|
Tiêu đề: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười, 2023, 03:25:40 pm CÁNH ĐỒNG PHÍA TÂY
Tiểu thuyết Tác phẩm đạt Giải thưởng Bộ Quốc phòng - 1994 Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm - 2001 Tác giả: Hồ Phương Nhà xuất bản Hội Nhà văn - 2014 Số hóa: hoi_ls (https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/72/Ho_Phuong.JPG/220px-Ho_Phuong.JPG) Nhà văn HỒ PHƯƠNG TIỂU SỬ HỌ VÀ TÊN KHAI SINH: Nguyễn Thế Xương. Sinh ngày 15 tháng 4 năm 1930. Quê quán: Kiến Hưng, Hà Đông (cũ). Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957. Thuở nhỏ đi học ở Hà Nội, tháng 12 năm 1946 tham gia quân đội. Suốt cuộc kháng chiến chống Pháp ông là chiến sĩ, rồi làm phóng viên, cán bộ phụ trách báo của Đại đoàn 308, chính trị viên đại đội chiến đấu. Đã dự nhiều chiến dịch lịch sử trong đó có Biên giới 1950 và Điện Biên Phủ. Năm 1954 về Tổng cục Chính trị viết văn, làm Tạp chí Văn nghệ quân đội. Sau đó làm Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam. Tham gia BCH Hội Nhà văn Việt Nam khóa 3. Năm 1990 được phong quân hàm Thiếu tướng. TÁC PHẨM: Thư nhà (truyện ngắn, 1949); Những tiếng súng đầu tiên (tiểu thuyết, 1955); Cỏ non (tuyển truyện ngắn, 1960); Xóm mới (tập truyện ngắn, 1965); Kan Lịch (tiểu thuyết, 1967); Chúng tôi ở Cồn Cỏ (ký sự dài, 1968); Những tầm cao (tiểu thuyết, 2 tập, 1974); Biển gọi (Tiểu thuyết, 1978); Cánh đồng phía tây (tiểu thuyết, 1994); Yêu tinh (tiểu thuyết, 2001); Ngàn dâu (tiểu thuyết, 2002); Những cánh rừng lá đỏ (tiểu thuyết, 2005); Cha và con (tiểu thuyết, 2007)... GIẢI THƯỞNG: Giải thưởng Báo Văn nghệ với truyện ngắn Cỏ non (1958); Giải thưởng Bộ Quốc phòng (1994) với tiểu thuyết Cánh đồng phía tây, giải thưởng Hội Nhà văn - Bộ Công an với tiểu thuyết Yêu tinh (2001). Giải thưởng ƯBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam (2003) với tiểu thuyết Ngàn dâu. Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001: Cỏ non (truyện ngắn); Những tầm cao (tiểu thuyết, 2 tập); Kan Lịch (tiểu thuyết); Cánh đồng phía tây (tiểu thuyết). Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2012: Ngàn dâu (tiểu thuyết); Những cánh rừng lá đỏ (tiểu thuyết). Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười, 2023, 03:34:42 pm 1 Tiếng sấm rền rĩ mãi ở phía Tây nhìn về nơi đó, những đỉnh núi trùng điệp như bị chìm lấp hết trong mây đen vần vụ. Chớp sáng chốc chốc lại vọt lên lằng nhằng dữ tợn. Bà Lợi, phó chủ tịch phụ nữ tỉnh X, trưởng đoàn phụ nữ lên mặt trận úy lạo binh sĩ, chép miệng nói với những người trong đoàn cùng đang tạm trú ở một chiếc lán cách đường cái không bao xa: - Mưa! Trên ấy khéo mưa. Anh em bộ đội lại khổ lắm đây. Các chị hẳn còn nhớ Tỉnh hội mình cũng đã đi những chiến dịch như Hoàng Hoa Thám - Hà Nam Ninh. Cũng mưa. Khổ hết chỗ nói. Buồn cười, còn nhớ một cậu bộ đội còn trẻ lắm, khiêng pháo, leo đèo, giữa lúc mưa to, cứ mếu máo khóc: “Cha sinh mẹ đẻ chưa bao giờ khổ đến như thế này. Khổ ơi là khổ! Ước gì tàu bay nó bắn chết mẹ đi, cũng còn sướng”... Mọi người cùng cười theo, tiếng cười con gái và đàn bà thật giòn giã, trong trẻo. Trời cũng vừa nhá nhem. Bà Lợi ra hiệu cho mọi người lên đường sớm hơn thường lệ ba mươi phút: - Ta tranh thủ, các chị, các cô ạ! Giờ này, lại tối trời, chắc mấy thằng phi công bay trở về Gia Lâm, Cát Bi ráo rồi. Còn tắm rửa, rồi mở sâm banh, ăn bữa tối và nhảy đầm nữa chứ. Mọi người cùng nhận thấy bữa nay bà Lợi như vui vẻ khác hẳn. Phải chăng vì sắp tới Điện Biên Phủ? Tối nay đoàn sẽ vượt đèo Pha Đin. Tối mai tới Tuần Giáo. Nếu không gặp khó khăn đường sá, hoặc máy bay, bom nổ chậm... thì có lẽ có thể vào sâu địa phận Điện Biên Phủ chừng hai chục cây số... Sấm vẫn rền rĩ phía chân trời Tây Bắc tím bầm với những tia chớp lằng nhằng dữ tợn. Một chiếc xe tải Mô-lô-tô-va cũ kỹ, rách nát đã bò tới chờ sẵn ở bên đường. Bà Lợi, là trưởng đoàn được ưu tiên lên ca bin ngồi cùng lái xe, còn toàn đoàn leo lên quầy phía sau. Một nửa quầy đã chất đầy hàng quân sự, kể cả quà biếu của đoàn: bánh, mứt, kẹo, trà, thuốc, đường, sữa... Nửa quầy còn lại được trải hai chiếc chiếu cá nhân ghép lại cho cả đoàn cùng chú phụ lái và một chú bộ đội áp tải xe, ngồi quây quần trò chuyện. Chiếc xe bắt đầu lăn bánh. Toàn đoàn đã lên đẩy đủ. Gọi là đoàn đại biểu phụ nữ, nhưng thật ra không phải chỉ có toàn đàn bà mà còn có cả một "đấng nam nhi", đó là đổng chí Văn Túc, trưởng ban Tuyên huấn kiêm chủ bút tờ báo Phụ nữ tỉnh. Vốn tính vui vẻ lại thêm cái bệnh nghề nghiệp hay nói, Văn Túc thường tâm sự với mọi người: "Nếu không phải là thằng đảng viên, Đảng đặt đâu ngồi đấy, thì tớ đã tếch từ lâu rồi. Các bố chán bỏ mẹ, ai đời lại bắt một thằng đàn ông vào làm việc lọt thỏm trong một thế giới toàn đàn bà! Chẳng phải ngại "Kính thưa chị", "Kính thưa các em". Không phong kiến, sĩ diện đến nỗi thế! Cái chính là cứ phải luôn luôn gồng mình lên để khỏi... phạm kỷ luật. Uất lắm, cái thân mình thật chẳng kém gì thằng hoạn quan các ông ạ"... Vừa lên xe, một chị nào đó đã nhớ ngay tới Văn Túc: - Này, Văn Túc tiên sinh, tối qua đã kể chuyện Him Lam, tối nay, kể tiếp đồi Độc Lập đi! Mọi người cùng nhao nhao họa theo. Văn Túc làm ra bộ khiêm tốn: - Nói vậy chứ, tôi cũng chỉ đi nhặt nhạnh tin tức thôi... Các chị, các cô cứ làm như tôi được trực tiếp chiến đấu ở trên ấy không bằng. - Ồ, không sao? Nhưng mà anh tổng hợp giỏi đấy! Phải chịu tài con nhà tuyên huấn. - Một chị động viên. Văn Túc vẫn còn cố làm ra vẻ ngần ngại: - Cũng không có gì nhiều lắm đâu. Chỉ có điều là tôi phải chịu khó sang bên Tỉnh ủy nghe nhờ cái đài bên ấy. Nhưng cái của nợ ấy có lẽ sản xuất từ thời đồng chí Xit-ta-lin còn đi học cấp hai thì phải, nên cứ nói được mấy phút nó lại câm bặt. Lắc thế nào thì lắc, cứ ỳ ra. Nhưng té ra thân lừa ưa nặng các vị ạ, cứ đập cho đánh bốp một cái, thế là lại nheo nhéo: "Thưa các đồng chí và các bạn, đây là tiếng nói Việt Nam...". Mọi người cười bò ra. - Thôi, thôi, lạc đề. Tán mãi, bắt đầu đi nào - Một chị xua tay. Bấy giờ Văn Túc mới trở lại nghiêm chỉnh, hắng giọng: - Vâng, thôi được, tối qua tôi đã kể Him Lam với anh Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Tối nay, tôi sẽ kể tới trận thứ hai. Đó là trận tiêu diệt cụm cứ điểm trên đồi Độc Lập, cũng nhằm để mở cửa tập đoàn cứ điểm. Đây cũng là một trận cực kỳ ác liệt và oai hùng không kém gì Him Lam. - Không biết hôm nay ở trên ấy đã đánh tiếp đến đâu rồi nhỉ? - Một chị bỗng xen vào hỏi. Mọi người cùng ồ lên: - Đừng ngắt lời anh ấy. Cứ kể tiếp đi anh Văn Túc. Văn Túc gật đầu: - Vâng, nếu như ở Him Lam có anh Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, thì trong trận đồi Độc Lập cũng có các dũng sĩ Nguyễn Văn Ti và Phan Bá Tuệ đã tung hoành ở cửa mở như những thiên thần... Trong lúc Văn Túc đang kể chuyện trên xe, thì từ những cánh rừng hai bên đường, những đoàn bộ đội nai nịt gọn gàng, cùng các đoàn dân công đã lũ lượt kéo ra, kín trên mặt đường, dài như tới vô tận. Dân công Kinh có, Tày Nùng có, Mường Thái có, H’mông, Sán Dìu, Mán đỏ, Mán tiền có, Khu ba có, Thanh - Nghệ có... và cả những đoàn xe đạp thồ với "tay ngai", gậy chống tua tủa, nghênh ngang. Chưa hết, cũng từ các cánh rừng khe suối, từng đoàn xe hơi vận tải ầm ì tiến ra. Đủ các kiểu đủ các loại: xe Nga có, xe Trung Quốc có, cả xe GMC của Mỹ mà quân ta đã thu được qua các chiến dịch trước. Tất cả hợp thành những công-voa dài dặc cài lá ngụy trang bù xù như những đoàn voi thần thời tiền sử, hòa cùng những dòng người kĩu kịt cùng hối hả tiến về trước, nơi đang có nhiều tiếng sấm ì ầm và những tia chớp lằng nhằng dữ tợn. Nơi ấy là Điện Biên. Nơi ấy đang là rận lớn nhất trong lịch sử chiến tranh cận đại của Tổ quốc. Nơi ấy, ai cũng biết, đang là một trận đánh có thể là trận quyết chiến cuối cùng... Trên ca bin xe, bà trưởng đoàn cứ thò đầu ra để ngắm nhìn quang cảnh "trẩy hội chiến dịch". Bà thốt lên với anh lái xe nhưng cũng như để nói với chính mình: - Người đâu mà lắm thế! Như cả nước ra trận vậy! Anh lái xe cũng có vẻ hào hứng: - Chắc chị mới được thấy trên đường này thôi. Còn nhiều con đường khác cũng dẫn tới Điện Biên, cũng như trẩy hội cả. Đúng là tất cả cho tiến tuyến, tất cả cho Điện Biên. Mà còn cả đường thủy nữa chị ạ. Tụi bạn em nó bảo Trung ương phái lên phía Lai Châu nhiều công binh lắm. Để phá thác mở luồng cho thuyền bè chuyên chở gạo, đạn cho Điện Biên. Nghe nói có nhiều anh em công binh rất dũng cảm đã phá được nhiều thác dữ, như anh Phan Tư, dân bản Mường đã gọi anh ấy là "Con trai của thủy thần"... Ở quầy xe phía sau, Văn Túc vẫn đang thao thao kể chuyện đánh đồi Độc Lập. Anh nói chuyện quả là có duyên. Tuy vậy, có chị tinh ý nhận thấy, anh vẫn như chưa trổ hết tài nghệ, còn có chút dè giữ nào đó. Anh hay liếc nhìn về phía một người đàn bà còn trẻ ngồi hơi lui về phía sau mọi người. Đó là Nguyệt Lệ, thành viên trẻ nhất trong đoàn và cũng là người đẹp nhất trong đoàn. Nguyệt Lệ đã lấy chồng được hai năm nay, khi cô mới hai mươi hai tuổi. Đúng là Văn Túc có phần như không được hoàn toàn tự tin trước Nguyệt Lệ. Sắc đẹp dễ làm cho người khác phải bối rối. Hơn nữa, Văn Túc biết chồng Nguyệt Lệ là một cán bộ cao cấp trong quân đội. Vậy rất có thể chồng cô cũng đã kể cho cô nghe hết mọi chuyện về Him Lam và đồi Độc Lập. Tuy vậy, Nguyệt Lệ vẫn tỏ ra chăm chú như tất cả mọi người. Cô quả là rất đẹp. Nhưng rất ít nói. Dường như để thay cho những lời nói là một nụ cười rất có duyên với hai cái lúm đồng tiền nho nhỏ. Đôi mắt dài đen thăm thẳm có một sức hút thầm kín rất lạ. Tuy đã có chồng, nhưng cô vẫn để tóc thề, mái tóc đen huyền, óng ả, buông xõa trên đôi vai tròn đẹp như vai tượng. Văn Túc đã được biết đôi điều về Nguyệt Lệ: cô tốt nghiệp trung học kháng chiến thì được sang Hoa Nam (Trung Quốc) theo học sư phạm cùng một số anh chị em khác. Sau ba năm, cô trở về, và lấy chồng. Chồng cô là Hồng Đăng, lúc đó đang là một trung đoàn trưởng khá nổi tiếng. Anh đã xin cho Nguyệt Lệ về cơ quan phụ nữ tỉnh, không muốn cho cô dạy học, e vất vả. Nguyệt Lệ rất thông minh, lại biết cách ứng xử, nên được bà hội trưởng rất quý, thường dùng như thư ký riêng, mặc dầu Nguyệt Lệ ở ban nữ công. Đã hai năm, hai vợ chồng vẫn chưa có con. Hồng Đăng đang hết sức băn khoăn. Nhưng trái lại Nguyệt Lệ vẫn bình thường như không. Cô nói cô chưa muốn có con. Nghe nói hai vợ chổng không nhất trí với nhau về việc này, nhưng họ vẫn sống với nhau rất êm đẹp. Câu chuyện về đồi Độc Lập của Văn Túc vừa kết thúc thì có tiếng thét ở phía trước rồi một người cầm một chiếc đèn pin bọc vải xanh hiện ra ở đầu mũi xe: - Có tiếng máy bay đấy. Dừng lại! Chiếc xe phanh cứng. Mọi người cùng vội vã nhảy xuống, chạy dạt vào cánh rừng ở bên đường. Cũng như mọi đêm, chạy máy bay hoặc phải xuống xe qua phà, qua ngẩm, hoặc chờ phá bom nổ chậm, Văn Túc thường luôn ở bên cạnh Nguyệt Lệ. Hai người cùng đứng nấp sau một thân cây cổ thụ, lắng tai, hồi hộp nghe ngóng. Tiếng máy bay ì ì ở khá xa, phía Sơn La thì phải. Giờ phút chờ đợi hơi lâu, vốn tính hay chuyện, Văn Túc lại cất tiếng hỏi: - Này, cô Nguyệt Lệ, chắc ở nhà, trước khi đi, anh Hồng Đăng cũng đã kể cho cô nghe hết chuyện về Him Lam, Độc Lập rồi phải không? Nguyệt Lệ lắc đầu. Trong bóng đêm lờ mờ, gương mặt cô càng đẹp một cách dịu dàng và thầm kín. - Không. Anh Đăng nhà tôi đi từ trước Tết. Văn Túc ngạc nhiên: - Trước Tết? Đi chuẩn bị cho Điện Biên từ trước Tết? Nguyệt Lệ nho nhỏ: - Vâng, nhưng lúc đó tôi không biết anh đi đâu. Anh ấy giữ bí mật không nói. Nhưng nay thì chắc là anh ấy đang ở Điện Biên. Văn Túc tươi cười: - Này, giá anh Đăng vẫn còn ở đơn vị, không lên Tổng cục Hậu cần thì chắc chuyến này ông ấy chỉ huy đánh Him Lam, Độc Lập là cái chắc. Trước kia anh Đăng đã có tiếng là “húc” khá lắm mà. Nguyệt Lệ im lặng. Câu nói của Văn Túc đã gợi lại cho cô kỷ niệm cũ: Hè 1952, vừa từ khu học xá Hoa Nam trở về, chưa nhận công tác, một hôm cô nhận được giấy mời của Sở Giáo dục Liên khu, mời tới dự nghe một buổi nói chuyện thời sự mặt trận. Người nói hôm ấy là Hồng Đăng. Trên ba mươi tuổi nhưng anh vẫn còn trẻ. Áo blu - dông Mỹ chiến lợi phẩm, dây lưng cũng Mỹ với khẩu côn bát xệ một bên hông. Một đôi giầy cao cổ với ghệt ngắn cũng của Mỹ. Một con ngựa tía rất đẹp buộc ngay ở lối vào hội trường X. Một cậu chiến sĩ khoác tiểu liên luôn đứng quanh quẩn ở gần chỗ Hồng Đăng ngồi... Anh có hoàn toàn đầy đủ dáng vẻ một “người hùng” mà nhiều cô gái trong kháng chiến thường mơ ước. Và không phải chỉ có cái dáng vẻ hấp dẫn ấy. Hồng Đăng còn tỏ ra có tài nói chuyện. Hôm ấy anh nói về trận tiêu diệt đồn Bản Toọc mà chính anh là người chỉ huy cao nhất ở đó. Khi nói xong, Hồng Đăng trở lại chỗ ngồi, mọi người vỗ tay vang dậy. Một số người còn đổ xô tới bắt tay và gần như công kênh anh lên trong những tiếng hò reo vui vẻ. Tới giây phút ra về, Hồng Đăng đã có một cử chỉ hết sức bất ngờ làm cho mọi người vừa ngạc nhiên vừa thú vị: anh rút chiếc bút máy đang gài trên túi áo ngực, tươi cười nói: “Trước khi trở về đơn vị, tôi xin các đồng chí và các bạn cho tôi một đặc ân là tặng cây bút này, cây bút mà tôi đã ký vào bản mệnh lệnh tiêu diệt đồn Bản Toọc, cho một cô gái bất kỳ nào trong cuộc họp này”. Mọi người đều vỗ tay vang dậy. Trong lúc ai ai cũng còn đang hồi hộp, kể cả Nguyệt Lệ, thì Hồng Đăng đã từ từ bước tới trước mặt cô và dùng cả hai tay đưa chiếc bút tặng cho cô... Cả hội trường như bùng nổ trong một trận sấm vỗ tay. Ai ai cũng biết anh đã tặng cây bút ấy cho cô gái đẹp nhất cuộc họp. Nhưng cũng có người còn biết rõ hơn: Ông Huyến ở Sở Giáo dục, bạn cũ của Hồng Đăng, đã bố trí một màn kịch tuyệt vời để giới thiệu Hồng Đăng với Nguyệt Lệ. Hai người đã quen nhau như thế đấy. Và, cũng không mấy ai ngờ, chỉ mấy tháng sau Nguyệt Lệ đã trở thành vợ của anh... - Cô Nguyệt Lệ này - Văn Túc lại nói - Lên Điện Biên chuyến này thế nào cô cũng gặp được anh ấy đấy nhỉ? Thật là thú vị đấy! Nguyệt Lệ chỉ hơi mỉm cười, im lặng. Văn Túc hồ hởi tiếp: - Còn tôi, chuyến này tôi cũng hy vọng gặp được mấy thằng bạn cũ ở đại đoàn 213 và cả đại đoàn 803. Lâu lắm rồi tụi tôi không gặp nhau. Nói thật, cũng tiếc cho cái thân tôi chẳng được bay nhảy, tung tẩy như chúng nó. Làm thằng con trai, thằng đàn ông thời buổi này mà chỉ nằm ở xó hậu phương, nó chẳng ra làm sao cả, cô ạ! Nguyệt Lệ lại mỉm cười, một nụ cười rất dịu dàng và thân mật làm cho Văn Túc cũng thấy mát lòng mát ruột: - Những số phận khác nhau. Làm sao mà ai cũng như ai cả anh? Anh Túc có nhiều cống hiến rất quý cho cơ quan đấy chứ! Rồi cô bỗng như chăm chú: - À, mà này, anh Túc ơi, anh là người “cái gì cũng biết”, giao du rộng, anh có biết anh Dũng Linh không nhỉ? Văn Túc nhíu mày: - Dũng Linh nào nhỉ? Anh ấy ở đơn vị nào mới được chứ? - Trước kia anh ấy ở 803, còn bây giờ thì không biết ở đâu. - Cô... quen anh ấy, hay là bà con? - Quen. Cũng có thể gọi là... anh nuôi cũng được. Hồi 1948, 1949, ấy ở Thái Nguyên, vâng, hồi ấy gia đình tôi tản cư, ở bến Huống, tôi học trung học ở đấy. Còn đơn vị anh ấy thì đóng đâu ở Kép Le, hoặc Phúc Trìu, Phú Xuân thì phải... Văn Túc lắc đầu: - Thế thì tôi không biết cô ạ. Hồi đó tôi đang còn công tác ở phòng thông tin huyện Thanh Ba - Phú Thọ... Nguyệt Lệ khép lại hai tà áo khoác, và khoanh tay trước ngực cho đỡ lạnh. Cô ngước nhìn lên vòm trời đêm Tây Bắc đen xanh thăm thẳm. Thác Huống. Quả thật cô vẫn chưa sao quên những buổi chiều anh từ đơn vị cuốc bộ ra chơi, hai người cùng đi bên dòng sông yên tĩnh, đẹp vô ngần ấy. Vẫn chưa sao quên cả những buổi học vừa tan tẩm, ra khỏi cổng trường đã thấy anh đang đứng chờ ở đó, áo quần ướt đẫm mồ hôi. “Anh tìm em có việc gì gấp vậy?”, “Không, anh chỉ muốn được gặp em, nhìn thấy em trong chốc lát”. Và đúng như vậy, anh chỉ có thể đi nói chuyện với Nguyệt Lệ được chừng mười lăm, hai mươi phút, sau đó lại hộc tốc quay trở về đơn vị, mà cô biết ở cách xa trường phải tới trên mười cây số đường rừng... Nguyệt Lệ được biết: anh đã học xong trung học, lên ban tú tài chưa trọn khóa thì kháng chiến bùng nổ. Anh trở thành bộ đội. Thoạt đầu, như anh nói, ở Hải Phòng. Sau ra Quảng Ninh, đơn vị anh đã đánh đảo Cô Tô. Hy sinh gần hết chỉ còn một tiểu đội trong đó có anh sống sót, bơi được vào bờ giữa lúc đơn vị đang làm lễ truy điệu... Khá trắng trẻo, mảnh mai. Con người hết sức tế nhị, nhưng vô cùng nồng nhiệt. Các bạn anh nói với cô: đây là chàng trai hào hoa, dễ thương nhất đơn vị. Nhưng rồi anh phải đi mặt trận và cũng dịp đó Nguyệt Lệ cùng một số học sinh được sang nước bạn học tiếp. Vẫn còn nhớ cuộc ra đi của anh vô cùng đột ngột, đến nỗi cô chỉ kịp nhận được một mẩu giấy viết hết sức vội vàng gửi lại: “Anh phải đi đây, Nguyệt Lệ ơi. Trăm ngàn lần xin lỗi em, không kịp đến để chia tay với em. Nhưng, xin hãy hiểu cho anh. Chiến tranh mà em! Biết làm sao hơn? Cũng không dám hẹn cả ngày về. Thế đấy, Nguyệt Lệ ơi, cuộc đời người lính là như vậy, mà từ nay, anh được biết chiến tranh sẽ còn gay go, tàn khốc và lâu dài. Nguyệt Lệ ơi, anh nhớ em, nhớ lắm em ơi, lòng anh như xé, nhưng làm sao được! Nhiệm vụ là phải ra đi...”. Nhận mẩu thư ấy, Nguyệt Lệ không khỏi bật khóc, và cô đã khóc mãi. Có phải đây là những dòng chữ cuối cùng của anh? Có phải đây là những lời tỏ tình bối rối và đau khổ của một chiến sĩ? Quả thật chưa một lẩn anh thổ lộ rõ tình yêu của anh, mặc dầu cô hiểu đầy đủ những gì đã xảy ra trong trái tim anh và cô đã sẵn sàng để đón nhận lấy mối tình đầu tuyệt vời ấy... Sang tới nước Bạn, mong mòn con mắt cô mới nhận được một lá thư của anh. "... Một lần nữa thần chết đã quá ngán cái mặt anh. Anh lại được trở về Thái Nguyên. Nhưng không còn Thác Huống, không còn Kép Le, Gia Bảy nữa. Anh buồn tưởng chết. Cơn lốc chiến tranh đã cuốn đi, đã tàn phá hết cả, làm mất đi tất cả. Nhưng anh vẫn luôn luôn nghĩ tới em, vầng trăng đẹp nhất của đời anh. Anh luôn nghĩ tới em ngay cả những lúc anh như đang ở trong một lò lửa, hoặc một địa ngục...”. Nhưng rồi sau đó là sự im lặng đến kinh khủng. Nguyệt Lệ đã viết thư nhờ một số bạn tìm tin tức về anh. Nhưng phần lớn đều thất bại. Có người khẳng định anh đã hy sinh trong trận đánh đồn Non Nước - Ninh Bình, năm 1951. Có người nghe nói anh đã chết vì sốt rét ác tính trong rừng sâu Chiêm Hóa... Nhưng ngược lại có người cho biết tình cờ đã gặp anh một lần trên đỉnh đèo Khế, hè 1952. Nhưng gần như không nhận ra anh nữa, cả về phần xác cũng như phần hồn. Không còn đâu chàng trai hào hoa, mà nay là một con người bất cần đời, thậm chí cục cằn và thô lỗ. Toàn thân anh đầy thương tích. Không còn biết tin ai nữa, năm sau Lệ trở lại Thái Nguyên. Gần như còn chân ướt chân ráo, Nguyệt Lệ đã gặp Hồng Đăng như ta đã biết... Đám cưới của cô không phải đã không có những tiếng xì xầm trong đám bạn bè. “Chết mệt vì ngựa hồng côn bạt mà!”. Nguyệt Lệ đã phải cắn răng chịu đựng. Đã mấy ai hiểu cho cô: đám cưới ấy đâu có phải vì “ngựa hồng côn bạt”, mà chủ yếu là một sự đền ơn đáp nghĩa. Thật vậy, đã mấy ai hiểu được nỗi lòng và gia cảnh của cô năm đó khốn khổ và túng quẫn đến thế nào: cha hy sinh ở Hà Nội tháng Chạp 1946. Có độc một anh trai, anh Biền, Nam tiến từ 1946 cũng hy sinh nốt ở mặt trận Tuy Hòa. Cả nhà chỉ còn có Nguyệt Lệ là lớn, cùng một lũ em nhỏ lốc nhốc. Bà mẹ lại đổ xuống ốm liệt giường liệt chiếu. Không còn lấy một hạt gạo, chứ đừng nói tới thuốc thang. Tất cả ly tách, đồ dùng bán hàng, thậm chí tới cả giường phản trong nhà cũng đã phải bán dần, gần hết sạch. Từ nước Bạn trở về, Nguyệt Lệ dành dụm được chút ít, nhưng cũng chỉ cứu vãn được tình thế trong có vài tháng. Giữa lúc tối tăm, nguy ngập ấy, Hồng Đăng đã đến như một vị cứu tinh. Không những thuốc men đầy đủ mà còn cả cơm áo cho lũ trẻ ăn học nữa... Đến khi Đăng tỏ tình và xin cưới, Nguyệt Lệ chỉ còn biết cúi đầu... Và lúc đó thật ra cô không có ai để chờ đợi nữa. Mà bà mẹ thì giục giã kinh khủng. Như thế đã hai năm trôi qua... Lúc đó, một chiếc xe gíp từ phía sau lao lên. Thấy chiếc xe tải đỗ bên đường và có người lố nhố trú ẩn trong rừng, chiếc gíp đỗ lại. Trên xe có một bộ phận điện đài đang làm việc: hai chiến sĩ đang cắm đầu quay chiếc ra-gô-nô phát điện, một người khác đang phát moóc như mưa tuôn. Trên ghế trên, một người to béo, không rõ cấp bậc gì, cất tiếng nói to: - Này, xe nào đây? Cứ tiếp tục đi thôi! Tụi nó không tuần đường đâu. Điện đài chúng tôi vừa bắt được: chúng nó đang thả dù xuống Điện Biên. Hai tiểu đoàn dự bị chiến lược. Rồi như phấn chấn, ông nói thêm: - Tụi nó đang phải dốc túi đấy. Đoạn, chiếc gíp lại vọt đi tiếp. Bà Lợi mừng rỡ chạy ra mặt đường trước tiên, sau đó là toàn đoàn. Rồi chiếc Mô-lô-tô-va lại gầm vang, hăm hở bò đi. Văn Túc nhìn với ra phía chân trời xa đang tiếp tục ầm ì tiếng máy bay, mà nay anh đã biết rõ là chúng bay lên Điện Biên thả dù đêm. Hào hứng, anh quay lại với mọi người: - Các chị, các cô thấy chưa? Quả là Điện Biên! Cái thung lũng xa mù kia, mấy ai ngờ nay đang trở thành bãi chiến trường quyết đấu. Nó đang ngày đêm thu hút tất cả lực lượng và tâm trí của cả đôi bên ta và địch. Chả trách mà các đồng chí bên Tỉnh ủy cho biết: Bác và Trung ương đã có nhận định: chiến dịch lớn này có thể sẽ kết thúc chiến tranh. Nếu không, cũng sẽ có sự ngã ngũ rõ rệt: ta sẽ hoàn toàn ở thế thượng phong, còn bọn Pháp sẽ hoàn toàn lâm vào thế bị động trên toàn cuộc... Vừa lúc đó ở dưới mặt đường lại có tiếng léo nhéo: - Chuẩn bị vượt Pha Đin nhá! Ô, Pha Đin! Thì ra sắp tới ngọn đèo hùng vĩ nổi tiếng trên đường lên Điện Biên rồi ư? Pha Đin, ngọn đèo cao nhất, hiểm trở nay đã có biết bao sự tích như huyền thoại. Mọi người trên xe, không ai bảo ai, cùng vén bạt thò đầu ra, ngó về phía trước, nơi những ngọn núi trùng trùng che kín cả đường chân trời như một bức tường thành vĩ đại. Pha Đin kia rồi. Đó là con đường sống còn để lên Điện Biên. Đó cũng là một “cửa tử” với biết bao chuyện kinh hãi. Máy bay địch đánh phá ngày đêm ác liệt. Hết bom tấn lại bom chùm. Hết bom chùm lại bom nổ chậm. Trong trăm ngàn câu chuyện về Pha Đin có chuyện chiếc dải yếm của một cô dân công đẫm máu vương lại bên hố bom. Anh em bộ đội đã nhặt về bỏ vào một chiếc ca sắt và đặt một bát hương thờ ở ngay đỉnh đèo. Từ đó, bất cứ xe nào, đoàn bộ đội, đoàn dân công nào qua lại, đều thắp một nén nhang và cầu khấn cô gái phù hộ cho mình và cả đoàn bình an vô sự. Nguyệt Lệ bỗng nhắm mắt lại. Cô cũng thầm khấn: “Lạy chị, xin hãy phù hộ cho chúng em chân cứng đá mềm, đi đến nơi về tới chốn. Lạy chị, xin hãy phù hộ cho đất nước ta mau vượt được qua cơn binh lửa tàn khốc, đau khổ này”. Chiếc xe hào hển và lắc lư rất mạnh. Nó bắt đầu lên đèo... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười, 2023, 03:40:38 pm 2 Ngày nào cũng vậy, từ mờ sáng, những chiếc thám thính Morane và những phi đội oanh tạc B. 26 nối tiếp nhau bay lên quần đảo trên khắp thung lũng Mường Thanh. Tiếng gầm vang không ngớt làm cho bầu trời Điện Biên luôn luôn như sôi lên, quay vòng, rạn nứt. Chốc chốc, một loạt bom lại nổ rung chuyển từ tây sang đông. Những loạt trọng pháo 105 ly, 155 ly cũng luôn luôn dựng lửa trên hầu khắp các cửa rừng, khe suối bốn chung quanh cánh đồng, tạo nên không biết bao nhiêu “cửa tử” nhằm ngăn chặn không cho quân ta từ trên các triền núi ở phía đông và cả ở phía tây tràn xuống. Trong một căn hầm khá kiên cố đào sâu vào vách núi, phía trước còn có cả một bức tường bằng các thân gỗ lớn ghép lại, đổ đầy đất, để che chắn, Hồng Đăng, một trong các cán bộ cao cấp của hậu cần chiến dịch, đang bồn chồn trước một chiếc bàn làm bằng tre nứa, trên có đặt mấy chiếc máy điện thoại dã chiến. Trong khi đó, ngồi trước mặt anh, trên một chiếc ghế bằng các chạc cây ghép lại sơ sài, một người Âu lại tỏ ra hết sức hào hứng, sôi nổi, như còn muốn được nói thêm nhiều chuyện nữa. Đó là Léon phóng viên một tờ báo của Đảng Cộng sản Pháp vừa mới sang ta. Cũng dép lốp, cũng áo trấn thủ, cũng mũ nan tre, chàng phóng viên ngoại quốc này đã tỏ ra thích thú với trang phục này, mà anh nói là “đẹp nhất thế giới" xét về giá trị tinh thần và đạo lý. Sau khi gặp được đồng chí Ngọc (Võ Nguyên Giáp), Tổng chỉ huy mặt trận, và làm việc với cơ quan tham mưu mặt trận, hôm nay, Léon tới cơ quan hậu cần để lấy tài liệu. Vì màn 2 chiến dịch sắp mở, đồng chí chủ nhiệm cùng các phó chủ nhiệm đều đi xuống các cơ sở hết, chỉ có Hồng Đăng ở nhà tiếp Léon. Nhưng chính Hồng Đăng cũng có kế hoạch sáng nay đi xuống các kho vũ khí và lương thực ở phía tây mặt trận. Ngoài ra, trong chuyến đi này, anh còn có cả một việc riêng. Hồng Đăng đã gắng làm việc rất nhanh với Léon để đi được sớm. Anh biết đi càng muộn, càng dễ bị máy bay làm rầy rà ở dọc đường. Câu chuyện coi như đã xong, anh đã cung cấp cho Léon nhiều con số to lớn, cụ thể và cả một vài mẩu chuyện có tính điển hình cho sự hy sinh, kể cả trí sáng tạo của anh chị em cán bộ hậu cần cùng dân công các miến, các giới. Vậy mà Léon vẫn chưa chịu đi cho. Anh hào hứng thực sự, đến mức như mê say: - ... Tôi hiểu, đồng chí ạ, đây là chiến dịch vĩ đại nhất Đông Dương hiện nay. Vậy mà có một số bạn tôi vẫn cứ băn khoăn chưa thật rõ lắm. Họ cứ hỏi: vì sao có Điện Biên Phủ? Tại sao đôi bên lại kéo nhau hết lên khu vực núi non xa xôi này mà đánh nhau? Đúng là họ đã chưa nhìn thấy rõ toàn cuộc: Pháp đã kiệt sức, không thể kéo dài cuộc chiến này nữa, còn đánh còn thua, chính hai phái đoàn của chính phủ Laniél được phái sang Việt Nam thị sát trở về đã cùng thống nhất nhận định như vậy, chứ không phải ai khác. Do đó, tướng Navarre mới được cử sang Việt Nam. Mà thực chất là để chấm dứt chiến tranh, nhưng trên thế mạnh. Để làm được việc đó, tướng Navarre chủ trương trước hết năm nay tập trung lực lượng quét sạch miền Nam Việt Nam đã. Bắc Bộ thì cầm cự, cố giữ vững. Sang năm mới là Bắc Bộ. Nhưng thu đông này phát hiện thấy các đồng chí đưa chủ lực lên Tây Bắc định đánh Lai Châu, và có thể cả Thượng Lào, Navarre bèn cho rút Lai Châu, vì lượng sức ở đó không cự nổi. Và tương kế tựu kế, ông ta cũng tập trung quân luôn ở đó, và đưa thêm chủ lực lên, lập thành cái tập đoàn cứ điểm này, mà ông ta cho sẽ là cái bẫy, thu hút chủ lực Việt Nam để tiêu diệt. Nhưng sự thể ra sao, chúng ta biết cả rồi: ông ta đã sai lầm chết người... Từ hai năm nay lên làm cán bộ cấp cao trên Tổng cục Hậu cần, Hồng Đăng đã quá quen với những bản tổng kết, những nhận định có tính chiến lược, kể cả quen nghe những lời ca ngợi, cho nên lúc này anh không chú ý và “sướng tai” bởi những lời ca ngợi sôi nổi của Léon. Anh vẫn bồn chồn vì máy bay địch quần mỗi lúc một nhiều hơn, khi xa, khi gần. Cũng may, Léon đã đứng dậy ra về. Hồng Đăng thở trút. Khoác tấm vải dù lên vai, xốc lại khẩu côn bạt bên hông, anh ra khỏi hầm. Được mấy bước, đã thấy Mạn, anh chiến sĩ cần vụ lớn tuổi, đang ngồi dưới một gốc cây với một chiếc ba lô đồ sộ đang đựng quần áo của Mạn thì ít mà của Hồng Đăng thì chiếm gần hết. Đã quá nhiều quần áo chăn màn, chiếc ba lô còn phải đèo thêm ở chung quanh lủng lẳng đủ thứ: xoong nồi để nấu riêng cho Hồng Đăng ăn, đèn bão cho Hồng Đăng làm việc, cuốc xẻng để đào công sự cho Hồng Đăng trú ẩn, kể cả mấy chai rượu Tây chiến lợi phẩm để cho Hồng Đăng uống giải buồn hoặc tiếp các bạn hẩu. Và không thể thiếu hộp thịt kho tàu là món anh rất thích. Quay lại, nom thấy Hồng Đăng, bộ mặt đang buồn thiu của Mạn chảy xị xuống: - Sao mà lâu thế, Ban chỉ huy? Đã quá thuộc tính nhau. Hồng Đăng biết Mạn thi thoảng thích được gắt “Ban chỉ huy” của mình một tí, nhưng đó là biểu hiện của lòng yêu thương vô bờ bến và đó cũng là sự biểu lộ niềm sung sướng của người nông dân chất phác khi đã biết mình được cấp trên rất tin cậy. - Ta đi thôi ông Mạn! - Hồng Đăng tươi cười. - Chờ đến sốt cả ruột! - Mạn vẫn còn cằn nhằn như một đứa con làm nũng mẹ. - Chà, chà, cái “ông Tây” này ngồi có khí dai! - Hồng Đăng vui đùa. - Chưa chiến dịch nào em thấy có Tây dân chủ đi với mình như lần này. Dễ có đến chục ông chứ không ít, Ban chỉ huy nhỉ? - Mạn vui vui nói theo. - Ừ, tám tay. Nhà báo có, quay phim, chụp ảnh có, nhà văn có. Đủ. Chỉ vất vả cho tớ, trên giao cho tớ phải lo ăn, lo ở cho họ. Mà cậu biết đấy: đến cái hố ỉa, tớ cũng phải chỉ đạo. Tây họ có ỉa như ta đâu... Tuy Mạn lớn tuổi hơn, nhưng Hồng Đăng vẫn cứ cậu cậu tớ tớ, cũng giống như nhiều cán bộ lớn nhỏ khác cho thế là “bình dân”, là “thân mật”, thậm chí có ông còn khái quát lên một cách lý luận: “cách xưng hô ấy biểu thị một mối quan hệ rất dân chủ trong quân đội ta!”. Hai thầy trò theo một lối mòn ngoắt ngoéo, dần dần đi ra tới một con đường mòn lớn hơn có nhiều nhánh tỏa đi các ngả. Hai người rẽ vào con đường đi sang cánh tây mặt trận, cũng có nghĩa là cả sườn phía tây của cánh đồng Mường Thanh. Tuy đi trong rừng, nhưng thường đi trên các sườn núi cao, và thi thoảng lại gặp một cánh rừng thưa, hoặc rừng mới bị bom, pháo của địch quần nát, xơ xác, nên Hồng Đăng và Mạn vẫn có thể nhìn thấy cánh đồng Mường Thanh mờ xa. Nhiều lúc Hồng Đăng dừng lại, dùng ống nhòm để nhìn. Cánh đồng quả là mênh mông, không thể thấy rõ được các căn cứ, trận địa của địch đã như nấm độc mọc chi chít, dày đặc hai bên bờ sông Nậm Rốm. Chỉ có thể thấy rõ hơn những quả đồi nối liền nhau san sát bên kia sông Nậm Rốm, đỏ loét như cả một bầy voi khổng lồ bị lột hết da. Đó là dãy đổi ở khu đông Mường Thanh mà Bộ chỉ huy mặt trận đã gọi là “cái xương sống” của Điện Biên Phủ, cũng như đã gọi sân bay ở cánh đồng phía tây này là “dạ dày của tập đoàn cứ điểm”. Nếu đánh gãy được cái xương sống ấy, và cắt đứt được cái “dạ dày” ấy thì tập đoàn cứ điểm của địch sẽ sụp đổ hoàn toàn... Cánh đồng Mường Thanh kia. Nhìn càng xa, nó càng mờ mờ sương khói. Nếu không có những chiếc máy bay đang gầm gào ở trên không thì khó có ai nghĩ hơn một vạn quân thù đang tập trung ở đó. Khó có ai có thể nghĩ: cánh đồng bao la, xanh biếc tuyệt đẹp kia đang trở thành biển lửa, biển máu. Chiếu cố cho người cần vụ mẫn cán, trung thành, Hồng Đăng thi thoảng lại trao ống nhòm cho Mạn coi. Mạn như vồ lấy, hết nhìn trái, nhìn phải lại nhìn trên, nhìn xuống dưới, rồi nhe hàm răng ám khói thuốc lào cười khoan khoái: - Năm quả đồi ở khu đông thì nom rõ rồi, dưng mà còn cái sân bay của nó đâu. Ban chỉ huy nhỉ? Trên bảo nó sẽ là cái đinh, cái huyệt của mặt trận phía tây phải không, Ban chỉ huy? - Nó ở giữa cánh đồng kia kìa! Tuy vậy ta ở xa, trên dưới bốn cây số, ống nhòm ở đây cũng không nhìn rõ dược, vì còn có cả sương mù nữa. - Mẹ kiếp, chỉ có mỗi cái sân bay này, bao giờ mà quân ta phăng teo được thì cha con nhà nó chết ráo cả, Ban chỉ huy nhỉ? Hồng Đăng cười: - Cậu cũng hiểu thế hả? Nhưng cũng phải nói cho rõ: cả cái khu đồi phía đông kia nữa, phải đập cho bằng được... Mạn sung sướng gật đầu lia lịa: - Vâng, đúng thế, đúng thế! Hai thầy trò tiếp tục đi. Một quãng đường lầy lội hiện ra phía trước. Dân công, bộ đội đi lại nhiều chỗ này bùn nước sâu tới quá mắt cá chân, thậm chí có đoạn còn ngập tới bắp chân. Hồng Đăng dừng lại, ngần ngại liếc nhìn xuống đôi giày da cao cổ chiến lợi phẩm của mình. Đôi giày còn khá mới và được gìn giữ khá sạch sẽ. Trong lúc đó, Mạn cúi xuống loay hoay xắn quần lên tới sát bẹn. Hồng Đăng bỗng cất tiếng gọi: - Mạn, ông cõng hộ mình một tí nhá! Mạn liếc nhìn xuống đôi giày của Hồng Đăng, đoạn lặng lẽ trút chiếc ba lô đồ sộ xuống, ngoan ngoãn bước tới trước mặt Hồng Đăng. Anh khom mình xuống, chống hai tay vào hai đầu gối cho vững. Hồng Đăng tươi cười nhảy lên tấm lưng còn đang đẫm mồ hôi của anh cần vụ, và dang rộng hai chân, đưa thẳng về phía trước. Mạn quài hai tay ra phía sau, ôm lấy hai vế đùi to và còn rắn chắc của anh, cẩn thận nhắc: - Ban chỉ huy bám chắc vào đấy nhá! - Cứ yên trí! Có ngã, tớ sẽ ngã trước. - Nào! Mạn nói to một tiếng lấy đà bắt đầu bước loạng choạng xuống bùn. Hồng Đăng to lớn, Mạn lại thấp bé thành ra trông giống như một con chuột đang cõng một con mèo. Dân công, bộ đội đi công tác ai nấy đều che miệng trước cảnh tượng khá bất ngờ và độc đáo ấy. Mạn vừa thở phì phò vừa nặng nhọc rút từng bàn chân ra khỏi bùn. Anh không lo mình ngã mà chỉ lo mình làm ngã cấp trên. Tất nhiên, anh chẳng thú gì cái công việc phục dịch như thế này, nhưng anh cứ nghĩ đây là bổn phận tất nhiên mình phải làm. Trong khối óc thuần phác của anh chỉ hơi vẩn lên một chút băn khoăn: cách đây hơn hai năm, khi Hồng Đăng còn ở dưới đơn vị chiến đấu, Mạn đã là cần vụ cho anh, nhưng sao hồi đó Hồng Đăng nhanh nhẹn và xuề xòa đến thế. Qua các chiến dịch, gặp phải những đoạn đường như thế này, thậm chí còn tồi tệ hơn, anh cứ xông băng băng, chân bước miệng nói: “Khẩn trương lên các cậu!”. Hồi đó anh cũng đã thích đi giày cao cổ Mỹ như thế này. Bây giờ anh có phần giữ gìn quá. Nhưng có lẽ cấp cao thì phải như thế chăng? Giữ gìn cả trong ăn uống, không ào ào như trước. Bây giờ cái tăm vót không kỹ, có khi cũng bị cự nự. Quần áo giặt còn sót vết bẩn thì bị “cạo” thẳng thừng... Hay là do có vợ rồi, thì phải thế? Nhưng cô Nguyệt Lệ lại là người hết sức giản dị. Mạn đã nhiều lần nghe thấy cô bảo Hồng Đăng: “Thôi, phiên phiến thôi chứ”. Và mỗi khi về cơ quan gặp chồng vài ngày, thấy Mạn phải quét dọn, giặt giũ, nấu nướng quá vất vả, cô rất thương, đã bảo riêng: “Anh liệu mà làm thôi, cái gì anh ấy nhà tôi có thể làm được cứ để anh ấy tự làm lấy”. Quả thật cũng có lúc tủi thân và đôi khi bực bội, nhưng vốn tính dễ dãi, hồn nhiên, anh lại thường thầm an ủi mình: “Cấp trên ai mà chẳng vậy?”. Rồi lại vui lên, anh tự đùa: “Ấy, không biết chừng mai sau mình cũng được làm cấp trên, khéo mình còn bằng bốn anh ấy”. Vượt được đoạn đường lầy, hai thầy trò lại vui vẻ đi tiếp. Tới một khu rừng thưa, bỗng thấy mùi na-pan. Hồng Đăng chăm chú quan sát, vẻ mặt trở nên lo lắng: - Này, cẩn thận đấy nhá! Chỗ này nó hay ném bom đấy! Anh vừa nói dứt câu thì tiếng máy bay rú lên như ma như quỷ ào tới. - Mạn!... Hồng Đăng vừa kịp gọi to một tiếng thì hai trái bom đã rít lên rồi nổ bùng ở gần ngay đó. Hai trái bom đào, chứ không phải na-pan. Trời, đất, rừng cây như tan tành trong khói lửa và những mảnh gang kinh hồn cùng sóng xung kích như bốc cả những gốc cây quăng đi xa... Cũng rất may, cả hai thầy trò đã kịp cùng lăn xuống một khe suối nhỏ. Họ chỉ bị một “cơn hồng thủy” đất đá và cành cây trào qua làm tối tăm cả mặt mũi, bị nâng cao lên khỏi mặt đất và ném xuống tức rực. Hai chiếc máy bay đã đi xa. Khói bom cũng tan dần. Mạn lồm cồm bò dậy. Việc trước tiên là anh nhớn nhác tìm Hồng Đăng. Anh hãi hùng muốn kêu lên khi nhìn sang bên cạnh không thấy Ban chỉ huy của mình đâu. Không kịp giũ đất cát trên đầu, trên cổ, cũng không kịp nhìn xem mình có bị dính mảnh nào không, Mạn vùng chạy lên một chỗ đất cao, gọi to: - Ban chỉ huy! Ban chỉ huy! - Anh gọi mà như khóc. Mạn gọi tới lần thứ ba mới thấy Hồng Đăng ở dưới khe bò lên, áo quần đầy đất cát, chiếc mũ bê-rê quen thuộc đã bay đi đâu mất. Anh bước đi thất thểu, vai như lệch hẳn về một bên, miệng há ra. Đang lúc còn bàng hoàng, nhưng nom thấy Hồng Đăng như thế, Mạn không khỏi bật cười. Quả thật nom anh buồn cười quá, Mạn phải cố che miệng lại: - Ban chỉ huy ở đâu thế, em tìm mãi chẳng thấy? Hồng Đăng vẫn còn thở hổn hển: -Tớ lăn đi một quãng, xuống được một chỗ thấp và kín hơn... Đến lúc ấy, Mạn hết buồn cười, chỉ còn thấy vô cùng xót xa cho cấp trên của mình. Hồng Đăng có vẻ quá mệt và cả quá sợ nữa. Mạn bảo anh ngồi xuống để mình phủi quần phủi áo cho, nhưng Hồng Đăng xua tay, giục: - Thôi, đi mau! Đi mau khỏi chỗ này ngay! Nhỡ nó quay lại thì khốn. Mạn lại còng lưng thồ chiếc ba lô đồ sộ, cầm cây tiểu liên, và lần này thì anh đi trước. Vừa đi anh vừa thầm ái ngại cho cấp trên của mình bị một hôm “xuất hành" không may. Tuy nhiên, trong góc sâu kín của lòng anh, dù đó là một tấm lòng đơn giản ngây thơ, cũng lại thấp thoáng nổi lên một nỗi băn khoăn: Trước đây, hồi còn ở đơn vị, anh ấy thường rất bình tĩnh dù có khi bom pháo còn gấp mấy... Thế mới biết bây giờ cái câu “Thân trọng thiên kim” là có thật. Bây giờ Mạn mới thật thông cảm vì sao giờ đây Hồng Đăng thường ngại xuống các đơn vị. Ngồi ở hậu cứ nhiều và có điều kiện tẩm bổ, Hồng Đăng càng ngày càng béo đẹp ra. Qua một quãng đường nữa. Dân công, bộ đội càng tấp nập. Dân công gồng gánh, tải gạo, đạn. Bộ đội đủ loại: anh đi công tác lẻ, toán rải dây thông tin. Lại có anh chăn cả một đàn lợn. Những con lợn khá béo tốt, có con cũng bị thương vì bom đạn, được băng bó như người. Đó là những con lợn không hiểu đã được “quân ta” huấn luyện thế nào mà tinh khôn như chó. Anh chăn lợn hô nằm là nằm, hô tiến là tiến, hô chạy là chạy, rẽ trái là rẽ trái, rẽ phải là rẽ phải... Mạn thú quá cứ cười nghiêng cười ngả. Riêng Hồng Đăng vẫn chưa hoàn toàn hết bàng hoàng vì trận bom. Màn 1 chiến dịch đã qua, bây giờ màn 2 chiến dịch chưa mở, mà bọn Pháp đã phản ứng ngày đêm bằng phi pháo kinh hồn thế này, mặc dầu cao xạ của ta đã vào được cánh đồng. Màn 2 bắt đầu thì sự ác liệt không rõ sẽ còn tới mức nào, một khi quân ta bắt đầu phải rời rừng núi đánh xuống đồng bằng trống trải ở phía tây này, và “húc” vào cả một loạt ngọn đổi hiểm yếu ở phía đông bên kia tả ngạn sông Nậm Rốm? Khi ấy, tất nhiên Hồng Đăng cũng phải bám theo các đơn vị xuống đồng bằng. Ngồi mãi trong hầm trên núi sao được? Hồng Đăng cứ loanh quanh mãi với những ý nghĩ rối rắm nặng nề, cho tới khi nhìn thấy một tấm biển gỗ có vẽ mũi tên chỉ rẽ trái với một ký hiệu “QY10”, anh mới như choàng tỉnh và thoắt vui vẻ hẳn lên. - Mạn ơi, ta dừng lại đã! Anh cần vụ vẫn đang cắm đầu cắm cổ thồ ba lô đi trước, ngơ ngác quay lại. Hồng Đăng đang giũ áo, phủi quần, vuốt lại tóc, tươi cười: - Ta rẽ vào đây một chút cậu ạ! - Đây là đâu, Ban chỉ huy? - Quân y tiền phương. Nhìn vào cặp mắt ngạc nhiên, thoáng cả vẻ nghi hoặc của anh cần vụ, Hồng Đăng thân mật giải thích: - Tớ muốn tranh thủ vào thăm anh em thương binh một chút, cậu ạ! Đi ngang qua đây mà không vào thăm anh em một tý, áy náy lắm. Mạn vẫn đứng im, không đáp lại. À, thì ra thế! Ông ấy vào thăm thương binh. Nhưng có thật không, hay là thăm ai? Người ta đồn rằng ông ấy đang “dăng dện” với một cô bác sĩ nào đó bên quân y. Khéo cô ta ở đây, và hai bên đã có hò hẹn nhau cũng nên. - Đi Mạn, nào, ta đi! Từ đây xuống tổng kho cánh tây cũng không còn xa nữa. Không sợ tối đâu. Vốn đã quen tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên, cuối cùng Mạn chỉ còn biết lặng lẽ xốc ba lô, đi theo Hồng Đăng, rẽ vào một lối mòn, đi sâu mãi vào những khe núi phía trong. Mạn lại thầm nghĩ: khổ cho cô Nguyệt Lệ, cô mà biết chuyện này, cô còn buồn tới đâu. Chỉ nguyên những chuyện về ý ăn ý ở thường ngày cô đã không vui rồi. Còn nhớ không ít lần hai vợ chồng gặp nhau ở cơ quan, không rõ va chạm gì mà Nguyệt Lệ thường bỏ ra về rất sớm. Còn những khi cô về chỗ ở riêng của Hồng Đăng, coi như nhà riêng, Mạn cũng đã thấy nhiều khi cô khóc thầm sau những cuộc cãi cọ mà Mạn không được hiểu rõ. Thấy vậy, bây giờ mà cô ấy còn biết cả chuyện này nữa thì không hiểu rồi sẽ ra sao? Lát sau, hai thầy trò tới trạm gác đầu tiên. Hồng Đăng bảo Mạn ngồi chờ. Mạn lặng lẽ trút ba lô xuống. Hồng Đăng đi như gió lướt. Càng vào rừng càng rậm hơn, nhưng cũng nhiều lán trại hơn, những lán trại khá lớn có hàng có lối. Cũng thấp thoáng những tà áo trắng, không khí phảng phất mùi ê-te và cả mùi mủ máu... - Anh Hồng Đăng! Một tiếng reo lanh lảnh. Hồng Đăng cũng gần như reo to: - Kim Oanh! Từ phía trước, một bóng áo trắng đang như bay lại. Không phải là một chiếc áo trắng nữa mà là một bộ ngực cao vút, nở căng tràn đầy sinh lực đang lao lại phía anh, cùng một cặp mắt long lanh rực sáng, đầy đam mê... Hai người gần như ôm choàng lấy nhau. - Ôi, em cứ mong anh mãi. Em đã nhắn tới ba lần... - Có! Có, anh biết cả. Nhưng lắm việc quá, hôm nay mới đi được... - Việc! Việc! Lúc nào cũng việc! Còn em thì chỉ là cục đất hả? Kim Oanh vừa nũng nịu nói, vừa uốn éo, đung đưa tấm thân đầy khêu gợi. Hồng Đăng nhìn quanh: - Bây giờ ta... vào viện, hay đi đâu ngồi nói chuyện em? Đôi mắt lúng liếng, Kim Oanh cầm lấy tay anh: - Thôi, khỏi vào viện. Ta ra chơi ở con suối mà em vẫn thường ra tắm. Xa một tí, nhưng chỗ ấy đẹp lắm anh ơi. Hồng Đăng đùa: - Em tắm có đứa nào nhìn trộm không đấy? Kim Oanh véo một cái vào sườn anh: - Cái anh này!... Chỗ ấy kín, lại chưa có đứa nào trong viện biết mà mò tới. - Thế thì ta đi! Vừa đi, Kim Oanh vừa nhún nhẩy: - Anh có biết em nhớ anh đến thế nào không? Hồng Đăng cũng không kém ga-lăng, mỉm cười đáp lại bằng một giọng êm như nhung: - Chắc chắn không thể nào hơn được với nỗi nhớ của anh... - Xạo! Anh chỉ nhớ bà vợ “nữ hoàng thầm lặng”, vừa quyến rũ vừa bướng bỉnh của anh thôi. - Bậy nào! - Thế sao anh không lôi bà ấy cùng đi chiến dịch cho vui? - Cô ấy còn đang mải đọc sách ở căn cứ địa Thái Nguyên. Mà dù cô ấy có thích đi anh cũng bảo cô ấy ở lại. Vì ở chiến dịch này đã có em là quá đủ hạnh phúc đối với anh rồi. Không ai được quấy phá hạnh phúc ấy. - Lại xạo! Con suối quả là kín đáo và cảnh cũng khá đẹp. Hai người cùng ngồi xuống một vạt cỏ. Sát phía sau họ là một lùm cây rậm. Vừa ngồi xuống, bốn cánh tay đã ngay tức khắc cùng như bốn con rắn quấn chặt lấy nhau, và hai cặp môi cùng tìm nhau mút chặt... Một cánh tay của Hồng Đăng rời khỏi tấm thân nóng bỏng những thèm muốn của Kim Oanh. Bàn tay anh hấp tấp luồn vào dưới các làn áo, rồi ngược nhanh lên, xoa tròn trên hai bầu vú rắn căng đang như rung lên và trào ra những khoái cảm. Hai cánh tay Kim Oanh cũng từ từ buông rời. Cặp mắt nhỏ, dài từ từ khép lại, và tấm thân bốc lửa cũng từ từ nằm ngả ra trên bãi cỏ... Kim Oanh là bác sĩ khoa gây mê hồi sức của viện. Cô là một trong số khá đông bác sĩ ở đây chưa có chồng hoặc chưa có vợ. Nhưng cô là người được chú ý nhiều hơn cả. Cô không đẹp lắm, nhưng vì có một tấm thân với bộ ngực tuyệt vời, một tấm thân mà dường như bất cứ người đàn ông nào đứng trước cũng gần như bị điện giật. Với tấm thân đầy khêu gợi ấy, lại thêm tính táo bạo và sự đam mê, cô đã làm cho nhiều anh liêu xiêu. Tuy vậy không phải bất cứ người đàn ông nào cô cũng có thể dễ dàng chấp nhận hoặc chấp nhận lâu dài. Đã đành phải là những chàng trai cường tráng đủ sức đáp ứng, chưa nói tới thỏa mãn những đòi hỏi mãnh liệt của cô. Nhưng dẫu sao cô vẫn thích những chàng trai có văn hóa và biết chiều nịnh, nếu biết cả những ngón chơi và có bản lĩnh không sợ mọi tai tiếng, lại có nhiều tiền nữa thì càng tuyệt. Nghe nói, Kim Oanh đã từng yêu một anh đại đội trưởng cực kỳ khỏe mạnh, gân guốc, đen bóng, mà cô vẫn thường gọi yêu là “Chàng mọi đen của tôi”. Nhưng rồi cô đã bỏ anh khá nhanh. “Anh ta chỉ có những bắp thịt vô giá, nhưng cái đầu thì rỗng tuếch”. Người tình thứ hai của cô là một bác sĩ dân y. Cuộc tình này cũng ngắn ngủi, thậm chí còn ngắn hơn cả cuộc trước. “Nom bên ngoài tưởng hùng dũng, vậy mà té ra một tên mới đánh đã phải bỏ chạy!”. Người tình thứ ba là một cậu bé mười sáu tuổi ở một đội văn nghệ. Cậu ta rất xinh trai và đang mơn mởn tuổi phát dục. “Cô ta bế nó lên bụng”. Thiên hạ cười vui nói vậy. Nhưng rồi cậu bé cứ van xin bà chị tha cho, bao nhiêu tháng trời mà không được. Cuối cùng để cứu cậu ta, cấp trên phải điều cậu sang một tỉnh khác. Hồng Đăng là người tình thứ tư và có vẻ là người tình được lâu lâu hơn các anh trước. Hồng Đăng đã có gần đủ mọi ưu thế: sức khỏe, địa vị và cả tiền tài, ngón chiều nịnh phụ nữ cũng tỏ ra là ngưởi khá lão luyện... Biết Hồng Đăng đã có vợ, Kim Oanh vẫn phớt tỉnh: “Ồ, mặc! Ai mạnh thì người đó thắng”. Ngang như cua, lưỡi sắc như dao, cả bệnh viện ai cũng kiêng mặt cô. Nói cho đúng ra ở viện này, cũng như tất cả mọi nơi trên trái đất này, cũng đều có đủ cả thần thánh và ác quỷ, người anh hùng và kẻ hèn mạt, và đã có độc cũng sẽ có cái trị độc. Ở đây không ai dám đụng tới cô chỉ vì cô là con một ông lớn, mà oái oăm thay, một ông lớn đi giảng dạy về đạo đức cách mạng. Ở bệnh viện này, người khổ sở nhất là đồng chí chính ủy viên. Ông gần như võ vàng đi vì phải liên tục làm công tác tư tưởng với Kim Oanh. Nhưng “nước đổ lá khoai hết”. Cô cứ nhơn nhơn. Nhiều khi còn như thách đố cả mọi người, thậm chí giỡn cả với chính ủy: “Nói thật chứ, cuối cùng em là em yêu chính ủy nhất đấy”. Ôi, cái con Thị Mầu... Trong lùm cây bên bờ suối, hai tấm thân vẫn xoắn chặt lấy nhau, oằn oại và rú rít hồi lâu mới buông nhau ra và cùng ngồi dậy. Hai người nhìn vào mắt nhau cùng cười. Mồ hôi còn đầm đìa, nhưng cả hai khuôn mặt đều rạng rỡ như mặt trời, nụ cười sáng lóa thỏa mãn. Thốt nhiên như có một ánh chớp xanh lướt ngang qua đầu óc Hồng Đăng. Anh thầm nghĩ: “Ôi, Nguyệt Lệ, giá mà em cũng nồng nàn, cũng đam mê như thế này thì có phải là...”. Nhưng Kim Oanh đã cắt đứt ý nghĩ của anh bằng một nụ hôn. Lền này là một nụ hôn cảm ơn, lướt nhanh chứ không phải là những nụ hôn đầy nhục cảm, cháy bỏng lúc trước. Rồi hai người cầm tay nhau cùng đứng dậy, đi trở ra phía trạm gác, nơi người cần vụ trung thành đang bồn chồn, nóng lòng, sốt ruột chờ đợi. Trước khi chia tay, Hồng Đăng ôm ghì lấy Kim Oanh cho cặp vú nở căng của cô áp chặt vào ngực mình. Anh hôn dài một lần nữa. Bàn tay cô run rẩy, từ từ lần xuống chỗ bụng dưới của anh, làm cho anh suýt tưởng mình không tài nào đi nổi nữa... Mạn vẫn ngồi đó chờ. - Gớm, sao mà lâu thế? Thăm gì mà thăm... Lần này không phải là gắt nhẹ như lúc ra đi, mà là một sự hờn dỗi rõ rệt. Hồng Đăng hết sức làm lành. Giọng anh êm mượt: - Thông cảm cho mình! Gặp anh em thương binh, xúc động lắm. Không dễ gì mà dứt ra đi được, Mạn ạ! Thật tuyệt, cũng chỉ cần một câu nói dịu dàng và thái độ biết lỗi như thế là mọi việc xong cả. Mạn lại xốc ba lô lên vai, hăm hở bước trước. Hồng Đăng vẫn chưa hết lâng lâng, khoan khoái. Anh lại nhớ tới Nguyệt Lệ. Gần như từ khi lấy nhau, Lệ chưa một lần làm cho anh sung sướng, thỏa mãn được đến thế. Không phải chỉ vì cô chưa muốn có con. Không, Hồng Đăng không tin như vậy. Còn những điều khác nữa. Nhưng cô luôn là một người trầm lặng. Nhẹ nhàng cũng thế, mà nổi nóng cũng vậy, cô chỉ im lặng, im lặng lắm lúc như một người xa lạ, không thể chịu nổi. Vừa chợt ra tới ngã ba có tấm biển chỉ vào quân y viện, Hồng Đăng gặp một nhóm bốn năm người, nhác nom biết ngay là cán bộ và chiến sĩ dưới đơn vị cũng vào trạm. Chắc hẳn họ cũng thăm thương binh, mà là thăm thật. Hồng Đăng nhận ra một người quen: trung đoàn trưởng Lê Thâu ở Đại đoàn cánh tây. Lê Thâu cũng nhận ra Hồng Đăng. Cả hai cùng vui vẻ siết chặt tay nhau. - Anh bây giờ... đẫy ra đấy - Ông Thâu nói. - À, vẫn thường thôi. Còn “ông”, xem ra... vất vả tợn hả! Lê Thâu cười, nụ cười vừa khiêm nhường vừa kiêu hãnh của những người lính chiến. Quả thật ông Thâu dạo này như tóp hẳn đi. Trước đây ông vốn đã không béo tốt, vạm vỡ gì. Lính trung đoàn vẫn đùa: ông không có thớ võ tướng như hai ông trung đoàn trưởng 1 và 3 cũng ở đại đoàn này. Hồng Đăng biết Lê Thâu từ hồi 1947, khi ông còn làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn chủ lực của tỉnh nọ. Dân trong tỉnh đã có câu vè về ông: “Hoan hô bộ đội ông Thâu/ Đánh giặc cũng giỏi mà diệt trâu cũng tài...”. Số là hồi đó đơn vị ông tác chiến, chống càn cũng khá, nhưng thói tự do cũng ghê, lính thường lén bắn trâu của dân đem về liên hoan rồi đổ cho là “trâu gian” hoặc trâu do Tây bắn chết bỏ lại. Hồi đó ông Thâu như thủ lĩnh cả một vùng, hét ra lửa, đi đâu cũng kiếm Nhật, côn bạt bên hông, ống nhòm trước ngực. Bây giờ về chủ lực, đã đổi khác rất nhiều. Dầu dãi, chiến trận hơn, nói năng cư xử cũng nghiêm ngắn hơn. - Thế nào, anh xuống với chúng tôi chứ? Lâu tôi không gặp anh. - Được, để rồi xem! Này, màn 1 “Sông Mã” nó làm cái Him Lam cừ quá, mà “Sông Hồng” các anh làm cái Độc Lập cũng ra trò. Tốt. Nhưng mà này, nghe các anh bên tham mưu mặt trận cho biết đâu như có người bên các anh, tuy vậy vẫn còn chưa thật chịu cách đánh và cả một số điểm về chỉ huy trong trận đó có phải không? Ông Thâu cười chỉ tay: - Đây chứ đâu! - Ông quay lại phía một cán bộ trạc hai mươi-hai mươi tám, hơi gày, với bộ áo quần dầu dãi, xộc xệch như không hề bao giờ được chú ý tới, kể cả giặt giũ. Gương mặt cháy nắng hơi tối dưới vành mũ, một chiếc mũ tre y như của chiến sĩ, có bọc vải dù làm anh có vẻ cứng cỏi. Nhất là đôi mắt, đôi mắt màu chì gan góc. Nhưng có lẽ một vết sẹo khá dài ở ngang gò má trái đã làm cho anh thêm vẻ gì đó như hơi dữ dằn nữa. - Đây là đồng chí Dũng tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 của chúng tôi - Ông Thâu giới thiệu. Hồng Đăng không khỏi chăm chú tới con người này: - Mấy chiến dịch trước, tôi đã đi với đại đoàn các anh, nhưng không thấy đồng chí này nhỉ? - À, “ông” này trên bổ sung về cho chúng tôi mới được hơn năm nay. Vốn người cũng đàng hoàng, e Hồng Đăng có thể nghĩ đây là một anh “sáu chân” (cán bộ văn phòng) mới được hạ phóng, ông Thâu nói rõ thêm: - Anh này lăn lộn cũng đã nhiều. Đã chiến đấu ở cực Nam Trung Bộ, rồi Tây Nguyên, lại sang cả Lào, gần đây mới trở lại Khu ba thì được Bộ đưa về đại đoàn chúng tôi. Trong lúc Hồng Đăng và ông Thâu nói về mình, người tiểu đoàn trưởng nọ vẫn nhìn lơ đãng đi nơi khác. Hồng Đăng cảm thấy mình không bắt tay con người này sẽ có thể bị coi là kém lịch sự. Và thật lạ, khi vừa cầm lấy bàn tay đen đúa và đầy chai sẹo của anh, linh giác của Hồng Đăng bỗng vụt lóe lên rất lạ. Anh nói: - Tôi muốn sẽ có dịp được nghe ý kiến riêng của đồng chí về các trận trong màn 1. Dũng bình thản: - Dạ, thật ra không có gì đáng kể cả. Khi quay đi được một quãng xa, Dũng mới bỗng bật nói nho nhỏ, giọng anh hơi khàn, có lẽ vì một vết thương nhỏ ở cổ, gần thanh đới: - Tôi biết ông này. - Hả? - Ông Thâu ngạc nhiên - Cậu biết ông ta từ hồi nào? Dũng không đáp, tiếp tục đi. Ông Thâu đã hiểu được phần nào tính nết của anh: rất ít nói, và điều gì anh đã không muốn nói thì cậy răng cũng không nói. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Mười, 2023, 09:24:22 am 3 Sở chỉ huy trung đoàn 2 ở khá sâu trong một khe núi. Rừng không rậm lắm nhưng thế rất hiểm, máy bay rất khó bổ nhào bắn phá, trừ phi ở dưới để lộ chúng mới có thể đạp bom xuống theo tọa độ. Từ sáng sớm, các cán bộ chỉ huy tiểu đoàn và cán bộ tham mưu chính trị, hậu cần của trung đoàn đã được triệu tập về họp để nghe trung đoàn trưởng Lê Thấu phổ biến nhiệm vụ màn 2 chiến dịch. Cuộc họp thu gọn trong một căn hầm không lớn lắm nhưng khá kiên cố, đào sâu vào vách núi. Trong hầm khá tối. Một ngọn đèn bão đỏ kè, bóng đen kịt những muội treo trên trần hầm chỉ có thể soi rõ được gương mặt của những người ngồi phía trên, quanh tấm bản đồ lớn treo ở vách hậu và ông Thâu trung đoàn trưởng. Nói năng lưu loát, giải quyết công việc khá nhanh, đó là mấy đặc điểm của ông mà cán bộ toàn đại đoàn đều biết. Ông cầm cái que tre chỉ liên tục trên tấm bản đồ. Ông đang mở đầu bằng việc nhắc lại ý nghĩa lớn lao của chiến thắng màn 1 với Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Cái lớn lao của nó, cái màn 1 ấy, trong chiến dịch này, không chỉ trước hết là tiêu diệt được một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, mà quan trọng nhất là nó, cái màn 1 ấy, đã mở toang được cánh cửa phía bắc của tập đoàn cứ điểm, nói theo từ ngữ quân sự là đã đột phá được cửa mở ở hướng tấn công chủ yếu của chiến dịch, để cho quân ta có thể triển khai nhanh chóng binh khí khí tài lớn. Như vậy, thắng lợi của màn 1 đã tạo được cái thế vô cùng lợi hại. Chả trách vì thế mà mới sau có màn 1 của quân ta, theo cơ quan Mặt trận vừa cho biết: Navarre đã phải sớm nói với Cogni: “Điện Biên Phủ có nguy cơ hỏng. Phải tìm mọi cách giữ lấy nó”. Và họ bắt đầu cãi nhau. Cogni đổ lỗi cho Navarre đã thành lập tập đoàn cứ điểm này. Navarre cãi: Chủ trương của ông ta là năm nay (1954) tập trung lực lượng quét cho xong miền Nam Việt Nam đã, Bắc Bộ chỉ cầm cự. Nhưng chính vì thấy động ở Tây Bắc nên đã cho co cụm lại ở Điện Biên, và tương kế tựu kế đã thành lập tập đoàn cứ điểm này. Khi đó Cogni cũng rất hoan nghênh, đâu có phản đối. Kể lại chuyện hai viên tướng giặc bắt đẩu hục hặc nhau, ông Thâu cười và đọc một câu thành ngữ cổ: “Vui thì chén chú chén anh Gặp thác gặp ghềnh cặc văng tứ tán” Đám đông cán bộ đang ngồi chen chúc nhau cùng bật cười. Tính ông Thâu vẫn thế, thỉnh thoảng lại thích nói xen vào một câu ca dao hoặc hò vè. Anh thanh niên phố huyện khi xưa xem ra vẫn chưa hết phong độ và tâm hồn dân dã. Rồi ông Thâu chuyển sang phần phổ biến chủ trương của Bộ chỉ huy Mặt trận về màn 2 chiến dịch, đợt chiến đấu có tầm quan trọng quyết định tới toàn bộ mặt trận. Tới đâyy, các cán bộ tham mưu nhanh nhảu hạ tấm bản đồ vẽ những diễn biến trong màn 1, thay vào đó một tấm bản đồ mới. Vẫn những ký hiệu rừng núi, cánh đồng và toàn bộ các vị trí của quân Pháp dày đặc, kéo dài gần suốt hai bờ sông Nậm Rốm. Nhưng bản đồ này có khác: có một đường vòng hình bầu dục, màu đỏ, ôm vòng lấy toàn bộ khu trung tâm Mường Thanh và các vị trí ngoại vi trong đó có cả sân bay. Dịch xuống dưới một chút cũng có một vòng tròn đỏ với cái tên địa phương: Hồng Cúm. Từ hai vòng tròn to, nhỏ ấy còn có rất nhiều mạng đường chì đỏ chi chít. Tất cả đều hướng vào Mường Thanh tựa như có hàng chục, hàng trăm mũi tên cùng nhằm bắn vào một đích ở trung tâm. Tấm bản đồ đã đập mạnh vào mắt mọi người. Có anh hình dung ra ngay: đây là những vòng vây lửa, có người lại tưởng tượng ra một chiếc thòng lọng khổng lồ đang khoanh tròn lấy cổ quân địch... Ông Thâu phấn khởi: - Các đồng chí quả là rất tinh, chưa nói đã biết cả rồi đấy. Thú không nào? Mà cũng ghê không nào? Các “cụ” ở trên chủ trương kiến thiết một trận địa bao vây vĩ đại như thế này, quả là sáng tạo và cũng quyết liệt. “Trận địa chưa có, chưa xong chưa cho đánh. Đánh mà không có trận địa chiến hào bao vây và tấn công, trong màn 2 này, xuống cánh đồng sẽ là ném quân ra cho thằng Tây nó tàn sát. Các “cụ” ở trên nói thế. Có hiểu không nào? Tôi bắt đầu nói cụ thể từng điều về nhiệm vụ cơ bản của màn 2 chiến dịch nhá. Ông Thâu đã gây được không khí hào hứng. - Nhưng này! Phải ghi chép đấy nhá! Điều thứ nhất... Giọng ông vang, to hơn lên, rành mạch, rõ ràng. Ông nói lại đầy đủ nhiệm vụ lớn mà hội nghị cán bộ toàn Mật trận tại Mường Thanh do đồng chí Ngọc (Võ Nguyên Giáp) trực tiếp chủ trì, đã đề ra: Để tích cực chuẩn bị mở màn 2 chiến dịch, phải nhanh chóng tiếp cận bao vây quân Pháp bằng cách xây dựng một trận địa lớn khắp bốn bề, để sau đó sẽ tấn công lớn đánh chiếm khu đồi phía đông là khu phòng ngự then chốt, và cũng phải đánh chiếm bằng được sân bay Mường Thanh, cái “dạ dày” của tập đoàn cứ điểm... Đánh thắng được hai nơi này thì tình hình sẽ biến chuyển cực kỳ to lớn và mau lẹ, có thể coi như ta như đã cầm chắc toàn thắng ở trong tay... - Nhưng trước hết phải đào trận địa chiến hào đã các đồng chí ạ - Ông nhấn mạnh - Tôi đã nói rồi: “Các cụ” đã “quát” là: “Chưa có trận địa, chưa xong trận địa, chưa cho đánh!”. Hiểu chưa? Trận địa và trận địa. Trận địa chiến hào này đã được coi là một chiến thuật lớn, mà trận địa chiến hào thì ở cánh tây này lại rất nặng. Các đồng chí quá biết rồi đấy, cánh đồng Mường Thanh mênh mông thế kia... Sau đó ông bắt đầu chuyển sang phần phổ biến kế hoạch cụ thể của trung đoàn: Bốn cây số chiều dài, phía bắc nối với trận địa giao thông hào của trung đoàn 3, phía nam tiếp với giao thông hào của trung đoàn 1. Tuyến hào trục giao thông lớn cách địch khoảng hai ki-lô-mét. Chính diện của trung đoàn là sân bay với cả một loạt cứ điểm bao quanh, do toàn lê dương trấn giữ. Trong kế hoạch, phần phân công, phân nhiệm cho các tiểu đoàn cũng được vạch ra khá cụ thể. Mức thời gian cũng rất rõ. Ngoài ra còn có cả sự nhắc nhở để phòng địch oanh tạc hoặc ra cản phá các trận địa của ta... Ông Thâu nói xong, vừa là thói quen, vừa có ý thức, quay lại phía chính ủy Đỗ Gia Quý một người khá thấp bé, tóc cắt kiểu móng lừa, gương mặt thông minh có vẻ có học thức đang ngồi cạnh, hỏi: - Anh có ý kiến gì bổ sung hoặc nhắc nhở thêm? Đỗ Gia Quý mỉm cười lắc đầu khiêm tốn. Nhưng rồi anh cũng đứng dậy. Anh nhấn mạnh thêm về ý nghĩa rất quan trọng của việc đào trận địa chiến hào bao vây, tấn công. Anh nhắc lại phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”. Chính vì phương châm ấy mà quân ta đã chiến thắng rất to lớn trong màn 1 chiến dịch. Vậy màn 2 cũng phải như thế. Đào trận địa bao vây tấn công cũng là thực hiện phương châm tuyệt vời ấy. Anh nói rất say sưa, và có vẻ có nhiêu lý luận. Anh lại nói khá dài, cho tới khi thấy các cán bộ ngồi dưới cựa quậy và xì xầm nói chuyện hơi nhiều, bấy giờ mới dừng lại, và không quên kết thúc bằng những lời cổ vũ kêu gọi thật nồng nhiệt. Trong những người sốt ruột có cả ông Thấu. Ông biết anh em đang có vẻ có nhiều ý kiến muốn nói. Họ đang quan tâm nhiều tới cái kế hoạch mà ông vừa phổ biến. - Nào, thế bây giờ anh em ai có ý kiến gì không? - ông Thâu đưa mắt nhìn bao quát cả căn hầm, cất tiếng hỏi, nhưng chợt nhớ ra còn một vị phái viên của Mặt trận cũng đang có mặt ở đây, ngồi hơi xế phía sau lối chính ủy Quý, ông Thâu cảm thấy suýt nữa mình mắc lỗi: - Bây giờ, xin ý kiến anh Hồng Đăng. Anh có điều gì giúp đỡ thêm không? - ông Thâu tươi cười và nhũn nhặn. Hồng Đăng tựa như người đang mơ ngủ chợt bị đánh thức. Anh choàng ngồi thẳng dậy, hơi lúng túng: - Không, không! Tôi đề nghị anh Thâu cứ để cho anh em phát biểu. Muốn tỏ ra khiêm tốn, nhưng thật tình anh cũng không biết rõ kế hoạch hành động mà ông Thâu vừa phổ biến có những gì để mà góp ý. Gần như suốt từ đầu buổi họp, tâm trí anh đều để vào những chuyện khác. Mới cách đây hai hôm, thật không ngờ, anh đã gặp Nguyệt Lệ cùng đoàn cán bộ phụ nữ úy lạo thương binh và binh sĩ. Anh không khỏi vui mừng. Hai vợ chồng được gặp nhau ở trận địa, thật là thú vị, ít có. Bà trưởng đoàn đã rất tế nhị cho phép Nguyệt Lệ ở lại với Hồng Đăng vài ngày tại khu hậu cần mặt trận. Anh chị em trong cơ quan cũng hết sức nhiệt tâm, bảo nhau thu xếp cho hai vợ chồng anh một căn hầm riêng. Nhưng thật không ngờ, Nguyệt Lệ đã từ chối. Cô kiên quyết từ chối. Nói thế nào cô cũng chỉ có một lời: “… Em lên đây mục đích là để thăm anh em thương binh, bộ đội. Để cho em đi, anh ạ”. Cuối cùng, Hồng Đăng đành phải chịu, và trong lòng đầy hờn giận. Đây không phải là lần đầu tiên người vợ xinh đẹp mà bướng bỉnh ấy đã làm anh buồn phiền và cả bực bội. Bướng bỉnh và cả cái gì đó như... thiếu nồng nhiệt, thậm chí như lạnh lùng, xa lạ nữa. Không phải bây giờ mà gần như ngay từ sau khi lấy nhau đã như thế. Điều gì vậy? Có chuyện gì đã xảy ra? Sự săn sóc, yêu thương của Hồng Đăng có thể nói là vô cùng chu đáo. Anh không hề tiếc Nguyệt Lệ bất cứ cái gì, điều gì. Anh yêu nàng say đắm đến như tôn thờ. Vậy mà anh chưa hề bao giờ được đáp lại bằng những tình cảm như vậy. Nói cho đúng ra về mặt trông nom cái ăn cái uống, áo quần, thuốc thang, sức khỏe của anh... thì không thể chê trách Nguyệt Lệ một điều gì, dù chỉ là nhỏ bé. Như vậy bổn phận một người vợ, Nguyệt Lệ đã làm tròn một cách cực tốt. Nhưng Hồng Đăng không chỉ mong đợi ở nàng có vậy. Nếu chỉ có thế, cậu cần vụ Mạn cũng có thể giúp được anh tương tự. Hồng Đăng cần ở nàng những cái khác. Đó là sự vuốt ve, yêu chiều, nũng nịu nhất là sự nồng cháy trong yêu thương. Những đêm hai vợ chồng ăn nằm với nhau, anh chưa hề bao giờ cảm thấy mình hoàn toàn sung sướng. Nguyệt Lệ cứ nằm đó, như khiên cưỡng nhiều hơn là tự nguyện, càng không bao giờ nàng chủ động. Nằm đó, nàng mặc cho anh vần vò, muốn làm gì thì làm, cho đến khi mệt thì lăn ra ngủ... Thân thể ở đó mà hồn nàng tựa như bay tận nơi đâu. Bay về nơi đâu? Về với mẹ? Hay là vẫn bay tìm cho đến tuyệt vọng cái anh chàng bộ đội nào đó mà nàng đã từng cho biết là thân thiết từ hồi 1947, 1948? Dũng Linh! Nàng đã gọi tên anh ta như vậy. Nàng còn tả cả hình dáng con người đó: trẻ trung, hào hoa. Nàng không giấu anh: nàng rất buồn khi được tin anh đã hy sinh. Ôi phải chăng cô gái lãng mạn đã không dứt ra được cái hình ảnh cũ quá xa vời ấy, đến mức không còn cảm nhận thấy được hạnh phúc đang ở ngay trong lòng bàn tay mình nóng hổi? Dũng Linh, cái tên ấy đã luôn ám ảnh anh một cách khó chịu, và đôi khi cũng không kém nặng nề. Nhưng khốn nỗi em quá đẹp. Sắc đẹp đằm thắm của em có một sức quyến rũ lạ lùng đến như mê hoặc. Và rút cục cũng vì thế, luôn luôn Hồng Đăng chỉ như một anh lính bại trận leo đẽo đi theo nàng... Kim Oanh đã xuất hiện giữa màn bi kịch này. Nhưng cô thật ra cũng chỉ là nhân vật giải sầu dù đã luôn luôn đem lại cho anh những khoái cảm tuyệt vời. Thật vậy, anh vẫn không thể thiếu Nguyệt Lệ. Cách đấy mới mấy hôm, Hồng Đăng tình cờ đã gặp một nhóm cán bộ ở lối vào trạm phẫu tiền phương trong đó có một người tên Dũng. Hôm ấy Hồng Đăng còn đang ngây ngất vì cuộc gặp gỡ với Kim Oanh, nên không để ý nhiều. Nhưng rồi anh bỗng có những phân vân rất lạ: Có phải đấy chính là Dũng Linh?... Hôm nay xuống trung đoàn này dự họp phổ biến nhiệm vụ, anh lại gặp Dũng - hoặc Dũng Linh - Anh ta đang ngồi kia, ở phía sau cùng, trong một góc tối, như một con báo đen, thu mình. Gần như suốt từ đầu cuộc họp, Hồng Đăng chỉ nghĩ lan man về chuyện Nguyệt Lệ, và chỉ quan sát con người đang ngồi thu mình kia. Có phải Dũng Linh đấy không? Câu hỏi ấy luôn luôn quẩn quanh trong đầu anh. Nhưng không thể thế được. Dũng Linh đã chết. Và, như Nguyệt Lệ tả, anh ta dẹp trai, hồng hào, tươi tắn, sôi nổi. Còn anh chàng tiểu doàn trưởng kia gần như hoàn toàn trái ngược. Vậy phải chăng đây chỉ là một cảm giác lầm? Nhưng quái lạ, đã nghĩ vậy mà nỗi phân vân vẫn không sao đuổi ra khỏi hoàn toàn tâm trí của anh. - Vậy nào, bây giờ ai có ý kiến hỏi, hoặc... - Ông Thâu hất hàm. Đám đông đang xì xào bỗng im bặt. Chưa một ai chịu phát biểu trước. Người ta vốn biết tính ông Thâu thường chỉ thích mau chóng “nhất trí”. Tiểu đoàn trưởng chủ công Phan Đức người có uy tín cao nhất trong hàng ngũ cán bộ tiểu đoàn cũng không muốn nói ngay. Mọi người đều liếc về phía tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Nguyễn Văn Dũng. Đó là một con người thường ngày lầm lì, nhưng trái lại khi vào việc lại hay có ý kiến, ý kiến thẳng thắn và nhiều khi táo bạo. Lần này mọi người lại có ý chờ cho Dũng lên tiếng trước. Dũng đang ngồi lắng nghe. Anh không để ý tới thái độ chung quanh. Anh chỉ thấy có điểu muốn nói và cần phải nói. Anh giơ tay. Mọi người thoáng mỉm cười. Còn ông Thâu thì chau mày. “Chà, vẫn lại cái anh chàng đa sự!... ”. - Báo cáo, tôi xin được hỏi lại: Mức mười ngày là do trên đặt ra hay của trung đoàn? Ông Thâu đáp: - Cấp trên! Mặt trận! Chẳng phải đại đoàn, cũng không phải trung đoàn. (Ông cố ý nhấn mạnh cụm từ “Cấp trên” và “Mặt trận” như một điều khẳng định tầm quan trọng chính xác và cũng như một lời cảnh cáo khéo kẻ dám vặn hỏi). Dũng có vẻ không hề nao núng: - Báo cáo, tôi thấy quá gấp, e không kịp! Đôi mắt ông Thâu tròn xoe: - Không kịp? Vì sao? - Một là: bộ đội ta trải qua cuộc truy kích Thượng Lào đã mệt lại vào đợt 1 chiến dịch ngay, chiến đấu ác liệt, thương vong cũng nhiều. Hai là: với kinh nghiệm của anh em đã có, cố lắm với dụng cụ đầy đủ thì cũng chỉ 4 hoặc 5 mét khối một ngày. Vậy tính với quân số của ta, với dụng cụ rất thiếu thốn thì... Tới đây, ông Thâu đã bực mình thật sự. Ông ngắt lời Dũng để giảng giải cho anh biết: nào là tinh thần bộ đội đang lên dù quả là đã khá mệt nhọc, nào là đất trên cánh đông Mường Thanh là đất ruộng dễ đào... Nhưng ông nhấn mạnh hơn cả là “sự tính toán rất chính xác” của tham mưu mặt trận. Thoáng một ý nghĩ trong đầu ông: thằng cha này khéo giảm quyết tâm? Có lẽ cùng một ý nghĩ như vậy, chính ủy Đỗ Gia Quý cũng bật đứng dậy, tiếp lời. Ông nhắc lại quyết tâm của Đảng, toàn quân, toàn dân tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ. Ông cũng nhấn mạnh lại phương châm “đánh chắc tiến chắc” của trên. Có vẻ như ông nói chung với mọi người, nhùng ai ai cũng hiểu ông nhằm vào Nguyễn Văn Dũng là chính. Nhưng đã đến lúc nhiều người mạnh dạn xin nói. Hầu hết đều đồng ý với Dũng, kể cả tiểu đoàn trưởng Phan Đức, người được tin cậy hàng đầu ở đây vẫn thường thầm gờm cái anh tiểu đoàn trưởng mới về này, và luôn luôn lo anh ta có thể vượt trội hơn mình. - Báo cáo, đã gọi là “đánh chắc, tiến chắc” thì càng phải xây dựng trận địa cho thật tốt, không thể vội vàng được. - Dũng nói tiếp. Anh cảm thấy được khích lệ bởi số đông. Cuộc tranh luận trở nên mỗi lúc thêm sôi nổi, thậm chí có phần căng thẳng. “Xã Đệ” - hỗn danh của tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 Trần Văn Đệ, người chỉ huy không sắc sảo lắm, nhưng cũng khá ngổ ngáo và ăn nói thì bỗ bã vào loại nhất ở đây. Xã Đệ cũng xin nói: - Nói về quyết tâm thì chưa biết ai đã quyết tâm hơn ai. Chỉ có điều đã là kế hoạch mà lại là kế hoạch quân sự thì phải chính xác và cụ thể mới được. Tham mưu mặt trận thì mặt trận, các ông ấy đề ra mức này, đã tham khảo ý kiến các đơn vị tác chiến chưa? Hồng Đăng bị cuộc tranh cãi lôi cuốn. Thấy chính ủy Đỗ Gia Quý đã tích cực giảng giải mà vẫn còn găng, Hồng Đăng không thể đứng bên ngoài mãi được nữa. Anh bèn xin nói: - Tôi thấy ý kiến các đồng chí đều có những mặt đúng, cần lưu tâm. Nhưng cũng xin góp một vài điều mà tôi được nghe ở trên các anh ấy trao đổi, tất nhiên đây không phải là có văn bản chính thức gì cả. Ngoài lề, và nghe loáng thoáng được thôi. Nhưng cũng xin cung cấp để các đồng chí cảm thông với trên: Mùa mưa sắp tới rồi, các đồng chí biết đấy, mấy hôm nay mưa nhiều hơn. Các anh ở trên muốn dứt điểm càng sớm càng tốt. Mưa, bộ đội khổ đã đành, mà tác chiến cũng rất khó khăn, nhất là cơ động pháo lớn, và cao xạ... Ý kiến ấy dường như có sức thuyết phục. Đám đông chùng hẳn xuống. “…Thôi, nếu đúng như vậy thì bằng mọi giá cũng phải làm thôi. Chết cũng phải làm!”. “... Được, vậy cứ tiến hành, rồi rút kinh nghiệm sau, miễn là làm hết mình, đánh hết mình”... Cuộc họp tưởng như đã có thể giải tán, nhưng Dũng lại giơ tay có ý kiến tiếp: - Báo cáo còn một vấn đề nữa, tôi xin xem xét lại. Trong khi đám đông lại chăm chú lắng nghe thì ông Thâu lại cằn nhằn trong bụng: “Đúng là anh chàng đa sự!”. - Báo cáo, tôi đề nghị cần bổ sung kế hoạch chi tiết và cụ thể hơn trong phần chiến đấu bảo vệ giao thông hào và chiến hào. Chắc chắn địch sẽ có những phản ứng liên tục và ác liệt. Nhỏ thì có thể là phục kích, lấp hào, lớn có thể sẽ có những trận với đơn vị tác chiến hợp thành để đánh chiếm lại nếu không được toàn bộ thì cũng là những đoạn hào và những trận địa tấn công hiểm yếu nhất của ta... Dũng chưa nói hết, đám đông lại ồ lên. Họ lại đồng tình với anh. Xã Đệ lại bè nhè: “Đúng đấy, cần cụ thể hơn. Phải có dự kiến nhiều tình huống... Phải có nhiều phương án tác chiến. Chứ chỉ “cảnh giác” với “đề phòng”, “tích cực” với “tăng cường” chung chung thì rồi sẽ... khó đấy!”. - Nhưng mà đây mới chỉ tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu và trước mắt là đào hào, đào trận địa. Còn kế hoạch đánh địch nhất định là sẽ có cụ thể hơn... - Ông Thâu lại không giấu được sự bực tức nữa. - .... của một kế hoạch. Hai việc: đào hào và tác chiến bảo vệ là gắn liền với nhau... - Dũng vẫn cứng cỏi đáp lại. Nếu như trong vấn đề trước tích cực ủng hộ ý kiến ông Thâu, tới vấn đề này chính ủy Quý thấy Dũng là phải. Ông lại đứng dậy, và bây giờ thì ông bảo vệ Dũng. Đám đông mỉm cười, nhận thấy ông Quý là người trung thực, đáng quý, đúng như cái tên của ông. Để kết luận ý kiến của mình, ông Quý đề nghị cơ quan tham mưu trung đoàn cấp tốc bổ sung phẩn tác chiến bảo vệ hào và trận địa. Ông Thâu ngồi im lặng. Chẳng phải ở đây, mà ở mọi nơi đều thế, ông đã biết rõ, chính ủy là người có tiếng nói cuối cùng. ... Mọi người ra về. Dũng cùng Xã Đệ ra sau cùng. Đi liền với anh là mấy cán bộ trẻ của ban tham mưu trung đoàn. Họ nháy nhau, cái nháy có nhiều ý nghĩa, nhìn theo hai người đoàn trưởng. Họ vốn không thích Xã Đệ cho lắm, chẳng phải vì cái tính lè phè rượu, thịt chó và tác phong luộm thuộm, gia trưởng của anh, mà vì Đệ chỉ huy tác chiến không xuất sắc. Cánh cán bộ tham mưu rất hiểu: cái thời chỉ cần hăng hái, xông xáo là đủ (như những năm đầu của cuộc kháng chiến) đã qua rồi. Nay đã là 1954, những người chỉ huy còn cần phải có “đầu óc”. Tác chiến đã lên tới cấp trung đoàn, thậm chí đại đoàn với binh chủng hợp thành. Người chỉ huy phải có trình độ, đâu phải chỉ có “hét”, đâu phải chỉ có “gan vàng dạ sắt” là được? Cũng bởi vậy cánh cán bộ tham mưu trung đoàn chỉ khoái có Phan Đức tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 và Nguyễn Văn Dũng tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2, mặc dầu hai người này có những cá tính hoặc tác phong mà họ cũng chưa chịu. Phan Đức là học viên Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa đầu tiên, chỉ huy tương đối bài bản. Còn Dũng trưởng thành từ lính chiến, lăn lộn nhiều, đánh giặc như đã “có sỏi ở trong đầu”, sau cũng đã qua một khóa cán bộ chỉ huy sơ cấp ở Quảng Ngãi. Các trận thắng của Dũng thường nhanh gọn và ít thương vong. Chia tay với Xã Đệ ở ngã ba, Dũng cắm đầu bước rảo để trở về tiểu đoàn. Chợt có tiếng gọi vọng lên ở phía sau. - Dũng Linh! Toàn thân anh thoắt rung lên. Nhưng vốn từ lâu đã đề phòng, và sau bao nhiêu năm chiến trận đầu óc anh cũng đã lì ra như đá, sự phản xạ bất ngờ chỉ có thể xảy ra trong những trường hợp thật đặc biệt. Dũng bình thản bước tiếp. - Dũng Linh! Tiếng người nào đó cất lên một lần nữa. Dũng vẫn không quay lại, thậm chí một cử chỉ nhỏ tỏ ra có chú ý tới tiếng gọi cũng không. Nhưng đã nghe thấy tiếng chân người, đúng hơn là tiếng giày da luỵch uỵch chạy gấp đuổi theo anh. Dũng vẫn bước nhanh. Người đuổi theo đã bắt kịp. Hồng Đăng. Anh giảm tốc độ, đi bên Dũng, thở gấp gáp, nhọc mệt: - Đồng chí Dũng! Bây giờ Dũng mới quay mặt lại, đôi mắt lì lợm liếc nhìn Hồng Đăng từ đầu tới chân. - À, anh Hồng Đăng! Báo cáo, anh gặp tôi ạ? - Phải! Phải - Hồng Đăng vẫn chưa hết hào hển - Này, mình đi với “ông” một đoạn, được chứ? - Dạ, không sao - Cái giọng hơi khàn khàn của Dũng vẫn bình thản. - Này “ông” Dũng - Hồng Đăng không giấu được vẻ lúng túng - Vừa rồi... mình có gọi... Gương mặt sạm nắng như thờ ơ, Dũng đáp: - Tôi không để ý. Tôi không nghe thấy gì cả. - Mình gọi Dũng Linh - Hồng Dăng như bình tĩnh hơn - “ông” Dũng ạ, “ông” là Dũng Linh, tôi... cảm thấy thế. Phải không, xin lỗi. Vẫn nhìn thẳng về phía trước, giọng nói của Dũng trở nên lạnh như băng: - Không. Tôi là Nguyễn Văn Dũng. Hồng Đăng thở dài: - Lẽ nào tôi nhầm nhỉ? - Lầm lẫn là thường chứ anh! - Này, nhưng hồi 1947, 1948 anh có ở vùng Đại Từ -Thái Nguyên không nhỉ? - Không. - Anh có biết ai là... Nguyệt Lệ không nhỉ? - Không. - Lạ nhỉ? - Đôi mắt Hồng Đăng vẫn chưa thôi xoi mói như khoan vào mặt Dũng. Hết sức khó chịu, Dũng hỏi lại với mục đích để ngăn chặn sự xoi mói và lục soát ấy: - Nhưng sao anh lại có thể nghĩ tôi là Dũng Linh nào đó? - À, chẳng là... - Hồng Đăng không khỏi lúng túng. Anh lại liếc nhìn anh cán bộ trẻ hơn mình tới bốn năm tuổi, nhưng có một vẻ gì già dặn và sắc sảo thật đáng gờm, chưa kể cái vẻ lì lợm thản nhiên như khinh khỉnh nữa. - À, chẳng là... gia đình vợ tôi trước có quen biết một anh tên Dũng Linh. Hồi 47, 48 ấy mà! Sau mất liên lạc. Có người bảo anh ấy đã hy sinh, nhưng có người lại nói anh ấy vẫn còn sống... Gia đình vợ tôi rất muốn được gặp lại anh ấy... - Để làm gì? - Tôi... tôi... cũng không rõ lắm. Nhưng chắc là vấn đề tình cảm. Dũng thoáng nhếch môi. Dường như anh cười, nhưng củng lại tựa như lóe ra một nét giận dữ: - À, ra thế! - Anh thốt lên khô khan. Và từ đó không nói, cũng chẳng hỏi lại điều gì nữa. Biết ý Dũng không muốn mình cứ lẽo đẽo đi theo mãi, Hồng Đăng buộc phải bắt tay anh: - Thôi nhé, mình xin lỗi. Có lẽ thấy có chữ Dũng giống nhau, và cùng là bộ đội, cho nên cứ tưởng là... - Không sao cả - Dũng vẫn khô khan gần như khiếm nhã. Hồng Đăng quay trở lại một quãng xa mà đầu óc vẫn còn nặng trĩu. Lại nhớ tới buổi gặp Nguyệt Lệ ở cơ quan hậu cần mặt trận. “Bôn” đến thế kia ư? Nhưng không phải! Con người ấy đâu phải loại cán bộ phụ nữ chỉ có đam mê chính trị mà phải giữ gìn từng cử chỉ, hành động quá đáng đến như thế... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Mười, 2023, 09:28:35 am * Dũng đã về tới tiểu đoàn. Anh cho triệu tập cán bộ lại phổ biến nhiệm vụ luôn, sau khi đã họp tiểu đoàn ủy để tường trình lại toàn bộ các vấn để trong cuộc họp trên trung đoàn. Anh rất tiếc thiếu mất chính trị viên Đỗ Thủy. Thủy là bí thư tiểu đoàn ủy. Anh bị thương trong màn 1 chiến dịch, chưa có người về thay. Trên chỉ định Dũng tạm quyền bí thư. Cuộc họp ở tiểu đoàn khá nhanh, gọn. Có thể còn nhanh gọn hơn nữa nếu tiểu đoàn phó anh Hà Giao không dây cà ra dây muỗng đến nỗi mọi người phải sốt ruột, và đại đội trưởng Lanh xồm vốn nổi tiếng nóng nảy đã phải mấy lần nói ngang: “Thôi, rõ rồi, ở mặt trận mà cứ như bà vãi nói chuyện ở cửa chùa thì còn làm ăn gì được nữa”... Ai cũng hiểu Giao luôn luôn muốn mọi người phải hiểu rằng mình cũng sắc sảo không có thua kém bất cứ ai... Mọi người đã ra về, chỉ còn lại Dũng và Hà Giao. Anh ta tỏ vẻ vẫn còn nhiều ý kiến quan trọng. Tuy nhiên, lúc này lại có vẻ rất thân mật: - Bây giờ tôi nói riêng với anh, anh Dũng ạ. Nói thật chứ anh nhận nhiệm vụ của tiểu đoàn mình quá nặng đấy! Đã quá hiểu Giao, không ngạc nhiên chút nào, cũng không cảm động, Dũng lắc đầu: - Không phải thế đầu. - Sao lại không? Đoạn hào của tiểu đoàn mình vừa dài vừa lại ở ngay đối diện với sân bay của nó, mà tiểu đoàn mình sau màn 1 cũng đã bã cả ra rồi. “Xê” thằng Niên, thì chính trị viên “đổ” rổi. Hai trong ba trung đội trưởng thì mới lên. “Xê” thằng Thìn thì chính trị viên mới ở cơ quan xuống chưa quá hai chiến dịch; riêng thằng Thìn chỉ được cái tận tụy, nhưng lại thiếu văn hóa, kém linh hoạt. Chỉ có thằng Lanh “xê ba” chiến đấu tốt, nhưng lại nóng nảy, bộp chộp... Còn quân số nói chung toàn tiểu đoàn thì chưa được bổ sung đẩy đủ. Lớp tân binh vừa về mấy hôm nay phần đông là dân địch hậu mới ra, về chủ lực đánh lớn như thế này, e gay đấy. Dũng hơi nhếch môi, thoáng một nụ cười nhiểu ý nghĩa: - Khó khăn thì bên “ông” Phan Đức xem ra còn hơn ta. Vả lại, là chủ công, cũng cần phải tập trung củng cố cho “ông” ấy để chuẩn bị cho những trận ác chiến sắp tới, nên lần này trên có nhẹ cho D1 cũng là đúng. Còn bên “ông” Xã Đệ tuy phụ trách đoạn chếch xuống phía nam, tiếp giáp với trung đoàn 1 chỗ ấy có ngắn thật, nhưng quân “ông” Đệ còn thiếu hơn ta... - Chà! Người ta vẫn bảo anh hay quá nhường nhịn... - Thôi, ta bắt tay vào việc đi ông! - Dũng chỉ nói gọn. Đã quá thuộc tính nhau, mỗi khi Dũng đã cất cái giọng khàn khàn khô khốc lên nói gọn một hai câu, là Giao thường phải thôi luôn, mặc dầu trong lòng còn đầy hậm hực. Sau khi Hà Giao chạy sang hầm của trợ lý tác huấn, Dũng cũng bắt tay vào việc chuẩn bị kế hoạch để đêm nay đưa các cán bộ đại đội ra cánh đồng nghiên cứu, trinh sát thực địa, và phân công, vạch ranh giới ngay tại chỗ. Anh vừa ngồi xuống chưa được quá ba mươi phút bỗng có tiếng máy bay lượn tới rất gần, tiếng máy bay trinh sát. Anh còn đang lắng nghe, thì một loạt trọng pháo đã gầm lên rung chuyển cả căn hầm. Tiếp đó là liên hồi những tiếng nổ, như không còn phân biệt được từng trái một, mà là cả những vệt sấm kinh hồn kéo dài. Dũng nhào ra khỏi hầm, quan sát. Không phải ở tiểu đoàn bộ, mà cũng không phải ở c1 của Thìn dóng gần đó! Xa hơn một chút. Anh còn đang ngờ ngợ, thì Báu, cậu liên lạc trẻ măng tròn như hạt mít, lao tới giọng hốt hoảng: - Báo cáo, có lẽ nó dập xê ba! Pháo kinh quá tiểu đoàn trưởng ơi! Dũng cũng đã nhận ra được hướng bị pháo địch đang nã tới là hướng của đại đội Lanh xồm. - Báu, đi với mình, ra đó xem sao! Nói đoạn, Dũng vẫy tay gọi một liên lạc viên khác: - Báo với anh Hà Giao về trực thay tôi. Sau đó, hai anh em, Dũng và Báu, cùng như hai con chim cất cánh bay vù vào rừng rậm. Hà Giao nhăn nhó trở lại hầm chỉ huy cùng hai trợ lý: - Mẹ kiếp! Vừa giao việc này lại giao việc nọ. Cái gì cũng cứ cuống cả lên. Người chỉ huy phải bình tĩnh chứ. Cứ cho liên lạc chạy ra xem sao đã nào... Anh cằn nhằn, dường như nói với mình, nhưng hai anh trợ lý tác huấn cũng hiểu anh muốn nói với cả họ. Cả hai đều im lặng và làm như không nghe thấy gì. Âm thầm đố kỵ với Dũng từ lâu, anh tiểu đoàn phó này đã không từ bất cứ cơ hội nào để gièm pha hoặc tung tin xấu sau lưng bạn. Giữa lúc đó, hai anh em, Dũng và Báu vẫn xé rừng mà chạy. Pháo địch đã ngừng. Nhưng mặt đất, rừng rậm, suối sâu vẫn như còn nghiêng ngả. Quả là pháo Điện Biên. Dũng phải thầm nhủ. Đã qua không ít chiến trường khác nhau, suốt bảy tám năm qua, chưa bao giờ Dũng thấy pháo địch tập trung ác liệt và liên tục như ở đây. Bom cũng vậy. “Chúng ta sẽ cho họ thấy hỏa lực của ta”, Navarre quả là đã không khoác lác cho lắm khi tuyên bố như thế với binh lính của ông ta ở tập đoàn cứ điểm này. Vì địa thế chật chội và phức tạp, đại đội của Lanh xồm đã phải đóng hơi xa tiểu đoàn, và ở gần đường mòn trục, hơn nữa lại gần một cửa rừng. Dũng đã bắt Lanh phải cho quân đào hầm hố thật đầy đủ, làm bếp Hoàng Cầm rất cẩn thận để tránh khói lửa. Ngoài ra, công việc ngụy trang cũng được lệnh thực hiện hết sức nghiêm ngặt. Dũng đã xuống kiểm tra nhiều lẩn tất cả công việc này. Báu mới mười chín, lại béo khỏe, cắp tiểu liên chạy băng băng. Nhưng bao giờ Báu cũng phải bám đuôi tiểu đoàn trưởng của mình. “Cái ông này kinh thật! Bom đạn đã băm gần nát người mà vẫn cứ như không!”. Hai anh em bỗng nhìn thấy một chiến sĩ cài lá ngụy trang bù xù đầy mình đang từ phía trước hộc tốc chạy lại. Chỉ nhác nom, Dũng đã hét lên: - Quân xê ba phải không? Chiến sĩ nọ dừng lại, thở dốc: - Báo cáo, phải ạ! - Sao? Xê ba có sao không? - Báo cáo, anh Lanh cho em lên tiểu đoàn báo cáo: Xê ba an toàn. Địch bắn vào cửa rừng, chỗ Khe Trăn. Dũng thở trút. - Nhưng chỗ ấy có gì mà nó bắn? - Báo cáo, em cũng không biết. Nhưng nghe đâu đêm qua dân các bản Cò Mỵ và Long Nhai đem trâu chạy vào đó giấu... - Vậy hả? - Dũng mím môi lại, suy nghĩ một chút - Thôi được, cho cậu quay vê báo với anh Lanh: tôi ra thẳng Khe Trăn đây, không vào đại đội nữa đâu! - Tiểu đoàn trưởng ra đấy làm gì ạ? - Báu hỏi. - Ngoài đó có thể có dân, xem có gì cần giúp họ. Cũng muốn quan sát lại khu vực này nữa. Thôi, ta đi, Báu! Khe Trăn. Cảnh tàn phá bày ra trước mặt hai anh em thật dữ dội. Cây cối bị phạt đổ tơi bời. Đất bị cày xới lên cồn cồn như sóng biển bão. Đá núi bị phá đổ từng mảng lớn, trắng xóa, mảnh văng khắp chỗ. Mùi thuốc đạn, mùi lửa cháy vẫn còn nồng nặc. Giữa cảnh tàn phá ấy là xác của trên một chục con trâu nằm ngổn ngang, con cụt đầu, con gẫy cẳng, con bị phanh bụng, ruột lòi ra từng đống. Máu chảy luễ lõa khắp mặt đất. Dũng nhảy từ bờ đất cao xuống. Anh gấp gáp đi tìm xác người trước. Báu cũng nhanh như cắt làm theo anh. Nhưng tuyệt nhiên không thấy gì khác, ngoài những xác trâu cùng cây cối đổ gãy bề bộn. - Quái, không có người nào nhỉ? Nếu vậy, thật là may. Dũng vừa nói với Báu thì có tiếng Lanh xồm như lệnh vỡ vang lên: - Anh Dũng! Ngẩng lên, tháy không chỉ có Lanh mà còn có một tổ chiến sĩ đi theo. - Báo cáo, thấy bảo tiểu đoàn trưởng ra đây, tôi cũng đi liền. Dũng rất bằng lòng cách ứng xử của Lanh nhằm sẵn sàng hỗ trợ cho anh khi cần thiết. Lanh cho biết rõ hơn: chiều tối qua khi dân các bản đưa trâu vào đây, Lanh đã cho người ra căn dặn phải giữ kín khu vực, hơn thế nữa còn chỉ cho họ một chỗ ẩn náu khá tốt. Cũng vì thế từ sáng nay, dân buộc trâu xong đã rời khỏi khu vực này, đi khá xa. Nhờ vậy, chỉ có trâu bị trọng pháo địch giết chết. Có lẽ đã có con do buộc không kỹ, sổng ra, đi lại lộn xộn, máy bay “bà già” của địch nom thấy... Lanh xồm còn cho biết thêm: khi pháo địch vừa dập được vài loạt, Lanh cũng đã cho người ra quan sát, thì gặp một nhóm ba phụ nữ đi công tác ngang qua khu vực này đang nằm chết khiếp trong một khe suối, ở ngoài khu vực bị tàn sát. Nhưng cũng chỉ suýt soát với những loạt đạn ngoài cùng không quá 50 mét.. - Họ đâu? - Dũng hỏi. - Báo cáo kia! Anh em còn để cho mấy bà ngồi thở và hoàn hổn, ở sau khe đá kia! Tí nữa tôi định mời họ vào đại đội nghỉ ngơi, rồi sẽ cho đưa họ ra khỏi khu vực nguy hiểm này. - Tốt. - Báo cáo, anh nên gặp họ một chút để trấn an. - Cũng được. Dũng vẫy Báu cùng đi theo Lanh và nhóm chiến sĩ lên bờ đất cao, rồi rẽ vào một khe đá có những tảng chồng chất, như cả một bầy voi lớn đang quần tụ uống nước bên bờ suối. Ba người phụ nữ đang ngồi nép vào một tảng đá lớn hơi ngả xuống như một mái che. Hai người đã đứng tuổi, búi tóc còn một người rất trẻ, trạc hăm ba, hăm bốn. Tất cả đểu còn đang xanh tái. Vừa chợt nom thấy người trẻ tuổi, đất dưới chân Dũng thoắt như chao đi. Anh đứng sững lại, vịn vội vào một thân cây. Cũng vừa lúc đó, người phụ nữ trẻ bật dậy, hai mắt sáng lòa. Cô lập cập chạy lại phía Dũng, kêu lên: - Anh Dũng Linh! Tiếng gọi gần như thất thanh. Lanh xồm và tất cả mọi người đều sững sờ, ngạc nhiên. - Anh Dũng Linh! Cô gái đã tới trước mặt Dũng và cầm chặt lấy hai tay anh. Lanh xồm càng tròn xoe đôi mắt. - Anh Dũng Linh! Trời ơi, làm sao em lại được gặp anh ở đây?... Tới lúc đó, Dũng đã tự trấn tĩnh lại được. Anh từ từ rút tay mình ra khỏi bàn tay run rẩy của cô gái: - Không! Có lẽ cô lầm rồi. Đôi mắt rất đẹp của cô gái càng mở to và như long lanh có ngấn lệ: - Ô kìa! Anh Dũng Linh! Em không lầm mà! Làm sao mà em lầm được? Nhìn thấy anh là em nhận ra ngay. Trời ơi, sau bao nhiêu năm rồi, mà em cứ tưởng là anh đã... Rồi cô bật khóc rũ: - Ôi chắc là có trời phật dun dủi, mới có ngày hôm nay, em được gặp lại anh... Vậy sao anh lại không nhận là anh? Sao vậy ? Sao vậy anh ơi ?... Mọi người càng đứng ngây trước cảnh tượng hết sức lạ lùng và bất ngờ này. Không một ai biết nên nói gì hoặc hỏi gì lúc này nữa. Dũng đã kịp xử trí. - Ông Lanh, chúng ta hãy rút ngay khỏi nơi này đã! Về đại đội mau! Đưa các chị cùng về. Lanh "rõ" một tiếng thật to. Anh đã được gỡ ra khỏi cảnh huống hết sức khó xử này. Anh xăm xăm chạy trước. Mọi người cùng vội vã đi theo anh. Dũng ra hiệu cho Báu. Hoàn toàn hiểu ý anh, Báu tụt lại, đi cùng ba chị phụ nữ, vừa để giúp họ vượt đá, leo dốc, vừa để bảo vệ. Tổ chiến sĩ của Lanh cũng nhanh ý, cùng lùi lại với Báu. Về tới khu vực của đại đội, Lanh cũng trở nên nhanh trí hơn: anh đưa hai chị phụ nữ lớn tuổi sang khu hầm của trung đội, riêng người phụ nữ trẻ anh mời vào hầm của anh cùng với Dũng, đoạn nháy mắt cho Báu đi theo mình. Dũng không kịp cản lại ý định tế nhị đó. Anh miễn cưỡng bước vào hầm, ngồi xuống mấy chiếc hòm đạn, trước mặt Nguyệt Lệ. Tới lúc này chỉ còn có hai người, cô lại cầm chặt lấy hai bàn tay đầy chai sẹo của anh và lại khóc ròng: - Ôi làm sao mà anh đến nông nỗi này? Làm sao mà anh lại khổ cực đến như thế này?... Rồi cô run rẩy hết sờ lên vết sẹo ở ngang gò má, lại tới mấy vết sẹo nhỏ ở trên trán và cả ở nơi cổ anh. Dũng từ từ gỡ bàn tay cô. Trên gương mặt sạm đen cứng cỏi của anh có cái gì đó xôn xao như sóng. Và anh không thể không cất tiếng buồn bã: - Phải! Tôi không cần chối cãi nữa, khi cô vẫn còn nhận ra tôi. Nhưng nay tôi là Dũng. Cái từ Linh gắn thêm vào trong những năm đầu chiến tranh đầy mơ mộng, lãng mạn nay đã bỏ đi rồi. - Ôi anh Dũng Linh, anh Dũng Linh của em... - Cô vẫn siết chặt lấy tay anh. - Và có nghĩa là Dũng Linh cũng không còn nữa, cũng như mối tình đầu khốn khổ của anh ta cũng đã chết... - Trời ơi! Không! Không! - Nguyệt Lệ gần như thét lên - Sao lại thế? Sao lại thế anh? Dũng trở lại câm lặng. Nhưng có lẽ tiếng khóc não lòng của Nguyệt Lệ đã làm cho anh lại phải cất tiếng: - Vì sao ư? Người ta đã phản bội tôi, phản bội mối tình mà tôi cứ nghĩ rằng tôi có thể chết vì nó... - Không! Không - Nguyệt Lệ lắc mạnh tay Dũng - Anh lầm rồi. Ôi anh lầm rồi. Anh đã không hiểu thấu cho em... - Tôi không hề lẩm. - Anh ơi khổ thân em anh ơi, hãy nghe em nói đây, em nói đây, nghe em đã... - Không! Ngọn lửa hờn giận tưởng đã lụi tàn theo năm tháng máu lửa khổ cực, gian nan không ngờ nay lại vụt cháy bùng, làm cho Dũng cảm thẫy hết sức đau đớn và mất bình tĩnh. - .. . Anh ơi, hãy thương em, hãy nghe em nói đã: em lấy chổng chỉ vì nghĩa, vì anh ấy cứu vớt gia đình em. Anh ấy... - Tôi có biết anh ta. Năm 1952 gần như thân tàn ma dại từ chiến trường Thượng Lào trở về Khu ba, tôi đã được nghe kể về một câu chuyện hôn nhân tuyệt vời ngựa hồng côn bạt... Và tôi cũng đã tình cờ gặp anh ta từ trên Bộ xuống kiểm tra hậu cần các đơn vị. Tôi đã toan giết chết anh ta, không bằng súng mà chỉ bằng một lưỡi dao nhọn. Nhưng rồi, tôi hiểu: anh thật ra không có lỗi. Người đàn ông nào cũng thế cả. Lỗi chính là ở người đàn bà phản bội... Nhưng với cô tôi sẽ không cần làm như thế, cô cứ yên tâm. Tôi chỉ coi như chưa bao giờ quen biết cô, và cũng mong cô hãy tin là tôi đã chết. Thế là đủ! - Trời ơi!... Nguyệt Lệ gục hẳn đầu mình lên hai đầu gối của Dũng và gần như ngất xỉu. Dũng lặng ngồi như tượng. Trong lòng anh vẫn chưa thôi cháy bỏng. Anh cũng không ngờ hôm nay anh lại nói nhiều và cay đắng đến như thế. ... Trong lúc đó, ở hầm bên, Lanh xồm đang mời nước hai chị phụ nữ. Anh băn khoăn: - Quái, có thể nhầm thật các chị ạ! Năm ngoái, trung đoàn trưởng của chúng tôi đưa anh ấy về tiểu đoàn giới thiệu, chỉ thấy nói là Nguyễn Văn Dũng. Không thấy nói Dũng Linh - Dũng Lung nào cả. Hai chị phụ nữ tỏ vẻ suy nghĩ. Với mẫn cảm giới mình, hai chị em đều cảm thấy có chuyện gì đây khá hệ trọng. Một chị nói nho nhỏ: - Cứ để xem sao đã anh ạ! Cũng có thể có điều gì mắc mớ đây... Trong căn hầm của Lanh. Nguyệt Lệ vẫn nước mắt chảy dài: - ... Ôi khổ thân anh, và cũng khổ thân em biết chừng nào. Vì sao vậy? Giá mà khi ấy anh đừng đột ngột đi xa, thì có phải là... Nguyệt Lệ đã nhắc lại cái mùa hè năm 1948 không sao quên ấy. Dũng thở dài đứng dậy, anh đã ra đi đột ngột, hết sức đột ngột, và cũng hết sức bí mật nữa. Dạo ấy có một đợt cán bộ tốt nghiệp bộ. Thiếu mất vài người. Một số cán bộ trung đội trẻ thuộc các đơn vị quanh Bộ đã được chọn đi. Dũng rất thích, nó hoàn toàn phù hợp với tâm hồn đang đầy lãng mạn, phiêu lưu, phơi phới, với tinh thần hăng say sẵn sàng sả thân vì nước đang rất bồng bột. Nhưng phải xa Nguyệt Lệ lại là một điều thật sự đau khổ. Dũng đã ra đi với một tâm trạng phức tạp như vậy. Suốt dọc đường khi trên bộ, lúc nằm thuyền, buổi trên rừng, ngày xuống biển, đêm đêm anh đều nằm mơ, ú ớ gọi tên em, đến nỗi đã nổi tiếng trong đoàn về chuyện này. Rồi bước vào chiến đấu ở Tuy Hòa, Quy Nhơn. Mặt trận vỡ, dạt lên Cao Nguyên. Chiến đấu ở đó một hồi, anh lại dược điều qua Lào tham gia tình nguyện quân. Tới 1952 dược trở về Khu ba, sau một khóa học sĩ quan cấp đại đội và tiểu đoàn. Và sau chót, được về đại đoàn này, một đơn vị chủ lực trực thuộc Bộ. Luôn luôn hình ảnh Nguyệt Lệ không rời anh. Có lần ở Tuy Hòa, bị thương đã tưởng chết, đồng đội nghẹn ngào, hỏi anh có muốn nhắn gì về Bắc không? Dũng chỉ thều thào: “Nguyệt Lệ...”. Lên Cao Nguyên, một lần địch phục kích bất ngờ, anh bị thương. Bị bắt và bị tra tấn cực hình, anh và mấy chiến sĩ đều không một lời cung khai. Địch đem đi bắn. Chúng hỏi anh trước khi chết muốn nói điều gì? Dũng cũng chỉ trả lời: “Nguyệt Lệ”. Nhưng, cũng may sao, giữa lúc đó, các chiến sĩ du kích Thượng đã phục sẵn, phóng ra một trận mưa tên nỏ và cứu thoát anh, cõng chạy lên núi. Địch bắn đuổi theo. Anh lại bị thêm một vết thương nữa vào đùi. Máu anh đã chảy dài suốt từ đó lên tới đỉnh núi. Tưởng rằng mất hết máu, anh không còn sống nổi nữa, các chiến sĩ Thượng cùng khóc rống, chuẩn bị đem chôn thì anh lại lắp bắp: “Nguyệt Lệ”... Và cũng như bao lần trước, không hiểu sao thần chết cũng chưa bắt nổi anh. Anh chỉ hiểu có một điều: anh vẫn không muốn chết. Anh còn muốn được trở về với Nguyệt Lệ... Nhưng Nguyệt Lệ đây, Nguyệt Lệ đã phản bội anh từ lâu. Cuối cùng, anh đứng dậy, mặt sắt lại, đôi mắt lạnh ngắt: - Thôi thế có lẽ đủ rồi. Tôi xin nhắc lại: cô cứ yên tâm. Và quên mọi chuyện đi, quên cả cuộc gặp này. Tôi cũng vậy. Đó là điều tốt nhất đối với cô và cả tôi. Thôi cô ở lại đây một lát, rồi sẽ có người đưa cô và hai chị ra khỏi chốn này. Chào cô! Đoạn anh khom mình bước nhanh ra khỏi căn hầm trước sự sững sờ, bàng hoàng của Nguyệt Lệ. Cô vội nhào ra theo, chới với: - Anh Dũng! Anh Dũng! Em không có tội, em không có tội... Nhưng Dũng đã khuất vào khu rừng rậm ở phía bên. Anh không ở lại gặp Lanh và hai chị phụ nữ. Cũng không cần gọi Báu, anh đạp rừng cắt thẳng một đường về tiểu đoàn bộ. Bước chân anh như điên cuồng và tàn bạo. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Một, 2023, 01:55:09 pm 4 Đã mười một giờ rồi mà toàn đại đội vẫn còn ngủ vùi trong các lán và dưới các tầng hầm trú ẩn. Một vài anh mệt quá hóa liều, nằm vật ra ngay dưới các gốc cây hoặc bên các bụi rậm. Đại đội trưởng Lanh như các buổi sáng, đi soát một vòng. Anh phải lay gọi những các anh chàng ngủ dưới các gốc cây, bụi rậm. Gọi mãi không được, phải quát tướng lên, bấy giờ mấy anh “họ nhà liều” mới lồm cồm bò dậy, dụi mắt, chui xuống hầm, và đặt mình xuống ngủ liền như chết. Việc quát thì phải quát, nhưng trong lòng Lanh lại xót thương vô hạn. Anh biết họ đều đã quá mệt. Năm đêm liền rồi, anh em phải quần quật đào hào ngoài cánh đồng, đào đến đứt cả hổ khẩu, toét máu, đào đến kiệt lực, có anh đã gục ngã ngay cạnh cán xẻng. Đào thâu đêm, sáng ra mới trở lại rừng, nhai vội vàng mấy miếng cơm là lăn ra ngủ. Nhưng ngủ ngày có ra cái gì: như ăn khoai sống trừ bữa. Chiều, sinh hoạt, kiểm điểm, rổi vào sâu trong rừng, leo lên các sườn núi xa, đốn gỗ, chặt tre để về làm nắp hầm và ngụy trang đường hào. Mờ tối lại ra đồng. Cứ như thế, ngày này qua ngày khác, đã thành quy luật. Trời nắng ráo còn đỡ vất vả, mấy hôm nay có mưa nên càng khổ cực: đường sá trơn nhẫy, các con hào đều trở nên đầy bùn, bùn có nơi gần tới gối, đi như đi trong những con sông cạn. Bùn đã làm tê liệt biết bao đôi chân. Bùn đã nuốt mất biết bao đôi giày vải và cả những đôi dép lốp mà quân ta hết sức cần trong các trận đấu. Ụ súng, hầm trú ẩn trên đường hào và trận địa, chỉ sau một đêm mưa đã làm sụt lở gần hết, phải làm đi làm lại. Nhiều đoạn đất yếu, các vách hào cũng làm sụt lở tơi bời. Đó là chưa kể bom đạn địch phá hoại... Cứ như vậy, đã năm ngày đêm, quân ta lao vào một cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ, vất vả trên khắp cánh đồng Điện Biên. Bên phía đông cũng vậy, dưới phía nam cũng thế. Cả năm buổi sáng, không sáng nào Lanh không đi soát lại anh em một lượt, rồi mình có chợp mắt được chút nào hay chút ấy. Nhìn những người chiến sĩ nằm ngủ li bì, lăn lóc đủ kiểu, đủ dáng Lanh thấy lòng mình như có xát muối. Anh quên cả chính anh cũng vất vả như họ, thậm chí còn hơn họ: Nào lo nghĩ chỉ huy, nào họp hành, nào chăm nom cái chỗ ăn, chỗ ở cho anh em... Chiến sĩ ngủ được khoảng bốn giờ, anh và các cán bộ chỉ huy khác thường chỉ được có hai. Cũng vì vậy mà người anh đã tóp lại, bộ râu quai nón không có thì giờ để cạo đã đâm ra tua tủa đầy mặt, cái giọng lệnh vỡ cũng bớt oang oang. Anh dừng lại trước căn hầm của một tổ ba người: Tích, Viễn, Hợi. Anh kéo miếng vải bạt, che không cho ánh nắng mặt trời, dù chẳng gay gắt gì, lọt vào hầm làm chói mắt họ. Đây là một tổ không khác gì lắm mọi tổ trong đại đội. Tổ nào cũng có ca tân binh, lẫn cựu binh và anh lớn xen anh bé. Có tổ anh lớn chênh anh bé tới hai mươi tuổi, y như bố với con. Lanh quay sang hầm bên cạnh. Đó là một căn hầm bỏ trống, mới từ hôm qua, chiến sĩ quân giới đã đem thuốc nổ và đạn dược chất cả vào đó làm kho. Đây là hầm của tổ Phiếm, Phát, Thìn. Phiếm là tổ trưởng, một tay lựu đạn tuyệt vời của đại đội: ném rất xa, ném rất trúng. Trong các trận tấn công khi đánh gần, rất cần lựu đạn cả cái vào các ổ đề kháng địch, kể cả các lỗ châu mai, hầm cố thủ. Chàng trai Nghệ An ấy đã có vợ và một con, nhưng vẫn nhất quyết xin tòng quân. Con người mộc mạc, chất phác ấy dường như không bao giờ biết buồn, biết khổ cứ suốt ngày véo von những câu hát dặm, hát ví. Còn Phát tổ viên thật ra cũng là tân binh, nhưng vừa qua được màn 1 chiến dịch, nghiễm nhiên trở thành lính cựu. Phát là một người dân tộc Tày Cao Bằng, to, khỏe, đặc biệt cả ngày không nói một câu, rất lành nhưng cục, đã cáu lên, trời cũng không sợ, vào màn 1 chiến dịch mới càng thấy hết sức gan góc của chàng trai này. Và Thìn là lính mới bổ sung sau màn 1. Anh học sinh nông thôn Phú Thọ này bẽn lẽn và mảnh mai như con gái. Lanh chưa kịp hiểu gì nhiều về cả ba, thì cả tổ đã bị một chùm 105 ly, ở ngay đầu chiến hào trong đêm thứ ba, khi họ chưa kịp đào sâu tới quá hai xẻng đất. Thân thể Phiếm như bị xé ra làm đôi. Phát thì bị gần như băm nát hết đầu, mặt mũi chỉ còn là một đống thịt đỏ lòm bầy nhầy. Còn Thìn, chàng trai mới tinh ấy bị cắt mất cả hai chân, từ bẹn trở xuống... Căn hầm của ba nguời ấy vẫn ở đây, nhưng họ đã trở về với cát bụi. Bây giờ mới chớm vào màn 2 mà đã bị tổn thất thế này, liệu rồi tới hết màn 2, rồi qua tổng tấn công nữa thì đại đội thì sẽ phải thay bao nhiêu lần nữa? Lanh ứa nước mắt. Thương anh em quá. Thương lính cũ, những của quý của đơn vị, những người vào sống ra chết, có biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn với nhau đã đành. Thương cả lính mới, những đứa trẻ như em, thậm chí như con anh, mới chỉ kịp biết mặt mà chưa nhớ nổi tên, mới cùng nhau tay cầm tay cùng hứa hẹn ngày về chiến thắng thì đùng một cái họ đã trở thành tử sĩ. Lanh trở về căn hầm của mình làm nửa chìm nửa nổi, hình L, trên có lợp mái. Anh và chính trị viên Tốn cùng ở đây, mỗi người một ngách. Gieo mình xuống chiếc giường tre, Lanh ôm mặt, nước mắt tiếp tục âm thầm chảy. Giữa lúc ấy, chính trị viên Tốn đi họp ở trung đoàn trở về, tay cầm khư khư bó áp phích và bản tin mặt trận do cơ quan tuyên huấn chiến dịch in ấn và phát hành. Chiếc túi dết cố hữu luôn luôn ở bên sườn, trong đó có cuốn sổ tay mà anh ghi chép khá đầy đủ mà trung đoàn vừa phổ biến: “Mặt trận nhận định công cuộc đào hào đang tiến triển nói chung tốt nhưng còn chậm. Tư tưởng ngại khó ngại khổ phát sinh khá nhiều, cần phải có sự lãnh đạo chặt chẽ hơn, và cần động viên mạnh mẽ hơn để đẩy nhanh tốc độ hơn nữa...”. Vừa bước vào hầm, Tốn toan cất tiếng hỏi, nhưng nom thấy Lanh đang nằm âm thầm khóc, Tốn lặng lẽ đi sang ngách hầm của mình. Ở với nhau đã lâu, Tốn đã hiểu Lanh: nom có vẻ hổ tướng như vậy, nhưng lại là người rất dễ xúc động một chút là có thể khóc. Đây không phải lần đầu Tốn bắt gặp Lanh khóc một mình. Trong màn 1 chiến dịch cũng đã thế. Năm 1951, 1952 Lanh là tiểu đội trưởng bộc phá, Tốn là tổ trưởng nuôi quân. Từ sau trận Sông Đà, Lanh tiến rất nhanh. Khi Lanh đã là đại đội trưởng Tốn vẫn làm “Vua Bếp”. Nhưng, tới cuộc học tập cải cách ruộng đất mùa hè vừa qua, Tốn đã được để bạt vượt cấp chính trị viên đại đội, vì Tốn thuộc thành phần cố nông, thời trước có đi ở cho địa chủ. Vừa mừng vừa hoảng, Tốn xin thôi, không dám nhận nhiệm vụ mới. Nhưng tổ chức đã bảo anh: “Cứ làm đi, khắc làm khắc quen. Đồng chí thuộc nguồn cán bộ Đảng, đồng chí cần cố gắng”. Thế là cứ phải làm. Cũng may, được Lanh thông cảm giúp đỡ, chỉ vẽ cho mọi việc, nên rồi cũng qua. Tốn biết khá rõ Lanh. Anh mồ côi từ nhỏ, ra Nam Định ở với chú. Chú nghèo, xin cho vào nhà máy tơ. Năm mười sáu tuổi nhưng Lanh đã khá cao, to. Anh được giao việc bốc xếp ở kho. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, anh bỏ nhà máy xung phong vào Vệ quốc đoàn. Năm nay đã hai mươi tám tuổi vẫn chưa vợ, thậm chí vẫn chưa biết thế nào là đàn bà. Những lúc vui, anh thường nói: “Thôi, bao giờ độc lập, sẽ về Nam Định kiếm một cô công nhân, nồi nào vung ấy, hợp hơn!” .. Tốn đang loay hoay xếp lại những tờ áp phích và các bảng tin, có tiếng Lanh vọng sang: - Đi họp về, có gì mới không ông Tốn? Tốn mừng rỡ chạy sang. Lanh đã lau khô nước mắt, nhưng gương mặt vẫn còn chưa hết xúc động. Tốn vui vẻ: - Có anh ạ. Trên có chỉ thị tăng cường lãnh đạo, tổ chức, đẩy nhanh tiến độ đào hào hơn nữa. Trên nhận định chung là tốt, nhưng còn chậm... - Chậm hả? - Lanh chau mày gắt lời Tốn - Chậm là chậm thế nào? So sánh với chuẩn mực cụ thể nào? Hay so sánh với sự mong ước của cấp trên? Biết tính Lanh đã cáu là hay nói ngang, Tốn ôn tồn đáp: - Thấy phổ biến là như vậy. Chắc là ở trên cũng đã có phái viên đi xuống các nơi nắm tình hình, nghiên cứu... - Phái viên ở đâu, tôi không biết, ở đây không có ma nào hết! Chậm! Nếu có chậm thật thì chậm ở đâu đó, chứ ở đây đã và đang làm tới kiệt sức rồi. Tôi đề nghị phản ánh giúp. Tôi đề nghị các anh phái viên, các anh tham mưu hãy xuống với chúng tôi cùng đào hào, chỉ một đêm thôi... Tốn biết: càng nói, Lanh càng bực. Anh đứng dậy: - Thôi, tôi đề nghị trưa nay ta hội ý cấp ủy trước, rồi họp chi bộ vào chiều nay, anh ạ. Có gì ta sẽ cùng trao đổi trong nội bộ phải không anh? Lanh như dịu hẳn xuống. Tốn cũng biết: với Lanh hễ đã nói tới Đảng, là thôi không nói bừa nữa. Mộc tổ trưởng nuôi quân lên báo cáo đã có cơm. Lanh gật đầu: - Cho đánh kẻng đi! Cả đại đội đã được đánh thức, anh vươn vai, anh ngáp dài, anh vặn mình, vẫn còn thèm ngủ. Trên gương mặt của họ sự nhọc nhằn vẫn còn khắc sâu trong các nếp nhăn và trũng sâu ở hai hốc mắt. Một tiếng còi nổi lên, mọi người cùng quây quần chung quanh những chiếc lá chuối được trải ra thay mâm. Trên mỗi chiếc lá là một chậu cơm có ngọn, một chậu khác đựng canh rau rừng nấu với muối trắng và một nắp ga-men to đựng thịt trâu kho. Đây là những món ăn gần như không thay đổi ở Điện Biên, vì một lẽ dễ hiểu: không có gì khác nữa. Anh em ngồi xổm, cắm đầu xì xụp ăn. Bát là bát sắt tráng men được phát hồi đầu chiến dịch, nhưng nay vào trận, nhiều anh đã đánh mất. Bây giờ có anh phải dùng gáo dừa hoặc ống tre cắt ngắn để thay bát. Đũa cũng vậy. Có anh còn giữ được những đôi đũa tre vót rất đẹp, mang từ hậu phương lên, nhưng có anh không còn gì hết, đã bẻ vội hai cành tre nhỏ để lùa cho xong mấy miếng cơm vào bụng. Tuy vậy, dù ở ngay mặt trận, với tiềm thức văn hóa Việt Nam đã ăn sâu trong tim óc, những người lính vẫn luôn luôn có ý nhường nhịn nhau từ miếng thịt, cho tới muỗng canh rau rừng, anh lớn nhường anh bé, anh ít tuổi nhường anh hơn tuổi.... Trong lúc họ ăn uống xì xụp, Mộc như một ông bố già, đi rảo quanh để trông nom, và cũng là xem chúng nó ăn ra sao, có ngon miệng không? Chỉ cần thấy chậu cơm vơi nhanh rồi hết nhẵn là Mộc đủ vui rồi, chưa nói tới nếu có một vài lời khen nữa thì Mộc càng sướng không thể tả. Nhưng không phải chỉ có Mộc, mà cả chính trị viên Tốn nữa. Anh cũng đi rảo, nét vui buổn luôn thay đổi lộ rõ trên gương mặt. Cơm xong, mọi người cũng chạy lại vây quanh lấy một chiếc chảo lớn còn đặt trên bếp Hoàng Cầm. Đó là chảo nước sôi nấu với cháy cơm. Nước cơm cháy tốt chán! Đào đâu ra trà ở đây? Nước cơm cháy có thêm tí gừng càng thơm, càng lành. Sau đó, tất cả bắt tay ngay vào việc. Đời lính là như vậy. Việc là việc, nhất là ở mặt trận. Lanh đứng ngay bên chảo nước nói: - Tất cả chú ý nhá! Bây giờ các tiểu đội họp rút kinh nghiệm đêm qua, còn các cán bộ trung đội lên đại đội hội ý. Sau đó chi bộ họp. Rồi lại đi lấy gỗ, lấy tre. Xong, chúng ta lại ra trận địa. Lanh nói to và nhanh, làm cho lính dường như không nghe kịp, nhưng ngược lại lính dường như cũng không cần nghe hết, đã hiểu đủ mọi việc cần làm. Họ túa đi, và lao ngay vào việc. Thời gian luôn luôn khắc nghiệt với họ, những người chiến sĩ. Ở mặt trận đã vậy, ở hậu phương cũng thế thôi. Thời gian như không bao giờ dành riêng cho họ. Quá trưa, các cuộc họp đã xong, quân ta lại chuẩn bị vào rừng đốn gỗ, chặt tre. Hôm qua Lanh đi cùng với họ. Hôm nay lẽ ra đến lượt Tốn, nhưng Tốn vừa đi họp ở trung đoàn về nên Lanh lại đi thay. Lanh. Anh đứng ngắm đoàn quân thành hàng dọc, đi vào rừng sâu. Lúc này anh em có vẻ tỉnh táo, khỏe mạnh hơn, nhưng vẫn nhếch nhác, chủ lực chẳng ra chủ lực, du kích chẳng ra du kích, và nhất là vẻ mệt nhọc vẫn không sao xóa hết được trên những gương mặt đều xanh tái, hoặc bạc ra. Lanh vẫn còn nhớ sáng hôm qua, tiểu đoàn trưởng Dũng xuống đại đội Lanh một lúc. Cùng Lanh đi rảo quanh chỗ anh em nằm ngủ, Dũng đã tự nhiên thốt lên: “Hồi ở mặt trận Phan Rang, mình có được nghe một người vốn là thầy giáo, bấy giờ cũng là bộ đội, nói: “Có một nhà văn phương Tây nào đã viết: họ, những người lính ấy, như những con vật chiến tranh. Mình bỗng nổi gai người. Tất nhiên đó là nói về những người lính cách mạng. Nhưng vẫn cứ có cảm giác gì như ít ra, những người lính của chúng ta hôm nay một khi lao vào cuộc chiến cũng không phải không có mặt nào tương tự...”. Lanh không hiểu và cũng không biết nghĩ như thế có đúng không? Tuy nhiên anh cũng cảm thấy như có một lưỡi dao nào đó lướt khía vào tim anh. Thật vậy, đã mấy ai hiểu hết được nỗi khổ của người lính? Để động viên họ vào trận, sẵn sàng chết vì nhiệm vụ, người ta đã thường chỉ viết và vẽ nên những hình ảnh thật hào hùng, đẹp đẽ và vui vẻ. Thật vậy, đã mấy ai hiểu hết mọi nỗi thống khổ của người lính, dù là những người lính có lý tưởng cách mạng... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Một, 2023, 01:59:50 pm Hoàng hôn xuống, rừng tối mờ, sương bắt đẩu dăng trên cánh đồng. Nhưng đây cũng là lúc pháo Mường Thanh, Hồng Cúm lại bắn dữ nhất. Khắp các cửa rừng, khe suối lại rừng rực lửa đạn.
Đại đội lại lên đường. Khác với khi đi lấy gỗ, lúc này anh em đều nai nịt gọn gàng hơn, và mọi vẻ uể oải cũng như đã được cố giũ bỏ lại. Ra trận địa, người lính bao giờ cũng trang nghiêm, cẩn thận. Mọi tiếng nói chuyện, cười dùa không còn nữa, thay vào đó là những câu nói rất ngắn và nho nhỏ. Mỗi người một bó tre hoặc bó cành cây trên vai. Những cây gỗ lớn phải hai người khiêng đi lặc lè, lủng lẳng. Lúc này, Lanh lại thấy một tình cảm gì như một niềm tự hào, kiêu hãnh đang dâng trào trong tâm hồn mình. Thật vậy những người lính của anh - những người anh em của anh lúc này sao đẹp quá... Ra khỏi khu trú quân được một đoạn, toàn đại đội bắt đầu đi vào khe Trăn, nơi mới bị trận pháo kích tơi bời bữa trước. Lanh vượt lên trước, đứng sang một bên đường mòn, ra lệnh cho bộ đội đi thật thưa, từng tổ một, và đi thật mau, để nhanh chóng vượt qua khu vực nguy hiểm. Trời càng thêm tối. Dưới các vành mũ nan tre có lá cài ngụy trang bù xù, không nhìn rõ mặt ai, nhưng Lanh vẫn nhận ra được từng chiến sĩ thân yêu của mình, chỉ trừ những anh lính mới bổ sung sau màn 1 chiến dịch. - Nhanh! Nhanh nữa lên! - Lanh giục giã. Bộ đội chạy rình rịch. Lá ngụy trang rào rào. Cuốc xẻng va nhau lích kích cùng súng đạn. Tất cả những âm thanh quá quen thuộc ấy rộ lên càng làm cho Lanh thêm phấn hứng. Đấy là những bản nhạc kỳ diệu mà trên thế gian này có lẽ chưa một nhạc sĩ nào đã viết nổi. Bộ đội vẫn loang loáng lướt qua mặt Lanh. Những người khiêng gỗ tuy có chậm hơn, nhưng cũng vẫn cố bám sát. Tất cả đều như bị cuốn hút về phía trước. Ai cũng như ai, dần dần không còn phân biệt được đâu là lính cũ đâu là lính mới. Tất cả cứ băng đi băng đi. Những người cựu binh đã có sức cảm hóa, lôi cuốn đồng đội mãnh liệt đến như thế sao? Hay chính đó là nhiệm vụ, là truyền thống của đơn vị? Đại đội vẫn chưa vượt hết khe Trăn. Trời càng tối sẫm. Lác đác có mấy hạt mưa. Chợt có tiếng chân rất nhẹ phía sau lưng, Lanh quay lại: - Anh Dũng! - Lanh vui vẻ cất tiếng chào - Đêm nay anh đi với bọn tôi hả? - Ừ! - Hay quá! Quân tôi nó đang tị: mấy đêm trước tiểu đoàn trưởng toàn đi với “xê” ông Thìn, ông Niên. - Chỗ chúng nó có ruộng lầy, lại có nhiều đá ngầm ở dưới sâu, khó nhá quá... Dũng cười. Dưới vành mũ nan, hàm răng anh trắng đều đặn, rất đẹp. Anh cũng cầm một chiếc xẻng cán dài y như lính. - Cậu tổ chức cho anh em vượt khu vực này như thế là tốt. Lanh vui vẻ và thành thật: - Cũng là nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của tiểu đoàn thôi. Tôi đã hiểu tính anh: mọi cái thì có thể thế nào cũng xong, nhưng đã vào việc, nhất là vào trận thì anh... khiếp lắm. Dũng nhìn một toán chiến sĩ đang khiêng gỗ lặc lè đi tới: - Tiểu đội cuối cùng đây phải không? - Dạ, phải. - Vậy ta đi thôi! Dũng quay đi trước. Lanh luỵch uỵch chạy theo sau. Hai người cùng vượt lên trước đội hình của đơn vị. - Chiều nay các ông họp chi bộ rồi hả? - Báo cáo vâng. Tranh luận khá gay về chậm hay không chậm, có tư tưởng ngại khó ngại khổ hay không. - Kết luận thế nào? - Thôi thì cũng phải nhận là chậm, nếu so với quyết tâm cao nhất. - Lanh cười - Và ngại khó ngại khổ thì ai mà chẳng ngại, có điều là anh em chúng tôi thì không hề... - Mình hiểu các ông. Nhưng mà ở đời này không thể thỏa mãn sớm một điều gì cả, trong chiến đấu càng không thể như thế. Động viên, hối thúc nữa cũng tốt thôi. Nhưng quan trọng hơn hết là phải xem lại cách thức tổ chức, đó là cái thiết thực nhất. Việc gì cũng vậy, chỉ có động viên không, không đủ. - Dạ đúng như thế. - Và, - Dũng tiếp - Nhanh nhưng vẫn không thể quên phải hết sức hạn chế thương vong. Tôi không bao giờ chỉ nhắm mắt xông lên, mà không cần biết rõ mình cần phải làm những gì để có thể thắng mà ít đổ máu. Cả đại đội đã ra khỏi rừng. Cánh đồng mở ra bao la. Dù là đêm tối nhưng ngoài này vẫn sáng hơn. Mây rách ra vài mảng. Lờ mờ có ánh trăng suông. Địch dẫu sao cũng còn khá xa: các cứ điểm ở vành ngoài của sân bay và khu trung tâm Mường Thanh nằm cách cửa rừng tới trên bốn cây số, và cách giao thông hào trục của quân ta đang đào cũng trên dưới hai ngàn mét. Cũng vì vậy bằng mắt thường quân ta không nhìn thấy gì hết. Phía trước chỉ là một vùng tối tăm mờ mịt, bí mật, đầy bất trắc. Các cứ điểm của địch đều không thắp đèn lộ trên mặt đất kể từ sau màn 1 chiến dịch, vì pháo của ta đã vào gần hơn, thậm chí có những trận địa sơn pháo đã xuống hẳn cánh đồng, vào tới chân Bản Kéo, Độc Lập, Him Lam để bắn vào khu trung tâm và kiềm chế sân bay. Có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh ở đây, quân Pháp cũng phải che giấu đèn lửa ban đêm, không chỉ riêng quân kháng chiến. Chớp lửa lại rực lên ở phía trước. - Đấy nó lại đánh trống tế bố nó đấy. - Một anh lính nào cười thốt lên. - Cứ bắn! Cho mày dốc hết đạn của cả nước Pháp nhà mày vào đây, rồi cũng ngoẻo thôi con ạ! Mấy hôm nữa, ông mà vào, ông bẻ từng cái càng pháo ra! - Một anh khác nói theo. - Ấy chớ! Chớ! Giữ lấy mà dùng chứ! Muốn nhắm rượu, về “ tậu” lấy một mẹ đĩ, nó sẽ cho ăn tiết canh và chân vịt, bẻ ra mà gặm, sướng hơn. Tiếng cười rúc rích. Dũng cũng thầm mỉm cười. Anh biết: khi vào trận người ta thường có hai cách để tự trấn an và kích thích, một là cáu gắt, quát tháo, và văng tục, hoặc chửi thề, điều này thường thấy ở những người chỉ huy, hai là đùa cợt để tỏ ra coi thường kẻ địch, coi khinh hiểm nguy, thường thấy ở các chiến sĩ. Dũng vẫn đi rảo. Cánh đồng đã gặt, chỉ còn trơ lại gốc rạ và những cây chó đẻ cùng cỏ dại đã mọc đầy sau những trận mưa đầu mùa. Lác đác có cả những cụm hoa riềng nhoi lên đỏ tươi - những nụ hoa dường như lạc lõng trên cánh đồng đã gần như hoang dại và chiến tranh đang gầm thét. Lanh bỗng bước rảo lên, đi sóng ngang với Dũng: - Anh Dũng ạ... - Lanh nho nhỏ. Cái anh lệnh vỡ này có gì mà thì thào vậy? Dũng lắng nghe. - Anh Dũng ạ, hôm nọ ấy mà, cái hôm kia ở khe Trăn ấy, hôm gặp chị Lệ ấy... - Sao? - Dũng chăm chú hơn. - Tôi quý anh tôi mới nói thật, chứ anh hôm ấy... gì quá... - Sao? - Dũng chau mày. Anh không ngờ Lanh vẫn còn quan tâm đến chuyện này. - Lẽ ra hôm ấy, theo tôi, anh nên... nên... - Thôi đi ông ạ! Tôi không muốn nhắc lại nữa. -Dũng thở dài gạt đi. - Thật đấy, anh Dũng ại, - Lanh vẫn không nghe - Chị ấy đã nói sơ qua lại mọi chuyện cho tôi nghe rồi. - Đã bảo thôi, ta nói chuyện khác đi. Ôi, ông chưa hiểu đàn bà là thế nào đâu! Lanh im bặt. Dũng nói cũng đúng: quả thật muốn khuyên nhủ Dũng, nhưng Lanh thật ra đã có chút kinh nghiệm nào về tình yêu? Cả tuổi trẻ của anh đã ném vào quân ngũ và chiến tranh. Tự nhiên Lanh cũng thấy buồn. Đã hai mươi tám tuổi đầu, chiến tranh vẫn còn đang nhe răng múa vuốt trước mặt, chưa hề biết thế nào là một nụ hôn, chứ chưa nói xa hơn nữa. Hai người tiếp tục đi sóng đôi bên nhau, nhưng cùng rơi vào im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Có tiếng máy bay ì ì. Dỏng tai lên nghe, Lanh nhận ra tiếng bọn tiếp tế. Anh đề nghị cứ cho bộ đội tiến. Dũng đồng ý. Tiếng máy bay gần hơn, rồi ầm ào như ở ngay trên đầu đại đội. Nghe thấy như có nhiều, chứ không phải một chiếc. Đã nom thấy cả những chấm đèn ở bụng, ở đuôi và hai đầu cánh của chúng. Trời lại đầy mây, nên không thể nhìn rõ được gì hơn. Nhưng cũng đúng lúc ấy có những tràng đạn đại liên từ dưới cánh đồng, ở liền ngay sau giao thông hào trục phía trước, quất lên rất giòn giã. Đạn vạch đường rất chụm, vun vút như từng bó lửa tung lên hết sức đẹp mắt. Hả dạ vô cùng. - Ở đâu vẫn vậy anh? - Lanh hỏi. - Đại liên phòng không của cậu Quýnh đây! Chúng nó mới ra đây hôm qua, bám sát yểm trợ bộ binh, và vào gần thế này để uy hiếp trực tiếp việc thả dù tiếp tế trên sân bay và khu trung tâm. Lanh hớn hở: - Thế thì phải gọi các cậu ấy là phòng không xung kích. - Phải! Cậu Quýnh này hay lắm. Chỉ huy rất giỏi, lại gan góc không chê vào đâu được. Tính nết cũng rất cởi mở. - Anh biết Quýnh. - Phải. Đầu năm ngoái, khi cầm giấy về đại đoàn, còn đang sớ rớ chưa gặp ai, thì tớ gặp cậu này cũng mới nhận được giấy gọi về đại đoàn để nhận nhiệm vụ ở phòng không. Hai đứa nằm khan ở tạm trú xá. Mấy hôm sau mới thấy một bố ở phòng cán bộ khật khưỡng đi ra... - Tôi cũng biết cậu Quýnh - Lanh nói - Hồi chỉnh quân cải cách ruộng đất mùa hè vừa rồi, tôi với cậu ấy học ở cùng một đại đội. Buồn cười: khi có báo động máy bay cậu ấy cứ nằm dài đọc tài liệu, không chịu ra hầm, ai cũng bảo quá chủ quan. Nhưng có hôm mới nghe tiếng máy bay còn xa cậu ấy đã tung người dậy hét: xuống hầm ngay. Mọi người còn ngờ ngợ, thì quả nhiên bom nó đã đạp liền mấy quả xuống một ngọn đồi ở ngay bên cạnh. May mà không ai việc gì. Bấy giờ mới khen: “Thằng Quýnh giỏi”. Cậu ấy chỉ cười: chuyện ấy quá nhỏ với dân phòng không. Không nghe được tiếng máy bay để đoán hướng, thì còn làm anh lính cao xạ làm gì! Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Một, 2023, 02:05:06 pm Đã tới giao thông hào trục. Tuy chưa hoàn thành, nhưng còn hào đã vươn khá dài như cắt dọc cánh đồng, chia ra hai phần nửa bên phía tây là ta, nửa bên phía Nậm Rốm là địch. Con hào như một giới tuyến. Hào khá rộng và sâu lút đầu người. Có thể vận chuyển khá dễ dàng cáng thương, kể cả khiêng vác, vận chuyển các bộ phận của pháo nhẹ, và ĐKZ. Hai bên vách hào dựng đứng như tường. Nơi nào đất yếu, vách đã được gia cố bằng những phên nứa, phên tre phòng sụt lở. Quãng quãng, ở hai bên lại có hầm cá nhân kiểu hàm ếch để làm chỗ nghỉ ngơi và trú ẩn. Cũng quãng quãng lại có một ụ súng trung liên, đại liên hoặc ĐKZ. Từ tường hào trục (như cả một đường hầm dài dặc ấy) quân ta đã bắt đầu, không đợi hoàn tất hào trục, tranh thủ đào vươn về phía địch những con hào nhỏ hơn, nhưng cũng đủ cho quân ta có thể vận động tiến lên mà không thể phơi mình trên mặt ruộng. Tất nhiên những con hào tấn công này mới được bắt đầu nhưng hầu hết mới chỉ là vươn lên được trên dưới một trăm mét. Ở đẩu mút hào vẫn còn dang dở, có nơi quân ta mới chỉ đào sâu hai ba lưỡi xẻng, có nơi pháo địch đã bắn nát, san bằng các mặt ruộng.
Tới đây như đã ngửi thấy mùi thuốc đạn, mùi cháy và cả mùi máu tươi. Nhưng các chiến sĩ ngay lập tức ùa vào công việc. Đêm nào cũng vậy, trước cảnh tượng này, Dũng vẫn thấy trong lòng mình trào lên những niềm xúc động và phấn khích. Đại đội Lanh đã dàn ra, một bộ phận tiếp tục đào hào trục để nối với đại đội bạn ở phía dưới, một bộ phận đi lên ở phía trước tiếp tục đào hào tấn công tiến về phía địch. Lanh đã biến vào đám đông chiến sĩ. Chính trị viên Tốn chạy theo, và cũng nhập luôn vào một đám đông ở cánh phải, nơi tiếp giáp với đại đội bạn. Mây lại rách ra một vài mảng. Ánh trăng lại lờ mờ rọi xuống. Có thể nom rõ hơn cảnh tượng lao động tấp lập, hối hả kỳ lạ của hàng trăm con người trên cánh đồng. Và nếu tính cả các hướng thì có tới hàng ngàn, hàng vạn con người đang lao vào cuộc xây đắp chiến hào này. Những tấm lưng nhấp nhô như những đợt sóng đang dồn dập trào lên rồi lại trút xuống, liên tục, thôi thúc và mãnh liệt. Dũng cầm xẻng cũng nhảy xuống một đoạn hào. Bùn ngập quá mắt cá chân anh, trào ngay vào đôi giày vải cao cổ. Quân ta đang vừa phải múc bùn, vừa đào. Dụng cụ để múc và vét bùn hết sức linh tinh: có anh dùng mũ sắt chiếm được của địch, có anh dùng hòm sắt đựng đạn, có anh dùng thúng mủng rách nhặt được ở các bản bị giặt đốt cháy, dân đã chạy cả vào rừng. Làm cật lực mà tốc độ vẫn chậm. Vét xong bùn, là đào, là xúc. Rất mệt nhọc. Không mấy ai nói chuyện nữa. Chỉ còn có tiếng thở phì phò và tiếng cuốc xẻ thình thịch xả vào đất, hòa quyện với nhau, tạo thành một dải âm thanh trầm đục, nặng nề trên suốt chiều dọc cánh đồng. Cùng đào với các chiến sĩ một lúc, mới chỉ một lúc thôi, mà hai lòng bàn tay Dũng đã rát bỏng, lưng mỏi như dần, hai cánh tay rã ra, hơi thở cũng đứt khúc. Ngẩng lên, gạt mồ hôi đẫm trên trán (dù trời đêm se se lạnh), nhỏ nước bọt vào hai lòng bàn tay, anh mím môi lại. Liệu có nên tổ chức những tổ vét bùn, xúc đất, và những tổ chuyên đào đất?... Anh sẽ phải bàn lại với các đại đội trưởng ngay ngày mai. Một lúc sau anh quay trở lại sở chỉ huy nhẹ của tiểu đoàn đặt ở khu ruộng hơi lui về phía sau một chút, và chếch về phía đại đội của Thìn. Gọi là sở chỉ huy, nhưng thực ra chỉ là mấy chiếc công sự, cái đã có nắp, cái chưa, mỗi cái chứa được khoảng ba bốn người, cái dành cho tổ thông tin, cái để cho cán bộ tác huấn và trợ lý chính trị, cái khá hơn, đã có nắp là nơi các cán bộ chỉ huy tiểu đoàn làm việc. Công sự nào cũng có giao thông hào ăn thông sang hầm chỉ huy và công sự kế bên để dễ bề cơ động, liên lạc với nhau. Dùng lưỡi xẻng gạt bùn đất ở hai ống quần và đôi giày, đoạn, cắm mạnh chiếc xẻng xuống gờ đất bên một công sự, Dũng ngồi xuống, bỏ mũ ra, vụm tay xòe bật lửa mồi một điếu thuốc lá. Anh không xuống hầm ngay. Còn đang nóng bức trong người, và anh cũng muốn yên tĩnh một mình trong giây lát. Khói thuốc im nặng bay, anh ngửa mặt nhìn lên bầu trời của Điện Biên Phủ. Chiến tranh quả có nhiều bộ mặt. Dũng biết cũng khá nhiều, nhưng cho tới cái trận quyết đấu này, anh như mới hiểu chiến tranh vẫn còn có bộ mặt gớm ghiếc đặc biệt như ở nơi đây... Những ý nghĩ của anh bỗng chốc chuyển sang một hướng khác. Câu chuyện Lanh nói lúc nãy lại làm cho anh thoáng buồn. Lanh bảo anh xử sự như vậy không đúng. Lanh đâu có hiểu. Mình đã là một con người khốn khổ và cả độc dữ nữa. Gặp lại nhau giờ đây còn gì để nói? Và nói thế nào, xử sự thế nào cho đúng với lòng mình nhất? Cuộc sống đã không bao giờ dễ dãi và luôn ngọt ngào, còn Lệ té ra cũng chỉ là một quả độc... Những vết thương cũ trên khắp cả thân thể anh như bỗng càng trở nên đau buốt. Đầu anh trĩu nặng. Đúng lúc đó, những vạt lửa trong Mường Thanh lại rực lên, rồi những tiếng nổ tơi bời làm rung chuyển ngay cả vùng đất Dũng đang ngồi. Như choàng tỉnh, anh lảo đảo đứng dậy, và nhận ra trọng pháo địch đang nã xuống khu vực của đại đội Thìn... - Báu! - Anh gọi, rồi băng đi liền, về hướng đang có tàn sát. Anh chiến sĩ liên lạc tròn như hạt mít cũng cực nhanh, tung mình lên khỏi công sự, cắm đầu lao theo Dũng. Pháo địch tiếp tục bắn, vẫn đúng vào tọa độ cũ. Dũng không khỏi ngạc nhiên: mọi đêm bọn Pháp cũng thường bắn ra giao thông hào trục, dù ta có ngụy trang mà những chiếc “đầm già” đã nhìn thấy, thậm chí có thể đã chụp ảnh nữa. Nhưng đêm nay không hiểu sao chúng bắn dữ, và lại bắn tập trung ở quãng này. Hai anh em vừa chạy vừa phải liên tục lao xuống ruộng, dán bụng mỗi khi thấy từ trong Mường Thanh lại nhoáng lên ánh lửa. Vừa tới mép hào trục, lại một loạt trọng pháo nữa nã tới, hai anh em lại phải lăn đi một vòng rồi mới nhào xuống được. Một trận mưa đất, bùn trút xuống tối tăm cả mặt mũi cả hai người. Vuốt mặt, ngẩng lên, Dũng đã thấy đại đội trưởng Thìn và chính trị viên Hào với biệt danh Hào sứt (vì anh bị sứt mất hai chiếc răng cửa) đã có mặt tại đó. - Báo cáo anh, nó bắn trúng chỗ anh em trung đội ba đang đào về phía trung tâm, chứ không phải ở đoạn trục nối với đơn vị bạn ở cánh phải, phía nam. - Thương vong ra sao? - Báo cáo... báo cáo... Thìn chưa nói hết câu thì từ phía trước một chiếc cáng xồng xộc theo đường hào trục chạy lại. - Đồng chí nào đây? - Giọng Thìn đã gần như khê đặc vì mất ngủ quá nhiều, và quá mệt nhọc, lúc này như run lên, và càng như khê đặc tựa như khản tiếng. - Một cậu tân binh, không nhớ tên ạ. - Một anh khiêng cáng ấp úng đáp. Mọi người cùng vội vã cúi xuống gần sát khuôn mặt đẫm máu của anh chiến sĩ. Chính trị viên Hào sứt nghẹn ngào: - Cậu Hạnh, học sinh trung học Thái Nguyên! Mới chiều nay cậu ấy cứ hớn hở hỏi tôi: có phải đánh xong Điện Biên ta sẽ về Hà Nội phải không anh? Dũng lật tấm chăn che nửa người phía dưới của anh chiến sĩ lên: chỉ còn thấy một đống thịt đỏ lòm, bầy nhầy. Không còn thấy đâu đôi chân nữa... Mọi người chưa kịp nói gì thêm, một cáng thương nữa lại hổn hển trở về. Trên cáng là một thân người không đầu. Nơi cổ, những mạch máu dường như vẫn còn đang phập phồng phòi máu. - Trời ơi! - Đại đội trưởng Thìn rít lên - Thế là mất tay trung liên nối tiếp cậu Đỗ đã “đổ” trong trận chặn viện rồi... - Có đúng cậu này không? - Dũng hỏi mà thấy cổ mình cũng như nghẹn lại. - Báo cáo đúng, chỉ nhìn hai bàn tay của cậu ta tôi cũng nhận ra ngay. Cậu Duẩn, Phạm Công Duẩn. Dũng cúi sát xuống. Lòng hào quá tối. Anh đã nhìn rõ hai bàn tay khá to đầy chai sẹo, đặc biệt là các kẽ ngón và hổ khẩu đều bị rách, rớm máu vì đã cầm xẻng đào, cuốc quá nhiều. - Đi tìm ngay cái... cái... đầu - Chính trị viên Hào sứt nói. - Tìm rồi mà không thấy - Các chiến sĩ cáng thương đáp. - Tìm lại! Phải tìm lại! - Hào sứt bật nấc lên. - Báo cáo, pháo nó còn đang bắn. Ngớt, anh em chúng tôi sẽ tiếp tục tìm. Lại một cáng thương nữa. Một chiến sĩ bị thương ở bụng, tất cả ruột gan đểu lòi ra thành một đống lớn. Anh đang mê man, hai tay ôm lấy đống ruột ấy, miệng thều thào: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!”. Dũng nói nhanh: - Anh Hào ở lại giải quyết thương binh, tử sĩ thật chu đáo. Tôi và anh Thìn lên đó xem sao. Anh em mình còn cả ở trên đó. Thìn vội vã bám theo Dũng. Hai người cùng rẽ vào ngách hào mới bắt đầu đào được ít nhiều từ đêm qua, tiến lên phía trước. Báu cũng không rời Dũng nửa bước. Thìn, khác hẳn với Lanh, thấp bé, đen đúa, đặc biệt có đôi mắt luôn luôn đỏ như mắt cá chày, có lẽ vì lông quặm. Thìn mới từ cơ quan tải thương của đại đoàn được đưa xuống chỉ huy đại đội được hơn một năm nay. Tuy không xuất sắc, nếu không muốn nói là chậm chạp và ít linh hoạt nhưng lại rất cần cù, chịu khó, việc gì được giao cũng làm được một cách chu đáo cẩn thận, chắc chắn, lại không chè rượu, trai gái. Nói chung anh sống khá gương mẫu. Dũng rất tin anh, thậm chí cũng rất mến. Ba người ra tới nơi vừa bị tàn sát, địch cũng vừa ngừng bắn. Không còn nhận ra đâu là chiến hào đâu là mặt ruộng nữa. Tất cả cồn lên như những lớp sóng đất. Hố pháo chi chít, be bét. Khói đạn vẫn còn chưa tan. Khét nồng. Tanh lợm. Không gian vẫn còn như nghiêng ngả. - Miền đâu? - Thìn cất tiếng gọi to. - Có tôi! - Một bóng người từ một đống đất ở xế bên như mọc lên. Đó là trung đội trưởng trung đội 1, người trong số còn sót lại của trung đội này sau trận phòng ngự giữ cứ điểm đồi Độc Lập. Thật vậy, trận đó trung đội này đã bị gục gần hết, chỉ còn lại Miền, trung đội trưởng và bốn chiến sĩ, một giữ tiểu liên, hai súng trường, và một anh bắn ba-dô-ka. Miền chạy lại. Thấy có cả tiểu đoàn trưởng, anh vội vã đứng nghiêm chào, nhưng đất đã bị cày xới thành từng hòn từng tảng, không bằng phẳng, anh trượt chân, lảo đảo suýt ngã. - Chào đồng chí - Dũng bước nhanh lại, đỡ cho Miền thăng bằng lại - Anh em đâu cả rồi? - Báo cáo, anh em ở quanh đây cả! Miền vỗ tay mấy cái. Từ các đống đất và cả những hố pháo, một loạt những cái đầu với mũ nan và cả mũ sắt chiến lợi phẩm cùng nhô lên. - Chào tất cả các đồng chí! - Dũng cất tiếng nói to. Rất ít khi gào to, ngay cả những khi điên giận nhất, nhưng lúc này anh biết anh cần lên tiếng ngay với anh em; không phải là cá nhân anh, mà với tư cách chỉ huy cao nhất của tiểu đoàn, gửi họ lời chào thật bình tĩnh. Anh em chắc hiểu: trong những giây phút này, tiểu đoàn vẫn luôn luôn ở bên họ. Quả nhiên, anh mới chỉ chào có thế, chưa nói thêm được điều gì, tất cả chiến sĩ, không ai bảo ai, cũng bật reo lên: - Hoan hô! - Hoan hô ban chỉ huy! Sao lại hoan hô? Có gì mà hoan hô? Nhưng Dũng hiểu đó là một cách biểu lộ tình cảm của anh em. Anh bỗng thấy trái tim mình ấm hẳn lại. Cùng Thìn đi tới từng vị trí để động viên và hỏi han cặn kẽ về tình hình địch bắn phá ra sao, Dũng dần dần nhận ra thêm được một điều mà chính anh bây giờ mới hiểu rõ: đào trận địa tiến sâu về phía địch, không thể giống hoàn toàn như đào giao thông hào trục, không thể rải người thành hàng dọc kéo dài trên mặt ruộng rồi cùng đào một lượt. Bây giờ địch đã thấy rõ những điều gì đang xẩy ra đêm đêm trước mặt chúng. Sự phản ứng của chúng do vậy càng dữ dội, càng có trọng điểm hơn. Vì vậy ta càng phải sớm thay đổi tổ chức và biện pháp, nếu không sẽ còn bị thiệt hại nữa. Có lẽ cũng phải rải quân ra, nhưng không phải tất cả cùng đào thành vệt dài ngay, mà phải cho anh em đào những hố cá nhân trước, nhằm mau chóng có công sự bảo vệ mình an toàn, sau đó mới đào nối liền hố nọ với hố kia, hình thành ra chiến hào liên tục... Đầu óc Dũng nghĩ ra rất lung. Anh nghĩ mãi. Sau đó vẫy Thìn lại, anh nói rất vắn tắt nhưng rất cụ thể về những gì vừa lóe lên nhưng đã cháy bỏng trong đầu óc anh. - ...Báo cáo, vậy là tiểu đoàn quyết định thay đổi lại cách... - Thìn ngập ngừng. - Phải, tôi quyết. Và anh phải tổ chức lại ngay. Ngay bây giờ, rồi rút kinh nghiệm. - Rõ. Trong khi đại đội Thìn cùng với trung đội trưởng Miền cùng ngồi trong một hố pháo lớn trao đổi ý kiến để tổ chức lại việc đào hào, Dũng đi tới bên một anh chiến sĩ cao lòng khòng ngồi trong một đoạn hào còn sót lại nhưng nông choèn. Trong ánh đêm mờ mờ, chỉ nhìn thấy rõ nhất đôi mắt anh chiến sĩ khá to và một cái miệng với đôi môi hơi mỏng. Đẩu trần, vẻ người nhẹ nhõm. Khi thấy Dũng, anh ta cũng định đứng vội dậy để chào nhưng Dũng đã cầm tay anh kéo ngồi xuống như cũ. - Đồng chí tên gì? Mới về hả? - Báo cáo em là Lẫm, Trần Văn Lẫm ạ. Vâng, em là tân binh. - Trước ở nhà làm gì, hay đi học? - Báo cáo... em thành phần... - Anh lính ngần ngừ. Dũng biết những năm gần đây, nhất là từ khi cuộc cải cách ruộng đất được phát động, vấn đề thành phần giai cấp đã được quan tâm rất nhiều, cả ở hậu phương, cả trong quân đội. Nhưng theo anh, nhiều nơi đã quá cứng nhắc, máy móc trong vấn đề này, nên có những chuyện không hay thậm chí rất đáng buồn xảy ra. Mà chưa có ai có thể thổ lộ... - Cứ nói đi, không sao cả. Anh lính gãi gãi tai: - Báo cáo, em thành phần... linh tinh ạ. Dũng không khỏi mỉm cười: - Là thế nào? - Báo cáo, em cũng được học ít nhiều nhưng phải bỏ học kiếm sống vì nhà đông em quá. Em đi cắt tóc, cắt tóc chán, đi làm thợ xẻ, chán rồi lại đi chữa xe đạp. Sau xoay ra vẽ truyền thần. Vì nhờ trời, em có tý hoa tay. Cũng không ngờ lại kiếm ăn được. Sau đó em lại kiêm cả nghề chuyên viết thư hộ các nhà có con đi bộ đội mà ông bà ở nhà không biết chữ. Rồi phấn khởi lên, được bà con nhờ vả, em lại còn làm cả việc hàng tuần chạy lên bưu điện kháng chiến của huyện ở tít tận trong rừng, bỏ thư giúp bà con và nhận thư về. Đợi bưu tá cứ gọi là hàng tháng. Tháng tám vừa rồi em xung phong đi bộ đội. Cũng lại là phấn khởi lên, vì mấy thằng bạn thân nó rủ. - Cậu cứ luôn luôn phấn khởi như thế cũng tốt đấy - Dũng lại mỉm cười - Vậy vừa qua pháo nó bắn, thấy thế nào? Lẫm cười theo: - Báo cáo, nó bắn mặc nó chứ ạ. - Thế có nghĩa là không sợ? - Vâng! Không sợ chứ ạ. Dũng ngắm nhìn anh ta, đôi mắt dừng lại ở khẩu súng trường mà anh ta đeo ở sau lưng. Đầu nòng súng có một nút giẻ thút nút lại. - Này cậu cẩn thận tốt đấy. Thút nút súng lại thế này là phải. Kinh nghiệm này cẩn phổ biến. Được khen, Lẫm hăng hái: - Báo cáo, không thế, nó bắn, bụi, rồi cả bùn nữa nhét vào thì chỉ có mà khóc, khi có lệnh nổ súng. Dũng chăm chú hỏi tiếp: - Cậu có vẻ yêu cây súng này lắm nhỉ? - Không ạ - Lẫm thật thà - Em mê trung liên hơn. Báo cáo, nhẽ ra em cũng được giữ trung liên thay anh Đỗ sau trận chống tái chiếm đồi Độc Lập, nhưng vì em thành phần linh tinh, nên đại đội giao cho đồng chí Duẩn, đồng chí vừa hy sinh đấy ạ. Nhưng cũng phải nói anh Duẩn cũng là tay cực giỏi. Anh ấy bần nông chính hiệu đấy ạ. Dũng không cười: - Này, cậu có muốn và có dám giữ trung liên thay anh Duẩn không? Nếu muốn, tôi đề nghị với đại đội cho. Vẫn không khỏi giọng nghịch ngợm, Lẫm hỏi lại: - Báo cáo, tiểu đoàn không giễu em đấy chứ? - Hoàn toàn không. - Vậy em xin hứa với tiểu đoàn nếu chết thì thôi, còn sống làm anh lính Cụ Hồ, em sẽ cho thằng Pháp biết thế nào là trung liên của em. - Rất tốt! - Dũng cầm lấy tay anh lính lắc mạnh, rồi đứng dậy, trở lại chỗ Thìn và Miên. Anh trao đổi vắn tắt về chuyện trung liên của Lẫm, sau đó quay về sở chỉ huy. Báu vẫn luôn luôn bán theo anh như hình với bóng. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Một, 2023, 02:08:05 pm Dũng vừa về tới nơi, một cán bộ tác huấn đã nhô lên, mừng rỡ:
- May quá, trung đoàn đang gọi tiểu đoàn trưởng. Nhẹ nhàng buông mình xuống công sự, Dũng đỡ lấy ống tổng hợp: - A lô, tôi nghe đây. - A, Dũng đấy ư, tốt lắm! Tôi, Quý đây. Anh Lê Thâu “ép” (đại đoàn) từ chiều chưa về. Tôi trực. Thế nào, ngoài đó ra sao, pháo nó bắn dữ thế? - Báo cáo chính ủy hai tử sĩ, một thương binh. “Xê” cậu Thìn ở chiến hào tấn công, chứ không phải hào trục. - Thế kia ư? Đã làm tốt công tác thương binh tử sĩ chưa? - Hào sứt ở ngay chỗ đó, tôi đã trao cho cậu ấy lo liệu. - Tốt! Này, thế nó bắn nhiều như đêm nay như vậy có gì khác? - Báo cáo, theo tôi, vẫn là bắn phá hoại như mọi đêm, nhưng cũng có điều đáng chú ý, đêm nay chúng bắn tập trung vào một sỗ điểm mà đểu là ở hào tiến công. Như vậy có nhiều khả năng chúng đã biết ta bắt đầu tiến vào phía chúng, nên sự đối phó từ nay đã bắt đầu ác liệt và có trọng điểm hơn... - Thế theo ý anh trọng điểm mà chúng nhằm là thế nào? - Báo cáo: các trận địa tấn công. Và như vậy, trên phạm vi của trung đoàn ta, thì tiểu đoàn của tôi có lẽ là trọng điểm. Vì trận địa tiến công của tiểu đoàn tôi gần với sân bay hơn cả. - Có thể có lý. Tôi sẽ trao đổi lại với anh Thâu. Này, còn có vấn đề gì nữa không? - Báo cáo, tôi thấy các dụng cụ vét bùn, đất cần được cải tiến lại. Nhưng còn vấn đề lớn hơn nữa: đội hình và phương pháp đào hào trục, nhất là chiến hào tiến công. Theo tôi chiến hào tiến công nên đào theo lối cóc nhảy. Tôi đã cho Thìn thử áp dụng ngay đêm nay, xem kết quả cụ thể thế nào. Mai sẽ báo cáo với các anh cụ thể. - Tốt! Cần phải phát hiện được các vấn đề như vậy, chứ không phải ra chiến hào chỉ là để động viên không thôi. Mai sớm, lên trung đoàn ngay nhé. Cả anh Thâu và tôi cũng nghe! - Và không quên thói quen nghề nghiệp, ông nhắc - Vẫn phải nhớ động viên anh em giữ vững quyết tâm đấy nhé. Dũng bỏ ống tổ hợp xuống. Ít khi anh có cuộc nói chuyện dễ chịu với chính ủy Đỗ Gia Quý như đêm nay. Anh cũng như hầu hết cán bộ trong trung đoàn này vốn không thích Đỗ Gia Quý cho lắm vì cái tính chủ quan, võ đoán của ông: dường như ông không bao giờ để ý nghe bất cứ một ai, mà chỉ thích huấn thị và dạy bảo người khác. Tất nhiên ông là người cũng có chút học thức, có ít nhiều lý luận, và làm việc cũng có năng lực; người ta còn không thích ông ở tác phong xa quần chúng và cái nhìn thường ít rộng rãi, độ lượng đối với cán bộ, cái gì cũng quy vào quan điểm, lập trường. Xã Đệ, người bạo phổi và hay nói ngang đã giễu: “Cũng là dân có đuôi cả thôi (ý nói thuộc giai cấp tiểu tư sản) nhưng để tỏ ra cái điều ta đây triệt để cách mạng hơn ai hết, ông ấy bảo hoàng còn hơn cả nhà vua!”. Thật vậy, từ màn 1 chiến dịch tới hôm nay Dũng mới thấy có cuộc nói chuyện dễ chịu với ông Quý. Dường như ông đã quên chuyện va chạm, tưởng như thoảng qua nhưng cũng khá khó chịu, chung quanh trận chiến đấu của tiểu đoàn anh, nói cho đúng hơn, đại đội Thìn, chống địch tái chiếm đồi Độc Lập. Đêm ấy tiểu đoàn anh nhận được lệnh của trung đoàn, (trong khi tiểu đoàn của Phan Đức và Xã Đệ tấn công cứ điểm mà Phan Đức là chủ công). Trong lệnh ghi cụ thể: dùng một đại đội để chặn viện từ Mường Thanh ra ứng cứu hoặc tái chiếm đồi Độc Lập. Dũng cảm thấy không ổn. Anh đề nghị cho tiểu đoàn sử dụng toàn lực lượng, để chắc thắng. Với lý do: quân ta suốt mùa hè qua, nói cho đúng hơn: xưa nay, chưa hề được huấn luyện kỹ về phòng ngự, mà chỉ có học tấn công. (Hình như trong tư tưởng người ta nghĩ rằng quân đội cách mạng chỉ có tấn công. Đặt vấn đề phòng ngự ra là sai quan điểm, là hữu khuynh, sợ địch). Lý do nữa: ở đây là mặt trận lớn, Dũng tin là không hề giống như việc chặn viện khi ta đánh các cứ điểm lẻ trong những năm trước. Do vậy, chắc chắn địch sẽ phản kích lớn. Nhưng, ý kiến của anh đã bị ông Thâu gạt đi. Ông Quý cũng vậy, không những thế, ông Quý còn nói xa xôi như thể Dũng thiếu quyết tâm. Dũng đã chấp hành mệnh lệnh, cho đại đội Thìn ra đào chiến hào, ngay trong đêm, trên đồng trống, dưới chân đồi Độc Lập, để sẵn sàng chiến đấu. Anh tự thấy không thể không có mặt cùng đại đội này, mặc dầu thông thường khi sử dụng lực lượng chỉ một đại đội thì cán bộ chỉ huy tiểu đoàn không cần thiết phải đi cùng; quá lắm chỉ cho tiểu đoàn phó đi. Trận chiến đấu đã thắng lợi, nhưng bị thiệt hại nặng: một trung đội thương vong. Sau trận đó, Dũng đã nói thẳng, nói hết ý mình. Anh phê bình việc huấn luyện một chiều của ta, anh cũng không đồng ý với quyết định sử dụng lực lượng của trung đoàn... “Cũng may mà thằng De Castries dao động, non gan. Giả dụ lúc đó nó cứ quyết tung quân lớn ra đánh, thì chỉ cần một đợt nữa là cả đại đội của chúng tôi chắc đã bị... xóa sổ, và có thể chúng sẽ chiếm lại đồi Độc Lập”. Ông Thâu đã bác bỏ mọi điều anh nêu lên. Còn chính ủy Đỗ Gia Quý thì phê câu nói đó của Dũng: “Cũng may là thế nào? Không, không có sự may rủi nào hết. Trên mặt trận chỉ có sức mạnh chiến thắng của quân đội cách mạng của chúng ta và sự bạc nhược, ươn hèn của địch...”. Chưa hết, ngay sau đó có việc sơ kết chiến thắng màn 1, Dũng lại có ý kiến. Về trận trung đoàn tấn công cứ điểm, theo anh, việc chọn hướng đột phá chủ yếu là chưa tốt, cộng thêm việc chần chừ đợi pháo là không linh hoạt... Đã có sự tranh cãi giữa một bên là đa số cán bộ đơn vị tác chiến mà Dũng là nhân vật trung tâm, còn một bên là hai ông Thâu, Quý và cán bộ của cơ quan đoàn bộ. Từ đó, một không khí, dù âm thầm nhưng cũng khá nhợt nhạt phủ lên quan hệ giữa Dũng và hai vị chỉ huy. Nhưng ông Thâu dẫu sao cũng chỉ thều thào thôi. Riêng ông Quý thì khác. Dũng biết ông vốn từ lâu đã không thích anh vì hay có ý kiến trái với cấp trên, ông còn chưa thật tin ở anh cả về quá khứ vì anh là một cán bộ mới về mà ông chưa thật tin là mình đã hiểu hết. Thêm nữa, theo ông, anh còn là một cán bộ không thuộc thành phần cơ bản... Nhưng hôm nay, không hiểu có ngọn gió lành nào đã làm cho ông mát mẻ, ân cần dễ chịu như vậy? Dũng thấy trong người cũng nhẹ nhõm. Từ đó cho tới gần sáng, địch lại bắn tiếp khu vực của tiểu đoàn hai lần. Nhưng không có đợt oanh tạc nào trúng vào chiến hào nữa. Bốn rưỡi sáng, Dũng hạ lệnh thu quân trở về rừng. Một bộ phận nhỏ được nghỉ ngơi, ngủ tốt suốt đêm trong hậu cứ, đã ra để thay thế. Dũng có ý chờ đại đội của Thìn đi qua. Vừa nhác nom thấy anh đại đội trưởng đặc nông dân, thấp bé, đen đúa với đôi mắt cá chày ấy, Dũng đã hỏi ngay: - Thế nào Thìn? Thìn vui vẻ nói như reo lên: - Anh ơi, được! Được lắm! Thời gian lại nhanh hơn! Dũng cũng không khỏi mừng rỡ: - Vậy hả? Tôi cứ lo đào kiểu ấy tuy an toàn hơn, nhưng có thể sẽ chậm. Té ra lại như vậy! Ừ, có thể chính vì đào như vậy đỡ lo, đỡ thấp thỏm, nên anh em đào lại có năng suất hơn. - Vâng, có nhẽ thế. - Thôi được, mai cả ông, cả tôi lên báo cáo với trung đoàn đấy nhá. Tất cả các đại đội lần lượt đi qua hết, Dũng đi cuối cùng. Khi đi ngang qua khu vực trận địa phòng không ở gần sau giao thông hào trục, Dũng chợt nhớ tới Quýnh. Anh bảo Báu về trước cùng các cán bộ tác huấn, thông tin, rồi xăm xăm rẽ trái đi một lúc tới cái khu vực mà đêm đêm, ngày ngày vẫn thấy phóng lên những làn đạn quyết liệt hất tung được rất nhiều đợt máy bay của địch định vào khu trung tâm. Anh muốn gặp Quýnh trò chuyện, và cũng tranh thủ trao đổi ý kiến về phối hợp tác chiến giữa tiểu đoàn với đơn vị Quýnh, phòng khi cần thiết. Trận địa phòng không thật là đẹp. Anh em phòng không đã quen làm công sự, hầm hào, thêm nữa hẳn là Quýnh cũng đã chỉ huy đôn đốc anh em làm thật chu đáo, vững chắc nên mới được như thế này. Sáu ụ súng tròn xoay, chìm sâu dưới mặt ruộng, vách hầm thẳng đứng, phẳng lì như đất nện. Trong các ụ súng là những khẩu đại liên cao xạ ngóc cao nòng về phía các hướng có biển số cắm đều đặn. Ở giữa các ụ súng là khu hầm chỉ huy của đại đội: hầm có nắp dày tới trên mét rưỡi. Từ hầm chỉ huy có giao thông hào chạy ra cả sáu ụ súng. Ở xa hơn, trên một khu ruộng khác, là hầm trú ẩn và nghỉ ngơi của chiến sĩ. Xa hơn chút nữa là khu hầm đạn dược và cứu thương. Tất cả đều gọn gàng, đẹp như mô hình để học tập. - Ô kìa, đàn anh sao lại quá bộ đến chơi thế này? - Quýnh đang ngồi trên nóc hầm hút thuốc lá, thấy Dũng tới, không giấu được vẻ ngạc nhiên. Trời đã lờ mờ sáng. Dũng siết chặt tay Quýnh, ngắm chàng trai tầm thước nhưng nở nang cân đối, với gương mặt cởi mở, và cặp mắt to, sáng, lúc nào cũng như tươi cười rất yêu đời. - Ông vẫn vậy, chẳng sút đi tí nào nhỉ - Dũng nói. - Anh ngồi xuống đây đã. Chà, đã nói tới gian nan thì phòng không chúng tôi đã thấm gì với bộ binh các anh. Hai người trò chuyện hết sức vui vẻ. Sau khi trao đổi ý kiến về hợp đồng tác chiến, câu chuyện chuyển sang những vấn đề khác, không định sẵn. Quýnh nói vẻ khá quan trọng: - Này, anh ạ, tôi có ông anh ở trên cơ quan bộ, nay cũng đang ở mặt trận này. Ông cho biết: mặc dầu quân ta cực kỳ vất vả và máu đổ ra cũng không ít, nhưng trên vẫn muốn thúc nữa. Muốn đánh sớm anh ạ. Lo mùa mưa... Dũng nhớ ra rồi, ngắt lời Quýnh: - Có phải anh Hồng Đăng không? Quýnh ngạc nhiên, tươi cười: - Đúng, anh cũng biết anh ấy hả? - Mới được trông thấy người. Hôm vừa rồi anh ấy xuống trung đoàn mình. Anh ấy cũng nói trên rất lo là mưa sẽ nhiều hơn nữa, thì rất trở ngại. Quýnh có vẻ quan trọng hơn nữa: - Anh ấy còn nói với tôi điều này, không biết có nói với các anh hôm ấy không: Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương sắp họp để tìm giải pháp chấm dứt cuộc chiến, anh ạ. Vì vậy, trên cũng rất muốn sớm có một cái gì đó thật vang dội để đặt lên bàn hội nghị để cán cân nhất định phải nghiêng về phía có lợi cho ta. - Không! Không thấy anh ấy nói ở trung đoàn. Có lẽ sợ ảnh hưởng tư tưởng anh em chăng? Dũng vừa đáp và suy nghĩ. Thì ra còn có chuyện to lớn cực kỳ ấy nữa! Thì ra người lính bao giờ cũng vậy, chỉ được biết chung quanh cái vành mũ của anh ta, trong khi đó ở trên đầu anh ta còn có biết bao nhiêu điều hệ trọng: mà hầu hết những điều ấy dù xa xôi hoặc gần, dù lớn nhỏ, dù bí mật hay công khai cuối cùng đều có liên quan tới cái sống và cái chết của người lính một cách gián tiếp hoặc trực tiếp. - ... Và ông anh tôi cũng cho biết thêm: bọn Pháp cảm thấy Điện Biên có nguy cơ hỏng rồi nên chúng vừa cử tướng E-ly tổng tham mưu trưởng sang Mỹ, yêu cầu Mỹ gỡ cho bàn thua trông thấy này. Mỹ đang ráo riết chuẩn bị một kế hoạch ném bom ồ ạt, rải thảm quanh Điện Biên, bằng hàng trăm máy bay B29. Mà đã dùng tới loại này tức là có khả năng chúng dùng cả bom nguyên tử... Lại một chuyện “động trời”. Nhưng cuối cùng tất cả những tin tức ấy cũng không làm cho Dũng chú ý nhiều. Anh thầm nghĩ: thực chất cũng là một người lính, mình chỉ được biết và cũng chỉ nên biết chung quanh cái vành mũ của mình. Mặt khác tâm trí anh cũng đang còn để ở những điều đáng xúc động khác. Anh hỏi Quýnh: - Quýnh là em ruột hay em họ anh Hồng Đăng? - Em ruột. Anh ấy là anh lớn nhất. Nhà còn mấy anh, chị nữa. Tôi là út, anh ạ. Rồi như trôi theo dòng tâm sự, Quýnh tiếp: - Anh ấy là lớn nhất và cũng là người mà ông bố tôi bảo: may mắn nhất nhà. Tốt nghiệp thành chung xong, thi vào thư ký tòa sứ nhưng trượt. Anh ấy vốn khỏe mạnh và cũng rất ham chơi. Ở nhà, anh ấy đánh bạn với đủ loại trong cái phố huyện quê mùa ấy. Nay rủ nhau đá bóng, mai đi chơi, mốt đánh bạc, cũng có khi bí mật rủ nhau lên tỉnh chơi cô đầu. Bố tôi làm trạm trưởng bưu điện ở huyện, rất lắm việc. Cụ cứ kệ cho anh ấy muốn làm gì thì làm. May sao năm 1944 có lễ hội lớn ở một làng quê cuối huyện, anh Đăng đi xem. Cũng không ngờ trong đám hội anh ấy đã tình cờ gặp lại một ông chú họ nhà nghèo, đi hoạt động cách mạng từ 1938. Hai chú cháu gặp nhau trò chuyện suốt một buổi. Sau đó anh Đăng được giới thiệu vào tổ Việt Minh ở huyện. Chỉ ba tháng sau, cách mạng bùng nổ, anh ấy nghiễm nhiên trở thành đội phó tự vệ của huyện lỵ. Một tháng sau đã là chỉ huy trưởng, rồi được kéo lên tỉnh... Cứ như diều, sau một khóa quân chính, kháng chiến toàn quốc bắt đầu, anh ấy trở thành tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn vệ quốc quân của tỉnh 1948, được đề bạt lên cán bộ trung đoàn, và chỉ huy một trung đoàn của quân khu... đánh một số trận ở biên giới... Ngừng một lát, Quýnh tiếp: - Nhưng anh em tôi mỗi người một tỉnh. Cũng ít khi gặp nhau. Ngay cả khi anh ấy lấy vợ, tôi cũng không về... Dũng vẫn im lặng thong thả hút thuốc. Hai đầu ngón tay từ lâu đã vàng khè. - ... Về sau, nghe nói hai anh chị ấy sống cũng không thật hạnh phúc cho lắm, tôi cũng vẫn chẳng có dịp về. Phần vì tôi là cán bộ cấp thấp làm sao mà đi lại dễ dàng như anh ấy, phần nữa tôi cũng không muốn tham gia vào những chuyện ấy. Dũng muốn hỏi lại một điều gì đó. Nhưng rồi lòng tự trọng và lý trí ngăn anh lại. Quýnh lại sôi nổi và thân mật tiếp: - Tôi cũng đã được gặp chị ấy. Đẹp! Đẹp anh ạ và là một con người hết sức tốt, có chiều sâu. Tôi quý lắm. Nói thật, tôi lại mến chị ấy hơn ông anh tôi. Từ khi ông ấy lên cao, thay đổi nhiều quá. Nhưng cũng có rất nhiều người lên cao, họ vẫn rất hay, đâu có thế! Dũng vẫn không thể và cũng không muốn hỏi thêm điều gì nữa. Lát sau anh ra về. Trời đã sáng rõ hơn. Nhìn sang phía đông, cả một mảng trời trên đỉnh những dãy núi cao trùng điệp đã như tráng bạc. Dũng bước nhanh trên mặt ruộng đầy cỏ dại và thấp thoáng những bông hoa nghệ như lạc lõng giữa khung cảnh tàn phá. Cuộc gặp gỡ bất ngờ ở khe Trăn lại thức dậy trong lòng anh, mặc dầu anh đã hứa với mình là phải chôn vùi nó. Câu chuyện với Lanh xồm tối hôm trước cũng trở lại và làm anh thêm buồn: “Ta đúng hay ta đã sai?” Câu hỏi ấy lại vang lên đọng lại mãi trong đầu anh. “Ta đúng hay ta đã sai?”... Dưới chân anh, cỏ rối, chó đẻ, hoa riềng như quấn chặt, gỡ mãi không ra. Ngẩng lên, bấy giờ anh mới để ý tới trên một số sườn núi hoa ban vẫn còn nở trắng, đẹp lạ lùng. Thì ra vẫn đang còn là mùa xuân. Mùa xuân vẫn chưa qua hết thật ư?... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Mười Hai, 2023, 01:31:34 pm 5 Thì ra, không phải vì nguyên nhân gì đặc biệt, vẻ thoải mái, vui vẻ của ông Quý mà Dũng đã nhận thấy trong cuộc nói chuyện điện thoại đêm qua là do ông mới nhận được tin do phái đoàn bà Lợi cho biết: vợ ông ở Tuyên Quang mới sinh con trai. Ông mừng hết chỗ nói. Có ít đường phên để dành trong đáy ba lô ông đem ra “khao” tất cả anh em chung quanh. Ông cười nói suốt, làm cho ai cũng phải vui lây. Ông tuyên bố: “Tôi sẽ đặt tên cho cháu là Điện Biên, để kỷ niệm chiến dịch này”. Dũng và Thìn theo đúng lời hẹn, cùng lên trung đoàn từ sáng sớm. Ông Thâu lại có việc đột xuất, phải xuống tiểu đoàn của Xã Đệ. Chỉ có mình ông Quý ngồi nghe hai người báo cáo. Vốn là cán bộ chính trị, ông không am tường nhiều về quân sự, vả lại đang vui vẻ chuyện vợ sinh con trai nên nghe mà không chú ý nhiều, mắt ông cứ nhìn đi đâu, miệng luôn tủm tỉm. Dũng không hề phật ý, trái lại nhìn gương mặt tràn đầy hạnh phúc của ông với vẻ vui tươi cởi mở, Dũng lại thấy ông lúc này có vẻ đáng mến hơn bao giờ hết. Lúc này dường như là lúc ông sống thật nhất và cũng “người ” nhất. Sau khi nghe, ông Quý tươi cười bóc một bao thuốc lá mang nhãn hiệu “Sông Lô”: - Mời, xin mời! Đây thuốc lá của chính mẹ cu cháu ở hậu phương gởi cho đấy. Dũng và Thìn cùng châm thuốc, rít những hơi dài. Ông Quý vẫn chưa hết đường phên. Ông lại lục ba lô lấy ra một cục: - Ta uống trà của phái đoàn phụ nữ nữa, nhé. Có tí ngọt lúc này càng thêm hay, phải không các ông? “Phái đoàn phụ nữ”. Dũng ngờ ngợ: - Phái đoàn nào vậy anh? Có phải đoàn phụ nữ Tuyên Quang không? Ông Quý gật đầu: - Phải. Chính bà trưởng đoàn báo tin, chuyển thư và thuốc lá của mẹ cu nó cho tôi. Thật là bà tiên báo hỉ. Rồi càng phấn hứng, ông tiếp: - Cũng báo cho các ông biết: Phòng chính trị đại đoàn vừa điện hồi sáng sớm là chiều nay phái đoàn ấy sẽ xuống thăm anh em trung đoàn ta. Tôi với anh Thâu đã hội ý: sẽ đưa các chị ấy xuống D2 các ông đấy. Chuẩn bị mà đón tiếp cho thân mật, chu đáo, và an toàn. Dũng ngồi như chết cứng. Tin quá đột ngột. Anh đưa mắt nhìn Thìn. Cắn môi suy nghĩ mới đứng dậy, anh cất tiếng: - Báo cáo anh, chiều nay, theo kế hoạch, tiểu đoàn tôi phải đi lấy gỗ, tre. Vậy đề nghị anh đưa các chị ấy xuống chỗ anh Phan Đức, có lẽ tiện hơn. Ông Quý không khỏi ngạc nhiên: - Dịp vui như thế, và cũng là vinh dự cho tiểu đoàn các ông mà. Anh Thâu và cả đảng ủy có nhận xét D2 đang làm ăn có năng suất cao, cho nên muốn đưa họ về D2... Dũng vẫn lắc đầu: - Vâng, cảm ơn các anh, chúng tôi biết: đưa họ về, sẽ có dịp động viên thêm anh em, nhưng quả là chiều nay anh em đi hết, chẳng lẽ chỉ vài cán bộ ở nhà tiếp? Vả lại, như tôi đã báo cáo, đưa các chị ấy về D chủ công vẫn là thuận nhất. Ông Quý phân vân. Cuối cùng ông khoát tay: - Thôi cũng được. Tôi sẽ báo ngay cho Phan Đức. Nhưng mà này, nếu họ có thì giờ ở lại lâu, tôi sẽ đưa sang cả D2 nữa đấy. Dũng không thay đổi ý kiến: - Cám ơn anh. Xin thôi ạ. Vả lại tôi tin là họ sẽ không có thì giờ nhiều đâu. - Được rồi, hãy biết thế! Khi ra khỏi hầm ông Quý được quãng xa, Thìn mới khẽ hỏi: - Sao anh không nhận phái đoàn về mình cho vui, anh Dũng? Dũng lắc đầu: - Thôi! Bao giờ đánh thắng xong, về hậu phương lúc đó sẽ tha hồ mà liên hoan, gặp gỡ đủ các loại phái đoàn. Thìn toan hỏi nữa, nhưng nhìn bộ mặt rất lạ của tiểu đoàn trưởng, lại thôi. Anh tiếp tục di như chạy gằn để kịp Dũng. Dũng sải những bước dài. Đầu óc anh vẫn còn nguyên cái tin của ông Quý. Hai người về tới khu vực của tiểu đoàn, Dũng đi thẳng vào sở chỉ huy, Thìn rẽ về phía trú quân của đại đội mình. Bước vào hầm, mệt mỏi cả trong đầu óc lẫn toàn thân, Dũng định lăn ra ngủ một giấc, nhưng tiểu đoàn phó Hà Giao đang chờ anh về. Giao vui vẻ báo: - Anh Dũng ạ, lúc anh và cậu Thìn vừa lên e, thì có điện báo chiều nay sẽ có phái đoàn phụ nữ xuống thăm anh em ta. Dũng thong thả đáp: - Có. Ở trên đó mình cũng vừa được chính ủy Quý cho biết. - Vậy ta tính sao anh? Chuẩn bị thế nào? Để tôi còn cho các cậu trợ lý chúng nó lo liệu, rồi còn phải báo cho các đại đội nữa... - Tôi từ chối rối. Hà Giao sững người: - Sao vậy? Sao anh lại từ chối? - Chiều, anh em còn đi lấy gỗ, quá mệt rồi. Bên ông Phan Đức đang học chính trị, có điều kiện tiếp hơn cánh mình... Hà Giao nhăn nhó: - Nhưng đây là dịp... dịp tốt để dộng viên anh em mà anh! - Sợ rồi kính chẳng bõ phiền. - Nhưng... nhưng... có gì là phiền? - Thôi, tôi đã trả lời anh Quý dứt khoát rồi. Anh ấy đã báo cho D1 đón. Nói đoạn Dũng lăn xuống chiếc giường nứa ghép, quay mặt vào vách hầm nhắm mắt lại. Hà Giao vẫn đứng đấy. Mặt anh đỏ lên. Anh chỉ còn có thiếu thét to: “Đúng là đồ độc đoán, đổ kiêu căng!... ”. Tuy đã nhắm mắt, quay mặt vào vách, nhưng Dũng cũng có thể phỏng đoán được Hà Giao đang chửi mình. Nhưng kệ hắn, vốn rất háo gái, hắn lại càng chửi. Có thể mình cũng cá nhân thật. Hà Giao quay sang hầm tác huấn. Có cả anh cán sự chính trị đang ngồi ở đó. Hà Giao ném chiếc mũ xuống bàn: - Ông ấy từ chối rồi, không cần tiếp ai hết. - Sao thế ạ? - Cả mấy người cùng hỏi. - Ông ấy bảo cần gì phải động viên. Vô bổ! - Lạ nhỉ? - Lạ cái gì! Ông Dũng mà các cậu còn lạ! Nói thật với các cậu chứ trên trung đoàn, mà cả đại đoàn nữa, người ta đang kêu về ông ấy lắm... Hà Giao còn nói nữa, nhưng mấy anh cán sự đã lặng lẽ chui ra khỏi hầm. Họ cũng đang thích có phái đoàn phụ nữ tới, họ cũng không khỏi ngạc nhiên vì Dũng từ chối. Nhưng cũng chỉ thế thôi. Hà Giao đã đi quá xa đối với họ. Họ không muốn nghe nữa. Họ có thể không đồng ý với Dũng, nhưng cũng không thể đồng tình với thái độ của Hà Giao. Họ không muốn để anh lôi kéo họ vào những trò đấu đá, mặc dầu họ đều biết Giao có một cái ô to. Cái ô ấy không phải ở đâu xa, đó là chính ủy Quý, người cùng quê xứ Đoài với Hà Giao. Cái xứ này cũng hay, rất giàu tinh thần tương trợ, bảo vệ nhau trong mọi lúc khó khăn, kể cả hiểm nguy. Nhưng cũng không ít trường hợp tinh thần đáng quý này đã biến thành những thói xấu: bè phái, cục bộ địa phương. Họ thường bao che cho nhau, co kéo nhau vào những chỗ đẹp, miếng thơm với bất cứ giá nào, kể cả với tinh thần ma giáo... Chiều ấy, bộ đội lại tiếp tục vào rừng chặt tre, đốn gỗ và Dũng lại xuống đại đội của Lanh để giúp chính trị viên Tốn tiếp tục triển khai công tác chính trị và công tác Đảng trong giai đoạn đào hào. Tranh thủ lúc đó, Hà Giao lên trung đoàn tìm gặp chính ủy Quý. Ông vẫn còn đang vui: - Việc gì thế cậu? Giao lễ phép và thân mật: - Dạ, em lên... đề nghị anh xem lại một việc... - Việc gì vậy? - Báo cáo anh, việc phái đoàn phụ nữ... - Sao hả? - Báo cáo anh, trong khi anh Dũng và cậu Thìn lên trung đoàn, em ở nhà nhận được điện đã thông báo ngay cho các “xê”. Anh em họ phấn khởi lắm. Tất cả đã chuẩn bị đón tiếp rất đầy đủ. Nhưng đùng một cái anh Dũng về lại cho biết là anh ấy từ chối... - Phải, cậu ấy xin thôi, để đưa các chị ấy sang “dê” chủ công. - Nhưng thưa anh, vấn đề lại là chỗ đó... - Hả? - Báo cáo anh, anh em chiến sỹ họ không đồng ý với sự quyết đoán cá nhân của tiểu đoàn trưởng. Ông Quý phân vân. - Nhưng mình đã báo cho Phan Đức mất rồi. Hà Giao có vẻ rất tiếc: - Thôi thì cũng đành thế vậy. Vả lại, báo cáo với anh, em cũng không muốn làm rối việc, mất thì giờ của trung đoàn, chỉ để anh biết qua thôi. Đáng tiếc là anh em người ta nói thật không còn thiếu điều nào, thậm chí còn đặt vấn đề: không hiểu sao tiểu đoàn trưởng như luôn luôn không nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của trung đoàn. - Người ta nói thế? - Vâng. - Kể cũng khí quá... - Báo cáo, nhưng ít ra thì cũng rõ ràng là anh ấy như là có ý coi thường, hoặc ít ra cũng tự cho mình cái gì cũng đúng cả... Ông Quý có vẻ ngẫm nghĩ, nhưng rồi nói sang chuyện khác. Không phải ông không bị gợn một chút gì đó vì những thông tin của Hà Giao như thế nào. Chưa bao giờ ông coi trọng tư cách của con người này. Ông chỉ thương vì anh ta là người cùng quê, thêm nữa anh ta cũng được việc, tựa như gia nhân trong nhà, sai bảo việc gì cũng dễ: kể cả những việc lặt vặt trong gia đình như lấy thuốc chữa đẻ cho vợ chồng, hoặc về quê lo liệu giúp các việc đóng góp trong họ, ngoài làng... - Này, Hà Giao, cậu biết vợ mình đẻ con trai chưa nhỉ? Đã biết rồi nhưng Hà Giao vẫn như nhẩy cẫng lên mà reo: - Ôi, thế ạ? Thật là tuyệt. Tuyệt quá! Em xin chúc mừng chính ủy. Xin đại chúc mừng chính ủy!... Rồi như vồ lấy hai tay ông Quý mà lắc lấy lắc để. - Trời ơi, hồng phúc của chính ủy quả là rất lớn. Tin vui thế này mà ông Dũng về cũng chẳng thấy nói cho một câu... Ông Quý lại đưa đường phên và thuốc lá ra, tươi cười: - Này, trong việc này cậu cũng có công đấy nhé! Lấy thuốc hộ đấy mà. Thật là hả dạ, Hà Giao lại hớn hở, mà lúc này là hớn hở thật sự. - Báo cáo, em thì công cán gì! Tất cả là ở hồng phúc của chính ủy. - Hà Giao này, mình định đặt tên cho anh cu là Điện Biên - Đỗ Điện Biên. Được không? - Ông Quý lại tiếp. Hà Giao nhíu mày có vẻ suy nghĩ một chút: - Hay! Báo cáo anh, tuyệt hay. Nhưng em xin có một đề nghị bổ sung, được không ạ. - Sao, cứ nói! - Báo cáo anh, do may mắn được cùng quê với anh dù xóm trên xóm dưới nhưng em cũng được biết họ Đỗ Gia là họ lớn, thời nào cũng có người danh giá vẻ vang. Ngay đến cụ cố thân sinh ra chính ủy, tuy sinh bất phùng thời, cụ đang học chữ Hán thì Pháp sang đô hộ phải bỏ chữ Hán. Cụ bất đắc dĩ phải học lấy một ít tiếng Tây, rồi làm cho Sở bảo tàng. Nhưng uy tín về kiến thức Hán Nôm rất lớn. Đến Tây cũng phải kính trọng cụ... Vì vậy nếu chính ủy vẫn giữ họ Đỗ Gia rồi thêm Điện Biên vào thì mới thật là hoàn hảo. Em tin chắc là các cụ ở quê sẽ rất hài lòng. - Hay! - Lần này ông Quý khen là khen thật sự. Ông không ngờ Hà Giao lại biết rõ gia đình ông đến thế. Hà Giao tuy là người cùng làng, nhưng khác xóm với ông. Cha Hà Giao làm nghề cắt tóc. Hà Giao chỉ được học xong hết lớp nhất thì ở nhà nối nghiệp cha. Nay là cán bộ dưới trướng của ông, khá thân tín. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Mười Hai, 2023, 01:37:11 pm Lát sau Hà Giao trở về tiểu đoàn. Ra tới con đường mòn trục, anh chợt gặp một nhóm ba người: một nam giới và hai phụ nữ, một chị đã đứng tuổi, búi tó, mặc áo len cộc tay màu huyết dụ còn chị kia rất trẻ, tóc để xõa ngang vai, mang một chiếc áo khoác màu xanh, vẻ đẹp của người phụ nữ như một ánh chớp ngay tức khắc làm cho Hà Giao như choáng đi. Anh ngờ ngợ.
- Các đồng chí có phải phái đoàn phụ nữ đến thăm đơn vị không? - Dạ phải - người đàn ông trong đoàn phụ nữ tươi cười đáp - Phiền anh làm ơn chỉ giúp cho lối vào e2. Hà Giao rối rít, sốt sắng: - Đấy, đấy! Anh và các chị đi lối này, tới rồi, không còn xa nữa đâu. Khi đoàn đại biểu đi khuất, Hà Giao vẫn còn đứng ngẩn. Càng tiếc lại càng tức cái thằng cha kiêu căng, độc đoán, cá nhân. Trời ơi, giá mà nó không gạt đi, thì có phải là được đón tiếp người đẹp không... Nhóm ba người được lính gác đưa vào tận cửa hầm của ông Quý. - Anh Văn Túc vào trước đi. Tôi và cô Lệ chờ ngoài này - Chị búi tó nói. - Ấy sao lại thế. Cùng vào chứ. Ông Quý đang cắm cúi đọc một tài liệu. Ba người cùng bước vào. Ông không khỏi như bàng hoàng. Ông đang chuẩn bị tinh thần để đón tiếp một đoàn đông hơn. Không ngờ họ xé lẻ đi thành từng tổ. Nhưng còn bất ngờ hơn: trong đoàn lại có người đẹp đến như thế. Cứ tưởng toàn là mấy bà sồn sồn. Ông hoá ra lúng túng, gần như thiếu tự tin, kể cả vụng về trước người đàn bà quá đẹp mà dường như ông ít khi thấy được. Sau khi trao đổi ý kiến, dù rất tiếc rẻ, ông Quý cũng không có cớ gì để giữ “phái đoàn”' ở lại. Mấy hôm nay, chỉ trong giây phút này ông mới như quên đi niềm vui có con trai mới sinh. Ông chỉ thị cho cán bộ ban chính trị phải trực tiếp đưa đoàn xuống d1 của Phan Đức. Không những thế, để bảo vệ đoàn, ông còn cho cơ quan tham mưu cắt một tổ vệ binh tháp tùng. Nhưng ông cũng không ngờ, trước khi rời sở chỉ huy, người đẹp nhất trong đoàn đã đột ngột hỏi: - Thưa anh, nhưng sao các anh không cho đoàn chúng em xuống đơn vị của anh Dũng? - Chị biết Dũng của chúng tôi ư? - Ông Quý ngạc nhiên. - Dạ, em có quen anh ấy. Ông Quý trở nên bối rối: - Thưa chị, thật ra lúc đầu chúng tôi cũng có kế hoạch như vậy. Nhưng anh ấy xin thôi. Vì tiểu đoàn anh ấy đang bận chiều nay... - Anh ấy xin thôi ạ? - Vâng. - Vậy cũng được. Không sao cả ạ. Chúng em thế nào cũng có dịp gặp nhau. Xin anh đừng bận tâm. Ông Quý vẫn chưa hết băn khoăn. Khi cả ba người quay ra, ông bỗng thoáng linh cảm thấy một điều gì không bình thường trong chuyện này, mà ông đã không sớm để ý ngay từ đầu. Trên đường đi, Văn Túc vẫn luôn luôn ở bên Nguyệt Lệ như tất cả mọi khi. Anh ghé tai cô: - Này, tươi lên một tí chứ! Ai lại xuống đơn vị mà mặt mũi cứ như bị thế kia hả? Nguyệt Lệ cúi đầu im lặng. Văn Túc nghiêm trang hơn: - Tôi hiểu cả rồi. Nhưng mà dẫu sao cô vẫn không nên như thế. Mọi việc sẽ giải quyết sau. Bây giờ là ta xuống với các chiến sĩ, cô hiểu không? Đến lúc ấy, Nguyệt Lệ không thể không nói, cô gần như nghẹn ngào: - Tôi không ngờ anh ấy đã khinh ghét, thậm chí căm hờn tôi đến thế. Anh ấy không thèm gặp mặt tôi nữa.... - Tôi đã bảo là mọi chuyện sẽ giải quyết sau mà! Cô cứ vui lên. Cô phải tươi lên mới được! Cô đừng quên cô là đại biểu nhá. Văn Túc đã được Nguyệt Lệ kể cho nghe về cuộc gặp gỡ bất ngờ ở khe Trăn, và cả những kỷ niệm cũ không sao quên. Cô cũng chẳng giấu anh cả tình trạng hiện nay của cuộc sống lứa đôi giữa cô và Hồng Đăng. Cô tin Văn Túc, coi anh như một người anh. Mặc dầu hơi ba hoa, nhưng anh vô cùng trung thực và tốt bụng. Chị Tâm, người đi cùng, tuy cũng khá thân, nhưng cũng chỉ được Nguyệt Lệ cho biết đôi chút thoáng qua. Tuy cùng giới, nhưng Nguyệt Lệ không bao giờ hoàn toàn tin ở giới mình. Cô biết: với nhau, những người đàn bà thường khe khắt và hẹp hòi, nhiều khi không thể hiểu nổi. Văn Túc nói tiếp, vẻ chắc chắn và khẳng định: - Cô cứ yên trí. Tôi đã có một kế hoạch rồi: sau khi xuống d1 xong, ta trở về đại đoàn, gặp bà Lợi đang chờ ta ở đó, xin xuống tiếp e3. Cô hiểu không. Ở đó tôi có quen một anh tiểu đoàn trưởng, anh Lê Phong. Tôi mới được biết Lê Phong là bạn rất thân của anh Dũng. Tôi sẽ nói chuyện với Lê Phong và nhờ anh ấy làm trung gian... hòa giải. - Không! Để làm gì? Không! - Lệ gạt đi. - Cô gái ơi là cô gái! Cô phải nghe tôi mới được chứ! Trong bất cứ cuộc va chạm giận hờn nào trên đời này đều phải có một bên tỉnh táo và biết nhường nhịn. Cứ cương cả thì sẽ không bao giờ giải quyết được việc gì hết. - Không! Anh Túc ạ. Không. Tôi không yêu cầu anh làm thế. - Cô nói thế không được đâu. - Đã bảo là không mà, anh Văn Túc. Vô ích, chính anh ấy cũng đã không muốn thế. Và cả số phận cũng đã an bài. - Nói bậy nào! Cô cứ mặc tôi. Dưới tiểu đoàn, Phan Đức và mọi người đã đợi sẵn. Nhóm đại biểu phụ nữ tới. Cuộc đón tiếp hết sức nồng nhiệt, mặc dầu không có gì hết, từ hoa tươi đến bánh kẹo. Phan Đức cùng chính trị viên tiểu đoàn đưa các đại biểu xuống tận đại đội chủ công của tiểu đoàn. Ở đây, toàn đại đội cũng đã tập hợp để đón đoàn. Cuộc tập hợp khá đặc biệt đối với khách: bộ đội không ngồi tập trung trên bãi cỏ, càng không có hội trường, mà từng trung đội đứng rải trong những giao thông hào dài dích dắc, hình chữ chi. Hào khá sâu, kể cả các gờ đất ở hai miệng hào, lính đứng phải lút đầu. Chính trị viên đứng trên mặt đất, bên một công sự cá nhân. Khi đoàn đại biểu phụ nữ tới, tất cả cùng giơ tay, bàn tay từ các giao thông hào như những đàn bướm kéo dài cùng bay tung tăng lên rối rít, đẹp mắt lạ thường, đến nỗi cả ba người: Chị Tâm, Văn Túc, và Nguyệt Lệ đều cùng đứng dậy ngây ra và rớm lệ. Phan Đức khiêm tốn giảng giải: - Ở đây là mặt trận, chúng tôi không dám cho bộ đội tập trung trên mặt đất như ở hậu phương, xin thông cảm cho. - Không! Không! Đúng là ở mặt trận. Chúng tôi chưa bao giờ được dự một cuộc đón tiếp hết sức thú vị như thế này - Chị Tâm nói. Văn Túc bao giờ cũng là người lắm sáng kiến. Anh bỗng cất tiếng đề nghị: - Thế này nhá, xin các đồng chí chỉ huy cho phép đoàn chúng tôi được cùng xuống giao thông hào với anh em, để bắt tay. Tới đây rồi mà không xuống được hào, không bắt được tay từng chiến sĩ là không thể yên tâm, các đồng chí ạ! Ý kiến ấy được chấp nhận ngay với tất cả niềm phấn khởi, vui vẻ của mọi người. Thế là cả ba người cùng chạy lại phía các chiến sĩ. Chỉ vừa chạm tới mép hào, ba người đã được gần như tất cả những cánh tay tua tủa vươn lên đón, cùng với tiếng hò reo cực kỳ vui vẻ. Nguyệt Lệ bám theo chị Tâm và Văn Túc đi dọc các chiến sĩ hào, siết chặt tay từng chiến sĩ. Hào hẹp, mọi người, cả chiến sĩ cả đại biểu, đều phải vai chen vai, cánh thích cánh. Nhưng tất cả những sự va chạm, thậm chí cọ xát ấy đều không hề gợi lên một ý nghĩ thầm lén kể cả những kích thích xác thịt nào. Tất cả chỉ thấy chan hòa ánh sáng, chỉ thấy dào dạt những tình cảm tươi đẹp, thân thiết tuyệt vời mà chưa bao giờ họ được có. Tất nhiên, Nguyệt Lệ là người được bắt tay nhiều nhất, ân cần, thân thiết nhất. Có anh chiến sĩ đã như không nén được, ghé sát tai cô thì thầm: “Trời ơi, chị đẹp quá! Em được trông thấy chị, lại còn được bắt tay chị như thế này, ngày mai dù em chết cũng không còn nuối tiếc điều gì”... Cứ như thế, cuộc thăm hỏi bắt tay kéo dài mãi, đoàn cán bộ phụ nữ vẫn chưa được các chiến sĩ chịu cho lên mặt đất, đến nỗi anh chỉ huy đại đội phải nhắc nhở thật to: - Thôi, xin các đồng chí để cho các đại biểu lên, còn nói chuyện với chúng ta nữa chứ! - Không cần! Không cần gì nữa! Gặp được các đại biểu như thế này là quá đủ rồi. Bao nhiêu lời nói lúc này cũng là thừa - Một anh cán bộ trung đội nào đó phấn khởi đáp to. Lập tức tất cả các chiến sĩ đểu hò reo vang ầm, hưởng ứng câu nói rất hợp ý ấy. Không thể nào dứt ra về ngay được, cả nhóm ba người đều vui lòng nhận lời ở lại tiểu đoàn tới sáng hôm sau. Đêm ấy, bên ngọn đèn bão trong hầm chỉ huy tiểu đoàn, mọi người cùng quây quần nói chuyện uống trà gạo rang cho tới khuya. Sau đó chị Tâm và Nguyệt Lệ được thu xếp ngủ ở dưới hầm tiểu đoàn trưởng, còn Văn Túc cùng ngủ chung với Phan Đức ở một hầm bên cạnh. Đã gần nửa đêm, hai chị em vẫn còn thao thức mãi. Giường bằng tre nứa ghép lại, tuy đã được trải tới hai lớp vải dù vẫn còn thấy mấp mô, lượn sóng. Gối là hai chiếc ba lô lính. Căn hầm tối om, ẩm lạnh, đầy mùi dầu súng, thuốc nổ, cả mùi mồ hôi người. Nhìn qua cửa hầm, một mảng trời loang lổ mây đen, lẫn ánh trăng suông lúc mờ lúc tỏ, và cả ánh sáng của đèn dù chập chờn ma quái. Thêm nữa, chốc chốc lại đỏ rực lên ánh lửa. Trong khi đó tiếng máy bay ì ầm xa, gần dường như không lúc nào ngớt, cùng tiếng trọng pháo và bom đêm liên hồi rung chuyển. Lần đầu tiên trong đời, Nguyệt Lệ được ngủ qua đêm trong một căn hầm ở trận địa như thế này. Cô nằm nép vào chị Tâm, vừa sợ hãi vừa xót thương, xót thương cho cuộc sống của những người chiến sĩ mà bây giờ cô mới hiểu rõ và cụ thể được phần nào. “Nằm miền cát trắng, ngủ cùng rêu xanh..” Ôi, người lính xưa trong Chinh Phụ Ngâm đã như thế, nay xem ra họ còn khổ cực và phải chịu đựng mọi ác liệt hơn nhiều... Ôi đêm nay anh đang ở đâu? Anh cũng đang trằn trọc trên một chiếc giường khổ ải như thế này, hay anh cũng đang ở ngoài cánh đồng, dưới đèn dù và pháo sáng, dưới những trái bom hoặc những loạt đạn pháo ác hiểm bất ngờ?... Càng ở lại Điện Biên thêm ngày nào, em càng thấy rõ hơn bao giờ hết: em yêu anh, yêu anh không biết là chừng nào, và cũng càng thấy rõ thêm: em quả là đã có lỗi không thể nào tha thứ. Em đã làm cho cuộc sống của anh thêm biết bao đau khổ. Anh yêu ơi, nhưng biết làm thế nào bây giờ? Em phải làm gì để chuộc lại mọi tội tình? Và nhất là cần làm gì để có thể vơi bớt cho anh những đau khổ, làm dịu đi những vết thương lớn nhỏ trên thân thể cũng như trong tâm hồn anh?... Anh yêu ơi, có lẽ em chỉ có con đường chết. Chết để giãi bầy, chết để tạ từ, và cũng là để giải thoát cho cuộc sống hiện tại của chính em, cái cuộc sống mà em đã lầm tưởng rằng chỉ cần có nghĩa cũng là đủ để sống... Ánh đèn dù vẫn chấp chới quay tròn hắt lại. Tiếng máy bay vẫn xa gần. Tiếng trọng pháo của cả đôi bên ta, địch, chốc chốc vẫn gầm lên rung chuyển tới cả căn hầm. “Ngủ đi em” - Chị Tâm thi thoảng lại khe khẽ nhắc. Cũng thi thoảng, lại thấy bóng anh chiến sĩ nhẹ nhàng đi qua cửa hầm, và thấy cả cái bóng của tiểu đoàn trưởng Phan Đức với chiếc mũ bê-rê đội sụp quá trán, cùng chiếc áo veste Canadienne rộng và đôi giầy cao cổ, đế cao su đầy răng cưa, thu được của quân dù lê dương. Mỗi lần đi ngang qua, anh lại ngó đầu, có ý nhìn xem hai người khách có ngủ ngon hay không. Nom thấy Đức, hình ảnh Dũng lại càng trở nên sừng sững trong đầu óc Nguyệt Lệ. Anh yêu ơi, thôi xin đừng giận hờn, căm ghét nữa. Mà dù anh có căm ghét em cho tới suốt cuộc đời thì em cũng chỉ càng yêu anh, yêu anh cho đến chết. Phải, chỉ có cái chết may ra mới có thể biện minh và giải thoát được cho em... Mãi sau đó, Nguyệt Lệ mệt quá mới chợp mắt được một lúc. Nhưng bỗng tiếng trọng pháo lại rền lên dữ dội, và lần này nghe nhiều hơn trước gấp bội. Cả căn hầm rung chuyển khá mạnh. Nguyệt Lệ và chị Tâm cùng choàng dậy. Vô cùng kinh hãi, hai người chưa biết nên chạy ra hay cứ ngồi đấy và có nên gọi ai không, thì Phan Đức đã cầm chiếc đèn pin đầu bọc vải xanh che bớt sáng, ngó đầu vào ân cần: - Các chị cứ bình tĩnh! Xa đấy! - Nhưng chúng bắn cái gì thế? Bắn ở đâu vậy anh? - Tôi vừa điện lên trung đoàn hỏi, được biết: bên trung đoàn 3 có đụng với tụi nó. Nguyệt Lệ không kịp nghĩ hỏi ngay: - Không phải bên anh Dũng chứ anh? - Không! Không! Bên trung đoàn 3. Nếu nó bắn ở trận địa của d2 anh Dũng còn nghe dữ hơn nhiều. Các chị cứ ngủ đi. Yên trí. Nguyệt Lệ thở trút, từ từ hạ lưng xuống. Nhưng từ đó không sao ngủ được nữa. Đúng là có đụng độ quân tuần tiễu thám báo của địch với các tổ canh gác xa của tiểu đoàn Lê Phong thuộc trung đoàn 3. Trung đoàn này ở quá lên phía bắc, đầu sân bay Mường Thanh. Trung đoàn 3 với trung đoàn 2 cùng có nhiệm vụ đào giao thông hào và chiến hào ở cánh đồng phía tây sân bay và khu trung tâm Mường Thanh. Chính diện của hai e nhằm thẳng vào tiểu khu ngoại vi tây bắc của địch. Chúng đã đặt tên là Huygette. Tiểu khu này có năm cứ điểm ở nhô ra xa nhẩt là Huygette 7. Tiểu đoàn của Lê Phong cách đây ít ngày, cũng như mọi đơn vị khác, thường bị địch ở H7 bất ngờ ra lấp hào, hoặc gài mìn. Có đêm chúng còn táo bạo đánh chiếm cả những đoạn hào ta mới đào. Sau rút kinh nghiệm, và áp dụng cả sáng kiến của tiểu đoàn Dũng, Lê Phong đã có tổ chức canh gác từ xa, và có kế hoạch tác chiến đầy đủ để chống lại mọi hành động phá hoại của địch. Đêm nay, không phải đêm đầu tiên có đụng độ. Nhưng cũng có cái khác: lực lượng tuần tiễu phá hoại của địch đêm nay không phải là ngụy Thái hoặc bọn dù ngụy Việt Nam, mà là lê dương. Bọn này thấy súng nổ, không bỏ chạy, mà phục ngay xuống, tổ chức chống trả liền. Ngổ ngáo, bắn một chập, thấy rõ lực lượng đối phương nhỏ hơn, chúng bèn xung phong. Bên ta chỉ có một tiểu đội. Anh em bắn rất mạnh. Bọn lê dương đổ khá nhiều. Nhưng chúng nó xông lên như những con gấu ngựa, các chiến sĩ ta, cả cựu binh và tân binh cùng một loạt giương lê, chồm dậy... Đợt tấn công của địch đã bị đẩy lui, pháo địch nã xuống dồn dập. Tiểu đoàn trưởng Lê Phong nghe đại đội trưởng Núi báo về: - Báo cáo, địch chuẩn bị rút về H7. Lê Phong nhíu mày hỏi lại: - Rút hay chuẩn bị đợt tấn công khác? Xem lại! - Báo cáo, thấy chúng đang kéo thương binh về phía sau, có một thằng cũng chạy lui. - Cứ quan sát lại đi! Quả nhiên, chỉ mấy phút sau lại thấy tiếng tiểu liên Thompson của địch nổ ran, rồi tiếng đại đội trưởng Núi vang lên trong máy nói: - Báo cáo, địch lại tấn lên. Đông lắm. Chúng tràn qua tổ 2... Phong quát to: - Điều ngay tiểu đội phía sau vòng “khuýp” vào sườn chúng nó! Tiếng tiểu liên và lựu đạn lại tràn ngập, quyết liệt. Mười lăm phút sau, Núi lại báo cáo về: - Địch đã rút chạy. Chúng đã mang hết thương binh và bắt đi cả một thương binh của ta. - Sao? Ai? - Lê Phong như thét lên. - Báo cáo, đêm tối quá, chưa rõ ai, nhưng đó là một tân binh, người Yên Phong, Bắc Ninh. Phong ném ống tổ hợp xuống, vẫy một liên lạc, đoạn băng lên phía trước. Anh cùng đại đội trưởng ra tận nơi vừa xẩy ra tác chiến. Các thương binh của ta vẫn còn đó, y tá đang hối hả băng bó. Đã xác định rõ, đúng là một tân binh quê Bắc Ninh bị mất tích. - Tìm kỹ chung quanh đây chưa? - Lê Phong hỏi. - Đã! Nhưng không thấy. Giả thuyết anh tân binh bị địch bắt đã được gần như khẳng định. Phong ngồi thừ người trong một đoạn hào sụt lở. Anh bỗng như vùng dậy, lệnh cho Núi tổ chức ngay một tiểu đội gồm những người thiện chiến truy đuổi, nhằm cứu bằng được tân binh, đồng thời cũng mạo hiểm vào sâu để nắm tình hình địch cùng địa hình trong đó... - Báo cáo, xin cho giới hạn. Lê Phong cắn môi suy nghĩ, rồi khoát tay: - Cứ tiến vào sâu! Có điều kiện bí mật tiến sát sân bay càng tốt, nhưng phải hết sức thận trọng. Càng vào là càng khó đấy. Nó như bát quái trận đồ... - Rõ! Tôi xin trực tiếp chỉ huy tổ này. - Rất tốt. Trong khi quá cay cú vì bị mất một chiến sĩ, Lê Phong đã quên cả việc báo cáo xin phép trung đoàn về hành động hết sức táo bạo mà vô cùng nguy hiểm này. Tổ truy đuổi đã được chuẩn bị xong. Ngoài Núi còn có một đội trưởng được gọi là tay tiểu liên số một của đại đội, và một anh tổ trưởng ba người trước kia ở nhà chuyên câu cá trộm ban đêm, mắt rất tinh, nhìn trong bóng tối giỏi như cú mèo. Một anh nữa người miền núi có biệt tài nhận phương hướng đến mức bịt mắt anh ta lại rồi vứt vào rừng sâu, hôm sau anh ta đã mò về được. Tên là Lã Văn Lềnh. Tất cả đơn vị như nín thờ theo dõi tổ biệt động chìm dần trong bóng tối trước mặt. Phong xem đồng hồ: đã 4 rưỡi sáng. Lúc đó lại chợt nghe tiếng máy bay từ xa, rồi chỉ mấy phút sau đã nghe rõ hơn một chiếc vận tải. Nó bay vào rừng trời Mường Thanh, lượn tròn, dường như có ý thả dù, như mọi đêm. Nhưng có lúc lại có cảm giác như nó đang gắng tìm tín hiệu trên đường băng để hạ cánh. Từ sau màn 1, pháo và cao xạ ta đã xuống được cánh đồng, sân bay của địch đã liên tục bị bắn phá khống chế. Ngoài việc phải tăng cường thả dù ban ngày, bọn Pháp đã phải thả dù cả ban đêm để tránh các lưới lửa của ta. Việc hạ cánh máy bay dường như chỉ tranh thủ các buổi sáng sớm khi còn sương mù, khi mà pháo và cối ta không quan sát được rõ mục tiêu trên đường băng. Tuy vậy, nhiều chiếc máy bay hạ cánh xuống vẫn cứ bị pháo cối ta bắn cháy hoặc phá hủy, dù chỉ bắn gần như hú họa trong sương mù. Gần đây, bọn Pháp đã buộc phải cho máy bay hạ cánh cả ban đêm, vì nhu cầu cấp bách. Nhưng yếu tố an toàn hết sức mỏng manh vì các đèn bên đường băng đã bị phá hủy hầu hết. Chỉ còn một vài chiếc được ngụy trang rất kỹ để làm cọc tiêu. Chiếc vận tải vẫn ì ì. Pháo cao xạ và các trận địa súng máy của ta lại bắn lên như pháo hoa đầy trời. Nhưng cũng lạ, lại nghe có thêm tiếng máy bav nữa. Lần này chiếc vận tải mới tới hình như không lượn nhiều mà như đang muốn sà xuống thấp. Lê Phong chau mày nhìn lên bầu trời màu trứng thối loe lóe đạn lửa, lẩm bẩm: - Mẹ kiếp, khéo “thằng này” tranh thủ hạ cánh chắc? - Trời, tức quá, giá mà quân ta có ra-đa hoặc đèn pha chiếu sáng lúc này thì chúng nó phải chết! - Anh tác huấn đứng bên Phong thốt lên. Phong phán đoán không sai. Đêm nay, bọn Pháp bắt đầu áp dụng một chiến thuật mới: nghi binh. Chúng đã cho một chiếc DC3 chỉ chuyên lượn trên cao để thu hút sự chú ý của cao xạ và pháo binh ta, trong khi đó bất thần một chiếc khác bay ở tốc độ thấp, lén đột ngột hạ cánh. Mặt khác, dưới đất, đã được quy định và báo trước, các xe tải mở sẵn máy, khi thấy máy bay bắt đầu chạm bánh xuống đường băng (đã được công binh người Ma-rốc sáng sáng liều mạng ra sửa lại) là các xe ô tô tải cũng đồng thời xuất phát từ Mường Thanh chạy song song với máy bay đang còn bon bon trên đường băng. Khi máy bay dừng lại, xe tải gí đít vào liền, để bốc dỡ hàng cho mau, sau đó còn đưa bọn thương binh lên. Chúng nằm chờ trên các hố đầy bùn và cứt đái bên khu cất giấu máy bay trước đây... Đúng như Phong đoán, chiếc máy bay vận tải thứ hai đã khôn ngoan sà được xuống đúng đường băng. Tên phi công chỉ còn biết kêu lên sung sướng: “Lạy chúa, con đã được cứu mạng”. Trên chiếc máy bay này không chỉ có đạn dược, thuốc men mà đặc biệt còn có cả một sĩ quan bị đưa lên đây để thay thế cho số đã bị giết chết, hoặc bổ sung tăng cường, nhưng trung tá Ducrix sẽ làm sĩ quan tham mưu mới cho De Castries, trung tá Lemeunier sẽ chỉ huy GM9 (binh đoàn cơ động số 9) - Đây là viên sĩ quan lê dương đã ở Việt Nam từ hồi Pháp còn thống chế Pétain - và viên trung tá Vaillant sẽ đảm nhiệm chỉ huy pháo binh tập đoàn cứ điểm thay cho viên trung tá Piroth tự tử sau màn 1 chiến dịch vì đã quá huênh hoang là “sẽ bịt được mõm pháo Việt Minh”. Toán sĩ quan bổ sung khá may mắn. Chúng vừa toài ra khỏi máy bay, nhảy đại xuống những chiếc xe ra đón, thì cũng là lúc tổ biệt động của Núi đã luồn vào được tới con hào thoát nước chạy dọc sân bay. Tới kênh thoát nước cũng là lúc cực kỳ hồi hộp. Một người trong tổ bỗng vấp phải một vật gì ấm ấm, mềm mềm. Anh kinh hãi rút chân lại, và ngó nhìn xuống: một cái xác người. Một chiến sĩ ta. Run bắn, anh quay lại vẫy tay ra hiệu gọi Núi tới. Núi trườn lên. Anh đã nhận ra anh chiến sĩ tân binh của mình. Núi gục mặt xuống ngực người tử sĩ. Anh phát hiện thêm: ngoài hai chân đã bị đạn đẫm máu, trên ngực anh chiến sĩ còn có một con dao găm cắm ngập. Trời ơi!... Hẳn là chúng kéo anh về được đến đây nhưng bị chống cự dữ quá, chúng đã hạ sát anh một cách man rợ, hèn hạ... Một loạt hỏa châu từ các cao điểm phía đông bắn vọt lên. Ánh sáng ma trơi hắt lại. Núi ngẩng lên. Anh nhìn thấy chiếc Dakota hiện lên to đùng, khá rõ trên đường băng phía trước, chỉ cách anh chừng một trăm mét. Một phản ứng hết sức mau lẹ và quyết liệt của người chiến sĩ khi vào trận đẩy Núi bật ngay dậy, với tư thế quỳ bắn. Và không kịp suy nghĩ đôi hồi, anh nghiến răng, kẹp khẩu trung liên vào nách, lia một hơi dài hết sạch băng đạn. Đoạn anh quay lại, vẫy tay ra hiệu cho cả tổ cùng khiêng tử sĩ, rút chạy. - Lềnh và cú mèo, lại dẫn đường! Tôi đánh bảo vệ đuôi. Mau! Chiếc máy bay địch đã nổ như một trái bom lớn. Một quả cầu lửa bùng lên làm cho cả đất trời đỏ khè. Phải tới mười phút sau pháo địch mới kịp phản ứng. Chúng bắn tràn lan ra cánh đồng. Đó chính là những loạt pháo đã đánh thức Nguyệt Lệ và chị Tâm dậy. ... Qua ngày hôm sau, khi vừa tranh thủ chợp mắt được một lúc, trỗi dậy, tiểu đoàn trưởng Lê Phong (của trung đoàn 3) đã thấy báo có thấy phái đoàn phụ nữ tới thăm đơn vị. Anh chỉ kịp dốc nước ở bi-đông đánh răng và rửa mặt thật nhanh, rồi thay vội bộ quần áo còn đầy bùn đất, sau đó chạy ra. Nhóm ba người Văn Túc, chị Tâm và Nguyệt Lệ cùng siết chặt tay anh. Cả ba cùng nhận thấy Lê Phong mảnh mai, khá trắng trẻo, và có vẻ chân thành khiêm tốn hết sức dễ mến. - Anh là anh Lê Phong ạ? - Văn Túc chào. - Dạ, thưa phải. - Hình như anh là bạn của anh Dũng bên trung đoàn 2 phải không? - Dạ đúng. Bạn rất thân là đằng khác nữa. - Vậy thì hay quá! Trong đoàn tôi cũng có một người là... bạn quen với anh Dũng từ lâu. Phong mừng rỡ: - Ôi thế thì rất tuyệt! - Lê Phong siết chặt tay Nguyệt Lệ một lần nữa. Cuộc đón tiếp của bộ đội tiểu đoàn Lê Phong cũng tương tự như tiểu đoàn của Phan Đức, và cũng không kém phần nồng nhiệt thân thiết. Do đó, đoàn cũng ở lại. Đêm ấy, chị Tâm và Nguyệt Lệ lại cùng ngủ một hầm, và Văn Túc cùng Lê Phong ở một hầm khác. Nguyệt Lệ lại thao thức đến khuya. Trong vô vàn câu hỏi trong đầu cô, có một câu hỏi nóng bỏng nhất. “Không rõ Văn Túc đã nói gì với Lê Phong về chuyện Dũng?”. Hôm sau, trên đường về cơ quan đại đoàn để gặp lại bà Lợi, không đợi Nguyệt Lệ phải hỏi, Văn Túc đã nói trước: - Trò chuyện gần suốt đêm cô ạ! Té ra Lê Phong quen thân với anh Dũng từ 1947, khi hai người cùng học một lớp quân chính của một trung đoàn chủ lực của Bộ, học ở trên Tam Đảo sau đó chuyển xuống Me đồi Vĩnh Yên. Học xong, mỗi anh về một đơn vị, ít khi gặp nhau. Cho tới hè 1948 anh Dũng được gọi đi bổ sung cho chiến trường miền Nam, thì mất liên lạc hẳn. Mãi 1953, anh Dũng mới trở ra Bắc và được về đại đoàn này, từ đó hai người bạn lại gặp mặt nhau... Nguyệt Lệ đã quá sốt ruột với câu chuyện dài dòng này. Văn Túc chừng hiểu ý. Anh mỉm cười: - ... Còn đêm qua, tôi cũng đã nói hết mọi chuyện với anh ấy rồi. Anh ấy tỏ vẻ ngạc nhiên và xúc động lắm. Anh ấy hứa sẽ gặp Dũng để, theo lời Phong, “Cạo cho cậu ấy một trận”. Anh ấy tin là Dũng sẽ nghe anh ấy. Tuy nhiên, ông Phong cũng không giấu giếm là sẽ vất vả, vì cũng theo lời ông ta: “Tay Dũng quả là bây giờ có phần thô bạo, và cực đoan, rất khác trước”... Nguyệt Lệ cúi đầu, mái tóc xõa che kín nửa khuôn mặt. Trái tim cô lại nghẹn ngào và cả xao xuyến y như một con chim nhỏ trong lồng đang nhao nhác vừa sợ hãi vừa thoáng mừng khi thấy một nan lồng hé mở. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Mười Hai, 2023, 01:41:27 pm 6 Mưa. Mưa lúc lai rai, lúc ào ạt, đã kéo dài mấy ngày nay. Tất cả các cứ điểm, các tiền đồn báo động, đều phôn về chỉ huy sở Trung tâm báo là các hầm hố, chiến hào đều đã ngập nước. Sĩ quan, binh lính đều đã như những bầy chuột lúc nhúc trong trăm ngàn chiếc hố sũng sịu. Các trận địa pháo cũng trở thành những hố nước nhỏ, ngập tới ngang ống chân pháo thủ. Các đường hào sụt lở khá nhiều, có đoạn đã trở thành suối đục ngầu. Đáng sợ hơn nữa là khu hầm quân y; ở đó đã trở thành một cái gì đó như địa ngục. Nước đã tràn vào nhiều hầm, mấp mé các cáng thương binh. Các bác sĩ, y sĩ phải đứng mổ trong bùn nước. Cứt đái, bông băng nổi lềnh bềnh, không sao thu dọn hết. Nhiều nắp hầm làm vội hoặc làm dối đã bị dột, nước mưa nhỏ xuống mặt thương binh, mà không còn chỗ để di chuyển. Mãi tới xế chiều nay mưa mới tạm dứt hạt, nhưng bầu trời vẫn nặng trĩu mây đen, tưởng như chỉ có thể cắm cây sào chọc tới được, và chỉ cần chọc một cái là mưa lại đổ xuống tức khắc. Tuy vậy, tạnh được một lúc đã là may. Tối nay, ở nghĩa địa mới trong khu trung tâm lại có thể chôn cất các sĩ quan và binh lính chết do pháo Việt Nam hoặc do các trận dụng độ ngoài các chiến hào từ đông sang tây Mường Thanh. Cha tuyên úy Trinquard mang quân hàm trung úy chủ trì lễ an táng này. Trong ba cha tuyên úy ở đây, chỉ còn có cha này còn khỏe mạnh hơn cả. Hai cha khác đều đã đổ xuống ốm vì khí hậu, vì kiệt sức, vì tinh thần suy sụp nữa. Trong lúc chạng vạng tối ấy, giữa căn hầm chỉ huy kiên cố của mình, đại tá De Castries đang ngồi rất cô đơn, trầm lặng trước chiếc bàn đầy giấy tờ và những chiếc máy điện thoại cùng ra-đi-ô viễn thông. Một ngọn đèn điện treo trên trần hầm buông xuống một làn ánh sáng đỏ xuộm. Xăng nhớt thiếu nhiều rồi, cả tập đoàn cứ điểm đã phải hết sức hạn chế, chỉ có sở chỉ huy và khu quân y được phép dùng điện cả ngày đêm. De Castries ngồi đấy, chiếc mũ sắt trên đầu, quần soóc, áo sơ mi mở gần hết cúc để phanh bộ ngực đầy lông. Không khí trong hầm ngột ngạt. Từ sau khi các điểm tựa trọng yếu ở phía bắc: Béastrice (Him Lam), Grabrielle (đồi Độc Lập) thất thủ và Anne Marie phải bỏ chạy (Bản Kéo), De Castries đã gần như bỏ hẳn chiếc mũ calot đỏ, và cả chiếc khăn quàng đỏ điệu đàng kiêu hãnh trước đây. Và, như các sĩ quan trong căn cứ nhận xét, ông ta cũng hầu như rất ít khi ra khỏi hầm; mọi dáng vẻ kiêu dũng thường ngày của viên chỉ huy đã từng được danh tướng De Lattre de Tassigni gọi vui cùng các sĩ quan giỏi khác là “Các thống chế của tôi”, nay cũng không còn thấy nữa. Ông ta trở nên ít nói và gần như đau ốm. Còn nhớ tháng trước, khi tập đoàn cứ điểm chưa bị tấn công, các nhà báo đã liên tiếp lên viết bài, đưa tin: “De Castries tràn đầy sức sống...”. Cũng mới cách đây nửa tháng ông đã đấm tay xuống bàn tức giận khi một anh phóng viên của tờ Le monde dám gọi tập đoàn cứ điểm này là “Cái hố sư tử” (có ý giễu là ở vào vị thế bất lợi, hoặc tử địa). De Castries đã gần như quát lên: “Anh hãy chờ xem!”. Cũng dạo đó Ó Daniel, một viên tướng Mỹ đi lên đây với tư cách đồng minh, để quan sát và góp ý xây dựng căn cứ khổng lồ này, De Castries đã nói với Ó Daniel như dao chém đá: “Đây không những là một pháo đài bất khả xâm phạm mà còn sẽ là một cái cối xay thịt (Việt Minh)”... Bây giờ De Castries trở nên không quyết đoán như mọi khi, và mọi phản ứng của ông ta cũng dường như không còn sắc bén. Có lẽ vì thế, mới cách đây hai hôm, đã xảy ra ở đây một sự việc có thể coi như một cuộc đảo chính. (Vì danh dự sĩ diện, De Castries đã không dám điện rõ về Hà Nội thực chất của vấn đề, mà chỉ tường trình như một sự phân công mới cho hợp với tình hình, và do chính De Castries chủ động đề xuất). Sự kiện ấy như sau: Viên trung tá Langlais chỉ huy tiểu đoàn 6 quân dù thuộc địa (6éBPC) cùng hầu hết sĩ quan dù bàn bạc với nhau rồi đột ngột cùng ồ ạt kéo vào sở chỉ huy, yêu cầu De Castries phải trao quyền chỉ huy tác chiến toàn bộ căn cứ cho Langlais và trao cho Bigeard chuyên trách chỉ huy các cuộc phản kích. De Castries buộc chấp hành mọi yêu sách. De Castries chỉ còn giữ chức chỉ huy chung chung và chịu trách nhiệm về pháp lý trước Bộ chỉ huy tối cao Pháp. Như vậy, Langlais đã thực sự tiếm quyền, với cương vị như một chỉ huy phó toàn tập đoàn cứ điểm. Tuy rất đau, rất căm, nhưng De Castries cũng thấy như trút được một phần gánh nặng. Cũng vì thế, thêm nữa với sự khôn ngoan trước thế yếu của mình, De Castries đã đồng ý với bọn Langlais, Bigeard là vẫn giữ, dù bề ngoài, một tình “thân hữu”. Cuộc “đảo chính” ấy mới xảy ra ngày 22 tháng 3 năm 1954. Bây giờ De Castries đang ngồi đó âm thầm, xem lại những tấm không ảnh mới nhất vừa được một chiếc Dakota liều mạng hạ cánh hồi 5 giờ 30 phút lúc sương mù còn dày đặc mang tới. Đã 52 tuổi, chưa chịu đeo kính, nhưng để xem các bức không ảnh, De Castries phải dùng kính lúp để có thể phân biệt được từng chi tiết. Ông ta cúi xuống, khuôn mặt dài, càng như dài thêm. Chiếc kính lúp rà đi rà lại chầm chậm. Không còn nghi ngờ gì nữa, các chiến hào của đối phương cứ mỗi đêm lại tiến vào thêm được một đoạn dài, và cũng rõ ràng, so sánh với những bức không ảnh trước, tốc độ đào hào của “họ” cũng mỗi đêm một tăng. Tốc độ ấy nói lên điều gì? Họ quyết đánh. Tốc độ ấy còn nói thêm điều gì nữa? Lực lượng của “họ” đã được bổ sung. Những bức không ảnh giống như các tấm ảnh khí tượng chụp từ trên không bởi khinh khí cầu cũng đã báo trước khá rõ: cơn bão lớn thứ hai đang tới gần. Không còn mơ hồ gì nữa với ảo tưởng là quân Việt chỉ đào hào để bao vây nhằm giữ chân quân Pháp tại đây, để rồi họ sẽ bí mật rút chủ lực, quay về đánh phá ở đồng bằng. Nhưng cũng lạ là trung tướng Cogni chỉ huy trưởng lực lượng Pháp toàn Bắc Bộ đồng thời được đại tướng Navarre giao cho chỉ huy Điện Biên Phủ, tuần trước vẫn còn hỏi lại: “Hãy thử xem có phải họ đang muốn trói chân ta, để rồi lên kéo về choảng ở vùng châu thổ sông Hồng không?”. Mãi gần đây cưỡi máy bay lên đây thị sát, và chắc cũng đã liên tục được xem các bức không ảnh, Cogni mới có chỉ thị lại “Họ đang chuẩn bị đợt tấn công thứ hai đấy! Các anh phải chuẩn bị! Các anh cũng phải có giao thông giữa các cứ điểm với nhau và với khu trung tâm. Hầm hố của các anh lại phải được xây đắp lại cho thật tốt...”. Nhưng cái gọi là “đợt tấn công thứ hai” sắp tới sẽ diễn ra bao giờ, và thế nào? Có như đợt vừa rồi không? Họ tập trung mỗi đêm dứt một cứ điểm, hay còn dưới một dạng, một chiến thuật gì mới nữa? Với quân Việt, De Castries đã hiểu: sức mạnh của họ còn cả ở sự khôn ngoan. Họ luôn luôn biết thay đổi và phát triển. Langlais và cả Bigeard cho rằng “họ” sẽ lại đánh theo kiểu trước. De Castries lại nghĩ khác. Trong lúc De Castries xem lại bức không ảnh và có ý chờ Langlais cùng Bigeard (ông đã cho gọi từ hồi chiều) thì cha tuyên úy Trinquard đang từ nghĩa trang dã chiến của quân Pháp mới lập ở bên bờ sông Nậm Rốm, quay trở về. Ông cũng đội mũ sắt Mỹ, cũng mặc áo trận Mỹ, và mang giày nhảy dù Mỹ. Chỉ có khác, ở cổ ông lủng lẳng một cây thánh giá to. Trinquard mệt mỏi bước đi loạng choạng trong giao thông hào lõng bõng bùn nước. Ông vừa đi vừa lảm nhảm một mình bằng tiếng La tinh: Circum cludere me gemi tus mortis (Những tiếng kêu than của chết chóc vây quanh ta) và Exsurge, Domine adjeva nos el libera nos (Xin Chúa đứng lên để cứu vớt chúng tôi). Lòng hào chật hẹp, chốc chốc ông lại vấp một thùng đạn, hoặc một cây súng gãy chìm dưới nước, bùn, suýt ngã, phải bám vội, mười đầu ngón tay cắm ngập vào hai bên vách hào nhão nhoét. Ông tiếp tục vừa đi vừa lảm nhảm. Ông bỗng giật bắn người. Từ một hố cá nhân đào bên vách hào, một bóng đen xổ ra. Trời đã tối, ông phải căng mắt mới nhận ra một người đàn bà mặc quần đùi, áo sơ mi mở phanh hết cúc để nhô ra cả một chiếc soutient gorge đen và hai bầu vú cực to nhưng đã chảy xệ. Cha tuyên úy đã biết đó là ai. Cô là một gái điếm Algérienne, thuộc bộ lạc Ouled Nails được đưa đến đây cùng mấy cô điếm Việt để “giải sầu” cho lính. Cô điếm cũng đã nhận ra cha tuyên úy chứ không phải là một sĩ quan nào khác. Nhưng không bỏ, cô còn cười ré lên, và ôm chầm lấy cha, áp hẳn cả hai bầu vú vào ngực cha, ưỡn phần dưới của bụng mình, kỳ cọ, day, ấn mãi vào cha. “Lạy chúa tôi! Con quỷ! Con quỷ!”. Cha cuống cuồng cầu Chúa và gỡ mãi. Lát sau, cô điếm mới chịu buông ra và cười ré lên, hàm răng trắng lóe: “Đùa thôi, cha! Xem lúc đạn bom này con lợn của cha thế nào?”. Rồi đẩy cha đi, cô điếm nói tiếp: “Vậy mà con lợn vẫn sống. Được đấy, cha! Khi nào cần, gọi con, nghe! Gratuit, không lấy tiền của cha đâu mà ngại!” - “Ôi, con quỷ, con quỷ!... ”. Cha tuyên úy tiếp tục rên rỉ. Chúng nó, bọn điếm ấy, có một khu hầm riêng, cớ sao lại đi lung tung tản mác như vậy? Ôi, hẳn lại do pháo kích. Pháo kích đã làm đảo lộn tất cả, đã chôn vùi tất cả, đã chôn vùi tất cả!... Cha lại loạng choạng lần đi. Tới một đoạn khác, lại chợt nghe có tiếng thở hào hển và cả những tiếng rên, rú nho nhỏ tắc nghẹn ở một hầm trú ẩn khoét vào vách hào. Tuy sợ, nhưng cha vẫn đánh bạo ngó vào: Một bộ mông trắng nhễu đang nhấp nhổm trên một người đàn bà cũng đang trần truồng nằm trên mấy hòm súng kê cao khỏi mặt bùn. Cha vội nhắm mắt quay đi. Cũng lúc đó người đàn ông bỗng bật lên mấy tiếng líu ríu. Bấy giờ cha mới hiểu rõ: đó là vợ chồng một tên lính Mẹo đang làm tình với nhau. Tên lính Mẹo thuộc một trung đội thám báo đặc biệt, trực tiếp báo cáo mọi tình hình với Hà Nội, không cần thông qua De Castries. Bọn lính Mẹo được quyền mang theo cả bàn đèn thuốc phiện và vợ con vào căn cứ. Trước khi nổ ra cuộc chiến tranh ở đây, bọn này chuyên bí mật luồn rừng, đi xa, nắm tình hình đối phương. Chúng khá được việc. Nhưng từ khi chiến sự trở nên ác liệt, căn cứ bị bao vây, chúng đã trở nên vô dụng. Thiếu quân số, Langlais đã yêu cầu chúng cầm súng ra chiến đấu; nhưng tất cả đã từ chối. Tức điên lên, Langlais đã cho lệnh đuổi hết chúng khỏi khu hầm khá kiên cố được xây cất riêng. Hầm ấy nay đã được trao cho quân y để làm hầm thương binh. Từ bữa đó, bọn thám báo đặc biệt này tản mác trong khắp khu trung tâm, chui rúc đâu không ai rõ. Chỉ thấy đêm chúng xuất hiện như những bóng ma đi nhặt dù tiếp tế. Cả mấy tên sĩ quan Pháp chỉ huy chúng cũng vậy, biến mất, và thi thoảng mới nom thấy chúng với quần áo lếch thếch, râu ria như rừng. Lát sau Trinquard đã mò tới dược sở chỉ huy De Castries, xin vào. Tên lính gác dã nhận ra ông là ai, nó gật đầu, chỉ tay vào phía trong. Một sĩ quan trẻ trực ở một cánh hầm nhỏ, bắt ông ngồi chờ để vào xin chỉ thị. De Castries đồng ý cho cha tuyên úy vào, mặc dầu không có hẹn trước. - Thế nào cha, tôi được báo cáo là cha chủ trì lễ an táng sĩ tử tối nay phải không? - Trình đại tá, đúng như vậy, và mọi việc đã xong. - Cha uống gì, ca cao hay nước ngọt? - Cảm ơn đại tá, tôi không uống gì, tôi chỉ xin đại tá cho phép trình một việc. - Cha nói đi, tôi nghe đây. Trinquard bỗng rấn lệ và như mếu máo: - Trình đại tá, thế là hết! Vâng, thế là hết! Từ ngày mai... - Sao, cha? - De Castries chăm chú. - Trình đại tá, tất cả đất trong nghĩa trang, thậm chí cả vùng chung quanh đã hết cả. Từ đêm mai, theo ý các sĩ quan, sẽ phải chôn chung các xác vào một hố lớn. Nếu cứ hố một, như hiện nay, sẽ không còn đất để chiến đấu nữa. - Đến thế kia ư? - De Castries không khỏi thốt lên kinh ngạc. - Và, trình đại tá, quan tài cũng đã hết sạch. Đêm nay, phải bó chúng nó bằng vải dù đem chôn. Đại tá hãy thử tưởng tượng xem: trong tối tăm, cứ phải ném từng bó người xuống những cái hố đầy bùn nước, không một ngọn nến, không một nhành hoa... Thê thảm quá, trình dại tá. Xin dại tá hãy yêu cầu Hà Nội gửi thêm cho nhiều quan tài nữa... - Lạy Chúa! Tất cả những nỗi khó khăn của tôi hiện nay, cha có hiểu cho không? Tiếp tế người và vũ khí là yêu cầu sống còn lúc này của cả hàng vạn con người lúc này, vẫn còn chưa đủ. Kế đó là lương thực, thuốc men cũng là những yêu cầu cực kỳ cấp thiết, vậy mà vẫn nhỏ giọt. Chắc cha cũng đã tận mắt thấy rõ. Vậy bây giờ lại còn yêu cầu quan tài nữa thì sao cho xuể hở cha? Những chiếc quan tài của cha tuyên úy Trinquard quả là đã làm De Castries đau đầu không kém các bức ảnh chiến hào đối phương. Cầu hàng không, niềm tin mạnh mẽ, vững chắc của không riêng De Castries mà cả Bộ chỉ huy Bắc Bộ, thậm chí cả Bộ chỉ huy tối cao toàn Đông Dương cho đến lúc này đã rõ ràng là quá rệu rã. Sự xuất hiện của trọng pháo Việt Nam ở đây đã là một bất ngờ quá lớn, nhưng cao xạ 37 và đại liên phòng không cũng là một bất ngờ chết người. Bây giờ sân bay đã bị khống chế từ xa, không còn có thể hạ cánh tự do được nữa. Chỉ còn có thể, ít ra cho tới lúc này, lừa lừa những lúc pháo và cao xạ đối phương tạm ngừng trong giây lát, thì liều lướt xuống trong điểu kiện an toàn vô cùng tồi tệ. Hoặc lén hạ cánh vào những buổi sáng sương mù còn dày, pháo đối phương không nhìn rõ được mục tiêu. Nhưng nói chung là rất hãn hữu, và thường vẫn cứ bị bắn cháy, bắn hỏng. Các máy bay hạ cánh xuống được cái đường băng vá víu kinh khủng này chỉ là loại Dakota, chuyên chở không được nhiều cho lắm. Máy bay lớn hơn, những chiếc Pakettes của Mỹ (hai thân) bay nhanh hơn, chở được nhiều hơn, làm sao xuống được đường băng này? Tuy nhiên hai loại này cũng đang có chuyện: chúng đều do phi công Mỹ lái (giả danh là phi công dân dụng làm theo hợp đồng với Bộ chỉ huy Pháp ở Việt Nam). Nay đã có chiếc bị cao xạ Việt Nam bắn hạ và nhiều chiếc khác bị thương, bọn Mỹ đang đòi ngừng hợp đồng không chịu lên Điện Biên Phủ nữa. Nghe nói tướng Cogni và cả tướng Navarre đang cố dàn xếp, mặt khác các đơn vị đang hứa cố vét tất cả các loại máy bay vận tải trên toàn cõi Đông Dương để tăng cường tiếp tế cho De Castries. Song le, các vị cũng không giấu một điều: không còn mấy. Bên chính quốc cũng đang rất thiếu thốn. Vậy mà Trinquard lại đòi gửi thêm cả quan tài!... Y như một điều mỉa mai vậy... - ... Cha ơi, cha có hiểu không, chúng ta đang cần tới từng chiếc đinh ốc để sửa chữa máy bay và súng pháo. Chúng ta đang cần tới từng đôi pin để đêm đêm cho lính công binh ra sửa đường băng sân bay dưới hỏa pháo của địch. Chúng ta đang cần tới từng lít máu tươi để cứu thương binh... mà vẫn còn chưa có đủ, vậy nói gì đến quan tài nữa, thưa cha? Cha tuyên úy Trinquard lau hai giọt nước mắt, lặng lẽ cáo từ, quay ra. Vừa lúc đó Langlais và Bigeard cùng xồng xộc kéo vào, không cần báo qua anh sĩ quan trực bên ngoài. De Castries đẩy ghế đứng dậy. Mỉm cười, ông mềm mỏng và cả thầm nhẫn nhục, cất tiếng thân mật chào trước: - Chào hai “con cừu non” của tôi! (Một lối gọi thân mật của người Pháp). Hai viên sĩ quan đáp lại: - Chào Christian! (Tên gọi thân mật của De Castries) - Hai bạn ngồi! Hai bạn uống gì nào? Cognac cả nhé? - OK - Langlais đáp kiểu Mỹ bỗ bã. Bigeard cũng đồng ý như vậy. Langlais cầm ly rượu, ngửa cổ làm một hơi hết sạch, sau đó hếch cái mặt xương xẩu và rắn đanh như đá đẽo lên. Năm nay đã 44 tuổi nhưng anh ta vẫn còn đầy vẻ cường tráng. Bigeard ít tuổi hơn, người cũng tầm thước hơn, nhưng nếu Langlais đầy vẻ tàn bạo, Bigeard có dáng bộ khá oai dũng và ngang tàng. Anh ta có một cặp mắt xanh trong veo và dữ như mắt cọp. Cả hai vẫn luôn luôn đội mũ bê-rê đỏ, như muốn phô diễn với mọi người sự can đảm kể cả lòng kiêu hãnh của mình. - Uống nữa đi, và chúng ta sẽ trở lại vấn đề chiến hào cùng ý đồ hành động của đối phương sắp tới - De Castries nói. Langlais đốt một điếu thuốc lá, khoanh tay, vắt tréo chân, mắt nhìn sang nơi khác, bình thản một cách cao ngạo và xấc xược. - Vâng, xin đại tá cứ nói. Chúng ta vào việc rồi dấy! - Bigeard giục. De Castries cố bỏ qua thái độ của Langlais, ông ta cất tiếng thong thả: - Hôm qua tôi và hai bạn mới nhất trí được với nhau là đối phương đang phát triển chiến hào ngày càng mạnh, mặc dầu không đêm nào chúng ta không cho quân ra cản phá, san lấp. Nhưng chúng ta chưa có thì giờ để bàn tiếp: Ý đồ của địch sẽ như thế nào? Họ sẽ tung ra đợt chiến đấu lớn thứ hai hay không? Và nếu có, sẽ là bao giờ? Sự kéo dài tương đối im lặng này của chiến trường nói lên điều gì? Le gars de Pierre (tên gọi thân mật của Langlais) và Bruno ạ, chúng ta cần phải hiểu rõ, hiểu đúng cả những điều ấy... Langlais ném mẩu thuốc lá vào gạt tàn, quay lại, giọng rắn căng: - Chúng sẽ đánh! Phải, chỉ có thế thôi. Kẻ nào bảo chúng chỉ bao vây rồi bí mật rút lực lượng về đồng bằng là không đúng. Chúng sẽ lại đánh lớn. Sự im lặng tạm thời này chỉ là một cơn bão ngủ! Bigeard cũng gật đầu: - Đúng thế, trình đại tá, chúng ta không thể không tin rằng “họ” đang chuẩn bị cho một cú lớn. Vậy dứt khoát chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa mọi sự chuẩn bị, đúng như tướng Cogni và cả đại tướng Navarre đã có lệnh. De Castries thở dài nhè nhẹ: - Rất hay là chúng ta cùng có ý kiến giống nhau. Tôi cũng vậy, tôi cũng thấy hiển nhiên quân địch đang có ý đẩy chiến hào tới tận các cứ điểm của chúng ta để có thể xung phong với cự ly hết sức ngắn. Langlais bật xen vào: - Họ đang thực hiện kiểu trận địa chiến như hồi thế chiến thứ nhất... De Castries lắc đầu: - Theo tôi có lẽ không phải thế, Le gars de Pierre ạ! Đây là các trận địa chiến hào cơ động, nhằm tấn công, khác với chiến thuật trận địa chiến xưa với các tuyến chiến hào phòng ngự, bao vây cố định, cứng nhắc!... Một cái gì đó chạy lướt trên khuôn mặt gãy lưỡi cày và như đá đẽo của Langlais. Y cắt ngang lời De Castries: - Tôi không đồng ý với ngài, trình đại tá. Vẫn mểm mỏng và khôn khéo biết cần tiếp tục nín nhịn lúc này, De Castries nhẹ nhàng: - Nhưng mà thôi, Le gars de Pierre ạ, về học thuật, chúng ta hãy gác nó lại, bạn đồng ý chứ? Đang nước sôi lửa bỏng, chúng ta chỉ cần thống nhất được với nhau là quân thù đang ráo riết chuẩn bị để tung ra đợt tấn công lớn thứ hai, thế là đã quá đủ rồi... Bigeard cũng có vẻ không đồng tình với Langlais: - Tôi đồng ý với đại tá là chúng ta hãy trở lại vấn để nóng bỏng trước mắt. Câu hỏi lớn được đặt ra: Chúng ta phải làm gì bây giờ? Như dược Bigeard khích lệ, De Castries bớt dè dặt hơn: - Đúng vậy! Chúng ta phải làm gì nữa đây? Vừa qua hai bạn đã thấy chúng ta cũng đã cho binh lính đào hào giao thông giữa các điểm tựa với nhau và giữa điểm tựa với Trung tâm chỉ huy. Chúng ta củng đã cho sửa sang, tăng cường hầm hố chiến đấu. Các bãi kẽm gai đã được mở rộng gấp đôi, và tất cả đã được gài mìn. Hơn thế nữa chúng ta đã liên tục cho quân ra lấp hào và phục kích địch... Vậy ta còn phải tiếp tục làm gì? Langlais thôi không tranh cãi về chuyện “trận địa chiến kiểu cổ hay kiểu mới” nữa. Anh ta và Bigeard đồng ý với De Castries là tập đoàn cứ điểm đã và đang làm được nhiều việc cần thiết cấp bách. Để tiếp tục chuẩn bị đón đợt tấn công mới, cả hai đều nhấn mạnh vấn đề tiếp tế. Cả hai đều yêu cầu De Castries phải kêu gào Hà Nội mạnh hơn nữa, kêu gào cả với Bộ chỉ huy tối cao. - Thưa đại tá - Bigeard nói - Người ta muốn binh đội ở đây phải dám chết vì danh dự nước Pháp, nhưng tại sao người ta lại không dám đủ can đảm để tập trung những phương tiện cần thiết cho nó? - Đúng! Thượng cấp không thể có bất cứ lý do nào do dự trước tình hình này - Langlais cau có - Và, nếu như giục được người Mỹ sớm thực thi kế hoạch ném bom ồ ạt thì tình hình sẽ có thể lật ngược được hết sức mau lẹ. De Castries bao giờ cũng tỏ ra có chừng mực, mặc dầu ông hiểu các “hổ tướng” đã cho ông ta là bạc nhược: - Nhưng, Le gars de Pierre ạ, chưa có thể biết bao giờ cái kế hoạch Mỹ ấy sẽ được thực thi. Cũng chưa thể biết thượng cấp của chúng ta sẽ còn có thể làm gì hơn cho chúng ta, trong khi đó, thì chúng ta vẫn phải chiến đấu từng giờ, từng phút ở đây với nguy cơ của đợt tấn công mới của địch đang lơ lửng ở trước mắt, thậm chí đang mỗi ngày một gần kề ở trước mặt! Langlais mím môi suy nghĩ, rồi như thở hắt ra: - Thôi được, tạm gạt sang bên vấn đề Mỹ, kể cả sự chi viện lớn hơn nữa của Sài Gòn và Hà Nội. Ta bàn về sự nỗ lực trước mắt của chính ta phải có ở đây để cải thiện tình hình. Theo tôi, trước hết là phải dùng lực lượng bản thân kết hợp với không quân đánh mạnh ra, phá cái thế bao vây, vào gần của địch. Đồng thời củng cố chiến hào, hầm hố kiên cố hơn nữa, cố gắng giữ vững không cho tình thế xấu hơn. Có thế mới chờ được kế hoạch “Diều hâu” của Mỹ, chí ít cũng chờ được tăng viện tốt hơn nữa của Hà Nội. Ngừng lại một chút để uống thêm một hớp rượu, có lẽ để lấy thêm phần khí thế, Langlais tiếp: - Thật vậy, phải đánh mạnh và đánh mạnh! Nói đoạn, hai con mắt nhọn sắc của Langlais như phóng thẳng vào mặt De Castries và cả Bigeard. Biết Langlais vẫn còn hăng, De Castries chưa tiện nói ngay cố ý nhường lời cho Bigeard. Đôi mắt xanh biếc trong veo như mắt cọp, bật sáng, Bigeard nói gọn: - Tôi đồng ý với Le gars de Pierre! Đến lúc ấy De Castries buộc phải bày tỏ ý kiến của mình: - Đánh ra, cũng là tích cực phòng ngự. Mà củng cố trận địa ngăn chặn bằng mọi giá không cho quân thù tiến lên cũng là phòng ngự quyết chiến. Nhưng ta thử xem lại: suốt gần 10 đêm ngày vừa qua chúng ta đều đã có đánh ra, nhưng rất ít hiệu quả, nếu không nói là không có hiệu quả, trong khi đó lực lượng ta lại bị tiêu hao, vì bản thân quân ta cũng phải phơi mình trên cánh đồng trống trải, đâu phải chỉ có đối phương? Bị tiêu hao dần mòn trong khi đó tiếp vận chỉ nhỏ giọt. Hẳn hai bạn đều biết hôm qua chúng ta yêu cầu ném xuống 100 lính, thì chỉ được có 35, chưa kể một số tên nhảy xuống đã què chân gãy cẳng thành thương binh, thành gánh nặng thêm cho chúng ta... Cả hai viên “hổ tướng” đều im lặng. De Castries đã nói hoàn toàn đúng sự thật. Thật vậy, từ bữa nắm quyền chỉ huy tác chiến toàn căn cứ, Langlais đã biết rõ hơn sự thiệt hại hàng ngày. Mới hai hôm nay thôi, lác đác cộng lại đã hơn 50 tên vừa chết vừa bị thương. De Castries đã có lý: đánh mạnh ra, nhưng thương vong sẽ ra sao? Và đã đánh ra, phải đánh trên nhiều điểm xung yếu, và phải đánh liên tục, vậy có dám tung những tiểu đoàn dự trữ cuối cùng ra hay không? Ngược lại cứ để tình trạng như thế này tới lúc chiến hào địch vào tới hàng rào, mà tiếp viện vẫn không đủ, nhất là cái gọi là kế hoạch “Diều hâu” vẫn chưa được thực thi, thì sự thể sẽ ra sao, khi đối phương đột ngột mở đợt tấn công thứ hai? Cuối cùng đâm ra bí cả với nhau. Chủ động đánh mạnh ra, hay chỉ cố gắng phòng ngự trong hầm hố thôi? Thảo luận đi thảo luận lại, vẫn cứ thấy bí. Cả ba còn đang ngồi đấy, chợt có ánh lửa đỏ khé chiếu hắt vào trong hầm, rồi tiếng pháo nổ dồn dập phía bắc sân bay. Langlais và cả Bigeard cùng vội vã nhào ra. Cả một vầng trời đỏ rực, và cả một dòng sông lửa đang cuồn cuộn, ngoằn ngoèo chảy ở phía trước. Cảnh tượng hãi hùng và kỳ lạ chưa từng có. - Cái gì thế? - Langlais thét lên. Một sĩ quan, mình trần, nhễ nhại mồ hôi và nước bùn, chạy lại: - Trình trung tá, các phuy xăng ở dưới sông Nậm Rốm trúng đạn pháo địch bốc cháy hết rồi. - Lạy Chúa tôi!... Langlais đã hiểu ra. Mới cách đây vài hôm, thấy các máy bay hạ cánh ban đêm khó khăn và nguy hiểm quá, vì hệ thống đèn hiệu đã hỏng hoặc bị bắn phá, dùng đèn pin không ăn thua, Langlais đã có sáng kiến thả một phuy xăng xuống sông Nậm Rốm, đêm đêm đốt lên làm một vị trí chuẩn bổ trợ, cho máy bay hạ cánh, nhưng không ngờ chỉ mới được có hai đêm, té ra trên dòng sông còn có nhiều phuy xăng khác trôi nổi mà không ai để ý... Trong lúc đó De Castries lại ngồi cô đơn, buồn bã. Ông vặn núm chiếc ra-đi-ô ở đầu giường. Đúng giờ đài “Con nhạn” của quân đội Pháp ở trong thành Hà Nội. Một giọng nữ đầy mồm lưỡi cất lên: “Đây là buổi phát thanh dành riêng cho các chiến binh và sĩ quan đang chiến đấu ở pháo đài Điện Biên Phủ oai hùng. Thưa quý bạn, tối nay chúng tôi xin đọc hầu quý bạn một tiểu thuyết nổi tiếng của Pháp trước đây: cuốn Bí mật thành Paris. Thưa quý bạn, đây là một tiểu thuyết bi thảm...”. De Castries, tắt vội chiếc đài. Ngả người, nằm xuống, gối đầu lên hai cùi tay, ông thở dài: “Ôi, tụi tao cũng đang sống trong quá khứ thừa bi thảm đây, còn cần gì thêm bi thảm nữa!”... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Mười Hai, 2023, 01:46:52 pm * Lại mưa lai rai. Hà Nội âm thầm, ướt át, ủ rũ. Các đường phố vắng hoe. Thi thoảng mới có vài chiếc xe nhà binh Pháp chạy hối hả, nước bắn tung tóe. Mấy chiếc xích lô ế khách lơ vơ, ngơ ngác ở các ngã tư, ngã ba. Trên cột cờ của thành cổ, lá cờ tam tài ướt sũng rũ xuống như con gà bị cắt tiết. Cây cầu Doumer nhấp nhô, mờ chìm trong mưa xa. Dòng sông Hồng mùa nước cạn, phẳng lặng, trễ nải trôi xuôi. Tại quán rượu Pháp ở đầu phố Tràng Tiền mọi khi còn có khá đông Tây, đầm ra vào, hoặc uống cà phê hoặc uống rượu, ở quanh những chiếc bàn nhỏ bầy ở ngoài trời, kín cả vỉa hè, phong cách đặc Pháp, nay cũng lác đác chỉ có mấy anh nhà báo quốc tế ngồi tán gẫu ở phòng trong. Họ đang trao đổi với nhau những tờ báo mới nhận được qua đường máy bay. Tờ “Le monde” với hàng chữ tít lớn chạy kín cả trang báo: “Điện Biên Phủ đang nghẹt thở”, tờ “Le point”: “Navarre và Cogni đang bối rối: giữ hay bỏ?'; Tờ “L’ Humanité”: “Điện Biên Phủ: một sai lầm lớn về chính trị và cả quân sự”. Tờ “France soir”: “Bao giờ thì đợt 2”... Một chiếc xe gíp có vũ trang bỗng rú lên, chạy ngang qua; liên sau đó là một chiếc xe Citroen bóng lộn êm ái lướt theo. Một anh nhà báo tinh mắt, bật dậy: - Ồ, tướng Cogni! - Ông ta đi đâu vậy hả? - Một anh khác trông với theo, hỏi. Một anh khác cất tiếng bâng quơ: - Mà này, trước khi có chiến sự trên đó, tướng Navarre ra Hà Nội xoành xoạch. Bây giờ ông cứ ngồi tịt trong Sài Gòn hả? Họ đã nhận ra đúng là Cogni. Ông ta vừa từ nhà thương Đồn Thủy thăm sĩ quan binh lính từ Điện Biên Phủ về. Nhưng các nhà báo đã không biết được: Navarre vừa bí mật bay ra Hà Nội. Cogni đang đi tới gặp vị chỉ huy tối cao của mình. Hai chiếc xe qua Tràng Thi, lướt ngang thành cột cờ, rẽ vào đường đôi để chạy ra phía Hồ Tây. Hai chiếc xe đỗ lại trước một biệt thự không lớn lắm nhưng sang trọng. Đây là nhà tạm trú của tướng bốn sao Navarre đã được rà mìn, và tổ chức canh gác cực kỳ nghiêm mật cả công khai và bí mật. Mưa vẫn lắc rắc rơi. Mặt hồ càng như bao la và buồn chết lặng. Cogni xuống xe theo một viên sĩ quan tùy tùng của Navarre bước nhanh lên thềm, rồi đi vào phòng trong, nơi làm việc của Navarre. Căn phòng được trang trí hoàn toàn theo phong cách của thời vua Louis thứ XIV Pháp. Mùi nước hoa hết sức đắt tiền phảng phất đâu đây làm tôn thêm vẻ quý phái của ngôi nhà. Cogni đã chuẩn bị sẵn sàng để bước vào cuộc gặp gỡ mà ông biết trước là sẽ có thể gay gắt, chí ít cũng kém vui khác hẳn với cuộc gặp gỡ hồi tháng 2 vừa qua ông và Navarre đã cùng nhau lên thị sát “căn cứ quân sự Điện Biên Phủ”. Navarre không thích một chút nào hình ảnh con nhím mà một số báo chí hay ví von. Theo Navarre, “Con nhím” là của Saland trước đây. Căn cứ Điện Biên Phủ không phải thế, nó là bàn đạp tấn công, là trung tâm đề kháng cho miền Tây Bắc Việt Nam và cả miền Thượng Lào; nó còn là cái bẫy nhử chủ lực Việt Nam tới để nghiền nát. Cogni thật ra không thích cái “pháo đài” này, vì nó ngốn quá nhiều quân của Bắc Bộ, chiến trường mà ông ta chịu trách nhiệm. Nhưng khi lên thấy căn cứ quân sự Điện Biên to lớn, hùng mạnh quá, đến nỗi tướng Mỹ O’ Daniel lên coi cũng phải nức nở khen, thì Cogni cũng trở nên hào hứng, tán thành. Mặt khác cũng còn vì phải nể và chiều ý Navarre, người đã quyết xây dựng căn cứ này, như dám đánh cá cả danh tiếng và sự nghiệp của mình vào đó. Nay thì mọi việc đã rất phức tạp, chẳng còn gì là vui. Cái căn cứ quân sự khổng lồ này tưởng là hút quân chủ lực Việt Nam lại mà đánh; nay hóa ra chính nó đã trở thành cái xoáy nước kinh khủng nuốt mất bao nhiêu lực lượng của đồng bằng ném vào đó. Sự va chạm giữa Navarre và Cogni cũng bắt đầu từ đó. Cogni luôn phàn nàn về sự tốn kém của Điện Biên Phủ, không những thế còn nói với một vài chính khách Pháp: đó là một sai lầm của Navarre. Cũng không hiểu vì sao những lời nói ấy đều đến tai Navarre. Ông ta đã có thư trách về việc này. Không những trách mà xem ra ông còn có ý nghi ngờ Cogni phản ông, muốn hạ uy tín của ông trước chính phủ Pháp. Cogni đã có thư phúc trần. Nhưng xem ra vẫn chưa xong. Lần này ra Hà Nội, ngoài công việc cấp bách phải giải quyết cho Điện Biên Phủ, hẳn ông ta sẽ “đì” Cogni về cái chuyện mà ông ta gọi là “đâm dao sau lưng” ông ta đây! Được để xem sao! Navarre đang ngồi trước bàn làm việc. Ông mang một bộ áo dạ rất sang. Nhưng vẻ sang trọng có lẽ chính lại là ở gương mặt trí thức rất sáng sủa và điềm đạm của ông ta. Cogni cao lớn như hộ pháp, đứng nghiêm, ưỡn ngực, xòe ngửa bàn tay đưa lên vành mũ chào, hết sức đúng quy cách. Navarre đẩy ghế đứng dậy, đưa tay ra. Miệng mỉm cười nhưng ánh mắt vẫn lạnh. Cogni cũng đáp lại bằng một thái độ lịch sự nhưng cũng khá nhạt nhẽo. Cogni vốn là viên tướng lâu năm ở chiến trường này. Ông tự coi không có bất cứ ai có thể không tôn trọng sự dày dạn và cả công lao to lớn của ông ở xứ sở này, kể cả những vinh quang ông đã mang về cho nước Pháp. Ông cũng tự nghĩ, ông không biết sợ một ai hết, ngoài sợ sự thật. - Trung tướng khỏe chứ? - Navarre hỏi. - Trình đại tướng, cảm ơn, tôi vẫn khỏe! Chỉ chào hỏi mấy câu vắn tắt, hai người bắt đầu làm việc. - ... Tôi đã nhận được tất cả các báo cáo của trung tướng về đồng bằng và nhất là Điện Biên Phủ. Tôi cũng đã có thư và mệnh lệnh gửi ra. Trung tướng nhận được đủ chứ? - Navarre hỏi. Cogni chú ý tới hai từ “mệnh lệnh” rất có tình của Navarre. Ông ta muốn phủ đầu mình bằng cấp chức bề trên đây. Cogni thấy khó chịu hơn là e ngại. Navarre tiếp tục nói giọng đều đều, nhưng khá vang, đầy vẻ quyền uy và trí tuệ: - Tôi ra nhanh chuyến này, mục đích để nắm thêm tình hình và bàn với ông về một số chủ trương cấp bách... Dẫu sao vẫn phải lịch sự, Cogni đáp: - Tôi rất mừng được gặp lại đại tướng, và sẵn sàng đón nhận mọi mệnh lệnh của đại tướng. - Trước hết, tôi muốn nói với ông đôi điều rằng: những chuyện không hay đã xảy ra giữa chúng ta chung quanh vấn đề Điện Biên Phủ cần thiết hay không cần thiết? Điện Biên Phủ, chỉ là quyết định của Navarre hay nó có nguồn gốc từ Paris?... Trung tướng ạ, tôi không có ý định trao đổi như vậy hôm nay. Tôi muốn gác nó lại đã. Với tư cách và trách nhiệm của những người lính chiến, tôi muốn ông và tôi cùng đấu trí, hợp lực để đối phó với tình thế hiện nay một cách hết mình đã. Tôi nghĩ đó là thái độ đúng nhất và cần có của chúng ta hôm nay... Cũng không ngờ Navarre đã có thái độ như vậy, Cogni bớt căng thẳng, khó chịu. Ông ta thầm nghĩ: Đúng là một viên tướng đã từng làm tình báo. Ông ta đã khá khôn ngoan biết tránh các vấn đề hóc búa dễ dẫn tới va chạm. Cogni bèn đọc bức điện mới nhất của De Castries vê cuộc họp giữa ông ta và Langlais, Bigeard, mà nội dung nổi bật là yêu cầu tăng viện lớn hơn nữa, sau đó là biểu thị tinh thần sẵn sàng đánh đến cùng của tất cả sĩ quan trên Điện Biên Phủ. Navarre ngồi nghe chăm chú. Rồi ông khẽ nhún vai: - Họ lại kêu gào! Tôi đã đề nghị, đến nỗi có báo đã viết rằng: Navarre kêu gào tiếp viện đã làm cho cả chính phủ Laniél phải hoảng sợ. Vậy còn kêu gào đến đâu nữa? Rồi nhìn thẳng vào Cogni, Navarre tiếp: - Chính ông cũng đã biết đấy, ông trung tướng: không phải chỉ xin chính phủ, tôi đã vét phần lớn quân dù từ phía nam ra cho ông từ sau Grabielle thất thủ. Tôi cũng đã chỉ thị cho ông tuyển mộ cả lính tình nguyện nữa. Chỉ cần huấn luyện chúng nhảy dù được một lần là đủ. Cái đội quân này, báo chí đã giễu là “Lính dù một nhảy”. Ông vẫn nhớ đúng thế chứ, trung tướng? - Thưa đúng. - Nhưng dẫu sao, hôm nay ra Hà Nội tôi cũng có ý định nhấn mạnh thêm với trung tướng là phải lấy quân tình nguyện mạnh hơn nữa. Vâng, lấy mạnh hơn nữa! Không có tình nguyện, trung tướng phải cho vây ráp. Phải, hãy vây ráp tất cả những ai có thể vây ráp, từ nông thôn tới thành phố, nhất là các thành phố, bọn vô công rồi nghề hãy còn nhiều, và cả học sinh, sinh viên nữa, cho tất cả vào cái đội quân “lính dù một nhảy” ấy. Ô hợp cũng phải chịu. - Rõ, trình đại tướng. - Còn máy bay, tôi đã yêu cầu ông cao ủy De Jean gặp đại sứ Mỹ (ở Sài Gòn) khẩn thiết xin cấp tốc thêm B26, và cả C47. Donalt Heath đã nhận lời và hứa sẽ xin Lầu năm góc lấy căn cứ Clark (Philippine) gửi sang ngay. Còn cái Vautour của Mỹ, nhân đây tôi cũng nói cho trung tướng biết: cho tới nay không phải chỉ có tổng trưởng quốc phòng Pleven, mà cả thủ tướng Laniel cũng đang ráo riết hối thúc. Thủ tướng ta còn vận động cả thủ tướng Anh Churchill. Nhưng theo tôi biết: tất cả hãy còn phải xem lại đã... - Thưa vì sao, đại tướng? - Cogni chăm chú. - Có những điều rất tế nhị: người Mỹ một mặt đang giúp ta, nhưng cũng đang có ý muốn hất cẳng ta để nhảy vào Đông Dương. Họ đã không thắng được ở Triều Tiên, họ rất cần phải vào Đông Dương, theo chiến lược chống cộng toàn cầu của họ. Và vì lợi ích kinh tế riêng của họ nữa. Vì vậy chưa chắc cái Vautour sẽ được thực hiện. Tôi linh cảm thấy thế. Họ sẽ mặc ta thất thế trong hội nghị Genève sắp tới. Và đó sẽ là cơ hội để họ sẽ nhảy vào Việt Nam và Đông Dương một cách dễ dàng... - Trình đại tướng, tôi dã hiểu hơn! Chà, nó ra thế! - Thật vậy, trung tướng. Thử hỏi: nếu Mỹ thực thi kế hoạch này, tạo một cơn hồng thủy bom đạn hủy diệt sẽ làm thất bại quân Việt, và chúng ta người Pháp sẽ thắng ở đây thì Mỹ sẽ được lợi lộc gì? Hay là cứ dể cho chúng ta chìm dần đi, rồi chú Sam sẽ vào thay thế?... - Còn ông Churchill? Thưa, dại tướng? - Ông ta là một vĩ nhân, cực kỳ thông minh, khôn khéo, về công khai ông ta sẽ tỏ ra đồng ý với kế hoạch ném bom này của Mỹ nhưng chính là đồng ý để cho Mỹ sẽ dần dần vào thay thế Pháp sau hội nghị Genève. Churchill, con cáo già ấy quá biết nước Pháp của chúng ta đã kiệt quệ lắm rồi. - Sự phân tích rất sâu sắc, thưa đại tướng. - Thôi, bây giờ ta lại trở về với chúng ta. Theo điện mới nhận của De Castries, ông ta và các sĩ quan vẫn cam kết đánh tới cùng với điều kiện tăng viện mạnh, phải không? Thái độ họ, theo trung tướng thế nào? - Thưa, tôi nghĩ cũng chỉ có cách ấy, không thể khác. - Tôi cũng thấy như vậy. Nhưng cũng cần nói rõ hơn, giữa tôi và trung tướng, thực tế Điện Biên Phủ đang đặt ra trước mắt chúng ta ba kịch bản chứ không phải chỉ có một, trung tướng ạ... - Tôi xin nghe đây, thưa đại tướng! - Kịch bản thứ nhất như ta vừa nói: Đánh để cố thủ. Nhưng kịch bản thứ hai lại có thể là: Điện Biên cố cầm cự, trong khi đó Bộ chỉ huy Bắc Bộ Việt Nam với sự chi viện của Bộ chỉ huy tối cao, tung ra những cuộc hành quân lớn, đánh vào các vùng hậu phương quan trọng của địch, ví dụ Thái Nguyên hoặc Yên Bái. Chủ lực địch sẽ phải rút về. Điện Biên sẽ được giải tỏa. Còn kịch bản thứ ba: binh đội đồn trú ở Điện Biên Phủ sẽ bỏ lại tất cả: thương binh và vũ khí, cho nhẹ, bí mật chia thành mấy đường rút chạy sang Lào với lực lượng của đại tá Crevecoeur từ Lào hỗ trợ, rồi sẽ tính quay trở lại nếu có điều kiện cho phép. Cogni ngồi thẳng người dậy, hai mắt mở to. Navarre vẫn thật tỉnh táo, ngay cả trong những lúc bối rối nhất. Và ông ta cũng thật dũng cảm đã dám nói ra cả ba điều suy nghĩ tối quan trọng ấy với Cogni, người mà ông ta vẫn đang nghi là phản lại ông ta. Tất nhiên cả ba phương án ấy đối với Cogni không phải hoàn toàn mới lạ, vì chính Cogni cũng đã âm thầm nghĩ tới những gì dó tuy không giống hắn, nhưng tương tự. Chỉ có khác là Cogni chưa hề dám hé ra với bất cứ ai, càng không dám tham khảo Navarre. - Trung tướng ạ, trong ba kịch bản ấy, tôi có thể nói ngay ý kiến tôi: chỉ có phương án 1. Còn rút? Chúng ta không sợ tổn hại tới danh dự, nhưng biết chắc rằng sẽ không thể dược. Quân địch đã bao vây chặt. Hơn nữa họ đã xuống cánh đồng. Không thể đi lọt được với một binh đội lớn. Ngoài ra, chúng ta cũng đã có kinh nghiệm mới đây: binh đội đồn trú ở Lai Châu rút về Điện Biên đã bị họ bám suốt dọc đường như thế nào, nhất là trận Mường Pồn. Còn kịch bản thứ hai, thật ra nêu lên cũng chỉ để cho hết nhẽ, chứ không thể thực hiện nổi. Quân đâu nữa? Máy bay đâu nữa? Ta vốn cũng đã có những kinh nghiệm năm 1950, khi chiến cuộc lớn nổ ra trên dường số 4 biên giới Trung - Việt, chúng ta cũng đã có cuộc hành quân giải tỏa lên Thái Nguyên, nhưng chẳng kết quả gì. Ông Hồ Chí Minh đã thực hiện một kiểu chiến tranh là “chiến tranh nhân dân” với ba thứ quân. Ông ấy không bao giờ bị động, mà trái lại. Tập trung lực lượng đi đánh đâu, ông ấy vẫn có lực lượng chiến đấu tại chỗ. - Trình đại tướng, còn tôi, hoàn toàn nhất trí với đại tướng: chỉ có đánh, tiếp tục đánh! - Cogni đáp, không đợi phải hỏi. Navarre gật đầu, vẻ mặt vẫn điềm đạm: - Nhưng đánh thế nào? Hôm nay ra Hà Nội tôi cũng có ý định trao đổi kỹ với trung tướng về chuyện này đây... - Tôi xin nghe. - Nhìn chung, tôi thấy các sĩ quan, chiến binh của chúng ta không tồi. Lê dương, dù, vẫn là những đơn vị tuyệt vời. Cho đến cả lính thuộc địa như Algériens, Marocains, Sénegalais... thậm chí cả quân dù Việt Nam (ngụy) cũng khá. Chỉ riêng việc chỉ huy nói chung là có những điều chưa tốt... Cogni lắng nghe. Ông ta lại nóng mặt. Navarre nói tới việc chỉ huy hẳn không phải chỉ nói riêng tới De Castries. Mặt Cogni lại nóng lên... - Điều chưa tốt là: phản kích quá yếu ớt. Tôi không hiểu tại sao vậy, trong khi lòng dũng cảm của tất cả mọi người có thừa. Cogni cười nhạt: - Trình đại tướng: mới hôm kia họ đã có một trận phản kích quyết liệt, phá được hào, diệt được bốn pháo 75, nhiều ĐKZ và bộ binh địch, khai thông được đường từ Mường Thanh xuống Hồng Cúm. Navarre vẫn không thay đổi sắc mặt: - Phải! Tôi đã được báo cáo. Nhưng đó mới chỉ là một trận, và mới là một chiến thắng đầu tiên. Tôi còn biết thêm: trung tá Langlais ngay hôm đó đã ngồi xe Jeep chạy xuống tận Hồng Cúm để gặp Lalande. Anh ta thật dũng cảm. Nhưng anh ta cần hiểu nhiều hơn nữa: Hồng Cúm tuy quan trọng thật, nhưng còn cấp bách hơn là sườn phía đông và phía tây Mường Thanh đang bị uy hiếp lớn. Địch dã đào chiến hào khắp cánh đồng, và đã đưa cả cao xạ nhẹ vào theo sát bộ binh, làm khó dễ cho các máy bay ta rất nhiều... Mắt Cogni càng đỏ hơn lên: - Trình đại tướng, tôi đã có dự kiến sẽ lệnh cho họ phải đánh mạnh, nhằm giải tỏa sườn phía tây và trục bằng được những trận địa cao xạ nhỏ ấy đi. - Rất tốt. - Nhưng, việc phản kích mạnh có nghĩa là lực lượng phải lớn. Mà dự bị đội của De Castries thì chẳng còn là bao, thưa đại tướng. - Tôi biết. Tôi không có ý định bảo họ dốc túi để đánh tràn lan, phản kích tràn lan khắp bốn phía như nhau. Nhưng tôi yêu cầu họ phải mạnh dạn tập trung lực lượng để phản kích có trọng điểm. Có như vậy mới ngăn chặn được, không để cho địch tiến sâu hơn nữa vào các hiểm huyệt của mình. Vừa qua, những người của chúng ta ở Điện Biên Phủ mới chỉ phản kích bằng các phân đội nhỏ vừa, chỉ là gãi ghẻ, mà lại hao tổn thêm binh lực. Chỉ gãi ghẻ kẻ thù rồi ngôi kêu gào tăng viện. Phải bắt họ tiến lên, đánh mạnh hơn nữa. - Tôi sẽ chỉ thị cho họ thực hiện ngay ý kiến của đại tướng. - Trung tướng ạ, tuy nhiên tôi vẫn còn muốn nói rõ thêm: tôi chỉ hy vọng sự phản kích mạnh sẽ ngăn chặn được địch, không cho tiến nhanh mà thôi. Tôi không có ảo tưởng lật lại thế cờ dễ dàng, chính vì vậy tôi muốn nói điều sau rổt với trung tướng hôm nay, mà cũng là điều có thể coi là phương châm hệ trọng nhất... - Phương châm chỉ đạo toàn cuộc ở Điện Biên Phủ hôm nay? - Phải! Tôi yêu cầu phản kích mạnh chủ yếu để trì hoãn bước tiến của địch, cũng có nghĩa là tôi muốn chúng ta thực hiện bằng mọi cách, kể cả phản kích lớn như vừa nói, nhằm thực hiện việc kéo dài, hoặc nói cách khác, làm chậm cuộc chiến đấu lại... - Làm chậm cuộc chiến lại? - Phải! Cố cho sang đầu tháng 5, làm sao địch chưa mở được cuộc tấn công mới. Lúc đó hội nghị Genève sẽ họp. Hội nghị họp khi mặt trận Điện Biên Phủ chưa ngã ngủ. Cán cân chắc chắn sẽ lệch về phía ta. Trung tướng ạ, tôi đồ chừng rằng, nếu tôi không lầm, Cụ Hồ và ông Giáp đang rất muốn đánh nhanh để giành lấy chiến thắng. Họ cũng đang chịu áp lực của hội nghị Genève. Họ có thể lo các nước lớn, kể cả đồng minh của họ sẽ mà cả với nhau trên lưng họ. Thế là đã rõ: Navarre đã tung ra phương châm chỉ đạo tác chiến mới cho Điện Biên: đánh kéo dài, làm chậm cuộc tấn công của quân Việt Nam, không cho mở đợt 2 sớm trước đầu tháng 5-1954. Để thực hiện phương châm và ý đồ này: các trận phản kích phải lớn phải mạnh hơn ở những trọng điểm, kết hợp với việc tăng cường giội bom xuống tất cả núi rừng bốn chung quanh Mường Thanh, nhất là các trận địa pháo binh, cao xạ Việt Nam, trong khi đó vẫn cứ hy vọng và chờ đợi kế hoạch Giội bom tràn ngập, hủy diệt của Mỹ, cái kế hoạch “Diều hâu” có thể có cả nguyên tử. Cogni đứng dậy giơ tay chào rồi xin cáo lui. Navarre bắt tay viên trung tướng. Không khí có phần bớt lạnh lẽo hơn lúc đầu gặp nhau. Tuy nhiên lúc tiễn Cogni ra cửa, Navarre vẫn không quên nhắc lại: - Còn những chuyện rắc rối giữa chúng ta, như tôi đã nói: sẽ có dịp làm cho sáng tỏ. Trước mắt, chúng ta hãy cùng chiến đấu đã. Hãy tạm quên mọi chuyện di, và đừng có xì xầm, đừng có bô báo nhau sau lưng nữa. Nghe nói vậy, Cogni lại muốn lộn tiết. Chiếc Citroen lại lộn về qua phố Quán Thánh. Bất chợt quay ra, nhìn qua cửa xe, Cogni nhìn thấy một chiếc cổng lớn với hai trụ cao xây theo kiểu cổ Việt Nam, phía trong cổng là một khuôn viên khá rộng, cuối khuôn viên là một tòa biệt thự kiểu miền Provence nước Pháp. Cogni nhận ra dó là nhà viên tri phủ Đặng Văn Khiết, nay đang là một Ủy viên Ban điều hành lực lượng “Quân thứ hành chính báo động” của chính quyển bù nhìn Bảo Đại (GAMO) cơ quan này đặt trực tiếp dưới sự chỉ đạo của thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí. Đây là một lực lượng rất lợi hại, chuyên tung các đội xuống các địa phương tổ chức thực hiện việc tảo trừ các cơ sở cách mạng, rồi lập chính quyền tề ngụy tại địa phương. Đã hơn một lần, Cogni và Nguyễn Hữu Trí được Khiết mời tới tòa biệt thự này dự tiệc và nhảy. Cogni lại sực nhớ tới việc phải vây ráp bắt “quân tình nguyện” mà Navarre vừa nói. Cogni thầm nhủ: “Việc này có lẽ cũng phải có sự tham gia của lũ này đây”. Và ông ta dự định sẽ gặp Khiết một buổi, có lẽ ngay ngày mai. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Mười Hai, 2023, 01:49:37 pm * Đặng Văn Khiết đang ngồi nói chuyện với người con cả là trưởng phòng thông tin Phủ Thủ hiến Bắc Việt, và người con trai thứ hai vừa tốt nghiệp bác sĩ y khoa. Mặc âu phục, đầu chải lật láng bóng, râu ria nhẵn thín, Đặng Văn Khiết có dáng vẻ một nhà thầu khoán, khác hẳn với tám năm trước đây khi còn làm “quan phụ mẫu” ở một phủ nọ thuộc một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, quanh năm chỉ áo gấm, bài ngà, giày đen Gia Định, quần chúc bâu ống xớ, khăn xếp, và một hàng ria nhỏ trên mép. Ba cha con đang nói chuyện về Điện Biên Phủ, thời sự nóng bỏng nhất hiện nay. Anh con cả cho biết: - Papa ạ, tụi phi công về nói: dù thả suốt ngày, xanh đỏ trắng vàng đầy trời, nhưng rơi xuống phía Việt Minh tới non nửa. Còn việc hạ cánh thì càng ngày càng cực kỳ khó. Mới hôm qua một thằng liều hạ cánh xuống được một lúc, nhưng khi sửa soạn cất cánh lại bị bắn cháy. Cái sân bay giờ thành cái nghĩa trang máy bay rồi. Papa ạ, bây giờ không thằng nào muốn bay lên đó nữa, nhận lệnh nhiều thằng khóc như cha chết... - Hỏng! Hỏng thật rồi! - Đặng Văn Khiết lẩm bẩm. Người con cả tiếp: - Con có quen một thằng nhà báo Mỹ, thằng Nelson. Khá thân. Nó vừa tiết lộ cho biết: Mỹ đang tìm cách để hất cẳng Pháp ở Việt Nam và Đông Dương. Nó nói trước là cái Điện Biên này nhất định sẽ thất thủ về tay Việt Minh. Đặng Văn Khiết kinh ngạc: - Sao? Người Mỹ đang tích cực chuẩn bị một kế hoạch ném bom hủy diệt ở Điện Biên để cứu người Pháp cơ mà? - Không đâu, thằng Nelson nói với con là kế hoạch làm ra vẻ hết lòng vậy thôi, nhưng nó sẽ bị bác bỏ. Pháp mà thua, tất sẽ phải ra, vậy thì Mỹ sẽ vào. Vậy đấy papa ạ. Papa cũng liệu mà “chuyển buồm, chuyển gió” đi. Pháp sắp hết thời rồi. Người em cứ ngồi trố mắt nghe người anh nói, tới lúc đó mới xen vào: - Em thấy các nước lớn đồng minh với nhau, họ đàng hoàng lắm. Làm gì có chuyện lừa gạt nhau như vậy? Người anh cười khẩy: - Em làm nghề khoa học, em không hiểu gì hết. Làm gì có chuyện đàng hoàng! Đặng Văn Khiết thở ngắn, thở dài: - Thời thế đang biến chuyển thật. Nhưng ta nên thế nào đây cho phải? Mà việc này là vô cùng quan trọng. Lỡ một cái là chết ráo. Ngẫm nghĩ một lúc, ông ta bỗng bật lên: - Phải coi lại tử vi, các con ạ! Người con cả cho là phải. Người con thứ hai lặng thinh. Đặng Văn Khiết vui mừng tiếp: - Ta nhớ ra rồi các con ạ, phải nhờ ông Tú An ở Gia Lộc mới được. Từ khi rời nơi ấy, đã hơn tám năm nay, ta chưa gặp được ông thầy nào uyên thâm như ông Tú An. Các con ạ, đúng, đúng phải mời ông cụ Tú lên đây xem giúp cho. Người con cả cười rộ: - Papa như mơ ngủ. Việt Minh đang đánh khắp đồng bằng. Đường số 5 liên tục bị mìn và bị đánh “độn thổ”. Cụ Tú lên đây sao được? Đặng Văn Khiết ngớ ra: - Ừ nhỉ, ba quên! Người con cả mỉm cười, nói thêm: - Vả lại, nếu có yên, mời, cụ ấy vị tẫt đã chịu đi. Papa hẳn chưa quên là khi trước làm quan phụ mẫu tại chỗ, papa cho mời mà cụ có chịu đi đâu. Rốt cuộc papa phải đích thân đến tận nhà. Cái ông cụ này kỳ cục đã nổi tiếng cả một vùng. Đến như công sứ có bà vợ người Việt mê tử vi và lại đang ốm, chữa thuốc Tây mãi không khỏi, cũng cho mời ông cụ lên, vừa để chữa bệnh, vừa xem tử vi cho bà sứ. Ông cụ cũng nhất định không chịu đi. Bảo: “Tôi chữa bệnh cứu người, ai tôi cũng chữa. Tử vi cũng vậy, ai cần xem, tôi xem giúp, không có phân biệt quan lại hay thứ dân. Nhưng ai cần thì tới, tôi không đi đâu cả”. Ông sứ dã cho lính về đốt nhà, và bắt trói đem đi... Thấy con trai kể lại chuyện vui cũ, nhưng có chi tiết sai, Đặng Văn Khiết chữa lại: - Không, ông Tú nổi giận lên, tự cầm lửa đốt nhà mình chứ! Dân làng phải tới chữa mãi mới cứu được, không thì ra tro. Người con cả vui vẻ hỏi lại: - Nhưng lính có trói và khiêng ông cụ lên ô tô, phải không papa? - Đúng. Nhưng lên tới tỉnh, ông Tú vẫn dứt khoát không chữa, không xem. Bảo đã hành hung như giặc cướp thì không phải là người cho cụ cứu giúp nữa. Và thách: bắn cứ bắn, giết cứ giết. Ông sứ thấy ông cụ là người có tiếng, cũng khó xử sau đành phải tha cho về. Người con cả lại cười rộ: - Đấy, con người như vậy mà bảo mời lên, mời làm sao được. Đặng Văn Khiết nói: - Ta đã có cách rồi: ta sẽ gửi lá số về cho thằng Phồn là tỉnh trưởng. Nó là cai cơ của ta trước đây. Nó sẽ cho người đưa xuống huyện nhờ ông Tú coi. Ta cũng sẽ có thư kèm theo với tình xưa nghĩa cũ... Cả hai người con cho rằng chỉ có cách ấy may được. Ba hôm sau, một tiểu đội bảo an do một viên thiếu úy kéo về một thôn ở ngay sát huyện ly. Mọi người xôn xao, không hiểu có chuyện gì. Ông cụ đang nằm co ro như con mèo hen trên tấm phản gỗ trước bàn thờ gia tiên. Lính vào, cụ vẫn cứ nằm, không mời ngồi, cũng không cho nước uống. - Các chú về bắt tôi, hay có chuyện gì? - Cụ hỏi. Viên thiếu úy khá lễ phép: - Cụ có thư của quan lớn Đặng Văn Khiết trên Hà Nội gửi về. Ông cụ nheo nheo mắt, nghĩ ngợi: - Đặng Văn Khiết nào nhỉ? Mãi sau ông cụ mới gật đầu, chép miệng: - À nhớ ra rồi: ông phủ Kiết họ Đặng. Nhưng mà này, bây giờ ông ấy làm gì nhỉ? Viên thiếu úy đáp: - Cháu không biết. Cháu chỉ được lệnh cấp trên đưa thư và một lá số tử vi về cho cụ. Ngoài ra không biết gì cả. Ông Tú đỡ lấy phong thư, mở ra xem. Cụ bà từ trong buồng nhẹ nhàng bước ra, ghé ngồi bên cụ ông, thì thầm: - Có phải thư lão phủ Khiết không? Tám năm rồi mà lão ấy còn nhớ tới nhà này cũng lạ. Ông ạ, tôi hay đi chợ, nghe người ta nói lão này bây giờ đâu như làm to lắm trên Hà Nội. Cụ ông ngừng đọc, hạ kính xuống: - Làm to? Nhưng rồi tiếp tục đọc. Xong, cụ đặt bức thư và lá số xuống hất hàm bảo viên thiếu úy: - Thôi được, các chú cứ về. Khi nào xong, tôi sẽ nhắn xuống lấy. Bây giờ chưa xem được! Viên thiếu úy phân vân: - Vậy cụ không viết cho vài chữ ư? - Không cần, các chú cứ về, bảo ông Phồn là tôi bận lắm. Khi nào rảnh xem xong sẽ báo. Khi đám lính bảo an quay ra, người trong xóm đã bu đấy ngoài cổng. Người đoán: có lẽ lính về bắt ông cụ, vì có người con thứ ba đi kháng chiến, nghe đâu là bộ đội Việt Bắc. Người lại cho là lính nghi trong nhà có hầm bí mật... Khi đám lính đi khỏi, ông cụ lại ngả mình xuống phản. Cụ chẳng bận gì hết, nhưng cụ đang rất buồn phiền. Thời cuộc càng rối ren, nóng bỏng, cụ lại càng buồn, càng nhớ thằng Dũng của cụ. Nhà có ba người con trai, hai người con gái. Nhưng cụ chỉ yêu thương và đặt nhiều hy vọng ở Dũng hơn cả, mặc dầu coi số nó cụ biết rất long đong, vất vả. Dũng đã học hết trung học, đỗ xong, mới lên ban tú tài thứ nhất. Nhưng năm học đang dở dang thì kháng chiến bùng nổ. Dũng xin đi bộ đội. Anh đóng quân ở Quảng Yên. Nghe nói đã cùng bộ đội Ký con ra đánh ngoài đảo Cô Tô. Nhưng chết gần hết, cả đại đội chỉ còn có gần mười anh, trong số đó có Dũng, bơi dược từ đảo vào bờ, sống sót. Sau đó anh lên Thái Nguyên. Từ đó gia đình không còn tin tức gì về Dũng nữa. Người đồn anh đã hy sinh. Người bảo anh vẫn còn sống nhưng ở Nam Bộ. Gần đây, lại có người nói: Dũng đang đánh nhau trên Điện Biên Phủ... Đúng là trong ba đứa con, chỉ có nó là có tư chất khá nhất và cũng có chí nhất. Vậy nay nó ở đâu, còn hay mất?... Còn hai người con trai kia chỉ an phận thủ thường. Anh lớn trước dạy học ở tỉnh, kháng chiến, cũng tản cư được một dạo, sau khổ quá, đem vợ con về, xin mãi mới được dạy ở trường làng. Người con thứ hai làm ở ty Dây thép ở tỉnh được vài tháng thì bị động viên đi lính Bảo Đại. Cũng mới được vài tháng làm lính truyền tin, thì bị bộ đội kháng chiến đánh vào Phát Diệm, bắt sống. Cải tạo ở ngoài khu tự do gần một năm, anh này được thả về. Bây giờ ở nhà chạy xe bò. Thế đấy! Cuộc chiến đã làm đảo lộn tới tận đáy cùng của xã hội, đã xáo trộn tất cả đời sống của mọi gia đình... Con người đã và đang chịu biết bao thử thách, đau khổ. Ai vững thì sống, ai may thì sướng, đó là cái quy luật chung, nhưng cũng không khỏi có biết bao oan trái, nghịch cảnh, phi lý mà con người phải chịu đựng hoặc không sao tránh được. Đen, đỏ, sáng, tối, còn dang lẫn lộn, thực giả đang còn khó phân. Ai cũng nói mình là phải, là tốt. Thậm chí đến như Bảo Đại cũng long trọng tuyên bố mình là người yêu nước, cho tới Đặng Văn Khiết, như trong thư vừa đọc, cũng bày tỏ mình là người nhân hậu, ăn ở với mọi người như bát nước đầy... Cụ Tú buồn lắm. Cụ chỉ cầu mong sao cho các con cụ nhất là Dũng sẽ trở về và sẽ có được một cuộc sống yên ổn. Thế là đủ, nhưng cứ như lá số đặc biệt của Dũng thì Dũng đã chết tới ba lần. Và còn có thể chết nữa... Lúc thì do gươm đao, nhưng có lúc lại không phải thế. Cụ đang còn ngẫm xem. Cụ bà từ trong buồng lại bước ra: - Mặc xác nhà lão ta! Ông đừng xem, có mà thừa hơi! Cụ Tú cười buồn: - Ấy không, cứ xem chứ. Để biết thêm việc đời bà ạ! Tôi vừa mới lướt qua, cái số này thật kinh khủng: vô tài vô đức, quỷ quyệt khôn lường mà nó được làm nên tới khanh tướng. Rồi cụ tiếp: - Nhưng thế mới là chuyện đời bà ạ. Chứ cứ ai nhân đức, ai tài ba thì rồi cũng được vinh hiển cả, thì còn nói gì! Không đâu! Thời nào cũng thế cả. Rồi bà xem: vẫn còn thằng còng làm cho thằng ngay ăn, thằng dốt dạy bảo người sáng, quân giả dối, quỷ quyệt lại làm nên ông to bà lớn... Bà cụ lắc đầu: - Tôi không hiểu. Tôi chỉ van ông xem kỹ lại cái số cho thằng Dũng, xem nó thế nào... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Mười Hai, 2023, 10:39:24 am 7 Chiều rồi mà tiếng máy bay vẫn vang động trên bầu trời. Dũng phải áp chặt ống tổ hợp vào tai mới nghe rõ tiếng trung đoàn trưởng Lê Thâu. Anh hỏi: - Alô, họp ạ? - Phải! Cậu lên ngay đây, rồi cùng bọn mình lên “ép”. Tối nay ta ngủ trên đó. Mai họp. Các cấp trưởng, từ tiểu đoàn trở lên. Sơ kết mười ngày đào chiến hào. - Rõ! Nhưng báo cáo anh từ chỗ tôi có thể cắt rừng lên “ép”. Anh cho phép tôi đi lối ấy được không? Để còn có thì giờ bàn giao công việc ở nhà. - Có thể đi tắt hả? - Vâng. Tôi đã xoi được một lỗi, tuy vất vả một tí, phải đi qua hai cái đèo... - Cậu vẫn là tay luồn rừng có hạng đấy nhỉ! Thôi được, ta sẽ gặp nhau trên đó. Nhưng cậu đã nhận được cái lệnh trưa nay rồi chứ? - Đã. Anh cứ yên tâm. Lệnh hồi trưa mói nhận được là phải đưa một đại đội ra thay thế cho một đơn vị của trung đoàn 1 ở cánh phải, phía nam, để bên đó đi nhận nhiệm vụ mới. Ông Thâu tiếp: - Bên Xã Đệ cũng có một đơn vị ra đấy, nhiệm vụ cũng như thế. Đoạn ấy là chỗ tiếp giáp trận địa của hai trung đoàn, cậu biết chưa? - Có. Tôi đã ra chỗ ấy vài lần. - Thôi được, chuẩn bị xong, đi luôn nhé! Trên này bọn mình sắp sửa đi đây. Dũng bỏ ống tổ hợp xuống, gọi Báu, bảo mời ngay Hà Giao về để bàn giao công việc. Báu vọt đi như một chiếc pháo chuột. Nhưng 15, rồi 20, rồi 30 phút sau mới thấy tiểu đoàn phó Hà Giao trở về. Anh vừa bước vào hầm đã nồng lên mùi rượu. Dũng hỏi: - Lại tí tửu rồi hả? Giao cười lúng túng, tay vuốt vuốt mái tóc chải gọng kính kiểu công tử xứ quê: - À, tay Thỉnh đại đội trưởng của trung đoàn vận tải vừa ghé qua. Hắn có bi đông “quốc lủi”, ép mấy hớp, nể quá. - Có sao đâu. Này, tôi vừa có lệnh lên “ép” họp, vậy ông ở nhà lo công việc đưa quân ra thay thế trận địa nhá! Dũng vừa nói vừa mở bản đồ. Anh chỉ khu vực chiến hào của đơn vị bạn, rồi dùng chì đỏ khoanh lại: - Đây, chỗ này! Bên phải ta là quân của Xã Đệ. Họ cũng sẽ thay thế cho quân bạn. Tối nay ra. Mọi việc bàn giao trận địa phải hoàn tất trước nửa đêm, để cho bạn rút và ta còn có thời gian triển khai lực lượng. Chỗ này ông biết rồi chứ? Hà Giao ấp úng: - Cũng... cũng một lần... Rồi anh lại hỏi rất nhanh sang vấn đề khác: - Thế anh định cho “xê” nào ra? - Mình đang đợi ông để trao đổi đây. Theo mình nên cho xê cậu Niên đi, xê của Lanh xồm, và xê của cậu Thìn cứ để đấy. Không nên xáo trộn. Hà Giao gật gù: - Vâng, thế cũng được. - Vậy ông nên xuống ngay với cậu Niên, giúp nó chuẩn bị, và trực tiếp kiểm tra mọi mặt từ xẻng cuốc tới vũ khí, từ kế hoạch đào hào tới các phương án đánh quân quấy rối hoặc quân phản kích. Hà Giao nhăn nhó: - Ngần ấy việc mà chỉ còn có non buổi chiều nay! Hơn nữa lần này là ra chỗ mới, hoàn toàn chưa biết thực địa. Vậy làm sao đã có kế hoạch tác chiến ngay được? - Đúng là quá gấp. Nhiệm vụ cũng rất mới nữa. Nhưng phải chấp hành thôi. Chắc trên “ép” đã có những dự kiến về kế hoạch chung, mình chưa được biết đấy thôi. Vậy chỉ có cách phải gắng mà khắc phục. Tốt nhất ông nên đi luôn với thằng Niên ra đó đêm nay, rồi cùng nó vạch ra kế hoạch ngay trên thực địa. Hà Giao lại lúng túng: - Cũng được. Được, anh cứ mặc tôi, nói vậy chứ mọi việc sẽ ổn cả thôi. Dũng gấp bản đồ lại. Nhưng chưa thật yên tâm, anh nói thêm: - Khu vực này địch ít ra, chưa có đụng mạnh bao giờ. Nhưng cũng chớ có chủ quan. Ông nên lấy thằng Báu cùng đi. Nó thuộc khu vực này hơn cánh ta nhiều. Mọi đêm ra trận địa, nó hay chạy vung xích chó, có đêm rông cả sang khu vực của e bạn... - Được! Được! Thôi, anh cứ sửa soạn đi đi. Mọi việc tôi lo. Cứ yên trí. Dũng nhét vội quyển sổ công tác vào túi dết, rồi chạy xuống khu bếp “Hoàng Cầm” xin “anh nuôi” nắm cơm và một nhúm muối vừng. Sau đó, mở địa bàn, định lại hướng một chút, anh bắt đầu xuyên vào rừng, đi phăng phăng. Càng vào sâu, rừng càng rậm, vì ít bom đạn hơn ở phía ngoài. Lác đác lại hiện ra những cây ban hoa nở trắng xóa. Màu hoa trinh trắng và hồn nhiên lạ lùng. Dũng vừa đi vừa với tay ngắt một vài bông. Lòng anh thanh thản. Trong giây lát anh như quên mình đang đi trên mặt trận, mà đang qua một cánh rừng yên tĩnh nào đó ở hậu phương. Cảm giác nhẹ nhàng thư thái đưa dắt anh trở về với những kỷ niệm xa xôi. Cũng những cánh rừng biếc xanh như thế này... Cũng những dòng suối nhỏ trong vắt, róc rách trôi êm đềm giữa hai bờ sỏi đá như thế này... Anh đã bao lần băng qua, để tới ngôi trường gần thị xã ấy tìm gặp em. Đã bao lần anh gội mưa, đã bao lần anh tắm nắng... Lần nào anh cũng vừa đi vừa thầm gọi tên em: "... Nguyệt Lệ ơi, em đã tan trường, hay vẫn còn trong lớp? Anh đây! Anh đến tìm em, hỡi tình yêu của anh, hạnh phúc của anh, cuộc sống của anh...”. Đã bao lần những tiếng gọi thiết tha nồng cháy ấy tràn ngập trái tim non trẻ ngây thơ, trong trắng của anh... Một hồi lâu sau, anh bắt ra được con đường mòn dẫn tới sở chỉ huy của đại đoàn. Ở đây quang đãng hơn, nhiều ánh sáng hơn. Cũng vừa lúc đó một đoàn cán bộ năm sáu người đang từ phía dưới đi lên, về phía đại đoàn. Đó là đoàn cán bộ của trung đoàn 3 cũng về họp. Mọi người nhận ra Dũng, hoan hỉ siết chặt tay anh. Tiểu đoàn trưởng Lê Phong bị tụt giầy từ phía sau đã chạy lên kịp. Anh như vồ lấy Dũng. Hai người bạn ôm riết lấy nhau, đấm vào lưng nhau thùm thụp. Mới có vài tuần chưa gặp nhau mà cứ tưởng như đã vài năm. - Dũng “cháy”! Dũng “cháy”! - Thằng “Phải gió”! - Dũng đã quen gọi đùa bạn như vậy. - Chà, mày tọp đi có đến dăm cân không? - Mày cũng yếu tợn, nhưng vẫn “công tử” lắm nhỉ! Đôi bạn ríu rít như hai cậu học trò nhỏ. Họ cùng đi tụt lại sau đoàn cán bộ, để trò chuyện được thoải mái. Tới một đoạn suối kín đáo, ông trung đoàn trưởng cho mọi người tranh thủ ngồi nghỉ. Dũng và Phong lại tìm một chỗ khuất xa, cùng ngồi. Tới đây, Lê Phong mới nhận thấy có lẽ là lúc thuận tiện nhất để nói với Dũng những điều mình muốn nói ngay từ lúc đầu. Anh lựa lời để vào chuyện: - Này, vừa qua chỗ mình có một phái đoàn phụ nữ tới thăm, Dũng ạ... Đôi mắt Dũng chợt như lóe sáng. Phong hiểu ngay: Cái thằng “trời đánh” thế là đã hiểu rồi. Không điều gì nó không sớm hiểu. Rất nhiều khi, nhiều chuyện mới chỉ nói có nửa lời nó đã biết rõ hết, huống chi bây giờ lại là chuyện của chính nó. Phong thấy tốt nhất là đi thẳng ngay vào vấn đề: - Dũng, sao mày lại thế nhỉ? Tao lạ quá. Mặt Dũng tối lại. Anh buồn bã nhìn xuống dòng suối đang lấp lánh len lỏi giữa những hòn đá lớn. - Mày nghĩ thế nào vậy? - Lê Phong tiếp tục nói - Thật vậy, tao không hiểu mày nghĩ thế nào mà xử sự như thế, một khi mày đã được biết rõ cảnh ngộ của “en” 1. Một cảnh ngộ thật đáng... cảm thông, và cũng đáng dược kính trọng nữa... Bấy giờ Dũng mới quay lại, giọng hết sức mệt mỏi: - Thôi mày! Tao không muốn nhắc lại chuyện ấy nữa. - Không được! Mày không nhắc, nhưng tao biết trong đầu mày thì vẫn như có tảng đá không vứt đi được. Còn phía “en” thì rõ ràng là vô cùng đau khổ, vừa bị hiểu lầm vừa bị hắt hủi, thậm chí như bị xúc phạm. Tao nói thật, Dũng ạ, vừa qua, mày đã tỏ ra vừa thô bạo vừa hết sức cực đoan, vô lý. Dũng trừng mắt: - Vậy mày bảo tao phải như thế nào? Lịch sự cảm thông? Không! Mày không hiểu được tao đâu. - Sao tao lại không hiểu được mày? - Không! Trong chuyện này thì không. Mày hiểu sao nổi nỗi đau băm vằm, nỗi đau nghiền nát, kể cả nỗi căm hờn thiêu đốt hết cả ruột gan tao... - Nhưng đó là trước đây, khi mày còn chưa biết rõ mọi sự thật. Còn bây giờ thì... - Không! Mày cả tin lắm. Nhưng có lẽ chính cái yếu điểm này của mày lại là cái hay nhất của mày mà tao rất thích. Mày cả tin lắm. Nước mắt đàn bà... Nước mắt, nỉ non, và thanh minh, và giãi bày nữa... Không! Trái tim mày chưa một lần khô héo, chưa có một vết xước qua, mày vẫn còn thiên thần con trẻ. Mày mới chỉ bị nghe những lời dối trá vặt vãnh trong cuộc đời, chứ chưa một lần bị phản bội. Tâm hồn mày vẫn còn là một áng mây hồng tuyệt vời cao quý... Phong thấy lòng mình thực sự xót xa: - Dũng ơi, cuộc chiến khốc liệt, gian lao đã làm cho mày trở nên cay nghiệt, hoài nghi và buồn bã đến vậy sao?... - Không! Tao như con thú bị thương càng trở nên tinh khôn hơn và mau lẹ hơn, như một đứa trẻ bị dối lừa đã trở nên biết cảnh giác và khôn lớn. - Nhưng mày không còn biết tha thứ và xót thương nữa sao, chứ chưa nói tới yêu thương? Tao biết có lẽ mày còn tất cả, nhưng đáng buồn là những cái đó đang bị nỗi đau và hận thù vùi lấp... - Có thể đúng. Những cái xấu đã vùi lấp đi hết cả. - Dũng ơi, quả thật tao cũng không ngờ đòn roi của số phận đã quá nghiệt ngã đối với mày để đến nông nỗi này. Tao không biết nói gì nữa, tao chỉ còn biết van mày hãy tỉnh táo hơn... - Tỉnh táo là thế nào? Mà mày muốn gì ở tao vậy? Ừ thì hãy giả dụ là tao có thể tin, hoặc sẽ tin cô ta. Nhưng để rồi làm gì? Cô ta đã là vợ một người mà ít ra người đó cũng đã một thời có đóng góp tử tế. Vậy tao không có quyền, và cũng tuyệt đối không bao giờ muốn xen vào cuộc đời của họ. Không, tao không là thằng điên, cũng không là kẻ mất dậy... - Khoan! Tao không hề có ý định gì khác là chỉ nói tới một sự cảm thông, và một tình bạn tốt đẹp trong sạch được chắp nối lại... Dũng nhếch mép, không rõ anh cười hay nhăn nhó: - Không! Không làm gì có cái đó. Với đàn bà chỉ có: một là yêu, yêu cho đến chết, hai là căm hờn, căm hờn cũng cho đến chết, vậy thôi, Phong ạ. Phong buồn bã: - Mày vẫn cực đoan như vậy, thôi còn nói được gì nữa? Và nhìn bạn, đôi mắt càng tràn ngập xót thương, Phong lại cố gắng một lần nữa: - Nhưng, Dũng ơi, dẫu sao thì cũng phải cho phép con người ta một lần lầm lỗi, và cũng cho họ được một lần hối hận chứ? Dũng lắc đầu: - Sự hối hận của đàn bà ư? Không bao giờ có thật ở trên đời này hết. Mày hãy tin như thế, và rồi mày sẽ biết. Vừa lúc đó ông trung đoàn trưởng đứng dậy gọi to: - Thôi, ta lại đi tiếp, các bạn! Dũng và Phong cùng phủi quần đứng dậy. Phong vẫn còn cố níu kéo: - Chưa xong đâu đấy! Tối nay, tao sẽ còn phải “đấu” cho đến khi nào mày thật tỉnh ra mới thôi. Mặt Dũng như có mưa sa... ------------------------------------------------------------------ 1. Nàng - Elle (tiếng Pháp). Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Mười Hai, 2023, 10:41:57 am * Tối đó, tới hơn tám giờ, đại đội của Niên vẫn chưa xuất phát được, vì một số anh em đi lấy gạo về muộn, còn phải đợi cho ăn cơm xong. Thêm nữa, lại có hai sự cố xảy ra: dại đội trưởng Niên ốm lai rai từ mấy hôm trước cứ cố giấu nay lên cơn sốt rét đùng đùng, đắp tới bốn, năm chiếc chăn vẫn cứ rung lên bần bật. Mọi việc trước mắt phải bàn giao lại cho đại đội phó Noãn. Việc ấy vừa ổn thì có chuyện khác: Tiếp, một tân binh, đánh mất súng. Cả trung đội, rồi cả đại đội nháo cả lên. Sợ quá, anh tân binh cứ ngồi khóc hu hu. Mãi sau, Cốc với biệt danh “Cốc mò”, một cựu binh có biệt tài tìm kiếm, và có một trí nhớ khá đặc biệt, chợt nghĩ ra: “Lúc nãy nó đi “hố mèo”, khéo để quên ngoài đó chăng?”. Nói đoạn, Cốc kéo Tiếp đi tìm. Quả nhiên, cây súng dựng bên một gốc cây vẫn còn nguyên đó. Tiếp mừng quá chỉ còn thiếu sụp xuống lạy anh bạn cựu binh của mình một lạy. Cả đại đội cùng thở trút. Nhưng lúc đó đã là hơn chín giờ tối. Hà Giao không xuống. Tất cả mọi việc, anh ta chỉ dặn dò qua điện thoại. Anh ta mắc bận vì đại đội trưởng vận tải Thỉnh lại mang tới hai bi đông rượu và cả một đùi chó (không rõ anh ta kiếm đâu ra). Hà Giao đã cho gọi cả Bổng cán bộ tác huấn và cả mấy người khác cùng quê tới đánh chén, bù khú. Vui quá, Giao đã quên không cho Báu xuống dẫn đường cho đơn vị như Dũng đã dặn. Mười giờ, đại đội phó Noãn mới cho quân lên đường được. Anh thực sự bối rối vì không thuộc lối ra trận địa đơn vị bạn. Chỉ biết phương hướng chung chung trên bản đồ, mà đọc bản đồ anh chưa thạo. Lại lất phất mấy hàng mưa. Ra khỏi rừng, đi theo đường hào trục quen thuộc cũ, cũng không có gì trở ngại lắm, nhưng khi bắt đầu rẽ về hướng trận địa trung đoàn bạn, mới bắt đầu rắc rối. Nhiều ngã ba, nhiều giao thông hào phụ ngang, dọc. Đại đội di chuyển chậm chạp. Vừa đi vừa phải lẩn mò tự tìm lấy đường. Có chỗ phải dừng lại chờ người ở phía trước đi tới để hỏi thăm. Ruột gan như có lửa đốt, Noãn rẽ mọi người, lên đầu hàng quân. Nhưng chính anh cũng không khỏi lúng túng. Chợt có một chiến sĩ ở phía sau cũng lách anh em, tiến lên phăng phăng. Anh đến bên Noãn: - Báo cáo đại đội phó, để em dẫn đường cho! Khu vực này em đã có lần đi qua, em biết. Noãn cố nhìn cho rõ anh lính trẻ đứng trước mặt mình. Đêm, lòng hào tối quá. Thoạt tiên anh chỉ thấy một khuôn mặt nhỏ, trẻ măng dưới vành mũ nan, và một cây súng cá nhân khoác vai, cùng một chùm lựu đạn lủng lẳng ở quanh bụng anh ta. Nhưng rồi Noãn đã nhận ra: - À, Bùi Minh! Đó là một tân binh mới được bổ sung cách đây có mười ngày. Tuy là tân binh nhưng cũng có thể coi như một thứ cựu binh, vì Minh vốn là một thiếu sinh quân đã được tập trung học văn hóa và cả quân sự từ mấy năm nay. Bùi Minh là con một liệt sĩ trong trận Sông Lô năm 1947. Nhà nghèo, phải mò cua bắt ốc kiếm sống. Năm 1950 đại đoàn hành quân qua vùng đó, đã đem Bùi Minh vể nuôi dưỡng trong đội Thiếu sinh quân. Năm nay vừa tròn 18 tuổi, Bùi Minh xin được ra đơn vị chiến đấu... Chỉ mới mười ngày sống trong đại đội, Minh đã sớm được anh em chú ý về tinh thần hăng hái và trí thông minh; lại có nhiều “biệt tài” như múa hát, đánh đàn. Đúng là một chiến sĩ có văn hóa. Bùi Minh đã xuất hiện rất đúng lúc. Noãn mừng rỡ: - Vậy cậu đi trước đi! Mẹ kiếp, tớ không còn biết đường nào mà lần nữa, cứ như bàn cờ cả thế này! Ghì chặt báng súng vào bên sườn, Bùi Minh vọt đi như một mũi tên bắn. Noãn nhìn theo sung sướng “Mẹ kiếp, tân binh thằng nào cũng như thế này cả thì nhẹ cho mình quá”. Vừa bước đi được dăm bước, Noãn nghe có tiếng báo cáo từ phía sau vọng lên: - Báo cáo có một tân binh bị choáng. Y tá Hoàng xin ở lại săn sóc rồi đuổi theo sau. - Mẹ kiếp, lại chuyện gì nữa thế này, khổ quá! - Noãn lật đật quay lại. Trong một hàm ếch tối om có mấy người đang lúi húi. Tuy chỉ nhìn sau lưng, Noãn cũng đã nhận ra chính trị viên Phạm Tá và cả y tá Hoàng. - Cậu nào đấy? - Noãn cất tiếng hỏi. Phạm Tá nhìn ra: - “Cốc mò”! Cậu này có lẽ dầm bùn nước quá nhiều, lúc chiều đã hâm hấp sốt... Lập tức có tiếng léo nhéo trong hàm ếch vọng ra, giọng xứ Nghệ: - Em chỉ chóng mặt một tí, ngồi xuống cho tỉnh chứ có sao đâu ạ. Y tá Hoàng vẫn đang vừa xoa bóp vừa bôi dầu chống lạnh cho Cốc. - Thì cậu cũng cứ nằm yên một tí đã nào... Y tá Hoàng còn rất trẻ, nhưng được cả đại đội rất mến. Anh em thường gọi là “Bác sĩ Hoàng”. Năm ngoái, trong chiến dịch Nghĩa Lộ, Hoàng không những đã cứu được rất nhiều thương binh mà còn bộc lộ một đặc tính: ham đánh không kém gì các chiến binh. Từ đó anh em lại gọi vui là “Bác - chiến - sĩ - Hoàng”. Phạm Tá chui ra khỏi hàm ếch tươi cười: - May, không sao cả. Một lúc nữa cậu ấy lại đi được thôi. Ta lên trước đi anh. Phạm Tá vốn trước kia cũng là cán bộ quân sự nhưng sau tổ chức thấy anh tính nết rất đằm, sâu sát chiến sĩ và sống rất giản dị, gương mẫu nên đã điều anh sang ngạch chính trị. Phạm Tá vừa đi vừa nho nhỏ với Noãn: - Tôi sợ ta ra chậm quá anh ạ. Noãn gật đầu: - Chậm thì rõ rồi. - Tôi lo anh em đơn vị bạn người ta sẽ phê bình cho. Không những thế, ra muộn, chân ướt chân ráo, địa hình lại hoàn toàn mới mẻ, không hiểu sẽ xoay xở ra sao đây? Noãn là một cán bộ gan dạ, xốc vác, nhưng không có những suy nghĩ xa, rộng như Phạm Tá. Anh thường chỉ quen nhìn thấy những việc trước mắt. Anh chỉ đang lo việc đường sá. Anh mừng rỡ thấy Bùi Minh đã trở lại. - Báo cáo, em đã tìm thấy trận địa của bên ấy rồi. - Tốt quá! Đi! Đi mau! - Nhưng... - Nhưng sao? - Họ rút hết rồi. Noãn tròn xoe mắt: - Thế thì bỏ mẹ. Chúng nó rút tiệt rồi hả? - Báo cáo, chỉ còn một anh trung đội trưởng ở lại để chờ ta đến bàn giao. Noãn thở phào: - Vậy thì còn đỡ. Mẹ kiếp, tưởng chúng nó đi ráo thì còn biết mô tê răng rứa nào mà lần. Cả đại đội được lệnh đi gấp như chạy. Bùn nước oàm oạp, tung tóe. Xem đồng hồ tay. Đúng 04 giờ 5 phút sáng, Noãn và trung đội đi đầu mới tới trận địa đơn vị bạn. Một bóng người đang đứng dậy, vẻ bồn chồn, sốt ruột, ở một ngã ba giao thông hào còn khá nông mới tới ngang ngực. Vừa nom thấy bọn Noãn, cái bóng nọ đã vội ré lên: - Các bố sao ra muộn thế? Nghe đã lộn cả ruột, nhưng Noãn cố nén và vặn lại: - Có nhiều lý do. Nhưng sao các anh lại rút trước, không đợi bọn tôi? Anh trung đội trưởng nọ (đã biết chắc anh ta là như thế) càu nhàu: - Lý do, lý do! Còn rút nhanh rút chậm thì anh về hỏi chóp bu của tôi. Nào, có muốn nghe bàn giao thì tôi nói, không thì thôi. Đã muốn đấm cho “tên” trung đội trưởng nọ một quả đấm thì Phạm Tá lên, Noãn đành nén lại. Đúng là anh trung đội trưởng nọ rất sốt ruột muốn đi cho sớm. Anh nói rất qua loa về tình hình giao thông hào và tình hình địch. Nhưng có lẽ thật ra anh ta cũng chẳng biết gì nhiều. Hỏi mười điều, chỉ trả lời ú ớ được có dăm ba. Không thể không nổi cáu lên, Noãn vung tay quát: - Thôi, cho anh chuồn! Rồi nhìn quanh, anh nhăn nhó: - Thế này còn là vất vả to! Hình như anh em bên ấy cũng mới ra đây thì phải. Còn bang bách quá. Mẹ kiếp, chiến hào gì mới chỉ che được cái... Phạm Tá cười: - Nơi tiếp giáp mà! Tôi thấy các con đường, chỗ tiếp giáp của các huyện, nhất là các tỉnh thường cũng như thế này cả. Bên này ỷ lại bên kia. Nhưng thôi, anh cho anh em triển khai công việc đi, kẻo sáng rồi. Phải đào tiếp, đào gấp ngay hào phía trước đã, nhất là đắp ngay các ụ súng trung liênvà ĐKZ... Noãn quay đi. Tiếng anh ra lệnh lay động cả chiến hào. Phạm Tá cũng cầm lấy một cái xẻng. Trong thầm tâm anh nỗi lo lắng ban nãy lại càng tăng. Nhìn trận dịa còn dang dở như thế này làm sao mà yên tâm được? Địch đánh ra, khéo không kịp trở tay. Làm thế nào bây giờ? Phải chăng cần cấp tốc hội ý chi ủy để lãnh đạo tư tưởng, ổn định và động viên tinh thần anh em? Chẳng lẽ mình còn lo như vậy, mà họ không có chút gì băn khoăn lúc này hay sao? Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Mười Hai, 2023, 10:43:20 am * Chiều hôm trước, trong sở chỉ huy Pháp ở Mường Thanh đã có một quyết định quan trọng. Có điện của tướng Cogni. Một mặt ông ta động viên, một mặt hạ lệnh cho De Castries phải tổ chức phản kích mạnh mẽ ra các chiến hào đối phương để nới lỏng vòng vây và tiêu diệt các trận địa cao xạ, nhất là súng máy cao xạ đối phương đã vào rất gẩn sân bay và khu trung tâm. Chấp hành lệnh đó, De Castries đã vạch ra một kế hoạch. Ông ta cho mời Bigeard tới. Anh ta đứng nghiêm, ưỡn ngực, xòe bàn tay đưa lên mũ, đôi mắt xanh như mắt beo nhìn rất thẳng. - Bruno! Tốt lắm! Tôi đang đợi anh đây. Có trọng trách mới giao cho anh. - De Castries đẩy ghế dứng dậy, vui vẻ chìa tay ra. - Trình đại tá, tôi xin nghe! - Anh sẽ chỉ huy một trận phản kích lớn ở phía tây. Phải, tôi đã chọn. Phía tây, khu vực bản Ong Pét. Bộ binh địch và một trận địa cao xạ, phòng không... De Castries vẫy Bigeard lại gần. Ông ta mở tấm bản đồ khu đề kháng Huygette với những ký hiệu xanh đỏ chi chít, dày đặc... Lát sau, Bigeard ngẩng lên, đứng lui lại một bước: - Tôi đã rõ, trình đại tá. Nhưng xin phép hỏi rõ thêm: vì sao lại khu vực này mà không ở phía đông? De Castries mỉm cười: - Phía đông và phía tây đều đang nhiều nguy hiểm cả. Nhưng dẫu sao phía đông vẫn còn các cao điểm rất mạnh của ta, lại có sông Nậm Rốm ngăn trở. Còn ở phía tây: đồng bằng trống trải, các chiến hào đối phương đã mở rộng và vào gần tới các cứ điểm của ta. Sân bay, nơi đang vô cùng thân thiết cho việc tiếp tế và tăng viện, rõ ràng đang bị uy hiếp. Đối phương tuy đã khống chế nó bằng hỏa lực từ sau Beatrice và Gabrielle và Anna Marie, nhưng dẫu sao ta vẫn thi thoảng bất ngờ hạ cánh được máy bay, và việc thả dù vẫn còn có một khu vực khá rộng. Nay tôi không muốn tình hình ở đó xấu hơn nữa, thậm chí còn muốn cải thiện hơn... Hiểu chứ? Tôi rất hy vọng ở thiếu tá. - Rõ! - Bigeard lại dập gót giầy, đáp. (Anh ta rất mừng là cái gót chân bị thương từ trước Điện Biên Phủ làm cho anh ta phải đi tập tễnh, chống can, nay được các bác sĩ của tập đoàn cứ điểm tích cực chữa đã gần như khỏi hẳn. Chiếc can đã quẳng đi rồi). - Vậy nhé, Bruno! Anh hãy tìm bộ binh và nhất là cao xạ của “tụi nó” cho tôi nhé! - Rõ! Thưa, bao giờ? - Ngay ngày mai. Anh hãy lấy những phương tiện cần thiết. Hãy thắng cho giòn giã! Anh được toàn quyền trong trận này. - Cảm ơn đại tá! Bigeard xin quay lui. Chỉ một lúc sau anh ta đã trở lại với kế hoạch tác chiến khá cụ thể với phương châm chung là: dùng lực lượng mạnh áp đảo, tấn công thật bất ngờ, lợi dụng triệt để sương mù buổi sáng. Thời gian để dánh chiếm mục tiêu: hai giờ. Lực lượng sử dụng như sau: 8é Choc (tiểu doàn 8 xung kích dù) do Touret chỉ huy, 1é BEF (tiểu đoàn 1 dù lê dương) do Guiraud chỉ huy, và 6é BPC (tiểu đoàn 6 quân dù thuộc dịa) do Thomas chỉ huy. Một đại đội xe tăng do Corette chỉ huy. Còn pháo yểm trợ sẽ do các cụm pháo 105, 155 ở Mường Thanh, kể cả pháo ở Hồng Cúm. Máy bay: hai phi đội - một ném bom, một cường kích - liên tục chi viện từ sau giờ nổ súng của pháo binh ba mươi phút, chủ yếu đánh vào tuyến sau của đối phương để ngăn chặn và tiêu diệt quân tiếp viện từ trong rừng ra. Giờ nổ súng: 5 giờ 30 phút. Lúc đó 8é Choc và 6é BPC đã phải tập kết xong xuôi ở sau bản Cháy để sẵn sàng bước vào chiến đấu. 1é BEFP lùi ở phía sau, làm dự bị đội. Cùng lúc đó, quân của các cứ điểm Huygette 1, Huygette 7 sau khi hoàn tất nhiệm vụ đón quân phản kích ra khu vực tập kết cũng sẵn sàng yểm trợ bằng hỏa lực ngăn chặn không cho đối phương truy đuổi trong trường hợp xấu nhất là trận đánh bị đẩy lui. Kế hoạch này đã được Langlais hoàn toàn đồng ý. - ... Bruno, tôi chỉ bổ sung kế hoạch này có một điểm là: “Chúc chiến thắng!” - De Castries lại mỉm cười, và siết chặt tay “người hùng thứ hai” của căn cứ Bigeard không khỏi vui vui trước lời khen tế nhị này. De Castries tiếp: - Và nếu tôi có muốn nhấn mạnh điều thích thú nhất của tôi, thì đó là quyết định của anh: đánh bất ngờ. Hay lắm! Sức mạnh của một con cọp không phải chỉ ở móng vuốt của nó mà còn ở sự tinh khôn. Nó thường chụp lấy con mồi một cách bất ngờ, nhanh gọn nhất. Bigeard trở về hầm của mình. Một cuộc hội ý cấp tốc giữa anh ta và các viên sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn pháo, tăng. Các sĩ quan không yểm cũng được triệu tập. Đúng là một brieffìng (Hội ý phổ biến nhiệm vụ tác chiến); chỉ 30 phút là xong. Các viên sĩ quan lục tục quay lui. Bigeard nhìn theo họ. Tuy rất tin trận đánh sẽ thắng, nhưng anh ta vẫn không thật hào hứng. Nhìn vào toàn cuộc ở đây, anh ta vẫn thấy có rất nhiều nguy cơ. Tuy chỉ là một thiếu tá nhưng anh ta cũng có đầu óc suy nghĩ khác với nhiều viên sĩ quan đồng cấp. Họ chỉ biết hùng hục như “thiên lôi chỉ đâu đánh đấy”. Phản kích lớn, phản kích mạnh để giải tỏa... Đúng rồi. Nhưng cho tới hôm nay “người ta” mới mạnh bạo làm việc đó. Sao không kiên quyết phản kích ngay từ Beatrice và Gabrielle, phản kích mạnh mẽ ngay từ đó? De Castries đã bị các sĩ quan dù ép phải “phản công lại”, giao cho Langlais chỉ huy trực tiếp tác chiến trên toàn căn cứ vì thấy Langlais can đảm hơn, ngổ ngáo hơn, kiên quyết hơn. Nhưng Langlais cũng có những nhược điểm là nhiều khi quá bốc dồng. Bigeard không có mặt ở đây ngay từ trận đầu, vì bị thương từ hồi tháng 10 năm trước (khi nhảy xuống đây, thiết lập căn cứ). Phải sau khi trận chiến mở màn, Beatrice, và Gabrielle thất thủ, Bigeard mới được lệnh cấp tốc cùng tiểu đoàn 6 dù thuộc địa khá nổi tiếng của anh ta nhảy xuống đây để tăng viện. Nhưng lẽ ra, theo ý Bigeard, tiểu đoàn này phải được tung ngay vào các trận phản kích, thì Langlais lại bắt phân tán phòng ngự tăng cường cho các cứ điểm ở khu đông. Bigeard cho thế là sử dụng tồi, là lại đi vào vết xe do dự của De Castries. Hôm nay Bigeard mới được sử dụng vào đúng sở trường và cả sở thích của mình. Sẽ có chiến thắng - Bigeard tin như thế - Nhưng liệu sẽ còn phải phản kích bao nhiêu trận? Và còn phải làm những gì nữa, thì mới mong có thể xoay chuyển được tình thế này? ... Đúng như kế hoạch, sáng hôm sau, khi sương mù còn dày đặc, các đơn vị tham chiến đã bí mật xuất phát. Để tránh mọi tiếng ồn, riêng xe tăng vẫn còn nằm im trong các hố chôn sâu, chỉ để chừa các tháp pháo. Bigeard cũng đã ngồi trên một chiếc xe Jeep, đầu đội mũ sắt, hai bên có hai vệ sĩ “trang bị đến tận răng”. Anh ta cũng không khỏi ít nhiều hồi hộp. Trước mắt anh ta là những đơn vị thiện chiến của đối phương. Anh ta đã được nghe nói thế... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Mười Hai, 2023, 10:45:01 am * Trong lúc dại dội phó Noãn và chính trị viên Phạm Tá cùng các chiến sĩ vẫn còn đang lăn như trâu trong các chiến hào, ra sức đào sâu thêm và xây đắp các ụ súng máy cùng ĐKZ. Nhô lên về phía trước, vẫn mới chỉ có chiến hào đủ bố trí cho một trung đội. Về phía cánh phải, một đại đội thuộc tiểu đoàn của Xã Đệ cũng đang hì hục đào, cuốc... Đồng hồ đã chỉ 5 giờ sáng. Sương mù vẫn như mây như khói. Đứng cách nhau mười mét không nhìn thấy rõ mặt. Đã thấy thấm mệt, chính trị viên Phạm Tá dừng tay xẻng, quay lại phía trung đội trưởng Nguyễn Công: - Còn điếu thuốc nào không cậu? Nguyễn Công vui vẻ móc túi: - May còn một điếu đây anh. Hai anh em cùng hút chung, phà khói khoan khoái. Phạm Tá rất mến Công. Mới hai mươi tuổi, tốt nghiệp Lục quân, chàng trai xứ Nghệ này đang có cả một tương lai rộng mở trước mặt. Chỉ huy trung đội 1, Công được tất cả anh em vừa yêu vừa tin cậy. Đưa trung đội 1 lên phía trước, Phạm Tá và Noãn có ý trông đợi rất nhiều ở anh trung đội trưởng trẻ này. Tuy nhiên, cũng còn vì đây là trung đội có nhiều chiến sĩ cũ khá vững, thêm nữa, các tân binh cũng có nhiều anh rất nhanh nhẹn, hăng hái, như Bùi Minh, chú thiếu sinh quân mới lớn: như Cốc mò, anh chàng vui tính tháo vát, và cả Tiếp anh chàng đi “hố mèo” để quên mất súng nhưng thường ngày cũng là tay rất chịu khó và thông minh... Trong khi Phạm Tá đang cùng chia hơi thuốc lá với trung đội trưởng Nguyễn Công, đại đội phó Noãn ngồi ở một ngã ba giao thông hào, một tay cầm ống tổ hợp điện thoại báo cáo với Hà Giao, còn tay kia giơ cao cho y tá Nguyễn Hoàng băng bó. Một lưỡi xẻng khá sắc của một chiến sĩ khi đào hào vung lên đã lỡ làm rách một vệt dài ở bắp tay trái của đại đội phó. - Mẹ kiếp, mày buộc sơ sơ thôi là đủ. Buộc gì mà khiếp thế Hoàng? A, anh Hà Giao ơi, tôi muốn báo cáo, nếu sáng mai anh có ra đây anh cho tụi quân khí nó đem ra thêm thủ pháo và lựu đạn nữa thì tốt quá... Chưa chắc anh đã ra ạ?... Vâng, thôi được nhưng anh bận thì cho tụi quân khí nó đem ra cho chúng tôi, được không?... Cần ngay... Sao ạ? Chưa có triệu chứng gì tụi nó chú ý khu vực này ạ?... Yên tâm ạ?... Vâng, nhưng báo cáo thực với anh: ra ngoài này, có tài thánh mới yên tâm được anh ạ... Vâng... vâng, nói vậy chứ chúng tôi có rối gì lắm đâu... Anh Phạm Tá đã hội ý Đảng rồi... Ném trả ống tổ hợp cho cậu chiến sĩ thông tin, Noãn chống tay đứng dậy. Anh đi tới bên Bùi Minh. - Này Minh, lúc nãy cậu chỉ cái bản ở phía trước kia là bản Pe Luông hả? - Em thấy các anh ấy, nhất là cánh quân báo, trinh sát họ vẫn gọi thế. - Sao bản đồ lại ghi bản Ong Bẹt, Ông Bụt gì đó? - Em cũng không biết nữa. - Tan sương không hiểu có nhìn thấy rõ không nhỉ? - Hơn ba trăm mét, cánh trinh sát bảo thế. Nhưng bằng mắt thường không thấy rõ đâu đại đội phó ạ. Có ống nhòm mới thấy loi nhoi mấy cái cột nhà cháy, vài bụi tre còn sót lại. - Mẹ kiếp, ổn định trận địa, tối mai tớ với cậu, ta mò vào trinh sát cái bản ấy xem sao. Rồi từ đó, có thời cơ ta mò sâu vào thêm nữa nắm tình hình, Minh ạ! - Hay quá. Đại đội phó chớ quên em đấy nhá! Noãn quay trở lại vị trí chỉ huy của đại đội, nơi có anh chiến sĩ thông tin vẫn còn ngồi đấy với chiếc máy nói. Lại nhớ tới câu chuyện Hà Giao tiểu đoàn phó. “Mẹ kiếp”, Noãn lại buông câu chửi thề quen miệng. Anh nhớ tới Dũng. Thật vậy, những lúc có nhiệm vụ đột xuất, rối bận như thế này giá có Dũng ở nhà thì hay biết mấy!... Đồng hồ trên tay Noãn chỉ 5 giờ 25 phút. Sương mù vẫn còn trắng xóa. Trận địa vẫn yên tĩnh, chỉ có tiếng cuốc thình thịch tiếp tục nổi lên cùng tiếng thở phì phò của các chiến sĩ. Chợt từ phía Mường Thanh rền lên những tiếng pháo nổ từ đầu nòng như những hồi sấm dài. Rồi những làn đạn rít lên xé trên không trung. Tiếp đó là những chớp lửa nhoáng lên tới tấp trên khắp dải tiền duyên trận địa quân ta. Tất cả đất trời như nổ, vỡ tan tành. Những làn sóng đất cát và bùn non cùng cuốn lên cao ngất với khói lửa mỗi lúc một thêm tràn ngập. Trong khoảnh khắc, các chiến hào ta chìm ngập và biến mất trong một biển lửa. - Địch đánh đấy!... - Đại đội phó Noãn chỉ kịp thét lên như vậy, thì đã bị sóng xung kích đánh gục ngay tại chỗ, bên chiếc máy điện thoại. Anh cố nghiến răng chồm dậy, hai con mắt nhắm nghiền vì đất bùn nhét chặt, miệng đã ộc ra một vũng máu. Đưa tay lên bịt chặt lấy miệng, anh cố mở mắt để nhìn sang bên thì thấy anh chiến sĩ thông tin đã nằm vật ở đó, ngang sườn gần như nát bét. Chiếc máy thông tin cũng chỉ còn là những mảnh sắt vụn. Noãn lại cố gượng chạy lên phía trước. Chiến hào như một đường hầm ngập khói. Chân anh liên tục vấp phải các chiến sĩ hoặc bị thương hoặc đã hy sinh nằm đấy. - Công! Công!... - Anh gào lên trong tiếng pháo địch tiếp tục nã tới. - Báo cáo, anh Công đã hy sinh!... - Một tiếng đáp lại như lạc giọng. - Trời ơi!... - Noãn hộc lên. Anh càng cố băng nhanh lên phía trung đội 1. - Báo cáo, anh Phạm Tá cũng bị thương!... - Chết rồi! Chết tôi rồi! - Noãn lại kêu lên kinh hoàng. Anh đã tới được trung đội 1. Các chiến sĩ đều đang ngồi như chôn trong các hàm ếch. Nhưng các chiến sĩ có nhiệm vụ cảnh giới vẫn còn đang bám chặt lấy thành hào, phơi mình dưới cơn bão lửa, thép. - Đại đội phó lên đây làm gì? Nó đang bắn kinh khủng như thế này! - Một giọng trẻ lanh lảnh thét lên. Noãn quệt đất cát trên mặt. Anh nhận ra Bùi Minh, anh chiến sĩ thiếu sinh quân. - Anh Công đâu? Anh Tá đâu, em? Trời ơi, sao sớm bị vậy? Bùi Minh chỉ về phía tay trái. Noãn chạy lom khom trong chiến hào, miệng anh lại trào tiếp một đợt máu. Anh quỳ xuống. Công đây rồi! Người trung đội trưởng trẻ tuổi đầy tin cậy của anh đây rồi! Công nằm giữa lòng hào, hai tay dang ra, một nửa khuôn mặt anh không còn nữa. Cả vầng ngực anh cũng đã gần như bị băm nát. Gần đó là chính trị viên Phạm Tá. Thoáng nom thấy Noãn, Tá đang nằm trong một hàm ếch, cố nhoài ra. Y tá Nguyễn Hoàng hốt hoảng vội kéo anh lại. Phạm Tá thều thào: - Để tôi... trao đổi ý kiến... với anh Noãn... Tá đã bị thương vào đầu và cả hai chân. Y tá Hoàng buộc phải xốc nách kéo anh ra khỏi miệng hàm ếch một chút. Bấy giờ mới nom thấy hai vệt máu ở hai mép Noãn, y tá Hoàng bật kêu lên rụng rời: - Ôi anh Noãn, cả anh cũng bị thương rồi ư? Noãn gạt y tá Hoàng ra, không cho xem xét vế thương của mình vội. Anh ôm lấy Tá. Trên đôi môi đã gần như trắng bệch của Tá hé một nụ cười méo mó: - Noãn ơi, bọn mình... đen quá... cả hai thằng... đều bị ngay... từ đầu thế này... nhất là... mất ngay cậu Công... Đau quá... - Anh Tá! - Noãn nức nở khóc - Anh Tá ơi... - Noãn ơi, trực tiếp đi... trực tiếp đi... Noãn! Nhắc nhở đảng viên: một tấc không lùi. - Vâng. Anh cứ yên trí. Tôi còn sống thì... Hai bàn tay đầy bùn và cả máu của hai người bạn, và cũng là hai người chỉ huy cùng quờ quạng tìm nhau và siết chặt... Khói và sương mù. Sương mù và khói. Chiến hào vẫn mờ mịt. Pháo địch tiếp tục nã tới. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Mười Hai, 2023, 10:48:01 am * Từ phía sau nhìn lên, lúc dùng ống nhòm, lúc bằng mắt thường, Bigeard thấy trong lòng trào lên một niềm vui ít có. Từ khi bước vào đời chiến trận cho tới giờ, anh ta chưa khi nào được nhìn thấy một trận địa pháo hỏa chuẩn bị kinh hồn như thế này. 12 khẩu 105 ly, 4 khẩu 155 ly và 12 cối 120 ly. Cuộc tàn sát thật tuyệt vời. Y như trong phim ảnh. Anh ta cầm ống nói ra-di-ô đưa lên miệng: - Touret! Touret! Bruno đây, nghe rõ trả lời! - Guiraud! Guiraud! Bruno đây, nghe rõ trả lời! - Thomas! Thomas! Bruno đây, nghe rõ trả lời! Tất cả ba tên chỉ huy ba tiểu đoàn đều trả lời: đã sẵn sàng. Bigeard nhếch môi cười. Niềm khoan khoái càng tràn ngập. Bắt chước Langlais, hắn dõng dạc và hào hứng ra lệnh: - Tiến lên “các chàng trai”! (Langlais vẫn thường gọi lính dù bằng cái từ thân mật và đầy sức kích động ấy). Đoạn, liếc nhìn giờ trên chiếc đồng hồ nơi cổ tay đầy lông lá, hắn bắt đầu yêu cầu pháo chuyển làn bắn sâu vào tuyến hai đối phương, rồi gọi về sở chỉ huy hỏi máy bay từ Hà Nội và Cát Bi đã bắt đầu cất cánh chưa? Khi được trả lời: “chưa” vì trời Điện Biên - Sơn La đang còn đầy mây. Bigeard nhổ một bãi nước bọt, chửi thề một câu thật tục tĩu. Hắn tức giận gào lên trong máy bộ đàm: - Tiến lên các chàng trai! Dũng cảm tiến lên các chàng trai! Không đợi máy bay nữa! Hắn gọi tới xe tăng. Bọn này đã tiến lên sát phía sau ngôi làng cháy. - “Nỗi kinh hoàng!”, “Nỗi kinh hoàng”! Tiến lên yểm trợ cho bộ binh! Bằng ống nhòm, hắn thấy các khối thép tiếp tục chuyển động, nhích lên phía các đơn vị lê đương ở xa xa, đang tiến thành hai mũi. Hắn thầm cảm ơn Chúa: pháo đối phương vẫn chưa kịp phản ứng. Hắn thầm tự khen đã tính toán chính xác: hắn cho đánh bất ngờ chính là để cho pháo đối phương không kịp chuyển mục tiêu. Hắn biết: pháo đối phương tuy mạnh nhưng có nhược điểm về trình độ kỹ thuật là chuyển mục tiêu thường chậm. Đó là chưa kể trường hợp các đường dây điện thoại bị băm nát họ sẽ càng chậm. Đối phương chưa có được những phương tiện vô tuyến truyền tin như quân đội Pháp. Nhưng niềm vui, hào hứng của hắn không được bao lâu. Đã nghe thấy tiếng súng máy, tiếng súng cối và ĐKZ từ phía trước vọng lại, mỗi lúc một thêm gay gắt. Bồn chồn, Bigeard lại gọi các tiểu đoàn trưởng lê dương. Và hắn dã được đáp lại: - ... Bruno! Bruno! - Tiếng của Guiraud vọng về nhòe nhoẹt trong tiếng súng lớn, nhỏ như pháo ran - Địch chưa bị quét sạch. Có phản ứng mạnh, rất mạnh... Bigeard hiểu tình thế đã không hoàn toàn thuận lợi như hắn tưởng. Xe tăng cũng báo cáo về là đang bị các ổ ĐKZ bắn cản rất dữ. Bigeard mở phanh áo ngực vì cảm thấy quá bức bối. Hắn căng thẳng chờ đợi. Hắn lại ngước nhìn bầu trời đầy mây. Hắn lại chửi thề. Máy bay vẫn chưa thấy đâu, chỉ thấy những chiếc xe cấp cứu từ trong sương mù tan loãng đang hối hả từ phía trước chạy về... Nhưng đột nhiên từ máy VTĐ bật vang lên: - Bruno! Bruno! Trung úy Vigouroux cùng các binh sĩ đã tới được chiến hào... Trái tim Bigeard như vỡ tung ra vì sung sướng. - Bruno! Bruno! Tôi, Vigouroux đây! Tôi đã tới được mục tiêu 1 ở... Nhưng cũng vừa tới đó tiếng nói im bặt, và như có một tiếng gì đó đổ vỡ hoặc một vật gì đó tung lên... * Chính là Tiếp, anh tân binh đi hố mèo để quên súng, đã bắn phát súng dó. Phát súng đã giết chết Vigouroux khi nó vừa nhảy đại được xuống chiến hào ta, ngồi nép vào một ngách í ố những gì đó trong máy bộ dàm... Nhưng cũng ngay lúc đó lại một loạt lê dương tiếp tục ào ạt nhảy xuống chiến hào. Đạn Thompson choang choác. Tiếp chỉ còn kịp nhào xuống, tối mắt tối mày. Một bàn tay nào đó bỗng đẩy vai Tiếp, cùng một tiếng nói khò khè: - Chạy hả? Bắn đi chứ! Tiểu liên đây!... Tiếp! Đánh... đánh nữa đi mày. Đừng sợ! Thì ra Cốc mò. Cốc chỉ bị thương nằm đó, chưa chết. Tiếp run rẩy đỡ lấy cây tiểu liên của anh cựu binh, và cố rướn người lên, lia liền một băng dài. Tất cả mọi việc đã xảy ra chỉ trong có tích tắc. Bọn lê dương còn đang lom khom quan sát, chưa dám tiến lên đã lãnh đủ cả băng dạn. Chúng gục xuống, xác chồng cả lên anh em thương binh, tử sĩ của ta. Tuy nhiên, trong khói đạn mù mịt lại lố nhố hiện lên những bóng lê dương cao lớn dữ tợn ở cánh trái. Lại Thompson và lựu đạn. Anh chiến sĩ trẻ của chúng ta chưa kịp thay băng đạn bỗng oằn người, và lần này thì gục hẳn xuống lưng Cốc. Bọn lê dương toan xông lên, để tiến sâu thêm vào trận địa của ta, nhưng lại có một loạt đạn xả tới. Mấy tên râu ria xồm xoàm, cởi trần như trâu đi đầu gục liền. Cả một đoạn chiến hào đã gần như bị lấp kín xác người. Đó là loạt tiểu liên quất ra từ một ngã ba giao thông hào ở phía trong. Bùi Minh và y tá Hoàng đang ở đó. Khói tràn ngập. Bùi Minh thay băng xong, quay lại, như thét lên trong tiếng súng hỗn loạn khắp bốn phía: - Anh Hoàng! Kiếm thêm cho em vài băng đạn! Mau lên! Cả thủ pháo và lựu đạn nữa. - Có đây! Có ngay! Y tá Hoàng nhoài người sang hai bên, vơ vội những băng đạn và lựu đạn của thương binh, tử sĩ, đem lại cho Bùi Minh. Cả người anh đã như tắm máu. Nhảy qua một tử sĩ, anh hãi hùng vấp phải xác thứ hai. Đó là đại đội phó Noãn. Noãn đã bị thương tới lần thứ hai. Anh phải nằm để động viên và tiếp tục chỉ huy các chiến sĩ. Nhưng rồi một trái lựu đạn của bọn địch đã ném trúng chỗ anh... Không còn có tiếng nói của anh nữa, nhưng xác anh vẫn còn đấy, Noãn vẫn như còn sống, đang tiếp tục chỉ huy cuộc chiến đấu của đơn vị. - Còn anh Tá đâu? - Bùi Minh hỏi. - Mình đưa anh về được phía trong một chút rồi. Anh ấy đang mê man. Hoàng đáp, rồi nghiêm trang nói tiếp: - Bùi Minh ạ, chỉ còn hai anh em mình ở đây thôi. Cậu cứ bình tĩnh. Tớ sẽ cùng với cậu, sống ta cùng sống, chết ta cùng chết ở đây... - Anh Hoàng! Anh đừng lo, em không bỏ trận địa đâu. Bùi Minh gật đầu; liếc nhìn bốn chung quanh, anh thấy cả trung đội đúng là đã gần như không còn ai nữa, trừ anh và y tá Hoàng, trong khi đó địch đã tràn được vào hầu hết chiến hào tiền duyên. Chúng đang lố nhố cả ở bên phải, cả ở bên trái. Để mặc cho y tá Hoàng tiếp tục đi thu lượm các băng đạn và thủ pháo, Minh cầm cây tiểu liên tiếp tục thoắt di chuyển từ chỗ này sang thoắt chạy chỗ khác. Anh bắn từng loạt ngắn ba viên một, quyết không để cho tụi lê dương tiến vào được gần hơn nữa. Nhưng bỗng nghe có tiếng xe tăng. ĐKZ ta hỏng hết cả rồi. Bọn cọp sắt như được tự do tiến lên. Đạn 37 ly của chúng nổ tơi bời bốn chung quanh Minh. Y tá Hoàng vừa ôm được một số băng đạn và thủ pháo chạy lại thì cũng vừa lúc một phát 37 ly nổ rầm ngay gần phía trái anh lính trẻ. Hoàng nghe “ối” một tiếng trong một đám khói mù. Anh nhào tới. Bùi Minh đã ngã vật dưới lòng hào. Kinh hãi, Hoàng kêu lên: - Minh ơi!... Nhưng trái tim anh như vỡ ra vì mừng: Bùi Minh đã loạng choạng tự đứng dậy được, hai tay ôm chặt lấy mặt. Hoàng vội gỡ tay Minh ra: hai mắt Minh đỏ lòm những máu. Minh kêu lên khe khẽ, nhưng vô cùng đau dớn: - Anh Hoàng ơi! Em... em... mù mắt rồi... Không còn một cuộn băng nào nữa, Hoàng phải tháo băng trên đầu một tử sĩ lấy mảnh băng đã đầy máu cuống cuồng buộc vội vết thương cho Bùi Minh: - Không sao đâu Minh! Không sao đâu! Để mình băng cho. Rồi sẽ khỏi. Tiếng súng tiểu liên Thompson lại rít lên. Tụi lê dương lại í ố gọi nhau. Bàn tay đầy máu của Minh cầm lấy cây súng quờ quạo đưa cho Hoàng: - Anh Hoàng, súng đây! Anh bắn đi! Chúng nó lại vào đấy. Hoàng chụp vội lấy cây tiểu liên của Bùi Minh. Anh giương súng lên, quét từng băng dài. Bùi Minh nói trong hơi thở hào hển, đau đớn: - Hay lắm! Nhưng anh bắn nhịp ngắn thôi, còn phải để dành đạn. - Anh cũng nên di chuyển luôn, kẻo chúng truy lại đúng chỗ đấy. Như một cái máy, Hoàng làm theo mọi lời chỉ dẫn của Bùi Minh. Nhưng cũng chỉ sau đó một lát, đến lượt y tá Hoàng kêu lên một tiếng rồi ngã ngồi xuống. Minh sợ hãi, hai tay lại quờ quạng. - Anh Hoàng! Anh làm sao thế? Hoàng cố bò lết lại phía Bùi Minh. Cả hai cánh tay anh đều đã dính đạn. - Minh ơi mình gãy hết tay rồi. Kìa, chúng nó lại đang xông vào! Làm thế nào bây giờ?... Minh hiểu: tình thế đã hiểm nghèo đến bậc nào. Anh bỗng đưa hai tay ra, run rẩy: - Anh Hoàng, đưa súng đây cho em! - Nhưng mà cậu... làm gì? - Anh còn mắt, anh quan sát và chỉ mục tiêu cho em. Em còn tay, em bắn được. Em sẽ bắn. Hoàng hiểu rồi. Anh vội vã dứng dậy. Hai anh em cùng đứng sát bên nhau, tựa vào vách hào. Hoàng bắt đầu quan sát: - ... Minh! Minh! Bên trái, bên trái. Không, một tí thôi. Đấy, chúng nó đang thò đầu lên đấy! Bắn đi! Một nhịp tiểu liên. Những chiếc mũ sắt dang nhấp nhô vụt biến mất. - ... Minh! Bên phải nữa! Nữa, nữa! Đấy, chúng nó đấy, né đi! Lại một nhịp tiểu liên nữa nổ xé. Cứ như thế, hai người chiến sĩ, một mù, một què cùng dựa vào nhau chiến đấu. Họ tiếp tục giữ vững mẩu chiến hào còn lại. Họ đang vẽ lên một quang cảnh mà có lẽ mãi mãi về sau này, đời đời con cháu ta sẽ còn nhắc, như nhắc lại những huyền thoại tuyệt vời của dân tộc... - Minh! Chuẩn bị thủ pháo! Xe tăng nó đang lao tới đấy. Thẳng trước mặt. Thẳng trước mặt. Thủ pháo đây! Ném!... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Mười Hai, 2023, 10:52:22 am * Trong lúc đó ở mũi tấn công cánh trái, quân dù và xe tăng cũng đã đột phá dược trận địa của quân Xã Đệ sau hơn ba giờ đồng hồ kịch chiến. Bây giờ hai chiếc M24 như hai con quái vật khổng lồ gầm rít dẫn đầu lũ bộ binh tràn qua chiến hào ta, bỏ lại chiếc M24 đã bị bắn gục nằm trơ trên cánh đồng cùng một chiếc khác vẫn đang cháy ngùn ngụt ở trước chiến hào đại đội Noãn. Vừa xông lên, vừa liên tục nã 37 ly, hai chiếc xe tăng lúc chồm lên lúc chúi xuống. Chúng chà xích lên cả các xác tử sĩ của ta. Không còn tiếng súng ở đây nữa. Nhưng vẫn còn những loạt đại liên từ tuyến sau bắn lên. Đạn choang choang phóng vào hai bên thành chiếc xe tăng nảy lửa như hoa cà hoa cải. Nhưng hai khối thép man rợ ấy vẫn cứ tiến phăng phăng trên cánh đồng đầy cây chó đẻ đang bốc cháy. Những khẩu đại liên đang bắn ra không ngừng ấy là những khẩu đại liên cao xạ của Quýnh và Ngô Hạnh. Từ 5 giờ 30 phút sáng, sau khi các trận địa của bộ binh ở phía trước bị pháo địch bắn phá, đến lượt trận địa cao xạ phòng không cũng chìm ngập trong khói lửa. Xuyên qua các làn khói vần vụ, tiếng chỉ huy của Quýnh luôn luôn vang lên dõng dạc. Gương mặt rắn rỏi của chính trị viên Ngô Hạnh cũng luôn luôn hiện lên ở bên cạnh các pháo thủ. Họ như thấy mình vẫn luôn luôn có một chỗ dựa vững chắc. Đã tới lúc các chiến sĩ cảnh giới phía trước réo lên: - Xe tăng! Xe tăng đã tới! Liền đó là đạn 37 trên các tháp pháo của hai chiếc M24 nã vào xối xả. Các pháo thủ bỗng nghe thấy một tiếng nổ lớn ở phía hầm chỉ huy. Tiếp đó là tiếng người nào đó, có lẽ là liên lạc viên Hỉ, gọi như thét lên: - Anh Thuyên ơi! Anh y tá Thuyên! Anh Quýnh... Thế là hiểu rồi. Ôi anh Quýnh! Anh Quýnh thân yêu của chúng em... Y tá Thuyên đang băng bó cho hai pháo thủ khẩu đội 1, bàng hoàng xách túi cấp cứu chạy về sở chỉ huy. Chính trị viên Ngô Hạnh cũng tái xanh, chạy theo Thuyên. Lát sau, trong khói đạn tơi bời, tiếng Ngô Hạnh cất lên, vẫn cái giọng xứ Huế không sao trộn được của anh: - Đồng chí Bàn lên thay anh Quýnh chỉ huy toàn đại đội! Trung dội trưởng Bàn cao lớn, to khỏe như đô vật dang mím chặt môi đứng bên một cây đại liên phòng không chỉ huy bắn, nghe gọi vội nhào đi luôn. Nhưng chỉ được mấy bước anh đã ôm chầm lấy đầu. Máu trào ra. Tuy nhiên, may sao, đó chỉ là một mảnh đạn nhẹ. Một tay ôm đầu, tay kia vịn vách hào, anh tiếp tục chạy thẳng lên hầm chỉ huy đại đội. Từ lúc đó, lại vang lên những khẩu lệnh với cái giọng ồm ồm rất quen thuộc của Bàn... Bộ binh địch đã bị cắt lại. Hai chiếc xe tăng không dám tiếp tục tiến. Chúng dừng lại và nã pháo, như hai chiếc lô cốt thép, cách trận địa chừng một trăm mét. Tuy nhiên, tình thế đã tới lúc quá hiểm nghèo đối với các chiến sĩ phòng không: Bàn bị thương lần thứ hai, hơn thế nữa: đạn đại liên đã hết sạch. Chỉ còn lại vài khẩu tiểu liên và một số lựu đạn. Trong giây phút đó, tiếng của chính trị viên Ngô Hạnh lại cất lên, nhưng dường như không phải mệnh lệnh, mà là một lời hiệu triệu bất tử: - Tất cả các đồng chí! Hãy sẵn sàng tiêu diệt bộ binh dịch! Ai có tiểu liên dùng tiểu liên, ai có lựu đạn dùng lựu dạn. Còn tất cả anh em hãy lấy kìm búa sửa chữa súng pháo ra!... Quyết không để mất trận địa! Và thế là trong các ụ súng pháo, các chiến sĩ và cán bộ phòng không cùng bắt đầu chia nhau từng quả lựu đạn và mở tất cả các hòm đồ. Anh cầm lấy một chiếc lắc lê, anh nhặt lên một chiếc mỏ lết... Đó cũng là lúc bọn Pháp đã nhận được ra: hỏa lực đối phương đã kiệt quệ. Hai chiếc xe tăng địch tiếp tục xông lên. Chỉ trong khoảnh khắc, trận địa phòng không đã bị tràn ngập. Hai chiếc xe tăng như hai con vật điên, lồng lộn, chạy vòng bên tả, chạy vòng bên hữu, khắp trận dịa. Trong lúc đó bọn lính dù cũng la hét, ào ạt nhảy vào các ụ pháo. Cuộc tử chiến bắt đấu diễn ra như chưa bao giờ từng có. Một tên thiếu úy dù vừa nhô ra khỏi một ngách hào thì một nhát búa đã bổ xuống, ở kế bên, một thằng dù đang đè một chiến sĩ nhỏ bé của ta, định bóp cổ, anh chiến sĩ dùng hết tàn lực bật được đẩu lên, và cắn chặt ngay vào cổ họng của nó. Cũng chỉ cách đó vài mét, một tên lính dù khác chồm lại phía một người thương binh ta. Anh vừa cố ngẩng đầu lên, thằng lính dù đã gí nòng Thompson vào giữa mặt anh siết cò. Người chiến sĩ ngã vật ngửa. Đó chính là chính trị viên Ngô Hạnh... * Cuộc họp của đại đoàn vừa mới bắt đầu thì một cán bộ tham mưu hấp tấp chạy vào. Gần như quên cả lễ tiết phải đứng nghiêm chào như mọi khi, anh đưa ngay mảnh giấy ghi điện cho đại đoàn trưởng Vũ Hùng. Ông cầm lấy bức diện, nhíu đôi lông mày rậm xếch, đọc lướt rất nhanh: - Hả, địch đánh lớn? - Báo cáo, chắc chắn là như vậy. Các đài quan sát đều báo về... - Chỗ tiếp giáp của trung đoàn 2 và trung đoàn 1? - Báo cáo đúng chỗ đó. - Lực lượng chúng bao nhiêu? - Báo cáo, chưa rõ. Dưới trung doàn cũng chưa nắm được. Tất cả mới do đài quan sát báo về là chủ yếu. Mặt sắt lại, ông quay về phía các cán bộ đã ngồi quây quần đầy đủ phía trước: - Hoãn cuộc họp! Đồng chí Thâu, đồng chí Quý đưa cán bộ trở về ngay! Tôi sẽ trực tiếp với các anh trong trận này. - Rõ! Ông Thâu đứng bật dậy. Ông Quý cũng vội vã khoác túi dết lên vai. Vẻ lo lắng hiện rõ trên gương mặt hai người chỉ huy trung đoàn. Không khí nghiêm trọng khác thường. Cuộc họp giải tán ngay khi mới bắt đầu. Vẫy ông Thâu và ông Quý cùng trung đoàn trưởng pháo binh ở lại, đại đoàn trưởng Vũ Hùng cất tiếng nói, giọng ông sang sảng đầy quyền uy và sức mạnh: - Về nắm ngay tình hình! Nắm cho chắc! Và tổ chức phản công khôi phục trận địa! Phải khôi phục bằng được. Các anh hiểu chưa? - Rõ! - Ông Thâu dường như hơi run. Bao giờ cũng vậy, đứng trước người chỉ huy nổi tiếng nghiêm khắc và rất quyết liệt này, ông Thâu luôn luôn cảm thấy một sự kính nể rất sâu xa xen lẫn sợ hãi. - Ngay chiều hôm nay. Các anh hiểu chứ? Nếu nắm chưa chắc tình hình, chuẩn bị chưa kịp, thì phải đánh ngay trong đêm. Không để cho chúng kịp trở tay. Hiểu chứ? Phương châm: nhanh chóng tiếp cận để hạn chế phi pháo. - Rõ. Ông Thâu lại đáp, vẫn đầy xúc động. - Thôi được, các anh về đi! Liên lạc đường dây và cả VTĐ. Các anh bắt đầu liên lạc với tôi 24 trên 24 giờ. Nào, bây giờ pháo, lại đây... Đoàn của ông Thâu quay trở về, đi như chạy. Không còn ai đủ sức nói với nhau điều gì, chỉ còn có thở. Ông Thâu và Dũng luôn luôn dẫn dầu: - Về đường tắt cho nhanh đi anh! Vất vả một chút nhưng gần hơn nhiều. - Cậu lại muốn đi con đường tắt của cậu? - Vâng. - Thì đi! Mọi người luồn rừng, ào ạt như một đoàn thợ săn đang ráo riết đuổi một con mồi. Máy bay địch đã lên. Chúng đang gầm rú ngoài cánh đồng xa xa. Tiếng bom nổ rung chuyển. Tuy đã cắt rừng, đi tắt, nhưng phải ngót hai giờ sau mới về tới trung đoàn bộ. Ở đây tất cả đang rối như canh hẹ. Ông Quý đề nghị trước hết phải hội ý cấp tốc thường vụ Đảng ủy trung đoàn. Dũng dược mời tham dự. Tham mưu trưởng trung đoàn cho biết: Hà Giao và Lẫm tiểu đoàn phó của Xã Đệ báo cáo hết sức bập bõm, nhưng kết hợp với trinh sát trung đoàn, cũng đã có thể biết là địch có khoảng ba tiểu đoàn bộ binh cùng hai đại đội xe tăng, chưa kể pháo và máy bay yểm trợ. Chúng đã chiếm được có lẽ toàn bộ trận địa của hai đại đội ta, cùng một trận địa phòng không ở phía sau. Chúng đang tiếp tục tàn sát thương binh và phá hủy vũ khí khí tài của quân ta ở ngoài đó... - Thế là thế nào? - Ông Quý băn khoăn hỏi. Tham mưu trưởng bối rối, im lặng. - Chúng đang tiếp tục tàn sát anh em ta, hay là vẫn còn có lực lượng chống trả? Và chúng có ý định đánh xong sẽ rút, hay ở lại củng cố, để tiếp tục đánh mở rộng khu vực đã chiếm được? - Ông Quý hỏi tiếp. Cuộc hội ý trở nên sôi nổi. Có ngườởi cho là địch sẽ rút ngay. Có người khẳng định chúng sẽ củng cố các trận địa để đánh tiếp, đẩy lui vòng vây ta. Có người đề nghị kết thúc nhanh cuộc hội ý và cho phản công ngay. Có người nói nên chuẩn bị thật tốt, để tối sẽ đánh, tránh được máy bay địch đang làm chủ trên bầu trời... Ông Quý quay về phía Dũng. Anh không phải là ủy viên thường vụ, mà chỉ là được mời tham dự theo cách mở rộng. Vì vậy, trái với mọi khi, anh chưa tiện nói, chỉ ngồi nghe. - Còn đồng chí Dũng, thế nào, đồng chí có ý kiến gì? - Ông Quý hỏi không phải là chiếu lệ, mà bằng một giọng hoàn toàn chân thực. Ông biết: tuy hay có những ý kiến rất ngang, nhưng anh tiểu đoàn trưởng này cũng thường có những ý kiến độc đáo, thậm chí có khi có cả tính xoay chuyển, nhất là trong các tình huống hóc búa. Dũng ngồi thẳng dậy, đôi mắt anh bật sáng long lanh: - Báo cáo, theo tôi, đánh thôi! Điều rất đơn giản là đại đoàn ngừng cả cuộc họp, cho chúng ta về, chính là để đánh ngay. Còn để đến tối, đó chỉ là ý kiến có tính dự phòng trong hoàn cảnh tồi tệ nhất. - Rất đúng! Tôi cũng nghĩ thế! - Ông mừng quá. Ông rất không đồng ý với những ai đang muốn viện vào việc chuẩn bị để lui cuộc phản công lại đến tối. Ông đã có chỗ dựa, mà chỗ dựa lại là một con người đã dầy dạn lửa dạn, mặc dầu tính nết còn có những điều chưa dược tất cả mọi người cảm mến. Dũng xin nói thêm: - Báo cáo, chuẩn bị là rất cần, nhưng chuẩn bị đánh cứ điểm khác, mà chuẩn bị đánh phản kích khác. Lúc này phải rất nhanh. Thời gian và thời cơ là tối quan trọng. Địch chưa hoàn toàn làm chủ trận dịa, và theo báo cáo của tham mưu trưởng, tôi nghĩ rằng ta vẫn có thể còn lực lượng kháng cự ở ngoài đó... Hầu hết đểu đồng ý với Dũng. Cuộc hội ý kết thúc rất nhanh chóng. Trận phản kích sẽ được tiến hành thành hai mũi song song, một mũi do Dũng chỉ huy, một do Xã Đệ, có pháo binh trung đoàn và đại đoàn yểm trợ. Thêm nữa, pháo mặt trận cũng sẽ được yêu cầu tập trung chế áp các trận dịa pháo địch và cao xạ thì sẽ đánh hất máy bay dịch khỏi khu vực tác chiến. Đúng 14 giờ cuộc phản kích sẽ bắt đầu. Dũng và Xã Đệ về trước. Hai người chỉ kịp đấm vào lưng nhau một đấm để chào và cũng là lời hứa hẹn cùng vào lửa. Tuy nhiên, vẫn quen bô lô, Xã Đệ vừa chạy vừa nói với theo: - Mẹ kiếp, tụi nó ở nhà, nhất là thằng Lẫm nhà tớ, đánh đấm cứ như c...! Cũng như thằng Hà Giao bên cậu, xứ ra xớ rớ cứ như xẩm sờ ... Đang căng thẳng, Dũng cũng không khỏi bật cười. Dũng về đến tiểu đoàn, Hà Giao vẫn đang ngồi đấy. Anh ta gần như giật mình. Dũng yêu cầu họp ngay tiểu đoàn ủy và các cán bộ tham mưu, chính trị. Dũng yêu cầu Hà Giao báo cáo vắn tắt lại mọi việc đã xảy ra. Ngồi nghe cái giọng ấp úng và vẻ mặt đầy sợ hãi của anh ta, Dũng đang rất giận nhưng cũng phải thở dài: con người này té ra cũng không còn đáng để cho mình giận nữa... Rất nhanh, mọi công việc tổ chức và chuẩn bị được triển khai cấp tốc. Dũng đã đưa ra một phương án tác chiến được toàn thể mọi người chấp nhận: cần quân tinh nhuệ hơn quân đông. Có nghĩa là không xin trung đoàn tăng viện quân số. Đánh gần, để tránh phi pháo tối đa. Đánh trong chiến hào, cần tăng cường rất nhiều lựu đạn, thủ pháo. Và sẵn sàng để đánh giáp lá cà. 13 giờ. Các phân đội phản kích dã tập trung đầy đủ trong một cánh rừng thưa. Ai nấy nai nịt rất gọn gàng, lựu đạn, thủ pháo đeo đầy trước ngực và quanh bụng. Người nào cũng có lưỡi lê bên sườn. Các khẩu đội ĐKZ đem theo cơ số gấp đôi. Cối 80, cối 60 ly cũng đã dược lệnh đem theo rất nhiều đạn. Đứng trước hàng quân đầy khí thế, Dũng không khỏi sung sướng, và tin tưởng. Chỉ có một gương mặt thảm hại luôn luôn như ám quẻ bên anh, đó là Hà Giao. Sau khi kết thúc cuộc họp, Dũng đã nghiêm nghị nói riêng với anh ta: “Đánh xong trận này, ông sẽ phải trả lời nhiều điều trước Đảng ủy tiểu đoàn và cả cấp trên nữa. Nhưng bây giờ ông hãy cùng tôi và anh em vào trận nghiêm chỉnh đã!”... Lúc này, đứng trước hàng quân, Dũng rất muốn nói với anh em những lời khảng khái, những câu cổ vũ thật mạnh mẽ. Nhưng rút cục vốn không quen làm như thế bao giờ, anh chỉ thốt lên được mấy câu cụt lủn: - Các đồng chí! Chúng ta có nhiệm vụ khôi phục lại trận địa, và cứu anh em ta còn ở ngoài dó. Bây giờ ta lên đường! Cũng không ngờ câu nói quá đơn giản vậy mà tất cả các chiến sĩ lại cùng như bùng lên, hò reo vang dậy, tựa hồ như họ vừa được nghe một bài hịch tràn đầy khí phách và ngùn ngụt sức thôi thúc, cổ xúy. Dũng bỗng rớm nước mắt. ... Đúng 14 giờ, tiến rất đẹp dưới hỏa lực yểm trợ của pháo binh, các mũi chính diện và vu hồi của tiểu đoàn Dũng, và cả Xã Đệ đã áp sát địch. Thương vong không đáng kể. Công tác cấp cứu, tải thương đã được thực hiện một cách gần như tuyệt vời. Quân ta như những làn sóng tràn ngập vào các chiến hào. Tất cả lưỡi lê giương lên. Tiếng reo hò mênh mang. Ngay tức khắc, Dũng đã có mặt ở trận địa phòng không, mục tiêu đầu tiên được đánh chiếm lại. Dũng tới hầm chỉ huy. Đạn pháo địch đã phá tan nát cả nắp hầm. Quýnh vẫn còn nằm dấy, miệng anh hơi há ra như đang còn muốn nói điều gì. Và thật là kỳ lạ, hai mắt anh vẫn mở trừng trừng, y như người còn sống. Dũng gục đầu xuống ngực bạn. Hàm răng anh nghiến chặt lại cho khỏi bật ra những tiếng nức nở. Bàn tay run rẩy, anh cố vuốt cho đôi mắt bạn nhắm lại, nhưng đôi mắt vẫn cứ mở trừng trừng. - Ta đi thôi anh Dũng! - Báu đến bên anh tự lúc nào, cất tiếng giục. Biết không thể dừng lại ở đây lâu, Dũng kéo một miếng vải bạt đắp lên cho bạn, rồi tiếp tục chạy lên phía trước. Báu và tổ thông tin rầm rập nối theo anh. Mọi người cùng băng qua những vạt ruộng đầy cây chó đẻ đã cháy loang lổ từng mảng lớn; băng qua chiếc xe tăng mới bị anh em phòng không dùng thủ pháo đánh đứt tung cả hai xích, vẫn còn nằm đó. Vừa chạy, Dũng và anh em vừa liên tục phải nhảy tránh những xác lính dù và lê dương như vẫn còn nóng hổi. Một cái lon thiếu úy, hai cái lon trung úy trong đám xác chết... - Ô, anh Dũng, lại một thằng đại úy nữa này! - Mặc nó đấy. Tiến lên mau các em! Cách đánh đã tỏ ra rất có hiệu lực. Mũi chính diện do đại đội Thìn phụ trách đã đánh mạnh, mũi vu hồi của Lanh xồm thọc vào sườn địch cũng rất nhanh và hết sức quyết liệt. Hà Giao ở cánh đó. Anh ta đã có cơ hội khỏa lấp những gì mà anh đang vô cùng lo lắng. Đại đội của Thìn vừa chiếm lại được toàn bộ trận địa, Dũng cũng đã có mặt ngay. Trong khói đạn còn mờ mịt, anh thấy các chiến sĩ đang xúm xít ở một ngã ba giao thông hào đã lở vỡ bời bời, đất đỏ xen lẫn đất đen thuốc súng và be bét máu người. Dũng vội chạy lại. Mọi người đang vừa cười vừa khóc, vây quanh hai chiến sĩ: một người hai tay đã bị thương không có băng bó, còn người kia ngang mắt là một mảnh vải đầy máu và đất bùn. - Ai thế? Bùi Minh và y tá Hoàng có phải không? - Dũng hỏi ngay. Đại đội trưởng Thìn kể vắn tắt lại những gì mà anh đã thấy khi tràn được vào chiến hào này. Anh đã thấy người mù và người què đang cùng dựa vào nhau chiến đấu. Ngã ba chiến hào của họ đã bị băm nát từ lâu mà vẫn không hề bị mất, dù chỉ trong giây phút. Dũng chỉ còn biết ôm lấy hai chiến sĩ của mình. Vừa lúc đó một chiếc máy bay rú lên như ma quỷ, xẹt qua. Báu chỉ kịp cầm áo Dũng kéo giật xuống thì một trái bom đã nổ rung chuyển ở phía trước, không quá năm mươi mét. Đất, cát cuốn lên, rồi đổ ập, trùm lấy mọi người. Chiếc máy bay bay đi. Dũng vuốt đất cát trên mặt, ngẩng nhìn lên, anh chợt bắt gặp một mảng trời xanh, xanh ngăn ngắt, đẹp tuyệt trần. Có lẽ lần đầu tiên, ở đây, anh mới thấy được một mảng trời xanh như vậy, xanh như một giấc mơ... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười Hai, 2023, 09:07:23 am 8 Anh cần vụ Mạn lại lúi húi gấp quần, gấp áo cho Hồng Đăng rồi nhét vào các túi ba lô các hộp crasse crôute, chocolat và thuốc lá chiến lợi phẩm mà các đơn vị gửi cho. Anh vẫn không quên một chai rượu Cognac để Hồng Đăng uống và tiếp bạn. Hồng Đăng còn xin được cả áo blouson Mỹ mới toanh cùng chăn dạ, màn tuyn và chiếc đệm cá nhân bằng cao su khi thổi phồng lên nằm rất êm. Chỉ phải tội là nặng, Mạn cõng sái cổ. Trong khi Mạn sửa soạn ba lô, Hồng Đăng ngồi tranh thủ thời gian viết thư cho Nguyệt Lệ. Cô cùng đoàn cán bộ phụ nữ vẫn còn đi thăm các đơn vị và các trạm quân y, chưa trở vế mặt trận Bộ. Viết cho Nguyệt Lệ, anh bày tỏ lòng mong nhớ vô hạn, đồng thời dặn dò cô hết sức giữ gìn sức khỏe. Hồng Đăng cũng báo một tin buồn: Quýnh, em trai anh đã hy sinh trong trận chống phản kích vừa rồi. Hai anh em chênh tuổi khá nhiều, lại ít gần nhau, thêm nữa tính cách khác nhau nên cũng không có nhiều kỷ niệm. Tuy vậy, khi viết tới những dòng báo tin chẳng lành về Quýnh, với tình máu mủ, Hồng Đăng vẫn không khỏi thấy rưng rưng xúc động. Anh vẫn còn nhớ không phải chỉ một lần anh đã ngỏ ý muốn kéo Quýnh về trên cơ quan. Nhưng thật đáng tiếc, Quýnh đều từ chối. Anh biết đứa em trai của anh rất trong sáng, và dường như nó theo chủ nghĩa lý tưởng cực đoan nào đó. Mà Nguyệt Lệ, vợ anh, có lẽ phần nào cũng như thế... Một anh trợ lý bỗng chạy vào đưa cho Hồng Đăng một văn bản đã đánh máy: - Cái gì thế? - Báo cáo, bên chính trị nhờ anh tiện thể xuống đơn vị, đưa cho họ quyết định khen thưởng này. - Khen thưởng nào? Trận phản kích phía tây vừa rồi hả? - Báo cáo phải. Hồng Đăng đọc lướt qua: anh chú ý tới hai tên: Nguyễn Văn Dũng và Trần Hà Giao... Hà Giao thì chỉ biết qua, nhưng còn Dũng anh biết rõ hơn. Một cái gì đó như một làn gió quẩn thoáng nổi lên trên trong đầu óc anh. Thì ra hắn cũng có mặt trong trận này, trận đánh mà Bộ chỉ huy mặt trận đã đánh giá khá cao về tinh thần chiến đấu của đơn vị. Đây là trận phản kích địch đánh ra chiến hào ta có thể coi là lớn nhất, có tổ chức quy mô nhất trong tất cả các trận nhỏ, lẻ tẻ suốt gần nửa tháng qua trên khắp cánh đồng phía tây và cả bên phía đông, cũng như dưới phân khu Hồng Cúm. Trận đánh thắng lợi của quân ta đã chứng minh, khẳng định một điều quan trọng: quân Pháp không thể phá vỡ được các trận địa chiến hào bao vây tấn công của ta, dù ở địa điểm mà ta chưa củng cố được thật tốt, thậm chí còn sơ sài, thêm nữa còn bị bất ngờ trong chừng mực nào đó. Và dường như, theo Hồng Đăng suy nghĩ, không phải được chính thức phổ biến, trận thắng này của quân ta đã thúc đẩy thêm quyết tâm của trên nhanh chóng mở đợt hai chiến dịch. Hồng Đăng lại xuống các đơn vị ở cánh đồng phía tây hôm nay chính là để truyền đạt chỉ thị của Mặt trận về việc ấy. Đợt tấn công thứ hai, Hồng Đăng được biết, sẽ còn to lớn và quyết liệt hơn đợt đầu (hoặc màn 1). Đợt này nếu lại thắng lợi giòn giã, mặt trận sẽ có thể nhanh chóng chuyển sang tổng công kích, đánh bại toàn bộ quân Pháp ở thung lũng sẽ trở nên lịch sử này. Như vậy chiến thắng Điện Biên sẽ sớm hơn hội nghị Genève, sớm hơn khá nhiều. Anh lại tiếc cho thằng em anh. Không phải anh đã không cho nó biết: hòa bình và thắng lợi đã gần kề. Nhưng rồi hình ảnh Dũng (hoặc Dũng Linh chăng?) lại lởn vởn hiện lên như chiếc gai nhọn trước mắt... Hồng Đăng tiếp tục đi, một người nữa chạy vào đưa tiếp một gói tài liệu: - Lại cái gì nữa thế này? - Báo cáo, nhà in mặt trận đã in xong thư Bác Hồ. Bên chính trị lại nhờ anh. Hồng Đăng đỡ lấy gói tài liệu, mở ra. Đúng là thư Bác Hồ gửi các chiến sĩ mặt trận Điện Biên Phủ. Bác khen ngợi các cán bộ và chiến sĩ đã lập công lớn trong đợt một. Bác căn dặn phải chuẩn bị thật tốt để tiếp tục bước vào các đợt chiến đấu sắp tới... Hồng Đăng biết rất rõ: Bác đã theo dõi rất sát sao chiến dịch. Bác là linh hồn của mặt trận. Chính nhờ phương châm “đánh chắc tiến chắc” của Bác với sự thực hiện, chấp hành sáng tạo của bộ chỉ huy Mặt trận mà quân ta đã đánh thắng giòn giã trong đợt chiến đấu vừa qua. Bây giờ Bác lại chỉ thị: chuẩn bị tốt, thật tốt để giành chiến thắng tiếp theo. Bác như luôn luôn ở bên cạnh các chiến sĩ... Hồng Đăng sửa soạn đi, lại một người nữa chạy vào. Hồng Đăng chau mày: - Lại cái gì nữa thế? - Báo cáo, có đoàn phụ nữ xin gặp anh... - Hả? - Hồng Đăng mừng rỡ - Vậy mời vào đây! Nhưng không phải là cả đoàn. Không có Nguyệt Lệ, mà chỉ có bà Lợi và Văn Túc. Hồng Đăng gượng vui, chào: - Thưa chị, chẳng hay có việc gì đấy ạ? Bà Lợi liếc mắt nhìn Túc, rồi nói: - Thưa anh, chúng tôi đến để chào anh, ngày mai đoàn chúng tôi về xuôi. Hồng Đăng ngạc nhiên: - Các chị về ạ? - Vâng, đi như thế đã quá chương trình mất một tuần rồi, mà ở nhà còn lắm việc lắm anh ạ! Văn Túc vẫn chỉ ngồi im nặng cầm chiếc ca “Quyết chiến quyết thắng” uống từng hớp nước nhỏ. Bà Lợi ngước nhìn Túc, rồi đắn đo: - Nhân đây, thưa anh Đăng, cũng báo cáo để anh rõ: đoàn chúng tôi về, riêng chị Nguyệt Lệ vẫn ở lại... Đôi mắt mở to, Hồng Đăng ngắt lời bà Lợi: - Sao? Cô Lệ nhà tôi ở lại? Để làm gì? Tránh cái nhìn đầy sửng sốt của Hồng Đăng, bà Lợi đáp: - Thưa anh, cô ấy xin ở lại phục vụ quân y viện mặt trận. - Ô hay! Vậy... vậy... chị đồng ý cho cô ấy ở lại sao? - Thưa, không phải như thế. Chúng tôi đã bảo cô ấy cùng về. Nhưng cô ấy không nghe. Chúng tôi đã phân tích: cô ấy không có chuyên môn, ở lại thì làm được việc gì? Hộ lý ư? Nhưng hộ lý thì đâu có thiếu lắm... - Đúng! Đúng như vậy! - Hồng Đăng như cuống quít. - Thế mà cô ấy vẫn cứ một mực không nghe. Đến nỗi tôi phải nhân danh đoàn trưởng chỉ thị cho cô ấy phải cùng về, cô ấy nhất định không chịu. Sau tôi lại phải bảo để hỏi ý kiến anh đã... - Đúng! Đúng như thế! - Hổng Đăng lại vội vã nói. Mặt anh đã bừng đỏ - Phải hỏi tôi đã chứ! - Nhưng, thưa anh, cô ấy vẫn không thay đổi ý kiến. Cô ấy nói sẽ báo với anh sau. Hồng Đăng như choáng váng. Anh không nén được mình nữa, rít lên: - Hừ! Kỳ cục! Kỳ cục thực! Lặng đi mấy giây, anh như chồm hẳn người về phía bà Lợi: - Vậy tôi yêu cầu chị hãy nán lại một ngày. Tôi có việc gấp phải xuống đơn vị X. Ngày mai tôi sẽ tìm được cô ấy, lôi về đây. Tới lúc đó Văn Túc thấy mình phải lên tiếng. Anh nhẹ nhàng hỏi lại: - Vậy thưa anh, anh không muốn cho chị ấy ở lại đây ạ? - Phải! - Thưa, vì sao vậy? - Cô ấy quá lãng mạn, mơ mộng. Cô ấy không hiểu gì hết. Ở đây không ai cần tới cô ấy. Cô ấy ở lại chỉ thêm một gánh nặng tiếp tế cho mặt trận. Văn Túc không thể nhẹ nhàng được nữa. Anh nghiêm trang: - Thưa anh, xin phép anh cho tôi nói thật, việc chị Lệ xin ở lại là chính đáng. Ai có mặt ở mặt trận này đều có ích cả, tôi trộm nghĩ như thế. Cho nên, chỗ thân tình, xin phép cho tôi được chân thành góp ý với anh: anh là một đồng chí cán bộ cao cấp, nếu anh phản đối việc này e sẽ không hay, không có lợi cho uy tín của anh. Cũng không ngờ câu nói của Văn Túc có hiệu lực. Hồng Đăng ngồi lặng đi. Đúng, sẽ không có lợi cho uy tín, cho cả bước đường công danh của anh về sau nữa. Phải tìm cách giải quyết êm hơn, không thể ầm ĩ được. Một lúc sau, anh gượng gạo nói trong căm giận và thất vọng: - Thôi được, tôi sẽ liệu sau vậy. Dẫu sao cũng cám ơn chị và anh đã báo cho biết tin này. Bà Lợi và Văn Túc cùng đứng dậy, nháy nhau và mau lẹ quay ra. Hai người khách đi khỏi, Hồng Đăng hất hàm gọi Mạn một cách gay gắt: - Mạn đâu? Đi! Đi thôi! Tất cả sự tức giận của anh dường như trút xuống đầu anh cần vụ. Ra khỏi khu lán trại, Hổng Đăng và Mạn cũng đi theo một con đường tắt mới mở xuống các đơn vị ở phía tây, không theo con đường cũ đi ngang qua quân y viện mặt trận. Mạn cung cúc gùi ba lô, vác súng đi trước quên cả bực mình vì bị gắt vô cớ. Anh mừng thầm: “May quá, ông ấy không bắt đi theo đường cũ”. Mạn biết nếu qua đó, thế nào Hồng Đăng cũng lại bắt dừng lại để ghé vào viện. Mà chuyện lòng thòng của ông với cô bác sĩ nào đó, Mạn vẫn còn nghe xì xầm. Nhưng không phải Hồng Đăng không có ý định vào quân y viện. Ngược lại, xong công việc lúc về anh sẽ vào, nhưng lần này vào không phải chỉ để gặp Kim Oanh mà còn để xem Nguyệt Lệ có đó hay không. Nếu gặp, anh sẽ phải dạy cho cô biết thế nào là bổn phận của một người vợ đối với chồng trong những công việc như thế này. Anh cũng sẽ phải làm cho cái đầu óc mơ mộng, lãng mạn của cô tỉnh táo, thực tế trở lại. Hành động tự ý của Nguyệt Lệ đã như một sự xúc phạm đối với anh, nhưng anh đã không khỏi buồn. Hành động này còn như một biểu hiện của tình cảm phai nhạt, thậm chí tình cảm có lẽ chưa hề có thật của Nguyệt Lệ đối với anh. Nếu tính cả sự từ chối không sống chung với anh trong những ngày đầu gặp gỡ ở mặt trận thì càng có thể tin hơn mối nghi hoài của anh là đúng. Quả như vậy, không những đáng buồn mà càng cay đắng biết bao!.. Nếu thật sự như vậy thì chẳng lẽ hóa ra từ trước tới nay anh mới chỉ chiếm được Nguyệt Lệ phần xác mà chưa hề chiếm được phần hổn của cô? Nhưng vì sao vậy? Khiêm tốn đến mấy, anh cũng biết rõ mình là người đàn ông khá đầy đủ chức vụ, tiền tài, kể cả sức lực, và diện mạo để cho nhiều cô phải mơ ước. Còn về sự yêu thương săn sóc thì anh cũng có thể tự ví như một ông hoàng Ba Tư đối với một người đẹp, một người vợ say đắm mà ông đã kiếm tìm được từ một sa mạc hoang vu, nghèo khổ. Trong cuộc sống, anh đã chu cấp cho nàng rất đầy đủ, kể cả gia đình nàng nữa. Vậy tại sao suốt hai năm qua, anh luôn luôn cảm thấy mình không bao giờ được hoàn toàn thỏa mãn cả về xác thịt lẫn tình cảm. Và cho tới lần này... Phải chăng cái bóng của cái tên Dũng Linh nào đó vẫn còn luôn luôn lởn vởn trong đầu óc nàng? Phải chăng, ở đây, dường như nàng đã gặp lại hắn, hoặc ít ra cũng mơ tưởng rằng hắn còn sống và có thể may ra sẽ gặp lại được còn tinh thần “vì chiến sĩ, vì muốn được đóng góp” ư? Làm gì ở nàng có nhiều đến thế!... Giận quá mà cũng đau quá. Phải làm gì đây? Làm thế nào để giành lại nàng? Làm gì? Làm gì?... Mạn vẫn cung cúc đi, nhưng chốc chốc ngoái lại. Anh quá ái ngại: Hồng Đăng hôm nay có vẻ rất mệt. Thật tội nghiệp! Mạn đã quên rồi và quên hẳn sự gắt gỏng vô lý của Hồng Đăng lúc ra đi. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười Hai, 2023, 09:11:14 am * Trong khi đó, trời hửng nắng ấm, ở khúc suối kín đáo đã quen thuộc, Kim Oanh trần truồng, không một mảnh vải che, đang nằm thả mình dưới làn nước trong vắt, hai mắt lim dim. Cô đang tìm một khoái cảm. Đã lâu lâu không có đàn ông, cô cồn cào thèm khát - thèm khát đến nỗi cứ mong bất cứ thằng đàn ông nào ôm lấy cô là cô sẵn sàng ngả xuống, chứ không cần phải đó chính là Hồng Đăng người tình lý tưởng mà cho tới bây giờ cô mới được gặp, sau không ít những chàng trai khác. Nhưng tất cả bọn đàn ông ở cái viện này đều là đổ bỏ đi. Chúng luôn nhìn cô, cô biết, như chọc thủng cả áo quần, như chó đang nhỏ dãi, nhưng rút cục chẳng thằng nào dám lơ mơ. Chúng sợ cái gì không biết? Trời ơi, thì ra con người ta càng văn minh càng làm khổ nhau bằng biết bao lệ luật, phong tục, tập quán và cả dư luận phi lý, mà do chính con người tự bày đặt ra. Cũng đã có lần Kim Oanh gần như chủ động với họ, nhưng rồi họ cứ “cài số lùi”. Nên lại càng nhớ, càng mong Hồng Đăng như không chịu nổi. Ôi, con người vừa ga-lăng vừa sung mãn về thể lực ấy sao mà tuyệt vời... Bỗng “rắc”, một tiếng cành cây gãy, Kim Oanh nhỏm người lên, thì nghe có tiếng chân người chạy thình thịch đi xa. Hiểu rồi: một thằng mất dạy nào đó đã mò tới đây xem trộm Kim Oanh tắm. Nhưng mà “tiên sư nó” đã thèm mà còn nhát, đã mò ra tới đây mà còn sợ bỏ chạy. Hắn là ai vậy? Nhưng bất cần, giá mà hắn cứ nhảy đại xuống đây thì có phải là... Kim Oanh sẽ chồm lên bụng hắn, rồi đè xuống, đè xuống cho tới khi cả hai cùng chết lịm... Lát sau, “cơn hỏa” dịu xuống, Kim Oanh mới mặc quần áo trở về viện. Quanh co mấy khu lán, Kim Oanh đi ngang qua phòng làm việc của viện trưởng. Đó là một chiếc lán làm nửa chìm nửa nổi, một cô gái mặc áo khoác xanh đang ngồi đó, hai tay ôm một chiếc túi dết nhỏ trong lòng. Tò mò ngó vào, Kim Oanh bật kêu lên: - Chị Nguyệt Lệ! Nguyệt Lệ quay ra. Hai người đã biết nhau sơ sơ qua lần đại biểu phụ nữ tới thăm viện cách đây chừng hơn mười ngày. Nguyệt Lệ tươi tắn chào lại. Kim Oanh hỏi: - Chị đến đây có một mình? Chị có việc gì vậy? Nụ cười vẫn dịu dàng trên đôi môi Nguyệt Lệ: - Tôi đến để xin... phục vụ ở đây chị ạ. - Ô hay, thế ạ?... - Kim Oanh dường như không hiểu nổi, hoặc nghĩ là mình nghe nhầm. Nhưng Nguyệt Lệ vẫn nhắc lại đúng như thế. Cô nói rõ thêm: cô đang chờ viện trưởng, ông còn đang mắc chút việc trên khu thương binh sọ não. Kim Oanh đứng lặng ngắm Nguyệt Lệ như nhìn một hiện tượng lạ. À, thì ra cô ta đang “nổi máu anh hùng”! Tuyệt! Nhưng... hay là cô ta đã biết chuyện gì về Hổng Đăng với mình nên muốn cắm ở đây để kiểm soát và có thể gây chuyện? Con bé quả là đẹp, đẹp đến phát ghét lên được, phát ghét ngay từ hôm mới gặp. Và đây cũng là “bà phu nhân trầm lặng, bướng bỉnh” của Hồng Đăng mà, Kim Oanh đã từng nghe người trong khu căn cứ địa ít nhiều đồn thổi. Dẫu sao cũng sẽ phiền đây! Nó mà ở đây thì còn tự do với Hồng Đăng sao được. Đó là chưa kể, giả sử biết chuyện nó có thể còn làm “xì căng đan” nữa chứ! Một bóng áo trắng hiện ra. Ông viện trưởng đã về. Nguyệt Lệ vội đứng dậy. - Mời chị ngồi! Mời chị ngồi! - Ông viện trưởng sốt sắng, lịch sự - Tôi biết rồi. Tôi đã đọc giấy của phòng chính trị Mặt trận giới thiệu chị. Chị uống nước đi! Chị đi đường, leo núi, có mệt lắm không? Kim Oanh sầm mặt, nguýt một cái dài. Thằng già này hỏng! Nó chẳng biết còn có mặt mình ở đây nữa! Tức giận, Kim Oanh đá vào chiếc thùng gỗ đựng thuốc ở dưới chân. Bấy giờ ông viện trưởng mới quay lại, nở một nụ cười như xin lỗi: - À, chị Kim Oanh! Mời chị cùng ngồi! Ta cùng nói chuyện cho vui. Không có gì bí mật cả. Kim Oanh vùng vằng ngồi xuống. Nguyệt Lệ đã nhìn thấy hết sắc thái, cử chỉ của cô bác sĩ mập mạp có rất nhiều đường cong khêu gợi, và một đôi mắt rất lẳng này. Từ buổi đầu gặp Kim Oanh ở đây, Nguyệt Lệ đã không thích lối nói năng phóng túng, lắm khi như suồng sã của cô. Ông viện trưởng lại vui vẻ, niềm nở: - Nào, bây giờ chị Nguyệt Lệ cho biết ý kiến, chị muốn nhận công tác gì ở viện tôi nào? Nguyệt Lệ mỉm cười nhỏ nhẹ: - Báo cáo viện trưởng, xin cho tôi làm hộ lý. Không phải chỉ như Kim Oanh lúc nãy, mà ông viện trưởng giờ đây cũng ngạc nhiên: - Chị muốn làm hộ lý ư? - Dạ vâng! Vì tôi không có chuyên môn. Tôi làm hộ lý có lẽ là hợp hơn cả. - Nhưng... - Thưa, tôi rất vui lòng và tự nguyện ạ. Ông viện trưởng cắn môi suy nghĩ một chút rồi lại tươi cười: - Thôi được, như thế này nhé: chúng tôi sẽ bố trí chị làm việc ở văn phòng. Chắc sổ sách thì chị quá quen rồi. Nguyệt Lệ lắc đầu: - Thưa, xin cứ cho tôi làm hộ lý. Thú thật tôi muốn được làm một việc gì đó trực tiếp hơn. Nếu làm sổ sách văn phòng thì tôi không xin ở lại. Ông viện trưởng nhắm mắt, ngửa cổ lên, và mỉm cười. Kim Oanh, thừa lúc đó xen vào: - Thì cô ấy đã có tinh thần cao đến như thế, viện trưởng cứ cho cô ấy làm hộ lý có sao đâu! Như không nghe thấy Kim Oanh nói, thậm chí như quên không có Kim Oanh ở đây nữa, ông viện trưởng mở mắt ra, và nụ cười như càng rộng hơn: - Vâng. Tôi đã hiểu. Vậy chị sẽ được như ý muốn. Tôi chúc chị sẽ làm cho các thương binh của tôi được vui hơn. Tôi mong và tin như thế. Nguyệt Lệ hơi cúi đầu: - Cám ơn viện trưởng. Tôi hy vọng rằng tôi sẽ không làm cho các anh thương binh phải phàn nàn vì tôi. Kim Oanh nhìn Nguyệt Lệ bằng đuôi con mắt. Con bé này đúng là ương ngạnh. Hẳn là anh Hồng Đăng rất khổ vì nó. Mà khéo nó còn “hâm” nữa cũng nên. Không chịu đẻ, thích ở nơi bom đạn, lại còn muốn làm công việc vất vả, bẩn thỉu... Chắc là để làm “anh hùng”. Ngay chiêu hôm đó, Nguyệt Lệ được đưa tới một lán thương binh nặng. Trong chiếc áo blouse trắng tinh, cô cùng cô Dậu, một nông dân Phú Thọ và cô Len, một cô gái Thái cùng đi đổ bô cho thương binh rồi giặt giũ gạc, băng. Sau đó, Nguyệt Lệ đứng bên một anh chiến sĩ trẻ có đôi mắt tinh nhanh và nghịch ngợm. Anh bị thương bó bột cả hai chân. - Anh tên gì? - Nguyệt Lệ khẽ hỏi. Anh thương binh tươi cười: - Em tên Cốc, Cốc mò, chị ạ - Cái giọng xứ Nghệ vui vui. Không riêng Lệ, mọi người chung quanh đều bật cười. - Tên hay nhỉ! - Báo cáo chị, em thì mò giỏi lắm. Bất cứ ai để quên cái chi ở đâu, đánh mất ở đâu, em mò được tất. - Anh bị thương trận nào? - Trận phản kích ở Pe Luông. - Anh bị trong trường hợp nào vậy? Cốc lại cười toe toét: - Em có biết chi mô! Nghe đùng một cái, em chết liền. Sau lại sống. Nhưng tức hai cái chân quá, không sao chỉ huy được nữa. Em đành lết đi kiếm lựu đạn và súng cho anh em khác “oánh”. Nhưng pháo nó lại tấn tơi bời. Em lại chết. Đến khi sống lại lần thứ hai, thì đã thấy anh em xúm xít chung quanh. Anh cười anh khóc. Bảo: “Cốc ơi dậy mà mò, thăng rồi...”. - Em ở đơn vị nào, của ai? - Đại đội anh Noãn. - Tiểu đoàn nào? - Tiểu đoàn anh Dũng. Cốc đáp xong chợt thấy gương mặt chị hộ lý xinh đẹp đang hỏi chuyện bỗng như tái đi. - Anh Dũng... có sao không em? - Không. Ấy, anh em họ bảo anh ấy đã phát hiện thấy em được xếp vào sổ tử sĩ, anh ấy cõng em về. Chị cứ hỏi chính trị viên em, anh Phạm Tá nằm ở cuối lán, anh ấy cũng biết đấy... Nguyệt Lệ đi tới bên Phạm Tá. Anh đang nằm bất động. Cả hai chân cả hai tay anh đều bó bột. Toàn thân anh như một cây bột cứng nhắc. - Anh dễ chịu không anh? - Nguyệt Lệ ân cần. - Cám ơn chị, tôi đã khá hơn, nhưng vẫn chưa muốn ăn. - Vậy chút nữa sẽ bón anh ăn nhé! - Phiền cô quá. - Ô nhiệm vụ của em mà anh! - Cô mới đến thì phải? - Vâng đây là buổi làm việc đầu tiên của em. - Cô quê ở đâu? - Em ở Hà Nội. Nhà tản cư lên Thái Nguyên. - Cô tốt quá. - Ô, em đã làm được gì đâu! Anh Tá, anh có biết anh Dũng chứ? - Anh Dũng tiểu đoàn trưởng của tôi ấy à? - Vâng. - Cô là... thế nào với anh ấy? - À, cũng là quen thôi. Trước kia anh ấy thường đi qua, uống cà phê ở quán nhà em. Trận vừa qua anh Dũng không sao chứ anh? - Vâng. Anh ấy đi họp vắng. Trận địa gần mất hết, anh ấy mới về chỉ huy đánh lại. Giá mà có anh ấy ở nhà ngay từ đầu thì có nhẽ... không đến nỗi thiệt hại nhiều, và trận địa cũng không thể mất đến bốn, năm tiếng đồng hồ như thế... - Nghe anh nói, em có cảm tưởng các anh quý anh ấy lắm thì phải. - Đúng thế đấy. Nhưng ông này phải cái tính ngang lắm. Luôn tranh cãi với cấp trên, chẳng có sợ ai, chiến đấu như vậy, trình độ như vậy, như người ta có thể đã tham mưu trưởng trung đoàn hoặc trung đoàn phó cũng nên... Ngoài cái tính quá thẳng ấy, lại còn có chút mắc mớ về... lý lịch. - Sao cơ, anh? Em không hiểu. - Chẳng là anh ấy chiến đấu, qua nhiều chiến trường, nhưng giấy tờ lại đánh mất một số, nên cứ liệt vào loại “cán bộ chưa đầy đủ giấy tờ”. Đến dịp cải cách, lại còn bị một số đồng chí làm công tác cán bộ, bảo vệ nghi vấn là thành phần trí thức tư sản. Cũng lạ. Nhưng chẳng dám ai nói ra... Nguyệt Lệ thở dài kín đáo. Phạm Tá tiếp tục cởi mở: - Vì vậy anh ấy nhiều khi cũng buồn. À mà cô chưa gặp anh ấy hả? - Chưa anh ạ. Đáng lẽ còn tới nói chuyện với anh lính trẻ bị thương băng kín cả hai mắt mà tất cả thương binh trận phản kích đều hết lời ca ngợi, nhưng đã tới giờ ăn cơm, Nguyệt Lệ cùng các cô hộ lý phải vội vàng chạy xuống nhà bếp lấy các món ăn. Khi các cô đi khỏi, trong lán thương binh cùng nổi lên những tiếng lào rào. Anh khen cô hộ lý mới ăn nói dễ thương. Anh lại khen cô quá đẹp. Anh nhận xét con người ngà ngọc như vậy mà không nề hà cứt đái, máu mủ... Một không khí vui vẻ, ấm áp bỗng nhiên như bừng lên trong căn lán vốn khá tối tăm, lạnh lẽo, trầm lặng. Tối hôm ấy, Nguyệt Lệ vào một căn hầm ngủ cùng với hai cô Dậu, Len. Căn hầm ẩm, lạnh, tối om. Nguyệt Lệ thao thức mãi. Cô nghĩ tới buổi tối ngủ ở hầm tiểu đoàn Lê Phong. Phải chăng ý định xin ở lại mặt trận phục vụ đã nảy mầm từ cái đêm vừa sợ hãi vừa có bao xúc động ấy? Thật vậy đêm ấy cứ băn khoăn: mình có thể đóng góp và nên đóng góp gì ở đây đối với các chiến sĩ? Cứ nghĩ đến khi trở về hậu phương với những công việc buồn tẻ hàng ngày trong rừng sâu, lại thấy quá ngán. Nhưng nếu ở lại đây, có thể sẽ gặp lại anh ấy, Nguyệt Lệ cũng đã lường trước trường hợp này. Sẽ tìm cách tránh thôi. Để cho anh khỏi tức giận và cả đau khổ, mà mình cũng không tan nát ruột gan. Có lẽ anh nói đúng: hãy quên đi, quên đi tất cả!... Tuy nhiên, cho tới hôm nay, đã yên công việc ở đây, nằm hai bên cô bạn mới, tâm hồn Lệ lại nôn nao, xáo trộn. Cô đã không thể dối lừa mình mãi: Cô vừa sợ gặp lại anh, nhưng cũng vừa phấp phỏng mong anh trở lại. Thật vậy, cô vẫn âm thầm mong ngóng được gặp lại anh trở về thăm thương binh ở đây, cho dù anh sẽ lại ném cho cô những lời cay đắng, căm giận; cho dù cô vẫn không thể nào giãi bày được tất cả mọi điều để mong được có sự cảm thông, chứ không bao giờ nghĩ tới sự trở lại... Qua ngày hôm sau, lại vào buổi chiều, khi Nguyệt Lệ đang bón cho thương binh ăn, một anh y tá chạy vào vui vẻ: - Chị Nguyệt Lệ ra có khách, mau! Ngạc nhiên, Nguyệt Lệ hỏi lại: - Tôi ư? Tôi có khách? Rồi xin lỗi anh em thương binh, cô chạy vội vã. Nỗi hồi hộp làm cho chân cô líu ríu. Anh ấy chăng? Trời ơi, nếu vậy mình sẽ biết nói gì với anh, hay lại chỉ còn biết khóc? Hay là tránh đi? Ừ, hay là tránh đi như đã từng suy nghĩ? Nhưng sao lại tránh? Ôi anh yêu của em, làm sao em có thể dối lừa mãi mãi: em đã yêu anh, em vẫn yêu anh, và yêu đến trọn đời. Em không thể xa anh, em không thể thiếu anh, cho dù anh hắt hủi, xua đuổi em đến thế nào, em vẫn yêu anh, yêu anh như một định mệnh, như một chân lý... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười Hai, 2023, 09:14:36 am Cô đã tới lán tiếp khách của viện. Nhưng không phải Dũng. Đất dưới chân cô như tụt hẫng. Hồng Đăng! Anh đang ngồi đó, mặt nặng trĩu. Ngẩng lên thấy Nguyệt Lệ, anh cất tiếng hỏi, cố cho thật dịu dàng và bình tĩnh:
- Em sao thế? Ốm đấy hả? Nguyệt Lệ giấu một tiếng thở dài. Cô biết mặt mũi mình đang biến sắc. - Không, có lẽ... hôm nay hơi lạnh anh ạ. Hồng Đăng ngắm nhìn người vợ trẻ một mình. Không phải chiếc blouse với chiếc mũ vải trắng đã làm cho nàng như khác lạ mà do một cảm giác gì đó chính từ lòng anh đang dâng lên và lan tỏa, một cảm giác xa xôi, khó khăn, và buồn bã... Thật vậy, ngồi gần nhau mà hơn bao giờ hết Hồng Đăng bỗng cảm thấy như nàng rất xa, quá xa, đến mức như không thể nào cầm bắt được nữa. Anh lại cất tiếng hỏi với giọng khá mệt mỏi của một người đã cảm nhận thấy mình như bất lực: - Nguyệt Lệ, anh tới thăm em, vì biết em đang ở đây. Anh cũng muốn hỏi em vì sao em quyết định ở lại mà không trao đổi trước với anh. Hai bàn tay kẹp vào đùi, Nguyệt Lệ cúi nhìn xuống, tránh đôi mắt của Hồng Đăng: - Ở mặt trận mà anh! Em làm sao tìm được anh dễ dàng. Em định rồi sẽ báo lại với anh sau. - Nhưng em quyết định ở lại để làm gì? - Chẳng lẽ anh lại không hiểu sao? Và chẳng lẽ anh không đổng ý cho em ở lại ư? Hồng Đăng đỏ mặt. Cơn tức giận tưởng đã dẹp được, lúc này lại trỗi dậy. Anh không thể chịu được cái lối trả lời bằng những câu chất vấn trở lại đã quá quen thuộc của Nguyệt Lệ: - Tôi hiểu chứ - Giọng anh như rin rín - Nhưng tôi hiểu còn hơn cả những lời cô muốn giải thích cho tôi. Nguyệt Lệ vẫn bình thản: - Vâng, anh hiểu như thế nào ạ? - Thôi đi! Nên nói thẳng với nhau thì hơn. Tôi hiểu không thể nào đồng ý với thái độ của cô. Cô có hiểu cô tự ý như vậy, tức là cô quá coi thường tôi, cô xúc phạm tôi không? - Anh nghĩ quá cho em. Sao lại xúc phạm ạ? - Cô đã cư xử không đúng! Ít ra, muốn làm gì, có mặt tôi ở đây cô cũng nói với tôi một tiếng chứ. Và tôi cũng hỏi thẳng cô: có thật cô muốn ở lại vì chiến sĩ hay chính một người nào đó, mà cũng có thể chỉ một cái bóng nào đó?... Đến lúc này Nguyệt Lệ dường như không chịu đựng được nữa, mặt cô càng mét xanh. - Anh còn muốn nói những gì nữa không? Em thấy quá đủ rồi đấy. - Tôi cũng không muốn nói nhiều. Tôi chỉ muốn cô hãy cho tôi biết sự thật việc này là như thế nào? - Anh muốn nghe sự thật ư? - Phải! - Nhưng để làm gì? Sự thật chẳng phải điều gì cũng tươi hồng cả, anh chắc biết. - Nhưng tôi không muốn sống mãi trong tình trạng như thế này. Vì vậy tôi muốn chúng ta hãy nói thật với nhau... Nguyệt Lệ bỗng rớm nước mắt. Lặng đi một chút, rồi cô cất tiếng, hết sức buồn bã: - Thôi được, có lẽ đây cũng là dịp dể em có thể nói được với anh một vài điều mà trước dây em không bao giờ dám nói, chỉ vì muốn có sự ổn định, và vì em vẫn luôn tôn trọng và ghi ơn tất cả những gì anh đã đối xử với gia đình em và em, không phải trước kia mà ngay cả bây giờ. Nhưng có lẽ anh không hiểu hoặc cố tình không hiểu điều ấy. Anh vẫn như một ông chủ và một ông chủ quá tự tin, quá thỏa mãn. Tình yêu của anh là có thật, em biết. Nhưng đó là tình yêu của một ông chủ. Tình yêu ấy có thể đến mê muội nữa kia nhưng vẫn là của một ông chủ... chỉ cần nhắc một việc nhỏ ngay trước mắt: nếu không xin phép anh, mọi hành động dù đúng cũng sẽ trở thành bậy bạ, và là sự xúc phạm tới quyền uy của anh. Nhưng nếu như hỏi trước anh, chỉ cần một câu có lẽ anh sẽ hoan hô em và em lại... muốn gì được nấy. Anh ạ. Những chuyện như thế không ít đâu anh, suốt hai năm qua, chắc anh vẫn còn nhớ... Mặt Hồng Đăng từ đỏ chuyển sang tím. Từng lời của Nguyệt Lệ như những giọt a-xít bắn vào trái tim anh. Anh gần như gầm lên, dù nho nhỏ giữa hai người: - Thôi đi! Ôi té ra tất cả tình yêu của tôi đã được đền đáp như thế này đây... - Không, em vẫn và mãi mãi biết ơn anh, nhưng quả là em thấy anh đã khác trước, khác với hình ảnh anh chiến sĩ hào hùng, tươi đẹp khi ở mặt trận trở về... Nay anh đã trở thành ông quan, ông quan cách mạng với những điều không phải là hoàn toàn tốt đẹp cả. - Thôi đi! Đã bảo thôi đi! Thì ra cô đã nhìn tôi xấu xa đến như thế... Nguyệt Lệ như đã thực sự nổi loạn, cô như say đi, không cần giữ gìn gì nữa, nói tiếp: - Em xin anh tỉnh táo lại. Sự thiếu tỉnh táo của anh rõ nhất trong việc anh nhìn nhận về những gì em đã nghĩ khi quyết định ở lại. Lần này thì lòng ghen tuông đã làm anh không còn sáng suốt và làm cho anh trở nên vừa yếu đuối, thiếu tự tin, vừa đen tối cả trong lòng nữa. - Nguyệt Lệ, cô thóa mạ tôi đấy ư? Trời ơi, cô thóa mạ tôi!... - Anh muốn biết rõ sự thật cơ mà! Em đã nói với anh là không phải bất cứ sự thật nào cũng đẹp đẽ và đáng nói cả... Một anh y tá vừa từ ngoài bỗng chạy vào, vô tình cắt đứt cuộc đối thoại bi thảm giữa hai vợ chồng: - Báo cáo đồng chí, viện trưởng được tin đổng chí ghé qua, viện trưởng cho tôi mời đồng chí vào chơi. Nhợt nhạt, đứng dậy, Hổng Đăng khoát tay trả lời anh y tá: - Thôi cảm ơn! Tôi phải đi ngay đây. Nói với viện trưởng để khi khác. Rồi anh lảo đảo bước ra ngoài. Cần vụ Mạn vẫn ôm cây súng với chiếc ba lô to đùng nhẫn nại ngồi chờ ở trạm gác. Nguyệt Lệ cũng cúi đầu, quay trở vào khu lán thương binh. Vừa đi cô vừa lau những ngấn lệ còn ở nơi mắt. Tâm hồn cô vẫn còn bàng hoàng như vừa trải qua một cơn liều lĩnh, cơn liều lĩnh mà cô không hề định trước... Tối hôm đó, Nguyệt Lệ cáo mệt, đi ngủ sớm. Một mình cuộn trong chiếc chăn mỏng, cô trằn trọc. Cuộc nói chuyện với Hồng Đăng hồi chiểu vẫn còn nặng trĩu trong lòng. Nói ra những điều không vui ấy, cô cũng chẳng sung sướng gì. Tuy nhiên, Nguyệt Lệ cũng không hề hối tiếc về tất cả những gì mình đã nói. Chợt có tiếng chân người chạy ở phía bên ngoài. Rồi có tiếng lao xao: - Lệnh chuẩn bị phòng mổ sẵn sàng, biết chưa? - Bà Kim Oanh lại chạy đâu không biết, tệ thật! - Đêm nay lại có đánh lớn ở cánh đồng phía tây, trên báo như vậy. Nguyệt Lệ nhỏm dậy. Lại có tác chiến thật ư? Quả nhiên, chỉ một lúc sau đã nghe thấy tiếng trọng pháo từ xa xa dội về mỗi lúc một nhiều. Nguyệt Lệ tung chăn, chạy ra ngoài. Thấp thoáng qua các vòm lá, cả một vùng trời phía tây đỏ rựng như đang có những đám cháy lớn. Cô Dậu và cô Len cùng chạy về. - Đêm nay lại có đánh ở ngoài ấy phải không các chị? - Nguyệt Lệ hỏi. - Vâng, trên bảo thế! Sớm mai thế nào cũng có thương binh dưới đó đưa về. Mờ sáng hôm sau, quả nhiên, đã có cáng thương rình rịch ở phòng tiếp nhận. Nhưng không nhiều, chỉ có hai ca: một ca sọ não và một ca ở phần bụng phải làm đại phẫu. Thương binh nhẹ, để cả dưới trạm quân y đại đoàn giải quyết. Thương binh được đưa vào phòng mổ ngay. Nguyệt Lệ chạy theo. Một anh cán bộ trẻ của đơn vị đi cùng các cáng thương, ngồi im lặng hút thuốc lá, chờ đợi ở hầm phía ngoài. Nguyệt Lệ rón rén đến bên anh: - Đêm qua các anh đánh ở đâu thế ạ? - Báo cáo với chị, cũng gần chỗ đánh lớn hôm nọ thôi. Nhưng đêm nay khác. - Khác là thế nào anh? - Nguyệt Lệ hồi hộp. - Lần trước là nó đánh mình trước. Lần này là đơn vị chúng tôi chủ động ra phục kích chúng. Nhỏ thôi, nhưng lại thắng lớn chị ạ. - Các anh ở đơn vị nào thế? - Tiểu đoàn anh Dũng. Ôi... Nguyệt Lệ suýt bật kêu lên. Anh cán bộ vui miệng kể tiếp: - Chả là thế này chị ạ, sau trận trước, hai ngày củng cố xong đơn vị lấy lại khí thế cho quân ta, và cũng là tích cực phòng ngự, không để bị động như trước. Ông Thâu trung đoàn trưởng của chúng tôi cho là cay cú, không đồng ý. Hai bên tranh cãi khá gay gắt. Sau, thường vụ Đảng ủy trung đoàn hội ý và nhất trí cho đánh. Anh Dũng trực tiếp tổ chức trận này, đi cùng đại đội anh Lanh. Trận đánh chỉ có trong vòng hơn hai mươi phút mà diệt gọn một đại đội tuần thám. Diệt gọn, lại bắt được cả tù binh nữa. Mà thương vong lại quá ít: chỉ có hai đồng chí bị pháo nặng đưa lên đây, còn ba đồng chí nhẹ để cả dưới đại đoàn. Nguyệt Lệ thở trút. Cô từ từ cầm lấy bàn tay anh cán bộ trẻ, như cầm tay một người bạn thân thiết từ lâu. Anh cán bộ ngạc nhiên, lúng túng, không biết nên rút tay lại, hay cứ để nguyên? Anh chỉ còn biết trố mắt nhìn cô hộ lý không chớp. Cũng mờ sáng hôm ấy, ở đại đội của Lanh xồm, bốn tên tù binh vẫn còn ngồi đó chờ người tới giải lên đại đoàn. Một thiếu úy ngụy, một trung úy lê dương Pháp và hai lính lê dương người gốc Đức. Viên thiếu úy ngụy mặc đồ dù loang lổ bó chẽn lấy người, đầu trần, tóc bết đất, mặt nhợt nhạt. Hắn được gọi vào một căn hầm. Hắn run rẩy khom người bước vào, đứng nghiêm lại trước một người tầm thước nhưng rắn chắc, mặt cháy nắng, có một vết sẹo ngang trên gò má trái, đang ngồi trên mấy thùng đạn. Dũng đã hỏi cung mấy tên người Âu xong. Anh đưa cho viên thiếu úy ngụy một điếu thuốc lá. Hắn lấm lét, sợ hãi đưa cả hai tay ra: - Con xin đa tạ ông. - Hút đi! Anh rét lắm hả? Đơn vị nào? - Trình ông, con thuộc tiểu đoàn 8 dù ngoại quốc, hoặc 6 gì đó, thú thật con cũng không nhớ rõ nữa. Dũng chau mày: - Sao lại không nhớ rõ? - Trình ông, con cũng mới bị ném xuống đây có vài ngày. Họ đưa con vào tiểu đoàn nào con cũng chưa kịp biết thật đích xác. Con vốn là bảo an, chứ có phải quân dù đâu. Họ vét quân ở các nơi, cho tập có vài buổi, thế là ném xuống đây luôn. - Bảo an? Vậy trước khi lên đây anh ở đâu, đơn vị nào? - Trình ông, con đóng ở bốt Gia Lộc - Hải Dương... - Gia Lộc? - Dũng ngạc nhiên, ngắt lời viên thiếu úy. - Bẩm, vâng ạ. Dũng không ngờ anh lại bắt được một tên ở chính quê hương mình. Một cảm xúc rất lạ dội lên trong lòng anh. - Vậy chắc anh biết rõ mấy làng ở ngay quanh đó? - Trình ông, có. Chúng con thỉnh thoảng vẫn về đó lục soát và thu gà lợn. Dũng chăm chú và hồi hộp. Anh cứ tưởng đã quá lâu rồi mình không còn biết thế nào là hồi hộp. - Vậy anh có nghe, hoặc có biết ai là cụ Tú An không? - Bẩm có ạ. Cụ Tú là người bốc thuốc, xem cả tử vi, cả vùng ai mà chẳng biết cụ. Cụ còn dạy cả chữ Hán, nhưng bây giờ không có ai học chữ Hán nữa. Một cái gì đó càng như trào lên trong trái tim anh. Dũng hỏi tiếp: - Anh có biết ông cụ và gia đình bây giờ sống ra sao không? Cứ nói thực. Không sao cả... - Trình ông, vừa rồi con được lệnh tỉnh trưởng đem tới cho cụ lá thư và một lá số. Cụ xem qua rồi đuổi về. - Cụ ra sao? - Trình ông, cụ gầy lắm. Nhà tranh vách đất. Cụ không làm việc cho bên nào cả, nên không có ai đụng tới cụ. - Thế hả? Viên thiếu úy bỗng như cảm thấy có chuyện gì đó có thể như một mối liên hệ giữa người sĩ quan đang hỏi chuyện hắn với ông cụ nhà nho nổi tiếng khí khái và ngang bướng nọ. Hắn bạo dạn nói tiếp, cũng có ý thăm dò: - Trình ông, ông cụ có một người con bên kháng chiến cũng vì vậy trên đồn, dù không đụng gì đến cụ, nhưng vẫn cứ có lệnh giám sát. Dũng cúi đẩu, dụi mẩu thuốc lá, như để giấu những xúc động có lẽ đang xáo trộn trên mặt mình. Anh mồi tiếp điếu khác. - Tôi hỏi lại: Ông cụ vẫn còn sống chứ? - Bẩm vâng. Sống chứ ạ. - Còn bà cụ? - Cũng còn sống cả. Không có cụ bà trông nom, cụ ông cũng khổ. - Còn những người con? - Bẩm có một người hồi cư về, dạy học ở làng, còn một người khác nữa bị bắt lính hồi 1950, sau lại bị bên kháng chiến bắt ở Phát Diệm, rồi thả về. Bây giờ đánh xe bò thuê kiếm sống. Cũng nghèo lắm. - Thôi được, cho anh ra. Có người đưa anh về nơi tập trung kia rồi. Anh cứ yên tâm, chúng tôi không xử xấu với tù binh bao giờ. Chỉ cần một điều: các anh phải thành thật. - Dạ xin đa tạ ông. Dũng vẫn còn ngồi lại trong hầm, đôi mắt mênh mông. Anh lại đốt tiếp một điếu thuốc. Vui buồn như sóng ở trong lòng. Cha ơi, mẹ của con ơi, không ngờ cho đến bây giờ con mới được tin về cha mẹ. Vui sướng và cũng nhớ thương không biết chừng nào. Xin hãy tha thứ cho con, từ khi lớn lên, chiến tranh bùng nổ, con đã sớm phải ra đi. Con không báo hiếu được chút nào cho cha mẹ, không dược ở bên người để phụng dưỡng lúc tuổi già sức yếu. Ra đi, con mới chỉ làm được một phần nghĩa vụ đối với Tổ quốc, nhưng với cha mẹ và gia đình thì như thế đẩy. Không những thế, vì con mà cha mẹ còn luôn luôn như bị một lưỡi gươm tàn bạo của quân thù treo lơ lửng ở trên đầu. Thêm nữa, tám năm ra đi, nhiều lúc vui anh vui em, mải mê chiến đấu, và gần đây lại héo khô đi vì mối tình đẩu bị phản bội, con đã có lúc dường như quên đi mình đã có mẹ cha, đã có cả một gia đình dù nghèo khó nhưng xiết bao thân thương. Thật vậy, nhiều lúc đã quên đi cả thời thơ ấu của mình được sống bên mẹ cha để nghe những lợi dạy bảo về nhân nghĩa, về tình thương yêu gia đình, bè bạn và làng xóm... những điều mà giờ đây tưởng chừng như không còn mấy ý nghĩa trong cuộc sống chiến tranh quá khắc nghiệt này. Biết đến bao giờ con mới được trở lại? Nếu còn sống, con sẽ về bên cha mẹ để cố làm lại những gì mình chưa làm được với gia đình. Nhưng có một điều là chắc chắn con sẽ không bao giờ làm được, ấy là ý nguyện của cha, từ khi con còn nhỏ, là lớn lên con sẽ làm bác sĩ, hoặc thầy thuốc để cứu nhân độ thế, nối nghiệp cha. Không, con sẽ không thể làm cha được toại nguyện về điều ấy. Nếu còn sống trở về, con sẽ chỉ là một đứa con thay đổi quá nhiều, và cũng đã quá nhiều thương tích cả trong phần xác lẫn hồn. Cha ơi... Suốt đêm ấy, Dũng không sao ngủ được. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười Hai, 2023, 05:06:00 pm 9 Cuộc họp của Trung đoàn để phổ biến nhiệm vụ đợt hai chiến dịch đã xong. Đây là đợt chiến đấu to lớn với trọng điểm là tấn công đánh chiến năm cao điểm then chốt ở khu đông Mường Thanh. Nếu lại chiến thắng giòn giã, dứt điểm trong một hoặc hai đêm, quân ta sẽ có thể nhanh chóng chuyển sang tổng công kích, đánh bại hoàn toàn tập đoàn cứ điểm địch ngay trong đầu tháng tư này. Đã tưởng cuộc họp đã rất hào hứng, phấn khởi nhưng cả ông Quý và ông Thâu đều thấy không khí trầm, hơn thế nữa anh em cán bộ lại có nhiều thắc mắc. Thắc mắc về nhiều nhiệm vụ của đại đoàn, và nổi lên hơn cả là thắc mắc về nhiệm vụ của trung đoàn. Các cán bộ lục tục ra về. Ông Quý, ông Thâu giữ Dũng ở lại trao đổi ý kiến thêm. Hai ông muốn đả thông hơn nữa cho Dũng. Anh là người được coi là có nhiều thắc mắc nhất trong cuộc họp. Căn hầm trở nên rộng rãi và đỡ tối hơn khi chỉ còn có ba người ở lại. Ông Quý nói trước: - Chúng mình muốn trao đổi thêm với cậu về một số điểm ban nãy đã bàn. Dũng lầm lì: - Vâng, xin các anh cứ nói. Tôi xin nghe. - Dũng ạ, mình muốn nói rõ thêm về nhiệm vụ của đại đoàn đợt này. Các cậu cho là quá nhẹ, không tận dụng được sức mạnh và cái thế của đại đoàn đã tạo dựng ở hướng tây. Ý các cậu là tốt thôi. Các cậu muốn ta đã nhận được nhiệm vụ lớn là rất đáng quý. Nhưng, như đã phổ biến: phải tập trung vào hướng đông đã. Nếu hướng tây cũng đánh mạnh thì không đủ pháo để yểm trợ cho hướng này, mà ở đây địch cũng mạnh, toàn Âu Phi cả. Họp ở trên, bọn mình biết: pháo ta tuy thế nhưng cũng phải tính từng quả. Ví dụ: ông Văn Lân trung đoàn trưởng của đại đội bạn được giao đánh một cao điểm ở phía đông nhưng không có pháo 105 của mặt trận chi viện, có ý không yên tâm. Sau đại tướng cười bảo: “Thôi được, vậy điều thêm cho cậu hai pháo 75 và bắn cho cậu 30 phát 105. Đổng ý chưa?”. Vậy đấy. Phải tính đếm đến như thế đấy! Dũng gật đầu: - Báo cáo tôi hiểu. Nhưng tôi vẫn nghĩ đại đoàn ta tuy không làm nhiệm vụ như bên khu đông, vẫn có thể được trao một số nhiệm vụ lớn hơn để phối hợp với bên đó. Một đại đoàn như ta mà mở đầu vào đợt hai này chỉ có, như phổ biến, dùng một lực lượng nhỏ đánh cứ điểm H7 để thu hút sự chú ý của địch trước giờ nổ súng, ngoài ra cũng chỉ có thêm: đưa tiểu đoàn 45 của E1 sang khu đông để đánh thọc sâu vào khu vực bên bờ sông Nậm Rốm. Mà đây lại là tiểu đoàn chủ công của trung đoàn chủ công của đại đoàn chúng ta. Báo cáo hai anh, thú thực tôi chưa thông lắm. Ông Thâu lắc đầu: - Cậu vẫn chưa chịu nhìn vào toàn cục. Dũng vẫn cứng cỏi: - Mà ngay như khu đông, tôi đổng ý là trọng điểm, nhưng sao tôi cứ cảm thấy đánh cả năm cao điểm trong một đêm như vậy e có... quá tham không? Như vậy còn gì là tập trung lực lượng? Thêm nữa, bên đó anh em ta đã chuẩn bị đẩy đủ chưa? Ví dụ chiến hào, và nắm tình hình địch đã đến đâu? Cứ như bên hướng tây này, chúng ta đểu biết: đã cố gắng vậy mà thật ra nói chung các chiến hào vẫn chưa vào tới sát được hàng rào địch cụ thể ở từng điểm thì biết cũng còn rất chung chung. Công tác trinh sát, tiềm nhập, bắt tù nhân hỏi cung đúng là chưa làm được là bao. Ông Thâu nhăn nhó, lắc đầu: - Thôi, thôi! Việc bên khu đông là bên khu đông! Cậu làm sao mà biết được anh em bên đó chuẩn bị đến đâu. Tôi tin chắc là họ chuẩn bị rất tốt thì trên mới cho đánh. Và trên cũng tính toán chán rồi mới quyết định táo bạo đánh cả năm cao điểm mạnh trong liền một bên. Chúng ta phải tuyệt đối tin tưởng ở trên mới được. Ông Quý cũng nói thêm: - Đúng đấy, Dũng ạ, mình sao biết được bên đó. Ta hãy biết chính ta... Dũng đáp: - Vâng, tôi xin phép trở lại việc của chính chúng ta. Về đại đoàn, tôi đã trình bày các anh rồi, thú thật tôi vẫn nghĩ rằng với sức mạnh của bản thân, đại đoàn ta có thể làm được hơn nữa so với những gì đã được trao... - Nhưng đấy mới chỉ là sơ bộ ngày đầu thôi, còn bao nhiêu nhiệm vụ tiếp theo nữa chứ. - Ông Quý ngắt lời Dũng. - Tôi hiểu. Nhưng ngay đêm đầu, tôi vẫn thấy thế là quá nhẹ. Còn về phía trung đoàn ta, tôi cảm thấy như không có gì ngoài việc cho mấy khẩu đội súng cối sang phối hợp với trung đoàn 3 đánh giương công H7... - Thì như anh Quý đã nói: Chờ nhiệm vụ tiếp theo mà! - Ông Thâu cũng ngắt lời Dũng. Dũng thoáng mỉm cười. Hai người lãnh đạo chỉ huy cùng đưa mắt nhìn nhau, cái nhìn như thất vọng. Tuy nhiên, ông Quý vẫn cố kiên nhẫn: - Nhưng Dũng ạ, chúng ta không phải ngồi chờ lâu đâu. Nhiệm vụ lớn đang ở ngay trước mặt, chỉ sợ rồi các cậu... (ông định nói: sợ không làm nổi, nhưng chữa lại) chỉ sợ các cậu lại kêu là nhiều quá, lớn quá. Dũng có thói quen, và cũng do những vết thương cũ ở sọ não đã ảnh hưởng tới thần kinh ít nhiều nên mỗi khi có tranh luận hoặc gặp việc không như ý, cuối cùng anh thường hay nổi nóng, không giữ được bình tĩnh. Anh bướng bỉnh: - Báo cáo nhưng có chắc là năm cao điểm sẽ dứt điểm được trong một hai đêm không? Câu hỏi có phần xấc xược ấy làm hai ông Quý, Thâu vừa khó chịu vừa lúng túng. Ông Thâu đành phải gạt cuộc tranh cãi lại: - Thôi, không còn nhiều thì giờ nữa. Chúng ta nói chuyện với nhau thế đủ rồi. Bây giờ cậu phải chuẩn bị cho ngay một đại đội vòng xuống phía nam cắt đứt đường liên lạc với Mường Thanh và Hồng Cúm. Nhiệm vụ nặng đấy. Dũng ngồi thẳng dậy. - Báo cáo, tôi đã nhận được lệnh ấy từ ban tham mưu. Tôi muốn xin ý kiến hai anh: tôi đi cùng đại đội này có được không? Hai ông lại đưa mắt nhìn nhau như trao đổi ý kiến. Cuối cùng ông Quý nói: - Cậu đi cũng là tốt thôi. Nhưng đi đơn vị nhỏ, không cần đến chỉ huy tiểu đoàn. Dũng cãi: - Nhưng là nhiệm vụ nặng, các phân đội của đại đoàn bạn ở dưới đó đã cắt, nhưng cứ mất đi mất lại luôn. Bây giờ chúng tôi chân ướt chân ráo tới, mà nhiệm vụ lần này như đã ghi rõ trong mệnh lệnh: phải giữ đến cùng, cắt bằng được, cắt hoàn toàn. Ông Thâu nghĩ một chút rồi quyết định: - Thôi được, cậu cho Hà Giao tiểu đoàn phó đi. Nhưng mọi phương án tác chiến, cậu phải thông qua, bổ sung đầy đủ rồi mới cho đi. Theo ý mình, cậu nên cho đại đội thằng Thìn đi. Chúng nó đã có kinh nghiệm chặn viện ở chân đồi Độc Lập. Dũng gật đầu: - Xin chấp hành. Tôi cũng đã nghĩ tới đại đội ấy. Dũng đi khỏi, hai ông lại nhìn nhau. Ông Thâu chép miệng: Cái thằng... vẫn thế!. Ông Quý không nói gì, nhưng cũng như ông Thâu, ông thấy một lần nữa Dũng lại tỏ ra, theo ý ông, chủ quan và kiêu căng. Đấy là chưa nói tới ý thức tổ chức như thế tỏ ra cũng không khá. Cũng như nhiều cán bộ quản lý, lãnh đạo khác, ông không quen nghe những lời khác với mình đã đành, càng không bao giờ chấp nhận được những ý kiến khác với thượng cấp. Theo ông: trên bao giờ cũng đúng, luôn luôn đúng, tuyệt đối đúng. Bất cứ cái gì trái với cấp trên mặc nhiên hoàn toàn là sai, không cần bàn cãi. Ông thầm nghĩ: loại cán bộ có chút học thức bao giờ cũng khó bảo... ... Chỉ hai giờ sau, dưới tiểu đoàn 2, đại đội của Thìn và Hào đã hoàn toàn sẵn sàng để lên đường. Hà Giao cũng đã chuẩn bị xong. Dũng bắt tay Hà Giao: - Cố gắng nhé! Ông chịu khó đi sát giúp đỡ cậu Thìn. Cậu ấy cực tốt, và gan góc, nhưng phải cái chậm và ít sáng kiến. Còn cậu Hào chính trị viên, nhanh, tháo vát, nhưng lại mới về... - Được! Được! Anh cứ yên trí. Mọi việc đã có tôi ở đó. Dũng mỉm cười. Anh biết Hà Giao đang phấn khởi: trận phản kích lớn vừa qua, Dũng nói vậy nhưng cũng đã cho qua những thiếu sót của Hà Giao, không những thế sau khi Giao đi cùng đại đội Lanh ở cánh vu hồi, Dũng còn đề nghị cho Hà Giao vào công loại ba. Tuy nhiên, lên tới trung đoàn, không hiểu sao, anh ta đã được ai đó nâng lên công loại một... Dũng thành thực dặn lại: - Ông nhớ rút kinh nghiệm trận đánh quân phản kích lớn vừa rồi nhé!... Hà Giao sa sầm mặt. Anh ta lại hiểu rằng: Dũng lại muốn bới móc hay muốn đe nẹt mình. “Cái thằng vẫn không thể nào chịu được!”. Tuy nhiên, anh ta vẫn ngọt ngào: - Đã bảo anh cứ yên trí. Yên trí, anh Dũng ạ! Dũng không để ý tới thái độ của Hà Giao. Anh quay lại phía đại đội. Ngắm nhìn đoàn quân nghiêm chỉnh, nai nịt gọn gàng, anh thấy vững tâm. Đến trước mặt một anh chiến sĩ cao hơi gầy, có cặp mắt nhỏ rất nhanh và cái miệng có nụ cười luôn như đùa giỡn. Anh ta đang vác một khẩu trung liên. Dũng đập nhẹ tay vào vai anh ta: - Này Lẫm! Bây giờ thì cậu được sử dụng trung liên rồi nhé! Vậy cố làm sao cho xứng đáng với các tay trung liên trước. Anh chiến sĩ có tên Lẫm ngạc nhiên: - Tiểu đoàn trưởng vẫn nhớ tên em ạ? Dũng mỉm cười: - Làm sao mà quên được cậu trong cái đêm đào hào bị pháo kích bữa nọ? Cậu đã nói với mình cậu là “thành phần linh tinh” mà! Rồi bước giật lùi trở lại để nhìn được bao quát cả toàn đại đội, Dũng cất tiếng nói thong thả: - Mọi việc đã phổ biến đầy đủ cho anh em rồi. Bây giờ anh em lên đường độc lập tác chiến xa, đòi hỏi anh em phải nỗ lực lớn. Anh em có làm được không? - Có... o... o! - Tất cả đại đội cùng vươn rộng lồng ngực đáp vang. Dũng tiến lại bắt tay Thìn, anh đại đội trưởng đen đúa, nhỏ thó, có đôi mắt luôn luôn đỏ như cá chầy, và đặc biệt ít nói, chỉ quen hùng hục làm như trâu. Đến bên chính trị viên Hào, Dũng chỉ đùa vui một câu: - Đánh nếu có sứt thêm một cái răng cửa nữa, cũng càng thêm duyên đấy! Hào nháy nháy đôi mắt, cười toét, phô cả chiếc răng cửa bị sứt trong một trận bóng chuyền hồi chỉnh quân. Hào thích Dũng từ lâu, thích nhất cái tính cương trực và thẳng thắn. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười Hai, 2023, 05:09:26 pm * Ngay hôm sau, hồi 14 giờ 30 phút, trước khi khu đông nổ súng hai giờ, trung đoàn 3 thuộc đại đoàn phía tây, theo đúng kế hoạch của mặt trận, bắt đầu cho pháo nhỏ và súng cối của mình bắn vào cứ điểm mang kí hiệu H7 (Huygette 7) của quân Pháp. H7 là một cứ điểm nằm nhô ra, cách sân bay khoảng năm trăm mét về phía tây bắc. H7 do một đại đội lê dương chiếm giữ. Còn một cứ điểm nữa cũng thuộc khu đề kháng Huygette, và cũng nhô rất xa, nhưng về phía tây nam sân bay. Cứ điểm này ở xế chính diện trung đoàn 2. Pháp thường gọi là Francsoise hoặc theo tên một bản cũ ở gần đó là Căng Na. Cứ điểm này do hai đại đội ngụy Thái phòng thủ, ở gần trận địa trung đoàn 2. Trong suốt nửa tháng qua, cứ điểm H7 luôn luôn là mục tiêu của các chiến hào trung đoàn 3. Chính ở nơi đây đã bước đầu ra đời một chiến thuật gọi là “đánh lấn”. Quân trung đoàn 3 đào dũi rất tích cực, kiên trì tiến lên từng mét đất. Chậm, nhưng khá an toàn. Thêm nữa ông trung đoàn trưởng trung đoàn này vốn có tiếng năng nổ, linh hoạt đồng thời cũng có tiếng là hách, đã ra tận trận địa quan sát, thấy tình trạng chiến hào cứ bị địch ra ban ngày lấp lại luôn luôn. Ông đã ra lệnh tăng cường hỏa lực, và đưa bộ binh ra ở hẳn ngoài hào trục để sẵn sàng đánh địch cả ban ngày. Địch không ra cũng đánh, có nghĩa là chủ động bắn vào H7. Bắn lai rai suốt ngày bằng trung liên, đại liên và cả súng cối... dần dần hình thành việc đánh tỉa để kết hợp và hỗ trợ cho việc đào chiến hào. Tiến lên một bước nữa, ông trung đoàn trưởng này còn có cả hai khẩu sơn pháo 75 lên “ngồi” hẳn trên đồn Bản Kéo cũ để tham gia bắn tỉa. Lúc này “ ùng” một phát, phá sập một ụ súng trong H7, lúc khác lại “oàng” một viên đạn khoan phá thủng một hầm ngầm... cứ như thế, tới hôm nay nổ súng đánh giương công, trung đoàn 3 đã đưa được chiến hào vào chỉ còn cách hàng rào kẽm gai của địch khoảng 100 mét, và đã phá huỷ được khá nhiều lô cốt, ụ súng của địch. Quân lê dương đã phải rút hết mọi sinh hoạt xuống dưới các hầm hố, chiến hào. Cho tới đêm nay. Không còn là từng phát lẻ tẻ nữa mà là cả một trận mưa pháo cối khá mãnh liệt. Trong lúc bắn phá, một đại đội của tiểu đoàn Lê Phong đã thoăn thoắt tiến lên đánh bộc phá, mở các bãi mìn và dây kẽm gai trước H7. Chỉ trong có khoảnh khắc, năm hàng rào đã bị quét sạch... Đại đội trưởng Núi được lệnh đưa quân lên tranh thủ và Ba-dô-ka cũng lập tức tiến theo, vào thẳng bãi kẽm gai, tiếp tục bắn phá các ụ súng, lô cốt địch... Tiểu đoàn trưởng Lê Phong từ đằng sau tiến lên với đại đội trưởng Núi. Trong bóng đêm nhòe nhoẹt lửa đạn, Núi hỏi: - Thế nào anh? Tình hình thuận lợi quá. Tụi nó phản ứng quá yếu ớt, xem như chúng đã rút cả về khu vực cuối đồn... Lê Phong không đáp. Nhiệm vụ đêm nay trên chỉ cho anh có thế. Thật vậy, chỉ có thế thôi: dùng một phân đội nhỏ đánh giương công... Bấy giờ Phong không dám làm gì hơn, một là sẽ trái lệnh ban đầu, hai là, nếu đánh thì phải báo cáo lên trên, chờ trả lời đã. Và tranh thủ thời cơ này đánh cũng phải có lực lượng mạnh hơn. Dẫu sao địch cũng là đại đội lê dương, chúng lại đang còn ở trong công sự khá vững chắc. Táo bạo quá sẽ có thể thành phiêu lưu, dễ thất bại... Ôi, phải chi trên có nhiệm vụ rộng hơn ngay từ đầu, để anh sẵn sàng có thể ngay lập tức chuyển từ giương công sang cường kích không phải chuẩn bị gì nhiều nữa... Vậy cứ phải vừa bắn vừa tiếp tục đào hào, cho sâu thêm, đào mở rộng ra. Trong khi đó, nhìn sang phía đông, cả một vùng trời như tắm máu. Gan ruột Phong cồn cào. Có thế thôi ư? - Cũng như Dũng bên trung đoàn 2, anh thầm tự hỏi đại đoàn này trong đêm đầu đợt hai chỉ có thế này thôi ư? Trong khi đó ở bên kia Nậm Rốm các đơn vị bạn đang lao vào 5 cao điểm như lao vào 5 pháo đài kiên cố vào bậc nhất ở chiến trường này... Lê Phong đứng ngồi không yên. Đã quá nửa đêm. Bên kia sông, pháo ta, pháo địch vẫn tiếp tục rền vang như trời long đất lở. Cả khu trời bên đó vẫn đỏ rực. Có lẽ khó khăn rồi. Lê Phong linh cảm thấy thế. Anh càng thêm điên ruột, những chỉ muốn làm một cái gì đó trước tình hình này. Tới hai giờ sáng, chuông điện thoại bỗng đổ hồi: - A lô, Lê Phong đâu? - Tiếng ông trung đoàn trưởng với cái giọng hách dịch quen thuộc vang lên có vẻ hết sức gấp gáp. - A lô, Lê Phong đâu, về sở chỉ huy họp ngay! Có nhiệm vụ mới, chuẩn bị gấp để đêm mai chuyển từ giương công sang cường kích, dứt điểm H7. “Có thế chứ!” Phong mừng tưởng phát khóc lên được. “Có thế chứ!” Tiếng ông trung đoàn trưởng lại réo lên tiếp: - Về ngay nhé! Ngay tức khắc! Trung đoàn 1 của đại đoàn cũng được lệnh vượt sang khu đông để bước vào chiến đấu trên năm cao điểm thay thế cho một trung đoàn bạn.. Người Phong như rung lên. Ôi, thế là trung đoàn chủ công anh hùng của đại đoàn đã được ném vào trận! Như vậy, bên đó đang ác liệt đến nhường nào cũng có thể hiểu được một phần... * Chưa bao giờ trung đoàn 1 nhận nhiệm vụ trong hoàn cảnh khẩn trương, cấp bách như thế này. Đang rải ra trên trận địa chiến hào phía tây nay tức khắc phải cuốn quân, xốc lại đội hình, bổ sung trang bị, vũ khí, phổ biến, quán triệt nhiệm vụ cho tới từng chiến sĩ và đảng viên... Một trăm thứ việc rối mù, tối mày tối mặt. Nhưng đúng là trung đoàn anh hùng, chỉ sau có hai giờ toàn trung đoàn (thiếu tiểu đoàn 45 đã sang phối hợp ở khu đông từ hôm trước) đã có thể lên đường. Sức cơ động cũng như tinh thần chấp hành mệnh lệnh của trung đoàn đã một lần nữa làm cho các đơn vị anh em thán phục. Sáng ra rồi, hôm nay sương mù nhẹ, mau tan, máy bay địch đã lên từng đàn như quạ đen đầy trời. Chúng nối nhau lăn xả về phía năm cao điểm. Bom nổ từng chuỗi dài ở các sườn bên kia, nơi các thê đội của quần ta đang tập trung ở đó... Trung đoàn 1 hành quân ngay giữa ban ngày, dưới một trời máy bay rung chuyển. Trung đoàn tiến theo giao thông hào trục chạy suốt cánh đồng phía tây, để rồi vòng sang phía đông thung lũng. Cuộc chuyển quân có một không hai ấy xuyên qua một đội hình của tiểu đoàn Dũng. Anh đứng ở một ngã ba chiến hào, ngắm nhìn các đơn vị bạn rầm rập chạy qua. Các chiến sĩ đểu khỏe mạnh, hăm hở, trang bị hết sức gọn gàng. Đúng là một đội quân thiện chiến. Nhìn mà sướng mắt. Người nọ tiếp người kia, đơn vị khác cùng ào ạt, phăng phăng, xé bùn nước vượt lên. Dũng bỗng có cảm tưởng mình đang đứng xem một cuốn phim chiến trận tuyệt vời nào đó. Trong lòng anh dào dạt những cảm xúc mãnh liệt. Thế là trung đoàn 1 đã vào trận. Trung đoàn trưởng Chí Kiên “con hùm xám” của đại đoàn đang đưa dắt quân mình tiến sang phía đông tiếp sức với các đơn vị anh em. Có lẽ cả đời chiến đấu của Dũng chưa bao giờ được chứng kiến một quang cảnh đẹp đẽ, hùng tráng đến thế này... cuộc chiến tranh đã gần tám năm nhưng phải chăng đến những giờ phút này mới tới cao trào, cực điểm của sự quyết liệt và tàn khốc? Cho tới khi đơn vị cuối cùng của trung đoàn 1 đi qua gần hết, Dũng mới quay trở vào sở chỉ huy của mình ở phía sau. Lúc đó những cảm xúc hào hứng ban nãy đã đi qua, nhường chỗ cho sự băn khoăn, lo lắng. Trung đoàn tinh nhuệ ấy đã được tung vào chiến đấu, nhưng liệu nó sẽ làm được gì? Liệu nó có dứt điểm dược A1 đêm nay, khi nó mới chân ướt chân ráo “bôn tập” từ tây sang đông, địa hình bên đó lại hoàn toàn chưa biết, tình hình địch cũng chắc là không sao nắm chắc trong cuộc chiến đã nổ ra xáo trộn như thế này? Dũng lại nhớ đến cuộc tranh cãi với ông Thâu, ông Quý bữa trước. Anh càng tin là đã có sự quá gấp nào đó. Do đó việc chuẩn bị lực lượng cũng rõ ràng chưa thật chắc chắn. Dự bị đội đã không đủ, để phải tung chủ lực của cánh tây vào trận trong một điều kiện không thể nào nói là bình thường và thuận lợi như thế này... Dũng suy nghĩ rất lung. Rồi như vồ chiếc ống nói, anh gọi về trung đoàn. - A lô, tôi nghe đây. Tôi Thâu đây! - Báo cáo, tôi muốn về gặp các anh, có một đề nghị gấp. Việc chiến đấu, không thể nói hết trong máy được. - Chiến đấu hả? Ở đâu? - Báo cáo, tôi sẽ trình bày với các anh. Một phút im lặng như có sự ngần ngừ hoặc trao đổi nào đó. Rồi tiếng ông Thâu cất lên: - Được, cậu về đây! Có cả anh Quý cùng nghe luôn. Mừng quá, dặn dò công việc với anh sĩ quan tác huấn xong, Dũng gọi Báu đi luôn. Trở vào rừng, anh đi qua đại đội của Niên. Niên đã khỏi ốm nhưng còn xanh xao. Con người này luôn luôn lạc quan. Lúc nào cũng cười được. Đại đội Niên đã được bổ sung gấp 30 chiến sĩ mới, hầu hết dân Thanh Hóa, Nghệ An. Niên đã nói đùa: “Quân tam phủ đây” (ý vui, ví với quân cốt cán tinh nhuệ của triều đình nhà Lê khi xưa). Dũng dặn Niên tranh thủ chuẩn bị, có thể có nhiệm vụ tác chiến ngay ngày mai. Dũng về tới sở chỉ huy trung đoàn. Ông Thâu và ông Quý đang ngồi đợi anh. Việc chào hỏi rất nhanh. Ba người cùng ngồi quanh tấm bản đồ tác chiến. Dũng vào việc luôn. - Báo cáo hai anh, tôi thấy tình hình này, muốn xin trên cho chủ động đánh ngay để phối hợp với khu đông. Bên trung đoàn 3 như các anh vừa cho biết: đã có lệnh chuyển từ giương công sang cường kích. Tôi thấy hoàn toàn đúng. Còn trung đoàn ta... - Vậy cậu muốn đề nghị đánh cái nào? H3 là sở chỉ huy của Huygette, tiểu đoàn Phạm Đức và tiểu đoàn Xã Đệ đang chuẩn bị, nếu có lệnh sẽ tấn công nó. Nhưng đấy là điểm rất cứng, phải chuẩn bị thật tốt. Và phải đợi kết quả ở khu đông. Bấy giờ pháo mặt trận mới chuyển sang yểm trợ cho Đức và Đệ được... Dũng chỉ vào chấm xanh trên bản đồ: - Báo cáo ta tranh thủ giải quyết cái này. D2 xin nhận. - Hả? - Ông Thâu nhíu lông mày - Căng Na? Nó là ngụy Thái thật nhưng là hai đại đội. Mà các cậu cũng chỉ có hai đại đội. Đại đội cậu Thìn xuống cắt đường Hồng Cúm mất rồi. Ông Quý nói thêm: - Anh Thâu nói đúng. Mà các cậu cũng nên nhớ là: tất cả cối của trung đoàn đã phối thuộc cho e3 đánh H7... Dũng thốt từng lời chắc nịch: - Báo cáo, tôi đã tính. Sẽ có cách đánh thích hợp. Cả hai ông Thâu, Quý đều chăm chú: - Cách gì? - Tôi xin giải quyết cái này bằng địch vận. - Địch vận? - Vâng. Bọn ngụy này dẫu sao cũng không bằng bọn lê dương. Chắc chắn tinh thần chúng nó đã sa sút, sau cả thời gian bị ta đào hào bao vây. Sự phản ứng của chúng, theo quan sát, khá yếu ớt. Thêm nữa, nay ta mở mặt trận dữ dội phía đông như thế này, chúng còn hoảng hơn. Vả đêm mai, e3 của ta lại đánh cái H7 nữa, thì nhất định tinh thần chúng càng xuống. Chúng càng bị cô lập. Ta địch vận gọi hàng sẽ có rất nhiều triển vọng. Địch vận kết hợp với uy hiếp bằng bao vây chặt. Bản Kéo vẫn còn là kinh nghiệm nóng nổi. Lính Thái ở đó đã bỏ chạy ngay từ sau đêm thứ hai toàn chiến dịch, ai cũng còn nhớ cả. Ông Thâu và ông Quý nhìn nhau, cái nhìn vui vẻ ngạc nhiên. Rồi ông Quý hất hàm hỏi như đùa vui: - Cậu xưa nay vẫn có tiếng là “tướng húc” bây giờ lại muốn đánh bằng địch vận hả? Ông Quý cũng nói theo: - Thì ra cũng có cả cơ mưu đấy! Rồi hai ông cùng trao đồi ý kiến rất nhanh. Sau đó ông Thâu nói: - Hoan nghênh cậu. Nhưng phải báo cáo đại đoàn xin phép đã. Dũng mừng quá: - Tôi rất mong đại đoàn cho phép. Ông Thâu tiếp: - Bây giờ cậu hãy về chuẩn bị, chờ chúng tôi báo cáo xem sao. Dũng toan đứng dậy. Ông Quý giữ lại: - Khoan! Cậu có đề nghị trên những gì không? Dũng nói: - Xin các anh đề nghị đại đoàn, nếu cho tấn công bằng địch vận, thì cho tổ địch vận đại đoàn xuống ngay, mang theo loa và truyền đơn. - Được. Còn gì nữa? - Còn trung đoàn, tôi xin tạm bổ sung cho tôi một đại đội, lấy quân của Xã Đệ cũng được. Và hỏa lực còn lại của trung đoàn sẵn sàng chi viện cho nếu chúng tôi buộc phải chuyển sang tấn công bằng sức mạnh. - Tấn công thì thế nào? - Chúng tôi sẽ dùng tinh binh, đánh theo lối mật tập là chính. - Hay! Vậy về chuẩn bị kỹ hai phương án. - Rõ! Dũng lại toan đi luôn, ông Quý lại ngăn lại: - Báo cho cậu biết ngày mai chính trị viên của cậu sẽ về. Dũng mừng rỡ: - Ôi, hay quá! Thật tuyệt! Rất đúng lúc đang cần thêm cán bộ. Vậy là Đỗ Thủy khỏi rồi ạ? - Rồi! Quân y vừa điện cho biết ngày mai cậu ấy sẽ về. Dũng như bay trở lại đơn vị. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười Hai, 2023, 05:12:46 pm Ngay tối hôm đó, mọi việc họp Đảng, họp cán bộ đã được triển khai hết sức nhanh gọn, để cho bộ đội bắt tay ngay vào mọi việc. Sáng hôm sau, đúng như ông Quý đã báo: chính trị viên Đỗ Thủy từ quân y viện mặt trận trở về. Không khí trong tiểu đoàn càng thêm vui vẻ. Thủy người mảnh mai trạc tuổi Dũng, hiền lành, cơ chỉ, đặc biệt là thận trọng trong tất cả mọi việc, và rất nghiêm về đạo đức, sinh hoạt. Mọi người trong tiểu đoàn đều nói: tổ chức bố trí Thủy về tiểu đoàn này có lẽ là vừa có ý để hạn chế tính táo bạo nhiều khi đến liều lĩnh của Dũng, đồng thời ngăn chặn thói rượu chè, trai gái của Hà Giao. Dũng cũng được nghe những lời bình luận ấy. Anh chỉ cười. Anh với Thủy làm việc với nhau khá ăn ý. Thủy cũng rất nể trọng anh. Riêng Hà Giao thì không thích Thủy. Nhưng khi rượu vào, nói xó, Hà Giao thường phàn nàn: “Một tên thì kiêu căng, còn một tên thì kèn kẹt. Khó sống quá!”
Đỗ Thủy trở về đem theo tin vui: tiểu đoàn Lê Phong cùng một bộ phận phối hợp đã đánh chiếm xong H7 trong một trận ác liệt nhưng nhanh gần như kỷ lục: 30 phút. Như vậy trên cánh đồng phía tây đã có một pha phối hợp giòn giã của trung đoàn 3, cũng có nghĩa là của đại đoàn này. Trở về, Đỗ Thủy còn đưa về theo một tin vui nữa: đại đoàn đã đồng ý cho d2 giải quyết Căng Na bằng địch vận. Tổ địch vận của đại đoàn cùng về với Đỗ Thủy, lễ mễ mang theo cả loa và truyền đơn mới được in gấp ngay trong đêm vẫn còn chưa ráo mực. Niềm vui, hào hứng càng tràn ngập đơn vị. Ngay tức khắc, các khẩu đội súng cối 60 ly được nhận truyền đơn, nhồi vào các quả đạn, rồi tiến ra cánh đồng, theo đúng kế hoạch, để bắn vào Căng Na liên tục suốt ngày. Rồi 17 giờ 30 phút, khi hoàng hôn xuống, bộ binh sẽ nhanh chóng áp sát cứ điểm, bao vây uy hiếp với hỏa lực ĐKZ, Ba-dô-ka, nếu địch chưa chịu ra hàng. Đại đội trưởng Lanh được phân công trực tiếp chỉ huy “Binh đội súng cối” đi trước. Dường như chưa có lần xuất kích nào Lanh vui vẻ như lần này. Anh em chiến sĩ cùng cười đùa nhộn nhạo: - Bắn vào cho chúng nó cả mấy bao thuốc lá nữa. - Xôi! Xôi! Bọn này chắc chỉ thích xôi thôi. - Vẽ một cái roi nữa! Bắn vào, nhắn: nếu không ra sẻ ăn đòn! Tổ gọi loa cũng đi cùng. Ba anh chiến sĩ địch vận vẫn còn trẻ măng, mặt mũi sáng sủa, cỏ vẻ có học cả. Họ sẽ tiến xa hơn cả các tổ súng cối, vào cứ điểm với cự ly gọi loa mà bên trong cứ điểm có thể nghe thấy. Họ sẽ đào những hố cá nhân để tránh đạn thẳng và pháo cối. Họ được một trung đội bộ binh bảo vệ ở ngay sau lưng. Vẫn trong không khí vui vẻ, hồ hởi lính ta lại trêu cả nhóm địch vận: - Này, có thật biết tiếng Thái không đấy? Hay lại xiếc mọi người như mấy ông phó nhòm không có phim nhưng cứ nháy lia lịa? - Này, gọi chúng nó không có gì hiệu nghiệm hằng cứ nói thẳng là: ra hàng, tối mai sẽ được ngủ với vợ ngay! Bọn này thích cái đó còn hơn cả xôi. - Đúng đấy, cứ loa rằng: vợ chúng mày đang tốc váy, cuồng cả lên rồi. Mau mau ra đi thôi. Một anh lính khác còn bốc hơn, dám trêu cả đại đội trưởng Lanh: - Cứ thuê anh Lanh bánh thuốc lào. Tiếng anh to hơn cả lệnh vỡ. Các cậu khỏi tốn hơi gọi loa. Bầu trời Điện Biên vẫn vang rền tiếng máy bay. Nhưng hầu hết những toán cường kích ấy vẫn tập trung cả về phía đông, nơi năm cao điểm vẫn không ngừng nghi ngút khói lửa. Lanh đưa quân ra triển khai không mấy khó khăn. Tới gần trưa, những loạt đạn súng cối đã bắt đầu nổ lục bục trong lòng rồi vọt lên không trung vẽ những đường cong vút, sau đó nổ đều một lượt khói mù trong cứ điểm địch. Những quả đạn vỡ ra, truyền đơn bay tung lên như bướm.. “Hỡi anh em binh sĩ Thái, Giặc Pháp đã dụ dỗ, lừa gạt và cả cưỡng bức anh em đi lính cho chúng giết hại đồng bào ta, phản lại Tổ quốc ta. Nay giặc pháp đang thua to. Ở Điện Biên Phủ này chúng càng thua to. Chắc anh em đã thấy: Quân đội nhân dân Việt Nam đang tập trung lực lượng để tiêu diệt hết bọn chúng. Vậy các anh em binh sĩ người Thái hãy mau mau ra hàng, sẽ được khoan hồng trở về với vợ con. Các anh cũng bị bao vây chặt. Các anh không còn đường thoát. Hãy tìm đường sống bằng ra hàng. Nếu không hàng, quân đội nhân dân sẽ nổ súng tấn công. Lúc đó hối cũng không kịp nữa. Khi ra hàng hãy giương cao cờ trắng, tất cả vũ khí bỏ lại, cho người khiêng ra sau. Ban chỉ huy mặt trận phía tây Điện Biên Phủ”. Để Thủy ở lại lãnh đạo công việc chuẩn bị của các phân đội sẽ ra áp sát bao vây vào lúc hoàng hôn, Dũng đi thẳng ra trận địa, chỗ Lanh đang chỉ huy cuộc “bắn phá bằng nhân nghĩa”. Nhìn ra xa xa, bằng ống nhòm, thấy cứ điểm địch dường như chỉ là một bãi dây thép gai mênh mông, lờ mờ những ụ súng và những gờ chiến hào ở tiền duyên. Không một mái nhà, không một mái lều vải. Chỉ có độc chiếc cột cờ khẳng khiu nhô lên cao khỏi mặt đất, chừng sáu bẩy mét. Một lá cờ ba sắc ủ rũ buông xuống như cờ tang. Có thể hiểu: tất cả mọi hoạt động của địch đã bị rút xuống dưới mặt đất hết y như tất cả các cứ điểm khác trong toàn bộ tập đoàn Điện Biên Phủ. Dũng không khỏi liên tưởng tới những đồn bốt của quân Pháp trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến. Trên miền núi, là những ngọn đồi đỏ ối như son, với những hàng rào lông nhím tua tủa. Trên đỉnh đồi, san sát nhà cửa, nhộn nhịp xe cộ. Còn dưới đồng bằng tuy không có đồi, gò, cũng bằng phẳng như ở đây thôi, nhưng mỗi cứ điểm thời ấy, đều thấy như một trang trại sầm uất. Bây giờ đồn giặc như thế này đây, mà đồn giặc lại rất mạnh về hỏa lực và quân lực, không những thế còn nằm trong thế liên hoàn hỗ trợ ở khu căn cứ cả về pháo binh, bộ binh xe tăng, thiết giáp và có cả không lực yểm trợ mạnh. Phải chăng đây chính là hình ảnh cuộc chiến tranh đã chuyển vế? Và hình ảnh cái cứ điểm nham nhở dây thép gai như chết lặng kia củng là hình ảnh của quân Pháp trên toàn bộ chiến trường Việt Nam hôm nay? Xen kẽ với những loạt súng cối nhỏ là tiếng loa vọng lại. Dũng mỉm cười nói với Thiêm tổ trưởng địch vận đại đoàn: - Cũng chỉ cơm nắm muối vừng, rau rừng mà các bạn vẫn khỏe ghê! Tiếng cứ sang sảng. Thiêm gật đầu: - Ấy, chúng tôi phải giáo dục anh em gọi cho thật nghiêm chỉnh và thật sự tự đáy lòng mình. ... “Hỡi anh em binh sĩ Thái...” Dũng tiếp tục quan sát, theo dõi, anh và mọi người cũng có nhận xét: Bọn địch trong cứ điểm không có phản ứng xấu. Chúng không bắn ra để đáp lại những gì mà chúng ta đang muốn nhắn gửi. Tổ trưởng Thiêm hồi hộp: - Vậy có thể có triển vọng anh ạ! - Để xem! - Bên phía đông, pháo hai bên đã nổ không ngừng. Máy bay địch vẫn lao tới phía đó. Chắc địch lại đang phản kích mạnh. Cuộc ác chiến vẫn còn đang tiếp diễn. Cũng có thể hiểu thêm: trung đoàn 1 đã vào trận nhưng chưa có thể dứt điểm. ... “Hỡi anh em binh sĩ Thái.. .”. Tiếng loa vẫn tha thiết vọng lên bằng cả hai thứ tiếng Kinh và Thái. Những quả lựu đạn cối mang theo truyền đơn vẫn tiếp tục phóng vào đồn địch. Trận đánh “nhân nghĩa” ở đây cũng đang tiếp diễn, chưa kết thúc. Không khí vui vẻ ban sáng đã tan dần, nhường chỗ cho sự căng thẳng mỗi lúc một tăng lên. Thiêm, người vừa tỏ ra lạc quan lúc trước bây giờ không còn mấy tin tưởng nữa: - Bọn này lỳ quá! Có lẽ chúng nó muốn chết! Dũng không đáp lại. Anh chỉ đứng ở ngã ba chiến hào, chống tay vào sườn, mím môi, nhìn như không chớp về phía trước, hết nhìn cái H4, lại nhìn sang phía đông, mặt anh tối sầm dưới vành mũ lá. Đã hơn một giờ chiều, Lanh đưa cho Dũng một nắm cơm. Dũng lắc đầu. Anh chỉ xin một ngụm nước. Ba giờ. Bốn giờ hơn. Đã chiều muộn rồi. Ở đây là miền núi trời rất mau tối. Dũng quay lại phía Lanh và anh tổ trưởng địch vận: - Tôi về trong rừng đây. Để chuẩn bị có thể chuyển sang phương án hai. Nhưng các anh vẫn phải kiên trì. Đúng như kế hoạch, 17 giờ 30 phút mới dứt khoát chuyển. Lanh, ông hãy cho tay nào thiện xạ dùng đại liên bắn gãy cột cờ kia cho tôi sau đó nện vài phát ĐKZ lướt trên mặt đồn để thúc đít chúng nó. - Rõ! - Lanh xồm đáp rất to. Nghe cái giọng ấy có thể hiểu chàng Từ Hải cũng đã sốt tiết lên rồi. Dũng cùng với Báu quay lại. Hai người vừa đi được một quãng thì nghe thấy tiếng đại liên nổ rất đanh hai ba nhịp ngắn. Tiếp đó là hai trái ĐKZ gầm vang. - Được lắm! - Dũng ngoái cổ lại. Chiếc cột cờ đã biến mất. Rồi một chiến sĩ hối hả chạy theo, gọi vang: “Anh Dũng! Anh Dũng”. - Gì thế? - Dũng dừng lại, anh không khỏi ngờ ngợ. - Báo cáo, hình như địch ra hàng! - Anh chiến sĩ thở không ra hơi nữa. - Sao? Sao lại hình như? - Dũng nắm lấy cánh tay anh ta lắc mạnh. - Báo cáo, thấy có nhiều cái gì trăng trắng lấp ló ở hàng rào dây thép gai. Anh Lanh bảo em đuổi theo báo cáo anh ngay. Dũng và Báu không hỏi thêm gì nữa cùng quay ngoắt trở lại. Hai anh em chạy như xé trong giao thông hào, nhảy vòn vọt qua các hòm đạn, các thùng nước và cơm nắm còn để rải rác suốt cả dọc hào. Dũng đã tới chỗ Lanh xồm và anh tổ trưởng địch vận cùng một số cán bộ, chiến sĩ của đại đội. Mọi người đang hồi hộp, xôn xao. Ai nấy đều như vươn dài cổ về phía trước để quan sát. Trời ơi, thiếu ống nhòm quá! Rồi, quả nhiên, từ xa xa, ở phía bãi dây thép gai đang mờ đi vì khói, vì bụi và cả sương chiều đang dâng lên, có những mảnh vải trắng hiện ra nhấp nhô, mỗi lúc một rõ. - Lanh, ngừng bắn! Chuẩn bị tiếp nhận hàng binh theo kế hoạch. Hết sức bình tĩnh và thận trọng nghe không? - Dũng nói nhanh. - Rõ! - Lanh đáp vang, nhưng lần này nghe ra lại có phần hết sức sảng khoái và cả kiêu hãnh nữa. Đã nom rõ hơn những chiếc gậy trên đầu buộc những mảnh vải dù trắng. Nom thấy cả những đám người lố nhố đang nối tiếp nhau kéo ra. Li ti như cả một bầy ong đang bò ra khỏi tổ. - Nhớ chưa Lanh? Theo đúng kế hoạch, thứ tự từng bước... Kế hoạch đã được vạch sẵn như sau: Địch ra hàng khi tới các chiến hào ta khoảng 30 mét, bắt dừng lại. Các sĩ quan cao cấp nhất của địch phải tiến lên với cờ trắng. Tất cả vũ khí để dưới đất, tay giơ cao. Quân ta sẽ có người lên thu súng đạn và lục soát từng người xem còn lựu đạn, súng ngắn, dao găm, lưỡi lê hay không sau đó mới cho xuống hào từng nhóm ba người một, khi đã tiếp nhận xong quân đầu hàng sẽ đưa chúng vào rừng ngay. Cho chúng đi dưới hào, các chiến sĩ ta đi trên mặt ruộng phòng sự phản trắc. Trong lúc đó, một bộ phận chiến sĩ nhanh chóng vào đồn lục soát, thu vũ khí... Tổ gọi loa đã trở lại. Lúc này họ không phải kêu gọi binh lính địch nữa, mà giúp Lanh phát ra các mệnh lệnh. Dũng không trực tiếp điều hành công việc. Theo đúng kế hoạch, anh để Lanh xuất hiện công khai tiếp nhận sự đầu hàng của đối phương và giải quyết tất cả mọi việc. - Ôi các anh ơi, đông quá! Đông quá! Có đến hai đại đội - Một chiến sĩ nào đó phấn khởi quá, reo lên. Lanh cười ha hả: - Chả hai đại đội thì một ư? Cái H4 này những hai đại đội cơ mà! - Nhanh chóng tiến thẳng lại chỗ này, hai tay giơ cao... Tiếng loa vang lên. Suốt ngày đã ra rả gọi nhưng lúc này mấy anh chiến sĩ địch vận vẫn tỏ ra hết sức tỉnh táo, khỏe khoắn lạ thường. Cuộc điều hành đám hàng binh địch, y như điều hành quần chúng trong một buổi mít tinh nào đó. - Tiến lên! Hàng một! Tay giơ cao! - Các sĩ quan tiến lên trước! Tay khỏi đầu! Nhanh nữa lên! Đã nom rõ khuôn mặt lính Thái với những cặp mắt nói chung nhỏ và khuôn mặt phần lớn bầu bầu. Tất cả đều đầy vẻ sợ hãi, lo âu. Họ gần như lụng thụng trong những bộ đồ trận của Pháp với rất nhiều túi lớn, nhỏ, loại áo quần mà quân ta quen gọi là “quần áo bắt gà”. Ba người cầm một cây cờ trắng đi đầu cùng lật đật tiến lại. Lanh ra lệnh cho họ tiến tới sát chiến hào. Anh trông hùng dũng và lẫm liệt: - Các sĩ quan Pháp đâu? - Trình ông chỉ huy, họ đã bỏ chạy về khu trung tâm. - Binh lính người Thái có ai chạy theo chúng không? - Trình ông không. Tất cả đã ra đây... Chúng tôi đã muốn ra hàng các ông từ sáng, nhưng họ không cho. Sau chúng tôi bảo nhau cùng nổi loạn, họ sợ và bỏ chạy cả... Dũng nhìn lên: cả một đám đông đầy ùn. Anh nhắc Lanh cho các chiên sĩ kiểm soát thật nhanh rồi cho họ xuống hào, đề phòng địch bắn pháo ra. Lanh đã thực hiện công việc một cách khá dứt khoát, gọn gàng. Chỉ một lát sau, tất cả các hàng binh đã được phép xuống chiến hào ta và được đưa ngay trở vào rừng. Không khí căng thẳng đã qua đi. Chiến hào lại trở nên vui nhộn. Tiếng cười, tiếng nói râm ran hoan hỉ. Trời cũng vừa sẩm tối. Khi hai đại đội hàng binh đã đi khỏi, Dũng cũng quay về sở chỉ huy của mình. Anh cấp báo mọi việc về cho Đỗ Thủy, yêu cầu cho hàng binh ăn uống đầy đủ rồi cho chuyển lên đại đoàn ngay. Thế là trận đánh đã kết thúc. Bấy giờ Dũng mới cảm thấy mệt nhoài, mệt đến nổi không còn thấy vui, và hào hứng như khi còn ở tiền duyên, nom thấy chính xác địch đã đầu hàng. Lúc này anh chỉ ước có một cái giường tử tế một chút để ngả lưng. Nhưng căn hầm chỉ huy giữa đồng chỉ có một lớp dạ lót làm ổ, và cũng chỉ đủ cho anh nằm co quắp, hai đầu gối cao tới bụng. Nhìn chiếc đồng hồ cũ rích trên tay: đã gần bảy giờ. Vậy mà bên ngoài vẫn còn như sáng, bởi ánh lửa bên kia sông Nậm Rốm vẫn liên tục hắt sáng và những ngọn hỏa châu từ năm cao điểm đang nối tiếp nhau vượt lên chói lòa cả một nửa khung trời bên đó... Mệt, đã ngả lưng, nhưng vẫn không sao ngủ. Cũng không nghĩ ngợi được điều gì. Đầu óc lung tung, lộn xộn, dường như chỉ còn nhớ được một việc: anh còn phải trực ở đây để đêm nay nhỡ có phản kích từ Mường Thanh ra, hoặc có thể có nhiệm vụ đột xuất do tình hình phía đông thế nào đấy... Móc túi, tìm thuốc lá, không còn một điếu. Bụng thấy hơi đoi đói, nhưng ở giữa đồng cũng chẳng có gì mà ăn. Định nhoài người sang hầm bên hỏi Báu còn miếng cơm nắm nào không, nhưng rồi lại lười, không muốn đứng dậy. Đại đội của Lanh ở xa, phía trên, càng không thể xin họ điếu thuốc, hoặc chút gạo rang, hoặc cơm nắm... Đành cứ nằm co, hai mắt mở chong chong. Chiếc máy nói chợt đổ chuông lảnh lói. Anh chiến sĩ thông tin đưa ống tổ hợp cho Dũng: - Báo cáo anh có điện. Dũng nhỏm dậy: - Điện của ai? - Báo cáo, chính trị viên Đỗ Thủy ạ! Dũng vội cầm lấy ống tổ hợp. Tiếng Thủy mau mắn: - Anh Dũng đấy ư? Tốt quá! Mọi việc ổn rồi. Nhưng Ban chính trị yêu cầu tổ chức một cuộc mít tinh rất vắn ngay ở đây cho hàng binh... Dũng chưa hiểu: - Sao? Mít tinh? Để làm gì? - Có hai ông nhà báo quốc tế, một của Úc, một của Đảng Cộng Sản Pháp đang ở đại đoàn được tin này bổ xuống luôn. Họ muốn phỏng vấn hàng binh. Ban chính trị cũng muốn nhân cơ hội này mít tinh cho hàng binh lên tiếng kêu gọi các binh sĩ người Thái và cả người Việt còn trong khu trung tâm ra hàng. Họ khai trong đó có tiểu đoàn 5 dù ngụy người Việt và tiểu đoàn 2 người Thái... Dũng cười mệt mỏi: - Thôi được, tuỳ thôi. Anh ở trong đó lo liệu mọi việc cho. - Ấy, anh Dũng ơi, nhưng mà anh phải về một tý đấy. - Có anh trong đó, và chắc là trên Ban chính trị cũng sẽ có người xuống giúp đỡ, tôi về làm gì? Báo cáo về toàn bộ trận đánh thì tôi đã gọi điện lên khất với các “cụ” cho sáng mai mà. - Không! Chính các anh ở Ban chính trị yêu cầu anh phải về ngay. Cuộc mít tinh này cần có anh đấy. Dũng lắc lấy lắc để, dường như có Đỗ Thủy đang ở ngay trước mặt anh: - Thôi, cho tôi ở ngoài này. Thú thật tôi đang rất mệt, vả lại tôi về cũng chẳng có việc gì cần thiết cả. - Không! Không! Anh Dũng ơi, anh phải về đấy! Kẻo mọi người nghĩ về mình... ra cái điều. Chắc anh hiểu. Anh hãy nghe tôi. Tôi rất quý anh, nên tôi mới van anh như thế... Dũng lại lắc đầu, rồi thở dài. Thôi dược, Đỗ Thủy đã nói như thế thì phải về thôi. Khổ thế, ở đời sao mà khó vậy, nói nhiều thì dễ bị cho là cá nhân khoe khoang, mà không nói cũng lại bị coi là kênh kiệu, kiêu căng... làm thế nào để được vừa lòng mọi người nhỉ? Có lẽ chỉ có một thái độ hay nhất: Giả dối. Và có một chỗ dựa, một ô dù... chí ít cũng là một phe cánh... Nhưng rồi Dũng lại tự trách mình trong lúc đang vui sao lại có ý nghĩ buồn như vậy. Anh nhảy ra khỏi hầm, gọi Báu. Hai anh em cùng quay trở vào rừng. Ra ngoài, thoáng hơn. Anh cảm thấy dễ chịu. Báu như hòn bi lại bon bon đi trước, Dũng xăm xăm bước theo sau. Thoảng trong gió có mùi na-pan và cỏ cháy. Nó ném từ mấy hôm trước mà vẫn y như chiều nay. Và mùi đất ẩm. Và mùi máu người. Nhưng mùi vị của chiến tranh đã quá quen thuộc với đời lính chiến... Chợt có tiếng máy bay. Nghe như nó đang hướng về phía núi. Dũng vội nói: - Báu, cẩn thận đấy! Cũng vừa lúc hai trái bom cùng nổ như sét. Lửa trùm lên hai anh em. Đất bùn cùng bốc lên và đổ ập xuống... Khi tỉnh lại, Báu vội bới đất rồi cuống cuồng vùng dậy. Không thấy Dũng đâu. Báu gào lên kinh hoảng: - Anh Dũng! Anh Dũng! Không có tiếng đáp lại. Báu càng như mê cuồng: - Anh Dũng! Anh Dũng! Rồi lao vào các đống đất, hai tay bới cào như điên dại. Một cái chân thòi ra. Rồi hai cái chân... Sau đó là toàn thân Dũng. Anh nằm vật ngửa, máu từ hai khóe mép trào ra ướt đẫm. Đôi mắt anh nhắm nghiền. - Trời ơi anh Dũng! Trời ơi... Báu hộc lên, ôm chầm lấy anh, và xốc lên. Dũng ật đầu ra phía sau. Máu từ trong miệng anh lại ộc ra đầy trên lưng Báu... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười Hai, 2023, 05:16:57 pm 10 Hồng Đăng bước những bước dài theo cô Dậu, len lỏi trong rừng, đi qua những khu lán cũ, sang khu lán mới dành cho thương binh đợt hai chiến dịch, mà hầu hết là thương binh của khu đông. Những chiếc lán mới làm nằm ở xế về phía tây nam viện, sâu vào phía trong, nơi có một con suối nhỏ chảy ngoằn ngoèo, dưới chân một dãy núi đá, con suối mà cách đấy ít lâu Hồng Đăng và Kim Oanh đã rủ nhau tới lén làm tình. Nhận ra khu vực quen thuộc, Hồng Đăng bỗng không khỏi cảm thấy e ngại. Anh đang vui và hy vọng. Cảm giác e ngại đã làm cho anh khó chịu. Khi trông thấy chiếc mái lán lấp ló, cô Dậu chỉ tay: - Đấy! Chị ấy ở trong ấy đấy. Anh vào đi! Bước chân Hồng Đăng như mau hơn. Anh quên cả chào và cảm ơn người đã đưa đường cho mình. Vào tới cửa lán, Hồng Đăng dừng lại. Trong lán thương binh nằm đầy kín, không thừa một giường. Mùi ête, mùi mủ máu thoang thoảng bay ra. Trong lán tối âm thẩm, không ai nói to, chỉ cỏ tiếng rì rầm và những tiếng rên rỉ nho nhỏ. Bốn năm cô hộ lý đang lúi húi làm việc, cô nhặt cái này, cô quét cái kia, có cô đang ngồi bên thương binh trò chuyện, hoặc săn sóc. Nguyệt Lệ đâu nhỉ? Hồng Đăng chăm chú quan sát. Đôi mắt anh bỗng sáng lên: kia rồi! Một chiếc áo blouse trắng thon thả đang ngồi bên một giường thương binh ở cuối lán, xây lưng lại phía anh. Nhón mũi giầy, anh đi len giữa các giường thương binh, đến sát đằng sau chiếc áo blouse trắng ấy. Nguyệt Lệ vẫn không hay biết gì. Cô vẫn đang ngồi đó, rất im lặng, hai bàn tay kẹp giữa hai đầu gối, đầu cúi xuống, ngắm nhìn anh thương binh nằm đó đang ngủ. Anh thương binh bị ở những bộ phận nào không rõ, chỉ thấy chiếc chăn mỏng đắp suốt từ chân lên tới cổ, chỉ để lộ ra một khuôn mặt sạm nắng khá gầy với mái tóc đen rậm. Một chiếc sẹo dài nằm ngang trên gò má trái của anh... Hồng Đăng gần như giật mình. Anh đã nhận ra anh thương binh đó là ai. Thì ra anh ta! Đúng là anh ta! Đã khẳng định được, Hồng Đăng càng như chết lặng. Nguyệt Lệ vẫn không hay biết có người đang đứng sau lưng. Cô vẫn như chìm trong những suy tưởng hoặc buồn đau, lo lắng. Cô ngồi đó từ bao giờ, như một tượng đá vọng phu? Hồng Đăng cố kìm nén mình lại. Anh chưa vội lên tiếng, để xem cô còn ngồi đó được bao lâu. Nhưng rồi không chịu nổi nữa, anh bật hắng giọng. Bấy giờ Nguyệt Lệ mới như choàng tỉnh. - Nguyệt Lệ! Cô bàng hoàng quay lại. - Nguyệt Lệ! - Hồng Đăng lại cất tiếng gọi, như gọi hồn của con người còn đang ngơ ngác, chưa tỉnh lại trước mắt anh. Hồng Đăng phải gọi tới lần thứ ba, bấy giờ cô mới cất được tiếng chào lại: “Anh đấy ư?” rồi đưa một ngón tay trỏ đặt lên môi, ra hiệu im lặng cho thương binh ngủ. Sau đó, hết sức nhẹ nhàng, cô nhón áo anh, kéo ra ngoài. Hồng Đăng để ý: trước khi rời chiếc giường thương binh, Nguyệt Lệ vẫn còn ném lại một cái nhìn vô cùng dịu dàng và thương xót. Hai người cùng đi ra phía con suối ở xa xa, sau khu lán. Rừng già xanh ngắt, ẩm thấp, yên tĩnh một cách nặng nề. Tiếng máy bay rất xa. Hai người cùng tìm được hai tảng đá nhẵn ở bên bờ suối, cùng ngồi. Khó khăn và đắn đo mãi, Hồng Đăng mới lên tiếng trước được: - Em có khỏe không? - Vẫn bình thường ạ! Quan sát kỹ, Hồng Đăng thấy Nguyệt Lệ gầy đi và xanh hơn. Nhưng điều đáng chú ý hơn: một vẻ buồn man mác phủ trên gương mặt cô. Hồng Đăng hiểu nỗi buồn ấy hẳn không phải vì cuộc cãi cọ với anh. Ý nghĩ ấy làm cho anh vừa chán nản vừa tức giận. Nhưng anh vẫn nhớ mục đích hôm nay tới đây không phải là để cãi nhau như bữa nọ. Anh cố lấy giọng ân cần và tha thiết: - Nguyệt Lệ ạ, hôm nay anh đến thăm em. Xa em mới có vài ngày, mà cảm thấy lâu quá. Anh đến hôm nay cũng là để... xin lỗi em về những gì trong buổi gặp trước đã làm em phải phiền lòng. Nguyệt Lệ ạ, anh đã nghĩ lại rồi. Anh hối tiếc vô cùng. Anh đã vụng về và nóng nảy. Anh đã không được tỉnh táo. Anh đã có những lời không đẹp. Hôm nay anh muốn nói lại. Hãy tha lỗi cho anh... Bây giờ dường như Nguyệt Lệ mới thực sự chú ý tới Hồng Đăng. Nhưng cô thở dài, cúi đầu im lặng. Hồng Đăng tiếp: - Em vẫn còn giận anh ư? Anh đã nói rồi: anh có lỗi. Đối xử với em hôm đó quả thật... không chấp nhận được. Nhưng Nguyệt Lệ ơi, xin hãy thông cảm cho anh, để rồi thứ lỗi cho anh. Anh đã nóng giận, đã thô bạo... tất cả chỉ vì anh rất yêu em, quá yêu em. Anh đã luôn luôn e ngại em không thật gắn bó, thậm chí thờ ơ với anh. Anh đã thường không chịu đựng nổi khi cảm thấy mình... có thể sẽ mất em. Bởi vậy, anh đã không còn giữ nổi mình trong hôm ấy. Hãy hiểu cho anh, và cảm thông cho anh, Nguyệt Lệ! Anh yêu em, yêu em đến cuồng dại và thô bạo... Bây giờ Nguyệt Lệ mới ngước lên. Cô muốn tìm hiểu vì sao hôm nay Hồng Đăng lại có thái độ gần như chưa từng có này. Thật vậy, trong suốt hai năm qua, trong các cuộc va chạm, Hồng Đăng chưa bao giờ lại nhún mình dến như thế. Vậy sao hôm nay Hồng Đăng lại tỏ ra không những rất biết điều mà hơn thế nữa: còn biết hối hận? Anh thực lòng, hay đây chỉ là một màn kịch, mà mục đích ít nhất cũng là giữ được sự ổn định bề ngoài để giữ được thể diện cho anh trước mọi người và tổ chức: Hoặc tệ hơn, anh chịu nhún mình chỉ nhằm phá tan sự “bất hợp tác”, mà đó là thái độ thường có của Lệ làm anh sợ nhất, để rồi lại chiếm lĩnh được thân thể cô như trước?... Hồng Đăng lại nói, đôi mắt anh long lanh, xúc động thành thực, gần như chỉ còn thiếu khóc: - Nguyệt Lệ ạ, sau hôm ấy về, anh đã nghĩ lại: quả là em đã nói hết với anh những sự thật tuy đáng tiếc, nhưng đúng là nên nói, cần nói giữa hai chúng ta. Anh thừa nhận là nhiều điều em nói anh rất cần phải suy nghĩ, và có những điều đúng là cần phải sửa đổi lại. Anh đã quá chủ quan em ạ. Anh cứ sống ào ào mà không có một lúc nào dừng lại để tự xem xét mình. Đúng là anh chủ quan quá! Anh cứ tưởng đối với em, anh vô cùng yêu quý như thế, anh bảo đảm cuộc sống cho em hết lòng như vậy, còn có gì phải áy náy, còn có gì là thiếu sót? Nhưng nghe em nói, bây giờ thì té ra em còn đòi hỏi ở anh nhiều điều khác nữa, những điều như chẳng liên quan gì tới riêng cá nhân em... Bây giờ Nguyệt Lệ mới xen vào, ngắt lời chồng: - Có liên quan chứ. Nó trực tiếp liên quan tới anh, cũng có nghĩa là tới em. - Đúng! Đúng! Anh hoàn toàn đồng ý. Và chính vì quá chủ quan không nhận ra được những điều ấy nên anh đã làm cho em không yên lòng, em không cởi mở hết tâm hồn trong hạnh phúc. Bây giờ anh đã hiểu. Anh đã có lời xin lỗi em. Anh hứa với em là anh sẽ thay đổi những gì cẩn phải thay đổi. Hãy tin anh đi. Và hãy tha lỗi cho anh, em yêu... Hồng Đăng vừa nói vừa cầm lấy bàn tay Nguyệt Lệ đặt vào lòng bàn tay mình. Cô để im, không rút ra. Nhưng cô vẫn im lặng. Hồng Đăng hiểu vẫn còn có điều mình cần phải nói tiếp: - Anh cũng rất đồng ý với em lòng ghen tuông đã làm cho con người ta yếu đuối, thậm chí đen tối đi. Nhưng em ơi, như đã nói rồi: tất cả chỉ vì quá yêu em... Nhưng thôi, anh sẽ không bao giờ sai lầm nữa. Anh sẽ hoàn toàn tôn trọng em cả trong tất cả những vấn đề tình cảm dù nhỏ bé nhất. Nguyệt Lệ từ từ rút tay ra. Cô thở dài, giọng có phần dịu dàng hơn trước: - Thôi được. Anh hãy về đi. Anh hãy tin là trước sau bao giờ em cũng chỉ mong ước có được một cuộc sống yên ổn và hạnh phúc. Em cũng không bao giờ đòi hỏi ở ai, kể cả anh những gì quá nhiều, quá lớn bởi em tự biết: mình chẳng có gì để có quyền đòi hỏi... Thôi, anh về đi. Em đồng ý với anh cuộc gặp đáng buồn hôm đó coi như không có. Hồng Đăng mừng rỡ, sung sướng ôm choàng lấy cô, đặt một nụ hôn rất dài trên đôi môi hồng mọng duyên dáng. Nguyệt Lệ nhắm mắt lại. Cô hiểu và hoàn toàn tin rằng anh rất yêu cô. Điều này không phải bây giờ cô mới nhận ra. Nhưng chỉ có điều là tình yêu ấy phải được tự nhiên nảy nở từ cả hai phía... Cô lại từ từ gỡ tay anh ra: - Thôi anh về đi. Có lẽ sắp tới giờ ăn trưa của các anh thương binh rồi đấy. Khi Nguyệt Lệ đã đi khuất sau các lùm cây, Hồng Đăng vẫn còn đứng đó, vui vẻ, thoải mái. Nhưng những cảm giác ấy đã mau qua đi. Hồng Đăng như người chợt tỉnh: ừ nhỉ, cô ấy lại trở về với “tên” ấy... Đầu óc anh lại tối sầm. Lòng nghi ngờ, ghen giận lại như một dòng suối độc tuôn trào trong lòng anh. Cô ấy có thật là dễ dàng tin và nghe mình như thế? Cô ấy có thể nào hoàn toàn không còn chút tình cảm nào với “tên” ấy? Cứ nhìn thái độ của cô bên giường hắn đã có thể hiểu. Vậy làm sao cô có thể dễ dàng quên đi mọi chuyện, để hoàn toàn yêu quý mình thiết tha và nồng cháy?... Nguyệt Lệ trở vào lán, lại tới bên giường Dũng. Anh vẫn ngủ. Trong lòng cô ngổn ngang băn khoăn, buồn bã. Ôi, sao mình lại khổ đến như thế này? Sao số phận lại bắt mình rơi vào những cảnh ngộ éo le như thế này? Đúng là mình đã nói với anh ấy là mình đâu có mơ ước gì hơn được sống một cuộc sống yên ổn như tất cả mọi con người bình thường khác. Vậy mà chưa bao giờ có được, dù chỉ một phần như thế... Dũng từ từ mở mắt. Anh ngơ ngác. Khi đã nhận ra Lệ, trên đôi môi khô nẻ của anh như thoáng một nụ cười nào đó, một nụ cười không vui nhưng củng không hẳn là buồn: - Lại cô đấy ư? Cô mới đến? Nguyệt Lệ gật đầu, cầm vội lấy tay anh: - Vâng, em vừa mới đến. Anh ngủ ngon không? Anh thấy trong người thế nào? Dũng làm ra vẻ tỉnh táo và mạnh khỏe: - Khá rồi. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn nhiều. Nhưng chỉ nhìn ánh mắt, sắc mặt, Nguyệt Lệ biết anh còn rất mệt. Nước mắt cô bỗng lại chảy dài. Dũng nhìn cô, rồi khẽ lắc đầu: - Sao lại khóc? Lần nào gặp tôi cô cũng khóc. Tôi buồn lắm... Nguyệt Lệ vội đưa ông tay áo blouse lên chùi mắt, và mỉm cười: - Không, em có khóc đâu anh. Vâng, em sẽ không bao giờ khóc nữa. Dũng nhìn cô rất sâu: - Phải, Nguyệt lệ ạ! Đừng khóc nữa! Cuộc sống riêng của mỗi người đã quá buồn rồi! - Vâng! Vâng! Em sẽ vui, rất vui khi thấy anh sớm khỏe mạnh. Cũng may anh tỉnh táo hơn hôm mới về rất nhiều. Cả viện, cả lán này ai cũng nhận thấy thế: anh bình phục khá nhanh... - Cám ơn cô. Một lời cám ơn nào đó, tất nhiên không phải là khách khí, nhưng cũng không ấm áp và thân thiết hơn. Mọi người trong lán này kể cả các bác sỹ, y sinh dã được biết: cô và Dũng quen biết từ đã lâu. Cho nên hàng ngày ngoài việc chăm sóc chung thương binh, bao giờ cô cũng dành thì giờ để được đến bên anh nhiều hơn, nói chuyện với anh nhiều hơn các thương binh khác. Điều đó đã được mọi người thông cảm, thậm chí ủng hộ. Cho tới hôm nay anh không cáu gắt, hoặc nguyền rủa cô như lần gặp ở khe Trăn mấy tuần trước. Bây giờ anh rất bình lặng, biết ơn, và ngoan ngoãn nghe theo tất cả mọi điều mà cô yêu cầu hoặc ép buộc trong việc ăn uống, hay thay bông băng, quần áo... Nhưng, với cô, anh cũng chỉ đối xử như với tất cả mọi cô hộ lý khác. Anh đã thực sự quên đi, hay vẫn cố để quên đi? Cô không thật hiểu. Cô cũng không khi nào dám nhắc lại chuyện cũ, sợ anh buồn, sợ nhất là làm cho anh lại điên giận, sẽ nguy hại tới vết thương. Còn anh, anh cũng không hề trở lại chuyện cũ dù chỉ nửa lời. Cả hai người như cùng ngậm chặt lửa than ở trong miệng. Trong suốt mấy ngày nay, trong đầu óc cô chỉ vang đi vọng lại một câu hỏi: Mình sẽ phải làm gì đây, cần làm gì đây để đền bù lại cho anh, xoa dịu vết thương lòng cho anh? Nhưng cô vẫn chưa biết được mình sẽ phải làm gì. Cô vẫn như một người lạc giữa rừng rậm với tất cả nổi buồn đau và cả sự sợ hãi... - Bây giờ anh muốn uống gì không? Anh uống sữa nhé, để em pha? - Không, tôi không muốn gì hết. - Hay anh ăn cam nhé? Để em bóc. - Không, cám ơn cô. - Hay nước chè vậy? Vẫn là những lời cảm ơn nào đó, không ấm áp, không thân thiết gì hơn. Đôi mắt anh buồn quá, nhưng cũng đẹp quá. Nếu như trước đây đôi mắt ấy hồn nhiên, trong trẻo bao nhiêu thì bây giờ trầm lắng, sâu sắc bấy nhiêu. Đôi mắt như cuốn hút và chiếm lĩnh. Gương mặt anh đã đổi thay rất nhiều với thời gian, với cực khổ, và thương tích, nhưng lại có vẻ đẹp cũng khác thường, vẻ đẹp can trường và dầu dãi... Nhưng anh vẫn luôn luôn như câm lặng. Anh chưa một lần hỏi vì sao cô lại ở đây, phục vụ ở cái quân y viện này. Anh chỉ hỏi: “Anh Hồng Đăng có khỏe không?”. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười Hai, 2023, 05:19:24 pm Sáu hôm sau, có việc đi ngang qua quân y viện, Hồng Đăng lại ghé vào. Vừa qua trạm gác được một quãng, anh chợt thấy một chiếc áo trắng hiện lên sau một chỗ quẹo. Chiếc áo trắng đứng ngay lại. Kim Oanh. Cô reo lên lanh lảnh, chạy như bay tới:
- Anh Hồng Đăng! Anh Hồng Đăng! Và gần như ôm choàng lấy anh, cô cuống quýt: - Anh đi đâu mãi? Em mong anh đến chết đây! Rồi nũng nịu, phụng phịu: - Lần trước vào đây với bà vợ quý hóa của anh, sao anh không gặp em? Đến khi biết anh tới, em bổ đi tìm thì anh đã đi rồi. Hồng Đăng lúng túng, cười xuê xoa: - À, không, cũng định tìm. Nhưng vì... vội quá. - Thôi đi anh! Chỉ xạo. Nói đoạn cô cầm tay anh kéo đi: - Lần này thì phải đi với em đã. Cho qua cái bà vợ quý hóa của anh đi! Bàn tay cô dầy và nóng hổi. Bộ ngực cô nở căng, nhọn hoắt. Đôi mắt long lanh, ướt át mê đắm nhìn anh. Hồng Đăng bước đi như một cái máy. Kim Oanh lại kéo Hồng Đăng đi về phía suối, nhưng ở một đoạn khác, vào sâu hơn. Tới một chỗ khuất, Kim Oanh ôm ghì lấy anh. Cô thực sự yêu anh. Đây là người yêu lý tưởng của cô, cô quyết phải chiếm bằng được anh. Nguyệt Lệ dù đẹp đến mấy, cô cũng không sợ. Cô biết mình có thế mạnh riêng: ấy là sự nồng nhiệt, mê đắm, là tấm thân bóc lửa tràn trề sức sống... - Đi vào đâu đây? - Hổng Đăng vờ hỏi. - Chỗ này kín hơn. Cô lại ôm choàng lấy Hồng Đăng một lấn nữa, ghì sát bộ ngực của mình vào ngực anh, và một bàn tay tìm kiếm như điên... Hồng Đăng đã bị kích thích đến cao độ. Bản năng của thằng đàn ông vụt bùng dậy. Anh đã quên hết, quên cả mục đích hôm nay vào đây để gặp vợ, cũng quên đi những gì coi như đã hàn gắn và xây dựng lại được. Anh đã quên hết. Tất cả lúc này chỉ còn có một thân thể đàn bà nần nẫn, tuyệt vời trong vòng tay anh. Đã đến đoạn suối kín đáo như Kim Oanh nói. Hai người, mặt cùng đỏ rực, ôm nhau cùng ngã xuống liền. Giây phút này không còn là giây phút của lời nói nữa Không còn kịp cởi từng chiếc khuy một, họ gần như dứt tung hết của nhau ra, rồi cùng lăn lộn, điên cuồng. Một lúc lâu sau, hai gương mặt tràn trề thỏa mãn, lấm tấm mồ hôi, Hồng Đăng và Kim Oanh mới cùng ngồi dậy. Hai người tạm chia tay nhau ở gần khu lán mới của thương binh. Hồng Đăng lại xăm xăm đi về chiếc lán, nơi đã gặp Nguyệt Lệ lần trước. Có lẽ cô ấy vẫn ngồi bên “tên” ấy chăng? Ý nghĩ ấy lại làm cho Hồng Đăng khó chịu. Nhưng cũng đúng lúc ấy, Nguyệt Lệ cắp một rổ đầy quần áo của thương binh đi ra. - Em! - Hồng Đăng reo lên. Nguyệt Lệ dừng lại. Trên gương mặt cô có vẻ gì như sáng hơn lần gặp trước. Nhận xét ấy làm cho Hồng Đăng yên lòng và vui hơn lên. Nguyệt Lệ đặt rổ áo quần thương binh xuống bên một gốc cây. Hai người cùng ngồi xuống những rễ lớn bò nổi lên như những con trăn khổng lồ. Hồng Đăng có thì giờ để ngắm kỹ Nguyệt Lệ hơn. Hai ống tay áo blouse xắn cao, chiếc mũ vải trắng đội hất chểnh mảng gần ra sau gáy, hai bàn tay còn thoáng những vết thuốc đỏ, cô đã có đầy đủ dáng vẻ của một cô hộ lý thực thụ, khỏe mạnh và nhanh nhẹn. Hai người trò chuyện khá vui. Hồng Đăng đã nhắc lại đầy đủ những gì mà anh đã ăn năn, hối tiếc với Nguyệt Lệ bữa trước. Anh cũng nhấn mạnh là từ đó anh trở về đã tiếp tục suy nghĩ và càng đồng ý với Nguyệt Lệ là mình cần thay đổi cách sống để xứng đáng với tình yêu của hai người. Nguyệt Lệ lắng nghe. Cô để ý: không một lần anh hỏi thăm tới sức khỏe của Dũng, dù chỉ là sự thăm hỏi thông thường đối với một thương binh mà dẫu sao mình cũng đã một vài lần gặp gỡ... Nhìn trước, nhìn sau, không có ai, Hồng Đăng quàng tay qua vai Nguyệt Lệ, kéo cô sát lại gần, rồi đặt một nụ hôn nồng nàn, ngây ngất. Nguyệt Lệ không cưỡng lại. Cô nhắm mắt, để cho anh hôn, hôn rất dài và ngậm mãi môi cô như ngậm kẹo. Chỉ tới khi bàn tay anh bắt đầu loăng quăng kiếm tìm trên cơ thể cô, Nguyệt Lệ mới gỡ anh ra. - Thôi anh, ở đây không nên thế. Có người hay qua lại. Như rất ngoan cố, bàn tay anh vẫn loay hoay. Lần này Nguyệt Lệ đứng dậy: - Đã bảo đừng mà anh... Đã quá quen thuộc tính vợ rồi, khi cô đã đứng dậy là thôi đừng có nài nỉ. Tiếc rẻ, Hồng Đăng đứng dậy theo. Nhưng anh vẫn còn cố vươn cổ thơm nhanh một cái trên má cô. Nguyệt Lệ đẩy nhẹ anh ra: - Anh về đi. Em còn phải đi giặt. Các chị, các cô ấy đi trước cả rồi. - Ừ anh về. Nhưng mà, hay là như thế này nhé: em xin phép về chỗ anh ít hôm đi. - Không được đâu anh, thương binh nhiều quá. - Không sao. Anh chỉ nói với tay viện trưởng một câu là xong thôi mà. - Thôi đừng anh. Đừng! Em đi đây! Nói đoạn, Nguyệt Lệ cúi xuống nhấc chiếc rổ áo quần lên, cắp nách đi luôn. Hồng Đăng lắc đầu, chậm chạp quay ra. Ở trạm gác anh cần vụ Mạn vẫn ôm súng bên chiếc ba lô to đùng, kiên nhẫn ngồi chờ. Nguyệt Lệ đã ra tới suối. Các chị, các cô hộ lý đang giặt giũ bồm bộp, cười nói râm ran. Nhìn thấy Nguyệt Lệ các chị, các cô cùng vui vẻ gọi to: - Nguyệt Lệ, sao ra muộn thế? - Bận gì, bây giờ mới ra hả? Công tác với nhau đã được gần mười ngày, Nguyệt Lệ và cái tập thể hộ lý, y sinh ở đây đã khá thân nhau. Buổi đầu cũng còn dè dặt. Nhiều người còn nghi ngờ người đàn bà xinh đẹp này tới đây chẳng qua chỉ để làm cảnh, hoặc cũng như nhiều bà phu nhân khác đến các bệnh viện làm việc thiện chủ yếu chỉ là để kiếm danh, lập vốn chính trị. Nhưng rồi mọi người đều nhận thấy người đàn bà này tới đây là để làm việc thực sự. Tất nhiên không khỏe, không xốc vác được như các cô, các chị nông thôn, nhưng các chị các cô làm việc gì, Nguyệt Lệ cũng làm đủ những công việc như thế, và cũng rất chu đáo: đổ bô, hót phân, giặt giũ quần áo máu mủ, khiêng, cõng anh em đi tiểu, đi đại tiện... Nguyệt Lệ đã không nề hà bất cứ một việc gì. Không những thế cô còn khâu vá khéo hơn, hát hay hơn các cô, các chị. Thương binh chỉ đòi nghe Nguyệt Lệ hát. “Làng tôi xanh bóng tre...”, “Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi, xóm làng tôi còn nhớ mãi...”, và “Quê nhà tôi chiều khi nắng êm đềm chạy dài trên khóm cây và mấy hàng cau...” cùng một số bài hát dịu dàng, tha thiết khác đã được anh em gọi là “những bài hát ru cho thương binh”. Đã có những anh khó tính, hoặc lười, không chịu ăn uống, nhưng Nguyệt Lệ đến và chỉ sau vài câu nói nhỏ nhẹ của cô, các anh đã trở thành hoàn toàn ngoan ngoãn, cho gì ăn nấy... Nguyệt Lệ bước xuống suối. Cô Dậu, con người mập mạp luôn luôn đỏ au, vội đỡ lấy rổ áo quần cho bạn. Hai người cùng giặt giũ một hồi rồi cùng lên bờ. Mọi người đã lẻ tẻ ra về trước gần hết. Hai chị em đi sau cùng. Cô Dậu bỗng liếc nhìn Lệ, hỏi: - Này, hôm nay ông ấy lại đến thăm phải không? - Vâng. - Thắm thiết gớm nhỉ! Nguyệt Lệ cười ngu ngơ: - Em cũng không biết nữa. Nét mặt cô Dậu trở nên nghiêm trang, khác lạ: - Chỗ chị em, muốn bảo cái này... Nguyệt Lệ chăm chú: - Gì cơ ạ? - Cô Lệ ạ, thật đấy, chỗ chị em, thân nhau, quý nhau, tôi mới nói... Nguyệt Lệ không khỏi hồi hộp: - Cảm ơn chị. Chị cứ nói đi. - Này, tôi bảo thật, phải cảnh giác đấy. - Cảnh giác gì ạ? - Cô thật không biết cái gì ư? Thôi đã bảo là chỗ chị em thân nhau, quý nhau tôi mới nói. Chị em người ta thì cứ ngại... Nguyệt Lệ càng hồi hộp: - Chị ơi, chị nói đi. Có điều gì không hay, không phải các chị, các cô cứ bảo em. - Thế này nhá: phải cảnh giác mới được. - Vâng, thì em cảnh giác mà. - Nguyệt Lệ ạ, chả là có mấy đứa chúng nó quen bọn nam y tá... - Vâng, mà làm sao? - Chúng nó nghe lỏm được bọn y tá kháo nhau rằng: vợ đẹp thế mà còn tình tang, dăng dện... Trái tim Nguyệt Lệ thoắt như bị bóp nghẹt lại. - Bọn y tá còn kháo nhau tệ hơn nữa: hai người đã đưa nhau vào rừng. Cái con đĩ Kim Oanh ấy, thật quá thể... - Ôi, thật vậy ư, chị? - Mặt Nguyệt Lệ gần như méo di. Chiếc rổ áo quần thương binh suýt rơi tuột xuống đất. - Ấy, ngay như hôm nay, có đứa nom thấy ông ấy vào từ sáng sớm, nhưng gặp con đĩ kia, thế là lại vào rừng liền... Tới lúc ấy, Nguyệt Lệ như không còn đứng nổi nữa. Cô lảo đảo, đặt chiếc rổ, ngồi thụp xuống một gốc cây, hai tay ôm lấy mặt... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười Hai, 2023, 06:04:53 pm 11 Đợt chiến đấu quyết liệt mở đầu màn 2 chiến dịch đã kết thúc sau bốn ngày liên tục. Quân ta đã chiếm được bốn trong năm quả đồi ở phía đông Mương Thanh, và hai cứ điểm ở cánh đồng phía tây. Bộ chỉ huy Mặt trận hạ lệnh cho tất cả các đơn vị đẩy mạnh công việc đào chiến hào, siết chặt vòng vây hơn nữa, tiến tới đánh chiếm hoàn toàn sân bay, và đào hầm chuẩn bị đánh chiếm nốt đồi Al, vị trí sống còn của quân Pháp ở khu đông, để rồi chuyển sang tổng công kích, một đợt sinh hoạt tư tưởng rộng lớn trên toàn mặt trận nhằm chống những tư tưởng hữu khuynh tiêu cực để phát huy tinh thần quyết chiến quyết thắng đã được tiến hành sâu rộng trong khắp đơn vị. Trung đoàn 2 đã tiến hành xong đợt sinh hoạt tư tưởng ấy, bây giờ lại bắt tay vào công việc tiếp tục đào chiến hào để lấn thêm vào nữa. Sáng nay, chính trị viên Đỗ Thủy trở vào rừng để họp với các cán bộ hậu cần và chiến sĩ nuôi quần. Hầu hết các đơn vị có nhiệm vụ tác chiến, theo chủ trương trên, đã chuyển ra ở hẳn ngoài cánh đồng, sống trong các đường hào trục, khoét các vách đất làm chỗ ngủ với nơi hội họp. Hà Giao ở sở chỉ huy (cũng là một căn hầm khoét sâu vào vách hào trục, nhưng trên có lát gỗ, đổ đất dày) cho gọi Lanh xồm, Niên và cả Thìn lên hội ý công việc hàng ngày. Đại đội của Thìn đã được gọi quay trở về đội hình tiểu đoàn. Anh em đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cắt đứt đường bộ giữa Mường Thanh và Hồng Cúm, nay bàn giao lại cho đơn vị bạn ở cánh Nam mặt trận. Cuộc hội ý xong, cả ba đại đội trưởng đều toan đứng dậy ra về, Hà Giao giữ lại. Anh mới được cấp trên giao cho nhiệm vụ “tạm quyền tiểu đoàn trưởng” thay Dũng. Đã quyền lại còn tạm. Trong đáy lòng, Hà Giao không thật ưng ý. Anh đã thầm trách ông Đỗ Gia Quý chưa thật tích cực đề nghị cho anh thay Dũng hoàn toàn. Không có quyền gì hết, càng không nên có tạm. Nhưng ông Quý đã gặp riêng Hà Giao. Ông nói ông không thể một mình quyết định việc này dù ông muốn. Còn đảng ủy, còn cấp trên nữa... Hà Giao đành “tạm vui” vậy. Anh tự an ủi mình: dẫu sao thì cũng còn hơn là anh tiểu đoàn phó xoàng. Sáng nay, Hà Giao có ý muốn “khao” các cán bộ dưới quyền một chút, cũng là để khẳng định một cách tế nhị, quyền lực mới của mình đối với họ. Hà Giao giữ mọi người ngồi nán lại. Hà Giao chép miệng, vẻ tiếc rẻ: - Ông Dũng vẫn chưa về được. Khỉ quá! Cái món “đòn âm” ấy thế mà ghê! Khéo phải hết chiến dịch mất. Thôi, công việc ở nhà, cánh mình phải cố gánh vác, lo toan lấy vậy. Thìn bao giờ cũng thật thà: - Chiến dịch đang phát triển mạnh, anh Dũng vắng mặt kể cũng tiếc. Lanh xồm, Niên cùng liếc nhanh về phía Thìn. Cái nhìn như có ý bảo: Sao mà ngu vậy? Mày tưởng ông ta than thở thật đấy ư? Không đâu! Ông ta còn đang muốn ông Dũng chết đi nữa kia. Thìn nói thế, quả nhiên mắt Giao thoáng lạnh đi. Anh không bắt vào câu nói của Thìn, quay ra cửa hầm gọi to: - Báu. Tròn như hòn bi, Báu bon tới, đứng ở cửa hầm đáp vọng vào: - Có mặt. Hà Giao cười tươi: - Này, có các anh ở đại đội lên hội ý, cậu phá cho tớ két rượu Tây và két đồ hộp mang sang đây. Báu có vẻ ngạc nhiên: - Báo cáo, để... để làm gì ạ? Hà Giao chau mày: - Khỉ! Để liên hoan với các anh ấy một chút, chứ còn để làm gì! Đi đi, chọn cái két rượu đo đỏ và két đồ hộp thịt lợn và gan ấy... Thịt trâu kho, ăn mãi chán rồi. Báu vẫn đứng nguyên tại chỗ ấp úng: - Báo cáo anh, nhưng mà.... - Nhưng sao? - Báo cáo anh, anh Thủy đã dặn là tất cả các hòm chiến lợi phẩm địch thả dù ta thu được, phải để nguyên rồi nộp lên cấp trên ạ. Mặt Giao chợt đỏ lên: - Anh Thủy nói bao giờ? - Dạ, tối qua. Thở hắt ra, Hà Giao lẩm bẩm (nhưng cũng là để cho mọi người nghe thấy): - Cái ông này lại... giống như ông Dũng. Muốn gì thì cũng phải có hội ý tập thể chỉ huy chứ. Cứ một mình quyết đoán. Lạ! Rồi quay ra phía Báu, anh như quát lên: - Cứ chấp hành lệnh của tôi. Tôi sẽ chịu trách nhiệm với trên. Anh em đổ xương, đổ máu, còn chẳng tiếc, tiếc đếch gì mấy cái của nợ này hả? Cứ đi đi. Báu vẫn cứ đứng đó như mếu. Tới lúc đó Lanh xồm thấy mình phải lên tiếng: - Anh Giao ạ, lính nó cứ lệnh trên nó thi hành. Thôi anh ạ. Vả lại, mấy cái thứ đồ Tây ấy bọn tôi cũng không quen dùng đâu. Niên cũng họa theo, nhưng khéo hơn: - Phải đấy. Thôi anh Giao ạ. Tôi cũng chỉ thích có mỗi khoản gạo rang. Anh cứ cho nước gạo rang là thú lắm rồi. Thìn cũng lủng bủng: - Từ chiều qua tôi đau bụng. Tôi không ăn uống gì đâu. Rồi cả ba đại đội trưởng cùng đứng dậy. Hà Giao uất quá, ném ra cửa hầm một tiếng quát như ném một hòn gạch vào mặt Báu: - Thôi, đi! Chỉ còn một mình Hà Giao ngồi lại. Càng thấy uất. Thế đấy, tụi chúng nó không còn coi mình ra cái gì. Tức cái thằng Báu, tức cả ba tên đại đội trưởng, tức cả lão Thủy. Cái thằng oắt con này rồi sẽ phải tống nó ra chiến đấu. Nó chỉ biết trên đời này có bố Dũng nó mà thôi. Cả ba tên đại đội trưởng nữa. Rồi khi thực quyền có trong tay ta, tụi bay sẽ biết, nhất là thằng Lanh Xồm rất “ăn dơ” với thằng Dũng. Thằng Niên là loại ba phải. Còn thằng Thìn thì quá ngu. Giá mà thằng Dũng chết rồi thì có lẽ hôm nay chúng nó lại xoắn lấy mình, chứ đâu dám có thái độ như vậy... Càng nghĩ càng thêm bực, Hà Giao đi sang hầm của Bổng, cán bộ tác huấn. Bổng đang hí hoáy vẽ bản đồ. Hà Giao ghé ngồi xuống. Bổng vui vẻ, ân cần: - Chào tiểu đoàn trưởng! Giao xì một tiếng: - Mày chào nhầm rồi. Bổng làm bộ nghiêm trang: - Nhầm thế nào được, anh! Chỉ đánh thêm vài trận nữa là cái chữ tờ và chữ cu của anh được cắt thôi mà. Hà Giao lắc đầu. - Tao thiết đếch gì cái đó. Mà này Bổng, hôm qua gặp “cụ” Quý trên trung đoàn, tao đã chính thức đề nghị “cụ” cố thu xếp cho mày lên dê phó đấy. Mặt Bổng bỗng ửng đỏ. Anh ta ấp úng và ra vẻ khiêm tốn: - Thôi mà anh. Làm sao được mà đề nghị. - Không, “cụ” Quý có vẻ lắng nghe lắm. “Cụ” bảo được, để xem. Bổng ạ, bây giờ tao phải cáng đáng công việc nặng hơn. Mày phải giúp tao mới được. Bổng sốt sắng: - Anh khỏi phải bảo. Anh biết đấy, từ trước tới giờ tôi vẫn luôn luôn tín nhiệm anh lắm... Nói đoạn, Bổng nhoài người ra phía sau, lục túi dết, lấy ra một chai Rhum, tươi cười, giơ lên: - Anh làm một vài hớp nhé. Biết tính anh ưa khoản này, tôi vẫn để dành đây. Giao đùa với vẻ nghiêm trang: - Mày không sợ ông Thủy kết tội tham ô chiến lợi phẩm hả? Bổng lắc đầu: - Không. Nói thật với anh: tôi chẳng biết sợ ai hết. Ông Thủy đã là cái gì? Mấy ông chính trị viên chỉ có mỗi cái khoa nói. Mà nói như sách cả, chứ thực bụng các ông cũng y như chúng ta cả, có thơm gì hơn đâu! Cả hai người cùng cất tiếng cười ha hả. Đúng lúc ấy Báu lại xuất hiện: - Báo cáo, anh Hà Giao có điện. Đã hơi chếnh choáng, Hà Giao quắc mắt nhìn ra: - Điện gì? Tụi bay cứ nghe đi rồi báo cáo lại. Tao đang bận hội ý. - Báo cáo, trung đoàn trưởng yêu cầu trực tiếp nói chuyện với anh ngay. - Cái gì? Trung đoàn trưởng hả? - Vâng. Ban chỉ huy Thâu đang chờ ở máy. Hà Giao như tỉnh hẳn, hấp tấp đứng dậy, không kịp chào hoặc nói gì thêm với Bổng, nhào ra. Trở về hầm của mình, Hà Giao giằng vội lấy ống tổ hợp từ tay chiến sĩ thông tin: - Alô, báo cáo, tôi đây ạ! Hà Giao đây ạ! - Anh Thủy đâu? Hừ, Thủy! Lúc nào cũng Thủy! Trước đây thì lúc nào cũng Dũng, Dũng!... - Anh Thủy đâu? - Ông Thâu hỏi lại. - Báo cáo, anh Thủy vào hậu cứ ạ. - Này, cả hai anh lên trung đoàn ngay nhận nhiệm vụ gấp nhé. Hà Giao không khỏi hồi hộp: - Báo cáo gấp ạ? - Phải. Nhiệm vụ lớn và gấp. Đại đoàn vừa thông báo xong. Lên ngay nhé. Nhớ cả ông Thủy nữa đấy. Hà Giao đặt ống nghe xuống, quay ra gọi to: - Báu! Về ngay hậu cứ mời anh Thủy ra ngay có việc cần. Vừa gọi xong, Hà Giao đã nghe có tiếng đáp từ bên ngoài: - Việc gì gấp, Thủy đây! Thủy đã về đúng lúc. Anh tươi cười và mệt nhọc: - Mọi việc trong đó ổn cả rồi anh ạ. Hà Giao hội ý lại điện của ông Thâu. Thủy không kịp cởi bỏ túi dết ra nữa. Anh hối hả giục Giao chuẩn bị để đi luôn. Hai người đi nối nhau trong giao thông hào bì bõm nước, vừa đi vừa phỏng đoán thế này thế khác. Thủy để ý thấy Hà Giao có vẻ lo lắng, khác với mọi hôm anh khá hào hứng với quyền lực mới của mình dù chỉ là tạm. Thủy biết Hà Giao không đến nỗi nhút nhát, nhưng đúng như Xã Đệ bên tiểu đoàn 3 vẫn thường bảo là “xớ rớ”. Năng lực tương đối yếu, gặp việc lớn rất hay lúng túng, lại chậm. Sở chỉ huy trung đoàn đã dịch ra gần bìa rừng, dựa vào một triền núi đá có khá nhiều cây rậm. So với trước có gần hơn. Hà Giao và Thủy trở về mất có khoảng 60 phút. Ông Thâu và cả ông Quý đang ngồi chụm đầu bên một tấm bản đồ. Khi bước vào, Hà Giao và Thủy đểu liếc nhìn thấy ngay toàn bộ khu vực của trung đoàn nằm trong đội hình của đại đoàn ở cánh đồng phía tây với những nét chì xanh đỏ chi chít dầy đặc. Thấy hai người đã có mặt, cả hai ông Thâu, Quý đều vui mừng: - Tốt - Ông Thâu nói - Thế mới là tác phong Điện Biên: nhanh như cắt, mạnh như hùm. Thủy mỉm cười thầm nghĩ: ông động viên khéo trước khi giao nhiệm vụ đây. Cái gì chứ cái nghề này mình còn thạo hơn ông ấy. Sau khi nêu vắn tắt lại nhiệm vụ chung của đại đoàn và trung đoàn như công thức thường lệ, ông Thâu bắt đầu nói tới nhiệm vụ của tiểu đoàn 2. Nhưng cũng có phần khác mọi khi, lần này ông có vẻ trang trọng khá đặc biệt. Ông mở to mắt nhìn thẳng vào Hà Giao và Thủy và như nhả ra từng tiếng một: - Bây giờ là nhiệm vụ trọng yếu của d2... Như để chờ xem phản ứng trên nét mặt của hai người ra sao, sau đó ông mới long trọng tiếp: - D2 được giao nhiệm vụ chuẩn bị gấp để nhanh chóng, dũng cảm tiến vào cắt đứt sân bay Mường Thanh! Ông Thâu lại ngừng, để xem tiếp phản ứng của Thủy và Hà Giao. Khi thấy hai người đều có vẻ hồi hộp xúc động, ông Thâu mỉm cười tiếp: - Phải! D2 có nhiệm vụ sau ba ngày nữa phải cắt bằng được sân bay. Cả trung đoàn sẽ chi viện cho các đổng chí. Đại đoàn và mặt trận cũng sẽ chi viện cho các đồng chí. Sân bay. Ôi sân bay! Đã dự đoán từ lâu về việc này rồi. Nhưng quả thật Thủy cũng không ngờ lại chính tiểu đoàn của anh được vinh dự trao cho trọng trách này. Anh liếc nhìn Hà Giao. Mặt Giao thoáng tái đi một chút. Không rõ vì vui hay sướng, hay sợ hãi. Đánh vào sân bay, tất cả mọi người trên mặt trận này ai ai cũng đểu hiểu là sẽ ác liệt như đánh đồi A1 bên khu đông. Vốn khá thông minh, ông Quý gần như đọc được hết mọi ý nghĩ của Thủy và Hà Giao. Ông mỉm cười tiếp lời ông Thâu: - Bây giờ tôi xin có ý kiến: ý nghĩa và tầm cỡ của trận đánh vào sân bay, có lẽ khỏi phải nói nhiều, chắc các đồng chí đã có thể hiểu được. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh tới quyết tâm của Đảng ủy trung đoàn để các đồng chí về quán triệt tới từng đảng viên, chiến sĩ cũ, mới, là bằng mọi giá phải chiếm được sân bay. Chiếm bằng được là như thế nào, chắc các đổng chí cũng đã rõ: đánh thắng, và chốt giữ đến cùng, không để cho địch lấy lại được: các đồng chí hiểu cả chứ? Cả Thủy và Hà Giao cùng đáp: - Rõ. - ... Nếu mất A1, mất sân bay, thử hỏi Điện Biên Phù còn gì nữa? Ông Quý tiếp. Theo thói quen, bao giờ cũng vậy lúc mới bắt đầu nói ông tỏ ra rất dè dặt và khiêm tốn, nói rất ít, nhưng rồi càng nói ông càng bốc, càng hăng lên và nói càng nhiều. - Thật vậy các đồng chí ạ, nếu bên khu đông các đơn vị bạn sẽ lấy nốt được đồi A1, và bên phía tây này chúng ta đánh chiếm được sân bay, thì dù còn có hàng chục cứ điểm, còn hàng nghìn binh lính, tập đoàn cứ điểm địch cũng coi như cầm chắc cái chết. Cái thế, các đồng chí ạ, trong quân sự cái thế cũng ghê gớm, cũng quyết định không kém gì trên lĩnh vực chính trị cả... Thấy ông Quý nói đã hơi dài, ông Thâu sốt ruột, cắt ngang. - Đúng! Chính ủy đã nói hoàn toàn đúng. Còn về cụ thể, tôi cần nói thêm một tí để hai đồng chí biết, và cũng là nhấn mạnh một điều để các đổng chí quán triệt: gần như song song với việc chúng ta đánh cắt sân bay, trung đoàn 3 cũng sẽ đánh cái H1. Cái H1 là cái gì, các đồng chí cũng đã biết rõ cả. Đấy là cứ điểm then chốt của toàn khu đề kháng Huygette của địch. Then chốt vì nó là vị trí rất xung yếu đối với sân bay, nó chỉ cách sân bay có ba trăm mét về hướng đông bắc. Cho nên, trận chiến đấu của d2 mà cũng là của cả trung đoàn ta ở sân bay có liên quan vô cùng mật thiết tới trận tiêu diệt H1 của trung đoàn 3. Ông lại ngừng, và hất hàm hỏi Hà Giao: - Đồng chí thấy nó liên quan mật thiết thế nào rồi chứ? Mặt Hà Giao vụt đỏ. Anh ấp úng: - Báo cáo, vì cùng ở gần nhau... Ông Thâu cười: - Nói thế rất đúng, cần nhớ rằng: nếu e3 không thắng được H1 thì các đồng chí cũng sẽ trầy vẩy mới chiếm được sân bay, mà có chiếm được cũng rất khó giữ. Ngược lại, nếu các đổng chí không cắt được sân bay thì e3 cũng khó mà giữ được H1 dù có đánh được. Như thế đấy, hai trận này cũng có thể gọi chung một tên là trận sân bay... Lát sau, Thủy và Hà Giao cùng sang ban tham mưu trao đổi sơ bộ những nét lớn về pháo của cấp trên yểm trợ và sự chi viện của cơ quan trung đoàn bộ, cùng các tiểu đoàn bạn về tre gỗ để cho d2 làm công sự tác chiến ở sân bay. Rồi hai người cùng sấp ngửa quay trở về tiểu đoàn. Lần này không ai nói với ai một câu. Mỗi người đuổi theo những ý nghĩ riêng của mình. Thủy lo đến nôn nao cả gan ruột. Quả thật anh cũng chưa hình dung được thật rõ việc đánh vào sân bay sẽ ra sao. Sân bay ở ngay gần như chính diện với tiểu đoàn anh, nhưng cũng còn khá xa. Chưa một ai trong đơn vị luồn sâu được vào trong đó trinh sát kỹ, vì có tới bốn năm cứ điểm bố trí, thành hai, ba tầng. Đánh sân bay sẽ bắt buộc phải tiêu diệt sạch được các cứ điểm nọ, thì mới có đường vào, nếu không thì phải luồn sâu, xuyên qua khoảng cách của các cứ điểm. Nhưng các khoảng cách ấy không lớn lắm, chỉ trên dưới 2.000 mét. Xuyên vào chính giữa khoảng cách đó cũng có nghĩa là xuyên giữa hai làn đạn lướt sườn của các cứ điểm ở hai bên. Như vậy hiển nhiên con đường tiến vào sân bay sẽ là con đường máu... Càng nghĩ càng lo và lại càng nhớ tới Dũng. Phải chi Dũng có nhà lúc này thì đỡ biết bao nhiêu.. Thủy đang suy nghĩ rất lung thì Hà Giao bỗng cất tiếng nói: - Anh Thủy này! - Gì cơ? - Thủy ngơ ngác quay lại. - Tôi thấy lúc này ta nên trở lại câu chuyện tôi nói với anh hôm nọ... - Chuyện gì nhỉ? - Tôi đã có nói với anh là nên đề nghị trung đoàn và cấp trên bổ nhiệm cậu Bổng làm tiểu đoàn phó, để nó giúp tôi... - À, chuyện cậu Bổng! - Thủy chỉ nói có thế rồi im lặng. Không phải là khó nói, vì hôm đó anh đã trả lời Hà Giao rồi: chưa nên. Im lặng lúc này chỉ là quá ngán. Anh gần như không thể hiểu nổi: trong giờ phút này mà anh ta vẫn chỉ quan tâm tới việc củng cố địa vị và phe cánh. Anh ta có còn là người cộng sản thứ thật nữa hay không đây? Thủy rất tiếc trong cuộc sinh hoạt tư tưởng vừa qua Dũng vắng mặt, nếu không chắc chắn Dũng đã cho biết nhiều điều về Hà Giao trong những trận vừa qua, nhất là trận địch phản kích lớn ở Pe Luông. Hai người về tới đơn vị. Cuộc họp tiểu đoàn ủy mở rộng được triệu tập. Thủy yêu cầu Hà Giao với cương vị chỉ huy quân sự báo cáo lại nhiệm vụ của tiểu đoàn, sau đó trình bày dự án tác chiến. Không khí buổi họp hết sức nghiêm trang và khẩn trương. Bổng, cán bộ tác huấn, bật lên nói trước: - Tôi thấy khá gay đấy! Địch còn đông như vậy... Thủy không bằng lòng với câu nói đó, dù là nói thật trong cuộc họp này. Anh đáp lại: - Đúng là sẽ rất khó khăn, nhưng Bộ chỉ huy Mặt trận đã hạ quyết tâm. Tiểu đoàn chúng ta phải bằng mọi giá hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trung đoàn giao cho tiểu đoàn ta cũng là tín nhiệm ta đã có kinh nghiệm phòng ngự ở đồi Độc Lập, nhất là đã đánh trận Pe Luông, sau đó lại có kinh nghiệm cắt đường liên lạc Mường Thanh - Hồng Cúm. Trận này trên sẽ chi viện mạnh. Nhất định chúng ta sẽ lại chiến thắng. Bây giờ chúng ta hãy bàn cách đánh sao cho tốt. Sau đó Thủy cho mời các đại đội trưởng lên để nghe phổ biến kế hoạch và nhận nhiệm vụ cụ thể. Thời gian cứ trôi đi vùn vụt. Nhìn ra cửa hầm, mặt trời đã gần sa xuống các mỏm núi tím sẫm phía tây nam. Thủy bồn chồn ngồi đợi. Khoảnh khắc sau, Lanh xồm đến. Tấm thân to lớn của anh gần như che kín hết cửa hầm. Anh dập gót giầy săng đá, đứng nghiêm chào, khuôn mặt vuông vức hất lên đầy khí thế. Tiếp đó là Niên. Anh vốn mảnh mai, sau trận ốm vừa qua càng gày. Áo quần lúc nào cũng luộm thuộm, và túi gạo rang luôn luôn kè kè bên khẩu súng sáu. Anh tươi cười chào mọi người, gương mặt nhẹ nhõm sáng sủa lúc nào cũng thư thái, ngay cả trong những giờ phút gay cấn nhất. Người cuối cùng, chậm nhất, bao giờ cũng là Thìn, thấp bé, ít nói, đôi mắt lúc nào cũng đục ngầu, luôn luôn như đói ngủ. Liên lạc viên Báu đem vào một bình nước nóng. Thủy ngạc nhiên: - Ở mặt trận, cậu xoay đâu được “của này” thế hả? Báu cười: - Biết các anh họp nhiệm vụ quan trọng, em cố tìm cách đun được một tí để các anh uống cho ấm bụng. - Giỏi! - Thủy cầm lấy tay Báu lắc. Cuộc họp bắt đầu. Khác với cuộc họp tiểu đoàn ủy chỉ bàn chủ yếu về công tác lãnh đạo và thông qua dự án tác chiến, trong cuộc họp này các đại đội trưởng đã phải bàn bạc rất kỹ từng vấn đề cụ thể về chiến đấu và chỉ huy. Dự án tác chiến của Hà Giao còn quá sơ sài. Cuối cùng là việc giao nhiệm vụ. Hà Giao quay về phía Lanh, long trọng: - Đại đội 1 sẽ làm nhiệm vụ mũi nhọn chọc thẳng vào sân bay rồi trụ lại ở đấy! Giao chưa nói hết câu Lanh xồm đã bật lên nói rất to: - Rõ! Ít khi Hà Giao thấy Lanh tiếp nhận nhiệm vụ mà anh trao cho lại dứt khoát và hào hứng như thế. Giao rất hài lòng. Anh quay sang phía Niên: - Còn đại đội 2 làm nhiệm vụ thứ hai của tiểu đoàn: đào công sự triển khai ngoài sân bay để hỗ trợ cho c1 và thay thế khi cần thiết. Cũng như Lanh, Giao chưa nói hết, Niên đã nói luôn: - Giá mà... tiểu đoàn cho chúng tôi làm mũi nhọn trận này thì cũng hay. Giao cười khà khà: - Đại đội nào cũng tinh thần như thế này cả thì tuyệt quá. Nhưng thôi, tiểu đoàn ủy đã thông qua quyết định rồi. Ông chờ trận sau. Điện Biên còn phải choảng nhiều. Mà thật ra trong hay ngoài sân bay cũng là một thôi. Hai đại đội nhiệm vụ cũng nặng như nhau, sẽ phải tác chiến như nhau cả. Bây giờ đến đại đội 3... - Giao quay lại thấy Thìn như đang ngủ gật. Anh chau mày. Thủy kịp đỡ lời hộ Thìn: - Cậu này vừa đi đánh cắt ở phía nam về cũng mệt lắm. Cảm thông thôi. - Nói đoạn, anh đưa cho Thìn một điếu thuốc lá - Hút đi cho hết cơn buồn ngủ, ông bạn! Thìn cười bẽn lẽn như chịu lỗi. - Còn đại đội 3 - Giao tiếp tục - Làm dự bị đội cho tiểu đoàn. Nhưng cũng không được nghỉ đâu. Ngay hôm nay phải đi lấy gỗ để đem ra trận địa. Đào tới đâu c1 và c2 phải lát hầm ngay tới đó. Hầm chỉ huy, hầm súng máy và ĐKZ, Bazoka nữa. Khác với Lanh và Niên, Thìn không hỏi, cũng không nói gì thêm, anh chỉ im lặng. Cuộc họp giải tán. Thủy nhắc Hà Giao: - Anh xem kỹ lại kế hoạch hỏa lực đi nhất là pháo cấp trên. Anh nên nhấn mạnh yêu cầu kiềm chế thật tốt các đồn ở hai bên sườn ta, và nhất là ngăn chặn xe tăng địch khi chúng phản kích. - Được. Anh cứ yên trí. - Chúng ta chỉ có ba ngày chuẩn bị. Nhất thiết đêm 21 tháng 4 này ta phải cắt cho được sân bay, cũng là để cô lập hoàn toàn cái H1, cho e3 tối hôm sau tấn công. - Được! Được! Đã bảo cứ yên trí. - Vậy bây giờ thế này nhé: anh ở nhà trực, còn tôi xuống chỗ cậu Niên. - Được! Anh cứ đi đi! Báu lại xuất hiện. Anh đem vào một bọc lá chuối. - Báo cáo hai anh... - Cái gì thế? - Báo cáo, anh nuôi vừa gửi ra gói cơm nếp muối vừng cho hai anh. Thủy không khỏi cảm động, đỡ lấy gói nếp xôi: - Bồi dưỡng cho chỉ huy đây! Quý lắm. Anh mở gói xôi, đưa cho Giao. Giao từ chối, nói là đang đầy bụng. Anh ta lẩm bẩm một mình: đồ hộp thu về đầy mấy hầm thì không cho ăn, lại hí hởn khen cái của nợ này. Thật là đạo đức giả. Trời đã chạng vạng tối. Máy bay địch thả dù đã ngớt tiếng. Mặt trận lắng dịu xuống, rồi một sự im lặng mênh mông bao trùm lấy tất cả thung lũng. Có lẽ từ khi mở màn chiến dịch, chưa có buổi hoàng hôn nào mặt trận lại yên tĩnh như thế này. Nhưng ai ai cũng hiểu đây là những giờ phút lặng gió giữa một cơn bão lớn, và sau đó sẽ là những đợt tàn phá có thể sẽ còn to lớn hơn trước rất nhiều. Thủy ra khỏi hầm, xắn quần đi rảo trong giao thông hào. Anh bỗng nghe trong cái tĩnh lặng nặng nề của mặt trận một tiếng hát nho nhỏ của một chiến sĩ nào đó. Một bài ca mà Thủy đã từng được nghe mẹ anh hát ru từ những ngày thơ ấu xa xưa... Anh đi chầm chậm lại, thả hồn bay theo những câu hát mộc mạc mà xiết bao tha thiết ấy. Lòng anh như dịu đi trong giây lát. Câu hát như đã làm cho anh quên hết, quên hết, quên cả máu xương, cả súng đạn, cả nhiệm vụ... Chỉ còn lại một niềm ngọt ngào trong sáng và như tuyệt đối thanh bình... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Mười Hai, 2023, 06:07:01 pm Qua một ngày chuẩn bị ráo riết, buổi chiều, Thủy lại mời các đại đội trưởng lên hội ý để nắm tình hình. Căn hầm tuy đã gọi là khá, so với hầm chỉ huy các đại đội, nhưng vẫn hóa chật chội. Mọi người còn đang trò chuyện ồn ào chưa vào việc, bên ngoài bỗng có tiếng lao xao, nhất là tiếng Báu. Rồi có hai người cúi khom mình nối nhau bước vào. Tất cả căn hầm chợt như vỡ ra trong tiếng reo mừng rỡ:
- Anh Dũng! - Ô kìa anh Dũng! - Ôi, anh Dũng đã về đấy ư? Thủy chưa kịp chen mọi người để nhào ra bắt tay Dũng, Lanh xồm đã ôm choàng, gần như bế bổng lên, làm cho đầu Dũng húc luôn vào các dầm gỗ, tung cả chiếc mũ nan xuống đất. Không khí náo nhiệt, tưng bừng lạ thường. Người khen anh béo ra, người lại nói anh gày đi nhiều... gần như là không có ai để ý tới người cùng vào với anh. Đó là đồng chí chủ nhiệm chính trị trung đoàn. Ông cứ cười xòa, vui lây cái vui chung của mọi người. Ông để ý: chỉ có Hà Giao là có vẻ vui gượng. Mãi sau, tiếng ồn ào vui vẻ mới dịu xuống. Ông chủ nhiệm chính trị cất tiếng khoan thai nói: - Đấy nhé, hôm nay tôi mang đồng chí Dũng trả về cho các anh sau đúng mười sáu ngày vắng mặt. Các anh xem: khỏe mạnh và đầy đủ cả nhé, không thiếu cái cẳng cái tay nào hết. Mọi người cùng cười ran. Ông chủ nhiệm chính trị tiếp: - Tôi cũng mang đến cho các anh một quyết định mới của trên... Cả đám đông cùng lắng nghe. - Anh Dũng về, tiếp tục làm nhiệm vụ của mình. Còn anh Hà Giao thì bàn giao lại công việc và lên trung đoàn nhận nhiệm vụ mới: tham mưu phó trung đoàn thay cho đồng chí tham mưu phó cũ được chuyển sang e3 làm tham mưu trưởng. Gian hầm lại trở nên ồn ào. Hà Giao mặt đỏ lên, gần như sững sờ. Một câu hỏi như một dòng điện lướt rất nhanh trong đầu óc anh: thế là mình lên hay xuống? Hay cũng chỉ như cũ? Nhưng rồi anh cũng hiểu ngay: tham mưu phó trung đoàn cũng tương đương tiểu đoàn trưởng. Vậy là có lên được một tí. Thêm nữa: lên cơ quan trên cũng có cái hay là không phải trực tiếp chiến đấu ở tuyến lửa, mà nhiệm vụ đánh sân bay lại đang nóng bỏng trước mặt với biết bao khó khăn, nguy hiểm... Thế là mặt anh lại tươi lên. Tuy vậy vẫn làm ra vẻ khiêm tốn, Giao nói với ông chủ nhiệm chính trị: - Báo cáo, giá cứ cho tôi ở lại tiểu đoàn thì tốt hơn. Tôi không muốn đi đâu cả. Ông chủ nhiệm chính trị lại cười xòa, quàng tay ôm lấy ngang lưng Giao. - Thôi đi đồng chí! Nhiệm vụ mới, trọng trách mới. Thu xếp, sáng mai có mặt ở trên đó nhận bàn giao luôn, để đồng chí nọ còn kịp sang e3 bắt tay ngay vào việc. Các đại đội trưởng cùng đưa mắt nhìn nhau, cái nhìn có nhiều ý nghĩa. Một cách xã giao, Niên tươi cười: - Anh Giao lên cấp trên chớ có quên anh em tiểu đoàn 2 nhé. Cứ ưu tiên súng đạn, và tân binh cho anh em là được. Lanh xồm cũng oang oang đế thêm, nhưng không rõ anh chọc hay chỉ đùa vui: - Và có cái gì chén được, thì nhớ gọi bọn tôi với! - Hà Giao hơi sầm mặt xuống. Trong khi đó Thìn cứ nắn vai, nắn tay và xoa xoa trên ngực Dũng, thủ thỉ: - Cứ tưởng anh phải hàng tháng, hoặc vài tháng cũng nên. Không ngờ anh lại về kịp... Ông chủ nhiệm chính trị ngồi bên nghe thấy, tươi cười nói góp: - Ấy, cũng không mấy ai ngờ cái ông này lại có sức bền được đến thế. Ngay ở viện người ta cũng bảo vậy. Còn đại đoàn trưởng khi nhận được tin Dũng về, đã gọi luôn dây nói, hỏi lại: có đúng thế không? Rồi “cụ” nhắn: Bảo cậu ấy mình chúc mừng nhá, chúc mừng cái thằng đập đầu vào đá cũng không chết ấy... Mọi người lại cất tiếng cười vui. Ông chủ nhiệm chính trị quay về phía Hà Giao, nhắc lại: - Nhớ nhé, chuẩn bị đi, để rổi tối nay có thể bàn giao được, sáng mai lên trung đoàn luôn. Sau đó ông tạm biệt, quay trở về sở chỉ huy trung đoàn, không dự buổi hội ý. Gần như tới lúc đó Dũng mới có thể nói được, một phần vì anh em vui quá nói hết, và ông chủ nhiệm chính trị cũng nói hết, nhưng phần nữa vì anh cũng thực sự xúc động, mà anh lại thường không quen và cũng không muốn bộc lộ tình cảm của mình trước các đám đông. - Thưa các anh em, tôi về qua trung đoàn sáng nay, may mắn đã được gặp cả anh Thâu và anh Quý. Các anh đã phổ biến cho tôi nhiệm vụ mới của tiểu đoàn. Nhiệm vụ rất nặng. Nhưng chắc anh em cũng đã hiểu quá rõ: đây là một vinh dự lớn, thậm chí rất lớn đối với chúng ta... Cũng gần giống như Thìn, Thủy cứ ngồi ngắm Dũng suốt. Lòng anh hoàn toàn nhẹ nhõm, kể cả mừng rỡ. Ngay từ khi nhận lệnh mới, Thủy đã nghĩ tới Dũng đã về, ngồi đấy ở ngay trước mặt anh, như chưa hề bị thương tích phải xa đơn vị đã hơn nửa tháng trời nay. Vẫn gương mặt sạm nắng cứng cỏi ấy, vẫn đôi mắt sáng ngời quả cảm ấy, vẫn vóc người săn dẻo, mạnh mẽ ấy... - Anh Thủy ạ, ta hội ý nắm tình hình đi thôi. Cho tôi được cùng nghe luôn. Thủy quay sang phía Hà Giao: - Anh có cần chuẩn bị gì không để mai còn lên trên ấy? Giao lắc đầu: - Có gì mà chuẩn bị! Người lính chỉ độc chiếc ba lô. Còn công việc thì chính cuộc hội ý này cũng là một phần quan trọng của bàn giao rồi. Nếu còn gì, tối nay tôi sẽ trao đổi thêm với anh Dũng. Hà Giao đã nói thật. Anh chẳng có gì nhiều để mà bàn giao. Mới lên tạm quyền tiểu đoàn trưởng có nửa tháng, anh chưa làm được gì. Hơn nữa, đầu óc anh lúc này vẫn còn đang bừng bừng vì cái chức tham mưu phó trung đoàn. Anh hiểu: trong việc này thế nào cũng có ý kiến của ông Quý. Nếu không có ông thì Dũng về lẽ đương nhiên Hà Giao lại phải trở về với chức vụ cũ. Vậy là ông Quý đã khéo thu xếp. Nhưng cũng phải có dịp may nữa: nếu đại đoàn không điều tham mưu trưởng e3 lên cơ quan trên, thì làm sao tham mưu phó e2 được cất nhắc để có chỗ trống mà đưa Giao lên đó? Thôi, cũng hay, tham mưu phó trung đoàn đúng là hơn tiểu đoàn phó, thậm chí hơn cả “tạm quyền tiểu đoàn trưởng”... Sau cuộc hội ý, Dũng xuống ngay đại đội của Lanh. Anh muốn trực tiếp nắm thêm tình hình và giúp Lanh mọi việc chuẩn bị để tối mai có thể bước vào chiến đấu ngay. Anh thấy hầm hào đã khá hơn trước. Các hầm hố nghỉ ngơi, hội họp đều có trang trí bằng áp phích, khẩu hiệu nữa... Anh thấy rất rõ có dấu vết bàn tay của Thủy ở tất mọi nơi. Dũng còn có thêm một nhận xét: Ở cuộc hội ý trên tiểu đoàn, anh em cán bộ đã vui, nhưng xuống tới đại đội các chiến sĩ thấy anh về cũng có vẻ mừng rỡ không kém. Anh ghé vào một hầm ếch, “nhà ở” của tổ ba người Tích, Lợi, Viễn. Cả ba anh em đểu xuýt xoa: - Cứ tưởng tiểu đoàn trưởng bỏ anh em đi mãi... Tổ trưởng Tích nghiêm trang như tâm sự: - Thú thật với anh, chúng tôi cũng hiểu trận này là trận sẽ ác liệt. Nhưng sống, chết cũng chẳng lo, chỉ lo rồi sẽ đổ nhiều máu xương mà vẫn không vào được trong ấy. Cho nên anh em chúng tôi chỉ mong sao có người đưa dắt chúng tôi thật chắc chắn, thì dù có bỏ xác ở đó cũng không nề hà. Đúng là chỉ lo chẳng có ai để mình tin cậy... Dũng nắm lấy tay Tích. Câu nói ấy, anh hiểu, chẳng phải chỉ là để bầy tỏ cảm tình của anh em đối với Dũng, mà đây còn là lời nhắn nhủ cho tất cả những người chỉ huy: Phải làm sao đừng phung phí xương máu chiến sĩ. Anh bỗng thoáng buồn. Anh biết trong lịch sử chiến tranh thế giới, và đôi khi cả trong nước trước đây: đã có những người có khi ném cả hàng nghìn, thậm chí hàng vạn người lính vào lửa để rồi chẳng thu được một kết quả hoặc lợi ích nào thiết thực... Nửa đêm Dũng mới về hầm của mình và được ngả lưng một lúc xuống chiếc bạt phủ trên mớ rơm khô. Mặt trận vẫn tương đối yên tĩnh, chỉ có tiếng pháo lai rai phía bên khu đông, mà chủ yếu vẫn là trên đồi A1 vọng tới. Thế là đã qua hơn hai tuần nằm ở quân y mặt trận, và thế là đã qua hơn mười lăm ngày sống bên Nguyệt Lệ. Đúng là một giấc mộng. Từ sau buổi bất ngờ gặp nhau ở khe Trăn, không bao giờ anh nghĩ rằng mình lại có dịp gặp lại, không những thế lại ở liền bên nàng khá lâu và gần gũi đến như thế. Buổi gặp ở khe Trăn, trong cơn xúc động và giận dữ, anh chưa hề ngắm nhìn nàng được kỹ. Nhưng trong suốt thời gian nằm viện, dù muốn hay không anh đã được thấy lại sắc đẹp của nàng. Sáu năm đã qua đi nàng không còn là một cô gái mới lớn thơ ngây, mơn mởn, tươi trẻ. Giờ đây nàng đã là một người đàn bà với tất cả ý nghĩ hoàn mỹ của hai tiếng ấy. Vẻ đằm thắm, duyên dáng của nàng dường đã tới độ rực rỡ nhất. Cơ thể nàng cũng đằm hơn, sâu hơn. Dũng đã lặng ngắm nhìn nàng hàng giờ liền, và nhiều khi anh đã có cảm tưởng như mình không còn đứng vững được nữa, nếu như lý trí không luôn luôn nhắc nhở anh: nàng đã có chồng và nàng đã phản bội anh một cách khá dễ dàng như rất nhiều người đàn bà đẹp khác đã từng rũ bỏ tình yêu, quay ngoắt lại với người tình hoặc với chồng một cách hết sức mau lẹ, thậm chí ráo hoảnh. Kiêu hãnh đến ngu xuẩn, quá nhiều tham vọng đến thấp hèn và thích thay đổi như một kẻ cuồng điên... đó là những đặc điểm của không ít người đàn bà đẹp mà Dũng đã từng quan sát... Hơn hai tuần qua, Dũng đã sống trong tâm trạng luôn luôn xáo trộn và cả căng thẳng. Tuy nhiên, trái tim nhức nhối của anh đã dịu dần mà anh khống thể tự chối cãi. Cũng như anh, Nguyệt Lệ đã không hề nhắc lại chuyện cũ, dù chỉ một lời. Nàng đến với anh cũng đúng như một cô hộ lý đến với mọi thương binh. Tất nhiên, vì như nhiều người đã biết: hai người đã quen biết nhau từ rất lâu, cho nên, nàng đã đến với anh nhiều hơn. Tuy nhiên, Dũng vẫn như đọc được ở từng lời nói bình thường, từng cử chỉ bình thường của nàng biết bao nhiêu điều đặc biệt, biết bao nhiêu lời thầm kín, nồng cháy yêu thương, và cả những lời giãi bày đầy nước mắt. Những cuộc đối thoại câm lặng giữa đôi bên cứ như thế đã tiếp diễn ngày này qua ngày khác dường như không bao giờ hết, thậm chí ngày lại càng như sâu đậm hơn lên, đến nỗi nhiều khi cảm thấy như không thể chịu nổi nữa, chỉ muốn cầm chặt lấy tay nhau, ôm choàng lấy nhau và cùng òa khóc. Nhưng anh vẫn cố chống lại chính mình, nghiến răng lại mà tự răn đe: chớ có yếu mềm, chớ có buông thả mình trong những ảo tưởng phù du. Hãy coi nàng như một người quen biết bình thường, thế là quá đủ rồi. Thật vậy, giờ đây nỗi oán giận đã không còn nữa, thế là đã quá sòng phẳng để đền đáp lại tất cả những gì nàng đã săn sóc, giúp đỡ anh trong suốt những ngày thương tật. Nhưng thật khổ, dù đã luôn luôn tự nhắc nhủ, tự cảnh cáo, trái tim của anh vẫn không chịu bình yên. Còn về phía nàng, cũng rõ ràng nàng đã đi rất xa, vào rất sâu trong những cuộc đối thoại câm lặng ấy. Đặc biệt, qua ánh mắt nàng, Dũng bỗng e sợ, dường như có một cái gì đó dang muốn bùng dậy mà nàng không sao cưỡng nổi, hoặc không muốn cưỡng lại nữa... Cho tới buổi anh ra viện, điều mà anh e ngại, cảm thấy đã trở thành sự thật. Lúc thu xếp áo quần cho anh, kể cả khi theo anh lên cảm ơn bác sỹ, y sinh, hộ lý, và viện trưởng, Nguyệt Lệ vẫn không bộc lộ một điều gì khác lạ. Nhưng tới khi đi tiễn anh ra khỏi cửa trạm gác một đoạn đường khá xa, nàng mới ôm lấy anh và khóc rũ, nàng khóc mãi và anh cũng không gỡ nàng ra, cứ để vậy cho nàng gục đầu vào ngực anh mà khóc. Toàn thân anh dường như đã tan ra thành những giọt lệ yêu thương và cả cay đắng... “Anh ơi, em yêu anh, em yêu anh. Em không thể thiếu anh. Xin đừng xua đuổi em, đừng bỏ rơi em! Nếu không em sẽ chết. Thật vậy, em sẽ chết, hoặc vì đau khổ hoặc chính tay em sẽ phải kết liễu đời em...”. Và nàng đã hôn như mưa, như bão lên môi, lên mặt, lên cả những vết sẹo tàn nhẫn của anh. Rồi nàng ngất xỉu. Dũng lay gọi mãi mới tỉnh lại, “Anh ơi, xin đừng tưởng em đã được sống trong hạnh phúc. Không. Em đã quyết đoạn tuyệt với cuộc sống nhàm chán và bi thảm của em hôm nay. Anh muốn hiểu rõ hơn, anh sẽ hỏi lại anh chị em trong viện, nhất là chị Dậu...”. Rồi nàng lại ôm lấy anh muốn ngất xỉu một lẩn nữa. Mặt nàng mét xanh, đôi môi nàng run lên. Tuy nhiên, Dũng cũng hiểu được chính lúc này nàng lại đang sống trong những giây phúc hạnh phúc nhất của đời nàng... Mãi sau Dũng mới có thể dứt ra đi được, và bấy giờ anh mới bật lên được mấy câu, nhưng lại là mấy câu sao vô vị, kể cả ngô nghê, nghĩ lại mà quá xấu hổ: “Thôi được, lần sau, nếu gặp ta sẽ nói chuyện nhiều”. Nhưng may thay, nàng lại không để ý tới điều đó, trước khi quay đi, nàng lại nhón chân lên, hai cánh tay tròn trịa mềm mại ôm vòng lấy cổ anh và lại gắn đôi môi cháy bỏng lên miệng anh. Nụ hôn kéo dài, say đắm ngây ngất đến nỗi chính anh lại muốn ngã xỉu. Và bây giờ, Dũng đang nằm đây, trên chiếc bạt trải ổ rơm trong căn hầm dã chiến giữa đồng, dưới những làn đạn từ phía trước quét tới. Không còn có em ở trước mặt, càng không có em với đôi tay ôm choàng qua cổ để gắn một nụ hôn như bất tận. Nhưng, anh vẫn cảm thấy như có em đang ở bên mình, nóng hổi. Trái tim anh, trái tim sứt sẹo và tưởng như đã hóa đá lại bồi hồi. Em đã thực sự can đảm đi tìm lại tình yêu đã mất. Vậy còn anh? Trời ơi, cứ tưởng mình đã trở thành một tên liều lĩnh, bất cần đời, đến nỗi thần chết cũng ớn cái mặt, vậy mà nay sao lại lúng túng đến như thế này? Ôi, thì ra mình mới chính là kẻ không có tự do và sống giả, giả với cả chính mình, và đã phản bội lại chính mình, chứ không phải là em... Gần sáng, Dũng mới thiếp đi được một chút. Cho tới bốn giờ anh choàng tỉnh dậy. Công việc đã lại tràn ngập trong đầu óc. Chỉ còn có hai ngày nữa. Ngày hôm nay sẽ phải xem lại kế hoạch tác chiến, xuống đại đội với anh em chiến sĩ. Và đêm đến còn phải tổ chức trinh sát, luồn sâu vào tận sân bay xem sao. Dũng sẽ trực tiếp đi. Anh phải được tận mắt nom thấy nó, cái sân bay ấy, phải sờ vào được những phên sắt trên đường băng mới có thể yên tâm... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Mười Hai, 2023, 03:19:31 pm 12 Đêm đã xuống. Đại đội 1 bắt đầu xuất phát. Thủy và Dũng cùng dừng ở ngã ba giao thông hào bắt tay từng chiến sĩ và Lanh. Trong bóng đêm mờ, cả hai người đểu nhìn thấy gương mặt Lanh dưới vành mũ nan đầy vẻ cứng cỏi và phấn khích. Đại đội đi hàng dọc, cách nhau ba bước một người, ngược theo giao thông hào lên phía trước. Anh nào cũng lựu đạn, thủ pháo đầy người. Dũng lại nhớ tới buổi nào đứng ngắm nhìn quân trung đoàn 1, trung đoàn anh hùng tiến qua để sang khu đông tham chiến trên đồi A1. Bên kia sông Nậm Rốm, tiếng pháo vẫn ì ầm, hỏa châu chốc chốc lại vọt lên sáng lóa. Những quả pháo sáng đã tàn vẽ thành những đường khói trắng kéo dài như dệt mành trên bầu trời đen sẫm. Qua đường hào trục, rồi qua cả trận địa mới đào từ đầu màn 2 chiến dịch, đại đội bắt đầu lên tới đồng không. Một cảm giác trống trải, rờn rợn ôm choàng lấy tất cả mọi người. Gió đêm dào dạt càng làm tăng thêm cảm giác lạnh lẽo, trơ trọi. Không một tiếng nói. Tất cả ghì chặt lấy cuốc xẻng vũ khí vào bên sườn, không cho phát ra những tiếng lích kích. Những bước chân cũng dường như nhẹ hơn, tuy vẫn mau mau, cố không để phát ra những tiếng sột soạt mỗi khi lướt trên những đám chó đẻ mọc đầy trên mặt ruộng. Lanh đang đi với trung đội mũi nhọn của trung đội trưởng Tuynh, tách ra, đứng lại để có thể quan sát được cả đại đội và điều chỉnh cự ly và động viên anh em, nhất là các chiến sĩ mới vào trận lần đầu. Cái dáng vạm vỡ cao lớn của anh nổi bật trong bóng đêm. Hai cánh tay anh như hai cái bơi chèo cứ guồng lên lại guồng xuống như thể người đang đứng xem khoát tay cổ vũ cho những con thuyền đang đua trên sông. Đã nhìn thấy cứ điểm H1 ở phía trái, cách đại đội chừng hơn hai trăm mét, và cứ điểm H3 ở cánh phải cách trên bốn trăm mét. Cả hai đều tựa như hai cái nghĩa trang khổng lổ với những nấm mồ lúp xúp chi chít, với những cọc rào tua tủa nhô lên y như những cây thánh giá. Le lói một vài ánh đèn từ dưới các lô cốt, hầm ngầm hắt lên, như lửa ma trơi. Chốc chốc lại một loạt đạn đại liên, hoặc trung liên bắn ra cùng những quả cối vỡ tung trong những làn chớp đỏ rực. Lanh vượt lên với Tuynh. Anh trung đội trưởng gắm người tương tự như đại đội trưởng Thìn, nhưng rất nhanh nhẹn, hoạt bát. Năm 1952 đánh trận sông Đà, khi ấy Lanh là tiểu đội trưởng bộc phá thì Tuynh là chiến sĩ tiểu đội dao nhọn nổi tiếng can trường. Tuynh bỗng cầm tay áo Lanh giật giật. Cả hai cùng căng mắt nhìn lên. Trên các bãi chó đẻ khá rậm phía trước đang có những vật gì đó nhấp nhô như có người. Tuynh giơ tay ngang ra, phất mạnh một cái. Cả trung đội lập tức nằm rạp ngay xuống. Từ phía trước, tiếng xột xoạt nghe rõ dần. Có tiếng chân người. Rồi nhìn thấy rõ hơn những bóng người, khá nhiều, đang lom khom bước rảo như chạy thẳng về phía quân ta đang nằm dán bụng xuống đất. Tuynh thì thào bên tai Lanh: - Địch lại ra phục kích, anh ạ! Lanh lắc: - Để xem lại đã! Địch ra, không tản mạn thế này đâu. Những bóng người ở phía trước xuất hiện mỗi lúc một nhiều như cua tản mác đầy đồng. Một bóng đen tới sát ngay bên Tuynh và Lanh tự lúc nào. Nhanh như cắt, tuy nhỏ bé, Tuynh tung người lên, ôm chặt lấy bóng đen, và quật nó xuống liền. Bóng đen ú ớ nghẹt thở giữa hai đầu gối Tuynh kẹp chặt. - Ái, ái buông tôi ra! Bóng đen giãy giụa, cố bật lên được mấy câu. Tuynh vẫn không buông rời hai đầu gối: - Mày là ai? Ngụy hả? - Không! Không! Quân báo của Bộ đây. - Quân báo nào, nói láo! - Quân K80 đây mà. Quân ông Bích Lân... Nhìn lại trang phục của người đang nằm dưới chân mình, Tuynh ngờ ngợ. Lanh cũng đã kịp nhận ra người bị bắt: - Đúng là quân báo đấy. Bấy giờ mới cười xòa cả với nhau. Anh quân báo xoa xoa mãi nơi cổ: - Ông này nhỏ thó, mà cũng dữ ghê! Tuynh đáp tỉnh khô: - Tớ đô vật làng Nguyễn đây, cậu không biết hả? Nhưng đây không phải chỗ và là lúc để trò chuyện nhiều, Lanh tranh thủ hỏi thêm tình hình địch trong sân bay. Anh quân báo cho biết vẫn không có gì thay đổi so với đêm qua, địch vẫn không có lực lượng ở ngay trên đường băng. Chúng chui rúc hết trong các cứ điểm bao quanh sân bay. - Thôi được, cám ơn cậu. Đi đi! Anh quân báo vừa đi khỏi, tất cả những khẩu đại liên trong cứ điểm H1 bỗng cùng rống lên một loạt, rồi súng cối bắn ra tới tấp trên những thửa ruộng phía trước, nơi các chiến sĩ quân báo còn đang lóp ngóp tiếp tục vượt qua. Rồi cả cứ điểm H2 cũng bắn ra. Đại đội của Lanh tự nhiên như bị chặn lại, phải nằm nguyên tại chỗ. Chưa hề có một công sự ẩn nấp. Lanh tức quá chửi vung. Đã nghe thấy phía trên có tiếng kêu và gọi í ới. Lanh hiểu ngay: thế là đơn vị đã có thương vong. Rồi đến lượt đại đội 1 cũng vậy: - Báo cáo, trung đội phó trung đội 3 bị thương... - Báo cáo, hai chiến sĩ trung đội 2 bị thương... Tiếng báo cáo lan dài từ phía dưới bay lên. Lanh vội vàng tiến lên bất kể đạn địch vẫn đang réo réo trên đầu. Chính trị viên Tốn đang cùng y tá và các chiến sĩ hối hả băng bó cho thương binh. Thấy Tốn đã kịp thời có mặt, Lanh hoàn toàn yên tâm. Việc gì chứ đến việc giải quyết thương binh liệt sĩ, Tốn luôn tỏ ra cực kỳ chu đáo và thành thạo. Cũng đúng lúc đó, súng cối của tiểu đoàn từ phía sau bắn lên dồn dập, nhằm thẳng vào cả hai cứ điểm. Lanh hiểu ngay: Dũng đã kịp thời chế áp địch, chi viện cho bọn anh. Nhưng địch vẫn không ngừng hẳn. Cối ta tiếp tục bắn lên. Một trận đấu hỏa lực “không tiền khoáng hậu” giữa đôi bên ta, địch đã bất ngờ diễn ra khá kịch liệt. Dần dần đã thấy trên hai cái “nghĩa địa” khổng lồ kia có những ngọn lửa bốc lên. Hẳn những phuy xăng và những mái bạt nào đó của chúng đã trúng đạn. Các đám cháy mỗi lúc một to. Lanh vẫy anh chiến sĩ thông tin lại. Quay máy, Lanh báo cáo vắn tắt tình hình của đại đội. Tiếng Dũng vang lên từ phía sau, không xa lắm: - Tôi sẽ cho bắn dồn dập tiếp. Cậu phải cho đại đội bứt lên. Kiên quyết tiến lên! Không nằm chết gí ở đây mãi. Tiến sâu vào! Chúng nó sẽ khó chuyển bắn ngược trở lại, hiểu không? Lanh hiểu rồi. Thế là, sau mấy loạt súng cối dập vào H1, và H2, Lanh phất mạnh tay: - Tiến! Cả đại đội như từ dưới mặt đất mọc lên cùng một loạt. Đạn địch quả là đã bớt. Càng vượt được vào sâu bên trong, đại đội càng cảm thấy nhẹ hơn nhiều, chỉ còn những phát súng cối bắn lung tung lộn xộn. Dường như chúng đã mất mục tiêu. Lúc tiến, lúc nằm, các chiến sĩ ta nối tiếp nhau tiến lên không ngừng, như những đợt sóng. Một lúc sau, tiểu đội mũi nhọn đi đầu báo cáo về: “Đã tới được bờ mương thoát nước của sân bay”. Lanh chồm hẳn lên. Anh sướng như điên. Thế là đã tới được bờ mương! Đã sờ được tới mép sân bay rồi! Xem đồng hồ tay: 22 giờ 40 phút. Lanh chạy lên. Các chiến sĩ tiểu đội 1 đang nằm rải dài trên bờ con mương cấp tốc đào công sự để cải tạo nó thành một chiến hào chiến đấu. Anh chiến sĩ thông tin luôn luôn bám sát sau lưng Lanh. Lại vồ lấy ống nói, anh nói nho nhỏ, nhưng vẫn như reo như hét lên: - Con mương! Báo cáo, chúng tôi đã tới được con mương! - Có đúng con mương không? Xem lại! - Tiếng Dũng hỏi. - Đúng! Đúng! Là con mương mà đêm qua chúng ta đã tới. Tôi đã nhìn rõ thấy đường băng trăng trắng bên kia. Thấy cả cột đèn số 2 và xác chiếc máy bay Dakota số 4. Nó kia kìa, nằm chình ình ra, to lắm. - Vậy cậu dồn quân lên, nhanh chóng tiến vào đánh chiếm ngay đường băng... - Tiếng Dũng vang lên, mừng rỡ nhưng vẫn quyết liệt. Lanh vừa mới kịp dồn hết trung đội 2 lên thì pháo lớn của địch từ Mường Thanh bắt đầu bắn ra. Chúng bắn trùm lên gần suốt dọc con mương, mà đại đội 1 vừa bám được. Cũng có thể một đài quan sát nào đó của địch ở H1 hoặc H2 đã phát hiện được quân ta. Các trận địa pháo của địch trong Mường Thanh gần như dựng đứng lên mà bắn đến đỏ nòng... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Mười Hai, 2023, 03:22:21 pm * - Alô, Lanh đây! Lanh đây! Chúng tôi vẫn bám được con mương... Vâng, tôi vẫn ở đây, Tuynh đang ở cạnh tôi... Pháo nó vẫn dữ lắm... Tuynh chảy máu tai rồi, ù đặc không còn nghe được gì nữa... Dũng như con cọp trong cũi. Anh lồng lộn. Cán bộ tiền sát viên của pháo binh đi cùng anh đã trúng mảnh hy sinh ngay từ phút đầu. Dũng đành phải trực tiếp gọi về trận địa pháo mặt trận. Không am tường mọi khẩu ngữ chuyên môn của pháo, anh cứ gọi bừa gọi vo như bộ binh nói với nhau: - ... Bắn đi! Bắn mạnh vào! Chế áp thằng Mường Thanh thật lực vào cho tôi! Quân tôi vẫn chưa ngóc đầu lên được. Bắn đi! Bắn mạnh nữa đi! Rồi gọi về ông Thâu, ông Quý, anh yêu cầu hỏa lực của e bắn tập trung vào hai cứ điểm H1 và H2 dể phối hợp với hỏa lực của tiểu đoàn, không cho “hai thằng này” có thể tự do cắt vào hai sườn của đại đội 1. Pháo mặt trận bắt đầu lên tiếng, nghe như sấm dậy từ xa xa. Trận địa hỏa lực của trung đoàn cũng đồng thời bừng lửa. Chỉ mười lăm phút sau, đã thấy Lanh gọi điện về cho biết tình hình đã đỡ lắm. Thủy từ phía sau cũng chạy lên. Toàn thân anh đầy bùn đất và đã loang lổ máu chiến sĩ. Dặn Thủy thay anh trực ở sở chỉ huy, Dũng vẫy Báu rời hàm ếch băng lên phía trước. Pháo Mường Thanh đã ngớt. Nhưng từ hai cứ điểm H1 và H2 pháo sáng vẫn liên tục bắn lên sáng rực cả bầu trời. Giao thông hào đầy chiến sĩ, và thương binh tử sĩ. Dũng và Báu phải nhảy lên mặt ruộng mà chạy. Quãng quãng nghe có tiếng chiến sĩ hoặc một cán bộ từ dưới giao thông hào quát lên: - Thằng nào chủ quan thế? Có xuống không? Muốn xơi pháo đùng, hay pháo tép đấy? Mặc, hai anh em cứ cong người, lúc nằm rạp xuống ruộng, lúc lại chồm lên, tiếp tục tiến. Đã tới được bờ mương, Dũng nhảy phóc xuống. Chính trị viên Tốn đang cùng y tá và các cán bộ trung đội 3 băng bó thương binh để chuyển về phía sau. Tốn ngẩng lên. Mặt anh như hơi ngơ ngác, khác mọi ngày thường. Dũng hiểu: Tốn chưa bao giờ trải qua những trận pháo dữ dội như thế này. Dũng tiến lên một đoạn nữa. Lanh đang đứng chỉ dẫn cho các chiến sĩ sửa lại hai ụ trung liên. Các chiến sĩ đang xúc, đào cật lực. Những lưỡi xẻng vung lên loang loáng. Quay lại thấy Dũng, Lanh ngạc nhiên. - Ôi chao, anh Dũng! Anh lên đây làm gì thế này? Dũng không trả lời, chỉ tay một vòng: - Công sự còn nông lắm. Phải cho đào thêm nữa. Tôi sẽ đưa thêm gỗ lên cho các cậu làm nóc hầm. Rồi anh hỏi: - Còn hầm của cậu đâu? Lanh chỉ tay ra phía sau một chút: - Báo cáo kia! Dũng nhìn thấy lờ mờ trong bóng đêm một chiếc hố cá nhân không có nắp và cũng nông choèn. Anh lắc đầu: - Không được! Cậu phải cho anh em đào nữa, và phải có nắp chứ. Lanh cười: - Vâng, để tí nữa anh em làm xong mấy cái ụ trung liên và ĐKZ, sẽ sửa lại. Một chiến sĩ đứng sau Lanh chợt rụt rè: - Đại đội trưởng nên tranh thủ ăn tí cơm đi! Suốt từ chiều đến giờ vẫn chưa thấy anh ăn lấy một miếng. Dũng quay lại, nhận ra Tích tổ trưởng, mà anh đã gặp chiều hôm qua, người đã nói với anh:”... Sống chết thì cũng chẳng sợ, chỉ sợ không có người đưa dắt anh em vào chiến đau một cách chắc chắn...”. Nghe Tích nhắc, Lanh như mới nhớ ra. Anh cười, mở chiếc túi vải đeo bên sườn, lấy ra một nắm cơm đã nguội lạnh, rắn đanh. Chùi tay vào quần, anh bẻ đôi nắm cơm, đưa cho Dũng một nửa: - Anh ăn đi! Ăn với tôi một miếng cho vui, anh! - Mình không đói đâu - Dũng lắc đầu. Lanh vẫn cố mời: - Anh cứ ăn đi! Ăn với tôi một miếng. Ta mừng, dẫu sao cũng đã bám được vào mép sân bay... Không thể từ chối, Dũng cũng chùi bàn tay đầy đất vào quần rồi đỡ lấy nắm cơm. Lanh vừa nhai vừa nói: - Ngon! Phải không anh? Sau này trở về, dù có cơm gà cá gỡ cũng không thể nào ngon bằng miếng cơm này... Dũng gật đầu: - Đúng, đây là một trong những bữa ăn vô giá của lính... Ăn xong, Lanh đề nghị cho bọn anh tiếp tục đánh lên. Dũng lắc đầu. Anh cho lui lại tới bốn giờ sáng. Lanh ngạc nhiên: - Lúc nãy anh lệnh phải nhanh chóng đánh ngay vào đường băng cơ mà? Dũng nói: - Thời cơ lúc ấy qua rồi. Các cậu bị pháo kích. Địch quan sát thấy lực lượng ta đã vào tới bờ mương. Như vậy phải có chuẩn bị tốt mới đánh được. Nếu không, sẽ phơi anh em hết trên đường băng cho chúng nó thịt. Bây giờ cậu phải củng cố lại hẩm hố biến đoạn mương này thành một chiến hào tiền duyên, một bàn đạp để “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”... Lanh vẫn có vẻ tiếc: - Nhưng đến bốn giờ, có nghĩa là sau hai giờ nữa, sợ chúng nó kéo ra bịt hết đường băng mất anh ạ. Dũng vẫn lắc đầu: - Ban đêm, tụi nó không dám ra đâu. Cậu còn lạ gì. Phải tranh thủ đi thôi, tớ còn sốt tiết muốn vào nhanh gấp bốn cậu. Dũng trở lại sở chỉ huy. Thủy lại quay về phía sau lo việc đưa thêm gỗ lên cho Lanh, đồng thời đón tân binh, sẵn sàng bổ sung tại trận. Cả trận địa phía sau cũng như phía trước của tiểu đoàn trở nên tấp nập. Cáng thương từ phía trước hối hả khiêng về, gỗ, đạn từ phía sau rầm rập đưa ra. Quân của tiểu đoàn, quân của trung đoàn bộ, chen chúc nhau trong giao thông hào chật chội và đã lở loét tơi bời. Cho tới khi kim đồng hồ trên tay Dũng chỉ 04 giờ kém 15 phút đã nghe thấy tiếng Lanh báo cáo về: “Chúng tôi bắt đầu lên đấy! Các anh chuẩn bị chi viện nhá! Pháo. Nhất là pháo!”. Dũng gần nín thở theo dõi cuộc tiến quân “câm lặng” của Lanh lên đường băng. Theo kế hoạch, anh em bí mật tiến lên, rải ra và tranh thủ đào hào luôn. Chiếc kim đồng hổ như quá sức chậm chạp. Tuy nhiên không nghe thấy tiếng súng rộ lên. Pháo Mường Thanh cũng vẫn còn im. Chuông điện thoại bỗng reo lên. Dũng áp chặt ống nghe vào tai. Trái tim anh không khỏi thoáng rộn lên trong một nỗi hồi hộp. - Báo cáo, Lanh đây! Lanh đây... - Sao? Tôi nghe! - Báo cáo, trung đội của Tuynh đã đào được 30 mét trong sân bay nhưng đất rắn ghê lắm. Dũng mừng rỡ: - Biết rồi. Đất trên sân bay hoàn toàn là đất nện kỹ. Cứ cố gắng lên!... Ngẩng nhìn về bầu trời phía đông, đã thấy hơi bàng bạc sáng. Nhưng cũng chỉ mấy phút sau Lanh lại báo về. Lần này thật gấp gáp: đã thấy địch xuất hiện lố nhố, rất đông, từ phía H2 ở nam sân bay đang tiến lại. - Xem lại, đông là bao nhiêu? - Dũng nhắc. - Chưa sáng rõ, lại bắt đầu có sương mù. Chỉ thấy lố nhố đông lắm. Chúng ra phản kích đấy. Dũng nói ngay: - Phải xem lại. Chưa chắc đã là phản kích. Anh em quân báo đã cho biết quy luật của địch: các buổi sáng tinh mơ chúng thường lợi dụng sương mù tổ chức đi để tiếp tế cho H1 qua sân bay. - Nhưng tiếp tế gì mà đông vậy? - Quân báo cho biết: chúng thường có lực lượng đi tháp tùng, bảo vệ bọn thồ hàng. Cậu hãy sẵn sàng đánh ngay, không cho chúng đi qua. Chúng tôi sẽ lại chi viện tốt cho các cậu... Dũng chưa nói dứt câu, đã nghe thấy tiếng súng nổ ở phía trước. Pháo Mường Thanh cũng gầm lên. Nhìn lên lại thấy lửa đạn loằng nhoằng, và khói lại bốc lên, mỗi lúc một cao và dầy đặc. Không chậm hơn chúng một phút, pháo của mặt trận ta cũng lập tức đáp lại liền. Lại có chuông đổ hồi. Nhưng không phải Lanh. Tiếng đại đội trưởng Niên ở phía sau vang lên: - Báo cáo tiểu đoàn, tình hình thế nào? Đề nghị cho c2 lên phối hợp, tăng cường cho c1. Dũng lắc, như có Niên đang đứng ở ngay trước mặt mình: - Hoan nghênh! Nhưng chưa vội. Đang đụng quân đi tiếp tế cho H1. Chúng cũng khá đông, nhưng hãy cứ để cho c1 ra tay đã. Cậu cứ sẵn sàng đợi đấy, còn nhiều cơ hội. Trời sáng dần. Đã 05 giờ 30 phút. Phía trước, súng vẫn nổ không ngừng. Lanh báo cáo về: địch dã bị chặn lại. Chiến hào 30 mét của trung đội Tuynh tuy sụt lở mất nhiều, nhưng vẫn vững. Đích còn cách xa tới khoảng trên dưới 100 mét. Chúng đang nằm lại đó, vừa bắn vừa tranh thủ đào công sự... Chợt có tiếng chân người rậm rịch, Dũng bước ra khỏi hầm. Một toán chiến sĩ nuôi quân đang gùi những bao tải lớn đựng cơm nắm, muối vừng tiến ra. Có anh còn bôông bêênh gánh cả hai nồi nước uống. Dũng nói to: - Trên ấy đang đánh nhau, anh em lên làm gì vội! Ngồi chờ ở đây đã! Các chiến sĩ nuôi quân đều còn trẻ, khỏe. Họ là lính cựu hết. Họ như vây lấy Dũng nằn nì: - Báo cáo, tiểu đoàn cứ cho chúng em lên. Nếu không anh em mình đói mất... - Nhưng tôi có cản các cậu đâu! Bảo là ngồi chờ một lúc đã. - Báo cáo, lên mà gặp địch, chúng em xin tham gia “oánh” luôn. Báo cáo tiểu đoàn, anh em nuôi quân chưa được “oánh” lần nào. Không sợ, tiểu đoàn ạ! Dũng phải bật cười. Anh vẫn kiên quyết giữ họ lại. - Tôi rất hoan nghênh anh nuôi. Nhưng cứ phải chờ một tí đã. Lên bây giờ, anh em ta cũng không có thì giờ đâu mà ăn ngay được. Bấy giờ tổ anh nuôi mới chịu, ngồi rải ra trong giao thông hào, vẻ ỉu xìu. Lanh lại báo cáo về, giọng anh càng có vẻ khẩn cấp hơn: địch đã tung ra ba xe tăng. Tuynh trực tiếp chỉ huy ĐKZ, đã bắn cháy được một. Hai chiếc khác phải dừng lại, nhưng vẫn đang bắn lên rất mạnh. Trung đội 1 chỉ còn có mười bảy tay súng. Hai trung liên và một ĐKZ bị hỏng... Dũng hiểu tình hình đã trở nên rất cấp bách. Thủy ở phía sau lại mò lên. - Dưới đó thế nào, anh? - Dũng hỏi. Chỉ thấy Thủy cười cười, lắc lắc, gật gật. Lạ quá. Dũng hỏi lại, Thủy bỗng cười và như quát lên: - 155 nó nện cả vào phía trong. Mình có lẽ điếc mất rồi. Dũng vội móc túi lấy vỏ bao thuốc lá, xé ra, viết mấy dòng vắn tắt cho Thủy biết tình hình ở phía trên và quyết định của anh là sẽ lệnh cho Lanh dồn lực lượng của trung đội 2 và trung đội 3 đưa lên tăng cường cho Tuynh, đồng thời tiểu đoàn sẽ điều ba trung liên là hai ĐKZ của đại đội Niên lên cho mũi nhọn. Thủy gật đầu. Anh ngước cặp mắt tràn đầy lo âu nhìn Dũng. Đối với Thủy, lúc này Dũng đúng như một viên thuyền trưởng của một con tàu đang gặp sóng to gió lớn. Tất cả mọi thủy thủ đang hoàn toàn trông cậy và sẵn sàng phục tùng mọi mệnh lệnh của anh. Kế hoạch của Dũng được triển khai tức khắc. Pháo mặt trận được yêu cầu bắn ngay trên đường băng, tạo thành một tuyến lửa, chặn đứng xe tăng của bọn Pháp lại. Một lúc sau thấy tiếng súng ngớt, tổ anh nuôi lại nhao nhao xin lên. Dũng đồng ý. Anh cũng rời chỉ huy sở đi luôn. Lanh vẫn ở hầm chỉ huy bên bờ mương, nhưng nóc hầm đã bị đạn pháo địch phá tung, chỉ còn trơ lại hai, ba khúc gỗ cháy đen và rách mướp nằm lăn lóc trên bờ đất đang còn nghi ngút khói. - Anh lại lên đây làm gì? - Lanh lại ngạc nhiên và cả lo lắng kêu lên, khi thấy Dũng. Khói vẫn còn cay xè mắt và ngạt thở trong khắp các hầm hố đổ nát. Dũng không khỏi bàng hoàng. Lên tới đây anh được Lanh cho biết tỉ mỉ hơn: thì ra địch toàn là lính dù lê dương, không những thế còn có cả lính Ma-rốc. Những giây phút vừa qua, chừng 30 tên BEP đã lợi dụng xe tăng áp đảo ta về hỏa lực, tràn vào được một đoạn chiến hào của trung đội. Các chiến sĩ ta theo lệnh Tuynh đã lao vào đánh giáp lá cà, dùng toàn lựu dạn và lưỡi lê. Đã dầy kín cả một nửa giao thông hào vừa xác địch vừa tử sĩ của ta... Trời Điện Biên buổi sáng hơi se se lạnh mà mồ hôi chảy dài trên trán và hai thái dương Dũng. Anh nói, giọng vốn đã hơi khàn nay càng như khê đặc: - Đưa nốt trung đội 3 lên! Bỏ đoạn hào kia, sẽ giải quyết sau. Đào ngay một đoạn hào khác. Địch sẽ còn đánh đấy! Hãy sẵn sàng... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Mười Hai, 2023, 03:25:08 pm * Điện từ đại đoàn qua ông Thâu, ông Quý đã xác định cho Dũng biết: lực lượng đang đánh nhau với tiểu đoàn 2 trên sân bay chưa phải lực lượng lớn của Mường Thanh, mà đúng là lực lượng tiếp tế thường xuyên cho H1 nhưng có tăng cường. H1 bị trận địa chiến hào đánh lấn của e3 vây bủa rất nguy ngập. Chỉ có một lối duy nhất vận chuyên tiếp tế và liên lạc đường bộ với Mường Thanh là đi qua sân bay. Vì vậy rất dễ hiểu là chúng phải gắng sức mở cho dược một hành lang để đi tới H1. Đại đoàn lệnh cho e2 và cụ thể tiểu đoàn 2 phải kiên quyết bằng mọi giá không cho địch khai thông được đường qua sân bay. Đại đoàn đã cho chuyển xuống trung đoàn thêm đạn dược, vũ khí và cả một số tân binh để sẵn sàng bổ sung. Đại đoàn cũng thông báo cho biết: chiến hào của trung đoàn 3 đã đào lấn được vào tận trong bãi dây thép gai của H1, đồng thời các chiến sĩ của tiểu đoàn Lê Phong cũng đã bắn sụp được một số lô cốt và ụ súng quan trọng ở tiền duyên của địch. Tình hình bên đó là khá thuận lợi... Nhận được thông báo ấy qua ông Thâu, Dũng cảm thấy đầu óc mình nhẹ nhõm đi được một chút. Một toán tù binh gồm hai lính Ma-rốc và một lính dù người Đức được dẫn từ phía sân bay trở ra. Dũng giữ chúng lại. Không cần phiên dịch, anh trực tiếp hỏi bằng tiếng Pháp: - Lực lượng các anh có bao nhiêu? Ba tên tù binh quần áo đều tơi tả, đứa nào cũng bị thương đứa bị mảnh vào đầu, đứa bị lê đâm vào nách. Chúng đã được băng bó sơ qua. Một tên thều thào: - Trình ông chỉ huy, chúng tôi có hai trung đội mang vác, một tiểu đoàn dù BEP thêm một đại đội lính Bắc Phi. Đại đội này đi tăng cường cho H1. Đại úy Kubiak chỉ huy chung. Chúng tôi tập kết ở H2 tiến ra... - Nhiệm vụ của các anh được trao cụ thể như thế nào? - Dũng chau mày hỏi tiếp. - Giải tỏa cho H1 hoặc cho sân bay, hay là gì? - Trình ông, lệnh trên: phải mở bằng được một hành lang để tiếp tế cho H1. H1 chỉ còn đủ đạn cho một ngày đêm chiến đấu. Còn sân bay thì chưa rõ là đã có lực lượng mạnh của các ông vào như thế này... - Vậy có nghĩa là sẽ còn tiếp tục tấn công để mở hành lang? Tên tù binh sợ hãi: - Trình ông, con không thể biết rõ điều ấy. Tất cả là do chỉ huy. Không có thì giờ nhiều nữa, Dũng phất tay ra hiệu dẫn chúng đi. Dẫu sao thế là đã rõ: mọi việc đúng như đại đoàn đã thông báo. Đã 9 giờ. Sương mù đã tan hết. Máy bay địch bắt đầu xuất hiện trên bầu trời chao chát. Dũng thầm lo: máy bay lên chắc địch sẽ lại tấn công. Anh đã không nhầm. Đợt tấn công thứ ba của lực lượng Kubiak đã được tiếp tục tung ra trong tiếng gào rú của máy bay trên không và bom nổ vang rền khắp bốn chung quanh trận địa. Lanh lại báo cáo về: công sự lại bị trúng đạn pháo và sụt lở rất nhiều. Một số ụ trung liên đã bị phá sập hoàn toàn. Đã có thêm một số chiến sĩ vừa hy sinh vừa bị thương. Ruột gan Dũng như cồn lên: - Liệu có giữ được không? - Báo cáo, tinh thần anh em vẫn tốt. Nhưng cần bổ sung thêm ba trung liên và thêm nhiều lựu đạn nữa, càng nhiều càng tốt. Còn hai cây trung liên, tôi đang chỉ huy đây. Ha, ha, chúng nó chết như ngả rạ... Chúng nó đã bị chặn lại... Pháo ta đã bắn cháy một tăng! Còn một chiếc đang lui, dang lui. Phải, phải, nó đang... Tiếng nói sôi nổi mạnh mẽ của Lanh bỗng vụt tắt. Dũng quay máy, thấy nhẹ tênh. Đường dây đứt mất rồi! Anh vội lệnh cho chiến sĩ thông tin đi nối ngay. Anh chiến sĩ thông tin vừa khom mình nhao ra khỏi hầm một lúc thì một chiến sĩ khác từ phía trước xồng xộc chạy về. Anh lảo đảo vịn vào cửa hầm, như không đứng vững nổi nữa. Hơi thở đứt khúc, anh nói không thành câu: - Báo cáo... Lanh... anh Lanh... hy sinh rồi. Nó bắn... bắn... quăng ra... Khẩu trung liên cũng... cũng... - Hả? - Dũng như thét lên. Anh chồm ra, cầm chặt lấy hai vai anh chiến sĩ. Nhưng, anh ta đã rũ xuống dưới chân Dũng. Trời ơi, Lanh! Lanh! Thế là Lanh chết mất rồi! Dũng nhắm mắt lại. Cả khuôn mặt anh như tan ra trong một nỗi đau thương tới cùng cực. Nhưng anh không thể khóc. Tám năm rồi, làm gì còn nước mắt! Trái tim anh chỉ còn biết gào lên thảm thiết: Lanh! Ôi, mới đêm qua còn chia nhau nắm cơm và nói tới ngày về... Nhưng anh chiến sĩ từ sân bay chạy về báo cáo tin dữ đã tỉnh lại, lắp bắp tiếp: - Địch... địch đã chiếm... mất... mất chiến hào... - Sao? Nói lại đi em! - Dũng lại như giật mình - Anh em ta thế nào? - Báo cáo... rút lui... trở ra mương rồi... Dũng buông xuôi hai tay, thở hắt. Tình hình thế là nghiêm trọng. Đã tới lúc phải tung đại đội Niên vào chiến đấu. Dây điện thoại với Niên may vẫn chưa đứt. Khi nhận được lệnh của Dũng, Niên đáp lanh lảnh, đầy khí thế: - Chúng tôi lên ngay! Tiểu đoàn hãy tin tưởng ở chúng tôi! - Pháo sẽ chế áp mạnh thẳng vào chiến hào cũ của Lanh, đè đầu chúng nó xuống cho các anh lên. Thật nhanh, nghe không! Quyết không cho chúng nó củng cố... - Rõ! Chúng tôi xuất phát đây! Đại đội của Niên, cái đại đội đã bị tiêu hao khá nặng trong trận Pe Luông giờ đây đã được hổ sung quân số khá đầy đủ, toàn là tân binh Thanh - Nghệ được huấn luyện tốt, bắt đầu từ chiến hào phía sau ào ạt tiến lên, dưới những làn trọng pháo của Mặt trận và các trận địa hỏa lực của trung đoàn, tiểu đoàn, che chở ở bên trên. Khí thế thật mạnh mẽ. Quả nhiên, chỉ hơn 30 phút sau Niên đã báo về: đoạn hào trong sân bay đã được khôi phục. Bắt được hai tù binh, toàn là lính dù lê dương. Nhưng cũng lại gần như lúc trước, Dũng chưa kịp mừng thì tin dữ lại báo về: Niên cũng đã hy sinh. Một chiếc xe tăng quái ác ẩn nấp bên cứ điểm H2 bất ngờ xuất hiện đã bắn hết sức ác liệt vào sườn đại đội 2... Hai mắt anh Dũng lại tối sầm. Anh hạ lệnh: trung đội trưởng Thầm lên thay thế Niên và phải kiên quyết giữ vững bờ mương đến cùng, chờ tiếp viện... 12 giờ trưa. Đã tới lúc đại đội 3 bước vào chiến đấu. Đại đội 1, đại đội 2 được lệnh dạt sang cánh trái và cánh phải ở bờ mương, đánh vào sườn địch, để cho quân của Thìn lên được thuận lợi. Thìn và Hào cùng lên hầm tiểu đoàn để nhận lệnh cụ thể. Thủy cũng được mời từ phía dưới lên, cùng tham gia chỉ đạo. Mấy người cùng ngồi nhồi nhét trong căn hầm nhỏ bé. Dũng trình bày ý đồ thay đổi cách đánh: không ồ ạt xung phong như trước, sẽ tiến lên một cách vững chắc hơn: Đại đội 3 sẽ chia thành từng tổ ba người, mỗi tổ trang bị: một trung liên, một tiểu liên, và một chiến sĩ đi sau chuyên ném lựu đạn và quan sát địch. Đánh tới đâu, đào ngay công sự tới đó. Tổ trước vượt lên, tổ sau tiến theo, đào tiếp công sự cho sâu hơn rộng hơn. Và cứ thế, mũi tiến công không như những làn sóng lớn mà sẽ như một mũi khoan dài, khoan dần lên. Sẽ chậm, nhưng vững chắc, đỡ tốn máu... Tất cả mọi người cùng tán thành cách đánh như vậy. Cuộc họp rất chớp nhoáng. Như tất cả mọi khi, Thìn vẫn im lặng và cuối cùng chỉ “rõ” một tiếng cụt lủn, rồi phủi đít quần đứng dậy. Chính trị viên Hào hoạt bát hơn và lúc nào cũng như cười được. Anh nhe cả cái răng sứt ở cửa miệng. Nhưng lúc này, anh cũng chỉ viết cho chính trị viên Thủy được mấy câu vắn tắt: “Các anh cứ yên trí. Tôi sẽ hội ý chi ủy ngay. Tất cả các đảng viên sẽ được phân đều cho các bộ phận. Tất cả các đảng viên sẽ đi hàng đầu”. Phía trước, tiếng súng hai bên vẫn lai rai. Dũng hiểu: địch vẫn chưa tràn ra được bờ mương. Chúng đang đánh cầm chừng để chuẩn bị cho một đợt tấn công mới. Máy bay vẫn gầm rú trên bầu trời. Bom vẫn nổ rung chuyển ở các cửa rừng và khu vực của trung đoàn 3, nơi mà chúng hẳn đã thấy hệ thống chiến hào của quân ta đã trở nên cực kỳ nguy hiểm cho H1. Dũng gọi Bổng, cán bộ tác huấn tới để giao nhiệm vụ trở lại phía sau tổ chức tất cả lực lượng còn lại của tiểu đoàn làm lực lượng dự bị cho đại đội 3, đồng thời thu vét tất cả lựu đạn thủ pháo dồn lên phía trước. Bổng ngồi ở một góc hầm. Mặt mét xanh, anh lắp bắp: - Báo cáo anh, máy bay còn đang bắn phá, xin để để... Dũng nhíu lông mày: - Anh không thấy máy bay nó đang đánh ở đâu ư? Lúc này quân ta quân nó đang cài nhau. Nó không dám ném thẳng vào đây đâu mà sợ. - Nhưng... nhưng... Dũng quắc mắt: - Anh đi ngay đi. Không có nhưng gì hết. - Báo cáo, báo cáo... - Bổng vẫn không đứng dậy được. Mặt anh từ mét xanh trở nên trắng bệch. Mồ hôi chảy dài trên trán và hai thái dương, Dũng không kìm được mình nữa, anh nhào tới, giáng một cái tát thật mạnh vào giữa mặt Bổng. Ôm chầm lấy mặt, Bổng lảo đảo đứng dậy. - Đi đi! - Dũng thét lên. - Vâng, báo cáo, tôi đi đây... Bổng liêu xiêu bước ra khỏi hầm. Dũng nhìn theo thở dốc. Cơn điên giận của anh vẫn chưa nguôi. Đúng là cái đồ thân lừa ưa nặng... Phía trên sân bay, đại đội Thìn theo cách đánh mới đã tiến lên được dần dần, tuy khá chậm. Vừa tiến vừa đào công sự. Mũi khoan cứ khoan mãi, khoan không ngừng. Trời đã xế chiều. Dũng cầm ống nhòm nhìn lên. Anh bỗng thấy sau những làn khói trắng, khói đen bóng một chiếc xe tăng đen sì đang khặc khừ và như lùi dần. Đằng sau nó là những bóng đen li ti cũng đang như nhớn nhác. Dũng quay vào hầm phôn ngay cho Thìn: - Quan sát đi. Địch đang có dấu hiệu gì lạ! Chúng đang muốn lật cách đánh, hay có ý đồ gì? Hãy cảnh giác đấy, Thìn! Tiếng Thìn cũng đã khê đặc vì thuốc súng và khói pháo: - Báo cáo, hình như chúng muốn lui xuống thì phải. Chúng đã không cản được chúng tôi đang lấn vào. Một cái gì đó chợt như chớp lòe trong đầu óc Dũng. Anh nói rất nhanh, giọng rung lên: - Chuẩn bị xung phong ngay, Thìn! Tôi sẽ xin pháo dập cho các anh thật mạnh trong mười lăm phút. Tiếng Thìn đầy vẻ ngạc nhiên: - Thế không vừa đào vừa tiến nữa à? - Không! Lúc này thì lại phải rất nhanh. Nhanh chóng và mãnh liệt! Nhanh chóng thoát ly công sự, đánh ngay, tiến ngay vào đường băng. Chúng nó rút đấy! Đánh đi! - Rõ! - Tiếng Thìn đáp rất to, như chưa bao giờ từng thấy. Dũng càng vững dạ và rất mừng khi nghe ông Thâu gọi điện xuống rối rít: “Đài quan sát đại đoàn và trung đoàn báo về: địch có triệu chứng rút. Phải hành động tức thì! Hành động ngay đi, Dũng!”. Trong khoảnh khắc, một trận pháo, cối của ta lại nhấn chìm cả nửa sân bay phía nam trong lửa khói. Pháo vừa dứt. Dũng lập tức phát lệnh xung phong, chiến sĩ đang cùng một loạt hiện lên, nổi bật trên màn khói dầy đặc. Tám năm chiến đấu có lẽ chưa lần nào Dũng dược chứng kiến một trận xung phong giữa ban ngày tuyệt vời đến thế. Các chiến sĩ ta vừa cong người lao lên, vừa hò reo à à, như triều dâng thác đổ. ... Chỉ mười lăm phút sau, đã nghe thấy Thìn hổn hển báo về: - Đã tới được đường băng! Địch chết nhiều lắm. Đã chiếm được đường băng. Vâng, đường băng... - Vậy cho dùng bộc phá cắt ngay các phên sắt và đào công sự ngay, Thìn! Hoan hô c3! Vui quá và mừng quá, Dũng vừa như ra lệnh mà củng vừa như động viên, không còn ra khẩu ngữ chiến đấu có quy cách gì nữa. Thủy đã đến bên anh, ngơ ngác khi nhìn thấy gương mặt Dũng đỏ rực. Dũng vội móc túi. Không còn vỏ bao thuốc lá nữa, anh lấy ngón tay viết luôn lên vách hào: “Chiếm được đường băng rồi! Cắt được sân bay rồi!”. Thủy ôm chầm lấy Dũng. Anh cười lên ha ha và nước mắt bỗng bật trào ra ràn rụa. Cả hai như điên lên vì sung sướng, mừng rỡ. Trời vừa sẩm tối, Dũng ra hiệu đề nghị Thủy ở lại sở chỉ huy để cho anh lại lên sân bay. Giao thông hào, chiến hào vẫn còn đầy lính và thương binh, tử sĩ. Anh lại phải nhảy lên mặt ruộng mà chạy. Đã tới bờ mương. Người đầu tiên anh gặp khi nhảy xuống chiến hào là Tuynh, người đang thay Lanh chỉ huy đại đội. Dũng chỉ còn biết nắm chặt lấy tay Tuynh. Giây phút này dường như anh không có thể tìm được lời nói nào để bày tỏ được tất cả niềm thương yêu, quý trọng và cả biết ơn của anh đối với Tuynh, và tất cả anh em chiến sĩ. Dường như Tuynh hiểu. Trên khuôn mặt đầy bùn đất và nhem nhuốc thuốc đạn của Tuynh sáng lên một nụ cười: - Tiểu đoàn ạ, thế là tất cả chúng ta... Dũng gật đầu. Anh lại siết chặt tay Tuynh rồi đi thẳng vào sân bay. Anh đã đi nhầm vào đoạn giao thông hào đã đầy kín xác lính dù và lính Ma-rốc. Không thể không kinh hãi trước cảnh tượng ghê gớm đó, anh lùi lại tìm con hào mới. Trong hào mới cũng có xác địch, tuy không nhiều bằng đoạn kia. Những cái xác to chình ình, cái úp sấp, cái nằm vật ngửa. Dũng luôn luôn phải nhảy lên để vượt qua. Thìn đã biết tin từ lúc nào, đang đứng đón anh. Trời tối mờ nhưng vẫn còn nhìn thấy đôi mắt đỏ cá chày của anh. Vẫn ít nói và ít bộc lộ như mọi khi, anh đón Dũng không một nụ cười, cũng không một lời kể lể hoặc khoe khoang. Sân bay mênh mông. Vào đây mới biết, địch đã cho nối thêm đường băng dài ra tới 1.500 mét. Trên sân bay, dù trắng, dù đỏ la liệt, gần như phủ kín, và tràn cả ra khắp cánh đồng. Cũng thấy đủ các thứ hòm, hòm đạn, hòm đồ hộp, hòm dụng cụ y tế, và các thứ hòm khác nữa, không hiểu là hòm gì, nằm lăn lóc khắp nơi. Xác bốn chiếc máy bay bị bắn hỏng ngay từ màn 1 chiến dịch vẫn còn nằm rải rác đó. Đặc biệt xác chiếc máy bay thứ tư, vật chuẩn của tiểu đoàn đã gần như không còn một mảnh tôn, sắt nào cả. Chỉ còn trơ lại một bộ khung đã gãy nát, nom tựa như bộ xương của một con cá khổng lồ thời tiền sử. Dũng bước nhanh tới gần chiếc máy bay. Anh quỳ xuống dang cả hai tay mà xoa xoa mãi, ve vuốt mãi trên các phên sắt lạnh giá và đã bị phá tung lên từng mảnh. Nó đây rồi! Sân bay đây rồi! Trái tim anh lại như rung lên. Sân bay, cái mục tiêu đánh chiếm mà tất cả bọn anh đã mong đợi từ bao lâu, đã phải đánh đổi nó bằng Lanh, bằng Niên, bằng Noãn và biết bao nhiêu chiến sĩ khác nữa, nay nó đã ở dưới chân anh. Nó đã trở nên vô giá. Thật vậy, không có vàng nào đổi được cuộc sống của chiến sĩ... Và cũng không có bất cứ thứ lao động nào ở trên đời này có thể sánh được với lao động máu của chiến sĩ. Sân bay. Sân bay đây rồi! Ôi! Lanh ơi, Niên ơi, tất cả các chiến sĩ đã bỏ mình trên từng tấc đất theo đúng nghĩa đen trên cái chiến trường ghê gớm, tàn khốc này. Các anh đã trở về với cát bụi, nhưng đời đời đất nước sẽ không quên các anh, sẽ không quên Điện Biên Phủ. Nửa đêm hôm đó, thêm một tin vui nữa được truyền đi trên khắp mặt trận: cứ điểm H1 đã hoàn toàn bị tiêu diệt trong một trận đánh rất gọn của tiểu đoàn Lê Phong thuộc trung đoàn 3. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười Hai, 2023, 10:00:20 am 13 Sáng ra rồi. Cha Tuyên úy Trinquard mệt mỏi trỗi dậy. Mọi đêm trước, ông thường ngủ cùng hầm với bạn thân là bác sĩ Grawin ở khu quân y, nhưng nay ở đó thương binh đã quá nhiều, hôi thối nồng nặc, không chịu nổi, nên đêm qua đã phải sang ngủ nhờ bên các sĩ quan truyền tin. Ra khỏi hầm, sương mù còn như khói tỏa trong khắp các chiến hào, ông đã nghe thấy tiếng lao xao: - Một đêm ba mất. Đúng là một đêm ba mất! - Chúa có lẽ bỏ rơi chúng ta chăng? Không hiểu chuyện gì, ông nắm lấy một viên thiếu úy truyền tin vừa đi tới: - Cái gì thế anh bạn? Cái gì mà ba mất? Mất những gì? Anh thiếu úy nhìn cha như nhìn một người từ hành tinh khác đến. - Vậy cha không biết chuyện gì sao? - Thật không anh bạn trẻ ạ. - Cha ơi, chỉ trong một đêm qua, ở đây có ba cái mất: một là mất H1, hai là mất sân bay, và ba là mất thùng đồ của Hà Nội gửi lên, trong đó có lon thiếu tướng của ngài De Castries. Nó rơi cha nó sang bên quân Việt rồi! Trinquard đứng ngẩn. Ông thở dài. Lạy Chúa, vậy đúng là ba mất, đúng là những chuyện chẳng lành... Viên thiếu úy đi khỏi, Trinquard cũng trở lại phía hầm quân y. Giao thông hào đầy binh sĩ, sĩ quan đi ngược đi xuôi. Tất cả đều câm lặng. Những khuôn mặt nặng nề, buồn bã. Một người cao cao, xương xương bỗng hiện ra ở một ngã ba giao thông hào: Langlais. Vốn khá thân nhau, Trinquard vội tóm anh ta lại: - Đại tá, có phải chỉ một đêm qua mà ta có ba cái mất? Langlais nhún vai. Bộ mặt lưỡi cày như đá đẽo, cứng cỏi và tàn bạo của anh ta không còn như mọi ngày, đã như phủ một làn khói xám. Cái nhún vai là một lời khẳng định. Anh ta nói thêm, không giấu được vẻ rầu rĩ: - Cha ạ, chúng ta đang đi tới thảm họa. Thật đấy! Phải nhận lấy điểu đó thôi, và đấy cũng là để đền bù vào những tội lỗi và những sai lầm mà chúng ta đã phạm phải... Trinquard bỗng có cảm tưởng như đây là những lời xưng tội của Langlais trong một buổi lễ. Langlais chào cha tuyên úy rồi đi thẳng tới hầm De Castries. Đầu óc anh ta vẫn đang trĩu nặng, mặc dầu chiều hôm qua các sĩ quan chóp bu của tập đoàn cứ điểm vừa nhận được tin vui: Hà Nội điện báo đã có quyết định của chính phủ Pháp thăng quân hàm của De Castries lên thiếu tướng, và Navarre đã cho Langlais lên đại tá, Bigeard lên trung tá. Hà Nội còn cho hay đến đêm sẽ thả dù các bộ lon mới xuống cho cả ba, kể cả rượu mừng của riêng tướng Cogni. Nhưng, chiếc dù đã bay sang trận địa đối phương, vì khu vực thả dù đã quá hẹp. Các cuộc lục soát, kiểm tra dù thu được trong buổi sáng nay đã thất lạc ấy là hoàn toàn đúng. Langlais hiểu: người ta đã muốn khích lệ tinh thần chiến đấu của “những con sư tử” ở đây, nhưng rõ ràng niềm vui chẳng đi đến đâu. Việc thất lạc các bộ lon dường như đã thầm báo ý Chúa không muốn thế, hoặc Chúa nhắn bảo trước về những điều thê thảm. Bước vào hầm, Langlais đã thấy Bigeard ngồi đó mặt nặng trịch. Chào hỏi nhau qua loa, ba người vào việc luôn. Thiếu tướng De Castries hôm nay đã vứt bỏ cặp lon đại tá trên ve áo, nhưng cũng không có gì để thay thế vào đó. Khuôn mặt ngựa vốn đã dài của ông hôm nay càng như dài thêm, và không còn một chút hồng hào. Ông nói chậm rãi, đều đều: - ...Các ông ạ, H1 mất, sân bay bị cắt, toàn bộ khu vực của chúng ta đã bị thu hẹp lại, chỉ còn trong phạm vi một cây số vuông. Việc tiếp tế, tiếp viện rõ ràng đã trở nên xấu, cực kỳ xấu. Chỉ may là Eliane (đồi Al) vẫn còn đang cầm cự được. Tôi mời các ông làm việc phản kích giải tỏa lại sân bay, gắn liền với việc đó là tái chiếm H1. Phải! Tái chiếm lại sân bay và H1. Có như thế chúng ta mới khỏi chết vì nghẹt thở. Bây giờ Bruno cho ý kiến đi. Ông là người chịu trách nhiệm về tất cả các cuộc phản kích mà! Mà hơn nữa vừa qua ông đã chỉ huy phản kích liên tục trên Eliane một cách thật dũng cảm và có hiệu lực... Bigeard ở vào thế không thể không phát biểu. Anh ta khoanh hai tay trước ngực, ngồi ngửa người, dạng hai chân, bặm môi suy nghĩ. Anh ta cảm thấy có lẽ tốt nhất là phải nói lên sự thật, cái sự thật đang cưa xẻ ruột gan anh ta. - Trình thiếu tướng, tôi rất hiểu ý đồ của thiếu tướng. Tôi có nhiệm vụ phải tuân lệnh. Nhưng cũng phải xin phép nói rằng: muốn phản kích phải có lực lượng mạnh. Có nghĩa là phải dùng tới 2e BEP (tiểu đoàn dù người ngoại quốc số 2, đơn vị đã nổi tiếng thiện chiến của Pháp). Nhưng, trình thiếu tướng: 2e BEP đang phải bám lấy Eliane để thường trực phản kích. Cũng cần nói rõ thêm: nó, cái 2e BEP ấy mới được ném xuống đây ngày 9 tháng 4 (sau những trận ác liệt ở khu đông), nay cũng đã hao mòn, chỉ còn có ba trăm tay súng, lại rất mệt mỏi. Vậy, nếu điều nó đi, để lấy H1 và sân bay, thì ai sẽ thay thế nó ở Eliane? De Castries gật đầu: - Tôi đã tính, Bruno ạ, sẽ gom quân còn lại của các đơn vị: 2/1REI, 6e BEP, 1/2 REI (tiểu đoàn 2 trung đoàn 1 lê dương, tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 và tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 2 lê dương) Bruno ạ, ta sẽ gom tất cả lại và đưa vào thay thế nó ở Eliane (A1). Bigeard nhếch mép cười, cái cười ít lễ độ: - Trình thiếu tướng, cứ cho là có thể như vậy. Nhưng vẫn còn một vấn đề nữa: giả sử tung 2e BEP sang cánh tây lấy lại được sân hay: nhưng sẽ có đơn vị nào để giữ? De Castries còn đang tìm lời để đáp lại, Langlais đã lên tiếng: - Trình thiếu tướng, đúng là phải quan tâm đến điều Bruno vừa nói: nếu lấy lại được liệu có giữ lại được không? Lực lượng đâu? Tung 2e BEP ra là coi như ta dốc túi. De Castries liếc nhìn Langlais bằng đuôi con mắt. Cái thằng có tiếng ngổ ngáo và sắt đá ấy không hiểu ngổ ngáo sắt đá ở đâu, nhưng chính hắn là tên đã ngần ngại tung quân ra phản kích mạnh ở Gabrielle (Độc Lập) và Beatries (Him Lam). Bây giờ hắn lại ngần ngại nữa. Nghiêm mặt lại, với giọng đúng là của thiếu tướng, De Castri tuyên bố: - Thôi, không bàn nữa. chúng ta phải tiến hành phản kích ở sân bay! Phản kích với tinh thần như ở Eliane (A1). Bigeard và Langlais cùng lặng lẽ đứng dậy. Bigeard trở về hầm của mình. Anh ta quay radio gọi Lisenfelt - thiếu tá - chỉ huy tiểu đoàn 2 dù đang ở đồi A1. - Anh hãy về ngay gặp tôi! Có nhiệm vụ mới cấp bách cho anh. - Trung tá có thể vui lòng cho tôi biết hơn một chút được không? - Các anh sẽ chuyển hết sang cánh tây. - Ủa! Ai sẽ thay thế chúng tôi ở đây? - Các anh cứ chấp hành mệnh lệnh. Không nghe thấy Lisenfelt nói hoặc hỏi gì nữa, chỉ thấy tiếng dập máy đánh bộp. Bigeard hiểu: Lisenfelt vốn nổi tiếng kiêu căng, hắn đã nổi cáu. Một lúc sau, “người hùng” của e2 BEP tới, phanh áo ngực, bê-rê lệch bên tai, bước đi nghênh ngang. Ai cũng biết ở đây Lisenfelt chỉ còn nể mặt có một Bigeard. Các sĩ quan phụ trách xe tăng và pháo binh lần lượt kéo đến. Cuộc hội ý tác chiến đã diễn ra hết sức nhanh gọn. Bigeard lấy lại dáng vẻ oai dũng vốn có, đôi mắt cọp lại long lanh dữ tợn. Kế hoạch được ấn định như sau: trước hết yêu cầu đại tá Guérin ở Hà Nội tập trung cho 12 máy bay ở khu trục cường kích và bốn oanh tạc cỡ lớn B26 tiến hành một trận giội bom và bắn phá quyết liệt vào ngay trận địa quân Việt Nam trên sân bay. Sau đó đến lượt pháo Mường Thanh bắn dồn dập 1.200 quả, trong đó có một số đạn khói nhằm tạo một màn che không cho pháo Việt Nam thấy được mục tiêu quân phản kích. Liền ngay đó, cối của các cứ điểm H2, H3 bắn tiếp... Cuộc hỏa pháo bắt đầu từ 13 giờ 30 phút. Hỏa pháo chấm dứt, các đơn vị dù bắt đầu tiến ra. Có thêm hai đại đội dù ngụy tăng cường. Xe tăng gồm 4 chiếc do trung úy Mengel sẽ yểm trợ cho mũi tiến công chính diện ở hướng đường băng. Cuộc phản kích lớn này sẽ do Lisenfelt chỉ huy chung... Nghe tới đó, Lisenfelt trợn mắt hỏi lại: - Tôi? Bigeard gật đầu: - Thay mặt chỉ huy trưởng toàn căn cứ, tôi trao cho thiếu tá nhiệm vụ dó. Thiếu tá hoàn toàn có đủ vinh dự đảm nhận trọng trách này, hơn nữa lực lượng phản kích chủ yếu là 2e BEP. Lisenfelt nín thinh. Các sĩ quan khác cùng đưa mắt nhìn nhau. Họ đều không thật hiểu vì sao Bigeard không trực tiếp chỉ huy trận này. Lý do mà anh ta nêu lên chưa đủ thuyết phục. Chẳng lẽ nào con người vốn khá gan dạ, xông xáo đã từng chỉ huy phản kích liên tục và có hiệu quả trên Eliane (A1) lúc này đã thoái chí? Không có lẽ! Thật khó hiểu! Nhưng không một ai lên tiếng. Cũng như Lisenfelt, tất cả đều nín thinh. Ngoài xa xa, ở sân bay, lực lượng còn lại ở tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 chưa nhận được lệnh rút vẫn đang tiếp tục đánh một cách tuyệt vọng. Tiếng súng lai rai vọng về. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười Hai, 2023, 10:01:07 am * Sau mấy ngày mưa, hôm nay trời nắng, không khí oi ả. Đúng như kế hoạch mà Bigeard đã vạch ra: 13 giờ 30 phút các máy bay khu trục và oanh tạc của quân Pháp bắt đầu ồ ạt xuất hiện trên bầu trời Điện Biên Phủ. Mặc cho các lưới cao xạ của quân ta từ bốn chung quanh cánh đồng bắn lên dày đặc, những trái bom cỡ lớn. Bom nổ suốt dọc đường băng. Bom trùm cả lên cứ điểm H1 đã bị đánh chiếm. Chỉ trong khoảng khắc, không riêng sân bay và căn cứ H1 mà dường như cả cánh đồng phía tây ngùn ngụt lửa khói. Những chiếc khu trục cường kích Hen-cát nối đuôi nhau như thoi xuyên qua các màn khói, lao xuống ném bom, xả đạn 20 lỵ điên cuồng. Những chiếc B26 chia thành tốp 2 chiếc một đan đi đan lại trên tầng cao. Cứ mỗi lần một tốp lướt qua sân bay là có bốn quả bom lớn đen sì cùng vùn vụt lao xuống, rít như quỷ hú. Một chiếc Hen-cát đang lập bằng đôi cánh để bổ nhào, chợt nổ tung thành một bó đuốc khổng lổ. Quân ta reo hò vang dậy, rất ít khi được nom thấy một cảnh tượng vô cùng đẹp mắt đến như thế. Bó đuốc mỗi lúc một to, quay đảo trên bầu trời, rồi dần dần rơi chéo về phía Hồng Cúm. Tiếp theo đó là một tiếng nổ lớn, rất nặng ở xa xa cùng cột khói đen bốc lên cao ngất. Những chiếc máy bay đã rút hết. Đến lượt pháo, cối của Mường Thanh. Màn khói đen dày đặc trên sân bay chưa tan đi đã có một lượt khói pháo, cối bồi đắp, càng thêm dày đặc, vần vụ, tạo thành những hình thù quái gở dữ tợn như những mặt quỷ đang nhe nanh, há miệng ở trên cao. Trong lúc đó, dưới bức thành khói, là những chớp lửa thi nhau giật liên hồi như có hàng trăm ma quỷ đang cắn xé, vật lộn nhau cuồng nộ. Rồi các loại cối và súng máy, có cả một cỗ trọng liên 4 nòng vừa được Bigeard tăng cường kéo ra cùng lên tiếng phối hợp. Nghe khẩu 4 nòng như buốt cả xương sống. Đạn nhanh và dày đặc đến nỗi không còn phân biệt từng tiếng nổ. Đạn như mưa sa... Đã tới lúc các đại đội dù được lệnh Lisenfelt tiên ra khỏi cứ điểm H2. Chỉ có một lối nhỏ. Phải dùng thuốc nổ để phá các hàng rào dây thép gai và các bãi mìn để tiến ra cho nhanh. Nhưng cũng không phải dễ. Cuộc phá dỡ các bãi chướng ngại vật đã khá mất thì giờ. Quân địch đã bị vây bủa bởi chính những gì chúng đã rào dựng lên. Trong khi đó, hai đại đội dù ngụy ở phía sau cũng được lệnh bọc vào cánh trái trận địa quân Việt Nam. Nhưng chúng cứ loanh quanh mãi trong các hệ thống chiến hào cũng chính của bọn chúng đào từ mấy tuần nay. Chúng như lạc vào một mê cung. Thêm nữa, tinh thần chúng đã trở nên mê hoảng ngay từ giờ phút đầu của trận đánh mà chúng đã có thể hiểu là không mấy dễ dàng... Mãi hơn 60 phút sau, 2e BEP mới ra khỏi H2 và tỏa ra thành hai mũi, tiến lên nửa sân bay phía bắc đã bị đánh chiếm. Mũi chính gồm hai đại đội, một do trung úy Biré chỉ huy, một do đại úy Lecour Grandmaison. Những tên lính 2e BEP nói chung đều cao lớn. Chúng mặc những bộ đồ kiểu Mỹ bó sát lấy người, càng có vẻ lực lưỡng, mạnh mẽ. Chúng dùng toàn tiểu liên Mỹ, những tiểu liên cho quân dù loại cực nhẹ và cực nhanh. Tên nào cũng đầy đủ dao găm, thuốc nổ, lựu đạn. Tiểu đội nào cũng có trung liên, đại đội nào cũng có đại liên và súng cối, đều là cực nhẹ và cực tốt. Hoàn toàn là một đội quân mạnh và thiện chiến. Nhưng cũng ngay tức khắc, khi chúng vừa tiến lên, được một đoạn ngắn, từ phía trước, nơi đường băng đã bị đánh chiếm và cắt đôi, nơi có xác chiếc máy bay số 4, súng trung liên của quân Việt Nam đột ngột xuất hiện. Đạn cắt reo réo là là trên đường băng và khắp mặt đất sân bay. Bắn ác nhất là ở trung liên đặt dưới bụng xác chiếc máy bay. Hai đại đội của Biré và Lecour Grandmaison phải dán bụng xuống đường băng, không sao ngóc đầu lên dược. Trời vẫn nắng gắt. Các phên sắt nóng như nung. Bụng rát bỏng, nhưng tất cả những tên lính dù vẫn cứ như bị đóng đinh tại chỗ. Dần dần đã có thương vong. Những tiếng kêu vang lên chỗ này chỗ khác. Những viên sĩ quan chốc chốc lại phải rống lên, hò hét thúc giục. Nhưng tất cả vẫn như cá phơi trên sàn tàu. Cánh quân do đại úy Boulinguez chỉ huy cũng không may mắn gì hơn hai đại đội ở chính diện tấn công. Từ cứ điểm H2, Lisenfelt không một phút rời khỏi chiếc máy truyền tin. Một sĩ quan nào đó của đại đội 5 đã réo lên: Biré bị thương nặng. Đến lượt Lecour Grandmaison cho biết đại đội hắn thương binh khá nhiều... Và cả máy đơn vị đều báo cáo: Khẩu trung liên ở dưới bụng xác chiếc máy bay vẫn bắn ra ác liệt, ác liệt nhất... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười Hai, 2023, 10:03:40 am * Khẩu trung liên ấy chính là của Lẫm, anh chàng cao lêu đêu, có nụ cười nghịch ngợm, của đại đội Thìn. Khi trận bom và cối lớn của dịch vừa dứt, Lẫm đã kéo anh tân binh có nhiệm vụ tiếp đạn giũ đất cát, chui ra khỏi hàm ếch, nhào lên, trước mặt hai anh em cảnh tượng như vừa có một trận động đất lớn xảy ra. Mặt đất biến dạng. Hơn một chục chiếc hố bom lớn như những chiếc ao làng trải dài, đỏ rực. Những mảnh phên sắt dường băng tan tác khắp nơi, cắm như chông như mác trên các miệng công sự hoặc chiến hào. Nhiều mảnh đã bay cả về phía sau bọn Lẫm, phá tung những nắp hầm cá nhân, hoặc ụ súng. Xác chiếc máy bay không còn nguyên vẹn. Bom pháo đã bắn bay mất hẳn nửa đầu, chỉ còn lại nửa cuối với cái đuôi cũng đã cong queo, gãy nát từng đoạn. Ghê gớm hơn nữa: hai công sự của hai tổ súng máy bên trái Lẫm đã như trở thành bình địa. Không thấy người, cũng không thấy súng đâu nữa, chỉ còn lại một vài đoạn gỗ nóc hầm đã bị xé nát, quăng ra bốn chung quanh. Lẫm gào lên gọi mãi. Không một tiếng trả lời. Chỉ có tiếng đại liên, trung liên của địch ở phía trước choang choác. Anh tân binh đờ dẫn. Hồn vía như đã lên mây xanh. Lẫm tức, quát to: - Đưa đạn dây! Sợ đéo gì chúng nó! Ngồi vãi đái ra đấy hả? Anh tân binh làm theo Lẫm như một cái máy. Khi đặt được vững khẩu trung liên, Lẫm vừa vặn trông thấy ở phía trước quân dù đang bò trườn lên như cả một bầy cá đang rạch cạn. Nghiến răng lại. Lẫm nổ từng nhịp... Dưới ánh nắng chói chang, những “con cá rạch cạn” bỗng như bị giội nước sôi, cùng giẫy lên một loạt. Lẫm sướng quá, vừa bắn vừa reo: “Chết mày! Chết mày!”. Anh tân binh cũng đã bớt sợ, tiếp đạn mỗi lúc một thêm nhanh nhẹn. Cứ như thế, nhịp ngắn, nhịp dài, Lẫm bắn hết băng này đến băng khác... Bỗng có người nào đó từ phía sau lao tới, nằm phịch ngay xuống bên cạnh Lẫm. Quay mặt lại, Lẫm trợn mắt: - Ôi, tiểu đoàn trưởng! Đúng là Dũng. Toàn thân anh từ mặt mũi tới áo quần đều đỏ kè đất bụi như vừa dưới hầm lò chui lên. Cũng như Lẫm, đợt bom pháo của địch vừa dứt, anh đã nhoài ra khỏi căn hầm bị sụp đổ quá nửa. Trong đầu óc anh không còn một ý nghĩ nào khác là phải lên tuyến đầu xem có còn ai không? Trận bom quả là chưa từng có trên cánh đồng phía tây này. Từ trưa đã nhận được thông báo của mặt trận và của đại đoàn cho biết: ta bắt được điện của Mường Thanh yêu cầu Hà Nội tập trung ném bom cỡ lớn vào trận địa ta ở dọc sân bay. Trung đoàn trưởng Thâu đã chỉ thị cho Dũng phải gấp rút củng cố hầm hố và cho lính tản rộng đội hình. Nhưng tới lúc này Dũng vẫn còn thực sự choáng váng đến mức như không tin là còn có người sống sót. Anh chạy, như chạy trên mặt trăng, lúc chồm lên vượt qua đống đất cồn cồn, lúc tụt xuống những đoạn hào đã bị bom đạn địch đào sâu gần lút đầu. Đất sân bay rắn như đá, nay cũng vụn ra như cám. Cũng còn nhớ thêm nữa: đêm qua đại đoàn trưởng Vũ Hùng đã ra tận trận địa dể quan sát xem tại sao cứ mất đi mất lại mãi. Ông đã cười: “trận địa chỉ có một tuyến thế này, nó lấy dễ là đúng. Phải đào vòng thành hình cái vợt, rồi đào các tuyến ngang, tạo thành các chiều sâu phòng ngự mới được!...”. Suốt đêm qua, Dũng đã cho anh em kiến thiết lại trận địa theo kiểu ấy... Dần dần anh đã nhìn thấy các chiến sĩ nối tiếp nhau giũ bụi, chui lên từ các hầm hố, các đống đất. Mỗi lúc một đông. Dũng mừng quá. Anh vượt lên chỗ Thìn. Anh đại đội trưởng này bị bom vùi, đang được chính trị viên Hào và y tá vực dậy, tiêm thuốc và làm hô hấp nhấn tạo. Dừng lại đó một chút, Dũng lại chạy lên. Nom thấy các khẩu trung liên vẫn đang bắn ra rất mạnh, anh lao thẳng tới đó, nằm xoài xuồng bên xạ thủ. Tưởng ai, té ra là Lẫm... - Tốt lắm! Bắn mạnh nữa đi em! - Báo cáo, anh cho thêm đạn. Sắp hết đạn rồi. - Được, sẽ có ngay! Hai khẩu bên kia không còn nữa hả? - Vâng. Sạch rồi! - Tôi sẽ nói anh Thìn bổ sung ngay, để bảo vệ sườn cho cậu. - Hay quá, em cám ơn tiểu đoàn trưởng. Dũng quay trở lại. Thìn đã tỉnh. Anh đang nhổ phì phì đất cát từ trong miệng. Hai mắt anh đã trở thành hai cục tiết, vì đất cát nhét đầy. Hội ý với Thìn về việc tăng cường hỏa lực lên phía trước cho Lẫm xong, Dũng quay trở lại vị trí của tiểu đoàn. Anh gọi điện về trung đoàn báo cáo ông Thâu về tình hình trận địa. Chưa nói được hết mọi điều, Dũng dã nghe thấy ở phía trước súng và lựu đạn lại nổ dồn dập. Anh vội quay máy gọi Thìn. Tay quay nhẹ bẫng. Đường dây lại dứt mất rồi! Báu lập tức được tung đi. Tiếng súng, nhất là tiếng tiểu liên Thompson của địch rất gay gắt. Thoáng nghe có cả tiếng hò hét. Dũng lại như ngồi trên lửa. Một lát sau, Báu hộc tốc quay lại, báo: địch có một mũi vòng cánh trái, bất ngờ xuất hiện. Nơi đó hai khẩu trung liên của ta bị bọn địch hủy diệt chưa kịp thay thế. Địch đã tràn được vào năm sáu hố bom ngay sát trận địa ta. Hai bên bấy giờ chỉ còn có cách nhau vài chục mét. Bên này nói hơi to, bên kia đã nghe thấy. Dũng quay lại phía Bổng. Anh lại vét lựu đạn ở phía sau đưa lên cho Thìn. Lần này, Bổng vội vã đi luôn. Dũng nói với Báu: - Em lên báo cho anh Thìn: tình hình này, phải dùng lối bắn tỉa đã, không cho một tên nào ló đầu lên dược. Cố kìm chân chúng lại! Chờ tiểu đoàn tổ chức lại hỏa lực... Báu lại vọt lên phía trước. Dũng lại gọi điện về ông Thâu. Anh yêu cầu pháo cối của trung đoàn bắn cắt sau lưng địch, và pháo mặt trận bắn ngay vào những hố bom mà địch đang chiếm làm công sự để tấn công lên. - ... Thế nào, hả? - Tiếng ông Thâu vang lên - Anh xin pháo mặt trận bắn thẳng vào các hố bom hả? - Vâng. - Trời ơi, anh điên ư? Như anh nói, hai bên đã gần nhau đến như thế, pháo ta bắn thì sẽ trùm cả lên các anh. - Xin cứ bắn. Chúng tôi sẵn sàng chịu đựng mọi nguy hiểm. - Không được! Không được! - Đề nghị anh cứ hỏi lại pháo binh cho! Chỉ mấy phút sau, đã có trả lời: pháo cho biết có thể bắn trúng dãy hố bom. Tuy nhiên phải có một vật chuẩn cho đài quan sát của pháo nom rõ chỉ thị mục tiêu, và tính toán các phần tử bắn cho chính xác. Pháo không thể bắn tràn lan... - Vậy tôi lên xem lại có gì làm mục tiêu, làm vật chuẩn được không. - Cậu đi đi! Nhất định phải có một vật chuẩn đấy nhé! Dũng và Báu lại chạy lên phía trước. Các chiến sĩ đại đội 3 đang liên tục di chuyển vị trí để bắn tỉa. Đúng như yêu cầu của Dũng, chỗ này chợt dùng một phát súng trường, chỗ kia bỗng rẹt một tiểu liên. Cứ như thế, quả nhiên bọn dù vẫn chưa sao ngóc đầu khỏi các hố bom... Dũng đến bên Thìn, trong một đoạn hào đã được cấp tốc sửa lại. Anh nhìn lên chỉ thấy toàn một màu đất đỏ rực. Một vật chuẩn? Làm gì còn một vật chuẩn nào trên vùng đất bị tàn phá này? Chiếc cột đèn mọi ngày trước vẫn còn cong queo đó, nay đã biến mất, không còn một dấu vết nhỏ. Ngay cả đoạn còn lại của xác chiếc máy bay cũng vừa đổ sụp hoàn toàn, chỉ còn lại những thanh sắt tơi bời... Dũng đứng lặng. Đầu óc anh như nứt ra. Vật chuẩn! Lấy đâu ra? Tìm đâu ra bây giờ? Một vật chuẩn... Báu bỗng cầm tay anh lắc lắc khẽ: - Báo cáo anh, hay là ta... cắm một chiếc sào hoặc một thanh sắt lên rồi buộc vào mảnh dù đỏ vào đấy... - Cái gì? - Dũng mở to mắt, anh vô cùng ngạc nhiên, dường như nghe không rõ nữa. Báu rụt rè nhắc lại. Bấy giờ mới thật tin là mình đã không nghe nhầm, Dũng đập mạnh vào vai Báu reo lên: - Hay! Trời ơi, ai xui cho cậu lại nghĩ ra được ý nghĩ này? Đúng! Hay quá Báu ơi! Thìn cũng như ngớ ra rồi gật đầu: - Phải! Phải! Ta phải tạo ra vật chuẩn anh ạ. Một cây sào ở đây hoàn toàn không khó. Những thanh sắt máy bay kia, bom pháo địch hất vào tận trong trận địa của ta khá nhiều. Như vậy vật chuẩn có thể tạo được. Tuy nhiên, ai sẽ lên, dám lên cắm cái vật chuẩn ấy? Ai sẽ lên, dám lên trước các mũi súng của địch đã gần kề? Đó vẫn là vấn đề hóc búa nhất. Dũng và Thìn nhìn nhau. Báu lại đột ngột cất tiếng: - Em! Các anh để em lên cho! Trời ơi Báu! Dũng muốn kêu lên một tiếng đầy xúc động. Thìn thì lắc đầu: - Để tôi cử một chiến sĩ khác. Báu cứng cỏi đáp lại anh “mắt cá chày”: - Lính anh bây giờ nhiều tân binh. Cựu binh cũng chưa quen bom pháo bằng em. Chả gì em cũng đã chịu pháo Sông Đà, Nà Sản rồi. Cứ để em lên cho. Em lên được mà! Dũng chỉ còn biết siết chặt lấy bàn tay anh chiến sĩ liên lạc thân thiết, yêu quý của mình. Báu đã nói đúng, lúc này chỉ có Báu là người có thể đảm nhiệm việc này tốt nhất. Thế là mọi việc được quyết định, và triển khai ngay. Thìn cấp tốc tập trung các tay súng giỏi, cùng những tay chuyên ném lựu đạn để tạo thành một lưới lửa có thể trong một thời gian ngắn đè đầu bọn địch trong các hố bom, tạo thành một cái ô che cho Báu tiến lên. Trong khi đó, Báu đi nhặt các thanh sắt rồi dây lưng của mình và các đồng đội cột, nối lại thành một đoạn dài. Một chiến sĩ khác đi nhặt về một chiếc dù đỏ thắm. Dù địch không thiếu ở đây. Dù đỏ, dù trắng, dù hoa... rơi khắp sân bay, địch không sao thu về kịp. Một lúc sau, tuyến hỏa lực để yểm trợ đã dàn ra. Báu đã tạo ra một cây cờ dặc biệt. Báu ôm cây cờ đứng trước mặt Dũng và Thìn trong chiến hào, nghiêm trang nói: - Tôi, chiến sĩ Nguyễn Văn Báu, xin lên cắm lá cờ này. Chết thì thôi, sống nhất định tôi sẽ cắm bằng được! Dũng một lần nữa siết chặt tay Báu. Anh không nói được lời nào nữa. Nhưng ngước nhìn đôi mắt long lanh như có ngấn lệ của tiểu đoàn trưởng, Báu đã hiểu Dũng muốn nói với mình với tất cả những gì trân trọng và thiêng liêng nhất của lòng anh... Thìn lật đật bước lại. Anh ôm ghì lấy Báu. Rồi mặt vụt đỏ gắt, anh giơ cao nắm đấm hô đanh: - Bắn! Tuyến hỏa lực yểm trợ bắt đầu nhả đạn. Đến lượt Báu, ôm chiếc cột sắt có buộc mảnh vải dù đỏ, bắt đầu nhảy lên khỏi chiến hào. Dũng, Thìn và tất cả các chiến sĩ ở phía sau cùng nín thở nhìn theo. Trong khói đạn và bụi mù, Báu thoăn thoắt trườn lên như một con rắn mối. Nhưng bọn Pháp cũng đã kịp phản ứng, dù đang bị bắn ghìm đầu xuống những quả đạn Pa-tat phóng ra như búa bổ. Lựu đạn của chúng cũng tung ra tới tấp. Khói càng mù lên. Không trông thấy Báu đâu nữa. Thìn càng cuống lên, càng thét anh em bắn mạnh. Khói bỗng loãng ra. Lại trông thấy Báu với lá cờ đặc biệt. Nhưng, kìa sao Báu không trườn lên nữa? Các khẩu trung liên ở phía sau cùng rồ lên trút đạn. Khói và bụi. Bụi và khói. Báu lại biến mất. Nhưng rồi bỗng một chiến sĩ la to: - Ô, kia rồi! Kia rồi! Quả nhiên, lại thấy Báu. Anh đang tiếp tục lết mình trên mặt đất, nhích dần lên. Đạn địch lại xả ra chiu chiu. Đất chung quanh Báu sủi lên từng vệt dài. Anh lại như chết lịm, khói bụi lại một lần nữa lại trùm lấy người chiến sĩ bé nhỏ. - Chuẩn bị cho người lên thay, và đưa Báu về! Nhưng cũng đúng lúc ấy bỗng nghe thấy hai ba tiếng lựu đạn nổ như dính vào nhau, rồi trên nền khói bụi phía trước bỗng bùng lên một ngọn cờ đỏ rực. - Ôi, được rồi! Kia rồi! Kia rồi! - Báu! Báu đã cắm được cờ kia rồi! Tiếng các chiến sĩ khắp chiến hào, bên tả, hên hữu cùng như thét lên, reo lên vang dậy. Chỉ có Dũng không reo không hét; anh ra lệnh: - Tất cả lui lại phía sau hai mươi mét! cho pháo ta bắn! Mau! Và, thế là chỉ không đầy mười phút sau, trong lúc bọn Pháp ở trong các hố bom còn đang kinh ngạc chưa hiểu đối phương dựng lên một cây dù đỏ để làm gì và chúng bắn ra cũng chưa làm gãy đổ được thì pháo của mặt trận ta đã nã tới. Cũng trong lúc đó, như có một phép lạ không sao tin nổi, Báu lăn tròn và lao trở về được trận địa. Anh ngã nhào xuống trúng một tổ trung liên. Anh em cùng ôm chầm lấy anh. Một bên chân Báu đẫm máu. ... Pháo mặt trận chỉ dập có năm phút. Tiếng pháo vừa ngừng, đại đội trưởng Thìn đã ôm một cây tiểu liên, vươn mình dậy hét vang: - Xung phong... o... o... ong! Một loạt những chiếc mũ nan và những chiếc áo trấn thủ bạc phếch từ dưới các chiến hào cùng bay lên khỏi mặt đất. Lưỡi lê sáng lòe trên đầu súng... Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười Hai, 2023, 10:06:26 am * Ngồi trong hầm của mình, De Castries cũng thấy dược sự ghê gớm của đợt oanh tạc ngoài sân bay với 12 chiếc khu trục cường kích cùng 4 chiếc B26 và hàng ngàn quả cối 120 ly của Mường Thanh. Căn hầm của ông ta chao đi chao lại như đưa võng. Tách cà phê do tên lính cần vụ đặt trên bàn sóng sánh trào cả ra ngoài. Nhưng De Castries không mừng. Ông ta biết dù có lấy được sân bay, thì cũng còn rất lâu mới có thể sửa chữa được đường băng đã bị cày xới đến như thế. Chỉ có thể giữ vững được diện tích thả dù mà thôi. Nhưng sau khi trận oanh tạc chấm dứt, chỉ khoảnh khắc sau ông ta đã nghe thấy, qua làn sóng đài, tiếng các viên sĩ quan chỉ huy các đại đội dù liên tiếp báo về cho Lisenfelt những tin thất thiệt và kêu gào chi viện. “... Chúng tôi đang bị đóng đinh trên đường băng, chưa sao lên được!...” -”... Biré đã bị thương nặng...” - “... Làm sao cố dập cho được những khẩu trung liên chó chết ở xác chiếc máy bay đi!...” - “... Pháo! Yêu cầu pháo bắn tiếp! Bắn mạnh nữa!...” - De Castries hiểu: tình hình đã rất xấu. Cho tới khi nghe thấy pháo cối của quân Việt Nam bắn rất dữ vào sân bay, ông ta không thể ngồi yên được nữa. Ông đứng dậy, cho gọi Bigeard. Một viên sĩ quan báo cáo: Bigeard đang ngủ. Trợn mắt, nhún vai, ông ta hỏi lại: - Ngủ? Sao lại ngủ vào lúc này? Dựng ông ta dậy! Như điên lên, ông ta gạt tung tách cà phê xuống đất. Nước đổ chan hòa trên mặt bàn. Một lúc sau mới thấy tiếng Bigeard làu bàu đáp lại trong máy. Cố nén cơn tức giận, De Castries nói, hình như đang thiếu một quả đấm quyết định. Bigeard mặt mũi tối sầm, bước ra khỏi hầm, nhảy lên chiếc xe Jeep cuối cùng của Điện Biên Phủ còn có thể chạy dược nhưng đã lỗ chỗ đầy vết dạn. Tên lái xe người da đen mở to cặp mắt đầy lo sợ nhìn Bigeard. - Ra H2! - Bigeard quát to. Không dám hỏi gì thêm, tên lái xe rạp mình xuống tay lái mở máy, vào số, rồi đạp mạnh ga. Chiếc xe lao vút đi như tên bắn. Càng tới gần sân bay, đạn bắn thẳng từ phía trước càng như mưa. Tên lái xe càng cúi rạp. Chiếc xe lồng lên trong bụi đỏ mù mù. Bigeard đã vào được cứ điểm H2, nơi Lisenfelt đặt sở chỉ huy phản kích. Anh ta đi thẳng tới hầm của Lisenfelt. Căn hầm ngột ngạt, đầy mùi thuốc súng, mùi mồ hôi người và cả mùi nước hoa và thuốc lá. Lisenfelt đang ngồi đó, ngay trên chiếc radio, mắt mở trừng trừng, mồm há ra thở, như con cá trên cạn. - Thế nào? Anh vẫn ở đây ư? - Bigeard xẵng giọng như quở trách. Nhưng Lisenfelt dã nhướng đôi lông mày chổi sể lên, và cũng gần như quát lại: - Phải ở đây thôi! Bigeard hiểu lúc này không thể nổi xung với Lisenfelt. Anh ta dịu giọng xuống: - Tình hình ra sao, thiếu tá? - Mất mẹ nó liên lạc với các đại đội rồi. Tôi không cần biết chúng nó đang làm gì nữa. Các ông đã ném chúng tôi một cách vô tội vạ vào một lò lửa mà chúng tôi chưa hề được biết mảy may, chưa chuẩn bị được một tí gì hết... - Lisenfelt, anh hãy bình tĩnh! Còn mấy thằng dù Việt Nam (ngụy) thế nào? - Tụi lợn ấy ngay từ đầu đã lạc lung tung trong các giao thông hào. Đến giờ tấn công vẫn chưa thấy chúng đâu. Mãi sau mới liên lạc được. Tôi cho chúng nó vòng sang trái yểm trợ cho e2 BEP ở chính diện. Nhưng chỉ một lúc sau chúng đã kêu ầm ĩ: có lực lượng quân Việt ở dọc bờ mương đánh rất mạnh. Chúng nó thương vong quá nhiều không sao tiến lên được... - Còn xe tăng? - Tụi khốn kiếp này cũng không hơn. Vừa ló đầu ra, chúng nó đã la lối: bị bắn chặn rất mạnh. Không có bộ binh, chúng nó không tiến lên độc lập. Bigeard, mặt càng tối tăm, quay lại chiếc radio. Nhưng chiếc radio hoàn toàn hỏng. Anh ta không nén được nữa, bật lên một tiếng chửi thề hết sức tục tĩu. Rồi, ngồi phịch xuống. Anh ta lắc đầu: - Thiếu tá, tình hình này có lẽ phải cho rút thỏi. Nếu không sẽ tiêu hết binh sĩ. - Tùy trung tá. - Vậy anh hãy thi hành đi! Cho người đi bắt liên lạc ngay với các đại đội và truyền lệnh, còn tôi, sẽ quay trở lại, qua điện đài sẽ yêu cầu Hà Nội lại cho một đợt máy bay lên chi viện, để bảo vệ cho các anh triệt thoái được an toàn. Lisenfelt chui ra khỏi hầm. Bigeard cũng bước ra theo, lòng nặng trĩu, nói với Lisenfelt vậy, nhưng thực ra Bigeard không tin là Hà Nội sẽ kịp tung máy bay lên chi viện. Chiều muộn mất rồi. Không quân đâu có những bộ binh bảo một cái là đi ngay được? Bigeard đã không nhầm. Hà Nội không thể cho máy bay lên tức khắc. Trong khi đó, các đơn vị dù và ngụy cùng xe tăng đã bắt đầu rút. Chúng rút trong sự rối loạn. Lính bò, lính chạy, tung tóe như kiến vỡ tổ trên nửa phía nam sân bay còn bằng phẳng. Và đó cũng là lúc các cỡ hỏa lực của chúng ta được thả sức bắn quét. Trên cao, trước khi chìm xuống những chỏm núi phía tây nam, mặt trời còn như cố nán lại, giương con mắt chột kinh hoàng nhìn xuống cánh đồng, cái cánh đồng trước kia mướt xanh như một giấc mơ nay đã trở thành cánh đồng địa ngục. * Trời vừa tối dã có điện từ trung đoàn gọi Dũng sáng mai phải về ngay sở chỉ huy có việc khẩn. - Việc khẩn là việc gì? Dũng đã mệt rũ. Toàn thân anh như một cây ngô sau trận bão: xác xơ, úa héo, mềm oặt, không ăn nổi một miếng. Chỉ thấy khát. Đầu óc mụ mị, nhờ nhờ. Không còn nghĩ được việc gì xa nữa, mọi cảm giác vui, buồn, mừng, giận... dường như chẳng còn. Con người rơi vào trầm lặng, và như khô lạnh. Đêm qua, sau khi tổ chức, đôn đốc các đơn vị cấp tốc sửa sang lại hầm hố đã bị đánh phá trong ngày, đồng thời đào thêm trận địa tiền duyên cho vòng rộng thêm ra, rồi nối lại phía sau thành một tầng phòng ngự mới vào một ngách hầm, lăn ra ngủ được một giấc con. Giấc ngủ mê mệt. Đến sáng bạch, Thủy lay gọi mãi anh mới trỗi dậy được. Người đau như dần. Đầu óc vẫn chưa hết nhờ nhờ, mụ mị. Anh nuôi đã đem cơm ra. Ưu tiên ban chỉ huy một bi đông nước suối để rửa mặt và súc miệng. Dũng không ăn gì hết, chỉ ngửa cổ hợp một ngụm nước rồi nhổ ra, rồi nhảy lên mặt đất, vạch quần đái một bãi khá dài. Bấy giờ mới như tỉnh ra được một chút. Anh dặn dò công việc với Thủy, rồi quay trở lại trung đoàn. Lần này không có Báu. Báu được đưa về trạm phẫu thuật từ đêm. Lúc này mới càng thấy nhớ Báu da diết. Anh cảm thấy mình hết sức cô đơn và cả yếu đuối nữa vì thiếu Báu. Anh đi thất thểu, áo quần tơi tả. Máy bay dịch đã lên, rung chuyển trên bầu trời. Nhưng anh dường như đã hoàn toàn quên trận bom hộc máu ở cửa rừng cách đây hơn nửa tháng. Không thấy sợ. Cũng chẳng thấy khó chịu. Anh cứ bình thản đi. Chỉ những tầng cây xanh của rừng hiện ra trước mắt là làm cho anh bỗng như ngỡ ngàng, tưởng chừng đã lâu, lâu lắm rồi, đi đâu đấy nay mới trở về, mới nhìn lại thấy màu xanh này. Anh ngắm từng chùm lá bên đường, từng sợi dây leo quấn quýt trên những thân cây đã bị mảnh pháo, mảnh bom găm lỗ chỗ hoặc xé rách... Tâm hồn anh như một chiếc chảo gang nung đỏ đang nguội lại dần dần. Anh đã tới khu hầm của ông Thâu. Một anh chiến sĩ cho biết ông Thâu chạy di đâu đó, lát nữa mới về. Anh rẽ sang hầm ông Quý. Một dáng người cao cao với chiếc blouson Mỹ và khẩu côn trễ bên hông từ phía hầm ông Quý đi ra, vẻ rất hấp tấp. Dũng đã nhận ra: Hồng Đăng. Nhưng hôm nay mặt mũi Hồng Đăng không được hồng hào cường tráng như mọi khi. Anh xanh ra, cặp mắt trũng sâu, buồn bã. Hai người giáp mặt nhau. Hồng Đăng nhận ra Dũng. Anh có vẻ sững sờ. Đứng dừng lại, bắt tay Dũng, anh cất tiếng hỏi: - Tôi tưởng anh vẫn ở ngoài ấy? - Tôi được gọi về có việc. Anh khỏe chứ? - Cám ơn anh. Vẫn bình thường. Trên gương mặt Hồng Đăng càng như gì đó khác lạ. Hình như anh định hỏi, hoặc nói điều gì đó với Dũng nhưng lại thôi. Đôi mắt anh mấp máy mãi rồi anh lại hấp tấp đi tiếp. Dũng cũng cắm đầu bước thẳng, không nhìn lại. Với người này, Dũng đã hết oán ghét. Anh đã hoàn toàn là một người xa lạ, chí ít cũng chẳng có quan hệ tốt hoặc xấu, vui hoặc buồn nào với anh ta, Dũng hiểu con người đó vẫn luôn coi Dũng như một phần tử nguy hiểm đáng căm thù, ít ra cũng là kẻ đáng ghét. Dũng vừa bước vào căn hầm, ông Quý đã vui vẻ cất tiếng trước: - Chào chiến sĩ sân bay! Ông thân mật kéo anh ngồi xuống. Trên chiếc bàn nứa vẫn còn đó những phong bánh chocolat, bicscuit và cả cà phê bột đã pha. Dũng hiểu Hồng Đăng vừa ở đây đi ra. Ông Quý mời anh. Dũng từ chối. Anh chỉ thấy khát. Ông Quý đưa chai bia ra. Dũng nhận ngay. Chà, bao lâu nay mới lại nom thấy chai bia, cứ như người nguyên thủy mới được đưa về thành phố. Cầm cả chai anh tu một hơi liền hết sạch. Đưa cùi tay lên chùi bọt trên mép, anh hỏi vào công việc: - Báo cáo, tôi có nhiệm vụ gì gấp vậy? Ông Quý nhìn anh trang trọng: - Bộ chỉ huy mặt trận đánh giá khá cao trận sân bay của chúng ta và trung đoàn 3. Đồng chí Ngọc (Võ Nguyên Giáp) vừa có điện triệu tập trung đoàn trưởng trung đoàn 3, anh Thâu và cả cậu nữa ngay hôm nay lên báo cáo, để đồng chí Tổng chỉ huy Mặt trận nghe. Ông vừa nói vừa để ý xem phản ứng của Dũng. Nhưng gương mặt của Dũng vẫn bình thường, chỉ bắt đầu thoáng đỏ mặt lên vì bia. Ông Quý thầm nhủ: Hắn vẫn y như vậy. Vẫn rất kiêu, cho dù là kiêu ngầm... Tuy nhiên, như tất cả các nhà chính trị khác, ông không bao giờ bộc lộ ý nghĩ của mình một cách thiếu cân nhắc. Ông vẫn giữ thái độ vui vẻ, cởi mở. Ông hỏi vắn tắt về trận đánh trên các hố bom. Rồi ông nói cho Dũng biết: Báu sẽ được khen thưởng xứng đáng. Thìn sẽ được đề bạt lên tiểu đoàn phó cho Dũng. Tới lúc đó ông Quý mới thấy Dũng tỏ rất mừng. Mắt long lanh, anh hỏi lại xem đây mới là dự định hay đã có quyết định? Anh hoàn toàn đồng ý với quyết định ấy. Ông Quý vui vẻ, như tiện thể nói sang chuyện khác: - À này, còn cái việc... cậu đánh cậu Bổng ở trận địa thế nào thế? Anh em có xì xào. Bổng nó cũng có thư khiếu nại đấy. Gương mặt đang tươi tắn, vẻ tươi tắn rất hiếm thấy của Dũng, bỗng như đanh cứng lại. Đôi mắt anh nhìn thẳng ông Quý: - Tôi đánh nó thế còn là quá nhẹ. Ông Quý ngồi im. Dũng tiếp: - Để rõ việc này hơn, tôi sẽ triệu tập tiểu đoàn ủy, rồi mời anh xuống nghe. Và nếu các đồng chí cho phép, tôi sẽ còn cho nó cái tát tai nữa. “Hắn lại nổi khùng rồi. Hỏng! Thái độ thế là không được. Nhưng, thôi khoan, mình cũng hơi vội. Còn phải tác chiến nhiều, không nên làm cho hắn bực bội...”. Ông Quý lại tươi cười, thân mật và dịu dàng: - Thôi, nói qua vậy thôi. Chuyện ấy ta sẽ rút kinh nghiệm sau. Mà thằng Bổng cũng dáng phê phán... Xem đồng hồ, có vẻ sốt ruột, ông Quý ngoái cổ ra bảo một chiến sĩ liên lạc chạy sang bên, xem ông Thâu đã về chưa. Ông lại quay về với Dũng: - Nhân tiện báo cho cậu vài tin vui vui: anh Hồng Đăng vừa ngồi đây xong. Anh ấy cho biết tối qua ta bắt được điện của tụi De Castries báo về Hà Nội là tiểu đoàn dù số 2 đã bị 150 tên, coi như quỵ liệt. Không còn lực lượng dự trữ nữa. Cogni ở Hà Nội cũng điện lên nhận định đây là thất bại nghiêm trọng nhất kể từ các trận chiến đấu bên khu đông... Còn đài Mỹ thì bình luận: Điện Biên Phủ từ sau trận sân bay này sẽ bắt đầu đi vào cơn hấp hối. Ông Quý vừa nói vừa cười, vui hể hả. Một người từ bên ngoài xồng xộc bước vào. Tham mưu phó Hà Giao. Nom thấy Dũng, Giao mỉm cười, bắt tay: - Chúc mừng chiến thắng nhé! Anh ta nói chúc mừng như mặt lạnh tanh và bàn tay như trơn tuột. Anh ta quay lại với ông Quý, có vẻ bực dọc: - Báo cáo anh, theo lệnh anh tôi phải cử liên lạc dẫn ông Hồng Đăng xuống trạm phẫu trung đoàn ngay, mặc dầu hết sạch cả người. Đang bao nhiêu là việc! Nhưng, báo cáo anh, té ra ông ta chẳng phải thăm thương binh gì hết. Một anh vừa ở trên quân y mặt trận cho biết: ông ta có cô vợ làm hộ lý trên đó, cái nhà cô xinh xinh ở phái đoàn phụ nữ ấy anh ạ. Không hiểu vì sao cô ta bỗng bỏ viện trốn đi đâu mất, không ai biết. Đang nhao cả lên. Ông Hồng Đăng thì sùng sục xuống trạm phẫu đại đoàn nay lại xuống trạm phẫu trung đoàn ta để tìm. Ông ấy muốn xuống trạm phẫu e ta tìm vợ đấy! Ông Quý ngẩn người. Nhưng Dũng còn bàng hoàng hơn. Anh như bị một cơn gió độc quất mạnh làm cho choáng váng. - ... Người thì bảo cô ta vất vả quá không chịu nổi, bỏ về hậu phương - Hà Giao tiếp - Người lại nói, theo các cô hộ lý, thì hình như có chuyện gì đó không vui giữa hai vợ chồng, nên cô ta tránh mặt không muốn gặp nữa... Lại một người nữa chạy vào báo cáo: ông Thâu đã về, mời Dũng cùng đi luôn: Ông Quý đứng dậy, siết chặt tay Dũng, nụ cười rạng rỡ. Ông không kịp nhận thấy vẻ khác thường trên mặt Dũng. - Vậy đi nhé! Lên đó liệu mà báo cáo với anh Ngọc. Anh ấy hay hỏi tỉ mỉ và cụ thể lắm đấy. Chúc mừng cậu! Dũng quay ra. Trong đầu óc anh lúc này không còn bất cứ một điều gì nữa ngoài những câu hỏi đang cháy bỏng: Nguyệt Lệ đi đâu? Vì sao em lại phải hành động như vậy? Em trốn ai? Trốn Hồng Đăng hay trốn anh? Nhưng Nguyệt Lệ ơi, thật ra em không cần phải làm như thế. Em đi đâu? Em đang trốn ở nơi đâu? Hoặc có thể em củng gặp một tai nạn bất ngờ nào đó mà không một ai biết rõ?... Đầu óc anh mỗi lúc một thêm như có bão nổi. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười Hai, 2023, 10:10:39 am 14 Chỉ mấy ngày sau trận sân bay, đến lượt đồi A1 bị đánh chiếm. Khối bộc phá rất lớn nổ giữa ruột quả đồi như nát ấy đã được dùng làm tín hiệu chung cho đợt tổng công kích cuối cùng. Trận Điện Biên Phủ toàn thắng. Toàn bộ bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm địch cùng trên một nghìn sĩ quan, binh lính còn lại đầu hàng. Cờ trắng mọc khắp khu trung tâm, mảnh đất đẫm máu, cuối cùng Bộ chỉ huy Mặt trận của chúng ta đã trao cho trung đoàn 3 và trung đoàn 2 nhiệm vụ vào tiếp thu trận địa địch. Đã hai ngày trôi qua mà công việc vẫn ngập đầu. Dũng hết sức mệt mỏi. Tiểu đoàn của anh đã được phân công đảm trách mọi việc ở khu đề kháng Huygette, nơi mà tiểu đoàn cùng trung đoàn và cả đại đoàn cùng lăn lộn chiến đấu ròng rã 55 ngày đêm liên tục. Nào thu bắt tù binh, nào thu gom và cứu chữa thương binh địch, nào tập trung các loại vũ khí lớn nhỏ và đủ các thứ quân trang quân dụng cùng lương thực... Đó là chưa kể tới nhiệm vụ cấp tốc san sửa lại sân bay cho máy bay địch hạ cánh đón nhận thương binh của chúng. Hội nghị Giơ-ne-vơ đang họp. Tại hội nghị, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã long trọng tuyên bố: “Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho phép chính phủ Pháp được nhận thương binh tại Điện Biên Phủ...”. Sáng nay, trỗi dậy sau có mấy tiếng đồng hồ chợp mắt dưới một chiếc dù được dựng, căng lên làm mái che. Đây là sở chỉ huy tiểu đoàn. Dũng cho mời cán bộ lên hội ý triển khai công việc trong ngày. Dưới chiếc dù đỏ, mọi người ngồi quây quần chung quanh một chiếc bàn xếp lấy được của dịch, cùng hút thuốc, trò chuyện râm ran, tựa như một đám khách du lịch đang ngồi uống nước trong một chợ phiên kỳ lạ. Bốn chung quanh, đầy dù, dù đỏ, dù xanh, dù trắng, dù vàng... Hầu hết là dù của quân y. Hàng trăm bác sĩ của mặt trận cùng một lực lượng hộ lý, y tá hùng hậu đã được lệnh vào cứu chữa cho thương binh địch để rồi sẽ trao trả. Đúng là một chợ phiên kỳ lạ có một không hai trên một vùng đất mênh mông tàn phá. Tất cả các hầm hố đều đã bị bắn phá sụt lở hoặc san bằng. Dường như không nắp hầm nào còn nguyên vẹn. Ngay cả nóc hầm của De Castries cũng dã bung lên từng mảng. Súng đạn ngổn ngang. Súng trong công sự, súng đầy các chiến hào, súng rơi tung tóe trên khắp mặt đường ngang dọc. Những khẩu 105 ly, 155 ly cái đổ chổng càng, cái vỡ nòng như cuống rau muống chẻ... xe cộ cũng tơi bời. Chỗ này mấy chiếc camion bị đạn nằm gục ngay bên lề đường, chỗ kia một chiếc Jeep tan hết mõm chỉ còn cái khung sau nằm lật ngửa bên những ụ pháo, chỗ nọ một chiếc xe tăng cháy đen như một con voi đồ sộ chết gục cạnh một hàng rào dây thép gai... Quân trang cũng vô kể: Mũ sắt, áo quần, chăn màn, giầy tất... cùng đầy đủ giấy tờ như bươm bướm, tràn ngập khắp nơi. Bước đi một bước là đụng phải không một chiếc ba lô thì cũng một thùng đồ hộp, hoặc một xác lính... Sự bề bộn thật kinh khủng. Nhưng, đối với Dũng và các chiến sĩ, kinh khủng hơn hết là những hố chôn lính tập thể và khu hầm với mấy trăm thương binh nặng, nhẹ. Vừa bước xuống giao thông hào, chưa nói tới chui vào hầm của quân y địch đã muốn lộn mửa vì mùi hôi thối, tanh tưởi. Mùi máu, mùi các vết thương lên mủ thối rữa, mùi cứt đái... Viên Bác sĩ Grawin phụ trách khu quân y địch đã thường xuyên phải cho thắp hương để đỡ mùi uế tạp, nhưng cũng không khắc phục được. Cho tới khi quân ta vào, mùi hương vẫn còn phảng phất, hòa quyện với các mùi xú uế, càng làm cho khu quân y đúng là một địa ngục trần gian... Cho tới hôm nay việc thu gom thương binh tạm xong, đã chuyển hết bọn chúng vào khu trung tâm để cho các lực lượng quân y ta cứu chữa. Hôm nay, tiểu đoàn bắt đầu bàn tới việc tiếp tục thu gom vũ khí, lương thực địch mà những thứ này còn như núi, có lẽ phải hàng tuần mới có thể tạm vãn. Mở đầu cuộc hội ý, Dũng mỉm cười tuyên bố: - Mới cách đây có ít ngày chúng ta có nhiệm vụ phải kiên quyết bằng mọi giá đánh cắt được sân bay. Nhưng hôm nay, đảo ngược lại, chúng ta có nhiệm vụ phải cấp tốc san sửa lại nó để có thể nhanh chóng sử dụng được. Tất cả các cán bộ cùng vỗ tay ran. Dũng tiếp: - Phải cật lực! Cật lực đấy nhá! - Cật lực! Cật lực! Các cán bộ lại cùng hô vang. Không khí đầy hào hứng, Dũng chẳng cần phải nói nhiều, ai ai cũng hiểu công việc hôm nay đã khác hôm qua, với một ý nghĩa cao đẹp như thế nào. Chỉ trong chốc lát, cả tiểu đoàn đã dàn ra trên sân bay. Sau nhiều ngày mưa liên miên, mấy hôm nay nắng ráo. Trời như cũng chiều người. Cánh đồng chan hòa ánh nắng vàng tươi, lấp lánh. Dũng cùng đi với anh em. Ngắm nhìn những người lính cầm xẻng cuốc, giữa ban ngày, dưới nắng ấm, hì hục xúc, đào trên những lớp sóng đất hoặc dưới các hố bom đỏ rực, Dũng không khỏi nhớ tới những đêm đào trận địa vừa qua dưới mưa rơi, pháo sáng và pháo bầy, bom trũi. Cái lao động trong hòa bình khác với cái lao động trong chiến tranh biết bao, như mặt phải khác với mặt trái của một tấm huân chương. Dũng chỉ dẫn cho các đơn vị xong đi ra con mương bên sân bay, nơi cả tiểu đoàn đã mấy ngày đêm giành giật với địch. Anh ngồi bệt xuống những tảng đất lớn. Lại không khỏi nhớ tới Lanh, Niên, Noãn, Quýnh... và tất cả những chiến sỹ mà anh đã quen biết cũng như tất cả những tân binh bổ sung chiều hôm trước mới chỉ kịp nhận rõ mặt, chứ chưa thuộc được tên, tới đêm sau họ đã trở thành tử sĩ. Bây giờ tất cả chỉ còn có mặt đất tan nát, câm lặng. Sự im lặng thật nặng nề. Hồn thiêng có còn ở đây không? Anh em đang thấy gì trong những ngày chiến thắng này? Trước mắt Dũng như hiện ra từng khuôn mặt. Tất cả như đang đứng thành hàng dài, mình mẩy máu me... Họ đang hỏi anh: “Bây giờ anh và đồng đội đang làm gì và mai sau sẽ làm gì trên cánh đồng này, trên đất nước này?...”. Dũng đốt hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác. Miệng anh đắng chát... Thủy đã ra. Anh đã khỏi hẳn ù tai, con người mảnh mai tươi tắn ấy bây giờ lại như càng tươi tắn hơn. Thủy cho Dũng biết đoàn tù binh sắp bắt đầu rời Mường Thanh. Một sự ham thích tò mò nổi lên, Dũng nói với Thủy: - Vậy anh ở đây nhá! Tôi chạy vào xem một tí. Thủy sốt sắng: - Đi đi. Dũng chạy như bay vào khu trung tâm. Đoàn tù binh đang bắt đầu lên đường. Ôi chao, sao mà nhiều đến thế! Nhiều quá! Phải tới hàng nghìn. Thành hàng đôi, chúng kéo đi dài dặc, bụi mù. Đủ các sắc lính. Hầu hết là Âu Phi. Suốt tám năm chiến trận, cũng đã từng bắt được tù binh, nhưng quả thật chưa bao giờ Dũng dược chứng kiến một quang cảnh như thế này. Cả một đoàn quân lớn như thế kia mà lại là tù binh! Chúng tiếp tục kéo đi ngang qua trước mặt Dũng, bụi càng bốc cao mù mịt. Không nhìn rõ từng đứa nữa, chỉ còn thấy một hình ảnh như hoàn toàn giống nhau: Mặt mũi võ vàng, râu ria lởm chởm, mệt mỏi, kiệt quệ trong những bộ đồ trận loang lổ dù hoa hoặc vàng khè màu đất, nhàu nát và bẩn thỉu. Đó có lẽ cũng là hình ảnh của chủ nghĩa thực dân già cỗi bại trận. Một bàn tay nào bỗng đập mạnh vào vai Dũng. Anh quay lại: Hà Giao. Hôm nay Giao mặc một chiếc blouson Mỹ gần như mới nguyên, mang một chiếc dây lưng và một khẩu súng sáu của Mỹ. Thêm một đôi giày da cao cổ có ghệt cũng của Mỹ nốt 1. - Chào ông! Mình về xuôi đây! - Hà Giao vui vẻ nói, điếu thuốc ngậm lệch ở bên mép. Dũng nhìn Giao từ đầu tới chân, như chưa hết lạ, Hà Giao đã tiếp: - Mình được trên cho tham gia ban chỉ huy áp giải tù binh, đưa chúng về Thái Nguyên, Phú Thọ... À ra thế. Hà Giao chỉ còn thiếu tự giới thiệu thêm: Anh ta đã được dự kiến đưa lên làm tham mưu trưởng trung đoàn, thay cho anh tham mưu trưởng cũ sẽ lên đại đoàn nhận công tác mới. - Cậu có nhắn gì về dưới ấy không? - Hà Giao vừa hỏi vừa liếc về phía một chiếc Jeep mới được sửa lại, đang đỗ bên đường chờ Giao. Trên xe có hai cán bộ đang ngồi ở băng sau. Một người lạ mặt, còn một người là Bổng. Anh ta đã được trưng dụng lên ban chỉ huy tiếp quản làm trợ lý. Thì ra bây giờ anh ta cũng sắp về xuôi với Hà Giao. Trên xe, chất đầy những két bia rượu và cả những hòm đồ hộp. Bổng quay mặt đi, vờ như không thấy Dũng. - Mà này, mình báo cho ông biết một chuyện... Dũng không khỏi chăm chú: - Gì vậy? Hà Giao càng hạ thấp giọng hơn và cũng như càng thân mật hơn: - Mình báo cho ông biết để mà cảnh giác... - Nhưng mà sao? Hà Giao gần như ghé hẳn miệng vào tai Dũng: - Mình vừa được nghe người ta nói là tay Hồng Đăng... - Hồng Đăng sao? - Tay ấy đang nói là ông quyến rũ vợ tay ấy và tổ chức cho cô ta đi trốn. Như có một loạt đạn bắn thẳng vào tai mình, đầu óc Dũng vừa choáng đi vừa như bật bốc lửa. Nhưng anh đã kịp kìm mình, để hỏi lại: - Nhưng sao có chuyện ấy? - Nào mình có biết! Chỉ nghe người ta nói vậy. Rồi có vẻ như đầy cảm thông hoặc độ lượng, Hà Giao lắc đầu: - Nhưng mình không tin. Vô lý! Phải không ông? Nhưng mà thôi, nói để biết thế, còn vứt cha nó cái chuyện vớ vẩn ấy đi! Bận tâm làm quái gì! Mình đi đây. Hẹn gặp lại ở Thái Nguyên nhé! Sẽ có những “chầu” túy lúy để “báo thù” nhũng ngày vừa qua đấy! Chào! Nói xong Hà Giao chạy ra xe, nhảy phóc lên, vắt chân, hất hàm với anh chiến sĩ lái: - Tiến! Chiếc xe vụt đi, để lại một đám bụi mù. Dũng vẫn đứng đấy như hóa đá. Câu chuyện Hà Giao vừa cho biết có thể là bịa đặt, nhưng có thể là có. Nhưng cơn điên giận đã qua đi khá mau. Anh đã hoàn toàn trở lại bình tĩnh. Lại chỉ thấy thương Nguyệt Lệ. Nguyệt Lệ, em đang ở đâu? Sao em lại hành động như thế? Em còn sống hay không? Cầu mong sao em đừng gặp tai nạn.... Ăn cơm chiều xong, toàn tiểu đoàn chuẩn bị đi xem phim. Đội chiếu phim của Bộ tối nay sẽ chiếu một phim Liên Xô: “Công phá Bá Linh”. Lính hớn hở, nao nức như trẻ em sắp được đi xem hội. Giữa lúc đó, Thủy từ trên trung đoàn trở về, đưa cho Dũng một tấm sơ đồ khái lược có vẽ hai vạch chì đỏ từ khu trung tâm tỏa rộng ra phía Him Lam, bắt vào đường Tuần Giáo - Điện Biên. - Lệnh: tiểu đoàn ta phải mở thêm hai con đường này, để quân xa của ta vận chuyển các thứ ra được nhanh chóng. Chỉ có một con đường cũ của tụi Pháp, chậm quá - Thủy nói. Dũng đỡ lấy tấm sơ đồ, xem xong ngẩng lên: - Chỉ có thế này thôi sao? Thủy có vẻ không hiểu Dũng định hỏi gì. Dũng tiếp: - Chỉ có trao nhiệm vụ mà không cho ta một cái gì khác ư? Nhất là bản đồ các bãi mìn. Sau nữa là công binh kỹ thuật tăng cường. Bấy giờ Thủy mới vỡ nhẽ. Anh lắc đầu: - Không, thấy chỉ giao có thế. - Anh có đồng ý với tôi cánh đồng hiện còn đầy mìn không? Chúng ta lại là bộ binh. Nếu không có phương tiện, bản đồ, thì sẽ phải rất lâu đã đành, mà sẽ có thương vong nữa. Thủy ngẩn người. Dũng quay máy lên trung đoàn. Ông Thâu trực tiếp nói chuyện với anh. - Báo cáo, tôi đã nhận được nhiệm vụ. Chúng tôi làm sân bay vẫn chưa xong. Anh em rất vất vả. Nhưng cũng không sao. Lính mà! Tuy vậy chúng tôi yêu cầu trung đoàn cho chúng tôi bản đồ bãi mìn của địch.... - Làm gì có! - Trời, tôi tưởng các anh phải bắt tụi sĩ quan nộp ngay cái ấy rồi chứ? - Có hỏi. Nhưng tài liệu đã mất sạch vì đạn pháo của ta. Chúng nó không một đứa nào nhớ. Chúng nó xin chịu bắn chết chứ không sao nhớ nổi. Dũng cắn môi suy nghĩ, rồi lại nói: - Vậy xin các anh điều cho một chiếc xe tăng còn chạy được xuống chỗ chúng tôi. Phải phá mở các bãi mìn bằng cách ấy mới nhanh và an toàn được. - Đúng là còn một chiếc xe tăng chạy được. Nhưng đã có kế hoạch ngày mai phải phục vụ quay phim và chụp ảnh. - Tôi đề nghị hoãn việc ấy lại đã. - Không được đâu, đã bảo là có kế hoạch rồi. - Báo cáo, kế hoạch cũng có thể thay đổi chứ! - Đã bảo không được là không được. Giọng Dũng bỗng rung lên: - Hoãn một, hai buổi quay phim, tôi nghĩ sẽ không chết ai. Nhưng không hoãn, không có xe tăng, thì lính sẽ chết. - Anh nói cái gì vậy? - Tôi nói là lính sẽ chết thêm. Tôi không muốn lính tôi chết thêm nữa. - Anh có chấp hành mệnh lệnh hay không đấy? - Ông Thâu như quát lên. Dũng vẫn không nao núng: - Chúng tôi chấp hành mệnh lệnh, nhưng chúng tôi cũng được phép yêu cầu cấp trên một số điều tối cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ. Thủy lắng nghe cuộc đối thoại dần dần trở thành tranh cãi gay gắt mà thấy ớn lạnh. Anh không nén được tiếng thở dài. Anh đã quá hiểu: như một đôi vợ chồng xung khắc, giữa hai con người này khó có thể chấm dứt hoàn toàn được những cuộc va chạm như thế. Nhưng rồi Dũng bỏ ống nghe xuống. - Thế nào? Ý kiến cuối cùng? - Thủy hỏi. - Ông ấy đã chịu nhận là sẽ báo cáo, thỉnh thị lại cấp trên, sáng mai sẽ trả lời. Thủy cười nhẹ nhõm: - Thôi được, vậy ta chờ một tí. Bây giờ đi xem phim đi anh. Dũng lắc đầu. Anh mệt, không muốn đi. Rủ mãi không được, Thủy đành đưa tiểu đoàn đi. ---------------------------------------------------------------- 1. Hồi đó quân Pháp ở Việt Nam dùng hầu hết vũ khí và quân trang do Mỹ viện trợ. Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười Hai, 2023, 10:12:17 am Chỉ còn mình Dũng ở lại lều dù. Trời cũng đã tối. Ánh đèn điện của khu chiếu bóng và ánh các đèn măng sông ở các dù quân y sáng trưng từ xa xa hắt tới. Lại nhớ đến pháo sáng đèn dù... Đầu óc anh vẫn luôn bị ám ảnh, ám ảnh đến mức như khắc vào, không sao xóa đi được hình ảnh của chiến trận. Tháo bỏ dây lưng và bao súng, cuốn lại, đặt lên chiếc giường khung thu được của địch, rồi tụt đôi giày vải đã gần rách mướp, anh từ từ ngả lưng xuống, đầu gối lên bao súng. Anh kéo mảnh vải dù hoa thường ngày quấn ngang cổ, hoặc trùm sau lưng thay lá ngụy trang, đắp ngang bụng cho đỡ lạnh. Anh mệt mỏi thực sự. Chỉ nằm một lúc, anh đã thiếp đi trong một giấc ngủ mê mệt đầy mộng mị mà hẩu hết lại chỉ thấy những xác chết, và máu me...
Chợt cảm thấy có gì buồn buồn trên mặt, anh choàng tỉnh dậy, vồ vội lấy khẩu súng. Nhưng anh bỗng sững người. Ngồi ở bên mép chiếc giường khung là một cô gái tóc xõa trên vai. Ánh đèn từ xa xa hắt lại, nom rõ một đôi mắt đen lung linh, sâu thẳm. - Ôi, Nguyệt Lệ! Không đáp lại tiếng kêu ngạc nhiên và hốt hoảng của Dũng, Nguyệt Lệ sà tới, vươn đôi cánh tay tròn, ấm áp ôm lấy cổ Dũng, rồi đặt lên mặt, lên trán, lên môi anh những nụ hôn như mưa. Lúng túng mãi Dũng mới gỡ ra được. Anh ngồi dậy. Toàn thân và đầu óc anh vẫn còn bồng bềnh như một con tàu say. - Nguyệt Lệ sao em lại ở đây? Ánh đèn xa vẫn chiếu lại. Một hàm răng đều tăm tắp, trắng như ngà hé ra: - Sao anh lại hỏi vậy? Em đến với anh thế là đủ. - Nguyệt Lệ, người ta bảo rằng em đã bỏ viện.... - Vâng, em đã bỏ đi. - Vì sao vậy? - Thì ra anh vẫn chưa hiểu gì ư? Cũng thật đáng buồn, anh vẫn không thèm hỏi gì dù chỉ một chi tiết nhỏ nhất về em từ khi anh còn nằm điều trị ở viện. Nhưng thôi, không nhắc lại nữa. Rồi anh có dịp hiểu. - Em bỏ đấy rồi đi đâu? Nụ cười lại sáng ngời: - Em tìm đến một kho vũ khí. Ở đó có một vị chỉ huy là dân Tuyên Quang, có biết em. May quá. Em được nhận ở đó, chuyên lau đạn để gửi ra cho các đơn vị... - Và bây giờ? - Điện Biên được giải phóng, em tìm về Cục Chính trị Mặt trận. Các anh ấy cho em và hai chị phụ nữ nữa vào đây để làm công tác tiếp nhận... giới đàn bà. Anh buồn cười ư? Nhưng mà có đấy! Một cô y tá: Geveviève De Gala, một số vợ lính Mẹo, một số gái điếm người Việt và Bắc Phi... Sáng nay, cô Geveviève De Gala đã làm đơn gửi qua tụi em lên Bác Hồ xin ân xá. Tin buổi trưa, Bác đã chấp nhận ngày mai hoặc ngày kia nếu sân bay xong, cô ấy sẽ là một trong những người được phóng thích đầu tiên... Dũng ngắt lời Nguyệt Lệ, dù anh nhận thấy cô rất vui, gương mặt hồng hào, tươi tắn như chưa từng thấy: - Thôi được, công việc hãy gác đó. Bây giờ muốn hỏi em: bao giờ sẽ gặp lại anh Hồng Đăng? Em không thể xử sự như vậy mãi, cho dù là chuyện gì đi chăng nữa đã xảy ra. Em là vợ anh ấy. Mà là em chắc hiểu: những người vợ Việt Nam... Có cái gì như vụt tối sầm lại trên gương mặt cô: - Không! Em không còn là vợ anh ấy nữa. - Trời! Em nói gì lạ vậy? - Thật vậy. Pháp luật cũng không cản được em nữa. Mà em tin là pháp luật rồi cũng sẽ ủng hộ em.. Dũng nhìn thẳng vào mắt Lệ: - Em khác trước nhiều quá. Không thể hiểu nổi nữa... - Em biết đây chỉ là một cách nói của anh. Em không có gì thay đổi cả. Em chỉ là người không còn cam chịu... nhưng hiểu nghĩa sự đổi thay là như thế, thì đúng như vậy... - Nguyệt Lệ, liệu anh có thể tin đây là những điều lớn lao, nghiêm chỉnh đã được suy ngẫm thật đầy đủ?... - Anh hãy tin đi, anh yêu. Anh hãy tin đi! Cuộc đời đã có nhiều thử thách, kể cả khắt khe với anh đã làm cho lòng anh đầy những hoài nghi và chán nản. Nhưng anh hãy tin đi. Vẫn còn ánh sáng trong cuộc sống này, vẫn còn con người để anh tin, yêu, và cả tha thứ. Anh hãy tin, hãy tin em... Hai cánh tay của cô lại ôm vòng lấy cổ anh, gương mặt cô lại xáp vào mặt anh. Dũng bỗng cảm thấy má mình ướt đẫm. Cô đang khóc. Nước mắt cô trào ra, nóng hổi. Anh hiểu đây có lẽ đây không còn là những giọt nước mắt cay đắng. - Anh yêu! Em là của anh! Đấy là định mệnh và cũng là chân lý. Em là của anh, của anh. Cho dù Hồng Đăng không một chút xấu xa, em vẫn không còn của anh ấy nữa. Vì cả cuộc đời em chỉ có tình yêu duy nhất, tình yêu mà em từng lầm tưởng là đã bị chôn vùi cùng anh trong lửa đạn... * Chiều hôm sau, Dũng ở lại lều một mình. Anh đang lau lại khẩu súng ngắn. Nguyệt Lệ lại bỗng xuất hiện. Dường như vừa chạy một đoạn đường dài, cô thở hổn hển mặt đẫm mồ hôi... Dũng đứng bật, ngạc nhiên: - Nguyệt Lệ! Em đi đâu thế này? - Em đang muốn tránh mặt ông ta. - Ai? Anh Hồng Đăng ư? - Vâng. Ông ta đã nom thấy em. Ông ta đang đi tìm... Dũng lắc đầu. - Trời ơi, sao lại như vậy? Sao lại như vậy? Sao em lại như vậy? Em nên... - Không, em không hề sợ gặp ông ta. Em chỉ chán ngấy. Em không muốn gặp lại con người ấy ở đây. Em sẽ chỉ gặp lại ông ấy trước mặt những nhà chức trách lo việc ly hôn. Và khi ấy em sẽ nói tất cả... - Ông ấy đang tìm? - Vâng! Nhưng nói rõ hơn ông ấy vừa đi tìm cô Kim Oanh, vừa đi tìm em. - Em nói sao anh không hiểu? - Mấy chị cùng đi với em đã gặp ông ta đi tìm Kim Oanh, sau đó lại đi tìm em. Các chị ấy đã gặp ông ta và Kim Oanh trong một căn hầm gần khu quân y... Dũng lại lắc đầu. Anh càng không thể hiểu ra sao nữa. - Ông ta sẽ có thể qua đây. Em phải lánh đi đã. Anh hãy đợi em. Nói đoạn, cô thoắt chạy ra phía sau lều, nơi có những hòm đồ, hòm đạn vứt lổng chổng khá cao, đằng sau đó là một căn hầm nhỏ của địch sụt lở đã bung hết nóc. Cũng vừa lúc đó, đúng như Nguyệt Lệ đã nói, Hồng Đăng từ phía khu trung tâm chạy lại. Nom thấy Dũng, anh hết sức kinh ngạc. Sững lại trong mấy phút, anh mới tiến lại được, mặt đỏ văng, nước bọt trắng hai bên mép. Dũng sẵn sàng chờ đợi một cơn bão lốc trút xuống. Nhưng, không ngờ, Hồng Đăng lại đưa tay ra bắt tay anh và cất tiếng chào khá tử tế: - Anh ở đây ư? Anh khỏe chứ anh Dũng? Dũng nhún mày khẽ gật đầu. Anh chưa thật hiểu con người này đang định làm gì hoặc giở ngón gì đây? Hồng Đăng rụt rè cất tiếng hỏi: - Xin lỗi, anh có trông thấy... người đàn bà nào chạy qua đây? Dũng lạnh lùng hỏi lại: - Anh định hỏi thế nào? Gương mặt Hồng Đăng trở nên ảo não. Trong ánh mắt của anh ta, Dũng không thể nghi ngờ đó là một sự giả dối. - Anh Dũng ạ, đó là vợ tôi. Tôi đang tìm cô ấy, thấy đi về phía này. Anh có thấy, làm ơn chỉ giúp. Rồi như chỉ còn thiếu quỳ xuống, Hồng Đăng tiếp tục hổn hển: - Anh có thấy, làm ơn chỉ giúp. Tôi thành thật van anh... Dũng sững sờ. Anh hoàn toàn không ngờ con người đầy kiêu hãnh bây giờ lại thảm hại đến như thế. Anh ta đã như hoàn toàn gục ngã, hoặc đầu hàng. Nhưng thái độ ấy không hề làm cho Dũng cảm thấy kiêu hãnh, cũng không cả ái ngại. Anh chỉ thấy ngạc nhiên. Anh bước ra khỏi lều dù. Không nói gì, cũng chẳng cần hỏi gì thêm, anh giơ tay chỉ về phía những hòm đồ, hòm đạn lổng chổng... Ngón tay anh như tê buốt. Toàn thân anh củng thoắt như tê buốt. Phải chi anh ta nổi xung, tuôn ra những lời thô lỗ, vô lễ, thì có lẽ anh đã xử sự khác, và giây phút này anh đã không đau đớn đến như thế. Nhưng thôi, cũng không sao. Dũng vốn luôn luôn muốn mọi việc trên đời phải sòng phẳng. Anh chịu đau để cho anh ta một cơ hội cuối cùng thử đem hết sức mình níu kéo lại những gì mà anh ta đã mất. Và cũng dành cho cả Nguyệt Lệ một cơ hội, có lẽ cũng cuối cùng, kiểm tra lại chính mình để xem rồi có đứng vững hay không đứng vững, một khi nàng đã muốn đứng dậy... Anh đi thẳng, không ngoảnh lại. Trên cao, trời Điện Biên đang trong xanh vời vợi. Một vài cụm mây ở các đỉnh núi xa trắng ngần, cao quý. HẾT Tiêu đề: Re: Cánh đồng phía tây Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Giêng, 2024, 02:01:07 pm Nhà văn Hồ Phương qua đời HÀ NỘI Nhà văn - thiếu tướng Hồ Phương, tác giả truyện ngắn "Cỏ non" đi vào sách giáo khoa, qua đời ở tuổi 94. Gia đình cho biết ông qua đời sáng 2/1 tại nhà riêng. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam - viết trên trang cá nhân: "Khi nghe họa sĩ Nguyễn Thu Thủy, cháu của nhà văn, thông báo tin buồn, tự nhiên trong tôi hiện lên một vùng cỏ non mênh mông. Có lẽ, bởi tác phẩm đầu tiên của ông đã hằn sâu trong ký ức tôi là tác phẩm Cỏ non được trích trong sách giáo khoa hồi tôi còn đi học. Với tôi, ông không bay về trời mà vẫn ở lại mặt đất trong màu cỏ xanh mãi tận chân trời ấy. Xin cúi đầu tiễn biệt ông: Người lính Hồ Phương, nhà văn Hồ Phương". (https://i1-giaitri.vnecdn.net/2024/01/03/nv-ho-phuong-4575-1704259995.jpg?w=680&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=xmXbU-LyLJrJraOCo4D0iw) Nhà văn Hồ Phương. Ảnh: Thông Tấn Xã Việt Nam Nhà văn Hồ Phương tên khai sinh là Nguyễn Thế Xương, là một trong những nhà văn có quân hàm tướng hiếm hoi ở Việt Nam. Sinh tại thị xã Hà Đông (nay là quận Hà Đông, Hà Nội), năm 16 tuổi, Hồ Phương đứng trong hàng ngũ những người tự vệ có mặt trên các chiến lũy ở Hà Nội để đánh giặc Pháp. Ông là một trong những chính trị viên xuất sắc thuộc Đại đoàn 308 trong chống Pháp. Hồ Phương bắt đầu viết truyện ngắn đầu tay về bộ đội từ khi mới 17 tuổi. Năm 1949, ông phụ trách một trong những tờ báo đầu tiên của quân đội là báo Quân Tiên phong của Đại đoàn 308. Ông nổi tiếng sớm với tác phẩm Cỏ non - được đưa vào sách giáo khoa phổ thông. Truyện ngắn gây xúc động khi xây dựng nhân vật Nhẫn - anh chăn bò với hình ảnh giản dị, giàu tình cảm. Hồ Phương từng cho biết lấy cảm hứng viết tác phẩm khi đi công tác ngang qua một cánh đồng ngang, chứng kiến một anh bộ đội ra khẩu lệnh tập hợp đàn bò như những người bạn thân thiết. Qua vài lần bắt chuyện, ông và người đó thành bạn của nhau. "Làm bạn với anh bộ đội chăn bò đó, tôi mới thấy hết được giá trị con người và công việc mà những người như anh ở đâu đó trên đất nước mình ngày đó là như thế nào. Đó có thể là những con người rất nghèo khổ, vất vả nhưng tiềm ẩn trong con người họ là sự giàu có về lòng yêu nước, tận tâm với công việc mình đang làm", ông từng nói. Các tác phẩm khác - như Thư nhà - ông viết năm 1948, đi vào ký ức nhiều thế hệ độc giả. Qua trang sách của ông, hơi thở cuộc sống toát lên nét hào hùng với tiểu thuyết Những tiếng súng đầu tiên (1955), Xóm mới (tập truyện ngắn, 1963), Chúng tôi ở Cồn Cỏ (ký sự dài, 1966), Khi có một mặt trời (truyện ký 1972). Năm 1954, Hồ Phương được điều về Tổng cục Chính trị với nhiệm vụ được giao là viết văn và làm Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ông được trao các giải thưởng văn học của báo Văn nghệ (năm 1958, truyện ngắn Cỏ non), Bộ Quốc phòng (năm 1994, tiểu thuyết Cánh đồng phía Tây), Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (năm 2003, tiểu thuyết Ngàn dâu), Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam - Bộ công an với tác phẩm Yêu tinh (2001). Ông được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật năm 2012 cho các tác phẩm Ngàn dâu, Những cánh rừng lá đỏ. Mai Nhật Nguồn: https://vnexpress.net/nha-van-ho-phuong-qua-doi-4696460.html |