ thay quang gánh. Nhờ đó, mức vận chuyển tăng lên gấp 5 đến 10 lần so với việc sử dụng quang gánh. Từ sau chiến dịch Tây Bắc cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, xe đạp thồ đã trở thành một phương tiện vận chuyển quan trọng1 (Trích dẫn theo Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6/2012, tr. 43). Theo Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, chỉ riêng chiến dịch Tây Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An và một sốđịa phương khác đã cung cấp cho chiến dịch 9.350 tấn gạo, 164 tấn muối, 71 tấn thực phẩm...


Có được sự đóng góp to lớn và có tính quyết định nêu trên chính là vì trong suốt những năm tháng kháng chiến lâu dài, gian khổ, Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể cùng quân và dân Thanh Hóa đã xây dựng tỉnh nhà thành một căn cứ hậu phương chiến lược, có nền kinh tế kháng chiến phát triển, đặc biệt là về sản xuất nông nghiệp, có sự nghiệp văn hóa, giáo dục ngày càng được coi trọng, củng cố và nâng cao. Điều đó được thể hiện ngay từ đầu kháng chiến, đặc biệt từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào thi đua ái quốc, hoạt động sản xuất trên tất cả các lĩnh vực được đẩy mạnh, nhất là sản xuất nông nghiệp.


Ở nông thôn dấy lên phong trào tăng gia sản xuất lương thực, thực phẩm không chỉ đủ ăn mà còn góp phần nuôi quân tại chỗ và cung cấp cho các chiến trường. Với khẩu hiệu "Tất cả để chiến thắng, sản xuất là hàng đầu", nông dân suốt ngày đêm lăn lộn trên đồng ruộng, làm thay phần việc cho người đi bộ đội, đi dân công phục vụ hỏa tuyến. Phụ nữ sản xuất thay chồng con đi chiến đấu. Phong trào sản xuất tiết kiệm đã thấm sâu vào tiềm thức của quần chúng. Từ năm 1952, cuộc "Đại vận động sản xuất và tiết kiệm", tăng năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật, học tập chiến sĩ thi đua nông nghiệp Trịnh Xuân Bái được phát động rầm rộ khắp các địa phương, xí nghiệp. Các đơn vị bộ đội, dân quân tự vệ thành lập các trại sản xuất để tự túc một phần lương thực, thực phẩm, góp phần quan trọng xây dựng tiềm lực kinh tế và chi viện đắc lực cho chiến trường đánh thắng. Và trên hết, lòng yêu nước, quyết tâm kháng chiến của bộ đội, các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc Thanh Hóa chính là động lực tạo nên sức mạnh, tạo ra khối lượng của cải vật chất vô cùng lớn để đóng góp vào thắng lợi của cả nước nói chung, chiến dịch Tây Bắc nói riêng.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:43:10 pm
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH YÊN BÁI
THAM GIA CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH YÊN BÁI


Yên Bái là tỉnh miền núi ở phía tây bắc của Tổ quốc, nằm sâu trong căn cứ địa Việt Bắc, cách Thủ đô Hà Nội 180km. Phía bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía đông giáp tỉnh Tuyên Quang, phía nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu. Yên Bái có một vị trí địa lý quan trọng mà lịch sử hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Từ xa xưa Yên Bái đã nổi tiếng là mảnh đất trù phú và tươi đẹp với những con người cần cù, trung hậu dũng cảm và giàu lòng yêu nước, có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất. Với diện tích tự nhiên là 6.899,49 km2; dân số trên 75 vạn người, Yên Bái gồm 30 dân tộc anh em cùng chung sống với nhau từ lâu đời.


Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, dưới ách thống trị của chúng, nhân dân Việt Nam nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng không cam chịu nô lệ, liên tiếp vùng dậy cầm vũ khí để giải phóng dân tộc. Một trong những chiến thắng tiêu biểu mở toang cánh cửa vào Tây Bắc, tạo bàn đạp cho quân và dân ta tiến vào giải phóng Điện Biên Phủ năm 1954 đó là chiến thắng Nghĩa Lộ ngày 18 tháng 10 năm 1952:


Nghĩa Lộ là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng thuộc vùng cửa ngõ phía Đông đi vào vùng Tây Bắc của Tổ quốc. Là một địa danh không những có truyền thống lịch sử và bản sắc văn hóa dân tộc đậm nét mà còn có truyền thống yêu nước và cách mạng. Tiêu biểu là cuộc chiến đấu chống giặc Cờ Vàng do thủ lĩnh Cầm Hãnh đứng đầu và cuộc kháng chiến chống Pháp do Tuần phủ Nguyễn Quang Bích lãnh đạo, cùng các nghĩa quân đã lấy Nghĩa Lộ - Mường Lò làm căn cứ chiến đấu, anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược vào những năm cuối thế kỷ XIX.


Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, xác định Nghĩa Lộ có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực miền núi Tây Bắc, thực dân Pháp đã tăng cường lực lượng chiếm đóng, đẩy mạnh xây dựng bộ máy cai trị tay sai của chúng ở vùng đất này. Đến tháng 10 năm 1947, sau khi hoàn thành đánh chiếm lại Nghĩa Lộ (lần 2), thực dân Pháp đã khôi phục ngay hệ thống cai trị của chúng, xây dựng Nghĩa Lộ trở thành phân khu quân sự mạnh nhất trong 4 phân khu của địch án ngữ cửa ngõ phía Đông vùng Tây Bắc. Phân khu Nghĩa Lộ gồm 4 tiểu khu là Nghĩa Lộ, Ba Khe, Gia Hội, Than Uyên; Tiểu khu Nghĩa Lộ là nơi đặt sở chỉ huy phân khu của địch có hệ thống đồn bốt đày đặc, sân bay, hầm ngầm kiên cố với cứ điểm Nghĩa Lộ phố và cứ điểm Pú Chạng (Nghĩa Lộ đồi) bao quát thung lũng Mường Lò với gần 1.000 quân chiếm giữ.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Tỉnh ủy Yên Bái, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thà hy sinh tất cá chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Đảng bộ huyện Văn Chấn đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ - Văn Chấn nhất tề đứng dậy đi theo Đảng, Bác Hồ xây dựng cơ sở cách mạng, phát triển phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở khắp vùng thấp, vùng cao trong huyện.


Trong bối cảnh đó, đầu tháng 10 năm 1951, bộ đội chủ lực của ta đã mở chiến dịch Lý Thường Kiệt. Từ ngày 1 tháng 10 đến đêm 9 tháng 10 quân ta liên tiếp tấn công địch ở Bản Tú, đồn Nghĩa Lộ và đồn Cửa Nhì, làm cho địch tổn thất rất nặng nề. Bộ đội ta đã tiêu diệt và bắt sống gần 2 tiểu đoàn địch, thu nhiều vũ khí quân trang, quân dụng; mở rộng vùng địch hậu, nối lại các cơ sở từ Ca Vịnh, Ba Khe vào Nghĩa Lộ.


Đầu năm 1952, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn mới, có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Trên cơ sơ so sánh lực lượng và đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, với quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng Tây Bắc, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, giữ vững đường giao thông quốc tế Lào - Vân Nam (Trung Quốc), tạo điều kiện phát triển cách mạng Lào. Đợt 1 sẽ tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, giải phóng Nghĩa Lộ; đợt 2 sẽ nhanh chóng tiến sang Sơn La, cô lập làm rối loạn hậu phương của địch.


Theo kế hoạch của Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Bắc, để chuẩn bị cho chiến dịch mở màn, các lực lượng vũ trang huyện Văn Chấn, Trấn Yên cùng các đại đội 85, 87, 97 của tính vừa trinh sát đánh địch vừa bảo vệ các đường liên lạc vào vùng địch như đường 13, đường từ Mậu A qua đèo Khâu Vác. Nhân dân tỉnh Yên Bái đã cung cấp cho mặt trận 730 tấn gạo, 662 con trâu, bò, 386 con lợn, 72 tấn muối, 16 tấn đậu, lạc, vừng, đóng góp 1.000 dân công đi một tháng, 2.312 dân công đi trong 7 ngày. Tổ chức phục hồi đoạn đường xe lửa từ Yên Bái đi Lang Thíp, khai thông 100 km đường từ chợ Hiên vào Nghĩa Lộ trong hoàn cảnh địch đánh phá dữ dội (122 tấn bom nổ ngay, 12 tấn bom nổ chậm). Khai thác hàng nghìn mét khối gỗ, phá hơn 3 vạn khối đất đá, làm và bảo vệ đường vận tải cho chiến dịch. Vận chuyển 47.309 tấn hàng qua sông Hồng, huy động 430 thuyên, mảng để chở bộ đội, chở pháo sang sông.


Trung đoàn 88, 102, Đại đoàn 308 - đại đoàn quân chủ lực đầu tiên của quân đội ta, từ bến vượt theo đường Đại Bục, Khâu Vác vào vị trí xuất phát tấn công Nghĩa Lộ; Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 từ bến vượt qua đèo Bụt tiến sát Cửa Nhì. Trung đoàn 209, 165 Đại đoàn 312 bao vây Gia Hội. Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 vào Sài Lương chuẩn bị chiến đấu.


Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc bắt đầu. Để tạo thế và lực cho mũi tiến công chính vào các cứ điểm kiên cố của Phân khu Nghĩa Lộ, Trung đoàn 141 (Đại đoàn 316) tiến công vị trí Sài Lương, Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) tiến công đồn Ca Vịnh. Địch vội vàng rút quân khỏi các đồn Thượng Bằng La, Ba Khe ve cứu ngụy cho Nghĩa Lộ.


17 giờ 5 phút ngày 17 tháng 10, bộ đội ta bắt đầu tiến công vào cứ điểm Nghĩa Lộ. Trung đoàn 102 Đại đoàn 308 tiến công cứ điểm Pú Chạng (tức Nghĩa Lộ đồi) - Nơi đặt sở chỉ huy phân khu của địch. Sau hơn 3 giờ chiến đấu ác liệt, quân và dân ta đã hoàn toàn làm chủ cứ điểm này tiêu diệt và bắt 400 tên địch, trong đó có tên quan tư Tiriông, chỉ huy trưởng phân khu, thu toàn bộ vũ khí quân trang, quân dụng.


3 giờ 5 phút sáng ngày 18 tháng 10, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 nổ súng tiến công cứ điểm Nghĩa Lộ phố. Địch dựa vào hầm ngầm, lô cốt kiên cố điên cuồng chống cự nhưng với sức tiến công mạnh mẽ, áp đảo, chỉ sau 2 giờ 20 phút chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt và bắt toàn bộ 280 tên địch, thu nhiều vũ khí chiến lợi phẩm. 5 giờ 30 phút ngày 18 tháng 10, sau 12 giờ chiến đấu ác liệt hai cứ điểm kiên cố nhất của Phân khu Nghĩa Lộ đã bị xóa số. Đêm 18 tháng 10 năm 1952, quân ta tiếp tục tiến công vị trí Cửa Nhì, tiêu diệt và bắt gần 250 tên địch. Bọn địch ở Gia Hội vội rút lên Tú Lệ và tháo chạy sang Sơn La. Bộ đội Sư đoàn 312 bám sát truy kích địch, tiêu diệt và bắt giữ gần 400 tên. Nghĩa Lộ và các xã trong huyện Văn Chấn được hoàn toàn giải phóng.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:45:20 pm
Chiến dịch Tây Bắc mở màn thắng lợi, Nghĩa Lộ, Văn Chấn và tỉnh Yên Bái được giải phóng hoàn toàn khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Chiến thắng Nghĩa Lộ có ý nghĩa hết sức to lớn: Đã đập tan mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ sông Đà của địch, mở thông đường vào Tây Bắc, nối liền với căn cứ địa Việt Bắc; làm tiền đề thuận lợi cho các chiến dịch tiếp theo; tạo thế và lực cho trận quyết chiến, quyết thắng ở Điện Biên Phủ sau này.


Chiến thắng Nghĩa Lộ là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là sức mạnh cả về ý chí, tinh thần và vật chất của một dân tộc khát khao độc lập, tự do, không cam chịu nô lệ. Chiến thắng Nghĩa Lộ là một mốc son trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ, huyện Văn Chấn nói riêng. Từ đây nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ và tỉnh Yên Bái được giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chế độ thực dân bao đời nay, làm thất bại âm mưu của địch hòng chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. Chiến thắng Nghĩa Lộ một sự kiện có ý nghĩa về chính trị, xã hội, quân sự, ảnh hưởng sâu rộng trong toàn tỉnh Yên Bái và các vùng lân cận.


Sau ngày quê hương được giải phóng, nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ đã phát huy truyền thống đoàn kết, khẩn trương bắt tay vào khôi phục, xây dựng, ổn định cuộc sống mới. Cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể được củng cố kịp thời lãnh đạo nhân dân thực hiện giảm tô, cải cách ruộng đất, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố xây dựng lực lượng vũ trang, đánh bại âm mưu gây phỉ, bạo động của địch, củng cố vững chắc vùng giải phóng, tiếp tục đóng góp to lớn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Văn Chấn, nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ hăng hái đi dân công tham gia mở đường 13A; vận chuyển hàng nghìn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm qua đèo Lũng Lô phục vụ chiến dịch. Nhiều thanh niên người Thái, Tày, Mường đã hăng hái lên đường tòng quân đánh giặc, hy sinh anh dũng góp phần to lớn cùng quân, dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam.


Ghi nhận những chiến công, đóng góp, cống hiến to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang thị trấn Nghĩa Lộ (nay là thị xã Nghĩa Lộ).


Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, cách mạng nước ta chuyển sang một giai đoạn mới, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục đấu tranh đòi hòa bình thống nhất Tổ quốc. Đảng bộ chính quyền và nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ tập trung sức phát triển kinh tế - văn hóa, củng cố xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thế, lực lượng vũ trang, đẩy mạnh công tác quốc phòng toàn dân, tiếp tục đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược mới của đế quốc Mỹ. Với khẩu hiệu "Tay cày, tay súng", quân và dân Nghĩa Lộ đã chiến đấu dũng cảm chống lại các trận ném bom phá hoại của máy bay Mỹ vào thị xã, bắn cháy 1 máy bay phản lực của Mỹ, góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta; hàng nghìn thanh niên Nghĩa Lộ đã lên đường tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu góp phần làm nên chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cùng cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.


Hiện nay, để tôn vinh chiến thắng Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái đã cho xây dựng cụm tượng đài chiến thắng Nghĩa Lộ và Nhà tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh trong chiến dịch giải phóng Nghĩa Lộ tháng 10 năm 1952, bên cạnh có Đài tưởng niệm các chiến sĩ cách mạng vượt ngục hy sinh tại Căng Nghĩa Lộ ngày 17 tháng 3 năm 1945. Ngày 27 tháng 9 năm 1966, Nhà nước đã ra Quyết định số 24/10/QĐ-VH xếp hạng di tích Căng và Đồn Nghĩa Lộ là cụm di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:50:16 pm
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 CHIẾN THẮNG MANG TẦM VÓC,
Ý NGHĨA CHIẾN LƯỢC

Đại tá, TS TRẦN VĂN THỨC
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp -
Viện Lich sử quân Sự Việt Nam


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), quân và dân ta trên khắp cả nước đã tổ chức và thực hiện 46 chiến dịch1 (Theo Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Tổng kết các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Nxb Quân đội nhân dân. H. 2000). Tính theo tuần tự thời gian, chiến dịch Tây Bắc năm 1952 là thứ 37, một chiến dịch tiến công quy mô lớn, trên địa bàn chiến lược quan trọng. Thắng lợi của chiến dịch này có ý nghĩa rất quan trọng cả về quân sự, chính trị và kinh tế, mang tầm vóc, ý nghĩa chiến lược, thế hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau đây:


1. Tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực, làm tan rã hệ thống phòng thủ của địch ở Tây Bắc.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) nói chung và từng chiến dịch cụ thể nói riêng, mục tiêu hàng đầu đặt ra đối với ta là tiêu hao sinh lực địch. Đồng thời với tiêu hao sinh lực địch, tuỳ theo yêu cầu đặt ra của từng chiến dịch cụ thể chúng ta thực hiện các mục tiêu khác. Chiến dịch Tây Bắc cũng vậy, một trong các mục tiêu chính là tiêu hao sinh lực địch.


Trải qua 3 đợt chiến đấu, mặc dầu trong đợt 3 đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thành công, nhưng về tổng thể chiến dịch Tây Bắc ta đã hoàn thành thắng lợi mục tiêu nói trên. Số lượng quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu là 6.029 tên trong đó có 1.005 tên bị tiêu diệt, trong số này có nhiều sĩ quan, binh lính Âu - Phi có "thâm niên" ở Tây Bắc, khá thông thạo phong tục tập quán, ngôn ngữ địa phương. Nhiều tiểu đoàn và đại đội địch bị xoá sổ, hoặc bị thiệt hại nặng, trong số này có các đơn vị lính nguỵ người địa phương - lực lượng đóng vai trò xung kích, cốt yếu để Pháp thực hiện chính sách "chia để tri", "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Thiệt hại vềquân số, tan rã của các đơn vị cấp tiểu đoàn, đại đội, trung đội, v.v. là một tổn thất lớn của địch, song lớn hơn là sự sụp đổ của các phân khu: Nghĩa Lộ, Lai Châu, Sông Đà, Sơn La và cả toàn khu độc lập Tây Bắc (Zone Autonome Nord Ouest - ZANO). Lực lượng quân địch còn lại ở thị xã Lai Châu và Nà Sản trở nên cô lập, Như vậy, trên thực tế tuyến phòng thủ của Pháp ở Tây Bắc đã bị phá vỡ hoàn toàn.


Cùng với thiệt hại về quân số, địch còn chịu nhiều thiệt hại về vũ khí trang bị. Trong số đó, ta thu được là phần lớn, có 2 khẩu pháo 105mm, 1 pháo 94mm, 1 pháo 75mm, 7 pháo 57mm, 65 súng cối, 33 trọng liên và đại liên. Theo ước tính thì số vũ khí ta thu được trong chiến địch này đủ để trang bị cho nhiều trung đoàn bộ đội ta. Số vũ khí này trở thành "gậy ông đập lưng ông", bộ đội sử dụng đánh địch ngay trong chiến dịch này và cho các chiến dịch sau.


Thành tích về tiêu hao sinh lực địch ở Tây Bắc và các chiến trường phối hợp đã đưa tổng số quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu trong Thu Đông 1952 lên tới 13.800 tên, làm trầm trọng hơn tình trạng thiếu hụt quân số của địch.


Tổn thất về lực lượng và vũ khí, phương tiện Chiến tranh tính toán được về số lượng, biểu thị qua các số liệu thống kê, song tác động tinh thần từ thất bại ở Tây Bắc đối với các cấp chỉ huy và binh lính địch, không tính được, nhưng rất lớn, để lại nhiều hậu quả, di chứng tức thì và về sau.


2. Giải phóng phần lớn đất đai, dân số trên địa bàn chiến lược quan trọng

Giải phóng đất đai, dân số là mục tiêu rất quan trọng đối với chiến dịch Tây Bắc, bởi đây là vùng có nhiều dân tộc thiểu số (Thái, Mông, Tày, Nùng, v.v.) sinh sống, lại ở vị trí tiếp giáp với Việt Bắc - căn cứ địa kháng chiến của cả nước và vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh đang án ngữ đường giao thông liên lạc với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và các tỉnh vùng Thượng Lào.


Tây Bắc là địa bàn có vị thế chiến lược quan trọng trên nhiều phương diện, song cho tới mùa đông 1952, vùng này đang bị quân Pháp chiếm đóng toàn phần. Cùng với việc sử dụng lực lượng quân sự thiết lập hệ thống đồn bốt, chiếm đóng ở hầu hết các vị trí quan trọng, Pháp lập nên cái gọi là Xứ tự trị của người dân tộc thiểu số. Đó là "Xứ Thái tự trị" với 16 châu ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu và "Xứ Nùng tự trị", ở các châu phía tả ngạn sông Hồng thuộc tỉnh Lào Cai. Âm mưu lập các xứ tự trị của người dân tộc thiểu số là nhằm chia rẽ khối đoàn kết cộng đồng các dân tộc ít người và với người Kinh, thực hiện chính sách "chia để trị" "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Đứng đầu Xứ Thái tự trị là một Chúa xứ, kiêm tỉnh trưởng tỉnh Lai Châu. Phòng dân biểu xứ Thái với hơn 70 nghị viên. Tỉnh Sơn La và Phong Thổ có các tỉnh trưởng. Đứng đầu mỗi châu là một tri châu. Dưới chân là mường do các phía, tạo cai quản. Bên cạnh Chúa xứ và tỉnh trưởng có cố vấn người Pháp - người có thực quyền trong xứ và ở mỗi tỉnh. Toàn xứ có 3 tiểu đoàn Thái, do các sĩ quan Pháp trực tiếp chỉ huy và huấn luyện. Ngoài ra còn có các đơn vị vũ trang ở các châu, mường. Tham gia bộ máy chính quyền Xứ Thái tự trị, phần lớn là những người xuất thân từ tầng lớp khá giả, có địa vị. Nhân dân phải công nạp lương thực, thực phẩm, đàn ông có nghĩa vụ đi phu, đi lính. Các châu, mường, bản hàng tuần phải "cung cấp" chị em làm "vợ" cho binh lính ở các đồn bốt. Cùng với đó, chúng tuyên truyền đả kích Việt Minh, đưa lính dõng và bảo an ở địa phương này đi đàn áp, cướp phá ở địa phương khác, gây mâu thuẫn, hiềm khích giữa các dân tộc ít người với nhau và với người Kinh. Xứ tự trị của người dân tộc ở Tây Bắc, trước năm 1952, được Pháp coi là một "thành công điển hình" trong âm mưu chia rẽ dân tộc "dùng người Việt đánh người Việt, lấy Chiến tranh nuôi chiến tranh". Đó là cách nhìn nhận của phía Pháp. Trên thực tế, với việc ra đời các xứ tự trị của người dân tộc, là một trong những nguyên nhân làm cho phong trào đấu tranh cách mạng, kháng chiến chống Pháp của ta ở cáctỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái trong những năm trước năm 1952 gặp rất nhiều khó khăn.


Đối với ta, sau chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950 và chiến dịch Hoà Bình (cuối 1951 đầu 1952), về căn bản chúng ta đã làm chủ được vùng Việt Bắc rộng lớn cùng tỉnh Hòa bình, song vùng Tây Bắc vẫn do địch chiếm đóng hầu như toàn bộ. Để tiếp tục giữ vững thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, một vấn đề đặt ra là cần phải giải phóng đất đai và đồng bào các dân tộc trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu khỏi ách chiếm đóng, áp bức bóc lột của thực dân Pháp và bọn tay sai, xây dựng Tây Bắc thành căn cứ địa kháng chiến.


Kết quả của chiến dịch Tây Bắc, vùng giải phóng mở rộng thêm 28.500km2, trong đó có cả 4 cánh đồng rộng lớn "vựa thóc" là Mường Thanh, Nghĩa Lộ, Phù Yên, Than Uyên, cùng với đó là 25 vạn dân. Với vùng giải phóng mới được mở ra, vùng tự do ở Tây Bắc đã lên tới 80% diện tích đất đai và gần 80% dân số. "Xứ tự trị của người dân tộc thiểu số", mà địch đã dày công tạo dựng từ nhiều năm trước đó đã bị đập tan.


Sau khi chiến dịch kết thúc, Tây Bắc chưa hoàn toàn sạch bóng quân thù, nhưng về căn bản Tây Bắc đã được giải phóng, ta hoàn toàn làm chủ vùng đất chiến lược này.

Tây Bắc đã thuộc về ta. Vùng tự do, căn cứ địa kháng chiến của cả nước ở Bắc Bộ được mở rộng, nối liền cả một vùng rộng lớn, bao gồm hầu như toàn bộ vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc; nối thông với Liên khu 3 và vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh; mối liên hệ giữa các địa bàn chiến lược trong nước và quốc tế thêm nhiều thuận lợi, ảnh hưởng trực tiếp có lợi cho công cuộc kháng chiến của Lào.


Như vậy, việc phần lớn đất đai và dân số Tây Bắc được giải phóng, là một thắng lợi có ý nghĩa mang tầm chiến lược. Từ chiến thắng này, Tây Bắc trở thành căn cứ địa, hậu phương cho cuộc chiến đấu của quân và dân ta. Đặc biệt trong Đông - Xuân 1953-1954, vùng giải phóng Tây Bắc có vai trò vị trí vô cùng quan trọng, đây là hậu phương trực tiếp cung cấp sức người sức của rất lớn cho Mặt trận Điện Biên Phủ, đây là địa bàn để các đại đoàn bộ đội và dân công với quân số hàng chục vạn người, dừng chân và trú đóng, chuẩn bị và xuất phát thực hành tiến công địch trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:52:23 pm
3. Làm biến chuyển cục diện chiến tranh bất lợi cho địch, có lợi cho ta.

Chiến dịch Tây Bắc kết thúc, địch còn chiếm đóng một số vùng ở Tây Bắc, trong đó quan trọng là Nà Sản. Nhưng đối với Pháp đó là thất bại lớn với nhiều hệ luỵ. Báo Bằng chứng cơ đốc của Pháp viết "Tiếng súng Tây Bắc báo hiệu một mùa đông đáng lo ngại nữa cho Pháp, mùa đông thứ tám của cuộc chiến tranh ngày càng gợi ra những hình ảnh lo âu, thất vọng"1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). tập 2, Nxb Quân đội nhân dân,H.1994, tr. 233). Sau chiến dịch Tây Bắc 1952, quân Pháp đang mắc kẹt vào mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán lực lượng, giữa tiến công ra vùng tự do và phòng ngự ở vùng chúng đang kiểm soát, giữa tập trung ra miền Bắc và phân tán chiếm đóng miền Nam, giữa bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ và bảo vệ Thượng Lào. Quân địch thiếu hẳn một lực lượng cơ động chiến lược để đối phó với lực lượng vũ trang ta trên các chiến trường.


Tây Bắc thuộc về ta, quân Pháp ở Thượng Lào bị uy hiếp mạnh về phía đông, buộc phải điều lực lượng tăng cường cho Sầm Nưa, một địa bàn có vị trí quan trọng ở Thượng Lào. Song, quân địch ở Thượng Lào lâm vào thế cô lập, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho ta và bạn Lào mở chiến dịch tiến công Thượng Lào giành thắng lợi lớn vào đầu mùa hè 1953.


Thắng lợi Tây Bắc mùa đông 1952 là kết quả trực tiếp của gần hai tháng chiến đấu của quân và dân ta ở mặt trận này và cùng là hệ quả 7 năm chiến đấu trước đó của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trên cả nước. Thắng lợi chung của toàn quốc trong năm 1952, cùng với chiến thắng Tây Bắc, làm cho cục diện chiến tranh ở Việt Nam nói riêng và toàn Đông Dương nói chung ngày càng biến chuyển mạnh theo chiều hướng có lợi cho cuộc kháng chiến của Việt Nam, Lào và Campuchia, biểu hiện cụ thể là:


Trên chiến trường chính Bắc Bộ, vùng tự do của ta hao gồm hầu hết các tỉnh miền núi rộng lớn ở Việt Bắc, Tây Bắc và tỉnh Hoà Bình thuộc Liên khu 3. Vùng địch tạm chiếm thu hẹp lại trong phạm vi các tỉnh vùng trung du và đồng bằng, duyên hải Đông Bắc và hai khu vực nhỏ ở Tây Bắc là Nà Sản và thị xã Lai Châu. Tại các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi quân Pháp coi là vùng do chúng kiểm soát, nhưng trên thực tế chúng chỉ chiếm được phần nhỏ, đó là các thành phố, thị xã và vùng lân cận cùng các tuyến giao thông quan trọng, còn ở vùng nông thôn rộng lớn là vùng tự do, khu du kích, căn cứ du kích của ta hoặc là vùng tranh chấp.


Ở Trung Bộ, trong các vùng địch chiếm đóng, kể từ Bình - Trị - Thiên cho tới bắc Quảng Nam, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận chiến tranh du kích đều phát triển mạnh. Ở Tây Nguyên, từ ngày 13 đến 28 tháng 1 năm 1953, Liên khu 5 mở chiến dịch An Khê, tiến công khu vực phòng ngự của địch từ đèo An Khê tới thị trấn An Khê thuộc huyện An Khê, tỉnh Gia Lai, giành thắng lợi lớn nhất từ trước tới đó trên chiến trường Tây Nguyên. Vùng tự do rộng lớn Thanh - Nghệ - Tĩnh ở Liên khu 4 và vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú ở Liên khu 5, ngày càng được củng cố, trở thành hậu phương vững chắc đảm bảo hậu cần tại chỗ và hậu cần chiến lược cho các chiến trường.


Tại Nam Bộ, vùng tự do và các căn cứ địa ở cả Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây vẫn đứng vững trước các cuộc hành quân bình định, đánh phá của địch. Phong trào chiến tranh du kích phát triển sâu rộng đến nhiều địa phương nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm. Cơ sở kháng chiến được gây dựng và mở rộng thêm ở nhiều vùng nông thôn và trong các đô thị.


Các lực lượng vũ trang ta lớn mạnh, trưởng thành hơn về mọi phương diện. Dân quân du kích phát triển rộng khắp các địa phương, nhất là trong vùng địch tạm chiếm, hoạt động mạnh mẽ, có hiệu quả. Bộ đội địa phương căn bản đã đảm nhiệm được nhiệm vụ tác chiến ở địa phương mình. Bộ đội chủ lực lớn mạnh, trưởng thành vượt bậc, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm về chiến thuật đánh vận động, đánh công kiên. Nghệ thuật tổ chức và thực hành chiến dịch của cấp chiến lược, chiến dịch ngày càng được nâng cao.


Có một vấn đề cần nói rõ thêm là đợt 3 - tiến công Tập đoàn cứ điểm Nà Sản, trong hai đêm (30-11 và 1-12) bộ đội ta đánh 4 trận thì có trận thành công, có trận không thành công, lực lượng ta bị tổn thất, thương vong. Sau các trận đánh đó, chúng ta ngừng tiến công và đến ngày 10 tháng 12, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch. Dựa vào đó, phía Pháp cho rằng chúng ta buộc phải kết thúc chiến dịch. Điều đó hoàn toàn không đúng. Đúng là bộ đội ta gặp khó khăn khi đánh vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản, những trận đánh không thành công ở đợt 3 có ảnh hưởng đến kết quả của chiến dịch, nhưng việc chúng ta kết thúc chiến dịch là hoàn toàn chủ động.


Chiến dịch kết thúc khi chúng ta đã hoàn thành mục tiêu đề ra là tiêu hao sinh lực địch, giải phóng được 80% đất đai và dân số. Vấn đề đặt ra đối với ta ở Tây Bắc thời điểm đầu tháng 12 năm 1952 là không nhất thiết phải đập tan quân địch ở Nà Sản, mà cốt yếu là sau những thắng lợi đã đạt được, cần phải bảo toàn lực lượng bộ đội chủ lực, giữ vững và nhanh chóng xây dựng, củng cố vùng mới giải phóng thành căn cứ địa hậu phương vững chắc để chuẩn bị cho giai đoạn quyết liệt hơn sau đó. Tập đoàn cứ điểm Nà Sản, vào thời điểm đó ta chưa thể đánh bại được. Song Nà Sản đã lâm vào thế bị bao vây, cô lập hoàn toàn, nhất định sẽ bị đánh bại hoặc địch sẽ phải tự rút bỏ. Thực tế lịch sử đã diễn ra là khi địch ở Thượng Lào bị bộ đội ta và lực lượng vũ trang cách mạng Lào đánh tan tác (5-1953), thì đến đầu tháng 8 năm 1953, quân Pháp buộc phải rút khỏi Nà Sản co cụm về Điện Biên Phủ.


Đánh giá về chiến thắng Tây Bắc, cần xem xét toàn cục, dựa theo các mục tiêu xác định và kết quả, thành công đạt được. Theo đó, chiến thắng Tây Bắc 1952 là rất to lớn, mang tầm vóc, ý nghĩa chiến lược.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:59:14 pm
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 - BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI TRONG TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG

Đại úy, ThS TRẦN ANH TUẤN
Phó Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Tư tưởng quân sự -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
NGUYỄN VĂN BẮC
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cách đây tròn 60 năm, trên chiến trường rừng núi Tây Bắc, quân và dân ta đã lập nên một chiến công vang dội. Đó là giành được thắng lợi hết sức quan trọng trong chiến dịch Tây Bắc (14.10 - 10.12.1952), loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, giữ vững thế chủ động tiến công, đập tan âm mưu củng cố "Xứ Thái", "Xứ Nùng" tự trị của địch... góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân tiếp tục phát triển. Chiến thắng Tây Bắc một lần nữa khẳng định sự nhạy bén, sáng suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nghệ thuật chỉ đạo và điều hành chiến tranh cách mạng, đánh dấu bước phát triển mới về tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng.


1. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuyển hướng tiến công chiến lược đúng đắn, kịp thời.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo chiến lược "Kiên quyết không ngừng thế tiến công", từ sau chiến dịch Biên Giới (1950), dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta liên tiếp mở nhiều chiến dịch tiến công dịch ở vùng đồng bằng và trung du, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, tạo nên thế và lực mới cho cuộc kháng chiến. Sau chiến dịch Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), thế chủ động chiến lược của ta tiếp tục được củng cố, trình độ chỉ huy và trình độ chiến thuật, kỹ thuật của bộ đội ta có bước phát triển mới. Phía Pháp phải thừa nhận rằng: "Chúng ta (quân Pháp) đã bị thiệt hại nặng nề về chiến lược, không thu được một kết quả quyết định nào. Chiến dịch Hòa Bình đã giam chân các binh đoàn chủ lực cơ động tinh nhuệ của ta (quân Pháp) ở xa đồng bằng trong một thời gian dài. Do đó đã tạo thế lợi cho đối phương đưa các binh đoàn chủ lực lọt vào đồng bằng hoạt động. Đối phương đã giành được thắng lợi quan trọng"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân.H.2000. tr. 380). Thắng lợi của ta trong chiến dịch Hòa Bình là cơ sở quan trọng để quân ta tiếp tục giữ thế chủ động tiến công địch, giành những thắng lợi to lớn hơn.


Nhưng vấn đề quan trọng đặt ra cho Đảng ta lúc này là có tiếp tục tiến công địch ở vùng đồng bằng, trung du nữa không? Thực tế cho thấy, trong năm 1951, trừ chiến dịch Lý Thường Kiệt (10-1951), còn 3 chiến dịch còn lại "ta đều không hoàn toàn đạt được mục đích chiến lược đề ra,nguyên nhân chính là do lúc đó, ta chọn hướng tiến công chiến lược vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ là không đúng"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952). H 1992. tr.55). Đến chiến dịch Hòa Bình đầu năm 1952, mặc dù ta đã giành được thắng lợi quan trọng, nhưng lúc này trung du và đồng bằng là nơi địch mạnh, phát huy được ưu thế của hỏa lực và có điều kiện thuận lợi để cơ động lực lượng ứng cứu cho nhau. Còn đối với ta, trung du và đồng bằng là nơi bộ đội ta không phát huy được sở trường đánh gần, đánh địch ngoài công sự để giành được những thắng lợi to lớn hơn.


Thực tế đó, mở ra cho Đảng ta suy nghĩ mới: Không nhất thiết phải đánh vào nơi địch mạnh mới thu được thắng lợi, mà cần tập trung lực lượng đánh vào những nơi rất hiểm yếu nhưng địch lại sơ hơ, không đề phòng, mà ta có thể đánh bất ngờ giành thắng lợi, tạo nên rung động thế trận của địch, khiến cho những chỗ mạnh hơn có liên quan của địch trở thành dễ, thành yếu để ta tiếp tục những đòn tiến công tiếp theo. Thế nên, ngay từ cuối chiến dịch Hòa Bình (2-1952), Bộ Chính trị đã có ý định sơ bộ mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc2 (Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952), Sđd. tr10).


Thực hiện chủ trương chuyển hướng tiến công chiến lược, từ tháng 4 năm 1952, cùng với việc chỉ đạo tăng cường, củng cố lực lượng vũ trang, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh xúc tiến ngay công tác chuẩn bị chiến dịch. Ngay sau đó, theo chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh, Phòng Quân báo thuộc Bộ Tổng tham mưu và một tiểu đoàn trinh sát của Bộ được lệnh thu thập tình hình về sự bố trí lực lượng của địch ở Tây Bắc, khả năng tăng viện và rút lui của chúng; tình hình cơ sở của chúng ta, khả năng cung cấp tại chỗ, địa hình vùng Tây Bắc...


Sau một thời gian tích cực chuẩn bị, nghiên cứu kỹ thế bố trí lực lượng giữa ta và địch trên toàn chiến trường, cũng như địa hình, bố trí lực lượng của địch ở Tây Bắc, tháng 8 năm 1952, kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952 mà hướng tiến công chính là Tây Bắc được hoàn chỉnh. Cuối tháng 8 năm 1952, sau khi nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày kế hoạch tác chiến chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn thêm: "Đây là lần đầu tiên ta mở chiến dịch lớn, địa hình hiểm trở; cần nắm chắc địa hình và chú trọng thực hiện đúng chính sách dân tộc, giúp đỡ đồng bào dân tộc, bộ đội phải giữ kỷ luật dân vận"1 (Võ Nguyên Giáp Một số ý kiến về kháng chiến chống Pháp, Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh).


Đầu tháng 9 năm 1952, theo đề nghị Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm mục đích: "Tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc; giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Sđd. tr.390). Quyết định chọn hướng Tây Bắc để mở chiến dịch tiến công, Bộ Chính trị có sự cân nhắc đúng đắn. Ta đưa chủ lực đánh vào một chiến trường rừng núi có tầm quan trọng chiến lược, nơi địch có lực lượng phòng thủ yếu, nhưng hiểm yếu, nơi địch khó phát huy được sức mạnh của pháo binh, không quân, lại là nơi phù hợp với so sánh lực lượng giữa ta và địch, phù hợp trình độ tác chiến và sở trường của bộ đội ta. Đúng như nhận định của Tổng Quân ủy: "Trên chiến trường Bắc Bộ lúc này, không có hướng nào địch yếu như Tây Bắc"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân. H. 1995, tr.142).


Do tính chất quan trọng của chiến dịch Tây Bắc, từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh mở Hội nghị cán bộ phổ biến quyết tâm chiến dịch. Đến thăm và nói chuyện tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mục đích, ý nghĩa của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng đất đai, trong đó nhiệm vụ chính là tiêu diệt sinh lực địch. Người chỉ thị: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là chiến dịch này là phải đánh cho thắng lợi... Quyết tâm đó qua các chú mà đến người chiến sĩ. Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên... Quyết tâm phải thấm nhuần sâu sắc đến mọi người trong bộ đội"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2009, tr 558).


Chiến dịch tiến công Tây Bắc năm 1952 là chiến dịch đầu tiên mà ta chủ động đưa đại quân tiến đánh quân Pháp ở địa hình rừng núi phía tây của đồng bằng Bắc Bộ. Đó là sự chuyển hướng đúng đắn và phù hợp, thể hiện sự nhạy bén của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy trong chỉ đạo chiến lược. Điều đó đã khiến cho tướng Xalăng - Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp cũng bị bất ngờ. Bộ chỉ huy Pháp nhận được báo cáo của Phân khu Nghĩa Lộ có một số biểu hiện khả nghi về sự xuất hiện của chủ lực ta. Tuy vậy, tâm trí của Xalăng vẫn hướng nhiều về cái "đồng bằng có ích" ở Bắc Bộ. Y không tin là ta kéo đại quân lênTây Bắc, không tin là ta kham nổi vấn đề tiếp tế, vận chuyển trên một chiến trường xa xôi, hiểm trở. Cho tới lúc tiếng súng mở màn chiến dịch nổ ra, y vẫn còn thảo một chỉ thị mật gửi cho Đờ Linarét, chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Bộ: "... Nghĩa Lộ và Sơn La đang bị uy hiếp nặng nề, nhưng các yếu tố nắm được chưa cho phép chúng ta có chủ trương... Phải đợi Việt Minh lộ rõ ý định của họ"1 (Trận đánh ba mươi năm (Ký sự lịch sử). Nxb Quân đội nhân dân, H. 2005, tr 481).


Có thể khẳng định, thắng lợi ta giành được trong chiến dịch tiến công Tây Bắc trước hết là thắng lợi của sự chuyển hướng tiến công chiến lược đúng đắn, kịp thời của Đảng ta. Trong điều kiện ta nắm được quyền chủ động, nhưng chưa đủ ưu thế đế áp đáo, việc chọn hướng chiến dịch lên Tây Bắc - nơi có vị trí chiến lược quan trọng, địch lại tương đối yếu và sơ hở là một quyết định đúng đắn, phù hợp với thực tế chiến trường và bối cảnh chung của cuộc kháng chiến, phù hợp với trình độ tác chiến của bộ ta lúc đó.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười Một, 2025, 09:01:58 pm
2. Đảng ta đã đề ra mục tiêu chiến dịch đúng đắn, chỉ đạo tác chiến chiến dịch chặt chẽ, linh hoạt.

Thu Đông năm 1952, Bộ Chính trị chủ trương tập trung phần lớn chủ lực cho chiến trường Tây Bắc, nhằm ba mục đích chính: tiêu diệt địch, giải phóng đất, tranh thủ dân. Cả ba nhiệm vụ đó đều quan trọng và có quan hệ mật thiết với nhau, nhưng nhiệm vụ chính yếu có vị trí đặc biệt hơn cả là tiêu diệt sinh lực địch. Vì có tiêu diệt sinh lực địch mới giành được dân và giải phóng được đất đai, làm cho chiến dịch thắng lợi to lớn, tạo điều kiện và cơ sở vững chắc để thúc đẩy kháng chiến mau thành công. Đề ra mục đích tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch bao gồm cả lực lượng chủ lực tinh nhuệ và quân chiếm đóng, phá tan bộ máy kìm kẹp của địch với việc tranh thủ nhân dân, mở rộng vùng giải phóng, đã thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa quân sự với chính trị trong chiến dịch.


Khác chiến dịch Biên Giới (10-1950), chiến dịch Hòa Bình (2-1952), để thực hiện được mục tiêu chiến dịch, căn cứ vào thế bố trí của địch ở Tây Bắc, Tổng Quân ủy chủ trương chia thành từng khu vực để tiến công, đồng thời tập trung ưu thế binh lực, hỏa lực để thực hiện đòn tiêu diệt trên các khu vực chủ yếu. Trên khu vực tiến công chủ yếu ta tập trung ưu thế áp đảo địch trong các trận đánh lớn then chốt. Ta chia thời gian chiến dịch thành từng đợt để tập trung sức mạnh hoàn thành dứt điểm nhiệm vụ của mỗi đợt, rồi tiếp tục tập trung sức cho đợt sau. Trong từng đợt, ta chọn thời điểm có lợi nhất nhằm phát huy thế và lực đế giành thắng lợi. Đây chính là nghệ thuật chia địch ra trong từng khoảng không gian và từng thời gian đểtiến công tiêu diệt. Phối hợp với Mặt trận Tây Bắc, ở đồng bằng Bắc Bộ, hướng phòng thủ chủ yếu của địch, nơi chúng tập trung lực lượng cơ động và trang bị kỹ thuật mạnh nhất, Tổng Quân ủy chủ trương sử dụng một bộ phận chủ lực nhất định, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tận dụng thời cơ địch tập trung đối phó với hướng tiến công chủ yếu của ta ở rừng núi; đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát động quần chúng vùng dậy phá tề trừ gian kết hợp với các hình thức đấu tranh chính trị,kinh tế khác, nhằm hạn chế chỗ mạnh của địch và phối hợp, chia lửa với chiến trường chính, tạo ra thế cả nước là một mặt trận, toàn dân đánh giặc.


Kiên trì và quyết tâm không rời tư tưởng giữ vững thế tiến công, trong chiến dịch Tây Bắc, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, quân và dân ta không ngừng tạo ưu thế, nắm quyền chủ động chiến dịch, biết lượng sức, khéo léo phát huy thế mạnh chiến lược của mình đánh vào thế yếu chiến lược của địch, biết khơi sâu mâu thuẫn vốn có của địch giữa tập trung và cơ động, giữa phân tán và chiếm đóng, giữa hành động quân sự với thủ đoạn chính trị. Ta biết kìm chỗ mạnh, đánh chỗ yếu của địch. Trong các trận đầu của chiến dịch Tây Bắc, khi ta tiến công thì thực hiện đánh dứt điểm, tiến công liên tục, từng bước dồn địch vào thế bị động đối phó.


Nhờ chọn đúng hướng tiến công, xác định đúng đối tượng tác chiến, chỉ đạo tác chiến linh hoạt, ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch, kể cả những đơn vị tinh nhuệ, lực lượng chiếm đóng của địch cùng bị đánh bại, làm tan rã hệ thống kìm kẹp của quân Pháp ở Tây Bắc, tạo điều kiện cho bộ đội ta tranh thủ nhân dân, nâng cao nhận thức của đồng bào các dân tộc Tây Bắc đối với kháng chiến, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.


Trong chiến dịch Tây Bắc, thực hiện phương châm: đánh dài ngày liên tục; đánh chắc, tiến chắc; vây điểm diệt viện, phá điểm, sau 2 đợt tiến công liên tục, ta đã đạt được mục tiêu chiến lược, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, vùng giải phóng mới rộng 28.500km2 với 25 vạn dân đã thuộc về ta. Âm mưu lập "Xứ Thái", "Xứ Mường", "Xứ Nùng" tự trị nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của giặc Pháp bị đập tan. Tây Bắc trở thành căn cứ địa, nối liền với căn cứ Việt Bắc, làm cơ sở vững chắc cho cuộc kháng chiến lâu dài của ta. Tuy nhiên, trong diễn biến của chiến dịch, cụ thể là trong đợt 3, một vấn đề mới đã xuất hiện, vấn đề này thực sự là khó khăn đối với bộ đội ta, bởi trước đó chúng ta chưa trực tiếp đối diện. Đó là cách đánh tập đoàn cứ điểm.


Bị thất bại và thiệt hại lớn sau 2 đợt tấn công của quân ta địch rút chạy về Nà Sản. Đến ngày 23 tháng 11 năm 1952, địch ở Nà Sản có 8 tiểu đoàn bộ binh và dù, 1 tiểu đoàn pháo, 8 đại đội độc lập, 1 đại đội công binh1 (Chiến dịch tiến công Tây Bắc. Sđd. tr. 46). Chúng tổ chức thành 1 tập đoàn cứ điểm gồm 24 điểm tựa đại đội và4điểm tựa trung đội trên các điểm cao, ở giữa có sân bay và sở chỉ huy. Nà Sảntrở thành cụm phòng ngự tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch lúc này ở Tây Bắc.


Sau khi Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch phân tích tình hình, trên tinh thần phấn khởi thắng lợi trong 2 đợt đầu, ta hạ quyết tâm: Tập trung lực lượng tiêu diệt dịch ở Nà Sản, giành toàn thắng cho chiến dịch. Do đây là lần đầu ta đánh tập đoàn cứ điểm, mặc dầu có sự điều chỉnh trong cách đánh, nhưng quyết tâm tiêu diệt cứ điểm Nà Sản của ta đã không thành công, bộ đội bị thương vong. Nhận thấy chưa đủ khả năng tiêu diệt Nà Sản, cần phải có thời gian nghiên cứu kỹ về kiểu phòng ngự mới của địch nên Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch để tránh thiệt hại lực lượng kháng chiến, đồng thời nhanh chóng chuyển sang nhiệm vụ củng cố và xây dựng vùng mới giải phóng.


Trước kiểu phòng ngự mới của địch, việc ta chủ động kết thúc sớm chiến dịch đã cho thấy sự tỉnh táo, nhạy bén trong tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Trung ướng Đảng, trực tiếp là Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch. Điều đó đã khẳng định bản lĩnh vững vàng, sự quyết đoán của người chỉ huy, giúp cho ta tránh được những thiệt hại không đáng có, bảo toàn được lực lượng, giữ vững được khí thế và niềm tin của cán bộ, chiến sĩ. Đúng như Tổng Quân ủy đã nhận định: "Đánh thì không chắc thắng, trong khi đó thì vùng mới giải phóng của ta rất rộng mà chưa được củng cố, cho nên Tổng Quân ủy chủ trương đình chỉ cuộc tiến công Nà Sản và chuyển hướng sang nhiệm vụ củng cố căn cứ địa Tây Bắc để giữ vững những thắng lợi vừa qua"1 (Chiến dịch tiến công Tây Bắc, Sđd. tr 70). Đây là một quyết định kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế, thể hiện nghệ thuật điều hành tác chiến linh hoạt, không chỉ biết chủ động tiến công khi có điều kiện mà còn biết kết thúc đúng lúc vào thời điểm có lợi nhất.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười Một, 2025, 09:04:04 pm
3. Chỉ đạo thực hiện thành công nhiệm vụ bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho chiến dịch.

Mở chiến dịch tiến công Tây Bắc, một trong những khó khăn lớn nhất đặt ra cho Trung ương Đảng là phải giải quyết khâu chuẩn bị vật chất, hậu cần cho chiến trường, vì khả năng huy động hậu cần tại chỗ rất hạn chế, chiến trường xa căn cư hậu phương, đường vận tải tiếp tế qua núi cao rừng rậm, lắm đèo nhiều dốc. Nhận thấy đây là một vấn đề hết sức quan trọng, quyết định đến thành bại của chiến dịch, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đảm bảo mức cao nhất về vật chất đảm bảo cho bộ đội hoạt động lâu dài, liên tục trong chiến dịch.


Bộ Chính trị quyết định cử đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp phụ trách cung cấp tiền phương, đồng thời tăng cường nhiều cán bộ có kinh nghiệm cho bộ phận cung cấp. Do sớm xác định được hướng tiến công chiến lược và dự kiến được đúng những khó khăn, nhất là vấn đề cung cấp hậu cần - kỹ thuật, từ tháng 5 năm 1952, Trung ương Đảng đã chỉ đạo các địa phương khẩn trương sửa chữa, mở thêm các tuyến đường mới và chuẩn bị lương thực, thực phẩm. Tháng 7 năm 1952, để đẩy mạnh việc huy động nhân lực phục vụ chiến dịch, Chính phủ ban hành bản điều lệ tạm thời về huy động dân công. Tiếp đó, Ban dân công ở các tỉnh cũng được thành lập.


Đến tháng 8 năm 1952, số vũ khí, đạn dược chuẩn bị cho chiến dịch đã bảo đảm đủ. Một hệ thống kho tàng được thiết lập ở vùng Mậu A, Cổ Phúc, Văn Phúc, Giới Phiên, Thạch Kiệt (tả ngạn sông Thao), vùng Suối Rút (Hòa Bình). Đầu tháng 9 năm 1952, các đơn vị tham gia chiến dịch đều được Cục Thông tin liên lạc bổ sung trang bị, bảo đảm liên lạc thống nhất đồng bộ. Trước ngày mở màn chiến dịch, Ban chỉ huy vượt sông đã hoàn thành nhiệm vụ điều hành bộ dội, dân công vượt sông Hồng an toàn, nhanh chóng vào Tây Bắc chiếm lĩnh trận địa; các đơn vị tham gia chiến dịch đều được cấp phát đủ cơ số vũ khí đạn dược.


Nhờ có sự chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, biết phát huy sức mạnh của toàn dân và hệ thống chính quyền các cấp, việc chuẩn bị giao thông, thu gom lương thực phục vụ cho chiến dịch đã thu được kết quả khả quan. Trong chiến dịch Tây Bắc, với phương châm tích cực vận chuyển từ hậu phương (Việt Bắc, Khu 3, Khu 4) lên Tây Bắc, tận dụng khả năng của địa phương, ta đã huy động được 20 vạn lượt dân công phục vụ tiền tuyến cùng 17.750 tấn gạo, 164 tấn muối, 235 tấn thịt, 86 tấn thực phẩm khác, 83 tấn vũ khí, đưa từ Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Thanh Hóa, Hòa Bình lên. Hậu phương tại chỗ của nhân dân vùng mới giải phóng Tây Bắc cũng đã tự nguyện đóng góp 1.140 tấn gạo, hơn 80 tấn thực phẩm và 18 vạn ngày công phục vụ chiến dịch. Nhờ sự đóng góp tích cực của nhân dân, ta đã bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch dài ngày trên rừng núi hiểm trở và cách xa hậu phương.


Để đảm bảo bí mật, bất ngờ, khác với các chiến dịch trước đó, lần này, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương không thực hiện chuyển vật phẩm lên trước lót ổ lập chân hàng, bố trí kho ở khu vực chiến đấu mà phải chuẩn bị sẵn ở tả ngạn sông Hồng. Khi bộ đội vượt sông tiến vào vùng địch, hậu cần - kỹ thuật mới rải trạm vận chuyển phục vụ cho các đơn vị. Do đó, yêu cầu công tác hậu cần - kỹ thuật phải theo sát các mũi tiến công suốt cả quá trình chiến dịch. Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Nhưng thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Anh em bên cung cấp phải có quyết tâm để có lương thực, vũ khí cho bộ đội"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6. Nxb Chính trị quốc gia H 2009 tr 559) với quyết tâm rất cao và bằng nhiều phương thức sáng tạo trong việc tổ chức vận tải, bộ phận cung cấp hậu cần - kỹ thuật đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc. Suốt chiến dịch, lực lượng hậu cần, kỹ thuật không quản ngại khó khăn, hy sinh luôn theo sát bộ đội, phục vụ vận chuyển, tiếp tế lương thực, thực phẩm, vũ khí, thuốc men đảm bảo cho các đơn vị đánh dài ngày, liên tục, đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ cứu chữa, chăm sóc thương bệnh binh. Tuy nhiên bên cạnh những thành công, công tác hậu cần còn có những hạn chế nhất định. Do công tác tổ chứcvận chuyển hậu cần chưa kịp thời nên có lúc lương thực và đạn dược thiếu đã ảnh hướng đến nhịp độ tiến công, mức phát triển của chiến dịch.


Thành công của việc huy động nhân lực, vật lực, cũng như công tác tổ chức đảm bảo hậu cần - kỹ thuật cho chiến dịch lớn, dài ngày trên chiến trường rừng núi, xa hậu phương đã thể hiện bước phát triển mới trong tư tưởng chỉ đạo kháng chiến của Đảng ta, để lại nhiều bài học, kinh nghiệm quý.


Chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi trở thành mốc lịch sử trên con đường tiếp tục phát triển thế chủ động chiến lược, giữ vững thế tiến công để nỗ lực chuẩn bị lực lượng giành toàn thắng. Chiến thắng Tây Bắc khẳng định bước phát triển mới trong tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng; sự phát triển tiến bộ về trình độ chỉ đạo, chỉ huy chiến tranh của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, trực tiếp là Bộ chỉ huy chiến dịch1 (Đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh chiến dịch, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng chiến dịch, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch, đồng chí Trần Đăng Ninh làm chủ nhiệm cung cấp chiến dịch). Đó là kết quả của việc nắm vững quy luật vận động cách mạng và chiến tranh giải phóng ở nước ta, đồng thời là sự tiến bộ về nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật chiến dịch nói riêng của cán bộ các cấp, các đơn vị chủ lực của ta. Về ý nghĩa chiến dịch Tây Bắc, ngày 10 tháng 12 năm 1952, trong hội nghị cán bộ các đơn vị dự chiến dịch, thay mặt Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch đánh giá: "Thu Đông 1952 là thu đông chiến thắng Tây Bắc. Nếu nhìn rộng ra toàn chiến trường Bắc Bộ thì đó là thắng lợi lớn của ta trên con đường tiệp tục giành thế chủ động... Thắng lợi đó đã rèn luyện nhiều cho bộ đội ta vẽ kỹ thuật, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, củng cố và mở rộng khối đoàn kết toàn dân, tăng cường lực lượng kháng chiến của nhân dân, nâng cao lòng tin tưởng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đối với Đảng và Hồ Chủ tịch..."1 (Báo cáo kế hoạchtác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu xuất bản, 1963, tập 2, tr. 217).


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là cơ sở quan trọng giúp cho Trung ương Đảng. Tổng Quân ủy củng cố, xây dựng quyết tâm mang tính chiến lược: Tây Bắc sẽ là điểm quyết chiến chiến lược trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Một, 2025, 07:42:59 pm
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952
NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ LỚN

Thiếu tướng, PGS, TS TRỊNH VƯƠNG HỒNG
Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Nhớ về miền Tây Bắc, nhắc đến chiến thắng Tây Bắc 1952, hẳn cảm xúc hào sảng lại về với mọi người bởi lời thơ bất hủ trong bài ca hùng tráng viết về Tây Bắc: Qua miền Tây Bắc...

   "Bộ đội ta vâng lệnh Cha già
   Về đây giải phóng quê nhà...
   Quân với dân một lòng,
   Không phản miền xuôi ngược,
   Cùng đồng tâm tiêu diệt hết quân thù...".


Chiến dịch Tây Bắc 1952 để lại nhiều bài học lịch sử mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cập nhật. Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi xin nêu vài bài học lớn, trong đó:

1. Sớm nhận rõ vị trí địa - chính trị, địa - quân sự của địa bàn Tây Bắc.

Chiến thắng Tây Bắc diễn ra vào năm thứ bảy của cuộc kháng chiến cứu nước, nhưng chiến thắng đó lại có nguồn gốc từ sự chỉ đạo ngay từ hồi đầu chiến tranh.

Trong chỉ đạo kháng chiến, việc sớm xác định đúng vị trí chiến lược của từng vùng miền, khu vực, địa bàn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Địa bàn có quan hệ hữu cơ với việc xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng hậu phương, quốc phòng an ninh, xây dựng và điều động - bố trí lực lượng chiến lược, hình thành ý định tác chiến và tổ chức chiến đấu, đến hoạt động phối hợp chiến trường (khu vực, cả nước hoặc toàn Đông Dương).

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định hình thành tổ chức, đơn vị vũ trang, lựa chọn cán bộ đưa lên Tây Bắc, phối hợp với lực lượng tại chỗ để bảo vệ độc lập - tự do, giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ, ngăn chặn quân Pháp từ Trung Quốc tràn xuống và từ Lào tiến sang; cũng trong khoảng thời gian trên (cuối năm 1945, trong năm 1946), các chi đội Nam tiến được cử vào Nam chiến đấu.


Để tổ chức kháng chiến hiệu quả, tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Tây Bắc. Bộ Quốc phòng được phân công trực tiếp chỉ đạo mặt trận và giúp bạn Lào1 (Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia. Viện Sử học. Cao Văn Lượng (chủ biên) Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Khu Tây Bắc (1945-1954), Nxb Khoa học xã hội. H. 2002). Các đơn vị lên đường Tây tiến gồm lực lượng của nhiều tỉnh: Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Yên Bái, Bắc Giang, Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng, Ninh Bình...2 (Xin tham khảo: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân.H.1994, tập 1; Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội - Ban liên lạc cựu chiến binh Tây tiến: Tây tiến một thời và mãi mãi. Nxb Hà Nội. H.2009).


Đầu năm 1946, được đế quốc Anh, Mỹ và chính quyền Tưởng Giới Thạch ủng hộ, tiếp tay, thực dân Pháp ra sức hoạt động tái chiếm nước ta, trong đó đặc biệt địa bàn Tây Bắc. Ngày 20 tháng 2 năm 1946, Trung ương Đảng ra lời kêu gọi toàn thể nhân dân đứng lên kháng chiến:

"Hỡi quốc dân Việt Nam!

Giặc Pháp đã vào Lai Châu. Chúng xin với Trung Quốc đem 4.000 quân qua Lào để đồn trú ở đó... Và nếu quân Pháp mượn đường Lai Châu và Thượng Lào để kéo xuống Hạ Lào bên dưới vĩ tuyến 16 độ thì việc mượn đường đó có khác gì việc xâm phạm chủ quyền của hai dân tộc Việt - Lào?

... Anh em dân tộc thiểu số Lào, Thái! Hãy liên minh chặt chẽ với Vệ quốc quân Việt Nam đánh tan kế hoạch xăm lăng của giặc Pháp"1 (Văn kiện Đảng 1945-1954, tập I (1945-1946). H. 1978. tr.169).


Ngày 1 tháng 2 năm 1947, trong Thư gửi bộ đội Tây tiến, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp viết: "Miền Việt Tây đối với nước ta có một vị trí chiến lược rất quan trọng. Hùng cứ được vùng đó, không những quân địch cứ cao lâm hạ có thể uy hiếp hậu phương chúng ta, mà chúng lại mong thực hiện cái âm mưu ác độc dĩ Việt chế Việt chia rẽ các anh em thiểu số để tiến đánh chúng ta... Mỗi tấc đất miền Tây là một tấc đất của Tổ quốc Việt Nam, chúng ta không thể để cho địch dễ dàng dẫm lên được"2 (Dẫn theo Ban Tuyên giáo Thánh ủy Hà Nội - Ban liên lạc cựu chiến binh Tây tiến. Sdd, tr.9-10).


Về phía thực dân Pháp, là kẻ xâm lược và chiếm đóng Đông Dương, Việt Nam gần một thế kỷ, lại có kinh nghiệmquân sự, hẳn họ không lạ gì vị trí chiến lược của Tây Bắc. Với họ, Tây Bắc kẽ là đất dứng chân để uy hiếpViệt Bắc và "là một vị trí chiến lược quan trọng chảng những đối với chiến trường Đông Dương, mà còn đối với miền Đông Nam Á" (G. Xabachiê: Số phận Đông Dương, kỷ niệm và tư liệu, 1941-1951. Nxb Plông. Pari, 1952), một "bàn xoay có thể xoay đi bốn phía Việt Nam, Lào, Miến Điện, Trung Quốc và là chiếc chìa khoá bảo vệ Thượng Lào"2 (H.Nava Đóng Dương hấp hối. Nxb Plông, Pari, 1956. Dẫn theo Điện Biên Phủ hợp tuyển công trình khoa học. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2005 tr. 111-112). Càng dấn sâu vào cuộc Chiến tranh xâm lược Đông Dương, thực dân Pháp càng chịu thêm nhiều ràng buộc với sức ép ngày càng lớn, trong đó có địa bàn Tây Bắc. H. Nava, viên tướng bốn sao, nguyên Tổng chí huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương những năm cuối cuộc chiến tranh (1953-1954), viết: "Xét về mặt chính trị, quyết định không bảo vệ Lào cũng là một điều rất nghiêm trọng... Để Luông Pha Băng, kinh đô hoàng gia và tôn giáo của Lào rơi vào tay kẻ thù có nghĩa là thú nhận ta đã bất lực trong việc bảo vệ những bạn bè tin cậy. Nó cũng có nghĩa là phủ nhận ngay cả những nguyên tắc của khối Liên hiệp Pháp. Thêm vào lý do chính trị cơ bản này, còn một lý do khác nữa. Đó là nếu người Mỹ giúp chúng ta ở Đông Dương, thì chính bởi vì chúng ta bảo vệ ở đây một khu vực quan trọng của Đông Nam Á: Thái Lan, Miến Điện, Mã Lai. Đểđối phương tới được sông Mê Công tức là không làm tròn nhiệm vụ ấy"3 (H. Nava: Thời điểm của những sự thật, Nxb Công an nhân dân (và) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. H. 1994, người dịch Nguyễn Huy Cầu).


Việc sớm xác định đúng vị trí chiến lược địa - chính trị, địa - quân sự và đánh giá chính xác âm mưu của thực dânPháp đã giúp Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng kịp thời điều động cán bộ, bộ đội lên miền Tây Bắc, cùng các cấp lãnh đạo, chỉ huy tại địa bàn vận động quần chúng, vận động đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc. Tất thảy điều đó tạo thành cội nguồn của chiến thắng Tây Bắc 7 năm sau đó.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Một, 2025, 07:45:40 pm
2.Xây dựng quan hệ quân - dân đoàn kết nhất trí.

Nhận rõ vị trí địa bàn Tây Bắc, nhưng trong chỉ đạo kháng chiến, lại phải căn cứ vào nhiều nhân tố để ra quyết định hoạt động quân sự. Về phía đối phương, ngay từ cuối năm 1951, Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, tướng De Lattre (Đờ Lát) đã chỉ thị cho thuộc hạ, phải phong toả, ngăn chặn, để "không một hạt lúa, không một người nào được đưa ra khỏi đồng bằng Bắc Bộ"1 (Xem Nguyễn Văn Sự: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Danh tướng thế kỷ XX qua tư liệu nước ngoài, Nxb Quân đội nhân dân, H.2011, tr.410). Đờ Lát dùng thủ đoạn đánh vào dạ dày, vào nguồn nhân lực của đối phương, hy vọng Võ Nguyên Giáp chọn chiến trường lúa gạo đồng bằng, đó là lúc quân Pháp ra đòn2 (Xem Nguyễn Văn Sự, Sđđ, tr.411). Tuy nhiên, Võ Nguyên Giáp không bị mắc lừa, như cách nói của ký giả phương Tây: "Ông coi vấn đề tướng Đờ Lát đặt ra chẳng qua chỉ là miếng cồn gián mà một chiến lược gia đưa ra cho một chiến lược gia khác"3 (Xem Nguyễn Văn Sự, Sđd, tr.412).


Với mục đích: "Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng đất đai"4 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, 1950-1952, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.559), Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Ba nhiệm vụ trên có "quan hệ mật thiết với nhau. Có tiêu diệt được địch thì mới tranh thủ được nhân dân và giải phóng dược đất đai. Có tranh thủ được nhân dân thì mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu diệt sinh lực địch và giải phóng dược đất đai..."1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Nxb Quân đội nhân dân, H.2006. tr. 296), như phân tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hội nghị cán bộ chiến dịch Tây Bắc trong các ngày 6, 7, 8, 9 tháng 9 năm 1952. "Tranh thủ nhân dân" thực chất là giải phóng đồng bào, mà ở Tây Bắc "chỉ còn đồng bào Thái... là bị địch lợi dụng, giày xéo và thống trị"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2006. tr. 295). Đại tướng Lê Trọng Tấn, trong chiến dịch Tây Bắc là Đại tá, Đại đoàn trưởng 312 nhớ lại: "Từ cánh đồng Nghĩa Lộ, chúng tôi qua Thượng Bằng La, rồi Quang Huy, Vạn Yên... Nhìn nắm cơm của dân chỉ thấy một màu nâu xỉn cũng như nắm gỉ sắt. Hỏi nhân dân ăn gì? Dân vừa khóc, vừa nói ăn củ nâu. Hỏi củ nâu chát thế ăn làm sao? Sao không đào củ mài mà ăn? Bà con trả lời củ mài nằm sâu lắm không có sức đào.


Cánh đồng Phù Yên bằng phẳng dài hàng chục kilômét chỉ toàn một màu tro xám đến rợn người. Dọc ven suối, những bà, những chị người Thái lưng địu con ngơ ngác đi mò rêu suối..."3 (Đại tướng Lê Trọng Tấn: Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Nxb Quân đội nhân dân. H. 1994. tr.237).


Tiến vào Tây Bắc là đánh vào âm mưu "chia để trị", "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của địch; là để giác ngộ chính trị cho đồng bào, khơi dậy và phát huy lòng yêu nước, tiềm năng cách mạng của đồng bào, xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc, động viên đồng bào tích cực tham gia kháng chiến.


Do ý nghĩa và tầm quan trọng của nó, chiến dịch Tây Bắc được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Người đến dự Hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc, quán triệt quyết tâm, giao nhiệm vụ và động viên cán bộ, chiến sĩ; cùng ngày, Người tự tay soạn thảo và cho công bố "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ dân chủ cộng hoà Việt Nam" và ngày 1 tháng 10, Người viết thư gửi cán bộ, chiến sĩ chiến dịch Tây Bắc1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sđd, tr.558).


Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, Chính phủ đã có quy định, các chú và bộ đội phải làm đúng... Các chú phải làm thế nào khi mình đến thì đồng bào hoan nghênh, khi đóng quân thì đồng bào vui vẻ giúp đỡ, khi mình đi thì đồng bào quyến luyến..."2 (Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 6, Sđd, tr.560).


Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ quy định rõ, phải bảo vệ tính mệnh và tài sản của nhân dân; bảo vệ nghề nghiệp làm ăn của nhân dân; tịch thu tài sản của giặc Pháp và bọn phản quốc giao cho chính quyền nhân dân xử trí (chia cho dân); bảo vệ đền chùa nhà thờ, trường học, nhà thương và các cơ quan văn hoá, xã hội khác, bảo vệ tính mạng, tài sản của kiều dân nước ngoài...3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sdd, tr.564).


Nhờ chủ trương đúng đắn của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với lòng tin vững chắc vào lòng yêu nước của cộng đồng các dân tộc Tây Bắc, bộ đội ta cùng các cấp bộ đảng, chính quyền địa phương đã vượt qua gian khổ, hy sinh, kiên trì xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân, "thế trận lòng dân" Tây Bắc.


Y tá Phương Lan, người con gái Huế, sinh sống tại Phan Thiết, xin vào làm cứu thương trong chi đội Nam tiến Nam Long, do điều động của đơn vị, đầu năm 1947, bà thuộc đoàn quân Tây tiến, kể: "Hồi đó dân cũng đói lắm, bộ đội phải ăn độn đủ thứ rau, còn quần áo rách tả tơi, thương vô cùng. Án đã thiếu, thuốc men lại càng thiếu hơn, một viên ký ninh pha ra cho 5 người uống. Chữa kiết lị bằng lá mơ lông ở hàng rào, cho ti muối vào hấp cơm rồi ăn...


Có bữa hết gạo, bác sĩ Đức đi trước, tôi và một chị nữa cầm rá đi theo đến các nhà dân trong bản xin gạo. Dân bản thương bộ đội lắm, nhà có thì cho vài lon, nhà thiếu thì cho vài nắm. Đi khắp bản cũng được một rá đủ nấu cháo loãng cho anh em ăn được vài ngày"1 (Tây tiến một thời và mãi mãi. Sđd, tr. 165).


Đại tướng Lê Trọng Tấn nhớ lại ngày Tây Bắc giải phóng... "Tôi lại được gặp anh Trần Quyết - Bí thư và Ban Tỉnh ủy Sơn La. Rất cảm ơn các anh, những người cộng sản kiên cường đã nhen nhóm lên ngọn lửa cách mạng trong lòng đồng bào dân tộc Thái. Với lòng tin ở Đảng, ở nhân dân, các anh đã thức tỉnh tiềm năng cách mạng bấy lâu bị giặc cướp nước và bán nước vùi dập, thổi bừng lên ngọn lửa cách mạng trong lòng những đồng bào chất phác, tạo nên sức mạnh cho đòn tiến công sấm sét hôm nay.


... Tôi được nghe kể lại, câu chuyện một thương binh của ta (đồng chí Thập nay đã về hưu ở Sơn La) đã đươc một bà mẹ người Thái nuôi giấu trong nhà. Thuốc men không có, thức ăn bồi dưỡng cũng không, bà mẹ đã nuôi Thập bằng chính dòng sữa của mình,... Bà mẹ Thái nuôi đứa con người Kinh mình đầy thương tích trong cơn hấp hối... giữa vòng vây trùng điệp của quân thù"1 (Đại tướng Lê Trọng Tấn: Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Sđd, tr.249).


Đồng bào Tây Bắc đã cùng đồng bào địa phương bạn đã góp phần cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn chiến dịch (đã sử dụng 9.360 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt, 71 tấn thực phẩm khác; huy động 194.000 dân công, gần bằng 7 triệu ngày công2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), tập II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr 206)).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Một, 2025, 07:50:09 pm
3.Thống nhất quyết tâm cao và thấu triệt tư tưởng cách mạng tiến công.

Quyết tâm ở đây không chỉ là những nội dung thuộc văn kiện tác chiến: đánh giá về địch nói chung, trong từng tình huống nói riêng; về ý định tác chiến (tư tưởng phương châm chỉ đạo tác chiến); nhiệm vụ từng đơn vị, công tác hiệp đồng, bảo đảm; về tổ chức chỉ huy.v.v..., mà trước hết là ý chí - quyết tâm trong tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, quyết tâm đó phải thông suốt, thống nhất. Trong bài nói tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến, và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, còn phải để cho các chú cân nhắc kỹ thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm cũng chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống đến mọi người chiến sĩ. Quyết tâm đó từ Trung ương qua các chú mà đến người chiến sĩ. Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên. Quyết tâm không phải nói đầu miệng mà phải tin tưởng sâu sắc..."1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sđd, tr.558).


Thật sự, thực tế là, quyết tâm đánh thắng trong chiến dịch Tây Bắc đã thấm sâu từ Trung ương Đảng, từ lãnh tụ tối cao đến cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch và đồng bào tại địa bàn. Chính một trong những vị đại đoàn trưởng nổi tiếng trong chiến dịch, Đại tướng Lê Trọng Tấn đã viết: "Những bài học thắng lợi trong chiến dịch Tây Bắc lần này đối với bản thân tôi cũng như đối với đại đoàn2 (Tức Đại đoàn 312) là bài học về hạ quyết tâm và tổ chức thực hiện quyết tâm đó trong những khâu then chốt của trận đánh... Những thành công và những gì chưa thành công... của Đại đoàn cũng như của các đại đoàn bạn đều là những bài học quý giá giúp tôi trưởng thành... Tôi càng thấm thìa sâu sắc vai trò của nhân dân trong chiến tranh giải phóng nói chung, vai trò mà nhân dân các dân tộc Tây Bắc nói riêng và sự hy sinh, chịu đựng gian khổ đến tột độ của tập thể cán bộ, chiến sĩ đại đoàn. Dù cán bộ chỉ huy năng động, tài trí đến đâu nhưng cuối cùng chính người chiến sĩ cầm súng sẽ quyết định thắng lợi của chiến đấu, chiến dịch"3 (Đại tướng Lê Trọng Tấn: Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Sđd, tr.250-251).


Quyết tâm hừng hực khí thế trong mọi cán bộ, chiến sĩ, vì vậy, tư tưởng cách mạng tiến công trong chiến tranh cách mạng được thể hiện sinh động trên thực tế chiến trường. Trong Bản báo cáo tại Hội nghị cán bộ đợt 2 chiến dịch Tây Bắc (9-11-1952), Đại tướng Tổng Tư lệnh viết: "ưu điểm lớn nhất là chúng ta đã tiến bộ về tư tưởng đã quán triệt quyết tâm của Trung ương... Hành quân phải leo trèo, vác nặng, trời mưa, thiếu ăn, thiếu ngủ, nhiều đơn vị phải nhịn đói, nhưng cán bộ và chiến sĩ đều cố gắng vượt qua. Trong chiến đấu thì cố gắng thực hiện nhiệm vụ có đơn vị đánh liền 2 vị trí lớn trong một đêm, có đơn vị truy kích địch hơn 100 cây số..."1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn. Sđd, tr. 322).


Kể về tinh thần vượt gian khổ đi chuẩn bị chiến trường của đơn vị cụ thể (Trung đoàn 141), Đại tướng Lê Trọng Tấn viết: Anh em theo đường khe Lóng vào Sài Lương, gạo (tiêu chuẩn) phải san cho 4 đồng bào đang đi đào củ rừng tình nguyện dẫn đường... "Tính ra anh em đã phải vượt suối tất cả ba mươi sáu lần mới tới được khe Lóng"2 (Đại tướng Lê Trọng Tấn: Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Sđd, tr. 228). Trong chiến đấu, có đơn vị như "Tiểu đoàn 154... đã hành quân 205km, nhịn đói một ngày, vừa lĩnh được 5kg gạo nấu cháo chưa kịp sôi đã phải truy kích địch. Hơn một trăm tù binh và hàng đống vũ khí, quân trang, quân dụng của địch là sự đền bù cho sự chịu đựng gian khổ của Tiểu đoàn 154"3 (Đại tướng Lê Trọng Tấn: Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Sđd. tr. 231).


Thấu triệt tư tưởng cách mạng, tư tưởng tiến công, nhưng lại cần luôn luôn tỉnh táo, sáng suốt trong mọi tình huống, căn cứ vào những điều kiện cụ thể để chỉ đạo thực hiện hoạt động quân sự, theo phương châm "đánh ăn chắc tiến ăn chắc" của Trung ương1 (Báo cáo của Đại tướng Tổng tư lệnh trong Hội nghị đợt 2 chiến dịch Tây Bắc (9-11-1952), xem Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd. tr. 326). Đây là thời điểm chuẩn bị đánh Nà Sản, mà Nà Sản đã được quân Pháp xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm, một căn cứ bộ - không quân thật sự, với một sân bay nằm giữa một thung lũng lòng chảo có núi bao bọc xung quanh, một "con nhím" với hai mươi mốt cứ điểm xung quanh một sân bay2 (Tham khảo Tướng Giáp suýt thất bại trong trận Điện Biên Phủ như thế nào của G.Boudarel và F.Caviglloli. in trong Điên Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học, Nxb Chính trị quốc gia. H. 2005, tr. 1008), một "con đê ngăn sóng", theo cách gọi của tướng lĩnh Pháp.


Dự lường được hầu hết những khó khăn của ta khi tiến công Nà Sản, trong báo cáo kể trên, Đại tướng nêu rõ: "Có phải vì mang quân đến Nà Sản rồi thì phải đánh hay không?

Không. Dù đã mang quân đến Nà Sản, nhưng nếu nhận thấy đánh không chắc thắng thì có thể điều bộ đội về"3 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd. tr. 332).


Kết thúc chiến dịch Tây Bắc, Tổng tư lệnh cùng Bộ chỉ huy họp rút kinh nghiệm tại một địa điểm gần đường 41, như một số học giả nước ngoài miêu tả: "Chủ lực Việt Minh không tràn ngập được Nà Sản vì bị máy bay ném bom và bắn phá ngăn chặn... Võ Nguyên Giáp kết luận rằng phải suy nghĩ thêm về loại hình phòng thủ này của quân Pháp và để tiêu diệt một cứ điểm như kiểu Nà Sản phải sử dụng hỏa lực pháo binh hạng nặng. Các đợt xung phong của bộ binh cần phải chuẩn bị chu đáo ở tất cả các cấp. Đánh vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thể coi như một trận đánh mà là một chiến dịch thật sự bao gồm nhiều trận đánh kế tiếp nhau theo một chiến lược cần nghiên cứu thêm để xác định"1 (Dẫn theo Nguyễn Vân Sự Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Danh tướng thế kỷ XX qua tư liệu nước ngoài, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2011, tr. 419).


Nà Sản thể hiện, trong tiến công, không thành công, cần biết dừng đúng lúc. Nà Sản để lại bài học quý báu cho chiến dịch Điện Biên Phủ, vào năm rưỡi sau đó, như một nhân tố về chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Trên đường lên sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, Tổng tư lệnh - Chỉ huy trưởng - Bí thư Đảng ủy Mặt trận Võ Nguyên Giáp đã dừng lại khá lâu ở Nà Sản ngẫm lại bài học không thành công ở đây. Và Điện Biên Phủ là "một Nà Sản luỹ thừa mười"2 (Xem bài của G.Boudarel và F.Caviglloli, in trong Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, H 2005. tr. 1013) vẫn bị quân và dân ta tiêu diệt.


Chiến dịch Tây Bắc năm 1952 để lại nhiều bài học lịch sử quý báu, mang giá trị lý luận và thực tiễn cập nhật cần tiếp tục được nghiên cứu làm sáng tỏ thêm, ví như chiến dịch Tây Bắc với việc phối hợp, hiệp đồng với các chiến trường cả nước; với chiến trường nước bạn Lào; với việc xây dựng mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào; là xây dựng tình đoàn kết quân - dân, quân với dân một ý chí, ở đây là đồng bào dân tộc thiểu số; là giáo dục ý chí quyết tâm cho bộ đội...


Chúng ta biết và mãi mãi nhớ ơn, tôn vinh các bậc tiền bối trong quân đội, trong cấp ủy và chính quyền, mặt trận các cấp địa phương và đồng bào trong cộng đồng hơn 30 dân tộc Tây Bắc đã làm nên thắng lợi năm xưa trong cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Một, 2025, 07:54:33 pm
MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM HẬU CẦN CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Đại tá. PGS, TS DƯƠNG HỒNG ANH
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Kỹ thuật quân sự -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Bước sang năm 1952, rút kinh nghiệm những mặt thành công và chưa thành công của các chiến dịch tiến công trên hướng trung du và đồng bằng - nơi địch phát huy được ưu thế về hỏa lực và sức cơ động, tháng 4 năm 1952, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch tiến công địch trên chiến trường Tây Bắc.


Địa hình Tây Bắc hiểm trở, núi non trùng điệp, có dãy núi Hoàng Liên Sơn cao nhất nước ta. Đây là địa bàn chiến lược quan trọng, nhưng lại là nơi địch có nhiều sơ hở1 (Trên địa bàn Tây Bắc, địch có 8 tiểu đoàn và 43 đại đội bộ binh bố trí thành 144 cứ điểm thuộc 4 phân khu Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La và 3 tiểu khu độc lập Thuận Châu, Phù Yên, Tuần Giáo. Trong quá trình chiến dịch, địch tăng cường thêm 9 tiểu đoàn bộ binh và dù Âu - Phi, 3 tiểu đoàn ngụy, 1 tiểu đoàn biệt kích hỗn hợp, 1 tiểu đoàn pháo binh). Vì vậy, mở chiến dịch ở Tây Bắc ta có thể tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, giải phóng đất đai, phá âm mưu của Pháp lập Xứ Thái tự trị, mở rộng vùng tự do, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động phía Thượng Lào.


Lực lượng của ta tham gia chiến dịch có Đại đoàn 308, Đại đoàn 312, Đại đoàn 316 (thiếu), Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148; 6 đại đội sơn pháo 75mm với 12 khẩu, 3 đại đội súng cối 120mm, 1 trung đoàn công binh và 11 đại đội bộ đội địa phương do Bộ Tổng tư lệnh tổ chức chỉ huy1 (Bộ Quốc phòng. Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2004, tr.195). Sau gần hai tháng chiến đấu, quân và dân ta đã bắt hơn6.000 địch (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội) giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 28.500km2 với 250.000 dân) nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, giữ vững thế chủ động tiến công, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng của địch. Thắng lợi đó là kết quả của sự nỗ lực và quyết tâm của toàn quân và toàn dân ta, trong đó có cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận hậu cần.


Thực hiện chủ trương chuyển hướng tiến công chiến lược, từ tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo các cấp, các ngành khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch. Tháng 5 năm 1952, Tổng cục Cung cấp bắt đầu tiến hành chuẩn bị chiến trường trên hướng Tây Bắc.


Quân số hậu cần chiến dịch phải bảo đảm khoảng 35.000 người. Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp Trần Đăng Ninh trực tiếp chỉ đạo công tác hậu cần. Phân công cán bộ của Tổng cục xuống phụ trách ở Liên khu Việt Bắc, Liên khu 3 và Liên khu 4 để tổ chức huy động nhân vật lực ở 10 tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên thuộc Liên khu Việt Bắc; Hòa Bình, Hà Nam, Ninh Bình thuộc Liên khu 3; Thanh Hóa, Nghệ An thuộc Liên khu 4. Hậu cần các cấp đã huy động trên 10.000 tấn lương thực, thực phẩm; 191.000 lượt dân công với trên 7 triệu ngày công. Kết quả đã bảo đảm 9.360 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt (không kể số thực phẩm các đơn vị đã chuẩn bị và khai thác tại chỗ), 33 tấn đạn; cứu chữa 2.535 thương binh1 (Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần. Từ điển Hậu cần quân sự, Nxb Quân độinhân dân, H. 2009, tr. 210).


Tuy nhiên, đây là một chiến dịch có quy mô lớn, thời gian diễn ra dài ở chiến trường rừng núi xa căn cứ hậu phương, hệ thống đường sá phục vụ bảo đảm hầu như chưa có nên công tác hậu cần gặp rất nhiều khó khăn. Ở giai đoạn đầu, do cơ quan tham mưu kế hoạch hậu cần và vận tải nghiên cứu chuẩn bị chiến trường chưa chu đáo, chỉ huy chỉ đạo có phần chủ quan, thiếu kiểm tra đôn đốc, không xử lý kịp thời các diễn biến nên trong đợt 1 của chiến dịch công tác hậu cần không hoàn thành nhiệm vụ trên tuyến vận tải Mậu A - Khâu Vác - Nậm Mười. Ở tuyến vận tải này, do đường nhỏ, độc đạo, khó đi, lại đi chung với các lực lượng khác nên vật chất hậu cần trên tuyến bị ùn tắc, đến điểm tập kết chậm hơn quy định, không kịp đáp ứng đủ nhu cầu cho bộ đội, làm ảnh hưởng đến kế hoạch tác chiến. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ ở Mặt trận Tây Bắc, Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ rõ: Công tác cung cấp còn nhiều thiếu sót để có lúc bộ đội phải ăn đói2 (Văn kiện quân sự của Đảng, tập 3, H. 1997, tr. 24). Đợt 2, đợt 3 các lực lượng hậu cần đã nhanh chóng rút kinh nghiệm, khắc phục khó khăn đểm ở đường, tiếp tế lương thực cho bộ đội, vận chuyển cứu chữa thương binh kịp thời, góp phần cùng các đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến dịch.


Chiến dịch Tây Bắc để lại nhiều kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công về tổ chức bảo đảm hậu cần. Đó là:

Thứ nhất: Tác chiến trên địa bàn rừng núi, hệ thống đường sá chưa phát triển, cần tập trung xây dựng, sửa chữa, chuẩn bị mạng đường vận tải đủ đáp ứng yêu cầu phục vụ chiến dịch.

Theo đề nghị của Tổng Quân ủy và Tổng cục Cung cấp, tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban cán sự đường 41 gồm các đồng chí Hoàng Văn Tiến, Nguyễn Văn Thân... trực tiếp chỉ đạo công tác mở đường và chuẩn bị phục vụ chiến dịch.


Tuy nhiên, Trung ương nhận định công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì hậu phương Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh đều cách xa Tây Bắc hàng trăm kilômét. Tây Bắc là vùng địch chiếm đóng từ lâu, kinh tế nghèo nàn, dân cư thưa thớt, chủ yếu là dân tộc ít người, kinh tế chủ yếu là tự cung, tự cấp, lại bị địch khủng bố, bóc lột tàn tệ nên đời sống nhân dân rất thấp, khả năng huy động sức người, sức của tại chỗ rất hạn chế. Đây lại là địa bàn có địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi sông suối, rừng núi. Sông Đà, sông Mã nhiều ghềnh thác, nước chảy xiết quanh năm, cùng với sông Hồng và các sông khác chia cắt Tây Bắc thành nhiều khu vực. Vào Tây Bắc chỉ có 2 con đường chính: Đường số 41 từ Hoà Bình đi Suối Rút, đường số 13 từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Cả 2 con đường này đều là đường rừng núi bị hư hỏng nhiều do lâu ngày không được sửa chữa, tu bổ. Tại các ngã ba, ngã tư tuyến đường liên tỉnh, huyện đểu bị địch khống chế và thường xuyên tổ chức tuần tiễu, lùng sục khiến cho cán bộ, bộ đội ta vào hoạt động rất khó khăn.


Theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Chính phủ, các liên khu khẩn trương sửa chữa đường sá, mở thêm các tuyến đường mới và chuẩn bị lương thực, thực phẩm. Liên khu Việt Bắc mở đường chạy dọc theo bờ tả ngạn sông Hồng từ Phú Thọ đến Yên Bái và đẩy mạnh tu sửa tuyến đường sắt từ Yên Bái đến Mậu A, bảo đảm cho xe camiôngray có thể kéo một toa tàu chạy thường xuyên. Liên khu 3 sửa chữa đường từ Ghềnh, Nho Quan lên Hòa Bình, đường 41 từ Hòa Bình qua Chợ Bờ, Suối Rút (dài 160km). Liên khu 4 sửa chữa đường từ Thanh Hóa lên Ngọc Lạc, Hồi Xuân, Bãi Sang và đường chuyển gạo từ Tình Gia lên. Trong 3 tháng hè năm 1952, nhân dân Liên khu 3, Liên khu 4 sửa chữa được 170km đường ô tô, 150km đường cho dân công và huy động được 5.254 tấn gạo.


Chuẩn bị cho đợt 2, Tổng cục Cung cấp đã tổ chức vận chuyển vũ khí đạn, lương thực từ Phú Thọ và Yên Bái sang hữu ngạn sông Hồng. Theo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, các đơn vị đều tổ chức bộ phận sửa chữa đường, vận tải gạo, đạn và chuyển thương binh vế tuyến sau. Lực lượng trên tuyến Khâu Vác và Sài Lương sau khi giải thể được tập trung lên đường 13, tổ chức tuyến vận tải từ Âu Lâu, Ba Khe đến Tông Cao, Gia Phù, đồng thời khẩn trương củng cố tuyến Thu Cúc, Quang Huy, Tông Cao...


Việc tổ chức các tuyến đường vận tải và thực hành công tác vận tải có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đôì với chiến dịch xa hậu phương. Trong chiến dịch Tây Bắc, hậu cần đã có những sáng tạo về tổ chức vận tải như rải trạm vận tải theo sát bộ đội hành quân vào chiến đấu và truy kích địch, kết hợp các phương thức vận tải bằng sức người, bằng các phương tiện thô sơ và cơ giới. Các hình thức vận tải đèn lồng, vận tải cuốn chiếu, bố trí vận tải theo hình búp măng...


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Một, 2025, 07:56:31 pm
Thứ hai: Trong điều kiện nền kinh tế địa bàn chiến dịch còn hạn chế, cần kết hợp chặt chẽ huy động vật chất hậu cần tại chỗ và từ nơi khác đưa đến.

Lượng vật chất bảo đảm cho chiến dịch ước tính khoảng 9.000 tấn lương thực, thực phẩm; 120 tấn vũ khí đạn và dụng cụ, thuốc men cần thiết. Vì vậy, số dân công cần huy động khoảng 35.000 người, làm nhiệm vụ vận chuyển vật chất từ hậu phương ra tiền tuyến.


Bảo đảm cho phương châm tác chiến là đánh liên tục, dài ngày, từng bước vững chắc, nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng, bao vây chặt, truy kích đến cùng, tiêu diệt gọn nên khối lượng vật chất hậu cần là rất lớn. Sau khi tính toán, cân nhắc, Tổng cục nhận thấy trong quá trình chiến dịch ta có thể tận dụng được nhiều chiến lợi phẩm để bổ sung cho bộ đội nên chủ trương chỉ chuẩn bị 81 tấn vũ khí đạn ở các kho trung tuyến nhằm hạn chế việc huy động nhiều dân công. Số vũ khí đạn còn lại bố trí ở Hào Gia và Mậu A phục vụ hướng Nghĩa Lộ. Ngoài ra, Cục Quân khí còn bố trí một kho nhỏ ở Thạch Kiệt phục vụ cho hướng Gia Phù, đồng thời chuẩn bị sẵn thêm một số dự trữ ở kho Đoan Hùng để có thểbổ sung khi cần thiết.


Trong quá trình bảo đảm cho chiến dịch, lực lượng của ta không những phải tập trung vận chuyển một khối lượnglớn vũ khí, lương thực mà còn phải tu bổ lại nhiều đoạn đường do mưa lũ và máy bay địch phá hoại. Ngoài ra, phải khéo léo, bí mật, bất ngờ tổ chức chuyển gạo, đạn qua sông Thao. Sau đó, cán bộ, chiến sĩ làm công tác bảo đảm kỹ thuật lại phải hành quân cùng với bộ đội hàng trăm kilômét, xây dựng, bố trí các kho trạm sâu trong lòng dịch để thuận tiện cho việc cấp phát vũ khí đạn dược, phục vụ bộ đội tại chỗ...


Để khắc phục những khó khăn trong quá trình vượt sông, Bộ chỉ huy đã thành lập Ban chỉ huy vượt sông gồm cán bộ tham mưu, công binh, hậu cần, bảo vệ, công đoàn vận tải sông để thống nhất điều hành bộ đội, dân công vượt sông Hồng vào chiếm lĩnh trận địa. Chỉ tính riêng hướng Nghĩa Lộ đã có 27.800 bộ đội và 32.000 dân công mang theo vũ khí, lương thực vượt sông an toàn, đúng thời gian quy định. Ngoài ra, Ban chỉ huy vượt sông còn huy động nhiều thuyền mảng của nhân dân và lập thêm nhiều bến bãi nhằm bảo đảm cho bộ đội dân công vượt sông bí mật, nhanh chóng, an toàn. Các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ đã huy động của nhân dân 432 chiếc thuyền có trọng tải trên dưới 5 tạ làm công tác vận chuyển. Các thuyền được tổ chức thành từng đơn vị dưới sự chỉ huy thống nhất của Ban chỉ huy vượt sông. Các khu vực Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu mỗi nơi tổ chức thêm nhiều bến vượt, có bến riêng dành cho từng loại đối tượng, phương tiện theo khối lượng vận chuyển qua hướng đó.


Chuẩn bị cho đợt 2, việc huy động nhân lực, vật lực tại chỗ cũng được đẩy mạnh. Nhiều đơn vị cử cán bộ, chiến sĩ tham gia thu hoạch lúa với dân, đồng thời vận động nhân dân bán gạo cho bộ đội và đi dân công phục vụ chiến dịch.

Các địa phương khẩn trương thu thuế nông nghiệp, tổ chức xay giã, tập trung gạo ở các khu vực dự kiến sẽ tập kết bộ đội và các bến vượt sông ở bờ tả ngạn sông Hồng. Tính chung toàn chiến dịch, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã đóng góp 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, hơn 15.000 dân công. Riêng khu vực Nghĩa Lộ, hậu cần chiến dịch huy động được 160 tấn gạo, 16 tấn thịt1 (Lịch sử hậu cần trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Sđd. tr. 211).


Trên hướng đường 13, lực lượng hậu cần tập trung chuyển gạo, đạn từ Yên Bái sang, bảo đảm cho các đơn vị hành quân vượt sông Đà và trong các trận đánh ở hữu ngạn sông Đà. Đường 13 từ Ba Khe đến Tạ Khoa, Cò Nòi tiếp tục được mở vượt đèo Lũng Lô, đèo Bản Ban, đèo Nhọt, đèo Chẹn dài 130km. Ở bến Tạ Khoa công binh làm cầu phao, ngày tháo đêm lắp cho bộ đội và dân công qua sông. Ngoài 25 tấn gạo chuyển sang hướng đường 41, lực lượng hậu cần trên tuyến đường 13 đã chuẩn bị được 140 tấn cho các đơn vị tiếp tục ở lại Tây Bắc hoạt động sau chiến dịch và rải 313 tấn gạo dọc đường phục vụ bộ đội lui quân.


Kết quả ta đã huy động tại Việt Bắc 5.350 tấn gạo, 110 tấn muối, 220 tấn thực phẩm; ở Liên khu 3 và 4 là 5.254 tấn gạo, 54 tấn muối, 17 tấn thực phẩm; tại Tây Bắc (vùng mới giải phóng) được 1.140 tấn gạo, 81 tấn thực phẩm.

Thứ ba: Kết hợp chặt chẽ với các địa phương trên địa bàn chiến dịch, huy động đủ lực Lượng dân công phục vụ chiến dịch; kết hợp vận tải thô sơ sức người với vận tải cơ giới, khai thác tối đa phương tiện vận tải cơ giới.

Để đẩy mạnh việc huy động nhân lực phục vụ tiền tuyến, ngày 14 tháng 7 năm 1952, Chính phủ ban hành bản Điều lệ tạm thời về huy động dân công. Tiếp đó ban dân công các tỉnh cũng được thành lập. Việc gom lương, vận chuyển chủ yếu dựa vào nguồn nhân vật lực địa phương do Ban cung cấp tiền phương, Ban cán sự đường 41 của Tổng cục Cung cấp đảm nhiệm.


Chuẩn bị cho bộ đội đánh địch trên hướng chủ yếu ở Phân khu Nghĩa Lộ, các lực lượng hậu cần tập trung hơn 2.000 tấn gạo và 38.000 dân công ở Yên Bái, bên bờ tả ngạn sông Hồng phục vụ các đơn vị hành quân đến khu vực tập kết và chuẩn bị rải trạm theo đường tiến quân của bộ đội vào Tây Bắc. Liên tục trong các đêm từ 10 đến 13 tháng 10, hậu cần chiến dịch đã huy động 24.840 dân công chuyển hơn 1.000 tấn gạo, đạn và thực phẩm vượt sông Hồng ở các bến Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu.


Chuẩn bị cho đợt 2 Liên khu Việt Bắc gấp rút huy động thêm 12.000 dân công đế bổ sung và thay thế. Liên khu 4 huy động thêm 11.000 dân công của tỉnh Nghệ An. Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường đồng chí Đàm Quang Trung và Trần Văn Quang cùng 27 cán bộ trung cấp, sơ cấp cho hậu cần chiến dịch để tổ chức và chỉ huy các đoàn dân công trên đường 41. Do các tuyến vận tải đều được mở rộng, các trạm bố trí cung đường hợp lý cùng với việc áp dụng định mức khoán, nên năng suất đều vượt xa dự kiến. Ngoài dân công vận tải, trong đợt 2, hậu cần chiến dịch đã sử dụng ô tô vận tải ở một số đoạn. Trên đường 41, đoạn từ Suối Rút qua Mộc Hạ đến Lồm Xồm dài 64km, được sửa chữa gấp rút cho 30 xe ô tô hoạt động. Trên đường 13, đoạn từ Yên Bái đến Ba Khe dài 61km, cũng được tu bổ cho 34 xe ô tô hoạt động.


Việc vận chuyển được tổ chức theo cung chặng và cuốn chiếu. Phương tiện vận tải có 461 xe đạp thồ, 168 xe trâu, bò kéo, 24 thuyền, 30 ô tô đã vận chuyển được 528 tấn gạo (trong đó có 410 tấn từ Suối Rút lên và 70 tấn huy động ở Mộc Châu, 25 tấn từ đường 13 sang), bảo đảm kịp thời cho bộ đội tiến công và một phần dự trữ.


Tính chung toàn chiến dịch, khối lượng vận chuyển của dân công chiếm 34%, ô tô chiếm 44,5%; xe thô sơ, thuyền nan chiếm 21,5%.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Một, 2025, 07:58:14 pm
Thứ tư: Chuẩn bị bộ máy chỉ huy hậu cần mạnh, đồng bộ, tổ chức bố trí hậu cần hợp lý có trọng điểm và chiều sâu, bám sát bộ đội trong quá trình chiến đấu.

Nhận rõ những khó khăn về bảo đảm hậu cần cho bộ đội tác chiến, Tổng cục xác định nguồn cung cấp chủ yếu phải dựa vào việc vận chuyển từ Việt Bắc sang và từ Liên Khu 3, Liên khu 4 lên. Các đồng chí Trần Đăng Ninh, Nguyễn Thanh Bình,... được phân công chỉ đạo các địa bàn Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4.


Do tầm quan trọng của chiến dịch, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định cử đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp trực tiếp phụ trách công tác cung cấp tiền phương. Bộ Giao thông công chính đặt kế hoạch khẩn trương tu bổ các tuyến đường cho dân công, xe ô tô lên Tây Bắc. Một hệ thống kho tàng được thiết lập ở vùng Mậu A, Cổ Phúc, Văn Phúc, Giới Phiên, Thạch Kiệt phía tả ngạn sông Thao và vùng Suối Rút tỉnh Hoà Bình.


Đến tháng 8 năm 1952, số vũ khí đạn chuẩn bị cho chiến dịch đã bảo đảm đủ. Tại kho ở khu vực Mậu A có 28 tấn kho ở Yên Bái có 58 tấn, kho Thu Cúc 41 tấn. Số vũ khí đạn dự trữ cùng được chuyển về các kho bố trí tại Đoan Hùng, Sơn Dương.

Các đơn vị tham gia chiến dịch trước khi hành quân tới vị trí tập kết đã được Cục Quân khí cấp phát đủ cơ số vũ khí đạn. Song việc bổ sung vũ khí đạn cho các đơn vị trong quá trình chiến đấu gặp không ít khó khăn do các đơn vị không nắm được chính xác yêu cầu của mình nên phải tiến hành bổ sung nhiều lần. Nhiều chủng loại vũ khí, đạn không đúng tiêu chuẩn hoặc hư hỏng, nhưng do các đơn vị không kiểm tra nên trước khi hành quân mới yêu cầu đổi, nhất là đối với lựu đạn, đạn hỏng, liều phóng... Mặc dù vậy, cán bộ, chiến sĩ quân khí vẫn tìm mọi cách khắc phục, bảo đảm đầy đủ nhu cầu của các đơn vị.


Chiến dịch phát triển nhanh, lực lượng phục vụ chiến dịch cũng hết sức cố gắng vận chuyển vũ khí đạn theo sát bộ đội, bổ sung đầy đủ theo yêu cầu của các đơn vị. Ở hướng phối hợp (Liên khu 3, Liên khu 4), Ban cán sự đường 41 ở Suối Rút, Chợ Bờ chuẩn bị vũ khí đạn dược, phương tiện sẵn sàng chi viện cho chiến dịch theo hướng Mộc Châu - Sơn La. Đáp ứng kịp thời cho đợt 2 của chiến dịch. Trong đợt chiến đấu này, Ban cán sự đường 41 tổ chức gánh gạo, đạn theo sát bộ đội trong tiến công và truy kích địch. Nỗ lực của ngành hậu cần đã góp phần vào thắng lợi đợt 2 của chiến dịch, tiêu diệt 3.000 tên địch, trong đó có 2 tiểu đoàn bị tiêu diệt gọn, làm thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn và một bộ phận của tiểu đoàn dù. Tỉnh Sơn La được giải phóng (trừ Nà Sản). Địch phải co cụm về Nà Sản, tập trung xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm mạnh.


Thứ năm: Phát huy vai trò và sức mạnh của hậu phương, quan tâm bảo vệ hậu cần và bảo vệ hậu phương trong quá trình diễn ra chiến dịch.

Để giữ yếu tố bí mật, bất ngờ cho chiến dịch, theo quy định cơ quan hậu cần kỹ thuật không được chuyển vật chất lên trước lót sẵn lập chân hàng và bố trí kho tàng ở khu vực chiến đấu mà phải chuẩn bị sẵn ở tả ngạn sông Hông. Khi bộ đội vượt sông tiến vào vùng địch, hậu cần mới rải trạm vận chuyển phục vụ cho các đơn vị.


Đêm ngày 14 tháng 10 năm 1952, các đại đoàn đồng loạt nổ súng mở màn đợt 1 chiến dịch. Sau 5 ngày đêm chiến đấu liên tục, bộ đội ta đã đánh chiếm, bức rút nhiều đồn bốt, giải phóng Nghĩa Lộ, Phù Yên, Ca Vịnh, Sài Lương... Trước đòn tiến công của ta, địch vội vã huy động 3 binh đoàn cơ động mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ hòng kéo lực lượng chủ lực của ta từ Tây Bắc trở về bảo vệ Việt Bắc. Trước âm mưu của địch, Tổng cục Cung cấp đã chỉ thị cho các cơ sở ở khu vực bị địch tiến công phải cấp tốc sơ tán và tổ chức chiến đấu bảo vệ công xưởng. Quán triệt mục tiêu chiến đấu của Tổng cục, các xưởng một mặt tổ chức việc sơ tán trang thiết bị, một mặt chuẩn bị chiến đấu. Xưởng quân giới ở Hiên tổ chức gài mìn quanh khu vực công xưởng, tổ chức đánh du kích, quấy rối, tiêu hao sinh lực địch, chặn đứng các cuộc tiến công của địch vào công xưởng. Kho quân khí D5 ở Đoan Hùng do nhận được thông báo chậm nên không kịp tổ chức sơ tán vì vậy bị địch phá hủy mất gần 100 tấn vũ khí đạn. Một số kho gạo, muối của địa phương cũng bị địch phá hủy1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử hậu cần - kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Nxb Quân độinhân dân. H. 2010, tr. 438). Cùng với cuộc tiến công trên bộ, địch dùng không quân đánh phá ác liệt các tuyến vận chuyển của ta từ Việt Bắc sang. Các trọng điểm như Đèo Giàng, Đèo Khế thường xuyên bị tắc.Các tuyến vận tải từ hậu phương ra tiến tuyến trở thành mặt trận chiến đấu quyết liệt. Bảo đảm giao thông, vận tải chống địch phá hoại trở thành nhiệm vụ chiến đấu của các lực lượng trên tuyến hậu cần kỹ thuật.


Trong chiến dịch Tây Bắc, các lực lượng hậu cần kỹ thuật quân sự đã kịp thời lập phương án tạo chân hàng và xây dựng các kho dọc theo hướng phát triển của chiến dịch, đồng thời mạnh dạn dự tính khối lượng chiến lợi phẩm để cung cấp ngay cho bộ đội chiến đấu. Nhờ đó, lương thực, thực phẩm, vũ khí trang bị kỹ thuật phục vụ yêu cầu của chiến dịch đã được bảo đảm đầy đủ, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực ta tiêu diệt địch, giải phóng đất đai. Ta thu được của địch một khối lượng lớn vũ khí trang bị, trong đó có 3.002 súng trường, 500 tiểu liên, 205 trung liên, 35 đại liên, 65 súng cối, 11 khẩu pháo, 98 máy vô tuyến điện, 7 xe Jeép và 100 tấn đạn các loại.


Bảo đảm cho một chiến dịch lớn, dài ngày trên chiến trường rừng núi, trong khi hệ thống đường sá phục vụ bảo đảm hầu như chưa có, lại xa hậu phương nên công tác hậu cần gặp rất nhiều khó khăn. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Anh em bên cung cấp phải có quyết tâm để có lương thực, vũ khí cho bộ đội"1 (Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 6, tr. 559), bằng những phương án táo bạo, đồng thời rút kinh nghiệm sau từng đợt, lực lượng trên tuyến hậu cần đã khắc phục mọi khó khăn để mở đường và vận tải tiếp tế lương thực, đạn dược, phục vụ bộ đội tiến công, truy kích địch, cứu chữa thương bệnh binh.


Tính chung trong toàn chiến dịch, nhân dân Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 và các vùng mới giải phóng Tây Bắc đã huy động 191.000 lượt người đi dân công, đóng góp hơn 7 triệu ngày công, 1.011 xe đạp thồ, 258 xe trâu bò và 556 thuyền vận tải trên sông Hồng, sông Đà, cung cấp cho chiến dịch 9.360 tấn gạo, 359 tấn muối và thực phẩm, 33 tấn đạn, 2.535 thương binh được cứu chữa tại mặt trận và đưa về các bệnh viện hậu phương an toàn...1 (Đây là lần đầu tiên hậu cần chiến dịch vận chuyển thương binh bằng cơ giới).


Chiến dịch Tây Bắc để lại những kinh nghiệm quý về tổ chức và bảo đảm hậu cần kỹ thuật. Đó là công tác phân công phối hợp giữa công tác hậu cần ở hậu phương với việc huy động nhân lực, vật lực phục vụ tiền tuyến và bảo đảm các nhu cầu của chiến dịch ờ phía trước. Chiến dịch lớn, dài ngày nên không chỉ quan tâm đến việc huy động lực lượng, vật chất ở phía sau mà đòi hỏi hậu cần chiến dịch đặc biệt là hậu cần tiền phương phải hướng ra phía trước, bám sát chiến trường, nắm chắc tình hình hành quân và chiến đấu của bộ đội. Những kinh nghiệm đó được nghiên cứu, vận dụng cho công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong giai đoạn hiện nay.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Một, 2025, 08:02:00 pm
MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ CHỌN HƯỚNG TIẾN CÔNG
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá, TS VŨ TANG BỔNG
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Kỹ thuật quân sự -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Năm 1952, cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp bước sang năm thứ 7 nhưng ngày càng đi vào ngõ cụt. Thắng lợi liên tiếp của quân và dân ta, đặc biệt là từ sau chiến dịch Biên Giới (Thu Đông 1950) càng khiến cho tình hình nước Pháp thêm rối ren. Phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp phản đối "cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo và bẩn thỉu", ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta ngày càng mạnh mẽ. Nhưng với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, lại được Mỹ tăng cường viện trợ, giới thực dân phản động Pháp vẫn tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương.


Trên chiến trường Việt Nam, thực dân Pháp ra sức bình định và mở rộng phạm vi chiếm đóng. Tại đồng bằng và trung du Bắc Bộ, trong Xuân Hè 1952 chúng liên tiếp mở hàng trăm cuộc càn quét lớn nhỏ trong đó có 20 cuộc càn có quy mô từ 18 đến 20 tiểu đoàn, có cuộc càn kéo dài tới 2 tháng. Chúng tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch lập "Vành đai trắng", xây dựng hệ thống đồn bốt, "boong ke" kiên cố, ra sức bắt lính, phát triển ngụy quân, bao vây kinh tế, phá hoại tiềm lực kháng chiến của ta. Tuy nhiên, trước sự đấu tranh anh dũng của quân dân ta, chúng chẳng những không cải thiện được tình hình mà ngày càng lún sâu vào thế bị động chiến lược.


Để đối phó với ta, lực lượng địch chủ yếu được bố trí ở chiến trường chính Bắc Bộ với 88 tiểu đoàn bộ binh (trong đó có 32 tiểu đoàn cơ động). Riêng ở đồng bằng, địch có 25 tiểu đoàn cơ động, trung du có 4 tiểu đoàn, Tây Bắc có 3 tiểu đoàn. Máy bay có 145 chiếc, chiếm 42% lực lượng không quân của chúng trên toàn chiến trường Đông Dương. Pháo binh có 11 tiểu đoàn chiếm 50%. Các lực lượng binh chủng khác cũng được bố trí với tỷ lệ cao (cơ giới 37%, công binh 57%)1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Bắc. Sđd, tr. 7. 8. 9).


Về phía ta, sau thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình, thế chủ động chiến lược ngày càng được củng cố, khả năng và trình độ tác chiến của cả ba thứ quân ngày càng được nâng cao. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở vùng sau lưng địch tuy có nơi gặp khó khăn, tổn thất nhưng nhìn chung vẫn giữ vững và phát triển. Nhiều khu du kích, căn cứ du kích liên thôn, liên xã, liên huyện hình thành và hoạt động ngày càng mạnh mẽ khiến hậu phương địch luôn mất ổn định, thế bố trí chiến lược của chúng bị đảo lộn, mâu thuẫn giữa yêu cầu tập trung khối quân cơ động với phân tán lực lượng để chiếm giữ những vùng đã chiếm đóng ngày càng gay gắt, không thể khắc phục nổi.


Có thể nói, các điều kiện để ta mở một chiến dịch tiến công trong Thu Đông 1952 đã chín muồi. Vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định là chọn hướng tiến công ở đâu cho phù hợp với nhiệm vụ của giai đoạn chiến lược, phù hợp với tương quan lực lượng giữa địch và ta, trong điều kiện địch chiếm ưu thế về vũ khí trang bị?


Sau thắng lợi của chiến dịch Biên Giới (Thu Đông 1950), trong năm 1951 ta liên tiếp mở 4 chiến dịch tiến công địch ở chiến trường chính Bắc Bộ (không tính chiến dịch phản công Hòa Bình). Ngoài chiến dịch Lý Thường Kiệt tiến công Nghĩa Lộ (tháng 10-1951) hoàn thành một phần mục đích đề ra còn ba chiến dịch khác (chiến dịch Trần Hưng Đạo ở trung du, chiến dịch Hoàng Hoa Thám ở đường số 18, chiến dịch Quang Trung ở Hà - Nam - Ninh) đều không thành công như mong đợi. Nguyên nhân chính là do ta chọn hướng tiến công không chính xác. Vì trung du và đồng bằng là nơi địch phát huy được ưu thế về vũ khí trang bị, hỏa lực và khả năng cơ động, trong khi đây lại là những nơi bộ đội chủ lực ta không phát huy được sức mạnh và sở trường của mình do yếu kém hơn địch về vũ khí trang bị. Ngoài ra sau chiến thắng Biên Giới, ta bắt đầu nhận được sự giúp đỡ của các nước anh em. Số vũ khí trang bị ta nhận được tuy không lớn nhưng ít nhiều đã nảy sinh tư tưởng dựa vào viện trợ của nước ngoài, nôn nóng, muốn đánh lớn, thắng nhanh. Các bạn Trung Quốc, Liên Xô cũng muốn ta sớm giành thắng lợi để tập trung vào cuộc chiến tranh Triều Tiên đang diễn ra hết sức gay go quyết liệt.


Tháng 4 năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 3. Tại hội nghị này, Trung ương đã nghiêm túc kiểm điểm, phê phán những nhận thức và tư tưởng sai trái kể trên đồng thời quán triệt thêm một bước đường lối kháng chiến trường kỳ, phương châm, nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn này. Trong lúc địch còn mạnh hơn ta về vũ khí trang bị, về tổng quân số lực lượng cơ động chiến lược của ta mới chỉ xấp xỉ địch, ta tuy nắm quyền chủ động nhưng chưa đủ ưu thế áp đảo địch thì việc chọn hướng mở chiến dịch phải phủ hợp với thế và lực của ta. Ta cần chọn nơi địch yếu, sơ hở mà đánh, khoét sâu vào những chỗ yếu cơ bản của địch, làm chúng suy yếu dần, ta dần trưởng thành lên, giành thắng lợi từng bước, dần dần tạo ra chuyển biến so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta; tiến lên tiến hành những chiến dịch, những trận quyết chiến chiến lược giành thắng lợi quyết định.


Từ những nhận định đánh giá đúng đắn, chính xác và khoa học nói trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đề ra chủ trương: Tiếp tục phát huy quyền chủ động chiến lược mở chiến dịch tiến công địch trong Thu Đông 1952 với phương châm: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh.


Cũng cần phải trình bày thêm, tháng 2 năm 1952, ngay khi chiến dịch Hòa Bình sắp kết thúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị đã có ý định sơ bộ mở các chiến dịch tiến công địch trên hướng Tây Bắc và Thượng Lào và đã giao cho Bộ Tổng tư lệnh nghiên cứu, chuẩn bị nhằm "Tiêu diệt sinh lực địch, kể cả quân tăng viện từ đồng bằng lên, giải phóng một vùng rộng lớn ở Tây Bắc và Thượng Lào, tranh thủ nhân dân"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2005, tr. 158). Trong đó nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch có vị trí quan trọng đặc biệt. Chỉ có làm tốt nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch mới làm tốt được hai nhiệm vụ kia. Giải phóng được Tây Bắc và Thượng Lào còn có ý nghĩa lâu dài đối với cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước. Giải phóng được Tây Bắc sẽ mở rộng thêm hậu phương chiến lược, liên kết được chiến trường hai nước, mở rộng thêm được đường liên lạc với quốc tế. Đặc biệt giải phóng được Tây Bắc là bước đầu của chiến lược giành quyền làm chủ vùng rừng núi suốt từ Việt Bắc, Tây Bắc đến miền Đông Nam Bộ, tạo điều kiện đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam pu chia1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2005. tr. 158).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Một, 2025, 08:03:32 pm
Như vậy, việc mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc là một chủ trương sớm được hình thành ngay sau thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Chủ trương đó dự kiến sẽ được thực hiện làm hai bước, trong hai năm. Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, chiến dịch Thượng Lào năm 1953.


Thực hiện chủ trương trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh sớm triển khai mọi công tác chuẩn bị và xây dựng kế hoạch tác chiến. Việc đầu tiên là phải nắm được cụ thể tình hình địch ở Tây Bắc. Tiếp đó là công tác xây dựng cơ sở, tổ chức phát động nhân dân các dân tộc ủng hộ và tham gia kháng chiến. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nể vì Tây Bắc là vùng rừng núi hiểm trở, đi lại khó khăn, phần lớn nhân dân bị địch kiểm soát khống chế, kìm kẹp ngay từ trước và sau Cách mạng tháng Tám. Đời sống nhân dân hết sức cực khô, nghèo nàn, lạc hậu. Tiếp theo đó là công tác huy động dân công mở đường, vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí đạn dược... từ Việt Bắc sang, từ Khu 3, Khu 4 lên; công tác huy động hậu cần tại chỗ... cuối cùng là tổ chức lực lượng, lựa chọn cách đánh, chọn hướng tiến công, mục tiêu tiến công. Đó là cả một khối lượng công việc đồ sộ, cần phải huy động sức mạnh của mọi cấp, mọi ngành, mọi lực lượng... mới có thể giải quyết được...


Sau hơn 5 tháng làm công tác chuẩn bị, dựa vào so sánh thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường, căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chính thức quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm mục đích:

   " - Tiêu diệt sinh lực địch.
   - Tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc.
   - Giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc"1 (Bộ Tổng tham mưu, Kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, tập II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1963. tr.139)


Chọn Tây Bắc để mở chiến dịch tiến công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đã có sự cân nhắc đúng đắn trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình địch ta chính xác, khách quan và khoa học. Ta đưa chủ lực đánh vào một địa bàn chiến lược hiếm yếu ở rừng núi, nơi địch tương đối yếu và sơ hở. Đây là nơi chúng khó phát huy ưu thế về vũ khí trang bị đặc biệt là không quân, pháo binh và khả năng cơ động. Trong khi đó chiến trường rừng núi lại là nơi ta có thể phát huy sở trường, khắc phục chỗ yếu của mình; hạn chế sở trường khoét sâu chỗ yếu của địch. Ở đồng bằng Bắc Bộ, hướng phòng thủ chủ yếu của địch, nơi tập trung lực lượng cơ động và có thể phát huy ưu thế của vũ khí, trang bị, hỏa lực thì ta chỉ sử dụng một bộ phận chủ lực phối hợp cùng các lực lượng vũ trang địa phương tận dụng thời cơ địch phải tập trung đỏi phó với cuộc tiến công của ta ở Tây Bắc đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát động nhân dân vùng dậy phá tề trừ gian, mở rộng thêm các khu du kích và căn cứ du kích, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Đồng thời, thắng lợi của chiến dịch lại cổ vũ, tạo điều kiện, hỗ trợ cho các hoạt động kháng chiến của quần dân ta ở đồng bằng và các chiến trường khác giành thắng lợi lớn hơn.


Sau gần 2 tháng mở chiến dịch Tây Bắc (14-10 đến 10-12-1952) kể cả trung du và đồng bằng Bắc Bộ, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 13.800 tên địch. Riêng Mặt trận Tây Bắc, quân dân ta đã tiêu diệt, bắt và làm bị thương hơn 6.000 tên. Nhiều tiểu đoàn, đại đội thuộc các binh đoàn cơ động của địch bị xóa sổ1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994. tr. 232 - 233). Nhiều tên phản động tay sai người địa phương, nhiều tên thực dân cáo già nhiều năm cai trị, thống trị Tây Bắc phải đền tội. Âm mưu củng cố "Xứ Thái tự trị", "Xứ Nùng tự trị" nhằm "chia để trị" của thực dân phản động Pháp bị thất bại hoàn toàn. Tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản), bốn huyện phía nam Lai Châu, hai huyện phía tây Yên Bái rộng 28.500km2 với 25 vạn dân được giải phóng. Những cánh đồng lớn, những vựa lúa ở Tây Bắc (Điện Biên, Nghĩa Lộ, Than Uyên, Quang Huy, Phù Yên) lắm thóc, nhiều lâm thổ sản, thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi, trồng trọt đã thuộc về nhân dân ta. Tám phần mười đất đai ở Tây Bắc được giải phóng nối liền với căn cứ địa Việt Bắc, bổ sung cho tiềm lực kháng chiến và làm cho hậu phương kháng chiến của cả nước thêm lớn mạnh. Đường giao thông liên lạc từ Trung Quốc, Lào qua Việt Nam, từ Tây Bắc, Việt Bắc xuống Liên khu 3, Liên khu 4 vào Liên khu 5 và Nam Bộ dễ dàng, thuận tiện hơn, tạo thêm những điều kiện mới để quân và dân ta tiến lên giành nhiều thắng lợi lớn hơn nữa.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cá về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Với chiến thắng Tây Bắc, hình thái chiến trường đã thay đổi theo hướng ngày càng có lợi cho ta. Ta đã giữ vững và từng bước mở rộng quyền chủ động chiến lược. Các lực lượng vũ trang nhân dân ta tích lũy thêm được nhiều kinh nghiệm tác chiến quy mô lớn hơn, hiệp đồng binh chủng cao hơn trên chiến trường rừng núi, xa hậu phương. Đặc biệt bộ đội chủ lực ta dần dần làm quen với cách đánh cứ điểm, tập đoàn cứ điểm mạnh. Đối với thực dân Pháp xâm lược, như tờ báo Bằng chứng Cơ đốc giáo xuất bản tại Pari những ngày đó đã khẳng định: "Tiếng súng Tây Bắc báo hiệu một mùa đông đáng lo ngại nữa cho Pháp, mùa đông thứ tám của cuộc chiến tranh ngày càng gợi ra những hình ảnh lo âu, thất vọng"1 (Theo Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập II, Sđd, tr. 233). Còn tướng Xalăng, Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương cũng phải chua chát thốt lên "Rõ ràng không thể chối cãi được rằng quá nhiều đơn vị của chúng ta không thích ứng với cuộcchiến đấu trong rừng rậm, nơi mà Việt Minh làm chủ... và điều đó khiến tôi đau đầu... Hàng ngày tôi luôn nhận được những tin tức đáng ưu phiền"1 (Raun Xalăng, Việt Minh - đối thủ của tôi. xuất bản tại Pari năm 1971, tập 2, Thư viện Quân đội dịch, tr. 363 - 364).


60 năm nhìn lại chiến thắng Tây Bắc, chúng ta càng thấy rõ chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh mở chiến dịch tiến công Tây Bắc là hoàn toàn đúng đắn, chính xác. "Ta đã thắng to vì có sự lựa chọn hướng tiến công chiến lược đúng đắn. Có hướng tiến công chiến lược chính xác mới có chiến dịch thắng lợi"2 (Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tập II. Sđd, tr. 233 - 234).


Việc chọn hướng tiến công chiến lược đúng đắn, chính xác phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chiến lược, phù hợp với tương quan lực lượng địch - ta, phù hợp với thực tế chiến trường trong chiến dịch Tây Bắc đã khẳng định trình độ lãnh đạo chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, trình độ chỉ đạo, chỉ huy của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh ngày càng được nâng cao đồng thời khẳng định bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật chiến dịch nói riêng.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Một, 2025, 08:06:43 pm
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 BÀI HỌC VỀ LỰA CHỌN CHIẾN TRƯỜNG

Trung tá, ThS LÊ THANH BÀI
Phó Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong chiến tranh cách mạng tư tưởng tiến công luôn giữ thế chủ đạo. Thống kê sơ bộ cho thấy, loại hình chiến dịch tiến công chiếm khoảng 80% trong tổng số chiến dịch đã được thực hiện trong hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Mục tiêu của các chiến dịch tiến công là tiêu diệt địch, giải phóng đất đai,... Để thành công, yếu tố lựa chọn, xác định chiến trường mở chiến dịch phù hợp với tương quan lực lượng địch, ta đóng vai trò hết sức quan trọng. Chiến trường được lựa chọn phải đạt hai yêu cầu căn bản: một là, nơi địch yếu, ta có điều kiện phát triển thuận lợi vào chiều sâu phòng ngự của địch để tiêu diệt mục tiêu quan trọng bên trong; hai là, nơi ta có thể triển khai lực lượng một cách thuận lợi. Thắng lợi của chiến dịch tiến công Tây Bắc Thu Đông 1952 là một điển hình cho việc lựa chọn chiến trường. Nhờ lựa chọn đúng chiến trường, quân và dân ta đã phát huy thế mạnh, giành ưu thế, giữ quyền chủ động, thực hiện thành công mục tiêu của chiến dịch,tạo nên bước chuyển biến quan trọng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Thắng lợi chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950 đã tạo nên bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta. Tiếp tục phát triển thế tiến công, giành quyền chủ động chiến lược, từ tháng 12 năm 1950 đến tháng 6 năm 1951, ta liên tiếp mở các chiến dịch, sử dụng từ hai đến ba đại đoàn, kết hợp với Chiến tranh du kích, tiến công vào các phòng tuyến của quân Pháp ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, phá kế hoạch củng cố lực lượng và bình định đồng bằng của Pháp. Tuy nhiên cả ba chiến dịch Trần Hưng Đạo (25.12.1950 - 18.1.1951), Hoàng Hoa Thám (23.3 - 7.4.1951) và Hà Nam Ninh (28.5 - 20.6.1951) đều không đạt được mục tiêu chiến lược và chiến dịch. "Có nhiều nguyên nhân, song điều chủ yếu là do ta chủ quan, đánh giá không đúng tình hình so sánh lực lượng địch, ta ở địa bàn chiến lược này; ta chọn hướng tiến công chiến lược ở nơi địch có khả năng phát huy hiệu lực của các loại binh khí kỹ thuật hiện đại là hỏa lực mạnh và cơ động nhanh của chúng. Như vậy là chưa phù hợp với đặc điểm địch và ta lúc đó"1 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh - Trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, H.1996, tr. 178).


Trong khi đó, sau khi giành được những ưu thế tạm thời, Đờ Lát (De Lattre de Tassigny) - Cao ủy kiêm Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương cho rằng đã đến lúc phải có trận đánh có tính chất chiến lược hòng làm thay đổi tương quan lực lượng, nhất là lực lượng chủ lực cơ động, giành quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ để xoay chuyển tình thế cuộc chiến tranh. Bởi vậy, ông ta mở cuộc hành quân lên Hòa Bình, nhằm chiếm vị trí chiến lược, cắt đứt con đường liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc với đồng bằng Liên khu 3 và vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh. Tuy nhiên, tham vọng lớn lao của viên chỉ huy tài ba đã không thành hiện thực. Chớp thời cơ địch đưa quân lên Hòa Bình, quân và dân ta đã tiến hành chiến dịch phản công, đánh bại âm mưu của chúng. Thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình buộc thực dân Pháp phải quay về phòng ngự chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, âm mưu cố gắng giành lại quyền chủ động của Đờ Lát bị phá vỡ, thế chủ động chiến lược của quân và dân ta càng được củng cố. Thắng lợi đó khẳng định địa bàn rừng núi là nơi quân đội và nhân dân Việt Nam phát huy được ưu thế, hạn chế được những thế mạnh về hỏa lực phi pháo và khả năng cơ động nhanh của đối phương.


Từ sau chiến dịch Hoà Bình, Chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch ngày càng phát triển mạnh, làm ruỗng nát hệ thống chiếm đóng của quân Pháp, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ. Hậu phương kháng chiến được xây dựng và củng cố, kể cả hậu phương chiến lược và hậu phương tại chỗ, bao gồm căn cứ địa Việt Bắc, các vùng tự do ở Khu 4, Khu 5, Nam Bộ, Tây Nguyên và cả những căn cứ du kích trong lòng địch. Đó là điều kiện để ta mở một chiến dịch tiến công trong Thu Đông 1952. Vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định là chọn hướng chiến trường cho phù hợp với thực tiễn của cuộc kháng chiến, phù hợp với tương quan lực lượng giữa địch và ta, trong điều kiện địch chiếm ưu thế về vũ khí trang bị.


Thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình là cơ sở thực tiễn để Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 3 (4-1952) tiến hành kiểm điểm, phê phán nhận thức, tư tưởng "nôn nóng, muốn đánh lớn, thắng nhanh", đồng thời quán triệt thêm một bước đường lối kháng chiến trường kỳ, vẽ "giai đoạn chuẩn bị để quyết định giành thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến". Hội nghị nhận định, trong tương quan địch còn mạnh hơn ta về trang bị kỹ thuật và tổng quân số, ta nắm quyền chủ động nhưng chưa đủ ưu thế áp đảo, nên việc chọn chiến trường mở chiến dịch phải hoàn toàn phù hợp với thế và lực của ta1 (Ở thời điểm này, lực lượng cơ động chiến lược của ta có 54 tiểu đoàn, đich 55 tiểu đoàn. Riêng ở Bắc Bộ ta 54 tiểu đoàn, địch 32, tỷ lệ 1,7/1). Ta cần chọn chỗ địch yếu, sơ hở đánh trước, nhằm khoét sâu nhược điểm căn bản của địch, làm chúng suy yếu dần, ta trưởng thành từng bước, giành thắng lợi từng phần, tạo ra chuyến biến so sánh lực lượng có lợi cho ta, tiến lên tiến hành những chiến dịch quyết chiến, chiến lược, giành thắng lợi quyết định chiến tranh.


Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, khắc phục "nhược điểm: trình độ kỹ thuật, chiến thuật còn kém,..", từ mùa hè năm 1952, các đơn vị trong toàn quân tiến hành chính huấn chính trị, nâng cao tinh thần giác ngộ và quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng cho cán bộ và chiến sĩ. Công tác chấn chỉnh tổ chức, biên chế và trang bị cũng được tăng cường. Trình độ chỉ huy chiến đấu, trình độ chiến thuật và kỹ thuật của bộ đội có nhiều tiến bộ mới. Lực lượng vũ trang ba thứ quân ngày càng trưởng thành, làm nòng cốt để toàn dân đánh giặc. Đến cuối năm 1952, chúng ta đã xây dựng được 6 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công binh và pháo binh. Đó là cơ sở quan trọng để ta chủ động mở chiến dịch tiến công trong Thu Đông 1952 nhằm tiếp tục phát huy quyền chủ động chiến lược.


Thấy rõ chiến trường rừng núi là địa bàn có lợi cho hướng tiến công chiến lược, với phương châm tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh, tháng 9 năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định mở chiến địch tiến công địch trên chiến trường Tây Bắc, bởi đây là "chiến trường rừng núi duy nhất còn lại ở Bắc Bộ"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, tập 4, Bộ Tổng tham mưu xuất bản, 1963, tr. 216) cũng là nơi "địch yếu hơn hết ở Bắc Bộ, thành phần ngụy binh nhiều, bố trí tương đối phân tán, địa hình có phần thuận lợi cho ta". Mục đích của chiến dịch là: "Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr. 304).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Một, 2025, 08:08:38 pm
Đến giữa năm 1952, lực lượng địch trên địa bàn có 8 tiểu đoàn và 41 đại đội đóng phân tán trên 144 cứ điểm, trong đó chi có 40 cứ điểm có từ một 1 đến 2 đại đội, công sự phần lớn chưa kiên cố, với phạm vi chiếm đóng khá rộng. Tuy nhiên, lợi dụng tình hình cơ sở trong nhân dân còn non yếu, đường vận chuyển tiếp tế của ta khó khăn, địa thế rừng núi xa xôi, hiểm trở dịch gây cho ta không ít khó khăn. Tuy vậy, so với đồng bằng Bắc Bộ, đây lại là nơi địch yếu hơn, lực lượng lính Âu - Phi không nhiều, địa hình rừng núi khiến hoạt động của máy bay và pháo binh bị hạn chế, việc tiếp tế bằng đường không cũng không dễ dàng do thiếu sân bay lớn, sương mù nhiều, bên cạnh đó, việc tiếp tế bằng đường bộ cũng khó khăn gấp bội. Đây cũng là nơi địch sơ hở, bởi cho rằng ta không thể triển khai lực lượng lớn vì không giải quyết nổi vấn đề tiếp tế, căn cứ địa Việt Bắc, hậu phương Liên khu 4 đều cách xa hàng trăm kilômét. Nhưng đó là một tính toán đầy chủ quan, đối phương đã không nhận định hết sức mạnh to lớn của Chiến tranh nhân dân, ý chí quyết tâm của một dân tộc nhất tề đứng lên kháng chiến vì độc lập tự do.


Để tiến tới có quyết định mở hướng tiến công lên Tây Bắc, ngay từ tháng 2 năm 1952, khi chiến dịch Hòa Bình sắp kết thúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị đã có ý định mở các chiến dịch tiến công dịch trên hướng núi rừng phía bắc nhằm "Tiêu diệt sinh lực địch, kể cả quân tăng viện từ đồng bằng lên, giải phóng một vùng rộng lớn ở Tây Bắc và Thượng Lào, tranh thủ nhân dân"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975) Nxb Quân đội nhân dân, H 2005. tr. 158). Trên cơ sở đó và qua nghiên cứu thực tế, Tổng Quân ủy đã sớm quyết định chọn Tây Bắc là chiến trường cho chiến dịch tiến công trong Thu Đông 1952. Đó là chiến trường, "phù hợp với thế và lực của ta,... quyết định bước phát triển của ta trong giai đoạn giữ vững và phát huy thế chủ động chiến lược"2 (Bộ Tổng tham mưu, Ban tổng kết - Biên soạn lich sử (1991). Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Phàp (1945 - 1954), Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 1991. tr. 574).


Như vậy, thực tiễn của chiến trường Bắc Bộ qua các chiến dịch cuối năm 1950 đầu năm 1951, và thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình là cơ sở quan trọng để Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy xác định mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc. Chọn Tây Bắc là chiến trường cho chiến dịch tiến công Thu Đông 1952, Trung ương Đảng và Tổng quân ủy đã có sự lựa chọn, cân nhắc đúng đắn. Ta đưa chủ lực tấn công vào một chiến trường rừng núi có tầm quan trọng chiến lược, nơi địch phòng thủ yếu, khó phát huy sức mạnh về pháo binh, không quân, nhưng lại là nơi phù hợp với trình độ tác chiến và sở trường của bộ đội ta.


Với chiến trường đã được lựa chọn, Bộ Tổng tư lệnh đã chia địa bàn chiến dịch thành từng khu vực chủ yếu để tiến công. Trên khu vực tiến công chủ yếu ta lại tập trung ưu thế áp đảo địch trong các trận đánh then chốt. Đồng thời chia thời gian chiến dịch thành từng đợt, tập trung sức mạnh hoàn thành dứt điểm nhiệm vụ của mỗi đợt để tiếp tục tập trung sức mạnh cho đợt tiếp theo. Trong từng đợt lại chọn thời điểm có lợi nhằm phát huy thế và lực để giành thắng lợi. Với nghệ thuật tạo sức mạnh bằng cách chia địch ra trong khoảng không gian và thời gian nên ta đã giành được những thắng lợi quan trọng trong tấn công Phân khu Nghĩa Lộ (đợt 1), đánh tan hệ thống phòng ngự của địch trên cao nguyên Mộc Châu (đợt 2), kết hợp vu hồi chiến dịch từ Quỳnh Nhai giải phóng Thuận Châu, Tuần Giáo, Điện Biên Phủ và phần lớn Sơn La,...


Xác định đúng chiến trường là cơ sở cho chọn đúng hướng tiến công chủ yếu, đúng đối tượng tác chiến, vận dụng cách đánh phù hợp nên qua gần hai tháng thực hành chiến dịch, ta đã diệt và bắt hơn 6.000 địch (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội), giải phóng phần lớn địa bàn chiến lược quan trọng ở phía tây Tổ quốc với gần 25 vạn dân; phá vỡ thế uy hiếp của địch đối với căn cứ địa Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4, tạo thêm bàn đạp cho thế tiến công của ta, đẩy địch lún sâu vào thế bị động chiến lược. Vùng giải phóng Tây Bắc nối liền căn cứ địa Việt Bắc với nước bạn Lào, tạo nên thế trận mới cho cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước.


Lựa chọn chiến trường bảo đảm được hai yếu tố căn bản cho một chiến dịch tiến công đã góp phần quan trọng vào chiến thắng Tây Bắc, hoàn thành được nhiệm vụ chiến lược "giữ vững và phát triển thế tiến công" của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thắng lợi đó đã "Khẳng định trình độ chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, trình độ chỉ đạo, chỉ huy của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh... Đây là kết quả của năm vững quy luật vận động của cách mạng và chiến tranh cách mạng ở nước ta, đồng thời là sự tiến bộ về nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật chiến dịch nói riêng"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952). H. 1992, tr. 56). Bài học về lựa chọn chiến trường trong chiến dịch tiến công Tây Bắc Thu Đông 1952 là một trong những đóng góp xuất sắc vào nghệ thuật quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:17:33 pm
THU ĐÔNG 1952 - THỜI ĐIỂM CHÍN MUỒI CHO VIỆC
MỞ CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Đại tá, TS NGUYỄN HUY THỤC
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ -
Viện Lịch sử quân Sự Việt Nam


Phát huy chiến quả vang dội trong chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950, quân và dân ta trên khắp chiến trường liên tục đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch và chống phá kế hoạch bình định cấp tốc của thực dân Pháp giành thêm những thắng lợi mới. Chỉ trong chiến dịch Hòa Bình (1951 - 1952), ta đã loại khỏi chiến đấu gần 6.000 quân địch; thu 24 khẩu pháo, 778 súng, 98 máy vô tuyến điện; phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 17 ca nô, tàu chiến, phá hủy 246 xe quân sự. Phối hợp với Mặt trận Hòa Bình, ở vùng sau lưng địch, quân và dân ta đã loại khỏi chiến đấu 15.000 tên địch các loại, tiêu diệt, bức hàng, bức rút hơn 1.000 đồn bốt, tháp canh của chúng; mở rộng và nối liền hệ thống căn cứ du kích thành thế liên hoàn từ Bắc Giang xuống Bắc Ninh tới sát quốc lộ số 5 qua Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông. Phần lớn kết quả bình định đồng bằng Bắc Bộ trong năm 1951 của địch bị phá rã1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập II, Nxb Quân đội nhân dân,H.1994. tr. 178). Với những thắng lợi này, quân và dân ta đã đẩy cuộc Chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp ngày thêm sa lầy nghiêm trọng; đồng thời làm cho nội tình chính phủ cầm quyền ở "chính quốc" lâm vào tình trạng rối ren nghiêm trọng. Chỉ trong tháng 2 và 3 năm 1952, nội các chính phủ Pháp phải liên tiếp trải qua 3 lần thay đổi. Dù vậy, với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, giới cầm quyền chóp bu Chính phủ và quân đội Pháp vẫn trước sau thống nhất chủ trương hành động: tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, kiên trì chính sách "lấy chiến tranh nuôi Chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Tuy nhiên, do nguồn ngân sách bảo đảm cho chiến tranh đã cạn kiệt, Pháp đã phải từng bước nhượng bộ những yêu sách của Mỹ để tranh thủ nguồn viện trợ, mặt khác tìm cách "chia sẻ" gánh nặng ngân sách chiến tranh cho chính quyền tay sai bản xử, hòng tháo gỡ khó khăn cho "chính quốc".


Để xoay chuyển tình hình, chính phủ Pháp quyết định triệu hồi Đờ Lát (De Lattre de Tassigny) về nước và bổ nhiệm Xalăng (Salan) làm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương. Đối với chiến trường Việt Nam, ngay sau khi nhậm chức, Xalăng triển khai kế hoạch chiến lược phòng ngự, rốt ráo bình định địa bàn tạm chiếm; mặt khác, tăng cường sử dụng mọi biện pháp đôn quân bắt lính ở khắp các địa phương, tổ chức thêm 24 tiểu đoàn ngụy quân (gồm 15 tiểu đoàn cơ động (BVN), 5 tiểu đoàn dù (BPVN) và một số đơn vị binh chủng), với tổng quân số hơn 33 nghìn tên để đáp ứng cho nhu cầu tác chiến trên chiến trường. Giới cầm quyền Pari cho đây là biện pháp hữu hiệu nhất để cứu ngụy cho những khó khăn kinh tế, chính trị của nước Pháp; bởi chính những khó khăn này mà việc đưa quân viễn chinh trực tiếp sang tham chiến trên chiến trường Việt Nam và Đông Dương ngày càng giảm (năm 1952 chỉ có 200 người). Vậy là, số lượng những thanh niên trai tráng người Việt Nam trở thành lực lượng xung kích chủ yếu, làm bia đỡ đạn thay cho quân viễn chinh trong cuộc Chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp ngày mỗi tăng thêm.


Để giữ cho được chiến trường chính Bắc Bộ, Xalăng tập trung vào đây một lực lượng ưu thế, cụ thể gồm: 88 tiểu đoàn bộ binh, trong đó có 32 tiểu đoàn cơ động (cũng cần lưu ý rằng, gần như tất cả các đơn vị cơ động này đều phải dành một bộ phận làm nhiệm vụ chiếm đóng, giữ địa bàn), được tổ chức thành 6 GM1(GM có biên chế, trang bị tương đương 1 trung đoàn bộ binh, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu cỡ nòng 105mm)) (Groupement Mobile) - binh đoàn cơ động, 8 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn bộ binh độc lập; bố trí ở vùng hữu ngạn sông Hồng 17 tiểu đoàn, tả ngạn 7 tiểu đoàn, trung du 4 tiểu đoàn và Tây Bắc 3 tiểu đoàn; về không quân có: 145 máy bay, gồm 85 chiếc chiến đấu và 24 chiếc vận tải (chiếm 42% tổng lực lượng không quân trên toàn chiến trường Đông Dương); pháo binh có 11 tiểu đoàn (chiếm 50% lực lượng pháo binh trên chiến trường Đông Dương). Bên cạnh đó, các lực lượng đảm bảo chiến đấu khác cũng được ưu tiên cho chiến trường Bắc Bộ; đó là, cơ giới chiếm 37%, vận tải 40%, công binh 57%... so với lực lượng toàn chiến trường Đông Dương.


Theo tính toán chiến lược của Xalăng, để dần lập lại thế trận ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ - chiến trường chính Bắc Bộ trong Xuân Hè 1952, Pháp tập trung lực lượng và phương tiện quân sự mở 20 cuộc càn quét quy mô lớn (có trận tập trung từ 18 - 20 tiểu đoàn), kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, nhằm tảo thanh địa bàn, dồn làng, tập trung dân, tăng cường bộ máy tề điệp để quản thúc nhân dân, tiếp tục công cuộc lập "vành đai trắng", xây dựng các tuyến "boong ke" kết hợp với các biện pháp bao vây kinh tế, phá hoại mùa màng, nhằm triệt phá tiềm lực kháng chiến của ta. Tuy nhiên, trước sức chiến đấu kiên cường và cách đánh thông minh, sáng tạo của quân và dân ta, các trận càn quét của quân Pháp tuy có gây cho ta những thiệt hại nhất định trên một số mặt, nhưng chúng không những không cải thiện được tình hình, mà ngày càng lún sâu thêm vào thế bị động chiến lược. Hầu như phần lán lực lượng (kể cả lực lượng cơ động chiến lược) cũng phải cảng ra giữ các địa bàn, mục tiêu đã chiếm được. Có thể thấy rằng, bên cạnh nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do đôi sánh lực lượng trên chiến trường đã thay đổi ngày càng có lợi cho ta, đặc biệt hơn chính là tài trí mưu lược của Bộ thống soái điều hành chiến tranh và sự phát triển vượt bậc của nghệ thuật quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là những nhân tố quyết định, nhưng một phần khác cũng là từ sự thay đổi cơ cấu trong thành phần tổ chức, biên chế của quân đội Pháp: số lượng binh sĩ người bản xứ chiếm tỷ lệ ngày càng tăng (kết quả của chính sách "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương"), trong khi bản thân họ không phải là lính chuyên nghiệp, trình độ văn hóa thấp, kiến thức quân sự hạn chế, bị ép buộc tham gia quân đội... nên đã làm sức chiến đấu của quân đội Pháp giảm sút, nhất là khi họ lại tham gia vào thành phần lực lượng cơ động chiến lược1 (Trong tổng số 378.000 quân chủ lực cơ động chiến lược thì quân ngụy (quân bản xứ) chiếm tới 284.000 người). Đó là chưa kể đến yếu tố tư tưởng, ý thức tự tôn dân tộc mang tính tự phát, hoặc chịu tác động qua công tác binh địch vận của cách mạng đối với bộ phận không nhỏ trong lực lượng binh lính người Việt của Quân đội Pháp. Điều chắc chắn là người Pháp cũng đã nhận ra được điểm yếu chí mạng này, song "lực bất tòng tâm" không thể làm khác được.


Điều quan trọng hơn là từ sau chiến dịch Hòa Bình, thế chủ động chiến lược của quân và dân ta ngày càng được củng cố thêm vững chắc. Cuộc đấu tranh chống lại âm mưu và hành động bình định nông thôn của thực dân Pháp ở vùng sau lưng địch vẫn không ngừng được đẩy mạnh, vùng tự do của ta không những được giữ vững, mà còn được mở rộng thêm ở nhiều địa phương. Đối với khu vực biên giới Việt - Trung, công tác tiễu phỉ được tiến hành thường xuyên, ở những địa bàn trọng điểm như Lào Cai - Hà Giang, tháng 5 năm 1952, Bộ Tổng tư lệnh đã điều động Trung đoàn 148 Đại đoàn 316 xuống hậu thuẫn cho nhân dân tiến hành truy quét phỉ và các thế lực phản động lang đạo chống phá cách mạng. Quân và dân trên khắp mọi miền đất nước đều phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh; và nguyện đồng lòng, chung sức phấn đấu cho công cuộc kháng chiến cứu nước thành công. Công cuộc huy động nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến ngày càng thuận lợi và hiệu quả lớn hơn.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:19:42 pm
Nắm bắt sát thực những chuyển biến của tình hình, ngay từ tháng 3 năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp Hội nghị lần thứ 3, một lần nữa khẳng định đường lối trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh của ta là hoàn toàn đúng đắn; đồng thời chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt cho toàn quân, toàn dân lúc đó là: đẩy mạnh tiến công tiêu diệt sinh lực địch, phát động chiến tranh du kích; phá chính sách "lấy Chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp; bồi dưỡng lực lượng kháng chiến. Đặc biệt hơn, để tăng cường sức mạnh cho kháng chiến, Đảng quyết định tiến hành cuộc chính Đảng, chỉnh quân, nâng cao lập trường, quan điểm cách mạng, khắc phục những nhận thức sai lầm, tư tưởng lệch lạc về phản công, nóng vội, muốn thắng nhanh, trông chờ, ỷ lại vào sự viện trợ và giúp đỡ của nước ngoài... Chính từ việc làm kịp thời và kiên quyết này đã góp phần thống nhất về nhận thức, tạo sự đoàn kết nhất trí cao về tư tưởng và hành động - một nhân tố đóng vai trò quyết định để quân và dân ta tiếp tục giành thêm những thắng lợi mới trong sự nghiệp kháng chiến, cứu nước.


Riêng với bộ đội chủ lực cơ động của Bộ và của khu - lực lượng nòng cốt của cuộc kháng chiến, sau chiến dịch Hòa Bình, duy chỉ có Trung đoàn 98 thuộc Đại đoàn 316 quân số bị tiêu hao nặng trong trận chống càn ở khu vực nam - bắc phần Bắc Ninh, tất cả 6 đại đoàn bộ binh 304, 308, 312, 316, 320, 325; Đại đoàn công pháo 351 (gồm 24 sơn pháo 75mm, 1 tiểu đoàn cối 120mm và 1 trung đoàn công binh); 5 trung đoàn độc lập của khu gồm 246, 208, 248, 42, 46 đều có thời gian nghỉ ngơi để củng cố, bổ sung lực lượng đủ theo biên chế, trang bị vũ khí và phương tiện kỹ thuật tương đối thống nhất. Thêm nữa, trong thời gian xuân hè 1952, toàn quân đồng loạt thực hiện đợt học tập chính trị và huấn luyện quân sự, nên tư tưởng, nhận thức cũng như trình độ kỹ chiến thuật, nhất là chiến thuật tiến công cứ điểm có công sự vững chắc... của bộ đội chủ lực cũng như của bộ đội địa phương và dân quân du kích được nâng lên một bước quan trọng. Có thể nói, đây thực sự là bước chuẩn bị rất quan trọng cho kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952 của quân và dân ta.


Xuất phát từ nhận thức một cách sâu sắc giá trị chiến lược to lớn của Tây Bắc - chiến trường rừng núi rộng lớn nằm ở phía tây bắc Bắc Bộ1 (Ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định thành lập Khu Tây Bắc, gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai,Yên Bái, có tổng diện tích là 44.300km2, dân số khoảng 440.000 người); phía tây giáp hai tỉnh Phong Xa Lỳ và Sầm Nưa (Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào), phía đông giáp căn cứ địa Việt Bắc, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía nam là tỉnh Hòa Bình - cầu nối với các tỉnh thuộc các liên khu 3 và 4; song, điều quan trọng là, lực lượng địch ở đây chỉ có 8 tiểu đoàn và 43 đại đội, 11 khẩu pháo bố trí ở phân tán trên các cứ điểm2 (Lực lượng chiếm đóng tại đây phần lớn là quân ngụy: Phân khu Nghĩa Lộ có Tiểu đoàn Thái số 1 và 8 đại đội; Phân khu Sông Đà có Tiểu đoàn Thái số 2 và 7 đại đội: Phân khu Sơn La có Tiểu đoàn Thái số 3 và 14 đại đội; Phân khu Lai Châu có Tiểu đoàn GFOT và 14 đại đội; Phân khu Tuần Giáo có Tiểu đoàn DAZANO. Quân Âu - Phi có 3 tiểu đoàn chốt ở Sơn La, Lai Châu làm lực lượng cơ động); nên ngay từ tháng 4 năm 1952, các đại đoàn 308, 312, 316; 6 Đại đội sơn pháo 75 (24 khẩu), 3 đại đội cối 120mm (12 khẩu), ba tiểu đoàn thuộc Trung đoàn công binh 151, Đại đoàn công pháo 351 và 11 đại đội bộ đội địa phương các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai đã được lệnh khẩn trương làm công tác chuẩn bị cho chiến dịch tiến công giải phóng Tây Bắc khi thời cơ đến1 (Ban chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc gồm các đồng chí: Trần Đăng Ninh - Đại diện Tổng Quân ủy là Trưởng ban, các ủy viên có các Đồng chí: Hoàng Văn Thái - Bộ Tổng tham mưu, Lê Liêm - Tổng cục Chính trị, Nguyễn Văn Nhạn - Tổng cục Cung cấp, Phan Mỹ - Văn phòng Thủ tướng phủ; các Đồng chí trong Liên khu Việt Bắc có: Chu Văn Tấn, Bùi Quang Tạo, Trần Quyết, Đồng Sỹ Học và Bằng Giang - Đại biểu Mặt trận Tây Bắc). Bên cạnh đó, theo chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, Tổng cục Cung cấp đã khẩn trương chuẩn bị khoảng hơn 9.000 tấn lương thực, thực phẩm, 120 tấn vũ khí, đạn dược và dụng cụ y tế; Chính phủ đã huy động hơn 35.000 dân công hỏa tuyến phục vụ cho Mặt trận Tây Bắc để tu bổ lại nhiều đoạn đường do mưa lũ và máy bay địch phá hoại, chuyển đạn, gạo qua sông Thao rồi bí mật chuyển tải vào các kho trạm ở sâu trong lòng địch để phục vụ bộ đội tham gia chiến dịch2 (Bộ Quốc phòng - Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập II. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 206). Đồng thời, Bộ Tổng tham mưu đã hoàn thiện kế hoạch tác chiến chiến dịch (sau một số lần bổ sung, chỉnh sửa) và cũng được các đồng chí cố vấn Trung Quốc đồng thuận, nhất trí cùng tham dự chiến dịch.


Khi thấy trên thực tế các yếu tố cần thiết bảo đảm cho một chiến dịch đã được tạo dựng, chuẩn bị một cách chu đáo và kỹ lưỡng trên tất cả các mặt: lực lượng, chiến trường, vũ khí, đạn dược, hậu cần và thế trận cũng đã được "cài đặt", tháng 9 năm 1952, chấp thuận đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta quyết định mở chiến dịch tiến công Tây Bắc Thu Đông 1952 (còn gọi là chiến dịch Quang Trung), nhằm: Tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần địa bàn chiến lược Tây Bắc, nhằm tạo bước chuyển biến mới về thế trận trên chiến trường chính Bắc Bộ, chuẩn bị cho đòn chiến lược quyết định vào Đông - Xuân 1953 - 1954. Bộ Chính trị quyết định cử các đồng chí Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh làm Tư lệnh, Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng, Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ nhiệm Chính trị, Nguyễn Thanh Bình - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp làm Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch. Đảng ủy chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư. Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp tổ chức các bộ phận tiền phương hình thành cơ quan chiến dịch.


Vậy là, bước vào Thu Đông 1952 - thời điểm mà các điều kiện chủ quan và khách quan đảm bảo chắc thắng cho một chiến dịch đã thực sự chín muồi; và với một Bộ chỉ huy chiến dịch đẩy mưu lược, dạn dày kinh nghiệm, lực lượng tham gia chiến dịch là những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội ta lúc ấy và nhất là luôn có sự hậu thuẫn trực tiếp to lớn của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, chúng ta đã lập thêm một chiến công mang ý nghĩa chiến lược ở chiến trường Tây Bắc của Tổ quốc.


Chiến thắng Tây Bắc thêm một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời và kiên quyết của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh; đồng thời, thể hiện sự phát triển không ngừng của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:23:42 pm
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 NHỮNG NHÌN NHẬN TỪ ĐỐI PHƯƠNG

Trung tá, TS TRƯƠNG MAI HƯƠNG
Phó Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Tổ chức quân sự -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Năm 1952, cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp bước sang năm thứ 7. Thắng lợi liên tiếp và sự trưởng thành của quân và dân ta, nhất là từ sau chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950 làm cho tình hình nước Pháp càng rối ren. Chỉ trong tháng 2 và 3 năm 1952, nội các Pháp đổ liên tiếp 3 lần, Đờ Lát đờ Tátxinhi bị gọi về nước rồi chết, Xalăng lên làm Tổng tư lệnh, Lơ Tuốcnô làm Cao ủy Đông Dương. Trên chiến trường Việt Nam, thực dân Pháp chủ trương thực hiện chiến lược phòng ngự, ráo riết bình định các vùng tạm chiếm.


Trong bối cảnh đó, dựa vào so sánh lực lượng giữa ta và địch, căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta quyết định mở chiến dịch Tây Bắc (14.10 - 10.12.1952). 60 năm đã trôi qua kể từ khi diễn ra chiến dịch, tại Pháp và các nước phương Tây đã xuất bản hồi ký của các tướng lĩnh; các công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam; các bài báo, tạp chí đưa ra bình luận ở nhiều góc độ khác nhau trong khoảng thời gian trước, trong và khi kết thúc chiến dịch. Trong khi phần lớn các ý kiến đều cho rằng chiến dịch Tây Bắc là một thất bại về chiến lược của thực dân Pháp thì vẫn có ý kiến cố tình bào chữa cho những hành động của chỉ huy, của binh lính Pháp và đổ lỗi cho nhau trong phần gánh trách nhiệm. Nhưng sự thật về thắng lợi to lớn mà quân và dân ta giành được trong chiến dịch đã buộc đối phương không thể chối cãi.


Thời điểm trước khi diễn ra chiến dịch, đời sống và bối cảnh chính trị của nhân dân Pháp vẫn là vấn đề nan giải đối với Chính phủ lâm thời. Tờ tuần báo Hành động (Action) số ra ngày 2 tháng 4 năm 1952, ký giả người Pháp Henri Clau viết: "Dư luận tiến bộ lên án Chính phủ Pháp đang theo đuổi cuộc chiến ở Đông Dương, nhân dân Pháp bất bình vì tình trạng bắt lính kéo dài". Báo Nhân Đạo cũng lên tiếng: "Lòng người dân Pháp càng thêm chua xót khi đất nước đang trong thời kỳ khủng hoảng. Chính phủ vẫn cử quân sang xám lược Đông Dương"1 (Những bài báo của Pháp và phương Tây viết từ 1.1952 - 1.1953 Lưu Thông tấn xã Việt Nam).


Tại Hà Nội, nơi quân Pháp coi là "cái nút của chiến tranh", tình hình không mấy lạc quan. Theo báo cáo của Phòng Nhì thì tình hình thật đáng lo ngại vì các nguồn tin tức đều cho thấy chiến sự sẽ xảy ra mà quân Pháp ngày càng đuối sức về mọi mặt. Trên chiến trường, ngụy quân tăng, chủ lực Pháp giảm mạnh, cả năm 1952, viện binh từ Pháp sang chỉ được 200 tên, bằng 1/5 năm 19512 (Tư liệu về lực lượng của Pháp tại Đông Dương từ 1951-1953. Lưu tai Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng). Còn giới thạo tin thì dự đoán rằng: "Có vẻ như Việt Minh sẽ làm một điều gì đó, ông Giáp sẽ cầm quân theo hướng nào đây". Trong Điện mật số T.0.126/3T tướng Mácsăng gửi Bộ Tham mưu Pháp cũng có đoạn: "Tình hình Tây Bắc gặp nhiều khó khăn, có lẽ Việt Minh không mấy do dự khi chuẩn bị tiến công", nhưng rồi chúng lại tự trấn an bằng cách: "Nhưng chúng ta sẽ dùng pháo và bom để giải quyết, đó là thế mạnh vượt trội của chúng ta trên vùng rừng núi Tây Bắc"1 (Điện mật số T.0.126/3T của Hội đồng Quốc phòng Pháp. Lưu Thư viện Đại học KHXHNV - Đại học Quốc gia Hà Nội). Từ những nhận định trên và thực tế chiến trường, Tổng chỉ huy Xalăng vội vã điện về chính quốc xin viện trợ về lực lượng và tài chính nhưng không được chấp nhận. Khi đó, Becna Xtađi là Phó Chủ tịch Quốc hội, phụ trách các vấn đề an ninh tỏ ra thờ ơ và không đệ trình chính phủ.


Liên tiếp trong tháng 7 và 8 năm 1952, nhiều cuộc họp của các tướng tá Pháp đã diễn ra tại Sài Gòn và Hà Nội, ngoài việc xin viện trợ từ chính quốc còn tập trung phán đoán hướng tiến công của Việt Minh nhưng không có gì sáng sủa mà chỉ dừng ở nhận định: "Tình hình ở Tây Bắc không mấy tốt đẹp, chiến sự có thể xảy ra. Nhưng cũng chưa biết được Việt Minh sẽ tiến theo hướng nào"2 (Thư 412/CAB của Hội đồng Quốc phòng Pháp. Lưu Thư viện Đai học KHXHNV - Đại học Quốc gia Hà Nội). Sang mùa thu năm 1952, tướng Xalăng lại đặt vấn đề: mùa mưa sắp đến, từ 29 tháng 9, những ngày nắng ráo đã xuất hiện, vậy cái gì sắp xảy ra? Liệu ông Giáp sẽ tập trung nỗ lực trên hướng nào...? Viên Tổng chỉ huy than phiền rằng: Phòng Nhì bất lực, không cung cấp được tài liệu gì đáng kể về ý định của đối phương3 (Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Nxb Quân đội nhân dân"H. 2004. tr. 406). Trong báo cáo của Bộ Tham mưuPháp tại Hà Nội gửi về chính quốc có đoạn viết: "Từ tháng 9, một số triệu chứng bắt đầu xuất hiện. Sự đi lại và vận chuyển trên sông Hồng ở vùng Yên Bái tỏ ra khác thường trên một tuyến dài khoảng 60km. Các phiên liên lạc vô tuyến điện của đối phương tăng lên"1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Pháp từ 1952 - 1954, Lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng). Cũng trong thời gian này, một số nhà nghiên cứu quân sự phương Tây lại nhận định rằng: "Nhìn vào nội tình chính trị nước Pháp và cuộc chiến tranh mà Pháp đang theo đuổi, chiến dịch có thế diễn ra cuối năm 1952. Nhưng rồi chiều hướng ngày càng xấu đi về mọi mặt đối với giới cầm quyền Pháp. Không hiểu số phận của cuộc chiến đi đến đâu nhưng nhân dân yêu chuộng tự do, hòa bình ở Pháp và trên thế giới đều bất bình".


Từ những nhận xét trên đây, một số tướng lĩnh Pháp, trong đó có tướng Mácsăng, đã rút ra kết luận: "Chỉ cần suy nghĩ như vậy cũng đủ để thấy thắng lợi hình như đã nằm trong tay đối phương". Không chỉ Bộ chỉ huy Pháp mà người cầm quân trực tiếp là tướng Xalăng cũng tỏ ra lo lắng cho số phận của vùng Tây Bắc. Điều lo lắng ấy không có phương sách đối phó nào khác hơn khi mà chiến trường quá rộng, lực lượng Pháp và ngụy đều rất hạn chế.


Về phía ta, đến thời điểm này, công tác phòng gian, giữ bí mật, nghi binh được thực hiện tốt nên địch không phát hiện được hướng tiến công chủ yếu của ta là Tây Bắc, mà chúng nghi ngờ ta sẽ tiến công vùng đồng bằng. Bởi vậy tướng Xalăng cho dàn các lực lượng cơ động dọc tuyến trung du và phần lớn trên sông Đáy. Riêng ở đồng bằng Bắc Bộ, chúng bố trí 29/32 tiểu đoàn cơ động chiến lược của toàn Bắc Bộ1 (Bắc Bộ có 6 GM, 8 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn lẻ). Tất cả các cứ điểm của địch ở đồng bằng và trung du được lệnh báo động khẩn cấp, điềuđó rất trúng ý định nghi binh của ta. Trước khi ta nổ súng ít ngày, địch phát hiện lực lượng nhỏ của ta thâm nhập khu vực Nghĩa Lộ nhưng vẫn không đoán được Tây Bắc là hướng tiến công chủ yếu để có biện pháp đối phó.


Cuối tháng 9, qua tin tức tình báo, phía Pháp nghi ngở hướng tiến công của ta, Tổng chỉ huy Xalăng lệnh báo động toàn Khu Tây Bắc từ ngày 4 tháng 10. Đồng thời, chúng nhanh chóng triển khai lực lượng: Một đại đội Tabo được điều gấp từ Lai Châu tăng cường cho Phân khu Nghĩa Lộ; sở chỉ huy phân khu được dời lên đồn Pú Chạng; toàn bộ hệ thống công sự tại Nghĩa Lộ được củng cố; các máy bay trinh sát và đội tuần tiễu của Pháp thường xuyên theo dõi nghiêm ngặt mọi hoạt động của ta từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:30:13 pm
Theo đúng kế hoạch của ta, đợt 1 chiến dịch bắt đầu từ 14 - 23 tháng 10, các mũi tiến công nhanh chóng thọc sâu, chia cắt địch. Trước diễn biến quá nhanh, Xalăng không kịp trở tay. Ngày 15 tháng 10, viên Tổng chỉ huy thảo gấp Chỉ thị mật từ Sài Gòn và giao cho đại tá Bútxari chuyển cho Đờ Linarét đang chỉ huy quân Pháp tại Hà Nội, chỉ rõ: "Nghĩa Lộ và Sơn La đang bị uy hiếp nặng nề... nhưng các yếu tố nắm được chưa cho phép chúng ta có chủ trương... Phải đợi cho Việt Minh lộ rõ ý định của họ" và "Địa hình rừng núi đang buộc đối phương phải phân tán. Đó là nhân tố thuận lợi cần chú ý. Để tăng cường cho Nghĩa Lộ và bảo vệ Sơn La, không cần phải ném quân xuống Gia Hội hay Tú Lệ vì hai nơi này quá xa Nghĩa Lộ. Trước mắt, phải dành phần lớn không quân yểm trợ cho Tây Bắc"1 (Tài liệu Mật của Bộ Quốc phòng Pháp, Lưu Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng). Bản chỉ thị tới Tây Bắc quá chậm, sáng sớm ngày 16 tháng 10, Tiểu đoàn dù số 6 do thiếu tá Bigia chỉ huy đã đổ quân xuống Tú Lệ. Bởi vì, theo tính toán của Đờ Linarét muốn thu hút quân ta hòng tạo điều kiện cho các đồn binh của họ ở phía sau có đủ thời gian rút chạy về phía sông Đà. Khi đó, Tổng chỉ huy Xalăng đang ở Sài Gòn vẫn chờ đợi từng giờ, từng phút Đờ Linarét điện báo về, ông tự thú nhận rằng, đêm 17 tháng 10 là: "Một đêm đầy lo âu, vì những tin tức hàng giờ bay vào Sài Gòn luôn mâu thuẫn nhau" rồi thốt lên: "Tình hình diễn biến xấu nhất có thể xảy ra".


Sang ngày 18 tháng 10, sự lo ngại của tướng Xalăng đã thành sự thật. Đờ Linarét bay từ Tây Bắc về Hà Nội báo cáo: "Thế là hết", với nội dung ngắn gọn nhưng viên Tổng chỉ huy đã hiểu mọi điều. Đồng thời, Bécna Phôn còn nói thêm rằng: Từ trên máy bay, các phi công nhìn thấy rất rõ từng đoàn tù binh kéo đi, "Tay giơ quá đầu, lê bước giữa hai hàng lính Việt Minh". Đến hết ngày 18 tháng 10, ta đã đánh những trận then chốt đầu tiên của chiến dịch ở khu vực Nghĩa Lộ thành công. Đây cũng là đòn choáng váng đối với địch. Khi trả lời báo chí về sự thất bại nhanh chóng, Tổng chỉ huy Xalăng biện minh: "Ông Giáp đã bất ngờ tập trung Sư đoàn 308 vào Nghĩa Lộ. Các hướng khác: Sầm Nưa, Mường Hét, Mường Hum... chỉ là nghi binh. Nghĩa Lộ đã không đứng vững được thì các vị trí khác ở phía tây sông Đà sẽ tiếp tục trở thành những mồi ngon cho đối phương"2 (Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thiu. Sđd. tr. 412).


Trong những ngày diễn ra chiến dịch, các phóng viên liên tiếp chuyển tin và bài về nước. Báo chí Pháp và phương Tây đăng tải các tít trên trang nhất với nhan đề: "Cuộc rút lui khỏi Tú Lệ ", "Họ từ địa ngục trở về"; "Trang sử bi thảm". Nhà văn nổi tiếng người Pháp Jules Roy cho đăng bài: "Cuộc rút lui của một ngàn con người" trên Tạp chí của Pari, tháng 4 năm 1953, khi nhận xét về Tiểu đoàn dù số 6 đã viết: "Quân Việt Minh không bắn và lúc đó Bigia hiểu ra vì sao bọn họ để yên cho đơn vị đồn trú tiếp đón vui vẻ đại đội của Gia Hội. Bởi vì, bọn họ muốn có một trận đại thắng". Do bị bất ngờ về hướng tiến công và không có sự chuẩn bị trước về mọi mặt nên thất bại ngay từ trận đầu đối với Pháp là điều dễ hiểu.


Bước sang đợt 2 của chiến dịch, từ 7 đến 22 tháng 11, Xalăng vội vã điều lên Tây Bắc 6 tiểu đoàn, đồng thời cho xây dựng "con đê ngăn sóng" Nà Sản để hỗ trợ cho Lai Châu và Sơn La: "chặn đối phương tràn sang đất Lào". Mặc dù có nhiều biện pháp để chống trả ta như vậy, nhưng theo báo cáo của Phòng Nhì Pháp thì tình hình chiến trường thật bi đát: "Quân lính quá mệt mỏi, họ phải chịu đựng thời kỳ tệ hại nhất. Cuộc sống mệt nhoài, những trận tấn công không dứt cách từ ba mươi đến năm mươi kilômét, ở đó địa hình thù địch còn cộng thêm vào nỗi mệt nhọc của mọi người"1 (Tài liệu Mật của Bộ Quốc phòng Pháp, Lưu Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng). Biết chắc không thể kéo dài cuộc chiến tại Tây Bắc, Xalăng không còn có cách gì khác hơn ngoài việc chỉ thị gấp cho Bigia: Phải rút chạy ngay khỏi Tú Lệ, vét theo các đồn nhỏ quanh vùng đưa nhanh về Nà Sản, để "tránh đòn thứ hai của đối phương".


Như vậy, kế hoạch điều gấp Tiểu đoàn dù số 6 của Xalăng đã thất bại hoàn toàn, trong cuốn Đông Dương 1946 - 1962, Bécna Phôn đã nhiều lần vạch trần tính chất bịp bợm của trò chiến tranh tâm lý rẻ tiền của Xalăng: Theo Bécna Phôn thì sự hy sinh của Tiểu đoàn dù số 6 và lính ngụy Thái ở Mường Chen không thay đổi được số phận của vùng Tây Bắc. Bởi thế, khi hệ thống phòng ngự trên cao nguyên Mộc Châu bị đập vỡ, địch đã co lại để phòng thủ. Nhưng chính việc co lại trong thế thất thủ của địch đã biến thành một cuộc rút lui hỗn loạn. Đợt 2 chiến dịch kết thúc nhanh chóng trong thế bại trận của Pháp.


Tiếp đó, đợt 3 chiến dịch tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản diễn ra từ 30 tháng 11 đến 10 tháng 12. Tại Nà Sản địch có quân số đông, nhiều cứ điểm được xây dựng kiên cố vững chắc dựa vào nhau, có sân bay để phát huy uy lực của pháo binh và không quân, đó là tất cả những thuận lợi về phía địch. Ngược lại, chúng lại bị cô lập, việc tiếp tế, chi viện chỉ dựa vào đường không, công sự sơ sài, tinh thần binh lính bạc nhược. Mặt khác, tuy là hình thức phòng ngự mới nhưng tập đoàn cứ điểm này được thành lập trong thế bị động, địch đang ở thế "tiến thoái lưỡng nan", rút thì bị thất bại rất lớn, giữ thì bị cô lập và có thể bị tiêu diệt. Vì vậy, Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch của ta hạ quyết tâm: Tập trung lực lượng mở đợt tiến công thứ 3, tiêu diệt địch ở Nà Sản, giành toàn thắng. Trong quá trình tiến công Nà Sản, ta gặp rất nhiều khó khăn bởi sự chống trả quyết liệt của đối phương. Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy cần có thêm thời gian chuẩn bị về mọi mặt đã quyết định kết thúc chiến dịch để tránh thương vong.


Trước quyết định sáng suốt của ta, trong hồi ký: "Việt Minh - địch thủ của tôi", tướng Xalăng cùng phải thú nhận: "Không thể tiếp tục tiến công Nà Sản, nhưng đối phương chẳng hề giảm quyết tâm tiến tới tiêu diệt các cứ điểm mạnh của Pháp". Tờ Nhật báo Giơnevơ (Journal de Genève) thẳng thắn rằng: "Pháp thất bại vì đã phạm sai lầm trên nhiều phương diện. Việc Pháp phải chấp nhận bỏ lại người, quân trang, quân dụng tại chiến trường Tây Bắc là tất yếu".


Khi kết thúc chiến dịch, nhiều sách, báo Pháp và phương Tây đã tiết lộ nguyên nhân lớn nhất mà Pháp thất bại tại Tây Bắc là không phán đoán được hướng tiến công của ta để có biện pháp đối phó kịp thời. Cũng đồng tình với một số tướng, tá Pháp trực tiếp chỉ huy các trận đánh, Bigia không chỉ phê phán gay gắt công tác tình báo yếu kém, cách chỉ huy quân của Xalăng và Cônhi có vấn đề mà còn đề cao tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ý chí, lòng quả cảm của các chiến sĩ bộ binh ta. Còn Lơ Tuốcnô - Cao ủy Pháp tại Đông Dương trả lời phỏng vấn Gunbe, phóng viên hãng thông tấn Mỹ U.P phải thừa nhận: "Một khi quân Việt Minh được tung ra thì khó mà chặn họ lại được và họ càng chậm hành động thì cuộc tiến công sắp tới của họ càng ác liệt hơn. Điều họ giành chiến thắng tại Tây Bắc là tất yếu".


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:31:14 pm
Một điều không thể phủ nhận về nguyên nhân thất bại của Pháp trong chiến dịch Tây Bắc chính là sự lớn mạnh nhanh chóng của quân đội ta. Trong báo cáo của Bộ Tham mưu Pháp ngày 15 tháng 11 năm 1952 ghi rõ: "Vào giữa năm 1952, quân đội Việt Minh đã đạt tới trình độ phát triển cao, bao gồm lực lượng tổng dự bị và những trung đoàn và tiểu đoàn độc lập, nhất là ở các vùng châu thổ". Cũng bàn về vấn đề này, Báo Thế giới số ra ngày 27 tháng 11 năm 1952 khẳng định: "Lực lượng tổng dự bị gồm 7 sư đoàn được tổ chức và trang bị hoàn chỉnh, đó là những binh đoàn có chức năng san bằng các đồn bốt của Pháp và tiêu diệt các lực lượng ứng chiến trong những trận đánh ngoài công sự đang diễn ra". Thời báo Niu Oóc tại Mỹ đưa ra bình luận: "Những người cầm đầu quân đội viễn chinh Pháp thường coi vấn đề thiếu binh lực là nguyên nhân chủ yếu, nếu không phải là duy nhất", và: "Muốn đọ sức với một đối thủ không thể coi thường, trên một chiến trường rừng núi bao la như ở Tây Bắc, điều lo lắng lớn nhất của Xalăng và Bộ tham mưu Pháp ở miền Rắc Việt Nam vẫn là vấn đề lực lượng"1 (Thời báo Niu Oóc tại Mỹ, số ra tháng 3 năm 1953, Lưu Thông tấn xã Việt Nam).


Hãng AFP Pháp bao biện cho sự thất bại của đội quân viễn chinh: "Chỉ tại quyết định đó của Việt Minh ở vào thời điểm cuối năm 1952, đó là giai đoạn quá độ đối với Pháp nên thất bại là khó tránh". Còn dưới con mắt của nhiều tướng lĩnh Pháp - những người trực tiếp tham chiến tại Việt Nam, từ Xalăng đến Mácsăng đã vạch ra những mặt yếu của quân đội viễn chinh Pháp và thú nhận: "Quân Pháp không đạt được mục đích vì không có cơ hội tốt như Việt Minh. Chiến dịch kết thúc là lúc quân Pháp phải nhìn nhận lại vấn đề về quân sự".


Cùng với các cuốn sách, hồi ký, bài báo, dư luận tiến bộ Pháp và phương Tây cũng vạch rõ nguyên nhân thắng lợi của Việt Minh là vì họ mưu trí, dũng cảm, biết kiềm chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu, tiêu hao rộng rãi lực lượng của Pháp trên khắp chiến trường Tây Bắc. Về phía quân Pháp, không chỉ đối phó với các đơn vị chủ lực Việt Minh mà còn phải đối phó với toàn thể nhân dân Việt Nam trên khắp địa bàn hành quân của chúng nên gặp rất nhiều bất lợi. Mặt khác, quân Pháp cũng không thể khắc phục nổi những khó khăn như: thiếu lương thực, thuốc men, tiếp tế khó khăn trên một chiến trường quá rộng, tinh thần binh lính chán nản, sa sút, thể lực mệt mỏi, suy giảm vì thương vong và ốm đau. Về phía chủ quan của Pháp cũng có nhiều bài viết biện minh cho thất bại này. Trong cuốn Con đường không vui của Bécna Phôn bộc bạch: "Quân Pháp vấp phải nhiều khó khăn hơn. Đối phương kiểm soát khu vực rừng núi xung quanh và triệt để dùng lợi thế này để giành thắng lợi". Còn tướng Xalăng thì than thở rằng: "Tình hình không ổn định cứ tồn tại mãi về phía chúng ta, khác hẳn với sự gắn bó chặt chẽ của phía Chính phủ Việt Minh"1 (Báo Nhân đạo, tại Pháp, số ra ngày 14 tháng 9 năm 1952, Lưu Thông tấn xã Việt Nam).


Sự thật chiến dịch Tây Bắc đã diễn ra như vậy, nhưng ở Pháp và một số nước phương Tây cũng có hẳn những chiến dịch xuyên tạc và vu cáo Việt Nam ở những góc độ khác nhau. Song, Đảng cộng sản Pháp đã bằng những bài diễn văn, bài báo, bằng những cuộc tranh luận công khai trên đài phát thanh, lên án mạnh mẽ giỏi cầm quyền phản động Pháp đã tiêu tốn của cải, tiến bạc và gây thương vong lớn cho binh lính Pháp tại chiến trường Tây Bắc. Tập san Quốc tế cũng vạch rõ: "Không phải bàn nhiều, chiến dịch Tây Bắc là kết quả chua xót về sai lầm chiến dịch của tướng Xalăng. Đó là sự trừng phạt nghiêm khắc đối với những sai lầm của một đường lối quân sự đã được áp dụng tại chiến trường Đông Dương"1 (Tập san Quốc tế, số tháng 6 năm 1953. Lưu Thư viện Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh). Còn Henri Nava khẳng định: "Tháng 12 năm 1952, cuộc hành quân chấm dứt bằng cuộc rút chạy của chúng ta trong những khó khăn mà không đạt được kết quả chiến lược nào"2 (Henri Nava. Thời điểm của những sự thât (Le temps Des Vèrités). Nguyễn Huy Cầu dịch, Nxb Công an nhân dân, H. 2004. tr. 43).


Đối với ta, chiến dịch tiến công Tây Bắc đã giành được thắng lợi về mọi mặt. Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng đất đai và tranh thủ nhân dân; góp phần làm đảo lộn thế bố trí chiến lược, khắc sâu thêm mâu thuẫn và chỗ yếu của địch; phá vỡ "bình phong" che chở cho địch ở Thượng Lào. Thắng lợi này cũng góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng của ba nước Đông Dương và phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Pháp.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:38:15 pm
PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG TÂY BẮC, QUÂN VÀ DÂN SƠN LA TĂNG CƯỜNG ĐẨY MẠNH KHÁNG CHIẾN TOÀN DIỆN, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI Ý CHÍ XÂM LƯỢC CỦA THỰC DÂN PHÁP

NGUYỄN NGỌC TOA
Phó Chủ tịch thường trực
Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La


Tỉnh Sơn La thuộc vùng núi cao trùng điệp kéo dài từ tỉnh Lai Châu tới tỉnh Hoà Bình, địa hình nghiêng dần đều hướng tây bắc - đông nam, xuôi về trung tâm đồng bằng Bắc Bộ; có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ dân trí chưa cao, kinh tế phát triển chậm, khí hậu thời tiết khắc nghiệt; có đường biên giới chung với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào 250km.


Về vị trí chiến lược của Tây Bắc, trong thư căn dặn các chiến sĩ trong bộ đội Tây Tiến đầu năm 1947, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nêu rõ: "Miền Việt Tây đối với nước ta có một vị trí chiến lược rất quan trọng. Hùng cứ được vùng đó, không những quân địch ở vào cái thế cứ cao lâm hạ có thể uy hiếp hậu phương chúng ta mà chúng lại mong thực hiện cái âm mưu ác độc dĩ Việt đánh Việt, chia rẽ các anh em thiểu số, lập bộ đội người Việt thiếu số để tiến đánh chúng ta. Cái âm mưu chính trị lẫn quân sự ấy chúng đã thực hiện ở miền Nam bằng cách chiếm cứ cao nguyên Trung Bộ và lợi dụng anh em dân tộc thiểu số ở đó". "Ở miền Bắc Việt Nam thực dân Pháp cũng sẵn cái ý định khống chế các vùng dân tộc thiểu số từ Lai Châu đến Thanh, Nghệ để tiến đánh Hoà Bình, Phú Thọ, Thanh Hoá, Nghệ An và mong dùng chính sách lừa gạt và đàn áp đế lập nên Xử Thái Tự trị, Xứ Mường tự trị dưới gót sắt của chúng". "Do những nhận xét nói trên, các đồng chí thấy rõ nhiệm vụ bảo vệ biên cương phía tây của chúng ta là quan trọng đến chừng nào. Mỗi tấc đất miền Tây là một tấc đất của Tổ quốc Việt Nam, chúng ta không để cho địch dễ dàng giẫm lên được. Mỗi một đồng bào miền Tây là một người dân nước Việt, chúng ta không thể không bảo vệ quyền lợi của đồng bào, không thể để đồng bào ta bị quân địch giày xéo hay lung lạc. Hơn nữa, bảo vệ được lãnh thổ và nhân dân miền Tây tức là gián tiếp bảo vệ được đại hậu phương chúng ta, góp phần quan trọng vào thắng lợi cuối cùng".


Về vị trí của tỉnh Sơn La nói riêng, vừa là tiền tuyến tiến công địch vừa là hậu phương đảm bảo an toàn cho cơ quan lãnh đạo và chỉ huy tối cao khi cả nước chuyển vào thời kỳ "toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến" quyết tâm đánh thắng thực dân Pháp xâm lược.


Để giữ chủ động trên chiến trường Bắc Bộ, ngày 4 tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị chỉ thị mở chiến dịch Tây Bắc với "mục đích của chiến dịch này là: Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; phát triển chiến tranh du kích, diệt phỉ, củng cố và phát triển cơ sở nhân dân sau lưng địch. Nếu thực hiện được mục đích trên, thì chúng ta buộc địch phải phân tán đối phó, phá được kế hoạch củng cố Tây Bắc của chúng, và do đó tạo được điều kiện thuận lợi để sau này tiêu diệt nhiều sinh lực địch hơn".


Sau một thời gian khẩn trương chuẩn bị chiến trường, ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc mở màn, đập tan lực lượng quân Pháp ở Nghĩa Lộ, Vạn Yên, Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Tuần Giáo... buộc địch co cụm về Nà Sản và thị xã Lai Châu, tạo điều kiện đoàn kết toàn thể các dân tộc nơi đây và xây dựng Tây Bắc thành một căn cứ địa vững chắc của cả nước.


Chiến thắng Tây Bắc cuối năm 1952, đã giải phóng phần lớn đất đai của tỉnh Sơn La, nhưng thực dân Pháp vẫn chiếm đóng Nà Sản và xây dựng thành tập đoàn cứ điểm mạnh, hòng đánh chiếm lại các vị trí đã mất, thực hiện âm mưu chiếm đóng Tây Bắc lâu dài. Từ Nà Sản, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét những vùng xung quanh, đến tháng 4 năm 1953, thực tế chúng đã chiếm lại các vị trí dọc đường quốc lộ 41 (quốc lộ 6 ngày nay) từ Yên Châu đến Cò Nòi, Hát Lót, Mường La và Thuận Châu.


Đồng thời với hành quân lấn chiếm, thực dân Pháp tăng cường hoạt động gián điệp, biệt kích, do thám, đặc biệt là giúp đỡ bọn phản động địa phương gây phỉ, tạo thành hệ thống cụm phỉ hoạt động công khai ở diện rộng từ vùng Mường Lầm (sông Mã) đến các xã vùng cao Thuận Châu, kéo đến vùng cao Mường La và Phù Yên. Những hoạt động của địch ở Nà Sản và của bọn phỉ đã gây cho ta nhiều khó khăn, phức tạp trong việc củng cố các vùng mới giải phóng. Mặc dù Sơn La đã được giải phóng trong chiến dịch Tây Bắc năm 1952 (từ 14.10 - 30 12 1952) nhưng thực tế tỉnh Sơn La chưa được giải phóng hoàn toàn theo đúng nghĩa đầy đủ của nó. Quân và dân các dân tộc Sơn La vẫn phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chiến đấu chống địch lấn chiếm và tiến hành vận động tiễu phỉ, giữ vững trật tự trị an và an toàn xã hội. Cho nên sau chiến dịch Tây Bắc, quân và dân tỉnh Sơn La tiếp tục thực hiện chủ trương "kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính".


Cùng với lãnh đạo nhiệm vụ chiến đấu, Đảng bộ và chính quyền các cấp trong tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân các dân tộc hăng hái tham gia sản xuất, khôi phục kinh tế, văn hoá xã hội; tiến hành cứu đói, cứu rách, ổn định đời sống; xây dựng và củng cố tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng nhằm tăng cường sức dân, tăng thêm sự đóng góp trực tiếp cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.


Để giữ vững vùng giải phóng và đẩy mạnh cuộc chiến đấu, nhanh chóng tiến tới giải phóng toàn tỉnh, tháng 1 năm 1953, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng đã họp đánh giá tình hình mọi mặt trong tinh từ khi giải phóng và đề ra phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng đầu năm là: Khẩn trương thanh toán gạo tạm vay và kiểm điểm công tác dân công phục vụ chiến đấu. Vận động nhân dân sản xuất và tiết kiệm bằng cách tiếp tế giống ngô, lúa, trâu cày cho dân, thực hiện tạm chia ruộng đất và giải quyết ruộng sản xuất cho dân hồi cư. Tiếp tục phát triển chiến tranh du kích, kiên quyết hoàn thành kế hoạch xây dựng tiểu đoàn bộ đội địa phương và dân quân du kích. Tích cực chống địch càn quét, lấn chiếm, diệt do thám, gián điệp biệt kích của địch. Củng cố và xây dựng chính quyền các cấp, chú ý các huyện phía bắc của tỉnh, kiện toàn ngành công an và bưu điện. Vận chuyển muối, nông cụ, cải thiện đời sống nhân dân. Chú ý củng cố Đảng, tổ chức học tập, huấn luyện đào tạo cán bộ. Tích cực phục vụ tiền tuyến, phương châm lúc này là: tranh thủ thắng lợi quân sự, đẩy mạnh các mặt công tác khác, củng cố khu mới giải phóng đi vào các mặt cụ thể như sau:

Về chính trị, sau chiến thắng Tây Bắc, phần lớn đất đai Sơn La được giải phóng, nhưng nhiều vùng ta chưa gây dựng được cơ sở cách mạng, hoặc cơ sở của ta còn rất yếu, nên chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là cấp xã chưa được xây dựng và củng cố. Ở Sơn La, sau Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến, Đảng bộ đã vận dụng sách lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng đế tập hợp mọi lực lượng chĩa mùi nhọn vào kẻ thù chung. Do đó từ tỉnh đến các xã được xây dựng mang tính chất chính quyền liên hiệp. Thành phần các cấp chính quyền phần lớn vẫn còn sử dụng các chức dịch cũ và tầng lớp trên, số cán bộ là bần cố nông chiếm tỷ lệ rất ít, do đó ít nhiều ảnh hướng đến việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ. Tình trạng đó kéo dài đến sau ngày giải phóng, cá biệt có nơi còn ngụy quân, ngụy quyền có tội ác với nhân dân còn lọt vào chính quyền cơ sở, làm nhân dân thiếu tin tưởng vào chính quyền cách mạng. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy chỉ thị: Phải thật sự đi vàocủng cố, xây dựng chính quyền các cấp, đặc biệt phải đào tạo, bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ có lập trường quan điểm vủng vàng, có năng lực, trình độ hiểu biết về công tác chính quyền. Thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy, Sơn La chấn chỉnh lại hệ thống chính quyền các cấp, khắc phục tình trạng chính quyền liên hiệp, loại bỏ những phần tử phản động còn nằm trong chính quyền các huyện, xã. Sau giải phóng, tỉnh Sơn La thay đổi lại đơn vị hành chính: đổi các huyện thành châu; từ 27 xã cũ thành 83 xã mới; thiết lập ủy ban kháng chiến hành chính lâm thời điều hành mọi công việc của huyện, xã.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:39:43 pm
Để bổ sung đội ngũ cán bộ cho hệ thống chính quyền mới, tỉnh Sơn La chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mới có thành phần cơ bản, lập trường tư tưởng vững vàng, đồng thời tiếp tục sử dụng trong bộ máy chính quyền các cấp những người thuộc tầng lớp trên, có tri thức, tiến bộ, tích cực ủng hộ kháng chiến, khắc phục được tình trạng cấp ủy đảng làm thay chính quyền. Đảng bộ đã thông qua phong trào quần chúng cơ sở và qua các đợt phát động làm thuế, đi dân công, tạm vay gạo và tiễu phỉ, lựa chọn những người ưu tú, thành phần cơ bản vào chính quyền và loại trừ dần những phần tử xấu, ra sức mở các lớp văn hoá và huấn luyện ngắn ngày để xoá nạn mù chữ, nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác chính quyền các cấp. Do có chủ trương và biện pháp tích cực, chính quyền từ tỉnh đến huyện và xã đều được củng cố chấn chỉnh lại. Quyền lợi, nghĩa vụ của công dân từ nay được thực hiện. Các dân tộc từ đây được bình đẳng tham gia xây dựng đất nước. Những mâu thuẫn, hiềm khích và miệt thị giữa các dân tộc cũng từng bước được xoá bỏ; chị em phụ nữ thực sự được giải phóng và làm chủ cuộc đời của mình, nhiều chị em đã hăng hái tham gia công tác xã hội.


Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động tham gia khôi phục, phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống mới. Ban Thường vụ Tính ủy đã đặt công tác củng cố các đoàn thể quần chúng như: Thanh niên, phụ nữ, mặt trận, nông hội... là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy. Tính đến cuối năm 1954, toàn tỉnh đã có 79 xã có cơ sở nông hội với 1.554 hội viên, trong đó có 38 xã có Ban chấp hành nông hội. Ngoài tổ chức nông hội, ta còn tổ chức nhiều hình thức khác như tổ tăng gia (năm 1953, hai huyện Phù Yên và Mộc Châu tổ chức được 187 tổ tăng gia gồm 2.662 tổ viên; Sông Mã có 19 tổ gồm 103 gia đình tham gia; Mường La có 27 tổ với 417 tổ viên), tổ bần nông, tổ người nghèo, tổ cốt cán... để tập hợp quần chúng phát triển sản xuất.


Những cán bộ, đảng viên có trình độ khả năng được các cấp ủy phân công vào lãnh đạo trong các tổ chức quần chúng. Nhiều quần chúng trung kiên, ưu tú đã được rèn luyện trong kháng chiến nay được bồi dưỡng đào tạo phát triển thành đảng viên và tham gia hoạt động trong chính quyền, dân quân du kích, công an xã, làm tổ trưởng tăng gia... Hệ thống chính trị từng bước được củng cố1 (Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La, tập 1. tr. 257 - 260).


Thông qua phong trào quần chúng và qua các cuộc vận động chính trị lớn, Đảng bộ đã tăng cường công tác củng cố xây dựng đảng để đủ sức lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới. Sau ngày giải phóng cơ sở đảng được tổ chức lại theo đơn vị hành chính mới. Thời gian này Đảng bộ thành lập thêm chi bộ Công chính, chi bộ cảnh vệ, tiếp nhận chi bộ Thuận Châu chuyển từ tỉnh Lai Châu về (2-1954) và 2 chi bộ quân đội. Tính đến cuối năm 1954, toàn tỉnh có 3 Ban huyện ủy gồm các huyện Mộc Châu, Phù Yên, Mường La; 3 ban cán sự huyện là Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu với 49 chi bộ cơ sở, tăng 16 chi bộ so với năm 1953 với tổng số đảng viên của tỉnh là 519 đồng chí (chưa kể Đảng viên trong quân đội); các chi bộ và các chi ủy đều được củng cố một bước. Cùng với tổ chức học tập chính trị trong toàn Đảng bộ về tình hình, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng bộ còn tiến hành xử lý một số cán bộ, đảng viên phẩm chất đạo đức kém và thoái hoá; nâng cao kỷ luật đảng, làm cho hàng ngũ đảng viên thêm trong sạch vững mạnh1 (Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La, tập 1. tr. 267-268).


Về kinh tế, với chủ trương 3 diệt là: "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm" được đề ra từ sau Cách mạng tháng Tám. Đảng và Nhà nước ta đã đưa việc "diệt giặc đói" lên hàng đầu. Chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiên quốc được Đảng bộ tỉnh hết sức quan tâm, được thực hiện với phương châm triệt để "dựa vào dân, phát huy sức mạnh của dân, lấy tự lực cánh sinh làm chính, đồng thời tích cực tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế". Khẩu hiệu là: "Sản xuất đi đôi với chiến đấu", "Sản xuất với tinh thần chiến đấu"...


Để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển sản xuất, cứu đói và nâng cao đời sống nhân dân, nghị quyết phát triển kinh tế nhấn mạnh: "Các cấp, các ngành cần tập trung lãnh đạo nhân dân xây dựng, khôi phục và phát triển kinh tế, trong đó lấy khôi phục phát triển sản xuất nông nghiệp làm trọng tâm".


Trong sản xuất nông nghiệp, mấu chốt là xoá bỏ đặc quyền, đặc lợi và quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân lao động. Để thực hiện "người cày có ruộng", ngay sau khi chiến dịch Tây Bắc kết thúc, Tỉnh ủy chủ trương giải phóng đến đâu, tạm chia ruộng công, ruộng chức, ruộng Việt gian bỏ chạy cho nhân dân. Đến tháng 1 năm 1954, Tính ủy đã ra nghị quyết chính thức về chỉnh lý ruộng đất và đề ra các bước công tác cụ thể, các biện pháp tiến hành công tác tạm chia ruộng. Đảng bộ tỉnh chỉ đạo các cấp chính quyền cử cán bộ xuống cơ sở tổ chức học tập chế độ chính sách của Đảng, Chính phủ cho nhân dân. Tỉnh đã trực tiếp chỉ đạo một số xã, huyện làm thí điểm công tác chia ruộng đất để kịp thời rút kinh nghiệm chỉ đạo cuộc vận động trong toàn tỉnh. Chỉ tính trong 34 xã đã phát động chia ruộng của 5 huyện: Mộc Châu, Phù Yên, Yên Châu, Mai Sơn, Mường La, tỉnh đã chia được 820.320 gánh1 (Đơn vị đo lường của địa phương) cho 47.014 nhân khẩu. Nhân dân tin tưởng vào chính sách của Đảng, Chính phủ, tin tưởng vào chế độ mới.


Để khuyến khích sản xuất nông nghiệp phát triển, Nhà nước đã cung cấp cho nhân dân 562 con trâu, 28.872 kg thóc giống và 67.272 nông cụ các loại.Ủy ban hành chính các cấp còn vận động nông dân tự điều hoà sức kéo được 250 con trâu và giúp đỡ nhau về thóc giống, ngô giống để sản xuất kịp thời. Vận động nhân dân tăng gia sản xuất rau ngắn ngày, tự điều hoà giúp đỡ nhau về lương thực để chống đói. Tổ chức quyên góp trong cán bộ nhân viên và các đơn vị bộ đội giúp đỡ nhân dân vùng đói, cung cấp muối, gạo, thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Tổ chức các đoàn cán bộ xuống cơ sở vận động, chỉ đạo nhân dân sản xuất... Tỉnh đã huy động lương thực phát không cho nhân dân gần 50 tấn thóc và cho vay trên 200 tấn đế chống đói, cung cấp gần 200 tấn muối, 8.000 công cụ các loại, trên 1.000m vải và nhiều thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Diện tích gieo trồng năm 1954 so với năm 1953 tăng gấp đôi, có nơi tăng gấp 3 lần. Năm 1953 toàn tính tổ chức được 420 tổ tăng gia, cuối năm 1954 phát triển được 1.799 tổ với khoang 8.900 hộ tham gia. Từ hình thức tổ tăng gia phát triển thành tổ đổi công và là cơ sở cho thành lập hợp tác xã sau này. Qua công tác phát triển sản xuất và chống đói, nhân dân các dân tộc Sơn La càng thêm phấn khởi một lòng tin tưởng vào Đảng, Chính phủ và chế độ mới, càng hăng hái tham gia làm nghĩa vụ với Chính phủ và đóng góp sức người, sức của phục vụ tiền tuyến.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:41:45 pm
Từ năm 1952, ta thi hành chính sách thuế nông nghiệp ở khu căn cứ có kết quả, sang năm 1953 đã mở rộng chính sách thuế, cuối năm 1953 thu thuế nông nghiệp đạt kế hoạch. Năm 1954 nhân dân đóng góp vượt mức chỉ tiêu 176 tấn lương thực.

Mạng lưới mậu dịch quốc doanh được thành lập tổ chức vận chuyển, tiếp tế nông cụ, vải, muối, thuốc lào và các mặt hàng thiết yếu khắc phục vụ đời sống nhân dân cán bộ. Những người nghèo túng được Chính phủ cứu tế. Tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa miền xuôi - miền ngược, nhân dân các dân tộc trong tỉnh được xây dựng và phát triển. Tổ chức thu mua lâm thổ sản đươc trên 5.0000 đồng và hạ giá một số mặt hàng cần thiết. Do đó sức mua của nhân dân năm 1954 tăng gấp 2 lần năm 1953. Các ngành ngân hàng, tài chính được củng cố đã góp phần lưu thông tiền tệ, ổn định giá cả, hướng dẫn thương nhân kinh doanh, buôn bán những mặt hàng thiết yếu cho nhân dân. Các nghề thủ công cổ truyền dân tộc được khuyến khích phát triển như dệt vải, dệt lanh, sản xuất chum, vại, cày, cuốc, thuổng, dao... phù hợp thị hiếu và sức mua của dân.


Về văn hoá tư tưởng, bắt đầu bằng "diệt giặc dốt". Chế độ thực dân phong kiến để lại một di sản văn hoá vô cùng thảm hại: Hơn 90% dân số mù chữ, tri thức nghèo nàn, khoa học kỹ thuật lạc hậu... Nhưng cách mạng là sáng tạo. Đảng bộ quân và dân tỉnh Sơn La hết sức chú ý đến sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục, y tế và từng bước thực hiện quyền dân chủ trong nhân dân. Nhiều con em các dân tộc được cử về trường của Trung ương và Khu đào tạo trở thành giáo viên, cán bộ y tế. Hàng năm giáo viên miền xuôi đã xung phong lên Sơn La đem văn hoá, tiếng nói, chữ viết của Đảng, Bác Hồ về với bản làng các dân tộc. Ngành học phổ thông, vỡ lòng và bình dân học vụ đều phát triển. Năm 1952 - 1953 đã mở 4 trường với hơn 100 học sinh khu tự do, năm học 1953 - 1954, tỉnh đã mở được 14 trường với 183 lớp, thu hút 4.511 học sinh từ vỡ lòng đến phổ thông.


Công tác vệ sinh phòng bệnh, bảo vệ sức khoẻ nhân dân được chú ý hơn trước. Những tập tục xã hội cũ như mê tín, dị đoan, ma chay, cưới xin, xên bản, xên mường... được giảm dần, ốm đau, sinh đẻ được y tế can thiệp kịp thời. Các hình thức văn nghệ dân tộc múa, hát được khuyến khích sáng tác ngợi ca những chiến công oanh liệt của quân và dân ta, tình đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc, công ơn trời biển của Đảng, của Bác, ca ngợi quê hương đất nước.


Về quân sự, khi bước vào kháng chiến so sánh lực lượng ta và địch, có người đã ví "châu chấu đá voi". Nhưng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh với cái nhìn biện chứng về chiến tranh nhân dân chống đế quốc xâm lược đã viết: "Chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quân chúng của dân tộc. Cho nên, chúng ta quả quyết trả lời những kẻ lừng chừng và bi quan đó rằng: "nay tuy châu chấu đá voi, nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra".


Sau chiến thắng Tây Bắc năm 1952, Tỉnh ủy Sơn La đã chỉ đạo quân và dân "Tiếp tục phát triển nhanh du kích, kiên quyết hoàn thành kế hoạch xây dựng tiểu đoàn bộ đội địa phương và dân quân du kích. Tích cực chống địch càn quét lấn chiếm, diệt do thám, gián diệp địch". Biên chế quân số các huyện từ 1 trung đội nâng lên 1 đại đội. Sạu khi rút một số đơn vị bộ đội chủ lực về, tỉnh tập trung xây dựng được 2 tiểu đoàn chủ lực. Tuyển quân được 1.043 tân binh. Lực lượng dân quân du kích có 1.151 người vừa chiến đấu bảo vệ và phục vụ chiến đấu. Cuối năm 1953, quân và dân Sơn La đánh lui các cuộc càn quét của quân Pháp từ cứ điểm Nà Sản, tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của cho chiến dịch Thượng Lào, chiến dịch giải phóng Lai Châu. Tại nhiều vùng có các cụm, nhóm phỉ hoạt động gây rối chống phá, quân và dân Sơn La đã cùng bộ đội chủ lực của Khu và Bộ tiến hành tiễu phỉ thắng lợi ở Nậm Khắt (Mù Căng Chải), Ngọc Chiến (Mường La), Tiểu khu 99 (Phù Yên), Mường Lầm (Sông Mã), Co Tòng, Chiềng Pấc, Mường Sại (Thuận Châu); chống gián điệp, biệt kích, truy lùng Việt gian phản động, tay sai của địch cài lại ở Yên Châu, Mai Sơn... kêu gọi hàng nghìn thanh niên bị ép theo phỉ trở về với cách mạng. Đặc biệt từ 23 tháng 10 đến ngày 23 tháng 11 năm 1953, quân và dân Sơn La đã cùng các đơn vị chủ lực đánh tan lực lượng phỉ ở Thuận Châu, bắt và gọi hàng 2.300 tên, trong đó có 5 tên cố vấn Pháp, thu 39 khẩu súng trung liên, 859 súng trường các loại cùng nhiều đạn dược, quân trang quân dụng. Tiễu phỉ thắng lợi đã đem lại sự ổn định về chính trị, cuộc sống bình yên cho nhân dân Sơn La, tạo điều kiện cho việc tiến về giải phóng Lai Châu và giải phóng toàn bộ Khu Tây Bắc.


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, mặc dù bom đạn địch đánh phá dữ dội, nhưng hàng vạn quân và dân các dân tộc Sơn La từ khắp các bản làng, vùng miền khác nhau... không quản ngày, đêm vượt qua tuyến lửa, trèo đèo lội suối, vận chuyển lương thực, đạn dược phục vụ chiến đấu. Trên các cung đường băng qua rừng núi Sơn La, hàng nghìn phương tiện vận tải thô sơ, dân công các địa phương ngày đêm nối nhau chuyển hàng ra mặt trận... Lực lượng dân công Sơn La với 21.687 người đã đóng góp 2.434.759 ngày công vừa tham gia làm đường, sửa đường, vừa vận chuyển cho chiến dịch. Các phương tiện vận tải được huy động trong dân gồm 83 thuyền ca nô, hơn 800 ngựa thồ, góp phần vào việc vận chuyển khối lượng lớn 4.450.000 tấn hàng hoá ra mặt trận, cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng.


Những thắng lợi to lớn mà quân và dân Sơn La đã giành được như trên là do Đảng ta có chủ trương, chính sách sáng suốt; đồng thời Sơn La lại được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tổng tư lệnh và Khu ủy; với lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, nhân dân quyết định đi theo kháng chiến đến cùng, lại được sự cổ vũ của những thắng lợi liên tiếp trên các chiến trường, đặc biệt là sau chiến dịch Tây Bắc, quân và dân Sơn La thực hiện thành công chủ trương "Kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính" một cách vẻ vang.


Với vị trí chiến lược quan trọng của các tỉnh Tây Bắc đối với nước ta, bài học rút ra từ chiến thắng Tây Bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc những thập niên qua, luôn có giá trị sâu sắc đối với thực tiễn hiện nay.


Với yêu cầu thiết thực, đồng bộ, toàn diện và hiệu quả, tỉnh Sơn La đã và đang: ưu tiên giữ vững ổn định chính trị với cách làm và bước đi thích hợp trong việc thực hiện chính sách "các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ" của Đảng, Nhà nước ta. Tập trung đầu tư đi trước đối với hạ tầng giao thông và giáo dục đào tạo trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở vùng nông thôn, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, đảm bảo an ninh lương thực và ổn định đời sống nhân dân bằng các chính sách hỗ trợ cụ thể cho các hộ nông dân, dân tộc thiểu số. Tổ chức lồng ghép các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ, cụ thể hoá và ban hành các chính sách đầu tư riêng cho các bản đặc biệt khó khăn nhất, với tinh thần "khó làm trước, dễ làm sau" và các khu căn cứ kháng chiến trước đây của tỉnh, bảo đảm "bản có công trình và dân có việc làm tăng thu nhập"; ra sức thực hiện: xây dựng mối quan hệ liên minh công - nông - trí thức trong phát triển cây công nghiệp, với chính sách các hộ nông dân được góp giá trị quyền sử dụng đất để trồng cây công nghiệp và mua cổ phần, hộ nông dân vẫn giữ giấy cấp quyền sử dụng đất và làm công nhân trực tiếp cho công ty...


Chủ động rà soát, hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo tinh thần Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc, kiên quyết cắt bỏ các dự án chuyển đôi mục đích vì mục tiêu lợi nhuận và ảnh hưởng đến quy hoạch tổng thể của tỉnh và của cả vùng Tây Bắc.


Với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, chương trình công nghiệp năng lượng đang diễn ra với nhịp độ nhanh với nhà máy Thủy điện Sơn La có công suất 2.400 MW lớn nhất Đông Nam Á sẽ được hoàn thành vào cuối năm 2012 và 49 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đang được xây dựng với tổng công suất 3.398 MW, đã và đang tác động mạnh mẽ việc hình thành các chuỗi đô thị mới và các cụm công nghiệp khai thác tiềm năng thế mạnh của tỉnh Sơn La và vùng Tây Bắc; chương trình di dân tái định cư các công trình thuỷ điện được tỉnh chỉ đạo chặt chẽ, với yêu cầu di chuyển an toàn và đảm bảo cuộc sống nơi ở mới tốt hơn nơi ở cũ; chương trình phòng chống ma tuý được triển khai quyết liệt theo phương châm "tập trung, thống nhất, toàn dân, toàn diện, kiên trì" và "đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người" thực sự trở thành phong trào mạnh mẽ của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Sơn La.


Các chủ trương, chính sách về xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh vững mạnh về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh đang được tập trung lãnh đạo thực hiện một cách nghiêm túc gắn chặt với việc tăng cường hợp tác xây dựng địa bàn biên giới Việt Nam - Lào ổn định và phát triển toàn diện.


Coi trọng xây dựng cơ sở Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc, đoàn thể ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn trong sạch vững mạnh; tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, đưa Sơn La tiến nhanh, tiến mạnh hơn nữa, xứng đáng với tầm vóc lịch sử đã giành được qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời gian qua. Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc Sơn La nguyện đem tất cả khả năng, sức lực của mình giữ gìn, bảo vệ và phát huy những thành quả đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:02:39 pm
TỪ CHIẾN DỊCH TÂY BẮC NĂM 1952 SUY NGHĨ VỀ XÂY DỰNG KHU VỰC PHÒNG THỦ HIỆN NAY TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 2

Thiếu tướng ĐẶNG VĂN LUYẾN
Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 2


Cách đây vừa tròn 60 năm, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, cùng với quân và dân cả nước, quân và dân Tây Bắc đã góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc năm 1952, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển lên một giai đoạn mới. Từ thắng lợi này, chúng tôi xin nêu một số vấn đề vận dụng vào xây dựng khu vực phòng thủ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay trên địa bàn Quân khu 2.


Đến năm 1952, cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp đã bước sang năm thứ 7. Với những thắng lợi liên tiếp và sự trưởng thành của quân và dân ta, nhất là sau thắng lợi của chiến dịch Hoà Bình, thực dân Pháp từ thế tiến công buộc phải chuyển sang thế phòng ngự bị động trên cả hai mặt trận chính diện và địch hậu. Nhằm thay đổi tình thế, địch ra sức củng cố, phát triển cả về quân sự và chính trị. Tại chiến trường Tây Bắc, chúng tăng cường lực lượng nhằm uy hiếp, khống chế bên sườn và sau lưng ta, cắt liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc với Khu 3, Khu 4, tạo điều kiện che chở cho chúng ở Thượng Lào. Để đối phó trước sự tiến công của ta ở Tây Bắc địch bố trí 8 tiểu đoàn và 43 đại đội bộ binh, tổ chức thành 144 cứ điểm thuộc các phân khu Lai Châu, Sông Đà Nghĩa Lộ, Sơn La và các tiểu khu độc lập Thuận Châu Phù Yên, Tuần Giáo.


Trước yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách 4 tỉnh là Lai Châu, Sơn La, Yên Bái và Lào Cai từ Liên khu Việt Bắc, thành lập Khu Tây Bắc. Đây là địa bàn đất rộng, người thưa, gồm nhiều dân tộc (34 dân tộc), chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số, kinh tế nghèo nàn, đường sá ít, núi cao, rừng rậm, sông suối nhiều, việc cơ động lực lượng và vận chuyển gặp rất nhiều trở ngại, về mùa thu và mùa đông, mây mù bao phủ suốt ngày và đêm, làm hạn chế đến tầm quan sát và ảnh hưởng tới hoạt động của không quân và pháo binh, nhưng lại có nhiều thuận lợi trong việc di chuyển lực lượng và tiếp cận mục tiêu.


Sau thắng lợi của chiến dịch Hoà Bình, quyết không để cho địch rảnh tay bình định, củng cố thế chiếm đóng của chúng ở đồng bằng và trung du, từ kinh nghiệm của các chiến dịch lớn trước đó, Đảng ta nhận định phương hướng tiến công chiến lược có lợi cho ta lúc này là chiến trường rừng núi và chủ trương tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu tìm nơi sơ hở của địch mà đánh. Qua phân tích tình hình về mọi mặt, nhất là so sánh thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường, các điều kiện đảm bảo cho mở chiến dịch trong Thu Đông năm 1952 đã chín muồi, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc.


Quán triệt Nghị quyết Trung ương và quyết tâm của Tổng Quân ủy về mở chiến dịch Tây Bắc, cuối tháng 9 năm 1952, Bộ Tư lệnh Khu Tây Bắc mở Hội nghị cán bộ toàn khu để phổ biến, quán triệt mục đích, ý nghĩa và giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Với quyết tâm "tất cả cho chiến dịch toàn thắng", chỉ sau một thời gian ngăn, các địa phương trên địa bàn Tây Bắc đã huy động được 35.000 lượt dân công làm nhiệm vụ mở đường, vận chuyển được 50.000 tấn hàng từ hậu phương ra tiền tuyến, huy động 430 thuyền nan, trong 3 ngày đêm đã chở được 30.000 lượt bộ đội vượt sông Thao an toàn.


Chiến dịch Tây Bắc bắt đầu từ ngày 14 tháng 10 và kết thúc vào ngày 10 tháng 12 năm 1952. Sau gần 2 tháng chiến đấu, quân và dân ta đã giành thắng lợi to lớn, tiêu diệt 1.005 tên địch, bắt 5.024 tên, diệt 4 tiểu đoàn, 28 đại đội, đánh thiệt hại nặng nhiều tiểu đoàn cơ động tinh nhuệ, phá huỷ và thu toàn bộ vũ khí, đồ dùng quân sự, các kho lương thực, thực phẩm của địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn có diện tích 28.500km2, với 25 vạn dân, mở rộng hậu phương kháng chiến của cả nước.


Cùng với quân và dân cả nước, quân và dân Tây Bắc đã góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến dịch đề ra. Từ thắng lợi của chiến dịch, có thể rút ra một số vấn đề có ý nghĩa sau:

Một là, về chỉ đạo chiến lược, ta đã phân tích, đánh giá đúng tương quan lực lượng địch, ta, để lựa chọn chiến trường chính và mục tiêu chủ yếu là Tây Bắc để mở chiến dịch. Mở chiến dịch Tây Bắc, ta đã có sự cân nhắc đúng đắn, đưa chủ lực vào chiến trường rừng núi, địa bàn có tầm quan trọng về chiến lược, nơi địch có lực lượng phòng thủ yếu, lại khó phát huy được sức mạnh về hoả lực pháo binh, không quân. Trong khi đó chiến trường rừng núi lại phù hợp với trình độ tác chiến và sở trường đánh rừng núi của bộ đội ta.


Ta luôn tạo thế, nắm quyền chủ động chiến dịch, biết lượng sức, khéo léo phát huy thế mạnh chiến lược của mình đánh vào thế yếu của địch là giữa tập trung cơ động với phân tán chiếm đóng, giữa hành động quân sự với thủ đoạn chính trị... ta đã biết kìm chỗ mạnh, đánh chỗ yếu của địch, đã tiến công thì đánh dứt điểm, nhanh chóng dồn địch vào thế bị động, bất ngờ.


Việc xác định mục đích chiến dịch và phương châm tác chiến chiến dịch đúng đắn, chính xác là: "Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc, giải phóng một phần đất đai ở Tây Bắc", khẳng định trình độ chỉ đạo chiến lược, trình độ tổ chức, chỉ huy của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đã có những bước phát triển mới, là kết quả của việc nắm vững quy luật vận động khách quan chiến tranh cách mạng.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:04:24 pm
Hai là, tập trung lực lượng đánh chiếm những khu vực then chốt, kết hợp với đón lõng, truy kích kịp thời, mạnh dạn thọc sâu, vu hồi, không cho địch co cụm, tranh thủ thời cơ đánh địch ngoài công sự.

Trong chiến dịch, ta tập trung lực lượng đập vỡ một số khu vực then chốt, kết hợp đón lõng, truy kích kịp thời, mạnh dạn thọc sâu vu hồi, chia cắt địch, kết hợp trong ngoài cùng đánh. Nhờ phân bố lực lượng một cách khoa học, ta đã tạo được một ưu thế về binh lực, hoả lực hơn hẳn địch trong một số trận đánh có tính chất quyết định, như trận đánh vào Nghĩa Lộ, khu vực Mộc Châu.


Táo bạo thọc sâu, chia cắt, vu hồi là ưu điểm nổi bật của chiến dịch. Trong đợt 2 của chiến dịch, ta bí mật vượt sông, luồn sâu để đánh bất ngờ vào khu vực hiểm yếu là cách đánh táo bạo, vận dụng rất linh hoạt, sáng tạo ở địa hình rừng núi. Mũi tiến từ Quỳnh Nhai xuống Thuận Châu là mũi thọc sâu vu hồi rất lợi hại, biết nắm thời cơ có lợi, thừa thắng xốc tới, thu được thắng lợi lớn.


Ba là, tổ chức chuẩn bị chiến dịch phải nắm vững nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ tiếp theo, quy rõ trách nhiệm, hiệp đồng chặt chẽ, lấy cơ quan tham mưu làm trung tâm để hiệp đồng.

Công tác chuẩn bị cho chiến dịch là vấn đề rất quan trọng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều địa phương, vì vậy phải có công tác hiệp đồng chặt chẽ, cụ thể, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao từ trên xuống dưới. Do vậy, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã sớm xác định hướng tiến công là Tây Bắc để có thời gian chuẩn bị chu đáo cho chiến dịch (trên 3 tháng). Đồng thời, kế hoạch tác chiến chiến dịch được xác định sớm và cụ thể hoá từng bước nên có thời gian để hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị.


Việc tổ chức điều tra nắm địch, khảo sát địa hình được tiến hành theo 2 bước: Bước điều tra cơ bản phục vụ cho nhiệm vụ xây dựng kế hoạch tác chiến và bước trinh sát phục vụ cho việc chỉ huy, lấy cơ quan tham mưu làm trung tâm hiệp đồng giữa các cơ quan và giúp cho chỉ huy để chỉ đạo các cấp được kịp thời, thống nhất.


Bốn là, trong những tình huống bất lợi phải chủ động, mưu trí kết thúc chiến dịch đúng lúc, tìm mọi cách lừa địch, đảm bảo an toàn lực lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ tiếp theo.

Sau 4 trận tiến công liên tiếp không thành công, bộ đội bị thương vong nhiều, quân số thiếu hụt, sức khoẻ giảm sút, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định rút khỏi Nà Sản, kết thúc chiến dịch. Đây là một bài học đáng ghi nhớ, ta đã biết khéo léo kết thúc chiến dịch một cách có lợi nhất tránh được những tổn thất không cần thiết, bảo toàn được lực lượng, giữ vững được khí thế và niềm tin cho bộ đội. Điều này khẳng định bản lĩnh vững vàng, tinh thần dám làm, dám chịu trách nhiệm và tính quyết đoán của người chỉ huy.


Kết thúc chiến dịch là một nghệ thuật. Kết thúc chiến dịch trong tình huống thuận lợi đã khó, kết thúc trong điều kiện bất lợi càng khó khăn gấp bội. Nhận rõ điều này, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tích cực, chủ động tiến hành nhiều biện pháp có hiệu lực nhằm tạo bất ngờ đánh lừa địch, đảm bảo an toàn cho lực lượng ta.


Năm là, quán triệt sâu sắc quyết tâm của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng tinh thần chủ động, tích cực tiến công địch, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách dân tộc, thường xuyên giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đối với cả bộ đội và dân công.


Đây là điều kiện không thể thiếu để đánh thắng quân địch, nắm vững yêu cầu này các đơn vị đã coi trọng công tác giáo dục tình hình nhiệm vụ, mục đích ý nghĩa của chiến dịch, đồng thời giáo dục chu đáo chính sách dân tộc của Đảng, các tài liệu có liên quan đến nhiệm vụ tiến quân vào Tây Bắc.


Nhờ làm tốt công tác giáo dục chính trị, với nhiều biện pháp tích cực, liên tục, nên công tác chính trị đã xây dựng được cho bộ đội và dân công ý thức tự giác, niềm tự hào trong việc hoàn thành nhiệm vụ của mình với quyết tâm cao nhất.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:05:19 pm
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đang đứng trước những thời cơ, vận hội mới, đồng thời cũng phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức mới. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình" bạo loạn lật đổ, các cuộc xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, bạo loạn ly khai, lật đổ, khủng bố, tranh chấp biên giới lãnh thổ, biển đảo và tài nguyên thiên nhiên sẽ tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp hơn.


Tây Bắc là địa bàn chiến lược vô cùng quan trọng cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh, là "phên giậu" của cả nước.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Nghị quyết Đại hội lần thứ vn của Đảng bộ Quân khu 2, việc xây dựng khu vực phòng thủ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay đang đặt ra những yêu cầu mới cao hơn. Trên cơ sở phát huy những thành tựu đã đạt được trong những năm qua, tiếp thu những kinh nghiệm và bài học thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc trong Thu Đông 1952,qua đó có thể vận dụng những nội dung sau đây vào xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn Quân khu 2 ngày nay.


Một là vận dụng một cách sáng tạo các quan điểm, tư tưởng về xây dựng toàn diện mọi mặt để tác chiến giành thắng lợi.

Trong chiến tranh hiện đại, địch sử dụng vũ khí công nghệ cao, vì vậy trong xây dựng khu vực phòng thủ phải tập trung xây dựng vững chắc toàn diện về mọi mặt, chỉ có xây dựng tiềm lực, kể cả tiềm lực vật chất lẫn tiềm lực tinh thần dựa vào sức mình là chính thì mới đảm bảo cho thế chủ động luôn được giữ vững. Trong chiến dịch Tây Bắc do ta làm tốt công tác chuẩn bị, từ chuẩn bị con người, đến cơ sở vật chất, với thời gian gần 3 tháng, cho nên từ khi chiến dịch bắt đầu cho đến khi kết thúc, ta luôn giữ thế chủ động về mọi mặt, đảm bảo cho chiến dịch giành thắng lợi. Qua thực tiễn chiến dịch, những quan điểm, tư tưởng về xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu cho các lực lượng tham gia chiến dịch, nhất là xây dựng về tư tưởng tích cực tiến công tiêu diệt địch, xây dựng tác phong dũng cảm, dẻo dai trong chiến đấu, làm cho bộ đội vượt qua mọi khó khăn, chịu đựng gian khổ để đảm bảo cho nhiệm vụ được hoàn thành vẫn còn nguyên giá trị để vận dụng vào trong xây dựng khu vực phòng thủ hiện nay, đó chính là tư tưởng xây dựng cho quân và dân ta có ý chí tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính.


Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nếu chiến tranh xảy ra, thì đây là một cuộc chiến tranh vô cùng quyết liệt và phức tạp, phải đối phó với một kẻ địch mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Vì vậy, hơn bao giờ hết, chúng ta phải tập trung xây dựng yếu tố chính trị tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập tự do", "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", với một ý chí sát đã kiên cường bám trụ, tự lực, tự cường, chủ động đánh địch, mỗi người dân là một chiến sĩ đánh địch. Đồng thời, phải chuẩn bị cho khu vực phòng thủ có ý chí "quyết đánh, dám đánh và biết đánh", đánh bằng mọi thử vũ khí có trong tay, với mọi đối tượng, trong mọi tình huống. Đối với một kẻ địch có ưu thế vượt trội về vũ khí công nghệ cao, phải xây dựng khu vực phòng thủ cần phải "biết đánh", vận dụng tư tưởng lấy vũ khí thô sơ để chống lại hiện đại, sáng tạo ra cách đánh phù hợp và hiệu quả. Biết coi trọng bảo toàn lực lượng, hạn chế tối đa uy lực binh khi, kỹ thuật hiện đại của địch, để càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành và giành thắng lợi.


Nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, phải xây dựng cho khu vực phòng thủ quan điểm tư tưởng: Dựa vào dân, phát huy sức mạnh mọi nguồn lực tại chỗ, toàn dân đánh giặc, đánh giặc trên mọi phương diện, bằng mọi thứ vũ khí có trong tay. Phát huy tinh thần sáng tạo lấy thô sơ để thắng hiện đại, coi trọng vũ khí thô sơ như chông, mìn, cạm bẫy tự tạo... để đánh thắng địch.


Để xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) thành khu vực phòng thủ vững chắc, chúng ta phải biết vận dụng những tinh hoa bài học kinh nghiệm trong chiến dịch Tây Bắc về tổ chức xây dựng lực lượng, chuẩn bị thế trận, kết hợp sức mạnh tại chỗ với sức mạnh huy động từ nhiều phía, sự phối hợp giữa các lực lượng, các đơn vị, các địa phương trên địa bàn với nhau.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:06:28 pm
Hai là, tranh thủ mọi thời gian, tích cực chủ động chuẩn bị thật đầy đủ về mọi mặt.

Với thời gian hơn ba tháng chuẩn bị cho chiến dịch, đến giờ nổ súng là cả một quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ từ Trung ương đến các đơn vị bộ đội, các địa phương nơi địa bàn chiến dịch diễn ra. Kết quả của sự chuẩn bị chu đáo cả về con người và phương tiện, vật chất ấy được chứng minh bằng những chiến công của quân và dân ta trên chiến trường Tây Bắc. Quá trình đó để lại cho chúng ta nhiều bài học quý có giá trị để vận dụng vào trong xây dựng khu vực phòng thủ hiện nay. Mọi công tác chuẩn bị về xây dựng khu vực phòng thủ phải đáp ứng cho được cả những yêu cầu trước mắt, hiện tại và tương lai. Công tác chuẩn bị đó phải toàn diện, nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên cái gì trước, cái gì sau. Xong điều đặc biệt là phải quan tâm xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang tại chỗ làm nòng cốt, đảm bảo chu đáo về cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật; tổ chức sơ tán bảo toàn lực lượng, phối hợp hiệp đồng giữa các lực lượng trong khu vực phòng thủ, nhất là lực lượng vũ trang với cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, ban ngành, đoàn thế địa phương.


Trong xây dựng khu vực phòng thủ, trước hết phải chuẩn bị về con người. Phải bằng nhiều biện pháp để tiến hành công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho toàn dân, cho các đối tượng, chú trọng kết hợp giữa giáo dục vận động quần chúng với quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội; xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng; kết hợp huấn luyện lực lượng vũ trang với xây dựng giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội và vận động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị vững chắc. Trong xây dựng khu vực phòng thủ, chúng ta phải vận dụng các quan điểm, tư tưởng về tổ chức thế trận, nghệ thuật bố trí đội hình và mưu mẹo sử dụng lực lượng. Từ phương án tác chiến để xác định thế trận xây dựng công trình, tổ chức bố trí phải liên hoàn, vững chắc, toàn diện cả công trình quân sự và dân sự, cả công trình chiến đấu và công trình phòng tránh, công trình bảo đảm cho chỉ huy và khu vực kho tàng bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong một thể hoàn chỉnh, thống nhất trong khu vực phòng thủ.


Về chuẩn bị cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật, bài học quan trọng nhất là biết dựa vào dân, phát huy sức mạnh toàn dân, có dân là có tất cả. Ngày nay, quá trình xây dựng khu vực phòng thủ trong điều kiện kinh tế đất nước đã khá hơn, xong quan điểm dựa vào dân, huy động mọi nguồn lực có trong dân vẫn còn nguyên giá trị. Bài học trong chiến dịch Tây Bắc về huy động mọi nguồn lực trong dân để phục vụ cho chiến dịch giành thắng lợi là một bài học quý cần được vận dụng trong điều kiện xây dựng khu vực phòng thủ hiện nay.


Ba là, vận dụng nghệ thuật tác chiến chiến dịch một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh.

Nếu chiến tranh xảy ra, đất nước ta bị xâm lược, chúng ta phải tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện để bảo vệ Tổ quốc trong tình thế không cân sức, kẻ thù vượt trội so với ta về vũ khí trang bị, về cơ sở vật chất. Kinh nghiệm qua chiến dịch Tây Bắc cho thấy muốn giành thắng lợi chúng ta phải tìm ra cách đánh thích hợp, vận dụng sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân với nhiều hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu;kết hợp giữa tiến công với chốt chặn, tiêu hao, kìm giữ, bao vây, tập kích, phục kích. Chiến đấu luôn đi đôi với bảo vệ, bảo toàn lực lượng, chuẩn bị hậu cứ; coi trọng chiến đấu tiêu diệt dịch nhưng phải giữ được đất, giữ được dân. Ngày nay, trong tác chiến của khu vực phòng thủ trên một địa bàn rừng núi, trung du, đồng bằng và đô thị xen kẽ, phải vận dụng sáng tạo chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới với sự phát triển của một nền khoa học phù hợp, đáp ứng cho yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.


Chiến thắng Tây Bắc thể hiện sự sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, mà bài học rút ra là phải có sự chỉ đạo đúng, chủ động về chiến dịch và sớm có kế hoạch chuẩn bị, công tác chuẩn bị phải chu đáo về mọi mặt, triển khai được thế trận tiến công hiểm hóc, giữ được bí mật, bất ngờ, vận dụng được cách đánh phù hợp với điều kiện so sánh lực lượng để hạn chế chỗ mạnh của địch, phát huy sở trường của ta, đồng thời phải phát huy được sức mạnh toàn dân trong chuẩn bị cũng như trong chiến đấu, phát huy cao độ yếu tố chính trị tinh thần, sự sáng tạo của nhân dân, của cán bộ, chiến sĩ để đánh bại kẻ thù. Đây là những bài học kinh nghiệm quý cần vận dụng vào trong xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn Quân khu 2 ngày nay.


Bốn là, vận dụng linh hoạt cơ chế đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu trong xây dựng khu vực phòng thủ.

Ngày nay, trong tác chiến khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) có nhiều lực lượng tham gia, với nhiều mối quan hệ phức tạp. Tuy đã có cơ chế, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn trong giải quyết những vấn đề liên quan. Hiện nay, mọi hoạt động của khu vực phòng thủ đang được vận hành theo Nghị quyết 02-BCT, song những kinh nghiệm về lãnh đạo, điều hành chỉ huy tác chiến trong tình hình hiện nay trên địa bàn Quân khu 2 vẫn có nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, trong đó nhất là việc phản cấp lãnh đạo, điều hành và chỉ huy đối với từng đối tượng, từng lực lượng, từng bộ phận và sự phối hợp giữa các ngành với nhau trong một khu vực phòng thủ (giữa cơ quan quân sự với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể) theo một cơ chê thống nhất về sự lãnh đạo, điều hành và chỉ huy.


Để đánh thắng kẻ địch có ưu thế về vũ khí công nghệ cao, về cơ sở vật chất, ta phải có cách đánh phù hợp, sáng tạo, có bản lĩnh và ý chí quyết tâm cao. Nhưng, phải bắt đầu từ sự lãnh đạo, chỉ huy sáng suốt, tài tình thì như vậy mới phát huy được sức mạnh của mọi lực lượng, mọi thứ vũ khí trang bị có trong tay trong khu vực phòng thủ của thế trận chiến tranh nhân dân, dụ địch vào thế trận mà ta đã chuẩn bị sẵn. Tất cả mọi hoạt động tác chiến trong khu vực phòng thủ diễn ra trong một không gian rộng và thời gian chưa thể đoán biết trước được, lực lượng tham gia đa dạng, vì thế đòi hỏi phải có sự lãnh đạo, chỉ huy sâu sát kịp thời, nắm bắt được những tình huống diễn ra trên từng hướng, từng lực lượng qua từng giai đoạn để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong khu vực phòng thủ.


Chiến thắng Tây Bắc là thắng lợi lớn của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tạo cơ sơ tiếp tục đưa cuộc kháng chiến tiến lên giành những thắng lợi mới, đồng thời để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, có tầm vóc chiến lược cho thế hệ hôm nay. Tuy nhiên, học tập và vận dụng những bài học kinh nghiệm đó vào xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn Quân khu 2 ngày nay phải có sự sáng tạo, sát với tình hình quân khu trong thời kỳ mới. Vận dụng có hiệu quả những bài học lịch sử đó sẽ góp phần xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Quân khu 2, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:12:34 pm
PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG TÂY BẮC TRONG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 2 HIỆN NAY

Thiếu tướng PHẠM NGỌC CHÂU
Phó Chính ủy Quân khu 2


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cùng với chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, chiến thắng chiến dịch Biên Giới 1950 và chiến dịch Hoà Bình 1952, chiến thắng Tây Bắc như một dấu ấn quan trọng, một dấu son trong lịch sử kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta nói chung, của quân và dân Tây Bắc nói riêng. Kỷ niệm 60 năm ngày chiến thắng Tây Bắc 1952, từ những bài học kinh nghiệm rút ra, xin nêu một số vấn đề vận dụng vào trong xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu 2 hiện nay, để góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Sau chiến thắng chiến dịch Biên Giới 1950 và chiến dịch Hoà Bình 1952, quân và dân ta bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ phản công và tiến công, nhằm giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta tiến lên một bước mới.


Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giải phóng Tây Bắc Bộ chỉ huy chiến dịch được thành lập, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách 4 tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Lào Cai và Yên Bái, từ Liên khu Việt Bắc để thành lập Khu Tây Bắc, với diện tích 44.300km2 và dân số gần 440.000 người. Tây Bắc là một vùng rừng núi trùng điệp, sông suối nhiều, đường sá ít, gặp Tắt nhiều khó khăn cho việc cơ động lực lượng và vận chuyển vật chất. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng đối với cách mạng Đông Dương.


Bước vào Đông - Xuân 1952-1953, từ đánh giá, so sánh về thế và lực giữa ta và địch, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy hạ quyết tâm mở chiến dịch Tây Bắc. Chiến dịch diễn ra từ ngày 14 tháng 10 năm 1952 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, được hình thành 3 đợt: Đợt 1 diễn ra từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 10 năm 1952; đợt 2 diễn ra từ ngày 7 đến ngày 22 tháng 11 năm 1952; đợt 3 diễn ra từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952. Phương châm của chiến dịch được Bộ chỉ huy chiến dịch xác định là: "Đánh điểm diệt viện". Sau gần 60 ngày đêm chiến đấu gian khổ, hy sinh, ác liệt, ta đã tiêu diệt, bắt và làm bị thương trên 6.000 tên địch; nhiều tiểu đoàn, đại đội thuộc các binh đoàn cơ động thiện chiến của địch bị xoá sổ. Âm mưu xây dựng "Xứ Thái tự trị", "Xứ Nùng tự trị" của thực dân Pháp bị thất bại. Tám phần mười đất đai của Tây Bắc được giải phóng, nối liền với căn cứ địa Việt Bắc, bổ sung cho tiềm lực kháng chiến và làm hậu phương của cả nước thêm lớn mạnh; đường giao thông quốc tế được nối liền với Trung Quốc và Lào, từ Tây Bắc, Việt Bắc xuống Liên khu 3, Liên khu 4, tạo điều kiện mới để quân và dân ta tiến lên giành thắng lợi.


Chiến dịch đã giành được thắng lợi to lớn về mọi mặt mà Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra. Tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Tây Bắc, ngày 29 tháng 1 năm 1953, Bác Hồ thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ biểu dương cán bộ, chiến sĩ: "Trung ương, Chính phủ khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ. Trung ương, Chính phủ, Bác bằng lòng các chú, lần này chưa phải hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước".


Những giá trị tinh thần, cùng những bài học kinh nghiệm của chiến thắng Tây Bắc 1952, bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, sự chỉ đạo đúng đắn kịp thời và kiên quyết của Tổng Quân ủy, của Bộ chỉ huy chiến dịch, đó còn là truyền thống trung thành một lòng với Đảng, với nhân dân; tinh thần đoàn kết, khắc phục khó khăn; tinh thần tự lực, tự cường; quyết chiến, quyết thắng, luôn là niềm tự hào, nguồn sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta, đây chính là nhân tố quan trọng góp phần làm nên chiến thắng Tây Bắc.


Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang đứng trước những vận hội lớn, song cũng không ít những khó khăn thách thức trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội. Quân khu 2 là địa bàn rừng núi, biên giới, nền kinh tế - xã hội chậm phát triển, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, các thế lực thù địch lợi dụng chống phá quyết liệt trên nhiều lĩnh vực, như: truyền học đạo trái pháp luật, kích động, lôi kéo đồng bào di, dịch cư, nhất là một số đồng bào người Mông, nhằm tập hợp lực lượng tiến tới thành lập "Nhà nước Mông tự trị" chống phá cách mạng nước ta... Trước tình hình trên và những yêu cầu nhiệm vụ mới cũng đặt ra cho lực lượng vũ trang quân khu và nhân dân các dân tộc trên địa bàn Tây Bắc nhiều trọng trách với nỗ lực đòi hỏi ngày càng cao hơn.


Để phát huy tinh thần chiến thắng Tây Bắc 1952 và truyền thống "Trung thành, tự lực, đoàn kết, anh dũng, chiến thắng", trong xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu 2 hiện nay, cần phấn đấu thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

Trước hết, chiến thắng Tây Bắc là chiến thắng của tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết tâm chiến đấu cao, với lòng tin tưởng tuyệt đối của quân và dân Tây Bắc vào sự lãnh đạo của Đảng.

Thực tiễn trong chiến đấu, xây dựng, trưởng thành của lực lượng vũ trang Quân khu 2 hơn 60 năm qua đã chứng minh rằng: nhờ luôn được bồi đắp tinh thần yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc, thường xuyên củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu và lòng tin tuyệt đối của quân và dân Tây Bắc vào sự lãnh đạo của Đảng, mà lực lượng vũ trang quân khu đã lập nên nhiều thành tích rất đáng tự hào.


Ngày nay để phát huy bài học trên, lực lượng vũ trang Quân khu 2 cần thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho mọi cán bộ, chiến sĩ lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, có tinh thần và ý chí quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


Tăng cường bồi dưỡng xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy Đảng các cấp. Bảo đảm lực lượng vũ trang luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân trong bất kỳ tình huống nào.


Hai là, chiến thắng Tây Bắc chính là sự lớn mạnh, trưởng thành của quân đội, trình độ tổ chức chỉ huy của đội ngũ cán bộ, trình độ kỹ chiến thuật của bộ đội; sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng và ỷ thức chấp hành kỷ luật cao trong chiến đấu.

Những kinh nghiệm trên trong xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu 2 hiện nay cần nắm vững và quán triệt sâu sắc phương hướng xây dựng quân đội "Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại". Xây dựng lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ có số lượng hợp lý, cơ cấu tổ chức phù hợp, có chất lượng ngày càng cao.


Nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của lực lượng vũ trang quân khu (cả ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ) lên một bước mới, với phương châm "Cơ bản, thiết thực, vững chắc".


Bộ đội chủ lực giỏi tác chiến hiệp đồng, liên tục, dài ngày, cơ động nhanh, bí mật bất ngờ, lấy mục tiêu đánh tiêu diệt gọn là chủ yếu, ứng phó linh hoạt với mọi điều kiện, tình huống; đồng thời có khả năng tác chiến giỏi ở địa hình rừng núi, trung du, đồng bằng và thành phố.


Bộ đội địa phương giỏi tác chiến trong khu vực phòng thủ, đánh địch cả trên không và mặt đất, có khả năng tiêu hao rộng rãi, tiêu diệt gọn từng bộ phận quân địch.

Dân quân tự vệ thuần thục tác chiến bảo vệ xã, phường và giữ gìn trật tự trị an, nâng cao trình độ kỹ năng bắn máy bay bay thấp và tên lửa hành trình của địch.

Coi trọng huấn luyện cả đồng bộ và chuyên sâu, vận dụng sáng tạo các quan điểm, nguyên tắc, các mối kết hợp, phù hợp với tình hình quân khu. Huấn luyện toàn diện cả quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, cả cán bộ và chuyên môn nghiệp vụ, cả cơ quan và đơn vị.


Huấn luyện nâng cao trình độ công tác tham mưu cho chỉ huy, cơ quan các cấp. Tổ chức diễn tập, luyện tập theo phương án, tăng cường huấn luyện dã ngoại, huấn luyện đêm, luyện tập nâng cao khả năng cơ động, sức dẻo dai để tác chiến liên tục trong mọi điều kiện và tình huống.


Trong huấn luyện quán triệt và vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự của Đảng, những kinh nghiệm đã được tổng kết trong chiến tranh, chiến đấu để huấn luyện, truyền thụ kinh nghiệm cho bộ đội; nội dung huấn luyện phải sát với địa hình, địa bàn, vũ khí trang bị hiện có và khả năng được tăng cường, sát đối tượng tác chiến và cách đánh của ta.


Gắn huấn luyện với duy trì thực hiện nghiêm các chế độ, nền nếp xây dựng chính quy, kết hợp với nâng cao chất lượng công tác quản lý, rèn luyện kỷ luật bộ đội ở tất cả các cấp làm chuyển biến ý thức và năng lực chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội của mọi quân nhân, không để xảy ra các vụ việc nghiêm trọng.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:15:14 pm
Ba là, chiến thắng Tây Bắc là kết quả của ý chí, tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường của quân và dân Quân khu Tây Bắc góp phần tạo nên chiến thắng.

Mặc dù trong điều kiện kinh tế còn nghèo, đời sống của nhân dân còn rất nhiều khó khăn, song nhân dân các dân tộc Tây Bắc vẫn một lòng hướng về Đảng, hướng về kháng chiến. Đã huy động cho chiến dịch được 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt gia súc, gia cầm, 41 tấn thực phẩm khác, cùng hàng chục nghìn ngày công tham gia phục vụ chiến dịch. Đây là sự đóng góp to lớn có ý nghĩa rất quan trọng, khẳng định chủ trương huy động sức người, sức của vùng mới giải phóng, hậu phương tại chỗ cho chiến dịch là hoàn toàn đúng đắn, mở ra phương thức bảo đảm hậu cần tại chỗ cho các chiến dịch sau này thành công.


Từ bài học đó, ngày nay trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng, lực lượng vũ trang quân khu hơn lúc nào hết cần tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao ý thức tự lực tự cường, có ý chí và tinh thần khắc phục mọi khó khăn trong sinh hoạt và công tác, có quan điểm cần kiệm, chống tham ô, lãng phí.


Cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, lực lượng vũ trang quân khu ra sức phát huy tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường đẩy mạnh tăng gia lao động sản xuất, kết hợp khai thác và quản lý tốt mọi nguồn lực để xây dựng doanh trại chính quy xanh, sạch, đẹp, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, nhằm phục vụ tốt cho thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.


Tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa với cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, tích cực chủ động tham gia xóa đói, giảm nghèo, phòng chống giảm nhẹ thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu nạn. Tổ chức thực hiện có hiệu quả các dự án kinh tế kết hợp với quốc phòng trên một số địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa, địa bàn người dân tộc thiểu số, vùng biên giới... góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần trong nhân dân và nếu Chiến tranh xảy ra thì đây là nguồn lực hậu cần tại chỗ để phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chiến đấu.


Bốn là, tiêu diệt địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một phần đất đai Tây Bắc là mục tiêu bao trùm của chiến dịch Tây Bắc.

Ngày nay trong xây dựng lực lượng vũ trang quân khu cần quán triệt vận dụng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của quân đội: Trong khi đặt lên hàng đầu là nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu thi đồng thời phải làm tốt chức năng đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Tích cực tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ, góp phần nâng cao giác ngộ nhận thức, sự ủng hộ và niềm tin tuyệt đối của nhân dân các dân tộc vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi công cuộc đổi mới hiện nay.


Tăng cường phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương sớm phát hiện và giải quyết tốt những vấn đề bức xúc ở địa bàn cơ sở, góp phần củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc.


Luôn gắn bó một thiết và hết lòng giúp đỡ nhân dân, "xây dựng thế trận lòng dân", làm tốt công tác dân vận, không ngừng tăng cường, củng cố mối đoàn kết quân dân. Tích cực, chủ động tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh toàn diện làm lực lượng nòng cốt đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" trên mặt trận chính trị, tư tưởng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.


Chủ động phối hợp chặt chẽ với quân đội, nhân dân các địa phương nước bạn, trước hết là nước bạn Lào anh em, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tăng cường thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị, góp phần giữ vững ổn định trật tự an ninh khu vực biên giới, kịp thời ngăn ngừa và xử lý tốt các điểm nóng, kiên quyết đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực phản động thù địch đối với cách mạng hai nước, tạo điều kiện tốt nhất để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.


Năm là, chiến thắng Tây Bắc bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, vai trò hệ thống chỉ huy các cấp trong quân đội.

Ngày nay trong xây dựng lực lượng vũ trang quân khu, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải chăm lo xây tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, trước hết cần tăng cường giáo dục xây dựng bản chất giai cấp công nhân trong lực lượng vũ trang quân khu, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ luôn nâng cao nhận thức cách mạng, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất trí cao với quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng; củng cố niềm tin sắt đá vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, vững tin vào chính mình, vượt qua mọi khó khăn và cám dỗ, ngăn ngừa, đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và tệ quan liêu, tham nhũng, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.


Quan tâm chăm lo nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng. Xây dựng tổ chức Đảng thực sự trong sạch vững mạnh. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ. Thường xuyên bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, tính tiền phong gương mẫu về đạo đức, phong cách, lối sống, năng lực lãnh đạo và tổ chức hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong xây dựng quân đội "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại", chú trọng bồi dưỡng, đào tạo cán bộ tại chỗ, cán bộ là người dân tộc.


Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và tổ chức chặt chẽ, nghiêm túc có hiệu quả đợt sinh hoạt phê bình và tự phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã xác định.

Chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân vững mạnh, không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở.


Lịch sử 60 năm qua từ chiến thắng Tây Bắc 1952, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, quân và dân cảnước đã lập nên nhiều kỳ tích anh hùng. Nhưng chiến thắng Tây Bắc vẫn luôn là một dấu ấn quan trọng, là mốc son trong lịch sử của dân tộc. Chiến thắng đó, một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, tầm nhìn và tài thao lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy; cùng sự kế thừa tinh hoa truyền thống đánh giặc ngoại xâm, phát triển nên nghệ thuật chỉ đạo, điều hành và phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh để giành chiến thắng trước kẻ thù thâm độc, xảo quyệt và mạnh về quân sự hơn ta gấp nhiều lần.


Thực tiễn 60 năm qua, có thể khẳng định rằng: Những chiến công, thành tích trong chiến đấu, xây dựng, trưởng thành không ngừng của lực lượng vũ trang quân khu luôn được kế thừa, bồi đắp từ những giá trị và tinh thần chiến thắng Tây Bắc. Với ý nghĩa đó, giá trị và tinh thần chiến thắng Tây Bắc 1952 đã và sẽ mãi mãi là điểm tựa tinh thần, là chất liệu quý và vững chắc tạo nên sức mạnh để lực lượng vũ trang Quân khu 2 hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao cho.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:19:11 pm
TỪ VAI TRÒ CỦA HẬU PHƯƠNG TẠI CHỖ TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BAC 1952 - BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỀN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TÂY BẮC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

TS HOÀNG THỊ KIM THANH
Trưởng ban Địa phương Viện Lịch sử Đảng.
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh


Miền Tây Bắc của nước ta, phía Bắc giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); phía Nam giáp tỉnh Phong Xa Lỳ, Sầm Nưa (Lào), chạy dài cho đến tận thung lũng sông cả ở địa đầu dãy Trường Sơn. Đây là miền đất của những ngọn núi cao và cao nguyên. Dãy Hoàng Liên Sơn đồ sộ dài 180km (từ biên giới Trung Quốc đến Vạn Yên). Dãy núi sông Mã toả rộng sang cà Sầm Nưa (Lào) lan rộng đến vùng thượng du Thanh, Nghệ. Giữa hai mạch núi đồ sộ ấy là một vùng núi thấp rất rộng lớn thuộc lưu vực sông Đà và một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hoá, dài chừng 400km. Các sông ở miền Tây Bắc, tiêu biểu là sông Đà và sông Mã đều chảy trong vùng núi đá ra nên dốc, uốn khúc và chảy xiết. Miền Tây Bắc là một vùng thổ nhưỡng, động vật, thực vật phong phú là địa phận của các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu; nơi cư trú của các dân tộc Kinh, Thái, Mường, Tày, Nùng, Mông... Đây là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng mà cả ta và địch đều phải cố gắng chiếm giữ. Bên nào thắng và giữ được sẽ nắm chắc khả năng làm chủ chiến trường và chủ động đưa cục diện chiến tranh theo ý đồ chiến lược của mình.


Tây Bắc có rất nhiều lợi thế về địa lý, không chỉ có đặc điểm là địa hình rừng núi hiểm trở, dễ cất giấu và xây dựng lực lượng, dễ luồn lách bao vây đối phương, dễ phát triển tác chiến chi viện xuống trung du, đồng bằng, đô thị. Ở đây còn có lợi thế thứ hai đó là một đầu mối giao thông lớn tiếp giáp với các nước Lào, Trung Quốc và thông thương với thế giới bên ngoài, là cầu nối liền giữa nước ta với các nước bạn. Nhận thấy Tây Bắc là khu vực quan trọng về chiến lược hiện tại và sau này, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Ban Bí thư Trung ương Đẳng đã chủ trương tách 4 tỉnh: Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và Sơn La, từ Liên khu Việt Bắc thành lập Khu Tây Bắc.


Sau thất bại ở Biên Giới (tháng 12-1950), thực dân Pháp phái đại tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi (Delattre de Tassigny) - danh tướng số một của Pháp, sang Đông Dương làm Tổng chỉ huy kiêm Cao ủy hòng xoay chuyển tình thế. Kế hoạch Đờ Lát ra đòi gồm 4 điểm chính: Một là gấp rút tập trung binh lực; xây dựng lực lượng cơ động mạnh và phát triển quân nguỵ; hai là xây dựng tuyến phòng thủ boong ke (lô cốt xi măng cốt sắt) cắt Bắc Bộ từ Hồng Quảng đến Ninh Bình bằng con đường số 18 bao quanh đồng bằng Bắc Bộ và trung du bằng một "vành đai trắng" nhằm ngăn chặn quân ta tiến công vào vùng địch, ngăn chặn nhân lực, vật lực ta đưa ra vùng tự do; ba là tập trung lực lượng bình định vùng địch kiểm soát, chủ yếu là vùng đồng bằng Bắc Bộ, củng cố nguỵ quyền và bắt lính; mở những cuộc tấn công ra vùng tự do của ta hòng giành lại thế chủ động, lấy lại tinh thần binh sĩ, có cớ xin thêm viện trợ Mỹ.


Trước âm mưu mới của thực dân Pháp, cuộc kháng chiến của nhân dân ta gặp muôn vàn khó khăn đòi hỏi Đảng ta phải có sách lược mới. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất khoá II (tháng 3-1951) đề ra phương châm tác chiến là tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ba thứ quân, tăng cường công tác địch vận; tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, bảo đảm vấn đề cung cấp. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ hai khoá II (tháng 9-1951) đề ra ba nhiệm vụ lớn: ra sức tiêu diệt nhiều sinh lực địch; phá tan kế hoạch "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", "dùng người Việt đánh người Việt"; bồi dưỡng sức dân, xây dựng lực lượng củng cố hậu phương.


Giữa năm 1952, những thắng lợi của nhân dân ta ở vùng tự do và vùng sau lưng địch đã tạo ra sức mạnh mới cho cuộc kháng chiến. Đảng ta thấy rõ phương hướng tiến công chiến lược cho ta lúc này là vùng miền núi. Tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng chủ trương, tránh chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh và quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một phần đất đai và xây dựng căn cứ địa Tây Bắc. Việc chuẩn bị hậu cần đầy đủ đảm bảo cho chiến thắng của chiến dịch Tây Bắc là rất khó khăn nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng. Vì Tây Bắc là một vùng rộng lớn,hiểm trở nhiều núi cao, rừng sâu, nhân dân các dân tộc sống thưa thớt, phần lớn đang bị dịch tạm chiếm; việc chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc như tập trung số lượng lớn vũ khí trang bị, lương thực, sửa chữa, tu bổ đường do mưa lũ, máy bay địch bắn phá, công tác vận chuyển hậu cần phải đảm bảo bí mật, bất ngờ. Nắm rõ tầm quan trọng của công tác hậu phương tại chỗ trên địa bàn Tây Bắc, nên ngay từ khi thành lập Khu Tây Bắc, Trung ương Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ quan trọng trước mắt Khu phải làm là: "Chuẩn bị nhân lực, vật lực để phục vụ tiền tuyến"1 (Đảng Cộng sàn Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001. tr. 212). Trước khi vào chiến dịch, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: "ở Tây Bắc, việc tranh thủ nhân dân có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng, vì âm mưu phákhối đoàn kết, chia rẽ dân tộc của địch rất thâm độc. Thực dân Pháp đã thất bại trong việc lập xứ Tày, xứ Nùng, xứ Mương, xứ Thái tự trị ở Cao - Bắc - Lạng, Lào Cai, Hoà Bình, nhưng ở Tây Bắc, thế lực của địch còn mạnh, còn khống chế được phần lớn các dân tộc. Vì vậy, ta phải tranh thủ được nhân dân vùng Tây Bắc để đánh bại âm mưu chia rẽ của thực dân Pháp. Tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, tranh thủ nhân dân là ba nhiệm vụ quan trọng, liên quan mật thiết với nhau, nhưng nhiệm vụ có vị trí đặc biệt quan trọng hơn cả là tiêu diệt sinh lực địch"2 (Dẫn theo: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), tập 2. Nxb Quân độinhân dân. H. 1994, tr. 208). Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc. Người trực tiếp giao nhiệm vụ cho cán bộ tham gia chiến dịch và chỉ rõ việc muốn giành thắng lợi phải quyết tâm cao. Hậu cầnchiến dịch là vấn đề quan trọng và khó khăn. Người căn dặn: "Lương thực, vũ khí là mồ hôi nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy, phải quý trọng nó, phải tiết kiệm ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. tập 6. Nxb Chính trị quốc gia. H.2000. tr. 559). Để phát huy sức mạnh tại chỗ của quân và dân các dân tộc Tây Bắc, Bác cũng đã chỉ rõ cho cán bộ, chiến sĩ rằng: "Chính sách đối với đồng bào thiểu số, Chính phủ đã có quy định, các chú và bộ đội phải làm đúng. Đó là một cách tranh thủ nhân dân để phá tan ảm mưu của địch "lấy người Việt hại người Việt". Phải làm cho mỗi chiến sĩ là một người tuyên truyền. Các chú phải làm thế nào khi mình đến thì đồng bào hoan nghênh, khi đóng quân thì đồng bào vui vẻ giúp đỡ, khi mình đi thì đồng bào quyến luyến. Như thế là một đại thắng lợi"2 (Sdd. tr. 560).


Khu ủy Tây Bắc đã động viên toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân vùng tự do cũng như vùng tạm chiếm, huy động mọi khả năng, nhân lực, vật lực ở Tây Bắc để phục vụ chiến dịch. Đồng bào các dân tộc Tây Bắc, mặc dù phải sống dưới bom đạn, kìm kẹp của quân thù, khó khăn thiếu thốn mọi bề, vẫn tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho bộ đội ta bằng cả tinh thần, vật chất và sức lực. Về mặt hậu cần tại chỗ nhân dân Tây Bắc đã bảo đảm được 6.060 tấn gạo, 140 tấn muối, 238 tấn vũ khí đạn dược, 1.050 trâu, bò, 471 lợn, huy động được 67.500 dân công bằng1.892.000 ngày công. Điều quan trọng hơn là công tác hậu - cần tại chỗ đã đảm bảo được yếu tố kịp thời và phát huy được hiệu quả cao. Lòng yêu nước, tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em đã thể hiện thành tình thương yêu, che chở giúp đỡ động viên các chiến sĩ bộ đội làm tăng lên gấp bội tinh thần quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược để giải phóng quê hương, đất nước.


Nhờ chuẩn bị tốt các yếu tố cho chiến dịch, trong đó có công tác đảm bảo hậu cần nên sau hai tháng chiến đấu (từ ngày 14-10 đến ngày 10-12-1952) tại Mặt trận Tây Bắc quân và dân ta đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu trên 6.000 tên địch, thu 11 khẩu pháo lớn, gần 4.000 súng các loại và nhiều quân trang, quân dụng, bắn rơi 6 máy bay, giải phóng đại bộ phận Khu Tây Bắc rộng 28.500 km2 (8 phần 10 đất đai địch tạm chiếm tại Tây Bắc) với 25 vạn dân, phá tan âm mưu lập "Xứ Thái tự trị" của giặc Pháp, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Địch phái co cụm, tập trung tàn quân về Nà Sản, xây dựng một tập đoàn cứ điểm lớn với lực lượng 10 tiểu đoàn để đối phó với sức mạnh của quân và dân ta.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:21:40 pm
Ý nghĩa to lớn của chiến thắng Tây Bắc là ta đã phá được thế uy hiếp của địch đối với Việt Bắc từ phía tây và đối với Thượng Lào từ phía đông, đồng thời tạo được điều kiện thuận lợi để phối hợp với cách mạng nước bạn. Ngoài ra còn cho ta nhiều kinh nghiệm quý về xác định phương hướng tấn công, về tổ chức chiến dịch lớn dài ngày ở chiến trường rừng núi xa căn cứ hậu phương và kinh nghiệm về huy động hậu phương tại chỗ. Đó là:


Đã minh chứng rõ rằng, việc huy động được hậu phương tại chỗ sẽ hiệu quả nhiều mặt và là yếu tố quan trọng đảm bảo cho thắng lợi. Khi mở chiến dịch Tây Bắc cuối năm 1952, đợt 1 khi tấn công vào Nghĩa Lộ việc cung cấp tiếp tế gặp rất nhiều khó khăn ảnh hưởng đến sức chiến đấu của bộ đội. Sang đợt 2 tiến công đường 41 (đường số 6 ngày nay), việc cung cấp tiếp tế vẫn gặp nhiều khó khăn cụ thể: gạo huy động ở Thanh Hoá và Ninh Bình được 5.250 tấn, nhưng vận chuyển bằng dân công gánh bộ tới Cò Nòi giao cho bộ đội chỉ còn 410 tấn đạt 8%, còn 90% dân công ăn và hao hụt trong vận chuyển dọc đường. Mặc dù trong điều kiện dân cư thưa thớt, kinh tế nghèo nàn, lại thường xuyên bị kẻ thù đánh phá, chịu nhiều tổn thất hy sinh, nhưng với tinh thần yêu nước, gắn bó với cách mạng, nhân dân Tây Bắc đã nỗ lực đóng góp một tỷ lệ tương đối lớn sức người, sức của cho chiến dịch (12% lượng gạo, 20% lượng thịt, 56% lượng thực phẩm khác, đặc biệt là lực lượng nhân công tại chỗ) góp phần quan trọng đưa đến thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc.


Quán triệt sâu sắc quan điểm "Động viên toàn dân, quốc phòng toàn dân". Miền Tây Bắc là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc. Bao đời nay, đồng bào các dân tộc nơi đây vừa hoà hợp đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại và phát triển. Cũng như mọi người dân trên đất nước Việt Nam, đồng bào các dân tộc Tây Bắc không cam chịu sống dưới ách đoạ đày tàn bạo của giặc ngoại xâm, khi được giác ngộ họ đã đứng lên nêu cao tinh thần bất khuất, không quản ngại khó khăn, không sợ hy sinh, tìm mọi cách che giấu cán bộ cách mạng. Mặc dù phải sống dưới nanh vuốt của quân thù, khó khăn thiếu thốn mọi bề, vẫn tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho bộ đội ta bằng cả tinh thần, vật chất và sức lực. Thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam đã hình thành và phát triển trên địa bàn rừng núi Tây Bắc hiểm trở, xa xôi. Đây chính là nền tảng vững chắc làm nên thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc.


Quan tâm xây dựng, củng cố hậu phương chung của chiến tranh, hậu phương tại chỗ của chiến trường. Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiếu số miền Nam (tháng 4-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán... và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau... Giang sơn và Chính phủ là Giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn non nước ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2002 tr. 217-218). Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, đồng bào các dân tộc Tây Bắc cũng như các dân tộc trong cả nước đã nhất tề đứng dậy kháng chiến, kiến quốc. Để chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc, Chính phủ đã thành lập Khu Tây Bắc tạo thuận lợi cho việc làm tốt công tác vận động quần chúng, huy động hậu cần tại chỗ phục vụ chiến dịch và phối hợp với bộ đội chủ lực của ta chiến đấu giải phóng Tây Bắc, làm cho thế bao vây chia cắt của địch bị phá vỡ. Sau chiến thắng Tây Bắc, kinh tế vùng tự do Tây Bắc phát triển, tinh thần và khí thế đánh giặc của quần chúng được phát động, nâng cao sức mạnh hậu phương tại chỗ chi viện cho chiến cuộc Đông Xuân, chiến dịch Điện Biên Phủ.


Phải xây dựng được các tuyến đường giao thông thuận tiện đảm bảo yêu cầu phục vụ chiến dịch. Trong việc xây dựng hậu phương kháng chiến, việc sửa chữa và mở đường giao thông vận tải có ý nghĩa quan trọng. Từ năm 1949, ta bắt đầu xây dựng lại tuyến giao thông vận tải ở hậu phương kháng chiến. Cuối năm 1952, để chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc chúng ta cũng đã xây dựng các tuyến đường giao thông để cho xe ô tô tiến vào Tây Bắc, đường 41 (đường số 6 ngày nay) từ Liên khu 3 qua Hoà Bình tới Sơn La - Tuần Giáo, đường 15 từ Thanh Hoá nối với đường 41 ở Bãi Sang, đường 13 từ Yên Bái qua Ba Khe, Vạn Yên tới Tạ Khoa nối với đường 41 ở Cò Nòi. Trên ba tuyến đường quan trọng đó đã giúp bộ đội hành quân và vận chuyển hậu cần phục vụ đắc lực cho chiến dịch.


Trong công cuộc đổi mới đất nước, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối đổi mới toàn diện của Đảng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi phải tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Đối với nước ta hiện nay, sức mạnh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc là sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Từ thực tiễn huy động hậu phương tại chỗ cho kháng chiến trong chiến dịch Tây Bắc, chúng ta cần có chủ trương, biện pháp về xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay như sau:

Một là, nâng cao nhận thức về hiệu quả và tác dụng quan trọng của việc huy động hậu phương tại chỗ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đối với nước ta hiện nay, nếu có kẻ thù nào liều lĩnh tiến hành gây Chiến tranh xâm lược, nhất định đó sẽ là một cuộc chiến tranh công nghệ cao. Với một đất nước còn có những hạn chế nhiều mặt về vật chất - kỹ thuật để chiến đấu, nhưng lại rất giàu kinh nghiệm, truyền thống và tiềm lực chính trị - tinh thần; chúng ta có thể khai thác triệt để ưu thế về mặt chính trị - tinh thần và tiềm năng huy động vật chất - kỹ thuật tại chỗ. Chúng ta đánh địch ngay trên mảnh đất quê hương, được quê hương nuôi dưỡng, che chở, hun đúc sức mạnh, còn quân xâm lược ở nơi khác đến dù có tiềm lực nhưng phải chịu phí tổn gấp nhiều lần. Chúng ta sẽ huy động được sức mạnh to lớn của cả dân tộc cho tiền tuyến. Trong lịch sử cũng như hiện tại, vùng Tây Bắc luôn là địa bàn chiến lược trọng yếu, là nơi đầu nguồn của tất cả các dòng sông, nơi nắm giữ và cung cấp nguồn nước cho toàn bộ vùng châu thổ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Tây Bắc thực sự là nơi có nhiều tiềm năng và lợi thế cho phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng. Chiến lược phát triển bền vững Khu Tây Bắc của Đảng cũng chính là tạo ra khả năng và sức mạnh huy động hậu phương tại chỗ trong việc bảo vệ Tổ quốc.


Hai là, tăng cường sức mạnh đoàn kết toàn dân, củng cố quốc phòng toàn dân. Tây Bắc là vùng chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại của nước ta. Do đó, công tác bồi dưỡng, giáo dục quốc phòng - an ninh cần được các cấp, các ngành, các địa phương trên địa bàn tiến hành thường xuyên, nghiêm túc và có nền nếp, phù hợp với từng đối tượng và địa bàn; chú trọng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho cán bộ công chức, đảng viên trong hệ thống chính trị và thế hệ trẻ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý nhà nước về quốc phòng - an ninh trên địa bàn, tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức đối với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng thế trận lòng dân, nền quốc phòng toàn dân và lực lượng vũ trang Tây Bắc vững mạnh nâng cao tiềm lực quốc phòng; củng cố, tăng cường, khả năng huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị để giải quyết các tình huống thiên tai, thảm họa, cháy rừng; ổn định và giữ vững an ninh trật tự, an toàn Khu Tây Bắc.


Ba là, phát huy tiềm năng để phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao sức mạnh quốc phòng - an ninh. Tây Bắc là vùng đất "phên giậu" của Tổ quốc, có đường biên giới tiếp giáp với hai nước bạn Trung Quốc và Lào. Những năm qua vùng đất này đã được Đảng và Nhà nước đầu tư nhiều về các chính sách ưu đãi cũng như cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, đến nay Tây Bắc vẫn là vùng đất nghèo, kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Trong bối cảnh đời sống nhân dân vùng cao còn gặp nhiều khó khăn, các cấp chính quyền cần tìm mọi biện pháp hỗ trợ, giảm bớt khó khăn trong cuộc sống của nhân dân. Nhà nước thực hiện điều tra, tổng hợp vùng kinh tế - lãnh thổ Tây Bắc nhằm đánh giá, xác định hiện trạng và hiệu quả sử dụng các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội làm cơ sở để xây dựng sơ đồ quy hoạch và tổ chức lãnh thổ vùng Tây Bắc, trong đó đặc biệt chú trọng đến nội dung bố trí và sử dụng các tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng tuổi thọ của các công trình thủy điện và gắn việc phát triển tài nguyên thiên nhiên với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Quy hoạch và tổ chức lại các nguồn nhân lực ở Tây Bắc, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nội dung quy hoạch phân bố dân cư, sản xuất theo lãnh thổ trên cơ sở động lực là các công trình thủy điện, nhằm mục đích góp phần sớm ổn định đời sống dân cư và phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Nâng cao cảnh giác đập tan âm mưu truyền đạo trái pháp luật, tuyên truyền mê tín, kích động đồng bào dân tộc thiểu số làm giảm niềm tin vào Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với tăng cường tiềm lực, tạo cơ sở vật chất cho khu vực phòng thủ.


Bốn là, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vùng Tây Bắc. Hệ thống giao thông là huyết mạch để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng - an ninh. Là cơ sở để xây dựng Tây Bắc phát triển nhanh, toàn diện. Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đặc biệt đến xây dựng các tuyến giao thông ở Tây Bắc. Đã xây dựng tuyến đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai, nối kết các khu vực nghèo và vùng sâu vùng xa của Tây Bắc với các trung tâm kinh tế phát triển. Một số dự án hạ tầng giao thông quan trọng đang được tiếp tục triển khai như: Dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 6 đoạn Sơn La - Tuần Giáo và Tuần Giáo - Mường Lay; Dự án nâng cấp, cải tạo quốc lộ 279 Tuần Giáo - Điện Biên; Dự án khôi phục, cải tạo quốc lộ 70; Dự án nâng cấp quốc lộ 12... Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm thực hiện chương trình khoa học trọng điểm quốc gia phục vụ phát triển Tây Bắc theo hướng liên vùng, liên ngành, liên lĩnh vực. Phát triển hạ tầng giao thông của Tây Bắc là nội dung cốt yếu đề phát huy lợi thế sẵn có phát triển bền vững vùng Tây Bắc, tạo cơ sở vững chắc cho việc nâng cao khả nâng hậu phương tại chỗ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2026, 08:28:21 pm
ĐÁNH BẠI ÂM MƯU LẬP "XỨ THÁI TỰ TRỊ" TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC, SUY NGHĨ VỀ CÔNG TÁC AN NINH TRÊN ĐỊA BÀN TÂY BẮC HIỆN NAY

Đại tá, TS NGUYỄN XUÂN NGỌC
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử công an


1-Bị thất bại trong chiến dịch Việt Bắc (Thu Đông 1947), thực dân Pháp thấy rằng không thể nhanh chóng giải quyết chiến tranh bằng những cuộc "hành quân lớn" và càng không thể bằng chính lực lượng quân đội Pháp. Để tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh, đầu năm 1948, chúng chuyển hướng chiến lược từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang đánh lâu dài với chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt hại người Việt" làm căn bản. Trước những khó khăn do tình hình ờ chính quốc, thực dân Pháp âm mưu mở rộng càn quét vùng tự do, củng cố vùng chiếm đóng, thay thế những cuộc hành quân lớn bằng những cuộc hành quân nhỏ, củng cố ngụy quyền, phát triển ngụy quân và lập ra đội ngũ tề ngụy phản động làm cơ sở cho việc thực hiện mưu đồ của mình.


Chúng lập một hệ thống tháp canh, đồn bốt dày đặc quanh các đô thị và trục đường giao thông quan trọng, chia nhỏ lực lượng để chốt giữ các cứ điểm, kìm kẹp nhân dân, thực hiện những cuộc càn quét đánh phá nhỏ để ứng chiến với du kích của ta. Ở nhiều nơi trên cả nước, chúng cho máy bay oanh tạc các công trình thủy lợi, phá các đê đập, mùa màng hòng tàn phá cơ sở vật chất của cuộc kháng chiến, đồng thời ra sức càn quét, mở rộng vùng chiếm đóng theo vết dầu loang ở những địa bàn trọng điểm như vùng đông dân cư, dọc đường 1, đường 5, Tây Bắc và Đông Bắc, Bình Trị Thiên, Khu 5 và Nam Bộ. Bên cạnh đó, chúng đẩy mạnh cuộc chiến tranh gián điệp, dùng tiền và vũ khí để sử dụng bọn phản động trong tôn giáo, dân tộc, đảng phái chống lại kháng chiến, ủng hộ Chính phủ Bảo Đại.


Song song với các hoạt động quân sự, chính trị, thực hiện âm mưu "chia để trị". Trong đó, thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách "chia để trị" đối với vùng các dân tộc thiểu số, các miền, các giáo phái. Chúng lập "Xứ Nùng tự trị" ở Đông Bắc, "Xứ Mường tự trị" ở Hòa Bình và "Xứ Tây Kỳ tự trị" ở Tây Nguyên, phát triển lực lượng chống phá cách mạng trong các vùng tập trung giáo dân ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung, sử dụng bọn phản động trong đạo Cao Đài ở miền Đông Nam Bộ, bọn phản động trong đạo Hòa Hảo ở miền Tây Nam Bộ, bọn Tờrốtkít và so phản động trong lực lượng Bình Xuyên ở vùng Sài Gòn - Chợ Lớn.


Đặc biệt, lợi dụng đặc điểm nhiều đồi núi, tiếp giáp với nhiều nước trong khu vực, địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi sông suối, núi cao, khó khăn cho việc phát triển giao thông, có nhiều dân tộc sinh sống, trình độ dân trí thấp đời sống khó khăn của khu vực Tây Bắc, tháng 6 năm 1948 tên Ri Gô (người Pháp) đến vùng đất này, triệu tập các tên phản động nhất ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu là Bạc Cầm Qúy và Đèo Văn Long để họp tại Lai Châu. Do không giải quyết được mâu thuẫn giữa hai tên này nên ngày 5 tháng 7 năm 1948 trong hội nghị lần thứ hai, tên Ri Gô và bọn xâm lượccủa Pháp ở Tây Bắc đã khôn khéo nặn ra cái gọi là "Xứ Thái tự trị" gồm 12 châu Thái (bao gồm 3 tỉnh cũ: Lai Châu, Sơn La và Phong Thổ). Chúng đưa tên phản động Đèo Văn Long làm Chẩu Phen Đin (Chúa đất toàn xứ Thái), tên Bạc Cầm Quý làm Chẩu Phen Đin Khăm (Chúa tể vùng Sơn La) và cử Đơ Linhê, người Pháp làm cố vấn chính trị.


Đồng thời với việc thành lập "Xứ Thái tự trị", thực dân Pháp đã tổ chức ra "phòng dân biểu" toàn xứ Thái. Phần đông các nghị viện do chúng chỉ định. Đây vừa là một thủ đoạn lừa bịp nhân dân bằng những quyền dân chủ giả hiệu, vừa là âm mưu thâm độc nhằm tập hợp, sử dụng bọn quý tộc đang bất mãn về chức quyền. "Xứ Thái tự trị" có cơ cấu tổ chức như một chính quyền nhà nước riêng, nhưng thực chất mọi quyền hành đều nắm trong tay cố vấn Pháp. "Xứ Thái tự trị" và "phòng dân biểu" không đưa lại lợi ích gi cho nhân dân, nó chỉ là xiềng xích khóa chặt ách áp bức, bóc lột ngày càng tàn bạo hơn của thực dân Pháp và bọn chúa đất với nhân dân các dân tộc.


Trước âm mưu của Pháp, ngày 15 tháng 8 năm 1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp để đề ra những chủ trương mới. Phân tích những diễn biến của tình hình từ sau chiến thắng Việt Bắc và âm mưu thủ đoạn mới của địch, Hội nghị nhận định: Phải tăng cường xây dựng và phát triển lực lượng dân quân, đẩy mạnh chiến tranh du kích, nhất là vùng tạm bị địch kiểm soát, tùy điều kiện lực lượng 80 sánh cụ thể tập trung đánh vận động với phương châm tác chiến là "du kích chiến là chính, vận động chiến là phù trợ"1 (Dẫn theo: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia H 2001 tr. 142); củng cố khối đoàn kết toàn dân, củng cố chính quyền các cấp, lãnh đạo cuộc đấu tranh phá tan âm mưu dùng người Việt đánh người Việt của kẻ thù; kiên quyết đấu tranh phá âm mưu lập chính phủ bù nhìn trung ương và lập tề tại những nơi chúng chiếm đóng; duy trì và đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân lao động; động viên mọi lực lượng văn hóa phục vụ kháng chiến...;


Trung ương Đảng quyết định phân tán một bộ phận bộ các đại đội độc lập luồn sâu vào vùng địch hậu xây dựng cơ sở chính trị, quân sự và đẩy mạnh Chiến tranh du kích phá rỗng hậu phương của địch, giành dân. giành chính quyền và cơ sở vật chất phục vụ kháng chiến; làm tốt công tác tuyên truyền để nhân dân các dân tộc Tây Bắc nhận rõ âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng, chiếm đóng lâu dài đất nước ta của thực dân Pháp; đẩy mạnh phát triển các tổ chức cơ sở, củng cố chính quyền cách mạng trong các thôn bản trên địa bàn Tây Bắc; tổ chức vận động quần chúng đứng lên đấu tranh, kết hợp với đòn tiến công quân sự, đập tan ý đồ thành lập "Xứ Thái tự trị" của chúng...


Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, hàng nghìn cán hộ, đảng viên được điều chuyển bổ sung cho các vùng sung yếu, hậu địch để thực hiện bám dân, bám cơ sở, bám địch, kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến. Các đại đội độc lập phân tán, luồn sâu vào hậu địch làm nòng cốt xây dựng và tổ chức chiến tranh du kích. Cùng với các đại đội độc lập, các đội vũ trang vận động, tuyên truyền cho quần chúng nhân dân hiểu đường lối, chủ trương kháng chiến của Đảng, tổ chức nhân dân đấu tranh hợp pháp chống lại sự thống trị của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến.


Phong trào du kích chiến phát triển rộng khắp ở hậu địch từ đồng bằng Bắc Bộ đến miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ đã quấy rối, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đẩy thực dân Pháp càng lún sâu vào khó khăn giữa phân tán và tập trung, giữa chiếm đóng và mở rộng càn quét, đồng thời làm cơ sở cho quần chúng nổi dậy tổng phá tề làm tan rã hàng loạt bộ máy tề ngụy ở cơ sở hoặc cảnh cáo, hạn chế bọn hào lý không được thẳng tay đàn áp nhân dân, phải cam kết bảo vệ nhân dân.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2026, 08:31:36 pm
Thắng lợi của việc đẩy mạnh chiến tranh du kích ở hậu địch đã góp phần bảo toàn và tăng cường bồi dưỡng lực lượng của ta; căng địch ra trên toàn chiến trường, giam chân địch ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ, đồng thời làm cho các lực lượng vũ trang của ta ngày càng trưởng thành về mọi mặt, tạo cơ sở để Đảng ta chủ trương rút các đại đội độc lập và xây dựng lực lượng vũ trang tập trung chính quy vào những năm 1949-1950.


Để tổng kết những thành tựu đã đạt được của cách mạng Việt Nam, kịp thời đề ra đường lối đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến toàn thắng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đại hội đã vạch ra nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là đánh bại thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập và thống nhất hoàn toàn, bảo vệ hòa bình thế giới; thảo luận và quyết định nhiều chính sách cơ bản trên mọi lĩnh vực, củng cố chính quyền, xây dựng quân đội, củng cố mặt trận để đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng... Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Đường lối do Đại hội vạch ra đã đáp ứng yêu cầu trước mắt của cuộc kháng chiến và yêu cầu lâu dài của cách mạng, thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên giành thắng lợi ngày càng to lớn.


Thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong hai năm 1951-1952, nhân dân và các lực lượng vũ trang ta đã ra sức xây dựng lực lượng, phục hồi và phát triển cuộc đấu tranh trong vùng sau lưng địch, củng cố hậu phương, mở một số cuộc tiến công về quân sự và đã giành thắng lợi.


Sau thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần đất đai và xây dựng căn cứ địa ở khu vực này. Trước khi chiến dịch bắt đầu, ngày 9 tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc. Người chỉ thị cho cán bộ dù gặp khó khăn đến đâu cũng phải quyết tâm đưa chiến dịch này đến thắng lợi. Khi quân ta tiến vào Tây Bắc (ngày 1-10-1952), Người cho công bố Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa: Bảo đảm tài sản và tính mạng của nhân dân; Bảo vệ nghề nghiệp làm ăn của nhân dân; tịch thu tài sản của giặc Pháp và của bọn phản động; Bảo vệ đền chùa, nhà thờ, trường học, nhà thương và các cơ quan văn hóa khác; Thưởng người có công, phạt người có tội; Giữ gìn trật tự và an ninh; Nhân dân, đặc biệt là nông dân nên tổ chức lại; Bảo vệ tính mạng, tài sản của kiều dân nước ngoài1 (Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương - Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Sự thật, tháng 1-1980. tr. 150).


Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã vượt mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu anh dũng trong hơn 2 tháng ròng (từ 14-10 đến ngày 10-12-1952), tiêu diệt hơn 6.000 tên địch, san phẳng nhiều đồn bốt, giải phóng hầu hết vùng tạm bị địch chiếm ở Tây Bắc rộng 28.500km2 với 25 vạn dân, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, phá tan ý đồ lập "Xứ Thái tự trị", đập tan hệ thống kìm kẹp của Pháp buộc chúng phải co cụm đóng giữ ở Nà Sản.


Tham gia chiến dịch giải phóng Tây Bắc, lực lượng công an triển khai công tác nắm tình hình, bám sát điều tra lực lượng địch, hoạt động của bọn do thám, biệt kích và phản động. Công an đã kịp thời bao vây, đón bắt bọn do thám, biệt kích do địch thả xuống điều tra và phá hoại; khai thác tình hình qua bọn biệt kích bị bắt và tù binh, hàng binh phục vụ cho yêu cầu chỉ đạo chiến dịch.


Thành công trong phá tan ý đồ thành lập "Xử Thái tự trị" của thực dân Pháp đã cho ta nhiều kinh nghiệm quý để bảo vệ và giữ vững an ninh trên địa bàn Tây Bắc:

Trước hết là phải nắm, phân tích, dự báo đúng âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch;

Thứ hai, là phải chủ động, tích cực vận động nhân dân cùng tham gia đấu tranh;

Thứ ba, là trong đấu tranh cần phối hợp chặt chẽ giữa các mặt trận để tạo sức mạnh đánh thắng kẻ địch.


2-Là vùng núi cao, địa hình hiểm trở, chia cắt mạnh, độ dốc lớn có tổng diện tích tự nhiên 91.000km2 (chiếm 27,68% diện tích cả nước); dân số có 7,4 triệu người (chiếm gần 9% dân số cả nước) với hơn 30 dân tộc sinh sống (đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 60%); toàn vùng có 108 huyện, thị, thành phố với 1.876 xã, phường, thị trấn, trong đó có 824 xã còn đặc biệt khó khăn, 8/11 tỉnh có đường biên giới quốc gia... Tây Bắc hôm nay vẫn là vùng chiến lược rất quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của cả nước.


Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với sự cố gắng nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong vùng, kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc những năm qua đã có bước phát triển đáng kể: kết cấu hạ tầng từng bước được đầu tư xây dựng; năng lực sản xuất mới được tăng thêm; văn hóa xã hội có tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc trong vùng được cải thiện; chính trị ổn định, an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; chủ quyền lãnh thổ quốc gia được giữ vững; hệ thống chính trị các cấp được kiện toàn, chất lượng và hiệu quả được nâng lên; khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố, nhân dân các dân tộc vững tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước...


Tuy nhiên, do quy mô nền kinh tế vùng còn nhỏ bé, phân tán, chất lượng, hiệu quả thấp, lực lượng lao động phần lớn chưa qua đào tạo nên Tây Bắc cũng gặp một thách thức lớn là: sự tụt hậu về kinh tế và mức sống của người dân ngày càng xa hơn so với các vùng trong cả nước; lĩnh vực bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái trở thành gay gắt hơn khi nước ta tham gia hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.


Lợi dụng những thuận lợi và khó khăn trên, thời gian qua các nhóm phản động ở trong và ngoài nước tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", triệt để lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá ta. Chúng đẩy mạnh tuyên truyền phát triển đạo Tin lành trái phép ở các địa bàn vùng cao, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; vu cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động dân di cư tự do, kích động tư tưởng ly khai nhằm thực hiện âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2026, 08:34:14 pm
Đồng bào Mông là một mục tiêu mà các thế lực thù địch phản động tập trung lôi kéo, kích động, tập hợp lực lượng để chia rẽ dân tộc, chống phá cách mạng. Chúng lợi dụng tôn giáo, nhất là Tin lành, làm bùng nổ vấn đề Vàng Chứ gây xáo động trong nhiều vùng đồng bào Mông với quy mô lớn, hậu quả nghiêm trọng và chứa đựng nguy cơ manh động, khó lường. Lợi dụng sự xuất hiện của một số đạo lạ trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số như "Tín ngưỡng Dương Văn Minh", đạo "San sư khổ tảo", đạo "Chữ thập đỏ"..., các thế lực thù địch đã kích động, gây ra những mâu thuẫn, bức xúc trong nhân dân, tạo ra các nhân tố tiềm ẩn gây mất ổn định chính trị trong dân tộc thiểu số vùng biên giới. Đáng chú ý, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết tuyên truyền lập "Vương quốc Mông" trong vùng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc với diện rộng và các luận điệu cực kỳ ngụy hiểm.


Ở vùng dân tộc Thái, lợi dụng tác động ngày càng tăng của bên ngoài thông qua việc tập hợp, sử dụng bọn phản động trong người Thái lưu vong và qua lĩnh vực nghiên cứu Thái học, một bộ phận người Thái gốc Việt ở nước ngoài đã gia tăng các hoạt động chống phá trong nước. Được sự hậu thuẫn về tinh thần, vật chất của các thế lực thù địch, chúng tập hợp lực lượng hình thành các hội, nhóm và xâm nhập về người nắm tình hình, gây cơ sở, kích động chia rẽ dân tộc, đòi phục hồi "Xử Thái tự trị". Ngoài tác động về văn hóa, hoạt động truyền đạo Tin lành đã tác động vào một bộ phận người Thái.


Bên cạnh đó, các thế lực thù địch gia tăng sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng (đài phát thanh bằng tiếng Mông, tiếng Thái) để tuyên truyền phá hoại tư tưởng; tiến hành chiến tranh tâm lý với các thủ đoạn tung tin, vu khống, phao tin đồn nhảm, phát tán tài liệu... gây nghi ngờ, chia rẽ giữa các dân tộc; thổi phồng những khó khăn, phức tạp trong xã hội, xuyên tạc tình hình đất nước, lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, dân chủ để vu không, xuyên tạc; lợi dụng chính sách mở cửa của ta để tạo cớ liên kết, phối hợp trong - ngoài, gây bạo loạn, vu cáo, kích động, mở rộng địa bàn chống phá... Tiêu biểu là các vụ việc: ngộ nhận theo đạo lạ "San sư khổ tảo" ở Hà Giang, Cao Bằng; vụ Mường Nhé ở Điện Biên...


Để kịp thời làm thất bại âm mưu, hành động phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch ở khu vực Tây Bắc, Đảng và Nhà nước ta đã và đang ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, chính sách; thành lập Ban chỉ đạo Tây Bắc; tạo điều kiện cho các địa phương trong vùng Tây Bắc khai thác tốt hơn các tiềm năng, lợi thế để phát triển toàn diện. Chủ trương của Đảng là xây dựng Tây Bắc thành vùng chiến lược mạnh về chính trị, giàu về kinh tế, có văn hóa, xã hội phát triển, an ninh, quốc phòng được củng cố, ngày càng vững chắc, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bao vệ Tổ quốc.


Muốn vậy, cấp ủy, chính quyền và các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc và tôn giáo, đặc biệt cần làm tốt công tác tư tưởng, tập trung vào các nội dung sau:

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân khu vực Tây Bắc về âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, nhất là thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Phản bác lại các hoạt động chống đối của các thế lực thù địch, quản lý chặt chẽ các hoạt động dịch vụ thông tin, nhất là những thông tin tài liệu do phía nước ngoài cung cấp liên quan đến dân chủ, nhân quyền theo các giá trị phương Tây, kích động ly khai. Thực hiện đề án phủ sóng phát thanh, truyền hình tới các thôn, bản vùng Tây Bắc, nâng cao chất lượng phát thanh và truyền hình bằng tiếng dân tộc; tiếp tục thực hiện tốt Quyết định 975 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và vùng miền núi đặc biệt khó khăn.


Hai là, nâng cao hiệu quả công tác tham mưu, phối hợp giữa các bộ, ban ngành, quân khu, giữa Trung ương và các tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, thù địch; xâydựng cơ chế thường xuyên, kịp thời, chặt chẽ, đảm bảo sự thống nhất khi xử lý các vấn đề, tránh để các thế lực thù dịch lợi dụng những sơ hở, đồng thời nâng cao sức mạnh và năng lực chiến đấu của hệ thống chính trị ở cơ sở từ khâu nắm dân, phát hiện, tham mưu đến tổ chức đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" gây và "tự diễn biến" từ cơ sở.


Ba là, tập trung củng cố hệ thống cơ sở chính trị ở cấp xã, phường, nhất là sự lãnh đạo của các tổ chức đảng và chính quyền, đặc biệt là các xã trọng điểm ở vùng núi và dân tộc trong khu vực để đủ sức thực hiện chức năng quản lý về an ninh, nắm chắc được tình hình, biết vận động quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và giải quyết được các vụ việc an ninh trật tự ở cơ sở.


Bốn là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 37- NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX), phát huy truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng kiên cường, cần cù lao động đoàn kết thống nhất của các dân tộc ở khu vực Tây Bắc để thực hiện thắng lợi các chương trình kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển và mức sống của nhân dân với các khu vực khác trong nước, củng cố niềm tin của các dân tộc vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.


Năm là, đổi mới việc nắm bắt tình hình tư tưởng, nắm bắt dư luận xã hội và tăng cường trao đổi nghiệp vụ, giao ban an ninh tư tưởng giữa các tỉnh trong khu vực Tây Bắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác tư tưởng. Mở rộng dân chủ đi đôi với thiết lập kỷ cương, kiên quyết ngăn chặn những vụ việc lợi dụng dân chủ để gây mất ổn định chính trị xã hội trên địa bàn khu vực Tây Bắc. Tăng cường nắm chắc tình hình an ninh nội bộ, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhất là các vấn đề liên quan đến gắn tôn giáo với dân tộc; xử lý kịp thời, kiên quyết, khẩn trương, khôn khéo, nhanh gọn các tình huống phức tạp, không để lan rộng, không để các thế lực thù địch lấy cớ can thiệp.


Sáu là, có những quyết sách mạnh mẽ, cụ thể về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc tại khu vực Tây Bắc phù hợp với từng địa bàn; đặc biệt coi trọng bồi dưỡng cán bộ người dân tộc làm công tác tư tưởng, văn hóa, báo chí; phát huy vai trò của người có uy tín như già làng, trưởng bản trong các dân tộc thiểu số trên địa bàn để thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng dân tộc trong giai đoạn đấy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.


Tóm lại, vùng cao, miền núi, biên giới nói chung, Tây Bắc nói riêng là các địa bàn chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội đang bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá, nhằm gây mất ổn định bên trong, tạo cớ để can thiệp từ bên ngoài. Vì vậy, phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân cùng với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước luôn là nhân tố có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị. Đồng thời chính sự ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng sẽ tạo tiền đề để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của vùng, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển và mức sống của đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc so với các vùng, miền trong cả nước, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị, cùng cả nước phát triển đi lên.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2026, 08:46:54 pm
TÂY BẮC - VỊ THẾ ĐỊA CHIẾN LƯỢC TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC

Thiếu tá, ThS LÊ QUÝ THI
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Lần theo sử cũ, vùng Tây Bắc ngày nay bao gồm: một phần của tỉnh Phú Thọ cùng các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai và một phần tả ngạn tỉnh Yên Bái. Có 23 dân tộc sinh sống trên vùng đất này, đó là Thái, Mông, Lự, Hoa, Kinh, Mường, Tày, Nùng, Dao, La Ha, Xinh Mun, Khơ Mú, Kháng, Mảng, La Hủ...1 (Xem: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc Việt Nam, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội xuất bản, 2005). Trong lịch sử chống ngoại xâm của người dân đất Việt, Tây Bắc có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh - quốc phòng.


Vùng Tây Bắc ngày nay phần lớn thuộc địa bàn Hưng Hóa xưa. Theo Đại Nam Nhất thống chí của Quốc sử quán Triều Nguyễn, Hưng Hóa là đất Tân Hưng. Đời Tần thuộc Tượng Quận. Đời Hán thuộc Nam Trung, sử chép: Hùng Vương chia nước làm 15 bộ. Tân Hưng là một bộ. Đời Lý là đất Lâm Tây, Đăng Châu; đời Trần gọi là đạo Đà Giang, năm Quang Thái đổi là trấn Thiên Hưng. Thời thuộc Minh là châu Gia Hưng, châu Quy Hóa. Đời nhà Lê, Lê Thánh Tông chia đất nước thành 12 đạo thừa tuyên, trong đó có Hưng Hóa thừa tuyên được chia làm 3 phủ, 4 huyện, 17 châu"1 (Quốc sử quán Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất thống chí. tập 2, Nxb Lao động, Trung tám văn hóa ngôn ngữ) đó là: Phủ Gia Hưng có một huyện Thanh Xuyên (gồm 29 sách, 8 động) và 6 châu đó là: Phù Hoa châu (gồm 4 động), Mộc Châu (gồm 3 sách, 21 động), Mai Châu (gồm 4 động), Việt Châu (gồm 4 động), Thuận Châu (gồm 4 động); Phủ Quy Hóa có 3 huyện là: Văn Chấn (gồm 33 trang, 7 sách, 1 động), Yên Lập (gồm 6 xã, 17 sách, 4 động), Trấn Yên (gồm 33 trang, 1 châu, 2 sách) và 2 châu đó là: Văn Bàn (gồm 39 động), Thủy Vĩ (gồm 11 động); Phủ An Tây gồm 10 châu đó là: Luân Châu (gồm 6 động), Lai Châu (gồm 11 động), Quỳnh Nhai (gồm 5 động), Chiêu Tấn (gồm 10 động), Song Lộc (gồm 4 động), Tuy Phu (gồm 2 động), Hoàng Nham (gồm 4 động), Hợp Phì (gồm 4 động), Khiêm Châu (gồm 3 động), Lê Tuyến (gồm 4 động). Theo Hưng Hóa phong thổ lục của Hoàng Trọng Chính chép: "Phía Đông Nam châu này tiếp giáp các man thuộc địa phận Ai Lao, phía Bắc giáp châu Mộc, phía Tây giáp châu Tàm tỉnh Thanh Hóa"2 (Quốc sử quán Triều Nguyễn. Đại Nam Nhất thống chí, tập 2. Nxb Lao động. Trung tâm vân hóa ngôn ngữ Đông Tây, H. 2012. tr. 1517).


Đây là vùng đất có núi cao như dãy Hoàng Liên Sơn và sông lớn chảy qua như sông Mã, sông Đà, sông Thao, với vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong việc phòng thủ đất nước về hướng Tây Bắc. Từ xưa, vùng Tây Bắc luôn là địa bàn trọng yếu đã từng ghi đậm nhiều chiến tích chống giặc ngoại xâm của cha ông ta thuở trước.


Ngay từ buổi đầu dựng nước, địa bàn Tây Bắc nằm trong địa vực nước Văn Lang của các Vua Hùng. Trải qua các triều đại Lý - Trần... địa bàn Tây Bắc là một vùng đất in đậm nhiều sự kiện quân sự. Nhân dân nơi đây trải qua nhiều biến động của thời gian hàng nghìn năm đã góp sức vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, mở mang bờ cõi của ông cha ta. Đặc biệt, để chống lại các thế lực xâm lấn từ bên ngoài ngay từ đầu thế kỷ XIII, các thủ lĩnh địa phương nơi đây đã cho xây dựng một công trình phòng thủ tại Ba Mán thuộc châu Ninh Biên (nay là Điện Biên), gọi là thành Tam Vạn (tiếng Thái là Sam Mứn).


Do điều kiện địa lý, lịch sử cùng với cuộc sống lao động và đấu tranh chống giặc giã trong suốt chiều dài lịch sử, độc lập dân tộc đã trở thành tiềm thức của cư dân Tây Bắc. Với địa thế núi cao, rừng rậm, nhiều sông, suối, khi chống giặc ngoại xâm người dân nơi đây đã dựa vào thế hiểm trở của rừng núi, sử dụng yếu tố bất ngờ, mai phục, tiêu hao quân địch, khi có thời cơ phản công đánh bại giặc. Đấy là những chiến thuật tiêu biểu của quân dân Tây Bắc trong cuộc kháng chiến chống quân Tần, quân Triệu khi chúng xâm lược nước ta.


Trong cuộc đấu tranh chống xâm lược nhà Lương năm 542, trước cuộc tiến công của quân Lương, Lý Nam Đế đã chủ động đưa quân lên vùng Văn Lang, Cổ Tiết thuộc huyện Tam Nông, Phú Thọ lập căn cứ ngăn chặn giặc. Đến tháng 8 năm 546, tại đây được nhân dân ủng hộ, Lý Nam Đế đã mộ thêm binh sĩ, đưa quân hạ trại ở hồ Điển Triệt (huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc) tạo thế, tạo lực luyện binh đánh giặc. Sách Đại Việt sử kỹ toàn thư chép rằng: "Vua lại đem 2 vạn quân từ trong đất Lạo ra đóng ở hồ Điển Triệt, đóng nhiều thuyền đậu chật cả mặt hồ. Quán Lương sợ, cứ đóng lại ở cửa hồ không dám tiến vào"1 (Viện khoa học xã hội, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1. Nxb Khoa học xã hội, H. 1998, tr.180).


Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất năm 1258, tại Bình Lệ Nguyên đã diễn ra những trận đánh quyết liệt được ghi đậm trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Sau trận quyết chiến chiến lược Đông Bộ Đầu năm 1258, quân Mông Cổ thua chạy sang Trung Quốc, khi địch rút chạy qua vùng Tây Bắc, nghĩa quân của Hà Bổng, Hà Chương, Phùng Lộc đã cùng với nhân dân các dân tộc Tây Bắc, tiếp tục chặn đánh địch ở Quy Hoá, Cự Đà, Bạch Hạc khiến cho quân giặc thiệt hại nặng nề.


Năm 1280, khi tù trưởng đạo Đà Giang Trịnh Giác Mật làm phản, tình hình biên giới phía Tây Bắc trở nên căng thẳng trong khi sứ Mông - Nguyên đang từng ngày ép vương triều Trần quy thuận. Trần Nhật Duật được triều đình nhà Trần tin giao trọng trách dẹp Trịnh Giác Mật. Sau khi tìm hiểu kỹ việc phản loạn, Trần Nhật Duật đã một mình đi vào doanh trại tù trưởng Trịnh Giác Mật, bằng tài cảm hóa và am hiểu, trân trọng những tập tục của địa phương, quân nổi dậy đã quy thuận triều đình. Sau này, dưới sự lãnh đạo của Trần Nhật Duật, các tù trưởng miền Tây Bắc luôn sát cánh cùng với toàn dân tham gia đánh thắng giặc Mông - Nguyên.


Tiếp đó là cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ 2 vào năm 1285. Dân binh Tây Bắc đã cùng với quân đội nhà Trần do Trần Nhật Duật chỉ huy đánh chặn địch ở Thu Vật, Yên Bình; cùng với Hà Đặc, Hà Chương đánh giặc ở Phù Ninh, Phú Thọ; ở Yên Bái diễn ra các trận chiến đấu ở Nghĩa Đô, Lục Yên do các thủ lĩnh họ Ma, họ Hoàng cầm đầu. Sử cũ còn ghi: "Dụ binh giặc đến huyện Phù Ninh, viên phụ đạo huyện ấy là Hà Đặc lên núi Tri Sơn cố thủ... lại dùi thủng cây to, cắm tên lớn vào giữa lỗ để giặc ngờ là sức bắn khỏe xuyên suốt được. Giặc sợ không dám đánh nhau với Đặc. Quân ta hăng hái xông ra đánh bại được giặc"1 (Viện khoa học xã hội. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2. Nxb Khoa học xã hội. H.1998, tr. 56).


Trong kháng chiến chống quân Minh xâm lược vào đầu thế kỷ XV, quân dân Tây Bắc đã lập chiến công lớn trong trận đánh ở cầu Xa Lộc (1426), Lâm Thao, chặn đứng hơn một vạn quân địch không cho chúng về ứng cứu thành Đông Quan. Trần Nguyên Hãn, một tướng tài của Lê Lợi mà tên tuổi ông gắn liền với những chiến công ở Thuận Hoá, Chi Lăng, Xương Giang, là một tấm gương tiêu biểu về tinh thần ái quốc, trung quân. Khi cuộc kháng chiến đang diễn ra quyết liệt Lê Lợi đã cử các tướng Phạm Văn Xảo, Nguyễn Chích, Trịnh Khả lên thượng nguồn sông Thao phối hợp với nghĩa quân địa phương xây dựng thế trận. Sau chiến thắng Xương Giang, quân ta từ ải Lê Hoa đã tiến công đánh tan cánh quân Mộc Thạnh tiếp viện ứng cứu cho thành Đông Quan. Những hoạt động chiến đấu của quân dân Tây Bắc đã góp phần quét sạch quân xâm lược nhà Minh ra khỏi bờ cõi nước ta.


Đến giữa thế kỷ XVII, nhân lúc triều đình phong kiến Lê - Trịnh vào giai đoạn không ổn định, phân chia cát cứ, giặc Phẻ (hay còn gọi là giặc cờ vàng) từ Thượng Lào xâm lấn nước ta, chúng chiếm thành Tam Vạn (Sam Mứn nay thuộc Điện Biên). Các thủ lĩnh địa phương đã tập hợp nhân dân liên kết với nghĩa quân Hoàng Công Chất, tổ chức tiến công thành Tam Vạn, anh dũng chiến đấu, đánh đuối giặc ra khỏi biên giới. Hoàng Công Chất sau đó đã dựa vào địa bàn này để củng cố lực lượng, xây dựng thêm thành Bản Phủ, còn gọi là Chiềng Lề (Điện Biên) để dẹp yên nội loạn và trấn giữ đất nước.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2026, 08:50:06 pm
Trước sự xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, nhân dân các dân tộc trên địa bàn Tây Bắc đã kiên cường đứng lên đánh trả, gây cho địch nhiều tổn thất. Các thủ lĩnh địa phương ở Sơn La như Cầm Ngọc Hách, Bạc Cầm Ten được sự hưởng ứng của đông đảo cư dân các dân tộc đã thành lập nghĩa quân thập châu dựa vào địa bàn hiểm trở nơi đây chống Pháp. Vào những năm 1859-1872 nhiều đội nghĩa binh được thành lập ở Mường La, Thuận Châu, Mộc Châu. Đặc biệt, nghĩa quân ở Sơn La đã tham gia cùng đội quân của Lưu Vĩnh Phúc tiến về Hà Nội phối hợp với nghĩa quân của Hoàng Tá Viêm giải vây thành Hà Nội, tham gia trận đánh ở Cầu Giấy vào 5 giờ sáng ngày 19 tháng 5 năm 18831 (Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục, H. 2003, tr. 53).


Tháng 4 năm 1884, thực dân Pháp mở các cuộc hành quân đánh chiếm vùng thượng du Bắc Kỳ, lần lượt chiếm đóng các tỉnh: Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La và Lai Châu.

Hưởng ứng phong trào cần Vương chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của tuần phủ Hưng Hoá Nguyễn Quang Bích, nhân dân địa phương Tây Bắc tích cực tham gia nghĩa quân, xây dựng các phòng tuyến chiến đấu. Địa bàn vùng giữa sông Hồng và sông Đà, sông Chảy và sông Lô trở thành những trung tâm kháng chiến. Tinh thần chiến đấu ngoan cường, bền bỉ của nhân dân các dân tộc Tây Bắc cùng với thế núi, thế sông hiểm trở đã khiến cho giặc Pháp gặp nhiều khó khăn, thiệt hại trong quá trình bình định vùng đất này. Nguyễn Quang Bích dựa vào nghĩa quân thập châu tổ chức thành 4 đội: Đội ở Lai Châu, Phong Thổ; đội ở Mường La - Mai Sơn - Thuận Châu - Yên Châu; đội ở Mộc Châu và đội ở Văn Chấn - Văn Bàn chống Pháp. Mặc dù thực dân Pháp tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc Nguyễn Quang Bích nhưng ông kiên quyết chỉ huy nghĩa quân địa phương dựa vào vùng rừng núi Tam Mãnh hoạt động để chống Pháp quyết liệt. Nhiều trận chiến đấu tiêu biểu, diễn ra dọc sông Thao, Nghĩa Lộ, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất nặng nể. Các cuộc chiến đấu kiên cường của nghĩa quân đã góp phần không nhỏ làm thất bại kế hoạch bình định nhanh chóng vùng Tây Bắc của thực dân Pháp.


Sang đầu thế kỷ XX tại vùng rừng núi Tây Bắc liên tiếp nổ ra nhiều cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống lại ách chiếm đóng của thực dân Pháp. Tại Sơn La có phong trào chống Pháp do Bạch cầm Châu chỉ huy nghĩa quân ở Yên Châu, Thuận Châu; Hoàng Văn Bun chỉ huy phong trào ở Tạ Khoa, vùng ven sông Mã; Lường Văn Nổ ở Mường Lầm; Cầm Văn Ý ở Mường Hung; Cầm Văn Nối ở Chiềng Cang; Cầm Văn Tứ ở Mường Trai... Trên địa bàn Mường Thanh thời gian này còn có cuộc khởi nghĩa của Lương Sám liên tục tổ chức các trận tập kích địch ở khu vực Mường Thanh, sau đó mở rộng phạm vi hoạt động đến Mường Tè, rồi lan sang cả khu vực Phong Thổ.


Cùng thời gian này vùng Lập Thạch, Tam Đảo đã trở thành những căn cứ của nghĩa quân Đề Thám; ở thị xã Phú Thọ đầu năm 1915 có cuộc nổi dậy của nhân dân nơi đây để hưởng ứng phong trào "Việt Nam Quang phục hội"; ở phía Tây vùng Tây Bắc có cuộc khởi nghĩa của Vàng Phe Chay (người Mông) kéo dài từ năm 1918 đến năm 1922, được nhân dân các dân tộc hưởng ứng mạnh mẽ, phát triển trên một địa bàn rộng, lan cả sang Lào; tháng 1 năm 1927, ở Lai Châu đã nổ ra cuộc bạo động của tù nhân do Cai Vợi chỉ huy. Những cuộc nổi dậy đã để lại dấu ấn trong phong trào kháng Pháp của nhân dân Tây Bắc, tinh thần chiến đấu dũng cảm của nghĩa quân đã trở thành tấm gương đấu tranh cho đồng bào các dân tộc.


Đặc biệt, tiêu biểu và có tiếng vang cả trong và ngoài nước là cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc dân đảng phát động tháng 2 năm 1930. Mặc dù quân khởi nghĩa đã chiến đấu kiên cường, quả cảm song trước sự phản công của giặc Pháp với trang bị vũ khí hiện đại, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại và thực dân Pháp thực hiện đàn áp một cách man rợ các chiến sĩ yêu nước. Tuy vậy, cuộc khởi nghĩa nổ ra trên mảnh đất Yên Bái đã đánh dấu mốc son chói lọi trong những trang sử anh hùng của các dân tộc Tây Bắc. Sự trả thù hèn mạt của giặc Pháp không hề làm cho nhân dân ta nao núng. Ngược lại, tấm gương quả cảm của các chiến sĩ đã thức tỉnh tinh thần yêu nước của đồng bào các dân tộc Tây Bắc đứng lên đấu tranh để giành lại độc lập cho Tổ quốc.


Do xác định địa hình hiểm trở miền núi Tây Bắc có vị trí và tầm quan trọng chiến lược đặc biệt, Trung ương Đảng đã lựa chọn Tây Bắc làm căn cứ địa cách mạng. Do vậy, sau Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng (2-1943), phần lớn địa phận các huyện Sơn Dương, Yên Sơn của Tuyên Quang trở thành trung tâm căn cứ cách mạng của cả nước. Từ khi Nguyễn Ái Quốc từ Cao Bằng về chiến khu Hoàng Hoa Thám hoạt động, nhiều địa phương ở Tây Bắc đã tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Song song, lực lượng vũ trang địa phương ngày càng phát triển đã giành được nhiều thắng lợi trong các cuộc vây ráp, càn quét của quân thù bảo vệ căn cứ địa cách mạng. Tháng 8 năm 1945, sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, nhân dân Tây Bắc đã tiến hành tổng khởi nghĩa, chỉ trong một thời gian ngắn bộ máy chính quyền tay sai bị tan rã, chính quyền cách mạng được thiết lập hầu hết các tỉnh ở Tây Bắc.


Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng còn non trẻ đã phải đương đầu với thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Trên mảnh đất này thực dân Pháp đã thi hành chính sách chia rẽ dân tộc, lợi dụng tình trạng lạc hậu về mọi mặt để thực hiện chính sách ngu dân, gây hằn thù giữa các dân tộc... kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi làm cho các thế lực phong kiến địa phương luôn luôn kình địch lẫn nhau, biến mâu thuẫn giữa tầng lớp thống trị thành mâu thuẫn giữa các dân tộc.


Đi đôi với việc không ngừng tăng cường củng cố bộ máy cai trị, thực dân Pháp còn dung túng mê tín dị đoan kìm hãm dân trí để dễ bề cai trị; khuyến khích các hủ tục cờ bạc, rượu chè, thực hiện âm mưu đách lạc hướng và làm tê liệt ý chí đấu tranh của các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt thực dân Pháp lập ra xứ Thái, xứ Nùng, xứ Mường tự trị tuyên truyền cho những "Vua Mèo", khuyến khích phong trào tự trị của dân tộc Dáy, để càng khơi sâu lòng căm thù và gieo rắc sự nghi kỵ giữa các dân tộc.


Sau chiến thắng Biên Giới (1950), ta đã liên tiếp mở 3 chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung. Sau chiến thắng Hòa Bình, Tổng Quân ủy vạch kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952 đã xác định rõ: Hướng tiến công chính của ta trong Thu Đông 1952 là Tây Bắc và Bắc Bộ. Tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã hạ quyết tâm mở chiến dịch tiến công trên Mặt trận Tây Bắc. Sau hai tháng chiến đấu quyết liệt, quân và dân ta đã giải phóng 80% vùng đất Tây Bắc và nối thông với phía tây căn cứ địa Việt Bắc khiến cho thế và lực của ta thêm vững mạnh. Tây Bắc được giải phóng, đường giao thông từ Việt Nam sang Lào, từ Tây Bắc, Việt Bắc xuống Liên khu 3, Liên khu 4 trở nên thông suốt tạo thành thế uy hiếp mới đối với quân Pháp trên chiến trường Bắc Đông Dương.


Nhìn chung lại, từ những đặc điểm về địa lý, quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội vùng Tây Bắc có vị trí trọng yếu phòng thủ đất nước trong lịch sử dân tộc nói chung, kháng chiến chống thực dân Pháp nói riêng. Đánh giá đúng tầm quan trọng của vùng Tây Bắc, Đảng ta đã có sự chỉ đạo kịp thời, sắc bén đưa chiến trường này dần phát triển. Trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, Tây Bắc được chọn làm hướng tiến công chủ yếu. Đúng như dự kiến về chiến lược của Tổng Quân ủy, chính tại đây quân và dân cả nước ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp oanh liệt.


Chiến thắng Tây Bắc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó đã giải phóng đồng bào Tây Bắc khỏi ách áp bức của giặc, giải phóng một bộ phận đất đai rộng lớn, một vùng chiến lược quan trọng. Quân và dân ta đã tiêu diệt và chiếm lại 10 vị trí của địch ở Tây Bắc, phá âm mưu thâm độc lập "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị", "Xứ Nùng tự trị" của địch nhằm chia rẽ người Thái và người Kinh, người Thái với các đồng bào dân tộc thiểu số khác.


Những địa danh, tên đất, tên làng như Tam Vạn, Văn Lang, Cổ Tiết, Quy Hóa, Cự Đà, Phù Ninh, Mường La, Thuận Châu, Sơn Dương... và đặc biệt như Tả Sìn Thàng, Sình Hồ, Phong Thổ, Sa Pa, Lào Cai, Mộc Châu, Sơn La, Lai Châu và Điện Biên Phủ trên chiến trường xưa càng thêm minh chứng cho những chiến công oanh liệt của quân và dân Tây Bắc trong chống giặc ngoại xâm, là biểu tượng sinh động của lòng quả cảm và tinh thần yêu nước, sẽ mãi trường tồn cùng năm tháng. Ngày nay, tự hào với truyền thống của miền Tây Bắc anh hùng, của chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đồng bào các dân tộc Tây Bắc quyết tâm giữ vững và phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng viết tiếp những trang sử mỏi dân giàu, nước mạnh và bảo vệ vững chắc vùng biên cương trọng yếu của đất nước ta.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2026, 08:50:56 pm
TẦM NHÌN TÂY BẮC TRONG CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG
VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

ThS BÙI THỊ ÁNH HỒNG
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật


Tây Bắc là một khu vực rộng lớn nằm ở phía tây bắc của Tổ quốc, đây cũng là "phên giậu" của Tổ quốc, nơi cư trú của nhiều dân tộc với nền văn hóa phong phú, đặc sắc và trình độ phát triển khác nhau. Với vị trí chiến lược trọng yếu, Tây Bắc luôn là mục tiêu chiếm đóng, chống phá của các thế lực ngoại xâm trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng bào các dân tộc Tây Bắc luôn thể hiện được tinh thần đoàn kết, kiên cường đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa hiện nay, Tây Bắc có vị trí hết sức quan trọng, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, quyết định, chỉ thị nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ổn định tình hình chính trị của khu vực. Mặc dù còn rất nhiều khó khăn song nhân dân các dân tộc Tây Bắc đã và đang phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng để vươn lên, từng bước đưa khu vực Tây Bắc phát triển, hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Là "phên giậu" phía tây bắc của Tổ quốc nhưng với điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai hết sức khắc nghiệt, đa số là đồng bào dân tộc có trình độ phát triển không đồng đều, do vậy nền kinh tế của khu vực Tây Bắc chậm phát triển nhất so với các vùng miền trong cả nước. Tây Bắc cùng là mục tiêu chống phá, lôi kéo, dụ dỗ, gây mất ổn định chính trị của các tổ chức phản động nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta. Nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị của khu vực Tây Bắc là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, được Đảng, Chính phủ dành nhiều sự quan tâm, chỉ đạo.


Sau hơn 25 năm đổi mới đất nước, kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc đã đạt được những kết quả quan trọng: Kinh tế các tỉnh hàng năm có mức tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, đúng hướng. Tốc độ GDP tăng toàn vùng (giai đoạn 2005 - 2007) bình quân đạt 11,7%; năm 2008 đạt 11,8%; 6 tháng đầu năm 2009, mặc dù gặp khó khăn do suy thoái kinh tế và thiên tai nhưng vẫn đạt được 7,81%. GDP bình quân đầu người tăng khá, năm 2008 đạt 7,8 triệu đồng, gấp trên 3 lần so với năm 2000. Nhiều tiềm năng, lợi thế đã được phát huy, khai thác; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được đầu tư xây dựng; nhiều tuyến giao thông huyết mạch đã được cải tạo, nâng cấp; nhiều công trình mới đã được khởi công, đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng, tạo thuận lợi hơn cho các địa phương phát triển đi lên.


Văn hoá - xã hội có bước phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc được nâng lên; tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm giảm 4%. Chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, chủ quyền lãnh thổ quốc gia được giữ vững; hoạt động dối ngoại được củng cố, mở rộng. Hệ thống chính trị các cấp được củng cố, xây dựng, hoạt động có nhiều đổi mới, hiệu quả được nâng lên. Nhân dân các dân tộc vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.


Khu vực Tây Bắc đã có 344 trường tiểu học và 157 trường trung học cơ sở có nội trú dân nuôi, chiếm hơn 53% số trường tiểu học và trung học cơ sở có nội trú dân nuôi cả nước. Số học sinh nội trú dân nuôi trong các trường tiểu học và trung học cơ sở vùng Tây Bắc vào khoảng 30.655, chiếm 45,8% số học sinh nội trú dân nuôi cả nước. Tỷ lệ xã có trường tiểu học, nhà trẻ, lớp mẫu giáo là 97%.


Các tỉnh đều chỉ đạo thực hiện kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng nền quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân, giữa quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động đấu tranh phòng, chống âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, an ninh văn hoá tư tưởng, an ninh kinh tế. Các tỉnh đều xây dựng và triển khai phương án phòng, chống khủng bố, phá hoại, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.


Thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và Chương trình hành động phòng, chống ma tuý, tích cực đấu tranh bài trừ các tệ nạn xã hội. Triệt phá hầu hết các vụ án hình sự nghiêm trọng, kiềm chế sự gia tăng của các loại tội phạm, bước đầu làm giảm đối tượng nghiện ma tuý.


Thực hiện hiệu quả chương trình cải cách hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức từ tỉnh đến cơ sở. Chức năng của các cơ quan hành chính được rà soát, điều chỉnh hợp lý. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, rèn luyện tác phong làm việc, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ viên chức được chấn chỉnh. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được tăng cường, góp phần phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, khơi dậy nội lực, giữ vững kỷ cương, ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực và các hành vi vi phạm pháp luật.


Tuy nhiên, vùng Tây Bắc còn nhiều khó khăn, GDP toàn vùng đến nay mới đạt 7,4% cả nước; GDP bình quân/người bằng gần một nửa mức bình quân chung, là mức thấp nhất so với các vùng trong cả nước.


Điểm xuất phát của các tỉnh trong vùng thấp, hầu hết các địa phương thuộc diện miền núi, biên giới, nhiều dân tộc, điều kiện tự nhiên khó khăn, suất đầu tư cao, thu hút đầu tư từ bên ngoài kém hấp dẫn, khả năng huy động nguồn lực từ nội bộ rất nhỏ bé. Kinh tế vùng vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc, hiệu quả thấp. Các tiềm năng, lợi thế lớn của vùng chậm được khai thác; hiệu quả triển khai các dự án nhằm khai thác thế mạnh các tiềm năng về đất đai, đồi rừng, thuỷ điện, khoáng sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu chưa cao. Việc thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển vùng kết quả còn thấp. Toàn vùng còn 22 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm; nhiều xã có đường, nhưng chủ yếu là đường đất, phần lớn chỉ đi được vào mùa khô.


Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào, nhất là đồng bào các dân tộc ít người ở vùng sâu, vùng cao còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao, diện cận nghèo lớn; cuối năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng còn gần 30%, cao nhất so với các vùng trong cả nước; nhiều xã vùng cao tỷ lệ hộ nghèo còn 50 - 60%, có thôn, bản tới 70 - 80%. Toàn vùng còn gần 20% số hộ chưa được nghe đài phát thanh, gần 30% số hộ chưa được xem truyền hình, gần 34,4% số hộ chưa có điện (huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu chưa có điện lưới quốc gia). Khoảng cách và độ chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội và mức sống của người dân giữa vùng với cả nước có xu hướng ngày càng xa.


Tệ nạn ma tuý, lây nhiễm HIV/AIDS chưa được kiềm chế; tình trạng buôn bán, vận chuyển ma tuý, tái trồng cây thuốc phiện, tệ nghiện hút, sử dụng ma tuý còn diễn biến phức tạp, bức xúc; toàn vùng có trên 40 nghìn người nghiện, chiếm khoảng 1/4 số người nghiện cả nước. Một số phong tục tập quán cũ lạc hậu còn nặng nề.


Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình", triệt để lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá ta. Chúng đẩy mạnh tuyên truyền phát triển đạo Tin lành trái pháp luật ở các địa bàn vùng cao, biên giới; vu cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo: xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động di cư tự do, vượt biên trái phép sang Lào, buôn bán ma túy, kích động tư tưởng ly khai nhằm thực hiện âm mưu lập "Vương quốc Mông tự trị" ở Bắc Lào. Tình hình xuất nhập cảnh trái phép, buôn lậu qua biên giới buôn bán phụ nữ, trẻ em, tình trạng lao động vượt biên trái phép sang Trung Quốc làm thuê còn tiếp diễn.


Năng lực hoạt động và hiệu quả công tác của hệ thống chính trị, nhất là hệ thống chính trị cơ sở vùng sâu, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc còn nhiều hạn chế; năng lực lãnh đạo, hiệu quả quản lý của cấp ủy, chính quyền một số địa phương còn yếu. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ vẫn còn nhiều bất cập: Phần lớn cán bộ cơ sở chưa đạt chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ; trình độ văn hoá thấp, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đến cuối năm 2008, toàn vùng còn khoảng trên 10% tổng số thôn, bản chưa có chi bộ và 1,0% thôn, bản chưa có đảng viên; cán bộ chuyên trách và công chức xã còn trên 12% mới tốt nghiệp tiểu học; trên 50% chưa qua đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ; 40% chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị; gần 65% chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về quản lý nhà nước.


Trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn thấp, một bộ phận cán bộ và dân cư còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, vào cấp trên.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2026, 08:53:47 pm
Để xây dựng khu vực Tây Bắc nói riêng, vùng núi phía Bắc nói chung, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh lâu dài của đất nước, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 1 tháng 7 năm 2004 về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010; Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 120/2003/QĐ-TTg ngày 11 tháng 6 năm 2003 phê duyệt Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tuyến biên giới Việt - Trung đến năm 2010 và Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg ngày 5 tháng 2 năm 2008 về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc đến năm 2010. Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg khẳng định mục tiêu phải giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, nâng cao dân trí và cải thiện rõ rệt đời sống tinh thần của nhân dân, đặc biệt là đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số. Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 1 tháng 7 năm 2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ xác định: "Trung du và miền núi Bắc Bộ là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của cả nước; có vai trò quyết định đối với môi trường sinh thái của cả vùng Bắc Bộ; có tiềm năng, lợi thế về nông, lâm nghiệp, thuỷ điện, khoáng sản, du lịch và kinh tế cửa khẩu, là vùng có đồng bào dân tộc sinh sống gắn bó lâu đời, mỗi dân tộc có bản sắc văn hoá riêng".


Ngày 24 tháng 8 năm 2004, Bộ Chính trị đã ra Quyết định thành lập Ban chỉ đạo Tây Bắc nhằm giúp Bộ Chính trị chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW.

Định hướng và chính sách phát triển vùng, trong đó có vùng miền núi phía Bắc Việt Nam, trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 - 2010 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã nêu rõ: "Vùng trung du, miền núi Bắc Bộ và vùng Tây Nguyên cần tập trung mọi nỗ lực phát triển kinh tế nhanh và bền vững, gắn chặt với việc bảo đảm an ninh, quốc phòng. Phát triển mạnh thuỷ điện, công nghiệp khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác có hiệu quá quỹ đất trồng cây công nghiệp, cây ăn quả xuất khẩu và trồng rừng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến có công nghệ hiện đại. Phát triển du lịch sinh thái và văn hoá dân tộc. Phát triển hài hoà giữa các tiểu vùng, giữa các tầng lớp dân cư và giữa đồng bào các dân tộc..."1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2006, tr. 226).


Về an ninh - quốc phòng, Báo cáo cũng nhấn mạnh: "Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới và kết hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội. Phát huy các nguồn lực, lồng ghép các chương trình, các dự án để xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng ở vùng biên giới, hải đảo. Rà soát quy hoạch và điều chỉnh đất quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu về bố trí chiến lược quốc phòng, dành thêm đất cho phát triển kinh tế - xã hội. Có chính sách đặc biệt phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân tại các khu vực có yêu cầu đặc thù về quốc phòng, an ninh..."1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2006, tr. 228).


Định hướng cơ bản cho phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Bắc là thúc đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phù hợp với đặc điểm, tình hình của từng địa phương, từng vùng, từng địa bàn, phù hợp với xu hướng phát triển chung của cả nước.


* Về phát triển kinh tế:

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng dân tộc và miền núi theo hướng phát triển mạnh kinh tế hàng hóa, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.

+ Các hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp và công nghiệp cần phát triển theo hướng khai thác tiềm năng của vùng về vị trí địa lý, đất đai, khí hậu và tài nguyên khoáng sản để sản xuất hàng hoá theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

+ Các loại hình dịch vụ từng vùng được chú trọng phát triển, đặc biệt là hoạt động kinh tế dịch vụ các cửa khẩu biên giới với nước bạn.

+ Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm... nhằm từng bước nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần cho nhân dân.

+ Công tác định canh, định cư cũng như việc đưa dân ra sát biên giới sẽ được hoàn tất theo cơ sở, cải thiện đời sống cho đồng bào đi đôi với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc.


* Về phát triển đời sống văn hoá, xã hội:

+ Chú trọng phát triển văn hoá các vùng miền núi, dân tộc kết hợp hiện đại với bảo tồn và chấn hưng văn hoá. Chống các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội nhằm xây dựng bản làng văn minh, giàu bản sắc văn hoá. Mở rộng mạng lưới phát thanh, truyền hình, củng cố các đội thông tin lưu động và đưa sách báo đến với đồng bào, kể cả ở vùng sâu, vùng xa.

+ Chú trọng chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, phát triển theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số. Phát triển giáo dục và phổ cập giáo dục tiểu học, tiến tới phố cập trung học cơ sở cho đồng bào, đẩy mạnh xoá mù và tái mù chữ, nhằm nâng cao dân trí. Tăng cường và ưu tiến công tác đào tạo, chuyển giao ứng dụng khoa học và công nghệ, kỹ thuật mới cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.


Tóm lại, phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội ở vùng Tây Bắc của Tổ quốc phải gắn liền với xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào qua các chương trình trọng điểm của Chính phủ như: Chương trình 135, Chương trình 327... để đến năm 2020, trong khu vực cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 5%, từng bước thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, giữa thành thị và nông thôn.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2026, 09:01:52 pm
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá, TS NGUYỄN XUÂN NĂNG
Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam
Đại úy PHẠM VŨ SƠN
Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Tây Bắc có vị trí chiến lược hết sức quan trọng với cả ta và địch. Kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952, Bộ Tổng tư lệnh xác định Tây Bắc là hướng tiến công chính. Tại đây, từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, ta mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần đất đai, phá âm mưu lập "Xứ Thái tự trị" của thực dân Pháp.


Chiến dịch diễn ra qua 3 đợt. Đợt 1 (từ ngày 14 đến ngày 23-10), quân ta tiến công Phân khu Nghĩa Lộ, Tiểu khu Phù Yên, tiêu diệt và bức rút hàng loạt cứ điểm (Ca Vịnh, Sài Lương, Pú Chạng, Nghĩa Lộ phố...), đập tan toàn bộ phòng tuyến vành ngoài của địch từ hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai. Đợt 2 (từ ngày 7 đến ngày 22-11), quân ta vượt sông Đà, tiến công hệ thống phòng ngự của địch trên cao nguyên Mộc Châu, kết hợp đánh vu hồi từ Quỳnh Nhai giải phóng Thuận Châu, Tuần Giáo, Điện Biên Phủ, buộc địch ở thị xã Sơn La rút chạy về Nà Sản. Đợt 3 (diễn ra từ ngày 30-11 đèn ngày 10-12). Thắng lợi của ta trong đợt 1 và đợt 2 chiến dịch buộc địch rút bỏ nhiều vị trí quan trọng chạy về Nà Sản co cụm thành "Tập đoàn cứ điểm" mạnh nhất lúc bấy giờ. Để giành toàn thắng cho chiến dịch, Bộ chỉ huy quyết định mở đợt 3 chiến dịch "Tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm ở Nà Sản" nhưng không thành.


Trận đánh căn cứ Nà Sản được coi là trận đánh công kiên lớn nhất và cùng gay go ác liệt nhất từ trước đến thời điểm đó. Tuy không tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm Nà Sản, song thắng lợi của chiến dịch là rất lớn. Trong toàn chiến dịch ta đã tiêu diệt, bắt và làm bị thương trên 6.000 tên địch, Nhiều tiểu đoàn, đại đội thuộc các binh chủng của Pháp bị xóa sổ. Tám phần mười đất đai ở Tây Bắc được giải phóng, nối liền với phía tây căn cứ địa Việt Bắc. Chiến thắng Tây Bắc có ý nghĩa chiến lược to lớn cả về quân sự, chính trị. Nó đã tạo ra sự thay đổi cả về thế và lực theo hướng có lợi cho ta. Ta đã giữ vững và từng bước mở rộng quyên chủ động trên chiến trường.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh kiêm Tư lệnh chiến dịch Tây Bắc đánh giá: "Thu Đông 1952 là Thu Đông chiến thắng Tây Bắc. Nếu nhìn rộng ra toàn chiến trường Bắc Bộ thì đó là thắng lợi lớn của ta trên con đường tiếp tục giành thế chủ động... Thắng lợi đó đã rèn luyện nhiều cán bộ ta về kỹ thuật, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, củng cố và mở rộng khối đoàn kết toàn dân, tăng cường lực lượng kháng chiến của nhân dân, nâng cao lòngtin tưởng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân với Đảng và Hồ Chủ tịch"1 (Báo báo Kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, tập 2. Bộ Tổng tham mưu, xuất bản 1963. tr 217).


Ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm của chiến thắng chiến dịch Tây Bắc đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đánh giá sâu sắc. Tuy nhiên, việc làm thế nào để bảo tồn, phát huy giá trị của di tích này nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau của đất nước còn nhiều vấn đề phải bàn.


Chúng ta đều biết, di tích nói chung, di tích lịch sử quân sự nói riêng có vai trò hẽt sức quan trọng trong việc giáo dục truyền thống. Hiến chương Vơni (1964) của ICOMMOS đã nêu: "Các di tích lịch sử của các thế hệ con người thấm đượm một thông điệp từ quá khứ đến ngày nay như những nhân chứng sống... Bổn phận của chúng ta ngày nay là phải chuyển giao cho các thế hệ mai sau muôn ngàn di tích đó với đầy đủ vẻ rực rỡ huy hoàng đích thạc của chúng".


Mặc dù vậy, các di tích chiến dịch Tây Bắc còn lại không nhiều và việc bảo tồn, phát huy giá trị của di tích còn nhiều bất cập. Xin đơn cử một vài ví dụ: - Khu di tích Trại và Đồn Nghĩa Lộ được công nhận là khu di tích lịch sử Cấp quốc gia ngày 27 tháng 9 năm 1996 theo Quyết định số 2410-QĐ/VH của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin. Di tích nằm trên một quả đồi được san phẳng, cao hơn mặt đường xung quanh khoảng 10m, ba mặt của khu di tích giáp với đường quốc lộ đi Trạm Tấu và Mù Căng Chải, tổng diện tích được bảo vệ là 8.700m2.


Trại và Đồn Nghĩa Lộ được thực dân Pháp lập ra từ khi chúng chiếm được Yên Bái. Đầu năm 1945, giặc Pháp đã đưa 85 chiến sĩ cách mạng từ Trại Bá Vân (Thái Nguyên) về giam giữ tại đây, trong đó có nhiều đồng chí là lãnh đạo Đảng của ta. Ngày 17 tháng 3 năm 1945, Chi bộ Trại đã tổ chức phá trại, song kế hoạch không thành. 9 đồng chí đã bị địch bắt và sát hại. Năm 1947, chúng củng cố đồn thành sở chỉ huy của Phân khu Nghĩa Lộ, án ngữ đường vào Tây Bắc và vùng Mường Lò rộng lớn. Ngày 18 tháng 10 năm 1952, đồn bị quân ta tiêu diệt. Đây là trận đánh kết thúc đợt 1 chiến dịch Tây Bắc.


Hiện nay Khu di tích chỉ còn lại một bãi trống, một lô cốt, cột cờ, một số đoạn đường hầm; khu mộ 9 chiến sĩ cách mạng bị giặc sát hại; một đài tưởng niệm; tượng đài Chiến thắng cùng với Nhà bia ghi tên các Liệt sĩ. Hàng năm lãnh đạo và nhân dân địa phương vẫn đến thắp hương tưởng niệm trong các dịp lễ tết, các ngày kỷ niệm (22-12; 18-10...).Nhiều đoàn khách tham quan cũng tới đây thắp hương ôn lại những giờ phút lịch sử hào hùng đã diễn ra tại di tích này.

- Khu di tích chiến thắng Chân Mộng - Trạm Thản thuộc xã Chân Mộng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ gồm nhiều di tích nhỏ trong đó có 4 di tích chính là: Khu Đồng Mo; Ngã ba Chân Mộng; Khu Lò Than; Nghĩa trang Trạm Thản. Khu di tích được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia ngày 23 tháng 2 năm 2004 theo Quyết định số 08/2004/QĐ-BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin.

Chân Mộng - Trạm Thản ngày 17 tháng 11 năm 1952 là trận đánh quan trọng trong chiến dịch Tây Bắc. Thắng lợi của trận đánh góp phần đánh bại cuộc hành quân Loren của Pháp, bảo vệ hậu phương chiến dịch, tạo điều kiện cho chiến dịch Tây Bắc phát triển thắng lợi.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2026, 09:04:28 pm
Hiện nay khu di tích chỉ còn lưu giữ được một đoạn xích xe tăng, lazăng xe bọc thép bị quân ta bắn cháy; khung một xe cơ giới; một xe tăng 18 tấn. Tại đây chính quyền địa phương đã xây dựng bia di tích và nghĩa trang liệt sĩ hy sinh trong trận đánh...

- Khu di tích Nà Sản (nơi diễn ra trận đánh công kiên lớn nhất trong chiến dịch Tây Bắc) thuộc xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Khu di tích đã được Nhà nước xếp hạng cấp Quốc gia ngày 24 tháng 1 năm 1998 theo Quyết định số 95/1998/QĐ-BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin. Khu di tích hiện nay được phân bố trên một khu vực có nhiều quả đồi thấp, diện tích bảo vệ lên đến 15.280m2.


Nà Sản nằm ở vị trí rất quan trọng về quân sự, kinh tế ở chiến trường Tây Bắc, vì vậy Pháp đã chọn làm nơi đặt Sở chỉ huy của cái gọi là "Xứ Thái tự do", "Liên khu độc lập Tây Bắc" do trung tá Tôrăngca (Tranca) chỉ huy, sau này là Sở chỉ huy Phân khu Sơn La do đại tá Jin chỉ huy. Chính tại đây, các tướng Pháp: tướng Linarét (Linase), Tư lệnh chiến trường Bắc Bộ, đại tá Jin - Tư lệnh Phân khu Sơn La, đại tá Đồbécnácdi (Debernardy) - Tư lệnh không quân phía bắc đã họp bàn cách đối phó với 3 sư đoàn của ta ở Tây Bắc. Đây chính là trung tâm điều hành các cuộc hành quân cướp bóc, tàn phá, gây nhiều tội ác với đồng bào dân tộc tỉnh Sơn La và cả Tây Bắc.


Sau khi thua đau trong 2 đợt tiến công của quân ta trong chiến dịch Tây Bắc, quân Pháp đã phải co cụm lại và xây dựng khu vực Nà Sản thành cứ điểm kiên cố để cố thủ. Tại đây chúng xây dựng cả khu sân bay Nà Sản rộng lớn, khu chỉ huy sở và các cụm cứ điểm cùng hệ thống trận địa pháo yểm trợ. Đây là kiểu cụm cứ điểm kiên cố nhất lần đầu tiên quân Pháp xây dựng tại chiến trường Việt Nam.


Hiện nay, những dấu tích của chiến dịch Tây Bắc tại Khu di tích Nà Sản hầu như không còn mấy, duy nhất chỉ có khu vực sân bay Nà Sản là còn giữ được cơ bản hiện trạng trong lịch sử.

Có thể nói, cả 3 di tích tiêu biểu của chiến dịch Tây Bắc như đã nêu ở trên nay đã bị thời gian làm mai một đi rất nhiều. Trong thời gian qua, mặc dù các tỉnh Sơn La, Yên Bái, Phú Thọ đã có những nỗ lực rất lớn trong quản lý, bảo tồn, tôn tạo các di tích song việc bảo tồn, tôn tạo phát huy giá trị di tích lịch sử văn hoá nói chung, di tích chiến thắng Tây Bắc nói riêng còn nhiều bất cập. Đặc biệt là nguồn ngân sách huy động cho tu bổ, tôn tạo Khu di tích lịch sử Nà San, Chân Mộng - Trạm Thản, Trại và Đồn Nghĩa Lộ ít lại không được đầu tư tập trung nên hiệu quả không cao.


Vì vậy, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các khu di tích Nà Sản, Chân Mộng - Trạm Thản, Trại và Đồn Nghĩa Lộ đang là việc làm hết sức cấp thiết. Để làm được viêc này, cần tập trung vào một số vấn đề sau:

Một là: Trước hết cần thống kê toàn bộ các di tích cần được bảo tồn, tôn tạo của chiến thắng Tây Bắc, trên cơ sở đó từng bước xây dựng và hoàn thiện quy hoạch tổng thể di tích, khoanh vùng bảo vệ, cắm mốc chỉ giới không để xâm phạm và lấn chiếm đất di tích. Tại các địa phương, cần tổ chức phong trào toàn dân bảo vệ di tích, tổ chức hội những người bảo vệ di tích làm nòng cốt. Đây là một tổ chức xã hội tự nguyện nhằm thu hút mọi tầng lớp nhân dân đến với di tích, chăm sóc di tích, bảo vệ di tích.


Hai là: cần đầu tư thích đáng để trùng tu, tôn tạo các di tích hiện có, đồng thời nghiên cứu, tìm tòi phát hiện những di tích mới. Việc này phải kết hợp Nhà nước và nhân dân cùng làm. Bên cạnh nguồn kinh phí do Nhà nước cấp phải vận động tốt các nguồn lực, thực hiện chủ trương xã hội hoá công tác bảo tồn di tích. Nếu được đầu tư đúng mức, có trọng tâm trọng điểm chắc chắn các di tích sẽ phát huy tốt giá trị của nó, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ.


Ba là: cần xây dựng nhà trưng bày bổ sung cho di tích. Trải qua thời gian, cùng sự tàn phá của thiên nhiên, sự xâm hại của con người nên hầu hết các di tích đã không còn nguyên vẹn. Vì vậy để người xem có thể hiểu được toàn cảnh diễn biến các sự kiện đã xảy ra tại di tích, chúng ta phải xây dựng nhà trưng bày bổ sung cho di tích. Hàng năm, di tích sẽ đón tiếp nhiều đoàn khách đến tham quan học tập, họ ở đủ mọi lứa tuổi, trình độ khác nhau, để ngày càng thu hút được đông đảo khách đến tìm hiểu, tham quan, học tập thì theo các nhà nghiên cứu khoa học về bảo tồn di sản văn hóa cả trong và ngoài nước đều có cùng đánh giá đó là "ngoài các yếu tố khách quan khác thì yếu tố quan trọng nhất vẫn là có trưng bày bổ sung trong di tích".


Đương nhiên cũng phải tùy vào phạm vi, quy mô, cấp độ của di tích mà cân nhắc di tích nào cần có nhà trưng bày, di tích nào chỉ cần dựng bia chứ không phải di tích nào cũng xây dựng nhà trưng bày. Nhưng ít ra với từng cụm di tích nên có nhà trưng bày chung.


Bốn là: Từng bước nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý di tích. Hiện tại, đội ngũ này ở địa phương vừa thiếu lại vừa yếu, không được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến di tích bị xuống cấp mà không ai quan tâm hoặc một di tích được trùng tu, tôn tạo bị làm biến dạng không giữ được tính nguyên gốc của nó. Vì vậy, phải đào tạo, bồi dưỡng và bố trí đội ngũ làm công tác quản lý, bảo tồn di tích vừa có "tâm" vừa có "tầm", có bản lĩnh chính trị, văn hoá, đạo đức nghề nghiệp. Có như vậy mới phát huy tối đa hiệu quả của di tích.


Năm là: Phải thường xuyên tổ chức các hoạt động ngay tại di tích. Xây dựng các kế hoạch, đề ra các giải pháp phối hợp có hiệu quả các tổ chức trong và ngoài tỉnh để quảng bá, giới thiệu, thu hút khách tham quan đến với di tích (như nghiên cứu xây dựng một Tuor tham quan du lịch 3 địa điểm: Di tích Nhà tù Sơn La - Khu di tích Chiến thắng Nà Sản - Thủy điện Sơn La). Đây là những hoạt động tuyên truyền giáo dục truyền thống kết hợp với du lịch góp phần phát triển kinh tế địa phương, tạo cơ sở để "Xây dựng nông thôn mới" mà toàn Đang, toàn dân, toàn quân ta đang cùng nhau thi đua thực hiện.


Nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng những ký ức về chiến thắng Tây Bắc không vì thế mà phai nhạt. Điều này có được chính nhờ một phần ở các di tích đã được bảo tồn. Những di tích còn lại là những minh chứng cho chiến thắng của chúng ta và thất bại nặng nề của thực dân Pháp. Đây cũng là bản "anh hùng ca" ca ngợi những người Việt Nam yêu nước chống lại nền thống trị của thực dân xâm lược. Là nơi mà các chiến sĩ yêu nước và cách mạng Việt Nam đã vượt lên trên những gian nan thử thách đế biến những nơi này thành trường học cách mạng, thành nơi rèn luyện ý chí chiến đấu và để cuối cùng họ đã chiến thắng kẻ thù".


Vì vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị các di tích tiêu biểu trong chiến thắng Tây Bắc có vai trò vô cùng to lớn, nó giúp cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau cảm nhận được nhiều hơn những giá trị đích thực của truyền thống mà cha anh đi trước đã để lại, đặc biệt là những hình ảnh chiến đấu dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua mọi gian nan, thử thách, những tấm gương hy sinh anh dũng... của các thế hệ quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giành lại độc lập, tự do cho đất nước, từ đó tiếp thêm sức mạnh cho thế hệ trẻ ngày hôm nay tiếp tục phấn đấu, cống hiến làm sao cho xứng đáng với thế hệ cha anh đi trước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2026, 09:11:49 pm
CHIẾN THẮNG TÂY BẮC THU ĐÔNG 1952 SỰ KIỆN VÀ CON SỐ

Đại tá, ThS CHU VĂN TÙNG
Trưởng phòng Thông tin - Tư liệu -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Thượng tá ĐỖ ĐĨNH VY
Phòng Thông tin- Tư liệu -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Thực hiện chủ trương chuyển hướng tiến công chiến lược của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 1952, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh mở chiến dịch tiến công Tây Bắc. Sau 2 tháng chiến đấu quân và dân ta đã giành được thắng lợi to lớn, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, tranh thủ được nhân dân và giải phóng một vùng đất đai rộng lớn ở Tây Bắc.


Chiến dịch Tây Bắc diễn ra từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, nhưng quá trình diễn tiến của chiến dịch được chuẩn bị từ rất sớm. Để có cái nhìn tổng quan về quá trình đó, nhân cuộc Hội thảo khoa học kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc, trong bài viết này chúng tôi tập hợp và giới thiệu những sự kiện quan trọng liên quan đến quá trình diễn biến của chiến dịch từ lúc chuẩn bị cho đến kết thúc chiến dịch.


Tháng 4 năm 1952: Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy bắt đầu xúc tiến triển khai các mặt công tác chuẩn bị chiến dịch.

Ngày 17 tháng 7 năm 1952: Ban Bí thư ra Nghị quyết thành lập Khu Tâv Bắc, nêu rõ, công tác trọng tâm của Khu ủy là hướng vào việc chuẩn bị chiến trường, đồng thời chuẩn bị xây dựng các căn cứ du kích và thu hồi các vùng được giải phóng.

Ngày 6 đến 9 tháng 9 năm 1952: Bộ Tổng tư lệnh mở hội nghị cán bộ, phổ biến quyết tâm chiến dịch. Trong hội nghị, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp nêu lên 3 nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch và nhân mạnh: "Ở đồng bằng cũng như Tây Bắc, ta đều có điều kiện tiêu diệt địch, nhưng ở Tây Bắc ta có nhiều thuận lợi để tác chiến tập trung và tiêu diệt địch nhiều hơn".


Ngày 9 tháng 9 năm 1952: Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc. Người nói: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi...".


Cùng ngày, Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch, chỉ định đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng; đồng chí Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng; đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Chủ nhiệm Chính trị; đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Cung cấp.


Từ 20 tháng 9 đến đầu tháng 10: Chấp hành Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh bắt đầu triển khai các đơn vị tiến vào vị trí tập kết. Đồng thời các đơn vị được lệnh tổ chức nghi binh, đánh lạc hướng phán đoán của địch. Trung đoàn 238 hoạt động ở Bắc Ninh Bắc Giang mang phiên hiệu là Đại đoàn 316; Trung đoàn 246 hoạt động ở Vĩnh Yên, Phúc Yên mang phiên hiệu là Đại đoàn 308; Trung đoàn 91 hoạt động ở Sơn Tây Phú Thọ mang phiên hiệu là Đại đoàn 312; đồng thời thay đổi khoá mật mã làm cho địch vẫn phán đoán Việt Minh tấn công ở đồng bằng nên chúng vẫn tổ chức bố trí 29 trong số 32 tiểu đoàn cơ động vào việc phòng thủ đồng bằng.


Ngày 1 tháng 10 năm 1952: Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Ban Chấp hành Trung ương đã gửi thư động viên tới cán bộ, chiến sĩ, dân công ở Mặt trận Tây Bắc.

Ngày 10 tháng 10 năm 1952: Thay mặt Tổng tư lệnh quân đội Quốc gia Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra Nhật lệnh kêu gọi các đơn vị tiến quân vào Tây Bắc, nội dung của Nhật lệnh có đoạn nêu: "...Tiến quân vào Tây Bắc; tiêu diệt sinh lực địch; giải phóng nhân dân; giải phóng một bộ phận đất đai của Tổ quốc yêu quý... Tiến quân vào Tây Bắc; vượt mọi gian khổ, khắc phục khó khăn, chiến đấu anh dũng, tiêu diệt quân địch....


Trong hai đêm 10 và 11 tháng 10: Các đại đoàn bộ binh và đại đoàn công pháo tổ chức vượt sông ở 4 bến: Mậu A, Âu Lâu, Nước Nóng và Lan Bình. Riêng Trung đoàn 98 vượt sông ở Phú Thọ, cụ thể như sau:

- Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 36) vượt bến Mậu A theo đường Khâu Vác tiến vào Nghĩa Lộ, đi đầu là 4 tiểu đoàn tiền vệ gọn nhẹ bao vây Pú Chạng, Nghĩa Lộ.

- Trung đoàn 36 vượt sông ở bến Âu Lâu, qua đèo Bụt Ca Vịnh, đèo Hồng vào chuẩn bị đánh Cửa Nhì.

- Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 141) qua sông ở bến Nước Nóng, theo Thuỵ Cuông - Nậm Bằng vào Gia Hội.

Ngày 20 tháng 9 đến 10 tháng 10: Trong khi bộ đội ở Tây Bắc tiến vào vị trí tập kết thì ở hướng đồng bằng Liên khu 3, Đại đoàn 320, Đại đoàn 304 cũng hành quân vào vùng địch hậu.

Những sự kiện và con số của cuộc tấn công đợt 1:

Đêm ngày 14 tháng 10 năm 1952: Để tạo thế cho Đại đoàn 308 vào sâu chiếm lĩnh trận địa tiêu diệt Nghĩa Lộ, Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 đánh trước vị trí Ca Vịnh trên đường số 13, nhưng do vây không chặt, địch chạy hết. Ngày 15, địch rút khỏi Thượng Bằng La, trung đoàn phục kích Núi Khum diệt được một số tên. Ngày 16, đơn vị chuẩn bị đánh Ba Khe, địch bỏ chạy về Làng Nhì, ta truy diệt được một số, còn phần lớn chạy vào rừng. Cùng đêm 14 tháng 10, Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 đánh Sài Lương, đồng thời bố trí lực lượng đánh viện trên đường Gia Hội.


Ngày 15 tháng 10: Đờ Linarét điều Tiểu đoàn 3 lê dương (3/3e REI) từ đồng bằng lên Nà Sản.

Ngày 16 tháng 10: Địch thả Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 (6e BPC) xuống Tú Lệ chặn đường tiếp tế của ta, giữ Sơn La và giải toả cho Nghĩa Lộ.

Đêm 17 tháng 10: Phát hiện địch tăng cường 1 đại đội Tabo và rời chỉ huy phân khu lên Pú Chạng, Bộ chỉ huy quyết định đánh Pú Chạng trước đêm 17 để tạo thuận lợi cho việc tiến công Nghĩa Lộ.

Ngày 17 tháng 10: Đại đoàn 308 sử dụng 2 trung đoàn đánh Nghĩa Lộ phố và Nghĩa Lộ đồi.

Trung đoàn 102 được tăng cường 2 đại đội Tiểu đoàn 322 Trung đoàn 88, có nhiệm vụ tiêu diệt Pú Chạng (Nghĩa Lộ đồi). Sau 3 giờ 25 phút chiến đấu ác liệt, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm, loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên, có 177 tên bị bắt, trong đó có tên thiếu tá chỉ huy phân khu cùng của chúng, ta thu toàn bộ vũ khí trong đó có 1 lựu pháo 105mm. Ta thương vong 217 (hy sinh 31 bị thương 186 đồng chí).


Trung đoàn 88 đánh chiếm Nghĩa Lộ phố. Sau 2 giờ 20 phút chiến đấu ta chiếm được cứ điểm, loại khỏi vòng chiến đấu 280 tên (diệt 45 tên, bắt 235 tên) trong đó có 74 lính Âu - Phi (ta thương vong 303, hy sinh 42, bị thương 261 đồng chí).


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2026, 09:21:54 pm
Đêm 18 tháng 10, Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 phát hiện địch ở Cửa Nhì hoang mang, chuẩn bị rút, ta quyết định đánh sớm, vây chặt và kịp thời nổ súng ngay khi địch mở cửa đồn tháo chạy. Sau 20 phút, ta tiêu diệt hoàn toàn vị trí này diệt 20 tên, bắt 194 tên.


Cùng ngày 18 tháng 10. Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 141) nhận lệnh đánh Gia Hội. Khi Trung đoàn 165 đến Gia Hội, địch đã bỏ chạy, trung đoàn đuổi theo đến Tú Lệ lúc 12 giờ ngày 19 tháng 10, lúc này Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 (6e BPC) của địch đã có mặt ở đây, ta tổ chức tập kích nhưng không thành công, để địch tràn qua chạy về đèo Cao Phạ (Khau Pha), ta tổ chức xuyên rừng chặn lại, tiêu diệt được một bộ phận. Suốt 4 ngày 5 đêm truy đuổi địch trên đoạn đường rừng dài gần 100km, Trung đoàn 165 diệt và bất gần 200 tên địch, Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 bị thiệt hại nặng.


Đêm 14 tháng 10: Trên hướng thứ yếu, Trung đoàn 98 tiêu diệt vị trí Nha Phù đêm 17 tiêu diệt sở chỉ huy Tiểu khu Phù Yên ở Bản Mo, ngày 18 tiến vào Vạn Yên, do trung đoàn không tìm cách vượt sông truy kích nên để địch chạy thoát.

Phía nam Lai Châu, Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148 từ Lào Cai tiến xuống Quỳnh Nhai. Đêm 11 tháng 10, kỳ tập tiêu diệt vị trí Nậm Sỏ. Ngày 14 địch cho Đại đội 5 Tiểu đoàn Thái số 2 lên tăng viện bị ta diệt một số, số còn lại chúng bỏ chạy. Ngày 15 dịch bỏ Quỳnh Nhai, chạy sang hữu ngạn sông Đà. Ngày 18 tháng 10 đơn vị tiến đến Nà Mu, địch bỏ chạy. Ngày 19 địch điều Tiểu đoàn Tabo 17 tăng cường cho Pắc Ná, ngày 23 tháng 10 ta diệt 1 đại đội số còn lại chạy sang bên kia sông.


Cùng trong thời gian trên, bộ đội địa phương và các đội du kích Cao Phạ, Mường La tích cực phối hợp với chủ lực lùng quét tàn binh bảo vệ địa phương. Các đại đội địa phương Văn Bàn, Văn Chấn bao vây Làng Chàng, Bản Lầu, kêu gọi địch đầu hàng và truy kích bọn rút chạy. Đại đội 302 (Lai Châu) cùng Tiểu đoàn 910 vũ trang tuyên truyền xây dựng chính quyền và xây dựng lực lượng vũ trang vùng mới giải phóng.


Sau hơn 10 ngày đêm chiến đấu (từ 14 - 23.10), đợt 1 chiến dịch kết thúc thắng lợi. Ta tiêu diệt đại bộ phận địch ở Nghĩa Lộ Tiểu khu Phù Yên, Tiểu khu Than Uyên. Diệt 500 tên, bắt 1.000 tên trong đó có 300 lính Âu - Phi, toàn bộ Ban chỉ huy Phân khu Nghĩa Lộ, và Ban chỉ huy Phân khu Phù Yên, giải phóng một vùng đất đai quan trọng từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai (trừ khu Phong Thổ) rộng 10.000km2. Ta thu 1.400 súng trường tiểu liên, 22 trọng đại liên, 31 súng cối, 3 ĐKZ, 2 pháo 105mm, 14 VTĐ và nhiều quân trang quân dụng.


Ngày 25 tháng 10 năm 1952: Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi Hội nghị cán bộ ở Mặt trận Tây Bắc khen ngợi và nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ chiến đấuở Mặt trận Tây Bắc trong đợt 1 chiến dịch: "Các đồng chí đã thấm nhuần quyết tâm của Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, làm cho quyết tâm ấy biến thành quyết tâm của chiến sĩ và nhân dân; có tinh thần chiến đấu anh dũng, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn để tiêu diệt địch; đánh nhanh chóng làm cho địch không kịp trở tay. Bên cạnh đó: Một số đồng chí còn thiếu tinh thần trách nhiệm, chấp hành mệnh lệnh chưa thật nghiêm chỉnh và triệt để; chưa nắm vững tư tưởng chiến thuật, chưa thật tích cực bao vây tiêu diệt địch, để một số địch chạy trốn và một số địch rút lui; công tác cung cấp còn thiếu sót, để có lúc bộ đội phải đói ăn; còn coi nhẹ công tác ngụy vận, địch vận; chưa thật coi trọng công tác dân vận, chưa ráo riết thi hành chính sách dân tộc thiểu số của Đảng và Mặt trận để tranh thủ nhân dân..."

Những sự kiện trong cuộc chống càn Loren lên Phú Thọ của đỉch:

Sau khi hoàn thành đợt 1, ta không thể chuyển ngay sang đợt 2 như dự kiến vì chưa chuẩn bị kịp lương thực, thực phẩm. Mặt khác, ta chưa nắm chắc địch ở hữu ngạn sông Đà nên cần có thời gian nắm tình hình địch, chấn chỉnh bộ đội rút kinh nghiệm chiến đấu, và chuẩn bị chiến trường, đồng thời tập trung bộ đội và dân công vận chuyển gạo.


Về phía địch, bị thất bại nặng nề, Bộ chỉ huy Pháp quyết định bỏ vùng tả ngạn sông Thao, rút sang hữu ngạn sông Đà, nhanh chóng thiết lập cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản, tăng cường lực lượng, lập tuyến phòng thủ sông Đà, xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm để quyết giữ vùng còn lại ở Tây Bắc. Chỉ sau một thời gian ngắn, chúng đã điều 9 tiểu đoàn cơ động từ đồng bằng và các nơi khác lên Tây Bắc, đưa số quân ở đây lên thành 16 tiểu đoàn và 32 đại đội. Cụ thể:


Tiểu đoàn số 6 dù (6e PBC) đổ xuống Tú Lệ; Tiểu đoàn Lê dương (3/3e REI) đến Sơn La. Ngày 20 đến 21 tháng 10, thêm Tiểu đoàn 3/e5 lê dương (3/5 RED, Tiểu đoàn 3/e1 Marốc (3/1RTM) đổ bằng máy bay xuống Nà Sản để củng cố tuyến phòng thủ mới. Ngày 26 tháng 10, địch lại điều 2 tiểu đoàn ngụy số 55 và 56 ((55-56 BVN) từ đồng bằng lên Nà Sản và Tiểu đoàn 27 Bắc Phi (277BMTS) lên Lai Châu. Đến ngày 2 tháng 11, địch điều thêm Tiểu đoàn ngụy Lào số 58 (58e BCL) từ Thượng Lào sang Điện Biên Phủ và Quỳnh Nhai. Sau khi hoàn thành việc củng cố các vùng còn lại ở Tây Bắc. Về chiến lược, Bộ chỉ huy Pháp ở Bắc Bộ quyết định mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ hòng phá vùng hậu phương chiến dịch và kéo chủ lực ta ở Tây Bắc về, phá cuộc tiến công của ta lên Tây Bắc.


Ngày 28 tháng 10: Khi đợt 1 chiến địch Tây Bắc vừa chấm dứt, ta đang chuẩn bị tiếp cho đợt 2, thì địch tung toàn bộ lực lượng cơ động dự bị chiến lược đánh lên Phú Thọ, lực lượng gồm: 9 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn cơ giới, 2 tiểu đoàn pháo, 2 thuỷ đội xung kích, 3 tiểu đoàn công binh cùng nhiều máy bay vận tải và ném bom.


Địch từ Trung Hà, Việt Trì theo đường sống, đường số 2 lên thị xã Phú Thọ và nhảy dù xuống Đoan Hùng. Ngày 13 tháng 11 một mũi tiến đến Bến Hiên, đi đến đâu chúng cũng lùng sục cướp bóc, đốt phá kho tàng, hoa màu của ta đến đó, tại đây chúng đã phá 3 kho gạo, 1 kho muối, 1 kho vũ khí hơn 100 tấn ta chưa kịp di chuyển.


Ngày 12 tháng 11 năm 1952: nhận rõ âm mưu của Pháp, Ban Chấp hành Trung ương Đảng để ra chỉ thị địch đánh lên Phú Thọ và nhiệm vụ của chúng ta. Chỉ thị có đoạn nêu: Nhiệm vụ của chúng ta là phải tích cực phá tan kế hoạch của địch đánh lên Phú Thọ, đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch, phối hợp tác chiến với mật trận chính.


Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh một mặt vẫn giữ nguyên quyết tâm tiếp tục tiến công vào Tây Bắc, mặt khác điều Trung đoàn 36 về cùng với lực lượng tại chỗ kiềm chế, tiêu hao, buộc địch phải rút khỏi Phú Thọ.

Ngày 17 tháng 11: Trung đoàn 36 đánh phục kích trên đường Chân Mộng - Năng Yên và Trạm Thản, diệt và bắt trên 400 tên, phá hủy 27 ô tô, 17 xe tăng, xe bọc thép.

Đêm 23 rạng ngày 24 tháng 11: Trung đoàn 36 tiến công Núi Quyết (gần Cổ Tiết) diệt thêm 1 đại đội địch, làm cho binh đoàn cơ động số 4 của địch bị tổn thất nặng nề.

Kết quả gần 1 tháng địch đánh lên Phú Thọ chúng không làm thay đổi được quyết tâm chiến lược của ta mà còn bị tổn thất nặng nể: 1.800 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, có 173 tên bị bắt, 60 xe cơ giới bị phá huỷ, thu nhiều vũ khí. Ta căn bản hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ hậu phương. Thắng lợi chống cuộc càn quét lên Phú Thọ của địch đã cổ vũ, động viên quân và dân ta ở Mặt trận Tây Bắc tiến hành thắng lợi đợt 2 của chiến dịch.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2026, 09:29:12 pm
Những sự kiện và con số của cuộc tiến công đợt 2:

Bước vào đợt 2 chiến dịch, theo chủ trương của Bộ chỉ huy chiến dịch, để tranh thủ yếu tố bất ngờ, nghi binh lừa địch, Mặt trận Y13 à hướng Lai Châu nổ súng trước mở đầu đợt 2 chiến dịch.

Ngày 9 tháng 11 năm 1952: Đại tướng Võ Nguyên Giáp kêu gọi toàn thể cán bộ và chiến sĩ, toàn thể anh chị em dân công vượt qua sông Đà, tiếp tục cuộc tiến quân vào Tây Bắc.


Trên hướng chủ yếu:

Ngày 17 tháng 11: Đại đoàn 312 tiến công Tà Pình nhưng không có địch nên chuyển sang đánh Bản Lay và Bản Hoa. Tại đây Trung đoàn 209 được tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 141 tiến công Bản Hoa nhưng không diệt gọn được Tiểu đoàn Marốc số 3. Đêm 18 tháng 11, Trung đoàn 141 (thiếu 1 tiểu đoàn) đánh Bản Lay diệt hơn 1 tiểu đoàn địch.


Ngày 18 tháng 11: Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 36), sau khi vượt sông Đà, sử dụng Tiểu đoàn 79 Trung đoàn 102 đánh Hát Lót, bắt 90, diệt 8 tên địch. Đêm 18, Tiểu đoàn 29 Trung đoàn 88, đánh Mường Lụm, diệt 38 tên, bắt 111 tên (có 69 lính Âu - Phi) thuộc Tiểu đoàn Marốc sô 3 ở Bản Hoa, Bản Lay chạy về.


Đêm 19 tháng 11: Đại đoàn 316 (thiếu), tiến công Mộc Châu, một cứ điểm mạnh, then chốt án ngữ đường số 41 do 1 tiểu đoàn địch chiếm giữ. Trong đó, Trung đoàn 174, được tăng cường Tiểu đoàn 215 của Trung đoàn 98, 1 Đại đội 3 khẩu pháo 75mm, 1 đại đội cối 2 khấu 120mm, 1 tiểu đoàn 12 khẩu 12,7mm, 1 trung đội ĐKZ, 1 trung đội công binh chia làm nhiều mũi tiến công cứ điểm Mộc Châu, ở hướng sân bay, Tiểu đoàn 439 Trung đoàn 98 bố trí chặn đánh để phòng địch rút chạy. Sau hơn 1 giờ chiến đấu hướng chủ yếu đột phá không thành công, hướng thứ yếu tác chiến thuận lợi hơn đã chiếm được vị trí tiền tiêu. Từ trên cao dùng hoả lực yểm trợ cho các hướng phát triển tiến công, đến 2 giờ 15 phút ngày 20 tháng 11 bọn chỉ huy cứ điểm Mộc Châu xin đầu hàng, một số binh lính tháo chạy rơi vào trận địa đón lõng của Tiểu đoàn 439 bắt gọn.


Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu 309 tên, thu toàn bộ vũ khí, giải phóng hơn 1.000 dân bị bắt giam, ta thương vong 186 đồng chí. Như vậy, các trận đánh lớn mở đầu đợt 2 chiến dịch vào tuyến phòng thủ cao nguyên Mộc Châu giành thắng lợi lớn.

Sau khi hệ thống phòng ngự trên cao nguyên Mộc Châu bị đập vỡ. định co lại phòng thủ trong thế thất bại nên đã biến thành một cuộc rút lui hỗn loạn. Phát hiện địch rút lui, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho các đơn vị truy kích.

Ngày 19 tháng 11: Chấp hành mệnh lệnh của trên, các đơn vị của Đại đoàn 308, trong đó có Tiểu đoàn 23, Trung đoàn 88 từ Mường Lụm truy kích đến Nà Ngà nhưng chỉ kịp đánh bọn đi sau cùng, sau đó gặp Đại đội 3 Commăngđô ở Yên Châu xuống đón lực lượng rút chạy, ta lập tức đánh địch nhưng không diệt được gọn vì lực lượng ta quá ít. Cùng ngày địch rút Tiểu đoàn 3 lê dương ở Tạ Khoa và 2 tiểu đoàn Âu - Phi (1e+ 2eBEP) vừa tới Nà Sản để thành lập khu phòng ngự ở Chiềng Đông, Yên Châu, Cò Nòi, đề phòng ta tiến công theo đường 41. 13 giờ ngày 19 tháng 11 Trung đoàn 88 tới Yên Châu tiến công Tiểu đoàn 55 BVN nhưng sáng ngày 20 tháng 11 tiểu đoàn này đã bỏchạy, ta chuyển sang truy kích và tổ chức 1 tiểu đội luồn rừng chặn đầu và tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 55 BVN cùng lực lượng chiếm đóng ở Yên Châu và 1 đại đội của tiểu đoàn dù số 1 (1e BEP) từ Chiềng Đông xuống đón Tiểu đoàn 55 BVN, sau đó Trung đoàn 88 tiếp tục tiến đến Chiềng Đông, Cò Nòi, do mệt mỏi tốc độ truy kích chậm lại nên để 4 tiểu đoàn địch chạy thoát.


Ngày 23 tháng 11: Trung đoàn 88 đuổi địch tới sân bay Nà Sản, bị hoả lực địch bắn mạnh phải rút ra, đêm 23 trung đoàn tổ chức đánh Pú Hồng nhưng không thành công, thương vong nhiều trong khi Trung đoàn 102 (thiếu) ở phía sau chưa lên kịp.

Ngày 6 và 7 tháng 11: Ban chỉ huy Mặt trận Y13 cho Tiểu đoàn 910 vượt sông đánh tan Tiểu đoàn Thái khố xanh (BGT) ở Nậm Dín, đồng thời đưa Tiểu đoàn 542 Trung đoàn 165 vượt sông trong đêm ngày 7, sớm hơn dự định 8 ngày, thấy địch ở Nậm Dín bị ta tiêu diệt, địch ở Tuần Giáo, Luân Châu cũng rút chạy. Ngày 14 và 15 tháng 11, thấy thị xã Lai Châu bị uy hiếp, đường số 41 Sơn La - Lai Châu bị chặt đứt, địch điều 2 tiểu đoàn (2eBPC và 56eBVN) chiếm lại Luân Châu, Nậm Dín, nhằm khôi phục Tiểu khu Quỳnh Nhai và bảo vệ thị xã.


Ngày 16 và 22 tháng 11: Tiểu đoàn 910, Tiểu đoàn 542, Tiểu đoàn 564 hình thành hai mũi tiến công. Tiểu đoàn 910 tiến công tiểu đoàn dù ở ngã ba Nậm Dín, tiêu hao 3 đại đội; Tiểu đoàn 542 đánh địch ở Nong Bò, Cha Mong, diệt 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 56 ngụy; Tiểu đoàn 564 truy kích diệt và bắt sống gần như toàn bộ quân địch ở Mường Sài và Mường Piềng, thừa thắng Tiểu đoàn 564 phát triển đến Thuận Châu, địch ở đây hoảng sợ bỏ chạy, tiểu đoàn phối hợp với Tiểu đoàn 115 truy kích địch đến tận Sơn La, đến ngày 22 tháng 11, toàn bộ quân địch ở các vị trí còn lại ở thị xã Sơn La cũng rút hết về Nà Sản. Ta tiếp quản Thuận Châu, thị xã Sơn La và truy bắt được gần 400 tên tàn binh.


Ngày 30 tháng 11: Tiểu đoàn 542, sau khi vào Nậm Dín, qua Thuận Châu, tiến về Điện Biên Phủ, tập kích Tiểu đoàn nguỵ Lào và truy quét tàn binh lẩn trốn, bắt 726 tên có một quan tư, thu 600 súng các loại.

Kết quả trên hướng phối hợp trong đợt 2 ta đã diệt và bắt hơn 1.400 tên, tính cả đợt 1 trên hướng này ta đã diệt 12 đại đội, bắt 1.750 tên (có 75 lính Âu - Phi), thu nhiều quân trang quân dụng, giải phóng 6 huyện: Than Uyên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Mường La, Thuận Châu, Điện Biên Phủ rộng trên 3.000km2 với 100.000 dân.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2026, 09:30:56 pm
Những sự kiện và con số cuộc tiến công Tập đoàn cứ điểm Nà Sản:

Ngay sau khi mất Nghĩa Lộ, Xalăng đã tính đến việc gom các vị trí lại lập thành những cứ điểm mạnh, hình thành một tập đoàn cứ điểm. Tập đoàn cứ điểm là một hình thức phòng ngự mới xuất hiện trên chiến trường nước ta sau thất bại liên tiếp của các hình thức phòng ngự khác. Tập đoàn cứ điểm Nà Sản với chiều rộng khoảng hơn 10km2, được thiết lập theo hình thức phòng ngự hình vòng cung và chia ra thành 17 cứ điểm lớn nhỏ, 2 vành đai phòng ngự. Tổng binh lực địch đóng trong tập đoàn có khoảng 12.000 tên, gồm 10 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh.


Về ta, sau hai đợt tiến công, quân số hao hụt, công tác bảo đảm hậu cần không kịp thời, sức khoẻ bộ đội bị giảm sút, so sánh tình hình ta - địch, ta không chiếm được ưuthế tuyệt đối như thời kỳ đầu chiến dịch, nhưng tinh thần của bộ đội đang trên đà phấn khởi sau thắng lợi của đợt 1 và đợt 2 chiến dịch, nguồn huy động nhân vật lực ở vùng mới giải phóng có tiến triển tốt.


Căn cứ vào nhận định trên, ngày 24 tháng 11, Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch hạ quyết tâm tiến công Tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Quá trình diễn biến trải qua các trận đánh tiêu biểu như sau:

Đêm 30 tháng 11: Tiểu đoàn 115 của Trung đoàn 165 Đại đoàn 312 tiến công Bản Hời phía Tây Bắc Nà Sản, cách trung tâm tập đoàn cứ điểm 2km, sau 7 giờ chiến đấu Tiểu đoàn 115 làm chủ được Bản Hời, diệt gần 1 đại đội địch. Cùng đêm 30 tháng 11, Trung đoàn 102 và Tiểu đoàn 322 của Trung đoàn 88 chiếm được Pú Hồng, diệt 4 trung đội của binh đoàn số 1 địch đóng trên cứ điểm 753, bắt sống tên quan ba Mêtét, do tổ chức phòng ngự không tốt, sau đó địch phản kích chiếm lại.


Đêm 1 tháng 12: Phát huy thắng lợi của Bản Hời, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 209 Đại đoàn 312, tiêu diệt Bản Vầy, Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 đánhNà Si nhưng không thành công do sự chống trả quyết liệt của địch.

Ngày 2 tháng 12: Địch dùng máy bay ném bom và hoả lực pháo binh bắn trên 5.000 quả đạn vào đội hình ta, bộ đội bị thương vong nhiều (trên 1.200 thương binh). Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy ta chưa nắm chắc tình hình địch nên chưa đủ khả năng tiêu diệt Nà Sản, cần có thời gian chuẩn bị chu đáo, huấn luyện bộ đội, nghiên cứu kỹ về kiểu phòng ngự của địch nên đã quyết định kết thúc chiến dịch vào ngày 10 tháng 12 năm 19521 (Trong sách: "Về Kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm các chiến dịch lớn", tập II tr. 228 ghi: Trong cuộc tấn công Nà Sản, sau trận Bản Vầy và Nà Si, Tổng Quân ủy nhận thấy tiếp tục tấn công Nà Sản không có lợi nên đã kịp thời đình chỉ. Đó là chủ trương đúng).


Ngày 16 tháng 12 năm 1952: Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi thư khen ngợi cán bộ, chiến sĩ chiến thắng ở Mặt trận Tây Bắc và chỉ đạo tiếp tục khuếch trương thắng lợi trên, đồng thời củng cố vùng mới giải phóng và đề phòng âm mưu địch quay trở lại.

Trong chiến dịch Tây Bắc Thu Đông 1952, ta sử dụng một lực lượng bộ đội tương đối lớn với 3 đại đoàn chủ lực gồm: Đại đoàn 308 có 3 trung đoàn (Trung đoàn 36, Trung đoàn 88, Trung đoàn 102); Đại đoàn 312 có 3 trung đoàn (Trung đoàn 141, Trung đoàn 165, Trung đoàn 209); Đại đoàn 316 có 2 trung đoàn (Trung đoàn 98, Trung đoàn 174); Đại đoàn công pháo 351 (thiếu), 1 trung đoàn công binh và các lực lượng vũ trang địa phương, hoạt động dài ngày, gồm 3 đợt tiến công.


Về bảo đảm công tác hậu cần đã cung cấp 11.744 tấn gạo (Việt Bắc: 5.350 tấn, Khu 3 và 4: 5.254 tấn, Tây Bắc: 1.140 tấn); 164 tấn muối (Việt Bắc: 110 tấn, Khu 3, 4: 54 tấn); 235 tấn thịt (Việt Bắc: 190 tấn, Khu 3, 4: 5 tấn, Tây Bắc: 40 tấn); 83 tấn thực phẩm khác (Việt Bắc: 30 tấn, Khu 3, 4: 12 tấn, Tây Bắc: 41 tấn); 33 tấn đạn dược, cứu chữa 2.535 thương binh, huy động và sử dụng 191.000 dân công với gần 7 triệu ngày công.


Kết quả toàn chiến dịch (không kể mặt trận vùng sau lưng địch) ta diệt 1.005 tên, bắt 5.024 tên địch; tiêu diệt gọn 4 tiểu đoàn, 28 đại đội gồm: Tiểu đoàn ngụy Thái số 1 (1eBAT), Tiểu đoàn 3/e 1 Maroc (3/1RTM), Tiểu đoàn 58 ngụy Lào (58BCL), Tiểu đoàn ngụy số 55 (55BVN); đánh thiệt hại nhiều tiểu đoàn cơ động tinh nhuệ gồm: Tiểu đoàn nguỵ Thái số 2 (2eBAT) và số 3 (3e BAT), Tiểu đoàn Thái khố Xanh (BGT), Tiểu đoàn ngụy số 56 (BVN), tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 (6CBPC), Tiểu đoàn Tabo 17 (17eTabo), phân đội độc lập Tây Bắc (BAZANO). Thu trang bị: Thu 11 khẩu pháo từ 75 - 105mm, gần 4.000 súng các loại, nhiều quân trang quân dụng, bắn rơi 6 máy bay. Giải phóng một vùng rộng lớn địa bàn chiến lược quan trọng ở Tây Bắc (khoảng 28.500km2 với 250.000 dân). Với vùng giải phóng mới được mở ra, vùng tự do Tây Bắc đã chiếm 80% đất đai và 350.000 dân. Cả 4 cánh đồng lớn nhất: Điện Biên, Nghĩa Lộ, Phù Yên, Than Uyên đã về ta. Từ đây, Tây Bắc đã trở thành căn cứ địa, nối liền với căn cứ địa Việt Bắc, làm cơ sở cho cuộc kháng chiến lâu dài của nhân dân ta. Đường giao thông giữa Việt Bắc với Khu 3, Khu 4 và miền Nam có điều kiện củng cố. Mối liên hệ trong nước với quốc tế thêm thuận lợi, có ảnh hưởng tốt đến cách mạng ba nước Đông Dương.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2026, 09:44:42 pm
"CHIẾN THẮNG TÂY BẮC 1952 - TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ"
(Tổng thuật tham luận Hội thảo khoa học)

Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Khu Tây Bắc, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu (nay là Lai Châu và Điện Biên) là một địa bàn có vị trí chiến lược rất quan trọng. Nơi đây, tròn 60 năm về trước, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, thông minh, sáng tạo làm nên chiến thắng Tây Bắc 1952 có ý nghĩa rất quan trọng cả về quân sự, chính trị và kinh tế.


60 năm qua, đã có khá nhiều cuốn sách, bài viết để cặp đến sự kiện lịch sử này trên các góc độ khác nhau, song chưa có một cuộc Hội thảo khoa học nào đề cập một cách toàn diện về chiến dịch này. Chiến thắng Tây Bắc 1952 không chỉ cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, đầy đủ hơn, mà còn cần được tôn vinh xứng đáng với tầm vóc và ý nghĩa nhằm khơi dậy niềm tự hào dân tộc; góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc cho các thế hệ người Việt Nam.


Dựa trên nhiều nguồn tư liệu lịch sử mới được khai thác, cùng với độ lùi của thời gian, cho phép chúng ta nhìn nhận sâu sắc hơn tầm vóc, ý nghĩa của sự kiện lịch sử này, cũng như tầm nhìn chiến lược của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, rút ra những bài học lịch sử, từ đó gợi mở hướng vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, mà trực tiếp là về vấn đề quốc phòng, an ninh, đoàn kết các dân tộc trên địa bàn Tây Bắc.


Nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Sơn La tổ chức Hội thảo khoa học "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử Ban tổ chức Hội thảo đã nhận được gần 70 bài tham luận của các vị lão thành cách mạng, nhân chứng lịch sử, các đồng chí lãnh đạo, các vị tướng lĩnh, sĩ quan, các nhà khoa học trong và ngoài quân đội.


Mỗi tham luận là một công trình nghiên cứu độc lập, theo từng vấn đề cụ thể, phản ánh khá toàn diện, sâu sắc về chiến thắng Tây Bắc 1952, tập trung chính là các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, mở chiến dịch tiến công ở Tây Bắc, chủ trương đúng đắn, sáng suốt và sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh.

Vào cuối năm 1952, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã trải qua 7 năm, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước đang có nhiều biến chuyển mới, các điều kiện để ta đẩy mạnh tiến công địch đã chín muồi. Vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định là chọn hướng tiến công địch ở đâu cho phù hợp với nhiệm vụ của giai đoạn chiến lược, giành được thắng lợi tạo đà phát triển mạnh mẽ cho kháng chiến.


Thực tế lịch sử cho thấy Thu Đông 1950, ta chủ động mở chiến dịch Biên Giới, trên địa bàn các tỉnh miền núi (Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn) giành được thắng lợi tạo bước ngoặt lịch sử. Một trong những yếu tố dẫn tới thành công của chiến dịch nói trên là do ta chọn đúng hướng chiến dịch, phát huy được sở trường, ưu thế của mình; khoét sâu chỗ yếu, hạn chế tối đa sức mạnh về vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch. Sau đó, trong Xuân Hè 1951, ta chủ động mở liên tiếp 3 chiến dịch (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung) tiến công địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, song cả ba chiến dịch này đều không đạt được mục đích, lực lượng ta bị tổn thất không nhỏ. Nguyên nhân chính là do ta chọn hướng tiến công không chính xác, đánh vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ lúc đó là chưa phù hợp, vì ở địa bàn này, địch phát huy được ưu thế về vũ khí, trang bị, hoả lực và khả năng cơ động bằng cơ giới, còn bộ đội chủ lực ta khó phát huy được sức mạnh và sở trường của mình.


Từ thực tế đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (4-1952), Trung ương Đảng nghiêm túc kiểm điểm, quán triệt đường lối kháng chiến trường kỳ, phương châm, nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn này. Trung ương Đảng thống nhất chủ trương: tiếp tục phát huy quyền chủ động chiến lược, mở chiến dịch tiến công địch trong Thu Đông 1952 với phương châm: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh. Theo đó, tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch tiến công Tây Bắc, nhằm giành thắng lợi cả về quân sự và chính trị là tiêu diệt, tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, giành dân, phá âm mưu lập "Xứ Thái tự trị" của Pháp, xây dựng Tây Bắc thành căn cứ địa hậu phương kháng chiến.


Chọn Tây Bắc để mở chiến dịch tiến công, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh đã có sự cân nhắc đúng đắn trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình địch - ta chính xác, khách quan và khoa học. Ta đưa chủ lực đánh vào một địa bàn chiến lược hiểm yếu ở rừng núi, nơi địch tương đối yếu, sơ hở, chúng khó phát huy ưu thế về vũ khí trang bị, đặc biệt là không quân, pháo binh và khả năng cơ động, trong khi đó ta có thế phát huy sở trường, khắc phục chỗ yếu của mình; hạn chế sở trường, khoét sâu chỗ yếu của địch. Mặt khác, ở đồng bằng Bắc Bộ, hướng phòng thủ chủ yếu của địch, nơi chúng tập trung lực lượng cơ động và có thể phát huy ưu thế của vũ khí, trang bị, hỏa lực, ta chỉ sử dụng một bộ phận chủ lực phối hợp cùng các lực lượng vũ trang địa phương, tận dụng thời cơ địch phải tập trung đối phó với cuộc tiến công của ta ở Tây Bắc đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát động nhân dân vùng dậy chống phá hội tề, diệt trừ Việt gian, phản động, mở rộng thêm các khu du kích và căn cứ du kích, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.


Thực tế đã chứng minh đó là sự lựa chọn chủ động, chính xác, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chiến lược, phù hợp với tương quan lực lượng địch - ta và thực tế chiến trường lúc bấy giờ.


Tiêu đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sï
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Hai, 2026, 09:46:58 pm
Đề cập đến chủ đề này là tham luận của các đồng chí Mai Quang Phấn, Vũ Quang Hiển, Nguyễn Mạnh Hà, Lê Văn Thái, Vũ Tang Bồng, Nguyễn Huy Thục, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Văn Bắc, v.v.

Thứ hai, thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, đánh dấu bước phát triển mới của cuộc kháng chiến và là thất bại lớn của thực dân Pháp.

Sau gần 2 tháng mở chiến dịch Tây Bắc (14-10 đến 10-12-1952), trải qua 3 đợt chiến đấu, mặc dầu trong đợt 3 đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thành công, nhưng về tổng thể, chiến dịch Tây Bắc ta đã hoàn thành thắng lợi mục tiêu đề ra. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 6.029 tên trong đó có 1.005 tên bị tiêu diệt, xóa sổ hoặc làm tan rã nhiều tiểu đoàn và đại đội địch. Thiệt hại về quân số là một tổn thất lớn của địch, song quan trọng hơn là sự sụp đổ của các phân khu Nghĩa Lộ, Lai Châu, Sông Đà, Sơn La và cả toàn Khu độc lập Tây Bắc. Lực lượng quân địch còn lại ở thị xã Lai Châu và Nà Sản trở nên cô lập. Tuyến phòng thủ của Pháp ở Tây Bắc bị phá vỡ hoàn toàn.


Thành tích về tiêu hao sinh lực địch ở Tây Bắc và các chiến trường phối hợp đã đưa tổng số quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu trong Thu Đông 1952 lên tới 13.800 tên, làm trầm trọng hơn tình trạng thiếu hụt quân số, làm gia tăng mâu thuẫn giữa tập trung lực lượng cơ động để mở các cuộc hành quân lớn với phân tán lực lượng để chiếm giữ các vùng chiếm đóng.


Cùng với thiệt hại về quân số, địch còn chịu nhiều tổn thất về vũ khí trang bị. Theo ước tính, số vũ khí ta thu được trong chiến dịch này đủ để trang bị cho nhiều trung đoàn. Số vũ khí đó trở thành "gậy ông đập lưng ông", bộ đội sử dụng đánh địch ngay trong chiến dịch này và cho các chiến dịch lớn trong Đông - Xuân 1953-1954.


Tổn thất về lực lượng và vũ khí, phương tiện Chiến tranh tính toán được về số lượng, biểu thị qua các số liệu thống kê, song tác động tinh thần từ thất bại ở Tây Bắc đối với các cấp chỉ huy và binh lính địch không tính được, nhưng rất lớn, để lại nhiều hậu quả, di chứng về sau. Chính phía Pháp, dẫu không muốn, cũng phải thừa nhận điều đó.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là tổng hợp của nhiều nhân tố, là kết quả của quá trình 7 năm kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1952, kết tinh sức mạnh tổng hợp của cả nước, trực tiếp là trên hướng chính Tây Bắc, bao gồm các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Lai Châu (nay là Lai Châu và Điện Biên), Lào Cai; cùng với đó là hướng phối hợp ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, quan trọng là các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, v.v.; và của các liên khu (Việt Bắc, 3 và 4).


Chiến thắng Tây Bắc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta về nhiều phương diện. Với chiến dịch này, nghệ thuật quân sự Việt Nam đã phát triển lên một bước mới, thể hiện ở những nét đặc sắc là chủ động mở hướng tiến công địch trên địa bàn rừng núi và xác định mục đích chiến dịch đúng đắn, phù hợp; thực hiện thành công phương châm "đánh điểm, diệt viện" và công tác nghi binh chiến dịch; tập trung ưu thế lực lượng trong những trận then chốt, phá vỡ khu vực phòng ngự mạnh của địch.


Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch khẳng định trong Hội nghị sơ kết chiến dịch: "Thu Đông 1952 là Thu Đông chiến thắng Tây Bắc. Nếu nhìn rộng ra toàn chiến trường Bắc Bộ thì đó là thắng lợi lớn của ta trên con đường tiếp tục giành thế chủ động..."1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, tập 2, Bộ Tổng tham mưu xuất bản 1963, tr. 217).


Thắng lợi đó đã rèn luyện cho bộ đội ta, đồng thời đánh dấu sự phát triển vững chắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam và bước phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp.

Góp phần làm sáng tỏ nội dung này là tham luận của các đồng chí Bế Xuân Trường, Dương Đức Hòa, Nguyễn Doãn Khánh, Nguyễn Châu Thanh, Nguyễn Vĩnh Phú, Vũ Dương Nghi, Phạm Quang Xuân, Thào Xuân Sùng, Hoàng Văn Chất, Cầm Câu, Hoàng Ngọc Dùng, Lò Văn Giang, Vũ Quang Đạo, Dương Đình Lập, Trần Ngọc Long, Nguyễn Bá Quang, Phạm Hữu Thắng, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Thành Hữu, Nguyễn Bá Thông, Đỗ Nhuận, Nguyễn Ngọc Tùng, Lê Văn Cử, Lê Văn Phong, Lê Văn Thành, v.v.


Thứ ba, chiến thắng Tây Bắc 1952 có ý nghĩa quan trọng mang tầm chiến lược; những bài học kinh nghiệm từ chiến dịch Tây Bắc có giá trị lịch sử, gợi mở hướng vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trên cơ sở các nguồn tư liệu khai thác được, theo từng góc độ khác nhau, nhiều tham luận đề cập tầm vóc, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm của chiến dịch này. Trong số đó tập trung nhất là tham luận của các đồng chí Trịnh Vương Hồng, Nguyễn Ngọc Toa, Đặng Văn Luyến, Đặng Ngọc Châu, Trần Văn Thức, Nguyễn Xuân Ngọc, Hoàng Thị Thanh, Dương Hồng Anh, Lê Thanh Bồi, Trương Mai Hương, v.v.


Các tham luận khẳng định thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự, chính trị và kinh tế. Ta đã từng bước mở rộng và giữ vững quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ; các lực lượng vũ trang nhân dân ta tích lũy thêm kinh nghiệm tác chiến quy mô lớn, hiệp đồng binh chúng cao hơn trên chiến trường rừng núi, xa hậu phương. Ta đã thực hiện thắng lợi quyết tâm của chiến dịch là tiêu diệt được một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng phần lớn đất đai và nhân dân các dân tộc Tây Bắc, tạo tiền đề xây dựng cơ sở quần chúng vững chắc và rộng rãi hơn, phá được âm mưu lập "Xứ Thái tự tri" để nuôi dưỡng chiến tranh của địch.


Chiến thắng Tây Bắc 1952 tạo tiền đề điều kiện thuận lợi đế quân và dân ta giành được thắng lợi quyết định trong Đông - Xuân 1953 - 1954, đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù, kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954).


Chiến thắng Tây Bắc năm 1952 để lại nhiều bài học lịch sử quý báu, mang giá trị lý luận và thực tiễn, quan trọng là về chủ động tiến công địch; về phối hợp, hiệp đồng với các chiến trường cả nước, với chiến trường nước bạn Lào; xây dựng tình đoàn kết quân dân, quân với dân một ý chí, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn chiến lược quan trọng Tây Bắc.


Phát huy tinh thần chiến thắng Tây Bắc, các đơn vị lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã giành được nhiều chiến công trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), trong chiến tranh bảo vệ biên giới, trong sự nghiệp xây dựng vá bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc, cuộc Hội thảo khoa học này khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng; tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, mưu trí của các lực lượng vũ trang; sự đóng góp của nhân dân; đồng thời ôn lại chiến công, tôn vinh các anh hùng liệt sĩ, của những người đã làm nên chiến thắng Tây Bắc 1952, thông qua đó khơi dậy niềm tự hào, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới.