|
Tiêu đề: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Chín, 2023, 03:11:07 pm BÊN GỐC ME GIÀ
Tiểu thuyết Tác giả: Phương Yến (Trần Thiện Lục) Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Phú Yên, 2005 Nguồn: Thư viện tỉnh Phú Yên Kính tặng những người phụ nữ Nam Trung Bộ anh hùng. Chương 1 Mùa khô ở xã Phụng thì khô rốc, khô rác, bầu trời lúc nào cũng cao vổng lên và xanh thăm thẳm. Gió như con ngựa phi bay ngang dọc trên trời và tải theo cái nóng âm âm khiến da người cũng phải xạm lại. Từ tháng tám đến tháng chạp âm lịch là mùa mưa. Những cơn mưa thối đất, thối cây cứ ập xuống khiến bầu trời lúc nào cũng xám ngắt và mọng nước. Riêng tháng mười âm lịch, những cây lụt kéo về làm cánh đồng xã Phụng mênh mông trong nước bạc. Trong đêm mưa lụt, bên ngọn đèn dầu, tiếng hát ru của người mẹ trẻ buồn buồn vang lên câu ca: “Ông không tha, bà chẳng tha... tránh sao cây lụt hai mươi ba tháng mười”. Do quy luật hoạt động của địch và do đặc điểm địa hình nên khu vực cây me già được chọn làm căn cứ xã Phụng. Cách cây me già khoảng 100 mét có một cái giếng nhỏ quanh năm có nước trong và mát lạnh. Cái giếng nước và cây me già có từ bao giờ, không ai biết. Theo mấy ông già xưa kể thì hình thế xã Phụng giống như con chim Phụng Hoàng dang cánh bay về dãy Trường Sơn bạt ngàn nên con gái xã Phụng đẹp có tiếng từ xưa tới nay. Ngày xưa, có một vị hòa thượng đến xã Phụng thấy vùng cây me già long mạch hùng hậu, cây cỏ tốt tươi và thế núi sông phân kết thành thế “Thiên diệp liên hoa” nên quyết định ở lại lập chùa bên cây me già. Phàm vùng đất có thế “Thiên diệp liên hoa” là vùng sinh ra quý phi, thần đồng, tể phụ nên chắc chắn là vùng đất linh thiêng. Tương truyền chỗ giếng nước và cây me già là nơi rắn và cọp nằm gác cho hòa thượng tụng kinh. Thời Pháp thuộc, biết thế đất quí, bọn Pháp cho xây nhà thờ tại đập Thầy Mười nên thế đất chùa bị phá. Chiến tranh, cả nhà thờ lẫn chùa bị bom Mỹ san bằng nên dấu tích chùa chỉ còn lại đám đất bằng có tường đá uy nghi xây bao quanh. Gần hai chục năm trời, bao lần địch cào nhà, dồn dân, lập ấp chiến lược, bắt dân phải dời khỏi vùng ven núi nên vùng cây me già thành vùng trắng. Ban ngày địch cho dân đi làm đồng, nhiều người lội qua mương đến vùng cây me hái củi bị địch nghi làm liên lạc cho cộng sản nên bắn chết và có người vướng phải mìn của cách mạng bố phòng mà chết. Ấy vậy mà vùng đất cây me già vẫn có nhiều chuyện ly kỳ xảy ra khiến nhiều người vẫn tin đó là vùng đất linh thiêng. Hai lần bọn Mỹ thả chất độc hóa học xuống giếng thì một lần trời đất nổi cơn giông và bọn chúng đi đến đập Thầy Mười thì bị sét đánh chết mấy đứa. Bọn Đại Hàn cũng thả chất độc hóa học xuống giếng rồi càn lên Vân Hòa thì cũng bị sập hầm của bọn Pháp thời xưa đào để lấy vàng và bị rắn độc ở dưới hầm cắn chết. Bọn Ngụy tới lấp giếng thì ba tháng sau bọn này cũng bị cách mạng diệt. Vậy là Mỹ lẫn Đại Hàn và lính Ngụy mỗi khi càn lên vùng căn cứ đều né tránh khu vực cây me già. Còn về phía cách mạng mỗi lần địch càn quét, phá phách khu vực cây me già là mỗi lần anh em du kích xã Phụng bắn được một con nai hay một con heo rừng và cũng thời gian đó, có một đơn vị địch bị tiêu diệt gọn trên địa bàn thị xã Tuy Hòa. Địch thả chất độc hóa học xuống giếng, anh em xã Phụng tảo giếng đúng bảy ngày đêm thì nước giếng lại trong vắt và mát lạnh như thường. Chuyện cứ lặp đi lặp lại như vậy, ai dám nói vùng đất này không linh thiêng!... Nằm sát xã Phụng là cứ điểm núi Tranh do bọn Đại Hàn chiếm đóng. Với hệ thống hầm ngầm, lô cốt, trận địa pháo liên hoàn, bọn Đại Hàn đã biến núi Tranh thành “Tấm lá chắn thép” bảo vệ sườn phía Tây thị xã Tuy Hòa. Phía Bắc xã Phụng là đỉnh Mò O chon von, bọn Đại Hàn cũng biến thành “Tấm lá chắn thép” bảo vệ hướng Bắc thị xã Tuy Hòa. Phía Đông nam xã Phụng là cứ điểm núi Sầm do bọn Bảo an đóng để bảo vệ cửa ngõ thị xã Tuy Hòa và chúng cùng bọn Ngụy quyền trực tiếp khống chế phong trào xã Phụng biến xã Phụng thành vùng trọng điểm “An ninh quốc gia”. Phía Tây và Tây bắc xã Phụng nối liền với căn cứ cách mạng của tỉnh, đương nhiên cách mạng phải xây dựng xã Phụng thành vùng bàn đạp trọng điểm để tấn công vào thị xã Tuy Hòa. Với địa hình như vậy, tất nhiên xã Phụng phải trở thành địa bàn chiến đấu khốc liệt nhất giữa ta và địch ở tỉnh Phú Yên. Ai cũng tưởng vùng đất trọng điểm như vậy thì bí thư xã phải là một tay “cứng cựa”, song lại là Mai cô gái mới 23 tuổi. Đôi mắt đen láy, khuôn mặt thon, trắng hồng và mái tóc dày óng mượt, trông Mai như cô học trò mới xin vào du kích. Cái duyên thầm ẩn dưới hàm răng trắng đều mỗi khi cười và giọng nói ngọt ngào, Mai nổi lên như một bông hoa ngạt ngào hương sắc. Suốt ngày cặp kè khẩu AK bên mình nên Mai còn được gọi là “Mai AK”. Là một bí thư trẻ đẹp chưa chồng, công tác của vùng trọng điểm lúc nào cũng bộn bề rắm rối, ấy vậy mà Mai vẫn phải ngồi hầu chuyện với những vị khách không mời cũng đến. Đó là anh hậu cần đỏm dáng, súng K59 vắt vẻo bên hông, đài So-ny trước ngực tranh thủ bàn chuyện lương thực và thăm dò tình cảm bí thư; rồi ông cán bộ Tỉnh đội tóc muối tiêu đang đi tìm “chỗ dựa” ghé thăm; lại cả ông cán bộ Tỉnh ủy đang tìm “cơ sở” tới nắm “tình hình”... để tìm hướng tấn công cô bí thư trẻ... Còn tốp lính trẻ thông đồng với du kích xã chuyên cung cấp tin cho mấy thủ trưởng và đàn anh tình hình cô bí thư đang là “lính phòng không”. Thấy Mai, có anh chàng cố ý đọc thơ oang oang: AK tóe lửa đầu nòng Cô bí thư xã chẳng cần mê đâu Muốn cho hạnh phúc dài lâu Ưng ông súng ngắn bạc râu, lưng còng Có anh táo tợn không cần biết trời cao đất dày, thấy Mai đang nói chuyện với mấy cô gái liền vươn cổ ca vọng cổ như gào lên: “Em ơi!... Em mũm, em mĩm, em cười, em nín... Sao em không hóa thành con liu điu... Để anh lênh đênh mặt nước... Anh cố, anh gắng, anh đìu lấy em!!!. Tới câu “sề” anh chàng phá lệ gào càng to: “Thương em, thương em, thương em anh thương khúc dưới, không thèm khúc trên”. Lại có cả một anh chàng viết cho Mai một bài thơ và ghi rõ: “Anh CKC gửi em Mai AK!... (chấm nhỉu) bản thống kê tiêu chuẩn kén chồng. "Một yêu anh có Sin-cô Hai yêu anh có bộ đồ ni phăng Ba yêu vừa Đảng, vừa Đoàn Bốn yêu anh phải một phần trung cao...” Bài thơ tới mười yêu và giải thích gọn gàng như: ni phăng là vải loại xịn, trung cao mới đủ tiền mua đường sữa cho em ăn. Rồi tác giả kết luận: “Em ơi! Nếu mộng không thành thì sao, nay mai già khọm biết đâu mùi đời...” Cùng với những bài vọng cổ, bài thơ theo kiểu “tưng tửng” ấy còn có một loạt chuyện về Mai như: Mai có căn tu nên trong ba lô có cái dùi, cái mõ, rảnh rỗi là lẻn ra rừng gõ mõ tụng kinh. Hôm tiểu đoàn H9 tổng kết, do nể nang nên Mai uống một ly rượu và bị say. Tưởng rằng ăn thịt chó sẽ giải được rượu không ngờ thịt chó hành nên Mai càng say hung. Trong lúc say, Mai khoác AK, xăm xăm ra rừng ngồi lên một hòn đá vừa ôm súng, vừa gõ mõ và lè nhè tụng kinh. Bất chợt Mai ôm chặt lấy mõ và súng thanh minh: “Anh yêu à!... Em cũng muốn lắm chứ!... Tại tổ chức không cho!... Đành phải ráng nhịn!... Anh à!... ” chuyện này chị em quân y H9 đều biết, ai bịa ra làm gì, không tin cứ đến H9 mà hỏi... Chuyện cứ râm ran, Mai đều nghe hết xong chỉ mỉm cười im lặng và như để trả lời xin các anh hãy để cho em yên... Út Hân, cậu du kích mới 13 tuổi là em út của đơn vị nghe mọi người kháo chuyện sốt ruột nói với Mai: -Lấy chồng quách đi cho rồi chị Hai à. Không lấy chồng nhiều người dựng chuyện về chị, tìm cách tán tỉnh, rách việc lắm. Mai nhìn Út Hân giọng tỉnh bơ: -Đời con gái thiên hạ nói là chuyện của người ta, cái chính là mình phải công tác cho thiệt tốt hiểu không... Út Hân gật đầu -Chị nói đúng nhưng chị chưa lấy chồng cũng hay, khối anh nhờ làm con chim xanh tha hồ được mấy anh ấy bồi dưỡng, như vậy là em có lời đúng không?... Mai cú nhẹ lên đầu Út Hân: -Thằng quỷ... Tao cấm mày đó!... Út Hân cười vang chạy ào tới chỗ mấy cậu du kích và bộ đội đang cười dỡn, thọc lét nhau, kêu chí chóe. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Chín, 2023, 03:12:35 pm Chương 2 Vừa về đến đơn vị, đã thấy quần áo, tăng, võng của anh em phơi trên cây, trên cỏ như phật La Hán và thấy Chín Phượng đang ngồi dưới gốc me, Mai hỏi ngay: -Phơi phóng mất cảnh giác như thế này tại sao em không có ý kiến? Chú Chín đâu? Chín Phượng thư thả: -Đi tuần tra thấy không có địch nên mấy cha ấy “xả hơi” cho thoải mái một chút, tại chú Chín cùng bộ đội đi tìm chỗ ở, nên vắng chúa nhà gà mọc đuôi tôm, em làm sao nói được. Mai nghiêm giọng: -Sống chủ quan, tạm bợ như thế này không ổn đâu. Vừa lúc đó, Ba Hổ mặt đỏ cờ, đỏ cẫng cùng mấy cô thanh niên xung phong đem cua và rau muống về. Thấy Mai, Ba Hổ phấn chấn khoe: -Bữa nay ra đồng bắt cua, hái rau đơn vị mình được một bữa ăn đã đời. Mai nghiêm sắc mặt: -Lần sau không được ra đồng vào giờ này nữa nghe chưa. Mo-ran, trực thăng bay tới nó không tha đâu. -Hì...Hì...Cùng lắm nó liệng ít trái rốc-két, xả ít tràng đại liên nhằm nhò gì chị Hai. Một cô gái nói vui: -Nó là ông trời con đó chị Mai à, đi với nó lúc nào bọn em cũng gặp hên đó. Chín Phượng chen vào: -Bữa nay thằng địch ăn chay nên nó bỏ qua cho mấy người đó. Mai bật cười: -Cứ ngồi nói thằng địch ăn chay với ăn mặn mà không đi nấu ăn, cứ dềnh dàng lỡ bộ đội đi trước lúc đó vắt chân lên cổ chạy cũng không theo kịp người ta đâu. Mấy hôm nay có bộ phận của một đơn vị chủ lực xuống làng mua hàng hóa, lương thực nên ai cũng cảm thấy ấm lưng. Vì có bộ đội bám địch nên thời gian mua sắm rộng rãi, đi về an toàn hơn. Riêng Mai nghĩ tới đoàn người dài hàng cây số gò lưng gùi hàng lũm bũm lội đồng trong đêm, bỗng bồn chồn lo gặp địch thì chỉ có vứt hàng mà chạy. Ông Chín Tòng về, Mai báo cáo lại toàn bộ nội dung cuộc họp rồi băn khoăn nói: -Tin nội tuyến báo Đại Hàn ở đèo Củng Cu vừa mới đổi quân, ta chưa nắm được tình hình mà lượng người đi khẩu thì đông, khâu tổ chức thì lỏng lẻo, cháu lo quá chú à. Ông Chín Tòng khoát tay: -Ôi dào!... Quân số đi khẩu tới cả tiểu đoàn, bọn địch trông thấy tưởng là chủ lực chúng cũng hoảng hồn lo gì. -Chú thường dạy cháu chủ quan là mẹ đẻ của thất bại, cảnh giác không thừa đâu chú à. Đắc ý ông Chín Tòng cười vang gật đầu: -Quả là không hổ danh khi chú đề nghị và được trên chấp thuận cho cháu làm Bí thư thay chú! lo xa như vậy là tốt, chú sẽ bàn với bộ đội chuyện kỷ cương đi khẩu... Thời gian vừa rồi, quả tình chú có nới tay cho anh em... Đặt khẩu AK bên cạnh ba lô, Mai tới ngồi cạnh Chín Phượng và Út Hân. Chín Phượng khúc khích cười nói với Mai: -Bữa nay chú Chín hiền khô. Mai cười, bỗng nghe tiếng Năm Sang, Hai Trúc và anh em du kích đi bám địch về vừa đi vừa cười nói rổn rảng. Mai hỏi Chín Phượng: -Năm Sang tập trung học lớp bồi dưỡng xã đội trưởng sao chưa đi? Chín Phượng nhanh nhẩu: -Chờ thư chú Chín viết thư gửi chú Sáu bí thư tỉnh, ngày mai mới đi. -Gọi Năm Sang tới gặp chị. Phượng đập nhẹ vào vai Út Hân: -Lên nhà du kích gọi Năm Sang đi Út. Út Hân vùng vằng: -Cái bà trằn... Thấy mặt người ta là nắm đầu sai Phượng cười động viên: -Mày là cục cưng của chị Hai, ít năm nữa lên thay chức chị Hai thì phải tích cực lên em à. Út Hân nhìn Phượng nguýt dài: -Vái trời cho chị lấy phải thằng chồng làm biếng, suốt ngày ngồi sai vặt cho chị bờm đầu tối ngày. Út Hân đi rồi, Mai cú nhẹ vào đầu Phượng: -Làm biếng ngồi sai trẻ nhỏ không mà biết mắc cỡ, chị mà bày cho nó chọc quê thì em ngồi khóc và thành mít ướt ngay đó... -Chị đừng bày đầu nghe... Chị Hai. Năm Sang bước vào nhà giọng hồ hởi: -Chị Hai cho gọi em? -Ừ... Tình hình địch ra sao? -Bọn Đại Hàn phục kích gần đèo Củng Cu đã rút ra ngoài đồng đi về hướng Núi Tranh rồi. Ngừng lại một lát nhìn Mai và Phượng, Năm Sang giọng tự tin: -Bọn em lần theo dấu giầy của chúng, leo lên cây đếm không sót một đứa. Chị yên tâm đi. Mai nghiêm giọng: -Coi chừng, rất có thể bọn Đại Hàn gài quân lại để tìm cách tập kích bất ngờ, lúc đó trở tay không kịp đó. Năm Sang cười ròn tan: -Hèn gì mấy anh lực lượng bầu chị là “vua cảnh giác”, lúc này đã có nhiều đơn vị ra mương tập trung rồi chị Hai à. -Đừng ngắt lời chị. Em nắm một tổ du kích cùng chú Chín tới chỗ mấy anh lực lượng vũ trang bàn chuyện đi khẩu, còn một tổ ở nhà. Tình hình êm xuôi khoảng bốn giờ chiều có mặt tại chỗ cây vông bên mương số một nhớ chưa. Năm Sang đi rồi, Mai vẫn bồn chồn trong cảm giác như có ai đang rình rập sau lưng mình, cái cảm giác thiệt là khó tả. Cùng tổ du kích đi trên bờ mương số một, Mai mới hiểu vì sao du kích xã Phụng thích tới chỗ tập trung đi khẩu sớm như vậy. Vừa đi, vừa lắng nghe tiếng nói râm ran dưới các lùm cây gần bờ mương, tiếng cười của những cô gái, chàng trai bay vờn trong không trung; tiếng hát, tiếng chào hỏi nhau... Và niềm vui bất giác ập đến khiến Mai cười, bước thoăn thoắt trên bờ mương. Quả thật đã lâu lắm rồi, xã Phụng mới có lượng người đi khẩu đông vui như vậy. Trời vừa chạng vạng, đoàn người đi khẩu đã băng ra đồng tiến về phía thôn Tường. Đội hình đi đầu còn tương đối thưa, giữa và cuối đội hình, đoàn người gần như đứng sát vào nhau. Mai ngoái lại truyền lệnh: -Truyền sau im lặng. Nhưng vô nghĩa, những tiếng nói rầm rì vẫn như những đợt sóng loang nhẹ trên cánh đồng, bất giác Mai thở dài ngoái nhìn đoàn người nối dài lờ mờ, lay động. Bỗng tiếng nổ xé phía sau lưng khiến Mai ngã chúi xuống ruộng, Mai cầm súng ngoái lại đã thấy những ánh chớp xanh lè trộn trong tiếng nổ dữ dội đang trùm lên giữa đội hình của đoàn người đi khẩu. Tiếng đại liên, trung liên, lựu đạn, AR15 xoáy chụp lấy từng người đi khẩu. Cầm khẩu AK vụt chạy rồi lăn vào một bờ ruộng tránh đạn, Mai bàng hoàng trong đoàn người hoảng loạn chạy giữa lửa đạn của kẻ thù vây bọc. Những quả pháo sáng bay vụt lên trời, khiến Mai nhìn rõ bọn Đại Hàn đang hất những lùm cỏ ngụy trang trên mình, lao tới và nổ súng bắn quét vào đoàn người đi khẩu. Liên tiếp những người bị đạn ngã nhào xuống ruộng. Tiếng rên la vang vọng trên cánh đồng. Vừa cầm súng, vừa bò lùi trong pháo sáng, thấy Hai Trúc cùng tổ du kích vẫn bám sát mình. Mai giật giọng gọi: -Hai Trúc!... Chạy!... Chạy ra khỏi tầm đạn thẳng, Mai ra hiệu cho mọi người nằm rạp bên bờ ruộng. Người run bần bật, Út Hân hỏi Mai: -Làm sao bây giờ chị Hai? -Thoát chết rồi, nhớ bám sát theo chị! Năm Sang và ông Chín Tòng bò dọc theo bờ ruộng tới chỗ Mai. Mai nói thầm: -Bọn Đại Hàn đông quá chú à!... Ông Chín Tòng vừa nhìn về phía địch vừa hỏi Mai: -Con Đào, con Nhự, con Phượng đâu? -Nằm ở tốp các anh chị chạy theo tổ Hai Trúc. Năm Sang thì thào: -May mà xã mình không có ai bị gì. Mai ngạc nhiên khẽ kêu lên: -Ủa! Có tiếng AK đánh trả!... Thôi, tắt rồi!... Nhìn về phía trận địa rất lâu, ông Chín Tòng nói gióng một: -Chờ xem tình hình diễn biến ra sao rồi ta sẽ tổ chức lực lượng bám vào trận địa tìm cách đưa thương binh, tử sĩ về cứ rõ chưa. Đêm rất lặng. Mây trắng, mây đen bay lẫn lộn khiến sao trên trời khi tỏ, khi mờ. Cứ điểm núi Sầm, núi Tranh đứng chơ vơ trên cánh đồng mênh mông. Cứ điểm Mò O ẩn mình bên những dãy núi chạy dài... Tất cả tạo ra một khoảng tím đen khổng lồ nhập nhòa trong đêm. Ánh đèn dù từ các cứ điểm của địch thỉnh thoảng lại bắn lên lóe sáng chờn vờn rồi tắt ngấm và cái chết rờn rợn lại trùm lên vây bọc lấy từng người. Mai ngồi quan sát và nghe ngóng tứ phía rồi nhìn về phía chú Chín Tòng đang cùng Năm Sang và Hai Trúc và anh em du kích đang bám vào trận địa phục kích của địch. Rất lâu, mới nghe tiếng toóc gió bắt tín hiệu, thấy Hai Trúc cùng mấy đồng chí bộ đội đi đến chỗ mình, Mai vội toóc gió đáp lại. Hai Trúc chạy tới chỗ Mai nói nhỏ: -Địch rút rồi, mọi công việc phải triển khai ngay chị Hai à. Mai đứng bật dậy quay lại truyền lệnh: -Truyền bám sát đội hình khẩn trương giải quyết công tác thương binh, tử sĩ. Những chiếc đèn pin chỉ để ánh sáng lọt ra bằng con đom đóm rà sát mặt ruộng di chuyển trong đêm. Lắng nghe thấy tiếng kêu yếu ớt của một cô gái Mai vội băng tới. Cô gái oằn người cố nắm tay Mai: -Cho em về!... Chị Mai!... Cô gái nấc lên, tay rơi xuống khiến bùn đất văng lên mặt Mai, Mai ôm xốc cô gái đưa tới bờ ruộng, giọng run lên: -Cột võng đưa đồng chí ấy về cứ lẹ lên! Người bê bết bùn đất, hơi lạnh thấm vào người khiến Mai rùng mình. Út Hân kéo Mai ngồi xuống bờ ruộng nói như gắt: -Chị phải ngồi nghỉ một chút. Chị Phượng lấy dầu xoa cho chị Hai. Chín Phượng chạy tới lấy dầu xoa lên gáy, lên lưng Mai. Thoáng nhìn lên trời, Mai thấy sao dày đặc và lấp lánh. Người xưa nói mỗi ngôi sao là một linh hồn người chết; mỗi ngôi sao sa là có một người chết. Một ngôi nhấp nháy là một linh hồn người chết nhập vào ngôi sao, hẳn đêm nay linh hồn các đồng chí hy sinh đang nhập vào các vì sao đó!.... Bất giác Mai thở dài não ruột. Khiêng cõng bốn chục tử sĩ và mười bảy thương binh về tới căn cứ xã thì trời đã sáng bạch, mắt ráo hoảnh, Mai tới chỗ ông Chín băn khoăn hỏi: -Hình như còn sót tử sĩ chú à!... -Ừ!... Các đơn vị kiểm tra thấy còn thiếu hai người. -Sáng bạch rồi làm sao ra đồng tìm được? -Phải tới tối mới tiếp tục tìm kiếm được. Nhìn đồng đội máu me, bùn đất loang lổ trên mình được đặt nằm xung quanh gốc me già, Mai bỗng òa lên khóc tức tưởi!... Tiếng cuốc xẻng đào huyệt va vào đất, đá từ ngoài bãi Tranh vọng vào. Tiếng một cô gái nghẹn ngào: -Để em lau người, thay quần áo cho nó!... Tiếng của một đồng chí bộ đội ân hận: -Tối quá!... Mình tìm mãi vẫn không thấy cái tay của cô ấy!... -Chắc nó đứng cạnh quả mìn nên người mới bị xé nát như thế này!... Đầu như tan loãng ra, tai ù đi, Mai xách súng đi ra bãi tranh. Nhìn những cái huyệt mới đào, nhìn cánh đồng Tuy Hòa lặng lẽ trong nắng và gió, Mai ngồi gục đầu bên khẩu AK. Những cô gái, chàng trai nhợt nhạt, máu và bùn dính đầy quần áo, những cánh tay, những đoạn chân gãy rời và tiếng nấc của cô gái nằm trong tay Mai trước khi về cõi vĩnh hằng hiện lên xoáy cuộn, run rẩy như đôi vai của Mai đang rung lên, nghẹn ngào, nức nở. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Chín, 2023, 03:14:46 pm Chương 3 Sau trận phục kích của bọn Đại Hàn làm bốn mươi anh em cách mạng hy sinh và mười bảy người nữa bị thương, không khí hoang mang cứ len lỏi vào tâm khảm của cán bộ và du kích xã Phụng, khiến Mai cùng ông Chín Tòng liên tục làm công tác tư tưởng. Dân xã Phụng thực sự bàng hoàng khi nghe tin cách mạng bị tổn thất. Địch tăng quân ruồng bố, bắt bớ và ra sức tuyên truyền thắng lợi của bọn Đại Hàn trên xã Phụng. Màn đêm trùm lên khắp nơi.Tiếng ếch nhái, côn trùng hòa vào nhau miên man vô tận. Những ánh sao sáng xanh, đỏ cam, vàng nhạt lung linh. Sông Ngân như một tấm lụa khổng lồ vắt cong lơ lửng giữa trời. Cánh đồng Tuy Hòa trở thành màu đen sậm, trên nền đen sậm ấy, làng xóm được nhận ra bằng màu đen tím như những ốc đảo đứng lặng lẽ. Phải đi sát tới bìa làng mới nhận ra ánh đèn hột vịt lờ mờ từ trong nhà hắt ra. Trong đêm, hai trung đội bảo an nối đuôi nhau thành một hàng dài lục tục từ trong làng kéo ra ngoài đồng. Bóng những chiếc mũ sắt nhập nhòa di động. Có lẽ bao cặp mắt của người dân thôn Tường từ trong phên cửa nhìn ra với bao lo lắng nghĩ suy. Bọn bảo an nằm phục ở đâu? Liệu đêm nay chúng có bắn bừa vào làng không?... Nỗi lo lắng nghĩ suy của người dân xã Phụng như chiếc bánh tráng trăn qua, trở lại trên lò than nóng bỏng, chín nẫu trong mong manh tan vỡ. Những cuộc lùng sục, tảo thanh, xảy ra liên miên khiến mảnh đất xã Phụng trở nên căng thẳng và quyết liệt. Ngày hôm qua, tên đại diện xã và tên trưởng đoàn “bình định” họp dân từng thôn tuyên bố: Sơn cờ quốc gia lên từng nhà, dân sẽ học tập và tuyên thệ ly khai cộng sản. Là lệnh của tổng thống hay thủ tướng gì đó, thì cứ vậy mà làm, ai chống sẽ đưa ra ngoài vòng pháp luật xử trị. Biết thôn Tường là thôn lớn nhất của xã Phụng và cũng là thôn “chuyên ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” nên tên trưởng đoàn “bình định” càng hò hét hung. Vậy mà chẳng hiểu ông Dư Kiều nói nhỏ với ấp trưởng những gì, ấp trưởng thì thầm với xã trưởng, xã trưởng thì thầm với trưởng đoàn “bình định” nông thôn, và ông Dư Kiều được phép nói ngắn gọn. Mắt kèm nhèm, ông Dư Kiều đứng dậy: -Thưa quý ông, cái chuyện đại sự là chuyện của quốc gia, còn dân xin quý ông một chuyện nhỏ. -Chuyện gì, nói lẹ lên. Tên trưởng đoàn “bình định” nhìn ông Năm Kiều rồi hất hàm: -Nói ngắn gọn!...Nên nhớ thằng này chưa bao giờ mắc lừa cộng sản đâu...Nói!... Ông Tư Kiều giật nẩy mình, dụi mắt ấp úng: -Thưa...Tham kiến để quý ông ra tay giúp dân. Tính ra thời gian cộng sản ở tại thôn Tường nhiều hơn quốc gia. Cộng sản ra lệnh, dân không làm là chết ngay. Vậy trăm sự nhờ quý ông điều đình với cộng sản đừng tới thôn này nữa. Nếu cộng sản chịu thì trăm sự quốc gia muốn đều thành hết. -Im ngay! Tên trưởng đoàn “bình định” đập bàn, trợn mắt chỉ mặt ông Dư Kiều: -Giọng sặc mùi cộng sản! Không thể chánh trị được với các người được!...Rồi ông sẽ biết tay tôi! Ngay chiều hôm đó, ông Dư Kiều bị chúng giải xuống quận thẩm vấn. Chắc chắn những trận đòn bằng dùi cui điện sẽ giáng xuống người ông như mưa bấc. Ngón đòn nước xà bông đổ vào miệng cho bụng trương lên rồi chúng đứng trên bụng dận cho tóe nước, tóe phân ra, dứt khoát ông Dư Kiều phải nếm. Còn cái kiểu tù nhân bị trói rặt cánh khuỷu treo lên xà nhà, chúng đánh cho dãy dụa, lắc lư trên không trung gọi là kiểu “cánh én mùa thu” ông Dư Kiều không thoát khỏi. Đối với bọn ác ôn, một ngày không được tra tấn, chúng thấy bứt rứt khó chịu. Hậu chứng của những trận cực hình đeo đẳng là những ngày trời trở tiết đối với những người bị địch tra khảo ở xã Phụng chẳng khác gì những ngày thần chết kề bên. Trong cơn suyễn, co giật tới rách ruột, nát gan, họ cầu xin trời phật cho họ về cõi vĩnh hằng, và co rúm người lại chống chọi với cơn đau quặn thắt, giằng đi, xé lại... Cách đây năm hôm, cái chết thảm thương của con Diên, con Lợt xóm Giữa thôn Tường khiến bà con bàng hoàng. Mới 18 tuổi, con Diên, con Lợt thuộc loại đẹp gái. Chúng lớn phổng lên trong tuổi dậy thì khiến cả hai gia đình giữ con gái bo bo. Chiều chiều, con Diên, con Lợt được gia đình gởi xuống thị xã Tuy Hòa ngủ ở nhà bà con tới sáng mới trở về thôn Tường. Lý do giản đơn là phòng khi ta và địch đánh nhau, tên bay đạn lạc biết đâu mà lường; và lo bọn biệt động, bảo an đêm hôm mò vào thấy gái đẹp thì khốn với chúng. Vậy mà bọn ác ôn dựng cho con Lợt, con Diên tội làm giao liên cho cộng sản nằm vùng và bắt đưa về quận. Con vợ thằng phó ty cảnh sát giả nhân, giả nghĩa đứng ra bảo lãnh. Nó bắt bọn lính lấy xe Jeep của thằng chồng chở lên nhà con Diên, con Lợt ép hai gia đình phải cho hai đứa nhỏ ở Tuy Hòa để hầu hạ nó một thời gian gọi là trả ơn, trả nghĩa rồi mới thả về. Thất thế cả hai gia đình phải ưng thuận. Con vợ thằng phó Ty Cảnh sát bắt làm giấy tờ đàng hoàng để nó khỏi mang tiếng cậy thế thằng chồng bắt con người ta đi ở cho nó. Sau đó, nó đưa con Lợt, con Diên làm sở Mỹ trong sân bay Đông Tác. Lúc đó mới lộ rõ âm mưu chúng nó dựng chuyện để bán đứng hai con nhỏ cho Mỹ. Tội nghiệp con Diên, con Lợt bị lính Mỹ tại sở hãm hiếp chán chê rồi chở bán cho bọn Mỹ ở trong sân bay. Bà con dân biển ở gần sở Mỹ biết mà đành cắn răng, ngửa mặt lên trời khóc thầm, thương cho số phận hai đứa. Họ tìm cách báo tin cho gia đình con Diên, con Lợt biết. Khi gia đình biết tin thì bọn Mỹ đã chở hai đứa lên tầu thuộc hạm đội 7 của Mỹ ở ngoài khơi. Lũ Mỹ đen, Mỹ trắng thay nhau dày vò thân xác con Diên, con Lợt tới chết rồi vứt xác xuống biển. Gia đình con Diên, con Lợt cùng bà con dân biển tìm vớt được xác thì xác hai đứa đã trương nhũn và trên người không một tấc vải che thân. Cửa mình hai đứa nhỏ bị bọn Mỹ lấy dao rạch nát. Trên khuôn mặt con Diên, con Lợt mọi người vẫn nhận ra nỗi đau đớn, kinh hoàng của chúng trước khi chết. Bọn lính Mỹ cũng đầy đủ đầu, mình, chân tay của một con người nhưng trong con người của bọn lính Mỹ phần nào là người, phần nào là thú thì không phân biệt được. Còn chuyện ông Chuẩn đờn cò ở thôn Nguyên cũng lắt léo và dài dòng văn tự: Căn nhà nhỏ của ông Chuẩn đờn cò nằm trên thửa đất chênh vênh cuối thôn Nguyên, đầu thôn Tường. Ở cái tuổi mới sáu mươi nhưng lưng ông đã còng, da đen nhẻm, gầy khô như cây củi. Nhiều hôm ông Chuẩn đờn cò đi trên đường gặp cơn Nam cồ trông mới thảm làm sao, quần áo rộng thùng thình bay lật phật và dáng đi liêu xiêu trước những cơn gió Nam thổi mạnh; người ta có cảm giác nếu cơn Nam cồ mạnh hơn chút nữa là ông ta bị gió cuốn bay. Ông Chuẩn đờn cò sống với đứa cháu trai và cháu gái. Hai đứa cháu mới mười một mười hai tuổi cũng gầy nhom và nhỏ xíu. Hồi còn khỏe, làm đồng áng được, ông cố cho hai cháu đi học. Hai đứa đi học hết lớp bốn thì nghỉ học vì sức ông yếu hẳn đi, cảnh nhà sa sút. Với chiếc đờn cò, ba ông cháu dắt díu nhau đi đàn hát để kiếm ăn. Ông Chuẩn đờn cò có năm người con. Vợ chồng người con trai đầu gởi lại hai cháu cho nội nuôi rồi thoát ly làm cách mạng. Một lần xuống nằm vùng bị gián điệp chỉ điểm, địch tới khui hầm, vợ chồng người con trai đầu của ông đánh trả địch quyết liệt và họ đã hy sinh. Tức tối, địch phơi xác cả hai vợ chồng gần chợ núi Sầm để làm gương cho mọi người biết: “Làm cộng sản sẽ phải chết như vậy đấy!...”. Người con trai thứ tư thoát ly, là cán bộ của một đơn vị chủ lực Miền, chiến đấu và hy sinh tại chiến trường B3. Giấy báo tử tỉnh đã chuyển về xã để đưa tận tay ông Chuẩn đờn cò. Gia đình ông Chuẩn đờn cò thuộc diện gia đình liệt sĩ và có công với cách mạng, điều này đã rõ rồi. Nhưng người con trai thứ 5 của ông Chuẩn đờn cò lại tình nguyện xin vào lính biệt động. Đánh nhau ở Quảng Trị, anh ta bị cách mạng giết chết. Nghe nói sau khi chết, anh ta được Mỹ -Thiệu cấp huân chương anh dũng bội tinh. Như vậy gia đình ông Chuẩn cũng thuộc diện gia đình ngụy quân chống đối cách mạng. Còn hai người con gái thì một người lên bìa núi xã Phụng kiếm củi bị kẹt giữa trận đánh của ta và địch tại bìa núi. Không hiểu đạn ta hay đạn địch bắn trúng, người con gái bị chết. Sau trận đánh, ông Chuẩn đờn cò cùng bà con xã Phụng lên lấy xác. Gặp cán bộ và du kích xã, ông đã đề nghị cho con gái mình được chôn cất tại căn cứ. Ông già Chuẩn xọm đi như người mất hồn, bên cạnh mộ con gái, trước mặt mọi người, giọng nói của ông thăm thẳm, thoang thoảng như tiếng của người từ cõi vĩnh hằng vọng tới: “Sinh con ra có nếp có tẻ... Tưởng là đông con, vậy mà vốn liếng sạch trơn rồi... Có ai đem con đi đánh bạc rồi thua lỗ, gán cho canh bạc đâu!... Trời im!...Đất im!... Bồ tát cũng lặng im!... Sao các con đi nhanh vậy!...Ở nơi đó chẳng có bom đạn đánh nhau đâu! Cho em gái bay nằm ở đất cách mạng vong linh nó thanh thản theo bay làm cách mạng!... Âm sao dương vậy, ở đó cũng có người cách mạng phải không bay?!... Ông Chuẩn đờn cò có một người con gái đi lấy chồng xa. Chồng chị ta đi lính ngụy, chồng đóng quân nơi nào, vợ theo đến đó ở. Cuộc sống của chị lênh đênh theo chồng tới các nơi chiến sự coi như biệt xứ hay mất tích cũng được. Khi ở chợ, lúc bến xe hay một góc phố... Lúc bài chòi, khi vọng cổ hay hát đưa em tùy đối tượng cho tiền yêu cầu, ông Chuẩn đờn cò cho các cháu hát, hay bản thân ông hát để vừa lòng thiên hạ... Cứ vậy, sáng đi, chiều về, ba ông cháu sống lặng lẽ như một cái bóng. Chỉ có đêm khuya, khi biết chắc trong làng không có địch, ông Chuẩn đờn cò mới cầm đờn kéo và hát những bài ca cách mạng. Giọng hát ông lúc này khàn khàn, trầm hùng và hơi buồn. Sau đó ông ngồi nhìn hai đứa cháu ngủ rất lâu rồi mới tắt đèn đi ngủ. Tuy nhà tranh, vách đất nhưng căn hầm trong nhà ông Chuẩn đờn cò rất kiên cố, và cả ba ông cháu đều ngủ trong hầm. Ông thường chỉ vào hai đứa cháu nội và nói với bà con lối xóm: “Tôi vô phước, lấy vợ được năm đứa, đến giờ thì hết vốn, chỉ còn hai cái nụ này làm giống... trời cao, đất dày kêu sao thấu!”. Lý lịch ông Chuẩn đờn cò là vậy, về phía ta có người cho rằng ông là cha thằng lính biệt động ác ôn, xếp ông vào diện nghi ngờ giả đò theo cách mạng mà tay cầm đô la Mỹ làm phản... Còn phía địch, bọn lính nói huỵch toẹt trước mặt ông: “Con ông là cộng sản cồ, ông có phải là cộng sản nằm vùng không, nói cho qua hay, bọn mình kiếm chút tiền thưởng...”. Nhiều người trong xã Phụng lại nhận xét: “Ông Chuẩn đờn cò nói là người bên phía cách mạng cũng đúng nói là gia đình ngụy quân, ngụy quyền cũng đúng. Hẳn kiếp trước ông ta không tu trọn kiếp nên phải lãnh chứ sao”. Chỉ có Mai và ông Chín Tòng hiểu ông Chuẩn đờn cò. Ngày đêm bám địch, bám dân, nhưng một vài tháng lại tạt qua nhà ông Chuẩn đờn cò một lần, nghe ổng hát rồi lại vội vàng đi công tác. Lâu lâu có một ông cấp bự ở tỉnh xuống làng, Mai và ông Chín Tòng dẫn tới gặp ông Chuẩn đờn cò. Chẳng ai hiểu tại sao ông cán bộ bự lại thích đờn cò, chỉ thấy cả bốn người ngồi một lát rồi ông Chuẩn đờn cò vừa hát vừa kéo đờn cho mọi người nghe. Khi Mai, ông Chín Tòng cùng ông cán bộ đứng dậy ra khỏi nhà, ông Chuẩn đờn cò lại ngồi im như một pho tượng. Rồi một hôm trên đường đi hát rong, một người bà con ở Mỹ á, Long Thủy gì đó cho ông một cây dừa xiêm lửa. Ba ông cháu đem về trồng và tưng tiu như đứa trẻ. Một nhà hàng xóm hiểm tâm tới gây sự, chửi bới, ông Chuẩn đờn cò nhẫn nhục lặng im, còn hai đứa cháu ôm nhau khóc. Vẫn chưa hả lòng, nhè lúc ba ông cháu đi kiếm ăn, nhà hàng xóm sai con đem nước sôi tưới vào đọt cây dừa. Cây dừa xiêm lửa chết, cả ba ông cháu ngồi ôm nhau khóc. Dừa xiêm lửa là giống cây quý, trái dừa chỉ bằng hai bàn tay bụm lại, màu vỏ dừa vàng ửng bóng lúng liếng khiến người ta có cảm giác như những thỏi hồng ngọc, xích ngọc, vân ngọc... xếp theo hình ngọn lửa cháy trong đêm sâu. Cả trái dừa chỉ lấy được một ly nước nhỏ nhưng trong vắt thơm lựng như mật ong, mát ngọt như đường phèn. Bị cảm nắng, chỉ cần uống một trái dừa xiêm lửa là khỏi ngay. Gia đình hàng xóm lại cùng con cái tới gây sự, chửi bới um sùm. Tiếc của ông Chuẩn đờn cò mới nói lại một câu: -Cỏ cây là của trời Phật, hại nó thì nó báo lại cho đấy. Sinh linh cây cỏ cũng quý như sinh linh con người, dẫu là cộng sản cũng phải biết điều này chứ. Vậy là vợ chồng hàng xóm hăm he dọa báo du kích bắt ông lên núi cải tạo về cái tội tuyên truyền mê tín dị đoan, nói xấu cách mạng. Chẳng hiểu ông Chuẩn đờn cò giận mình hay giận hàng xóm, hay sợ cách mạng bắt đi cải tạo... Hai ba hôm nay ba ông cháu chỉ đảo về nhà một chút rồi vội vàng dắt díu nhau vào thị xã ngủ đêm trong đó. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Chín, 2023, 03:17:27 pm Chương 4 1 Vẫn con bài thị uy sức mạnh không lực Hoa Kỳ, không đầy một ngày lữ đoàn dù Mỹ số 173, hai trung đoàn Nam Hàn và trung đoàn số 47 ngụy đã dùng trực thăng đổ bộ xuống vùng căn cứ cách mạng của tỉnh, huyện Tuy Hòa 2 và thị xã Tuy Hòa. Các trận địa pháo của Mỹ ở ngoài khơi, Cầu Cháy, cầu Đá, Màng Màng, Nhạn Tháp... căn tọa độ bắn dọn đường cho những cánh quân đi càn quét. Phản lực và trực thăng không tiếc bom đạn vãi xuống núi rừng, nương rẫy hòng hủy diệt Việt Cộng. Những đại đội thám báo, biệt kích luồn rừng phát hiện lực lượng ta để tập kích bất ngờ hay báo cho đại quân tới vây đánh và tiêu diệt. Các tiểu đoàn, đại đội bảo an cũng được huy động tham chiến với quân chủ lực địch... Có thể nói, địch mở chiến dịch càn quét dài ngày lần này không kém gì so với chiến dịch “Đá lăn” mà 18 tiểu đoàn Mỹ nhảy vào đánh Tuy Hòa năm 1966. Được quân Mỹ và Đại Hàn tiếp sức bọn ngụy rải quân đóng dọc bờ mương số một lùng sục vào bìa núi vùng ranh Tuy Hòa 2 và Thị xã Tuy Hòa. Khu đất nhà thờ tại đập Thầy Mười trở thành bãi đậu của xe tăng, xe bọc thép, xe cơ giới của địch. Vậy là vị trí cây me lọt trong tầm đạn thẳng của xe cơ giới bắn vỗ mặt. Mai và ông Chín Tòng phải cho đơn vị đến khu gộp đá gần suối Cạn để lánh càn. Đang cùng Mai nhận định tình hình địch, ông Chí Tòng bỗng ngạc nhiên: -Ủa!... Con Hoa giao liên! Tại sao cũng biết chỗ đơn vị lánh càn, giỏi thiệt! Đưa xấp công văn cho ông Chín Tòng, Hoa cười: -Soi đường nối liền mạch máu thông tin là nghề của bọn con mà chú. Nhìn Hoa ướt sũng, môi tái nhợt, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, ông Chín Tòng xuýt xoa: -Tội chưa!... Đứa nào có dầu nóng đưa cho em nó xoa, con nhỏ, lạnh cóng cả người rồi nè. Đưa chai dầu Song thập cho Hoa, Mai ân cần: -Xoa vào lưng, vào bụng, vào ức cho người ấm lên. Em đi có một mình à? Hoa cười hiền lành: -Nghề bọn em thui thủi như vậy đó, đi một mình ngán lắm chị ơi. Mai kéo Hoa lại gần mình: -Biết là nhiệm vụ, nhưng đi đường phải cẩn thận nghe. Co người lại vì lạnh, Hoa quấn chặt tấm áo mưa vào người, giọng hiền khô: -Chị ký nhận vào sổ công văn cho em về. Mai bỗng bật cười: -Về đâu... Địch càn lớn như thế này thì chỉ còn nước ra rừng ngồi chơi ú tim với địch chứ làm gì. Hoa cầm quyển sổ trong tay Mai khúc khích: -Mưa gió, bom pháo, địch càn rối bời lên mà chị vẫn cười, em chịu chị, thôi em đi đây. Nhìn Hoa khoác súng đi khuất sau gộp đá, Mai chép miệng: -Tội nghiệp, một người, một súng thui thủi giữa rừng! Mong cho con nhỏ không gặp địch. Mai ngồi cạnh ông Chín Tòng lấy công văn ra đọc. Sắc mặt tái hẳn lại ông Chín nhìn Mai: -Thằng Điệp thường vụ Huyện ủy, thằng Song chủ nhiệm pháo binh trung đoàn chiêu hồi rồi, nhất định địch càn quét quyết liệt đấy Mai à. Mai thận trọng: -Theo cháu địch sử dụng hai tên chiêu hồi để chỉ điểm nên khả năng trọng điểm càn sẽ là khu vực Tỉnh ủy. Ông Chín thở dài rồi tặc lưỡi: -Đó là điều chắc chắn, chúng đều là cán bộ trọng trách biết được nhiều bí mật của ta. Địa hình trong tỉnh chúng thạo như nắm lòng bàn tay... Chà! Cái lũ chiêu hồi chó đẻ!... Bốc một nhúm thuốc rê bỏ vào miệng nhai cho đã cơn ghiền, ông Chín Tòng kéo dài giọng: -Miễn là phản ứng nhanh, chủ động đánh địch và lách cho nhanh thì mọi việc mình đều vượt qua hết. Mai nhỏ nhẹ: -Cái khó của mình là còn hai thương binh, hai đoàn đi khẩu của tỉnh Đaklak và Gia- Lai toàn là nữ lại chưa mua được lúa gạo, hàng hóa... Ông Chín Tòng hỏi vặn lại: -Từ trước tới nay xã mình chưa gặp hoàn cảnh địch càn và đùm túm nhau lánh càn à? Mai lúng túng: -Tại mình chỉ có hai tiểu đội du kích, còn toàn bộ là lực lượng tay không tới gần 30 người nên cháu lo. Ông Chín Tòng lặng im một hồi rồi khoát tay: -Cái chính là tổ chức cho anh em tránh càn và bám địch cho tốt để bảo vệ lực lượng. Cháu đi bám địch, nếu gặp thì đánh nhanh rút gọn, còn bộ phận né tránh địch chú đảm nhiệm.- Đột nhiên ông Chín Tòng nhìn Mai phân vân:-Cháu là con gái...Hay là!... -Sống chết có số chú à, bom đạn tránh người chứ làm sao người tránh được bom đạn. Ông Chín Tòng gật đầu: -Ừ... Biết chỗ nào an toàn mà tránh. Đã 9 giờ sáng, mặt trời lóe lên một chút rồi vội vàng lặn trong mưa tầm tã. Gió hun hút thổi vào đất đá, cỏ cây. Tiếng pháo bầy xoáy rít dội xuống liên hồi khiến mọi người phải chui xuống các gộp đá. Áo quần ướt sũng, nhoe nhoét đất, gió lạnh và mưa quất rát mặt khiến Mai thu người trong tấm áo mưa, ép vào hốc đá, cố cắn chặt hàm răng mà người vẫn run lên. Tiếng pháo vừa ngớt, tiếng trực thăng và phản lực đã gầm rít trên trời. Mấy cô gái ngồi ép sát bên Mai thì thầm: -Chắc pháo bắn chuyển làn... -Lạnh lắm, ngồi sát vào nhau cho ấm. -Ôi dà!..., ướt như chuột lột mà đòi ấm... -Lắm chuyện, đến tối nấu ăn tha hồ hơ quần áo và sưởi ấm. Như không để ý đến câu chuyện của mấy cô gái, Mai tới chỗ du kích, thấy Ba Hổ đang ngồi trên tảng đá cao và to như tòa nhà quan sát những tốp trực thăng HU1A, HU1B và những chiếc Xi-núc hai chong chóng quay tít chở những khẩu pháo dưới bụng. Chờ cho tổ du kích của Hai Trúc và Năm Đồng đi bám địch về, Mai cùng Út Hân và tổ du kích của Năm Đồng đem mìn đi bố phòng. Quả pháo được cải tiến thành mìn nặng vài chục cân mà Năm Đồng vác đi phăng phăng. Năm Đồng chuyên cải tiến bom, pháo thành mìn nên được phân công chuyên trách đem bom, pháo đi gài để đánh địch. Đến gần bãi tranh, kiểm tra không có địch, Mai ra hiệu cho Năm Đồng gài mìn. Đào một hố dài, đặt quả pháo xuống, lấp đất lại Năm Đồng buộc sợi dây cước vào kíp nổ vừa đi lùi, vừa ngụy trang. Với sợi dây cước nhỏ chỉ cần một va chạm nhẹ lập tức quả mìn nổ. Đồng gài mìn xong, mọi người thận trọng lùi khỏi bãi tranh, đột nhiên Mai ngồi thụp xuống, nép mình vào một bụi cây, nói nhỏ: -Có địch!... Năm Đồng lăm lăm tay súng cùng tổ du kích vừa quan sát, vừa nhìn Mai chờ hiệu lệnh. Mai quay lại nghiêm giọng: -Hổ! Về báo cáo cho Chú Chín địch đã tới trảng tranh, cho anh em rút về hướng gộp đá cây Sộp rõ chưa?... -Rõ... Như một con sóc, Ba Hổ xách súng chạy lẫn vào trong rừng, Mai nghiêng người lắng nghe tiếng giày bước trên đất đá lạo xạo của địch và biết rằng chúng đi rất chậm. Rất lâu, Mai mới thấy bốn chiếc mũ sắt nhô ra ngoài bãi tranh. Bốn thằng Đại Hàn dùng máy rà mìn đi rất chậm và ống chân đứa nào cũng quấn tấm chắn để chống lại chông của việt cộng. Biết địch đang âm thầm tiến về hướng cây me già, Mai cho đội hình áp sát địch rồi vẫy tay ra hiệu cho đồng đội tiến lên và bất ngờ nổ súng đánh phủ đầu. Tiếng súng vang lên khiến bọn địch hốt hoảng lùi lại nổ súng đánh trả. Lấy khẩu M79 trên tay Út Hân, Mai liên tục bắn ba quả đạn buộc bọn Đại Hàn nằm tại chỗ, rồi cùng Năm Đồng và tổ du kích vượt lên dốc cho tập trung hỏa lực bắn tạt sườn địch. Hoảng hốt, bọn Đại Hàn chạy ùa ra gò tranh để triển khai chiến đấu. Chỉ chờ có vậy, toàn bộ hỏa lực của du kích bắn găm vào đội hình địch, tiếng mìn nổ vang trong tiếng kêu la, rên thét của bọn Đại Hàn. Thấy địch đang lúng túng đối phó, Mai vẫy tay ra hiệu cho mọi người băng rừng chạy về gộp đá cây Sộp. Chạy được một đoạn khá xa, Mai đứng lại vừa thở vừa giục: -Chạy lẹ lên kẻo pháo nó chụp tới bây giờ. -Ối!... Chị Mai!... Út Hân kêu lên thất thanh rồi ngã đập ngực vào một tảng đá lăn liền ba vòng. Con rắn hổ mang đen sì trong hốc đá lao vụt ra, cái cổ vươn cao bạnh ra buộc Mai phải lia ngang nòng súng quất vào thân con rắn. Con rắn bị văng ra xa, oằn mình chui tọt vào kẽ đá, Mai hối hả: -Năm Đồng ở lại, tất cả chạy lẹ lên. Ga-rô thật chặt bắp chân của Út Hân, Mai nặn thật mạnh vào chỗ rắn cắn cho máu tím chảy ra. Út Hân nhăn mặt, cắn răng chịu đau. Năm Đồng xốc Út Hân lên lưng miệng hối thúc: -Chạy Chị Hai!... Vừa về tới gộp đá cây Sộp thì pháo địch đã dội xuống như giã gạo. Tiếng trực thăng bay sát ngọn cây bắn xối xả xuống rừng để yểm trợ cho chiếc HU1A đến chở bọn Đại Hàn chết và bị thương. Một tiếng nổ chát chúa sau lưng, Năm Đồng ôm Út Hân lăn vào gộp đá. Mùi thuốc đạn khét lẹt, tiếng rít của mảnh pháo chém tứ tung khiến những cành cây gãy răng rắc và đổ ào xuống. Mai nhổm người chạy vào gộp đá, rồi cầm súng lách sang gộp đá của tốp nữ đang ngồi tránh pháo. Thấy những cô gái nhắm mắt dúm người lại mỗi khi những loạt pháo xoáy rít dội xuống Mai vội hỏi: -Chín Phượng đâu? -Nó ở gộp bên. Nhìn kỹ thấy hơn một chục người, Mai nhanh miệng nói: -Út Hân bị rắn cắn, đứa nào ngồi trong cùng lấy bông thấm vào chỗ “xin một chút” cho thiệt ướt để đắp vào chỗ rắn cắn của Út Hân rõ chưa. Thấy mấy cô gái ngần ngừ, Mai giục: -Lẹ lên. Mấy cô gái xôn xao: -Dãn bớt ra cho nó vạch quần. Một cô khúc khích: -Chị Mai à, pháo bắn nó sợ té đái, không hiểu là thứ ấy hay là nước tiểu của nó nữa. -Bà quỉ, có giỏi bà vạch quần ra. Mấy cô gái cười đấm vào lưng nhau, Mai phì cười: -Lẹ lên. -Chị Mai!...Kỳ thiệt đó!... Một cô giảng giải: -Để bông sâu vào cho nó ướt thiệt đẫm thì đỡ phải lấy hai lần. Nè... Nọc rắn kỵ hai người nghe... -Xạo... Hai người cũng được. -Tầm bậy, của hai người nọc rắn không ra hiểu chưa. Cầm cục bông trong tay Mai bật cười hỏi: -Của ai đó? -Của con Lan... -Đồ quỉ... Cái miệng chưng hửng!... Tới chỗ Hân, đắp cục bông vào chỗ rắn cắn, Mai dịu dàng: -Đắp thứ này nọc rắn ra hết là khỏi. Thuốc thần hiệu đó. Từ lâu trong dân gian lưu truyền bài thuốc chữa rắn cắn như sau: Nếu là nam bị rắn cắn thì lấy nước trong cửa mình của nữ đắp vào vết rắn cắn; nếu nữ bị rắn cắn thì lấy tinh trùng của nam thấm vào bông đắp lên vết rắn cắn; nọc rắn sẽ chạy ngược ra bám vào cục bông, khoảng một giờ đồng hồ thì nọc rắn ra hết là khỏi. Tên bài thuốc bắt nguồn từ một cán bộ bị rắn cắn ở dưới suối. Trong lúc vừa đau, vừa hoảng, anh ta kêu cứu: “Ơi! Xin một chút” ... Sau khi chị em cơ quan chữa khỏi, anh ta lập tức có tên là “Xin một chút” và bài thuốc cũng có tên từ đó. Nhìn Út Hân, nghĩ đến lai lịch bài thuốc, Mai mỉm cười nghĩ thầm: “Chuyện này mà tới tai cánh bộ đội, con nhỏ Lan chắc chết...” Tiêm thuốc xong, Phượng ngồi xoa vết thương cho Út Hân. Út Hân ngồi thu lu trong gộp đá, đầu dựa vào thành gộp nũng nịu: -Hồi đau muốn chết thì chị không tới... -Tại pháo bắn nhỏ à, giờ chị tới nè. Lấy bốn cục bông nhỏ gói trong bốn chiếc lá, Mai chỉ cho Phượng và Út Hân: -Cục bông màu xám đậm là cục đắp lần đầu tiên, cục thứ hai vàng đậm, cục thứ ba vàng nhạt và cục thứ tư không còn màu là nọc rắn đã ra hết, hiểu chưa? Út Hân thè lưỡi : -Em buốt thấu đỉnh đầu. Xuýt toi mạng vì rắn cắn. Phượng triết lý : -Liệt sĩ rắn cắn...Chiến tranh mà em !... Bật cười về câu “triết lý” của Phượng, Mai khẽ lấy tay dí vào vai Phượng: -Thôi đi bà cụ non Chợt thấy sau gộp đá hai cô gái đang ngồi nép vào nhau. Mai vội đi tới và hỏi: -Vượng, Hồng hai đứa sao lại ngồi đây? Hồng lo lắng : -Nó tới kỳ, lúc chạy địch bị ngã nên máu ra nhiều, em sợ nó bị băng huyết chị à. Nhìn Vượng khoác tấm áo mưa mặt tái nhợt đi, tay ôm bụng cố dằn những cơn đau cuộn lên, Mai hốt hoảng: -Cầm máu chưa? Để chị gọi Phượng tới tiêm thuốc cho. Vượng gục đầu vào vai Hồng : -Nói nhỏ thôi chị Mai! Kỳ Lắm !... Sờ trán Vượng, Mai lo lắng : -Em bị sốt cao rồi đấy. -Chú Chín Tòng đã hái lá rừng, cho Vượng uống, máu bớt ra nhưng người phát lạnh, bọn em không biết làm sao nữa. Vạch tấm áo mưa của Vượng đang trùm, Mai xót xa: -Rách toạc ống quần rồi, sao không thay đi mà em cứ mặc như vậy... Vượng mắc cỡ chúi đầu vào vai Hồng lí nhí: -Em hết quần thay rồi. Mùi tanh thoang thoảng khiến đàn nhặng rừng bay tới đậu vào tấm áo mưa của Vượng, tay đập vào những con nhặng đậu trên áo mưa, Vượng nép người vào Hồng mà người vẫn run lên bần bật. Hồng lúng túng hỏi Mai: -Chị Mai còn băng vệ sinh không? Hai đứa em mới từ Đaklak xuống chưa mua được. Mai xuýt xoa: -Trời! Sao không nói!... Tranh thủ thay băng, thay quần áo đi!... Đặt ba lô xuống, lấy băng vệ sinh và chiếc quần của mình, Mai đưa cho Vượng ân cần: -Đồ dơ bỏ vào túi ni-lông, giặt phơi khô để còn dùng lại nghe chưa. Bỗng Mai chép miệng : -Làm cách mạng, con gái trăm điều cực, cái gì cũng khó, phải dự phòng chuyện riêng cho mình nghe chưa. Mai ngồi thần người một lát, rồi hối hả đi gọi Phượng tới tiêm cho Vượng và đến chỗ ông Chín Tòng trình bày phương án đánh càn. Vừa nghe, vừa suy nghĩ và tính toán trong đầu, ông Chín lưỡng lự : -Địch chủ động luồn rừng đánh úp, còn ta ở thế bị động. Rừng núi mênh mông, tìm địch mà đánh là hơi liều đấy cháu à. Mai nhẹ nhàng: -Cháu nghĩ, chặn đánh từ xa thì anh em mình yên tâm lánh càn hơn chú à. -Chà... Lính Đại Hàn không khờ dại đâu, muốn đánh nó phải biết hướng nó đi, hiểu không. -Theo chú địch thường đi hướng nào? Dẫu sao chúng cũng phải dựa vào địa hình chứ. Ông Chín Tòng gật đầu: -Địch đổ quân ở Kim Sơn, Bàn Ngồi sau lưng mình thì nhất định chúng sẽ tiến vào đánh úp khu vực Tỉnh ủy và Thị ủy, vậy chỉ có biệt kích từ Vân Hòa lợi dụng rừng liên hoàn, luồn xuống khu vực của mình nếu tìm chúng mà đánh thì rất khó... Mai nhìn ông Chín thăm dò: -Nếu vậy, ta phục kích tại hốc Đá Chẻ thì nhất định bọn biệt kích từ Vân Hòa xuống sẽ phải qua đó. Nhân thể cháu sẽ liên lạc với các anh Thị đội, Tỉnh đội xin cho Năm Sang về. Ông Chín Tòng ngồi im và thoáng nghĩ: “Con nhỏ có tiếng là thận trọng không ngờ lại dám táo bạo như vậy... Hồi thằng Lâm, thằng Đoan, con Nguyệt với nó còn là cơ sở hợp pháp của mình thì nó là đứa nhút nhát và ít nói nhất... Chà...Con nhỏ vậy mà khá!”. Suy nghĩ hồi lâu ông Chín Tòng gật đầu: -Cháu triển khai thử, việc ở nhà chú chủ động giải quyết, nếu gặp địch thì đánh nhanh rút gọn. Nhưng chú nhắc lại: Phương án tối ưu vẫn là né tránh, bám sát địch để bảo toàn lực lượng của mình. Tình hình địch càn quét như thế này thì còn dai dẳng và phức tạp, tìm được Tỉnh đội mà xin cho Năm Sang về quả là khó đấy. Đúng như dự đoán của Mai, bọn Đại Hàn từ Vân Hòa đã lặng lẽ xuyên rừng đi tới dốc Lỗ Chài nên vừa tới khu eo đất ta đã phát hiện được địch và lập tức Mai cho triển khai đội hình chiến đấu. Năm Đồng khom mình chạy tới chỗ Mai hỏi nhỏ: -Chị Hai, gài mìn nghe? Mai gật đầu chỉ tay xuống eo đất suối cạn để vượt lên bãi tranh nói: -Chôn một quả dưới lòng suối, một quả chỗ mối đường từ suối bước lên khu đất, rõ chưa? Ba Hổ hỏi Mai: -Lỡ địch không đi đường đó thì sao? Mai kiên quyết: -Bọn nó sẽ vào khu vực xã mình không đi đường đó thì đi đường nào! Ba Hổ trườn lên rồi tỳ súng ra hiệu cho Năm Đồng đeo hai quả mìn Clây-mo trườn xuống suối. Nam Đồng và Ba Hổ lật đá đặt mìn, rồi luồn dây qua các kẽ đá và ngụy trang cẩn thận rồi mới tra kíp nổ vào mìn. Bố trí cho tổ Hai Trúc đánh tạt sườn xong, Mai xách súng tới chỗ Năm Đồng đang ngồi bên một gốc cây lắng nghe từng tiếng rung nhẹ của cây cối, tiếng đất đá rơi lộp bộp, bồn chồn chờ địch. Tiếng giày đạp trên đá và cát ở dưới suối rõ dần. Những chiếc mũ sắt lấp ló rồi gần chục tên Đại Hàn lưng đeo ba lô nặng trịch, vừa đi vừa lơ láo nhìn sang hai bờ suối hiện ra khiến đầu óc Mai căng lên. Địch bỗng dừng lại và vẫy tay ra hiệu cho nhau rồi nhanh chóng ngồi tản theo đội hình chiến đấu, quan sát và nghe ngóng khá lâu mới đứng dậy tiến lên trảng tranh khu eo đất. Chờ cho địch đứng dồn dưới suối trước khi tiến lên trảng tranh, Mai ghì súng bắn quét từng loạt đạn găm vào tốp địch đang đứng trên eo đất và lập tức Hai Trúc liên tục bắn M79 vào đội hình địch. Ánh chớp xanh lè nhoáng lên cùng tiếng nổ dữ dội của mìn Clây-mo chụp lấy bọn địch đang cụm dưới suối, khiến chúng không kịp nổ súng. Từng loạt AK và AR15 của hai tổ du kích bắn găm xuống suối, khiến địch chạy ùa lên trảng tranh khu eo đất. Thoáng nhìn những tên Đại Hàn ngã gục mà địch vẫn không kịp phản ứng, Mai vẫy tay cho mọi người cùng chạy theo mình. Nghe tiếng động, địch tập trung bắn về phía du kích đang rút chạy. Cả cánh rừng bỗng xáo động trong tiếng súng nổ, tiếng rên, tiếng hô “ Vi-si”,và tiếng gào thét hoảng loạn của địch. Vượt ra tầm đạn thẳng, ra hiệu cho mọi người không chạy nữa, Mai vừa đi vừa thở, vừa nhìn những chiếc trực thăng, phản lực đang gầm rú trên trời và điềm tĩnh nhắc nhở mọi người: -Đi nhanh kẻo máy bay oanh tạc, nhớ là vừa đi vừa cảnh giới rõ chưa. Ba Hổ lầm bầm: -Chị thì lúc nào cũng cảnh giác. Út Hân lên lớp: -Ở đâu mà chẳng phải cảnh giác, nói vậy mà cũng đòi làm chỉ huy. -Vậy chắc ngày mai mày lên thay chú Chín và chị Hai lãnh đạo tao đấy?... Hai Trúc gạt đi: -Hồi khác nói, im lặng đi mấy cha. Mai cùng anh em du kích trở về an toàn. Mừng ra mặt ông Chín Tòng lấy gói thuốc rê để lên tảng đá cho mọi người cùng hút, rồi tư lự cuốn một điếu thuốc bự, bật quẹt rít từng hơi dài khoan khoái và biểu Mai ngồi kể kỹ mọi việc. Trời chạng vạng tối, nhóm họp toàn đơn vị lại, ông Chín Tòng hồ hởi nhìn mọi người nói: -Hôm nay ta đánh thắng, tất nhiên địch sẽ phản ứng dữ dội hơn, địch càn quét còn dài ngày, vì vậy trong khi lánh càn mọi người phải hết sức bình tĩnh khi gặp địch, - ngừng lại một lát, ông ôn tồn: -Về phía ta, thời gian mấy ngày qua công tác tổ chức bám đánh địch, lánh càn còn nhiều chỗ bất ổn. Bây giờ ta chia làm ba bộ phận, tổ một gồm đoàn Gia-Lai, Đăk-Lăk cùng hai đồng chí thương binh và tôi. Tổ hai gồm đồng chí Đào, đồng chí Nhự ngồi chung với các đồng chí đi khẩu của tỉnh và các huyện. Riêng du kích, một tiểu đội ở nhà cảnh giới, một bộ phận bám địch. Tình hình cần thiết sẽ có điều chỉnh. Khi di chuyển hoặc gặp địch phải bình tĩnh bám nhau đừng để lạc... Các đồng chí rõ chưa? -Rõ... Nghe mọi người trả lời, ông Chín Tòng nhấn mạnh: -Nguyên tắc là đi không dấu, nấu không khói, nói không to, cứ như vậy mà thực hiện rõ chưa... Thôi giải tán. Đêm trùm xuống. Tiếng trực thăng và Đakôta của địch vẫn bay rền rĩ trên bầu trời và thả pháo sáng liên tục, khiến bầu trời chập chờn khi tối, khi sáng. Những quả pháo sáng bay lơ lửng giữa trời đêm soi rõ chiếc dù đèn mờ trắng lay động, khiến người ta có cảm giác như một lũ ma trơi đang nhảy múa. Dưới gộp đá sâu, cành cây và áo mưa che kín đến mức không có một tí ánh sáng nào lọt ra ngoài, ngọn lửa trong bếp cháy bập bùng. Mấy cô gái ngồi tụm quanh bếp hơ quần áo. Nhự nhắc nhở: -Ngồi xích ra một chút cho con Hồng, con Đào thấy rõ thái sung, thái rau chứ. Phượng xen vào: -Ưu tiên cho chị Vượng bị bệnh ngồi gần lửa mấy chị à, những ba bếp nấu mình ngồi san đều cho ấm. Đào hỏi Vượng: -Chắc ở miền Bắc không có rau đất và lá bứa chị Vượng nhỉ? Vượng nghiêng đầu: -Quê mình toàn đồng lúa không có thứ này. Với lại mình ở thành phố, suốt ngày nghe tiếng máy dệt. Thống nhất nước nhà em đưa các chị ra miền Bắc xem cho đã mắt... Hồng cắt ngang: -Tới lúc đó thì đi đâu chẳng được, nhất định là tụi mình phải ra tham quan miền Bắc xã hội chủ nghĩa rồi, phải không chị Vượng. Thấy Vượng cười gật đầu Hồng vội khoe: -Em cũng có ông chú ruột đi tập kết đấy chị à, nghe nói ổng được cử đi học và đỗ bằng kỹ sư rồi đấy. Một cô gái bỗng giục mọi người: -Bọn mình hơ quần áo lẹ lên, nhường chỗ cho cánh đàn ông. Sau bữa cơm tối trời bỗng tạnh hẳn, không khí trở nên mát dịu. Trên những cánh võng mắc sát bên nhau, hơi thở của từng người rất đều, rất say và rất sâu... Ngồi trên võng, bỏ nắm thuốc rê vào miệng nhai cho đã cơn nghiền, ông Chín Tòng ngồi trầm ngâm nhìn về phía thôn Tường bất giác thấy trong lòng hụt hẫng, bùi ngùi lẫn nhớ thương vì cái nghịch cảnh mà hai chục năm ròng, chồng thì ở trên núi, còn vợ vẫn ở dưới làng quay đi, quay lại cả hai vợ chồng tóc đã điểm bạc mà vẫn chưa được sống gần nhau!... Nỗi khát khao đất nước hòa bình thống nhất bỗng vụt lên cháy bỏng trong lòng và ông nằm lên võng mắt đăm đăm nhìn những ánh sao lấp lánh trên trời! Chắc đêm nay ông Chín Tòng không ngủ!... Mới bốn giờ sáng ông Chín Tòng đã dậy gấp tăng võng rồi tới lay Ba Hổ: -Dậy Ba Hổ, trời sáng rồi. Ba Hổ bật dậy ngơ ngác: -Có địch à chú? -Không, nói nhỏ thôi... Đi đánh thức anh em dậy. Ba Hổ làm xong nhiệm vụ, ông Chín Tòng tới đánh thức Mai, đã thấy Mai đang gấp tăng, võng. Ông chín Tòng chậm rãi: -Sáng sớm sương còn ướt, cho anh em đi cảnh giới đừng để lại dấu trên đường nghe Mai. -Dạ... Chưa yên tâm, ông Chín Tòng nói như chỉ thị: -Coi chừng khu eo đất, trước hết là tuần tra xung quanh khu vực mình đóng quân đã rồi mới tới đó nghe chưa. Mai nhỏ nhẹ: -Tuần tra xong, tình hình êm ả, cháu cùng anh em tới khu Đá Chẻ bắt liên lạc với các đơn vị. Nếu điều kiện tốt, cháu sẽ cho kiểm tra lại trận đánh ở khu vực eo đất, được không chú? Ông Chín Tòng ngần ngừ rồi gật đầu: -Thế cũng được, hết sức đề phòng địch lót ổ nghe chưa? -Dạ... Cháu triển khai ngay đây. Màn sương mờ đục như một lớp khói len lỏi đọng khắp nơi. Lá rừng ướt sũng. Đất và đá đã ướt lại trơn, dẫu đi nhẹ nhàng, cẩn thận cũng không tránh được dấu chân trên đường đi, Út Hân làu bàu: -Sương dày như vậy mà cứ bắt đi thưa làm sao thấy người đi trước được. Mai nhẹ nhàng nhắc nhở: -Chịu khó một chút được không, đi vào chỗ lá mục thì mới không có dấu chân hiểu không Út. -Cứ mải nhìn để bước trúng chỗ có lá mục thì mắt đâu mà quan sát địch, em lạnh cóng cả người rồi chị Hai à. Mai vẫn nhẹ nhàng: -Út Hân bữa nay trở tính rồi đó. -Chân mấy ổng như voi, dài lêu khêu, chân em ngắn làm sao đi kịp. Mai bật cười nhắc phía trước: -Truyền lên trước đi chậm lại. Công việc chỉ có đi và quan sát mà cũng mất gần hai giờ đồng hồ mới nắm chắc khu vực xung quanh cây Sộp không có địch, Mai cho anh em dừng lại ăn cơm. Chỉ một thoáng, Út Hân đã ăn hết vắt cơm độn sung xong vẫn thòm thèm nhìn Mai. Mai bẻ nửa vắt cơm của mình đưa cho Út Hân : -Em ăn đi. Tần ngần nhìn vắt cơm Út Hân kiên quyết lắc đầu: -Chị ăn đi. Mai dúi phần cơm vào tay Út Hân: -Chị no rồi ráng ăn để có sức mà công tác nữa chứ. Cầm cơm chấm muối Út Hân vừa ăn vừa nói: -Cơm sung lúc này ăn cũng ngon, nhưng chỉ tội cái chóng đói thôi chị à. Mai dịu dàng: -Hết càn, xuống làng nhất định chị sẽ nấu ba lon gạo cho em ăn, chịu không? Nhìn Út Hân nhặt những hạt cơm rơi bất giác Mai nghĩ thầm: “Giá chi thằng nhỏ là em trai mình thì quí biết bao!... ” . Mai nhỏ nhẹ: -Ăn xong nhớ nhặt cơm rơi chôn đi kẻo địch phát hiện là không được đâu đấy. Ở chiến trường cực Nam , ngay cả lực lượng chủ lực cũng gờm bọn Đại Hàn huống chi du kích xã, vì vậy Mai lưỡng lự chưa muốn đến khu Đá Chẻ. Suy nghĩ khá lâu, Mai đứng dậy nhìn mọi người rồi căn dặn: -Bây giờ ta đến khu eo đất, nhớ giữ đúng cự ly đi đường, sẵn sàng nổ súng khi gặp địch rõ chưa? Hai Trúc ngần ngại: -Gần trưa hãy tới chị Hai à... Năm Đồng lưỡng lự: -Khả năng bọn địch còn nằm phục ở đó, có lẽ chưa nên đến đó vội... Mai cắt lời: -Đất mình, địa hình mình thông thạo không đến làm sao tìm được trinh sát của mình để biết tình hình. Út Hân nhanh nhảu: -Đông người mà chủ quan như bữa đi khẩu làm mấy chục người hy sinh thì ích sướng gì, ít người đi gặp địch càng dễ lách chứ sao. Năm Đồng cú vào đầu Út Hân : -Chim ỉa vào miệng mày, chưa đi đã nói gở. Mai bật cười: -Tổ Năm Đồng đi đầu, tổ Hai Trúc yểm trợ, đi theo kiểu sâu đo cho chắc rõ chưa? Quá trưa, Mai cùng mọi người mới tới eo Đất. Đấu vết trận đánh chứng tỏ địch rút quân rất vội vàng. Vượt qua bãi cây địch chặt cho trực thăng hạ cánh, Mai đi dọc theo suối tới vị trí hai quả mìn nổ. Thấy có vết máu, Ba Hổ hỏi Năm Đồng: -Bọn nó chết và bị thương cả chục đứa phải không anh? Năm Đồng gật đầu và nói như reo lên: -Chu! Quần áo toàn máu, lại cả mấy cái ba lô... ủa!... Có đồ hộp trong ba lô. Ba Hổ chạy tới nhặt hơn một chục lon đồ hộp giơ lên cho mọi người thấy, Hai Trúc đứng bên bờ suối mừng rỡ nói to: -Chị Hai! Địch rút xuống đồng rồi! Để anh em lượm đồ hộp, Mai và Hai Trúc đi tới một tảng đá khá cao bên triền đồi ngồi cảnh giới. Hai Trúc nhìn xuống suối tiếc rẻ: -Tới lúc thu chiến lợi phẩm thì mình ngồi cảnh giới, uổng quá chị Hai à... Mai cười: -Lớn rồi mà còn ham vui. Lát nữa chị nói chúng nó dành cho phần ưu tiên. -Hì...hì...Dọc đường từ Đá Chẻ tới đây em cũng nhặt được hơn chục lon. Như trút được sự căng thẳng, Mai ngồi dựa lưng vào tảng đá thư giãn và chỉ một thoáng sau mọi người lục tục đem đồ hộp tới ngồi vây quanh Mai. Út Hân nhanh nhảu: -Cho liên hoan nghe chị Hai? Thấy Mai cười, mọi người vui vẻ khui đồ hộp. Năm Đồng vừa ăn vừa nhắc: -Ăn sơ sơ thôi, để đưa về nhà cho mọi người cùng ăn. Đưa bánh bis-quy và hộp bơ cho Mai, Ba Hổ thực thà: -Nghe nói ăn loại này mập ra phải không chị? -Chị em mình quanh năm ăn độn thiếu chất làm sao mập được. Năm Đồng vui vẻ: -Bọn mình đem đồ hộp về giao cho chú Chín điều phối cho mọi người cùng ăn, kỳ này nhất định “ông già” khen tụi mình cho coi. Út Hân tỉnh bơ: -Riêng chuyện ăn, cứ nịnh là ông già “phóng tay” liền. Hai Trúc trèo lên cây bỗng nói to: -Bọn chúng đốt nhà mình rồi!... Mai nói vọng lên : -Quan sát kỹ xem địch ở chỗ nào? Năm Đồng đủng đỉnh : -Kệ chúng nó, đốt nhà ta làm lại mấy lát, mấy hồi. Hai Trúc bỗng hốt hoảng: -Có địch: Vội tụt trên cây xuống, Hai Trúc hối thúc: -Cho rút chị Hai! Mai điềm tĩnh cầm súng nép mình nhìn về phía Hai Trúc chỉ. Ba Hổ chỉ tay thì thào: -Bọn nó ở chỗ lùm cây đang rung rung đó...Chị thấy không? Mai gật đầu chăm chú nhìn vào tàng cây rung động và đột nhiên Hổ nói như reo lên : -Anh em mình chị Hai à!...Đúng rồi! -Im lặng nào...coi chừng biệt kích giả làm anh em mình đó. Nhìn rõ người đeo AK vượt qua suối rồi chụm lại hội ý với nhau. Mai nói nhỏ: -Cung cách này là người của mình, Ba Hổ, em “toóc gió” làm hiệu xem sao. Ba Hổ vươn người chụm tay vào miệng và “toóc gió” thật lớn khiến cả năm người nhìn về hướng Mai, bất giác Mai reo lên: -Có phải H96 không!... Xã Phụng đây! Cả năm người xách súng chạy lên sườn đồi ngơ ngác nhìn về phía Mai đang gọi. Mừng quá Mai gọi thiệt lớn: -H96 phải không!... Xã Phụng đây! -Chị Mai xã Phụng!... Trung, trinh sát của H96 nghe tiếng và nhận ra Mai vội chạy tới, Mai reo lên: -Ủa anh Ngọc, anh Minh. Ngọc vui vẻ: -Bọn mình đang tìm xã Phụng, may quá lại gặp ở đây, thật là cầu được, ước thấy. Mai vui vẻ: -Có chuyện gì cần tới xã Phụng thì cũng phải nói tình hình địch cho bọn em biết đã chứ, hay là bí mật quân sự... Quay lại nhìn chiến sĩ của mình, Ngọc vui vẻ: -Chúng tôi được lệnh soi rừng để bắt liên lạc với xã Phụng, không ngờ lại gặp nhau ở đây quả là bọn tôi gặp may. Đề nghị Mai về tiểu đoàn gặp các thủ trưởng bàn công tác phối hợp đánh địch. Mai gật đầu vui vẻ: -Quân số lánh càn chỗ em gần bốn chục người mà chỉ có hai tiểu đội du kích, còn toàn là lính “cùi chỏ”, bí quá mấy anh à? Trung nhanh nhảu: -Chị cứ yên tâm họp bàn công tác xong là chúng tôi xin đưa chị về tận đơn vị. Suy nghĩ một lát, Mai gật đầu quay lại nói: -Năm Đồng và Hai Trúc đưa anh em về, báo cáo tình hình để chú Chín Tòng yên tâm, bàn xong công tác, chị về ngay. Về tới H96, tiểu đoàn trưởng Khanh mừng rỡ cú nhẹ lên đầu Mai: -Gặp con nhỏ này là gặp hên rồi, các anh biết công việc ở xã lúc này rắm rối nên không giữ em ở lại đâu. Mai đỏ mặt cười: -Có chuyện gì mấy anh cứ nói em xin nghe. -Lệnh ở trên ban chỉ huy tính đưa C3 về đánh càn tại địa bàn xã Phụng. Lần này chúng ta nhất định phải hạ uy thế thằng Đại Hàn, có như vậy chiến trường cực Nam mới mở ra được cục diện mới buộc chúng co cụm lại bảo vệ các thị trấn và thị xã. Nhiệm vụ của ta lúc này là hết sức nặng nề... Mai cười khúc khích cắt lời Khanh: -Anh thì lúc nào cũng nhiệm vụ và mệnh lệnh, thấy em gái là mấy anh nắm đầu giao nhiệm vụ liền à... Khanh bật cười: -Ừ... Cái tính anh vậy, biết làm sao được, tình hình hiện nay là ta và địch đang tìm nhau ra đòn nên rất phức tạp. Vì vậy C3 phối hợp với xã Phụng chặn đánh địch trước khi rút xuống đồng bằng là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Thấy Mai im lặng, Khanh nói luôn: -Bây giờ C3 cùng em hành quân về xã khẩn trương triển khai phương án tác chiến ngay. Anh nhắc lại: nhiệm vụ đánh bật bọn Đại Hàn và ngụy ra khỏi căn cứ địa của tỉnh gắn liền với nhiệm vụ hạ uy thế bọn Đại Hàn tại chiến trường Nam Trung bộ là hết sức quan trọng. Chỉ có đánh thắng và đánh thiệt đau thì chiến trường của mình mới mở ra vì rào cản của chiến trường mình chính là bọn Đại Hàn, rõ chưa. -Vậy đề nghị anh cho C3 xuất phát sớm, ở xã chỉ còn một mình chú Chín Tòng em lo lắm. 2 Hành quân xuyên rừng tới gộp đá cây Sộp thì trời đã khuya, không khí trầm lắng phập phồng sợ bị địch tập kích bất ngờ của anh em xã Phụng bỗng tan biến. Tiếng rì rầm và tiếng cười khúc khích của các cô gái, chàng trai lan rất nhẹ trong đêm như tiếng đập cánh của đàn ong xôn xao gọi nhau về tổ. Đưa đại đội trưởng Thịnh đi xem xét địa hình trú quân, ông Chín Tòng hồ hởi nói: -Đội hình ở tạm như vậy, sáng mai tính sau. Thịnh vui vẻ: -Có bố và Mai hỗ trợ bọn con như người được san bớt gánh nặng đấy. Ông Chín Tòng bỗng cười to: -Đánh địch là nhiệm vụ của cả xã lẫn lực lượng vũ trang, tranh thủ cho anh em nghỉ lấy sức để ngày mai còn đối phó với địch. Đêm rất lặng, gió biển miên man thổi về, tiếng cỏ cây rì rầm trong đêm. Ông Chín Tòng bước vào trong gộp đá, phanh áo che ánh sáng, bật quẹt mồi thuốc hút. Nằm trên võng ông Chín thư thả rít từng hơi khoan khoái. Từ hôm địch càn tới giờ ông mới hút một điếu thuốc ngon như vậy. Nhớ những lúc thèm thuốc mà không dám hút, phải lấy thuốc ra nhai bỏm bẻm như đàn bà ăn trầu, ông Chín Tòng cười một mình trong đêm; có lẽ đêm nay ông Chín mới có một giấc ngủ ngon... Nằm nghiêng trên võng nhìn xuống cánh đồng Tuy Hòa thăm thẳm mênh mông Mai nhận ra thị xã Tuy Hòa là một vùng sáng lờ mờ của ánh điện chạy dài rồi nhòa vào biển cả. Hình ảnh ngôi trường Nguyễn Huệ mà Lâm, Đoan và Nguyệt cùng mình ngồi chụm trên sân trường bỗng hiện lên trong Mai. Ngôi trường với những hàng phượng lá nhỏ mong manh và những chùm hoa rực rỡ lung linh trong nắng. Những cây bàng xanh biếc lá sà dọc theo đường Hoàng Diệu la đà trong gió; quán chè Nghèo mà Lâm và Đoan muốn ăn nhưng không có tiền, Nguyệt và Mai phải chung tiền mua chè cho cả bốn đứa cùng ăn. Nghĩ đến Lâm, Mai xôn xang ngồi dậy lấy cuốn nhật ký, bật đèn pin hí hoáy ghi: “Lạ nhỉ!...Căng thẳng mà vẫn nhớ đến người ta. Ông quỉ ấy chắc gì đã nhớ đến mình!... Đêm nay không nghe tiếng súng nổ, có lẽ anh chàng đang ngủ khò trên võng! Ông quỉ ơi! Ngủ ngon giấc! Đời lính giải phóng gian lao biết làm sao được!... Lâm ơi! Mọi người đã ngủ mà sao Mai không ngủ được!...Ôi! Vẫn cái tật viết nhật ký chấm than lia lịa!...Nhật ký ơi!... Tao đi ngủ đây!...” Bỏ cuốn nhật ký vào ba lô, Mai duỗi tay, duỗi chân, hít từng hơi dài. Nhắm mắt nằm trên võng, đắm mình trong cánh võng đu đưa, hơi thở của Mai rất nhẹ, miệng vẫn cười trong giấc ngủ say. Bọn Đại Hàn vẫn liên tục chở lô cốt thép, rào kẽm gai, pháo 105 li và 120 li đến trảng tranh Đá Bàn khiến ban chỉ huy C3 cũng như trinh sát tỉnh đội, du kích xã Phụng quần bám suốt bốn ngày đêm mà vẫn không nắm chắc được tình hình địch. Tuy nhiên, lệnh của tỉnh đội giao cho C3 phải tiêu diệt ngay Sở chỉ huy dã chiến của bọn Đại Hàn tại Đá Bàn vẫn đưa xuống và C3 vẫn phải chấp hành mệnh lệnh. Đêm nay, hành quân tới vị trí tập kết, Mai cùng du kích dừng lại. Hai Trúc và Năm Đồng hối thúc anh em đào hầm. Chăm chú nhìn đoàn quân súng AK kẹp nách, túi thủ pháo trước ngực lặng lẽ đi và từng người cố ý đi qua để bắt tay mình, Mai hiểu rằng chỉ vài tiếng nữa thôi, khi súng nổ, có những người mình sẽ không bao giờ gặp lại để bắt tay nữa!... Trên trời pháo sáng của địch vẫn vụt lên sáng lóe chờn chờn khiến cho những chiếc lá ướt sũng trở nên lấp lánh. Rồi từng loạt đạn đan dày của bọn Đại Hàn từ gò tranh Đá Bàn bắn ra tạo thành một tấm lưới đỏ lừ bay vun vút trên trời. Đầu óc Mai căng lên, thời gian nhích theo từng tấc đất mà anh em C3 đang bò vào trận địa. Mai muốn pháo sáng của địch không bắn nữa, hỏa lực của chúng tắc nghẹn lại để quân ta nhanh chóng áp sát vào trận địa. Mưa lại rơi tầm tã, gió rít từng cơn dài, cây cối ngả nghiêng trong mưa gió. Mọi người căng mắt nhìn về phía trảng tranh Đá Bàn, bồn chồn chờ đợi... Đột nhiên những luồng lửa và tiếng nổ trùm lấy gò tranh Đá Bàn. Màn đêm như bị xé rách trong ánh chớp của thủ pháo, lựu đạn và các hỏa lực của ta. Ánh lửa xanh lè và đỏ hồng trộn lẫn nhau. -Đánh rồi!... Ba Hổ reo lên nhổm người quan sát liền bị ông Chín Tòng nắm vai ấn xuống: -Im lặng!... Út Hân thì thầm: -Không phân biệt được các mũi tấn công nữa! Năm Đồng điềm tĩnh : -Đánh kiểu đặc công làm sao phân biệt được. Mai giật mình khi nghe tiếng đại liên của địch nổ rộ lên hối hả. Tiếng AK, thủ pháo khựng lại và cả tiếng nổ của đạn B40 cũng như bị át đi trong những tiếng nổ xoáy rít như tiếng bom. Đất đá xung quanh Mai rung lên, những luồng khói đen cuồn cuộn bốc lên trộn vào ánh lửa đỏ rực trên gò tranh Đá Bàn. Út Hân đập mạnh vào tay Mai nhảy cẫng lên: -Đánh trúng kho xăng, kho đạn rồi chị Hai à! Mai bực mình: -Có im đi không, còn nhảy cẫng lên mà la nữa là kỷ luật đó nghe chưa. Vẫn tiếng 12 ly 7 và đại liên của địch bắn quyết liệt. Ba Hổ chạy lại cạnh Mai thì thầm: -Đánh mật tập mà để địch phản kích là bất lợi lắm chị Hai à! -Ừ!... Trận địa quá rộng, mình không tiêu diệt gọn được!... Những luồng đạn B40, B41 lại bay vụt về phía hỏa lực địch, ánh chớp của thủ pháo và tiếng nổ ròn của đạn AK lại bùng lên quyết liệt. Ba Hổ nghển cổ nhìn và nói như reo lên: -Cháy cái gì nhỉ? Ủa! Lại kho xăng!... Mai bực mình: -Im nào!... Tiếng súng của địch yếu ớt rồi thưa thớt dần và tắt lịm. Bầu trời lại vang rền tiếng phản lực, trực thăng. Những chiếc đèn dù từ máy bay Đacôta bắn ra bay sáng rực bầu trời. Pháo bầy cấp tập dội xuống các khu vực xung quanh trảng tranh Đá Bàn. Bỗng tiếng súng và tiếng pháo của địch từ các hướng quận Phú Tân, huyện Tuy Hòa 1 ầm ào vọng tới, cuộc chiến đấu giữa ta và địch cũng đang diễn ra ở đấy. Ba Hổ thắc mắc : -Đêm nay ta đồng loạt ra quân phải không chị Hai? -Ừ. -Hèn gì bọn Đại Hàn bị mình đánh mà không phản ứng quyết liệt như mọi khi chắc chắn vài bữa nữa địch sẽ rút. Mai ôn tồn giảng giải: -Tình hình này địch sẽ phản ứng quyết liệt và chúng còn càn quét dài ngày, hiểu không tham mưu con? Nghe tiếng người lao xao nói dưới đường biết là anh em C3 đã về, Mai gọi to: - C3 phải không? -Chị Mai đấy hả? Cho người khiêng thương... Mai hối hả: -Tất cả vào nhiệm vụ rõ chưa? Xách súng chạy xuống dốc, Mai đã thấy Ông Chín Tòng , Hai Trúc, Năm Đồng chạy đằng trước mình. Quay lại phía sau, Mai hối thúc: -Lẹ lên! Trời sáng không về tới nhà nguy hiểm lắm đó. Chạy xuống chân dốc đã thấy anh em bộ đội khiêng thương về, Mai nôn nóng hỏi: -Những ai bị thương? -Ba bị thương, một hy sinh. -Anh Thịnh, anh Thơ đâu? -Anh Thơ đi sau, anh Thịnh bị thương. Mai giục Hai Trúc, Năm Đồng: -Mỗi tổ du kích phụ trách một cáng thương, thay vai cho các anh ấy đỡ mệt. Xách súng đi được một đoạn, thấy Thịnh chống gậy đi khập khiễng và Thơ cùng sáu, bảy chiến sĩ lục tục vác chiến lợi phẩm đi sau. Mai lo lắng hỏi Thịnh: -Anh bị thương vào đâu? Thịnh điềm tĩnh: -Bị mảnh lựu đạn sượt qua đùi, sơ sơ thôi mà, xã cho người đem chiến lợi phẩm về. Thơ ôn tồn: -Anh em về đến đây là tạm yên rồi. Mai vui vẻ quay lại nói với Út Hân: - Nói anh em khiêng súng đạn, chiến lợi phẩm cho đơn vị lẹ lên Út. Gần 2 tiếng đồng hồ bôn tập, du kích và bộ đội về tới gộp đá Cây Sộp. Từ chỗ đào huyệt tử sĩ về, ông Chín Tòng hù hự nói với Thơ và Thịnh: -Toàn là đá, tìm mãi mới kiếm được một vạt đất nằm giữa hai kẹt đá để đào huyệt. Thịnh bồi hồi: -Chú à!... Hầu hết các trận đánh, đơn vị phải tự lo liệu thương binh, tử sĩ, lần này có xã hỗ trợ cháu mừng lắm... -Trách nhiệm chung đừng nói vậy... Ngừng lại một lát, bất giác chú Chín Tòng thở dài: -Chôn cất như vầy dễ mất mộ lắm, tội nghiệp đồng chí Trọng. Thơ bùi ngùi: -Đơn vị nay đây, mai đó, nhờ xã trông coi giúp mộ phần cho anh ấy!... Ông Chín Tòng quay sang nói với Mai: -Cháu ghi rõ họ tên quê quán anh Trọng, hàng năm xã mình tới thắp hương cho anh ấy. Bật đèn pin soi vào cuốn sổ tay, Mai chăm chú nghe Thơ đọc và cẩn thận viết từng chữ: Nguyễn Văn Trọng Ngày sinh: 29-7-1932 Quê quán: Nam Sách-Hải Hưng Hy sinh: 21-9-1970. Gấp cuốn sổ tay cho vào túi võng, Mai thần người nhớ tới khuôn mặt hiền lành nụ cười hiện rõ những nếp nhăn của Trọng. Thịnh đăm chiêu: -Anh Trọng mới nhận được thư của cô con gái ở chiến trường Kom-Tum gửi vào báo tin người con trai đầu của anh ấy mới hy sinh ở chiến trường Quảng Đà... Tội nghiệp!... Ông Chín Tòng trầm ngâm: -Vậy là thêm một gia đình có hai liệt sĩ!.... Ông trời thật trớ trêu!... Tiếng gió rừng thổi qua những gộp đá phát ra những tiếng u...oa... kéo dài, tiếng nước réo của con suối cái ầm ào vọng tới, tiếng cuốc xẻng đào huyệt lạo xạo trong đêm... Nhào trộn trong tiếng mưa rơi sập sùi khiến lòng người nặng trĩu nỗi đau. Mọi việc đã yên xuôi, Mai tranh thủ cột võng ngả lưng để sáng mai còn dậy sớm. Đôi mắt nhắm nghiền, Mai cố xua đi những ưu tư, mệt nhọc. Nhưng hình ảnh Trọng và những người đã hy sinh cứ xoáy cuộn, bám riết lấy Mai. Xoay người nằm nghiêng trên võng, Mai lắng nghe hơi thở đều đặn của Chín Phượng bỗng thèm khát và ước thầm “Giá chi mình cũng được một giấc ngủ sâu như Phượng”... Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Chín, 2023, 03:26:24 pm Chương 5 Chiến thắng của C3 diệt gọn một đại đội, một ban chỉ huy liên quân Mỹ-Đại Hàn, đốt cháy một kho xăng, một kho đạn, phá hủy một pháo 105 ly và 2 pháo cối 120 ly như một luồng gió mát thổi vào tâm hồn từng người, ông Chín Tòng nói như đinh đóng cột: -Với tình hình này nhất định bọn Đại Hàn bị đánh đau chỉ vài ngày nữa là rút quân thôi. Nhưng chỉ sau hai ngày gò tranh Đá Bàn bị diệt, bọn Đại Hàn nhanh chóng thu dọn trận địa rồi củng cố và đổ thêm quân bảo vệ, càn quét xung quanh khu vực Đá Bàn quyết liệt hơn. Biết mình đánh giá sai tình hình, ông Chín Tòng nói với Mai: -Tưởng địch rút chạy ai ngờ chúng lại tăng quân. Tổ cha cái lũ Đại Hàn lỳ đòn!... Mai thư thả nhận xét: -Bên C3 nhận được chỉ thị “Quyết hạ uy thế bọn Đại Hàn tại chiến trường nam Trung bộ”. Như vậy cả phân khu mình cùng đánh Đại Hàn. Rất có thể ý định của trên lôi địch ra ngoài công sự mà đánh chú à. Ngẫm nghĩ một lát, ông Chín gật gù: -Có lý... Đây là thời cơ ra đòn đánh tan ý chí ngông nghênh của bọn Đại Hàn. Năm 67, sau trận đánh gò Thì Thùng, Mỹ gặp mình nổ súng là chạy, đâu dám dàn hàng ngang mà tiến nữa, kỳ này bọn Đại Hàn cũng vậy thôi. Mai cười hiền lành: -Tình hình không đơn giản phải không chú? -Đương nhiên rồi. Thơ, Thịnh và Cương đại đội phó trinh sát của tỉnh đi tới. Có lẽ nghề nghiệp tạo cho mình một sự nhanh nhậy, gọn chắc nên vừa ngồi xuống cạnh Ông Chín Tòng, Cương nhập đề ngay: -Lớp học của Năm Sang do địch càn nên tạm hoãn, Năm Sang cùng chúng tôi về xã. Tình hình khẩn trương, chúng tôi mượn Năm Sang và một đồng chí du kích làm nhiệm vụ dẫn đường, xong nhiệm vụ chúng tôi xin trả lại ngay có được không? Ông Chín Tòng cởi mở: -Đồng ý thôi. Thịnh hỏi Cương: -Bây giờ cho anh em đi khảo sát thực địa chứ? Cương gật đầu: -Triển khai ngay, tình hình gấp lắm rồi. Mai hỏi ông Chín Tòng: -Cho Út Hân đi được không chú? Lưỡng lự một lát, ông Chín Tòng gật đầu: -Cũng được, đi cùng trinh sát, nó sẽ dày dạn thêm. Thịnh góp ý: -Cả tuần nay, địch chờn vờn xung quanh khu vực ta đóng quân, ý định của địch ta biết rõ nhưng chưa cụ thể... Ngừng lại, đặt tấm bản đồ trước mặt mọi người Thịnh chỉ bản đồ: -Đây là vị trí giáp ranh giữa huyện Tuy Hòa 2 và thị xã Tuy Hòa, là chỗ chúng ta đang đóng quân. Trinh sát cho biết một tiểu đoàn của lữ đoàn 173 Mỹ tham chiến tại khu vực của chúng ta. Như vậy địa bàn chúng ta hiện nay có cả Mỹ, Đại Hàn và Ngụy. Khu vực ta đang bố trí là khu vực do bọn Đại Hàn đảm nhận. Ông Chín Tòng vội cắt ngang. -Cái chính là địch đã rời khỏi công sự đem quân lên rừng, lại gặp thời tiết mưa bão khắc nghiệt, ta phục kích là ta ở thế chủ động nên gặp địch ta phải đánh phủ đầu gìm chân nó lại thì mới bám trụ được với chúng trong cả ngày. Thịnh gật đầu tán thành rồi cặn kẽ trình bày kế hoạch tác chiến cho mọi người nghe, sau đó mới gợi ý cho mọi người phát biểu. Nghe mọi người tham gia phương án đánh địch, đã mấy lần Mai định phát biểu xong lại thôi. Như đoán được ý của Mai, ông Chín Tòng gợi ý: -Đồng chí Mai có ý kiến thì cứ nói. Mai dè dặt: -Theo tôi, cần có một tổ chặn đánh địch từ dưới đồng đánh lên núi, hướng chính của địch là hai bên sườn và từ dưới chân núi đánh lên... Bỗng có tiếng súng nổ rất gần, mọi người vội tản về vị trí chiến đấu. Nghe tiếng AK nổ từng loạt ngắn và tiếng súng của địch bắn hỗn loạn, Mai lo lắng: -Chắc du kích và trinh sát của mình gặp địch rồi. Ông Chín Tòng khẳng định: -Tiếng súng nổ ở khu vực Cửa Rừng, cách mình không đầy bốn trăm thước là cùng... Mai điềm tĩnh: -Nhất định địch sẽ lùng sục vào trận địa của mình chú à. Tiếng súng của địch lại rộ lên khiến câu chuyện bị ngưng lại. Tiếng trực thăng bay sà trên ngọn cây và những chùm Rốc-két bắn xối xuống khu vực Cửa Rừng, Suối Cái. Mai bỗng giật mình quay lại, đã trông đã thấy Út Hân chạy lao xuống dốc đến chỗ Mai vừa nói vừa run: -Chị Hai! Năm Sang bị bắt rồi! -Sao!... Bình tĩnh nói cho chị hay!... Vẫn chưa hết hốt hoảng, Út Hân vừa lấy vạt áo lau mặt vừa trả lời: -Năm Sang cùng mấy anh trinh sát gặp địch, một anh bị đạn nằm vật tại chỗ, Năm Sang bắn trả... Rồi bị bắt... Mai hỏi dồn: -Tại sao biết Nam Sang bị bắt? -Em thấy khẩu súng của Năm Sang văng ra, địch ùa tới... Vậy là em chạy!... Mai hỏi dồn: -Còn ai việc gì nữa không? Đã bớt hoảng, Út Hân kêu lên: -Địch đông quá, mấy anh trinh sát nổ súng mở đường máu còn em chạy em làm sao biết được!... Đưa bình đông nước cho Út Hân uống, Mai nhẹ nhàng : -Em uống đi rồi vào gộp đá ngồi nghỉ, bình tĩnh, nhớ lại sự việc rồi kể cho chị nghe. Tin Năm Sang bị bắt làm cả trận địa xôn xao. Ai cũng biết nếu Năm Sang khai báo, đầu hàng thì trận địa cũng không thể di chuyển được. Chỉ còn một con đường duy nhất là bám trụ đánh đến tối, lúc đó chắc chắn trận địa của ta sẽ tan nát và con số thương vong của ta khó mà lường được. Cùng với Thịnh, Thơ và ông Chín Tòng đi kiểm tra, bố trí lại trận địa, Mai nhắc ông Chín: -Còn mấy quả mìn tự tạo ta đem xử dụng đánh địch chú à. Ông Chín bỗng hỏi: -Nè Thịnh, còn mấy quả mìn tự tạo của xã bây giờ ta đặt hướng nào? Thịnh sốt sắng: -Chú định gài hay bấm mìn trực tiếp ? Ông Chín thản nhiên : -Bấm mìn trực tiếp tốt hơn, miễn các đồng chí định vị chính xác nơi đặt mìn, mọi công việc sẽ do Năm Đồng đảm trách. Vừa lúc đó Hoài, liên lạc của đại đội chạy tới : -Báo cáo địch đã tới gò tranh sau lưng trận địa của ta, hiện chúng đang dừng lại đào công sự, hai cánh quân địch từ xã Quang và dốc Lỗ Chài cũng đang tiến về phía trận địa ta. Giọng Mai bỗng trở nên rắn rỏi lạ thường : -Có thể mình là khu hợp điểm của các cánh quân địch, cần triển khai đánh địch cả bốn hướng mấy anh à. Thịnh vẫn bình thản : -Mai và tổ du kích tăng cường cho trung đội hai đón địch đánh thọc sườn từ xã Quang sang, còn Chú Chín ở lại với bọn cháu tại chỉ huy sở. Thấy Ba Hổ và Năm Đồng đi tới, Mai giao nhiệm vụ rồi căn dặn: -Gài thêm một quả 105 hướng trái, còn hai quả gài ngoài gộp đón bọn địch từ gò Tranh đánh thọc sau lưng rõ chưa? Chờ Ba Hổ và Năm Đồng đi làm nhiệm vụ, Mai xách AK chạy lại vị trí chiến đấu của mình. Trời oi nồng, tiếng ve kêu ran, gió cố đẩy những đám mây mọng nước bay là là trên trời. Thỉnh thoảng tiếng đá lăn lịch kịch do địch đi làm đá rơi xuống gộp. Hơn một giờ trôi qua địch vẫn dò dẫm nhích từng tí một. Mai và Út Hân bò tới chỗ ông Chín hỏi nhỏ: -Hình như chúng dừng lại nghỉ trưa phải không chú ? Giọng nói ông Chín Tòng vẫn chắc nịch: -Rất có thể khoảng quá trưa địch đánh vào trận địa mình, nhắc anh em cảnh giác, không loại trừ khả năng trận địa bị lộ. -Chú cho là Năm Sang khai báo? Ông Chín Tòng trầm giọng: -Không hẳn như vậy, nếu Năm Sang khai báo, địch đã dùng bom pháo phá nát trận địa của mình rồi. Hơn nữa, các bãi bố phòng chết của ta địch cũng chưa biết gì. Mai dè dặt: -Liên tục những ngày đêm vừa qua địch bị chặn đánh, lại vừa chạm trán với trinh sát của mình chúng không dám tiến nhanh đâu. Kiểm tra, sắp đặt lại vị trí ở cho thương binh và chị em đi khẩu xong, Mai trở về vị trí chiến đấu rồi cùng Út Hân đem gạo rang ra ăn. Chất ngọt bùi, thơm ngậy của gạo rang trong cổ họng làm Mai thư thái trở lại. Liên tục ăn mấy vốc gạo rang, lấy bình đông nước uống một hơi dài, Út Hân khoan khoái : -Bây giờ mới thấy giá trị của gạo rang, chú Chín không nghiêm cấm thì bọn em ăn hết từ lâu rồi. Mai nhẹ nhàng: -Hết trách Chú Chín không cho ăn gạo rang chống càn rồi phải không... -Từ hôm địch càn tới giờ liên tục bị đói, có gạo rang mà không được ăn nghĩ cũng bực. Ăn và uống nước xong, Mai giục Út Hân: -Ăn lẹ lên... Lắng nghe tiếng “xì xồ”... rất nhỏ của địch, Mai bò tới ghé vào tai Năm Đồng: -Chờ địch tới sát mới được điểm hỏa rõ chưa? Năm Đồng gật đầu, căng mắt nhìn ba chiếc mũ sắt lấp ló bên cây chà rang, rồi năm tên địch nữa xuất hiện. Thấy địch cách năm chục mét Mai hơi co người trong tư thế sẵn sàng ném lựu đạn và ra hiệu cho trung đội trưởng Ánh, xong thấy Ánh vẫn căng mắt nhìn địch, Mai đành nép người chờ lệnh. Địch cách gần chục mét , Ánh vung tay, quả lựu đạn US bay thẳng vào ba tên địch đi đầu. Cùng lúc đó, những tiếng nổ đanh của lựu đạn, thủ pháo kèm theo những loạt AK bắn gằn làm bảy tên Đại Hàn đi đầu gục xuống. Và từng loạt đạn bắn xối vào tốp địch đang co cụm vào một bìa đá thì tiếng mìn của Năm Đồng nổ vang khiến cả trận địa sau một thoáng im lặng bỗng vang lên tiếng rên la gào thét của bọn Đại Hàn. Toàn bộ trung đội Đại Hàn đi đầu chạy xuống dốc bị hỏa lực của ta bắn quét theo sườn đồi làm cho chúng rối loại phải lùi ra xa để tổ chức phản kích. Sáu chiếc HU1A bay lượn quần đảo rồi nhanh chóng bổ nhào xuống bắn phá trận địa. Mảnh Rốc-két, phóng lựu và đạn 12ly7 như một tấm lưới trùm lấy khu gộp đá Cây Sộp. Sau những loạt đạn bắn phủ đầu, sáu chiếc trực thăng chia làm hai tốp bắn như đi bừa xuống trận địa của ta. Từ chỉ huy sở C3, tiếng thượng liên và đại liên vang lên. Như phát hiện được con mồi, sáu chiếc HU1A chia làm ba tốp thay nhau cảnh giới, lượn vòng rồi bổ nhào xuống trút đạn, bom bi và Rốc-két khiến cả trận địa như chìm trong lửa đạn. Một loạt Rốc-két nổ ở khu vực chỉ huy sở đại đội, Năm Đồng và bốn chiến sĩ C3 cùng lăn vào trong gộp đá, Mai hét lên: -Bắn!... Lại một loạt Rốc-két và trọng liên chụp xuống, Mai chúi người vào vách đá. Lửa và khói bao trùm lấy trận khiến Mai ho sặc lên vì khói và thuốc súng khét lẹt. Đột nhiên Năm Đồng và bốn chiến sĩ của C3 tản ra tì AK bắn vào chiếc trực thăng đang xoay mình để lộ cái bụng chè bè như chiếc sõng đánh cá. Những luồng AK bắn xuyên táo bay găm vào thân chiếc HU1A, nó lảo đảo ngóc đầu rồi bay vụt lên cao. Toàn thân máy bay bốc lửa kéo theo một luồng khói xám đậm vạch trên bầu trời. Như tiếp thêm sức mạnh, hỏa lực toàn trận địa bắn vây lấy năm chiếc trực thăng. Cả 5 chiếc HU1A bay vụt lên thật cao, rồi nối đuôi nhau bay về thị xã Tuy Hòa. Những chiếc phản lực gầm rú trên trời, nhanh chóng thu hẹp vòng lượn rồi bổ nhào xuống trận địa cắt bom. Đất, đá bị rung giật trong tiếng bom nổ xoáy vào lòng đất. Gộp đá tưởng như bị đè sập xuống trong tiếng bom nổ. Đất tung lên, đá bị băm nát rơi xuống gộp ào ào. Tiếng đá bay, tiếng mảnh bom xoáy rít tạo nên những âm thanh khô khốc, chát chúa, rờn rợn tưởng như không bao giờ ngừng. Những chùm bom bị nổ rền giữa không trung, trên ngọn cây, trên mặt đất trong ánh lửa lóe chồng lên nhau. Nằm ép vào thành đá, tay bám chặt vào mặt đất, Mai vẫn thấy mặt đất bị vồng lên, đập xuống chao đảo. Út Hân bám chặt lấy lưng Mai, toàn thân run lên bần bật và nói như khóc: - Mình xuống tầng gộp dưới tìm đường chạy... Chị Hai à. -Tầm bậy! Chạy đi đâu!... Mày có im đi không!... Tao vả cho gãy răng bây giờ !... Út Hân bỗng nhổm người vùng chạy, Mai vội đuổi theo. Thoáng trông thấy, Thịnh hoảng hốt lao ra nắm tay Út Hân đẩy mạnh vào trong gộp quát lên: -Muốn chết à!... Một mảnh bom bay sượt qua, Mai ôm súng lăn mấy vòng dưới đất rồi vùng chạy vào trong gộp. Bực quá, Thịnh tát Út Hân một cái thật mạnh: -Thằng quỉ, suýt nữa Mai hy sinh vì mày. Út Hân nép người vào kẹt đá lẩy bẩy, mặt cắt không còn hạt máu. Mai điềm tĩnh: -Thằng nhỏ hoảng quá nên chạy ẩu. Nhìn Út Hân như con cò non bị bão quăng từ cành cây xuống đất, Thịnh bùi ngùi: -Sắp thanh niên rồi, phải dũng cảm lên, hiểu không? Dắt Út Hân vào sâu trong gộp, giọng Thịnh dịu lại: -Hang sâu nối thông với nhau, bom tấn dội cũng như gãi ngứa thôi, yên tâm ngồi trong đó nghe chưa. Nói xong Thịnh vội chạy đến khẩu đội đại liên và nhảy xuống bắn thay cho đồng chí xạ thủ số 1 đang bị thương. Thịnh gằn giọng: -Bắn!... Giật khẩu B41 trong tay đồng chí xạ thủ Thơ quỳ gối bắn liên tục hai quả đạn về hướng địch rồi cùng Hoài nhảy qua một tảng đá chạy về phía trung đội 1. Thơ bỗng quát to: -Nằm xuống!... Một loạt đạn AR15 bay chụp tới khiến Hòa loạng choạng ngã xoài trên mặt đất. Từ trong gộp, lao ra xốc Hoài lên lưng, Chín Phượng cõng Hoài chạy vào trong gộp, cố nhẹ nhàng đặt Hoài ngồi xuống. Phượng băng cánh tay cho Hoài xong rồi đập ống Vitamin K và giục: -Anh uống thuốc cầm máu, em ra ngoài cửa gộp rồi vào ngay. Phượng chạy ra ngoài cửa gộp đã thấy bộ đội, du kích bật khỏi công sự truy kích bọn địch đang hoảng hốt chạy xuống chân núi. Đánh lùi hai đợt phản kích của bọn Đại Hàn thì trời chạng vạng tối, bọn Đại Hàn rút ra xa phòng ngự. Đêm sập xuống. Pháo địch vẫn bay vun vút trên đầu, ánh đèn dù khi tắt, khi lóe và bay lơ lửng giữa trời. Rừng đêm chờn vờn khi tối, khi sáng. Mọi người hối hả sắp xếp đội hình, khiêng cõng thương binh, tử sĩ rút về vị trí mới. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Chín, 2023, 03:39:26 pm Chương 6 Hơn một tháng trời bị đánh tơi tả, lực lượng liên quân Mỹ, Ngụy, Đại Hàn phải rút chạy khỏi vùng căn cứ cách mạng. Vị trí đóng quân của xã Phụng lại trở về dưới gốc me già. Các đơn vị đi khẩu lại lục tục kéo về căn cứ xã Phụng. Tiếng cười, nói, đùa giỡn lại vang lên dưới gốc me già, dọc theo suối cạn và bên giếng nước trong xanh. Cái nắng ong ong của mùa khô lại bắt đầu xuất hiện. Những trảng tranh xung quanh xã Phụng bị địch rải xăng đốt cháy, du kích xã Phụng phải lên tận suối Sổ của huyện Sơn Hòa cắt tranh về lợp nhà. Cơm đùm, cơm vắt đi từ sớm nên trời vừa ráo sương, mọi người đã tới lưng dốc Lỗ Chài. Vừa leo dốc, Năm Đồng vừa giục. -Đi lẹ mấy cha nội, cắt tranh xong còn đi đánh cá đấy. Út Hân hớn hở: -Anh vá lưới chưa? -Chờ chú mày nhắc thì cá đã chui vào trong hang ngủ rồi. Út Hân cười vang: -Mới được đề bạt xã đội phó có khác, oai ghê ta! Năm Đồng đỏ mặt: -Mày chỉ sinh chuyện, do chị Mai và chú Chín đề bạt, tao đâu có biết... Ba Hổ nói vọng lên: -Hai Trúc trưởng, anh phó là đúng rồi. Trưa nay bắt cá, tụi mình liên hoan mừng anh lên chức. Mặt đỏ tía, Năm Đồng chăm bẳm leo dốc. Sức trai như nghé lú sừng, đi một hơi hai tiếng đồng hồ tới suối Sổ và chỉ nghỉ một lát đã lại sức, mọi người hùa nhau đi cắt tranh, công việc của Năm Đồng và Út Hân là bắt cá, được càng nhiều càng tốt. Con suối Sổ nằm giữa hai dãy núi cao chót vót, những lùm dú dẻ mọc bám vào đá, vươn lơ lửng và những cánh hoa vàng tươi lấp ló. Hương hoa dú dẻ thơm lựng như mật ong rừng ngạt ngào ùa vào gió bay rất xa. Những chùm hoa phong lan sắc vàng, tím nhạt như những lẵng hoa treo lên vách đá dựng đứng. Những cây sổ thẳng tắp thân to đến ba bốn người ôm vươn cao xòe tán chen nhau mọc. Phải mất hơn nửa giờ ngược suối, Năm Đồng và Út Hân mới tới Vực Thác. Có lẽ ngày xưa nơi đây chỉ là một cái vực nhỏ, theo thời gian Vực Thác trở thành một cái hồ rộng. Trên lớp cát vàng au những viên đá thạch anh trong như thủy tinh, và cả những viên đá xanh như ngọc bích, đỏ hồng như màu hoa dâm bụt nằm ngổn ngang. Nước trong xanh và mát lạnh. Nhìn vực nước, Út Hân khinh thường: -Vực nhỏ như vạt áo, bắt cá dễ ợt. Năm Đồng vẫn tỉnh khô: -Xung quanh là núi cao, con thác dựng đứng nằm chắn nên trông hồ nhỏ như vậy hiểu chưa? -Có lý... Đúng là sư phụ. Vẫn giọng tỉnh khô, Năm Đồng dở tay lưới vừa rũ vừa nói: -Đệ tử như mày dạy cũng hết hơi. Có chăng chị Hai, chú Chín mới trả lời hết câu hỏi của chú mày. Đứng ngây ra mà ngắm với nhìn, lại giúp tao một tay. Mắc đầu lưới vào một nhánh cây bên hồ, nhảy ùa xuống nước, Năm Đồng vừa bơi vừa gọi: -Cột đầu lưới xuống thấp một chút. Nhảy ùm xuống nước vừa bơi vừa đập cây xuống nước thùm thụp, thọc cây vào các ngách hang cho cá ùa ra, Út Hân vừa bơi vừa thở phì phì. Những con cá thia lia, thác lác nhảy vọt lên rồi nhủi đầu vào lưới khiến Út Hân khoai chí càng đập cho nước bắn tung tóe. Hơn một giờ quần với nước, Năm Đồng lên bờ ngồi say sưa rít từng hơi thuốc và ngắm trời ngắm đất, rồi đứng dậy vươn vai, vặn người hất đầu: -Thu lưới. Út Hân nhảy ào xuống nước bơi theo Năm Đồng. Cá dính vào lưới trắng xóa, Út Hân vừa bơi vừa kéo chiếc xoong để Năm Đồng gỡ cá cho vào xoong. Năm Đồng nhìn xoong cá: -Cá ở đây nhiều thiệt. Út Hân bỗng reo lên: -Anh Năm!... Con gì kìa!... Năm Đồng thoáng nhìn rồi lặn một hơi dài. Nước hồ trong vắt cuộn sóng. Bùn dưới đáy hồ theo sóng nổi lên khiến Út Hân không biết Năm Đồng lặn ở chỗ nào. Nhìn nước bùn cứ cuộn lên di chuyển rất nhanh, Út Hân càng khâm phục tài bơi lội như con rái cá của Năm Đồng. Khá lâu, từ dưới nước Năm Đồng trồi lên, đầu lắc lắc, hai tay ghìm rất chắc dưới nước gọi to: -Giúp tao. -Cua đinh!... Út Hân la toáng lên vội đẩy xoong cá vào bãi cát rồi nhảy ào xuống nước. Chỉ một loáng hai anh em đã bơi vào bờ, lật bụng con cua đinh vác lên bờ. Cua đinh là một loại ba ba núi rất to và rất khó bắt, chẳng hiểu bằng cách nào mà lặn dưới nước sâu, Năm Đồng vẫn bắt được nó, Út Hân xuýt xoa: -Anh Năm dạy em bắt cua đinh nghe... Em tôn anh làm đại sư phụ. Năm Đồng phấn chấn: -Cua đinh phải tìm thế mới bắt được, nó cắn thì không bao giờ mở miệng để nó chui vào hang, mình bị kẹt dưới nước ngợp thở mà chết. Nếu vùng tay ra thì mất cả ngón tay, chú mày dám không? -Dám!... Miễn anh dạy. Năm Đồng bật cười: -Mày nói dóc, tao không tin. Nè, loài này mà cắn chỉ có sét đánh nó mới hả miệng ra... Khó lắm đó. Thôi, đi về kẻo mọi người trông. Ăn trưa xong, phấn chấn Năm Đồng cùng anh em đi như bay về căn cứ xã. Ở nhà mấy cô gái đi khẩu đã cùng với Đào và Nhự ra mương số một vừa cảnh giới, vừa hái rau, bắt ốc. Thấy cá nhiều, lại bắt được cả cua đinh. Đào chép miệng: -Nội con cua đinh đã tới 20 ký thịt, lại còn cá, ốc, cua nữa... thiệt là khi ăn không hết, khi lần không ra. Mai vui vẻ: -Một huyện người ăn không thừa đâu. Ngồi chẻ lạt, ông Chín Tòng cũng vui vẻ xen vào chuyện: -Tao giao cho con Mai và mấy đứa con gái nấu ăn đấy. Quay lại nhìn anh em du kích, ông Chín Tòng nói to: -Nè, mấy đứa con trai tranh thủ ra mương tắm rồi kiếm chuối xanh, bắp chuối rau thơm, nhớ kiếm ít trái chanh nghe bay. Tốp con trai đi một lát khá lâu và đưa về mọi thứ mà chú Chín Tòng dặn. Chín Phượng lúng túng hỏi Mai: -Làm sao bây giờ chị Hai? -Nhặt rau, làm ốc, làm cá... thiếu gì việc nếu có thịt heo nữa thì nhất hạng. Nghe Mai nói, Chín Phượng chạy vù tới chỗ ông Chín Tòng. Chẳng biết “dân vận” bằng cách nào, chỉ thấy ông già gật đầu lia lịa và lập tức ra lệnh xuất một lon bự thịt hộp cho Mai nấu ăn. Mùi thịt cua đinh, ốc xào thơm lựng khiến mấy cậu du kích và Út Hân nhấp nhổm không yên, dắt nhau lượn qua, lượn lại xem mấy bà chị nấu ăn. Trong bếp, nhường chỗ cho Chín Phượng ngồi cạnh mấy cô gái Mai giảng giải: -Xào riêng từng thứ một, món ốc nấu đừng chín quá, nhớ khi mùi hành thơm mới bỏ thịt vào xào làm sao khi chín, chuối xanh vẫn giữ được từng miếng chứ không bị nát... Chín Phượng tay cầm đũa đảo thịt cua đinh, tay đẩy củi vui vẻ: -Nấu cho ngon kể ra cũng khó phải không chị Hai? Mai tiếp tục giảng giải: -Món cua đinh phải có đậu, thịt ba chỉ hoặc sườn heo chiên vàng cho vào mới đủ vị. Khi ăn người ta mới thấy mùi thơm, ngậy, béo, bùi... đọng trong cổ mới đạt yêu cầu. Chín Phượng rủ rỉ: -Anh chàng nào lấy được chị chắc thành ông Hoàng. Mai cú nhẹ vào đầu Chín Phượng: -Cái con ranh, con gái thì phải biết nấu ăn chứ. Tiền đâu cho chồng đi ăn tiệm?... Chín Phượng khúc khích cười: -Lấy chồng không biết nấu ăn, mẹ chồng cho cán chổi vào đầu là cái chắc. Cả ngày làm việc quần quật, tới khuya Mai mới có thời gian sửa lại bản báo cáo của xã để gửi về tỉnh và thị. Mọi lần mỗi khi hai chú cháu thông qua bản báo cáo, ông Chín Tòng chỉ nhắc Mai viết làm sao cho trung thực là xong nhưng lần này ông Chín Tòng chẳng những nghe mà còn đọc đi, đọc lại, rà từng chữ, từng câu trong bản báo cáo. Rít từng hơi thuốc dài, ông Chín Tòng lặng im, đắn đo, thỉnh thoảng lại chép miệng thở dài. Mai băn khoăn: -Khi viết báo cáo cháu rất chú ý không thổi phồng thành tích, nhưng cũng không nên quá khiêm tốn chú à. -Đành rằng vậy... Lặng im rất lâu, ông Chín tòng thở dài: -Làm báo cáo thành tích để trên xét Huân chương chiến công hạng 3 cho xã mình là đúng rồi. Riêng Năm Sang chú vẫn tin là nó giữ được khí tiết chứ không đầu hàng phản bội. Tin của một số quần chúng và một số cán bộ cho rằng Năm Sang đã khai báo là không có cơ sở. Mai dè dặt: -Ông Ba Thị ủy nói rằng Năm Sang là chân rết của bọn chiêu hồi và yêu cầu mình điều tra rõ để trên có kết luận về Năm Sang. -Trời ơi!... mình chẳng lẽ lại về hùa với nó. Ông Chín Tòng cau mày bực tức. Rít một hơi thuốc dài, vầng trán hơi nhăn lại, ông quăng mẩu thuốc bay lả tả như bầy đom đóm xà cánh đậu xuống đất và hậm hực: -Cháu chẳng hiểu gì trơn. Hồi mới thoát ly, Năm Sang là cần vụ của ông Ba. Những năm 1968, 1969 đói lay, đói lắt, anh em phải ăn củ bá, rau rừng thay cơm. Mỹ, Đại Hàn càn quét liên miên, chỗ ở phải thay đổi liên tục, vậy mà trong ba lô lão ta lúc nào cũng có sữa cô với cao khỉ. Đêm đêm trùm võng, lão ta lén ăn một mình. Lúc đó Năm Sang mới 16 tuổi, vậy mà bao nhiêu thứ nặng lão ta bắt Năm Sang gùi như con lạc đà. Hồi đó, lão ta là thường vụ chứ không phải như chiếc xe đạp xẹp lốp vì kỷ luật như hiện nay. Như trút được một phần bực dọc, ông Chín Tòng ngừng lại, móc túi lấy thuốc quấn và quẹt lửa hút thuốc, Mai lưỡng lự: -Ý chú muốn nói ông Ba Thị ủy là người không trung thực? Ông Chín Tòng gật đầu: -Thái độ hòa nhã của lão ta đánh lừa người nông nổi, làm sao qua mắt được thiên hạ. Lão ta cũng thù vặt một cây đó. -Chú muốn nói ông ấy có mặc cảm với Năm Sang? Ông Chín Tòng nhìn ra rừng đêm, vầng trán hơi nhăn lại rồi thư thả: -Hồi đó Năm Sang vì lấy một hộp sữa cho thương binh vậy mà lão ta đổ diệt cho Năm Sang ăn vụng và bắt làm kiểm điểm. Không làm kiểm điểm, Năm Sang tự động theo anh em đi khẩu định bỏ về nhà. May là gặp thằng Đoan, hai anh em tâm sự rồi thằng Đoan dẫn nó về trả cho đơn vị. Thằng Đoan thiệt thà góp ý, lão ta cho thằng Đoan là “trứng khôn hơn vịt”. Vậy là lão ta đổ diệt cho Năm Sang chiêu hồi. Trời ơi! Cái thằng nhỏ chưa đầy 16 tuổi đã hiểu biết gì về cách mạng sâu sắc đâu mà gán cho nó cái tội chiêu hồi tầy đình như vậy!... Mai ngạc nhiên: -Chuyện đó chỉ là chuyện vặt tại sao cũng trù dập người ta? Ông Chín thoáng cười rồi trầm giọng: -Vậy mới có chuyện, chủ yếu là sau này đồng chí thương binh ấy trở về địa bàn thị xã chiến đấu đem chuyện Năm Sang ra kể mọi người nghe, lão ta bị mất mặt nên thù Năm Sang chứ có gì đâu. -À... cháu hiểu... Ông Chín Tòng lại bật quẹt hút thuốc, chiếc thùng quẹt như cái cối xay đá, bực mình kéo phắt nắp thùng quẹt rút bông gòn để sát vào bánh xe rồi bật mạnh. Miếng bông gòn cháy bùng lên, ông Chín Tòng vội lấy tay che gió mồi thuốc. Rít một hơi thuốc cho đã cơn ghiền, ông Chín Tòng thấy Mai đang nhìn mình cười cũng cười theo và lấy chiếc thùng quẹt nắn lại trụ bánh xe, bất giác chép miệng: -Ở với thằng cha Ba nhiều hồi tức như cái máy quẹt hư, bởi không có cái thay nên phải giữ nó mà xài. Ông Chín Tòng bỗng trầm ngâm: -Thằng cha Ba cũng nhiều chuyện lắm... Thấy Mai ngạc nhiên, ông Chín Tòng thư thả: -Con nhớ chuyện thằng Đoan chứ? -Dạ con chỉ nghe loáng thoáng... Dường như suy nghĩ đã hung, ông Chín Tòng ưu tư: -Hồi cháu và thằng Đoan, thằng Lâm thoát ly đều được phiên cấp cơ sở 2 vì cả ba đều là Đảng viên. Hai thằng nhỏ sau vài trận chiến đấu được huân chương, được đi học lớp cán bộ trung đội. -Dạ cháu nhớ rồi... Ông Chín Tòng gật đầu: - Hồi đó lão Ba là phó bí thư Thị ủy. Lão ta bắt đào riêng một cái hầm kiên cố vừa ngủ vừa làm việc trong hầm. Nhiều người xì xầm về hành động không tốt của lão ta với một số chị em nữ ở dưới hầm. Chuyện đến tai, nhưng chú không tin, còn cho rằng lãnh đạo ở riêng để đảm bảo bí mật, an toàn cho các chủ trương, tài liệu là cần thiết. Mai khúc khích cười: -Vậy là chuyện “bí mật” của lão ta cũng “bật mí” hết phải không chú? Ông Chín Tòng xua tay: -Chưa hẳn vậy... Một bữa Năm Đoan và Năm Sang lên suối Đá Bàn đánh cá, ai ngờ bắt gặp lão ta tắm cho một con nhỏ. Lão ta bắt con nhỏ tuột hết quần áo tập bơi cho nó... Mai đỏ mặt vì mắc cỡ và tức giận: -Thiệt là quá tay!... Ông Chín Tòng trầm giọng: -Con nhỏ đó còn sống, nói ra không có lợi đâu Mai à. Chú nói để cháu hiểu, phải biết giữ cho mình... Mai tức giận hỏi: -Tại sao hồi đó mấy chú biết mà không kỷ luật? -Có chứ, kỷ luật hạ cấp, xong lão ta vẫn cứ lòng thòng và kỷ luật tiếp nên lúc này mới là Thị ủy viên. Khốn nỗi dưới làng, bà vợ lão ấy bị địch bắt đi tù. Nếu chuyện dừng lại ở chỗ hủ hóa thì đâu đến nỗi, lão ta cậy quyền trù dập thằng Đoan, thằng Sang thiếu điều muốn chết. Chà... xem ra cuộc chiến đấu này đâu phải hoàn toàn chỉ có đánh giặc. Mai hiểu lời nói của ông Chín Tòng như lời một người cha cố sức dạy bảo đứa con gái khờ khạo của mình và nói hoài vẫn sợ nó chưa hiểu. Ông Chín Tòng lại đều đều giọng: -Một lần chú cùng thằng Yến và thằng Vũ đi công tác gặp thằng Đoan tại chùa Ngọc. Nằm dưới chân bức tượng Quan Âm, chú giả đò ngủ để cho thằng Yến, thằng Vũ, thằng Đoan tâm sự. Tới gần hai giờ sáng, thằng Đoan lẳng lặng ngồi dậy thắp nhang trước bàn thờ Phật Tổ Như Lai và Quan Thế Âm Bồ Tát. Nước mắt rưng rưng, nó khấn: “...Ba ơi! Đêm nay con thắp hương trên bàn thờ Phật, nhờ Phật đưa linh hồn ba về đây! Những ngày địch tra tấn ba ở nhà tù Ngọc Lãng, con và em Hạnh đưa cơm cho ba, con làm sao quên được! Hôm chúng thủ tiêu ba, con và em Hạnh dắt nhau đi tìm mà chẳng thấy xác ba ở đâu!... Hồi đó anh em con còn nhỏ dại, bơ vơ sống nhờ cô, dì. Bây giờ con và em Hạnh thoát ly, nên không có chỗ nào lập bàn thờ cho ba được!... Ba ơi! Tại sao người ta lại trù dập, kỷ luật con? Con có tội gì đâu! Con chỉ góp ý làm sao cho anh em đỡ hy sinh vô ích! Tại sao người ta lại quy cho con tội sợ chết? Trốn tránh nhiệm vụ...”. Ông Chín Tòng thở dài đăm chiêu : -Thế đấy, mặt trái của chiến tranh có điều tưởng như vô lý nhưng nó là sự thật. Hồi đó chú phải lên tỉnh xin Năm Sang về xã, Năm Đoan về tỉnh cho thoát nạn cháu à... Mai nhỏ nhẹ: -Dạ!... Cháu hiểu!... Ông Chín Tòng lại thở dài: -Bởi vậy trường hợp Năm Sang cháu phải hết sức thận trọng. Mai lại ngồi cắm cúi suy nghĩ sửa lại bản báo cáo. Đối với Mai, ông Chín Tòng chẳng những là một người cha mà còn là một cuốn tự điển sống vô giá giúp cho Mai hiểu được uẩn khúc của cuộc đời mà Mai chưa nhận ra được. Mai hiểu thêm một điều: “Hàng triệu người đang ngày đêm sống chết với kẻ thù, kết lại bên nhau thành những rừng cây hùng vĩ, vẫn có những con sâu ẩn nấu và đục khoét. Trong thân cây, con sâu có thể thừa cơ leo cao, đục sâu để gây họa cho đời. Sự cân nhắc về một con người rất khó, chẳng những phải thận trọng mà còn phải dũng cảm và tế nhị nữa.” Chợt nhớ hồi Lâm, Mai và Đoan mới thoát ly lên căn cứ được điều về cơ quan của ông thủ trưởng được anh em gán cho cái tên ông “vợ khuất núi”. Chẳng hiểu rặng Trường Sơn bao la dài là bao nhiêu cây số nên chẳng ai biết được vợ thủ trưởng đã chết, hay do núi non trùng điệp, cách trở mà tạo nên cảnh “vợ khuất núi”... Chuyện đó, chỉ có trời mới biết. Hôm bắt gặp Lâm và Mai ngồi bên suối rù rì tâm sự, thủ trưởng liền gọi cả ba anh em lên văn phòng cho một bài dài về quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tình hình cách mạng hiện nay là xây dựng tư tưởng tấn công cách mạng, không sợ hy sinh, gian khổ, ác liệt, kiên quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Nhiệm vụ của thanh niên trong việc thực hiện phong trào ba khoan là khoan cưới, khoan yêu và khoan cái sự có bầu. Với lý luận rút ra từ học thuyết Mác-Lê Nin, kết hợp với thực tiễn và sáng tạo để áp dụng cho cơ quan, ông “vợ khuất núi” yêu cầu phải thực hiện hai cấm là cấm yêu, cấm cưới, còn đã cưới thì làm sao cấm được cái sự có bầu. Thấy anh em ngồi lặng im nghe, thủ trưởng cao hứng: “Xét như việc ngồi bên suối rù rì nói chuyện là tiền đề là cái sự lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, tất phải sinh ra tình yêu. Yêu làm cho người ta sợ chết, giảm ý chí tấn công cách mạng như vậy thì phải cấm ...”. Lâm bức xúc xin phát biểu: “Yêu sẽ tạo cho con người sức mạnh để chiến đấu và công tác; ví như Mác không nhờ vào tình yêu của Gien-ni làm sao Mác có thể hoàn thành được học thuyết của mình”. Thủ trưởng nổi nóng cắt lời Lâm: “Cậu nói bậy! Gien-ni là cái gì? Đời nào ông Mác lại có chuyện yêu đương!... Tôi học đầy mình chủ nghĩa Mác-Lênin, cậu đòi hơn tôi sao...”. Vậy rồi một tháng sau Đoan và Lâm được điều về lực lượng vũ trang, còn Mai ở lại làm thư ký, kiêm văn thư, đánh máy cho thủ trưởng. Tận dụng triệt để chiến thuật lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, ông cố tìm và tạo ra cơ hội để va chạm vào người Mai và bắt Mai gọi bằng anh cho thêm tình thân mật... Sự sàm sỡ của thủ trưởng khiến Mai chỉ việc khóc một mình. Cũng may, ông Chín đi công tác ghé thăm và Mai đã nói hết sự thật rồi nằng nặc xin ông cho về xã công tác. Không thèm chào ông “vợ khuất núi” một câu, ông Chín đến gặp chú Sáu bí thư Tỉnh ủy và không hiểu hai người bạn nối khố nói những gì với nhau mà nửa tháng sau Mai được về xã Phụng công tác. Thời gian cứ trôi, ông Chín đã dìu Mai lên làm Bí thư xã Phụng. Trong thời gian điều trị bệnh bằng thuốc của vợ ở dưới làng gởi lên ông Chín tạm thời làm Chủ tịch xã. Khi tình hình xã Phụng vượt lên, sức khỏe ông Chín khá lên, ông sẽ về Tỉnh công tác. Nghĩ tới những người như ông Ba Thị ủy, ông “Vợ khuất núi” Mai thấy vừa sợ, vừa băn khoăn không hiểu tại sao họ vẫn luồn lách để tồn tại và phát triển giữa rừng cách mạng lúc nào cũng ào ạt khí thế tấn công tiêu diệt địch như hiện nay!?... Đọc bản báo cáo đã sửa chữa của Mai, ông Chín Tòng hình như chưa vừa ý. Cúi đầu đi đi, lại lại trong nhà, tay không rời điếu thuốc rồi hút hết điếu này tới điếu khác, rồi cầm bản báo cáo đọc lại một lần nữa, giọng dứt khoát: -Ta ghi như vầy: “ Đang tiếp tục nắm các nguồn tin về Năm Sang, chưa có hiện tượng khai báo. Sẽ có báo cáo gửi tiếp”. Như trút được gánh nặng, cả Mai và ông Chín Tòng cùng cười. Ra khỏi nhà, ông Chín Tòng quay lại dặn Mai: -Sơ bộ như vậy, cháu viết lại rồi gửi ngay cho kịp. Nhìn theo ông Chín Tòng bước những bước chắc đậm trong sương đêm lành lạnh, bất giác Mai nhớ tới hình ảnh trái Rốc-két nổ trên nóc gộp, mảnh bay sạt qua mặt, vậy mà ông vẫn ngồi tỉnh bơ và nói: “Bom đạn tránh mình chứ mình làm sao tránh được bom đạn”. ấy vậy mà ông thường nêu gương Mai dũng cảm để mọi người học tập. Ông đâu có biết khi Út Hân vừa khóc vừa run kêu lên: “Chị Hai ơi!...Chết thiệt rồi!...” ngoài miệng Mai ngầy Út Hân nhưng bụng khấn thầm: “Vái trời, vái Phật phù hộ, độ trì cho con tai qua, nạn khỏi!... Anh Lâm ơi nếu em hy sinh, anh nhớ tới mộ em thắp nhang để em đỡ tủi nghe anh?!...” Mai bỗng bật cười thành tiếng nhủ thầm: “Vậy mà mình vẫn sống nhăn răng...Ông Lâm mà biết chuyện này thì cười mình vỡ bụng”. Nghĩ tới nhận xét của Lâm về mình: “Cả nghĩ, hay lo như một bà già, lúng túng như anh thầy chùa ăn vụng thịt”, Mai thấy quả là đúng. Chẳng vậy mà mỗi lần hẹn chưa gặp thì mong tới, mong lui, sắp xếp bao chuyện trong đầu để nói. Khi gặp mọi chuyện quên hết, Lâm nói gì Mai cũng chỉ dạ và cười... Cái lần Mai cố ý sắp xếp câu chuyện trong đầu để khi gặp Lâm, sẽ nói cho Lâm biết mình không phải là người Lâm nói gì cũng gật đầu cười và dạ đâu. Khi gặp Lâm, đầu Mai như mớ bòng bong, thoáng nhớ câu ca dao, Mai nói ào: "- Sông sâu lắm lạch, sông Bàn Thạch nhiều lươn. Ngó chừng thương đặng thì thương. Đừng trao gách nặng giữa đường khổ nhau. .. Nghe anh!...” Lâm rũ ra cười: -Cô Tú bói ở đâu ra câu ca dao vậy cô Tú!...Từ hồi còn đi học tới giờ anh mới thấy em đem lươn, ếch ra nói chuyện với anh đấy!... Mai đỏ mặt đấm thùm thụp vào lưng Lâm: -Ông quỷ!...Ăn hiếp người ta hoài!... Rừng đêm lành lạnh. Tiếng lá me trong gió rầm rì. Mai đắm mình trong những kỷ niệm bồng bềnh, rất xa!... Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Chín, 2023, 03:49:04 pm Chương 7 Lâm và Đoan được phân công xuống công tác ở địa bàn Xã Phụng. Dẫu biết là “người nhà”, dù sao Lâm và Đoan vẫn là phái viên của tỉnh nên ông Chín Tòng tổ chức đón tiếp rất bài bản. Triệu tập cuộc họp toàn xã, ông Chín Tòng giới thiệu Lâm và Đoan là đặc phái viên của tỉnh về công tác tại xã. Ít khi cán bộ về công tác mà được ông Chín giới thiệu như vậy, mọi người tin chắc hai người được cử về làm nhiệm vụ đặc biệt. Mai nhắc ông Chín Tòng: “Là phái viên chứ không phải đặc phái viên”. Ông Chín Tòng làm lơ giải thích thêm rồi nhấn mạnh trách nhiệm của xã là giúp hai người hoàn thành nhiệm vụ. Cuộc họp tự nhiên nghiêm túc hẳn lên. Du kích tự động nhìn nhau xích chỗ ngồi cho hàng ngũ ngay ngắn. Ông Chín Tòng phấn chấn: -Khi còn ở hợp pháp, đồng chí Đoan và Lâm là những cán bộ, Đảng viên của xã mình, quá trình rèn luyện đã trưởng thành như hôm nay, tôi mong các đồng chí cũng trưởng thành nhanh chóng như anh Lâm và anh Đoan. Giới thiệu Lâm và Đoan xong, ông Chín Tòng triển khai công tác và phân công nhiệm vụ cho từng bộ phận rất rành mạch. Kết thúc cuộc họp, ông Chín Tòng hồ hởi: -Anh Lâm và anh Đoan là huynh trưởng trong nhà, bởi vậy bữa nay xã mình liên hoan, các đồng chí rõ chưa? -Rõ... Chín Phượng thì thầm nói với Bốn Đào và Hai Trúc: -Cả hai người được ông già kết nạp vào Đảng từ hồi còn đi học, đâu phải tầm thường. Những “chiêu thức kỳ ảo” của ông già, người nào học được đều là một tay hảo hớn đó. Út Hân bĩu môi: -Xì... Nói y như truyện chưởng. Hai Trúc vô tình hỏi Chín Phượng: -Chắc hồi còn ở nhà suốt ngày ngồi ôm truỵện chưởng đọc phải không? Chín Phượng đỏ mặt lúng túng: -Đâu có... cũng đọc sơ sơ thôi. Ba Hổ tò mò: -Chị đọc những truyện gì? -Đọc ít bộ như: “Anh hùng xạ điêu, Cô gái Đồ long, Xác chết loạn giang hồ...” tùm lum truyện, chị quên hết rồi. Út Hân cả quyết : -Nè, sách báo ngụy độc hại, phản động cấm đọc nghe chưa? Chín Phượng đánh trống lảng: -Thôi đi nấu ăn, ngồi tán dóc hoài. Ý kiến đề nghị đúc bánh xèo liên hoan của Mai được chú Chín Tòng đồng ý cái rụp rồi cười xòa và vỗ vai ông Tư Hàm kinh tài xã: -Anh ở lại căn cứ vài bữa rồi cùng thím Năm về hậu cứ sản xuất. ở hậu cứ phải là người có kinh nghiệm và chịu khó như anh thì sản xuất mới có kết quả. Khi thời vụ đến tôi sẽ cho lũ trẻ lên hỗ trợ anh sản xuất. Ở xã Phụng chỉ có Mai và ông Chín Tòng nói được ông Tư Hàm còn lũ trẻ kiềng ra mặt, bởi mỗi lần có việc nhờ chẳng những ông Tư không làm mà còn cho một bài học nhớ đời nữa. Được lệnh của ông Chín Tòng, Út Hân ra rừng lấy cá hộp về rồi chạy đến bên Mai nhảy cẫng lên: -Ô kê...Bữa nay nhất Chú Chín!... Mai vui vẻ: -Còn thằng Út thì nhị đánh bài, tam khóc nhè, tứ ngủ nướng phải không? Chín Phượng hùa theo: -Chị đọc tới cả chục cho nó bớt lấm lắc. Út Hân nhìn Chín Phượng cười khiêu khích: -Chị có muốn em thông báo chuyện chị cho mọi người biết không? Chín Phượng đỏ mặt: -Tao chẳng có chuyện gì hết. -Chị thách em phải không? -Tao thách đấy. Út Hân cười khanh khách: -Nghe đây, bà con... Có một anh biên thư cho chị Phượng. Chín Phượng đứng phắt dậy cú vào đầu Út Hân: -Thằng quỷ...Cây vào đầu đó nghe em. Nhiều tiếng cười hùa với Út Hân: -Nói đi Út...Tao thưởng. -Ê...Thằng Út sợ Chín Phượng rồi. Út Hân hăng máu la to: -Bà con nghe đây... Em ơi! Cái chuyện yêu thương ấy, nó loằng ngoằng mà bốn ngàn năm nay ông bà ta gỡ chưa ra... Chín Phượng đỏ mặt, đấm vào lưng Út Hân đến thụi một cái: -Nói tầm bậy!... Út Hân nhảy cẫng lên cười giòn tan: -Ai biểu chị để thư trong túi cóc ba lô cho người ta lấy đọc. Thấy Chín Phượng lượm cái cây, Út Hân co chân chạy, trong tiếng cười của mọi người. Đã có lần, cao hứng ông Chín Tòng ví con gái xã Phụng là quả bom nguyên tử nổ chậm. Nếu nó “phình” ra và nổ cái “bụp” lập tức cả xã Phụng hành quân về hậu cứ sản xuất làm nhà trẻ, rồi thay nhau vác gạo cho những công dân tương lai ăn... khỏi phải lo đánh giặc. Nhờ câu nói đó mà khối chàng muốn được đến xã Phụng công tác. Mai cùng Đào ngồi nhặt rau thơm. Nước da Đào trắng hồng, người thon đậm, đi đứng lúc nào cũng đủng đỉnh. Có lẽ tính Đào như vậy nên ông Chín Tòng và Mai để Đào làm công tác chính trị. Khác với Đào, Nhự điềm đạm và mộc mạc, nói câu nào thì câu đó chắc như cua gạch. Tuy ít nói, nhưng dẫu người khó tính cũng khó giận trước nụ cười hiền lành và chân thật của Nhự. Chẳng hiểu từ nãy đến giờ Đoan nói gì với ông Chín Tòng, bỗng Đoan cười to: -Nè, mấy đứa con gái, nghe chuyện kể đây. Út Hân háo hức: -Kể đi anh Năm. Đoan phì cười nhìn ông Chín Tòng, rồi nhìn mọi người giọng tỉnh bơ: -Có một anh chàng mới cưới vợ, chị vợ cũng đẹp gái như con gái xã mình. Trước khi cưới vợ, ông cha dặn con trai: “Con gái mỗi khi má nó hồng lên là lúc nó muốn ngủ với chồng. Mày phải học thuộc lòng để vợ chồng biết đường ăn ngủ với nhau nghe chưa?”. -Anh Năm xạo sự... Chỉ tìm cách nói xấu con gái... -Cầu mong cho anh Năm ế vợ, ngồi khóc cũng chẳng có ma nào tới dỗ. Giọng Đoan vẫn tỉnh bơ: -Vậy là sau khi cưới,quả thực mỗi lần ngủ với vợ má cô nàng cứ đỏ ửng lên. Anh chàng thầm phục lời nói ông già vậy mà linh. Bốn Đào xua tay kêu lên: -Bọn em không nghe đâu!... Đoan càng nói to: -Một bữa anh ta đi cày, thấy vợ đun bếp má đỏ ửng liền la toáng lên: “Cả đêm má đỏ ửng, người ta vần cho ba, bốn lần rồi mà còn chưa đã hay sao mà bây giờ má còn đỏ ửng lên!...Đồ mất nết!...Không muốn tao đi cày nữa hả”. Mọi người phá lên cười. Bốn cô gái bịt tai, nhắm mắt... Tiếng cười quyện theo hương thơm của bánh xèo bay rất xa...Rất xa... Cả tỉnh ai cũng trọng ông Chín Tòng là người ăn ở tình nghĩa, thủy chung. Nhiều người nói cái số ông Chín Tòng vất vả nghiệm ra mà đúng: Trải qua nhiều cương vị công tác lãnh đạo ở tỉnh, nơi nào khó khăn ông đều được cử về tháo gỡ, đẩy phong trào đi lên khá khẩm, ông lại được trên rút đi nơi khác. Những tháng năm chiến đấu ác liệt và dai dẳng, thương tật đã đổ lên đầu ông bao chứng bệnh. Cuộc đời làm cách mạng của ông không có lương bổng. Công tác ở tỉnh thì thuốc men hiếm hoi, không lý vì bệnh tật mà làm phiền tổ chức, nghĩ vậy nên ông Chín Tòng xin về xã công tác và chữa bệnh. Gần vợ con, làng xóm, điều kiện thuốc men thuận lợi hơn, sức khỏe khá lên chút nữa ông lại về tỉnh nên việc bồi dưỡng cho Mai đủ sức đảm nhiệm vị trí bí thư xã trọng điểm là việc ông quan tâm hàng đầu. Hiểu được sức khỏe của ông Chín, Lâm và Đoan đề nghị được tham gia một phần công việc của xã để Mai và ông đỡ vất vả. Ông Chín Tòng cười ha hả, vỗ đùi đánh đét nói: -Phải vậy chứ, hai đứa là huynh trưởng, phải làm gương cho em út nó học là đúng rồi. Quay lại phía Mai, ông Chín Tòng ôn tồn: -Từ giờ trở đi, mọi công việc họp hành của xã phải mời Lâm và Đoan tham dự nghe cháu. Mai khúc khích cười: -Quý tử của ông già có khác... Ông Chín Tòng sảng khoái: -Đúng, hai đứa tất phải khác, nó ra đi và trưởng thành từ xã này, phải có trách nhiệm với xã Phụng chứ. Cả bốn chú cháu cùng cười. Quay đi, quay lại đã gần 4 năm, bốn chú cháu mới có dịp ở bên nhau. Nhìn Lâm, Đoan và Mai, giọng nói ông Chín Tòng như một cơn gió mát: -Có lẽ đợt này chú được rảnh rang, sức khỏe chắc tốt lên nhiều... Sắp rày trở đi mọi công tác ba đứa bàn với nhau, đánh giặc phải mạnh dạn, táo bạo các cháu à. Đoan vui vẻ: -Cháu thấy Năm Đồng cứ một mình lũi cũi cưa đục bom câm, pháo lép ngoài rừng không tiện, ta cần dành riêng một chỗ để Năm Đồng cải tiến bom, pháo chú à. Thấy cả Mai, ông Chín Tòng và Lâm chú ý lắng nghe, Đoan thư thả: -Có chỗ làm việc rồi ta huy động toàn bộ lực lượng đi tìm bom câm pháo lép để Năm Đồng cải tiến thành mìn như vậy vừa nhanh, lại tiện lợi. Ông Chín Tòng bỗng vỗ lên trán mình, nói như reo lên: -À...à... Vậy mà hay, có bấy nhiêu chuyện mà già này nghĩ không ra. Chà... Hậu sinh khả úy. Đúng là tam nhân hóa Gia Cát. Phương án đã rõ, ta triển khai ngay. Mai vui vẻ: -Dạ... Để cháu tìm địa điểm. -Ôi dà... Chỗ triền đồi bên suối cạn rừng gai quýt là vị trí số một rồi, ở đó vừa an toàn, vừa bí mật đúng không? Nói xong, ông Chín cười vang. Mai hiểu, chỉ những lúc tâm đắc nhất, tiếng cười ông Chín Tòng mới âm vang như vậy. Hơn một tuần tìm bom câm, pháo lép, cắt tranh, chặt cây làm xưởng chế tạo mìn, sáng nay ông Chín mới rảnh rang. Ngược theo con suối cạn, vừa đi vừa bập phà điếu thuốc rê, ông Chín lắng nghe tiếng nói râm ran của các cô gái xã Phụng. Ngước nhìn lên sườn núi, ông Chín Tòng mỉm cười lắc đầu:“Cũng con nhỏ Phượng, tiếng cười lảnh lót bay đến là xa, nếu có biệt kích, nội tiếng cười cũng đủ lạy ông tôi ở bụi này rồi...”. Lùi ra khoảng cát rộng giữa suối, ngắm cánh rừng xanh biếc đang hòa vào mầu xanh thăm thẳm của bầu trời, ông thích thú phát hiện ra điều kỳ diệu của thiên nhiên mà bao năm mình chẳng biết: khác với vùng suối Sổ là nơi những cây sổ lá xanh bóng đua nhau mọc tạo thành một cánh rừng chạy dài tận cao nguyên Vân Hòa. ở đây là rừng của cây gai quýt, từ thân đến cành gai nhọn tua tảu, lá xanh đen sần sùi, những cây quýt bằng cổ tay bắp chân thi nhau mọc trên vùng đất gan gà lổn nhổn sỏi đá. Những cây dây leo lâu đời bò dưới đất, quấn lên cây tạo cho cánh rừng rậm rạp và u tịch. Tay không mà chui vào rừng gai quýt nếu không rách áo thì cũng rách da. Thì ra cây cối cũng biết rủ nhau sống thành rừng như con người rủ nhau ở thành xóm làng đông đúc vậy... Tiếng cười của Chín Phượng lại vọng xuống suối cắt ngang ý nghĩ của ông Chín Tòng. Ông nắm chặt thân cây gai quýt theo con đường mới trổ leo lên núi tới chỗ anh em đang lợp nhà. Vừa nhìn thấy ông Chín, Chín Phượng chỉ về phía Năm Đồng: -Chú à... Từ nay trở đi cho anh Năm lên đây ở riêng để tu, bọn cháu gọi là chùa thầy Năm Đồng rồi đó. Năm Đồng trả đũa: -Chú cho Chín Phượng lên làm tiểu cho cháu sai việc. Hai đứa tu chung một chùa cho vui. Đào cười, đấm vào lưng Mai thùm thụp: -Chị thấy chưa... Vậy mà ai cũng biểu Năm Đồng hiền khô. Phượng ơi! Em thua rồi. Phượng dãy nảy như đỉa phải vôi: -Anh lên một mình mà tu thì có... Ai lên làm gì... Cái ông... Lì một cây. Mai cũng chen vào: -Tội nghiệp, nó chỉ thua con cọp có đuôi thôi. Vừa lúc đó tốp đi kiếm bom câm, pháo lép cũng về tới nơi. Mọi người hùa vào chọc khiến Chín Phượng mặt đỏ bừng chỉ biết đưa tranh lên nóc nhà cho Mai và Đào như một cái máy. Mai vừa cười vừa nói to: -Khoan đưa tranh lên... Để bọn này lợp đã chứ. Lâm, Đoan và ông Chín Tòng nhìn Mai và Đào ngồi trên mái nhà lợp tranh nhìn nhau cười. Ông Chín Tòng chép miệng: -Tội nghiệp... Ai lại để phụ nữ lợp nhà bao giờ. Lâm chỉ về phía Mai: -Chú coi, dận tranh, siết lạt thoăn thoắt, có lóng ngóng chút nào đâu. Ông Chín Tòng bỗng bật cười thành tiếng, Đoan ngạc nhiên: -Chú cười gì vây? -À... Chú nhớ hồi ở tù ra vừa thoát ly lên cứ, lực lượng mình còn ít, vũ khí lại thô sơ, địch ruồng bố nên phải vào tận rừng sâu làm nhà ở. Một bữa anh em đi công tác, ở nhà chỉ còn một mình con nhỏ văn thư. Đang đánh máy tự nhiên con gấu đi vào nhà, con nhỏ sợ quá ôm cái máy đánh chữ leo lên nóc nhà ngồi. Con gấu sục vào nhà, đi quanh sân và con nhỏ nằm chết siếng trên nóc nhà. Rất may là anh em về kịp, con gấu thấy đông người chạy mất. Cậu Lạng to khỏe trèo lên nóc nhà cõng nó xuống, xong vừa đặt con nhỏ xuống đất đã bịt mũi chạy xuống suối. Lúc đó bọn mình mới ngửi thấy mùi khai, hóa ra con nhỏ sợ té đái ra quần. Nghe chuyện Lâm và Đoan cười ầm lên làm Mai và Đào luống cuống trèo từ trên nóc nhà xuống. Lâm nói to: -Bình tĩnh chuyền qua cây rồi leo xuống. Chờ Mai và Đào bám cây leo xuống đất, Đoan tinh tỉnh: -Luống cuống té từ trên mái xuống có nước té đái ra quần chứ không chơi đâu. Chín Phượng ngượng chín mặt: -Bọn em chịu thua anh Đoan!.. Đó!... Tưởng như đông người làm một lát là xong việc, vậy mà tới quá trưa công việc mới xong xuôi, mọi người lục tục kéo nhau về nhà ăn cơm. Ông Chín Tòng đứng nhìn ngôi nhà mái lợp dày, chân mái được cắt xén thẳng tắp, bốn góc mái uốn cong, mỉm cười hài lòng. Dự tính công việc của xưởng bỗng hiện ra như một dòng sông vô tận càng làm ông say sưa tin tưởng vào việc làm của mình. Bất giác ông Chín Tòng nghĩ đến Năm Sang, ông thấy lo và thương thằng nhỏ gặp vận đen. Ông đã sắp trong bụng kế hoạch sử dụng cơ sở hợp pháp cứu Năm Sang, nếu không bọn địch sẽ đưa Năm Sang đi Côn Đảo, Chí Hòa thì khốn... Bất chợt, ông băn khoăn đem Hai Trúc, Năm Đồng ra so sánh. Bởi ông thấy cả hai người đều có năng lực rõ rệt. Năm Đồng tuy to xác, hơi chậm nhưng suốt ngày làm việc không ngơi tay. Dù muốn hay không, Năm Đồng cũng phụ trách nhà xưởng cải tiến mìn. Công việc cưa đục bom pháo cực kỳ nguy hiểm nhiều người sinh nghề, tử nghiệp vì bom câm, pháo lép rồi. Công tác của Năm Đồng thì sự rủi ro chỉ có trời mới biết được...Còn Hai Trúc tuy ít nói, nhưng tháo vát, chỉ huy vào loại khá xong vẫn còn thiếu tính quyết đoán...Dẫu sao cả hai người cũng cần phải bồi dưỡng liên tục. Chẳng mấy chốc đã về tới nhà, ông Chín Tòng tới ngồi trên tảng đá bằng và nhẵn thín như tấm ván dưới gốc cây me ăn cơm. Vừa ăn vừa nhìn những cánh võng đu đưa, ông Chín Tòng nhìn thấy sự trưởng thành vượt bực của cán bộ và du kích của xã Phụng trong thời gian vừa qua là xác đáng và gật gù tâm đắc: “Con nhỏ xem ra cũng chín chắn ra trò...” Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Chín, 2023, 08:34:57 am Chương 8 Cuộc họp chi ủy mở rộng suốt buổi chiều diễn ra căng thẳng. Phương án đánh địch mà Mai đưa ra quả là mạo hiểm, nhưng được tính toán cẩn thận và chuẩn bị công phu. Hai bờ tre thôn Nguyên và thôn Tường do bố phòng chết nên bảo an, dân vệ không dám tới vì đã bốn lần chúng lùng sục là bốn lần vướng mìn làm sáu đứa chết, gần một chục bị thương. Muốn ở khu vực này thì phải bí mật, bất ngờ. Nếu để một bộ phận du kích tại bờ tre thôn Tường và thôn Nguyên thì phương án đánh địch kết hợp với quần chúng nổi dậy của cả xã tất chắc chắn hơn. Nhận thấy ý kiến của mọi người đã thống nhất và đầy đủ, Mai nhẹ nhàng: -Phương án đánh địch kết hợp với nổi dậy của quần chúng trong toàn xã đã thống nhất. Nếu không có ý kiến gì khác, ta thông qua. Thấy mọi người không phát biểu nữa, Mai thư thả : -Còn một vấn đề rất quan trọng là xã ta phải chuẩn bị lương thực cho Tỉnh và Thị. Qua thăm dò ý kiến tôi đề nghị đồng chí Tòng phụ trách vấn đề này. Ông Chín Tòng giật nảy người: -Sao!... Cho tôi giữ kho à!... Mai bật cười: -Không phải vậy, vận chuyển và cất dấu lương thực tại căn cứ là một công tác đòi hỏi người có kinh nghiệm mới làm được. Đợt đánh càn vừa qua cho thấy nếu không có đồng chí chỉ huy cất dấu lương thực thì đơn vị mình đói to. Mọi người xúm vào phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề dữ trữ lương thực và đề nghị ông Chín Tòng nên chấp hành ý kiến tập thể. Ông Chín sẵng giọng: -Các đồng chí cứ nói toạc ra tôi là con bò già, chậm chạp, sức yếu không đánh địch được nữa có phải hơn không. Tôi thấy không nên quan trọng hóa việc ở lại căn cứ. Lâm nhanh miệng: -Hàng trăm anh em từ miền Bắc mới vào, nói chung địa hình không thạo, chiến trường thì dày đặc Đại Hàn và Mỹ nên cần có lương thực để đảm bảo bí mật, an toàn cho anh em trước khi vào trận. Vận chuyển lương thực đâu phải chỉ có gạo với kho tàng, còn muối, mắm, vải, thuốc men... theo tôi rất phức tạp... -Đồng chí nói hết chưa?- Ông Chín Tòng cắt ngang,- Năm 65 bọn tôi vừa đánh giặc vừa lo lương thực cho cả hai trung đoàn Hưng Đạo, Ngô Quyền, cả lực lượng quân khu nữa, hàng vạn người bây giờ vài ngàn người thì ăn nhằm gì so với hồi đó. Đoan đưa mắt nhìn Mai và Lâm ra hiệu “Lý luận với ông già không được đâu...Tìm cách khác đi...”. Ông Chín Tòng vẫn sang sảng: -Ta vừa đánh địch vừa chuẩn bị lương thực nào có chết ai. Các đồng chí phân công theo kiểu gạt đũa, để tôi không được tham gia đánh địch là không được. Mai nhỏ nhẹ: -Anh em không nghĩ vậy đâu, đánh địch dưới làng tuy phức tạp nhưng thuần một chuyện đánh và rút quân, còn lương thực nếu không biết tính toán thì không ra việc, cấp ủy họp để phân công cân đối lực lượng, chứ ai dám nói đồng chí già yếu. Ông Chín Tòng phá lên cười: -Đó...nói một hồi, cái đuôi chuột ló ra liền . Mai cười nhìn ông Chín Tòng xắn tay áo và khuỳnh tay chống lên đùi: -Đây là cuộc họp cấp ủy mở rộng đúng không? -Dạ...đúng. -Trong cuộc họp ngoài tình đồng chí còn có tình cảm chú cháu nữa phải không? -Dạ ...đúng... -Vậy ta nói về tình chú cháu đã... Ông Chín Tòng gồng tay để mọi người thấy những bắp thịt cuồn cuộn nổi lên rồi thu tay về, chậm rãi nói: -Lần này chú “xuống thang” thua các cháu. Thằng Lâm, thằng Đoan là phái viên của tỉnh mỗi đứa lãnh một mũi chỉ huy đánh địch huống chi chú lại ngồi ở nhà. Mấy cháu nghĩ sao khi không cho chú tham gia đánh địch. Tưởng ông già “xuống thang” ai ngờ chuyển qua đòn “chính trị”, Mai nhìn Đoan và Lâm lúng túng rồi tất cả nhìn ông Chín Tòng cười xòa. Hiểu tâm trạng của từng người, ông Chín Tòng nghiêm nghị: -Tôi hiểu các đồng chí thương tôi song lúc khó khăn, nguy hiểm thì ta cùng nhau cáng đáng. Sống chết là chuyện thường tình của người cách mạng các đồng chí phải để tôi tham gia trận này. Ngừng một lát, ông Chín Tòng đăm chiêu: -Quy mô, tổ chức và diễn biến của trận đánh rất phức tạp. Tôi hiểu đồng chí Lâm và đồng chí Đoan không thể ngồi ngoài bỏ mặc cho tôi và đồng chí Mai. Cái lý, cái tình như tấm lưới đan xen, ràng buộc nhau,vậy thì chúng ta cùng vào trận. Ông Chín Tòng nói cả hội nghị cũng phải xuôi, cuối cùng phải quyết định để ông Chín cùng ở hướng chính diện với Mai lo đánh địch và chỉ huy đồng bào nổi dậy hổ trợ cho du kích nổ súng đánh địch. Cuộc họp tan, chờ mọi người đi hết Lâm vuốt nhẹ lên tóc và nắm chặt tay Mai vui vẻ: -Đúng là ở gần chú Chín em trưởng thành lên nhiều. Nói như truyện chưởng thì phương án em nghĩ ra là một quái chiêu, chưa có trong sách vở. Phấn chấn Lâm kéo đầu Mai chạm vào ngực mình, Mai khúc khích: -Có sách vở đàng hoàng “Hai chân, ba mũi, giáp công”... Đừng bắt em áp đầu vào ngực anh nữa, người ta trông thấy kỳ lắm!... Khẽ xô người Lâm ra Mai thủ thỉ: -Em đã làm việc với cấp ủy xã Quang và xã Kiến để cùng nhau triển khai lực lượng quần chúng đồng loạt nổi dậy tạo thế phân hóa và vây ép địch. Lực lượng ta đánh nhanh và rút gọn, như vậy coi như trận đánh thắng lợi. Lâm đặt nhẹ tay lên vai Mai: -Anh lo nhất là thời cơ, thời điểm hợp đồng tác chiến không chặt, địch sẽ thẳng tay khủng bố, em hiểu không? -Dạ... Em hiểu. Lâm nhìn Mai rất lâu rồi cầm tay Mai vuốt nhẹ: -Người em sút đi nhiều... Giá chi anh san bớt được công việc của em!... -Thì anh và anh Đoan đã gách việc cho em rồi ... Lâm cười: -Chẳng ăn nhằm vào đâu!... Nhìn xung quanh không thấy ai, Mai ngồi tựa vào Lâm bỗng cười khúc khích. -Em nghĩ gì mà cười vậy? Mai đỏ mặt: -Em vừa ước hai đứa mình được ngồi mãi bên nhau cho đến ngày cả hai đứa hóa đá ở khu rừng này để nơi đây vĩnh viễn là chỗ ở của hai đứa mình... Lâm ôm chặt Mai vào lòng, hôn nhẹ lên má người yêu. Mai bàng hoàng giật mình: -Mấy đứa nó trông thấy... mắc cỡ chết anh à! Còn nhiều thời gian nói chuyện phải không anh? Lâm càng ôm chặt Mai: -Sợ gì!...Trước sau cũng cưới, chuyện chúng mình chú Chín biết từ lâu rồi còn gì. -Cũng tại anh!...Lì một cây!...Em “ghét” anh lắm!... Ấy vậy mà Mai vẫn ngồi yên trong vòng tay của Lâm. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Chín, 2023, 08:43:09 am Chương 9 Ba hôm rồi, tại gò Giữa thôn Tường và thôn Lẫm cuộc đấu tranh giữa dân xã Phụng và địch diễn ra quyết liệt. Gò giữa rất rộng và dài tới hơn bốn trăm mét. Chạy dọc giữa gò là con đường cái nối liền giữa thôn Tường và thôn Lẫm. Mùa khô năm 1969, cả Mỹ lẫn Đại Hàn và Ngụy tập trung càn quét, đánh phá vùng căn cứ cách mạng tỉnh Phú Yên ròng rã hai, ba tháng trời. Lính Đại Hàn đóng dày đặc xã Phụng, chiếm gò Giữa làm chỉ huy sở tiền phương và trận địa pháo. Trong lúc địch tung quân lên đánh phá vùng căn cứ của tỉnh thì đặc công của ta luồn vào đánh, diệt gần hết chỉ huy sở và trận địa pháo của bọn Đại Hàn tại gò Giữa. Sau trận đánh, dân xã Phụng kéo xuống thị xã đấu tranh đòi bọn Đại Hàn phải trả đường cho dân đi, địch phải rút quân khỏi gò Giữa. Khi Mai được cử làm Bí thư xã Phụng đã cho bố phòng chết gò Giữa và chỉ để lại con đường cái cho dân đi. Những tấm biển vẽ đầu lâu, xương chéo cắm trên gò Giữa chẳng khác nào những miễu tử thần dành cho bọn Ngụy. Bởi vậy con đường cái rộng, hàng ngày xe lam, cộ bò chạy vẫn tránh nhau bình thường nhưng bọn ngụy quân, ngụy quyền chẳng bao giờ dám đi sát mé đường. Đợt này địch lại hăm he xóa bãi bố phòng ở gò Giữa. Không hiểu thằng xã trưởng và trưởng đoàn “bình định” tâu hót với thượng cấp những gì mà bọn bảo an cùng bọn “bình định” sục vào từng nhà bắt dân đi nhổ chông. Tập trung dân trước trụ sở xã, thằng trưởng đoàn “bình định” cười và lên giọng: -Tôi biết, chọc vào dân xã Phụng như chọc vào tổ ong vò vẽ. Cộng sản thì theo Nga, theo Tàu còn quốc gia thì theo Mỹ. Mỹ giúp Việt Nam cộng hòa đánh cộng sản, chứ Mỹ không xâm lược Việt Nam. Theo cộng sản thì cộng vợ, cộng chồng, cộng con cái, tài sản... Cộng trơn trụi thành một mớ “hầm bà lằng” như vậy có ra thể thống gì đâu. Thấy dân chúng im lặng, tên trưởng đoàn đầu gật gật, vừa đi vừa diễn giải: -Tôi biết, mấy người sẽ vặn vẹo hỏi tôi: Bây giờ đi ra đường, trước mặt là lính Mỹ, sau lưng là lính Đại Hàn, rồi bom Mỹ, đạn Mỹ, xe tăng Mỹ... và đánh nhau liên miên, vậy Mỹ không xâm lược thì là cái gì. Tôi sẽ cho bà con tranh luận sau, bây giờ ta nói chuyện thiết thực hơn. Ngừng một lát, hắn cao giọng: -Bữa nay tập hợp bà con đi nhổ chông, phá bãi bố phòng của Việt cộng. Muốn xóa được cái tiếng lâu nay nói dân xã Phụng là dân cộng sản; noi gương những chiến sĩ cộng hòa phơi xương đổ máu vì sự nghiệp chống cộng toàn dân xã Phụng hãy hăng hái đi nhổ chông phá bãi bố phòng. Thấy dân không trả lời, hắn đắc ý với bài diễn thuyết của mình rồi nhướn cổ cao giọng: -Quân dân đồng lòng, chánh quyền tiên phong. Nào... ai xung phong dẫn đầu tiến lên một bước. Im lặng nhìn nhau, từng người cố kéo sụp chiếc nón cời xuống che mặt, lúng túng và đứng chụm vào nhau. Dưới vành nón cời rung rung, có ai đó trong khối người đã bật lên thành tiếng khóc tức tưởi. Lần này thì dân xã Phụng thua to với ông trưởng đoàn “bình định” mới được cử về. Mấy đứa ngụy quyền nở mày, nở mặt về những chiêu thức khiến âm dương cách trở của ông trưởng đoàn. Dân xã Phụng kỳ này tắt tiếng ngậm miệng mà bước vào cái gò tử thần. Tên trưởng đoàn “bình định” cười vang: -Sao, bà con thấy thế nào? -Tôi có ý kiến!... -Ờ... Cho nói thoải mái rồi đi nhổ chông. -Dân phải nhổ chông là tới chỗ tử thần mong quí ông có cách gì phá bãi bố phòng để cho dân yên lành. Chông mìn nó có biết sợ ai đâu, tội nghiệp lắm mấy ông à... Tên trưởng đoàn cười đắc ý: -Tôi cũng bí... Ông hiến kế phá gò chông, không có kế hay tất ông là người dẫn đầu đi phá bãi bố phòng Việt cộng đấy. -Dạ!... Lời quí ông là vàng, là lửa, chúng tôi biết ông là người quân tử, độ lượng, tới chỗ chết ai không sợ, xin quí ông tha cho. Tên trưởng đoàn vênh mặt hất hàm: -Ông nói đúng... “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy” vậy mấy ông bảo tôi rút lời sao được. Còn ông cũng không thể rút lời mình được, tôi buộc ông phải nói kế hay. Chống tay ngang hông, gã hất hàm: -Coi như lời của ông là tiếng nói của dân xã Phụng... Nghe nói dân xã Phụng lý lẽ giỏi có tiếng vậy ông nói đi. Chà!... Lần này không biết ai thắng ai đây!... -Dạ!... Có mấy ông bảo an làm chứng. Tôi đâu có nói vậy!... Gã trợn mắt vung tay áp đảo: -Có các anh em bảo an ở đây làm chứng: coi như lời nói của tôi là một câu đố nhờ ông giải dùm. Tôi cho ông 10 phút để tìm kế hay kẻo lại biểu tôi áp chế, không dân chủ với dân. Sau 10 phút không có kế hay, mời các người đến Gò Giữa phá bãi bố phòng của Việt cộng. Tôi nhắc lại! Lúc đó ai không đi bắn bỏ!... Dưới cái nắng khô rát, mồ hôi từng người thấm ướt áo. Mồ hôi bị nắng đốt khiến làn da từng người nhơn nhớt, khô rít và dẻo keo lại. Nắng xuyên qua tàng cây, tàng cây bị gió đưa đẩy, nắng và bóng cây in trên mặt đất chờn vờn. Từng phút lặng im kéo dài vô tận!... Chỉ một lát nữa thôi, những người dân xã Phụng đang đứng chụm vào nhau sẽ bị dàn hàng ngang tiến vào bãi mìn. Sau lưng họ là những họng súng đen ngòm sẵn sàng biến họ thành những tấm bia bằng xương, bằng thịt. Trước mặt là bãi mìn khoảng khắc nào đây tiếng mìn trên gò nổ tung! Bao nhiêu người sẽ chết? Bao nhiêu người bị thương!. -Tôi xin nói! Tiếng người nông dân phá tan sự im lặng. Ông chầm chậm bước ra khỏi khối người: -Đằng nào dân chúng tôi cũng bị các ông dồn vào chỗ chết. Ngài trưởng đoàn đã nói “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy”, có anh em bảo an làm chứng xin ông giữ lời. Gã trưởng đoàn quắc mắt: -Không lý giải lòng vòng, nói ngay vào cái kế hay mà ông đã nghĩ ra cho mọi người nghe. -Dạ... Ngài nói: “Dân đồng lòng, chính quyền tiên phong đi phá bãi bố phòng của Việt cộng”. Vậy mời ông và ông xã trưởng đi tiên phong nhổ chông, thứ đến là anh em bảo an, sau cùng là dân đồng lòng xếp hàng đi theo ông trưởng đoàn và ông xã trưởng. Thấy tên trưởng đoàn lúng túng, giọng ông trở nên dõng dạc: -Dân không biết quân sự đi đứng lộn xộn, vậy dân bọn tôi xin đi cách thiệt xa để khỏi vướng chân mấy ông. Cả khối người bỗng bùng lên la hét, nói tới nói lui như ong vỡ tổ. Rồi tiếng một chị phụ nữ hô thiệt to: -Hoan nghênh ông trưởng đoàn “bình định” và ông xã trưởng tiên phong đi nhổ chông, dám hy sinh vì quốc gia. Đoàn người đồng thanh hô vang: -Hy sinh!... Hy sinh!... Đám lâu la tề ngụy dáo dác; tên xã trưởng mặt tái mét; tên trưởng đoàn “bình định” luống cuống... Tiếng hô, tiếng la hét của người dân vẫn bùng lên như những trái phá đang nổ dữ dội giữa thôn Tường. Mặt đỏ tía, cái má phì giật giật liên hồi, lấy tay quẹt mồ hôi tên trưởng đoàn “bình định” rút súng ngắn bắn chỉ thiên 5 phát liền rồi gào lên: -Giải tán!... Ba ngày đấu tranh là ba ngày đấu trí quyết liệt với địch. Địch ra đòn cay độc, dân trả đòn độc cay. Địch tấn công dân bằng chiêu âm dương cách trở, dân phản công địch bằng thức cách trở âm dương. Đợt ra quân với địch lần này tuy thắng, song người dân xã Phụng hiểu rằng bọn ác ôn cay cú sẽ trả thù và đánh phá quyết liệt, dai dẳng hơn. Quả thực hơn mười ngày sau, địch đưa cả đại đội 3 thuộc tiểu đoàn bảo an số 219 về xã Phụng. Ngày chia ra thành từng trung đội đóng chốt ở các thôn, tối đi phục kích, bọn bảo an cố tạo cho mình thành bóng ma chờn vờn vây bắt cộng sản nằm vùng tại xã Phụng. Theo chân bọn bảo an, bọn hội đồng xã cũng lục tục kéo về làm việc tại trụ sở. Trụ sở xã được chia làm hai phần: một bên là nơi làm việc của ngụy quyền, một bên giành cho đoàn “bình định” nông thôn. Cửa giả tường vôi của trụ sở xã được sửa chữa lại cho bề thế hơn. Tên trưởng đoàn “bình định” cho vẽ lá cờ vàng có ba sọc đỏ nằm trên mái tôn trụ sở và họp dân tuyên bố mở chiến dịch “ra tay diệt cộng” rồi cho nhân viên của mình đi tới từng nhà thực hiện “ba cùng” với dân. Thời Pháp, anh bộ đội cụ Hồ thực hiện ba cùng là: Cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân. Bây giờ chúng cũng học lại bài của Việt cộng, nhưng ai cũng biết ăn lương của Mỹ vác súng đánh thuê cho Thiệu thì chỉ có ba tầm là: Tầm ăn, tầm gái và tầm tiền mà thôi. Không giấu nỗi được sự hằn học, tên trưởng đòan “bình định” nông thôn nói với thuộc hạ tại trụ sở xã: -Kỳ này bắt được thằng cha Tòng, con nhỏ Mai, tao sẽ róc xác ăn gan xem cái gan của hai đứa nó tới đâu. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Chín, 2023, 02:31:28 pm Chương 10 1 Buổi chiều. Những tia nắng dìu dịu như nhảy nhót, gió từng đợt thổi mạnh, lúa đồng uốn lượn như sóng vỗ, Mai, Đào và Nhự đi lẫn trong những tốp người làm cỏ lúa. Các loại “hàng đặc biệt” được từng tốp người làm cỏ theo Mai, Nhự và Đào tới chỗ nhận hàng rồi chở về làng. Họ vừa đi vừa đùa giỡn gọi nhau ý ới. Tiếng hò giã gạo của ai đó bay vút lên trên cánh đồng mênh mông, rồi lan tỏa vào không gian bồng bềnh. Hẳn giọng hò của một cô gái nên mới ngọt lim, trong vắt và tinh nghịch như vậy. Ơ...ơ... Chứ trời mưa lộp bộp... lá dừa..ơ...ơ... bợp anh ba bợp... Cho chừa cái tật đi đêm... Đầu đường vào thôn Lẫm, cuối đường vào thôn Nguyên, các cô gái làm cỏ lúa vừa hát, vừa nói, vừa trêu chọc bọn dân vệ, bảo an đứng gác. Tuy nhiên chỉ có tốp làm cỏ của thôn Tường là rôm rả nhất. Hai toán dân vệ và bảo an đi tuần đều tụm lại dưới lùm tre đầu làng. Con đường làng đã cao lại rộng; câu hát bay lên, tiếng cười ném xuống khiến cho bọn chúng cùng háo hức ùa tới tham gia hát hò. Gần một chục cô gái nhất nhì thôn Tường tập trung làm cỏ nên chẳng mấy khi bọn lính mới được một bữa làm quen và trổ tài trước người đẹp. Máu lính và máu gái bốc lên, mấy thằng chỉ huy cũng xúm vào trổ tài. Những câu hò như chọc ghẹo, như bâng quơ, như gió bay kéo áo người thương, như gió buông tà áo làm tay ta chạm vào tà áo... Cả lính lẫn chỉ huy tức khí tranh nhau hò: -“Chập chùng mây phủ Đá Bia Đá Bia mây phủ chị kia mất chồng Mất chồng như nẫu mất trâu Chạy lên chạy xuống cái đầu chơm bơm” Câu hò trả lời không kém phần tinh quái: -“Bao giờ trạch đẻ ngọn đa Cáo để dưới nước thì ta lấy mình...” “Hát một câu giải sầu con ếch Em có nơi rồi đuổi thếch anh ra” Một cô gái từ ruộng lúa nói vọng lên: -Hò mãi rồi, mấy anh ca vọng cổ cho vui. -Không có đờn ca làm sao được? Cô gái ca một câu vọng cổ rồi nói với bọn lính: -Không có đờn ca cũng được. Sáu tên bảo an bỏ súng dựa vào bụi tre lấy mũ sắt, thìa và ca US ra gõ nhịp cho một tên ca vọng cổ. Một cô cười duyên nói vọng lên: -Mấy anh cầm súng lên, lỡ Việt Cộng tới đánh thì sao? -Yên tâm Việt Cộng không dám tới đâu. -Em ơi... Giờ này Việt Cộng đang ngủ trên rừng, lúc này bọn nó mà ở trong làng thì hết đường về với tụi anh. Trong lúc bọn lính đang mải mê ca hát và chọc gái là lúc các tốp làm cỏ băng đồng vận chuyển vũ khí, đạn dược vào làng. Hòa vào tốp người làm cỏ, tổ giao liên hợp pháp đã đưa Mai, Nhự và Đào vào thôn Tường an toàn. Lách qua rặng tre, má Hai Hiền đứng chờ và dẫn Mai băng qua vườn cây vào nhà. Thay quần áo xong Mai leo lên dầm nhà. Dầm nhà Má Hai làm toàn bằng tre đực, phẳng lì lại được quét vôi nên nhiều người tưởng dầm mái nhà đúc bằng xi măng., Chiếu và gối đã được để sẵn, Mai nằm tay sờ lên mái ngói, đặt khẩu AK bên mình, căng thẳng và mệt mỏi khiến Mai ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Ngủ một giấc khá ngon, má Hiền đánh thức Mai dậy, nói nhỏ: -Địch rút qua thôn Lẫm hết rồi, cơ sở mật đã đem truyền đơn vào thị xã, con Đào ở thôn Nguyên báo, tổ du kích thiếu nhi đánh cắp được 8 trái M79. Mai mừng thầm vừa kẹp tóc, vừa hỏi: -Tình hình các thôn khác ra sao? -Cũng êm cả, bọn tao theo sát bọn nó từng bước, yên tâm đi. -Từ giờ tới tối, má phải cho lực lượng bám riết bọn bảo an, dân vệ để tối nay đón anh em mình vào làng má à. -Việc đó để tao lo, lúc không có địch rán ngủ cho lại sức con à. Ăn sáng xong, Mai vào buồng thay quần áo rồi ra đứng trước gương chải tóc. Ngắm nhìn Mai má Hiền buột miệng: -Con bé này mặc thứ gì cũng đẹp. Đến tao trông cũng còn mê huống chi mấy cha đàn ông. Ngữ này mà soi gương trước mặt thằng chồng có nước... -Sao hả má? -Sao à... Cái mông niêng niểng, thằng chồng ôm thốc vào buồng nó vần cho chứ sao. Mai đỏ mặt cười khúc khích: -Gớm... Bà già đến là bạo miệng. Vợ chồng ai lại vậy. Má Hai Hiền bật cười: -Chờ đến lượt mày đấy con à, hồi tao mới cưới cũng đứng chải tóc, soi gương, ông chồng ngồi ngắm rồi lẳng lặng ra đóng cửa, ôm thốc vào buồng, có tha tao đâu. -Mình kêu lên sợ gì. -Vợ chồng mà kêu. Tao nói “hàng xóm kìa” ông ấy nói “Thiên lôi tới ông ấy cũng chưa sợ chứ hàng xóm”... Mai vô tình: -Bị một lần, lần sau tránh đi chứ. -Chờ đấy mà tránh, vợ chồng thương nhau, cái ấy cứ bị dài dài nhờ vậy mà sinh con đứa nào, đứa nấy đẹp gái, bô trai chứ mày. Dựa đầu vào vai má Hai, Mai xốn xang: -Con nhớ má con quá trời, giá chi bây giờ con được ở ngay cạnh má con!... Má Hai âu yếm: -Con quỷ sứ này... Ôm riết lấy bà già chỉ còn xương với da ai mà chịu được. Lớn tồng ngồng mà cứ rúc đầu vào lòng như đứa trẻ đòi bú, mày giống như con Bảy nhà tao. Mai khúc khích cười, đứng dậy sửa lại mái tóc bước ra ngoài sân. ánh nắng vàng ươm đầy ắp không gian. Con chuồn chuồn nước đỏ tươi đậu trên cái cọc tre bên ang nước đảo đôi mắt tròn vo rồi bay vụt ra ngoài cổng. Đôi dép nhẹ bưng khiến bước chân Mai đi càng nhẹ nhàng. Chiếc áo bà ba trắng nõn lượn sát lấy thân hình óng ả, Mai tự ngắm mình, thoáng chút bẽn lẽn rồi xem đồng hồ và nhìn ra lối ngõ đã thấy Xuân, du kích hợp pháp cùng Chín Phượng từ ngoài ngõ đi vào. Trông thấy Mai, cả hai cô đều reo lên: -Chu!... Chị Hai đẹp quá ta!... -Hèn gì khối anh chàng chết siếng!... Y như con gái thị xã. Mai cười tinh nghịch: -Người ta cũng là con gái thị xã chính hiệu chứ bộ... Xuân thiệt thà: -Ước gì mình đẹp như chị Hai. Mắt ánh lên niềm vui, Mai đỏ mặt nhìn Xuân và Phượng. Má Hai hồn nhiên cười: -Nhà nào có ba đứa con gái đẹp như bay thì phải nuôi ba con chó canh chừng bọn con trai tới cõng đi mới yên. Chín Phương đấm nhẹ vào lưng Mai. -Hi... hí... Bọn con nặng lắm không cõng nổi đâu. Cả ba cô gái vào nhà, kéo Xuân ngồi xuống giường, Mai hỏi nhỏ: -Có tin gì mới không? -Bữa nay chúng nó đón sếp bự ở Sài Gòn về thị sát chiến sự Phú Yên và đến xã mình để chứng kiến thành tích của hạ cấp xây dựng được xã “An ninh Quốc gia” điển hình. Xuân ngồi sát bên Mai thì thầm: -Sáng nay em nói chuyện với thằng Kim Cheng Sao được 3, 4 phút thôi. -Nó nói sao? -Nó biểu cấp trên không cho lính nói chuyện với dân, kỷ luật của bọn Đại Hàn nghiêm khắc lắm chị à. -Điều mấu chốt là phải rủ nó vào trong nhà nói chuyện... -Có... Nó chỉ vào cái lon trên vai rồi lấy ngón tay vẽ ba bông mai ra hiệu sợ thằng đại úy Kim biết phạt và đánh nó. Thấy em cười nó xán tới chụp vào ngực em, ra hiệu ngủ với nó, nó cho đô-la... Thấy Xuân cúi đầu lặng im, Mai thủ thỉ: -Rồi sao nữa? -Em ra hiệu không đồng ý và bảo nó đi chợ về ghé vào nhà nói chuyện. Nó gật đầu biểu nửa tiếng nữa nó quay lại. Xuân ứa nước mắt, gục đầu vào vai Mai khóc tấm tức: -Em khổ lắm! Nhiệm vụ chị giao chắc em làm không nổi!... -Sao vậy? -Bà con chửi em là con đĩ bán xác cho Đại Hàn để kiếm đô-la, vác cái nọc lậu Đại Hàn về gieo cho làng xóm... Mai vuốt tóc Xuân vỗ về: -Nói bậy, em vẫn giữ được sự trinh trắng của người con gái kia mà... -Vẫn biết vậy nhưng em sợ lắm chị à. Lỡ ra!... Có chuyện gì khổ một đời con gái!... Rồi em tìm đâu ra được một tấm chồng... Ôm lấy Xuân, Mai rưng rưng nước mắt: -Chị hiểu trinh trắng của người con gái chỉ để dành cho người mình thương; nhưng lúc này không tiếp xúc với bọn Đại Hàn làm sao diệt được chúng. Biết là nguy hiểm, nhưng tổ chức tin nên mới giao nhiệm vụ cho em. Đừng phụ lòng tin của đồng chí, đồng bào em à. Xuân rùng mình ôm chặt lấy Mai: -Chị ơi! Mấy con điếm mắc bệnh lậu Đại Hàn em nhìn thấy trước khi chết đau quằn quại, người hôi hám, máu tím bầm cả da thịt!... Em thấy lạnh cả xương sống chị à!... Mai nắm tay Xuân bóp nhẹ: -Thôi. Đừng nói chuyện đó nữa, sắp bước vào trận đánh mà như mít ướt thì làm sao đánh được Đại Hàn. Nào! Ngồi thẳng dậy chị giao nhiệm vụ. Quay lại Phượng và má Hai, Mai ôn tồn: -Phượng và má lấy “hàng” giao cho Xuân đi. Chín Phượng và má Hai đi rồi, Mai nhìn Xuân nghiêm trang: -Đồng chí Xuân. Thay mặt cấp ủy tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí: bằng giá nào cũng phải thắng bọn Nam Hàn trong trận đánh này. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đồng chí tiếp tục thực hiện kế hoạch đánh mìn trong thị xã rõ chưa? Mắt long lanh, Xuân ngồi thẳng người: -Rõ!... Cùng Xuân đứng dậy ra bàn ngồi uống nước, nhìn ra ngoài sân, Mai nhẹ nhàng: -Tổ chức đã có phương án hỗ trợ khi em làm nhiệm vụ, kể cả phương án khi bị lộ đưa em lên cứ thoát ly, em yên tâm đi. -Dạ... Nói là nói vậy thôi chứ nhiệm vụ chị và mấy chú giao em phải hoàn thành bằng được chị à. Làm cách mạng cũng như người đi tu ấy... Mai bật cười: -Ai nói với em như vậy? -Khi buồn ngồi uống rượu, ông ba em thường nói: Đất nước, dân tộc mình gặp thời loạn lạc, cái họa lúc này là họa mất nước; cái đạo lúc này là đạo cộng sản. Chỉ theo đạo cộng sản mới không mất nước... Nghĩ ra cũng đúng phải không chị? -Ừ... Chị em mình lý luận, hiểu biết làm sao bằng được mấy ông già... Mai bỗng hỏi Xuân: -Đi lên, đi xuống rồi ở miết trên này, ông bà già có kình không? -Má sợ bọn cảnh sát đổ vấy cho tội liên lạc với cộng sản bắt đi tù. Lại sợ lên trên này gặp lúc hai bên đánh nhau thì biết đâu mà lường được hòn tên mũi đạn. Cả Xuân và Mai đứng dậy khi Chín Phưọng và má Hai Hiền bước vào nhà. Cầm một gói nhỏ trong tay, đi sau má Hai, Chín Phượng đụng nhẹ vào người má khẽ kêu lên: -Đùng!... Má Hiền hoảng hốt giơ hai tay lên trời, chân khuỵu xuống khiến Mai và Xuân phải nhanh tay đỡ má và cười như nắc nẻ. Hoàn hồn, má Hai bật cười: -Tổ cha bay... Làm tao hết hồn. Chín Phượng khúc khích cười: -Vậy mà cũng đòi đi đánh giặc. -Mấy con quỷ cái, tao tưởng nó nổ nên tao mới siếng hồn chớ bộ. Phượng đưa cho Mai quả mìn bọc trong chiếc khăn tay. Mai mở khăn chỉ vào cái hộp nhỏ đựng quả mìn rồi nhỏ nhẹ: -Đây là trái mìn từ miền Bắc mới đưa vào. Xuân tò mò và ngạc nhiên: -Y như hộp kem bôi mặt ấy, trái mìn nhỏ xíu như vậy thì làm ăn được gì chị Hai? Mai ôn tồn: -Là loại mìn cực mạnh đó, bây giờ chị hướng dẫn em, cách gài loại mìn hẹn giờ. Đặt trái mìn xuống giường. Mai lấy hộp kem bôi mặt làm động tác mẫu và bắt Xuân tập lại động tác gài mìn. Xuân lập lại động tác khá thành thạo. Mai cười gật đầu: -Cách làm như vậy là tốt rồi, trái mìn vượt dãy Trường Sơn đi hàng vạn cây số mới tới đây để em thực hiện nhiệm vụ đấy. Xuân xúc động: -Vậy mới biết mình chỉ là hạt cát trong thế trận đánh Mỹ phải không chị Hai? Chín Phượng vui vẻ: -Trên vùng căn cứ, cả dãy Trường Sơn hàng triệu người ngày đêm đi rầm rập, có cả xe tăng, pháo lớn như xe, pháo của bọn Mỹ ấy. Xuân xuýt xoa: -Trên đó vui như đi hội phải không chị? Mai đứng dậy nói với mọi người: -Má ở nhà, bọn con đi công chuyện, mấy em khẩn trương lên. Mai, Xuân và Phượng nhanh chóng băng qua những vườn cây tới ngôi nhà nằm sát bên đường làng. Xuân nhìn đồng hồ thấp thỏm rồi cùng chín Phượng rầm rì nói chuyện. Mai nhanh nhẹn sách súng lách vào trong buồng. Bỗng có tiếng lao xao ngoài đường, Xuân đứng dậy: -Chị Phượng lấy xà bông, bánh kẹo bày hết ra rồi gói thành từng gói nhỏ cho em lẹ lên. Vội chạy ra ngoài ngõ đứng bên đường đón Kim Cheng Sao đang gánh rau đi tới, Xuân vui vẻ vẫy tay, vừa cười vừa nói: -Đi chợ về rồi à? Kim Cheng Sao cười, gật đầu lia lịa, giơ hai ngón tay: -Chào... em... Đón Kim Cheng Sao vào nhà, đỡ gánh thức ăn cho Kim Cheng Sao, Xuân nhanh nhảu bê trái dưa hấu tới vỗ vỗ vào trái dưa ra hiệu: -Ăn dưa với tụi em. -Cám ơn... Con gái Việt Nam...Em đẹp lắm. Vừa nói, Kim Cheng Sao vừa giơ 10 ngón tay: -Ở chơi...Với em...10 phút. Xuân bổ dưa vừa chỉ vào đống hàng của mình: -Đưa đô-la em bán hàng cho. Nhìn Xuân và Phượng líu ríu bổ dưa, đâm muối ớt, Kim Cheng Sao cười tít mắt, sửa lại bộ quân phục và vuốt nhẹ lên chiếc lon trung sĩ của mình hãnh diện: móc túi lấy 20 đô-la, Kim Cheng Sao dúi vào tay Xuân: -Thưởng... cho em. Xuân cười, nũng nịu vỗ vào chiếc lon trung sĩ và đưa dưa cho Kim Cheng Sao ăn và ra hè múc nước lấy khăn cho Kim Cheng Sao rửa tay. Khoảng thời gian ngắn ngủi đó, Xuân đã dúi trái mìn hẹn giờ vào thúng rau quả của Kim Cheng Sao. Lì lợm ôm Phượng và Xuân hôn ào, Kim Cheng Sao gánh rau vẫy tay chào: -Đồng ý...với anh...anh cho nhiều đô la... Xuân vui vẻ vừa nói vừa ra hiệu: -Lần sau... Kim gật đầu, gánh rau đi thật nhanh về cứ điểm núi Tranh. Xuân đã tính rất kỹ thời gian gài mìn, chỉ đủ để Kim Cheng Sao đặt gánh rau xuống bếp và lấy rau là mìn nổ, xong Xuân vẫn phập phồng cầu khấn: -Vái trời,vái phật!... Cho mìn nổ trong cứ điểm núi Tranh. Phượng ghé vào cửa buồng nói nhỏ: -Xong việc rồi, chị Hai... Từ trong buồng bước ra, Mai vẫy tay: -Tất cả đi theo chị. Xuân tần ngần: -Còn hàng của em? Mai phì cười: -Bỏ hết! Chị sẽ cấp vốn cho em buôn bán, tiếc gì mấy thứ hàng đó trong lúc này. Về tới nhà má Hiền vội ra bờ tre đằng sau vườn, cả ba chị em bồn chồn nhìn về cứ điểm núi Tranh đứng sừng sững giữa cánh đồng. Lưng chừng núi lổn nhổn đất đá đỏ cạch ôm lấy con đường từ dưới chân núi lượn vòng lên đỉnh núi. Trên đỉnh núi là những chiếc lô cốt xám ngắt và những dãy nhà tôn trắng lóa nằm im lìm trong nắng. Hàng rào kẽm gai dày đặc đan thành nhiều tầng vòng vèo ôm chặt lấy cụm cứ điểm. Xuân bỗng hỏi Mai : -Có chuyện gì không chị? Mai bóp nhẹ tay Xuân : -Chị thấy hồi hộp quá. Một loạt đạn AR15 nổ bay xé trên ngọn tre, Xuân giật mình : -Vào nhà chị Hai...Bọn dân vệ vào làng đó. Lại ba quả M79 nổ trên cánh đồng và những loạt AR15 nổ ròn như tiếng trống ếch. Xuân kéo Mai chạy vào nhà giảng giải : -Tiếng súng của thằng Môn trung đội phó dân vệ đấy . -Sao em biết? -Cả trung đội dân vệ chỉ có nó bắn được những loạt đạn giống như tiếng trống ếch, bọn lính phục tài, tôn thằng Môn làm sư phụ chị à. Lắng nghe tiếng súng, Mai bật cười : -Ừ...giống tiếng trống ếch thiệt, nó tài thiệt Xuân à. -Á...à...Chị Hai khen địch nghe... Bỗng tiếng nổ rung trời trên núi Tranh khiến Xuân giật mình ôm chặt lấy Mai, ánh lửa phực lên kéo theo những tiếng nổ liên hồi, mặt đất rung lên bần bật, mọi người chạy bổ ra đường làng nhìn lên núi Tranh đang bốc cháy. Hoảng loạn, lính Pắc Chung Hy chạy bung ra ngoài cứ điểm. Nhiều tên chạy vượt xuống đoạn đường gần chân núi thì gục xuống. Lại 4 tiếng nổ chuyển trời, ba quầng lửa khổng lồ phực lên trùm lấy cứ điểm núi Tranh. Màu đỏ rực của lửa trộn trong màu khói đen cuồn cuộn bốc lên trời khiến người ta có cảm giác như núi Tranh đang co thắt quằn quại. Cùng lúc đó, tiếng AK và M79 ở thôn Nguyên và thôn Lẫm vang lên mãnh liệt.Ông Chín Tòng chạy tới chỗ Mai hối thúc: -Mai... Bắt đầu rồi! Cho bà con di tản áp đảo địch, lẹ lên. Tiếng Mai cười ròn: -Núi Tranh bị diệt rồi chú à. Những bước chân rầm rập từ các lối ngõ chạy túa ra đường làng. Quay sang hàng rào nhà bên , ông Chín Tòng gọi to: -Bớ ông Bảy ... Thả bò ra ! Truyền lệnh cho các nhà có bò thả ra rõ chưa? Chín Phượng vẫy tay hét to: -Đánh bò chạy dọc theo đường vào thị xã, chú ý đừng để bò chạy lạc... Tiếng súng của địch bỗng nổ rộ phía thôn Lẫm, Mai bồn chồn lo cho Lâm và tổ du kích của Năm Đồng gặp khó khăn. Dẫn 2 tổ du kích luồn dọc theo bờ tre tới đầu xóm, Mai cho anh em tập trung hỏa lực bắn vào đội hình địch đang cụm lại trước trụ sở xã. Cả thôn Tường, thôn Lẫm, thôn Nguyên đều bị đánh bất ngờ, bọn bảo an, dân vệ chạy túa ra ngoài đồng quay súng lại bắn bừa vào làng. Mai cùng 2 tổ du kích bám bờ tre vừa tìm cách bắn trả địch ngoài đồng, vừa dùng M79 bắn chặn đội hình địch đang rút chạy ra bờ mương giữa đồng. Nhìn thấy Năm Đồng, Lâm và anh em du kích đang men theo gò tre từ thôn Lẫm chạy về thôn Tường, Mai cặp AK bắn từng loạt dài thu hút hỏa lực của địch. Một loạt đạn bay rít trên đầu, Mai nằm ép vào bờ tre tránh đạn. Hai quả M79 của địch nổ trước mặt, mảnh văng tứ tung, mùi thuốc khét lẹt khiến Mai phải lăn liên tiếp mấy vòng và nhảy xuống căn hầm gần bờ tre. Bỗng thấy Ba Hổ, Út Hân đang chúi đầu nằm phơi trên bờ tre, Mai hét to: -Chạy lại bám hầm bắn yểm trợ cho mũi thôn Lẫm rút lui rõ chưa?... Chờ cho Út Hân, Ba Hổ nhảy xuống hầm, Mai nghiêm giọng: -Hai đứa trụ ở đây bắn tỉa rõ chưa. Nhổm người chạy lại phía gò đã thấy Lâm và Năm Đồng chạy tới và bỗng thấy Út Hân vụt chạy theo mình, Mai bực dọc: -Đã biểu ngồi với Ba Hổ... Một loạt đại liên dội tới, Mai nhoài người chạy tới chỗ Lâm. Nghe tiếng M79 của địch nổ chụp trên đầu, Lâm vụt nhảy tới ôm Út Hân lăn một vòng che đạn cho Út Hân. Liên tục những quả M79 chạm cành tre nổ sát sạt làm Mai phải ép chặt mình xuống đất. Trườn tới đám gốc tre khô quan sát thấy địch đang khum lưng dưới bờ ruộng, vừa bắn vừa di chuyển vội tỳ súng vào bờ tre, Mai liên tiếp bắn từng loạt đạn khiến bọn địch phải bám theo bờ ruộng rút ra bờ mương Cái. Thấy quần của Lâm đẫm máu Mai hốt hoảng: -Anh bị thương rồi! Để em băng cho!... -Không sao, để anh tự lo. Nói vậy, xong Lâm vẫn để cho Mai băng bó cho mình rồi đưa khẩu M79 cho Mai và đanh giọng ra lệnh: -Dập tắt khẩu ngay khẩu trung liên đang bắn ở bờ mương! Tất cả vừa bắn vừa di chuyển theo tôi rõ chưa! Mai dương súng liên tục bắn ba quả M79. Hỏa lực trung liên bị dập tắt, bọn địch bỏ bờ mương chạy túa ra đồng. Lâm bỗng nhổm người chộp khẩu M79 trong tay Mai rê súng bắn thẳng vào ngôi nhà nằm thoi loi ngoài mé đồng và giục: -Chạy lẹ lên!... Cùng tổ du kích băng qua các vườn cây trong làng tiến gần tới ngôi nhà nằm sát bìa đồng và nhanh chóng cho dàn đội hình chiến đấu, Lâm cho anh em bắn đuổi bọn địch đang cụm lại từng tốp vừa bắn trả vừa rút chạy về phía núi Sầm. 2 Dòng người của cả sáu thôn trong xã Phụng và hai thôn của xã Quang gồng gánh, đánh bò nghé chạy tràn trên các ngả đường rồi đổ dồn về hướng núi Sầm và chạy vào thị xã Tuy Hòa. Trên đường làng, ông Chín Tòng vừa chỉ tay hướng dẫn, vừa nói oang oang: -Cứ đường lớn mà chạy kẻo lạc đạn. Một cặp vợ chồng chạy người không bị Chín Phượng chặn lại: -Nè, sao lại chạy người không? -Ừ hé... Vội quá...quên. -Về cho quần áo vào thúng gánh chạy chớ. Mau lên kẻo người ta chạy hết rồi. Người chồng gọi với: -Đợi tôi với mấy ông... Một bà già khoác bị quần áo, tay dắt cháu hỏi ông Chín Tòng: -Cả làng cùng chạy phải không ông chủ tịch? Còn nhà cửa ai trông? -Có Cách mạng lo. Nè... Bà cháu chạy rải rải tới núi Sầm cũng được. La hét để dành cho bọn trẻ, bà cháu vừa chạy vừa giữ sức nghe... chưa? -Nghe... Bà già nắm tay cháu vừa chạy vừa nói: -Lẹ lên con. Trời! Súng gì mà nổ dữ vậy? Thằng bé nhanh nhảu: -Súng AK của du kích đặt trong thùng thiếc bắn ra, nên nó kêu y như đại liên bà chẳng hiểu gì. Ông Hai móm dắt vợ vừa chạy vừa càm ràm với vợ: -Biết vậy tôi ở quách trong thị xã... Bữa nay gặp xui!... -Sao ông không ở lại trốn cả ngày lẫn đêm trong thị xã cho yên. -Nào ai biết... tên bay đạn lạc lạnh cả xương sống. Bỗng bà Hai móm ngã cái đụi làm mùng mền, quần áo rơi vãi ra đường khiến ông Hai móm cuống lên. Tay kéo vợ ngồi dậy, tay ôm mớ quần áo, ông già hổn hển: -Kiểu này chết ráo... Lượm rồi nhét đại vào bị. -Ông sợ chạy trước đi, còn khối người chạy đằng sau mình lo gì... Vừa sợ vừa cáu, ông già nổi quạu: -Vứt đi bà ơi! Còn người còn của... Bà vợ ngúng nguẩy: -Vậy mà cũng đòi làm dân xã “Cách mạng nòi”. -Hòn đạn, mũi tên dễ bộ nó tha cách mạng? Bà vợ càm ràm: -Phải chi hồi hôm ở luôn trong thị xã, bây giờ tôi khỏi phải khổ vì ông. -Trời ơi cái bà này!... -Ông nghe đây, cả làng lúc này đang đánh địch, ông hiểu chưa? Chuyện có vậy mà cũng cuống lên. -Đường tên, mũi đạn vô tình bà ơi... Bà phải biết thương tôi chớ. -Thôi được, ông chạy trước tôi lượm đồ rồi rải rải theo sau. Ông Tám Cần, vừa lùa bò vừa chạy thấy vợ chồng ông Hai móm kình cãi, lại thấy đại bác từ thị xã vun vút trên đầu cũng cám cảnh: -Người với bò nghé trương trương trên đường, hai bên đánh nhau dân khổ muốn chết mấy ông cách mạng ơi! Ông Hai móm làu bàu: -Vậy ông với đàn bò đứng lại nghỉ cho khỏe. Ông Tám Cần cười khà: -Biết vậy tôi ở nhà cho đỡ mệt, có chuyện gì chui xuống hầm, địch đâu còn ở trong làng mà lo. Một cô gái bỗng xen vào: -Tham gia nổi dậy ở lại trong làng đâu có được ông Tám. -Kệ tao... Cô gái vẫn tỉnh bơ: -Cách mạng ban ngày vào đánh núi Tranh đuổi địch ra khỏi làng nguy hiểm như vậy mà chưa ăn nhằm vào đâu còn mình mới nổi dậy sơ sơ mà đã càm ràm. Ông Tám Cần nổi giận: -Giỏi, giỏi thiệt... Nè, đừng có trứng khôn hơn vịt... -Hì...Hì... Mới đụng chút xíu mà ông già đã nổi cạu... Ông Hai móm tay ôm gói đồ, tay lôi vợ hốt hoảng: -Chết cha!... Bọn Đại Hàn ở núi Tranh cũng chạy lẫn với bọn mình... Họa tới rồi!... Bà Hai móm bực mình: -Buông tay tôi ra, việc mình mình lo, việc chúng nó đã có cách mạng lo. -Cách mạng đâu có tha mấy thằng Đại Hàn, lạy trời, lạy Phật!... Hai bên đừng bắn lộn vào dân. Một tốp lính Đại Hàn không súng, không mũ vừa chạy vừa gọi nhau. Bà Hai móm mệt quá vừa đi vừa thở. Một tên Đại Hàn vừa nói với bà vừa xoa tay chỉ về phía núi Tranh đang nổ ầm ầm. Mấy đứa con gái phiên dịch dùm: -Nó bảo Vi-si đánh từ trong hầm đánh ra, bọn nó chết nhiều lắm, nó không kịp lấy súng và mũ, để nó giúp bà chạy trốn Vi-si. Bà Hai móm nói giỡn với mấy đứa con gái: -Nè...Mấy cái tiếng bồi Đại Hàn bọn bay dịch có trúng không đấy? Tao nghe nó lắp ba, lắp bắp như cọp nhai đậu phụng bay à. -Bọn cháu dịch tạm tạm như vậy, nếu sai tốt nhất bà biểu nó dạy cho tiếng Đại Hàn. Bà Hai móm tỉnh bơ: -Tổ cha mấy con cọp cái... Nó giỡn với cả bà già, làng xóm ơi! Bầu trời bỗng như bị xô đẩy, rạn nứt ra bởi tiếng nổ vang rền và đột nhiên núi Tranh bỗng hóa thành một cái nấm lửa đứng sựng một góc trời. Nhiều người đang chạy đứng khựng lại nhìn về núi Tranh có người nói như reo: -Ủa! Cháy kho xăng và trận địa pháo rồi!... -Ban ngày, ban mặt mà dám vào đánh cứ điểm Đại Hàn, mấy ông cách mạng quả là gan cùng mình!... Ông Tám Cần nói to: -Rải rải mấy ông, chúng nó lo cứu núi Tranh, bọn lính không dám bắn ẩu vào dân đâu. Mấy ông già xóm Tường vừa đi vừa nhìn núi Tranh, vừa bàn tán: -Giỏi! Đánh giặc y như làm phép. -Nghe nói cách mạng đem tên lửa lên đặt trên bìa núi bắn xuống núi Tranh phải không mấy ông. -Đúng vậy. Đây mới là bắn thử, mai mốt họ sẽ bắn vào tỉnh đường. -Hèn gì tập trung dân cả vùng nổi dậy. -Nè...chạy từ từ thôi, trông chừng xe bọc thép dưới thị xã lên cán bừa cả người lẫn bò đó. Tiếng nổ chuyển trời làm bọn Đại Hàn chạy chung trong dân cuống cuồng. Một tên Đại Hàn níu lấy quang gánh của một chị phụ nữ làm chị tái mặt. Bỗng nó chắp tay vái chị rồi giành lấy đôi quang gánh đặt lên vai và ra hiệu cho chị chạy theo nó. Chợt hiểu ra, chị phụ nữ la to: -Của tôi... Trả đây. Nó nắm tay chị phụ nữ dắt chị chạy theo. Có người hùa vào: -Để nó gánh dùm cho một đoạn. Chị phụ nữ vừa vùng tay ra, vừa ra hiệu cho tên Đại Hàn, vừa la to: -Chạy không kịp...rải rải... mất đồ của tôi... Bà Hai móm đang đi cũng bị một thằng Đại Hàn ra hiệu và không đợi bà phản ứng đã ghé lưng cõng bà chạy. Ông Hai móm nắm áo nó hét to: -Không được!... Hiểu chưa!... Ông Hai móm tay cầm bọc quần áo, tay ra hiệu khiến tên Đại Hàn tưởng ông biểu nó cầm bọc quần áo và nó giật bọc quần áo, cõng bà Hai móm chạy không quay đầu lại. Thấy quần áo trong bọc văng ra đường mà tên Đại Hàn cứ co giò chạy, bà Hai móm ngồi trên lưng tên lính quay lại dặn chồng: -Ông lượm... Kẻo mất... Ông Hai móm cúi xuống lượm quần áo rơi vãi trên đường trong tiếng cười rần rật của nhiều người. Ông Tám Cần thấy ông Hai móm đang lèo khèo nhìn theo vợ bỗng cười ha hả: -Kìa... Nó cõng phu nhân của ông đi mất tiêu rồi. Một người khác chen vào: -Nè, ông mất bà ấy rồi... Ông Hai móm vừa bước nhanh vừa thở: -Đội ơn trời, phật...Nó mà cõng bả vô thị xã tôi cũng đỡ lo. Mấy đứa con gái phá lên cười: -Mất bà ấy thì sao? -Tối nay ở một mình thì buồn chết ông Hai à. Ông Hai móm giảng giải: -Già rồi mất sao được. Tại cái thằng Đại Hàn mớ mả mới cõng bà ấy vô thị xã giá chi nó cõng bọn bay mới đáng giá. -Ông Hai nói ẩu nghe. Một bà già gắt lên: -Bom đạn rầm rầm cứ đùa giỡn hoài. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Chín, 2023, 04:45:22 pm Chương 11 1 Đã lâu lắm rồi căn cứ xã Phụng mới có một buổi chiều yên tĩnh đến lạ lùng như vậy. Không một tiếng máy bay, không một tiếng pháo, và cả tiếng ve kêu cũng không còn nữa. Sau những trận đánh quyết liệt, cả ta và địch tạm thời ngừng hoạt động để lấy sức cho những trận giao tranh sắp tới. Chiều chiều, bọn bảo an, dân vệ, nghĩa quân cũng tập trung quân sớm rồi kéo về co cụm xung quanh cứ điểm núi Sầm. Chính vì vậy mà các đơn vị đi khẩu cũng như anh em xã Phụng tới chỗ tập trung sớm. Lâm bị thương, Mai chuẩn bị đi họp nên ở nhà chỉ còn lại có hai người. Nhìn cây me cao vổng, thân cây to hơn hai người ôm, vỏ cây nứt nẻ đan xen những lớp vằn mềm mại, Mai nghiêng đầu nhìn vào khỏang không vô định. Đôi mắt như tò mò, như thiết tha lẫn ngạc nhiên, như đang tìm những điều bí ẩn trong vũ trụ bao la, trông Mai giống như một cô bé ngây thơ ngồi chờ phép lạ. Lúc này chẳng biết mở đầu câu chuyện với Lâm như thế nào, Mai có cảm giác như có hàng ngàn, hàng vạn con sóng li ti vô hình đang vỗ vào da thịt mình. Tâm hồn Mai bồng bềnh như làn mây trắng đậu lơ lửng trên nền trời xanh thẳm. Mai nhìn Lâm thấy đầu óc mình trở nên bâng quơ, lộn xộn bỗng mỉm cười với mình và tự hỏi “Tại sao mày cứ như người mất hồn vậy Mai ơi!...” Nằm trên võng say sưa nhìn Mai, nhận ra mùi tóc thơm thoang thoảng như hương hoa bưởi, hoa lài, bay tỏa xung quanh, Lâm không dám cựa mình và chỉ sợ mùi thơm đó bay đi mất. Khuôn mặt thon và bầu lấp ló dưới mái tóc dài buông xõa, làn da trắng ngần, đôi mắt đen dài khiến Lâm bàng hoàng, ngây ngất trước vẻ đẹp lạ lùng của Mai. Lâm chợt thấy Mai như nàng Tố nữ đang ngồi trên võng giữa cánh rừng hoang dã và xung quanh nàng ngạt ngào hương sắc của hàng ngàn vạn loài hoa. Nhìn người yêu Lâm tự nhủ thầm: “Tội nghiệp! Có mấy khi Mai được ngồi thư thái như thế này đâu!...” Gió ngoài đồng thổi tới xôn xao, những cành me la đà trong gió. ánh nắng vàng mượt xuyên qua những kẽ lá rơi nhè nhẹ xuống mặt đất. Mặt đất hóa thành một bức tranh do nắng và bóng cây tạo ra lung linh nhảy nhót. Giật mình khi Lâm cựa mình trên võng, nhìn chân Lâm bị thương gượng gạo co lại, Mai tới ngồi cạnh Lâm nhỏ nhẹ: -Đau không anh!... Phải chi em gánh được cái đau cho anh... -Không đau lắm đâu, vết thương bắt đầu ăn da non rồi. Mai ân cần: -Đưa em băng lại cho, đầu băng buộc gút lớn như vậy nằm võng bị cấn đau lắm anh à. Lâm ngồi dậy, tay vuốt nhẹ lên tóc người yêu hóm hỉnh: -Đáng lẽ để y tá lo, ai dám nhờ bí thư. Lấy đầu mình cụng nhẹ vào đầu Lâm, Mai tinh nghịch: -Đây là loại lính đặc biệt, chuyên ăn hiếp bí thư. -Chẳng bao giờ mình làm lớn được. -Khi nào cưới, chức anh lớn hơn em nhiều. -Chức gì mà lớn? -Anh là ông xã, em thì cũng chỉ tới chức bà xã phải không, nè phải để em lo cho anh, nếu không Tỉnh đội bắt đền xã Phụng đó. Hơi duỗi chân cho Mai băng, Lâm cười và chỉ vào mình: -Vừa là thương binh, vừa là ông xã, bắt bí thư phục vụ cả đời. Mai cười khúc khích: -Thương binh này thì hư nhất. Mai đứng dậy lấy hộp bông băng và bi đông nước đặt trước mặt Lâm: -Đưa em rửa vết thương ở đùi cho. -Để anh tự lo. Mai phì cười: -Em ra lệnh cho anh cởi quần dài , vạch quần đùi lên. Thấy Lâm lúng túng, Mai nhỏ nhẹ: -Chúa mắc cỡ, ở đùi non vết thương bị quần cà vào dễ bị xây xát, anh độ rày không cho con Phượng rửa thương mà tự rửa phải không? -Tại anh thấy vết thương đã ăn da non nên anh nói để anh tự rửa. Giúp Lâm nằm nghiêng trên võng, rồi cầm “panh” nhẹ nhàng bóc miếng “gạc” Mai hóm hỉnh: -Em mà rửa vết thương thì anh tha hồ khóc. Ngón tay vuốt nhẹ lên tóc người yêu, Lâm dịu dàng: -Tất nhiên là phải dịu hơn y tá rồi, nè... Nếu mà đau thì em phải đền đấy. -Đền gì, em trả. Lâm quàng tay lên vai Mai, kê sát đầu mình lên đầu và hôn lên má người yêu. Mai tinh nghịch: -Em không như con Phượng đâu, hễ rửa thương là động viên “ Đau không anh Lâm? Ráng chịu nghe anh...”. Em thì cứ ra lệnh. -Anh xin tuân lệnh. -Bữa nay anh của em ngoan quá. Nước muối vào vết thương làm Lâm xót và đau khiến nhăn mặt, Mai động viên: -Chút xíu thôi, em mát tay lắm. Lâm điềm tĩnh: -Hồi nhỏ anh đá bóng trầy cả chân rồi lấy cát rắc vào, vậy mà khỏi lúc nào không hay. Vết thương này ăn nhằm gì. -Nhưng đây là mảnh đạn, hơi thuốc và mảnh độc lắm, lơ mơ nhiễm trùng ngay anh à. -Em dọa anh, đi phát rẫy, cành nhọn xóc vào bắp chân lấy lá đắp vào rồi cũng khỏi. -Vậy mà cũng kể, anh thuộc loại đại dơ. Anh với Út Hân ở với nhau thật xứng đôi. Lâm cười xòa: -Ừ... Anh là sư phụ, nó là đệ tử nên có lần anh vạch bụng nó lên thấy toàn ghét, anh ngầy, nó nói: “ Sư phụ ơi, quần áo sư phụ thay ra không giặt, phơi nắng gấp lại rồi mặc tiếp. Em học tập sư phụ đó.” Mai phì cười: -Hèn gì người ta cũng nói ngồi cách một cây số cũng thấy mùi mấy chú giải phóng. -Vậy mà lắm cô chết mệt. -Tại thương lỡ rồi. Hì...hì... Rắc thuốc, bôi mỡ lên vết thương, Mai cẩn thận băng cho Lâm. Thuốc thấm vào vết thương xót cứng đùi, Lâm phải đứng dậy đi lại, vặn mình làm những đốt xương kêu răng rắc. Lâm nằm xuống võng, nhìn Mai khoác súng đi kiểm tra xung quanh căn cứ xã, mỉm cười rồi nhìn cây me bóng ngả xuống, từng cặp lá me cụp vào nhau đu đẩy. Rất lâu mới nghe bước chân của Mai tới gần, Lâm hỏi trống không: -Về rồi à... -Dạ... Mai tháo võng của mình tới cột cạnh võng Lâm rồi đặt khẩu AK bên chiếc ba lô , khoan khoái ngã lưng trên võng. Hai cánh võng nhẹ đưa, Mai thấy giống như hai cái thuyền cột chung vào một cây sào bất giác mỉm cười. Lâm bỗng hỏi: -Em cười gì? Nhìn lên cây me, Mai reo lên và đập nhẹ vào vai Lâm: -Anh coi, cây me bắt đầu đi ngủ rồi nè. Lâm ngước nhìn cây me, bất giác bật cười: -Đố em biết hồi nào cây me thức. -Buổi sáng, khi mặt trời mọc, lá me xòe ra là lúc cây me thức dậy đúng không? -Để ngày mai anh kiểm tra lại đã. Mai thủ thỉ: -Những buổi sáng không có địch, em ngồi đếm lá me mà không biết đếm để làm gì, nhìn miết mới phát hiện ra cây me cũng thức và ngủ như con người...Anh thấy có lạ không. Lâu nay sống và đi lại dưới gốc me già bây giờ Lâm mới thấy nhận xét của Mai quả là tinh tế. Niềm tự hào bỗng dâng lên khiến Lâm lâng lâng. Thầm cảm ơn trời đất đã cho Mai sắc đẹp và phẩm hạnh quí giá vô ngần, Lâm dịu dàng: -Em quan sát và sử dụng hình ảnh như một nhà thơ! Thật bất ngờ!... Mai đỏ mặt lặng im mỉm cười. Ngồi dậy kéo Mai ngồi chung võng Lâm choàng tay lên vai Mai thủ thỉ: -Hồi nào còn là học trò, vậy mà bây giờ hai đứa mình đã ngồi đây! -Hơn sáu năm thoát ly rồi phải không anh? Lâm suy tư: -Đời học trò thoảng qua như cơn gió... Lăn vào chiến đấu, ngoảnh mặt lại đã hơn nửa thập niên. Mai tinh nghịch: -Xếp bút nghiên lên đường chiến đấu phải không chàng hiệp sĩ? Lâm bật cười: -Hồi chưa thoát ly, câu thơ: áo chàng đỏ tựa ráng pha, ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in. Mình ngâm nga, hình dung anh giải phóng như là một hiệp sĩ thời thượng... Bây giờ thì như ở trên trời rơi xuống đất cái bịch. -Sao vậy? -Giản đơn thôi... Bây giờ mình là anh giải phóng, mũ tai bèo chân đất, đường hành quân xa lắc,vào trận thì bom đạn đầy trời. Lâm ôm chặt lấy vai Mai rù rì: -Nói cho cùng, mình phải cảm ơn cái thời bị lộ, cảm ơn cái đợt công tác này anh mới có dịp được ngồi bên em. Thấy Lâm lặng yên, đăm chiêu, Mai nhìn Lâm thấy thương thương, tội tội... Lúc này, Mai chỉ muốn ngồi bên và nghe Lâm nói. Lâm bộc bạch: -Thú thiệt, những lúc trời mưa một mình nằm trên võng hễ nghĩ đến em là cồn cào cả người; những đêm anh ngủ rất say, nằm chiêm bao thấy hai đứa mình đi học, em chạy anh đuổi theo, tà áo trắng bỗng quấn vào người và anh nắm được tay em thì giật mình tỉnh giấc thấy tiếc ơi là tiếc. Mai ngạc nhiên: -Ủa!... Sao em cũng nằm chiêm bao thấy y như anh...? -Có thể lúc đó hai đứa cùng nghĩ về kỷ niệm nên chiêm bao có sự trùng lặp. -Em không tin, công tác mệt muốn chết em hỏi anh còn thời gian đâu mà nghĩ chuyện xưa. Lâm bỗng vỗ vào trán mình: -Anh nhớ hồi lớp 11 hai đứa mình lên chùa, em chạy, anh chẳng đuổi bắt em là gì. -Ừ... Em nhớ rồi. -Bữa đó em vấp guốc, anh không kịp ôm thì té xuống ruộng là cái chắc. Mai khúc khích: -Ừ... Nực cười nhỉ, hồi đó hai đứa mình khờ quá phải không anh? Lâm thở dài: -Nếu không có chiến tranh thì với sức học của bọn mình thi đậu đại học là cái chắc. Nếu được học hai đứa mình cũng như Nguyệt đúng không!... Nép vào ngực người yêu Mai cảm thấy ấm áp lạ thường. Mơ ước đi học đã nguôi dần trong Mai giờ đây trỗi dậy thành niềm khao khát lạ lùng. Mai tâm đắc: -Thống nhất nước nhà, hai đứa mình cùng xin đi học phải không anh? -Phải học chứ dù chiến tranh hay hòa bình, kiến thức và học vấn bao giờ cũng là cốt lõi cho sự phát triển của từng con người, sau này mình cưới, có con thì nhiệm vụ vẫn là đi học. Mai mơ màng: -Có con làm sao đi học được? -Hai đứa phân công nhau đi học và trông con, anh nhất định dành nhiều thời gian cho em học. Giọng Mai đầy tin tưởng : -Anh yên tâm, em chịu cực quen rồi miễn là được đi học, khổ mấy em cũng học chỉ cần anh phụ giúp em nuôi con thôi. - Miễn em và con vui, bao khổ cực anh gánh hết. -Dạ...Em biết tính anh. Ngừng một lát Mai vội khoe: -Em vừa nhận được thư Nguyệt . -Sao không đưa anh coi. -Hồi trưa em đang cùng chú Chín họp với cơ sở ngoài bìa mương, với lại mải việc nên em quên. Lâm móc trong túi lấy bịch thuốc rê quấn và mồi lửa hút thuốc. Lâm hỏi Mai : -Trong thư Nguyệt nói gì? Mai thủ thỉ: -Nó nói nhiều về anh Đoan và gửi anh Đoan cho bọn mình chăm sóc. Năm nay ra trường nó xin việc ở Sài Gòn. Nó còn biểu... Không nói nữa... Ngày mai anh với anh Đoan đọc sẽ rõ. Lâm tò mò, hôn nhẹ lên tóc Mai: -Nói đi cưng, anh sốt ruột lắm rồi. -Nó biểu đánh Mỹ còn trường kỳ gian khổ, bọn mình cưới đi. Nếu em sinh, gửi con xuống cho nó nuôi, con mình phải là con nuôi của nó. Nó đón vào Sài Gòn cho ăn học, thống nhất trả lại con cho bọn mình. Lâm bật cười: -Người lớn ghê ta , chưa lấy chồng đã đòi làm mẹ rồi. Hay là tụi mình tổ chức cưới, có con gửi cho Nguyệt chăm sóc? -Anh chỉ có được cái nói ào ào, đã nhất trí ngày hòa bình thống nhất mới tổ chức đám cưới ... -Ừ thì anh nói vậy, nhưng cuộc chiến đấu còn lâu dài, gian khổ, là một sự thật không ai chối cãi được. Mai lặng yên trong suy tư, bỗng nói với Lâm như nói với chính mình : -Em công tác ở xã còn đỡ vất vả, anh và anh Đoan cuộc sống gian khổ, hiểm nguy và khắt khe gấp em bao nhiêu lần... -Ở đâu cũng vậy thôi, tất cả rồi cũng quen hết. Em à... Anh thấy Nguyệt nói có lý đấy. Mai lắc đầu cười : -Anh thì lúc nào cũng đòi cưới, chú Chín không chịu đâu. -Bộ em không muốn sao? -Con gái thì có một thời, làm đến chức gì đi nữa thì cũng phải có chồng đúng không? Lâm gật đầu, tay dụi tàn thuốc nhìn người yêu say đắm. Mai nũng nịu: -Nhưng hoàn cảnh hiện tại làm sao cưới được. Cuộc đời trong trắng của em trước sau cũng trao gửi cho anh, anh yên tâm đi . Ghì chặt người yêu vào lòng, Lâm nhìn sát vào mắt Mai: -Hay là mình báo cáo với tổ chức xin cưới cho xong đi. Được không? -Có con khổ lắm anh à... Em đã nói rồi, lúc nào em chẳng là của anh. Lâm thiết tha : -Thương anh không!... Mai nhìn thẳng vào Lâm : -Từ trước tới giờ, em chỉ có một mình anh. Mối tình đầu tiên và cũng là duy nhất. Em đã nguyện suốt đời ở bên anh. Ngày đêm em cứ cầu trời, khấn phật phù hộ cho hạnh phúc của hai đứa mình. Anh có cho em là mê tín không? Lâm lắc đầu : -Không! Đạo Phật cũng là một khoa học. Những điều huyền bí của vũ trụ chưa hẳn đã là mê tín. Dù muốn hay không, nhà phật cũng dạy mình hướng thiện, sống phải vị tha và tin vào nhau thì mới tạo nên sức mạnh. Anh nghĩ tình yêu cũng phải như vậy đúng không? Nép vào ngực Lâm, Mai mơ màng : -Nhiều lúc em nghĩ miễn là hai đứa mình có một đứa con, anh có đi đâu và xa mấy đi nữa em vẫn chờ anh và nuôi con. Có con ở bên tức là có anh rồi phải không anh? Lâm hỏi dồn : -Vậy mình tổ chức cưới nghe! -Khoan đã anh à. Lâm nhìn xung quanh, rồi ngước mắt nhìn cây me. Mai cũng ngước mắt nhìn cây me bỗng reo khẽ : -Anh coi, những chùm lá me dày như vậy mà vẫn không che nổi những ánh sao trên trời. Trông những ánh sao giống như bày đom đóm đang đậu dày trên cây me phải không anh... Nhìn những ánh sao lay động, nhấp nháy như nhảy qua kẽ lá me sà xuống đậu trên cánh võng, Lâm bỗng nhận ra những cặp lá me đang úp vào nhau cũng phập phồng như hơi thở nồng nàn của một cặp vợ chồng đang thì thầm tâm sự giữa đêm sâu. Bồn chồn Lâm hỏi Mai: -Em tìm đâu ra hoa chanh mà gội đầu vậy? -Lá chanh rừng chứ không phải hoa chanh đâu. Gội lá chanh rừng vừa thơm vừa sạch đầu anh à. Kéo người yêu vào lòng đặt những nụ hôn nồng thắm lên tóc, lên má Mai, hơi thở của Lâm dập dồn khiến người Mai như nhũn ra. Bỗng tiếng cây khô kêu rắc trong đêm rồi rơi ào xuống đất làm cả hai cùng giật mình nhìn xung quanh rồi nhìn nhau cười. Mai bỗng hỏi Lâm : -Nghe nói anh với anh Đoan và anh Yến thi nhau đọc xem ai nhớ được nhiều thơ trong truyện Kiều có đúng không? -Có chuyện đó, coi như huề vì đứa nào bình cũng có ý hay. Cao hứng Lâm hỏi Mai: -Em có nhớ câu thơ: “Trời xinh xinh, cảnh xinh xinh, trên trời, dưới nước, giữa mình với ta”. Của nhà thơ nào? Câu thơ đó hợp với cảnh chúng mình lúc này ở chỗ nào? Mai cười khúc khích cố ý chọc quê Lâm : -Thơ Nguyễn Du thì hay rồi, nhưng ở đây làm gì có cảnh “trên trời, dưới nước”. Lâm cười khà chống chế : -Thì nước suối, nước giếng ở xung quanh mình, vậy cũng hợp cảnh đúng không. Mai phì cười: -Vậy em cũng đọc thơ cho anh nghe : “Trời sinh ông Gia Cát - Đất nứt con bọ hung”. ý...không phải ...Em lầm...Đấy là câu đối, không phải thơ. -Chà...thơ hay quá tay...Có lẽ trời sắp mưa... Đấm thùm thụp vào lưng Lâm, Mai phì cười: -Ông quỷ!... Lần nào mình cũng thua cuộc!... Lâm bỗng hỏi: -Em nghe chuyện sự tích cây me chưa? -Chưa...Anh đọc ở sách nào ? -Hình như trong một cuốn sách biên khảo nào đó, anh quên tên mất rồi. 2 Sương đêm xuống lành lạnh, nép mình vào người yêu, Mai lắng nghe giọng trầm trầm và ấm áp của Lâm: -Ngày xưa có một chàng thư sinh mới mười bảy tuổi đã nổi tiếng hay chữ. Trong vùng chỉ có vị hòa thượng là người có kiến thức thâm uyên, là người trực tiếp dạy chàng, nhờ vậy vốn đã học giỏi, chàng càng giỏi thêm. Nhà có một mẹ, một con lại rất nghèo nên chàng phải đi kiếm củi lấy tiền nuôi mẹ già và ăn học. Ở làng bên có một gia đình phú ông rất giàu và nổi tiếng là tham lam keo kiệt sinh được ba người con gái: Cô Hai thì chua chát, điêu ngoa, cô Ba thì đỏng đảnh hay ăn hàng. Chỉ có cô út nết na, xinh xắn và thông minh. Mới mười hai tuổi cô đã nổi tiếng dệt lụa giỏi. Phú ông mời thầy tướng xem cho cô út, ông thầy lắc đầu thở dài cười ba tiếng và nói: “Ngọc nằm trong đá, oan nghiệt lìa đời, mưa xuân hoa nở” rồi bỏ đi. Phú ông ngày đêm lo sợ cho cô út chết non. Vốn đã được nghe tiếng về nhau nên trong dịp trảy hội mùa xuân hai người gặp nhau và duyên trời đã định nên họ cùng nhau đến chùa, thắp hương cầu xin trời phật cho họ thành vợ thành chồng và khi chết cả hai người đều hóa thành một loài cây để đời đời được sống bên nhau. Tan hội, cô út về xin phép cha cho nhà trai tới xin cưới. Nghe con gái nói, Phú ông cười khẩy trả lời: -Chuông khánh còn chẳng ăn ai, huống chi mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre. Cô út lễ phép trả lời: -Thưa cha, anh ấy tuy là nhà nghèo nhưng học giỏi. Người có chí học hành nhất định sẽ nên danh. Chúng con thương nhau và chúng con đã đưa nhau đến cửa phật làm lễ ăn thề rồi. Phú ông bực mình nói sẵng: -Một bồ chữ của nó không bằng một giạ lúa của tao, loại khố rách áo ôm ấy làm sao làm rể tao được. Cô Hai khinh khỉnh bĩu môi: -Cái thứ học trò dài lưng tốn vải ăn no lại nằm, thà nuôi heo còn hơn. Cô Ba nguýt dài giọng như gió đánh đò đưa: -Út à... Hoài công mà lấy thằng nghèo. Lên dốc, xuống đèo vẫn kiếp đốt than..., phận đốt than có học giỏi cũng đốt than em à. Cô út không nói năng gì chỉ lủi thủi một mình dậy sớm thức khuya dệt vải, dành tiền nuôi người yêu ăn học. Một hôm ngồi dệt vải chợt nhớ người yêu, cô út liền hò: “Dù ai lấp trổ rào truông, em nguyền vạch lách mà luồn theo lau”. Giọng hò của cô út trong vắt ngọt ngào khiến cỏ cây xao xuyến chim muông ngơ ngẩn. Cô Hai nghe giọng hò tức tối nói: -Cái con út vô duyên, cha đã ngăn mà nó vẫn nhớ thương cái thằng đốt than. Lời cha dạy nó có khác nào nước đổ đầu vịt, cứ đà này nhất định con út sẽ bị chửa hoang... Cô Ba lập tức xía vào: -Đúng... Con gái chửa hoang cả làng phạt vạ, con út nhất định sẽ bị gọt đầu bôi vôi dong đi khắp làng về tội trai trên gái dưới. Vậy là lời nói không cánh mà bay, chuyện gà hóa thành chuyện vịt và tin cô út chửa hoang cả làng đều biết. Tin đến tai phú ông, phú ông vội gả cô út cho con trai nhà lý trưởng ngu dốt, cô út quẫn trí ra sông tự tử. Hôm cô út tự tử, mưa gió suốt bảy ngày đêm, phú ông tìm hoài mà không thấy xác. Trong mưa gió, cô út hiện về báo mộng cho người yêu khi nào nước sông chảy ngược về suối thì xác cô sẽ được dòng nước đưa về dưới chân chùa. Được cô út báo mộng , trong mưa gió dầm dề, chàng thư sinh vừa đi, vừa khóc. Ôm xác người yêu đi tới vườn chùa, bỗng một tiếng sét đánh ngay trước mặt. Lạ thay, nơi bị sét đánh hóa thành một cái huyệt có hương thơm tỏa mãi không thôi. Chôn xác người yêu xong, chàng thư sinh sớm chiều tới mộ người yêu mài kinh nấu sử. Rồi một đêm chàng thiu thiu ngủ thì một luồng gió thổi tới làm cánh cửa hé mở và cô út hiện lên trước mặt chàng. Mừng rỡ chàng trai vội ôm choàng lấy người yêu khóc nức nở. Cô út nhìn chàng và nói: -Em đã là ma, chàng thương tiếc làm gì. Chàng trả lời: -Dẫu là ma em vẫn là vợ của anh, đã gặp được em anh nhất định không cho em đi đâu nữa. Nép mình trong vòng tay người yêu cô út thủ thỉ: -Cảm ơn chàng ngày ngày đã tới bên mộ em nhờ hơi ấm của chàng mà từ nay đêm đêm em mới được đến với chàng. Chàng vội hỏi: -Làm cách nào để ban ngày ta vẫn được ngồi bên nhau trò chuyện như lúc này. Cô út trả lời: -Cá không bao giờ nhìn thấy được nước nên bơi lội tự do trong nước, ma không bao giờ nhìn thấy đất nên đi lại tự do trong đất. Người ở dương thế không thể đi lại tự do trong đất được, đêm đêm em sẽ về với anh. Và từ đó đêm nào hai người cũng gặp nhau để trò chuyện. Cô út vốn đã đẹp bây giờ càng đẹp hơn. Kìm lòng không được chàng trai đòi chuyện chung chăn gối, cô út dịu dàng nói: -Em không tiếc chàng nhưng kẻ âm, người dương việc loan phượng trùng phùng sẽ nguy hại tới tính mạng chàng. Nếu chàng chết thì theo vòng kiếp luân hồi chắc gì đã ở chung được với nhau. Chàng cố đợi chờ sẽ có ngày nên duyên chồng vợ. Khoa thi năm đó chàng thi đỗ trạng nguyên và được nhà vua bổ nhiệm về làm quan tại quê nhà. Ban ngày bận việc công đường, đêm đêm chàng lại ra ngồi bên mộ nàng. Một đêm trăng sáng vằng vặc, một cục lửa xuất hiện giữa trời, bay vờn trước mặt chàng và chạm vào mộ hóa thành tiếng sét long trời, lở đất. Kỳ lạ thay, sau tiếng sét, cô út từ trong mộ bước ra tươi cười và rực rỡ như một nàng tiên nữ. Mừng rỡ, quan trạng dẫn người yêu về nhà và tổ chức lễ cưới linh đình. Từ đó hai vợ chồng sống bên nhau rất hạnh phúc. Cô út lại sinh cho chàng một đứa con trai khôi ngô tuấn tú, lớn lên thi đậu được bổ làm quan. Rồi một đêm mưa gió đầy trời vợ chồng quan trạng đang ngồi thì đột nhiên một tiếng sét vang lên và mọi người không thấy vợ chồng quan trạng đâu nữa. Nơi sét đánh hóa thành cái mộ vuông vức. Và lạ thay trên mộ mọc lên một cái cây lá mọc đối nhau thành từng cặp. Đêm đêm khi những đàn đom đóm bay tới đậu sáng trên cành là lúc lá cây úp vào nhau như vợ với chồng. Trong gió thổi cây phát ra tiếng “Em nghe!... Anh nghe!...”. Nhiều người nghe không rõ tiếng gọi lầm là Me; bởi vậy mới có tên là cây Me. Ngồi lọt thỏm trong lòng người yêu, chợt nhận ra hơi ấm từ cơ thể Lâm đang truyền vào từng làn da, thớ thịt của mình, Mai mơ màng: -Chúng mình cũng thủy chung như vậy phải không anh? Lâm thì thầm: -Em có lạnh không? -Tay anh cũng lạnh. Lâm lấy tay ủ vào người Mai. Mai nắm tay Lâm lặng yên. Bàn tay Lâm nhè nhẹ luồn qua áo chạm vào da thịt làm Mai rùng mình níu chặt lấy Lâm: -Anh!... Thoáng nghĩ: “Đằng nào mình cũng là của anh ấy. Tội nghiệp!... Chiều ảnh một chút....”, trái tim Mai run lên phập phồng khi tay Lâm cứ lướt nhẹ lên cơ thể mình. Mai nhắm mắt ngã vào lòng Lâm trong tiếng rên nhè nhẹ. Khoảng khắc của cuộc chiến tranh tan biến xung quanh, tiếng pháo nổ phía trời xa đã câm lặng và cả tiếng bầy chim krung-krinh cũng lặng im nhường chỗ cho tiếng Mai nói trong gió thoảng: -... Đừng anh!... Đằng nào cũng của anh!... Hơi nóng từ người Lâm ập lên khiến Mai ngã người nằm trên võng cố chống đối yếu ớt với cơ thể Lâm đang ập lấy cơ thể mình: -Đừng!...Em giận anh đó!... -Ôi!... Anh!... Mai ghì chặt lấy Lâm, giọng yếu dần trong hơi thở dồn dập và oằn mình ôm chặt lấy Lâm. Cánh võng rung lên trong tiếng rên nhè nhẹ của Mai ngọt ngào như mật ngọt. Khá lâu tiếng Mai thì thầm: -Anh!... Tất cả em đã trao cho anh rồi đó!... Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Chín, 2023, 04:54:21 pm Chương 12 Mặc dù được Lâm an ủi và động viên, nỗi lo vô cớ cứ ám ảnh khiến Mai thở dài tự vấn an: “... Cầu mong đừng có chuyện đó vội...”. Nhưng bằng linh cảm của mình, Mai thấy khả năng mình có bầu. Cả Lâm và Mai đều thống nhất gặp ông Chín Tòng để báo cáo xin cưới và đề nghị ông thay mặt tổ chức làm chủ hôn cho đám cưới thì mọi việc sẽ yên. Điều trớ trêu là chiến dịch mở ra, sự sống và cái chết đang diễn ra trên khắp chiến trường nên cái sự cưới xin trong lúc này là không phù hợp. Rồi nhiệm vụ đánh vây ép địch trong làng hỗ trợ cho đặc công tiêu diệt cứ điểm núi Sầm ập đến chẳng lẽ bí thư thoái thác nhiệm vụ để xin lấy chồng và anh em xã Phụng làm lơ với cái sự cưới xin của bí thư... Một loạt“ cái sự” nảy sinh khiến ông Chín phải gọi Lâm và Mai đến giải thích và tất nhiên cũng không ngoài hai chữ “khoan cưới”. Lo lắng lẫn lúng túng Mai và Lâm cũng chỉ còn biết năn nỉ để ông Chín thông cảm “xuống thang” gật đầu thì lập tức đám cưới sẽ được tổ chức. Trưa nay thấy ông Chín Tòng ngồi một mình dưới gốc me già uống nước, Lâm vội vàng đến ngồi bên xoa tay ấp úng: -Chú à!... -Lại chuyện mày đòi cưới chứ gì? -Chú thông cảm!... Chỉ còn ít ngày nữa là cháu phải về đơn vị mà thời gian chiến dịch chắc còn kéo dài nên bọn cháu mới tính chuyện tranh thủ xin tổ chức cưới... -Tình hình nhiệm vụ cũng như cương vị công tác của con Mai trong lúc này thì chưa thể cưới được, mà tại sao mày cứ bắt tập thể phải theo ý của mày như vậy? Chợt thấy Mai đứng thập thò trong nhà ông Chín liền gọi: -Mai ra chú hỏi...Mày bị thằng Lâm hớp hồn rồi hay sao mà cứ để nó xỏ mũi dắt đi hoài như vậy? Như đứa trẻ ăn vụng bị bắt quả tang Mai bẽn lẽn đến ngồi bên Lâm và lấm lét nhìn ông Chín. Nhìn đôi trẻ thu người ngồi bên nhau lo lắng và ngơ ngác ông Chín mủi lòng nghĩ thầm “Tội nghiệp!... Chuyện công tác thì chúng xông xáo bài bản, còn tới chuyện riêng tư thì tồ ngồ tộc ngộc y như lũ cò mắc mưa!...” Nén tiếng thở dài ông Chín chậm rãi nói: -Trà Brao thứ thiệt đó đứa nào uống thì tự rót. Cưới xin là việc trọng đại của cả đời người mà hối hả như truy kích địch ấy thì còn ra thể thống gì nữa. Còn con Mai tại sao chuyện công tác thì mày xông xáo bài bản, tới chuyện chồng con thì lúng túng như gà mắc tóc nghĩa là sao? Ngừng một lát ông Chín Tòng đột nhiên hỏi: -Hai đứa đều là cán bộ lãnh đạo và đều là Đảng viên có đúng không? -Dạ đúng!... Gật đầu ông Chín lại hỏi: -Bay nghĩ thế nào khi bay giảng giải cho anh em cấp dưới “Ba khoan” trong khi bay cứ một hai xin tổ chức đám cưới? Đỏ mặt lúng túng Lâm gãi đầu: -Đợt này được về xã nhà công tác nên mới có dịp nhất trí cưới để cả hai đứa yên tâm chuyện tình cảm... Và chỉ còn một bề lo giúp nhau tiến bộ trong công tác. -Vậy khi chưa cưới hai đứa mấy bề công việc hay cũng chỉ là đánh giặc và công tác? Tóm lại là mày không tin con Mai chứ gì? Giọng nói ông Chín bỗng căng lên bực bội: -Tao biết, hai đứa thương nhau đã lâu, nhưng mày cũng biết tính con Mai một khi nó đã thương thì dù lửa cháy nó cũng không rời người thương!... Tao nghĩ điều đó mày phải hiểu nó hơn ai hết chứ. -Dạ cháu hiểu!... Rót nước uống một hơi dài ông Chín nhìn Lâm: -Tao biết chuyện gái gặp trai như cá gặp nước, rồi khi đã thương nhau thì như người ăn phải bả và khi đã say đòn thì chẳng còn biết gì nữa ngoài chuyện nằng nặc đòi cưới. Suy cho cùng thì bay ích kỷ và thiếu gương mẫu. Sượng sùng cúi gằm xuống đất Lâm và Mai chỉ còn biết ngồi im nghe ông Chín giảng giải. Nước mắt bỗng trào ra, Mai chỉ muốn đất nứt ra cho mình chui xuống để dưới bóng đen của lòng đất để mình không nghe, không trông thấy mình nữa. Nhìn đôi trẻ, đôi mắt ông Chín Tòng hiện lên những kỷ niệm thiêng liêng sâu lắng mà cuộc đời mình đã trải qua và rất lâu giọng nói ông Chín bỗng trầm hẳn xuống: -Hồi xưa khi lấy vợ, lấy chồng người ta phải xem tuổi tác ngày giờ, rồi phải bốn năm cái lễ mới tới lễ cưới... Chuyện xưa ngó bộ như lạc hậu xong xem ra rất thiêng liêng nên vợ chồng từ lúc trẻ tới khi bạc đầu vẫn nhất mực thủy chung. Bây giờ bay được tự do tìm hiểu vậy mà nhiều đứa chưa kịp báo cáo mà đã có bầu tới bốn năm tháng rồi tao thấy nó thế nào ấy!... Ông Chín Tòng nói một hơi dài khiến Lâm và Mai lặng đi trong ân hận và thổn thức. Đột nhiên ông Chín ngâm nga: -Vợ chồng là nghĩa tao khang, xuống khe bắt ốc, lên ngàn hái rau...- Đọc xong câu ca ông Chín khẽ nghiêng đầu:- Cứ nghiệm câu ca xưa chú thấy không sai một chữ. Chuyện vợ chồng là trọng đại trong đời các cháu à, bay phải nghe chú. Biết thuyết phục ông Chín Tòng lúc này chưa ổn, chờ cho ông Chín bình tâm lại Lâm lựa lời: -Bọn cháu đã nghỉ kỹ rồi chú à! Có nhiều chuyện chưa tiện nói mong chú thông cảm... Ngày mai Đoan và cháu trình bày để chú nghe tường tận sự việc, có được không chú? Ông Chín Tòng vui vẻ: -Cũng được, không lý để con Mai lại nói chuyện về nó. Chú sẽ báo cáo lên trên, còn việc cưới từ từ sẽ tính. Lâm quay sang hỏi Mai: -Ý em sao? -Dạ... Tùy anh. Ông Chín Tòng cười ha hả: -Trâu sắp đóng cọc rồi, lúc này nó chỉ dạ như cái máy chứ biết nói gì, con gái là vậy, mười đứa y như nhau cả mười. Chào ông Chín xong Mai hấp tấp đi vội vào trong nhà. Lâm vội đuổi theo hỏi nhỏ: -Sao em không nói? Mai nhỏ nhẹ: -Anh sao... Em vậy... Em nói không được. -Em cột võng tranh thủ nghỉ tối còn xuống làng, mọi chuyện để anh lo. -Dạ... Liên tục cuốn thuốc hút, càng hút Lâm càng thấm hậu quả của sự bồng bột. Lâm vẫn nhớ như in đêm hai đứa đến với nhau, Mai đã khóc sau những phút giây đầy hạnh phúc và ân hận. Tiếng Mai thì thầm vọng lên “Nếu anh có bề gì em nhất định ở lại nuôi con; nếu em hy sinh anh nhớ lo cho giọt máu của chúng mình trọn vẹn”. Giá như đêm ấy Lâm không chủ động bắt Mai chiều mình thì đâu đến nỗi Mai phải lao lý như hôm nay. Lâm nghĩ kỹ rồi, nếu hết chiến dịch mới cưới thì ít nhất Mai đã có bầu gần năm tháng, lúc đó không dấu được ai nữa, dù có báo cáo nhưng cả hai đứa đều bị kỷ luật. Thà Lâm gánh hết mọi khuyết điểm không thể để tổn hại đến uy tín của Mai được. Lâm hiểu tâm trạng của Mai lúc này như con thuyền trên sóng, Lâm lái đi đâu thì Mai đi đó, lúc này động viên Mai là tốt nhất, mọi việc Lâm tin ông Chín Tòng và Đoan sẽ tính toán êm xuôi. Lâm bỗng đứng vụt dậy đến chỗ Đoan hy vọng cùng Đoan tới gặp ông Chín và cả hai người sẽ cùng ủng hộ mình. Nói vậy, xong khi cùng Đoan gặp ông Chín, Lâm nói cứ ấp úng luần quần hoài. Chờ Lâm trình bày xong, ông Chín phê bình luôn: -Cái thằng, là cán bộ, Đảng viên cứ nói thẳng vào việc xin cưới, triết lý bồng bềnh mà chẳng sâu sắc gì trơn. Ông Chín thở dài: -Tao nản quá, hình như hai đứa bay có điều gì đó không thiệt? Đoan nhìn ông Chín Tòng cười vang: -Có gì đâu chú. Nó triết lý tầm quan trọng của tình yêu đó. Lâm bực mình: -Chuyện nghiêm túc cả đời người, mày hiểu chứ? Đoan nghiêm giọng: -Tao hỏi mày đợt này về xã làm nhiệm vụ mày đã hoàn thành chưa? Lâm nói ngay: -Cái đó đâu ảnh hưởng gì đến việc tổ chức cưới? Đoan vẫn tinh tỉnh: -Tao hỏi mày chuyện vợ chồng là quan trọng, nói một cái là cưới ào không chuẩn bị gì hết, làm sao tập thể lo cho mày được. Nếu hai đứa bay coi báo cáo tổ chức là xong, muốn làm gì bay làm thì tùy. Ông Chín Tòng cắt ngang: -Chú nói mãn chiến dịch hãy cưới mà thằng Lâm không chịu. Đoan khoát tay: -Xin chú cho con nói hết đã. Tao về đây cũng đã nghe nhiều người đặt vấn đề với con Mai, mày cũng nghe chuyện đó, có đúng không? Lâm lúng túng gật đầu: -Nhưng... -Không nhưng gì trơn, để tao nói hết, mày sợ con Mai không chung thủy với mày nên theo sách “cưới vợ cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha” chứ gì. Con Mai không phải là người thấp hèn, ham địa vị tiền tài. Tao đảm bảo ngoài mày ra không ai len được vào tâm hồn con Mai đâu. Đoan nghiêm giọng: -Con Mai thương mày sâu sắc hơn mày tưởng. Tình yêu của nó là vàng ròng không đổi được. Người phổi bò như mày làm sao hiểu được tình yêu sâu sắc, tinh tế, dám hy sinh chịu đựng của nó cho mày. Thấy sự việc không cần phải tranh luận nữa, ông Chín Tòng chậm rãi: - Thôi, hai đứa khỏi phải tranh luận nữa. Chú nhất trí cho bọn bay tổ chức lễ cưới. Chú chịu trách nhiệm báo cáo lên tổ chức cho đúng nguyên tắc. Nếu thời gian và điều kiện cho phép là làm lễ cưới được chưa? Đoan vẫn ấm ức: - Uổng cho con nhỏ đang trong thời kỳ tiến bộ. Bây giờ có chồng như gông đeo cổ... Ông Chín Tòng thở dài: -Ý nó đã quyết biết nói sao...Con Mai đang trong diện đề nghị bổ sung vào thị ủy thiệt là uổng. Mai ngồi bên Lâm tay vân vê túi xắc. Túi xắc bằng vải ni-phăng màu xanh xám. Trên túi là những đường thêu viền hình một cái lá trong đó nổi lên hai chữ L và M lồng vào nhau. Đường viền trên miệng túi được thêu bằng màu xanh lá mạ, trong túi xắc chỉ có một cái võng, thêm một cái gương và một cái lược. Lâm nhìn Mai phảng phất buồn, bất giác nắm chặt tay Mai : -Chiến dịch đã vào giai đoạn quyết liệt, anh và Đoan cũng sắp về tỉnh nhận công tác mới. Chú Chín Tòng cố sắp xếp thời gian cưới nhưng không có. Hay là... Mai nhỏ nhẹ cắt lời Lâm: -Làm cách mạng sống chết cũng cần phải có tập thể, việc cưới xin cũng phải vậy, biết làm sao bây giờ. Lâm mạnh dạn: -Hay là mình đề nghị chú Chín trong tuần này làm lễ tổ chức cho mọi việc êm xuôi. Mai cố giải thích: -Không được anh à, tiềm thức con người lớn hơn mình tưởng. Em biết nếu tổ chức cưới thì cả xã phải nghỉ cả ngày, thời gian không có, chú Chín và anh Đoan không chịu đâu. Lâm thở dài ngồi lặng yên nắm tay Mai. Mai lỷ kỷ: -Từ hôm hai đứa mình lấy nhau đến giờ đã hơn hai tháng, chuyện đàn bà không có, em biết mình đã có. Đằng nào mình lấy nhau có con rồi, anh cứ phấn đấu em chấp nhận tất cả. Lâm nhìn thẳng vào mắt Mai : -Mai à...Dư luận con trai không bằng con gái, nhất là hiện nay em là bí thư hãy để anh tính, bằng giá nào anh phải bảo vệ cho em. Mai cười nhìn Lâm, giọng buồn buồn: - Phận con gái...Khi trâu đã đóng cọc, đâu còn như thời con gái. Dù sao chúng mình đã báo cáo tổ chức rồi. Em chỉ mong anh đừng phụ em. Lâm ôm chặt Mai vào lòng rưng rưng nước mắt: - Em đã gởi gắm cả cuộc đời cho anh. Anh sẽ làm tất cả để chúng mình được cưới, em chịu không? Mai ngạc nhiên: - Anh thuyết phục chú Chín bằng cách nào? Lâm nghiêm giọng: - Miễn là em chịu bằng cách nào để anh tự lo. Mai cúi mặt bẽn lẽn: - Tùy anh... Lán du kích vắng teo, chỉ còn một mình Đoan ngồi hí hoáy viết báo cáo. Lâm xăng xái bước vào lay đầu võng: - Nè... tao có chuyện cần nói. Đoan cười tinh nghịch: - Mày với con Mai mới hội ý rồi tới đây báo cáo sư phụ chứ gì? - Ừ...Sư phụ, sư chính gì thì mày cũng nghe đã. - Vậy báo cáo kết quả tao nghe. - Tao định tổ chức đám cưới trước khi bọn mình về cơ quan. - Mày không thể “khoan” được nữa à? - Mày với chú Chín lúc nào cũng “khoan”. Tao nói nghiêm túc đấy. Đoan cười khanh khách khi thấy bộ mặt nghiêm túc lẫn lúng túng của Lâm liền vỗ vai bạn : - Hà ...Hà... Tao không đồng quan điểm với chuyện “khoan” của mấy ông già áp dụng “ba khoan” cho lớp trẻ như cái máy. Nhưng tao cũng không đồng ý những thằng chỉ có “khoan” cho thủng bụng con nhà người ta sau khi thỏa mãn thì chạy làng không dám nhận tội hủ hóa. - Mày lúc nào cũng dỡn được Đoan à. Đoan bỗng nghiêm giọng: - Chú Chín nói đúng đấy Lâm à. Cưới rồi thì cả hai đứa cùng khổ, mày thì chịu khổ ít còn Mai sẽ khổ gấp trăm ngàn lần. Có con trong điều kiện gian khổ ác liệt không ai tưởng tượng được cái khổ đâu. Tốt nhất cứ tiếp sức cho nó bật trên đà tiến bộ hiện nay, hiểu chưa? Lâm làu bàu: - Mày cũng vô tình đâu có hiểu tao và Mai đã... - Sao? Mày với nó đã!... Giật mình, thấy Lâm cúi đầu im lặng, Đoan hiểu lý do Lâm và Mai cứ nằng nặc đòi cưới. Từ ánh mắt tinh nghịch, đồng cảm, ánh mắt Đoan bỗng bực dọc, giận dữ rồi dịu lại xót xa: - Mày làm khổ con Mai rồi!...Hèn gì!... Lâm ngượng ngùng: - Tao không thể nói dối mày, không thể trốn trách nhiệm bỏ mặc Mai lúc này. Đoan tư lự: - Cả bốn đứa mình hứa chăm sóc bảo vệ nhau, hồi nào mày ngon lành... Sao bây giờ mày vậỵ. Tao không tin con Mai... Lâm thấm thía: - Tại tao chủ động, Mai năn nỉ tao đừng!...Tại tao!... Chuyện đã rồi. Đoan nhìn Lâm: - Chuyện xẩy ra lúc nào? - Gần hai tháng rồi. Mai có bầu... Đoan giật mình rồi bình tĩnh lại: - Hèn gì... Lâm bộc bạch: - Mai hy sinh tất cả cho tao nên phải cưới sớm mới giữ uy tín cho Mai được. Giá chi lúc này cái bầu tao mang được cho Mai. Giọng Đoan trở nên thâm thúy, chua chát: - Vui thú say sưa chàng nhận hết. Khối tình kỷ luật thiếp xin mang. Vậy đấy Lâm à. Tao sẽ đến nói với chú Chín Tòng, mày phải thực sự nhận khuyết điểm và báo cáo cho cơ quan rõ việc mày và Mai. Đấy là con đường thông minh nhất hiểu chưa. Đoan thở dài: - Ở vào hoàn cảnh như bọn bay tao và Nguyệt chắc cũng vướng, thôi đừng làm khổ Mai. Lâm và Đoan ngồi bên nhau, thỉnh thoảng mới nói với nhau vài câu về những kỷ niệm của bốn đứa hồi một thời áo trắng...Có tiếng tách nhẹ của một cành cây khô rơi xuống, và có lẽ... Một mầm non sắp sửa đâm chồi. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Chín, 2023, 08:55:00 am Chương 13 1 Vậy là kỷ luật cảnh cáo của Lâm và Mai được thông báo, nói theo kiểu lính là tội “ăn cơm trước kẻng”. Nhờ có bản kiểm điểm của Lâm và Mai mà khối chàng trợ lý tỉnh đội xung phong về xã Phụng công tác. Lãnh đạo thì tiếc cho Lâm và Mai vì bồng bột mà bị kỷ luật. Riêng lớp cán bộ và chiến sĩ trẻ đa phần ủng hộ và thông cảm tình yêu của hai người. Chẳng vậy mà tại gộp Mùa Thu bên dòng suối Cái, nơi dừng chân của nhiều cán bộ, bộ đội đã có một cuộc tranh luận sôi nổi. Câu chuyện bắt đầu từ một tốp cán bộ dân chính và bộ đội nấu cơm chung ăn cho vui rồi đem chuyện Lâm và Mai ra tranh luận đúng, sai và anh chị em nhiều đơn vị nhảy vào “tham chiến” khiến câu chuyện trở nên sôi nổi. Một chàng sĩ quan nhanh nhẹn đặt nồi cơm lên rồi quay lại xen vào cuộc: -Mình hỏi các ông, thế yêu không được quyền ngủ chung với nhau à. Miễn là thành vợ thành chồng chung thủy với nhau là tốt rồi. Một cô gái cắt ngang: -Đâu được, phong trào thanh niên “ba sẵn sàng, ba khoan” anh để đâu. Một anh cán bộ dân chính nói ngay: -Em ơi anh khốn khổ về cái khoản ba khoan. Lấy vợ là lẽ đương nhiên của ông bà ta từ xưa tới nay. Chiến tranh lâu dài gian khổ, phải có thế hệ kế tiếp lớn lên tiếp tục đánh Mỹ chứ. Cô gái trả lời gọn trơn : -Vậy em hỏi anh: Ai thoát ly cũng chỉ lo lấy vợ, lấy chồng ắt phải sinh con. Trẻ con trên căn cứ đông thì phải lập nhà trẻ. Vậy địch nó càn lên dắt trẻ con chạy đi đâu. Lúc đó trẻ khóc thì có khác gì lạy ông tôi ở bụi này với địch. Một anh lính ngồi thẳng người, nhướn cổ kêu lên: -Chà! Lính bà Định có khác. Nhưng em ơi, nếu em chưa yêu thì có anh đây ứng chiến, lúc đó em biết thế nào là yêu thì phải cưới ngay. -Cái ông quỷ chỉ được cái bạo miệng... Cô gái mắc cỡ liếc nhìn anh lính. Anh chàng dân chính lại lên giọng: -Tôi nói thiệt... Ông Lâm và bà Mai rất khôn, phải cảm ơn kỷ luật mới đúng. Chiêu thức hai người thuộc loại cao thủ võ lâm đấy. Anh chàng sĩ quan hùa theo: -Ông nói chí phải, nếu không tấn công ồ ạt, đánh vào “ thung lũng” trận địa thì mấy ông bắt “ba khoan” tới già, chiến tranh còn lâu dài gian khổ, phải không mấy ông bạn? Một cô gái nói đỡ cho bạn: -Mấy anh chỉ già miệng ăn hiếp con gái thôi, yêu thì em chấp nhận còn chuyện đó... phải xét lại, tốt nhất là không có gì mới công tác tiến bộ được. Anh chàng dân chính nháy mắt tinh nghịch: -Em ơi, khoan lui làm gì, anh thì cứ khoan tới... Nếu có con, anh sẽ nói với con rằng: Con ơi đời ba đánh Mỹ không xong, đời con hãy tiếp tục đánh Mỹ đến thắng lợi cuối cùng. Nhiều ý kiến reo lên: -Chà... lời nói vừa có tình riêng, vừa có ý chí tiến công địch, hay thiệt. -Ông này cho làm chính trị viên thì hết ý. -Các em ơi, biết đâu lần gặp gỡ này chúng mình sẽ học tập anh Lâm, chị Mai, cho anh biết hòm thư của em, chúng mình sẽ viết thư cho nhau. Riêng ông Chín Tòng thì thật sự ân hận. Lâu nay ông vẫn ngầm tự hào mình là người dạn dày kinh nghiệm. Ông tin vào bản lãnh, sự phấn đấu vươn lên của lớp trẻ. Nhưng ông quên và sơ sót một điều, dù là người cộng sản gan đồng, dạ sắt họ vẫn là một con người. Vậy yêu đương đâu hẳn là khuyết điểm. Giá như ông nhạy thêm một chút và hiểu sâu thêm cái “lý cắc cớ” của tình yêu thì đâu đến nỗi nào. Ông tự trách cách xử lý của mình thiếu nhạy bén nên để mất đi một bí thư xã năng nổ, bản lĩnh và đầy triển vọng, nhất là Lâm và Mai đều là những cán bộ do ông dẫn dắt mà trưởng thành. Ông Chín Tòng nghĩ đến Mai, nghĩ đến một loạt con gái ở xã tới đây rồi cũng sẽ yêu và có chồng như Mai... bất giác thở dài. Dẫu sao thì ông Chín Tòng cũng đề nghị tỉnh đội xuống làm lễ ăn hỏi để nhà gái tổ chức đám cưới, phép tắc ông bà ngày xưa quan trọng, là bước ngoặt lớn của đời người, như vậy tình nghĩa vợ chồng mới trở nên thiêng liêng, hạnh phúc. Đám cưới của Lâm và Mai được tổ chức tại căn cứ xã Phụng. Ý của ông Chín Tòng qua đám cưới của Mai phải là một bài học giáo dục cho anh em ở xã: Thứ nhất là khi đã yêu rồi không nên “tạm ứng trước” rồi mới báo cáo thì nhất định sẽ bị kỷ luật. Thứ hai là khi đã sai thì thành thật nhận khuyết điểm sửa chữa, lãnh đạo và tập thể sẽ không bao giờ bỏ anh. Thứ ba là biết sửa sai thì điều kiện tiến bộ của anh vẫn rộng mở phía trước chứ không phải đến đấy là hết. Còn một ý nghĩa nữa nếu có tinh mới hiểu được ông Chín là dù sao Mai cũng là con cưng của xã. Toàn bộ cán bộ, du kích trong xã được rút về căn cứ. Mời một số khách ở dưới làng lên để họ thấy được cách thức tổ chức đám cưới của cách mạng. Sau đám cưới về dưới làng họ sẽ nói cho bà con hiểu người cộng sản rất dân tộc, rất tân tiến chứ không phải như bọn địch nói cộng sản không có gia đình, quê hương, vợ chồng gì trơn, cái gì cũng cộng chung ráo trọi. Rồi khách ở tỉnh, ở huyện trong đó có mấy ông lãnh đạo là bạn tri kỷ của ông Chín nhất định có mặt. Ông Chín Tòng thì lo vậy, còn anh em cán bộ xã và nhất là du kích thì vui ra mặt. Mấy khi cả xã tập trung liên hoan và ca hát. Phái nữ ở xã lại khác, từ Chín Phượng đến thím Năm lo nấu nướng và ủi quần áo. Nghe tin Mai lấy chồng, bà con xã Phụng xúm lại cho bánh kẹo và cả một con heo. Vậy là Út Hân cùng hai tổ du kích xuống làng gùi quà và khiêng heo lên cứ. Riêng mấy cô du kích hợp pháp gởi lên một bộ dây xúc xích hoa ny-lon để trong hộp đàng hoàng, bắt tội mấy chàng du kích thay nhau ôm hộp hoa khư khư trước ngực, còng lưng gùi hàng, mà vẫn lo trượt chân ngã mà hư bộ dây hoa thì uổng công biết bao. Còn Tỉnh đội cho hẳn một họa sĩ xuống cắt chim hoa và chữ dán trên phông trang trí phòng cưới. Đám cưới của Lâm và Mai trở thành đám cưới to và trang hoàng lộng lẫy. Ông Chín Tòng phải công nhận là đẹp hết ý và nói nửa đùa, nửa thiệt với đồng chí họa sĩ: -Mấy ông tổ chức như vậy, bọn con gái đua nhau lấy chồng hết, có nước chết bọn tôi... Lo sao nổi. Đồng chí họa sĩ hóm hỉnh: -Chú thứ chín thì tổ chức chín cặp là vừa. Tên chú là Tòng thì cứ tòng theo cái mẫu này mà tổ chức. Sau này thành ông ngoại tha hồ lắm con cháu. Xã tổ chức riêng một nhà trẻ, một ban hậu cần lo ăn cho bọn trẻ. Ông Chín Tòng phá lên cười: -Tôi có một cái cằm mà phải mọc chín bộ râu để làm ông ngoại cho chín đứa...chắc chết quá. Bỗng anh chàng Yến phóng viên của tờ báo tỉnh là bạn chí cốt của Đoan và Lâm xồng xộc vác ba lô xuống xã. Công việc biên tập, in ấn ở tòa soạn ngập đầu, vậy mà bịa lý do lấy tài liệu viết phóng sự cho số báo tới, lãnh đạo tưởng thật cho Yến đi. Sự thật trong ba lô Yến đã có bài phóng sự, nhưng không thể vô trách nhiệm với bạn nên bịa chuyện để đi dự đám cưới. Là phóng viên báo nên bao giờ đi công tác cũng thủ chiếc máy ảnh Ca-non trong ba lô, Yến đã làm con toán khá chi li: cuốn phim nằm trong máy đã chụp chỉ còn lại chín pô. Năm pô dành cho cô dâu, chú rể, một pô dành cho ông Chín Tòng, một pô dành cho Đoan, một pô chụp chung và một pô chụp Năm Đồng đang chế tạo pháo 105 ly thành mìn tại xưởng công binh của xã. Tình thế lật ngược, Yến đành phải móc một cuộn phim mới ra để chụp vì người quá đông. Những cô gái chàng trai ở tỉnh ủy, tỉnh đội, thị ủy xuống địa bàn công tác đều muốn chụp pô ảnh làm kỷ niệm. Ông Chín Tòng tự hào nói với anh em ở xã: -Ông bà xưa nói giàu vì bạn sang vì vợ, mấy người ở dưới làng lên dự đám cưới ai dám bảo cách mạng nghèo, chính sức mạnh tổng hợp mới có đám cưới như vậy đó. Chín Phượng nói giỡn: -Vậy đến lượt con, chú cũng tổ chức như thế này chứ? Ông Chín Tòng cười rạng rỡ: -Chị Mai mày yêu đã bảy tám năm rồi, còn bọn bay chưa được. Nhự thiệt thà: -Vậy chi Mai yêu anh Lâm từ hồi mười lăm tuổi à chú? Dữ quá ta... Ông Chín Tòng xua tay: -Bậy nào... ấy là tao độ chừng ngần ấy năm, ai lại yêu từ năm mười lăm bao giờ. Thấy Yến và anh chàng họa sĩ đang đứng nói chuyện với nhau, ông Chín Tòng vẫy hai người lại nói chuyện. Trước mặt anh em xã Phụng, ông Chín vỗ vai hai người: -Các đồng chí thấy không, các nhà báo, họa sĩ về giúp đám cưới, con Mai tuy khuyết điểm nhưng quan hệ xã giao là điều phải học tập nó. Sở dĩ xã Phụng đạt được nhiều thành tích là nhờ nhiều người giúp. Ông Chín Tòng vỗ vai anh chàng họa sĩ: -Tôi nhờ anh một việc, anh vẽ giúp cho ông bạn tôi một tấm hình. Ông ấy nói sau này có chết thì lấy ảnh đó mà thờ. -Sao ông ấy nói gở vậy chú? Ông Chín Tòng chậc lưỡi: -Tại tôi quảng cáo là họa sĩ cách mạng trông người mà vẽ y chang, ông bạn cứ năn nỉ tôi hoài . Anh chàng họa sĩ đành phải đồng ý và mắt lóe lên một ý định sáng tác từ bức tranh sắp vẽ này. Quay lại phía anh em xã Phụng, ông Chín tuyên bố một câu xanh rờn: -Nhà báo cách mạng sẽ bồi dưỡng cho anh em chúng ta món ăn tinh thần bằng chiếc máy ảnh đem theo. Chúng ta sẽ được đồng chí Yến chụp ảnh. Mời mọi người tới chụp thoải mái. Ông Chín Tòng hể hả nói với Yến: -Món ăn tinh thần này quan trọng lắm, mấy khi được mấy ông động viên. Yến ái ngại cười nói nhỏ: -Còn phim... -Ái dà... Máy đó, giơ lên bấm thu hình thoải mái, thôi mình đi một lát rồi quay lại, ta sẽ tiếp tục câu chuyện. Yến đứng như trời trồng, mặt vẫn phải tươi như hoa trước sự hoan hỉ của anh em xã Phụng. Gật đầu chào mọi người, Yến tìm Đoan nói nhỏ: -Đoan ơi, tao chỉ còn một cuộn phim ba mươi sáu pô thôi, chú Chín Tòng tuyên bố cho anh em chụp thoải mái, làm sao bây giờ? Đoan phì cười: -Tại chú Chín không biết, cho rằng máy ảnh của ông là vạn năng, giơ máy lên bấm là có hình ngay, chụp bao nhiêu cũng được. Yến lúng túng: -Thật là khó xử. Đoan phì cười: -Câu tuyên bố xanh rờn của chú Chín thì chỉ có cách cho mày uống thuốc mới trị được. -Thuốc gì? -Thì loại thuốc “cố lên nè”, “ khó khăn khắc phục nè”. Ông biết đấy, ở rừng núi ngoài các ông ra thì lôi đâu ra phim. Sao ông không xử dụng ngón nghề của ông vừa “viết” vừa “lách” trong trường hợp này. Yến nghe Đoan nói bỗng cười khì chắp hai tay: -Có lý... Bái kiến quân sư. Đoan ngạc nhiên: -Tôi giúp gì ngoài bài văn chính trị an ủi ông? Yến mỉm cười không nói, đeo máy ảnh đến chỗ ông Chín Tòng vui vẻ: -Chú à, người đông quá nên ai không phải là diện quan trọng cho chụp trước, người quan trọng trong đám cưới ta bố trí chụp riêng như vậy hợp lý hơn. Ông Chín Tòng tâm đắc: -Đúng, nhà báo có khác, bố trí như vậy là hợp lý, để tôi đi thông báo cho lũ nhỏ. Thông báo của ông Chín được mọi người răm rắp chấp hành. Ai cũng khen nhà báo tâm lý, bố trí hợp lý. Đám cưới chụp riêng mới vui và ý nghĩa còn người không quan trọng thì chụp riêng khỏi mất công vừa lo dự đám cưới, vừa lo đi chụp ảnh. Từng tốp nam nữ cho than hồng vào chiếc ca US cho nóng lên làm bàn ủi, ủi quần áo. Mấy căn nhà được trưng dụng làm nơi chải tóc, soi gương. Mấy chàng trai tranh thủ lấy tay, cào lên đầu cho rõ đường ngôi. Nói chung, khí thế đi chụp ảnh xem ra rộn ràng như đi nhận phần thưởng. Từng tốp nam nữ thay nhau chụp chung, chụp riêng, không những vậy, họ còn tìm cảnh để chụp ảnh, vì vậy anh chàng Yến bị lôi xềnh xệch hết chỗ này đến chỗ khác. Yến tỏ ra rất ngoan, ai lôi đi đâu cũng được và tới là giơ máy, lên phim, ngắm và chụp. Thỉnh thoảng đứng nhìn quanh không thấy ai, Yến chép miệng: “ Mô phật! Dù sao cũng chưa có nghĩa trang cho thằng nói láo...Lâm ơi là Lâm... Cưới ơi là cưới...” Đoan thấy Yến chụp ảnh lia lịa lo quá tới ghé tai nhắc nhỏ: -Sao ông chụp lia lịa vậy. Phải giành phim để chụp cho đám cưới và bọn tôi nữa chứ. Yến tặc lưỡi ghé tai Đoan nói thầm: -Mình đang thực hiện chiến thuật phản ứng linh hoạt do ông bày cho đấy. -Sao? Yến thì thầm: -Máy không có phim, lần sau xuống các đơn vị tôi chụp trả nợ cho họ sau. Phim dành cho chương trình cưới còn nguyên. Ông bí mật kẻo biết họ chửi có nước tôi chui xuống lỗ nẻ họ cũng kéo lên mà chửi đấy. Đoan phì cười đấm vào lưng Yến: -Mày chết với ông!...Ông sẽ... -Thôi bí mật! Tôi xin ông kẻo đám cưới mất vui tội chúng nó. Đoan lắc đầu: -Tao chịu mấy cha nhà báo...Láo một cây. Lúc này Yến mới phá lên cười: -Ông dạy tôi “viết” phải “lách”, tôi làm theo ý ông chỉ dẫn đấy chứ. Ông quên là tôi đã tôn ông làm quân sư rồi à. Đoan và Yến cười rũ và kéo nhau ra góc vườn táo nhơn cạnh con suối cạn tâm sự. 2 Cảnh cô dâu chú rể thời kháng chiến ở đâu cũng gọn gàng và tư trang duy nhất của họ là ba lô và khẩu súng. Ba lô của hai người nằm song đôi trong lán. Chín Phượng, Nhự và Đào quấn quýt giúp cô dâu chải đầu thay quần áo mới. Họ bắt Mai ngồi tới giờ “tuyên bố” mới ra trình diện. Mai mặc chiếc áo hồng, mái tóc xõa ngang vai, ngồi và làm theo lệnh của các cô gái. Lán của ông Chín Tòng được chọn làm phòng cưới, tấm phông màu xanh lơ căng rộng, đối diện với tấm phông là hai dãy bàn ghế. Anh em du kích lên tận suối Sổ chặt cây vác về làm bàn ghế. Những sợi dây chìu đỏ hồng chẻ mỏng, kết cây lại thành mặt bàn và mặt ghế, phẳng phiu nổi lên những đường viền màu hồng đậm. Trên tấm phông trang trí được cắt bằng giấy trang kim óng ánh hình hai trái tim, hai chữ L-M lồng vào nhau. Đôi chim bồ câu ngậm một cành ô liu nâng hai chữ hạnh phúc nằm ở trung tâm. Chạy dài phía dưới phông là chữ “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Một khoảng trống còn lại của phông, người họa sĩ đính những ngôi sao tượng trưng cho hạnh phúc của họ bay vào bầu trời lung linh sao sáng. Chiếc ca US được trang trí thành lọ hoa để trên một chiếc bàn nhỏ cắm đầy hoa rừng. Kiểm tra từng chút một, chú Chín Tòng chậc lưỡi tiếc rẻ cái lán hẹp và thấp làm cho hai dải hoa ny-lon dăng chéo trong lán vẫn còn thừa quá nhiều. Chú thầm nghĩ, đám cưới này mà ở dưới làng nhất định được xếp vào loại sang đây, chiến tranh được như vậy là quí lắm rồi... Có tiếng xôn xao nói cười, chú Chín Tòng vui hẳn lên bước vội vẫy Đoan theo mình. Năm sáu bà con dưới hợp pháp lên căn cứ dự đám cưới. Người nào người nấy bùn lấm tới đầu gối và một cái giỏ cầm tay. Mới nhìn thấy chú Chín Tòng, má Hai Hiền tay chỉ vào cái giỏ: -Quần áo cưới... Đoan bỗng sững người: -Nguyệt!... -Anh!... Đoan chạy tới chỗ Nguyệt, ông Chín Tòng cười ran: -Bất ngờ hả... Khách từ Sài Gòn về đó. Quần ống thấp, ống cao Nguyệt đứng ngây người nhìn Đoan. Đoan luống cuống: -Tất cả đi rửa chân tay đã chứ. Thấy Nguyệt cứ đứng nép vào bóng cây cùng Đoan nói chuyện quên cả rửa chân, Út Hân giục: -Anh Đoan, nói khách đi rửa chân còn thay đồ, ăn uống, dự đám cưới chứ. Ông Chín Tòng cười xòa: -Đấy là người của anh mày mời lên, anh mày tự lo. Đám cưới qua rồi, mọi người đã trở về nhưng dư âm của những lời thơ, câu hát, những tràng vỗ tay như vẫn còn đọng lại ở căn cứ xã Phụng. Đã lâu lắm rồi, Mai và Nguyệt mới có dịp ngồi lại nhau tâm sự. Dồn đồ vào ống pháo quay về phía Nguyệt, Lâm cười thoải mái: -Tư trang, gia tài của bọn mình cũng nhiều đấy chứ. Nguyệt mỉm cười: -Em về dưới đó sẽ gởi lên một ít đồ cho mẹ con Mai dùng. Mai thư thái: -Đời cách mạng nhiêu đấy là đủ, ngoài cái ba lô ra, thêm cái gì vướng cái đó. Lâm gọi với sang nhà bên: -Đoan à... sang đây bọn mình nói cái này. Đoan vừa vào, Lâm phân công ngay: -Ông ngồi nói chuyện với Nguyệt, bọn mình đi dấu ít đồ. Đoan cười: -Những thứ gì trong đó? Lâm hể hả: -Quan trọng nhất là đồ kỷ niệm và quần áo, tã lót trẻ con. Lâm nháy Mai rồi xốc ống pháo đựng đồ lên vai đi trước, Mai ngoan ngoãn bước theo sau. Vừa đi Mai vừa nhắc chồng: - Anh biết không, em bắt chôn gạo trong gộp đá mà bọn Đại Hàn vẫn chui xuống gộp, moi lên được đấy. Lâm quệt mồ hôi trán: -Yên tâm, dấu chỗ bất ngờ em hiểu không? Mai ngồi trên một tảng đá mỉm cười mãn nguyện nghĩ thầm: “Mọi việc đã êm xuôi, mình lo nuôi con để cho Lâm công tác tiến bộ”. Tiếng ve kêu râm ran trong rừng, Mai thấy vui lạ lùng. Lâm từ dưới gộp đá leo lên thở một hơi dài khoan khoái: -Ta về em. Mai ưu tư: -Đêm nay Nguyệt xuống làng, lại vào Sài Gòn tiếp tục học rồi.- Mai bỗng trách Lâm:- Anh vô tình thật đấy, đáng lý để Đoan với Nguyệt nói chuyện với nhau... Anh cứ bắt em nói chuyện với nó nhiều làm gì. Lâm cười hiền lành: -Không ai biết ma ăn giỗ ở chỗ nào, em khéo lo cho bọn nó làm gì cho mệt. Vừa về đến nhà đã thấy cô giao liên hợp pháp lên đón Nguyệt. Mai hỏi cô giao liên: -Nguyệt đi ngay à? -Dạ, tình hình êm, đưa chị Nguyệt tắt qua thôn Đại Bình tới chợ Phong Niên đón xe lam về thị xã chị à. -Liệu có an toàn không? Cô giao liên sờ vào bụng Mai: -Mấy tháng rồi? -Ba tháng. -Chị hên thiệt, có vốn đi chợ rồi. Mai nắm tay Nguyệt đứng lặng im, Nguyệt thủ thỉ: -Mày và anh Lâm nhớ chăm sóc anh Đoan giúp tao nghe. -Mày yên tâm, ráng học giỏi, thành nghề cũng thoát ly như bọn tao. Trên cứ ngành y thiếu lắm Nguyệt à. Nguyệt chân tình: -Ăn dưa, ăn muối mà vợ chồng thương yêu nhau là đủ lắm rồi, mong tao và anh Đoan cũng hạnh phúc như bọn mày. Mai khúc khích cười: -Thôi mày ơi, trâu đã đóng cọc, ván đã đóng thuyền, đi đâu cũng phải xin phép phu quân mệt lắm. Lâm và Đoan đi rất nhẹ tới chỗ Nguyệt đang nói chuyện với Mai bỗng Đoan phì cười: -Tâm sự ngắn dài, nông sâu những gì cho bọn này góp với. Mai đẩy nhẹ Nguyệt về phía Đoan: -Giao nó cho anh tâm sự. Đoan dang hai tay, ưỡn người: -Đã tranh thủ tâm sự rồi. Nguyệt cười ngây thơ: -Ở căn cứ lúc nào cũng vui, vậy mà anh Đoan nói gian khổ, ác liệt lắm. Mai giảng giải: -Những nỗi gian truân trong cuộc sống của anh em trên cứ phải có thời gian mới nói hết được Nguyệt à. Mọi người tiễn Nguyệt ra sát mương số 1 và đứng lặng nhìn theo bóng Nguyệt lội trên đồng xa dần trên cánh đồng Tuy Hòa xanh thẳm dập dìu trong nắng và gió. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Chín, 2023, 10:22:20 am Chương 14 Hậu cứ xã Phụng nằm tại chợ Đồn thuộc cao nguyên Vân Hòa. Thời Pháp đóng đồn ở đây nên gọi là chợ Đồn. Là vùng cao nguyên đất đỏ màu mỡ, chợ Đồn ngày xưa nổi tiếng có những đàn bò u to và khỏe, những rừng thơm, rừng mít, rứng trái đỏ ngọt ngào hoa trái. Lực lượng địch bị vây ép vào các thành phố, thị xã, chợ Đồn trở thành căn cứ địa cách mạng của tỉnh. Vì vậy chợ Đồn cũng là hậu cứ sản xuất của nhiều đơn vị Huyện, Thị và Tỉnh. Bọn địch cố sức lắm thì hàng năm cũng chỉ tổ chức càn quét lên vùng này hai ba lần. Dẫu sao thì hậu cứ vẫn là nơi xa địch, an toàn hơn so với các địa bàn trực tiếp chiến đấu. Ông Chín Tòng quyết định cho đôi uyên ương hưởng tuần trăng mật tại hậu cứ của xã quả là điều kiện lý tưởng cho Mai và Lâm. Hồi nhỏ Lâm nghe mẹ và các bà truyền miệng cho nhau câu “tháng ba, tháng bảy, dễ sẩy, dễ sa”, Lâm tặc lưỡi “Giữ cả chín tháng mười ngày là an toàn nhất, mình đâu phải nghề y, phòng bệnh hơn chữa bệnh là đại sách”, bởi vậy, trên đường từ căn cứ về hậu cứ xã, Lâm chỉ cho Mai đeo một chiếc ba lô, còn mọi thứ mình mang vác hết. Tới suối Sổ hai vợ chồng dừng chân nghỉ lấy sức, Lâm vừa thở vừa nói giỡn với vợ: -Phải vượt qua núi Lỗ Chài mười hai đoạn dốc, rồi vượt qua dốc lại dốc hai đứa mình mới tới được nơi hưởng tuần trăng mật kể cũng lạ. Lau mồ hôi cho chồng Mai tủm tỉm: -Yêu lắm thành quỷ nên trời đày hai đứa mình đấy. Lâm cười ha hả: -Ở các nước tiên tiến, khối anh muốn một tuần trăng mật tại vùng cao nguyên lộng gió và đầy ắp sương mù như hai đứa mình mà không được đấy em à. Mai rót nước trà nómg trong bi đông, lấy đường phèn đưa cho chồng: -Uống đi cho khỏe tối nay anh hát thiệt to giữa cao nguyên lộng gió cho em nghe. Lâm cầm ca nước uống bỗng khoát tay ra hiệu cho Mai im lặng. Trao bi đông nước cho vợ, rút súng nép vào thân cây Lâm quan sát, mỉm cười ra hiệu cho Mai ngồi im. Tay cầm khẩu K54, Lâm lẩn vào rừng áp sát nơi có tiếng kêu “khịt khịt”. Phát hiện bầy Hón đang ăn trái gắm, Lâm khom người ẩn mình trong cây rậm từ từ nâng súng ngắm rồi nhanh chóng nổ súng. Con Hón rơi xuống và nằm giãy đành đạch. Nhẹ nhàng tới gần, kê súng bắn bồi rồi mới xách con Hón nặng tới năm, sáu ký xốc lên vai Lâm vác về để mặc cho máu dính vào áo. Thấy chồng Mai reo lên: -Con Nhím to quá. Lâm cười đắc ý: -Đây là con Hón chứ không phải con Nhím. Mai xuề xòa: -Thì Hón hay Nhím cũng như nhau. Lâm giảng giải: -Con Nhím thân dài, mỏ nhọn, con Hón thân ngắn tròn mình, tuy rằng chúng cùng một họ. Lông Hón ngắn, màu nhạt hơn lông Nhím em hiểu chưa? -Dạ... Thưa thầy em hiểu rồi. Một tốp dân chính đi lấy gạo vừa tới. Lâm vẫy cả tốp lại cùng nhau thui Hón. Mấy chàng bộ đội thấy Mai có bầu bấm nhau cười khúc khích. Một cậu tò mò hỏi Lâm: -Anh dẫn chị ấy đi sinh à? Lâm trợn mắt cười cú vào đầu chàng lính trẻ: -Bao nhiêu tuổi rồi, quê ở đâu? -Dạ em mười tám, quê ở Hải Phòng. Một cậu bộ đội khác chen vào: -Nó nói láo đấy, mới mười bảy thôi. Ở miền Bắc mười bảy mà cao to là đi bộ đội và được vào Nam chiến đấu rồi thủ trưởng à. Lâm cười khà: -Cái thằng, chưa mọc lông ở chỗ quí thì làm sao biết được phụ nữ khi nào sinh. Cậu lính đỏ mặt thanh minh: -Thì cứ bụng to là sinh. Quê em là vậy tất. Tất cả cười ầm lên, Mai đỏ mặt đấm lưng chồng: -Ông quỷ... Toàn bày chuyện tào lao cho bọn trẻ. Thịt Hón nấu xong, mấy cậu lính trẻ giơ bát Trung Quốc lên, lấy đũa gõ và nói to: -Kẻng ăn cơm... Tập trung toàn đơn vị Tất cả quây quần vừa ăn vừa xuýt xoa vì thịt cho nhiều tiêu và ớt quá. Ăn xong, một cậu lính trẻ đem cả đùm muối ớt nhét vào ba lô của Mai và giải thích: -Bọn em xuống làng, chị lên cứ lấy ăn cho ngon miệng. Trên cứ thiếu muối lắm. Mãi tới bốn giờ chiều, vợ chồng Mai nới về tới hậu cứ xã. Thím Năm, ông Tư Hàm kinh tài, mấy cậu du kích xã đã chuẩn bị sẵn chỗ cho hai vợ chồng nghỉ ngơi. Mọi người dành cho hai vợ chồng ở riêng một lán. Đêm... Bên ánh lửa bập bùng, mắc võng nằm bên nhau rì rầm Lâm ghé vào tai vợ: - Cám ơn kỷ luật anh mới được lên chức làm cha. Mai đấm vào vai chồng: -Vậy mà cũng nói hì... hì... Em có con là có vốn đi chợ rồi lo gì. Lâm ôm lấy vai Mai: -Bà xã của anh... giỏi. Mai cười khúc khích: -Anh chỉ được cái mèo khen mèo dài đuôi thôi. Ngoài trời, rừng đêm đen tím bao la. Tiếng những con chim ăn đêm hòa với tiếng côn trùng như một bản nhạc bất tận. Tiếng gió rừng rào rào thổi lướt qua nương sắn. Từng mảng sương mù lành lạnh khi thoảng đến khi bay xa. Cứ vậy, rất lâu... Lâm ôm ghì lấy vợ trong tiếng thở gấp nồng nàn. Ánh lửa lung linh chờn vờn bóng hai người... và tiếng rên nhè nhẹ thiết tha theo nhịp thở và đôi tay co riết của Mai ôm chặt lấy chồng. Sáng sáng, Lâm cùng anh em ra rẫy làm cỏ sắn, kiếm củi, gài bẫy bắt chồn, sóc... Thấy vợ ngồi khâu Lâm cũng lấy kim chỉ cùng ngồi khâu với vợ. Mai hỏi chồng: -Anh học khâu từ lúc nào mà giỏi vậy, chẳng bù mấy đứa du kích xã quần áo rách là lén dúi vào ba lô mấy đứa con gái nhờ khâu hộ. -Ở đơn vị không có con gái, quần áo rách không tự may vá thì ai làm cho mình, với lại sắp được làm cha anh phải lo cho con chứ. -Có mong thì cũng phải chín tháng mười ngày. Em đố anh biết ngày nào em sinh. Lâm cười giảng hòa: -Thì cứ từ ngày anh đến với em đếm lên chín tháng, cộng vào mười ngày là ra tất. Mai phì cười: -Anh thích con trai hay con gái. -Trai gái gì không được nhưng con trai thích hơn. -Con trai để nối dõi tông đường chứ gì. -Không, nó lớn lên tiếp tục thay cha đánh Mỹ giải phóng quê hương. -Con nhà quân sự có khác, lo xa dữ. Lâm rung đùi: -Hà...hà... Đấy là lo chung, còn bây giờ lo cho mẹ tròn con vuông, sinh nở là việc trọng đại của đời người, khó khăn lắm chứ. Lâm nhìn Mai nháy mắt: -Giá người mà đẻ như gà, thì để đâu cho hết người. -Ông quỉ, nói ghê cả người, phụ nữ sinh như gà thì còn bộ xương, tha hồ cho mấy anh kiếm gái, bồ bịch. Lâm thanh minh: -Một bà là đủ rồi, hai vợ nằm co vì bà nào cũng giành biết ở với ai, ba vợ ra chuồng heo nằm vì bà nào cũng đuổi. Mai đấm vào lưng chồng giãy nãy khi Lâm ôm choàng lấy mình: -Ông quỉ... nghịch quá trời, cẩn thận kẻo kim chích vào người. Lâm cười vang đứng dậy, tới cầm con rựa quay vào nhà dặn vợ: -Em không được làm việc nặng, chiều phải tắm sớm kẻo dễ bị cảm, anh ra rẫy một chút rồi anh về. Chẳng hiểu học đốt than từ lúc nào, sau hơn hai giờ ra rẫy, mặt mũi lấm lem, Lâm gùi về một gùi than to và nhìn vợ cười. Chạy lại đỡ gùi cho chồng, Mai bùi ngùi nghĩ thầm: “ Tội nghiệp... Thời còn đi học lúc nào cũng như công tử, mà bây giờ việc gì cũng làm thoăn thoắt...”. Đột nhiên Mai hỏi chồng: -Anh đốt than làm gì? Lâm ngạc nhiên: -Ơ... Đốt than để cho con và em sưởi sau khi sinh, em không biết à. Sực nhớ ra, mấy bà đẻ đốt than, quấn bụng khi nằm cữ, Mai đỏ mặt lúng túng. Giọng Lâm vẫn tỉnh bơ: -Than phải vừa to vừa chắc mới cháy đượm. Mai nắm tay chồng nước mắt rưng rưng: -Anh đừng lo cho em nhiều, tự em lo liệu được mà. Lâm nhìn vợ nói vui: -Hạnh phúc nhất là được phục vụ bà xã. Kéo chồng ra suối bắt ngồi lên tảng đá Mai rửa tay chân, giặt khăn lau người cho chồng. Lâm vui vẻ: -Để anh. -Không được. Người anh đang ra mồ hôi, tắm vào là cảm ngay. -Xin tuân lệnh bà xã. Lâm ngoan ngoãn ngồi để Mai lau người cho mình. Mai trách yêu chồng: -Anh soi xuống suối xem, chẳng khác gì thằng Mỹ đen. Lâm nhìn xuống suối thấy mặt mình lấm lem bỗng cười ha hả khiến Mai kêu lên: -Coi chừng ướt em. Lâm xắn cao quần cho vợ, thấy đôi bắp chân trắng ngần, bất giác sờ lên bụng vợ nói nựng: -Hư bầu của anh là anh kình đó nghe chưa? Mai hỏi lại: -Anh chỉ thương con chứ không thưong vợ sao? -Hà... hà... Vợ để “úm”. Con để thương, rõ chưa? -Ông quỉ... Tào lao quá trời. Mai đấm nhẹ vào lưng chồng: - Anh thay quần áo cho em giặt, tranh thủ nắng phơi cho khô. -Áo lính dày lắm để anh giặt cho. Họ nhìn nhau ngây ngất. Rừng bỗng nhiên lặng đi, nước suối lung linh trong vắt nhẹ chảy... Tất cả như dành cho họ. Thoang thoảng mùi thơm của mật ong trong rừng bay tới, chắc trong rừng có bầy ong mật đang xây tổ. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Chín, 2023, 10:35:44 am Chương 15 1 Sau tuần trăng mật, Mai về căn cứ xã công tác, ông Chín Tòng sợ Mai sẩy thai nên ít cho xuống làng. Một bữa, Mai và ông Chín Tòng xuống làng, sau khi họp với cơ sở, ông Chín ngồi nói pháo với bà con: -Các ông có biết tại sao trên căn cứ xã mình mấy đợt địch càn đều chết hoặc bị thương không? Một ông già trả lời chắc chắn: -Thì vướng mìn cách mạng đúng không? -Đương nhiên là vướng mìn. Ông Chín khoái chí vỗ đùi đánh đét rồi cao giọng: -Xã mình được trang bị loại mìn mới từ miền Bắc chuyển vào. -Ôi dà... Mìn nào chẳng là mìn. Ông Chín khoát tay: -Không phải, loại mìn này có tài bắt hơi thuốc xịt muỗi, nếu thấy mùi thuốc xịt muỗi của địch là nó hắt hơi nổ liền à... Mấy ông già, bà già cười vang. Có người hỏi lấp lửng: -Nói giỡn hay thiệt đấy ông Chín? Ông Chín cười ha hả: -Giỡn hay thiệt rồi sẽ biết. Bẵng đi ít tuần, tin xã Phụng có loại mìn mới từ miền Bắc đưa vào nổ sát thương cả một vùng, khi thấy hơi địch, lập tức trái mìn tự quay hướng và nổ về phía địch y như mìn clây-mo của Mỹ vậy. Tin tới tai bọn lính, bọn lính hỏi dân, dân hỏi cán bộ và du kích xã, ai cũng nói lấp lửng “Trên bí mật không cho nói”. Cuối cùng câu chuyện loại mìn đặc biệt từ miền Bắc trang bị cho xã Phụng đánh địch ai cũng tin là có thiệt. Anh em xã Phụng về căn cứ kháo nhau, ông Chín Tòng tủm tỉm cười: -Nghệ thuật đánh địch là trăm phương ngàn kế. Hù dọa cho địch sợ mà chạy cũng là một kế hay. Đánh giặc đâu chỉ có đàn trận và nổ súng. Thấy ông Chín vui, Hai Trúc bạo miệng: -Mìn ở bụng chị Mai ít tháng nữa cũng nổ đó chú Chín à. Ông Chín phì cười: -Ông cố nội cái thằng ... Mày là chúa nói ẩu. Sao lại ví cái bầu của nó với trái mìn. Út Hân hăng máu: -Loại mìn cả năm trời mới nổ đó chú Chín. Được thể Hai Trúc nói chặn: -Út Hân biết quái gì, khi đẻ bụng cũng nổ ầm một cái như mìn nổ mới đẩy được đứa trẻ ra khỏi bụng chớ bộ. Thấy Hai Trúc nghiêm mặt, Út Hân hỏi: -Thiệt không? Ông nói láo, nổ như vậy chị Hai bể bụng còn gì. Mọi người cười ngặt nghẽo, riêng Hai Trúc vẫn tỉnh bơ: -Không tin bữa nào mày về hỏi má mày xem có đúng không. -Lớn rồi ai về hỏi, kỳ lắm... Hai Trúc nói át tiếng cười của mọi người: -Để rồi lúc chị Hai sinh mày coi tao nói có đúng không, mắt tao thấy rồi mà. Mấy cậu bộ đội lập tức đặt chuyện: Ông Lâm tra kíp mìn vào bụng bà Mai. Bầu bà Mai nổ đánh ầm. Cả xã Phụng nghe thấy tưởng pháo tỉnh đường bắn tới vội nhảy hết xuống hầm tránh pháo, sợ quá Chín Phượng luống cuống miệng vấp phải đá gãy luôn một cái răng. Câu chuyện tán gẫu lại ầm lên đến tai Chín Phượng, Phượng tức lắm, cố tìm cho được anh chàng quỷ tha, ma bắt dấu tên dấu mặt dựng chuyện để trị tội. Điều tra không ra, Phượng ấm ức kể lại cho Mai nghe. Mai chỉ tủm tỉm cười và nói với Phượng: -Chuyện mấy ông bộ đội dựng lên để tán gẫu, hơi đâu mà tức. Phượng đỏ mặt: -Thằng cha nào dấu mặt cứ nhè em mà chọc hoài. Mai bật cười: -Mấy ông ấy dựng chuyện thì con muỗi cũng thành con voi, vậy mới gọi là chuyện lính. Phượng đỏ mặt: -Nhưng em ghét cái thằng cha trửng mỡ chuyên dựng chuyện tào lao. Mai bâng quơ: -Ghét hay thương đó cô nàng? Có khi anh chàng nào đó mê em rồi kiếm cớ để bắt chuyện cũng nên. Chín Phượng thanh minh: -Làm gì có chuyện đó. Mai nhìn Chín Phượng bật cười: -À... Có khi do cái răng gẫy của cô mày cũng nên... Ai biểu hôm nhổ cái răng sâu lại cầm giơ lên như khoe cho cả làng biết cái răng sâu. -Tại hồi còn hợp pháp em học nha tá. Mắt Mai lóe lên tinh nghịch: -Thiếu gì anh sâu răng, mặt sưng lên vừa ôm mặt vừa nhăn. Sẽ có cách trả đũa. Chín Phượng khoái chí: -Chị bày em với, em nhất định trả đũa cho mấy ông ấy một vố cho biết tay. Mai hóm hỉnh: -Cậu Duy bên thị đội đang ôm đầu kêu đau răng. Để chị bảo nó tới chỗ em khám răng, cần thiết nhổ răng cho nó. Vậy là bộ đồ nghề làm răng của em đưa lên hữu dụng rồi đó. Phượng hăng hái: -Được. Để em ra rừng lấy về đã, nhưng còn chuyện đó... Mai cười rung cả vai: -Bắt đầu từ cậu Duy, nó cũng là một tay nghịch ngầm và dựng chuyện. Nếu nó tới khám răng thì em phải tát cho nó một cái. Phượng tò mò: -Sao vậy? -Thì em giải thích, về chuyên môn trước khi khám răng phải tát một cái cho chân răng long rộng ra mới dễ nhổ răng, vậy là nó tin ngay. Phượng cười hiền lành: -Ai lại làm vậy, anh ấy đã đau lại càng đau thêm. Mai lắc đầu, ghé vào tai Phượng nói nhỏ. Phượng thích thú gật đầu lia lịa cười như nắc nẻ, giơ hai tay: -Bái kiến sư phụ... Em và chị hợp đồng nghe. Theo kế của Mai, anh chàng Duy bị ăn cái tát trước khi nhổ răng và rối rít cám ơn y tá Phượng. Lập tức Mai gọi năm, sáu du kích tới chỉ vào Duy: -Bay coi, Duy bị Chín Phượng tát một cái răng bay ra ngoài cho chừa cái tật nói xấu con gái. Anh chàng Duy và mấy cậu du kích ngẩn người rồi phá lên cười. Một cậu du kích nắm vai Duy đẩy về phía Chín Phượng: -Nè... Nè nhổ gãy răng người ta, phải lắp răng trả cho anh Duy. Lắp không được phải thường người. Tất cả reo lên líu ríu: -Phải đó... -Anh Duy bắt Chín Phượng bồi thường. -Phải đó, không bồi thường được phải thế người. Phượng nép người vào Mai, Mai khoát tay nói với mọi người: -Chị làm trọng tài, bữa nay bay thua Chín Phượng một không. Ngày mai lũ con gái tuyên truyền “Chàng Duy nói xấu con gái, Chín Phượng nghe được, mới phẩy tay một cái cả răng lẫn lời nói láo bay ra ngoài thì sao”. Tất cả reo lên: -Huề...Huề cả làng. Mai nhìn anh chị em đùa giỡn chỉ cười và hiểu ra điều: Những câu chuyện vui, chuyện tiếu lâm làm anh em dịu lại trước gian khổ, ác liệt. Mai càng hiểu rõ tại sao ông Chín Tòng không bao giờ ngầy la anh em đùa giỡn, thậm chí lắm lúc vô tình lời đùa giỡn hơi quá trớn đối với ông. Đã đến lúc Mai đi đứng nặng nề không thể ở căn cứ xã được nữa, ông Chín Tòng quyết định cho Mai về hậu cứ sinh nở. Ba Hổ, Út Hân và Chín Phượng cùng về hậu cứ với Mai để trồng sắn, chuyển sắn khô xuống căn cứ. Ba Hổ vừa leo dốc vừa pha trò: -Kỳ này vừa đeo ba lô đằng trước, vừa khoác ba lô đằng sau xem ra mệt dữ phải không chị Hai. Mai vừa thở vừa trả lời: -Mệt muốn chết...Cái ba lô đằng trước không có ai mang giùm được. Chín Phượng cười khúc khích: -Cái đó chỉ có anh Lâm mới mang giúp hộ được thôi. Út Hân xen vào: -Mới leo được năm cái nghẹo, còn bảy cái nữa mới hết dốc em thách anh Năm kể chuyện từ đây tới đỉnh dốc không nghỉ hơi đấy. -Yên trí, tao còn đầy bụng chuyện. -Ôi! Con trăn!... Chín Phượng tái mặt kêu lên khi con trăn từ trên cây lao vụt xuống đường, cong mình chồm về phía Chín Phượng khiến Út Hân phải giơ súng gạt cho con trăn văng ra. Con trăn cong đuôi quật văng khẩu súng trong tay Út Hân và bất thần cuộn tròn lấy Út Hân. Út Hân nắm chặt đầu con trăn, từng khúc cuốn của con trăn xiết chặt, cái đuôi cong lên tìm cách xỉa vào đầu Út Hân. Mai thét lên: -Kẹp nách vào, nắm chặt lấy đầu nó. Ba Hổ quăng ba lô, ruột nghé và súng xuống đất lao tới nắm chặt đuôi con trăn ghì xuống đất. Con trăn quẫy mình vằng khỏi tay Năm Hổ, quất đuôi đánh đét làm Út Hân ngã sõng xoài. Ba Hổ rút phắt con dao đeo bên người đâm mạnh vào lưng con trăn. Con trăn quật mạnh đuôi, phóng vào bụi rậm chạy trốn. Cả bốn chị em hoàn hồn ngồi thở rốc. Ba Hổ sờ đùi Út Hân: -Trăn lửa đấy, loại này dữ tợn và nguy hiểm chứ không phải hiền như trăn đất đâu. Út Hân lấy tay xoa bóp người: -Mình con trăn trơn hơn mỡ cứ xoay lượn bắt em chống đỡ hoài. Mai lấy dầu xoa cho Út Hân miệng xuýt xoa: -Tội nghiệp... Hết rắn cắn đến trăn cuốn. Chín Phượng vẫn chưa hoàn hồn: -Khiếp thật!... Hết địch đến thú dữ!...Gặp cọp chắc tiêu!... Ba Hổ phì cười: -Chín thì lúc nào cũng thần hồn nát thần tính. -Gặp cọp!... Nó chồm tới vật rồi cào rách người liền à!... Mai cười nhỏ nhẹ: -Chín Phượng thấy con trai quan trọng chưa, không có Ba Hổ, Út Hân chắc em nằm lăn ra chết siếng rồi đấy. Chín Phượng rùng mình: -Chắc vậy quá... Út Hân đứng dậy hỏi mọi người: -Đố mọi người biết hôm nay đi đường gặp hên hay xui? Chín Phượng khẳng định: -Xui... Ba Hổ giảng giải : -Hên là cái chắc gặp xà thì đi, gặp qui thì về phải không chị Hai? Trăn cũng là xà, đúng không? Mai bỗng bật cười nhìn Ba Hổ: -Lại thêm một ông đồ rồi đấy. Ba Hổ thanh minh: -Thiệt mà... Em nghiệm điều đó linh lắm. Đi đường tốt lành, lại có người mời ăn nữa. Người xưa nói: ai bị xà quấn mà không chết thì học giỏi đậu cao. Cứ nghiệm trong ngày mà xem, đúng hay là sai tất biết. Ba Hổ đứng dậy đeo thắt lưng, cầm súng, khoác ba lô xách súng đi đầu, vừa đi vừa quan sát, cảnh giới đề phòng biệt kích. Câu chuyện thưa dần... Rồi lặng xuống. Những bước chân dẻo dai dồn theo nhịp thở mạnh của từng người đang tập trung leo dốc. Người nặng nề, mồ hôi vã ra ướt đẫm cả áo, hơi thở lùng bùng trong lỗ tai, thi thoảng cái thai trong bụng lại đạp đau nhói làm Mai phải nhăn mặt chịu đựng. Nhìn Mai đi Chín Phượng nói với lên: -Ba Hổ. Đi chậm thôi, chị Hai nặng nề đi sao kịp. Chợt nhớ ra Mai có bầu, Ba Hổ quay lại nói như thanh minh: -Em quên khuấy có chị cùng đi... Mai động viên: -Không sao, cố vượt hết dốc rồi nghỉ. Cả đoàn đi tới quá trưa mới tới Suối Sổ nghỉ ngơi, nấu ăn để tiếp tục lên đường. 2 Buổi chiều, tiếng ve kêu ran trong các cánh rừng. Rừng và rẫy nối tiếp nhau chạy dài tới hút tầm con mắt. Con đường số 6 đất đỏ au được làm từ thời Ngô Đình Diệm làm tổng thống đến giờ nhiều đoạn đã bị sạt lở. Những con đường nhỏ cắt ngang đường số 6 tạo thành một mạng lưới giao thông cho phép đi nhanh chóng từ đơn vị này tới đơn vị khác của vùng hậu cứ sản xuất. Tiếng chim gõ kiến mổ vào thân cây khô tạo thành những âm thanh cộc cộc, cục, cụp... kéo dài như người gõ trống bỏi. Thấp thoáng người đội mũ tai bèo đi làm rẫy. Một vài cột khói đen mờ pha lẫn khói trắng bay cuộn lên trời báo hiệu đã vào mùa đốt rẫy. Sự êm ả của vùng hậu cứ làm Mai cứ nghĩ đến Lâm và những ngày hai người cùng sống trong hương nồng, của mật ngọt tình yêu. Bất giác Mai thèm khát một ngôi nhà nhỏ do vợ chồng Mai tạo nên. Hình ảnh vợ chồng sớm tối bên nhau và đứa con bi bô, quấn quýt suốt ngày làm Mai thấy nôn nao. Băng qua rẫy sắn của hậu cứ xã Phụng, mọi người vào lán đặt ba lô, cột võng nghỉ ngơi. Cái lán nhỏ trong rừng cây rậm rạp nằm gần sát rẫy sắn vậy mà cả chục người cột võng nằm vẫn vừa. Trước cửa lán là một cái bàn kết bằng những cây chà rang to bằng ngón tay thuôn duột. Cách xa cái bàn hai thước là ang nước và mấy cây ớt. Dẫu sao cuộc sống ở hậu cứ cũng yên ổn, trật tự hơn ở căn cứ xã. Sự yên tĩnh của vùng hậu cứ làm Mai yên lòng và bỗng thoáng buồn khi nghĩ tới không khí sôi động, căng thẳng ở căn cứ xã. Út Hân, Ba Hổ, Chín Phượng ra rẫy tìm thím Năm và ông Tư Hàm rồi kiếm rau tập tàng về nấu canh. Nằm nghỉ trên võng, thấy xương cốt như dãn ra, chân tay mỏi nhừ, thỉnh thoảng cái thai lại đạp khiến Mai thấm sự nặng nề và kềnh càng của người có bầu phải đi đứng nhiều. Vừa thiu thiu ngủ đã nghe tiếng cười nói rôm rả của anh em, Mai ngồi dậy đã thấy mọi người bước vào sân. Khệ nệ vác một đùi thịt nai, thấy Mai, Ba Hổ nói liền: -Chị Mai thấy linh nghiệm chưa? Em đoán đúng là bữa nay gặp hên. Chín Phượng cắt lời: -Ông thầy rùa bói gặp thời nên lên mặt nói dóc. Thím Năm xởi lởi: -Bởi cái số của con Mai mau mắn nên nó tới đâu cũng gặp hên là cái chắc. Phải tới hơn tám giờ tối, bữa ăn mới làm xong. Đống lửa giữa lán cháy rực hồng, vậy mà ông Tư Hàm vẫn mồi đèn cho sáng thêm để mọi người dễ gắp thức ăn. Thịt nai xào trên hai cái xoong nhôm nhỏ, thịt nai nướng được để trên lá chuối, còn nồi canh rau tập tàng có lẫn xương nai để cạnh nồi cơm độn sắn đang tỏa mùi thơm ngạt ngào. Chẳng hiểu dự trữ từ hồi nào, ông Tư Hàm cẩn thận lấy trong túi cóc ba lô một chai rượu nhỏ và tự rót cho mình uống. Biết ý ông Tư vừa ăn vừa nhậu nên phần thức ăn được để riêng một phía, còn mọi người vẫn theo tác phong nhà lính “đánh nhanh, rút gọn”. Ông Tư Hàm hớp một hớp rượu và gắp một miếng thịt nai nướng thơm ngậy vừa nhai vừa rung đùi. Chẳng ai là bạn rượu, chỉ có ông với rượu làm bạn mà thôi. Trong ánh lửa loang loáng, Mai nhìn ông Tư ngồi ăn uống một mình với nỗi buồn xa vắng. Nỗi khắc khổ cô đơn hiện lên, nên càng ăn, càng uống ông Tư càng lặng yên. Từ khi ông bị địch bắt đi tù, rồi thả về làng và ông Chín Tòng đưa lên căn cứ thoát ly, tính ông vẫn trầm tư, xa lánh mọi người. Lúc đầu anh em thấy khó chịu, xong rồi quen đi hóa thành bình thường. Vả lại ông Chín cũng dặn anh em trong xã thông cảm với nỗi buồn của ông Tư đã trót khai báo với địch thời gian bị tù... Người già vốn trái tính, trái nết nên phải tôn trọng và hòa nhã với ông. Trời sinh trăm người thì có ngàn tính, bởi vậy lớp du kích có đùa giỡn, hò hét thì ông Tư Hàm vẫn lặng im “mặc xác lũ bay”. Ăn xong, Ba Hổ ngồi dựa cột, vừa đẩy gộc củi cho cháy to vừa thích thú nói: -Con nai cũng tới hai trăm ký thịt, bên y tế một đùi, còn lại hai đùi, đầu và xương ưu tiên cho Huyện đội, phần đơn vị mình một đùi. Út Hân đủng đỉnh: -Anh chỉ theo đuôi mà dính được phần đúng không? -Nói bậy, không có tao lập kế làm sao bắt được nai. Chuyện là vầy: Anh Phi ở hậu cứ sản xuất Huyện đội Sơn Hòa cùng cậu Biển ban Dân y tỉnh rủ nhau đi tìm mật ong rừng. Tới một đám ruộng hoang mọc đầy cỏ ống thì phát hiện một con heo rừng đang bị sa lầy giữa ruộng. Mừng quá Phi vội chạy tới nhảy phắt lên lưng và hai tay nắm chắc hai tai con heo, Phi cố sức nhấn con heo xuống bùn. Biển dùng rựa định chém vào chân con mồi nhưng lại sợ trúng bạn đành buông rựa nhảy vào tiếp ứng. Vừa túm được đuôi heo, Biển bị ngay cái mông của nó táng vào hông ngã sõng xoài trên bùn. Cứ vậy, vừa đạp, vừa trườn, vừa chống trả, con heo vượt qua đám ruộng lầy rồi chạy ra trảng Tranh. Vừa mất con mồi, vừa sợ con heo hất mình xuống đất, Phi nằm rạp trên lưng heo gọi Biển: “Đuổi theo! Đuổi theo!”. Tới gần bụi gai mắt mèo con heo bỗng chồm lên. Cả người lẫn heo bay lên không trung rồi chui tọt vào bụi, heo rừng thì lủi tuốt vào rừng, còn Phi thì nằm rên trong bụi. Biển phải lấy rựa phát bụi gai mới đưa được bạn ra. Quần áo rách toạc, thịt da rướm máu, bùn lấm bê bết, hai chàng chỉ còn biết dìu nhau vừa đi vừa xuýt xoa cho bớt đau. Vừa tiếc của vừa tức, hai anh chàng chửi đổng rồi nghĩ mình dại dột và đột nhiên nhìn nhau phá lên cười. Thất thểu, rủ nhau xuống suối tắm, bỗng Phi và Biển phát hiện tiếng thở phì phì gần suối. Cả hai chạy tới nơi, thấy một con nai chà bị rơi xuống một hố lầy. Phi reo lên: -Phải bình tĩnh không lại hỏng ăn như lần trước. Biển xắn tay áo, giọng đầy tự tin: -Hãy xem đây, tớ sẽ nhận nó xuống bùn chứ không phải như cậu. Anh ta phóng đến vèo một cái và ngôì thót lên lưng con nai, nắm hai sừng, miệng kêu to : “Ớ... Nai, ớ... Nai...”. Phi tái mặt vì ở vùng này có rất nhiều hố lầy đã sâu lại bùn loãng, người rơi xuống mà không được cứu thì cũng chết huống chi cả người lẫn nai. Vừa lúc ấy, Ba Hổ chạy tới vừa sợ vừa buồn cười khi thấy một anh cứ chạy quanh miệng hố lầy, còn một anh ngồi trên lưng nai mà kêu. Lập tức Năm Hổ chặt một cái cây to bằng bắp chân làm đà và cầu đàng hoàng, rồi tháo dây võng tụt xuống lấy rựa chém chết con nai. Cả ba người lấy dây luồn qua bụng kéo con nai lên rồi đưa xuống suối giết thịt. Sáng sáng chờ cho sương mù tan, Mai ra rẫy loanh quanh với sắn bắp rồi về nhà nấu ăn. Dầu lửa khan hiếm, tối tối thắp cho có lệ một chút rồi vội vàng tắt. Đêm đêm bên đống lửa hồng giữa lán, lên võng mạnh ai nấy ngủ. Cuộc sống lằng lặng theo một vòng quay đều đều khiến Mai hụt hẫng bỗng thèm khát cuộc sống nguy hiểm, gian khổ nhưng đầy sôi động dưới địa bàn. Mai bất giác thở dài, nhìn xuống bụng mình mỗi ngày một lớn thầm nghĩ: sinh xong ta lại về dưới đó. Để bù lại khoảng thời gian trống vắng, Mai nhờ ông Chín Tòng xuống làng sưu tầm sách toán, lý, hóa lớp 12, sách Anh ngữ và Hán ngữ để học. Ông Chín Tòng rất mừng, nhắn Nguyệt gửi sách lên cho Mai, ông lại viết riêng cho Mai lá thư đại ý là: Vì đánh Mỹ mà cái sự học hành dở dang, bây giờ ở hậu cứ lo sản xuất và sinh nở thì ráng học. Hòa bình thống nhất xin học đại học đừng theo nếp sống “một dạ lúa lớn hơn một dạ chữ” lạc hậu của người xưa. Vậy là đi làm rẫy về, Mai lại giở vở ra học, ghi chép, lầm bầm trong miệng như tụng kinh. Ông Tư Hàm thấy vậy nói với thím Năm: -Cái con vu vơ, gái có chồng, có con tiến sao được nữa, hơn gì ai mà học. Thím Năm trả lời: -Tôi thất học. Lắm lúc muốn viết thư về nhà nói cho con cháu nó hiểu ý mình cũng phải nhờ tới con Mai. Có học thì ăn nói, làm việc mới rạch ròi, con Mai học là tốt, ông Tư nói gì lạ vậy. Ông Tư Hàm chẹp miệng: -Phận đàn bà, lo cái bầu cho rồi, còn dở chuyện. Thím Năm thiệt thà: -Cái đó thì tôi không biết, nhưng ông Chín động viên nó học, chắc là đúng ông à. Ở đời có học có khác. Ông Tư Hàm hoài nghi: -Đang tiến bộ như vậy mà cái thân còn không giữ được đến nỗi bĩnh bầu làm sao mà tự học được. Bà thì không hiểu chứ tôi biết... Thím Năm nói như thanh minh cho Mai: -Chuyện nó có bầu là khác, hai đứa nó thương nhau từ hồi thoát ly đến giờ ai không biết. Bọn nó dám làm, dám chịu là có nghị lực. Tôi tin là nó tự học được. Ông Tư Hàm lại chẹp miệng: -Để rồi coi, tôi chỉ sợ được mấy bữa háo hức rồi đâu lại vào đó, -Ông Tư Hàm thở dài:- Bom đạn càn quét liên miên. Đói khổ lúc nào cũng như đỉa bám, cái chết kề bên còn đầu óc nào mà học. Chẳng qua nó làm le với mọi người để cho bớt cái khuyết điểm có bầu rồi cưới vội chứ nó không nghĩ như bà đâu. Thím Năm không bằng lòng xong vẫn từ tốn: -Tôi biết con Mai không phải như vậy. Con gái thì phải lấy chồng, thằng Lâm ở lực lượng chiến đấu rủi có chuyện gì thì ít ra cũng có đứa con nối nòi... Bọn nó không nghĩ như ông đâu. Ông Chín Tòng lại gửi sách và viết thư lên dặn Mai đang có bầu, học cho con mày nó thông minh, phải nhớ câu nhàn cư vi bất thiện. Chuyện Mai tự học rồi cũng lắng xuống. Mọi người cho rằng Mai học chỉ để mà học chứ cũng chẳng có tác dụng gì. Vậy rồi một hôm, anh em C3 tiểu đoàn H96 cùng với bộ đội huyện phối hợp đánh địch trên đường số 7 bắt được hai tên Mỹ. Trong lúc phiên địch ở tỉnh chưa xuống kịp, lãnh đạo chẳng ai biết được tiếng Anh, mấy anh thường vụ chợt nhớ và triệu Mai tới với hy vọng không ít thì nhiều cũng giúp cho thường vụ hiểu được hai tên Mỹ lên đoạn đường này làm gì. Không ngờ khi nói tiếng Anh với hai tên tù binh, Mai chỉ lúng túng có nửa ngày rồi sau đó nói chuyện và phiên dịch khá thành thạo. Tới lúc đó mọi người mới biết vốn ngoại ngữ của Mai không đến nỗi tồi. Té ra đây là hai tên kỹ sư cầu đường người Úc, thuộc một đơn vị công binh. Khi phiên dịch về đưa hai tên lính đánh thuê người Úc về Tỉnh, chúng đã cầm tay Mai khóc làm cho mọi người ngỡ ngàng. Đồng chí phiên dịch nói tóm tắt với mọi người là nếu được thả nó sẽ nói lại cho mọi người hiểu Vi-si là những người có học, rất tốt không phải như bọn Mỹ nói với chúng. Nghe được chuyện thằng lính Úc khóc, thím Năm nói với ông Tư Hàm: -Đấy ông coi, có học có khác tôi nói có sai đâu. Ông Tư Hàm lặng im không trả lời, đôi mắt ông nhìn vào khoảng xa xăm, ánh lên nỗi buồn khó tả, vai ông rung rung trong nỗi cô đơn sâu lắng... Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Chín, 2023, 10:43:45 am Chương 16 Từ khi được đưa xuống làm đại đội trưởng đại đội 25 đặc công, công việc của Lâm trở nên bận rộn và mỗi lần về thăm vợ thấy mẹ con Mai khỏe mạnh tính tình Lâm cũng trở nên vui vẻ và điềm đạm hẳn lên. Đại đội 25 là một đơn vị đặc công có nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu. Với những trận đánh thần tốc, bất ngờ và táo bạo, đại đội 25 đặc công là một trong những đơn vị nổi tiếng ở chiến trường Nam Trung bộ. Đại đội 25 thực sự là một tổ ấm của bốn lớp người kề vai sát cánh, sẵn sàng chia lửa cho nhau trong gian khổ, hiểm nguy. Lớp tuổi từ 24 đến ngoài 30 hầu hết là cán bộ tiểu đội, trung đội và đại đội là lực lượng nòng cốt vững chắc của đơn vị. Lớp tuổi từ 17 đến 24 hầu hết là những chiến sĩ từ miền Bắc được bổ sung vào chiến trường, họ xông xáo và yêu đời, ý thức kỷ luật cao. Lớp du kích từ 13 đến 16 tuổi đã qua chiến đấu ở các xã được rút về huấn luyện và bổ sung cho đơn vị, ở họ con vẫn đọng nhiều nét rất vô tư. Có bốn người thuộc thế hệ tuổi trên 40 đều là quân nhân tái ngũ được bổ sung cho chiến trường và họ kết lại với nhau thành nhóm thuốc lào, được gọi là bộ “tứ bình” . Tháng 5 năm ngoái, đại đội 25 đặc công tổ chức tiếp nhận số bộ đội từ miền Bắc bổ sung về. Anh Hồi, cha của Tưởng về đại đội 25 trong đợt bổ sung quân ấy. Tưởng gặp lại cha mình trong niềm mừng tủi khôn nguôi. Mừng vì cha con gặp nhau, tủi vì với cái tuổi 46 anh Hồi vẫn tái ngũ vào Nam chiến đấu. Đánh Pháp, anh Hồi vào bộ đội chủ lực, hòa bình lập lại anh phục viên về quê lấy vợ rồi sinh ra Tưởng. Đánh Mỹ, chiến trường rộng khắp và ác liệt, trai làng hết lớp này đến lớp khác vào Nam đánh giặc. Rồi đến lượt điều động quân nhân phục viên tái ngũ, anh Hồi lại khoác áo lính vào Nam đánh giặc. Mắt kém lại chậm chạp đơn vị bố trí anh Hồi làm anh nuôi. Sáng kiến của “bộ tứ bình” là lấy thuốc lá tẩm thêm nhựa cây thuốc lá cho thuốc nặng thêm và có màu đen giống thuốc lào. Họ kiếm ống tre về làm điếu cày. Tiếng điếu cày rít lên ròn tan và hơi khói lan tỏa, khiến đám trẻ phát thèm. Nhiều anh tới xin “bộ tứ” cho đầu quân mà không được kết nạp. Riêng tám cậu ít tuổi nhất đơn vị thì kết lại thành một nhóm là “bát tiểu đồng”. Chẳng có cuộc nói chuyện bù khú hay chuyện tiếu lâm nào của lớp đàn anh mà các cậu không có mặt và tình nguyện làm chân điếu đóm để được nghe chuyện. Trung đội phó Tôn gốc là một công nhân dệt Nam Định vốn nổi tiếng là một tay kể chuyện hấp dẫn của đơn vị. Một hôm hết thuốc hút, biết bốn anh già lúc nào cũng có thuốc dự trữ, Tôn liền mở ngay chuyên đề kể chuyện tán gái. Nhóm “bát tiểu đồng” tới nghe liền bị đuổi với lý do chưa tới tuổi. Mấy cậu nhỏ nằn nì xin được nghe, vậy là Tôn ra yêu cầu cả tám cậu phải xin cho được tám điếu thuốc về nộp thì mới được nghe. Bí quá, “bát tiểu đồng” hội ý nhanh và đồng ý đi xin thuốc với điều kiện đưa thuốc về Tôn mới kể chuyện. Tôn nhận lời ngay và thấp thỏm ngồi chờ thuốc lá. Nhóm “bát tiểu đồng” chia nhau tới bộ tứ xin thuốc lá. Anh Hồi cười gật gù nói với mấy ông bạn đồng niên: -Lại cái mẹo của thằng Tôn - Bất chợt Hồi hỏi chặn - Này “bát tiểu đồng”, có phải thằng cha Tôn bắt các cậu tới quấy rầy bọn già này không? -Không phải, bọn em cần thuốc. -Không nói thật thì đi về võng mà nằm, hát hỏng với nhau. Nói thật thì cho thuốc. Mấy cậu “bát tiểu đồng” khai thật, anh Hồi tủm tỉm cười: -Cho các cậu bốn điếu và nói với thằng Tôn nếu không kể chuyện khỏi nhận thuốc thì nó kể chuyện ngay. Y lệnh của anh Hồi, “bát tiểu đồng” ra điều kiện và lập tức Tôn cười hà hà: -Mưu kế ông Hồi thì tao chịu thua, thôi đưa thuốc đây, có thuốc kể mới hay. Cầm thuốc hút trên tay, Tôn che miệng, ngáp dài một cái rồi tay quấn thuốc mồi lửa hít một hơi dài sảng khoái: -Thú thật hết thuốc tớ cứ ngáp dài y như thằng nghiện thuốc phiện ấy. -Anh hút đã chưa? Kể chuyện đi. Tôn cười khanh khách: -Có gì đâu, chẳng là hồi tớ mới vào bộ đội như các cậu, là liên lạc kiêm công vụ cho ông Lý chủ nhiệm thông tin trung đoàn. Vẫn nụ cười tươi rói, Tôn khề khà: -Cơ quan trung đoàn đóng gần mấy đơn vị quân y và dân chính Đảng. Một hôm mình đưa ông Lý đi công tác, buổi trưa cái nóng oi nồng hai thầy trò leo dốc thở hồng hộc. Bỗng ông Lý đứng lại nhìn rồi ra lệnh cho mình rẽ xuống suối nghỉ. Tới gần suối mình định chạy ù xuống bị ông Lý nắm vai nói nhỏ: “Có biệt kích”. Cái mệt bay đâu mất, mình xách súng lò dò theo ông Lý rẽ vào rừng. Có tiếng con gái nói lao xao dưới suối, mình cầm tay ông Lý giật giật nói thầm: -Khả năng không phải biệt kích. Ông Lý giật tay rỉ tai mình: -Cậu tưởng bọn Mỹ không có phụ nữ là biệt kích à. Hai thầy trò núp vào một tảng đá từ từ bò lên. Trời ơi! Năm đứa con gái đang tắm truồng mới chết chứ! Mông, đùi, ngực đứa nào đứa nấy trắng nuốt, mây mẩy, căng như trái banh... Mình căng mắt nhìn, bỗng vô ý chân đạp vào hòn đá làm nó lăn cái xào. Ông Lý nhìn mình làu bàu. ở dưới suối mấy đứa con gái bỗng hớt hãi kêu thất thanh: “Biệt kích”. Và ôm quần áo, vứt bừa đồ đạc bỏ chạy. Hai thầy trò mình đi xuống suối. Ông Lý chẹp miệng: -Cái thằng nhóc, không đạp phải hòn đá còn xem được đã đời!!! Mọi người cười xòa, một bát tiểu đồng tò mò hỏi: -Vậy thủ trưởng với thủ trưởng Lý không bị kỷ luật à?... Tôn phá lên cười: -Làm gì có tội hủ hóa mắt chú em. Cẩn thận gói điếu thuốc cho vào túi áo, Tôn dõng dạc tuyên bố: -Cám ơn “bát tiểu đồng” chuyện mà có thuốc có khác, lần sau tớ kể tiếp... Chương trình kể chuyện lai rai của chúng tôi tới đây là hết. Xin hẹn lại các bạn lần sau. Mọi người ngẩn người rồi cùng cười ồ lên. Một anh chàng chen vào: -Cái đài phát thanh của đại đội mình ăn gian quá... Trong giờ làm việc rất nghiêm túc nhưng ngoài giờ làm việc thì cả lính và thủ trưởng đều nghịch như quỷ sứ, vì vậy không khí ở đại đội rất ít khi thiếu vắng tiếng cười đùa. Chẳng vậy mà khi biết Mai sinh con gái, đám lính trẻ đã quây lấy Lâm hỏi đủ chuyện. Lâm dõng dạc: -Đánh Mỹ lâu dài, gian khổ mình trừ cho các cậu mỗi người mười lăm tuổi. Các cậu gọi mình là bố vợ đi thì vừa. Mấy cậu lính đồng loạt dơ tay xung phong, một cậu vòng tay, cúi lưng: -Dạ... Em xin chào bố vợ ạ... -Em cũng xin đăng ký, tình nguyện mười sáu năm cõng vợ đi chơi rồi mới cưới. -Thủ trưởng ơi, ngoài Bắc con trai vào Nam hết rồi, con gái làng em khô cả rồi, thôi thì: Tới đây thì ở lại đây, khi nào bén rễ xanh cây mới về. Lâm cười vang: -Con gái dưới làng thiếu gì đứa đẹp và ngoan, thống nhất nước nhà, chúng sẽ đứng xếp hàng tha hồ mà chọn. Lâm ngồi trên võng lật cuốn sổ công tác ra ghi chép, tính toán và sửa chữa phương án đánh địch. Mấy địa điểm tập kết cũng như đánh xong rút về thấy chưa ổn, bài học mất cảnh giác của đơn vị khi đóng quân cách đây nửa năm hiện lên day dứt Lâm: Dạo đó, khi đại đội 25 ra quân, chỉ sau hai mươi phút tiêu diệt gọn cứ điểm Hòn Bứa ở Huyện Đồng Xuân. Trận đánh đó diệt rất nhanh trận địa pháo 105 ly và cối 120 ly của địch. Không những vậy, đơn vị kịp thời phát hiện hầm ngầm hai tầng của bọn Đại Hàn, đã chận cửa hầm rồi dộng thủ pháo xuống; đồng thời các mũi hợp đồng và yểm trợ nhau luồn vào hầm ngầm diệt địch. Trận đánh đó đơn vị được tặng thưởng huân chương chiến công hạng hai. Nhưng khi rút về vị trí tạm nghỉ bên bờ suối cạn để nấu ăn, anh Hồi chủ quan gửi bếp cho một đồng chí tân binh để lên rẫy kiếm rau về nấu canh cho đơn vị. Đồng chí tân binh để khói bốc lên, chiếc Mo-ran bay qua phát hiện khói đọng trên tàng cây liền phóng rốc-két xuống. Đồng chí tân binh sợ quá dụi lửa, khói lại càng ùn lên. Lập tức vị trí đóng quân của đơn vị trở thành trận địa oanh tạc của phản lực và trực thăng. Địch dội bom và bắn nát khu vực suối cạn. Từng người chỉ còn biết xách súng chạy thoát thân. Sau gần bốn tiếng đồng hồ oanh tạc của địch, toàn đơn vị buồn thiu chôn người hy sinh, cáng người đi viện chẳng ai nghĩ đến chuyện bình bầu khen thưởng nữa. Hôm đó Toàn đại đội trưởng xách trung liên chạy tới một gò mối nổ súng đánh trả máy bay địch. Một quả bom rơi trúng ụ mối, cả súng lẫn Toàn đều tan trong hố bom sâu hoắm. Mọi người cố tìm thi hài của anh, song chỉ còn một nhúm vải quần áo lẫn xương thịt đành gom lại đào đất đắp lên gọi là mộ. ấy vậy mà khi kiểm điểm, cấp trên vẫn bắt Toàn cái án kỷ luật cảnh cáo về chế độ trách nhiệm. Cả đơn vị đều khóc khi nghe Toàn bị kỷ luật. Phải mất sáu tháng cả chi bộ tập trung vào công tác chính trị tư tưởng anh em chiến sĩ mới lấy lại trạng thái cân bằng trong chiến đấu. Lâm lúi húi móc ba lô lấy cuốn nhật ký đọc lại từng trang ghi chép của mình. Những công việc, những suy tư, tình cảm gửi vào trang nhật ký khiến Lâm xốn xang: “…Ngày 17/6/1970: Nhớ Mai da diết... Có lẽ tiếng ve rừng kêu ran đang hòa vào nỗi nhớ!... ... Ngày 23/8/1970: Hội nghị Pari vẫn họp, hòa bình nghe nói sắp tới?! Liệu có hòa bình thiệt không?... Vẫn đánh nhau với địch lu bù. Đêm nay vượt đường số 6 và quốc lộ số 1 xuống vùng biển An Ninh. Lại những ngày nằm sát biển. Trong gió, cát và sóng biển, ta lại khom lưng ngồi trong những lùm cây lúp xúp suốt ngày. Làm thế nào đây để bò qua những lớp rào kiên cố ở cứ điểm Hòn Bù?. Đánh cứ điểm của bọn Đại Hàn nhất định là ác liệt rồi!... Lạ thiệt!... Mình đâu có sợ khi bò qua những lớp rào để nghiên cứu cứ điểm địch vậy mà cứ són, rắt hoài... ướt cả đũng quần! Thằng lính đặc công nào bò rào mà chẳng vậy...” Gió rừng xào xạc, kỷ niệm xôn xao và nguôi dần. Phương án tác chiến dần dần hiện ra trong óc Lâm. Một loạt các công việc được sắp xếp, cân nhắc gần như thuộc lòng rồi Lâm mới ghi vào sổ công tác. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Chín, 2023, 10:53:12 am Chương 17 1 Đại đội 25 hành quân trong không khí phấn khởi sau những ngày huấn luyện và học tập. Nhạn, chính trị viên đại đội sau thời gian bị thương phải đi bệnh viện điều trị nay đã trở về. Từ sau khi Toàn đại đội trưởng hy sinh thì Nhạn là cán bộ kỳ cựu nhất của đại đội. Tưởng đã dẫn một bộ phận đi trước tiềm trạm, lại có Nhạn cùng đi nên Lâm cảm thấy yên tâm hơn. Hành quân lần này, chủ yếu là thủ pháo, lựu đạn, súng đạn nên cán bộ, chiến sĩ ai cũng mang vác nặng. Lực lượng dân công được huy động từ các ngành dân chính đảng vì vậy đường hành quân khá nhộn nhịp. Thấy Yến cùng anh em trong ban tuyên huấn cũng đi gùi đạn, Lâm chạy tới hớn hở: -Nè, các nhà văn, nhà báo mà cũng đi gùi đạn chắc kỳ này đánh to, thắng lớn phải không? Yến đặt gùi đạn xuống vệ đường lau mồ hôi nói nhỏ: -Trừ mấy ông cấp côi ở nhà chỉ đạo tình hình còn tổng động viên gùi đạn cho chiến dịch chắc chắn là đánh lớn rồi. Lâm cắt ngang: -Ông nắm tình hình ra sao, chiến dịch có gì mới? Yến nháy mắt: -Thấy mấy ông ấy họp bàn liên tục, gọi lên giao phải có mặt ở địa bàn trọng điểm vừa viết bài vừa viết báo cáo cho mấy ông ấy, thế là tớ lãnh và chuồn... gần “mặt trời” rát mặt lắm, đi công tác tự do hơn ông à... Lâm ngạc nhiên: -Cơ quan ông tập trung đi cho có tổ chức mới động viên nhau được chứ? Yến thật thà: -Cơ quan tôi có lắm đơn vị ông à: Nhà in, văn phòng, văn công, trường Đảng trẻ khỏe đi trước rồi, lẹt đẹt đi sau chỉ có mấy thằng văn nghệ. Đi sau tôi còn một lô các ông quay phim, chụp ảnh, họa, văn nghệ nữa. Bọn tôi thuộc đám quân “mất trật tự”. Dẫu sao bọn tôi cũng hết mình cho chiến dịch đấy chứ. Lâm mở ba lô hồ hởi: -Mình cho ông ít lương khô thịt heo. Chà... loại lính cậu như mấy ông gùi đạn để lấy khí thế thi đua là chính. -Nè...Bọn tôi cũng gùi, cũng phát rẫy trầy tay đấy, mà thịt heo ở đâu vậy? -Liên hoan ra quân, phải giết heo chứ. Này, chia phần thịt heo cho ông, ông phải bám sát đơn vị tôi đó nghe. Yến khoa tay: -Cậu cứ cho mình, sau này thống nhất nước nhà, mình mời vợ chồng cậu ra Bắc, lúc đó mình sẽ trả nợ. Lâm sôi nổi: -Thống nhất, vợ chồng mình xin học đại học, ông phải nuôi vợ chồng mình ăn học đàng hoàng nghe chưa. Yến vỗ vai Lâm: -Vợ chồng ông ra Bắc học, tớ sẽ kiếm phòng cho vợ chồng ông vừa học vừa tự do hú hí. - Yến bỗng nháy mắt nhìn Lâm - Cậu xem mấy cô đang khom lưng gùi đạn có đẹp không? -Con gái quê mình đẹp là cái chắc, trông bộ tịch mấy nàng gùi đạn kiểu đó nhắm mắt cũng biết là lính văn phòng chứ không phải thanh niên xung phong đâu ông à. Yến cười vang: -Ông tinh đấy bái phục, mình đi nhé. Chờ Yến đi rồi cậu Châu liên lạc đại đội mới hỏi Lâm: -Thế ông ấy là nhà báo hả thủ trưởng? -Ừ, ông ấy làm cả thơ và cả viết văn nữa đấy. Châu ngạc nhiên: -Nhà báo mà cũng đi gùi đạn à? Lâm giảng giải: -Đánh Mỹ... Nhiệm vụ cần đến mình thì mình phải làm hiểu không. -Em cứ tưởng... Lâm giảng giải: - Cứ nghe trên đài Tiếng nói Việt Nam phát tin, ấy là bài của mấy ông ấy gửi ra đó. Báo Giải Phóng hàng tháng gửi đến cho đơn vị mình là các ông ấy viết đấy. Châu tò mò: -Vậy là chỗ mấy ông ấy ở phải bí mật và nhiều máy móc lắm phải không thủ trưởng? -Đương nhiên rồi, tối thiểu phải có đài đưa tin ra Bắc, có máy in báo, máy quay phim... đủ loại hiểu không? -Kể ra cách mạng mình cũng lắm thứ phải không thủ trưởng? Ước gì em được đi học, em cũng làm nhà báo, liệu có được không thủ trưởng? -Nhất định là được rồi nhưng nói phải bỏ bớt chữ thủ trưởng đi cho gọn mới làm được nhà báo hiểu không. -Tóm lại làm nhà báo thì việc gì cũng làm được phải không thủ trưởng? -Đại khái là vậy, cái chính là phải học để hiểu biết cho nhiều. Châu cắp khẩu AK báng gấp cố đi nhanh cho kịp những bước dài của Lâm trên đường. 2 Vùng 4 An Lĩnh là một vùng núi thấp nằm sát bên đường tỉnh lộ số 6 và quận lỵ Phú Tân. Địa hình này cho phép triển khai nhiều hướng tạo nhiều thế bất ngờ tiêu diệt những cứ điểm của địch ở huyện Tuy An. Địch hiểu và gần như thuộc lòng đặc điểm của vùng đất này nên chúng không loại trừ một nghi vấn nào, sẵn sàng tập trung đánh phá ác liệt vùng Việt Cộng dấu quân. Nhờ những hang đá rộng rãi, vững chắc nằm dấu mình trong vùng đồi núi gai quýt dày đặc do đó không lúc nào không có lực lượng cách mạng bám trụ ở vùng 4 An Lĩnh .Những đợt tàn sát đẫm máu của bọn Đại Hàn tại các xã miền núi huyện Tuy An đã làm cho một vùng đất rộng mênh mông trở nên hoang vắng. Dân ở vùng 4 An Lĩnh lớp chết, lớp bị địch xúc lên trực thăng chở xuống khu đồn, chỉ còn lại tám gia đình bám trụ cùng cách mạng. Bọn địch cũng liệt tám gia đình này là cộng sản nòi do đó đời sống của người dân ở đây cũng không khác gì anh em cách mạng. Con trai, con gái của họ lớn lên đều thoát ly. Mang tiếng là xã “có dân” song thực chất chỉ còn lại những ông già, bà già sống leo keo mà thôi. Từ vùng 4 An Lĩnh tính theo đường chim bay đến cứ điểm Hòn Ngang thuộc xã An Nghiệp rất gần nhưng đi nhanh theo đường núi cũng phải mất gần 3 tiếng đồng hồ. Địa điểm tập kết chuẩn bị đánh điểm của đại đội 25 nằm dọc nhánh suối cạn gần thác nước suối cái An Lĩnh. Với địa thế thuận lợi cho công tác cảnh giới, phòng địch tập kích bất ngờ lại có gộp đá kiên cố nên toàn đại đội chẳng phải bỏ công sức cho việc đào công sự. Vừa ổn định chỗ ở xong, đại đội 25 được giao nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Hòn Ngang, vì vậy mọi phân công, chuẩn bị cho công tác đánh địch đòi hỏi hết sức khẩn trương và nhịp nhàng. Cứ điểm Hòn Ngang là tiền đồn của hệ thống cứ điểm phòng ngự của Mỹ-Thiệu tại huyện Tuy An. Mất cứ điểm Hòn Ngang lập tức quận lỵ Phú Tân bị cô lập và địch không kiểm soát được hơn mười xã của ba huyện Đồng Xuân, Sông Cầu, Tuy An nằm giáp nhau. Và hoạt động giao thông trên quốc lộ số 1 và tỉnh lộ số 6 của địch sẽ bị tê liệt. Chính vì vậy địch xây dựng cứ điểm Hòn Ngang rất kiên cố . Nằm lọt giữa bốn cứ điểm của bọn Đại Hàn cứ điểm Hòn ngang luôn nhận được sự chi viện của bọn Đại Hàn ở các cứ điểm trên. Chưa yên tâm, bọn ngụy Sài Gòn ở Phú Yên còn đưa đại đội bảo an số 310 tới trấn giữ và ai cũng biết đây là một đại đội ác ôn. Trong đại đội bảo an này không ít tên đã lấy gan, lấy mật Việt Cộng ăn và hòa với rượu uống để quyết nằm gai nếm mật diệt cộng sản. Chỉ với một tên trung sĩ Chế, không kể bà già, trẻ con, hể là nữ mà lọt vào tay hắn là không tránh khỏi bị hãm hiếp thô bạo. Với cái hất hàm và cái cười hềnh hệch, tên Chế hỏi: -Mày có biết tao là ai không? -Dạ... trung sĩ Chế. -Biết trung sĩ rồi... Hãy cởi quần ra. Người bị bắt chưa kịp phản ứng, tên Chế đã lao tới cấu xé cơ thể người phụ nữ như một con thú điên cắn xé con mồi. Hãm hiếp xong hắn hất tay: -Quần áo đó... Mặc vào rồi xéo! Tao hỏi cung xong rồi đó. Ngày thay nhau đi càn quét, tối về đóng giữ cứ điểm, bọn lính 310 nói với dân: “Nói giùm Việt Cộng có giỏi thì tới đụng lông chân lính 310 sẽ được nếm mùi diệt cộng”. Ý thức được điều quan trọng của trận đánh chẳng những tiêu diệt được nhiều tên ác ôn có nợ máu trong dân mà còn dập tắt được ảo vọng xây dựng mẫu “người hùng chống cộng” của bọn ngụy Sài Gòn ở Phú Yên, tạo niềm tin cho phong trào quần chúng nổi dậy, vì vậy cả đại đội 25 quyết tâm bước vào trận đánh. Lâm quàng túi thủ pháo trước ngực, cầm súng luồn qua hàng rào, tay nhẹ nhàng sờ đất và dây kẽm gai, lần từng quả mìn và lựu đạn của địch gài khóa chốt an toàn. Đội hình nhích dần rồi dừng lại gỡ mìn rồi nhích qua các hàng rào kẽm gai hình quả trám. Đang bò bỗng toàn thân Lâm đau rát và buốt, ngoảnh lại, cậu Châu liên lạc đang cắn răng khẽ cựa mình cố chịu đau. Thì ra hai anh em bò đúng phải đường đi của đoàn kiến bò nhọt, loài kiến to, đen và dài, nọc kiến đốt đau buốt đến rướm máu. Lâm ra hiệu cho Châu và toàn đội hình nằm im cắn răng chịu đau, và bình tĩnh đưa đội hình vượt rào để tránh đường đi của đoàn kiến bò nhọt. Tạnh mưa, từng đoàn mằn hăn nhỏ li ti tới chui vào tai, vào kẽ tóc đốt liên hồi khiến đầu Lâm ngứa ran. Mặt nóng bừng, Lâm có cảm giác như kê mọc dày trên mặt trên da. Cứ bốn năm phút toàn mũi phải nằm im trước từng loạt đại liên, trọng liên bắn quét vào hàng rào. Gần ba tiếng đồng hồ mũi đột phá của Lâm mới tới hàng rào thứ chín. Lâm cho toàn đội hình dừng lại, lăm lăm tay súng yểm trợ, nghiêng mình cho trung đội trưởng Chiến bò lên tháo mìn và lựu đạn hai lớp rào cuối cùng. Kiểm tra đội hình xong, Lâm cho toàn mũi lùi xuống một đoạn đề phòng pháo của ta khi cường kích sẽ bắn lầm vào các hàng rào trong cùng của cứ điểm Hòn Ngang. Đúng giờ G, từng chùm đạn cối 82 ly của ta vạch những đường vòng cung bất ngờ nổ chụp trên cứ điểm Hòn Ngang. Từ các lỗ châu mai trong cứ điểm Hòn Ngang, đại liên và 12ly7 của địch nổ rát, bọn lính ý ới gọi nhau chui vào hầm. Những quả ĐKZ lao thẳng vào lô cốt đầu cầu và trận địa pháo địch làm một mảng tường của chiếc lô cốt đầu cầu đổ ào xuống. Lại một đợt công kích bằng pháo cối và ĐKZ của ta nổ chụp lấy cứ điểm làm bọn địch không dám bắn trả. Loạt đạn ĐKZ cuối cùng vừa dứt ánh lửa thủ pháo sáng bừng khắp cứ điểm Hòn Ngang. Các mũi tấn công của ta nhận ra nhau bằng ánh chớp của thủ pháo, lựu đạn hợp đồng tấn công. Từ lô cốt đầu cầu, một bộ phận địch cụm lại chống trả. Tổ của Chiến lao tới áp sát dùng AK bắn găm vào lô cốt. Trong tích tắc, hàng chùm thủ pháo lao vút vào nơi bọn địch cố thủ. Hỏa lực của địch tắt lịm trong tiếng rên la của bọn địch dưới hầm. Diệt xong địch ở lô cốt đầu cầu Chiến tiếp tục đánh dọc theo chiến hào. Từ lô cốt trung tâm, địch bắn trả dữ dội. Hai khẩu đại liên và 12ly7 của địch bắn đan chéo cánh sẻ về phía Lâm buộc đội hình tiến quân phải dừng lại. Lâm trườn tới cạnh Chiến cầm khẩu B41 đặt lên vai xiết cò. Luồng lửa đỏ rực của B41 chùm lên hầm ngầm. Nạp tiếp quả đạn thứ hai Lâm ép sát vào chiến hào quỳ người bắn tiêu diệt tiếp khẩu 12ly7. Các tổ lao lên diệt bọn địch trong hầm ngầm và đánh len vào các ngách chiến hào tiến vào trung tâm cứ điểm. Tại hướng Bắc mũi do Nhạn chỉ huy đánh tan trận địa pháo và đốt cháy kho xăng. Lửa và khói bay cuồn cuộn đỏ rực trời. Từ phía Nam, mũi khóa đuôi của Tưởng cũng đánh thọc lên... Từng mũi đã bắt được liên lạc với nhau. Các chiến sĩ đại đội 25 triển khai tiêu diệt số tàn quân và thu hồi chiến lợi phẩm. Không đầy mười phút, toàn bộ cứ điểm Hòn Ngang bị tiêu diệt gọn. Trên trời máy bay Đa-cô-ta thả đèn dù sáng rực. Lâm và Nhạn kiểm tra trận địa rồi nhanh chóng tổ chức cho đơn vị rút quân. Trời lại đổ mưa tầm tã. Đêm tối đen như mực. Đang đi chợt Lâm quay sang phía Tưởng nói: -Mình đi sau với Nhạn, ông nắm chặt số lính mới kẻo bị lạc thì gay. Đánh giặc không việc gì đến khi rút quân mà bị thương vong mới nhục. Bùn đá lổn nhổn không đi nhanh được đâu, cái lão trời độc ác làm mưa gió rát cả mặt... Tiếng rít của pháo chụp xuống cùng với những tiếng nổ đinh tai, nhức óc trùm lên, cả Lâm và Tưởng nằm rạp xuống đường. Mảnh văng vù vù trong đêm. Sau loạt pháo Tưởng lồm cồm đứng dậy, miệng lầm bầm: -Cái ông Lâm nói thiêng như ma xó. Bỏ bụng đừng nói, có khi pháo không bắn tới chỗ mình cũng nên. Lâm cười vuốt nước mưa trên mặt: -Hèn gì mấy thằng du kích mới rút về đơn vị mình sợ ma té đái ra quần. Lùi lại phía sau đội hình của đơn vị chờ Nhạn, thấy y tá và Nhạn đi tới Lâm vội hỏi: -Phía sau còn ai rớt lại không? -Hết rồi, cố gắng vượt qua tầm pháo rồi hãy nghỉ. -Hành quân, về nhà nghỉ yên tâm hơn. Mưa như thế này nghỉ làm gì cho khổ. Đoàn người lại hối hả vừa đi vừa đánh vật với bùn đá mà vẫn không tránh khỏi những cái ngã huỳnh huỵch hoặc bất thần nằm xuống tránh pháo rồi lại bật dậy đi tiếp... Tới gần sáng đơn vị mới về tới vùng 4 An Lĩnh. Lúc này Lâm mới thực sự thở phào khoan khoái. Anh Hồi đã chuẩn bị sẵn cơm canh cho toàn đơn vị. Mọi người tranh thủ ăn xong mắc võng ngủ. Lâm thiếp đi trong giấc ngủ say. Ve rừng kêu ran, cái nắng vàng ong rực lên. Lộp độp dưới bếp tiếng chẻ củi của anh Hồi và tiếng nói của mấy đồng chí trực ban...Và tiếng con mang tác rất xa trên triền núi vọng tới báo hiệu trời vẫn còn mưa. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Chín, 2023, 11:04:26 am Chương 18 Mùa mưa. Những cơn mưa hối hả thi nhau trút nước xuống cả đêm lẫn ngày và kéo dài liên miên. Con Suối Cái Vân Hòa trong mùa khô lỏng chỏng cát và đá nên dưới lòng suối phải khoét thành một cái giếng nhỏ mới có nước uống, mà giờ đây nước trắng đục dềnh lên tới chân núi, chảy cuốn trôi cả đá to, cây cối tạo nên những tiếng ầm ào dữ dội. Trên đỉnh núi, nhiều con thác trắng bạc xuất hiện réo vang cả rừng già. Giữa hai cơn mưa là khoảng thời gian chớp nhoáng của ánh nắng yếu ớt lóe lên rồi vội vã lăn vào trong những đám mây mọng nước. Gió lạnh ngắt vun vút thổi. Mây xếp chồng bao quanh các đỉnh Hòn La, Hòn Đác. Khi trời ngừng mưa, mây tạo thành những mảng sương trắng như sữa bay là là trên rừng cây, đồng cỏ. Những giọt nước to, mọng, trong suốt đậu dày trên lá rừng gặp gió rùng mình rơi xuống đất đồm độp. Đất và đá ướt sũng, mùi lá mục bốc lên hăng xè. Đất đỏ nhão quánh, bám đầy dép, nhấc chân lên, quai dép bị tuột là phải lếch thếch cầm dép. Lúc đó, đôi dép trông y như hai con cá mực to bè đỏ cạch. Không đầy một ngày, địch dùng trực thăng đổ quân xuống chiếm đóng các cao điểm vùng Nam, Tây Nam huyện miền Tây và toàn bộ huyện Sơn Hòa. Rải quân trên quy mô lớn, địch tổ chức lực lượng hỗn hợp gồm sư đoàn mãnh hổ Đại Hàn, trung đoàn ngụy số 47 và lực lượng bảo an ngụy tỉnh Phú Yên. Trên trời, trực thăng bay thành từng đoàn nối đuôi nhau tạo nên âm thanh phành phạch rền rĩ. Tiếng những chiếc tàu rọ vừa làm nhiệm vụ oanh tạc, vừa trinh sát kêu ro ro. Tiếng máy bay cào cào, chỉ điểm kêu vè vè. Tiếng máy bay phản lực bay xoáy rít ầm òa... Và tiếng pháo hạng nặng, hạng vừa, nổ chát chúa trộn lẫn với tiếng súng bộ binh kéo dài từng hồi như trống gõ. Có thể nói cả vùng trời huyện miền Tây và huyện Sơn Hòa đang bị âm thanh của sắt thép làm nứt vỡ ra. Dưới mặt đất, các tiểu đoàn ngụy và Đại Hàn từ các chi khu của ba huyện Tuy An, Đồng Xuân, Tuy Hòa 2 lặng lẽ luồn rừng tiến vào căn cứ địa cách mạng tỉnh Phú Yên. Từ trên các cao điểm vừa đổ quân chiếm đóng, bọn ngụy cũng như Đại Hàn nhanh chóng chia thành từng mũi nhỏ đi lùng sục, tìm kiếm và đánh phá các vị trí đóng quân của ta. Hơn mười ngày lùng sục, càn quét, hầu hết những vị trí ở của các cơ quan, đơn vị trong tỉnh đều bị địch sục vào đốt cháy. Địch đưa cả máy rà mìn để tìm máy móc, tài liệu của ta chôn dấu dưới đất và các hang đá nằm sâu trong rừng. Các đội tự vệ luôn cảnh giới, dẫn dắt anh em ra rừng tránh địch. Các đơn vị công an và bộ đội quần bám địch suốt ngày đêm. Người già, phụ nữ, trẻ em lếch thếch, phập phồng bám sát lực lượng tự vệ của mình, bí mật di chuyển xoành xoạch. Mai ngồi bên một bụi lách chùm tấm áo mưa che cho con. Bé Trung nằm ngủ mắt nhắm nghiền, da trắng hồng, vành môi mấp máy như cười. Ngồi sát bên Mai, thím Năm nói nhỏ: -Con nhỏ ngủ chẳng biết trời trăng mây nước ra sao...trông dễ ghét quá ta. Phải giữ ngực cho ấm kẻo nó bị nhiễm lạnh thì khốn con à. Mai rủ rỉ: -Bữa qua nó khóc, trời thì mưa tầm tã, nghĩ vừa bực vừa thương con thím à... -Ôi dà... Trẻ con là phải khóc làm sao bịt miệng được nó. Nghe thím Năm nói, Út Hân đạp vào chân Ba Hổ cười: -Vú chị Mai tài thiệt, nhét vô miệng là con bé nín liền. -Thằng ngu, tại có sữa cho nó bú. Ba Hổ và Út Hân nhìn nhau cười. Mai nhìn hai cậu du kích hồn nhiên và không rời nhau nửa bước bỗng thương hai đứa lên hậu cứ lấy sắn không ngờ gặp địch càn nên bị kẹt. Công tác bám địch, cảnh giới, dẫn mọi người luồn tránh địch, rồi nấu cơm, hái củi gần như hai đứa gánh vác hết. Tay bế con, Mai nhìn Út Hân và Ba Hổ bỗng nhớ và thèm thời kỳ chưa có chồng, cũng xốc vác chẳng kém ai. Nhìn chiếc ba lô căng phồng quần áo, tã lót, đường sữa cho bé Trung... Bất giác Mai thở dài trong nỗi lo buồn vô cớ. Tay ẵm con, vai đeo ba lô Mai cảm thấy như bị thừa ra trong đội hình những người chiến đấu. Địch thì luồn rừng bất thình lình tập kích, cái chết và sự sống luôn rình rập bên nhau, con bú, con đái, con ỉa, con khóc... quả là sự cản trở cho mọi người lúc này. Phần lo địch, phần lo cho con, Mai tọp hẳn xuống. Những giọt mưa đọng và chảy luồn vào tấm áo mưa thấm vào người lành lạnh khiến Mai vội xoay tay ôm con vào lòng và đẩy nhẹ tấm áo mưa cho nước rơi ra ngoài. Có tiếng lục cục như người bị trượt chân khiến đá lăn, tiếng lau lách ngả nghiêng trong gió như bước chân người đi, ông Tư Hàm giật mình nhổm người hớt hải: -Có địch. Ba Hổ và út Hân nắm tay ông Tư giật mạnh ra hiệu im lặng. Cả hai xách súng trườn trong lách nghe ngóng. Bé Trung ọ ọe... khóc, Mai vội vàng vạch vú ấn vào miệng con, con bé hất đầu ra khỏi vú khóc to, Mai cố nựng con mắt vẫn quan sát Ba Hổ. Ông Tư Hàm mặt xanh lét trừng mắt nhìn Mai, giọng rít trong kẽ răng: -Thiệt!...Trời báo!...Chết hết bây giờ. Ẵm nó đi chỗ khác, hai mẹ con ngồi riêng ra một chỗ. Mai nựng con, mặt hơi cúi xuống, lấy vú nhét vào miệng con, nước mắt chảy dài trên gò má. Ba Hổ cầm súng trườn đến chỗ có tiếng động nghe ngóng rồi lui về vấn an mọi người: -Một con mang... Nó chạy rồi. Út Hân nói nhỏ với ông Tư Hàm: -Để chị Mai dỗ cháu...Dù sao chị ấy cũng là bí thư. Biết là không có địch, ông Tư gắt lên: -Bí bí... Bầu bầu...Cái con khỉ. Sướng cho lắm...Bây giờ đè cái khổ lên lưng mọi người. Út Hân vẫn nói nhỏ: -Bảy người ở đây không giúp được chị ấy hay sao? Chú khó tính quá. Thím Năm đấu dịu: -Thôi bỏ qua đi anh Tư, ai bịt được miệng trẻ nhỏ. Quay sang Mai, thím Năm nhắc nhỏ: -Con nhỏ tè ướt người nên khóc đó, thay tã cho nó đi con. Ông Tư Hàm rít răng đay nghiến: -Lúc tít mắt ôm nhau cho sướng sao không khóc, bây giờ giọt ngắn giọt dài!... Út Hân nhìn ông Tư khó chịu, xách súng ra chỗ Ba Hổ cảnh giới. Bé Trung lại khóc, ông Tư Hàm nổi khùng thiệt sự: -Ẵm nhau đi trốn riêng! Ở lại thì bóp mũi cho con nhỏ nó chết đi. Mày bắt bọn tao cùng chết lây theo mẹ con mày sao?!... Ba Hổ nóng gáy: -Cả tuần nay bọn cháu bám địch bảo vệ mọi người, chú cũng bám theo bọn này... Ông Tư Hàm giận dữ chận ngang: -Mày câm đi!...Nè! Ăn nói phải có đầu có đũa nghe chưa?... Út Hân chen vào: -Chẳng biết ai đi trước thì sợ chết, đi sau thì sợ lạc, có giỏi thì đi trốn một mình... Thím Năm xua tay: -Thôi ... Tôi xin... Địch sát bên mà còn kình cãi nhau, tất cả nín đi, đừng ai nói nữa. Như bắt trúng mạch sợ chết của mình, ông Tư Hàm lặng im gườm gườm nhìn mọi người. Út Hân an ủi Mai và cố ý nói cho ông già nghe thấy: -Bọn em chết, chị chết; bọn em sống, chị sống; ai giỏi thì ngồi riêng ra một chỗ. Mưa lại ập xuống, mọi người vừa ngồi vừa vuốt nước mưa trên mặt, cố cắn chặt răng cho đỡ run, vừa chóc ngóc nghe ngóng và quan sát xung quanh. Xế chiều, trong tiếng gió mưa vật vã, Ba Hổ bỗng bật người nhổm dậy vừa chạy lùi vừa vẫy tay ra hiệu cho mọi người chạy. Út Hân ra hiệu cho Mai chạy theo mình. Mai ẵm con chạy theo sau, ông Tư Hàm hổn hển lấy tay gạt mẹ con Mai chạy bám sát Út Hân. Tiếng AK của Ba Hổ nổ ròn chặn đứng bọn địch lại. Út Hân vừa chạy,vừa cảnh giới và chờ mẹ con Mai và mọi người. Chạy tới gần suối Vân Hòa, Út Hân ra hiệu cho mọi người dừng lại nghỉ rồi sách súng đi sục sạo, xem có địch phục kích hay không. Thấy vị trí tương đối an toàn, Út Hân dẫn mọi người tới một gộp đá ngồi nghỉ và chờ Ba Hổ. Khá lâu mọi người mới thấy Ba Hổ quần áo, đầu tóc bê bết bùn đất, lưng đeo gùi tòng teng, tay xách khẩu AK, nhìn mọi người cười xòa: -Đơn vị mình an toàn chứ? Út Hân nhanh nhảu : -Không ai việc gì. Ba Hổ thở phào: -Vậy mà mình cứ lo, rủi có ai bị thương hay bị lạc thì gay go. Ba Hổ đắc ý: -Lúc mình nổ súng, bọn chúng bắn rát quá, phải chạy tạt xuống gần chân núi gặp đường đi của bọn Đại Hàn, vậy là ngược đường bọn chúng đi mình kiếm được một số đồ hộp Út Hân thán phục : -Chà!... Đã đời!... Cầm một hộp trái cây xay đưa cho Mai, Ba Hổ vui vẻ: -Ưu tiên chị ăn để có sữa cho cháu bú - Ba Hổ, lấy đồ hộp vừa lượm được đưa cho ông Tư Hàm cười cười - Cháu nộp kinh tài, chú phân cho mọi người cùng ăn. Lúc này ông Tư Hàm vui vẻ cầm bánh phân đều cho mọi người và dặn : -Bánh thì ăn, bơ thì để lại dành nấu canh. Xem chừng địch còn càn dài ngày đấy. Mai nhìn ông Tư Hàm thấy tồi tội, ngay cả lúc vui và cười nét mặt ông vẫn thoang thoảng buồn. Ở xã Phụng, ông Tư Hàm còn nhiều tuổi hơn cả ông Chín Tòng nên chẳng ai muốn đụng tới ông làm gì. Đưa hộp trái cây cho ông Tư, Mai tế nhị: -Ưu tiên cho chú và thím Năm mỗi người một nửa. Kính lão đắc thọ phải không chú Tư? Ông Tư kinh tài cầm lon đồ hộp gật gù: -Đồ hộp Mỹ chỉ có thứ này là ngon nhất. Ông già nhìn Mai bỗng rưng rưng, lấy tay dụi mắt để che đi những giọt nước mắt: -Nhiều lúc chú không phải... Bỏ qua cho chú nghe con... Thôi tao cất để giành sau sẽ tính. Ba Hổ và Út Hân kiểm tra địa hình thấy không có địch, quyết định “hạ trại” để mọi người nghỉ ngơi. Màn đêm mênh mông trùm xuống. Tiếng pháo, tiếng súng, tiếng máy bay lắng xuống. Thỉnh thoảng tiếng may bay B57 lướt qua trinh sát mục tiêu để khi phát hiện được những khu vực có ánh lửa trong đêm cắt bom tọa độ. Cái bếp được che bằng tấm tăng đi mưa và lá rừng, không để ánh lửa lọt ra ngoài khá rộng rãi. Tay ẵm con, tay xếp những thanh củi khô xuống nền đất ướt sũng, Mai đặt và gài những thanh củi chẻ nhỏ nhóm bếp. Ánh lửa hồng vụt sáng trong đêm, khói ấm thơm bay lan tỏa. Mai nghiêng người cho Út Hân đặt nồi cơm lên bếp. Lửa hút nước dưới nền đất kêu xèo xèo. Thím Năm ngồi chếch phía sau Mai thái rau môn dóc, bầu đá và lá bứa non để nấu canh. Xốc lại khẩu súng trên vai, Út Hân nhìn quanh rồi tới ngồi bên bếp: -Chị đưa tã với quần áo bé Trung em hơ cho, chút xíu là khô liền. -Để chị, em lo cảnh giới đi. -Có Ba Hổ và hai anh bộ đội bị bệnh với chú Tư nữa là gì. -Mang tiếng bộ đội nhưng mới từ Bắc vào lạ nước lạ cái, lại sốt rét liên tục. -Chị yên tâm, bọn em phân công nhau đâu vào đó rồi. Một tiếng cây khô rắc nhẹ và tiếng lầm bầm của ông Tư Hàm đang chuẩn bị cho mình một chỗ căng tăng và mắc võng... Ăn cơm xong, Mai và thím Năm dập lửa cẩn thận lấy lá khô ngụy trang và ngồi chờ Ba Hổ, Út Hân đi kiểm tra xung quanh khu vực đóng quân rồi mới căng tăng mắc võng. Ôm con ngồi trên võng, Mai với tay để vắt cơm vào túi cóc ba lô. Vắt cơm ấm nóng, những miếng sắn mềm mại quyện với cơm chắc mịn tỏa ra một mùi thơm thoang thoảng. Mai bỗng mỉm cười khi biết Út Hân lấy lá cơm nếp cho vào túi cóc ba lô nên cơm mới có mùi thơm như vậy. Mai thầm phục hai cậu du kích của mình bám địch, bám rẫy nhổ sắn về ăn, quả là gan cùng mình. Hơi canh bầu đá ợ lên mùi hăng hắc, ngầy ngậy, bụng sôi óc ách một hồi làm Mai nhẹ hẳn người. Bất giác Mai thấy xót xa cho Út Hân và Ba Hổ đi làm cách mạng chỉ có niềm tin chứ đã hiểu sâu sắc gì về cách mạng... Nếu không có chiến tranh cũng được đi học đến nơi, đến chốn rồi chứ đâu đến nỗi lồm bồm lớp ba, lớp bốn như hiện nay. Mai nằm trên võng nhìn bầy đom đóm bay chấp chới giữa màn đêm đen tím và những chiếc lá mục phát ra những ánh sáng lân tinh lờ mờ. Tiếng bầy chim “krung...kring” kêu trong như tiếng chuông. Mai nhận rõ hơi ấm của bé Trung đang lan tỏa trong cơ thể mình. Nhìn con Mai bỗng nhớ thương chồng và thầm nghĩ: “Không biết sau này lớn lên con Trung nó giống cha nhiều hơn hay mẹ nhiều hơn... Giống cha nhiều càng tốt con gái giống cha giàu sang ba họ. Câu ca xưa nói vậy mà...”, cái ông Tư Hàm thật là khó tính... Bao ý nghĩ không đầu, không đuôi xô đẩy nhau như ru mẹ con Mai đi vào giấc ngủ. Trong giấc ngủ, Mai thấy mình cùng Lâm đi trên đường rất rộng, thẳng băng và xám bóng những hàng lan can chạy dài xây bằng đá trắng chạy dọc hai bên đường. Lâm chỉ tay nói với Mai. -Em thấy con đường ngăn lũ anh vừa xây chưa? Rất chắc và đẹp. Mai lại thấy cầu Đà Rằng như một chiếc cầu vồng, màu trắng lóa nắng, xe chạy như mắc cửi và đoàn tàu màu xanh lá cây chạy lượn dài. Sông Đà Rằng mênh mông, hàng trăm tàu thuyền đậu bên nhau san sát. Những con sóng như đàn ngựa trắng tung vó chạy đua trên biển. Trên công viên nằm dọc bên đường, những trảng hoa hồng, hoa nhài, hoa đào Ấn Độ rực rỡ sắc màu. Bé Trung đang chạy trong vườn hoa đùa giỡn với đàn bướm Phượng Hoàng. Lâm chỉ cho Mai ngôi nhà sáu tầng hình hoa cúc và nói: -Bệnh viện tỉnh mới xây là nơi phân công em về công tác, ước mơ của em được thỏa mãn rồi đó. Dựa vào vai chồng say sưa ngắm nhìn sông, biển bao la, Mai bỗng thấy Lâm từ từ bay vào không trung, Mai cố chạy theo chồng mà không tài nào chạy... Trời bỗng chớp lòe một ánh sáng xanh biếc, Mai giật mình tỉnh dậy bàng hoàng thấy mình nằm trên võng, còn bé Trung vẫn ngủ say và tay đặt lên ngực mình. Tiếng máy bay phản lực B57 bay xẹt qua khiến Mai tỉnh hẳn, tiếc hoài một giấc mơ đẹp. Tiếng “bục...bục” từ phía biển rồi tiếng xoáy rít trên đầu và tiếng nổ chát chúa chụp lấy khu rừng. Mai ôm con từ trên võng của mình lao vào gộp đá. Bỗng một vật đập vào hông hất mẹ con Mai lăn trên đất bé Trung giật mình khóc thét lên. Thì ra ông Tư Hàm chẳng kể trời đất, từ võng mình lao tới hất mẹ con Mai ra ngoài để ông ta chui vào trong gộp đá. Mai ôm con, đẩy ông già Tư vào trong gộp, nằm ép xuống đất trong tiếng rung bần bật, vun vút của đất đá và mảnh pháo. Đợt pháo dứt, mọi người mới ngồi sát vào nhau. Chân ông Tư Hàm run bần bật dẫm lên chân Mai, Mai đẩy chân ông Tư nói nhỏ: -Hết pháo bắn rồi chú Tư à. Bất giác Mai thở dài “... Biết làm sao được với một ông già lúc nào thần chết cũng ám vào người. Hồi ở dưới làng ông Tư tham gia hoạt động bị địch bắt, sợ chết ông khai bậy bạ; khi thoát ly lên núi đi đâu cũng sợ chết... Gắn cho chức phụ trách kinh tài xã thì không dám xuống làng móc gạo... Còn bao chuyện nữa... Dẫu sao ông Tư Hàm cũng đứng hẳn về phía cách mạng, dụng nhân như dụng mộc... Biết tính sao bây giờ...”. Đợt pháo thứ hai rồi thư ba dội xuống, lần này thì ông Tư Hàm sợ hãi bật thành tiếng rên trong gộp đá. Cuối cùng ông Tư Hàm quyết định tháo võng vào nằm ngủ trong gộp đá mặc dù từ lúc đó cho đến sáng pháo địch không bắn tới nữa. Trời chạng vạng sáng mọi người đã dậy cuốn võng, xếp tăng cho vào ba lô và phân công nhau cảnh giới địch. Mùi thuốc pháo khét lẹt dai dẳng bám vào thân cây, đất đá. Cây rừng bị mảnh pháo chém xơ xác. Mai thư thả nói với Út Hân và Ba Hổ: -Có lẽ sáng nay địch rút quân đó. Út Hân nghi ngờ: -Sao chị biết? Ba Hổ chậm rãi: -Thì máy bay trinh sát B57 và B56 bay lượn cả đêm, rồi pháo bắn vào rừng tức là địch đã cụm lại ngoài trảng trống. Biệt kích còn ở trong rừng làm sao mà nó dám bắn vào quân nó. Út Hân à lên một tiếng gật đầu nhìn Mai nhoẻn miệng cười. Mai giảng giải: -Địch càn hơn hai chục ngày rồi còn gì. Khả năng chúng rút quân là chắc chắn. Tiếng máy bay các loại lại bay rền trời. Ba Hổ trèo lên cây thấy chiếc Si-núc hai chong chóng đậu trên đỉnh Hòn Đác khá lâu rồi cất cánh, dưới bụng máy bay một khẩu pháo buộc tòng teng từ một khoảng trống nhỏ trong rừng, ông Tư Hàm nhìn chiếc máy bay câu khẩu pháo 105 ly lơ lửng giữa trời bỗng thở phào khoai khoái, nói to cho mọi người cùng nghe: -Tổ cha cái thằng Mỹ... tưởng mày càn nữa!... Út Hân cười hì hì: -Vậy chú muốn chúng càn thêm à. Ông Tư Hàm dõng dạc: -Tao ngán gì... Đời tao đã bị biết bao trận càn như thế này rồi. Mọi người cười ầm lên. Mai ôm con, cười theo và nhìn ông Tư Hàm đang vung tay nói như diễn thuyết với Út Hân và thoáng nghĩ: “ Từ khi mình thoát ly đến giờ đã bị bao nhiêu đợt càn rồi nhỉ? Không nhớ nổi!...” Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Chín, 2023, 02:18:24 pm Chương 19 1 Sau cuộc càn nhà của hậu cứ xã Phụng bị địch đốt nên phải làm lại trên nền nhà cũ. Dưới nền nhà vẫn là cái hầm tránh pháo rất kiên cố. Những tàn cây xơ xác do pháo bắn đã héo khô, song ngụy trang kỹ ít bữa cây xanh tốt trở lại. Ông Chín Tòng thấy cần tăng cường lực lượng cho công việc thu hoạch sắn khô làm lương thực dự trữ nên để Út Hân, Ba Hổ ở lại và tăng cường thêm Đào lên hậu cứ xã. Có thêm ba thanh niên, công việc ở hậu cứ được giải quyết phăng phăng đến nỗi ông Tư Hàm phải thốt lên: -Ba đứa như ba con trâu chiến, giải quyết bao khó khăn mà hậu cứ mình lâu nay chưa làm được. Thím Năm nhẹ nhàng: -Đáng lý anh Tư phải gần gũi thân mật bảo ban chúng có cái tình là thắng hết anh Tư à. Ông Tư cởi mở: -Ừ ... Lâu nay tôi vậy ... Giờ thì sửa chị Năm à. Hậu cứ xã Phụng thêm đông khi Đoan, Lâm cùng hai công vụ tới “đầu quân” lập tức mọi người nới thêm lán và tạo cho mẹ con Mai một buồng riêng. Ông Tư Hàm không nói ra song gật gù cảm phục. Thương mẹ con Mai, anh em trong đại đội của Lâm gởi cho đơn vị hai chục ký gạo, ít hộp cá và sữa. Bữa Lâm và Đoan tới, thím Năm và ông Tư ngạc nhiên khi Lâm và Đoan è cổ gùi gạo, khoác AK còn hai cậu lính trẻ thì đeo ba lô, súng ngắn. Té ra dọc đường cả hai bị sốt nên Lâm và Đoan phải gùi, cõng cho lính. Thấy Mai gầy rộc đi, Lâm thương cảm: -Ráng ăn cho khỏe lấy sữa nuôi con. Đoan xót xa: -Con nhỏ da xanh mét...Chà!... Không ổn. Hai ngày thoáng vụt qua, chiều nay, Mai, Lâm và Đoan ngồi bên nhau nói chuyện khá lâu. Đoan nhìn Mai áy náy: -Mình nói hai người nghe và suy nghĩ, nhất là Mai... Cuộc chiến đấu còn ác liệt và lâu dài, theo mình Mai nên gửi cháu xuống làng cho Nguyệt nuôi. Lâm giãy nảy: -Không được! Nguyệt chưa chồng sao lại có con, địch nó sẽ bắt ngay. Nguyệt còn hoạt động, còn đi học... Đoan cười rung vai, nheo mắt diễu bạn: -Vậy mà đòi có vợ, ông chưa hiểu hết phụ nữ. Mình tin là Mai và Nguyệt sắp xếp ổn thỏa. Đoan nhìn Mai: -Em gái, nói thay Nguyệt dùm anh. Mai cúi đầu cảm động vừa bẽn lẽn vừa tần ngần: -Em tin là Nguyệt thay em nuôi cháu tốt lành... Nhưng vừa đi học, vừa hoạt động hợp pháp mà nuôi cháu thì rất dễ bị lộ... Đoan cười chen ngang: -Nếu bị lộ thì hai dì cháu ẵm nhau lên núi thoát ly.Từ trước tới nay đã có bao nhiêu trường hợp cán bộ gửi con xuống làng đã có trường hợp nào bị lộ đâu. Cả ba cùng cười, Mai ấp úng: -Tùy hai anh... em sao cũng được... Kể ra bé Trung còn nhỏ quá! Lâm gãi tai, gãi đầu: -Ở với Nguyệt con bé nhà mình thuận lợi hung rồi, nói thiệt... dẫu sao cũng nhơ nhớ ông à. Đoan vui vẻ: -Mình tranh thủ xuống xã bàn chuyện này với chú Chín Tòng. Việc này nhất định phải nhắn Nguyệt lên gặp mới bàn cụ thể được. Đoan tinh nghịch nháy mắt nhìn Lâm: -Mình ở đây chỉ tổ cản chân đâu còn thời gian cho các vị hú hí với nhau nữa... Mai đấm vào lưng Đoan: -Ông quỉ, sinh chuyện!... Đoan đứng dậy vỗ vai Lâm vừa đi vừa ngoái lại nói to: -Đó, con Mai nó đuổi khéo mình... Mình đi đây... Chiều nào cũng vậy, Út Hân và Ba Hổ đi rẫy về trên vai đều trĩu nặng những bó củi khô. Chiếc gùi sau lưng thím Năm bao giờ cũng đầy rau cải tàu ô, ngò tàu và sắn. Lâm nhanh miệng hỏi: -Chú Tư chưa về à? Út Hân khoái chí: -Chú ấy đang gài bẫy bắt sóc, em nói: chú mà bắt được sóc cháu sẽ để lưng cho chú đốt lửa thui sóc, ông ấy tức khí ở lại gài bẫy bắt sóc cho bằng được. Thím Năm chẹp miệng: -Cái thằng, lúc nào nó cũng tìm cách chọc ông già. Ông Tư nói với tao, ở hậu cứ chẳng còn đồ ăn, bọn bay tới không liên hoan cải thiện gì được nên ông đi bẫy sóc. Út Hân báo tin ngay: -Thím yên tâm, tối nay Ba Hổ đi bắn cải thiện. Ba Hổ giọng gọn trơn: -Anh Đoan dẫn đầu nhóm đi săn tối nay, tao đi bắn phụ, còn thiếu đứa đi ếch. Út Hân hăng hái: -Em đi với, bắn được con nai, con quảy mình hạ trại, việc bếp núc có “ếch” này lo. Ba Hổ đủng đỉnh: -Cái thằng, mày làm như thú rừng nằm trong túi lúc nào muốn lấy ra có liền không bằng. Thím Năm và Mai đang lúi húi nấu ăn, ông Tư trở về với dáng tiếc rẻ và hậm hực: -Tức muốn chết, con sóc đỏ dạ vậy mà nhoằng một cái phá bẫy nhảy mất. Mai đỡ lời: -Chim trời, cá nước một may một rủi, ngày mai biết đâu trúng. Ông Tư chẹp miệng: -Nói ra bảo tôi là duy tâm chứ cái miệng thằng Hân độc thiệt. Hèn gì ngày xưa đi săn, đi câu người ta lẳng lặng đi, nói trước một bước không qua là vậy. -Ôi dà! Cái thằng Hân, nó biết gì, chẳng qua nó khích vì nó muốn ông truyền cho nó cái nghề làm bẫy bắt sóc, bắt chồn đấy thôi. -Cũng tại tao, hạ quyết tâm bắt cho được con sóc đỏ dạ để cho nó biết mặt... 2 Muôn vạn ngôi sao trên trời long lanh. Chòm sao Bạch Hổ ở phương tây chói sáng, chòm sao Ba sáng vàng, chòm sao Chu Tước sáng đỏ. Tận xa thẳm trong dải sông Ngân mênh mông ánh sao sáng quyện vào nhau. Thỉnh thoảng một vùng sao bị mờ đi rồi sáng ra, đó là lúc những đám mây che ánh sáng long lanh huyền ảo ấy. Đoan cùng Ba Hổ, Út Hân đội đèn đi băng qua rẫy. Ba Hổ nhắc Út Hân: -Có mang theo Pin dự trữ không? -Yên tâm, địch mới càn, lượm được vô khối. Cúi xuống buộc dây giầy và nhìn chiếc giầy to bè dưới chân, Đoan cười vang: -Hơi to một chút, công nhận là đồ quân sự của Mỹ tốt thiệt. Hai đứa buộc dây giầy cho chặt, kiểm tra một lần nữa xem nào. Khoác khẩu AK, Đoan bước những bước dài trên trảng tranh. Một vùng đồi núi bát ngát lộng gió, ánh đèn pin trên đầu quất loang loáng, cả ba người vừa đi vừa quan sát. Ban ngày trông Hòn Chuông giống như một chiếc chuông chùa màu xanh vàng của cỏ tranh, nhưng ban đêm trông giống như một cái nấm rơm khổng lồ màu đen tím giữa trời... Ba Hổ và Út Hân tuy không được sử dụng đèn, song bước chân của từng người khá thuần thục. Soi đèn về phía cây cao đứng chơ vơ trên bãi cỏ tranh. Ánh đèn tạo thành một luồng sáng tròn Đoan tỳ vai ngắm bắn. Viên đạn vụt bay cùng với tiếng rơi nhẹ từ trên cây xuống. Cả ba anh em chạy tới, Út Hân reo lên: -Một con cù lần. Ba Hổ quất đèn pin soi liền vỗ vai Út Hân: -Mày thấy tài bắn của đại sư chưa? Út Hân buồn bã: -Bữa nay anh em mình gặp xui hung rồi... Ba Hổ khẳng định: -Theo tao thì coi như bình thường thôi . Út Hân khẳng định: -Gặp con cù lần làm sao không xui. Cả ba anh em lại lặng lẽ đi trên đồi tranh. Vẫn một cái đèn bắn quất ngang, quất dọc, đi gần một tiếng đồng hồ mà chẳng thấy bóng dáng một con nai, con quảy nào cả. Đi tới Hòn Chuông, Đoan dừng lại nói: -Ngồi nghỉ một chút rồi tiếp tục đi. Út Hân theo mình, còn Ba Hổ đi lên phía trên trảng tranh vòng tới đường xuống Đá Bàn rõ chưa. Vừa hút thuốc vừa nhìn về phía đầm Ô Loan, Đoan nhận ra những ánh đèn chạy dài không sáng lắm là đèn cắm đăng trên đầm. Xa tít ngoài khơi là ánh đèn của những con thuyền đánh cá sáng trắng bồng bềnh là ánh đèn nê-ông. Những ánh đèn nối kết đan dày hàng chục cây số khiến người ta có cảm giác ở đó là một thành phố trên biển. Đoan bỗng nhớ đến thời còn đi học cùng bạn ra đầm Ô Loan đi thuyền và mua cua đầm về ăn. Con cua đầm chỉ bằng nắm tay, mai cua rất mềm. Khi luộc xong chỉ cần bóc nhẹ một chút đã thấy gạch cua đóng dày trong mai và thân cua. Thịt cua mềm, gạch cua ngậy, bùi và thơm, đã ăn rồi thì hương vị không bao giờ quên được. Ngày xưa cua đầm Ô Loan là sản vật cung tiến cho nhà vua, thế mới biết các cụ xưa rất tinh tường. Hơn một tiếng đồng hồ đi vòng quang Hòn Chuông, mồ hôi Đoan vã ra ướt đẫm lưng áo. Một cơn gió mạnh ùa tới kéo theo sương đêm lành lạnh phả vào mặt khiến Đoan thoáng rùng mình. Bỗng một tiếng xoạt... xoạt... phía bên trái, Đoan quất đèn rọi theo một con quảy không chịu bắt đèn đang cong đuôi chạy, Út Hân tiếc rẻ : -Chà...Uổng thiệt. Em đã nói rồi mà anh không chịu tin, đi săn gặp cù lần là thất bại ngay. Đoan cười: -Cứ yên lặng theo anh. -Anh nói động viên em thì có. -Để rồi Út coi. Ánh đèn đang quét ngang dọc trên trảng tranh bỗng hai đốm sáng đỏ bắt thẳng đèn của mình bỗng thấy Đoan nhanh chóng chống cây chạc, tỳ súng ngắm bắn. Một tiếng nổ đanh gọn kèm theo tiếng “bục” nhẹ và Đoan liên tiếp bắn hai phát rồi cả Đoan và út Hân cùng chạy tới. út Hân reo lên: -Con nai chà. Ánh đèn rọi thẳng vào con nai đang nằm gục trước mặt, cặp sừng khẻ ngọ ngoậy Đoan cẩn thận bắn bồi rồi quay lại: -Thấy chưa Út ? -Con nai phải tới hơn trăm ký thịt ... Anh nói thiêng thiệt. Út Hân nhướn cổ hú vang, tiếng Ba Hổ hú vọng nhỏ và rền chứng tỏ còn ở rất xa Đoan và Út Hân. Hai anh em ngồi chờ gần tiếng đồng hồ mới thấy Ba Hổ vác về một con nhím. Cả ba anh em kéo nhau xuống suối xả thịt nai, nhổ lông nhím. Ánh lửa bập bùng uốn lượn, hơi lửa hút đất ướt xèo xèo xua tan cái lạnh trong đêm. Lóc một miếng thịt nai bỏ vào nồi cháo rồi lấy thịt nhím và thịt nai thái nhỏ trộn với gia vị để làm món chả nướng Ba Hổ vui vẻ: -Anh mắc võng nghỉ, bọn em làm chút xíu là xong ngay thôi mà. Nằm hoài vẫn không chợp mắt được, Đoan cầm đèn pin đi lên dốc ra chỗ hòn đá đầu trảng tranh ngồi một mình. Rít những hơi thuốc dài, Đoan đăm chiêu nhìn về thị xã Tuy Hòa đang ánh lên một vùng sáng màu da cam của ánh điện. Mới đó mà đã hơn sáu năm xa thị xã Tuy Hòa, không ngờ cậu học sinh Nguyễn Huệ năm nào bây giờ đã trở thành anh giải phóng quân... Đoan tư lự ngồi với bao kỷ niệm ... “Ngôi trường Nguyễn Huệ hai tầng núp sát bên những lùm cây phượng vỹ, mỗi mùa thi tới hoa nở đỏ như lửa, những cánh hoa rụng lả tả trong những cơn gió nam đậu dày sân trường. Hai hàng cây chạy dọc theo con đường vào hội trường mà thầy trò thường hội họp, diễn văn nghệ bốn mùa xanh rợp bóng cây. Trường Nguyễn Huệ quả là một nơi yên tĩnh lý tưởng. Xung quanh trường là những con đường nhựa thẳng tắp, những vi la nhỏ của các gia đình viên chức lấp ló trong những vườn cây. Mỗi buổi tan trường học sinh ùa ra đi chật cả đường Hoàng Diệu. Cái nhóm thằng Châu, thằng Cảnh, con Loan cùng lớp với Đoan cù mỉ, cù mì chịu thua đứng ép vào lề đường khi mấy thằng con trai lục tặc đi xe đạp đánh võng cố ý ép cả ba đứa vào một chỗ...”. Đoan thở dài: “Vậy mà thằng Châu bây giờ là sĩ quan biệt động, nghe nói nó hận đời gì đó mà tự nguyện vào lính biệt động. Còn thằng Cảnh vào cảnh sát. Con Loan lấy Mỹ nghe nói theo chồng đi xuất ngoại... Thật là trớ trêu, sau này hòa bình thống nhất gặp lại nhau sẽ ra sao nhỉ?...”. Đoan đứng dậy sảng khoái đi xuống suối. Cháo đã nhừ. Thịt nướng, thịt luộc đã được đã được thái thành từng miếng to bày lên mấy tấm lá chuối rừng. Ba Hổ chọn một tảng đá bằng bày thức ăn và đặt nồi cháo bên cạnh trông thiệt ngon miệng. Đoan gật gù: -Trông như bữa tiệc trong tiệm ấy. Ba Hổ thiệt thà: -Ăn như vầy còn ngon hơn ăn đám giỗ, em lấy mấy viên vi-ta-min C hòa với muối ớt thì ăn mới đã. Út Hân cầm chén múc cháo cho từng người hào hứng: -Ăn đi mấy anh... Ăn uống dọn dẹp xong cả ba anh em lên võng nằm ngủ. Ba Hổ, Út Hân vừa đặt lưng lên võng là ngủ say như chết. Riêng Đoan bao giờ cũng nằm một lát mới ngủ được. Nghĩ đến Lâm và Mai, Đoan thấy mừng cho hai đứa đã nên vợ nên chồng, dám làm, dám chịu, kiên quyết cưới nhau cho bằng được mà hóa hay. Xét cho cùng tại cấp trên, hai đứa báo cáo xin làm lễ cưới thì ghim lại, động viên khoan tới, khoan lui báo hại cho đôi bạn tự dưng mang vạ vào thân. Bất giác hình ảnh Nguyệt hiện lên, đôi mắt đen láy đang nheo lại nhìn như cố tình chọc cho Đoan cười. Chiếc răng khểnh nổi lên hòa quyện trên hàm răng hạt lựu càng làm cho khuôn mặt trái xoan của Nguyệt thêm duyên dáng biết bao. Thời Diệm cầm quyền, ba Đoan bị bọn ác ôn bắt, tra tấn dã man rồi thủ tiêu. Ba má Nguyệt thay nhau tới nhà động viên giúp đỡ, an ủi Đoan. Có lần nhìn Đoan và Nguyệt học bài ba Nguyệt đăm chiêu rồi buột miệng: “Tội nghiệp! Chúng đưa ảnh đi thủ tiêu, ảnh chửi lại chúng, chửi lại thằng Như phản bội... Tội nghiệp thằng nhỏ giống cha như đúc”. Rồi ba Nguyệt thoát ly và hy sinh, hai gia đình càng gắn bó với nhau, hình như trong sâu thẳm, ánh mắt má Nguyệt ẩn náu một điều gì đó chưa tiện nói ra. Bỗng Đoan nhớ tới buổi chiều mưa ào ào dội xuống mái tôn. Gió và mưa quật vào cây cối vun vút, Đoan và Nguyệt chụm đầu giải những bài toán khó. Đang học bỗng Nguyệt viết tờ giấy nhỏ trao cho Đoan: “Nguyệt buồn ngủ!... Đoan nằm xa lông mà nghỉ, lát nữa học tiếp đồng ý không?...”. Đoan gật đầu và nằm dài trên xa lông khoan khoái tai lắng nghe tiếng mưa rơi đều đều và tiếng gió đập lao xao. Đoan bỗng nói bâng quơ: -Một lát nữa là tạnh mưa. Thấy nguyệt không trả lời, biết Nguyệt đã ngủ, Đoan cầm cuốn truyện chăm chú đọc. Một lát sau thấy Nguyệt tới dúi vào tay Đoan tờ giấy: “Đố Đoan biết từ nãy đến giờ Nguyệt ngủ hay thức. Ghi vào giấy trả lời, yên lặng cho má ngủ...”. Đoan ngồi dậy viết tiếp vào tờ giấy “Lim dim con mắt đúng chưa?...”. Nguyệt xem giấy khúc khích cười: -Tài thiệt! Sao biết người ta mắt lim dim. -Thầy bói có hạng sao không đoán trúng. -Xạo!... Chọc quê em!... -Muốn ngủ mà không ngủ được, cố nhắm mắt mà mắt vẫn mở vậy không lim dim là gì. Nguyệt thiệt thà: -Ừ... em cứ nghĩ đâu đâu ấy thôi mình học tiếp đi anh. Đoan tinh nghịch: -Đánh cờ ca- rô giải trí. Nguyệt nheo mắt: -Bữa nay nhất định bị em vây cho anh hết lối chạy. -Để rồi coi. Hai mái đầu chụm vào nhau, vô tình Đoan nhận ra mùi thơm lá sả từ mái tóc Nguyệt, Đoan ngây người nhìn Nguyệt. Nguyệt ngạc nhiên: -Anh làm sao vậy? Đoan giật mình vụng về: -À không có gì... Lại chụm đầu vào học, mái tóc lòa xòa thơm mát của Nguyệt thỉnh thoảng lướt qua má mình, tự nhiên tim Đoan đập thình thịch rồi chợt nghĩ “cùng lắm xin lỗi là cùng...” Đoan nghiêng đầu hôn lên tóc Nguyệt. Vai Nguyệt bỗng rung lên, đôi mắt sáng ướt nhìn Đoan đăm đắm. Đoan đánh bạo: -Cho hôn một cái. Nguyệt vẫn khúc khích: -Bộ hôn dễ lắm sao!... Nhưng chỉ được một cái thôi nghen!... Cơn gió mạnh kéo theo mảng sương đêm lành lạnh ùa tới làm Đoan thoáng rùng mình trườn người lấy tấm dù đắp trùm lên đầu và ngủ thiếp đi trong đêm sâu. 3 Ánh sáng lộng lẫy của buổi sáng bừng trên cao nguyên Vân Hòa. Trên đỉnh Hòn Đác, Hòn La cao ngất ngưởng mây trắng như bông ôm tròn chóp núi, tạo thành những vòng bạc lấp lánh. Rất xa thị xã Tuy Hòa nổi lên giữa khoảng xanh mơn mởn của đồng lúa và biển cả bao la. Xa nữa, gần sát chân núi Đá Bia sừng sững là sân bay Đông Tác với những nhà vòm chứa máy bay uốn vòng nối tiếp nhau như sóng.Tít tắp ngoài biển giữa sóng nước mênh mông, hai chiếc tàu Mỹ trắng lốp đứng chơ vơ. Tận cùng vòm trời là vạch nước thẳng tắp như cái đập chạy dài vô tận khiến người ta có cảm giác như một bức tường xây bằng đá xám mờ phẳng phiu. Không một tiếng pháo, không một tiếng bom, không một tiếng máy bay. Sự yên tĩnh mênh mông của buổi sáng quả là hiếm có ở chiến trường Nam Trung bộ. Sương đọng dày trên cỏ tranh, quệt vào người làm cho quần áo của ba anh em ướt sũng. Đất đỏ au, dẻo quạch dính chặt vào giày làm cho giày nặng trịch. Băng qua những rẫy sắn cao quá đầu người, cả ba anh em về tới nhà trong niềm hân hoan sảng khoái. Lâm và ông Tư Hàm đỡ gánh xương nai trên vai Ba Hổ và Út Hân để lên bàn ăn. Thím Năm và Đào hối hả chặt lá cây trải dày trên nền nhà rồi để gần một trăm cân thịt nai. Các loại xoong, nồi được rửa sạch và bày ra. Mọi người xúm vào thái thịt. Ông Tư Hàm lật đật đứng dậy với chiếc gùi vừa đi vừa nói với mọi người: -Tôi ra rẫy hái rau, kiếm gia vị. Mai cầm ca cà phê đưa cho Út Hân: -Mời ba anh em trút bộ đồ đi săn ra để bọn này giặt. Cả huyện người nấu ăn không cần ba anh em phải tham gia đâu. Út Hân nhanh nhảu cầm ca cà phê san ra chén mỏng đưa cho Đoan và Hổ: -Nước cà phê đựng trong chén mỏng uống mới đúng cách. Lâm đắc ý: -Cái gì cũng phải đàng hoàng chứ. Ông Tư Hàm tới chỗ dấu đồ của mình đem về chai rượu gạo đắc ý dơ cao cho Lâm và Đoan biết. Bao giờ cũng vậy, cánh phụ nữ ăn xong rồi mà cánh đàn ông vẫn còn khề khà. Thím Năm, Mai và Đào thay nhau phục vụ bữa tiệc nhậu của cánh đàn ông. Tiếng bánh tráng nướng bẻ kêu rôm rốp, tiếng xuýt xoa vị cay nồng của ớt, của rượu quyện trong tiếng cười nói rôm rả. Ông Tư cầm ly rượu dơ cao và kéo dài giọng: -Nè...Mấy chú...Tất cả năm mươi...phần trăm... Sao hay là một trăm...phần trăm. Thấy Lâm và Đoan chỉ nhấp sơ vào ly rượu, ông Tư Hàm dang tay nói to: -Chưa được...Chưa được...Hai chú phải uống hết...Nếu không bị phạt... Út Hân biết phận chỉ ngồi ăn và gắp. Ông Tư thấy vậy khoa tay chỉ vào Út Hân: -Thằng Út ăn hùng hục như trâu sao gọi là ngon. Phải biết món nộm có cả chua, ngọt, bùi, cay, mới đủ vị. Ăn miếng thịt nướng phải biết cái ròn, ngậy mới là ngon...Tôi nói có phải không các chú? Bữa ăn vui vẻ kéo dài và trọn vẹn. Ông Tư mặt đỏ gay, chưa có bữa nào ông nói to và nói nhiều như hôm nay. Ăn uống dọn dẹp xong mọi người mới mắc võng đi nghỉ. Vừa đặt mình lên võng, ông Tư Hàm đã ngáy pho pho. Đầu ông hơi nghiêng sang một bên, những nếp nhăn ngang dọc hiện rõ trên khuôn mặt. Nhìn kỹ mới thấy trên khuôn mặt của ông Tư như ẩn chứa bao vui buồn, thăng trầm của cuộc đời mà ông đã trải qua. Ẵm con nằm trên võng, Mai nhìn ông Tư Hàm thấy tồi tội lẫn thương hại, lẫn cảm thông và trân trọng. Quả là khó mà phân tích được nỗi đồng cảm của Mai đối với ông Tư Hàm. Một cơn gió thoảng qua, ông Tư Hàm khẽ rùng mình ngồi bật dậy và ôm bụng. Út Hân nghe tiếng võng kêu đánh “soạt...” vội bật người ngồi dậy ngơ ngác. Thấy ông Tư ôm bụng chân bước xiêu xiêu liền đứng dậy dìu ông già. Ông Tư bước những bước dài hối hả. Rồi bỗng gạt phắt Út Hân sang một bên và vội vàng tụt quần ngồi thụp xuống. Mùi phân chua khẳn xông lên, bụng sôi lên rong róc, chân tay bỗng bủn rủn, ông Tư dựa vào thân cây lầm bầm: -Cái ruột không yên! Út Hân dìu ông Tư vào nhà và đỡ ông nằm trên võng. Thím Năm chẹp miệng: -Tại ăn quá nhiều, uống quá chén đó ông Tư à. Ông Tư Hàm vừa rên vừa trả lời: -Lâu ngày có một bữa ngon thành thử quá đà. Út Hân cười hì hì: -Anh Lâm, Anh Đoan cũng ăn uống như chú sao không việc gì. Ông Tư Hàm lặng im không trả lời, lấy tấm đắp tủ lên người. Ánh lửa bập bùng giữa lán tỏa hơi ấm vỗ về mọi người chìm vào trong giấc ngủ sâu để bù đắp lại những đêm mưa dầm phải nằm co ro trong gió lạnh giữa rừng. Những cây củi bằng bắp chân, bắp đùi được xếp chồng lên nhau cháy lem lém. Những ngọn gió lùa qua uốn những ngọn lửa nghiêng ngả như người đang nhảy múa. Củi khô lách tách nổ làm bay ra những tàn lửa đỏ hồng vọt lên rồi tắt ngấm. Từng bầy đom đóm ngoài rẫy bay chấp chới và tiếng dế mèn kêu ri ri... hoài trong đêm. Bỗng những ánh chớp xanh lè và những tiếng nổ xé tai chụp tới. Mai hất bọc võng ôm con bật dậy nhoài người xuống đất. Mùi thuốc đạn khét lẹt và mảnh pháo bay sát sạt như muốn xé tan căn lán. Khom người lấy lưng che mảnh đạn cho con, Mai nhoài người chui xuống hầm. Căn hầm rung lên bần bật. Người trong hầm như dán chặt vào nhau. Bỗng ông già Tư dẫy lên hai cái toàn thân mềm nhũn, đầu nghẻo xuống vai Mai. Tiếng khò...khò...ặc...ặc...của ông Tư làm mọi người hoảng hốt. Mai sờ tay lên cổ, lên mặt ông Tư Hàm bỗng hốt hoảng kêu lên: -Chú Tư chết rồi!... Lại một loạt pháo bắn tới làm cho đất trên nắp hầm rơi xuống rào rào khiến mọi người phải ngồi ép sát vào nhau. Ngồi ngoài cùng, Đoan quay vào hỏi: - Còn ai việc gì không? -Không... Đoan nói như ra lệnh: -Dãn ra đặt chú Tư nằm xuống! Trời hửng sáng. Cây cối ướt đẫm sương đêm. Những mảng sương mù vẫn bay là là trên rừng, trên rẫy. Ngọn lửa giữa nhà vẫn bập bùng cháy. Không khí im lặng nặng nề trùm lên từng người. Lâm, Đoan cùng Ba Hổ, Út Hân cùng hai cậu liên lạc đi đào huyệt. Mai, Đào và Thím Năm ở nhà sắp xếp lại quần áo, tư trang của ông Tư Hàm. Ông già Tư người lạnh cứng, da xám nhợt nằm ngay ngắn trên tấm tăng võng trải bên đống lửa. Toàn thân ông Tư không bị một mảnh pháo nào ngoài một vết thương chỉ bằng trái táo trên trán. Có lẽ ngay từ loạt pháo đầu tiên mảnh đã găm trúng đầu nên ông Tư chỉ kịp lao xuống hầm nấc lên rồi chết. Mọi người đặt ông Tư Hàm lên võng và phủ lên người ông tấm đắp bằng vải dù của chiếc đèn dù mà ổng đã lượm được rồi hì hục lấy thuốc quả pháo mù màu tím về nhuộm. Mắt ông già vẫn như hé mở. Đuôi mắt của ông Tư những nếp hằn sâu, cái giựt lên, cái kéo xuống như muốn kéo cặp mắt mở ra để nhìn mọi người và trời đất. Cặp môi ông như mấp máy, như muốn nói ra những điều với mọi người mà ông chưa nói được . Vết máu trên trán ổng được lau sạch chỉ còn một vết tím hơi dài. Nếp nhăn trên vầng trán ông Tư có cái hất lên, có cái dãn ra. Có lẽ những nếp nhăn dãn ra là những điều ông đã nói được với mọi người, đó là điều ông đã khẳng định cho mình quyết tâm một đời chiến đấu hy sinh cho cách mạng. Những nếp nhăn nằm vằn vèo trên trán phải chăng là dấu ấn của những tháng năm trăn trở về những uẩn khúc mà thời gian ông sống trong tù, trong quản thúc của địch mà Đảng chưa có điều kiện lý giải giúp ông. Thím Năm lấy tờ giấy pô-luya trắng tủ lên mặt ông Tư Hàm rồi nức lên: -Mới đó anh ấy còn!... Giờ đã đi rồi!... Mai đỡ thím Năm đứng dậy an ủi: -Chiến tranh thím à, cái chết có từ ai đâu. Ấy vậy rồi đôi vai Mai cũng rung lên, gục vào thím Năm, cả hai thím cháu ôm nhau khóc rưng rức. Tiếng Út Hân nói trong nỗi buồn lẫn bâng quơ: -Tối nay... Chỗ chú Tư...trống rồi!... Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Chín, 2023, 03:15:21 pm Chương 20 1 Đào, Út Hân, Ba Hổ cùng Đoan về căn cứ xã Phụng báo tin chú Tư Hàm hy sinh cho anh em dưới căn cứ biết. Toàn bộ đồ đạc, tư trang của ông Tư Hàm, Đoan mang về bàn giao cho ông Chín Tòng. Biên bản kê khai đồ đạc và tư trang của ông Tư được làm rất kỹ, có chữ ký của tất cả những người chứng kiến. Ở với ông Chín Tòng khá lâu biết rất coi trọng công tác tử sĩ nên Mai viết thư trình bày rõ trường hợp hy sinh của ông Tư Hàm để ông Chín Tòng xuống làng báo tin và trao tư trang cho gia đình ông Tư. Người đi rồi nhưng kỷ vật còn đó, nhất định con cháu ông Tư Hàm lại nối bước ông đi đánh Mỹ cứu nước. Trong thư viết cho ông Chín Tòng, Mai không quên việc thím Năm nhắn anh em mua nhang gửi lên hậu cứ để thắp cho ông Tư. Trong nhà chỉ còn lại Mai và Lâm. Lâm ẵm bé Trung nằm trên võng. Từ khi sinh con đến giờ, bữa nay Lâm mới được ẵm và đùa giỡn với con. Bé Trung cười toe toét, tay sờ lên cằm cha. Lâm hôn con, con bé vừa đau vừa nhột khi cái cằm đầy râu chạm vào má. Lâm nựng con: -Ba xin lỗi, ba quên cạo râu. Nô đùa chán hai cha con ôm nhau ngủ. Mai lấy quần áo của chồng, tã lót của con đem đi giặt. Nhìn những chỗ rách, trên quần áo chồng, Mai thấy thương chồng và tự trách sao không để ý khâu vá để chồng mặc rách. Quả thực quần áo của Lâm không có bộ nào mới cả, không những vậy, áo quần cháy lỗ rỗ vì bị dính tàn thuốc. Từ suối về, Mai phơi quần áo, tã lót rồi lẳng lặng ngồi cạnh chồng. Nhìn chồng và con nằm ngủ Mai bần thần: “Lâm khổ quá!... chiến đấu đã căng thẳng lại lo cho vợ, cho con, cứ đà này chẳng mấy lúc mà nếp nhăn đến trước tuổi... Ở đơn vị, biết tâm sự cái khó với ai, chỉ biết lấy thuốc hút để tâm sự một mình...với mình!...” Mai mỉm cười nhìn chồng “ Tội nghiệp anh chàng đến là ham con...cứ dành ẵm mà tới bữa nay mới được ẵm con”. Mai lấy chiếc khăn trong ba lô ra thêu, chiếc khăn trắng muốt, xung quanh khăn là đường viền bằng chỉ thêu màu xanh lá cây. Mai thêu cho chồng chiếc khăn để khi nhìn thấy khăn đỡ nhớ mẹ con Mai. Sực nhớ chùm hoa trên chiếc khăn mà bé Trung được tặng khi mới sinh. Lấy khăn ra, Mai ngắm nhìn chùm hoa và dòng chữ : “Tặng bé Thủy Trung”. Trong khăn lại thêu cả câu thơ: Cháu là hoa của núi rừng, là mặt trời nhỏ sáng bừng tương lai Chú của cháu :Tự Tôn Mai nhìn chùm hoa trên chiếc khăn của Tôn bất giác cười: Câu chuyện Lâm đặt tên cho con là Trung bắt nguồn từ chiếc khăn thêu của Tôn. Hồi Mai mang bầu, trên đường lên Tỉnh họp ghé vào đại đội 25 thăm Lâm. Việc Mai sinh con trai hay con gái bỗng nổ ra cuộc tranh luận của anh em trong đơn vị và được chia làm hai phe rõ rệt: Với những kinh nghiệm gia truyền, thâm niên coi tướng số kết hợp với các lý thuyết y học đông tây kim cổ, hai phe đều đem ra bảo vệ ý kiến của mình và chẳng bên nào chịu thua bên nào. Cuối cùng một anh lính trẻ đưa ra ý kiến hai phe phải ký biên bản làm bằng chứng, chờ chín tháng mười ngày Mai sinh thì mới xác định được phe nào thắng cuộc. Phe thua thì cứ trên danh sách đã ghi tới lục ba lô lấy đường tập trung lại đưa cho anh Hồi nấu chè liên hoan. Giấy này đưa cho anh Hồi giữ và bầu anh Hồi vừa làm trọng tài và kiểm sát. Phe tiên đoán con trai đưa ra hơn mười tên nào là: Trung Dũng, Trường Sơn, Minh Triết..v.v.. Phe tiên tri con gái cũng đưa ra hơn mười tên đẹp như: Kim Oanh, Ngọc Hà, Minh Hằng..v.v... Duy chỉ có một mình trung đội trưởng Tôn xông vào đề nghị : -Thắng thua y như khế ước mà thực hiện, còn việc đặt tên phải có ý nghĩa tớ xin đặt tên là Lê Nguyễn Thủy Trung. Trung ở đây là “tê e rờ ung trung” nghe chưa các vị? Một anh chàng kêu lên: -Ông đồ ơi, ông lại giở Hán chùm ra rồi đấy. Một người khác đế vào: -Chèn đét ơi!.. Nam Mô a di đà Phật...và lạy Chúa... Ông đồ à, ông cao lênh khênh, đôi vai chè bè, khăn xếp áo đóng nào chịu nổi thân hình ông. Mọi người cười ầm lên, Tôn cố nói xong không lại với mọi người. Cuối cùng lại anh lính trẻ dàn xếp: -Đề nghị im lặng...Ưu tiên lớp trẻ nói chứ. Không cho em nói là em phá đám đấy. -Thôi...Cho nó nói. -Nào đặt tên cho vợ tương lai đi em. Chàng lính trẻ e hèm một tiếng rồi dõng dạc: -Đề nghị anh Tôn, tên cúng cơm là Văn Tôn, hiệu là Tự Tôn, xin trả lời ý nghĩa cái tên đại ca đặt. Tôn cười hà hà: -Này... Nói có sách, mách có chứng. Đây là quà tớ tặng đôi uyên ương. Tôn dơ chiếc khăn lên dứ dứ. Chàng lính trẻ hỏi vặn: -Anh lấy ở đâu ra cái khăn, hay là đi xin rồi tặng lại? Tôn lại cười hà hà: -Tớ quen một nàng bên Tỉnh ủy. Nàng quen tớ trong một buổi trưa hè, hai đứa gùi gạo tóe mồ hôi. Cảnh trời, trăng, mây nước mắt tớ tóe đom đóm vì mệt. Tớ xin nàng ngụm nước thế là quen. -Rồi sao nữa, tiếp tục. -Cô em viết thư qua, tớ viết thư lại, thấy chữ tớ đẹp, cô em nhờ tớ viết giúp khăn thêu, tớ liền nhờ cô em thêu giúp chiếc khăn. Cô em cảm động việc làm của tớ viết thư sang nhận lời và còn nhiều tình tiết thiết tha..v.v... -Thì giải nghĩa đi, để anh Lâm chị và chị Mai duyệt. -Chữ Thủy là thủy chung. Chữ Trung là trung hiếu. Nào thấy ý chưa? -Nghe...Có lý đấy. Tôn tự hào: -Trai hay gái tên ấy đều được hết. Tôn đưa khăn cho chàng lính trẻ: -Này giao nhiệm vụ cho thằng con rể, tới gặp bố mẹ vợ tặng quà cho vợ hãy còn trong bụng mẹ, có tao đi kèm. Trong lúc vui, Lâm và Mai nhìn nhau nhận lời ào vậy mà chuyện đùa thành thật. Nhớ đến Tôn, Mai thoáng buồn và thở dài: “Chữ chú Tôn còn đây mà người đã hy sinh rồi. Tội nghiệp!... Lúc bé Trung ra đời cũng là lúc đại đội 25 đánh địch ở xóm Cây Dừa huyện Củng Sơn, Tôn hy sinh, trong ba lô chỉ có mấy bộ quần áo đã sờn và cuốn sổ tay để ghi nhật ký. Lâm đã cẩn thận gửi theo đường giao liên để gia đình giữ làm kỷ niệm, không hiểu có tới nơi được không?!..”. Ngồi lặng yên trong miên man xao động, Mai nhớ bài hát mà Tôn hát hôm Mai đến đơn vị thăm Lâm. Chẳng hiểu ai sáng tác bài hát đến là hay: “Nắng lên, nắng lên đi cho hoa gạo quê tôi rực rỡ. Xuân đến từ cửa Đông cho hoa chào đón xuân về...” Mai quên mất lời bài hát đó rồi. Hẳn thành phố Nam Định quê Tôn đẹp lắm, Mai nghĩ thành phố Nam Định, chắc cũng như thị xã Tuy Hòa, và có lẽ lớn hơn Tuy Hòa nhiều. Bé Trung cựa mình Lâm bừng tỉnh, thấy vợ ngồi cạnh, vội ngồi dậy đưa con cho Mai ẵm: -Để anh mắc võng cho hai mẹ con nằm. Em nghỉ một lát cho đỡ đau lưng. -Dạ... Nằm sát bên chồng, Mai ẵm con, vạch vú cho con bú nhìn chồng âu yếm. Gió rất nhẹ, nắng nhạt xuyên qua lá cây và nắng lung linh nhảy nhót trên mặt đất. Tiếng con chim “Bắt cô trói cột...Khó khăn khắc phục” kêu vọng lại đều đều. Lâm nắm tay vợ mỉm cười. Chiến tranh và cái chết lúc này bỗng tan biến trong họ và chỉ còn lại nỗi rạo rực khát khao của tình yêu đang tràn ra mênh mông. 2 Từ căn cứ trở về hậu cứ sản xuất của xã, Đoan đem về bao chuyện nóng hổi ở dưới địa bàn kể lại cho mọi người: Chuyện ông Chín Tòng về xóm Than công tác bị địch phục kích suýt chết làm mọi người mừng mà lại thêm lo. Bọn địch nói diệt được hai cộng sản cồ là Mai và ông Chín thì tình hình xã Phụng sẽ yên ổn. Chuyện giữa nhà ông Chín Kiều và ông Bảy Phấn vì bênh con mà mâu thuẫn giữa hai gia đình trở nên gay gắt. Ông Chín Kiều cho nhốt gà của mình rồi lấy thuốc chuột trộn với bắp xay nhử cho gà ông Bảy Phấn ăn. Ông Bảy Phấn bắt được vậy là hai nhà đánh nhau, ông Chín Tòng phải thay mặt xã hòa giải mới yên. Nói chuyện một thôi, một hồi rồi Mai giục Lâm và Đoan đi mắc võng ngủ, còn mình chuẩn bị quần áo và lương khô cho hai anh em về đơn vị. Ăn cơm xong nghỉ một lát thím Năm và mẹ con Mai đi tiễn Lâm tới mối đường số sáu mới dừng lại. Mai ngơ ngẩn ẵm con nhìn theo chồng đến nỗi thím Năm phải giục: -Thôi mình về, đưa con nhỏ tao ẵm cho. Thím Năm vừa chìa tay thì bé Trung đã vội vã sà vào lòng bà. Thím Năm vừa đi vừa nựng: -Cha mày... quen hơi bà rồi, quấn suốt... Mai nhìn thím Năm cảm động: -Có thím bên cạnh mẹ con cũng đỡ khổ thím à. -Mày nói gì lạ vậy, làm cách mạng phải ôm nhau mà sống chứ, có con Trung bà cháu tao quấn quýt cũng đỡ buồn mày ơi. Hai thím cháu vừa đi vừa nói chuyện, thím Năm lỷ kỷ: -Bữa về làng tao ẵm con thằng Hai nhà tao mà thằng bé lạ hơi không cho tao ẵm, tao tủi thân ôm ào lấy nó rồi đưa kẹo cho nó ăn vậy mà thằng bé cứ khóc giẫy nãy lên, tao đành chịu thua, phải đưa cho mẹ nó ẵm. Thoáng nhìn đôi mắt thím Năm ướt nhòa, Mai nén tiếng thở dài nghĩ thầm: “Tội nghiệp bà già hay tủi thân tủi phận!...”. Đi sát thím Năm Mai nhỏ nhẹ: -Thím à, máu nào, ruột đó, cứ ở một hai bữa là nó đeo lấy nội, lúc đó có dứt ra cũng chẳng được đâu. Thím Năm chép miệng: -Nhưng biết làm sao... Lâu lâu mới được về nhà một tối rồi lại vội vội, vàng vàng ra đi, làm sao mà cháu bén hơi bà. Bất giác Mai thở dài nói với thím Năm: -Mọi người đều phải chịu đựng như vậy thím à. Hai thím cháu về nhà, thấy thím Năm ríu rít với bé Trung, Mai xách cuốc, đeo gùi ra rẫy đào sắn. Mọi bữa đông vui vậy, bây giờ rốt cuộc chỉ còn lại hai phụ nữ và một trẻ thơ lo mọi công việc sản xuất ở hậu cứ. Nếp sống gian khổ và ác liệt của chiến trường tạo cho cho Mai thành thói quen đến nỗi thím Năm thấy Mai lấy gạo nấu cơm phải kêu lên: -Sao hai người chỉ có nửa lon gạo. Gạo dưới căn cứ mới đưa lên, lại thằng Đoan, thằng Lâm vác về tất cả tới gần trăm ký mà mày kiệm giữ vậy. -Có lương khô thịt nai lại canh tập tàng tăng sắn lên mà ăn cũng không xót ruột đâu thím à. -Tao thì sao cũng được, còn mày ăn vậy lấy đâu ra sữa cho con bú? Mai cười hiền lành: -Đu đủ xanh, hoa chuối luộc toàn là thứ ăn vào mát sữa Thím à. -Cái con nhỏ!... Tao chịu mày!... Thím Năm ngồi võng ôm bé Trung hát ru, Mai lặng nghe câu ca mới ngọt ngào ý vị làm sao: Một mai con cá hóa rồng, đền ơn bác mẹ dưỡng công sinh thành. Cầu mong cho con ăn no, chống lớn Mai thầm nghĩ: “Đời nó lớn lên chắc mới hết chiến tranh, không phải bỏ học giữa chừng như mẹ nó...” Cứ vậy Mai vừa nấu ăn vừa nghĩ bâng quơ, và bỗng giật mình khi thím Năm hỏi: -Bay quyết định đưa con bé Trung về dưới làng sống hợp pháp à? -Dạ...Cháu ngủ rồi hả Thím? -Ừ, tao ru nó ngủ rồi, mày có nghe tao hỏi không? -Dạ...có, việc đó tùy anh Lâm và anh Đoan quyết định . -Còn mày, cũng phải có ý kiến chứ Mai. -Dạ...Cháu sao cũng được, thuyền theo lái, gái theo chồng mà Thím. Thím Năm lưỡng lự: -Kiếp đàn bà mình là vậy con à, nhưng tao nghĩ lon son cũng con với mẹ, lẹ chẹ cũng mẹ với con. Bây giờ bà cháu quen hơi, xa nó đến tao cũng nhớ chứ huống chi mày. Mai thú thiệt: -Xa nó chắc nhớ con không chịu nổi... Nhưng tình cảnh vợ chồng con đều thoát ly, anh Lâm nghĩ như vậy cũng phải. -Biết là vậy nhưng tao vẫn cảm thấy nó thế nào ấy. Thấy Mai im lặng thở dài, thím Năm bắt qua chuyện khác: -Hồi sáng thì đông vui, giờ chỉ còn lại tao với mày và con nhỏ. Tao thấy nhà không có đàn ông sao mà lạnh ngắt. Mai phì cười: -Thì còn lại phụ nữ ba đảm đang. Thôi thím cháu ta đi ăn cơm kẻo bé Trung nó thức giấc. Đang ăn cơm, bỗng có tiếng người xôn xao ngoài rẫy, chỉ thoáng một chút một cậu bộ đội mặt non choẹt khoác khẩu AK bước vào nhà. Nhìn thấy Mai và thím Năm, cậu bộ đội quay lại gọi to: -Vào đây...Vào đây... Có nhà đây này. Cậu ta bẽn lẽn và lúng túng: -Thím và chị... cho bọn em ở nhờ... Nấu ăn xong bọn em đi ngay. Mai vui vẻ: -Củi bếp sẵn, các đồng chí cứ tự nhiên, các đồng chí đi đâu? -Dạ... Chúng em đưa một đồng chí bị sốt rét ác tính đi viện. Viện Trúc Bạch có gần đây không thím? Thím Năm bật cười: -Tội chưa... Còn hơn nửa ngày đường nữa mới tới. -Thế mà thủ trưởng cháu bảo đi gần ba tiếng đồng hồ là tới viện. Mai hỏi đồng chí bộ đội: -Các đồng chí mới vào hay sao mà không biết đường đi? -Dạ... Chúng em mới vào chiến trường. Mai nhìn chàng bộ đội ngơ ngác như con nai giữa rừng thư thả nói: -Cứ gọi anh em vào nấu ăn rồi chị chỉ đường cho mà đi. Địa hình không thông thạo dễ đi lạc lắm. Tốp bộ đội cáng bệnh nhân ùa vào nhà như một luồng gió. Thấy chủ nhà chỉ là hai phụ nữ và một cháu nhỏ, tốp bộ đội ý nhị xuống suối xách nước, ra rẫy kiếm củi để bà già và phụ nữ đỡ vất vả. Mai chỉ vào gùi sắn mới đào: -Lấy sắn ghé cơm ăn cho no em à. Cậu bộ đội lúng túng: -Chúng em không có gì để đổi lấy sắn chị à. Mai bật cười: -Sắn cách mạng đấy, ăn đi, không phải đổi chác gì đâu. Mừng quá cậu bộ đội cảm ơn và thành thật: -Bụng lính như cái máy nghiền cơm, ăn chưa đầy tiếng đồng hồ đã thấy đói thắt ruột, thắt gan mới lạ chứ, đi ròng rã ba tháng từ Bắc vào chiến trường, bọn em ăn toàn sắn và rau rừng. Mai thông cảm: -Vào chiến trường thì phải khổ chứ. -Nghe trên đài nói em cứ tưởng vào miền Nam chỉ có đánh giặc chứ có nói đói đâu. -Ừ thì nhà báo họ làm công tác tuyên truyền tư tưởng chúng mình mà. Một cậu đi ngoài rẫy hái rau về hỏi thím Năm: -Ở đây không có bí à thím? -Không có. -Thế mà cháu cứ đi tìm hoa bí. Thím Năm xúc hai tô thịt nai đưa cho cậu bộ đội: -Cho vào rau nấu canh cho anh em ăn. Chàng lính nhìn nhìn khẩu AK để bên ba lô của Mai ngạc nhiên: -Thế dân ở đây cũng được phát súng hả chị? Mai nhìn cậu lính nheo mắt tinh nghịch: -Vậy dân không biết bắn súng, không biết đánh giặc à? Thấy cậu bộ đội lúng túng, Mai vui vẻ: -Nói để các đồng chí yên tâm, đây là nhà của hậu cứ sản xuất xã Phụng. Trước sau gì thì các đồng chí cũng về xã Phụng công tác thôi mà. Như gỡ được thế bí anh chàng reo lên: -Em hiểu rồi. Chị có biết không, một lần trên đường hành quân chúng em vào rẫy thấy những quả bí to như quả dưa hấu, tưởng là bí của cách mạng hái về ăn thế là dân đến đơn vị bắt đền có chết không chứ. Thấy Mai vui vẻ, anh chàng hứng chí: -Hôm sau bọn em bị tiểu đoàn cảnh cáo. Thế là một anh cán bộ đại đội cũng ở chung với chúng em trong trạm giao liên dạy cho một bài thơ, để em đọc cho chị nghe: Tà tà chân bước vào nương Tay ôm trái bí, miệng thương đồng bào Đồng bào bắt hỏi làm sao Rằng: Em giải phóng mới vào tới đây. Nghe câu thơ mọi người cười ầm lên. Anh chàng vừa nhặt rau mặt vẫn tỉnh bơ: -Còn quần áo đem đổi lấy gà, lấy sắn ăn hết rồi. Một cậu bộ đội khác thanh minh: -Bí quá nên bọn em ăn cắp bí của đồng bào về ăn. Đồng bào bắt được đem bọn em tới trạm giao liên kiện cách mạng. Ông trạm trưởng trạm giao liên đến vừa nói tiếng Kinh, vừa nói được tiếng dân tộc chúng em được thả về nên mới có câu thơ đó. Trên võng, đồng chí bộ đội sốt mê man, trong cơn mê sảng liên tục gọi mẹ làm Mai và thím Năm xốn xang cả ruột gan. Đưa con cho thím Năm ẵm, tới sờ trán người bệnh, thấy mặt đỏ ửng và môi khô lại, Mai lấy khăn ướt đắp lên trán bệnh nhân hỏi đồng chí y tá: -Em cho uống thuốc và tiêm chưa? -Em tiêm và cho uống thuốc rồi. -Mưa gió liên tục, mới vào chiến trường dễ bị sốt rét ngã nước lắm. Mới lớn lên sức chịu đựng có hạn thành ra bệnh nặng càng nặng thêm đấy. Thím Năm bảo Mai: -Hay là lấy lá trầu không quệt với vôi đắp vào gan bàn chân, gan bàn tay cho bớt sốt. Mai à, con đi hái ít rau diếp cá và kiếm cỏ mực về đâm ra vắt lấy nước cho nó uống. Mai gật đầu: -Dạ, loại cỏ này hạ nhiệt nhanh không kém gì thuốc tây. Thím Năm bùi ngùi: -Tội nghiệp... Con gà con mới rời ra khỏi cánh mẹ đã phải đi hàng ngàn cây số, tới nơi chưa được nghỉ ngơi đã đặt ba lô đi đánh giặc ngay làm sao mà không bị bệnh. Đồng chí y tá thanh minh: -Hơn mười ngày đánh nhau dưới làng, quần áo bọn con gần như lúc nào cũng ướt. Lạnh đến mức môi đứa nào đứa nấy tím ngắt, răng đánh vào nhau cầm cập. Tối đến bọn con tranh thủ vắt quần áo hong cho khô, sáng lại mặc vào, không có thời gian giặt. Cầm thuốc về, Mai vội ôm con vạch vú cho bú, thím Năm càu nhàu: -Đi gì mà lâu lắc, con mày ở nhà khát sữa dỗ hoài vẫn không nín. Thím Năm cầm nắm lá rửa sạch lấy một ít muối cho vào cối đá giã nhỏ, vắt lấy nước rồi bưng chén thuốc đưa cho đồng chí y tá: -Uống xong khoảng một tiếng đồng hồ là hạ nhiệt ngay. Ẵm con ngồi trên võng, Mai nhắc thím Năm: -Thím mở ba lô của con lấy viên thuốc hạ nhiệt cho y tá điều trị cho em nó mau khỏi. Nhìn đồng chí y tá cho bênh nhân uống thuốc, Mai tận tình: -Lấy thìa đổ thuốc cho bệnh nhân em à. Xúc thuốc để lên miệng bệnh nhân đồng chí y tá dỗ dành: -Uống đi, thuốc gia truyền đấy. Thấy y tá ngoan ngoãn làm theo sự hướng dẫn của mình, Mai bật cười: -Làm như vậy có được không bác sĩ? Đồng chí y tá lúng túng trả lời: -Thú thật với chị việc chăm sóc bệnh nhân em chưa có kinh nghiệm. Bất giác Mai nhận thấy đồng chí bộ đội có nét mặt hao hao giống em trai mình. Em trai của Mai đã được đưa ra Bắc học ở Đông Triều. Thư của nó gửi nói về than đá Đông Triều, về cái lạnh mùa đông làm cây rụng lá để trơ lại những thân cành xơ xác, khẳng khiu. Mai bỗng tự hỏi không biết em trai mình có học kịp bạn bè không, tiết trời lạnh như vầy làm sao chịu nổi. Nghĩ tới em trai, Mai thấy mừng vì dù sao việc học hành của nó cũng đến nơi đến chốn hơn mình. Đường tới bệnh viện còn xa, trời lại sắp tối, khiêng cáng mà lạc trong rừng thì thật khốn khổ, tốp chiến sĩ đưa bệnh nhân đi viện quyết định ở lại. Mọi người mắc võng xung quanh đống lửa ở giữa nhà, võng đan chéo nhau thành nhiều tầng. Bệnh nhân ưu tiên cho nằm gần lửa, vì vậy mỗi lần y tá muốn chăm sóc bệnh nhân phải luồn qua mấy cái võng. Có lẽ do thuốc và hơi ấm của lửa làm cho cơn sốt của bệnh nhân giảm đi nên không mê sảng nữa, hơi thở đều đặn hơn nhiều. Cơn mưa đêm bỗng ập xuống, hạt mưa to và nặng bay xoáy trong gió rừng khiến người ta có cảm giác là những mũi khoan đang khoan xuống đất để nhổ tróc gốc cây rừng lên. ánh đèn pin loang loáng soi vào đầu dây võng cột sít vào nhau. Một anh chàng đập mạnh vào võng hối hả: -Dậy... Dậy... dây võng của ông cột chồng lên dây võng của tôi rồi nằm ngủ say như chết ấy. -Có chuyện gì đâu? -Nhưng mưa ướt hết võng đây này. -Đang ngon giấc... Rõ chán... Lắm chuyện. -Ngủ như ông thì địch tới sát nách cũng chẳng biết. -Vâng, sao đêm nay ông tiến bộ thế. Mọi tối ông trèo lên võng là ngáy pho pho, địch nó tới xẻo chim ông mang đi ông cũng không biết lại còn chê tôi. Nhiều tiếng cười rộ lên, một anh chàng xen vào: -Thôi tôi xin hai bố cột lại võng rồi yên vị, thật là: Lươn ngắn lại chê trạch dài thườn bươn méo miệng chê trai lệch mồm. Tiếng cười rộ hẳn lên, nhiều tiếng bình luận xen vào. Thím Năm nằm trên võng dàn hòa: -Bọn bay đang sức ăn, sức ngủ, nói qua nói lại hơn thua lời nói có ích gì đâu chà... Lạnh quá, ai nằm gần lửa cời than, xếp thêm củi cho cháy to lên chút nào. Ôm con nằm nghe chuyện lính bất giác Mai mỉm cười khoan khoái và ấm áp thầm nghĩ: “Đúng là người trăm xứ đi làm cách mạng có khác; vô khối chuyện...”. Tiếng cậu y tá càu nhàu: -Nói nhỏ thôi mấy ông để cho thằng Liên ngủ. Nó mê sảng suốt ngày mới chợp mắt được một lúc thì lại làm ầm lên. Đêm lại chìm sâu vào trong giấc ngủ. Nghe kỹ trong lán lúc này thấy rất rõ tiếng thở đều đều trong từng cánh võng. Tiếng mưa rơi, tiếng gió rừng, tiếng réo rất xa của con thác vọng tới hòa quyện vào nhau ru mọi người vào giấc ngủ. Ngọn lửa trong đêm vẫn cần cù uốn lượn sưởi ấm và thi thoảng có tiếng một anh lính nói mớ trong giấc ngủ say. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 14 Tháng Chín, 2023, 09:42:34 am Chương 21 1 Ở Phú Yên có tục cho rằng con cù lần xuất hiện ở đâu thì điềm xấu nhất định sẽ xảy ra ở đó và không hiểu ai đã làm tổng kết thời gian, địa điểm và sự kiện về con cù lần. Năm 1954, con cù lần xuất hiện ở phường 6 thị xã Tuy Hòa thì Pháp dùng tàu chiến đổ bộ đánh chiếm thị xã Tuy Hòa. Thị xã Tuy Hòa lúc đó thực hiện triệt để chủ trương tiêu thổ kháng chiến đánh Pháp. Cũng năm đó con cù lần xuất hiện ở Hòn Hèo, Pháp bị ta đánh bại trong chiến dịch Hòn Hèo nổi tiếng. Từ năm 1959 là năm xã Hòa Thịnh đồng khởi đến nay những cứ điểm Ngụy và Đại Hàn như: bót Pơ-Tý huyện Tuy Hòa một, Hòn Đình huyện Tuy An, Hòn Bứa huyện Đồng Xuân, núi Sầm thị xã Tuy Hòa... Các cứ điểm trên trước khi bị ta diệt gọn đều có con cù lần tự nhiên mò vào. Bọn địch bắt con cù lần thả về núi và cúng giải hạn nhưng tai họa vẫn giáng xuống đầu chúng. Có thể nói biểu tượng con cù lần ám ảnh khá sâu rộng trong lòng dân, lính ta cũng như lính địch. Chuyện Đoan bị thương đang nằm điều trị tại bệnh viện Trúc Bạch cũng bắt đầu từ con cù lần: lần thứ tư con cù lần xuất hiện ở cứ điểm núi Sầm làm bọn bảo an hoảng sợ thực sự. Cả sĩ quan lẫn lính trên cứ điểm núi Sầm tổ chức cúng giải hạn và mời cả thầy chùa lên cứ điểm tụng kinh, rải bùa yểm không cho cộng sản tới đánh. Sau khi cúng xong chúng tổ chức cuộc càn đặt tên là “Đưa ông cù lần về núi”. Bất phước là sau khi địch thả con cù lần thì du kích xã Phụng đi bám địch gặp ngay nó ngồi vắt vẻo trên cây. Vậy là tổ du kích bấm nhau rút lui để tránh họa cù lần. Về tới căn cứ, miệng truyền miệng toàn bộ du kích xã Phụng lo bị địch tập kích bất ngờ. Chuyện tới tai ông Chín Tòng, rất bực ông họp toàn xã xác định và giải thích cho mọi người rõ đó là tư tưởng mê tín, dị đoan, sợ xui xẻo là con đường dẫn ta vào ngõ cụt và chắc chắn thất bại. Để chứng minh cho mọi người thấy hên xui là do mình tạo ra, con cù lần không ảnh hưởng tới cách mạng, ông Chín Tòng tổ chức đợt công tác dài ngày dưới làng để làm bài học giáo dục cho anh em cán bộ chiến sĩ xã Phụng. Ông Chín Tòng nói thì nói song tâm trạng anh em du kích xã Phụng vẫn phập phồng trong nỗi lo sợ vô cớ. Trùng hợp với thời gian con cù lần xuất hiện là đơn vị H9 được lệnh tiêu diệt cứ điểm núi Sầm. Phương châm đánh nhanh, diệt gọn buộc đơn vị phải nghiên cứu rất kỹ cứ điểm núi Sầm. Đoan vừa được đề bạt làm tiểu đoàn phó H9 nên dẫn quân nghiên cứu trận địa. Hướng công tác của xã và H9 độc lập do đó phải dùng tín hiệu bắt liên lạc khi đi cũng như về. Đêm nghiên cứu trận địa núi Sầm lần thứ ba, trong lúc vượt rào thì một đồng chí trinh sát bị hy sinh vì đạn trung liên của địch bắn quét vào hàng rào cứ điểm. Đoan cùng đơn vị phải tổ chức đưa liệt sĩ về căn cứ xã. Cùng thời gian đó, mũi công tác của cán bộ, du kích xã Phụng cũng băng đồng trở về. Hai bên gặp nhau chưa kịp dùng mật hiệu liên lạc thì một du kích xã Phụng đã hốt hoảng bắn ào. Nghe tiếng AK, Đoan biết ngay là du kích liền hét to: -Đừng bắn!... Người nhà!... Lập tức cậu du kích rê súng bắn thẳng về phía Đoan. Khi hai bên nhận ra nhau thì Đoan đã bị thương và đồng chí liên lạc hy sinh. Lục tục khiêng thương binh, tử sĩ về căn cứ xã Đào, Nhự và Chín Phượng khóc mùi. Mấy cậu du kích ngơ ngác, lủi thủi như người mất hồn. Ông Chín Tòng giận dữ quát lên: -Im hết cái miệng méo của lũ bay đi! Mấy thằng trời đánh thánh vật! Sao chúng mày ngu như bò vậy?. Trời!... Út Hân lí nhí: -Tại cái thằng lúc nào cũng mặt xanh như tàu lá, nhìn gà hóa cuốc nên bắn bừa. Ông Chín Tòng bứt rứt: -Sao mà tôi khổ thế này!...Ông trời!... Đánh địch không chết lại bị chết bởi đạn của mình. Cái đầu mê tín, ngu dốt là vậy đấy!... Rút kinh nghiệm thì người đã hy sinh và máu đã đổ, mọi người ngẩn ngơ nhìn hai tử sĩ nằm bên nhau. Họ đều chưa quá tuổi mười tám, đều từ miền Bắc vào bổ sung về H9. Anh em bộ đội H9 bực sôi gan đòi chất vấn xã Phụng. Ông Chín tự làm kiểm điểm lên Thị ủy và Tỉnh ủy đồng thời viết thư xin lỗi và tạ tội với anh em H9. Bà con xã Phụng biết tin du kích xã mình bắn lầm bộ đội gây chết người, liền gửi quà tới H9 an ủi động viên đồng thời viết thư cho ông Chín yêu cầu phải trực tiếp tới H9 xin lỗi. Công việc ngập đầu cố dứt mà không được, tính nát nước ông Chín Tòng quyết định cử Út Hân lên hậu cứ cùng đi với Mai tới H9 xin lỗi đơn vị và tới viện Trúc Bạch thăm Đoan. Kể ra ông Chín tính toán như vậy là hợp lý vì Mai là nữ lại nằm trong cấp ủy của xã, là con dâu của tỉnh đội dẫu sao cũng dễ ăn dễ nói hơn. Nhận được thư của ông Chín, Mai quyết định tới viện Trúc Bạch thăm Đoan trước rồi mới tới H9. Bởi có con mọn nên hai chị em đi chậm đến xế chiều mới tới suối La-Căng. Suối La-Căng mùa khô nước trong vắt và mát lạnh đẹp như một cô gái làm duyên, hoa mào gà mọc dày thành từng vạt chạy dài trên roi cát. Sắc hoa đỏ hồng đan vào nhau trông như một tấm thảm trải giữa lòng suối. Giữa roi cát vàng lơ thơ là những tảng đá chồng lên nhau màu ngũ sắc óng ánh hình con voi, hình người đang ngồi đứng khiến người ta có cảm giác như đang đi trong cõi thần tiên. Rau rừng mọc sà trên mặt nước che mát cho những bầy cá tràu, cá đá, cá thác lác bơi lội đớp mồi trong những vực nước sâu nhất cũng chỉ tới đầu gối. Nơi con lộ số 6 chạy vắt ngang qua suối La-Căng là một khoảng trống rất rộng. Cây rừng lại cao và thẳng làm người ta có cảm giác khoảng không gian của đường số 6 chạy qua suối đã rộng càng rộng thêm. Những buổi chiều bên suối, ngồi trên võng nhìn ra khoảng trống ta có thể thấy được mặt trời đứng thản nhiên mặc cho những chòm mây trắng như bông lướt qua để rồi từ từ lặn xuống sau dãy núi xa mờ, tím đậm của miền tây Trường Sơn huyền ảo. Vào mùa khô suối La-Căng là trạm nghỉ của cán bộ, bộ đội đi công tác. Họ ngồi trên võng mắc sát nhau uống trà, ngắm bếp lửa cháy rộn ràng, nói chuyện trăm cảnh, trăm miền mà họ đã đi qua. Vậy mà giờ đây, trong mùa mưa dai dẳng, nước biến con suối thành một dòng sông hung dữ. Những con sóng đục ngầu vỗ xoáy vào hai bên bờ móc đất đá cuốn đi. Những cây rừng thân to bằng bắp đùi bị nước đánh tróc rễ cuốn trôi băng băng. Những cơn lũ bất ngờ xảy ra trên đoạn suối này khiến mọi giao thông đều bị ngừng lại. Giao liên tỉnh cố gắng dòng dây qua suối La-Căng để khắc phục lũ nhưng vô hiệu. Cơn lũ bất ngờ của suối La-Căng nhanh hơn bước chân người nên hai chị em phải rẽ vào một trại sản xuất chờ nước lũ rút. Tới trại sản xuất, Mai bỗng bật cười nói với Út Hân: -Cũng nhiều người kẹt nước lũ như chị em mình, khôn mà chẳng ngoan tất cả đều chung số phận. Út Hân triết lý: -Tính nết ông trời chỉ có ông trời biết. Tại chị muốn hơn ông trời. -Thằng nhỏ, nói giọng ông cụ non dễ ghét quá tay. Nếu không gặp mưa lớn cả tuần nay thì đi ngon ơ tới Trúc Bạch rồi. -Bữa nay chị em mình được xả hơi, ngày mai nước giựt tranh thủ vượt suối, khả năng đêm nay không mưa đâu chị à. -Sao em biết? Út Hân tự hào chỉ lên trời: -Chân mây phía Bắc “đứt”... mây trắng cắt ngang mây đen chị thấy chưa. Chú Tư Hàm bày cho em đó, ông ấy có nhiều chuyện tài ghê lắm chị Hai à. -Ủa!..Mai!... em đi đâu vậy? Mai quay lại hơi nhíu mày ngạc nhiên và bực bội song cố giữ nét mặt vui vẻ: -Đi đâu đấy chú? -Gọi bằng anh chứ... Sao lại chú. Mai lặng yên không trả lời, thoáng nghĩ: quỷ tha ma bắt cái ông “vợ khuất núi”... lỳ lợm một cây!!. Ông thủ trưởng “vợ khuất núi” vẫn đon đả: -Mình lên miền Tây họp, kẹt lũ không đi được, may quá lại gặp em ở đây. Út Hân chen ngang: -Chị Mai, vào nhà mắc võng cho cháu ngủ, ẵm cháu từ sáng đến giờ chị mệt rồi đó. Biết Út Hân phản ứng ngầm, ông “vợ khuất núi” lẳng lặng đứng nhìn ra rẫy. Chờ cho Mai và Út Hân đặt ba lô xuống, ông ta vội vàng tới đặt ba lô bên cạnh. Chìa tay đòi ẵm bé Trung, ông “vợ khuất núi” cố tình chạm vào ngực Mai, giọng ân cần: -Nào, đưa bác ẵm chút nào. Mai vội né người sang một bên: -Cháu nó còn nhỏ không quen hơi người lạ đâu chú à. Ông ta lấy trong ba lô một miếng sữa cô đưa cho bé Trung, con bé nhăn mặt úp đầu vào ngực mẹ. Mùi hôi nồng pha lẫn mùi mốc và gây của sữa cô chung với cao gạc nai để lâu ngày phả vào mũi khiến Mai phải quay mặt sang chỗ khác: -Cháu nó còn nhỏ không ăn được đâu, chú cất đi để bồi dưỡng. Nói xong, Mai ẵm con cùng Út Hân ra rẫy kiếm rau về nấu ăn. Nghĩ đến thái độ của ông “vợ khuất núi” và miếng sữa cô có mùi khó chấp nhận bất giác Mai nhớ lại những ngày còn ở cơ quan của ông ta. Có lần soạn công văn trong cuốn sổ công tác của ông, Mai đã bắt gặp những trang dày đặc giá cả đồ bồi dưỡng mà ông đã nhờ anh em xuống làng mua giúp thường có chua thêm các dấu chấm hỏi hoặc các lời ghi chú đại loại như: “ký đường không đủ, xem lại có bị san bớt không...”. Bỗng Mai cảm thấy thương hại cho ông “vợ khuất núi” và thầm nghĩ: Chấp làm gì với tính nhỏ mọn của ông già đáng tuổi cha chú mình. Mai giật mình khi nghe Út Hân hỏi: -Chị Mai, hồi mới thoát ly ông ấy là thủ trưởng của chị phải không? -Ừ... -Đồ quỷ...Già còn ưa của ngọt. Mai tinh nghịch: -Thời chiến phải chiếu cố một chút, ổng tham gia cách mạng đã lâu, hạ bớt cho mười tuổi nên đáng tuổi bằng chú ta hạ cấp gọi bằng anh là vừa. Út Hân phê phán thẳng tay: -Em không chấp nhận cái tính lỳ đòn, xum xoe nịnh của ông: “Độ rày Mai đẹp và mập ra, đúng là gái một con trông mòn con mắt” nghe mà thấy lãng xẹt. Mai cười rung cả vai chọc quê Út Hân : -Rồi đến lượt em cũng vậy, cụ non vừa vừa thôi, coi chừng già trước tuổi con gái nó chê, chỉ có ma nó ưng thôi. -Em độc thân, trừ chị ra, còn mấy bà con gái xã mình đi đâu cũng làm quẩn chân người khác thôi. -Nè...Bữa em bị rắn cắn không nhờ mấy đứa con gái cho thuốc chữa khỏi thì đâu có ngày hôm nay bô bô cái miệng ghét con gái. Út Hân đỏ mặt: -Ai tính chuyện cũ làm gì, suy cho cùng lúc đó cũng là nhiệm vụ chứ bộ. -Em chỉ giỏi chống chế thôi. Út Hân bỗng hạ giọng: -Ba Hổ nói chị là cây Mai rừng đặt trong chậu kiểng, ai cũng xăm xoe muốn bứng thành thử khổ, ngẫm mà đúng chị à. -Thằng quỷ sứ ...Chị cấm đó nghe. Út Hân nhướn cổ cười: -Thiệt đó...Đến cái lão già hồi nãy trông thấy chị ẵm con cũng nổi máu dê lên đó thôi. -Mày có im cái miệng đi không. Tao về nói anh Lâm, anh Đoan, mấy ảnh sẽ cho mày một trận đó. Út Hân ôm bó rau cười vang chạy vụt về trại sản xuất. Mai lững thững ẵm con đi theo. Ăn cơm xong ông “vợ khuất núi” đã tranh thủ cột võng của mình gần cửa hầm tránh pháo lại gần đóng lửa. Được ưu tiên nằm gần lửa nên võng của mẹ con Mai và của ông “vợ khuất núi” mắc cạnh nhau. Cảnh yên tỉnh của rừng khuya, sự mệt nhọc của một ngày công tác, cái ấm áp của lửa xua tan những cơn gió lạnh thổi lùa dưới võng làm mọi người nhanh chóng ngủ say. Ngọn lửa yếu dần nhường chỗ cho những cục than ánh hồng lên và những cây củi to cháy âm ỷ trong đêm. Những cái bọc võng chùm lấy võng chắn ánh sáng tạo ra những khoảng tối lờ mờ chập chờn. Đang ngủ ngon giấc bỗng giật mình khi một bàn tay vén bọc võng khẽ sờ vào đùi, Mai bực tức hất bàn tay đó ra và nhìn xem bàn tay đó từ đâu tới? Thì ra là bàn tay của ông “vợ khuất núi”. Bị phản ứng, ông ta nhanh chóng rút tay về và nằm giả đò như người ngủ say. Xoay người ôm con, Mai hất mạnh bọc võng của mình cho tấm phủ trùm lên võng. Thiệt ra Mai định ngồi phắt dậy cảnh cáo cho ông “vợ khuất núi”một bài học, song nể tình ổng là người lớn tuổi lại là một cán bộ lãnh đạo của tỉnh nên lặng im. Khi ngọn lửa tàn dần, những cục than hồng dịu lại nhấp nháy Mai lại giật mình khi bàn tay của ông “vợ khuất núi” sờ vào bụng mình. Mai vội hất thật mạnh tay ông ta ra làm chiếc võng kêu lên đánh “soạt”... một tiếng. Ông ta vội thu tay về, luống cuống rọi đèn pin giả đò xem đồng hồ, nhìn Mai gượng gạo như muốn đề nghị Mai đừng kêu lên. Mai ngồi dậy chụm cho lửa sáng hực lên, quắc mắt nhìn ông “vợ khuất núi”. Ông ta sợ hãi, vội hất tấm phủ bọc võng nằm yên tránh cái nhìn của Mai. Tưởng rằng được ngủ yên, song vừa ngủ được một chặp, lại giật thót người bắt quả tang tay ổng đang luồn qua sờ vào người mình, nắm chặt tay ông “vợ khuất núi”, bật người ngồi dậy để con nằm trong lòng, cầm đèn pin rọi vào mặt con người lỳ lợm: -Tôi đề nghị anh đứng đắn. Tại sao tôi đang ngủ anh lại vạch võng sờ mó lung tung?... Ông ta cúi đầu ngượng ngùng: -Thấy con bé nó cựa quậy nên tôi đập vào người để Mai dậy ru cháu ngủ chứ tôi có ý tứ gì đâu. Mai khinh bỉ: -Anh còn dám mở miệng ra chống chế nữa à... Mặt ông “vợ khuất núi” đuỗn ra, đôi mắt cụp xuống không dám trả lời Mai. Mọi người hiểu ngay việc làm không tốt của ông “vợ khuất núi” và lặng im nhìn về phía ông trách cứ việc làm dại dột đã rồi. Út Hân hằn học: -Giá có cái lỗ nẻ để ông chui xuống cho yên chuyện. Già rồi mà còn làm chuyện chưng hửng. Ông “vợ khuất núi” nằm co trong võng như một con tôm mắc cạn. Khi mọi người đã ngủ thì tiếng ngáy gỗ khò khò của ông “vợ khuất núi” cũng vang lên rất to. Út Hân bực bội đập vào võng ông: -Chú đừng ngáy gỗ. Ngáy vang nhà ai mà ngủ được. Ông làu bàu: -Có vậy mà cũng kình... Cái thằng khó tính. Út Hân xẵng giọng: -Ngủ mà ngáy gỗ như thổi kèn, rủi mà có biệt kích tới thì nó hốt gọn cả chú lẫn bọn cháu về thị xã mất. Mai ngầy Út Hân: -Thôi...Ngủ đi...Út. Biết mình đã bị thất thế, ông “vợ khuất núi” nằm cựa mình trên võng thở dài. Bất giác sự so sánh giữa ông với ông Chín Tòng và ông Tư Hàm lại hiện lên trong Mai: Cả ba đều thuộc lớp người đã từng tham gia đánh Pháp và chống Mỹ cứu nước. Thành tích và cống hiến cho cách mạng ai cũng nhiều. Nhưng ở ông Chín mọi người có thể nhận ra tính trung thực, kiên quyết, dám nói, dám nghĩ và dám làm. Mọi người kính nể ông Chín từ hồi còn là một đồng chí lãnh đạo ở tỉnh đã có nhiều mặt công tác xuất sắc. Ấy vậy mà hết biệt phái đến tăng cường và cứ làm bí thư xã trọng điểm dài dài. Dường như ông Chín sinh ra để làm việc chỗ nguy hiểm, gian khổ. Còn ông Tư Hàm thì lầm lì u uất, nếp sống mẫu mực, cẩn thận và tiết kiệm thì chẳng ai bằng. Ông Tư Hàm hy sinh đem theo nỗi oan nghiệt của mình về cõi vĩnh hằng mà không kịp một lời trăn trối. Nỗi oan chưa được giải, người còn sống nghĩ sao và giải quyết sao đây trước vong linh của đồng đội mình. Dẫu sao sự hy sinh của ông Tư Hàm vẫn trọn vẹn và được mọi người thương nhớ. Riêng ông “vợ khuất núi” mang tiếng là một ông thủ trưởng cấp tỉnh song người ta vẫn thấy ở ông có điều gì đấy không rõ. Ông vẫn được thăng tiến trên đường công tác song người ta vẫn cảm thấy có cái gì không ổn vì nếp sống lẩn khuất như con lươn, chỗ nào cũng luồn lách được. Ấy vậy mà ông ta còn có tính hay thù vặt cá nhân. Ông “vợ khuất núi” là mẫu người khinh thì nhiều mà người trọng thì ít nhưng vẫn tồn tại và thăng tiến. Nghe nói kỳ này ông “vợ khuất núi” ta còn được bổ sung vào tỉnh ủy thì phải. Mỗi người mỗi vẻ, mỗi số phận trước cái qui luật nghiệt ngã của chiến tranh kín đặc đấy mà cũng đầy kẽ hở đấy. Mai thở dài ôm chặt con vào lòng cảm thấy hạnh phúc khi hơi ấm của con truyền sang mình. Mùi thơm từ tóc, từ da của bé Trung phảng phất ru Mai vào giấc ngủ. Sáng hôm sau, ông “vợ khuất núi” dậy thật sớm, hấp tấp cuốn võng ra đi, không kịp ngỏ lời cảm ơn chủ nhà. Vượt suối La-Căng thì trời đã xế trưa, đi nhanh gần 2 giờ Mai và Út Hân mới tới viện Trúc Bạch. Hàng chục ngôi nhà tranh của viện nằm thành từng cụm giữa rừng gồm hội trường, phòng mổ, nhà trực ban, nhà trường... Với một quy mô lớn như vậy, viện đã tiếp nhận hàng trăm thương, bệnh binh từ các chiến trường đưa về điều trị. Mai thần người nhìn những chiếc áo trắng của y tá, bác sĩ đi ra, đi vào thầm nghĩ công việc phục vụ cho hằng trăm người ăn uống, thuốc men, giặt giũ quả là khó, nhất là khi có địch phải đưa cả bệnh viện tới nơi an toàn cho thương bệnh binh. -Chị Hai, sao đứng thần người như vậy, đi chứ. Mai giật mình vội nói nhỏ: -Tìm xem anh Đoan ở khu nào. Út Hân chỉ tay: -Khu phẫu thuật. -Sao em biết? -Hôm khiêng anh Đoan lên, em tới đây rồi. Đi qua suối cạn Mai dáo dác tìm thì Đoan đã gọi to: -Mai!... Anh ở đây nè. Mai và út Hân mừng rỡ chạy tới. Thấy tay Đoan bó bột, Mai lo lắng: -Tay gãy hay sao vậy? -Ừ ... Viên đạn bay thế nào mà làm mẻ xương ống tay, may chỉ phẩu thuật sắp lại xương rồi bó bột. Đoan nựng bé Trung: -Bữa nay cả hai mẹ con tới thăm cậu, lớn lên ráng học thành bác sĩ chữa bệnh cho cậu và ba má nghe con. Anh em thương binh tới vây quanh mẹ con Mai ríu rít chuyền tay nhau ẵm bé Trung không ngớt đùa giỡn: -Con nhỏ làm lính giải phóng từ trong bụng mẹ có oai không? Tuổi quân của nó phải được tính từ năm một tuổi đấy các ông ạ. -Chà... ẵm nó tao lại nhớ mẹ đĩ ở nhà., con tao chắc năm nay học lớp bốn rồi đấy. -Cho em bế cháu một tí... -Cho nó bế trẻ con để lấy hơi rồi cưới vợ cho nhanh, sơ sơ mới hăm hai tuổi đầu mà chưa có một mảnh tình vắt vai ấy mà. Mai cười rất tươi, sắp quà bánh, đường sữa cho mọi người ăn. Đoan hô to: -Nào!... Tập trung bi đông nước trà lại liên hoan. Mọi người quây quần ăn bánh kẹo, uống nước trà và nói chuyện. Mai thực sự như một đứa em gái nhỏ của bộ đội, hết pha cà phê lại lấy nước cho vào bình tông cho mọi người uống. Ăn cơm trưa xong, Mai tranh thủ đưa lá thư của ông Chín viết xin lỗi H9 cho Đoan xem. Xem xong thư, Đoan gật đầu tán thành: -Viết thế này là quá tốt rồi. Chú Chín quả là một chính trị viên giỏi. Vấn đề là người sống đối xử với người sống cho trọn nghĩa vẹn tình và an ủi được vong linh người đã hy sinh. Mai nhỏ nhẹ: -Anh có thêm bớt gì vào nội dung thư không? Anh có cần dặn em thêm điều gì khi tới đơn vị ? Em lo mình ứng xử sai sót lắm. Đoan tự tin: -Không cần nữa, anh biết em tế nhị, tin là chuyến đi của em sẽ để lại nhiều ấn tượng cho anh em H9. Mai ân cần hỏi Đoan: -Điều trị chắc còn lâu phải không anh? Vết thương làm gẫy xương đau lắm đấy. Đoan cười: -Mới nứt xương và mẻ xương chứ chưa gãy, con nhỏ nó trù ẻo mình hoài. Mai thanh minh: -Em đâu có ý đó, gãy hay nứt cũng là vết thương ở xương, thuộc loại nặng. Nguyệt mà biết anh bị thương chắc nó lo lắm đấy. -Đánh địch, bị thương là chuyện bình thường của người lính. -Anh chỉ khéo động viên người khác thôi. Theo chỉ dẫn của Đoan, Mai và Út Hân đi theo con đường tắt tới H9. Từ viện Trúc Bạch đi qua trảng tranh, Mai thấy những ngôi mộ mới có, cũ có được chôn thành hàng ngay ngắn. Những tấm bia bằng gỗ hình chữ nhật nhẵn thín, những hàng chữ viết bằng sơn đỏ trên bia gỗ lặng lẽ đứng trước từng ngôi mộ. Mai giật mình đứng lại nhìn một tấm bia trước một ngôi mộ mới chôn. Dòng chữ đỏ tươi được viết rất nghiêm trang: Họ và tên : Nguyễn Văn Liên Quê quán: Thành phố Nam Định, Tỉnh Nam Hà. Đơn vị: X Sinh ngày: 9-12-1953 Hy sinh ngày: 27-11-1971 Hưởng thọ: 18 tuổi Mai bàng hoàng thoáng nghĩ: không lẽ là cậu Liên của đơn vị X được khiêng đi bệnh viện đã nghỉ lại ở trại sản xuất của mình đêm hôm đó? Rất có thể... với sốt rét ác tính thì những biến chứng của căn bệnh sẽ cướp tính mạng của con người nhanh như trở bàn tay... Không? Bữa đó cơn sốt đã bị đánh lui, không thể chết được... Nhưng sao lại trùng tên!... Đi nhanh qua vạt cỏ tranh, những ngôi mộ cứ lướt qua mắt Mai nằm lặng lẽ. Những tấm bia bằng gỗ ghi rõ họ tên từng người: nam có, nữ có, già có, trẻ có, miền Nam có, miền Bắc có... Mai không ngờ một vạt tranh nhỏ giữa rừng lại là nghĩa trang liệt sĩ. Vĩnh viễn họ ở giữa chốn rừng sâu này... Từng cơn gió bay tới làm lay động những cây cỏ tranh lưa thưa, những cây cỏ tranh nghiêng ngã níu vào nhau. Cơn gió bay qua, cây cỏ lặng im, núi rừng lặng im và những ngôi mộ ở đó cũng nằm lặng in mãi mãi. Một câu hỏi bỗng xoáy lên trong Mai: Một ngày ở chiến trường miền Nam có bao nhiêu người hy sinh? bao nhiêu người miền Bắc ?... Bao nhiêu người miền Nam?. Câu hỏi của một nhà văn nào đó mà Mai đã quên tên bỗng vụt lên xoáy cuộn: “Máu người không phải là nước lã!”... 2 Cách đây hơn một tháng, tiểu đoàn H9 liên hoan mừng chiến công tiêu diệt gọn cứ điểm Núi Sầm, nỗi bực dọc của anh em H9 với xã Phụng cũng dịu lại. Mai và Út Hân thay mặt xã Phụng tới thăm nên không ai nỡ ngầy “Đứa em dâu” bộ đội. Lương chính trị viên tiểu đoàn và Tuấn tiểu đoàn trưởng H9 vui vẻ nhận thư của ông Chín Tòng và quà của bà con xã Phụng gửi tặng đơn vị. Với hơn mười lăm cân đường, sữa và mì ông Phật gửi tặng cho cả tiểu đoàn chẳng khác nào cho voi uống thuốc gió. Nhưng của một đồng, công một nén, tự nhiên mẹ con Mai và Út Hân trở thành thượng khách của đơn vị. Tuấn nói với Mai: -Chuyện đã xảy ra rồi nhắc làm chi nữa. Trận đánh núi Sầm không có ông Đoan bọn mình cũng khó khăn. Nhưng đây là lần thứ tư cứ điểm này bị tiêu diệt và ta đã chặt gãy một mắt xích quan trọng trong lớp áo giáp bảo vệ thị xã Tuy Hòa của bọn Ngụy quả là không đơn giản chút nào. Lương hóm hỉnh: -Đụng vào các cứ điểm địch ở thị xã Tuy Hòa thì phải trú quân ở xã Phụng vì vậy mối quan hệ với địa bàn xã Phụng còn nhiều duyên nợ phải không em gái? Mai nhìn Tuấn và Lương cười: -Xã đầu tên mũi đạn khổ muốn chết phải không hai anh? Cả ba anh em nhìn nhau cười vang. Lương tế nhị hỏi Mai: -Em có công nhận với các anh là thời gia qua xã Phụng nợ H9 không? -Em không phủ nhận, bọn em đã tới xin lỗi. Lương xua tay: -Không phải, xã Phụng thân chinh đến H9 là quý lắm rồi. Nhưng em có công nhận đây là món nợ của xã Phụng không? -Dạ... Em công nhận. Lương đứng dậy nháy mắt ra hiệu cho Tuấn “hợp đồng” với mình. Tuấn còn đang ngơ ngác chưa hiểu ý, giọng Lương vui hẳn lên: -Bây giờ ban chỉ huy tiểu đoàn các anh đòi nợ lãnh đạo xã Phụng đây. Mai ngạc nhiên: -Chu!... Bữa nay lại có chuyện đòi nợ, trả nợ nữa đây. Lương rỉ tai nói nhỏ với Tuấn, Tuấn mừng ra mặt và gật đầu lia lịa. Lương nhìn Mai ôn tồn: -Bây giờ các anh nhờ em gái của Đoan và phụ nữ xã Phụng giúp các anh một việc. Mai phì cười: -Chuyện gì mà hai anh cứ vòng vo tam quốc hoài... ai hiểu nổi. Lương vỗ vai Tuấn tinh nghịch: -Xin giới thiệu với em đại biểu chính thức của ban chỉ huy H9 hòa đàm với em. Tuấn đang ngỡ ngàng chưa biết xử lý ra sao, Lương nắm tay Tuấn: -Hai anh em cứ ngồi nói chuyện cho thoải mái, mình xuống các đại đội một chút . -Nè... Đó là việc của ông chứ đâu phải của tôi. Lương xua tay: -Ông hiểu vấn đề hơn tôi, tôi đi đây. Nhìn Lương vừa cười vừa đi nhanh ra khỏi nhà ban chỉ huy tiểu đoàn, Tuấn lắc đầu nói với Mai: -Đúng là thằng cha thầy chùa, làm công tác chính trị tư tưởng thì giỏi một cây, vậy mà cái chuyện này lão ấy đùn cho mình. Mai càng ngạc nhiên: -Chuyện gì vậy anh Tuấn? Tuấn ngồi trên bàn lúng túng một lát rồi ngồi ngay ngắn lại theo tác phong quân sự chậm rãi nói: -Nè, các anh giao cho em một nhiệm vụ quan trọng là động viên Việt lấy anh Hoàn nghe chưa? -Không được đâu, anh Hoàn đáng tuổi cha nó làm sao xứng đôi được. -Vậy mới nhờ tới em. -Em thấy kỳ quá... Không hiểu mấy anh nghĩ sao, Việt là con gái nếu ép buộc thì tủi thân cho nó chứ. Tuấn động viên: -Các anh ở Tỉnh đội cũng như các anh nhất trí cao việc động viên Việt lấy anh Hoàn. Dẫu sao thì chúng ta cũng phải có trách nhiệm với anh Hoàn em gái à . Mai ngần ngừ: -Anh Hoàn hơn nó tới ba chục tuổi. Không lý đi bên nhau người ta chào anh Hoàn bằng chú, gọi Việt bằng cháu à. Các anh tính kỹ đi... Chuyện hôn nhân là cả đời của một người con gái các cụ xưa nói: ép dầu, ép mỡ ai nỡ ép duyên. Tuấn nghiêm nghị: -Chênh nhau hai ba chục tuổi ăn nhằm gì, hoàn cảnh đặc biệt trong chiến tranh phải thông cảm Mai nửa đùa nửa thật: -Cho em nói hỗn một chút, ở tuổi em hồi chưa thoát ly anh Hoàn đã có vợ có con rồi. Tuấn xua tay: -Không có chuyện đó đâu, từ hồi nhỏ tới tóc bạc vẫn còn là trai tơ. Mai phì cười: -Đó... Em biết anh dính bẫy rồi. Anh Tuấn à... Các anh lạc hậu rồi, ông Hoàn có một vợ, một con từ hồi chưa thoát ly, con Quýt cùng quê với ông ấy kể cho em nghe chuyện này. Tuấn cười chống chế: -Dù sao vẫn trai tơ, vợ và con gái của anh Hoàn hy sinh rồi, cũng có thể gọi là trai tơ trên tình đồng chí phải thương anh ấy chứ. Mai bàn sang hướng khác: -Hay là tìm một chị khác lớn tuổi hơn. Tuấn cười vang: -Lấy mấy bà lớn tuổi làm gì có con. Anh thông báo để em biết Lâm học xong sẽ điều về làm tham mưu trưởng tiểu đoàn này, tất nhiên trách nhiệm việc này phải giao cho Lâm. Lúc đó chắc em phải vào cuộc hỗ trợ Lâm. Vậy nhiệm vụ này anh giao cho em... Mai cười cười: -Việc nặng quá sợ em không gánh nổi. Tuấn đứng dậy vươn vai rồi năn nỉ: -Thay bọn anh gánh cái gánh nặng này đi. Anh biết em nói là Việt nó nghe mà! Vừa lúc đó Việt chạy vào nhà ban chỉ huy tiểu đoàn vừa khóc vừa bứt đầu, bứt tai. Mai vội đứng dậy đỡ Việt ngồi xuống: -Chuyện gì nói chị nghe. -Em không lấy lão quỉ già ấy đâu. Tuấn ngồi thừ người bực tức. Lương vào nhà thấy Việt khóc áy náy hỏi: -Có chuyện gì vậy? -Em không thiết sống nữa! Các anh định làm hại em! Em căm thù các anh... Tuấn thở dài chặc lưỡi: -Mấy ông lính nhà mình chắc lại sinh giặc rồi. Tuấn đứng dậy vừa đi vực bực dọc: -Cực ơi là cực!... Cực hơn đi đánh giặc. Lương ôn tồn an ủi Việt: -Bình tĩnh, anh đã nghe hết mọi chuyện rồi. Em phải xác định lập trường cho mình chứ. Mai nhỏ nhẹ: -Chuyện đâu còn có đó việc gì em phải khóc. Tình yêu đâu chỉ căn cứ vào tuổi tác, thương thì lấy, chưa hiểu nhau thì từ từ tìm hiểu, chuyện của mình hơi đâu mà nghe chọc quê rồi nổi tự ái. Lương nhìn Mai và Tuấn dè dặt: -Phải nghiêm túc họp chấn chỉnh anh em, đùa dỡn quá gây mất đoàn kết dễ tổn thương mất danh dự người khác. Tuấn lại thở dài: -Mình con nhà võ, cái chuyện này như gà mắc tóc. Mai nhìn Việt pha trò: -Việt à... Cái chuyện lòng vòng thì cứ lòng vòng mà giải quyết. Lương cười ôn tồn: -Thôi... Mai và Việt tâm sự với nhau cho rành rẽ ngọn ngành. Ai cũng nghĩ chuyện tốt , Việt không nên nghĩ ngợi nhiều. Mai khúc khích: -Hèn gì cái chuyện này bốn ngàn năm nay ông bà ta cũng giải quyết chưa xong nữa là mình. Tuấn phì cười nhìn Lương rồi nhìn Việt: -Đã héo cả ruột, còn pha trò. Hai chị em về nhà nghỉ đi, Việt nhớ pha sữa cho cháu Trung uống, em cứ học gương chị Mai đó rồi mọi việc sẽ ổn thôi. Mai nhẹ nhàng: -Việc đó để bọn em giải quyết. Dẫu sao đàn ông mấy anh cũng không thể hiểu hết tâm trạng đàn bà con gái bọn em đâu. Mai ẵm con kéo tay Việt đứng dậy: -Chị em mình đi... Lương và Tuấn nhìn Việt vừa đi vừa khóc ấm ức, đột nhiên Tuấn gãi đầu: -Quả thiệt việc này mình ... Xin hàng! Lương đỏ mặt lúng túng: -Nên họp chỉnh đốn anh em trong tiểu đoàn bộ ngay kẻo hư chuyện. Cả Lương và Tuấn đi về phía nhà hội trường của tiểu đoàn. Từ trong nhà y tá, tiếng Mai lúc to, lúc nhỏ Lương và Tuấn cố ý lắng nghe nhưng không rõ song cả hai cùng cười và nhìn nhau như trút được gánh nặng. 3 Cả hội trường lặng im nghe Tuấn nghiêm khắc phê bình thái độ đùa dỡn quá trớn của một số chiến sĩ trong tiểu đoàn bộ. Tuấn dõng dạc: -Đùa dỡn mà làm ảnh hưởng tới hạnh phúc của đồng chí mình là điều cần phê bình nghiêm túc. Tác phong của người giải phóng quân cần hòa nhã, đúng mức, có như vậy mới thể hiện được bản chất tốt đẹp của người lính cụ Hồ. Khác hẳn với sự tập trung cao độ của chiến sĩ, cán bộ khi nghe Lương phổ biến nhiệm vụ; khác hẳn với sự hào hứng, say sưa khi Tuấn phổ biến nhiệm vụ tập luyện phục vụ tốt cho trận đánh sắp tới... Bộ mặt tỉnh bơ của lính cứ ngồi bấm tay, khều chân, viết giấy găm lên lưng áo của nhau mặc cho Tuấn phê phán, phân tích. Lương quan sát thấy tình hình không ổn, thầm nghĩ: việc này xem chừng không thể ép, không thể lấy quân lệnh vào cho tình yêu thì không được... Quỷ báo mấy ông cấp trên, chuyện gì cũng dồn lên đầu... Nghĩ vậy Lương vẫn ngồi yên, bản thân anh lúc này cũng chưa nghĩ ra được một giải pháp thích hợp. Một đồng chí bộ đội lớn tuổi bỗng sờ đằng sau gáy của mình giật được một tờ giấy viết găm phía sau lưng và quay lại càu nhàu mấy người phía sau. Chẳng hiểu anh nào chọc tức, anh ta đứng phắt dậy: -Báo cáo thủ trưởng, thật là quá đáng!... Tôi đã bốn con rồi vậy mà còn viết giấy cài lên lưng áo tôi. Cả hội trường ngơ ngác rồi cười ầm lên khi đồng chí bộ đội đưa cho Tuấn dòng chữ viết: “Trai tơ 100%. Yêu nồng nàn! Yêu cầu em Việt giúp đỡ!”. Có tiếng người lao xao: -Bố ơi! Bố còn xuân chán! -Bố ơi! Bố cho con làm rể bố đi... Đọc tờ giấy máu quân sự nổi lên, Tuấn gắt: -Từ nay cấm các đồng chí không được viết giấy kiểu này nữa nghe chưa? Tuấn cầm tờ giấy gấp lại cho vào sổ tay, bực tức: -Tôi cấm! Cấm luôn cái việc phá đám khi người ta đang đặt vấn đề tìm hiểu nhau một cách nghiêm túc... Một ý kiến dơ tay từ góc hội trường: -Đề nghị thủ trưởng nói rõ ý cho anh em hiểu. Tuấn dơ tay ra hiệu cho đồng chí bộ đội vừa phát biểu ngồi yên rồi tiếp tục nói: -Nghiêm cấm đem việc đồng chí Hoàn và đồng chí Việt ra đùa dỡn, trong quân ngũ có già cũng không được gọi bằng chú rõ chưa... Vẫn đồng chí bộ đội vừa rồi dơ tay xin phát biểu, Tuấn gật đầu: -Tất cả im lặng.... Đồng chí Em phát biểu. Tuấn ngồi xuống thở mạnh một cái, Lương nói nhỏ: -Cần cắt vấn đề này đi, ta sẽ có biện pháp tế nhị sau này. Ông Hoàn không được anh em mến lắm, lính nó phá đám rách việc Tuấn à. Không khéo cả ông và tôi đều mất lòng mấy anh trên tỉnh. Đồng chí Em đứng dậy mặt ngờ nghệch: -Báo cáo thủ trưởng, việc này theo em nên cắt, đề nghị từ nay trở đi không được gọi bác Hoàn bằng bố, em Việt là con nữa mà phải gọi là anh em cho cái duyên nó thắm. Cả hội trường cười ồ lên, có tiếng xì xào: -Cái thằng giả đò tặc nghệt gài thế cấp trên... -Cũng tại các ông ấy ép Việt lấy ông Hoàn. -Đơn vị chiến đấu có con gái phức tạp quá... Tuấn định phát biểu, nhưng Lương lấy tay đập vào vai ra hiệu để cho mình nói, chờ cho mọi người bớt cười, Lương đứng dậy ôn tồn: -Tôi đề nghị các đồng chí im lặng. Trong đơn vị chúng ta có nhiều đồng chí hơn cả tuổi tôi cũng như anh Tuấn. Sự hy sinh về người và của trong chống Mỹ của chúng ta là vô cùng lớn lao. Nhưng chúng ta cũng quyết đánh Mỹ và thắng Mỹ. Đáng lý các đồng chí lớn tuổi không phải đi đánh giặc, nhưng vẫn phải vào chiến trường làm nhiệm vụ, đây là một đặc điểm của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, là yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Toàn hội trường lặng xuống, mọi người tập trung nghe Lương nói. Lương cố tâm nói những điều về tình đồng đội, đồng chí trong chiến đấu. Nhìn các chiến sĩ của mình Lương ôn tồn: -Do đặc điểm của tiểu đoàn ta có nhiều thế hệ cùng sát cánh bên nhau sống, công tác và chiến đấu nên tâm tính cũng rất khác nhau. Cuộc sống phải tôn trọng nhau đó là đạo lý. Tôi đề nghị chúng ta không nên đùa dỡn quá mức với các đồng chí lớn tuổi cũng như nhỏ tuổi. Chúng ta cần giữ tác phong của một chiến sĩ quân giải phóng, đó là đạo đức cách mạng như chúng ta đã học tập. Lương ngừng lại coi vào cuốn sổ tay đọc nhanh những ý mình định nói rồi vui vẻ nhìn mọi người: -Việc cuối cùng tôi muốn nói với các đồng chí là trường hợp đồng chí Hoàn và đồng chí Việt tìm hiểu và xây dựng hạnh phúc với nhau. Đây là một việc nghiêm túc, tôi đề nghị chấm dứt tình trạng đem một sự việc nghiêm túc ra đùa dỡn một cách vô ý thức. Việc xưng hô giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các đồng chí ít tuổi và nhiều tuổi là hành động tế nghị trong đời sống. Tổ chức quân đội không phải là một tổ chức gia đình mà xưng hô chú cháu với nhau. Các đồng chí rõ chưa? -Rõ...Rõ... Lương nói một hơi dài với tất cả tâm huyết của mình về trách nhiệm xây dựng hạnh phúc cho đồng chí của mình về những hy sinh mất mát của lớp đàn anh mà đến cả sau này xã hội cũng không thể bù đắp được. Cả hội trường lắng xuống trong niềm xúc động bâng khuâng. Là con nhà võ, đã quen rồi tiếng bom đạn và mệnh lệnh cộc lốc. Một thoáng thôi khi gợi đến tình cảm sâu lắng trong tình đồng đội, tâm hồn người lính bừng dậy, họ sẵn sàng thông cảm với nhau tất cả... Lương quay sang nói với Tuấn: -Ta kết thúc cuộc họp được rồi đấy. Tuấn đứng dậy hô: -Tất cả đứng dậy...Nghiêm!... Cả hội trường đứng dậy đội ngũ chỉnh tề. Tuấn dõng dạc: -Giải tán. Vừa bước ra khỏi hội trường, đồng chí trợ lý tác chiến đưa vội tờ giấy cho Tuấn: -Anh em gởi “kiến nghị” lên các thủ trưởng đọc và nghiên cứu. Nói xong, đồng chí trợ lý tác chiến cười vang. Tuấn đọc tờ giấy, ngửng đầu định hỏi đã thấy anh chàng “lủi” mất rồi. Tuấn đưa tờ giấy cho Lương tủm tỉm cười: -Ông đọc đi “Thơ kiến nghị các thủ trưởng tiểu đoàn”: Con là vợ, bố là chồng Ông trời bày chuyện lòng thòng buộc nhau Lèng phèng...Lính đặt ca dao... Đọc thơ thủ trưởng lẽ nào không tha Nhăn nheo cũng gọi là da Da hồng mơn mởn đến già cũng nhăn Muốn cho mọi việc đều an Con heo xin giết cả làng cùng ăn Trước là làm lễ khao quân Sau là đám cưới muôn phần tốt tươi Liên hoan có đất, có trời Có anh, có chị, có tôi, có nàng Có ăn thì chẳng nói quàng Xin các thủ trưởng nhẹ nhàng giết heo. Lương và Tuấn vừa đọc bài ca dao vừa khúc khích cười, Tuấn lắc đầu: -Tôi chịu mấy thằng cha tiếu lâm, mới giết heo liên hoan, bây giờ lại giết heo nữa à. Lương xuề xòa: -Cũng đành vậy cho mọi việc êm thấm. Ông Hoàn muốn tìm hiểu Việt thì hòa mình vào quần chúng để người ta ủng hộ, nhưng cái tật hay ra lệnh cho anh em trước mặt Việt nên mới sinh chuyện. Tuấn bật cười: -Cũng muốn ra oai một chút trước mặt người đẹp thôi. Lương gật đầu và nhận xét: -Bây giờ nói chung anh em đều có học do đó tâm tư, tình cảm cũng khác nhiều lắm. Quan niệm về hôn nhân lớp bọn mình cũng khác xưa nhiều. Tuấn bật quẹt mồi thuốc và rít một hơi dài tư lự: -Nói thiệt lòng, riêng tôi không tán thành để Việt lấy ông Hoàn. Tất nhiên trách nhiệm thì mình phải ủng hộ thôi xem ra chuyện đùa dỡn kể cũng có lý. Con gái tân mơn mởn đi lấy ông già... trông như cha với con chứ vợ chồng gì... Thấy Tuấn nhún vai lắc đầu, Lương ôn tồn: -Nhưng tình hình hiện nay Việt không lấy ông Hoàn thì lấy ai bây giờ? Lứa tuổi như tôi và ông trở xuống lo đánh giặc, dại gì vướng vào chuyện yêu đương. Tuấn đứng dậy gọi đồng chí liên lạc ra lệnh: -Cho hậu cần giết heo. Nói anh nuôi làm một bữa liên hoan nhẹ, còn làm lương khô rõ chưa. Đồng chí liên lạc vui hẳn lên: -Lần này các thủ trưởng thua bọn em rồi. -Thôi đi đi cha nội. Chờ đồng chí liên lạc chạy xuống nhà hậu cần, Lương thật thà: -Cả ông lẫn tôi chưa vợ, chưa yêu nên xử lý quá dở. Chuyện này khó hơn chỉ huy một trận đánh ông à. Lấy điều lệnh quân đội mà bịt miệng anh em quả là sai sách. Tuấn cười rung vai: -Lương ơi!... Trong điều lệnh quân đội và qui chế chỉ huy không có cái khoảng này. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 14 Tháng Chín, 2023, 11:17:16 am Chương 22 Việt ngồi bên Mai thẫn thờ: -Từ bữa gặp chị ở đơn vị tới nay càng nghĩ em càng thấy tủi chị à. -Sao không nói mấy anh cùng đi vào đây nghỉ rồi cùng về đơn vị một thể? -Em xin phép vào thăm chị, mấy anh ấy thông cảm cho em nghỉ lại sáng mai về đơn vị cũng được. Mai an ủi: -Thôi đừng buồn nữa, phận con gái khi trâu đã đóng cọc, ván đã đóng thuyền thì chỉ có một con đường chung thủy với chồng. Sau này có con, đứa con sẽ là nguồn an ủi em à. -Biết vậy em chẳng để lão ta cưới làm gì. Mai lựa lời: -Tình yêu không giới hạn ở tuổi tác đâu Việt à. Việt thở dài: -Như anh Lâm và chị thì xứng đôi quá rồi, còn cái lão già đáng tuổi cha em thì ghen suốt ngày, chi li tính toán từng tí một em làm sao sống nổi. Chị tính trên rừng, trên núi ngoài cái ba lô em còn có gì nữa đâu mà làm của hồi môn. Sửa lại tã cho con tay nhè nhẹ đưa võng Mai an ủi: - Dẫu sao em cũng đã là vợ của anh Hoàn, phấn đấu có một đứa con, rồi mọi sự sẽ đâu vào đó. Bên cạnh em còn có anh em trong đơn vị và còn anh Lương, anh Tuấn nữa. Chị thấy nhiều người vun đắp tình yêu cho em là quá tốt rồi. Việt thở dài: -Chị đâu có hiểu nội tình câu chuyện. Anh Lương, anh Tuấn nể mấy ông trong ban chỉ huy tỉnh đội mà ủng hộ cho yên chuyện, em thì như một cái máy, tổ chức đặt đâu ngồi đó, giá như hồi đó em kiên quyết thì đâu đến nỗi... -Cái con nhỏ này... Trách chi hai ông thủ trưởng chưa vợ. Ông Tuấn tú tài bán, ông Lương học hết lớp mười, một ông Nam, một ông Bắc nhưng đều là học trò cả hai đều chưa có một mảnh tình vắt vai mà phải đứng ra làm ông mai, bà mối cũng kẹt lắm chứ. Việt bật cười rồi lại buồn rười rượi: -Chị giỏi tiếu lâm nói cho em vui. Mai cắt lời Việt: -Hai ông đó bị làm ông mai thì khác gì cua, cò bắt ngồi chung dạo nhạc, đánh đàn nên một ông hô thì ông kia cũng hô theo -Họ cố lập mưu gài em vào bẫy. Mai lắc đầu: -Cũng không phải hoàn toàn như vậy đâu. Việt ấm ức: -Sao lại không phải. Bữa nay em cố ý tới đây để chị có cách gì gỡ giùm cho em. Mai ngạc nhiên: -Lại có chuyện đó? Thẫn thờ ngồi lặng im và dường như không nén nổi Việt tức tưởi giọng trầm lắng xuống: -Các ông ấy cố ý đưa ông Hoàn về công tác thường xuyên ở đơn vị. Mỗi lần về công tác là đơn vị phân công em ở nhà, còn đơn vị xuống làng lấy gạo. Tối đến, lão tới ngồi lì ra thuyết phục em, kể lễ hoàn cảnh cô đơn góa bụa của mình. Có mình em, lão ta chì quá... Em phản ứng quyết liệt... Việt nghẹn ngào: -Vậy là em thất thân với lão!... Và phải tổ chức cưới!... Việt khóc nức lên một hồi. Mai thầm nghĩ, khóc lúc này cũng làm vơi đi nỗi khổ cho Việt. Mai nắm chặt tay muốn truyền sang Việt những tình cảm thân thương của mình. Việt lau nước mắt: -Không phải như chị nghĩ đâu!... Lần thất thân ấy em chống cự đến rách cả quần, lão ta như con gấu đè em xuống... Chuyện xong rồi lão ta quì xuống dưới chân em xin lỗi và khóc nức nở. Lão ta nói: “Hai cuộc chiến tranh, vợ con bị tù đầy và hy sinh hết, lão trơ trọi một mình, chỉ xin em cho lão một đứa con để nối nòi”. Mai ngậm ngùi: -Tội cho em, mà cũng tội cho anh Hoàn nữa. Cuộc chiến đấu xô đẩy ta vào cái thế mà nhiều khi không tính trước được. Đôi mắt Việt nhìn xa vắng: -Chị à... Người con gái khi đã thất thân thì sự trinh trắng cũng theo hồn họ xuống mồ. Vậy là đêm đêm lão ta đến với em, em nằm cho lão ta dày vò... Đơn vị thấy vậy cho tổ chức cưới. Mai cũng ấm ức thay cho Việt: -Hồi đó sao em không nói với anh Lương, anh Tuấn? Việt thở dài: -Họ cùng một phe, nói ra có ích gì... Vậy là em có bầu!... Chị ơi!... Giá chi cái thai trong bụng em là con của anh Vỹ. Mai quàng tay lên vai bạn thủ thỉ: -Việt à!... Dù sao anh Vỹ cũng hy sinh rồi. Nếu anh Vỹ còn sống thì hai người đã thành vợ chồng. Chị vẫn cảm thấy con người có định mệnh em à... -Dạ!... Cái số em nó khổ! Em chỉ muốn theo anh Vỹ, được nằm cạnh anh ấy là em mãn nguyện lắm rồi. Mai ngồi thẳng người nhìn Việt nghiêm giọng: -Em sai rồi. Thực tế cuộc chiến đấu của chúng ta có những hoàn cảnh éo le, trong gian khổ, ác liệt cảnh éo le đôi khi phũ phàng mà ta phải chấp nhận. Hoàn cảnh khách quan đưa tới làm cho chị và anh Lâm bị kỷ luật trước khi cưới, mà rõ ràng chị và anh Lâm hoàn toàn trong sáng và nghiêm túc trong tình yêu. Hoàn cảnh đó cả hai vợ chồng phải chấp nhận kỷ luật. -Thà bị kỷ luật để có tình yêu còn sướng hơn không yêu vẫn bắt phải lấy. Mai vỗ về: -Thôi Việt à... Chuyện đã qua rồi, em phải nhìn vào thực tế của em lúc này và chấp nhận nó. Bây giờ em phải cố tạo ra và tự tìm lấy tình yêu của em với anh Hoàn. Khi có con rồi, mọi việc sẽ yên ổn và tốt đẹp, chị tin như vậy Việt à... Việt hỏi lại Mai: -Với cái tính hay ghen, bủn xỉn và khe khắt của ông Hoàn chị bảo em phải làm gì để có hạnh phúc. -Từ từ thuyết phục, góp ý anh Hoàn sẽ bỏ dần. Để làm được việc đó em phải kiên nhẫn đừng phản ứng vội là bản lĩnh của người phụ nữ, làm được điều đó em sẽ có hạnh phúc. Đôi mắt Việt ánh lên nỗi ân hận chua xót, bất lực và tự mỉa mai thân phận của mình: -Em tin là ông Hoàn không sửa được, thú thiệt với chị nằm trong chăn mới biết chăn có rận... Cuộc đời em đến đây coi như đã chết... Em chỉ là một cái xác không hồn. Cố suy nghĩ tìm cách trả lời Việt xong Mai chẳng nghĩ được thêm điều gì thuyết phục bạn. Hồi lâu, Mai hỏi Việt: -Trước khi góp ý cho em. Chị hỏi em: Theo ý em thì em nên ở hay thôi với anh Hoàn? Lúc này em lại có con với anh ấy? Việt trả lời ngay: -Em, sẩy thai rồi, em sẽ xin về đơn vị pháo của chị Phước để mặc kệ lão ta. Mai lật ngược vấn đề: -Đấy là ý của em nhưng trên không cho. -Cùng lắm thì về làm dân. Chị không biết chị Dưỡng ở đại đội vận tải à. Khi có bầu, bắt chị ấy làm kiểm điểm và yêu cầu chị ấy tự nhận hình thức kỷ luật, chị ấy trả lời: “Xin làm phó thường dân” nếu không ở được thì đi chiêu hồi, có sao đâu, đời mình đã bỏ mà... Mai giãy nãy: -Cái con nói bậy!Chiêu hồi để em hiến thân cho mấy thằng cảnh sát, cai ngục, em hiểu chưa. Bọn chúng xài xể thân em không còn gì nữa chúng sẽ đưa em vào sở Mỹ làm đồ chơi cho Mỹ. Xã Phụng đã có đứa bị bọn Mỹ hãm chết rồi quăng xác xuống biển... Việt à! Sự tàn bạo của Mỹ trời không dung, đất không tha!... Em đừng có nghĩ quẩn!... Được không!... Việt cười nhìn Mai nửa đùa nửa thật: -Dẫu sao cũng một kiếp người. Chị Mai à, nói vậy chứ em không đi chiêu hồi đâu. Mà em có chiêu hồi thì em cũng biên thư cho chị biết, chắc việc đó không có đâu chị à. -Thôi, em cứ nghỉ đi, chị em mình tối nay sẽ nói chuyện thêm. Tiếng gió từ trong rừng già thổi về cuốn theo tiếng ầm ào của con thác Mun (con thác hùng vĩ và dữ tợn quanh năm ở trong tận rừng già). Tiếng con dế kêu ri ri trong chiều nhạt nắng như đục đẽo vào tâm hồn con người. Mai vạch vú cho con bú miệng luôn nói nựng với con. Việt nhìn mẹ con Mai thèm khát, cúi xuống nhặt rau và gọt sắn. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 14 Tháng Chín, 2023, 01:53:21 pm Chương 23 Liên tục hai mùa lúa rẫy bội thu, dự trữ lương thực ở xã Phụng đã khá hơn nhiều. Bé Trung lẫm chẫm quấn lấy má và thím Năm suốt ngày. Một ngày không biết bao nhiêu lần bé Trung quậy phá và hôn xin lỗi má và thím Năm. Dưới căn cứ xã Phụng thì ngược lại. sau khi bị diệt gọn, đại đội bảo an ác ôn 310 và tiểu đoàn bảo an 219 địch tuyên bố quyết rửa hận với cách mạng tại xã Phụng. Cứ điểm núi Sầm địch cho xây dựng kiên cố hơn và đưa một đại đội bảo an về đóng giữ. Các đơn vị bảo an phối hợp với nhau chặt chẽ được sự yểm trợ của bọn lính Đại Hàn thuộc sư đoàn Mãnh hổ và trung đoàn số 47 cộng hòa tiến hành cướp vụ lúa tháng ba đang vào mùa thu hoạch. Trước tình hình đó, thị đội tăng cường cho xã Phụng một trung đội để phối hợp với du kích xã đánh địch. Những trận đụng độ giữa ta và địch liên tục xảy ra làm cho phong trào đấu tranh của bà con xã Phụng bị lắng xuống. Đêm ngày địch chốt giữ nên việc liên hệ giữa ta và dưới làng thường bị gián đoạn, lúa gạo ở dưới làng cũng không lấy được. Cán bộ và du kích xã lại phải về hậu cứ sản xuất lấy gạo và sắn đưa xuống căn cứ xã. Ông Chín Tòng lên tỉnh họp, được bí thư tỉnh tặng chiếc áo len từ miền Bắc mới gửi vào để ông bạn già của bí thư hưởng hương vị của hậu phương lớn, thương anh em khổ, ông quyết định đổi áo lấy con heo thượng đem về giao cho hậu cứ nuôi. Đưa heo về hậu cứ, thấy Mai và thím Năm giã gạo để đưa về căn cứ, ông xót xa kêu lên: -Nghĩ mà tức, gạo từ trên rừng đưa xuống đồng bằng mới thật là ngược đời. Mai nhỏ nhẹ: -Vậy mới gọi là chiến tranh nhân dân, địch giữ cũng chỉ một thời gian ngắn thôi. Ông bập phà điếu thuốc nghĩ ngợi một hồi rồi nói với Mai: -Nghĩ cho cùng, trên buộc các đơn vị xây dựng hậu cứ sản xuất là đúng, có lẽ tình hình này phải đưa một số anh em lên sản xuất thì mới “thực túc, binh cường” được, còn cháu cố gắng ở hậu cứ một thời gian nữa rồi sẽ sắp xếp công tác. Mai mừng rỡ: -Bé Trung nhà cháu cũng lớn rồi, về xã công tác cả hai mẹ con cũng không ảnh hưởng tới anh em nhiều lắm đâu. Ông Chín gạt đi: -Không được, tối xuống làng bỏ con cho ai trông. Cái gì cũng phải thực tế. Làm cách mạng phải lo trước cho mọi người, mình hưởng thụ sau cũng chẳng muộn gì. Tới đây xã mình sẽ rút một số thanh niên lên thoát ly, phải chuẩn bị trước thuốc men, lương thực. Mai phấn chấn: -Cháu có thể làm được việc quản lý số thanh niên mới thoát ly. -Được rồi để tính chú tranh thủ về dưới đó, ở nhà lỡ có chuyện thì sẽ lâm vào tình trạng như rắn không đầu. Ông Chín sực nhớ, móc trong ba lô gọi thím Năm: -Chị Năm à, tôi giao cho chị hai gói mè giống, loại mè đen và loại mè trắng. Địch càn mà có mè làm lương khô thì rất tốt, ăn lành bụng dạ lắm đó. Ông Chín cười lớn xốc gùi gạo bước đi. Chiếc ba lô được buộc chặt vào gùi. Chiếc thắt lưng US đã cũ bị khẩu súng ngắn và bi tông nước kéo trễ xuống và thắt lưng thì rộng mà bụng thì nhỏ, vậy mà ông cứ đi phăng phăng. Nửa tháng nay đêm nào máy bay B57 cũng bay tới 3, 4 lần. Bất giác Mai nhớ tới lần địch đổ biệt kích xuống quấy rối, đánh phá căn cứ tỉnh Phú Yên. Địch cố ý tạo ra tâm lý “lạnh lưng” “hở sườn” ở đâu cũng sợ bị chúng tập kích. Gần những ngày địch rút, phản lực, trực thăng oanh tạc yểm trợ cho máy bay Đa-kô-ta bay rà sát ngọn cây rải chất độc hóa học. Những luồng khói trắng đục dày đặc từ chiếc Đa-kô-ta phun ra dài hàng chục cây số phút chốc tỏa thành một trận mưa bụi trùm xuống nương rẫy, núi rừng. Bụi thuốc bay là là rồi bám chặt lấy cây cỏ và thấm sâu xuống đất, những hạt bụi nước chỉ bằng đầu chiếc kim màu vàng đậm như xăng và dầu nhờn trộn lẫn vào nhau, nhanh chóng bít kín hơi thở của cây cỏ. Cái chết lan rộng khắp nơi trong ánh nắng oi ả, ngột ngạt. Mùi tanh, hôi, khét nồng nặc của thuốc thấm vào cây cỏ, đất đai làm cho nương rẫy, núi rừng phút chốc trở nên xơ xác. Sau trận mưa chất độc hóa học, mọi người phải xông ra rẫy sắn chặt ngang thân cây để củ sắn bớt bị nhiễm độc. Nhưng chất độc thấm xuống củ sắn dưới đất vẫn bị trương phềnh lên. Nửa tháng sau nhổ sắn lột vỏ ngâm xuống suối cho chất độc bớt đi nhưng bùi tanh, hôi, nồng nặc trong củ sắn vẫn không giảm đi chút nào. Trong lúc cứu các rẫy sắn, nhiều người đã bị nhiễm độc ói mửa thốc tháo, bụng đau quằn quại phải khiêng đi bệnh viện cấp cứu. Hồi đó, ở dưới làng bọn địch tổ chức càn quét, đánh phá vùng ven thị xã Tuy Hòa nên không xuống làng lấy gạo được, du kích và cán bộ xã Phụng phải ăn cháo, ăn sung quần bám đánh địch. Không hiểu sao mà ông Chín vẫn dành mười cân gạo trên đường lên Tỉnh họp ghé vào hậu cứ cho mẹ con Mai. Vẫn nói giọng chắc và đều đều, ông Chín bảo Mai đem gạo chôn vào ống pháo dành gạo giã bột cho bé Trung ăn dần. Mai rưng rưng nước mắt nhìn về phía Hòn Chuông mong cho ngày nào đó được qua dốc Hòn Chuông trở về cùng anh em xã Phụng công tác và chiến đấu. Nghĩ tới Lâm, Mai thấy chồng mình cũng như bao người lính khác hết hành quân lại đánh địch chẳng bao giờ được nghỉ ngơi, có lẽ trời sinh ra họ để chuyên gánh lấy những lo toan, vất vả và nguy hiểm. Nghĩ tới những viên thuốc, tấm vải hoa Lâm lụm cụm giành cho vợ uống, cho con mặc, Mai ngồi thần người tư lự. Thấy Mai ngồi đăm chiêu, thím Năm tới ngồi bên: -Mày có cái tật lúc nào cũng lo xa. Đàn bà mà lo nghĩ nhiều chóng già lắm con à. Đã lo cho chồng, cho con, bây giờ lại lo cho cả công tác nữa... Nhưng ngồi đấy mà lo cũng chẳng được ích lợi gì. Mai lúng túng nhìn thím Năm: -Không hiểu sao nhiều lúc con cứ thấy lo lo cho Lâm thím à... Lâm liều và gan lắm. Thím Năm chậm rãi: -Người xưa nói làm đàn bà cái tật nhớ chồng ai mà chẳng có, riêng mày lại có cả lo lẫn nhớ. -Vậy thím nói con phải làm gì bây giờ? -Kinh nghiệm xưa ông bà mình đã dạy nhớ chồng lấy lúa ra mà xay, xay hết lúa mà vẫn còn nhớ chồng thì đổ trấu ra mà xay nữa, xay đến vã mồ hôi là hết nhớ. Mai bỗng cười khúc khích: -Vậy lúa đâu thím đưa con xay. Thím Năm cười xòa: -Cái con nhỏ này... Chọc phá cả bà già nữa... Để bé Trung cho thím Năm ẵm, Mai vác rựa ra rẫy hái củi. Từ trước tới nay Mai vẫn sợ phải đi lấy củi. Hồi còn nhỏ mỗi lần chẻ củi không tím tay thì cũng chảy máu. Hồi mới thoát ly ra rừng kiếm cúi thì củi mục, củi khô Mai đều lượm hết, kiếm chán chê mới được một mớ lòng thòng đưa về làm Mai mắc cỡ muốn chết. Còn lúc này, củi là những gốc cây khô cứng to bằng bắp chân, bắp đùi. Dùng rựa chặt thì rựa văng hoặc bị cắm chặt vào cây lay mãi mới ra, Mai chỉ còn một cách lượm củi cành về là yên chuyện. Bữa nay thấy một gốc cây khô, lấy tay lắc gốc cây lung lay hung Mai hăm hở chặt, hết chặt lại lay nhưng rễ cây bị kẹt trong đá khiến Mai hì hục mãi vẫn không chặt được. Đang lúng túng thì Út Hân chạy tới: -Chị Mai. -Ủa lên hồi nào? -Chị về nhà ngay, chú Chín bị thương. -Sao? Bị thương có nặng không? -Về nhà nói... Chuyện dài dòng lắm... Chị để em... Út Hân chặt cây củi rồi xoay một vòng, một tiếng rắc... gọn nhẹ, cả gốc cây và đá đều tung lên rồi hai chị em hối hả về nhà. Mai hấp tấp bước vào trong lán thấy ông Chín nằm trên võng Mai hớt hãi kêu lên: -Trời ! Chú!... Đôi vai Mai rung lên, cố kìm cho tiếng khóc khỏi bật ra xong nước mắt cứ chảy tràn. Mai run run sờ lên vết thương quấn đầy bông băng trên đùi và cánh tay của ông. Cánh tay phải của ông Chín Tòng bị tiện cụt, đùi chân phải ga-rô nẹp cứng, nước da vốn xạm nắng bây gìơ xám xanh lại máu đọng, loang lỗ trên vết thương. Út Hân nói nhỏ: -May mà kịp thời đưa tới trạm phẫu tiền phương, mấy ảnh xử lý và hối thúc đưa đi viện nếu không thì nguy rồi. Đồng chí y sỹ của trạm phẫu được cử đi hộ tống ra hiệu cho Út Hân nói nhỏ, Mai lo lắng: -Vết thương ra sao anh? -Mảnh M79 làm vỡ nát xương bắp tay nên phải cho tháo khớp ngay chú ấy mất nhiều máu quá nên sức yếu lắm. Thím Năm pha sữa đưa cho Mai nhắc nhỏ: -Con cho ảnh uống sữa... Tội chưa!... Cả xã trông vào một mình anh ấy. Thím Năm cắn môi không cho mình khóc thành tiếng. Mai cẩn thận xúc từng thìa sữa cho ông Chín uống, ông hé miệng cố nhấp từng giọt đôi mắt hé mở nhìn Mai rồi lại nhắm ghiền. Sực nhớ bữa trước ông Chín khoe với Mai chú Sáu bí thư tỉnh cho nửa củ sâm vội tìm trong ba lô của ông, Mai lấy nửa củ sâm đưa cho đồng chí y sĩ, đồng chí y sĩ giục Mai: -Chị cắt ngay vài lát sâm sắc đặc để chú ấy uống cho lại sức. Của quý thế này mà không biết. Mai cẩn thận hỏi: -Cắt thêm mấy lát gừng tươi sắc chung với nhân sâm phải không anh? Đồng chí y sĩ gật đầu, tiêm thêm cho ông chín. Có lẽ nhờ uống được chút sữa và mấy thìa nước sâm nên ông Chín tỉnh lại, mấy lần nhìn Mai như muốn nói gì rồi lại thôi. Biết ý, Mai nhìn chú như thúc giục, như cầu khẩn: “Chú ơi! căn dặn điều gì chú nói đi !...Cháu sẽ về làng nói với Thím với gia đình!...” Hồi lâu ông Chín Tòng mở mắt nhìn Mai gượng yếu ớt: -Con mày ... còn nhỏ quá!.. Xã không có bí thư !.. Mai nghẹn ngào nói trong nước mắt: -Chú cứ yên tâm chữa thương cho chóng lành!... Tin ở con đi, ở nhà con sẽ làm được tất cả!... -Có điệp ngầm, nó chỉ điểm. Ông chín Tòng nghẻo đầu sang một bên rồi hôn mê. Mai cuống lên sợ hãi. Đồng chí y sĩ vội tiêm thuốc trợ sức. Thím Năm bưng tới chậu than đặt dưới võng sưởi ấm cho ông, khóc tấm tức: -Anh Chín ơi!...Đừng bỏ bọn này nghe anh!... Mọi người xúm lại cấp cứu. Đồng chí y sĩ lo lắng giục: -Phải đưa gấp tới bệnh viện ...Đi thật nhanh các đồng chí... Hai Trúc và Năm Đồng cẩn thận cầm đòn khiêng, ghé vai nâng cáng, mọi người hối hả đưa ông Chín đi viện. Trời sập tối, rừng gai quýt bắt đầu vang lên tiếng của bầy chim chuông và ánh sáng lập lòe của từng bầy đom đóm, ánh đèn pin lia ngang lia dọc trên con đường xuyên qua rừng gai quýt, Mai nhắc mọi người cẩn thận, né tránh những cành gai quýt sắc nhọn như kim. Qua cánh rừng gai quýt Mai đứng lại dặn dò anh em khiêng cáng cẩn thận rồi mới trở về. Mai cảm thấy tạm yên tâm khi cáng thương ra tới đường lớn dễ đi, cáng bớt xóc, chắc ông Chín bớt đau. Về tới nhà nỗi lo buồn vẫn vời vợi xoáy cuộn trong người, Mai nhận ra khoảng hẫng hụt đối với xã Phụng khi bất ngờ thiếu một người chèo chống trong lúc tình hình đang diễn ra ác liệt. Mai cố nhớ ra từng khuôn mặt của những người thoát ly trong xã, những cơ sở hợp pháp của xã Phụng và cả những cán bộ thường hay về công tác ở xã để gạn lọc tìm ra ai là kẻ phản bội. Khuôn mặt ông Chín Tòng lại chờn vờn hiện lên nhắc nhở Mai phải tìm cho ra bằng được kẻ phản bội ấy. Lòng Mai nặng trĩu, chỉ có vô tình là bầy chim krông-krinh thi nhau kêu hoài trong rừng đêm. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 14 Tháng Chín, 2023, 02:05:45 pm Chương 24 Trời vừa hửng sáng. Những lớp sương mù dày đặc cuồn cuộn bay phủ lấy cao nguyên Vân Hòa. Lá cây ướt đẫm đứng chen nhau, những giọt sương mọng nước đậu dày trên cành lá. Một cơn gió lướt tới, sương rơi xuống đất lào xào như một trận mưa nhỏ. Thím Năm và Mai đã thức dậy. Suốt đêm qua cả hai thím cháu đều trăn trở không sao ngủ được. Mai cẩn thận gấp chung lá thư của chú Chín Tòng gửi cho mình vào chung với lá thư gửi thường vụ Tỉnh ủy. Mai đã đọc và suy nghĩ rất kỹ lá thư của ông Chín và quyết định về xin ý kiến Thị ủy. Phương án để con lại cho Thím Năm nuôi và Mai trở về xã trong thời gian ông Chín nằm viện được thím Năm gợi ý xem ra có lý. Hiểu uy tín của ông Chín với Tỉnh và Thị, khi Mai báo cáo chắc chắn thường vụ Thị ủy sẽ chấp nhận ý kiến của ông Chín vì thật ra nếu không có con nhỏ thì Mai đã được sắp xếp công tác rồi. Nghĩ đến bé Trung mới hơn một tuổi mỗi khi nhớ và tìm mẹ mà mẹ thì biền biệt, Mai ứa nước mắt. Hơi mẹ và hơi con đã quyện vào mỗi bữa ăn, giấc ngủ, Mai chịu sao nổi khi phải xa con. Nghĩ tới chồng, Mai thấy thương và có lỗi với Lâm. Chắc chắn Lâm sẽ buồn và giận Mai nhiều. Mai tự hỏi mình: “Bỏ con đi một mình có bạc ác lắm không? Mình đâu phải diện cán bộ hoạt động bí mật mà đòi hỏi phải làm như vậy? Sức khỏe bé Trung sẽ ra sao khi không có sữa mẹ?...” Thấy Mai tư lự, thím Năm thủ thỉ: -Hay mày không muốn về xã? -Con rất muốn nhưng cháu nó còn nhỏ quá thím à. -Tao biết vậy nhưng thư anh Chín gửi cho mày là có ý tứ trong đó con à. Tao sức yếu, năng lực không có đành yên phận. Lắm lúc nghe bay nói về tình hình xã ruột gan tao cũng sôi như lửa mà không biết làm gì lúc này. Mai ngần ngại: -Có hai điều làm con nghĩ hung là cháu còn nhỏ và không biết mấy chú mấy anh trong Thị ủy có tin cháu không. Hồi chưa có con khác, bây giờ có con khác thím à. -Thì con cứ xuống trình bày với mấy ảnh. Tao nghĩ hiểu được dân, hiểu được phong trào xã Phụng đâu phải một ngày một bữa mà phải ăn nắng, nằm sương dân mới tin. Người ta nhận làm cơ sở là người gắn bó suốt đời với cách mạng. Vàng bạc có tiền thì mua sắm được nhưng mua được lòng tin của dân thì phải đổi bằng sự hy sinh gian khổ con à. Mai cúi đầu suy nghĩ rồi nhỏ nhẹ: -Con nghe lời thím về Thị ủy báo cáo, thím ở nhà trông cháu cho con. Thím Năm vui vẻ: -Cứ yên tâm mà đi. Con mày nó cũng bén hơi tao rồi. Hai bà cháu ở nhà với nhau không sao đâu. Con phải nghĩ rộng tới bà con bị bắt bớ, tù tội anh em mình hy sinh thì mới rời con đi công tác được. Mai nhìn thím Năm đầy biết ơn: -Dạ... Giờ thì con nghe thím. Mong cho mọi việc được như ý chú Chín sắp đặt. Đêm lại chìm xuống. Vẫn khẩu AK để dựng nơi chiếc ba lô ngay đầu võng, Mai ẵm con nằm trên võng nhìn ánh lửa bập bùng nghĩ tới những ngày cắp AK lặn lội với phong trào và đánh địch trên địa bàn xã Phụng. Nghĩ tới chồng, nghĩ tới những lời khuyên bảo và giảng giải của thím Năm, Mai thấy nỗi thương và lo cho con dịu bớt. Mai thầm ước giá chi có Lâm ở cạnh lúc này, Mai sẽ nói với Lâm: “Anh à!...Chú Chín Tòng bị thương viết thư đề nghị thường vụ để em thay thế trong thời gian chú điều trị thôi mà. Em không bỏ con đâu!...Chú Chín, anh em xã Phụng và bao nhiêu người khác vật lộn với địch từng ngày...Lẽ nào để lòng tin của dân bị lung lay trong lúc gian khó này...’ Mai còn muốn nói với chồng nhiều hơn nữa. Tuy lo chồng giận, nhưng Mai tin rằng Lâm sẽ hiểu và đồng ý Mai xử lý tình hình xã Phụng trong lúc này. Nhìn thím Năm nằm co ro trên võng, tấm đắp bằng vải dù trùm lên đầu. Mai thấy thương và tội nghiệp cho thím Năm. Ba Hổ phải bỏ cả buổi đi lượm dù pháo sáng về cho Mai nhuộm và khâu bọc võng cho thím nằm chống muỗi, ấy vậy mà thím vẫn hất bọc võng sang một bên. Nhiều lần thím Năm nói với Mai khi ngủ nằm võng có bọc ngợp thở không chịu được. Mai bừng tỉnh giấc đã thấy thím Năm đang ngồi vắt cơm để mình mang theo ăn dọc đường vội ngồi cạnh thím: -Đường từ đây xuống Thị ủy hơn nửa ngày, vắt cơm làm gì thím. -Quá trưa tới Thị ủy mọi người ăn rồi lại nắng nôi, không có lý lúc đó lại đi nấu cơm ăn một mình hay sao. -Lo gì chuyện đó. Thím năm đủng đỉnh: -Dẫu sao lo xa vẫn hơn. Mai vừa đẩy những gộc củi khô cho lửa cháy to lên vừa dặn thím Năm: -Thím ở nhà trông cháu, xuống Thị ủy báo cáo xong là con về ngay. Thím Năm chậm rãi: -Cứ yên tâm mà đi công tác, con nhỏ ở nhà tao trông, không sao đâu. -Lần đầu tiên sống xa nó con thấy phập phồng, nôn nao trong người thím à. Thím Năm nhìn Mai cười: -Lon son cũng con cùng mẹ, lẹ chẹ cũng mẹ cùng con, đàn bà xa con ai chẳng vậy. Mày đi công tác lần này, bé Trung ở nhà cũng như tập lần xa mẹ cho quen đi. Mai dặn thím Năm: -Đường, sữa, bột và thuốc của cháu con cất trong ống pháo, ở nhà nhớ dấu cho con nghe thím. Quần áo, tã lót thím bỏ vào ba lô, đi đâu bà cháu có cái mặc. Thím Năm gật đầu, sực nhớ ra thím vội bảo Mai: -Các loại thuốc cho con bé uống, mày làm dấu riêng ra từng loại rồi chỉ từng loại cho tao nhớ để ở nhà con bé có gì tao lo. -Dạ... Mai lúi húi kiểm tra, sắp xếp đồ đạc cho bé Trung. Thím năm nhìn Mai bỗng vỗ vào trán mình: -Tí nữa tao lại quên, về Thị ủy nếu các anh ấy phân công về xã là điều tốt, nếu chần chừ phải cố thuyết phục để được về xã công tác. Ở lâu với anh Chín tao biết tính anh ấy làm việc gì cũng cân nhắc thấu đáo. Vì vậy xem ra ở xã mình lúc này chỉ có mày và anh Chín là hiểu dân, hiểu tình hình. Cố mà làm cho đúng ý trong thư anh Chín đã dặn nghe Mai? -Dạ...Con cũng hồi hộp lắm chứ thím. Sắp xếp mọi thứ xong xuôi thím Năm giục Mai: -Thôi đi ăn cơm rồi tranh thủ đi sớm cho mát. -Trên đường thiếu gì người đi phải không thím? Thím Năm cười nhìn Mai. Hôn nhẹ lên má con Mai đứng dậy khoác súng, đeo ba lô và dặn thím Năm : -Cứ để cho cháu ngủ đẫy giấc. Con đi nghe thím. -Ừ...Đi đường cẩn thận. Mai khoác tấm áo mưa trùm lên ba lô, cúi người bước ra khỏi nhà đi băng qua rẫy sắn ra đường lớn. Mây mù và sưong đêm nhuộm ướt cả rừng cây, đường đi. Mới đi một đoạn chiếc mũ tai bèo đã ướt sũng thấm vào tóc. Mai vừa đi vừa lấy tay gạt các cành cây lòa xòa ướt sũng . Những đàn bọ mắt nhỏ li ti bắt hơi người bay ùa tới luồn vào gáy, vào tóc cắn ngứa rát khiến Mai thỉnh thoảng phải lấy tay gãi đầu. Dừng lại vắt chiếc mũ tai bèo cho ráo nước Mai rùng mình vì khí lạnh của rừng già, sương sớm quần và áo ướt mèm dính sát vào da tạo cho Mai cảm giác lép nhép dai dẳng và khó chịu. Mải lom khom tránh cây, tránh lá, Mai giật mình hoảng hốt nhẩy lùi lại. Một con rắn lục xanh vàng như chiếc lá non đang cuộn mình bám vào một cành cây, đầu con rắn đã vươn chạm vào vành mũ của Mai. Nhìn con rắn ngóc đầu uốn lượn há miệng phun nọc độc trước mặt, Mai lùi tiếp hai bước. Sau vài giây định thần, bẻ một cành cây Mai vụt mạnh vào thân con rắn, con rắn lục lập tức rơi xuống đường, tiếp tục trườn mình bò đi. Mai nhanh tay vụt liên tiếp vào thân con rắn. Bị gãy khúc con rắn không bò đi được, Mai đập vào thân vào đầu rắn cho nát bét mới dừng tay. Lấy cây khều và quăng xác rắn vào rừng, Mai đứng thần người. Đến lúc này cảm giác sợ bị rắn cắn mới ào tới, Mai nhìn xung quanh xem có rắn không và bật cười với chính mình, bụng bảo dạ: “Không nhanh thì chỉ một chút thôi, con rắn lục mổ vào mặt thì mình sẽ trở thành liệt sĩ vì rắn cắn”. Xốc ba lô và súng Mai đi chậm lại, vừa đi vừa chú ý xem trước mặt và trên đường có rắn hay không. Ánh mặt trời hực lên không khí oi nồng kéo tới, những mảng sương dày đã tan, gió thổi lồng lộng. Bầu trời cao vổng lên và xanh leo lẻo. Con đường số 6 đỏ au trải dài hun hút. Nhìn trời thấy gió lặng Mai biết buổi trưa nắng sẽ gay gắt, cố gắng đi nhanh để vượt qua trảng tranh tránh nắng gắt buổi trưa. Khí hậu vùng cao nguyên Vân Hòa như một bà già đỏng đảnh khó tính đến khắc nghiệt: quanh năm chỉ có nắng, gió và bão lụt. Khí hậu như vậy buộc con người phải cứng cỏi, phải sống hòa nhập với nắng và bão lụt. Bù trừ cho khí hậu khắc nghiệt, đất ở đây rất phì nhiêu. Những vườn thơm nối tiếp nhau tạo thành những cánh rừng thơm dài hàng cây số. Những rừng mít một năm hai mùa trái xum xuê, nặng trĩu. Mai thấy vui khi nhận ra trong cái quy luật nghiệt ngã của thiên nhiên bao giờ cũng có sự bù trừ hậu hĩnh làm cho cây trái tốt tươi, đất đai màu mỡ. Đi một mạch hai tiếng đồng hồ vượt qua trảng tranh bát ngát tới suối Sổ, Mai mới bỏ súng và ba lô trên một tảng đá ngồi nghỉ và lấy nước ra uống. Đã lâu lắm rồi Mai mới thấy mình hưởng được cái không khí rộn ràng, phấn chấn trên đường số 6 nườm nượp người gùi hàng, gùi gạo từ các cửa khẩu dưới đồng bằng lên căn cứ và người tải đạn vũ khí từ căn cứ xuống các chiến trường. Một tốp thanh niên xung phong ríu rít gọi nhau trên dốc suối Sổ. Những thùng đạn nặng nề dán chặt lên lưng, họ khom người vịn cây xuống dốc. Những cô gái áo đẫm mồ hôi, đầu gối trùng xuống tạo thế cho toàn thân cân bằng, tìm cách xuống dốc. Khác với dốc suối Sổ đá lởm chởm, đường ngoắt nghéo, dốc Mười Lệ mà đã nhiều lần Mai đã đi toàn là sỏi và đất gan gà dựng đứng như mái nhà người Ê -Đê. Ngày xưa người ta gọi dốc Mười Lệ là dốc Mái nhà hay là dốc Quýt vì dốc nằm trong rừng gai quýt và nhìn từ xa đồi gai Quýt như một mái nhà. Tình hình cách mạng những năm 1954 đến 1960 quả là đen tối, cam go. Sau đồng khởi ở Hòa Thịnh và Hòa Mỹ, địch tập trung lực lượng đánh phá, dồn ép lực lượng cách mạng vào rừng thẳm núi sâu. Nhiều cán bộ Đảng viên của ta vừa vượt khỏi các nhà tù của Mỹ ngụy thoát ly lên cứ công tác bị hy sinh và bị địch bắt. Chú Sáu Râu bí thư Tỉnh ủy phải dứng ra chia từng gốc sung giữa rừng già cho các cơ quan, đơn vị trong Tỉnh để bảo quản cho có sung trái mà ăn. Hạt gạo lúc đó quí hơn vàng, ăn sung và củ bá là chính. Ai đi công tác thì phải lấy khăn vắt chặt vắt cơm nếu không cơm sẽ đi đằng cơm, sung sẽ đi đằng sung. Và mỗi ngày mỗi người chỉ được ăn một bữa để giữ sức mà đi công tác, chiến đấu. Một lần đi công tác, chị Mười Lệ trèo lên đỉnh dốc, đặt ba lô xuống ngồi nghỉ thì vắt cơm trong túi cóc rơi và lăn xuống dốc. Chị Mười Lệ vừa chạy xuống dốc vừa đưa tay nhặt vắt cơm mà vắt cơm vẫn lăn tuồn tuột. Từ đỉnh dốc lăn xuống chân dốc, vắt cơm mới chịu dừng lại. Chị Mười Lệ vừa chạy theo vắt cơm vừa khóc. Xuống tới chân dốc nhặt vắt cơm phủi sạch đất cát dính vào chiếc khăn, chị Mười Lệ gặp một đoàn cán bộ đi tới. Mọi người xúm lại hỏi, chị Mười Lệ tủi thân vừa kể vừa khóc rưng rức. Câu chuyện từ đó loan nhanh ra và từ đó dốc Mái Nhà có tên là Mười Lệ. Người cuối cùng của đoàn thanh niên xung phong xuống tới chân dốc suối Sổ là một cô gái. Thoáng nhìn bất giác Mai reo lên: -Lòng phải không? -A!... Chị Hai. Cô gái xốc lại gùi, vươn người như con lạc đà đi qua suối tới đặt gùi hàng cạnh Mai rối rít: -Chị đi đâu vậy? Bọn em gùi đạn cho thị xã Tuy Hòa đây nè. Cô gái quay lại giới thiệu Mai với bạn bè: -Chị Mai bí thư xã Phụng quê mình đó. -A! Nghe tiếng chị bữa nay mới thấy mặt. Một cô khác chen vào: -Chị Mai à. Nó đổi tên là Loan rồi. Đi làm cách mạng phải đặt tên mới cho xứng với người. Chị coi nó đẹp gái vậy mà cứ gọi mãi bằng cái tên cúng cơm nghe kỳ lắm. Mai vui vẻ nhìn Loan: -Đặt thêm chữ lót là Minh Loan mới hay. Mấy cô gái reo lên: -Đúng đó. Gọi là Minh Loan hay hơn Thanh Loan. Loan sôi nổi hỏi: -Tình hình xã mình ra sao chị? Đêm đêm vào làng có dễ không? Em nhớ nhà quá, không biết kỳ này có được xuống làng ghé vào thăm nhà không? Đỏ mặt lúng túng vì biết Loan cứ tưởng mình vẫn là bí thư xã Phụng, Mai thành thật: -Từ hồi sinh cháu tới giờ chị vẫn ở hậu cứ sản xuất, tình hình ở xã vẫn nghe nhưng không hiểu tường tận lắm. Đợt vừa rồi chú Chín Tòng bị thương bữa nay chị xuống gặp mấy anh trong thường vụ thị xin tăng cường cho xã bí thư mới. Loan giật mình hỏi dồn: -Bị thương hồi nào? Ổng là dượng em đấy chị Mai à. Nhờ có ổng thuyết phục má mới cho em thoát ly đó. Mai ân cần: -Hiện nay chú Chín điều trị ở viện Hồ Tây được ba tháng rồi mà vẫn chưa yên. Nghe nói trên cho ra Bắc điều trị. Chị nghe mấy anh chị ở H9 lên Hồ Tây nói lại chứ chị cũng không rõ tình hình lắm đâu. Loan thở dài, đầu hơi cúi xuống: -Bọn em cứ đi hoài. Chà!... Làm sao mà ghé thăm dượng Chín được đây!... Mai trấn an: -Có điều kiện em ghé thăm, làm cách mạng công việc lúc nào cũng túi bụi. Chắc chắn chú Chín không trách đâu. Ngắm nhìn Loan, Mai mừng rỡ: -Con nhỏ độ này phổng phao xinh đẹp hơn hồi ở nhà nhiều. Đợt vừa rồi em đi công tác những đâu? Loan cúi đầu bẽn lẽn: -Ra khu tải đạn về thẳng huyện Tuy Hòa 1 rồi sang đây. Mai gật đầu: -Tha hồ mà băng đèo lội suối. Có vất vả lắm không em? -Cũng thường thôi chị à. Mai lấy bi đông nước và chiếc chén mỏng đặt trên hòn đá ân cần: -Anh em nghỉ cho bớt nắng rồi mới đi chứ? Loan nhanh nhảu: -Bọn em tranh thủ giao hàng rồi lên ngay. Lần này tập trung cho chiến dịch khẩn trương lắm. Chia tay Loan và anh em thanh niên xung phong, Mai hối hả về Thị ủy Tuy Hòa. Như con chim xổ lồng hòa nhập bay cùng với bầy đoàn giữa bầu trời, Mai càng thấy mình về xã công tác lúc này là rất cần thiết. Mai càng cảm phục ông Chín Tòng, một con người hiểu đời, hiểu người, hiểu việc một cách sâu sắc. Ấn tượng của anh em thanh niên xung phong khiến Mai thèm khát cuộc sống vô tư yêu đời của họ. Mai bật cười nhớ lại chàng trai ngồi cạnh mình và Loan hóm hỉnh nói: -Đơn vị bọn em được phong là đơn vị lạc đà chị có biết không? Bọn em chỉ dám nhận làm lạc đà thôi. Voi to ra trận khó tránh đạn lắm. Vừa đánh địch vừa khiêng thương phải chạy thật nhanh và bền bỉ như lạc đà mới đưa thương binh về tới viện an toàn. Những câu chuyện cứ hiện lên khiến Mai phấn chấn, cố đi thật nhanh bất giác nhìn thấy một nấm mộ bên đường, niềm thương xót dâng lên, Mai tự hỏi: “Không biết người của đơn vị nào hy sinh mà chôn ở đây? Có lẽ đang đi trên đường thì bị hy sinh!...”. Bất giác Mai nhớ tới những con người của đơn vị thanh niên xung phong, suốt ngày phơi lưng trên các trục đường hàng lang Nam Trung Bộ. Trong đội ngũ của những người vô tư, yêu đời ấy đã có nhiều người vĩnh viễn nằm lại bên đường đi. Tâm hồn lắng xuống, Mai nhìn lại phía sau nhiều người cũng hối hả đi như mình. Mãi tới quá trưa, Mai mới tới Thị ủy. Do có cuộc họp của Thường vụ Thị ủy có cả thường vụ Tỉnh tham dự nên Mai phải chờ cho cuộc họp xong mới được gặp các anh thường vụ Thị ủy. Không gì chán bằng mắc võng nằm chờ, rồi nỗi nhớ, nỗi lo cho con và thím Năm ở nhà vốn đã canh cánh bên lòng bây giờ lại nổi cuộn lên khiến Mai bồn chồn ngồi đứng không yên. Đang ngồi nói chuyện với cô văn thư Mai bỗng thấy Yến mang máy ảnh nhanh nhẹn vào nhà. Trông thấy Mai, Yến reo lên: -A... Cơn gió nào đưa em tới đây vậy? Người đẹp của ông Lâm xuất hiện tại chỗ này hẳn là gió đổi mùa. Cô văn thư nhìn Yến đi vào nhà khúc khích cười. Mai vui vẻ: -Cơn gió từ cao nguyên Vân Hòa đưa anh đến đây phải không? -Con em đâu? Trông em bữa nay gọn gàng như chuẩn bị đi đánh địch ấy. Yến không trả lời mà quay sang cô văn thư tay chỉ vào Mai: -Xin giới thiệu với em đây là người em khác họ mà rất gắn chặt với anh Lâm, bạn thân của anh. Cô văn thư đá nhẹ vào chân Mai nói với Yến: -Chị Mai tới đây học làm báo rồi cùng anh ra trận viết bài đó. Yến bắt tay cả hai người hào hứng : -Xin chúc mừng một đồng nghiệp mới. Mai đập vào tay Yến: -Đúng là nhà báo, tới đâu là không khí sôi động tới đó. Yến tò mò: -Thế Mai không bám trận địa sản xuất, nuôi con đánh giặc nữa à? -Em đem thư của chú chín Tòng xuống và báo cáo tình hình xã Phụng. Chú Chín bị thương, anh biết chưa? -Biết tin chú Chín rồi, anh định xong đợt công tác này lên Hồ Tây thăm chú ấy và viết bài về bệnh viện Hồ Tây. Mai hóm hỉnh: -Em vẫn trung thành và lăn lóc bám rẫy sắn, nương bắp, nuôi con và chờ đức lang quân đang học ngoài khu trở về công tác. Yến phá lên cười nói với hai chị em: -Con gái Phú Yên đảm đang nhất phải không các em? Cô văn thư nói lấp lửng : -Anh Yến à...Chị Mai cầm thư của cô nào trên tỉnh gửi cho anh đây, anh phải bao hai chị em thì chị Mai mới đưa thư cho anh. Ngồi xuống trước cô văn thư, Yến hài hước: -Rất vinh dự cho anh loại suốt ngày chạy như ngựa, lăn như trâu mà lại được cô gái nào đó viết thư kết bạn thì mừng lắm. Cô văn thư nhìn Yến, tay đấm vào lưng Mai cười ròn. Mai tỉnh bơ: -Thư có ngay đây nhưng những tấm hình bữa đám cưới của bọn em anh đã trả nợ xong chưa, trả hết nợ em đưa thư. Yến phì cười: -Trả hết nợ rồi. Này...Chuyện chụp ảnh bữa đó là do ông Đoan làm quân sư cho anh đấy. -Được, em sẽ kiểm tra mấy đứa con gái. Anh chưa trả nợ chúng nó, em sẽ mở chiến dịch tuyên truyền “Anh Yến nhà báo nói láo một cây” cho anh mồ côi vợ suốt đời đó. Yến xua tay : -Xin hai em nhẹ tay... Mồ côi vợ thì nguy cho anh lắm. Cô văn thư thật thà : -Anh em trong cơ quan nói anh kể chuyện hay lắm phải không ? Mai tinh nghịch: -Toàn là chuyện bịa phải không anh Yến? Cô văn thư háo hức: -Anh kể chuyện cho bọn em nghe đi, chuyện gì cũng được . Ngừng một lát Yến gật đầu : -Thôi được, anh xin kể một chuyện mà anh đã chứng kiến: Tiểu đoàn H13 thì hầu hết là lính Bắc, năm 67, tiểu đoàn được lệnh đi đánh bọn Đại Hàn đổ quân xuống chiếm đóng huyện Tuy An. Trên đường hành quân, mấy cậu lính kháo nhau và một cậu khẳng định : “Tất cả học sinh Phật tử ở miền Nam đều cạo trọc đầu” Mai phản ứng: -Anh lại bịa chuyện rồi. Yến xua tay cắt ngang: -Bởi vậy mới có chuyện... Đêm hành quân trăng sáng mờ mờ. Trời tối đen lúc mưa, lúc tạnh. Đường đi thì toàn là đá và bùn. Đội hình hành quân đang đi bỗng dừng lại. Trong ánh trăng lờ mờ, một người đầu trọc nhỏ bé xuất hiện. Để chứng minh ý kiến mình là đúng, cậu lính khẳng định: “Mình sẽ hỏi cháu học sinh phật tử đang đi tới chỗ chúng mình, các cậu sẽ thấy ý kiến mình là đúng”. Khi người đó tới gần, cậu ta xoa lên cái đầu trọc và hỏi: “Này em cho hỏi một tí”. Bỗng bà già nói: “Chuyện gì đó các con”. Giật mình rụt tay về, anh chàng lúng túng: “Má ơi!...Sắp tới An Lĩnh chưa má...”. Hú hồn, anh chàng đứng nhìn bà cụ người nhỏ thó ngơ ngác nhìn anh em bộ đội đang lấy tay bụm miệng cố không cho phát ra tiếng cười. Cả Mai và cô văn thư đều cười phì lên, cô văn thư không tin: -Chuyện tuy có thật nhưng anh bịa thêm. Khuôn mặt Yến vẫn tỉnh bơ, tiếp tục kể: -Hành quân đến vùng 4 An Lĩnh thì trời mưa tầm tã. Trời tối đen như mực, gió rít từng cơn dữ dội, nước mưa quất rát mặt thì được lệnh nghỉ. Bọn mình mừng khúm vì được phân công ở trong một ngôi chùa. Người thì đông, cột nhà thì ít, lính nhà ta tranh thủ cột võng nghỉ rất nhanh và gọn. Riêng cậu anh nuôi vướng xoong, nồi nên mắc võng sau cùng. Hành quân bí mật, khi mắc võng chỉ có một cách duy nhất là lấy tay sờ. Anh nuôi sờ một cây cột nhà, cậu ta vội cột một đầu võng cho chắc ăn, xong còn một đầu dây võng sờ mãi mà chẳng có chỗ cột. Bỗng nhiên anh ta sờ thấy một ông hộ pháp cao to. Sờ tới cổ ông hộ pháp thấy cổ to bằng cây cột nhà, mừng rỡ và cẩn thận anh ta lay thử ông hộ pháp thấy không nhúc nhích. Khoái chí, anh nuôi xuất khẩu thành thơ đọc ngâm nga: Nước đục đâu hẳn phần trâu, dẫu rằng đến chậm xuất đầu phần. Ta ta đưa cánh võng la đà, cảm ơn hộ pháp cho ta chỗ nằm. Mình bật cười hỏi: -Ông trưởng bếp có tin vui hay sao mà cao hứng làm thơ vậy ? -À...Em tưởng đêm nay nằm đất, ai ngờ buồn ngủ gặp chiếu manh, kiếm được chỗ cột võng tuyệt hảo. Có tiếng người làu bàu: -Ngủ đi lấy sức mà hành quân . -Giờ này mà còn thơ với phú. Cậu anh nuôi hỏi bạn: -Này cột võng lên cổ ông hộ pháp có việc gì không? -Ôi dà!...Miễn là có chỗ ngủ. Ông ấy đã uống thuốc “thông cảm” sẽ xá tội cho cậu. Cột võng xong, anh nuôi cẩn thận lấy tay nhún lên võng, thấy an toàn và leo lên võng nằm thì một tiếng rầm vang lên, tiếp theo những tiếng đổ lăn rào rào, lục cục. -Ôi! Phật đánh!... Tiếng cậu anh nuôi kêu lên và rên rỉ cầu cứu : -Cứu tớ với!...Sắp lại phật đổ!... Tất cả bật khỏi võng, bụm miệng cười vì anh nào sờ cũng thấy tượng phật nằm lổn nhổn dưới đất. Nghe tiếng lính xôn xao, tiểu đoàn trưởng xuất hiện quất đèn pin soi: Ôi cha!...Mấy chục tượng phật lớn bé nằm, ngồi, đều lăn quay trên đất. Tiểu đoàn trưởng nóng mặt: -Đứa nào làm đổ phật? Không ai trả lời, tiểu đoàn trưởng quắc mắt: -Xếp...xếp... hết nhanh lên. -Báo cáo ông nào trước, ông nào sau ạ? Tiểu đoàn trưởng dõng dạc: -Thằng lớn xếp trước, thằng nhỏ xếp sau nhanh lên. -Báo cáo thủ trưởng đây có phải là ông Thích ca không ạ? Tiểu đoàn trưởng dậm chân : -Lúc này mà còn hỏi Thích ca với thích hát cái gì, xếp nhanh lên kẻo ngày mai tất cả làm kiểm điểm bây giờ. Mai và cô văn thư cười ngặt nghẽo. Mai lau nước mắt hỏi Yến: -Anh có bịa không đấy? Khó tin quá!... Vừa lúc đó đồng chí cán bộ văn phòng đến bảo Yến: -Anh vào làm việc gấp. Bước ra khỏi nhà Yến nháy mắt nói với Mai và cô văn thư: -Anh còn khối chuyện...yên tâm. Tranh thủ lúc giải lao anh Tám Long bí thư Thị ủy gặp Mai để nghe báo cáo về xã Phụng. Sau khi nghe Mai trình bày tình hình, Tám Long suy nghĩ hồi lâu rồi dè dặt: -Vấn đề không đơn giản, ý kiến anh Chín viết trong thư là có cơ sở. Việc tìm ra tên điệp ngầm này không đơn giản; Thường vụ và em cùng lo việc này. Phải cẩn thận và tinh tế tìm và đánh trúng mục tiêu. Mai thận trọng hỏi: -Mấy người mà trong thư chú Chín Tòng nêu anh thấy thế nào? -Anh Chín gợi ý chứ không kết luận, có thể trong thư không nói hết ý, cần tới bệnh viện hỏi thì mới rõ được mọi việc. Việc đó sẽ có kế hoạch cụ thể. Anh Tám Long đột ngột hỏi Mai : -Con bé Trung độ rày có ngoan không? -Dạ...ngoan...cháu ít khóc. Tám Long trầm giọng: -Thời chiến mà nuôi con mọn cực lắm, cho xa hơi mẹ bớt đi để còn công tác Mai à. Ngần ngừ một lát Mai mạnh dạn: -Em cũng trình bày và xin các anh cho em nhận công tác, con em suốt ngày quấn lấy Thím Năm. Tám Long cắt lời Mai: -Anh Chín viết thư cũng có nói ý đó, nhưng bọn anh thấy con em còn nhỏ quá, cái khó là ở chỗ ấy, chà!... Mai hăng hái: -Thím Năm nuôi cháu, em trực tiếp về xã công tác anh à. Em và thím Năm đã bàn kỹ chuyện này. Tình hình ở xã lúc này ngoài việc dân tin còn phải hiểu rõ tình hình , có biện pháp tốt mới gỡ được thế bí của phong trào đang lắng xuống . Tám Long ôn tồn: -Năng lực em làm bí thư kiêm chủ tịch xã thì ngon ơ rồi. ý anh Chín và bọn mình cũng trùng hợp nhưng vẫn còn gợn. Mai phập phồng : -Anh có thể cho em biết được không ? Tám Long đột ngột hỏi Mai : -Việc nuôi bé Trung em và thím Năm bàn cụ thể ra sao? -Dạ...Con gái em nó cũng có tính độc lập anh à, đêm nó nằm ngủ với thím Năm, suốt ngày nó quấn lấy thím Năm vì vậy em mới có thời gian đi làm rẫy. Nó ở với thím Năm có bà có cháu thím cũng đỡ buồn. Tuy cháu còn nhỏ song em vẫn có thể đi công tác được anh à. Tám Long gật đầu: -Cách giải quyết như vầy: Ngày mai em nhận quyết định về thay anh Chín lãnh đạo trong ba tháng. Khi tìm được người thay thế, Thị ủy sẽ có quyết định sau. Mai mừng rơn: -Em cảm ơn mấy anh nhiều. Tám Long ôn tồn: -Lúc này bọn anh còn phải họp, em về hậu cứ sắp xếp cho yên rồi xuống địa bàn ngay. Bắt tay Mai, Tám Long cười rất tươi: -Rán lên nghe em gái!... Nhìn anh Tám Long đi về phía hội nghị Mai thầm cảm ơn lãnh đạo đã hiểu được tâm tư, tình cảm và nghị lực của mình. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 14 Tháng Chín, 2023, 02:35:14 pm Chương 25 1 Mai trở lại xã Phụng với bao cảm xúc khó tả. Vẫn giếng nước trong và mát lạnh quanh năm nằm gần gốc me già, vẫn tảng đá to bằng cái sập dưới gốc me già. Cây me già cao vút, tán trùm rộng cả một vùng, vẫn những cặp lá me đứng song đôi rì rầm suốt ngày như đôi bạn trẻ kề bên nhau tâm sự. Sau đợt ông Chín Tòng bị thương, Hai Trúc và Năm Hổ đã cho củng cố lại các hầm trú ẩn trong nhà ở căn cứ. Nền nhà được đào sâu xuống, nắp hầm được đắp dày và nện kỹ bằng đất sỏi làm mọi người yên tâm mỗi khi tránh pháo của địch bắn tới. Đặt ba lô vào chỗ cũ của mình và dựng khẩu AK Mai thư thả tới ngồi lên tảng đá bằng dưới cây me già. Bao kỷ niệm lại xôn xang, đã bao lần Mai và Lâm ngồi trên tảng đá này rồi dẫn nhau ra ngoài mương cái số 1 đứng nhìn đồng lúa Tuy Hòa. Màu xanh óng ả của lúa trải tới mút tầm con mắt, màu xanh lúa đậm dần và hòa vào trong dãy núi mờ xa. Gió như một con ngựa hoang chạy trên sóng lúa bập bềnh. Hương lúa thoang thoảng bay thơm dịu như thấm vào gió...Rồi hai đứa trở về mắc võng nằm cạnh nhau, tha thiết và Mai bị thu hồn vào giọng kể ấm trầm của Lâm, thả hồn theo câu chuyện tình thơ mộng của đôi trai tài, gái sắc hóa thân thành cây me. Nhìn căn nhà của ban chỉ huy xã Mai lại nhớ cuộc họp mà ông Chín nằng nặc đòi xuống làng đánh giặc... Chuyện cũ, chuyện mới xô đẩy nhau, bất giác Mai nhớ tới câu thơ Đường của Vương Duy mà Mai rất thích: Dao tri huynh đệ đăng cao xứ Biến sáp thù du thiếu nhất nhân (Anh em lên núi ở xa Thù du cài tóc vẫn là thiếu ai) Không khí xã Phụng phấn chấn hẳn lên khi Mai trở về, nhất là khi thị đội tăng cường về cho xã một tiểu đội lực lượng vũ trang. Sau cuộc họp với cán bộ, du kích và anh em lực lượng, Mai hiểu tình hình khó khăn đã diễn ra ngoài dự kiến của mình. Những tổ biệt kích, thám báo khi ẩn, khi hiện làm cho tình hình căn cứ xã không an toàn. Dưới làng bọn bảo an ngày đêm đóng giữ, ngăn chặn không cho ta vào làng. Hàng ngày địch theo dõi và tập trung điểm danh từng người dân trước khi ra đồng làm ruộng. Tâm lý gờm sợ địch âm thầm luồn vào trong anh em cán bộ và du kích, tin tức dưới cơ sở hợp pháp không nắm được... Mai lúng túng nghĩ mãi mà chưa có giải pháp tháo gỡ được tình hình. Câu nói của ông Chín “Làm cách mạng phải biết từ cái khó ló cái khôn mới thành công” lại vang lên trong đầu. Mai tự chế diễu mình: Đầu óc tối như hũ mực, toàn là cái khó ló cái bí thì nên công cán gì... Mai khoác súng đến ngồi nghe mấy anh du kích và cán bộ nói chuyện bao đồng. Thấy Mai đăm chiêu cậu Duy bên Thị đội nửa đùa nửa phê bình: - Cứ lạc quan lên chị Mai à, đăm chiêu như vậy không giải quyết được vấn đề đâu. Mai chân tình: - Chị đang ước mình có một đôi cánh bay xuống làng gặp bà con để nắm được tình hình địch ra sao. - Cái đó khó gì. Chị qua xã Thắng, xã Quang nhờ cơ sở của mấy xã bạn tìm cách giúp mình là biết tình hình và có kế hoạch đối phó với địch ngay. Mai vui hẳn lên : - Có lý... Theo cách của em mọi việc sẽ êm thấm. Duy vô tư: - Từ những người họ hàng của chị ở xã Thắng, xã Quang ta tìm cách móc nối và tổ chức để gặp cơ sở xã Phụng như vậy có phải tốt hơn không. - Chị xin bầu em làm quân sư có kế hoạch hay mà không bày cho chị. - Ôi! dà... “Hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất đáo”. Em có chui được vào đầu chị đâu mà biết chị đang nghĩ gì. Quả tình sau khi gặp cơ sở của xã Phụng tại xã Thắng, Mai biết thêm nhiều chuyện đang diễn ra trong dân: Một số cơ sở bị bắt, đàn ông và thanh niên chiều chiều kéo nhau vào thị xã ngủ, một số cơ sở bị tra tấn dã man, đã có người khai và dẫn địch tới một căn hầm bí mật mà ta không dùng nữa. Mai viết thư báo cáo về Thị ủy. Thường vụ Thị ủy cử Bảy Vân thường vụ về xã Phụng cùng Mai trực tiếp chỉ đạo phong trào của xã. Vốn dáng người đã cao to, từ khi trở thành thường vụ tới nay Bảy Vân bệ vệ, nghiêm nghị hơn. Luôn giữ thái độ trầm tư, khi cần thiết mới nói và trả lời, còn nghe là chính. Bảy Vân không làm mất lòng ai song cũng khó gần. Bởi vậy khi trình bày và đề xuất phương án công tác cho Bảy Vân nghe, Mai không khỏi lúng túng. Kế hoạch công tác của Mai được chia làm hai bước: Bước thứ nhất là du kích cùng lực lượng vũ trang thị đội bất ngờ thọc sâu vào làng kiểm tra lại toàn bộ hầm bí mật, móc nối với cơ sở trung kiên nắm cho được tình hình hoạt động của địch. Bước thứ hai là diệt ác, phá kèm hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy đồng thời bất ngờ tấn công trung đội bảo an thường xuyên đóng ở xóm Lẫm buộc địch phải co cụm lại. Nghe Mai trình bày Bảy Vân im lặng rất lâu rồi lưỡng lự: - Địch ruồng bố, vây hãm không thành quy luật, lực lượng ta mỏng, cơ sở hợp pháp nằm im, kế hoạch bất ngờ đột nhập vào làng rồi nằm vùng nắm tình hình xem có mạo hiểm lắm không? Mai khẳng định: - Ta lấy ít đánh nhiều thì yếu tố bí mật, bất ngờ, tấn công địch có trọng điểm là số một, việc đột nhập vào làng tuy mạo hiểm nhưng em tin là được, chỉ có làm như vậy thì phong trào mới mở ra. Bảy Vân vẫn dè dặt: - Hãy cân nhắc kỹ việc làm của chúng ta mạo hiểm hay liều lĩnh? Mai nhìn Bảy Vân thăm dò: -Vậy theo ý anh nên làm thế nào? Nhận thấy phương án do Mai đề xuất là phương án duy nhất tối ưu, Bảy Vân cố tìm một phương án khác song nghĩ không ra, cuối cùng thở dài: - Thôi được. Tôi chấp nhận phương án đồng chí trình bày. - Dạ, em cho triển khai ngay. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 14 Tháng Chín, 2023, 02:36:32 pm 2 Màn đêm trùm trong yên lặng, chòm sao ba sáng mờ sau những lớp mây như che chở cho những người con của xã Phụng đang lách qua lưới địch phục kích, Mai nhìn vào làng chỉ là một vệt đen thẫm khổng lồ trước mặt và quan sát mãi cũng chẳng thấy một ánh đèn nào từ trong làng phát ra. Mùi lúa thơm thoang thoảng, mùi hăng hắc của cỏ dại và mùi nồng của bùn bay trộn trong không gian làm cho không khí căng thẳng dịu xuống đôi chút. Vạch chiếc khăn buộc kín chiếc đồng hồ đeo tay, nhìn ánh dạ quang thấy đã 11 giờ đêm, Mai sốt ruột lom khom tới bên Hai Trúc hỏi nhỏ: - Tình hình ra sao? - Địch phục trong làng, không vào được. - Tổ trinh sát bò tới đâu? - Cách bờ làng còn hai đám ruộng, thấy lố nhố bóng đen sau bờ tre em cho lùi lại. Mai vẫy tay và ghé vào tai Hai Trúc nói thầm: - Cho đội hình lui ra xa. Bình tĩnh tìm cách đột nhập vào làng cho bằng được. Khi đội hình đã lùi cách làng khá xa, Mai nghĩ thầm “Chắc đêm nay phải rút quân về căn cứ”. Nhìn Hòn Ển và núi Mò O trong đêm, phương án vào làng bỗng lóe lên, Mai hỏi Bảy Vân: -Ta cho đội hình đi sát chân núi Mò O vòng ra đằng sau thôn Nguyên rồi đột nhập vào thôn Tường được không anh? Bảy Vân nói xẵng: - Chui đầu vào sát cứ điểm Đại Hàn là phiêu lưu, nếu gặp địch phục kích thì chẳng còn một mạng nào sống nữa đâu. Biết Bảy Vân phật ý, Mai cố gắng thuyết phục: - Theo em, đó là vị trí hoãn xung giữa Ngụy và Đại Hàn nên không có địch. Bảy Vân đanh giọng: - Cứ cho anh em về nghỉ rồi tính sau. Bực mình Mai đứng lặng một lát rồi hít một hơi dài, nhìn Bảy Vân nhỏ nhẹ: - Hay là tổ chức thành một đội công tác dùi vào làng trước, nếu vào làng mà trụ lại được, bọn em sẽ đón anh xuống sau. Bảy Vân lưỡng lự: - Phương án đó vẫn chưa ổn. Mai cố gắng thuyết phục: - Có thể anh tăng cường hai đồng chí của thị đội rồi ta chia thành hai tổ yểm trợ cho nhau vừa gọn nhẹ vừa dễ xoay xở hơn. Im lặng một hồi lâu, Bảy Vân gật đầu: - Phải chọn số du kích và cán bộ xã có năng lực và kinh nghiệm mới đảm bảo được nhiệm vụ này rõ chưa. - Chỉ cần 4 du kích, còn cán bộ có Hai Trúc, Đào, Nhự và em là được rồi. Nếu thêm Duy và Thành của thị đội thì biên chế như vậy là tạm ổn. - Thôi được... Tôi đồng ý. - Vậy anh cứ cho anh em về, bọn em ở lại làm công tác tổ chức rồi xuất phát ngay. Bảy Vân nhắc nhở: - Cho hai tổ đi vừa có thể yểm trợ được cho nhau... Cẩn thận và hiệp đồng cho chặt rõ chưa? - Rõ... Gần một tiếng đồng hồ đội công tác mới đến chân núi Mò O. Mai kéo Duy tới đứng cạnh Út Hân: - Có lệnh mới được bắn M79, nhiệm vụ của 2 đồng chí là quan sát, sẵn sàng nổ súng nếu tổ Hai Trúc gặp địch rõ chưa. - Rõ. Mai quay lại nói với Hai Trúc: - Cho anh em nghỉ một chút. Tuyệt đối không được hút thuốc. Ai có đồng hồ phải lấy khăn quấn chặt để tránh ánh dạ quang bắt ánh sáng trong đêm rõ chưa. Như con sâu đo, đội công tác vượt qua thôn Nguyên tiến gần vào khu bờ tre mà ta bố phòng chết của thôn Tường. Khu bờ tre dài không đầy một cây số đã từ lâu không ai dám tới vì mìn gài dày đặc. Chỉ có chú Chín Tòng, Mai, Hai Trúc và Năm Hổ nắm được các vị trí bố phòng. Ở đây có những căn hầm bí mật cả bốn người biết và có những căn hầm chỉ có Mai và ông Chín Tòng biết. Theo lệnh của Mai, Hai Trúc dẫn tổ của mình bò sát vào bờ tre, gỡ mìn và lựu đạn để đưa đội hình vào nằm hầm bí mật. Sau khi anh em xuống hầm, Mai cùng Hai Trúc, Út Hân tiếp tục gài mìn trở lại và gài thêm những nơi hiểm yếu đề phòng địch lùng sục. Trước khi về hầm, Mai dặn Hai Trúc: - Nếu bị lộ phải bật khỏi hầm đánh hất địch vào nơi có bố phòng. Cả hai tổ cùng nổ súng yểm trợ cho nhau rồi nhập vào làng tìm cách đánh và bám trụ sau đó mới tìm cách rút rõ chưa? Hai Trúc hỏi Mai: - Mật khẩu bắt liên lạc vẫn như cũ phải không chị Mai? - Ừ... tranh thủ cho anh em nghỉ. Nhớ là thay nhau vừa ngủ, vừa cảnh giới rõ chưa? - Chị yên tâm đi, chuyện đại sự tình hình phức tạp, tùy cơ mà tính. Mai và Út Hân về hầm của mình vẫn thấy Duy và Đào ngồi cảnh giới vội giục: - Trời ơi, ít ra cũng phải mở nắp hầm rọi đèn pin coi thử có rắn rít ở trong đó không chứ, sao lại ngồi. Đào chậm rãi: - Chuyện đó kiểm tra một chút là xong ngay. Bọn em đang ngồi quan sát trong làng, thấy im lặng quá chị à. Út Hân nhanh nhẹn mở nắp hầm, cầm đèn pin nhảy xuống kiểm tra rồi ló đầu lên: - Xong rồi đó, còn việc gì nữa không chị Hai? - Ba đứa trải tấm áo mưa tranh thủ nằm ngủ đi, để chị cảnh giới cho. Ngày mai phân công hai người trực, hai người ngủ lấy sức, tình hình căng thẳng đấy. Kiểm tra lại mìn và ngụy trang xong, Mai xuống hầm đã thấy Duy và Út Hân ôm nhau nằm ngủ. Đèn pin chỉ để hở một lỗ tròn nhỏ cho ánh sáng phát ra nên Mai phải dí đèn sát vào mới kiểm tra được súng đạn, đồ đạc trong hầm. Nhớ tới những căn hầm mà chỉ Mai và ông Chín Tòng biết, bất giác Mai mỉm cười: Cái đầu ông già nghĩ sâu thẳm, bây giờ mình mới thấy tác dụng việc làm của ông già... Có vậy thì cộng sản mới lọt vào trong vòng vây của quốc gia và chuẩn bị đánh cho quốc gia một đòn chí mạng... Tiếng gà gáy râm ran, tiếng súng AR15 nổ khan, tiếng đạn M79 bay vút qua bờ tre nổ chát chúa ngoài đồng. Mai nâng nắp hầm nhìn ra ngoài quan sát và đu tay lên thành hầm nhảy ra ngòai. Nhìn vào trong thôn và trên cánh đồng không có dấu hiệu địch lùng sục, Mai ngụy trang lại một lần nữa rồi nhảy xuống hầm và cẩn thận đậy nắm hầm lại. Thời gian chậm chạp nhích từng chút một. Hơi nóng trên mặt đất bắt đầu dội xuống hầm, hơi nóng âm ỉ tăng dần, mồ hôi ướt rịn trên lưng áo, Đào ngồi dậy vấn tóc: - Chị Mai, nằm nghỉ một lát để em cảnh giới cho, cái số của chị lúc nào long đong vất vả. Đào đập vào lưng Út Hân và Duy: -Dậy cảnh giới, đi đánh địch mà ngủ như trâu ấy. Duy và Út Hân nhỏm người ngồi dậy, Út Hân lầm bầm: -Bà...thì lúc nào cũng giỏi. Mai ra hiệu cho mọi người im lặng rồi nằm gối đầu lên chiếc túi võng của mình. Nhìn đồng hồ đã 9 giờ 20 phút, Mai khoan khoái hít một hơi dài rồi từ từ thở ra, đôi mắt lim dim nằm nghe tiếng loa từ trụ sở thôn Tường eo éo vọng tới. Mai biết bọn địch đã đi sục sạo trong thôn xong và đã đến giờ mở loa nói xấu cộng sản. Lắng nghe bài vọng cổ ứ ư... buồn bã từ trong loa phát ra, tâm hồn Mai bỗng trùng xuống. Sau bài vọng cổ là những bản tin , thông báo của bọn ngụy mà Mai nghe không rõ, tiếp đó là những bài hát buồn rên rỉ: “Thôi hết rồi...Thôi hết rồi...Em lấy chồng. Còn gì đâu nữa mà mong”. Mai nghĩ thầm: “Phát loa kiểu này chắc địch tập trung dân. Hôm nay chúng dở trò gì đây?”, Mai bứt rứt phán đoán mãi mà không ra. Hơi nóng của mặt trời đổ ụp xuống, sức nóng âm ỉ nung nấu làm cho căn hầm trở nên ngột ngạt. Hơi nóng và sự căng thẳng khiến bốn chị em chân tay bải hoải. Đào, Duy và út Hân nằm lả dưới hầm. Mồ hôi nhớp bắt đầu rịn ra thấm vào áo khiến Mai thấy trong người khó chịu. Cầm bi tông nước uống một ngụm, cơn khát vẫn trồi lên, Mai thèm thuồng nhìn bình tông nước rồi ngồi thẳng dứt khoát cất bình tông nước đi. Mai hiểu rằng lúc này càng uống nước thì mồ hôi sẽ vả ra, lập tức chân tay sẽ bủn rủn. Để cố quên đi cái cảm giác khát nước, Mai phác thảo kế hoạch gặp cơ sở thôn Tường tối nay, nhưng đầu óc cứ rối tung lên, bất giác Mai nhớ hồi mới làm bí thư xã Phụng, tình hình ác liệt chẳng kém gì lúc này. Sợ Mai còn non trẻ chưa đủ kinh nghiệm đối phó với những âm mưu tráo trở của địch, ông Chín Tòng không cho Mai xuống nằm vùng và Mai phải năn nỉ mãi ông mới cho đi. Ngay tối hôm đó, Mai cùng tổ du kích vào thẳng nhà chị Năm Lý cơ sở. Vừa trông thấy Mai, chị Năm Lý tưởng Mai dẫn du kích đi chiêu hồi liền phục xuống chắp tay lạy lia lịa xin anh em ra khỏi nhà và giải thích mãi, chị Năm Lý mới hoàn hồn song vẫn bán tín bán nghi khi Mai đề nghị cho anh em ở lại nhà trong ban ngày để làm công tác thì chị quỳ lạy và khóc thật sự. Mai mỉm cười nghĩ tới tiếng rên rỉ của chị Năm Lý: “Con cắn cỏ, cắn rơm lạy các ông, các bà tha cho. Từ nay trở đi con không dám liên hệ với cộng sản nữa”. Nghi Mai đã chiêu hồi nhận lệnh của địch tới đánh lừa mình chị Năm định hô lên cho địch tới. Bí quá, Mai dí súng nói gằn từng tiếng một: - Chị mà la tôi bắn ngay. Chị Năm Lý run rẫy: - Xin cô Hai tha mạng, tôi không dám la. Mai ra lệnh: -Tôi là bí thư xã Phụng, ra lệnh cho chị che dấu chúng tôi để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ, chị mà làm lộ cách mạng sẽ diệt hiểu chưa. Vậy là chị Năm Lý bố trí cho anh em ở trong bịch lúa, trên trần lá mái. Lúc đó Mai nói với chị Năm Lý: - Bây giờ vàng thau đã rõ chưa chị Năm, chị xem bọn em là cộng sản hay chiêu hồi? Chị Năm Lý cười xòa: - Cái con táo tợn, hồi quắc mắt dí súng vào đầu người ta trông y như là bà la sát, bây giờ leo lẻo làm nũng như trẻ con...Cái con trông hiền khô vậy mà chì một cây. Thấy Mai chỉ ngồi cười chị Năm Lý bất giác òa khóc ôm lấy Mai: -Trời ơi! Cộng sản như bọn bay ai mà không thương, không tin. Bọn bay vì dân không tiếc mạng mình lẽ nào bọn tao không biết bảo vệ bọn bay. Nét mặt tươi cười và âu yếm của chị Năm Lý hiện lên rất tươi rồi chập chờn, rồi nhòa dần ...theo giấc ngủ, theo nhịp thở nhè nhẹ của Mai. Mai lại thấy mình đến một vùng nước trong vắt, ngọt lịm, lấp lánh ánh mặt trời, Mai vục tay uống nước thỏa thích... Bỗng giật mình choàng dậy trong tiếng lựu đạn và súng AR15 nổ liên hồi, Mai nắm chặt khẩu AK đưa mắt ra hiệu cho mọi mgười sẵn sàng chiến đấu . Út Hân lo lắng thì thầm: -Hình như súng nổ chỗ hầm của Hai Trúc chị Hai à. Mai gật đầu căng mắt nhìn lên nóc hầm. Tiếng bò rống, tiếng heo kêu, tiếng la í ới hỗn độn vang lên khắp thôn Tường: -Ơ...Bò xổng chuồng. - Đừng bắn!..Bò nhà tôi đấy. - Tổ cha bay, sao lắm bò xổng chuồng vậy. Đánh tháo cho Việt cộng hả? - Đánh bò chạy ra đồng tránh đạn lẹ lên. - Việt cộng, quốc gia đánh nhau to rồi chạy lẹ lên làng xóm ơi. Những tiếng la thét, tiếng trẻ khóc và tiếng những bước chân rầm rập chạy, có tiếng người gào to: - Đừng bắn, bà ấy điên đó. - Điên cái con mẹ tụi bay. Báo động đánh tháo cho bọn con Mai, thằng Tòng hả? - Mấy ông lính mạnh tay làm ơn trói giùm bả lại một chút. Tay đẩy nắm hầm, Mai nhảy vọt lên. Út Hân, Duy và Đào cũng nhảy theo. Vượt qua con mương cạn, băng qua một đám ruộng, cả tổ luồn vào trong làng rồi đạp rào băng qua các khu vườn tiến về phía súng nổ. Từ trong bờ tre tiếng lựu đạn và AK của tổ Hai Trúc nổ liên hồi. Bọn địch tràn lên đồng bủa vây khu bờ tre. Mai trườn người nép sát bờ rào cách địch không đầy 100 mét. Đưa khẩu AK cho Duy, Mai cầm khẩu M79 nạp đạn bắn ba quả vào đội hình địch. Hai khẩu AK trong tay Duy và Út Hân bắn găm vào tốp địch đang chạy. Bất ngờ bị đánh úp sau lưng, bọn địch dàn đội hình ngoài đồng triển khai thành hai hướng đánh ép vào bờ tre và đánh thọc vào trong làng. Mai vẫy tay cho Út Hân và Duy chiếm bờ tường một căn nhà, tay kéo Đào chạy theo mình. Phát hiện bốn tên địch đang chạy lại phía mình, Mai và Đào rút chốt lựu đạn ném thẳng về phía địch. Lại một tốp địch nữa xuất hiện, Út Hân bắn phủ đầu, Duy xách AK chạy vụt tới liên tiếp quăng hai quả thủ pháo vào nơi bọn địch đang tụ lại. Trong làn thủ pháo đen mờ, Mai thét lên: -Duy! Phía trái có địch, thủ pháo diệt ... Duy vụt qua góc sân ném một chùm ba quả thủ pháo, Mai cặp M79 bắn chặn bọn địch ngoài đồng đang ùa vào làng. Địch thét gào và rên la.Tổ Mai băng qua vườn chạy vào làng. Lợi dụng thời gian hỏa lực của tổ Mai bắn áp đảo chi viện cho mình, tổ Hai Trúc nổ súng và bung ra khỏi vòng vây của địch, chạy vào trong làng. Sau khi hai tổ bắt liên lạc với nhau, Mai cho đội hình luồn ra đầu làng tập trung hỏa lực bất ngờ bắn vào tốp địch đang co cụm chuẩn bị phản kích lại ta. Thấy hỏa lực của ta luôn thay đổi và bất ngờ nổ súng, địch mất phương hướng tấn công, dồn quân ra bờ mương phía núi Sầm chia làm hai mũi bao vây thôn Tường. Lợi dụng địch đang tổ chức tấn công, Mai cho toàn đội công tác chạy băng qua các vườn chuối rút ra con suối lớn ngoài đồng rồi bí mật đột nhập vào thôn Bình của xã Quang. Mai đã tính kỹ, địch chú ý bao vây tấn công xã Phụng thì xã Quang chúng ít chú ý tới. Địa hình thôn Bình có nhiều vườn cây rộng nối liền nhau có thể lách địch để bảo vệ lực lượng ta an toàn. Từ thôn Bình, địa hình cho phép có thể sang các thôn khác như vậy toàn đội công tác có thể trụ được tới tối sẽ tìm cách vượt ra ngoài đồng tìm về căn cứ xã . Thấy ta và địch đánh nhau ở xã Phụng, bọn dân vệ tại xã Quang tập trung lùng sục các khu vực xung quanh trụ sở. Đội công tác của Mai luồn vào vườn tre của nhà tên đại diện xã. Mai quay sang phía Út Hân: - Gọi Hai Trúc lại đây. Hai Trúc chạy tới, lấy băng đạn mới ra thay, Mai chỉ tay về phía ngôi nhà của tên đại diện ra lệnh: - Chị và Duy xông thẳng vào nhà tên đại diện. Cho anh em vượt qua vườn tre nằm sát vườn chuối bị tập trung hỏa lực. Nếu trong nhà có động lập tức nổ súng. Phải khống chế gia đình tên đại diện rõ chưa? Út Hân và Hai Trúc giật nẩy người ngơ ngác nhìn Mai. Mai nghiêm giọng : - Không giải thích. Duy theo tôi. Tình hình êm, Út Hân vào tiếp ứng. Anh em nằm tại chỗ yểm trợ rõ chưa? Mai và Duy lách người vượt qua vườn tre, bò trong vườn chuối tới nhà tên đại diện xã. Lắng nghe rất lâu từng tiếng động trong nhà Mai biết chắc tên đại diện đang ở trong nhà với vợ con. Tiếng tên đại diện nói với vợ: - Cộng sản nó đánh mạnh bên xã Phụng, chắc xã mình không xảy ra chụyên gì đâu. - Ông cho lính nó gác xa xa chứ đừng cho bọn nó vào nhà mình. - Em yên tâm, anh đi về bất ngờ, cả bọn lính lẫn cộng sản không biết đâu. Cho chúng tới đây lỡ cộng sản nổ súng đánh thì nhà mình tan hiểu không. Tiếng ru con của vợ tên đại diện xã vọng lên trong tiếng võng đưa kẽo kẹt, Mai nghĩ thầm: “Vậy là trong nhà chỉ có một mình tên đại diện... Giữa trưa bọn lính thu quân nghỉ, tranh thủ đột nhập khống chế là tốt nhất...” Mai và Duy lao vụt vào trong nhà lăm lăm tay súng. Tên đại diện há miệng sững sờ nhìn Mai ú ớ. Mai dí súng vào người tên đại diện: - Nếu la tao sẽ giết cả nhà. Tên đại diện sợ hãi khụy người xuống đất. Mai hất súng ra lệnh: -Đứng im tại chỗ, nhúc nhích tao bắn chết. Nhìn đứa con gái lớn và vợ tên đại diện mếu máo, Mai hất hàm: -Tất cả ngồi vào góc nhà. Vừa lúc đó, Út Hân xách súng chạy vụt vào nhà, Mai nhìn tên đại diện : -Mày thấy lực lượng cách mạng rồi chứ. Nhìn vợ chồng, con cái của tên đại diện mặt cắt không còn hạt máu ngồi thu lu trong góc nhà, Mai hạ giọng trấn an: - Một bộ phận của chúng tôi sẽ ở trong nhà anh. Không ai được ra khỏi nhà, không được nói to. Bọn lính có vào thì vợ anh sẽ đuổi chúng đi rõ chưa. Lúc này cách mạng đang giữ bí mật, nếu làm lộ cả nhà sẽ chết nhớ rõ chưa? Tên đại diện phục xuống lạy: -Xin cách mạng tha chết...Em bị ép buộc... Mai dí súng vào mặt tên đại diện : -Có nhìn thấy cái gì không? -Dạ!...Biết!... -Vậy thì không phải lạy và làm rối lên như vịt kêu. Ngồi im như vậy là được rồi. Mai quay sang phía Út Hân : -Cho anh em vào nhà. Thấy lượng người vào nhà đông lại có cả giọng Bắc, tên đại diện xã tưởng là lực lượng chủ lực về đánh lớn, len lén nhìn từng người trong nhà. Mai chĩa súng vào mặt tên đại diện đanh giọng : -Tôi biết ông là đại diện xã, tạm thời chúng tôi xử dụng nhà ông để làm nhiệm vụ, ông sẽ có công khi bảo vệ cách mạng. -Dạ em biết... Cách mạng là chủ lực nên không rõ về em, chứ mấy ông cách mạng ở xã biết em bị thúc ép mà ra hứng việc quốc gia chứ đâu dám gây tội với ai. -Bây giờ vợ con anh vào buồng ngồi, chúng tôi giám sát trong đó rõ chưa? -Dạ...Xin cách mạng đừng đánh tại nhà em. Mang tội che giấu cộng sản thì cả nhà em chắc chết với quốc gia. Mai trấn an: - Ông biết giữ bí mật, bảo vệ cách mạng tôi hứa sẽ không nổ súng đánh tại nhà ông. Thời gian nặng nề trôi...Mai nhìn ra ngoài sân đầu ong ong theo dõi từng bước chân người đi qua ngõ, tiếng rồ ga của những chiếc xe máy, và tiếng rơi ào của tàu dừa khô từ trên cây rớt xuống. Những loạt đạn của một ngày lùng sục chấm dứt. Sự im lặng nặng nề phần nào đã trút bớt trong lòng Mai lắng nghe tiếng đùa giỡn lao xao của lũ trẻ, tiếng gàu múc nước va vào thành giếng lách cách. Mai, Duy, Hai Trúc cùng Út Hân ra khỏi nhà đi kiểm tra xung quanh nhà tên đại diện. Nhìn ra đường thôn đã thấy dân đi lại đông hơn, Mai biết địch đã rút. Trở về nhà tên đại diện, Mai ra lệnh: - Tất cả quay mặt vào tường. - Dạ... Ra hiệu cho anh em rút ra ngoài vườn, Mai đứng chặn cửa buồng đanh giọng: - Khi nào được lệnh mới ra khỏi buồng rõ chưa. Nếu súng nổ cứ ngồi yên trong nhà, chúng tôi không đánh vào nhà anh đâu. Khép cánh cửa nhà ngoài, Mai ung dung ra khỏi nhà tên đại diện xã. Hai Trúc dẫn đầu đội hình xuyên qua các vườn cây tới đầu thôn Bình thì dừng lại hỏi Mai: - Trời chưa tối hẳn cho anh em nghỉ chị Hai à. - Ừ, ngồi tản ra. Hai Trúc và Út Hân đi kiểm tra xung quanh, chú ý bám sát đoạn đường đầu thôn xem tình hình địch ra sao. Duy nhanh nhảu: - Cho mình đi với. Đi một hồi khá lâu Hai Trúc, Duy và Út Hân trở về mặt mày rạng rỡ. Tay ôm một bọc xôi, chuối và bánh. Hai Trúc giọng sởi lởi : - Chị và anh em ăn đi. Mai ngạc nhiên: - Ở đâu vậy? - Em vào nhà bà dì nắm tình hình gặp ngay đám giỗ vừa được ăn, vừa rõ tình hình. - Tình hình ra sao? - Địch rút quân qua bao vây chặt thôn Tường và thôn Nguyên, không ai dám qua xã Phụng. Út Hân đưa phần cho từng người rồi cười hồn nhiên : - Mọi người vừa ăn vừa cảnh giới. Đến bên Mai, Út Hân khoan khoái ngồi phịch xuống : - Chà... giờ thì khỏe cả người. Mai nhìn Út Hân bỗng bật cười: - Chắc lúc này cả nhà thằng đại diện vẫn còn úp mặt vào tường. Bốn Đào mừng ra mặt: - Hú hồn, hú vía... thoát nạn. Nói thiệt với chị Hai, cả ngày hôm nay mồ hôi cục cứ đổ ra hoài. Út Hân thích chí: - Em phục chị Hai sát đất. Ngẫm ra em thấy chị Hai liều mạng quá trời... Bốn Đào cắt ngang: - Cái mặt mày kê bốn lần thang chưa học được cách liều ấy đâu. - Lại bà nữa...cậy lớn ăn hiếp người ta hoài. Có giỏi chị thay chị Mai đi, nói dóc một cây. Mai nhẹ nhàng giải thích: - Suy cho cùng lúc đó chỉ có nhà thằng đại diện là an toàn nhất. Bốn Đào lắc đầu: - Chuyện ngày hôm nay mà diễn lại lần thứ hai chắc chết quá...Chị Hai à. Cú nhẹ vào đầu Đào, Mai ân cần: -Nói gở, tao cú cho lỗ đầu bây giờ, đi đánh địch cũng phải biết kiêng chứ. Út Hân cười hiền lành: - Chị Hai cũng đeo lư hương trên đầu đi đánh giặc kể cũng ngộ thiệt đấy. Mai bật cười đứng dậy tới chỗ Hai Trúc: - Cho anh em xuất phát, băng đồng tới chân núi Mò O, thọc thẳng sang chân đèo Củng Cu nhập vào rừng rõ chưa. Hai Trúc ngần ngại: - Sao không băng đồng vượt qua mương số một nhập vào căn cứ có gần hơn không chị Hai, đi vậy xa gấp bốn lần đường đó. Mai hỏi vặn: - Chưa ớn bọn biệt kích hay sao mà đi theo hướng đó cho nó bắn lỗ đầu? Hai Trúc nhún vai thở đến “xì” một cái: - Chị thì lúc nào cũng cảnh giác... Đào cắt lời Hai Trúc : - Tốn sức còn hơn xương máu, tôi mệt rũ tay rũ chân rồi nè. Út Hân về hùa với Hai Trúc : - Chị thì lúc nào cũng nói hùa theo chị Mai. Được thế Hai Trúc nói với Đào: - Mày với chị Mai lúc nào cũng cái bài “cảnh giác”, “khắc phục”, “thông cảm”, mấy thang thuốc gia truyền cho cả làng uống mà ... Mai vui vẻ cắt chuyện : - Thôi, xuất phát, về tới nhà tha hồ tranh luận. Đoạn đường nếu đi ban ngày thì chỉ khoảng tiếng đồng hồ vậy mà trong đêm phải mất hơn hai tiếng đội công tác mới tới núi Củng Cu. Mai thở phào nói với Hai Trúc: - Về tới đây là khỏe rồi. Hành quân tới suối Cạn cho anh em nghỉ, chỗ ấy an toàn. Hai Trúc vui vẻ: - Em chịu cái đầu tính toán của chị quá kỹ. Quay lại nhìn mọi người Hai Trúc dõng dạc: - Bám sát đội hình đi một chập nữa rồi nghỉ. Đường quen rồi cố đi lẹ lên. Con đường đá sỏi gập ghềnh lờ mờ trong đêm. Những vạt tranh nhỏ, những lùm cây thanh hao thơm ngát hai bên đường làm dịu bớt những căng thẳng, mệt nhọc quá sức của từng người. Mấy chàng trai vừa đi vừa nói chuyện Mai nghiêm giọng: - Im lặng mà đi. Út Hân phì cười: - Lại thuốc “cảnh giác” đặc hiệu gia truyền. Không khí vui vẻ rộ lên ít phút rồi tất cả lặng im chăm chú đi đường, mọi người đều nhận ra ý kiến của Mai không bao giờ thừa. Đang đi bỗng nhiên Đào khụy xuống. Duy vội đỡ Đào ngồi dậy: - Chị Mai! Đào làm sao rồi!... Mai quay lại sờ lên tay, lên trán Đào hỏi nhỏ: - Em có làm sao không? - Tự nhiên mặt mày em xay xẩm muốn ói chị à. Mai gọi với lên: - Tất cả dừng lại: Móc trong túi võng lấy ra lọ dầu, Mai xoa lên khắp người Đào giọng sót xa: - Tội chưa!...Tại quá sức nên em bị trúng gió. Đào mệt mỏi: - Không sao đâu chị. Mọi người cứ đi trước, em ngồi nghỉ một lát rồi tới sau. Duy nhanh nhảu: - Chị cho anh em tới chỗ nghỉ. Mấy ngày hôm nay ai cũng thấm mệt rồi. Em còn khỏe cùng Đào về sau cũng được. Mai gật đầu đưa chai dầu gió cho Đào: - Đưa đồ cho anh em cầm giúp, cầm lấy xoa cho khỏe, từ đây tới suối cạn khoảng 15 phút thôi, ráng lên nghe Đào. - Dạ... Duy đưa khẩu M.79 cho Mai: - Chị đưa khẩu súng AK cho em, em dìu Đào đi dọc đường dễ xử lý hơn. Đưa súng cho Duy khoác, Mai dịu giọng: - Độ rày nhiều chuyện khó khăn ập tới, rán nghe Duy, Đào; chị cho anh em đi trước nghe. Duy nhanh nhẹn bỏ ba lô đặt xuống ngồi cạnh Đào giục Mai: - Tranh thủ cho anh em tới chỗ nghỉ, mấy hôm nay coi chị cũng đen và gầy rạc đi. Không sao... Nếu Đào mệt không đi được, em ghé lưng cõng là tới suối cạn lo gì. Chờ cho mọi người đi khuất, Đào nằm sải người trên đường đi. Duy luống cuống: - Em không được nằm thế, để anh trải tấm đi mưa cho mà nằm, cảm gió mà nằm đất thì nguy hiểm lắm đấy. Chọn nơi bằng phẳng, trải tấm nhựa đi mưa Duy đỡ cho Đào nằm và lấy túi võng của mình cho Đào gối đầu. Đào ngập ngừng: - Em mệt quá... nằm chút xíu khỏe như thường anh à... Nghe giọng nói ngập ngừng Duy biết Đào đang lên cơn sốt. Nhanh nhẹn lấy chiếc chén Duy rót nước rồi lấy đường và một chút muối ớt pha vào khuấy đều rồi hỏi Đào: - Khát lắm phải không? Thấy Đào không trả lời song biết Đào đang khát nước, Duy lựa lời giải thích : - Anh pha thêm chút muối tuy khó uống nhưng giải cảm. Uống vào một lát là tỉnh người ngay Đào à. Đặt chén nước xuống đất Duy ân cần nói với Đào : - Anh đỡ em dậy, em tựa vào người anh mà uống, uống từ từ từng ngụm cho khỏi buồn nôn. Đào ngoan ngoãn để cho Duy đỡ mình ngồi dậy, đầu và lưng dựa vào người Duy thư thả uống từng ngụm nước. Cầm chiếc chén đặt lên nắp ba lô, Duy vô tình: - Còn nửa chén nữa lát nữa hãy uống tiếp, nằm dễ chịu hay ngồi dễ chịu hơn? - Ngồi thế này đỡ chóng mặt hơn anh à. Duy vui vẻ: - Vậy anh ngồi cho em dựa, miễn là chóng khỏe. Ngồi dựa vào Duy khá lâu, qua hơi thở biết Đào đã đỡ sốt, Duy thấy mừng và yên tâm. Khá lâu bỗng nhiên Đào nói nhỏ: - Kỳ lắm anh à!... Cho em nằm xuống ... - Sao vậy? - Con gái ai lại làm vậy. Duy nghiêm giọng gạt đi: - Em buồn cười thật, có bệnh mới phải nhờ tới đồng đội giúp đỡ; anh khỏe, em cứ dựa thoải mái. Anh ra lệnh cho em dựa vào anh đấy. Đào thú thật : - Hồi nãy em nằm đá cấn lưng tay chân vật vã mà không nhấc lên được. Duy nhanh nhảu cắt lời Đào: - Vậy em cứ ngồi, anh tranh thủ bóp chân, bóp tay cho. Nguyên nhân em bệnh là do mấy ngày vừa rồi căng thẳng vượt quá sức chịu đựng của em đấy thôi. - Em cũng nghĩ vậy nhưng biết làm sao ! Đào mệt mỏi dựa hẳn vào vai Duy rên nhè nhẹ, tay chân thỉnh thoảng vật vã. Duy lo lắng vừa để Đào dựa vào mình, vừa bóp chân, bóp tay cho Đào và tiếp tục cho Đào uống nước. Được một lát, Đào nhỏ nhẹ nói với Duy: - Em đỡ nhiều rồi. - Vậy thì tốt, ngồi mười phút nữa rồi chúng mình đi cho an toàn. Đào lại ngã lưng dựa vào người Duy. Duy cựa người, vô tình má Duy chạm vào má Đào, Duy lúng túng: - Xin lỗi, anh vô tình. Đào bỗng vươn vai ôm lấy Duy hôn lên má rồi ngồi thẳng người ngượng ngùng: - Em xấu và hư lắm phải không anh? Duy bàng hoàng, ngơ ngác rồi lúng túng: - Không! Em đẹp giống chị Mai nhiều điểm lắm . Đào cúi đầu nói nhỏ: - Thú thiệt từ nhỏ tới giờ, anh là người đầu tiên chạm vào người em. Anh!...hết lòng vì em nghe anh. Duy nắm tay Đào : - Anh cũng vậy!... Nếu không có cách mạng miền Nam!...Không có đêm nay chắc chẳng bao giờ anh được chạm vào người con gái. Đào giục Duy: - Ta đi anh!... Duy đánh bạo hôn liên tiếp hai cái lên má Đào rồi lúng túng : - Anh xin lỗi! Anh bậy quá!... Lần đầu tiên trong đời... - Anh!...Hai đứa mình đã thương nhau rồi ...! Đừng bỏ em nghe anh!... Đào vừa nói vừa ngả vào lòng Duy. Duy ôm chặt Đào trong lòng, hôn nhẹ lên mái tóc và âu yếm: - Con trai miền Bắc vụng về nhưng chung thủy. Thống nhất anh sẽ đưa em về Bắc, em sẽ theo anh chứ? - Suốt đời em theo anh!... Duy và Đào nắm tay nhau đứng dậy chậm rãi đi từng bước, không nói nhưng họ nghe rất rõ hơi thở của nhau. Duy cẩn thận dặn Đào: - Đường đá khó đi lại trời tối em phải cận thận, chân em bây giờ yếu lắm, lại run nữa. - Em sẽ cố, anh đừng lo. Đi được một lúc lâu đến đoạn đường dốc, toàn đá và cát lởm chởm, Duy đứng lại nhìn phía trước, thấy một cây cao trước mặt, nhận ra còn khoảng hai trăm mét nữa là tới suối Cạn. - Ối!... Duy giật mình quay lại. Đào đã nằm lăn xuống đất. Duy hốt hoảng kêu lên: - Có sao không em? Đào vừa khóc vừa trả lời: - Chân em không nhấc lên được. Duy quỳ xuống nâng Đào ngồi dậy: - Đau chỗ nào? - Chân!...ấy... Duy ôm lấy Đào, tay sờ tìm chỗ đau, Đào rưng rức khóc: - Chỗ bàn chân em ấy! Sờ bàn chân, thấy bàn chân thẳng ra, hoảng hốt Duy kêu lên: - Em bị sái chân rồi. - Làm sao đây anh...? Sau vài phút hoảng hốt, Duy bình tĩnh lại, đặt Đào ngồi dựa vào sườn dốc động viên: - Anh sửa khớp cho em, mai về ta sẽ tính sau. Một tay nắm lấy bắp chân Đào, một tay nắm bàn chân, Duy lắc nhè nhẹ rồi giật mạnh một cái. -Úi cha!... Đào bật khóc thiệt to rồi nói như rên: - Anh ơi! Em đau quá!... Duy lấy tay sờ cổ chân Đào, thấy thế của bàn chân đã trở về như cũ, thở phào nhẹ nhõm: - May quá! Khớp xương yên rồi! Duy quay nhẹ bàn chân và cổ chân của Đào hỏi : - Em bớt đau chưa? - Dạ...đã đỡ. Duy đeo ba lô trước ngực , khoác súng ngồi xuống, nói như ra lệnh cho Đào: - Bây giờ anh cõng em. Lấy tay ôm anh cho chặt. Ngày mai về nhờ người sửa khớp lấy lá chườm là khỏi ngay, em yên tâm đi. Duy cõng Đào đi đến hết dốc đã thấy Mai soi đèn pin đi tới. Thấy Duy cõng Đào, Mai hốt hoảng: -Nó làm sao vậy? Duy hổn hển: -Đi đường bị ngã sái chân. Mai đỡ súng và ba lô cho Duy, soi đèn pin để Duy cõng Đào về suối Cạn. Nghe tiếng Mai và Duy nói to, mọi người bật dậy xúm quanh Đào, hối hả cột võng và khiêng Đào lên võng nằm. Mai soi đèn pin vào vết thương thấy cổ chân Đào tím bầm, mắt cá chân máu khô bám chặt vào quần, Mai nói như khóc: -Tội con nhỏ!... Năm nay sao kế đô, thái bạch gì đây mà nạn tam tai trút hoài lên đầu nó. Lấy dầu gió rửa sạch vết máu và xoa vào chỗ bị đau của Đào rồi Mai băng chân cho Đào. Xong mọi việc, Mai ra lệnh cho mọi người đi ngủ. Đào vừa rên vừa nói với Mai: -Chỗ em còn cột thêm võng được, chị nói anh Duy tới đây mà cột võng, vì em mà anh ấy khổ quá chị à. Mai đứng dậy soi đèn pin bảo Duy: -Em cột võng nằm cạnh Bốn Đào. Chỗ cột võng có sẵn, để chị soi đèn cho. Duy lặng lẽ cột võng cạnh Đào, mượn đèn pin của Mai, Duy kiểm tra lại vết thương của Đào một lần nữa rồi nhỏ nhẹ. -Nếu đau nhức quá nói anh xoa bóp cho đừng cắn răng chịu đau nghe. -Dạ... Anh nằm nghỉ mà lấy sức. Đặt mình lên võng Mai thao thức mãi không ngủ được. Nhìn những chiến sĩ của mình vừa đặt mình lên võng đã ngủ say, Mai thèm khát sự vô tư của họ. Trở dậy, tới sờ trán Đào thấy nóng hổi, Mai thật sự lo lắng. Nghĩ thầm: “con nhỏ bị sốt mê man rồi! chuyện gì thì ngày mai mới giải quyết được”.Buồn bã và bất lực Mai trở về võng nằm, cơn gió lành lạnh thổi qua, Mai khẽ rùng mình trong tiếng sương đêm rơi lộp bộp. Nỗi nhớ con lại bùng cháy trong lòng, Mai thèm khát được ôm con nằm ngủ bên đống lửa hồng ở trại sản xuất. Nỗi nhớ con cứ xoáy vào lòng da diết, Mai bỗng ứa nước mắt biết là đêm nay bé Trung nhớ mẹ mà khóc hết nước mắt. Hình ảnh Thím Năm hiện lên, Mai tự an ủi: chắc tối nay nó sẽ hỏi Thím Năm không biết bao lần má đi đâu! Thím Năm không biết bao lần phải trả lời, dỗ ngọt và ru cho nó ngủ. Tiếng kêu răng rắc rất nhẹ của cành cây khô rơi trong đêm, tiếng con chồn kiếm mồi chạy va vào đá kêu khịt khịt, tiếng ngáy gỗ vô tư của một anh chàng du kích khiến Mai thấy đơn độc. Mai thầm ước giá chi có ông Chín Tòng lúc này thì hay biết chừng nào!... Nếu ông Chín không cho gài mìn ở những chỗ bất ngờ buộc địch khi tới hầm bí mật phải dẫm lên mìn thì tổ của Hai Trúc đã hy sinh hết rồi! Khi nổ súng đánh địch không biết lối thoát thân để chạy vào trong làng với dân thì cả đội công tác hy sinh rồi! Những kinh nghiệm và thành quả của ông Chín Tòng để lại đã cứu sống mọi người quý báu và to lớn biết nhường nào! Mai tự thấy mình nhỏ bé, có xếp mười lần thang thì cái đầu của mình cũng chẳng bằng một góc cái đầu của ông Chín... Hồi ức và suy tư cứ chen lẫn nhau, xô đẩy nhau, xoáy cuộn vào nhau khiến Mai trăn trở hoài trên võng. Căng thẳng và đói khát, liên tiếp những cơn sốt ập đến, chỗ sai khớp xương xoa bóp hoài mà vẫn sưng tấy lên nhanh chóng đánh quỵ sức khỏe của Đào. Khuôn mặt Đào khi đỏ bừng, khi tái ngắt, và toàn thân run cầm cập làm người Đào rộc hẳn đi. Đã ba ngày rồi đường giao liên Tỉnh và Thị có biệt kích nên Đào vẫn ở căn cứ xã. Mọi người xúm lại thay nhau chăm sóc nhưng cái sốt của Đào đã chuyển sang giai đoạn sốt ác tính nên mê sảng và chân tay co giật luôn. Nhiều lần Duy phải ôm chặt Đào để Phượng chích thuốc. Thuốc trợ sức, thuốc sốt, thuốc kháng sinh dồn lại điều trị cho Đào nhưng cơn sốt lui đấy rồi lại bùng lên đấy. Chín Phượng lại vất vả hung mới cạy răng cho Đào uống được vài thìa sữa. Ngồi bóp chân, bóp tay cho Đào, thấy mồ hôi mình tự nhiên vã ra Mai đứng dậy lấy khăn lau mặt. Mặt bỗng tối xầm Mai khụy xuống. Nhự hoảng hốt tới đỡ Mai và rối rít gọi mọi người. Thấy Nhự và Chín Phượng lóng ngóng, Duy ngồi quỳ xuống đỡ Mai giục Út Hân: -Mắc võng cho chị Mai, ai có đường pha cho một ly. Chín Phượng lấy nước trà pha đường phèn tới rối rít: -Trong người ra sao chị Hai? Chị mà bệnh bọn em biết làm sao bây giờ! Nhự áy náy: -Bốn, năm hôm nay căng thẳng thức đêm liên tục, khỏe như voi cũng bệnh huống chi người, thương anh em, phải giữ gìn sức khỏe chị à. -Chị nằm một lát là khỏe ngay, không việc gì đâu. Nhìn đôi mắt thâm quầng phờ phạc của Mai, Phượng xốn xang: -Chị em mình về tới căn cứ, em mừng và mọi người mừng đến ứa nước mắt. Đào bị bệnh nặng, chị mà bệnh nữa thì xã mình sẽ ra sao!... Mai nhìn Phượng: -Hồi còn ở nhà, nhiều đêm chị học bài tới gần sáng nên quen rồi. Chỉ cần ngủ một giấc cho đã lại khỏe như thường, yên tâm về sức khỏe của chị đi. Chẳng hiểu nghĩ gì Nhự mủi lòng rơm rớm nước mắt : -Từ hồi ông Chín Tòng bị thương đến giờ xã mình gặp nạn liên miên như hạn tam tai. Lúc này cả xã trông vào chị, chị phải giữ sức khỏe đừng để bọn em như rắn không đầu. Tự nhiên Phượng cú vào đầu Nhự bực mình: -Tao vả cho mày sưng miệng bây giờ, nói đâu gở đấy. Nhự ngơ ngác phân trần: -Tao nghĩ sao nói vậy. Cả xã phải lo cho chị Mai chứ, rủi có chuyện gì lấy ai chỉ huy? -Quạ ỉa vào miệng mày, cái con nói gở, có im đi không... Mai phì cười: -Gớm...Hai con nhỏ này mà lấy chung một chồng thì suốt ngày cãi nhau như hàng cá với hàng thịt ấy. Tiêm thuốc cho Mai xong, thấy Mai vui, Phượng tay chỉ về phía Nhự : -Chị xem mặt nó đang ngẩn ngơ ra kìa! Nhự cười chân thật: -Nó với em mà lấy chung một chồng thì suốt ngày nó ôm lấy chồng, chỉ tay sai em đi làm tối mặt... Đành hanh một cây. Nghe Nhự nói, cả ba chị em cười ròn, Phượng lên giọng: -Ừ...Tao chỉ có vậy, dứt khoát hai đứa lấy một chồng để tao sai mày cho đã. Sực nhớ công việc, Mai đập nhẹ vào vai Nhự: -Nói Ba Hổ bố trí lực lượng canh gác cẩn thận lát nữa chị đi kiểm tra rõ chưa. Mai đột ngột hỏi: -Ông Bảy Vân về chưa? -Thôi chị ơi!..Quên ông ấy đi là vừa. -Sao vậy? Nhự phất tay, giọng bất bình: -Lãnh đạo mà như thỏ đế, mặt lúc nào cũng lên vẻ ta đây là lãnh đạo mà chẳng làm được việc gì cho nên. Mai ngạc nhiên: -Em nói gì? Chị không hiểu? -Em nghe một chú ở Thị ủy nói lại Bảy Vân phê phán chị là anh hùng cá nhân, liều lĩnh, chơi trội, manh động... toàn là nhận xét linh tinh em quên mất rồi. -Em còn nghe được gì nữa? -Nghe nói ông Tám Long bí thư Thị ủy nói Bảy Vân trước khi phát biểu hãy sờ lên gáy của mình đã rồi hãy nói. Em nói thiệt, ông Bảy Vân mà ở xã mình thì cả ngày không ai dám nói to. Chao ôi!... Không khéo thành phật hết. Không trả lời Nhự, Mai nằm trên võng hai mắt nhắm nghiền mệt mỏi rồi thiếp đi lúc nào không hay. Trong giấc ngủ, Mai thấy mình ẵm bé Trung đi trên một cái cầu lấp lanh hào quang. Cầu cao vút và dài đến mức Mai không nhìn thấy bên kia sông. Hai bên cầu là những luống hoa rực rỡ. Dưới chân cầu hàng ngàn chiếc mũ sắt nhấp nhô như muốn bay lên. Mai cố nhìn những tên địch đang dấu mặt dưới mũ sắt, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng người. Bỗng nhiên Mai bị hất ra khỏi lan can ngã nhào xuống cầu, Lâm lao tới cứu Mai nhưng chỉ ôm được bé Trung vào lòng, còn Mai vẫn chới với và tiếp tục rơi xuống cầu. Tự nhiên Mai đứng trên những chiếc mũ sắt lùng bùng. Nhìn lên cầu, Mai thấy Lâm tay ôm con, tay chìa ra cố nắm lấy tay mình kéo lên. Mai chạy đến đâu, tay Lâm dài ra đến đó. Mai cố vươn tay ra nắm nhưng không tài nào nắm được tay Lâm. Mai cố đạp lên những chiếc mũ sắt để nhảy lên cầu mà không tài nào nhảy được. Mai co chân cố sức nhảy bỗng thấy Đào tươi cười chạy tới đẩy Mai bay lên lơ lửng và gọi: -Chi Mai đi với em... tới chỗ này thích lắm. Mai gọi Đào: -Chờ chị với!... Tự nhiên những chiếc mũ sắt dưới chân Đào rã ra và biến mất làm cho Đào bị rơi xuống. Tay chân vùng vẫy, Đào vừa khóc vừa gọi : -Chị Mai!... Cứu em với!... Chị Mai!... Ngồi nhỏm dậy đã thấy Chín Phượng vừa lay vừa gọi rối rít. Mai ngơ ngác: -Làm sao vậy? -Chị nằm chiêm bao hay sao mà cứ ú ớ hoài vậy? Mai hoàn hồn nhìn Phượng: -Chị nằm chiêm bao thấy con Đào... -Con Đào sốt nặng lắm, Duy và Nhự đang giữ tay, giữ chân cho nó bớt co giật. Em lo quá tới lay chị dậy, chị biết không. Thấy Đào đang nói mớ, co giật, Duy và Nhự ngồi hai bên võng nắm tay giữ chân. Mai giục Phượng tiêm thuốc trợ sức rồi lấy khăn nhúng nước đắp lên trán cho Đào. Đào bỗng lịm đi, Mai gọi rối rít: -Đào! Đào! Chị Mai đây!... Chị đây nè!... Tiêm thuốc cho Đào, Chín Phượng ứa nước mắt tức tưởi: -Con Đào không xong rồi... Mai ôm Đào nấc lên: -Có nhìn thấy chị không!...Đào!... Sức sống trong người Đào như cố vượt lên, Đào khẽ rên và mở mắt, giọng đứt quãng: -Chị ngồi với em!...Gọi Duy!... Mai nhắc Duy: -Đào nó gọi em đấy! Thấy Duy ngồi trước mặt, nước mắt trào ướt cả gò má, Đào nhìn Mai, cố nâng tay ra hiệu: -Nhẫn... đưa Duy! Mai hấp tấp tháo chiếc nhẫn trên tay Đào đưa cho Duy. Duy cầm chiếc nhẫn nắm vai Đào vừa lay vừa gọi: -Đào! Anh đây! Duy đây! -Anh!... Đeo nhẫn!... Đôi mắt Đào bỗng sáng vụt lên nhìn Duy lắp bắp: -Hôn... em... đi!... Như không nhìn thấy ai nữa, Duy ôm lấy người yêu hôn lên tóc, lên má, lên ngực Đào, gào lên ai oán: -Đừng bỏ anh! Đào!...Em!... Sức mạnh như dồn cả lên đôi tay, Đào ôm chặt lấy Duy nở nụ cười cùng với những giọt nước mắt long lanh tràn lên mặt. Đào dướn người phều phào: -Em!... không về...miền Bắc!... được... anh!... Đào oằn người, nước mắt lại trào ra, nấc lên, nghẻo đầu và nhắm mắt. Tay ôm lấy Đào, đầu gục lên ngực người yêu, vai Duy rung lên trong tiếng nấc. Mai òa khóc: -Khổ thân em tôi rồi. Đào ơi!... Mọi người đứng vây xung quanh Đào cúi đầu lặng im. Duy bỗng bật người bế xốc Đào đứng dậy, đôi mắt trân trân lẩm bẩm một mình rồi vươn người đi tới chỗ cây me già, bỗng thét lên: -Tại sao!... Trời ơi!... Duy lảo đảo cùng Đào gục xuống gốc cây me. Nhự, Hai Trúc hốt hoảng kêu lên cùng lao tới chỗ Duy. Mai rối rít: -Gỡ tay Duy ra!... Đỡ nó!... ẵm Đào vào nhà!... Năm Đồng, Hai Trúc, Út Hân cùng mọi người khiêng Đào đặt lên tấm tăng che võng trải giữa nhà. Như tỉnh lại, Duy đứng lặng nhìn Đào. Mai nghẹn ngào: -Em ngồi vuốt mắt cho Đào, để nó thấy có em ngồi bên cho đỡ tủi vong linh. Nắm chặt tay Đào, đôi mắt ngây dại, Duy ngồi bất động nhìn người yêu. Sau lưng Duy Phượng và Nhự ôm nhau khóc sụt sùi. Giọng Mai lắng xuống: -Đặt Đào nằm cho ngay ngắn. Nhớ lấy giấy tủ mặt để cho Đào ra đi được thanh thản. Thời gian như ghì lại những đau thương, mất mát hằn trong ánh mắt mỗi người. Mãi tới xế chiều mọi người mới đưa Đào ra gò tranh đầu mối đường vào căn cứ xã Phụng. Đào nằm đó, hằng ngày vẫn nhìn thấy anh em đồng chí đi về. Đào có thể nhìn ra cánh đồng Tuy Hòa bát ngát và những xóm thôn của xã Phụng, nơi chôn nhau cắt rốn của Đào. Đào có thể quay lại nhìn cây me già suốt đêm ngày la đà trong gió. Mọi người đã trở về, Duy vẫn ngồi im bên mộ Đào. Những loạt pháo 105 ly, 230 ly của địch từ thị xã Tuy Hòa bắn lên bay vun vút trên trời, bay rít trên đầu, nổ thành từng hồi dài làm rung chuyển cả núi rừng. Tiếng máy bay phản lực gầm thét như muốn nổ tung cả bầu trời. Duy vẫn ngồi bên mộ Đào như một pho tượng. Đêm lặng đi như chết, chỉ còn tiếng côn trùng rên rỉ, khóc than và sương xuống lành lạnh. Nằm trên võng, đôi mắt Mai mở chong chong nhìn vào khoảng không vô định, suy nghĩ về giấc mơ của mình trước lúc Đào hy sinh. Những câu hỏi bật lên: phép thiêng hay dòng điện siêu nhiên nào đến báo cho mình biết trong giấc mơ về cái chết của Đào? Con người ta sống chết có số không? Ai sắp đặt nỗi đau giữa những người sống và người đã khuất? Bất giác Mai nghĩ đến Vỹ, đến ông Tư Hàm đã nhắm mắt mà bao nỗi đau và oan trường chưa giải được. Nghĩ đến mối tình đang rỉ máu của Việt, của Duy, Mai thấy cuộc đời sao trớ trêu đến vậy! Nước mắt trào ra Mai bỗng nghe vẳng đâu đây tiếng nói của Đào vọng lên như một chuỗi âm thanh rất nhỏ giữa vũ trụ huyền hoặc và vô tận... Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 14 Tháng Chín, 2023, 04:42:48 pm Chương 26 1 Những biến cố liên tiếp xảy ra làm cho tình hình xã Phụng có nhiều thay đổi và càng phức tạp, căng thẳng hơn. Nhưng có thể tóm tắt là: Ta mở ra, địch vây ép, thế giằng co hàng ngày diễn ra quyết liệt song ai cũng thấy từ ngày Mai về làm Bí thư xã Phụng tới giờ, phong trào đã hé mở theo hướng thuận lợi cho ta. Tất nhiên lãnh đạo Tỉnh xét nhiều mặt nhưng có lẽ do yêu cầu nhiệm vụ của một xã trọng điểm nên Mai được bổ sung vào ban chấp hành Thị ủy. Nhiều người mừng cho Mai được đề bạt, riêng Mai thì mừng ít, lo nhiều. Mai hiểu đây là một thử thách lớn lao để mình trưởng thành, nhất là tình hình hằng ngày ở dưới làng đang diễn ra quyết liệt. Địch tăng cường thêm một trung đội dân vệ về đóng trên địa bàn xã Phụng và mở chiến dịch tảo thanh vì vậy nhiều đêm du kích thọc vào làng phát hiện địch phục kích đành phải trở về. Bảy Vân lại trực tiếp trở về tham gia chỉ đạo phong trào xã Phụng. Giành trọn một buổi sáng, Bảy Vân nói chuyện thời sự về những diễn biến tại hội nghị Pa-ri về Việt Nam và giành tới hơn 15 phút phê bình Út Hân ngồi nghe mà ngủ gật. Út Hân đã thành thật nhận khuyết điểm và bộc bạch nguyên nhân là do thủ trưởng nói hay, xuôi như nước chảy và tại gió mát nên ngủ quên lúc nào không hay. Buổi chiều triển khai các mặt công tác của xã không khí cuộc họp trở nên sôi nổi. Quay sang Mai, Bảy Vân đột ngột hỏi: -Còn vấn đề gì nữa không? -Dạ...Còn công tác sắp xếp tổ chức cán bộ và một số đề nghị. Bảy Vân buột miệng: -Triển khai luôn cho đỡ tốn thời gian. Mai nêu các vấn đề và để cho anh em bàn bạc, sau đó tóm tắt quyết định và phân công công tác. Nhìn Bảy Vân gật gật đầu, tay cầm cây viết gõ gõ lên cuốn sổ công tác đặt trên bàn, Mai thận trọng: -Nhân có đồng chí Bảy Vân là thường vụ ở đây tôi đề nghị trên xem xét và bổ nhiệm một số cán bộ chủ chốt các ngành trong xã đang thiếu. Theo tôi đây là việc phải làm gấp. Bảy Vân gật đầu ra hiệu tiếp tục nói. Mai mạnh dạn: -Đồng chí Nhự phụ trách công tác kinh tài nhưng trên thực tế làm công tác khối vận là chính. Hai Trúc là xã đội trưởng, trên thực tế cùng tôi giải quyết hầu hết các công việc trong xã, vì vậy lâu nay công việc xã đội đều giao cho Năm Đồng phụ trách. Bản thân tôi kiêm nhiệm quá nhiều chức, do đó tôi đề nghị... -Đồng chí thay thường vụ phân công, sắp xếp và đề bạt cán bộ của mình đó à. Bất ngờ bị Bảy Vân hỏi chặn ngang, Mai đỏ mặt thanh minh: -Báo cáo, tôi chỉ là người đề xuất và xin ý kiến đồng chí và lấy ý kiến quần chúng... Bảy Vân giơ tay ra hiệu cho Mai không nói nữa và đứng dậy quay người hỏi Mai: -Vấn đề này đồng chí đưa ra lãnh đạo bàn bạc chưa hay là ý kiến cá nhân? Thấy Mai im lặng, Bảy Vân cố dấu sự phật ý của mình kéo dài giọng: -Đồng chí Mai mới được đề bạt, còn trẻ không nên hăng hái quá mức như vậy. Về nguyên tắc, làm việc gì chưa đem ra bàn trong cấp ủy thì chưa được nói. Tôi nhắc kỷ luật hủ hóa trước đây của đồng chí Mai là bài học cho sự tiến thân của mình. Không khí cuộc họp bỗng căng lên, Mai đỏ mặt, chân đi đi trên đất, mồ hôi trán lăn tăn. Thoáng một giây, Mai ngửng mặt nhìn Bảy Vân rồi nhìn vào khoảng không. Bảy Vân im lặng nhìn mọi người và nhìn Mai. Như đoán được phản ứng của Mai, Bảy Vân dịu giọng chuyển chủ đề : -Vừa qua các đồng chí chủ động đánh trả và tiêu diệt địch bảo vệ an toàn lực lượng của mình là một việc làm tốt. Nếu lật lại vấn đề, hôm ấy tổ Hai Trúc hy sinh hết thì hậu quả phong trào xã này sẽ đi đến đâu? Khó mà lường được, bởi vậy ta phải xem lại bản lĩnh cán bộ trước khi đề bạt, dũng cảm khác với manh động và liều lĩnh. Vấn đề đồng chí Mai nêu tạm dừng ở đây. Bảy Vân ngồi xuống im lặng. Mai đứng dậy nhẹ nhàng thanh minh: -Chúng ta xuống nằm vùng dân tin cách mạng hơn và yêu quý mình hơn. Tôi nghĩ chỉ có tấn công thì địch mới co cụm, phong trào mới mở ra. Cá nhân tôi trên xét và đề bạt, còn tôi không lên xin và cũng không nghĩ tới. Đồng chí phê bình tôi xin nhận khuyết điểm. Còn vấn đề sắp xếp cán bộ chủ chốt theo tôi hiện nay là vấn đề cấp bách của xã Phụng. Tôi mong đồng chí thông cảm. Thấy Bảy Vân ngồi tư lự như suy nghĩ, như lơ đãng... Mai đứng dậy: -Xin đồng chí Bảy Vân cho ý kiến . Bảy Vân ngồi tại chỗ, gấp cuốn sổ công tác, dắt bút vào túi nói trống không: -Có thể bế mạc cuộc họp. Tan cuộc họp, Nhự không kìm được bực tức kéo Mai vào nhà chất vấn: -Ông ấy nói như vậy mà chị cũng nhịn à? -Tranh luận chẳng giải quyết được vấn đề đâu em ạ! Nhự bứt rứt: -Làm lãnh đạo mà nói xuôi cũng được, nói ngược cũng xong thì cấp dưới chui chỗ nào cũng vướng khuyết điểm hết. Tại sao chị không nói thẳng việc bồi dưỡng sắp xếp cán bộ là do anh Bảy Long và chú Chín trước đây đã bàn. Anh em lo đánh địch, mình về mắc võng nằm ngủ tỉnh bơ... Đúng là lý luận của thằng cha sợ chết. Mai ôn tồn giải thích: -Anh ấy là thường vụ tất nhiên suy nghĩ chín chắn và toàn diện hơn mình. Chỉ đạo nhiều mặt công tác của Thị, anh Bảy không nhất thiết phải xuống nằm hầm đánh địch. Nhự thở “đánh xì...” một cái thật mạnh rồi hậm hực: -Em trình độ thấp nhưng em hiểu mình mà co thủ, địch sẽ lấn tới, lúc đó mình có chui xuống gộp trốn, nó cũng túm tóc kéo ra mà giết sạch. Giả sử bữa đó không đi đường núi Mò O mà đột nhập vào làng thì liệu phong trào xã mình có lên được như ngày hôm nay không? Em nói thiệt chị, có cho vàng ông ấy cũng không dám xuống nằm vùng như chị em mình đâu. Mai thừ người nhìn Nhự nghĩ thầm: “Con nhỏ tính hiền khô vậy mà nói lại chắc như cua gạch, nhận xét tinh tế đáo để...” Mai tự xem lại lời nói của mình có xách mé hay qua mặt Bảy Vân hay không nhưng nghĩ hoài không ra. Mai hoang mang tự hỏi không hiểu tại sao Bảy Vân lại cố tình phê phán mình như vậy?... Nhìn Mai ngồi bần thần, Nhự dịu giọng: -Chị Mai à... Khi tức em nói vậy thôi. Cảnh của xã mình chỉ có anh em mình biết còn ông Bảy Vân không thông cảm hết đâu, lão ta có nằm trong chăn đâu mà biết chăn có rận. Mai nói lảng sang chuyện khác : -Em viết lại biên bản. Nhớ ghi nguyên văn ý kiến của chị: Việc xin đề bạt và sắp xếp cán bộ là ý kiến cá nhân đồng chí Mai, chưa đưa ra cấp ủy bàn bạc. Mong lãnh đạo xét. Nếu sai, đồng chí Mai xin làm bản kiểm điểm và nhận khuyết điểm. Nhớ là chị sẽ kiểm tra biên bản trước khi gởi đi. Em nhớ gửi riêng cho các anh trong thường vụ một bản. Nhự thấy thương Mai lúc nào cũng lo toan, vất vả. Còn lãnh đạo nào có hiểu cho Mai. Nghĩ đến thân người con gái đi làm cách mạng, bất giác Nhự nói với Mai như an ủi chính mình: -Chị à... Em không ngờ ông Bảy nguyên tắc và lý sự đến vậy. Làm cách mạng đàn ông cực một, đàn bà cực mười. Chị lại còn con dại đếm sao hết cái cực. Làm cách mạng chứ đâu phải làm quan mà giành nhau, hơn thua bắt phép nhau. Em tin là thường vụ hiểu và nghe theo ý kiến của chị. Mai đứng dậy vươn vai nhìn Nhự cười: -Mọi việc đã qua, cho qua... Nhự ngạc nhiên: -Tức như bị bò đá mà chị vẫn cười được... Mai vỗ vai kéo Nhự đứng dậy vui vẻ: -Đi một ngày đàng học một sàng khôn mới tiến bộ em à. Ông bà mình ngày xưa nói: Gánh cực mà đổ lên non, quay lại cái cực vẫn còn đuổi theo. Câu ca dao chí lý lắm Nhự à... Làm cách mạng đâu chỉ cực vì đói rét, hiểm nguy trước kẻ thù, mà còn lắm cái cực bám theo mình. Thôi chị đi đây. Nhự đứng nhìn theo Mai lắc đầu, nói một mình: -Cái bà... gan một cây, nhẫn một cây... Hèn gì lúc nổi hứng đọc kinh phật làu làu. Bảy Vân về Thị ủy được một tháng thì có quyết định bổ nhiệm Sáu Nhự làm phó bí thư xã, Hai Trúc chủ tịch và Năm Đồng xã đội trưởng. Mai mừng và ngỡ ngàng trước những đổi thay lớn lao của xã. Cũng phải công nhận rằng gần một tháng qua xã Phụng gặp may: Trong lúc tình hình bí rị thì một bộ phận của tiểu đoàn H96 xuống phối hợp với xã thu mua lương thực. Bốn lần vào làng gặp địch, anh em H96 chủ động nổ súng và dùng B40, B41 đập nát hỏa lực địch. Bọn địch không muốn chết trong tầm đạn của cách mạng nên cố ý tránh đụng độ với lực lượng chủ lực. Chớp thời cơ, toàn bộ lực lượng của xã Phụng dồn xuống làng củng cố, xây dựng lại các đội du kích hợp pháp, móc nối lại các tuyến cơ sở , củng cố và mở rộng các bãi bố phòng chết, tranh thủ vận chuyển lương thực , thực phẩm về căn cứ... Cũng trong thời gian gần một tháng ấy ba thanh niên xã Phụng xin thoát ly. Hai thanh niên nằng nặc xin vào chủ lực chỉ cô bé Tám Nghiệp ở lại xã. Vẫn cái dáng dong dỏng cao của con gái xã Phụng, nước da trắng hồng, tóc đen dày, chiếc răng khểnh trắng muốt đến là duyên, Tám Nghiệp nổi lên và hớp hồn các chàng trai H96. Kể từ hồi ông Chín Tòng bị thương tới giờ bà con mới thấy ông Chuẩn đờn cò từ thị xã về nhà ngủ. Chỉ có một lần một ông cán bộ Tỉnh cùng Mai xuống làng công tác tạt qua nhà nghe ông Chuẩn đờn cò vừa đàn vừa hát và nói chuyện bao đồng rồi về Tỉnh. Nghe nói ở Nha Trang hay Sài Gòn gì đó có một nhà hảo tâm đã đứng ra nuôi hai đứa cháu ông Chuẩn đờn cò và cho chúng ăn học tử tế. Nghe nói tay hảo tâm đó là một người làm bự trong chính quyền Thiệu, đã làm bự hẳn phải là trùm ác ôn rồi. Có thể lão ta thấy hai đứa nhỏ mặt mày sáng láng, hát hay, nhận nuôi và sẽ cho vào hát trong đoàn tâm lý chiến nào đó. Lại có tin khác là lão ta cho chúng đi Mỹ học để làm CIA. Thế nhưng một điều mọi người đều thấy ông Chuẩn đờn cò vẫn như một chiếc lá khô sắp rụng, vẫn lặng lẽ đi về trong cái dáng liêu xiêu giữa trời chiều nắng nhạt. Có người dân xã Phụng bạo miệng hỏi ông Chuẩn đờn cò : -Ông là cộng sản hay quốc gia? Ông Chuẩn đờn cò quỳ xuống chấp tay lạy năn nỉ: -Giữa đường, giữa chợ ông hỏi chi mà ác nghiệt vậy. Thời buổi loạn ly biết theo ai cho đặng, miễn ông cháu có cơm ăn qua ngày, đoạn tháng là được rồi. Cái tin mới nhất mà có người đi thị xã mới về nói lại là đứa cháu trai ông Chuẩn đờn cò mất tích. Lại có tin thằng nhỏ trên đường đi Tuy An hay Hòa Xuân bị cách mạng bắt. Một ông cán bộ hồi xưa cùng công tác với ba má nó vô tình hỏi và nhận ra, xác định là con liệt sĩ nên cho ra Bắc học. Ngẫm chuyện thằng cháu ông Chuẩn đờn cò thì số nó vào loại hên, luôn có quý nhân phù trợ. Câu chuyện về ông cháu ông Chuẩn đờn có cứ lờ mờ như đám mây trên núi Đá Bia, rắm rối như mớ bòng bong hơi đâu mà nói. Chẳng vậy mà khi nghe chuyện ông Chuẩn đờn cò thím năm Ngọc nói với mọi người: -Tội nghiệp cho ông già và hai đứa nhỏ. Không có chiến tranh đâu đến nổi phải đi ăn xin. Duyên kiếp, số phận nó đẩy đưa ai oán như vậy đó! Lực lượng H96 vừa rút khỏi địa bàn xã Phụng thì tiểu đoàn bảo an 219 Ngụy về đóng chốt tại khu chợ và trường tiểu học núi Sầm. Mất mấy hôm chưa nắm được quy luật của địch, du kích không vào làng được. Nhưng sau những đêm bám sát địch, kết hợp với tin của các cơ sở đấu tranh chính trị và binh vận, Mai đã cùng anh em vào làng an toàn. Đêm nay cũng vậy, sau khi vào làng lực lượng du kích cùng du kích hợp pháp của thôn Tường đi cảnh giới. Mai cùng Út Hân tới nhà má Hai Hiền nắm tình hình, đang đi bỗng đứng lại nắm tay Út Hân giựt một cái rồi kéo Út Hân chạy tạt vào trong ngõ, xuyên qua vườn chuối nhìn những bóng người lom khom đi nép sát bên đường. Mai và Út Hân trườn ra gần đường quan sát, giật mình khi thấy bọn địch đã đến rất gần. Bốn chiếc mũ sắt đang lom khom đi bỗng ngồi thụp xuống khi nghe tiếng người nói lao xao đang đi về phía chúng và nhanh như cắt, Mai rút chốt lựu đạn ném thẳng vào phía địch. Trong ánh chớp đỏ lừ và tiếng nổ chát chúa, Mai nghe rõ tiếng rên của bọn địch. Lập tức những loạt đạn chói tai của địch đã bắn sát sạt qua đầu Mai và bắn dọc theo đường làng. Mai giật mình khi có tiếng người kêu lên một tiếng và những bước chân chạy thình thịch trong tiếng đạn bay rít. “Phải chặn địch lại” ý nghĩ vụt tới, Mai trườn lên vung tay ném tiếp một quả lựu đạn. Út Hân cũng cặp AK bắn liên tiếp hai loạt. Mai hốt hoảng kéo tay Út Hân chạy ngược vào trong vườn chuối. Những loạt AR15 và trung liên của địch tập trung bắn đan chéo vào vườn chuối. Cùng Út Hân chạy ra khỏi vườn chuối, hai chị em chạy một mạch ra khu bờ tre bố phòng chết. Út Hân thì thào: -Chạy về vị trí chốt ngoài đồng đón anh em, ở trong làng không tìm được đâu. Mai gật đầu ra hiệu cho Út Hân bò ra ruộng trước còn mình kẹp súng sẵn sàng yểm trợ. Như đã quen khẩu lệnh, Út Hân bò qua những đám ruộng thấy không có địch vội “toóc gió” báo hiệu an toàn. Hai chị em vượt ra đồng đến điểm chốt đã thấy tổ của Hai Trúc, Ba Hổ ở đó, sau khi bắt tín hiệu nhận ra nhau, Mai chạy tới lo lắng hỏi: -Có đứa nào việc gì không? -Năm Đồng bị thương. -Nặng không? -Vào đùi, chắc ở phần mềm. Hối hả đưa anh em về căn cứ và ổn định tình hình xong, Mai giục Chín Phượng. -Kiểm tra vết thương Năm Đồng xem nào. Chín Phượng làu bàu: -Đã biểu đừng to miệng, chủ quan một cây. Nhự ôn tồn: -Thôi. Rửa vết thương lẹ lên. Năm Đồng cười: -Tại có chị Mai và Út Hân đi trước nên bọn mình yên chí tưởng không có địch. Hai Trúc xen vào: -Đánh địch chứ có phải đi chơi đâu cha nội. Út Hân lên lớp: -Không có tôi và chị Hai nổ súng, đêm nay mấy cha tiêu hết còn đâu nữa mà ngồi nói dóc. Mai cú nhẹ vào đầu Út Hân: -Cũng tại em... Chị ném lựu đạn là cố ý không cho địch biết mục tiêu, em không hiểu lại bắn hai loạt liền làm lộ mục tiêu. Nếu không chạy nhanh ra khỏi vườn chuối thì cả hai chị em đều nguy có đúng không nào? Út Hân đỏ mặt chống chế: -Em tưởng bắn để thu hết hỏa lực về phía mình cho anh em chạy... Chín Phượng hùa theo: -Út Hân tiến bộ vượt bực rồi đó. Nếu địch không quay hỏa lực bắn về phía chị và Út Hân thì bọn em chạy trên đường làng khó mà tránh được đạn. Mai cười dàn hòa: -Thôi. Việc đã qua, cho qua... Phượng đi pha một ca sữa cho Năm Đồng uống. Năm đồng chân đi cà khắc bước tới vui vẻ: -Có sữa đây, tất cả cùng uống liên hoan cho vui. Nhự cười hồn nhiên: -Bữa nay cóc mở miệng, chắc trời sắp mưa. Uống sữa xong, Năm Đồng cùng Hai Trúc cầm đèn pin ra mối đường vào xã gài mìn, khi quay về đã thấy mọi người ngủ say. Cả hai hút thuốc ngồi thư giãn rồi lên võng nằm nhìn nhau cười. Chỉ một thoáng sau, họ cũng chìm vào giấc ngủ như chẳng có chuyện gì xảy ra. 2 Nhận được thư của anh Tám Long báo Mai lên trạm điều dường gặp ông Chín Tòng trước khi ông đi Bắc điều trị Mai mừng ra mặt vì có thời gian ở lại hậu cứ với con ít ngày. Mặc dù có Ba Hổ và Út Hân chủ công trong việc mang vác song ba lô, ruột nghé gạo của Mai cũng căng đầy. Cả ba chị em mồ hôi nhễ nhãi vượt dốc băng đèo về hậu cứ sản xuất. Sau những phút ngỡ ngàng, bé Trung sà vào lòng mẹ và đeo cứng lấy Mai, thím Năm mắng yêu: -Tổ cha con nhỏ, má nó lên nó bám riết. Nè ngoại đi pha sữa không biết dành cho đứa nào uống đây... Bé Trung lặng yên nhìn thím Năm rồi lại rúc đầu vào lòng mẹ, Mai nhắc con: -Tới hôn ngoại kẻo ngoại giận hai mẹ con mình. Lẹ lên... rồi má ẵm. Bé Trung lẫm chẫm chạy tới thím Năm hôn vội, hôn vàng rồi quay lại định chạy về phía mẹ, Mai giục con: -Hôn lên má bên kia nữa, hôn cho kêu, cho dài nghe. Bé Trung ôm cổ thím Năm hôn thật kêu. Thím vỗ nhẹ vào đít bé Trung hể hả: -Tổ cha con nhỏ... Hôn cho phải phép. Tới ngồi cạnh Mai, Út Hân trợn mắt dọa: -Ôm cổ chú cõng. Mày không cho cõng vứt má mày xuống suối bây giờ. Mai rối rít giục con: -Ôm cổ chú... kẻo chú giận vứt má xuống suối thì nguy lắm! Bất đắc dĩ bé Trung phải xòe tay ôm cổ Út Hân. Thím Năm dí tay vào trán Út Hân: -Cái thằng chú ác một cây. Út Hân đưa kẹo cho bé Trung cười khì: -Chú tha... cho nợ nghen, lát nữa ôm cổ chú cõng rồi chú cho kẹo nữa. Mai cười say lại rối rít: -Vòng tay chào chú rồi lại với má. Bé Trung vòng tay gập người chào rồi sà vào lòng mẹ. Út Hân đứng lên cười vang. Thím Năm nhìn mọi người, nhìn Bé Trung giọng hiền khô: -Tổ cha cái thằng chú yêu ác... phải không con? Nhìn Mai nựng con, thím Năm lỉ kỉ hỏi: -Tình hình dưới xã mình ra sao? -Xem ra chỉ có đợt này anh em đi công tác là khỏe...thím à. Thím Năm vui hẳn lên: -Vậy tao cũng mừng. Cầu trời khấn phật cho lũ bay mạnh giỏi là được. Mai hôn con cười rồi nhìn Thím Năm nói giỡn: -Nè...Đảng viên rồi mà còn cầu trời, khấn phật nghen...bà già. Bất giác thím Năm cười to: -Ừ hé... tao quên, tại miệng nó quen rồi. Thì cũng như mày hát ru cho đã rồi đem kinh ra tụng ấy. Mai phá lên cười: -Ừ kể ra cũng lạ...Tại con tới chùa nhiều, đọc kinh lắm thành quen. Khi buồn, khi vui nổi hứng đem kinh ra tụng một mình thím à...Con cũng không hiểu sao nữa... Thím Năm ôn tồn: -Từ thời ông cố, ông sơ tới giờ ai mà chẳng tới chùa nghe kinh. Nói vậy chứ nhiều người có giọng hay tụng kinh như hát ấy, nghe mùi quên hết mọi chuyện. Tao nghe mày tụng kinh cũng như hát ấy. Mai ôm con đứng dậy vừa mắc võng vừa nói với thím Năm: -Điều mà thím cháu mình vừa nói cách mạng gọi là văn hóa dân tộc, cũng tỉ như con chim phải có tổ, con người phải có gia đình, làng xóm, quê hương bỏ làm sao được phải không thím. -Mày nói đúng, sống thì dạy cho con cháu, chết thì đem theo, ngẫm ra mà hay chứ. Sau bữa cơm chiều, đêm vội chạy ùa tới. Ôm con nằm trên võng, thỉnh thoảng lại hôn lên má, lên đầu con, Mai có cảm giác thời gian như con ngựa phi nước đại, dù cố giữ cũng không tài nào giữ được. Gió vẫn bay lượn trên đồng cỏ, luồn sâu vào rừng già, luồn vào trong nhà đẩy những tàn lửa bay lên đỏ hồng loằng ngoằng rồi tắt lịm. Nghe kỹ trong đêm ai cũng có thể dễ dàng nhận ra tiếng trời, tiếng đất, tiếng cỏ cây tách bạch đấy nhưng luôn hòa quyện vào nhau âm trầm, dịu ngọt. Hơi thở của mẹ con Mai đang hòa quyện vào nhau, hòa quyện vào vũ trụ say sưa bất tận... Có lẽ đêm nay mẹ con Mai có một giấc ngủ say nồng và sâu nhất. Buổi sáng, mọi người đã làm việc chỉ còn lại hai mẹ con Mai hú hí trong nhà với nhau. -Chị Mai!... -Ôi! Nhỏ Việt!...Đi đâu mà ghé vào đây sớm vậy ? Không trả lời Mai, Việt chìa tay ẵm bé Trung líu ríu: -Con nhỏ “dễ ghét” quá ta...Trung cho cô mượn má được không? Vùng khỏi tay Việt, con bé ôm chầm lấy mẹ, Việt vỗ vỗ vào đít bé Trung: -Nói giỡn một chút đã sợ cô ẵm má mày đi rồi. Mai giục con: -Vòng tay gật đầu xin lỗi cô đi con. Bé Trung quay người vòng tay gật đầu, Mai lại giục con: -Hôn cô đi, hôn lên trán ấy. Việt nghiêng mặt chỉ vào hai má của mình: -Hôn cả hai má cho đều cô tha... Líu ríu một hồi với mẹ con Mai, thấy Việt ngần ngại, Mai chân tình hỏi: -Độ rày có rảnh việc không em ? -Em nghe tin chị lên hậu cứ, em xin phép đơn vị sang thăm chị và cháu. Mai tủm tỉm cười nhìn Việt thăm dò: -Lý do, lý trấu gì mà sang đây thì khai cho rõ để mẹ con chị nghe nào. Việt thở dài đỏ mặt lúng túng: -Có đấy chị ạ... khoảng trưa hoặc chiều nay chị sẽ biết. Mai khúc khích: -Chuyện gì mà bí mật vậy “cô hai”? Việt cười: -Có vậy mới sang gặp và hỏi ý kiến chị. -Ừ. Thấy em vui là chị mừng rồi. Nè chị giao việc nghen: Cả ngày hôm nay cơm nước để chị ẵm con, chừng nào em có con chị nấu trả nợ được không? -Tính chị vậy hèn gì anh Lâm suốt đời tôn chị làm nữ hoàng là phải. Bất giác Mai hỏi Việt: -Anh Hoàn vẫn khỏe chứ? Tình hình giữa em và anh Hoàn tốt rồi phải không? Việt xìu mặt bỗng nhìn Mai rắn rỏi rồi lúng túng: -Chuyện lòng vòng lắm nên em mới sang gặp chị. Mai thành thật: -Tình yêu như mớ chỉ rối, gỡ không khéo thì dễ hỏng việc. Em là người trong cuộc, người tháo gỡ chính là em . Thấy con đã ngủ, Mai đặt con lên võng nghiêm mặt hỏi Việt : -Chị hỏi thiệt, em yên tâm sống với anh Hoàn chưa? Việt nhún vai cười: -Em hận lão ta một đời, loại đạo đức giả ấy nói làm gì. Chị không biết đấy bên ngoài thì lão ta làm bộ phóng khoáng nhưng bên trong hẹp hòi nghiệt ngã lắm chị ơi. Mai thở dài gặng hỏi: -Chị không hy vọng góp cho em được những ý kiến sâu sắc, nhưng em có thể nói rõ cho chị nghe được không? Việt thở dài chậm rãi: -Trước đây em còn e ngại nhưng bây giờ thì khác rồi. Em phải kể cho chị nghe từ đầu. Sau lần bị sẩy, lão ta nghi em phá thai. Lão ta đâu có hiểu khi em mang bầu ba tháng, lão ta tới giày vò nên em sẩy thai. Lão ta như một con thú muốn ăn thịt em chứ đâu phải tình cảm vợ chồng ăn nằm với nhau. Ấy vậy mà lão ta đổ diệt cho em cố ý phá thai, triệt giòng giống của lão ấy. Mai cắt lời Việt : -Nguyên nhân anh Hoàn muốn hai người sớm có con nên mới sinh chuyện. Người đàn ông khi vợ có con thì nhất con, nhì vợ là lẽ thường tình Việt à. Việt lắc đầu, phẩy nhẹ tay phản đối Mai : -Không phải vậy, do ích kỷ quá đáng. Chị xem, núm ruột của mình ai dám làm cái việc thất đức đó. Nhiều đêm lão ta đay nghiến em. Tháng trước em sắp có kinh, bụng đau như thắt vậy mà lão ta vẫn mò tới, em chống cự mà nào lão có tha em đâu. Lúc đó em chỉ biết nằm khóc muốn chết cho rồi... Thấy Mai chăm chú nghe, Việt chỉ vào mình: -Sau đó máu cứ rỉ ra cả tuần, em phải đi viện. Tới viện, các bác sĩ hỏi, em vừa tủi vừa mắc cở mà vẫn phải ngồi nói thiệt để họ chạy chữa. Chị coi, người em xanh như tàu lá, còn đâu sức lực mà công tác. Mai quàng lấy vai Việt: -Chuyện quả là khó nói. -Lão ta chỉ mơn trớn chiều chuộng khi chưa cưới. Cưới rồi, lão ta coi như món hàng độc quyền của mình em chịu sao thấu. Lão ta còn bắt em về làm dân nữa chị ạ. Mai nói như không tin vào tai mình: -Lại có chuyện đó sao? Vậy là bao năm đi cách mạng bỏ phí à?! Tại sao em không nói với các anh lãnh đạo thông cảm!...Giá có anh Lâm ở nhà chị sẽ nói ảnh giúp em. Việt cười nhạt: -Chắc anh Lâm cũng không ra ngoài quỹ đạo của mấy ông quân sự nguyên tắc khô cứng và chấp hành mệnh lệnh chị à... Nếu anh Lâm gặp lãnh đạo rồi cũng quay lại gợi ý, vun em với ông Hoàn thì...!? Lắc đầu, tỏ ý không tán thành, song chợt nhận ra điều Việt nói tuy không đầy đủ nhưng có lý và là sự thật, Mai lựa lời : -Thôi. Tùy em!... Đạo lý làm người, tình chồng nghĩa vợ chỉ có vun vào chứ ai dám chia ra. Việt ngồi thẳng người ngần ngại hồi lâu rồi hỏi Mai: -Nếu em thương một người mà người đó cũng thực lòng thương em thì chị nghĩ sao?? Mai hơi lúng túng bỗng giẫy nẩy: -Không được. Gái có chồng như gông đeo cổ. Thay áo thì được ai thay được duyên nợ vợ chồng bao giờ... Nghe chị đi, đừng nghĩ bậy mà hư cả đời người em à!... Việt cầm một lá thư đưa cho Mai: -Chị đọc đi, trước lúc hy sinh, anh Vỹ gửi cho em. Anh Sinh người Hà Nội là bạn thân của anh Vỹ chuyển cho em đó, chị biết anh Sinh chứ? -Chị biết nhưng không quen lắm. Giọng Việt trở nên dứt khoát: -Bởi vậy em muốn chị đọc lá thư, trưa hoặc chiều nay anh Sinh tới đây nói chị sẽ rõ, còn em thì đã quyết rồi. Mai chăm chú đọc những dòng chữ run rẫy, nguyệch ngoạc của Vỹ viết trên tờ giấy được xé trong cuốn sổ tay công tác: Việt yêu thương! Vết thương nặng lắm nên tay anh run, chữ xấu lắm. Nếu anh hy sinh thì bạn thân của anh là anh Sinh sẽ thay anh chăm sóc cho em. Em cũng hiểu anh Sinh rồi. Anh Sinh sẽ không bao giờ làm khổ em. Nghe lời anh... Anh của em!. Đọc xong Mai đưa lá thư cho Việt, băn khoăn: -Tại sao anh Sinh không đưa ngay lá thư này cho em? Việt thở dài, đôi mắt buồn sâu thẳm, mặt hơi cúi xuống : -Lúc anh Vỹ bị thương, biết mình không sống được nên viết thư đưa anh Sinh giữ. Lúc đó anh Sinh được ra khu học, vậy là chôn bạn xong anh ấy vội lên đường. Anh Sinh đâu biết chuyện của em với ông Hoàn. Mai ngồi thừ ra ngao ngán: -Chuyện tình của em sao mà éo le vậy! Biết thế nào mà nói với em bây giờ! Ý anh Sinh ra sao? Giọng Việt trở nên dứt khoát: -Anh Sinh cũng khổ không kém gì em. Anh ấy nói số trời là vậy. Rồi khóc với em. Còn chuyện ông Hoàn dùng sức ép không cho em gặp anh Vỹ hồi đó ai mà không biết. Em muốn anh Sinh gặp chị trao đổi, sau đó chị sẽ có ý kiến khách quan hơn. Mai đứng dậy lấy chiếc lược trong ba lô xõa tóc chải. Vật vật mái tóc dày đen óng ã, Mai vừa chải tóc vừa bâng khuâng suy nghĩ nên nói những gì với Việt lúc này cho phải. Mai quay lại lựa lời: -Vợ chồng ở với nhau áp chế quá có khi cũng thành bệnh. Cái chính là phụ nữ phải biết lựa lời, lựa cảnh thế nào cho hợp để chồng hiểu mình. Với sự nhẫn nại của mình, nhất định chồng sẽ thay đổi và theo mình. Hơn nữa sự trinh trắng của em đã trao cho anh Hoàn. Em cần... -Chị nói sai rồi! Ánh mắt Việt bỗng quắc lên đau đớn và nấc nhẹ, lấy tay chùi nước mắt, nhìn Mai: -Em cố quên mà quên không nổi cái đêm lão tới cưỡng ép và em không còn là con gái nữa!... Mai dịu dàng: -Em cứ nói. Nói cho bớt mặc cảm, rồi chôn cái quá khứ đó đi, em sẽ thanh thản sống để tiếp tục công tác. Việt lắc đầu: -Đêm ấy, đơn vị đi hết chỉ còn mình em và lão ở nhà... Em chống cự...áo đứt hết nút!...Quần bị xé rách!...Thân con gái một mình làm sao em chống nổi lão! Việt khóc nức lên, Mai ngồi xuống dỗ dành. Việt gục đầu lên vai Mai rấm rứt: -Chị biết không!...Chiếc quần đó là tiền của anh Vỹ giành dụm mua vải cho em may đó!...Trong khi đó anh Vỹ, anh Sinh cùng mấy anh trong đơn vị phải đi lượm bao tải công sự của Mỹ về khâu thành quần áo mà mặc! Chị Mai!... Đời em sao khổ vậy!... Nước mắt tự nhiên trào ra, Mai cố ghìm lại và ôm lấy Việt vuốt tóc, vuốt lưng, ân cần khuyên giải: -Chị hiểu em rồi!...Nín đi! Lớn rồi ai lại khóc!...Thắng Mỹ rồi chúng mình sẽ có tất cả. Anh Lâm cũng đi lượm mảnh dù pháo sáng về cho chị may đồ cả nhà cùng mặc! Làm cách mạng là tự chấp nhận gian khổ, hiểm nguy em à! Còn nỗi khổ nào ai giống ai!... Việt đứng dậy lấy khăn rửa mặt giọng kiên quyết: -Em sẽ báo cáo tổ chức chia tay với ông Hoàn. Em tự nguyện theo anh Sinh suốt đời. Miễn có một đứa con với anh Sinh là em thỏa mãn lắm rồi! Mai gắt lên: -Con nhỏ này!... ăn nói điên điên nào!... -Em nghĩ kỹ rồi, đứa con bao giờ cũng có giòng, có giống. Thà có con với người mình thương, em tin lớn lên nó sẽ coi anh Vỹ cũng là cha ruột của nó. Em báo cáo tổ chức rõ ràng, mấy ảnh nghe hay không thì tùy. Em sẽ làm tới đâu, thì tới... -Em nói ẩu quá rồi đó!...Việt à, em báo cáo cho rõ sự việc thì tổ chức sẽ giải quyết cho em đạt tình thấu lý. Việt ôm lấy vai Mai lắc mạnh, rồi cười to: -Chị khuyên em thủy chung với ông Hoàn chung quy là chị sợ tổ chức phải không? Em biết, không có tổ chức làm sao thắng giặc. Nhưng thời buổi chiến tranh ai cũng phải lo đánh giặc, chuyện yêu thương người ta ít quan tâm... Chị à! Mai đứng thần người nhìn Việt: -Thôi tùy em. Nè... Tới giờ nấu ăn, cô mày đi nấu cho mẹ con chị hú hí với nhau một chút. Việt nhìn Mai ẵm con, đôi mắt ánh lên một niềm khao khát. Mãi tới chiều Sinh mới tới, thấy Mai và Việt ở trong nhà, Sinh gật đầu chào, vui vẻ thanh minh: -Biết là hai chị em chờ, tôi ngồi họp mà sốt cả ruột. Xong cuộc họp là tới đây ngay. Việt lúng túng nói với Sinh: -Còn cứ chống chế, chị Mai và em hiểu rồi Với chiếc khăn mặt trong ba lô, đặt súng và ba lô gọn gàng Sinh vắt khăn lên vai, nhìn Việt rồi nhìn Mai hóm hỉnh: -Chị Mai và Việt thông cảm, bộ đội thì quanh năm thi đua, bốn mùa chiến dịch. -Anh và Việt nghỉ lại ở đây tối nay. Tôi nghe Việt nói nhiều về anh hôm nay mới biết đó. Sinh hồn nhiên phá lên cười: -Thảo nào mà đi đâu cũng nghe lính khen vợ ông Lâm... Việt cười hỏi Sinh: -Anh nghe sao? Sinh nháy mắt nhìn Việt: -Hoa khôi của căn cứ tỉnh mình, được người, được nết, chắc kiếp trước ông Lâm đi tu nay trúng số độc đắc... nói chung mọi người khen. Mai cười nhìn Việt nói nhỏ: -Trai thủ đô có khác, hèn gì mày như ăn phải bùa Việt à. Việt đấm vào lưng Mai giọng nửa vui, nửa buồn: -Em đâu phải vậy, người ta là trai tân, còn em gái nạ giòng. Gần mà xa lắm chị ơi... Mai giục Việt: -Em lấy nước mời khách giúp chị. Mai dắt con nói với Việt và Sinh: -Bây giờ chị giao cháu cho hai người trông, chị ra rẫy một lát rồi về ngay. Sinh năng nổ: -Chị cứ đi, ở nhà em nấu cơm cho, còn Việt trông cháu, bộ đội mà nấu cơm nhoáy một lát là xong. Đeo gùi ra rẫy nhổ sắn và hái rau tập tàng về nấu canh, Mai bỗng cười một mình và tự nhủ thầm: Nghĩ cũng kỳ, trên căn cứ chưa bao giờ có trường hợp ly dị... Không hiểu tổ chức mấy ông ấy có chịu không đây... Thấy Mai ra rẫy, thím Năm hỏi ngay: -Con mày đâu mà đi một mình? -Cháu gởi Việt trông giùm. Thím Năm chép miệng: -Nó không khóc à... Bao nhiêu người ngoài rẫy thì ta ở nhà với con chứ, mày đi biền biệt nó thèm hơi mày lắm đó. Mai đặt gùi trước mặt thím Năm vui vẻ: -Bà già hái rau thiệt nhiều về nấu canh cho con ăn nghe. -Cha mày... Phải chi tao đẻ mày ra cho thêm phước thêm phần. Mai pha trò: -Hẳn hồi còn trai, “ông già” con tù tịt với thím, vậy con gọi bằng “bà già” được quá đi chớ. Thím Năm cười hiền lành: -Tổ cha con nhỏ cái miệng tía lia, tao với ảnh quen nhau bao giờ. Ừ... Mày làm con gái tao cũng được. Mai cười khanh khách: -Vậy “bà già” ở nhà giữ cháu cho con đi công tác sống con nuôi, chết con thờ được chưa, tối nay con vạch vú con bú đừng có kêu nghen? -Làm gì còn sữa mà bú. Tối này mẹ con mày có tới “úm” tao cho “úm”. Bất giác thím Năm nhận xét: -Con mày tính cũng dễ chịu như mày, ai tới nhà nó cũng quý, cũng bắt chuyện, xem ra mấy đứa nhỏ con cách mạng đứa nào cũng dễ tính. Mai biết bao năm tháng hai thím cháu gắn bó bên nhau, có bao chuyện để nói với nhau, không ồn ào, tuổi già là như vậy. Xốc gùi lên vai, Mai vừa đi vừa nói với thím Năm: -Thím trông cháu, con có chuyện nói với anh Sinh và nhỏ Việt. -Công tác là trên hết, miễn bàn cho kỹ mà làm Mai à... Mai nhìn thím Năm không trả lời. Cả hai người đi nhanh về nhà đã thấy Út Hân và Ba Hổ gùi củi khô nặng trĩu đặt ngay đầu hồi nhà. Ôm con nựng một lát, Mai rủ Sinh và Việt sang nhà bên nói chuyện. Dáng dong dỏng cao, nước da trắng như con gái, Sinh có dáng dấp của một cậu thư sinh hơn là một anh lính. Thấy Việt và Sinh cứ ngồi và thỉnh thoảng nhìn nhau lúng túng. Mai tinh nghịch: -Hồi anh Lâm mới nắm tay mình, mình gật đầu và nói ngay “ừ yêu” vậy là yêu. -Chị xạo em... Anh Sinh!... Thấy Việt giục mình nói, Sinh cười ngần ngừ một lát rồi thư thả: -Tôi và Việt quen nhau đã lâu. Ngay từ khi mới quen tôi đã muốn trở thành người bạn thân của Việt và tiến xa hơn nữa, Việt cũng biết điều này. Mai hóm hỉnh: - Tại Việt đẹp gái, dịu tính, nhẫn nhịn phải không? Sinh bật cười hồn nhiên: -Quả là so với chị thì kẻ chín lạng, người một cân, con trai ai chẳng mến mộ. Sinh nhún mình cười to khi thấy Việt đấm nhẹ vào lưng mình. Bật lửa châm thuốc hút, Sinh bỗng đăm chiêu: -Một lần Việt đi khẩu gặp Vỹ ở dốc Dư Lượng, cả đoàn bị máy bay trực thăng oanh tạc. Vỹ đã cứu Việt thoát chết trong trận oanh tạc đó và họ yêu nhau. Sau đó cả tôi và Vỹ đi học rồi cùng được điều về huyện đội Đồng Xuân. Biết tôi yêu Việt, Vỹ rất băn khoăn, song tôi động viên cả hai người. Từ đó ba chúng tôi rất thân nhau. Khi chết, Vỹ đã viết thư như chị đã biết. Tôi học xong trở về thì mọi sự đã an bài. Thú thật tôi không nghĩ tay Hoàn lại có thủ đoạn táo tợn như thế. Sinh kể một hơi rồi ngừng lại liên tục hút thuốc, đôi mắt buồn sâu thẳm. Còn Việt, chẳng hiểu nghĩ gì mà cứ ngồi khóc hoài. Sự việc đã rồi làm sao mà đến được với nhau đây. Hay là chấp nhận thực tế và liệu chấp nhận thực tế Việt có chịu đựng nổi không?... Bao câu hỏi và phương án trong đầu thoắt đến, thoắt đi không đầu, không đũa làm Mai chẳng biết giải quyết như thế nào, bất giác Mai hỏi Sinh: -Sinh à... Anh có thực lòng thương Việt không? Sinh quăng mẩu thuốc ra ngoài hiên nhìn Việt rồi nhìn Mai bỗng thở dài vội vàng dụi mắt, cố nén những cảm xúc của mình. Bình tĩnh trở lại, Sinh điềm đạm: -Chị Mai à... Đối với anh Vỹ có công cứu Việt. Còn đối với tôi, Việt lại có công cứu tôi, chuyện đời!... Éo le là vậy!... Như đoán được ý Mai muốn nghe chuyện của mình, Sinh ôn tồn: -Mùa mưa năm 67, trên đường về đơn vị tôi bị sốt rét ác tính nằm ngất bên đường. Như chị biết đấy. Đoạn đường rẽ từ Chuông Bà Diên tới Suối Cái nổi tiếng là nhiều cọp dữ. Hồi đó, đoạn đường này chưa thành đường lớn như bây giờ. Tổ thanh niên xung phong của Việt gặp tôi nằm giữa rừng và Việt cõng tôi về đội phẫu. Sinh chậm rãi lấy thuốc rê ra cuốn, mồi lửa hút thuốc rồi trầm lắng: -Hơn một tuần nằm mê man trên võng, thậm chí vệ sinh cả trên võng mà tôi cũng không biết. Việt đã trực tiếp chăm sóc cho đến khi tôi tỉnh lại. Việt nhìn Sinh e thẹn: -Chuyện đã qua rồi kể lại làm gì. Miễn mình hiểu nhau là được... Sinh nắm tay Việt bóp mạnh một cái rồi nói với Mai: -Chị Mai à... Cho tôi kể, có lẻ sẽ giải đáp được những băn khoăn giữa tôi và Việt mà chị chưa rõ lắm... Giọng Sinh bỗng trầm hẵn xuống: - Một lý do đơn giản là hơn một tháng điều trị tiếp theo trong gió mưa tầm tã, người tôi chỉ còn da bọc xương, đêm đêm Việt đã ngồi cho tôi dựa như vậy đấy. Khi tôi ra viện, đồng chí bác sĩ đội phẫu nói với tôi: Nếu không có cô Việt chăm sóc chắc cậu chết rồi, hãy cảm ơn cô ấy, không ai chịu nổi mùi hôi mà cậu đại, tiểu tiện trong lúc hôn mê. Mỗi lần lau người, giặt quần áo cho cậu, cô Việt vừa làm vừa ứa nước mắt vì hôi đấy. Những năm đó làm gì có quần áo mặc nói chi đến tấm tăng võng, ròng rã hai ngày Việt đi lượm từng mẩu áo mưa rách về cắt vá tấm tăng võng cho tôi. Phải mất bảy tháng sau hậu cần mới phát cho tôi một tấm tăng võng mới. Tất cả là như vậy đấy!... Tóm lại, tôi nợ Việt nhiều. Mai nhìn Việt, nén tiếng thở dài bâng khuâng: -Đã sâu nặng quá rồi, hai bạn tính sao? Việt dứt khoát: -Miễn là anh Sinh thương em! Em chấp nhận. Mọi việc em tự giải quyết. Dứt khoát em không để anh Sinh ảnh hưởng danh dự. Sinh chân thành nói với Mai như cầu khẩn: -Việt báo cáo tổ chức giải quyết dứt điểm mối quan hệ với anh Hoàn, có tôi hỗ trợ. Tôi chỉ xin chị giúp chúng tôi có những buổi gặp nhau như ngày hôm nay, có điều kiện chị giải thích hoàn cảnh của chúng tôi với các anh H9. Sinh, Việt và Mai cùng đứng dậy tới chỗ mọi người, Mai nói nhỏ với Việt: -Theo chị, tối nay em và Sinh nên bàn kế hoạch cụ thể. Mẹ con chị cùng em và anh Sinh sang nhà bên ngủ là yên nhất. -Dạ... Em nghe chị! Vẫn ánh lửa bập bùng giữa nhà, sát bên đống lửa mẹ con Mai quặp nhau ngủ say tít. Xa tận góc nhà, võng của Việt và Sinh mắc sát nhau. Tiếng họ rầm rì không dứt đoạn. Việt nói nhỏ với Sinh: -Chúng mình ra rẫy ngồi nói chuyện để cho mẹ con chị ấy ngủ. Tội nghiệp... Bao tháng trời mới gặp con, sáng mai chị ấy lại phải đi công tác rồi. -Ừ... Cả hai người nhẹ nhàng đi ra rẫy, họ ngồi sát bên nhau. Ánh trăng mờ mờ lan tỏa làm cho màu của rừng trở nên bàng bạc. Việt ôm lấy cổ Sinh, sau cái hôn nồng nàn, Tiếng Việt ngọt dịu: -Em mong chúng mình có một đứa con như chị Mai anh à... -Chúng ta phải dứt điểm chuyện cũ đã. Việt dứt khoát: -Em sẽ đề nghị tổ chức. -Nhưng tổ chức không đồng ý thì sao? -Sự thật có sức mạnh của nó, các anh ấy sẽ giải quyết để em còn yên tâm công tác. Họ ngồi bên nhau rất lâu. Việt bỗng ôm cổ Sinh ghì xuống nói trong hơi thở: -Anh!... Ta nằm xuống... Nói chuyện!... Hai bóng người ngã xuống. Sinh thấy toàn thân nôn nao khi những sợi tóc của Việt lòa xòa chạm vào da, vào tóc mình. Đôi má Việt mơn man trên má Sinh như những con sóng vỗ bờ miên man... Người Sinh nóng bừng lên. Những ngôi sao trên trời lóe sáng, những làn mây trôi qua như đồng tình như đùa cợt, như giục giã Sinh: Hỡi chàng trai nhút nhát, mối tình đầu tiên mà chàng yêu đấy!... Hãy dũng cảm lên! Hãy xóa bỏ những mặc cảm lâu nay trong người chàng đi... Nào hãy mạnh dạn lên... Tay Sinh luồn vào áo Việt, hàng nút áo bật ra... Tiếng Việt run lên cầu khẩn trong ánh trăng bồng bềnh: -Cho em một đứa con!... Nghe anh!... Những nụ hôn chồng lên nhau trong hơi thở và vòng tay xiết chặt. Tiếng Sinh dứt quãng: -Chiều anh!... Được không!... Việt không trả lời... Sinh bỗng nhận ra làn da trắng ngần của Việt căng lên, toàn thân Việt toát ra mùi thơm ngọt ngào như hoa dú dẻ giữa đồi cao, hơi thở của họ dồn quyện vào hơi thở của trời, của rừng, của núi... Tiếng Việt rên lên trong vòng tay co xiết trong ánh trăng mờ ảo... Thời gian cứ lằng lặng trôi, Sinh mơ màng gục đầu lên ngực người yêu. Tiếng Việt thì thầm: -Cầu mong trời Phật phù hộ!... Cho con có một đứa con làm vốn đi chợ... Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 14 Tháng Chín, 2023, 05:05:18 pm Chương 27 1 Việt phấn chấn cầm gói kẹo đến nhà ban chỉ huy tiểu đoàn đặt lên bàn, mỉm cười chào Lương và Tuấn. Lương ra vẻ thành thạo: -Chắc là “hòa giả dân tộc” xong rồi, tới tạ ơn những người vun đắp chứ gì? Hay đến báo cáo nhất trí với ông Hoàn xin về làm dân, quyết chí nuôi con giúp chồng vọt tiến? Việt bóc gói kẹo nhẹ nhàng: -Em quyết định xin trở về đơn vị công tác không bỏ bằng ấy năm thoát ly tham gia cách mạng đâu. Tuấn hể hả: -Ăn cho ngọt giọng rồi nói. Bỗng thấy đồng chí liên lạc Tuấn vẫy tay: -Vào ăn kẹo chiến lợi phẩm Vệ ơi. Vệ chạy vào ngồi cạnh Việt vừa bóc kẹo vừa hỏi: -Ở đâu đấy thủ trưởng? Gần hai năm rồi hôm nay em mới lại được ăn kẹo đấy. Lương cười xòa: -Cứ ăn miễn bình luận. Tuấn nhìn Việt nháy mắt rồi nói với Vệ. -Đêm vừa rồi anh em đột nhập cứ điểm Hòn Đình lấy tài liệu và gói kẹo của tên chỉ huy đem về để sáng nay liên hoan riêng cho cậu đấy. Vệ phá lên cười nhanh nhẹn lấy bi đông nước trà và bốn cái chén ăn cơm bày ra rót nước nhanh nhảu ứng khẩu: -Liên hoan em vốn sẵn sàng, cái bụng nó bảo đàng hoàng một khi, thủ trưởng hỏi lính ăn gì? Con heo sản xuất vậy thì giết ngay. Tuấn cười ha hả, vỗ đùi đánh đét một cái khoái chí: - Thằng cha này phá hoại sản xuất nghe, nó đòi giết heo dự trữ lương thực của đơn vị đấy. Việt ôm bụng cười nói với Lương: -Thầy trò anh Tuấn thành đại thi hào cả rồi... Giá có cụ Nguyễn Du ở đây chứng dám thì hay biết mấy. Vệ gật gù: -Nếu cụ Nguyễn Du hiện lên lúc này thì sao nhỉ? Lương cười xòa: -Thì cụ sẽ nói: Lũ bay làm thơ nhanh hơn tao, thôi phong cho làm đại thi hào luôn... Tuấn xua tay: -Nếu! Cụ hiện lên nói: Tao đây! Đại thi hào Nguyễn Du đây!... Thì chú Vệ chạy trước, nhỏ Việt lạch bạch chạy sau, chạy cả buổi vẫn chưa hoàn hồn. Vệ đệm theo: -Em thì chạy, còn chị Việt chưa kịp chạy đã lăn ra ngất xỉu, khi tỉnh dậy chắp tay kêu: Nam mô a di đà Phật!!... Con biết thế nào là đại thi hào rồi! Ăn kẹo xong, Việt vui vẻ: -Hôm nay em có chuyện định báo cáo các anh. Tuấn ngạc nhiên: -Chuyện gì vậy? Biết ý, Vệ đứng dậy nhanh nhẹn bước ra khỏi nhà, vừa đi vừa huýt sáo Việt nhẹ nhàng: -Em xin các anh và ban chỉ huy Tỉnh đội cho em được thôi với anh Hoàn... Tuấn giãy nảy: -Tại sao? -Thú thiệt, cuộc sống giữa em và anh ấy như lửa cháy, dầu sôi làm sao mà sống được, em đề nghị chia tay để yên tâm công tác. Lương ôn tồn: -Em nghĩ kỹ chưa? -Bây giờ thì em vui vẻ và thanh thản. Em nghĩ cuộc sống vợ chồng không nên biến thành cái nhà tù giam hãm và giết dần, giết mòn tâm hồn nhau, vợ chồng đâu chỉ đến với nhau bằng thể xác như hai con thú chung một chuồng. Tuấn cắt ngang: -Việc này em đã trao đổi với anh Hoàn chưa? Lương vỗ vai Tuấn nhẹ nhàng: -Cứ để cho Việt nói, mình góp ý kiến sau, xem ra có vấn đề rồi đấy. Sau khi nghe Việt trình bày cặn kẻ mọi việc, Lương thực thà hỏi: -Có phải Mai tiếp sức cho em trong vấn đề này không? Nếu ngay từ đầu em trình bày rạch ròi như thế này thì anh Tuấn và anh có thể giúp cho em được nhiều việc rồi. Việt lắc đầu: -Chị Mai nghe chuyện, ôm em khóc và động viên em cố sống với anh Hoàn thôi anh à... Tuấn bỗng thở dài rồi bật cười: -Chuyện đã đến mức này thì cứ đàng hoàng giải quyết, được thì nên vợ nên chồng, không được thì thành anh em, đồng chí em gái à. Lương thú nhận: -Chỉ huy quân sự thì khó nhưng dễ, còn chuyện yêu đương anh không quen giải quyết. Việt bật cười: -Chị Mai biểu cả hai anh là học trò chưa có mảnh tình vắt vai, làm sao giải quyết nổi. Tuấn phá lên cười nhìn Lương gật gù tâm đắc: -Con nhỏ Mai thế mà có lý. Đúng là thằng Lâm được con Mai là bắt được vàng ròng phải không ông Lương? Lương gật đầu: -Cùng chí hướng cách mạng, vui buồn sống chết bên nhau mới lấy nhau thì cái chuyện ly thân, ly hôn ta xóa đi được rồi. Duy trường hợp của Việt, kể cũng kỳ. Tuấn khoát tay: -Cứ để cho Việt giải quyết, nó đã nói tất nó phải biết làm gì lúc này. Nếu cần thiết, tôi và anh gặp mấy anh lãnh đạo trình bày giúp nó. Nhìn Lương và Tuấn bằng đôi mắt biết ơn, Việt nhỏ nhẹ: -Thú thiệt, trước đây đầu em u tối, nặng nề quá các anh à, bây giờ thì em hiểu rồi. Việt đỏ mặt đứng dậy: -Báo cáo thủ trưởng em về. Việt đi rồi, Tuấn tặc lưỡi thở dài: -Chắc con Mai bày cho nó, mà chuyện đó cũng đúng phải không ông. Trong việc này mình cũng không dân chủ. Lương và Tuấn đang bàn công tác thì Hoàn khoác ba lô bước vào nhà. Thấy Hoàn định bỏ ba lô. Tuấn nói luôn: -Việt nó ở nhà dưới, anh khoác ba lô về dưới đó nghỉ, chúng ta nói chuyện sau. Chỉ chờ có vậy. Hoàn hấp tấp bước ra Lương hỏi Tuấn: -Sao vậy ông? -Tôi nghĩ để hai người tự giải quyết bây giờ tôi với ông đi kiểm tra các đơn vị là tốt nhất. Hoàn lụm cụm bước vào quân y tiểu đoàn, thấy Việt đang sắp xếp bông băng, thuốc men. Vội đặt ba lô xuống vồn vã: -Đang làm việc à? Việt bình thản hỏi lại: -Anh xuống tiểu đoàn công tác? -Anh tới chỗ sản xuất bọn họ nói em đã về đơn vị nên anh về đây... Việt không nhìn Hoàn vừa sắp xếp bông băng vừa nói: -Anh Lương, anh Tuấn ở tiểu đoàn chưa bao giờ gọi xách mé với cấp dưới như anh đâu. Hoàn chịu khó: -Tại sao lần nào gặp nhau em cũng tìm cách gây sự với anh như vậy? Việt hỏi dồn: -Anh tới làm việc hay bị thương, bị bệnh mà xuống quân y? Hoàn bực dọc: -Tôi thăm vợ tôi, vợ tôi là cô hiểu không? Việt cười nhạt: -Anh Hoàn à... đã đến lúc tôi và anh phải nói chuyện nghiêm túc rồi đấy. Tôi đề nghị anh khoác ba lô lên nhà ban chỉ huy. Nếu anh bệnh tôi đem thuốc đến. Chuyện vợ chồng tạm thời bỏ sang một bên, tôi sẽ báo cáo tổ chức. Hoàn lên mặt: -Chỗ vợ tôi ở tôi cứ để ba lô, ai làm gì được tôi nào!.. -Anh không đi tôi mời trực ban tới đấy. Biết Lương và Tuấn đã xuống đơn vị anh em cấp dưới không ưng mình, căng thẳng lúc này không chừng chuyện bé xé to, khác nào chuốc khổ vào thân, Hoàn đấu dịu: -Cho anh ngồi ở đây anh Lương, anh Tuấn về anh sẽ lên. Việt ngần ngừ, giọng lạnh lùng: -Mời anh ra bàn ngồi. Mặt Hoàn đỏ gay, mồ hôi tự nhiên vã ra. Một lúc sau, Hoàn tới cạnh Việt giọng dịu hẳn: -Chuyện không vừa ý ta nhẹ nhàng nói với nhau, Việt muốn báo cáo tổ chức để bỏ tôi, khi nào tổ chức có ý kiến hãy hay, còn bây giờ dẫu sao cũng là vợ chồng. Hơn nữa chúng ta đều là Đảng viên, là đồng chí của nhau, nhỏ nhẹ nói với nhau có tốt hơn không. -Vậy anh muốn gì? Hoàn khẩn khoản: -Tôi muốn Việt thông cảm hoàn cảnh của tôi. Những điều tôi nghĩ và làm đều nhằm mục đích xây dựng cho chúng ta hạnh phúc. Thấy Việt cười nhạt, Hoàn cố dịu dàng: -Trong quan hệ vợ chồng có điều gì không phải Việt cứ nói. Riêng anh chỉ muốn cho em bớt khổ. Sống hôm nay nhưng phải lo cho tương lai của mình Việt à... Việt quay phắt lại, quắc mắt nhìn Hoàn, cố ghìm sự bực tức, rồi bình thản: -Được, nếu anh muốn, chúng ta sẽ nói chuyện một cách nghiêm túc. -Anh cũng muốn vậy. -Vâng. Anh nói đi , tôi xin nghe. Hoàn đứng dậy mở ba lô lấy mấy hộp sữa và cân đường tới đặt lên ba lô của Việt, Việt nghiêm giọng : -Cất cái của nợ ấy vào ba lô của anh, đừng có đem kẹo mà dụ trẻ nhỏ. Quay lại nhìn Việt, ánh mắt giận dữ bỗng lóe lên, đảo nhanh rồi nhìn xuống đất, Hoàn luống cuống cầm đường, sữa cho vào ba lô, rồi ngây người nhìn Việt. Việt bỗng nhận ra đôi mắt Hoàn hơi tròn và dài. Đuôi mắt hơi cụp xuống chẻ làm ba đường nhăn. Đầu mắt hếch lên hai đường nhăn như hai cái móc câu vòng ra. Con mắt có thể nhìn trân trân và bất ngờ đảo mạnh. Bất giác Việt có cảm giác đôi mắt Hoàn từa tựa mắt rắn cạp nong. Hai đuôi mép trên miệng Hoàn cong lên rồi cụp xuống như một dấu hỏi. Bất giác Việt thấy sờ sợ và ghê ghê đôi mắt luôn cố dấu đi những suy nghĩ đối lập nhau của Hoàn. Việt nhủ thầm: Hãy bình tĩnh như chị Mai và ngồi yên. Dường như không chịu nổi sự im lặng của Việt, Hoàn gượng gạo: -Tại sao hôm nay em nói năng như vậy? Nhất định phải có đứa bày đầu nên em mới có thái độ khác thường như vậy. -Vâng! Từ trước tới giờ tôi nhẫn nhịn thuyết phục anh, thậm chí van xin và khóc lóc để anh buông tha tôi. Anh chẳng những không buông tha mà còn bắt tôi nhất nhất làm theo ý anh. Giọng Hoàn mềm và đanh: -Hãy nghe anh! Kẻ bày đầu cho em chính là kẻ phá hoại hạnh phúc của chúng ta. Anh phải cố gắng thuyết phục nhiều, các anh lãnh đạo mới xếp em vào loại chú ý đề bạt sớm trước khi về làm dân. Việt cười chua chát: -Lấy anh phải vì anh và cả đời tôi phải nhờ anh đùm bọc, che chở và tôi được một xuất về làm dân, rũ bỏ hết tất cả thời gian phấn đấu công tác của mình hay sao. Nén bực dọc, Hoàn cố giải thích: -Người phụ nữ có chồng tất phải có con, có con rồi công tác sao được. Cuối cùng ai cũng phải xây dựng tổ ấm của gia đình. Bây giờ ta lo trước đi là vừa ...Em chưa thấy hết phức tạp của cuộc sống, hãy nghe anh Việt à... Trán Việt hơi nhíu lại như định nói rồi nhanh chóng dãn ra và cúi đầu im lặng. Hoàn nói một hơi dài với bao dẫn chứng, lý lẽ. Thấy Việt vẫn ngồi nghe, Hoàn chém tay vào không khí khẳng định: -Sở dĩ anh bắt buộc em làm theo ý anh vì trong trường đời có nhiều điều em chưa trải qua. Em chưa thấy hết ý nghĩa quan trọng phụ nữ lấy chồng phải có con to lớn như thế nào. Thấy những lời nói của mình đã đầy đủ, Hoàn nhìn Việt gạn hỏi: -Còn ý em thế nào? -Anh nói hết chưa? Nếu cần anh cứ nói tôi xin nghe. Hoàn ân cần : -Bây giờ để phần em nói . Việt cười nhạt : -Được, anh phải để tôi nói hết, không được cắt lời và to tiếng . -Anh nhất trí . -Vậy tôi báo để anh biết. Sáng nay tôi đã gặp thủ trưởng Lương và thủ trưởng Tuấn trình bày quan điểm và cách giải quyết giữa tôi và anh rồi. Hoàn ngạc nhiên : -Em nói sao? -Anh Hoàn à. Anh đã nói rất nhiều và tôi đã nghe nhiều, nhưng ý tôi đã quyết: Quan hệ vợ chồng giữa anh và tôi từ nay chấm dứt là tốt nhất. Dĩ vãng đã qua ta cho qua đi, nhắc lại làm gì. Vợ chồng ư? Thật là vô nghĩa!... - Không quan tâm tới thái độ phản ứng của Hoàn, Việt từ tốn - Tôi xin nhắc lại, kể từ nay trở đi quan hệ vợ chồng giữa anh và tôi chấm dứt. Chúng ta sẽ lên ban chỉ huy tiểu đoàn báo cáo rõ vấn đề này. -Không thể được!... Việt quắc mắt nhìn Hoàn : -Khi anh nói, tôi không cắt lời, tại sao tôi nói, anh lại cắt lời. Thấy Hoàn lúng túng, Việt nói luôn: -Sau đó anh và tôi sẽ về ban chỉ huy Tỉnh đội báo cáo để chính thức tôi và anh không còn quan hệ vợ chồng nữa. Mồ hôi vã ra, Hoàn ngơ ngác nhìn Việt. Đôi mắt Việt như sáng hẳn lên và khuôn mặt trở nên rắn rỏi lạ thường. -Từ giờ phút này anh không được va chạm vào người tôi nữa. Nếu anh cố tình xâm phạm, tin rằng anh em trong đơn vị không để yên cho anh đâu. Như gáo nước lạnh dội vào người, Hoàn thiểu não đứng dậy lấy khăn lau mồ hôi. Những đường gân trên quai hàm bỗng giật giật rồi nhanh chóng dãn ra. Hoàn nhìn Việt soi mói như yêu thương như tức tối. ánh mắt Hoàn lóe lên rồi lập tức dịu xuống nhìn Việt mơn trớn. Quỳ xuống nắm chặt tay Việt, Hoàn rên rỉ: -Việt ơi!... Anh biết rằng em không thương anh, nhưng dẫu sao chúng ta đã là vợ chồng. Cuộc đời anh tất cả là vì em. Những tháng ngày vợ chồng đầu ấp, tay gối bên nhau đã tạo cho anh một niềm tin. Hy vọng em sẽ thông cảm và thương anh!...Dẫu sao chúng ta đã có con!... Luống cuống khi tay Hoàn nắm chặt lấy tay mình, nhớ đến con, Việt bàng hoàng, cơ thể như nhói lên rồi bải hoải. Hoàn bỗng chồm tới kéo Việt đứng dậy ôm chặt rồi bế xốc ra khỏi bàn. Chân như muốn khụyu xuống, hai tay như nhũn ra, Việt hốt hoảng rùng mình khi bàn tay Hoàn chạm vào lưng, vào đùi mình. Như bừng tỉnh, Việt nhoài người hai tay xô mạnh đẩy Hoàn ngã ngồi xuống đất. Máu nóng nổi lên, Hoàn đứng phắt dậy trừng trừng nhìn Việt, Bất ngờ nắm chặt tay và xoay người ôm lấy Việt...Việt co người dựt tay ra, một tay vung lên tát mạnh vào mặt Hoàn khiến Hoàn phải lùi lại. Việt giận run người, vừa thở vừa nói: -Anh lùi ra!...Tôi kêu lên bây giờ!... Hoàn lùi lại và ngồi xuống ghế, đôi mắt nhìn Việt như con thú mất mồi. Gài lại nút áo ngực vừa bị bật ra trong lúc xô xát và sửa lại mái tóc, lấy lại bình tỉnh, Việt rắn rỏi: -Nếu tôi không nghĩ anh và tôi cùng là Đảng viên thì tôi đã hô lên, anh em trong đơn vị nhất định họ sẽ không để anh yên đâu! Đã đến nước này, chẳng còn gì để nói với nhau nữa!... Hoàn năn nỉ: -Anh biết sai rồi! Việt đừng dữ dội với anh như vậy. Nước mắt trào ra, Việt uất ức chỉ vào mặt Hoàn: -Im cái miệng rắn độc của anh đi!...Anh là một con thú chứ không phải là một con người. Anh càng không xứng đáng làm một người cộng sản... Mỗi lần anh đến với tôi, anh coi tôi như là một con đĩ! Anh vật vã khiến tôi đứng ngồi không yên !... Hoàn gượng gạo: -Em đừng nghĩ oan cho anh. -Anh mà cũng dám kêu oan à!...Chỉ để thỏa mãn xác thịt, nhiều lần tôi van xin khóc lóc vì đau bệnh, anh cứ tới làm tình, làm tội tôi!... Anh bắt tôi về làm dân trong khi mọi người đều đi đánh giặc !...Anh đâu phải là người cộng sản!... Hoàn cúi đầu lắp bắp : -Tất cả những việc anh làm cũng vì thương em, tất cả vì em... Lau nước mắt, Việt chỉ thẳng vào mặt Hoàn nói như ra lệnh: -Anh đem ba lô lên nhà ban chỉ huy tiểu đoàn. Nếu còn ngồi lì ở đây, tôi sẽ hô lên cho trực ban tới. Anh dù có ngụy trang cũng không thể qua mắt được mọi người đâu. Thấy được những hậu quả nghiêm trọng xảy ra. Hoàn lủi thủi khoác ba lô lên nhà ban chỉ huy tiểu đoàn. Lương và Tuấn về, thấy Hoàn ngồi xụ người ôm đầu thiểu não, Lương ôn tồn: -Đi ăn cơm đã rồi nói chuyện sau. Tuấn nhanh nhẹn bảo đồng chí công vụ lấy cơm, quay sang nói với Hoàn: -Anh em trong đơn vị mới bắn được con nai, ông tới hơi trễ nên chỉ còn lương khô thôi. Thấy Hoàn buồn bã, Tuấn nói: -Sáng nay có nghe Việt trình bày nhưng trời đánh còn tránh bữa ăn, phải ăn đã rồi hãy nói. Ông là tham mưu là lính cậu, bọn mình là lính ủi, cách suy nghĩ và giải quyết có khác nhau. Đánh giặc thì phải lỳ đòn và thông minh ông à. Ăn cơm và nghỉ trưa xong, Lương, Hoàn cùng ngồi làm việc. Tuấn cầm con rựa ra trước sân nhà chặt đoạn dây trìu to và dài, tước đoạn dây thành từng sợi nhỏ cầm vào nhà vô tình: -“Cưa”gái cũng như buộc giây, phải khéo tay mà quấn và siết cho chặt, cây mới ôm vào nhau, mới sóng hàng đều đặn được ông nghĩ sao thì nghĩ. Hoàn nhìn Tuấn không bằng lòng vì câu nói vừa rồi song vẫn bình thản. Chờ cho Tuấn ngồi xuống, Hoàn hắng giọng: -Hôm nay tôi về thăm Việt thấy tính nết cô ấy thay đổi đột ngột. Tôi nhờ các anh em động viên, khuyên giải Việt giúp tôi. Tuấn hỏi ngay: -Ông nói chuyện với Việt chưa? Kết quả ra sao? Cần sự hỗ trợ cụ thể của ban chỉ huy tiểu đoàn ở chỗ nào? Hoàn chậm rãi: -Tôi mới nói, Việt đã nổi xung đành phải nhịn. Tôi nhờ các đồng chí giải thích để Việt thấy rõ trách nhiệm của người vợ. Chấm dứt tình trạng cãi vã, giận hờn. Có như vậy mới chung sống lâu bền được. Lương ôn tồn: -Nhưng đấy mới là ý kiến của đồng chí. Nội dung kình cãi thế nào chúng tôi chưa rõ. Quan điểm của Việt để đồng chí ấy nói ra. Là vợ chồng nhưng hai người còn là đồng chí của nhau do đó cũng phải có sự dân chủ, thống nhất bàn bạc. Quan hệ vợ chồng là sự hòa quyện giữa tình cảm và lý trí, phải vận động và thuyết phục, không phải đi đánh giặc mà dùng mệnh lệnh được. Hoàn thở dài: -Trước mắt tôi đề nghị các đồng chí cứ dùng mệnh lệnh buộc phải đoàn kết rồi sẽ làm công tác tư tưởng sau. Tôi cho rằng có kẻ đứng sau lưng bày đầu cho Việt, cố tình đâm thọc hạnh phúc gia đình của đồng chí mình. Ta phải thẳng tay “trị” tên phá hoại này để làm gương cho mọi người. Muốn vậy cần lấy lệnh chặn đứng tình trạng cố ý gây mất đoàn kết của Việt. Từ đó tìm ra kẻ ném đá dấu tay, truy bức Việt, lập tức tên bày đầu phải lộ mặt. Lúc đó ta “trị” tên phá hoại này là vừa. Tuấn cười vang: -Đồng chí Hoàn à...ở đây là đơn vị chiến đấu, không có chức năng và nhiệm vụ như đồng chí nói mặc dù đồng chí Việt là lính của chúng tôi. Quay sang phía Lương, Tuấn hỏi: -Ý đồng chí Lương ra sao? Đề nghị đồng chí nói rõ quan điểm và cách giải quyết. Tuấn cười nhìn Lương như muốn nói với bạn: Mày là thằng khôn lõi, chuyện tình của ông Hoàn như hóc xương nai, dai như gân bò mày lại đùn cho tao giải quyết.... Chần chừ một lát Lương ôn tồn: -Thế này anh Hoàn ạ, tôi gọi Việt lên đây, chúng tôi nghe ý kiến của từng người rồi ta sẽ tính và tìm ra cách giải quyết, như vậy tiện hơn. Hoàn nhướn người như định phản đối, song vẫn ngồi thừ ra. Sau một hồi suy nghĩ, Hoàn thở dài: -Thôi...Cũng được?..... Việt bẽn lẽn bước vào nhà ban chỉ huy tiểu đoàn đứng nghiêm, mặt đỏ bừng: -Các thủ trưởng cho gọi em? Tuấn vui vẻ chỉ Việt ngồi cạnh Hoàn và nói: -Đồng chí ngồi xuống. Việt lúng túng ngồi tay vê áo, mặt cúi xuống đất. Lương xoay xoay cây viết trên tay nhìn mọi người: -Hôm nay ban chỉ huy tiểu đoàn mời đồng chí Việt lên đây để giải quyết vấn đề, không hiểu nhau giữa đồng chí và đồng chí Hoàn. Lương nhìn Hoàn rồi nhìn Việt: -Tôi đề nghị đồng chí Việt trình bày rõ quan điểm của mình. Nếu đồng chí Việt chưa chuẩn bị kịp, đề nghị đồng chí Hoàn trình bày trước. Việt nhỏ nhẹ: -Dạ... Để đồng chí Hoàn trình bày trước ạ! Ý định sắp xếp của mình bị đảo lộn, Hoàn ngần ngừ, Tuấn giục Hoàn: -Đồng chí Hoàn nói trước đi. Ta giải quyết vấn đề nhanh gọn, kết thúc sớm. Hoàn dè dặt: -Tôi và đồng chí Việt tự giác tìm hiểu nhau và báo cáo tổ chức xin cưới. Từ trước tới nay vợ chồng vẫn chung sống đầm ấm, hết sức thương yêu và lo lắng cho nhau. Hôm nay tôi về thăm đồng chí Việt không hiểu vì sao đồng chí ấy gây gổ đòi ly dị. Chuyện ly dị đối với những người cách mạng từ trước tới nay là chưa có, đó là sự nghiêm cấm. Chúng ta có cùng một mục đích, lý tưởng lấy nhau là tự giác và có tổ chức, không thể tự do vô tổ chức được. Nếu vấn đề nào chưa thống nhất ta cần bàn bạc thống nhất để đoàn kết cùng nhau chung sống và phấn đấu công tác. Nhìn Việt vẫn cúi đầu xuống đất, Lương và Tuấn vẫn chăm chú nghe. Hoàn cảm thấy tự tin: -Vùng cực nam trung bộ chưa bao giờ xảy ra chuyện ly dị, ly hôn đối với những người làm cách mạng. Vợ chồng bỏ nhau làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và bản thân mình. Tôi đề nghị đồng chí Việt nghiêm túc suy nghĩ về tình yêu và hạnh phúc của mình. Con đường hòa giải và đoàn kết thì cả tôi và đồng chí đều đảm bảo được uy tín của Đảng, giữ vững được hạnh phúc của gia đình. Lương nhìn Tuấn, Tuấn nhìn Lương rồi cả hai cùng nhìn Việt thấy Việt tay vân vê vạt áo khiến cả hai người đều lúng túng. ý kiến của Hoàn chặt chẽ và sắc sảo, đạt tình và thấu lý, Tuấn thấy xuôi tai định phát biểu thì Lương đã nhẹ nhàng khích lệ Việt: -Đồng chí Hoàn đã trình bày quan điểm của mình, đồng chí Việt đã nghe và chắc chắn đã suy nghĩ nhiều nên phát biểu cho mọi người nghe. Việt nhìn Hoàn bằng con mắt căm giận rồi nhìn Lương và Tuấn. Nhận ra mắt của Lương và Tuấn đang động viên, khích lệ mình, Việt từ tốn: -Báo cáo các thủ trưởng... Em không có đủ trình độ lý luận như đồng chí Hoàn, em chỉ xin phát biểu những điều em nghĩ. Tuấn vui vẻ: -Cứ mạnh dạn trình bày, nói như thế là tốt đấy. Giọng Việt đều đều: -Đồng chí Hoàn rất khéo nói, nhưng thực tế thì khác với lời nói một trời một vực. Bữa đồng chí Hoàn đến với em là do đồng chí ấy cưỡng ép!... Em chống cự cật lực đến nổi rách cả áo quần nhưng cuối cùng vẫn bị thất thân với đồng chí ấy. Hôm đó cả đơn vị đi vắng hết, lợi dụng chỉ còn mình em ở nhà, đồng chí ấy... xé tan quần áo em, thân em trơ trọi lúc đó em làm sao kêu được. Nước mắt ràn rụa, Việt nói trong tiếng nấc: -Bộ áo quần anh Vỹ đã dành dụm mua cho em nay anh Hoàn đã xé tan kỷ niệm đó rồi!..Dưới mồ...Chắc vong linh anh Vỹ cũng buồn tủi với em!... Việt gục mặt xuống bàn khóc rưng rức; Đôi vai nhỏ nhắn rung lên từng hồi như đôi cánh của con chim nhỏ vừa mới bay ra khỏi vùng trời mưa gió lạnh lẽo. Cả Lương và Tuấn bàng hoàng nhìn Hoàn, còn anh ta mặt cúi gằm, mồ hôi vã nhỏ từng giọt xuống đất. Lương ôn tồn: -Đồng chí Việt cần bình tĩnh. Trên tinh thần đảng viên nói thẳng, nói thật, nói hết. Sai thì sửa, đừng khóc nữa, lau nước mắt đi và trình bày tiếp. Xin phép ra ngoài rửa mặt rồi ngồi vào bàn nhìn Tuấn và Lương cảm thấy như có hai người anh trai đang sẵn sàng đứng ra bảo vệ cho em gái của mình, Việt từ tốn: -Quá trình ăn ở với nhau, đồng chí Hoàn quá thô bạo và hung dữ. Đồng chí ấy bắt em ra rừng, xuống suối hành hạ em như một đứa con ở. Em tủi quá mà không dám nói. Lúc đó em muốn kêu lên nhưng ở giữa rừng không có một bóng người, khắp người không còn một mảnh vải che thân em kêu làm sao được! Đá sắc nhọn như thế mà anh ấy cứ dằn em xuống, lưng ngực đều bầm tím em chịu làm sao thấu!...Em chỉ biết ngồi khóc một mình, vái ông bà tới đưa em đi cho thân em hết nhục, cho xác em yên!... Làm cộng sản, người cộng sản chứ đâu phải con thú hay bọn ác ôn mà hành hạ nhau dữ vậy?! -Thôi im đi!...Đồ mất nết!... Hoàn quát lên chỉ vào mặt Việt, mắt đỏ âu. Tuấn đứng phắt dậy đập bàn đến “rầm” một cái khiến Hoàn giật thót người. Tuấn quắc mắt: -Đồng chí ngồi im! Đây là tiểu đoàn H9 và tôi là thủ trưởng, đồng chí rõ chưa? Lương đứng dậy ấn vai Tuấn bắt ngồi xuống rồi điềm đạm: -Đồng chí Tuấn không được nóng. Đồng chí Hoàn phải bình tĩnh. Tôi đề nghị đồng chí Việt lau nước mắt rồi trình bày tiếp. Lương ngồi xuống, hai tay vẫn để trên bàn và cầm cây viết xoay xoay chờ cho mọi người bình tĩnh trở lại. Tuấn nhìn Hoàn bực dọc, thọc tay vào túi quần lấy gói thuốc rê đặt mạnh lên bàn, vê thuốc rồi quẹt máy lửa sành sạch mồi thuốc và hút từng hơi ừng ực. Hoàn lấy tay áo quệt mồ hôi trên mặt. Lương vẫn ôn tồn: -Đề nghị đồng chí Việt trình bày tiếp. Lau nước mắt, cố nén từng cơn nấc cứ dội lên, một lúc lâu Việt thư thả: -Đồng chí Hoàn biểu em cố ý phá thai để diệt nòi giống của đồng chí ấy là oan cho em. Núm ruột của em làm sao em phá được!...Tại hồi có bầu tới tháng thứ ba, đồng chí ấy tới, cưỡng ép, đòi hỏi... vậy là em sẩy thai. Khi ấy đồng chí Hoàn bỏ đi một mạch có thèm hỏi han, an ủi em chút nào đâu. Thậm chí cũng chỉ mình em chôn con rồi khóc với con, còn đồng chí ấy!... Đồng chí Hoàn còn bảo em phải về làm dân để lo cho gia đình, nuôi con, lo cho chồng phấn đấu công tác tiến bộ nhưng hoàn cảnh em bao nhiêu năm thoát ly, phấn đấu làm sao trong một sớm một chiều bỏ đi được? Một người chồng ích kỷ như thế làm sao em có thể hy sinh được?. Lời cuối cùng là em xin các thủ trưởng để cho em ở lại công tác, để được tham gia cách mạng như lâu nay... Em cầu mong các thủ trưởng và tổ chức cho em thôi quan hệ vợ chồng với anh Hoàn để em yên tâm công tác. Thấy không khí quá nặng nề Lương đứng dậy: -Tạm nghỉ mười phút chúng ta họp tiếp, đề nghị từng đồng chí suy nghĩ kỹ để vào họp phát biểu nhanh gọn và kết thúc sớm. Việt mắc cỡ đứng dậy chạy về nhà quân y. Lương và Tuấn nhìn theo lắc đầu cười. Lương vỗ vai tuấn: -Ý ông thế nào? Tuấn dứt khoát: -Dẹp!... Mình phải ủng hộ cho Việt, bỏ cái thằng cha mắc dịch ấy đi. Xem ra tay Hoàn này quá tàn bạo. -Vậy ta nên kết luận như thế nào cho đạt tình, thấu lý? Tuấn nhún vai, tay búng mẩu thuốc ra xa, khoanh tay trước ngực, chân đá nhẹ vào một nhành cỏ dưới đất: -Cứ để cha Hoàn nói thoải mái, kết luận tất nhiên ủng hộ Việt, làm biên bản cuộc họp gửi lên trên và cả ý kiến của ban chỉ huy tiểu đoàn về vấn đề này nữa. Lương nhắc Tuấn: -Tuấn à...Thằng cha máu dê này tinh quái lắm, phải có biện pháp bảo vệ Việt. Lão ta làm ẩu thì lôi thôi to. -Mọc sừng lão ta cũng không dám làm ẩu đâu. Nơi đơn vị mình đóng quân giỡn làm sao được. Lương ngần ngại: -Ông chủ quan vừa vừa thôi. Tuấn gật đầu: -Ừ, cho cậu Vệ giám sát tầm xa xem sao. Cuộc họp kết thúc nhanh chóng đúng như ý định của Tuấn và Lương, Hoàn ỉu xìu, giận Lương và Tuấn nhưng không nói ra và đi lang thang quanh tiểu đoàn bộ. Thỉnh thoảng Hoàn lại nhìn về phía nhà quân y bằng cặp mắt xót xa bực bội, buồn bã và nuối tiếc... Ngồi lỳ trong nhà quân y, Việt vừa mắc cỡ vừa không hiểu sao mình lại dám nói trước mọi người về những điều thầm kín mà lâu nay vẫn còn chôn chặt trong lòng. Dẫu sao Việt cũng thấy nhẹ hẳn người và hy vọng lãnh đạo sớm giải quyết mối quan hệ giữa Hoàn và Việt. Gói bộ quần áo và cục xà bông vào khăn mặt, Việt lẳng lặng đi xuống suối mà vẫn có cảm giác như nhiều con mắt đang nhòm ngó diễu cợt mình. Tới đoạn suối thường tắm, Việt cẩn thận nhìn quanh. Chưa yên tâm, Việt đi ngược một đoạn khá dài mới dừng lại. Nước suối trong veo và mát lạnh. Những chùm hoa kin ngân trắng muốt lòa xòa trên mặt nước. Lòng suối khá rộng, nước sâu tới ngực. Dưới lòng suối là những viên sỏi đủ màu nhẳn thín nằm lẫn trong cát vàng au, một tảng đá màu xám trắng nhẵn nhụi nhô lên như một con voi đang nằm đùa giỡn, vùng vẫy trong nước. Để quần áo bên suối, Việt cầm khăn mặt và xà bông lội ra giữa suối, ngồi lên tảng đá vục nước tắm và gội đầu. Cảnh rừng yên tỉnh đến lạ lùng, tiếng nước chảy róc rách và tiếng chim rừng líu ríu gọi nhau. Tít tắp trong rừng sâu tiếng một đôi chim cu đất gáy đều đều, có lẽ nó đang gọi và tìm nhau kết bạn. Dưới làn nước trong xanh, toàn thân Việt trắng ngần. Cặp đùi thon và chắc như đùi ếch hơi khép vào nhau làm tôn thêm cái đẹp của bộ ngực săn và nở đều. Tấm lưng ong ong hài hòa, với khuôn mặt trái xoan lấp ló dưới mái tóc dày ướt sũng. Việt đứng trên tảng đá, tay vuốt nhẹ những sợi tóc trên mặt, đôi mắt sáng trong như ngạc nhiên, như sâu thẳm, như mơ màng và ngỡ ngàng trước màu xanh bạt ngàn của rừng núi. Làn da trắng hồng của Việt như lay động trong tiếng lá rừng lao xao lay động. Cả không gian bừng lên sức sống diệu kỳ... Tắm xong, Việt lội suối lên bờ lau người. Một bóng người ôm choàng lấy Việt. Chưa kịp kêu lên thì một bàn tay đã bịt miệng, còn một tay như chiếc kìm cặp lấy Việt nâng bổng lên. Việt vùng vẫy xoay người, chợt nhận ra Hoàn đang hổn hển ôm chặt lấy mình. Tiếng Hoàn rên rỉ: -Việt ơi!...Hãy tha thứ cho anh!...Không có ai đâu! Hoàn dằn Việt nằm sấp trên một tảng đá. Khóa chặt hai tay khiến Việt không dãy được. Mặt Hoàn chà mạnh lên má Việt, Việt nghiêng đầu cố tránh và bất chợt cắn vào má Hoàn. Hoàn buông Việt lui lại khẽ kêu lên sững sờ. Bất ngờ Hoàn lao lên ghì chặt toàn thân Việt. Việt quằn quại trong đau đớn. Khi Hoàn đè Việt xuống, những cạnh đá sắc nhọn khía vào da thịt khiến Việt rướm máu. Nước mắt trào ra Việt ưng ức trong cổ và chống cự yếu ớt trước tấm thân nặng nề và bàn tay như gọng kìm của Hoàn đang siết chặt lấy mình sau cơn thèm khát Hoàn thỏa mãn đứng dậy buông Việt ra. Việt nghiêng người kêu thiệt to: -Cứu tôi với!...Cứu với!... Việt vùng chạy. Hoàn chồm người đuổi theo. Chạy được một đoạn, chộp được tay Việt, Hoàn chồm tới, khóa tay mặc Việt vùng vẫy la thét thất thần. -Giơ tay lên! Mũi súng đen sáng chĩa vào người khiến Hoàn bàng hoàng bỏ Việt đứng lùi lại dơ hai tay lên trời. Vệ hất đầu gằn giọng: -Nhúc nhích tao bắn chết. Chị Việt đứng đằng sau em. Hoàn run rẫy: -Cho tôi bỏ tay xuống !... -Đứng im! Loại thú vật như mày xứng đáng nhận cả băng đạn vào đầu hiểu chưa? Thấy Việt chạy lại chỗ tắm lấy quần áo, Vệ nói như quát: -Chị Việt đứng lại! Lệnh giữ nguyên hiện trường, chị không được mặc quần áo!... Việt co người nép vào một bụi cây. Sau những tiếng hú dài vang vọng núi rừng của Vệ, Hoàn run rẩy khuỵu xuống. Vệ bước tới quát to : -Đứng lên, mày còn giả vờ tao sẽ bắn nát xương ngay. Quay về phía Việt, Vệ nói to: -Chị không việc gì phải mắc cỡ; chúng ta phải vạch mặt lão ta trước mặt mọi người. Không đầy năm phút, Lương, Tuấn và hai trinh sát tiểu đoàn chạy tới. Mọi người đứng sững lại khi thấy Vệ lăm lăm tay súng và Hoàn run rẩy dơ hai tay lên trời. Thấy Việt đang ngồi núp trong bụi cây. Như bị điện giựt, Tuấn rút súng ra khỏi bao song đứng lặng người rồi cho súng vào bao và quát lên: -Việt! Lấy thêm lá cây tủ vào người; trinh sát đâu chạy lấy quần áo cho Việt mặc lẹ lên!... Quay lại nhìn Hoàn, mắt Tuấn đỏ au, quắc lên dữ tợn: -Ông Hoàn...Bỏ tay xuống!... Tuấn bước đến trước mặt Hoàn thẳng tay tát hai cái thiệt mạnh vào mặt Hoàn khiến Hoàn loạng choạng. Giọng Tuấn rít lên: -Vì ông là một cán bộ, Đảng viên nên cho ông hai cái tát, nếu là địch, đạn này đã vào đầu rồi hiểu chưa? Chờ Việt mặc áo quần xong, Tuấn hỏi Hoàn: -Bây giờ ông còn chối cãi nữa không? Rõ ràng Việt không vu oan cho ông chứ?! -Dạ...Không!... Rút cuốn sổ công tác, Tuấn hất hàm: -Giấy đây, hãy viết bản tự khai, tôi đọc giúp để ông viết: “Tôi cố tình rình cô Việt tắm để hãm cô ấy. Cô Việt kêu cứu, đơn vị đã tới giải cứu và bắt được tôi tại trận”. Thôi tạm thời như vậy để làm bằng chứng. Ông viết xong, ghi rõ ngày tháng và ký tên vào để bọn tôi giữ và xử lý ông sau. Việc xong xuôi, mọi người xúm lại an ủi Việt, chẳng ai thèm để ý tới Hoàn thui thủi một mình lẽo đẽo theo sau. Mãi tới sáng hôm sau, Lương và Tuấn mới cùng Hoàn nói chuyện. Vẫn giọng ôn tồn, Lương hỏi Hoàn: -Chiều qua anh nghĩ thế nào mà ẩu vậy? Hoàn phờ phạc, mặt như tàu lá rủ trong cơn nắng gắt: -Tại tôi thương Việt quá!...Hóa liều!... Lương chậm rãi: -Đáng lý anh phải bình tĩnh, từ từ thì mới tháo gỡ được vấn đề. Việc này rồi cả tỉnh sẽ ồn lên, làm sao Việt có thể trở lại hòa hợp với anh được? Hoàn chán ngán: -Biết làm sao bây giờ!... Cơn giận đã qua đi, Tuấn nhìn Hoàn thông cảm: -Là người lính tôi rất hiểu anh, anh Hoàn ạ. Sự thực Việt chỉ đáng tuổi con, tuổi cháu anh mà thôi. Anh nghĩ coi, nếu con gái anh mà bị đứa khác nó làm như vậy, liệu anh có để yên không? Thú thiệt, nhìn thấy Việt thu lu trong bụi cây, người co rúm lại, tôi không cầm được nước mắt. Nhìn nó ngơ ngác như gà mất mẹ, uất chịu không được nên tôi đã đánh anh, tôi có sai. Nhưng nó là em gái, là chiến sĩ của mình, tôi không cho phép ai vùi dập nó. Hoàn bật khóc và gục đầu xuống bàn, đôi vai rung lên, những sợi tóc đốm bạc rung theo từng tiếng nấc. Vài sợi tóc trên đỉnh đầu lắt lay như bông lau xám bạc chơ vơ trên đồi tranh khô cằn hắt hiu trong chiều lộng gió. Lương nắm bàn tay rám nắng run rẩy, đang co lại của Hoàn: -Anh Hoàn! Đời lính chúng mình sự sống và cái chết kề bên hố bom Mỹ. Khi nóng giận thì ầm ầm như cơn giông, lúc nguội thì hiền như bụi tre khóm trúc, đấy là tình của lính chúng ta. Chúng ta ôm lấy nhau mà sống, làm sao chúng ta không tha thứ cho nhau được. Nín đi anh!... Hoàn mếu máo: -Tại sao khi đó mấy ông không cho tôi một viên đạn vào đầu?... Tôi ngu dại!... Biết chui vào đâu cho mọi người khỏi thấy mặt!... Tuấn lay nhẹ vai Hoàn: -Chuyện đã qua, ta cho qua! Đạn bắn vào đầu Mỹ ngụy, Đại Hàn chứ ai bắn vào đồng chí bao giờ!...Nín đi anh!... Lương bùi ngùi: -Chúng mình đã tạo ra tấm gương chẳng đẹp gì trước mắt mọi người!...Thật là xót xa, xấu hổ cho lớp cán bộ chúng mình. Tiếng Hoàn khóc ưng ức tắc nghẹn giữa cổ, như đuổi theo, như bắt với trong vô vọng và u hoài... Và rất lâu, cả ba người ngồi im lặng, đầu hơi chạm vào nhau như một dấu chấm hỏi cho cuộc đời của mỗi con người... 2 Chẳng hiểu Lương và Tuấn đã nói những gì, sáng nay Việt trở nên thanh thản lạ thường. Khoác ba lô tới nhà ban chỉ huy tiểu đoàn Việt mỉm cười chào Lương và Tuấn. Thấy Việt cầm quả lựu đạn, Tuấn ngạc nhiên: -Chà...quân y bữa nay tự trang bị vũ khí chiến đấu, khá thiệt! Việt cười hiền lành: -Em mới xin của mấy anh trinh sát đấy. Từ trong nhà bước ra đứng cạnh Lương, Hoàn thở dài cúi mặt. Việt cầm quả lựu đạn chĩa vào mặt Hoàn: -Nếu anh còn lôi thôi với tôi, cái này sẽ trả lời anh. Hoàn lắp bắp: -Tôi có lỗi mong Việt tha thứ... Vệ cùng Việt và Hoàn đi hơn hai tiếng đồng hồ mới dừng lại nghỉ. Trước mặt Việt là gò tranh Hòn Núp rộng mênh mông. Lượn xung quanh Hòn Núp là những bụi sim rậm rạp và rừng cây lúp xúp. Con đường độc đạo đỏ au như một sợi chỉ căng từ đầu gò đến cuối gò. Hai bên đường lơ thơ cỏ chỉ và cỏ tranh. Một bụi hoa giấy đỏ thắm đứng chơ vơ giữa gò. Trông xa bụi hoa giấy như một lùm cây, xong đến gần mới biết bụi hoa nó đã sống hằng trăm năm. Gốc hoa to gần bằng bắp đùi, thân và cành to bằng bắp chân, leo bám vào nhau chằng chịt. Nhìn những bông hoa kết lại với nhau thành tầng đỏ thắm nổi lên giữa màu xanh của lá lộng lẫy, kỳ ảo trong cái nắng ong ong, tâm hồn Việt lâng lâng như bay vào bầu trời xanh cao vổng lên và không gợn một chút mây. Việt nhận ra cảnh vật chỗ mình đang ngồi nghỉ cũng đẹp lạ lùng. Hơn một chục cây xăng lẻ to gần bằng một ôm người thẳng tắp và cao vút. Sau lưng Việt là bụi sim cao mọc xen với những cây ổi rừng, cách Việt hơn bốn mét là một con suối cạn. Thành suối áp sát bên đường lô nhô đất đá khô cứng. Bên kia suối cạn là cánh rừng non mơn mởn chạy dài tới tận rừng già. Vệ dựng súng cạnh tảng đá ngồi hút thuốc, ngực áo phanh ra đón những cơn gió khô rốc ào ào thổi. Hoàn ngồi lùi vào trong một bụi cây bên cạnh suối cạn, thỉnh thoảng len lén nhìn Vệ và Việt. Không khí nặng nề trùm lên suốt chặng đường khiến cho cả ba người không muốn nói nữa. Xa tít trên trời một chiếc Mo-ran bay quần đảo dọc đường giao liên đi về thị xã Tuy Hòa. Vệ phàn nàn: -Gió thì thổi rát cả mặt còn nóng thì đến khô cả người. Việt thư thả: -Gió nam cồ khô rốc làm sao mát được, nếu trời chuyển gió nồm em ngồi đó nhất định nổi gai ốc vì lạnh đấy. -Cái ông nào khéo chọn trạm nghỉ ở đây, cây lá lơ thơ chẳng có chỗ tránh nắng. -Đây là chỗ nghỉ tốt nhất để lấy sức vượt qua Hòn Núp đấy. Tại em thấy vậy, chị thấy cảnh đẹp quá trời... Vệ bật cười: -Hôm nay chị vui nên thấy cảnh đẹp, còn em ngày nào chẳng đi lấy công văn qua đây, em chưa thấy nó đẹp chỗ nào hết. Việt bỗng giật mình kéo mạnh tay Vệ, quát to: -Trực thăng!... Chiếc trực thăng bay ngược chiều gió rà sát ngọn cây vụt qua đầu. Việt lo lắng: -Nó bay ngược chiều gió đánh lừa mình đấy. Vệ nhắc Việt: -Nằm im khéo bị lộ. Chiếc trực thăng bỗng vòng trở lại Hoàn nhổm người định chạy, Việt thét lên: -Nằm xuống! Hoàn xoay người, khựng lại và nằm xuống như một cái máy. Chiếc trực thăng trở mình xối đạn xuống chỗ Hoàn. Vệ kêu lên: -Chạy chị Việt...Lộ rồi!... Cả hai người lao tới, kéo Hoàn xuống suối cạn. Hoàn chúi đầu vào một hốc đá chỉ để lưng và chân lộ ra ngoài. Một loạt rốc-két nổ. Tiếng súng AK của Vệ vang lên làm chiếc trực thăng bay vụt lên cao. Nhìn Hoàn chỉ chúi đầu tránh đạn, Việt giật khẩu K59 của Hoàn ra khỏi bao, lấy quả lựu đạn US trườn đến chỗ Vệ. Một loạt đạn lại dội xuống. Việt vội nằm ép người vào thành suối. Sau một loạt AK bắn trả, Vệ hối hả: -Chạy đi!...Chị Việt!... Vệ đứng vụt dậy nhảy ra khỏi suối lăn một vòng tỳ súng bắn vào chiếc trực thăng đang bổ nhào xuống nhả đạn. Chiếc trực thăng đảo mình bay vút lên. Vệ tỳ súng bắn rồi lao người về phía bìa rừng. Một vùng sáng đỏ ối lóe lên trong tiếng nổ liên hồi chát chúa, Vệ lảo đảo ngã vật xuống, khẩu AK bay văng thành từng đoạn. Việt bỗng thấy đau nhói, nhìn xuống đùi thấy máu đang trào ra, vội trườn người lấy chân không bị thương đạp văng Hoàn ra khỏi hốc đá hét lên: -Chạy đi! Anh Hoàn!... Lăn mấy vòng, Hoàn nhổm dậy chạy băng vào rừng. Đạn vây xung quanh, Việt vừa bò vừa trườn người ra khỏi suối. Nhìn lên trời thấy hai chiếc trực thăng bay tới, Việt thầm nghĩ “phải thoát cho nhanh!” . Tay cầm súng, tay cầm lựu đạn Việt vùng chạy. Vết thương nhói lên khiến Việt lảo đảo quỵ xuống. Xung quanh Việt rền vang tiếng nổ và ánh chớp của lửa đạn. Việt giật mình nhận ra địch bắn đạn mã tử áp đảo và dùng trực thăng đổ quân xuống để bắt sống mình. Biết mình không thể chạy được, Việt nằm ép bên một mô đất. Một tốp địch hiện ra, rút chốt lựu đạn chờ địch tiến đến thật gần, Việt vùng dậy quăng lựu đạn. Ánh chớp và tiếng nổ của lựu đạn trùm lên, bốn tên địch lảo đảo ngã chúi vào nhau rồi nằm bất động. Hai chiếc mũ sắt nhô lên, Việt lập tức bắn trả. Một loạt đạn bay sạt qua đầu làm đất đá bay tóe vào người, khẩu K59 trong tay bỗng văng ra khỏi tay Việt. Việt nhận ra ánh chớp, tiếng đạn nổ và khoảng đen trùm lấy mình, cùng thoáng hiện thoáng mất...Văng vẳng bên tai Việt tiếng địch gọi nhau í ới rồi nhỏ dần như tiếng con ong kêu loáng thóang bên tai: -Con nữ Việt cộng lì đòn!... -Khiêng nó đi!... Việt mơ màng thấy mình bay trong mây bềnh bồng. Trời vẫn cao vổng lên và xanh vời vợi. Những bông hoa giấy trên Hòn Núp vẫn đỏ hồng la đà trong gió. Không một tiếng pháo, không một tiếng bom, chỉ có một cánh chim bay lặng lẽ giữa trời... Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Chín, 2023, 03:29:54 pm Chương 28 1 Mai trở về xã Phụng với bao trăn trở, ưu tư. Sau cuộc họp của đơn vị, Mai lại ngồi trên tảng đá dưới gốc me già. Rót nước vào chiếc chén mỏng, thư thả uống từng ngụm khoan khoái. Ba chiếc chén mỏng bỗng chìa ra xung quanh Mai và chiếc bình đông được nhấc bổng lên trong tiếng cười ròn tan của Nhự, Chín Phượng bắt nọn: -Chị Hai ghê quá ta... Nhớ anh Lâm nên lén ngồi một mình uống nước đúng không? Rót nước vào chén, Nhự ngồi cạnh Mai: -Nè... phạt tội uống nước trà lén... Tụi bay, uống nước không mời chơi, uống nhanh kẻo hết. Cả bốn chị em vừa uống nước vừa líu ríu nói chuyện. Thoáng thấy Năm Đồng lén nhìn Nhự cười, Chín Phượng chỉ tay: -Nè, cấm nhìn mấy tiên cô đang ngồi đàm đạo nghe chưa. Anh nhìn chị Nhự hay nhìn em để mọi người làm chứng cho rõ ràng. Nhự đấm thùm thụp vào lưng Phượng: -Cái con trửng mỡ. Mai tủm tỉm cười: -Trong ba lô của chín Phượng cũng có một xấp thư của anh chàng quân y H96 gửi dày cộp đấy bay à. -Chị Mai ơi! Sai hung rồi!... Chín Phượng cười ròn tan, Mai sực nhớ xua tay: -Ý! Chị quên... Của anh Đang H9. Phượng dãy nãy như đỉa phải vôi: -Chị Hai nói ẩu quá à... Tám Nghiệp rỉ tai Mai: -Em yêu thương... Chúng mình cùng ngành Y... nghe mùi mẫn lắm phải không chị Hai? Mai gật đầu cười nói thật to: -Em thương yêu... chấm nhỉu... Chúng mình ngành Y... thư của ai không biết. Phượng véo vào lưng Tám Nghiệp: -Con ranh này, không có chị Mai mày chết với tao. Mai hóm hỉnh: -Tám Nghiệp có họ với tổng thống Ních-Xơn nên nó cũng mang cái tính “lật lọng” như Ních-Xơn đấy em à. Câu chuyện đang vui, Nghiệp bất ngờ hỏi: -Nghe nói chị Việt đẹp lắm phải không chị Hai? Mai gật đầu: -Vừa được người, vừa được nết. Tội nghiệp. Không hiểu sao mà nó vất vả lao đao hoài. Nghiệp thiệt thà: -Tại cái số nó khiến vậy. Nghe Nghiệp nói, Nhự bỗng nhiên tư lự: -Làm gì có số phải không chị Hai? Phượng gạt đi: -Mày không tin thì thôi, nhiều người nói chị Việt số hồng nhan bạc phận nên cả đời khổ hiểu không. Nghiệp hùa theo: -Đúng vậy. Chuyện tình duyên éo le chưa giải quyết xong đã bị địch bắt, không phải số là gì. Nhự cố giải thích: -Lọt vào hoàn cảnh như vậy thì phải như vậy, tất cả là do hoàn cảnh mà ra chứ ai muốn vậy. Nghiệp tủm tỉm cười: -Cứ đổ cho “tại” với “do” như chị thì phải giải thích cả ngày không xong. Chín Phượng cười khúch khích: -Lý luận gia Sáu Nhự giải thích tỷ như sáng đi từ cây me, đi một hồi rồi về lại cây me theo kiểu vòng vo tam quốc vậy mới tài. Mai phì cười: -Bay lo suy nghĩ tranh luận hoài tóc sẽ rụng hết, lúc đó cả ba đứa đều thành sư rồi cùng kéo nhau lên chùa tụng kinh, gõ mõ một thể cho vui. Mọi người đều phá lên cười. Thấy Nhự thọc lét lưng mình, Chín Phượng né cười nói to: -Con Nhự hay lý luận thành sư trước. Nghiệp nhìn Mai tranh thủ sự đồng tình: -Hai chị đi tu đã có người đăng ký đi tu cùng, phải không chị Mai? Mai gật đầu nhìn nhận ra con nhỏ không khác gì mình hồi mới thoát ly chuyên dựa bóng cây tùng để phát biểu ý kiến của mình. Nghiệp tò mò: -Nghe nói quan hệ giữa ông Hoàn và chị Việt cắt đứt rồi phải không chị Hai? -Ừ... Mấy anh H9 nói tổ chức tỉnh đồng ý cho hai người cắt. Nhưng... dẫu có nghe được tin này thì Việt cũng đã ngồi tù rồi. Chín Phượng chậm rãi: -Trong tù chị Việt nghe được tin này cũng đỡ tủi thân. Giọng Mai lắng xuống: -Nhờ có cơ sở xác minh anh Hoàn mới không bị kỷ luật về tội mất súng, Việt hận anh Hoàn suốt đời. Nhưng nó vừa cứu sống, vừa gỡ tội cho anh ấy. Ông trời ở không công bằng chút nào, người gây nên tội thì không gặp nạn, người làm ơn thì mắc nạn mới bực chứ. Nhự nói hành: -Chị Việt cứu làm chi cái người ham sống, sợ chết, làm khổ chị ấy suốt đời. Em nói thiệt ông Hoàn mà bị địch bắt, chỉ cần bọn nó đánh cho hai hèo thì trong nhà còn hạt tấm cũng khai ra hết. Mai bật cười: -Thì nói toạc ra địch mới đánh hai hèo thì mẹ có cái gì đó... cũng khai hết, lại còn ví với von, úp mở. -Bà này nữa...ỷ có chồng, có con ăn nói chì một cây... Từ trạm giao liên về, Út Hân đưa cho Mai một xấp công văn, còn xấp thư úút Hân nhìn Nhự và Phượng dơ lên cao: -Ai có thư tới mà nhận nè. Út Hân chạy vù đi, Nhự và Phượng chạy đuổi theo. Tiếng Chín Phượng dọa: -Thằng quỷ, nhận thư xong tao cú mày lỗ đầu. Gấp những công văn và chỉ thị cho vào túi sắc Mai đọc đi đọc lại lá thư của ông Chín Tòng gửi cho Mai và anh em xã Phụng trước khi lên đường ra Bắc điều dưỡng. Đọc thư, Mai càng cảm phục ông Chín là con người sâu sắc và nhân hậu. Mặc dầu trong chuyến lên thăm ông Chín Tòng, cả hai chú cháu đã trao đổi rất kỹ về những đối tượng nghi vấn cho địch cài vào hàng ngũ của ta, song lá thư này chú vẫn nhắc Mai cẩn trọng. Hình ảnh chú Chín Tòng một tay bị cưa cụt chống nạng gỗ tập tễnh bước hiện lên làm Mai xốn xang: Hôm Mai và út Hân đến bệnh viện Hồ Tây vừa thấy ông Chín Tòng, Mai đã chạy lại ôm chú khóc rưng rức, thảng thốt nói trong tiếng nấc: -Trời ơi!...Sao lại đến nông nổi này!...Chú ơi!... Vai tỳ nạng gỗ ông Chín đứng lặng người, rơm rớm nước mắt, xoa đầu Mai: -Nín đi! Nín đi con!... Làm bí thư rồi sao lại khóc!... Vẫn như xưa, ông Chín biểu Mai và Út Hân cùng ông đi ra rẫy kiếm nấm dai, nấm mèo về nấu canh. Bên những gốc cây khô, ông Chín vai tỳ nạng gỗ, co chân, nhướn người nhẩy từng bước một. Trong cái nắng xiên khoai, khi cúi, khi đi nhặt từng cái nấm, bóng ông thấp thoáng, chờn vờn đổ dài trên rẫy. Mai hiểu ông Chín Tòng không muốn mình thành cây tầm gửi, quanh năm ăn gửi, nằm nhờ. Ông luôn cố gắng vượt qua những khổ ải của tật nguyền để sống như mọi người. Tiếng nói chắc và chậm rãi của ông Chín Tòng lại vang lên trong Mai: “Bọn phản Đảng, hại dân như con rắn độc ẩn nấp, luồn lách trong hàng ngũ chúng ta. Nếu không tỉnh táo, chúng ta phải trả giá bằng máu và nước mắt”. Mai đã tính kỹ rồi, bằng mọi giá, phải thay mặt ông Chín diệt bằng được con rắn độc gián điệp nguy hiểm này. 2 Bảy Vân xuống xã Phụng đang lúc cả xã cùng H96 vây đánh địch dưới làng. Gần hai tuần qua, ở Phú Yên cũng như toàn miền Nam đang bước vào mùa chiến dịch. Nhiều cứ điểm quan trọng của địch ở Phú Yên bị quân giải phóng đồng loạt tấn công và thu thắng lợi lớn. Địch phải căng lực lượng ra đối phó với sức tấn công mãnh liệt của ta. Vì vậy, một trung đội bảo an mò vào xã Phụng bị C3 đánh phủ đầu đã bỏ chạy. Trong suốt ba ngày, lực lượng cách mạng đã làm chủ hoàn toàn 5 thôn. Chỉ còn thôn Núi Sầm thì bọn địch trên Núi Sầm nằm co chờ chi viện. Đã lâu lắm rồi, không khí giải phóng mới thực sự trở lại xã Phụng. Dù công việc túi bụi nhưng Mai cũng phải thường trực bên ban chỉ huy tiểu đoàn để khi đơn vị cần, xã có hướng giải quyết ngay. Nhự và Ba Hổ xuống xóm Lẫm tổ chức họp bà con để Bảy Vân nói chuyện thời sự. Giọng nói của Bảy Vân sang sảng và cuốn hút nên ai cũng thích nghe. Nghe Bảy Vân nói, mấy ông già gật gù bảo nhau: -Quảng Trị, Công Tum, Nam Bộ... bị quân giải phóng đánh tùm lum, cha con Mỹ - Thiệu tha hồ mà đỡ. -Chà! Chúng lo thủ ở thành phố thì bỏ nông thôn là cái chắc, tình hình cũng y như năm 65 rồi đấy, rồi mọi người coi, dân mình đời nào chịu thua Mỹ. -Nè!..Ông Bảy cách mạng nói mùi quá trời. Thiệt xứng mặt anh hùng hảo hớn. Vậy mới là cán bộ cách mạng phải không mấy ông? Nói chuyện với bà con xóm Lẫm xong, Bảy Vân ghé vào một gia đình có người vừa ở Núi Sầm về để nắm tình hình. Đang ngồi nói chuyện, một ông già vào nhà đứng xoa tay: -Không mấy khi cách mạng xuống làng, lính ông Thiệu chạy hết trơn, bọn tôi mừng quá trời! Nhân nhà có đám giỗ, mời cách mạng qua dự cho vui. Thấy Bảy Vân chần chừ, ông ta tiếp lời: -Tôi nói khí không phải xin ông Bảy bỏ qua cho, mấy ông già tới ăn giỗ biểu tôi tới xin ông sang dự và nói ít chuyện thời sự cho bà con vì hồi nãy chưa được nghe. Bảy Vân gật đầu xởi lởi: -Được. Bà con cũng phải nói lại tình hình dưới thị xã cho tôi nghe... chịu không? -Dạ...Cái đó thì được quá đi chớ. Vừa ăn vừa nói chuyện, hai ly rượu cay nồng, ngọt lịm trong cổ khiến Bảy Vân phấn chấn dừng đũa nhìn mọi người: -Cái tin mới nhất là cách mạng mình pháo kích vào quận lỵ La Hai diệt gần một trung đội, phá hủy một súng cối 120 ly, còn Củng Sơn, Phú Tân đều đồng loạt nổ súng, nói chung kỳ này ta ra quân ròn rã. Một ông già gắp thức ăn vào chén Bảy Vân háo hức hỏi: -Ông Bảy kể chuyện Pa-ri cho tụi tôi nghe đi. Bên quốc gia nói nhiều chuyện thất thiệt. Quan nói một đằng, lính nói một nẻo như trống đánh xuôi, kèn thổi ngược nghe tức như bị bò đá. Bảy Vân cắt lời ông già: -Chuyện tại hội nghị Pa-ri mấy ông có nghe mới biết các vị lãnh tụ của mình tài: Tỷ như chuyện đồng chí Lê Đức Thọ gặp Kít-Xin-Gơ, nó nói xách mé: -Tôi cao hơn ông. Đồng chí Lê Đức Thọ trả lời ngay: -Không. Ông dài hơn tôi. Nó lại nói: -Tôi những bảy bằng tiến sĩ còn ông được mấy bằng tiến sĩ? Đồng chí Lê Đức Thọ lại nói: -Con tôi nó cũng đỗ tiến sĩ như ông. Bảy Vân vừa nói dứt câu, ông già vỗ đùi đánh đét và cười vang: -Chà!... Thâm nho!...Hẳn ông lãnh tụ giỏi chữ Anh, chữ Tàu phải không mấy ông? Một ông khác chen vào: -Người ta là lãnh tụ thì cái gì chẳng biết, có như vậy mới thắng được Mỹ chứ. -Chuyện nghe vậy mới hay, cứ như báo Con Ong đưa tin:Chiều hôm qua xe tông làm một con bò chết và một con bị gãy chân nghe lãng xẹt. Mọi người cười ầm lên. Ngoái nhìn không thấy Nhự và Ba Hổ đâu, Bảy Vân liền hỏi : -Hai cán bộ của tôi đâu rồi? -Dạ... Họ ra chỗ mấy anh giải phóng đang trực chiến. Có tiếng người lao xao ngoài ngõ, một người hớt hãi chạy vào: -Địch lên!... -Từ đâu lên!... -Đông lắm, nhiều cánh quân đổ về đây, bọn tôi sợ quá không đếm nổi. Mọi người nhanh chóng tản ra, Bảy Vân chạy lên đầu thôn tìm Nhự và Ba Hổ. Tiếng mo-ran và trực thăng bỗng rền trời. Tiếng pháo bay rít trên đầu, nổ chụp vào khắp thôn Lẫm. Tiếng trẻ khóc thét, tiếng người mẹ hốt hoảng gọi con, tiếng bò rống và tiếng của tre nứa nổ trong những ngôi nhà đang bốc cháy. Dân xóm Lẫm dắt díu nhau chạy túa ra ngoài đồng, rồi chạy về thị xã Tuy Hòa. Những loạt pháo vừa ngừng thì những loạt đạn trên sáu chiếc trực thăng trút xuống. Bảy Vân lăn mấy vòng giữa ánh chớp lóe trùm mặt đất và mảnh đạn bay vù vù. Tiếng AK và tiếng đạn đại liên từ các bờ tre thôn Lẫm nổ ròn như tín hiệu gọi và lập tức gọi mình Bảy Vân chạy thục mạng tới chỗ có tiếng súng AK nổ ròn (chỗ anh em bộ đội đang chiến đấu). Những loạt rốc-két và trọng liên từ trực thăng dội xuống khiến Bảy Vân nằm ẹp xuống đất. -Anh Bảy! Chạy theo tụi em!... Nghe tiếng Nhự gọi to, Bảy Vân nhổm người chạy tới, Ba Hổ vừa chạy vừa nói: -Chạy về chỗ anh Ánh đang ở cuối thôn lẹ lên. Sực nhớ khẩu K54 đang nằm trong bao, Bảy Vân vừa chạy vừa rút súng và quan sát xung quanh. Lại những loạt đạn nổ vây quanh. Bảy Vân nằm co ép người rồi lăn xuống hố rác bên cạnh đống rơm. Thoáng nhìn thấy Nhự và Ba Hổ đã chạy tới bờ tre, Bảy Vân vùng dậy chạy theo. Còn cách căn hầm trong bờ tre không đầy một với tay Bảy Vân như bị đè ép xuống đất bởi tiếng rít của trái bom lao xuống. Trong tiếng nổ long trời, Bảy Vân nhận ra một bóng người lao ra nằm đè lên người mình. Sau tiếng bom nổ, Bảy Vân biết mình vừa thoát chết. Chân tay run lên, Bảy Vân ngẩng đầu thấy Nhự nằm ngất lên trên lưng mình, vội lách người đẩy Nhự lăn xuống đất. Thấy đùi Nhự máu chảy thấm ướt cả ống quần, hoảng hốt và luống cuống, Bảy Vân nhảy ào nhảy vào công sự. -Anh Ánh!... Chị Nhự bị thương!... Ôm xốc Nhự đặt vào hầm, Ba Hổ quắc mắt mắng Bảy Vân: -Tại ông hết!... Chậm như rùa ấy! Vì cứu ông mà chị Nhự như bị thương! Vậy mà ông hất chị Nhự xuống đất nghĩa là sao! Đồ quỷ sứ! Để đồng chí y tá băng bó vết thương cho Nhự, Ba Hổ xách súng nhảy sang căn hầm bên cạnh cùng hai đồng chí bộ đội căng mắt nhìn bọn địch đang nhấp nhổm sau bờ ruộng, Ba Hổ làu bàu: -Tổ cha quân ăn lương Mỹ, trước sau tao cũng tia cho văng mũ sắt. Đồng chí bộ đội đứng cạnh nhắc Ba Hổ: -Chờ cho nó nhô đầu lên hãy bắn, mới thấy mũ sắt mà bắn là không trúng đâu. Ba Hổ im lặng gật đầu, đồng chí bộ đội lại nhắc: -Hổ thấp cái đầu xuống, đạn nó phang cho vỡ đầu bây giờ, khi phi pháo oanh tạc là lúc chúng dìu quân tiến lên và dứt oanh tạc là chúng tấn công mình đó. Từng loạt đạn bắn tỉa kết hợp với súng cối 61 ly và M79 bắn cắt ngang đội hình địch khiến chúng phải lùi ra xa. Thay băng đạn mới, Ba Hổ hỏi đồng chí bộ đội: -Anh cho em xin một băng đạn. Đưa băng đạn cho Ba Hổ đồng chí bộ đội hất đầu: -Cậu còn đạn rời đưa cho ông cán bộ bảo ông ấy nạp đạn cho. Nhảy sang hầm Nhự nằm, Ba Hổ đưa vỏ băng đạn cho Vân: -Chú nạp đạn vào băng rồi ném qua cho cháu, nhớ ngồi canh chừng chị Nhự, máu ra nhiều gọi y tá. Ba chiếc xe bọc thép của địch dàn thành đội hình tam giác từ ngoài đồng lùi lũi tiến vào. Ánh kêu to: -Hỏa lực tập trung đợi lệnh. Nghe tiếng súng 12ly7 và cối 82 ly từ thôn Tường bắn cắt đôi đội hình địch trên đồng, Ánh gọi liên lạc: -Lệnh các hướng tập trung hỏa lực, phối hợp với hỏa lực tiểu đoàn rõ chưa. -Rõ... Ba Hổ nhìn đồng chí liên lạc chạy vụt đi, quay sang hỏi đồng chí bộ đội: -B40 đâu, sao không bắn? -Đánh giặc với chủ lực, chứ đâu phải như du kích bắn xong rồi chạy, cứ nằm đấy... Ánh bò tới cạnh xạ thủ B41 và ra hiệu cho các xạ thủ trung liên và đại liên hợp đồng tác chiếc: -Bắn!... Tiếng ánh dõng dạc hô vang, các luồng lửa B40, B41 bay chụp vào ba chiếc xe bọc thép buộc cả ba chiếc xe lùi lại bắn xối xả vào thôn Tường và thôn Lẫm. Bộ binh địch từ sau xe bọc thép chạy túa ra và thụt lùi khỏi tầm đạn của ta. Sợ trúng đạn, ba chiếc xe bọc thép vừa lùi vừa bắn. Đạn phầm phập cắm vào xuống ruộng, bờ tre, cày xới đường làng làm cho đất cát bụi mù. Ánh lấy tay vuốt mồ hôi trên mặt, chạy đi kiểm tra bộ đội. Ba đồng chí thông tin và hai đồng chí trinh sát tiểu đoàn lom khom xách súng cuộn giây chạy tới công sự. Trung, trinh sát tiểu đoàn hỏi: -Anh Ánh đâu? -Đi kiểm tra. Trung giục: -Thông tin thu giây, thu máy nhanh lên. Thu máy, giây xong ba đồng chí thông tin vội vã trở lại thôn Tường, Trung gọi to: -Cẩn thận khi chạy qua gò. Nhìn thấy Ba Hổ, Trung càu nhàu: -Cũng tại mấy ông bố phòng chết cái gò chết tiệt ấy nên con đường độc đạo bây giờ thành chỗ cho địch oanh tạc cắt đứt liên lạc giữa tiểu đoàn và đơn vị rồi đấy. Ba Hổ không trả lời, mắt vẫn quan sát địch. ánh sách súng nhảy ào xuống công sự. -Báo cáo, lệnh tiểu đoàn tất cả rút về thôn Tường. Ánh nhìn Trung: -Thế còn thương binh tử sĩ? -Tự giải quyết anh à. Ánh gọi liên lạc: -Báo tiểu đội một chuyển thương binh tử sĩ về thôn Tường. Tiểu đội hai vẫn tại chỗ chờ lệnh. -Rõ... Ánh quay sang nói với Ba Hổ: -Cậu cõng Nhự tới chỗ tiểu đội một, để anh em hỗ trợ đưa Nhự về thôn Tường nhanh lên. Thấy Ba Hổ cầm hai khẩu súng. Ánh gắt lên: -Đưa một khẩu cho ông Bảy giữ. Thấy Bảy Vân lóng ngóng, Trung nhanh nhẹn: -Ba Hổ đưa súng cho mình. Anh Vân nhớ bám sát hỗ trợ cho Hổ cõng chị Nhự rõ chưa. Bảy Vân gật đầu nép người vào vách hầm. Vừa lúc đó, đồng chí liên lạc chạy về, trông thấy Ba Hổ vội giục: -Cõng chị Nhự chạy nhanh lên, tiểu đội một rút rồi. Đeo khẩu AK, lưng cõng Nhự, Ba Hổ vừa chạy vừa giục Bảy Vân: -Chạy nhanh lên! Đạn tránh người, chứ người làm sao tránh đạn. Lẹ lên! Bảy Vân lồm cồm nhổm dậy, vừa chạy vừa nhìn Ba Hổ. Bỗng sáu chiếc trực thăng thay nhau bổ nhào xuống bắn phong tỏa đoạn đường trên gò. Ba Hổ sực nghĩ “Hay là tiểu đội một bị lộ”. Vội cõng Nhự lùi lại hỏi Bảy Vân: -Nó bắn chặn hai đầu gò làm sao qua được? Bảy Vân lăm lăm tay súng ngồi nép bên một bức tường, tay quệt mồ hôi im lặng. Ba Hổ lại giục: -Làm sao bây giờ chú? Hay là ta quay lại chỗ anh Ánh? Bí thế Bảy Vân gật đầu, cả ba người chạy ngược đường làng rồi băng qua những vườn cây chạy về chỗ Ánh. Bảy Vân hốt hoảng: -Bộ đội rút rồi! Ba Hổ cằn nhằn: -Tại ông sợ chết, cứ chúi đầu xuống đất làm sao theo kịp mọi người. Ngơ ngác nhìn quanh, Ba Hổ hối hả: -Chạy theo bộ đội. Đó. Hỏa lực ở thôn Tường bắn cho họ rút theo đường mương cạn ven làng, thấy chưa? Bảy Vân rối rít: -Mình chạy trước yểm trợ, cậu chạy theo mình. Lách người qua bờ tre, Bảy Vân lăm lăm tay súng cố chạy nhanh theo dọc con mương, Ba Hổ lũi cũi cõng Nhự chạy theo sau. Vun vút pháo tự hành của địch bắn thẳng vào mương cạn. Bảy Vân nằm ép sát vào lòng mương. Ba Hổ vụt chạy qua: -Chạy lẹ lên chú Bảy! Vừa nói dứt câu, Ba Hổ bỗng chúi người xuống tránh một loạt đạn rồi vụt chạy. Nhự vừa nói vừa rên: -Chờ anh Bảy, dẫu ông ấy sợ chết, nhưng cũng phải chờ. Nép vào bờ mương, lấy khẩu AK khoác vào một bên vai, Ba Hổ dặn Nhự: -Chị nghiêng đầu vào vai em kẻo báng súng đánh vào mặt đấy. Ngơ ngác quay lại nhìn không thấy Bảy Vân đâu, Ba Hổ gọi to: -Chú Bảy! Chú Bảy! Ba Hổ bỗng khuỵ xuống và kêu lên: -Chị Nhự, em bị thương rồi!... Nhự nghiến răng chịu đau: -Đặt chị xuống, để chị băng cho. Lấy cuộn băng trong túi sắc Nhự bình tĩnh vừa băng cho Ba Hổ vừa hỏi: -Anh Bảy đâu? Hay là anh ấy bị thương rồi? Ba Hổ gọi to: -Chú Bảy! Chú Bảy! Một lát sau thấy Bảy Vân vừa chạy, vừa bò, mặt xám ngắt, mắt ngơ ngác, Ba Hổ hối hả giục: -Chạy lẹ lên! Giật mình Nhự giật khẩu AK trên vai Hổ nhướn người tỳ súng lên bờ mương liên tiếp bắn vào bọn địch đang tràn tới, và quát lên: -Hổ, chạy đi!... Có địch!... Hàng loạt đạn AR15 bay xoáy xung quanh Nhự và Ba Hổ, Nhự quắc mắt: -Chạy đi!... Chị yểm trợ!... Ba Hổ vụt chạy theo bờ mương cạn. Thoáng nhìn không thấy Bảy Vân đâu, Nhự ghì súng bắn trả địch. Bọn địch vừa lùi lại vừa thi nhau bắn về phía Nhự. Nhìn thấy Ba Hổ đã chạy gần tới thôn Tường, nét mặt Nhự thoáng yên tâm. Lấy băng đạn trong túi để bên khẩu súng của mình chờ những chiếc mũ sắt nhổm lên Nhự bắn từng loạt buộc địch nằm ép xuống. Nhìn lại thấy vệt bùn biết Bảy Vân trườn ra khỏi bờ mương Nhự lo lắng nhìn ra cánh đồng. Một loạt M79 bay chụp tới Nhự bỗng thấy đau nhói sau lưng và cánh tay... trời đất như tối sầm lại, những mảng sáng tối bay đến chờn vờn, cảm giác đau đớn không còn nữa, cả những âm thanh đang gào thét chung quanh cũng nhỏ bé và tan biến dần, Nhự chỉ còn nghe rất rõ tiếng bọn địch ý ới gọi nhau: -Bắt lấy nó, đừng bắn. -Thằng Bảy Vân dơ tay hàng rồi. -Cộng sản cồ đấy bắt về lãnh thưởng... Nhự chồm người cố đón bắt những tia sáng và luồng gió mát rượi bay tới rồi gục xuống bờ mương. Tay nắm chặt khẩu AK chiếc áo màu ghi sáng nhuốm đầy máu. Nhự nằm như đang hôn lên mảnh đất của mình. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Chín, 2023, 03:31:42 pm 3 Cánh tay đầy máu và bùn, khi chạy, khi bò, về đến thôn Tường, trông thấy Mai, Ba Hổ òa lên khóc: -Hy sinh hết rồi! Chị Hai à!... -Sao!... Mai bàng hoàng, đứng lặng khi Ba Hổ nói trong nước mắt: -Chị Nhự trúng đạn ngã vật xuống mương, còn chú Bảy nhảy ra khỏi mương ngã xoài trong ruộng lúa!... -Em thấy tận mắt!... Đã lấy lại được bình tĩnh, Mai giục Phượng: -Tiêm thuốc cầm máu, băng lại vết thương cho Ba Hổ, cẩn thận kẻo nhiễm trùng nghe Chín. Chờ Chín Phượng băng xong vết thương Mai nhẹ nhàng hỏi Ba Hổ: -Em nói tóm gọn lại sự việc cho chị nghe nào. -Đạn nổ xung quanh, bọn địch xông tới rất đông, chị Nhự cắp AK vừa bắn vừa quát lên: Hổ chạy đi!... Em quay lại thấy chú Bảy ngã xoài trên ruộng lúa, chị Nhự ngã gục trên bờ mương, vậy là em chạy về đây. -Em còn thấy gì nữa? -Hết rồi!... -Vậy là!... Giọng Mai lạc hẳn đi khiến Ba Hổ ngơ ngác, nhìn những giọt nước mắt của Mai lăn tròn trên má. Hồi lâu Mai nhảy ra khỏi hầm, cầm súng chạy đến chỉ huy sở tiểu đoàn. Vừa thấy Khanh, Mai òa lên khóc như một đứa trẻ: -Anh Hai!... Nhự và anh Bảy hy sinh rồi!... -Đừng khóc! Nói rõ tình hình đã nào. Lấy khăn mặt của mình đưa cho Mai lau nước mắt, Khanh dịu giọng: -Đang lúc đánh địch, khóc làm cho mình mềm yếu đi, Mai à!... -Em có khóc đâu... Thấy tủi nên nước mắt cứ trào ra chứ em có muốn đâu!... -Báo cáo, đài quan sát xin làm việc. Ra hiệu cho Mai ngồi đợi, Khanh quay người bước vào hầm tay cầm ống nghe điềm tĩnh hỏi: -Đài quan sát phải không, Khanh đây, nói đi. Nhìn đôi lông mày chổi xể của Khanh lúc dãn ra, lúc nhíu lại, bằng linh cảm, Mai nhận ra diễn biến tình hình phức tạp, cuộc chiến đấu sẽ diễn ra khốc liệt Mai bất giác thần người nhìn Khanh. Đôi mày bỗng xếch lên, Khanh chém tay vào không khí nói to: -A lô, quan sát các hướng di chuyển của địch, tôi sẽ tới ngay, rõ chưa? Đặt ống nghe xuống máy, Khanh ra hiệu cho Trung liên lạc tiểu đoàn và Mai theo mình. Vượt qua những bức tường sụp đổ, những căn nhà cháy lem lém, qua những vườn cây tới bìa làng, Khanh nhảy xuống chiến hào. Tới đài quan sát, lấy ống nhòm của một trinh sát đưa cho Mai, Khanh chỉ ra mương cái: -Cự ly 500 mét quan sát xem người bị bắt là ai. Cầm chiếc ống nhòm của mình điều chỉnh cự ly mục tiêu, Khanh chăm chú theo dõi rất lâu, bỗng buột miệng: -Anh em mình bị bắt. Mai cũng thảng thốt kêu lên: -Bảy Vân! Đúng là anh Bảy bị chúng bắt!. Mắt không rời ống nhòm, Khanh thận trọng hỏi: -Vì sao em biết? -Quần áo màu xám sáng, dáng cao to như vậy chắc là anh Bảy. Quan sát kỹ, Khanh khẳng định: -Đúng Bảy Vân bị địch bắt rồi. -Ủa! Lão ta dơ tay đầu hàng, anh thấy không? Không trả lời Mai, dường như đã xác địch mục tiêu, Khanh hạ ống nhòm thở dài: -Chắc chắn Bảy Vân khai báo. Mai do dự: -Dẫu sao anh ấy cũng là một thường vụ thị ủy, không lý lại đầu hàng. Khanh bật cười rồi nghiêm sắc mặt: -Ham sống sợ chết mới đầu hàng, đã đầu hàng thì đến ông trời, bà đất, địch cũng moi hết ruột gan ra bắt khai, loại Bảy Vân ăn nhằm gì. Mai hiểu trăm mối khó khăn lúc này đè nặng lên đôi vai Khanh, Bảy Vân hiểu rất rõ thực lực H96 và xã Phụng, Bảy Vân khai báo, địch sẽ thẳng tay nghiền nát H96 và cào bằng xã Phụng. Khanh sẽ đối phó với địch ra sao trong trận đánh quyết tử, quyết sinh này... Trăm mối lo dồn tới khiến Mai bồn chồn. Bất giác Mai nhìn Khanh vẫn thấy nét mặt Khanh bình thản và điềm tĩnh, tự nhiên nỗi lo trong Mai vơi dần. Tới bên máy điện thoại, áp ống nghe vào tai, Khanh chậm rãi: -A lô. Ban chỉ huy hả? Bảy Vân bị bắt đã đầu hàng. Chuyển ngay chỉ huy sở về chỗ dự kiến, cho thay đổi vị trí các hỏa lực rõ chưa? Lắng nghe Ban trả lời trong điện thoại, cằm hơi bạnh ra, Khanh nói to: -Anh Ban đấy hả, đánh thắng địch lúc này là tôi và anh, không thể trút lên đầu chính trị viên tiểu đoàn được, anh báo anh Hùng và triển khai ngay lệnh của tôi rõ chưa? Đặt ống nghe xuống, ra hiệu cho Mai và Trung đi theo mình, Khanh nắm gốc tre nhảy lên khỏi chiến hào rồi bước những bước dài dọc theo bờ tre. Ba anh em vừa về đến chỉ huy sở tiểu đoàn thì pháo 105ly, 230ly của địch ập tới, ngồi trong căn hầm đào luồn dưới bụi tre, Út Hân mừng nói với Mai: -Số chị đi đâu cũng gặp hên, nói dại nếu pháo bắn trúng nắp hầm cũng bằng gãi ngứa phải không chị Hai? -Chỉ được cái nói ẩu, pháo 230 ly, pháo khoan có khác gì bom?.. Nói chưa dứt câu, tiếng pháo đã nổ dội vào bờ tre khiến cho Mai nảy người lên, còn Út Hân ngã xoài xuống. Sức mạnh vô hình của đạn pháo rít và nổ liên hồi ép cả hai chị em nằm dính chặt vào mặt đất. Một tiếng “ục...” xoáy trong lòng đất, mặt đất rung lên như muốn hất tung cả người lẫn hầm khiến Út Hân hoảng hồn: -Pháo khoan thiệt rồi, làm sao bây giờ chị Hai!... Mai gắt lên: -Đừng ép lưng vào thành hầm kẻo sức ép của pháo khoan truyền qua đất vỗ vào lưng là hộc máu ra và chết liền đó. Lại một loạt pháo xoáy rít lao xuống, một quả pháo nổ sát hầm làm toàn thân Mai nổi da gà. Mùi thuốc pháo tạt vào làm Mai khó thở và Út Hân ho sặc sụa. Tiếng tre gãy răng rắc trên nóc hầm rồi đổ ào xuống, che lấp miệng hầm khiến Út Hân đu cứng lấy Mai, miệng lâm râm cầu khấn: -Con vái âm hồn các bác phù hộ cho chị em con tai qua nạn khỏi... -Lảm nhảm gì vậy? Có im đi không? Như không nghe tiếng Mai gắt, úp mặt vào lưng Mai người co dúm lại, Út Hân lầm bầm: -Vái trời!... Vái Phật!... Thời gian như con sên bò trên mặt đất mênh mông, mồ hôi rịn ra ướt cả lưng áo, Mai và Út Hân nằm như dính vào lòng đất. Pháo bầy vừa dứt, tiếng máy bay phản lực đã gầm thét hỗn loạn trên bầu trời. Mai ngồi dậy nhìn ra ngoài hầm lắng nghe tiếng lựu đạn mù từ chiếc Mo-ran trinh sát ném xuống chỉ điểm mục tiêu oanh tạc. Út Hân lo lắng hỏi: -Lựu đạn mù ném chỗ nào đấy chị Hai? -Hình như trận địa C1. Út Hân bồn chồn: -Vậy là gần mình rồi! Vừa vấn lại tóc, vừa nghe tiếng lựu đạn từ trên chiếc Mo-ran ném xuống, nhìn Út Hân, Mai biết thằng bé đang ở trong tâm trạng sợ hãi đến cùng cực. Lau đất trên má cho Út Hân, Mai trấn an: -Út à, phải bình tĩnh, thằng Mỹ giàu mấy đi nữa thì sức cũng có hạn. Bom đạn đâu phải là cát mà rải cho cùng mặt đất. Bộ đội trụ được thì mình cũng trụ được việc gì mà sợ. -Em đâu có nói gì. -Nằm xuống!... Mai vừa kêu lên thì hai chị em đã bị hơi ép của bom đẩy chúi vào góc hầm. Đột nhiên Mai thấy ngực đau và khó thở, Út Hân chúi đầu vào lưng Mai mếu máo: -Chết thiệt rồi chị Hai ơi!... Cố lấy bình tĩnh, Mai vừa nói vừa run: -Sống chết có số, mình làm sao tránh được bom đạn. Tiếng bom nổ rung giật, tiếng rốc-két chát chúa, tiếng đại liên bắn xối xả xuống trận địa liên hồi, tiếng phản lực gầm rít... Tất cả trộn vào nhau tạo nên một không gian điên cuồng, hỗn loạn. Mặt đất như bị co ép lại, nứt toác ra và rung lên như một trận động đất. ánh chớp xanh lè bỗng nhoằng trước cửa hầm cùng với tiếng nổ xoáy tung lòng đất khiến Mai nhắm mắt và co người lại. Nghe tiếng mảnh bom chém vào mái tôn, cây cối xoang xoảng ào ào, mở mắt thấy căn hầm của mình không việc gì Mai hoàn hồn biết rằng một quả bom vừa nổ rất gần hầm của mình. Tiếng Út Hân tuyệt vọng rên rỉ: -Trời Phật ơi con đã cầu nguyện rồi sao còn nỡ hại con! Mai thần người nằm nhắm mắt chờ chết. Sờ lưng Mai thấy vẫn còn thở, Út Hân cố rúc đầu vào lưng Mai như con gà con cố rúc đầu vào cánh mẹ lánh nạn. Bom nổ khoan sâu trong lòng đất, bom nổ trên mặt đất, bom nổ là là mặt đất, bom nổ trên không để mảnh bay chụp xuống đất. Liên hồi và dai dẳng. Tiếng tre nứa cháy kêu lốp bốp, tiếng nổ bùm bụp của đồ đạc trong những căn nhà bị lửa thiêu vỡ toác ra dội vào tai Mai. Cái chết rờn rợn hiện lên, Mai rùng mình nhắm mắt chờ lưỡi hái của thần chết chờn vờn bay lượn rồi bất chợt lao xuống xé nát cả Mai, Út Hân lẫn căn hầm. Như đỉa đói cố bám mồi, địch kéo dài thời gian oanh tạc hòng tiêu diệt lực lượng của ta và nén những người còn sống nằm dí trong những căn hầm để rồi khắc khoải, tuyệt vọng và sợ hãi đến đứt thần kinh mà chết. Không một loạt đạn đánh trả, các trận địa của H96 im lặng trong tiếng bom rền, đạn réo của địch. Rất lâu những loạt đạn liên hồi từ trên máy bay phản lực trút ào xuống trận địa và những chiếc máy bay vút lên cao rồi lặn vào không gian thăm thẳm. Không một tiếng ve kêu, không một tiếng côn trùng rên rỉ, bầu trời cũng trở nên yên tĩnh đến lạ lùng... Tất cả còn lại là cái nắng oi ả trong gió lặng. Phủi bụi đất bám đầy người, vấn lại mái tóc đen dày cho gọn, Mai đứng dậy đẩy cành tre gãy nằm chắn ngang miệng hầm. Thấy Mai loay hoay bẻ từng cành tre, Út Hân nhanh nhẹn: -Phải biết cách mới bẻ gãy được những cành tre gai. Chị để em bẻ cho. Út Hân vừa đứng dậy, Mai đã nghe tiếng Trung: -Cứ ngồi đó, phải có dao mới trị được cây tre gãy này. Rút dao găm phát mạnh vào cành tre, Trung chửi đổng: -Tiên sư cái thằng Mỹ, trồng mấy năm mới được cây tre, vậy mà chỉ một trái bom nó tiện đứt mấy bụi tre liền một lúc. Kéo cây tre ra xa miệng hầm, Trung gọi Út Hân: -Leo lên, sợ chết à. Đưa khẩu AK cho Trung, Mai đu người nhảy lên và hỏi: -Anh em mình có việc gì không? -C1 hy sinh bốn người, bị thương ba đã đưa đến chỗ quân y cấp cứu. Chị tới ban chỉ huy nhận lệnh. Mai, Trung và Út Hân xách súng đi dọc bờ tre tới chỉ huy sở tiểu đoàn, trông thấy Mai, Khanh nói ngay: -Đi kiểm tra số dân đang bám trụ cùng chúng ta, em cần động viên họ ở lại. Dân dời khỏi làng lúc này là nguy hiểm lắm, rõ chưa. -Anh Hai. Tiếng Bảy Vân. Khanh và Mai đều nhìn lên chiếc Mo-ran bay khá cao trên trời đang nghiêng cánh lượn thành từng vòng rất rộng thì tiếng Bảy Vân nói oang oang: -“Tôi Lê Vân tức Bảy Vân, thường vụ Thị ủy Tuy Hòa đã tự nguyện đầu hàng chánh nghĩa quốc gia và được hưởng chánh sách khoan hồng của chánh nghĩa quốc gia. Tôi kêu gọi anh Khanh, anh Ban chỉ huy tiểu đoàn H96 cùng cô Nguyễn Thị Mai, bí thư xã Phụng hãy quy hàng và đưa lực lượng của mình ra hàng. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa đang mở rộng vòng tay lớn đón tất cả anh chị em...” Xếch đôi lông mày chổi xể, Khanh trừng mắt: -Bắt được mày tao nghiền nát xương Bảy à! Mai bàng hoàng: -Không ngờ Bảy Vân chiêu hồi nhanh như vậy. Xã Phụng điêu đứng vì nó rồi. Chém tay vào không trung, Khanh dằn giọng: -Tổ cha cái thằng!... Thật uổng công cách mạng nuôi dạy!... Bất giác Mai thở dài lo lắng: -Anh Hai à! Tình hình này chắc chắn địch sẽ cào bằng xã Phụng. Khanh ngồi bệt xuống đất, hai tay vòng đầu gối, cằm bạnh ra, mắt không rời chiếc Mo-ran. Vẫn tiếng động cơ Mo-ran kêu ò è cùng tiếng loa chiêu hồi lải nhải trên trời: “Hỡi anh em binh sĩ tiểu đoàn H96 Việt Cộng! Hỡi anh chị em cán bộ, du kích xã Phụng! Đầu hàng là con đường sống duy nhất của các người. Ngoan cố chống cự các người sẽ bị hủy diệt trước khi mặt trời lặn. Hãy suy nghĩ tìm con đường sống, hỡi anh em binh sĩ Việt Cộng....” Vừa định đi, Mai đã nghe tiếng người nói lao xao sau rặng tre vội quay lại và ngạc nhiên: -Ủa ! Bom đạn đầy trời hai má và chị tới đây làm gì? Cả ba người đi nhanh theo bờ tre tới chỗ Mai. Nhận ra nỗi lo âu lẫn trách móc của từng người Mai ôn tồn: -Đang lúc đánh nhau tới đây làm gì... Chị Năm Lý ngắt lời Mai: -Có chuyện mới tới. Bọn tao có điên đâu! Má Dư Ngọc chỉ tay lên trời: -Đó, cộng sản cồ đang ngồi trên Mo-ran gọi chiêu hồi đó, bay không nghe thấy à! Mai bỗng bật cười: -Bọn nó ghi âm rồi phát tiếng nói của Bảy Vân như máy cát-sét ấy. Sức mấy mà địch cho thằng Bảy Vân ngồi trên máy bay gọi loa chiêu hồi. Má Dư Ngọc bực tức: -Thằng Bảy Vân cũng chiêu hồi thì hết ngõ rồi, bay lý giải sao đây cho bà con yên tâm?. Mai đỏ mặt lúng túng: -Ham sống sợ chết nên chiêu hồi, biết làm sao bây giờ. Má Hai Hiền lo lắng: -Bảy Vân sẽ dẫn ác ôn về nhận mặt chỉ tên từng người, bắt bớ tù đày sẽ như cơm bữa, dân xã Phụng sẽ điêu đứng vì nó. Bay đánh địch xong nhảy lên rừng nằm ngủ, còn bọn tao ở lại chịu trận chịu sao nổi! Chị Năm Lý hậm hực: -Thay mặt dân xã Phụng tụi tao tới nói bọn bay đi chiêu hồi cùng thằng Bảy Vân một thể để dân xã Phụng chết luôn đi cho rồi. Mai vẫn ôn tồn: -Sao chị nói vậy, lúa giống còn có hạt lép huống chi cả triệu người đi làm cách mạng tránh sao khỏi đứa sợ chết chiêu hồi. Má Dư Ngọc gạt ngang: -Đừng nói hành nhau nữa, đừng nói vòng vo tam quốc nữa. Bọn bay chưa bị địch đánh sùi bọt mép, bị chết lên chết xuống nên chưa hiểu cái khốn cùng của người bị tù đày như bọn tao đâu. Bọn tao lo nên mới tới đây vậy bay tính sao. Còn bọn bay đem mạng sống kề bên cái chết mà đánh địch ác liệt cũng không kém gì bọn tao. Coi như làm cách mạng mỗi người một việc xay lúa khỏi bồng em. Nói qua nói lại làm gì, cái chính là giải quyết cho bà con an tâm bám trụ trong lúc này, vậy giải thích với bà con thế nào đây? Mai lúng túng hỏi: -Ý thím giải thích bằng cách nào? Đột nhiên Khanh vạch áo chỉ vào những vết thương trên cơ thể của mình rồi giọng hiền khô: -Các thím coi... Trong tù địch đánh tôi gãy xương sườn, bả vai do bom phạt, sẹo ở tay do đạn thẳng, những người thoát ly như tôi nhiều vô kể. Xem ra còn nhiều người hơn tôi, tôi đâu dám kể công và so sánh bởi làm cách mạng như chúng ta có hàng triệu người, trong đó có đứa hay, đứa dở. Nói vơ đũa cả nắm chẳng hóa ra tôi, hai thím và chị đều như thằng Bảy Vân hay sao. Chẳng lẽ chúng ta lại sợ một thằng chiêu hồi. Nghe Khanh nói, mọi người im lặng nhìn nhau, má Hiền thanh minh: -Vừa sợ, vừa bực nên bọn tao mới nói vậy: Thôi chuyện cũ bỏ qua đi. Nắm tay má Hiền, Mai nhẹ nhàng: -Thằng Tám Hà làm tới chức thượng tá của cách mạng cũng đi chiêu hồi nhưng nó đã làm gì được ai. Còn mấy thằng chiêu hồi ở xã mình ngo ngoe phá làng xóm một thời gian rồi cũng trốn chui, trốn nhủi trong thị xã, đâu dám một mình vác mặt về làng... Thấy mọi người im lặng, Khanh chậm rãi: -H96 quyết đánh địch cho chúng biết thế nào là Việt Cộng. Muốn vậy quân dân cùng phải bám trụ đánh địch. Nếu bà con rời khỏi làng thì lập tức địch sẽ gom lại, bắt đi trước làm bia đỡ đạn để chúng tiến vào làng đánh ta, như vậy ai chịu trách nhiệm về cái chết của dân? Còn thương dân cách mạng không nổ súng để địch tới bắn giết rồi đầu hàng thì đâu còn là cách mạng. Cách mạng đánh địch bảo vệ dân thì dân phải biết thương yêu cách mạng chứ. Giọng Khanh bỗng trầm hẳn lại: -Bảy Vân là cây gỗ mục của dải Trường Sơn, là hạt cát chìm trong bùn, quan trọng hóa việc một thằng chiêu hồi có ích lợi gì trong lúc này. Lấy ý kiến chúng ta vừa nói giải thích cho bà con được chưa? Lời nói của Khanh như một phương thuốc thần hiệu giải cái bí trong tư tưởng, ai cũng thấy nhẹ cả người. Mai nghĩ thầm: Nói ông Khanh là thần lửa, mệnh lệnh cộc lốc không làm chính trị được qủa là lầm. Nói chắc như cua gạch, lại hiền khô, đâu phải là thần lửa... Thành thói quen sau khi nói, Khanh nhìn mọi người rồi nói như ra lệnh: -Chia nhau đi giải thích cho bà con, kết quả công việc báo cáo với đồng chí Mai. Tất cả rõ chưa? Nét mặt trở nên thư thái, thấy mọi người lặng yên như chờ lệnh của mình, Khanh bật cười nói vui: -Trời đất! Để thằng quân sự này phân công nhiệm vụ nữa hay sao, thông suốt rồi thì triển khai công tác ở đây làm gì nữa. -Ờ hé! Má Dư Ngọc thốt lên như người bừng tĩnh, sốt sắng bảo Mai: -Con Hai phân công lẹ đi, tao lo xóm Giữa còn lại phần của con Năm và chị Hai. Mai vui vẻ: -Các xóm cuối thôn phần tôi, còn đầu thôn với thôn Nguyên má Hai với chị Năm sử dụng cơ sở hợp pháp đi giải thích được chưa? Chị Năm Lý kéo tay má Hiền: -Ta đi đi thím Hai. Cả ba người đi rồi, Mai nhìn Khanh cảm kích: -Em cảm ơn anh Hai nhiều. -Con nhỏ khéo động viên, anh Hai chỉ biết giải quyết ngắn gọn theo kiểu quân sự hiểu không. Việc gấp phải triển khai ngay rõ chưa? -Dạ... Em đi nghe anh Hai. Giải thích cho bà con an tâm bám trụ xong , Mai và Út Hân trở về trận địa C3. Để Út Hân ngồi với Năm Đồng, Mai tới chỉ huy sở C3. Thấy Mai khoác AK đi tới, Thịnh nghiêm nét mặt: -Đánh địch là nhiệm vụ của các anh, không cần em phải xông xáo như vậy hiểu không? Mai thận trọng hỏi Thịnh và Thơ: -Xác Nhự vẫn nằm ngoài đồng, em chẳng yên tâm chút nào anh à. Thịnh ngắt lời Mai: -Anh em đã bò ra lấy xác, nhưng địch tập trung hỏa lực bắn rất mạnh nên phải để tới xẩm tối mới lấy xác được. Lặng im nhìn con mương cạn chạy dài, bùn trong lòng mương đen thẫm se lại và nứt nẻ, cái nắng thiêu đốt cùng với gió khô rốc táp vào người tới nẫu da nẫu thịt Mai bùi ngùi thương Nhự. Hình ảnh những ngày Mai bị sốt nằm co trên võng, Nhự lấy chiếc áo mới của mình đi đổi được ba lon gạo đem về nấu cháo cho mẹ con Mai ăn lại hiện lên khiến Mai xốn xang. Bữa đó cơn sốt ác tính ập đến, trong cơn mê mê, tỉnh tỉnh, Mai nghe tiếng Nhự khóc thút thít: “Chị Hai. Chị đừng bỏ cháu, bỏ em mà đi!... Nghe chị Hai!!....” Rồi cơn mưa rừng ập đến, cảm giác lành lạnh của gió rừng khiến Mai tỉnh lại. Trong mưa rơi Mai nghe tiếng Nhự cầu nguyện: “Vái trời! Vái Phật! Cho chị Mai sống lại xin trời Phật đừng bắt cháu Trung sống cảnh bơ vơ”. -Trực thăng! Mai giật mình nghe tiếng Hoài quát lên và kéo mình nhảy xuống hầm. -Hoài, theo tôi. Nghe tiếng Thịnh, Hoài vội vàng nhảy lên khỏi hầm cùng Thịnh chạy đến khẩu đội 12 ly7. Cầm khẩu AK ngồi sát cửa hầm, Mai nhìn tám chiếc HU1A chia làm hai tốp đang bay lượn trên trận địa. Bốn chiếc HU1A dàn hàng ngang bắn dọc trận địa như vải cải rồi nhanh chóng ngóc đầu bay lên cao cho bốn chiếc sau cũng dàn hàng ngang bắn quét ngang trận địa. Hốt hoảng ngồi nép vào góc hầm, Mai thầm nghĩ: "Chắc chắn bị lộ nên địch mới dùng trực thăng bắn căn ô như vậy”. Tiếng xoáy rít của rốc-két, đạn trọng liên lẫn trong tiếng đạn nổ liên hồi cùng với ánh lửa chớp giật chằng chịt phủ khắp trận địa khiến Mai ép sát vào góc hầm. Bỗng Hoài nhảy ào xuống hầm tỳ AK bắn trả máy bay địch. Tự nhiên Mai thấy vững tâm khi có Hoài bên cạnh. Vừa nhận ra chiếc HU1A bay lướt trên đầu, Mai đã thấy ánh chớp xanh vàng lóe lên cùng với tiếng rốc-két nổ chụp lấy khẩu trung liên cách hầm của mình không đầy hai mươi mét. Khẩu trung liên bị chém đứt làm hai đoạn bay văng ra khỏi hầm. Những tiếng rên rỉ của anh em trong hầm bật ra rồi lặng im và trước mắt Mai căn hầm nứt toác ra, những mảnh quần áo đẫm máu nằm trộn trong đất, tung tóe trên mặt đất khiến Mai rùng mình biết rằng cả khẩu đội đã hy sinh. Đạn từ trực thăng chụp xuống như mưa bấc, đạn từ trận địa bắn lên dày đặc và quyết liệt khiến Mai không phân biệt được tiếng nổ của đạn ta và đạn địch nữa. Bị đánh vỗ mặt, không quân địch thay đổi chiến thuật vừa cảnh giới, vừa nghi binh vừa hung hãn đánh phá các cum hỏa lực mạnh của ta. Những quả rốc-két liên tiếp phóng xuống, tiếng đại liên từ trận địa bắn lên, khi nổ dòn khi ngưng lại quyết liệt. Nghe tiếng Thơ gọi, Hoài nhảy ra khỏi hầm chạy tới khẩu đội đại liên, chỉ một thoáng đã cõng thương binh chạy về hầm giục Mai: -Chị phụ với em đưa nó xuống hầm. Khá vất vả Hoài và Mai mới đặt đồng chí thương binh nằm sát góc hầm. Xốc lại khẩu AK, Hoài động viên bạn: -Phúc nhà mày bằng cái đình đấy nên tấm lá chắn súng máy mới đỡ cho mày khỏi bị mảnh rốc-két, nếu không thì đứt cổ rồi Hồng ạ. Nhìn vết thương, Mai hốt hoảng: -Máu vẫn chảy! Hoài vội vã: -Chị băng lại vết thương thằng Hồng cho em với. Nói xong, Hoài cầm AK nhảy lên khỏi hầm chạy lại chỗ Thơ đang chỉ huy chiến đấu. Tháo cuộn băng đầy máu trên bả vai của Hồng, Mai bực tức: -Ai băng vết thương cho em vậy? Vết thương một nơi, gạc đặt một nẻo làm sao cầm máu được. -Thằng Hoài đấy. Mai dịu dàng: -Dù tình thế cấp bách vẫn phải băng bó cẩn thận chứ. -Chúng em có học hành gì đâu mà biết băng bó... Có lệnh tổng động viên là đi bộ đội rồi vào chiến trường ngay, em khát quá chị ơi!... Băng bó xong, Mai lấy nước cho Hồng uống bỗng hít hơi mạnh mấy cái và nhìn quanh hầm lẩm bẩm: -Quái lạ, có mùi nước tiểu? Hồng đỏ mặt lúng túng: -Tại rốc-két nổ sát hầm, tự nhiên bị són ra hồi nào mà em không biết. Mai phì cười: -Nhỏ ơi! Mấy ông đặc công vượt rào cũng són ra ướt cả quần chứ đâu chỉ có một mình em . -Sao chị biết? -Ông xã chị là lính đặc công mà. -Chị cũng bị như vậy chứ? -Khờ quá em trai... Chị quen rồi nên không có chuyện đó đâu. Mai thoáng đỏ mặt rồi cười cầm súng ngồi sát cửa hầm. Hỏa lực địch vẫn dồn ép hỏa lực của ta khiến Mai cố xua đi cảm giác trận địa C3 đang bị địch cố tình nghiền nát từng giờ, từng phút. -Bắn! Tiếng Thơ vang lên trong tiếng rú của hai chiếc trực thăng đang nghiêng bụng bay xà trên trận địa và đảo thân, lách mình tránh lưới đạn từ trận địa bắn lên quyết liệt. Một loạt AK bắn găm vào buồng lái, chiếc HU1A đang bổ nhào xuống bỗng chòng chành cố ngóc đầu bay vút lên cao thật nhanh và bốc cháy. Cố giữ thăng bằng, chiếc trực thăng lấy đà lao về hướng núi Sầm. Hoảng sợ, bọn phi công cho máy bay lượn thành những vòng rộng trên cao ào ạt trút đạn xuống trận địa rồi vội vã bay về thị xã Tuy Hòa. Trong mùi khét lẹt của thuốc đạn và lửa cháy hừng hực trận địa C3, cả đại đội lại khẩn trương chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo... Tiếng xe tăng từ hướng núi Sầm và tiếng xe M113 ngoài đồng vọng vào làng khiến Mai bồn chồn. Đến chỉ huy sở đại đội, Mai lo lắng hỏi Thơ: -Tình hình ra sao anh? -Chuẩn bị đánh xe cơ giới. Sực nhớ Mai nhắc Thơ: -Cần bố trí lực lượng du kích dẫn đường, nhất là những nơi có bố phòng anh à. Thơ ái ngại: -Thằng Bông, thằng Tràng lút cha, lút chút anh cho ngồi trong hầm rồi, đang đánh nhau mà chúng nó chạy hoảng để lộ trận địa thì nguy lắm. -Chúng nó mới 13 tuổi đầu đã biết gì đâu, em định gửi chúng nó về Tỉnh để cho ra miền Bắc học nhưng chưa đi được anh à. -Cho Năm Đồng xuống phối thuộc với trung đội một là tốt nhất. -Việc đó để em lo. Xách súng đến chỗ Bông và Tràng đang trú ẩn dặn dò cẩn thận, Mai cùng Út Hân và Năm Đồng xuống trung đội một. Đang cùng ánh quan sát địch bên thôn Lẫm, Thịnh giật mình quay lại đã thấy Mai đứng bên cạnh, Thịnh nghiêm sắc mặt ngầy Mai: -Chỗ này không phải là nhiệm vụ của em rõ chưa? Bom đạn nó không chừa ai đâu. Về ngay tiểu đoàn bộ rõ chưa. Mai ôn tồn ngắt lời Thịnh: -Sợ các anh không nắm được hết các vị trí bố phòng nên em và Năm Đồng đến làm nhiệm vụ dẫn đường cho các anh. Im lặng quan sát ngôi nhà đổ bên kia đường, Thịnh bất ngờ hỏi Mai: -Có thể gỡ mìn ở khu nhà đổ đó không? Mai nhanh nhảu: -Vị trí đó bất ngờ, dễ quan sát, nhà xây bằng xi-măng kiên cố lắm anh à. Mai quay lại: -Năm Đồng đi gỡ mìn rõ chưa. Cầm súng chạy qua đường tới ngôi nhà đổ, Năm Đồng thận trọng đi từng bước, nhanh chóng gỡ mìn và lựu đạn rồi ra hiệu cho mọi người biết nhiệm vụ của mình đã hoàn thành. Tới ngôi nhà, quan sát địa hình Thịnh thầm phục Mai có đầu óc tinh tế. Do cây cối um tùm và nhà sập hoàn toàn, nên nhìn bên ngoài tưởng như ở đó khó quan sát được các nơi. Nhưng vào trong nhà mới hiểu chẳng những thấy được thôn Lẫm mà còn thấy được cả con đường cái chạy trên gò. Triển khai vị trí chiến đấu cho khẩu đội đại liên xong, Thịnh hối thúc Mai: -Em và Út Hân về vị trí chiến đấu khi cần anh sẽ gọi. Nói xong Thịnh cùng Hoài và Năm Đồng đi dọc theo bờ tre đến đầu làng nơi ánh bố trí hỏa lực chặn địch từ thôn Lẫm tiến sang. Sau những loạt pháo tự hành và trọng liên bắn liên hồi, hai chiếc xe tăng từ thôn Lẫm tiến sang thôn Tường. Luồng đạn bay là là dọc con đường cái tiện đứt những cây tre mọc hai bên đường, nổ xoáy mối đường vào thôn. Đạn cối 81ly, 60ly và M79 của địch bắn cầu âu vun vút rơi xuống trận địa. Đằng sau xe tăng, những tên lính lơ láo, mũ sắt tùm hụp lò dò cầm súng bước những bước dài. Hai chiếc xe tăng dìu bộ binh địch đến giữa gò thì dừng lại. Hoài nôn nóng: -Thủ trưởng, cho nổ súng. -Chờ lệnh! Trườn tới nằm cạnh xạ thủ B40 Thịnh căn dặn: -Lấy phần tử chuẩn xác bắn chiếc xe tăng đi đầu. Phải diệt mục tiêu bằng quả đạn đầu tiên rõ chưa? Thái dương hơi giật giật, Thịnh căng mắt nhìn từng chiếc xe tăng đang gầm rú. Xích của chiếc xe tăng cào cát bay tung lên thành những lớp bụi dày đặc trên đường. -Bắn!... Tiếng Thịnh vừa dứt, quả B40 đã bay xẹt qua thân xe tăng và nổ xé trên mặt đường. Từ trong làng, các hỏa lực của ta đồng loạt bắn găm vào đội hình bộ binh địch đang núp đằng sau xe tăng. Lại một quả B40 nổ tạt vào xích chiếc xe tăng đi đầu, khiến nó quay ngang thân rồi xoay nòng súng bắn xối xả vào làng. Chiếc xe tăng thứ hai chạy vượt lên đứng che cho chiếc xe tăng bị thương, và cả hai chiếc xe tập trung bắn như mưa vào trận địa C3. Thịnh bực bội: -B40 đâu!... -Báo cáo hết đạn. Thịnh quát lên: -Điều B41! Lệnh cho đại liên bắn chặn không cho địch tiến lên rõ chưa. -Rõ!... Hoài xách súng khom người chạy dưới làn đạn của địch. Toàn bộ hỏa lực của C3 tập trung cường kích làm cho bộ binh địch nằm ẹp trên đường. Không trụ nổi thảm họa nằm trơ trên gò hứng đạn, bọn địch chạy túa sang hai bên đường. Hai ánh chớp xanh lè và đỏ lự bùng lên trong tiếng nổ đanh gọn của mìn và lựu đạn trên bãi bố phòng làm 5 tên ngã gục tại chỗ. Hoảng loạn bọn địch dồn lại trên đường cái và chạy về thôn Lẫm. Hai chiếc xe tăng phải dừng lại phối hợp với các hỏa lực địch tập trung bắn vào trận địa C3 dìu bộ binh tiến lên. Hoài cùng xạ thủ B41 vừa đến, Thịnh hỏi ngay: -Đạn dự trữ đâu? -Báo cáo chỉ còn một quả -Đưa súng đây. Cầm khẩu B41, Thịnh lách ra ngoài bờ tre nằm ép sát bên bờ ruộng rồi bất ngờ đặt súng lên vai quỳ gối, ngắm bắn. Một loạt đạn trọng liên ập tới, Thịnh oằn người lảo đảo rồi ngã vật xuống bờ ruộng, khẩu B41 bị đạn chém hất văng ra xa. Tiêu diệt được hỏa lực B41 của ta, cả hai chiếc xe tăng rú máy dàn đội hình cùng bộ binh vừa bắn vừa tiến vào thôn Tường. Dưới làn đạn dày đặc của địch, Khanh bước những bước dài và nhanh trên đường làng. Theo sát Khanh các pháo thủ của khẩu đội ĐKZ vừa vác súng đạn vừa chạy. Tới cuối đường, Khanh đứng lại quắc mắt: -Đặt ĐK tại chỗ tôi đứng, thao tác nhanh lên. Ngồi bên khẩu ĐKZ mặc cho đạn bay vun vút qua đầu, đạn bay qua tóc, gió thổi mạnh làm áo Khanh bay phần phật. Tóc dựng ngược trước gió Khanh điềm tĩnh: -Ngắm bắn trực tiếp chiếc xe đi đầu. Thấy các chiếc sĩ của mình thao tác lúng túng, Khanh dằn giọng: -Tôi hy sinh thì các đồng chí hy sinh rõ chưa tất cả chú ý! Mắt nhìn thẳng vào hai chiếc xe tăng đang chồm tới, Khanh quát lên: -Bắn!... Luồng đạn bay thẳng vào chiếc xe tăng đi đầu theo khẩu lệnh của Khanh, viên đạn thứ hai cắt đôi chiếc xe tăng thứ hai. Trong nháy mắt cả hai chiếc xe bốc cháy và trở thành hai đống lửa đỏ hừng hực. Xăng, đạn pháo trong xe gặp lửa nổ dữ dội, nòng pháo trên tháp xe gục xuống, vỏ thép bị chảy thành nước khiến đầu xe bẹp dúm lại. Thơ dẫn tổ trung liên chạy vượt qua, đặt súng ngay đầu gò bắn quét tàn quân địch. Sợ anh em bị vướng mìn Đồng vội chạy theo. Một loạt đạn từ ngoài gò bắn vào Đồng ngã chúi xuống, Mai và Út Hân chạy bủa tới chỗ Năm Đồng. Ôm chặt Năm Đồng, Út Hân gọi to: -Anh Năm, Út đây nè! Năm Đồng mở mắt nhìn Mai và Út Hân rồi sặc lên một tiếng đầu nghẻo sang một bên. Hối hả Mai và Út Hân cõng Năm Đồng chạy vào bờ tre... Màn đêm ập xuống, địch cũng rút chạy khỏi thôn Tường. Pháo địch vẫn bắn vô hồi, vô lối vào bìa núi, vào cánh đồng, vào các xóm của xã Phụng. Pháo sáng của địch vẫn thi nhau bay lơ lửng và chập choạng giữa trời. Đêm chờn vờn, ánh sáng và bóng tối tranh nhau ẩn hiện như sự sống và cái chết đang vây bủa đối chọi nhau. Nhự được đưa về vị trí tập trung với các liệt sĩ ngay giữa thôn Tường. Người dính đầy máu và bùn đất, tóc lòa xòa trên mặt, đôi mắt Nhự như nhắm lại, như hé mở nhìn Mai và mọi người. Đặt Nhự và Năm Đồng bên cạnh Thịnh, Mai và chín Phượng sửa lại quần áo cho từng người. Đứng cạnh Mai, Khanh cúi đầu thở dài, lầm lũi nhìn các chiến sĩ của mình giọng nói bỗng lạc hẳn đi: -Vậy là mất hai tiểu đội mới từ miền Bắc bổ sung cho chiến trường!... Biết khi nào mới lại được bổ sung!... Lặng lẽ đi đi, lại lại, Khanh nhìn Mai giọng như tắc nghẹn lại: -Em cùng trung đội một đưa anh em về cứ!... Anh cho đơn vị hành quân!... Quá nửa đêm mới chuyển hết thương binh tử sĩ về căn cứ xã Phụng. Đêm sâu thẳm và lặng đi như chết. Bầy côn trùng đâu đó cứ kêu hoài cái âm thanh ru roe.. ru roe... như tiếng kèn đám ma ở đâu đó rất xa vọng lại. Tiếng cuốc xẻng đào huyệt chạm vào đất đá khô khốc lạnh lùng đến ai oán. Mai thở dài nhìn trời đêm đen tím như muốn hỏi: “Đến bao giờ mới hết cảnh đào huyệt chôn đồng đội?”. Đêm vẫn mênh mông vô tận, Mai cúi đầu lẳng lặng ngồi dưới gốc me già.... Tảng sáng, sương xuống dày. Thi hài 19 liệt sĩ của tiểu đoàn H96 cùng Nhự và Năm Đồng được đặt nằm trên khoảng sân nhỏ dưới gốc me già. Áo quan của họ là chiếc võng hằng ngày mà họ vẫn nằm. Quan tài của họ là tấm tăng võng hàng ngày họ vẫn làm mái nhà che nắng che mưa cho cánh võng của mình đu đưa giữa rừng già bát ngát. Tài sản của họ về chốn vĩnh hằng chỉ có vậy. Mọi người lau mặt mũi, chân tay cho từng liệt sĩ. Ai cũng lau thật nhẹ cho đồng chí mình khỏi đau. Tiếng Chín Phượng và Tám Nghiệp khóc thút thít, tiếng gió đập vào lá me lao xao!... Tất cả xáo trộn và xoáy riết khiến Mai hụt hẩng chơ vơ... Ngồi bên Năm Đồng và Nhự rất lâu, Mai thẩn thờ nhìn tảng đá bằng dưới gốc me, nơi Đào, Nhự và Năm Đồng hằng ngày vẫn ngồi. Tảng đá vẫn nằm đây, cây me già vẫn còn đó, người thân sao nỡ bỏ đi!... Cảm giác buồn tủi quặn thắt xối vào người, Mai gục mặt lên đôi tay bé nhỏ của mình, vai rung lên trong tiếng nấc: “Trời ơi!. Tại sao trời lại bắt xã con khổ như vầy!... Hỡi trời!...” Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Chín, 2023, 09:30:21 am Chương 29 1 Lại một mùa mưa dai dẳng trở về. Những cơn mưa như ăn vạ đất trời khiến những con suối đã bao ngày khô kiệt cũng đầy ắp nước, còn đất khô như đá hóa thành bùn nhão nhoẹt. Mấy ông già đem sách chữ Tàu ra coi cho biết năm nay tới kỳ người đằng âm đi lấy gỗ đá về âm phủ làm nhà nên mưa rất to, bão rất lớn. Năm Khải Định cửu niên, người đằng âm cũng tới kỳ đi lấy gỗ đá nhưng chuyển không kịp nên hòn đá to bằng con voi đến nay vẫn còn nằm ở đập Thầy Mười. Cũng năm Khải Định cửu niên tức năm 1924 ông già Đờn cũng chứng kiến cảnh người đằng âm đi lấy gỗ đá. Trong mưa gầm, gió hú người đằng âm hùa nhau lăn đá xuống suối lục cục lảng cảng, nhổ cây xào xào và gọi nhau í ới, cười nói vang cả rừng sâu. Đi như bay như lượn trong đất và trong nước, người âm lùa gỗ đá từ suối ra sông, ra biển. Đã là trời cho tất trời phải làm ra gió bão giúp họ hoàn tất công việc. Song người sống thì tủi khổ và lao lý. Mạng ông già Đờn rất lớn nên không bị người âm bắt mới sống đến bây giờ. Sách xưa, chuyện xưa là vậy, còn nửa tháng nay gió mưa tầm tã, nước lũ cuốn gỗ đá trôi ra sông, ra đồng, ra biển là có thiệt. Cách đây bốn hôm, mưa bão đến kinh người, cả Tám Nghiệp, Chín Phượng và Út Hân đều nằm chiêm bao thấy Nhự, Đào và Năm Đồng về ngồi dưới gốc me. Quần áo Đào và Nhự khô ráo, còn quần áo Năm Đồng ướt sũng. Năm Đồng kêu to: “Nước xối vào nhà lạnh lắm!...” rồi cả ba người biến mất. Riêng Út Hân còn chiêm bao thấy Đào dẫn đến ổ gà có 9 trứng nằm trong bụi lách và nói: “Mày ăn nhớ để phần tao nghe Út”. Hoảng hồn Út Hân đem giấc chiêm bao kể cho Chín Phượng và Tám Nghiệp nghe. Chiêm bao xuất hiện cùng vào lúc nửa đêm lại giống nhau nên cả ba chị em cùng sợ và dẫn nhau đi tìm bụi lách mà Út Hân thấy trong chiêm bao. Quả nhiên cả ba chị em tới bụi lách thì tìm được ổ gà rừng có 9 trứng. Câu chuyện nhanh chóng lan truyền và tất nhiên Út Hân, thằng Tràng, thằng Bông đêm nằm phải mắc võng xít vào nhau cho đỡ sợ ma. Bán tín bán nghi, Mai và Hai Trúc đi thăm mộ Năm Đồng, quả nhiên có dòng nước chảy xối vào đầu mộ. Lật đật Mai huy động tất cả các lực lượng tại căn cứ đi đắp mộ liệt sĩ. Đắp mộ xong, Chín Phượng và Tám Nghiệp đem cơm và trứng gà rừng ra cúng. Đứng trước mộ Đào, Nhự, Năm Đồng và Thịnh, Tám Nghiệp chắp tay xuýt xoa thành kính khấn: Trăm lạy, ngàn lạy vong hồn các anh, các chị! Xã mình công tác lu bu, cái đầu bọn em tối mù, các anh chị linh thiêng hiện về nhắc nhở. Cả xã biết lỗi nên cùng nhau đi đắp mộ, âm sao dương vậy, tỷ như làm cách mạng có sai thì sửa, tình đồng chí xin hỉ xả cho nhau. Bữa nay có chén cơm, quả trứng mong các anh chị nhận và phù hộ cho mọi người bình an. Nhớ đỡ dùm bom đạn cho bọn em, xã mình công tác lu bù nếu quên xin hiện về nhắc nhở !. Linh hồn các liệt sĩ bất tử! Nam mô a di đà phật! Tám Ngiệp vừa khấn xong, Mai phì cười: -Cúng vái mà cứ lu bu với lù bù, đã hô khẩu hiệu lại niện chú phật nữa, nghe cô mày khấn chắc các ông, các bà đó cười bể bụng mà chết một lần nữa cho coi. Đứng ngẩn người sực nhớ lại những lời khấn của mình, Tám Nghiệp cũng phì cười: -Bà quỷ, nghĩ sao khấn vậy nào ai biết khấn bao giờ. Trở về nhà Mai được tin Lâm học ngoài khu xong, đã trở về hậu cứ sản xuất của xã và nhắn Mai lên hậu cứ gặp gấp để Lâm còn về đơn vị nhận công tác. Vậy là Mai vội vã sắp xếp công việc, đồ đạc đi gặp chồng. Đêm nay mưa vẫn sầm sập đổ xuống, cái lạnh hun hút của gió mùa đông bắc khiến Mai nằm co trên võng. Lấy đèn pin soi vào chiếc gùi như một kiện hàng, bất giác Mai mỉm cười tưởng tượng sáng mai mình sẽ như con lạc đà thồ hàng, khom lưng leo dốc. Chợt thức giấc thấy Mai chưa ngủ, Chín Phượng tò mò hỏi: -Chị làm gì vậy? Sao chưa đi ngủ? -Có lẽ đêm nay bé Trung mong má nên chị không ngủ được. -I...hí... Nó biết gì, nôn nóng gặp chồng thì có, còn đặt chuyện con nó nhớ không ngủ được. Đi thăm chồng mà lọ mọ như chị em ớn đến tận gáy, hết muốn lấy chồng. -Cầu cho em lấy chồng, có con như chị để thấy thế nào là lọ mọ. Có con mà ôm nhau ngủ, nó tè lên đầu cả vợ lẫn chồng tha hồ mà ngửi nước hoa của trẻ con. Lúc đó ngồi đấy sai chồng nó giúp cho. Phượng khúc khích cười: -Em mà lấy chồng bắt chồng làm hết, đâu phải như chị: Rung rinh nước chảy qua đèo, trèo non lụm cụm cõng heo thăm chồng. Ánh mắt tinh nghịch lóe lên, Mai chậm rãi nói: -Ừ, tướng cô mày chồng chiều chứ không như chị đâu. -Điều đó là đương nhiên. -Vậy cô mày bắt chồng cõng đi tè suốt ngày nó cũng phải cõng hả? -Bà quỷ, ỷ có chồng ăn nói lỳ một cây. Mai vẫn tỉnh bơ: -Cái mông niêng niểng, chè bè thằng chồng nào chẳng muốn ôm vỗ đồm độp suốt ngày phải không em? Nhảy khỏi võng, đấm vào lưng Mai thùm thụp, Phượng kêu lên: -Khiếp, bà quỷ...bà quỷ...Trời cũng sợ. - Nói cho tởn da gà để lần sau đừng chọc chị nữa nghe em. Trèo lên võng, Chín Phượng giục Mai. -Đừng giỡn nữa, tranh thủ ngủ lấy sức để ngày mai còn đi đường chị à. Lên võng nằm, chỉ một lát Chín Phượng đã ngủ say, riêng Mai vẫn trằn trọc mong cho trời mau sáng. 2 Buổi sáng mưa và sương ướt đẫm cả cánh rừng và trời bỗng tạnh, Mai, Tám Nghiệp và Út Hân đi một lèo từ căn cứ xã Phụng tới chân dốc Lỗ Chài thì trời lại mưa. Gặp anh em bên Thị đội khiêng Ngân bị thương lên viện Hồ Tây, cả hai đoàn cùng nhau vượt dốc. Vượt qua mười hai dốc vòng vèo, leo tiếp một cái dốc thẳng đứng tới đỉnh dốc Lỗ Chài cả đoàn mới nghỉ giải lao. Vặn lưng kêu răng rắc, Duy nhìn trời: -Lão trời dở hơi, khi leo dốc thì mưa tối mặt tối mày, lúc giải lao thì lại tạnh mưa, mệt ơi là mệt. Mai ôn tồn: -Mùa này thời tiết thất thường biết đâu mà lường được. Thủ điềm đạm: -Mong trời tạnh đi đường cho đỡ vất vả. Lấy gói thuốc rê ra vê một điếu to bằng ngón tay, Thủ lấy bật lửa mồi thuốc. Tiếng sè sè của cái bánh xe cùng ánh lửa chớp nháy liên tục mà lửa vẫn không cháy, khiến Thủ bực mình chửi to: -Tiên sư mày, nếu ở nhà tao đã quăng mày xuống ao cho khuất mắt, đúng là cái cối xay đá. -Mang tiếng thủ trưởng hậu cần mà không có nổi một cái máy lửa cho ra hồn, cho em xin điếu thuốc, em đảm bảo sửa thành máy lửa tốt cho anh xem. -Không khiến. Lôi cục bông trong ruột máy lửa, để cạnh bánh xe, rồi bật mạnh làm ánh lửa bùng lên, Thủ vội vàng mồi thuốc. Và rít liên tục mấy hơi rồi cho máy lửa vào túi nhìn Duy đắc ý: -Có thế chứ, đời nào tớ chịu thua. -Lạnh quá, anh cho em điếu thuốc hì... hì.. Cầm gói thuốc rê đưa cho Duy, Thủ hất hàm hỏi: -Cũng biết xin thuốc hút hả, xin thuốc thì nhanh còn lúc thằng Ngân bị “pháo đĩ” bắn mày nằm ở đâu? Duy cười cầu hòa: -Chẳng qua pháo đĩ bắn trái qui luật, em hơi hoảng ngồi dưới hầm anh thông cảm. Vô tình Út Hân hăng hái xen vào chuyện: -Buổi sáng làm gì có pháo đĩ? -Chú mày thì biết gì? Đã bảo pháo đĩ là pháo đĩ hiểu chưa? Út Hân vênh mặt: -Sẩm tối bọn lính đưa mấy con điếm lên cứ điểm, làm le bọn lính nạp đạn cho mấy con điếm giật cò, pháo nổ tầm bậy, tầm bạ nên mới gọi là pháo đĩ chứ. Duy hỏi vặn: -Ngày đêm ai cấm bọn lính đưa gái điếm vào cứ điểm, bọn gái điếm xin bắn lúc nào chẳng được? Đạn Mỹ chứ có phải của hồi môn của bọn lính đâu mà chúng nó tiếc. Thủ bỗng cười vang: -Con xin hai ông cụ non, chim mới bằng trái ớt mà cũng đòi giải thích pháo đĩ. Mắc cỡ Tám Nghiệp la lên: -Khiếp... Chú Thủ ăn nói quá tay. Khoa tay Thủ nói oang oang: -Này, tôi nói tục mà thanh đấy, xét về tuổi tác như cô Mai bất quá chỉ bằng tuổi con trai tôi là cùng. Mai vui vẻ ngắt lời: -Chắc chú thoát ly muộn? -Do tôi xin phục viên để cưới vợ, bà vợ lại mắn đẻ nên bốn năm đẻ tới ba đứa. Không phục viên bét ra tôi cũng cỡ cán bộ tiểu đoàn chứ đâu phải làm lính như bây giờ. Duy nhanh nhảu: -Con gái anh Thủ là y sĩ đang chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị đấy chị Mai à. Quăng tàn thuốc ra xa, Thủ chép miệng: -Bởi có cảnh xuất ngũ, tái ngũ, tổng động viên nên ra trận bố làm lính, con chỉ huy, chuyện thật mà tưởng như bịa, thế mới tài. Nổi hứng, anh chàng Luận y tá cũng thủ thỉ: -Vợ mới sinh em chưa thấy được mặt con đã được lệnh vào Nam chiến đấu thế mới tức chứ. Duy cười vỗ vai Luận: -Chiến đấu lâu dài gian khổ như thế này có khi bà xã đã đi “giải phóng” với mấy thằng cán bộ hợp tác hay du kích rồi cũng nên. Thấy mọi người rộ lên cười, cao hứng một cậu lính cố ý uốn éo giọng hát của mình: -Từ ngày anh đi, ở nhà em chửa hoang, sinh đứa con trai nó giống cả làng. Rồi nó lớn lên gọi bố đàng hoàng... Thích nhé em đảm đang... Duy cười ngặt nghẽo: -Ông nhạc sĩ sáng tác này nghe mày hát chắc phải trợn mắt tắc thở vì hay hơn ông ấy đấy. -Gặp tớ chắn chắn ông ấy phải bắt tay cảm ơn vì có công nâng cao, cải biên lời hát tới trình độ siêu việt phải không? Thủ đứng dậy nói to: -Hết giờ giải lao, tất cả lên đường. Đúng là tán láo như lính. Có thêm bóng dáng của phải yếu, các chàng giải phóng khiêng thương đi băng băng và chẳng mấy chốc cả đoàn đã đến suối Sổ. Con suối Sổ lúc này đã trở thành một giòng sông đục ngàu, sóng bạc đầu chồm lên va đập vào hai bờ suối tạo nên những âm thanh lục ục, ầm ào vang dội. Thấp thoáng dưới làn nước đục ngầu là những cây gỗ dài đuỗn lùi lũi trôi như những con thuồng luồng đang lặn ngụp giữa dòng nước. Nhìn giòng nước lũ, Thủ lo ngại: -Nước lớn thế này làm sao qua được. Tám Nghiệp chần chừ: -Hay là chờ nước rút rồi mới vượt suối? Mai nghiêm sắc mặt: -Suối Sổ là cái túi đựng pháo của địch, cực chẳng đã mới phải dừng lại, không tìm cách vượt suối cứ bàn lùi hoài. Duy gật đầu: -Phải đi lấy giây buộc ròng qua suối mới vượt suối được. Út Hân nháy Duy: -Em biết chỗ có rất nhiều mây song, chỉ cần năm đoạn song bự thiệt dài là đủ giây ròng qua suối. Duy, Luận và Út Hân đi khá lâu lễ mễ đưa về những cuộn giây song to khiến mọi người khâm phục. Thủ đưa gói thuốc rê cho Duy hồ hỡi: -Hút cho ấm người, cậu bơi giỏi nhưng cẩn thận, vượt suối nắm chặt đầu dây, có gì bọn tớ kéo vào bờ. Rít một hơi thuốc dài, nhìn chiếc băng ca kết bằng cây sổ thẳng đuột, Duy đắc ý: -Chiếc băng ca đúng là đủ ba tiêu chuẩn: chắc, gọn, nhẹ không chê vào đâu được. Cầm giây lội ngược suối, rồi bơi ngược giòng nước lũ, như một con cá kình, Duy bơi trườn qua những cơn sóng bạc đầu vượt ra giữa suối rồi lựa thế bơi vào bờ. Nhanh chóng cầm giây quấn quanh một cây sổ to bằng thân người hai vòng rồi cột giây vào thân cây và lấy tay làm loa gọi to: -Kéo căng giây lên cao rõ chưa? Thủ gọi vọng sang: -Kiểm tra mối dây bên đó một lần nữa thật kỹ đi. Nhìn đường dây nằm là là trên mặt nước, Duy hiểu mực nước lúc này có thể qua được, còn hai hoặc ba giờ sau nước lũ dâng lên cao, khó mà vượt qua suối được. Bám sợi giây lội trở về, Duy vừa đi vừa dò đường. Nước xoáy dưới lòng suối nên cát sỏi dưới chân bị trôi khá mạnh, Duy thầm lo cho Mai và Nghiệp sức yếu khó bề vượt qua suối . Tới bờ, co ro chạy lấy áo khoác vào người, toàn thân Duy run lên vì lạnh. Lẳng lặng cầm lọ dầu nóng dúi vào tay Duy, Nghiệp nói trống không: -Dầu nóng xoa vào cho bớt lạnh. Thấy Duy lóng ngóng Mai ngầy Nghiệp: -Em lấy dầu chà mạnh vào lưng cho Duy, không thấy đồng chí mình răng đánh bò cạp đó hay sao. Bẽn lẽn, Nghiệp lấy tay luồn vào áo Duy xoa dầu, vừa xoa vừa nói nhỏ: -Dầu nóng lắm, anh xoa vào ngực, vào bụng chống cảm lạnh. Duy hối thúc: -Tranh thủ chuyển đồ đạc và kèm hai phụ nữ vượt suối trước rồi tập trung đưa Ngân sang sau. Mưa lại ập xuống, Mai vội kéo sụp chiếc mũ tai bèo xuống để tránh những hạt mưa lao xuống như tên bắn. Rùng mình vì cái lạnh buốt của nước lũ thấm vào da thịt Mai nắm chặt dây vượt suối. Nhìn Thủ kiễng chân vác cái gùi nặng trĩu của mình trên vai, Mai mừng thầm vì gặp may. Vừa nhấc một chân lên bỗng một đợt sóng xoáy dưới chân khiến Mai chao người bước hụt. Lại một cơn sóng chồm tới hắt vào mặt làm Mai ho sặc lên luống cuống rồi một con sóng nữa lao tới đánh thốc vào mũi vào miệng khiến Mai bị sặc nước. Ngực đau nhói, mũi cay buốt xối vào óc. Mắt hoa lên, Mai vội buông tay ôm ngực. Lại một đợt sóng chồm lên đẩy Mai vào khối nước đục ngàu. Tay chân đạp loạn xạ chống đỡ với nước trùm phủ xoáy cuộn Mai chờn vờn hụt hẫng và bất lực. -Chị Mai!... Duy thét lên đưa gói đồ cho Út Hân rồi lao tới nắm mớ tóc Mai đang nổi trên mặt nước. Sóng xoáy dập khiến tay nắm hụt mớ tóc, Duy vội nhoài người bơi đến cạnh Mai. Lách người nắm chặt lưng áo Mai, Duy đẩy mạnh cho Mai trồi lên khỏi mặt nước rồi vừa bơi vừa lựa thế hất Mai lên lưng mình. Vật lộn với nước lũ và nạn nhân nên cả hai chị em bị nước lũ cuốn trôi một đoạn khá xa Duy mới đưa Mai vào bờ. Vội vàng cõng Mai lên bến lội, Duy gọi to: -Căng tăng, mắc võng cho chị Mai nhanh lên! Đặt Mai nằm xuống làm hô hấp nhân tạo cho nước trong miệng ộc ra, Duy lo lắng nhìn mọi người. Một lát sau thấy Mai thở và rên nhè nhẹ, Duy reo lên: -Chị ấy tỉnh rồi! Đặt Mai nằm trên võng, Tám Nghiệp và Út Hân lấy dầu xoa bóp liên tục cho người Mai nóng lên. Khá lâu Mai mở mắt nhìn mọi người đang đứng xung quanh nước mắt bỗng ứa ra. Thấy Mai khóc Tám Nghiệp cũng khóc theo và rối rít: -Chị Hai! Đừng có làm sao nghe chị!... -Chỉ được cái mau nước mắt, tiêm thuốc hồi sức cho chị ấy nhanh lên - Thấy mình vô lý và quá lời với Nghiệp, Duy ôn tồn - Đừng khóc nữa, mọi việc sẽ ổn thôi. Lau nước mắt, lấy thuốc trong ba lô ra tiêm cho Mai, Nghiệp nhìn Duy. Vô tình bắt gặp ánh mắt Nghiệp, Duy nhận ra ánh mắt Nghiệp. Nhìn mình như đằm thắm, như yêu thương lẫn hời dỗi. Tay chân luống cuống, Duy vội nhìn sang bên kia suối. Đứng dậy lấy khăn mặt của mình đưa cho Duy, Nghiệp nói trống không: -Lau tóc đội mũ vào kẻo lạnh đấy! -Không sao đâu!... Thấy Duy cười, Nghiệp bối rối: -Nước cuốn trôi tới cả trăm mét chứ có ít đâu... -Năm chục thước là cùng!... -Nhiêu đó cũng đủ xót ruột, xót gan rồi!... Còn nói nữa!... Bồi hồi Duy vội quay đi và nói nhỏ: -Trông chị Mai, anh đưa Ngân vượt suối. Nói xong Duy vừa đi xuống suối vừa hối thúc mọi người: -Khẩn trương lên các ông. Đặt Ngân lên cáng, Thủ lấy tấm tăng che và buộc cho Ngân cẩn thận rồi nâng cáng khiêng Ngân vượt suối. Mưa như một cây nước khổng lồ ập xuống dày đặc và dữ dội hơn. Bầu trời xám đục như sà thấp xuống. Gió từ rừng già gào thét lao ra đồi tranh xoáy vật vã khiến cây cối tạo nên những tiếng hú kéo dài đến gai người. Nước lũ tạo thành một màu nâu bạc, cuộn réo nhảy nhót trước mặt mọi người. Những tảng bọt màu gạch cua bồng bềnh bị vỡ ra rồi tụ lại, bám vào những cành cây vừa trôi vừa xoay tròn trong nước. -Con rắn!... Duy thét lên, nghiêng đầu vung tay hất mạnh. Con rắn bị tung lên và rơi vào cáng thương. Hoảng sợ, con rắn ngóc cổ há miệng khiến mọi người bàng hoàng nhìn cái lưỡi đen ngòm của nó đang chớp động. Nhanh như cắt, Thủ chộp con rắn nhướn người quăng thật xa. Bị mất đà, Thủ lao người đẩy cáng thương về phía trước. Duy kêu lên thì nước ập tới đập mạnh khiến tăng võng bị đứt tung ra. Nước xoáy vào tấm tăng lật nghiêng cáng thương và đẩy Ngân vào nước lũ. Nhoài người ôm lấy bạn, cả Duy và Ngân cùng chìm xuống nước. Bị sặc nước, Ngân vật vã chống đỡ nên cả hai bị chìm xuống lòng suối. Chân vừa chạm đất, Duy co người đạp mạnh cho cả mình lẫn bạn lên khỏi mặt nước. Để bạn trong tư thế nằm ngửa Duy bơi chéo theo giòng nước tìm cách vào bờ. Loạng choạng ôm Ngân lội lên khỏi suối, đặt bạn trên cát, Duy ngồi phệt xuống thở rốc. Cái lạnh cóng của gió mưa và nước lũ ngấm vào xương thịt khiến Duy tê buốt. Những cơn lạnh từ trong ruột lạnh ra co thắt khiến Duy run lên từng cơn. Thủ, Tám Nghiệp cùng mọi người chạy tới cõng Ngân và dìu Duy tới chỗ Mai. Út Hân vội vàng lấy tăng võng nới rộng mái che và trải tấm nhựa đi mưa xuống đất để cấp cứu cho Ngân. Thủ mồi một điếu thuốc thật bự ân cần bảo Duy: -Hút cho ấm người. Vật lộn với nước lũ cũng như đánh bạc với ông trời, còn người là thắng rồi. Cậu khá lắm. Nhìn Ngân da trắng nhợt, nằm đờ như một cái xác không hồn, Thủ bồn chồn: -Giá có lửa sưởi ấm cho nó thì tốt biết mấy. Út Hân nhanh nhảu: -Đưa anh ấy về nhà sưởi ấm rồi hãy chuyển tới viện. Luận gật đầu: -Hơi lửa rất cần cho người bị mất máu nhiều trong lúc này, nếu không thì... Thủ ngắt lời: -Về hậu cứ xã vừa có lửa sưởi, vừa có thuốc cấp cứu, vừa có đồ ăn nóng, tình hình yên ta sẽ tính sau. Nói xong Thủ đứng dậy cùng Út Hân chuẩn bị khiêng cáng, chia sớt đồ đạc phân công từng người mang vác, khiêng Mai và Ngân đi đường cho an toàn. Mưa vẫn xối xả dội xuống, gió vẫn gào lên trong những cánh rừng già. Bầu trời như co lại, như sà xuống mặt đất. Bóng Nghiệp dìu Duy đi như hai cái cây đang níu vào nhau chống đỡ giữa gió mưa vật vã. Phía trước họ bóng đoàn người đi liêu xiêu trong gió, nhạt nhòa trong mưa... Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Chín, 2023, 09:56:19 am Chương 30 1 Tay cầm vạt áo mưa che đoạn ruột nghé đựng gạo vắt thòng trước ngực, tay đỡ để Duy tựa vào vai mình, Nghiệp thận trọng dìu Duy đi trên con đường trơn như đổ mỡ. Cơn sốt hoành hành, khiến đôi chân Duy nhiều lúc muốn khụy xuống khiến Nghiệp phải vội vàng đứng dạng chân đỡ cho Duy khỏi bị ngã nên mãi xẩm tối hai anh em mới về đến hậu cứ sản xuất xã Phụng. Lật đật thay quần áo rồi lên võng nằm Duy vật vã chống chọi với cơn sốt. Phải gấp rút đưa Ngân đi viện cấp cứu nên Thủ và anh em Thị đội đành gửi Duy ở lại xã Phụng, vậy là Nghiệp phải lo điều trị cho cả Mai lẫn Duy. Một tuần như cơn gió thoảng qua, sức khỏe của Mai đã hồi phục, còn Duy vẫn mỗi ngày một cơn sốt đều đặn.Chiều nay Duy sốt tới 41 độ khiến Nghiệp hết xem mạch, lại sờ trán rồi lấy võng cột ngồi canh chừng con bệnh. Nhìn Duy nằm co ro run rẩy thím Năm thở dài, bất giác đập nhẹ vào vai Nghiệp: -Tao biểu này. -Gì hả thím? Thím Năm ái ngại: -Nó sốt cả tuần rồi mà chưa dứt có lẽ thuốc chưa trúng bệnh mày à. -Thì con cũng đã đem hết khả năng của con để điều trị cho ảnh rồi... -Thằng bé da xanh lét trông người chỉ còn thấy con mắt!... Xem ra sức khỏe không ổn đâu ... -Con biết làm sao bây giờ!... -Hay là đào trùn và đất ổ mối đem về sắc cho nó uống? -Trời đất!... Thuốc gì mà kỳ lạ vậy thím! Thấy Nghiệp kêu lên, đôi mắt mở to nhìn mình như ngạc nhiên, như diễu cợt rồi phì cười, thím Năm bực mình: -Cười cái gì!... Đừng coi thường, đó là bài thuốc gia truyền của ông thầy Ba Công, phó ban y tế Tỉnh truyền lại cho bọn tao linh nghiệm lắm đó! Chợt hiểu ra, Nghiệp nhoẻn cười: -Con đâu có biết...con nhớ rồi, hèn gì chị Hai nhắc bài thuốc này hoài. Cơn bực thoảng tan, thím Năm cũng cười: -Bài thuốc linh nghiệm lắm, tranh thủ vào rừng kiếm thuốc cho thằng Duy rồi về kẻo tối Tám à. -Thím ở nhà trông ảnh giúp con, đi một lát con về. Lụm cụm vào rừng đào thuốc đem về sao vàng hạ thổ rồi sắc đặc, Nghiệp bưng chén thuốc lại ngồi cạnh Duy: -Anh uống thuốc nghe, bữa nay em chuyển sang thuốc nam để anh uống cho mau khỏi bệnh. Nhìn chén thuốc Duy bỗng rùng mình hỏi nhỏ: -Xác con gì lềnh bềnh trong bát thuốc đấy? -À... xác con mối, con trùn đấy, đây là bài thuốc gia truyền trị cảm sốt hay lắm anh à. Duy nhăn mặt: -Anh không uống đâu, tại sao lại đi lấy mối với trùn làm thuốc, uống vào ngộ độc đấy. -Vậy mới là thuốc gia truyền, anh cứ uống đi, em đảm bảo nhất định chóng khỏi. Duy rùng mình nhăn mặt: -Uống bậy bạ thế này nguy hiểm lắm Nghiệp à. Nghiệp nài nỉ: -Em có đưa thuốc độc cho anh uống đâu mà sợ, có bệnh thì phải chữa, phải chịu khó uống thuốc anh à. Thấy Duy thở dài, Nghiệp lại năn nỉ: -Uống đi anh, em cầu xin anh đó! Thừ người ngồi trên võng khá lâu, Duy thở dài: -Thôi được để anh uống! Nhắm mắt uống một hơi dài, hết nửa chén thuốc, Duy nhìn bát thuốc rồi nín hơi uống hết và vội vàng lấy tay vuốt ngực cho khỏi buồn nôn. Đưa cốc nước đường đã pha sẵn cho Duy, Nghiệp vừa vuốt lưng Duy vừa dỗ dành: -Uống chút nước đường là hết buồn nôn ngay, phải chịu khó nghe anh. Vừa uống, vừa nhai ngấu nghiến những hạt đường chưa tan trong miệng, Duy nằm co người trên võng, lấy tấm đắp bằng dù hoa tủ nhẹ lên đầu, rồi thiếp đi trong giấc ngủ mệt mỏi. Hơn một giờ trôi qua, thấy Duy vẫn ngủ, Nghiệp mừng thầm trong bụng nhẹ nhàng đứng dậy đến chỗ thím Năm đang ngồi lột sắn vui vẻ: -Không ngờ bài thuốc lại linh nghiệm như vậy, sao thím không nói cho con từ đầu có phải ảnh có đỡ khổ không. -Tao đâu biết, thôi tìm lá chanh, lá sả nấu một nồi nước xông cho ra mồ hôi, nó mới chóng khỏi hiểu không. -Dạ con nhớ rồi, trông ảnh khô đét như con cá rô con thấy chẳng an tâm chút nào. Ảnh tội quá phải không thím! -Đứa nào bị sốt chẳng vậy, thời buổi chiến tranh ở rừng, ở núi kham khổ biết làm sao bây giờ. Nghe tiếng phản lực bay ro ro trên trời, tiếng pháo ầm ì vọng tới bất giác thím Năm quay sang hỏi: -Hình như phía Tuy An đang đánh nhau phải không Tám? -Có lẽ vậy, ở vùng giáp giữa thị xã Tuy Hòa và Tuy An thì phải. -Làm sao mày biết? -Nghe tiếng pháo nổ thì biết, anh em mình đánh ban ngày thế này thì ác liệt lắm thím à, có gì đi nữa thì cũng phải trụ đến tối mới giải quyết được tình hình. Thím Năm chẹp miệng: -Tội nghiệp mấy đứa nhỏ rủi lúc này có chuyện gì thì vẫn phải nằm phơi mình hứng bom đạn. Ông trời quả là không có mắt! Chiến tranh cứ kéo dài như vầy thì nước mình hết cả đàn ông... Nghiệp khúc khích cười: -Bà già...chỉ được cái hay nghiễn chuyện. -Chứ không à...tao nói thiệt đó, đừng có chọc quê tao. Mày xem làng mình chỉ toàn là ông già, đàn bà với lũ con gái. Con trai mới nhổ giò không lên núi, thì cũng bị địch bắt đi quân dịch. Con gái tộc ngộc cả bầy, thắp đuốc cả ngày cũng không kiếm được một thằng đàn ông, gào hoài mà cũng không tìm nổi một thằng chồng mày ơi. -Ý hí... hèn gì trên không phân công thím làm công tác chính trị. Thím mà làm lãnh đạo thì bọn con khỏi lo ba khoan, cưới xả láng, đẻ con cả bầy, hết lo thiếu người đánh Mỹ. Thím Năm bật cười: -Bởi vậy trên mới không cho tao làm lãnh đạo, tao nghĩ sao nói vậy chứ bộ. Ngừng một lát, bất giác Thím Năm thở dài: -Tao nghĩ như anh Bốn Xuân thường vụ Huyện ủy có bốn đứa con thoát ly, đều hy sinh, vậy là nuôi dưỡng mấy chục năm trời bỗng chốc hết vốn đi chợ, mày coi có đau không! Hòa bình thống nhất còn hai vợ chồng già sống với nhau, rủi khi đau bệnh vợ chồng chỉ còn biết bò ra ang nước gạo mà uống thôi mày ơi. -Khiếp thím đến là bạo miệng, còn đồng chí, anh em nữa chớ. -Ấy là tao nói phòng vậy thôi, đàn ông lúc về già còn đỡ, chứ đàn bà thì đứa con là vốn, có vốn đi chợ vẫn chắc ăn hơn. -Vậy con thương một người rồi xin làm đám cưới ngay thím có chịu không? Nếu trên nói ba khoan thì thím nói sao? -Tao đâu có biết, bất quá cũng như thằng Lâm và con Mai rồi đâu cũng vào đấy đúng không? Câu chuyện không đầu, không cuối tưởng như hai thím cháu nói cả ngày không hết. Bỗng Duy nói mớ, Nghiệp vội vàng đứng dậy tới bên Duy. Môi Duy bỗng mấp máy, mi mắt thỉnh thoảng co giật như khóc, như cười khiến Nghiệp hoảng hốt gọi to: -Thím ơi!... Anh Duy làm sao thế này!... Vội vàng chạy tới, thấy con bệnh trở chứng thím Năm lóng ngóng lấy lọ dầu đưa cho Nghiệp và giục: -Lấy dầu xoa bóp cho nó! Chắc nó bị cảm gió, phải cạo gió mới được . Như cái máy, Nghiệp hết thoa dầu, cạo gió đến thoa bóp cho bệnh nhân. Khá lâu, mồ hôi Duy vã ra như người bị ngộ độc khiến Nghiệp hoảng hồn níu lấy thím Năm: -Thím ơi!...Rủi ảnh có chuyện gì thì con chết mất thím à!... Tay chân cũng run lên, thím Năm hoảng hồn: -Tao đâu có biết, mọi lần tao uống mồ hôi cũng vã ra, chứ không vật vã như thế này! Vừa khóc, Nghiệp vừa giục thím Năm: -Ra rẫy gọi anh chị Hai về đi thím! Lẹ lên! Chẳng kịp suy nghĩ, thím Năm vừa chạy, vừa gọi to đến lúc gặp Mai và Lâm ở cuối rẫy thì chẳng còn nói ra hơi nữa. Phải một lát, chờ cho thím Năm hoàn hồn Lâm và Mai mới hiểu. Lâm giật mình chạy thẳng về nhà, Mai hối hả ẵm con cùng thím Năm chạy theo. Vừa bước vào nhà, Lâm đã thấy Nghiệp ngồi khóc thút thít rối rít xoa bóp cho Duy. Vừa thở rốc, vừa quan sát bệnh nhân Lâm hỏi Nghiệp: -Mạch của Duy ra sao? -Có lẽ ngộ độc anh à. Sờ vào bụng và ngực của Duy khá lâu, Lâm đứng dậy thở phào: -Do sức khỏe của nó yếu, bị thuốc hành nên mới bị vật vã như vậy chứ không phải bị ngộ độc hay bị thuốc công đâu. Nghiệp hỏi nhỏ: -Làm sao bây giờ anh Hai? -Cứ xoa bóp đều đặn, lấy khăn khô lau sạch mồ hôi cho bệnh nhân thì hết vật vã, khoảng hai giờ nữa bệnh sẽ dịu đi rồi sẽ khỏi. Lau nước mắt Nghiệp đỏ mặt hỏi nhanh: -Làm sao anh biết? -Ở đơn vị anh, quân y thường xuyên lấy bài thuốc này điều trị cho mấy cậu bị sốt rét ngã nước làm sao anh không biết. Thấy thím Năm và Mai đứng ngẩn người nhìn mình, Lâm bật cười nói vui: -Làm gì mà đứng như mấy ông phật trong chùa vậy... Nhỏ Nghiệp ngồi canh chừng bệnh nhân, thím Năm đi nấu nồi cháo lát nữa cho thằng Duy ăn, còn em lo trông con để anh lo củi nước và nấu ăn cho. Mọi người như bừng tỉnh đều bật cười và nhanh chóng tản đi làm việc. Cơn đau dịu dần, Duy tỉnh táo trở lại, ngồi trên võng xúc từng thìa cháo vừa ăn vừa xúyt xoa vì cháo nóng. Như trút được gánh nặng, Nghiệp xuống bếp ngồi nói chuyện với thím Năm. Chẳng hiểu chuyện gì mà hai thím cháu cứ rầm rì, Nghiệp bỗng cười rúc rích: -Nhìn ảnh co giật, miệng nói sảng con mất hồn mất vía, lúc đó mồ hôi rịn ra cứ nghĩ rủi có chuyện gì chắc con chết mất thím à. -Cũng tại mày, chưa chi thần hồn đã nát thần tính làm tao cuống lên rồi cũng khóc theo, thiệt chẳng ra sao phải không mày. -May có vợ chồng anh Hai, cả như chỉ có hai thím cháu mình chắc ngồi khóc chứ biết làm gì nữa. -Cái con nói mới hay, nhà có đàn ông có khác chứ, tao thấy mày thương thằng Duy rồi đấy Tám à. -Thím chỉ được cái nói vậy!... Thấy bé Trung chạy vụt xuống bếp ôm cổ bắt cha cõng, Lâm làm trâu cho bé Trung ngồi kêu “nhong nhong” thím Năm cũng vui lây nói với Nghiệp: -Con bé cái mắt, mái tóc giống hệt mẹ, còn bao nhiêu y khuôn thằng cha lớn lên khối thằng chết. Nếu không có chiến tranh thì đâu đến nỗi nó bé tong teo như vậy. Lớn lên nhất định con Trung sẽ có phúc có phần lớn lắm Tám à. -Tại sao thím biết? -Trông tướng thì biết, con người có số, có mạng cả Tám à. Nhìn Lâm nhướn cổ thổi cho ngọn lửa cháy bùng lên, thím Năm hích nhẹ vào người Nghiệp: -Mày thấy con nhỏ ngồi oai chưa? Không trả lời thím Năm, nỗi bồn chồn vô cớ nổi lên, Nghiệp kín đáo nhìn Duy đang nằm ngủ thiếp trên võng mỉm cười. Những cảm xúc mông lung thoắt hiện thoắt tan trong người khiến Nghiệp thần ra và giật mình khi nghe tiếng thím Năm giục mình nhanh tay gọt sắn nấu ăn để tối nay Lâm và Út Hân còn đi săn sớm. 2 Suốt cả buổi tối, đội đèn đi hết trảng tranh này đến quả đồi khác mà chẳng có con mồi nào, Lâm và Út Hân đều mệt nhoài, buồn vì hôm nay gặp sui. Tới đầu suối, hai anh em ngồi nghỉ khá lâu rồi quyết định đi dọc theo suối Cái. Vận may vụt tới, Lâm bắn được con nhím nặng hơn chục ký khiến hai anh em mừng khúm. Hy vọng bắn được một con mồi nhỏ để đem về nhà có một bữa ăn tươi lúc đầu nay vượt quá mức yêu cầu khiến niềm hy vọng của hai anh em lại vụt lên. Cho con nhím vào bao, xốc lên lưng gùi gọn trơn, Út Hân vừa đi vừa nói với Lâm: -Bữa nay anh Hai gặp hên rồi, lát nữa cho em bắn thử nghe anh Hai. Lâm vừa soi đèn vừa trả lời: -Chịu khó tập tính kiên nhẫn cho quen sẽ thành thợ săn. -Bữa nay anh san bớt cái hên cho em đi. -Ừ ...Về tới trảng tranh gần nhà anh cho chú mày đội đèn tập bắn thoải mái, còn bây giờ phải đi theo sát anh nghe chưa. -Em mà bắn trúng con cheo chị Nghiệp không đưa lưng cho em nướng là chết với em. Lâm cười to: -Con Tám thách đố à? Út Hân cười khanh khách, nhướn người bước từng bước dài. Đi hơn một giờ đồng hồ nữa, bắn trượt hai con mồi, hai anh em về tới trảng tranh gần nhà mới nghỉ giải lao. Lấy gói thuốc rê trong túi cuốn một điếu thiệt bự Lâm mồi lửa hút thuốc. Giật mình vì ánh lửa đàn thỏ nhảy xào vào bụi rậm. Đứng bật dậy, Út Hân hối thúc: -Anh Hai! đưa đèn và súng cho em, lẹ lên. Út Hân lấy cây đèn đội lên đầu và quất đèn soi lia lịa. Lâm nhắc nhở: -Quất đèn là là, khi soi phải có điểm dừng thì mới thấy được con mồi hiểu không. Nhìn ánh đèn, Lâm mỉm cười hài lòng về tính hiếu động của thằng nhỏ. Ánh đèn bỗng dừng lại rọi thẳng vào một hốc cây có một tảng đá khá lớn, Út Hân kê súng bắn liên tục hai phát AK. Con mồi nằm quay đơ trong hốc đá. Út Hân vội vứt cây nạng cầm súng chạy tới thấy con cheo nằm xong trên mình không có một giọt máu nào cả. Linh cảm vụt tới, Út Hân chộp cổ con cheo dơ cao và quất thiệt mạnh xuống đất. Oằn mình vì đau và bừng tỉnh con cheo nhảy cẫng lên rồi lao mình vào bụi rậm. Nhanh như cắt, Út Hân phi thân lao theo túm lấy đuôi con cheo và cả người lẫn súng lao vào bụi rậm. Con cheo quật đuôi vằng khỏi tay Hân rơi xuống đất và lủi mất. Gai cào tướp cả da thịt, vừa đau, vừa bực vì mất con mồi, loay hoay mãi người và súng mới ra khỏi bụi rậm, lúc đó Út Hân mới nhận ra mình bị rơi vào bụi gai kim cang. Ê ẩm và đau nhức vì gai cào rách da, rách áo, Út Hân lấy vạt áo lau mặt rồi quất đèn soi vào bụi gai kim cang làu bàu chửi đổng: -Tổ cha bụi gai! Tổ cha con cheo chết tiệt! Tao mà bắn được mày thì tao quật thêm cho mày mấy cái cho bõ ghét!... Hậm hực trả đèn và súng cho Lâm, Út Hân ngồi xuống bãi cỏ cúi đầu lặng im. Lâm cười xòa: -Mới tập săn bắn ai chẳng vậy, tập riết nhất định thành công. Cái nghề chim trời cá nước hên sui là chuyện tình thường chú em à. Đứng dậy đội đèn, cầm súng Lâm khoan khoái vươn vai nói to: -Về thôi Út, tối nay nhất định phải nấu một nồi cháo thiệt ngon để cả nhà cùng liên hoan. Về tới nhà, Út Hân để con nhím cho cánh phụ nữ nấu nướng, vội cầm đèn pin chạy vù xuống suối tắm giặt rồi mắc võng ngồi chống tay lên hông nhìn nồi cháo đang sôi sùng sục trên bếp. Nỗi buồn bực đã tan biến, đôi mắt Út Hân lại sáng lên trong trẻo nhìn những thanh củi cháy lem lét, tiếng nổ tí tách làm bắn tung lên những bụi than đỏ hồng. Thay quần áo xong thư thả tới sờ trán Duy thấy mát, Lâm thân mật: -Cậu phải tiếp tục uống thuốc cho đủ liều mới chóng khỏi được, vào chiến trường mà không sốt rét thì chưa được cấp bằng Giải phóng Miền Nam đâu. Thấy Duy cười, Lâm quay sang nhắc Nghiệp: -Cho tăng thêm thịt và tiêu cho bệnh nhân ăn thì mới ra nhiều mồ hôi, mới mau hồi phục sức khỏe nghe chưa Tám. -Dạ khoảng mười phút nữa cháo nhừ em sẽ trực tiếp cho ảnh ăn. Lúi húi tới khuya cả nhà mới ăn xong, hể hả nói chuyện bao đồng khá lâu rồi mới đi ngủ. Dọn dẹp nhà cửa xong, thấy Duy đã ngủ say, Nghiệp nhẹ nhàng lên võng nằm. Xoay người nhìn ánh lửa cháy rừng rực, thấy võng mình chạm võng của Duy, Nghiệp mỉm cười yên tâm vì trong đêm nếu bệnh nhân có chuyện gì thì mình có thể biết ngay. Nhớ lúc ngồi cho Duy ăn cháo, vị cay xè của ớt và hạt tiêu khiến Duy xuýt xoa, Nghiệp lại thấy Duy thương thương, tồi tội. Bất giác Nghiệp tự hỏi mình: “Ủa! Người ta không bà con thân thích, cách nhau hàng ngàn cây số, bệnh thì chữa có chuyện gì mà phải nghĩ tới người ta hoài!”. Nghiệp nhìn sang võng Duy lại mỉm cười một mình trong đêm. Như đã quen hơi bà, bé Trung chúi đầu vào ngực thím Năm ngủ say tít trong tiếng hát đều đều và buồn tênh: ..."ơ hờ một mai con cá hóa rồng, đền ơn bác mẹ dưỡng công sinh thành ....ơ hờ một mai ai chớ bỏ ai, chỉ tiêu nên gấm, sắt mài nên kim...” Đống lửa giữa nhà bỗng sáng bừng lên, những ngọn lửa nhảy nhót, chờn vờn như những diễn viên đang nhảy múa. Ánh lửa xuyên qua bọc võng khiến màu vải dù của bọc võng trở nên sáng hồng rực rỡ và khuôn mặt Nghiệp cũng hồng lên. Nhìn Duy ngủ say, Nghiệp bồn chồn nghĩ thầm: “Có lẽ chị Đào về khiến anh ấy cứu chị Mai rồi bắt mình chăm lo sức khỏe cho ảnh cũng nên!”. Mặt bỗng nóng bừng, Nghiệp nhủ thầm và tự trách mình “Vớ vẩn tại sao lại cứ nghĩ đến người ta...” Nỗi xốn sang vô cớ ào ạt tràn đến mãi không thôi trong lòng Nghiệp. Cơn mưa rừng đã tạnh tự lúc nào, gió vỗ nhẹ vào mái tranh xôn xao, Nghiệp ngủ thiếp đi trong giấc mơ êm ả, thấy mình bồng bềnh nằm trên đám mây trôi. Giật mình tỉnh giấc thấy Duy ngồi trên võng, Nghiệp vội vàng ngồi dậy vấn tóc lo lắng hỏi: -Anh làm sao vậy? -Anh khó thở lắm... Cầm đèn pin soi, tay ấn nhẹ vào ngực và bụng bệnh nhân, thấy Duy nhăn mặt Nghiệp vừa xoa vừa hỏi: -Đau ở khu vực này phải không anh? -Ừ... đau lắm!... -Anh bị trúng thực rồi, để em làm thuốc giải cho anh uống nghen. Duy phàn nàn: -Anh có ăn được nhiều đâu mà trúng thực, có lẽ anh bị sốt trở lại Nghiệp à. -Do cơ thể yếu, ăn thịt nhím vào mát nên sinh khó thở chứ không phải sốt trở lại đâu. Lấy đoạn xương nhím đốt cháy thành than hòa vào nước sôi để nguội, Nghiệp lọc lấy nước thật trong rồi thổi lửa cho cháy bùng lên, và cầm bát thuốc đưa đến cho Duy ân cần: -Anh uống đi, chỉ một lát thôi là hết khó thở. Như một cậu bé ngoan biết vâng lời chị, Duy cầm bát thuốc uống một hơi rồi rùng mình: -Tanh quá!... -Tốt rồi, bài thuốc giải trúng thực này hay lắm, chỉ mươi phút là người dễ chịu ngay thôi anh à. Dùng ngực đỡ lưng bệnh nhân, Nghiệp tập trung cảm giác và khí lực lên bàn tay xoa mạnh trên người Duy. Khá lâu thấy Duy ợ được hơi trong cổ Nghiệp vui vẻ : -Anh khỏe rồi!... Em biết mà... Duy gật đầu mệt mỏi nghẻo đầu dựa lưng hẳn vào người Nghiệp. Cảm giác dễ chịu luồn vào người khiến Duy cảm thấy mình như trút được gánh nặng. Và rất lâu... cảm giác thư thái trở lại Duy nhận ra bàn tay Nghiệp nóng hổi đang xoa trên cơ thể mình như yêu thương, như ôm ấp vỗ về!... Toàn thân nóng bừng, Duy nắm tay Nghiệp bóp nhẹ. Nghiệp bỗng rùng mình, bàn tay vẫn để yên trong tay Duy. Bàn tay Duy lại bóp mạnh, Nghiệp bỗng luống cuống cúi xuống vô tình để má mình chạm vào mặt Duy. Bàng hoàng đến thần người rồi bừng tỉnh, Duy xoay người ôm lấy đầu Nghiệp níu xuống hôn nhẹ lên má Nghiệp. Nghiệp đờ đẫn nhắm mắt và nắm chặt lấy tay Duy. Những cái hôn đọng trên má, trên mắt khiến Nghiệp thở dồn, tiếng nói ấm trong bật lên như tiếng rung của một sợi giây đàn: -Anh!... Người như mềm nhũn ra khi tay Duy ôm choàng lấy mình, Nghiệp thầm thì: -Khéo ngã anh!... Một thoáng thôi, nhận ra mình đã yêu, cảm giác ngây ngất ập đến, Nghiệp ôm chặt Duy giữa không gian yên tĩnh. Như thấm men say, Duy muốn môi mình đọng mãi trên môi người yêu. -Ý!... chị Tám, anh Duy ôm nhau hôn nghen... Như bị điện giật, cả hai người hốt hoảng vội buông nhau ra lấm lét nhìn Út Hân đang khoái chí nằm trên võng cười. Như con chị ăn vụng bị thằng em bắt quả tang Nghiệp lúng túng chống chế: -Tại chị ngửi miệng anh Duy xem đã khỏi bệnh chưa chớ bộ... -Không biết, hai người đừng có cãi, thằng này đã bắt được quả tang... í...hí.... Duy dấu diụ: -Thôi mà Út... Anh chịu rồi mà... -Muốn thằng Út này không nói, sáng mai phải pha cho em một cốc nước chanh thiệt ngọt, nếu không đừng trách nghe chưa. Duy vội gật đầu, giọng ngọt hẳn lại: -Được rồi, sáng mai anh pha cho em một cốc nước chanh thiệt ngọt . -Nè... anh chị biết hồi tháng mười vừa rồi thằng Ních-Xơn lật lọng không chịu ký hiệp định Pa-ri về Việt Nam rồi chứ? Duy vội cướp lời Út Hân: -Anh biết rồi, mình quân tử đâu phải là thằng tổng thống Ních-Xơn ở tuốt bên Mỹ đâu. Út Hân gật đầu khoái chí: -Được rồi, sáng mai... hai người lật lọng như tổng thống Mỹ đừng trách thằng này nghen. Nằm xuống võng, hất tấm bọc võng che người Út Hân găn gút: -Cả hai người phải thực hiện nghiêm chỉnh nghe chưa. Hoàn hồn Nghiệp ngọt ngào năn nỉ: -Thôi được rồi, chị hứa là có, em cứ ngủ đi. Nói xong Nghiệp vội tung tấm bọc võng che kín người nằm im như ngủ say, lén nhìn về phía Út Hân. Đêm yên tĩnh lại đắm chìm trong màn sương lung linh... Và rất lâu, chỉ có ngọn gió rừng mới biết được đôi bàn tay của Duy và Nghiệp tìm nhau nắm chặt đưa họ vào giấc ngủ giữa gió rừng miên man vô tận... .... Và cũng rất lâu, cũng chỉ có hương rừng mới biết được hơi thở dồn dập của Lâm đang ôm trùm lấy cơ thể Mai. Tiếng võng khẽ rung lên hòa với tiếng rên nhè nhẹ của Mai loang trong hương rừng thấm vào màn sương mỏng tanh bềnh bồng huyền ảo. Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Chín, 2023, 10:19:28 am Chương 31 1 Sau trận lụt 23 tháng 10 âm lịch thường niên, mưa thưa dần. Những tảng mây mọng nước như muốn kéo bầu trời xà thấp xuống lại nhường chỗ cho những đám mây trắng như bông bay lơ lửng giữa bầu trời xanh leo lẻo. Cây cỏ bắt đầu ra hoa nảy lộc báo hiệu mùa xuân sắp đến. Quay đi, quay lại tết dương lịch và tết âm lịch cũng ập tới nơi và một năm lại trôi qua. Đối phó với tết, Mỹ - Ngụy lại tăng cường phòng thủ chặt các thành phố, thị xã và thị trấn. Những cuộc càn quét vùng ven đô liên tiếp xảy ra và xã Phụng cũng không thoát khỏi những cuộc càn vây ác liệt cùng với những đợt bắt bớ thanh lọc. Đài tiếng nói Việt Nam và đài phát thanh giải phóng liên tục đưa tin những trận đánh thắng ròn rã của quân và dân ở cả hai miền Nam - Bắc. Chính quyền Ngụy Sài Gòn gào lên chửi Mỹ bỏ rơi và đòi Mỹ tăng cường viện trợ cho chúng, nếu không miền Nam sẽ rơi vào tay Việt Cộng. Cứ suy từ năm 1968, sau cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân của ta, quân Mỹ phải chui ra khỏi “lớp vỏ sò kiêu binh” hiện nguyên hình thành đội quân con nhà giàu công tử bột. Vũ khí tối tân, uy thế không lực Hoa Kỳ không còn là lá bùa hộ mệnh cho quân Mỹ và quân Mỹ bị hạ uy thế. Mùa mưa năm 1969 quân giải phóng nhử bọn Đại Hàn lên rừng đánh cho tả tơi rồi chưa kịp hoàn hồn ta lại vào sào huyệt của bọn Đại Hàn mà đánh khiến chúng không kịp trở tay. “Cái vỏ lì lợm” hung hãn của lính Đại Hàn bị tước bỏ và bọn Đại Hàn bị hạ uy thế. Mùa hè năm nay, báo chí Sài Gòn gọi là “Mùa hè 72 đỏ lửa”, xác lính Mỹ vùi trong rừng sâu, xác lính Ngụy phơi trên thành Quảng Trị, buộc Mỹ phải ký tắt với ta tại hội nghị Pa-ri. Dẫu Ních-Xơn lật lọng nhưng ai cũng biết Mỹ - Ngụy đã thua, ngày Mỹ cút, Ngụy nhào không còn bao xa nữa. Gần nửa tháng chỉnh huấn, cán bộ và du kích xã Phụng rất phấn khởi, ai cũng tin rằng tình hình cách mạng miền Nam sẽ có một bước ngoặt lịch sử. Khí thế hăm hở ra quân bị chững lại vì bốn đêm đột nhập vào làng đều nổ súng đánh nhau với địch cũng may là không bị thương vong. Trưa nay, sau khi cảnh giới cẩn thận Mai cùng Út Hân, Ba Hổ, Tám Nghiệp và Chín Phượng ra đồng gặp cơ sở. Nhìn cánh đồng lơ thơ người đi lại Mai buột miệng: -Trong làng chắc có chuyện rồi. Chín Phượng nói nước đôi: -Mình cứ tới chỗ hẹn, không gặp dân xã mình thì cũng gặp dân xã Quang, xã Thắng, nếu không gặp được dân thì về chứ biết tính sao bây giờ. Đang đi, bỗng Ba Hổ vẫy tay ra hiệu rồi nhảy tạt sang bờ mương và chạy nép vào bìa rừng. Mai chạy theo và thoáng nghĩ: “không lý có biệt kích”... Chạy băng qua một đám đất thổ Mai ngồi kê súng lên bờ đá, ra hiệu cho Phượng và Nghiệp ngồi tản ra sẵn sàng chiến đấu. Út Hân lom khom chạy tới: -Có dấu giày biệt kích. Nhìn theo hướng Út Hân chỉ, Mai nói nhỏ: -Ba Hổ đâu? -Đang kiểm tra. Nói xong Út Hân xách súng chạy theo Ba Hổ. Mất gần một giờ đồng hồ mới thấy Ba Hổ và Út Hân cùng một ông già từ trong rừng đi ra. Mai thở phào đứng dậy hỏi: -Tình hình ra sao? Ba Hổ cười chỉ vào đôi giày treo tòng teng trên bó củi của ông già: -Ông ấy đi giầy biệt kích, báo hại em phải theo miết tới gần bãi bố phòng của mình mới gặp. Chín Phượng giật nảy người: -Chết! Sao chú lại kiếm củi gần chỗ bố phòng? Lỡ trúng mìn thì sao! -Trời đất! Lão đâu có biết... lần sau không dám tới đó nữa đâu. Ông già cũng giật nảy người và há miệng ngơ ngác. Mai cười xòa: -Lần sau đừng đi giày lính ngụy lên cứ kiếm củi nữa nghe chưa nội. Ông già thanh minh: -Bữa trước đi hái củi suýt bị con rắn cạp nong cắn, sợ quá lão xin đôi giày rách của bọn lính đi cho chắc ăn. Mai ôn tồn: -Chú ở xã Quang phải không? Tình hình địch ở dưới làng ra sao? -Tôi biết bà cầm súng AK này là bà Mai bí thư xã Phụng có đúng không? -Sao chú biết? Nghe Chín Phượng hỏi ông già cười lớn: -Cả tuần nay bọn nó treo giải thưởng, dán ảnh bắt bà Mai bí thư xã Phụng khắp nơi, mấy người chưa biết à? Sáng nay lính về xã Phụng nhiều lắm, không biết chúng nó làm gì, xem bộ hung hăng lắm, có lẽ lùng sục bắt bớ thì phải. Nhờ vậy mà bên xã Quang lính trống trơn, cộng sản có vào hát bộ cũng không hề hấn gì. Thôi lão về đây. Chín Phượng vội dặn: -Ra đồng nếu có địch thì cầm nón, không có địch thì đội nón để làm hiệu cho bọn con nghe chú. -Yên tâm đi, dân cách mạng mà lo. Ông già gật đầu rồi xốc gánh củi lên vai băng băng đi trên bờ ruộng. Gánh củi nhún nhảy khiến người ta có cảm giác như ông lão vừa đi, vừa chạy. Thỉnh thoảng ông già quay lại nhìn như báo cho mọi người biết không có địch và bóng ổng mờ dần trên đồng lúa xanh thăm thẳm. Nhìn ông già và dáng điệu đi lại của những người trên đồng Mai thấy yên tâm cùng Phượng và Nghiệp tới cây vông đồng bên bờ mương ngồi cảnh giới . Quá trưa, thấy hai người từ xã Quang đi về phía mình, nhìn kỹ Mai bỗng nói như reo lên : -Hình như thím Hai! Còn ai đi cùng nữa kìa? Út Hân bỗng nhẩy cẫng lên gọi to: -Má Hai phải không? Ai đi cùng đấy? -Nhỏ Xuân đấy!... Cả hai người cầm nón vừa vẫy, vừa hối hả chạy đến. Ba Hổ và Út Hân cũng chạy bủa ra đồng đón má Hai Hiền. Mừng như mẹ đi chợ về, Út Hân nói như mong, như giận: -Sao bữa nay mới lên, trông đỏ cả con mắt ! Mai cũng reo lên: -Nhỏ Xuân! Bữa nay cũng mò lên đây sao! Thôi lên cho biết căn cứ! -Nó lên thoát ly luôn đó. Nghe má Hai nói, Phượng ngạc nhiên hỏi: -Sao vậy? Chưa có lệnh sao đã thoát ly? Má Hai Hiền cười, cú nhẹ vào đầu Xuân giọng vui vẻ: - Nó bị lộ rồi, đi làm cách mạng mà cứ như là đi hát thì trước sau cũng bị lộ thôi. Bây giờ tao gởi nó cho bọn bay đấy. Thấy Xuân đỏ mặt lúng túng nhìn mọi người, Nghiệp nói nhỏ: -Lên đây công tác có chị, có em càng vui, thêm người, thêm việc phải không chị Hai? Mai vui vẻ: -Thôi, mọi người tới ngồi dưới gốc vông cho mát rồi ta nói chuyện, Hổ và Hân thay nhau cảnh giới nghe chưa. Vừa ngồi xuống má Hai Hiền đã nói: -Cái con Xuân trửng mỡ nằm hát bài ca cách mạng để bọn lính nó nghe thấy, may mà trốn lên cứ được, nếu không chắc giờ này bọn nó tống giam rồi. -Hát câu gì? Nghe Phượng hỏi, Xuân đỏ mặt: -Thì bài ca có câu: “Con người muốn sống con ơi, phải yêu đồng chí, yêu người anh em”, bọn lính đứng ngoài ngõ nghe được liền hô lên rồi hùa nhau vây bắt em. Mai bật cười nói với Xuân: -Hoạt động hợp pháp mà chủ quan, ngẫu hứng thì có ngày mất mạng đấy. Xuân đỏ mặt ấp úng: -Tại hồi đó hứng bất tử em đâu có ngờ bọn lính nghe thấy. Má Hai đỡ lời: -Bọn tao hô lên, cả xóm kéo tới đấu lý vòng vo với bọn lính rồi cho trẻ nhỏ chạy loạn cả lên mới đánh tháo được cho nó, rồi lấy quần áo của con Cúc đưa nó sang xã Quang để lên cứ, chứ biết làm sao bây giờ. Phượng ôm vai Xuân cười ròn tan: -Má tin ngay cho gia đình nhỏ Xuân biết kẻo ông già, bà già nó lo. Chờ cho câu chuyện tạm lắng xuống, Mai nhìn Xuân và má Hai thư thả gợi chuyện: -Không xuống được làng người cứ như lửa đốt, tình hình dưới làng ra sao? Má Hai nghiêm nét mặt, rồi thoáng buồn và thở dài: -Con Cúc nhà tao bị bắt rồi! Chắc thằng Bảy Vân báo cho bọn nó bắt con Cúc nhà tao chứ không ai khác. -Sao má biết? -Sao tao lại không biết! Cách đây mười bữa, thằng Bảy cùng bọn thượng cấp, đi xe Jeep về xã, rảo khắp các xóm rồi kéo nhau ra đồng, lật bản đồ ra coi, sau đó về trụ sở xã họp kín với nhau. Xế chiều bọn chúng mới lên xe về Thị xã. Hai ngay hôm sau con Cúc nhà tao, con Năm Lý, ông Kiều bị bọn cảnh sát bắt đưa về Tỉnh, sự thể chưa biết ra sao. Mai bỗng thở dài im lặng. Nét mặt thoáng buồn Xuân lo lắng: -Nghe nói con Cúc và chị Năm Lý đều bị biệt giam, chúng nó sẽ đưa chị Năm lý vô khám Chí Hòa rồi đưa đi Côn Đảo. Tội nghiệp con Cúc không thoát khỏi tay thằng phó ty cảnh sát đâu! -Em nói sao? Nghe Mai hỏi, Xuân đỏ mặt lúng túng cúi đầu tránh cái nhìn của Mai rồi ngập ngừng trả lời: -Thằng phó ty cảnh sát ác ôn lắm chị à... Anh Màu cảnh sát là cơ sở của mình nói thằng phó ty có một phòng riêng chuyên bắt đàn bà con gái vào đó vấn cung. Khi vào phòng nó cho uống thuốc kích dục, rồi chiếu phim con heo bắt phạm nhân coi. Vậy là phạm nhân tự cởi quần áo ra cho nó hãm. Hãm xong, nó cho bọn lính về hội đồng, sau đó mới đem đi tra tấn. Xuân rùng mình nhìn Mai, đôi mắt mở to sợ hãi. Như thấu hiểu nỗi lo của má Hai, Mai bùi ngùi: -Má vừa đi tù về thì con Cúc lại bị bắt, đã cơ cực lại càng cơ cực!... Làm cách mạng phải chịu bao tủi hờn, nhưng mình không làm thì ai làm thay cho mình đây! Mỹ - Thiệu gây cảnh lao tù, nhà tan, cửa nát ai mà không căm tới tận xương tủy má à! Nước mắt bỗng trào ra, đôi bàn tay khô rám của má Hai Hiền run run bám lấy vai Mai: -Làm sao bây giờ Mai ơi!... Ôm má Hai vào lòng nước mắt rưng rưng Mai vuốt nhẹ lên lưng má nghẹn ngào: -Nín đi má! Lúc này phải dũng cảm lên má à! Tội ác trời không dung đât không tha mà bọn Mỹ gây ra phải trả bằng máu! Phải tiếp thêm nghị lực cho Cúc, em nó sẽ đứng vững trước kẻ thù !... Nhìn má Hai thần người, nước mắt chảy tràn trên gò má và cố nén những tiếng ưng ức đang nghẹn trào trong cổ. Mai hiểu lúc này má khác nào gà mẹ mất con, biết con bị nạn muốn xông vào cứu mà đành bó tay đứng nhìn! Ông trời thiệt trớ trêu, cuộc đời thiệt eo óc biết chừng nào!... Thấy mọi người lặng im, Chín Phượng nhìn má Hai khẽ lắc đầu nói: -Em thấy lần này thằng Bảy Vân sẽ chỉ điểm bắt nhiều người nữa chứ không phải ngần ấy người đâu. Nhỏ Xuân bất ngờ bị lộ nhảy núi phải nhắn để ông già, bà già nó biết mà tìm cách đối phó với bọn chúng. Không khí trầm lắng vô tình được xóa tan, mọi người nhìn nhau cười. Nghiệp nhỏ nhẹ: -Thôi chuyện đã qua cho qua, chuyện gì tới sẽ tới, để chị Mai tranh thủ trao đổi công tác còn má Hai về. Về trễ ông ấy ghen lại bợp tai cho đấy. Xuân cười ròn tan: -Ừ, Nghiệp nó nói đúng đó ông già ghen một cây, già khụ mà còn ghen mới lạ chớ, có lần tao thấy ông bợp tai bà già vì tội cười với ông Chuẩn đờn cò rồi đấy. -Cái con, ăn với nói...ổng có thương mới bợp tai chớ bộ. Mai bật cười: -Thôi đi mấy nàng, trẻ có tình trẻ, già có tình già mấy nàng làm sao hiểu được. Nhìn má Hai Hiền đỏ mặt cười, Mai nghiêm nét mặt: -Năm nay chuột bọ đồng mình nhiều, phải tổ chức bà con khoanh vùng mà diệt kẻo mất mùa thì khốn. Cứ yêu cầu thằng xã trưởng ra đồng diệt chuột làm gương cho dân, sợ chết nó không dám ra đồng thì cả làng tự do ra đồng như vậy điều kiện liên lạc giữa căn cứ với dưới làng thuận nhiều má à. Má Hai cười lắc đầu: -Thằng xã trưởng nó nói: Ông trời làm thì phải chịu, còn lệnh thượng cấp quy định thời gian ra đồng, về làng không thay đổi được. Ai làm sai chết ráng chịu. Tuần trước bọn bảo an bắn M79 ra đồng làm chết hai người, ba người bị thương rồi đó. -Thôn mình có ai việc gì không? Nghe Phượng hỏi, má Hai lại thở dài: -Cha con ông Tảng đang đào chuột thì quả M79 nổ trước mặt ông Tảng chết, thằng con trai bị thương. Chín Phượng hỏi dồn: -Rồi sao nữa? -Tội nghiệp! Dân mình túa ra đồng khiêng xác ông về và vào thị xã mua gấp cỗ quan tài để chôn cho kịp giờ hoàng đạo, ấy vậy, mà thằng xã trưởng với thằng trưởng đoàn “Bình Định” rủ nhau tới hạch sách đòi nhậu nhẹt. Mai bực mình: -Đồ quỷ sứ! Má Hai Hiền vẫn thư thả kể: -Đốt ba cây nhang lấy cớ rồi xà vào bàn ăn nhậu say bí tỷ mà vẫn còn đòi bia rượu. Gia chủ vừa khóc người chết, vừa khóc bọn nó ăn và nói bậy, phá phách. Mai hậm hực: -Sao không tìm cách tống cổ chúng đi cho rảnh. -Có trời mới bứng được mấy thằng bợm ấy ra khỏi bàn nhậu. Cũng may là trong lúc say thằng trưởng đoàn “bình định” thấy lũ trẻ cầm mấy cái bao đi qua liền chạy ra đứng chặn giữa đường hét vang: Ê...Bọn nhóc dừng lại...Bọn bay ra đồng nhận lựu đạn của Việt cộng đem vào làng đánh bọn tao hả..! Lũ trẻ sợ xanh mặt dở vội bao ra, thấy chuột trong bao, nó cười sặc lên rồi lè nhè nói: Ờ hé, chuột to quá hé...trông y như trái lựu đạn ấy bay à...Tội nghiệp, chuột chết cũng ra ma, ông ấy chết cũng ra ma...tử sĩ về chuột là đúng quá rồi phải không ông xã trưởng... Thấy mọi người cười ran, má Hai kể: -Chân nam đá chân siêu hai đứa vừa đi, vừa hát như gào lên cái bài gì tao quên mất rồi. Xuân nhanh miệng: -Bài vọng cổ lính nó đặt “Em ơi, nếu anh chết em có buồn không em...hay em tấp tỉnh phấn son đi với bồ”. Xuân hào hứng: -Con gái ông Thừa Đạt đi lấy chồng cố ý không mời bọn lính, thằng trung sĩ Chiêm, liền bày chuyện tới mừng rồi sà vào bàn nhậu. Thằng Chiêm say mềm người, bọn lính phải vực ra tới cổng thì thằng Chiêm trúng gió ngã cái đụi nằm chết quay đơ trước cổng nhà. Vậy là lớp tới mừng, lớp đang ăn nhậu, lớp khiêng thằng Chiêm khiến cả xóm cứ lộn tùng phèo cả lên. Thiệt là oái oăm không biết hên hay sui nữa. Nhờ vậy em mới biết địch sắp điều đại đội bảo an 310 về vùng mình đóng quân, càn quét. Má Hai gật đầu: -Chúng liên kết với bọn lính trên núi Sầm đánh phá xã Phụng mình là cái chắc. Bay cần phải có kế hoạch đối phó. À, thằng Sang ở tù mới về, bị chúng nó đánh gãy chân đi cà thọt trông tội lắm. Nó còn yếu lắm, nhưng cứ đòi gặp mày để thoát ly, đúng là cọp thì phải về rừng thôi Mai à. Máy may bọn tao đã mua, bay chuyển gấp lên cứ kẻo trễ công việc. Dưới làng bọn hội đồng xã mở chiến dịch vẽ cờ, phát cờ quốc gia cho từng nhà. Mai thư thái đứng dậy nắm tay kéo má Hai Hiền tới bụi ổi sát bờ mương ngồi nói chuyện khá lâu, rồi má Hai vội đứng dậy cầm nón chào mọi người hối hả ra đồng về làng. Tần ngần đứng nhìn theo má Hai, Xuân lén ngoảnh mặt lau nước mắt, mặt hơi ửng đỏ đăm đắm nhìn về thị xã Tuy Hòa. Mai vuốt nhẹ vào lưng Xuân thủ thỉ: -Thôi chị em mình về cứ , hồi mới thoát ly chị cũng nhớ nhà như em, nhưng công tác chỉ một thời gian thôi là chị quen với nếp sống thoát ly em à. -Dạ...em không sao đâu, chắc ở dưới đó ba má em đang lo lắm chị à... Xuân bẽn lẽn cười nhìn Mai rồi chạy nhanh tới chỗ Phượng và Nghiệp. Mai lững thững khoác súng vừa đi vừa ngắm nhìn ba cô gái và hai chàng du kích xã Phụng líu ríu nói chuyện. Đêm nay sau khi liên hoan mừng Xuân lên cứ xong, chờ cho mọi người đi ngủ Nghiệp mới lên võng nằm. Tin trung đội của Duy được tăng cường về xã Phụng công tác khiến Nghiệp bồn chồn không ngủ được. Nhìn Mai ngồi bên ngọn đèn dầu sáng lung linh, khuôn mặt trắng hồng lấp ló dưới mái tóc đen dày óng ả, bất giác Nghiệp thấy Mai đẹp lạ lùng. Nghĩ tới lời Thím Năm nói: "con Mai có hơi chồng nhất định sẽ chóng khỏi bệnh, chuyện đó mày chưa hiểu đâu...” tự nhiên Nghiệp mỉm cười một mình trong đêm. Tiếng pháo bầy của địch rất xa vọng tới, tiếng súng đại liên ở núi Sầm lụp bụp vọng lại, ngọn gió rừng lành lạnh bay luồn dưới võng và cả tiếng mưa rơi lắc cắc...cứ hùa theo những suy nghĩ mông lung của Nghiệp bồng bềnh như những đợt sóng trôi trên dòng sông Đà Rằng miên man vô định. 2 Đêm qua đột nhập vào thôn Tường thì bất ngờ gặp địch buộc Duy phải ra lệnh nổ súng thu hút hỏa lực cho anh em rút quân. Cũng do hoảng hồn nên Hải xạ thủ B.40 đặt súng lên vai bắn ào vào làng. Trái đạn bay vọt cầu vồng và tự nhiên bọn địch ở trong làng không bắn ra nữa. Nhưng pháo địch thì bắn như mưa trên cánh đồng cũng như dọc theo bìa núi vùng căn cứ. Lúc chúi vào bờ ruộng, khi nằm ào giữa vũng bùn, con gái và con trai thở hổn hển nằm đè lên nhau tránh pháo chụp trên đầu... Quân ta chạy một bữa sạc đùi về đến nhà vẫn phải nhảy xuống hầm tránh pháo bắn cả giờ đồng hồ nữa tình hình mới yên. Do cái nhớp của đêm trước, nên đêm nay vào thôn Tường ai cũng nghĩ nhất định sẽ gặp địch. Trạng thái vừa đi đường vừa bám địch khiến đầu óc của từng người đều căng như sợi giây đàn, nhưng vào làng lại không có địch. Mọi người đều thở phào nhẹ nhõm và cảm thấy chiến tranh nhiều lúc giống như trò trốn tìm mà cả ta lẫn địch đều là kẻ trốn và tìm nhau trong phập phồng may rủi. Nhìn những ánh đèn hột vịt sáng le lói trong những căn nhà người ra vào mua hàng tấp nập, những tốp lính trẻ hối thúc nhau bám sát hậu cần đến chỗ lấy gạo, tiếng càm ràm của một ông cán bộ ngầy mấy cô gái, chàng trai cười dỡn... Tất cả đều ẩn hiện trước mắt khiến Mai vui lây trong không khí sôi động của thôn Tường. Đi gặp cơ sở và kiểm tra tình hình xong Mai cùng Hai Trúc và Út Hân đến nhà cụ Dư Phước. Thấy Mai cụ Dư Phước mừng rỡ cười ròn rồi khen: -Đêm qua anh em mình đánh trúng ban chỉ huy đại đội 310 nên đêm nay chúng không dám ở trong làng nữa, phải đánh trúng huyệt như vậy chúng mới bớt hung hăng với dân xã Phụng. Hai Trúc đỏ mặt gãi đầu: -Dạ, đâu có... Bọn con mới chỉ... -Ủa, hai thằng chết, thằng đại đôi trưởng và một thằng lính bị thương, còn khẩu trung liên cháy cong lại, chúng lo khiêng nhau không dám đánh trả anh em mình chứ bọn nó có ngọng đâu mà không biết nổ súng. Khẽ à... lên một tiếng rồi bật cười Mai chợt hiểu trái B.40 do Hải bắn ai cũng trách là vô duyên không ngờ lại hữu dụng như vậy. Được thể cụ Dư Phước phấn chấn nói: -Sáng nay bọn lính nói: bị đánh bất ngờ dại gì mà nổ súng làm lộ cộng sản bắn bay cái sọ dừa đi thì hết đi lãnh lương nuôi vợ con. Anh hùng có chỗ, gian hùng có nơi, có vậy bọn tôi mới đánh được cộng sản. Cái lý của thằng thua nói ẩu là vậy đấy bay à. Thấy mọi người chú ý lắng nghe cụ Dư Phước lại nói: -Thằng đại đội trưởng nói: Thắng thua là chuyện bình thường bọn tôi đâu có ngán, nhất định bọn tôi sẽ bắt cộng sản phải trả món nợ này ngay trên đất xã Phụng. Út Hân nhận xét: -Thằng này hung hăng muốn làm tàng phải không nội. Mọi người đều cười, cụ Dư Phước gật đầu vui vẻ nói: -Nó nói: Dẫu máy bay B.52 của Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc, dẫu hiệp định Pa-ri về Việt Nam có ký kết thì quốc gia vẫn đánh cộng sản chứ không có hòa hợp gì trơn. Ngừng một lát cụ Dư Phước lại nói: -Bọn nó nói: Chỉ một thời gian ngắn nữa, quốc gia sẽ dồn cộng sản vào ở trong hang núi sống chung với cọp vằn, khỉ đột. Bọn này ác ôn không diệt không xong bay à. Mai gật đầu đồng ý với cụ Dư Phước và nhận xét: -Bọn con cũng đã tính đến khả năng chúng sẽ càn quét lớn vùng căn cứ của mình rồi nội à. Chợt nghe tiếng lịch kịch ngoài sân, biết anh em khiêng máy may đã tới, Mai định nói thì Chín Phượng cùng Xuân và Ba Hổ đã nhẹ nhàng đặt chiếc máy may ở hiên nhà. Mọi người cùng xúm đến xem, Út Hân gật gù: -Còn y nguyên trong hộp chị Hai à. Mai bật cười gật đầu nhìn Út Hân và thích thú với tính ngồ ngộ của thằng nhỏ. Xuân nói như khoe: -Máy may nhãn Ba con bướm là hạng nhất rồi đấy, cách mạng mình sài toàn đồ sịn. Từ nay quần áo rách khỏi phải ngồi khâu, chỉ mạng ào một lát là xong phải không chị Hai. Chín Phượng vui vẻ: -Đừng tưởng bở em ơi, mình mua cho Thị đấy. Xuân hít hà: -Uổng quá ta... Vậy mà em cứ tưởng mua cho xã mình. Mai vui vẻ giục: -Tháo chân máy, đầu voi ra cho gọn để từng người mang, lềnh kềnh như vầy không được đâu. Nhanh nhảu Út Hân và Ba Hổ cùng Xuân và Chín Phượng xúm nhau vừa tháo máy vừa nói chuyện rôm rả. Đột nhiên Hai Trúc hỏi Mai và cụ Dư Phước: -Tám Nghiệp đi đâu mà giờ này chưa về nhỉ? Cụ Dư Phước cười rạng rỡ: -Nó với thằng Duy đem đồ về cúng Tổ chưa kịp cúng thì anh em gọi đi, chắc cũng xắp về rồi đấy. Mai hóm hỉnh hỏi: -Vậy là con nhỏ lấy chồng Bắc thiệt rồi, nội đồng ý chứ? Nét mặt rạng rỡ hẳn lên cụ Dư Phước hồ hởi: -Hồi nhỏ lập cho nó lá số tử vi nội thấy cung phu của nó phải lấy chồng xa mới đắc cách, bây giờ ứng rồi mới lạ chứ. Các cụ mình ngày xưa giỏi thiệt. Mai thiệt tình: -Cha con cũng lập cho con lá tử vi nhưng viết bằng chữ Tàu nên con chẳng hiểu gì hết, vậy số con ra sao? -Trông tướng mày cũng biết là vượng phu, ích tử rồi... mà kể cũng lạ, xã mình do thế đất đắc địa nên con gái đứa nào trong lá tử vi cũng có sao Liêm Trinh, Hồng Loan đắc địa chiếu vào các trọng cung mới lạ chứ. Xem ra con gái bây giờ đẹp không thua con gái lớp trước mới tài chứ. Hai Trúc vội hỏi: -Chuyện đó đúng thiệt không nội? Nội xem cho con với. Bữa nay hai anh chị về ra mắt à ? -Ừ, đồ cúng bày trên khám, còn chỉ chờ chúng nó về cúng là xong chứ có gì đâu... Chiến tranh mà... Vừa tháo máy xong Út Hân cũng xen vào chuyện: -Vậy mà hai người im như đá, kỳ này về cứ thì chết với em. Bỗng Hải cầm súng xăm xăm bước vào hối thúc mọi người: -Có địch vào làng, tất cả ra chỗ tập trung nhanh lên. Vừa lúc đó Duy và Nghiệp cũng hối hả bước vào nhà. Xốc gùi gạo lên lưng Nghiệp nói với Duy: -Anh chào nội đi rồi mình tới chỗ tập trung, ở nhà cúng cho bọn con nghe nội. -Ừ... Để nội lo!... Tội nghiệp đôi trẻ chưa kịp cúng Tổ!... Đi cẩn thận nghe bay! Chỉ một thoáng sau anh em xã Phụng đã đến nơi tập trung và nhanh chóng hòa vào đoàn người đang rời khỏi thôn Tường. Hương bùn non trộn lẫn hương cỏ úa bay thoang thoảng trên cánh đồng làm dịu bớt sự căng thẳng của từng người. Màn đêm đen tím khiến người đi sau chỉ nhận ra màu xám lờ mờ của cái gùi trên lưng của người đi trước. Căng mắt, căng tai vừa đi vừa quan sát xung quanh khiến không khí vốn im lặng càng lặng im hơn. Chợt có tiếng người gọi: -Chờ với!... Lập tức cả đoàn người ngồi thụp xuống hồi hộp chờ đợi những giây phút có thể bất ngờ nổ súng và nhìn nhau như nhắc nhở bám sát đội hình chờ lệnh. Khá lâu không thấy động tĩnh gì biết là không có địch, lập tức nhiều tiếng càm ràm người đi lạc nổi lên bay lan rất xa trên cánh đồng. Vội xốc gùi gạo nặng trịch đang đè dính trên lưng cho đỡ mỏi, Mai quay lại ra lệnh: -Truyền sau im lặng, có biệt kích. Khẩu lệnh được truyền nhanh và phút chốc đoàn người im lặng tiếp tục bám sát đội hình đi đường. Đã thành thói quen khi đến Bàu Cạn, đàn ông thì tự động cởi quần dài còn đàn bà thì xắn quần thiệt cao nên đội hình phải tạm dừng lại. Như trút được gánh nặng Út Hân nói: -Lội qua quãng sình lầy này là chị em mình vừa đi vừa huýt gió cũng về đến nhà chị nhỉ. Mai nghiêm giọng: -Xắn quần cho nhanh lên, lại còn đứng mà tán dóc à. Nói xong Mai xốc gùi gạo sải trước khiến Út Hân phải đi theo như chạy. Đang bì bõm lội trên đoạn lầy, nước tới bắp vế thì ánh đèn dù của bọn Đại Hàn từ núi Tranh bắn vụt lên khiến mọi người chỉ còn biết khom lưng đứng như trời trồng. Trong ánh sáng chập chờn của đèn dù mọi người đều nhìn thấy đội hình của đoàn đi khẩu dài gần hai cây số và bỗng thấy công tác tổ chức đi khẩu ở xã Phụng quả là rất phức tạp. Nhìn lên núi Tranh ai cũng thấp thỏm lo bị lộ thì chẳng những pháo mà ngay cả đạn thẳng của bọn Đại Hàn trên cứ điểm cũng có thể bắn chính xác mục tiêu trên bàu một cách dễ dàng. Bỗng Ba Hổ khẽ kêu lên: -Coi chừng kẻo ngã! Luống cuống Xuân xoay người đứng giữ thế và thuận đà đẩy đòn khiêng về phía trước khiến Ba Hổ chao người rồi sập xuống hầm bùn sâu tới cổ. Nhìn Ba Hổ vùng vẫy, Hai Trúc hốt hoảng vừa trườn tới vừa nghiêm giọng: -Bám chặt thùng máy đứng im! Để tao cứu! Bước tới gần chỗ Ba Hổ, Hai Trúc lấy chân dò tìm nơi đất cứng dưới bùn rồi nghiêng mình và nói: -Thả thùng máy là chộp ngay nòng súng của tao dồn đu thiệt nhanh ra khỏi hầm bùn rõ chưa. Ba Hổ nhướn người đu lên khỏi hầm bùn và lầm bầm: -Chút nữa thì mất mạng! Hai Trúc mừng rỡ: -Phúc cho mày đấy, nhiều người sập búng, tức sập hầm bùn, càng vùng vẫy càng lún sâu rồi chết sặc trong bùn hiểu chưa. Lại những loạt pháo sáng từ núi Tranh bay vụt lên kêu lụp bụp và cháy sáng cả một vùng trời khiến mọi người đều nhìn rõ những rào kẽm gai, lô cốt và những dãy nhà tôn trên cứ điểm núi Tranh. Bỗng tiếng rít của chiếc gù đèn bay sé trên đầu, chỉ kịp co người nhắm mắt Mai đã nghe thấy tiếng rơi như lưỡi dao bay xoáy cắm phập xuống bùn làm bùn bắn tung tóe. Mở mắt Mai bỗng rùng mình sợ hãi, Út Hân thảng thốt kêu lên: -Mô phật! Chút xíu thôi là chị em mình thành liệt sĩ vì gù đèn rồi! Tám Nghiệp bực mình ngầy: -Quạ ỉa vào miệng mày đấy Út à! Mở miệng là nói gở! Út Hân làu bàu: -Lại bà nữa, đi làm cách mạng mà cứ đeo cái lư hương trên đầu rồi sinh chuyện hoài!... Mai nghiêm giọng: -Hai đứa có im đi không, địch sát bên còn kình với cãi!... Nói xong Mai lại căng mắt nhìn một loạt đèn dù bay vút lên trời. Út Hân nói nhỏ: -Chị lau mặt đi kẻo bùn vào mắt là đau mắt đấy -Hơi bùn tanh thiệt đấy. Nói xong Mai lất ống tay áo chùi mặt và nhìn Út Hân cười. Vượt Bàu Cạn về tới mương số một, Mai mới cho anh em nghỉ giải lao. Những tiếng cười nói lao xao dọc theo bờ mương lại vang lên và nhiều người đã tranh thủ nhảy xuống mương tắm. Chợt tiếng bục kêu rất nhẹ vọng đến và lập tức ánh chớp cùng với những tiếng nổ và mảnh pháo bay sát sạt trên đầu khiến mọi người vừa chạy vừa nằm tránh pháo và về đến nhà vội vàng nhảy ào xuống hầm tránh pháo. Cũng may sau đợt pháo bắn không ai bị thương vong nên mọi việc lại trở lại như cũ và cũng không ai dám ra mương tắm nữa. Pháo ngưng bắn được một lát thì mấy chàng trai vội rủ nhau ra suối tắm, nhưng vừa đến bờ suối lập tức ánh đèn pin rọi vào mặt và giọng nói lanh lảnh vang lên: -Nhắm mắt lại! Đằng sau quay! Hoảng hốt mấy chàng đứng ngây ra nhìn đã thấy bọn con gái tắm mà chẳng có chị em nào mặc quần áo cả, ấy vậy còn đứng tụm vào nhau hò hét đuổi bọn con trai đi. Chưa kịp phản ứng thì giọng nói tinh quái đã vọng tới: -Xuống tắm chung rồi chúng mình cùng về làm kiểm điểm anh ơi... - Tắm chung rồi cùng nhau lên suối Ché phát rãy ta xây cái tổ con tò vò kẻo trễ anh ơi... Mấy chàng trai chỉ còn cách co giò vắt chân lên cổ mà chạy về tới nhà rồi kình nhau chí chóe về cái tội lề mề để bọn con gái nhanh chân chiếm mất chỗ tắm. Thực hiện phản ứng nhanh, mấy chàng dựng ngay chuyện tới kể cho Út Hân biết bọn con gái đang kình cãi ở ngoài suối đem cả Út Hân lẫn Mai ra làm chứng và còn đòi lột quần áo ra khám xét nữa... Rồi với bộ mặt hết sức bất bình, những lời lẽ nỉ non cùng những tình tiết éo le mấy chàng cung cấp cho Út Hân có đủ chứng cứ mà đi dẹp loạn. Chẳng hiểu Út Hân nói với Mai những gì mà cả hai chị em tức tốc cầm đèn pin ra suối dẹp loạn. Tới bờ suối nghe thấy tiếng cười nói rổn rảng của bọn con gái và biết mình bị mắc hợm, xong tính nghịch ngầm nổi lên Mai quất đèn pin lia lịa xuống suối. Lập tức nhiều tiếng cười nói xen lẫn tiếng kêu ré lên: -Ối! Tắt đèn đi! -Ai đấy! Sao kỳ vậy! -Đứa nào quậy phá đấy! Có tắt đèn đi hay không thì biểu! Mai tắt đèn rồi đứng cười ròn tan. Được thể Út Hân ra oai liền hừ lên một tiếng rồi nói: -Chị Hai đấy, ai dám nói quậy? Mấy bà quỉ sinh giặc. Lập tức những tiếng cười nói càng vang hơn: -Ý hý ... Chị Hai chơi xấu nghe!... -Thằng Út hả, mày với chị Hai đằng sau quay, bước đều bước. -Thằng Út trẻ con cho về, còn chị Hai ở lại tắm với bọn tao nghe chưa. Chạm nọc Út Hân trả đũa: -Hừ, đàn bà con gái rủ nhau tắm truồng mà không biết mắc cỡ. -Nè Út ơi, đây là chỗ tự do của mấy chị biết chưa, về nhà mắc võng ngủ đi em... ý hý... Út Hân nổi quạu to tiếng: -Mấy bà chỉ giỏi tranh chỗ tắm của người khác rồi ỷ đông người ăn hiếp thế cô chứ làm gì được ai. Hồi địch nổ súng thì chạy như vịt bị chồn đuổi, lúc pháo bắn mấy anh nằm che đạn cho mà vẫn sợ chết hết rên lại kêu lên: áp mạnh vô anh, áp mạnh vô anh... Vậy mà bây giờ cái miệng tía lia. Tiếng cười nói càng rộ lên: -Ý hý... Tại mấy anh ấy lớn rồi nên lúc đè lên thì mấy chị mày mới rên, còn chú mày bằng cái kẹo thì làm sao mấy chị rên nổi. -Sao pháo nó không bắn cho mấy người tiêu đời đi cho rồi, để làm gì cho sinh chuyện sạo sự... -Út ơi, tại mấy chị chưa biết mùi đời chết mối nó xông thì uổng lắm em ơi. Tiếng cười cứ rộ lên khiến cả hai chị em luống cuống và Mai chỉ còn biết đứng cười cho đôi bên đấu khẩu. Lại một giọng lì lợm tinh nghịch bay tới chỗ Mai: -Chị Hai ơi, cho mấy anh ra tắm chung với bọn em rồi chị chỉ huy bọn em đi gùi gạo nuôi trẻ nhỏ nghe. Mai phì cười nói thiệt lớn: -Đứa nào thách đố đấy? Tao ra lệnh thì cả bọn nó ào xuống tắm lúc đó đừng trách chị Hai nghe chưa? Mai vừa nói dứt câu, lập tức nhiều tiếng nói lao xao: -Cứ thách, chị ấy không dám đâu... -Úi cha, lì đòn một cây đấy bà ơi... -Nè mấy người đó đến thiệt thì có nước xách quần chạy không kịp đâu mấy bà ơi... Đừng có mà dại... Đột nhiên một giọng ca vọng cổ lảnh lót vang lên: -Chị Hai ơi... Chị đừng có xui mấy ông thần hoàng, thủy đế ấy ra đây để cho bọn em tắm, bọn em giặt, kẻo tắm chung thì mai đây cấp trên sẽ gọi chúng em lên kiểm điểm với phê bình... Đến nước này Mai chỉ còn biết lắc đầu chịu thua rồi quay lại nói với Út Hân: -Về thôi Út, ngày mai mình trị tội bọn nó cũng chưa muộn. Thấy Mai cầm đèn vừa soi vừa đi về nhà Út Hân cũng đi theo xong vẫn không quên ngoái lại hăm một câu thiệt to: -Rồi mấy bà sẽ biết tay tôi! Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Chín, 2023, 10:43:45 am Chương 32 1 Địch lại đưa thêm một trung đội cảnh sát dã chiến và một đoàn “bình định” nông thôn về xã Phụng tiến hành những cuộc truy lùng, bắt bớ, thẩm vấn. Cảnh dân sáng ra đồng chiều về làng bị khám xét gắt gao lại diễn ra. Đêm đêm bọn bảo an như những bóng ma chờn vờn khi ẩn khi hiện trong vườn cây, ngõ xóm dồn người dân vào cảnh sống trong phập phồng lo sợ. Thế nhưng địch ở thôn này thì cộng sản lại vào thôn khác và tự nhiên thế trận theo kiểu đèn cù cộng sản xã Phụng dắt mũi bọn bảo an chạy tít mù rồi lại vòng quanh đêm đêm diễn ra. Song song với việc cho lính đem sơn đến từng nhà sơn cờ quốc gia, bọn địch họp dân thành lập các liên gia và bắt dân vào đảng Dân chủ của Tổng thống Thiệu . Người vào đảng Dân chủ nếu không biết chữ có bọn chúng viết dùm rồi chỉ cần lấy tay ịn vào tờ đơn viết sẵn là thành đảng viên đảng Dân chủ. Tự nhiên hơn nửa dân xã Phụng trở thành đảng viên đảng Dân chủ. Bởi vậy mới có chuyện là: Bọn hội đồng xã và bọn “bình định” họp dân thôn Tường để phát động phong trào thi đua hưởng ứng tham gia chiến dịch lấn đất dành dân của quốc gia tại trụ sở xã. Sau khi chúng lên đọc diễn văn rồi thay nhau phát biểu đã đời, đến phần dân lên phát biểu nguyện vọng hưởng ứng chiến dịch thì do chữ nghĩa kém thằng Ri trưởng đoàn “bình định” nhìn vào giấy đọc: -Xin mời bà Nguyễn Thị Út Đủn 40 tuổi ở đầu xóm Gò lên phát biểu cảm tưởng. Dân thôn Tường nhìn nhau cười phá lên khiến thằng Ri đập bàn quát thiệt lớn: -Im! Mấy người định phá hay sao mà cười? Ông Hai Kiều vội đứng lên xoa hai tay lễ phép nói: -Dạ thưa Út Đủn ở xóm tôi có con ông Ba Khía thôi ạ. -Vậy thì con ông Ba Khía lên nói. Nghe thằng Ri chặn lời ông Hai Kiều ra lệnh, ông Ba Khía vội đứng bật dậy xoa tay: -Dạ ... con Út Đủn nhà tôi mới có 4 tuổi thôi ạ. Thằng Ri đập bàn một cái rầm mặt hằm hằm: -Ông nói thiệt hay nói dỡn với tôi đấy ? -Dạ, thưa thiệt đấy ạ, trước khi tới đây tôi còn rửa đít mà, nó khóc tôi phát vào đít nó một cái bộp, không tin tôi xin ẵm nó lại đây để ông coi. Thằng Ri gằn giọng nói như quát lên: -Vậy ai ghi vô giấy đây? Ông Tư Nỏ vội đứng dậy nói: -Dạ đấy là ông lính “bình định” bữa đó đến ghi, tôi là liên gia trưởng cũng có mặt. Tức ói máu thằng Ri quên cả chiếc micro trước mặt quay sang hạch tên xã trưởng: -Ông xã trưởng định chơi tôi phải không? Tên xã trưởng vội nói: -Tôi đã nhắc ông đọc giòng trên là ông Ba Mun cớ sao ông lại đọc dòng dưới rồi đổ cho tôi. -Trời đất! Mun với Đủn có khác gì nhau! Ông hại tôi rồi! Tiếng của thằng Ri và thằng xã trưởng lọt vào micro phát ra loa phóng thanh oang oang khiến mọi người đều cười ngặt nghẽo. Thằng xã trưởng đứng trước micro hỏi: -Sự thể ra sao yêu cầu liên gia trưởng nói để ông trưởng đoàn rõ. Ông Tư Nỏ đứng dậy e hèm rồi chắp hai tay nói: -Dạ thưa, dân quê thường gọi tên con thay tên mình nên cứ gọi tên con là cả xóm biết. Ông Ba Khía nói là đúng sự thiệt, còn ông lính “bình định” ghi như vậy thì dễ nhớ, mong các ông thông cảm. Thằng Ri cằm giật giật rồi rít lên: -Vậy ông Mun đâu? -Dạ, ông ấy đang bị đi tả có nhờ cụ Dư Phước đang cắt thuốc bắc cho uống nên không tới đây được, không tin quí ông cứ tới nhà thì rõ. Lúc này bọt mép của thằng Ri sùi ra, rồi nó nói như thét lên: -Giải tán. Chỉ chờ có vậy, lập tức dân thôn Tường nói như ong vỡ tổ, ông Hai Kiều đi sát ông Ba Khía nói cho được một câu: -Con Đủn nhà ông bữa nay coi vậy mà được việc hé... Rồi chuyện ông Chuẩn đờn cò bỗng dưng bị bọn cảnh sát bắt về tội tự nhiên hai đứa cháu mất tích. Bọn chúng tra tấn dã man bắt ông Chuẩn đờn cò khai ra những người trong đường dây đã đưa hai đứa cháu ông lên cứ thoát ly, rồi đưa ra Bắc học để đào tạo cộng sản nòi về đánh lại quốc gia. Ông Chuẩn đờn cò thì một mực khai hai đứa cháu đã lớn không chịu đi hát rong đã rủ nhau trốn đi bụi đời bỏ ông thơ bơ thất bất một mình. Rồi bị đánh đau quá ông Chuẩn khai và dẫn bọn cảnh sát tới chỗ mấy ông cộng sản bự của tỉnh. Ông Chuẩn đờn cò dẫn bọn cảnh sát tới nhà ông chủ tiệm vàng, ông chủ tiệm vải, ông chủ tiệm đồ gỗ. Thấy ông Chuẩn đờn cò đưa cảnh sát tới nhà, ông nào cũng lăn ra cười công nhận có biết ông đi hát rong và đều nói: cái ông gió chưa thổi đã bay như vầy làm sao theo cộng sản nổi. Nghe nói cả ba ông chủ đều có con cháu là dân biểu hay làm chức bự trong Sài Gòn và nói với con cháu hay mấy người có chức bự ở Phú Yên nên ông Chuẩn đờn cò được tha. Vẫn cái dáng liêu xiêu đi giữa chiều nắng nhạt, ông Chuẩn đờn cò vừa đi vừa bò về đến nhà thì ho ra máu rồi nằm liệt chiếu liệt giường, liệt chiếu. Hàng ngày thương tình cụ Dư Phước tới xem mạch và cho uống thuốc, còn vài người hàng xóm tới nấu ăn giúp ông Chuẩn đờn cò vượt qua cơn bĩ cực. Nghe nói có người trông thấy ông hòa thượng và ông ăn mặc rất sang tới đón hai đứa cháu ông Chuẩn đờn cò ra Tuy An rồi đưa chúng vô Sài Gòn hay lên căn cứ gì đấy. Rồi chẳng hiểu ai cho ông Chuẩn đờn cò cái khung hình và ông đã lấy tờ giấy chứng nhận cùng tấm huy chương anh dũng bội tinh của thằng con trai đi lính biệt động bị tử nạn ra treo cho oai. Lại nghe nói cách đây một tuần có ông cộng sản bự ở tỉnh về thôn Tường, đêm hôm ông ấy xuống làng có cả quân đi theo hộ vệ. Ông cộng sản đó có qua nhà cụ Dư Phước rồi tới nhà ông Chuẩn đờn cò ngồi nghe đờn và hát, rồi cho tiền để ông Chuẩn đờn cò bốc thuốc uống... Quả thiệt chuyện về ông Chuẩn đờn cò lúc nào cũng u u minh minh giống như luồng gió trong với luồng gió đục mờ xoáy trộn vào nhau, đun đẩy nhau rồi bay là là trên mặt ruộng khô cằn nứt nẻ như chính cuộc đời ông. Đêm qua, ông Chuẩn đờn cò ngồi lấy tấm hình chụp hai đứa cháu ra coi rồi khóc. Sợ nước mắt rơi nhòa tấm hình ông Chuẩn đờn cò để sát tấm hình bên chiếc đèn hột vịt vừa coi vừa khóc và vô tình một giọt nước mắt rơi xuống bóng đèn khiến nó sôi lên xèo xèo giống như nỗi nhớ thương cháy bỏng của ông. Rồi ông Chuẩn đờn cò cho tấm hình của hai đứa cháu vào cái túi nhựa nhỏ xíu và cất vào túi ngực. Mắt thờ thẫn, ông Chuẩn đờn cò ngồi im như một pho tượng, có lẽ ông đang nghĩ về hai đứa cháu của mình! Chúng nó ra miền bắc học hay đi bụi đời, hay đã được ông hòa thượng cùng ông ăn mặc sang trọng đưa lên căn cứ hay đưa đi học làm CIA cho Mỹ?... Chắc chỉ có trời biết, đất biết và ông Chuẩn đờn cò biết!... Đêm khuya, ông Chuẩn đờn cò đem đờn ra vừa kéo vừa hát. Giọng hát của ông đùng đục khàn khàn giống như những cơn sóng bạc đầu đục ngàu đang dội vào nhau trong mùa mưa tầm tã. Tiếng đàn của ông lúc bổng lên trong như đôi mắt trẻ thơ, khi trầm xuống ấm trầm như dòng lũ chảy cuồn cuộn, như đoàn quân đi. Lúc réo rắt như ai oán, như nước mắt lã chã rơi trong tiếng nấc, khi luyến láy như nhắc nhủ, như ân tình... Đêm khuya ấy có nhiều người thức giấc bỗng ngồi dậy nghe và có bao người nghĩ tốt về ông hay nghĩ xấu về ông?... 2 Màn đêm lại trùm xuống, pháo của địch từ nhiều trận địa bắn như vãi cải trên cánh đồng. Ánh đèn dù từ các cứ điểm của địch bắn lên sáng rực cả bầu trời và hỏa lực của địch từ các cứ điểm bắn ra không hề tiếc đạn. Mai khoác khẩu AK cùng Khanh khi chạy, khi bò cùng H.96 đi về hướng thôn Tường. Lại một đợt pháo sáng dày đặc bắn lên khiến mọi người phải nằm ép xuống bờ ruộng. Quay lại nhìn vẫn thấy Chín Phượng, Tám Nghiệp vẫn bám sát đội hình Mai hỏi Chín Phượng: -Hai Trúc và Ba Hổ đâu? -Đi với C1 và C2 rồi. -Đi lâu chưa? -Khoảng gần một giờ rồi. Pháo sáng vừa tắt, mọi người lại bám sát nhau chạy qua những đám ruộng nhão nhoẹt khiến nhiều người vừa chạy vừa ngã. Những trái đạn pháo bay nổ trên không trung khiến mọi người phải nằm ép xuống rồi bật dậy chạy tiếp. Những luồng đạn đại liên, trọng liên bắn đan dày, bay là là và cắm xuống bùn phầm phập khiến Mai nhận ra tất cả các thôn trong xã Phụng đều nằm trong tầm đạn thẳng của địch. Nhìn ánh đèn dù chờn vờn trên trời Mai cảm thấy chiến dịch này có nhiều điều khác lạ. Chín Phượng bỗng hỏi Mai: -Liệu mình có bị lộ không chị? -Chắc không bị lộ đâu. Mai vừa nói dứt câu thì tiếng pháo cối, tiếng đạn Đ.K của ta từ nhiều hướng bắn dội vào núi Tranh, núi Sầm và nhiều nơi khác làm cho hỏa lực của địch đang bắn bỗng bị khựng lại. Có tiếng người nói như reo lên: -Đánh rồi!... Lập tức hỏa lực của tiểu đoàn H.96 cũng đồng loạt nổ ở nhiều thôn. Rồi tiếng đạn cối, tiếng đạn Đ.K của tiểu đoàn cũng nổ rền ở Gò Giữa, gò xóm Than và gò Cây Duối nơi bọn chỉ huy đại đội 310 cùng nhiều hỏa lực của chúng cũng ở đấy. Nghe tiếng A.K nổ ròn trong thôn Tường, Chín Phượng nói với Mai: -Chắc là anh em mình đang đánh bọn địch ở khu trụ sở xã chị à. Mai gật đầu nhân xét: -Tiếng súng nổ như vậy chắc bọn địch chạy sạch trơn chứ không tiêu diệt gọn đâu. Thoáng thấy đồng chí liên lạc cầm súng lom khom chạy trước, còn Khanh đang bước những bước dài, Mai vội cầm súng chạy theo. Vừa đến bìa làng thì một loạt M.79 nổ trên bụi tre khiến Mai vội nằm ép xuống rồi bật dậy chạy vào làng. Thà liên lạc tiểu đoàn bỗng kêu lên: -Em bị thương rồi!... Mai vội chạy đến bên Thà thì y tá Sơn chạy đến ngồi băng cho Thà và giục Mai: -Bám theo thủ trưởng Khanh nhanh lên. Quay lại nhìn vẫn thấy anh em xã Phụng bám sát theo mình, Mai cầm súng chạy đến gần nhà chị Năm Lý thì nghe tiếng Khanh đang hỏi: -Truy quét hết địch chưa? Anh Ban đâu? -Báo cáo đang tiếp tục truy quét, thủ trưởng Ban đang kiểm tra vị trí đặt chỉ huy sở. Khanh nghiêm giọng: -Lệnh tiếp tục truy quét, rồi đào hầm rõ chưa. Mai vội hỏi Khanh: -Lực lượng dân chính cho triển khai nghe anh? -Chờ cho tình hình yên đã, lúc này đi đứng loạng quạng anh em nó rẹt A.K vào đầu cho đấy. Nói xong Khanh đi đến sở chỉ huy tiểu đoàn. Vừa lúc đó Út Hân chạy đến hỏi Mai: -Em tìm được hầm rồi chị đến coi, cách chỉ huy sở khoảng bốn, năm chục mét là cùng. Út Hân kéo tay Mai vừa đi vừa nói: -Căn hầm này không thua gì so với căn hầm hồi mình cùng H.96 đánh trụ lần trước đâu chị à. Cùng Út Hân đến chỗ căn hầm, Mai cầm đèn pin rọi rồi vui vẻ nói: -Chị tới chỗ mấy anh trong ban chỉ huy xem tình hình ra sao rồi ta cho triển khai công tác. Nói Chín Phượng tới ngồi trực rõ chưa. Mai đi nhanh đến chỉ huy sở tiểu đoàn. Thấy Mai, Hùng chính trị viên tiểu đoàn gật đầu chào rồi nói: -Em cho một y tá đi cùng thanh niên xung phong đi hộ tống thương binh. Trên đường đi có anh em của mình chốt rồi, cứ yên tâm mà đi. Mai nhanh nhảu: -Dạ, em cho triển khai ngay. Hùng căn dặn: -Khẩn trương lên, thương binh cũng chuyển về tới rồi đấy. Về đến hầm thấy Chín Phượng ngồi chờ, Mai điềm tĩnh nói: -Út Hân nói Tám nghiệp tới nhận lệnh rõ chưa. Út Hân vừa chạy khuất, chín Phượng trầm giọng: -Theo em chắc chắn ngày mai sẽ ác liệt, khả năng đêm nay địch sẽ vào làng. Một lát sau đó Tám Nghiệp đến hỏi Mai: -Chị cho gọi em? -Ừ, em cùng thanh niên xung phong đưa thương binh về căn cứ, xong việc thì xuống ngay, cho Xuân về để hàng ngày nhận công văn chuyển xuống cho chị. Chợt nghe tiếng người nói lao xao chỗ quân y Mai giục Nghiệp: -Em và Xuân chuẩn bị đi, thương binh về rồi đấy. Cả bốn chị em tới quân y tiểu đoàn đã thấy Lộc quân y đang kiểm tra và băng lại các vết thương cho thương binh, Mai hỏi một người đứng bên: -Mình bị mấy người? Anh em có nặng lắm không? Bỗng người đó nói như reo lên: -Chị Mai phải không! Em Loan đây nè... Mai mừng rỡ hỏi: -Em về nhà chưa? Đoàn em đi mấy người? Loan nắm tay Mai mừng rỡ: -Đêm nay mang tiếng về quê mà không được về nhà nghĩ cũng tủi chị à. Con Nguyên, con Nữ và con Nhị đây nè chị nhớ không. Mai vui vẻ gật đầu: -Chị nhớ rồi. Xã mình có Tám Nghiệp với Xuân cùng đi với các em, trên đường đi cùng biểu nhau nghe chưa. -Chị yên tâm đi. Đồng chí quân y nhắc: -Thủ trưởng Khanh nhắc trên đường các điểm chốt của ta nhớ tín hiệu đi đường, ai chưa rõ hỏi tác chiến. Thôi, tất cả xuất phát nhanh lên. Các cô gái thanh niên xung phong nhanh chóng xốc cáng thương lên vai, Nghiệp và Xuân chào Mai và Chín Phượng rồi hối hả đi theo sau cáng thương. Nghiệp vừa đi vừa nhìn bờ tre chạy dọc hai bên đường làng. Ra khỏi làng trời như sáng hơn và Nghiệp đã thấy được dải núi xa mờ mờ của vùng căn cứ. Đến gần ga nước Hà Bình cả đoàn dừng lại toóc gió để bắt tín hiệu. Nghe tiếng toóc gió đáp trả lại Nghiệp vội hỏi: -Đơn vị nào đấy? -Thị đội đây. Bỗng nhận ra tiếng Duy, Tám Nghiệp nói như reo lên: -Anh! Em đây!... Nhận ra tiếng của Nghiệp Duy chạy đến mừng rỡ hỏi: -Em về căn cứ hả? H.96 đánh ra sao? Sao lại đi toàn là nữ thế này? -Bọn em đưa thương binh về cứ, có anh bọn em mừng rồi. Nghiệp đến đứng cạnh Duy và bóp nhẹ vào tay người yêu rồi mỉm cười. Duy chỉ tay về phía có bóng của một người vừa chạy qua mương và nói: -Trên sườn đồi bên đó cũng có một bộ phận chốt ở đấy, bọn anh làm cầu tạm để qua lại cho dễ dàng. Anh ở bên này có vườn cây ban ngày mát lắm. Xuân vui miệng: -Khu vườn hoang dài tới cả cây số hồi còn ở nhà em đi hái củi về vô đó nghỉ mát lắm còn bên núi thì nóng rim mình. Từ bên kia mương một anh lính chạy qua nói nhỏ: -Cái miệng nói nhỏ thôi, tận trên sườn đồi bên ấy cũng nghe thấy rõ mồm một. Đêm khuya tiếng nói vọng xa lắm rõ chưa. Duy ân cần: -Tranh thủ nghỉ rồi về cứ cho an toàn. Câu chuyện của mọi người đang vui vẻ thì Hải cùng Chí từ dưới vườn chạy đến nói gấp: -Anh Duy, có địch đang tiến đến chỗ mình... Duy bật người đứng dậy nói như ra lệnh: -Đưa thương binh đến hầm trú ẩn. Mọi người hối hả cùng Chí đưa thương binh đến hầm, Nghiệp kiểm tra lại vết thương cho thương binh hỏi Nữ: - Anh Duy đâu? -Em không biết. Vừa lúc đó Duy đi tới giọng vẫn bình thản: -Tất cả cứ ngồi dưới hầm với thương binh, việc đánh địch đã có các anh lo. Nói xong Duy cùng Chí và Hải chạy ra bìa vườn căng mắt nhìn những bóng đen di chuyển trên đồng đang chậm chạp tiến về phía mình. Nghiêng người lấy hai quả thủ pháo Duy ra lệnh: -Báo cho các tổ chủ động đánh gần rõ chưa. Như một con báo Chí bật dậy cầm súng chạy lẩn trong vườn cây. Chờ cho những tên địch đến thiệt gần Duy vung tay ném chụm hai quả thủ pháo về phía địch. Ánh lửa lóe lên trong tiếng nổ đanh gọn làm hai tên địch rồi ngã gục xuống. Lập tức các hỏa lực của địch từ ngoài đồng bắn xối xả vào vườn cây. Nép người tránh những loạt đạn nổ găm trước mặt Duy cặp khẩu A.K bắn liên tiếp vào tốp địch đang chạy nhốn nháo ngoài đồng. Cả trận địa của ta vang rền tiếng súng bắn xuyên vào đội hình địch. Bị đánh bất ngờ địch rút ra nằm dọc theo bờ mương tiểu câu và dùng hỏa lực mạnh bắn như mưa vào khu vườn hoang. ánh đèn dù từ núi Tranh, đèo Củng Cu và núi Sầm bắn lên sáng rực bầu trời. Đột nhiên pháo tự hành của bọn Đại Hàn từ núi Tranh như một tấm lưới lửa đỏ lừ bắn trùm phủ cả trận địa. Duy nhổm người nhìn bọn địch đang cụm thành từng tốp trên mương tiểu câu và hai khẩu đại liên từ mương tiểu câu bắn xối vào trận địa rồi quay lại nói với Hải: -Bắn vào khẩu đại liên bên bụi cây rõ chưa. Thấy Hải lúng túng Duy vội lấy khẩu B.40 của Hải rồi quỳ gối bắn liên tiếp ba quả đạn vào ba mục tiêu của địch. Tiếng Hải nói như reo lên: -Trúng hai khẩu đại liên rồi! Hỏa lực địch câm lặng, bọn địch tháo chạy rồi nằm lại bắn vào khu vườn hoang. Chí ghì súng bắn từng loạt vào từng tốp địch đang lom khom đi lại trên bờ mương. Trong tiếng pháo tự hành, tiếng pháo các loại từ nhiều trận địa bắn đến Duy nhận ra địch đang cố tình kéo dài thời gian để tổ chức những đợt tấn công mới. Tiếng máy bay phản lực bỗng bay rít trên trời. Tiếng pháo ngưng bắn, những chiếc phản lực rít lên lượn vòng rồi bổ nhào xuống trận địa và tiếng súng 12ly7 từ sườn đồi bắn lên cùng với tiếng A.K, đại liên, trung liên của ta tạo nên một lưới lửa buộc những chiếc phản lực chao mình tránh đạn. Duy quay sang nói với Hải: -Giữ vững trận địa rõ chưa. -Rõ. Tiếng Hải rắn rỏi và kiên quyết khiến Duy yên tâm chạy đến chỗ Nữ. Nghe thấy tiếng bước chân người chạy trên nóc hầm Nữ bật dậy đứng nhìn ra ngoài thì đã nghe thấy tiếng Duy hỏi: - Có việc gì không? - Không việc gì, cần chuyện gì anh cứ gọi bọn em. Duy bỗng hỏi: -Tình hình thương binh ra sao? Nghiệp vừa ló đầu khỏi miệng hầm thì một loạt rốc-két nổ chụp trên đầu khiến Nghiệp ôm cả Duy lẫn súng kéo xuống hầm rồi nói: -Cẩn thận nghe anh ! Hình như bọn địch bắn pháo khoan làm anh thương binh hy sinh rồi anh à!... Vội để tay lên mũi đồng chí thương binh kiểm tra, Duy bỗng thở dài nói: -Hy sinh rồi!... Thôi để cậu ta nằm đấy, mọi chuyện ta tính sau. Nghiệp vội nhắc Duy: -Coi chừng chiếc Đakota bắn dọn đường cho phản lực thả bom đấy anh. Duy nhảy vụt ra khỏi hầm cùng Chí chạy khắp trận địa kiểm tra và đôn đốc từng người rồi vừa chạy vừa nhìn chiếc Đakota đang thả đèn dù và bắn như vãi cải xuống trận địa. Khá lâu, chiếc Đakota bỗng trút một loạt đạn rồi bay vút lên khiến Duy chỉ còn thấy ánh đạn đỏ lừ vây bủa xung quanh và tiếng Chí kêu lên : -Em bị thương rồi!... Cõng Chí về hầm Nghiệp, Duy nói trong tiếng thở gấp : -Băng cho Chí nhanh lên!... Từ dưới hầm Nghiệp nhảy lên trong tiếng rít của máy bay phản lực đang bổ nhào xuống và bắn những chùm đạn bay tứ tung và bình tĩnh nói: -Chắc bọn nó phát hiện ra khẩu 12ly7 của mình nên tìm cách diệt!... Duy vừa cầm súng nhổm người định chạy đến chỗ Hải thì tiếng phản lực cùng với tiếng bom xoáy rít trên đầu. Nghiệp vội ôm chặt lấy Duy trong tiếng nổ và ánh lửa phủ trùm lấy cả hai người lẫn căn hầm. Đất đá bay tung lên khét lẹt và tất cả mọi người lẫn căn hầm bỗng tan biến trong hố bom sâu hoắm. Máu và quần áo bị xé vụn bay dính lên ngọn tre, mùi thuốc bom khét lẹt bám chặt vào cây cỏ!... Rất lâu... Cả trận địa lặng im, Hải cùng mọi người chạy đến và tiếng Hải nấc lên : -Anh Duy, chị Nghiệp và mọi người hy sinh rồi!... 3 Mai bàng hoàng ngồi lặng đi khi nghe tin Duy, Nghiệp và tốp thanh niên xung phong hy sinh. Nhìn những cành tre bị pháo tiện gãy nằm ngổn ngang bên cạnh ngôi nhà bị sập và cái chuồng bò cháy nham nhở, khói bốc nghi ngút nước mắt Mai tự nhiên ứa ra. Nghe tiếng Chín Phượng khóc thút thít rồi tiếng Út Hân nói với Chín Phượng: -Các anh chị ấy có sống lại được nữa đâu mà chị khóc! Lát nữa địch nó lại đánh vào làng thì phải sống mà đánh rồi còn về căn cứ nữa chứ!... Lấy mũ lau nước mắt Mai ngoảnh lại nói: -Chị nói con Chín lau nước mắt đi! Còn thằng Út đừng nói nữa! Tôi nói hai đồng chí nghe rõ chưa! Đó là lệnh đấy!... Lau nước mắt Chín Phượng nói trong tiếng nấc : -Chị cho em khóc một chút cho đỡ tủi vong linh chúng nó!... Nói xong Chín Phượng òa lên khóc, rồi Út Hân cũng khóc khiến Mai lúng túng ngồi thừ ra mặc cho nước mắt của mình cũng trào rơi trên má. -Chị Mai tới gặp thủ trưởng Khanh gấp. Nghe tiếng đồng chí liên lạc gọi, Mai lau nước mắt đứng dậy nói : -Út Hân theo chị, còn Chín Phượng ngồi trực rõ chưa. Mai vừa bước đến chỉ huy sở thì Khanh nhìn Mai rồi nói: -Dưới C2 báo về tình hình tư tưởng mấy nhỏ du kích không ổn, vậy em xuống đó làm công tác tư tưởng cho bọn nó. Hùng điềm tĩnh nói: -Từ sáng đến giờ mình đã hai lần đánh bật địch ra khỏi làng, ác liệt lần này so với những lần trước thì hơn nhiều Mai à. Em xem nếu tư tưởng anh em không ổn thì tạm thời đưa về tiểu đoàn bộ rồi đến tối đưa về căn cứ. Khanh bỗng thở dài : -Bọn nó mới 15, 16 tuổi chứ nhiều nhặt gì cho cam, mình lựa lời mà nói chứ biết làm sao bây giờ. Hồi mới thoát ly mình cũng bằng tuổi chúng nó có khác gì chúng nó đâu. Mai cười dịu giọng: -Đội quân của em là vậy, nhưng có em thì nhất định mọi chuyện sẽ yên, các anh yên tâm đi. Thấy Khanh và Hùng cùng cười thông cảm Mai vui vẻ : -Ở đây có Chín Phượng trực thay em, khi cần các anh cứ gọi. Thôi em đi nghe các anh. Nói xong Mai quay lại dặn dò Chín Phượng rồi cùng Út Hân đi xuống C2. Ngoái nhìn Út Hân đeo khẩu AK gọn trơn Mai bỗng mỉm cười và nhận ra thằng bé bữa nay đã lớn bổng lên, chỉ cần từ giờ đến cuối năm là nó thành thanh niên rồi. Đi xuyên qua những vườn cây, tắt qua nhiều lối ngõ, Mai và Út Hân đến bờ tre bên con mương tiểu câu nối từ thôn Tường sang thôn Nguyên. Thấy Hồng và Hoài đang cùng tổ của mình ngồi quan sát địch, Mai hỏi Hoài : -Anh Thơ, anh Ánh đâu ? Hoài vui vẻ : -Dạ, đang kiểm tra việc củng cố công sự của các trung đội. Út Hân vô tình hỏi Hoài: -Anh không làm liên lạc cho các thủ trưởng nữa à? Hồng vui vẻ : -Bây giờ là tiểu đội trưởng của tớ rồi đấy. Hoài đỏ mặt nhìn Hồng rồi nói: -Nó bị mảnh đạn ăn mất nửa bắp thịt ở vai, nhưng chiến đấu khá ra trò đấy. Mai nghiêm giọng hỏi Hoài: -Tình hình thôn Nguyên ra sao? -Vẫn bình thường, lát nữa thủ trưởng ánh về em cũng đưa hai tổ ra chốt để đảm bảo liên lạc giữa thôn Nguyên và thôn Tường, nếu chị qua thôn Nguyên thì chờ bọn em cùng đi, tới thì an toàn hơn. Vừa lúc đó Ánh về hối thúc Hoài: -Dẫn hai tổ ra chốt dọc theo mương tại những nơi mình đã chọn trước rõ chưa. Ánh quay lại hỏi Mai: -Chị cũng qua C2 à? -Ừ, mình qua đó xem tình hình tổ của Ba Hổ ra sao? Ánh nhìn Hoài rồi ra lệnh: -Để chị Mai và Út Hân đi giữa đội hình, khi bắt liên lạc được với tổ chốt của C2 thì nói bên ấy đưa chị Mai về ban chỉ huy rõ chưa. Hoài khom người cùng tổ đi đầu lúc dựa vào bờ mương và bờ tre khi chạy, khi dừng để quan sát địch. Mai cầm súng đi theo chợt thoáng rùng mình khiến toàn thân nổi gai ốc vội khom người lăm lăm tay súng. Linh cảm như mách biểu khiến Mai dừng lại nhìn ra những đám ruộng nằm cách bờ tre không đầy ba mươi mét. Chợt thấy những lùm cỏ bên bờ ruộng nghiêng ngả và như có người cầm nên lay động Mai ép sát vào bờ tre gọi Hoài: -Hoài! Có địch!... Tiếng Mai vừa dứt thì những bụi cỏ và bụi lúa bị hất tung ra, bọn địch nhổm dậy bắn xả vào đội hình của ta. Mai vội nép người vào bờ tre ghì súng bắn thẳng vào bọn địch đang vừa bắn vừa bò lùi ra khỏi tầm đạn của ta. Út Hân nhướn người bắn găm vào tốp địch đang bám bờ ruộng bắn cắt đội hình của ta. Tiếng M.79 của Hoài nổ liên tiếp bốn quả khiến khẩu trung liên nằm đằng sau một mô đất lớn bay tung lên. Rồi tiếng đạn đại liên, thượng liên và trung liên từ thôn Tường và thôn Nguyên của ta bắn chéo cánh sẻ khiến địch phải tróc ra khỏi từng bờ ruộng. Tiếng la hét, tiếng khóc, tiếng rên xen lẫn tiếng chửi tục của bọn địch trộn trong tiếng súng nổ rền của ta lẫn địch. Chạy lùi ra ngoài mương lớn bọn địch dùng các hỏa lực mạnh bắn dọc theo bờ tre . Rồi tiếng pháo các cỡ từ Thị Xã, Màng Màng, Cầu Cháy... tập trung bắn muốn xóa tan cả bờ tre lẫn con mương tiểu câu. Mai nhoài người bắn găm vào những tên địch vừa lùi vừa bắn chí mạng vào bụi. Những thân tre như bị băm tướp ra gãy nằm ngổng ngang. Bỗng tiếng M.79 nổ trước mặt, mảnh đạn bay chụp lấy Mai. Mắt hoa lên, khẩu AK trong tay văng xuống lòng mương Mai nằm gục xuống. Út Hân kêu như thét lên: -Chị Mai hy sinh rồi! Nhảy chồm tới đỡ Mai, Út Hân vừa lay vừa gọi: -Chị Mai! Chị Mai!... Bỗng thấy Mai thở mạnh Hoài hối thúc: -Cõng chị Mai vào làng nhanh lên! Hồng nói như ra lệnh cho Út Hân: -Cõng chị Mai chạy thiệt nhanh qua đoạn mương trống, đã có yểm trợ rõ chưa. Sức mạnh vô hình vụt đến, Út Hân xoay người đặt Mai lên lưng cúi người chạy, mặc cho khẩu AK đập vào ngực đau điếng. Tới đoạn mương trống Út Hân co người dồn sức cõng Mai chạy vụt vào làng, đến tổ chốt Út Hân vội ôm Mai xuống hầm trú ẩn. Tiếng trực thăng của địch lại bay rền trên trời và tám chiếc chia thành hai tốp thi nhau trút đạn xuống thôn Tường và thôn Nguyên. Từ khắp các trận địa của ta lưới lửa đạn 12ly7, đại liên, thượng liên... và cả đạn AK bắn lên vây bọc lấy kẻ thù. Bỗng một chiếc trực thăng lao xuống nhả đạn, đột nhiên đảo mình loạng choạng, khói lửa từ thân nó bốc lên. Chiếc máy bay cố bay vượt lên trời nhưng luồng khói đen đặc bám lấy toàn thân buộc nó lao đầu về hướng núi Sầm. Những chiếc máy bay đang bay rà xuống lập tức bay vọt lên cao và từ trên cao hối hả nhả đạn xuống trận địa. Máy bay trực thăng vừa ngừng oanh tạc, thấy Mai vẫn thở Út Hân đứng bật dậy gọi: -Anh Thơ, anh Ánh! Chị Mai còn sống! Ánh chạy tới rồi cùng Út Hân đỡ Mai lên khỏi hầm và ra lệnh: -Đưa gấp chị Mai về quân y tiểu đoàn rõ chưa. Sau tiếng “rõ” đanh gọn như người nhận lệnh Út Hân cõng Mai chạy về quân y tiểu đoàn liền gọi thiệt lớn: -Chị Phượng! Chị Mai bị rồi!... Phượng vội chạy đến cùng Út Hân để Mai nằm dưới hầm. Sơn hối hả chạy đến xem mạch cho Mai. Mai bỗng mở mắt nhìn Út Hân rồi nhìn Phượng giọng thều thào: -Nói anh Lâm!... Bé Trung!... Anh em!... Đồng chí Chuẩn đờn!... Mai nấc nhẹ một tiếng rồi nghẻo đầu nằm im. Phượng ôm lấy Mai khóc nức lên: -Chị Mai ơi! Chị đừng bỏ bọn em mà đi! Chị ơi!... Tiếng bom bỗng rung giật căn hầm. Tiếng nổ của bom và rốc-két như làm cho bầu trời rạn nứt ra. Tiếng đạn bắn máy bay từ khắp trận địa rộ lên quyết liệt. Chín Phượng vẫn ngồi ôm chặt lấy Mai và như không nghe thấy tiếng bom rơi nữa Út Hân bình tĩnh nói với Phượng: -Khăn đây! Chị lau mặt cho chị Hai đi!... Màn đêm tím rịm. Trên đường làng những bước chân bước vội của các cô thanh niên xung phong hối hả tiếp đạn cho tiểu đoàn H.96. Tiếng bước chân hối hả của anh em cán bộ và du kích xã Phụng đưa Mai về căn cứ. Tiếng cuốc xẻng âm âm đào sâu vào lòng đất củng cố hầm chiến đấu vững vàng hơn... Ở đầu thôn Tường, nơi gần chỗ Mai hy sinh tiếng cụ Dư Phước và ông Chuẩn đờn cò vẫn rầm rì trong đêm. Địch cũng cụm về khu vực xung quanh núi Sầm trú quân. Tiếng pháo thi thoảng lại bắn vu vơ trên đồng hay vào làng... Và rất lâu cụ Dư Phước đứng dậy thắp nhang lên bàn thờ Tổ lâm râm cầu nguyện rồi nói với ông Chuẩn đờn cò: -Tôi cầu xin cho thằng Duy được làm rể nhà này ông à. Chúng nó đã mua đồ về cho tôi cúng Tổ rồi!... Chúng nó sống có đôi, chết đâu có lẻ bạn phải không ông!... Tôi chỉ còn một nụ mà bây giờ thì hết cả vốn rồi!... Ông Chuẩn đờn cò chậm rãi hỏi: -Vậy ông có cúng cho con Mai không? -Có chứ ông! Số nó đâu phải vậy!... Mà sao nó nỡ bỏ đi trong lúc làng xóm loạn ly như thế này!... Ông Chuẩn đờn cò chắp tay lạy bàn thờ Tổ rồi nói: -Cụ Dư à... Cho tôi hò mấy câu đưa linh để cho chúng nó thanh thản!... -Ừ, ông hò đi!... Âm sao dương vậy mà!... Tiếng đờn cò vang lên bay rất xa, rồi giọng ông Chuẩn đờn cò khàn khàn đục đục vang lên trong tiếng đàn nghe mới ai oán làm sao! Nhức nhối làm sao!... Hạt bụi trần xoay vần trong gió cát Gió cát nơi nào bay vương vẫn hồn ai (Hò đưa linh ơi hỡi hò đưa linh) Thân ngọc ngà hỡi ông trời sao nỡ hại Chồng con khóc than, hồn khắc khoải cõi trần!... (Hò đưa linh ơi hỡi hò đưa linh) Hồn đớn đau hồn chờn vờn trong gió cát Ơi hỡi ông trời sao nỡ xé nát cặp uyên ương!... (Hò đưa linh ơi hỡi hò đưa linh). ... Và cũng rất lâu, ông Chuẩn đờn cò, cụ Dư Phước lặng im ngồi nghe tiếng bước chân hối hả của thanh niên xung phong, anh em lực lượng vũ trang giải phóng rầm rập chuẩn bị cho trận đánh ngày mai. Bỗng tiếng nhạc hiệu của đài tiếng nói Việt Nam vang lên, rồi tiếng người phát thanh viên hùng tráng vang lên: Hiệp định Pa-ri đã được ký kết!. Tuy Hòa - Mùa hè năm 1999 HẾT Tiêu đề: Re: Bên gốc me già Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Chín, 2023, 02:39:45 pm VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ (https://i0.wp.com/tonvinhvanhoadoc.net/wp-content/uploads/2013/03/zzzzzz.jpg?w=600&ssl=1) Nhà văn Trần Thiện Lục - Bút danh: Phương Yến. Sinh năm 1946, mất năm 2013. - Quê quán: thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. - Tốt nghiệp Đại học sư phạm khoa Sử đã xung phong đi chiến trường B năm 1964 và năm 1967 trở thành phóng viên chiến trường. Ông đã có 12 năm sát cánh cùng quân dân Phú Yên trong những năm tháng hiểm nguy nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cho đến ngày giải phóng đất nước 30/4/1975. Trở về với cuộc sống đời thường nhưng ông vẫn tiếp tục cuộc sống đầy ý nghĩa bằng nghề thầy thuốc đông y để chữa bệnh cứu người và viết sách như là một cách để trả nợ ân tình những đồng đội đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc. - Phụ trách biên tập báo Giải phóng Phú Yên, tạp chí Văn nghệ Giải phóng Phú Yên (1968-1975). Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. - Các tác phẩm đã xuất bản: Giáp mặt với kẻ thù (tập truyện ký, 1967); Đồng chí (tập thơ, 1968); Bên gốc me già (tiểu thuyết, tập 1, 2005); Hồng và Lam (tập truyện ký, 2007); Bên gốc me già (tiểu thuyết, tập 2, 2008); Về đi (tập thơ, 2010); Gió Tuy Hòa (tiểu thuyết, 2012). - Chưa xuất bản: Khát (tiểu thuyết); Thăm thẳm Vũng Rô (tiểu thuyết) |