|
Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:11:03 pm Tên sách: Những người cảm tử (Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội)
Nhà xuất bản Hà Nội Năm xuất bản: 1987 Số hóa: macbupda Chỉ đạo nội dung Thường vụ Quận ủy Hoàn Kiếm Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Hà Nội Nhóm biên soạn: Đỗ Tần Phạm văn Trừng Lê thị Tuyết Minh Lưu Đình Quế Lê ngọc Anh Đỗ Chi Lê thị Hạnh Phúc Lê Thị Châu Chủ biên Đỗ Chí Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:12:28 pm LỜI NÓI ĐẦU Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta và đặt các cơ quan đầu não của chúng tại thủ đô, tiến hành công khai các hoạt động chống phá cách mạng, Liên khu Một - Hà Nội được giao trọng trách kìm chân địch tại Hà Hội càng lâu càng tốt để tạo điều kiện cho cả nước có thời gian chuẩn bị mọi lực lượng bước vào cuộc chiến đấu lâu dài. Đoàn kết xung quanh Đảng và Bác Hồ kính yêu, quân dân Liên khu Một - Hà Nội vừa củng cố, xây dựng chính quyền cách mạng vừa đấu tranh với địch và chuẩn bị mọi điều kiện sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến và và chiến đấu anh dũng chống thực dân Pháp. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày kháng chiến toàn quốc 19-12-1946 - 19-12-1986. Ban Chấp hành Đảng bộ quận Hoàn Kiếm đã quyết định cho biên soạn và xuất bản cuốn: "NHỮNG NGƯỜI CẢM TỬ" nhằm giúp cán bộ bộ đảng viên nhân dân trong quận nhất là thế hệ thanh thiếu niên, ôn lại quá khứ vinh quang này để khơi dậy niềm tự hào, phát huy khí thế cách mạng tiến công, hăng hái vươn lên trên con đường cách mạng mới. Đây là một việc làm thiết thực, phần nào đáp ứng kịp thời yêu cầu của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân trong Quận nói riêng và Hà Nội nói chung. Trải qua 40 năm với biết bao đổi thay của cách mạng, nhiều người con của Liên khu Một anh hùng năm xưa đã làm đẹp thêm truyền thống của quê hương. Phần lớn các cụ các bác còn ở lại Hà Nội cho đến hôm nay tuổi đã cao, sức đã yếu, trí nhớ phần nào đã hạn chế... Đó là những khó khăn của quá trình sưu tầm, biên soạn khi chúng tôi lựa chọn lấy nguồn tư liệu sống làm chính. Tuy vậy nhờ có biện pháp tổ chức tập hợp tư liệu khá công phu, sự giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm cao của đông đảo các cụ các các đồng chí cán bộ đảng viên nhất là những đồng chí trực tiếp chiến đấu, lãnh đạo chiến đấu trong Liên khu Một năm xưa. Sau 3 năm làm công tác sưu tầm tổng hợp, đến nay Quận ủy Hoàn Kiếm đã hoàn thành việc biên soạn cuốn sách. Nhân dịp xuất bản cuốn sách, Ban chấp hành Đảng bộ quận Hoàn Kiếm chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của đông đảo các đồng chí Liên khu Một năm xưa; chân thành cảm ơn Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thành ủy đã hướng dẫn chỉ đạo chặt chẽ về nội dung và sự giúp đỡ tận tình của Nhà xuất bản Hà Nội. Chắc chắn cuốn sách này còn những thiếu sót và hạn chế nhất định, chúng tôi mong muốn được đón nhận nhiều yếu kiến góp ý bổ sung của đông đảo bạn đọc để cuốn sách được hoàn chỉnh hơn. T/M BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ QUẬN HOÀN KIẾM Bí thư BÙI MẠNH TRUNG Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:16:05 pm CHƯƠNG I ĐÂY, THĂNG LONG "Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây, Đây lắng hồn núi sông ngàn năm..." Bài hát Người Hà Nội, với câu mở đầu này dẫn ta vào ngay khu vực trung tâm thủ đô Hà Nội, có hồ Gươm ở phía nam, Hồng Hà bên phía Đông, Hồ Tây trên phía Bắc. Đây là đất gốc Thăng Long. Xưa kia sông Tô Lịch, một chi lưu của Hồng Hà tiếp nước sông mẹ ở phường Giang Khẩu. Thời gian đã lấp mất cửa sông Tô (nay là quãng Phúc Tân - Chợ Gạo - Hàng Buồm), lấp đi cả một đoạn dài lên đến Thụy Khê, nhưng tại vùng mang tên Giang Khẩu này và quanh đó vẫn còn ấp ủ nhiều dấu tích thời tiền Thăng Long, từ thuở dựng nước, của những con người sinh ra tại đây và từ bốn phương về đây tụ hội chung sức lập nghiệp lớn. Đền Giai Cảnh ở phố Hàng Than, thờ vị Uy Linh Sơn Hà, tương truyền là một trong năm mươi người con theo Lạc Long quân đi về phía biển mở mang bờ cõi. Đình Đông Thuận, thờ ông Lý Tiến, một vị tướng thời Hùng Vương thứ 6, nay là ngôi đền nhỏ ở phố Hàng Cá. Tương truyền: Ông Lý Tiến xông pha trận mạc đánh giặc ngoại xâm bị trọng thương được đưa về chết tại quê, có Cầu Đông vắt qua sông Tô, có chợ cá trên bến dưới thuyền. Huyền tích còn kể: Chính ông Lý Tiến đã hiến kế với vua Hùng cho rao mõ cầu hiền mà tìm được cậu bé Làng Gióng, đánh một trận, dẹp tan giặc nước. Dân làng Đông Thuận lập đền thờ ông, ghi công trạng người cảm tử quân thời dựng nước, tại ngay nơi ông mất. Ngôi đền nhỏ ở phố Hàng Cá ngày nay chỉ là hậu cung của Đình Đông Thuận xưa. Thời kỳ nghìn năm chống quân đô hộ phương Bắc, khu vực cửa sông Tô là một điểm huyết chiến. Giữa thế kỷ thứ 6. Lý Nam Đế khởi nghĩa thành công lập nước Vạn Xuân, dựng chùa Khai Quốc. Chùa Khai Quốc vốn ở bên sông Hồng, đến năm 1616, chuyển vào đảo Cá Vàng trong Hồ Tây, mang tên mới, chùa Trấn Quốc. Năm 545, quân nhà Lương tràn sang, Lý Nam Đế dựng một thành lũy ở cửa Sông Tô. Kẻ đô hộ cũng sớm thấy vị trí chiến lược của vùng cửa sông này. Trước kia, mỗi khi chiếm được nước ta, chúng đều xây thành đặt trụ sở cai trị ở Luy Lâu, bên sông Đuống. Thế kỷ thứ 7, bọn xâm lược nhà Đường bỏ Luy Lâu đến vùng của sông Tô xây thành Tống Bình. Cuối thế kỷ thứ 8, Phùng Hưng chiêu tập binh mã ở Đường Lâm chuẩn bị khởi nghĩa. Năm 791, ông đưa hàng vạn nghĩa quân xuống bao vây Tống Bình, chiến đấu quyết liệt 7 ngày đêm. Kẻ cướp nước cố phá vây, nhưng phơi xác đầy đồng, cuối cùng phải xin hàng. Sang thế kỷ thứ 9, bọn đô hộ ở Tống Bình xây thành mới rộng lớn hơn, mang tên Đại La, hòng củng cố vững bền quyền thống trị. Nhưng đến thế kỷ thứ 10, với chiến thắng Bạch Đằng diệt quân Nam Hán (938), nước nhà giành được quyền độc lập. Ngô Quyền xưng vương đóng đô ở Cổ Loa. Sau đó, Đinh Bộ Lĩnh xưng đế, dựng đô ở Hoa Lư. Đến Lý Công Uẩn, kinh đô được chuyển về vùng cửa sông Tô. Mùa thu năm 1010, đoàn thuyền của vua Lý rời Hoa Lư ngược sông Hồng vào cửa sông Tô cặp bến Đông dưới chân thành Đại La. Truyền thuyết kể rằng: khi ấy có một con rồng vàng hiện bên thuyền ngự rồi bay vút lên trời cao. Nhân điềm ấy vua đặt tên cho kinh thành là Thăng Long. Rồng bay, hình tượng khí thế đang lên của nước Đại Việt. Từ đó, tại Thăng Long là "chỗ tụ hội của bốn phương, nơi thượng đô của kinh sư muôn đời" đã diễn ra biết bao nhiêu sự kiện, biết bao nhiêu biến cố liên quan đến vận mệnh cả dân tộc, đất nước. 1077, dẹp Tống 1225, 1285, 1288 thắng Nguyên 1427, bình Ngô 1789, phá Thanh Các tướng xâm lược Quách Quỳ, Thoát Hoan, Vương Thông, Tôn Sĩ Nghị chạy về đến nước chúng rồi vẫn còn khiếp đảm, nghĩ đến Thăng Long lại thấy lạnh gáy. Khí phách Thăng Long từ ngàn năm hun đúc nên bị sa sút đi do sự nhu nhược đớn hèn của triều đình nhà Nguyễn. Triều Nguyễn thành lập năm 1802, lập đô ở Huế, vốn e ngại lòng dân Bắc Hà, năm 1805 nhà Nguyễn phá thành Thăng Long cũ, xây Bắc Thành. Đến năm 1831, hạ đất kinh kỳ xuống vị trí một tỉnh, tỉnh Hà Nội, lại lấy cớ Bắc Thành chỉ còn là thành trì của một tỉnh, thành Hà Nội, để hạ thấp tường thành, bạt bớt đi 18 tấc (72 cm). Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta từ năm 1858. Phờ-răng-xi Gác-ni-ê mang quân ra Bắc tấn công thành Hà Nội sáng ngày 20-11-1873. Giặc có vũ khí hơn ta nhanh chóng chiếm được thành. Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương nặng nhịn ăn, chết theo thành. Nhưng rồi Gác-ni-ê cũng bị đền tội. Ngày 21-12-1873, trong trận giáp chiến ở vùng Cầu Giấy, quân ta giết tên tướng giặc này tại thôn Giảng Võ. Năm 1882, lần thứ hai quân xâm lược Pháp đánh thành Hà Nội. Ngày 25-4, pháo thuyền giặc bắn phá thành. Tổng đốc Hoàng Diệu đốc quân chống đỡ không nổi, ông tự tận lại vườn Võ Miếu, giữ lấy tinh thần trung kiên, bất khuất, chết theo thành. Nhân dân Hà thành và các vùng lân cận vô cùng căm uất, tự đứng ra lập những đoàn dân dũng phối hợp với những đám quân của những viên quan chủ chiến của triều đình, vây quanh Hà Nội, liên tục đánh địch. Ri-vi-e phải đưa quân ra phá vây và ngày 19-5, y bị bắn chết ở Cầu Giấy. Năm 1884, triều đình nhà Nguyễn phản bội dân tộc, ký hiệp ước bán nước cho thực dân Pháp. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:16:59 pm Hơn sáu chục năm ròng, người Hà Nội sống tủi cực dưới ách thống trị của thực dân Pháp, rồi cả Pháp lẫn Nhật. Nhưng hận thù bị nén chặt thì sức bật bung ra càng thêm mãnh liệt. Từ mùa thu 1945, khí phách Thăng Long hồi sinh và phát triển rực rỡ với cao trào Cách mạng do Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo.
Lệnh Tổng khởi nghĩa của Mặt trận cứu nước Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh phát đi từ Việt Bắc trong đêm 13-8. Bốn ngày sau đó, trên đất Thăng Long xưa đã phất phới tung bay ngọn cờ đỏ sao vàng. Chiều ngày 17, Quảng Trường Nhà Hát lớn Hà Nội vang lên những lời hô như sấm dậy "Việt Nam độc lập muôn năm". Từ quảng trường này người Hà Nội rước cờ Độc lập đi khắp các đường phố, biểu dương ý chí, biểu dương lực lượng trước mũi súng của bọn thống trị phát xít Nhật. Ngày 19 tháng 8, Hà Nội khởi nghĩa thành công. Tiếng reo mừng thắng lợi lịch sử của người Hà Nội ngày 19 tháng 8 vang đến khắp nơi nơi trên đất nước, cổ vũ các tỉnh, thành nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ Tổng khởi nghĩa. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình (xưa kia là đất phường Khán Sơn, có núi Khán nơi Lê Thánh Tông, ông vua của một thời võ công văn trị xem duyệt binh, nghe giảng võ) Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sau khi giành được chính quyền, tháng 8-1945, nội thành Hà Nội tổ chức thành 17 khu hành chính, nhưng về mặt quân sự thì căn cứ vào địa thế để chia ra 3 khu vực, gọi là Liên khu. Liên khu I - Hà Nội, ở trung tâm thành phố gồm 7 khu hành chính: Trúc Bạch, Hồng Hà, Đồng Xuân, Long Biên, Đông kinh nghĩa thục, Đông Thành Hoàn Kiếm. Đây chính là đất gốc Thăng Long xưa, bắc giáp Hồ Tây, Nam có Hồ Gươm, Đông giáp sông Hồng, và phía Tây là thành Hà Nội. Hồi ấy, Liên khu I Hà Nội là hình ảnh của Việt Nam thu nhỏ, đầy rẫy thù trong giặc ngoài, bị đế quốc bao vây chia cắt. Chưa bao giờ trên đất nước ta có lắm quân đế quốc như vậy: Pháp. Nhật, Anh, Tàu. Tại Hà Nội, tập trung đông nhất trên đất Liên khu I có quân Pháp, quân Nhật, quân Tàu. Liên khu I - Hà Nội nằm trong tình trạng bị uy hiếp: phía bắc, phía nam, phía tây coi như "đất địch", đó là những khối phố lớn tập trung các gia đình người Pháp, trong bộ máy cai trị thuộc địa mới bị dập tan, đến gần hai vạn người già trẻ lớn bé, lại nữa thành Hà Nội do quân Nhật chiếm đóng, rồi quân Tàu, trong đó có gần 5000 lính Pháp mà quân Nhật quản chế từ sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp mồng 9-3-1945. Trên phạm vi cả nước, thực dân Pháp âm mưu trỗi dậy khôi phục lại chính quyền đô hộ ngay khi phát xít Nhật đầu hàng phe đồng minh. Nhưng nguy hiểm nhất đối với nền độc lập dân tộc Việt Nam ở thời điểm này lại là lũ Tàu Tưởng. Quân đội Trung Hoa dân quốc của chính quyền Tưởng Giới Thạch, được phe đồng minh chiến thắng phân công cho vào Bắc Đông Dương, đến vĩ tuyến 16, giải giáp quân đội Nhật và làm nhiệm vụ tiếp phòng. Chúng tràn vào 4 quân đoàn, trên dưới 20 vạn tên (tương đương với số quân mà tướng Tàu Tôn Sĩ Nghị đưa vào xâm lược nước ta hồi đầu năm 1789). Vào Cao Bằng, chúng lùng bắt các cán bộ cách mạng, cấm dân ta treo cờ đỏ sao vàng. Qua Lào Cai, Yên Bái, Việt Trì, Vĩnh Yên... chúng giúp cho lũ việt gian tay sai cướp chính quyền. Mục tiêu chính của chúng là Hà Nội, Tại đây. chúng sẽ giáng đòn quyết định "diệt cộng, cầm Hồ" phá cách mạng Việt Nam, lật đổ chính phủ Hồ Chí Minh, dựng lên một chính phủ tay sai gồm những Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam... bọn trùm sỏ các đảng Việt Nam cách mạng đồng minh hội, Việt Nam quốc dân đảng, gọi tắt là Việt Cách, Việt Quốc, theo chúng từ bên Tàu về. Trong bối cảnh vô cùng phức tạp, đầy rẫy những hiểm nghèo ấy, lịch sử trao cho Hà Nội trọng trách bảo vệ chính quyền cách mạng trung ương. Và nhân dân Hà Nội đã buộc kẻ thù nguy hiểm phải chùn bước ngay lần đầu giáp mặt. Những kẻ từng xua quân đi giật cờ cách mạng, chiếm trụ sở chính quyền nhân dân ở các thị xã, thị trấn biên giới phía bắc, trên miền thượng du, trung du Bắc Bộ, khi tràn đến Hà Nội phải thay đổi thái độ hung hăng, ngang ngược, chịu cúi đầu lặng lẽ đi dưới bóng cờ sao vàng 5 cánh tung bay trên đỉnh các nóc nhà, trên các dinh thự, công sở, công viên, dọc các đường phố. Hà Nội, mùa thu ấy, bằng nhiều hình thức, tỏ rõ cho kẻ thù thấy rằng một chính quyền thực sự có uy tín với nhân dân đã được thành lập trên đất nước này: Chính phủ cách mạng lâm thời Hồ Chí Minh. Một mệnh lệnh ban ra, hàng chục vạn người xuống đường biểu thị ý chí kiên quyết bảo vệ chính quyền cách mạng, sẵn sàng hy sinh để giữ vững chủ quyền dân tộc. Một lời kêu gọi, cả Hà Nội sôi động, từng nhà, từng người đem vốn liếng, tư trang đóng góp vào Tuần Lễ Vàng, góp vàng giúp chính phủ khắc phục khó khăn về tài chính. Mỗi cuộc xuống đường, mỗi hoạt động chính trị của Hà Nội trong mùa thu ấy đã chỉ cho bọn tướng Tàu, như Lư Hán, Tiêu Văn... đóng đại bản doanh ở phủ Toàn quyền thấy người Hà Nội phẫn nộ như thế nào khi chủ quyền dân tộc bị xâm phạm. Ngày 14 tháng 9 năm 1945, quân đội Anh, do sự phân công của phe đồng minh được vào giải giáp quân đội Nhật ở Nam Đông Dương, chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam bộ ở Sài Gòn, lập tức các đường phố Hà Nội cuồn cuộn những dòng người biểu tình tuần hành phản đối. Và sục sôi hơn cả là cao trào chống xâm lược Pháp. Ngày 23 tháng 9-1945, quân Pháp núp bóng quân Anh đánh chiếm Sài Gòn, lập tức cả Hà Nội biểu thị quyết tâm kháng chiến. Hàng phố, thôn xóm, xí nghiệp trường học, tất cả các tầng lớp nhân dân, công nhân, nông dân trí thức, công thương gia, nhà tu hành... dấy lên phong trào chi viện cho miền Nam ruột thịt. Công nhân sản xuất, vận chuyển vũ khí, đạn dược, thanh niên xung phong, tòng quân Nam tiến, phụ nữ tổ chức quyên góp trang bị cho bộ đội. Cách mạng Việt Nam gặp nhiều khó khăn do quân Anh mở đường cho quân Pháp chiếm Sài Gòn, đánh rộng ra các tỉnh Nam bộ. Tuy nhiên, trong tình hình ấy, tại Hà Nội, các tướng Tàu lại phải chấp nhận rằng không thể một lúc mà lật đổ được chính phủ Hồ Chí Minh. Chúng tính nước khác, thúc lũ tay sai phá tổ chức Tổng tuyển cử, đồng thời đòi lập một chính quyền khác, trong đó lũ này phải chiếm phần đa số. Mưu kế ấy là của tướng Tiêu Văn. Nhưng rồi chính Tiêu Văn lại phải lùi bước. Bởi lẽ, trọng điểm phá Tổng tuyển cử của y là Hà Nội, mà trọng điểm của trọng điểm là Liên khu I - Hà Nội, nơi phố xá tập trung đông dân nhất, đặc biệt tập trung các nhà tư sản lớn, các nhà trí thức, các tín đồ Phật giáo, Thiên chúa giáo. Tin lành... mà y cho rằng có thể thu hút xây dựng được lực lượng chống đối cách mạng kéo về phía bọn Việt Cách, Việt Quốc. Song cuộc vận động Tổng tuyển cử ở Hà Nội, nhất là trong Liên khu I - Hà Nội lại diễn ra sôi nổi hơn đâu hết. Lũ Việt Cách, Việt Quốc mò đến phố nào cũng bị xua đuổi. Bấy giờ bọn chúng cũng nhen lên được mấy cuộc biểu tình tuần hành, dẫn nhau đi hò hét, la lối trên vài quãng đường có quân Tàu Tưởng canh gác che Chở, nhưng bị dập tắt hết. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:17:51 pm Sào huyệt chính của Việt Cách, Việt Quốc ở phố Quan Thánh và Ngũ Xã, trong địa bàn khu Trúc Bạch. Những cuộc tuần hành của chúng thường bị phát hiện từ lúc bí mật tập hợp lực lượng ở Ngũ Xã. Có lần chúng mới mò tới vườn hoa Hàng Đậu liền bị tự vệ khu Đồng Xuân phục kích đánh chạy toán loạn. Có lần chúng tiến được tới Hàng Ngang, và phải tản ra vì cách đánh khác. Bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết, Chủ tịch Tiểu khu 16 - Khu Đông kinh nghĩa thục kể rằng: "Hôm ấy, được tin "bọn kia" đang qua phố Quan Thánh, tôi liền báo cho các anh chị em phụ trách thiếu nhi ở các phố trong tiểu khu. Chỉ chốc lát các em đã tập hợp đông đảo, đồng phục chỉnh tề, vừa đi vừa đánh trống ca hát. Từ Hàng Bè, Hàng Bạc, Mã Mây, Hàng Mắm, các em ra đến đâu phố Hàng Ngang thì thấy "bọn kia" lố nhố ở Hàng Đường. Với sự cổ vũ của bà con trong phố, các em khua trống và hát, hiên ngang tiến lên, dàn kín mặt đường. "Bọn kia" bị chẹn lại, tức tối, nhưng chẳng dám gây gổ với các em, bởi chúng thấy dân phố đổ ra rất đông, chắc chắn là trong đó có các anh em tự vệ. Thế rồi, chúng chịu lép vế, tan ra, lẩn biến". Lại có lần, bọn Việt Cách, Việt Quốc đưa được một đám biểu tình chống Tổng tuyển cử xuống đến tận Hồ Gươm. Ở đây đường rộng, các đội thiếu nhi khu Hoàn Kiếm không thể bít đường chẹn lối được, bèn chuyển cách khác. Các em đi kèm đàng trước, đàng sau, đi kẹp hai bên khua trống, hô khẩu hiệu át lời kêu gào của bọn chúng. Một tên Việt Quốc xông ra dọa nạt, nó to lớn, như con sói gầm gừ trước bày thỏ. Nhưng các em chẳng hề sợ hãi, vì đã có các anh tự vệ chiến đấu bám sát, bảo vệ. Tên Việt Quốc tức tối điên cuồng sắp giở đến thủ đoạn vũ lực thì anh đội trưởng tự vệ Vũ Yên bước vào can thiệp. Ta cố giữ thái độ ôn hòa, còn bọn kia ỷ thế có lính Tàu canh gác gần đó che chở, gây ra xô sát. Chúng bắn chết của ta một người. Nhưng liền đó chúng bị đánh tan tác ngạy, tên ác ôn chạy được đến ngõ Hàng Hành thì bị trị tội.
Có sức mạnh đoàn kết của nhân dân, Hồ Chủ Tịch vững tay chèo chống con thuyền cách mạng lướt qua mọi thác ghềnh nguy hiểm. Giữa tháng 12-1945, Người đưa ra một giải pháp nhằm làm dịu tình hình: lập chính phủ lâm thời với sự tham gia của một người trong Việt Nam cách mệnh đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng, chính phủ này có trách nhiệm tổ chức Tổng tuyển cử, thống nhất các lực lượng vũ trang và sẽ từ chức khi đại hội đại biểu quốc dân làm việc. Biết chắc là bọn tay sai Tàu Tưởng chẳng dám đưa người ra ứng cử, chúng sợ bị nhân dân vạch mặt gạch tên, Hồ Chủ Tịch nêu thêm một điều khoản nữa: dành cho Việt Cách, Việt Quốc 70 ghế đại biểu trong Quốc hội. Tướng Tàu Tiêu Văn đang bí, chấp nhận ngay giải pháp này, thúc ép lũ tay sai phải chấp thuận. Ngày 24 tháng 12 năm 1945, Việt Nam cách mạng đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng ký chung với Mặt trận Việt Minh một giao ước "đoàn kết ủng hộ chính phủ liên hiệp lâm thời". Thế là ta dành được một thắng lợi quan trọng để tổ chức Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946. Bọn Tầu Tưởng chịu lùi một bước trong mưu đồ lật đổ chính quyền cách mạng. Đầu tháng 3-1946, Hà Nội đứng trước ngưỡng cửa chiến tranh. Cuộc mặc cả Pháp - Hoa ở bên Trùng Khánh có tin là đã ngã ngũ, chính phủ Tưởng Giới Thạch công nhận "quyền hành của Pháp ở Đông Dương" và đang bàn tiếp việc cho quân Pháp được vào Bắc Đông Dương thay thế quân đội Trung Hoa làm nhiệm vụ tiếp phòng. Cùng với tin này là một tin khẩn cấp: một hạm đội Pháp, đi đầu là tuần dương hạm Ê-min Mác-tin, mang cờ hiệu của tướng Lơ-cléc đang hăm hở xô sóng biển Đông nhằm hướng Hải Phòng. Chiếm xong Hải Phòng, quân dù sẽ nhẩy xuống chiếm các sân bay Hà Nội, đồng thời 5000 lính Pháp, vốn là tù binh của Nhật vẫn nằm trong thành Hà Nội dưới sự quản lý của Tàu Tưởng, sẽ được trang bị lại kiểm soát thành phố. Bè lũ đế quốc thỏa hiệp với nhau đẩy cách mạng Việt Nam đứng trước tình thế vô cùng khó khăn ngàn cân treo sợi tóc, cùng lúc phải đương đầu với nhiều đối thủ rất đông, rất mạnh. Ngày 2 tháng 3, Quốc hội khóa đầu tiên họp phiên đầu tiên vì tình hình khẩn cấp nên phải họp sớm hơn một ngày để xác định nhiệm vụ quan trọng trước mắt: Kháng chiến là việc hệ trọng nhất. Ngày 5 tháng 3, hạm đội Pháp đến vịnh Bắc Bộ. Từ sáng sớm, tiếng rao, tiếng giới thiệu tin quan trọng của những người bán báo khua động khắp các phố phường Hà Nội "Đồng bào hãy đứng dậy chống giặc… Giờ phút nghiêm trọng đã đến... Toàn quốc ủy viên hội gồm đủ đại biểu các đảng phái có trách nhiệm thống nhất quân đội, điều khiển quân dân xông ra giết giặc, chống giữ bờ cõi cho Tổ quốc... " Hà Nội ngột ngạt trong bầu không khí căng thẳng. Các "phố Tây" vắng tanh vắng ngắt, thường dân Pháp không dám ló mặt ra đường, cửa nhà đóng im ỉm. Quân Tàu Tưởng tăng cường canh gác các ngã ba, ngã tư, tăng cường tuần tiễu. Chúng lo ngại về một cuộc xuống đường của người Hà Nội. Hà Nội đã đứng trước ngưỡng của chiến tranh. Nhưng rồi, từ một quyết định, một chữ ký của Hồ Chủ tịch xua tan đi bao nỗi hiểm nghèo cho nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đang thời kỳ trứng nước, đầy rẫy những khó khăn thiếu thốn, chưa được một chính phủ nào trên thế giới này công nhận. Sau này, nhiều tướng lĩnh, nhân vật chính trị, nhà sử học của Pháp đều đánh giá rất cao "nước cờ tháng 3 năm 1946" của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Trong tình thế bấp bênh đang trải qua, Cụ Hồ đã chèo lái với một nghệ thuật cao siêu khác thường, quay ngược tình thế hiểm nguy không thể tránh khỏi, trở thành có lợi cho mình". Ngày 6 tháng 3, lúc 16g30, tại tòa nhà số 38 phố Lý Thái Tổ, Hồ Chủ tịch ký với đại diện của chính phủ Pháp, Xanh-tơ-ny, bản hiệp định sơ bộ Hòa với Pháp. Hòa đề đổi lấy việc chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một nước tự do, có chính phủ. nghị viện, có quân đội, tài chính của mình ở trong Liên Bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp. Hòa với Pháp, chấp nhận cho 15.000 quân Pháp vào Bắc Việt Nam trong thời hạn năm năm, để gạt cho xong mấy chục vạn quân Tưởng và loại trừ bọn Việt gian tay sai của Tưởng, dùng tay Pháp tống khứ Tưởng đi cho nhanh. Hòa với Pháp để đồng bào ta trong Nam đang gặp khó khăn, có được giây phút nghỉ xen kẽ chuẩn bị cho những đợt chiến đấu tiếp theo. Hòa với Pháp mà giành thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến và tạo điều kiện cùng nhân dân Pháp chống bọn thực dân phản động Pháp. Hòa với Pháp để mở ra một thời kỳ đấu tranh bằng thương lượng. Hòa để tiến... Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:21:14 pm Trước khi bản Hiệp định 6-3 được ký kết, Ban thường vụ của Đảng eó dự kiến rằng tuy bọn Tưởng ở Trùng Khánh đồng ý rút quân về cho Pháp vào thay chân nhưng lũ tướng Tàu cầm quân chiếm đóng sẽ lừng khừng không chịu rút ngay, còn cố bày chuyện lăng nhăng kéo dài thời gian để vơ vét thêm của cải của ta và tạo điều kiện cho lũ tay sai của chúng, bọn Việt quốc Việt cách phá ta.
Tình hình diễn biến đúng như ta dự đoán. Bọn Tướng Tàu ngăn chặn các tướng Pháp từng nước. Ngày 8-3, quân Pháp mới được đổ bộ lên Hải Phòng trong những điều kiện hạn chế. Ngày 13 tháng 3, đích thân Tưởng giới Thạch ra lệnh cho tướng Lư Hán phải đến Hà-nội ngay và nhân danh Tổng thống Trung Hoa dân quốc điều khiển việc thi hành kế hoạch rút quân, bàn giao nhiệm vụ tiếp phòng cho Pháp. Nhưng rồi phải qua nhiều cuộc bàn cãi lằng nhằng Lư Hán mới cho tướng Lơ-cléc lên Hà Nội ngày 18-3 với điều kiện "chỉ được đem theo một đoàn tùy tùng danh dự nhỏ". Tuy nhiên, ngài tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp rất "khéo xử sự" với các vị tướng Tàu vốn ham tiền bạc, nên hôm ấy đoàn tùy tùng danh dự nhỏ của ông ta lại chẳng nhỏ chút nào: 1200 người với 200 xe, các xe đều cắm hai lá cờ Pháp và Việt. Hiệp định quân sự Pháp - Hoa quy định những thể thức tiếp phòng phải được hoàn thành ngày 31 tháng 3 xong đến đầu tháng 5 vẫn chưa một đơn vị nào của quân Tưởng rời Bắc Bộ. Trong khi đó các tướng Tàu thúc giục lũ tay sai Việt Quốc, Việt Cách gây rối tình hình với hy vọng kiếm được cái cớ để nằm lỳ. Mãi đến ngày 16 tháng 6, quân Tưởng mới bắt đầu rời Hà-nội. Và 9 ngày sau đó, tướng Lư Hán mới chịu cuốn gói về Côn Minh bằng một chiếc máy bay của quân đội Pháp cho mượn. Ngày 22 tháng 6-1946, Hà-nội sạch bóng quân Tàu Tưởng. Hào khí Thăng Long bừng lên từ mùa thu 1945 với cao trào each mạng của nhân dân Hà-nội mà lực lượng xung kích là thanh niên, mũi nhọn của lực lượng này là tổ chức tự vệ Hoàng Diệu. Người Hà-nội được thấy rõ sức mạnh của tuổi trẻ Hà-nội ngay ngày đầu giành chính quyền. Hôm đó, 19 tháng 8, khi mọi người vửa trở về nhà sau một ngày đấu tranh quyết liệt chiếm Bắc bộ phủ, Thị Chính, trại Bảo An Binh... thì 8 giờ tối, tiếng trống ngũ liên nổi lên từ phía bờ sông Hồng: Vỡ đê đến nơi, cả Hà-nội có nguy cơ chìm ngập trong dòng nước sông Hồng. Từ ngày 13 tháng 8, vỡ đê ở Vĩnh Bảo (Hải Hưng) đến ngày 17 đê Quảng Cư (Vĩnh Phú) rồi đến Bất Bạt (Hà Sơn Bình) cũng bị vỡ. Nước sông Hồng tiếp tục dâng cao. Ngày 19 tháng 8, ở Hà-Nội nước dâng ngang mặt đê và nguy hiểm nhất là ở nhiều chỗ, từ quãng cầu Long Biên đến nhà Bác Cổ (nay là Bảo tàng lịch sử) nước đã thấm qua thân đê, chảy vào trong phố. Tiếng trống ngũ liên, tiếng loa gọi cứu đê thôi thúc. Nhân dân các phố trong nội thành gấp rút tổ chức các đội hộ đê. Những dòng người lao ra phía bờ sông, mang theo những gì lấy được từ trong nhà mình: sẻng cuốc, thúng, sọt, bao tải... Người cuốc đất, người xúc đất đổ vào thúng, vào sọt. người khuân đất lên đê cố bịt những chỗ dò dỉ, cố đắp "con lươn" nâng mặt đê lên cao chặn dòng nước đang tràn vào trong phố. Anh chị em thanh niên là lực lượng lớn nhất, mạnh nhất trong các đội hộ đê, Thanh niên các phố gần đê đến trước, đó là các đội của các phố Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, Chợ Gạo, Mã Mây, Hàng Mắm, Hàng Chiếu..., tiếp theo đến các đội Hàng Bạc, Hàng Bè, Hàng Ngang, Hàng Đào..., kế nữa đến các đội Hàng Trống, Hàng Gai, Hàng Bông, Nhà Thờ… Không ai đếm được có bao nhiêu đội hộ đê, chỉ thấy mỗi lúc một thêm đông người bám lấy đoạn đê xung yếu, chống chọi lại dòng nước hung dữ. Những cái chụp đèn phòng không từng chứng kiến những ngày đen tối của Hà Nội khi xâm lược Pháp - Nhật ngự trị, được tháo rỡ trong đêm nay. Công nhân điện Hà-nội lắp thêm nhiều ngọn đèn cho sáng trưng cả dọc đường bờ sông, cho thanh niên Hà Nội quyết thắng thiên tai, bảo vệ thành phố. Quá nửa đêm, khi đê đã được củng cố xong, ai nấy mới rùng mình bàn tán về một tai họa ghê gớm đã kịp thời chặn đứng được. Nếu không có sức dân, những người vừa mới được hưởng quyền làm chủ thì đê này vỡ rồi, cả Hà Nội chìm trong nước lụt đến tận mái nhà, biết bao nhiêu người chết, biết bao nhiêu người đói, biết bao nhiêu của cải phút chốc tiêu tan, và biết đến bao giờ mới khắc phục được hết hậu quả? Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hà Nội giành hai chiến thắng lịch sử: cướp lại chính quyền đã mất đi hơn sáu chục năm ròng, chặn đứng một trận lụt. Tiếp ngay đó, nhân dân Hà Nội lo việc xây dựng lực lượng bảo vệ chính quyền, gồm những thanh niên hăng hái nhất của các đường phố. Tổ chức ấy có tên gọi "Việt Dũng đoàn" với nhiệm vụ: Giữ gìn trật tự trị an đường phố, chống các tệ nạn xã hội (cờ bạc. rượu chè. thuốc phiện), đi đầu trong các phong trào khỏe vì nước, thực hành đời sống mới chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Ít ngày sau, theo chỉ thị của Thành ủy Hà Nội, từ Việt Dũng đoàn, tổ chức lại thành tự vệ Thành Hà Nội, Tổ chức tự vệ thành phát triển rất nhanh. Mỗi phố có một trung đội. Nhiều phố lớn lập được đại đội với số quân trên dưới 100, Liên khu I là nơi tự vệ thành phát triển mạnh nhất trong thành phố. Các đơn vị tự bầu ra những người chỉ huy. Toàn thành phố có Ban chấp hành tự vệ do đồng chí Khuất Duy Tiến làm Chủ tịch. Ban chấp hành tự vệ Liên khu 1 gồm có: Chủ tịch: Đồng chỉ Đặng Quốc Châu, ít lâu sau đồng chí Trịnh Đình Báu lên thay đồng chí Đặng Quốc Châu đi nhận công tác khác. Phó chủ tịch: đồng chí Bùi Nguyên Cát kiêm phụ trách tự vệ khu Đông Xuân. Bí thư: đồng chí Phạm Văn Trừng, trực tiếp phụ trách các đơn vị tự vệ phố Mã Mây, Phất Lộc, Hàng Mắm, chịu trách nhiệm báo cáo hàng tuần với Chủ tịch Ban chấp hành tự vệ thành phố về tình hình hoạt động của tự, vệ Liên khu I. Các ủy viên: đồng chí Trần Hợp Phố, ủy viên quân sự, trực tiếp phụ trách tự vệ phố Hàng Bạc. - Đồng chí Tạ Đức Nghi, ủy viên chính trị, trực tiếp phụ trách tự vệ Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường. - Đồng chí Trịnh Đình Bính, ủy viên văn hóa xã hội, trực tiếp phụ trách tự vệ Hàng Gai. - Đồng chí Nguyễn Viết Sính, đội trưởng tự vệ Hàng Giấy. - Đồng chí Nguyễn Trọng Hàm, đội trưởng tự vệ Hàng Thiếc. - Đồng chí Nguyễn Bá Khảo, đội trưởng tự vệ Hàng Bồ, Hàng Cân, Hàng Quạt Trước ngày khởi nghĩa, Hà Nội đã có một đội tự vệ chiến đấu, làm các nhiệm vụ tuyên truyền vũ trang, bảo vệ những cuộc mít tinh quần chúng. Trong những ngày tháng 8 lịch sử tự vệ chiến đấu dẫn đầu những đoàn biểu tình cướp chính quyền và phát triển lực lượng rất nhanh thành một đại đội với số quân hơn hai trăm người gánh vác vai trò chính trong việc bảo vệ trung ương Đảng, Chính phủ cách mạng lâm thời. Khi các khu phố tổ chức tự vệ thành thì tự vệ chiến đấu là người giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự. Tháng 9, tự vệ chiến đấu và tự vệ thành hợp nhất tổ chức chỉ huy, mang tên mới: Đoàn thanh niên tự vệ Hoàng Diệu. Trung ương Đảng và Chính phủ trực tiếp chăm lo xây dựng tự vệ Hoàng Diệu. Một trường đào tạo cán bộ tự vệ được gấp rút tổ chức: Trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh, giám đốc nhà trường là đồng chí Võ Nguyên Giáp, Khóa đầu tiên tháng 1-1946 mở tại trường kỹ nghệ thực hành ở phố Hàng Kèn (nay là phố Quang Trung). Hồ Chủ tịch đã đến dự buổi lễ khai giảng. Người nói: - Lúc này, chúng ta không cần nói nhiều, mà phải làm cho thật nhiều. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình, Tạ phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp về quân sự, Pháp có thể đánh vào thành phố ta, về xã hội, có thể phát sinh ra trộm cắp. Về chính trị, có thể có những kẻ phản động phao đồn những tin nhằm làm náo động lòng dân. Các đồng chí đến đây theo lớp huấn luyện là học tập cách trị an về vật chất và tinh thần, học tập thành cán bộ để đi trước bảo vệ nền tự do của mình, không những thế các đồng chí còn học tập để chỉ huy những người đi sau. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đà làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải quyết tâm, tín tâm, và đồng tâm. Nhớ lấy ba chữ ấy: Thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên tất cả, các đồng chí phải thành công". Sau này, Hồ Chủ tịch ghi những lời căn dặn của Người vào cuốn sổ vàng của nhà trường, như sau: Tự vệ là để hộ vệ Thủ đô Phải giữ kỷ luật Phải siêng học tập. Phải thực hành đời. sống mới Phải luôn luôn tiến bộ Thân ái HỒ CHÍ MINH Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 09 Tháng Hai, 2024, 09:24:10 pm Bọn Tàu Tưởng gây cho ta rất nhiều khó khăn. Chúng tìm mọi cách làm cho ta phải đưa lực lượng bộ đội vệ quốc quân ra ngoài thành phố, chỉ còn một tiểu đoàn phân tán làm nhiệm vụ canh gác các cơ quan trung ương và thành phố. Cũng dễ hiểu, chúng gây khó khăn cho ta trong việc bảo vệ trật tự an ninh thành phố để tạo ra những điều kiện thuận lợi cho bọn Việt Cách Việt Quốc gây rối trật tự xã hội và kiếm cơ hội lật đổ chính phủ, cướp chính quyền. Nhưng chúng đã thất bại vì Hà Nội đã có lực lượng tự vệ Hoàng Diệu; tự vệ thành giữ các đường phố, xí nghiệp, tự vệ chiến đấu là đội quân cận vệ, một thứ bộ đội đặc vụ đóng tập trung sẵn sàng lao tới các điểm xung yếu.
Đầu tháng 3, cả Hà Nội ngỡ ngàng vì chủ trương "hòa với Pháp", Hồ Chủ Tịch đến ngay với tự vệ Hoàng Diệu. Người cho gọi các cán bộ tự vệ từ cấp trung đội trở lên tập trung ở phòng Khánh tiết của tòa Thị Chính, ngày 9-3, hơn một tiếng đồng hồ, trong bầu không khí thân mật, Người giải thích lẽ hơn thiệt vì sao, ta ký kết "hòa với Pháp", thế nào là "hòa để tiến", Người nói về trách nhiệm của tự vệ Hà Nội trước tình hình mới: "... Theo tinh thần của bản hiệp định thì năm năm nữa chúng ta sẽ hoàn toàn độc lập. Vậy nhân dân ta đừng nên tỏ thái độ khiêu khích khi thấy quân đội Pháp vào nước ta để tránh những sự đáng tiếc xẩy ra" Người nhấn mạnh: "Sự ký kết hiệp định đình chiến ấy không phải là đã hết chiến tranh đâu, và thái độ ôn hòa nhã nhặn của nhân dân ta đối với quân đội Pháp cũng không phải là thái độ nhu nhược thụ động của một dân tộc bị bảo hộ đối với quân đội chinh phục đâu. Trái lại, hơn bao giờ hết, ta phải luôn luôn chuẩn bị để bồi dưỡng lực lượng, nâng cao tinh thần kháng chiến của toàn dân đề đối phó với những việc bất ngờ có thể xẩy ra "Tình hình kháng chiến, sự chuẩn bị chu đáo phải là thường trực tiếp tục không một dây phút nào ngừng. Những cố gắng ấy, những sự chuẩn bị ấy, nếu gặp phải trường hợp phải kháng chiến thì dùng để cứu quốc. Ví bằng gặp được trường hợp thuận tiện mà tránh được chiến tranh, thì sẽ được đem dùng để kiến quốc cũng là cần lắm". Một tình thế mới mở ra sau khi hiệp định sơ bộ Việt - Pháp được ký kết. Tự vệ Hoàng Diệu có điều kiện thuận lợi hơn để củng cố về tổ chức, tập luyện quân sự, học tập chính trị để làm tròn nhiệm vụ trị an, trấn áp phản cách mạng. Vào cuối tháng 6, bọn thực dân Pháp tung ra một tin xằng bậy: "Chính phủ Việt Nam đã giải tán lực lượng tự vệ vì dính líu vào những lộn xộn nghiêm trọng ở nhiều nơi. Không những thế, đại bộ phận lực lượng tự vệ này do Việt Nam quốc dân đảng tổ chức ra và là lực lượng chủ yếu của đảng này". Tin nhảm tung ra vì bọn thực dân Pháp rất e ngại các chiến sĩ tự vệ đường phố, họ đã trừng trị đích đáng, ngăn chặn kịp thời những hành động khiêu khích của bọn phản động tay sai thực dân Pháp của những tên lính Pháp ở trên các đường phố. Chúng đánh vào uy tín của các đội tự vệ, gây chia rẽ, gây mối hoài nghi giữa tự vệ và nhân dân. Vì vậy mà trên báo Cứu Quốc số ra ngày 1 tháng 7 xuất hiện bài báo "Gửi các bạn tự vệ thành Hà Nội" Bài báo ghi công tự vệ thành đã "góp sức cùng anh em Vệ Quốc đoàn, tự vệ chiến đấu, công an viên trong cuộc bảo vệ thủ đô, giữ gìn đất nước, đã tỏ một tinh thần can đảm, hy sinh, làm cho đồng bào tin cậy, ngoại quốc e dè anh em thực sự xứng đáng là thanh niên của nước Việt Nam mới, nhất là thanh niên thủ đô". Bài báo thông báo mấy nét về phương hướng bồi dưỡng tự vệ: … Một lực lượng quân sự đáng kể ấy phải được bồi bổ. Vì vậy chúng tôi vừa được tin Chính phủ sắp cho thi hành một phương pháp nhằm làm tăng sức mạnh của tự vệ thành, bằng cách cải tổ theo một hệ thống hẳn hoi, bằng cách huấn luyện về mọi phương diện". Bài báo nhắc nhở: "Anh em tự vệ thành chúng ta hãy bình tĩnh suy nghĩ và sáng suốt hành động. Anh em cần luôn luôn sẵn sàng có một tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, nhưng quyết nhiên không mắc hợm, không bị phỉnh, không chia rẽ, không ngã vào hố khiêu khích của bọn phản động..." Cuối tháng 8-1946, nhân dịp kỷ niệm một năm thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các đội tự vệ chiến đấu, tự vệ thành được tập trung đến khu Đấu Xảo (nay là Cung Văn hóa lao động hữu nghị Việt - Xô). Báo Cứu quốc số ra ngày 30 tháng 8, đăng bài tường thuật trên trang nhất: "Sau huấn thị của cụ Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng, sau những lời dặn dò của ông Chủ tịch quân ủy hội Võ Nguyên Giáp. sau lời động viên của ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Trần Duy Hưng khen ngợi anh em tự vệ đã cố gắng nỗ lực trong mọi mặt công tác xã hội, cũng như việc bảo vệ trật tự an ninh đường phố... tiếp đến một cuộc duyệt binh của lực lượng tự vệ chiến đấu và tự vệ thành thống nhất thành tự vệ Hoàng Diệu, một cuộc trình diện lần đầu tiên của tự vệ với Chính phủ và với nhân dân thủ đô. Cũng dịp này, chúng tôi được thấy sự lớn mạnh của lực lượng tự vệ mới có một năm tuổi: Những hàng tự vệ thẳng tắp với những hàng súng máy đen láy; nhưng hàng tiểu liên mới toanh, những hàng súng trường được xếp thống nhất từng kiểu, đều tăm tắp: nhưng cũng có những hàng trang bị toàn mã tấu sáng choang, hoặc toàn lựu đạn, toàn gậy tre, hàng nối hàng trông rất hùng dũng nghiêm trang. Đặc biệt, ở cuối cùng, có một cỗ súng lớn bắn chiến xa cũng diễu hành, làm cho mọi người trầm trồ khen ngợi, phấn khởi và tin tưởng vào sự trưởng thành mau chóng của tự vệ đường phố, được những người anh em vệ quốc đoàn giúp đỡ huấn luyện, dìu dắt". Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:21:04 am CHƯƠNG II TRỌNG TRÁCH Hà Nội tuân lệnh Hồ Chủ tịch, giữ đúng thái độ ôn hòa khi quân Pháp kéo vào. Ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định nhưng Cao ủy Pháp Đắc-giang-li-ơ phá ngang, công kích Lơ-cléc non gan, đánh giá quá cao khả năng kháng chiến của người Việt Nam đã "nhân nhượng quá nhiều". Viên thày tu - đô đốc này kêu toáng lên với những nhân vật nặng óc thực dân trong chính phủ Pháp rằng: "thương lượng với các nhà lãnh đạo Việt Minh có nghĩa là củng cố quyền lợi của những kẻ thù hăng hái nhất" và yêu cầu triệt hồi ngay các tướng Lơ-cléc, Sa-lăng "những kẻ có xu hướng thất bại chủ nghĩa, không chịu phục tùng quyền lục. của Cao ủy". Đắc-giăng-li-ơ giật dây cho cái gọi là hội đồng tư vấn Nam kỳ đòi tự trị. Cần nói thêm, đây chính là một tổ chức do Đắc-giăng-li-ơ đặt ra từ hồi tháng 11 năm 1945, gồm 12 nhân vật" đại diện cho nhân dân Nam kỳ", thì 4 là người Pháp chính cống thực dân và 7 mang quốc tịch Pháp. Đến trung tuần tháng 4-1946, tại hội nghị Đà Lạt, Đắc-giăng-li-ơ gây rối về vấn đề Nam kỳ. Hội nghị này được quy định trước, là trù bị cho các cuộc thương lượng chính thức sẽ diễn ra tại Pa-ri vào cuối tháng 5, nhưng hai phái đoàn Việt - Pháp tranh luận gay gắt từ ngày 17 tháng 4 đến ngày 13 tháng 5 chỉ đạt được mỗi một điều nhất trí là giao việc giải quyết mọi khó khăn cho cuộc hội nghị sẽ họp ở nước Pháp vào tháng 7. Ngày 31 tháng 5, Hồ Chủ tịch đi Pa-ri theo lời mời của chính phủ Pháp, cùng đi với Người có phái đoàn đàm phán Việt Nam. Đoàn rời Hà Nội hôm trước thì hôm sau, tại Sài gòn, Đắc-giăng-li-ơ công bố thành lập "nước Nam kỳ tự trị". Rồi hạ tuần tháng 6, ngày 21 quân Pháp mở chiến dịch tiến công ào ạt chiếm Tây Nguyên, lập xứ Tây kỳ. Sang tháng 7, Đắc-giăng-li-ơ hoàn toàn thắng thế với chủ trương "cứng rắn ", gạt Lơ-cléc đưa Va-luy, một viên tướng "không ưa thương lương với Việt Minh" ngồi vào ghế tổng chỉ huy quân viễn chinh. Va-luy rắp tâm mở màn thời kỳ giữ cái gậy chỉ huy của mình bằng một chiến công vang dội, có thể có giá trị quyết định mà ít tốn kém. Lấy cớ mừng Quốc Khánh Cộng hòa Pháp 14 tháng 7, viên tướng này tổ chức một cuộc diễu binh trọng thể ở đường Cột Cờ (nay là phố Điện Biên Phủ) Hà Nội, và mời bộ đội Việt Nam cùng tham dự với tư cách là "quân đội một nước tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên Hiệp Pháp". Hôm đó, sẽ có một vụ nổ châm ngòi để gây ra một vụ nổ lớn. Kẻ châm ngòi là lũ phản động Việt Quốc Việt Cách. Lũ này sẽ nổ súng vào một khối trong đội hình diễu binh của quân Pháp. Khi có tiếng nổ thì một mặt quân Pháp sẽ quay súng bao vây các đơn vị bộ đội Việt Nam dang tham gia diễu binh, mọi khác "viện cớ duy trì an ninh", chúng sẽ tung lực lượng cơ động ra giữ các công sở, các cơ quan chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, tạo điều kiện cho bọn Việt gian tay sai làm đảo chính, cướp chính quyền Trung ương và Hà Nội. Nhưng kế hoạch thâm hiểm này thất bại, vì trước ngày 14 tháng 7. ngay tại Hà Nội, các lực lượng an ninh của chính quyền cách mạng, phối hợp với các đơn vị tự vệ đường phố, tiến hành một đợt hoạt động nhanh, cùng lúc vây quét hết các ổ phản động. Lộ âm mưu, cuộc "duyệt binh trọng thể" mất mục đích chính. Trò ảo thuật quân sự 14 tháng 7, nếu như không bị sịt ngòi thì đã nổ ra đúng vào lúc cuộc đàm phán Việt - Pháp ở Phông-ten-nơ-blô, cách Pa-ri dăm sáu chục cây số, mới bắt đầu được một tuần lễ và đầy những triệu chứng bế tắc. Cao ủy Đắc-giăng-li-ơ và đồng bọn cố tình gây ra nhiều vụ rắc rối ở Việt Nam để tiếp tay cho những tên thực dân phản động ở bên Pháp phá cuộc đàm phán Phông-ten-nơ-blô. Ngày 7 tháng 7, tại Hồng Gai quân Pháp nổ súng; chiếm các vị trí của bộ đội Việt Nam trong thị xã. Ngày 27 tháng 7, từ Lạng Sơn, quân Pháp xông ra chiếm pháo đài Đồng Đăng. Liên tục, 10 ngày đầu tháng 8, trên đoạn đường hơn hai chục cây số, từ Cầu Đuống đến Bắc Ninh, xảy ra những vụ nổ súng, ném bom. Và trắng trợn hơn cả là Đắc-giăng-li-ơ triệu tập các đầu sỏ tay sai Nam kỳ, Lào, Miên đến Đà Lạt mở hội nghị họp bàn về tổ chức liên bang, mà thực ra là để cho lũ kia nhai lại, hoan nghênh, tán tụng các nguyên tắc về một thuộc địa Pháp đổi tên Liên bang Đông Dương do chính Đắc-giăng-li-ơ soạn ra, một liên bang gồm các nước Nam kỳ, nước Lào, nước Cam-pu-chia và nước Việt Nam bị chia cắt làm nhiều mảng, xứ Tây kỳ (Tây Nguyên), xứ Thái, xứ Nùng, xứ Mường… Như một liều thuốc kích thích, "vụ Đà Lạt" của cao ủy Đắc-giăng-li-ơ làm cho tình hình căng thẳng của cuộc đàm phán Việt - Pháp ở Phông-ten-nơ-blô tăng lên đến tột độ, bỏ họp suốt cả tháng 8, qua tháng sau mới họp lại được. Một số thỏa thuận về vấn đề Nam kỳ đã đạt được nhưng đến phiên họp ngày 10 tháng 9 lại tan vỡ hoàn toàn, vì phía Pháp không chịu quy định thời gian tổ chức trưng cầu ý dân. Thái độ của phía Cộng hòa Pháp rõ ràng là không muốn đối thoại. Trong buổi khai mạc hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Mác Ang-đrê tung ra một lời hăm dọa xấc xược: "nếu các vị không ngoan ngoãn phục tùng thì chỉ cần một cuộc hành quân cảnh sát, không đến 8 ngày…". Trưởng đoàn đàm phán của Pháp ăn nói hàm hồ như vậy là dựa vào các báo cáo của Đắc-giăng-li-ơ. Viên Cao ủy này chủ trương dùng bạo lực, từng nhiều lần lưu ý các chính khách ở Pa-ri rằng: "Trước mắt, nhiều lắm cũng chỉ là một chiến dịch thuộc địa (chứ không phải là một cuộc chiến tranh), mà bộ chỉ huy tối cao đã cân nhắc kỹ, một chiến dịch tiến hành dưới hình thức một hành động mãnh liệt và nhanh chóng, tiêu diệt lực lượng quân sự của Việt Minh, tiếp theo đó là một thời kỳ bình định dài hay ngắn". Hội nghị Phông-ten-nơ-blô tan vỡ. Phái đoàn Việt Nam rời Pa-ri ngày 13 tháng 9, nhưng Hồ Chủ tịch còn nán lại mấy ngày để ký bản Tạm ước 14-9. Như tên gọi của nó, đây chỉ là một thỏa thuận về một số vấn đề bức thiết, bộ phận, có lợi cho cả đôi bên để có thể tiếp tục cuộc đàm phán vào đầu năm 1947. Nhưng Đắc-giăng-li-ơ tiếp tục phá, viên Cao ủy Pháp rắp tâm dùng bạo lực. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:22:10 am Trung tuần tháng 10-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận định tình hình: "không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng phải đánh Pháp".
Thủ đô Hà Nội được lệnh sẵn sàng chiến đấu, đảm lĩnh "nhiệm vụ tiên phong trong thời kỳ mới, thực hiện quyết tâm lớn cứu nước của dân tộc. Nhân dân, bộ đội vệ quốc đoàn và tự vệ thủ đô phải gắng nêu gương sáng trước toàn quốc, tiêu hao và giam chân quân địch trong thành phố, làm thất bại bước đầu chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch". Ban Thường vụ Trung ương Đảng đặt hết niềm tin vào quân và dân Hà Nội, và chọn cho Mặt trận Hà Nội một người chỉ huy dũng cảm, gương mẫu, rất kiên quyết và cũng rất linh hoạt, đó là đồng chí Vương Thừa Vũ. Thanh niên Thủ đô nhiều người biết tên, biết tiếng, đồng chí Vũ, mẫu mực về kỷ luật, rất nghiêm nhưng dễ gần gũi. Hồi mới cướp chính quyền, đồng chí là chỉ huy trưởng Quân giải phóng Hà Nội, sau làm giáo viên đào tạo cán bộ quân sự ở Trường Quân chính Quân khu 2, trường cán bộ Việt Nam, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Trong hồi ký của mình, đồng chí ghi lại buổi nhận nhiệm vụ chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội như sau: - "Giữa tháng 10 năm 1946, tôi đang dẫn học sinh quân đi tập dã ngoại ở chân núi Ba Vì thì nhận được lệnh của Thường vụ Trung ương Đảng gọi về gấp. Hồi ấy, ở Hà Nội, quân Pháp hay giở trò khiêu khích nên các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước không làm việc trong thành phố. Tôi được hẹn đến "dinh Tổng đốc Hà Đông", một tòa nhà xây theo kiểu cổ, kín cổng cao tường, ở gần cầu thị xã Hà Đông. Tôi đến điểm hẹn lúc quá trưa ngày 15 tháng 10. Thường vụ Trung ương đang họp, Nhưng tôi được phép đi thẳng vào phòng họp. Các đồng chí tạm ngừng bàn bạc. Đồng chí Trường Chinh tự tay xếp thêm một cái ghế vào bên cạnh, rồi bảo tôi "Đồng chí Vũ ngồi đây", Lúc mới vào phòng này thoáng gặp vẻ tư lự trên nét mặt các đồng chí Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp... tôi đã cảm thấy hình như Thường vụ Trung ương Đảng đang bàn luận về một việc gì khó khăn lắm. Ngồi một lát, tôi càng thấy nhận xét đó là đúng bởi vì ngay trong lúc tạm nghỉ, các đồng chí vẫn chẳng nghỉ ngơi, vẫn theo đuổi những suy nghĩ của mình, người ngồi tại chỗ bên bàn họp, người đi đi lại lại, nhè nhẹ từng bước chân, không ai ra ngoài sân, không ai nói gì với ai. Căn phòng im lặng. - Thường vụ mời đồng chí đến đây để trao nhiệm vụ mới rất quan trọng, tin rằng đồng chí có thể gánh vác được... Đồng chí Trường Chinh, nói thong thả, rành mạch từng tiếng, giọng anh vẫn dịu dàng, nhưng bàn tay anh nắm chắc lại khe khẽ đập xuống mặt bàn then nhịp từng câu nói: - Giặc Pháp ráo riết chuẩn bị. Sớm muộn thế nào chúng nó cũng đánh úp Hà Nội, chiếm Thủ đô ta. Trung ương Đảng giao cho đồng chí Vũ làm chỉ huy trưởng Quân khu II, tức là Quân khu đặc biệt Hà Nội. Anh phân tích tình hình, nói ý nghĩa chiến tranh toàn dân, kháng chiến lâu dài, rồi chỉ thị " Hà Nội phải được chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng địch trở mặt gây hấn. Nếu chúng cố tình tấn công đánh chiếm Hà Nội thì ta phải lập tức đánh trả ngay, phải ghìm được địch ở trong thủ đô một thời gian để hậu phương ta có điều kiện yên ổn chuyển sang kháng chiến. Hà Nội phải đánh mạnh, nhưng cần khéo léo, giữ được lực lượng để đánh lâu dài. Phải gấp rút tranh thủ chuẩn bị, nhưng cũng phải hết sức tránh mắc mưu khiêu khích của giặc. Ta còn phải tranh thủ thời gian để củng cố mọi mặt vì nếu để chiến tranh nổ ra sớm thì không có lợi... Tôi chăm chú lắng nghe từng câu từng ý của đồng chí Trường Chinh, mắt tôi không rời nhìn đồng chí Phạm Văn Đồng ngồi phía đối diện. Anh đi đàm phán với Pháp ở Phông-ten-nơ-blô mới về. Cuộc đàm phán chẳng đi đến kết quả gì, nhưng qua bên đó. chắc là anh hiểu thấu tâm địa bọn thực dân, cũng như những khó khăn mà chúng đang vấp phải trong việc khôi phục lại nước Pháp bị phát xít hít-le tàn phá, bòn rút. Lúc này anh cũng chăm chú nghe đồng chí Trường Chinh ra chỉ thị và phân tích tình hình cho tôi. Anh nhìn thẳng vào mắt tôi, đầu gật gật khi đồng chí Tổng bí thư nói: "phải khéo léo giữ được lực lượng đánh lâu dài". Tôi cũng khẽ gật đầu đáp lại, tỏ ý: "Vâng, tôi hiểu ý chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng. Tôi hiểu ý anh. Ta đánh lâu dài, địch sẽ không chịu nổi". Bấy giờ, quân Pháp vào Hà Nội đã được 7 tháng. Khoảng 6500 binh lính và sĩ quan (theo hiệp định là 5000) đóng 45 vị trí lớn nhỏ. Những vị trí lớn là thành Hà Nội, trường Xa-rô (phố Hoàng Văn Thụ), phủ toàn quyền (đường Hùng Vương), trường Bưởi (trường Chu Văn An). Đồn Thủy (từ nam Nhà Hát lớn đến bệnh viện Việt - Xô), sân bay Gia Lâm. Rải rác trong thành phố có nhiều điểm mà theo hiệp định thì quân đội hai bên Việt - Pháp cùng có trách nhiệm canh gác, như nhà ga xe lửa, cầu Long Biên, các nhà máy điện máy nước, ngân hàng... Tuy nhiên bất cứ ở điểm canh gác nào, quân Pháp cũng biến thành vị trí phòng ngự có hỏa lực mạnh, để khi trở mặt có thể độc quyền chiếm giữ địa điểm ấy và khống chế cả khu vực chung quanh. Chẳng phải là một nhà quân sự, ai cũng dễ dàng thấy được ý đồ của bọn tưởng lĩnh Pháp chúng kèm chặt ta, dựng nên một thế trận đánh úp Hà Nội. Phía trước trại Vệ quốc đoàn trung ương, cách một mặt đường là rạp Ma-giét-tích (nay là rạp Tháng Tám), chủ rạp là người Pháp, chúng "gửi" vào đó một tiểu đội, biến rạp chiếu bóng này thành một bàn đạp tiến công. Khách sạn Mê-trô-pôn (Mé trople - nay là khách sạn Thống nhất) cũng chỉ cách dinh Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có một mặt đường chúng biến tòa nhà ba tầng kiến cố này thành một trại lính, núp dưới cái vỏ "tiệm ăn của các sỹ quan" cho đỡ trơ trẽn. Chúng thực hiện đúng như chỉ thị ngày 6 tháng 4. của tướng Va-luy "đóng quân nơi nào, trước hết phải đặt ngay kế hoạch phòng thủ rồi biến dần các hoạt động thuần túy quân sự thành một cuộc đảo chính". Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:23:52 am Trong việc lập kế hoạch tác chiến, có hai vấn đề mà Bộ chỉ huy Mật trận Hà Nội phải suy nghĩ bin bạc nhiều. Đó là:
- Làm thế nào để khi địch trở mặt gầy hấn thì ta đánh trả lại ngay tức khắc được, bắt địch phải bị động đối phó? - Làm thế nào để kìm giữ địch một thời gian trong Hà Nội. không cho chúng mở rộng chiến tranh ra ngoai, đề hậu phương ta chuyển sang kháng chiến? Vấn đề thứ nhất được giải quyết như sau: Phải sẵn sàng chiến đấu rất cao để có lệnh là đánh đồng loạt nơi địch yếu, ta dùng lối đánh tập kích bất ngờ đột nhập tiêu diệt chúng; chỗ khó đánh, ta bao vây uy hiếp, đánh tỉa, nơi địch tập trung đông quân, ta quấy rối... Đối với những đơn vị cơ động của địch, lực lượng chính để thực hiện âm mưu đánh úp ta, thì phải tìm mọi cách ngăn cản, không cho chúng phóng xe tăng, xe cơ giới chạy ngang chạy dọc trong thành phố. Ngăn cản cùng phải đồng loạt, cùng lúc các phố đều dựng vật chướng ngại. Việc này phải huy động nhân dân toàn thành phố mỗi người một tay thì chốc lát khắp các đường phố sẽ ngổn ngang vật cản, khiến cho địch có phá cái này lại vướng cái kia, tránh phố này thì lại bị cản ở phố khác. Ngay mỗi phố cũng cần dựng lên hai ba tuyến ngăn chặn kiểu như đóng cửa bằng nhiều then cài, kẻ gian có nậy được cái then cài này rồi lại phải kỳ cạch nậy cái then khác. Mỗi cái "then cửa" ấy gồm một hàng vật chướng ngại và một số tổ chiến đấu bố trí bí mật gần đó để bắn tỉa, đánh cản, không cho địch mở đường một cách dễ dàng. Vấn đề thứ hai, làm thế nào kìm hãm, giam chân địch một thời gian trong Hà Nội. Đây là vấn đề sử dụng lực lượng, dàn thế trận. Có ý kiến nêu ra là địch mạnh, ta yếu, địch hơn ta về mọi mặt hỏa lực, cơ động đột kích, cho nên muốn kìm chân địch bên trong thành phố thì phải dùng phương pháp ngăn chặn từng bước. Cần tổ chức ba tuyến chiến đấu nối tiếp nhau, có công sự phòng ngự vững chắc. Tuyến một ở ngay tiếp giáp giữa nội thành và ngoại thành, chạy vòng từ phía Phà Đen qua các cửa ô Đông Mác - Cầu Dền - Chợ Dừa - Kim Mã đến Yên Phụ Tuyến hai: Đuôi Cá - Thanh Liệt - Ngã tư sở - Cầu Giấy - Chèm. Tuyển ba: Văn Điển - Hà Đông - Tây Mỗ - Cổ Nhuế Ý kiến này bị phê phán nhiều. Đánh như vậy là bỏ trống thành phố, là bỏ mất khả năng chiến đấu của lực lượng tự vệ thành rất đông đảo, đến 8000 người. Phương pháp tác chiến dàn thành tuyến ngăn chặn như vậy hoàn toàn không phù hợp với trình độ kỹ thuật chiến thuật của bộ đội ta. Kinh nghiệm kháng chiến Nam bộ cho thấy rằng nơi nào bộ đội biết dựa vào nhân dân, biết phân tán lực lượng cùng nhân dân đánh du kích thì gây được nhiều khó khăn, thiệt hại cho địch, ngược lại, đào hầm, đắp lũy, dàn thành tuyến thì có khác nào là giơ mặt, giơ ngực ra cho địch đánh, dễ bị chọc thủng, vỡ trận. Chỉ huy trưởng Mặt trận, đồng chí Vương Thừa Vũ nêu ý kiến: "Tổ chức tác chiến phù hợp với sức ta, với trình độ ta là đánh đu kích, cài sát vào với địch, bám riết lấy nó mà đánh. Cần chia Hà Nội ra làm nhiều khu vực, mỗi khu vực có nhiều ổ đề kháng. Đào hầm, đắp ụ, dùng vật chướng ngại ngăn chặn các đường phố, buộc địch phải giành giật với ta từng đầu đường góc phố trong nội thành. Tạm gọi đây là chiến thuật "cài then cửa" mỗi phố cài một vài cái then cửa như thế, nhưng ta không bố trí lực lượng ở ngay điểm ngăn chặn để tránh hỏa lực địch, mà cách đó, nấp trong những nhà gần đó để bắn, ném lựu đạn diệt những tên địch xông vào phá then cửa của ta. Còn bố trí lực lượng thì phải có lực lượng đóng quân trong nội thành, thực hiện mỗi nhà một pháo đài, mỗi phố một chiến tuyến, đồng thời phải có lực lượng dự bị đặt ở các cửa ô, như vậy sẽ hình thành thế trận ta và địch cài vào nhau. Lực lượng đóng ghìm trong nội thành sẽ bị địch bao vây, nhưng lực lượng ở ngoại thành sẽ vây địch ở vòng ngoài. Địch vây ta, ta vây địch, bên trong ta đánh ra, bên ngoài ta đánh ép vào, phối hợp với nhau, giằng kéo địch, làm cho mặt trận luôn luôn hoạt động, chỉ huy địch luôn luôn bị động, căng thẳng, không thể tập trung sức đánh ra ngoài hay dồn vào trong. Như thế ta mới có thể ghìm được địch lâu ngày. Phương án "trong đánh ra, ngoài đánh ép vào" được đồng chí Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái phê chuẩn. Cuối cùng, kế hoạch tác chiến của mặt trận Hà Nội được hình thành và đưa lên trình Bộ Tổng chỉ huy xét duyệt. Các lực lượng vũ trang của Liên khu I có trách nhiệm trụ bám trong trung tâm thành phố, các lực lượng vũ trang của Liên khu II, Liên khu III hình thành thế trận bao vây vòng ngoài. Đồng chí Võ Nguyên Giáp hỏi: - Bộ chỉ huy Mặt trận có nhất trí cả với kế hoạch này không? - Dạ, chúng tôi nhất trí. Đồng chí Vương Thừa Vũ trả lời. - Còn ý kiến của Ủy ban bảo vệ thành phố thế nào? - Tôi đã trình bày với anh Nguyễn Văn Trân về cách chia khu vực tác chiến, phương pháp tác chiến, về dự kiến chuẩn bị vật chất cho lực lượng sẽ trụ lại chiến đấu trong nội thành. Anh Trân đồng ý tất cả và phân công cho Bộ chỉ huy Mặt trận cứ tập trung vào công tác tham mưu, chỉ huy tác chiến, còn bao nhiêu công tác khác, Ủy ban gánh hết. Mặt trận cần lực lượng quần chúng làm gì, làm ở đâu, Ủy ban sẽ chỉ thị cho các khu phố huy động... - Quân, dân, chính, Đảng đều nhất trí, một yếu tố quan trọng bậc nhất để tạo nên sức mạnh giành chiến thắng. - Đồng chí Tổng chỉ huy động viên tinh thần đồng chí chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội và chỉ thị, - Bố trí một tiểu đoàn Vệ quốc quân trong Liên khu I còn các tiểu đoàn khác đóng giữ các cửa ô để tạo thế trong đánh ra, ngoài đánh vào, xen kẽ giằng co với địch. Liên khu 1 có lực lượng tự vệ thành đông nhất Hà Nội, phải kiên quyết chiến đấu trụ bám. Còn các lực lượng của Liên khu khác thì đánh một thời gian tiêu hao địch rồi co dãn ra ngoài các cửa ô để phối hợp tác chiến với Liên khu I. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:25:06 am Liên khu 1 Hà Nội khá rộng, chiếm phần bắc nội thành, gồm phần lớn đất đai của quận Hoàn Kiếm ngày nay và một phần phía đông Quận Ba Đình.
Tuy rộng thế, song gần nửa phía tây của Liên khu I đã coi như là "đất địch chiếm" rồi. Ở đây có thành Hà Nội, Phủ Toàn quyền, trường Xa-rô, nơi địch tập trung quân. Đây cũng là nơi tập trung những biệt thự của các gia đình người Pháp, mà bà con ta hồi đó gọi là khu phố Tây. Phía Nam, giáp với Liên khu 2, ranh giới là các đường Tràng Thi, Hàng Khay, Tràng Tiền kéo thẳng từ vườn hoa Cửa Nam ra Nhà Hát lớn, nhà Bác Cổ... cũng lại là khu phố Tây nữa, có nhiều vị trí đóng quân công khai hoặc bí mật của quân Pháp, kiều dân Pháp cũng đã được trang bị vũ khí dự tính đến nghìn tay súng. Thế là mặt tây, mặt nam Liên khu I đều là "đất địch". Mặt đông, trên sông Hồng, địch có thủy quân cắm ở Phà Đen, có thể nhanh chóng kiểm soát đoạn sông này. Còn mặt bắc, khi nổ súng thì chắc chắn là địch sẽ đánh chiếm ngay cầu Long Biên, đường Hàng Đậu để giữ lấy con đường giao thông huyết mạch Hà Nội - Gìa Lâm - Hải Phòng; hai khu Trúc Bạch, Hồng Hà sẽ bị cắt rời ra. Như vậy, chẳng phải là quân sự, ai cũng biết một khi địch trở mặt đánh úp, thì Liên khu I Hà Nội sẽ bị chúng bao vây bốn bề. Nhưng đất này lại được chọn làm nơi bám trụ. Về chính trị, đây là trung tâm thành phố. Ta còn giữ được ngày nào, giờ nào, thì ngày ấy, giờ ấy địch chưa thể nói là chúng đã chiếm được Hà Nội. Về mặt quân sự thì xét chung, cả thành phố, chỉ đây mới có địa hình địa vật thuận lợi để tổ chức một khu vực phòng ngự vững chắc, lại có tác dụng thu hút lực lượng địch rất mạnh, vì ở ngay bên sườn thành Hà Nội. Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội quy định cho các lực lượng vũ trang trong liên khu I, gồm có tiểu đoàn Vệ quốc quân 101, và các đơn vị tự vệ chiến đấu, công an, tự vệ thành, như sau: Khi nổ súng, các đơn vị đóng tại đâu phải kiên quyết chiến đấu tại chỗ. Sau 3 ngày đánh tiêu hao địch thì co dần lại, lấy đường Phùng Hưng, sát thành Hà Nội làm giới tuyến phía Tây; giới tuyến phía Nam là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ, Hàng Thùng; phía. Bắc là đường xe lửa chạy sang cầu Long Biên; phía Đông là đường Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật. Trong khu vực trụ bám này, nhà cửa san sát, ta có thể đục tường thông từ nhà này sang nhà khác, để cơ động ở bên trong, đi suốt cả dẫy phố, khối phố, biến mỗi nhà, mỗi tầng gác, mỗi căn buồng thành một vị trí chiến đấu, mỗi dẫy phố thành một chiến tuyến. Trong khu vực này, đường xá chật hẹp, thuận tiện cho ta đào cắt đường, đắp chiến lũy, dùng vật chướng ngại, "cài then" chắn xe cơ giới địch. Toàn khu vực với hàng nghìn ngôi nhà cao thấp khác nhau, với những ngõ hẻm ngoắt ngoéo, có thể xây dựng thành một trận địa phòng ngự không chỉ kiên cố, hạn chế được sức phá hoại của bom đạn địch, mà còn là một loại trận địa đặc biệt phức tạp khiến cho địch có gặm từng miếng cũng khó chứ không thể đánh thọc sâu chia cắt ta được. Mặt trận Hà Nội có 5 tiểu đoàn Vệ quốc quân thì tiểu đoàn 101 cùng lực lượng đông đảo tự vệ thành của Liên khu I, hình thành một hạt nhân thật cứng ở trung tâm thành phố. Còn 4 tiểu đoàn 77, 212, 145 , 523 cùng các đơn vị tự vệ chiến đấu, công an tự vệ thành của các Liên khu 2, Liên khu 3 và các đơn vị dân quân du kích ngoại thành bao bọc chung quanh. Như vậy địch tuy mạnh nhưng sẽ rơi vào thế bị giằng co trước sau, phải phân tán lực lượng, tổn hao lực lượng, phải mắc kẹt trong tình trạng bùng nhùng như rơi vào bụi gai mây, xoay đằng nào cũng vướng, trở đằng nào cũng mắc. Đầu tháng 11, Hà Nội triển khai các công việc chuẩn bị chiến đấu, thành lập các Ủy ban bảo vệ khu phố. Đồng chí Nguyễn Hữu Mai, chủ tịch Ủy ban bảo vệ Liên khu 1, triệu tập cán bộ nêu ra 5 việc khẩn cấp: - Việc thứ nhất, củng cố các đơn vị tự vệ thành. Liên khu sẽ điều động một số cán bộ Vệ quốc quân, tự vệ chiến đấu đến các khu phố, đường phố, giúp các đơn vị làm kế hoạch tác chiến và huấn luyện quân sự; - Việc thứ hai, động viên nhân dân dự trữ sẵn lương thực, thực phẩm từ một đến hai tháng; - Việc thứ ba, xúc tiến việc huấn luyện cứu thương, mua sắm bông băng, thuốc chiến thương, chuẩn bị phương tiện làm cáng, đòn cáng, võng cáng... - Việc thứ tư, huy động trong nhân dân và mua sắm thêm cuốc xẻng, xà beng, cọc sắt... để xây dựng các tuyến ngăn chặn xe tăng, xe thiết giáp, đào hào giao thông cắt ngang đường và đục tưởng xuyên từ nhà này sang nhà khác; - Việc thứ năm, vận động nhân dân tản cư, các cụ già, cháu nhỏ, người ốm yếu cần được đưa đi trước, động viên thanh niên nam nữ tham gia các nhiệm vụ chuẩn bị chiến đấu. Các khu phố thực hành chỉ thị chuẩn bị chiến đấu của Liên khu rất nghiêm chỉnh, khẩn trương. Khu Đồng Xuân có sáng kiến tổ chức ra những ban bảo vệ đường phố, khu vực gồm các cụ có nhiều uy tín, các đảng viên, đại biểu các đoàn thể, nhờ đó mà những chủ trương của thành, của Liên khu được truyền đạt nhanh chóng đến từng nhà, từng hộ và ngược lại, những nỗi niềm thắc mắc lo âu cũng như những ý kiến đóng góp của nhân dân được phản ảnh đầy đủ lên cấp trên. Chỉ có một thời gian ngắn, các phố đã tổ chức xong các đội cứu thương, đội tiếp tế phục vụ nấu ăn cho bộ đội, tự vệ, số người tham gia các đội này đông tới hàng trăm, phần lớn là phụ nữ. Lại có những đội "công binh" nữa, gồm những thanh niên nam giới chuyên giúp anh em tự vệ làm công sự chiến đấu, đào hào giao thông. Chưa nổ súng mà Ủy ban bảo vệ khu Đống Xuân cũng đã giành được một thắng lợi rất quan trọng, là xây dựng lòng tin. Cả khu vực đầu sóng ngọn gió này chỉ có một trung đội Vệ quốc quân đóng ở nhà số 1 phố Hàng Đậu, canh giữ cầu Long Biên. Tự vệ tuy đông 8 đại đội, hơn một nghìn người, song vũ khí rất thiếu, cứ mười người mới có một khẩu súng, dăm quả lựu đạn, lực lượng như thể chống chọi ra sao với một đội quân thiện chiến có đủ loại vũ khí. Qua nhiều đêm suy nghĩ, nhiều buổi bàn luận, đồng chí Chủ tịch Ủy ban bảo vệ khu Đồng Xuân cùng các cán bộ chỉ huy tự vệ xác định rằng: Đây là cuộc chiến của quần chúng nhân dân tự vũ trang chống lại, một quân đội nhà nghề. Nhân dân là chiến sĩ, mà chiến sĩ lại là người chủ nhà nên công sự có thể đào đắp được cả ở ngoài đường và ở trong nhà, ở dưới đất và ở trên tầng cao. Người chiến sĩ không còn tiếc gì hết, có thể đem cả đồ đạc, vật tư của nhà mình ra để xây dựng những công sự kiên cố, vật chướng ngại, cuốc, xẻng, dao, gậy, thậm chí bát đĩa, chai lọ cũng có thể dùng làm vũ khí tiêu diệt địch bảo tồn mình. Ta phải làm chủ ở trong nhà, bắt địch ở ngoài đường, tường nhà là cái áo giáp che chắn cho ta chĩa súng ra bắn những tên địch ở ngoài đường. Ta có thể đánh địch từ nhiều ụ chiến đấu, tại nhiều lớp chiến hào phòng ngự, bắt địch phải bị động trên những đường đi chi chít những vật chướng ngại. Ta có thể đánh địch cả ở trong nhà, nó xông vào tầng dưới, ta vọt lên tầng trên đánh xuống, nó chiếm nhà này ta luồn sang nhà khác đánh quặt lại… Từ việc xác định tính chất cuộc chiến như vậy, Ủy ban bảo vệ khu Đồng Xuân đề ra những quy định về tác chiến như sau: - Mỗi đơn vị tự vệ có nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ trận địa của dãy phố, khối phố, khu vực mình. - Các ụ chiến đấu nên đào ở trong nhà để giữ được bí mật; - Đục tường nhà nọ thông với nhà kia để nối liền các ụ chiến đấu, đồng thời làm đường giao thông bí mật khi tác chiến ta không dùng mặt đường, vỉa hè để đi lại nữa, mà biến nó thành trận địa bẫy địch. - Khi đã nổ súng phải đào gấp các đường ngầm cắt ngang đường, làm hào giao thông nối các khối phố khối nhà với nhau, đồng thời làm hào chặn xe thiết giáp địch. - Mọi công sự (hầm, ụ chiến đấu, hào giao thông) đều phải đào sâu, có nắp che kín bên trên. - Khi nổ súng, các cửa nhà đều phải đóng chặt, đằng sau xếp nhiều đồ đạc, bao đất, ngăn không cho địch lọt vào dễ dàng. Ngoài đường, hạ cột điện, ngả cây, dựng vật chướng ngại ngăn chặn địch, bắt địch dừng lại cho ta đánh. - Mỗi tay súng không phòng ngự tiêu cực trong một ụ chiến đấu mà phải vận động qua nhiều vị trí khác nhau. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:25:49 am Hà Nội vừa bắt tay vào việc chuẩn bị chiến đấu thì có một lời "sấm trạng" từ các chợ. từ các tiệm ăn, quán cà phê, cứ thì thầm loang ra "Thăng Long phi chiến địa".
"Sấm trạng" được phun ra đúng lúc ở bên kia, chính phủ Pháp gặp cơn khủng hoảng, nội các Ri dôn, kẻ vừa gây bế tắc cho cuộc đàm phán Việt - Pháp vừa qua ở Phông-ten-nơ-blô - có cơ bị đổ, cho nên không ít người Hà Nội thích thú truyền tai nhau rằng; "Nước Pháp sẽ có một chính phủ mới, dân chủ và tiến bộ. Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp mồng 6 tháng 3 sẽ được tôn trọng. "Sấm trạng" khoét trúng tâm lý thèm khát hòa bình nên loang rộng rãi. Và rất thâm độc, những kẻ tung nó ra, bọn Việt gian tay sai của thực dân Pháp nhằm đúng cơ hội trong nhà ngoài phố đang xì xào "sấm trạng", mới phun tiếp những lời bàn nham hiểm Một mặt chúng ru ngủ: không có chiến tranh đâu. Cụ Hồ chủ trương giữ gìn hòa bình để đấu tranh buộc Pháp phải thi hành các điều khoản của hiệp định mồng 6 tháng 3, để giành lấy độc lập hoàn toàn bằng thương lượng. Mặt khác chúng hù dọa: "Việt Minh chọi nhau với Pháp thì khác nào châu chấu đá voi, làm gì có chuyện đánh nhau to ở Hà Nội được! Bất quá chỉ vài ngày là tan hết, là chạy bạt lên rừng mà đánh du kích" Chiến tranh tâm lỷ của địch gây trở ngại không nhỏ đến việc chuẩn bị chiến đấu của ta. "Để chờ xem đã" nhiều ông, nhiều bà chủ nhà đã trả lời như vậy, khi cán bộ đường phố đến vận động chấp hành chỉ thị tản cư của Ủy ban bảo vệ thành phố. "Chờ xem đã", cứ những tốp thanh niên nam nữ được trả lời như vậy khi họ mang búa, mang đục đến các nhà trong phố để đục tường làm lỗ bắn và mở đường giao thông bí mật từ nhà này xuyên sang nhà khác. Và thế là chưa nổ súng, các đội tự vệ thành Hà Nội đã phải đảm nhiệm vai trò xung kích cùng với các cán bộ đoàn thể thanh, niên, phụ nữ đánh bại các thủ đoạn chiến tranh tâm lý của địch. Đứng trước ngưỡng cửa chiến tranh, không phải là người Hà Nội không dằn vặt, đắn đo, suy nghĩ. Người giàu có, nhà cao cửa rộng, tiện nghi sang trọng, cũng như người nghèo túng chỉ đủ tiền thuê một chỗ kê tấm phản, ai nấy đều lo tính chuyện mất còn của riêng tư… Sẽ ra sao khi phố phường là trận địa, mỗi nhà là một vị trí chiến đấu? Nhân dân mong ước được sống hòa bình. Chính phủ ta vì cố giữ lấy hòa bình mà đã nhân nhượng với đế quốc Pháp, nhân nhượng rất nhiều, đến mức cuối cùng rồi, nhân nhượng thêm nữa là phạm đến chủ quyền của đất nước. Các chiến sĩ Vệ quốc quân, Công an, đóng trên đất liên khu I - Hà Nội, các chiến sĩ tự vệ thành của các đường phố trong Liên khu I - Hà Nội, cả những cán bộ chỉ huy của họ, không ai được biết phương án tác chiến "Trong đánh ra, ngoài đánh vào" của Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội, mả chính họ những người có nhiệm vụ trụ lại ở bên trong, thu hút địch vào trung tâm thành phố. Vấn đề này tuyệt mật. Họ chỉ được truyền đạt tinh thần chủ đạo "mỗi phố là một trận tuyến, mỗi nhà là một pháo đài, giữ từng bờ tường, tấc đất". và khẩu hiệu cổ động ý chí quyết chiến "Sống chết với thủ đô Hà Nội". Song ai nấy đều hiểu nhiệm vụ xác định rõ trách nhiệm của mình với thủ đô, với thanh danh Thăng Long ngàn năm văn vật, nơi lắng hồn núi sông Việt Nam. Trong những ngày này, những người con trai, con gái của phố phường Hà Nội chưa hề xông pha trận mạc bao giờ, cùng chụm mái đầu xanh sôi nổi bàn việc đánh giặc, mà chiến trường là ở ngay trước cửa nhà mình, trong nhà, trong sân, trong căn buồng nho nhỏ của mình. Chị Nguyễn Thị Hảo kể rằng: "Hồi ấy tôi là công nhân nhà máy nước đá. Nhà máy này của chủ Tây, có lính Tây canh gác, trước mặt nhà máy, đường Trần Quang Khải rộng thênh thang, làm sao cản được xe tăng địch? Đặt mìn, anh em tự vệ bàn như vậy. Song ta chỉ có dăm quả mà mặt đường nhựa phẳng lì, đào chỗ nào lộ chỗ đó, thì địch nào có sợ? Có ai đó, tôi không nhớ tên, nêu ý kiến: Vậy thì đào nhiều lỗ vào, đào lung tung, địch biết chỗ nào có mìn, chỗ nào không, đánh giặc phải biết nghi binh giỏi. Ý kiến hay. nhưng bàn ra, bàn vào thì ý kiến cuối cùng mới thật hay: Cần gì phải đào ?’ Cứ đặt mìn ngay trên mặt đường rồi úp cái rổ lên trên, úp lung tung đủ thứ rổ, rá, cả nón rách nữa, chi chít kín mặt đường, thành bãi mìn như vậy địch biết đâu là thật, đâu là giả? Cho dù có biết trăm cái giả, mới có một cái thật, nó cũng không dám lao bừa. Nỏ phải dừng lại chui ra khỏi xe thăm dò và giơ thân cho ta bắn... Cuối cùng tôi được phân công thu nhặt các thứ rổ, rá, nồi đất, chậu sành... để làm bãi mìn trên đường nhựa. Anh Văn Bích, đội trưởng tự vệ phố Bắc Ninh kể lại: "Khu vực chiến đấu của chúng tôi có hai con đường: đường Bờ sông (nay là phố Trần Quang Khải), đường Bắc Ninh (nay là phố Nguyễn Hữu Huân), cả hai đều rộng lớn, xuyên dọc Liên khu 1, nhưng chỉ đến khi nổ súng mới được phép làm vật chướng ngại bố trí mìn, đào đường ngăn chặn xe cơ giới địch từ phía cầu Long Biên qua Cột đồng hồ xuống đến Nhà Bác Cổ (nay là Viện bảo tàng lịch sử), Nhà hát lớn, phố Tràng tiền và ngược lại. Chúng tôi lo mất ngủ về việc này. Chỉ có cách hạ cây là nhanh nhất, hạ cây chặn đường, rồi đặt mìn, cuối cùng đào cắt mặt đường. Nhưng hạ cây thế nào cho nhanh? Chúng tôi làm thí nghiệm. Chọn một cây nhỏ, đường kính của thân độ một gang tay, đục lỗ, nhồi mìn rồi cho nổ. Song, thất bại, cây vẫn đứng sừng sững, lỗ đục chỉ toác rộng ra: một chút. Hỏi ra, mới biết là sai kỹ thuật. Cái mà chúng tôi đã dùng đề thí nghiệm hạ cây chỉ là kíp mìn, còn phải có thuốc nổ nữa. Một mặt chúng tôi báo cáo lên Ủy ban bảo vệ khu phố, lên thành xin thuốc nổ vì phải ngả đến dăm chục cây to, mặt khác, chúng tôi họp anh em tự vệ, bàn xem có cách nào hạ cây mà không cần đến thuốc nổ. Không ngờ, một anh thợ mộc vốn ít lời trong các cuộc họp hành lại là người cởi được mối lo chung: "có thuốc nổ càng hay không thì kiếm lưỡi cưa sẻ, bên phố Lò Sũ thiếu gì?". Bốn năm anh tự vệ người phố Lò Sũ. Hàng Thùng, Hàng Tre, toàn tay thợ sẻ gỗ cả, vỗ đùi đôm đốp tán thành: "Đúng rồi, cứ ngóng tận đâu ấy, sao không nghĩ đến cái cưa của mình? Nhưng phải bắt đầu ngay, chứ có lệnh mới làm thì vẫn chậm". Thế là chúng tôi bàn kế hoạch hạ cây bằng cưa như sau: Cưa sẵn độ 3/4 đường kính của thân cây, chỗ cưa cách mặt đất khoảng một mét. Khi có lệnh cưa tiếp thêm đồng thời dùng chão kéo đổ cây, không cưa cây nhỏ, chọn toàn cây to. Cách 3, 4 cây mới cưa sẵn một cây. Xong chuyện hạ cây, tiếp đến việc bố trí bãi mìn cũng phải bàn, phải tính nhức đầu, càng tính toán chi li càng thấy khó khăn nhiều. Vì chỉ có mấy quả thôi mà phải bố trí một bãi mìn rộng hơn ba vạn mét vuông như ở Cột đồng hồ thì lấy đâu ra? ít nhất cùng phải có hàng trăm quả. May quá, đang bí thì được tự vệ nhà máy nước đá gỡ cho bằng cái sáng kiến "chậu sành, nồi đất đánh Tây", làm bãi mìn giả, cứ úp lên mặt đường la liệt những nồi niêu thúng mủng, thùng, sọt mũ, nón... thằng giặc nào dám phóng xe qua, dám dẫn chân lên? ". Những ngày này cũng có không ít đội viên tự vệ, cả cán bộ nữa, lo sợ bị địch bao vây, sợ chiến đấu ác liệt, đã lẩn trách nhiệm vụ kiếm cớ đau ốm, hay phải đưa gia đình đi tản cư rồi đi biệt. Nhưng nhiều người khác lại xin được gia nhập đội ngũ chiến đấu. Đó là những chàng trai, cô gái trước đây còn mải mê đèn sách học hành, là những người từ nông thôn ra thành phố làm thuê suốt ngày bận rộn với công việc nhà chủ. Đó là những trường hợp đặc biệt, như : "Anh Trần Gia Phỏng (nay là đại tá Hải quân) vào Sài Gòn sinh sống từ năm 1940 tham gia bộ đội Nam Bộ, thuộc đơn vị Bà Rịa, được nghỉ phép ra Bắc tìm gia đình ở phố Hàng Chiếu. Anh Phạm Quang (nay là thượng tá hiệu trưởng trường Trung học cảnh sát nhân dân - Thủ Đức) học sinh Sài Gòn ra Bắc với tấm giấy giới thiệu của đoàn thể xin vào trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Trong khi chờ đợi ngày tựu trường, anh tạm trú tại nhà người quen ở phố nhà Thờ lớn rồi gia nhập đơn vị tự vệ phố này. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:35:35 am CHƯƠNG III 19-12-1946 Đác-giăng-li-ơ rắp tâm đánh một đòn quyết định tình thế vào đầu năm 1947, một đòn thật mãnh liệt bất ngờ "tiêu diệt lực lượng quân sự của Việt Minh, vô hiệu hóa chính phủ Hồ Chí Minh". Viên cao ủy Pháp rất hiếu chiến này cả tin chắc thắng. Bởi lẽ, theo ông ta thì đến mùa thu năm 1946, quân viễn chinh Pháp đã đứng chân vững chắc trên các vũng chiếc lược quan trọng ở khắp Đông Dương. Còn chính phủ Việt Minh chỉ là một chính phủ chưa vững chắc của một quốc gia mới phôi thai, không có khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại nước Pháp, Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bị bao vây chia cắt, không có nguồn tài chính, thiếu lúa gạo của Nam kỳ cung cấp, quân đội còn non nớt, vũ khí quá thiếu thốn trang bị quá nghèo nàn, làm sao có thể đương đầu với đạo quân viễn chinh Pháp? Trong điều kiện như vậy, rõ ràng là có thể loại trừ chính phủ Việt Minh và thay vào đó là chính phủ khác. Những người cộng sự thân cận của Đác-giăng-li-ơ, đặc biệt là Tổng chỉ huy quân viễn chinh tướng Va-luy hoàn toàn nhất trí với ông ta: Trước mắt, nhiều lắm cũng chỉ là một chiến dịch tiến hành dưới hình thức một hành động mãnh liệt, nhanh chóng đánh tan rã lực lượng quân sự Việt Minh rồi tiếp theo đó là một thời kỳ bình định. Việc chuẩn bị đánh đòn quyết định được gấp rút triển khai cùng lúc với chỉ thị của Đác-giăng-li-ơ ngày 25 tháng 10-1916: "phải có một sự phản xạ chủ động". Viên cao ủy bật đèn xanh cho các cấp dưới quyền được tự do hành động, tạo ra những cớ, những cơ hội lấn chiếm, mở rộng phạm vi kiểm soát ở các nơi được đóng quân theo hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3. Rồi ngày 11 tháng 11, trước khi về Pa-ri trình bày ý đồ lớn với chỉnh phủ Pháp, Đắc-giăng-li-ơ giao trách nhiệm cho tổng chỉ huy Va-luy rằng: "phải sẵn sàng thích ứng bằng một hành động đùng sức mạnh nhằm vô hiệu hóa chính phủ Hà Nội về chính trị và tinh thần". Chỉ một tuần sau đó, bùng nổ ra các vụ xung đột ở Hải Phòng và Lạng Sơn. 8 giờ 20 phút ngày 20 tháng 11, chiếc tàu LCA của hải quân Pháp chặn bắt một tàu chở xăng dầu của một nhà buôn người Hoa, có giấy phép nhập cảnh của hải quan Việt Nam. Lính Pháp đã nổ súng khi nhân viên hải quan và công an Việt Nam đến can thiệp, và rất nhanh chóng tiếng súng lan ra nhiều nơi, trên bến, dưới sông, trong cảng Hải Phòng, đến ngoài phố. Nhiều đoàn xe thiết giáp của quân đội Pháp gầm rú như điên, chạy ngang chạy dọc thành phố. Nhân dân Hải Phòng liền dùng vật chướng ngại chặn các ngả đường. Cuộc xung đột mỗi lúc thêm bùng to ra, bởi viên đại tá Đép-bơ (Dèbes) đã được tướng Va-luy khuyến khích "… lợi dụng tình thế này mà mở rộng phạm vi chiếm đóng, với mọi phương tiện sẵn có. Cần làm chủ toàn bộ Hải Phòng". Những ngày tiếp sau, các trận đánh quyết liệt diễn ra trên nhiều đường phố. Cuối cùng, có thêm quân tăng viện và có hỏa lực chi viện rất mạnh của hải quân, không quân, đến ngày 27, Đép-bơ chiếm được Hải Phòng, mở rộng phạm vi chiếm đóng đến sân bay Cát Bi, kiểm soát một khu vực rộng từ Cửa Cấm đến Lạch Tray. Cùng dịp với vụ cướp Hải Phòng là Lạng Sơn. Ngày 21 tháng 11, viên đại tá Xi-de (Sizaire) cố tình gây ra một chuyện rắc rối trên đường giao thông rồi tung quân đánh úp chiếm thị xã. Hai vụ Hải Phòng, Lạng Sơn bộc lộ rõ rệt mưu đồ của Đác-giăng-li-ơ quyết dùng vũ lực xâm chiếm Việt Nam. Tuy nhiên ủy ban liên hệ về Đông Dương của chính phủ Pháp họp tại Pa-ri ngày 13 tháng 11 lại đồng tình với đường lối thực dân phản động này. Thủ tướng Bi-đôn quyết định đưa thêm viện binh sang Đông Dương và chỉ thị cho Đác-giăng-li-ơ là "cần phải cho bắn đại bác". Như vậy, trên thực tế, hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ký ngày 6 tháng 3 năm 1946 đã bị phía Pháp đơn phương xé bỏ, quân viễn chinh Pháp đã được lệnh chĩa nòng súng vào chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Hà Nội ráo riết chuẩn bị kháng chiến. Các nhà máy, xí nghiệp chuyển máy móc, nguyên liệu ra ngoài thành phố; các cơ quan chính phủ, các Bộ, chuyển dần lên căn cứ địa Việt Bắc, nhân dân tản cư về nông thôn. Liên tục ngày đêm, những xe ô tô vận tải, xe bò, xe xích lô chở cát từ ngoài bờ sông Hồng vào các phố để sẵn sàng nhồi vào bao tải, bao cói, đắp ụ, dựng chướng ngại vật chắn ngang đường. Công nhân nhà Ga Hà Nội chuẩn bị sẵn một đoàn tàu gồm những toa chở đá để khi có lệnh sẽ đẩy ra chắn đường Sinh Từ (nay là Nguyễn Khuyến), đường Hàng Đẫy, đường Cột Cờ (đường Điện Biên Phủ), ngăn cản xe cơ giới địch từ trong thành tiến qua ngã tư Cửa Nam. Các cơ sở sản xuất, các cửa hiệu và từng nhà thu dọn các đồ vật cồng kềnh để sẵn sàng khiêng ra mặt đường tạo nên những đống chướng ngại vật. Ngày qua ngày, phố xá, chợ búa thưa bớt người vắng hẳn đi. Những người Hà Nội ra đi không phải là chạy trốn. Công tác tuyên truyền chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện mà Đảng ta tiến hành rất bền bỉ ngay từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, đến lúc này đã thấm sâu vào trí óc mỗi người dân. "Tản cư là yêu nước" người Hà Nội xa rời thành phố thân yêu với ý nghĩ như vậy. Những người chưa ra đi phần còn thu xếp việc nhà, phần vì còn phải tranh thủ góp công, góp sức cùng các lực lượng vũ trang của Hà Nội xây dựng thế trận phá âm mưu đánh úp của địch. Trong Liên khu I, công tác chuẩn bị tập trung vào khu vực trụ bám. Những ban công, cửa sổ, mái nhà, đều trở thành những vị trí chiến đấu. Tường trong nhà, ngoài sân, trên gác. đều đục thủng thành lỗ giao thông, mở đường đi từ nhà này sang nhà khác, xuyên dọc cả dãy phố. Sang tháng 12, tình hình Hà Nội thêm căng thẳng vì những hành động khiêu khích, cướp hóc. bắn giết của quân Pháp. Để buộc địch phải dè chừng. Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội tổ chức một cuộc nghi binh lớn với sự hỗ trợ của các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây. Hàng ngàn dân quân của các tỉnh này được huy động về tập trung ở các vùng ngoại thành Hà Nội, cứ tối đến, rầm rập kéo vào trong phố, nửa đêm về sáng lại lặng lẽ bí mật rút ra. Suốt một tuần liền những cuộc hành quân này khiến cho địch tưởng rằng Hà Nội đã được tăng cường thêm hàng vạn quân. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:37:10 am Đến giữa tháng 12. trong Hà Nội lại xì xầm một tin đồn "thế mà không đánh nhau đâu". Nhiều người thích thú với lời dồn này, bởi lẽ ở bên Pháp, Bi-đôn đã buộc phải từ chức ngày 12 tháng 12 và Lê-ông Blom (Blum) được cử làm Thủ tướng lập chính phủ mới. Công chúng Pháp đang lo ngại về tình hình căng thẳng nghiêm trọng ở Việt Nam, đặt nhiều hy vọng vào Blom một con người được giới thiệu là "suốt đời bảo vệ hòa bình và tán dương nền độc lập của các dân tộc thuộc địa". Tin đồn "không đánh nhau đâu" lan ra phố phường cùng với lời tuyên bố của Xanh-tơ-ni mới từ Pháp bay đến Hà Nội:
"Người ta không cử tôi, người ký kết các hiệp định ngày 6 tháng 3 đến Hà Nội để đem sự đổ vỡ và chiến tranh". Nhưng tin đồn này đã tắt ngóm ngay vì những hành động khiêu khích ngày càng tăng của binh lính Pháp đi đôi với lời đe dọa hung hăng của Đác-giăng-li-ơ ngày 15 tháng 12: "Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, là lãnh thổ của nước Pháp". Bọn thực dân hiếu chiến đã chiếm được Hải Phòng rồi, giờ đây chúng tính đến mục tiêu chủ yếu. Từ sáng sớm ngày 17 tháng 12, sương mù chưa tan hết, máy bay trinh sát của quân đội Pháp đã ù ì vòng trên bầu trời Hà Nội. Lần đầu tiên, quân xâm lược giở trò khiêu khích như vậy tại thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. 8 giờ, một xe chở lính lê dương bắn vào phố Yên Ninh. 10 giờ, quân Pháp ra Hàng Bún phá những ụ chiến đấu của tự vệ. Tiếp đó chúng bao vây uy hiếp đồn công an Hàng Đậu và 12 giờ trưa chúng đốt phá nhiều nơi ở Hàng Bún, Yên Ninh, Quan Thánh. Trước tình hình nghiêm trọng ấy, ủy ban bảo vệ khu Trúc Bạch huy động lực lượng tự vệ đến từng nhà trong khu vực bị uy hiếp giúp đỡ bà con đi tản cư ngược lên phía Yên Phụ. Khoảng 3 giờ chiều, súng cối của địch từ trong Thành bắn vào phố Yên Ninh. Sau đó, lính lê dương xông vào các nhà tìm bắt thanh niên. Chúng xả súng bắn vào những người phản đối, 43 người bị giết chết, chúng bắt đem vào trong thành 15 nữ thanh niên. Cũng ngày 17, địch gây sự ở phố Hàng Vôi (nay là phố Lý Thái Tổ), phố Bắc Ninh (nay là phố Nguyễn Hữu Huân), lính lê dương đi dọc hai bên hè phố đứa nọ cách đứa kia chục mét, tay lăm lăm khẩu súng. Chúng tìm cách khiêu khích ta ở khu vực này, nơi có nhiều cơ quan của chính phủ và của thành phố. Nhưng các nhà ở đây đã được lệnh đóng kín cửa, đường vắng tanh. Cuối cùng, đi đến Cột đồng hồ, chúng lên xe phóng thẳng về phía cầu Long Biên. Ngày 18 tháng 12, quân Pháp nổ súng ở Hàng Lược, bắn chết một phụ nữ, ở Hàng Đậu bắn bị thương một vệ quốc quân, ở Hàng Than giết một cụ già, ở Hàng Giấy giết một thanh niên. Xe thiết giáp của chúng bò đến cửa chợ Đồng Xuân bắn trọng liên 12 ly 7 lên nóc chợ và bắn lên tầng gác các nhà quanh đó. Cùng ngày, chúng chiếm Nha tài chính (nay là Bộ ngoại giao) và Sở giao thông công chính (nay là Bộ thủy lợi) Qua hai ngày gây rối loạn, đến 21 giờ ngày 18 tháng 12, tướng Moóc-lie gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí của công an, tự vệ Hà Nội, đòi chính phủ Việt Nam phải trao quyền kiểm soát trật tự an ninh trong thành phố cho quân đội Pháp và gia hạn, nếu đến sáng ngày 20, những điều kiện đó không được chấp nhận thì quân đội Pháp sẽ chuyển sang hành động. Như vậy. kẻ xâm lược đã công khai tuyên chiến, hẹn ngày hẹn giờ đánh Hà Nội. Và, Hà Nội cũng công khai trả lời kẻ gây chiến bằng những dòng người di tản cư, ra đi kháng chiến. Những khẩu hiệu mọc lên chi chít trên khắp các đường phố "Sống chết với Thủ đô" "Thà chết không chịu sống làm nô lệ". Rất bình tĩnh, Hà Nội nín nhịn, tránh mọi hành vi khiêu khích của kẻ thù và tranh thủ từng giờ từng phút chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi vào cuộc chiến. Sáng ngày 19 tháng 12, Ủy ban nhân dân thành phố triệu lập cán bộ tự vệ đến Tòa Thị chính nhận chỉ thị khẩn cấp. Cuộc họp biến thành lễ tuyên thệ. Đại diện cho 8200 đội viên tự vệ toàn thành, những người chỉ huy tự vệ các đường phố, khu phố thề trước Quốc kỳ; - Nghiêm chỉnh, sẵn sàng chờ lệnh của Chính phủ, của Hồ Chủ tịch. - Tự vệ Thành sống chết với thủ đô. Tại đình làng Mọc, đại biểu các đơn vị Vệ quốc đoàn đóng ở phía Nam Hà Nội làm lễ tuyên thệ "quyết tử bảo vệ Thủ đô". Tại Bắc bộ phủ, tiểu đoàn Vệ quốc quân 101 làm lễ nhận danh hiệu "Đội quyết tử của thủ đô". Càng về trưa, Hà Nội càng ngột ngạt không khí căng thẳng, chợ búa không người, các cửa nhà khép kín, đường sá vắng tanh vắng ngắt. 10 giờ, tại Sở chỉ huy ở sân bay Bạch Mai, Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội triệu tập các cán bộ chủ chốt của các Liên khu, các tiểu đoàn trưởng. Mọi người trong phòng họp đứng tất cả dậy khi đồng chí chỉ huy trưởng mặt trận nghiêm trang tuyên bố: "chúng ta đã được lệnh đánh". Phút chốc biến mất hết những vẻ mặt trầm ngâm, căng thẳng của nhiều ngày đêm làm việc mệt mỏi, đối phó nhẫn nhục với các hành động khiêu khích ngang ngược của địch. Ai nấy hoan hỉ, nhìn nhau cười nhòa nước mắt sung sướng vì sắp được nổ súng, trút xuống đầu quân cướp nước hết mọi căm hờn chồng chất phải cố nén chặt bấy lâu nay. Với quân Pháp thì ngày 19 tháng 12 là ngày chúng chuẩn bị để "chuyển sang hành động" nắm quyền kiểm soát thành phố Hà Nội. Những đoàn xe tuần tiễu của chúng chạy liên tục trong các phố người Pháp sống tập trung, đặc biệt là trên trục đường cắt ngang thành phố, từ quảng trường Ba Đình qua vườn hoa cửa Nam đến Nhà hát lớn. Chúng dùng tiếng xích sắt của xe cơ giới bọc thép nghiến trên mặt đường nhựa để ra oai uy hiếp tinh thần người Hà Nội. Đến tối, mục tiêu uy hiếp của địch chĩa thẳng vào khu vực tập trung các cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. 19 giờ 15, một đoàn 5 xe thiết giáp ầm ầm phóng dọc đường Tràng Thi, Hàng Khay. Tràng Tiền, Ngô Quyền, chạy vòng quanh khu vực Bắc Bộ phủ. 19 giờ 50, đoàn xe này phân tán trên ba địa điểm: một chiếc đỗ ở đầu phố Hàng Khay, chĩa nòng súng liên thanh 12 ly 7 vào cổng chính đồn Công an Hàng Trống. Hai chiếc trấn trước Nhà hát lớn. Hai chiếc đứng trước Nhà ngân hàng, quay đầu xe về phía Bắc bộ phủ Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:38:10 am Kẻ địch giương oai diễu võ trước mắt, nhưng đến lúc này các chiến sĩ Vệ quốc quân bảo vệ dinh Chủ tịch không cảm thấy căng thẳng bực bội như các lần bị khiêu khích trước kia nữa: họ đã được phổ biến lệnh chiến đấu. Họ đếm từng phút mong chóng đến giờ G nổ súng.
Giờ G là 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946. và kim đồng hồ đã chỉ đúng giờ G. Tất cả cán bộ của Sở chỉ huy tiểu đoàn 101 đặt trong Bắc bộ phủ đều ngạc nhiên nhìn nhau "kìa, sao chưa có hiệu lệnh chiến đấu?" Rồi một phút hồi hộp qua đi. Có tiếng chuông điện thoại, Từ nhà Đèn Bờ hồ, trung đội trưởng Phúc Ánh người được giao trách nhiệm chỉ huy một tốp công nhân nhà máy tắt điện, hỏi tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Triệu: "Sao chưa thấy gỉ?". Phúc Anh cũng đang sốt ruột chờ hiệu lệnh, chờ đại bác ở ngoại thành lên tiếng, chờ nhà máy điện Yên Phụ, nguồn điện chính của toàn thành phố tắt trước. 20 giờ 03 phút, Điện tắt. Công nhân nhà máy điện Yên Phụ hoàn thành nhiệm vụ phá diện rất xuất sắc. Đồng chí Nguyễn Giang, cán bộ công vận, kể lại trận đánh rất quan trọng mở đầu đêm lịch sử 19-12-1946 như sau: - Trung tâm Yên Phụ cung cấp điện cho Hà Nội và các tỉnh lân cận. Từ đầu tháng 12-1946, đồng chí Nguyễn Văn Trân giao cho tôi nhiệm vụ làm kế hoạch phá điện Yên Phụ. Trong buổi giao nhiệm vụ này còn có đồng chí Trần Quốc Hoàn, đồng chí Vương Thừa Vũ, đồng chí Trần Độ. Các anh dặn đi dặn lại: "Điện tắt là hiệu lệnh chiến đấu, hiệu lệnh kháng chiến toàn quốc, nhiệm vụ rất quan trọng. Nhưng khi ta đã nổ súng thì địch nó sẽ tấn công chiếm nhà máy điện ngay, cho nên phá thế nào mà chúng không thể sử dụng ngay được, phải phá thật hiểm". Các anh còn dặn "Bí mật tuyệt mật". Bấy giờ ở nhà máy điện Yên Phụ, ta và địch cùng gác chung, lính địch canh gác bên trong, bên ngoài nhà máy cẩn mật lắm. Tất nhiên lính nó đứng ở đâu thì cũng có một đồng chí Vệ quốc quân đứng kèm, rồi suy tính, chỉ phá tuyếc-bin là hiểm nhất. Nhưng nhà máy những 4 tuyếc-bin: 2 máy sống (tức là máy đang chạy) và 2 máy chết (tức là máy dự phòng) làm thế nào phá tất cả, lại phải thật nhanh. Giả dụ mỗi người phá một máy thì gọn quá, song không thể vào nhiều được: địch nó gác ngay cạnh máy, hơn nữa nhiệm vụ tuyệt mật không thể dùng nhiều người. Cuối cùng ý đồ được duyệt như sau: dùng axit đổ vào 2 máy dự phòng, song đặt mìn 2 máy sống. Như vậy vào phá máy chỉ cần 2 người, tôi là một rồi, người thứ 2 thì đến phút cuối cùng mới gọi cũng được, giữ bí mật đến cùng. 5 giờ chiều ngày 19 tháng 12 tôi mới được nhận vũ khí: 2 chai a-xit, 2 quả mìn. Đồng chí Trần Quốc Cư ra lệnh: đúng 8 giờ tối phá máy. Tôi hỏi: "Bộ đội gác Yên Phụ có biết việc này không? Câu trả lời là "Bộ đội toàn thành phố đã được lệnh. Tối nay diện tắt thì nổ súng!" Cùng làm nhiệm vụ với tôi có đồng chí Dung, công nhân diện. Chúng tôi đem vũ khí vào phá máy. Và người thứ ba nữa. Cai Thăng, phải có ông này, người có trách nhiệm kiểm tra máy, để đưa chúng tôi qua cửa buồng máy, trước mắt tên địch canh gác. Chúng tôi vào buồng máy lúc 19 giờ 50 phút, làm các động tác bình thường của những người kiểm tra máy. Trước hết, đồng chí Dung và tôi mỗi người một chai axit đổ vào hai tuyếc-bin dự phòng, sau đó đặt mìn vào hai máy sống. Mọi việc xong xuôi, bên ngoài từ cái loa phóng thanh của nhà máy vang vang giọng nói thân thuộc: "Đây là Tiếng nói Việt Nam" 20 giờ rồi, đến giờ rồi, tôi xúc động nóng bừng cả người, giơ tay làm hiệu cho ông Cai Thăng giật cầu giao, cắt điện. Rồi cùng đồng chí Dung mỗi người điểm hỏa một quả mìn… 20 giờ 03 phút. Điện tắt. Toàn thành phố chìm trong đêm tối, vắng lặng đi trong giây lát. Rồi tiếng súng, tiếng lựu đạn, tiếng mìn, tiếng thét xung phong. Cây cối vặn mình đổ ầm ầm, cả Hà Nội vùng lên dội bão lửa xuống đầu quân xâm lược một đòn bất ngờ choáng váng. Lần đầu xung trận, tất nhiên khó lường trước được những vấp váp. Không ít trận trong đêm 19 này rất tốn đạn, bị thương vong mà không biết là có diệt được tên địch nào không. Đó là những trận đánh vào vị trí địch. Đơn vị tự vệ công nhân Nhà Đèn Bờ Hồ cầm chắc sẽ tiêu diệt gọn tiểu đội địch canh gác ở đây. Họ bố trí sẵn các mặt, cả trên mái nhà. Họ nắm quyền chủ động tiến công, điện tắt là nổ súng, ném lựu đạn ngay, đánh bất thần, uy hiếp địch cả bằng súng đạn và nghi binh la hét. Nhưng khi xung phong thì chỉ còn thấy vài vệt máu tươi, địch chạy biến đâu từ bao giờ không biết. Một trung đội Vệ quốc quân được giao nhiệm vụ tập kích nhà tướng Moóc-lie phố Hàng Trống, một biệt thự lớn cô lập, chung quanh tòa nhà người Việt Nam ta cả, Có nhiều thuận lợi cho ta tiếp cận địch, giữ bí mật. Nhưng rút cục trận đánh chỉ có giá trị như một trận quấy rối nghi binh. Ta chưa biết cách đánh tập kích. Tuy nhiên, hàng loạt các vị trí nhỏ của địch đóng rải rác trong các phố đều bị uy hiếp nên địch buộc phải tung quân cơ động đi ứng cứu, giải vây và do vậy ta có điều kiện đánh phục kích. Chỉ một đoạn đường ngắn từ cửa Nam đến Nhà hát lớn, đã hơn chục xe thiết giáp, xe vận tải bị cháy, bị lật đổ, bị đánh đứt xích, nằm bẹp dí. Trong số đó có chiếc xe thiết giáp chở Xanh-tơ-ny, ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Đông Dương. Về sau, trong cuốn hồi ký của mình, Xanh-tơ-ny kể rằng: ... "Môt chiếc xe thiết giáp đưa tôi về thành gặp tướng Moóc-lie. Vừa đến phố Tràng Tiền thì vấp phải một quả mìn cỡ lớn, mìn nổ làm cho xe lao vào vỉa hè và đâm xầm vào mặt trước một hiệu buôn, quầy hàng sập đổ tan tành. Một trận mưa lựu đạn ném tới. Lửa bốc cháy. Tôi cố chui ra khỏi xe, lúc này đã trở thành một lò lửa. Mấy người cùng đi (trưởng xe, pháo thủ, lái xe, thông tin vô tuyến điện) dần dần cùng chui ra thoát, người nào cũng bị thương nặng, song đều cố lết ra vỉa hè tìm chỗ ẩn nấp, tránh những mảnh lựu đạn và nhất là tránh những viên đạn đang tự do nổ trong xe, tung mảnh ra mọi phía. Cũng có thể là những viên đạn nổ tứ tung này đã ngẫu nhiên tạo ra một khu vực bảo vệ cho những người bị thương không bị đối phương kết liễu cuộc đời của họ. Tỏi và mấy người cùng đi phải chờ gần hai tiếng đồng hồ mớí được đội xe thiết giáp đến cứu, đưa vào trong Thành". Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 12 Tháng Hai, 2024, 10:38:55 am Trong số những trận đánh có hiệu quả của quân ta đêm nay, nổi bật nhất là trận đánh 6 phố Hàng Đậu.
Nơi đây, mặt đường rộng rãi, là đường đi lối lại của địch từ Hà Nội qua cầu Long Biên sang sân bay Gia Lâm, ta không thể đào cắt từ trước được, mà ngay những vật dùng làm chướng ngại cũng phải dấu kín. Ta dự kiến rằng ngay từ phút đầu tiên của cuộc chiến đấu thế nào địch cùng tung một lực lượng mạnh ra chiếm phố Hàng Đậu để kiểm soát cầu Long Biên. Đúng như vậy, chỉ mười phút sau khi Hà Nội nổ súng địch phóng ngay một đoàn xe hơn ba chục chiếc ra đây. Nhưng mặt đường Hàng Đậu không còn thênh thang nữa. Đại đội tự vệ Hàng Đậu gồm những người thợ nguội, thợ mộc, thợ hàn, thợ sửa chữa ô-tô, những người lái xe vận tải, đã "cài then cửa" rất nhanh. Phố này có những xưởng sửa chữa xe máy, xưởng xẻ gỗ, xưởng củi, có nhiều xe bò, nhiều vật liệu nặng, cồng kềnh. Các chiến sĩ tự vệ chuẩn bị sẵn những xe chở các vật làm chướng ngại giấu trong các phố Hồng Phúc, Nguyễn Thiệp. Có lệnh chiến đấu, họ đẩy các xe ấy ra lật đổ ngổn ngang trên mặt đường. Đầu đường Hàng Đậu nối liền với cầu Long Biên bên dốc lên cầu có một điểm đóng quân của một trung đội lính Pháp. Đối diện với địch nhà số 1 phố Hàng Đậu ở góc đường Hàng Đậu, Trần Nhật Duật là trụ sở Ủy ban bảo vệ khu Đồng Xuân, đồng thời là doanh trại của trung đội vệ quốc quân. Ta với địch hai bên cùng canh gác cầu. Cuối đường Hàng Đậu có đài chứa nước hình trụ do thực dân Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ trước, nhân dân ta quen gọi là tháp nước trên. Đối diện với tháp nước này là đồn Công an Hàng Đậu. Đường Hàng Đậu tử tháp nước tròn đến dốc cầu Long Biên chỉ khoảng 300 mét là một chiến trường quyết liệt trong đêm đầu kháng chiến. Địch cần nhanh chóng kiểm soát đường Hàng Đậu để tiến lên cầu Long Biên, rải quân giữ đường giao thông sinh tử của chúng ta từ Thành Hà Nội đến sân bay Gia Lâm và tăng quân giữ sân bay này, nơi đến nguồn tiếp tế, tiếp viện của chúng. Súng nổ ngay khi điện tắt. Từ lúc chiều, địch tăng cường cho lũ lính gác cầu một xe bọc thép. Điện toàn thành vừa tắt, bọn này phản ứng rất nhanh, xả súng bắn vào doanh trại của trung đội Vệ quốc quân ở nhà số 1 Hàng Đậu. Bác Đãi, người chiến sĩ già chăm lo ăn uống cho trung đội này, hy sinh trong phút đầu tiên của cuộc kháng chiến. Hỏa lực địch khống chế cả khu vực đầu cầu. Nhưng chỉ chốc lát tình hình thay đổi hẳn với tiếng bom của tổ Ngà - Tố - Kế - Cổn. Tổ trưởng Ngà hy sinh, quả bom anh không phá tung được mặt sàn cầu, nhưng làm cho địch bạt vía. Lũ bộ binh gác cầu bỏ cái doanh trại bằng lều vải của chúng ở chân dốc lên cầu, vượt đê biến ra ngoài bãi ven sông lẩn vào đêm tối. Cái xe bọc thép cũng biến mất tăm. Đầu đường Hàng Đậu, địch vừa dãn ra thì phía cuối đã ran ran tiếng nổ. Đoàn xe mở đường của địch, hơn ba chục chiếc từ thành Hà Nội lao ra đến Tháp nước tròn vấp phải hỏa lực đánh chặn của trung đội công an xung phong. Chúng dùng pháo 37 ly và các cỡ súng máy bắn xối xả vào các ụ chiến đấu, các cửa sổ của đồn công an Hàng Đậu. Các chiến sĩ ta chống lại bằng súng trường, lựu đạn, chai cháy đốt được một xe bọc thép và cầm cự được hơn một tiếng đồng hồ thì phải rút bỏ vị trí. Trong khi đó súng nổ không ngớt trong phố Hàng Đậu. Hai xe bọc thép dẫn đầu đoàn quân cơ giới vừa xông vào trong phố này được mấy chục mét thì một chiếc bị hắt xoay ngang nằm bẹt dí. Nó đè phải quả mìn đặt ở trước cửa nhà số 49. Mặt đường đầy những vật cản. mảnh tôn, mảnh kẽm, thùng, chậu... đáng nghi ngờ biết đâu có mìn đặt ở dưới? Địch không dám xông bừa. phải cho lính lên trước dò mìn. Chúng bắn như đổ đạn vào tất cả các cửa ra vào, cửa sổ, cửa hàng của tất cả các nhà hai bên đường, yểm hộ cho lũ lính đang lom khom dọn đường mà chốc chốc lại một đứa kêu rú lên ôm đùi, ôm bụng ngã vật ra. Đoàn xe địch tiến thêm được vài chục mét thì cũng thêm một chiếc nữa trúng mìn, chết dí. Lúc này một xe "díp", đèn pha, đèn cốt mở sáng chói xồng xộc lao lên trước. Anh em tự vệ thì thầm hỏi nhau. - Đứa nào liều mạng nhỉ! - Xe chỉ huy đấy. Quả nhiên, trên xe có máy thông tin vô tuyến điện tên sĩ quan Pháp nào đó nóng ruột vì tốc độ quá ì ạch của cuộc tiến quân, mà chỉ còn một quãng ngắn nữa thôi thì vượt hết đường Hàng Đậu, đến dốc cầu Long Biên. Nó xốc lên trước để chỉ huy các cỡ súng to nhỏ của đơn vị nó bắn đè bẹp các tay súng đối phương yểm hộ cho lũ lính dọn đường nhanh chóng. Nó muốn nhanh nhưng một loạt đạn tiểu liên tôm-xơn của tổ tự vệ từ nhà số 19 hắn ra, xe nó loạng choạng đâm sầm vào căn nhà bên dẫy số chẵn, gần ngã tư Nguyễn Thiệp Hàng Đậu. Không ai biết được xe này có mấy tên địch, số phận của chúng ra sao. Vì trời tối, địch bắn mạnh, khó quan sát. Lát sau một xe bọc thép đã xộc tới đỗ sát cạnh. Địch dồn xe lên bắn tới tấp vào các cửa nhà hai bên đường Hàng Đậu. Chúng chỉ dùng hỏa lực bắn phá chứ không dám xông vào một nhà nào. Nhưng tình thế trở nên gay go khi một cánh quân khác của địch từ trên phía Yên Phụ vượt qua được trận địa ngăn chặn của tự vệ Bến Nứa, đến đầu đường Hàng Đậu. Chúng xông lên cầu Long Biên, chiếm ga xe lửa đặt pháo 20 ly, trung liên 12 ly 7 khống chế cả khu vực, uy hiếp phía sau lưng trận tuyến của ta ở phố Hàng Đậu. Chúng dàn 3 xe bọc thép bắn phá nát nhừ ngôi nhà số 1 Hàng Đậu, tầng trên, tầng dưới cửa vỡ toang hoàng. Nhưng từ trong súng vẫn bắn ra, lựu đạn vẫn ném ra. Các chiến sĩ Vệ quốc quân và tự vệ đánh bật nhiều đợt xung phong của địch và chỉ chịu rút về phía sau khi không còn điều kiện trụ bám nữa. Ta bỏ trống vị trí song vẫn bắt địch phải trả giá thêm. Một quả mìn gài ở hõm cây bên cổng ra vào nổ tung khi chúng vừa lao tới, gào thét "a-lô-xô". Hà Nội vùng lên mãnh liệt trong đêm 19 tháng 12, phá tung thế trận đánh úp mà các tướng tá Pháp đã bỏ nhiều công phu dàn dựng, xây đắp và đặt vào đấy nhiều hy vọng. Cả Hà Nội không ngủ trong đêm đầu kháng chiến. Cột điện, cây cối vặn mình đổ rầm rầm. Tiếng choòng, tiếng cuốc bổ xuống mặt đường nhựa đào bật đất đá lên. Tiếng xe bò chạy long xòng xọc chở đất, cát, gạch, gỗ, sắt. Người già, người trẻ, đàn ông, đàn bà cùng nhau đẩy những toa xe điện, xe ô tô ra các đầu đường, hò nhau lật đổ. Người ta khuân bàn ghế, hòm tủ, đưa ra mặt đường làm chướng ngại, làm nắp hầm nắp hào giao thông. Nồi, niêu, xoong, chảo, chậu, thùng, thúng mủng... tất cả những đồ dùng ấy đều được huy động, đưa ra làm bãi mìn. Chỉ một đêm Hà Nội biến dạng hẳn, thành một chiến trường. Liên Khu I - Hà Nội, bị địch chiếm mất một số đường phố: Hàng Đậu, Tràng Thi, Hàng Khay. Tràng Tiền... bị bao vây, chia cắt ngay trong đêm đầu kháng chiến này, nhưng đã biến thành một trận địa phòng ngự mà kẻ địch không dễ gì phá vỡ được. Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp choáng váng. Mới cách đây vài ngày, sáng ngày 17, tướng Va-luy bay đến Hải Phòng họp tướng lĩnh, thúc dục Moóc-lie đẩy mạnh các hành động lấn át, nhưng cần khôn ngoan, vừa lấn át vừa xoa dịu để khoảng một tháng nữa đây, đến trung tuần tháng giêng 1947, khi có thêm quân tăng viện, sẽ thẳng tay dùng biện pháp cứng rắn. Va-luy cầm chắc sẽ chiếm được Hà Nội nhanh gọn, như chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn. Thế nhưng, cả đêm 19 này, tại đại bản doanh ở Sài Gòn, viên tổng chỉ huy này thức trắng đêm vì những tiếng kêu cứu của những đám quân Pháp đóng ở Hà Nội rồi Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng... Người Việt Nam đã quyết tâm kháng chiến. Rõ ràng một trận đánh úp Hà Nội, cái kế hoạch về một hành động mãnh liệt đánh tan rã lực lượng quân sự Việt Minh vô hiệu hóa chính phủ Hà Nội, thế là tiêu tan. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 09:52:49 pm CHƯƠNG IV TỪNG BỜ TƯỜNG, GÓC PHỐ Ai cũng đoán rằng một khi đã nổ súng thì với địch Liên khu I - Hà Nội sẽ là mục tiêu hàng đầu. Chúng phải dồn sức đánh chiếm ngay, nhanh chóng kiểm soát khu vực trung lâm thủ đô đông người, nhiều của, có nhà máy điện, máy nước, có đầu mối giao thông nối liền với sân bay Gia Lâm ở bên kia sông Hồng. Và quan trọng hơn cả, về chính trị nơi đây tập trung các cơ quan chủ yếu của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, của thành phố Hà Nội. Trên thực tế, tình hình đã diễn biến đúng như vậy. Mặt phía đông. Bên ngoài đê, trên dải đất ven sông Hồng từ cầu Long Biên xuống đến giáp bến Phà Đen là khu Long Biên, nơi cư trú của những người lao động, san sát nhà tranh vách đất, vách nứa; nhà gỗ, nhà gạch mái ngói, mái tôn chỉ loáng thoáng đôi nơi. Suốt đêm 19 tháng 12. tự vệ Long Biên vượt đê vào trong thành phố tham gia đánh địch ở Nhà máy nước đá, Nhà Mi-sô, Nhà Xô-va, vị trí đầu cầu... Đến sáng ra, trở về khu vực nhà mình, ai nấy hướng cả ra phía đông chuẩn bị đối phó với thủy quân địch. Chúng có một đội thuyền chiến cắm neo ở dưới phà Đen. Nhưng địch không đến từ mạn sông mà từ trên trời đánh xuống. Những chiếc máy bay vận tải Đa-cô-ta lượn vòng ném những thùng xăng, rồi những chiếc khu trục Hen-cát nhào xuống bắn đạn lửa. Cả khu Long Biên phút chốc biến thành biển lửa. Gió cuốn tro bụi bốc cao hàng trăm mét. Một vùng trời tối sầm lại. Hàng nghìn con ngươi phút chốc, không còn hạt gạo, manh chiếu. Suốt ngày 20 tháng 12, các nhân viên trong ủy ban kháng chiến Long Biên (bắt đầu từ lúc nổ súng tối 19-12, Ủy ban bảo vệ các cấp đổi tên là Ủy ban kháng chiến), các đội cứu thương, đội tiếp tế phải xông vào trong biển lửa rừng rực tìm cứu những người bị thương tổ chức cho đồng bào tạm lánh vào trong phố, vào khu Đông kinh nghĩa thực, tập trung ở đình Phát Lộc rạp hát Tố Như, gửi nhờ các nhà phố Mã Mây, Hàng Bạc .. Cả khu Long Biên thành một bãi cháy bị uy hiếp từ nhiều phương, nhiều hướng, không còn khả năng bám trụ nữa. Tối hôm ấy, Ủy ban kháng chiến Long Biên nhận được chỉ thị của Ủy ban kháng chiến Liên khu I: - Củng cố lực lượng tự vệ, tổ chức thành một đại đội sát nhập vào khu Đông kinh nghĩa thục. - Ổn định cho đồng bào ăn, ở và tổ chức đưa ra ngoài hậu phương vào ban đêm, theo đường bãi ven sông Hồng, qua gầm cầu Long Biên lên Nghi Tàm, Chèm. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 09:54:10 pm Mặt phía Tây
"Ở đây nó chỉ nhảy một bước là đến trước mặt ta". Đó là nói về khoảng cách quá ngắn giữa tuyến đầu của khu Đông Thành với nơi tập trung đông quân nhất của địch là thành Hà Nội. Tối 19 tháng 12, chỉ mười lăm phút sau khi điện tắt toàn thành nổ súng kháng chiến, quân Pháp đã xộc tới chợ Hàng Da, có thể gọi là giữa khu Đông Thành. Chúng xả súng bắn vào hiệu sơn Dếch-cô (Secko), rạp chiếu bóng Ô-lanh-pi-a (nay là rạp hát Hồng Hà), vào các ngôi nhà ở đầu phố Hà Trung, Ngõ Trạm, Nguyễn Trãi (nay là Nguyễn Văn Tố). Chúng đốt chợ Hàng Da để quan sát tìm các vị trí đặt súng của ta. Cả khu chợ bốc lửa. cháy sáng rực. Nhưng chính nhờ có ánh sáng này mà các tay súng của ta, lần đầu tiên xung trận, nào bỡ ngỡ, nào hồi hộp, đã nhìn thấy rõ địch hơn, nhanh chóng trấn tĩnh tinh thần, bắn có kết quả. Đến 23 giờ, địch rút lui với 7 tên chết và bị thương. Mờ sáng hôm sau, tiếng súng lại vang lên cùng với tiếng gầm rú của xe cơ giới. Quân địch có xe tăng đi trước, tiến qua các phố Hà Trung. Ngõ Trạm, Nguyễn Trãi giàn đội hình trước bãi chợ Hàng Da. Chúng chiếm nhà thờ Tin lành, từ đó đặt trọng liên 12 ly 7 và súng cối bắn liên tục vào hai vị trí của ta ở nhà Dếch-cô và rạp Ô-lanh-pia. Nhưng hướng đánh của chúng là phố Hàng Điếu. Ba chiếc xe tăng xe thiết giáp tập trung hỏa lực công phá cái chiến lũy chắn ngang đầu phố này mới hoàn thành trong đêm qua. Ở đây ta có một tổ Vệ quốc quân, có bom ba càng. Một chiến sĩ lao vút ra đánh. Anh đâm bom vào ngang sườn xe địch. Bom không nổ. Anh xoay mình lấy đà đâm lần thứ hai. Vẫn không nổ, bom thối. Nhờ đó. những tên lính địch ở trong xe trấn tĩnh lại được, xả đạn vào anh. Tự vệ Hàng Điếu không ai biết tên anh, nhưng chẳng ai quên được hình ảnh dũng mãnh của anh, hai lần đâm bom vào xe tăng địch. Anh ngã xuống và lập tức các chiến sĩ tự vệ bật dậy. Phố Hàng Điếu có nhiều cửa hàng đóng giầy, dép nổi tiếng, có nhiều krếp vụn, cao-su vụn dành cho tự vệ làm những chai xăng-krếp. Họ đã dùng thứ vũ khí tự tạo này đánh cháy một xe bọc thép của địch. Phố Hàng Điếu nối liền với phố Hàng Gà. Cùng với cánh quân bị chặn đứng ở cuối phố Hàng Điếu địch có một cánh quân nữa đánh vào Hàng Gà, nhẳm hai điểm: nhà Si-mô-mu-ra một hãng buôn của Nhật kiều ở góc đường Hàng Gà - Cửa Đông và chùa Thái Cam ở góc đường Hàng Gà - Hàng Vải. Chúng chiếm được nhà Si mô-mu-ra vì có lợi thế mặt đường Cửa Đông rất rộng, xe bọc thép dàn bộ binh đến tận mục tiêu. Nhưng chúng không bén mảng được tới gần chùa Thái Cam, do đường Hàng Vải chật hẹp, xe tăng không dám xông xáo. Mấy lần bộ binh lao lên đều bị tự vệ Hàng Gà đánh bật trở lại. Ngày 21, địch chiếm được chùa Thái Cam. Ngày 22, địch tiến công nhà Ô-lanh-pia. Tự vệ Hàng Da do đội trưởng Phùng Như Hùng và đội phó Nguyễn Viết Phương chỉ huy đánh trả rất quyết liệt. Khẩu trung liên Hốt-kít trong tay anh Lê Dưỡng, người bán vé của rạp chiếu bóng này, đặt từ ụ súng ngầm chính giữa cửa ra vào, quật ngã nhiều địch. Cùng ngày, tự vệ Hà Trung đi "săn tây" rình được một tốp lính địch mò vào các ngôi nhà bỏ trống để kiếm ăn, họ bắn chết hai tên. Ở mặt phía tây Liên khu I, ta và địch cách nhau chỉ một mặt đường nên phong trào săn tây phát triển sớm nhất, bắt đầu từ tiểu đội tự vệ giữa nhà Ô-lanh-pi-a, từ trưa ngày 20. Hôm ấy chiếc xe tăng đỗ ở trước nhà thờ Tin lành liên tục bắn vào vị trí của địch. Họ căm tức có nhiều chai xăng-krếp, có cả bom ba càng mà chẳng làm gì được nó. Một người nêu ý kiến: "trị tội bọn lính xe tăng, rình lúc chúng nó thò đầu lên khỏi tháp pháo, hoặc là thế nào cũng có lúc chúng nó chui ra ngoài vỏ thép, ngồi lâu trong xe chật hẹp đứa nào chịu được mãi?". Mọi người tán thành. Và họ rình mỏi mắt mới chộp được cơ hội. Lính địch bỏ ra khỏi xe tăng, đứng khuất phía sau xe, vươn vai, vặn lưng. Một tên vừa đi vừa vặn mình vượt ra ngoài phạm vi che chắn của xe tăng. Anh em tự vệ nhằm nó thật kỹ, ba bốn khẩu súng cùng bám vào nó. Rồi người chỉ huy hô lệnh bắn, y như bắt nhịp một bài hát: "hai... ba". Các nòng súng đồng loạt nhả đạn, tên địch đang vặn mình gục ngay tại chỗ. Tin "săn tây" từ Hàng Da truyền nhanh sang Hàng Điếu, Hàng Gà, Hàng Phèn… tự vệ các phố đưa nhau bám sát các vị trí địch, các đường đi lối lại của địch rình cơ hội nổ súng. Phố Cửa Đông, một đầu ngõ ra vào thành Hà Nội, nhiều xe địch đến đây bị trúng đạn. Địch đối phó lại bằng cách tuần tra, lùng xục các ngôi nhà ngõ hẻm chung quanh. Nhưng những viên đạn từ Hàng Phèn, Hàng Bút vẫn bắn tới. Cuối cùng, chúng trồng cột ngang đường Cửa Đông rồi chăng dây, căng chiếu làm một tấm màn che mắt các tay súng của ta. Thật lắm công phu, mà chỉ một mồi lửa là tan biến hết, địch cũng biết thế, song vẫn buộc phải làm. Ta đốt -đi rồi chúng lại đem chiếu khác ra căng, cứ tối đến chúng phun nước cho chiếu ướt sũng để ta khó đốt. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 09:54:49 pm Mặt phía bắc
Ngay trong đêm 19 tháng 12, quân Pháp chiếm được đường Hàng Đậu và cầu Long Biên, cắt rời hai khu Trúc Bạch và Hồng Hà ra khỏi địa bàn Liên khu I. Thế là khu Đồng Xuân trở thành tiền tuyến phía bắc. Ngày 20, khu Đông Xuân yên tĩnh mãi đến mãi quá chiều mới có vài chục tên mũ đỏ thọc vào phố Hàng Giấy. Tự vệ nổ súng tới tấp nhưng chẳng kết quả gì, phần vì bắn chưa thạo, súng trường lại giật mạnh, phần vì hồi hộp vội vàng, khi địch sắp vào đến cuối phố chính trị viên Nguyễn Đình Cơ ra lệnh cho anh em chuẩn bị lựu đạn, pháo ném, đồng thời cho nổ một bánh pháo ở trong thùng sắt tây, giả làm tiếng súng máy. Bọn địch lúc đầu chỉ nghe tiếng súng trường của ta nổ rời rạc thì coi thường, đến khi thấy tiếng nổ rền, tưởng là ta bắn súng liên thanh liền chùn lại. Địch bị mắc lừa, các chiến sĩ ta bồi tiếp một đợt pháo ném nổ ran, và hò reo xung phong khiến cho chúng càng thêm bối rối, xô nhau tháo lui. Ngày 21, khu Đồng Xuân vẫn yên tĩnh. Rõ ràng là ở Hà Nội địch lúng túng phải đối phó với quân dân ta ở nhiều nơi, nhiều hướng nên tại mặt bắc này của liên khu I, chúng chỉ có quân để rải ra giữ đường giao thông huyết mạch, đường Hàng Đậu - cầu Long Biên chứ chưa có khả năng tấn công mở rộng phạm vi chiếm đóng. Trước tình hình đó, Ủy ban kháng chiến chỉ thị cho các lực lượng vũ trang trong khu phải tranh thủ thời gian xây dựng trận địa phòng ngự, đào hào giao thông, đồng thời phải chủ động đánh địch, không chờ địch đến, tìm địch mà đánh. Ngày 22. đồng chí Đỗ Tấn, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu Đồng Xuân tập hợp 20 chiến sĩ tự vệ đưa ra đường bờ sông đánh một trận tập dượt. Ở đây, quãng đầu phố Trần Nhật Duật thường xuyên có một tốp xe bọc thép của địch đi lại tuần tiễn tăng cường canh giữ cầu Long Biên. Từ trên tầng gác của hai căn nhà số 6 và số 8, ta nổ mấy phát súng. Địch giật mình bắn lại dữ đội. Ta ở trên cao, có lợi thế, thỉnh thoảng bắn một vài phát buộc địch phải đáp lại. Nhưng rồi sau khi địch phát hiện được đúng nơi ta bố trí thì ta lại bị bất lợi. Chúng nã đại liên, pháo 20 ly rung nhà. rung của. Mấy chục con người trong hai căn nhà nhỏ hẹp chật chội phải rút thật nhanh, tránh khỏi nguy hiểm. Trận đánh không kết quả về mặt tiêu diệt sinh lực địch, tuy nhiên các chiến sĩ tham gia trận lập dượt này đều rất phấn khởi vì chẳng phải họp bàn kiểm điểm lâu la, ai cũng thấy ngay là: đánh thế này thì cần gì phải đi đông, chỉ cần vài ba người thôi, dễ luồn lỏi, di chuyển, vào thật gần, dí súng tận gáy địch mà nổ cò thì chẳng bắn trệch đi đâu được nữa. Tối hôm đó, tự vệ Hàng Cót, Hàng Lược, Hàng Gỉấy kéo nhau đi phục kích ở đồn Công an Hàng Đậu, vị trí bỏ trống từ giữa đêm 19. Lực lượng sử dụng đi trận đến bốn chục người lần mò trong đêm tối, chui qua các lỗ tường mới đục còn rất hẹp nên đi rất chậm, xuất phát từ chợ Đồng Xuân lúc chập tối, đường đi chỉ một quãng ngắn, vài trăm mét mà phải mất 3 tiếng đồng hồ mới ra đến địa điểm dự định. Cũng vừa bay, lúc đó một lốp 4 xe địch bò qua, họ ném lựu đạn và chai cháy, đánh được một xe đứt xích, cháy rừng rực. Trận đánh có kết quả. Nhưng phí sức, thực ra chỉ cần một tổ bốn, năm người. Ngày 23, khu Đồng Xuân vẫn yên tĩnh, giữa trưa, đội trưởng tự vệ Hàng Đậu, đồng chí Thư Chương cùng hai chiến sĩ họp thành một tổ chiến đấu ra đầu phố Trần Nhật Duật tìm đánh địch. Họ bố trí trên gác Nhà nước mắm Vạn Vân bắn mấy phát đạn tiểu liên vào lũ địch ngồi trên chiếc xe bọc thép án ngữ đầu dốc Hàng Khoai. Địch có thể nhanh chóng phát hiện được tiếng súng từ ngôi nhà nào bắn ra. nhưng từ lỗ tường nào, hay từ khe cửa sổ nào của ngôi nhà ba tầng ấy thì không thể đoán ngay được, và chúng bắn bừa bãi vào tất cả những điểm nghi ngờ. Trong khi đó anh em ta đã chuyển sang ngôi nhà khác, cách đầu súng qua khe cửa liếp tục nhả đạn. Ngày 24, khu Đồng Xuân rền vang tiếng súng. Tự vệ các phố trên trận địa bắc Liên khu thi nhau đánh quấy rối địch. Chiều hôm ấy một xe tăng địch từ đường Hàng Đậu xộc vào đến giữa phố Hàng Giấy bắn phá lung tung một lúc. Nó vào bất thần và rút đi cũng vội vã. "Địch thăm dò đấy", các chiến sĩ ta phán đoán như vậy. Quả nhiên, hôm sau địch đánh vào Hàng Giấy. Chúng chiếm nhà Hoa Nam. Nhưng ta phản công quyết liệt địch phải rút ngay, bỏ lại một xác chết bên lề đường. Ngày 26, địch đùng một lực lượng khá đông đến một đại đội, đánh vào phố Hàng Khoai. Mục tiêu của chúng là chùa Huyền Thuyên. Chiếm được ngôi chùa này, chúng sẽ đặt chân được ngay sát cạnh chợ Đồng Xuân. Trận đánh diễn ra gần một tiếng đồng hồ. Địch vừa lọt vào trong chùa liền bị đánh bật ra ngay. Quân ta ở bên chợ Đồng Xuân đánh sang, tử các nhà trong hai ngô Hàng Khoai đánh ép lại. Địch rút lui kéo theo xác chết và nhiều tên bị thương. Ngày 27, lúc quá trưa, từ đường bờ sông địch đánh vào ngõ Tư Đường. Nhưng chúng cũng phải rút lui. Qua 8 ngày chiến đấu, trận địa phía bắc của Liên khu 1 đã được thử thách. Có một thiếu sót lớn được khắc phục kịp thời, nhờ đó thế trận trở nên vững vàng. Sau đêm 19, phải bỏ đường Hàng Đậu, các đơn vị của ta, Vệ quốc quân, Công an, tự vệ co hết về phố Hàng Khoai, bỏ trống một khu vực rất rộng, nhà cửa sin sít, có nhiều đường ngang, ngõ dọc chật hẹp ngoặt ngèo, lại có đường cầu xe lửa chạy qua mà trên con đường ấy, còn cao hơn cả những nóc nhà một tầng, lính địch có thể từ cầu Long Biên tràn đến đặt súng ở bất kỳ chỗ nào, lúc nào. Thực ra, ta vẫn tổ chức sục sạo, tuần tra trong khu vực này, ra đến tận đường Hàng Đậu nổ súng vào các đoàn xe địch qua lại. Nổi nhất là chiến công của anh thợ nguội Trọng Nghĩa. Hôm ấy, ta mới co về tuyến Hàng Khoai, Nghĩa dẫn một tổ ra hám đường Hàng Đậu quan sát tình hình địch, Công việc xong xuôi, họ bàn nhau đánh một trận phục kích, vì ban ngày, ban mặt, địch chủ quan canh gác lơ là. Và họ đã chộp được cơ hội nổ súng. Một đoàn 5 chiếc xe chạy từ từ như đi đạo phố: 2 xe tăng đi đầu, đến một xe díp rồi một xe tải GMC 15 lố nhố hơn chục linh, cuối cùng là một xe bọc thép. Nghĩa nổ loạt đạn thứ nhất nhằm vào xe díp. Thấy kết quả ngay, cả tên lái xe và tên sĩ quan ngồi bên đều đổ gục xuống, anh liền xoay nòng tiểu liên vào chiếc xe vận tải bóp cò, khi lũ lính trên xe này đang còn nhốn nháo. Trận đánh chỉ chớp nhoáng, với hai loạt đạn ngắn. Địch chết 2, bị thương 3, chiếc xe díp đâm vào bờ hè đổ kềnh bốc cháy. Tuy nhiên, vì cả khu vực bỏ trống, ta mò mẫm được đến Hàng Đậu thì địch cũng có thể bất thần xộc vào đến tận Hàng Khoai, như hôm 27, chúng đã lọt đến chùa Huyền Thuyên. Bởi thế Ủy ban kháng chiến khu Đồng Xuân quyết định đưa lực lượng ra phía trước, lập tuyến đầu bám dọc đường cầu xe lửa mà cái chốt chính của tuyến này là nhà Hoa Nam (49 - 51 Hàng Giấy), ngôi nhà bê tông cốt sắt, ba tầng, kể cả sân thượng là bốn, cao nhất khu Đồng Xuân. Ở đây ta có thể giữ vững được hậu phương, cản phá các cuộc tấn công của địch từ Hàng Đậu, Hàng Giấy, từ cầu xe lửa qua các ngõ Hàng Khoai vào khu vực chợ Đồng Xuân. Ở đây ta uy hiếp được địch ở Hàng Đậu, ở vị trí Ga Đầu cầu và đường cầu xe lửa. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 09:58:48 pm Mặt phía Nam
Đây là khu Hoàn Kiếm. Đánh vào Liên khu I, địch nhằm hướng này. Trong đêm 19, quân Pháp dồn sức tấn công các vị trí của ta trên trục đường từ ngã tư Cửa Nam qua các phố Tràng Thi, Hàng Khay, Tràng Tiền đến Nhà hát lớn, nhà Bác Cổ (nay là Viện bảo tàng lịch sử). Trục đường này cũng là ranh giới phía nam của khu Hoàn Kiếm, của Liên khu I. Có hai trận quyết liệt đẫm máu. Một trận kéo dài gần 5 tiếng đồng hồ diễn ra ở đồn Công an Hàng Trống, đoạn đầu phố Tràng Thi. Trung đội Công an xung phong giữ vị trí này đối chọi với một đại đội địch có hỏa lực rất mạnh, giết được hai chục tên, bắn hỏng bắn cháy 4 xe bọc thép. Nhưng ta cũng bị thiệt hại nặng phải bỏ vị trí. Một trận đẫm máu nữa, tại Nhà hát lớn kéo dài từ nửa đêm cho đến sáng bạch. Trung đội Vệ quốc quân giữ vị trí này bị bao vây các các mặt, đã đánh đến viên đạn cuối cùng, gây cho địch nhiều tương vong. Cả trung đội chỉ có một chiến sĩ sống sót. Sáng ngày 20. địch chiếm xong trục đường huyết mạch Cửa Nam - Nhà hát lớn. Từ đây chúng liên tục tiến công vào khu Hoàn Kiếm. Ngày 20, lực lượng địch có khoảng một đại đội và 1 xe tăng, 8 xe bọc thép, dẫn đội hình từ Nhà băng Đông Dương (nay là Ngân hàng Trung ương) qua vườn hoa Con Cóc (còn gọi là vườn hoa cóc phun) đến khách sạn Mê-trô-pôn (nay là khách sạn Thống nhất). Mở đầu trận đánh lúc 6 giờ 30, địch tập trung các cỡ súng bắn dồn dập vào chính diện khu vực Bắc Bộ phủ gồm có dinh Chủ tịch và Bộ Nội vụ. Tiếp đó, hai xe tăng xông lên hàng rào sắt phía trước dinh Chủ tịch mở đường cho bộ binh xung phong. Ta bắn mạnh, địch không vượt qua được hàng rào, phải kéo nhau lùi về phía sau vườn hoa Con Cóc. 9 giờ, địch tấn công lần thứ hai. Chúng dồn hỏa lực tập trung vào dinh Chủ tịch. Hai xe tăng húc đổ hai đoạn hàng rào xông vào trong sân và theo sau mỗi chiếc xe có khoảng một trung đội bộ binh. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn bình tĩnh bắn chặn địch diệt hơn chục tên và hầu như cùng lúc hai tổ bom ba càng đánh gục cả hai chiếc xe tăng. Nhân đà thắng lợi, ta phản kích mạnh. Địch rối loạn tháo lui. Đến gần giữa trưa, địch tấn công lần thứ ba. Nhưng hàng giờ bắn phá, xông lên rồi lại lùi xuống mấy lần xung phong thất bại, chúng chuyển hướng đột phá, lướt qua bên sườn dinh Chủ tịch, theo dọc vườn hoa Chí Linh, đánh vào nhà Bưu điện nhằm chiếm lấy đó làm bàn đạp thọc sau lưng khu vực Bắc Bộ phủ. Ở đây ta có một tiểu đội vệ quốc đoàn và hơn chục anh chị em tự vệ. Địch lọt vào được, nhưng đến 14 giờ ta lại đánh bật chúng ra. 15 giờ, địch xung phong lần thứ lư. Chúng vượt được qua hàng rào, chiếm dải hào giao thông trong sân dinh Chủ tịch. Địch vào được là do hỏa lực ta yếu dần, đạn dược đã cạn, và cũng lúc này, bộ đội được lệnh lui về tuyến 2, phía sau dinh, giữ hầm nhà Bưu điện. Tuy nhiên không phải thế là trận Bắc bộ phủ đã kết thúc, mà ta đổi cách đánh. Trên đường lên cửa lớn vào dinh Chủ tịch, ta chôn sẵn hai quả bom. Tổ đánh bom chờ cơ hội giật bom nổ đúng lúc quân địch đang reo hò xung phong. Khói bụi tung lên mù mịt, ta không quan sát được thiệt hại của địch, chỉ biết rằng chúng chết lặng đi hồi lâu. Tổ đánh bom lại rình tiếp một cơ hội nữa, giật kíp quả bom lớn đặt ở trong dinh khi quân địch xung phong vào đây. Nhưng bom không nổ. Anh chiến sĩ đánh quả bom này đang tức ứa nước mắt vì những tiếng reo mừng đắc thắng của quân địch từ trong dinh vọng ra thì chính trị viên Lê Gia Định xộc tới: "Để quả bom ấy cho tôi, chúng nó sẽ biết!". Anh nói rất bình tĩnh, rồi một mình xông lên. Tổ đánh bom nhòa nước mắt nhìn người chính trị viên đại đội Bắc Bộ phủ lao vút vào dinh Chủ tịch và chờ đợi một tiếng nổ long trời và sau đó là cái nóc nhà tô lớn đó đồ ập xuống vùi xác quân thù. Nhưng chẳng thấy bom nổ, mà kỳ lạ thay, địch tháo lui tán loạn xô nhau chạy như bị đuổi đánh. Chúng chạy bạt ra ngoài hàng rào, lao qua đường sang bên vườn hoa Con Cóc, cả xe tăng, xe thiết giáp cũng nổ máy lùi ra xa. Thì ra, hành động xung phong quyết tử của Lệ Gia Định đã khiến cho kẻ thù bạt vía kinh hồn. Tiểu đội trưởng Nguyễn Hữu Quế vào trong dinh trinh sát thấy Lệ Gia Định đã tắt thở nằm bên cạnh quả bom lớn. Anh bị trúng đạn khi xông tới quả bom này. Nhưng những kẻ bắn anh đã hốt hoảng tháo chạy có đứa nào dám ngoái cổ trông lại để biết được rằng anh không đập được kíp bom, hoặc đuối sức đập trượt! Địch không dám xung phong nữa. Chúng gọi máy bay. 4 chiếc khu trục Hen-cát kéo đến bổ nhào, bắn phá các hầm của ta ở sân trước, sân sau dinh Chủ tịch. Máy bay địch hoạt động trên bầu trời khu vực Bắc bộ phủ, vườn hoa Chí Linh, Tòa Thị Chính... cho đến lúc sẩm tối. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 09:59:17 pm Ngày 22. lực lượng Vệ quốc đoàn đóng trên địa bàn khu Hoàn Kiếm có hai đại đội của tiểu đoàn 101 đã được sắp xếp lại. Đại đội 1 sau trận Bắc bộ phủ rút vào khu Đông kinh nghĩa thục, tổ chức trận địa trụ bám vững chắc cùng lực lượng tự vệ các phố Hàng Bè, Bắc Ninh (nay là Nguyễn Hữu Huân), Hàng Mắm, Phát Lộc... Đại đội 2 chia làm hai bộ phận, một nửa cũng rút vào khu Đông kinh nghĩa thục, còn một nửa đóng giữ khu vực Tòa Thị Chính.
Sau khi ta bỏ trống Bắc bộ phủ thì khu vực Tòa Thị Chính trở thành đột xuất, mà cả bốn mặt đều là đường rộng, địch có điều kiện phát huy thế mạnh của xe tăng, xe bọc thép. Các chiến sĩ đều thấy hết sức khó khăn, nhưng ai nấy đã có quyết tâm rất cao. Đó là những chiến sĩ Cao Quảng, Hồng Bích, Hồng Quân, Hoàng Đào, Sẻn Chung, An Xỉ... những thanh niên của đất Cao Bằng, những chiến sĩ của trung đội bảo vệ tòa biệt thự của Hồ Chủ tịch ở số 8 Lê Thái Tổ, mới được điều về đây từ đêm 20 tháng 12 để giữ trận địa đột xuất, họ hiểu rõ nhiệm vụ, nhận rõ trách nhiệm: phải chôn địch ở đây, giữ trận địa này được thêm ngày nào thì ở phía sau, ta có thêm ngày ấy, thêm thời gian củng cố khu vực trụ bám của Liên Khu I. Họ quyết tâm đánh một trận khiến cho quân thù phải khiếp sợ, như đơn vị bạn đã đành ở Bắc bộ phủ. Mờ sáng ngày 22, đứng trên vị trí quan sát ở nóc nhà Thị Chính, trung đội trưởng Lưu Đình Quế theo dõi địch vận chuyển lực lượng ở phía đường Tràng Thi, Hàng Khay, Tràng Tiền. Từ trục đường đó, địch chia ra hai cánh quân: một theo đường Đinh Tiên Hoàng bên ven Hồ Gươm, dừng lại trước vườn hoa Chí Linh; một nửa đi thẳng lên Nhà Hát lớn rồi quanh về trước Nhà Băng Đông Dương. Mỗi cánh có ba xe tăng dẫn đầu tiếp theo là 5 xe thiết giáp chở đầy lính. Khu vực Tòa Thị Chính bị uy hiếp ba mặt, nhưng ta nhanh chóng phát hiện được hướng tấn công chủ yếu của địch: phía Ấu trĩ viên (nay là Câu lạc bộ Thiếu niên) địa hình trống trải. Tiểu đội của Hoàng Văn Đào bố trí ở mặt này, nhưng ta dấu kín lực lượng, chỉ có vài khẩu súng trường lên tiếng lẻ tẻ khi bộ binh địch vượt hàng rào. Ta để cho chúng vào sâu trong sân mới nổ súng ném lựu đạn đồng loạt, rồi xông lên đánh bằng đao kiếm. Địch bị bất ngờ, vội vã tháo lui. Sau trận choáng váng này địch phải tốn khá nhiều đạn để yểm hộ cho nhau thu nhặt gần chục xác chết. Đợt hai, địch bắn phá rất dữ dội. Phía mặt trước Tòa Thị Chính, nhiều cửa sổ bị bật tung, tường bị phá thủng một khoảng trống, nhưng bộ binh địch chỉ dập dình sau mấy xe tăng, xe thiết giáp. Mặt này ta có hai tiểu đội bố trí cả tầng trên, tầng dưới, có nhiều tay súng, lợi hại, địch không dám xông vào. Phía Ấu Trĩ viên, địch đánh rất thận trọng. Xe tăng bò đến giáp hàng rào bắn liên tục vào các điểm nghi ngờ có quân ta ẩn nấp. Tiểu đội Hoàng Văn Đào vẫn kiên trì chịu đựng chờ đến lúc bộ binh địch tiến vào sâu mới nhảy ra khỏi hầm ngầm đánh giáp lá cà. Hơn một tiểu đội địch bị diệt, bọn sống sót chạy tán loạn nấp sau xe tăng Đến 13 giờ 10 phút, chúng mở đợt tiến công thứ tư. Một mảng tường Tòa Thị Chính đổ xập. Nhiều cửa gỗ bị đạn lửa bắn cháy. Địch bắn dồn dập kéo dài gần một tiếng rưỡi đồng hồ, rồi kéo nhau đi. Trận đánh kết thúc lúc 15 giờ. Ta thu được 10 súng trường Mỹ và hai khẩu tiểu liên Tôm-xơn. Địch chết và bị thương khoảng 30 tên. Ta có 5 chiến sĩ bị thương và đồng chí Hồng Bích, dân tộc Tày, hy sinh trong khi xung phong đâm bom ba càng vào xe tăng địch. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 09:59:44 pm Ngày 23. Đơn vị Vệ quốc đoàn vừa đánh thắng ở khu vực tòa Thị Chính được lệnh di chuyển ngay về phố Hàng Bông. Theo nhận định của Ủy ban kháng chiến Liên khu I, thì rất có thể là trong ngày 23 tháng 12, địch sẽ đánh vào Hàng Bông, Hàng Gai, mà chủ yếu là Hàng Bông. Đường phố này đang bị uy hiếp mạnh. Ta đã phải bỏ trống giữa phố, nửa phố còn lại có 3 đường cắt ngang (đường Quán Sứ, đường Phủ Doãn và đường Lý Quốc Sư) thì những vật chướng ngại của hai đường Quán Sứ và Lý Quốc Sư lại không bảo đảm ngăn cản được xe tăng địch từ đường Tràng Thi xốc tới. Hơn nữa, địch mới chiếm nhà thương Phủ Doãn, mà từ sau lưng nhà thương này nhảy sang các vị trí của ta như nhà Tân Dân, nhà Adia bên dẫy số lẻ phố Hàng Bông chỉ vài chục bước. Mấy hôm liền, bộ binh địch đã thọc tới ngã tư Quán Sứ - Hàng Bông - Hàng Da. Sáng ngày 21, một tốp lính địch từ nhà thương Phủ Doãn bất ngờ thọc sang một ngôi nhà ở dãy số lẻ Hàng Bông. Đội trưởng tự vệ Khôi Thành và anh Thành, con trai của ông bắn được hai tên.
Cuộc tiến công của địch vào phố Hàng Bông ngày 23 tháng 12 khởi sự từ lúc 3 giờ đêm. Chúng câu đạn súng cối vào các phố Hàng Bông, Hàng Gai... Sáng ra, cánh quân từ phía vườn hoa Cửa Nam tiến rất thận trọng vào đoạn cuối phố Hàng Bông, ở đây không có lực lượng của ta, nhưng đường nhiều cây đổ, xe tăng không vượt qua được nên bộ binh địch không dám tiến sâu. Cánh quân địch xuất phát từ đường Tràng Thi chia làm nhiều mũi theo các đường Quán Sứ, Phủ Doãn, Lý Quốc Sư, Hàng Trống. Trận đánh diễn ra ở nhiều nơi, trên các ngả đường tiến quân của địch. Súng nổ ran cho đến 10 giờ thì giảm dần rồi lại rộ 1ên từ giữa trưa. Địch tăng thêm lực lượng. Thêm nhiều mái nhà của phố Hàng Bông Hàng Gai bị đạn súng cối phá xập. Khu vực bên canh nhà thờ lớn, các phố Ẩu Triệu, Ngõ Huyện, Thọ Xương, Lý Quốc Sư bị địch phun xăng đốt cháy rừng rực. Các đội tự vệ của các phố này đánh chặn rất quyết liệt song không thể hoạt động được trong vừng khói lửa phải dồn dần đến phố Chân Cầm, dựa lưng vào phố Hàng Bông. Đến 14 giờ, địch lọt vào tới Hàng Bông. Nhiều đội viên tự vệ tự động rút lên Hàng Da, Hàng Nón. Nhiều vị trí chiến đấu bị bỏ trống. Tình hình đến mức có thể vỡ trận nhanh chóng. Ông Khôi Thành, người đội trưởng tự vệ có tiếng gan dạ, nổi tiếng bắn giỏi, đã diệt được nhiều địch với cây súng poọc-hoọc của mình, vậy mà đến lúc này cùng mất sắc mặt hồng hào, kêu la: "tôi không còn đủ tinh thần để chiến đấu nữa. Nguy ngập lắm rồi!". Ông thành thực bộc lộ với anh Vệ quốc quân Lưu Công Hùng, người mới được cử đến phố này giữ nhiệm vụ chính trị viên "Bác hãy bình tĩnh, phải bình tĩnh!", chính trị viên Hùng giao trách nhiệm cho ông đội trưởng tự vệ phố Hàng Bông dẫn một tiểu đội Vệ quốc quân ứng cứu, trấn vào những vị trí vừa bị bỏ trống. 16 giờ, địch dồn sức đánh vào nhà A-đi-a ở góc đường Phủ Doãn - Hàng Bông. Mục tiêu chính của chúng trong cuộc tiến công là ngôi nhà khách sạn ba tầng này... Ba chiếc xe tăng bắn nát, phá tung các cửa sổ, các cửa bày hàng của nhà A-đi-a. Bộ binh địch xung phong mấy lần đều bị đánh bật trở lại. Cuối cùng một chiếc xe tăng tiến đến trước cửa ra vào, vừa bắn vừa lao vào phá xập cửa. Tổ chiến đấu của đồng chí An Xỉ dùng lựu đạn và chai xăng krếp đốt cháy chiếc xe này. Cùng lúc đó, từ trên gác, các chiến sĩ ta ném lựu đạn và chai xăng krếp, tạo thành một hàng rào lửa vây quanh hai mặt nhà khách sạn. Quân địch không dám xông vào lửa, song khói xăng đen kịt tỏa khắp các căn buồng tầng 1 nhà A-di-a, ta phải lùi vào phía sau, nên địch đã kéo được chiếc xe tăng đi. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 10:00:38 pm Ngày 24, Hồ Gươm ở chính giữa, chia khu Hoàn Kiếm thành hai tiểu khu hầu như tách rời nhau. Tiểu khu I ở phía đông hồ Gươm, nơi tập trung các cơ quan của Trung ương và của Hà Nội cũng là nơi địch cắm sẵn nhiều vị trí lợi hại, những bàn đạp quan trọng của kế hoạch đánh úp thủ đô.
Tiểu khu I là trọng điểm tiến công của địch từ hôm 19. Đêm ấy, chúng chiếm Nhà Hát lớn. Ngày 21, chúng chiếm được khu vực Bắc bộ phủ, Ngày 22. chúng đánh Tòa Thị Chính, một trận đẫm máu. Ngày 23, chúng chiếm được Tòa Thị Chính rồi đánh thốc qua Nhà đèn Bờ Hồ, Sở Thủy Lâm đến phố Lò Sũ. Sáng ngày 24, trên địa bàn Tiểu khu I - Hoàn Kiếm, ta còn giữ hai vị trí: Tòa án Hàng Tre và sát ngay đó chỉ cách một đường nhỏ hẹp của phố Lò Sũ là Sở Giao thông công chính (nay là Bộ thủy lợi). Nhưng ta chỉ cầm cự được với địch cho đến chiều tối thì phải bỏ hết. Bên Tòa án Hàng Tre, ta có một tiểu đội Vệ quốc quân với một số tự vệ phố Hàng Vôi nhưng bị đánh bất ngờ, chỉ cầm cự được chốc lát rồi phải phân tán rút lui. Ngược lại, lực lượng ta ở bên Sở Giao thông Công chính do trung đội trưởng Bùi Quý Quận chỉ huy, cũng tương đương như ở Tòa án Hàng Tre, cũng bị địch bao vây khống chế bốn bề, nhưng chặn được địch rất lâu ở ngoài vị trí nên gây được cho chúng nhiều thiệt hại, Khi địch lọt vào rồi, ta lại bắt chúng trả giá ở từng căn phòng, từng nhà. Cuối cùng trời tối ập xuống, địch chưa kiểm soát được mọi ngóc ngách của tòa nhà nhiều buồng, nhiều tầng này, phải rút ra. Nhưng ta cũng không chiếm lại nữa. Trận đánh quyết liệt nổi lên nhiều tấm gương chiến đấu cảm tử: Tiểu đội trưởng Luân hy sinh khi khẩu súng trong tay không còn một viên đạn. Những người dự trận nói rằng: "hôm nay ít nhất cũng phải có hai chục thằng giặc gục ngã trước mũi súng của anh Luân". Một Vệ quốc quân nữa cũng thuộc đại đội Bắc Bộ phủ với anh Luân. cũng đánh đến viên đạn cuối cùng. Tên anh là Khoát, bắn hết đạn, anh chui xuống hầm ẩn nấp chờ đêm tối sẽ tính sau. Bị địch phát hiện anh lần sâu trong hầm. Chúng gọi hàng, anh lặng thinh. Chúng ném lựu đạn nhưng mảnh đạn không tới, chỗ anh đứng khuất, tối đến, thấy im ắng. anh ra khỏi nơi ẩn nấp, vượt tường tìm về đơn vị với khẩu súng hết đạn. Không thông thuộc đường phố Hà Nội nên chỉ có vài trăm mét mà anh đi quanh quanh thành chục cây số. Lần mò trong đêm tối, gặp một dòng người chuyển động im lặng, anh nhập vào, đi mãi đến lúc qua gầm cầu Long Biên mới biết rằng đây là dòng người dân phố tản cư ra hậu phương. Nhưng còn biết làm thế nào nữa, anh đành tiếp tục đi theo lên đến Quảng Bá, Tứ Tổng để rồi đến đêm sau cùng trở vào Liên khu 1 với anh chị em giao thông liên lạc của đội du kích Hồng Hà Đêm 24 rạng ngày 25. Ta tập kích nhà tướng Moóc-li-e ở ngã ba đường Hàng Trống - Nhà thờ lớn, Các chiến sĩ Vệ quốc quân, tự vệ chiến đấu, công an xung phong, tự vệ thành tham dự trận này đều chưa ai từng có một lần đánh tập kích, kể cả người chỉ huy là trung đội trưởng Anh Dũng. Tuy nhiên mọi người đều náo nức, tin rằng sẽ làm nên chuyện. Số người được chọn đã nhiều, nhưng khi xuất kích thì lại có hàng chục người cũng đeo lựu đạn, xách kiếm lần đi theo, họ biết, trong nhà Moóc-li-e có một trung đội địch ở tầng trên, tầng dưới, ở các ụ súng xếp bằng những bao tải đất đặt rải rác quanh vườn, mạnh nhất là ụ súng trước cổng ra vào, có đại liên quét dọc đường phố Nhà thờ và đường Hàng Trống. Không ai coi thường súng đạn. Song họ tin rằng đánh được vì họ rất thông thuộc địa hình. Phía sau nhà Moóc-li-e là đường Lê Thái Tổ, ven bờ hồ nhiều cây to, ta có thể bí mật đến gần, nhảy qua tường vào trong sân. Phía bắc là một biệt thự bỏ trống, từ phố Bảo Khánh vào ẩn trong biệt thự này rồi bất thần vượt tường rào sang sàn nhà Moóc-li-e, không khó khăn gì lắm. Bí mật, bất ngờ, xung phong mạnh là có thể nhanh chóng thành công... Trận đánh lúc đầu diễn ra gần khớp như dự kiến: - 19 giờ 45, ta chiếm lĩnh trận địa. Thỉnh thoảng địch nổ một tràng súng mảy có kèm đạn lửa, lúc bắn ra phía Hồ Gươm, khi bắn về phía phố Bảo Khánh. - Đúng 20 giờ 30, có lệnh phát hỏa. Một loạt trung liên nhả đạn bắn thẳng vào ụ súng ở cổng nhà Moóc-li-e. Đồng thời các tổ đột nhập vượt lường, các phía vang rộn tiếng xung phong. Địch bị đánh bất ngờ, lúng túng trở tay không kịp. Ta chiếm được tầng dưới nhà Moóc-li-e. Nhưng đến đây thì tình thế đảo ngược: địch có hầm ngầm mà ta không biết, không chuẩn bị trước nên lúng túng. Từ hầm ngầm, địch bắn ra, từ trên gác địch đánh xuống, toàn ném lựu đạn... Trận đánh kéo dài, nhiều lần ta đánh lên tầng hai nhưng bị hỏa lực địch đồ dồn bịt cầu thang gác không lên được. Địch cố phát huy mọi hỏa lực đánh bật ta ra, nhưng cũng không xong. Quá nửa đêm, địch phải gọi quân ứng cứu. Hai xe tăng dẫn một trung đội từ phía đường Tràng Thi theo đường Hàng Trống tiến rất chậm đến trước nhà Quốc hội (nay là phòng bán vé máy bay dân dụng ở góc phố Hàng Trống - Lê Thái Tổ) thì bị chặn đứng. Xe tăng địch sợ bị đánh bom ba càng phải lùi lại, còn bộ binh địch vì không có xe tăng đi kèm cũng không dám tiến lên nữa. Giữa lúc này ở trong nhà Moóc-li-e quân ta được tiếp tế vũ khí đã mở một đợt tiến công mới. Ta dùng xăng đốt hầm ngầm vả cầu thang gác. Lửa cháy sáng rực Nhưng rồi ta vẫn không đánh lên gác được. Trận đánh kết thúc lúc 4 giờ 30 ngày 26 tháng 12. Ta thu được ba khẩu súng trường, 4 tiểu liên. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 10:01:35 pm Những ngày 27, 28. Khi ở bên kia, địch đã chiếm được Sở Thủy lợi, sở Giao thông công chính, Tòa án Hàng Tre, thì ở bên này, ở phía tây Hồ Gươm, khu vực Bảo Khánh, Hàng Trống, Hàng Hành trở thành đột xuất. Sáng 27, lực lượng tự vệ các phố này đánh bật được một cuộc tiến công của địch. Nhưng đến chiều, do ta chủ quan sơ hở, địch lọt vào sâu mới biết, đồng chí chỉ huy bị trúng đạn ngã gục ngay khi vừa được báo tin "có địch". Thế là rối loạn, vỡ trận.
Địch chiếm được khu vực Bảo Khánh, Hàng Trống, Hàng Hành lúc xế chiều xẩm tối 27. Chúng phun xăng đốt nhà mở đường chuẩn bị đánh sang Hàng Gai. Sáng 28, các chiến sĩ ta đóng trên tuyến Hàng Gai thức dậy rất sớm, phải thắp nến để ăn cơm. Tại nhà chị Lợi, ngôi nhà ba tầng kiên cố bậc nhất của phố Hàng Gai, bên dãy số lẻ, anh em đang uống nước, hút thuốc, nghe đồng hồ quả lắc treo tường vừa đánh chuông báo 4 giờ 30 thì một tiếng nổ như tiếng sét: đạn pháo địch nổ trên tầng ba. Rồi cứ thế, liên tục, lúc thưa, lúc mau, địch bắn pháo, bắn súng cối rải dọc hai dẫy phố Hàng Gai. Nhiều mái nhà đổ sụp. Một số nơi bốc cháy. 6 giờ 30, lại một trận bắn phá nữa, dữ dội hơn. Pháo địch đặt ở Bờ Hồ, chỗ nhà Thủy tạ nhằm vào các nhà cao tầng bên dãy số lẻ. Rồi từ phố Bảo Khánh từ ngõ Hàng Hành, bộ binh địch luồn qua các ngôi nhà đổ, nhà cháy, đánh thọc vào quãng giữa phố Hàng Gai. Lực lượng của ta đóng giữ phố Hàng Gai khá mạnh. Tuyến 1, bên dãy nhà số lẻ là đơn vị Vệ quốc đoàn, có 5 tiểu đội. Đơn vị này do trung đội trưởng Lưu Đình Quế chỉ huy đã chiến thắng ở Tòa Thị Chính ngày 22, và ngay sau đó lại chống chọi với địch một trận nữa, giữ vững đoạn trận địa ở cuối phố Hàng Bông. Tuyến 2, bên dãy nhà số chẵn là đơn vị hỗn hợp tự vệ chiến đấu, công an, tự vệ các phố Hàng Gai, Hàng Trống, Bảo Khánh, Tô Tịch. Người chỉ huy là Anh Dũng, trung đội trưởng tự vệ chiến đấu. Ta đánh lui tất cả các đợt tiến công của địch từ sáng đến trưa ngày 28, Một số tay súng lợi hại xuất hiện trên chiến tuyến, nổi nhất là anh học sinh trung học Lương Vị, mới tuổi 17. Tự vệ Hàng Gai ai cũng biết tài bắn các bin của Vị, cái chai Văn Điển đặt trước mặt, cách bốn năm chục mét, anh chỉ nheo mắt, gõ một phát là thành vụn thủy tinh. Nhưng cho đến sáng ngày 28 nảy, đã bao nhiêu người có thành tích bắn Tây rồi, còn anh thì chịu cái tiếng không hay "bắn trượt hết". Mấy hôm trước địch chạy đi chạy lại lông nhông trên ngã tư Hàng Bông - Lý Quốc Sư - Hàng Mành, từ cuối phố Hàng Gai bắn sang khoảng cách không đến trăm mét, anh nổ súng dồn dập không được viên nào trúng địch. Vi sao vậy? Mới đầu, Vị rất hoang mang, mất tự tin. Sau, anh tự tìm ra nguyên nhân: hồi hộp, hấp tấp trước những mục tiêu không phải là cái chai, cái cọc gỗ hay con chim, con vịt giời. Vào trận hôm nay, Lương Vị thành công ngay, Từ cuối phố Hàng Gai nhìn chéo sang Hàng Trống, anh bình tĩnh, thận trọng bám chặt lấy một tên địch thập thò nấp sau cái thùng xe chở rác mà ta lật nghiêng làm vật chướng ngại. Anh hạ được nó bằng một viên đạn. Rồi đến trưa thì suốt dãy số chẵn của phố Hàng Gai xôn xao với cái tin "Vị bắn được một đống Tây ở trong nhà Rếch". Đó là hiệu may âu phục REX. Địch đặt mìn phá tung cửa, ném lựu đạn. Cả căn buồng rộng mịt mù khói bụi. Cách một mảnh sân nhỏ. lại một buồng nữa, có lỗ thông tường sang các nhà hai bên. Vị gan góc ngồi lì ở đây chờ đợi, thế nào cũng có đứa sẽ xông vào. Và anh đã giật thót mình khi bụt khỏi loãng ra. Không phải một vài tên địch mà tám chín cây thịt to lớn lừng lững ngay trước mắt. Anh cố trấn tĩnh, trước hết bắn tên xa nhất còn đang thập thò ở ngưỡng cửa ra vào, dùng xác nó làm vật cản. Khẩu các-bin của anh nổ đôm đốp hết trọn băng đạn các-bin: không tên giặc nào chạy thoát ra khỏi nhà Rếch. Anh bị trúng một viên đạn địch, may mắn thay chỉ cái mũ sắt Nhật bị bẹp một chút. Đến trưa, ta gây cho địch nhiều thiệt hại về sinh lực. Lực lượng ta có công sự ẩn nấp tốt nên ít bị thương vong. Tuy nhiên, trận địa lại bị tàn phá nặng nề, nhiều nhà đổ tường, tung cửa, xập mái, nhiều nhà cháy, tạo ra những khoảng trống. Lại nữa, do tập trung đối phó với địch ở mặt Hàng Gai nên đã mất cảnh giác ở mặt Hàng Bông. Giữa trưa tự vệ Hàng Bông bị đánh bất ngờ, không có lực lượng ứng cứu kịp thời, phải bỏ tất cả các vị trí bên dãy số lẻ (nhà Tân Dân, nhà A-đi-a…) dồn sang bên dãy số chẵn. Và thế là địch mở thêm được một hướng áp tới ngã tư Hàng Bông - Hàng Trống - Hàng Hòm - Hàng Gai. Trận Hàng Gai bước sang giai đoạn quyết liệt lúc 15 giờ 15 phút. Từ đầu phố, cuối phố, địch đánh kẹp lại, từ phố Bảo Khánh, ngõ Hàng Hành, địch thọc vào giữa chính diện. Hiệu thuốc Noóc-man ở cuối phố Hàng Gai và mấy ngồi nhà sát liền đó là vị trí chiến đấu của tiểu đội Hoàng Văn Đào. Mấy lần địch lọt được vào tầng dưới nhà Noóc-man, ta từ tầng trên đánh xuống, từ nhà bên đánh sang, lại giành lại được vị trí này. Cuối cùng địch phun xăng đốt, lửa chảy lan từ nhà này sang nhà khác, ta không chịu nổi, phải lùi một đoạn, rút về giữ đình Hàng Gai, giữa những đống gạch ngói ngổn ngang. Chiếm được nhà Noóc-man, địch có lợi thế tiếp tục đẩy mạnh đà tiến công. Nhằm hướng cây đa cổ thụ bên đình Hàng Gai, súng cối của chúng câu đạn liên hồi. Các tổ chiến đấu của ta dựa vào các căn buồng chưa bị phá xập, chưa bị cháy, kiên trì đánh chặn. Có những tổ bị chia cắt phải chiến đấu độc lập, dè sẻn từng viên đạn, phải dùng gạch ném giả làm lựu đạn. Trong gần một tiếng đồng hồ, ta và địch quần nhau, lấn nhau từng bức tường. Địch chiếm nhà bên này ta giữ nhà bên cạnh. Có chỗ địch ở tầng dưới, ta ở tầng trên. Sau ta có quân tiếp ứng, hai tiểu đội mới đến đang sung sức đánh bật được địch ra khỏi khu vực quanh đình Hàng Gai lúc 16 giờ 35. Mục tiêu chính của địch trong cuộc tiến công náy là nhà Chí Lợi, ngôi nhà cao nhất, kiên cố nhất bên dãy số lẻ Hàng Gai. Hai tầng trên của nhà Chí Lợi bị pháo địch phá toang hoắc từ ban sáng, ta giữ tầng thấp và những ngôi nhà kề bên. Khi địch chiếm được nhà Noóc-man ở cuối phố, thì ở đây chúng cũng tới được đến sát chân tường nhà Chí Lợi, nhưng rồi phải rút lui ngay, để lại gần chục xác chết. Khi địch bị đánh bật ra khỏi khu vực quanh đình Hàng Gai, thì ở đây ta đang gặp khó khăn: nhà Chí Lợi hầu như bị chơ vơ các nhà kề bên bị phá xập tường, tung mái. Các tổ chiến đấu giữ các căn nhà này bị địch tấn công bằng lựu đạn hỏa mù, lựu đạn cay, cả chất cháy nữa, phải rút xuống giao thông hào thoát ra ngoài đường. Trong tình hình đó địch kéo pháo đến gần bắn thẳng vào tầng dưới cùng nhà Chi Lợi. Trung đội trưởng Lưu Đình Quế phán đoán sau đợt bắn phá này địch xung phong. Anh cho một tiểu đội ứng cứu đến chờ sẵn, chờ địch ngừng bắn sẽ leo lên giữ các tầng gác nhà Chí Lợi, phối hợp cùng tiểu đội đang ẩn nấp trong hầm tầng dưới tiêu diệt địch. Nhưng địch hành động nhanh hơn. Chúng lọt vào lặng lẽ chiếm một căn buồng của tầng dưới nhà này rồi, mà anh em ta nấp trong hầm vẫn không hay biết. Cuối cùng, quân ứng cứu phải đánh lạc hướng địch, thu hút địch tạo điều kiện cho đồng đội rút ra khỏi hầm nhà Chí Lợi. Tiếng súng trên tuyến Hàng Gai ngừng lúc 18 giờ. Địch đóng hai vị trí: Nhà Noóc-Nam và nhà Chí Lợi. Giữa hai vị trí địch này ta vẫn giữ khu vực đinh Hàng Gai. Đến nửa đêm, theo lệnh của Ủy ban Kháng chiến Liên khu, quân ta rút hết về bên dãy số chẵn. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2024, 10:02:23 pm Cuối tháng chạp sau mười ngày chiến đấu, trận địa bám của Liên khu I đã hoàn thành.
Phía Nam, từ ngã tư Đường Thành qua Hàng Bông, Hàng Gai sang Cầu Gỗ, Hàng Thùng. Phía Tây, từ ngã tư Đường Thành - Hàng Bông qua Hàng Điếu, Hàng Gà lên Hàng Cót. Phía Bắc, từ Hàng Lược sang Hàng Khoai Phía Đông là đường Bờ Sông, hai đoạn phố Trần Nhật Duật và Trần Quang Khải. Cả khu vực này với những đường phố, ngõ ngách chật hẹp ngoắc ngéo, với hàng nghìn ngôi nhà cao thấp khác nhau, xen nhau như bát úp, nay đã kết thành một khối, biến thành một trận địa phòng ngự kiên cố. hạn chế được uy lực sát thương của bom đạn địch, một loại trận địa đặc biệt phức tạp. Các đầu đường đi vào khu vực này đều đã được bịt kín bết, không chỉ sừng sững một chiến lũy chắn ngang, mà hai ba lớp nối tiếp nhau. Ở đây đường xá không còn là lối đi lối lại nữa, ngổn ngang các thứ vật chướng ngại, chằng chịt những con hào cắt ngang. Đường giao thông bây giờ nằm kín ở bên trong các ngôi nhà, đi ở tầng dưới từ nhà này luồn lỗ đục tường thông sang nhà khác, đi ở tầng trên từ gác nhà này sang gác nhà khác, nếu phải qua đường thì đã có hào giao thông. Cả khu vực trụ bám đã hoàn thành và được tiếp tục củng cố cho ngày thêm vững chắc, tạo thêm khó khăn cho địch, muốn gặm từng miếng nhỏ cùng khó chứ hoàn toàn không thể thọc sâu chia cắt lớn được. Nhưng sự vững chắc của khu vực trụ bám này, yếu tố chính là ý chí, là lòng tin của những con người đã được thử thách, đã thu hoạch được nhiều kinh nghiệm qua mười ngày vật lộn ghìm chân một kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Vững chắc như thế nào? Ta có thể giữ trận địa này được lâu ngày không? Các anh tự vệ Hàng Da, Hàng Điếu trả lời cả quyết: - Thì từ hôm đầu kháng chiến, chúng nó đã thọc vào đây và bây giờ chúng tôi vẫn ngồi ở đây. Chiến lũy của chúng tôi lại cao hơn, dày hơn hôm ấy nhiều, có thể nói vững như tường thành, và quan trọng hơn cả là chúng tôi bắn trúng hơn. Chẳng ngày nào là không có xác địch nằm phơi trên mặt đường trước mắt chúng tôi. Mới đây, một xe díp lao đến phố Đường Thành. Đồng chí Hiệp Hòa nổ phát thứ nhất bắn thủng lốp bánh trước, xe đâm vào vỉa hè, khựng lại. Trên xe có 3 tên địch, thì hai đứa nhanh chân lẩn thoát, còn tên lái xe vướng tay lái lúng túng một tí, liền bị trúng đạn. Hiệp Hòn bắn viên thứ hai, nó ôm bụng đi lào đảo được mấy bước ngã vật xuống. Chúng tôi lấy xăng krếp của hiệu giầy Lâm Thịnh ra đốt xe, thu vũ khí, thu một cặp da có nhiều tài liệu, giấy tờ và một tập ảnh gia đinh Mê-la Sa-vi-ê. Cũng câu hỏi này đặt ra với các anh tự vệ khu Đông kinh nghĩa thục, những người đang giữ một đoạn chiến tuyến chống chọi với những cuộc tiến công dữ dội của địch, vì từ phía Hồ Gươm, phía Nhà Hát lớn đánh lên, toàn đường rộng rãi, có những vườn hoa bãi cỏ rộng, chúng dễ triển khai xe tăng và pháo binh... Các anh trả lời: - Chúng tôi đã được thử thách nhiều lần rồi. Đúng thế đoạn chiến tuyến này đã được thử thách và tỏ ra vững chắc. Ngày 22, một đại đội địch với 2 xe tăng, 2 xe thiết giáp đánh vào chiến lũy ngã tư Lò Sũ - Hàng Dầu. Đội tự vệ Hàng Bồ, Gia Ngư và 2 chiến sĩ Vệ quốc đoàn chiến đấu rất dũng cảm, đánh lui nhiều đợt xung phong của địch. Chúng không phá nổi chiến lũy, lại còn bị thương vong nhiều. Sớm hôm sau. ngày 23, địch lại kéo đến cái chiến lũy hôm qua bị đạn phá trơ cọc sắt, cọc bê tông cốt sắt thì hôm nay lại như con đê sừng sững chắn ngang đường. Chúng tập trung bắn vào các nhà cao tầng quanh đó để yểm hộ cho bộ binh xông lên đặt mìn, phá lũy. Những mặt nhà này chìm trong khói bụi. Nhưng cứ tốp địch nào mò tới gần chiến lũy là lại có tên bị dính đạn của la không biết từ đâu bắn ra, phải khênh nhau quay trở lại. Đến quá trưa, chiến lũy vẫn hiên ngang đứng đó, những ngôi nhà cao tầng bị bắn phá tung cửa sổ, xập mái, thủng tường vẫn gan lì đứng đó lặng thinh. Xe tăng địch không dám vào gần. Chúng sợ những chai xăng krếp từ một ô cửa sổ trống huếch hoác của một nhà nào đó ném ra, nên cứ từ xa chúng dội đạn tới. Không ăn thua gì, chúng đành bảo nhau cút. Ngày 24, xe tăng, xe bọc thép địch lại kéo nhau đến bắn phá chiến lũy đầu phố Hàng Đào, rồi góc phố Cầu Gỗ - Đinh Liệt. Đất, gạch vỡ, vôi cát tung bụi mù mịt cả một khu vực. Chúng đổ đạn hàng giờ mới bóc được cái vỏ ngoài của chiến lũy Hàng Đào, để thấy rõ cái cốt bên trong là hai toa tàu điện nằm chặn ngang đường, và cái cốt bên trong của chiến lũy đầu phố Cầu Gỗ - Đinh Liệt là những khung xe ô-tô, xe bò... rồi yên trí vào uy lực của đạn pháo đã bắn phá tan tành các mặt nhà, các đầu hồi nhà quanh đó nhằm triệt phá những ổ súng lợi hại của tự vệ chống lại sức tấn công của chúng. Tiếp đó, xe tăng ậm ạch tiến lên dẫn bộ binh theo sau. Nhưng chúng có ngờ đâu là anh em tự vệ Hàng Đào và Cầu Gỗ, vẫn gan dạ ẩn nấp trong các hầm hố ở dưới thấp, hoặc trong các ụ súng ở trên cao, kiên trì hàng mấy tiếng đồng hồ, chờ cho chúng đi vào tầm súng của mình, ở đầu phố Đinh Liệt, 7 tên địch đổ một loạt và ngay lúc đó, lợỉ dụng địch đang lúc rối loạn, hàng ngũ chưa kịp cứu nhau, tự vệ Cầu Gỗ xung phong ra đường thu súng địch, rồi lại nhanh chóng biến đi ngay. Vòng quanh trận địa trụ bám của Liên khu I, tất cả các đầu đường đều là chiến lũy, và nhiều chiến lũy đã được thử thách như ở Hàng Đào, Hàng Đậu, Cầu Gỗ. Trận địa trụ bám đã hoàn thành và tiếp tục được củng cố. Tất cả các chiến sĩ đứng trên trận địa này, ba bề bốn bên đều là đất địch chiếm cả. Nhưng ai nấy đều tin rằng: "Nhất định thủ đô sẽ chiến thắng quân thù. Chúng muốn nhanh chóng chiếm lấy Hà Nội rồi đánh tỏa đi các nơi, song chúng đang bị hóc. Trận địa Liên khu I như cái xương nằm ngang họng lũ thực dân, không dễ gì mà chúng móc được xương ra. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Bảy, 2025, 07:40:29 pm CHƯƠNG V TRUNG ĐOÀN LIÊN KHU I - HÀ NỘI Cơ quan lãnh đạo cuộc chiến đấu trụ bám trong liên khu I - Hà Nội, liên khu ủy, có 3 đồng chí. Bí thư Nguyễn Hữu Mai Phó bí thư Lê Trung Toản Đảng bộ Liên khu I có 7 chi bộ với 32 đảng viên (tính đến ngày nổ súng, không kể số đảng viên của tiểu đoàn vệ quốc quân đóng trong Liên khu). Cơ quan tổ chức điều khiển cuộc chiến đấu, ủy ban Kháng chiến do đồng chí Lê Trung Toản làm chủ tịch. Trước ngày nổ súng, những người lãnh đạo, tổ chức chỉ huy cuộc chiến đấu của quân và dân liên khu I, tự đặt ra cho mình một câu hỏi, mà không một ai tự trả lời được. Ấy là: Hồ Chủ Tịch đã dặn "phải cố ghìm địch trong thành phố, ít nhất từ một đến hai tuần lễ" vậy ta có thực hiện được yên cầu tối thiểu này không? Quả khó trả lời, vì so sánh lực lượng quân sự với ta thì địch rất mạnh. Nhưng câu hỏi ấy đã được thực tiễn diễn biến qua ba ngày chiến đấu trả lời. Ta đã tạo ra được những điều kiện căng kéo dàn mỏng lực lượng địch, khoét trúng vào những chỗ yếu của chúng với thế trận "trong đánh, ngoài vây của toàn mặt trận Hà Nội" ta có thể trụ bám không chỉ vài tuần mà lâu ngày trong lòng thủ đô. Ngày thứ 3 của cuộc chiến đấu, Liên khu ủy đề ra một số việc cấp bách: - Tăng cường công tác tổ chức lãnh đạo các đơn vị chiến đấu. Động viên nhân dân góp sức xây dựng, trận địa cố thủ lâu dài, củng cố các chiến lũy, đào thêm hầm hố, hào giao thông. Từng bước hợp nhất các lực lượng vệ quốc quân, tự vệ, công an để thống nhất chỉ huy. Củng cố các cơ quan, bộ máy kháng chiến. - Ổn định tình hình nhân dân và ngoại kiều. Phải tìm mọi cách bảo vệ nhân dân tản cư ra vùng tự do đề bộ đội yên tâm chiến đấu. Đối với ngoại kiều, giúp đỡ họ về lương thực, thuốc men và bảo vệ tính mạng, tài sản cho họ. - Duy trì trật tự an ninh trong Liên khu. Lập phòng tình báo - quân pháp cùng các đội tiễu phỉ trừ gian. Nghiêm trị mọi hành động trộm cắp. Các nhà vắng chủ phải được niêm phong. - Củng cố và phát triển Đảng. Kết nạp các chiến sĩ trung kiên nhất. Duy trì sinh hoạt Đảng đều đặn. Mở lớp huấn luyện các đảng viên dự bị. Tất cả những việc cấp bách do Liên khu ủy đề ra được thực hiện khẩn trương nghiêm túc. Cho đến ngày thứ 10 của cuộc chiến đấu thì những khả năng trụ bám lâu ngày biểu hiện rất rõ rệt qua những trận đánh ở Hàng Gai, Hàng Dầu, ở trên các chiến tuyến Đông Thành, Đồng Xuân. Trận địa trụ bám đã được thử thách, các chiến sĩ ta đã quen với súng đạn mỗi ngày tích lũy thêm được kinh nghiệm chiến đấu. Trong khi đó, về phía địch, chúng đã lộ rõ tình trạng lúng túng, không thể ngày một ngày hai mà có thể gỡ ra được. Ai cũng biết nếu quân Pháp nhanh chóng quét sạch các lực lượng của ta trụ bám trong trung tâm thành phố, thì chúng sẽ làm chủ Hà Nội và sẽ rảnh tay tập trung sức mạnh đánh ra các cửa ô, phá thế bị vây ép, bị đánh trước mặt, bị thọc bên sườn. Thoạt đầu, địch cũng đánh như vậy, dồn sức mạnh nhằm vào Liên khu I, nhưng rồi bị thiệt hại nhiều, chúng phải đổi hướng xoay ra các cửa ô, cố đẩy dãn vòng vây ép của ta ra xa. Ngày 30-12-1946: 500 tên tấn công ra Ô Chợ Dừa, cùng ngày 200 tên đánh xuống Kim Liên. Ngày 3-1-1947: 700 tên đánh lên Thụy Khuê, Ngọc Hà, Liễu Giai. Ngày 5-1-1947 200 tên thọc lên Thụy Khuê. Đánh vào không nổi, đánh ra cùng chẳng xoay chuyển được tình hình. Quân tăng viện chưa tới mà lực lượng chiến đấu mỗi ngày một thêm hư hao tổn thất, tướng tá Pháp lúng túng. Tổng chỉ huy Va-luy đổ lỗi này cho tướng Moóc-li-e. "Hây giội một trận ra trò nhanh chóng quét sạch lũ ô hợp ấy đi!", Va-luy muốn dốc ưu thế tuyệt đối về pháo binh và máy bay "giội" vào khu vực ta trụ bám ở Liên khu 1. Nhưng "giội" thế nào? Trong đó còn nhiều dân thường, còn hàng nghìn Hoa kiều, hàng trăm Ấn kiều; vả lại có dốc hết đạn trong các kho của quân Pháp ở Hà Nội cũng không thể nào đánh sập được cả khu vực này; hơn nữa những người đang trụ bám trong đó có phải đâu là đám quân ô hợp? Hàng trăm sĩ quan và binh lính Pháp đã ngã gục trước mũi súng, dưới lưỡi gươm của họ. Phải mất mấy tiểu đoàn giăng ra làm một tuyến bao vây ngăn chặn họ, mà họ vẫn dễ dàng vượt qua, đánh vào các khu vực quân Pháp đã kiểm soát. Và đây thực trạng tình hình quân Pháp ở Hà Nội qua một bài báo của phóng viên hãng thông tấn Pháp AFP, với đầu đề "chiến tranh kỳ dị ở Hà Nội". "Tôi đã thấy những người Pháp chết như thế nào dưới súng đạn Việt Nam ở trận tuyến Hà Nội hay ở những trận kỳ dị ngay giữa trung tâm thành phố, ở một góc đường hay dưới những làn đạn tiểu liên bắn dọc theo đại lộ. Trong cuộc chiến tranh kỳ dị này người ta có thể chết một cách dễ dàng, bất kỳ nơi nào lúc nào mà người ta không thể biết được. Chúng tôi một nhóm nhà báo lần mò tới đường Hàng Lọng, trong một vùng đã được càn quét. Chúng tôi gặp. một đại úy, ông chỉ cho xem một lô cốt vừa làm xong. Có tin một lính Pháp mới bị bắn chết. Ông ra lệnh cho một xe thiết giáp tới chở xác, chiếc xe đó tiến tới gần lô cốt. Không sự gì xẩy ra. Mấy người lính xuống vực xốc lên thì... một loạt tiểu liên khổng biết từ đâu nổ ra. Một lính Pháp khác bị bắn nát sọ, Thành ra mang xe đi định lấy một xác về lại hóa hai. Ông Đại úy nói với chúng tôi bằng một giọng tức tối: "thế là từ hôm 19-12 đến nay trong đơn vị tôi đã mất 42 người rồi...". Trong đơn vị đóng ở phố Nhà thờ lớn để chống giữ mặt Hàng Bông, một trung úy chỉ huy đã tính tới 35 người chết. Quân Pháp đóng ở nhà nào cũng phải chiếm tầng gác 3. còn nhà dưới thì để trống và phải đốt phá những nhà bên cạnh. Phải đóng như vậy là để phòng ngừa quân Việt Nam biệt kích. Đêm đêm, họ len lỏi vào các phố một cách nhanh nhẹn, không một tiếng động, không có bóng người. Từ trên tầng gác cao quân Pháp ném lựu đạn xuống. Họ vẫn tấn công một cách hăng hái và bền bỉ với những tiếng hò hét rùng rợn. Đến sáng ra thì họ lại biến như mây khói. Ban ngày, họ tìm nơi chắc chắn nhất, chĩa súng vào các vị trí địch. Tiếng súng nổ cả ban ngày, không phải chỉ ở những nơi có giới tuyến rõ rệt mà cả ở những khu vực mà quân Pháp đã càn quét sạch. Tiếng súng nổ ở bất kỳ nơi nào, ngay cả ở trung tâm thành phố. Những nơi mà tôi mới đi qua thì một giờ sau, người ta đã nhặt được những xác lính Pháp ngã gục ở đấy rồi...". Khi tướng tá địch hục hặc với nhau vì lúng túng chưa gỡ được thế bí thì trong khu vực trụ bám mọi người đang nô nức chuẩn bị cho một ngày hội lớn của Liên khu I - Hà Nội của truyền thống Thăng Long. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Bảy, 2025, 07:41:33 pm Ủy ban kháng chiến Liên khu I đề nghị lên Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội, lên Bộ tổng chỉ huy xin được thống nhất các lực lượng vũ trang tổ chức thành trung đoàn. Đề nghị đó được chấp nhận, và các nhân vật chủ chốt trong Ủy ban được chỉ định vào ban chỉ huy:
- Đồng chí Lê Trung Toản chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu I, Phó bí thư Liên khu ủy, giữ chức chính trị viên trung đoàn. - Đồng chí Hoàng Siêu Hải, dân tộc Tày - Cao Bằng cán bộ Vệ quốc đoàn giữ chức trung đoàn trưởng. - Đồng chí Hoàng Phương, Liên khu ủy viên, phó chủ tịch Ban chấp hành tự vệ Hoàng Diệu giữ chức tham mưu trưởng. Các cơ quan của Ủy ban kháng chiến sắp xếp lại thành cơ quan giúp việc Ban chỉ huy trung đoàn, gồm có: - Ban quản lý, trưởng ban Bùi Nguyên Cát. - Ban tuyên truyền, trưởng ban Hoàng Đức Nghi. - Ban tình báo - quân pháp. Trưởng ban Trần Xuân Trường. - Trạm quân y trung đoàn do bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết phụ trách. Lúc này, trận địa trụ bám nằm trên địa bàn của 3 khu phố: Đồng Xuân, Đông Kinh nghĩa thục, Đông Thành. Mỗi khu phố lập một tiểu đoàn và các đồng chí chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu phố giữ chức ủy viên chính trị tiểu đoàn. Như vậy, trung đoàn có 3 tiểu đoàn: Tiểu đoàn Đồng Xuân, số hiệu 101 Tiểu đoàn Đông Thành, số hiệu 102, Tiểu đoàn Đông kinh nghĩa thục, số hiệu 103. Ngày lễ thành lập Trung đoàn là ngày mừng công "ta đã ghìm địch trong thủ đô được như yêu cầu tối thiểu về thời gian mà Hồ Chủ tịch đã đề ra" cũng là ngày động viên tinh thần chiến đấu cảm tử. Các đại đội, trung đội bám trận địa chỉ cách địch một mặt đường, đều chuẩn bị tổ chức liên hoan, tiệc mặn hay tiệc chay tùy theo hoàn cảnh, nhưng dứt khoát là phải có một bữa "tiệc tinh thần" ca nhạc, nhảy múa, đọc thơ, diễn kịch, mừng các chiến sĩ có thành tích nổi bật trong chiến đấu, những chiến sĩ xung phong anh dũng đánh vào đồn địch, những chiến sĩ đã gan lì giữ chốt, những chiến sĩ trong cuộc vận động thi nhau bắn tỉa đã săn được nhiều Tây... Ở các đơn vị, việc chuẩn bị sôi nổi hơn cả là bàn kế đánh, ai cũng muốn có "lễ vật" để mừng ngày lên "sao tròn" Từng người từng tổ nghĩ mưu kế rồi trình bày với cán bộ tiểu đội, trung đội. Tiểu đội trấn giữ góc đường Hàng Bông - Hàng Mành có ba ý kiến về cách đánh ít tốn đạn, ít tốn sức mà gây được nhiều tiếng ồn ào, lại vui nữa. Anh công nhân nhà máy đèn Bờ Hồ Hoàng Văn Sự đề nghị: "Thế này nhé, mọi khi đánh quấy rối, ta đứng từ dưới mặt đất quẳng pháo ném lên nhà Tây ở trên gác, rồi chạy. Giờ tôi làm khác, trèo lên đầu nó mà ném. Ném rối cứ ngồi đấy xem nó giật mình bắn vãi đạn. Nó nghỉ, tôi lại ném, bắt nó vãi đạn suốt tối. Hễ nó mở cửa ló mặt ra đường quan sát thì tôi sẽ tống cho nó một quả lựu đạn... Thấy chưa ai hiểu hết ý mình, Sự liền giơ cái giầy da an toàn trước kia anh vẫn dùng mỗi khi leo lên cột điện chữa đường dây. - Hay đấy -Anh em tán thành ý kiến của Sự - Tây nỏ tưởng ta ở dưới đường, nó chúc nòng súng xuống bắn như mọi khi, còn Sự treo người trên cành cây thì có mà trời biết. Phải thế không? Được, được đấy! Anh nhạc sĩ Lương Ngọc Trác trình bày: - Ông Yên vừa cho tớ một quả mìn. Vũ Yên ấy mà, ông ấy vẫn ra đây kiểm tra. Hôm nọ là phái viên kiểm tra của Liên khu, bây giờ là tiểu đoàn trưởng của chúng mình. Ông ấy nhặt về một lô những quả đạn moóc-chi-ê Tây bắn không nổ. Tháo kíp thối, thay kíp mới. gài quả moóc-chi-ê vào cửa nhà Tây, châm ngòi cháy chậm. Moóc-chi-ê nổ ở cửa. Tây phải ra chữa cửa. Ta rình mò bắn. Có người hỏi vặn "chỉ đánh được có thế thôi à" Anh nhạc sĩ xoa xoa cái đầu mới cạo trọc lốc để tỏ quyết tâm đánh đến cùng, "tớ chưa nối hết", anh trình bày tiếp: - Ông Yên còn bảo thế này; nếu cửa vỡ to thì xung phong ngay. Chuẩn bị sẵn một cái chăn tẩm xăng. Nhẩy bổ vào trong "nhà Tây" đốt... - Hoan hô, được, được đấy. Đến lượt anh thợ may Trương Đinh Dư đề nghị tái diễn "phép hun chuột": - Tôi sẽ hun lũ Tây đóng trên gác nhà Bảo Khuê. Tôi đã tìm được lối vào tận cầu thang gác, phải đi vòng phía sau. Vào từ phía sau. Đêm chúng nó không có đứa nào canh gác mặt này, chặn các cửa rồi, chúng kéo nhau lên gác. Tôi sẽ đánh "bom khói". Đó là một cái chăn bông tẩm cặn sơn Gếch-kô, có một lọ xăng làm mồi. Khói cặn sơn bốc lên, Tây không chịu nổi phải mở cửa thông khói thoáng hơn, tôi sẽ ném lựu đạn qua cửa. Mấy ngày nay, người được biết nhiều chuyện bàn mưu tính kế như thế này là nhà nhiếp ảnh Nguyễn Tiến Lại, có người vẫn gọi là "ông Ben-la" vì anh là chủ hiệu chụp ảnh Ben-la-phô-tô ở phố Cửa Đông. Anh đã đi từ các trận địa khu Đồng Xuân xuống đến phố Cầu Gỗ, rồi tạt ra Hàng Da, Hàng Điếu... tìm gặp những chiến sĩ có nhiều chiến công để ghi chép thành tích và chụp ảnh, đưa tin. Vốn vui linh, hoạt bát, anh đến đâu cũng kể một vài câu chuyện chiến đấu nơi này nơi khác, nên được tiếp đón nồng hậu, phần vì có ưu thế của mấy cái máy Rô-lây-phờ-lếch, Lây-ca đeo lủng lẳng trước ngực, phần vì câu chuyện rất bổ ích với anh em, đang khát khao kinh nghiệm đánh Tây. Tối hôm ấy, tối mồng 5-1-1947, và cho đến mãi nửa đêm trong trung tâm Hà Nội súng nổ rền vang. Ta bắn chẳng mấy, nhưng lũ lính Tây giật mình tuôn đ ran hàng tràng. Chúng chẳng hiểu sao mà bỗng dưng bên Việt Minh lại hoạt động đều khắp và dữ dội như vậy. Và thật kỳ lạ, mỗi khi tiếng súng ắng đi một chút, chúng lại còn nghe thấy cả tiếng đàn, tiếng trống, tiếng hát, tiếng vỗ tay reo cười... Đêm nay đối với các chiến sĩ tự vệ thành là một đêm giao thừa. Các chị cứu thương, cấp dưỡng gấp rút thêu cho đủ số "sao tròn" để sáng mai anh chị em trong trung đội, đại đội cất đi những phù hiệu "sao vuông" trân trọng đính quân hiệu vệ quốc quân lên mũ ca-lô. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Bảy, 2025, 07:42:22 pm Cùng đêm nay, tại nhà in báo Chiến Thắng, cơ quan thông tin ngôn luận của Ủy ban kháng chiến Liên khu I, các bác công nhân làm việc liên tục cho số báo đặc biệt in hai mầu, 8 trang khổ nhỏ, có thể phát hành sáng ngày 6-1, như giờ phát hành thường lệ của các số báo hàng ngày. Nhà in còn phải hoàn thành việc in năm nghìn giấy chứng minh để ngay sau ngày thành lập Trung đoàn Liên khu I - Hà Nội, có thể cấp phát ngay cho tất cả các cán bộ, chiến sĩ.
Lễ ra mắt của trung đoàn được tổ chức trong buổi sáng ngày 6 tháng 1-1947. Không có trao cờ vì trung đoàn chưa có phiên hiệu, chưa có thể gọi chính thức. Không có duyệt binh vì đây là chiến trường, nằm trong tầm các thứ súng cối của địch, vả lại đại bộ phận lực lượng của trung đoàn đang phải dàn ra phía trước, bám lấy những vị trí, những tuyến phòng ngự. Dự lễ có hơn một trăm đại biểu mà gần một nửa là cán bộ chính quyền, đoàn thể, tập trung trong căn phòng rộng nhất của ngôi nhà số 51 Hàng Bồ. Không có diễn văn, chỉ có những lời phát biểu, những cảm tưởng, những lời chúc mừng, những hứa hẹn... Đồng chí Nguyễn Hữu Mai, bí thư Liên khu nói: - Hà Nội ta mở đầu cuộc kháng chiến bằng một cuộc vây hãm dài ngày, ghim quân địch lúng túng bên trong thành phố, gây một tiếng vang lớn khắp hoàn cầu. Bè lũ đế quốc thực dân, sửng sốt, lo ngại. Các dân tộc bị áp bức đang dấy lên phong trào đấu tranh giành độc lập cần nắm lấy cơ hội này, lấy tiếng súng kháng chiến của Hà Nội của Việt Nam làm nguồn cổ vũ. Những ngày này cả nước đang hướng về Hà Nội, về các khu phố của trung tâm thủ đô, mà ở đây các chiến sĩ cảm tử của Liên khu I chúng ta đã biến những đường phố nổi tiếng trong cả nước, những phố Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Đào, Hàng Bè, Hàng Giấy, Đồng Xuân... thành những chiến tuyến và mỗi ngôi nhà trong đó là một vị trí chiến đấu. Ai cũng biết, chừng nào các chiến sĩ chúng ta đây còn giữ vững trận địa đánh địch ở trong lòng thủ đô thì chừng ấy Mặt trận Hà Nội còn giữ được thế trận "trong đánh, ngoài vây" và chừng nào địch còn phải dồn sức tăng viện đối phó với quân và dân ta ở Hà Nội thì chừng ấy, các nơi khác ở Nam Định, Huế, Đà Nẵng... ta còn điều kiện vây hãm địch trong các đô thị, giữ cho hậu phương yên ổn... Trận địa Liên khu 1 đến hôm nay, đã đứng vững được 18 ngày và đã được xây dựng vững chắc để chống chọi với địch được lâu hơn nữa, đó là một thắng lợi của chúng ta. Từ trận địa này đến hôm nay lại ra đời một trung đoàn, thắng lợi này còn lớn hơn nhiều. Tin này được phát đi sẽ làm nức lòng cả nước. Các đại diện các đoàn thể phát biểu ý kiến đều chung một ý: Nhân dân Liên khu I - Hà Nội tự hào đã đóng góp được một trung đoàn gồm những con em ưu tú nhất của mình vào hàng ngũ vệ quốc quân Việt Nam, Cũng ngày 6 tháng 1, về phía địch sự hục hặc giữa các tướng chóp bu lên đến mức cao nhất. Lúc sáng, tướng Moóc-li-e nhận được cái điện ngắn "tướng quân sẽ có mặt tại Sài Gòn gặp ngài Tổng chỉ huy. Đại tá Đép-bơ sẽ thay tướng quân ở Hà Nội". Vậy là quá rõ, Moóc-li-e bị cách chức, Va-luy đưa viên đại tá mới làm cái việc tàn sát ở Hải Phòng cách đây hơn một tháng, lên Hà Nội cầm quân. Moóc-li-e bực bội, chán ngán, chẳng cần chớ bàn giao cho Đép-bơ, lập tức phóng xe sang Gia Lâm, bay đi Sài Gòn ngay lúc trưa. Tin vui bay nhanh ra hậu phương: Các lực lượng vũ trang của Liên khu I - Hà Nội đã hợp nhất thành trung đoàn. Hiên ngang trước các họng súng của quân thù, một trung đoàn con đẻ của nhân dân Hà Nội đã ra đời. Từ hậu phương bao la, hàng trăm bức điện, lá thư của Chính phủ, của các cơ quan đoàn thể đảng phái chính trị, của các địa phương gửi vào Hà Nội ngùn ngụt khói lửa, chúc mừng các chiến sĩ vệ quốc quân thủ đô. Hội phụ nữ cứu quốc Hải Dương tặng trung đoàn Liên khu I - Hà Nội lá cờ thêu dòng chữ vàng " Tổ quốc nhớ ơn" Ủy ban kháng chiến Nam bộ tặng chiến sỹ thủ đô lá cờ thêu hai chữ: "Quyết tử". Đồng chí tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp gửi một bức thư ngắn "... Tôi báo cho anh chị em biết rằng nhân dân toàn quốc đang nô nức với cuộc chiến đấu anh dũng của anh chị em. Tấm gương anh chị em cần giữ cho sáng, nêu cho cao, sáng hơn nữa, cao hơn nữa trong lịch sử nước Việt Nam". Sức mạnh chiến đấu được tăng lên nhiều với việc hợp nhất các lực lượng, thành lập trung đoàn. Tuy nhiên vẫn tồn tại nhưng khó khăn lớn đối với chủ trương trụ bám dài ngày. Ấy là do bị bao vây. việc liên lạc với hậu phương không được đều đặn khi thông khi tắc nên vấn đề vũ khí, lương thực ngày càng trở thành nỗi lo ngại gay gắt. So với kẻ thù trang bị rất mạnh, cả trung đoàn không có một khẩu súng cối, một khẩu đại liên: cả trung đoàn chỉ có mấy trăm súng trường, cũng nhiều khẩu khá tốt nhưng đạn thì rất hiếm. Tổ quân giới của trung đoàn chỉ có thể sửa chữa súng hỏng hóc, cải tạo đầu đạn pháo hoặc bom thành quả mìn, không có khả năng làm đạn cung cấp cho hàng chục kiểu súng trường khác nhau. Việc tiết kiệm dè sẻn đạn dược phải đặt thành yêu cầu quan trọng. Anh em đã phát huy nhiều sáng kiến: nghi binh hay đánh quấy rối thì chì dùng pháo đùng, pháo lép, pháo ném. Có khi chặn địch xung phong anh em ta đứng cả củi gỗ, gạch đá ném cùng với lựu đạn. Ét-xăng cũng hiếm dần, phải dùng dầu sơn khi đốt phá vị trí địch. Vấn đề lương thực không kém phần gay go. Chỉ cần làm một con tính đơn giản đã thấy vấn đề này thật phức tạp. Tổng hợp báo cáo của các tiểu đoàn và cơ quan trung đoàn thì khẩu phần hàng ngày lên tới 5.600. Như vậy mỗi ngày phải tiêu thụ hơn 3 tấn rưỡi gạo. Các kho gạo dự trữ chiến đấu cạn dần. Ban trưng dụng đang tiến hành thu gạo của các nhà vắng chủ, nhưng thường là những gia đình đã đi tản cư thì chum gạo, thùng gạo chỉ còn lại chút ít. Vấn đề gạo ngày càng trở thành mối đe dọa lớn vì trong khu vực trận địa trụ bám của trung đoàn còn đến vài vạn người kể cả ngoại kiều, họ còn lương thực dự trữ song nhiều nhà đã phải ăn dè sẻn bữa cơm, bữa cháo. Trước những khó khăn đang lớn dần lên ấy, Liên khu ủy nhận được chỉ thị của trung ương và khu ủy XI: Giảm bớt khẩu phần trong liên khu, chỉ để lại khoảng 500 tay súng và 15 đảng viên. Số còn lại gồm cả nhân dân và bộ đội phải tìm cách đưa ra hậu phương. Đối với những chiến sĩ ở lại trong liên khu cần chọn lọc kỹ, có tinh thần gan dạ và lòng trung thành thật cao, có thể lập ra các đội quyết tử để đối phó với những cuộc chiến đấu một mất một còn sau này. Một chủ trương đúng đắn và kịp thời, vừa khắc phục được khó khăn lớn để có thể chiến đấu trụ bám lâu dài, ghìm địch nhiều ngày trong Hà Nội, vừa giữ được lực lượng đưa hàng nghìn cán bộ chiến sĩ ra hậu phương để kháng chiến lâu dài. Ngày 13-1-1947, ban chỉ huy trung đoàn nhận được một bức điện của Bộ chỉ huy mặt trận thông báo hội nghị quân sự toàn quốc vừa họp tại Chương Mỹ - Hà Đông đã đánh giá cao những nỗ lực của các chiến sĩ liên khu I Hà Nội. Bức điện viết: Hội nghị quân sự toàn quốc họp ngày 12 tháng 1 năm 1947 quyết nghị tặng trung đoàn liên khu 1 danh hiệu Đoàn thủ đô. Sẽ có điện riêng của ông Bộ trưởng Bộ quốc phòng khen tặng. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Bảy, 2025, 07:47:48 pm CHƯƠNG VI ĐỘI CẢM TỬ Ta và địch cùng thỏa thuận chọn một ngày ngừng bắn, 15-1-1947, để cho nhân dân và Hoa kiều, Ấn kiều rời khỏi khu vực chiến đấu trong Liên khu I. Nhân dịp này, Bộ tổng chỉ huy chỉ thị cho Ban chỉ huy Trung đoàn Thủ đô đưa hết lực lượng ra hậu phương, xây dựng thêm lực lượng mới để kháng chiến lâu dài, chỉ giữ lại một đội cảm tử khoảng 500 người. việc sắp xếp lại lực lượng quả không đơn giản. Phải tính sao cho đủ số quân cần phải có để giữ một trận địa rất phức tạp, có hàng nghìn ngôi nhà lớn nhỏ ken sát nhau mà tuyến ta tuyến địch nhiều nơi cách nhau có một mặt đường hẹp, chỉ sơ hở một chút là địch có thể luồn vào sau lưng ta, cũng như những đội đánh tỉa của ta thường dễ dàng lọt qua tuyến địch bố trí phục kích. Một lẽ nữa, rất nhiều người không muốn rời liên khu I. Trận địa còn tiểu đoàn 101 ở khu Đồng Xuân do gần 1000 người canh giữ, nay theo chỉ thị của Trung đoàn rút lại còn 150. Nghĩa là cứ khoảng 6 người thì chỉ có 1 người được ở lại. Như vậy, số người thắc mắc vì phải rời trận địa sẽ rất đông. Chi ủy và ban chỉ huy tiểu đoàn đa ra một số quy định : - Người ở lại phải tình nguyện. - Người ở lại phải có đủ tiêu chuẩn về tinh thần chiến đấu. kỹ thuật sử dụng vũ khí và sức khỏe. - Các đảng viên, các cán bộ đại đội được tuyển chọn trước... Tiểu đoàn 101 chấp hành nghiêm chỉnh chỉ thị của trung đoàn, giữ lại đúng 150 người, biên chế thành 5 trung đội, giúp việc chỉ huy của tiểu đoàn có một đội quân báo - liên lạc và các tổ văn thư, quân trang, quân lương, y tế. Các tổ chức đều thu gọn lại mỗi trung đội kể cả cấp dưỡng, cứu thương cũng chỉ có 25 người, riêng đội quân báo - liên lạc không bớt một ai, mà hầu hết các nhân viên trong tổ chức này lại là những cm trai em gái còn nhỏ tuổi. Đó là một nét riêng của con số 150 người ở lại giữ trận địa khu Đồng Xuân. Trước đây 10 ngày, khi các lực lượng vũ trang ở khu Đồng Xuân (Vệ quốc quân, Công an, Tự vệ) hợp nhất thành lập tiểu đoàn 101 đồng chí Nguyễn Văn Thụ - tức Hồng Kỳ được giao tổ chức đội quân báo - liên lạc của tiểu đoàn. Anh nghĩ ngay đến những con người có tiếng tăm trên các trận địa. Đó là anh Long công an xung phong Hàng Đậu, anh Lai, một chiến sĩ tự vệ lầm lì "gan cóc tía", em Hải Long ít nói và "không biết giật mình" em Trần Hữu Thuyết "nhanh như cắt", em Phạm Tuệ một học sinh ngoan; em Nguyễn Ngọc Sơn mới 9 tuổi, thông minh lanh lợi, bố đã mất, không chịu đi tản cư, đã trốn mẹ để ở lại với các anh tự vệ trong phố làm nhiệm vụ liên lạc. Đồng chí Hồng Kỳ đến các đơn vị chọn thêm được 2 em Lộc và Văn. Anh được đồng chí Hoàng Yến, cán bộ phụ nữ khu phố mới được kết nạp vào Đảng giới thiệu 2 cô gái Hoàng Minh và Lê Thanh cùng tuổi 17, lanh lợi, quả quyết, gan dạ. Lê Thanh giới thiệu em Kim Tuyến 12 tuổi, em gái bé nhỏ trốn mẹ ở lại với anh ruột là trung đội trưởng tự vệ phố Lò Rèn. Rồi Kim Tuyến lại giới thiệu bạn mình em Kim Tôn... Chỉ trong 1 ngày, đội quân báo - liên lạc tổ chức xong với con số 13 người. Tiểu đội nam làm nhiệm vụ quân báo, cung cấp mọi tình hình về địch cho Ban chỉ huy tiểu đoàn. Tiểu đội nữ làm liên lạc, đưa tin, truyền lệnh đến các trung đội; phải có các cô gái này thì cán bộ ở tiểu đoàn, ở trung đoàn mới có thể đi đến các trung đội, các tổ chiến đấu được, vỉ đường đi lối lại là cả một mạng lưới phức tạp qua các lỗ đục tường thông từ nhà nọ sang nhà kia, qua các hào giao thông ngầm từ dẫy phố nay sang dẫy phố khác. Hàng ngày các chiến sĩ ở các vị trí giáp địch mong ngóng chờ đợi các cô gái này đem đến cho họ đủ mọi thứ chuyện trong tiểu đoàn, trung đoàn, trong liên khu I. Cững qua các cô họ gửi mấy dòng chữ, gửi đôi lời đến những người bạn ở vị trí này, vị trí nọ; nhờ các cô mua giúp bao thuốc lá, gói kẹo, gói bánh của các nhà Hoa kiều ở phố Hàng Buồm, Hàng Giầy… Và đây, một nét riêng nữa trong con số những người ở lại giữ trận địa Đồng Xuân. Ở các khu phố khác cũng có, nhưng Đồng Xuân nhiều hơn cả. Ba anh em ruột: Phạm Gia Ban, Phạm Thị Liên, Phạm Thị Như. Hai chị em ruột: Nguyễn Thị Bích Hạnh, Nguyễn Thị Bích Thảo. Hai anh em ruột: Nguyễn Văn Thụ, Nguyễn Đình Cơ Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Văn Thích. Bội Giong, Kim Tuyến Hoàng Đức Nghi, Hoàng Minh Những đôi bạn từng hứa hẹn suốt đời bên nhau: Thư Chương, Nguyễn Thị Bích Hạnh Vũ Văn Thuận, Hoàng Thị Lan. Số người ở lại của tiểu đoàn 101 là 150. Ở tiểu đoàn 102 bên khu Đông Thành con số đó là 200; Tiểu đoàn 103 giữ lại đông nhất, 400 người, cũng phải đến thế mới có đủ lực lượng canh giữ một khu vực rộng nhất trong trận địa bám trụ liên khu 1, khu Đông Kinh Nghĩa Thục còn nguyên vẹn Tiểu đoàn 103 có chiến tuyến dài nhất, có nhiệm vụ bảo vệ an toàn khu vực trung tâm trận địa trụ bám, và sẵn sàng chi viện cho các tiểu đoàn bạn. Sáng ngày 14 tháng 1 năm 1947, những người ở lại làm lễ tuyên thệ tại rạp Tố Như, phố Hàng Bạc. Từ hơn hai chục ngày qua, cái rạp hát bé nhỏ này là một trong những điểm mà nhân dân các phố giáp địch tập trung để chờ anh chị em giao liên đưa ra ngoại thành vào các buổi ban đêm, theo đường bãi đất ven sông Hồng ngược lên Nghi Tàm, Chèm, Vẽ. Nhưng sáng hôm nay, rạp Tố Như được trang hoàng thật lộng lẫy. Trên mật tường căng nỉ đỏ, nổi bật lên đường viền mềm mại kết bằng những dải lụa Hà Đông vàng óng. Phía sân khấu là bàn thờ Tổ quốc căng một lá quốc ký lớn với hàng chữ vàng mang lời kêu gọi cứu nước của Hồ Chủ tịch "Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu sống làm nô lệ". Một chiếc đỉnh đồng đen tỏa hương tràm. Những cây bạch lạp thắp sáng lung linh. Các chiến sĩ đến dự lễ, quần áo không giống nhau, có gì mặc nấy, vét tông, blu-dông:, trấn thủ, áo len, mỗi người mỗi kiểu mỗi màu, duy chỉ có cái khăn quàng cổ - Khăn cảm tử quân là thống nhất. Thực ra, đó là lá cờ đỏ sao vàng mà ai nấy tự tìm kiếm lấy trong các nhà dân, các hiệu buôn vải. Cờ gấp lại thành khăn quàng cổ luôn mang theo mình để khi ngã xuống, anh em đồng chí sẽ lấy phủ lên thân mình. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Bảy, 2025, 07:49:01 pm Đồng chí Vũ Lăng tiểu đoàn phó tiểu đoàn 103 được ủy nhiệm tổ chức lễ tuyên thệ. Anh trịnh trọng khai mạc:
"Kẻ thù mưu toan chớp nhoáng, đánh úp chiếm thủ đô ta. Nhưng gần một tháng rồi, Hà Nội ta trả lời chúng bằng những chiến công trên khắp các ngả đường, góc phố, trong từng căn nhà ở trung tâm thành phố và ở các cửa ô… Kẻ thù định bao vây tiêu diệt các lực lượng vũ trang của liên khu I - Hà Nội, mà chúng gọi là "một đám quân ô hợp bị mắc kẹt trong trung tâm thành phố" Nhưng đám quân chính chúng ta đây, đã họp thành một trung đoàn, được mang danh hiệu vẻ vang: Trung đoàn Thủ đô. Cả nước đang hướng về Hà Nội, hân hoan tự hào theo dõi cuộc chiến đấu của chúng ta. … Kẻ thù đang nhức nhối tận tim gan, điên cuồng lồng lộn vì sự tồn tại của chúng ta ở trong lòng Hà Nội. Cuộc chiến đấu sẽ rất quyết liệt khi kẻ thù có quân tăng viện. Chắc chắn là như vậy. Chúng sẽ giội bom đạn, đổ lửa vào trận địa Liên khu I, nhưng chúng ta kiên quyết làm tròn trọng trách bảo vệ Thủ đô... Trong buổi lễ tuyên thệ này, những người lên diễn đàn trình bày quyết tâm, đều nói chung một ý: sống chết với thủ đô. Ai cũng nhắc đến tên tuổi công trạng của các liệt sỹ trong đơn vị mình, đường phố mình, và hứa hẹn sẽ chiến đấu xứng đáng với tinh thần hy sinh cao cả của những con người đã làm rạng rỡ thanh danh của Thủ đô. Trận Bắc bộ phủ và khí phách hiên ngang của chính trị viên Lê Gia Định được nhắc đến nhiều hơn cả, được coi là mẫu mực của tinh thần cảm tử. Trong buổi lễ này, có một cô gái đeo băng đại tang, được mọi người chú ý thăm hỏi: Cha cô - ông Trịnh Sĩ Bình, một nhà buôn, đại đội trưởng tự vệ thành, mới hy sinh. Ông bị trọng thương khi xung phong đuổi địch ở phố Ẩu Triệu, cạnh Nhà thờ lớn. Người bạn cùng lứa tuổi tứ tuần với ông, dàn dụa nước mắt, ôm lấy ông săn sóc. Ông lại nổi nóng như khi gặp chuyện bực mình. Ông gắt với bạn: Sao anh khóc? Đuổi giặc đi chứ; Xung phong đi! Để tôi ở đây, Thương tôi, anh đưa khẩu súng này cho cháu Chính..." Cháu chính là cô gái đeo băng đại lang, Trịnh Thị Chính, một đội viên trong đội tuyên truyền, cấp trên không xếp chị trong số những người ở lại, để chị ra trước gặp bà mẹ ở ngoài hậu phương, nhưng chị tình nguyện xung vào đội cảm tử. Trong ngày 14-1-1947, những người ở lại phải hoàn thành một khối công việc khá lớn: - Bố trí lại các vị trí, các tuyến, đồng thời chuẩn bị thật chu đáo cho những người ra trước được an toàn. Những người ra trước chia làm 2 đoàn: đoàn đi công khai cùng với nhân dân trong buổi sáng ngày ngừng bắn, đoàn đi bí mật ngay trong đêm 14. Chia như vậy để địch không đoán được số lượng người ở lại trụ bám trong Liên khu I. Hơn nữa, đường ra công khai qua khu vực địch kiểm soát dài hơn 1 cây số, nên cũng cần đề phòng địch trở mặt, bắt cóc, cho nên các cán bộ chính quyền đoàn thể, những anh chị em tự vệ có nhiều thành tích trong việc truy bắt những bọn thân Tàu, thân Pháp không thể đi theo con đường ấy được. - Việc thứ hai là tổ chức cho nhân dân tản cư công khai. Số người cần đưa ra có tới một vạn, con số khá lớn mà không phải là ai cũng mong muốn được thoát khỏi nơi bom đạn này. Có người tiếc của, muốn ở lại giữ nhà. Họ lên Hàng Buồm, Mã Mây, ở nhờ người quen để thỉnh thoảng trở về xem lại nhà cửa. Có những người không muốn xa Hà Nội, cho rằng chiến tranh không thể kéo dài, lan rộng mãi ra được. Họ cứ loanh quanh nay chỗ này mai chỗ khác, sống tạm bợ, chờ "hai bên điều đình". Anh chị em trong đội tuyên truyền phải làm việc khá vất vả đến từng nhà, gặp từng người, nắm tình hình giải quyết những thắc mắc cụ thể, như: ra ngoài kia thì sẽ ở đâu, công ăn việc làm thế nào, trẻ em đi học ra sao, người già ốm đau lo chạy thuốc thang cách nào? Có một số thắc mắc lớn, nhiều người nêu ra, mà các anh chị em trong đội tuyên truyền gọi là câu hỏi hắc búa nhất, ấy là: "kháng chiến trường kỳ thì đến bao giờ sẽ kết thúc?" Được sự chỉ đạo kịp thời của cấp trên, anh chị em cũng tìm ngay được những lời giải đáp thỏa đáng, có lý có tình, của Hồ Chủ tịch, đã đăng trên báo ngày 23-12-1946. Người đã nói: "Trồng khoai ba tháng mới có củ. Trồng lúa bốn tháng mới được ăn. Trồng tự do, độc lập ít nhất cũng phải một năm hoặc dăm bẩy tháng: Thử xem: - Trung Quốc kháng chiến 8 năm mới thắng lợi. - Nam Dương kháng chiến năm còn chưa thành công. - Pháp cướp nước ta hơn 80 năm. Nếu ta cần phải kháng chiến 4 năm mà được hoàn toàn tự do độc lập thì cũng sướng lắm rồi. - Chiến tranh mới bắt đầu mà bên Pháp đã la ó lên: Phải mau giải quyết! Muốn trị lửa phải dùng nước. Địch muốn tốc chiến tốc thắng, ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó, thì địch nhất định thua, ta nhất định thắng" Việc động viên nhân dân rời khỏi liên khu I, tản cư công khai trong ngày ngừng bắn 15 tháng 1 gặp trở ngại lớn nhất là vấn đề người Hoa. Họ sống năm bẩy đời ở Hà Nội. Họ cho rằng bất quá cũng chỉ ít ngày mà thôi, quân Pháp sẽ chiếm được Hà Nội, và họ lại tiếp tục làm ăn buôn bán như hàng chục năm trước đây. Họ không chịu rời đi đâu cả. Họ không lo đói vì lương thực thực phẩm còn dự trữ ít ra hàng tuần nữa chưa hết. Họ cũng sợ bom đạn, nhưng rất tin vào sự che chở của lá cờ Trung Hoa dân quốc cắm trên nóc nhà, cùng với lá cờ giấy dán ở các cửa mặt trước mặt sau nhà. Họ xếp đồ đạc thành một cái hầm, ngày đêm ẩn trong đó, trông giữ của cải. Anh chị em đội tuyên truyền của ta đến thăm hỏi, họ trả lời cho qua "...vâng, thưa các ông các bà, gia đình chúng tôi đã thu xếp xong để chờ đi tản cư". Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Bảy, 2025, 07:50:33 pm Ngày 14 tháng 1 năm 1947, người ở lại, người ra đi, chia tay lưu luyến nghẹn ngào. Có những bà mẹ, ông bố, người chị ra tận chiến hào gặp con; gặp em mình một lần nữa. Có những người đi viếng bạn chiến đấu đã nằm xuống trong Liên khu I, để nói đôi lời: "… không phải là mình sợ chết, bỏ phố, bỏ nhà không dám ở lại bảo vệ Thủ đô cho đến cùng. Mình ra trước theo lệnh cấp trên, để được huấn luyện về quân sự và chính trị rồi trở về đuổi giặc, giải phóng thủ đô… " Những người được ở lại cũng đi tìm gặp bạn, gặp người trong họ, hay người cùng phố, để gửi một bức thư ra ngoai hậu phương cho cha mẹ, cho người thân yêu. Trong số thư này, có một bức thư của em Tuyên, chỉ vẻn vẹn có mấy dòng nắn nót viết trên mảnh giấy hoa. Chẳng phải em gái này không muốn viết dài nói nhiều với mẹ, song viết chẳng nên lời, nghĩ đến mẹ đã dàn dụa nước mắt, em thương mẹ lắm. Em cùng biết mẹ mong gặp em từng ngày từng giờ nhưng làm sao em có thể xa rời được những người anh, người chị đang cầm súng chiến đấu trên tuyến Hàng Giấy, Hàng Khoai, Đồng Xuân này được. Em là đội viên thông tin liên lạc thông thuộc mọi ngóc ngách của chiến tuyến này. Em viết: "... Con có lỗi với mẹ, để mẹ buồn, mẹ lo. Khi nào hoàn thành nhiệm vụ, con sẽ gặp mẹ ngay, nằm chịu tội để mẹ đánh đòn".
Đêm hôm ấy, những người ra trước, bộ phận ra theo đường bí mật, đi được an toàn tuyệt đối. Trong khi đỏ, bộ phận ra công khai ai nấy thao thức chẳng chợp được mắt. Từ đâu đó không biết, gây ra một phong trào đua nhau thắfp hương. Người ta bảo nhau: hôm nay 23 tháng chạp ta. ông Táo lên chầu trời. Người ta vào các nhà thấy có bàn thờ là đốt một nén hương. Thế rồi nhà nhà đều thắp hương. Nhà nhiều chủ, có bao nhiêu bàn thờ là có bấy nhiêu nén hương cháy. Cả một khu vực ngào ngạt khói hương... Sáng hôm sau, việc ngừng bắn được thực hiện đúng quy định. Những dòng người tay mang tay xách, gồng gánh, khiêng vác, ùn ùn kéo đến các điểm tập trung. Vượt qua những khúc đường ngổn ngang vật chướng ngại của phố Hàng Ngang, Hàng Đường, trước cửa chợ Đồng Xuân đề lần lượt qua Hàng Giấy, Hàng Than, Yên Phụ đến Nhật Tân là hậu phương ta rồi. Số người ở lại vượt quá xa con số dự định - lên tới 1.200 Một phần là do các trung đội, đại đội lấy thêm người, mỗi đơn vị thêm năm bảy chiến sĩ thôi, cộng cả lại đã trên một trăm rồi. Nhưng quân số tăng nhiều nhất là vì có cả trăm người trong danh sách những người ra trước, đã chia tay từ biệt đơn vị đến địa điểm tập trung để cùng nhân dân tản cư công khai, rồi đến phút cuối cùng lại quay trở lại. 1200 người, chỉ tính gạo ăn hàng ngày, phải có 7 tạ mà việc tiếp tế từ bên ngoài vào rất khó khăn, và ngày càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, với trận địa trụ bám ở Liên khu I Hà Nội là hàng nghìn ngôi nhà lớn nhỏ, nhà một tầng, nhà hai tầng, nhà vài ba buồng, nhà chục buồng ngăn cách nhau, thì con số 1200 lại quá thưa thớt. Qua mấy ngày nhộn nhịp tổ chức đưa đồng bào và ngoại kiều đi tản cư, tiễn chân anh em ra trước, chiều ngày 15 tháng 1, phố phường vắng lặng hẳn đi. vắng đến lạnh người. Phố Hàng Buồm, ngõ Hàng Giấy, vốn là nơi tụ hội thường ngày khá đông vui, bây giờ cũng vắng tanh. Một vài nhà Hoa kiều hé mở cửa bán bánh kẹo, thuốc lá, cà phê, nhưng không có khách. Các nơi tiếp giáp địch lại càng vắng lạnh, phải luồn lách qua hàng dãy nhà tối om mới gặp một căn buồng có người. Một tổ chiến đấu ba bốn người chịu trách nhiệm giữ một phạm vi mấy chục nhà. Anh em thấy vắng vẻ quá, cũng buồn, nhớ các bạn. nhớ những ngày qua chỉ cách vài ba nhà đã có một tổ, tối tối họp nhau đàn hát, rồi bàn chuyện đánh Tây. Các chi bộ Đảng - mỗi tiểu đoàn có một chi bộ, đảng viên không nhiều, nhưng đều là cán bộ, họp bàn để nhanh chóng xua tan hiện tượng "buồn buồn" này, phải xua tan ngay bởi vì Tết đến nơi rồi, chỉ ít ngày nữa thôi, Tết đến, người Việt Nam nào chẳng nghĩ đến gia đình, họ hàng? Một số biện pháp được đề ra: 1 - Tranh thủ mở lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày cho cán bộ tiểu đội, và các chiến sĩ được chọn để thay thế cán bộ tiểu đội, củng cố thêm cho anh em những kiến thức tác chiến trong đường phố, ôn tập thêm về kỹ thuật bắn súng, sử dụng đạn dược có hiệu quả cao nhất. 2 - Sửa sang, củng cố lại các chiến lũy, chiến hào, mở thêm đường thông tường để bảo đảm an toàn cho bộ đội cơ động đánh địch, đồng thời tích cực dựng vật chướng ngại, bẫy lựu đạn, đề phòng biệt kích địch lọt vào sau lưng ta. 3 - Tổ chức săn Tây bắn tỉa. 4 - Tăng cường hoạt động của các đội tuần tra, nhất là ban đêm, ở các khu vực giáp ranh với địch và những nơi tiếp giáp giữa các trung đội, đại đội. 5 - Điều tra nắm vững tình hình lương thực thực phẩm để điều hòa giữa các đơn vị, không để nơi thừa nơi thiếu. 6 - Tổ chức Tết. Công việc nhiều, nhất là chuẩn bị Tết, cái Tết đầu tiên trong kháng chiến. Tết đặc biệt của Hà Nội, ai nấy bận rộn, vui hẳn lên. Người lo củng cố công sự, sửa sang hầm hào, làm thêm nhiều vật chướng ngại, Người lo trang hoàng vị trí đón Xuân. Ban ngày bận đi săn Tây, phục kích rình bắn tỉa. Tối đến họp nhau chuẩn bị chương trình văn nghệ, kịch hát, ngâm thơ. Lại còn chuẩn bị cho trận đánh đêm giao thừa nữa, bắt Tây phải dẫy nẩy lên, đổ đạn ra. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Bảy, 2025, 07:51:33 pm Tiểu đoàn 101 mở đầu không khí Tết bằng trận đánh bốt Đầu Cầu, chuẩn bị khá công phu. Bốt Đầu Cầu kiểm soát hai lối lên xuống cầu Long Biên khống chế một vùng rộng. Súng 12,7 của nó uy hiếp toàn bộ bãi đá bóng Lơ-ga-giơ ở sau lưng chợ Đồng Xuân (nay là chợ Bắc Qua).
Đêm 28 tháng Chạp (19-1-1947), trời tối như mực, tổ chiến đấu Lai, Đáng, Lâm, Lộc lặng lẽ xách một cái thang rất dài từ ngõ Hàng Khoai, men theo gầm cầu vào chân vị trí địch. Đấy là hai cái thang buộc nối vào nhau để đặt từ mặt đất có thể vươn tới cái lô cốt ở trên mặt cầu. Chiến sĩ Lai thận trọng leo lên trước, tiếp theo sau là Đáng. Còn Lâm, Lộc giữ chân thang. Lai đã lên tới gần mặt cầu, chỉ leo thêm vái nấc thang nữa là có thể với tay thả lựu đạn qua lỗ châu mai lô cốt địch thì... thang mất thăng bằng. Anh nhanh trí đối phó, tay giữ thang, tay lấy lựu đạn đưa lên miệng rút chốt an toàn. Nhưng thang tiếp tục siêu vẹo, bị gãy, nên lựu đạn anh ném ra không trúng đích nổ trên mép lô-cốt. Địch phản ứng dữ dội, Và rất may là cả Lai và Đáng đều bị ngã đau vì thang gãy, mà vẫn thoát được ra khỏi lưới lửa của địch, chỉ bị thương nhẹ. Đêm hôm sau, một tổ khác lại đi đánh bốt Đầu Cầu, nhưng hướng đánh, cách đánh có khác và giờ đánh cũng lùi về đến nửa đêm. Cũng cần phải nói thêm là tổ này đã luyện tập nhiều ngày ở trong chợ Đồng Xuân về cách vác thang, nối thang, đặt thang, leo thang không phát ra tiếng động để có thể bất ngờ nhảy vào trong bốt Đầu Cầu làm chuyện đại náo. Kim đồng hồ dạ quang chỉ đúng 23 giờ 30, Vũ Tâm đưa anh em đến sát mục tiêu. Bộ phận dựng thang nhẹ nhàng làm xong nhiệm vụ. Bộ phận đột kích gồm có 2 người, tổ trưởng Tâm và chiến sĩ Lĩnh vượt thang an toàn, nằm giấu mình ở lòng đường xe lửa trên mặt cầu. Họ nhích dần, nhích dần từng bước tới lô cốt địch. Nhưng một tình huống thuận lợi xuất hiện: có hai tên địch đổi gác đi về phía nhà ngủ. Họ bám theo quạt tiểu liên, ném lựu đạn. Lũ địch ở trong nhà ngủ phải chịu 4 quả lựu đạn và hai băng tiểu liên. Khi Lĩnh còn đang ném quà lựu đạn cuối cùng vào ngôi nhà này thì tổ trưởng Tâm đã chuyển sang đánh lô cốt, anh tọng qua lỗ châu mai liên tiếp hai quả lựu đạn. Hôm sau 30 tết, quân báo đưa tin: ở bốt Đầu Cầu địch chết và bị thương gần hai chục tên. Tin vui chuyền nhanh đến các trận địa. Cả trung đoàn phấn khởi. Tối 30, đơn vị nào cũng có những tổ luân phiên nhau đi tập kích các vị trí địch. Ta đánh nhiều, nhưng đạn dùng thật ít. Kho pháo Bình Đà, Cát Tường và số pháo dự trữ bán Tết của các hiệu buôn ở Hàng Đường, Hàng Mã, Hàng Ngang, Hàng Bồ... được triệt để sử dụng. Nhiều sáng kiến làm cho tiếng pháo nổ tăng thêm hiệu lực: pháo đùng chập ba bốn quả, châm ngòi nổ đinh tai nhức óc. Pháo lẻ ném vào thùng rỗng nổ to chẳng khác pháo dùng, buộc cả bánh pháo ở chân cột đèn, châm đốt, nhử cho địch bắn ra, lộ hỏa điềm cho ta truy lại... Có nhiều anh em, vượt qua tuyến địch, luồn sâu vào các phố sau lưng địch, treo vài ba bánh pháo ở chỗ này, chỗ nọ, cách xa nhau, châm ngòi cháy chậm là mấy nén hương, hương cháy gần hết thì bén cho pháo nổ vào khoảng giao thừa. Trung đội 1 của Tiểu đoàn 102, gồm các chiến sĩ của khu Hoàn Kiếm, nên được ưu tiên cắm cờ lên Tháp Rùa. Ngoài đó không có địch, song vì đang tiết đại hàn, bơi ra giữa hồ lại còn phải trèo lên cao lộng gió, nên phải là người có sức chịu đựng rất cao. Nhiều chiến sĩ người Hà Nội, hai ba đời sinh sống ở Hà Nội, lại là tay bơi giỏi ở hồ bơi Quảng Bá xung phong nhận nhiệm vụ. Song người được chọn lại là Nguyễn Văn Thầm, quen đồng nước, vốn là liên lạc viên của đơn vị Vệ quốc bảo vệ nhà Bác Hồ ở phố Lê Thái Tổ. Đêm 30, người Hà Nội có tục lệ ra Hồ gươm hái lộc. Tiểu đoàn phó Vũ Lăng đến trung đội đóng ở Hàng Bạc chỉ định một chiến sĩ đi làm nhiệm vụ: - Đồng chí ra đền Ngọc Sơn, nhưng không phải là để hái lộc, mà để "ban lộc". Ngoài đó có một tổ súng máy của địch. Hãy "ban" cho chúng nó mấy quả lựu đạn. Giám nhận không? Nhiều người trong trung đội cho rằng Nguyễn Trọng Tiến - người được tiểu đoàn phó chỉ định - vốn không phải là người xông xáo, thì khó mà giám đi một mình ra đó giữa đêm tối mò thế này. Nhưng Tiến thản nhiên trả lời "Tuân lệnh", rồi chuẩn bị ra đi ngay. Vài tiếng đồng hồ sau, khoảng sắp giao thừa, có tiếng súng nổ rất nhiều: Địch ở nhà Đèn Bờ Hồ, địch ở nhà Thủy Lâm, bắn như đổ đạn về phía ven hồ chỗ mấy toa xe điện đổ. Gần sáng, trung đội đang ngóng chờ, lo ngại, thì Tiến về. Anh rét run cầm cập báo cáo, vẻ băn khoăn: - Tôi không ném được quả lựu đạn nào cả! Chính trị viên Vũ Hải ôm lấy Tiến, động viên: - Không ném được hôm nay thì hôm khác sẽ ném gấp đôi. Hãy xuống bếp sưởi ấm đi đã! Em Nhâm, cô bé liên lạc, pha cho Tiến một cốc nước đường nóng hổi. Tiến vừa sưởi, vừa uống cốc nước nóng, người như tỉnh lại, bắt đầu kể về chuyến đi vừa rồi: - Lúc tôi băng qua đường sang bờ hồ thì có lẽ đã gần nửa đêm. Trời tối lắm, tối như mực. Mò đến chỗ mấy toa tàu điện đổ nghiêng, tôi vấp phải một miếng tôn. Một tiếng "choang"... phát ra từ miếng tôn. Tôi vội nằm nép xuống vỉa hè đường, thì súng máy, súng trường của địch từ nhà Đèn, từ Sở Thủy Lâm thi nhau nhả đạn. Tôi nằm dán mình xuống vỉa hò, thỉnh thoảng lại ngóc đầu lên quan sát về phía đền Ngọc Sơn, nhưng không thấy có hỏa điểm nào tử đó bắn ra cả. Hay là chúng nó sang bên Thủy Lâm - tôi phỏng đoán như vậy - bọn chúng chẳng có gan ở chơ vơ giữa hồ trong đêm lạnh lẽo kinh khủng như thế này đâu. Tuy vậy, trước khi xuống nước bơi ra ném lựu đạn vào ổ súng máy, tôi kiểm tra lại một lần nữa: tôi lần tìm một hòn đá ném vào miếng tôn ban nãy. Lại một tiếng "choang" nữa phát ra. to hơn tiếng trước, thế là súng địch lại nổ, lần này dữ dội hơn lần trước. Tôi chú ý quan sát phía đền Ngọc Sơn, nhưng ở đây, vẫn thấy im lặng. Tôi kết luận: ngoài đó không có địch. Nhưng chẳng lẽ về không, chẳng được việc nọ thì cũng phải được việc kia, bắt địch bắn vung vãi đạn ra cũng là một cách đánh tiêu hao. Lần này, tôi nhặt ba bốn hòn đá ném liên tiếp vào miếng tôn. Thế là các vị trí xung quanh thi nhau bắn vào phía toa tàu điện đổ. Chốc chốc súng lại nổ hàng tràng. Tôi nằm tại chỗ, bắt địch phải vãi đạn ra như vậy. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Bảy, 2025, 07:52:37 pm Sáng mồng một Tết, Hà Nội bên phía địch tạm chiếm thấy im lặng như tờ, nhưng trong trận địa liên khu I thì pháo nổ ran ran. Các chiến sĩ cảm tử của Thủ đô đốt pháo đón quà hậu phương. Đêm qua. anh chị em du kích Hồng Hà, Lãng Bạc cũng chịu đựng gió rét vượt qua các vị trí địch đem quà Tết vào cho Trung đoàn Thủ đô, nào bánh chưng, thịt bò thịt lợn tươi, nào xu hào bắp cải, nào thư hậu phương, những lá thư của các đoàn thể Hà Nội, các tỉnh thành, và thêm nữa, những bó hoa với một cành đào Nhật Tân
Tối mồng một Tết, lấy danh nghĩa ủy ban kháng chiến Liên khu I, đơn vị chính quyền quản lý khu vực có các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài đặt trụ sở, ban chỉ huy Trung đoàn tổ chức một bữa tiệc mời các lãnh sự Anh, Mỹ, Trung Hoa và một số đại biểu Hoa kiều. Lúc này các lãnh sự quán đều ở phần đất liên khu I đã bị địch chiếm, nhưng địch cũng không ngăn cản các vị lãnh sự đi sang phía ta, vào trận địa trụ bám của Trung đoàn thủ đô. Chúng cũng muốn, qua các vị này, thăm dò tình hình ta. Bữa tiệc được tổ chức trong một ngôi nhà xinh đẹp có vườn hoa cây cảnh ở phố Ngõ Gạch. Trong gian phòng khách rộng rãi, đèn nến sáng rực rỡ càng tôn vẻ đẹp tươi của cành đào Nhật Tân từ ngoài hậu phương mới đưa vào trong đêm qua. Trên bàn tiệc trải khăn trắng xóa, bày các món ăn tươi, các món ăn đặc biệt của Tết cổ truyền Việt Nam. Đúng 19 giờ, các cán bộ được chỉ định tiếp khách đến phòng tiệc với bộ đồng phục mới tinh. Trong quang cảnh một căn phòng lộng lẫy các vị khách không dấu được nỗi ngạc nhiên. Họ đã quá quen tai với luận điệu tuyên truyền của quân đội Pháp rằng "đám Việt Minh bị mắc kẹt trong trung tâm thành phố đang khốn quẫn lắm, đói dần đói mòn", và họ cũng nghĩ như thế. Vào tiệc, đồng chí Bùi Nguyên Cát tự giới thiệu với các vị khách là người đại diện của Ủy ban kháng chiến Liên khu 1 - Hà Nội nói mấy lời về Tết cổ truyền Việt Nam rồi chuyển sang nhiệm vụ kháng chiến bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc, đồng chí nói: "Việc cầm súng kháng chiến của nhân dân và quân đội chúng tôi là chính nghĩa. Chúng tôi được sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân Pháp cũng như nhân dân thế giới. Chúng tôi quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng cho nền độc lập của dân tộc...". Tiếp đó, đồng chí Bùi Nguyên Cát cám ơn sự giúp đỡ của các vị lãnh sự đối với việc tổ chức cho nhân dân Liên khu I tản cư ra ngoại thành ngày 15-1-1947 và chúc các vị khách sức khỏe một năm mới tốt lành. Lúc đầu, những người dự tiệc còn giữ thái độ dè dặt, thận trọng từng cử chỉ, lời nói sau dần vui vẻ cởi mở hơn. Lần lượt, các vị lãnh đạo nâng cốc chúc mừng các cấp chỉ huy và các chiến sĩ Hà Nội sức khỏe. Lãnh sự Mỹ Su-li-van nói: "Kiên trì, kiên trì, các ông sẽ là người chiến thắng!" Lãnh sự Anh Uyn-xơn cám ơn quân đội Việt Nam đã giúp đỡ Ấn kiều và nói: "Thế giới sẽ biết đến sự tôn trọng luật pháp quốc tế của nước Việt Nam". Một đại biểu thanh niên Hoa kiều, chẳng chút e ngại trước mặt vị lãnh sự Trung Hoa là Vương Tử Kiện, đã phát biểu: "Chúng tôi rất khâm phục gương chiến đấu của các bạn. Xin chúc nhân dân Việt Nam kháng chiến thắng lợi. Chúng tôi thấy cần phải học tập và noi gương các bạn để đấu tranh giành tự do cho nhân dân Trung Quốc". Sau đó báo Cứu Quốc và Đài Tiếng nói Việt Nam đã đưa tin về bữa tiệc chiêu đãi đầu năm của Trung đoàn Thủ đô. Bộ chỉ huy quân đội Pháp rất tức tối ép viên lãnh sự Mỹ phải cải chính câu nói của mình với những người Việt Nam kháng chiến "Kiên trì, kiên trì, các ông sẽ là người chiến thắng!" Trước Tết ít ngày, trong các cấp cán bộ nẩy sinh một trục trặc đối với chủ trương kiên trì trụ bám. Nhưng vấn đề được giải quyết ngay và do đó cái Tết Đinh Hợi đã diễn ra rất vui vẻ. Chuyện đó như sau: Một số cán bộ lại là cấp trung đoàn, tiểu đoàn trao đổi với nhau: Có nên kéo dài thời gian trụ bám ở Liên khu I nữa không? Địch đã có tăng viện, chúng đang đánh ra ngoại thành... Họ lo ngại một khi địch đã mở rộng được phạm vi chiếm đóng ra ngoại thành và xa hơn nữa thì lực lượng trụ bám trong Liên khu I sẽ mất hết đường tiếp tế, không có khả năng vượt vòng vây. Họ cho rằng ta đã kìm chân địch được một tháng rồi, nên rút đi vào thời điểm này là đúng lúc. Liên khu ủy lúc này còn hai đồng chí Lê Trung Toản và Hoàng Phương (đồng chí Nguyễn Hữu Mai đã rời liên khu 1 đêm 14-1-1947) liền triệu tập một cuộc họp nghiên cứu đánh giá tình hình. Đồng chí Lê Trung Toản nói: "Đảng giao cho chúng ta nhiệm vụ phải ở lại giữ Liên khu I này trong điều kiện có thể được ta phải chấp hành nghiêm túc" Đồng chí phân tích tình hình: - Địch đã có quân tăng viện đến Hải Phòng đã đưa được một số tới Hà Nội, nhưng chúng chưa đánh thông được đường số 5 nên việc chuyển vận của chúng từ Hải Phòng lên Hà Nội còn nhiều khó khăn, còn trong tình trạng nhỏ nhọt. - Địch đang cố mở rộng phạm vi chiếm đóng ra ngoại thành nhằm cô lập Trung đoàn thủ đô trong Liên khu I, nhưng chúng cũng đang bị thiệt hại nhiều vì những cuộc tiến công này. - Thực tế diễn biến chiến sự ở Hà Nội, đến bây giờ cho thấy rằng địch chưa đủ sức phá được thế trận trong đánh ngoài vây của ta ở nội và ngoại thành. Ngược lại, chính chúng đang bị căng kéo ra, dàn mỏng lực lượng ra vì thế trận này. - Ta còn nhiều điều kiện trụ bám trong Liên khu I. Chừng nào chúng ta còn giữ vững trận địa này, thì chừng nấy địch còn bị hãm trong Hà Nội. Và chừng nào địch còn phải lúng túng đối phó đằng trước, đằng sau, bên trong, bên ngoài với mặt trận Hà Nội ta đây, thì chừng nấy, hậu phương rộng rãi bao la của ta còn được yên ổn để chuyển sang thời chiến. Địch đang lúng túng bị vây hãm ở nhiều thị xã, thị trấn, thành phố Đà Nẵng, Huế, Nam Định, Hải Dương, nhưng chúng phải tập trung gỡ bí ở Hà Nội trước hết, cho nên cuộc chiến đấu của chúng ta ở Liên khu I không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với Mặt trận Hà Nội mà cả các nơi khác nữa... Những người dự cuộc họp thảo luận rất sôi nổi về các ý kiến phân tích tình hình của đồng chí Lê Trung Toản và cuối cùng đi đến quyết nghị: Kiên trì trụ bám, giữ từng tấc đất của thủ đô. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 14 Tháng Bảy, 2025, 07:53:45 pm Từ sau cuộc họp này, các hoạt động công tác chính trị tập trung vào việc xây dựng ý chí kiên cường chiến đấu, đánh đến cùng, ghìm địch ở Hà Nội cho hậu phương ta được thêm thời gian yên ổn. Trên các chiến hào, những người cảm tử mừng xuân mới với khẩu hiệu mới:
"Còn một viên đạn, còn một người, còn trận địa" Tờ báo "Chiến thắng" chỉ có bốn người trong ban biên tập, các đồng chí Hoàng Đức Nghi, Lê Đức Nguyệt. Chính Hữu, Đỗ Ngọc Quý nhưng rất đều đặn hàng ngày đem đến cho cán bộ và chiến sĩ trong Trung đoàn những tin chiến sự trong Nam ngoài Bắc, những dư luận của các nơi trên thế giới đối với cuộc kháng chiến Việt Nam, tất nhiên nhiều nhất vẫn là tin chiến sự Liên khu I và Mặt trận Hà Nội với nhiều gương chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Số báo Tết có nhiều bài viết về những chiến sĩ cảm tử, những cuộc chiến đấu cảm tử xưa nay của người Việt Nam, của các dân tộc trên thế giới, trong đó có một bài được mọi người ưa thích nhất. Với đầu đề "Trên chiến lũy Bê-ô-grát" bài báo viết về những quyết tử quân Séc-bi (nay thuộc Liên bang Nam Tư) bảo vệ thành Bê-ô-grát. Họ là quân lính của trung đoàn số 10 và một số đơn vị dân quân địa phương. Họ ở lại Bê-ô-grát trong khi các trung đoàn khác rút xuống phía Nam trước sức tấn công vũ bão của liên quân Đức - Áo. Họ có hơn 5000 người, bị bao vây các mặt, đương đầu với một lực lượng quân xâm lăng đông và mạnh gấp mấy chục lần. Nhưng không hề nao núng, họ hiên ngang chống chọi với kẻ thù cho đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng trong một trận đánh ác liệt kéo dài 32 ngày đêm, từ ngày 7-10 đến ngày 8-11-1915. thực hiện đúng như lời người chỉ huy của họ, trung tá Đra-gu-tin Ga-vri-lô-vích kêu gọi "Nhiệm vụ của Trung đoàn là quyết tử để cho Bê-ô-grát và Tổ quốc quyết sinh. Chớ có lo lắng gì cho cuộc sống của chúng ta. Cuộc sống đó không tồn tại nữa". Họ đã hiến dâng cuộc sống của riêng mình cho Bê-ô-grát sống mãi. Họ đã khiến cho kẻ thù phải cúi đầu tôn kính họ, khiếp sợ Bê-ô-grát, khiếp sợ Tổ quốc của họ. Không ai khác, chính viên thống chế Đức Phôn Mác-kên-dên khi vào được Bê-ô-grát đẫm máu đã ra lệnh cho quân lính của y xây dựng ngay tượng đài Người lính bảo vệ Bê-ô-grát. Sử sách nhiều nước đã viết về những quyết tử quân Bô-ô-grát, song chắc chắn là chưa có ở đâu và chưa bao giờ tấm gương chiến đấu hy sinh của những người anh hùng ấy được nhắc tới sống động như ở Liên khu I trong dịp Tết Đinh Hợi 1917, khi những chiến sĩ cảm tử của thủ đô Hà Nội đã giữ vững trận địa được 34 ngày và trong lời chúc mừng Xuân mới ai nấy thề nguyện với nhau: Còn một viên đạn, còn một người, còn trận địa. Sống với Hà Nội, chết với Hà Nội. Sáng ngày mồng hai, bữa ăn đã trở lại bình thường với cá kho, vừng, lạc, nhưng ở các vị trí chiến đấu, không khí Tết vẫn kéo dài với những tá thư từ hậu phương gửi vào: "Chúc các anh bộ đội cảm tử Thủ đô ăn Tốt vui vẻ sang năm mới diệt được nhiều giặc, kìm chân địch lâu ngày trong Hà Nội để hậu phương được thêm thời gian yên ổn, chuẩn bị kháng chiến trường kỳ"... Không khí Tết kéo dài vì một lý do nữa là mỗi ngày mỗi tổ chiến đấu chỉ có một người được nghỉ để đi chúc Tết, thăm hỏi bạn hữu, những người khác phải thường trực chiến đấu, nên hết lượt người nghỉ để đi chúc Tết phải mất bốn năm ngày. Từ sáng mồng ba, không khí Tết tăng lên với chiến thắng đầu Xuân ở nhà Xô-va đường Trần Quang Khải, đánh Tây chạy tán loạn, ở nhà Hoa Nam phố Hàng Giấy đánh Tây chết la liệt. Thế rồi qua ngày mồng năm, có tin Hồ Chủ tịch gửi thư riêng cho Trung đoàn Thủ đô. Tin truyền đi rất nhanh từ Ban chỉ huy Trung đoàn, đến cấp tiểu đoàn, xuống đến từng tổ chiến đấu chỉ trong một loáng. Nhà in còn xếp chữ in thư Cụ Hồ, nhưng các chiến sĩ đã kháo nhau: "… Cụ gọi chúng mình là các em..." Cụ không ăn Tết vì nghĩ đến chúng mình đang chiến đấu gian khổ"... " Cụ viết thư đúng ngày giỗ trận Đống Đa mồng 5 Tết. Cụ chọn ngày này mới viết là có ý nghĩa lắm đấy..." - Các chiến sĩ thao thức đón chờ báo Chiến Thắng để đọc thư Cụ Hồ: "Củng các chiến sĩ yêu quý Trung đoàn Thủ đô, "Các em ăn Tết thế nào? Vui vẻ lắm chứ ? Tôi và nhân viên Chính phủ vì nhớ đến các em cho nên cũng không ai nỡ ăn Tết. Còn 90 phần trăm đồng bào ở hậu phương cũng giảm 90 phần trăm mâm cỗ tiệc tùng, ai cũng tiết kiệm để dự bị công cuộc trường kỳ kháng chiến. "Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử cho tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp thu cái tinh thần bất diệt đó để lại truyền cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau. "Chí kiên quyết dũng cảm, các em đã sẵn có, đây tôi chỉ nhắc vài điều mà các em phải nhớ luôn luôn: - 1. Phải hết sức khôn khéo, nhanh chóng, bí mật, phải biết cách hóa chính vi linh. - 2. Phải rút kinh nghiệm hàng ngày, hàng giờ, phải đề phòng Việt gian, trinh thám. - 3. Phải hết sức cẩn thận. Phải luôn luôn có sáng kiến để lợi dụng thời cơ. - 4. Tuyệt đối đoàn kết. "Các em hăng hái tiến lên, lòng già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn bên cạnh các em. "Tôi thay mặt Chính phủ và đồng bào gửi các em lời chào thân ái và quyết thắng. Ngày tháng 1-1947 HỒ CHÍ MINH Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Bảy, 2025, 07:40:46 pm CHƯƠNG VII NHỮNG NGÀY QUYẾT LIỆT Đại tá Đép-bơ (Debes) nhận làm cái việc mà tướng Moóc-li-e không làm được: nhanh chóng quét hết quân Việt Minh ở trung tâm thành phố, nhổ cái dằm nhức nhối ấy đi. Đép-bơ hăng hái lắm, từng chê bai viên tướng nọ là con người không cả quyết, không dám mạnh tay, song phải đến khi ngồi vào vị trí tư lệnh quân viễn chinh ở Hà Nội thì y mới thấy được hết vấn đề. Thực ra, những chiến tuyến phòng ngự của "cái dằm nhức nhối" ấy, đâu phải là có thể đứng vững được trước uy lực của những quả bom 100 kylô thậm chí 50 kylô thôi. Chỉ một trận rắc bom liên tục đánh xập các dãy nhà trên dọc đường Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, Hàng Giấy, không đến một cây số là trận địa đối phương bị bổ dọc làm đôi. Một trận bom nữa đánh cắt ngang, phá xập phố Hàng Bát Đàn, Hàng Bồ, Hàng Bạc là coi như xong. Thế nhưng, lúc này quân viễn chinh Pháp lại chưa có đủ bom đạn để làm được như vậy. Cao ủy Đác-giăng-li-ơ và tướng Va-luy cho rằng chỉ một chiến dịch càn quét là đủ dập tan lực lượng quân sự Việt Minh. Cựu thủ tướng Bi-đôn cũng cho rằng chỉ nã đại bác là xong hết... Không ai tính đến chuyện phải tiến hành một cuộc chiến tranh. Cho nên quân viễn chinh chỉ được trang bị những quả bom sát thương cỡ nhỏ. Thực ra, những binh sĩ Việt Minh đang bám lấy mảnh đất nhỏ hẹp ở trung tâm Hà Nội, chẳng phải là những chiến binh được tập luyện nhiều nhặt gì. Họ không có lấy một khẩu ba-đô-ca, một khẩu súng cối cỡ nhỏ nhất, nhưng đó lại là những tay du kích đáng gờm và họ đã tạo ra được một trận địa phòng ngự kỳ lạ để phát huy sở trường của mình. Binh lính Pháp, những tay lê-dương rất lì lợm cũng sởn tóc gáy khi phải xông đến trước "cái dằm nhức nhối" ấy. Hàng chục xe tăng, xe thiết giáp bị bất thần đánh gục, vì bom ba càng kiểu Nhật Bản, bị biến thành đống lửa vì những chai xăng-krếp. Hàng trăm lính thiện chiến đã bị loại khỏi vòng chiến vì những viên đạn, những mảnh lựu đạn không biết từ đâu bắn ra, ném ra. Phải có đông quân, đánh liên tục, mới đối phó có hiệu lực, nhưng lúc này, quân Pháp ở Hà Nội cũng chưa có khả năng đó. Vấn đề cốt tử là phải được tăng viện cấp tốc. Song quân đó lấy ở đâu? Trong Nam Bộ và Nam Trung Bộ, chiến tranh du kích đang phát triển, không thể lấy lực lượng từ đó đưa ra Hà Nội được. Từ vĩ tuyến 16 trở ra, quân Pháp đóng ở Vinh đã phải đầu hàng còn ở Đà Nẵng, Huế, Nam Định, Hải Dương… đâu đâu cũng cần tăng viện, sẽ có tăng viện, nhưng phải chờ lấy quân từ bên Pháp, từ các thuộc địa Pháp ở châu Phi đưa sang. Đép-bơ lên Hà Nội thay chân Moóc-lie khi quân Pháp đang mở trận tiến công ra Giảng Võ ngày 6 tháng 1. Từ sau hôm đó, mặt trận Hà Nội vắng lặng đi, ngừng hết các cuộc đánh ra các cửa ô, Đép-bơ cũng đành chịu đựng "cái dằm nhức nhối", trong trung tâm thành phố, phải chờ tăng viện. Trung tuần tháng 1, quân tăng viện đổ lên Hải Phòng. Nhưng còn phải dùng lực lượng ấy vào việc đánh thông đường Hải Phòng - Hà Nội. Con đường dài 100 km, mà muốn bảo đảm an toàn, một thứ an toàn tương đối thôi, thì ít nhất cũng phải kiểm soát được những làng mạc sát ven đường. Cũng trung tuần tháng 1, có một số quân tăng viện cho Hà Nội, song chỉ để bù vào số hao hụt những thương vong từ tối 19-12-1916. Phải đến cuối tháng mới thực sự có một lực lượng để tiến công. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Bảy, 2025, 07:41:37 pm - Trận Xô-va - Phố Trần Quang Khải
Từ sau Tết Nguyên đán, cuộc chiến đấu ở Liên khu I đi vào giai đoạn gay go quyết liệt nhất. Địch đã có quân tiếp viện, vũ khí đạn dược phương tiện chiến đấu ùn ùn chở từ Hải Phòng lên. Một mũi chúng dồn sức đánh bật các đơn vị của ta ra khỏi các cửa ô. Mặt khác, chúng mở những cuộc tiến công nhằm chiếm từng khu vực khép chặt vòng vây quanh trận địa trụ bám của ta ở trong Liên khu I, chia cắt trận địa này ra từng mảng nhỏ và cuối cùng tiêu diệt toàn bộ Trung đoàn thủ đô. "Chiến thắng - quyết thắng", đó là lời chào đầu năm, lời chúc Tết Đinh Hợi của các chiến sĩ cảm tử trụ bám trong Liên khu I - Hà Nội. Và lời chào, lời chúc nhau ấy được thể hiện ngay ngày mồng 2 Tết (23-1-1947) tại vị trí Xô-va. Góc đường Trần Quang Khải - Hàng Mắm, có một ngôi đền nhỏ dưới bóng một cây si, nhân dân quen gọi Đền cây si. Cạnh đền, về phía nam, là một dãy nhà hai tầng xây theo lối cổ, 13 gian (hiện nay là trường Nguyễn Huệ). Tiếp giáp đó, đến ngõ Nguyễn Hữu Huân. Dãy nhà 13 gian ấy là cơ sở của Công ty vận tải đường biển và đường sông của Pháp kiều, Công ty Xô-va hoạt động từ những năm đầu thế kỷ. Khi tình hình căng thẳng, trung tuần tháng 12-1946, các Pháp kiều chuyển vào "khu phố Tây". Nhà Xô-va là một vị trí rất quan trọng của ta, cùng với vị trí Trường Ke cách đó mấy trăm mét về phía bắc, giữ con đường liên lạc của ta từ trận địa Liên khu I ra hậu phương theo đường ven bãi sông Hồng. Nói cách khác, nếu địch chiếm được cả hai vị trí Xô-va và Trường Ke thì Trung đoàn Thủ đô hết khả năng trụ bám. Đã nhiều lần, đích tìm cách tấn công vị trí Xô-va, Từ vị trí của chúng ở nhà Giao thông Công chính, đánh qua dãy kho Nhà Thương chính sang đầu nhà Xô-va chỉ có 200 mét. Có một lần, địch đã cho một xe G.M.C lao rất nhanh từ Nhà Giao thông công chính theo đường Trần Quang Khải lên Cột đồng hồ thăm dò lực lượng ta phản ứng thế nào. Nhưng vừa đến ngang nhà Xô-va thì chiếc xe vận tải ấy bị bắn thủng lốp, tên lái xe bỏ chạy qua bờ đê để lộn lại vị trí xuất phát. Chỉ mấy phút sau, ta đã đốt cháy chiếc xe GMC đó. Vị trí Xô-va do một tiểu đội phụ trách, có thêm hai tiểu đội nữa đóng ở Hàng Tre, Hàng Mắm hỗ trợ. Vị trí này thường bị địch uy hiếp. Từ tầng 2 Nhà giao thông công chính, chúng đặt một khẩu súng máy bắn sang mỗi khi thấy bóng quân ta đi lại trên gác hoặc dưới sân. Ngang nhà Giao thông công chính, trên mặt đê, chúng xếp bao cát đặt một ụ súng đại liên khống chế dọc đường Trần Quang Khải đến cột đồng hồ. Tất cả các cửa sổ, cửa ra vào của mặt tiền nhà Xô-va, hướng ra đường Trần Quang Khải đều bị khẩu súng máy này bằm nát hết. Ngày mồng 2 Tết, địch tấn công vào nhà Xô-va vào lúc gần trưa: - Một mũi khoảng hơn một trung đội đánh vào chính diện, từ bờ đê vượt qua mặt đường Trần Quang Khải đánh sang. - Một mũi nữa, với lực lượng mạnh hơn có hai tên Việt gian dẫn đường và có xe tăng yểm hộ theo dọc đường Hàng Tre, đánh mặt sau lưng. Trong lúc này, tiểu đội giữ vị trí Xô-va có thêm 4 trinh sát viên của tiểu đoàn, tất cả 11 người. Nhưng lực lượng giữ tầng dưới bị hỏa lực xe tăng địch uy hiếp dữ dội nên phải lui dần, rồi bị đẩy bật sang đầu Hàng Mắm, Hàng Tre, lực lượng chốt trên gác tuy có ít người, song có lợi thế, nên giữ được vị trí lâu hơn. Địch mon men đến chân cầu thang, trên gác ta ném lựu đạn xuống, chúng bị thiệt hại nhiều, phải dãn ra. Chúng không biết rõ lực lượng ta có bao nhiêu trên đó nên phải dè dặt, không dám xông ào lên. Thực ra sau vài chục phút cầm cự, trên gác này chỉ còn một người, đó là chiến sĩ trinh sát Nguyễn Xuân Nho. Anh cố cầm cự để chờ quân tiếp viện đến phối hợp. Lựu đạn có ít, anh phải dùng gạch, ngói đánh địch, đôi khi chộp lấy lựu đạn địch từ dưới ném lên mà quẳng lại, Nhưng rồi lựu đạn cũng hết. Anh buộc phải lao qua cửa sổ phía bắc, chuyền sang cây si bên đền, bám lấy rễ si tụt xuống. Lúc này, hai tên lính Pháp từ phía bờ sông vào trông thấy đuổi theo. Với khẩu súng ngắn Nho hạ được một tên, tên thứ hai phải lùi lại nhưng nó cũng bắn được một viên đạn trúng bắp chân Nho trong khi anh đang luồn qua giao thông hào ở đầu phố Hàng Mắm bắt liên lạc với tiểu đội án ngữ ở phía này Cả tháng chuẩn bị, ngày nào cũng làm thêm vật chướng ngại, củng cố thêm công sự bị địch thường xuyên bắn phá, rồi chỉ một chút sơ hở, và chỉ trong mấy chục phút thôi, địch đã chiếm được tầng dưới vị trí quan trọng này. Quân ta bị bất ngờ, không ai nghĩ rằng địch có khả năng đánh vào lúc gần trưa, nên chúng ập đến sát sườn mới biết, không kịp đối phó. Lúc được tin cấp báo "địch tràn vào Xô-va rồi", tiểu đoàn phó Vũ Lăng sửng sốt, anh lao đi đốc chiến ngay. Tới đại đội 14, đơn vị có trách nhiệm giữ chốt Xô-va và khu vực Hàng 'Tre, Hàng Mắm, Cột đồng hồ, thấy đại đội trưởng Hoàng Viết Điểm đang tập trung lực lượng tiếp viện, anh giục: "Đi ngay, đánh ngay, chậm phút nào địch nó củng cố được khó đánh". Anh lại sang đại đội 13, lệnh cho đại đội trưởng Cẩm Giàng đưa thêm một trung đội sang chi viện cho đại đội 14 Vị trí Xô-va đã lọt vào tay địch, nhưng phải nói rằng việc cầm cự của trinh sát Nguyễn Xuân Nho ở tầng trên kéo dài được hơn nửa tiếng đồng hồ, đã làm cho địch phải đối phó lúng túng chưa thể hoàn toàn làm chủ tình thế ở đây được. Chính đó là điều kiện thuận lợi cho việc đưa quân tiếp viện đến ứng cứu được kịp thời. Cả đại đội trưởng Hoàng Viết Điểm và đại đội phó Nguyễn Kiềm chia nhau trực tiếp chỉ huy trung đội ứng cứu. Họ bí mật tiếp cận địch. Tên lính Pháp đứng gác ở cửa thông tường từ nhà Xô-va sang phía Hàng Mắm bị tiêu diệt đầu tiên trong khi nó đang chú trọng đến tầng gác của nhà Xô-va mà đến giờ phút đó chúng vẫn chưa chiếm lĩnh được. Đến lượt quân địch bị bất ngờ. Chúng chạy nhốn nháo, chưa kịp ứng phó thì đã thấy quân ta xuất hiện trước mặt, sau lưng. Chúng nó chỉ còn cách bắn vung vãi để tìm cách tháo chạy, nhưng phía Hàng Tre - đường chúng rút chạy, số phận chứng đã được định đoạt: ở đây, ta đã bố trí sẵn một tiểu đội và hơn một chục tên địch ngã gục trong tầm súng của tiểu đội này. Chiếm lại vị trí Xô-va, ta thu được một số vũ khí quân trang, quân dụng. Quý nhất là hai hòm đạn, một khẩu súng trường rơ-minh-tông, một khẩu tiểu liên Tuyn, những thứ mà ta đang cần. Nhưng còn một thứ quý hơn, cần hơn, phải đến tối, qua cuộc họp kiểm điểm mới thu hoạch được, ấy là những khuyết điểm, những ưu điểm, những kinh nghiệm. Báo Chiến thắng số đầu Xuân tường thuật tỷ mỷ diễn biến của trận Xô-va, bài học Xô-va cùng với tin đồng chí tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp điện khen đơn vị chiến thắng ở vị trí Xô-va có đoạn: "... xứng đáng là một đơn vị của trung đoàn thủ đô của Vệ quốc đoàn Việt Nam" được nhanh chóng chuyển đến từng tổ chiến đấu đang giữ các vị trí đối diện với địch trong Liên khu I. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Bảy, 2025, 07:42:53 pm Trận nhà Hoa Nam - Hàng Giấy
Cũng ngày mồng 2 Tết, địch tiến công vào chiến tuyến phía bắc của trận địa Liên khu I, từ Hàng Cót qua Hàng Lược, phố Gầm cầu sang Hàng Giấy. Phía Hàng Cót, tiểu đội của ta giữ Trường Thanh Quan không đủ sức đối phó với hỏa lực địch buộc phải rút sang chùa Ấn Độ. Trường tiểu học này giáp lưng với chùa Ấn Độ, cách nhau chỉ một bức tường, mấy lần địch định vượt sang đều bị thiệt hại, đến trưa chúng phải rút. Nhưng hướng chính của địch trong ngày hôm đó trên chiến tuyến phía này là phố Hàng Giấy. Đã gần một tháng, từ ngày đầu năm 1947 ngôi nhà cao tầng ở giữa phố này, Nhà Hoa Nam là cái gai nhức nhối với địch. Từ đây, các chiến sĩ ta đặt súng bắn tỉa diệt được khá nhiều địch ở bốt đầu cầu và trên các đoàn xe lửa chạy qua cầu đá nối cầu Long Biên với ga Hà Nội. Người nổ súng bắn tỉa đầu tiên ở vị trí Hoa Nam là cô gái Hà Nhật, nhân viên tổ quân nhu của khu Đồng Xuân, hôm đầu năm dương lịch ra thăm anh em ngoài chiến tuyến với ba viên đạn súng trường vừa mới được thưởng vì thành tích chăm học và học giỏi trong mấy ngày luyện tập bắn súng ở bãi tập trong chợ Đồng Xuân, Hà Nhật được vinh dự "bắn mở hàng". Cô bắn viên thứ nhất xuyên táo hai tên địch đang nhởn nhơ bá vai nhau bên ổ súng máy của bốt Đầu cầu. Đến viên đạn sau, cô quật ngã một trong những tên lao ra cứu hai tên kia đang quằn quại kêu rống. Còn viên thứ ba, cô không bắn nữa. Đồng chí chỉ huy bắt phải rút ngay xuống tầng dưới cùng, đề phòng địch truy lại. Người diệt được nhiều địch nhất ở vị trí Hoa Nam này anh Vũ Tá Lâm, thuộc hạng "vua bắn tỉa" của trung đoàn, cùng lứa tuổi 17, cũng tương đương thành tích với Lương Vị, tay súng cừ khôi của khu Hoàn Kiếm. Những khẩu súng máy của địch ở bốt Đầu cầu thường xuyên bắn vào những cửa sổ, những lỗ đục trên mặt tường phía đông, phía bắc nhà Hoa Nam, nhất là khi có một đoàn tàu vận tải chạy qua, thế nhưng có lần Vũ Tá Lâm gan góc và mưu trí đã nổ gọn cả hai băng đạn Tôm-xơn vào một toa tàu chở đầy lính địch. Riêng lần bóp cò súng ấy, anh em trong tiểu đội bình cho Lâm "quật đổ 13 tên". Đó là một toa đen, chuyên chở hàng nặng, không có mui, lính địch ngồi đầy trên sàn, ngã vật ngả nghiêng trông rõ mồn một. Ngày mồng 2 Tết, mở đầu một đợt tấn công mạnh vào Liên khu 1, địch muốn nhổ bật cái gai nhức nhối ở nhà Hoa Nam, đánh bật quân ta khỏi vùng gầm cầu xe lửa, chiếm được vị trí này rồi chúng sẽ thọc ngay đến chùa Huyền Thuyên ở phố Hàng Khoai, ngay bên chợ Đồng Xuân. Trước hết, một xe bọc thép kéo một khẩu pháo đi dọc cầu xe lửa, đến cách nhà Hoa Nam chừng 70 mét, bắn hơn chục phát. Tường nhà, từ gác hai trở lên bị phá nát hết, nhưng nhà bê tông cốt sắt, không sập. Chiến sĩ ta tản hết sang các nhà quanh đó chỉ bị sức ép, ù tai. Sau khi pháo ngừng bắn, bộ binh địch tiến vào theo đường Hàng Giấy và ngõ Hàng Khoai hình thành thế bao vây đánh khép lại. Tại chốt này, ta chỉ có 6 người, dồn hết lên mấy nhà phía trước chặn địch ở sát gầm cầu. Các chiến sĩ luồn từ nhà này sang nhà khác, từ phòng nọ sang phòng kia, bất thần xuất hiện quét tiểu liên hoặc ném lựu đạn. Ta chặn địch ở trên mái nhà, trên gác, dưới sân. Có lúc ta và địch rình nhau bên miệng lỗ chui qua tường, mã tấu kề bên miệng lỗ, hễ địch chui sang là chém. Có lúc ta và địch ở cạnh nhau, cách một bức tường, nghe tiếng giày, tiếng nói mà đoán vị trí và hành động của địch. Chúng tiến đến đâu bị chặn đến đấy, phải loanh quanh đối phó với 6 chiến sĩ ta. Sau chúng mở một mũi đánh vòng sang phía sườn bên phải sát với nhà Hoa Nam và dọc tường phía sau. Lúc này, tổ chiến đấu ở Hoa Nam đã rút cả về vị trí cố thủ, chưa một ai bị thương, lại được tiếp tế 30 lựu đạn bổ sung thêm 3 chiến sĩ nữa. Họ chất bàn ghế cồng kềnh chặn các lỗ chui qua tường, chặn kỹ các cửa, rồi ẩn nấp im lặng chờ địch. Đợi hồi lâu không thấy ta đánh lại, địch tưởng ta đã rút chạy, bèn xô nhau đẩy đổ bàn ghế chui vào nhà. Một tốp 7, 8 tèn ùa vào sân, xông vào nhà ngoài, định lên gác thì bất thần, từ một lỗ cửa phía sau cách 7 mét, tiểu liên của chiến sĩ Lâm quét dữ dội, làm địch đứa chết, đứa chạy tán loạn. Đồng thời, ở các góc tường, góc buồng lựu đạn của ta cũng phản kích một lúc đánh bật đích ra. Bị đòn bất ngờ, địch phải tập trung lựu đạn và bắn áp chế, dùng đạn khói để nhảy vào kéo xác đồng bọn mang đi. Chúng rút sang nhà Xăm Hàng Giấy, một nhà cho thuê chỗ ngủ trọ, có nhiều buồng ngăn cách bằng gỗ, sàn, gác cùng bằng gỗ, nay là rạp Bắc Đô. Chúng đóng ở đây một trung đội. Ta và địch cách nhau vài chục mét. Đêm hôm ấy trung đội trưởng Thư Chương dẫn một tiểu đội sang đánh, nhưng không thành công. Sáng hôm sau, mồng ba Tết, từ nhà Hoa Nam các chiến sĩ ra nheo tiếng động bên nhà Xăm Hàng Giấy, leo lên gác quan sát thì thấy có hai tên địch đang đập phá một cái lan can bằng gạch. Vũ Tá Lâm liền kê nòng súng vào một khe cửa rất nhỏ nổ một loạt đạn ngắn, một tên địch ôm bụng ngã lăn quay. Anh bấm cò lần nữa, tên thứ hai bị trúng vào đầu, chết tại chỗ. Trong nhà Xăm địch la thét ầm ĩ. 15 phút sau, chúng kéo nhau đi. Trong khi đó, một xe bọc thép lại kéo pháo ở trên cầu xe lửa, đến đúng chỗ đặt pháo hôm qua. Vị trí Hoa Nam lại bị một trận mưa đạn pháo dữ dội, các tầng gác hai, gác ba tường vỡ toang hoác. Thì ra lúc nãy bọn địch ở nhà Xăm rút đi là để tránh xa tầm nguy hiểm của đạn pháo. Chúng quay lại vị trí này ngay sau khi pháo thôi bắn. Rõ ràng, địch muốn lấy đó làm bàn đạp đánh chiếm vị trí Hoa Nam của ta. Đã có những bài học không thành công hôm trước, đêm nay, đánh lần thứ hai, anh em ta chuẩn bị chu đáo hơn, từng tổ, từng người được phân trách nhiệm cụ thể. - Tiểu đội phó Trung chỉ huy hai tổ bắn chặn các cửa sổ, ghìm địch trong vị trí. - Tiểu đội trưởng Hiển và chiến sĩ Nghĩa trang bị tiểu liên bí mật trèo lên sân thượng, từ nóc nhà đánh xuống - Thư Chương và Sơn Dơi phá cửa bếp xông thẳng vào tầng dưới. Trận đánh diễn ra gần đúng như ý định, một trận hỏa công. Địch từ trên gác bắn xuống chặn ta. Nhưng ta áp đảo được ngay. Chiến sĩ Sơn Dơi vừa phá tung cửa bếp thì trung đội trưởng đã lao vút vào trong nhà ném lựu đạn, ném chai cháy. Lửa cháy đằng trước, lửa cháy đẳng sau, lửa bốc cháy dữ đội nhất từ buồng cầu thang, nơi chủ nhà Xăm này dùng làm kho chứa những đống đệm nhồi cỏ khô. Tổ Hiển - Nghĩa từ trên cao quét tiểu liên xuống, Sơn Dơi từ ngoài sân ném lựu đạn vào. Địch bị diệt hơn chục tên, bọn sống sót đạp cửa lao bừa ra ngoài đường cố chạy thoát chết. Nhà Xăm Hàng Giấy cháy rừng rực suốt đêm đến sáng mồng 1 Tết, tức là sáng ngày 25-1-1947. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Bảy, 2025, 07:43:44 pm Trận Hàng Thiếc.
Trước tết nguyên đán ba ngày, trận địa trụ bám của Trung đoàn Thủ đô bị cắt mất một mảng, đúng góc tây nam. Ở hướng này, ta và địch quần nhau liên tục từ ngày đầu nổ súng. Trên Đường Thành với vị trí nhà Ô-lanh-pia, các chiến sĩ ta liên lục đánh bại các cuộc tiến công của địch và diệt được nhiều lính và xe địch bằng lối bắn tỉa. Trên chiến tuyến Hàng Bông, Hàng Gai ta cố giữ chặt một đoạn đầu phố Hàng Bông vì bỏ mất đoạn này thì tuyến Đường Thành cùng sẽ không còn nữa, ta cố giữ nửa dãy phố Hàng Gai, bên số chẵn, vì lùi một bước là tới Hàng Đào, tạo ra cho địch một bàn đạp mà chúng đang thèm muốn để thọc thẳng vào trung tâm Liên khu I. Ở hướng này, các chiến sĩ ta phòng ngự rất kiên cường. Đã bao lần địch đánh to, đánh nhỏ, ta đều đẩy lùi được hết. Nhưng, ngày 28 tháng chạp ta bị bất ngờ, địch đi lặng lẽ vào ngõ Tạm Thương, Ngõ Yên Thái luồn vào phía sau lưng ta rồi từ đó đánh ra. Ta phải bỏ một đoạn tuyến Hàng Bông, Đường Thành nhiều căn nhà ở khối phố bị đốt cháy trụi. Sau Tết, địch đánh liên tục vào hướng này. Ta vẫn giữ được trọn vẹn chiến tuyến Hàng Gai, nhưng địch lấn được vào đến Hàng Hòm, Hàng Nón. Đầu tháng 2 dương lịch, ở hướng tây nam, Hàng Thiếc trở thành tuyến đầu và Hàng Gai là tuyến đột xuất. Nhiều người cho rằng địch sẽ đánh vào Hàng Gai, bởi lẽ chúng đã dừng lại ở đây quá lâu, ngót bốn chục ngày rồi (kề từ 28-12-1946, khi chúng chiếm được bên dãy số lẻ) chúng đã đánh hàng chục lần sang đây, biết rõ địa hình. Tiểu đoàn trưởng Vũ Yên cũng tán thành như vậy, phải sẵn sàng đối phó với một trận đánh quyết liệt của địch vào tuyến Hàng Gai, nhưng anh lưu ý mọi người không được một chút lơ là về hướng Hàng Thiếc, ta mới lập tuyến này chưa được thử thách. Vả lại, nếu địch thọc qua được Hàng Thiếc là chóng đến Hàng Bồ rồi. Trung đội trưởng Anh Dũng được giao trách nhiệm tổ chức việc phòng ngự ở Hàng Thiếc. Các phố Hàng Gà, Hàng Hòm, Hàng Gai, Hồng Nón, Hàng Đàn, Hàng Quạt, không mấy ngày là không có những ngôi nhà bị đốt cháy, bị đánh xập mái. Địch dùng bom đạn kết hợp với những lực lượng đột kích nhỏ liên tục công phá khu vực tây nam trận địa trụ bám của ta. Sáng 7-2, các khu vực phòng ngự của tiểu đoàn 102 chìm trong khói lửa, nhưng nơi bị đạn địch đổ dồn vào bắn phá nặng nhất là phố Hàng Thiếc. Địch tiến rất thận trọng. Xe tăng bắn yểm hộ cho bộ binh chiếm từng căn nhà bỏ trống ở các phố Hàng Bát Đàn, Hàng Nón, cho công binh dọn vật cản, san lấp chiến hào. Đến gần trưa, địch đưa xe tăng vào ngã ba Hàng Nón, Hàng Thiếc và ngã tư Bát Đàn, Hàng Thiếc. Hàng Bồ, Thuốc Bắc. Trung đội Anh Dũng giữ tuyến Hàng Thiếc bị cắt đôi. Trận đánh diễn ra trong từng căn nhà. Ta địch giành giật từng căn buồng, từng bờ tường Tiểu đội trưởng Trần Đan đánh bật mấy đợt xung phong của địch. Ở một vị trí chiến đấu trên gác một ngôi nhà hai tầng, Trần Đan giành được lợi thế, nên tuy bị thương nát bàn tay phải, với tay trái, anh vẫn kiên cường dùng lựu đạn giữ vững vị trí Đồng chí Minh bị lựu đạn hóa học của địch làm mờ mắt không nhìn thấy gì, anh vẫn ngồi nguyên tại chỗ, lắng nghe tiếng giày đinh của địch phát ra từ phía nào là bắn về phía đó. Kẻ địch đã gặp phải một trung đội mạnh hầu hết là chiến sĩ tự vệ chiến đấu, công an xung phong đã đánh rất nhiều trận ở Cửa Nam, Tràng Thi, Hàng Trống, Hàng Bông... đơn vị có nhiều cán bộ, chiến sĩ được gọi là "vua gan lì", "vua lựu đạn" "vua bắn tỉa" "vua xung phong"... tiến qua mỗi căn buồng, vượt qua mỗi bức tường, chúng đều phải trả giá. Đến trưa, 14 giờ, ta bỏ tuyến 1 Hàng Thiếc, bên dãy số chẵn, rút về giữ tuyến 2, bên dãy số lẻ. Địch cũng ngừng lại, chúng đã bị thiệt hại khá nhiều về sinh lực. Liên tiếp mấy ngày sau mặt trận Hàng Thiếc vẫn sôi động, căng thẳng, ngùn ngụt khói lửa. Khi ta đánh sang phía địch, khi địch đánh sang phía ta. Nhưng không dùng bộ binh nữa mà toàn dùng hỏa lực bắn phá, phun xăng đốt nhà cửa. Đặc biệt, chúng dùng đến máy bay khu trục nhào lộn xả đạn vào phía sau tuyến Hàng Thiếc. Và do đó các chiến sĩ của tiểu đoàn 102, trên trận địa khu Đông Thành đã lập được chiến công xuất sắc, hạ tại chỗ một máy bay địch. Nào đã có ai đã học cách bắn máy bay bằng súng trường, súng máy? tư thế bắn ra sao? nằm, quỳ, ngồi hay đứng? Bắn mục tiêu di động thì phải ngắm đón đầu, nhưng ngắm đón thế nào?... chỉ biết rằng trước đây, khi máy bay Mỹ lao vào Hà Nội, lính Nhật vẫn nằm ngửa trên đê sông Hồng chĩa súng lên trời bắn đòm đòm. Và, trong một số phim truyện về chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918, có cảnh lính Pháp bắn rơi máy bay Đức bằng súng trường. Ở khu Đông Thành này, đã có lần tự vệ Tô Tịch do anh Lê Hợi chỉ huy, bắn trúng một máy bay thám thính của địch. Đang lượn vòng bay vè vè dòm ngó trận địa ta, bị trúng đạn, nó lãng vội về phía sân bay Gia Lâm. Có người bảo: nhất định nó rơi tan xác. Người thì bảo là nó vẫn có thể hạ cánh được. Nhưng có điều rõ rệt, ai cũng thấy nó phì khói, kéo ngang trời một vệt khói đen xì. Chưa ai được học cách bắn máy bay, nhưng ai cũng biết cũng tin rằng súng trường có thể hạ được nó và những ngày sau đó, hễ cứ nghe thấy tiếng máy là các chiến sĩ Đông Thành lại tự động leo lên các nóc nhà cao tầng, giương súng rình bắn. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Bảy, 2025, 07:44:26 pm Trận Trường Ke - phố Trần Nhật Duật
Sau trận Hàng Thiếc, địch chuyển hướng tiến công sang mặt đông trận địa của Trung đoàn Thủ đô mục tiêu là Trường Ke. Thời Pháp thuộc, đường bờ sông mang tên Ke Clê-măng-xô (Quai Clémenceau). Đường phố này có một trường Tiểu học, nhân dân ta gọi là Trường Ke, nay là Trường Trần Nhật Duật. Trung đội trưởng Cát Văn Soạn kể lại diễn biến trận Trường Ke như sau: Những triệu chứng về một đợt tiến công lớn của địch vào khu vực bắc trận địa Liên khu I đã thấy rõ rệt từ sáng 11/2. Nhiều chuyến xe vận tải địch chử hàng tiếp tế qua cầu Long Biên vào Hà Nội. Máy bay trinh sát lượn vòng dòm ngó chợ Đồng Xuân, bãi bóng Lơ-pa-giơ (nay là chợ Bắc qua), dọc đường Hàng Mã Hàng Chiếu... Đại đội trưởng Phúc Ánh triệu tập các cán bộ trung đội, nói: "Địch đánh vào khu Đồng Xuân, đại đội chúng ta phải sẵn sàng tiếp ứng cho tiểu đoàn 101. Nhưng ngược lại, rất có thể chúng đánh vào đại đội ta trước để uy hiếp phía nam khu Đồng Xuân. Trường hợp đó thì mục tiêu chính của chúng là Trường Ke...". Sau buổi họp chúng tôi trở về đơn vị ráo riết chuẩn bị chiến đấu, củng cố các tuyến giao thông hào, đường xuyên tường, các hố cá nhân, những ụ súng, lỗ châu mai... tôi và trung đội phó Nguyễn Ngọ cùng hai chiến sĩ liên lạc đặt vị trí chỉ huy ở nhà 11 phố Đào Duy Từ. Đây là cửa đường thông tường với vị trí Trưởng Ke. Sáng 12 tháng 2, xe tăng, xe thiết giáp địch từ đầu cầu Long Biên, dọc theo đường Trần Nhật Duật lao xuống đến gần nhà nước mắm Vạn Vân thì dừng lại, xả đạn về phía bãi lơ-pa-giơ. Chúng tôi phán đoán: địch đánh Đồng Xuân. Nhưng độ dăm phút sau mới rõ: Địch đánh Trường Ke. Xe tăng địch vừa bò vừa bắn như phun đạn vào các cửa sổ tầng gác hai ở đầu hồi phía bắc Trường Ke. Tôi chạy sang với tiểu đội đồng chí Hạnh, đơn vị đóng giữ Trường Ke. Lúc này, Hạnh đang ở trên gác cùng mấy chiến sĩ bắn bọn bộ binh địch thập thò nấp sau xe tăng. Bỗng anh gọi tôi, tay chỉ trỏ ra hiệu, miệng quát to "Nó bắn đại bác". Tôi hiểu ý: Xe tăng địch quay nòng chĩa vào bức tường đầu Trường Ke. Nó định mở một lỗ hổng cho bộ binh xung phong. Tôi vừa nhẩy xuống cái hố cá nhân, thì một tiếng nổ rất to. Rồi lại tiếng nổ nữa, tiếng nữa... gạch cát vôi vừa tung tóe - bụi khói mù mịt, Trong đám khói bụi đó, không đến mười mét, tôi đã thấy tường thủng một mảng lớn. Ngoài đường địch hò hét: "Ala-xô", tiếng giầy lạo xạo. Chúng tôi đánh quân xung phong cũng chẳng khó khăn gì: Súng trường tiêu liên chĩa cả vào chỗ tường thủng, lựu đạn thì ném vượt qua. Riêng tôi ném ba quả lựu đạn. Tiếng reo hò im bặt. Địch xung phong năm lần, thì cả năm lần đều bị đánh bật ra. Nhưng chúng đã phá cửa mấy nhà bên số chẵn đầu phố Hàng Chiếu, đối diện với đầu hồi nhà phía bắc vị trí Trường Ke, rồi chúng luồn qua cửa ô Quan Chưởng, lật sang phố Đào Duy Từ, thọc vào sau lưng Trường Ke. Em liên lạc Nguyễn Văn Lai dẫn quân tiếp viện, vừa qua nhà 11 Đào Duy Từ thì bị trúng đạn địch, hy sinh tại chỗ. Tiểu đội trưởng Hạnh xông xáo lao đi đón quân tiếp viện lại bị trúng đạn vào bắp chân, rồi bị đẩy dạt sang bên kia đường Đào Duy Từ, bên số chẵn. Địch tràn vào vị trí Trường Ke. Tiểu đoàn phó Vũ Lăng trực tiếp ra lệnh cho tôi: "Phải chiếm lại Trường Ke bằng được. Đánh ngay. Đại đội, tiểu đoàn sẽ chi viện thêm quân đến ngay". - "Đánh ngay, đánh ngay", anh dằn giọng vào mấy tiếng ấy, nhắc tôi bài học của trận Xô-va : "phải nhanh chóng kéo địch củng cố rồi thì khó đánh". Tôi cùng trung đội phó Ngọ phân công nhau: Đồng chí Ngọ chỉ huy một mũi đánh bật địch ra khỏi phố Đào Duy Từ, tôi cùng tiểu đội trưởng Mạnh dẫn anh của đội tiếp viện đánh quân địch mới lọt vào Trường Ke. Cũng lại giống như ở Xô-va, ta tiếp cận bí mật, đánh bất ngờ xung phong mạnh giành được thế chủ động; địch thì chưa quen địa hình, lại chưa nắm chắc được là trong những căn nhà chật hẹp nhiều ngăn, nhiều buồng chúng vừa chiếm được còn có quân ta phục kích hay không, nên chúng lúng túng, rối loạn ngay. Ta phản kích thắng lợi rất nhanh. Đội tiếp viện lấn từng căn buồng, đánh bật quân địch ra khỏi Trường Ke. Tiểu đội trưởng Hạnh rất xông xáo, tốp địch cuối cùng khi rút khỏi vị trí này, bị anh quét tiểu liên quật đổ hai tên. Kết thúc trận đánh, anh Vũ Lăng vui vẻ bắt tay khen chúng tôi bằng một lời cảnh cáo; "này, mất Trường Ke thì mất đầu đấy". Hôm sau, 18 tháng 2, xe tăng địch lại lao đến bắn phá vị trí Trường Ke, có người phán đoán "chúng nó vẫn nhằm mục tiêu này". Nhưng cũng có ý kiến khác: "không, chúng đánh lừa ta đấy, làm ra vẻ lại sẽ đánh Trường Ke, lừa cho ta tập trung vào hướng này để chúng tấn công hướng khác. Có thể là Đồng Xuân. Cứ theo dõi việc vận chuyển hàng tiếp tế của địch mấy hôm nay từ phía Gia Lâm sang Hà Nội thì trận tới sẽ là trận lớn". Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Bảy, 2025, 07:46:36 pm Trận Đồng Xuân
Cái chốt Hoa Nam sừng sững giữa phố Hàng Giấy bị bắn phá liên tục trong hai ngày 8 và 9 tháng 2. Ban chỉ huy tiểu đoàn 101 nhận định tình hình: Địch đang chuẩn bị cho một trận đánh vào khu Đồng Xuân mà lực lượng của ta ở đây chỉ có ít, 5 trung đội với hơn 130 cảm tử quân, dàn rộng ra trên một khu vực rộng. Cho nên cần thu bớt phạm vi phòng thủ lại. Hơn 40 ngày qua, chốt Hoa Nam đã hoàn thành nhiệm vụ ngăn chận địch từ xa, bắn tỉa diệt nhiều địch, gây cho chúng nhiều khó khăn, nay đã đến lúc cần rút chốt, để tránh bị địch tiêu hao, để tổ chức một đội làm lực lượng dự bị. Tiểu đoàn 101, ráo riết chuẩn bị đối phó với một đợt đành lớn của địch. Sáng sớm ngày 14 tháng 2, cả khu Đồng Xuân rung chuyển dữ dội. Máy bay địch ném bom theo trục đường Hàng Mã, Hàng Chiếu đến ô Quan Chưởng. Đại bác địch nã vào các phố Hàng Rươi, Hàng Lược, Hàng Đồng, Lò Rèn, Hàng Sắt... về trận này, đồng chí Đỗ Tần, ủy viên chính trị tiểu đoàn 101, nói: "Gọi là trận Đồng Xuân nên nhiều người đã hiểu rằng trận đánh diễn ra ở chợ Đồng Xuân. Không phải thế! Xin lưu ý, cái chợ này ở trung tâm khu vực phòng ngự của tiểu đoàn 101, chỉ là một mục tiêu của địch trong trận đánh lớn ngày 14-2, suốt từ mờ sáng đến tối mịt. Còn mục tiêu chính, chúng muốn phá tung các tuyến phòng ngự của tiểu đoàn Đồng Xuân, chiếm lấy phố Hàng Chiếu, Hàng Mã, rồi từ đó thọc thẳng vào trung tâm trận địa Liên khu I. Sáng hôm ấy, khi địch ném bom, bắn pháo mở màn, chúng tôi được tin trinh sát báo cáo: "Phía bắc, một xe bọc thép với một trung đội địch đang tiến vào đường Hàng Giấy, xuống phố Đồng Xuân. Phía đông, ở ngã ba Hàng Khoai - Trần Nhật Duật, xuất hiện 4 xe tăng - xe bọc thép. Phía tây, một xe bọc thép chạy đi chạy lại ở phố Hàng Gà bắn sang Hàng Mã. Sau đợt hỏa lực mở màn địch chuyển làn ném bom dọc phố Đồng Xuân, bắn pháo Hàng Đường, Hàng Chiếu. Lúc này, tại sở chỉ huy tiểu đoàn đang có cuộc hội ý cán bộ thì bất thần, một quả đạn cối 81 nổ ngay ngoài sân, sát cửa ra vào và cửa sổ phòng họp. Đồng chí Lê Thản bị thương. Đồng chí Ngô Lê Đông chính trị viên đại đội hy sinh vì một mảnh đạn trúng đầu. Đạn 81 tiếp tục rót vào sở chỉ huy chừng 10 phút, và chúng tôi bị thêm một đồng chí hy sinh, tiểu đoàn phó Nguyễn Hùng. Anh là một đảng viên trẻ, một cán bộ dũng cảm xông xáo. 7 giờ, các mũi tiến công của địch vào đến tầm súng của ta. Phía Hàng Giấy, ta chặn đứng quân địch ở ngã tư Hàng Khoai, Đồng Xuân. Hỏa lực trung liên của đồng chí Phạm Luận bố trí trên gác nhà số 2 phố Đồng Xuân bắn gục nhiều tên địch. Phía sau chợ Đồng Xuân, địch có 1 xe tăng, xe thiết giáp mở đường tiến vào bãi lơ-pa-giơ (nay là chợ Bắc Qua), đến gần giữa bãi thì vấp phải hỏa lực của tiểu đội Trần Gia Phong từ trong chợ bắn ra, và bị khẩu trung liên của đồng chí Nguyễn Văn Bật từ gác cao trường tiểu học Trung hoa bên phố Nguyễn Thiện Thuật bắn lướt sườn, phải co lại. Qua một giờ chiến đấu, xuất hiện nhiều tấm gương dũng cảm, mà được nói đến nhiều nhất lại là các cô gái Hàng Ngang, Hàng Đường, những nữ chiến sĩ trinh sát, liên lạc, y tá. Chị Nguyễn Thị Bích Thảo có mặt tại vị trí này lúc mờ sáng. Người đầu tiên bị thương ở đây là đồng chí Thọ. Bích Thảo băng bó cho anh, hướng dẫn anh về trạm cấp cứu cách đó khoảng một trăm mét, ở nhà số 48 phố Đồng Xuân. Tiếp đến là hai đồng chí nữa bị thương được cấp cứu tại chỗ, rồi cũng được đưa về trạm thương binh phía sau. Nhưng rồi, để đề phòng địch thọc qua được tuyến phòng ngự của ta, Bích Thảo phải quay về trạm để chăm sóc và bảo vệ thương binh, thì tắc đường: đường thông tường kín đáo vẫn đi bị bom địch phá sập mấy gian nhà, tắc nghẽn. Không ai nghĩ rằng cô gái hàng phố mảnh mai này lại có quyết định táo bạo như thế: Bích Thảo nhảy từ trên gác nhà số 2 phố Đồng Xuân xuống hè đường phố Hàng Khoai, đi lối khác về trạm. Các chiến sĩ giữ các vị trí trong chợ Đồng Xuân đều rất xúc động trước tấm gương dũng cảm, xông xáo của hai em Thanh và Tuyển. Đạn địch đang đổ vào đây, bóc đi những tấm tôn trên nóc chợ. Trong khi những người cầm súng ẩn nấp dưới hầm hố công sự thì hai em bé gái này băng từ chỗ này qua chỗ khác quan sát địch. Khi trở về Sở chỉ huy tiểu đoàn báo cáo tình hình, hai em còn tự động làm nhiệm vụ tải thương, khiêng một chiến sĩ bị thương nặng ra khỏi chợ. 8 giờ, địch tấn công đợt 2, có thêm một cánh quân từ phía tây đánh vào phố Hàng Đồng, Hàng Mã. Cánh quân này bị chặn đứng. Phía đông các mũi đánh vào khu vực chợ Đồng Xuân theo ngõ Thanh Hà thọc sang cửa ô Quan Chưởng cũng phải đẩy lùi. Nhưng từ phía Bắc, địch lọt được vào phố Đồng Xuân, chúng dồn sức tiêu diệt hỏa lực trung liên của ta ở vị trí nhà số 2 đầu phố Đồng Xuân. Trong đợt ban sáng, với khẩu súng máy này, đồng chí Phạm Luận đã diệt được nhiều địch, ghìm chúng ở bên kia đường cuối phố Hàng Giấy. Sang đợt hai, anh diệt thêm được một số địch nữa và hy sinh tại chỗ. Trung đội trưởng Dưỡng nhảy vào giữ súng máy cũng bị trúng đạn hy sinh. Trước sức công phá của đại bác địch, ta phải bỏ vị trí này. Từ đây, những cuộc đọ súng, đọ dao diễn ra trong các căn buồng, các khoảng sân hẹp cả trên mái nhà, Chính trị viên Hiền vừa kiểm tra xong trạm thương binh ở nhà số 48. Anh lao ra phía đầu phố, nơi ta đang chiến đấu quyết liệt với địch. Nhưng mới luồn qua mấy lỗ thông tường, qua mấy căn nhà, đã gặp địch. Chúng ở trên mái bằng một căn nhà mà dưới đó có em Tuyến trinh sát, em Đóa liên lạc. "Phải đánh lạc hướng kẻo chúng xộc vào trạm thương binh". Anh dặn Tuyến như vậy rồi leo lên gác. Địch thấy bóng anh, chúng đuổi theo bắn. Anh nhẩy sang một mái nhà khác quay súng diệt được một tên. Cả khối thịt của nó cùng cây súng tiểu liên với những băng đạn đeo trước ngực, lựu đạn cài quanh dây lưng, lăn từ trên mái nhà rồi đâm bổ xuống đất. Nhưng anh cũng bị trúng đạn ngã khuỵu, có một lên địch lao tới. Anh vùng lên ôm lấy nó. Từ trạm thương binh, cô y tá Bích Thảo trông thấy chính trị viên Hiền vật lộn với địch trên nóc nhà gần đó, rồi bị che khuất. Cô cùng với hai thương binh nhẹ xách súng lao ra. Sau tìm thấy anh Hiền nằm bên xác thằng Tây, ngực áo anh đẫm máu vì những nhát dao găm. 11 giờ, hỏa lực trên toàn mặt trận thưa dần. Ta tranh thủ củng cố trận địa. bổ sung đạn dược. Trung đội trưởng Bảng bố trí lại lực lượng trong chợ Đồng Xuân, ở đây, các vật cản đã bị đạn địch phá hủy nhiều. Dãy tường phía Hàng Khoai vỡ hai mảng. Tường phía bãi Lơ-pa-giơ cùng có hai chỗ sập. Từ gác chuông chùa Huyền Thuyên và một số nhà gác địch đã đặt súng máy kiểm soát khống chế mọi hành động của ta ở trong chợ. Trung đội trưởng Bảng quyết định: Anh cùng một số bám trụ ở góc phố Hàng Khoai đối diện với chùa Huyền Thuyên. Tiểu đội trưởng Thành Trường chỉ huy một tổ giữ tuyến 2 giữa chợ, ở dãy quầy hàng thịt và quầy rau. Tiểu đội Trần Gia Phỏng bám chắc dãy hàng cá ở cuối chợ, hướng về phía sân bóng Lơ- pa-giơ. 12 giờ, trời nắng ấm. Các loại hỏa lực địch lại bắn dồn dập. Tường chợ Đồng Xuân bị phá thêm nhiều chỗ. Các vật cản bị đạn bắn bật tung tóe. Xe tăng địch bò vào đến sát chợ, yểm hộ cho từng toán bộ binh vượt qua các đoạn đường vỡ xông vào bên trong. Ta và địch xen kẽ, quần lộn ở giữa chợ quanh các quầy hàng thịt. Ta đánh bằng lựu đạn. chai xăng-Krếp. chai vôi bột đá sỏi. Trong khói bụi mù mịt địch không quen địa hình bị lúng lúng, tiến lui lộn xộn, bắn cả vào nhau. Lợi dụng tình hình đó, trung đội trưởng Bảng dẫn tổ chiến đấu của mình từ góc chợ đánh thốc vào lưng địch khiến cho chúng càng lúng lúng sặc sụa trong khói bụi của những chai vôi bột đá sỏi và những chai xăng-Krếp. Phía bãi Lơ-pa-giơ, xe tăng không vượt qua được hào giao thông cắt ngang giữa bãi, bộ binh địch vấp phải lưới đạn của tiểu đội Trần Gia Phỏng, bị thiệt hại nhiều, bị đánh bật lại nhiều lần. nhưng cuối cùng, chúng cũng ùa được vào trong chợ. Cuộc chiến đấu kéo dài được gần một tiếng, đạn dược vơi đi nhiều, ta vừa đánh vừa lùi về luyến sau, tiểu đội Phỏng hy sinh 2 người, còn lại 7 người, rút về Hàng Chiếu. Tiểu đội Thành Trường hy sinh 3 người, còn lại 7 người, đóng tại nhà Tam Nguyên Cát số 1 phố Đồng Xuân. Từ trên gác cao của ngôi nhà, ta khống chế các hoạt động của địch ở trong chợ. Sẽ thiếu sót lớn nếu kể diễn biến chiến đấu của trận Đồng Xuân mà không nói về trận địa của tiểu đội giữ ngõ Thanh Hà chật hẹp. Địch có một mũi đánh rất mạnh vào đây. Chúng muốn nhanh chóng vượt tới phố Hàng Chiếu, hình thành một mũi thọc sâu, bao vây phía sau lưng quân ta ở Đồng Xuân. Nhưng tiểu đội giữ ngõ Thanh Hà do anh sinh viên Trần Hoàn chỉ huy đã gan góc, kiên trì chống chọi, giành giật với địch trong từng căn nhà lụp xụp, suốt từ sáng đến quá trưa, bẻ gãy ý đồ chiến thuật của chúng. 16 giờ, tiếng súng lan đến các đường phố ô Quan Chưởng, Hàng Chiếu. Hàng Đường, Hàng Mã. Lần đầu tiên, chỉ trong một buổi ban ngày, trận địa trụ bám của Trung đoàn Thủ đô vốn đã chẳng rộng rãi gì lại bị vạt đi một mảng lớn đến như vậy. Tuy nhiên, các chiến sĩ cảm tử của khu Đồng Xuân rất dũng cảm, mưu trí đã giáng cho địch một đòn nặng nề. Ta hy sinh 16 đồng chí, bị thương 19. Ta diệt được hơn 200 tên địch trong khi chúng đang gặp nhiều khó khăn về quân số. Địch mới tăng viện, chúng muốn dùng bom đạn, lấy sức mạnh của vũ khí để đè bẹp ta, tiêu diệt ta mà giành lấy chiến thắng với tổn thất ít nhất về sinh lực. Và do vậy mới thấy rằng, đối với địch, cái giá phải trả trong trận này quả là rất đau. Chiều hôm đỏ, tiểu đoàn 101 còn hơn 100 cán bộ chiến sĩ, tất cả lao vào củng cố tuyến phòng thủ mới từ ô Quan Chưởng, đến phố Hàng Chiếu, Hàng Mã. Đêm đến, chiến sĩ ta đều thấm mệt, nhưng địch cũng mệt ta phải gắng lên nhằm lúc này chúng đặt chân chưa vững mà đánh bật chúng lùi lại. Tiểu đoàn tổ chức những đội tập kích. Tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ ran. Địch phái bỏ những vị trí mới cắm ở Hàng Chiếu, bỏ trống khu chợ Đồng Xuân, lùi về đầu Hàng Khoai, Hàng Giấy. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Bảy, 2025, 07:51:24 pm CHƯƠNG VIII HẸN MỘT NGÀY VỀ Trận địa liên khu I đã bị thu hẹp đến mức nguy hiểm, các chiến sĩ trụ bám ở đây không còn được phép lùi thêm một bước nào nữa. Phía Nam, đường ranh giới vẫn là chiến tuyến cũ giữ vững được từ bốn năm chục ngày nay, từ dãy nhà số chẵn của phố Hàng Gai kéo qua phố Cầu Gỗ, Hàng Thùng. Nhưng phía Tây, địch lấn đến Hàng Hòm, Hàng Thiếc, Hàng Vải Thâm; phía Bắc, địch lấn được đến Hàng Chiếu. Hàng Mã, Hàng Đồng; còn ở phía Đông thì pháo thuyền địch kiểm soát sông Hồng khống chế các khu bãi Phúc Tân, Phúc Xá, Cầu Đất. Trận địa trụ bám, mỗi bề ngang dọc chỉ cồn khoảng bốn năm trăm mét. Sau trận Đồng Xuân, các đơn vị nhận được lệnh của trung đoàn: không để cho địch tiến thêm nữa, phải tìm cách chiếm lại một số điểm mới bị mất. Các chiến sĩ cảm tử thủ đô biết rất rõ rằng mình đang đứng trước một tình thế rất hiểm nghèo. Từ sáng ngày 15-2, địch không ngừng dội bom đạn vào liên khu I, chúng còn tiếp tục bắn phá nữa, nhiều ngày liền, tiêu hao lực lượng ta, tàn phá các chiến tuyến của ta, rồi cuối cùng là những đợt xung phong. Địch muốn ta phải đầu hàng, bằng không thì sẽ bị tiêu diệt. Chiều 15-2, liên khu ủy triệu tập một cuộc họp bàn kế hoạch đối phó với tình hình mới. Thành phần gồm có các bí thư chi bộ, chi ủy viên, trung đoàn trưởng và các tiểu đoàn trưởng. Vấn đề chính được nêu ra trong cuộc họp này là: Tình hình lúc này có hai vấn đề nghiêm trọng: 1 - Số đạn cho mỗi khẩu súng trường chỉ còn 7-8 viên. 2 - Đường tiếp tế từ ngoài vào bị tắc nghẽn đã hơn nửa tháng nay, gạo ăn cho toàn trung đoàn chỉ còn 5 ngày nữa. Trong khi đó địch đã có quân tăng viện nhiều, sẽ bắn phá mạnh, đánh mạnh dồn ta vào một phạm vi hẹp rồi tiêu diệt ta vậy cần xử trí thế nào? đã đến lúc cần phải thận trọng cân nhắc tiếp tục trụ bám hay là vượt vòng vây? Nhiều người choáng váng, khi nghe nói "vượt vòng vây". Thế là bỏ Hà Nội ư? Không được thế, phải sống chết với thủ đô như các bậc tiền liệt Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu đời đời không phai mờ tấm gương trung kiên; phải đánh đến người cuối cùng trên trận địa liên khu 1 - Hà Nội như những quyết tử quân Nam Tư giữa thủ đô Bê-ô-grát năm 1915; đánh đến cùng, càn bộ và chiến sĩ trung đoàn Thủ đô đã qua những buổi ban đầu bối rối, đã chiến đấu đầy tự tin và tự hào nhất định sẽ còn tiêu diệt được nhiều quân thù. Nhưng rồi ai nấy đều nhất trí với chủ trương của Liên khu ủy do đồng chí Lê Trung Toản trình bày. Anh phân tích: - Chúng ta trụ bám ở liên khu I, đến hôm nay đã giam chân địch được gần hai tháng ở trong trung tâm thủ đô, đó là một thắng lợi lớn. Nay địch đang bao vây ta, vây rất chặt, đang hy vọng tiêu diệt ta, mà ta rút đi một cách an toàn, bảo vệ được lực lượng của mình là bồi cho địch một đòn nữa rất đau ta lại giành thêm một thắng lợi lớn nữa. Lực lượng của chúng ta đông, những cán bộ và chiến sĩ đã được rèn luyện thử thách trong chiến đấu là cái vốn rất quý phải bảo toàn lực lượng để kháng chiến lâu dài. Ra đi hôm nay để mai ngày trở về giải phóng thủ đô, thế mới trọn lời thề sống chết với thủ đô. Đồng chí Lê Trung Toản cũng nhẹ nhàng phê phán, những ai trong cuộc họp này còn chưa dứt khoát từ bỏ quan điểm đánh đến cùng đồng thời cũng là để góp với các đồng chí cấp ủy, với các cán bộ thêm một lý ỉẽ giải thích với các đảng viên và chiến sĩ trong đơn vị về chủ trương mới của liên khu ủy. - Vượt vòng vây không phải là chạy trốn, mạnh ai nấy thoát, mà là một trận đánh, một cuộc tấn công thực sự vào âm mưu địch, một chiến công mới của ta cho thanh danh thủ đô thêm rạng rỡ, một nguồn động viên đồng bào cả nước đang bước vào kháng chiến có thêm lòng tin tưởng. Như vậy, chúng ta phải thắng trận này với sự thiệt hại ít nhất, phải thắng lớn. Ngược lại, thử hỏi nếu vẫn tiếp tục kiên trì trụ bám, đánh đến cùng thì với số đạn còn lại quá ít ỏi, chúng ta cũng không thể kéo dài cuộc chiến đấu được bao lâu nữa, đánh đến người cuối cùng sẽ gây được tiếng vang lớn đấy, song có giải quyết được vấn đề gì thiết thực không? Hội nghị đã nhất trí với chủ trương vượt vòng vây. Nhưng rút đi bằng con đường nào? Xung quanh trận địa trụ bám, địch cắm vị trí dày đặc thành một vành tròn đường bán kính trên dưới 5 cây số. Sát nách liên khu I là những điểm tập trung quân cơ động của địch. Các đường lớn đường nhỏ, các lối có thể đi được ra ngoài thành đều có vị trí địch chốt giữ, phong tỏa, có một con đường từ Nhật Tân, Yên Phụ, dọc bãi ngoài đê sông Hồng đến Cột đồng hồ vào liên khu I, trước đây ta vẫn sử dụng vào ban đêm để tiếp tế gạo, thực phẩm ở ngoại thành vào và đưa nhân dân ra đi tản cư thì từ sau Tết đã hoàn toàn tắc nghẽn. Những người dự cuộc họp này tuổi đời rất trẻ, từ 20 đến 25, nhưng nét mặt già đanh lại đến gấp đôi tuổi thật của họ vì những ngày qua lãnh đạo và tổ chức một cuộc chiến đấu quyết liệt, căng thẳng và giờ đây lại đang tập trung suy nghĩ để tìm ra một con đường giành thắng lợi mới trong hoàn cảnh hết sức khó khăn. Vượt vòng vây bằng con đường nào địch không ngờ? Rút đi bí mật. hay vừa đánh vừa rút? đi tập trong cả trung đoàn hay phân tán từng tốp nhỏ? Tất cả phụ thuộc vào con đường được lựa chọn. Đi lên phía Bắc thì địch đã đóng tới Chèm, đường dài gần chục cây số. Đi về phía Nam cùng không thể được, địch có quân cơ động mạnh ở Đồn Thủy và kiểm soát chặt chẽ từ Cầu Đất qua Phà Đen, Lương Yên xuống đến Vĩnh Tuy Phía Tây có thành Hà Nội án ngữ. Còn phía Đông, phải qua Sông Hồng. Ai dám nghĩ rằng 1200 con người, có thể bơi qua sông rộng trong tiết trời giá lạnh? Có ý kiến đề nghị theo cống ngầm xuống Vĩnh Tuy. Nhưng làm sao có thể đi chót lọt gọn trong một đêm với số người đông như thế?... Bàn đi tính lại chưa thấy lối ra, cuộc họp phải tạm nghỉ để hôm sau bàn tiếp. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Bảy, 2025, 07:52:36 pm Nhưng đến nửa đêm, 23 giờ ngày 15-2, một điều không ai chờ lại đến. Con đường liên lạc với bên ngoài từ sau Tết bị tắc nghẽn đã nối lại được. Tiểu đội du kích Hồng Hà do đồng chí Nguyễn Ngọc Nại phụ trách vào đến sở chỉ huy trung đoàn ở nhà Đức Bảo phố Hàng Bạc đem theo thư từ, báo chí, đem theo tia sáng cho một lối thoát. Đồng chí Nại cho biết, tiểu đội của anh từ ngoài hậu phương vào đây không gặp một trở ngại nào. Từ bãi giữa đi đến cách Cầu Long Biên khoảng 700 mét thì lội qua nhánh thứ hai của sông Hồng, nước chỉ sâu đến đầu gối, rồi theo ven đê qua gầm cầu Long Biên đến Cột đồng hồ. Không có địch canh gác ở dưới gầm cầu. Có thể là do từ hơn nửa tháng nay ta không đi lại mà đích bỏ gác. Cũng có thể vì gió lạnh mà lũ lính địch có nhiệm vụ canh gác ở đây không chịu xuống bãi, chúi cả vào vọng gác ở dốc lên cầu, đầu đường Hàng Đậu,
Ban chỉ huy trung đoàn Thủ đô quyết định chọn con đường tiểu đội Nguyễn Ngọc Nại vừa đi vào để đưa cả trung đoàn rút ra bí mật gọn trong một đêm. Đường đi đã có, đúng hướng địch sơ hở, nhưng ta sẽ đi vào đêm nào trong cuối tuần trăng này thì có khả năng an toàn nhất. Đó là cả một cuộc tính toán rất thận trọng. Phải nhận định thật khách quan về khả năng hoạt động của địch. Sau trận đánh vào khu Đồng Xuân ngày 14-2, tuy địch chiếm thêm đất, nhưng chúng ta cũng bị tổn thất nặng nề. Cả ngày 15-2, địch không có hành động lấn chiếm nào, chúng lo tổ chức lại lực lượng, củng cố vị trí mới chiếm được và lo đối phó với sự phản công của ta. Xem xét từ một tháng nay, thì cứ sau mỗi đợt tấn công vào liên khu I địch phải dừng lại bốn năm ngày vậy sau trận Đồng Xuân với tổn thất nặng hơn các trận trước rất nhiều, thêm nữa, còn đang phải đối phó với các hoạt động của ta ở ngoại thành đánh ép vào, vậy thì lần này địch sẽ dừng lại trong bao lâu mới tổ chức được đợt tấn công tiếp theo? chắc chắn cũng phải 4, 5 ngày, nghĩa là sau ngày 18. Cho nên thời gian thích hợp nhất để ta vượt vòng vây là tối 17, Còn hai ngày một đêm nữa, địch chưa thể tấn công ta, cũng là thời gian cần thiết cho ta chuẩn bị mọi mặt và để bên ngoài hành động hỗ trợ. Tuy nhiên, Ban chỉ huy trung đoàn Thủ đô không chỉ nghiêng về một khả năng, mà còn dự kiến về tình huống không thuận lợi là nếu địch mở đợt tiến công mới ngay từ ngày 16 hay 17 thì phải hoãn việc vượt vòng vây đến một ngày khác vì địch sẽ kiểm soát ngặt nghèo, ta chỉ được phép rời trận địa khi có điều kiện thuận lợi. Rất khớp giữa trong vào ngoài. Cùng ngày 15-2, khi ở trong liên khu 1, liên khu ủy triệu tập hội nghị cán bộ ban tính vượt vòng vây thì ở bên ngoài Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội bắt đầu triển khai kế hoạch đưa trung đoàn Thủ đô ra hậu phương, một kế hoạch đã được chuẩn bị rất chu đáo trong nhiều ngày: các lực lượng bên ngoài đánh thật mạnh, luồn thật sâu, kéo dãn địch thu hút địch về nhiều hướng để cho trung đoàn Thủ đô bí mật rút ra bằng con đường mà địch không thể ngờ được. Khi nhận được báo cáo về trận Đồng Xuân, Bộ tổng chỉ huy nhận định: liên khu I và trung đoàn Thủ đô đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ giam chân địch. Nay đã đến lúc trung đoàn cần phải vượt ra khỏi vỏng vây của địch, trở về hậu phương xây dựng lực lượng lớn mạnh hơn nữa để kháng chiến lâu dài. Bộ tổng chỉ huy chỉ thị cho Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội phải tổ chức cho trung đoàn vượt vòng vây an toàn và chuyển lời khen của Hồ Chủ Tịch "Các chú giam chân địch được một tháng là thắng lợi, đến nay giữ Hà Nội được hai tháng là đại thắng lợi". Tối 15-2, các đơn vị ở ngoại thành lấn công vào ô Cầu Dền, ô chợ Dừa, ô Cầu Giấy, Kim Mã, và tung nhiều tổ nhỏ luồn sâu vào các khu phố trong nội thành, đến tận phố Tràng Tiền hoạt động biệt kích, nghi binh, phá hoại. Nhưng trong đêm này, điều quan tâm nhất của Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội là những bước đi lặng lẽ của tiểu đội Nguyễn Ngọc Nại ở trên bãi cát ven sông Hồng. Vì để giữ bí mật đến cùng, họ không được phổ biến nhiệm vụ rất quan trọng của họ là vào liên khu I để đưa trung đoàn thủ đô ra hậu phương. Họ chỉ được căn dặn: "Gặp địch không được nổ súng, phải lẩn tránh, hết sức giữ bí mật, không cho địch phát hiện ra đường giao thông liên lạc của ta". Cả ngày 16 tháng 2, địch không mở một cuộc tiến công nào vào liên khu I. Nhưng có một việc đột xuất. Một Hoa Kiều đến gặp đồng chí Phạm Văn Trừng, ủy viên chính trị tiểu đoàn 103, người được ủy ban kháng chiến liên khu I giao trách nhiệm giao dịch với Tổng lãnh sự Trung Hoa khi có việc cần thiết. Người Hoa kiều ấy trình bày: - Tôi được ủy nhỉệm của ông Vương Tử Kiện đến truyền đạt với các ông lời cám ơn chân thành của Tổng lãnh sự Trung Hoa, cám ơn cáo ông đã bảo đảm an ninh cho Hoa kiều từ khi có chiến sự xẩy ra và thường xuyên cử những nhân viên y tế thăm hỏi, phát thuốc cho những người đau ốm. Nhân dịp này, ông Tổng lãnh sự muốn đề nghị mấy việc: 1 - Xin các ông ấn định cho một ngày ngừng bắn để cho Hoa kiều chúng tôi đi tản cư công khai. Những ngày cuối tháng 12-1946, chúng tôi lầm tưởng rằng tình hình chiến sự ở Hà Nội cũng không kéo dài nên số Hoa kiều ở lại tập trung khá đông, rất ít người muốn đi tản cư. Họ bằng lòng ở lại với nhau, giúp đỡ nhau sinh sống chờ ngày hòa bình trở lại. Vì vậy trong gần hai tháng trời, lương thực có dự trữ được từng nào thì nhiều gia đình đã ăn hết. Số gia đình sung túc cũng không còn bao nhiêu, ăn uống đã khó khăn, nhưng chỗ ở thì chen chúc nhau chật chội, mất vệ sinh và xẩy ra nhiều bệnh tật. Chúng tôi đề nghị với các ông cho Hoa kiều được tản cư công khai. 2 - Đề nghị các ông cứu tế cho Hoa kiều một số lương theo để giúp cho các gia đình đang thiếu đói. Hiện giờ đã lên tới con số hơn 100. Đồng chí Phạm Văn Trừng hỏi lại: - Trong việc đề nghị ngày tản cư công khai, ý kiến của ông Vương Tử Kiện như thế nào? - Tình hình cấp bách quá. - người đại diện của Tổng lãnh sự trả lời - chậm ngày nào chúng tôi thêm khó khăn ngày ấy. Ông Tổng lãnh sự của chúng tôi đề nghị với các ông ngừng bắn vào ngày 17-2-1947, hoặc muộn hơn là ngày hôm sau 18-2-1947. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Bảy, 2025, 07:53:55 pm Đến trưa, đồng chí Phạm Văn Trừng lên Sở chỉ huy trung đoàn báo cáo, và trình bày những suy nghĩ của mình:
- Tôi cho rằng Vương Tử Kiện đã bàn với các tướng tá Pháp, thỏa thuận với nhau về việc đưa Hoa kiều ra khỏi liên khu I vào ngày 17 hay 18 gì đó. Nhưng thế nào bọn Pháp chẳng lợi dụng chuyện này? Ta chấp nhận ngày ngừng bắn sớm hay muộn, cứu trợ cho Hoa kiều nhiều hay ít, hoặc là khước từ cả hai đề nghị của Tổng lãnh sự Trung Hoa… tất cả sẽ giúp cho chúng những căn cứ để phán đoán tình hình ta. Đồng chí Hoàng Phương, tham mưu trưởng trung đoàn trao đổi bàn bạc với đồng chí Phạm Văn Trừng - Anh hẹn bao giờ trả lời họ. - 11 giờ trưa ngày 17. - Thế là khéo đấy, phải tỏ ra rằng chúng ta còn đủ điều kiện để trụ lại lâu dài ở đây. Về ngày ngừng bắn cho Hoa kiều tản cư, anh báo cho đại diện của Vương Tử Kiện ta còn chờ quyết định của Bộ chỉ huy mặt trận, nhưng cũng tạm thời cho họ biết rằng ngày đó có thể là ngày 18, hoặc 19 hay 20. Còn việc cứu tế cho Hoa kiều, anh có nắm được tình hình lương thực thực phẩm của bộ đội chứ. - Có, vừa qua, riêng ở khu Đông kinh nghĩa thục, ta điều tra 160 hộ, thu được gần 200 tạ gao có thể dùng cho trung đoàn ít nhất là một tháng. Nếu đem cứu tế cho Hoa kiều 5 - 7 tạ hay hơn nữa cũng chẳng sao. Song cũng không nên rộng rãi khiến địch nghi ngờ. - Đồng ý. Cấp cho họ vừa gạo, vừa ngô 7 tạ thôi Đồng chí Phạm Văn Trừng nói thêm: - Vì Vương Tử Kiện đã gửi biếu Ban chỉ huy trung đoàn ba hộp thuốc lá, tôi đề nghị ta cũng biếu lại cái gì, có thể tìm ở các cửa hàng ở phố Hàng Mắm một bộ vây cá nhám... Đêm 16 tháng 2, súng nổ ran ran. Ta đánh nhiều điểm trên các tuyến giáp ranh; gây nhiều đám cháy sáng rực trời. Sáng ngày 17, ta và địch thỉnh thoảng lại bắn nhau từ các vị trí đối diện. Đến chiều, cũng như mấy buổi trước đây, các chiến sĩ thủ đô đang rộn rịp chuẩn bị cho những hoạt động ban đêm và nghe nói là "đêm nay sẽ đánh rất mạnh để phối hợp với bên ngoài thì từng trung đội được lệnh tập trung nghe phổ biến nhiệm vụ mới. Lúc đó là 17 giờ. Ai nấy ngạc nhiên khi nghe nói "vượt vòng vây". Nhưng đây là " lệnh của Hồ Chủ tịch, người đang chờ chúng ta ở ngoài kia. Kháng chiến lâu dài rồi trở về giải phóng thủ đô" đồng chí cán bộ trung đội chỉ cần nhấn mạnh như vậy rồi quy định những việc phải chuẩn bị gấp rút. Tiểu đoàn 101 Đồng Xuân đi đầu, rời trận địa lúc 18 giờ; Gấp rút quá: bao nhiêu việc phải hoàn thành trong 1 tiếng đồng hồ song các chiến sĩ vẫn ghi được lên tường, lên cánh cửa các ngôi nhà những lời chia tay "tạm biệt thủ đô thân yêu" "tạm biệt Hà Nội của ta" và lời cảnh cáo kẻ thù "quân xâm lăng, hãy nhớ đấy, chúng tao sẽ trở lại đây một ngày mai". Tiểu đoàn 102 Đông Thành đi tiếp theo cùng với cơ quan của trung đoàn. Tiểu đoàn 103 Đông Kinh nghĩa thục chốt giữ xung quanh Cột đồng hồ, chận địch sau lưng trung đoàn và rứt sau cùng. Từ đình Phát Lộc, ra Cột đồng hồ, vượt qua đê, dọc theo sông lên hướng Bắc, đoàn quân lặng lẽ trật tự ra đi, một cuộc vượt vòng vây hết sức táo bạo, nhưng tổ chức hết sức chu đáo, Họ dàn đội hình trên bãi sông Hồng. Những căn nhà cháy dở, những bụi chuối, luống khoai, mô đất, lùm cây, bờ rào của những dãy phố nghèo nàn đất bãi này giúp họ ẩn mình kín đáo. Mưa lâm thâm, gió rít ào ào, rét căm căm, trời tối như bưng lấy mặt, Trên cầu Long Biên đèn pha của địch thỉnh thoảng lại bật sáng lia quét, nhưng ánh đèn đã bị màn sương bao phủ, chỉ mờ mờ như đám bụi trắng. 20 giờ, đơn vị đầu tiên của trung đoàn qua gầm cầu Long Biên. 22 giờ, trong trận địa liên khu I chỉ còn những tổ làm nhiệm vụ nghi binh. Phố xá lạnh tanh, vắng ngắt. Về phía Cửa Đông, Hoàn Kiếm, có một số tiếng pháo nổ. Các tổ nghi binh bắt đầu hành động. Anh em gài mìn, lựu đạn ở những nơi cần thiết. Những chỗ cần đốt thì có những bó hương dài cắm vào đống chăn, đệm tẩm xăng. Một vài giờ sau, lửa sẽ bùng cháy. 24 giờ, trong liên khu I hoàn toàn vắng lặng, người cuối cùng của trung đoàn thủ đô rời khỏi trung tâm thủ đô, vượt qua gầm cầu Long Biên. 3 giờ sáng ngày 18-2, trong liên khu I sáng rực lên những đám cháy, gió cuốn lửa bốc lên cao ngút. Trong khi đó đơn vị đầu tiên của trung đoàn thủ đô đến bờ sông bãi giữa Tầm Xá, gặp đồng chí Trần Quốc Cư, phái viên của Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội, phụ trách một đội thuyền hai chục chiếc cắm sào chờ đợi từ lúc đêm. Thuyền nhỏ, lại ít, người đông, sóng to sông rộng trời sáng tan sương vẫn còn một đội cuối cùng chờ đò, thì có tiếng súng nổ ầm ầm. Địch phát hiện có nhiều vết chân người in trên cát ven sông, chúng bắn phá, đổ quân lên bãi giữa lùng sục. Suốt đêm qua, tiểu đội du kích Hồng Hà do đồng chí Nguyễn Ngọc Nại chỉ huy đã dẫn các chiến sĩ trung đoàn thủ đô lách qua các vị trí địch, vượt qua mọi hiểm nghèo ra đi an toàn. Giờ đây, họ lại đương đầu với địch cho những người cuối cùng của trung đoàn vượt sông. Về trận đánh này, đồng chí Đỗ Văn Túc, một du kích Hồng Hà, kể lại: "Sau khi đưa trung đoàn thủ đô đến địa điểm có thuyền đón, tiểu đội chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ, rút về tập trung tại chùa Tầm Xá, hàng tháng nay là nơi đóng quân của chúng tôi ở bãi giữa, Sáng ra địch bắn đạn đại bác rộn rập vào hai làng Tứ Tổng và Tầm Xá. Đồng chí Nguyễn Ngọc Nại lao ngay ra bến dò. Ngoài ấy còn khoảng một trung đội chiến sĩ thủ đô đang chờ đò qua sông. Đồng chí Nại đưa trung đội này vào các vị trí chiến đấu. Lúc ấy có một chiếc thuyền đang lênh đênh giữa dòng nước thì hai chiếc máy bay địch ập tới bắn sối xả. Khoảng hơn chục chiến sĩ thủ đô đi chiếc thuyền này nhảy hết xuống sông. Người biết bơi thì bơi xa thuyền, người không biết bơi líu lấy mạn thuyền. Người chèo thuyền, đồng chí Nguyễn Ngọc Hoạch rất bình tĩnh, dũng cảm đưa con thuyền bị bắn thủng nhiều chỗ, vào đến bờ sông chỉ có mấy nữ chiến sĩ không biết bơi phải bám chặt vào thuyền bị trúng đạn. Nhưng không ai bị thương nặng. Địch từ bên Nhật Tân dùng xe lội nước đổ bộ lên bãi giữa tiến vào hai làng Tứ Tổng, Tầm Xá, Chúng gặp phải trận địa của tiểu đội Nguyễn Ngọc Nại bố trí từ trong bụi tre quanh chùa Tầm Xá ra đến ngoài bãi dâu bãi ngô sát bờ nước, ở đây những người du kích Hồng Hà đào rất nhiều hầm hố và đường hào giao thông. Trận đánh quyết liệt kéo dải cho đến gần trưa, địch vào tàn phá chùa Tầm Xá. Rồi chúng rút lui với hàng chục tên bị thương". Giữa trưa ngày 18-2, những người chiến sĩ cuối cùng của trung đoàn thủ đô qua sông an toàn, hoàn thành cuộc vượt vòng vây. Không ai cầm được nước mắt. Tất cả ngoảnh lại bãi giữa, vĩnh biệt Nguyễn Ngọc Nại và các đồng chí của anh, các đồng chí Lực, Quảng, Văn, Cung, Thông, Hát, Mão, những người đã đóng góp biết bao nhiêu công lao với chiến thắng oanh liệt của liên khu I Hà Nội với cuộc rút quân thần kỳ của trung đoàn thủ đô. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Bảy, 2025, 07:54:58 pm Phải chăng là đại tá Đép-bơ không hề tính đến khả năng phá vòng vây của trung đoàn thủ đô ? - không Đép-bơ rất thận trọng, đã tổ chức một cuộc họp đặc biệt với hầu hết các đơn vị trưởng quân lê-dương, quân dù, quân thiết giáp để bàn về khả năng này, tay chỉ vào vùng tô màu đỏ - phạm vi chiếm giữ của trung đoàn Thủ đô - ở trên tấm bản đồ Hà Nội, Đép-bơ đặt câu hỏi:
- Các ông có cho rằng những đối thủ của chúng ta trong khu vực này rồi sẽ phải khoanh tay cho ta bắt sống cả lũ không? Theo tôi, họ phải có một cách thoát, một đường thoát. Chúng ta phải dự kiến. - Đường nào ư, viên tham mưu trưởng trả lời. Họ không thể theo bờ đê bãi cát sông Hồng mà chạy xuôi hay chạy ngược lên được, vì phía xuôi, đồn bốt của chúng ta cắm đến Thanh Trì - phía ngược đến Chèm. Còn vượt qua sông lớn náy ư? - lạy chúa, làm gì có thuyền, có phao? Họ chỉ có cách "xô-vơ ki pơ" (mạnh ai nấy thoát). Cách này có thể được. Chúng ta biết rằng, mấy hôm nay du kích Việt Minh lọt vào quấy phá đến tận phố Pôn Be (Tràng Tiền) và đang còn ẩn nấp. Có thể khá nhiều trong các phố phía Nam thành phố, nằm kín trong những căn nhà dãy phố không người mà ta không thể soát được hết. Rất có thể như thế, một đêm nào đó, theo tôi nghĩ, cái trung đoàn thủ đô kia sẽ tan ra thành những tốp nhỏ, tuôn về phía Nam. Các nhà quân sự Pháp trong cuộc họp này đều tán thành "cái trung đoàn Việt Minh đang bị bao vây kia chỉ còn một cách "xô-vơ ki pơ". Thế nhưng .. Trung đoàn thủ đô đã ra đi bằng chính con đường mả viên tham mưu trưởng của Đép-bơ cả quyết là một trung đội cũng khó lọt nổi. Đường đi thật gian nan, phải qua hàng cây số trước các họng súng địch, phải vượt hai nhánh sông Hồng. Họ chưa hề luyện tập hành quân. Nhưng họ đã ra đi thật ung dung. Ngày 18, trung đoàn tạm dừng chân ở làng Long Trực, huyện Gia Lâm, đêm hôm đó tiếp tục hành quân sang đất Phúc Yên, rồi đêm sau nữa lại qua đò trở về hữu ngạn sông Hồng, nghỉ ngơi trên đất Đan Phượng thuộc tỉnh Hà Đông. Cả nước hân hoan vui mừng khi nghe đài tiếng nói Việt Nam báo tin chiến thắng: Sau 2 tháng chiến đấu rất oanh liệt ở giữa thủ đô Hà Nội, trung đoàn thủ đô đã vượt qua vòng vây của địch ra hậu phương an toàn. Người Hà Nội phán đoán rất giỏi: "cứ đến huyện Đan Phượng ra các xã tận ven sông Hồng mà hỏi thăm Trung đoàn thủ đô mới ra thế nào cùng qua đằng ấy". Người đi như chẩy hội, từ thị xã Hà Đông sang Canh Nhổn, từ thị xã Sơn Tây xuống Phùng, từ Quốc Oai, Thạch Thất ra Đan Phượng, người đến trước chỉ đường cho người đang đi, người đến, người trở về hớn hở… Mấy hôm trước, nhân dân Làng Thượng Hội còn thắc mắc: "làng mình đình rộng, nhiều nhà to mà chỉ mấy ông cơ quan vào ở, còn bộ đội thủ đô - thì đóng tận mấy làng phía trong, xa đường, xa chợ. Bên ấy đông vui, người ra vào tấp nập. Bên này, vắng như chùa bà Đanh!" Nhưng đến trưa ngày 22 thống 2, bà con mới vỡ lẽ: "Việc quân sự có khác, kín như bưng. Bỗng chốc đùng đùng như nổi bão!". Ủy ban xã điều động thanh niên ra quét dọn đình làng, đường xá, yêu cầu các nhà sửa soạn đón khách thị thành! Rồi đến chiều khách đến. Đó là các đoàn đại biểu của các cơ quan đoàn thể trung ương của thủ đô, của tỉnh Sơn Tây, Hà Đông và huyện Đan Phượng. Đó là cha mẹ, vợ con, anh em, họ hàng, bạn hữu các chiến sĩ cảm tử vừa vượt vòng vây quân thù từ trong thủ đô ra. Rồi đoàn đại biểu của Quốc hội, Chính phủ đến. Rồi bộ đội từ các làng bên rầm rập kéo sang. Không nổi trống, không đốt pháo, vì nơi đây cách địch có bao xa, nhưng tiếng vỗ tay reo mừng nổi lên như sấm động, kéo dài. khi bộ đội tiến vào sân đình làng Thượng Hội. Chẳng ai nén được xúc động, chưa từng thấy một đoàn quân nào như thế: nam có, nữ có, già có, trẻ có, có cả những em trai, em gái tuổi mới mười hai. mười ba. đầu đội ca-lô dạ tím gắn sao tròn, thắt lưng gài hai ba quả lựu đạn: một hình ảnh tiêu biểu của chiến tranh toàn dân "ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước!" Đến nay Hà Nội mở hội mừng công. Mặt trận Hà Nội đã hoàn thành nhiệm vụ ghìm địch ở thủ đô trong hai tháng, mở đầu cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam chống xâm lược Pháp. Cả nước tự hào về những chiến công oanh liệt của quân và dân thủ đô. Tiêu đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Bảy, 2025, 07:55:42 pm Ngày 18-2, khi trung đoàn thủ đô hoàn thành nhiệm vụ vượt vòng vây, nhân danh Bộ trưởng Quốc phòng, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã gửi thư khen ngợi:
Các cấp chỉ huy. Các chiến sĩ trung đoàn thủ đô. Tôi thay mặt toàn thể quân đội Quốc gia Việt Nam hoan nghênh tinh thần anh dũng của các chiến sĩ. Các chiến sĩ đã chiến đấu 2 tháng ròng rã để giữ vững ngọn cờ nước Việt giữa thủ đô Hà Nội. Các chiến sĩ đã nêu cao tinh thần oanh liệt của dân Việt Nam và thanh danh rực rỡ của quân đội quốc gia Việt Nam.. Các chiến sĩ lại mở được con đường máu vượt qua vòng vây quân địch đề thực hiện chỉ thị bảo tồn chủ lực. Các chiến sĩ sẽ tiếp tục chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam. Chúng ta sẽ chiến đấu 10 năm hay lâu hơn nữa nếu cần. Cho đến ngày Tổ quốc độc lập, thống nhất. Cho đến ngày Thủ đô Hà Nội được rạng mặt làm thủ đô một nước độc lập, thống nhất. Ta thề thủ đô sẽ chiến thắng quân thù. Muôn năm, tinh thần oanh liệt của thủ đô. Muôn năm tinh thần trung dũng của trung đoàn thủ đô. Tại đại hội mừng công ở Thượng Hội, đồng chí Võ Nguyên Giáp đem đến cho Trung đoàn thủ đô lời tuyên dương của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: "... Trung đoàn thủ đô đã chiến đấu để tiêu diệt lực lượng của địch. Trung đoàn thủ đô đã bảo toàn lực lượng, trong 2 tháng và sau 2 tháng chiến đấu. ... Sự phối hợp giữa vệ quốc quân và tự vệ đã lập nên Trung đoàn thủ đô. Sau một thời gian chiến đấu những chiến sĩ tự vệ lại tham gia vào bộ đội chính quy; nhưng không phải chỉ có Vệ quốc quân, tự vệ mà lại có anh em tiểu thương, công nhân, bác sĩ, công chức, học sinh, phụ nữ và nhi đồng. Tất cả những người ấy thấy rằng trong lúc Tổ quốc lâm nguy, mỗi một người dân phải hăng hái tham gia kháng chiến, tất cả đã thực hiện được khẩu hiệu "mỗi người dân là một người lính". Trung đoàn thủ đô, sự phối hợp của bộ đội và nhân dân Việt Nam nhất định thắng và sự thật đã cho ta thấy rằng trung đoàn thủ đô đã chiến thắng. Trung đoàn thủ đô đã thực hiện được nhiệm vụ quân sự của mình, chiến đấu giữa thủ đô Hà Nội, nơi mà địch rất mạnh và nơi có những trận tấn công ác liệt. Trung đoàn thủ đô đã tượng trưng cho bộ đội của một nước nhược tiểu quyết tâm không muốn làm nô lệ và ngang nhiên chống lại bộ đội một nước lớn, bộ đội hùng mạnh của đế quốc chủ nghĩa. Trung đoàn thủ đô đã nối chí lại truyền thống oanh liệt của các vị anh hùng thuở trước. Trung đoàn thủ đô với tất cả những tấm gương anh dũng đã truyền lại chí khí anh hùng của Tổ quốc... Trung đoàn thủ đô đã làm cho liên khu I ngày nay thành một liên khu lịch sử. Đặt tên cho trung đoàn ấy không có một tên nào oanh liệt hơn là lên Trung đoàn thủ đô. Các chiến sĩ. Hôm nay tôi thay mặt Chính phủ chính thức trao danh hiệu "Trung đoàn thủ đô" cho các đồng chí. Thay mặt Bộ Quốc phòng và quân đội quốc gia, tôi tặng một lá cờ thêu tên "Trung đoàn thủ đô" để nêu cao tấm gương anh dũng của các chiến sĩ. Thăng Long - Trần Hưng Đạo Đông Đô - Lê Lợi Hà Nội – Hồ Chí Minh, Thủ đô ta từng chiến thắng và luôn luôn chiến thắng. Các đồng chí hãy phát huy truyền thống quật cường của Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội, xây dựng Trung đoàn thủ đô lớn mạnh, đánh đâu được đấy, để mai ngày trở về giải phóng thủ đô. Ta thề thủ đô chiến thắng quân thù!". Những giọt nước mắt lấn rơi trên những khuôn mặt rạng rỡ. Tiếng reo hò vang dậy đáp lời đồng chí Tổng chỉ huy: "Xin thề, xin thề, ta thề thủ đô chiến thắng quân thù... !". |