|
Tiêu đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Chín, 2024, 09:05:11 pm QUÂN KHU 4 LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945-1954) NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN HÀ NỘI — 1990 - Chỉ đạo nội dung: — THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY VÀ BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 4 — THIẾU TƯỚNG TRẦN VĂN ÂN — THIẾU TƯỚNG LÊ NAM THẮNG - Người viết: — LÊ ĐỨC TRIÊM — TRẦN DUY THƯỢC — HOÀNG NGHĨA NHUẦN-VĂN ĐÌNH ĐỒNG — BÙI TRỌNG CẦU - Tư liệu: — TRẦN SỸ NGHI - Viết hoàn chỉnh bản thảo: — NGUYỄN THANH HỒNG Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Chín, 2024, 09:11:57 pm LỜI GIỚI THIỆU Nhân dịp xuất bản cuốn «Quân khu 4 — Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược» (1945 — 1954) và sẽ xuất bản cuốn «Quân khu 4 — Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước» (1954—1975). Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu đề nghị tôi viết lời giới thiệu. Là một cán bộ được vinh dự chiến đấu trên chiến trường quân khu trong cả hai cuộc kháng chiến, tôi rất hân hạnh được làm nhiệm vụ đó. * * * Trong cả hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Quân khu 4 giữ một vị trí chiến lược rất quan trọng. Ở vào Bắc Trung Bộ, trên một dải đất hẹp, Quân khu 4 đông giáp biển là nơi đế quốc có ưu thế về hải quân, nam giáp Quân khu 5 với quân cảng Đà Nẵng, tây giáp Thượng, Trung Lào với các đường giao thông chiến lược 7, 8, 9, 217; bắc nối liền với chiến trường Bắc Bộ; lại có cố đô Huế — một trung tâm chính trị và văn hóa mà đế quốc và bọn tay sai luôn luôn muốn sử dụng để làm bộ mặt cho chế độ bù nhìn. Bản thân Quân khu 4 tuy đất hẹp nhưng mật độ dân đông, truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù, có dãy Trường Sơn hùng vĩ và miền tây Thanh Nghệ là một vùng căn cứ chiến lược hiểm yếu. Trong cả hai cuộc chiến tranh xâm lược dù không đủ binh lực để đánh chiếm toàn bộ địa bàn quân khu, bọn đế quốc vẫn cố chiếm giữ phần phía nam để chia cắt chiến trường Việt Nam và Đông Dương ra làm hai, bảo vệ cố đô Huế và căn cứ quân sự liên hiệp Đà Nẵng, bảo vệ đường vận chuyển sang Lào, ngăn chặn sự chi viện và tiến công của ta từ miền Bắc vào miền Nam, đồng thời tạo bàn đạp tiến công ra miền Bắc. Cũng vì vậy mà trong cả hai cuộc chiến tranh, chiến trường Quân khu 4 đều có vùng tạm bị địch chiếm và vùng tự do; và cả hai vùng đó quan hệ chặt chẽ với nhau. Với vị trí và hoàn cảnh đó, quân và dân Quân khu 4 có nhiệm vụ rất nặng và phải chiến đấu rất quyết liệt. Trong giai đoạn đầu của chiến tranh chống Pháp, Quân khu 4 tự lực tự cường, phát triển chiến tranh du kích giành dân giữ đất, phá tề diệt địch, xây dựng lực lượng vũ trang, giúp cách mạng Lảo và phối hợp với các chiến trường khác. Trong giai đoạn cuối kháng chiến chống Pháp, cùng với cuộc chiến tranh nhân dân phát triển vùng sau lưng địch, Quân khu 4 là căn cứ xuất phát của bộ đội chủ lực tiến công địch, giải phóng đại bộ phận Trung, Hạ Lào, đồng thời đóng góp sức người, sức của chi viện chiến trường Bắc Bộ, đặc biệt là tham gia phục vụ chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân khu 4 là một trong những chiến trường ác liệt nhất. Chiến đấu chống địch chiếm đóng và càn quét ở Trị — Thiên — Huế, đánh bại tuyến đường phòng ngự dày đặc và hiện đại của quân đội Mỹ ở vĩ tuyến 17, đánh bại các cuộc phản công của địch ra đường số 9 — Nam Lào, tiến công địch ở Khe Sanh và bảo vệ thành cổ Quảng Trị, đánh bại chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân địch ra vùng hậu phương phía bắc, xẻ dọc Trường Sơn xây dựng hành lang vận chuyển Bắc Nam, bảo vệ cửa ngõ đường Hồ Chí Minh và cuối cùng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 lịch sử. Cũng từ địa bàn Quân khu 4, quân đội ta phối hợp với Quân giải phóng nhân dân Lào giải phóng Cánh Đồng Chum và đại bộ phận Trung, Hạ Lào, tạo nên một vùng giải phóng rộng lớn cho cách mạng Lào... Quân khu 4 là nơi đọ sức ác liệt nhất giữa hai lực lượng chiến tranh: một bên là quân và dân ta — kể cả các đơn vị chủ lực cơ động chiến lược và các quân binh chủng kỹ thuật của Bộ Tổng tư lệnh, một bên là lực lượng tinh nhuệ được trang bị hiện đại nhất của lục, hải, không quân Pháp, Mỹ và tay sai, là nơi đọ sức giữa tinh thần và ý chí “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” của quân và dân ta chống lại các thủ đoạn dã man tàn bạo nhất của đế quốc. Trong kháng chiến chống Mỹ Quân khu 4 là nơi đối đầu giữa chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt ở miền Bắc và chế độ thực dân mới ở miền Nam, thể hiện một nước Việt Nam thu nhỏ: tiền tuyến và hậu phương; giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và nhiệm vụ quốc tế, chiến tranh nhân dân địa phương phát triển cao và tác chiến của các binh đoàn chủ lực, lần lượt đánh bại các thủ đoạn của địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cả nước và của hai nước Lào — Cam-pu-chia. Trong cuộc chiến đấu một mất một còn với quân thù, dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân Quân khu 4, già trẻ, gái trai, trong vùng tạm bị địch chiếm cũng như ở vùng tự do, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương cũng như dân quân du kích, đã phát huy lòng yêu nước thiết tha, quyết chiến và quyết thắng, vận dụng kinh nghiệm đấu tranh phong phú và lao động dũng cảm cần cù, cùng cả nước, vì cả nước hoàn thành nhiệm vụ lịch sử. Cả quân khu là một pháo đài, mỗi làng xã, mỗi đoạn đường, mỗi cánh đồng là một trận địa, toàn dân là chiến sĩ. Những câu ca dao như: «Rừng Thông, cầu Bố đang lo, chị lo tập gánh, anh lo tập thồ», «Nhà tan cửa nát cũng ừ, đánh thắng giặc Mỹ cực chừ sướng sau», «Xe chưa qua, nhà không tiếc», «Tiếng hát át tiếng bom»... là những biểu hiện cao đẹp của lòng yêu nước và ý chí quyết thắng. Hàng chục vạn thanh niên nam nữ lên đường nhập ngũ và thanh niên xung phong phục vụ chiến đấu trên khắp chiến trường Trung — Nam — Bắc, ở Lào và Cam-pu-chia. Toàn dân vừa chiến đấu, vừa sản xuất, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội và củng cố hậu phương... cuộc chiến đấu thật vô cùng phong phú, toàn diện. Biết bao mảnh đất, dòng sông, con người ở đây đã đi vào lịch sử. Trong kháng chiến chống Pháp Quân khu 4 tự hào đã có Bình —Trị — Thiên bất khuất, chiến khu Hòa Mỹ, làng chiến đấu Cự Nẫm, Cảnh Dương, có anh hùng Lâm Úy, Cao Thế Chiến... Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quản khu 4 lại có Trị — Thiên — Huế tiến công nổi dậy, anh dũng, kiên cường, đường số 9 — Khe Sanh, Vĩnh Linh lũy thép, Quảng Bình hai giỏi, Gianh, Xuân Sơn, Long Đại, Đồng Lộc, Bến Thủy, Hàm Rồng, có mẹ Suốt, Nguyễn Viết Xuân... mãi mãi là những điển hình tiêu biểu, đẹp đẽ được cả nước cổ vũ. Lịch sử kháng chiến của quân và dân Khu 4 cũng như lịch sử kháng chiến toàn quốc là lịch sử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là lịch sử đoàn kết và đấu tranh của toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Hồ Chủ tịch, là lịch sử và kinh nghiệm chiến tranh toàn dân, toàn diện, quyết đánh và biết đánh. Đó cũng là lịch sử và kinh nghiệm về mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến, giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế. Trân trọng lịch sử và kinh nghiệm đó, không những là ghi nhớ công lao của quân và dân quân khu trong kháng chiến cứu nước mà quan trọng hơn nữa là góp phần bồi dưỡng thế hệ hiện tại và tương lai. Bài học lịch sử của Quân khu 4 và của toàn quốc sẽ giúp chúng ta và cả thế hệ mai sau «ôn cố tri tân» phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn quân khu trong giai đoạn mới. * * * Dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu, được sự giúp đỡ của Viện Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng và sự đóng góp của các đồng chí lão thành đã từng lãnh đạo và chỉ huy trên chiến trường quân khu, phòng lịch sử quân sự Quân khu 4 đã có sự cố gắng lớn để thu thập tài liệu và biên soạn cuốn lịch sử này. Tất nhiên cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện kéo dài hơn 30 năm và vô cùng phong phú, nhiều sự kiện lịch sử và bài học quý giá chưa nói đầy đủ. Nhưng cuốn «Quân khu 4 — Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược» (1945—1954) đã phần nào đáp ứng yêu cầu cấp thiết của bạn đọc. Mong các đồng chí cán bộ lão thành, các nhà nghiên cứu lịch sử và đông đảo bạn đọc bổ sung và đóng góp nhiều ý kiến. Ngày 19 tháng 5 năm 1989 Thượng tướng: TRẦN VĂN QUANG Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Chín, 2024, 09:15:46 pm LỜI NÓI ĐẦU Khu 4 thuộc bắc Trung Bộ, gần cửa ngõ phía nam thủ đô Hà Nội, nằm ở phía tây Thái Bình Dương, cùng chung dải Trường Sơn hùng vĩ với nước bạn Lào anh em. Địa thế dài và hẹp dần về phía nam, Bình-Trị-Thiên là nơi dễ bị chia cắt chiến lược. Do đó địa bàn có vị trí hết sức quan trọng nên trong chiến tranh giải phóng dân tộc hay trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Khu 4 có nhiệm vụ chiến lược: vừa hậu phương, vừa tiền tuyến, vừa làm nhiệm vụ dân tộc, vừa làm nhiệm vụ quốc tế. Trong cuộc chiến tranh 30 năm chống xâm lược của dân tộc, Khu 4 là nơi đụng đầu lịch sử giữa hai chế độ: dân chủ nhân dân và chủ nghĩa thực dân cũ trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa thực dân mới trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân toàn diện và lâu dài, quân và dân Khu 4 anh dũng kiên cường, chịu đựng mọi gian khổ, ác liệt, hy sinh, nêu cao truyền thống đấu tranh cách mạng của đội du kích «Chiến khu Ngọc Trạo» (Thanh Hóa) lịch sử, truyền thống “Xô-viết Nghệ-Tĩnh” anh hùng, truyền thống «Bình—Trị—Thiên bất khuất» đã góp phần đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Qua 30 năm tiến hành chiến tranh nhất là thời kỳ chống Mỹ, cứu nước là thời kỳ sôi động nhất, hào hùng nhất, quyết liệt nhất, quân và dân Khu 4 đã có những đóng góp to lớn hết mình, những hy sinh lớn lao, góp phần xứng đáng đánh thắng đế quốc Mỹ, giải phóng Trị—Thiên—Huế, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc. Cũng như quân và dân cả nước, quân và dân Khu 4 chiến đấu hết sức anh hùng, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chiến lược Đảng giao, chứng minh hùng hồn đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân. Chấp hành Nghị quyết của Quân ủy Trung ương và Chỉ thị của Bộ Quốc phòng về tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự. Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã tổ chức viết cuốn “Quân khu 4 — Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược” nhằm ghi lại lịch sử hào hùng của cuộc chiến tranh 30 năm chống ngoại xâm của dân tộc trên địa bàn chiến lược Khu 4, rút ra những bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng, về chỉ đạo chiến tranh, về nghệ thuật quân sự, đồng thời đúc kết và làm sáng rõ truyền thống yêu nước, cách mạng của nhân dân, bản chất tốt đẹp của các lực lượng vũ trong nhân dân trong quân khu để góp phần tích cực trong công tác tuyên truyền, giáo dục các thế hệ hiện tại và mai sau về lòng yêu nước, ý chí quyết chiến, quyết thắng, kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu, đẩy mạnh công tác phòng thủ của quân khu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Quá trình biên soạn, chúng tôi được sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Viện Lịch sử quân sự, sự đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các đồng chí lãnh đạo chỉ huy cũ, các địa phương, các chiến trường thuộc địa bàn quân khu, sự giúp đỡ của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, sự hợp tác khoa học của Ban Lịch sử Đảng, Thông sử, các ngành của các tỉnh, sự giúp đỡ tận tình của các cơ quan lưu trữ tư liệu: Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Phủ Thủ tướng, K4 Bộ Quốc phòng, đông đảo cán bộ, nhân dân trong quân khu. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó. Cuốn “Quân khu 4 — Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược” biên soạn trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn về nguồn tư liệu, trình độ người viết còn hạn chế, nên cuốn sách chắc chắn còn thiếu sót, chúng tôi mong bạn đọc góp ý kiến phê bình để khi có điều kiện cuốn sách xuất bản lần thứ hai được hoàn chỉnh hơn và rút kinh nghiệm viết về “Quân khu 4 - lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” được tốt hơn. THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY QUÂN KHU TƯ LỆNH QUÂN KHU Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Chín, 2024, 09:39:47 pm CHƯƠNG MỞ ĐẦU ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG Từ nguồn gốc xa xưa, cách đây ba mươi vạn năm với di tích Núi Đọ (đồ đá cũ), cách đây năm, sáu nghìn năm với di tích văn hóa Quỳnh Văn, Bàu Tró (đồ đá mới) và sau đó cách đây khoảng ba nghìn năm với những chiếc trống đồng Đông Sơn, dải đất từ Tam Điệp đến đèo Hải Vân đã nằm trong cái nôi sản sinh ra dân tộc Đại Việt. Theo thời gian của tiến trình lịch sử, từ thời đại các Vua Hùng dựng nước suốt 4.000 năm giữ nước nối tiếp nhau, các Châu Ái, Hoan, Diễn, Tân Bình, Thuận Hóa (tên gọi các tỉnh Liên khu 4 ngày xưa) đã từng là chốn biên thùy (tiền tuyến chiến đấu) và là nơi «phên dậu» (hậu phương căn cứ địa), nơi xuất phát của các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, xuất phát từ yêu cầu tổ chức bố trí thế chiến lược trên chiến trường toàn quốc, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định tổ chức các chiến khu quân sự. Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên được tổ chức thành Chiến khu 4 có các tên gọi khác nhau: «Chiến khu 4», «Khu 4», «Liên khu 4». Với Bình—Trị—Thiên là tiền tuyến, Thanh Nghệ—Tĩnh là hậu phương. Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam năm 1954 thì vĩ tuyến 17 chỉ được coi là giới tuyến quân sự tạm thời. Từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đi lên xã hội chủ nghĩa. Từ vĩ tuyến 17 trở vào thuộc miền Nam bị chủ nghĩa thực dân mới là đế quốc Mỹ thống trị. Đất nước tạm thời bị chia cắt, có giới tuyến quân sự tạm thời và Khu 4 là nơi tạm thời chịu sự chia cắt đó. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Khu 4 được tổ chức lại chiến trường: Khu vực Vĩnh Linh và các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An thuộc Quân khu 4 (Thanh Hóa thuộc Quân khu 3), bắc Quảng Trị vào Thừa Thiên— Huế thuộc Khu 5 (1954 — 1965), từ 1966 đến 1975 thành lập Quân khu Trị Thiên. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thành công, nước nhà hoàn toàn độc lập và thống nhất, Quân khu 4 được thống nhất lại gồm Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình - Trị — Thiên1. Khu 4 ở bắc Trung Bộ, nằm về phía nam thủ đô Hà Nội, bên bờ tây Thái Bình Dương, trải dài từ Dốc Xây (Tam Điệp) đến đèo Hải Vân dài 524 ki-lô-mét, từ 16,20 đến 20,3 độ vĩ bắc, từ 103,5 đến 108,10 độ kinh đông, cùng chung dãy núi Trường Sơn với nước bạn Lào anh em, có đường biên giới 1.162 ki-lô-mét. Bắc giáp tỉnh Sơn La (Quân khu 2), Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh (Quân khu 3), nam giáp tỉnh Quảng Nam — Đà Nẵng (Quân khu 5). Bờ biển dài 662 ki-lô-mét, thềm lục địa rộng 76.000 ki-lô-mét vuông. Tổng diện tích tự nhiên 52.062 ki-lô-mét vuông, với ba phần tư là vùng rừng núi. Diện tích canh tác trên 700.000 héc-ta. Địa thế dài và hẹp dần về phía nam, nơi rộng nhất là Nghệ Tĩnh 207 ki-lô-mét, nơi hẹp nhất là Bình—Trị—Thiên 50 ki-lô-mét, do đó Bình—Trị— Thiên là nơi đã diễn ra các thời kỳ bị chia cắt chiến lược. Địa hình phức tạp, núi rừng hiểm trở, độ dốc nghiêng về phía đông, nhiều dãy núi cao từ 2.000 mét đổ xuống đều xuất phát từ dãy Trường Sơn trải dài xuống trung du, đồng bằng ven biển. Nhiều dãy núi liên tiếp dọc ngang tạo thành thế «thiên hiểm» trong công cuộc tổ chức phòng thủ đất nước. Hệ thống sông ngòi đều bắt nguồn từ tây Tây Bắc chảy xuôi về hướng đông đông nam như sông Chu, sông Mã (Thanh Hóa), sông Lam, sông La (Nghệ Tĩnh), sông Gianh, Nhật Lệ, Kiến Giang, Thạch Hãn, sông Bồ, sông Hương (Bình - Trị - Thiên) tạo nên nhiều vùng đồng bằng trù phú và hệ thống đường thủy nội địa, tạo sự chia cắt chiến trường. Khu 4 ở vào vùng nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình trên dưới 2.000 mi-li-mét một năm, có vùng 3.000 mi-li-mét một năm như Kỳ Anh (Hà Tĩnh), Hải Vân (Bình - Trị - Thiên), vùng thấp dưới 800 mi-li-mét một năm như Cửa Rào, Mường Xén (Nghệ Tĩnh), lượng mưa không đều tập trung nhất vào các tháng 8, 9, 10 bởi những cơn bão từ Biển Đông tràn vào, thường gây nên lũ lụt lớn, làm tổn hại nặng nề cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Thông thường Thanh Hóa mưa sớm, Bình - Trị - Thiên mưa muộn, vì vậy mùa mưa ở Khu 4 kéo dài đến tháng 12 mới kết thúc. Thời tiết hình thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, kèm theo gió tây nam khô nóng, nhiệt độ trung bình từ 30 đến 35 độ C, có vùng có lúc lên đến 40 độ C, lượng bốc hơi lớn, hạn hán kéo dài. Mùa lạnh từ tháng 11 năm trước đến cuối tháng 3 năm sau, trùng với gió mùa đông bắc gây nên nhiều đợt mưa dầm, rét đậm kéo dài, nhiệt độ trung bình từ 15 đến 20 độ C, vùng núi có lúc xuống 0 độ C. Những đặc điểm về khí hậu, thời tiết trên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân, đồng thời cũng ảnh hưởng lớn đến những hoạt động quân sự. Mạng lưới giao thông vận tải trên địa bàn Khu 4 tuy chất lượng chưa cao nhưng đa dạng, có giá trị về kinh tế và quốc phòng. Tuyến đường sắt Bắc-Nam qua địa bàn Khu 4 dài 619 ki-lô-mét, có 60 ga lớn nhỏ, phần lớn chạy dọc đồng bằng song song với đường số 1A. Ngoài ra còn có một vài tuyến đường sắt phụ: Bỉm Sơn đi nhà máy Xi măng Bỉm Sơn (Thanh Hóa), Cầu Giát đi Nghĩa Đàn, Vinh đi Cửa Lò, Vinh - Bến Thủy (Nghệ Tĩnh). Đường 1A chạy dọc ven biển, qua vùng đồng bằng đông dân, vượt qua các đèo cao sát biển (đèo Ngang, Lý Hòa, Phước Tượng, Phú Gia), qua nhiều cầu, phà (Hàm Rồng, Bến Thủy, sông Gianh, Quán Hầu). Đường 15A từ Vạn Mai chạy dọc Trường Sơn qua các điểm chốt Quan Hóa, Triệu Sơn, Nghĩa Đàn, Đô Lương, Đức Thọ, Tuyên Hóa, Bãi Hà, Hướng Hóa, A Lưới, Bù Lạch, Khâm Đức vào Tây Nguyên, là trục đường chính của đường Hồ Chí Minh, cùng với các tuyến đường 15B. 22A, B... tạo nên mạng lưới giao thông vận tải chiến lược suốt cả thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Các trục đường ngang từ ven biển, đồng bằng lên miền tây sang nước bạn Lào gồm: đường 217 từ Đồng Tâm (Thanh Hóa) đi Na Mèo, nối với Bắc Lào. Đường số 7 từ ngã ba Diễn Châu (Nghệ Tĩnh) lên Nậm Cắn sang đường số 13. Đường số 8 từ nga ba Bãi Vọt qua Hương Sơn (Nghệ Tĩnh) lên Na Pê —Lạc Xao. Đường số 12 từ Thanh Lạng (Tuyên Hóa) vượt cổng trời lên Ba-na-phào. Đường số 9 từ Đông Hà qua Lao Bảo (Bình —Trị — Thiên) sang Xà-vẳn-nạ-khẹt. Cùng với hệ thống đường thủy trên các sông ngòi lớn nhỏ, dọc ngang, trên kênh nhà Lê từ bắc Thanh Hóa vào Nghệ Tĩnh, đường vận tải ven biển với 11 bến cảng lớn nhỏ, có một số cảng quan trọng như Bến Thủy, Cửa Hội, Cửa Lò (Nghệ Tĩnh), Gianh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Cửa Thuận (Bình - Trị - Thiên), giao thông trên biển có giá trị lớn về vận tải viễn dương, giao lưu quốc tế, vừa bảo vệ chủ quyền lãnh hải của đất nước và phòng thủ bờ biển Quân khu 4, có đường hàng không quân sự và dân dụng nối liền các địa phương trong quân khu với cả nước. Hệ thống giao thông thủy bộ Khu 4 có tầm quan trọng đối với kinh tế và quốc phòng trên địa bàn các tỉnh trong quân khu, nối với cả nước và là năm trên tám tuyến đường nối với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đi qua trên địa bàn Khu 4. Do điều kiện địa lý và cấu tạo địa hình nên hình thái tự nhiên các tỉnh Khu 4 hình thành ba vùng chiến lược kinh tế và quốc phòng rất quan trọng. Mỗi lúc có chiến tranh xảy ra, trên địa bàn này hình thành ra ba chiến trường và ba vùng rõ rệt. Vùng rừng núi: Có nhiều kim loại quý (sắt, thiếc, cơ-rôm, bốc-xít, cao lanh, vàng), nhiều gỗ tốt, trữ lượng lớn và nhiều chim muông thú quý. Có thế mạnh về kinh tế lâm — nông — công nghiệp, là địa bàn có thế « thiên hiểm » về quốc phòng. Từ xa xưa cho đến nay, các vị anh hùng dân tộc đều chọn vùng rừng núi để làm nơi lập căn cứ cho các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giữ nước và cứu nước. Mai Thúc Loan chọn vùng Sa Nam (Nam Đàn), Lê Lợi chọn đất Lam Sơn (Thanh Hóa) làm nơi tụ nghĩa, dấy binh chống quân nhà Minh, Phan Đình Phùng chọn dãy Đăng Màn (Hương Khê)... Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, chống lại sự xâm lược của hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta cũng lấy vùng rừng núi để xây dựng căn cứ hậu phương chiến lược và chiến dịch. Vùng trung du — đồng bằng: địa thế rộng ở phía bắc, hẹp dần về phía nam có nhiều sông ngòi chia cắt, địa hình đồi núi xen kẽ, các thung lũng, đồng ruộng bậc thang, lại dựa vào thế mạnh về kinh tế và quốc phòng của vùng rừng núi và tiếp cận với vùng đồng bằng ven biển trù phú, tạo nên thế mạnh về kinh tế nông — lâm — công nghiệp và thủ công nghiệp, có thuận lợi về sản xuất lương thực, thực phẩm và hàng hóa xuất khẩu, là vùng căn cứ hậu phương, vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa là hậu phương chiến dịch cho các hướng chiến trường. Vùng đồng bằng ven biển: có thế mạnh về kinh tế nông—ngư — công nghiệp, phát triển cả về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Là địa bàn có dân cư đông đúc nhất, đã được xây dựng thành các hệ thống làng xã trù phú, lâu đời với nhiều thị xã, thành phố — là trung tâm văn hóa, khoa học kỹ thuật, trung tâm của các đầu mối giao thông quan trọng cả đường bộ và đường thủy, là nơi tập trung nhân tài, vật lực cho chiến tranh qua các thời đại. Là tuyến phòng thủ bờ biển trực tiếp chống tập kích chiến lược bằng không quân, hải quân và các cuộc đổ bộ đường biển của địch trong mọi tình huống chiến tranh. Với cấu tạo địa hình có nhiều dãy núi từ đồng bằng «xâm thực» ra biển và những núi độc lập sát bờ biển cùng với một số đảo lớn, nhỏ, cách bờ biển từ 27 đến 30 ki-lô-mét, kết hợp với hệ thống làng xã liên kết với các dãy núi sát gần mép nước tạo thế tổ chức phòng thủ bờ biển vững chắc. Trong đó có một số điểm cao và đảo có giá trị chiến dịch, chiến thuật quan trọng trong tác chiến chống đổ bộ đường biển của địch2. Do đặc điểm địa lý và cấu tạo địa hình, Quân khu 4 vừa có miền biên giới ở rừng núi phía tây, vừa có đồng bằng ven biển và vùng biển hình thành ba vùng chiến lược liên kết và liên hoàn với nhau tạo thế cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước trước đây cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. ________________________________________________ 1. Sau ngày giải phóng miền Nam 1975: ba tỉnh Quảng Bỉnh, Quảng Trị, Thừa Thiên được hợp nhất thành tỉnh Bình Trị Thiên, hai tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh thành Nghệ Tĩnh. Từ giữa năm 1989 Bình Trị Thiên lại được tách ra thành ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. 2. Dãy Thanh Tước (giữa Thanh Hóa — Nghệ Tĩnh), dãy Thần Vũ (ở Cầu Cấm), đèo Ngang, đèo Lý Hòa, Phước Tượng, Hải Vân (Bình — Trị — Thiên)... Đảo Mê (Thanh Hóa), đảo Mắt (Nghệ Tĩnh), Cồn Cỏ (Bình — Trị — Thiên). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Chín, 2024, 09:43:58 pm Sau Cách mạng tháng Tám, các tỉnh Khu 4 có khoảng trên ba triệu người. Năm 1981 (theo điều tra dân số) có 7.616.000 người (3.738.548 nam, 3.877.545 nữ), riêng Nghệ Tĩnh có 3.738.500 người (đông dân thứ hai sau thành phố Hồ Chí Minh). Mật độ dân số trung bình 144 người trên một ki-lô-mét vuông, vùng đồng bằng ven biển: 385 người trên một ki-lô-mét vuông. Thành phố, thị xã: 2.700 người trên một ki-lô-mét vuông. Vùng trung du 117 người trên một ki-lô-mét vuông. Vùng rừng núi 27 người trên một ki-lô-mét vuông. Nơi có mật độ dân số đông nhất là thị xã Hà Tĩnh 9.000 người trên một ki-lô-mét vuông. Nơi thưa dân nhất là huyện Tương Dương (Nghệ Tĩnh) 15 người trên một ki-lô-mét vuông. Trên địa bàn Quân khu 4 có 49 dân tộc anh em, dân tộc kinh chiếm 93 phần trăm số dân, sống tập trung ở các thành phố, thị xã vùng ven biển, đồng bằng và vùng kinh tế mới ở trung du, miền núi. Đời sống nhân dân chủ yếu sống bằng nghề nông, lâm, ngư nghiệp và thủ công nghiệp. Nền công nghiệp đã có bước phát triển ở thành phố, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa, Vinh, Đồng Hới, Đông Hà, Huế. Các dân tộc ít người sống hầu hết ở miền núi trên tuyến biên giới Việt — Lào. Những dân tộc có số người đông hơn là Thái, Thổ, Mường, Mơ-nông, Mán, Vân Kiều, Pa-cô, Khơ-mú, Cà-tu, Dao... các dân tộc ít người còn tàn dư của chế độ tù trưởng, bộ tộc, phổ biến lối làm ăn du canh, du cư, trình độ văn hóa, xã hội chưa phát triển. Các dân tộc tuy khác nhau về trình độ và phong tục tập quán nhưng có chung một truyền thống yêu nước lâu đời đoàn kết, chung lưng đấu cật, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, cũng như trong đấu tranh. Nhân dân Khu 4 từ xa xưa đã theo đạo Phật, nhiều đền chùa cổ kính và phật tử, sư thầy, tu sĩ còn rải rác khắp các địa phương, nhất là Huế và Thanh Hóa. Khoảng cuối thế kỷ XVII đạo Thiên chúa đã được du nhập vào các tỉnh Khu 4, hình thành ba địa phận: Thanh Hóa, Xã Đoài (Nghệ Tĩnh), Huế (Bình — Trị — Thiên) với ba tòa giám mục, 26 địa hạt, 978 xứ họ với nhiều nhà thờ, trường đại, tiểu chủng viện. Hệ thống nhà thờ được xây dựng dọc đường giao thông quan trọng hoặc ven sông, ven biển... Đồng bào theo đạo cùng sống trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, có chung truyền thống yêu nước, nhưng trong từng thời điểm của lịch sử, hệ thống đạo giáo là nơi kẻ thù thường lợi dụng hoạt động phá hoại, gây một số khó khăn cho công cuộc cách mạng và kháng chiến chống xâm lược của dân tộc. Quân khu 4 hiện nay có 64 huyện, thị xã, thành phố (có sáu thị xã và hai thành phố). Các thành phố, thị xã là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội của các địa phương. Thành phố Huế (Bình - Trị - Thiên) là cố đô của triều đình nhà Nguyễn. Huế có nhiều cảnh đẹp thiên nhiên, nhiều di tích lịch sử, văn hóa có giá tri. Đây cũng là nơi diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng và những cuộc đọ sức giữa nhân dân ta với kẻ thù dân tộc và giai cấp, nhất là trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, và trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Thành phố Vinh — Bến Thủy (Nghệ Tĩnh) là nơi ra đời sớm và tập trung của giai cấp công nhân Việt Nam, là trung tâm chỉ đạo của Đảng trong phong trào Xô-viết Nghệ—Tĩnh những năm 1930-1931. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thành phố Vinh đã bị tàn phá nặng nề, nay đang được mở rộng và xây dựng lớn hơn. Các thành phố, thị xã đều nằm sát biển và đều dựa vào thế núi, thế sông hoặc đầu mối các trục đường giao thông thủy, bộ có giá trị về xây dựng tuyến phòng thủ khu vực, trong phòng ngự với những cuộc chiến tranh thông thường. Những yếu tố «thiên thời, địa lợi, nhân hòa» trên đây tạo cho Quân khu 4 thành một địa bàn chiến lược «tiến có thế công, lùi có thế giữ», ra phía bắc nối với vùng đồng bằng Bắc Bộ qua bốn cửa ngõ Thạch Yên đi Vụ Bản, Kim Tân đi Rịa, Dốc Xây đi Đồng Giao, Nga Sơn đi Phát Diệm, nối liền với Quân khu 2 qua đường 15A, Vạn Mai đi Mộc Châu, Hòa Bình. Ở phía nam nối với Quân khu 5 bởi hai cửa ngõ: Đường 1A và đường sắt vượt đèo Hải Vân, đường Hồ Chí Minh từ Bù Lạch qua Khâm Đức vào Tây Nguyên. Phía tây có dãy Trường Sơn hùng vĩ, cùng chung biên giới với sáu tỉnh phía đông nước Lào, tạo nên một địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng và đồng thời là cầu nối, nảy sinh từ rất sớm mối đoàn kết liên minh chiến đấu Việt — Lào. Với vị trí chiến lược của một địa bàn trọng yếu và giàu tiềm năng như vậy, nên từ xưa tới nay mọi kẻ thù xâm lược đều tìm cách chia cắt chiến lược ở khu vực này. Chúng thường dùng những đội quân mạnh nhất, tinh nhuệ nhất mở những mũi thọc sâu, vu hồi lợi hại nhất, bất ngờ đánh chiếm các địa phương Khu 4, làm bàn đạp tiến công ra Bắc hoặc vào Nam, bao vây uy hiếp chính quyền Trung ương để đi đến thôn tính nước ta. Do vậy, nơi đây thường diễn ra những cuộc chiến đấu quyết liệt chống ngoại xâm của quân và dân ta trong lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang, các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử, tùy thuộc vào tính chất, mức độ và từng giai đoạn phát triển của chiến tranh, tùy phạm vi và yêu cầu của mỗi thời kỳ lịch sử, cha ông ta đều chọn địa bàn Quân khu 4 làm căn cứ, có khi là căn cứ hậu phương chiến lược của cả nước, có khi là căn cứ hậu phương của một chiến trường, vừa chống chia cắt chiến lược vừa là địa bàn tập kết xuất phát tiến công đánh đòn quyết định, đi đến kết thúc chiến tranh. Suốt chặng đường dài của lịch sử của dân tộc, các tỉnh thuộc Khu 4 được thiên nhiên tạo cho một tiềm năng kinh tế nông - lâm - ngư - công nghiệp phong phú, đồng thời thiên nhiên cũng rất khắc nghiệt, thử thách con người ghê gớm. Chính trong quá trình đấu tranh vật lộn với thiên nhiên đã tôi luyện cho người dân Khu 4 một nghị lực phi thường, một bản lĩnh vững vàng trước mọi gian nan thử thách, luôn luôn lạc quan yêu cuộc sống, lao động cần cù, bền gan vững chí, tinh thần chịu khó, chất phác, giản dị «ăn chắc, mặc bền», «đói sạch, rách thơm», sống có tình có nghĩa, «tương thân, tương ái», «tối lửa tắt đèn» trong tình làng nghĩa xóm. Trong đấu tranh với kẻ thù xâm lược thì kiên trung bất khuất, giữ vững khí tiết, không bao giờ chịu khuất phục, nhưng đồng thời cũng rất nhân đạo, vị tha. Nơi đây đã sản sinh ra biết bao anh hùng hào kiệt, nhiều nhà yêu nước và cách mạng vĩ đại, nhiều tướng lĩnh tài ba đức độ, nhiều nhà văn lỗi lạc... những di tích lịch sử: Biện Sơn, Thành Nhà Hồ, Thành Lục Niên, điện đài lăng tẩm Huế... Những áng văn chương vô giá của Nguyễn Du, Nguyễn Thiếp, Hồ Xuân Hương... Suốt chiều dài lịch sử đã chứng minh rằng trên dải đất tuy «lắm nắng nhiều mưa», «lắm giông nhiều bão» này «hào kiệt thời nào cũng có». Từ trong lao động cần cù và đấu tranh gian khổ đã nảy sinh những làn điệu dân ca mang tư chất riêng biệt, đặc thù của con người Khu 4: tiếng hò trên đất tỉnh Thanh; điệu ví đò đưa tươi duyên ở Nghệ Tĩnh; điệu hò khoan mái nhì man mác trên dòng Hương Giang, Nhật Lệ... mang đậm đà sắc thái quê hương. Lịch sử Việt Nam nói chung, cũng như lịch sử các địa phương Khu 4 nói riêng trong hàng chục thế kỷ qua gần như là lịch sử nối tiếp nhau của các cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Nơi đây đã từng là vùng đất của các triều dựng nghiệp khôi phục nền độc lập cho dân tộc của nhiều cuộc dấy quân (nghiệp lớn) khởi nghĩa, là địa bàn xuất phát tiến công hoặc phản công, bẻ gãy những gọng kìm của địch từ phương Nam tiến quân ra Bắc đánh bại các cuộc «Nam chinh» của giặc phong kiến phương Bắc... Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Chín, 2024, 09:45:45 pm Trên nền tảng của sức mạnh cộng đồng các dân tộc với ý chí quật cường bất khuất, quên mình vì nghĩa lớn, với nghị lực phi thường của hàng triệu con người đã đương đầu và vượt qua khó khăn, lao động sản xuất để tồn tại và phát triển. Từ tấm lòng nhân nghĩa, khí phách anh hùng của nhân dân các dân tộc, đã sản sinh ra những con người yêu nước vĩ đại, những anh hùng hào kiệt trên nhiều lĩnh vực. Chiến công đầu oanh liệt của Triệu Trinh Nương chống quân nhà Ngô từ thế kỷ III, đến trang sử vẻ vang của nhân dân cùng với Mai Thúc Loan đánh quân nhà Đường năm 722 tại vùng Sa Nam (Nam Đàn), cuộc tiến quân của Ngô Quyền từ Thanh Hóa ra Bắc diệt quân Nam Hán năm 938 trên sông Bạch Đằng, đập tan ách thống trị của hơn một nghìn năm Bắc thuộc, đưa nước ta bước sang «Kỷ nguyên Đại Việt» — kỷ nguyên xây dựng nền độc lập dân tộc. Trong suốt gần một nghìn năm tiếp theo, bọn phong kiến phương Bắc lại liên tiếp sang xâm lược nước ta. Nhân dân các địa phương Khu 4 cùng với cả dân tộc đã vùng lên: phá Tống (1057 — 1077), bình Nguyên (1258 — 1288), dẹp Minh (1418 — 1427), diệt Thanh (1789), lập nên bao chiến công hiển hách: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Hàm Tử... Lịch sử còn ghi sự tích các anh hùng, tránh sĩ, hào kiệt, hiền tài kéo về đất «Lam Sơn tụ nghĩa» cùng Lê Lợi, Nguyễn Trãi mười năm «nếm mật nằm gai» để từ chiến thắng Bồ Đằng, Trà Lân (Con Cuông — Nghệ Tĩnh) xuôi về hạ thành Diễn Châu và từ đây với năm vạn quân Nghệ Tĩnh mới bổ sung, kéo ra Bắc làm nên chiến thắng Chi Lăng lịch sử, quét sạch quân Minh ra khỏi đất nước. Khí 29 vạn quân Thanh sang xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ trên đường từ Phú Xuân ra Bắc đã dừng lại ở Nghệ An bổ sung thêm hàng vạn trai tráng để từ đất phượng hoàng Trung Dô hành quân thần tốc tới Tam Điệp hội quân mở trận tiến công chiến lược làm nên chiến thắng Ngọc Hồi — Đống Đa lịch sử (1789), chấm dứt thời đại các vua chúa phong kiến phương Bắc sang xâm lược nước ta. Giữa thế kỷ thứ XIX, thực dân Pháp đem quân đánh chiếm nước ta. Đứng trước nguy cơ mất nước, với ý chí và khát vọng độc lập tự do, truyền thống yêu nước của nhân dân ta lại trỗi dậy, cả dân tộc vùng lên. Ở Khu 4 nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước liên tiếp nổ ra. Năm 1885 Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi rời bỏ ngai vàng ra tận núi rừng Hương Khê (Hà Tĩnh) hạ chiếu cần vương, vạch tội ác thực dân, kêu gọi văn thân yêu nước vùng lên chống Pháp. Hưởng ứng phong trào Cần Vương, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp liên tiếp nổ ra. Cuộc khởi nghĩa của Lê Trực (Quảng Bình), Trần Tấn, Đặng Như Mai (Nghệ An), Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân (Thanh Hóa). Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa suốt mười năm (1885 -1895) của Phan Đình Phùng ở Hương Khê (Hà Tĩnh) lan rộng suốt địa bàn bốn tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa... Đồng thời với các cuộc khởi nghĩa vũ trang là phong trào Đông Du và xu hướng bạo động của cụ Phan Bội Châu, tổ chức Việt Nam thanh niên Quang phục hội của các chí sĩ yêu nước miền Trung... Các cuộc khởi nghĩa và các phong trào văn thân yêu nước ấy lần lượt bị thất bại, nhưng đã thức tỉnh tinh thần độc lập dân tộc và nêu cao truyền thống yêu nước, ý chí kiến cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Vượt qua tầm nhìn của các bậc tiền bối yêu nước lớp trước và cùng thời, đồng chí Nguyễn Ái Quốc — người con yêu quý của dân tộc Việt Nam với lòng yêu nước thiết tha mang dòng máu của nghĩa khí quê hương cách mạng, sau gần chục năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển tìm đường cứu nước, đã đến với Cách mạng tháng Mười, đến với chủ nghĩa Mác — Lê-nin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, tích cực hoạt động trong phong trào Cộng sản Quốc tế, truyền bá chủ nghĩa Mác — Lê-nin vào Việt Nam và Đông Dương, thành lập tổ chức Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, viết tác phẩm «Đường cách mệnh», tuyên truyền thức tỉnh giai cấp công nhân, nông dân lao động và những thanh niên đây nhiệt huyết, dẫn dắt họ đi vào con đường cách mạng vô sản, đến với chủ nghĩa Lê-nin và vận dụng chủ nghĩa Mác — Lê-nin vào hoạt động cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp... Một bộ phận thanh niên yêu nước lúc đó đã trở thành chiến sĩ cộng sản trung kiên và bất khuất, trong đó có nhiều đồng chí là con em nhân dân các tỉnh Khu 4, mà tiêu biểu là các đồng chí Lê Hồng Sơn, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duy Điềm, Nguyễn Sĩ Sách, Nguyễn Chí Diều, Lê Mao, Lý Tự Trọng, Phùng Chí Kiên... Đến năm 1929, từ phong trào vận động cách mạng sôi nổi ở các địa phương, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời, hoạt động độc lập với nhau. Đầu năm 1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc, thay mặt Quốc tế Cộng sản tiến hành hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam (3 tháng 2 năm 1930), sau đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ đây, ở Việt Nam và Đông Dương đã có một tổ chức cộng sản thống nhất, một chính Đảng của giai cấp công nhân trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 10 năm 1930, trong Hội nghị lần thứ nhất của Đảng, đồng chí Trần Phú đã trình bày bản luận cương chính trị quan trọng của Đảng. Bản luận cương vạch rõ đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, đồng chí Trần Phú được cử làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng. Thực hiện cương lĩnh của Đảng, Xứ ủy Trung Kỳ do đồng chí Nguyễn Phong Sắc, ủy viên Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo, phát triển các tổ chức cộng sản thành các đảng bộ cộng sản ở các địa phương. Dưới sự lãnh đạo của các đảng bộ cộng sản, phong trào cách mạng của quần chúng mà nòng cốt là liên minh công nông đã bùng lên mạnh mẽ khắp các tỉnh Khu 4. Xuất phát từ quan điểm cách mạng bạo lực, Đảng đã tổ chức ra các «đội tự vệ đỏ» gồm những người ưu tú, hăng hái, can đảm trong các đoàn thể «Công hội đỏ», «Nông hội đỏ». Các «Đội tự vệ đỏ» có nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ các cuộc đấu tranh của quần chúng công nông. Cao trào cách mạng 1930 — 1931 mà đỉnh cao là phong trào Xô-viết Nghệ — Tĩnh bắt đầu từ các cuộc mít tinh, biểu tình kỷ niệm ngày quốc tế lao động (1-5-1930) của công nhân Trường Thi, Bến Thủy và cuộc đấu tranh của nông dân Thanh Chương ở đồn điền Ký Viễn và nhanh chóng phát triển ra các địa phương khác, làm cho bộ máy cai trị của chính quyền thực dân, phong kiến từ huyện xuống cơ sở nhiều nơi tê liệt và tan rã. Chính quyền Xô-viết công nông được thành lập ở các huyện Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Yên Thành, Anh Sơn (Nghệ An); Nghi Xuân, Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà, Hương Khê (Hà Tĩnh), rồi lan ra các địa phương khác. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Chín, 2024, 09:50:43 pm Để đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng, thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn rất dã man, huy động binh lính từ Trung Kỳ ra, Bắc Kỳ vào, thiết lập nhiều đồn binh, đưa nhiều tên thực dân, quan lại phản động gian ác khét tiếng như Bê-nom, Tôn Thất Đàn đến Nghệ Tĩnh mở chiến dịch đàn áp đẫm máu, bắn chết hàng trăm người, bắt bớ, giam cầm, tra tấn rất nhiều cán bộ, đội viên xích vệ và dùng chiêu bài «quy thuận» để làm nhụt ý chí đấu tranh của nhân dân Nghệ Tĩnh. Dã man hơn, chúng còn dùng máy bay ném bom vào đoàn biểu tình ở Thái Lão (Hưng Nguyên), Truông Cồn Đọi (Anh Sơn) làm chết hàng trăm đồng bào ta1. Cuộc đấu tranh chống khủng bố trắng và bảo vệ chính quyền xô-viết ở Nghệ Tĩnh kéo dài hơn một năm, các đội tự vệ chuyển phương thức hoạt động, vừa bảo vệ chính quyền, bảo vệ cán bộ, vừa phục kích diệt những tên tri huyện, đồn binh gian ác. Nhưng trước sự khủng bố dã man của địch, đầu năm 1932 cao trào Xô-viết Nghệ — Tĩnh tạm thời thoái trào. Phong trào tuy thất bại nhưng đã thức tỉnh trong nhân dân ta một truyền thống kiên cường chống giặc ngoại xâm. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân các địa phương Khu 4 đã vùng lên đánh một đòn nặng vào ý chí xâm lược của chúng. Trong thư gửi Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá: «Nhân dân Nghệ Tĩnh nổi tiếng cứng đầu. Trong thời kỳ Pháp xâm lược cũng như trong các phong trào cách mạng quốc gia (1905 - 1925), Nghệ Tĩnh đã nổi tiếng. Trong cuộc đấu tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ Tĩnh vẫn giữ vững truyền thống cách mạng của mình. Nghệ Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu: «đỏ!»2. Đây là trận chiến đấu rung trời chuyển đất của công nông Xô-viết Nghệ — Tĩnh, làm lung lay, tê liệt và tan rã hệ thống chính quyền thực dân, phong kiến ở nhiều làng xã, lập nên chính quyền Xô-viết công nông. Cao trào 1930 — 1931 và Xô-viết Nghệ—Tĩnh là cuộc tổng diễn tập đầu tiên sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Qua Xô-viết Nghệ—Tĩnh, Quốc tế Cộng sản công nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là phân bộ độc lập của Quốc tế Cộng sản. Lực lượng «Tự vệ đỏ» là lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên sinh ra trong cao trào Xô-viết Nghệ—Tĩnh, trở thành tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sau này. Thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, nhưng «phong trào tạm lắng phong trào lại lên», từ trong nhà tù đế quốc, từ trong quần chúng công nông, những hạt giống đỏ lại nảy mầm. Lợi dụng thời cơ thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp tác động đến tình hình Đông Dương, Đảng ta chuyển hướng lãnh đạo cách mạng và khôi phục lại phong trào. Đảng chủ trương tập hợp lực lượng dân chủ và tiến bộ, đấu tranh chống thực dân và phản động thuộc địa. Thực hiện chủ trương đó, các địa phương đã tiến hành tổ chức đại hội cơ sở. Tháng 9 năm 1939, các đồng chí Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu, ủy viên Trung ương Đảng, Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ chủ trì cuộc «Đông Dương đại hội Trung Kỳ» tại Huế. Hơn 400 đại biểu đủ các thành phần, các tầng lớp ở các địa phương tới dự, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải thúc đẩy phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình cho nhân dân. «Đông Dương đại hội Trung Kỳ» — một đỉnh cao của phong trào đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ và hòa bình ở Việt Nam trong thời kỳ cách mạng dân chủ 1936 — 1939. Các tổ chức Đảng từ Trung ương đến các xứ ủy, tỉnh ủy và cơ sở dần dần được khôi phục. Các đội tự vệ cũng dần dần được tổ chức lại và phương thức hoạt động cũng được vận dụng phù hợp với tình hình lúc bấy giờ. Trong bối cảnh đó thì chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tháng 9 năm 1940 phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương. Nhân dân Việt Nam phải «một cổ hai tròng» chịu sự áp bức bóc lột thậm tệ của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Hàng ngàn chiến sĩ cộng sản bị bắt, bị tù đày. Đảng chủ trương chuyển vào hoạt động bí mật. Tháng 2 năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tình hình thế giới và trong nước đã có nhiều chuyển biến quan trọng. Tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 quyết định: «Chuyển trọng tâm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tập trung vào kẻ thù chủ yếu là phát xít Nhật và thực dân Pháp». Để tập hợp rộng rãi lực lượng chống phát xít, tháng 5 năm 1941, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) được thành lập. Cùng với sự ra đời của Việt Minh, các đoàn thể thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc cũng được tổ chức và phát triển rộng rãi khắp các địa phương. Từ sau các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27 tháng 9 năm 1940), Nam Kỳ (22-11-1940), Đô Lương (13-1-1941), nhiều tổ chức vũ trang, bán vũ trang được thành lập. Cùng với việc thành lập các đội du kích Bắc Sơn và các chiến khu của Trung ương, trong đó có chiến khu Hòa Ninh Thanh gồm Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa do đồng chí Văn Tiến Dũng chỉ huy, ở các tỉnh Khu 4, Xứ ủy Trung Kỳ thành lập tám chiến khu3. Tiếp đến là sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (22-12-1944). Ở các địa phương có các đội tự vệ, tổ chức mặt trận, đoàn thể thanh niên, phụ nữ cứu quốc vừa phát triển và củng cố lực lượng, vừa đẩy mạnh hoạt động, chuẩn bị đón thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhạt đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Ngày 12 tháng 3, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị: «Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta»... «Cuộc đảo chính sẽ tạo ra một tình hình khủng hoảng chính trị sâu sắc, làm cho những điều kiện của một cuộc khởi nghĩa vũ trang mau chóng đi tới chỗ chín muồi»4. Đồng thời với chỉ thị của Trung ương, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (từ 16 đến 20-4-1945) xác định: « Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này. Chúng ta phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, gây dựng căn cứ địa kháng Nhật, để chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ»5. Lúc này Xứ ủy Trung Kỳ và các tỉnh ủy Khu 4 chưa được kiện toàn về tổ chức. Đại bộ phận đảng viên cộng sản cốt cán hoạt động trong thời kỳ 1930 — 1931 — 1941 đang bị giam cầm ở các nhà lao đế quốc. __________________________________________________ 1. 625 chết, 8 làng bị triệt hạ, hơn 1.000 chiến sĩ bị bắt giam, hàng trăm người bị địch đem đi đày. 2. Hồ Chí Minh, Toàn tập. Nhà xuất bản Sự thật, H, 1983, t.3. tr.40. 3. Triệu Phong, Vĩnh Linh (Quảng Trị), Trung Thuần (Quảng Bình), Hương Sơn, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Thanh Chương, Anh Sơn (Nghệ An), Ngọc Trạo (Thanh Hóa), nhưng vì địch khủng bố gắt gao nên các chiến khu tồn tại một thời gian ngắn và tạm ngừng hoạt động. 4, 5. Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. H, 1974, t.1, tr.129 — 135. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Chín, 2024, 09:14:11 pm Để kịp thời củng cố tổ chức, chỉ đạo phong trào cách mạng đang phát triển rất nhanh, Đảng đã tìm cách tổ chức cho các đồng chí đảng viên cộng sản ở các nhà tù Buôn Ma Thuột, Lao Bảo, Trà Khuê, Đắc Tô, Ly Hy... vượt ngục về các địa phương cùng với đảng viên cơ sở đẩy mạnh hoạt động, phát triển và củng cố Mặt trận Việt Minh tỉnh, huyện, xây dựng và phát triển rộng rãi các đoàn thể quần chúng, củng cố và phát triển các đội tự vệ vũ trang, phát huy vai trò lực lượng các chiến khu để chuẩn bị cướp chính quyền. Chỉ trong hai tháng 6 và 7 năm 1945, phong trào cách mạng ở các tỉnh Khu 4 có bước chuyển biến mới rất cơ bản. Sau chiến thắng phát xít Đức ngày 13 tháng 8, Hồng quân Liên Xô tiêu diệt đạo quân Quan Đông của phát xít Nhật. Ngày 15 tháng 8, phát xít Nhật đầu hàng không điều kiện. Phát xít Nhật ở Đông Dương hoang mang dao động cực độ. Thời cơ xuất hiện, đêm 13 tháng 8 tại Tân Trào, Hội nghị toàn quốc của Đảng chủ trương: «Tập trung lực lượng vào những việc chính», «Đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê». Hội nghị quyết định thành lập Ủy ban tổng khởi nghĩa toàn quốc do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch. Ủy ban tổng khởi nghĩa ra quân lệnh số 11. Đêm 16 tháng 8 cũng tại Tân Trào, Quốc dân đại hội khai mạc, cử ra chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, và quyết định cả nước đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 16 tháng 8, thay mặt chính phủ lâm thời, đồng chí Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi toàn quốc tổng khởi nghĩa2. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quân lệnh số 1, ủy ban khởi nghĩa ở các tỉnh, huyện, xã ở Khu 4 đã lãnh đạo quần chúng nhân dân vùng lên lật đổ chính quyền tay sai phản động, giành chính quyền về tay nhân dân. Huyện Hoàng Hóa (Thanh Hóa) đã khởi nghĩa giành chính quyền từ ngày 24 tháng 7 năm 1945. Huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) và xã Thanh Thủy (Nam Đàn, Nghệ An) khởi nghĩa thành công ngày 16 tháng 8, tỉnh Hà Tĩnh ngày 17 tháng 8. Ngày 18 tháng 8 các địa phương còn lại đồng loạt đứng lên lật đổ chính quyền thực dân, phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng. Ngày 23 tháng 8, thành phố Huế tổng khởi nghĩa thành công. Tổng khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi ở các địa phương Khu 4. Diễn biến và tiến trình khởi nghĩa ở các địa phương có khác nhau, ở Thanh Hóa và Quảng Bình các lực lượng tự vệ đỏ đồng loạt bao vây các trại lính, các ty, sở và chính quyền cấp tỉnh, sau đó quần chúng được phát động đứng lên lật đổ chính quyền tay sai các cấp. Ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thừa Thiên, trước sức mạnh áp đảo của quần chúng, bọn tay sai phản động trong chính quyền thực dân phong kiến phải đầu hàng không điều kiện. Ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, tổng khởi nghĩa diễn ra từ cấp xã lên tổng, huyện, và sau đó lên chính quyền cấp tỉnh. Ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng trị, Thừa Thiên, tổng khởi nghĩa diễn ra ở cấp tỉnh, sau đó xuống cấp huyện và cấp cơ sở. Ở các huyện miền núi, ta chủ trương sử dụng các tri châu và chuyển hóa thành chính quyền ủng hộ cách mạng. Tổng khởi nghĩa ở các địa phương Khu 4 diễn ra đồng thời, nhanh gọn, đúng thời cơ và kiên quyết với lực lượng áp đảo của quần chúng nhân dân, kết hợp chặt chẽ với lực lượng tự vệ vũ trang. Bọn thực dân, phong kiến phản động tay sai nhanh chóng bị đè bẹp, hoàn toàn suy sụp về linh thần và phải chấp nhận đầu hàng vô điều kiện. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời các địa phương được thành lập và ra mắt nhân dân. Tỉnh Thanh Hóa: Đồng chí Lê Tất Đắc làm chủ tịch, Hoàng Tiến Trình ủy viên quân sự. Nghệ An: Đồng chí Lê Viết Lượng chủ tịch, đồng chí Nguyễn Ngọc Tuyết ủy viên quân sự. Hà Tĩnh: các đồng chí Trần Hữu Duyệt chủ tịch, Lê Lộc ủy viên quân sự. Quảng Bình: các đồng chí Nguyễn Sớ chủ tịch, Đoàn Khuê ủy viên quân sự. Quảng Trị: các đồng chí Trần Hữu Dực chủ tịch, Trần Mạnh Quỳ ủy viên quân sự. Thừa Thiên: các đồng chí Tôn Quang Phiệt chủ tịch, Lê Tự Đồng ủy viên quân sự. Chiều 30 tháng 8 năm 1945, trước cửa Ngọ Môn (Huế), phái đoàn chính phủ ta do đồng chí Trần Huy Liệu làm trưởng đoàn đã chấp nhận lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Cờ đỏ sao vàng rực rỡ được kéo lên trong tiếng hoan hô vang trời, dậy đất của quần chúng nhân dân lao động. Chỉ trong tám ngày đêm (16 đến 23 tháng 8 năm 1945) dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương, nhân dân các tỉnh Khu 4 cùng với cả nước đã nhất tề đứng lên tổng khởi nghĩa, đập tan xiềng xích của đế quốc và tay sai, lật đổ nền quân chủ hàng nghìn năm, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngay sau khi giành chính quyền, Trung ương Đảng đã chỉ thị tổ chức Hội nghị đại biểu các tỉnh Trung Bộ tại tòa Khâm sứ Trung Kỳ (Huế) để: 1. Thành lập Xứ ủy Trung Kỳ do đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên thường vụ Trung ương Đảng làm bí thư. 2. Thành lập Ủy ban Việt Minh Trung Bộ do đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Trung Ương Đảng, Ủy viên thường vụ Xứ ủy làm chủ nhiệm. 3. Thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Trung Bộ do đồng chí Trần Hữu Dực, Ủy viên thường vụ Xứ ủy làm chủ tịch, đồng chí Nguyễn Chánh, Ủy viên thường vụ Xứ ủy làm ủy viên quân sự. Song song với việc thành lập chính quyền cách mạng, các địa phương cũng đồng thời thành lập các đơn vị giải phóng quân. ______________________________________________ 1. «Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà». «Chúng ta phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! Tổ quốc đang đòi hỏi những hy sinh lớn lao của các bạn! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta! Lệnh khởi nghĩa (Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa), Văn kiện quân sự của Đảng, 1930 — 1945, Nhà Xuất bản Quan đội nhân dân. H.1969. tr.301. 2. Trích thư kêu gọi của Hồ Chủ tịch: «Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta», «Chúng ta không thể chậm trễ... Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hay dũng cảm tiến lên!». Văn kiện quân sự của Đảng, 1930 — 1945, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H, 1969. tr.313. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Chín, 2024, 09:15:17 pm Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Thiết Hùng làm khu trưởng, đồng chí Hồ Tùng Mậu, chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu làm chính trị ủy viên, cùng Xứ ủy Trung Kỳ tiến hành tổ chức thành lập Chiến khu 4. Từ đây Xứ ủy Trung Kỳ có các cơ quan lãnh đạo Đảng, Mặt trận Việt Minh, chính quyền cách mạng và lực lượng vũ trang cách mạng, trực tiếp lãnh đạo các tỉnh, đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Ban chấp hành Trung Ương Đảng. Cách mạng tháng Tám thành công ở các tỉnh Khu 4 là kết quả của một quá trình vận động cách mạng, quá trình chiến đấu hy sinh đầy gian nan thử thách của bao chiến sĩ cách mạng và đảng viên cộng sản kiên cường, bất khuất, của sự hy sinh vô bờ bến của nhân dân ta trong suốt thời kỳ cách mạng từ khi có Đảng lãnh đạo, nó còn là kết tinh truyền thống yêu nước nồng nàn và tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm, giữ vững nền độc lập dân tộc của nhân dân ta. Từ nền tảng của Cách mạng tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân các tỉnh Khu 4 cùng cả nước tiếp tục vươn lên, viết tiếp trang sử vẻ vang trong thời kỳ mới của cách mạng. Bọn thực dân đế quốc trở lại xâm lược nước ta. Tuân theo lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với cả nước, nhân dân Quân khu 4 đã nhất tề đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện trong thế trận chiến tranh nhân dân hùng mạnh, đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, Quân khu 4 đảm nhiệm vai trò của một địa bàn chiến lược quan trọng chống sự chia cắt của địch, trở thành nơi tập trung các mâu thuẫn, nơi đụng đầu lịch sử giữa chủ nghĩa thực dân cũ và mới với chế độ xã hội chủ nghĩa, giữa hai lực lượng cách mạng và phản cách mạng, với hai loại hình chiến tranh: chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Trong cuộc đụng đầu lịch sử đó, quân dân quân khu 4 đã chấp nhận cuộc chiến đấu dài ngày nhất, ác liệt nhất và cũng kiên cường nhất, phối hợp chặt chẽ với các chiến trường, tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến trường đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn. Quân và dân Quân khu 4 không những trực tiếp đương đầu với địch, chống sự chia cắt trên chiến trường quân khu mà còn đảm nhiệm vai trò của một hậu phương chiến lược, một địa bàn tập kết xuất phát tiến công chiến lược đi tới các chiến trường chính cả vào Nam và ra Bắc. Quân và dân Quân khu 4 đã dốc lòng, dốc sức «tất cả cho tiền tuyến». Các thế hệ kế tiếp nhau ra trận. Hàng chục sư đoàn, trung đoàn, hàng chục vạn cán bộ, bộ đội dân công, thanh niên xung phong là con em các dân tộc trên địa bàn quân khu có mặt trên khắp các chiến trường toàn quốc và hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia anh em. Ở các chiến trường đó, con em nhân dân các tỉnh Quân khu 4 thực sự là niềm tin cậy của các lực lượng vũ trang nhân dân ta trong cuộc chiến đấu và đều lập công vẻ vang. Nhiều đơn vị và cá nhân được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã trở thành những vị tướng lĩnh của quân đội, chỉ huy các chiến trường lớn và những binh đoàn lớn, trong các chiến dịch quyết định. Với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, các tỉnh hậu phương Quân khu 4 đã trở thành nền móng để dốc hết sức người, sức của chi viện chiến trường với tinh thần «xe chưa qua nhà không tiếc » vừa bảo vệ vững chắc địa phương. Trong lịch sử suốt 30 năm qua, chưa một lần nào kẻ thù lại có thể dùng lực lượng bộ binh tiến công đánh chiếm được hậu phương Quân khu 4. Xuất phát từ quan hệ địa lý, láng giềng thân thiện và với tinh thần quốc tế vô sản cao cả được Đảng và Bác Hồ giáo dục, quân và dân Quân khu 4 luôn luôn giữ trọn tình nghĩa thủy chung, vẹn toàn với các dân tộc của nước bạn Lào anh em, sát cánh cùng nhau, «hạt gạo cắn đôi, cọng rau xẻ nửa » cùng chiến đấu trong liên minh đoàn kết Việt — Lào chống kẻ thù chung của hai dân tộc là Pháp và Mỹ, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. * * * Mảnh đất và con người Khu 4 đã luôn luôn vươn lên để chế ngự thiên nhiên, để đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài và không ngừng vun đắp nên một vùng đất kiên cường, bất khuất. Dân tộc tự hào, kẻ thù run sợ. Hơn 40 năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đặc điểm địa bàn chiến lược và bản chất cách mạng của mảnh đất và con người Khu 4 càng được phát huy cao độ. Bất cứ trong chiến tranh giải phóng hay trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Khu 4 luôn luôn vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương, vừa làm nhiệm vụ dân tộc, vừa làm nhiệm vụ quốc tế, vừa xây dựng lực lượng cách mạng hùng hậu, lực lượng vũ trang hùng mạnh, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, sẵn sàng chiến đấu cao, kiến quyết đánh bại mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển, biên giới, hải đảo trên địa bàn quân khu, vừa sẵn sàng cơ động lực lượng trên khắp các chiến trường, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, xứng đáng là một địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ quốc tế vẻ vang của Đảng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Chín, 2024, 09:22:32 pm CHƯƠNG I XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG CHỐNG THÙ TRONG GIẶC NGOÀI GẤP RÚT CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN (8-1945 - 19-12-1946) Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử (thủ đô Hà Nội), trước cuộc mít tinh hàng chục vạn nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Tiếng nói của Bác Hồ âm vang và đanh thép, rung động trái tim mỗi người Việt Nam yêu nước. “...Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!... Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải đề giữ vững quyền tự do, độc lập ấy». Theo lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ, quân và dân Khu 4 hăng hái chăm lo xây dựng chính quyền cách mạng vừa mới giành được sau mấy mươi năm đấu tranh bền bỉ, quyết liệt. ĐỊA BÀN LIÊN KHU 4 (bản đồ) I. XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN NON TRẺ Cách mạng mới thành công. Chính quyền vừa được thành lập. Tuy có thuận lợi cơ bản là lòng yêu nước thiết tha của nhân dân, khí thế cách mạng sôi nổi của quần chúng; song việc giữ vững chính quyền của nhân dân trong thời kỳ trứng nước còn đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách. Quân Nhật đã đầu hàng Đồng minh nhưng lực lượng của chúng đóng trên các tỉnh còn đông, với đầy đủ trang bị vũ khí hiện đại. Tháng 9 năm 1945, quan Nhật còn đóng ở Nghệ Tĩnh gần 10.000, ở Thừa Thiên - Huế gần 5.000 và một số quân từ Lào rút về theo đường số 7, số 9. Quân Anh với danh nghĩa Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật, đem theo quân Pháp đánh chiếm Nam Bộ. Ở phía bắc miền Trung, tàn quân Pháp bỏ chạy sau cuộc đảo chính của Nhật cũng lần lượt kéo về đánh chiếm một số vùng ở biên giới giáp Đông Lào và tỉnh Lai Châu ở tây—bắc nước ta. Quân Tàu Tưởng, lấy danh nghĩa quân Đồng minh kéo sang tước khí giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra, nhằm âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, lập chính quyền phản động. Ở các tỉnh Khu 4 có khoảng hai vạn tên. Lợi dụng thời cơ, bọn phản động Việt Nam quốc dân Đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hội ra sức chống phá điên cuồng và xảo quyệt. Thực lực chính quyền của ta còn non yếu, tình hình kinh tế tài chính, nhất là tình hình quân sự, chính trị còn đứng trước nhiều khó khăn thử thách nghiêm trọng. Vượt qua khó khăn xây dựng thực lực cách mạng Hậu quả của nạn đói mùa thu năm 1945 còn nặng nề khủng khiếp. Cả Khu 4 chết đói hơn 30.000 người1. Thiên tai dồn dập, gần một nửa diện tích bỏ hoang. Đến lúc thu hoạch lại bị bão lớn, lụt to, hàng vạn héc-ta hoa màu bị phá. Vùng Thanh—Nghệ—Tĩnh mất khoảng 50 phần trăm tổng sản lượng lúa, có nơi mất 60 phần trăm (huyện Đức Thọ —Hà Tĩnh). Thu hoạch vụ mùa năm 1945 chỉ đủ ăn ba tháng. Sau bão lụt lại bị dịch tả, đậu mùa, dịch gia súc. Nhiều trâu bò chết, nhiều gia đình thiếu ăn, rải rác vẫn có người chết đói. Huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) hàng trăm con trâu bò chết một lúc. Nhiều xã có đến 90 phần trăm gia đình thiếu ăn. Các ngành sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp ngừng trệ, công nhân viên chức thiếu việc làm, thiếu tiền lương. Ngân quỹ các tỉnh hầu như trống rỗng. Hệ thống tổ chức đảng ở nhiều địa phương chưa được củng cố. Một số cán bộ trước đó ở các nhà tù hoặc hoạt động ở các nơi khác mới về, chưa thật hiểu nhau, tin nhau. Lực lượng vũ trang còn quá non yếu, nhất là bộ đội chủ lực tập trung, thiếu cán bộ quân sự, thiếu vũ khí. Chính quyền nhiều huyện miền núi lúc đầu còn do các tri châu và thổ ty, lãnh đạo điều hành2. Trình độ văn hóa của nhân dân còn quá thấp, số người chưa biết chữ còn phổ biến. Các tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, hút thuốc phiện, cầu cúng bói toán... tuy có giảm nhưng vẫn còn. Hoạt động của các đoàn thể quần chúng còn yếu. Trước tình hình trên, nhiệm vụ xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng vượt qua thời kỳ trứng nước để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến tới là vô cùng quan trọng và cấp thiết. Để củng cố và nâng cao hiệu lực hành động của cơ quan lãnh đạo và chính quyền các cấp, Thường vụ Xứ ủy phân công cán bộ về các tỉnh, chỉ đạo triển khai các chủ trương công tác, trước hết là vấn đề xây dựng Đảng xây dựng chính quyền và Mặt trận Việt Minh. Đồng chí Nguyễn Duy Trinh và một số cán bộ được cử về giúp hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh... ______________________________________________ 1. Nghệ An: Trên 16.000 gia đình có người chết, gồm khoảng 42.999 người (trong đó có 2.250 hộ chết cả nhà). Hà Tĩnh có khoảng gần 50.000 người chết. 2. Thanh Hóa có sáu huyện Quan Hóa, Bá Thước, Thường Xuân, Cẩm Thủy, Lang Chánh, Ngọc Lạc, do tri châu, lang đạo nắm chính quyền. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Chín, 2024, 09:27:54 pm Ngày 17 tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ tịch lấy danh nghĩa «một người đồng chí già mà viết để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm với các đồng chí» ở quê hương (tỉnh Nghệ An nay là tỉnh Nghệ Tĩnh). Trong thư, Hồ Chủ tịch chỉ rõ những khó khăn, thuận lợi trong công cuộc kiến thiết bảo vệ đất nước: «...Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi của một đôi giai từng1. Vả lại, chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều: nào quân sự, nào ngọại giao, nào tài chính... trăm dâu nghìn mối đều những việc mới lạ cho chúng ta. Lại thêm nguy hiểm ngoại xâm và tình hình nội trị... Kỷ luật không đủ nghiêm. Để cho bọn giả mạo tiếng Chính phủ hoặc tên Việt Minh ức hiếp dân, xoáy tiền dân, lấy đồ đạc của dân, làm cho dân oán». Người thẳng thắn chỉ trích «Khuynh hướng chật hẹp và bao biện, việc gì cũng do người Việt Minh làm, không biết đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc». Người nghiêm khắc phê phán hiện tượng «Lạm dụng hình phạt... đào bới chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người không nguy hiểm lắm thì nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung... Đề phòng hủ hóa. Cán bộ ta có nhiều người «cúc cung tận tụỵ», hết sức trung thành với nhiệm vụ, với chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa lên mặt quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư2. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ, Đoàn thể»3. Người chỉ rõ tác hại của những sai lầm đó và kêu gọi đảng viên quyết tâm sửa chữa ngay để giữ vững khối đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân. Bức thư thẳng thắn, sâu sắc đầy tình nhân ái của Hồ Chủ tịch cùng với sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy Trung Kỳ lúc này đã thúc đẩy mọi hoạt động cách mạng trong các tỉnh. Ngay sau những ngày giành được chính quyền, tỉnh ủy Thanh Hóa triệu tập hội nghị mở rộng bàn về các chủ trương, biện pháp củng cố và xây dựng các tổ chức Đảng từ cơ sở trở lên, coi trọng công tác phát triển đảng viên mới, tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ để tăng cường cho các huyện, các ngành. Ngày 10 tháng 9, hội nghị cán bộ tỉnh Quảng Trị bàn việc củng cố xây dựng chính quyền các cấp, xây dựng lực lượng vũ trang bầu tỉnh ủy lâm thời. Đồng chí Đặng Thí được cử làm bí thư tỉnh ủy. Đầu tháng 10, các đảng viên tích cực ở Nghệ An và Hà Tĩnh đã lần lượt mở hội nghị thành lập đảng bộ, cử tỉnh ủy lâm thời và lập Ban chuyên trách xây dựng Đảng. Đồng chí Nguyễn Xuân Linh được cử làm bí thư tỉnh ủy Nghệ An. Đồng chí Nguyễn Thái được cử làm bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh. Cuối năm 1945, các tỉnh ủy lâm thời hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh họp kiểm điểm công tác xây dựng Đảng, phân công những đồng chí có năng lực và tín nhiệm xuống giúp các huyện, đề ra nhiều biện pháp xây dựng Đảng, bầu bổ sung thêm tỉnh ủy viên và quyết nghị các chủ trương về công tác mặt trận, xây dựng chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang và các nhiệm vụ kinh tế xã hội. Công tác xây dựng, củng cố Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc được coi trọng. Các Hội Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc phát triển mạnh. Các tỉnh còn có các tổ chức như Hội văn hóa cứu quốc, Công giáo cứu quốc, Phật giáo cứu quốc, Chức nghiệp cứu quốc, Hương đào cứu quốc, Công thương gia cứu quốc... để thu hút rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân vào đội ngũ. Thông qua các Hội cứu quốc, ta đã động vỉên, giáo dục toàn dân phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ. Cùng với công tác xây dựng Đảng, xây dựng mặt trận phát triển đoàn thể quần chúng, việc xây dựng, củng cố chính quyền được đặc biệt coi trọng. «Chính phủ lâm thời cách mạng các tỉnh» được cử ra sau ngày tổng khởi nghĩa nay đổi thành «Ủy ban nhân dân cách mạng», sau đổi là «Ủy ban nhân dân». Thực hiện chủ trương của Trung ương, thành phần trong Ủy ban nhân dân các địa phương được mở rộng. Đại biểu các đoàn thể cứu quốc và những người ngoài Đảng có khả năng và uy tín được cử thêm vào trong bộ máy chính quyền4. Những tàn dư chế độ cũ như lối làm việc quan liêu, nạn hối lộ, tham nhũng bị đấu tranh ngăn chặn tích cực. Cách xưng hô, giao tiếp giữa nhân viên chính quyền với nhân dân, gần gũi, giản dị, không hách dịch cửa quyền. Các ngành chuyên môn của ủy ban nhân dân được chấn chỉnh. Các ủy ban nhân dân lập ban giải quyết các đơn từ, kiện tụng, khiếu nại của nhân dân. Đơn vị hành chính cấp tổng được bãi bỏ5. Các chủ trương trên đã góp phần tăng cường khối đoàn kết toàn dân, động viên mọi công dân nêu cao tinh thần làm chủ, hăng hái tham gia xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng và chế độ dân chủ cộng hòa. Vào cuối năm 1945, đầu năm 1946, các tỉnh chuẩn bị tham gia Tổng tuyển cử Quốc hội và bầu cử hội đồng nhân dân các cấp. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, nhân dân cả nước hăng hái tham gia ngày hội Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội. Cũng như đồng bào và chiến sĩ cả nước, lần đầu tiên quân và dân Khu 4 được thực sự làm nhiệm vụ người công dân của một nước độc lập, tự do. Từ các thành phố, thị xã, đến các vùng nông thôn, đồng bằng, núi rừng xa xôi hẻo lánh, ở các mặt trận, trên biên giới phía tây... nhân dân và cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang đều nô nức đi bỏ phiếu bầu cử những đại biểu của mình vào Quốc hội. Có những cụ già, những người tàn tật cũng nhờ con cháu dìu đến nơi bầu cử để được tự tay bỏ lá phiếu đầu tiên trong đời mình. Tròn 97 phần trăm cử tri đã đi bỏ phiếu bầu Quốc hội. Cuối tháng 2, các tỉnh tiến hành bầu cử hội đồng nhân dân các cấp. Sau đó hội đồng nhân dân khóa I họp phiên đầu tiên để bàn định những nhiệm vụ cần kíp về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, bầu cử ủy ban nhân dân và ban thanh tra hành chính. Một số nhân sĩ, viên chức cũ tiến bộ được cử vào Ủy ban hoặc giúp việc các ngành chuyên môn của Ủy ban nhân dân. Một nhiệm vụ quan trọng cấp bách được đặt lên hàng đầu là khắc phục nạn đói và ổn định đời sống nhân dân. Chính quyền các cấp đã chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của Chính phủ về bỏ thuế thân, giảm 25 phần trăm hoặc miễn hoàn toàn thuế nông nghiệp cho những vùng bị lụt, tạm chia ruộng đất công, ruộng đất của thực dân Pháp cho dân cày nghèo, áp dụng luật lao động ngày làm 8 giờ và chế độ bảo hiểm xã hội cho công nhân... _______________________________________________ 1. Tầng lớp, giai cấp. 2. Ý nói lấy của công làm của riêng. 3. Hồi ấy Đảng Cộng sản Đông Dương rút vào hoạt động bí mật. Đoàn thể là tổ chức Đảng. 4. Ngày 12 tháng 12 năm 1945 tỉnh ủy Hà Tĩnh quyết định chỉ để một phần ba thành viên Ủy ban nhân dân các cấp là đảng viên. 5. Dưới chế độ cũ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh có 1.563 làng xã và khu phố. Nay được hợp nhất thành 480 xã lớn và khu phó. Căp tổng là cấp chính quyền trung gian giữa huyện và xã. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Chín, 2024, 09:31:46 pm Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, noi theo gương sáng của Bác Hồ, các tỉnh tổ chức phong trào «Nhường cơm sẻ áo», «Hũ gạo cứu đói», «Ngày đồng tâm». Các đoàn cứu đói từng thôn xã, từng phố phường đem gạo đến những gia đình gặp khó khăn lớn. Có địa phương (như Kỳ Anh — Hà Tĩnh) lập trại tế bần để nuôi dưỡng và tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người không nơi nương tựa. Phong trào tiết kiệm lương thực, nghiêm cấm nấu rượu bằng gạo được nhân dân tự giác chấp hành. Phong trào tăng gia sản xuất phát triển mạnh. Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch «Tăng gia sản xuất. Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa», «Tấc đất tấc vàng» đã trở thành hành động thiết thực và có kết quả cụ thể từng ngày. Khắp nơi, mọi ngành, mọi giới, từng nhà, từng người đều tranh thủ thời gian, tận dụng mọi mảnh vườn, ụ đất để trồng trọt, chăn nuôi. Phong trào làm thủy lợi, nạo vét hệ thống nông giang, đắp đê ngăn nước mặn, ngăn cát, tu sửa đập nước phát triển. Nhiều địa phương thành lập Ban chỉ đạo sản xuất. Hội nông gia tương tế cho vay vốn lập các hợp tác xã thủ công nghiệp sản xuất nông cụ để bán cho nhân dân, lập ngân hàng tín dụng cho nông dân vay vốn để mua sắm nông cụ sản xuất, trâu, bò, lúa giống, nhất là những vùng bị đói, bán thuốc phòng chống dịch trâu, bò, gia súc... Có tỉnh (như Nghệ An) còn thành lập tiểu ban canh nông để chỉ đạo việc khôi phục, củng cố và phát triển sản xuất các đồn điền của Pháp. Nhờ những chủ trương, chính sách khuyến khích sản xuất và thực hành tiết kiệm trên, nạn đói dần dần được đẩy lùi. Với tinh thần nhường cơm sẻ áo, nhân dân các tỉnh Khu 4 không những tự đùm bọc lấy mình mà còn tích cực giúp đỡ đồng bào đồng bằng Bắc Bộ đang lâm vào nạn đói gay gắt do đê vỡ, hoa màu, tài sản bị thiệt hại nặng. Hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã giúp đồng bằng Bắc Bộ 477 tấn gạo, chiếm 24 phần trăm số gạo quyên góp của cả Bắc Bộ và bốn tỉnh Trung Bộ1. Góp phần giải quyết khó khăn nghiêm trọng về kinh tế tài chính của đất nước và hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, nhân dân Khu 4 tự giác, hăng hái đóng góp vào «Quỹ độc lập», «Quỹ đảm phụ quốc phòng ». Các địa phương, nhất là ở các thành phố, thị xã đã tổ chức các «Tuần lễ vàng», rất trang nghiêm trọng thể. Nhiều bà mẹ, nhiều chị em đem cả những đồ trang sức quý hiếm như vòng vàng, xuyến vàng, nhẫn vàng, hoa tai vàng... hiến dâng cho Tổ quốc. Nghệ An quyên góp được 23,62 ki-lô-gam vàng, huyện Phủ Quỳ 150 ki-lô-gam bạc, thành phố Vinh ngoài vàng còn góp thêm 161.116 đồng. Hà Tĩnh quyên góp tám ki-lô-gam vàng, 53 ki-lô-gam bạc và một số kim cương, ngọc quý. Bà Đức thôn Kẻ Hộ, xã Cẩm Quan huyện Cẩm Xuyên (gia đình liệt sĩ) ủng hộ bốn đôi trâm vàng, một con trâu và 40 bát đĩa quý. Ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên quyên góp được 370 ki-lô-gam vàng, bạc. Đi đôi với nhiệm vụ chống giặc đói, khắc phục khó khăn về tài chính, tiền tệ, nhiệm vụ chống giặc dốt, xây dựng đời sống mới cũng được triển khai tích cực và sôi nổi khắp các tỉnh. Các khẩu hiệu cổ động «Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương trừ giặc dốt», «Thêm một người đi học là thêm một viên đạn bắn vào quân thù, thêm một viên gạch xây đài độc lập của nước nhà» được chăng lên các ngả đường cổng chợ, đình làng. Các lớp bình dân học vụ phát triển mạnh. Cuộc vận động bài trừ giặc dốt được phát động bằng mọi biện pháp vừa tự giác vừa có tính chất bắt buộc2. Những cải cách xã hội được đẩy mạnh. Cuộc vận động đời sống mới phát triển. Những tục lệ ma chay, tế lễ đình đám... phiền phức và tốn kém giảm dần. Việc cưới hỏi do Đoàn thanh niên phụ trách được tổ chức vui vẻ, giản dị và tiết kiệm. Những tệ nạn xã hội như đánh bạc, nghiện rượu, hút thuốc phiện, mãi dâm, cầu cúng, bói toán được bài trừ. Phong trào xây dựng thôn xã, đường phố kiểu mẫu phát triển. Nhân dân tự nguyện góp công, góp của làm đường, cầu cống, sân vận động, phòng đọc sách báo, chòi phát thanh, bảng tin, trạm xá, nhà hộ sinh. Nhiều tỉnh tổ chức hội y học dân tộc và nhà thương để chữa bệnh cho nhân dân. Ở thành phố Vinh có nhà thương Hồ Chí Minh dành cho quân đội. Phong trào thể dục, thể thao «Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia» được thanh niên, thiếu niên tham gia tích cực. Những bài ca cách mạng như «Tiếng gọi thanh niên», «Du kích quân», «Diệt phát xít»... hát vang trong các buổi họp, lớp học, ngoài bãi tập, ngoài đường. Những buổi văn nghệ, kịch nói, kịch thơ như Trần Bình Trọng... cổ vũ truyền thống yêu nước của dân tộc, được nhân dân hoan nghênh nhiệt liệt. Song song với việc xây dựng toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... Các địa phương đã đặc biệt chú trọng nhiệm vụ xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang. Tiếp theo việc thành lập Bộ tư lệnh Chiến khu 4 ngày 15 tháng10 năm 1945, việc củng cố tổ chức cơ quan chiến khu cũng được xúc tiến: đồng chí Hoàng Điền làm tham mưu trưởng, đồng chí Chu Văn Biên làm tham mưu chủ nhiệm, phụ trách công tác nội bộ cơ quan tham mưu, đồng chí Trần Văn Quang, trưởng phòng chính trị, đồng chí Mười Uyển trưởng phòng cung cấp, đồng chí Lê Lộc, chánh văn phòng chiến khu. Cơ quan chiến khu đóng tại tòa giám binh và dinh tổng đốc cũ ở Vinh. Ngày 16 tháng 12 năm 1945, các hệ thống tổ chức chỉ huy, thông tin liên lạc, quân báo... được thành lập và bắt đầu hoạt động, tiến hành củng cố các chi đội giải phóng quân và chỉ đạo nhiệm vụ công tác quân sự ở các địa phương. Ở các tỉnh, các đội quân chủ lực được biên chế thành các chi đội và thống nhất tên gọi «Chi đội giải phóng quân»3. Mỗi tỉnh có một chi đội, mỗi chi đội có từ ba đến bốn đại đội (tùy theo quân số nhiều hay ít). Bên cạnh các chi đội giải phóng quân, mỗi tỉnh còn có từ một đến ba đại đội dân quân thường trực do địa phương nuôi dưỡng, lực lượng dân quân kết hợp với các lực lượng trinh sát, công an, cảnh vệ có nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự xã hội, bảo vệ cơ quan đảng, chính quyền ở các địa phương (các lực lượng này về sau thống nhất thành lực lượng công an). Để có đủ cán bộ có trình độ nhất định về lãnh đạo và chỉ huy công tác quân sự, Xứ ủy đã cấp tốc mở lớp đào tạo cán bộ đại đội, trung đội trong vòng hai tháng. Học viên là những cán bộ chỉ huy các chi đội giải phóng quân và những cán bộ công tác Đảng, chính quyền ở các địa phương. Giáo viên chính trị gồm các đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Duy Trinh, Trần Hữu Dực, Tố Hữu, Lê Chưởng, giáo viên quân sự là những cựu binh sĩ cũ như Quản Hậu, Lý Hồng Chương4. Các tỉnh mở lớp đào tạo cán bộ tiểu đội trưởng (có cả một số cán bộ đảng, chính quyền cấp tỉnh, huyện tham gia học tập). ______________________________________________ 1. Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ Tĩnh, tr. 221. 2. Ngày 2-11-1945, Hội nghị tỉnh ủy Nghệ An quyết nghị: Trong một năm phải vận động nhân dân từ 18 tuổi trở lên đều đi học và đều biết đọc, biết viết. Đối với đảng viên, sau ba tháng nếu không biết chữ sẽ bị kỷ luật. 3. Sau Cách mạng tháng Tám, các tỉnh đã tổ chức đội quân chủ lực nhưng tên gọi khác nhau. Nơi gọi Cứu quốc quân, Giải phóng quân, nơi gọi Ủy ban quân sự, Tư lệnh giải phóng quân v.v. Sau ngày 2-9 thống nhất tên gọi là Chi đội giải phóng quân. Chi đội tương đương trung đoàn, đại đội tương đương tiểu đoàn, trung đội tương đương đại đội, phân đội tương đương trung đội. 4. Quản Hậu chỉ huy quân khố xanh, sau Cách mạng Tháng Tám có tham gia huấn luyện quân sự cho ta. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, chạy theo Pháp làm đại đội trưởng đại đội Áo Đen, đã bị ta trừng trị. Lý Hồng Chương, trung ương ủy viên Quốc dân đảng, phó giám hiệu trường bổ túc quân sự của ta ở Huế. Về sau ta phát hiện được âm mưu lâu dài của y. Y bỏ chạy, làm tư lệnh Quốc dân đảng. Bị ta trừng trị tại Yên Bái. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Chín, 2024, 09:34:34 pm Cuối tháng 12 năm 1945, để phù hợp hơn với tình hình và đặc điểm nhiệm vụ công tác quân sự, các tổ chức quân sự ở địa phương được sắp xếp lại. Các tỉnh, huyện bỏ ủy viên quân sự trong ủy ban nhân dân để tổ chức tỉnh đội, huyện đội trực tiếp chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương, các huyện bỏ tổ chức quân giải phóng. Các chi đội giải phóng quân các tỉnh được củng cố kiện toàn, sau đổi là chi đội vệ quốc đoàn, đến đầu năm 1946 đổi là Chi đội vệ quốc quân. Thanh Hóa có chi đội Đinh Công Tráng do đồng chí Hoàng Tiến Trình làm chi đội trưởng, đồng chí Nguyễn Kiện làm chính trị ủy viên. Nghệ An có chi đội Đội Cung do đồng chí Mười Uyển làm chi đội trưởng, đồng chí Nguyễn Phan làm chính trị ủy viên. Hà Tĩnh có chi đội Phan Đình Phùng do đồng chí Nghiêm Thưởng làm chi đội trưởng, đồng chí Phạm Quang Minh làm chính trị ủy viên. Quảng Bình có chi đội Lê Trực do đồng chí Quách Sĩ Tạo làm chi đội trưởng, đồng chí Trần Hường làm chính trị ủy viên. Thừa Thiên có chi đội Trần Cao Vân do đồng chí Trần Gia Hội1 làm chi đội trưởng, đồng chí Hoàng Xuân Lưu làm chính trị ủy viên, ông Phùng Đông2 làm tham mưu trưởng. Tổng quân số toàn Chiến khu 4 lúc này có khoảng trên 10.000 người, trang bị đủ các loại súng trường của các nước Pháp, Nhật, Tàu, Nga và một số ít súng tiểu liên, trung liên, đại liên, cối 80, 81 mi-li-mét… Ở Nghệ An có một khẩu pháo 75 mi-li-mét, một khẩu 37 mi-li- mét, một khẩu 20 mi-li-mét, bốn xe bọc thép bánh xích và một số tàu, xuồng của lớp huấn luyện hải quân ở Cửa Lò. Sau một thời gian ổn định tổ chức và triển khai các nhiệm vụ, Bộ chỉ huy tiếp nhận trường quân sự của Xứ ủy. Ngày 11 tháng 2 năm 1946, từ Huế trường được chuyển ra xã Nhượng Bạn, huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) do đồng chí Nguyễn Thanh Đồng phụ trách. Ngày 18 tháng 2, trường tiếp tục khai giảng khóa mới gồm 146 học viên. Các tỉnh vẫn tiếp tục mở trường đào tạo cán bộ tiểu đội. Việc huấn luyện quân sự cho bộ đội và dân quân tự vệ trong toàn khu được đẩy mạnh. Phong trào học tập quân sự được mọi tầng lớp nhân dân tham gia sôi nổi. Nhiều chị em cắt tóc ngắn, đội mũ ca-lô, mặc quần soóc (quân âu ngắn ống) hoặc quần gôn (quần bó ống), được trang bị súng trường, giáo mác hoặc gậy tre, hăng hái luyện tập quân sự. Nội dung huấn luyện bao gồm: — Về chính trị: học các bài nói và viết của Hồ Chủ tịch như: Đường cách mệnh, Chiến tranh du kích... và các nội dung: Chiến sĩ Vệ quốc đoàn. Mở rộng khối đoàn kết toàn dân để kháng chiến kiến quốc, 12 điều kỷ luật, 10 lời thề danh dự của Vệ quốc đoàn... — Về quân sự: học điều lệnh đội ngũ (buộc dây vào chân trái để làm chuẩn và hô khẩu lệnh theo chân buộc lạt). Về kỹ thuật: học các bài đánh bạch binh (đánh bằng kiếm, giáo mác, gậy gộc...) ném lựu đạn, gài mìn, cắm chông, đâm lê, sử dụng cung nỏ... và các bài võ dân tộc. — Về chiến thuật: học cách dàn trận, tiến, lùi cấp tiểu đội, trung đội... Bên cạnh công tác tổ chức lực lượng, huấn luyện quân sự, đào tạo cán bộ, việc nâng cao chất lượng chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang được chú trọng. Xứ ủy và các tỉnh đã điều động nhiều đảng viên, cán bộ sang công tác trong quân đội. Hệ thống tổ chức Đảng, hệ thống cán bộ chính trị được xây dựng và củng cố. Các lực lượng dân quân tự vệ do cấp ủy địa phương trực tiếp lãnh đạo. Thời gian đầu, chi đội quân giải phóng có chi bộ đảng hoạt đông bí mật. Cuối năm 1945 có những cuộc họp chuyên đề của cán bộ đảng bàn về công tác xây dựng Đảng. Đầu năm 1946, Quân ủy Trung ương được thành lập để giúp Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo quân đội, đã tác động tích cực đến công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị, tư tưởng trong lực lượng vũ trang Chiến khu 4. Song song với xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang, thi hành sắc lệnh số 23 ngày 21 tháng 2 năm 1946 của Chính phủ và nghị định của Bộ Nội vụ ngày 11 tháng 4 năm 1946 về Tổ chức cơ cấu bộ máy của Việt Nam Công an vụ, ty công an các tỉnh trong Liên khu được thành lập vào tháng 4 năm 1946 trên cơ sở ty trinh sát và sở cảnh sát xung phong sáp nhập. Ty công an nhanh chóng phát triển các «Di động viên» xuống cơ sở huyện xã, xây dựng nhân cốt bao gồm các «Cảm tình viên» và «Cộng tác viên» tạo thành mạng lưới công an rộng khắp các địa phương. Tuy mới được sáp nhập và bước đầu còn lúng túng, song mạng lưới trinh sát viên, công an viên, biệt động đội vừa làm vừa học, nâng cao năng lực, nghiệp vụ, vừa góp phần rất lớn vào việc theo dõi, khám phá, quản lý những ổ nhóm phản động, trừng trị những tên việt gian, mật thám đầu sỏ, tham gia vào việc ổn định an ninh, trật tự xã hội, chống thù trong giặc ngoài. Cùng với việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang về số lượng và chất lượng, vấn đề tăng cường trang bị vũ khí cũng là một yêu cầu bức thiết. Từ trước và trong Cách mạng Tháng Tám, các tỉnh đã thu được một số vũ khí của bảo an binh và của quân Nhạt hoặc dùng tiền, vàng, bạc và thuốc phiện mua hay đổi vũ khí của quân Tưởng. Mặt khác, ta tự giải quyết băng cách lập các công binh xưởng sửa chữa súng trường, tiểu liên, sản xuất đạn, lựu đạn, mìn, rèn đúc các loại vũ khí thô sơ (giáo mác, mã tấu, dao kiếm...) ở các lò rèn thôn, xóm. ______________________________________________ 1. Đồng chí Trần Gia Hội là cựu binh sĩ giác ngộ cách mạng hoạt động hăng hái tích cực. 2. Ông Phùng Đông là thiếu úy của Pháp, có lòng yêu nước, chiến đấu dũng cảm, hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp, được Chính phủ truy tặng Huân chương quân công hạng ba. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Chín, 2024, 09:37:06 pm Ngày 15 tháng 9 năm 1945, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, họp bàn việc lập một xưởng chế tạo vũ khí. Sau hội nghị Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định lấy máy và nguyên liệu của nhà máy diêm Hàm Rồng, mỏ cơ-rôm (Cổ Định) để thành lập xưởng ở Bái Thượng, đặt tên là xưởng Cao Thắng1 do đồng chí Hoàng Thế Bảo làm xưởng trưởng. Sau hơn một tháng xây dựng, đến cuối tháng 10 năm 1945 với trên 30 công nhân, xưởng đi vào nghiên cứu chế tạo thành công súng tiểu liên Sten và lựu đạn có chuôi. Ở Nghệ An, Ủy ban nhân dân giao cho đồng chí Đinh Văn Đức tập hợp công nhân trường kỹ nghệ, lấy máy ở nhà máy Trường Thi về Đô Lương lập xưởng Đặng Thái Thân2. Xưởng có khoảng 100 công nhân, sửa chữa và nghiên cứu chế tạo lựu đạn kiểu Mỹ. Hai đồng chí Phan Tư và Nguyễn Xuân Bình đã hy sinh trong lúc chế tạo lựu đạn. Ở Vinh lập thêm xưởng Rạng Đông để sửa chữa súng Sten, sửa chữa ôtô. Sau đó chuyển xưởng về Thanh Chương đổi tên là xưởng Lê Viết Thuật3. Ở Hà Tĩnh các đồng chí Bùi Xuân Nghi, Trần Trọng Tâm được Ủy ban nhân dân giao tổ chức đi lấy máy ở Trường Thi đem về Nhượng Bạn (huyện Cẩm Xuyên) lập xưởng. Xưởng gồm khoảng 100 công nhân, nghiên cứu chế tạo súng Sten và sửa chữa các loại súng hỏng của Nhật. Ở Quảng Bình, Ủy ban nhân dân triệu tập một số học sinh trường kỹ nghệ và công nhân hỏa xa, giao cho đồng chí Trần Tảo và đồng chí Đại lấy máy ở nhà máy nước đá và Đê-pô hỏa xa Thuận Lý lập xưởng ở Quy Hậu (huyện Lệ Thủy). Đồng chí Trần Tảo hy sinh trong lúc chế tạo vũ khí nên xưởng đặt tên là xưởng Trần Tảo. Ở Thừa Thiên, Ủy ban nhân dân tỉnh và ban chỉ huy chi đội Trần Cao Vân ngay từ tháng 9 năm 1945 giao cho các đồng chí Phan Lục, Văn Thắng, Võ Sung tập hợp khoảng 200 công nhân, lấy máy ở trường kỹ nghệ Huế, xưởng vôi Long Thọ, xưởng hỏa xa, nhà đèn lập hai xưởng. Xưởng Ngọc Lâm chuyên sửa chữa súng cũ của Nhật, Pháp và đúc vỏ lựu đạn Mỹ. Xưởng Phú Lâm, chuyên nghiên cứu chế tạo Pun-mi-nát, sản xuất ngòi nổ, hạt nổ và làm đạn súng trường. Để chỉ đạo thống nhất các xưởng, cuối tháng 12 năm 1945 bộ chỉ huy chiến khu quyết định thành lập ban chế tạo khí giới đo đồng chí Lê Đình Tạo làm trưởng ban, các đồng chí Đinh Văn Đức và Trần Trọng Tâm làm phó ban. Những hoạt động của ngành quân giới Khu 4 đã góp phần tích cực giải quyết một khó khăn lớn lúc bấy giờ là vấn đề trang bị vũ khí cho các lực lượng vũ trang. Như vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng và Chính phủ, trực tiếp là Xứ ủy Trung Kỳ, quân và dân Khu 4 đã vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, làm được nhiều việc và xây dựng thực lực cách mạng, xây dựng đảng bộ, xây dựng chính quyền ở địa phương, chống giặc đói, giặc dốt, xây dựng lực lượng vũ trang về mọi mặt làm công cụ đắc lực sắc bén bảo vệ chính quyền cách mạng và chế độ dân chủ nhân dân, sẵn sàng đối phó với giặc trong, thù ngoài. ______________________________________________ 1. Cao Thắng là cán bộ của nghĩa quân Phan Đình Phùng, ông tổ chức nhiều cơ sở rèn đúc vũ khí (ở căn cứ Hương Khê, Hà Tĩnh) để tự trang bị cho nghĩa quân chống Pháp hơn 10 năm. 1. Đặng Thái Thân là sĩ phu yêu nước ở Nghệ An, tham gia thành lập hội Duy Tân do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo để tiến hành công cuộc chống Pháp cứu nước, ông đã hy sinh trong lúc thừa hành nhiệm vụ. 1. Lê Viết Thuật tham gia thành lập Phân cục Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Phong Sắc vào khoảng tháng 3 năm 1930 để xây dựng cơ sở đảng ở các tỉnh miền bắc và miền trung Trung Kỳ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Chín, 2024, 09:39:02 pm Đánh địch ở miền tây — Bảo vệ biên giới — Thực hiện liên minh chiến đấu Việt-Lào Sau ngày Nhật đảo chính (9 tháng 3 năm 1945), một số lực lượng Pháp chạy khỏi các tỉnh lỵ, đồn binh ở Việt Nam, Lào, về ẩn náu vùng rừng núi phía tây Việt Nam và đông Lào, bám các trục đường giao thông quan trọng. Ở đường số 9 có khoảng một tiểu đoàn bộ binh cơ giới thuộc lữ đoàn bộ binh thuộc địa Trung Đông Dương của tướng Tuốc-canh, chiếm đóng vùng ngoại vi Sê Pôn, Mường-phìn, Pha-lan, hơn một đại đội chiếm Cam-cớt, Lạc-xao... Ở đường số 12, một đại đội đóng chốt đèo Mụ Giạ (Ba-na-phào), Nhom-ma-rát, Ma-ha-xây. Ở đường số 7, một đại đội chiếm Noọng Hét, Bản Ban, Mường Ngan, Mường Ngát. Ở Sầm Nưa, quân địch chiếm giữ Sầm Tớ, Mường Na, Mường Lau, móc nối với bọn phản động ở năm châu thượng du Thanh Hóa và Quỳ Châu (Nghệ An). Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, với ý đồ trở lại xâm lược nước ta, cùng với việc quân Anh - Ấn đánh chiếm Nam Bộ, bọn thực dân Pháp đã cho quân nhảy dù xuống tây bắc Huế và tổ chức lại đám tàn quân Pháp trên đất Lào để thực hiện ý đồ đánh chiếm Khu 4 từ phía tây. Ngày 28 tháng 8 năm 1945, một tốp bốn tên do một tên thiếu tá chỉ huy, nhảy dù xuống Hiền Sĩ nhằm móc nối với bọn Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Bảo Đại để chuẩn bị lập chính quyền phản động khi thời cơ đến, tổ nhảy dù này đã bị ta bắt gọn. Một toán khác gồm ba tên nhảy dù xuống Lạc Xao (tỉnh Khăm Muộn), truyền đạt chỉ thị cho đám tàn quân chuẩn bị lực lượng, cấu kết với bọn tay sai ở miền núi, xây dựng căn cứ chuẩn bị đánh chiếm thành phố Vinh. Cùng thời gian trên, khoảng gần một đại đội địch do tên quan ba Pháp chỉ huy từ thị trấn Cam Cớt theo trục đường số 8 đánh chiếm Na-pê, dùng Na-pê làm bàn đạp, chuẩn bị tấn công đánh chiếm thị xã Hà Tĩnh và thành phố Vinh. Đồng chí Cương, chủ sự bưu điện ở Na-pê đã kịp thời điện báo tình hình cho cán bộ chỉ huy hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Để kịp ngăn chặn từ xa âm mưu của địch, đồng chí Lê Lộc, chủ tịch Ủy ban quân sự tỉnh Hà Tĩnh, và đồng chí Nghiêm Thưởng, chỉ huy trưởng chi đội Phan Đình Phùng quyết định tổ chức một đại đội gồm các đội viên chi đội và dân quân hai huyện Hương Sơn, Đức Thọ, có một số cựu binh sĩ giác ngộ cách mạng tham gia, đặt dưới quyền chỉ huy của đồng chí Trần Đình Bé. Ngày 4 tháng 9 năm 1945, đơn vị lên đường với quyết tâm tiêu diệt quân Pháp ở Na Pê. Trận chiến đấu diễn ra từ ngày 6 đến 4 giờ ngày 8 tháng 9 năm 1945. Trong quá trình chiến đấu được bổ sung thêm một trung đội của chi đội Đội Cung (Nghệ An). Ta tiêu diệt một trung đội địch, diệt tên quan ba Pháp, bắt sống tên quan hai. Đồng chí Trần Đình Bé chỉ huy linh hoạt, chiến đấu dũng cảm và đã hy sinh anh dũng. Phối hợp chiến đấu với bộ đội Hương Sơn, Đức Thọ, bộ đội Thanh Chương (Nghệ An) do đồng chí Thọ chỉ huy cùng với lực lượng vũ trang của bạn bí mật bất ngờ tập kích huyện lỵ Cam Cớt, diệt thêm một số địch, số còn lại chạy tán loạn. Liên quân Lào — Việt truy kích đến cầu Na Hương giết thêm tên quan tư và tên quan hai, lấy được bản kế hoạch đánh chiếm thành phố Vinh của chúng. Chiến thắng Na Pê là chiến công đầu xuất sắc của các lực lượng vũ trang Nghệ An, Hà Tĩnh phối hợp chiến đấu với lực lượng yêu nước Lào, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, đập tan âm mưu của thực dân Pháp định dùng Na Pê làm bàn đạp theo trục đường số 8 đánh chiếm thành phố Vinh. Phối hợp với bộ đội Lào, bộ đội Việt Nam đẩy mạnh công tác vũ trang tuyên truyền, xây dựng lực lượng và chính quyền cách mạng ở hai huyện Căm Cớt, Lạc Xao, thành những căn cứ kháng chiến của tỉnh Khăm Muộn. Cùng với mặt trận đường số 8, bộ đội Quảng Trị đã tổ chức một số trận chiến đấu ở phía tây đường số 9. Kết hợp với lực lượng yêu nước Lào ở tỉnh Xà-vẳn-nạ-khệt do các đồng chí Thao Ô, Nu-hắc chỉ huy, cùng với đồng chí Trần Hoài Quang, bàn bạc với các đồng chí phụ trách Trung Bộ kế hoạch phối hợp tác chiến của liên quân. Đồng chí Ba Thụ làm chỉ huy trưởng, đồng chí Trần Lạc (Chu Huy Mân) được cử làm chính trị ủy viên mặt trận Đường số 9. Đồng chí Khu trưởng Khu 4 lên tận mặt trận kiểm tra kế hoạch tác chiến, cơ quan phân phòng Khu 4 tập trung huy động lương thực, thực phẩm, thuốc men... chi viện kịp thời cho mặt trận Đường số 9. Ngoài lực lượng của Quảng Trị, Bộ chỉ huy chiến khu còn tăng cường cho mặt trận một bộ phận chi đội Trần Cao Vân. Nhiều đoàn đại biểu thay mặt chính quyền, đoàn thể lên tận mặt trận thăm hỏi, động viên cán bộ chiến sĩ. Đoàn đại biểu phụ nữ Trung Bộ do các chị Lê Thị Quế, Võ Thị Thể, Đào Thị Đính, đoàn đại biểu phụ nữ tỉnh Quảng Trị do chị Lê Thị Diệu Muội mang nhiều quà bánh của nhân dân Trị—Thiên—Huế lên tận mặt trận trao tặng chiến sĩ. Đầu tháng 12 năm 1945, bộ đội ta phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước Lào tiến công bọn địch trong thị trấn Sê Pôn, diệt và bắt 53 tên Pháp, thu toàn bộ vũ khí, lừa, ngựa. Sau đó tiến công địch ở Mường Phìn, Huội Cay, Cầu Thà Khống đạt được một số thắng lợi. Nhưng khi tiến công địch ở Pha Lan, do chủ quan nên bộ đội bị thương vong cao. Ở đường số 12, đại đội 6 cùng dân quân huyện Tuyên Hóa phối hợp với một bộ phận bộ đội huyện Hương Khê đánh thắng địch ở Bãi Dinh (Quảng Bình), buộc địch phải rút về cố thủ ở Ba-na-phào. Ở đường số 7, tỉnh ủy Nghệ An cử nhiều cán bộ tăng cường cho huyện Tương Dương để xây dựng lực lượng cách mạng, trọng tâm là hai thị trấn Cửa Rào và Mường Xén. Tỉnh còn tổ chức một đại đội lấy quân của hai huyện Anh Sơn và Thanh Chương lên xây dựng cơ sở chính trị ở các vùng dân tộc thiểu số Hơ-mông, Khơ-mú. Đầu tháng 10 năm 1945, một trung đội bộ đội huyện Thanh Chương do đồng chí Nguyễn Như Cầu, bí thư huyện ủy Thanh Chương trực tiếp chỉ huy, tiến đánh Noọng Hét. Do không nắm được tình hình địch và thiếu kinh nghiệm chiến đấu, bộ đội bị địch phục kích, trung đội bị tổn thất nặng. Đồng chí Nguyễn Như Cầu hy sinh. Sau trận thất bại này, ta rút kinh nghiệm, tăng cường lực lượng khoảng một tiểu đoàn, cử các đồng chí Võ Văn Bính, Nguyễn Oanh, Nguyễn Đình Tùng chỉ đạo mặt trận, đồng chí Quốc Vinh làm chỉ huy trưởng. Các đơn vị bộ đội Lào gồm một đại đội bộ đội Sầm Nưa do Xiêng Xinh chỉ huy, một đại đội bộ đội Mẹo thuộc chi đội Đội Cung, một đại đội Lào Thênh, đánh Xiêng Khoảng do Nhiêu-vu chỉ huy, sau đó rút về Tương Dương để củng cố. Sau một thời gian xây dựng đại đội, Xiêng Xinh lại trở về hoạt động phía nam tỉnh Sầm Nưa. Đại đội Nhiêu-vu trở về Xiêng Khoảng hoạt động sâu vào các huyện Mường Mộc, Noọng Hét, Mường Khăm. Đây là những lực lượng nòng cốt liên minh chiến đấu Việt-Lào. Tại Cửa Rào, Mường Xén (Nghệ An) đời sống bộ đội, nhân dân vô cùng khó khăn. Nạn đói rét, bệnh tật hoành hành, thuốc chữa bệnh không có. Thêm vào đó, từng trung đội, đại đội quân Tưởng lần lượt đến Cửa Rào để vơ vét thuốc phiện. Để ổn định tình hình, đồng chí Khu trưởng Lê Thiết Hùng, đồng chí phó chủ tịch tỉnh Nghệ An, Nguyễn Tài lên mặt trận đường 7 cùng với địa phương tìm mọi biện pháp giải quyết khó khăn cho bộ đội và nhân dân. Trước mắt, ngăn chặn kịp thời quân Tưởng không cho chúng vơ vét thuốc phiện, nguồn kinh tế chủ yếu của dân tộc Hơ-mông. Ở miền thượng du Thanh Hóa và phía tây Phủ Quỳ bọn địch ở phía đông Sầm Nưa tìm bắt liên lạc với bọn phản động Kỳ, Tín ở châu Lang Chánh, Quan Hóa; Sầm Văn Kim, Lò Khăm Thi ở Quỳ Châu, một mặt giả vờ tích cực tham gia cách mạng (Sầm Văn Kim là đại biểu quốc hội khóa 1, ủy viên Ủy ban hành chính thượng du Nghệ An) mặt khác ra sức lừa bịp, bóc lột nhân dân miền núi, bắt nhân dân phải cung cấp của ngon, vật quý cho chúng. Tỉnh ủy Nghệ An, Thanh Hóa tổ chức ban cán sự các huyện miền núi, đưa cán bộ vào trong ủy ban nhân dân huyện để tranh thủ tầng lớp lang đạo tiến bộ, cô lập bọn thổ ty lang đạo phản động, giáo dục tuyên truyền giác ngộ nhân dân hăng hái tham gia cách mạng. Để chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược, cuối tháng 10 năm 1946, đại diện hai chính phủ Việt Nam và Lào ký hiệp nghị liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc. Ngày 14 tháng 1 năm 1946, ta cùng bạn tổ chức lớp huấn luyện đào tạo cán bộ quân sự gồm 26 thanh niên yêu nước Lào và thanh niên Việt kiều, sau đó ta giúp bạn mở tiếp hai khóa. Âm mưu của thực dân Pháp trở lại xâm chiếm toàn cõi Đông Dương ngày càng bộc lộ trắng trợn. Chúng mở rộng phạm vi lấn chiếm. Nhiều thành phố, thị xã của Lào như Xà-vẳn-nạ-khệt, Thà-khẹt, Viêng Chăn... dần dần bị quân Pháp chiếm đóng. Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, tháng 5 năm 1946, ta và bạn thành lập chi đoàn Trần Phú và các phân đội cảm tử. Tiếp đó, ta giúp bạn xây dựng cơ sở ở nông thôn, các căn cứ du kích và phát triển lực lượng vũ trang. Chiến thắng Na Pê, Sê Pôn... cùng với những trận chiến đấu gian khổ hy sinh ở phía tây đường số 7, số 9 là những chiến thắng giòn giã đầu tiên của liên minh chiến đấu Việt Lào. Tuy có những tổn thất hy sinh, nhưng quân và dân Khu 4 phối hợp chặt chẽ với bộ đội Lào đã bảo vệ chính quyền ở các huyện, xã miền tây, tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển thuận lợi. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Chín, 2024, 09:43:04 pm Đối phó với quân Tưởng — Bảo vệ chính quyền cách mạng Bên cạnh những nhiệm vụ nặng nề cấp bách như xây dựng thực lực cách mạng, chống quân Pháp ở miền tây, liên minh chiến đấu với quân và dân Trung Lào, thì việc đối phó với quân Tưởng mang danh nghĩa Đồng minh kéo vào miền Bắc nước ta tước khí giới quân Nhật là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và phức tạp. Quân Tưởng vào miền Bắc còn mang theo bọn tay sai phản động Việt Nam quốc dân đảng (thường gọi tắt là Việt Quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) nhằm lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ của ta, thiết lập chính quyền tay sai, biến Việt Nam thành một nước chư hầu của Trung Hoa dân quốc. Ở cấp trung ương, bọn cầm đầu quân đội Tưởng buộc phải giao thiệp với chính phủ ta để đóng quân ở các nơi quy định và được cung cấp lương thực, thực phẩm. Nhưng chúng lại yêu sách rất ngang ngược: đòi ta phải giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương, báo cáo quân số, giải thể quân đội, cải tổ chính phủ, giành những chức vụ quan trọng cho bọn tay sai của chúng và còn đe dọa dùng vũ lực lật đổ chính quyền. Ở miền Trung chúng đưa quân đoàn 60 chiếm đóng từ Nam Định, Thanh Hóa đến Đà Nẵng. Ở Lào chúng đưa sang một sư đoàn. Khu 4 phải đối phó và nuôi dưỡng hai vạn quân Tưởng đóng trên sáu tỉnh và quân của chúng ở Lào thường hay qua lại. Quân Tưởng kéo vào Thanh Hóa một trung đoàn. Chúng chiếm đóng các vị trí xung yếu trong thị xã. Chúng đắp sa bàn ở thị xã, tổ chức tập trận giả, đặt súng máy ở các ngả đường, tước vũ khí bất cứ ai đi qua1. Chúng ép ta đưa bọn tay sai của chúng vào chính quyền cấp tỉnh2. Dựa vào thế quan thầy, bọn Việt Quốc, Việt Cách ở Thanh Hóa tổ chức bắt cóc, tống tiền cấu kết với bọn phản bội, lôi kéo quần chúng lạc hậu3, tuyên truyền nói xấu Đảng Cộng sản, chống đối chính quyền, xây dựng cơ sở phản cách mạng. Tại ấp Di Linh, tên Hoàng Văn Bách, liên lạc với bọn Quốc dân đảng ở Hà Nội đưa người và vũ khí vào tăng cường xây dựng «Đệ lục chiến khu», xây dựng «Tỉnh đảng bộ» và các khu phố lẻ. Ngày 24 tháng 9, một sư đoàn quân ô hợp do Khâu Bình Thường chỉ huy, kéo vào Nghệ An, Hà Tĩnh. Đến Vinh chúng gặp ủy ban nhân dân tỉnh đòi đặt sở chỉ huy trên gác hai tòa công sứ Pháp (nơi ủy ban nhân dân tỉnh đang làm việc) và lấy trường Nguyễn Công Trứ làm nơi đóng quân. Chúng rải quân chiếm đóng nhiều nơi xung yếu, án ngữ các tuyến giao thông quan trọng (Vinh — Hà Nội, Vinh — Lào). Chúng đóng quân ở cầu Cấm trên trục đường số 1, cầu Yên Xuân trên trục đường sắt Bắc — Nam, thị trấn Đức Thọ trên đường số 8... chúng ngang ngược hạch sách, vơ vét của cải, ăn hàng, cướp chợ, dọa nạt ức hiếp nhân dân. Cùng thời gian này một trung đoàn quân Tưởng khác đóng ở Đông Hà, Huế, Đà Nẵng, đội quân ô hợp và đói rách này đã gây ra biết bao nhiêu tội ác đối với đồng báo ta, chúng ăn cướp, ăn quỵt, ăn chặn, phá phách, vo vét bất kể thứ gì, chúng dùng tiền «quan kim» trên thị trường, một loại tiền mất giá nghiêm trọng của chúng. Theo chủ trương của Trung ương Đảng, ta tạm thời nhân nhượng quân Tưởng để giảm bớt căng thẳng, nhưng nhân nhượng có nguyên tắc. Để tránh xung đột, ta cử những cán bộ biết tiếng Trung Hoa, chữ Hán, có khả năng giao tiếp, khôn khéo, thuyết phục tranh thủ những tên chỉ huy quan trọng. Bọn sĩ quan các cấp: sư đoàn, quân đoàn thường qua lại kiểm tra quân Nhật và làm việc với các đồng chí trong ủy ban Trung Bộ. Ta làm việc với tư thế chủ nhà, tiếp khách chững chạc lịch sự, chu đáo, nên chúng phải kính nể. Các tỉnh còn thành lập « Ban Hoa — Việt thân thiện”, mở lớp dạy chữ Trung Hoa để dễ giao tiếp, đối với binh lính, ta hạn chế chúng ra chợ mua bán, gây rối loạn thị trường và làm mất an ninh trật tự, một mặt công bố thể lệ đổi bạc Trung Hoa sang bạc Việt Nam, lập ban tiếp tế đồ mua lương thực, thực phẩm cho chúng, mặt khác ta tổ chức những cuộc mít tinh, biểu tình biểu dương sức mạnh của quần chúng, gây thanh thế chính trị ở hầu hết các địa phương có quân Tưởng đóng. Nhân dịp này, ta có mua hoặc đổi được một số vũ khí của quân Tưởng. _____________________________________________ 1. Có lần đồng chí phó chủ tịch tỉnh đi qua cũng bị chúng bắt giữ, tước vũ khí. 2. Như bọn đầu sỏ Quốc dân đảng: Đặng Trần Hồ, Lê Hữu Nhơn. 3. Bọn Quốc dân đảng lôi kéo, lũng đoạn «Liên minh võ sĩ cứu quốc». Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Chín, 2024, 09:47:26 pm Bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách núp dưới bóng quân Tưởng tranh thủ xây dựng, phát triển lực lượng trong đám cựu công chức, các phần tử phản động và bọn địa chủ cường hào gian ác, chúng liên hệ với bọn đầu sỏ, mang báo «Việt Nam» với những nội dung rất phản động của bọn Quốc dân đảng xuất bản ở Hà Nội vào phát hành ở các tỉnh Trung Bộ và rải truyền đơn đả kích Việt Minh, xuyên tạc mục tiêu, hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương, đả kích chính quyền, viết thư nặc danh, hăm dọa ám sát cán bộ lãnh đạo và cốt cán. Chúng còn tổ chức lạc quyên gây quỹ, in bạc giả, hô hào lập hội «Tứ dân», chuẩn bị lập trụ sở công khai tỉnh đảng bộ ở thành phố Vinh. Chúng kích động lôi kéo một số học sinh ở trường Nguyễn Công Trứ cùng công nhân chậm tiến ở nhà máy Trường Thi biểu tình chống đối chính quyền và xúi giục một số người lạc hậu ở xã Trường Sơn (huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh) bao vây trụ sở ủy ban nhân dân, đòi giải quyết các yêu sách phi lý. Thời gian này bọn Việt Quốc ở Nghệ An có trên 400 tên, ở Hà Tĩnh có hàng trăm tên. Ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên chúng đã tổ chức được một số cơ sở “chi bộ” ở huyện và tỉnh, nhưng không dám hoạt động công khai và chưa có ảnh hưởng gì trong nhân dân. Ta cảnh giác đề phòng những tên đầu sỏ chui vào nội bộ để chống phá cách mạng, kiên quyết trừng trị những tên có nhiều tội ác và các tổ chức của chúng. Ta đã kịp thời phát hiện tên Lý Hồng Chương, ủy viên trung ương Quốc dân đảng vào làm phó giám hiệu trường sĩ quan Trung Bộ truyền bá chủ nghĩa «Tam dân», hòng tranh thủ thanh niên, nắm cán bộ quân sự đi theo chúng. Trong quá trình học tập chính trị, ta đã làm cho học viên quán triệt sâu sắc đường lối chủ trương chính sách của Đảng, căm thù bọn chúng. Ngày 11 tháng 12 năm 1945, tại Thanh Hóa được sự giúp đỡ của nhân dân, lực lượng công an và tự vệ đã tiến công, phá tan “chiến khu Di Linh”. Ngày 5 tháng 3 năm 1946, đội Sao Vàng (công an của khu) đã trừng trị tên tay sai chỉ điểm Hoàng Văn Bách. Đêm 6 tháng 4, lực lượng vũ trang của tỉnh kết hợp với công an tiến công vào các khu bộ lẻ ở một số khu phố. Đến trung tuần tháng 4, bọn quốc dân đảng bị quét sạch khỏi trụ sở Nông Giang, phố Cửa Tả và những ổ nhóm khác ở thị xã. Những tên trốn tránh chui lủi vào trú ngụ trong các trại lính của quân Tưởng. Ngày 29 tháng 4, bọn Quốc dân đảng theo gót quân Tưởng rút khỏi Thanh Hóa, nhưng đến Phủ Lý (Hà-Nam-Ninh), bọn chúng đã bị ta bắt gọn, không một tên nào trốn thoát1. Ở Nghệ An, Hà Tĩnh, các lực lượng vũ trang và công an theo dõi chặt chẽ các hoạt động của bọn Việt Quốc và Việt Cách, ta bám sát các phương tiện giao thông, đón bắt và tịch thu nhiều tài liệu, vũ khí của bọn đầu sỏ ở Hà Nội chuyển vào và bọn tay sai ở Nghệ An, Hà Tĩnh chuyển ra tại Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Hoàng Mai... Ta phá tan những vụ chống đối, dẹp gọn những cuộc biểu tình chống chính quyền cách mạng, nghiêm khắc cảnh cáo bọn tay chân, kiên quyết trừng trị bọn cầm đầu và những tên ngoan cố2. Hoạt động của chúng ngày càng tê liệt, tổ chức của chúng tan rã dần. Tình thế quân Tưởng gặp nhiều khó khăn, trong nước mâu thuẫn sâu sắc, nội chiến lan rộng. Cuối tháng 12 năm 1945 Tưởng Giới Thạch đưa quân đoàn 53 sang Việt Nam và điều hai quân đoàn 60 và 62 về hướng đông bắc Trung Quốc để đối phó với quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, và nhằm chặt vây cánh của tập đoàn quân phiệt Vân Nam. Sau hơn sáu tháng, quân Tưởng sang Việt Nam, kéo theo bọn Việt Quốc, Việt Cách nhưng không đạt được âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, thành lập chính quyền tay sai. Tưởng Giới Thạch buộc phải cùng chính phủ Pháp ký Hiệp ước Trùng Khánh, cho quân Pháp thay quân Tưởng chiếm đóng miền Bắc Việt Nam để đổi lấy một số quyền lợi kinh tế và lãnh thổ3. Trước diễn biến của tình hình, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đuổi nhanh quân Tưởng về nước và quét sạch bọn phản động tay sai của chúng để tập trung vào một kẻ thù chủ yếu là thực dân Pháp. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tài chèo lái tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nhanh nhạy, sáng tạo, vừa mềm dẻo, vừa nguyên tắc của các cấp ủy đảng, quân và dân Liên khu 4 đã hạn chế được những hành động phá phách của quân Tưởng mà còn thuyết phục chúng bàn giao quyền giữ an ninh trật tự cho chính quyền ta chứ không phải giao cho Pháp như bọn cầm đầu chúng thỏa thuận. Ở Nghệ An, đồng chí Nguyễn Tài, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã thuyết phục tên Trần Túng Tài, sư đoàn trưởng Sư đoàn Vĩnh Dụ bàn giao quyền giữ an ninh trật tự cho chính quyền tỉnh. Đến chiều ngày 30 tháng 3 năm 1946, đồng chí Lê Viết Lượng chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An và Trần Túng Tài, sư đoàn trưởng quân đội Trung Hoa dân quốc đóng tại Nghệ An đã ký biên bản bàn giao4. Ở Huế, Thanh Hóa đều có những văn kiện bàn giao tương tự. Ngày 17 tháng 4 năm 1946, quân Tưởng rút khỏi Vinh, Hà Tĩnh. Đến cuối tháng 4 năm 1946 toàn bộ quân Tưởng rút khỏi các địa phương Khu 4, phần lớn bọn tay sai phản động đã bị trừng trị. Trước đó, số ít Việt Quốc, Việt Cách còn lại ẩn náu dưới ô các quan thày, đến đây chuyển sang làm tay sai cho chủ mới là thực dân Pháp. Do ta đấu tranh khôn khéo, mềm dẻo, có lý, có tình, nên bọn sĩ quan Tưởng phải tôn trọng và hợp tác với ta, cuối cùng phải cuốn gói ra đi. Ta đã giành thắng lợi lớn trên mặt trận đấu tranh ngoại giao. Trong một thời gian ngắn, cùng với quân và dân miền Bắc, quân và dân Khu 4 đã bình tĩnh, sáng suốt, kiên quyết và khôn khéo đã loại trừ được kẻ thù rất nguy hiểm là quân Tưởng và bọn phản động Việt Quốc, Việt Cách, bảo vệ vững chắc chính quyền non trẻ để tập trung sức lực và trí tuệ chống kẻ thù chủ yếu lúc này là thực dân Pháp xâm lược. _______________________________________________ 1. Có ý kiến nói bọn tay sai phản động chạy theo quân Tưởng bị ta bắt ở ga Đồng Giao. 2. Theo tư liệu «Lịch sử công an Nghệ Tĩnh», ta đã nghiêm khắc xét xử nhiều tên Việt Nam quốc dân đảng, xử tử hình tên Nguyễn Văn Chất, trưởng ban ám sát, có nhiều nợ máu, đặc phái viên của Nguyễn Hải Thần. 3. Pháp phải trả lại các tô giới và nhượng địa trên đất Truug Hoa, bán lại đường Côn Minh — Hồ Kiều cho Tưởng và miễn thuế qua cảng Hải Phòng. 4. BIÊN BÀN BÀN GIAO Ngày 30 tháng 3 năm 1946 Việt Nam dân chủ Cộng hòa năm thứ 2. Sư đoàn trưởng sư đoàn Vĩnh Dụ, Trần Túng Tài, đại diện quân đội Trung Quốc ở Vinh. Ông Lê Viết Lượng, chủ tịch Ủy ban hành chính, đại diện Chính phủ Việt Nam ở Vinh. Khoản 1: Bắt đầu từ hôm nay quân đội Trung Hoa giao việc giữ gìn an ninh trong tỉnh Nghệ An cho Chính phủ Việt Nam đảm nhiệm. Khoản 2: Chính phủ Việt Nam ở Nghệ An sẽ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản, tính mệnh Hoa kiều, Pháp kiều và các kiều dân khác trú ngụ trong địa phận Nghệ An. Khoản 3: Hoa kiều, Pháp kiều và các kiều dân khác hoàn toàn tuân theo luật lệ hiện hành của Chính phủ Việt Nam ở Nghệ An. Ký tên Chủ tịch Lê Viết Lượng Ký tên Thượng hiệu Trần Túng Tài Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Chín, 2024, 09:52:03 pm Ủng hộ Nam Bộ kháng chiến Ở miền Nam, bám theo gót quân Anh, giặc Pháp trở lại Sài Gòn — Chợ Lớn rồi nổ súng tấn công mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai, mở rộng chiến tranh khắp các tỉnh Nam Bộ và cực nam Trung Bộ. Ngày 29 tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ và nhân dân cả nước «Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ». Ngày 23 tháng 11, cả nước tổ chức «Ngày Nam Bộ kháng chiến”. Cùng ngày Hồ Chủ tịch nêu rõ quyết tâm: «Bọn thực dân Pháp phải biết rằng: dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến. Vì dân Việt Nam tin chắc rằng thế nào cuộc kháng chiến này cũng thành công»1. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, đồng bào Nam Bộ đã anh dũng chiến đấu chống thực dân Pháp. Nhiều gương hy sinh sáng chói đã cổ vũ nhiệt tình chiến sĩ, đồng bào miền Bắc vào Nam giết giặc. Các tỉnh Khu 4 lập ngay “Phòng Nam Bộ” ghi tên những người tình nguyện vào Nam chiến đấu và tổ chức các đơn vị Nam tiến. Các địa phương thành lập Ủy ban ủng hộ chiến sĩ Nam Bộ, lập «Quỹ Nam Bộ», tổ chức «Ngày kháng chiến», «Ngày nỗ lực sản xuất». Hội chợ, hoạt động thể thao, văn hóa để quyên góp tiền bạc, thuốc men quần áo, chăn màn gửi vào Nam và tổ chức nhiều cuộc mít tinh biểu tình rầm rộ ủng hộ Nam Bộ kháng chiến. Phong trào tình nguyện vào Nam giết giặc đã được mọi tầng lớp nhân dân các tỉnh Khu 4 hưởng ứng nhiệt liệt. Thiếu niên xung phong đi làm liên lạc, phụ nữ xung phong đi làm tiếp tế cứu thương, thanh niên, học sinh, sinh viên tình nguyện trực tiếp cầm súng chiến đấu. Có cụ già đã xung phong tình nguyện làm đơn xin «được đi lính đánh Tây»2. Các đơn vị Nam tiến được tổ chức chặt chẽ thành những đơn vị quân đội gồm những người xung phong tình nguyện, đã được huấn luyện quân sự, được ưu tiên trang bị vũ khí tốt3. Sau ba ngày quân Pháp nổ súng ở Sài Gòn, ngày 26 tháng 9 năm 1945, chuyến xe lửa đầu tiên chở đoàn quân Nam tiến chuyển bánh vào Nam. Chuyến thứ nhất chở một chi đội từ Hà Nội vào đến ga Thanh Hóa được tăng cường thêm một đại đội, đến ga Vinh thêm hai đại đội, đến Quảng Trị thêm một chi đội và đến ga Huế thêm một đại đội nữa. Những cuộc tiễn đưa người thân, chồng con, anh em lên đường vào Nam giết giặc và tặng quà bánh cho bộ đội Nam tiến ở đình làng, trụ sở, khu phố, bến xe, bến tàu rất nồng thắm và đầy xúc động. Trên các toa tàu, sân ga, những chàng trai Vệ quốc nai nịt gọn gàng, vai đeo súng, hông dắt lựu đạn, nét mặt tươi vui, hồn nhiên hát vang những bài ca hùng tráng «Tiếng súng vang sông núi miền Nam, ầm vang đất nước Việt Nam», «Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu», «Đoàn vệ quốc quân mỗi lần ra đi...». Các đơn vị Nam tiến của các tỉnh Khu 4 được phân công chiến đấu ở nhiều vùng. Các đại đội Thanh Hóa, Quảng Trị chiến đấu ở cực nam Trung Bộ, đại đội Hà Tĩnh, đại đội Thừa Thiên chiến đấu ở Nha Trang, đại đội Nghệ An chiến đấu ở Buôn Ma Thuột. Nhiều đơn vị ngay từ những ngày đầu khi mới vào Nam đã chiến đấu anh dũng, lập công xuất sắc. Trong một trận phục kích ở đèo Phượng Hoàng, ngày 27 tháng 10 năm 1945, đại đội Thừa Thiên bắt toàn bộ quân Nhật trên 18 xe hành quân từ Tây Nguyên theo đường 21 về Ninh Hòa. Sau khi ta giải thích chính sách, thả cho chúng về, quân Nhật đã giao lại cho đơn vị 240 khẩu súng và nhiều đạn dược. Ủng hộ Nam Bộ kháng chiến lức này không chỉ là ý thức chiến tranh mà còn là lương tâm, tình cảm của quân và dân Khu 4 đối với chiến sĩ, đồng bào ruột thịt ở miền Nam. Phong trào Nam tiến của các tỉnh Khu 4 biểu hiện một phần hình ảnh cả nước ra trận, phản ánh ý chí quyết tâm «Nước Việt Nam là một, Nam Bắc một nhà», «Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. * Qua hơn nửa năm xây dựng và bảo vệ chính quyền, đảng bộ chính quyền, cơ quan quân sự cùng quân và dân Khu 4 đã quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch trong hoàn cảnh của địa phương. Cán bộ, đảng viên, quân dân Khu 4 đã phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, bền bỉ, phấn đấu xây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ, vượt qua thời kỳ trứng nước để bước vào một thời kỳ mới đầy khó khăn, thử thách mới.* * ______________________________________________ 1. Hồ Chí Minh, Tuyển tập (1920 — 1954), Nhà xuất bản Sự thật, H. 1980. tr. 375. 2. Thư cụ Nguyễn Văn Ngãi gửi chủ tịch tỉnh Nghệ An nhờ gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội: «Làng Phúc Yên ngày 29 tháng 9 năm 1945 — năm Việt Nam dân chủ cộng hòa thứ nhất. Thưa Chủ tịch. Tôi tên là Nguyễn Văn Ngãi 62 tuổi ở làng Phúc Yên, tổng Xuân Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, sinh được ba con trai, một con gái. Đứa đầu đã đi lính giải phóng rồi... Tôi thấy tôi sống hơn sáu chục năm rồi mà chưa làm được việc gì ích lợi cho nước nhà. Bây giờ nghe nói quân Tây đánh nhau với quân ta trong Sài Gòn. Hắn ác lắm, đem súng bắn giết đàn bà, con nít và đốt phá cướp bóc dân ta. Tôi giận lắm chỉ muốn ra đi lính, nhưng trong làng họ nói tra rồi không đi được. Xin Chủ tịch cho tôi được đi lính đánh Tây. Tôi đội ơn Chủ tịch lắm lắm. Nay kính thư Nguyễn Văn Ngãi ký» 3. Mỗi đại đội có 115 quân, được trang bị 15 súng trường, 300 quả lựu đạn, 10 quả mìn, chỉ huy đại đội có súng ngắn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Chín, 2024, 10:03:53 pm II. KHẨN TRƯƠNG CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP Sau hơn sáu tháng đấu tranh gay go quyết liệt phức tạp, quân và dân ta đang đứng trước tình hình mới. Ở miền Nam, quân Anh đã rút về nước, nhưng quân Pháp lại chiếm đóng phần lớn đất Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ (chúng cũng đã chiếm cả Cam-pu-chia và phần lớn nước Lào). Cuộc kháng chiến của đồng bào và chiến sĩ miền Nam vẫn tiếp diễn rất kiên cường, dũng cảm. Ở miền Bắc, quân Tưởng buộc phải để quân Pháp thay thế, nhưng đại diện chính phủ Pháp phải điều đình với chính phủ ta. Nhằm tránh tình trạng bất lợi, ngay từ cuối tháng 2 năm 1946, khi Pháp và Tưởng còn đang thương lượng ký hiệp ước Trùng Khánh, Ban thường vụ Trung ương Đảng ta họp quyết nghị: «Ta nên nói chuyện với Pháp, nhưng đồng thời phải chuẩn bị kháng chiến»1. Sau khi hiệp ước Pháp — Hoa được chúng ký kết, Thường vụ Trung ương Đảng lại chỉ rõ: «Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta»2. Ngày 5 tháng 3 năm 1946. Ban chấp hành Trung ương họp mở rộng, nhất trí tán thành chủ trương đàm phán với Pháp. Tiếp đó, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Pháp ký hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946. Ngày 9 tháng 3 năm 1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị lịch sử: «Hòa để tiến», bản chỉ thị vạch rõ hòa với Pháp là nhằm: «... Bảo toàn thực lực giành lấy giây phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào... chuẩn bị đầy đủ, nhằm cơ hội tốt tiến lên giai đoạn cách mạng mới”3. Chấp hành chỉ thị «Hòa để tiến», cấp ủy các địa phương Khu 4 đã kịp thời giải thích cho cán bộ và nhân dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa nội dung chỉ thị, xác định trách nhiệm, thái độ trước tình hình mới. Để thi hành hiệp định sơ bộ, hội nghị tham mưu hai bên đã bàn việc đóng quân tiếp phòng giữa ta và Pháp. Ta thành lập Bộ Tổng chỉ huy tiếp phòng quân và chuyển một số đơn vị Vệ quốc đoàn làm nhiệm vụ tiếp phòng. Để theo dõi và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thi hành hiệp định, ta và Pháp đều tổ chức Ủy ban liên lạc và kiểm soát trung Ương (gọi tắt là ủy ban liêm kiểm). Trung ương quyết định đồng chí Lê Thiết Hùng làm tổng chỉ huy, đồng chí Trần Văn Quang làm chính ủy, và đồng chí Hoàng Điền làm tham mưu trưởng quân tiếp phòng Việt Nam. Ngày 3 tháng 4. Việt Nam và Pháp ký hiệp định quân sự quy định nơi đóng quân và số quân của các lực lượng tiếp phòng mỗi bên. Ở Khu 4 hiệp định quân sự quy định: Quân tiếp phòng Pháp đóng ở Vinh 900; ở Huế 825. Quan tiếp phòng Việt Nam đóng ở Thanh Hóa 684; Vinh 904; Đồng Hới 220; Đông Hà 684; Huế 500. Các địa phương có quân tiếp phòng quân Pháp đóng, còn tổ chức Ban liên kiểm Việt — Pháp; ở Vinh có Ban liên kiểm và một tiểu đoàn quân tiếp phòng Việt Nam do đồng chí Lê Nam Thắng phụ trách. Ở Huế Ban liên kiểm và tiểu đoàn quân tiếp phòng do đồng chí Lê Khánh Khang phụ trách. Quân tiếp phòng của Pháp ở Huế lúc đầu có 750 tên đóng ở trường Khải Định, Pen-lơ-ranh và khách sạn Mo-ranh. Lực lượng tiếp phòng của ta đóng xen lẫn với các vị trí của quân Pháp để kìm chế các hoạt động và ngăn cản sự liên hệ móc nối giữa quân Pháp với các phần tử tay sai phản động ở địa phương. Lực lượng quân tiếp phòng của Pháp ở Vinh theo quy định là 900 tên. Ngày 8 tháng 4, chỉ có một trung đội gồm 40 tên Pháp từ Hà Nội vào. Chúng đòi đóng quân ở những vị trí quân Tưởng đã ở trước (tòa Công sứ, trường Nguyễn Công Trứ). Ta buộc chúng phải đóng theo vị trí do ta sắp xếp4. Chúng không thể dễ dàng hoạt động chống phá, trên thực tế trung đội này chỉ là một đơn vị phục vụ cho phái đoàn liên kiểm. Nhưng ở phía tây Khu 4 chúng ráo riết chuẩn bị xâm lược như đưa quân từ đông Lào áp sát biên giới Thừa Thiên, Quảng Trị, các trục đường số 9, đường số 8, đường số 7 và đưa quân từ Thượng Lào xuống uy hiếp miền tây Thanh Hóa. Thời gian này các tổ chức phòng nhì5, gián điệp của Pháp tăng cường hoạt động. Chúng tung người, tung tiền móc nối bọn tay sai cũ của Pháp còn ẩn náu ở các tỉnh và tìm cách liên lạc, tranh thủ bọn thổ ty, lang đạo phản động ở miền núi «Lê Xuân Kỳ, Lê Xuân Tín ở Thanh Hóa. Sầm Văn Kim, Lò Khăm Thi ở Nghệ An). Hoạt động tình báo, gián điệp của Pháp lúc này diễn ra trên nhiều lĩnh vực, thuộc nhiều tổ chức. Lực lượng tình báo quân sự do tên Tê-ri-cơ (Thérique) trong bộ tham mưu quân đội Pháp ở bắc Đông Dương chỉ huy, tổ chức tình báo dân sự do tên Ra-ma-di-ê (Ramadier) nguyên phó công sứ ở Vinh trước lúc Nhật đảo chính cầm đầu. Chúng còn hết sức chú trọng nắm những phần tử phản động trong đạo Thiên chúa và những cha cố nước ngoài ở địa phương như Xéc-ba-ôn (Kerbaol). Mục tiêu, nội dung và phương thức hoạt động của các lực lượng tình báo gián điệp của Pháp qua bọn phản động tay sai trên địa bàn Khu 4 rất thâm độc và xảo quyệt. Chúng tuyên truyền xuyên tạc việc ta ký hiệp định ngày 6 tháng ba là bán nước, để gây chia rẽ giữa Đảng, Chính phủ với quần chúng nhân dân. Chúng thu thập tin tức năm tình hình nội bộ của ta, tìm hiểu thái độ của dân chủng đối với Chính phủ, tinh thần thái độ của lực lượng chống đối và tổ chức phá hoại về kinh tế, tài chính. Quân Pháp ngày càng vi phạm trắng trợn việc thi hành hiệp định trên phạm vi cả nước ta. Ở miền Nam chúng vẫn tiếp tục các cuộc hành quân “bình định”, ở miền Bắc chúng có nhiều hành động khiêu khích và tự ý đưa quân đến đóng một số nơi không quy định. ______________________________________________ 1. Biên bản Hội nghị thường vụ Trung ương Đảng ngày 24 tháng 2 năm 1946 — Lưu văn phòng Trung ương Đảng. 2. Văn kiện Đảng 1945 — 1954, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Hà Nội, 1987, t. 1, tr. 42. 3. Văn kiện quân sự của Đảng, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. H, 1976. tr. 39. 4. Quân Pháp đóng ở sở canh nông cũ (thời ấy gọi la Khu (Ba Bò), thuộc xã Hùng Đình) ngoài khu trung tâm thành phố. 5. Phòng nhì (2e Bureau) là cơ quan tình báo của quân đội Pháp. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Chín, 2024, 10:09:14 pm Trước tình hình trên, Hồ Chủ tịch và Chính phủ đã kiên trì tìm giải pháp thương lượng với chính phủ Pháp1 nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn để có thêm điều kiện xây dựng thực lực về mọi mặt, chủ động chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Để nâng cao tiềm lực mọi mặt cho công cuộc chuẩn bị kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Chính phủ và nhân dân phải đồng tâm nhất trí, ra sức tổ chức, ra sức công tác. đoàn kết hơn nữa, mở mang kinh tế, xây dựng nước nhà, thực hành đời sống mới, khắp mọi phương diện. Bất kỳ gái, trai, già, trẻ, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, toàn thể quốc dân phải ra sức làm việc”2. Đáp lời kêu gọi của Bác, nhân dân các tỉnh Khu 4 tiếp tục đẩy mạnh phong trào sản xuất và học tập, diệt giặc đói, giặc dốt. Công cuộc khai hoang, phục hóa mở rộng diện tích canh tác phát triển ở nhiều nơi. Nhiều tỉnh tổ chức các trại tăng gia sản xuất, trại chăn nuôi, thành lập các hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xa mua bán, hợp tác xã tín dụng. Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, các địa phương đã chú trọng phát triển các ngành nghề truyền thống (như trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, làm đồ gốm, rèn đúc...) trong gia đình thôn xóm. Các tuyến đường liên huyện, liên xã và nhiều cầu cống được sửa chữa và làm thêm. Một số nhà máy được chỉnh đốn để phục hồi sản xuất. Các hợp tác xã thủ công nghiệp được thành lập. Nhà máy Trường Thi (Vinh) được chỉnh đốn để sửa chữa các đầu máy và toa xe lửa. Tỉnh Hà Tĩnh xuất 100.000 đồng cho nhân dân vay để thành lập năm hợp tác xã tiểu công nghiệp (đúc đồ đồng, lưỡi cày, làm mộc). Về tài chính, tiền Việt Nam phát hành tiếp ở Khu 4 và Bắc Bộ được toàn dân tín nhiệm. Phong trào xóa nạn mù chữ tiếp tục phát triển rộng khắp, được mọi tầng lớp nhân dân tham gia tích cực. Ở mỗi thôn xóm, đường phố, bản làng có nhiều lớp bình dân học vụ mở cả buổi trưa, buổi tối. Các trường tiểu học được mở rộng đến xã. Nhiều huyện đã có trường trung học. Các trường đã sử dụng sách giáo khoa mới và dùng tiếng Việt thay thế tiếng nước ngoài trong trường học. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao phát triển sôi nổi. Những vở kịch, bài thơ, những ca khúc hùng tráng (Tiếng gọi thanh niên, Lên đàng. Đống Đa, Chiến sĩ ca...) có tác dụng cổ vũ tinh thần quật cường của dân tộc, được mọi người ưa thích, nhất là đối với thanh niên và thiếu niên. Chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố. Khối đoàn kết toàn dân được mở rộng. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội khóa 1 kỳ họp thứ 2 thông qua, khẳng định sự vững mạnh của chính thể dân chủ mới. Bọn phản động tay sai Tưởng trước đây ở trong chính phủ và quốc hội đã bỏ chạy theo chủ hoặc tìm cách chống phá cách mạng, đã bị trừng trị. Ở Khu 4, tuân theo lời dạy của Hồ Chủ tịch, các cấp từ cơ sở trở lên đến khu đều được tiếp tục củng cố kiện toàn. Các đoàn thể quần chúng từ đội thiếu niên, đoàn thanh niên, hội phụ nữ đến hội phụ lão hoạt động sôi nổi hăng hái, có hiệu lực thiết thực trên nhiều lĩnh vực công tác và cuộc sống. Theo sáng kiến của bà Lê Thị Quế, ủy viên Ban chấp hành Hội phụ nữ cứu quốc Trung Bộ, tháng 6 năm 1946 Hội mẹ chiến sĩ (gồm những phụ nữ 40 tuổi trở lên) được thành lập. Tỉnh Quảng Trị tổ chức chi hội đầu tiên. Tiếp đến các tỉnh Hà Tĩnh, Thanh Hóa cũng thành lập Hội mẹ chiến sĩ. Tháng 7 thành phố Vinh, Bến Thủy thành lập Hội mẹ chiến sĩ đến tận cơ sở khu phố, xã. Tăng cường mở rộng khối đoàn kết toàn dân, ngày 29 tháng 5 Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) được thành lập và tổ chức rộng rãi xuống tận cơ sở. Trước tình hình mới, để phù hợp với yêu cầu lãnh đạo trực tiếp, tháng 2 năm 1946 Trung ương Đảng quyết định giải thể Xứ ủy Trung Kỳ, Bắc Kỳ, tổ chức các Khu ủy. Ở Trung Kỳ chia thành hai khu (Khu 4 và Khu 5). Những cán bộ chủ chốt của xứ ủy được phân công về công tác ở các khu. Đồng chí Hoàng Quốc Việt được cử làm bí thư Khu ủy 4. Các tỉnh lần lượt tiến hành đại hội đảng, xác định chủ trương công tác mới và tiếp tục kiện toàn cấp ủy đảng. Công tác an ninh, bảo vệ, chống địch nội địa, làm trong sạch địa bàn, trong sạch nội bộ trên địa bàn khu lúc này có vì trí hết sức quan trọng. Bọn phản động tay sai và những phần tử thoái hóa biến chất bị loại ra khỏi các cơ quan, đoàn thể. Bọn quốc gia liên hiệp — một ngụy đảng lập ở vùng tạm chiếm miền Nam kéo ra Khu 4 hoạt động cũng bị ta bắt ở Nghệ An3. Bọn phản động còn lợi dụng đạo Thiên chúa tuyên truyền chống đối chính quyền địa phương, gieo rắc tâm lý sợ mất đạo, mất chúa. Chúng bắt ép giáo dân ra khỏi các đoàn thể cứu quốc, tổ chức đại đội thanh niên công giáo, đội tự vệ công giáo (xã Đoài, Nghệ An) hòng đòi lập xã công giáo riêng (huyện Anh Sơn, Nghệ An). Ta đã cử cán bộ trinh sát, công an vào nắm tình hình, bồi dưỡng những giáo dân cốt cán có lòng yêu nước, cả nhưng linh mục tiến bộ để tuyên truyền, giáo dục giác ngộ hiểu rõ chính sách tự do tín ngưỡng của chính phủ, trách nhiệm của mọi công dân đối với Tổ quốc, kjp thời ngăn chặn các hành động chống phá của chúng. Đối với phái bộ và lực lượng tiếp phòng Pháp, ta bố trí ở những nơi bảo đảm được nhu cầu đời sống của họ, nhưng hạn chế, ngăn chặn các mối quan hệ hoạt động. Đối với bọn tình báo, gián điệp, ta bắt giữ nhiều tên, thu nhiều tài liệu và kiến quyết trừng trị những tên nguy hiểm4. ______________________________________________ 1. Các cuộc thương lượng với Pháp sau Hiệp định ngày 6 tháng ba: Hội nghị trù bị Đà Lạt (19-4-1946), Hội nghị Fonteinebleau (6-7-1946), Ký tạm ước (14-9-1946). 2. «Lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về». Hồ Chí Minh. Tuyển tập. Nhà xuất bản Sự thật, H. 1980, t.1. tr.391. 3. Tên Lâm Văn Khuê bị đưa đi an trí. Những tên khác bị quản thúc. 4. Tên Trần Ngọc Thanh, gián điệp chui vào làm trưởng ban trinh sát trung đoàn 57 bị xử tử hình. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Chín, 2024, 10:13:02 pm Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, Chính phủ ra sắc lệnh quy định cấp bậc, quân hiệu quân phục, đổi tên Vệ quốc đoàn thành Quân đội quốc gia Việt Nam. Thực hiện sắc lệnh của Chính phủ, lực lượng vũ trang các tỉnh Khu 4 được kiện toàn về tổ chức, đứng chân trên các địa bàn chiến lược quan trọng của tỉnh để sẵn sàng đối phó với âm mưu của địch. Ở Thanh Hóa, trung đoàn 77 có ba tiểu đoàn bộ binh 319, 355, 375. Mặt trận miền tây có hai đại đội 73 và 71. Ở Nghệ An, trung đoàn 57 có ba tiểu đoàn bộ binh 346, 265, 418. Mặt trận Quỳ Châu có hai đại đội 58, 62. Mặt trận đường 7 có tiểu đoàn 265. Khu tăng cường tiểu đoàn tiếp phòng quân cho Huế. Ở Hà Tĩnh, trung đoàn 103 có ba tiểu đoàn bộ binh 377, 460, 453. Mặt trận đường số 8 có tiểu đoàn 453. Ở Quảng Bình, tiểu đoàn Lê Trực (274) có sáu đại đội, đại đội 6 phụ trách mặt trận Ba-na-phào. Ở Quảng Trị, trung đoàn Thiện Thuật có ba tiểu đoàn 13, 14, 15. Mặt trận Đường số 9 có tiểu đoàn 13. Ở Thừa Thiên, trung đoàn Cao Vân có bốn tiểu đoàn 16, 17, 18 và tiểu đoàn tiếp phòng quân Huế. Các trung đoàn đều có trung đội hay đại đội trực thuộc như công binh, trợ chiến, thông tin, trinh sát. Khu còn có một đại đội vệ binh, một đại đội pháo binh, thiết giáp. Khu tăng cường cho Huế một khẩu 75 mi-li-mét, cho Vinh một khẩu 37 mi-li-mét. Cán bộ của các đơn vị chủ lực của Khu được bồi dưỡng, đào tạo ở Trường quân sự Nhượng Bạn, tuy nhiên trình độ chỉ huy tác chiến còn hạn chế. Lực lượng dân quân tự vệ và du kích do các tỉnh đội, huyện đội, xã đội, khu đội tổ chức chỉ huy. Dân quân tự vệ chia làm hai loại: tự vệ chiến đấu thoát ly, tập trung lên huyện, thành phố, thị xã; dân quân tự vệ không thoát ly hoạt động ở cơ sở (xã, khu phố, xí nghiệp, cơ quan, trường học...). Ở Thanh Hóa, Nghệ An, mỗi tỉnh có từ bốn đến năm đại đội tự vệ tập trung. Các tỉnh khác, mỗi tỉnh có khoảng hai đại đội. Ở cơ sở, dân quân tự vệ không thoát ly có từ một đến hai tiểu đội hoặc từ một đến hai trung đội, tùy theo số dân và yêu cầu quân sự từng nơi. Cơ quan bộ chỉ huy khu có các phòng tham mưu, chính trị, hậu cần, văn phòng, tòa án quân sự và năm đại đội trực thuộc (cảnh vệ, thông tin, công binh, pháo binh, vận tải), đáp ứng những yêu cầu cấp bách của công tác chỉ đạo, chỉ huy. Lực lượng công an các tỉnh được tăng cường và mở rộng phạm vi hoạt động về cơ sở nông thôn, đồng thời tiến hành thành lập các quận công an, mỗi quận được giao phụ trách một số huyện, thị xã, phát triển các mạng lưới điệp báo viên, trinh sát viên và biệt động đội ở các thôn xã. Bên cạnh công tác tổ chức xây dựng lực lượng, việc nâng cao chất lượng toàn diện cả về chính trị, quân sự, cung cấp của các đơn vị và việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội đều được coi trọng. Đảng bộ khu quân sự có hệ thống tổ chức từ quân khu ủy đến chi bộ đại đội, cơ quan. Khu bộ có liên chi cơ quan tham mưu — chính trị — hậu cần, trung đoàn có trung đoàn ủy, liên chi cơ quan trung đoàn bộ. Tiểu đoàn có tiểu đoàn ủy gồm nhiều chi bộ hoặc một chi bộ. Đại đội có chi bộ (cũng có đại đội chưa thành lập được chi bộ, chỉ có một vài đảng viên sinh hoạt ghép với chi bộ khác). Song song với hệ thống tổ chức đảng, có hệ thống cán bộ chính trị và cơ quan công tác chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị. Cấp khu và trung đoàn có chính trị ủy viên. Cấp tiểu đoàn, đại đội có chính trị viên. Cơ quan cấp khu có phòng chính trị, trung đoàn có ban chính trị, tiểu đoàn có tiểu ban chính trị, đại đội có trợ lý chính trị. Các hình thức sinh hoạt đảng được duy trì có nền nếp. Công tác phát triển đảng được coi trọng (thời gian này toàn khu có 1.072 đảng viên, tỷ lệ lãnh đạo đạt khoảng 10 phần trăm). Công tác giáo dục chính trị, các hình thức tuyên truyền cổ động, các hoạt động văn hóa, văn nghệ sôi nổi phong phú. Trung đội có báo liếp, báo tường. Hàng tuần, đại đội tổ chức sinh hoạt văn nghệ, tập múa, hát, ngâm thơ kể chuyện, diễn kịch... Đội ngũ cán bộ được chấn chỉnh tăng cường. Những biểu hiện tư tưởng tác phong quan liêu, quân phiệt bị nghiêm khắc phê phán. Những cán bộ không đủ phẩm chất và năng lực dần dần được thay thế. Trong hoàn cảnh tình hình kinh tế của đất nước còn nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng Đảng, Chính phủ và nhân dân quân tâm đặc biệt đến đời sống vật chất, tinh thần của quân đội, Bộ Quốc phòng quy định phụ cấp cấp bậc và thâm niên cho quân nhân. Chính phủ thành lập Ủy ban «mùa đông binh sĩ». Nhân dân các địa phương Khu 4 đã chăm lo đời sống bộ đội, hăng hái nhiệt tình đóng góp tiền bạc, vải, len, may chăn màn, áo trấn thủ và gửi quà bánh, thực phẩm cho chiến sĩ, nhất là ở tiền tuyến, ở các vùng biên giới miền tây, các đảo và các đồn tiền tiêu hẻo lánh. Gia đình quân nhân được chính quyền và nhân dân địa phương động viên giúp đỡ. Hội mẹ chiến sĩ nhận nhiều cán bộ chiến sĩ làm con nuôi. Quán quân nhân được tổ chức ở nhiều vùng (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa) cho bộ đội đi công tác qua vào ăn nghỉ không phải trả tiền. Để tăng cường trang bị vũ khí cho các đơn vị, tháng 9 năm 1946, Ban chỉ đạo khí giới các địa phương Khu 4 được nhập vào hệ thống quân giới toàn quốc thành Ty quân giới Khu 4, phụ trách chế tạo và sửa chữa vũ khí toàn khu. Đồng chí Phan Trọng Quang được cử làm trưởng ty, đồng chí Phạm Mỹ Vinh làm phó trưởng ty. Các xưởng ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình được củng cố và xây dựng lớn hơn, bảo đảm sản xuất và sửa chữa các loại vũ khí, đáp ứng một phần yêu cầu của lực lượng vũ trang, cung cấp kịp thời cho các mặt trận. Đến cuối tháng 9, xưởng Đội Quyên (Quảng Trị) mỗi tháng sản xuất được hàng trăm quả lựu đạn. Nhiều công nhân đã tận tụy dũng cảm quên mình vì nhiệm vụ. Hai đồng chí Nguyễn Đình Dục và Nguyễn Xuân Huân ( xưởng Cao Thắng — Thanh Hóa) hy sinh; đồng chí Trần Hòa (xưởng Đội Quyên - Quảng Trị) bị thương cụt tay trong lúc thử lựu đạn vừa chế tạo xong. Cũng tháng 9, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên quyết định sáp nhập hai xưởng Ngọc Lâm và Phú Lâm thành một xưởng, rồi chuyển về khu an toàn, chuẩn bị đối phó với tình hình chiến tranh có thể xảy ra. Địch ngày càng vi phạm trắng trợn hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng ba. Các cuộc thương lượng đàm phán với Pháp không đạt kết quả. Thực dân Pháp tiếp tục mở rộng chiến tranh ở Việt Nam. Quân đội pháp lấn chiếm nhiều vùng ở các tỉnh phía bắc, tăng cường khiêu khích ở Hà Nội, đổ quân trái phép lên Đà Nẵng1, điều quân từ Lào tăng cường cho các vị trí của chúng ở miền tây Khu 4, nhất là ở vùng đường số 9 (Quảng Trị), đưa thêm nhiều đơn vị quân đội từ bên Pháp sang Đông Dương. ______________________________________________ 1. Hiệp định quân sự quy định cho Pháp đưa quân tiếp phòng vào Đà Nẵng là 225. Đến ngày 9-12-1946 Pháp lại đổ bộ trái phép thêm 800 lính lê-dương nữa. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Chín, 2024, 10:14:21 pm Ngày 19 tháng 10, Hội nghị quân sự toàn quốc họp dưới sự chủ tọa của đồng chí Trường-Chinh đã nhận định: «Nhất định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình nhất định cũng sẽ đánh Pháp». Để chuẩn bị đối phó với chiến tranh, ngày 19 tháng 10 năm 1946 Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định thống nhất Quân ủy hội và Bộ Quốc phòng thành Bộ Quốc phòng —Tổng chỉ huy. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được cử giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội. Đảng và Nhà nước phân chia cả nước thành 12 chiến khu. Trung ương điều chỉnh cán bộ chỉ huy các khu quân sự trong toàn quốc. Đồng chí Lê Thiết Hùng, tổng chỉ huy tiếp phòng quân được cử làm Khu trưởng, đồng chí Trần Văn Quang làm Chính trị ủy viên, đồng chí Hoàng Điềm làm Tham mưu trưởng Chiến khu 4, ta giải thể ủy ban phòng thủ các cấp và lập ủy ban kháng chiến từ xã đến khu. Đồng chí Hồ Tùng Mậu được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu 4. Theo sự chỉ đạo của Khu ủy, Ủy ban kháng chiến và Bộ chỉ huy chiến khu, các tỉnh, một số huyện tích cực xây dựng các khu căn cứ, tổ chức lại lực lượng bảo vệ biên giới, phòng thủ bờ biển, củng cố lực lượng công an, xây dựng dân quân tự vệ và tiếp tục kiện toàn các đơn vị quân đội. Tháng 12 năm 1946, các tỉnh mở hội nghị quân, dân, chính, đảng bàn kế hoạch kháng chiến. Mọi địa phương, mọi ngành chú ý theo dõi sát tình hình cả nước, tăng cường nắm tình hình hoat động của địch trong và ngoài địa phương, động viên tổ chức nhân dân chuẩn bị bước vào kháng chiến. Nhiều nơi bắt đầu thực hiện chủ trương quân sự hóa toàn dân. Tất cả nam, nữ đều vào dân quân. Nhiều cụ già cũng xung phong gia nhập các đơn vị lão dân quân. Trẻ nhỏ và người già ở hai bên đường số 1 được di chuyển chỗ ở. Việc tu sửa đường sá, chuẩn bị phương tiện vận chuyển tiếp tế được triển khai tích cực. Nhiều địa phương huy động vũ khí trong dân, rèn thêm giáo mác để trang bị cho dân quân, tự vệ; tổ chức tập trận giả, cắm chông ở các bãi trống, canh phòng bờ biển, lập danh sách bọn phản động để phân hóa, xử lý làm trong sạch địa bàn và sẵn sàng đánh địch nhảy dù và tập kích bờ biển. Tình thế sắp xảy ra chiến tranh ngày càng tăng; trong các ngày 15 đến 19 tháng 12 năm 1946, quân Pháp liên tục nổ súng, ném lựu đạn tàn sát đồng bào, khiêu khích công an, tự vệ và bộ đội ở Hà Nội. Chúng còn gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí của tự vệ và công an, đòi ta để cho chúng trị an trong thành phố và đe dọa “đến sáng 20 tháng 12, những điều đó không được chấp nhận thì quân Pháp sẽ chuyển sang hành động». Trong hai ngày 18, 19 tháng 12 năm 1946, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng ở làng Vạn Phúc (tỉnh Hà Đông) dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi phân tích tình hình mọi mặt, Thường vụ Trung ương Đảng nhận định: âm mưu của Pháp mở rộng chiến tranh nay đã chuyển sang một bước mới, thời kỳ hòa hoãn đã qua, khả năng hòa bình không còn nữa. Nhân dân ta không thể trở lại cuộc đời nô lệ, Trung ương Đảng quyết định phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chính phủ, tài chèo lái của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu ủy, Ủy ban kháng chiến khu và Bộ chỉ huy Khu 4 đã chỉ thị cho các tỉnh và các đơn vị vũ trang gấp rút chuẩn bị mọi mặt để khi có lệnh, chủ động tiến công địch, trước hết là những nơi có quân Pháp đóng (Huế, Vinh). Đến đây, nhân dân và các lực lượng vũ trang trong Khu 4 đã sẵn sàng và chủ động bước vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, gian khổ và tin tưởng nhất định thắng lợi. * * * Với một tầm nhìn chiến lược sắc sảo, một trái tim nhiệt huyết, toàn tâm toàn lực về Tổ quốc và đồng bào, một bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên quyết, một đầu óc sáng suốt, minh mẫn và bình tĩnh tuyệt vời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với tập thể Ban chấp hành Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua thời kỳ trứng nước. Trải qua 16 tháng (8 năm 1945 đến 12 năm 1946), tuân theo lời dạy của Hồ Chủ tịch, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh trực tiếp là Xứ ủy, các Tỉnh ủy, nhân dân và các lực lượng vũ trang Khu 4 phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, vượt qua mọi khó khăn thử thách, xây dựng và bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng non trẻ, xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị sẵn sàng, chủ động cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chỉ một thời gian ngắn nhưng là thời kỳ lịch sử đặc biệt, nó nối liền giữa Cách mạng tháng Tám với kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược. Thời kỳ lịch sử này vô cùng gay go phức tạp, với những khó khăn thử thách đặc biệt nghiêm trọng. Vượt qua thời kỳ lịch sử đó để tiếp tục đi lên trên con đường giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương, điều cơ bản là cấp lãnh đạo và chỉ đạo từ khu đến các tỉnh và cơ sở ở Khu 4 đã thấm nhuần sâu sắc, vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách, những quan điểm tư tưởng của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước bao khó khăn chồng chất và những nhiệm vụ nặng nề, phức tạp, cấp bách, lãnh đạo và chỉ đạo các cấp từ khu đến cơ sở luôn luôn biết dựa vào dân, bồi dưỡng sức dân và phát huy sức mạnh của toàn dân, nên Khu 4 đã sớm ổn định được tình hình, tăng cường sức mạnh tổng hợp, kiên quyết, khôn khéo và linh hoạt, loại trừ những kẻ thù nguy hiểm, tập trung đối phó với kẻ thù chủ yếu là thực dân Pháp xâm lược, chủ động sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài. Cùng với những thắng lợi và thành công lãnh đạo, chỉ đạo trên địa bàn khu, thời kỳ này cũng còn một số khuyết điểm hạn chế như trong xây dựng lực lượng vũ trang có lúc, có nơi chưa chú trọng đúng mức đến chất lượng chính trị, trong đấu tranh chống bọn phản cách mạng chưa thật coi trọng công tác giáo dục, vận động đồng bào Thiên chúa giáo đấu tranh vạch mặt các phần tử phản động đội lốt tôn giáo; trong việc chuẩn bị kháng chiến mặc dù đã chủ động tích cực, nhưng vẫn chưa thật chu đáo, chặt chẽ, ảnh hưởng đến khả năng tác chiến sau này... Tuy còn những khuyết điểm, nhược điểm, nhưng quân và dân Khu 4 đã vượt qua thời kỳ trứng nước và những khó khăn thử thách hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ quan trọng và cần kíp. Do vậy khi Trung ương Đảng, Hồ Chủ tịch, Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy ra lệnh tiến công thực dân Pháp xâm lược, toàn thể bộ đội và đồng bào Khu 4 đã ở trong tư thế chủ động, sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài với niềm tin tất thắng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Chín, 2024, 10:35:39 pm CHƯƠNG II NĂM ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN (19-12-1946 - 4-1948) Thực dân phản động Pháp bội ước, tăng cường lực lượng đánh chiếm Lạng Sơn, Hải Phòng, khiêu khích Hà Nội. Chúng đã nhiều lần gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí quân đội và công an thủ đô, buộc Chính phủ ta phải đầu hàng. Ở Khu 4, một bộ phận lực lượng Pháp đóng ở Vinh và Huế. Tại Vinh, một trung đội 34 tên, do tên thiếu tá Đờ-com-mong và đại úy Mê-tơ-ra-nô chỉ huy và đoàn sĩ quan liên kiểm có 50 Pháp kiều đóng ở sở canh nông, kho Đê-pô, khu ga. Ở đồn Đạo Ngạn (huyện Thanh Chương) còn có 50 tên gồm công sứ, giám binh, đồn trưởng Pháp bị Nhật bắt giam ngày đảo chính Pháp (9 tháng 3 năm 1945). Tại Huế, 750 binh sĩ Pháp và 250 kiều dân Pháp có vũ trang (một tiểu đoàn thuộc trung đoàn thuộc địa số 23 và một đại đội cơ giới do tên trung tá Cốt-cơ chỉ huy) đóng trên 20 vị trí ở ba khu vực A, B, C. Khu A (tả ngạn sông Hương, bắc thành phố). Khu B (hữu ngạn sông Hương, đông thành phố đến An Cựu, Tràng Tiền). Khu C (sông đào Phú Cam, ga Huế, ga An Cựu). Tại miền tây Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, giặc Pháp từ Trung Lào áp sát biên giới Lào — Việt cấu kết với bọn thổ ty, lang đạo phản động, gây cơ sở, chờ thời cơ đánh chiếm những điểm chốt sâu trong nội địa như Hồi Xuân, La Hán (Thanh Hóa), Mường Xén, Quỳ Châu (Nghệ An)... Mỗi tỉnh ở Khu 4 lúc này có một trung đoàn bộ đội tập trung từ ba đến bốn tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc. Riêng Quảng Bình có một tiểu đoàn. Thanh Hóa có trung đoàn Đinh Công Tráng (77) do đồng chí Hoàng Tiến Trinh làm trung đoàn trưởng. Nghệ An có trung đoàn Đội Cung (57) do đồng chí Hoàng Quang Việt làm trung đoàn trưởng. Hà Tĩnh có trung đoàn 103 do đồng chí Tùng Lâm làm trung đoàn trưởng. Quảng Bình có tiểu đoàn Lê Trực, do đồng chí Lê Thanh Đồng làm tiểu đoàn trưởng. Quảng Trị có trung đoàn Thiện Thuật do đồng chí Hùng Việt làm trung đoàn trưởng. Thừa Thiên có trung đoàn Cao Vân do đồng chí Hà Văn Lâu làm trung đoàn trưởng. Huế, Thừa Thiên, Nghệ An được tăng cường lực lượng vì đang có quân Pháp đóng. Theo kế hoạch tác chiến đã được Bộ chỉ huy Khu 4 và Thường vụ các tỉnh ủy Nghệ An, Thừa Thiên thông qua, ta bố trí lực lượng như sau: Ở Vinh, đại đội 1 thuộc trung đoàn Đội Cung do đồng chí Nguyễn Chấn chỉ huy và đại đội tự vệ Lê Lợi do đồng chí Nguyễn Cận chỉ huy, có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở sở canh nông, kho Đê-pô và khu ga. Ở Huế, Thừa Thiên, tiểu đoàn 17 trung đoàn Cao Vân do đồng chí Võ Lương làm tiểu đoàn trưởng, đánh địch ở Khu A, tiểu đoàn tiếp phòng quân Thuận Hóa do đồng chí Lê Khánh Khang làm tiểu đoàn trưởng phụ trách đánh Khu B, tiểu đoàn 16 do đồng chí Huỳnh Điểu làm tiểu đoàn trưởng có nhiệm vụ đánh chiếm Khu C. Tiểu đoàn 18 bố trí ở nam Thừa Thiên. Ngoài ra còn có tiểu đoàn tiếp phòng quân Nghệ An đóng ở phía bắc thành phố Huế cùng với khẩu đội pháo 75 mi-li-mét của trung đoàn Cao Vân làm lực lượng dự bị. Một đại đội Hà Tĩnh, một đại đội Quảng Bình, một đại đội Quảng Trị, một đại đội của trường quân chính Nhượng Bạn được bổ sung về các tiểu đoàn ở các khu vực A, B, C. Dân quân tự vệ toàn tỉnh Thừa Thiên phục vụ chiến đấu khoảng 10.000 người. Tự vệ thành phố Huế trên 1.000 người. Để chủ động tiến công quân địch trên toàn chiến trường, theo chủ trương của Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy quyết định: «Mở đợt tấn công quân địch ở các thành phố, thị xã có địch chiếm đóng, tiêu diệt một bộ phận lực lượng, kìm giữ chúng trong vị trí và đô thị trong một thời gian nhất định, kịp thời chuyển cả nước vào thời kỳ chiến tranh». Nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng chỉ huy, Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu 4 chỉ thị các đơn vị, địa phương tăng cường sẵn sàng chiến đấu cao độ. Chiều 19 tháng 12 năm 1946 Ủy ban kháng chiến Thừa Thiên họp cán bộ chỉ huy các mặt trận, các huyện. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Bí thư tỉnh ủy phổ biến nhiệm vụ. Mọi người nhanh chóng về vị trí chiến đấu. Sáng 20 tháng 12 năm 1946, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi đồng bào toàn quốc đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày 22 tháng 12 năm 1946 Ban thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị toàn dân kháng chiến. Lời Hồ Chủ tịch là tiếng gọi thiêng liêng của non sông đất nước, là nguồn động viên cổ vũ mạnh mẽ hàng triệu quân và dân Khu 4 vùng lên, cùng toàn quân và toàn dân giết giặc cứu nước. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Chín, 2024, 10:37:06 pm I — NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN — CHỦ ĐỘNG TIẾN CÔNG ĐỊCH Ở VINH 20 giờ 30 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, Đài tiếng nói Việt Nam thông báo «Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Xin trân trọng mời đồng bào cả nước nghe lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh» (đó là mật lệnh tổng tiến công). 21 giờ 30 phút, đồng chí Hồ Tùng Mậu, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu 4 và đồng chí Đào Chính Nam, khu phó, giao nhiệm vụ cho Chính ủy trung đoàn 57 Lê Nam Thắng và Tham mưu trưởng trung đoàn Lê Văn Xứng chỉ huy đơn vị tiêu diệt quân Pháp ở Vinh theo kế hoạch đã định. 23 giờ, ta nổ súng, sau hơn một giờ chiến đấu, bộ đội xung phong chiếm tầng dưới. Địch hoảng sợ rút lên tầng hai, đồng chí Trần Năng Đắc, phó đoàn liên kiểm Việt Nam ra lệnh cho tên đại úy phó đoàn liên kiểm Pháp đầu hàng và tuyên bố nếu không hàng sẽ đốt cháy ngôi nhà. Ta vừa kêu gọi quân địch vừa cho một xe chở xăng, một xe khác chở rơm chạy thẳng vào cổng chính vị trí địch. Để tăng cường sức mạnh chiến đấu, khu điều động thêm cho hướng này hai xe thiết giáp và một khẩu pháo 37 mi-li-mét. 0 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12 năm 1946, trước sức mạnh áp đảo của ta, trung đội quân Pháp ở Vinh phải đầu hàng không điều kiện. Tại sân bay Yên Đại, đại đội do đồng chí Nguyễn Đức Sao chỉ huy, bắt tổ lái và thu chiếc máy bay Mo-ran. Qua hai trận chiến đấu đầu tiên, ta bắt 34 tù binh, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Đó là chiến công đầu xuất sắc của quân và dân Nghệ An hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, được Bộ Tổng chỉ huy biểu dương khen ngợi. Chiến công ấy một lần nữa khơi dậy truyền thống hào hùng Xô-viết Nghệ — Tĩnh kiên cường, tô đậm thêm truyền thống chống ngoại xâm của quê hương, đồng thời tạo một niềm tin vững chắc cho nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân, quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp. Bao vây tiến công giặc Pháp ở Huế Vào những ngày đầu tháng 12 năm 1946, quân Pháp ở Huế tập trung chuẩn bị công sự, dự trữ lương thực để chờ viện binh, phối hợp tấn công đánh chiếm cả Huế, Thừa Thiên. Chủ trương của ban chỉ huy mặt trận Huế lúc toàn quốc kháng chiến là tích cực tiến công địch, khi có điều kiện cố gắng tiêu diệt. 2 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12 năm 1946, tiếng súng tiến công quân Pháp ở Huế bắt đầu. Do có nguyên nhân khách quan và chủ quan, Huế nổ súng chậm 6 giờ 30 phút so với Hà Nội, do đó đã mất yếu tố bí mật bất ngờ. Công nhân dùng bom phá hủy nhà máy đèn. Đơn vị ở trường kỹ nghệ chiếm ngã Năm, phá một xe jeép và một xe vận tải địch. Đơn vị bố trí ở bến Ngự đánh chiếm khách sạn Thanh Minh, phá hai xe thiết giáp ở đầu cầu Nam Giao. Bộ đội ở An Định Cung đánh vào trường Thiên Hữu và miếu Đại Càn, phá được một xe thiết giáp. Quân Pháp cho hai xe thiết giáp và bộ binh từ trường Thiên Hữu tiến xuống chiếm nhà máy đèn. Chúng lọt vào ổ phục kích, bộ đội giật bom và xung phong tiêu diệt xe và 45 tên Pháp, thu được bốn tiểu liên Tôm-sơn. Chiếc xơ-cút-ca đang chạy qua cầu Ga thì bị ta đánh bom cầu sập. Xe rơi xuống sông. Hai tiểu đội bộ đội ta xung phong vào trường Khải Định, diệt được một số địch, đốt được một kho xăng. Tiểu đội khác đánh vào ty công chính, lần thứ nhất bị đánh bật ra, đánh lần thứ hai có gây cho địch một số thiệt hại. Địch cho xe thiết giáp và bộ binh phản công lại. Cả tiểu đội chiến đấu ngoan cường và hy sinh anh dũng. Các chiến sĩ công binh với những quả bom hàng trăm ki-lô-gam làm bật tung cầu Ga, cầu An Cựu, hai nhịp cầu Tràng Tiền, cắt đứt khu vực Pháp đóng với bên ngoài thành phố. Sau gần một đêm và một ngày, bộ đội ta đồng loạt tiến công các vị trí địch, đồng chí Hà Văn Lâu và đồng chí Hoàng Lưu chủ trương cho bộ đội, tự vệ cùng nhân dân dựa vào sông Hương, sông An Cựu, đường số 1 dựng chiến lũy, bao vây địch. Quân địch cố thủ trong các vị trí kiên cố, tuy lực lượng địch không nhiều hơn, nhưng là đội quân nhà nghề, có trang bị hiện đại. Lực lượng ta tuy đông nhưng tri thức quân sự có hạn, trang bị lạc hậu, không có vũ khí công đồn, nên hiệu suất chiến đấu thấp. Trận tiến công đầu tiên nhằm tiêu diệt quân địch tại Huế không thu được thắng lợi hoàn toàn vì lấn cấn trong chủ trương bảo toàn lực lượng nên đã không tập trung ưu thế binh lực để giải quyết dứt điểm mà chỉ đưa một số ít lực lượng, trang bị kém, lại rải ra tấn công phân tán khắp các vị trí nên không tiêu diệt được địch. Tuy vậy, bộ đội, tự vệ, công an, trinh sát và nhân dân thành phố Huế đã nêu cao tinh thần chấp hành triệt để mệnh lệnh «Toàn quốc kháng chiến» của Hồ Chủ tịch, nêu cao tinh thần dũng cảm hy sinh, tiêu diệt được gần 100 tên địch, thu và phá hủy được một số vũ khí, gây cho địch những đòn thất bại đầu tiên, buộc chúng phải cố thủ, chống đỡ bị động và vô cùng căng thẳng. Để tiếp tục tiêu diệt địch, Ban chỉ huy mặt trận Huế chủ trương chuyển sang bao vây và thu hẹp khu vực chiếm đóng của Pháp, triệt đường tiếp tế, tập kích quấy rối, thành lập những “tiểu tổ cảm tử”, chọn những chiến sĩ thông thuộc địa hình, địa vật trong thành phố, luồn vào lòng địch, liên tục đánh địch, buộc chúng phải thường xuyên đối phó. Quân địch bị bao vây, đạn dược và lương thực thiếu, chúng phải dùng máy bay để tiếp tế. Để cố thủ chờ đợi viện binh, chỉ huy Pháp ra lệnh cho binh lính chúng củng cố công sự, đánh nống ra để nới rộng vòng vây. Các đêm 21, 22, 23 tháng 12 năm 1946, ta liên liếp tiến công quân địch ở trường Khải Định, hiệu buôn Sáp-phăng-rông, đồn Phan Đình Phùng, nhà Mo-ranh, tiêu diệt một số quân Pháp, phá hỏng hai xe thiết giáp. Trong trận đột kích vào nhà Mo-ranh đêm 25 tháng 12, 20 chiến sĩ do trung đội trưởng Ngọc chỉ huy, diệt được nhiều địch, bắt hai tù binh. Trời sáng rõ, anh em bị mắc kẹt trong sở công chính. Đơn vị của Ngọc chiến đấu đến 11 giờ, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của giặc Pháp, quân địch hết đạn phải cho máy bay đến thả dù tiếp tế, nhiều chiếc dù rơi trước sân nhà Mo-ranh. Hơn chục tên Pháp bò ra lấy hàng bị giết trước tài bắn tỉa của xạ thủ Lê Văn Minh. Đến 14 giờ, bộ đội ta hết đạn. Quân địch tổ chức phản công, các trận đánh giáp lá cà diễn ra ác liệt. Có chiến sĩ bị địch bắt, tự sát, không chịu đầu hàng. Đồng chí Ngọc cùng 18 chiến sĩ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng (chỉ có đồng chí Lạc bí thương, vượt sông Hương trở về đơn vị). Cái chết anh hùng kiên cường của 19 chiến sĩ trung đoàn Cao Vân đã gây một ấn tượng sâu sắc vào ký ức của nhân dân thành phố Huế trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Tham gia các trận chiến đấu này, còn có nhiều em thiếu niên thành Huế nhanh như sóc, ban đêm len lỏi trong lòng địch, leo lên ống máng, bò lên mái nhà, dỡ ngói thả lựu đạn vào giường giặc ngủ, hoặc lấy súng ngắn, tài liệu mật của địch, hoặc truyền đạt mệnh lệnh, dẫn đường cho các đơn vị bộ đội đánh giặc. Sau 10 ngày đánh địch bằng những đơn vị nhỏ, ban chỉ huy mặt trận thay đổi cách đánh, tập trung lực lượng lớn hơn để chiến đấu, nên đã tiêu diệt được một số vị trí địch. Đêm 1 tháng 1 năm 1947, các chiến sĩ công binh dùng bốn quả bom đánh vào khách sạn Mo-ranh, sau đó bộ binh xung phong diệt 50 tên, thu tám súng trường, hai tiểu liên, đốt một kho xăng. Ngày 2 tháng 1, ta tiêu diệt vị trí nhà Mác-bớp, đánh bật địch ra khỏi trường Pen-lơ-ranh. Trong trận tấn công vị trí Đại Càn, ban chỉ huy mặt trận điều khẩu pháo 75 mi-li-mét phối thuộc chiến đấu với tiểu đoàn tiếp phòng quân Thuận Hóa. Vị trí địch bị pháo ta bắn sập, bộ binh xông vào diệt nhiều địch, thu nhiều vũ khí. Tuy nhiên, do hỏa lực địch mạnh, nhất là dựa vào nhà cửa công sự kiên cố, nên quân Pháp vẫn giữ được các vị trí then chốt trong thành phố. Từ ngày 3 đến ngày 20 tháng 1, quân ta tiếp tục bao vây, tìm nhiều cách đánh như bí mật vào đặt bom, chất rơm, rắc ớt, nổi lửa hun vị trí giặc, nhưng quân Pháp đã đề phòng, tìm mọi biện pháp đối phó, nên đã hạn chế được thương vong. Chúng dựa vào các vị trí kiên cố để cố thủ, bảo toàn lực lượng, chờ viện binh. Mặc dù khó khăn ác liệt, nhưng với truyền thống chống ngoại xâm oanh liệt của quê hương, sau 50 ngày bao vây quân Pháp tại Huế, quân và dân Thừa Thiên — Huế đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt gần 200 tên địch, bắn rơi một máy bay Mo-ran, phá một đại bác 37 mi-li-mét, thu hai trọng liên 20 mi-li-mét, một ba-zô-ka, một khẩu 12 ly 7, 20 khẩu súng trường và một số quan trang, quân dụng, phá được nhà Pen-lơ-ranh, nhà Mắc-bớp, miếu Đại Càn, một phần nhà Mo-ranh. Tuy ta tiêu hao được một số sinh lực địch và vây hãm chúng gần hai tháng trong thành phố, nhưng không tiêu diệt được quân Pháp ở Huế. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Chín, 2024, 10:39:06 pm Đánh quân địch đến giải vây Huế, chiếm đóng Thừa Thiên Để giải vây Huế và sau đó đánh chiếm Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, nhằm chia cắt Khu 4, chia cắt nước ta ở chỗ chiều ngang hẹp nhất, và cũng là tạo bàn đạp để sau này khi có điều kiện tiến ra đánh chiếm các tỉnh phía bắc Khu 4, ngày 19 tháng 1 năm 1947, một trung đoàn quân viễn chinh Pháp khoảng 3.000 tên phối hợp pháo binh cơ giới từ biển đổ bộ lên Lãng Cô, Tư Hiền. Sau khi chiếm được bàn đạp, quân địch liền chia thành hai cánh, một cánh chính theo đường số 1 đánh ra Huế, một cánh nhỏ đánh vào đèo Hải Vân. Sau đó, địch dùng lực lượng lớn mở nhiều trận tiến công nam Thừa Thiên. Ta chặn đánh địch quyết liệt ở đèo Hải Vân, Nước Ngọt, đèo Mũi Né, Cầu Hai... Bộ đội phối hợp chiến đấu với dân quân, chôn mìn giữa đèo Phước Tượng, tiêu diệt được nhiều địch. Ngày 25 tháng 1, bộ đội bắn rơi một máy bay. Sau ba ngày kịch chiến (26, 27, 28 tháng 1), ta gây cho địch nhiều thiệt hại, nhưng hỏa lực địch mạnh nên ta phải vừa chiến đấu vừa rút lui. Ngày 31 tháng 1, quân Pháp tiến tới hữu ngạn sông Truồi. Bộ đội ta giật bom diệt một trung đội địch. Quân địch mở nhiều đợt vượt sông, nhưng đều bị ta đánh lui. Ngày 3 tháng 2, địch cho ba máy bay bắn phá trận địa của ta. Sau đó chúng cho xuồng máy chở quân vượt sông, đồng thời cho một tốp lính bí mật vòng sau lưng quân ta đánh tập hậu, trung đội giữ bờ sông tưởng mình đã bị bao vây, nên đã tự động rút. Do vậy địch vượt được sông Truồi, đánh chiếm được một số vị trí quan trọng. Bộ đội ta tích cực phản công nhưng không thu được kết quả. Ngày 5 tháng 2, quân Pháp chiếm Hà Úc, Hà Thanh, Cửa Thuận. Bọn địch trong thành phố đánh nống ra bắt liên lạc với bọn ở bên ngoài. Bộ đội ta bị tiến công từ nhiều phía, phải rút khỏi thành phố trong tình trạng bị động nên có bộ phận bị mất liên lạc, có bộ phận bị kẹt trong thành phố. Quân Pháp lúc này đã đông hơn ta nhiều lần, lại có vũ khí trang bị hiện đại, phối hợp cả thủy, lục, không quân, binh lính, sĩ quan địch có kinh nghiệm của một đội quân đánh thuê nhà nghề. Còn bộ đội ta trang bị thiếu thốn, vũ khí thô sơ, lựu đạn, đạn ít, kém phẩm chất. Cán bộ chỉ huy các cấp hăng hái, dũng cảm nhưng tri thức quân sự rất hạn chế, không nắm vững tương quan lực lượng địch ta, vận dụng cách đánh thiếu linh hoạt, sáng tạo, không chỉ huy được bộ đội, khi bị đánh mạnh, phải rút lui. Sau khi giải vây Huế, quân Pháp tiếp tục tiến quân ra phía bắc Thừa Thiên. Ngày 7 tháng 2 địch chiếm Lại An (Phú Vang). Ngày 7 tháng 2 chúng tiến ra tới Phú Ốc thì bị quân ta chặn lại. Sáng 10 tháng 2 được sự yểm hộ của máy bay và trọng pháo, địch mới vượt được sông Phú Ốc, ngày 12 tháng 2 chiếm Phò Trạch, ngày 13 tháng 2 chiếm Mỹ Chánh. Trước đà tiến công của địch, tiểu đoàn 16 phải rút về hữu ngạn sông Hương, chặn đánh địch từ Ngọc Hồ ra Trúc Lâm, An Hòa. Tiểu đoàn 17 chặn đánh địch trên đường số 1 từ bắc An Hòa ra Mỹ Chánh. Tiểu đoàn Thuận Hóa chặn địch từ phía Lại An, Thủy Tú. Phần lớn bộ đội mặt trận Huế lúc này vẫn còn áp dụng lối đánh dàn hàng ngang, bố trí trận địa phòng ngự bị động, bị thương vong nên phải rút lui, cũng có những trận đánh linh hoạt, có hiệu quả như ở Cổ Bưu, Thủy Tú gây cho địch nhiều thiệt hại. Trước sức tiến công của địch, bộ đội ta bị tổn thất nặng, bị động lúng túng. Có phân đội bị địch tập kích, phải rút lên núi, có bộ phận vứt súng lại trong dân, hoặc chạy ra tận Quảng Trị. Bộ đội mệt mỏi, một số dao động bi quan; Nhân dân hoang mang thiếu tin tưởng. Sau 25 ngày tiến công, cánh quân lớn của giặc Pháp đã đổ bộ lên nam Thừa Thiên, giải vây được Huế và đánh chiếm Thừa Thiên. Cánh quân này cùng với cánh quân đường số 9 tiến công đánh chiếm Quảng Trị. Thế là mặt trận Huế vỡ. «Mặt trận Huế vỡ có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Trong đó phải kể đến những sai lầm khuyết điểm về chỉ đạo tác chiến, về chỉ huy chiến đấu của Ban chỉ huy mặt trận và cán bộ cao cấp. Về tư tưởng: muốn giải quyết nhanh lực lượng địch đã có trong thành phố, nhưng trong chỉ đạo cách đánh lại đánh nhỏ lẻ, phân tán, thiếu tập trung và kéo dài liên miên các trận chiến đấu. Mặt khác sợ địch tràn ra tấn công nên đã bố trí phòng ngự và để nhiều lực lượng ở vùng ngoài thành phố, do đó không đủ lực lượng và khả năng để tiêu diệt gọn quân địch. Cán bộ chỉ huy chưa nắm vững quan điểm kháng chiến toàn dân, toàn diện nên không tổ chức, tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân tham gia chiến đấu, không lập chướng ngại vật, không đào hầm hào và không phát triển du kích chiến tranh để đề phòng khi mặt trận bị vỡ và chiến tranh lan rộng, trái lại đã làm cho dân quá lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi quyết định. Cán bộ còn chủ quan coi thường địch, chiến sĩ cũng bị ảnh hưởng đến tác phong coi thường địch nên thiếu chủ động trong hoạt động tác chiến. Đến lúc mặt trận vỡ, cán bộ, chiến sĩ và cả nhân dân hoang mang, tinh thần khí thế xẹp xuống... Ngoài ra cũng cần phải thừa nhận rằng: chỉ huy còn quá ấu trĩ, non kém, chưa có kinh nghiệm, vũ khí còn thô sơ, hư hỏng và cũ kỹ, đạn thiếu, lựu đạn không nổ...»1. ______________________________________________ 1. Báo cáo tổng kết chiến sự của đồng chí Trần Văn Quang, Chính trị ủy viên Liên khu 4 trong hội nghị quân sự Liên khu tháng 4 năm 1948. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Chín, 2024, 10:42:14 pm Đánh quân địch tiến công Quảng Trị Đường số 9 là con đường chiến lược rất quan trọng chạy từ Đông Hà lên Lao Bảo đến Xà-vẳn-nạ-khệt của nước Lào. Sau khi đánh chiếm nước Lào, bọn chỉ huy Pháp sử dụng trên 1.000 tên, có máy bay, thiết giáp yểm hộ đánh chiếm đường số 9 làm bàn đạp để tiến công Quảng Trị. Tiểu đoàn 13 thuộc trung đoàn Thiện Thuật phối hợp với dân quân tự vệ các địa phương, tổ chức bố phòng đánh địch trên đường số 9. Ngày 10 tháng 1 năm 1947, khoảng 500 tên Pháp định vượt sông Xê-băng-phai đánh vào làng Tổng Thuật. Một trung đội bộ đội ta chặn đánh quyết liệt, nên quân địch không qua được sông. Ngày 11 tháng 1, quân địch dùng trọng pháo, máy bay bắn phá dữ dội, rồi lại thúc quân tràn qua sông, nhưng chúng đã phải để lại 30 xác chết. Sau khi vượt sông địch xuyên rừng, vòng ra phía sau đánh Khe Sanh. Tuy địch đánh bất ngờ, nhưng trung đội tự vệ ở đây cùng với các chiến sĩ trạm điều dưỡng tại bệnh xá đã chặn đánh địch, để đồng bào có đủ thời gian thiêu hủy nhà cửa, tản cư. Sau đó ta vừa đánh, vừa rút về Rào Quán. Ngày 12 tháng 1, một bộ phận khác của địch vượt được qua Lao Bảo. Một đại đội của ta chặn đánh diệt hơn 60 tên địch. Đồng thời với hai cánh quan đánh vào Khe Sanh và Lao Bảo, khoảng 200 tên địch vượt qua biên giới Lào — Việt băng rừng qua ngả Tà Rụt tiến tới vùng Ba Lòng. Ngày 15 tháng 1 địch đánh Rào Quán. Đồng chí Hùng Việt trung đoàn trưởng trung đoàn Thiện Thuật trực tiếp chỉ huy trận đánh. Địa lôi, bom, mìn của ta chôn dầy đặc. Cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 13 bí mật phục kích hai bên đường. Đồng chí Trần Hữu Dực chủ tịch Ủy ban hành chính Trung Bộ lên kiểm tra, trực tiếp góp ý và động viên cán bộ, chiến sĩ phát huy tinh thần quyết thắng, mưu trí, dũng cảm đánh thắng địch. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Địch bị chết, bị thương hơn 100 tên. Chúng phải dừng lại một thời gian để củng cố. Ngày 20 tháng 1 quân địch lại tiến ra Cùa theo dốc Làng Hạ, Xoa. Đại đội Lê Hồng Phong1 phối hợp chiến đấu với một trung đội bộ đội chủ lực diệt hàng chục tên địch. Ngày 23 tháng 1, quân địch tràn vào Cùa, tiểu đoàn 14 của ta rút về Cam Lộ. Chiếm được Cùa, quân Pháp chỉ để một trung đội làm lực lượng nghi binh, còn lại rút lên Mai Lĩnh, đánh Đầu Mầu. Ngày 25 tháng 1, tiểu đoàn 13 chiến đấu quyết liệt, diệt 30 tên địch. Ngày 3 tháng 2, quân ta tắt đường rừng tập kích bất ngờ vị trí Mai Lĩnh, giết thêm một số lính địch. Sau khi bị thiệt hại nặng ở Đầu Mầu, địch phải dừng lại 15 ngày để củng cố. Cùng với việc chỉ đạo đánh địch trên đường số 9, tỉnh ủy Quảng Trị chủ trương đẩy mạnh giáo dục tuyên truyền nhân dân về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện. Cán bộ, đảng viên thường xuyên bám sát cơ sở, hướng dẫn nhân dân cất giấu của cải, thực hiện vườn không nhà trống, chống địch càn quét. Dân quân tự vệ rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật đánh du kích, nhờ vậy khi địch đến, nhân dân bình tĩnh, hăng hái tham gia đánh địch. Sau khi lực lượng được củng cố, ngày 13 tháng 2 quân địch đánh chiếm Cam Lộ. Ngày 17 tháng 2 quân Pháp vào Đông Hà. Đường số 9 dài 84 ki-lô-mét, quân Pháp phải hành quân mất 39 ngày với trên 300 tên bỏ mạng. Như vậy là một ngày trên đường số 9, giặc Pháp chỉ đi được trên hai ki-lô-mét và phải trả giá tám tên bị giết. Tiểu đoàn 13 trung đoàn Thiện Thuật chiến đấu anh dũng mưu trí, tiêu diệt một bộ phận binh lực và làm chậm bước tiến của địch. Cánh quân địch ở Huế, sau khi chiếm được Thừa Thiên, ngày 13 tháng 2 tiếp tục hành quân. Từ bàn đạp Mỹ Chánh, trên 1.500 tên tiến ra Hải Lăng, Triệu Phong. Ngày 16 tháng 2 chúng đánh chiếm thị xã Quảng Trị. Tiểu đoàn 14 của ta phòng thủ thị xã. Một đại đội bố trí gần nhà ga, chặn đánh địch từ cầu Ga về vườn hoa. Một đại đội bố trí ở làng Tri Bưu. Một đại đội bố trí trên mặt thành nhìn ra phía sân vận động và đường số 1. Để tăng cường lực lượng, Bộ chỉ huy Khu 4 bổ sung đại đội vệ binh do đồng chí Ngô Kiến làm chính trị viên, bố trí ở làng Thạch Hãn. Đồng chí trung đoàn trưởng Hùng Việt trực tiếp chỉ huy trận chiến đấu này. Nhân dân thị xã đã tản cư, các nhà kiên cố đã được phá hủy. Bom giật, bom treo, mìn, địa lôi được bố trí ở những nơi dự kiến quân địch có thể tập trung. 5 giờ 30 phút ngày 16 tháng 2, khi pháo địch bắn dữ dội vào thành Quảng Trị vừa dứt, bộ binh địch ào ào xông lên, lập tức súng máy của ta nổ giòn giã vào đội hình địch. Địch định chiếm một xóm nhỏ trước làng Thạch Hãn. Từ các giao thông hào, các chiến sĩ vệ binh bám đánh địch. Địch giạt ra phía bên kia đường, vòng qua sân vận động để chiếm những lùm cây và mô đất ở nghĩa địa. Trung đội bố trí ở đây đồng loại nổ súng. Địch phải lùi lại chạy tạt về ngả Tri Bưu. Súng liên thanh của bộ đội ta bố trí ở ngã tư Xuân Tịnh và trên mặt thành quét xuống. Những viên đạn súng cối của ta từ trong thành rơi đúng đội hình địch. Nhiều ngôi nhà chất đầy rơm rạ, củi khô bốc cháy. Giữa làn khói mịt mù, quân ta bám đánh địch ở trường Quảng Đức, ngã tư Xuân Tịnh, quanh khu nhà Tòa sứ. Địch cho xe cơ giới tiến lên, bắn mãnh liệt vào đội hình quân ta, đồng thời bộ binh công kênh nhau nhảy vào thành nội. Quân địch vấp phải lưới lửa dày đặc của ta. Các cỡ súng nổ giòn, mìn địa lôi cũng nổ. Bom từ trên cây rơi xuống, bom từ duới đất nổ tung lên, gần 100 tên địch bị giết. Dưới sự yểm hộ của hai khẩu đại liên đặt ở chùa Phật học, bộ đội ta vừa đánh địch vừa ra khỏi thành phố. Đại đội ở Tri Bưu chống cự mãi đến 16 giờ mới rút về An Tiêm. 20 chiến sĩ trung đoàn Thiện Thuật và tự vệ thị xã nguyện «cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh», xung phong ở lại, dùng lựu đạn diệt thêm nhiều địch, bẻ gãy nhiều đợt xung phong và cuối cùng đã hy sinh anh dũng. Các tiểu tổ cảm tử khác của bộ đội và tự vệ thị xã cố thủ trong các hầm bí mật. Đến ngày thứ ba, bom vẫn nổ trong thành phố. Đánh chiếm thị xã Quảng Trị, hơn 200 tên địch đã bị thiệt mạng; và hàng trăm binh lính bị thương đưa về Huế. Trận đánh địch tiến công thị xã Quảng Trị là trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao. Nó thể hiện tinh thần quyết đánh và biết đánh, ý chí chiến đấu ngoan cường dũng cảm với cách đánh sáng tạo, sử dụng các loại vũ khí thô sơ linh hoạt của bộ đội và dân quân tự vệ. Trước chiến công xuất sắc của bộ đội, dân quân tự vệ ở đường số 9 và thị xã, tỉnh ủy Quảng Trị họp ở Tiên Lương nhận định: Quân Pháp còn phải dừng lại một thời gian dài để củng cố lực lượng và vùng mới chiếm đóng, rồi mới tiếp tục đánh chiếm Gio Linh, Vĩnh Linh (Quảng Trị) Tỉnh ủy chủ trương: sử dụng một bộ phận bộ đội ở lại đồng bằng cùng nhân dân kháng chiến. Đến lúc địch đánh ra bắc Quảng Trị, tỉnh ủy mới chuyển về phía tây, lấy khu vực Cùa, Ba Lòng làm căn cứ chỉ đạo kháng chiến lâu dài. Để tiến hành chiến tranh du kích, tỉnh đã bố trí các đơn vị trên các địa bàn trong toàn tỉnh. Tiểu đoàn 15 giữ vùng Hà Trung, Hà Thanh, tiêu hao tiêu diệt địch, làm chậm bước tiến của chúng. Tiểu đoàn 14 phân tán, phối hợp với dân quân tự vệ, vừa chiến đấu vừa xây dựng cơ sở ở huyện Triệu Phong và Hải Lăng. Tiểu đoàn 13 hoạt động ở huyện Gio Linh, Vĩnh Linh. Đại đội Lê Hồng Phong xây dựng cơ sở ở Ba Lòng. Đại đội biệt động của trung đoàn chuyển về hoạt động ở đường số 9, huyện Hướng Hóa. Thực hiện chủ trương của tỉnh ủy, trong những vùng địch tạm chiếm đóng, các hoạt động nhỏ, lẻ của bộ đội, dân quân gây cho địch nhiều tổn thất. Đêm 20 tháng 2, bộ đội đột nhập phủ Triệu Phong, ném lựu đạn giết năm tên địch. Cũng đêm đó, tấn công nha thương chính, Chợ Sải. Ngày 21 tháng 2, ta phục kích giết ba tên địch ở Phú Vang (Hải Lăng). Ngày 2 tháng 3, biệt động đội Khe Sanh giật mìn phá một xe vận tải, giết ba tên Pháp. Đúng như dự kiến của tỉnh ủy, sau khi bị thiệt hại nặng, quân Pháp phải dừng lại 34 ngày ở Đông Hà và thị xã Quảng Trị để củng cố lực lượng. Trong thời gian này, một việc rủi ro đáng tiếc xảy ra, đồng chí Hùng Việt, trung đoàn trưởng trung đoàn Thiện Thuật, người chỉ huy dũng cảm và mưu trí đã hy sinh vì quả đạn pháo 75 mi-li-mét nổ trong khi đồng chí đang trực tiếp hướng dẫn ba chiến sĩ tiểu đoàn 14 biến quả đạn pháo ấy thành những quả mìn để diệt địch. Khu ủy chỉ định đồng chí Trần Sâm làm trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Chưởng làm chính ủy trung đoàn Thiện Thuật. Ngày 27 tháng 3, cùng với việc cho quân đổ bộ lên Đồng Hới (Quảng Bình), bộ binh địch tiến công chiếm hai huyện Gio Linh, Vĩnh Linh (bắc Quảng Trị). Các đơn vị triển khai nhiệm vụ chiến đấu như kế hoạch đã định. Tiểu đoàn 13 chặn đánh địch trên đường 76, phá hủy một xe tăng ở An Nha, diệt 20 tên. Đêm 28 tháng 3, quân ta tập kích vào Chợ Phiên (Cam Lộ) diệt một số địch, trong đó có một quan tư. Ngày 31 tháng 3 quân địch đánh chiếm Vĩnh Linh. Tiểu đoàn 15 chặn đánh quyết liệt, gây cho địch nhiều thiệt hại. Đối với đợt tiến công này của địch, trung đoàn Thiện Thuật đã dự kiến đúng và có biện pháp đối phó kịp thời, nên bảo toàn được lực lượng để tiếp tục kháng chiến lâu dài. Đêm 31 tháng 3, tỉnh ủy, ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh chuyển lên tây Vĩnh Linh rồi xuyên rừng, luồn qua vùng địch, trở lại vùng núi Hải Lăng, Cam Lộ, lấy vùng Ba Lòng làm chiến khu của tỉnh. Trung đoàn bộ và tiểu đoàn 15 rút lên Khe Bò rồi chuyển vào Khe Tăm theo đường rừng cũng trở lại Ba Lòng. Do chủ trương của tỉnh ủy Quảng Trị và trung đoàn Thiện Thuật đúng đắn nên đã phát huy được tinh thần tích cực tiến công, tiêu hao, tiêu diệt địch, làm chậm bước tấn công của chúng, phát động chiến tranh du kích, giữ gìn lực lượng để chiến đấu lâu dài với địch. ______________________________________________ 1. Đại đội dân quân tập trung của tỉnh Quảng Trị. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Chín, 2024, 10:45:17 pm Chống quân Pháp tiến đánh Quảng Bình Chiếm được Vĩnh Linh, một mặt địch đóng chốt các điểm chủ yếu ở Gio Linh, Vĩnh Linh (Quảng Trị) , mặt khác chúng cho một cánh quân nhanh chóng tiến ra Lệ Thủy, Quảng Ninh (Quảng Bình), phối hợp với quân địch đổ bộ cửa Nhật Lệ, Thanh Khê đánh chiếm tỉnh Quảng Bình. Khoảng 2.000 tên có tàu chiến, ca nô, máy bay yểm hộ đánh chiếm thị xã Đồng Hới và 500 tên đổ bộ lên Thanh Khê (Bố Trạch). Để ngăn chặn, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, tiểu đoàn Lê Trực (Quảng Bình) bố trí lực lượng như sau: đại đội 1 phòng thủ thị xã Đồng Hới, đại đội 2 ở Phú Hội (cách thị xã Đồng Hới ba ki-lô-mét), đại đội 3 ở huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy, đại đội 4 ở huyện Quảng Trạch, đại đội 5 ở huyện Bố Trạch, đại đội 6 ở phía tây Ba-na-phào (Lào). 6 giờ 30 phút ngày 27 tháng 4, bốn ca nô địch đổ quân lên cửa Nhật Lệ. Hai trung đội bộ đội ta chặn đánh, diệt 10 tên. Quân địch phải rút lui và cho máy bay bắn phá vào trận địa của ta. Sau đó, chúng cho 12 ca nô đổ bộ, có thiết giáp đi cùng, đánh chiếm Tam Tòa. Đồng chí Thanh Đồng tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Lê Trực trực tiếp chỉ huy bộ đội chặn đánh địch. Sau một giờ chiến đấu, đồng chí Thanh Đồng hy sinh anh dũng. Có bộ phận rút lui, nhưng cũng có bộ phận vẫn kiên cường chống cự với địch. Quân địch chiếm Tam Tòa và đến 10 giờ, chúng làm chủ thị xã Đồng Hới. Tiếp đó, quân địch chia làm hai cánh, một cánh đánh chiếm Lệ Kỳ, Long Đại (huyện Quảng Ninh), một cánh đánh chiếm nhà ga Thuận Lý, Diêm Điền, Đức Phổ, Hữu Cung... Bộ đội và dân quân tự vệ chặn đánh lẻ tẻ, tiêu hao một số sinh lực địch. Một trung đội bố trí ở cầu Rào chiến đấu anh dũng, phá được cầu rồi rút lui. Ở Diêm Điền, bộ đội giết năm tên địch, phá một xe cơ giới. Quân địch từ Thuận Lý đánh lên Phú Quý bị bộ đội và dân quân giội bom phá hủy hai xe jeép, giết sáu tên Pháp. Để nhanh chóng đánh chiếm Quảng Bình, 11 giờ cùng ngày (27 tháng 3) quân Pháp cho tàu chiến đổ quân lên Thanh Khê, chiếm bàn đạp Lý Hòa để đánh chiếm Hoàn Lão (huyện lỵ Bố Trạch). Ngày 1 tháng 4, quân địch đánh lên Thụ Lộc. Ngày 4 tháng 4 chúng đánh Vạn Lộc, An Tiêm, Hòa Duyệt. Ở Hòa Duyệt bộ đội ta chặn đánh giết bốn tên địch. Ngày 7 tháng 4 quân Pháp đánh chiếm các chốt quan trọng ở đường số 2. Ngày 10 tháng 4 chúng dùng ca nô chở quân ngược dòng sông Gianh đánh chiếm Tiên Lễ, Minh Lễ trên tuyến đường sắt. Ngày 15 tháng 4 chúng vượt sông đánh chiếm Ba Đồn (huyện lỵ Quảng Trạch). Ngày 18 tháng 4 chúng đánh Minh Cầm (huyện lỵ Tuyên Hóa), quân ta chặn đánh quyết liệt, gây cho địch một số thương vong, buộc chúng phải rút về Ba Đồn, Thanh Khê. Trong đợt chiến đấu này, so sánh tương quan lực lượng địch ta quá chênh lệch, lực lượng ta quá ít, trang bị thô sơ lạc hậu, còn lực lượng địch đông gấp bội, trang bị hiện đại, nên sau 20 ngày quân Pháp đánh chiếm nhiều vị trí quan trọng trên các trục giao thông, các thị trấn, thị xã của Quảng Bình. Kể từ ngày quân Pháp bị bao vây ở Huế đến khi chúng bắt đầu đánh Quảng Bình, quân và dân Quảng Bình có thời gian trên ba tháng để chuẩn bị kháng chiến, nhưng do không rút kinh nghiệm của Thừa Thiên và Quảng Trị, nên đã để quân Pháp đánh chiếm nhiều vùng thuộc Quảng Bình khá nhanh. Tham gia mặt trận miền tây — Liên minh chiến đấu Việt – Lào Căn cứ rừng núi phía tây các tỉnh Khu 4 có giá trị chiến lược rất quan trọng. Đế quốc Pháp có âm mưu đánh chiếm vùng này làm bàn đạp đánh thốc sau lưng hậu phương ta, chia rẽ giữa người Kinh và người Thượng, giữa hai dân tộc Việt - Lào, bắt thanh niên các dân tộc thiểu số làm bia đỡ đạn cho chúng. Các lực lượng vũ trang Khu 4 có nhiệm vụ tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phá thế uy hiếp của chúng đối với miền tây, thực hiện sự liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc Việt - Lào, bảo vệ biên giới, xây dựng củng cố căn cứ địa rừng núi ngày càng vững chắc. Cùng với ba tiểu đoàn thuộc Khu 2, Khu 3 và Hà Nội, Khu 4 có hai tiểu đoàn và ba đại đội, một tiểu đoàn tăng cường do đồng chí Tổng Thái, trung đoàn phó trung đoàn 77 chỉ huy và tiểu đoàn 265 thiếu của trung đoàn 37 do đồng chí Kỷ làm tiểu đoàn trưởng hoạt động ở đường 7, một đại đội trung đoàn 103 hoạt động ở tây đường 8, đại đội 6 tiểu đoàn Lê Trực ở Ba-na-phào và đội biệt động Quảng Trị ở tây đường số 9. Phối hợp chiến đấu với bộ đội Khu 4, bộ đội Lào có đại đội người Mẹo ở Noọng Hét, một trung đội ở Mường Dương và một trung đội ở Mường Mô... Hoạt động ở miền tây, các lực lượng vũ trang Khu 4 vừa tác chiến vừa tuyên truyền vận động nhân dân vạch rõ âm mưu thâm độc của thực dân Pháp, động viên nhân dân miền núi hăng hái tham gia kháng chiến, chống thực dân Pháp. Ngày 21 tháng 2, một đại đội của trung đoàn 103 phối hợp với dân quân huyện Hương Khê tiến công một đại đội địch ở Vũ Quang (Hương Khê), giết 30 tên Pháp và ngụy Lào. Cùng ngày, hồi 4 giờ 30 phút một đại đội khác của trung đoàn 103 phối hợp với dân quân huyện Hương Son và bộ đội Lào đột kích vào đồn Na Pê. Quân ta xung phong vào đồn và nhà băng-ga-lô, dùng liềm, mã tấu, lựu đạn tiêu diệt địch. Bị tấn công bắt ngờ, 20 tên Pháp và lính ngụy Lào bị giết, nhiều tên khác bị thương. Đến cuối tháng 2 năm 1947 các lực lượng vũ trang Khu 4 đã tiến công các vị trí Mường Na, Mường Lạc, Mường Pun, Sầm Tớ... Tháng 3 các đơn vị ta cùng lực lượng vũ trang yêu nước Lào bao vây thị xã Sầm Nưa. Quân Pháp phải tăng cường lực lượng để giải vây. Bộ đội Nghệ An lên biên giới phản công khiến quân địch phải bỏ chạy về Mường Na. Bộ đội Thanh Hóa rút sâu vào nội địa thượng du. Địch chiếm Hồi Xuân, La Hán, đóng chốt ở Cổ Lũng. Sau khi được củng cố, bộ đội Thanh Hóa liên tục tập kích, phục kích, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Dân quân Phù Lễ (Hồi Xuân) anh dũng đánh giặc bảo vệ làng bản, tích cực phục vụ bộ đội chiến đấu. Liên quân Việt - Lào chặn đánh quân địch vận chuyển, tiếp tế lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược làm cho chúng gặp nhiều khó khăn. Sau một thời gian, quân Pháp buộc phải rút khỏi Hồi Xuân, La Hán. Trong cuộc chiến đấu xa hậu phương, bộ đội tình nguyện Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, địa thế hiểm trở, núi rừng trùng điệp, thiếu gạo, muối, thiếu súng đạn, khí hậu thời tiết khắc nghiệt, cán bộ, chiến sĩ vẫn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ hy sinh. Các đơn vị hoạt động ở vùng Mường Mô, Noọng Hét, có tháng phải sống bằng rau rừng, bắp ngô, củ sắn, phải đốt cỏ tranh lấy tro thay muối. Đội biệt động Quảng Trị xây dựng cơ sở ở các bản Lào, có chín chiến sĩ hy sinh thì năm đồng chí do bệnh sốt rét. Phần lớn chiến sĩ tình nguyện bị bệnh sốt rét, nhưng với tinh thần quốc tế vô sản cao cả «Vẹn tình, trọn nghĩa» bộ đội Việt Nam vẫn bám địa bàn trên đất bạn, cùng bạn hoạt động. Ở những vùng địch tạm chiếm, nhân dân Lào bị địch khủng bố, đàn áp dã man, bóc lột đến tận xương tủy. Chúng giết người, cướp của, bắt thanh niên đi lính, bắt dân nộp thuế bằng thuốc phiện, bằng bạc Đông Dương, bằng lương thực, thực phẩm1. Càng căm thù giặc Pháp, nhân dân Lào càng thương yêu tin tưởng cán bộ, chiến sĩ Liên quân Việt — Lào, càng hăng hái tham gia kháng chiến. Các tổ chức hội yêu nước được thành lập, bộ đội, dân quân Lào học tập cách đánh du kích, cách sử dụng vũ khí thô sơ như mìn, chông, bẫy lao, dụng cụ lăn đá, cung, tên nỏ có tẩm thuốc độc. Trung đội Xiêng Xinh, trung đội Bou Liêng, tiểu đội dân quân Mẹo là những đơn vị điển hình. Một số đơn vị của bạn đã độc lập tác chiến hoặc phối hợp chiến đấu với bộ đội tình nguyện Việt Nam phục kích chống càn, bảo vệ nhân dân. Ngày 31 tháng 4, 10 tên Phúp và 70 lính ngụy Lào hành quân xuống Tri Lễ (tây Nghệ An) bị Liên quan Việt - Lào chặn đánh ở Mường Pao và Mường Dương. Bảy lính Pháp và sáu lính ngụy Lào bị giết. Trung đội dân quân người Mẹo phối hợp chiến đấu với trung đội Bou Liêng, giết một số lính Pháp và lính ngụy Lào, phá cuộc càn quét của địch xuống Mường Mô. Nhân dân Lào biết cách tránh giặc, cất giấu của cải ngoài rừng, động viên, thuyết phục con em đã bị bắt đi lính ngụy quay về với kháng chiến. Ngày 10 tháng 5 ở Mường Na, ba lính ngụy Lào mang theo một súng máy, hai súng trường chạy sang hàng ngũ bộ đội Lào. Trước những thắng lợi của Liên quan Việt — Lào, quân Pháp đã tập trung lực lượng, tăng cường càn quét phá hoại các căn cứ địa dọc các đường giao thông chiến lược quan trọng. Ngoài ra địch còn tiến hành chiến tranh tâm lý, nhằm chia rẽ tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt — Lào. Nhưng mọi thủ đoạn thâm độc của chúng đều bị thất bại. Vùng tự do của ta và bạn ngày càng được mở rộng. Biên giới miền tây Khu 4 ngày càng được củng cố. Tình đoàn kết chiến đấu Việt — Lào ngày càng gắn bó chặt chẽ. Trong những ngày đầu kháng chiến, các lực lượng vũ trang Khu 4 gặp muôn vàn khó khăn nhưng đã giành được những thắng lợi quan trọng, bắt gọn quân Pháp ở Vinh, 50 ngày bao vây quân Pháp ở Huế, tiêu diệt một bộ phận quân Pháp khi chúng tới giải vây Huế và đánh chiếm Bình-Trị-Thiên, tham gia mặt trận miền tây. Với lực lượng trên 8.000 quân, sau bốn tháng tiến công, quân Pháp mới chiếm được những thành phố, thị xã, huyện lỵ, các đường giao thông chiến lược quan trọng và chỉ một phần nông thôn đồng bằng, nhưng đã phải trả giá với trên 1.000 quân bị diệt. ________________________________________________ 1. Mỗi người dân ở Mường Hương (Lào) giáp Mỹ Lý (tây Nghệ An) phải nộp thuế ba ki-lô-gam thuốc phiện, 100 đồng bạc Đông Dương và 50 ki-lô-gam gạo. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Chín, 2024, 07:20:38 pm II. KHÔI PHỤC NHANH CHÓNG LỰC LƯỢNG KHÁNG CHIẾN Ở TIỀN TUYẾN Tháng 4 năm 1947, sau khi chiếm đóng Hà Nội, mở thông đường số 5, nối liền Hà Nội — Hải Phòng, giải tỏa Nam Định, quân Pháp đánh rộng ra các vùng xung quanh như Hà Đông, Phủ Lý. Ở miền Nam, quân địch lấn chiếm một số vùng ở đồng bằng sông Cửu Long và nam Trung Bộ. Ở Khu 4, Khu 5, quân địch chiếm Bình —Trị — Thiên, Đà Nẵng, một phần Quảng Nam nối thông con đường chiến lược từ cảng Đà Nẵng, Đông Hà, Xà-vẳn-nạ-khệt. Cùng thời gian này, cơ quan lãnh đạo, chỉ huy Khu 4 cũng có thay đổi: đồng chí Nguyễn Sơn làm Khu trưởng, đồng chí Vương Thừa Vũ Khu phó, đồng chí Nguyễn Sĩ Tuấn, tham mưu trưởng Khu. Ở Bình —Trị —Thiên, quân Pháp xúc tiến kế hoạch bình định và mở rộng vùng chiếm đóng. Bộ tư lệnh bắcTrung Bộ đóng ở Huế do tên tướng Lơ Bơ-rít cầm đầu. Quân Pháp chia Bình - Trị - Thiên thành ba phân khu. Phân khu Quảng Bình, phân khu Quảng Trị và phân khu Thừa Thiên. Mỗi phân khu chia thành các tiểu khu, trong từng tiểu khu, địch bố trí hệ thống cứ điểm lớn, tháp canh. Quân địch bố trí các hệ thống pháo binh để khống chế chiến khu, vùng du kích và vùng tự do của ta. Tổng số binh lính địch trên địa bàn bắc Trung Bộ có 8.000 tên gồm cả lính Pháp, Đức, Ma-rốc, khố đỏ, bảo vệ quân. Quảng Bình có gần 2.000 tên. Quảng Trị có gần 3.000 tên, Thừa Thiên trên 3.000 tên. Quân Pháp tổ chức bộ máy ngụy quyền từ xứ, tỉnh, huyện đến xã, thôn. Chúng lập ra hội đồng tham nghị lâm thời và hội đồng chấp chính lâm thời Trung Kỳ. Bộ máy ngụy quyền gồm những tên Việt gian đầu sỏ, bọn đội lốt tôn giáo như Trần Văn Lý, bọn địa chủ cường hào, quan lại như Trần Thanh Đạt, Hà Xuân Hải, Nguyễn Khoa Toàn, bọn chuyên nghề mật thám như Rơ-ne Hạnh, bọn lưu manh mới mọc lên như Năm Ôn. Cùng với các tổ chức chính trị phản động như Quốc dân đảng, Liên đoàn công giáo, Quốc gia liên hiệp... địch còn tổ chức Việt binh đoàn, Hương vệ, Bảo vệ quân... Tổng số Bảo vệ quân ở Bình —Trị — Thiên có trên 2.000 tên. Mỗi làng có trên 30 hương vệ được trang bị một ít súng và lựu đạn. Giặc Pháp càn quét rất ác liệt, chúng dùng chính sách đốt sạch, phá sạch, giết sạch đàn áp khủng bố nhân dân, phá hoại về kinh tế, làm cho nhân dân chết dần, chết mòn vì đói, rét, bệnh tật. Chúng xâm nhập văn hóa đồi trụy, khuyến khích cờ bạc, dùng rượu cồn, thuốc phiện để đầu độc nhân dân, chúng điên cuồng lồng lộn càn quét khủng bố khắp nơi. Chúng dựa vào bọn Việt gian lập danh sách những cán bộ chủ trì của xã, huyện, đặt giải thưởng từ 100 đồng đến 5.000 đồng nếu ai chỉ điểm để bắt hoặc giết một cán bộ. Ở Thừa Thiên kho vũ khí, bom, mìn, kho thuốc súng của ta đang di chuyển lên miền tây thì bị bọn chó săn dẫn quân Pháp đến lấy chở về Huế. Địch còn cướp kho thóc dự trữ 400 tấn của ta. Cả Thừa Thiên chỉ còn hai tấn gạo, mà số người ăn, bao gồm cán bộ, công nhân viên, bộ đội, tự vệ chiến đấu, công nhân cơ xưởng... có đến trên 2.000. Ở Quảng Trị, Quảng Bình cũng rất khó khăn về lương thực. Vấn đề nguy ngập nhất ở Bình-Trị-Thiên lúc này là cán bộ, đảng viên không bám đất, bám dân để lãnh đạo kháng chiến. Cán bộ xã không liên lạc được với cấp trên. Một số vùng, số đông đảng viên lẩn tránh vào rừng hoặc chạy sang những vùng chưa có chiến sự. Sau khi mặt trận Huế vỡ, đảng bộ huyện Hương Thủy từ 170 đảng viên còn 30, Phú Vang từ 193 đảng viên còn 23, Hương Trà còn 20 đảng viên1. Trung đoàn Cao Vân (Thừa Thiên) giảm sút sức chiến đấu nghiêm trọng. Tiểu đoàn 18 chỉ còn hai trung đội. Vũ khí mất mát nhiều... Tiểu đoàn Lê Trực (Quảng Bình) rút lên núi. Dân quân tự vệ nhiều nơi tan rã. Nhân dân nhiều vùng hoang mang. Ở những nơi đó, tiếng súng kháng chiến tạm thời lắng xuống. Trước tình hình nguy ngập như vậy, đầu tháng 3 năm 1947 một số cán bộ, đảng viên thuộc đảng bộ Thừa Thiên kịp thời họp đề ra những nhiệm vụ cấp bách: Tập hợp nhanh chóng các cán bộ, đảng viên thất lạc trở về, củng cố tổ chức đảng, chính quyền ở cơ sở; phát động chiến tranh du kích, lập đội công an vũ trang lấy tên là «Đội danh dự», tiến hành diệt tề trừ gian, nhanh chóng tập hợp bộ đội, dân quân tự vệ, chọn những người gan dạ lập đội “Quyết tử quân” đánh ngay một trận quyết không để tắt lâu tiếng súng kháng chiến. Hội nghị giao cho đồng chí Hà Văn Lâu và đồng chí Trần Quý Hai tổ chức trận đánh. Trước đêm nổ súng, 20 chiến sĩ «Quyết tử quân» cải trang thành dân thường, bí mật ở nhà cụ Học, một gia đình cơ sở cách mạng trong thành phố Huế. 23 giờ ngày 24 tháng 3 năm 1947, phân đội bất ngờ tấn công đồn Hộ Thành. Sau 20 phút chiến đấu, 20 tên Việt gian, ba tên Pháp bị giết. Quân ta rải truyền đơn, rồi rút về căn cứ. Trận đánh này gây ảnh hưởng chính trị lớn trong thành phố Huế và lan đi nhanh chóng ra các phủ, huyện, gây lo sợ trong chính quyền bù nhìn, tạo niềm phấn khởi trong nhân dân. Ngày 25 tháng 3, hội nghị cán bộ đảng tỉnh Thừa Thiên họp tại Nam Dương (Triều Dương. Vĩnh Nậy, Quảng Điền) do đồng chí Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên triệu tập và chủ trì hội nghị. Các đồng chí Nguyễn Sơn, phó bí thư tỉnh ủy, Hoàng Anh chủ tịch tỉnh, Hoàng Phương Thảo, Trần Thọ, Lâm Mộng Quang, Trần Quý Hai, Lạc Cò dự hội nghị. Hội nghị đề ra những chủ trương chính: 1. Tiếp tục tiếng súng kháng chiến, phá chính sách bình định của giặc, tiến hành trừ gian, phá tề. 2. Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cất giấu lương thực, canh gác để làm ăn, tiếp tế chiến khu. 3. Củng cố, xây dựng lại cơ sở, đưa cán bộ, đảng viên trẻ về địa phương cũ để hoạt động, nắm lấy quần chúng nhân dân để kháng chiến, chấn chỉnh quân đội, dân quân tự vệ, chỉnh đốn ủy ban, kiện toàn sự lãnh đạo của Đảng. Hội nghi đặc biệt nhấn mạnh: Phải nhanh chóng bám cơ sở đánh địch bằng cách đánh du kích. Cán bộ, đảng viên, bộ đội kiên quyết trở lại đồng bằng, bám đất, bám dân nhanh chóng khôi phục lực lượng kháng chiến. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh nhắc nhờ cán bộ đảng viên «Mất đất chưa phải là mất nước. Chúng ta phải tranh thủ từng người, từng thôn. Chúng ta không để mất dân, chết cũng không rời cơ sở. Chúng ta nhất định thắng». Đây là cuộc hội nghị lịch sử của Thừa Thiên. Hội nghị này đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng có ý nghĩa quyết định công tác lãnh đạo của đảng bộ, kịp thời ngăn chặn bước đi xuống của phong trào, đưa cuộc kháng chiến ở Thừa Thiên từng bước đi lên. Để khuếch trương thắng lợi, hội nghị giao cho trung đoàn Cao Vân tổ chức «đánh một trận ra hồn», tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí. ________________________________________________ 1. Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên ngày đầu kháng chiến (chép tay). Lưu trữ Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Bình — Trị — Thiên. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Chín, 2024, 08:18:55 pm Ngày 29 tháng 3, một số cán bộ, chiến sĩ được tuyển chọn trong hai tiểu đoàn 16 và 18 thuộc trung đoàn Cao Vân tiến công đồn Đất Đỏ. Nhờ làm tốt công tác địch vận, ta vận động được lý trưởng đưa chiến sĩ biệt động đội vào làm bồi bếp và phục dịch trong vị trí để làm nội ứng. Đến bữa ăn tối, những người phục dịch đó ném bốn quả lựu đạn vào giữa bàn ăn của lính Pháp. Nhiều tên chết tại chỗ. Nghe tiếng lựu đạn nổ, bốn tiểu đội phục sẵn bên ngoài vị trí lập tức xông vào. Trận ác chiến diễn ra trong bốn giờ liền, đến 22 giờ ta tiêu diệt được trung đội lính Pháp, bắt được một hạ sĩ quan Pháp, thu toàn bộ vũ khí gồm năm súng cối 60 mi-li-mét, một đại liên, hai trung liên, ba tiểu liên tôm-son, 11 súng trường, sáu súng lục, 150 quả lựu đạn, nhiều đạn và quân trang, quân dụng. Ta phá đồn và giải thoát đồng bào bị bắt làm phu ở đây. Chiến thắng Đất Đỏ được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng biểu dương: “... Chiến thuật của ta lúc này cũng phải tranh thủ tiến công... Trong tiến công ta phải đánh tiêu diệt. Trận Đất Đỏ là trận đánh tiêu diệt”1. Trận Đất Đỏ là một trận thắng giòn giã, mở đầu việc chuyển hướng cách đánh của bộ đội chủ lực và dân quân địa phương. Nó biểu hiện quyết tâm cao của cán bộ, chiến sĩ quyết đánh và biết đánh một đối tượng mạnh hơn về quân sự, lại được bố trí chặt chẽ. Số vũ khí ta thu được trong trận Đất Đỏ đã góp phần trang bị thêm vũ khí cho bộ đội, dân quân tự vệ, phát triển chiến tranh du kích sau này. Cùng với Hộ Thành, trận thắng Đất Đỏ mở màn cho bộ đội Bình —Trị — Thiên về cách đánh địch bằng binh vận, xây dựng cơ sở kháng chiến ngay trong sào huyệt địch. Trận Hộ Thành, Đất Đỏ có tiếng vang về quân sự, có ảnh hưởng lớn về chính trị, mang lại trong nhân dânThừa Thiên — Huế một niềm tin: «Đảng về rồi», «Chính quyền cách mạng về rồi», «Bộ đội Cụ Hồ về rồi». Giữa đêm tối đầy khủng bố, đàn áp, giết chóc, chiến thắng Hộ Thành, Đất Đỏ là niềm tin và hy vọng. Dù khó khăn, ác liệt đến mấy, do biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc, bám dân, tin dân, phát động được tinh thần yêu nước của toàn dân, xây dựng lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, làm cho quần chúng nhân dân ý thức được mục đích của cuộc chiến đấu trường kỳ là đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập hoàn toàn cho đất nước. Khi ý Đảng, lòng dân đã quyết, tâm đã đồng thì nó trở thành động lực phi thường để quân và dân Bình — Trị — Thiên vượt lên mọi khó khăn, tiếp tục đứng lên kháng chiến thắng lợi. Ở Quảng Trị, công tác chuẩn bị kháng chiến lâu dài được tiến hành khẩn trương, tích cực. Kế hoạch bố phòng, kế hoạch xây dựng và tác chiến của bộ đội chủ lực, dân quân tự vệ được chuẩn bị đầy đủ hơn. Công tác giáo dục tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện được chú trọng, nên khi chiến sự xảy ra, quân và dân trong tỉnh đều bình tĩnh, vững vàng. Nắm vững phương châm chỉ đạo kháng chiến của Đảng, trung đoàn Thiện Thuật đã tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tiêu hao tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch; phân tán một bộ phận, đồng thời tập trung chỉ đạo, tập trung lực lượng, với trang bị sẵn có, tận dụng các vũ khí tự tạo như bom, mìn, địa lôi... đánh những trận có hiệu suất chiến đấu cao như Rào Quán, Đầu Mầu, thị xã Quảng Trị... Cuối tháng 2 năm 1947, trước tình hình cuộc kháng chiến đang ngày càng gay go quyết liệt, một số cán bộ của đảng bộ Quảng Trị đã họp, gồm các đồng chí Đặng Thí (bí thư tỉnh ủy), Nguyễn Xuân Luyện, Nguyễn Hữu Khiếu, Trần Sâm, Lê Chưởng... kịp thời chủ trương: quyết không để mất dân, địch có thể chiếm đất, địch có thể chiếm được đồng bằng, nhưng ta phải giữ vững vùng rừng núi mà giành giật khu vực đồng bằng đông dân với địch. Địch sẽ ra sức tiêu diệt cơ sở kháng chiến, đánh bạt cán bộ, đảng viên, bộ đội lên núi để lập hội tề, nhưng cán bộ, đảng viên lực lượng vũ trang ta quyết không rời quần chúng, giữ vững các vùng căn cứ đồng bằng, nhất định sẽ bảo toàn được lực lượng. Đảng ủy các cấp một mặt phải nhanh chóng chuyển sang chỉ đạo đấu tranh võ trang, bám đất, bám dân, giữ vững cơ sở, khôi phục lực lượng kháng chiến, lãnh đạo chiến tranh du kích ở địa phương, mặt khác phải kiên quyết đập tan kế hoạch lập ngụy quyền của địch. Cũng như Thừa Thiên và Quảng Trị, ở Quảng Bình quân Pháp dùng mọi thủ đoạn khủng bố, tàn sát nhân dân. Chúng xây đồn bốt dày đặc dọc các đường giao thông chiến lược quan trọng và khắp các thôn xóm, đồng bằng, nhiều đồn bốt địch còn cắm sâu trong vùng rừng núi như Sen Bàng, Khương Hà... Để phong tỏa, cắt đứt liên lạc, triệt đường tiếp tế giữa căn cứ rừng núi với đồng bằng, giữa Quảng Bình với Hà Tĩnh, Nghệ An. Để kịp thời củng cố lực lượng, đẩy mạnh kháng chiến, Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu cử đồng chí Võ Thúc Đồng làm bí thư tỉnh ủy, đồng chí Hoàng Văn Diệm làm chủ tịch, đồng chí Văn Lễ làm tiểu đoàn trưởng. Đầu tháng 4 năm 1947 tỉnh ủy Quảng Bình họp chủ trương: Cán bộ, đảng viên, bộ đội quay về đồng bằng bám đất, bám dân để tiếp tục kháng chiến. Các đại đội của tiểu đoàn Lê Trực được phân tán về các huyện, xã ở đồng bằng cùng cán bộ, đảng viên ở địa phương vừa tuyên truyền củng cố cơ sở đảng, chính quyền, vừa củng cố dân quân, tiến hành chiến tranh du kích. Lực lượng công an phối hợp với bộ đội phá tề, trừ gian. Nhân dân đẩy mạnh sản xuất, chống đói, tiếp tế lên chiến khu. Để chống âm mưu địch càn quét, mở rộng vùng chiếm đóng, nhân dân xây dựng nhiều làng chiến đấu. Làng chiến đấu Cự Nẫm (huyện Bố Trạch) thành làng chiến đấu kiểu mẫu. Trên cơ sở nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng, quan điểm quần chúng, tư tưởng cách mạng tiến công của Đảng, khẩu hiệu “Về đồng bằng” là đúng đắn, sáng tạo, thể hiện sự kiên định và nhạy bén của các cấp ủy đảng ở địa phương. _____________________________________________ 1. Phông Khu 4 — Lưu trữ K4 Bộ quốc phòng, hồ sơ 355. tờ. 25. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Chín, 2024, 08:22:51 pm Để khôi phục nhanh chóng lực lượng kháng chiến, Bộ chỉ huy Khu 4 chỉ rõ: “...Muốn giải quyết vấn đề Bình - Trị - Thiên bằng cách chỉ dùng quân đội chiến đấu với giặc thì không những chúng ta chưa đủ sức đuổi giặc ra các cứ điểm nhỏ mà còn sao lãng cả vấn đề nhân dân. Chúng ta phải có một chủ trương rõ rệt, có một sự phối hợp chặt chẽ giữa quân sự và chính trị, có sự lãnh đạo phong trào kháng chiến một cách toàn diện và thống nhất. Chúng ta phải củng cố hàng ngũ nhân dân, giáo dục nhân dân đánh giặc, tránh giặc, cất giấu của cải mỗi khi giặc đến. Chúng ta phải vũ trang nhân dân, phát triển dân quân xã là cơ sở của cuộc kháng chiến, làm cho nhân dân tham gia đánh giặc thực sự... »1. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các tỉnh ủy và chỉ thị của Bộ chỉ huy Khu, cán bộ, đảng viên các cơ quan dân, chính, Đảng cùng với cán bộ, chiến sĩ các trung đoàn Cao Vân, Thiện Thuật, tiểu đoàn Lê Trực đã quay về đồng bằng bám đất, bám dân, phục hồi lực lượng kháng chiến. Giữa vòng vây của quân thù, giặc Pháp càn đi quét lại liên miên, bọn Việt gian, mật thám lùng sục tận thôn xóm, việc đột nhập trở về đồng bằng của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ là một việc vô cùng nguy hiểm, gian khổ và ác liệt. Ban ngày phải nằm bờ nằm bụi ở ngoài đồng, hoặc ẩn nấp giữa cồn cát nóng, sẵn sàng chịu đựng cái đói, cái rét, cả bệnh tật hoành hành. Ban đêm mới len lỏi vào tận thôn xóm, tuyên truyền giác ngộ nhân dân, bắt mối gây cơ sở, củng cố dân quân tự vệ. Nhiều đảng viên, cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt tra tấn cực kỳ dã man vẫn kiên cường, bất khuất. Ở Phú Lộc (Thừa Thiên) địch giết đồng chí Lê Cam, một cán bộ bộ đội. Để uy hiếp tinh thần của nhân dân, địch bêu đầu đồng chí Cam trên cây lồ ô vót nhọn đem đi khắp các chợ. Thi hài đồng chí còn bị địch chặt làm ba khúc, chôn ba nơi quanh đồn giặc. Quân địch hăm dọa đồng bào, ai đến gần, thắp hương, tỏ lòng thương tiếc sẽ bị xử bắn. Nhưng đồng bào thôn Mỹ Lợi đã vận động được binh lính địch giúp đỡ, tập trung thi hài đồng chí Cam mang về chôn cất chu đáo. Quân địch bắt được đồng chí Do, cán bộ chỉ đạo phong trào huyện Phú Vang, tra tấn cực kỳ dã man nhưng không moi được một tin tức gì. Đồng chí chửi thẳng vào mặt quân giặc «Chúng bay là quân cướp nước! Loài dã man!». Địch cắm cọc bêu đầu đồng chí Do ở chợ, cả làng Diên Trường thương khóc, lập bàn thờ thắp hương mặc niệm hương hồn đồng chí. Tinh thần anh dũng kiên cường, bất khuất hy sinh vì dân vì nước của cán bộ, chiến sĩ đã thu phục được lòng thương yêu, kính trọng của nhân dân. Mặc dù bị địch kìm kẹp gắt gao, nhân dân vẫn tin tưởng vào Đảng, Bác Hồ, coi bộ đội là con, em ruột thịt của mình. Hành động dã man của giặc càng nung nấu quyết tâm sắt đá tham gia kháng chiến của nhân dân. Mũi nhọn căm thù vẫn chĩa về phía bọn thực dân xâm lược Pháp. Các cơ sở Đảng, chính quyền dần dần được khôi phục. Lực lượng dân quân, tự vệ từng bước được củng cố. Thừa Thiên có sáng kiến thành lập «Quyết tử quân» tập trung một số bộ đội, hợp lực với số tự vệ địa phương thành những đơn vị chiến đấu nhỏ, mạnh. Các đội «Quyết tử quân» đã chặn đánh các toán địch đi lùng sục lẻ tẻ, bảo vệ chính quyền và cấp ủy đảng địa phương, bảo vệ tính mệnh và tài sản của đồng bào và đêm đêm đi quấy rối hoặc tập kích các vị trí địch. Các đội «Quyết tử quân» trải qua những cuộc chiến đấu sôi nổi, ngày càng trưởng thành. Ở Quảng Trị, có sáng kiến thành lập «Biệt động đội». Biệt động đội gồm một số bộ đội, tự vệ chiến đấu, đoàn viên thanh niên cứu quốc, đội viên thiếu niên tiền phong hăng hái dũng cảm chiến đấu. «Biệt động đội» bám chặt cơ sở, chống càn quét, bảo vệ nhân dân, tiêu diệt những toán địch nhỏ lẻ, cướp vũ khí để trang bị cho mình, gây dựng cơ sở dân quân tiến hành chiến tranh du kích. Ở Quảng Bình lại có sáng kiến thành lập đơn vị «Dân quân thường trực» bao gồm những thanh niên khỏe mạnh, nhiệt tình hăng hái, dũng cảm, lựa chọn trong hàng ngũ dân quân. Dân quân thường trực có nhiệm vụ bảo vệ cấp ủy Đảng, chính quyền, bảo vệ nhân dân, chống các cuộc càn quét, phá âm mưu lập hội tề của địch. Các đội «Quyết tử quân», «Biệt động đội», «Dân quân thường trực» chiến đấu rất anh dũng, đã gây được ảnh hưởng tốt trong nhân dân và có một tác dụng quan trọng trong việc khôi phục nhanh chóng lực lượng kháng chiến trong năm đầu kháng chiến ở Bình — Trị — Thiên Sau một thời gian khi lực lượng kháng chiến đã lớn mạnh, hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trạng đã được khôi phục, hình thức tổ chức «Biệt động đội» và «Quyết tử quân» ở Thừa Thiên, Quảng Trị không thích hợp nữa, các đơn vị bộ đội được bổ sung về các trung đoàn để thành lập các đơn vị theo hệ thống bộ đội, đội viên “Quyết tử quân”, «Biệt động đội» còn lại biến chế thành những đơn vị dân quân thường trực ở các địa phương hoặc chuyển thành công an. Tổ chức «Dân quân thường trục» của Quảng Bình vẫn duy trì, nhưng tổ chức chặt chẽ hơn, trang bị mạnh hơn, nhờ lấy vũ khí địch trang bị cho mình. Chiến tranh du kích phát triển ngày càng mạnh ở Bình - Trị - Thiên. Các trận đánh nhỏ lẻ diễn ra liên tiếp. Ngày 28 tháng 3 các chiến sĩ «Biệt động đội» giật mìn phá một xe vận tải, giết ba tên Pháp ở Khe Sanh. Ngày 8 tháng 4, một tiểu đội “Quyết tử quân” phối hợp với dân quân Phong Điền phục kích ở Bến Đốt trên sông Phò Trạch (Thừa Thiên), đánh đắm một thuyền chở lương thực, giết hai tên Pháp, làm bị thương hai tên khác, thu hai súng cối 60 mi-li-mét, ba tiểu liên tôm-sơn, một súng trường Mỹ... Để đẩy mạnh chiến tranh du kích, dân quân tự vệ ngày càng được củng cố, phát triển. Tháng 5 năm 1947. Bộ chỉ huy Khu 4 tổ chức học tập sâu rộng trong các lực lượng vũ trang địa phương bức thư của Bác Hồ gửi hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ nhất: «…Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã»2. _______________________________________________ 1. Trích Bản tổng kết chiến sự từ 19 tháng 12 năm 1946 đến tháng 7 năm 1948, đồng chí Trần Văn Quang, chính trị ủy viên Khu 4. 2. Hồ Chí Minh. Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H.1970, tr. 174. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Chín, 2024, 08:25:33 pm Nhận rõ tầm quan trọng đặc biệt và vai trò chiến lược của dân quân tự vệ, các cấp ủy Đảng trong khu càng chăm lo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, làm nòng cốt cho phong trào «toàn dân đánh giặc» ở cơ sở. Cũng từ đây quân giặc mỗi lần vào thôn xóm, đốt nhà, cướp của, chém giết nhân dân, hãm hiếp phụ nữ, bắt thanh niên đi lính đều bị trừng trị. Dân quân Minh Lễ (huyện Quảng Trạch) phối hợp với bộ đội Lê Trực đánh địch càn quét ở thôn Chung Anh, giết 12 tên Pháp và 30 Việt gian. Dân quân có nhiều cách đánh mưu trí, sáng tạo. Phong trào «cướp súng Tây đánh Tây», nhất là phong trào «Úm hè» được phát động học tập khắp nơi. Không có vũ khí đánh địch, một tổ dân quân Quảng Trị liền nghĩ cách dùng vỏ chai, giả vờ chôn mìn giữa đường số 9. Một chiếc xe Jeep thấy hiện tượng khả nghi dừng lại. Tên sĩ quan và hai tên lính bước ra khỏi xe. Tổ dân quân đã bí mật phục kích sẵn bên đường, lập tức vác đại đao xông ra giết cả ba tên, đốt xe, lấy được một súng ngắn, hai súng trường. Ngày 15 tháng 6, tổ dân quân xã Thanh Lam (Hương Thủy) do chính trị viên xã đội chỉ huy, gánh phân ra ruộng, khi đến gần ba lính ngụy tuần tra đường sắt, đồng chí chỉ huy vội đặt gánh giả vờ nghỉ để chuyện trò với lính và nói «Om hè», lập tức tổ dân quân xông vào, quật ngã cả ba tên, lấy được ba súng. Các lối đánh du kích do «Biệt động đội», “Quyết tử quân” của các đơn vị nhỏ ở các trung đoàn Cao Vân, Thiện Thuật, tiểu đoàn Lê Trực ngày càng sôi nổi, nhất là trong các đợt thi đua lập thành tích chào mừng các ngày kỷ niệm lớn của đất nước. Lập thành tích kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh, đêm 16 tháng 8, ta tấn công đồn Minh Lễ, giết 17 tên Pháp. Ngày 24 tháng 9 ta tiến công vị trí Xóm Xoài giết 30 tên Pháp và ngụy, trong đó có tên quan ba Đờ Séc-tô. Trên 100 tên địch ở vị trí Nhĩ Hạ, chợ Cầu càn quét làng Cẩm Phổ (Gio Linh). Trung đội 1 của đại đội 149 và trung đội 12 của đại đội 150 chặn đánh quyết liệt và khôn khéo. Trận càn thất bại, 14 tên Pháp bị giết, có một thiếu úy, một chuẩn úy, nhiều tên khác bị thương. Ta thu một trung liên, tám súng trường. Vừa đẩy mạnh tác chiến, các lực lượng vũ trang vừa tuyên truyền, giúp đỡ nhân dân lập làng chiến đấu. Làng chiến đấu Cự Nẫm thuộc huyện Bố Trạch (Quảng Bình) nằm trên đường tỉnh lộ Hoàn Lão — Khương Hà — Xuân Sơn là làng chiến đấu tiêu biểu của Quảng Bình và của cả Khu 4. Làng Cự Nẫm có chi bộ đảng gồm bảy đảng viên trực tiếp lãnh đạo chiến đấu, sản xuất. Được sự giúp đỡ của đại đội 3 tiểu đoàn Lê Trực, cấp ủy đảng, chính quyền phát động toàn dân xây dựng làng chiến đấu. Lực lượng vũ trang gồm một tiểu đội dân quân thường trực, được huấn luyện thành thạo kỹ thuật bắn súng, ném lựu đạn, cách sử dụng các loại vũ khí tự tạo như bom mìn, địa lôi, bàn chông. Ở đây có hai trung đội dân quân phục vụ chiến đấu. Nhân dân rào làng bằng tre gỗ, đào hào giao thông và nhiều hố chiến đấu để vận động đánh địch cả ngoài làng và trong làng. Dân quân lập chòi cao quan sát để báo động khi phát hiện địch từ xa. Trước khi địch vào làng càn quét, tiểu đội dân quân thường trực đã triển khai ra vị trí chiến đấu. Một tổ dân quân theo giao thông hào dẫn người già, trẻ em tản ra một nơi bí mật cách làng không xa, đã được chuẩn bị chu đáo từ trước (có hầm giấu gạo, vò đựng nước, bếp nấu ăn, chuồng nuôi lợn, gà, vịt). Nhờ vậy, ngay trong trận đầu, làng chiến đấu Cự Nẫm đã chủ động đánh địch và thắng địch. Ngày 7 tháng 5, trung đội lính Pháp khoảng 30 tên kéo vào làng Cự Nẫm càn quét, lập hội tề. Dân quân phối hợp với bộ đội đã chặn đánh quvết liệt, giết 10 tên và làm bị thương nhiều tên khác. Âm mưu lập hội tề của chúng bị thất bại. Làng chiến đấu Cự Nẫm được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương vì “đã huy động lực lượng của toàn dân lập làng Cự Nẫm thành một làng chiến đấu kiểu mẫu và nhờ đó đã đương đầu một cách anh dũng với giặc trong năm đầu cuộc kháng chiến». Bộ chỉ huy Khu 4 cũng đã phát động các địa phương học tập Làng chiến đấu kiểu mẫu Cự Nẫm. Đi đôi với đánh tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, vấn đề trừ gian, phá tề là một nhiệm vụ cấp bách và rất quan trọng. Dân quân, bộ đội phối hợp với các «Đội danh dự» của công an phá âm mưu lập chính quyền bù nhìn của địch. Có nơi bọn tề mới mọc lên ngày hôm trước, tối hôm sau đã bị trừng trị như Lý Châu, Thanh Thủy Thượng. Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu còn chỉ rõ: «Chính sách trừ gian, phá tề không phải chỉ có xử phạt mà còn phải cảm hóa, lôi kéo họ về với dân tộc»1. Phải giáo dục cho bọn tề, ngụy, Việt gian thấy rõ sức mạnh chính nghĩa thuộc về nhân dân, sức mạnh «Toàn dân đánh giặc» là vô địch, thấy rõ chính sách khoan hồng của Chính phủ và Hồ Chủ tịch để họ từ bỏ con đường làm tay sai cho giặc, quay về phục vụ Tổ quốc, giống nòi. Có nơi như ở Võ Xá (Thừa Thiên), ta vận động được hội tề lập công chuộc tội. Ngày 13 tháng 7 lý trưởng Võ Xá lên đồn báo với Pháp «Việt Minh về” và dẫn quân giặc đi vào chỗ bộ đội, dân quân pbục kích. Kết quả ta diệt 33 lính Pháp, 15 lính ngụy, có tên trung úy Sa-vê bị bắt cùng 13 lính ngụy khác và một hạ sĩ quan Pháp, thu một trung liên, năm tiểu liên, chín súng trường. Nhiều tên Việt gian đầu sỏ có nhiều nợ máu với nhân dân bị nghiêm trị, như tên Thái Nguyễn Trinh, tri huyện Hương Trà, hai anh em tên Lý Nhân ở Bảo Vinh. Tuy nhiên có nơi quá tả trong công tác phá tề như ở Hương Thủy (Thừa Thiên). Những biểu hiện sai trái đã được kịp thời uốn nắn, sửa chữa. Nhằm tập trung chỉ đạo cuộc kháng chiến, ngày 28 tháng 7 ủy ban hành chính cấp khu, tỉnh, huyện, xã thành ủy ban kháng chiến hành chính. Trung ương đã chỉ định các đồng chí phụ trách: — Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Khu, đồng chí Hồ Tùng Mậu. — Ủy viên hành chính Khu, đồng chí Trần Hữu Dực. — Ủy viên quân sự Khu, đồng chí Nguyễn Sơn. — Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên, đồng chí Hoàng Anh. — Chủ tịch tỉnh Quảng Trị, đồng chí Nguyễn Xuân Luyện. — Chủ tịch tỉnh Quảng Bình, đồng chí Hoàng Văn Diệm. — Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh, đồng chí Trần Hữu Duyệt. — Chủ tịch tỉnh Nghệ An, đồng chí Lê Viết Lượng. — Chủ tịch tỉnh Thanh Hóa, đồng chí Đặng Việt Châu. Để chỉ huy thống nhất các lực lượng đóng trong tỉnh, mỗi tỉnh có một ban chỉ huy tác chiến chung gồm: — Chỉ huy trưởng: đồng chí trung đoàn trưởng. — Chính trị viên: đồng chí chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh. — Phó chỉ huy: đồng chí tỉnh đội trưởng. Sự thống nhất ủy ban kháng chiến hành chính các cấp, sự chỉ huy thống nhất của ban chỉ huy tác chiến chung đã tăng cường hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy, tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến ở các địa phương ngày càng giành nhiều thắng lợi. ______________________________________________ 1. Hội nghị cán bộ Khu 4 - 28 tháng 7 năm 1947. Lưu trữ Phông Khu 4, K4 Bộ Quốc phòng, hồ sơ 210, tờ. 18. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Chín, 2024, 08:27:36 pm * * * Ngay trong năm đầu kháng chiến, quân và dân ta đã phải trải qua những gian khổ và ác liệt về nhiều mặt. Âm mưu độc ác của đế quốc Pháp không những bắn giết nhân dân ta bằng bom, đạn mà chúng còn muốn làm cho nhân dân ta chết dần, chết mòn vì đói, rét, bệnh tật như tên tướng thực dân cáo già Lơ-bơ-rít tuyên bố: «Làm cho dân chúng chết đói để dễ bề cai tri». Ở Bình — Trị — Thiên, thôn xóm, nhà cửa bị đốt cháy gần hết. Dân sửa nhà, địch đốt phá, đồng bào làm đi làm lại năm, bảy lần vẫn không nản. Đồng bào nghĩ cách làm nhà tháo, lắp dễ dàng. Nhà gồm mấy tấm cửa, mấy tấm phên, mấy tấm tranh móc ráp lại. Khi giặc đến, nhân dân quẳng dưới ao hoặc ngoài ruộng, trên nền chỉ trơ mấy cái cột. Giặc phát hiện được vớt lên phá nát. Đồng bào vẫn kiên trì làm lại nhà. Hơn lúc nào hết tình làng, nghĩa xóm mặn nồng, chung thủy, bà con đi xa 10 đến 15 ki-lô-mét cắt giúp nhau ít tranh, hoặc giúp nhau một vài cây tre. Tuy nhiên ở nhiều nơi không thể làm được nhà như ở Phú Vang, Hải Lăng... nhiều gia đình phải ở ngoài bụi cây. Đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Cơm không đủ ăn, áo quần vá chằng vá đụp. Ngoài đồng vắng bóng người, vắng trâu, bò cày bừa. Địch cho xe ô tô chạy bừa lên ruộng lúa, giặc bắt tập trung lúa lên đồn và hạ lệnh: «Ai trữ lúa ăn quá ba ngày, bắn». Quân địch còn bắt nhân dân đóng nhiều thứ thuế: Thuế đinh, mỗi người 20 đồng, thuế điền thổ, mỗi tháng 0,5 đồng một thước. Thuế ánh sáng, mỗi tháng năm đồng, thuế vệ sinh, mỗi tháng hai đồng, thuế xe kéo, mỗi tháng 20 đồng, v.v. Địch bắt nhân dân phải tiêu bạc Đông Dương. Đồng bạc Việt Nam của ta bị địch xé, nhưng đồng bào vẫn tiêu dùng. Đời sống nhân dân càng đói khổ bao nhiêu, đời sống bộ đội càng gian khổ bấy nhiêu. Thu đông 1947, bộ đội Bình - Trị - Thiên phải chịu đựng cái đói, cái rét ghê gớm. Thóc gạo không còn, ngô khoai chỉ có một ít, áo quần, chăn chiếu cũng không còn. Ở chiến khu Truồi (Thừa Thiên), địch phong tỏa mọi nẻo đường tiếp tế. Lương thực chỉ còn một ít ngô sắn. Áo quần rách như xơ mướp. Ban đêm phải đốt củi nằm cho ấm. Mặc dù đói, rét, anh em vẫn bám trụ, quyết giữ vững chiến khu. Ở chiến khu Hòa Mỹ, Ba Lòng, khẩu phần mỗi người một ngày chỉ được vài vắt cơm bằng quả trứng. Khi hết gạo, mỗi người chỉ được ăn vài khúc sắn nhỏ. Ghẻ lở đầy người. Chấy rận phát sinh nhiều. Trong lúc cái đói, cái rét đang đe dọa nhân dân, bộ đội, giặc Pháp lại tập trung lực lượng mở rộng vùng chiếm đóng. Chúng củng cố Ba Đồn, đánh chiếm Hướng Phương, Tiên Lang, Cương Hà, Xuân Sơn, Hà Lồi, Troóc, làm bàn đạp đánh ra Hà Tĩnh, cắt đường tiếp tế của ta từ Nghệ Tĩnh vào Tuyên Hóa qua Ba Lùm, Ba Lòi, U Bò (nam Quảng Bình). Để chi viện chiến trường Bình — Trị — Thiên, Khu ủy đã điều động nhiều đơn vị dân công chuyển hàng trăm tấn gạo vượt núi Ba Kền ra tiền tuyến. Đường xa, đi bộ, khi đến địa điểm quy định, chẳng những không còn gạo để tiếp tế cho chiến trường mà đoàn dân công phải nhận thêm gần chục tấn gạo của Quảng Bình mới đủ ăn dọc đường trở ra Hà Tĩnh. Với tình nghĩa anh em ruột thịt, nhân dân Thanh — Nghệ — Tĩnh sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, hy sinh, cung cấp cho tiền tuyến Bình — Trị — Thiên đánh thắng. Tiếp tế đường bộ gặp khó khăn, khu ủy và Bộ chỉ huy Khu cho vận chuyển bằng đường biển. Mặc dù quân Pháp phong tỏa gay gắt, các đội vận tải thuyền buồm vẫn cập bến Hương Đạo (Lệ Thủy), Cương Gián, Thái Lai, Rạch Nước (Vĩnh Linh), Gia Đằng (Triệu Phong), Kẻ Môn, Đại Lược (bắc cửa Thuận An)... Ba tháng cuối năm 1947, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã chuyển được vào Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên trêu 100 tấn gạo, 320 tấn muối, 21.000 mét vải, 10.000 viên thuốc sốt rét, 300 súng trường, 35.000 quả lựu đạn, 200 đạn ba-zô-ka. Thanh Hóa còn ủng hộ 1.500.000 đồng. Hà Tĩnh và Nghệ An ủng hộ 2.700.000 đồng. Để đảm bảo nguồn hậu cần tại chỗ của chiến tranh nhân dân, các cấp ủy đảng ở địa phương chủ trương động viên nhân dân và bộ đội cùng đẩy mạnh tăng gia sản xuất. Hai nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất kết hợp chặt chẽ, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Chiến đấu để bảo vệ sản xuất. Đẩy mạnh sản xuất để bồi dưỡng sức chiến đấu kháng chiến lâu dài. Dân quân xã không thoát ly địa phương, nòng cốt xung kích cả trong chiến đấu và sản xuất. Nhờ phát huy tinh thần tự lực, tự cường, quân và dân Bình — Trị — Thiên vượt qua nạn đói. Đêm đêm từng đoàn hàng mấy trăm người gánh gạo tiếp tế cho chiến khu. Trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ ác liệt, quân và dân Khu 4 vẫn lạc quan, tin tưởng, duy trì nếp sống văn hóa vui tươi lành mạnh. Các lớp bình dân học vụ vẫn mở. Có lớp mở ngay gần vị trí địch. Nhân dân cảnh giác chu đáo để sẵn những dụng cụ kéo sợi, dệt vải, đánh cá, khi quân giặc đến, lớp học biến thành phường dệt vải hoặc đánh cá. Các sách báo vẫn ra đều đặn, truyền đi nhịp sống chiến đấu, sản xuất của quân và dân Khu 4. Giữa tiếng đạn nổ, bom rền, lời động viên cổ vũ thi đua ái quốc của Đảng, của Bác Hồ, của Khu ủy, của tỉnh ủy vẫn truyền đến tận từng chiến hào, thôn xóm, làng bản, cả vùng tự do và vùng địch tạm chiếm. Khu có báo Cứu quốc, Chiến sĩ. Thanh Hóa có Truyền tin, Chống giặc. Nghệ An có Truyền thanh, Kháng chiến. Hà Tĩnh có Thông tin, Gọi bạn. Quảng Bình có Truyền tin, Thống nhất. Quảng Trị có Tiếng vang, Địch vận, Người lính. Thừa Thiên có Giết giặc, Tiến quân. Những ngày đầu kháng chiến, Khu 4 là nơi tập trung nhiều vẫn nghệ sĩ ở các tỉnh phía bắc. Nhiều bài hát ca ngợi cuộc kháng chiến thần thánh, tinh thần anh dũng chiến đấu, sản xuất, chi viện tiền tuyến của quân và dân Khu 4, có bài nổi tiếng như «Bình — Trị — Thiên khói lửa» của Nguyễn Văn Thương... Đại hội văn nghệ toàn khu cũng chỉ rõ: Văn hóa, văn nghệ phải đứng trên lập trường dân tộc, dân chủ theo phương châm «Dân tộc — khoa học — đại chúng», nên phong trào văn hóa, văn nghệ Khu 4 ngày càng đi đúng hướng, tích cực động viên quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh, Bình — Trị — Thiên hăng hái thi đua giết giặc lập công. Qua một năm thử thách chưa từng có, với sự nỗ lực vượt bậc của cán bộ, đảng viên, bộ đội, nhan dân, lực lượng kháng chiến ở Bình — Trị — Thiên đã dần dần hồi phục, đảng bộ các cấp đã từng bước củng cố, đội ngũ đảng viên được tôi luyện và phát triển. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Chín, 2024, 08:29:56 pm Sau khi quân Pháp đánh chiếm Thừa Thiên, tháng 2 năm 1947 Đảng bộ Thừa Thiên còn trên 600 đảng viên, đến cuối tháng 9 năm 1947 có trên 1.100 đảng viên. Chính quyền các cấp được củng cố và ngày càng được nhân dân tín nhiệm. Phần lớn ủy ban kháng chiến hành chính các xã ở ba huyện phía nam Thừa Thiên, nơi cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt nhất lại làm việc có nền nếp, tích cực chỉ đạo cuộc kháng chiến hết lòng phục vụ nhân dân. Các lực lượng vũ trang được củng cố. Phần lớn các tiểu đoàn, đại đội được phân tán về các huyện, xã phối hợp với dân quân tự vệ, tổ chức thực hiện chiến tranh du kích ở cơ sở. Trung đoàn Cao Vân được củng cố có đủ ba tiểu đoàn. Tiểu đoàn 18 trước đây chỉ còn hai trung đội, nay có bốn đại đội hoạt động ở khắp nam Thừa Thiên. Tiểu đoàn 17 có ba đại đội ra gần khu để huấn luyện. Tiểu đoàn 16 có một đại đội hoạt động ở huyện Hương Trà và Thuận Hóa, một đại đội tập trung huấn luyện. Đại đội biệt động và liên đội pháo tập trung xây dựng ở Hòa Mỹ bảo vệ chiến khu. Tiểu đoàn tiếp phòng quân mang phiên hiệu tiểu đoàn 328 mặc dầu quân số ít, song vẫn có đủ biên chế bốn đại đội. Trung đoàn Thiện Thuật biên chế đủ ba tiểu đoàn 13, 14, 15. Tiểu đoàn 15 đủ ba đại đội, tập trung xây dựng và bảo vệ chiến khu. Tiểu đoàn 14 cũng ba đại đội hoạt động vũ trang tuyên truyền ở hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng. Tiểu đoàn 13 có ba đại đội hoạt động ở các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ. Tiểu đoàn Lê Trực (Quảng Bình) có tới sáu đại đội. Một đại đội hoạt động ở miền nam Quảng Bình (huyện Lệ Thủy, nam Quảng Ninh). Hai đại đội hoạt động ở khu vực giữa tỉnh (huyện Bố Trạch, bắc Quảng Ninh— Đồng Hới). Ba đại đội hoạt động ở miền tây (Quảng Trạch — Tuyên Hóa). Các tỉnh đều có dân quân và dân quân thường trực. Mỗi huyện có từ một tiểu đội đến một trung đội dân quân thường trực (tỉnh Quảng Trị có một đại đội, huyện Lệ Thủy cũng có tới một đại đội). Tuy vậy, bộ đội ta ở Bình — Trị — Thiên cũng chỉ bằng gần một nửa (43 phần trăm) so với số quân địch. Vũ khí của ta còn rất thiếu, ước tính chỉ bằng sáu phần trăm vũ khí của địch. Tính bình quân cứ ba chiến sĩ mới có một khẩu súng. Vũ khí nặng hầu như chưa có gì. Dân quân ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên cũng chỉ có trên 500 súng trường, 26 tiểu liên, 2.448 quả lựu đạn và trên 100 quả bom. Tính từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 đến ngày 31 tháng 11 năm 1947, các lực lượng vũ trang Bình — Trị — Thiên đã chiến đấu trên 200 trận, tiêu diệt 5.000 tên địch. Bộ đội, dân quân, công an tích cực phá tề, trừ gian, đã thuyết phục được trên 800 hội tề không làm việc cho địch dưới nhiều mức độ, diệt trên 160 ban hội tề khác, nghiêm trị gần 1.500 tên Việt gian. Cách đánh du kích của bộ đội, dân quân ngày càng linh hoạt. Các trung đoàn Cao Vân, Thiện Thuậl, tiểu đoàn Lê Trực liên tiếp tập kích, phục kích bao vây quấy rối địch. Chiến tranh du kích phát triển, làm cho địch mất ăn, mất ngủ. Bộ đội chủ lực có điều kiện xây dựng huấn luyện, chủ động tiến công địch. Ta giữ vững một số vùng đồng bằng đông dân; các khu du kích ở đồng bằng và ven đô thị xuất hiện; ta lại xây dựng nhiều căn cứ chiến khu; hình thái chiến tranh cài răng lược giữa ta và địch ngày càng rõ nét trên chiến trường Bình — Trị — Thiên. Ngày càng có nhiều đơn vị bộ đội, dân quân tự vệ đánh hay, đánh giỏi như tiểu đoàn 14 Quảng Trị, tiểu đoàn 18 Thừa Thiên, đại đội dân quân thường trực Lê Hồng Phong của Quảng Trị, làng chiến đấu Cự Nẫm ở Quảng Bình... Nhiều cán bộ, đảng viên kiên cường, dũng cảm làm rạng rỡ truyền thống chống ngoại xâm oanh liệt của quê hương. Đồng chí Phùng Đông, phó trung đoàn trưởng trung đoàn Cao Vân bị địch bắt. Chúng dùng mọi biện pháp dụ dỗ mua chuộc và tra tấn cực kỳ dã man nhưng đồng chí vẫn giữ vững khí tiết kiên cường và bất khuất. Đồng chí Trần Hồng Trường, bí thư huyện ủy Cam Lộ, một chiến sĩ cách mạng đã từng bị giam ở nhà tù Buôn Ma Thuột hăng say nhiệt tình, sâu sát cơ sở, góp phần quyết định giữ vững phong trào trong huyện trước sự khủng bố rất ác liệt của kẻ thù và đồng chí đã hy sinh anh dũng. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng được phát huy ở mọi lứa tuổi, trên mọi lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi. Gia đình cụ Học, một cơ sở cách mạng ở thành phố Huế, bí mật nuôi các chiến sĩ «Quyết tử quân », để lực lượng này bất ngờ tấn công vào đồn địch, gây náo động ngay tại sào huyệt của chúng. Các mẹ ở Hương Thủy (Thừa Thiên), Ninh Lễ (Quảng Bình) cuốc đất, trồng khoai cấy lúa để nuôi bộ đội. Mẹ Hán1 cũng như nhiều mẹ ở Phong Điền (Thừa Thiên) nhường lon gạo cuối cùng nấu cháo nuôi bộ đội đánh giặc. Những cô gái Vân Kiều dùng gùi cõng chiến sĩ «Biệt động» đường số 9 bị thương, vượt qua đồn địch đưa về căn cứ an toàn. Những cô dân quân gan dạ chèo đò vượt qua bom đạn quân thù. «Thuyền em lên xuống Ba Lòng Chở anh bộ đội qua vùng chiến khu” Em Hãn là chiến sĩ liên lạc của trung đoàn Thiện Thuật. Khi đồng chí chỉ huy và 25 anh, chị dân công vượt qua đoạn đường nguy hiểm, bất ngờ bị địch phục kích, em hô xung phong để kéo hỏa lực địch về phía mình. Đoàn cán bộ và dân công được an toàn, nhưng em Hàn đã anh dũng hy sinh. Trải qua một năm chiến đấu kiên cường, quân dân Bình—Trị—Thiên đã lập công xuất sắc. Cuối năm 1947, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi thư khen ngợi: «Các chiến sĩ thân mến. Từ khi mặt trận lan rộng, quân địch ở Bình — Trị — Thiên chiếm đóng nhiều nơi... Các chiến sĩ đã gan dạ, chịu đựng mọi khó khăn để chặn sức tàn ác của địch. Các chiến sĩ đã thu được nhiều thành tích vẻ vang, song khó khăn vẫn còn nhiều. «Các chiến sĩ. ... Muốn thắng phải noi gương Việt Bắc, phát động một phong trào du kích khắp nơi, chú trọng vũ trang tuyên truyền, phá các hội tề, tiến tới tiêu diệt các cứ điểm nhỏ hoặc lực lượng nhỏ của địch. Mong rằng rồi đây, rất chóng, quân dân toàn quốc và riêng tôi, sẽ được thấy các chiến sĩ Bình — Trị—Thiên chiến thắng một cách oanh liệt»2. Bức thư khen ngợi của Đại tướng Tổng tư lệnh gây một niềm phấn khởi, tin tưởng, động viên cổ vũ mạnh mẽ các lực lượng vũ trang Bình—Trị—Thiên nói riêng, Khu 4 nói chung, hăng hái thi đua lập công trên tất cả các mặt. Lực lượng kháng chiến ngày càng trưởng thành, chiến tranh du kích trên đà phát triển. Quân Pháp không những phải đương đầu với hàng ngàn bộ đội chủ lực, hàng vạn dân quân tự vệ mà với cả sức mạnh hùng hậu của phong trào «Toàn dân đánh giặc». Cùng thời gian này, sau thất bại ở Việt Bắc, quân địch buộc phải thay đổi chiến lược, kéo dài chiến tranh, «lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt». Tuy nhiên ở Bình—Trị—Thiên lúc này, quân Pháp vẫn còn chiếm ưu thế về quân sự. ______________________________________________ 1. Mẹ của đồng chí Nguyễn Chí Thanh. 2. Chiến trường Bình—Trị—Thiên, những ngày đầu kháng chiến. Nhà xuất bản Văn Sử Địa. Lưu trữ thư viện Nghệ Tĩnh. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Chín, 2024, 08:31:36 pm Đầu năm 1948, Trung ương Đảng ra chỉ thị thành lập Phân khu Bình—Trị—Thiên trực thuộc Khu 4. Đây là một chủ trương kịp thời, đúng đắn và sáng suốt. Trung ương chỉ định đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, làm Bí thư Phân khu ủy. Bộ chỉ huy Phân khu Bình—Trị—Thiên chỉ đạo các trung đoàn chủ lực 101, 95, tiểu đoàn 274 cùng các lực lượng vũ trang địa phương hoạt động. Cuối năm 1947, phiên hiệu các đơn vị có thay đổi, trung đoàn Cao Vân đổi thành trung đoàn 101, tiểu đoàn 16 thành tiểu đoàn 319, tiểu đoàn 17 thành tiểu đoàn 328, tiểu đoàn 18 thành tiểu đoàn 227. Trung đoàn Thiện Thuật đổi thành trung đoàn 95, tiểu đoàn 13 thành tiểu đoàn 301, tiểu đoàn 14 thành tiểu đoàn 302, tiểu đoàn 15 thành tiểu đoàn 310, tiểu đoàn Lê Trực thành tiểu đoàn 274. Trung ương chỉ định đồng chí Vương Thừa Vũ làm Phân khu trưởng. Đồng chí Lữ Giang Chính trị ủy viên phân khu. Ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của phân khu được thành lập. Các đại đội quân báo, thông tin, bảo vệ và bệnh xá, xưởng quân giới là những đơn vị trực thuộc phân khu. Trước sự phát triển chiến tranh du kích ở Bình—Trị— Thiên, giặc Pháp điên cuồng tổ chức nhiều cuộc càn quét quy mô lớn, chà đi xát lại từng địa bàn hàng tuần lễ như «Tuần lễ Lê Ninh» ở Quảng Bình, «Tuần lẽ Hải Lăng» ở Quảng Trị, «Tuần lễ Phú Vang» ở Thừa Thiên, hòng tiêu diệt bộ đội, cán bộ, đảng viên, dập tắt phong trào kháng chiến ở địa phương. Giặc Pháp ngày càng dùng nhiều thủ đoạn rất dã man, tàn bạo như chặt người ra nhiều khúc, bêu đầu ở chợ, chọc tiết mổ bụng, xé xác trẻ em, quẳng vào đống lửa, dùng giày đinh dẫm lên cụ già. Nhiều vụ thảm sát rùng rợn xảy ra. Ngày 30 tháng 11 năm 1947, địch huy động trên 200 tên ngụy cùng lực lượng bảo vệ quân ở các đồn Phú Hòa, Xuân Hồ, Thượng Phong, Hòa Nam, Ba Đình, Hòa Lạc đánh vào các thôn Mỹ Trạch, Phú Chánh (Lệ Thủy), đốt trên 400 ngôi nhà, cướp thóc lúa, bắn chết trâu, bò. Chúng bắt 300 người dân chạy trên cầu rồi dùng súng liên thanh nhả đạn, bao nhiêu ông già, bà lão, phụ nữ, trẻ em chết nắm ngổn ngang trên cầu. Chúng còn cướp em bé chưa đầy một tuổi, cầm hai chân xé xác rồi quẳng xuống sông, mẹ em kêu thét, lại bị chúng bắn ngã gục ngay trên nền cầu. Nhiều gia đình ở Mỹ Trạch bị giết hết. Từ đó nhân dân vùng này lấy ngày đó là «Ngày căm giận». Nước mắt còn chưa khô trên đôi má nhăn nheo của bà mẹ Quảng Bình, thì tội ác tầy trời của giặc Pháp lại trùm lên đôi vai gày của bà má Quảng Trị. Các vụ thảm sát rùng rợn ở Hải Châu, Hải Trình, Chợ Cạn lại xảy ra. Ở Chợ Cạn (Triệu Phong, Quảng Trị), quân Pháp dồn dân vào một cái đình rộng, khóa cửa đình lại rồi dùng liên thanh quét, giết trên 600 người dân, phần lớn là ông bà già, phụ nữ, trẻ em và đốt hơn 400 nóc nhà. Ở Thừa Thiên đến tháng 10 năm 1947, giặc Pháp đã đốt trên 5.000 ngôi nhà, giết trên 2.000 người, hãm hiếp hàng ngàn phụ nữ1. Quân địch dùng các đội ứng chiến nhỏ kết hợp với quân chiếm đóng, càn quét khu du kích và vùng tự do ở đồng bằng Thừa Thiên, Quảng Trị, hòng khủng bố, tìm bắt cán bộ. Song các cuộc càn quét của địch dù tàn bạo đến đâu cũng như những cơn bão tràn qua, cuốn đi một số nhà cửa, làm gãy cây cối, phá hoại mùa màng, nhưng không đè bẹp được ý chí, lòng dân kiên định hướng về Cụ Hồ, hướng về kháng chiến. Sau các cuộc càn quét ác liệt ở đồng bằng, cuối tháng 2 năm 1948, quân Pháp liên tục tiến công các chiến khu Bang, Rợn, LệThủy (Quảng Bình), Thủy Ba Thượng, Vĩnh Linh, Cẩm Phổ, Gio Linh, Cùa, Cam Lộ, Hòn Linh, Khe Mương (Quảng Trị), Hòa Mỹ, Lương Miêu (Thừa Thiên). Lúc đầu địch dùng lực lượng khoảng một đại đội hoặc một trung đội, lợi dụng yếu tố bí mật bất ngờ, áp dụng chiến thuật cuốn chiếu, nhảy cóc, đánh nhanh, rút nhanh, càng về sau địch dùng lực lượng lớn hơn, có sức cơ động nhanh, hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của kháng chiến. Ngoài lực lượng bộ binh, địch dùng từng trung đội hoặc đại đội bất ngờ nhảy dù xuống chiến khu. Các trận càn đều thất bại như trận càn vào chiến khu Hòn Linh. Đêm 6 tháng 3, các đơn vị pháo binh địch ở Diên Sanh, Mỹ Chánh bắn mãnh liệt lên chiến khu Hòn Linh hòng chặn đường rút lui của quân ta. Sáng ngày 7 tháng 3, khoảng 500 quân chia làm ba cánh tiến công chiến khu. Tiếp đó năm chiếc máy bay da-cô-ta chở quân nhảy dù xuống xóm Nhà Gỗ, nơi Phân khu ủy và Bộ chỉ huy Phân khu đóng. Biết trước âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của địch, ta có kế hoạch chủ động đối phó nên lực lượng được bảo toàn. Các đơn vị chủ lực ở đồng bằng và tiền chiến khu chủ động tiến công địch trước lúc địch càn quét chiến khu. Phân khu chủ trương để một bộ phận ở chiến khu phối hợp với dân quân địa phương tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Sau các đợt càn quét, địch tuyên truyền rùm beng đã tiêu diệt hết cộng sản ở chiến khu, nhưng mánh khóe lừa bịp của chúng đã không qua tai mắt của nhân dân. Tỷ lệ thương vong của địch khá cao. Bọn chỉ huy Pháp phải công nhận: «Các chiến thuật cổ điển áp dụng từ trước đến nay, chiến thuật gọng kìm đánh chớp nhoáng, ô ạt, không có hiệu quả với rừng núi hiểm trở, với chiến thuật du kích vận động, với tinh thần cảm tử của đối phương». Cùng với chỉ đạo các hoạt động chiến đấu quyết liệt ở tiền tuyến Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Bộ chỉ huy Khu đã chú trọng xây dựng bộ đội ở hậu phương Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh để tiếp tục đưa các đơn vị được huấn luyện cơ bản toàn diện ra phía trước. Để kiểm tra kết quả huấn luyện qua thực tế chiến đấu, đại đội 87 tiểu đoàn 400 trung đoàn 9 cùng một số cán bộ tham mưu từ Thanh - Nghệ - Tĩnh vào chiến trường Bình — Trị — Thiên. Khu còn cử đồng chí Trần Văn Quang, Chính trị ủy viên Khu trực tiếp chỉ huy để rút kinh nghiệm xây dựng, huấn luyện bộ đội. Ngày 7 tháng 4 năm 1948, đại đội 87 phối hợp với một đại đội của trung đoàn 95 vận động phục kích đánh địch càn quét ở làng Đồng Dương (Quảng Trị). Sau một giờ ba mươi phút cán bộ chiến sĩ đại đội 87 đã mưu trí, dũng cảm chiến đấu, diệt gọn hai trung đội địch, trong đó có tên Mon-rê, đồn trưởng đồn Thê Chí Đông, bắt tám tù binh Pháp, năm lính ngụy và 16 hương vệ. Trong những năm đầu kháng chiến ở chiến trường Bình — Trị — Thiên, chiến thắng Đồng Dương lúc này có ý nghĩa lớn về nhiều mặt. Tiếp sau Hộ Thành, Đất Đỏ, trận thắng Đồng Dương càng gây niềm tin tưởng trong nhân dân vùng địch tạm chiếm đối với kháng chiến, với cách mạng. Trận thắng Đồng Dương là một thực tiễn thành công về cách đánh thích hợp — du kích vận động chiến lừa địch ra ngoài đồn bốt để tiêu diệt gọn, bắt tù binh, thu vũ khí. Trận thắng Đồng Dương chứng tỏ: Khi tình hình quân địch ở Bình — Trị — Thiên còn có ưu thế về quân sự, lực lượng ta có hạn, nếu nắm vững quy luật hoạt động của chúng và có cách đánh thích hợp, bộ đội ta vẫn có thể chiến đấu đạt hiệu quả cao. Đây là một thực tiễn sinh động, một bài học thiết thực, động viên cổ vũ các lực lượng vũ trang Khu 4 đẩy mạnh chiến tranh du kích ở Bình — Trị — Thiên phát triển. Chiến thắng Đồng Dương còn nêu lên một kinh nghiệm thực tiễn là vừa chiến đấu, vừa huấn luyện, kết hợp chặt chẽ chiến đấu và huấn luyện, huấn luyện và chiến đấu là một trong những quy luật hoạt động của quân đội ta trong chiến tranh. _____________________________________________ 1. Báo cáo của Ủy ban hành chính Khu 4, 1947. Cục lưu trữ Phủ Thủ tướng, hộp 12. hồ sơ 107, tờ 3. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Chín, 2024, 09:35:50 pm III. XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG CỦNG CỐ VÀ BẢO VỆ VÙNG TỰ DO Sau khi sử dụng lực lượng lớn đánh chiếm Bình — Trị — Thiên, quân Pháp âm mưu mở rộng vùng chiếm đóng cả về phía tây và phía đông của liên khu. Ở phía tây Thanh — Nghệ — Tĩnh, chúng cho quân từ Lào sang tập kích vào các xã thuộc huyện Trường Xuân (Thanh Hóa), Tương Dương, Quỳ Châu (Nghệ An), Hương Khê (Hà Tĩnh), Tuyên Hóa (Quảng Bình), Hướng Hóa (Quảng Trị). Chúng cấu kết với bọn thổ ty, lang đạo phản động như Lê Xuân Kỳ, Lê Xuân Tín (Thường Xuân - Thanh Hóa), bọn phản động trong đảng «Bào ca» (tây Nghệ An) lập «Xứ Mường tự trị», «Xứ Thái tự trị». Ở phía đông, từ ngoài biển chúng tập kích, bắn đại bác vào các xã ven biển thuộc huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Quỳnh Lưu (Nghệ An), Kỳ Anh (Hà Tĩnh), biệt kích đốt phá, thăm dò, tiêu diệt lực lượng ta. Ở đồng bằng, giặc Pháp cấu kết với bọn phản động «Liên đoàn công giáo» thuộc địa phận Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, trung tâm chỉ huy là bọn phản động đầu sỏ đội lốt tôn giáo núp trong Tòa giám mục xã Đoài (Nghi Lộc) mua sắm vũ khí, luyện lập quân sự, chống đối chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng ngầm để khi có thời cơ làm tay sai đắc lực cho chúng đánh phá cách mạng. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, Bộ chỉ huy Khu vừa chỉ đạo tiến công, bao vây quân Pháp ở Vinh, Huế, vừa chăm lo xây dựng lực lượng, củng cố bảo vệ vùng tự do ở Thanh — Nghệ — Tĩnh và cả ở Bình — Trị — Thiên, đảng bộ các tỉnh chuyển hẳn công tác tư tưởng, công tác tổ chức sang chỉ đạo chiến tranh. Chính quyền các cấp ngày càng được kiện toàn. Các đoàn thể thanh niên cứu quốc, nông dân cứu quốc, hội liên việt được củng cố và mở rộng, kết nạp thêm nhiều hội viên. Khối đoàn kết toàn dân trên địa bàn bắc Trung Bộ ngày càng vững chắc. Nhân dân đẩy mạnh công tác bố phòng, chống các cuộc đổ bộ, tập kích, nhất là các xã ven biển, cắm cọc ở các cửa biển, cửa sông lớn như Cửa Lò, Cửa Hội, Cửa Ròn, đào chiến hào xung quanh các đỉnh núi sát biển như ở Nghi Lộc, Quảng Xương. Để chống quân nhảy dù, nhân dân còn cắm chông tre vót nhọn lên tua tủa ở các bãi biển, các sân vận động và sân bay Yên Đại (Nghệ An). Các trung đoàn 57 (Nghệ An), trung đoàn 103 (Hà Tĩnh), trung đoàn 77 (Thanh Hóa) được bố trí ở các vung quan trọng ven biển như Kỳ Anh, Cầu Cấm, Cửa Hội, Cẩm Xuyên, Sầm Sơn, Tĩnh Gia để chống quân địch đổ bộ. Song song, với cuộc chiến đấu quyết liệt ở Huế, ở cả Thanh - Nghệ - Tĩnh và Bình - Trị - Thiên toàn dân nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Hồ Chủ tịch, phá hoại để kháng chiến: “…Nếu nhà cửa kiên cố mà Pháp có thể dùng làm nơi căn cứ thì Pháp sẽ đem xe tăng, tàu thủy đến đánh ta, và chúng sẽ đốt phá cướp bóc sạch trơn... Bây giờ ta phải phá để chặn chúng lại, không cho chúng tiến lên, không cho chúng lợi dụng”1. Các thành phố, thị xã, nhà máy, đường sá, các lô cốt cũ của địch đều bị phá hủy. Thành phố Vinh, thị xã Thanh Hóa, Hà Tĩnh thực hiện chủ trương triệt để tiêu thổ kháng chiến. Trên 11.000 ngôi nhà, trong đó có 301 ngôi nhà tầng ở thành phố Vinh, trên 10.000 mét vuông nhà tại thị xã Hà Tĩnh bị phá sập. Thị xã Thanh Hóa phá 30 công sở, trên 1.600 nhà có tầng và không có tầng. Nhiều gia đình cán bộ, bộ đội, nhân dân lao động tự nguyện phá những ngôi nhà của mình để vợ con ở thành phố, thị xã tản cư về quê để đi kháng chiến. Liên hiệp công đoàn các tỉnh tổ chức tháo gỡ máy mỏc, nguyên vật liệu, phá hoại để kháng chiến, di chuyển để xây dựng các xí nghiệp quốc phòng và phục vụ dân sinh. Liên hiệp công đoàn Nghệ An đã huy động hơn 45.000 công tham gia phá hoại thành phố Vinh và sân bay Nghi Lộc, đã chuyển trên 2.000 tấn máy móc, dụng cụ nguyên vật liệu từ đồng bằng lên vùng rừng núi. Liên hiệp công đoàn Thanh Hóa, Hà Tĩnh đã tích cực tham gia phá hoại thị xã Thanh Hóa, Sầm Sơn, mỏ Cơ-rôm (Cổ Định), thị xã Hà Tĩnh, nhà máy điện... Các địa phương vừa đẩy mạnh công tác phá hoại vừa kết hợp tiến hành công tác phòng thủ. Các đường giao thông chiến lược quan trọng được phá hoại triệt để, không cho địch có đường để cơ động. Đường sắt từ Đồng Giao (Ninh Bình) đến Chu Lễ (Hương Khê - Hà Tĩnh) bị bóc hết thanh ray, tà vẹt. Nền đường bị đào sâu từng quãng, 45 cầu lớn dài trên 50 mét bị đánh sập. 77 đầu máy xe lửa, 750 toa tàu bị phá. Đường số 1 chạy từ Đồng Giao (Ninh Bình) đến Đèo Ngang (Quảng Bình) bị cắt từng đoạn từ hai đến ba mét, đào sâu từ một đến một mét rưỡi. Giữa ngã ba, ngã tư đường phố, các ụ chiến đấu, các lô cốt nổi lên với những lỗ châu mai hướng ra phía trước. Giao thông hào chằng chịt dọc ngang thành phố, thị xã. Gắn liền với công tác phá hoại, việc tản cư, di chuyển được đẩy mạnh. Đông đảo nhân dân ở Bình — Trị — Thiên ở vùng địch tạm chiếm tản cư ra vùng tự do, một số đông tản cư ra Nghệ An, Hà Tĩnh. Người già, trẻ em tản cư, sơ tán đến những vùng không có chiến sự xảy ra. Nhân dân thành phố, thị xã tản cư về nông thôn, lên miền núi. Nhiều trại sản xuất được thành lập, Nghệ An có trại Thanh Sơn, Lê Mạc, Hà Tĩnh có trại Đá Bạc, Tây Hồ. Quảng Bình có hai trại nhưng bị quân địch uy hiếp, tiếp tế khó khăn, nên đồng bào tản cư được chuyển ra Hà Tĩnh. Bác Hồ căn dặn đồng bào “Kiên quyết tản cư», coi tản cư cũng là nhiệm vụ kháng chiến và gửi thư kêu gọi đồng bào ở hậu phương giúp đỡ đồng bào tản cư: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng»2 Theo lời Người, nhân dân các địa phương Khu 4 phát huy truyền thống tốt đẹp của con Lạc cháu Hồng, nêu cao tình hữu ái, tạo mọi điều kiện cho đồng bào tản cư nhanh chóng ổn định cuộc sống, bắt tay vào lao động sản xuất, tham gia kháng chiến. Số người tản cư từ Bình - Trị - Thiên ra và từ Khu 3 vào Thanh - Nghệ - Tĩnh là 112.000 người, được trợ cấp 12 triệu đồng. Trên 4.000 Hoa kiều tản cư cũng được trợ cấp 12 triệu đồng. ______________________________________________ 1. Hồ Chí Minh, Tuyển tập. Nhà xuất bản Sự thật. H.1960, tr. 256. 2. Những bức thư của Hồ chủ tịch (1947 — 1948), Sở thông tin Khu 4 xuất bản năm 1948, Lưu trữ Phòng lịch sử Quân khu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Chín, 2024, 09:39:38 pm Giữa những ngày tích cực sôi nổi chuẩn bị củng cố mọi mặt, bảo vệ vững chắc vùng tự do, cán bộ, bộ đội, nhân dân tỉnh Thanh Hóa vô cùng phấn khởi được Bác Hồ về thăm từ ngày 18 đến ngày 21 tháng 2 năm 1947. Đồng chí Bùi Đạt, bí thư tỉnh ủy; đồng chí Đặng Việt Châu, phái viên chính phủ; đồng chí Lê Chủ, chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh đi đón Bác. Trong buổi nói chuyện với đông đảo cán bộ và một số nhân sĩ, trí thức ở Thanh Hóa vào chiều 20 tháng 2, Bác căn dặn: «Tỉnh Thanh Hóa phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu. Lần sau về đây, tôi sẽ thấy mỗi người là một người kiểu mẫu»1. Bác còn gửi thư thăm hỏi đồng bào thượng du Thanh Hóa; «Cùng đồng bào yêu quý. Tôi đến thăm Thanh Hóa, tôi định lên thăm đồng bào, nhưng vì có việc gấp phải trở về ngay, chưa lên được, tôi lấy làm tiếc. Lần sau có dịp tôi sẽ lên thăm các đồng bào. Lúc này toàn thể quốc dân ra sức chống giặc, cứu nước. Tôi chắc rằng đồng bào thượng du đã ra sức đoàn kết, chuẩn bị tham gia giết giặc cứu nước để giữ vững quyền thống nhất độc lập của Tổ quốc. Việc dìu dắt đồng bào thượng du, tôi trông cậy lòng ái quốc và sự hăng hái của các vị lãnh đạo»2. Cũng trong dịp này, Bác gửi cho các đồng chí Trung Bộ một bức thư. Trong thư Bác căn dặn: «... ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm sau này: a) Địa phương chủ nghĩa. Chỉ chăm lo lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ... b) Óc bè phái: Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe”. Người lại chỉ rõ: “... Vẫn biết các đồng chí Trung Bộ nói chung thì có nhiều ưu điểm như: nhẫn nại, chịu khó, kiên quyết, tháo vát, nhiều sáng kiến. Đó là những đức tính rất quý báu. Nó làm căn bản cho những tính tốt khác phát triển. Nhưng trong thời kỳ khó khăn nặng nề này, chỉ có những ưu điểm ấy thôi cũng chưa đủ. Các đồng chí cần phải đem căn bản tốt đó mà kiên quyết khắc phục cho những khuyết điểm vừa kể trên, thì chúng ta mới chắc đi đến hoàn toàn thắng lợi»3. Nghiêm chỉnh thực hiện lời dạy bảo ân cần của lãnh tụ kính yêu, cấp ủy các cấp trong toàn khu đã phát động một đợt học tập sau rộng trong các đảng bộ. Từng đồng chí đã nghiêm khắc kiểm điểm bản thân và đề ra phương hướng khắc phục nhanh chóng và triệt để những khuyết điểm, giải quyết được những biểu hiện mất đoàn kết, bè phái, cô lập, hẹp hòi, cục bộ địa phương chủ nghĩa và đề cao tinh thần hy sinh của người cán bộ, đảng viên trước mọi gian khổ ác liệt. Để đảm bảo sự chỉ đạo được kịp thời hơn, ngày 4 tháng 4 năm 1947, Chính phủ ra sắc lệnh lập Ủy ban hành chính miền thượng du Thanh hóa, với nhiệm vụ giúp Ủy ban hành chính tỉnh giải quyết các công việc ở sáu huyện miền tây: Ngọc Lạc, Lang Chánh, Thường Xuân, Bá Thước Quan Hóa, Cẩm Thủy trực tiếp động viên và tổ chức nhân dân chuẩn bị kháng chiến, đẩy mạnh sản xuất. Đồng thời chỉ thị cho các địa phương nghiêm trị những hành động chống đối của bọn thổ ty, lang đạo phản động như Lê Xuân Kỳ, Lê Xuân Tín, tri châu huyện Thường Xuân là Đạo Thắng, thổ ty Mường Đạt đang cấu kết với giặc lập «Xứ Mường tự trị». Để nghi binh lừa địch, Ủy ban kháng chiến tỉnh để Lê Xuân Kỳ làm chủ tịch Ủy ban hành chính miền thượng du, Phạm Thúc Tiêu làm phó chủ tịch, đồng chí Phạm Văn Bình làm ủy viên. Đạo Thắng làm chỉ huy trưởng ba đại đội dân quân thượng du, Lê Xuân Tín làm phó chỉ huy, đồng chí Trần Anh Sơn làm chính ủy (trên thực tế Kỳ, Tín, Tiêu, Thắng không có thực quyền. Mọi công việc vẫn do đồng chí Bình và đồng chí Sơn quyết định và giám sát bọn chúng). Tháng 8 năm 1947 ta giải phóng Hồi Xuân, La Hán, Cổ Lũng. Nhưng sau một thời gian, quân Pháp lại chiếm Hồi Xuân, Yên Khương, Bát Mọt. Ta bắt Hai Phìa và Đạo Thắng vì đã làm tay sai cho giặc. Ở miền tây Nghệ An, bọn thổ ty, lang đạo phản động ở Tương Dương, Quỳ Châu bị nghiêm trị. Ở các vùng đồng bằng, ven biển Khu 4, âm mưu thủ đoạn thâm độc xảo quyệt của bọn phản động đội lốt tôn giáo cũng bị vạch trần. Tháng 6 năm 1947, năm tên cầm đầu bọn phản động ở Mậu Thôn phạm tội giết cán bộ, phá rối trật tự trị an ở địa phương, chống phá chính quyền cách mạng bị đội cảnh vệ của Ty Công an Thanh Hóa trấn áp. Bọn cầm đầu bị tòa án quân sự Khu 4 kết án tử hình. Tháng 9, bọn phản động ở Liên Sơn, Điền Hộ (Nga Sơn) giết bộ đội, bắt cóc cán bộ, thành lập đội tự vệ công giáo chống cộng cũng bị trừng trị, đội tự vệ này bị giải tán. Qua phát động phong trào thi đua yêu nước, thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ, khối đoàn kết toàn dân ngày càng mở rộng. Mặt trận Liên Việt Khu 4 có gần 740.000 hội viên. Ngày 15 tháng 9, các nhân sĩ, công chức ở Nghệ An đốt sắc, bài ngà, «mề đay” do chính quyền thực dân, phong kiến cấp trước đây để tỏ thái độ đoạn tuyệt với chế độ cũ, quyết tâm đoàn kết kháng chiến. Bộ chỉ huy khu 4 và các tỉnh rất quan tâm xây dựng phát triển các lực lượng vũ trang. Đến cuối năm 1947, khu 4 đã có trên 12.000 quân. Trung đoàn 9 chủ lực có 4 tiểu đoàn: 256, 337, 409, 364 với gần 2.000 quân. Trung đoàn 77 có hai tiểu đoàn: 355, 373 và ba đại đội trực thuộc với trên 1.600 quân. Trung đoàn 57 có ba tiểu đoàn: 265, 418, 436 với trên 1.900 quân (tiểu đoàn 265 có một đại đội người Mẹo). Trung đoàn 103 có hai tiểu đoàn: 391, 400 và hai đại đội trực thuộc. Trung đoàn 95 có ba tiểu đoàn với 1.745 quân. Trung đoàn 101 có ba tiểu đoàn với 1.111 quân. Tiểu đoàn 274 có sáu đại đội với 938 quân. Toàn khu có trên 250.000 dân quân và trên 5.000 dân quân thường trực. Về lực lượng dân quân thường trực, Thanh Hóa có chín đại đội, Nghệ An bốn đại đội, Hà Tĩnh hai đại đội, mỗi huyện có một trung đội. _____________________________________________ 1. Lưu trữ Ban lịch sử quân sự Thanh Hóa. 2. Sở thông tin Khu 4 xuất bản năm 1948. Lưu trữ Ban lịch sử quân sự Thanh Hóa. 3. Hồ Chí Minh, Toàn tập. Nhà xuất bản Sự thật. H. 1984, t.4. tr 299 — 301. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Chín, 2024, 09:43:11 pm Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, việc huấn luyện quân sự, chính trị được coi trọng. Bộ đội rèn luyện kỹ thuật bắn súng, ném lựu đạn động tác xung phong, hành quân ban đêm, chiến thuật cá nhân tập kích, phục kích. Về chính trị bộ đội học đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến, bồi dưỡng lòng yêu nước, chí căm thù địch, học thuộc lòng «10 lời thề danh dự», «12 điều kỷ luật». Dân quân học kỹ thuật cá nhân chiến đấu, các nội dung cần thiết về chiến thuật cá nhân, những quy định về phòng gian bí mật, vai trò nòng cốt xung kích trong chiến đấu và sản xuất. Hệ thống tổ chức Đảng được kiện toàn từ Quân khu ủy, trung đoàn ủy, tiểu đoàn ủy đến chi bộ đại đội. Công tác phát triển Đảng được coi trọng. Ở các đơn vị bộ đội chủ lực toàn Khu có 129 chi bộ với trên 1.300 đảng vỉên. Tỷ lệ lãnh đạo 10 phần trăm. Chi bộ đại đội chiến đấu lấy tên gọi “Chi bộ chiến lũy”. Chi bộ đại đội 87, trung đoàn 95 có 65 đảng viên là chi bộ khá nhất. Các cấp ủy đảng địa phương trực tiếp lãnh đạo lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, xã. Việc cung cấp ăn mặc của bộ đội do các địa phương đảm nhiệm. Nhân dân góp lúa, gạo nuôi bộ đội, cho bộ đội áo, quần, «mỗi xóm một bộ quân phục», «mỗi thôn một áo trấn thủ» trở thành khẩu hiệu hành động của nhiều vùng. Bộ đội đi chân đất, đội mũ lá, mặc áo vét, mang súng trường hoặc vác đại đao, mã tấu. Bộ đội còn tự sắm “bi đông ống tre”, «bát ống bương», “ba lô mây”, «giỏ lựu đạn tre». Các trung đoàn tổ chức những đội nông binh để cố gắng tự túc một phần lương thực. Trung đoàn 57 có trại sản xuất ở Nghi Lộc, Thanh Chương, Nghĩa Đàn, mỗi năm thu hoạch gần 50 tấn lúa. Ngoài việc cung cấp về ăn mặc cho bộ đội, nhân dân Khu 4 còn hăng hái mua công phiếu, tích cực ủng hộ ban “Mùa đông kháng chiến” để lấy tiền ủng hộ bộ đội. Thanh Hóa ủng hộ 33.200 đồng, Nghệ An 880.000 đồng, Hà Tĩnh 910.000 đồng. Các tầng lớp nhân dân ở các địa phương sôi nổi tham gia kháng chiến. Thanh niên hăng hái xung phong vào bộ đội. Vợ động viên chồng tòng quân, ông già, bà mẹ động viên con cháu đi giết giặc, cứu nước. Những biểu hiện trên ở khắp nơi, nói lên truyền thống chống ngoại xâm oanh liệt của quân và dân Khu 4. Mỗi lần Tổ quốc lâm nguy, truyền thống ấy lại trỗi dậy mạnh mẽ, «Cả quê hương lên đường ra trận», khắp nơi rầm rộ ngày «Hội tòng quân». Các cấp lãnh đạo và chỉ huy rất coi trọng giải quyết trang bị, vũ khí để nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang. Trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn mọi mặt, Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu, các tỉnh ủy, tỉnh đội vẫn chăm lo xây dựng các công binh xưởng để sản xuất và sửa chữa vũ khí. Ngay từ ngày toàn quốc kháng chiến, phong trào sản xuất vũ khí thô sơ đã sôi nổi khắp các địa phương. Ở đồng bằng người lột đường sắt đường tàu rèn thêm dao kiếm, kẻ biến đạn pháo lép của địch làm thành bom, mìn, địa lôi. Ở miền núi, nhân dân vót chông, làm cung nỏ có tẩm thuốc độc để bảo vệ làng bản. Song song với công tác phá hoại ở thành phố, thị xã, hàng vạn công nhân, nhân dân lao động, với đôi vai khiêng vác, kết hợp phương tiện vận chuyển thô sơ đã chuyển hàng ngàn tấn máy móc nguyên vật liệu, trèo đèo lội suối, vượt hàng trăm cây số vào rừng già, hang sâu xây dựng công binh xưởng. Nhiều cán bộ, đảng viên, công nhân lành nghề, nhà trí thức tự nguyện lên rừng, đem hết nhiệt tình, sự hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ và khoa học kỹ thuật phục vụ kháng chiến. Đồng chí Đinh Văn Đức một đảng viên cũ của nhà máy Trường Thi, Xứ ủy viên Trung Kỳ từ năm 1930 — 1931, là khu ủy viên Khu 4 trực tiếp chỉ đạo ngành quân giới toàn Khu. Đồng chí Võ Quý Huấn, giám đốc xưởng đúc gang thuộc sở khoáng chất kỹ nghệ Trung Bộ đã tự chế ra chiếc máy tiện nhỏ đầu tiên phục vụ sản xuất vũ khí. Nhiều cơ sở sản xuất vũ khí được xây dựng. Chấp hành chỉ thị của Ủy ban kháng chiến Trung Bộ, các đồng chí thành ủy Thuận Hóa (Huế) và sở hỏa xa đã lãnh đạo công nhân nhà máy điện, xưởng dạy nghề của Trường kỹ nghệ, phòng thí nghiệm của Trường Quốc học, xưởng sửa chữa cơ khí của Bộ điện, của Phường Đức ở thành phố, các nhà ga trên dọc đường xe lửa... tháo gỡ và di chuyển máy móc, dụng cụ, vật liệu ra Hương Khê (Hà Tĩnh). Tại đây Ủy ban Trung Bộ đã thành lập hai cơ sở sản xuất vũ khí là ATK1 (An toàn khu 1) và ATK2, sau đó xưởng Đội Quyên ở Đông Hà cũng chuyển ra xã Tiên Nông (Đô Lương — Nghệ An) lập xưởng quân giới Khu 4. Khu còn có nhiều xưởng khác như: Xưởng Phủ Quỳ có trên 100 công nhân và xưởng Lê Đình Dụ (mang tên người công nhân ưu tú trong khi nghiên cứu cấu tạo đạn đã hy sinh) sản xuất đạn ba-zô-ka; xưởng Lê Viết Thuật có 100 công nhân, chuyên sản xuất các bộ phận trong lựu đạn và địa lôi. Xưởng Hoàng Hữu Nam đúc vỏ lựu đạn, sản xuất các loại dụng cụ rèn, dập để dập đạn AT, xưởng Quách Văn Cừ, sản xuất đạn AT và chế măng sông súng AT. Các tỉnh có các cơ xưởng của địa phương như: Xưởng Cao Thắng (Thanh Hóa) sản xuất lựu đạn; xưởng Đặng Thái Thân (Nghệ An) sản xuất lựu đạn, các bộ phận thông thường của các loại súng trường, xưởng Trần Tảo (Quảng Bình) sản xuất mìn, lựu đạn, xưởng Hùng Việt (Quảng Trị) sản xuất lựu đạn, xưởng Phú Lâm (Thừa Thiên) sản xuất mìn, lựu đạn và sửa chữa các loại súng. Ngoài ra các tỉnh còn có các công trường để sửa chữa súng, đạn, sản xuất lựu đạn cho các huyện như công trường Phan Bội Châu, Đội Cung (Nghệ An); công trường Minh Khai, Lê Hồng Phong (Hà Tĩnh). Các trung đoàn có các kíp lưu động, mỗi kíp trên dưới 10 công nhân mang theo dụng cụ gọn nhẹ, các loại phụ tùng đi theo từng đơn vị để sửa chữa vũ khí hỏng hóc. Để tập trung thống nhất chỉ đạo các xưởng sản xuất vũ khí đạn dược, ngày 12 tháng 8 năm 1947, Bộ chỉ huy quyết định sáp nhập các xưởng và chia thành bốn loại: Loại 1: gồm năm xưởng lớn: Phủ Quỳ, Lê Đình Dụ, Hoàng Hữu Nam, Quách Văn Cừ, Huỳnh Thúc Kháng. Loại 2: gồm 11 xưởng nhẹ như xưởng Thái Văn Lung, Phó Đức Chính, cơ khí quân cụ, v.v. Loại 3: gồm các xưởng của các tỉnh như xưởng Hoàng Văn Thụ, Phạm Hồng Thái, v.v. Loại 4: gồm các xưởng vũ khí của dân quân, sản xuất súng kíp, lựu đạn. Bằng tinh thần yêu nước nồng nàn, trí thông minh sáng tạo, cán bộ công nhân ngành quân giới Khu 4 đã phát huy nhiều sáng kiến, sản xuất được nhiều loại vũ khí đạn dược rất cần thiết lúc bấy giờ như ba-zô-ka, lựu đạn, mìn, đạn đam1, cối 51 mi-li-mét… phóng bom bay xa 150 mét đến 200 mét. Nhân dịp vào kiểm tra Khu 4 đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng, sau khi nghe báo cáo và trực tiếp xem xét đã nhận xét: «Các công binh xưởng Khu 4 có năng lực sản xuất khá». _______________________________________________ 1. Đạn đam là đạn súng trường. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2024, 09:45:42 pm * * * Sau khi mở rộng chiến tranh ra ngoài các thành phố Hà Đông, Phủ Lý, Nam Định... cùng với việc chuẩn bị tiến công lên Việt Bắc, thực dân Pháp tổ chức một lực lượng đánh vào bắc Khu 4, địa bàn ba tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh, nhất là Thanh Hóa có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Nhưng lúc này lực lượng chính trị, quân sự của ta ở đây còn yếu. Đồng chí Khu trưởng đề nghị với Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu dời cơ quan lãnh đạo chỉ huy Khu 4 ra Thanh Hóa để xây dựng lực lượng và trực tiếp sẵn sàng đối phó với âm mưu đánh phá của địch. Sau khi ra vùng Sim, Lai Triều (Nông Cống) Khu chủ trương đẩy mạnh phong trào luyện quân lập công. Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, Khu lấy việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là khâu trung tâm. Bên cạnh lớp cán bộ cũ hoạt động lâu năm của Đảng, đã trải qua rèn luyện thử thách, giữ những cương vị chủ chốt. Lúc này đã có thêm một đội ngũ cán bộ mới, trẻ, khỏe, hăng hái, nhiệt tình cách mạng, được thử thách trong công tác, chiến đấu gian khổ ác liệt. Lớp cán bộ này được luân phiên nhau tập trung về Khu để bồi dưỡng một cách tương đối cơ bản, toàn diện, sát với thực tế chiến đấu, để trở thành những cán bộ có đạo đức và đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ. Lớp bồi dưỡng cán bộ trung cấp đầu tiên thời gian sáu tháng, gồm 50 cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn bộ đội chủ lực, cán bộ chỉ huy quân sự địa phương cấp tỉnh và trưởng, phó phòng, cơ quan khu. Đồng chí Khu trưởng, đồng chí ủy viên chính trị Khu trực tiếp phụ trách các nội dung về quan điểm trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh, về chiến thuật tập kích, phục kích «du kích vận động chiến», về tổ chức, xây dựng, quản lý bộ đội, chỉ huy tác chiến đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn. Lớp bổ túc cán bộ đại đội gồm 120 đồng chí trẻ khỏe đã được thử thách, rèn luyện trong chiến đấu. Khu ủy tổ chức lớp bồi dưỡng ngắn ngày các ủy viên thường vụ tỉnh ủy, thường trực ủy ban, cán bộ đầu ngành về đường lối kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ căn cứ Thanh — Nghệ — Tĩnh. Các văn nghệ sĩ, các nhà báo cũng được tập trung bồi dưỡng đường lối kháng chiến. Cùng với việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, Khu chủ trương xây dựng trung đoàn 9 thành trung đoàn chủ lực mạnh của Khu. Cán bộ, chiến sĩ được học tập cách đánh tập trung tiểu đoàn, trung đoàn với chiến thuật tập kích, vận động phục kích, đánh địch phòng ngự. Ngày 29 tháng 11 năm 1947, các cán bộ thuộc lớp bổ túc cùng trung đoàn 9 tổ chức diễn tập hành quân chiến đấu, xuất phát từ Sim, tập đánh «địch» đồng thời phòng ngự rừng Thông, tổ chức phòng ngự Sầm Sơn, đánh địch đổ bộ vượt sông Ghép, đánh gặp địch ở Chuông, sau đó tập hành quân cấp tốc về Cổ Định. Ngày 30 tháng 11, Khu mở «Đại hội tập» lần thứ nhất. Một đợt thi đua rèn luyện sôi nổi giữa cán bộ, chiến sĩ, giữa các đơn vị diễn ra trên tất cả các mặt: kỹ thuật, chiến thuật, công tác nuôi dưỡng quản lý bộ đội, công tác chính trị, văn hóa văn nghệ... Nhiều đơn vị lập được thành tích: trung đoàn 9 đoạt cờ «Gắng thắng». Đại đội Thanh Hóa đoạt cờ «Học giỏi”. Đại đội Hà Tĩnh đoạt cờ «Kỹ thuật giỏi». Sau đại hội tập, Bộ chỉ huy phân công cán bộ trung cấp đi nhận nhiệm vụ ở các trung đoàn, các tỉnh. Ưu tiên các đơn vị phía trước, mỗi trung đoàn chủ lực ở Bình — Trị— Thiên được bổ sung từ 30 đến 40 cán bộ đại đội, trung đội trẻ, khỏe, đã qua bồi dưỡng tương đối cơ bản và toàn diện, làm nòng cốt để xây dựng đơn vị, thực hiện nhiệm vụ tác chiến năm 1948. Ngày 4 tháng 1 năm 1948, đại đội bộ đội Việt kiều ở Xiêm1 về đến Cửa Rào (Nghệ An) tham gia kháng chiến. Đơn vị gồm 170 cán bộ, chiến sĩ mang theo bảy trung liên, 22 tiểu liên Sten, 18 các-bin. Ngày 23 tháng 1, Chính phủ ra sắc lệnh hợp nhất các Khu thành Liên khu. Các Liên khu được coi như một đơn vị chiến lược hoàn chỉnh cả về chính trị, quân sự, kinh tế, hoạt động tương đối độc lập do Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu trực tiếp chỉ đạo. Khu 4 đổi tên thành Liên khu 4 (trong đó có Phân khu Bình — Trị — Thiên). Cùng ngày, Bác Hồ gửi thư cho bộ đội và dân quân du kích tỉnh Nghệ An2: «... Tôi gửi lời thăm bộ đội và dân quân du kích tỉnh Nghệ An». Trong thư Bác căn dặn: «Mong từ nay trở đi, anh em sẽ cố gắng tập luyện, học tập kinh nghiệm của các bộ đội khác. Từ cán bộ cho đến tất cả chiến sĩ khuyên gắng nhau, thi đua nhau, giúp đỡ nhau, cố sức làm thế nào cho kịp hoặc làm hơn những bộ đội khác trong cuộc luyện bộ đội lập chiến công. Tôi chờ kết quả thắng lợi của anh em, và gửi thư khen ngợi anh em, như tôi đã vui lòng khen ngợi những bộ đội đánh giỏi». Lời dạy bảo của Bác đã ăn sâu vào tâm trí, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ. Các đơn vị đã tập trung nghiên cứu học tập, đề cao phê bình và tự phê bình, nghiêm khắc phê phán tư tưởng thái bình chủ nghĩa, duy trì tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 57 đã huấn luyện tốt, hăng hái xung phong vào chiến trường Bình—Trị—Thiên chiến đấu và lên miền tây, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ ác liệt, bảo vệ biên giới, làm nhiệm vụ quốc tế vẻ vang. Dân quân tự vệ nòng cốt xung kích trong sản xuất, khắc phục dần hậu quả tai hại do bão lụt gây cho vụ mùa năm 1947. ______________________________________________ 1. Tức Thái Lan. 2. Bức thư tự tay Hồ Chủ tịch đánh máy và giao cho thiếu tướng Trần Tử Bình, Phó tổng thanh tra quân đội quốc gia Việt Nam để chuyển cho toàn thể bộ đội và dân quân Nghệ An, nhân dịp đi thanh tra bộ đội Khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2024, 09:51:35 pm Đầu năm 1948 Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương chỉ rõ: «Chiến địch Việt Bắc đã mang lại cho cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc ta một chuyển biến lớn... Năm nay quân và dân ta phải phá một cuộc tấn công mùa đông của địch, làm cho chúng thất bại nặng nề, nếu chúng đánh vào mấy tỉnh miền Bắc, Khu 4»1. Thực hiện quyết tâm của Trung ương, Đại hội Đảng bộ các tỉnh kiểm điểm tình hình và đề ra các chủ trương, biện pháp củng cố xây dựng lực lượng, chi viện tiền tuyến, củng cố miền tây, phát triển kinh tế tự cung, tự cấp, sẵn sàng đối phó với âm mưu mới của địch. Đại hội Đảng bộ Nghệ An, Hà Tĩnh đã bầu ra Ban chấp hành mới: Tỉnh ủy Nghệ An có 25 ủy viên, đồng chí Ngô Xuân Hàm làm bí thư tỉnh ủy, Hà Tĩnh có 15 ủy viên, đồng chí Hà Uyên làm bí thư. Ở phía tây Nghệ An, dưới sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy Liên khu, ban chỉ huy các mặt trận được thành lập. Ban chỉ huy mặt trận đường số 7 gồm đại diện trung đoàn 57 và đơn vị Liên quan Việt-Lào đóng tại Mường Xén; Ban chỉ huy mặt trận Quỳ Châu gồm đại diện đại đội 58, trung đội dân quân thường trực của huyện đóng tại thị trấn Kẻ Bọn. Nhờ làm tốt công tác địch vận, (có 20 lính ngụy Lào làm nội ứng), bộ đội miền tây Nghệ An phối hợp với bộ đội giải phóng Lào, tấn công đồn Bản Na, bắt 20 tù binh, thu 20 súng trường và 30 súng kíp. Cùng thời gian này, Đảng bộ Thanh Hóa động viên nhân dân đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế tự cung, tự cấp. Thanh Hóa được mùa, đảm bảo tự túc lương thực và chi viện chiến trường hàng ngàn tấn thóc. Công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số đạt nhiều kết quả, phá tan âm mưu địch cấu kết với bọn thổ ty, lang đạo phản động lập "Xứ Mường tự trị". Số lang đạo tiến bộ như Phạm Thúc Tiêu, Phạm Bá Trình, chủ tịch huyện Quan Hóa ngày càng tích cực tham gia kháng chiến. Các dân tộc miền núi ngày càng đoàn kết xung quanh Đảng, Bác Hồ. Đồng bào theo đạo Thiên chúa ngày càng tin tưởng ở chính sách tôn giáo của Đảng và Chính phủ, thấy rõ tội ác dã man của giặc. Ngày 3 tháng 4 năm 1948, giặc Pháp khủng bố giáo dân xứ đạo Cồn Liêu (huyện Nga Sơn), giết 100 thanh niên, bắt 40 giáo dân, hãm hiếp nhiều bà xơ, cướp nhiều trâu bò, lợn, gà. Giáo dân rất phẫn uất, nguyền rủa bọn phản động đội lốt tôn giáo. Để tổng kết và đẩy mạnh phong trào luyện quân lập công, tháng 4 năm 1948, trên 230 cán bộ các trung đoàn, tiểu đoàn, các tỉnh đội, các phòng ban của cơ quan liên khu bộ về dự hội nghị. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Sơn, chủ trì hội nghị. Hội nghị chủ trương: — Đẩy mạnh chiến tranh nhân dân ở Bình—Trị—Thiên, sẵn sàng đánh bại âm mưu địch tiến công Thanh - Nghệ - Tĩnh. — Tiếp tục đẩy mạnh phong trào luyện quân lập công, tiến tới Đại hội tập lần thứ hai, xây dựng nhiều ngọn cờ "Học tập giỏi", "Chiến đấu giỏi", nhiều "Làng chiến đấu Cự Nẫm" ,v.v. Để đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địa phương, Liên khu ủy, Bộ chỉ huy Liên khu chủ trương chia chiến trường Quảng Bình ra làm hai: Trung đoàn 95 (Phân khu Bình— Trị — Thiên), có thêm một đại đội bộ đội chủ lực Quảng Bình, phụ trách phía nam huyện Quảng Ninh và huyện Lệ Thủy. Trung đoàn 103 phụ trách mặt trận bắc Quảng Bình (từ Long Đại trở ra) đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ chỉ huy Liên khu. Hai tỉnh ủy Hà Tĩnh, Quảng Bình bàn bạc thống nhất kế hoạch lãnh đạo mặt trận, xây dựng và tác chiến. Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến Hà Tĩnh huy động nhân tài, vật lực phục vụ tiền tuyến2. Trong đợt tác chiến đấu tiên, trung đoàn 103 đã giành được thắng lợi ở Minh Lễ, Tiên Lễ, Khương Hà, Thụ Lộc... đã ngăn chặn địch từ xa, phá âm mưu địch dùng bắc Quảng Bình làm bàn đạp đánh ra Hà Tĩnh. Đi đôi với tăng cường lực lượng chiến đấu, Bộ chỉ huy Liên khu chỉ thị cho các xưởng, các địa phương đẩy mạnh việc sản xuất vũ khí để trang bị cho bộ đội ở phía trước. Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1948, cơ xưởng Chu Lễ đã giao cho Quảng Bình 31 bức kích pháo, 1.220 quả lựu đạn, 300 súng kíp, 375 quả mìn. Quảng Trị 18 bức kích pháo, 500 quả đạn, 80 quả mìn và 230 lựu đạn. Thừa Thiên 16 bức kích pháo, 600 quả đạn, 21 súng kíp, 25 quả mìn, 666 lựu đạn. Cùng thời gian này, hàng ngàn dân công Nghệ An, Hà Tĩnh vượt muôn vàn khó khăn, gian khổ, núi rừng hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt làm con đường xuyên sơn gần 200 ki-lô-mét từ Hà Tĩnh vào Quảng Bình, Quảng Trị để tiếp tế cho tiền tuyến. Ở các mặt trận phía tây liên khu, các tiểu đoàn của trung đoàn 77, trung đoàn 57, trung đoàn 103, đại đội 6 Quảng Bình, đội biệt động đường số 9, Quảng Trị phối hợp với bộ đội giải phóng Lào đẩy mạnh tác chiến, vũ trang tuyên truyền, kịp thời trừng trị những hành động lấn chiếm của địch ở SầmTớ, Mường Dương, Noọng Hét, Ba-na-phào, Mụ Giạ. Sự liên minh chiến đấu của bộ đội tình nguyện Việt Nam và các lực lượng vũ trang yêu nước Lào không những làm cho lực lượng kháng chiến ở Trung Lào được phát triển mà còn mở rộng vùng tự do miền tây Liên khu 4, ngăn chặn kịp thời âm mưu lấn chiếm của địch. ____________________________________________ 1. Văn kiện quân sự của Đảng, 1945 — 1950, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, t. 2, tr. 278. 2. Tiểu đoàn 400 của trung đoàn 103, tiểu đoàn 346 của trung đoàn 57, tiểu đoàn 274 Quảng Bình, phối thuộc chiến đấu với trung đoàn 103. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2024, 09:52:57 pm * * * Ngay năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Liên khu 4 đã sớm bình thành ba vùng rõ rệt: Thanh - Nghệ - Tĩnh là vùng tự do, không ngừng được xây dựng củng cố, phát triển lực lượng và thế trận, ngăn chặn âm mưu địch mở rộng chiến tranh. Bình - Trị - Thiên là tiền tuyến quân và dân địa phương đã đương đầu một cách anh dũng với âm mưu bình định, khủng bố dã man tàn bạo của địch. Miền tây Liên khu được cũng cố. Các lực lượng vũ trang sát cánh với bộ đội giải phóng Lào chiến đấu bảo vệ biên giới và làm nhiệm vụ quốc tế. Quân Pháp tập trung lực lượng lớn đánh chiếm Bình — Trị—Thiên, đã thiết lập được hệ thống chiếm đóng ở thành phố, thị xã, thị trấn, đường giao thông chiến lược quan trọng, một số vùng nông thôn, lập được ngụy quyền. Nhưng ta vẫn giữ vững vùng rừng núi và một phần vùng nông thôn, chiến tranh du kích được đẩy mạnh cả ở rừng núi và đồng bằng. Mặc đù quân Pháp đã cố gắng cao độ, song qua thực tế chiến đấu chứng tỏ sức mạnh của địch có hạn. Quân Pháp tuy đang còn ưu thế về quân sự, nhưng ngày càng bộc lộ nhiều mâu thuẫn, nhiều chỗ yếu, nhiều sơ hở. Với thủ đoạn thâm độc và xảo quyệt, giặc Pháp muốn dập tắt phong trào kháng chiến của nhân dân Bình— Trị —Thiên, dùng Bình — Trị —Thiên làm bàn đạp tiến công Thanh - Nghệ -Tĩnh, hòng thực hiện âm mưu chia cắt chiến lược Việt Nam và Đông Dương. Nhưng Khu 4 vẫn nối liền chiến trường phía bắc và chiến trường phía Nam, chiến trường bắc Trung Bộ với chiến trường Trung Lào. Bước vào cuộc kháng chiến, các lực lượng vũ trang Khu 4 tuy có quyết tâm chiến đấu rất cao, nhưng ban đầu, bộ đội và nhân dân kể cả đội ngũ cán bộ lãnh đạo và chỉ huy còn ấu trĩ về kiến thức quân sự, vũ khí trang bị lạc hậu và thiếu thốn, nên đứng trước một quân đội xâm lược nhà nghề, đông về số lượng, có trang bị hiện đại, nhiều nơi ta bị tổn thất nặng. Chiến đấu trên một địa bàn có nhiều khó khăn, địa thế dài và hẹp, kinh tế nghèo nàn và lạc hậu, lại xa sự lãnh đạo của Bộ Tổng chỉ huy, các lực lượng vũ trang nhân dân Khu 4 đã luôn luôn nên cao tinh thần anh dũng sáng tạo, lại kịp thời đúc rút kinh nghiệm, xứng đáng là nòng cốt xung kích của toàn dân đánh giặc, đã cùng nhân dân bắt gọn bọn địch ở Vinh, bao vây quân địch ở Huế, chặn bước tiến của địch trên đường số 9, làm nhụt ý chí của địch mở rộng chiến tranh ra Thanh — Nghệ — Tĩnh, bảo vệ biên giới phía tây của Liên khu, thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế vẻ vang ở Trung Lào. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu lúc mới mở đầu kháng chiến có nhược điểm, thiếu sót, nhưng ngày càng trưởng thành vững mạnh hơn đối với cả phía trước và phía sau, quốc gia và quốc tế. Ban chấp hành đảng bộ các tỉnh, cả Thanh - Nghệ — Tĩnh và Bình — Trị —Thiên đã quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào thực tiễn địa phương mình, giành nhiều thắng lợi. Đặc biệt các cấp ủy đảng ba tỉnh ở phía trước (Bình — Trị — Thiên) đã nêu cao ý chí quyết tâm, trách nhiệm nặng nề, trước vận mệnh Tổ quốc, trước đời sống nhân dân, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước dân, không đổ vấy trách nhiệm cho ai, nhưng cũng rất nghiêm khắc với nhược điểm, thiếu sót và thất bại, đồng thời cũng rất dũng cảm, vị tha và luôn luôn giữ vững lòng tin ở dân, dựa vào dân, lấy đạo lý quần chúng nhân dân làm gốc, bám dân phát động tinh thần yêu nước và ý chí anh hùng của nhân dân, trở về đồng bằng, khôi phục tinh thần kháng chiến, tinh thần tự lực tự cường, vượt qua chặng đường đầu tiên thử thách gay go, gian khổ và ác liệt để từ «Bình — Trị — Thiên khói lửa» vươn lên thành «Bình — Trị — Thiên quật khởi». Những thắng lợi của cả năm 1947 và đầu năm 1948 trên đây là những thắng lợi bước đầu của phong trào kháng chiến ở bắc Trung Bộ, nhưng có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Đó là tiền đề cho quân và dân Liên khu 4 trong những năm tiếp sau vươn lên giành những thắng lợi lớn hơn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2024, 10:15:47 pm CHƯƠNG III ĐẨY MẠNH TÁC CHIẾN - BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG CHI VIỆN TIỀN TUYẾN (1948 - 1950) Sau thất bại Việt Bắc, thực dân Pháp phải thay đổi chiến lược «đánh nhanh thắng nhanh» sang «đánh lâu dài», thực hiện chính sách «Dùng người Việt hại người Việt». Để kịp thời lãnh đạo quân và dân cả nước đánh bại âm mưu chiến lược mới của địch, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng mở rộng từ ngày 15 đến 17 tháng 1 năm 1948 đã đề ra nhiệm vụ cho thời kỳ mới. Về quân sự, Trung ương chỉ rõ: « ... phát triển chiến tranh du kích khắp nơi, nhất là trong vùng địch kiểm soát, đồng thời tùy theo tình thế, tập trung đánh vận động, tiêu diệt địch... Xúc tiến việc luyện quân lập công». Về chính trị, Trung ương chủ trương củng cố khối đoàn kết toàn dân, phát động rộng rãi phong trào thi đua yêu nước; vận động nhân dân ủng hộ Chính phủ kháng chiến, chống việc lập chính quyền bù nhìn Bảo Đại, phá tan âm mưu «Dùng người Việt hại người Việt» của địch. Quán triệt những chủ trương lớn của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương mở rộng (1-1948), Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu 4 họp tháng 5 năm 1948 đã tập trung đánh giá tình hình Bình - Trị - Thiên, phê phán nhận thức sai lầm và những biểu hiện của tư tưởng hữu khuynh, tiêu cực trong cán bộ các cấp, nhất là trong một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt của Bình — Trị — Thiên. Trước thế mạnh và những thủ đoạn càn quét ác liệt của địch, những tổn thất lớn của ta, một số cán bộ, đảng viên hoang mang giao động. Nhiều tổ chức cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng, dân quân du kích mới xây dựng còn non yếu bị tê liệt. Trước tình hình nghiêm trọng ấy, lãnh đạo các cấp chưa kịp thời đề ra được những chủ trương thích hợp để ổn định tư tưởng, tổ chức, giữ vững phong trào kháng chiến, thậm chí có nơi bị tan rã. Đại hội còn chỉ rõ: thủ đoạn chủ yếu của địch để bình định Bình - Trị - Thiên là càn quét, chà đi sát lại quyết liệt. Vấn đề đặt ra lúc này là phải lãnh đạo nhân dân vừa biết tránh giặc vừa biết kiên quyết đánh giặc, đánh bại thủ đoạn càn quét của địch. Từ thực tiễn hơn một năm đối chọi với địch ở Bình — Trị — Thiên, Đại hội đề ra những nhiệm vụ và biện pháp cốt yếu để chống lại hành động càn quét của địch: Phải xây dựng cơ sở quần chúng, tổ chức lãnh đạo nhân dân đấu tranh, vận động toàn dân trực tiếp tham gia đánh giặc giữ làng. Phải trừng trị bọn Việt gian, giải tán hội tề, vận động binh sĩ địch. Phải duy trì phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, cũng như hoạt động quân sự phối hợp chặt chẽ giữa các vùng trong một khu vực, các chiến trường trong Liên khu với chiến trường toàn quốc, tránh để địch dồn lực lượng đánh phá từng khu vực một. Chủ trương: «Toàn dân tham gia đánh giặc» xuất phát từ đường lối kháng chiến của Đảng và được rút ra từ thực tiễn phong trào chiến tranh du kích ở Bình - Trị - Thiên là một chủ trương đúng đắn, là «điều kiện căn bản để khôi phục và phát triển chiến tranh du kích ở Bình - Trị - Thiên trong giờ phút gay go nhất của hai năm 1947 — 1948»1. Nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của địch, nhiệm vụ của các chiến trường trong Liên khu, Đại hội chủ trương: Tất cả cho Bình — Trị — Thiên. 1. Đánh mạnh ở Bình — Trị — Thiên. 2. Thúc đẩy phong trào kháng chiến, đề phòng địch đánh Thanh — Nghệ — Tĩnh, tranh thủ thời gian chuẩn bị ráo riết... 3. Mở rộng Mặt trận Trung Lào. Đại hội đã bàu ra Ban chấp hành Liên khu chính thức đầu tiên. Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu lần thứ nhất là sự kiện lịch sử quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của cuộc chiến tranh nhân dân ở Liên khu 4 và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Liên khu ủy. I. PHÁT TRIỂN CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TIỀN TUYẾN — XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG Thực hiệu chủ trương của Đại hội Đảng Liên khu lần thứ nhất «Đánh mạnh ở Bình — Trị — Thiên», Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu quyết định mở đợt tác chiến ở Bình — Trị — Thiên, lấy mặt trận bắc Quảng Bình làm hướng chính, nhằm đánh bại kế hoạch phá mùa tháng 5 của địch, bảo vệ nhân dân gặt hái, thu giấu tài sản. Đồng thời đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, gây dựng cơ sở, phát triển lực lượng, đưa phong trào chiến tranh du kích ở bắc Quảng Bình tiến kịp hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, giữ vững giao thông liên lạc Bắc — Nam, phá âm mưu của địch chiếm bắc Quảng Bình làm bàn đạp tiến công Hà Tĩnh. Cùng với việc điều động tiểu đoàn 346 thuộc trung đoàn 57 (Nghệ An) vào phối thuộc trung đoàn 103 (Hà Tĩnh), Bộ tư lệnh quyết định giao cho ban chỉ huy trung đoàn 103 trực tiếp tổ chức chỉ huy mặt trận bắc Quảng Bình. Chủ trương đưa các đơn vị ở hậu phương ra chiến đấu ở phía trước đã tạo cơ hội tốt để nâng cao trình độ chỉ huy và bản lĩnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ; đồng thời thông qua thực tiễn chiến trường để kiểm nghiệm kết quả xây dựng và huấn luyện của các đơn vị. Đây cũng là hành động thiết thực biểu thị tình cảm sâu sắc và trách nhiệm của ba tỉnh hậu phương đối với Bình — Trị — Thiên. Cuối tháng 6 năm 1948, các tiểu đoàn 274, 346 và 400 dưới sự chỉ huy của đồng chí trung đoàn trưởng Tùng Lâm đã phối hợp chặt chẽ với du kích và nhân dân các địa phương, đồng loạt tiến công vào các vị trí Ba Đồn, Thụ Lộc, Cự Nẫm (bắc Quảng Bình), buộc địch phải cấp tốc điều động quân từ Đồng Hới và Quảng Trị đến cứu nguy. Đầu tháng 7, bộ đội ta bí mật luồn về đồng bằng sau lưng địch, tiến công các vị trí Sen Bàng, Hy Duyệt (bắc Quảng Bình), diệt và làm bị thương hàng trăm tên. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch vội vàng rút bỏ các đồn lẻ Khương Hà (Bố Trạch), Mỹ Đức (Lệ Thủy), Phú Kinh, Minh Lễ (Quảng Trạch). Địa bàn của ta được mở rộng ở nhiều nơi. Phạm vi chiếm đóng của địch ở bắc Quảng Bình bị thu hẹp. Hòa nhịp với hoạt động của bộ đội miền núi và đồng bằng Quảng Trạch, Bố Trạch (bắc Quảng Bình), ngày 2 tháng 8, bộ đội chủ lực được sự hỗ trợ của tự vệ và nhân dân thị xã đã dùng bom bay và các loại vũ khí tiến công đánh phá thị xã Đồng Hới. Trước sự xuất hiện vũ khí mới của ta, giặc Pháp hoang mang, sợ hãi, vội vàng cho vợ con và ngoại kiều di tản vào Quảng Trị. Bọn tay sai ở nhiều nơi hốt hoảng, bí mật liên lạc với cán bộ, bộ đội, xin trở về với cách mạng. _______________________________________________ 1. Trần Văn Quang, Báo cáo kinh nghiệm kháng chiến ở Bình — Trị — Thiên năm 1949, hồ sơ số 41, tr. 2, Kho lưu trữ Bộ Quốc phòng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2024, 10:21:08 pm Lợi dụng lúc chủ lực ta đang cơ động tác chiến trên các địa bàn khác, ngày 12 tháng 7 giặc Pháp huy động 500 bộ binh phối hợp với quân nhảy dù dùng 28 xe, tám ca nô, tàu chiến với 11 lần chiếc máy bay yểm hộ, mở cuộc càn quét lớn vào khu vực Ròn, tiến công vào làng Cảnh Dương. Dựa vào hệ thống nhà cửa, đường sá, công sự, vật cản và thế trận bày sẵn, du kích cùng nhân dân đã bám trụ kiên cường, dũng vũ khí, bom mìn tự tạo đánh trả địch trong suốt một ngày, diệt 11 tên Pháp, trong đó có tên quan ba, không một tên nào lọt được vào làng. Ngày 13 tháng 7, quân Pháp phải rút khỏi khu vực Ròn. Làng chiến đấu Cảnh Dương (Quảng Trạch) bắc Quảng Bình đã trở thành một trong những làng chiến đấu anh hùng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bằng thực tiễn chiến đấu, nó gợi lên một bài học sâu sắc: Với diện tích chưa đầy một ki-lô-mét vuông và số dân không đông, vũ khí rất thô sơ, lại ở vào một địa hình không thuận lợi (làng ven biển) nhưng nhờ có sự chỉ đạo chặt chẽ thống nhất, có quyết tâm chiến đấu rất cao, biết xây dựng thế trận làng xã vững chắc, dựa vào hệ thống hầm hào, công sự, cây cối, hào rãnh vật cản, lực lượng chiến đấu tại chỗ của một làng chiến đấu vẫn có thể đánh lui được cuộc tiến công của địch có trang bị hiện đại, giữ vững được làng xóm. Sáng 10 tháng 8, tại Tiên Lương (bắc Quảng Bình) tiểu đoàn 274 phối hợp với một bộ phận của tiểu đoàn 400 (trung đoàn 103) do tham mưu trưởng tiểu đoàn Lê Bá Huyện chỉ huy đã vận động phục kích quân địch đi quan sát khu vực Tiên Dương, phá hủy năm xe jeép, diệt 17 tên, trong đó có 14 tên Pháp (một cấp tá, ba cấp úy) và ba tên cầm đầu ngụy quyền địa phương (tên Nguyễn Nhơn tỉnh trưởng, Nguyễn Toan phó tỉnh trưởng bù nhìn Quảng Bình và tên huyện trưởng bù nhìn Quảng Trạch). Đây là lần đầu ta diệt bọn đầu sỏ ngụy quyền cấp tỉnh. Thắng lợi Tiên Lương của ta đã gây tâm lý giao động đối với hệ thống ngụy quân, ngụy quyền các cấp trong toàn tỉnh. Nhân dân ta phấn khởi, hả lòng vì đã trừ khử được bọn bán nước nguy hiểm. Với thắng lợi này, ta đã chặn đứng được cuộc tiến công càn quét lớn của địch mà chúng dự định. Sau gần 80 ngày đêm liên lục tiến công, quân và dân bắc Quảng Bình được sự chi viện của các tỉnh hậu phương, trực tiếp là Hà Tĩnh đã kết thúc thắng lợi, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên địch, thu hàng chục súng các loại, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch, mở rộng địa bàn hoạt động của ta ở vùng đồng bằng. Thắng lợi ấy đã góp phần chặn đứng âm mưu của địch chiếm bắc Quảng Bình làm bàn đạp tiến công Hà Tĩnh và các tỉnh phía bắc Liên khu. Cùng thời gian trên, được sự chỉ đạo của Phân khu ủy và Bộ chỉ huy phân khu, quân và dân Quảng Trị, dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Lê Nam Thắng và chính ủy Lê Chưởng đã mở một đợt tác chiến phối hợp với mặt trận bắc Quảng Bình. Bằng những trận phục kích, vận động phục kích, địa lôi chiến... Bộ đội và dân quân Hướng Hóa liên tục đánh phá đường số 9, phá hủy hàng chục xe quân sự của địch tiếp tế vũ khí lương thực, thực phẩm cho mặt trận Trung Lào. Ngày 23 tháng 6 một trung đội của trung đoàn 95 phục kích địch tại cầu Độc Mạch, diệt và bắt sống 13 tên Pháp, thu toàn bộ vũ khí và một xe công binh. Ngày 7 tháng 7, tại An Đôn, tiểu đoàn 302 vận động phục kích đánh địch đi lùng, diệt bốn tiểu đội địch, bắt 20 tù binh, thu hàng chục súng, chặn đứng cuộc càn quét của địch. Ngày 14 tháng 7, nhân ngày lễ quốc khánh Pháp, tại đồn Đập Huyện ta bố trí hai chiến sĩ gái gánh rượu, thịt vào khao tiệc quan, lính trong đồn. Khi bọn địch đã ăn uống no say, nhận được tín hiệu của ta từ trong đồn, tiểu đoàn 302 dưới sự chỉ huy trực tiếp của chính ủy Lê Chưởng và trung đoàn phó Phùng Thế Bằng đã ập vào đồn bắt gọn cả đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí không tốn một viên đạn, bốn sĩ quan Pháp đều bị bắt. Ngày 9 tháng 8, tại ki-lô-mét 16 đường số 9, đại đội du kích Lê Hồng Phong phối hợp với một bộ phận thuộc trung đoàn 95 phục kích đoàn xe của địch, phá hủy và phá hỏng 13 xe, diệt 25 tên, thu 30 súng các loại. Đại đội du kích Lê Hồng Phong đã từng lập chiến công vang dội trên đường số 9, ghi thêm một chiến tích mới, xứng đáng với danh hiệu cao quý «Đơn vị kiểu mẫu của Liên khu 4» mà Hồ Chủ tịch trao tặng. Phát huy đà thắng lợi, ngày 20 tháng 8 tại đèo Tân Lâm (đường số 9) trung đoàn 95 vận động phục kích đánh một đoàn xe vận tải của địch tiếp tế cho chiến trường Trung Lào, phá hủy, phá hỏng 16 xe, diệt và bắt sống 30 tên Pháp, thu nhiều vũ khí và quân trang, quân dụng. Để bảo vệ đội hình chiến đấu của trung đoàn, đại đội phó Hồng Vân chỉ huy một tiểu đội, bí mật đưa hai khẩu trung liên áp sát sân bay Đông Hà, bất ngờ bắn rơi tại chỗ một máy bay trinh sát, khi nó vừa rời khỏi đường băng, góp phần chi viện và cổ vũ bộ đội trong trận đánh này. Đây là trận vận động phục kích giao thông quy mô cấp trung đoàn đầu tiên trên chiến trường Bình — Trị — Thiên. Thế trận được triển khai trên một tuyến dài hơn ba ki-lô-mét, có sự tham gia của nhiều lực lượng, đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất1. Tuy hiệu quả chiến đấu chưa cao nhưng đã thể hiện bước phát triển mới của bộ đội chủ lực phân khu về năng lực, tổ chức chỉ huy, về trình độ hợp đồng tác chiến cũng như bảo đảm hậu cần. Sau trận Tân Lâm, địch phải dừng một thời gian để đối phó với chiến thuật phục kích giao thông của ta2. Các hoạt động liên lục và có hiệu quả của trung đoàn 95, đại đội du kích Lê Hồng Phong đã góp phần làm suy yếu lực lượng quân Pháp ở Trung Lào, tạo điều kiện để quân và dân địa phương đẩy mạnh chiến tranh du kích, chặn đứng âm mưu của địch dùng Trung Lào làm bàn đạp tiến công Bình —Trị —Thiên. Tại Thừa —Thiên, trung đoàn 101 dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Hà Văn Lâu và chính ủy Trần Quý Hai, đã mở một đợt tác chiến phối hợp với mặt trận bắc Quảng Bình và Quảng Trị nhằm trực tiếp phá âm mưu chính trị của địch, đưa Phan Văn Giáo lên làm «Tổng trấn trung phần Việt Nam»3. Ngày 27 tháng 6, tiểu đoàn 319 do chính trị viên Quách Sĩ Kha, tiểu đoàn trưởng Vương Tuấn Kiệt chỉ huy, bí mật hành quân vượt phá Tam Giang kỳ tập vị trí Mỹ Lợi. Được nhân mối làm nội ứng, tiểu đoàn hình thành nhiều mũi, đồng loạt xung phong vào đồn. Bị đánh bất ngờ. địch rối loạn, chống cự yếu ớt. Ta vừa đánh vừa gọi hàng. Sau một giờ chiến đấu ta diệt và bắt gọn toàn bộ quân địch, lôi kéo được sáu hàng binh Đức. ______________________________________________ 1. Trận này trung đoàn 95 lần đầu tiên đã dùng điện thoại để chỉ huy đơn vị tham gia trận đánh. 2. Sau trận này, quân Pháp phải thay đổi thủ đoạn và quy luật hành quân vận chuyển. Từ những đoàn xe 20 — 30 chiếc trước đây, nay phải tăng lên 40 — 50 chiếc, có xe bọc thép, pháo binh và không quân hộ tống. 3. Ngày 21 tháng 6 năm 1948, Phan Van Giáo làm lễ chiêu bài tại điện Thái Hòa (Huế) nhận chức Tổng trấn trung phần Việt Nam. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2024, 10:26:19 pm Đi đôi với tác chiến ở đồng bằng, ta đẩy mạnh hoạt động ở đô thị. 12 giờ ngày 16 tháng 6, một bộ phận trung đoàn 101 đột nhập vào thành Huế, dùng AT, ba-zô-ka, súng máy tiến công kho xăng, nhà ga, bắn cháy nhà chứa quân đụng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Ta rút lui an toàn. Ngày 9 tháng 7, tiểu đoàn 319 tổ chức kỳ tập đồn Hà Thanh huyện Phú Vang1. Tại dây, địch có 50 ngụy binh, phần lớn là thanh niên theo đạo Thiên chúa giáo do tên Thanh, trung úy linh mục phụ trách. Lợi dụng giáo lý, lòng tin của con chiên và sức mạnh của vũ khí, tên này ra sức kìm kẹp khống chế nhân dân, đánh phá phong trào chiến tranh du kích, gây nhiều tội ác đối với đồng bào trong vùng. Thường vụ huyện ủy Phú Vang yêu cầu tiểu đoàn 319 diệt đồn này để tạo điều kiện phát động phong trào quần chúng. Ta dùng Kê Men, một hàng binh người Đức giác ngộ, đã từng lập công trong trận Cầu Nhi, đóng vai sĩ quan Pháp, cùng 30 chiến sĩ cải trang thành ngụy binh lập mưu buộc bọn lính gác mở cổng đồn. Ta nhanh chóng ập vào đồn, nổ súng tiến công quân địch. Bị đánh bất ngờ, tên Thanh lẩn trốn, bọn địch không dám chống cự. Ta diệt 44 tên, thu một trung liên, 34 súng trường, cùng nhiều đạn dược, giải thoát bảy cán bộ bị chúng giam giữ, mọi tài sản thuộc nhà thờ vẫn được giữ nguyên vẹn. Nhân dân trong vùng phấn khởi hăng hái tham gia kháng chiến. Đồng bào công giáo càng hiểu rõ chính sách tự do tín ngưỡng của Chính phủ kháng chiến, cảm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm, kỷ luật nghiêm minh của bộ đội Cụ Hồ. Sau trận diệt đồn Hà Thanh, trung đoàn 101 còn đánh thắng liền hai trận: Phục kích đánh chìm 14 đò lớn chở 150 tấn lương thực tại cửa Tư Hiền và trận vận động chiến đánh địch đi càn ở Dưỡng Mông (Phú Vang). Trước sự tiến công dồn dập của quân dân Bình — Trị —Thiên, bọn chỉ huy Pháp ở trung phần Việt Nam ra lệnh cho quân lính canh gác nghiêm ngặt, tăng cường công sự phòng ngự, đào hầm tránh bom bay trong thành phố, rút chủ lực ra ngoài đề phòng ta tiến công. Đồng thời rút bỏ một loạt vị trí ở đồng bằng như Hà Thanh, Xuân Thiện, Trung Hà, Hòa Phú Đông, Quảng Xuyên, để tăng cường cho các vị trí xung yếu. Ngày 27 tháng 9, tên thiếu tá Nguyễn Ngọc Lễ, tổng chỉ huy bảo vệ quân ở trung phần Việt Nam báo cáo lên bộ chỉ huy Pháp và thủ hiến trung phần: «Hai tháng nay tình hình bốn tỉnh (Bình — Trị — Thiên và Quảng Nam) rất nghiêm trọng. Việt Minh hoạt động ráo riết, lấy hét đồn này đến đồn khác và hoạt động cả ban ngày giữa tỉnh lỵ mà quân ta không đủ quân số và vũ khí để đối phó»2. Y khẩn khoản đề nghị: «... Cho 1.000 súng tay và súng máy, đóng thêm đồn ở tỉnh để giữ đất đai đã chiếm được và để «bảo vệ quân» khỏi thất bại. Nếu không giải quyết thì an ninh và trật tự không giữ nổi, nhiều làng mạc sẽ rơi vào tay Việt Minh...”. Đi đôi với tiến công quân sự, ta đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, nhằm đập tan hệ thống ngụy quyền tay sai ở cơ sở. Để thực hiện chính sách bình định, quân Pháp đánh chiếm đến đâu liền xây đồn lập bốt, thiết lập ngụy quyền tay sai đến đấy. Giữa năm 1948, tại Bình — Trị — Thiên địch đã tổ chức được hệ thống ngụy quyền từ tỉnh đến thôn gồm hơn 1.347 ban hội tề. Chúng dùng hội tề để gây cơ sở chính trị và thanh thế cho chính quyền bù nhìn, động viên tinh thần ngụy quân, lừa bịp dân chúng, chia rẽ lương giáo, chia rẽ nhân dân với bộ đội, nhân dân với chính quyền cách mạng, tổ chức các đảng phái phản động, tuyển mộ ngụy binh, thân binh bổ sung cho quân đội ngụy, làm tai mắt dò xét cơ sở, lực lượng và các hoạt động của ta, làm công cụ để thu thuế, vơ vét của cải và phá hoại, bóp nghẹt kinh tế kháng chiến. Nhận rõ âm mưu thâm độc của giặc Pháp và tác hại của hội tề, ta chủ trương vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa phối hợp với dân quân du kích, công an hỗ trợ quần chúng phá tề, diệt ác, thành lập chính quyền nhân dân. Tính đến năm 1948 ta phá được ba phần tư số hội tề của địch ở Bình —Trị —Thiên. Riêng Quảng Trị phá được 230/280 hội tề, Thừa Thiên phá 390/490 ban hội tề. Cuộc đấu tranh trên mặt trận này diễn ra hết sức dai dẳng và quyết liệt. Nhiều nơi ta vừa phá xong, địch lại quay về đàn áp nhân dân, khủng bố cán bộ, phá nát cơ sở, lập lại ngụy quyền tay sai. Có nơi ta phải phá đi phá lại ba đến bốn lần. Nhiều cán bộ cơ sở của ta bị bắt, bị giết. Thâm độc hơn, chúng còn lập hội tề bí mật, tề “hai mặt» để đối phó với ta. Những nơi lực lượng ta mạnh, chúng đặt trụ sở hội tề ở gần đồn, ngày hoạt động, tối rút vào ngủ trong đồn. Từ kinh nghiệm thực tiễn của Bình — Trị — Thiên, Liên khu chủ trương phá tề thành từng đợt đều khắp ở ba tỉnh, tránh địch tập trung khủng bố từng nơi. Tháng 8 năm 1948, Liên khu ra lệnh tổng phá tề lần thứ nhất. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các tỉnh ủy, được lực lượng vũ trang hỗ trợ, nhân dân vùng tạm bị chiếm ở cả ba tỉnh Bình — Trị — Thiên đồng loạt nổi dạy phá kìm, diệt ác, quét tề trên nhiều vùng rộng lớn. Khí thế cách mạng của quần chúng sôi nổi như những ngày tổng khởi nghĩa, 80 phần trăm hội tề ở Bình - Trị — Thiên bị giải tán. Chính quyền nhân dân thôn, xã lần lượt ra đời. Cuối năm 1948, Trung ương lại ra lệnh tổng phá tề. Các tỉnh Bình — Trị — Thiên tiếp tục tổng phá tề lần thứ hai, 95 phần trăm hội tề bị giải tán3. Các Ủy ban kháng chiến thành phố Huế, thị xã Đồng Hới... được thành lập lại và tiếp tục hoạt động, nêu cao vai trò, uy tín của chính quyền cách mạng. Chủ trương «Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung» cùng với cuộc vận động «Diệt tề, trừ gian» là yếu tố quan trọng hàng đầu trong những năm 1947— 1948, đưa phong trào kháng chiến ở Bình — Trị — Thiên vững bước đi lên, thực sự trở thành một cuộc chiến đấu toàn dân, toàn diện, bền bỉ, kiên cường4. ______________________________________________ 1. Tại đây địch dùng nhà thờ đóng đồn. 2. Từ tháng 6 đến tháng 8, quân và dân Bình — Trị — Thiên đánh 57 trận, diệt gần 500 tên (có 350 Pháp), làm bị thương hơn 110 tên (có 50 Pháp), bắt 112 tên (có 13 Pháp), 10 hàng binh Đức, An-giê-ri, diệt tỉnh trưởng, tỉnh phó Quảng Bình, thu 252 súng, phá hủy, phá hỏng 44 xe bọc thép và xe quân sự các loại, bắn rơi hai máy bay, một đầu máy xe lửa, phá sập bảy cầu, đánh chìm 14 đò chở lương thực. 3. Trong ba tháng 10, 11, 12 năm 1948, Bình — Trị — Thiên phá tan 432 ban hội tề, trong đó giải tán 271, thuyết phục 123, bắt truy tố 38, thu 136 mộc triện, diệt và bắt 40 tên phản động, trong đó có Hoàng Công Trường, Lam Sơn và Cao Hữu Thưởng trong hội đồng chấp chính trung phần Việt Nam, bắt hơn 300 tên gián điệp, trong đó có tên Đặng Thuận Chi, trưởng tình báo quân sự tỉnh Thừa Thiên. 4. Trần Văn Quang, Báo cáo kinh nghiệm kháng chiến ở Bình - Trị - Thiên, năm 1949, Hồ sơ 42, tr. 2, Kho lưu trữ Bộ Quốc phòng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2024, 10:27:43 pm Để củng cố tinh thần ngụy quân, ngụy quyền sau các đòn tiến công quân sự và cuộc tổng phá tề của ta, từ giữa tháng 9 đến thượng tuần tháng 12 năm 1948, thực dân Pháp liên tiếp mở nhiều cuộc càn quét vào căn cứ của phân khu và của các tỉnh, nhằm tiêu diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến, tiêu diệt chủ lực, hòng đè bẹp sức kháng chiến của Bình — Trị — Thiên, khôi phục lại ngụy quyền ở những nơi vừa bị mất. Mở đầu chiến dịch, từ ngày 17 đến ngày 25 tháng 9, địch điều bốn tiểu đoàn từ Đà Nẵng, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, cùng 10 máy bay, 100 xe quân sự, năm ca nô, 100 đò, chia thành nhiều mũi, theo đường bộ và đường sông càn vào chiến khu tỉnh Quảng Trị và căn cứ của phân khu. Trước cuộc tiến công ồ ạt của địch, để bảo vệ chiến khu, Ủy ban kháng chiến Phân khu kịp thời chỉ đạo lực lượng vũ trang ba thứ quân mở một đợt tác chiến phối hợp trên toàn phân khu nhằm kìm chân, phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến khu chống phá cuộc càn quét của địch. Tại Chiến khu Ba Lòng, trong tình huống hết sức khẩn trương, cán bộ, chiến sĩ cơ quan đã bình tĩnh sơ tán tài liệu, chuyển thương bệnh binh, kho tàng vào sâu trong rừng; đồng thời tổ chức chiến đấu, phối hợp với đại đội trợ chiến 127 và trung đội cảnh vệ chặn đánh địch. Dân quân du kích tiền chiến khu dùng mìn, địa lôi, lựu đạn phục kích đánh địch ở ngã tư Làng Am, Trường Phước, Ba Lòng, Phuớc Môn, Cùa, diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch. Đòn đánh trả của quân và dân phía trước chiến khu đã làm giảm cường độ và tốc độ tiến công của địch, góp phần bẻ gẫy cuộc càn của chúng, bảo vệ an toàn cơ quan tỉnh và phân khu. Nắm vững thời cơ lúc địch rút lui, tinh thần mệt mỏi, chủ quan, tại Bến Đuồi, đại đội 127 trợ chiến (trung đoàn 95) và trung đội cảnh vệ do trung đoàn phó Phùng Thế Bằng chỉ huy, chặn đánh địch trên đoạn sông từ Bỏng đến Chủ Cá, Bãi Dài, Khe Trái, bắn chìm 40 đò, một ca nô, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Phối hợp với bộ đội ở chiến khu, bộ đội chủ lực cùng quân dân du kích trên cả ba tỉnh Bình-Trị-Thiên ráo riết hoạt động khắp nơi, diệt nhiều toán địch đi lùng sục, phục kích đánh giao thông, quấy rối các vị trí, đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền, hỗ trợ nhân dân phá tề, trừ gian, làm rối hậu phương địch. Ta đã diệt hơn 300 tên, làm bị thương 150 tên. Thắng lợi của ta trong việc đánh trả có hiệu quả cuộc càn quét quy mô lớn của địch, càng khẳng định vai trò hết sức quan trọng của bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đồng thời cũng chứng tỏ nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của phân khu và trình độ phối hợp tác chiến của các lực lượng vũ trang trên địa bàn ba tỉnh Bình - Trị - Thiên đã có bước tiến mới. Đầu tháng 12 năm 1948, thực dân Pháp lại ráo riết chuẩn bị tiến công Troóc nhằm cắt đường giao thông liên lạc duy nhất của ta từ Thanh— Nghệ — Tĩnh vào Bình — Trị—Thiên và Trung Lào. Làng Troóc là một căn cứ kháng chiến của tỉnh Quảng Bình, nằm giữa một thung lũng hẹp ở miền tây-bắc của tỉnh, trên tuyến giao thông liên lạc Bắc Nam. Do có vị trí hết sức quan trọng đối với sự sống còn của các huyện miền tây bắc Quảng Bình, tây nam Hà Tĩnh, cũng như trong việc bảo đảm giao thông liên lạc Bắc-Nam nên Troóc đã trở thành một «quyết chiến điểm» quyết liệt giữa ta với địch trong nhiều năm. Sáng ngày 10 tháng 12 năm 1948, lực lượng địch gồm 200 tên được không quân, pháo binh yểm hộ tổ chức hai gọng kìm tiến công vào Troóc. Để phòng ta đánh trả, địch bắt hàng trăm đồng bào đi trước đội hình tiến công để làm bia đỡ đạn cho chúng. Dân quân du kích địa phương dùng vũ khí thô sơ tự tạo dũng cảm đánh trả địch, diệt 25 tên (có 13 tên Pháp). Sau khi chiếm Troóc, với ý định chốt giữ lâu dài, địch gấp rút sửa chữa tỉnh lộ số 2, bắc cầu phao qua sông Xuân Sơn, xây dựng sân bay dã chiến, hệ thống công sự, trận địa cố thủ. Ngày 19 tháng 12, Hội nghị Liên khu ủy mở rộng đã phân tích ý đồ của địch và hậu quả nghiêm trọng do cuộc tiến công của chúng gây ra và quyết nghị phải tổ chức đánh bật địch ra khỏi Troóc, khai thông đường liên lạc Bắc —Nam. Ngày 25 tháng 12, hai đại đội thuộc trung đoàn 103 phối hợp với dâu quân du kích tiến công quân địch ở Troóc, diệt 18 tên Pháp và lê-dương. Tuy nhiên, do lực lượng địch còn đông, lại có hệ thống công sự vững chắc, lực lượng ta có hạn, thiếu hỏa lực, nên ta chưa đủ sức đẩy chúng ra khỏi vị trí. Tình hình đó đã gây cho ta nhiều khó khăn trong việc liên lạc tiếp tế từ Hà Tĩnh vào Quảng Trị, Thừa Thiên. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2024, 10:29:52 pm Đầu năm 1949, thực dân Pháp tổ chức những đợt vận chuyển lớn tiếp tế vũ khí, lương thực cho Quảng Trị, Quảng Bình và Trung Lào. Bộ chỉ huy Phân khu chủ trương tổ chức những trận đánh giao thông nhằm vào các đoàn tàu chở vũ khí quan trọng của địch, phá kế hoạch chuẩn bị của chúng, lấy vũ khí trang bị cho các đơn vị, cổ vũ các đại đội độc lập và các lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh tác chiến, tạo ra bước phát triển mới trong phong trào chiến tranh du kích toàn phân khu. Căn cứ vào ý định và quyết tâm của Bộ chỉ huy Phân khu, trung đoàn 101 quyết định chọn Hói Mít làm điểm tiến công đoàn tàu địch. Hói Mít nắm trên tuyến đường sắt Đà Nẵng — Huế, cách ga Lăng Cô hai ki-lô-mét về phía bắc, kẹp giữa phá Lăng Cô đường số 1 và dải núi trùng điệp ở tây - tây nam. Địa hình có nhiều thuận lợi cho ta, song cũng thuận lợi cho địch trong việc cơ động lực lượng đến phản kích khi bị tiến công. Sáng ngày 12 tháng 1 năm 1949, đoàn tàu chở vũ khí của địch được bộ binh và cơ giới yểm hộ, lọt vào trận địa phục kích của ta. Dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Trần Sâm, bộ đội ta đã dũng mãnh xông thẳng ra mặt đường, đánh chiếm đoàn tàu của địch. Dựa vào quân đông, hỏa lực mạnh, bọn địch trên tàu ngoan cố chống cự rất quyết liệt, cản được nhiều mũi xung phong của ta. Nhưng ta tập trung hỏa lực bắn mạnh vào toa chỉ huy, nhanh chóng đánh chiếm các toa khác. Bọn địch trên các toa lần lượt đầu hàng. Trên hướng quốc lộ số 1, một bộ phận của ta đã kịp thời xung phong giáp lá cà, cắt đứt đội hình địch đi hộ tống, diệt hàng chục tên, đốt cháy nhiều xe. Bọn sống sót vứt súng chạy tán loạn. Sau hơn một giờ chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên, thu 10 trung liên, 30 tiểu liên, 180 súng trường, phá hỏng một đại bác 75 mi-li-mét, phá hủy hàng ngàn khẩu súng, 80 tấn đạn các loại, một đầu máy, 17 toa xe (bốn toa chở đạn)1. Được tin đoàn tàu bị tiến công, địch lập tức điều quân ứng chiến liên tỉnh từ Huế, Đà Nẵng đến tiếp viện. Một bộ phận của ta bị địch bao vây bốn mặt. Suốt hai ngày liền bộ đội phải nhịn đói, chịu khát, bí mật giấu quân trong các rừng cây, bờ bụi dưới tầm pháo địch. Sang đêm thứ hai, được sự giúp đỡ của du kích và nhân dân, đơn vị đã bí mật luồn sát nách địch thoát vây về chiến khu Phú Lộc an toàn. Hói Mít là trận phục kích tiêu diệt gọn của quân và dân Thừa Thiên, có sức cổ vũ mạnh mẽ quân và dân toàn liên khu. Đối với địch đây là một tổn thất lớn về vũ khí và phương tiện chiến tranh trong một trận đánh trên chiến trường Bình — Trị —Thiên từ trước đến nay. Với chiến thẳng này, quân dân Thừa Thiên đã phá được kế hoạch tiến công của địch ngay trong giai đoạn chuẩn bị của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho quân dân Bình — Trị — Thiên, Trung Lào đánh thắng nhiều trận tiếp sau. Sau trận thất bại Hói Mít, tên phó tư lệnh trung phần Việt Nam, Đờ La-rốc (De Larque) phải cấp tốc chỉ thị cho binh sĩ «Phải tiết kiệm đạn dược và vũ khí». Thời kỳ này mật độ sử dụng hỏa lực của địch ở Bình — Trị — Thiên giảm đi rõ rệt. Đại bác của chúng không còn thường xuyên bắn vào chiến khu như trước nữa. Cay cú trước thất bại trong những ngày đầu năm, từ ngày 17 tháng 1 đến ngày 24 tháng 2 năm 1949, địch tập trung 500 rồi 2.000 quân, có máy bay, tàu chiến yểm hộ mở bốn cuộc càn quét vào vùng đồng bằng các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang (Thừa Thiên), Hải Lăng, Triệu Phong (Quảng Trị). Sau đợt tổng lùng ở đồng bằng, địch tập trung lực lượng càn quét lên chiến khu. Từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 14 tháng 3, địch huy động 2.000 quân, có không quân yểm hộ, mở cuộc tiến công vào Chiến khu Thừa Thiên, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của phân khu và gây ảnh hưởng cho chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Chúng tiến công ba mặt: một mũi từ Động Truồi lên Khe Su, Ly Hy theo đường số 14 Khe Tro; một mũi từ Tuần theo sông Hữu Trạch tiến vào Bình Điền; một mũi từ Gia Lễ tiến lên Dương Hòa, Lương Miêu án ngữ phía trước chiến khu. Nắm vững âm mưu thủ đoạn của địch, phân khu kịp thời chỉ đạo các cơ quan và nhân dân sơ tán, hạn chế tổn thất do địch gây ra, đồng thời chỉ đạo các lực lượng vũ trang toàn phân khu đánh địch rộng khắp, nhằm phá cuộc càn của địch, bảo vệ các cơ quan ở chiến khu. Các đại đội độc lập của trung đoàn 101 phối hợp chặt chẽ cùng quân dân toàn tỉnh liên tục đánh địch đều khắp. Nổi bật là tiểu đoàn 319 đã bí mật luồn về sau lưng địch đánh trận vận động chiến ở Đôn Trì (11-3) làm cho địch bị bất ngờ, lúng túng. Phối hợp với bộ đội chủ lực, ngày 18 tháng 3 đại đội 1 dân quân tỉnh Thừa Thiên độc lập tác chiến, kết hợp tiến công quân sự với địch vận diệt gọn đồn Vân Trình. Toàn bộ bọn chỉ huy đồn đều bị diệt. Ta thu 41 súng, hơn một vạn viên đạn các loại. Với số vũ khí này, đại đội 1 dân quân không những tự trang bị đầy đủ cho mình mà còn chi viện đáng kể cho lực lượng du kích địa phương. Đây là đơn vị dân quân mạnh, có trình độ tác chiến giỏi, có khả năng độc lập tác chiến diệt gọn từ một đến hai trung đội địch trong một trận đánh. Sau 20 ngày phối hợp chiến đấu bảo vệ chiến khu, quân và dân Thừa Thiên đã loại khỏi vòng chiến đấu 350 tên địch (có một quan tư, một quan ba, một quan hai). Cuộc tiến công của địch lên chiến khu không thực hiện được mục tiêu đề ra. ______________________________________________ 1. Do không nắm được khối lượng vũ khí chở trên tàu, nên ta không bố trí đủ lực lượng thu chiến lợi phẩm, buộc phải hủy bỏ phần lớn số vũ khí, đạn dược thu được. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2024, 10:31:22 pm Để đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở thành phố, thị xã, biến hậu phương an toàn của địch thành tiền phương của ta, phân khu sử dụng trung đoàn 95 tập kích vào Đông Hà — một thị xã nằm ở trung tâm Bình — Trị— Thiên, đồng thời là căn cứ hậu cần của địch tiếp tế cho cả Quảng Bình, Quảng Trị và Trung Lào. Kế hoạch kỳ tập thị xã Đông Hà được dự kiến như sau: Tiểu đoàn 302 và 310 (thuộc trung đoàn 95) bí mật ém quân sát thị xã. Cùng lúc, cho một trung đội hàng binh Đức giác ngộ do Kê-men chỉ huy, cải trang thành đội lê-dương vào doanh trại địch cướp lấy xe bọc thép. Sau đó dùng xe bọc thép yểm hộ cho tiểu đoàn 302 đánh địch và chốt giữ thị xã. Tiểu đoàn 310 cùng hai tốp xe bọc thép, chia thành hai mũi đánh chiếm Cam Lộ, Đầu Mầu, Ba Dốc, Chợ Cầu. Đại đội du kích Lê Hồng Phong phối hợp với du kích Triệu Phong cắt đứt cầu Lai Phước và Ái Tử, ngăn chặn cơ giới địch từ Quảng Trị ra tiếp viện. Nếu tình hình phát triển thuận lợi, ta giải phóng và làm chủ hai huyện Cam Lộ, Gio Linh một thời gian. Đêm 20 tháng 3, tiểu đoàn 302 và 310 dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng 95 bí mật triển khai đội hình chiến đấu tại vị trí quy định. Cùng thời gian, Kê-men chỉ huy trung đội hàng binh Đức — trong tư thế của đội lê-dương đi tuần — theo đường số 9 vào trại lính địch trong thị xã Đông Hà, chiếm được hai xc bọc thép trực chiến của địch1 cơ động ra khỏi doanh trại, đón được một đại đội của tiểu đoàn 302. Tranh thủ yếu tố bất ngờ, ta nhanh chóng tiến công một số vị trí địch trong thị xã. Bị đánh bất ngờ, bọn chỉ huy địch hoảng hốt ra lệnh tắt điện và báo động chiến đấu toàn thị xã. Phát hiện lực lượng ta không lớn và chỉ hoạt động trên một hướng, địch liền điều động lực lượng ra phản kích. Lúc này hai đại đội còn lại của tiểu đoàn 302 bị lạc vẫn chưa vào kịp. Đại đội vào trước của ta rơi vào tình thế khó khăn, phải vừa đánh trả vừa rút lui. Kê-men nhanh chóng cơ động hai xe bọc thép lên đường số 9 tiến công vị trí địch ở ki-lô-mét số 7. Nhưng bọn địch ở đây đã được báo động, tập trung hỏa lực chống trả quyết liệt. Biết không còn yếu tố bất ngờ nữa, Kê-men cùng trung đội hàng binh chủ động hủy xe và rút lui. Cùng thời gian, tiểu đoàn 310 và các phân đội tham gia trận đánh, biết việc không thành đều rút lui theo kế hoạch đã định, ta diệt 54 tên, phá hủy hai xe bọc thép AM. Do tư tưởng chủ quan, giản đơn, đánh giá sai lực lượng và ấu trĩ về nghệ thuật tác chiến, trận đánh vào thị xã Đông Hà đã không thực hiện được mục đích đề ra. Nhưng hành động táo bạo của quân ta đã có sức cổ vũ mạnh mẽ phong trào kháng chiến tại các thành phố, thị xã, làm náo động hậu phương địch và làm khủng hoảng thêm tinh thần chiến đấu vốn đã sa sút của bọn ngụy quân, ngụy quyền. Trước đà tiến công dồn dập của quân ta, tháng 3 năm 1949, Bộ chỉ huy Pháp ở trung phần Việt Nam ra lệnh tăng cường các biện pháp kiểm soát và phòng thủ các thành phố, thị xã cùng lúc rút 14 đồn lẻ: Đá Đen (Bố Trạch), Thế Chi Đông, Lãnh Thủy, Đại Lộc (Quảng Điền), Chợ Phiên (Cam Lộ), Vân Cự (Hương Trà), Mỹ Lợi, Phú An (Phú Lộc), Quảng Xuyên (Phú Vang)... và rút thêm quân các nơi về tăng cường cho các thành phố, thị xã và các vị trí quan trọng. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Liên khu lần thứ nhất, được Thanh-Nghệ-Tĩnh tích cực chi viện, quân và dân Bình-Trị-Thiên đã dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, khẩn trương xây dựng lực lượng, đẩy mạnh tiến công địch cả về quân sự, chính trị, kinh tế, từng bước đánh bại mọi thủ đoạn của địch, đưa phong trào kháng chiến ở ba tỉnh tiền tuyến của liên khu vững bước đi lên. Thắng lợi đó trong năm 1948 là cơ sở vững chắc để quân dân Bình — Trị—Thiên tiếp tục tiến lên giành thắng lợi mới trong năm 1949, đồng thời góp phần cùng quân dân liên khu chặn đứng âm mưu của địch đánh chiếm Thanh—Nghệ—Tĩnh, bảo vệ vững chắc hậu phương trực tiếp của chiến trường Bình — Trị — Thiên và cũng là một hậu phương của chiến trường Bắc Bộ, bắc Đông Dương. _____________________________________________ 1. Ta chỉ lấy được hai xe bọc thép trực chiến (trong tổng số bảy xe), năm xe khác địch dùng xích sắt khóa cố định tại chỗ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2024, 10:22:36 pm * * * Đi đôi với việc đánh chiếm ba tỉnh Bình—Trị—Thiên, thực dân Pháp âm mưu đánh chiếm ba tỉnh Thanh—Nghệ — Tĩnh nhằm phá một nguồn cung cấp nhân tài, vật lực của ta, chia cắt chiến trường Đông Dương, biến hậu phương ta thành nơi cung cấp sức người, sức của cho cuộc chiến tranh xâm lược của chúng. Ở phía bắc liên khu, địch chiếm phan lớn địa bàn Liên khu 3, phía nam chúng chiếm Bình-—Trị—Thiên, phía tây chúng xây dựng hệ thống cứ điểm dọc biên giới Việt — Lào, phía đông liên khu, tàu chiến địch thường xuyên tuần tiễu, bắn phá, ngăn cản mọi hoạt động của ta trên biển và tổ chức nhiều cuộc đổ bộ bất ngờ vào vùng ven biển. Không quân địch có bọn phản động mặt đất chỉ điểm, liên tục trinh sát, đánh phá, khống chế đường bộ, đường biển, bến bãi, kho tàng, cơ sở sản xuất và khu vực dân cư. Chúng còn lén lút tung nhiều toán gián điệp, biệt kích từ biển vào, từ Bình—Trị—Thiên ra, dò la, nắm tình hình, móc nối xây dựng các tổ chức phản động trong các đảng phái tôn giáo, âm mưu phá ta từ bên trong, bí mật xây dựng bộ máy ngụy quyền tay sai ở một số địa phương, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng làm nội ứng. Chúng còn thường xuyên tung tin đồn nhảm, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, kích động chia rẽ lương giáo, gây hiềm khích giữa đồng bào Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số... Quán triệt chủ trương của Trung ương «Phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của địch ở Bắc Bộ và Liên khu 4»1. Đại hội Đảng bộ Liên khu lần thứ nhất (Tháng 5 năm 1948) quyết nghị: «Thúc đẩy phong trào kháng chiến, dành nhiều thời gian chuẩn bị ráo riết ở Thanh—Nghệ —Tĩnh». Nhiệm vụ trung tâm trước mắt của ba tỉnh hậu phương là: «chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, phải đánh thắng ngay từ trận đầu». Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng Liên khu, quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh khẩn trương xây dựng làng chiến đấu, tổ chức bố phòng ven biển, sơ tán các kho thóc gạo về những nơi an toàn, đề phòng địch cướp phá và kịp thời phục vụ tại chỗ cho bộ đội. Các cơ quan, công xưởng sắm vũ khí, tự trang bị chiến đấu. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương tỉnh, huyện tổ chức luyện tập theo các phương án dự kiến và bố trí lực lượng ở các vùng trọng điểm mà địch có thể tập kích bất ngờ. Công tác phòng tránh máy bay, chống tập kích đường không, đường biển, chống gián điệp được liên khu đặc biệt chú ý, có kế hoạch cụ thể cho từng địa phương, đơn vị. Hàng vạn hầm trú ẩn cá nhân và hàng ngàn mét giao thông hào, hàng trăm trạm gác, chòi quan sát máy bay được triển khai khắp nơi. Đồi hoang, cồn cát, bãi bóng, sân bay, những nơi địch có thể nhảy dù đều được cắm chông tre, cọc gỗ. Trên các cửa sông Mã, sông Đò Lèn, sông Ghép (Thanh Hóa), sông Bùng, sông Lam, Cửa Thới, Cửa Lò, Cửa Hội (Nghệ An) được dựng lên hàng ngàn, hàng vạn chiếc cọc sắt, tà vẹt, đường ray... làm sống dậy không khí chiến trận của Bạch Đằng thuở trước. Công tác phá hoại được tiếp tục tiến hành ở những nơi chưa làm triệt để. Tại Thanh Hóa, ta phá thêm các đường liên tỉnh, liên huyện, đắp thêm con chạch trên các đê lớn, vừa chống lụt, vừa làm ụ tác chiến. Tại Nghệ An và Hà Tĩnh, các đường lớn đều có ụ chiến đấu, đường số 7 từ Dừa xuống Đô Lương được phá triệt để. Tự vệ thành phố còn phá tiếp sân bay Vinh. Tính đến cuối năm 1948, toàn liên khu đã phá 1.800 ki-lô-mét trong tổng số 2.500 ki-lô-mét đường bộ và 2.500 mét trong tổng số 9.500 mét cầu. Ngày 27 tháng 3, Trung ương Đảng ra chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc, nhằm động viên nhiệt tình cách mạng và trí sáng tạo của quân và dân ta vào mục đích đẩy mạnh công cuộc kháng chiến kiến quốc. Để cổ vũ phong trào thi đua cả nước, Hồ Chủ tịch kêu gọi: «Người người thi đua, Ngành ngành thi đua. Ngày ngày thi đua. Ta nhất định thắng. Địch nhất định thua». Tháng 6 năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu phát động cuộc vận động «Thi đua ái quốc», trong toàn liên khu xây dựng nhiều «làng Cự Nẫm» với 4 nội dung: Củng cố chính quyền nhân dân, phát triển và huấn luyện dân quân, bố phòng tác chiến, lãnh đạo nhân dân tham gia kháng chiến. Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu đặt giải thưởng: nhất và nhiều làng Cự Nẫm (toàn diện với bốn nội dung thưởng 100 khẩu súng, nhất về bố phòng tác chiến 1.000 quả lựu đạn, nhất về lãnh đạo phong trào nhân dân tham gia kháng chiến 10.000 đồng). Ngày 10 tháng 7, Ban vận động thi đua ái quốc Liên khu và các tỉnh được thành lập. Sau lễ ký kết giao ước giữa ba tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh, một cao trào thi đua ái quốc dấy lên sôi nổi liên tục trong các ngành, các giới cho đến từng nhà, từng người. Phong trào lan nhanh trong các lực lượng vũ trang liên khu ở cả hậu phương và tiền tuyến. Hà Tĩnh có phong trào «Một năm xây dựng dân quân»; Nghệ An phát động «Một tháng gia nhập dân quân» với khẩu hiệu «Mỗi người dân là Một người lính». Nhân dân hăng hái xung phong gia nhập dân quân. Nam từ 18 đến 45, nữ từ 18 đến 35 tuổi đều ghi tên vào dân quân. Nhiều cụ già 60 đến 70 tuổi, nhiều phụ nữ đông con, có con mọn cũng tình nguyện xin vào dân quân. Trong thôn xóm, hầu như nhà nào cũng có người ở trong đội ngũ dân quân, không ít gia đình cả nhà đều là dân quân. Chỉ một tháng sau ngày phát động, số lượng dân quân Nghệ An từ 166.460 đã lên tới 387.500 người2, trong đó có 43.380 lão dân quân, 67.200 nữ dân quân. Ở huyện Tương Dương (Nghệ An) đội du kích người dân tộc Mẹo lần đầu tiên được thành lập. Sau một năm xây dựng, tổng sổ dân quân Hà Tĩnh đã lên tới 93.700 người, trong đó có 18.650 dân quân du kích thường trực, 75.050 dân quân du kích, 2.250 lão dân quân, 2.180 nữ dân quân. Qua phong trào «Luyện quân lập công», Nghệ An chọn được hàng trăm cán bộ, đội viên bổ sung cho các đơn vị chủ lực và xây dựng ở mỗi huyện một đại đội độc lập. ______________________________________________ 1. Trích Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương, tháng 1 năm 1948. 2. Tổng số cử tri Nghệ An là 460.896 người; Hà Tĩnh là 236.447 người (tháng 7 năm 1949). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2024, 10:28:14 pm Ngày 25 tháng 8, Hà Tĩnh tập trung dân quân thường trực của huyện lập ra bốn đại đội độc lập. Cùng thời gian này, Nghệ An tổ chức bốn đại đội, Thanh Hóa có chín đại đội dân quân thường trực. Giữa lúc quân và dân liên khu, đặc biệt là ba tỉnh hậu phương đang tích cực chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu thì thực dân Pháp cũng tăng cường hoạt động trinh sát, đánh phá. Tại mặt trận miền tây Thanh — Nghệ — Tĩnh, địch tăng quân vận chuyển, nghi binh và tổ chức những cuộc tập kích bất ngờ vào nội địa, cướp lương thực, bắt cóc cán bộ và bắt thanh niên đưa sang Lào đi lính cho chúng. Cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 1948, máy bay địch oanh tạc xưởng giấy Đồng Minh (Quan Kinh, Thanh Hóa), làm hư hỏng hoàn toàn xưởng này. Tàu chiến địch thường xuyên tuần tiễu dọc ven biển kiểm soát giao thông, cướp phá thuyền đánh cá, tập kích lên bờ thăm dò lực lượng, khủng bố nhân dân, hoạt động gián điệp... Chỉ tính từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1948, chúng đã đổ bộ gần 20 lần lên các vùng Nhượng Bạn (Hà Tĩnh), Lạch Còn (Nghệ An), Cồn Liêu (Nga Sơn, Thanh Hóa), Nghi Sơn, Do Xuyên, Ba Làng, Biện Sơn thuộc Tĩnh Gia (Thanh Hóa). Vừa luyện quân vừa lập công, trung tuần tháng 5 và tháng 6, quân dân miền tây Nghệ An, Thanh Hóa đánh địch ở Mường Mô, Mường Ngàn, Pắc Môn, Mường Xán (Nghệ An), Lang Hang, Lang Chánh (Thanh Hóa), diệt 116 tên (có 5 tên Pháp) làm bị thương 20 tên, bức địch rút đồn Mường Mô, giữ vững biên giới phía tây và củng cố vững chắc thế trận của ta. Quy mô chiến tranh ngày càng phát triển, nhu cầu chi viện cho mặt trận Bình — Trị — Thiên và mặt trận Trung Lào ngày càng cao, đòi hỏi sự đóng góp rất lớn của hậu phương Thanh — Nghệ — Tĩnh. Cùng với phong trào “Luyện quân lập công”. Cuộc vận động thi đua phát triển nông nghiệp và các ngành nghề thủ công, nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách: về ăn, mặc cho bộ đội và nhân dân được tiến hành rộng khắp. Các tỉnh ủy phát động toàn dân thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm với khẩu hiệu «Diệt giặc đói như diệt giặc ngoại xâm», «Tấc đất, tấc vàng». Khắp nơi, nhân dân thi đua khai hoang phục hóa, mở rộng diện tích trồng lúa và phát triển các loại rau màu ngắn ngày để giải quyết nạn đói. Nhằm phấn đấu đạt chỉ tiêu lương thực, liên khu và các tỉnh đã tiến hành đồng loạt nhiều biện pháp để đẩy mạnh sản xuất đáp ứng yêu cầu kháng chiến. Hai trại sản xuất «kiểu mẫu» ở Vạn Mai (Thanh Hóa), Ngàn Trươi (Hà Tĩnh) và một trại nhân giống trâu bò, cá, cung cấp cho ba tỉnh vùng tự do được thành lập. Khôi phục, cải tạo sáu đồn điền cũ của Pháp để lại1 biến thành cơ sở sản xuất quốc doanh của ta, giúp đỡ đưa 870 công nhân và 2.000 gia đình từ miền xuôi lên sản xuất. Tổ chức quỹ tín dụng giúp nông dân vốn để mua trâu bò và phát triển nghề thủ công dệt cói. Củng cố và sửa chữa hệ thống đê điều sông Mã, sông Hoàng Mai, sông Lam, sông La để ngăn lụt và ngăn mặn, làm cho 48 làng và 9.475 héc-ta ruộng được bảo vệ, mỗi năm thu thêm 5.125 tấn lúa. Sửa chữa và khai thác trạm bơm Đô Lương, Nam Đàn, hoàn thành công trình nông giang sông Rô (Nghệ An), đưa nước tưới cho hơn 35 héc-ta ruộng. Huy động 310.000 nhân công, chi gần bốn triệu đồng sửa chữa hệ thống kênh nông giang và 36 công trình đập, cống, mương máng, bảo đảm nước tưới cho 20.500 héc-ta. Các tổ đổi công, vần công được thành lập, Thanh Hóa dẫn đầu phong trào với 3.000 tổ, Nghệ An 2.000 tổ, Hà Tĩnh 600 tổ, và Quảng Bình 260 tổ. Các tổ đổi công, vần công đã có tác dụng tốt trong việc đẩy mạnh sản xuất xây dựng nếp sống mới ở nông thôn, nhất là trong việc giúp đỡ các gia đình liệt sĩ, thương binh, gia đình có người đi bộ đội, đi dân công hoặc neo đơn. Việc tự túc lương thực được đặt ra một cách tích cực trong bộ đội, cán bộ, công nhân viên chức. Các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, các cơ quan đoàn thể đều lập trại tăng gia để trồng trọt và chăn nuôi, tự túc một phần lương thực, thực phẩm. Dân quân Thanh Hóa thành lập một trại sản xuất lớn, vỡ 16 héc-ta ruộng hoang, đào được một kênh nhỏ. Dân quân Hà Tĩnh làm được 75 héc-ta lúa, mỗi huyện có một trại tăng gia của dân quân tập trung, nơi nhiều nhất có đến 50 héc-ta. Có đại đội đã tự túc được 70 phần trăm lương thực. Nhờ những nỗ lực trên đây, nạn đói được đẩy lùi, tình hình sản xuất lương thực từng bước ổn định và phát triển. Ba tỉnh hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh không những tự bảo đảm được nhu cầu lương thực tại chỗ cho nhân dân và lực lượng vũ trang, mà còn chi viện cho tiền tuyến Bình — Trị — Thiên, cung cấp cho Liên khu 5 hàng trăm tấn gạo và tiếp tế cho Bắc Bộ hàng ngàn tấn muối2. Bên cạnh những thành quả giành được trên mặt trận kinh tế, cuộc vận động thi đua diệt dốt cũng thu được những thành tựu đáng kể. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, nhân dịp Người gửi thư khen Ty bình dân học vụ tỉnh Hà Tĩnh3, toàn liên khu dấy lên phong trào thi đua thanh toán nạn mù chữ với khẩu hiệu «Đại tiến công giặc dốt», «Diệt giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm». Hội đồng kháng dốt, Hội khuyến học, Hội bảo trợ bình dân được nhanh chóng thành lập. Các lớp bình dân học vụ buổi trưa, buổi tối được mở khắp nơi, thu hút hàng vạn học viên già, trẻ, gái, trai. Hệ thống các trường phổ thông tiểu học, trung học cũng phát triển mạnh mẽ. Năm 1948, toàn liên khu có 736 trường tiểu học với 2.300 lớp; 81.800 học sinh; 40 trường trung học với 180 lớp, 7.200 học sinh. Trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn thiếu thốn, nhân dân vẫn hăng hái học hành, dù phải sử dụng cả đình, chùa làm lớp học, phải tổ chức các lớp học sáng sớm, chiều tối để tránh máy bay địch bắn phá, nhưng khó khăn nhất vẫn là giấy, mực. Với số lượng giấy ít ỏi, học sinh phải viết tiết kiệm dùng đến ba lượt: viết bằng bút chì, dùng lại bằng bút mực, ngâm giấy vào nước vôi cho phai mực cũ rồi đem phơi khô dùng lần thứ ba. Nhiều nơi học sinh phải hái quả mua pha chế thành mực tím để viết. Song những khó khăn ấy không làm cho nhân dân ta nản lòng mà càng hun đúc thêm sự bền gan vững chí «học nữa, học mãi» để trở thành những người có ích cho xã hội, phục vụ nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc. _____________________________________________ 1. Các đồn điền: Vạn Lại, Yên Mỹ (Thanh Hóa), Yên Sơn, Đào Nguyên, Phủ Quỳ (Nghệ An), Ngàn Trươi (Hà Tĩnh). 2. Trích báo cáo của Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu tháng 10 năm 1948. 3. Tháng 3 năm 1948. Ty bình dân học vụ Hà Tĩnh được Hồ Chủ tịch gửi thư khen. Huyện Cẩm Xuyên là đơn vị đầu tiên ở Liên khu 4 thanh toán xong nạn mù chữ, được Bác gửi thư khen (ngày 15 tháng 11 năm 1948). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2024, 10:31:33 pm Phong trào học văn hóa trong bộ đội được đẩy mạnh. Các đại đội đều mở lớp học cho cán bộ và chiến sĩ. Nhiều đồng chí mù chữ đã biết đọc, biết viết. Nhờ vậy, trình độ nhận thức chính trị, quân sự được nâng cao. Các đơn vị bộ đội còn tích cực tham gia phong trào chống nạn mù chữ cho toàn dân. Ở đâu có bộ đội đóng là ở đó có phong trào bình dân học vụ sôi nổi, nhộn nhịp. Nhiều đơn vị để ra hàng trăm công đào giao thông hào, hầm hố, cùng dân quân tổ chức các chòi báo động tránh máy bay cho các lớp bình dân học vụ và các trường phổ thông. Cùng với cuộc vận động diệt giặc dốt, phong trào thi đua xây dựng đời sống mới, «kiến thiết xã hội kiểu mẫu» tiếp tục được thực hiện với quy mô rộng và chất lượng mới. Nhiều nơi, nhân dân tự đóng góp tiền bạc xây dựng trường học, trạm y tế, nhà hộ sinh. Phong trào sửa giếng cũ, sửa sang nhà ở, đưa hố xí, chuồng trâu bò xa nhà ở, sửa lại đường làng, phát quang cây cối... được tiến hành khắp nơi. Trình độ văn hóa của nhân dân được nâng cao, nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, nạn mê tín dị đoan giảm bớt và dần dần được xóa bỏ. Một nếp sống văn minh, giản dị, lành mạnh, đoàn kết thân ái được hình thành. Bộ mặt nông thôn ở ba tỉnh hậu phương từng bước đổi mới. Nhân dân càng gắn bó với chế độ mới, càng ra sức đẩy mạnh kháng chiến và kiến quốc. Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu còn hết sức coi trọng mặt trận đấu tranh chính trị, bao gồm cuộc đấu tranh trấn áp bọn phản động đội lốt Thiên chúa giáo và bọn thổ ty, lang đạo ở thượng du, Thanh Hóa, Nghệ An, chống chiến tranh gián điệp của địch, đồng thời đấu tranh làm trong sạch nội bộ, xây dựng và phát triển các tổ chức đoàn thể cách mạng, tăng cường khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở công nông liên minh. Đây là một cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt, phức tạp và sôi động nhất ở Thanh — Nghệ — Tĩnh. Cầm đầu thế lực phản động lợi dụng đạo Thiên chúa là bọn cố đạo ngoại quốc và Trần Hữu Đức, tổng quản nhà chung xã Đoài (Nghệ An). Tại đại hội liên đoàn địa phận, Trần Hữu Đức công khai bàn kế hoạch gây bạo loạn, lập chính quyền công giáo, thống nhất «giáo hội» với «liên đoàn công giáo», đưa một số tên cực đoan phản động như Bùi Quang Nga, Phạm Tuyên vào giữ những vị trí chủ chốt. Chúng quy định «các cha là ủy ban», «Liên đoàn là mặt trận». Chúng thông qua một chương trình hành động toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, nhằm biến «Liên đoàn công giáo» thành một chính quyền riêng biệt của người theo đạo Thiên chúa giáo. Tại Nông Cống (Thanh Hóa) một số tên trong tổ chức «Dân tộc giải phóng» bị bắt trong vụ “Mậu Thôn” đã lén lút trở lại hoạt động ở nông thôn, dưới hình thức “Liên hiệp quốc gia”. Chúng đã bắt liên lạc với đồng bọn ở Tĩnh Gia, Quảng Xương, Hoằng Hóa; lập được hai chi bộ ở Cổ Định và Mậu Thôn. Phát hiện âm mưu nguy hiểm của chúng, Liên khu ủy và các tỉnh ủy Thanh — Nghệ —Tĩnh đã vận dụng đường lối sách lược đúng đắn của Đảng lãnh đạo quần chúng (nòng cốt là lực lượng cảnh sát công an) đấu tranh toàn diện với địch. Nhờ vậy, tuy đã có 70 đến 80 phần trăm giáo dân gia nhập liên đoàn, nhưng các chủ trương phản động của chúng đều bị quần chúng đấu tranh tẩy chay. Ở miền tây Thanh Hóa, Lê Xuân Kỳ lợi dụng chức chủ tịch Ủy ban thượng du Thanh Hóa đã cùng con trai là Lê Xuân Tín ra sức bóc lột nhân dân, tuyển mộ binh lính, mua sắm vũ khí, bí mật lập chiến khu trong rừng, tích trữ lương thực, gạo, muối, ngấm ngầm chống phá cách mạng và chờ thời cơ lớn chuẩn bị đón Pháp vào thành lập “Xứ Mường tự trị”1. Phát hiện ra bản chất hai mặt của cha con Kỳ — Tín, ngày 9 tháng 7 năm 1948, được sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực, đồng chí Lê Hữu Khai, phụ trách công an tỉnh cùng với hai trinh sát viên đã bắt và tỳng giam cha con Kỹ — Tín, thu 10 khẩu súng các loại. Lực lượng dân quân địa phương phá hủy cơ sở chiến khu của chúng. Tiếp đó, tỉnh phái một bộ phận thuộc trung đoàn 77 tiễu phỉ vùng Lang Chánh, bắt hơn một chục tên thổ phỉ, thu 19 súng trường. Tự vệ của Kỳ — Tín ở lục châu Thanh Hóa bị tước vũ khí hoàn toàn. Việc trừng trị cha con Kỳ — Tín và diệt phỉ vùng Lang Chánh (Thanh Hóa) đã chấm dứt mối liên lạc giữa bọn phản động ở Thanh Hóa với bọn phản động trong dân tộc thiểu số ở tây Hòa Bình và Nghệ An; phá âm mưu lập Xứ mường Nùng, Thái tự trị của thực dân Pháp, quét sạch bọn thổ ty, lang đạo phản động ở cơ sở, đề cao vai trò quần chúng, góp phần giải phóng đồng bào miền núi khỏi chế độ thần quyền phong kiến hà khắc; thiết lập chính quyền cách mạng và các đoàn thể nhân dân ở lục châu Thanh Hóa, đẩy mạnh chiến tranh du kích lên một bước mới. Ở miền tây Nghệ An, lực lượng cảnh sát công an địa phương phối hợp với dân quân đã bắt những tên cầm đầu tổ chức «Liên châu Thái Bắc Việt» như Sầm Văn Cương, Sầm Văn Ngọc, Lò Văn Thớm, Lò Khăm Châu và một số tên khác, thu nhiều vũ khí, tài liệu. Tòa án quân sự Liên khu 4 đã xét xử công khai và trừng trị đích đáng bọn phản động này. Cùng với việc nhen nhóm, gây cơ sở phản động trong các đảng phái, tôn giáo, thực dân Pháp ráo riết hoạt động gián điệp. Càng thua đau về quân sự trên chiến trường, địch càng đẩy mạnh chiến tranh gián điệp phá hoại ba tỉnh hậu phương. Song, với phong trào quần chúng được giác ngộ và phát động khắp nơi, ta liên tiếp bẻ gẫy và đánh bại âm mưu gián điệp biệt kích của thực dân Pháp, tóm gọn 100 tên gián điệp, trong đó có nhiều tên đầu sỏ như: Hồ Tấn Hiệp, Phạm Minh Tân, Lương Văn Phổ, Tuần Nhuệ, Trần Thanh Vân... Thắng lợi trên mặt trận đấu tranh chính trị đã góp phần chặn đứng âm mưu xâm lược của thực dân Pháp vào Thanh - Nghệ - Tĩnh, tăng cường sức mạnh toàn diện của ba tỉnh hậu phương. _____________________________________________ 1. Trong thời gian hoạt động vũ trang tuyên truyền, đội trinh sát công an tỉnh Thanh Hóa do đồng chí Lê Anh Sơn chỉ huy đã bắt được tên tự vệ của Kỳ mang thư của tên quan ba Pháp Va-nu-xem gửi cho Kỳ: «Nếu ông giúp quân đội Pháp đánh bọn Việt Minh cộng sản thì tôi đề nghị với thống sứ Pháp tại Đông Dương thành lập một vùng tự trị của người Mường từ thượng du Thanh Hóa đến thượng du Nghệ An. Ý ông thế nào?». Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2024, 10:34:48 pm Ngày 21 tháng 10, Liên khu khai mạc Đại hội tập quân sự lần thứ hai tại Thanh Hóa nhằm «đánh giá kết quả huấn luyện một năm, cổ vũ phong trào luyện quân lập công trong toàn liên khu». Đại hội đã thành công tốt đẹp, «gây được ấn tượng mãnh liệt về lực lượng kháng chiến của dân tộc trong nhân dân và các lực lượng vũ trang»1. Phát huy kết quả của đại hội tập, ngày 15 tháng 11, bộ đội ta tiến công quét sạch địch ở Mường Lống, Mỹ Lý (Nghệ An), diệt và bắt toàn bộ quân địch, lập lại chính quyền nhân dân trong vùng. Hòa cùng với chiến thắng của quân và dân miền tây Nghệ An, ngày 24 tháng 11, bộ đội miền tây Thanh Hóa bao vây tấn công địch ở đồn Cổ Lũng, buộc địch phải rút khỏi vị trí này, thu hai súng máy và hơn một chục khẩu súng các loại. Chiến thắng Mường Lống và Cổ Lũng chứng tỏ quân và dân miền tây Nghệ An, Thanh Hóa luôn luôn cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, biết củng cố và dựa vào thế trận vững chắc, chủ động tiến công quân địch nên đã giữ vững được biên giới miền tây, chặn đứng âm mưu của giặc Pháp định dùng Đông Lào làm bàn đạp tiến công Thanh — Nghệ — Tĩnh từ phía tây. Song song với việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, Liên khu ủy chỉ đạo ba tỉnh luôn hướng về «Bình — Trị — Thiên khói lửa” cùng cuộc chiến đấu của quân và dân Trung Lào sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của hai chiến trường. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận, các ngành, các đoàn thể cứu quốc liên tiếp tổ chức mít tinh, phát động các cuộc vận động quần chúng ủng hộ Bình— Trị — Thiên. Ngoài quyên góp của từng cá nhân và gia đình, nhiều nơi còn tổ chức diễn kịch, thi đấu bóng, tổ chức ngày hội sản xuất để lấy tiền mua sắm quần áo, chăn màn, thuốc men gửi vào giúp nhân dân Bình — Trị — Thiên. Ủy ban kháng chiến tỉnh Nghệ An tổ chức bán đấu giá chiếc áo lụa của Hồ Chủ tịch gửi tặng Bình — Trị — Thiên, lấy tiền giúp đồng bào ba tỉnh tiền tuyến. Chủ trương này được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Đồng bào ở Vinh đã mua chiếc áo với giá 30.000 đồng. Liên khu phát động tuần lễ “Ủng hộ Bình — Trị — Thiên” (ngày 11 tháng 7 đến 18 tháng 7) và tuần lễ «Binh sĩ». Kết quả trong các tuần lễ trên, các đoàn thể và nhân dân Thanh — Nghệ — Tĩnh góp được 1.875.000 đồng. Các hội phụ lão quyên góp được hai vạn đồng. Mặt trận Việt Minh Liên khu, hội Nông dân Liên khu phát động đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tiết kiệm. Công nhân ở ba tỉnh hậu phương nhiệt liệt ủng hộ phong trào «Làm giờ cứu quốc», lấy tiền góp vào «Quỹ kháng chiến» để ủng hộ Bình — Trị — Thiên. Tính đến tháng 10 năm 1948, công nhân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã làm được 10.778.200 giờ, trích ra 1.078.000 giờ lấy tiền góp vào quỹ ủng hộ Bình — Trị — Thiên, Nghệ An góp được 1.503.317 đồng, Thanh Hóa 1.037.185 đồng. Liên khu tiếp tế vào Bình — Trị — Thiên 458 tấn thóc, 550 tấn gạo, 30 tấn ngô, 500 tấn muối, 48.535 mét vải, hàng vạn viên Áp-pi-rin. Cũng thời gian này, Liên khu 5 ủng hộ cho cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 101 mỗi người một bộ quân áo “Xi-ta”. Ngoài ra liên khu còn chi viện cho Liên khu 5 hơn 360 tấn lúa, 40 tấn gạo, ba tấn nhựa thông và tiếp tế cho các tỉnh Bắc Bộ 2.000 tấn muối2. Để kịp thời vận chuyển tiếp tế cho Bình - Trị - Thiên giữa năm 1948, Hà Tĩnh làm đường goòng từ ga Thanh Luyện (Hương Khê, Hà Tĩnh vào Đò Vàng (Tuyên Bắc, Quảng Bình) dài 30 ki-lô-mét. Hàng trăm công nhân đường sắt lành nghề được huy động xây dựng công trình này. Sau ba tháng phấn đấu khẩn trương và cực kỳ gian khổ, ngày 10 tháng 8 năm 1948 cùng một lúc hai đầu máy BTT1 và BTT2 đã vận chuyển chuyến hàng tình nghĩa đầu tiên của nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh gửi vào tiền tuyến Bình - Trị - Thiên. Nhờ có đường goòng, hàng từ liên khu chuyển vào Quảng Bình được nhanh hơn, hàng năm tiết kiệm được hàng vạn dân công, chi phí vận chuyển mỗi tấn hàng từ 12.000 đồng giảm xuống 170 đồng. Tính đến cuối năm 1948 tuyến đường goòng đã chuyển vào Bình — Trị — Thiên 400 tấn gạo, 12 tấn đường, 20 tấn bông, 900 mét vải. Xí nghiệp đường goòng được vinh dự đón nhận Huân chương chiến công hạng ba. Đây là đơn vị đầu tiên ở Thanh — Nghệ — Tĩnh được Chính phủ tặng huân chương. Trước sự phát triển toàn diện của kháng chiến, để tăng cường lãnh đạo của liên khu, cuối năm 1948 Trung ương điều đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng ra làm Bí thư Khu ủy Liên khu 4, đồng chí Hoàng Anh làm Bí thư Phân khu ủy Bình — Trị — Thiên, đồng chí Trần Văn Quang, nguyên Ủy viên chính trị Liên khu 4 vào trực tiếp làm Phân khu trưởng kiêm ủy viên chính trị phân khu. Các cơ quan lãnh đạo liên khu và phân khu được tăng cường. Đó là yếu tố hết sức quan trọng tạo nên bước chuyển biến mới về tình hình quân sự ở liên khu. Vận dụng một cách triệt để và sáng tạo phương châm kháng chiến đi đôi với kiến quốc của Đảng và Hồ Chủ tịch, trong điều kiện cụ thể của địa phương, quân dân Thanh — Nghệ — Tĩnh chẳng những đã vượt qua được địch họa, thiên tai, ổn định tình hình trước mắt, mà còn tích cực chủ động xây dựng tiềm lực các mặt để tiếp tục kháng chiến lâu dài, bảo đảm nhu cầu tại chỗ cho nhân dân và lực lượng vũ trang. Đồng thời góp sức chi viện cho các chiến trường. Chỉ chưa đầy một năm, bộ mặt hậu phương Thanh — Nghệ — Tĩnh đã có nhiều thay đổi đáng kể. _____________________________________________ 1. Báo cáo của Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 4. 2. Báo cáo tổng kết tại Hội nghị Liên khu từ 6 tháng 11 đến tháng 1 năm 1949, Cục Lưu trữ Văn phòng Phủ Thủ tướng, tập 5, hộp 12, hồ sơ. 119. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười, 2024, 10:55:57 pm II. XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG – ĐẨY MẠNH TÁC CHIẾN, PHỐI HỢP CHIẾN TRƯỜNG Bước sang năm 1949, tình hình quốc tế và Đông Dương phát triển thuận lợi cho ta, bất lợi cho địch. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta đang trên đà thắng lợi. Phong trào chiến tranh du kích phát triển rộng khắp, hậu phương kháng chiến ngày càng được củng cố vững mạnh. Tuy nhiên, quân và dân ta vẫn phải đối phó gay gắt quyết liệt với những âm mưu mới của địch. Tháng 3 năm 1949, Hiệp ước E-ly-dê (Elysé) được ký kết giữa thực dân Pháp với Bảo Đại. Chính quyền bù nhìn trung ương được thành lập do Bảo Đại làm quốc trưởng kiêm tổng tư lệnh quân đội, Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ quốc phòng. Với hiệp ước này, Pháp tiến thêm một bước trong âm mưu «lấy chiến tranh nuôi chiến tranh», «dùng người Việt đánh người Việt». Đồng thời, đế quốc Mỹ đã từng bước can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương1. Tháng 5 năm 1949, đại tướng Rơ-ve, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp cầm đầu một phái đoàn sang Đông Dương nghiên cứu tình hình, bày đặt mưu kế đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược. Rơ-ve vạch kế hoạch mang tên Y, với nội dung cơ bản là: nhanh chóng phát triển quân ngụy làm nhiệm vụ chiếm đóng, tập trung quân Âu - Phi xây dựng lực lượng cơ động càn quét2, đánh phá phong trào chiến tranh du kích và mở các cuộc tiến công lớn nhằm tiêu diệt chủ lực ta, hòng đảo ngược tình thế có lợi cho chúng. Rơ-ve chủ trương củng cố ngụy quyền làm công cụ thực hiện chính sách «dùng người Việt đánh người Việt», “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Trước âm mưu mới của địch, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 chủ trương: “Động viên mọi lực lượng kháng chiến kiến quốc, giành cho kỳ được độc lập và dân chủ thực sự»3 với khẩu hiệu «Tất cả để chiến thắng»4. Phát biểu trước Hội nghị, Hồ Chủ tịch nhấn mạnh: «Kháng chiến trên hết, quân sự trên hết. Mọi việc phải nhằm vào điểm làm cho kháng chiến thắng lợi»5. Về nhiệm vụ quân sự, hội nghị chỉ rõ: «Lấy du kích chiến là căn bản, vận động chiến là phụ trợ. Nhưng cần mạnh bạo đẩy mạnh vận động chiến đi tới và khi có đủ điều kiện thì kịp thời nâng vận động chiến lên địa vị quan trọng». Hội nghị nhấn mạnh: «Việc xây dựng bộ đội chủ lực là trung tâm công tác lúc này. Muốn xây dựng một đội quân chủ lực mạnh mẽ cần phải có sự phát triển rộng rãi của phong trào dân quân và những bộ đội địa phương đã trưởng thành»6. Thực hiện những chủ trương lớn của Đảng, Hội nghị quân chính Liên khu quyết nghị: «Tăng cường sức chiến đấu của bộ đội, mở rộng chiến tranh du kích, tăng cường huấn luyện, tăng gia sản xuất để tiến tới tự cung, tự cấp»7. Cuối tháng 2 năm 1949, liên khu phát động cuộc vận động «Luyện quân lập công» trong các lực lượng vũ trang làm cơ sở xây dựng bộ đội chủ lực mạnh, đẩy mạnh tác chiến tập trung và vận động chiến, nâng cao trình độ dân quân tập trung tỉnh, huyện và du kích đủ sức bảo vệ địa phương để thực hiện chủ trương: tập trung các đại đội độc lập. Sau ba tháng khẩn trương huấn luyện, trình độ cán bộ, chiến sĩ được nâng lên rõ rệt. Dân quân, du kích phát triển mạnh, trình độ kỹ thuật, chiến thuật có bước tiến đáng kể. Đặc biệt, đại đội 1, đại đội 2 dân quân tập trung của tỉnh Thừa Thiên, đại đội du kích Lê Hồng Phong của tỉnh Quảng Trị có trình độ kỹ thuật và khả năng tác chiến tương đương bộ đội chủ lực. Riêng tỉnh Quảng Bình, ngày 20 Tháng 2 năm 1949 Bộ tư lệnh Liên khu quyết định thống nhất chiến trường nhằm đưa phong trào chiến tranh du kích ở Quảng Bình tiến kịp hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Đồng thời ngày 18 tháng 4, Bộ tư lệnh Liên khu quyết định thành lập trung đoàn 18 (Quảng Bình) do đồng chí Phùng Duy Phiên làm trung đoàn trưởng, đồng chí Quang Minh làm ủy viên chính trị, đồng chí Tống Thái làm trung đoàn phó. Với việc thống nhất chiến trường Quảng Bình và thành tập trung đoàn 18, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu đã tạo điều kiện rất cơ bản để quân dân Quảng Bình đẩy mạnh phong trào chiến tranh nhân dân ở địa phương. Cũng từ đây, tại Phân khu Bình - Trị - Thiên, mỗi tỉnh đã có một trung đoàn vừa đảm nhiệm chiến đấu bảo vệ địa phương mình, vừa sẵn sàng cơ động tác chiến tập trung theo kế hoạch của phân khu. Sự kiện này dẫn đến sự chuyển biến cả về thế lực của ta trên chiến trường Bình - Trị - Thiên từ mùa xuân năm 1949. Ngày 24 tháng 4, bộ tư lệnh điều tiểu đoàn 364 (trung đoàn 9) do tiểu đoàn trưởng Trần Sung và chính trị viên Nguyễn Tác chỉ huy, tăng cường cho phân khu. Tiểu đoàn có nhiệm vụ đánh địch, xây dựng cơ sở, phát triển dân quân du kích ở Mặt trận đường số 9, tạo thế phát triển liên minh chiến đấu với lực hrơng vũ trang cách mạng Lào. Sự có mặt của tiểu đoàn 364 trên địa bàn chiến lược này đã tạo ra nhân tố mới để đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích ở Mặt trận đường số 9 và Trung Lào. ______________________________________________ 1. Năm 1949, Mỹ viện trợ cho Pháp 20 triệu đô-la về quân sự. 2. Tháng 6 năm 1949, lực lượng quân cơ động của Pháp ở Đông Dương có 12 tiểu đoàn. 3 - 6. Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 tháng 1 năm 1949. 7. Nghị quyết Hội nghị quân chính Liên khu tháng 2 năm 1949. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười, 2024, 10:58:29 pm Tháng 4 năm 1949, Hồ Chủ tịch ra sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương. Cùng trong thời gian này tỉnh đội Thừa Thiên làm lễ trưởng thành cho đại đội 1, đại đội 2 dân quân tập trung tỉnh và bổ sung cho trung đoàn 1011. Đây là những đơn vị dân quân sớm trưởng thành trong phong trào thi đua «Củng cố và phát triển dân quân». Nó đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng dân quân, du kích Bình - Trị - Thiên và khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa các lực lượng vũ trang ba thứ quân trong tác chiến và xây dựng. Nhận thấy phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh, lực lượng dân quân du kích có khả năng tự bảo vệ được địa phương, tháng 5 năm 1949, bộ tư lệnh ra lệnh tập trung các đại đội độc lập về xây dựng tiểu đoàn, trung đoàn tập trung. Đồng thời giao nhiệm vụ bảo vệ địa phương cho dân quân tập trung tỉnh, huyện đảm nhiệm. Thực hiện chủ trương trên, các tỉnh tập trung các đại đội độc lập thành tiểu đoàn tập trung nằm trong đội hình chiến đấu của trung đoàn. Quảng Trị thành lập tiểu đoàn 310 (trung đoàn 95). Thừa Thiên thành lập tiểu đoàn 227 (trung đoàn 101). Thanh Hóa thành lập tiểu đoàn 375 (trung đoàn 77). Nghệ An thành lập tiểu đoàn 418 (trung đoàn 57). Hà Tĩnh thành lập tiểu đoàn 391 (trung đoàn 103). Đến giữa tháng 8 năm 1949, toàn Liên khu đã tập trung được 14 tiểu đoàn (Phân khu Bình — Trị — Thiên năm tiểu đoàn, Thanh — Nghệ — Tĩnh chín tiểu đoàn). Ngày 27 tháng 6, Liên khu điều trung đoàn 103 từ Hà Tĩnh ra Thanh Hóa làm chủ lực của Liên khu. Từ đây, nhiệm vụ bảo vệ Hà Tĩnh do bộ đội địa phương và dân quân du kích tự đảm nhiệm. Sự xuất hiện trung đoàn 18 tại Quảng Bình và trước sự phát triển của phong trào chiến tranh du kích ở Bình — Trị —Thiên làm cho thực dân Pháp bất ngờ và bị động. Chúng tìm mọi cách tiêu hao, tiêu diệt trung đoàn 18 non trẻ và tích cực đánh phá, ngăn chặn sự phát triển của cuộc chiến tranh. Từ tháng 6 năm 1949, địch khẩn trương triển khai kế hoạch Rơ-ve. Tại Bình - Trị - Thiên, chúng đưa tên tướng Lô-ri-ốt (Lori-llot) thay tên Lơ-bơ-rít (Lebris) chỉ huy trung phần Việt Nam thay đổi một số thủ đoạn chiến thuật: - Rút bớt các đồn miền núi, tập trung lực lượng phòng thủ thị xã, vùng đồng bằng đông dân và các trục giao thông chính. - Ráo riết thực hiện chiến thuật lô cốt tháp canh kết hợp với đội ứng chiến mạnh. - Tăng cường lực lượng bảo vệ quân, tổ chức lực lượng đặc biệt ác ôn (như đại đội “Áo đen”) do tên phản bội Quản Hậu chỉ huy làm nhiệm vụ càn quét, tàn sát, cướp bóc. Chú trọng củng cố, đề cao ngụy quyền, tích cực tuyên truyền cho chính phủ bù nhìn Bảo Đại, tăng cường các thủ đoạn chính trị, nhằm gây ảnh hưởng và chuẩn bị một khu vực an toàn để đón tên vua bù nhìn về Huế. Đây là một kế hoạch quân sự, chính trị hết sức thâm độc và xảo quyệt mà thực dân Pháp đã sử dụng ở Bình - Trị - Thiên. Sau một thời gian chuẩn bị, giữa tháng 6 năm 1949, địch liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân càn quét vào đồng bằng Bố Trạch, Quảng Trạch, chiến khu Quảng Trạch, Quảng Ninh (Quảng Bình) nhằm giữ chân chủ lực ta ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, tạo một hành lang an toàn bảo vệ thành phố Huế từ xa. Chúng còn điều thêm lực lượng từ Nam Bộ, Đà Nẵng ra Huế để bảo vệ Bảo Đại2. Tại hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị, địch tăng cường các thủ đoạn chính trị lừa bịp xoa dịu lòng dân, tạo ra một không khí hòa bình giả tạo để gây thanh thế cho Bảo Đại. Trước việc Pháp, Mỹ cho Bảo Đại «hồi loan». Ngày 28 tháng 3 năm 1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị vạch mặt bọn bán nước Bảo Đại. Để đối phó với âm mưu mới của địch, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu chủ trương: triệt để diệt tề vạch mặt bọn bán nước, phá ảnh hưởng của bù nhìn Bảo Đại. Quân và dân Bình - Trị - Thiên đồng loạt mở một đợt tiến công rộng khắp ở cả miền núi, đồng bằng và đô thị, nhằm phá tan ý đồ chính trị của địch, hạ uy thế ngụy quyền tay sai khi Bảo Đại có mặt ở Huế. Tại Hải Lăng (Quảng Trị), ngày 6 tháng 6 ta đánh tan hai trung đội hộ tống đoàn biểu tình ủng hộ Bảo Đại do bọn tay sai tổ chức. Tiếp đó ta đánh tan một tiểu đoàn địch đến tiếp viện, biến cuộc biểu tình này thành cuộc biểu tình đả đảo Bảo Đại. Tại Thừa Thiên, dân quân phối hợp với công an liên tiếp tiến công địch trước và trong những ngày Bảo Đại về Huế. Ngày 25 tháng 6, tiểu đoàn 319 cùng các đại đội độc lập cường tập đồn Lương Vân. Ngày 12 tháng 7, đúng vào lúc Bảo Đại đến Huế, mặc dù địch ra sức canh phòng nghiêm ngặt, đội biệt động thành phố phối hợp với dân quân và công an quấy rối thành phố Huế. Ngày 14 tháng 7, đại đội biệt động 123 phục kích một toán lính Ma-rốc đi lùng sục và bắn súng cối vào hoàng cung trong lúc Bảo Đại còn ở Huế. Tuy hiệu quả chiến đấu chưa cao nhưng các trận đánh trên đã thể hiện thái độ chính trị của quân và dân Bình - Trị - Thiên kiên quyết phản đối chính quyền bù nhìn Bảo Đại, tay sai bán nước. Tại Quảng Bình, đầu tháng 8, trung đoàn 18 liên tục tiến công địch tại Lệ Kỳ (Quảng Ninh) và Hòa Duyệt (Bố Trạch). Trước áp lực của ta, địch phải rút các đồn lẻ Mỹ Đức (Lệ Thủy), Trần Xá, Xuân Duy (Quảng Ninh), Bàu Bạc (thị xã Đồng Hới). _____________________________________________ 1. Để đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang địa phương, thời kỳ này các đơn vị dân quân tập trung tỉnh khi chuyển qua bộ đội chủ lực đều làm lễ “trưởng thành”. 2. Đến ngày 10 tháng 6, tại Huế địch đã tập trung được hơn 6.000 quân. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười, 2024, 11:02:06 pm Tháng 8 năm 1949, nhân dân ba tỉnh Bình —Trị — Thiên tiếp tục nổi dậy quét sạch tề ngụy trên nhiều vùng rộng lớn. Công an phối hợp với dân quân du kích trừng trị hàng chục tên ác ôn, cảnh cáo bọn tay sai, giải tán 690 hội tề (trong tổng số 710 hội tề) ở ba tỉnh. Riêng tại Quảng Trị và Thừa Thiên, ta phá 95 phần trăm hội tề, số còn lại phải rút vào đồn. Trước thất bại thảm hại này, Nguyễn Khoa Nghi tỉnh trưởng Quảng Bình đã phải báo cáo lên tổng trấn trung phần Việt Nam: «Sự hoạt động của Việt Minh ngày càng ráo riết. Ở các thôn quê, hương lý bị bắt, mộc triện bị thu, các tổng xã mất liên lạc, không có người làm việc hành chính. Phủ huyện làm việc trong tình trạng cô lập». Cũng trong tháng 8 năm 1949, ba tỉnh Bình —Trị — Thiên tổ chức bầu cử hội đồng nhân dân xã. Nhân dân hồ hởi, phấn khởi đi bỏ phiếu. Nhũng nơi xa đồn địch như Phú Thuận, Vĩnh Lộc (Phú Lộc) có 100 phần trăm số người đi bầu cử. Hàng ngàn đồng bào vùng bị địch chiếm đóng bí mật ra vùng tự do tham gia bầu cử. Đây là một thắng lợi lớn về chính trị của ta, nói lên trình độ giác ngộ cách mạng của đông đảo nhân dân địa phương. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh và nghị quyết của Liên khu ủy “Tranh thủ chủ động từng trận đánh; mạnh bạo đẩy mạnh vận động chiến tiến tới». Phân khu ủy và Bộ chỉ huy Phân khu Bình — Trị — Thiên mở hai đợt tác chiến tập trung, do đồng chí Trần Văn Quang chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Nam Thắng làm chỉ huy phó, đồng chí Lê Tùng làm tham mưu trưởng1. Giữa tháng 7 năm 1949, Phân khu mở đọt tác chiến thứ nhất (gọi tắt là kế hoạch ABC), tại khu vực đường số 9 về tây Hướng Hóa nhằm gây dựng cơ sở, tạo bàn đạp cho tiểu đoàn 384 phát triển lên hướng bắc đường số 9 —Trung Lào. Lực lượng tham gia gồm tiểu đoàn 364, 302, tiểu đoàn 227 (trung đoàn 95)2. Ngày 18 tháng 7, tại làng Miệt, tiểu đoàn 302 đánh trận mở đầu, diệt một trung đội địch từ Khe Sanh đi tiếp tế cho đồn Nguồn Rào. Tiếp đó tiến công vị trí Nguồn Rào và phục kích đánh địch tiếp viện tại ki-lô-mét 46, diệt hơn một trung đội, phá hủy ba xe, nhưng không diệt được đồn. Cuối tháng 8, ta vây Khe Sanh, Lao Bảo và phục kích tiêu diệt gọn bọn địch ở Nguồn Rào, khu vực bắc huyện Hướng Hóa được hoàn toàn giải phóng. Cùng thời gian trên, tiểu đoàn 227 và tiểu đoàn 364 bí mật cơ động về đồng bằng Triệu — Hải — Phong — Quảng, phối hợp với tiểu đoàn 310 (trung đoàn 95) mở đợt tác chiến thứ hai (gọi tắt là kế hoạch GMC) nhằm tiêu diệt đội ứng chiến của địch đi càn quét và rèn luyện khả năng tác chiến của các tiểu đoàn. Ngày 18 tháng 8, tiểu đoàn ứng chiến Bắc Phi cùng hai đại đội ngụy binh, sáu xe bọc thép lội nước, do tên thiếu tá Đờ-pong-tơ (Depointer) chỉ huy từ Mỹ Chánh càn xuống Mỹ Xuyên, Ưu Điểm (Phong Điền). Tại Mỹ Xuyên, dưới sự chỉ huy của trung đoàn phó Lê Bá Vân, tiểu đoàn 227 (đơn vị chủ công) phối hợp chặt chẽ với tiểu đoàn 310 và 364, đại đội địa phương Phong Điền và dân quân, vận động phục kích chặn đánh các cánh quân của địch. Quân ta chiếm xe bọc thép lội nước, dùng súng 12 ly7 trên xe bắn vào đội hình địch. Sau hơn một giờ chiến đấu, ta diệt gọn một đại đội, đánh tan hai đại đội, bắt sống thiếu tá Đờ-pong-tơ, tiểu đoàn trưởng kiêm phân khu trưởng Phân khu bắc Thừa Thiên, phá hủy ba xe lội nước, thu một súng cối, ba trung liên, một trọng liên 12 ly 7 và hơn 40 súng các loại, đập tan cuộc càn quét của địch. Đây là lần đầu tiên tiểu đoàn đã chỉ huy được cả ba đại đội vận động tác chiến và cũng là lần đầu tiên ta tiêu diệt xe bọc thép lội nước, một loại phương tiện chiến tranh hiện đại mà địch vừa mới đưa vào Bình — Trị — Thiên để cơ động càn quét trên địa hình đồng bằng có nhiều sông rạch. Thắng lợi Mỹ Xuyên thể hiện bước trưởng thành về năng lực chỉ huy của cán bộ các cấp và trình độ vận động chiến của bộ đội Bình - Trị - Thiên ở đồng bằng, mở ra triển vọng mới về tác chiến tập trung, đẩy mạnh vận động chiến của bộ đội chủ lực. Chấp hành chỉ thị «Rèn cán chỉnh quân» của Bộ Tổng tư lệnh3, tháng 5 năm 1949 Liên khu phát động cuộc vận động «Rèn cán chỉnh quân lần thứ nhất» trong toàn Liên khu nhằm: Khẩn trương xây dựng bộ đội chủ lực lớn mạnh, để tiến tới giành thắng lợi về chiến lược. Trong ba ngày 17 đến 19 tháng 8, tại Cầu Bố (Thanh Hóa) Bộ tư lệnh Liên khu mở đại hội thi đua rèn cán chỉnh quân trong toàn Liên khu. Dự đại hội có cán bộ chiến sĩ các trung đoàn 9, 103, các trường quân chính, thiếu sinh quân, liên khu bộ, các đại diện cơ quan đoàn thể và gần 20.000 cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân địa phương. Cuộc vận động «Rèn cán chỉnh quân xây dựng bộ đội đào luyện cán bộ» của Liên khu được chia làm ba thời kỳ: — Thời kỳ thứ nhất, củng cố tổ chức, huấn luyện bộ đội. — Thời kỳ thứ hai, tổ chức diễn tập. — Thời kỳ thứ ba, vừa diễn tập vừa cơ động tham gia chiến dịch Đông — Xuân. Để làm cơ sở cho việc huấn luyện bộ đội và vận dụng vào thực tiễn chiến đấu của đơn vị sắp tới, sau lễ phát động, Bộ tư lệnh mở ngay lớp tập huấn chiến thuật cho một số cán bộ chủ trì trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội và một số cán bộ chủ chốt ở cơ quan khu Bộ, do tư lệnh Nguyễn Sơn trực tiếp chỉ đạo và giảng dạy. ______________________________________________ 1. Cuối tháng 6, đồng chí Trần Văn Quang ra khu dự Đại hội Đảng, đồng chí Lê Nam Thắng trung đoàn trưởng 95 được ủy quyền chỉ huy. 2. Để điều chỉnh chất lượng giữa các đơn vị, tháng 6 năm 1949, tiểu đoàn 227 được điều sang trung đoàn 95. 3. Ngày 15 tháng 6 Bộ Tổng tư lệnh ra chỉ thị về hai cuộc vận động: «Rèn luyện cán bộ, chấn chỉnh quân đội» và «Rèn luyện cán bộ, cải tiến kỹ thuật». Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười, 2024, 11:04:49 pm Tại phân khu Bình — Trị — Thiên, kết hợp chặt chẽ phong trào «Rèn cán chỉnh quân» với nhiệm vụ tác chiến, trong hai tháng 9 và 10, các đơn vị sôi nổi thi đua nâng cao kỹ thuật chiến đấu cá nhân và trình độ hiệp đồng phân đội để chuẩn bị tham gia chiến dịch Đông Xuân. Tại các tỉnh phía bắc Liên khu các ban rèn cán chỉnh quân được thành lập ở các đơn vị, cơ quan. Những cuộc phát động giao ước thi đua giữa các trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội được tổ chức trọng thể. Công tác cổ động chính trị, sơ kết huấn luyện được duy trì chặt chẽ, gây không khí hào hứng sôi nổi. Các trung đoàn, tỉnh đội còn mở “Đại hội Quân — Dân”. Trong không khí dạt dào tình cảm quân dân cả nước, nhiều đại diện cơ quan, xí nghiệp và cả một số tư nhân đã tình nguyện xung phong đỡ đầu bộ đội địa phương, dân quân và các đơn vị chủ lực mới xây dựng1. Từ trong các lực lượng vũ trang, phong trào luyện quân lập công lan nhanh trong quần chúng. Thanh niên Thanh — Nghệ — Tĩnh nhiệt liệt hưởng ứng tuần lễ “Đại hội tòng quân” do các tỉnh đoàn phát động năm 1949. Các phòng ghi tên nhập ngũ được tổ chức khắp nơi. Thanh — Nghệ — Tĩnh có 19.000 người tình nguyện tòng quân, gồm đủ các thành phần công nhân, nông dân, cán bộ, giáo viên, học sinh, thanh niên theo đạo Thiên chúa. Nhờ làm tốt cả công tác tư tưởng và công tác tổ chức, cuộc vận động rèn cán chỉnh quân lần thứ nhất trong các lực lượng vũ trang, với sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân đã đạt được kết quả tốt, tạo điều kiện cho các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ tác chiến trên các chiến trường liên khu. Ngày 13 tháng 9 năm 1949, Bộ tư lệnh Liên khu quyết định chọn trung đoàn 95 làm trung đoàn chủ lực phân khu2. Trung đoàn có nhiệm vụ cơ động tác chiến trên chiến trường Bình — Trị — Thiên. Sự kiện này chứng tỏ bước trưởng thành của bộ đội chủ lực phân khu. Tháng 10 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh ra quyết định thành lập «Mặt trận Bình — Trị — Thiên — Trung Lào» với nhiệm vụ đẩy mạnh tác chiến tập trung ở hướng chiến lược đường số 9 — miền trung Đông Dương, dùng chủ lực tác chiến để phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ3. Đồng chí Hà Văn Lâu được cử làm chỉ huy trưởng, đồng chí Trần Quý Hai làm ủy viên chính trị. Sự ra đời của Mặt trận Bình — Trị — Thiên — Trung Lào là kết quả của một quá trình vận động phát triển về tổ chức chỉ huy và tổ chức chiến trường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào kháng chiến và sự trưởng thành của lực lượng chủ lực hoạt động ở địa phương, cũng như khối đoàn kết liên minh chiến đấu Việt — Lào ở miền Trung Đông Dương. Tháng 11 năm 1949, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương mở chiến dịch Lê Lợi nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá thế kìm kẹp của địch ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, khai thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 10, Liên khu 3 và Liên khu 4. Lực lượng vũ trang Liên khu 4 tham gia chiến dịch có trung đoàn 9 và bộ đội địa phương, dân quân du kích thuộc Mặt trận miền tây Thanh Hóa. Trung đoàn 9 (gồm tiểu đoàn 337, 353 và 400) được Bộ chỉ huy chiến dịch phân công hoạt động ở «Mặt trận C» của chiến dịch, có nhiệm vụ tiêu diệt vị trí Nghệ, Tu, Nê, Phong, phát triển về phía Cao Phong, Mường Kháng, uy hiếp hậu phương địch, cô lập Vũ Bản, mở rộng cơ sở dân quân du kích dọc đường số 12. Ban chỉ huy «Mặt trận C» do đồng chí Tùng Lâm làm chỉ huy trưởng. Từ ngày 29 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12 năm 1949 tiểu đoàn 400, đại đội 39 và đại đội 72 vũ trang tuyên truyền tiêu diệt gọn đồn Khống và đồn Toàn Thắng, diệt và bắt hàng chục tên, thu toàn bộ vũ khí. Thắng lợi của trung đoàn 9 đã cổ vũ và tạo điều kiện cho «Mặt trận A, C», «chiến dịch Lê Lợi”, Mặt trận miền tây Thanh Hóa và Nga Sơn giành thắng lợi lớn, góp phần đánh bại âm mưu của thực dân Pháp lập «Xứ Mường” ở tây Hòa bình — Thanh Hóa. Phối hợp với chiến dịch Lê Lợi, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu 4 chủ trương mở chiến dịch Đông Xuân tại Bình — Trị — Thiên nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, xây dựng và mở rộng căn cứ đồng bằng. Đây là một kế hoạch hoạt động phối hợp lớn giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân của ba tỉnh Bình - Trị - Thiên. ______________________________________________ 1. Hưởng ứng cuộc rèn cán chỉnh quân lần thứ nhất, Ủy ban kháng chiến và Việt Minh tỉnh Nghệ An đỡ đầu tiểu đoàn 265, Hội Liên Việt đỡ đầu tiểu đoàn 246. Liên hiệp công đoàn đỡ đầu đại đội Hồng Sơn, tỉnh đoàn Thanh niên đỡ đầu đại đội 58, Hội Liên hiệp phụ nữ và Hội cứu quốc đỡ đầu đại đội 18. Đảng Dân chủ đỡ đầu đại đội 50, Bình — Thanh — Thương — Quán (tên của một hãng buôn tư nhân) đỡ đầu đại đội Mường Xén, công ty Việt Thắng đỡ đầu đại đội đặc biệt Quỳ Châu... Nhân dân Nghệ An góp 11 ngàn mẫu ruộng, 16 triệu đồng, nhân dân Hà Tĩnh góp 2 triệu 700 nghìn đồng, 886 tấn thóc, 50 thỏi vàng, 6 lạng bạc, 6 nhẫn vàng, 1.397 chiếc xuyến, 3.948 đôi hoa tai, 5.094 quan tiền đồng, 195 ngôi nhà, 9.900 héc-ta ruộng, 2.967 trâu bò và hàng ngàn gia cầm. 2. Trung đoàn 95 có thêm một đơn vị trợ chiến gồm một phân đội pháo, hai khẩu 12 ly 7, nhiều khẩu đội phóng bom, súng cối lớn và tốc xạ pháo. 3. Trích chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh về việc thành lập Mặt trận Bình—Trị — Thiên —Trung Lào, 10 năm 1949. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười, 2024, 11:07:11 pm Tháng 10 năm 1949, đồng chí Hoàng Anh, Bí thư Đảng ủy Mặt trận chủ trì cuộc hội nghị liên tịch gồm Bộ chỉ huy Mặt trận, bí thư Tỉnh ủy và Tỉnh đội ba tỉnh Bình — Trị — Thiên, ban chỉ huy các trung đoàn 18, 95, 101 để bàn kế hoạch chuẩn bị chiến dịch này. Hội nghị đề ra nhiệm vụ chuẩn bị chiến dịch như: nắm địch, chuẩn bị chiến trường, huấn luyện bộ đội, kế hoạch phá hoại đánh giao thông, chuẩn bị lương thực, vũ khí, công tác địch vận, phá tề trừ gian, bao vây kinh tế địch, xây dựng căn cứ đồng bằng... Hội nghị đặt tên đợt hoạt động này là “Chiến dịch Lê Lai». Lực lượng tham gia gồm: Các trung đoàn 18, 95, 101, tiểu đoàn 346 và 418 của trung đoàn 57 (Nghệ An), tiểu đoàn 364 và bộ đội địa phương, dân quân du kích Bình - Trị - Thiên. Thời gian từ ngày 1 tháng 11 năm 1949 đến ngày 15 tháng 2 năm 1950, dự kiến chia làm hai đợt: Đợt 1: (15 tháng 12 năm 1949 đến 15 tháng 1 năm 1950) hoạt động chủ yếu ở địa bàn từ nam Quảng Bình đến bắc Quảng Trị. Đợt 2: (15 tháng 1 năm 1950 đến 15 tháng 2 năm 1950) từ nam Quảng Trị đến bắc Thừa Thiên. Chỉ huy chiến dịch: Đồng chí Hà Văn Lâu, Tư lệnh mặt trận. Trong giai đoạn chuẩn bị, mỗi trung đoàn đánh một trận lớn để «lấy đà». Từ ngày 18 tháng 11 đến ngày 11 tháng 12 năm 1949 các trung đoàn 18, 57, 95 vừa ráo riết chuẩn bị chiến dịch và tranh thủ đánh một số trận gây cho địch nhiều thiệt hại. Bộ đội địa phương, dân quân Quảng Trạch (Quảng Bình) phối hợp với bộ đội chủ lực, bao vây đồn Hòa Ninh, Ba Đồn, Đơn Sa, Phú Kinh, Minh Lễ. Dân quân du kích Vĩnh Linh tích cực chống càn, quấy rối đồn lẻ, phá hoại giao thông, cắt đứt vận chuyển tiếp tế của địch nhiều ngày. Đặc biệt ngày 11 tháng 11 năm 1949, quân và dân hai thôn Hiền Lộc, Hiền Ninh (Quảng Ninh) dựa vào làng chiến đấu, anh dũng đánh trả cuộc càn của 250 tên địch, có máy bay, pháo binh yểm hộ, Trong suốt bảy giờ liền, diệt nhiều tên, bẻ gãy cuộc càn quét lớn của địch1. Dân quân xã Thụy Cần (Vĩnh Linh) vừa đánh địch kết hợp bao vây kinh tế trong suốt hai tháng liền, buộc địch phải rút khỏi đồn Thụy Cần. Những đợt hoạt động trên tạo ra thế trận có lợi cho ta và giữ được yếu tố bất ngờ trước khi bắt đầu chiến dịch. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Hà Văn Lâu, chỉ huy trưởng chiến dịch, ngày 22 tháng 12 năm 1949, chiến dịch Lê Lai bắt đầu. Mở màn đợt 1, tiểu đoàn 436 (trung đoàn 18) được tăng cường một đại đội phóng bom tiến công đồn Vạn Xuân, nhưng không diệt được hoàn toàn vị trí này. Sau khi kiểm tra tại chỗ thấy đồn địch quá rộng, hỏa lực công đồn của ta có hạn, chỉ huy trưởng chiến dịch quyết định chuyển sang bao vây đồn để diệt quân tiếp viện. Đúng như dự kiến của ta, ngày 23 tháng 12, địch tám lần điều động quân đến tiếp viện, bị ta bắn chìm ba đò, diệt hàng chục tên. Ngày 25 tháng 12, tại Thạch Xá, tiểu đoàn 227 (trung đoàn 95) do tiểu đoàn trưởng Lê Thuyết chỉ huy, chặn đánh một cánh quân từ Đồng Hới vào tiếp viện cho đồn Vạn Xuân, diệt và làm bị thương 30 tên, bắt 51 tên, trong đó có tên thiếu tá Bơ-ruy (Bruge) chỉ huy phân khu Quảng Bình, tên trung úy đại đội trưởng, 22 tên Âu-Phi, thu 62 súng, hai máy vô tuyến điện, phá hủy bảy xe. Ngày 30 tháng 12, địch rút chạy khỏi đồn Vạn Xuân. Từ đây, phía tây khu vực sông Kiến Giang (Lệ Thủy) được giải phóng. Vùng tự do của ta được mở rộng. Ngày 31 tháng 12, ta vận động lính địch gây binh biến ở Cổ Hiền. Toàn bộ quân địch ở đồn này đã mang vũ khí về với kháng chiến. Cùng thời gian trên, trung đoàn 95 chuẩn bị đánh quân ứng chiến liên tỉnh trên đường số 1 từ cầu Huyện đến Hạ Cờ, nhưng địch không đến, đợt 1 chiến dịch kết thúc. Ngày 4 tháng 1 năm 1950, trung đoàn 95 rút vào Vĩnh Linh để chuẩn bị hoạt động đợt 2. Phối hợp với hướng chính chiến dịch, trong đợt 1, từ ngày 13 tháng 12 năm 1949 đến ngày 15 tháng 1 năm 1950, trung đoàn 57 đánh địch ở Đại Nam, Hòa Ninh, giải phóng Đơn Sa (bắc Quảng Bình) phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở khu vực bắc-nam sông Gianh, buộc địch phải rút nhiều vị trí ở tả ngạn, giải phóng một khu vực Thiên chúa giáo mà trước đây địch đã xây dựng thành hậu phương của chúng. Tiếp đó, trung đoàn đánh quân tiếp viện từ Thanh Khê về Ba Đồn, diệt hơn 100 tên, bắt hơn một chục tù binh, giải tán nhiều ban hội tề. Về phía địch, phát hiện chủ lực ta hoạt động mạnh, bộ chỉ huy Pháp liền điều quân từ Huế và Đà Nẵng ra phối hợp với quân nhảy dù, hình thành bốn cánh quân mở cuộc càn lớn từ nam Quảng Bình vào Phong-Quảng nhằm tiêu diệt trung đoàn 101 và phân tán lực lượng ta. _____________________________________________ 1. Thôn Hiền Lộc có hai lớp rào bao bọc và hệ thống giao thông hào dài 2.000 mét, có đường hầm bí mật nối liền với thôn Ta Nhang. Quân Pháp càn vào thôn này nhằm khủng bố nhân dân, dập tắt phong trào xây dựng làng chiến đấu trong vùng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười, 2024, 11:10:18 pm Đêm 25 tháng 12, trung đoàn 95 vừa chuyển vào Phong Điền để phối hợp với trung đoàn 101 thực hiện kế hoạch đợt 2 thì được tin địch tập trung lực lượng lớn càn hai huyện Phong — Quảng. Ban chỉ huy trung đoàn 95 quyết định cơ động toàn bộ trung đoàn và tiểu đoàn 319 (trung đoàn 101) ra ngay Phong Chương (Phong Điền) để chặn đánh cánh quân lớn của địch càn khu vực này. Ngày 27 tháng 1 năm 1950, tại chợ Vân Trình và làng Phò Trạch, dưới quyền chỉ huy của trung đoàn trưởng Lê Bá Vận, các tiểu đoàn 227, 302, 319, 310 đã chiến đấu quyết liệt với ba cánh quân địch suốt từ 9 giờ đến 17 giờ, đẩy lùi nhiều đợt phản kích của chúng, diệt 130 tên Âu-Phi, làm bị thương 150 tên, giải thoát 50 cán bộ bị chúng bắt. Lương Mai, Phò Trạch là trận vận động chiến lớn, chủ lực ta đã đọ sức quyết liệt với đội quân ứng chiến Âu — Phi của địch, là trận thử thách năng lực tổ chức chỉ huy của cán bộ và trình độ kỹ-chiến thuật của bộ đội. Thắng lợi của trận đánh khẳng định trình độ tác chiến vận động ở địa hình đồng bằng của bộ đội chủ lực Bình— Trị—Thiên đã có bước trưởng thành rõ rệt1. Tuy nhiên cũng bộc lộ rõ một số khuyết điểm về lãnh đạo, chỉ huy của cán bộ. Ta chưa hoàn thành được mục tiêu đề ra, chưa tiêu diệt được, một trong các cánh quân của địch, chủ lực ta cũng bị tổn thất đáng kể. Phối hợp với bộ đội chủ lực, trong đợt hai các tỉnh đội phát động «Tuần lễ địa lôi», «Tuần lễ rào làng”, «Tuần lễ phá hoại» trong toàn tỉnh. Đêm đêm hàng ngàn dân quân và nhân dân đổ ra đường, dựng vật chướng ngại, cản tiếp tế của địch. Quốc lộ số 1 đoạn từ Lệ Thủy (Quảng Bình) đến Quảng Trị và tỉnh lộ số 2 (Bố Trạch) bị triệt phá nặng, làm tê liệt giao thông địch nhiều tuần lễ. Bộ đội địa phương, dân quân du kích Quảng Trị phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực tiến công vị trí Thanh Lê, Như Lý, Dốc Miếu, Cửa Tùng, Nham Biều, An Lộc, phá hoại nặng quốc lộ số 1 ở Vĩnh Linh và các tỉnh lộ. Dân quân, du kích thượng du bám đường số 9 phục kích giao thông, phá hủy bốn xe và chặt cây to lấp đường, làm tắc nghẽn gần 50 ki-lô-mét, buộc địch phải huy động lực lượng lớn để giải tỏa. Dân quân còn góp 40.000 ngày công rào 41 thôn, bao vây tám vị trí địch trong tỉnh. Tại Thừa Thiên, lực lượng vũ trang địa phương giật mìn làm đổ một đoàn tàu quân sự ở Phú Lộc, đột nhập thành phố Huế, phá hỏng một đầu máy xe lửa và nhà máy điện tả ngạn sông Hương. Dân quân các huyện Phong — Quảng — Hương — Phú phá hoại nặng đường Sịa — Phú Ốc, Tuần — Tây Thượng — Thuận An, cắt tiếp tế địch nhiều ngày. Trong chiến dịch Lê Lai, quân và dân Bình—Trị—Thiên đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.000 tên, thu hơn 200 súng các loại, lật 13.437 mét đường sắt, đào 49.000 mét khối đường đất, đắp 500 ụ trên đường giao thông, phá 67 cầu, 32 cống, cắt 22.213 mét dây điện thoại, giải phóng một khu vực rộng 5.000 ki-lô-mét vuông, mở rộng vùng tự do và căn cứ đồng bằng nam Quảng Bình. Chiến dịch Lê Lai là chiến dịch phối hợp chiến trường Liên khu 3 của quân dân Bình—Trị—Thiên có quy mô lớn nhất từ trước đến lúc này đã gây cho địch nhiều thiệt hại, góp phần trực tiếp làm thay đổi so sánh tương quan lực lượng có lợi cho ta trên chiến trường liên khu, mở ra một triển vọng mới để đẩy mạnh quy mô tác chiến tập trung và vận động chiến lên một trình độ mới cao hơn, nhằm tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giành thế chủ động chiến trường. Tuy nhiên, ta còn phạm một số khuyết điểm: hiểu biết về chiến dịch và nghệ thuật chiến dịch còn hạn chế, mục đích chiến dịch thiếu cụ thể, phạm vi không gian rộng, thời gian quá dài, sử dụng lực lượng thiếu tập trung, chưa tạo được ưu thế để áp đảo quân địch. Khuyết điểm rõ nhất của lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch là tư tưởng chủ quan đơn giản, ham «đánh to thắng lớn» dẫn đến tình hình tuy diệt được một số sinh lực quan trọng của địch, nhưng chủ lực ta cũng bị tồn thất đáng kể. Đi đôi với tiến công quân sự, công tác địch vận đã có bước tiến bộ mới. Từ chỗ chỉ lôi kéo từng cá nhân, từng bộ phận nhỏ, đến chiến dịch Lê Lai ta vận động được cả đơn vị địch như ở đồn Cổ Hiền (Quảng Bình), Địa Linh (Thừa Thiên) trở về với kháng chiến. Mặt trận đấu tranh kinh tế với địch đã trở thành một bộ phận quan trọng của chiến tranh nhân dân ở địa phương. Nhân dân chống địch cướp thóc, gạo, không bán lương thực, thực phẩm cho chúng, cắt phá giao thông, cản trở tiếp tế của địch, kiểm soát các chợ vùng bị tạm chiếm, bài trừ hàng ngoại hóa... Với truyền thống đoàn kết một lòng đánh giặc, nhân dân ở vùng tạm chiếm, vùng giáp ranh loan báo kịp thời âm mưu địch, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân ở vùng an toàn gặt hái, thu giấu của cải. Nhân dân ở vùng tương đối an toàn tổ chức nuôi dưỡng nhi đồng, mua sắm vũ khí chi viện cho dân quân, du kích ở những nơi địch thường xuyên khủng bố. Thực hiện chính sách nông thôn của Đảng và Chính phủ, chính quyền các địa phương tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp, Việt gian và những ruộng bỏ hoang chia cho nông dân nghèo, dân quân du kích, hợp tác xã và tập đoàn cày cấy. Chính sách giảm tô, giảm tức được chính quyền các cấp thực hiện triệt để. Nhân dân phấn khởi tăng gia sản xuất, tích cực ủng hộ kháng chiến. Với các biện pháp trên, mặc dù luôn luôn bị giặc khủng bố càn quét và bão lụt đe dọa, nhân dân Bình— Trị—Thiên vẫn cơ bản tự túc được phần lớn lương thực, mức sống tạm ổn định. Biểu dương thành tích to lớn của quân dân Bình—Trị— Thiên trong năm 1949, Phó chủ tịch Hội đồng quốc phòng tối cao Phạm Văn Đồng khẳng định: "Bình—Trị—Thiên kháng chiến ngày càng vững mạnh lên, địch cũng phải công nhận, đó là điều đáng khen. Tôi xin gửi lời hoan nghênh chiến sĩ đồng bào Bình — Trị — Thiên"2. ______________________________________________ 1. Tháng 3 năm 1950, Ban chấp hành Trung ương Đảng nhận xét: Trận Phò Trạch — Lương Mai có thể coi là một trận vận động chiến kiểu mẫu trong toàn quốc suốt quá trình phát triển vận động chiến của quân ta ở đồng bằng, (lưu trữ tại Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4). 2. Điện ngày 18 tháng 11 năm 1949 gửi Hội nghị kháng chiến hành chính Liên khu (Lưu trữ tại Phòng lịch sử Quân khu). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười, 2024, 09:14:30 pm Cuối năm 1949, đấu năm 1950, tình hình quốc tế và Đông Dương có những chuyển biến quan trọng. Cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của nhân dân ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Trên mặt trận ngoại giao, ta giành được thắng lợi to lớn. Chính phủ Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu lần lượt tuyên bố công nhận Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sự kiện lịch sử có ý nghĩa đó đã đem đến cho quân và dân cả nước ta niềm cổ vũ to lớn. Về phía địch, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong nước cũng như trên chiến trường, mâu thuẫn nội bộ giữa bọn chỉ huy quân sự Pháp trong việc thực hiện kế hoạch Rơ-ve, nhưng thực dân Pháp vẫn ngoan cố tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lược với mức độ ngày càng tăng. Tại chiến trường Bình—Trị—Thiên, sau chiến dịch Lê Lai địch tăng cường phòng thủ, tích cực đánh phá ta về nhiều mặt, nhằm giữ vững vùng chiếm đóng, vơ vét sức người, sức của và ngăn chặn sự phát triển của ta. Ở đồng bằng Thừa Thiên và trên đường quốc lộ số 1 từ Huế đến Đông Hà, địch đóng hơn 90 cứ điểm, 120 lô cốt, tháp canh. Cứ 500 - 1000 mét lại có một lô cốt tháp canh. Ở các vùng có người theo đạo Thiên chúa chúng lập thêm các đồn hương vệ. Địch ra sức bắt lính, đôn quan, xây dựng Việt binh đoàn, lấy thanh niên theo đạo Thiên chúa giáo làm nòng cốt, xây dựng các đội ứng chiến mạnh, mở nhiều cuộc càn quét, dồn dân vào các khu chiêu an, dùng máy bay, pháo binh, tàu chiến đánh phá dữ dội vùng tự do của ta. Cuối tháng 2 năm 1950, Bình—Trị—Thiên bị một trận lụt lớn chưa từng có. Hầu hết lúa công lương bị ngập. Lương thực thiếu, muối cũng rất khan hiếm. Bộ đội phải ăn cả gạo mục hấp sẵn vẫn chưa đủ no. Tình hình đó đã gây cho ta rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng lực lượng, đẩy mạnh tác chiến phối hợp chiến trường và thực hiên lệnh Tổng động viên1. Giữa lúc địa phương đang tập trung đối phó với nạn đói thì giặc Pháp lại bắt đầu thực hiện kế hoạch cướp phá mùa tháng 4. Chúng dã man tổ chức "chiến dịch mùa lúa" cướp lúa hột, phá lúa non, vơ nốt số thóc ít ỏi còn lại sau trận lụt, hòng triệt nguồn tiếp tế chiến khu và đẩy nhân dân Bình —Trị —Thiên vào cảnh đói khổ không còn đủ sức chiến đấu, buộc phải theo chúng vào các khu «Chiêu an». Đây là một kế hoạch hết sức thâm độc, tàn bạo của thực dân Pháp và ngụy quyền tay sai. Đầu tháng 4, bộ chỉ huy quân sự Pháp điều tiểu đoàn 8 Spahis, tiểu đoàn nhảy dù (B.E.P.) và một tiểu đoàn Bắc Phi từ Đà Nẵng ra mở nhiều cuộc hành quân càn quét cướp phá mùa ở hai tỉnh Trị — Thiên. Ngụy quyền tay sai phát động «Chiến dịch Phan Văn Giáo» đánh vào vùng trọng điểm lúa. Giặc Pháp bắt đồng bào tập trung gặt, đập, làm sân phơi, vựa lúa dưới họng súng lưỡi lê của chúng. Tại những nơi không kiểm soát được chúng dùng máy bay, đại bác triệt phá hoa màu, trâu bò, nông cụ, công trình thủy lợi, đê đập, nhằm khuất phục nhân dân ta. Để đối phó với âm mưu của địch, tháng 3 năm 1950 Thường vụ Liên khu ủy họp bất thường ra nghị quyết về «Kế hoạch bảo vệ mùa», coi đây là công tác trọng tâm của các cấp bộ Đảng ở Bình - Trị — Thiên trong thời gian này. Hội nghị chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể của quân và dân Bình - Trị - Thiên là: «Đẩy mạnh chiến tranh du kích, gặt mau giấu kín, lấy dân quân và nông dân là trụ cột trong việc bảo vệ mùa. Lập tập đoàn vận tải để chuyển thóc trong vùng địch ra»2. Thực hiện chủ trương trên, ngày 10 tháng 4, trung đoàn 95 đánh địch hành quân cướp lúa ở Hà My — Đầu Kênh (Triệu Phong), diệt ba đại đội, đập tan cuộc càn của địch. Nhân dân khắp vùng hồ hởi yên tâm gặp lúa. Theo đầu ngọn lúa chín, đầu tháng 5 địch tập trung quân mở năm cuộc càn lớn với lực lượng từ 1.000 đến 2.000 tên vào các huyện Do Linh, Triệu Phong, Hải Lăng (Quảng Trị) và Lệ Thủy, Bố Trạch (Quảng Bình). Kiên quyết bảo vệ nhân dân gặt mùa, từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 5 năm 1950, trung đoàn 18 đánh địch ở Thượng Phong và Thượng Trạch (Lệ Thủy), gây cho địch một số tổn thất. Biết không thể đương đầu với chủ lực ta bằng lực lượng tại chỗ của tỉnh, bộ chỉ huy Pháp ở trung phần cấp tốc điều tiểu đoàn 8 Spahis, gồm bốn đại đội thiện chiến cùng 150 tên thuộc tiểu đoàn 27 Âu - Phi (BTA) và tiểu đoàn 6 Spahis tiến công trung đoàn 18 ở Xuân Bồ (Lệ Thủy), nhằm tiêu diệt chủ lực ta, gạt bỏ trở lực để chúng tự do cướp phá mùa màng. ____________________________________________ 1. Tháng 2 năm 1950, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 20-SL quyết định tổng động viên. 2. Trích Nghị quyết Thường vụ Liên khu ủy (Tháng 3 năm 1950). Tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Trung ương Đảng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười, 2024, 09:20:48 pm Ngày 20 tháng 5 năm 1950, sau khi dùng phi pháo bắn phá dữ dội vào làng Xuân Bồ, địch tổ chức hai gọng kìm từ hướng Mỹ Trạch và Thượng Phong đánh vào trung đoàn 18. Được lệnh của trung đoàn trưởng Phùng Duy Phiên và ủy viên chính trị Quang Minh, tiểu đoàn 274 do tiểu đoàn trưởng Dương Bá Nuôi chỉ huy lập tức vượt sông về phía đông Xuân Bồ, phối hợp với tiểu đoàn 436 đánh địch. Được sự yểm hộ mạnh mẽ của máy bay và pháo binh, từ 11 giờ đến 17 giờ, địch liên tiếp tổ chức nhiều đợt tấn công vào đội hình trung đoàn. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra rất gay go quyết liệt. Dựa vào công sự, làng chiến đấu, tiểu đoàn 274 và 436 đã dũng cảm đánh lui nhiều mũi tiến công của địch. Bất chấp mọi nguy hiểm ác liệt, dân quân du kích và nhân dân sát cánh cùng bộ đội chiến đấu. Hàng chục thuyền lớn, nhỏ, hàng trăm cây chuối được ghép thành bè mảng kịp thời chở bộ đội và vũ khí qua sông. Các bà mẹ chiến sĩ và chị em phụ nữ tận tình tiếp tế cơm nước, săn sóc nuôi dưỡng thương binh. Trong lửa đạn chiến đấu ác liệt, nhiều tấm gương anh dũng tuyệt vời đã xuất hiện. Tiêu biểu là anh hùng Lâm Úy và cha con cụ lái đò Dương Né. Cùng với chiến công Xuân Bồ lịch sử1, tên tuổi những người con ưu tú ấy của quê hương mãi mãi sống trong lòng dân Bình — Trị — Thiên. Sau gần 10 giờ chiến đấu, ta diệt 200 tên, làm bị thương 300 tên, trong đó có tên quan năm Lăng-le (Langlais) chỉ huy trưởng phân khu Quảng Bình trực tiếp chỉ huy trận càn, tên quan tư Sơ-ríp (Serip), phó chỉ huy tiểu đoàn 8 Spahis và bốn tên quan hai. Thắng lợi nổi bật trong trận này là ta đã loại khỏi vòng chiến đấu tiểu đoàn 8 Spahis, phá tan kế hoạch cướp mùa tháng 5 của địch ở hai huyện trọng điểm lúa phía nam Quảng Bình, đập tan ý đồ của địch tiêu diệt trung đoàn 18. Chỉ sau hơn một năm thành lập, trung đoàn 18 đã ghi thêm một chiến công xuất sắc, làm nức lòng quân dân Bình — Trị — Thiên và toàn liên khu. Từ trận Xuân Bồ, ta đã rút ra nhiều bài học sâu sắc, nhất là công tác nắm địch và bố trí đóng quân ở đồng bằng. Để chỉ đạo một chiến trường quan trọng và phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường toàn quốc, ngày 17 tháng 5 năm 1950, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra chỉ thị thành lập «Bộ chỉ huy Mặt trận Bình — Trị — Thiên» (trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh). Chỉ định đồng chí Trần Quý Hai làm chỉ huy trưởng, đồng chí Chu Văn Biên làm chính ủy. Mặt trận có nhiệm vụ «Thực hiện kế hoạch quân sự của Tổng tư lệnh; trực tiếp chỉ huy bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, dân quân thuộc mặt trận; phối hợp với Bộ tư lệnh địa phương Liên khu và Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 4 trong việc lãnh đạo và xây dựng bộ đội địa phương. Phát triển dân quân, chuẩn bị chiến trường và bảo vệ địa phương. Mặt trận có ba trung đoàn (18, 95, 101, tiểu đoàn 888 pháo binh)»2. Ngày 14 tháng 4 năm 1950, dưới sự chủ trì của đồng chí Hoàng Anh, đại diện Liên khu ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 4, Bí thư Đảng ủy Mặt trận, hội nghị quân — dân — chính Bình — Trị — Thiên họp bàn kế hoạch thực hiện chủ trương mở chiến dịch Đông Xuân. Nhằm «Phát triển chiến tranh du kích đến cực độ, đẩy vận động chiến lên địa vị chủ yếu»3. Hội nghị quyết nghị: huy động tất cả khả năng của nhân dân ba tỉnh mở «Chiến dịch Phan Đình Phùng»; lấy chiến thắng của chiến dịch thúc đẩy cuộc chiến tranh du kích ở Bình —Trị —Thiên tiến lên đỉnh cao mới. Ngày 10 tháng 6, tại xóm Luật Sơn, Trường Thủy (Lệ Thủy), Bộ chỉ huy Mặt trận phổ biến kế hoạch chiến dịch và giao nhiệm vụ tác chiến cho các đơn vị. Ý định của chiến dịch là tiêu diệt đội ứng chiến tỉnh Quảng Bình và một bộ phận ứng chiến liên tỉnh, lấy tiêu diệt quân ứng chiến liên tỉnh làm chính. Diệt một cứ điểm bằng cách đánh công kiên để rút kinh nghiệm huấn luyện bộ đội. Lực lượng tham gia hướng chủ yếu có: Trung đoàn 18 (gồm tiểu đoàn 346, 274) và trung đoàn 95 (gồm tiểu đoàn 227, 302 và 310, tiểu đoàn 888 pháo binh). Hướng phối hợp có trung đoàn 101, tiểu đoàn 364 và bộ đội địa phương, dân quân du kích ba tỉnh. Chỉ huy chiến dịch đồng chí Trần Quý Hai, chỉ huy trưởng Mặt trận Bình — Trị — Thiên. Ngày 17 tháng 6 mở màn chiến dịch, một đại đội thuộc trung đoàn 18 bao vây và quấy rối vị trí Sen Hạ. Ngày 18 tháng 6 ta tiếp tục bao vây vị trí này, nhằm kéo quân ứng chiến liên tỉnh đến để tiêu diệt. Đúng như dự kiến của ta, sáng 19 tháng 6, địch điều 400 quân ứng chiến từ Hòa Luật Nam vào cứu nguy cho Sen Hạ liền bị tiểu đoàn 274 (lực lượng diệt viện) chặn đánh quyết liệt, diệt và bắt 250 tên, thu toàn bộ vũ khí, phá hủy chín xe tại Sen Động, Phú Thiết. _____________________________________________ 1. Trung đoàn 18 và một số cán bộ, chiến sĩ được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba, liệt sĩ Lâm Úy được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. 2. Trích mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày 17 tháng 5 năm 1950. 3. Nghị quyết Liên khu ủy về nhiệm vụ Bình — Trị — Thiên, ngày 30 tháng 2 năm 1950. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười, 2024, 09:29:08 pm Tối 19 tháng 6, trung đoàn 18 dùng trọng pháo yểm hộ cho bộ binh tiếp tục tiến công vị trí Sen Hạ lần thứ hai nhưng không kết quả. Địch cho hai đại đội lính dù quân thuộc 6è B C.C.P. nhảy dù xuống Sen Hạ và Hòa Luật Nam. Tiếp đó, ngày 21 tháng 6 chúng điều 82 xe chở 700 quân thuộc tiểu đoàn Âu — Phi (R.T.A.) và 200 quân từ Đồng Hới vào tiếp viện cho Sen Hạ. Được tăng viện, từ ngày 24 đến ngày 26 tháng 6, địch tổ chức càn quét quyết liệt vùng Mỹ Thổ, Duy Tân và yểm hộ cho đồng bọn ở Mỹ Trạch và Liêm Thiện rút về Hòa Luật. Ngày 20 tháng 6, được tin địch tập trung quân ở Hồ Xá, mặt trận liên điều trung đoàn 95 và tiểu đoàn 274 vào Hạ Cờ, Chấp Lễ (Vĩnh Linh). Để bảo đảm đánh chắc thắng, ta điều luôn cả tiểu đoàn 436 vào chiến đấu. Ngày 25 tháng 6, năm tiểu đoàn của ta bày sẵn thế trận tại Hạ Cờ. Chiều ngày 27 tháng 6, địch cho hơn 70 xe chở trên 1.000 tên, có máy bay yểm hộ, từ Đồng Hới vào Đông Hà, đoàn xe địch lọt vào trận địa phục kích sẵn của ta. Được lệnh của đồng chí Lê Bá Vận1, các đơn vị đồng loạt xung phong, cắt đội hình địch thành nhiều đoạn. Dựa vào địa hình có lợi, địch co cụm ngoan cố chống trả quyết liệt. Sau năm giờ chiến đấu vô cùng căng thẳng ta đã diệt hơn 300 tên địch, bắn rơi một máy bay chỉ điểm. Hạ Cờ là trận đầu tiên ta sử dụng hai trung đoàn phục kích ban ngày trên địa hình đồng bằng chiến trường Bình-Trị-Thiên, làm tổn thất nặng nề đội quân ứng chiến tinh nhuệ của địch có máy bay, pháo binh yểm hộ. Thắng lợi đó đã góp phần nâng cao trình độ tác chiến của bộ đội chủ lực Bình - Trị - Thiên. Sau trận này, trung đoàn 95 và tiểu đoàn 274 trở lại nam Quảng Bình để tiếp tục thực hiện kế hoạch đã đề ra. Ngày 13 tháng 7, tiểu đoàn 436 được tăng cường trọng pháo cường tập vị trí Sen Hạ nhằm tạo điều kiện cho trung đoàn 95 diệt viện. Phán đoán được ý định của ta, địch đã không cho quân đến tiếp viện. Chiến dịch Phan Đình Phùng kết thúc. Đúng vào thời điểm này Bộ Tổng tư lệnh lệnh cho Mặt trận Bình-Trị-Thiên kéo dài chiến dịch Phan Đình Phùng thêm một tháng để phối hợp với chiến dịch Biên Giới. Lúc này, tình hình địch đã thay đổi. Chiến trường nam Quảng Bình lại hẹp và trống trải, không thuận lợi cho bộ đội chủ lực hoạt động tập trung dài ngày. Lương thực, đạn dược hết, mặt khác sau các trận đọ sức quyết liệt với chủ lực địch, bộ đội ta chưa kịp củng cố lấy lại sức. Đó là những khó khăn lớn đang đặt ra lúc này. Nhận thức rõ trách nhiệm nặng nề đối với chiến trường chính, Đảng ủy và Bộ chỉ huy Mặt trận chủ trương giao nhiệm vụ tác chiến khu vực bắc Quảng Bình cho bộ đội địa phương và dân quân du kích, còn chủ lực thì nhanh chóng cơ động vào nam Quảng Trị để tác chiến phối hợp với chiến trường. Sau gần một tháng chiến đấu phối hợp theo yêu cầu của Bộ, quân và dân Bình-Trị-Thiên đã loại khỏi vòng chiến đấu 450 tên địch, phá hủy bảy xe, một kho đạn, bắn rơi một máy bay, thu năm trung liên và hơn 100 súng các loại. Từ chiến dịch Lê Lai và Phan Đình Phùng, ta đã rút ra bài học bổ ích: Trên một chiến trường phối hợp như Bình—Trị —Thiên, trong điều kiện địch còn mạnh, địa bàn hẹp, trang bị vũ khí của ta còn thiếu thốn, nhất là vũ khí nặng, năng lực chỉ huy tác chiến của cán bộ còn yếu, thì việc tập trung chủ lực để mở chiến dịch đánh lớn dài ngày là chưa thật phù hợp, dễ gây tổn thất, ảnh hưởng sức chiến đấu lâu dài. Đầu tháng 8 năm 1950, Đảng ủy Mặt trận họp bàn biện pháp giải quyết tình hình khó khăn của Bình-Trị-Thiên sau chiến dịch Phan Đình Phùng. Đảng ủy nhận định: Do có những thiếu sót về chỉ đạo, vận dụng chiến thuật, cũng như năng lực chỉ huy của cán bộ, trong các trận đánh lớn, tỷ lệ thương vong của bộ đội chủ lực và lượng tiêu thụ vũ khí đạn dược còn lớn. Trong lúc đó, địch dựa vào hệ thống lô cốt tháp canh dày đặc và các đội ứng chiến mạnh, mở các cuộc hành quân càn quét lớn, nên điều kiện tác chiến cỏa bộ đội địa phương và dân quân du kích bị hạn chế. Phong trào chiến tranh du kích ở nhiều nơi bị chững lại, thậm chí bị giảm sút. Trước tình hình ấy, hội nghị đề ra ba việc cần tập trung giải quyết: “1. Tập trung huấn luyện, củng cố bộ đội chủ lực và chỉnh đốn cơ quan. 2. Đẩy mạnh hoạt động của bộ đội địa phương và dân quân du kích. Bộ đội chủ lực lấy huấn luyện xây dựng làm chính, tổ chức đánh một, hai trận, nhưng không để ảnh hưởng nhiều đến xây dựng. Tránh khuynh hướng ăn to, cần đánh chắc thắng, cướp nhiều vũ khí của địch, nhất là đạn để tiếp tục hoạt động”. Những chủ trương đúng đắn của hội nghị đã kịp thời tháo gỡ khó khăn trước mắt, góp phần giữ vững và phát triển phong trào chiến tranh do kích ở Bình — Trị — Thiên. Thực hiện chủ trương trên, các đơn vị chủ lực củng cố bộ đội nhằm vào những mặt yếu hiện tại và yêu cầu chiến đấu sắp tới để huấn luyện. Ngoài các nội dung huấn luyện thường xuyên, các đơn vị còn học tập kỹ thuật bắn máy bay, sử dụng khí tài thông tin, chiến thuật đánh giao thông vận động phục kích, đánh cứ điểm và tác chiến trong thành phố. Các trường đào tạo cán bộ sơ cấp cho địa phương được mở liên tiếp, mỗi khóa 200 người, thời gian ba đến bốn tháng. Năm 1950 Mặt trận đào tạo được 830 cán bộ từ tiểu đội đến đại đội, đáp ứng kịp thời yêu cầu chiến đấu và phát triển lực lượng của cả ba thứ quân. Công tác tuyển quân, huấn luyện tân binh, bổ sung biên chế được khẩn trương tiến hành. Tiểu đoàn 888 trọng pháo trực thuộc Bộ chỉ huy Mặt trận được thành lập đã trang bị súng 12 ly 7, cối 120 mi-li-mét và phóng bom 185 mi-li-mét. Trung đoàn 95 được ưu tiên trang bị pháo và khí tài thông tin. Bộ đội địa phương phát triển mạnh. Dân quân được tổ chức lại thống nhất từ tỉnh đến xã. Nhiều bí thư chi bộ hoặc chi ủy viên được cử làm chính trị viên xã đội. Hầu hết xã đội trưởng là đảng viên. Các chi bộ đưa các đảng viên vào làm nòng cốt. Các đoàn thể quần chúng cử những người hăng hái vào dân quân. Tình hình mọi mặt của mặt trận đều có bước chuyển biến. _____________________________________________ 1. Bộ chỉ huy Mặt trận giao cho ban chỉ huy trung đoàn 95 chỉ huy đánh trận này. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười, 2024, 09:29:56 pm Cuối tháng 10 năm 1950, toàn liên khu lại bị lụt lớn chưa từng có với những hậu quả nặng nề: lúa bị mất 1.600 tấn, muối 1.000 tấn, 224 người chết; 1.400 trâu bò và gần 1.000 nóc nhà bị nước cuốn trôi. Ở Bình — Trị — Thiên, lụt lớn hơn năm Giáp Tý (1924) là năm kỷ lục trước đây. Tại Huế nước trên mặt cầu Tràng Tiền ngập trên 1,50 mét, hơn 200 người bị chết, lúa cất giấu dưới đất bị mục, bị thối, số để trên nhà cũng bị hỏng và trôi sạch. Mùa tháng 10 mất từ 60 đến 80 phần trăm, rau ngắn ngày mới gieo trồng đều bị nước cuốn. Lợi dụng khó khăn của ta, địch tăng cường càn quét khủng bố, bắt lính, lập hội tề, đẩy nhanh dân vào tình thế cùng cực. Trước tình hình khó khăn dồn dập ấy, đồng chí Hoàng Anh, Bí thư Đảng ủy Mặt trận triệu tập Bộ chỉ huy và các bí thư tỉnh ủy ba tỉnh bàn biện pháp khắc phục khẩn cấp. Hội nghị đề ra chủ trương: 1. Động viên toàn thể quân, dân đoàn kết khắc phục mọi khó khăn, nhanh chóng ổn định nơi ăn, ở, khẩn trương trồng rau màu ngắn ngày để cứu đói, phòng chống dịch bệnh phát triển. 2. Vận động đồng bào vùng tạm chiếm (nhất là thành phố Huế, Quảng Trị, Đồng Hới) đấu tranh buộc địch phải cứu tế nhân dân vùng bị lụt nghiêm trọng. Kêu gọi đồng bào đô thị, đặc biệt là giới Phật giáo ở Huế tổ chức quyên góp lương thực, thực phẩm, thuốc men chuyển ra vùng tự do giúp nhân dân và bộ đội. 3. Rút gọn cơ quan mặt trận, chỉ để lại chiến trường những đơn vị thật cần thiết, chấn chỉnh trung đoàn 95 và 101, điều tiểu đoàn 436 (thuộc trung đoàn 18) bổ sung cho trung đoàn 101 để có đủ ba tiểu đoàn. Thành lập hai khung tiểu đoàn đưa ra khu để xây dựng bổ sung cho trung đoàn 18. Các lực lượng còn lại nhanh chóng tổ chức hành quân ra Hà Tĩnh để củng cố xây dựng, giảm bớt khẩu ăn tại chỗ, dành lương thực, thực phẩm cho hai trung đoàn ở lại chiến trường. Chưa bao giờ quân và dân Bình — Trị — Thiên lại đứng trước thử thách lớn như lúc này. Tháng 11 năm 1950, hơn 2.500 cán bộ chiến sĩ thuộc trung đoàn 18 (trừ tiểu đoàn 436), tiểu đoàn pháo 888, trường quân chính, đoàn văn công và một số phân đội khác do đồng chí Phó chỉ huy Mặt trận chỉ huy lưu tuyến tạm biệt chiến trường, hành quân ra phía bắc liên khu trong đói rét, bệnh tật. Sau gần một tháng hành quân gian khổ, vượt hàng trăm ki-lô-mét, trung tuần tháng 12 các đơn vị đã có mặt ở Kỳ Anh, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh). Được cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương đón tiếp niềm nở và nuôi dưỡng chu đáo. Nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh lựa chọn hàng trăm cán bộ chiến sĩ ưu tú trong các tiểu đoàn bộ đội địa phương để xây dựng hai tiểu đoàn 226 và 332 bổ sung cho trung đoàn 18. Đồng thời quyên góp lương thực, thực phẩm, quần áo, tiền bạc nuôi dưỡng hàng ngàn cán bộ chiến sĩ trong tám tháng trời. Tại Bình —Trị —Thiên, mặc dù cùng một lúc phải đương đầu với hai kẻ thù địch họa và thiên tai, nhưng quân dân ba tỉnh đã gan góc chịu đựng gian khổ, hy sinh quyết giữ vững cuộc kháng chiến. Trong hoạn nạn khó khăn, quân dân Bình —Trị — Thiên, đã thực hiện “Bát cơm sẻ nửa, củ sắn chia đôi». Bộ đội bớt ăn, bớt mặc, nhường một phần thuốc men, cứu chữa những người dân đang ốm và chi viện cho những vùng khó khăn nhất. Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu phát động ngay phong trào tăng gia sản xuất và tiết kiệm, ủng hộ Bình —Trị —Thiên, với khẩu hiệu «Tiết kiệm lương thực chi viện cho Bình—Trị — Thiên», «Tiết kiệm thì giờ để sản xuất», yêu cầu mỗi người vào công tác ở Bình — Trị — Thiên mang theo một ki-lô-gam gạo và nửa ki-lô-gam hạt giống (ngô, đậu...). Các cơ quan đoàn thể và nhân dân ba tỉnh hậu phương gửi vào Bình —Trị—Thiên 4.500 tấn lương thực, 1.000 trâu bò. Với kinh nghiệm và sự nỗ lực chủ quan của mình chỉ sau mấy tháng, quân và dân ba tỉnh đã đẩy lùi được nạn đói, nhanh chóng ổn định đời sống, khôi phục sản xuất tiếp tục đưa phong trào kháng chiến đi lên, đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến. Vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, trong năm 1950 nhân dân Thừa Thiên đã góp được 474 tấn lúa, 13 triệu đồng và 15.000 dân công phục vụ kháng chiến, tạm cấp 5.778 mẫu ruộng đất cho nông dân nghèo. Quảng Trị góp quỹ kháng chiến 5,5 triệu đồng, quỹ công lương 312 tấn lúa, thuế điền thổ 768 tấn, 64.885 lượt người đi dân công. Quảng Bình góp quỹ công lương 1.885 tấn, thuế điền thổ 130 tấn. Giữa năm 1950, thực dân Pháp đã đưa vào chiến trường Bình — Trị — Thiên những đoàn tàu bọc thép được trang bị vũ khí mạnh. Các toa đều có lỗ châu mai bắn ra các hướng. Đáng chú ý là tàu được trang bị hai khẩu pháo 40 mi-li-mét. Để giải quyết khó khăn về vũ khí công đồn, rèn luyện trình độ kỹ thuật, chiến thuật cho bộ đội, sau một thời gian được huấn luyện cách đánh tàu bọc thép, bộ chỉ huy Mặt trận quyết định dùng một bộ phận của trung đoàn 95, 101 tiêu diệt đoàn tàu bọc thép trên đoạn đường sắt Mỹ Chánh — Diễn Sanh. Tiểu đoàn 227 (trung đoàn 95) được giao nhiệm vụ chủ công trong trận đánh này. Ngoài ba đại đội trong biên chế, tiểu đoàn còn được tăng cường và phối hợp chiến đấu: tiểu đoàn 319 và một đại đội thuộc trung đoàn 101, một đại đội công binh, một đại đội trợ chiến, một đại đội thông tin, hai đại đội bộ đội địa phương (Hải Lăng, Phong Điền), 200 dân quân phối hợp chiến đấu và vận tải tiếp tế. Được sự chỉ viện đắc lực của đại đội trợ chiến và các đơn vị bạn, ngày 24 tháng 10 tiểu đoàn 227 do tiểu đoàn trưởng Trần Văn Trân chỉ huy hợp đồng chặt chẽ với hai tiểu đội công binh đánh bom, tiến công đoàn tàu bọc thép của địch dài 16 toa, có hai khẩu 40 mi-li-mét bố trí ở đầu và cuối tàu. Trận đánh diễn ra quyết liệt, kéo dài hai giờ liền. Ta phá hỏng một đầu máy, 10 toa, thu một khẩu pháo 40 mi-li-mét, một đại liên, một trung liên FM và 32 thùng đạn 40 mi-li-mét, diệt và làm bị thương hơn 100 tên, bắt chín tên (có một quan hai chỉ huy, một ty trưởng an ninh Quảng Trị, một chi trưởng an ninh Hải Lăng, sáu lính Âu — Phi). Đây là lần đầu tiên ta sử dụng một lực lượng tương đối lớn (12 đại đội, có nhiều đơn vị kỹ thuật) phục kích ban ngày, đánh đoàn tàu bọc thép của địch — một phương tiện vận tải được trang bị hỏa lực mạnh. Trận đánh diễn ra trên một khu vực gần nhiều cứ điểm có đường giao thông thuận tiện cho việc cơ động phản kích của địch. Nhưng nhờ làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức chỉ huy chặt chẽ, nên ta đã thực hiện được mục tiêu đề ra. Thắng lợi Tân Điền đã thể hiện chủ trương «tập trung củng cố xây dựng bộ đội chủ lực» sau chiến dịch Phan Đình Phùng của Đảng ủy Mặt trận là chính xác và kịp thời. Kết quả của trận đánh cũng khẳng định việc chuyển hướng chiến thuật của ta ở chiến trường Bình — Trị — Thiên là phù hợp và đạt được kết quả bước đầu đáng khích lệ. Đây cũng là trận đạt kỷ lục cao nhất từ trước tới nay về thu vũ khí, diệt lô cốt, đáp ứng nhu cầu bức thiết của chiến trường. Với khẩu 40 mi-li-mét, một loại vũ khí bắn thẳng lợi hại, lần đầu tiên ta có trong tay, đầu năm 1951 trung đoàn 95 đã lập công xuất sắc diệt nhiều lô cốt ở Đức Trọng (Quảng Điền), mở ra một khả năng mới về đánh công đồn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười, 2024, 09:32:24 pm * * * Đi đôi với việc đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp ráo riết bình định mở rộng vùng chiếm đóng Lào, hòng dùng đất Lào làm bàn đạp xâm lược Việt Nam. Tại Trung Lào, địch có 2.000 quân trong đó có 200 tên Pháp, do Vi-ri (Vigrir) chỉ huy, sở chỉ huy đặt tại Xà-vẳn-nạ-khệt. Chúng chia Trung Lào thành hai tiểu khu: Xà-vẳn-nạ-khệt và Thà Khẹt. Tháng 3 năm 1948, Bộ Tổng chỉ huy ra chỉ thị chỉ rõ phương châm, phương thức hoạt động cho các đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Mặt trận Lào —Miên. Về nhiệm vụ của Liên khu 4, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị: Cùng với bạn củng cố hành lang Mường Mô — Xiêng Khoảng —Pắc Xan —Sa-ra-van và phát triển từ đường số 9 — Sê Pôn — Xiêng Khoảng xuống Sa-ra-van. Quán triệt nhiệm vụ trên giao và yêu cầu của bạn, tháng 7 năm 1948, Bộ chỉ huy Phân khu đã giải thể tiểu đoàn 301, tổ chức thành đại đội công tác số 55 sang hoạt động ở đường số 9. Cùng thời gian này một bộ phận thuộc lực lượng vũ trang Lào đóng ở Sầm Nưa được phái về Bu-la-pha cùng phối hợp hoạt động. Tại Xà-vẳn-nạ-khột, bộ đội ta tổ chức thành các đội vũ trang tuyên truyền sát cánh cùng lực lượng vũ trang yêu nước Lào bám bản, bám dân gây dựng phong trào quần chúng nhân dân, tổ chức dân quân du kích. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang của bạn và bộ đội tình nguyện của ta, Hội «Ai Lao cứu quốc» đã bước đầu tổ chức được một số đội vũ trang và cơ sở quần chúng, làm hạt nhân để phát triển phong trào sau này. Tháng 10 năm 1948, đại đội số 55 đánh trận đầu tiên ở Xa Muội, diệt một trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí trong đó có một cối 61. Tiếp đó ta phối hợp với bộ đội bạn tập kích tiêu diệt đồn Mường Noòng, thu toàn bộ vũ khí, giải phóng hai huyện Tà Ôi và Mường Noòng. Ngày 22 tháng 11 năm 1948, đội vũ trang tuyên truyền Lào do ông Thao Bun chỉ huy đột nhập thôn Tha Thom (Xiêng Khoảng) cướp được chín súng trường. Tính đến cuối năm 1948, Liên quan Việt — Lào đã đánh 19 trận, gây được uy tín chính trị trong nhân dân Lào. Tháng 11 năm 1948, đồng chí Kham Phê Van, đại diện Ít-xa-la đến Con Cuông (Nghệ An) để tổ chức cơ quan Đông Lào. Sau đó, phòng đại diện Đông Lào được thành lập đặt bên cạnh phòng Biên Chính Liên khu 4. Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu đã giúp đỡ Ủy ban kháng chiến Đông Lào về tài chính và mọi mặt. Ngày 1 tháng 12 năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính Đông Lào được thành lập, đồng chí Thao-nư-hắc được cử làm chủ tịch, đồng chí Thao Ô phó chủ tịch, đồng chí Thao-bu-la ủy viên quân sự, đồng chí Sin-ga-po ủy viên chính trị. Ngày 20 tháng 1 năm 1949, tại xã Mường Hùng huyện Siềng Khọ tỉnh Sầm Nưa, đồng chí Cay-xỏn-phôm-vi-hản tuyên bố thành lập quân đội Lào Ít-xa-la, tiền thân của quân đội giải phóng nhân dân Lào. Sự ra đời của Ủy ban kháng chiến hành chính Đông Lào và quân đội Ít-xa-la là một sự kiện lịch sử trọng đại đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân Lào. Nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương, ngày 15 tháng 2 năm 1949, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương triệu tập Hội nghị cán bộ Lào— Miên. Hội nghị chỉ rõ: Nhiệm vụ cần kíp của cách mạng Lào — Miên hiện nay là xây dựng căn cứ địa, tổ chức quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng chính quyền ở căn cứ địa... Để giúp Khu ủy chỉ đạo bộ đội tình nguyện Việt Nam hoạt động tại Trung Lào và giúp bạn có hiệu quả, ngày 1 tháng 8 Ban cán sự Trung Lào được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Liên khu ủy gồm bảy đồng chí do đồng chí Nguyễn Minh Châu, khu ủy viên phụ trách. Tháng 10 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ chỉ huy quân đội Lào Ít-xa-la quyết định phân chia lại phạm vi hoạt động của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Liên khu 4 có trách nhiệm với Trung Lào, Liên khu 5 phụ trách Hạ Lào, còn Bắc Lào do Bộ đảm nhiệm1. Tháng 12 năm 1949, Bộ chỉ huy Phân khu Bình — Trị — Thiên điều tiểu đoàn 364 sang hoạt động. Bộ đội ta đã phối hợp với bộ đội giải phóng Lào lập hai căn cứ ở huyện Tà Ôi và Mường Noòng. Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Tà Ôi và 15 ủy ban xã thuộc hai huyện này đã được thành lập. Các tổ chức quân chủng lần lượt được tổ chức. Ngày 26 tháng 2, Liên khu ủy ra nghị quyết chuyên đề về công tác giúp bạn ở Trung Lào, chủ trương mở rộng mặt trận Trung Lào, hướng chính là đường số 9, xây dựng căn cứ địa, đẩy mạnh công tác vũ trang tuyên truyền, thi hành «đại đội độc lập», giúp bạn và cùng bạn phát triển dân quân, lấy bản làm cơ sở, xây dựng bộ đội địa phương, lấy huyện làm cơ sở, đào tạo cán bộ người Lào. Ngày 19 tháng 5 năm 1950, Liên khu quyết định Thành tập trung đoàn 120 tình nguyện Việt Nam tại Trung Lào. Đồng chí Trường Sinh được cử làm trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Hữu Khai làm chính ủy. Sự ra đời của trung đoàn này thể hiện sự phát triển của lực lượng vũ trang Liên quân Việt — Lào và thế trận chiến tranh nhân dân ở Trung Lào, sự quan tâm của Liên khu ủy cùng sự đóng góp to lớn của Liên khu đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Lào. Sau một thời gian hoạt động, được sự phối hợp giúp đỡ của lực lượng vũ trang và nhân dân bạn, ta và bạn đã xây dựng và củng cố được bốn vùng căn cứ rộng lớn, gồm 600 bản với 30.000 dân dọc biên giới Việt — Lào, có chính quyền cách mạng, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Ngày 20 tháng 11, hội nghị cán bộ ở Mặt trận Trung Lào lần thứ nhất họp, đánh giá và biểu dương thành tích của bộ đội tình nguyện Việt Nam: Đã mạnh dạn phát triển và xây dựng cơ sở kháng chiến, góp phần cùng bạn củng cố được các tổ chức Ít-xa-la, xây dựng được các đội vũ trang công tác chính trị và trung đoàn Trung Lào, đánh được nhiều trận, buộc địch phải bỏ 10 vị trí, gây được ảnh hưởng rộng rãi trong nhân dân Lào. Về nhiệm vụ tới, hội nghị chủ trương ta và bạn cùng tích cực phát triển chiến tranh nhân dân xuống đồng bằng và các vùng xung yếu của Trung Lào, với khẩu hiệu hành động «Tiến về đồng bằng». Mặc dù cùng một lúc phải đối phó với nhiều âm mưu thủ đoạn mới của địch và những hậu quả to lớn do thiên tai gây ra, trong hai năm 1949 — 1950, quân dân Bình — Trị— Thiên đã anh dũng phấn dấu, khẩn trương xây dựng phát triển lực lượng và thế trận, đẩy mạnh quy mô tác chiến tập trung, từng bước phát triển vận động chiến, phối hợp chặt chẽ với các chiến trường, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh quan trọng của địch, củng cố, mở rộng vùng tự do và căn cứ sau lưng địch. Phong trào đấu tranh của quần chúng tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở khắp cả miền xuôi, miền núi và đồng bằng, đô thị, phá vỡ hệ thống ngụy quyền tay sai ở một số cơ sở, huyện lỵ. Sự lãnh đạo, chỉ huy, công tác tổ chức thiết bị chiến trường, nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của Bộ chỉ huy Mặt trận có bước tiến đáng kể. Đó là những thành công có ý nghĩa hết sức quan trọng để quân dân Bình—Trị — Thiên cùng cả nước tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến. ______________________________________________ 1. Phạm vi Trung Lào bao gồm từ đường số 7 Bắc Xan đến đường số 9 Sa-ra-van, trước đây Liên khu đã phái bộ đội sang hoạt động ở cả vùng Hạ Lào và Bắc Lào. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2024, 08:33:15 pm III. XÂY DỰNG BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG CHIẾN LƯỢC— CHI VIỆN TIỀN TUYẾN Để tiếp tục thực hiện âm mưu bao vây, uy hiếp và đánh chiếm Thanh — Nghệ — Tĩnh khi có điều kiện, đầu năm 1949 tại miền tây và dọc biên giới Việt - Lào, giặc Pháp bố trí một lực lượng đáng kể gần 2.500 tên (có hơn 150 Pháp). Chúng ráo riết tăng cường phòng thủ các vị trí then chốt như Noọng Hét, Keng Đu (Nghệ An), Vạn Mai, Yên Khương, Bát Mọt (Thanh Hóa), Na Pê (giáp Hà Tĩnh) làm bàn đạp hoạt động lấn dần vào nội địa ta. Địch còn mở nhiều cuộc càn quét vào các vùng dọc biên giới, bắt cóc cán bộ địa phương, tung biệt kích vào nội địa, bắt liên lạc với bọn thổ ty, lang đạo, để phá chính quyền ta, chia rẽ hai dân tộc Việt — Lào. Ở vùng duyên hải và trung du ba tỉnh, không quân, hải quân địch tăng cường trinh sát đánh phá. Không quân địch dã man ném bom vào thường dân gây ra các vụ thảm sát, giết hại một lúc hàng chục đồng bào ta ở thị trấn Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nam Đàn, đốt cháy hàng trăm nóc nhà... gây bao đau thương tang tóc, cản trở công việc làm ăn, đi lại của nhân dân. Ngày 19 tháng 5 năm 1950, tại chợ Kiều (Thanh Hóa), chúng ném bom vào giữa buổi chợ đang đông, giết và làm bị thương hơn 700 người. Máy bay địch còn tập trung đánh phá vào các xưởng quốc phòng và xưởng kỹ nghệ của ta, phá hủy nhiều máy móc phương tiện, nguyên vật liệu, kho tàng, gây nhiều thiệt hại. Nhằm phá hoại nền nông nghiệp của ta, máy bay địch còn ném bom các công trình thủy lợi quan trọng như Trung Lương, Đông Lương (Hà Tĩnh), Nam Đàn, Vinh (Nghệ An), Bái Thượng. Bàn Thạch (Thanh Hóa). Tháng 4 năm 1949, Đại hội Đảng bộ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã chỉ rõ nhiệm vụ của quân dân trong các tỉnh: Tích cực chi viện Bình Trị Thiên, cung cấp kịp thời cho chiến trường chính Bắc Bộ, ra sức kiện toàn và phát triển tổ chức dân quân du kích. Xây dựng kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân. Xây dựng chính quyền nhân dân, củng cố khối đoàn kết toàn dân... Đại hội các tỉnh đã bầu ra ban chấp hành mới. Đồng chí Bùi Đạt (tức Nguyễn Minh Châu) làm bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa. Đồng chí Lê Nguyên Mân, bí thư tỉnh ủy Nghệ An. Đồng chí Nguyễn Sáng, bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh. Trong không khí thi đua ái quốc đang diễn ra sôi nổi khắp liên khu, ngày 10 tháng 7 năm 1948 Đại hội Đảng Liên khu lần thứ hai đã được tiến hành tại đình Võ Liệt (Thanh Chương, Nghệ An). Về âm mưu thủ đoạn của địch đối với Thanh — Nghệ — Tĩnh, Đại hội chỉ rõ: “Địch không thể đủ sức xâm lược Thanh — Nghệ — Tĩnh đại quy mô như Bình — Trị — Thiên, nhưng rất có thể thọc mũi dùi vào chỗ sơ hở của ta, rồi rút hay khuyếch trương xâm lấn mà thôi”1. Đại hội chủ trương: Gấp rút tăng cường cho chiến trường Bình — Trị — Thiên, giữ vững và phát triển Thanh — Nghệ — Tĩnh, phát triển khả năng ở đây thành một lực lượng hùng hậu, cung cấp cho tiền tuyến Đại hội đề ra năm nhiệm vụ cho Thanh — Nghệ — Tĩnh: 1. Cấp tốc chỉnh đốn huấn luyện bộ đội địa phương bổ sung bộ đội chủ lực để điều ra tiền tuyến. Dân quân phải hoàn toàn thay thế bộ đội địa phương làm nhiệm vụ bảo vệ hậu phương. 2. Tuyển mộ thanh niên, dân quân vào các đội tiếp tế vũ khí cho mặt trận. Tổ chức huấn luyện thanh niên về quân sự làm lực lượng dự trữ, bổ sung cho bộ đội. 3. Thành lập những đội vũ trang tuyên truyền để chi viện cách mạng Lào. 4 Tích cực bảo vệ miền tây, miền biển, đề phòng địch đổ bộ, thọc mũi dùi vào các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh. 5. Xây dựng cơ sở kinh tế của chế độ dân chủ mới, nhằm mục tiêu cung cấp cho tiền tuyến và tự túc ăn, mặc, học cho dân. Đại hội bầu ra Ban chấp hành mới do đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư. Đến cuối tháng 10 năm 1949, đồng chí Hoàng Minh Thảo được Trung ương cử làm Tư lệnh Liên khu 4 thay đồng chí Nguyễn Sơn ra Việt Bắc nhận công tác mới. Để mở đầu phong trào thi đua thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng Liên khu và phối hợp với hoạt động Bình — Trị — Thiên, Liên khu mở một đợt tác chiến ở mặt trận miền tây Thanh Hóa, Nghệ An. Ngày 22 tháng 7, đại đội 117 (tiểu đoàn 265) tiêu diệt vị trí Mường Lống lần thứ hai, đánh tan hai toán tiếp viện từ Noọng Hét, Mỹ Lý sang. Tiếp theo chiến công đầu của tây Nghệ An, ngày 24 tháng 7, tiểu đoàn 355 (trung đoàn 77) phối hợp với tiểu đoàn miền tây Thanh Hóa và trung đội dân quân Cầm Bá Thước tiến công vị trí Cổ Lũng (tây Thanh Hóa), nhưng không kết quả. ____________________________________________ 1. Văn kiện Đại hội Đảng bộ Liên khu 4 lần thứ hai (Tháng 7 năm 1949). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2024, 08:37:45 pm Ngày 5 tháng 9, Bộ tư lệnh Liên khu ra chỉ thị về nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Thanh - Nghệ - Tĩnh. Bản chỉ lệnh nêu rõ: địch có thể dùng từng bộ phận hải, lục, không quân thọc vào những khu trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa ở Thanh - Nghệ - Tĩnh. Vì vậy mỗi tỉnh phải huấn luyện được một tiểu đoàn bộ đội địa phương làm nhiệm vụ bộ đội chủ lực, mỗi huyện tiến tới có một đại đội độc lập làm nhiệm vụ bảo vệ địa phương. Các đơn vị này phải huấn luyện và hoạt động ở những địa bàn xung yếu mà quân địch có thể chọc vào. Các đơn vị dân quân thường trực huyện được tập trung thành các tiểu đoàn bộ đội địa phương. Tiểu đoàn 198 (Nghệ An), tiểu đoàn 290 (Hà Tĩnh), tiểu đoàn 275 (Thanh Hóa) lần lượt ra đời. Ở các huyện xúc tiến thành lập đại đội bộ đội địa phương. Đúng như nhận định của Liên khu, ngày 5 đến ngày 7 tháng 10 giặc Pháp huy động hơn 1.000 quân (trong đó có 500 tên Pháp và Âu-Phi), năm tàu chiến, năm ca nô, có không quân pháo hạm yểm hộ, tập kích vào huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) nhằm phá kinh tế hậu phương, thăm dò lực lượng ta, tuyên truyền gây thanh thế cho chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Địch tiến quân theo hai cánh: một cánh từ Lạch Quèn vào Quỳnh Yên và một cánh từ Lạch Quèn vào Rừng Thông — Cầu Giát về Thuận Nghĩa. Ngay sau khi địch đổ bộ, huyện đội Quỳnh Lưu đã điều hai trung đội du kích thường trực huyện xuống phối hợp chiến đấu với dân quân du kích các xã Văn Phương, Quảng Mai, Song Quỳnh, Văn Thành. Tại Đồi Thông trên đường số 1, một trung đội du kích thường trực huyện phối hợp với đại đội 53 liên phao (thụộc trung đoàn 57) đánh trả mũi tiến công của địch. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh để bảo vệ đồng đội và vũ khí thoát khỏi vòng vây của chúng1. Dân quân các xã Văn Hải, Liên Hóa, Quy Hóa đã gan góc bám địch, đánh trả các mũi tiến quân của chúng, diệt và làm bị thương hàng chục tên. Đồng chí Hoàng Thái, du kích xã Quỳnh Chi dùng mìn diệt 19 tên Pháp. Khi địch bao vây, đồng chí còn bình tĩnh ném tiếp hai quả lựu đạn cuối cùng, diệt thêm một số địch và đã anh dũng hy sinh. Trong ba ngày đánh trả địch, lực lượng vũ trang địa phương đã diệt hơn 100 tên (có 37 lính Âu — Phi). Nhưng địch đã gây cho địa phương những tổn thất lớn, chúng đã giết và làm bị thương hơn 150 người, bắt hơn 100 người, cướp phá hàng trăm thuyền đánh cá, đốt phá gần 1.000 nóc nhà. Cuộc tập kích của địch vào Quỳnh Lưu đã để lại một bài học sâu sắc về tinh thần cảnh giác và kinh nghiệm tổ chức huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu các lực lượng vũ trang địa phương. Ngày 16 tháng 10 năm 1949, thực dân Pháp mở chiến dịch Ăng-tơ-ra-xít (Anthracid) nhảy dù chiếm Bùi Chu, Phát Diệm nhằm gây khó khăn cho ta trong việc điều động chủ lực tham gia các chiến dịch2 nhen nhóm lực lượng phản động trong đạo Thiên chúa chống phá cách mạng và biến khu vực Bùi Chu — Phát Diệm — Nga Sơn thành hậu phương để khai thác sức người, sức của phục vụ cho chúng. Sau khi chiếm được Phát Diệm, ngày 21 tháng 10, địch tiến vào Nga Sơn (Thanh Hóa) chiếm Tân Hải, Liên Quy, nhà thờ Tam Tòng và mở nhiều cuộc càn quét vào Kiên Giáp. Các cánh quân của chúng đã bị tiểu đoàn 375 (thuộc trung đoàn 103) chặn đánh quyết liệt, buộc địch phải co lại. Phát huy thắng lợi chiến dịch Lê Lợi và chiến thắng của trung đoàn 9 ở mặt trận C, nhân lúc bọn địch ở miền tây Thanh Hóa đang hoang mang giao động, ngày 18 tháng 12 năm 1949, tiểu đoàn 355 cùng đại đội liên pháo tiến công vị trí Cổ Lũng. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 22 tháng 12, anh em binh sĩ trong đồn đã bí mật nổi dậy diệt tên chỉ huy Pháp, mang súng trở về với kháng chiến3. Thừa thắng, ngày 22 tháng 12, tiểu đoàn 355 và lực lượng vũ trang miền tây phối hợp tiến công vị trí Vạn Mai, Đồng Uông, Poong Nưa. Bọn địch ở cả ba đồn trên đã phải rút chạy sang Lào. Cả một vùng rộng lớn ở miền tây Thanh Hóa được giải phóng. Đây là thắng lợi quân sự chưa từng có ở miền tây Thanh Hóa. Trước thắng lợi của quân dân ta trên các mặt trận miền tây, tháng 4 năm 1950 toàn bộ quân địch ở miền tây Thanh Hóa, Nghệ An đã phải rút bỏ vị trí chiếm đóng và chạy về bên kia biên giới Việt — Lào. Miền tây của Liên khu lúc này sạch bóng quân xâm lược. Âm mưu dùng miền tây làm bàn đạp tiến công Thanh Hóa, Nghệ An của thực dân Pháp đã bị phá sản. Từ đây đồng bào các dân tộc sáu châu Thanh Hóa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và bọn thổ ty, lang đạo phản động. Thắng lợi trên đã tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng, tạo cơ sở để phát triển dân quân, du kích người Thượng để bảo vệ làng bản, động viên, cổ vũ nhân dân hăng hái sản xuất và tham gia kháng chiến. ______________________________________________ 1. Hiện nay ngay tại Đồi Thông trên đường số 1, nhân dân địa phương dựng đài liệt sĩ tưởng nhớ những người đã hy sinh trong trận đánh này. 2. Ngày 15-10-1949, Liên khu điều trung đoàn 9 tham gia chiến dịch Lê Lợi, trung đoàn 57 tham gia chiến dịch Lê Lai ở Bình — Trị — Thiên. 3. Cổ Lũng là một vị trí quan trọng, địch nhiều lần đánh chiếm, chốt giữ, bị ta diệt và bức rút nhiều lần. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2024, 08:42:04 pm Với quyết tâm giành thắng lợi lớn đẩy mạnh cuộc kháng chiến sang thời kỳ mới, tháng 1 năm 1950 Hội nghị toàn quốc lần thứ 3 của Đảng quyết định: Gấp rút hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị để chuyển sang tổng phản công. Tình hình đó đặt ra cho quân và dân Thanh-Nghệ-Tĩnh những nhiệm vụ hết sức to lớn đối với việc chi viện cho các chiến trường. Nghị quyết của Liên khu ủy về “Nhiệm vụ Liên khu 4 chuyển mạnh sang tổng phản công” nhấn mạnh: “Bảo vệ Thanh — Nghệ — Tĩnh là nhiệm vụ tối quan hệ cho cả chiến trường toàn quốc, là nhiệm vụ trung tâm lãnh đạo để sửa soạn chuyển sang tổng phản công có hiệu quả. Phải xây dựng Thanh - Nghệ — Tĩnh thành một hậu phương vững chắc, một kho dự trữ nhân tài, vật lực, sẵn sàng tiếp tế kịp thời cho các chiến trường”1. Để đập tan âm mưu phá hoại của địch, xây dựng hậu phương vững mạnh, an toàn, nhất là về mặt chính trị, ngày 15 tháng 1 năm 1950, tiểu đoàn 375 thuộc trung đoàn 103 tiến công quân địch ở Hồ Vương, Chính Đại, Hội Giao (Nga Sơn), diệt 50 tên, thu hàng chục khẩu súng. Nhân đà thắng lợi về quân sự, Ty Công an Nghệ An quyết định bắt tên Biên — một tên phản động đội lốt linh mục — và một số tên phản động khác trong «Ban chấp hành Liên đoàn công giáo» xứ Vĩnh Yên, đưa ra truy tố trước pháp luật vì tội làm tay sai cho thực dân Pháp. Tiếp theo đó, ngày 30 tháng 4 ta đồng loạt tiến công vào sào huyệt của tổ chức «Dân chúng liên hiệp», bắt gọn bọn Phạm Tuyên, Bùi Quỳnh, Trương Văn Liên, trấn áp bọn phản động tay sai trong vùng. Những tên đầu sỏ của tổ chức này đều bị trừng trị đích đáng2. Ngày 9 tháng 2 năm 1950, Bộ Tổng tư lệnh ra quyết định thành lập đại đoàn 304 — đại đoàn chủ lực thứ hai của quân đội ta (sau đại đoàn 308). Lực lượng đại đoàn gồm trung đoàn 9, trung đoàn 57 chủ lực Liên khu 4 và trung đoàn 66 chủ lực Liên khu 3. Đồng chí Hoàng Minh Thảo được cử làm đại đoàn trưởng, đồng chí Trần Văn Quang làm chính ủy đại đoàn. Ngày 30 tháng 3, tại Nông Cống (Thanh Hóa), Liên khu mở hội nghị quân chính bàn việc thành lập đại đoàn 304. Sau hội nghị này, lễ thành lập đại đoàn được tổ chức trọng thể tại Thọ Xuân (Thanh Hóa) với sự có mặt đầy đủ cả đại biểu địa phương và toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn. Trong quá trình xây dựng tại địa phương, đại đoàn được, tỉnh ủy và quân dân Thanh Hóa hết lòng chăm sóc, nuôi dưỡng và giúp đỡ về mọi mặt. Sự ra đời của đại đoàn 304 thể hiện sự trưởng thành nhanh chóng của quân đội ta và là bước ngoặt đáng ghi nhớ trong tiến trình phát triển lực lượng vũ trang ở Liên khu 4 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày 9 tháng 2 năm 1950, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra chỉ thị thành lập Bộ tư lệnh địa phương Liên khu 4, với chức năng và nhiệm vụ: “Lãnh đạo xây dựng các đơn vị bộ đội chủ lực còn lại, bộ đội địa phương và dân quân liên khu (kể cả ở Bình - Trị - Thiên)”3. Bộ tư lệnh địa phương gồm các đồng chí Trần Sâm làm tư lệnh, đồng chí Lê Chưởng làm chính ủy. Về Đảng, Liên khu ủy 4 vẫn là tổ chức duy nhất lãnh đạo Đảng bộ sáu tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh — Bình — Trị — Thiên. Trải qua rèn luyện thử thách trong kháng chiến, Đảng bộ Liên khu ngày càng trưởng thành, cơ chế tổ chức từng bước được kiện toàn và phát triển, kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo càng phong phú. Vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng, mà trực tiếp là Liên khu ủy đối với các lực lượng vũ trang và nhân dân toàn liên khu ngày càng được xác lập vững chắc. ______________________________________________ 1. Nghị quyết Liên khu ủy về “Nhiệm vụ Liên khu 4 chuyển mạnh sang tổng phản công” năm 1950. Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng. 2. Ngày 31 Tháng 8 năm 1950, Tòa án quân sự Liên khu 4 đã mở phiên tòa công khai tại thị trấn Đô Lương (Nghệ An) tuyên án tử hình tên Phạm Tuyên, phạt tù khổ sai 20 năm tên Bùi Quỳnh, 15 năm tù đối với Vương Đình Dinh và Nguyễn Ngọc Hoàn. 3. Trích nghị định số 62-NĐA ngày 9 tháng 2 năm 1950 của Bộ Tổng tư lệnh. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2024, 08:44:32 pm Ngày 17 tháng 7 năm 1950, quân Pháp tiến công Nga Sơn lần thứ hai. Được máy bay, pháo binh chi viện, địch dùng hai gọng kìm tiến công vào Liên Sơn, rồi sau đó phát triển đánh chiếm các vị trí Chính Đại, Điền Hộ, Mai An Tiêm và Tân Hải. Hưởng ứng phong trào thi đua «Giết giặc lập công», phối hợp với chiến dịch Biên Giới, không cho địch trụ vững lập bàn đạp tiến công bắc Thanh Hóa, từ ngày 8 đến 17 tháng 9, một bộ phận trung đoàn 9 (đại đoàn 304) phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh, huyện mở đợt tiến công quân địch ở Nga Sơn. Ngày 15 tháng 9, ta cường tập vào các vị trí Liên Sơn, Hồ Vương, Hói Đác, đánh sập hai lô cốt, địch phải bỏ chạy khỏi vị trí Hồ Vương, Hói Đác. Cùng thời gian, tiểu đoàn 353 (trung đoàn 9) phối hợp với đại đội 10 bộ đội địa phương huyện cùng đại đội 65 bộ đội địa phương tỉnh và dân quân địa phương tiến công vị trí Chính Đại, diệt và bắt toàn bộ quân địch. Cả đợt hoạt động này, ta đã diệt và làm bị thương 300 tên, thu một số vũ khí các loại, bảo vệ được nhân dân Liên Sơn và Tân Đức làm vụ cói 1.000 héc-ta, trị giá 200 triệu đồng. Đồng bào địa phương vô cùng phấn khởi, tình đoàn kết quân dân càng thêm gắn bó. Phong trào chiến tranh du kích có điều kiện phát triển. Bọn phản động hoang mang lo sợ, nhiều tên mang theo cả gia đình trốn ra Phát Diệm. Lực lượng vũ trang ngày càng phát triển với nhịp độ ngày càng nhanh và quy mô tác chiến ngày càng lớn thì nhu cầu về vũ khí ngày càng tăng, đòi hỏi sự hỗ trợ của ngành quân giới1. Nghệ An, Hà Tĩnh có 15 xưởng sản xuất và sửa chữa vũ khí. Thanh Hóa có một xưởng vũ khí và các tổ vũ khí ở Yên Định, Thiệu Hóa. Tổng số công nhân ngành quân giới của tỉnh và khu ở Nghệ An có tới 4.189 người, trong đó công nhân nhà máy xe lửa Trường Thi là lực lượng nòng cốt. Một số xưởng quân giới huyện, ngoài việc sửa chữa vũ khí thông thường đã tự sản xuất được địa lôi, súng kíp. Riêng xưởng quân giới Hà Tĩnh đã sửa chữa 500 súng trường trong một năm. Liên khu có 21 xưởng, ba công xưởng cơ động, đã chế tạo được súng, đạn, mìn, thủy lôi, bom bay, ba-zô-ka, chất nổ và một số hóa chất cần thiết. Ngành quân giới còn mở lớp dạy nghề đào tạo được hơn 200 công nhân kỹ thuật. Phong trào thi đua đuổi và vượt Ngô Văn Phú — một chiến sĩ quân giới có nhiều sáng kiến đạt năng suất cao, được phát động rộng rãi trong toàn ngành quân giới Liên khu. Giáo sư Phan Đình Ái chế được a-xít sun-phua-ríc và chất nổ. Kỹ sư Võ Quý Huấn thí nghiệm nấu gang thành công... Nhiều sáng kiến có giá trị ra đời, góp phần quan trọng đẩy mạnh sản xuất của ngành quân giới. Trước yêu cầu mới của kháng chiến, ngày 12 tháng 2 năm 1950 Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh 20-SL tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực của toàn dân phục vụ kháng chiến. Tính đến cuối tháng 10 năm 1950 toàn liên khu có gần 200.000 người ghi tên tòng quân, Nghệ An, Hà Tĩnh có 120.000 người. Riêng xã Hồng Yên (Can Lộc) có 1.112 người, 295 học sinh chuyên khoa trường trung học Phan Đình Phùng (trong đó có 13 nữ sinh) đều ghi tên tòng quân. Liên khu đã động viên bốn khóa tân binh, huấn luyện cho 36.120 người, bổ sung 5.000 người cho đại đoàn 304, gần 500 người cho Bắc Lào, ra Việt Bắc 4.000 người, tuyển cho Bộ Quốc phòng và Trường lục quân 6.000 học sinh, sáu đại đội bộ đội địa phương được điều ra Việt Bắc làm nhiệm vụ tiếp tế. Trong năm 1950, Liên khu huy động năm đợt dân công với hơn 47 vạn lượt người phục vụ tiền tuyến, đi vận tải tiếp tế, rào làng kháng chiến, sửa chữa đường sá, xây dựng kho tàng. Nhân dân hăng hái lên đường theo yêu cầu của Đảng. Nhiều vùng những người trẻ khỏe đã đóng góp từ 60 đến 70 phần trăm số ngày công trong một năm. Không ít gia đình cùng lúc có hai đến ba người đi dân công hỏa tuyến. Nhân dân toàn liên khu đã mua hơn 80 triệu đồng công phiếu kháng chiến, đóng 30 triệu đồng vào quỹ kháng chiến, hơn 30 triệu đồng thuế điền thổ. Năm 1950, Liên khu cung cấp cho chiến dịch Lê Lợi và chiến dịch Hữu Ngạn 5.000 tấn lúa, góp quỹ công lương 8.500 tấn, quỹ khao quân 11.000 tấn, thuế điền thổ 14.500 tấn, nuôi 36.000 tân binh, 3.000 cán bộ chiến sĩ, thương binh Bình — Trị — Thiên trong tám tháng, tiếp nhận ba vạn nhân dân Hà — Nam — Ninh sơ tán vào, một số cán bộ và nhân dân Lào, ủng hộ bộ đội địa phương và dân quân du kích 31.000 héc-ta ruộng để cày cấy tự túc. Trong tuần lễ quyên góp kim khí cho quân giới, nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh thu được 144 tấn kim loại các loại. Riêng ở tỉnh Hà Tĩnh đã quyên góp được 57 đôi hoa tai, một đôi xuyến vàng, 242 đồng bạc trắng, hàng trăm quan tiền đồng, nhiều dụng cụ gia đình như: sanh, chảo, mâm, chậu, nồi đồng và đồ thờ như lư hương, độc bình. Tuy nhiên, do nhận thức đơn giản một chiều và do tư tưởng chủ quan nóng vội, một số cán bộ đã phạm sai lầm trong việc chỉ đạo thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, như huy động sức người, sức của quá mức, ảnh hưởng tới sản xuất và dự trữ lực lượng để xây dựng hậu phương; cách làm còn thiếu dân chủ, dùng biện pháp hành chính mệnh lệnh, gò ép nhân dân. Những thiếu sót trên đã phần nào gây nên tình hình căng thẳng ở nông thôn, làm ảnh hưởng đến chính sách đại đoàn kết của Đảng. Ngày 1 tháng 7 năm 1950, Hồ Chủ tịch đã gửi thư cho nhân dân Liên khu 4 tự phê bình và xin lỗi đồng bào về việc một số cán bộ, đảng viên phạm sai lầm trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện các cuộc vận động quyên góp ủng hộ kháng chiến. Trung ương Đảng đã chỉ thị cho Đảng bộ Liên khu 4 căn cứ vào thư của Bác mà tự phê bình trước quần chúng. Chấp hành chỉ thị trên, Liên khu ủy, các tỉnh ủy và các tổ chức Đảng cơ sở ở ba tỉnh, các đơn vị bộ đội đã tổ chức học tập và tự phê bình theo như thư của Người. Kiên quyết khắc phục những thiếu sót đã phạm phải trong các cuộc vận động quyên góp trước đây. Nhân dân được đấu tranh phê bình, cởi mở thắc mắc, những gia đình bị thiệt thòi do bị quyên góp quá mức được hoàn lại. Mối quan hệ đoàn kết giữa cán bộ và quần chúng được củng cố. Nhân dân phấn khởi tiếp tục tự nguyện đóng góp sức người sức của cho kháng chiến. ______________________________________________ 1. Tính đến tháng 5 năm 1950, toàn liên khu có bộ đội địa phương 10.500 người, dân quân 709.000 người, du kích 87.000 người. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2024, 08:45:31 pm Đi đôi với việc tổng động viên, chính quyền các cấp đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm xây dựng và phát triển kinh tế, bảo đảm nhu cầu kháng chiến và bồi dưỡng sức dân. Để gây một phong trào thi đua sản xuất lương thực rộng khắp, bảo đảm tự túc về ăn và mặc, cuối năm 1949 Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu phát động cuộc vận động «Vụ chiêm quyết thắng». Tháng 6 năm 1950 lại phát động cuộc vận động «Vụ mùa chủ lực», đặt các giải thưởng điển hình về năng suất lúa, về năng suất bông, về gia đình có thu nhập bình quân cao. Cuối năm 1950, cả liên khu bị lụt nặng, ảnh hưởng không ít đến năng suất sản lượng lúa và màu. Nhưng nhờ tích cực khai hoang phục hóa đi đôi với thâm canh tăng năng suất và thực hiện tốt các biện pháp thủy lợi, thâm canh, làm phân xanh và đẩy mạnh phong trào vần công, đổi công, nên đời sống nhân dân và quân đội vẫn được bảo đảm. Việc tự túc lương thực được ráo riết đặt ra trong bộ đội, cán bộ, công nhân viên chức với lời kêu gọi: «Ai đã ở trong Vệ quốc đoàn là phải tăng gia sản xuất. Cán bộ càng phải gương mẫu». Liên khu đề ra chỉ tiêu: Mỗi trung đoàn làm từ 30 đến 35 héc-ta lúa, tổ chức 30 đến 50 khung dệt vải, tự túc một nửa nhu cầu rau xanh. Quán triệt chủ trương của Liên khu ủy và lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu, các lực lượng vũ trang toàn Liên khu sôi nổi thi đua tăng gia sản xuất. Các đơn vị chủ lực ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, bộ đội địa phương và dân quân du kích đều lập trại tăng gia. Khẩn trương khai hoang phục hóa, nhận thêm một số ruộng của nhân dân và đoàn thể gom cho để trồng trọt, chăn nuôi. Sáu tháng đầu năm 1950, các lực lượng vũ trang đã nhận 15.000 héc-ta ruộng hiến điền đưa vào sản xuất. Nhờ tích cực lao động sản xuất, gắn liền tác chiến với xây dựng, nhiều đơn vị bộ đội địa phương và dân quân du kích tập trung cả ở tiền tuyến và hậu phương đã tự túc được lương thực. Cùng với sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề thủ công cũng được chú ý phát triển, nhất là nghề dệt vải, làm giấy. Hội nghị kinh tế Liên khu 4 tháng 10 năm 1949 đã vạch ra đề án tự túc vải với khẩu hiệu: “Tập đoàn rảnh rải Dệt vải thêm công, Rảnh răng cày cấy Xeo giấy bình dân ». Đến năm 1950, ngoài xưởng dệt của cơ quan kinh tế và các xưởng của liên khu, còn có hàng trăm xưởng dệt nằm rải rác khắp ba tỉnh, hàng năm sản xuất hàng triệu mét vải, bảo đảm được 40 phần trăm nhu cầu của bộ đội và nhân dân. Các khung cửi gia đình phát triển khá mạnh. Riêng tại Thanh — Nghệ — Tĩnh đã có tới 40.000 khung cửi hẹp. Nghề giấy cũng được khuyến khích. Thanh — Nghệ — Tĩnh có 51 xưởng, sản xuất được 122 tấn. Các nghề dệt cói, làm muối, nước mắm, xà phòng, gốm, da đều được chú ý. Về công kỹ nghệ, toàn liên khu có 57 xưởng công nghệ, 34 xưởng kỹ nghệ, với 7.000 công nhân, đã sản xuất được 28 máy điện, ba máy bơm nước, một số máy khoan, máy xay bột giấy, máy bào... Ta còn sản xuất được cồn 90 độ, a-xít, dầu nhớt, thuốc nổ, diêm tiêu (riêng diêm tiêu không những đủ dùng mà còn cung cấp cho các liên khu khác). Mỏ than Khe Bố (Nghệ An), Mỹ Long (Thanh Hóa) hàng năm sản xuất hơn 1.600 tấn, cung cấp cho các xưởng quân giới và cơ xưởng vũ khí các huyện. Đi đôi với việc đẩy mạnh sản xuất, ta đã kiên quyết đấu tranh kinh tế với địch. Ban bao vây kinh tế từ khu đến xã được thành lập. Nhân dân tích cực hưởng ứng các chủ trương bài trừ hàng xa xỉ phẩm, hàng ngoại hóa, bảo vệ đồng bạc Việt Nam, đấu tranh chống bọn đầu cơ buôn lậu. Chính sách giảm tô, giảm tức, chia công điền, công thổ cho nông dân nghèo được chính quyền các cấp thực hiện. Hầu hết bần cố nông đều được chia ruộng. Công tác phát triển văn hóa, giáo dục và y tế, xây dựng đời sống mới được coi trọng. Các tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh đã thực hiện chương trình cải cách giáo dục phổ thông theo chương trình mới. Các tỉnh đều có một trường cấp 3 (hệ 9 năm), huyện có trường cấp 2, xã có trường cấp 1. Hà Tĩnh được Bộ Quốc gia giáo dục công nhận là tỉnh đầu tiên ở liên khu thanh toán xong nạn mù chữ. Hà Tĩnh vinh dự được Hồ Chủ tịch tặng thưởng huân chương Độc lập hạng nhì về thành tích nói trên (tháng 2 năm 1949). Các tệ nạn xã hội như hút thuốc phiện, nghiện rượu, cờ bạc, các hủ tục bị xóa bỏ. Các trại cứu tế của tỉnh, huyện được thành lập đã thu dung, nuôi dưỡng người tàn tật hoặc già cả không người nương tựa. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2024, 08:46:20 pm * * * Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Tổng quân ủy, sự lãnh đạo kịp thời của Bộ Quốc phòng — Tổng tư lệnh; Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp, nhạy bén và sáng tạo của Liên khu ủy, của các tỉnh ủy, của Bộ tư lệnh Liên khu và Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu, được chiến thắng Việt Bắc và Biên Giới cổ vũ, trong ba năm 1948 - 1949 và 1950 quân dân Liên khu 4 đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, khẩn trương phát triển lực lượng ba thứ quân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc trên các địa bàn, làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường, góp phần đánh bại âm mưu «dùng người Việt đánh người Việt», «lấy chiến tranh nuôi chiến tranh» và «kế hoạch Rơ-ve» của thực dân Pháp trên địa bàn liên khu. Đây là thời kỳ dài nhất — Ba năm — 1.000 ngày —chiếm một phần ba thời gian kháng chiến chống Pháp của quân và dân Liên khu 4. Vượt qua những thử thách gay go quyết liệt của năm đầu kháng chiến, nhất là của Bình — Trị — Thiên khói lửa, thời kỳ 1949 - 1950, Liên khu 4 đã có bước phát triển rất quan trọng cả về lực lượng, thế trận và tác chiến, ở cả tiền tuyến và hậu phương, với nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế. Bình — Trị — Thiên chiến tranh du kích đã có bước tiến về bề rộng và chiều sâu, từ đồng bằng tiến sâu vào hậu địch, trong đó có những «chiến dịch» tổng phá tề, tạo nên những thay đổi trong so sánh lực lượng địch — ta trên từng vùng rộng lớn. Thanh — Nghệ — Tĩnh có bước phát triển toàn diện trong xây dựng, củng cố hậu phương cả về quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, góp phần rất quan trọng đẩy lùi mưu đồ của giặc Pháp tiến công lấn ra vùng tự do của liên khu. Trong thời kỳ này, các đơn vị bộ đội tập trung Khu 4 đã có bước tiến bộ qua các cuộc vận động «Luyện quan lập công», «Rèn luyện cán bộ, chẩn chỉnh quân đội», các đợt tổ chức lại chiến trường ở cả Bình — Trị — Thiên và Thanh — Nghệ — Tĩnh, các phong trào tòng quân, nhập ngũ, phong trào “đỡ đầu» bộ đội rất rầm rộ, sôi nổi. Trong đó có sự kiện nổi bật là sự ra đời của đại đoàn 304, đại đoàn đầu tiên được xây dựng ở Liên khu 4 và là đại đoàn thứ hai của quân đội ta (sau đại đoàn 308). Mặt trận Trung Lào cũng có chuyển biến mới, với sự phát triển đồng đều cả lực lượng bạn và ta, tạo điều kiện cho cả lực lượng Ít-xa-la (Lào) và bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp phát triển chiến tranh nhân dân xuống đồng bằng. Tuy nhiên, do chưa nắm thật vững mối quan hệ có tính quy luật giữa việc xây dựng và phát triển ba thứ quân phải được giải quyết một cách cân đối với vấn đề xây dựng địa bàn đứng chân và điều kiện bảo đảm của hậu phương, bao gồm cả hậu phương chiến trường chính và chiến trường tại chỗ, nên Bộ chỉ huy chiến trường đã nóng vội tăng nhanh số bộ đội tập trung, vượt quá khả năng thực tế của chiến trường, tập trung lực lượng lớn nhưng địa bàn đứng chân hẹp, chưa thể chứa đựng nổi một khối lượng lớn về công tác bảo đảm. Trong lúc xây dựng và củng cố hậu phương chưa tiến kịp với tốc độ phát triển của lực lượng chủ lực, nên hiệu suất chiến đấu đã có những thất bại cục bộ. Tập trung chủ lực mở chiến dịch lớn trên địa bàn đồng bằng trong giai đoạn này là chưa phù hợp. Trong lãnh đạo, chỉ huy còn mang nặng tư tưởng ham ăn to, đánh lớn, chưa thật chú trọng đến nhiệm vụ xây dựng chất lượng chiến đấu và huấn luyện cho bộ đội. Trong xây dựng hậu phương, có lúc, có nhiệm vụ còn nặng về mệnh lệnh, cưỡng bức. Chưa coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giác ngộ nhân dân, vận động quần chúng nhân dân tự giác, hăng hái tham gia kháng chiến và kiến quốc. Những nhược điểm, khuyết điểm trên đây đã được Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu từng bước uốn nắn và khắc phục để trong hoàn cảnh nào cũng phải phấn đấu đi lên khi cuộc kháng chiến đã chuyển mạnh sang tổng phản công. Những chuyển biến trên đây đã đánh dấu bước trưởng thành của Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu trong lãnh đạo chỉ đạo chiến tranh nhân dân trên một địa bàn chiến lược quan trọng ở miền trung nước ta, miền trung ba nước Đông Dương. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười, 2024, 07:46:18 pm CHƯƠNG IV BÁM TRỤ CHỐNG CÀN, PHÁ ÂM MƯU BÌNH ĐỊNH CỦA ĐỊCH, DỐC SỨC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG (1951 - 1953) Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta bước sang năm thứ năm. Những thắng lợi về chính trị, ngoại giao cùng với chiến thắng liên tiếp của quân và dân ta trên các chiến trường, nhất là chiến thắng Biên Giới đã tạo nên cục diện mới có lợi cho ta. Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Đảng là một sự kiện lịch sử trọng đại, mở ra bước ngoặt to lớn, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiến đến thắng lợi. Sau chiến dịch Biên Giới, thế và lực của ta đã có bước phát triển mới, địch càng lún sau vào thế bị động lúng túng. Chính phủ Pháp cử tướng Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi (DeLattrede Tassigny), tư lệnh lục quân khối Bắc Đại Tây Dương sang làm tổng chỉ huy kiêm Cao ủy Pháp tại Đông Dương, tăng thêm quân bổ sung và được Mỹ tăng cường viện trợ1. Lực lượng kháng chiến của ta ngày càng phát triển rộng khắp, các đại đoàn chủ lực lần lượt ra đời, góp phần đẩy mạnh cả chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy trên các chiến trường. Sự thay đổi to lớn về thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường cả nước, nhất là chiến trường chính Bắc Bộ đã tác động sâu sắc đến mọi hoạt động của Liên khu 4. I. CHỐNG PHÁ ÂM MƯU BÌNH ĐỊNH CỦA ĐỊCH, PHỐI HỢP VỚI CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH—ĐẠI ĐOÀN 325 RA ĐỜI Bước vào năm 1951, chiến trường Bình—Trị—Thiên trở thành một trong những trọng điểm «bình định» của địch. Lực lượng của chúng có sáu tiểu đoàn, ba đại đội Âu-Phi và sáu tiểu đoàn ngụy, chiếm đóng 172 vị trí, hơn 200 lô cốt và tháp canh ở thành phố, thị xã và các đầu mối giao thông quan trọng2. So với chiến trường Bắc Bộ thì việc triển khai kế hoạch Tát-xi-nhi của địch ở Bình—Trị—Thiên chậm hơn. Một mặt chúng phải điều lực lượng ra đối phó với ta trong chiến dịch Trần Hưng Đạo ở trung du Bắc Bộ. Mặt khác, chúng chủ quan cho rằng sau chiến dịch Phan Đình Phùng, chủ lực Khu 4 chưa kịp chuẩn bị, chưa kịp khắc phục những khó khăn từ cuối năm 1950. Vì vậy chúng rút hai tiểu đoàn Âu—Phi ra Bắc Bộ, tổ chức, bố trí lại lực lượng ứng chiến và chiếm đóng trên chiến trường Bình — Trị—Thiên. Bố trí xong lực lượng, địch liên tiếp mở các cuộc càn quét khốc liệt vùng tạm chiếm và càn lên chiến khu của ta ở Hòa Mỹ, Hương Trà, Phong Điền, Hương Thủy, Triệu Phong, nhằm gây thêm khó khăn cho ta về kinh tế và quân sự, khống chế nhân dân, cắt đứt mối liên hệ giữa nhân dân với cán bộ và lực lượng vũ trang cách mạng, mở rộng và củng cố vùng tạm chiếm, bảo đảm an toàn cho các khu vực chiếm đóng của chúng. Lực lượng vũ trong nòng cốt ở Bình-Trị-Thiên lúc này có các trung đoàn 95 và 101, tiểu đoàn 888 pháo binh, ba tiểu đoàn tỉnh, 17 đại đội huyện và dân quân du kích. Chiến tranh du kích vẫn thường xuyên uy hiếp địch, gây cho chúng nhiều tổn thất ngay cả ở đô thị, sào huyệt của chúng. Tuy vậy, địch vẫn củng cố được thế chiếm đóng ở đồng bằng, gây khó khăn lớn cho ta. Cơ sở nhiều nơi bị tổn thất, phong trào đấu tranh trong vùng địch hậu giảm sút, hoạt động của lực lượng vũ trang bị hạn chế, cấp ủy ở một số địa phương chưa tìm được hình thức đấu tranh thích hợp, lực lượng vũ trang lại coi nhẹ chiến tranh du kích ở vùng tạm chiếm. Đầu tháng 1 năm 1951, Liên khu ủy mở hội nghị cán bộ toàn liên khu để quán triệt nhiệm vụ quân sự năm 1951, rút kinh nghiệm chỉ đạo tác chiến trong năm qua và giải quyết vấn đề cung cấp cho chiến trường Bình— Trị—Thiên. Hội nghị xác định nhiệm vụ quân sự cấp bách của liên khu là: — Đẩy mạnh tác chiến phối hợp chiến trường chính. — Tiến tới xây dựng đại đoàn 325 chủ lực. — Xúc tiến điều tra chuẩn bị chiến trường. Liên khu ủy đã nghiêm khắc kiểm điểm tìm ra nguyên nhân của tình hình chậm phát triển, nhiều khó khăn vừa qua là do các cấp ủy Đảng chưa chú trọng giáo dục để đảng viên và quần chúng thấy hết âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt tàn bạo của địch, chưa có những hình thức đấu tranh thích hợp, việc tổ chức chỉ huy và trình độ tác chiến của bộ đội còn nhiều hạn chế. Ngay sau hội nghị, Liên khu đã tiếp tế hơn 904 tấn gạo, 45 tấn muối cho quân và dân Bình—Trị—Thiên để kịp thời giải quyết khó khăn. ______________________________________________ 1. Ngày 13 tháng 12 năm 1950, Mỹ kỹ kết viện trợ cho Pháp ở Đông Dương: Năm 1951: 62 tỷ; năm 1952: 200 tỷ và năm 1953: 265 tỷ phơ-răng. 2. Lực lượng địch bố trí ở Bình — Trị — Thiên lúc này bằng một phần ba lực lượng của chúng trên chiến trường Bắc Bộ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười, 2024, 07:50:18 pm Tháng 2, Hội nghị quân chính Mặt trận Bình—Trị—Thiên họp tại chiến khu Ba Lòng để quán triệt nhiệm vụ quân sự năm 1951 của Liên khu. Ở chiến trường Bình—Trị—Thiên lúc này: «Lực lượng địch tuy mạnh, âm mưu của chúng rất xảo quyệt, nhưng ta vẫn làm chủ được địa bàn rừng núi, chiến tranh du kích ở một số vùng đồng bằng vẫn duy trì. Qua thử thách gian khổ, quyết liệt, ta vẫn giữ được phong trào trên cả ba vùng, nhân dân hết lòng ủng hộ kháng chiến. Nếu biết phát huy thế mạnh đó thì thế và lực của ta sẽ tăng lên gấp bội, khó khăn lớn nhất của ta không phải là mất dân, cũng không phải vì địch mạnh, mà là làm sao tìm ra cách đánh thích hợp, phối hợp lực lượng ba thứ quân có hiệu quả để đánh thắng địch. Tác chiến của chủ lực phải phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương và dân quân du kích, thực hiện tốt phương châm đánh nhỏ ăn chắc», đánh tiêu diệt, làm chủ chiến trường, thu vũ khí»1. Lãnh đạo, chỉ huy Bình — Trị—Thiên quyết định tiến hành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, chiến sĩ nhận thức sâu sắc nhiệm vụ tác chiến và xây dựng, đồng thời hiểu rõ trách nhiệm to lớn của mình đối với phong trào. Trên cơ sở đó, nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, quyết tâm «xây đà chiến thắng», bám dân, bám đất, giữ vững địa bàn, chăm lo củng cố mọi mặt, đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh bại âm mưu bình định của địch, đưa phong trào ở Bình-Trị-Thiên tiến kịp các chiến trường. Ngày 12 tháng 2, tiểu đoàn 436 được tiểu đoàn 888 pháo binh chi viện, tiến công tiêu diệt hoàn toàn vị trí An Gia trong hệ thống phòng thủ Phú Ốc—Sịa huyện Quảng Điền. Ngay sau đó, địch cho quân đến tiếp viện, giải tỏa và chiếm lại vị trí này. Đêm 3 và sáng ngày 4 tháng 3, kết hợp đánh điểm với diệt viện, trung đoàn 101 lại diệt vị trí An Gia và diệt hai trung đội địch từ Phú Ốc đến cứu viện. Sau chiến thắng An Gia, Bộ chỉ huy Mặt trận chủ trương giao cho trung đoàn 101 cường tập vị trí Phổ Lại, nhằm tiêu diệt lực lượng địch ở đây, làm tan rã tinh thần binh lính địch nhất là tiểu đoàn 7 quân ngụy, đẩy mạnh đà chiến thắng, chuẩn bị cho hoạt động bảo vệ mùa tháng 4. Trung đoàn 101 nhanh chóng tổ chức lực lượng, hành quan chiếm lĩnh trận địa. Đêm 9 tháng 3, các đơn vị đã ở vị trí chiến đấu thì được tin địch tăng viện một đại đội gần 150 sĩ quan và hạ sĩ quan đến thực tập. Tranh thủ lúc địch chưa ổn định, mật độ đóng quân dày đặc, tiểu đoàn 436 do tiểu đoàn trưởng Dương Bá Nuôi chỉ huy, bất ngờ tiến công quyết liệt. Sau hai giờ chiến đấu, ta đã đánh chiếm vị trí, tiêu diệt toàn bộ quân địch, thu toàn bộ vũ khí. Phối hợp với tiểu đoàn 436, dân quân du kích và nhân dân huyện Quảng Điền tích cực phá cầu đường trên tuyến phòng ngự Phú Ốc — Sịa, chặn đường tiếp viện của địch. Đại đội 325 Quảng Điền tiến công uy hiếp, buộc địch rút khỏi đồn Quảng Thanh. Chiến thắng Phổ Lại cùng với chiến thắng An Gia đã bẻ gãy tuyến phòng ngự Phú Ốc — Sịa của địch. Với thắng lợi đó, ta đã «xây được đà chiến thắng» ở Bình - Trị - Thiên. Để tiếp tục chỉ đạo các hoạt động quân sự, Nghị quyết thường vụ Liên khu ủy đầu tháng 3 nêu rõ: «Trên chiến trường Bình — Trị — Thiên, chiến tranh du kích là chính, quy mô tác chiến của chủ lực là trung đoàn, khi cần có thể tổ chức hai trung đoàn, nhưng phải chuẩn bị chu đáo, chủ động đánh tiêu diệt ăn chắc, đánh quân ứng chiến là chính. Khi đánh xong phải phân tán về từng tỉnh cùng với bộ đội địa phương hoạt động, đẩy mạnh chiến tranh du kích»2. Nghị quyết Thường vụ Liên khu đang được mặt trận Bình — Trị — Thiên tổ chức thực hiện thì bộ chỉ huy Pháp cũng chuẩn bị càn lớn vào Thanh Hương — Mỹ Xuyên. Chúng đã huy động trên 2.200 quân ứng chiến tinh nhuệ có pháo binh, công binh, cơ giới và máy bay chi viện, chia làm hai cánh hành quân chiếm lĩnh trận địa, hình thành thế bao vây căn cứ Thanh Hương — Mỹ Xuyên. Cách thứ nhất có hơn 1.000 địch do tên trung tá Sốc-kên (Socket) chỉ huy, đánh vào Vĩnh An — Ưu Điềm. Cách thứ hai có gần 1.500 tên, do tên trung tá Bút-tin (Buttin) chỉ huy, đánh vào Thanh Hương—Mỹ Xuyên. Cả hai cánh quân đặt dưới quyền chỉ huy của tên đại tá Ta-bo (Tabor). Chiều 10 tháng 3, tất cả các cánh quân của địch đã tập kết đầy đủ ở vị trí xuất phát tiến công. Lần đầu tiên trên chiến trường Bình — Trị — Thiên, địch tổ chức một cuộc càn quét lớn, lực lượng mạnh và được chuẩn bị chu đáo. Chúng hy vọng sẽ quần nát căn cứ đồng bằng Phong — Hải, buộc chủ lực ta phải bị động đối phó. 17 giờ ngày 10 tháng 3, khi địch điều pháo vào Mỹ Chánh và ca nô chở quân đổ bộ vào sông Vĩnh Định, Bộ chỉ huy mặt trận khẳng định: địch càn lớn vào vùng căn cứ Phong Điền và Hải Lăng. Một mặt lệnh cho các trung đoàn 95 và 101 cơ động đánh địch, mặt khác tổ chức hiệp đồng với địa phương chỉ đạo bộ đội địa phương và dân quân du kích bám địch chống càn, làm chậm bước tiến của chúng, đồng thời nhanh chóng tổ chức cho nhân dân cất giấu của cải, tản cư vào căn cứ. Bộ chỉ huy mặt trận về đồng bằng trực tiếp chỉ huy chống càn. Các trung đoàn 95 và 101 nhanh chóng hành quân trong đêm chiếm lĩnh trận địa. Sáng 11 tháng 3, các trung đoàn tập kết đầy đủ ở Thanh Hương - Mỹ Xuyên kịp thời nổ súng đánh địch, mở đầu trận chống càn. Trên hướng Vĩnh An — Ưu Điềm, trung đoàn 95 vừa tới Phong Lâu thì binh đoàn Sốc-kên đã tràn vào trận địa ta, đại đội 153 và tiểu đoàn 310 lọt vào vòng vây của địch. Bị đánh bất ngờ, cả tiểu đoàn 310 tán loạn, đại đội 153 bị tổn thất nặng. Thừa cơ, địch đuổi theo số thoát vây đến Vĩnh An. Trung đoàn trưởng Lê Bá Vận và chính ủy Trần Văn Bành quyết định tập trung lực lượng còn lại tiến công địch ở Vĩnh An. Binh đoàn Sốc-kên bỏ chạy về Ưu Điềm, ý đồ kéo quân về Thanh Hương — Mỹ Xuyên, tập trung lực lượng tiêu diệt chủ lực ta đã bị phá sản. Trong trận Vĩnh An — Ưu Điểm, ta đã tiêu diệt hai đại đội địch, bẻ gãy trận càn, phá âm mưu hợp quân của chúng, nhưng ta cũng bị bất ngờ và tổn thất hai đại đội. _______________________________________________ 1. Báo cáo của đồng chí Hoàng Anh, Bí thư Phân khu ủy Bình—Trị—Thiên tại Hội nghị, Phông Khu 4, lưu trữ K4 Bộ quốc phòng, hồ sơ 235, tr.11. 1. Nghị quyết số 52-NQ-LK4 ngày 19 tháng 3 năm 1951. Tài liệu lưu trữ tại Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười, 2024, 07:52:55 pm Khi cánh quân Sốc-kên bị chặn đánh quyết liệt ở Vĩnh An thì cánh quân Bút-tin trên đường tiến công vào làng Thanh Hương cũng phải đối phó chật vật với dân quân, du kích và bộ đội địa phương. Mới bám được rìa làng, Bút-tin vội vã cho quân chọc thẳng vào làng Thanh Hương, nhưng bị tiểu đoàn 319 (trung đoàn 101) do tiểu đoàn trưởng Triệu Huy Hùng chỉ huy đánh bật ra và tiếp đó kiên cường bám trụ, liên tiếp bẻ gẫy nhiều đợt tiến công của chúng. 16 giờ ngày 11 tháng 3, tiểu đoàn 328 chặn cánh quân của địch từ ngoài biển vào, còn tiểu đoàn 436 (trung đoàn 101) được lệnh đánh tạt sườn quân địch ở chân đồi cát Vĩnh Xương. Bị tiến công từ hai phía, địch bỏ chạy vào làng Thanh Hương, có thủ ở khu vực nhà thờ Tháp Một. Tại căn cứ Phong Lai, Bộ chỉ huy phân khu cùng cơ quan1 họp khẩn cấp bàn kế hoạch chuẩn bị cho trận đánh ngày 12 tháng 3. Sau khi phân tích tình hình so sánh lực lượng, Bộ chỉ huy quyết định: Tập trung tiêu diệt binh đoàn Bút-tin và giao nhiệm vụ này cho trung đoàn 101. Các lực lượng khác sẵn sàng cơ động chặn đánh quân tiếp viện của địch. Chủ trương này được phổ biến ngay trong đêm 11 tháng 3. Nhận mệnh lệnh tác chiến, trung đoàn 101 do trung đoàn trưởng Lê Văn Tri và chính ủy Lê Tự Đồng chỉ huy nhanh chóng xốc lại lực lượng, bổ sung vũ khí đạn dược, động viên tinh thần cán bộ chiến sĩ tiếp tục đánh địch. Nhân dân các xã ở khu vực Thanh Hương vừa đoàn kết đấu tranh buộc địch không được càn quét cướp phá, tàn sát nhân dân, không được cưỡng bức con em họ đi càn, vừa vận động binh lính địch buông súng trở về với nhân dân. Được sự hỗ trợ của chủ lực và trước phong trào đấu tranh của nhân dân, nhiều người trong số bị địch bắt đi càn bỏ hàng ngũ địch trở về với nhân dân. Trong số hơn 250 người bị địch bắt đi càn đã có gần 30 người cướp súng địch và chạy theo du kích. Nhân dân còn suốt đêm nổi lửa nấu cơm, tiếp tế phục vụ bộ đội. Cán bộ địa phương kịp thời tuyển chọn du kích bổ sung cho bộ đội. 5 giờ sáng 12 tháng 3, các tiểu đoàn 319 và 436 khép chặt vòng vây nhà thờ Tháp Một, dùng hỏa lực khống chế, vừa liên tiếp dùng loa kêu gọi địch đầu hàng. Bọn địch hoang mang, Bút-tin liều mạng tháo chạy về phía thị xã Quảng Trị. Nhưng đạn cối của ta bắn dữ dội và xung kích của ta đã áp sát. Địch hoảng sợ tháo chạy tán loạn ra phía đường số 68. Bộ đội và dân quân du kích hai huyện Phong — Hải chặn đánh hất toàn bộ quân địch xuống đồng lầy Thanh Hương. Trận giáp chiến giữa ta và địch diễn ra ác liệt trên cánh đồng Thanh Hương. 9 giờ ngày 12 tháng 3, trận chống càn Thanh Hương — Mỹ Xuyên kết thúc thắng lợi. Binh đoàn Bút-tin bị tiêu diệt, tên trung tá Bút-tin tử trận, trên 1.200 tên chết và bị thương, 52 tên bị bắt, ta thu trên 100 súng các loại và giải thoát cho 250 người bị địch cưỡng bức đi càn. Trận chống càn Thanh Hương — Ưu Điềm là trận vận động chiến lớn nhất từ trước tới nay ở Bình — Trị— Thiên, diễn ra liên tiếp suốt ba ngày đêm. Là trận vận động chiến quy mô với toàn bộ lực lượng chủ lực có mặt trên chiến trường, cơ động nhanh, kết hợp chặt chẽ giữa phản kích, đột kích, tập kích với bám trụ vững vàng, bẻ gãy từng cánh quân của địch. Ta đã biết phối hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, giữa quân và dân, giữa đấu tranh quân sự, chính trị và binh vận, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn, liên tục tiến công làm cho địch có lực lượng ứng chiến lớn và phương tiện chiến tranh hiện đại vẫn bị thất bại. Kế hoạch của Tát-xi-nhi tiêu diệt chủ lực ta và giao chiến trường Bình — Trị — Thiên cho quân ngụy đảm nhiệm để rút quân ứng chiến tăng cường cho chiến trường Bắc Bộ bị phá sản. Chiến thắng Thanh Hương — Ưu Điềm đã góp phần quan trọng giải quyết được nhiều khó khăn trong phong trào chiến tranh nhân dân và nhiều vấn đề về lãnh đạo, chỉ huy tác chiến trên chiến trường Bình — Trị — Thiên. Chiến thắng Thanh Hương — Ưu Điềm đánh dấu bước trưởng thành của chủ lực ta trong việc vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, nhất là chiến thuật vận động chiến trong chống càn. Chất lượng đánh tiêu diệt đã có bước tiến bộ đáng kể. Trong thế trận chung và có sự phối hợp giữa ba thứ quân, bộ đội chủ lực Bình — Trị — Thiên đã có thể tiêu diệt từng tiểu đoàn, binh đoàn địch. Với chiến thắng vẻ vang này, ngày 19 tháng 3 năm 1951 quân và dân Bình — Trị — Thiên đã vinh dự được Bác Hồ gửi thư khen: «Tôi thân ái gửi đồng bào và bộ đội Bình-Trị-Thiên đã thắng một trận khá. Thắng lợi ấy là do sự dũng cảm của bộ đội, lòng hăng hái của toàn dân và sức đoàn kết của quân dân chính... Chúng ta phải cố gắng hơn nữa và phải nhớ rằng ở Liên khu 4 du kích là chính, vận động chiến là phụ. Kháng chiến là trường kỳ gian khổ, rồi mới đến thắng lợi hoàn toàn». Cùng thời gian này quân và dân Bình — Trị — Thiên còn được đón nhận điện và thư khen của đồng chí Tổng bí thư Trường-Chinh, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, của Liên khu uy và Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 4, cùng nhiều thư, điện cổ vũ của các chiến trường. Sau thất bại ở Thanh Hương-Ưu Điềm, địch không rút bớt được mà phải bổ sung cho chiến trường Bình-Trị-Thiên để nhanh chóng khôi phục lực lượng ứng chiến. Chúng đưa tiểu đoàn 1 Bắc Phi từ Đà Nẵng ra thay thế tiểu đoàn 4 Bắc Phi, lấy đại đội ứng chiến ở Quảng Bình bổ sung cho tiểu đoàn 6 Spahis, tăng thêm lính khố đỏ cho tiểu đoàn 27 Âu — Phi và đưa từ Bắc Bộ vào hai tiểu đoàn. Tính đến tháng 6 năm 1951, lực lượng địch ở Bình —Trị —Thiên đã lên tới bảy tiểu đoàn Âu — Phi ứng chiến và 10 tiểu đoàn quân ngụy chiếm đóng2. Thất bại về quân sự của địch kéo theo sự lúng túng phân hóa về chính trị. Mâu thuẫn giữa quân ngụy với quân Pháp thêm gay gắt, nội bộ ngụy quân, ngụy quyền xâu xé thanh trừng lẫn nhau, xu hướng bỏ Pháp đi theo quan thầy mới là Mỹ bắt đầu xuất hiện trong hàng ngũ địch. Tuy nhiên, cả Pháp lẫn Mỹ đều muốn sử dụng bọn đội lốt đạo Thiên chúa làm tay sai đắc lực cho chúng. Tháng 5 năm 1951, chúng đưa Trần Văn Lý là tên phản động lên thay Phan Văn Giáo. Chúng rút bỏ các vị trí cô lập, ra sức củng cố hành lang, chia thành từng ô để dễ kiểm soát, tập trung giữ vững các đường giao thông quan trọng. _______________________________________________ 1. Đồng chí Hoàng Anh, Bí thư Phân khu ủy kiêm chính ủy Mặt trận thay đồng chí Trần Quý Hai ra họp ở Việt Bắc. 2. Lực lượng Âu—Phi ứng chiến có tiểu đoàn: Tuy-ni-di số 2, An-giê-ri số 27, Sê-nê-gan số 28, tiểu đoàn 6 Spahis, tiểu đoàn lê-dương số 1, tiểu đoàn Ma-rốc số 1 và tiểu đoàn thuộc địa số 21. Lực lượng chiếm đóng có: trung đoàn Nguyễn Huệ (hai tiểu đoàn) ở Quảng Bình, trung đoàn Trần Hưng Đạo (hai tiểu đoàn) ở Quảng Trị, trung đoàn Duy Tân (hai tiểu đoàn) ở Thừa Thiên, và bốn tiểu đoàn biệt lập số 7, 8, 12 và 23. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười, 2024, 07:57:01 pm Sau trận Thanh Hương —Ưu Điềm, vùng du kích của ta được mở rộng và củng cố, một số căn cứ lõm được hình thành. Phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh ở các xã vùng Phổ Lại, Vĩnh An và Thanh Hương. Lực lượng vũ trang ba thứ quân trưởng thành, có thêm kinh nghiệm chiến đấu, thế trận chiến tranh nhân dân có bước phát triển mới. Tuy nhiên, lực lượng ta có bị hao hụt, nhất là trung đoàn 95, các đơn vị đều thiếu cán bộ, bộ đội phải chiến đấu liên tục trong hoàn cảnh thiếu thốn, gian khổ, sức khỏe bị giảm sút. Trước tình hình ấy, đảng ủy và bộ chỉ huy mặt trận chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích, hoạt động nhỏ lẻ, chuẩn bị cho nhân dân tranh thủ thu hoạch, bảo vệ vụ mùa tháng 4 và tháng 5, đồng thời tranh thủ bổ sung quân và vũ khí, bồi dưỡng cán bộ, huấn luyện chiến sĩ, củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích. Bộ đội chủ lực tích cực bao vây, tiến công tiêu diệt 33 vị trí địch hoặc giam chân chúng để cho bộ đội địa phương và dân quân du kích bám đồng ruộng, bám dân, chống càn quét tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch. Nhân dân các địa phương vùng lúa tranh thủ gặt hái. Với những nỗ lực đó, quân và dân Bình — Trị — Thiên bước đầu phá tan kế hoạch cướp phá mùa của địch. Cùng thời gian này cấp ủy và chính quyền các cấp vừa đặc biệt quan tâm tới việc bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài, vừa chăm lo xây dựng căn cứ địa, khu du kích, xem đây là một nhiệm vụ trọng yếu trong công tác của mình. Ở các chiến khu Bang, Rợn, Lệ Thủy, Thủy Ba Thượng, Cẩm Phổ, Gio Linh, Cùa, Cam Lộ, Hòn Linh, Khe Hương, Hòa Mỹ, Lương Miêu... được củng cố thêm một bước, phòng thủ và dự phòng tốt, rào chắn, canh gác chặt chẽ, vững chắc hơn. Đặc biệt ở các khu vực tiền chiến khu được xây dựng như những làng chiến đấu Cự Nẫm năm trước, nhưng sáng tạo và chắc chắn hơn. Trong từng chiến khu đã chú trọng đến nhiệm vụ khai hoang trồng sắn, khoai và chăn nuôi gia súc, tự túc một phần lương thực và cải thiện đời sống. Từ 14 đến 21 tháng 5 năm 1951, Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu 4 lần thứ ba họp tại làng Hoa Quân, huyện Thanh Chương (Nghệ An). Đại hội kiểm điểm tình hình vừa qua, đề ra chủ trương lãnh đạo trong những năm tới và bầu ra Ban chấp hành mới của Đảng bộ Liên khu. Đại hội đề ra hai nhiệm vụ của Liên khu là: “ — Tiếp tục xây dựng lực lượng quân sự, tiêu diệt sinh lực địch, đồng thời bảo toàn và xây dựng lực lượng ta. — Đẩy mạnh sản xuất, đặc biệt là sản xuất lương thực, bảo đảm cung cấp nhu cầu tiền tuyến và cải thiện dân sinh”1. Về nhiệm vụ của Bình —Trị—Thiên, nghị quyết Đại hội nêu rõ: Cần kíp «củng cố và phát triển lực lượng, đủ sức chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp với chiến trường chính, phát triển chiến tranh du kích khắp các địa phương. Tranh thủ thời cơ đẩy mạnh tăng gia sản xuất và tiết kiệm để bồi duỡng sức dân, duy trì cuộc kháng chiến lâu dài. Kiên nhẫn và bền bỉ xây dựng, phát triển cơ sở quần chúng ở các vùng địch hậu và cơ sở bí mật trong các thị xã»2. Về nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, Đại hội chỉ rõ: «Trong điều kiện và hoàn cảnh chiến trường Bình-Trị-Thiên, bộ đội chủ lực không thể tăng thêm nhiều và cơ động khó khăn. Vì vậy, bộ đội địa phương sẽ là thành phần vũ trang quan trọng của chiến tranh nhân dân địa phương, nên cần được tăng cường và củng cố mọi mặt. Dân quân du kích là công cụ bạo lực chủ yếu ở cơ sở và là lực lượng trực tiếp làm nòng cốt đề thực hiện «vũ trang toàn dân và toàn dân đánh giặc», phải được đặc biệt quan tâm xây dựng. Trên cơ sở đó mà tiếp tục củng cố bộ đội chủ lực hiện có, tiến tới xây dựng thành đại đoàn»3. Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng chính trị tư tưởng, kinh tế, tài chính và văn hóa xã hội của Liên khu trong những năm tới. Đồng chí Hoàng Anh được bầu là Bí thư Liên khu ủy, đồng chí Lê Viết Lượng được cử làm chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu. Đồng chí Lê Nam Thắng được cử làm tư lệnh và đồng chí Võ Thúc Đồng làm chính ủy Liên khu. Đồng chí Chu Văn Biên được bầu làm phó bí thư Liên khu ủy trực tiếp làm bí thư Đảng ủy Mặt trận Bình—Trị—Thiên, đồng chí Trần Quý Hai được cử làm tư lệnh, đồng chí Lê Tự Đồng phó chính ủy, các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy từ Liên khu xuống cơ sở đều được kiện toàn, củng cố. Đại đội Đảng bộ các tỉnh trong liên khu cũng lần lượt được tiến hành. Tổ chức Đảng ở các địa phương từ đây ra hoạt động công khai lãnh đạo kháng chiến. ____________________________________________ 1 - 3. Trích Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Liên khu 4 lần thứ ba. Hồ sơ lưu trữ tại Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười, 2024, 07:58:42 pm Sau chiến dịch Quang Trung, tháng 6 năm 1951 Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng — Tổng tư lệnh quân đội quốc gia Việt Nam và Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng vào kiểm tra tình hình và giao nhiệm vụ cho Liên khu 4. Về âm mưu của địch đối với địa bàn liên khu, Đại tướng chỉ rõ: «Trước mắt thực dân Pháp chưa thể đánh chiếm Thanh — Nghệ — Tĩnh, nhưng chúng sẽ dùng không quân đánh phá rất ác liệt, nhằm triệt phá kinh tế hậu phương ta, đồng thời chúng sẽ tung lực lượng phỉ đánh chiếm miền tây; tăng cường tập kích, biệt kích ven biển; sử dụng bọn gián điệp, phản động đội lốt tôn giáo phá hoại hậu phương chiến lược làm cho ta không đủ tài lực để phát triển chủ lực và đưa chiến tranh vận động tiến lên. Bộ đã nghiên cứu kỹ về so sánh lực lượng giữa địch và ta, về âm mưu và thủ đoạn của chúng, về khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và công tác bảo đảm cung cấp... Có thể chúng sẽ chuyển hướng hoạt động của chủ lực, mở chiến dịch lên miền Tây Bắc — ở đó lực lượng địch yếu và sơ hở, ở đó là một địa bàn chiến lược quan trọng. Nếu giải phóng được miền Tây Bắc và phối hợp với lực lượng bạn giải phóng một số tỉnh của Thượng Lào, ta sẽ tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng nhân dân các dân tộc, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, tạo nên một căn cứ chiến lược liên hoàn với chiến khu Việt Bắc — Tây Bắc — Thượng Lào — Thanh — Nghệ —Tĩnh». Để có thể thực hiện được ý đồ chiến lược trên, Liên khu 4 có vị trí và vai trò rất quan trọng: «Một mặt vẫn tiếp tục đẩy mạnh tác chiến ở Bình - Trị - Thiên, tránh chủ quan khinh địch chống tư tưởng ăn to đánh lớn trong một số cán bộ, đẩy mạnh xây dựng lực lượng địa phương thay thế các trung đoàn chủ lực, xúc tiến sớm việc tập trung đại đoàn 325, xây dựng thành đại đoàn cơ động trong đội hình các đại đoàn chủ lực của Bộ. Một mặt Liên khu phải tập trung sự nỗ lực cao nhất xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương Thanh —Nghệ — Tĩnh, vừa sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho chiến trường chính Bắc Bộ, cho các chiến trường Bình—Trị—Thiên, Tây Bắc và Thượng Lào”. Sau khi Đại tướng giao nhiệm vụ, đồng chí Thiếu tướng Tổng Tham mưu trưởng hướng dẫn Liên khu về công tác tham mưu, về xây dựng kế hoạch tác chiến bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng ba thứ quân đảm nhiệm nhiệm vụ tác chiến địa bàn, vừa sẵn sàng bổ sung cho chủ lực, tinh giản cơ quan liên khu bộ từ 1.600 xuống 400 cán bộ, chiến sĩ, rút lực lượng bổ sung cho chiến trường. Đồng chí Đại tướng Tổng tư lệnh và đồng chí Thiếu tướng Tổng Tham mưu trưởng đã định hướng trước những vấn đề cơ bản và cụ thể, giúp Liên khu triển khai nhiệm vụ xây dựng và tác chiến trong những năm tới hiệu quả nhất. Sự kiện lịch sử quan trọng này cùng với các sự kiện Đại hội Đảng bộ Liên khu và Đảng bộ các cấp, Đại hội thống nhất mặt trận Việt Minh —Liên Việt Liên khu thành công tốt đẹp, vừa đánh dấu bước phát triển mới của Liên khu trong công cuộc xây dựng và chiến đấu vừa xác định quyết tâm và động viên quân dân toàn liên khu đoàn kết, khắc phục khó khăn gian khổ, hăng hái bước vào chặng đường chiến đấu mới đầy triển vọng. Hưởng ứng phong trào thi đua «Giết giặc lập công, sản xuất lập công, đề cao chiến sĩ», mở đầu bằng «Hội mừng chiến thắng Trung Du»1 và mừng sinh nhật Bác ngày 19 tháng 5 các đơn vị sôi nổi đẩy mạnh hoạt động tác chiến bảo vệ mùa tháng 5 và phối hợp với chiến dịch Quang Trung đang diễn ra ở Hà — Nam — Ninh. Tại Quảng Trị và bắc Thừa Thiên, bộ đội địa phương cùng du kích Phong — Quảng — Triệu — Hải liên tiếp diệt 17 lô cốt trên tuyến phòng ngự Phú Ốc — Sịa, trung đoàn 101 đánh một số trận giao thông trên đường Phú Ốc — Vạn Xá. Ở bắc Quảng Trị, trung đoàn 95 đánh trận công kiên đầu tiên vào vị trí Ba Dốc nằm trên đường số 1 thuộc huyện Gio Linh. Địch xây dựng tại đây một loạt lô cốt kiên cố nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào, bảy hàng rào thép gai bao bọc, do một đại đội bộ binh và một trung đội pháo binh ngụy chiếm đóng. Chúng thường xuyên càn quét bắn phá và cướp bóc các vùng lân cận. Để tạo vành đai an toàn cho Ba Dốc, địch đã san bằng hai làng Lệ Môn và Gia Môn. Trung đoàn 95 đã triển khai một số lực lượng hiệp đồng với bộ đội địa phương và dân quân du kích hai huyện Cam Lộ, Gio Linh chặn đánh quân tiếp viện của địch từ Đông Hà ra và từ Hồ Xá vào Ba Dốc. Đêm 12 tháng 6 năm 1951, mở đầu cho trận đánh, đại đội 94 trợ chiến dùng chín khẩu súng phóng bom đồng loạt bắn vào Ba Dốc, tiểu đoàn 227 nhanh chóng vượt rào, dùng ĐKZ bắn sập các lô cốt, tiêu diệt các ổ đề kháng của địch, xung phong đánh chiếm từng khu nhà theo quy định. Sau hơn một giờ quyết chiến, tiểu đoàn đã làm chủ vị trí, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Ba Dốc, bắt 41 tên, thu 93 súng các loại và 20 tấn gạo. Phối hợp với bộ đội chủ lực, trong hai tháng 5 và 6, bộ đội địa phương và dân quân du kích đánh gần 200 trận, diệt trên 400 tên, phá 31 lô cốt và hai vị trí, đập tan hệ thống phòng thủ của địch từ Quán Hầu đến Hòa Luật. Địch buộc phải điều lực lượng ứng chiến đói phó với ta ở Lệ Thủy, Quảng Ninh, Phong Thu, Phò Trạch. Nhân dân các vùng đô thị và vùng tạm chiếm đấu tranh chống địch đi càn, chống bắt lính, dồn dân. Đồng bào đô thị đòi được tự do đi lại, công nhân nhà đèn và sở bưu điện đấu tranh chống bắt tập quân sự, đòi tăng lương, trường quốc học Huế và trường kỹ nghệ đấu tranh không được bắt học sinh tập quân sự. Chị em bạn hàng ở chợ Đông Ba thành lập hội tương tế, cứu tế, bí mật quyên tiền mua lương thực, thuốc men gửi lên chiến khu. Các đội cơ sở hoạt động trong lòng địch tích cực quấy rối, phục kích, tập kích, ám sát địch, làm rối loạn an ninh, buộc địch phải tập trung lực lượng đối phó. Với sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với quân sự, giữa ba vùng, ba thứ quân, ta đã hoàn thành thắng lợi kế hoạch bảo vệ mùa và phối hợp chiến trường chính Bắc Bộ. Trong vụ mùa này số thóc địch cướp được không quá hai đến ba phần trăm tổng thu nhập của ta. _____________________________________________ 1. Chiến dịch Trần Hưng Đạo ở Vĩnh Yên— Phúc Yên. Chiến dịch Hoàng Hoa Thám ở đường số 18. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười, 2024, 07:59:26 pm Sau một thời gian liên tục hoạt động tập trung, cuối tháng 6 năm 1951, Đảng ủy mặt trận quyết định phân tán trung đoàn 95 về phối hợp với các địa phương, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trung đoàn 101 chuyển vào vùng căn cứ Phú Vang để củng cố, cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên về chiến khu Dương Hòa tập huấn chiến thuật, chuẩn bị cho kế hoạch Thu Đông. Địch nhiều lần tập trung lực lượng cơ động mạnh, liên tiếp càn quét tiêu diệt chủ lực ta, nhưng vẫn không thực hiện được. Để gỡ thế bị động, bộ chỉ huy Pháp tiếp tục tung lực lượng gián điệp và các tiểu đoàn ứng chiến càn quét thăm dò. Ngày 23 tháng 7, được tin trung đoàn 101 đứng chân ở dải đất hẹp Mỹ Lợi, bốn bề đầm phá bao bọc, tên tướng Lo-ri-ốt (Lorrillot) chỉ huy trưởng bắc trung phần liền tập trung hải, lục, không quân quyết vây diệt trung đoàn này. Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 7, chúng triển khai xong lực lượng và vòng vây đã khép kín. Phía bắc Mỹ Lợi có tiểu đoàn 2 Bắc Phi, tiểu đoàn 8 ngụy. Phía tây Mỹ Lợi có hàng trăm xe cơ giới, xe tăng và ca nô vũ trang rải dọc quốc lộ số 1 và phá Tam Giang. Hướng chủ yếu đánh vào Mỹ Lợi gồm ba tiểu đoàn Âu — Phi được không quân, pháo binh chi viện, do tên đại tá Sốc-kên chỉ huy. Tối 25 tháng 7, trong tình thế bị địch bao vây bất ngờ, ban chỉ huy trung đoàn 101 quyết định cho bộ đội rút khỏi Mỹ Lợi, vượt sang bờ tây phá Tam Giang vào vùng Dưỡng Mông, Thanh Lam Bồ để triển khai đánh địch. Được đảng bộ, chính quyền và nhân dân các địa phương hết lòng giúp đỡ, trung đoàn đã vượt phá Tam Giang trước khi trời sáng. Lên tới bờ, trung đoàn liền triển khai đội hình chiến đấu, đồng thời cử cán bộ hiệp đồng với dân quân du kích các thôn trên dọc đường tiến quân của địch tích cực chặn đánh, kìm chân trước khi chúng đến khu vực quyết chiến điểm Thanh Lam Bồ. Sáng 26 tháng 7, địch bắt đầu tiến quân. Dọc đường bị dân quân du kích chặn đánh quyết liệt, chúng bị cầm chân cả buổi sáng. Đến chiều, địch mới vượt được cầu Thanh Lam Bồ sang Hà Chữ. Chờ địch sang hết bên kia cầu, đại đội trưởng Bùi Thúc Dưỡng nhanh chóng chỉ huy đại đội 136 (tiểu đoàn 319) đánh chiếm đầu cầu, bịt đường rút lui của địch, biến cầu Thanh Lam Bồ thành điểm chốt kiên cường. Cùng lúc ấy, trung đoàn trưởng Lê Thuyết ra lệnh cho toàn Trung đoàn công kích. Lập tức các tiểu đoàn 328, 436 và 319 cùng các đại đội hỏa lực trợ chiến đồng loại nổ súng tiến công, chia cắt đội hình địch để tiêu diệt. Sau gần hai giờ kịch chiến, tiểu đoàn 6 Âu — Phi bị tiêu diệt, tiểu đoàn 3 Bắc Phi bị đánh tơi tả, tên tiểu đoàn trưởng Ty-pha-nhơ (Typhagne) bị bắt. Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, tiểu đoàn Bắc Phi và tiểu đoàn 8 ngụy không dám đến cứu. Chập tối, Sốc-kên vội vàng cho ca nô vũ trang ghé bến Trung Hà đón tiểu đoàn 6 Spahis và số sống sót vượt phá Tam Giang chuồn thẳng về Huế. Trận càn chớp nhoáng của Pháp nhằm hốt gọn trung đoàn 101 ở Phú Vang bị thất bại. 950 tên bị diệt, 18 tên Âu —Phi bị bắt. Trung đoàn 101 và lực lượng vũ trang huyện Phú Vang đã lập công xuất sắc. Với chiến thắng oanh liệt đó, một lần nữa trung đoàn 101 được Bác Hồ gửi thư khen ngợi. Ngày 19 tháng 8 năm 1951, quân và dân Bình —Trị — Thiên vinh dự được Chính phủ và Hồ Chủ tịch tặng thưởng Huân chương Quân công hạng hai. Bản tuyên dương công trạng khẳng định: «Trong quá trình đấu tranh gian khổ, nhân dân Bình — Trị — Thiên đã củng cố xây dựng được lực lượng vũ trang, từ đội du kích tiến lên quân chủ lực mạnh mẽ, chiến thắng địch một cách anh dũng. Đã thực hiện được quân dân nhất trí, bộ đội yêu mến nhân dân, nhân dân giúp đỡ thương yêu bộ đội, đã gây nhiều cơ sở vững chắc trong lòng địch, phát triển du kích chiến tranh mạnh mẽ, bộ đội địa phương phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, đã chiến thắng oanh liệt và liên tiếp trong các trận vừa qua, đã kìm chế lực lượng địch và phối hợp chiến trường chính ». Phần thưởng cao quý mà Chính phủ tặng thưởng đã tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân Bình-Trị-Thiên tiếp tục tiến lên đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn xảo trá, tàn bạo của địch, giữ vững và phát triển phong trào kháng chiến. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 08:51:42 pm * * * Sau thất bại lớn ở Thanh Hương và Thanh Lam Bồ, địch thấy không thể tập trung lực lượng Âu — Phi tinh nhuệ mở những cuộc càn quét lớn. Chúng buộc phải thay đổi thủ đoạn hoạt động ở Bình — Trị — Thiên. Chúng triệt để thực hiện chính sách «dùng người Việt đánh người Việt» trên chiến trường này, ráo riết bắt lính, xây dựng các đơn vị chủ lực, kết hợp hành quân càn quét với các thủ đoạn chính trị để vơ vét sức người, sức của phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Chỉ trong hai tháng 9 và 10 năm 1951, địch đã bắt gần 3.000 thanh niên vào lính, đưa lực lượng ứng chiến từ sáu tiểu đoàn lên chín tiểu đoàn, quân chiếm đóng 12 tiểu đoàn. Đi dôi với bắt lính, Trần Văn Lý, thủ hiến Trung Việt còn ra sức củng cố bộ máy hành chính các cấp với những mỹ từ: «thanh liêm”, “chuyên cần», «gần dân», nhằm gây uy tín chính trị cho ngụy quyền, dùng bọn này làm công cụ phục vụ cho ý đồ lâu dài của chúng. Đề đối phó với thủ đoạn mới của địch, Bộ chỉ huy Mặt trận quyết định phân tán các trung đoàn thành từng tiểu đoàn, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương hoạt động, nhằm kéo quân ứng chiến của địch ra khỏi vùng lúa chín để nhân dân thu hoạch mùa, khi cần thiết có thể nhanh chóng tập trung toàn trung đoàn đánh tiêu diệt lớn quân địch. Trung đoàn 95 bám vùng nam Quảng Bình và bắc Quảng Trị. Trung đoàn 101 bám căn cứ Phong— Quảng — Triệu — Hải. Với sự chuyển hướng đúng đắn này, bộ đội chủ lực đã tiêu diệt 10 lô cốt của địch ở Quảng Bình, Thừa Thiên, buộc chúng phải rút khỏi vị trí Cự Nẫm, tháp canh Phú Thiết (Quảng Bình) và La Vang Thượng (Quảng Trị), và nhờ vậy đã giam chân được lực lượng ứng chiến của chúng trên đường số 1 từ Huế ra Hồ Xá (bắc Quảng Trị). Bộ đội địa phương và dân quân du kích các tỉnh đã liên tiếp chặn đánh quân địch đi càn quét, cướp phá ở nam Thừa Thiên, bộ đội địa phương đã tiêu diệt từng tiểu đội địch ở suối Đá Dầm, Văn Dương, Sư Lỗ, Tây Thượng, Nông. Bộ đội Quảng Trị chống càn ở Bích La Đông, Tương Văn trên đường số 1 và số 9, diệt từng tốp địch đi tuần tiễu ở Cửa Việt, Ưu Điềm và đường số 9. Nhân dân dồn sức gặt nhanh, thu gọn thóc lúa và cất giấu kịp thời. Cùng với «Vụ chiêm chủ lực», sản lượng lương thực cả năm ở Bình — Trị — Thiên đã đạt tới 208.800 tấn. Không những ta đã giành «Vụ mùa thắng lợi» mà còn đánh bại được các cuộc càn quét của địch, diệt 650 tên, trong đó tiểu đoàn số 23 ngụy bị loại khỏi vòng chiến đấu. Vị trí La Chữ và 32 lô cốt của địch từ Đồng Hới vào bắc Thừa Thiên bị tiêu diệt, hành lang tiếp tế nối Thanh - Nghệ - Tĩnh với Phong - Quảng - Triệu - Hải (Trị — Thiên) được khai thông. Phong trào chiến tranh du kích được đẩy mạnh ở cả ba tỉnh. Phong trào đấu tranh chính trị trong các đô thị cũng phát triển. Ở Huế, công nhân đòi tăng lương, chống đuổi thợ, trí thức đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh, vạch trần chính sách mị dân của tên trùm sỏ Việt gian Trần Văn Lý. Các đoàn thể quần chúng vận động con em bỏ ngũ, không đi lính đánh thuê, không tàn sát nhân dân. Hàng vạn truyền đơn được phát đến tận tay binh sĩ địch. Hơn 1.000 gia đình ngụy binh kéo đến các quận lỵ đòi chồng con. Đặc biệt thành ủy Huế đã lãnh đạo thắng lợi cuộc biểu tình của 2.000 chị em kéo vào đồn Mang Cá đòi trả chồng con về với gia đình, đã giải thoát được 1.800 thanh niên bị bắt. Thắng lợi quân sự và chính trị của ta đã tác động sâu sắc đến hàng ngũ địch. Tinh thần binh lính địch hoang mang sa sút. Các vụ binh biến, nội ứng xuất hiện ngày càng nhiều. Binh lính đồn An Tuyền, Đôn Sầm, Hà Thanh, Thanh Cần nổi lên làm binh biến. 21 lính Âu — Phi ở Đông Hà đòi hồi hương, làm cho bọn chỉ huy lúng túng. Trong khi cuộc chiến đấu ở Bình — Trị — Thiên đang diễn ra quyết liệt, thì ở Bắc Bộ, Tát-xi-nhi tập trung lực lượng mở cuộc tiến công lớn ra Hòa Bình. Tổng quân ủy nhận định: «Địch đã mang lực lượng cơ động tinh nhuệ phân tán trên một tuyến dài đột xuất, công sự chưa vững chắc, địa hình không thuận lợi,... tạo cho ta một thời cơ tốt để tiêu diệt sinh lực chúng»1. Trung ương quyết định mở chiến dịch Hòa Bình nhằm vây diệt quân cơ động của địch. Các chiến trường khác trên toàn quốc phải hoạt động phối hợp tích cực. «Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp nhau chặt chẽ. Để tiêu diệt sinh lực của địch, để đánh tan kế hoạch Thu Đông của chúng»2. Chấp hành chỉ thị của Trung ương và thư kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Liên khu ủy họp bất thường phân tích tình hình và đề ra chủ trương: Trong lúc lo đối phó với chủ lực ta ở Hòa Bình, địch sẽ sơ hở ở các chiến trường và sẽ bị hạn chế khả năng tiếp viện vào Bình — Trị — Thiên. Do vậy, Bình — Trị — Thiên phải đẩy mạnh hoạt động phối hợp, tranh thủ tiêu diệt địch, củng cố và mở rộng căn cứ du kích, giải phóng đất, giành dân, củng cố thế đứng trên chiến trường. Bộ chỉ huy Phân khu Bình — Trị — Thiên kịp thời xác định: Nơi địch sơ hở lúc này là bắc Quảng Bình. Mục tiêu tiến công là hệ thống chiếm đóng của địch ở huyện Bố Trạch. Bộ chỉ huy điều trung đoàn 95 nhanh chóng cơ động ra bắc Quảng Trị đánh địch. Ngày 10 tháng 11, tiểu đoàn 227 tiêu diệt tháp canh Phúc Tự, tiểu đoàn 302 đánh vào Hoàn Lão, phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích Bố Trạch đã diệt 13 lô cốt và tháp canh ở xung quanh Hoàn Lão. Tiểu đoàn ngụy số 25 bị xóa sổ. Hầu hết huyện Bố Trạch được giải phóng. Trung đoàn 101 diệt một số tháp canh ở Hương Trà (Thừa Thiên), san bằng lô cốt Bác Vọng, Giáp Viên, Vân Cự. Bộ đội Thừa Thiên diệt hai trung đội địch ở Nông và hai trung đội ở suối Đá Dầm. Đại đội Hương Thủy diệt một trung đội trên đường Vân Dương. Tại Quảng Trị, tiểu đoàn tỉnh phá càn Bích La. Đại đội Cam Lộ tập kích quân ứng chiến trên đường Đập Huyện. Tiêu biểu là trận chống càn của dân quân du kích và nhân dân xã Vĩnh Hoàng (huyện Vĩnh Linh). _______________________________________________ 1. Nhận định của Tổng quân ủy về cuộc tiến công của địch ra Hòa Bình ngày 18 tháng 11 năm 1951. Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1976, t.1, tr. 447. 2. Thư của Hồ Chủ tịch gửi các cán bộ chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, tháng 1-1951. Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1976, t. 1, tr. 448. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 08:53:35 pm Ngày 23 tháng 1 năm 1952, tiểu đoàn 27 Bắc Phi, tiểu đoàn 6 Spahis và tiểu đoàn 7 ngụy chia làm ba mũi càn vào xã Vĩnh Hoàng. Phán đoán trước âm mưu của địch, nên lực lượng dân quân du kích đã sẵn sàng thế trận. Do đó, khi các cánh quân của địch từ Hồ Xá mới tới đầu các thôn trong xã, chúng đã vấp phải mìn, nổ tung hai xe chở quân. Dân quân, du kích các thôn Đông, Tây, Trung và thôn Xuân Hòa, được sự hỗ trợ của đại đội 220 bộ đội địa phương tỉnh, đã dựa vào hệ thống «làng xã chiến đấu» anh dũng đánh trả các cuộc tiến công của địch. Sau hơn hai ngày đêm liên tiếp bị tập kích, phục kích tiêu hao, chiều ngày 25 tháng 1, bọn địch phải rút khỏi Vĩnh Hoàng. Dân quân du kích và bộ đội địa phương đã đánh bại được trận càn của ba tiểu đoàn địch, có máy bay, pháo binh chi viện, diệt gần 50 tên, phá hủy hai xe quân sự, bảo vệ được nhân dân và vùng du kích. Tiếng súng phối hợp với chiến dịch Hòa Bình rền vang khắp chiến trường Bình - Trị - Thiên. Hơn 1.000 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Hàng loạt lô cốt, tháp canh bị san bằng. Hàng chục hội tề bị phá. Vùng giải phóng bắc Quảng Bình được mở rộng. Sang tháng 1 và 2 năm 1952, địch thay đổi thủ đoạn hoạt động: rút các vị trí lẻ và cô lập để tập trung các đơn vị ứng chiến, phối hợp lực lượng chiếm đóng mở các cuộc càn quét trên một diện hẹp và dài ngày, nhằm vào căn cứ du kích và vùng thường đứng chân của lực lượng chủ lực ta, hoạt động của bộ đội chủ lực trở nên lúng túng, bế tắc, chưa tìm ra cách đánh mới thích hợp, do đó không hoàn thành được nhiệm vụ phối hợp với chiến trường chính, để địch rút được tiểu đoàn ứng chiến số 28 ra tiếp viện cho Hòa Bình. Đảng ủy mặt trận đã nghiên cứu kỹ tình hình, cố gắng khai thác những sai lầm của địch để tìm ra phương thức tác chiến thích hợp. Trước hết sử dụng toàn bộ lực lượng ba thứ quân đẩy mạnh hoạt động, tập trung vào đánh giao thông và quấy rối đô thị, nhằm phân tán lực lượng cơ động của địch, đồng thời sử dụng một trung đoàn chủ lực đánh vào một cứ điểm trọng yếu của chúng, nhằm tiêu diệt sinh lực địch và tiếp tục phối hợp với chiến trường chính có hiệu quả. Phải tổ chức lại chiến trường, phân công lại nhiệm vụ: Bộ đội địa phương Thừa Thiên tiến công địch tại đô thị và đường số 1. Trung đoàn 181 và bộ đội địa phương Quảng Bình đánh giao thông, tập kích thị xã Đồng Hới và hoạt động nghi binh, thu hút quân ứng chiến của địch. Trung đoàn 95 cùng tiểu đoàn Quảng Trị và đại đội Gio Linh đánh ở Nam Đông. Trung đoàn 101 và bộ đội Cam Lộ, Triệu Phong đánh địch ở ngay tại khu vực đứng chân. Theo kế hoạch đã định, các đơn vị triển khai thế trận đánh địch. Đồng chí Phùng Duy Phiên, Tham mưu trưởng mặt trận cùng với Ban chỉ huy trung đoàn 95 tổ chức tiến công vị trí Nam Đông. Nam Đông là đồn chính trong hệ thống lô cốt Vạn Kim, Nam Tây và tiền Nam Đông, nằm ở điểm tiếp giáp các con đường 74, 75 và 76 thuộc huyện Gio Linh, do một đại đội lính ngụy chiếm đóng. Đêm mồng 3 tháng 3 năm 1952, trung đoàn 95 và tiểu đoàn 230 (Quảng Trị) do trung đoàn trưởng Lê Văn Tri và chính ủy Nguyễn Hữu Cầu chỉ huy, tiến công hệ thống phòng thủ của địch ở Nam Đông. Tiểu đoàn 227 đột kích vị trí tiền Nam Đông, tiểu đoàn 310 đánh vào Vạn Kim và Nam Tây. Sau hơn hai giờ chiến đấu, các đơn vị đã tiêu diệt toàn bộ địch trong khu vực này. Đêm 17 tháng 3, một bộ phận của tiểu đoàn 230 bao vây vị trí Nam Đông. Dân quân du kích và nhân dân bao vây các đồn lẻ, phá cầu cống trên đường số 74 và 75. Hệ thống chiếm đóng của địch ở Gio Linh bị uy hiếp. Địch phải tức tốc điều quân đến cứu viện. Trung đoàn 95 cùng bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị và huyện Gio Linh tổ chức phục kích trên đường số 74, cách Nam Đông ba ki-lô-mét. Sáng ngày 18 tháng 3, bộ chỉ huy Pháp cho 80 xe chở 1.200 quân ứng chiến, có máy bay yểm hộ, từ Đông Hà lên giải tỏa Nam Đông. Đến trưa đội hình của địch đã nằm gọn trong trận địa phục kích của ta. Lập tức đại đội 202 nổ bom chặn đầu quân địch, châm ngòi cho trận đánh. Các khẩu đội ĐKZ đồng loại phát hỏa khống chế tiêu hao địch. Hỏa lực ngừng bắn, các chiến sĩ bộ binh xung phong đánh giáp lá cà, tiêu diệt số lớn quân địch. Số địch còn lại bỏ chạy tán loạn vào rừng, ta truy kích tiêu diệt một số. Sau năm giờ chiến đấu quyết liệt, ta đã tiêu diệt gần 800 tên địch, bắt 24 tên, phá hủy 15 xe quân sự và hai xe bọc thép, thu phần lớn vũ khí và đạn dược. Tiểu đoàn 27 Âu — Phi bị thiệt hại nặng. Diệt xong viện binh, các đơn vị liền chuyển sang tiến công vị trí Nam Đông. Hơn 30 phút chiến đấu ta đã diệt gọn vị trí này. Hệ thống tháp canh của địch ở Gio Linh bị san bằng. Vùng căn cứ du kích Quảng Trị được mở rộng. Trận đánh điểm, diệt viện ở Nam Đông — đường số 74 thắng lợi là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang ba thứ quân, là kết quả của nghệ thuật nắm địch và trình độ chỉ huy tác chiến của cán bộ ta. Thi đua với mặt trận Nam Đông — đường 74, các địa phương và đơn vị đã liên tục tiến công địch đều khắp trên các hướng. Ngày 21 tháng 3, các đơn vị thuộc trung đoàn 101 diệt hai tháp canh ở Cam Lộ, lật nhào ba toa tàu trên đường Mỹ Chánh — Đông Hà, đánh vị trí Sơn Tùng, diệt viện binh ở Khánh Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 150 tên, bắt 45 tên, san phẳng vị trí Sơn Tùng và 23 lô cốt trên đường Nông — Phú Bài — Gia Lễ — An Cựu. Bộ đội địa phương huyện Hải Lăng tập kích đồn Hải Thái, diệt gần 40 tên. Đại đội 325 huyện Triệu Phong diệt lô cốt Phong Ngạn. Dân quân du kích Quảng Thanh phục kích diệt 15 tên địch trên đường số 1. Ngày 25 tháng 3 dân quân xa Hải Thái, Phong Nhiên cài mìn diệt bảy tên Âu — Phi. Cùng ngày, dân quân xã Triệu Sơn (Triệu Phong) phá đường sắt, làm đổ sáu toa xe lửa của địch. Phối hợp với phong trào du kích chiến tranh ở đồng bằng, phong trào đấu tranh của đồng bào đô thị trong thời gian này cũng phát triển mạnh. Công nhân sở hỏa xa, sở bưu điện liên tiếp đình công, đòi tăng lương. Công nhân nhà đèn thị xã Đồng Hới cắt điện suốt ba ngày đêm từ 4 đến 6 tháng 2 năm 1952. Đồng bào Phật giáo Huế quyên góp tiền mua lương thực, thuốc men gửi lên chiến khu. Phong trào vận động binh lính địch bỏ ngũ diễn ra ở nhiều nơi. _______________________________________________ 1. Sau khi ra Phú Thọ nhận vũ khí, tháng 1 năm 1952 trung đoàn 18 đã trở lại Bình — Trị — Thiên. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 08:55:24 pm Chỉ tính từ tháng 11 năm 1951 đến tháng 5 năm 1952 đã có 614 binh sĩ ngụy bỏ ngũ, mang 34 súng về với kháng chiến. 15 vụ binh biến hoặc làm nội ứng cho du kích diệt đồn rồi mang súng về với nhân dân. Binh lính 11 đồn ven thành phố Huế mang vũ khí về với kháng chiến, họ còn vận động được tám binh sĩ Âu —Phi cùng đi theo. Ở phía bắc, một bộ phận thuộc trung đoàn 18 cùng tiểu đoàn 332 (Quảng Bình) đánh cụm quân địch tại Vạn Lộc— Hoàn Lão, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, đánh bại âm mưu của chúng, hòng giành lại huyện Bố Trạch. Bị thất bại nặng ở Nam Đông — đường số 74, bộ chỉ huy Pháp buộc phải điều bốn tiểu đoàn ứng chiến và 1.000 quân Bắc Phi từ Bắc Bộ vào Bình - Trị - Thiên. Lực lượng ứng chiến của địch tại Bình - Trị - Thiên lúc này đã lên tới chín tiểu đoàn, quân chiếm đóng 15 tiểu đoàn và 18 đại đội phụ binh, xây dựng thêm hai đại đội pháo binh ở Nam Giao. Chúng ráo riết bắt lính, thực hiện tổng động binh và huấn luyện quân hậu bị, xây dựng hai tiểu đoàn chủ lực ngụy số 27 và 29, đưa 4.000 thanh niên vào Mang Cá huấn luyện để xây dựng tiểu đoàn 30, trang bị thêm 135 xe GMC và 10 khẩu pháo. Địch tập trung lực lượng, phương tiện mở các cuộc càn quét quy mô vào các khu du kích, vùng giáp ranh và vùng tạm chiếm để cướp phá mùa màng, lập hội tề và chuẩn bị đối phó với các cuộc tiến công của ta. Tháng 4 năm 1952, Bộ chỉ huy mặt trận đã ra chủ trương: Tập trung các trung đoàn hoạt động mạnh, kéo lực luợng ứng chiến địch ra khỏi vùng lúa chín, để bộ đội địa phương và du kích bao vây kiềm chế quân chiếm đóng, bảo vệ nhân dân thu hoạch mùa. Ngày 15 tháng 4, trung đoàn 101 diệt tháp canh Cây Đa, tập kích Diên Sanh. Ngày 28 tháng 4, trung đoàn 95 diệt vị trí Hòa Luật và Vĩnh Tuy, tiểu đoàn 231 (Thừa Thiên), san bằng lô cốt Bao Vinh. Một tháng sau, trung đoàn 101 lại tiêu diệt các vị trí Thượng Côn, La Khê, An Truyền, tiêu hao vị trí Địa Linh, bức hàng 11 lô cốt ở Phước Vinh, đánh sập cầu Bao Vinh, diệt bốn ca nô vận tải ở An Hòa, diệt một đại đội ở Khánh Mỹ, phá sập cầu Dài trên đường Phò Trạch —Đầu Kinh. Trung đoàn 95 sau khi diệt một loạt vị trí phía nam Hòa Luật đã hành quân ra bắc Quảng Bình. Đêm 18 tháng 5 trung đoàn tiến công tiêu diệt vị trí Sen Bàng ở chân đèo Ba Rền. Sau đó xuống đồng bằng cùng với trung đoàn 18 và bộ đội địa phương chuẩn bị tiến công cụm phòng thủ vững chắc của địch ở Ba Đồn. Ngày 30 tháng 5, trung đoàn 18 diệt vị trí Mỹ Hòa, tiểu đoàn 229 Quảng Bình và đại đội huyện Quảng Trạch cùng dân quân du kích diệt các tháp canh Cự Lại, Thuận Áng, Gia Viễn. Trung đoàn 95 sau khi diệt các tháp canh Cửa Phủ, Hang Bò, Kênh Kịa, chuyển sang tiến công Ba Đồn. Tiểu đoàn 227 và 310 tổ chức bốn lần tập kích, thương vong gần 200 vẫn chưa hạ được đồn chính. Trước tình thế đó, tư lệnh Trần Quý Hai cho trung đoàn 95 tiếp tục bao vây Ba Đồn và xốc lại lực lượng chuẩn bị đánh viện. Sáng 31 tháng 5, địch cho năm ca nô chở quân từ Thanh Khê ngược sông Gianh, tiếp viện cho Ba Đồn. Lập tức bị tiểu đoàn 888 bắn chìm ba chiếc, hai chiếc còn lại quay đầu chạy thẳng về Thanh Khê. Đêm 31 tháng 5, trung đoàn 95 lại chuyển sang công kích Ba Đồn. Sau hơn một giờ chống cự yếu ớt, bọn địch trong đồn tháo chạy, ta đã giải phóng toàn huyện Quảng Trạch. Biết trung đoàn 95 và 18 đang ở bắc Quảng Bình, trung đoàn 101 phân tán hoạt động ở đồng bằng Phong Điền, ngày 19 tháng 6 bộ chỉ huy Pháp liền huy động tiểu đoàn 27 Âu—Phi, tiểu đoàn Bắc Phi số 2 đánh lên chiến khu Dương Hòa (tùy Thừa Thiên), nhằm vây diệt cơ quan chỉ đạo kháng chiến của Thừa Thiên, phá chiến khu và gây ảnh hưởng chính trị. Được tin địch càn lên Dương Hòa, trung đoàn 101 lập tức hành quân cơ động 25 ki-lô-mét từ Phong Điền vào để phản kích. Trưa 20 tháng 6, địch tiến lên Dương Hòa một cách dễ dàng nên rất chủ quan, chúng liền cho quân tản ra cướp phá. Các mũi xung kích của tiểu đoàn 436 và 319 bất ngờ tiến công, bọn địch không kịp trở tay, bỏ chạy tán loạn vào rừng. Trận đánh kết thúc, ta đã diệt 350 tên, bắt 38 tên. Âm mưu của địch đánh chiếm chiến khu của ta bị thất bại. Sau chiến thắng Dương Hòa, trung đoàn 101 vào Phú Vang, phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân nam Thừa Thiên đánh địch. Đêm 27 rạng 28 tháng 6, ta tiến công các vị trí An Truyền, Tuyên Nam, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, gọi hàng 65 tên, tiêu hao các vị trí Sư Lỗ, Thanh Thủy, Thanh Phước. Ngày 29 tháng 6, dân quân Phú Vang đánh lật ba toa tàu ở khu vực Nông. Nhờ phối hợp nhịp nhàng giữa ba thứ quân, đẩy nhanh nhịp độ tác chiến, chỉ trong vòng bốn tháng, ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng bắc Quảng Bình, mở rộng căn cứ du kích ở nhiều nơi và bảo vệ được vụ mùa, địch chỉ cướp được khoảng 10 phần trăm số lúa thu hoạch. Nhân dân phấn khởi đóng được 3.300 tấn thuế nông nghiệp, cung cấp cho bộ đội và cơ quan. Tuy địch chiếm đóng được một số vùng phì nhiêu, đồng người nhiều của, mở rộng được vùng chiếm đóng nam Thừa Thiên, Ngô Xá (Quảng Trị) và càn phá cơ sở của ta ở nhiều nơi, nhưng chúng đã phải trả giá đắt, thương vong trên 6.000 tên, 17 vị trí và 60 lô cốt bị mất. Âm mưu tiêu diệt chủ lực ta đã không thực hiện được. Càng thất bại, thực dân Pháp càng thực hiện âm mưu «lấy chiến tranh nuôi chiến tranh», «dùng người Việt đánh người Việt» một cách quyết liệt hơn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 08:58:24 pm Ở Bình —Trị — Thiên, Lơ Blăng (Le Blanc) tiến hành cải tổ bộ máy ngụy quyền, đưa tên Lê Quang Thiết làm thủ hiến trung phần thay Trần Văn Lý, cách chức tỉnh trưởng Thừa Thiên Tôn Thất Đàn, đưa tên Nguyễn Đôn Duyên, tỉnh trưởng Quảng Trị vào thay, chuyển tên Nguyễn Hữu Hiệp, tỉnh trưởng Quảng Nam ra làm tỉnh trưởng Quảng Trị. Chúng ráo riết thúc bọn tay sai bắt lính xây dựng ngụy quân. Chỉ trong hai tháng 6 và 7, chúng đã bắt gần 3.000 thanh niên vào lính, xây dựng củng cố bảy tiểu đoàn cơ động và 15 tiểu đoàn chiếm đóng, trang bị thêm xe bọc thép và đại bác các cỡ. Với lực lượng và vũ khí mới trang bị, chúng liên tiếp mở các cuộc càn quét quy mô lớn, thời gian dài vào những khu vực đông dân và căn cứ du kích, nhằm vơ vét sức người, sức của và diệt cơ quan chỉ đạo của ta. Ngày 8 tháng 7, địch tập trung gần năm tiểu đoàn, 30 xe lội nước, sáu xe bọc thép, sáu khẩu đại bác, 13 máy bay và 10 ca nô, mở cuộc càn lớn mang tên cuộc hành binh Ca-đơ-rin (Cadrille) vào đồng bằng Phú Vang, nhằm bình định căn cứ du kích, mở rộng vùng kiểm soát nam Thừa Thiên. Địch chia làm năm cánh, trong đó bốn cánh càn vào Hòa Đa, Quảng Xuyên, Trường Lưu, Phú Phong, còn một cánh rải dọc sông Lợi Nông và cầu Hai đề đón bắt đồng bào ta chạy lên chiến khu. Trận càn kéo dài từ ngày 8 đến ngày 20 tháng 7. Lực lượng ta lúc này chỉ có hai đại đội thuộc tiểu đoàn 231 (Thừa Thiên), đại đội 325 huyện Phú Vang cùng dân quân du kích. Lực lượng vũ trang và nhân dân đã bám trụ kiên cường, chặn đánh địch, tiêu hao sinh lực địch, nhưng không phá được cuộc càn quy mô khá lớn và dài ngày của chúng. Địch đã tàn phá nhiều cơ sở của ta, lập được hội tề ở Xuân Ô, Trung Hà, Hòa Đa, bắt được 500 thanh niên và cướp đi 2.000 tấn lúa. Địch thay đổi thủ đoạn càn quét, cán bộ chỉ huy của ta lại chủ quan, chưa đánh giá hết âm mưu và thủ đoạn mới của địch, chưa chuẩn bị sẵn sàng lực lượng và thế trận đánh địch nên đã không chống được cuộc càn quét, gây tổn thất cho phong trào. Địch thực hiện được âm mưu bình định vùng căn cứ của ta ở nam Thừa Thiên. Sau khi chiếm được vùng căn cứ của ta ở nam Thừa Thiên, địch tập trung lực lượng càn quét các vùng căn cứ du kích, nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực ta, giành lại thế chủ động trên chiến trường. Phát hiện được khu vực đóng quân của trung đoàn 101, Lơ Blăng liền tập trung bảy tiểu đoàn ứng chiến, 70 xe lội nước, 300 xe vận tải, 17 đại bác có 21 máy bay yểm trợ, do đích thân y chỉ huy, mở cuộc hành quan mang tên «Chiến dịch Châu chấu» (Opération Sauterelle) hòng «hốt gọn» trung đoàn 101. Ngày 25 tháng 8, địch hành quân dọc phá Tam Giang, đến bờ biển Trung Đông chia làm hai mũi, hình thành thế bao vây Thanh Hương —Vĩnh Xương, dùng máy bay và pháo binh đánh phá, sau đó «phân lô hợp kích». Trong tình thế bị bao vây bất ngờ, trung đoàn 101 vừa đánh vừa tìm chỗ địch sơ hở để phá vây. Tiểu đoàn 319 từ Kế Môn vừa ra đến Vĩnh Xương thì gặp địch, đã kịp thời tổ chức chiến đấu, diệt được một đại đội. Có xe cơ giới yểm hộ, địch tổ chức đột kích mạnh, tiểu đoàn 319 phải lùi về Hải Lăng. Chiếm được Vĩnh Xương, địch tập trung càn quét, cắt đôi đội hình chiến đấu của trung đoàn 101. Trung đoàn bộ dạt vào Đại Lộc, Phổ Chi, bị địch truy kích phải phân tán tìm đường thoát vây. Trung đoàn trưởng Lê Thuyết hy sinh, một số cán bộ cơ quan bị bắt. Lợi dụng lúc địch đang đuổi theo trung đoàn bộ, các tiểu đoàn phá vòng vây, chạy ra phía Linh Chiểu (Triệu Phong). Ngày 29 tháng 8, trận càn «Châu chấu» kết thúc. Địch không tiêu diệt được trung đoàn 101, nhưng gây cho trung đoàn tổn thất nặng nề. Chúng đã bắt 500 thanh niên và bộ đội, bắn chết 300 con trâu, phá hết công cụ sản xuất, đốt cháy nhiều nhà cửa của nhân dân. Để tiếp tục ý đồ tiêu diệt trung dọàn 101, đầu tháng 9 năm 1952, địch lại mở cuộc càn lớn mang tên «Chiến dịch Cá sấu» (Opération Caiman). Lực lượng địch gồm tám tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn dù, 16 đại bác, sáu tàu thủy, 18 tàu Vơ-dét, 55 máy bay, 80 xe lội nước, 180 xe vận tải và bọc thép. Tướng Lơ Blăng trực tiếp chỉ huy, dưới quyền giám sát của tướng Đơ Li-na-rét (De Linarès) quyền chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương. 4 giờ sáng ngày 4 tháng 9, cánh quân thủy của địch đổ bộ lên Trung Đông, Gia Đồng, Kế Môn. Cánh quân bộ từ quốc lộ số 1 tiến vào Vĩnh Xương, Vân Trình, Trung Đông và Hội Yên, điểm gặp nhau là đồi cát Vĩnh Xương và làng Thanh Hương. Trung đoàn 101 chủ trương: Tập trung lực lượng diệt cánh quân ở Trung Đông không cho chúng vượt sông Vân Trinh để hợp quân ở Thanh Hương. Triển khai xong đội hình càn quét, địch cho quân đánh chiếm đồi cát Vĩnh Xương. Tại đây, tiểu đoàn 436 đánh lui nhiều đợt tiến quân của địch, diệt một tiểu đoàn và hai xe bọc thép. 13 giờ địch nhảy dù thêm một tiểu đoàn xuống đồi cát Thanh Hương, đồng thời bọn địch ở Kế Môn cũng đột kích vào Thanh Hương. Tiểu đoàn 436 rút chạy, tiểu đoàn 328 và 319 hoang mang. Từ các hướng, địch mở đợt tiến công mạnh vào Thanh Hương, dồn cả trung đoàn vào vòng vây của chúng. Ban chỉ huy trung đoàn chủ trương: lợi dụng đêm tối phá vây tại làng Kim Giao, đưa trung đoàn và đồng bào ra Quảng Trị, khi tiểu đoàn 328 phá được vòng vây cùng với các bộ phận trinh sát, thông tin và hàng trăm đồng bào vừa thoát vòng vây thì địch đã khép được cửa mở. Số thoát vây chạy về phía Chợ Cạn. Trung đoàn bộ, tiểu đoàn 436 và 319 phải nằm lại giữa vòng vây, một số bộ phận phải chôn súng, phân tán thành từng tốp bí mật thoát vây về phía Phong Chương. Ba ngày sau trung đoàn mới tập hợp được các đơn vị tại chiến khu Hòa Mỹ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 09:08:59 pm Ngày 25 tháng 9 năm 1952, Liên khu ủy họp kiểm điểm đánh giá tình hình hoạt động quân sự ở Bình —Trị — Thiên. Mặc dầu Liên khu ủy đã chỉ thị Mặt trận Bình — Trị —Thiên: «Muốn phá âm mưu mới của địch thì hoạt động của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương phải liên hệ mật thiết với phong trào đấu tranh của quần chúng, chủ động chống càn quét, phát triển chiến tranh du kích, giữ vững và đẩy mạnh phong trào đấu tranh trong lòng địch và vùng sát địch»1. Sau trận càn «Châu chấu», Bộ chỉ huy Mặt trận Bình — Trị — Thiên đã lệnh cho trung đoàn 101: Phải di chuyển chỗ ở, tăng cường hoạt động trinh sát nắm địch, đề phòng địch tiếp tục mở càn, đồng thời củng cố thế đứng chân, tranh thủ huấn luyện, nhanh chóng đưa đơn vị tiếp tục hoạt động tác chiến»2. Thế nhưng ban chỉ huy trung đoàn 101 chấp hành mệnh lệnh không nghiêm, chủ quan nặng, mất cảnh giác nghiêm trọng, cho rằng sau đợt càn lớn, địch đã không còn sức để tiếp tục càn quét quy mô, cho nên không di chuyển vị trí đóng quân, vẫn tiếp tục tập trung cán bộ huấn luyện, hậu quả dẫn đến tổn thất lớn về tính mạng của bộ đội và tài sản của nhân dân, ảnh hưởng lớn đến sức chiến đấu của trung đoàn và phong trào chiến tranh du kích trên chiến trường. Trong trận này tuy diệt được trên 800 tên địch, phá hai xe bọc thép, nhưng trung đoàn 101 cũng bị thương vong trên 1.000 cán bộ, chiến sĩ, 600 đồng bào và 300 thanh niên bị bắt, gần 100 cán bộ địa phương và dân quân du kích hy sinh, hơn 120 tấn lúa bị đốt phá. Bộ chỉ huy mặt trận đã nghiêm khắc kiểm điểm trước Liên khu ủy, đồng thời củng cố ngay hệ thống tổ chức chỉ huy trung đoàn 101, bổ sung quân số, vũ khí, nhanh chóng đưa đơn vị tiếp tục tác chiến. Sau ba trận càn liên tiếp trong tháng 8 và 9, địch chuyển giao Bình — Trị — Thiên cho quân ngụy đảm nhiệm và rút quân cơ động Âu — Phi đi chiến trường khác. Đồng thời chúng ra sức đôn quân, bắt lính, tăng cường các hệ thống phòng thủ và đánh phá ác liệt vùng du kích và chiến khu của ta. Sự cố gắng và những thủ đoạn tàn bạo của địch trong những tháng cuối năm 1952 cùng với bão lụt trong tháng 10 đã làm cho tình hình Bình — Trị — Thiên trở nên khó khăn nghiêm trọng. Sau trận lụt ngày 25 tháng 10, lương thực và muối thiếu nhiều, mức ăn hàng ngày của bộ đội, cơ quan ở Quảng Trị, Thừa Thiên chỉ còn 250 gam một người. Thuế nông nghiệp các tỉnh chỉ thu được từ 30 đến 35 phần trăm so với chỉ tiêu. Thời tiết lại không thuận lợi cho sản xuất. «Thiên tai, địch họa càng gây khó khăn cho ta không kém gì cuối năm 1950»3. Ngày 17 tháng 5 năm 1950 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra quyết định về việc «chấn chỉnh tổ chức quân chính quy ở Bình —Trị —Thiên», «củng cố các đơn vị chủ lực hiện có, tiến tới xây dựng thành đại đoàn chủ lực cơ động tác chiến dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng tư lệnh»4. Chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu gửi Bộ chỉ huy Mặt trận Bình — Trị — Thiên ngày 23 tháng 6 năm 1951 về nhiệm vụ: «gấp rút củng cố bộ đội địa phương, phát triển dân quân du kích, sẵn sàng thay thế lực lượng chủ lực, tiến tới xây dựng đại đoàn chủ lực ở Bình — Trị — Thiên»5. Chấp hành quyết định của Bộ Quốc phòng và chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, sáu tháng cuối năm 1951 và nhất là trong năm 1952 quân và dân Bình-Trị-Thiên đã anh dũng vượt qua khó khăn, gian khổ, liên tục tiến công địch và thu được nhiều thắng lợi: diệt gần 10.000 tên địch, buộc địch phải ba lần tăng quân (bảy tiểu đoàn). Lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích phát triển đông về số lượng, vừa tác chiến và xây dựng ngày càng trưởng thành, đã phối hợp với chủ lực hoặc độc lập tác chiến, đánh gần 1.400 trận, diệt và bắt trên 3.000 tên địcn, góp phần đưa phong trào kháng chiến ở Bình-Trị-Thiên phát triển. Cùng với sự trưởng thành của bộ đội chủ lực, lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích trong giai đoạn này cũng lớn mạnh vượt bậc, đáp ứng được yêu cầu phát triển của chiến tranh, vừa bảo vệ vững chắc địa phương vừa phối hợp có hiệu quả với hoạt động của bộ đội chủ lực, đảm đương được nhiệm vụ làm nòng cốt cho cuộc chiến tranh nhân dân ở địa phương đẩy mạnh công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Trước sự lớn mạnh vượt bậc của lực lượng vũ trang ở Bình — Trị —Thiên, đồng thời để phù hợp với đặc điểm ở một chiến trường nhỏ hẹp — chiến trường phối hợp và cũng để giải quyết được một phần khó khăn về lương thực, Thường vụ Liên khu ủy trong phiên họp ngày 5 tháng 12 năm 1952 đã quyết nghị: «Rút các trung đoàn chủ lực ra khỏi chiến trường để xây dựng thành đại đoàn chủ lực». Ngày 15 tháng 12 năm 1952 Bộ tư lệnh Liên khu chỉ thị cho Phân khu Bình —Trị — Thiên thực hiện phương án «Di quân» (di chuyển đại bộ phận các trung đoàn chủ lực ra Nghệ Tĩnh) để xây dựng đại đoàn chủ lực. Giao nhiệm vụ xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích cho Bộ tư lệnh Liên khu 4 mà lãnh đạo trực tiếp là các tỉnh ủy. Ngày 18 tháng 12 năm 1952, Đảng ủy Mặt trận Bình— Trị — Thiên cùng các đồng chí bí thư tỉnh ủy họp nghiên cứu chỉ thị của Liên khu ủy, của Bộ tư lệnh Liên khu. Sau đó Bộ chỉ huy mặt trận triển khai kế hoạch «Di quân» như sau: — Hai trung đoàn 101 và 18 cùng với mặt trận Bộ chuyển ra vùng tự do Thanh — Nghệ — Tĩnh để xây dựng thành đại đoàn. — Trung đoàn 95, đại đội 95 công binh, đại đội 264, 265 vận tải, bệnh xá K42, xưởng bào chế, ban quan khí, quân lương mặt trận ở lại chiến trường làm nhiệm vụ chiến đấu và thiết bị chiến trường. Nhiệm vụ của trung đoàn 95 rất nặng nề, phải tranh thủ thời gian, làm nòng cốt hoạt động, dìu dắt lực lượng vũ trang địa phương. Trung đoàn hoạt động tốt sẽ tạo điều kiện cho đại đoàn có thời gian xây dựng trưởng thành nhanh chóng. _____________________________________________ 1, 2. Nghị quyết Hội nghị Liên khu ủy lần thứ 3, (lưu trữ tại Phòng lịch sử Quân khu 4). 3. Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận Bình — Trị — Thiên ngày 18 tháng 12 năm 1952. Hồ sơ lưu trữ tại Phòng lịch sử Quân khu 4. 4, 5. Tài liệu lưu trữ tại Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 09:10:37 pm * * * Sinh ra trên chiến trường «Bình — Trị — Thiên khói lửa» các trung đoàn chủ lực đã lớn lên theo cuộc kháng chiến trường kỳ và lặp nên nhiều chiến công vẻ vang. Ngày 5 tháng 1 năm 1953, các trung đoàn ra vùng tự do Nghệ Tĩnh để xây dựng trong đội hình đại đoàn chủ lực cơ động - Đại đoàn 325. Cùng lớn lên theo sự trưởng thành mau chóng của lực lượng vũ trang ta, vừa mang truyền thống anh hùng của quân đội quốc gia Việt Nam, vừa mang bản chất kiên cường, bất khuất của quê hương «Bình - Trị - Thiên quật khởi», sát cánh kề vai cùng các đại đoàn chủ lực của Bộ tạo nên những quả đấm mạnh, sẵn sàng cơ động đánh bại lực lượng tập trung của thực dân Pháp bằng những chiến dịch phản công, tiến công thắng lợi trong Đông Xuân 1953 — 1954. Ngày 15 tháng 1 năm 1953, các đơn vị ra tới Nghệ Tĩnh xây dựng. Được Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu quan tâm chỉ đạo, được đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương hết lòng giúp đỡ, các đơn vị đã bổ sung quan số, trang bị, ổn định tổ chức, tiến hành chỉnh huấn chính trị, học tập kỹ thuật, chiến thuật. Sau 10 tháng xây dựng, huấn luyện đại đoàn đã trưởng thành nhanh chóng, có thể cơ động tác chiến trên các chiến trường. Trong Đông Xuân 1952 - 1953 hệ thống chiếm đóng của địch trên chiến trường Bình — Trị — Thiên gồm 185 vị trí, 232 lô cốt, tháp canh, với lực lượng bốn tiểu đoàn ứng chiến, 15 tiểu đoàn chiếm đóng, sáu đại đội binh chủng và 18 đại đội phụ binh. Địch liên tiếp mở các cuộc càn quét khốc liệt trong từng địa phương, nhằm bình định có trọng điểm vùng căn cứ Phong Điền, Quảng Điền, Triệu Phong, Hải Lăng và Phú Vang. Chỉ trong bốn tháng đấu năm 1953, địch mở 55 trận càn lớn nhỏ (trong đó có 17 trận càn với quy mô lực lượng từ một đến bốn tiểu đoàn). Địch đánh phá ác liệt nhất ở ba xã Quảng Ninh, Quảng Hòa và Quảng Đại thuộc huyện Quảng Điền. Tại đây địch càn liên tiếp ba trận với lực lượng từ hai đến bốn tiểu đoàn. Nhiều vùng chúng chà đi xát lại. Chỉ riêng xã Phú Thái, huyện Phú Vang trong vòng một tháng, chúng càn tới tám lần. Đi đôi với hành động càn quét, địch tăng cường hoạt động gián điệp, biệt kích, sử dụng máy bay, đại bác bắn phá ác liệt vùng tự do của ta. Sau khi phần lớn bộ đội chủ lực chuyển ra Nghệ Tĩnh xây dựng củng cố, lực lượng còn lại ở chiến trường đã mỏng, lương thực, vũ khí lại rất thiếu thốn. Trước diễn biến của tình hình, từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 3 năm 1953, Liên khu ủy họp bàn về vấn đề tác chiến và xây dựng ở chiến trường Bình — Trị — Thiên. Quán triệt phương châm chiến lược «Tạm thời tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do... Quân đội ta phải đánh địch ở những nơi địch sơ hở, đồng thời phải hoạt động mạnh sau lưng địch»1. Liên khu ủy chủ trương: «Chủ động chống càn quét, phá mọi âm mưu của địch, lấy đấu tranh vũ trang làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh chính trị của toàn dân, chấn chỉnh các ban dân quân huyện, ban xã đội, phân tán bộ đội địa phương vào từng thôn xă, nếu cần phân tán cả trung đoàn 95, thực hiện ba bám: bám địch, bám đồng bằng, bám dân». Hội nghị đề ra phương châm hoạt động lúc này là: Du kích chiến là chính, chống càn quét là chủ yếu. Trong điều kiện thuận lợi đánh công kiên và vận động đánh nhỏ, nhằm phát triển du kích chiến tranh, luồn sâu vào địch hậu xây dựng cơ sở. Sự chỉ đạo kịp thời của Liên khu ủy đã giúp cho chiến trường Bình — Trị — Thiên nhanh chóng vượt qua khó khăn thử thách, từng bước đi lên. Tất cả các cuộc hành quân càn quét của địch đều bị lực lượng vũ trang địa phương chặn đánh, tiêu hao và tiêu diệt. Trong trận càn ngày 12, 13 và 14 tháng 3 tại Quảng Ninh, Quảng Hòa, Quảng Đại huyện Quảng Điền, ta đã diệt hơn bốn đại đội địch, phá hai xe bọc thép. Các trận chống càn của bộ đội địa phương và dân quân du kích ở Cam Giang, Cam Thanh huyện Cam Lộ (Quảng Trị), Duy Ninh, Hàm Ninh huyện Quảng Ninh (Quảng Bình), huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên đều giành thắng lợi. Các hình thức phục kích, đánh giao thông, tập kích ngày càng phát triển, đánh đổ nhiều đoàn tàu và xe cơ giới của địch, phá hệ thống lô cốt tháp canh trên đường Khánh Mỹ đi Phò Trạch, diệt 10 lô cốt ở Bích Khê và phá kho ở Đông Hà. Với tinh thần liên tục tiến công, nên chỉ trong ba tháng đầu năm 1953, lực lượng vũ trang Bình — Trị — Thiên đã đánh gần 400 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch, lật nhào năm đoàn tàu, 28 toa và 26 xe cơ giới, thu trên 100 súng các loại. Ta đã mở rộng được khu du kích ở bắc và nam Quảng Bình, phong trào chiến tranh du kích vẫn được giữ vững, hình thái chiến trường dần dần được khôi phục. Trong lúc bộ đội địa phương và du kích kết hợp vây đồn với địch vận, thì phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng do cấp ủy địa phương lãnh đạo cũng diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú sáng tạo. Hàng ngàn người ở làng Gia Độ (Thừa Thiên) kéo lên huyện đường đấu tranh, buộc địch phải thả 300 thanh niên bị bắt. Nhân dân hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh đấu tranh trực diện với địch, buộc chúng phải thả 177 thanh niên. Rải truyền đơn, gọi loa tuyên truyền trong lúc địch đi càn, phóng thích tù binh Âu—Phi ở Quảng Trị... đã tác động mạnh đến tinh thần binh sĩ địch. Trong nhiều cuộc càn quét, binh lính địch đã bớt hung hăng cướp phá, bắn giết, hoặc đấu tranh không đi càn hoặc bỏ hàng ngũ địch về với kháng chiến. Tuy vậy việc đấu tranh chống bắt lính và vận động ngụy binh vẫn chưa trở thành một phong trào rộng khắp trong nhân dân và chưa tác động mạnh mẽ, sâu sắc đối với hàng ngũ địch. Phong trào đấu tranh chống địch dồn làng tập trung dân cũng diễn ra quyết liệt và bước đầu giành được thắng lợi ở một số địa phương trong ba tỉnh. ______________________________________________ 1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng họp từ ngày 25 đến 30-1-1953 Văn kiện quân sự của Đảng, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1977, t.3, tr. 380. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 09:11:52 pm Song song với lãnh đạo đấu tranh chống địch, cấp ủy và chính quyền các địa phương đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế, xây dựng hậu phương, bồi dưỡng sức dân. Nhân dân vùng tạm chiếm tìm mọi cách mua lương thực, thuốc men, hàng tiêu dùng chuyển ra vùng tự do. Đồng bào theo đạo Phật ở Huế đã gửi ra chiến khu hàng chục tấn gạo. Mặc dù thiên tai địch họa phá hoại nặng nề, nhân dân vùng tự do vẫn hăng hái kiên trì khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, cải tiến kỹ thuật canh tác, phát triển kinh tế tự cung, tự cấp. Nhờ vậy diện tích gieo trồng ngô, khoai đều tăng, năng suất thu hoạch năm sau cao hơn năm trước từ 10 phần trăm trở lên. Các tỉnh đồng thời tiến hành phát động quần chúng giảm tô, giảm tức, đem lại quyền lợi thiết thực cho nông dân. Nhân dân phấn khởi tin tưởng, càng hăng hái tham gia kháng chiến, làm cho phong trào thi đua yêu nước ngày càng sôi nổi ở khắp mọi nơi. Để tiếp tục động viên phong trào, ngày 17 tháng 4 Liên khu tổ chức Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn Liên khu lần thứ nhất. Nhiều tập thể và cá nhân lập thành tích xuất sắc đã về dự đại hội: Đảng bộ và nhân dân các xã Phú Thái, Phú Thịnh, An Hòa (Thừa Thiên), Hải Thái, Vĩnh Đại, Hải Linh, An Trụ (Quảng Trị), Xuân Bồ, Hưng Đạo, Cảnh Dương (Quảng Bình), các tiểu đoàn 227 (trung đoàn 95), 436 (trung đoàn 101), đại đội 327 (Hải Lăng), đại đội 265 (Quảng Trạch). Các cá nhân Phạm Hành, Đặng Doãn, Trương Vệ, Nguyễn Xuân Đức (bộ đội chủ lực), Phan Chấp (bộ đội địa phương), Phan Đên, Hồ Dinh, Hoàng Thị Hậu, Nguyễn Thị Em, Trần Toản, Đinh Công (dân quân du kích), Trần Thị Hằng (nữ hộ lý viện K42) là những hình ảnh tiêu biểu cho cuộc chiến đấu đày gian lao thử thách và chiến thắng vẻ vang của quân và dân Bình — Trị — Thiên. Phát huy kết quả đại hội, Bộ tư lệnh Liên khu phát động chiến dịch Hè Thu 1953, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, bảo vệ vụ mùa, phối hợp với chiến dịch Thượng Lào. Bước vào Hè Thu, tuy đã phải điều ba tiểu đoàn cơ động ứng chiến tăng cường ra Bắc Bộ và vào Quảng Nam, nhưng địch vẫn tập trung lực lượng mở được các cuộc càn lớn ở Duy Ninh, Hàm Ninh (ngày 26 tháng 5) và Phong Chương, Phong Định (ngày 27 tháng 5). Đồng thời tăng cường củng cố hệ thống phòng ngự ở Quảng Bình, chuẩn bị cho các cuộc càn quét cướp phá mùa tháng 5. Bộ chỉ huy Pháp giao cho ngụy binh cướp lúa mùa, cướp được đủ mức quy định thì không phải điều đi Bắc Bộ chiến đấu. Chủ trương này đã kích thích lính ngụy lao vào cướp phá mùa màng hết sức trắng trợn. Trước tình hình đó, các tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo địa phương: «Chủ động chống càn để bảo vệ mùa, lấy đấu tranh quân sự làm trung tâm», kiên quyết bẻ gãy các cuộc càn của địch, phối hợp chặt chẽ với chiến dịch Thượng Lào. Ngày 19 tháng 4, địch cho hai tiểu đoàn ngụy và Bắc Phi càn vào hai xã Duy Ninh và Hàm Ninh, nhưng bị ta đánh mạnh ở Thuận Lý và Phú Xá, địch buộc phải bỏ dở cuộc càn. Cùng ngày, trung đoàn 95 diệt vị trí Bích La, đánh đổ đoàn tàu ở Bến Đá (Thừa Thiên), diệt một đại đội Âu-Phi. Bộ đội địa phương và dân quân du kích Thừa Thiên liên tiếp phục kích đánh tàu xe trên quốc lộ số 1 và đường sẳt từ Hương Trà đến Phú Lộc, làm đổ ba đoàn tàu gồm 26 toa, diệt hàng trăm địch. Ta còn phá hủy nhiều cầu quan trọng như Hiền Sĩ, Đá Dầm (Thừa Thiên), Đông Hà, Rào Quán (Quảng Trị), làm tê liệt giao thông của địch hàng tháng. Trong đợi hoạt động này, lực lượng vũ trang Bình — Trị — Thiên loại khỏi vòng chiến đấu trên 2.600 tên địch, bảo vệ được mùa tháng 5, khắc phục được nạn đói, nạn lụt tháng 10 năm trước gây ra, phối hợp có hiệu quả với chiến dịch Thượng Lào. Thắng lợi liên tiếp giành được trên các chiến trường nhất là chiến thắng Thượng Lào của bạn và ta, quân và dân ta càng phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính, đẩy địch vào thế lúng túng, bị động. Để cứu vẫn tình thế, Chính phủ Pháp triệu hồi Xa-lăng (Salan) về nước, cử tướng Na-va sang thay. Na-va đề ra kế hoạch bình định Việt Nam trong vòng 18 tháng. Đây là một kế hoạch chiến lược quy mô lớn, một âm mưu chính trị rất thâm độc và xảo quyệt để chống lại cách mạng của ba nước trên bán đảo Đông Dương. Đây cũng là sự nỗ lực cao nhất và là cố gắng cuối cùng của Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu này. Đối với chiến trường Bình — Trị — Thiên, Na-va (Navarre) vẫn coi là nơi an toàn phía sau của chúng. Địch chủ trương củng cố các vị trí chiếm đóng. Thúc ép ngụy quyền bắt lính để tổ chức thêm sáu tiểu đoàn quân ngụy thay thế cho bốn tiểu đoànÂu —Phi chiếm đóng. Nhằm làm suy yếu lực lượng kháng chiến và vơ vét nhân lực, vật lực của ta để cung cấp cho chiến trường chính của chúng, địch lại mở các cuộc hành quân càn quét bình định vùng đồng bằng Phong — Quảng — Triệu — Hải và đánh phá ác liệt cơ sở của ta ở Khu 3, Phú Lộc, Phú Vang, Phú Ốc — Sịa, Mỹ Chánh, Ưu Điềm và Đông Hà. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 09:13:00 pm Mở đầu kế hoạch Na-va ở Bình — Trị — Thiên, ngày 28 tháng 7 năm 1953, địch mở trận càn quy mô lớn mang tên “Cuộc hành binh Các-mác-gơ” (Opération Carmarge) vào căn cứ du kích ở bốn huyện Phong — Quảng — Triệu — Hải, với lực lượng 13 tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn dù, 400 xe cơ giới, 160 xe lội nước, bốn tàu thủy, 14 ca nô, 48 máy bay và hai trung đoàn pháo binh do tên tướng Lơ Blăng, tư lệnh quân Pháp ở Trung Bộ trực tiếp chỉ huy. Bên cạnh, ngày 1 tháng 8 tướng Na-va đến trực tiếp đốc chiến. Ý đồ của địch là: thu hẹp căn cứ của ta, tiến tới bình định Phong — Quảng — Triệu — Hải, bắt thanh niên đi lính, phá hoại kinh tế và tiêu diệt chủ lực ta. Mục tiêu địch tiến quân theo bốn mũi: Mũi 1: đổ bộ lên phía đông bắc (Tân An, Mỹ Thủy) Mũi 2: ém quân từ tây bắc sang đông đường số 1. Mũi 3: từ hướng tây nam (Mỹ Chánh) đánh xuống. Mũi 4: đổ bộ lên Lai Hà. Hợp điểm cuộc hành binh là làng Đôn Quê — Đồng Dương. Thế trận bao vây đã hình thành. Địch cho không quân, pháo binh bắn phá khu vực Cùa, Trấm, Tro, Hòa Mỹ, Phong Thái, bộ binh rải ra chốt các ngả đường. Trước tình hình đó, ban chỉ huy trung đoàn 95 đã cùng với các cấp ủy địa phương xác định kế hoạch phối hợp tác chiến, tiểu đoàn 310 ở lại phối hợp với bộ đội tỉnh, huyện và dân quân quấy rối bám đánh địch ở từng thôn xã, làm chậm bước tiến của chúng, còn phần lớn lực lượng trung đoàn vượt ra ngoài vòng vây, nhanh chóng quay lại tập kích vào nơi sơ hở của địch để tiêu diệt, tiêu hao sinh lực chúng. Một số cán bộ và dân quân được giao trách nhiệm hướng dẫn tổ chức nhân dân cất giấu tài sản và tản cư lên chiến khu. Khi địch bắt đầu tiến công, cũng là lúc lực lượng ta triển khai xong thế trận. Các hướng tiến công của địch đều bị lực lượng vũ trang địa phương bám đánh liên tục. Với nhiều lối đánh linh hoạt, sáng tạo. Dân quân các làng Trung Đô, Phước Diễn, Lương Mai, Linh Yên, Gia Đẳng, Mỹ Thủy, đã gây cho địch nhiều tổn thất. Tiểu đoàn 302 chặn đánh cánh quân trên hướng đường số 1. Tiểu đoàn 310 chặn đánh cánh quân địch ở làng Trung Thanh. Tiểu đoàn 227 chặn đánh cánh quân của địch ở Phú An, không cho chúng đến sông Vân Trình để khép kín vòng vây. Sau gần một ngày tiến công, địch vẫn không khép kín được vòng vây. Lơ Blăng tức tốc thúc cánh quân thủy theo bờ sông Vân Trình lên và cho lính dù đổ xuống để hợp vây. Lập tức cả quân thủy, quân dù và cơ giới đều bị các lực lượng ta ở các hướng chặn đánh quyết liệt. Sáng hôm sau, địch dốc toàn bộ lực lượng đánh mạnh hơn nữa nhằm vây chặt trung đoàn 95 và lực lượng vũ trang địa phương để tiêu diệt. Nhưng khi chúng tiến được vào làng Đôn Quê — Đồng Dương thì trung đoàn 95 cùng cơ quan dân chính đảng và nhân dân đã ra khỏi vòng vây. Ý đồ của địch tiêu diệt trung đoàn 95 không thực hiện được. Ngày 5 tháng 8 năm 1953, bộ chỉ huy Pháp phải ra lệnh rút quân, kết thúc cuộc càn quét. Ba quân chủng, hải, lục, không quân hiện đại, có hàng chục tiểu đoàn thiện chiến với các sĩ quan cao cấp nhất chỉ huy, đành phải bất lực trước một trung đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương của ta. Ta đã anh dũng chiến đấu diệt hơn 400 tên, nhưng chưa phá được âm mưu bình định của chúng. Cơ sở của ta ở nhiều nơi bị địch đánh bật ra ngoài, làm cho phong trào địa phương gặp nhiều khó khăn. Tháng 9 năm 1953, trung đoàn 95 hành quân ra Thanh — Nghệ —Tĩnh trở về đội hình đại đoàn 325 để chuẩn bị tham gia chiến cuộc Đông Xuân 1953 — 1954. Lực lượng tác chiến trên chiến trường chỉ để lại bộ đội địa phương và dân quân du kích. Lợi dụng tình hình đó, địch mở tiếp một số trận càn nhỏ vào bốn huyện Phong — Quảng — Triệu — Hải, bắc Quảng Trị và nam Quảng Bình. Đồng Thời dùng không quân đánh phá các căn cứ du kích và chiến khu của ta. Chúng đã cướp mất của ta hơn 2.000 tấn thóc, giết trên 3.000 con trâu, mở rộng vùng chiếm đóng ở nam Thừa Thiên và bốn huyện Phong - Quảng - Triệu - Hải, lập vành đai trắng dọc quốc lộ số 1 (ở Phú Lộc, Hương Thủy, Lai Hà —Mỹ Chánh, Hồ Xá - Đông Hà và Đồng Hới—Thanh Khê), khôi phục lại hệ thống ngụy quyền ở những nơi mới lấn chiếm. Ngày 26 tháng 9, Bình —Trị — Thiên lại bị một trận lụt lớn, làm hỏng hầu hết lúa mùa đang chín. Địch họa và thiên tai liên tiếp xảy ra đã làm cho tình hình Bình — Trị — Thiên càng khó khăn hơn. Song được sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy các cấp, lực lượng vũ trang và nhân dân Bình — Trị — Thiên phát huy truyền thống đoàn kết tự lực, tự cường vượt qua mọi khó khăn gian khổ cả trong chống địch họa và thiên tai, giữ vững và phát triển phong trào du kích chiến tranh, cùng quân và dân cả nước chuẩn bị mọi mặt bước vào cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953— 1954. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 09:14:08 pm II. XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỮNG MẠNH, DỐC SỨC CHI VIỆN TIỀN TUYẾN, PHÁT TRIỂN LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT-LÀO Ngay từ sau chiến dịch Biên giới, Thanh — Nghệ — Tĩnh đã trở thành một hậu phương chiến lược của chiến trường chính Bắc Bộ và của các chiến trường bắc Đông Dương, cung cấp sức người, sức của cho các hướng chiến lược Bắc Bộ, bắc Trung Bộ, Trung, Thượng Lào, vừa là địa bàn chiến lược tạo thế uy hiếp địch từ phía nam đồng bằng sông Hồng. Quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh dốc sức «Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng». Tháng 1 năm 1951, Thường vụ Liên khu ủy chỉ thị cho các tỉnh ủy tập trung xây dựng lực lượng tại chỗ, học tập kinh nghiệm của Bình — Trị—Thiên, tác chiến bảo vệ địa bàn, phấn đấu trong một thời gian để lực lượng vũ trang tự đảm nhiệm được nhiệm vụ bảo vệ hậu phương, vừa bổ sung quân cho các chiến trường. Bộ tư lệnh Liên khu cùng các tỉnh tập trung chỉ đạo, nâng cao sức chiến đấu của bộ đội địa phương, điều tiểu đoàn 195 Nghệ An đi Phú Thọ, tiểu đoàn 275 và 11 đại đội Thanh Hóa tăng cường lực lượng chiến đấu cho chiến trường chính Bắc Bộ. Liên khu thành tập trung đoàn 51 chủ lực. Thanh Hóa có hai tiểu đoàn, 14 đại đội, sáu trung đội. Nghệ An có hai tiểu đoàn, 10 đại đội, hai trung đội. Hà Tĩnh có một tiểu đoàn, tám đại đội. Toàn khu có 15 trại huấn luyện với 19.000 tân binh. Sự lãnh đạo của Đảng đối với dân quân được cấp ủy địa phương đặc biệt coi trọng, bí thư chi bộ trực tiếp làm chính trị viên xã đội. Các đoàn thể quần chúng đều có trách nhiệm tham gia xây dựng dân quân, không để tình trạng khoán trắng cho nông hội như trước nữa. Ở các vùng xung yếu, dân quân được tăng cường thêm vũ khí và bố trí nhiều thời gian huấn luyện. Dân quân vừa bám đồng ruộng sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa phương. Công tác huấn luyện quân sự và công tác Đảng, công tác chính trị được đẩy mạnh, đã góp phần nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương. Cán bộ, chiến sĩ có tinh thần kỷ luật tự giác, tích cực chiến đấu bảo vệ quê hương và khi cần sẵn sàng lên đường ra mặt trận. Trường quân chính Liên khu, trường quân sự các tỉnh chú trọng cải tiến nội dung và phương pháp huấn luyện, gắn liền nội dung giảng dạy với thực tế chiến đấu, đào tạo được hơn 2.000 cán bộ sơ cấp. Đi đôi với việc xây dựng lực lượng vũ trang, chính quyền nhân dân các cấp được kiện toàn củng cố. Quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh cùng một lúc vừa xây dựng hậu phương vừa phải đối phó với nhiều âm mưu, hành động đánh phá của địch từ mọi phía. Tại Nga Sơn, địch thường xuyên duy trì khoảng một tiểu đoàn để bảo vệ sào huyệt phản động của chúng ở Phát Diệm, đồng thời xây dựng bàn đạp tiến công Thanh Hóa khi có điều kiện. Tàu chiến địch khống chế uy hiếp dọc vùng ven biển Liên khu, tổ chức các cuộc tập kích bất ngờ, quấy phá hậu phương ta. Chỉ trong sáu tháng đầu năm 1951, địch đã đổ bộ tập kích 20 lần, nhiều nhất là vùng ven biển huyện Kỳ Anh. Ngày 26 tháng 3, một đại đội địch tập kích lên ba xã Hoàng Hanh, Vĩnh Áng, Cấp Thắng. Ngày 3 tháng 6, gần hai đại đội địch đánh lên xã Đậu Khống. Ngày 23 tháng 7, một đại đội tiến công xã Vĩnh Khang. Chúng đốt phá ghe thuyền, vơ vét của cải, hãm hiếp phụ nữ, bắt cóc cán bộ và tung gián điệp trà trộn vào nội địa rồi rút. Bộ đội địa phương và dân quân du kích dựa vào thế trận làng xã đánh trả quân địch, buộc chúng phải rút nhanh ra biển. Dân quân xã Vĩnh Áng thực sự trở thành nòng cốt trong chiến đấu, sản xuất ở địa phương. Xã đội trưởng Chu Nai kéo cờ lên đỉnh núi cao làm tín hiệu thông báo mỗi lần có tàu địch vào để nhân dân kịp thời sơ tán và lực lượng vũ trang sẵn sàng đón đánh địch. Hai huyện Nghi Lộc —Quỳnh Lưu trong ba tháng vụ cá hè thu năm 1951 bị địch đánh đắm 69 thuyền, bắt 606 người đưa đi làm lính đánh thuê. Để hạn chế thiệt hại do địch gây ra, tháng 4 năm 1951, các tỉnh chủ trương tổ chức ngư dân thành các tập đoàn đánh cá, có cán bộ và dân quân làm nòng cốt, đấu tranh đòi địch không được bắt người và cản trở công việc làm ăn của ngư dân trên biển. Do địch khủng bố gắt gao, nghề biển phải chuyển đánh bắt từ ngoài khơi vào trong lộng và hoạt động ban đêm. Sự chuyển hướng sản xuất đó vừa duy trì ngư nghề, vừa tránh được sự đánh phá của máy bay, tàu chiến, vừa tạo nên nếp làm ăn mới phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh. Phối hợp với hoạt động đánh phá ở vùng biển, địch tăng cường hoạt động ở khu vực biên giới phía tây. Sáu tháng đầu năm 1951, địch đã tung phân đội nhỏ thọc xuống huyện Tương Dương (Nghệ An) 12 lần. Từ tháng 7 trở đi, chúng liên tiếp đánh xuống các vùng Mỹ Lý, Hà Ngòi, Hữu Kiểm, cướp cửa hàng mậu dịch, phá kho muối, phục kích dân công, bắt cóc cán bộ. Địch củng cố các vị trí Sầm Tớ, Mường Ngát, Noọng Hét, Mường Pao... tung quân vào các làng bản cướp lương thực, trâu, bò, lôi kéo thanh niên hư hỏng đi làm phỉ, lập dân vệ ở những vùng cơ sở của ta còn yếu, kích động chia rẽ dân tộc, gây không ít khó khăn cho ta. Các tỉnh cử cán bộ công an và mặt trận có năng lực, nắm vững chính sách dân tộc của Đảng, chịu đựng gian khổ, kiên trì đi sâu vào từng bản làng tuyên truyền vận động quần chúng, làm cho nhân dân biết được bọn cầm đầu chủ mưu với những người bị ép buộc đi theo giặc, giết hại đồng bào, thức tỉnh tinh thần yêu nước và truyền thống đoàn kết dân tộc trong quần chúng. Được sự hỗ trợ đắc lực của nhân dân, các đơn vị bộ đội địa phương kết hợp với lực lượng trinh sát, công an đã truy quét được các nhóm phỉ lén lút trong rừng, nhen nhóm lại phong trào, đồng thời xây dựng các đoàn thể, xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 09:16:21 pm Song song với các hoạt động đánh phá phía tây và ven biển, không quân địch liên tiếp đánh phá ác liệt hậu phương ta, nhất là các khu vực đông dân. Chỉ riêng Nghệ An, trong năm tháng địch đã ném bom 174 lần làm chết 2.680 người, đốt cháy 3.700 nóc nhà, giết trên 1.000 trâu, bò. Ngày 18 tháng 6 chúng ném bom xuống chợ Đồn xã Thịnh Đức làm chết 150 người. Đầu tháng 7 ném bom Chợ Tru (Hưng Nguyên) làm chết 88 người, chợ Nổi (Đô Lương) làm chết 136 người. Tháng 8, chúng đánh chìm đoàn thuyền vận tải 34 chiếc trên kênh đào Ma Da. Các cấp ủy Đảng và Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp thường xuyên chỉ đạo tổ chức nhân dân phòng tránh máy bay địch. Các công xưởng được sơ tán và ngụy trang kín đáo. Trường học, chợ búa chuyển sang họp đêm, giờ giấc sản xuất ngoài đồng ruộng cũng thay đổi bảo đảm an toàn. Dân quân du kích làm nòng cốt trong việc đào hầm hào phòng tránh ở những nơi công cộng. Hệ thống hào giao thông xuyên dọc ngang từng thôn xóm. Nhân dân đào hầm trong nhà, ngoài đồng để tránh bom đạn giặc. Lực lượng công an, trinh sát tăng cường hoạt động, quản lý, theo dõi chặt chẽ bọn có nghi vấn, trừng trị kịp thời những tên chỉ điểm, góp phần giữ gìn an ninh trật tự xã hội. Các tổ chức phản động gián điệp hoạt động trên địa bàn Thanh — Nghệ —Tĩnh như: phòng nhì hải quân, cơ quan do thám an ninh bắc Trung Bộ, mật thám liên bang, mặt trận liên tôn chống cộng... đều đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của tổ chức phòng nhì quân đội viễn chinh Pháp. Trong năm 1951, chúng thả biệt kích ven biển, cài cắm gián điệp sâu vào nội địa ta. Tháng 4 năm 1951 tập kích vào Hữu Lộc (Quỳnh Lưu), tháng 5 đột nhập Quảng Xương, tháng 9 đột nhập Đông Hải (Cửa Lò), tháng 10 vào Cửa Nhượng (Thạch Hà) để trấn áp bọn nằm vùng, xúi dục bọn phản động trong liên đoàn công giáo phục hồi “Đảng dân chủ liên hiệp» của Lê Hữu Từ, chuẩn bị nội ứng đón quân Pháp đổ bộ vào khi có thời cơ. Tháng 7 năm 1951, cơ quan phòng nhì hải quân Pháp ở Hải Phòng thành lập căn cứ gián điệp Hòn Mê (Thanh Hóa). Chúng tổ chức mạng lưới liên lạc dọc bờ biển Thanh - Nghệ - Tĩnh, móc nối với bọn phản động xuyên tạc chủ trương chính sách của Chính phủ, kích động gây bạo loạn, lôi kéo thanh niên trốn vào vùng địch. Bọn phản động đội lốt tôn giáo trong các giáo xứ như Trần Đăng Khoa. Nguyễn Tần, Trần Di, Bùi Quang Nga trắng trợn hoạt động. Một mặt chúng cấm giáo dân đi bộ đội, dân công, tham gia kháng chiến. Chúng ngang nhiên lập các đội tự vệ công giáo, quyên tiền mua sắm vũ khí, lợi dụng giáo đường để tuyên truyền gây ảnh hưởng chính trị phản động. Nhằm vào thời vụ cấy cày hoặc thu hoạch, chúng tập trung giáo dân khảo kinh, bổn, kéo dài hàng tháng trời làm ảnh hưởng đến sản xuất. Một số nơi chúng còn đốt nhà cán bộ, cắt dây điện thoại, phá công cụ sản xuất. Bộ tư lệnh Liên khu chủ trương dựa vào quần chúng phát động một cuộc đấu tranh không khoan nhượng, kiên quyết triệt phá các tổ chức phản động, trừng trị đích đáng bọn đầu sỏ. Bằng những biện pháp trinh sát bí mật, dựa vào tai mắt phát hiện của nhân dân, kết hợp với kiểm soát hành chính công khai, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang và công an, bám sát các đối tượng, khống chế bọn cầm đầu, cảm hóa giáo dục bọn tay sai, cô lập bọn chủ mưu, tổ chức quần chúng đấu tranh vạch trần tội ác của chúng, đồng thời trừng trị đích đáng những tên chống phá hiện hành. Sau một thời gian truy quét, bọn gián điệp đường dây do cơ quan phòng nhì cài cắm lần lượt bị sa lưới. Các tổ chức phản động bị giải tán. Uy tín của chính quyền các cấp được nâng cao, pháp luật Nhà nước nghiêm minh hơn. Nền tảng vững chắc của chính quyền kháng chiến và sự lớn mạnh của chế độ xã hội đã bảo đảm cho hậu phương vững vàng đi lên trong lao động sản xuất, xây dựng tiềm lực kinh tế và chi viện đắc lực cho chiến trường đánh thắng. Tăng gia sản xuất, nhất là sản xuất lương thực, trở thành mặt trận hàng đầu của nền kinh tế tự cung, tự cấp. Với khẩu hiệu «Tất cả để chiến thắng, sản xuất là hàng đầu», khắp nông thôn dấy lên cao trào thi đua sản xuất và tiết kiệm. Nông dân suốt ngày đêm lăn lộn trên đồng ruộng, làm thay phần việc cho người đi bộ đội, đi dân công phục vụ hỏa tuyến. Phụ nữ sản xuất thay chồng con đi chiến đấu. Phong trào thi đua sản xuất tiết kiệm thấm sâu vào trong quần chúng. Cuộc vận động chống hạn ở Nghệ Tĩnh có hàng chục vạn người ra đồng «thay trời làm mưa», cuộc «vận động tiết kiệm lớn» ở Thanh Hóa thu kết quả tốt. Phong trào học tập Anh hùng nông nghiệp Hoàng Hanh và chiến sĩ thi đua nông nghiệp Trịnh Xuân Bái trở thành cao trào thi đua sản xuất sôi động ở các địa phương. Những biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp như nước, phân, cần, giống được áp dụng rộng rãi. Các địa phương phát triển hình thức đổi công, vần công1 tương trợ nhân lực, sức kéo để đẩy mạnh thâm canh, mở rộng diện tích gieo trồng. Hơn 110.000 héc-ta vùng có hệ thống nông giang bị ném bom, đã kịp thời chuyển từ trồng lúa sang trồng màu. Nhờ có sự chuyển hướng kịp thời trong chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, điều kiện nhân lực, thời tiết đất đai, nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, liên tiếp giành những vụ mùa thắng lợi. Diện tích lúa năm 1951 toàn liên khu đạt 615.000 héc-ta. Sản lượng lương thực hàng năm tăng 10 phần trăm. Năng suất lúa bình quân đạt 1.376 ki-lô-gam trên một héc-ta. Sản lượng cây công nghiệp cũng đạt kết quả tốt: 10.000 tấn bông xơ, 2.000 tấn đậu, 2.400 tấn lạc, 2.000 tấn đường, 500 tấn đay. Chỉ tính năm tháng kể từ khi Chính phủ phát hành phiếu công trái quốc gia, nhân dân các địa phương toàn liên khu đã mua hết số phiếu được phân phối là 500 triệu đồng. Trong vụ thuế nông nghiệp (1951) đầu tiên, nông dân liên khu 4 đã nhập kho nhà nước 21.694 tấn thóc và bảy triệu đồng quy thóc. Sau khi bổ sung đủ quân cho hai đại đoàn 304 và 325 trong số sáu sư đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta, Liên khu tiếp tục tuyển quân bổ sung cho các đơn vị bộ binh và binh chủng theo chỉ tiêu của Bộ. Trong công tác tuyển quân hàng năm, liên khu hết sức chú trọng chất lượng. Mỗi tân binh được bổ sung phải là một chiến sĩ có phẩm chất, đạo đức tốt, được huấn luyện cơ bản để có thể chiến đấu được ngay. Các cấp ủy Đảng và Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp đặc biệt chăm lo tốt đời sống tinh thần và vật chất của thương bệnh binh, thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng đi đôi với bồi dưỡng sức khỏe để anh em trở lại đơn vị chiến đấu hoặc về địa phương công tác. Các đơn vị bộ đội địa phương được củng cố về biên chế tổ chức hoàn chỉnh, có thể sẵn sàng bổ sung chủ lực thay hình thức bổ sung bằng tân binh như trước đây. Dân quân được huấn luyện chu đáo để bổ sung cho bộ đội địa phương, huyện, tỉnh. ____________________________________________ 1. Năm 1951: Thanh Hóa có 1.575 tập đoàn sản xuất, 9.500 tổ vần công, đổi công. Nghệ An có 20.000 gia đình lập kế hoạch sản xuất và phục vụ tiền tuyến. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 09:19:24 pm Tháng 5 năn 1951, Bộ tư lệnh Liên khu giải thể các trại huấn luyện tân binh, thành lập đoàn 33 thu dung ở Thanh Hóa, củng cố trung đoàn 44 trở thành trung tâm huấn luyện quân bổ sung cho chủ lực. Tháng 6 năm 1951, Liên khu bàn giao trung đoàn 51 (thành lập tháng 1 năm 1951) cho đại đoàn 351 pháo binh, chuyển tiểu đoàn 198 và 11 đại đội địa phương Thanh Hóa cho đại đoàn 320. Cùng thời gian này, tiểu đoàn 195 và sáu đại đội của Nghệ An đi Việt Bắc chuyển vũ khí vào Bình — Trị — Thiên. Tiểu đoàn 275 và 11 đại đội của Thanh Hóa lên đường tham gia chiến dịch Quang Trung (Hà — Nam — Ninh), ba đại đội địa phương Can Lộc, Đức Thọ, Hương Khê (Hà Tĩnh) bổ sung cho trung đoàn 120 chiến đấu ở Trung Lào. Năm 1951, Thanh — Nghệ — Tĩnh đã bổ sung cho chủ lực bốn tiểu đoàn, 16 đại đội và 23.300 cán bộ, chiến sĩ. Huy động 210.000 dân công phục vụ các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, vận chuyển 12.600 tấn gạo, 20 tấn đường, 30 tấn lương khô, năm vạn quả trứng vịt muối, 300 con bò cho các chiến trường. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Trung ương ra chỉ thị về nhiệm vụ phá cuộc tiến công của địch ra Hòa Bình, giao cho các liên khu vừa phải bảo đảm chi viện cho chiến trường vừa đẩy mạnh hoạt động vũ trang, phối hợp với chiến dịch Hòa Bình. Ngày 3 tháng 12, Bộ tư lệnh Liên khu đề ra kế hoạch cho các địa phương và đơn vị tác chiến phối hợp và chi viện chiến dịch Hòa Bình. Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu chủ trương: vừa phải bảo đảm lực lượng sản xuất, vừa phải có đủ lực lượng chi viện tiền tuyến, điều 500 cán bộ từ cấp xã đến Liên khu trực tiếp lãnh đạo tổ chức lực lượng dân công phục vụ chiến dịch Hòa Bình. Dân công tổ chức biên chế thống nhất như quân đội, có tổ chức đảng, đoàn thanh niên, hội phụ nữ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền thi đua, bảo đảm vật chất, chăm sóc sức khỏe được tiến hành chặt chẽ, góp phần nâng cao năng suất, khối lượng vận chuyển. Phong trào xung phong đi dân công phát triển rầm rộ trong các ngành và đoàn thể quần chúng. Thanh niên rèn luyện sức khỏe để được đi dân công, hoãn cưới hỏi để kịp đi chiến dịch. Cả làng, cả xã giúp đỡ chăm sóc những gia đình có người đi hỏa tuyến, đảm nhiệm phần việc sản xuất để người ra đi yên tâm. Cả hậu phương hướng về tiền tuyến. Hàng chục vạn dân công cùng với 12 ca nô, 516 thuyền đã được huy động để vận chuyển 12.000 tấn gạo, 300 tấn thực phẩm và hàng nghìn tấn vũ khí đạn dược ra phía trước. Ngoài ra ba tỉnh còn huy động 1.300 dân công mở con đường chiến lược Phủ Quỳ — Như Xuân. Ngoài số dân công dài hạn, riêng Thanh Hóa còn huy động thêm 65.000 dân công ngắn hạn chuyển gạo đến các trạm trung chuyển. Bộ tư lệnh Liên khu điều động 7.500 quân đã qua huấn luyện và 2.500 bộ đội địa phương bổ sung kịp thời cho các đơn vị chủ lực của Bộ đang tham gia chiến dịch. Xung phong tòng quân đi chiến đấu đã trở thành niềm ước mơ mong đợi của tuổi trẻ hậu phương. Chỉ tính đến tháng 10 năm 1952 Thanh — Nghệ — Tĩnh đã có 13.770 thanh niên lên đường nhập ngũ. Các tỉnh còn chuyển du kích lên xây dựng bộ đội địa phương 5.000 người. Để nhanh chóng khắc phục hậu quả nghiêm trọng do địch gây ra, tiếp tục xây dựng thực lực hậu phương lớn mạnh về mọi mặt, đáp ứng nhu cầu chi viện ngày càng lớn cho các chiến trường, khẩu hiệu hành động của Đảng bộ và nhân dân ba tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh lúc này là: «Tất cả cho sản xuất, tất cả để chiến thắng». Nhờ vậy sản lượng lương thực năm 1952 đạt 852.000 tấn, lương thực dự trữ trong kho đạt 49.400 tấn. Cùng với sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp cũng được đẩy mạnh. Năm 1952 sản xuất thiếc tăng 29 phần trăm, khai thác than tăng 82 phần trăm, dệt 2 triệu 80 vạn mét vải. Các loại sản phẩm công nghiệp như dầu lạc, đường mía, muối, nước mắm, diêm, da, phốt phát, thuộc da, tăng từ 15 đến 20 phần trăm so với năm trước. Để làm suy yếu hậu phương ta, thực dân Pháp đã thực hiện âm mưu tập trung phá hoại hậu phương ta một cách toàn diện. Âm mưu đó thể hiện rõ trong bức thư của Đu-lây, khâm mạng tòa thánh La Mã gửi các tín đồ giáo hữu ở Thanh — Nghệ — Tĩnh tháng 7 năm 1952. «Cuộc chiến ở Việt Nam có nguy cơ chuyển sang một giai đoạn mới. Họ lớn mạnh rất nhanh. Người Pháp muốn giữ thế ổn định trên chiến trường thì phải đánh một đòn tạt sườn, thọc sâu vào các hậu phương an toàn của Việt Minh, nhất là vùng Thanh — Nghệ — Tĩnh»1. Hà Tôn Đông, chỉ huy cơ quan phòng nhì «Giải phóng Liên khu 4» từ đảo Hòn Mê (Thanh Hóa) gửi cho bọn phản động đang bí mật hoạt động ở Thanh — Nghệ — Tĩnh nêu rõ: “Muốn làm suy yếu các chiến trường, người Pháp quyết tâm phải đánh vào Thanh — Nghệ — Tĩnh và cắm cho được vài chỗ đứng chân để làm rối loạn hậu phương của Việt Minh”2. Tháng 2 năm 1952, hàng trăm lính Pháp và thổ phỉ chia thành nhiều toán xâm nhập vào đất ta cướp phá vùng Quan Hóa (Thanh Hóa) và Tương Dương (Nghệ An). Tháng 3 năm 1953, chúng thành lập tại đây các tổ chức «Ủy ban liên châu Thái» và «Đảng quốc dân địa chủ châu Phà», thu hút vào tổ chức này những thanh niên lạc hậu và cả một số cán bộ đã thoái hóa biến chất, những phần tử phản động trong bọn thổ ty, lang đạo. Chỉ vài tháng sau, chúng đã tập hợp được trên 300 tên, lực lượng này được máy bay Pháp thả dù tiếp tế vũ khí và lương thực. Chúng cướp phá tài sản của nhân dân, kích động gây rối, uy hiếp chính quyền cơ sở, dồn dân ở Mường Mìn, Chiên Lưu, Mường Xịa vào khu tập trung để kiểm soát. Tháng 6 năm 1952, Thanh Hóa điều đại đội 140 lên Quan Hóa, đại đội 188 lên Bá Thước, đại đội 128 lên Lang Chánh để cùng bộ đội huyện, lực lượng công an và du kích truy quét thổ phỉ, tiến hành võ trang tuyên truyền xây dựng cơ sở. Do thiếu kinh nghiệm về tác chiến và dân vận, không biết kết hợp chặt chẽ giữa tiễu phỉ với trừ gian, nên các đơn vị trên hoạt động ít kết quả. Đại đội 140 sau hai lần bị phỉ tập kích phải rút về tỉnh củng cố. Bọn phỉ được đà càng luồn sâu vào nội địa hoạt động trắng trợn hơn. Ở Thanh Hóa chúng lập bốn cụm phỉ, Nghệ An bốn cụm, mỗi cụm có trên 100 tên. Bộ tư lệnh Liên khu cùng Sở công an Liên khu 4 và các tỉnh cử cán bộ về hướng dẫn các địa phương, dựa hẳn vào nhân dân và dân quân du kích củng cố lực lượng. Phong trào dần dần khá lên. Bộ đội huyện Quỳ Châu đã diệt được một đại đội «Quốc dân địa chủ châu Phà» ở Mường Típ, Tà Cạ. Công an huyện Lang Chánh diệt một số tên phản động trong tổ chức «Liên châu Thái». Hè thu năm 1952, bộ đội địa phương kết hợp với một bộ phận Trung đoàn 9 (sư đoàn 304) truy quét bọn phỉ chạy tản sang đất Lào. ________________________________________________ 1, 2. Tài liệu lưu trữ tại Sở công an Nghệ Tĩnh. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 09:21:48 pm Trong lúc bọn phỉ tăng cường hoạt động ở vùng biên giới thì ở vùng biển, hải quân Pháp cũng đánh phá gắt gao, khống chế giao thông đường thủy, triệt phá nghề đánh cá và nghề muối của đồng bào ta. Địch đổ bộ tập kích vào Hữu Lộc (Quỳnh Lưu), Du Xuyên (Tĩnh Gia), vơ vét của cải, bắt cóc cán bộ và thăm dò tình hình hậu phương ta. Không quân địch tập trung đánh phá ác liệt hơn. Mỗi lần có từ tám đến 12 máy bay đánh phá các công trình thủy lợi, kho tàng, cơ quan, xí nghiệp, cầu, phà, chợ búa, trường học của ta. Các đập nước Bến Thủy, Đô Lương, Nam Đàn, cống Trung Lương, Mụ Bà, Rú Cóc, Bàn Thạch, Bái Thượng, Phong Lại, kênh Ma Đa, bị phá hỏng nặng. Hơn 120.000 héc-ta lúa bị hạn hán, gây khó khăn lớn cho ta về lương thực. Chỉ tính riêng tháng 10 năm 1952, không quân của địch đã làm chết 1.800 người, bị thương 1.300 người, đốt phá hơn 3.000 ngôi nhà, giết hại 500 trâu bò, đánh hỏng, đánh đắm 185 thuyền. Để hạn chế thiệt hại do không quân và hải quân địch gây ra, các địa phương kịp thời chỉ đạo, tổ chức nhân dân phòng tránh, đánh địch tốt hơn. Dân quân du kích ven biển giữ nghiêm chế độ bố phòng tuần tra, canh gác, báo động kịp thời cho nhân dân phòng tránh. Bộ đội địa phương và dân quân du kích đánh địch đổ bộ đường biển, các lần tập kích của chúng đều bị lực lượng vũ trang tại chỗ của ta đánh bại. Lực lượng sủng máy phòng không của ta còn ít ỏi, song đã tích cực đánh máy bay, bảo vệ mục tiêu, hạn chế một phần hoạt động của không quân địch. Đại đội 160 phòng không Thanh Hóa trong năm 1952 bắn bị thương bảy máy bay địch. Cùng với toàn dân đánh trả cuộc chiến tranh bằng hải quân và không quân của địch, bộ đội địa phương và dân quân du kích còn là lực lượng quan trọng trong nhiệm vụ trấn áp bọn phản động, gián điệp gây rối hậu phương. Tháng 4 năm 1952, lợi dụng việc rào làng chống địch đổ bộ, Vũ Viết Hiền linh mục xứ Tràng Nứa cùng các tên Mạnh Trọng Niêm tổng thư ký đảng dân chủ liên hiệp, Nguyễn Hữu Tạo chủ tịch liên đoàn công giáo xứ Tràng Nứa âm mưu dọn đường đón quân Pháp vào đánh Thanh — Nghệ — Tĩnh. Chúng lôi kéo thanh niên thiên chúa giáo vào «Hội thanh niên nghĩa binh», luyện tập quân sự, bắt giáo dân bỏ sản xuất, rào làng canh gác, gây ra nạn đói nghiêm trọng. Chúng trắng trợn lập «Hội đồng liên hương» ở một số hạt thuộc Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu (Nghệ An), Thạch Hà, Hương Khê (Hà Tĩnh), tuyên truyền chống đối kháng chiến. Tòa giám mục Xã Đoài lập «Ban cán sự» chỉ đạo các tổ chức trên. Cấp ủy chính quyền và các tổ chức quần chúng đã cử nhiều cán bộ kiên trì giải thích chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, nhưng bọn phản động vẫn một mực ngoan cố chống lại. Ngày 16 tháng 4 năm 1952, Ty công an Nghệ An bắt giữ một số tên đầu sỏ. Lấy cớ này, ngày 24 tháng 4, Tòa giám mục Xã Đoài rung chuông báo động. Chúng bao vây dân quân, giết cán bộ, hành hung công an, dùng vô tuyến điện gọi Pháp nhảy dù tiếp ứng. Tiểu đoàn 195 Nghệ An và tiểu đoàn 230 (Hà Tĩnh) được nhân dân ủng hộ, tiến vào Tràng Nứa giải tỏa giáo dân bị kìm kẹp, bắt gọn toàn bộ bọn cầm đầu, 30 tên phản động đầu sỏ bị bắt. Vụ phản động Tràng Nứa (Hưng Nguyên) bị dập tắt. Giáo dân vui mừng được làm ăn, hành lễ và tham gia kháng chiến. Ngày 13 tháng 10 năm 1952, chấp hành chủ trương của Sở công an Liên khu 4 và tỉnh ủy Thanh Hóa, Ty công an Thanh Hóa tiến hành lập hồ sơ chuyên án vụ gián điệp Hòn Mê — Ba Làng. Ban chỉ đạo chuyên án vụ gián điệp gồm các đồng chí Lê Công Oánh, trưởng ty công an; Hoàng Đạo, đại diện Sở công an Liên khu 4. Nhiệm vụ của ta là phá cho sạch, phá kịp thời, sớm ngày nào hay ngày ấy, với phương châm: «Bới tận gốc, đào tận rễ, quét cho sạch, nếu không quét sạch thì địch vẫn tiếp tục đổ bộ lên Tĩnh Gia»1. Được sự giúp đỡ của nhân dân, bộ phận công tác chính trị đã đi sâu vào từng hộ giáo dân tuyên truyền vận động quần chúng đoàn kết đấu tranh, vạch mặt bọn chủ mưu cầm đầu. Bộ phận trinh sát tiến hành bí mật theo dõi, điều tra, bắt giữ và khai thác kịp thời âm mưu và tổ chức của chúng ở Hòn Mê — Ba Làng và trong nội địa để quét hết cơ sở của chúng, bắt giữ 55 tên phản động, gián điệp. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa công khai xét xử bọn gián điệp trong «vụ án gián điệp Hòn Mê — Ba Làng », nghiêm trị bọn cầm đầu, nguy hiểm. Phiên tòa có tác dụng lớn, đánh mạnh vào âm mưu, thủ đoạn của địch, trấn áp bọn gián điệp, phản động trong nội địa, hỗ trợ cho công tác phát động quần chúng, xây dựng cơ sở, nhất là ở những vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa như Ba Làng (Tĩnh Gia, Thanh Hóa). Đường dây liên lạc của tổ chức «Phòng nhì giải phóng Liên khu 4»2 do Trần Đình Phúc làm chủ tịch, ổ gián điệp ở Quỳnh Lưu và toán gián điệp Sầm Tớ — Noọng Hét do Lang Văn Thanh, Lang Văn Dinh cầm đầu đều bị bắt. Âm mưu và hành động của thực dân Pháp đánh phá hậu phương chiến lược, nhằm làm suy yếu ta, liên tiếp bị thất bại, sức mạnh của hậu phương Thanh — Nghệ — Tĩnh ngày càng được phát huy mạnh mẽ, góp phần đáng kể vào thắng lợi chung trên các chiến trường. Trong chiến dịch Tây Bắc cuối năm 1952, Thanh Hóa đã huy động vận chuyển 2.000 tấn gạo phục vụ tiền tuyến, với thành tích này, Hồ Chủ tịch và Chính phủ đã tặng thưởng huân chương Kháng chiến hạng hai cho Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa. Với chiến thắng Tây Bắc, một địa bàn chiến lược quan trọng rộng lớn hơn 28.000 ki-lô-mét vuông với 250.000 dân đã được giải phóng, nối liền căn cứ địa Việt Bắc và vùng tự do Liên khu 4, hình thành thế chiến lược uy hiếp địch ở đồng bằng Bắc Bộ. Trước sự phát triển mới của chiến tranh, hậu phương càng phải được bảo vệ vững chắc. _____________________________________________ 1. Thư của giám đốc Sở công an Liên khu 4 gửi Trưởng ty công an Thanh Hóa (tài liệu lưu trữ Sở công an Thanh Hóa). 2. Trong năm 1951 — 1952 tổ chức này đã lôi kéo 800 thanh niên trốn ra Phát Diệm đi lính cho Pháp. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 09:23:29 pm Ngày 14 và 15 tháng 2 năm 1953, Liên khu ủy họp bàn về nhiệm vụ bảo vệ hậu phương trong tình hình mới và thi hành điện của Ban bí thư Trung ương Đảng về cung cấp cho chiến dịch Thượng Lào. Tại hội nghị, đồng chí tư lệnh Liên khu trình bày về âm mưu mới của địch đối với vùng tự do và kế hoạch bảo vệ Thanh — Nghệ — Tĩnh. Liên khu ủy nhận định: «Trước mắt quân Pháp chưa đủ lực lượng đánh chiếm cả vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, song ta cần có kế hoạch tác chiến hoàn chỉnh để đối phó với âm mưu cơ bản lâu dài của địch. Phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, đánh bại các thủ đoạn đánh phá bằng không quân, hải quân và biệt kích đường biển, đường không của địch, đồng thời kiên quyết trấn áp bọn phản động tay sai nội địa»1. Ngày 17 tháng 3, Bộ tư lệnh Liên khu giao cho ban chỉ huy các tỉnh đội và các trung đoàn nhiệm vụ tác chiến bảo vệ trên từng khu vực. Trung đoàn 52 đứng chân ở phía bắc sông Mã, đảm nhiệm tác chiến vùng Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Hà Trung. Đại đội 57 tăng cường cho huyện Nga Sơn. Tiểu đoàn 275 đảm nhiệm khu vực Quảng Xương, Đông Sơn và thị xã Thanh Hóa. Tiểu đoàn 355 phụ trách khu vực Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành. Tiểu đoàn 136 và trung đoàn 44 phụ trách đường số 7. Tiểu đoàn 290 đảm nhiệm vùng Nghi Lộc. Trung đoàn 101 đứng chân ở Nghi Lộc, Hưng Nguyên làm lực lượng cơ động. Tiểu đoàn 888 và các đơn vị trực thuộc đại đoàn 325 ở Can Lộc, Thạch Hà, Đức Thọ. Các kho tàng chuyển lên phía tây đường số 1. Để thống nhất chỉ huy các lực lượng vũ trang trên địa bàn, mỗi tỉnh thành lập một ban chỉ đạo chung do đồng chí bí thư tỉnh ủy làm chính ủy, trung đoàn trưởng làm chỉ huy trưởng, tỉnh đội trưởng làm phó chỉ huy. Ba trung đoàn 52, 101 và 44 do Bộ tư lệnh Liên khu trực tiếp chỉ huy. Đại đội 10 và 11 súng máy phòng không 12,7 mi-li-mét được thành lập để trực tiếp bảo vệ các công trình thủy lợi. Các huyện Hưng Nguyên, Can Lộc, Hương Khê, Hương Sơn, Hà Trung, Thạch Thành đều có một đại đội bộ đội địa phương. Các tỉnh cử thêm cán bộ lên miền núi làm công tác vận động quần chúng xây dựng cơ sở. Các xã Thông Thụ (Quỳ Châu), Nà Ngòi (Tương Dương), Thiệm Phú (Quan Hóa) chọn làm thí điểm để rút kinh nghiệm chỉ đạo các địa phương trong sản xuất và chiến đấu, tiễu phỉ trừ gian. Trên từng vùng, nhiệm vụ và phạm vi chiến đấu được xác định cụ thể. Khắp nơi nhân dân hăng hái rào làng chiến đấu, sơ tán kho tàng, đào hầm hào phòng tránh, dựng chòi canh gác. Bộ đội địa phương và dân quân du kích luyện tập theo phương án tác chiến đã được quy định. Ở Nga Sơn (Thanh Hóa), ngày 26 tháng 3 binh đoàn cơ động số 4 và tiểu đoàn 15 ngụy từ Kim Sơn mở cuộc càn lớn vào ba xã Kiên Giáp, Diên Trường, Chính Đại. Dân quân ở đây bám trụ chống trả quyết liệt, trung đội dân quân xã Kiên Giáp do xã đội trưởng Mai Xuân Thắng chỉ huy đã bám làng chiến đấu, suốt ba ngày địch vẫn không vào được làng. Ngày 6 tháng 4, được đại đội 57 về tăng cường, các lực lượng ở Nga Sơn đã đánh lui nhiều đợt tiến công của địch. Ngày 8 tháng 4, địch phải rút khỏi ba xã trên. Ở miền tây, bọn thổ ty, lang đạo phản động lập ra tổ chức «Liên châu Thái Bắc Việt». «Quốc dân địa chủ», tập hợp gần 500 tên phỉ lén lút hoạt động trong vùng Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh (Thanh Hóa). Địch lợi dụng chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng, ngầm đưa một số tên chui vào các tổ chức cơ sở Đảng và các tổ chức chính quyền của ta để chống phá kháng chiến, chia rẽ dân tộc. Chúng lỉên lạc với Pháp ở đồn Sầm Tớ, cấu kết với bọn phản động trong đạo Thiên chúa liên kết gây bạo loạn. Ngày 2 tháng 5, chúng cho 300 tên tập kích một số kho tàng ở cửa hàng mậu dịch dọc đường số 7. Ngày 7 tháng 5 phục kích đơn vị dân công ở Nậm Cắn (gần Noọng Hét) giết tám bộ đội, sáu dân công và cướp gạo muối. Ngày 8 tháng 5, chúng tập kích hậu cứ đại đoàn 304. Những hoạt động này của địch đều nhằm phá hậu phương ta, đỡ đòn cho Thượng Lào đang bị quân ta tiến công. Ngày 10 tháng 5 năm 1953, Bộ tư lệnh Liên khu lệnh cho các địa phương tổ chức một đợt truy quét thổ phỉ, phối hợp với chiến dịch Thượng Lào. Thanh Hóa đưa đại đội 25 (tiểu đoàn 275) cùng lực lượng vũ trang huyện Quan Hóa bao vây cụm phỉ ở khu vực Văn Phố, diệt trên 100 tên, số còn lại chạy vào núi Pu Luông. Đại đội 128 và bộ đội địa phương Lang Chánh, Như Xuân đánh diệt cụm phỉ ở vùng Lê Lai, Sơn Thủy. Đại đội 119 đánh tan phỉ ở vùng Sơn Thủy, diệt 38 tên, thu 17 súng. Trung đội dân quân Nà Ngòi, Mường Típ (Quỳ Châu) Nghệ An diệt 35 tên phỉ trên đường chúng đi cướp lúa. Tiểu đoàn 265 truy quét cụm phỉ ở dọc đường số 7, diệt 34 tên, bắt sống 46 tên. Tiểu đoàn 195 hoạt động ở Mường Tân, Sầm Nhung, Mường Ngan, vừa xây dựng cơ sở, vừa truy quét phỉ, diệt 77 tên, bắt 100 tên. Tên Lò Khăm Thi chủ tịch «Liên châu Thái Bắc Việt» và tên Phạm Bá Chính trùm tổ chức phòng nhì «Giải phóng Liên khu 4» ở miền tây cũng bị tóm cổ. Ở vùng biển, địch tăng cường hoạt động tập kích, lực lượng thường là một đại đội trở lên. Với tổng số 22 lần tập kích ven biển, trong sáu tháng đầu năm 1953 có 13 lần đánh vào Thanh Hóa, sáu lần đánh vào Nghệ An, ba lần đánh vào Hà Tĩnh. Ngày 10 tháng 1, địch cho 112 tên tập kích vào vùng biển Tĩnh Gia (Thanh Hón), phá sập cầu Hang trên đường số 1. Ngày 20 tháng 2 chúng cho 350 tên tập kích xã Nam Bình (Thạch Hà — Hà Tĩnh). Ngoài những hoạt động ném bom, bắn phá thông thường, địch còn dã man cho máy bay thả chất độc hóa học phá hoại hoa màu, giết hại gia súc, hòng triệt nguồn sinh sống của nhân dân ta. Chỉ trong vòng tháng 4 năm 1953, địch đã liên tiếp thả hóa chất độc xuống các khu vực làng Vạn Hà (Thiệu Hóa, Thanh Hóa), các xã Hữu Lộc, Quỳnh Phú, Vạn Phương (Quỳnh Lưu, Nghệ An). Những âm mưu và hành động phá hoại của địch về quân sự, chính trị và kinh tế có gây cho ta một số khó khăn, nhưng chúng không thể ngăn chặn được sự lớn mạnh không ngừng của hậu phương ta. Nhờ sự chỉ đạo tập trung thống nhất, chuẩn bị kế hoạch tác chiến cụ thể, chu đáo, cùng với tinh thần sẵn sàng chiến đấu của bộ đội, công an, dân quân và nhân dân các địa phương, nên các cuộc tập kích của địch đều bị đánh lui, các vùng bị hóa chất độc đã được xử lý. Âm mưu phá hoại của địch không thực hiện được. Hậu phương của ta vẫn được bảo vệ vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi để chi viện tiền tuyến. ______________________________________________ 1. Biên bản hội nghị Liên khu ủy họp ngày 15 tháng 2 năm 1952, lưu trữ ở Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 09:24:23 pm Từ tháng 4 năm 1953, bạn và ta phối hợp mở chiến dịch Thượng Lào trên địa bàn Sầm Nưa —Xiêng Khoảng. Liên khu 4 được giao nhiệm vụ bảo đảm cung cấp cho chiến trường này, Liên khu ủy thành lập Hội đồng cung cấp Liên khu do đồng chí Lê Lộc làm chủ tịch. Tỉnh ủy Nghệ An thành lập «Ban cung cấp chiến dịch» lấy mật danh là: «Ban lâm thổ sản» do đồng chí Dương Văn Dật đại diện tỉnh ủy làm chủ nhiệm, đồng chí Phạm Thành Vinh đại diện ủy ban, hai đồng chí trưởng ty lao động và trưởng kho thóc làm ủy viên. Ba tháng trước khi mở chiến dịch, Trung ương đã giao cho Liên khu làm hai tuyến đường chiến lược quan trọng với tổng kinh phí 3.900 tấn gạo và một triệu 10 vạn ngày công. Nghệ An và Thanh Hóa huy động 73.000 dân công làm đường chiến lược Đô Lương — Nghi Xuân — Vạn Mai, dài 320 ki-lô-mét. Nghệ An còn huy động 6.600 dân công làm đường Đô Lương — Mường Xén dài 170 ki-lô-mét và nạo vét kênh đào Ma Đa. Hà Tĩnh huy động 9.000 dân công làm con đường số 28 Truông Mèn (Hương Sơn) và sửa chữa tuyến đường Linh Cảm — Na Pê — Ba Na Phào. Cuối tháng 3 năm 1953, Ban cung cấp chiến dịch Nghệ An huy động 25.000 dân công, 1.486 xe đạp thồ, 1.066 chiếc thuyền vận chuyển 1.380 tấn gạo, 53 tấn muối, 73 tấn thực phẩm, 60 tấn vũ khí và 1.250 nông cụ từ huyện Anh Sơn lên tỉnh Xiêng Khoảng, đường dài 300 ki-lô-mét. Thanh Hóa tổ chức 35.000 dân công, 4.500 xe đạp thồ, vận chuyển 1.565 tấn gạo, hàng trăm tấn vũ khí lên Sầm Nưa. Dân công được tổ chức chỉ huy chặt chẽ. Phong trào thi đua (tăng cân, tăng chuyến, tăng tốc độ) sôi nổi. Cán bộ, bộ đội, dân công không quản gian khổ, hy sinh, trèo đèo lội suối, vượt qua hàng trăm ki-lô-mét đường rừng, sang phối hợp cùng quân và dân Lào chiến đấu, tất cả vì thắng lợi chung của hai dân tộc. Đại đội 3 dân công huyện Hậu Lộc và đại đội xe thồ thị xã Thanh Hóa đã vinh dự được Bác Hồ tặng cờ danh dự. Cả tỉnh Thanh Hóa được Bác Hồ tặng cờ «Phục vụ tiền tuyến khá nhất». Ngày 18 tháng 5, chiến dịch Thượng Lào kết thúc thắng lợi. Liên quân Việt — Lào giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Xa Lỳ. Chiến thắng Thượng Lào là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Việt Nam — Lào — Cam-pu-chia, có ảnh hưởng trực tiếp tới địa bàn Liên khu 4. Vùng giải phóng được mở rộng liên hoàn, nối liền một dải suốt từ Việt Bắc, Tây Bắc đến Thượng Lào, Trung Lào, Liên khu 4, phá vỡ thế bao vây chia cắt chiến lược của địch từ phía tây, tạo ra một cục diện mới có lợi cho ta để tiến lên giành thắng lợi quyết định trong Đông Xuân 1953— 1954. Chiến thắng Thượng Lào đã phá vỡ vành đai của địch phong tỏa phía tây Thanh — Nghệ — Tĩnh, tạo điều kiện thuận lợi bảo vệ và xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh. Thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào càng cổ vũ quân và dân Liên khu 4 đẩy mạnh tác chiến, đánh bại các cuộc hành quân càn quét, bình định của địch trên chiến trường Bình — Trị — Thiên, đồng thời cảnh giác đập tan mọi âm mưu và hành động của địch, hòng làm suy yếu hậu phương ta, xây dựng Thanh — Nghệ — Tĩnh vững vàng đi lên trong thế trận mới. Tháng 8 năm 1953, các tổ chức phản động và các cụm phỉ ở miền tây Thanh — Nghệ —Tĩnh hoàn toàn tan rã, Lực lượng công an và bộ đội địa phương bắt gọn tổ chức gián điệp ở Ba Làng gồm 80 tên, bọn phản động đầu sỏ đội lốt tôn giáo như Mai Bá Nhạc, Nguyễn Thái Bá, Phạm Tấn đều bị bắt. Chỉ trong vòng chín tháng, quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh đã đánh 65 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 1.738 tên địch. Đi đôi với chiến đấu bảo vệ vững chắc hậu phương và chi viện tiền tuyến, quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh bước vào cuộc đấu tranh mới kết hợp phản đế với phản phong, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến, thực hiện người cày có ruộng. Qua đợt 1 và đợt 2 giảm tô và cải cách ruộng đất trong năm 1953, hơn 1.170.000 nông dân lao động được chia ruộng đất. Cuộc đổi đời này của nông dân lao động đã tạo nên sức mạnh mới cả về vật chất và tinh thần cho hậu phương. Sức sản xuất ở nông thôn được giải phóng, người nông dân làm chủ ruộng đất của mình, càng hăng hái đẩy mạnh sản xuất để cải thiện đời sống và cung ứng nhu cầu tiền tuyến. Mặc dù phần lớn lực lượng lao động trẻ khỏe đã lên đường phục vụ kháng chiến, song sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và thủ công nghiệp ở hậu phương vẫn phát triển. Sản lượng lương thực tăng 12 phần trăm so với năm 1952. Năng suất lúa bình quân đạt 14 tạ một héc-ta. Ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, vừng đều tăng. Tỉnh Thanh Hóa cấy thêm 10.000 héc-ta lúa, Nghệ An trồng thêm 2.290 héc-ta màu. Các tỉnh Bình — Trị — Thiên trồng thêm 9.000 héc-ta sắn, vụ chiêm năm 1953 toàn liên khu được mùa lớn. Sản phẩm công nghiệp, khai thác khoáng sản, lâm sản, chế biến thực phẩm sản xuất hàng tiêu dùng đều tăng từ 10 đến 40 phần trăm. Ngành quân giới mạnh dạn nghiên cứu cải tiến kỹ thuật. Từ sản xuất các loại vũ khí thông thường như súng kíp, lựu đạn, mìn, bom, đã tiến lên sản xuất được các loại vũ khí mới như súng cối 51 mi-li-mét, 60 mi-li-mét, ĐKZ, ba-zô-ka. Xưởng quân giới Vũ Tiến Tới đạt năng suất hơn bảy lần về sản xuất thuốc đạn. Đồng chí Trần Viết Sới sáng chế một dụng cụ nghiền thuốc đạn, đưa năng suất lên gấp ba lần. Nữ công nhân Trương Thị Xin ở xưởng Nguyễn Khoa Cát đã phấn đấu đưa năng suất tiện lên hơn ba lần. Bằng sự nỗ lực của mình, đảng bộ và nhân dân toàn liên khu đã thực hiện thắng lợi các cuộc vận động lớn về sản xuất, tiết kiệm do Trung ương phát động. Để thi hành tốt chính sách thuế nông nghiệp, các tỉnh đã điều động hơn 500 cán bộ huyện ủy viên, gần 1.000 chi ủy viên đi về thôn xã hướng dẫn nhân dân học tập chính sách thuế nông nghiệp, làm cho nhân dân nhận rõ nghĩa vụ của mình về kháng chiến và tính chất công bằng của thuế nông nghiệp. Phong trào thi đua «Đóng nhanh, thóc tốt, quạt sạch, phơi khô» dấy lên khắp các địa phương. Chỉ sau hơn một tháng vận động, toàn liên khu đã nhập kho được 194.000 tấn (ba tỉnh Bình - Trị - Thiên nộp 8.435 tấn) và 3.030 triệu đồng thuế công thương nghiệp trị giá bằng 28.606 tấn thóc. Nhiều địa phương vượt mức trên giao như: Lang Chánh (Thanh Hóa) vượt 13 phần trăm, xã Mai Châu (huyện Quan Hóa) Thanh Hóa vượt 21 phần trăm. Huyện Hậu Lộc (Thanh Hóa) trong 10 ngày nộp đủ 2.763 tấn. Tỉnh Hà Tĩnh đạt 89 phần trăm, tỉnh Nghệ An đạt 98 phần trăm. Thuế nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu để chi viện cho các chiến trường, cung ứng cho các cơ quan Trung ương, các đại đoàn chủ lực đóng trên địa bàn Thanh-Nghệ-Tĩnh và hơn 120.000 đồng bào tản cư, học sinh các trường cao đẳng và dự bị đại học, thương bệnh binh từ các chiến trường gửi về, và là nguồn đầu tư tái sản xuất nông nghiệp. Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, việc chi viện sức người cho chiến trường ngày càng khẩn trương cấp bách. Công tác tuyển quân đòi hỏi đạt cả số lượng và chất lượng cao. Công tác động viên giáo dục tư tưởng, chuẩn bị cho thanh niên lên đường nhập ngũ được các địa phương đặc biệt quan tâm. Các tỉnh đội phối hợp với các ngành, các cơ quan tổ chức đăng ký và khám tuyển, bảo đảm chất lượng và số lượng. Trung đoàn 44 hiệp đồng với các tỉnh nhận quân và luyện quân theo chỉ tiêu và bàn giao kịp thời cho các đơn vị chủ lực. Được giáo dục tinh thần yêu nước, truyền thống của dân tộc và của quê hương, lại được chính quyền, đoàn thể địa phương chăm sóc, hậu phương, gia đình, lớp lớp thanh niên nhận rõ nghĩa vụ vinh quang và vinh dự của mình lên đường tòng quân chiến đấu. Hàng nghìn gia đình có hai đến ba con tòng quân. Thanh — Nghệ — Tĩnh bổ sung quân cho các đại đoàn 304, 325, 320, 316 trên 15.600 tân binh và 1.580 chiến sĩ ở các đoàn thu dung an dưỡng. Cũng trong năm 1953, Trung ương đã điều động 4.309 cán bộ của Liên khu 4 gồm sáu khu ủy viên, 92 tỉnh ủy viên, 803 huyện ủy viên, 2.209 chi ủy viên và hơn 1.000 đảng viên bổ sung cho các cơ quan Trung ương và cho quân đội. 1951 — 1953 là thời kỳ địch họa, thiên tai gây ra không ít khó khăn cho quân và dân Liên khu 4, song được sự chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, được chiến thắng liên tiếp của các chiến trường cổ vũ, biết kết hợp chặt chẽ phương châm chiến đấu đi đôi với xây dựng, nhân dân và các lực lượng vũ trang liên khu đã vượt qua mọi thử thách, xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh, chi viện sức người, sức của ngày càng lớn cho các chiến trường. Hậu phương Thanh — Nghệ — Tĩnh đã trực tiếp chi viện chiến trường Bình — Trị — Thiên và Trung Lào, chi viện sáu chiến dịch: Trung Du, Đường 18, Hà — Nam — Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, góp phần xứng đáng cùng cả nước đưa cuộc chiến tranh chuyển sang thời kỳ mới. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 09:39:06 pm * * * Đông Dương là một chiến trường, đoàn kết các dân tộc trên bán đảo Đông Dương chống kẻ thù chung là lẽ sống còn của mỗi nước. Những kết quả về mở rộng cơ sở chính trị, vũ trang, xây dựng căn cứ kháng chiến ở Trung Lào trong những năm 1945 — 1950 mà quân và dân Liên khu 4 góp phần tích cực đã tạo tiền đề thuận lợi cho cuộc kháng chiến của quân và dân Trung Lào bước vào thời kỳ mới. Ngày 16 tháng 3 năm 1951, Liên khu ủy 4 ra nghị quyết về nhiệm vụ và phương thức hoạt động của bộ đội tình nguyện và cán bộ cơ sở của Liên khu tại chiến trường Lào. Nghị quyết chỉ rõ: «Các lực lượng của ta cùng với bạn kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đưa chiến tranh du kích tiến sâu vào lòng địch, giúp bạn và cùng với bạn bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, củng cố và phát triển mặt trận It-xa-la, xây dựng và bảo vệ căn cứ kháng chiến ở Trung Lào, xây dựng căn cứ du kích ở vùng giáp ranh, tổ chức rộng rãi lực lượng dân quân du kích ở cơ sở, tiến tới xây dựng các đội vũ trang tuyên truyền ở Trung Lào»1. Tháng 4 năm 1951, tại một địa điểm gần biên giới Việt-Lào thuộc địa phương huyện Hương Khê (Hà Tĩnh), quân và dân Trung Lào mở đại hội đại biểu chào mừng kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 Đảng Cộng sản Đông Dương, đón nhận sự kiện trọng đại thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Đại hội biểu thị quyết tâm đoàn kết chiến đấu và hợp tác toàn diện với quân và dân Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Nhờ có sự nỗ lực của bạn và ta, tình hình cách mạng ở Trung Lào chuyển biến một bước đáng kể. Các tổ chức cơ sở mặt trận It-xa-la lần lượt ra đời, cơ sở chính trị vũ trang ở hai tỉnh Xà-vẳn-nạ-khệt và Thà-khẹt được củng cố và phát triển: Đồng chí Nu-hắc, chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu lên công tác ở Trung ương, đồng chí Khăm Tày giữ chức chủ tịch Ủy ban kháng chiến Trung Lào. Đồng chí Thao Ô trực tiếp chỉ đạo xây dựng cơ sở chính trị vũ trang. Đồng chí Xi-phon tổ chức chỉ đạo cơ sở bí mật ở Thà-khẹt. Nhân dân Lào tham gia kháng chiến bằng mọi hình thức từ thấp lên cao, như sản xuất tự cung, tự cấp để chiến đấu, đấu tranh chống áp bức bóc lột, không đóng thuế, không đi lính cho Pháp, tiến lên đấu tranh vũ trang chống địch càn quét, bảo vệ bản làng. Vai trò và uy tín của mặt trận It-xa-la lan rộng trong nhân dân. Trước sự phát triển của phong trào kháng chiến ở Trung Lào, quân Pháp phải thay đổi thủ đoạn đối phó. Chúng tăng cường phòng thủ hai tiểu khu Xà-vẳn-nạ-khệt và Thà-khẹt, điều chỉnh lại đội hình chiếm đóng, xây dựng hệ thống tháp canh bao bọc các vị trí chính, lập các đội biệt kích lưu động kết hợp với gián điệp, kiểm soát khống chế nhân dân, càn quét, đánh phá cơ sở, bắt lính và vơ vét tài sản của nhân dân. Chúng ra sức tuyên truyền, đề cao bọn bù nhìn, gây mâu thuẫn nội bộ dân tộc, chia rẽ tình đoàn kết Việt — Lào, phát chẩn gạo muối để mua chuộc lòng dân, trụy lạc hóa thanh niên để dễ bắt lính. Độc ác hơn, chúng còn trao giải thưởng cho những ai lấy được đầu cán bộ và bộ đội Việt Nam. Các đội cơ sở của ta đã cùng với cán bộ của bạn bám sát nhân dân, cùng ăn, cùng ở, cùng sản xuất với nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị và phát triển lực lượng dân quân du kích. Ban cán sự Trung Lào của ta và Ủy ban kháng chiến Trung Lào của bạn thường xuyên bàn bạc thống nhất chỉ đạo, chỉ huy, phối hợp giải quyết mọi vấn đề chính trị, quân sự, kinh tế trong khu vực. Tiểu đoàn 1 bộ đội tình nguyện hoạt động ở vùng địch hậu Phu-xăng-he. Tiểu đoàn 364 phụ trách đường số 9 và vùng địch hậu Nước Nầm, Na-ha-nậm. Đội 14 công tác ở vùng Pha-băng. Đội 13 công tác ở vùng địch hậu đường số 13. Đội 93 ở Huội Mườn (nam đường số 9). Bộ đội tình nguyện Việt Nam «chấp hành nghiêm chỉnh chính sách dân vận và kỷ luật chiến trường, nêu cao tinh thần quốc tế chân chính, đoàn kết chặt chẽ với cán bộ, bộ đội, nhân dân Lào, sát cánh cùng nhau diệt kẻ thù chung, góp phần đưa lại độc lập, tự do cho hai nước Việt-Lào»2. Các đội công tác bám sát cơ sở, giúp dân sản xuất chữa bệnh, học chữ, hướng dẫn dân quân du kích luyện tập quân sự, học tập chính trị, cùng lực lượng địa phương canh gác bảo vệ làng xóm. Nhân dân tin yêu, coi bộ đội, cán bộ tình nguyện như con em của mình. Đầu năm 1951, Ủy ban kháng chiến Trung Lào kết hợp với Ban cán sự của ta mở hai khóa huấn luyện, đào tạo được 140 cán bộ. Những cán bộ đầu tiên này là vốn quý, làm nòng cốt xây dựng cơ sở Đảng và các đoàn thể quần chúng, các lực lượng vũ trang ở khắp các địa phương Trung Lào. Đêm 19 tháng 2, đội du kích Ba Na Phào phối hợp với một trung đội thuộc tiểu đoàn 2 quân tình nguyện tập kích đồn Nậm Pha Năng, diệt năm tên, bắt hai tên, số còn lại phải bỏ đồn chạy. Ta thu hai súng trung liên, 600 viên đạn. Sau trận này, quân Pháp đã phải cho máy bay chở dây thép gai đến giăng hàng rào bao bọc và phát quang đồn, đề phòng ta tập kích. Để đẩy lực lượng vũ trang ta ra xa, chúng liên tiếp mở các cuộc càn quét, nhưng chúng đi đến đâu cũng bị du kích giật mìn, bắn tỉa. Địch phải cho xe cơ giới đi yểm hộ nhưng không vào sâu được bản làng vì địa hình hiểm trở. Đầu tháng 4, một đại đội Âu — Phi ở Thà Khẹt càn vào xã Con-tăn (Ma Ha Xây). Được đồng bào địa phương báo tin, đội du kích Con-tăn phối hợp cùng đại đội 1 (tiểu đoàn 1) bố trí phục kích diệt tại trận 16 tên, thu 16 súng các loại. Tại khu vực La Ha Nậm — Pắc Xế — Xa-ra-van: tiểu đoàn 364 và du kích địa phương phục kích bốn trận trên đường số 13 diệt 12 xe cơ giới. Địch càn vào Ba Na Phào, Đồng Hến, Nhom Ma Rát, Ma Ha Xây đều bị bộ đội bạn và ta, cùng du kích địa phương chặn đánh. Địch đã không thực hiện được âm mưu thu hẹp vùng căn cứ kháng chiến. Vùng căn cứ của bạn ngày càng được củng có và mở rộng. Nhiều bản làng có phong trào toàn diện và vững chắc như bản Mường Chăn (do cụ Xiêng Chăn cán bộ mặt trận huyện tăng cường và cụ Xiêng Mua, chủ tịch bản phụ trách), Mường Ang Khăm (do cụ Thao Dua làm chủ tịch) là những vùng có tổ chức mặt trận It-xa-la vững và đội du kích mạnh. _______________________________________________ 1. Biên bản hội nghị Liên khu ủy 16 tháng 3 năm 1951. Phần tư liệu Trung Lào 1951, lưu ở Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4. 2. Ý mười điều kỷ luật của bộ đội tình nguyện Khu 4 tại Lào. Hồ sơ lưu trữ 1950 —K.4 Bộ Quốc phòng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười, 2024, 09:42:50 pm Ngày 25 tháng 11, Ủy ban kháng chiến Trung Lào và Ban cán sự Trung Lào họp kiểm điểm tình hình năm 1951. Đồng chí Phu-mi Vông-vi-chít chỉ đạo hội nghị, hội nghị nhận định «do nắm vững phương châm hoạt động với ý thức trách nhiệm đầy đủ của mình, các lực lượng vũ trang Trung Lào và bộ đội tình nguyện Việt Nam đạt một số thắng lợi quan trọng, Ủy ban kháng chiến và mặt trận It-xa-la được kiện toàn, nhiều thôn bản thành lập được chính quyền và các tổ chức quần chúng. Cơ sở cách mạng được củng cố ở một số vùng dọc Trường Sơn như Căm-cốt, Bou La Pha, Tà Ôi, Mường Noòng, Ma Ha Xây, Keng Koọc, Nhom Ma Rát. Hội nghị chỉ rõ những -mặt còn hạn chế trong việc xây dựng chính quyền và mặt trận, chưa thật chú trọng chất lượng chính trị»1. Hội nghị nhấn mạnh tâm quan trọng có tính chất quyết định của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng cơ sở. Tháng 1 năm 1952, ta cùng bạn tổ chức liên tiếp bốn lớp đào tạo cho hơn 300 cán bộ sơ cấp quân sự, chính trị. Đội ngũ cán bộ này đã góp phần quan trọng đưa phong trào kháng chiến toàn khu phát triển. Mặt trận Ít-xa-la đã có 419 tổ chức cơ sở. Lực lượng vũ trang địa phương phát triển mạnh: vùng Ma Ha Xây có hơn 100 du kích, vùng Mường Noòng có 600 du kích và một trung đội bộ đội địa phương, vùng Bou La Pha có 200 du kích và một trung đội bộ đội địa phương, vùng Tha Phay Ban có 1.000 du kích và hai trung đội bộ đội địa phương. Chỉ huy các đơn vị là những cán bộ trung kiên trưởng thành lên từ phong trào kháng chiến. Cuối năm 1952, trung Lào đã có 120 tiểu đội du kích, bốn trung đội, hai đại đội bộ đội địa phương và hai đại đội chủ lực khu. Địch tổ chức liên tiếp nhiều trận còn nhằm đánh phá cơ sở kháng chiến, tiêu diệt lực lượng vũ trang non trẻ của bạn và bộ đội tình nguyện Việt Nam. Ngày 18 tháng 7 hai cánh quân gồm 600 tên từ Xà-vẳn-nạ-khệt và Thà Khẹt càn vào Bou-la-pha, Ăng-khăm. Đại đội 72 và trung đội địa phương cùng dân quân du kích được đồng bào địa phương báo tin, liền bố trí các tổ bắn tỉa, đánh mìn, chông, phục kích nơi hiểm yếu. Ông chủ tịch bản Hom chỉ huy đội du kích đặt sẵn mìn giữa hai phiến đá, nơi địch thường ùn lại trước khi qua suối. Mìn nổ, 14 tên bị diệt, nhiều tên bị thương, cánh quân phía bản Tha Phay Chen cũng vấp mìn và bị bắn tỉa. Cuộc càn của địch bị thất bại. Đội du kích Pha Băng và đội cơ sở 14 phục kích diệt một trung đội địch, tên đồn trưởng Xiêng Tai phải đền tội! Đội du kích Na Khôm và đại đội 6 phục kích diệt hai tiểu đội, bắn chết tên đồn trưởng Sép Tin. Các cách đánh sáng tạo, linh hoạt của du kích và bộ đội ta đã nhằm trúng điểm yếu của địch, làm cho thế mạnh của chúng là quân đông, vũ khí tốt mà không phát huy được. Địch bị tiêu hao mà lực lượng ta được bảo toàn, căn cứ kháng chiến vẫn được giữ vững. Tuy vậy, phong trào đấu tranh trong địch hậu vẫn còn rất nhiều khó khăn. Đi đôi với việc tăng cường khủng bố, bắn giết, địch còn sử dụng các thủ đoạn kinh tế mị dân, như phát tiền truy lĩnh cho những người đi phu năm trước, cho vợ con binh lính được hưởng lương, miễn trừ các thứ thuế và phu phen tạp dịch; người nào ly khai cách mạng về với địch được ưu đãi vật chất, trụy lạc hóa thanh niên, biến họ thành thổ phỉ. Những thủ đoạn thâm độc ấy đã lôi kéo được một số quần chúng lạc hậu và những cán bộ cầu an, hưởng lạc. Một số nơi, cán bộ cơ sở phải bật ra khỏi địa bàn, du kích phải hoạt động bí mật. Đầu năm 1953, Ban cán sự Trung Lào và Ủy ban kháng chiến Trung Lào về cơ sở tuyên truyền vận động, hướng dẫn nhân dân đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn của địch và đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống, củng cố lại phong trào. Đầu năm 1953, cùng với các biện pháp trên, bạn và ta đã tiếp tế đều đặn những công cụ sản xuất thô sơ như: dao, rựa và hàng tiêu dùng như nồi, chảo, vải, gạo, muối cho đồng bào các địa phương, kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh. Được sự thỏa thuận giữa Ủy ban kháng chiến Trung Lào và Bộ tư lệnh Liên khu 4, trung đoàn 120 (đổi thành trung đoàn tình nguyện 280) phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ hoạt động trên các địa bàn giáp ranh đồng bằng. Tháng 4 năm 1953, Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào và Trung ương Đảng ta chủ trương mở chiến dịch Thượng Lào nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, mở rộng vùng giải phóng, phát triển ảnh hưởng của chính phủ kháng chiến Lào. Phối hợp với chiến dịch Thượng Lào, quân và dân Trung Lào cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, buộc chúng phải bỏ 15 vị trí dọc đường số 8, 12, 13, co về phòng thủ trong các đô thị. Trong chiến dịch lịch sử này, quân dân các dân tộc Trung Lào đã đóng góp 1.500 dân công, vận chuyển 80 tấn gạo cung cấp cho tiền tuyến. Tranh thủ thời cơ thuận lợi, liên quân hai tỉnh Nghệ An — Xiêng Khoảng đã tiến hành đợt truy quét bọn phỉ ẩn náu dọc biên giới làm sạch địa bàn vùng giải phóng. Ngày 15 tháng 5 răm 1953, chiến dịch Thượng Lào kết thúc thắng lợi, gần 40.000 ki-lô-mét vuông với 300.000 dân đã được giải phóng. Căn cứ địa kháng chiến của hai nước nối liền một dải. * * * Cùng với các chiến truờng cả nước, Liên khu 4 đã vượt tiếp một chặng đường nữa đầy gian khổ thử thách của cuộc kháng chiến (1951 —1953). Bình—trị—Thiên đã chiến thắng oanh liệt cả địch họa và thiên tai, đánh thắng cả giặc xâm lược và giặc lũ lụt, tiếp tục xây dựng cả lực lượng và thế trận ngày càng vững mạnh. Thanh - Nghệ— Tĩnh đã có bước phát triển mới cả trong xây dựng và bảo vệ hậu phương, xây dựng toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là đã phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất, chiến đấu thắng lợi cả ở vùng ven biển phía đông, vùng biên giới phía tây và các vùng xung yếu trong nội địa. Mặt trận Trung Lào có bước phát triển mới cả của bạn và ta. Đó là những thành quả quý báu và cũng là những mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước trưởng thành của Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh nhân dân trên địa bàn bắc Trung Bộ, đẩy mạnh toàn diện và kết hợp chặt chẽ quân sự và chính trị, phản đế và phản phong, dân tộc và dân chủ, chiến đấu và xây dựng, chiến tranh du kích, chiến đấu tập trung, lực lượng vũ trang địa phương và bộ đội chủ lực, nổi bật là xây dựng đại đoàn chủ lực. Tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cả ở tiền tuyến và hậu phương, dân tộc và quốc tế. Đó cũng là những điều kiện cơ bản, quan trọng để quân và dân liên khu tiến lên giành thắng lợi toàn diện, to lớn hơn nữa trong thời kỳ mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. _____________________________________________ 1. Biên bản hội nghị của Ủy ban kháng chiến Trung Lào và Ban cán sự Trung Lào kiểm điểm năm 1952. Hồ sơ 45 — K4 Bộ Quốc phòng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2024, 08:27:26 pm CHƯƠNG V CÙNG CẢ NƯỚC TIẾN HÀNH CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG XUÂN 1953 -1954, KẾT THÚC VẺ VANG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP Sau chiến thắng Tây Bắc và Thượng Lào, hình thái chung của cuộc chiến tranh và chiều hướng so sánh lực lượng hai bên phát triển ngày càng có lợi cho ta, không lợi cho thực dân Pháp xâm lược. Càng đánh, lực lượng vũ trang ta càng mạnh, liên tiếp giành thắng lợi và ngày càng phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến trường toàn quốc. Thực dân Pháp bị thua đau, hao người tốn của, càng thêm bị động lúng túng. Ngay trong nước Pháp phong trào đấu tranh của nhân dân đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam lên cao. gay cho giới căm quyền nhiều khó khăn, bế tâc. Nguy cơ thất bại trong chiến tranh xâm lược Việt Nam càng đến gần. Trước tình hình đó, chính phủ Pháp một mặt tích cực tranh thủ viện trợ tối đa của Mỹ, mặt khác cố gắng tập trung tiềm lực của nước Pháp nhằm chuyển tình thế bằng một thắng lợi quân sự để kết thúc chiến tranh «trong danh dự”. Được Mỹ viện trợ, thực dân Pháp ráo riết thực hiện kế hoạch Na-va mà trọng tâm là tổ chức khối chủ lực tác chiến mạnh1. Trên cơ sở đó, quân Pháp sẽ chuyển sang thực hành tiến công trên chiến trường Đông Dương. Đến lúc này, ta đã có nhiều biện pháp tích cực tiến hành kết hợp tác chiến với xây dựng ba thứ quân lớn mạnh. Về khối chủ lực cơ động ta đã xây dựng được sáu đại đoàn bộ binh, thêm hai tiểu đoàn pháo 105 mi-li-mét, sáu tiểu đoàn pháo cao xạ 37 mi-li-mét. Các trung đoàn chủ lực của các liên khu, các trung đoàn tình nguyện ở Lào và Cam-pu-chia được củng cố vững mạnh. Bộ đội địa phương với hàng chục tiểu đoàn tỉnh, hàng trăm đại đội huyện được xây dựng đủ sức đánh địch, làm lực lượng nòng cốt cho phong trào chiến tranh du kích tại chỗ và sẵn sàng bổ sung cho bộ đội chủ lực. Dân quân du kích ngày càng phát triển đông đảo và củng cố vững chắc. Sau khi phân tích kỹ tình hình địch và ta, hiểu rõ âm mưu chiến lược mới của địch, nắm chắc hình thái chiến trường, tháng 9 năm 1953 Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953— 1954 nhằm phá vỡ âm mưu chiến lược mới của địch, giành một thắng lợi quyết định làm chuyển biến cục diện cuộc kháng chiến. Nội dung chiến lược của cuộc tiến công lần này là: Giữ vững quyền chủ động, đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng, phối hợp trên phạm vi cả nước và trên toàn Đông Dương. Ở Liên khu 4 vào cuối năm 1953, cục diện chiến trường có nhiều thay đổi. Ngày 15 tháng 10 năm 1953, địch mở cuộc hành quân lớn mang tên Hải Âu (Mouette), đánh ra tây nam Ninh Bình, uy hiếp Thanh Hóa, kết hợp với hành động tập kích ven biển, kích động bọn phản động nội địa quấy rối đánh phá hậu phương, đẩy mạnh hoạt động ở miền tây và ném bom bắn phá các đường giao thông quan trọng, đánh cơ sở kinh tế đông dân ở Thanh — Nghệ —Tĩnh, nhằm ngăn chặn tiếp tế của ta từ hậu phương ra các chiến trường. Trong vùng tạm bị chiếm Bình — Trị — Thiên, địch thực hiện càn quét ác liệt và ra sức bắt lính. Chúng càn quét có trọng điểm vùng đồng bằng đông dân, nhiều của, vùng xung yếu về chính trị và địa bàn quan trọng về quân sự, dồn làng tập trung dân, lập vành đai trắng ven đường số 1 và đường xe lửa. Cuối năm 1953 ở Bình —Trị — Thiên địch đã xây dựng thêm sáu tiểu đoàn, đưa tổng số quân lên trên 30.000 tên, gấp ba lần số quân năm 1949, được tổ chức thành năm tiểu đoàn cơ động, 16 tiểu đoàn chiếm đóng và ba tiểu đoàn pháo. Ở Trung Lào, địch tăng cường hai trung đoàn cơ động đóng giữ các vị trí quan trọng trên các đường số 8, 12, 9 và các thị xã để đối phó với các hoạt động của bộ đội tình nguyện và lực lượng vũ trang cách mạng Lào, đồng thời ngăn chặn các cuộc tiến công của ta từ phía đông sang. Bước vào Đông Xuân 1953 - 1954, trên chiến trường Bình —Trị —Thiên lực lượng tác chiến của ta chỉ có bộ đội địa phương và dân quân du kích2. Tuy vậy được chiến thắng liên tiếp trên chiến trường chính cổ vũ cùng với sự nỗ lực cao độ của quân và dân địa phương, phong trào chiến tranh du kích ở Bình - Trị - Thiên vẫn giữ vững và phát triển. Các cơ sở Đảng, du kích và nhân dân dần dần được phục hồi và mở rộng. Các cơ quan tỉnh ủy, tỉnh đội được kiện toàn, làm cho năng lực lãnh đạo và chỉ huy tác chiến được nâng cao. Ở Thanh—Nghệ —Tĩnh, các đơn vị chủ lực của khu (kể cả đại đoàn 325) và bộ đội địa phương các tỉnh, huyện trưởng thành, kết hợp xây dựng huấn luyện với tác chiến bảo vệ hậu phương, đồng thời sẵn sàng cơ động bổ sung đi các hướng. Cùng với hoạt động của lực lượng vũ trang, không khí gấp rút huy động sức người, sức của phục vụ tiền tuyến, đẩy mạnh sản xuất trở thành phong trào sôi động trong quần chúng. Lực lượng kháng chiến ở Trung Lào cũng phát triển, đang cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam tích cực đánh địch, xây dựng cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho Liên quân Việt-Lào thực hiện thành công kế hoạch tác chiến Đông Xuân. Trên cơ sở phân tích tình hình so sánh lực lượng hai bên tại chiến trường liên khu, quán triệt sâu sắc chủ trương chiến lược mới của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, hiểu rõ nhiệm vụ nặng nề của mình, Liên khu ủy đề ra chủ trương hoạt động cho quân và dân toàn liên khu là: « - Xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Tích cực củng cố căn cứ du kích và phát triển khu du kích, đẩy mạnh hoạt động vùng địch tạm chiếm. Đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích ở đồng bằng và đánh mạnh trên các tuyến giao thông đường số 9, số 1 và đường xe lửa, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính. - Tăng cường xây dựng và phát triển các đơn vị tình nguyện phối hợp giúp đỡ bạn về mọi mặt ở Trung Lào, xây dựng các đơn vị quân giải phóng và phát triển du kích, xây dựng căn cứ kháng chiến và cơ sở nhân dân, chuẩn bị cùng lực lượng của Bộ mở chiến dịch Trung Lào. - Ra sức phục vụ tiền tuyến, tích cực xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; có kế hoạch bảo vệ vững chắc hậu phương chiến lược và đưa lực lượng đi phối hợp chiến đấu ở các chiến trường. Tranh thủ thời gian tiến hành phát động quần chúng giảm tô, cải cách ruộng đất và đẩy mạnh sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp»3. Tình hình mọi mặt của cuộc kháng chiến có nhiều thuận lợi cho quân và dân liên khu hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị và tham gia tác chiến, phối hợp cùng toàn quân, toàn dân đưa cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 đến thắng lợi. _____________________________________________ 1. Theo kế hoạch này thì đến năm 1954, khối chủ lực tác chiến sẽ có 27 sư đoàn cơ động, gấp ba lần số binh đoàn hiện có. 2. Gồm ba tiểu đoàn tỉnh, 17 đại đội huyện, bảy đến tám nghìn dân quân du kích. 3. Nghị quyết hội nghị Liên khu ủy lần thứ 4 (15 đến 21 tháng 12 năm 1953). Tài liệu lưu trữ Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2024, 08:31:34 pm I. XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG, BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG. TẤT CẢ CHO TIỀN TUYẾN ĐÁNH THẮNG Trong Đông Xuân 1953-1954, đối với ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, địch ráo riết chuẩn bị cơ sở chính trị phản động ở nội địa, trắng trợn cấu kết với bọn địa chủ phản động, lợi dụng tôn giáo để hoạt động gián điệp, tình báo, tăng cường hoạt động phỉ, biệt kích, tập kích, kết hợp với dùng không quân đánh phá hậu phương với mức độ ác liệt hơn trước, nhất là đường giao thông chiến lược và hệ thống kho tàng của ta. Tất cả mọi hoạt động của địch đều nhằm thực hiện âm mưu cắt đứt mối liên lạc giữa hậu phương với tiền tuyến, tăng cường phá hoại mùa màng, triệt phá khả năng cung cấp cho các chiến trường. Trên cơ sở đó, phá vỡ kế hoạch tiến công chiến lược Đông Xuân và chuẩn bị đánh ba tỉnh bắc Liên khu là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh với quy mô lớn. Sau bảy năm kháng chiến, lực lượng mọi mặt của quân và dân ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh phát triển vững chắc và trưởng thành toàn diện. Trình độ tổ chức tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích ngày càng tiến bộ. Bước vào Đông Xuân 1953 — 1954 công tác phát động quần chủng giảm tô và cải cách ruộng đất thu kết quả, bước đầu đánh đổ uy thế giai cấp địa chủ, đem lại quyền lợi thiết thực cho nông dân. Trên cơ sở đó nâng cao trình độ giác ngộ chính trị cho quân và dân, động viên mọi lực lượng hăng hái tham gia kháng chiến, tích cực bảo vệ hậu phương, phục vụ tiền tuyến và đẩy mạnh sản xuất, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Ngay từ cuối năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chỉ thị: «Tích cực phá âm mưu địch đánh ra vùng tự do». Chỉ thị vạch rõ âm mưu của địch là cố gắng mở những cuộc tiến công ra vùng tự do của ta nhằm làm yếu hậu phương kháng chiến và phá hoại công cuộc phát động quần chúng giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất. Do đó ta phải tích cực phá âm mưu địch, bảo vệ vững chắc hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến. Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, qua nghiên cứu cụ thể âm mưu và thủ đoạn của địch trên chiến trường liên khu mấy tháng cuối năm 1953, hội nghị Liên khu ủy mở rộng ngày 21 tháng 11 năm 1953 đề ra nhiệm vụ cho quân và dân ba tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh. — Chấn chỉnh tổ chức lãnh đạo, song song với giải quyết thông suốt tư tưởng cho các cấp bộ Đảng và cán bộ các ngành, các cấp. — Bảo đảm trang bị đủ vũ khí cho dân quân du kích đánh giặc, tối thiểu là vũ khí thô sơ tự tạo như bom, mìn, lựu đạn, hầm chông1. — Động viên toàn dân tích cực tham gia bảo vệ hậu phương gắn liền với phục vụ tiền tuyến và đẩy mạnh sản xuất. Nhằm thiết thực bồi dưỡng sức dân, đẩy mạnh kháng chiến, Liên khu ủy tiếp tục chỉ đạo phát động quần chúng giảm tô, giảm tức đợt 3, 4 và 5 cho 195 xã của ba tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh, bao gồm cả vùng theo đạo Thiên chúa và đồng bào các dân tộc ít người, từ miền núi đến miền biển. Tổ chức cho hơn 575.600 nông dân đấu tranh trực diện với 473 địa chủ, truy thu trên 4.300 tấn lương thực chia cho nông dân. Quyền lợi thiết thực và ước mơ ngàn đời của nông dân được thực hiện. Thắng lợi đó một mặt động viên nông dân hăng hái tham gia kháng chiến, tích cực sản xuất và phục vụ tiền tuyến, mặt khác cổ vũ động viên lực lượng vũ trang ngoài mặt trận anh dũng chiến đấu tiêu diệt địch, góp phần đưa kháng chiến đến thắng lợi. Để bảo đảm đời sống nhân dân, đáp ứng nhu cầu cung cấp cho tiều tuyến, Liên khu ủy kịp thời lãnh đạo, tổ chức nhân dân khắc phục mọi khó khăn, đẩy mạnh sản xuất. Do sự lãnh đạo đúng đắn của Liên khu cùng với khí thế chiến thắng liên tiếp trên chiến trường chính và thắng lợi phát động quần chúng giảm tô, giảm tức ở địa phương nên mặc dù hạn hán kéo dài, nhân dân Thanh Nghệ — Tĩnh vẫn không quản ngày đêm, đem hết sức mình chống hạn cứu lúa. Với tinh thần «Mỗi bát nước là một bát cơm » hàng chục vạn nhân dân ngày đêm vật lộn với đất, với nước, đắp đập, khơi mương, tát nước, đào giếng và gánh nước tưới lúa2. Nhờ sự nỗ lực phi thường đó của nhân dân nên trong vụ chiêm 1954, diện tích sản xuất lúa vẫn tăng hơn 6.700 héc-ta so với năm 1953. Cùng với sản xuất nông nghiệp, các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp vẫn phát triển, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và cung cấp cho kháng chiến. Nhiều mặt hàng đạt năng suất cao, hạ giá thành như muối, giấy, nông cụ. Trên cơ sở đẩy mạnh sản xuất, chiến thắng thiên tai, ba tỉnh hậu phương của Liên khu đã ổn định được một phần đời sống hàng ngày của nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương, đáp ứng kịp thời nhu cầu to lớn của kháng chiến. Càng gần thắng lợi cuối cùng càng đòi hỏi phát triển lực lượng lớn. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương: đẩy mạnh xây dựng lực lượng, phát triển bộ đội chủ lực song song với củng cố, kiện toàn bộ đội địa phương và phát triển dân quân du kích. Chấp hành chủ trương của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, Bộ tư lệnh Liên khu đề ra nguyên tắc chung xây dựng lực lượng vũ trang toàn Liên khu. — Liên khu lấy xây dựng đơn vị tiểu đoàn, tỉnh lấy xây dựng đại đội, huyện lấy xây dựng trung đội làm mục tiêu chủ yếu. — Khu rút các đơn vị bộ đội địa phương các huyện và tỉnh lên bộ đội chủ lực phải để lại một đơn vị làm nòng cốt xây dựng đơn vị mới, kịp thời tuyển du kích và thanh niên bổ sung huấn luyện đầy đủ. — Việc xây dựng lực lượng vũ trang phải được coi trọng cả số lượng và chất lượng. Thực hiện chủ trương trên, trong Đông Xuân 1953 — 1954 Liên khu đã xây dựng được: bảy tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn (541) phòng không, một đại đội (98) đặc công liên khu và một trung đoàn 154 công binh của Bộ3 làm cơ sở để xây dựng các trung đoàn 270, 161 của liên khu. Cuối tháng 4 năm 1954, sau khi Bộ rút trung đoàn 53 chủ lực và tiểu đoàn 362 của Nghệ An lên Việt Bắc, lập tức hai đơn vị này được xây dựng lại. Cùng với xây dựng bộ đội chủ lực, việc xây dựng bộ đội địa phương cũng được chú ý đúng mức, kịp thời bổ sung quân số, củng cố và kiện toàn tám tiểu đoàn của sáu tỉnh và đại đội huyện, đồng thời xây dựng thêm bộ đội địa phương cho bốn huyện Nam Đàn, Đô Lương (Nghệ An) và Như Xuân, Cẩm Thủy (Thanh Hóa), phát triển thêm một số trung đội ở các tỉnh trong liên khu. ______________________________________________ 1. Lúc này Bộ tăng cường vũ khí mới cho Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đủ trang bị cho khoảng hai trung đoàn. 2. Trong chống hạn, Thanh Hóa đã huy động 418.531 người tham gia cứu lúa. Các chi đoàn thanh niên huyện Quỳnh Lưu năm ngày liền gánh nước tưới lúa. 3. Bảy tiểu đoàn bộ binh gồm: ba tiểu đoàn của trung đoàn 53 và bốn tiểu đoàn độc lập 266, 291, 310 và 195. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2024, 09:08:43 pm Bên cạnh việc xây dựng bộ đội đủ số lượng, việc nâng cao chất lượng toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ cũng được coi trọng. Thông qua các đợt chỉnh huấn chính trị đã nâng cao nhận thức về bản chất giai cấp của quân đội, xác định mục tiêu lý tưởng của cán bộ, chiến sĩ chiến đấu vì lợi ích sống còn của Tổ quốc, của nhân dân lao động. Từ đó xây dựng cho bộ đội tinh thần sẵn sàng hy sinh chiến đấu, dũng cảm tiêu diệt quân thù. Việc bồi dưỡng kỹ thuật, chiến thuật cho bộ đội dưới mọi hình thức cũng được quan tâm. Huấn luyện tập trung cho bộ đội chủ lực, huấn luyện từng đợt ngắn cho bộ đội địa phương tỉnh và huyện. Sau mỗi đợt huấn luyện đều tổ chức diễn tập kết hợp với sẵn sàng chiến đấu bảo vệ hậu phương trên địa bàn đã quy định cho từng đơn vị. Mở các lớp huấn luyện kỹ thuật đặc công cho các tiểu đoàn tỉnh và đại đoàn 325. Thông qua huấn luyện và diễn tập, trình độ chỉ huy tác chiến của cán bộ, bản lĩnh chiến đấu của bộ đội tiến bộ rõ rệt. Bộ đội chủ lực có đủ khả năng chiến đấu từ một đến hai đại đội trong đội hình tiểu đoàn, bộ đội địa phương chiến đấu được đại đội trong đội hình tiểu đoàn tỉnh, trung đội trong đội hình đại đội huyện trong phục kích và tập kích. Ngoài ra Liên khu và các tỉnh còn mở các lớp bồi dưỡng chiến thuật vận động chiến và công kiên chiến để vận dụng các cách đánh phục kích, tập kích và công đồn, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển chiến đấu, nâng cao hiệu suất tiêu diệt địch. Xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang lớn mạnh có sức chiến đấu cao đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ chỉ huy giỏi vừa có kinh nghiệm chiến đấu, vừa có năng lực quản lý đơn vị. Liên khu chú trọng bồi dưỡng đề bạt cán bộ đã kinh qua rèn luyện trưởng thành trong chiến đấu và công tác. Chỉ riêng ba tháng đầu năm 1954, toàn liên khu đã đề bạt 2.066 cán bộ từ tiểu đội đến trung đội, trong đó có 12 cán bộ trung đoàn đáp ứng cả về số lượng và chất lượng cán bộ để phát triển các đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương1. Liên khu thường xuyên chỉ đạo việc chấn chỉnh xây dựng dân quân du kích, nhất là đối với vùng ven biển và các xã đang thực hiện phát động quần chúng giảm tô. Sự chỉ đạo của Liên khu sát với tình hình thực tế và đúng với quan điểm của Đảng, coi dân quân là lực lượng chiến lược trong chiến tranh giải phóng. Thông qua phát động quần chúng giảm tô, giảm tức để củng cố dân quân du kích, đưa những người không đủ tiêu chuẩn chính trị ra khỏi hàng ngũ, tăng cường quần chúng tích cực được thử thách vào làm đội ngũ dân quân du kích. Các địa phương mở các lớp bồi dưỡng cán bộ xã, thôn, xóm, đội đủ năng lực chỉ huy dân quân du kích, xây dựng và chiến đấu bảo vệ hậu phương2. Đồng thời trang bị bom, mìn, lựu đạn và huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật cho dân quân du kích, nên chất lượng chiến đấu được nâng lên một bước mới. Bảo đảm được nhiệm vụ canh gác bố phòng, giữ gìn an ninh thôn xóm và cùng với bộ đội tác chiến bảo vệ hậu phương. Công tác tuyển quân, huấn luyện tân binh giữ vai trò quan trọng và cấp bách trong việc phát triển lực lượng. Sau khi hoàn thành kế hoạch tuyển quân năm 1953, Liên khu chủ động tuyển 4.000 tân binh cho kế hoạch đầu năm 1954. Do yêu cầu cấp bách phải đáp ứng sự phát triển mới của chiến trường, Bộ Tổng tư lệnh đã giao chỉ tiêu tuyển quân cho Liên khu 4 tăng gấp ba lần so với kế hoạch đầu năm 19543. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyển quân, đảng ủy các cấp tỏa xuống cơ sở tuyên truyền giáo dục nhân dân nhận rõ nhiệm vụ, động viên thanh niên sẵn sàng tòng quân giết giặc. Được thắng lợi của phát động quần chúng giảm tô, giảm tức và chiến thắng trên các chiến trường cổ vũ, nhân dân càng phấn khởi động viên chồng, con, anh em lên đường nhập ngũ. Hầu hết thanh niên đều xung phong tòng quân đánh giặc cứu nước. Tinh thần đó được phản ánh sinh động trong phong trào tuyển quân của toàn liên khu, nhất là ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình, điển hình là huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) chỉ tiêu tuyển quân 57 người mà có tới 639 người xung phong nhập ngũ; huyện Ngọc Lạc (Thanh Hóa) chỉ tiêu tuyển 100 người, đã có 676 người xung phong đi tuyển; tỉnh Quảng Bình chỉ lấy 250 người đã có 700 người xung phong. Hầu như cả liên khu đâu đâu cũng đều sôi động phong trào tòng quân như vậy. Chỉ trong sáu tháng đầu năm 1954, Liên khu cung cấp cho Bộ 14.553 tân binh, chưa kể quân số của trung đoàn 53 và tiểu đoàn 362 mà Bộ đã điều gọn toàn đơn vị lên Việt Bắc. Ngoài ra còn tuyển 1.833 tân binh để phát triển bộ đội chủ lực của liên khu. Kết quả đạt được trên đây thể hiện sự nỗ lực rất lớn của nhân dân Liên khu 4, nhất là ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh cho kháng chiến. Đồng thời thể hiện sự lãnh đạo đúng đắn và ý chí kiên quyết của Liên khu ủy và đảng ủy các cấp. Do đó đã huy động được sức mạnh to lớn của toàn dân, cung cấp lực lượng cho các chiến trường với tinh thần «tất cả cho tiền tuyến đánh thắng». Thắng lợi của phát động quần chúng giảm tô, giảm tức và đẩy mạnh sản xuất cùng với chiến thắng liên tiếp ngoài mặt trận truyền về, tạo ra yếu tố tinh thần, vật chất to lớn để quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh thực hiện thắng lợi nhiệm vụ “Chuẩn bị đánh địch tấn công ra vùng tự do», bảo vệ vững chắc hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến. Ngay từ những ngày đầu Đông Xuân, chỉ thị Trung ương Đảng đã được Liên khu tổ chức học tập từ cơ quan liên khu xuống tỉnh, huyện và cơ sở, làm cho mọi người hiểu rõ âm mưu của địch, nhận thức đầy đủ nhiệm vụ bảo vệ hậu phương. Không khí chuẩn bị sẵn sàng đánh địch, bảo vệ hậu phương trở thành phong trào sôi nổi trong các ngành, các cấp, trong cán bộ chiến sĩ và nhân dân. Các cấp ủy Đảng xuống tận cơ sở tập trung lãnh đạo, tổ chức chuẩn bị mọi mặt cho dân, tổ chức tập dượt phòng tránh đánh địch, cất giấu của cải, sơ tán kho tàng và tập dượt sơ tán dân. Các địa phương chủ động tổ chức canh gác, bố phòng, phối hợp chặt chẽ với công an sẵn sàng đánh địch. Do đó khi bị địch đánh phá, nhân dân đỡ bị tổn thất. Cùng với lãnh đạo, tổ chức phòng tránh, Liên khu kịp thời xác định nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang ba thứ quân kết hợp huấn luyện với sẵn sàng chiến đấu bảo vệ bậu phương, đồng thời tiến hành điều chỉnh việc bố trí lực lượng sát với yêu cầu nhiệm vụ trên từng địa bàn ở Thanh — Nghệ — Tĩnh, nhất là miền núi và miền biển. Tăng cường vũ khí cho bộ đội và du kích, hướng dẫn cho du kích làm hầm chông bố trí ở các địa bàn xung yếu. Do được chuẩn bị chu đáo, toàn diện, nên tất cả các cuộc biệt kích, tập kích, nhảy dù và hoạt động phỉ của địch vào hậu phương Khu 4 đều bị lực lượng vũ trang địa phương kịp thời đánh trả quyết liệt và giành thắng lợi. Các cuộc biệt kích của địch vào Nhượng Bạn, Nam Bình (Hà Tĩnh), biệt kích nhảy dù vào Nghĩa Môn, Đồng Lách, Phủ Quỳ (Nghệ An) và Quan Hóa, Bá Thước (Thanh Hóa) đều bị ta tiêu diệt gọn. Đặc biệt là hai trận biệt kích lớn của địch vào ven biển Thanh Hóa đã bị bộ đội địa phương và du kích chặn đánh quyết liệt. _______________________________________________ 1. Cả năm 1954, Liên khu đề bạt 3.704 cán bộ các cấp, trong đó 78,8% thuộc thành phần công nông. Cử 95 cán bộ từ trung đội đến tiểu đoàn ra học tại các trường của Bộ. 2. Sáu tháng đầu năm 1954, Liên khu bồi dưỡng được 651 cán bộ xã đội, 2.254 cán bộ thôn, xóm, đội. 3. Kế hoạch đầu năm 1954, Bộ giao cho Liên khu tuyển 4.200 tân binh cho Bộ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2024, 09:09:30 pm Ngày 19 tháng 5 năm 1954, địch cho 125 tên biệt kích với năm tàu chiến và ca-nô, có máy bay yểm hộ đổ bộ lên Cự Nham (huyện Quảng Xương). Vừa đặt chân lên bờ chúng đã bị bộ đội và du kích chặn đánh diệt 16 tên, buộc phải rút lui. Ngày 22 tháng 5, 350 tên địch cùng tàu chiến và ca-nô có máy bay yểm hộ đổ bộ lên Du Xuyên (huyện Tĩnh Gia). Với tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, cấp ủy và chính quyền ở đây đã kịp thời hướng dẫn nhân dân sơ tán tránh địch và tổ chức dân quân du kích nhanh chóng triển khai tác chiến kìm chân địch. Tỉnh đội cho bộ đội nhanh chóng vận động đến phối hợp với du kích đánh trả quyết liệt, 121 tên địch bị chết, âm mưu biệt kích của địch bị đập tan, ta đã bảo vệ được nhân dân và địa bàn. Phối hợp với đánh địch ở miền biển, bộ đội địa phương cùng lực lượng công an và đồng bào các dân tộc ít người, cùng du kích miền tây Thanh — Nghệ — Tĩnh tích cực phát hiện và tổ chức tiễu phỉ, khám phá, truy lùng, tiêu diệt và đánh tan nhiều ổ phỉ, bắt và tiêu diệt nhiều tên phỉ đầu sỏ như Lý Đoàn ở Nghệ An, Phạm Bá Thiện ở Thanh Hóa. Ngày 15 tháng 4 năm 1954, địch cho 49 tên phỉ nhảy dù xuống Hồi Xuân nhằm phá kho tàng, đường sá, cản trở sự chi viện từ hậu phương ra tiền tuyến của ta. Lập tức bộ đội địa phương và du kích tổ chức bao vây bắt gọn cả 49 tên, thu toàn bộ vũ khí. Ở nội địa, thông qua phát động quần chúng, công an ta đã khám phá nhiều ổ phản động tay sai địch, kịp thời trừng trị đích đáng. Do đó trật tự trị an ở nội địa bảo đảm tốt, cơ quan kho tàng và công xưởng được bảo vệ vững chắc. Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, địch phải rút một số vị trí ở nam đồng bằng Bắc Bộ. Do đó, bọn địch ở Nga Sơn trở nên cô lập. Khi bị bộ đội địa phương tỉnh Thanh Hóa phối hợp với dân quân du kích Nga Sơn tiến công, chúng vội vàng rút khỏi Nga Sơn. Tháng 6 năm 1954 huyện Nga San được hoàn toàn giải phóng. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bước vào giai đoạn giành thắng lợi quyết định, nên yêu cầu bảo đảm cung cấp cho bộ đội đánh thắng trên các hướng chiến dịch cũng trở nên cấp bách. Để giải quyết vấn đề cung cấp to lớn cho các chiến trường, Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao cho Liên khu 4 bảo đảm cung cấp hai hướng chiến lược quan trọng là Trung Lào và Điện Biên Phủ, trong đó tỉnh Thanh Hóa và một phần tỉnh Nghệ An cung cấp cho chiến dịch Điện Biên Phủ, tỉnh Hà Tĩnh và một phần tỉnh Nghệ An cung cấp cho chiến dịch Trung Lào. Nhiệm vụ đó phải hoàn thành vào cuối năm 1953 đầu năm 1954. Nhận nhiệm vụ của Bộ Chính trị giao cho trong điều kiện Liên khu đang gặp khó khăn rất lớn, vừa mới dốc sức hoàn thành cung cấp cho hai chiến địch Tây Bắc (cuối năm 1952) và Thượng Lào (giữa năm 1953), nên khả năng dự trữ của Liên khu lúc này đã cạn. Trong khi đó thiên tai, địch họa liên tiếp xảy ra, các hệ thống thủy lợi bị địch đánh phá làm cho vụ mùa năm 1953 thiệt hại nặng, vụ chiêm 1954 lại gặp rét và hạn hán trên cả ba tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh, đời sống nhân dân và cán bộ khó khăn thiếu thốn. Tuy vậy, quyết tâm của Liên khu và ba tỉnh là gấp rút chuẩn bị gần 5.000 tấn lương thực, thực phẩm sẵn sàng ở các trạm tập kết để đi theo bộ đội sau khi chiến dịch bắt đầu và phát triển. Liên khu còn huy động dân công làm mới con đường Nam Đàn — Rú Chét, Linh Cảm — Khe Giao. Sửa chữa đường Khe Giao — Địa Lợi — Chu Lễ — Tân Ấp — Xóm Cục; Linh Cảm — Phố Châu — Na Pê. Công nghiệp đóng phà lúc này còn chậm, phải sáu tháng thi công mới xong một chiếc phà. Sau khi đã có gạo, thực phẩm và sửa chữa xong các tuyến đường giao thông, Liên khu đã huy động gần 53.000 người, 2.217 xe đạp thồ, 342 xe cút kít, 1.048 thuyền vận tải lớn, nhỏ vận chuyển số lương thực đã chuẩn bị vào các trạm, kho vừa mới làm đạt yêu cầu tiện lợi và bí mật. Dân công được biên chế như một tổ chức quân sự từ tổ ba người trở lên, có các đồng chí đảng viên, quần chúng tích cực phụ trách chỉ huy trung đội, đại đội, tiểu đoàn. Các tổ chức Đảng được thành lập các địa phương cử các cấp ủy viên trực tiếp phụ trách. Các công an viên được cử đi theo các đoàn dân công để làm công tác bảo vệ nội bộ. Các phương tiện bảo đảm cho dân công được chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, từ gạo ăn đường, thực phẩm, bao bì, bồ thúng, quang gánh, đến bông băng, nhân viên cứu thương, trạm cấp cứu, các trạm ăn, nghỉ dọc đường... Lực lượng dân công hỏa tuyến bảo đảm hai chức năng, vừa vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí cho bộ đội, vừa chuyển thương binh, liệt sĩ vô hậu tuyến. Dân công hỏa tuyến được chọn lựa trong số thanh niên, thanh nữ có tinh thần, đủ sức khỏe đuổi theo bước hành quân chiến đấu của bộ đội. Với tinh thần đó, Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh, nam Nghệ An đã bảo đảm tốt việc phục vụ cho chiến dịch Trung Lào, góp phần rất quan trọng đưa chiến dịch Trung Lào đến thắng lợi. Thi đua với Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh và nam Nghệ An, Đảng bộ Thanh Hóa và bắc Nghệ An đã dốc hết nhân tài, vật lực phục vụ cho hướng chiến dịch Điện Biên Phủ: hơn 8.000 tấn lương thực, 2.000 tấn thực phẩm khô tập kết đầy đủ ở Vạn Mai, Mộc Châu, Yên Châu. Để bảo đảm được một khối lượng lương thực, thực phẩm đến các vị trí trên, Liên khu đã huy động lực lượng công binh đánh mìn, phá thác, khai thông đường thủy ngược dòng sông Mã, đồng thời sửa chữa đường bộ cho ô tô, người đi bộ, xe thồ thông suốt và bí mật. Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa, bắc Nghệ An đã phải huy động lượng lương thực dự trữ phân tán trong từng hộ gia đình nông dân, trong lúc lượng dự trữ của nông dân đã cạn. Khó khăn chồng chất khó khăn, đồng chí Bí thư Liên khu ủy cùng các đồng chí tỉnh ủy Thanh Hóa, Nghệ An đã trực tiếp xuống các địa phương giúp các cấp ủy địa phương tiến hành huy động đợt lương thực, thực phẩm cấp bách và quan trọng này. Ở Nghệ An, tỉnh ủy phát lệnh tổng động viên vào sáng mồng một Tết Nguyên đán (1954). Hơn 30.000 dân công, 2.000 xe đạp thồ cùng hàng ngàn thanh niên xung phong rầm rập lên đường ra tiền tuyến. Bước một của công tác huy động lương thực cho chiến dịch Điện Biên Phủ đang được Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa, Nghệ An triển khai thì ngày 15 tháng 4 năm 1954, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng thay mặt Tổng quân ủy vào sở chỉ huy tiền phương của Liên khu ở Cẩm Thủy (Thanh Hóa) trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Bí thư Liên khu ủy và đại diện Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa huy động thêm 2.000 tấn gạo, 147 tấn thực phẩm và muối để thực hiện cho được quyết tâm của Trung ương: «Tất cả cho chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng». Ngày 5 tháng 5 năm 1954 phải có đủ số lượng ở nơi quy định. Đề có đủ số lương thực, thực phẩm trên, nhân dân lại «dốc bồ, thổ thúng» ăn ngô non, khoai non, dành gạo cho chiến sĩ chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Tính chung, tại chiến dịch Điện Biên Phủ riêng Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã huy động 30 phần trăm số cử tri, trên 10.000 xe đạp thồ đi phục vụ chiến dịch. Nhiều kiện tướng vận chuyển xuất hiện trên đường vận tải, chiến sĩ Ma Văn Kháng đã thồ 352 ki-lô-gam một chuyến xe, chiến sĩ Cao Văn Tỵ 320 ki-lô-gam một chuyến. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đánh bại kế hoạch Na-va, giành thắng lợi quyết định, kết thúc chiến tranh, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu đã từng bước giải quyết các mối quan hệ dân tộc và dân chủ, hậu phương với tiền tuyến. Thanh — Nghệ — Tĩnh sớm thực hiện giảm tô, giảm tức đem lại quyền lợi thiết thực cho nông dân, do đó thúc đẩy nhiệm vụ tác chiến bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng và phục vụ tiền tuyến. Trên cơ sở đó, Liên khu đã tổ chức động viên được lực lượng to lớn, quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn, nỗ lực phấn đấu cao độ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng chi viện và phục vụ tiền tuyến. Sự nỗ lực phi thường của quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh là một trong những nhân tố có tính chất quyết định cùng với cả nước giành thắng lợi to lớn cho cuộc tiến công chiến lược trong Đông — Xuân năm 1953 — 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2024, 09:11:17 pm II. THAM GIA CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG —XUÂN 1953 — 1954 Chủ trương của Bộ Chính trị Trung ương Đảng cũng như chủ trương cụ thể của Liên khu ủy đã và đang trở thành hành động cách mạng của quần chúng. Cả liên khu sôi nổi bước vào chuẩn bị mọi mặt để cùng quân và dân cả nước tiến hành cuộc tiến công chiến lược Đông — Xuân 1953— 1954. Khẩn trương chuẩn bị lực lượng Cuộc kháng chiến của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược bước vào giai đoạn cuối cùng. Mọi nhu cầu bảo đảm cho kháng chiến đòi hỏi rất lớn. Để đáp ứng yêu cầu đó, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh sớm giao cho Liên khu 4 nhiệm vụ nặng nề và rất quan trọng: — Tham gia cùng quân và dân nước bạn mở chiến dịch Trung Lào. — Tác chiến bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng và bảo đảm cung cấp mọi nhu cầu phục vụ chiến dịch Trung Lào và chiến dịch Điện Biên Phủ. — Đẩy mạnh chiến tranh du kích ở chiến trường Bình — Trị — Thiên, tiêu hao, tiêu diệt và kìm chân địch, phối hợp với chiến trường chính. Để thực hiện những nhiệm vụ trên, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu đã phát huy tinh thần chủ động, linh hoạt, lãnh đạo, tổ chức quân và dân toàn Liên khu gấp rút chuẩn bị lực lượng và thế trận. Tháng 11 năm 1953, trung đoàn 53, trung đoàn chủ lực thứ nhất của Liên khu được thành lập. Cuối năm 1953 xây dựng trung đoàn 270 chuẩn bị vào hoạt động ở Bình — Trị — Thiên. Từ đầu năm 1954 trở đi, các tiểu đoàn, trung đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng của Liên khu và của Bộ lần lượt ra đời trên chiến trường Liên khu 41. Bộ đội địa phương các tỉnh, huyện ngày càng phát triển với tám tiểu đoàn tỉnh và 60 đại đội huyện. Dân quân du kích ngày càng được củng cố vững chắc. Sau khi hoàn thành kế hoạch tuyền quân năm 1953, Liên khu chủ động tuyển thêm 4.000 tân binh cho kế hoạch năm 1954. Trung đoàn 44 tích cực huấn luyện tân binh và bổ sung hàng ngàn quân cho các đơn vị, đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu thường xuyên và đột xuất của Bộ. Triển khai kế hoạch tác chiến Đông —Xuân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao cho Liên khu 4 phải bảo đảm đủ số lượng dân công, lương thực, thực phẩm, thuốc men theo chỉ tiêu đã được phân bổ. Ngoài ra, phải bảo đảm giao thông thông suốt cho các hướng chiến lược. Nhận rõ yêu cầu khẩn thiết của nhiệm vụ, mặc dù khó khăn rất lớn, Liên khu ủy vẫn quyết tâm lãnh đạo quân và dân toàn liên khu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Phần lớn cán bộ từ liên khu đến các tỉnh, huyện đều xuống cơ sở trực tiếp động viên, giáo dục nhân dân, bố trí lực lượng, huy động nhân lực và của cải để vừa bảo đảm cung cấp kịp thời mọi nhu cầu của chiến trường, lại vừa bảo đảm được sản xuất, ổn định đời sống và các hoạt động khác ở hậu phương. Nhờ sự lãnh đạo, tổ chức chặt chẽ, chu đáo, nên đã động viên được tinh thần hăng hái của nhân dân đóng góp sức người và sức của phục vụ tiền tuyến. Liên khu đã huy động được hàng chục vạn tấn lương thực, thực phẩm và thuốc men, hàng chục vạn dân công dài hạn, ngắn hạn làm nhiệm vụ giao thông vận tải cho các hướng mở chiến dịch. Liên khu ủy quyết định đồng chí Hoàng Anh, Bí thư Liên khu ủy trực tiếp chỉ đạo Thanh Hóa phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ; thành lập Ban cung cấp mặt trận D (mặt trận Trung Lào) do đồng chí Nguyễn Văn Thân, khu ủy viên phụ trách. Sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng vũ trang, về sức người và sức của phục vụ tiền tuyến đã tạo cơ sở vững chắc cho quân và dân Liên khu 4 cùng với cả nước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong cuộc tiến công chiến lược Đông —Xuân mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. ______________________________________________ 1. Tháng 1 năm 1954, xây dựng trung đoàn 161 bộ binh, trung đoàn 154 công binh của Bộ, đại đội 98 đặc công, thông tin, tháng 4 năm 1954, xây dựng tiểu đoàn 541 phòng không của Liên khu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2024, 09:13:46 pm Tham gia chiến dịch Trung Lào Tháng 11 năm 1953, trước khi ta và bạn mở chiến dịch, lực lượng địch ở Trung Lào có năm tiểu đoàn, chủ yếu là quân ngụy Lào đóng rải rác trên các đường số 8, 12 và 9 là chính. Ngoài ra ở Sê Nô còn có hai đại đội. Tuyến phòng thủ của địch còn sơ sài. Đầu tháng 12 năm 1953, phát hiện được lực lượng và hướng tiến công của ta, địch vội vàng điều đến Trung Lào sáu tiểu đoàn cơ động và một tiểu đoàn pháo để đối phó1. Chúng tổ chức phòng ngự thành nhiều tuyến trên đường số 8 và số 12, ra sức củng cố công sự, nhất là các vị trí then chốt như Ba Na Phào, Na Pê. Ngoài việc tăng cường phòng ngự, địch tổ chức các cuộc tiến công ra vùng căn cứ du kích của bạn và ta ở Trung Lào, thọc sâu ra vùng biên giới Việt— Lào để thăm dò lực lượng ta. Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu khẩn trương lãnh đạo, chỉ huy công tác chuẩn bị chiến dịch. Củng cố trung đoàn 280 tình nguyện đủ ba tiểu đoàn, tổ chức các đại đội độc lập, tăng cường 200 cán bộ cho Ban cán sự Trung Lào. Đồng chí Võ Thúc Đồng, Chính ủy Liên khu được cử sang trực tiếp làm Bí thư Ban cán sự và Chính ủy quân tình nguyện. Đồng chí Trường Sinh, trung đoàn trưởng trung đoàn 280 và đồng chí Bí thư Ban cán sự cùng với đồng chí Khăm Tày, Tư lệnh khu Trung Lào họp bàn chuẩn bị lực lượng và thống nhất kế hoạch hoạt động phối hợp trên chiến trường; tổ chức các lớp đào tạo cán bộ tỉnh, huyện và xã ở Trung Lào để chuẩn bị thành lập chính quyền và tiếp thu vùng mới giải phóng. Đồng thời cán bộ ta phối hợp với bạn đi vào từng xã, bản vận động nhân dân, xây dựng cơ sở lực lượng vũ trang ở vùng Ma Ha Xây, Bou La Pha, Tà Ôi, Mường Noòng, ven đường số 9 và Căm Cớt, tổ chức được năm đại đội Pa-thét Lào, động viên nhân dân Lào đóng góp lương thực, thực phẩm để phục vụ chiến đấu. Thành lập các trạm vận tải từ Nghệ —Tĩnh sang Trung Lào, huy động hàng chục vạn dân công và nhiều phương tiện vận chuyển lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược cung cấp cho chiến dịch. Tổ chức 2.000 thanh niên xung phong ở Nghệ — Tĩnh đi cùng các mũi tiến công của đại đoàn 325 trong chiến dịch Trung Lào. Mọi việc chuẩn bị đã hoàn thành, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở cuộc tiến công địch ở Trung Lào. Đại đoàn 325 có nhiệm vụ tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một phần đất đai và một bộ phận nhân dân, mở rộng và củng cố vùng giải phóng Trung Lào, cắt đứt đường giao thông Bắc - Nam Đông Dương của địch, buộc chúng phải điều quân cơ động đến giữ Trung Lào và do đó phá thế tập trung quân của tướng Na-va ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ; đồng thời phá thế uy hiếp của địch đối với ba tỉnh Thanh —Nghệ — Tĩnh, bảo vệ hậu phương chiến dịch, phối hợp chặt chẽ với các đòn tiến công khác của ta trong Đông — Xuân 1953 - 1954. Phương châm tác chiến là chủ động, linh hoạt, bí mật, bất ngờ, đánh chắc, diệt gọn. Về sử dụng lực lượng: — Trung đoàn 101, tiểu đoàn 274 của trung đoàn 18 thuộc đại đoàn 325, cùng với trung đoàn 66 thuộc đại đoàn 304 làm nhiệm vụ đánh địch, giải phóng một phần Trung Lào. — Tiểu đoàn 436 thuộc trung đoàn 101 được tăng cường ĐKZ-75 ly, đặc công, trinh sát làm nhiệm vụ thọc sâu xuống Hạ Lào cùng với bộ đội tình nguyện và quân giải phóng Lào tiến công tiêu diệt địch, giải phóng một phần Hạ Lào. Các tỉnh ủy Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên phải bảo đảm dân công, lương thực, thực phẩm cho tiểu đoàn 436 hành quân trên địa phận tỉnh mình. Trung đoàn 18 (thiếu một tiểu đoàn) giai đoạn đầu phối hợp với lực lượng vũ trang Bình — Trị — Thiên đánh địch ở đường số 9 — Quảng Trị, cắt đứt đường tiếp viện Trung Lào của địch, tiếp đó theo đường số 9 phát triển đánh địch ở Sê Pôn, Mường Phìn. — Trung đoàn 95 ở lại Hà Tĩnh làm lực lượng dự bị của Bộ. Trước mắt, đơn vị cùng với bộ đội địa phương và du kích Hà Tĩnh sẵn sàng đánh địch, giữ vững hậu phương chiến dịch. Tham gia chiến dịch còn có lực lượng vũ trang Trung Lào, Ban cán sự, đoàn công tác cơ sở, trung đoàn 280 quân tình nguyện Liên khu 4 và tiểu đoàn 290 Hà Tĩnh đang hoạt động ở đây cùng phối hợp tác chiến. Liên khu tăng cường đại đội 124 huyện Thanh Chương lên hoạt động ở vùng Căm Cớt, một đại đội của huyện Con Cuông và tiểu đoàn 198 Nghệ An được tăng cường bộ đội trinh sát, đặc công hoạt động ở vùng Pắc Xan. Cuối tháng 11 năm 1953, các đơn vị tiến quân vào các hưởng chiến dịch đã quy định. Ngày 19 tháng 11 năm 1953, tại địa điểm tập kết, đồng chí Phùng Duy Phiên, tham mưu trưởng mặt trận phổ biến kế hoạch tác chiến cho cán bộ đại đoàn 325. Ngày 12 tháng 12 năm 1953, trong lúc các đơn vị đang hành quân cài thế đánh địch ở Trung Lào thì ở chiến trường chính Bắc Bộ, đại đoàn 316 nổ súng tiến công giải phóng Lai Châu. Cuộc tiến công chiến lược Đông — Xuân 1953 - 1954 bắt đầu. Ở mặt trận Trung Lào, ngày 21 tháng 12 năm 1953, trung đoàn 101 do đồng chí Trần Văn Bành làm trung đoàn trưởng và đồng chí Hoàng Văn Thái làm chính ủy chỉ huy đơn vị tiến quân vào Khăm He thì gặp địch, trung đoàn dùng hai tiểu đoàn 328 và 274 bất ngờ tập kích địch vào mờ sáng ngày 22 tháng 12, tiêu diệt một tiểu đoàn Âu —Phi và đại đội pháo 105 mi-li-mét, làm chủ trận địa. Trận Khăm He là trận mở màn chiến dịch thắng lợi giòn giã, đánh một đòn mạnh vào tinh thần binh lính địch ở Trung Lào. Phát huy thắng lợi vừa giành được, rạng sáng ngày 23 tháng 12, toàn đơn vị đồng loạt nổ súng tiến công địch ở Kha Ma. Sau năm giờ chiến đấu quyết liệt, ta đã tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn Bắc Phi, bắt 90 tên. Chiến thắng Kha Ma mở đường cho ta đập nát tuyến phòng ngự đường số 12 của địch. Sau hơn một ngày chiến đấu, trung đoàn 101 và tiểu đoàn 274 đã tiêu diệt hai cứ điểm lớn, làm rung chuyển toàn bộ tuyến phòng thủ phía đông của địch ở Trung Lào, khiến cho tinh thần binh lính chúng suy sụp nhanh chóng. Địch vội vàng tháo chạy khỏi các vị trí còn lại ở đường số 8 và đường số 12 về Nhom Ma Rát và Thà Khẹt cố thủ để giữ con đường giao thông huyết mạch Bắc — Nam Đông Dương. ______________________________________________ 1. Tám tiểu đoàn cơ động gồm ba tiểu đoàn thuộc binh đoàn cơ động số 2 (GM2) và ba tiểu đoàn lẻ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2024, 09:14:47 pm Trước tình thế hỗn loạn của địch, Bộ chỉ huy mặt trận chỉ thị cho tất cả các đơn vị ở Trung Lào gấp rút đánh vào các mục tiêu đã quy định. Trưa ngày 23 tháng 12 năm 1953, trung đoàn 66 tiến đến đông bắc Ba Na Phào thì được tin địch rút khỏi Mụ Giạ và Ba Na Phào về hướng Pà Cuội. Quyết không cho địch chạy thoát, tiểu đoàn 782 được cán bộ cơ sở của ta và du kích Lào dẫn đường đã chạy tắt rừng đuổi địch đang rút chạy bằng xe cơ giới. Quân ta nhanh chóng vượt sông Sê Băng Phai, tiến công tiêu diệt tiểu đoàn Bắc Phi số hai và bọn ngụy Lào ở Pà Cuội. Cùng ngày, Trung đoàn 101 phối hợp với đơn vị bộ đội tình nguyện, liên tiếp tiến công quét sạch các cụm chốt chặn và các ổ kìm kẹp của địch dọc đường số 12 từ cầu Bi Lan đến Na Hang. Hai ngày sau, quân ta tiến vào Nhom Ma Rát thì địch đã rút hết. Trong thời gian này, trên đường số 6, quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pa-thét Lào đánh chiếm Pắc Xan, mở chốt quan trọng trên đường số 13, cắt đứt giao thông giữa Thượng Lào với Trung Lào. Tiểu đoàn 319 thuộc trung đoàn 101 và đại đội 12 quân tình nguyện về chậm, nên khi tới Lạc Xao, Na Pê, Căm Cớt thì địch đã rút hết bằng máy bay về Xà-vẳn-nạ-khệt ngày 25 tháng 12, bỏ lại 74 xe ô tô quân sự. Trước sức tiến công mãnh liệt của Liên quân Việt — Lào, địch không đủ sức cố thủ Thà Khẹt, đã tháo chạy thục mạng về Sê Nô. Sáng ngày 26 tháng 12 năm 1953, trung đoàn 101 và bộ đội Pa-thét Lào tiến vào giải phóng thị xã Thà Khẹt. Sau năm ngày liên tục chiến đấu, bộ đội Việt — Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 2.200 tên địch, hầu hết là lính Âu—Phi tinh nhuệ, giải phóng hoàn toàn tỉnh Khăm Muộn và thị xã Thà Khẹt, cắt đứt Thượng Lào với Trung Lào, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đợt một của chiến dịch. Chiến thắng đó tạo thế cho Liên quân Việt — Lào phát triển tiến công xuống phía nam, bồi tiếp cho địch những đòn mạnh hơn nữa. Mất toàn bộ tỉnh Khăm Muộn, làm cho địch ở Trung Lào trở nên nguy ngập. Để cứu vãn tình thế, cuối tháng 12 năm 1953, Na-va vội điều thêm binh đoàn cơ động số một (GM1) và binh đoàn dù số một ở Bắc Bộ đến Xà-vằn-nạ-khệt, đưa lực lượng địch ở Trung Lào lên 20 tiểu đoàn bộ binh, bốn tiểu đoàn pháo, tổ chức thành tập đoàn cứ điểm Sê Nô. Sau chiến thắng đợt một, bộ đội ta vẫn còn sung sức, ta đánh tiếp xuống phía nam. Tuy vậy, việc bảo đảm cung cấp gặp khó khăn lớn. Vùng giải phóng khá rộng, cơ sở còn yếu, nên dễ bị địch tập kích sau lưng. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh mặt trận chủ trương: — Bao vây quân cơ động của địch ở Sê Nô, tranh thủ củng cố và xây dựng vùng mới giải phóng, kết hợp với truy quét tàn binh địch. — Nhân lúc địch chưa kịp củng cố, tranh thủ mở tiếp đợt tiến công thứ hai phá vỡ tuyến phòng thủ đường số 9, giải phóng một bộ phận tỉnh Xà-vẳn-nạ-khệt, nối liền căn cứ Khăm Muộn với Mường Noòng. Muốn bảo đảm thắng lợi, phải tập trung giải quyết việc cung cấp, đồng thời đưa một bộ phận xuống nắm địch ở đường số 9 và Sê Nô. Kế hoạch sử dụng lực lượng và chuẩn bị cung cấp như sau: — Trung đoàn 101 hoạt động cắt đường số 13, uy hiếp Sê Nô, phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào mở rộng vùng giải phóng xuống Xà-vẳn-nạ-khệt, sẵn sàng đánh bại âm mưu của địch chiếm lại Thà Khẹt. — Tiểu đoàn 274 hoạt động vùng đường số 12, xây dựng cơ sở bảo đảm an toàn hậu phương chiến dịch. — Trung đoàn 66 tiến công tiêu diệt một số vị trí địch ở Hìn Xìu, Đồng Hến, sau đó chuyển sang đánh viện trên đường số 9, giữa Đồng Hến và Pha Lan, tạo điều kiện giải phóng phía đông tỉnh Xà-vẳn-nạ-khệt. — Trung đoàn 18 cùng với bộ đội địa phương và du kích Hướng Hóa, Cam Lộ đẩy mạnh tác chiến ở đường số 9 và tây Quảng Trị, chuẩn bị phối hợp với trung đoàn 66 tiến công phá vỡ tuyến phòng thủ đường số 9 của địch, nối liền Quảng Trị với Trung Lào. — Tổ chức 21 trạm vận tải cho đường số 9, sử dụng tiểu đoàn 804 công binh thuộc đại đoàn 304 và 1.200 thanh niên xung phong của Nghệ — Tĩnh vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí đạn dược, thuốc men phục vụ chiến đấu, sử dụng chiến lợi phẩm thu được của địch để đánh địch. Ngoài ra, đoàn cán bộ cơ sở của ta và bạn tỏa xuống các xã, bản vận động nhân dân Lào đóng góp lương thực, thực phẩm nuôi bộ đội hoạt động tác chiến trên đường số 9. Nhờ sự kết hợp giữa khả năng cung cấp của hậu phương với tận dụng khai thác nguồn cung cấp tại chỗ, nên việc chuẩn bị bảo đảm cung cấp nhanh chóng hoàn thành. Ngày 1 tháng 1 năm 1954, trung đoàn 66 xuất quân. Ngày 6 trung đoàn 101 lên đường vào đợt hai của chiến dịch. Lợi dụng sơ hở của địch, các đơn vị mở một loạt cuộc tiến công mới. Ngày 9 tháng 1, trung đoàn 66 tiến công tiêu diệt phần lớn quân địch ở Hìn Xìu. Cùng thời gian này, trung đoàn 101 liên tiếp phục kích, tập kích quân địch hoạt động ở vùng Na Kham (thuộc bắc sông Sê Băng Phai), tiêu diệt một bộ phận quan trọng trung đoàn bộ binh thuộc địa số sáu (6è RIC) và tiểu đoàn một thuộc trung đoàn Bắc Phi số ba (1/3 RTM). Không chịu nổi sức tiến công của Liên quân Việt — Lào ở Hìn Xìu và Na Kham, ba tiểu đoàn cơ động tinh nhuệ của địch tháo chạy hỗn loạn, bị ta tiêu diệt gần hai tiểu đoàn. Sau nhiều ngày liên tục chiến đấu, bộ đội Việt — Lào tuy tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, nhưng cũng bị tiêu hao, mệt mỏi. Thêm vào đó tình hình địch lại cơ động phức tạp, khó nắm chắc, nên ta đã lui về đông Sê Nô chấn chỉnh lực lượng, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu tiếp theo. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2024, 09:17:09 pm Mất Na Kham, Hìn Xìu, cứ điểm Sê Nô của chúng bị uy hiếp. Tướng Na-va phải tiếp tục điều thêm quân cơ động từ Bắc Bộ và Nam Bộ đến tăng viện, củng cố tuyến phòng ngự Sê Nô thành tập đoàn cứ điểm mạnh của địch1, thành nơi tập trung quân ngoài ý muốn và kế hoạch chiến lược của Na-va, nhưng lại nằm trong ý đồ chiến lược của ta. Được tăng cường lực lượng, địch liền tung ra hoạt động ở bắc Sê Nô, tiến lên Ma-ha-xây, Hồng Mường, chuẩn bị chiếm lại Thà Khẹt, uy hiếp tuyến cung cấp và vùng mới giải phóng ở Trung Lào. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy mặt trận chủ trương: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu của địch, không cố thủ Thà Khẹt và Ma-ha-xây, mà tập trung lực lượng đánh địch ở đường số 9, phát triển xuống phía nam là nơi địch sơ hở để tiêu diệt địch. Trung đoàn 66 được giao nhiệm vụ tiến công tuyến phòng ngự đường số 9 của địch. Ngày 24 tháng 1 năm 1954, ta đánh các vị trí Pha Lan, Sa Lai He, Sê Ta Mộc. Ngày 26 tháng 1 tiến công tiêu diệt vị trí Mường Phìn và phục kích tiêu diệt hai đại đội địch từ Đồng Hến đến tiếp viện. Ở phía đông đường số 9, trung đoàn 18 và lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Trị cùng tiến công địch trên tuyến dài từ Cam Lộ đến Lao Bảo, buộc địch phải rút một loạt vị trí, ta giải phóng hoàn toàn huyện Hương Hóa và một phần huyện Cam Lộ. Sự phối hợp ăn ý của trung đoàn 66 và trung đoàn 18 đã bẻ gẫy tuyến phòng ngự đường số 9 của địch, giải phóng miền đông tỉnh Xà-vẳn-nạ-khệt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Để cứu nguy cho bọn địch ở đường số 9, Bộ chỉ huy Pháp ở Trung Lào sử dụng binh đoàn cơ động số một và số hai tiến công nhằm chiếm lại Ma-ha-xây và Nhom Ma Rát (bắc tỉnh Xà-vẳn-nạ-khệt). Bộ tư lệnh mặt trận kịp thời lệnh cho trung đoàn 101 đánh cánh quân địch từ Hồng Mường lên Nhom Ma Rát và phá hoại đường số 12. Nhưng trung đoàn 101 không chặn đánh được địch, vì thế ngày 15 tháng 2, chúng đã chiếm được Ma-ha-xây, lấy đó làm bàn đạp đánh chiếm Nhom Ma Rát. Phối hợp với Mật trận đường số 9, tiểu đoàn 436 đã cùng bộ đội và du kích Hạ Lào liên tục tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn. Ngày 31 tháng 1, giải phóng thị xã A-tô-pơ. Ngày 1 tháng 2, giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven. Từ ngày 5 tháng 2 lần lượt tiêu diệt các cứ điểm Bung Kma, Lào Ngam, thị xã Thà Teng, giải phóng hoàn toàn phía nam tỉnh Xa-ra-van. Sau 10 ngày liên tục chiến đấu, tiểu đoàn 436 và bộ đội Pa-thét Lào cùng lực lượng vũ trang địa phương đã giành thắng lợi giòn giã, loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 tên địch, giải phóng một vùng rộng trên 20.000 ki-lô-mét vuông, nối liền vùng giải phóng Hạ Lào với Trung Lào. Nhờ có phương hướng chiến lược đúng đắn của Trung ương Đảng, sự lớn mạnh của lực luọng vũ trang bạn và tinh thần tham gia kháng chiến của nhân dân Lào, một tiểu đoàn tinh nhuệ của ta đã phát huy được sức tiến công mạnh, hiệu suất chiến đấu cao. Trong lịch sử chiến tranh Đông Dương từ trước tới nay, đây là lần đầu tiên một lực lượng nhỏ chủ lực ta phối hợp tốt với thế trận chiến tranh du kích địa phương của bạn, đánh chiếm được cả một địa bàn chiến lược rộng lớn trong một thời gian rất ngắn. Với một tinh thần tích cực, chủ động, kiên quyết và liên tục tiến công địch, với ý thức khắc phục khó khăn rất cao, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, với tốc độ vận động nhanh, hành động táo bạo, mãnh liệt, với cách đánh linh hoạt, triệt để khai thác yếu tố bí mật, bất ngờ, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 436 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thọc sâu chiến dịch và lập chiến công vẻ vang, được Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng huân chương Quân công hạng hai. Suốt đợt ba của chiến dịch, trung đoàn 66 được sự phối hợp của trung đoàn 18, lực lượng vũ trang Lào và đơn vị quân tình nguyện đã tiêu diệt sáu vị trí, năm đại đội địch, chặt đứt tuyến phòng ngự đường số 9 dài gần 100 ki-lô-mét từ Đồng Hến đến Sê Pôn, khai thông đường liên lạc của ta giữa bắc và nam đường số 9. Chiến thắng đường số 9 thể hiện nổi bật tinh thần khắc phục khó khăn, dũng cảm chiến đấu của bộ đội Việt-Lào và cũng là sự thể hiện ý thức tự nguyện, tự giác cảu nhân dân Lào nuôi bộ đội đánh giặc, chiến thắng đó chứng tỏ nghệ thuật chỉ đạo tác chiến linh hoạt, đúng đắn của Bộ chỉ huy mặt trận, biết khai thác và khoét sâu chỗ yếu của địch, chủ động phân tán lực lượng chúng để tiêu diệt. _______________________________________________ 1. Đến ngày 24 tháng 1 năm 1954, Na-va đã đưa thêm bốn tiểu đoàn cơ động, ba tiểu đoàn dù, ba tiểu đoàn pháo đến Trung Lào, đưa lực lượng ở đây lên 26 tiểu đoàn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2024, 09:18:51 pm Trung tuần tháng 2 năm 1954, cuộc tiến công của ta và bạn ở Trung Lào bước vào gỉai đoạn cuối cùng. Ngày 15 tháng 2, địch cho hai binh đoàn cơ động số một và số hai chiếm lại Ma-ha-xây, sau đó chiếm Nhom Ma Rát, Bung Bao, Sang Phóc, Căm Cớt, nhằm đánh vào hậu phương chiến dịch của ta, ngăn chặn ta phát triển xuống phía nam. Để phát huy thắng lợi liên tiếp trên các chiến trường, nhất là phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính và làm tròn nhiệm vụ quốc tế với Lào và Cam-pu-chia, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ cho đại đoàn 325: — Cùng lực lượng bạn Lào bao vây kìm chân quân cơ động của địch ở Sê Nô, bảo vệ vững chắc hậu phương chiến dịch. — Phát triển xuống phía nam nhằm triệt để phân tán quân cơ động của địch và cùng bộ đội Ít-xa-rắc1 giải phóng đông-bắc Cam-pu-chia, bắt liên lạc với bộ đội miền Đông Nam Bộ. Bộ Tổng tư lệnh quyết định điều trung đoàn 18 sang hoạt động ở Trung Lào và đưa tiểu đoàn 274 về trung đoàn 18, đưa trung đoàn 101 xuống Hạ Lào và đông-bắc Cam-pu-chia, chuyển trung đoàn 95 ra đồng bằng Bắc Bộ tham gia tác chiến ở Phủ Lý và Nam Định. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ chỉ huy mặt trận chuyển tiểu đoàn 274 (trung đoàn 18) làm nhiệm vụ đánh địch trên đường số 12, nhất là ở Nhom Ma Rát, Ma-ha-xây. Đồng thời giao cho tiểu đoàn 290, tiểu đoàn 198, đại đội 124, đại đội 12 quân tình nguyện hoạt động ở vùng Căm Cớt và Pắc Ka Đinh, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch cắt đứt đường số 13. Trung đoàn 66 cố tiến lên bắc Sê Nô hoạt động, chuẩn bị đánh ra đường số 13. Trung đoàn 101 bước đầu hoạt động ở vùng Ma-ha-xây, đồng thời chuẩn bị hành quân xuống Hạ Lào và đồng-bắc Cam-pu-chia tiến công địch. Trong lúc ta triển khai thế trận đánh địch ở Trung — Hạ Lào và chuẩn bị phát triển chiến đấu xuống đông-bắc Cam-pu-chia thì từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 1954 địch cho hai binh đoàn cơ động số một và số hai đánh chiếm Ga Va, Na Peng, Pà Cuội và Sang Phóc. Suốt thời gian đóng quân ở đây, địch thường xuyên bị hai trung đoàn 66 và 18 cùng đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam và du kích Lào vây hãm, đánh tỉa, làm cho lực lượng chúng bị tiêu hao, tinh thần sa sút. Từ ngày 3 đến ngày 8 tháng 4 năm 1954, giữa lúc cả hai binh đoàn địch đang ở thung lũng Pà Cuội, thì một tiểu đoàn địch ở Ma-ha-xây tiến lên Nhom Ma Rát, vượt núi Phu Ác chiếm Bản Bo và lên bắc Khăm He. Hoạt động mới của địch chứng tỏ chúng mạnh dạn thọc lên núi Phu Ác để thu hút lực lượng ta, nhằm cứu hai bình đoàn cơ động khỏi rơi vào thế bị bao vây. Nếu ta hoạt động yếu, địch có thể sử dụng cả hai binh đoàn cơ động đánh chiếm Ba Na Phào, uy hiếp phía sau lưng ta. Từ nhận định đó, ta chủ trương để một bộ phận nhỏ bám đánh địch ở thung lũng Pà Cuội, còn phần lớn sẵn sàng đánh địch khi chúng đánh chiếm Ba Na Phào hoặc rút lui theo đường số 12. Tiểu đoàn 274 và tiểu đoàn 782 được Bộ chỉ huy mặt trận giao nhiệm vụ bám đánh địch ở cánh Phu Ác. Nhưng tiểu đoàn 274 không chặn được địch mà chỉ có tiểu đoàn 782, du kích Lào và quân tình nguyện chặn đánh địch từng chặng. Vì thế ngày 21 và 22 tháng 4, hai binh đoàn cơ động của địch đánh chiếm được Ba Na Phào, Mụ Giạ, Bản Bo và đánh phá tuyến cung cấp của ta. Cuộc chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch đang diễn ra ở đường số 12, thì ở chiến trường chính Điện Biên Phủ (giữa tháng 4 năm 1954), bộ đội ta cũng đang tiến công dữ dội vào khu đông Mường Thanh, uy hiếp khu trung tâm, đẩy địch đến nguy cơ thất bại ở Điện Biên Phủ. Trước tình hình nguy ngập đó, ngày 24 tháng 4, địch rút khỏi Mụ Giạ, Bản Bo và bắc Lằng Khằng. Rõ ràng địch bắt đầu rút theo đường số 12 để tăng viện cho Điện Biên Phủ. Nhưng do tầm quan trọng của Ba Na Phào, nên chúng để lại một bộ phận chiếm giữ. Nhằm phá tan kế hoạch rút quân của địch, Bộ chỉ huy mặt trận bố trí tiểu đoàn 782 bao vây địch ở Ba Na Phào, hai tiểu đoàn 274 và 789 hoạt động tại Lằng Khằng, Pha Nốp sẵn sàng đánh địch, hai tiểu đoàn còn lại của trung đoàn 18 chuẩn bị đánh địch trên đường số 12 khi chúng rút lui. Ngày 25 tháng 4, binh đoàn cơ động số một của địch cùng ba tiểu đoàn lẻ và một tiểu đoàn pháo theo đường số 12 rút về thị xã Thà Khẹt. Chúng bị trung đoàn 18 chặn đánh từng chặng, tỉêu diệt một bộ phận sinh lực. Binh đoàn cơ động số hai, một tiểu đoàn cơ động và một tiểu đoàn ngụy ở lại Lằng Khằng, Pha Nốp, Ba Na Phào củng cố công sự, tăng cường hỏa lực và dự trữ lương thực chuẩn bị cho mùa mưa. Ở bắc Căm-Cớt, tiểu đoàn 290 Hà Tĩnh, đại đội 124 huyện Thanh Chương và đại đội 12 quân tình nguyện liên tiếp đánh địch, làm cho chúng thiệt hại nặng, buộc phải rút chạy. Thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tổng tư lệnh giao cho, trung đoàn 101 tiến xuống phía nam, cùng với quân giải phóng Ít-xa-rắc (Cam-pu-chia) liên tục tiến công địch, giải phóng Vương Sai, Xiêm Pang, tiến xuống sát sông Mê-kông, giải phóng phần lớn tỉnh Công-pông-chàm. Căn cứ đông-bắc Cam-pu-chia được nối liền với Hạ Lào và Trung Lào, trung đoàn 101 đã bắt liên lạc với bộ đội miền Đông Nam Bộ. Trước khi chiến địch Điện Biên Phủ toàn thắng thì đợt cuối của cuộc tiến công của ta và bạn ở Trung Lào kết thúc. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 quân tinh nhuệ, giam chân hai binh đoàn cơ động ứng chiến của địch, phối họp tốt với chiến địch Điện Biên Phủ. Tuy địch có chiếm được Ba Na Phào, nhưng không phá được tuyến cung cấp của ta. ______________________________________________ 1. Quân đội nước Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:00:49 pm * * * Trên chiến trường Trung — Hạ Lào và đông-bắc Cam-pu-chia trong Đông — Xuân 1953 — 1954, quân và dân Liên khu 4 phối hợp cùng quân và dân bạn đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 6.100 tên địch, hầu hết là lính Âu — Phi tinh nhuệ, thu trên 1.200 súng các loại, nhiều quân trang quân dụng và phương tiện chiến tranh. Phá vỡ tuyến phòng ngự đường số 12, số 8 và số 9, giải phóng một vùng rộng lớn 400.000 ki-lô-mét vuông và 40.000 dân, cắt đứt liên lạc của địch giữa Thượng Lào với Trung Lào và uy hiếp Hạ Lào. Cùng với chiến thắng Hạ Lào và đông-bắc Cam-pu-chia, đường chiến lược Bắc-Nam Đông Dương cũng được khai thông, cơ sở quần chúng, lực lượng vũ trang và chính quyền cách mạng được xây dựng và củng cố, góp phần đưa cuộc kháng chiến của nhân dân Lào và Cam-pu-chia tiến lên một bước mới. Trên cơ sở đó, tình đoàn kết chiến đấu thủy chung của nhân dân ba nước Việt — Lào — Cam-pu-chia ngày càng phát triển và bền vững. Đặc biệt thắng lợi của Mặt trận Trung Lào đã góp phần bảo vệ vững chắc hậu phương chiến lược, tạo điều kiện cho Liên khu 4 hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ hậu phươrg và phục vụ tiền tuyến. Chiến thắng Trung Lào đã góp phần làm phá sản kế hoạch tập trung quân của Na-va, buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó với ta trên toàn Đông Dương, tạo điều kiện cho quân và dân ta tiêu diệt hoàn toàn quân địch trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đẩy mạnh tác chiến phối hợp ở Bình—Trị—Thiên. Bước vào Đông-Xuân 1953 — 1954, lực lượng địch ở Bình - Trị - Thiên có trên 30.000 tên, trong đó quân ngụy chiếm 91 phần trăm, lính Âu — Phi 9 phần trăm, được tổ chức thành 24 tiểu đoàn1. Với lực lượng đó, địch ra sức thực hiện âm mưu mới: Tích cực càn quét bình định vùng đồng bằng, dồn làng, tập trung dân, lập vành đai trắng, củng cố các tuyến phòng ngự, phá mùa màng và tăng cường bắt lính, phát triển quân ngụy. Địch liên tiếp tổ chức các cuộc càn quét nhỏ và vừa, càn cả ban đêm để thực hiện bình định có trọng điểm vùng đồng bằng Phong Điền, Quảng Điền, Triệu Phong, Hải Lăng, ven đường số 9 và nam Thừa Thiên. Bằng các thủ đoạn càn quét chà đi xát lại nhiều lần, chúng đã củng cố được vùng Cửa Việt, khu 3 Phú Lộc, dồn làng, lập vành đai trắng dọc quốc lộ số 1 nam Thừa Thiên và một số xã của tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình, lập khu trắng ở Nam Giao — Huế, tăng cường phòng ngự đường số 1, đường sắt và sửa chữa cửa bể Lăng Cô, đề phòng bị ta cắt đứt đường Đà Nẵng ra Huế. Trong các cuộc càn quét, chúng ra sức bắt lính, bắt cả thanh niên, phụ nữ và trẻ em để xây dựng các loại quân ngụy. Với cố gắng đó, chúng đã xây dựng được bốn tiểu đoàn khinh quân, một tiểu đoàn pháo và một số đại đội, bổ sung đủ quân cho các đơn vị tổn thất trong chiến đấu. Trên cơ sở đó, địch đã rút năm tiểu đoàn cơ động đi chiến trường khác. Cuối năm 1953, phong trào đấu tranh của quân và dân Bình —Trị — Thiên đã tiến lên một bước, cơ sở đảng, cơ sở nhân dân và du kích được phục hồi trong điều kiện vô cùng gian khổ và khó khăn. Một mặt địch tăng cường càn quét nhiều lần hòng đè bẹp sức chiến đấu của ta, trong lúc đó nạn bão lụt mất mùa đói kém dồn dập xảy ra, làm đời sống nhân dân và lực lượng vũ trang thiếu thốn nhiều. Mặt khác, trung đoàn 95 chuyển ra Hà Tĩnh, lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu chỉ có bộ đội địa phương và dân quân du kích, trang bị vũ khí tuy có được tăng cường nhưng vẫn thiếu, nhất là bom, mìn, bộc phá và lựu đạn. Tuy khó khăn chồng chất, nhưng tinh thần quật khởi của bộ đội và nhân dân vẫn được giữ vững. Lực lượng vũ trang địa phương được tôi luyện, trưởng thành trong chiến đấu và xây dựng, có tinh thần chịu đựng gian khổ hy sinh, chiến đấu dũng cảm. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu đối với các tỉnh ủy và tỉnh đội ngày càng chặt chẽ, trực tiếp về toàn diện. Kịp thời chấn chỉnh các ban chỉ huy tỉnh đội, bổ sung quân số, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật cho các tiểu đoàn tỉnh, các đại đội huyện, nên trình độ chỉ huy cũng như bản lĩnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ được nâng lên một bước mới. Thêm vào đó, được thắng lợi của chiến trường toàn quốc cổ vũ, tạo điều kiện cho Bình —Trị — Thiên vượt qua mọi khó khăn để chiến đấu và chiến thắng. Trên cơ sở phân tích tình hình so sánh lực lượng địch và ta, Liên khu ủy đề ra chủ trương hoạt động Đông-Xuân ở Bình— Trị — Thiên là: Đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, chống càn quét bình định, liên tục chiến đấu phối hợp với cuộc tiến công chiến lược Đông — Xuân 1953— 1954 trên các chiến trường. Tháng 11 năm 1953, Nghị quyết Hội nghị cán bộ địch hậu Bình — Trị — Thiên cũng chỉ rõ nhiệm vụ, phương châm công tác vùng tạm chiếm «Đẩy mạnh đấu tranh mọi mặt, nhất là đấu tranh vũ trang ở vùng sau lưng địch, phối hợp với chiến trường toàn quốc, phá âm mưu mới của địch ở Bình —Trị —Thiên. Trước mắt là đẩy mạnh đấu tranh, chống càn quét, tăng cường lực lượng, đoàn kết đông đảo nhân dân chống giặc, phát triển và bảo vệ sản xuất, tích cực củng cố và phát triển công tác vùng tạm chiếm, đẩy mạnh công tác địch, ngụy vận»2. Phương châm hoạt động: lấy đấu tranh vũ trang làm chủ yếu kết hợp với đấu tranh chính trị và kinh tế nhằm phát triển chiến tranh du kích, tích cực đánh giao thông, chống càn quét, kết hợp chặt chẽ đấu tranh giữa ba vùng — vùng căn cứ du kích, vùng du kích và vùng địch tạm chiếm. Tư tưởng chỉ đạo là tác chiến song song với xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích. Trọng điểm tác chiến là đánh giao thông, phá cầu đường trên đường số 1 và số 9, chống càn, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở đồng bằng, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính. Sự lãnh đạo đúng đắn của Liên khu ủy đã đưa phong trào đấu tranh mọi mặt ở Bình — Trị — Thiên có bước chuyển biến và tiến bộ rõ rệt. ______________________________________________ 1. Năm tiểu đoàn cơ động, 16 tiểu đoàn chiếm đóng và ba tiểu đoàn pháo. 2. Lưu trữ tại Phòng Lịch sử quân sự Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:02:26 pm Ngày 22 tháng 12 năm 1953, khi ta nổ súng tiến công địch ở Trung Lào thì trung đoàn 18 cùng với lực lượng vũ trang địa phương đồng loạt nổ súng tiến công địch ở Vĩnh Linh và Gio Linh. Với tinh thần kiên quyết tiến công, mưu trí dũng cảm chiến đấu, quân ta đã liên tiếp tiêu diệt năm vị trí địch ở Sen Hạ, Chợ Da, Hà Tây, Đằng Đằng và Dốc Miếu. Bộ đội địa phương và dân quân du kích liên tiếp đánh mạnh trên tuyến giao thông đường số 1 và số 9, chống càn, phục kích tiêu hao, tiêu diệt địch, cướp súng địch trang bị cho ta. Ngày 28 tháng 12, du kích xã Vĩnh Liêm (Vĩnh Linh) đánh chìm bốn ca-nô địch. Từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 12, bộ đội địa phương và du kích Cửa Tùng, anh dũng chống phá trận càn quét lớn của địch vào Liêm Hóa và Quảng Hóa, thu thắng lợi lớn, diệt hơn 150 tên và phá bốn ca-nô địch. Sự phối hợp tác chiến kịp thời của lực lượng vũ trang ba thứ quân ở Bình — Trị — Thiên với Trung Lào đã phá tan âm mưu của địch nối lại đường số 9, tạo điều kiện cho Liên quân Việt — Lào giành thắng lợi to lớn trong đợt mở đầu chiến dịch. Hai tháng đầu năm 1954, phối hợp với đợt hai và ba của chiến dịch Trung Lào, quân và dân Bình — Trị — Thiên liên tiếp đánh mạnh trên đường số 1, số 9 và đường xe lửa. Bằng những đòn tập kích táo bạo, phối hợp chặt chẽ, bộ đội và du kích đã phá sập nhiều cầu cống, lật nhào nhiều đoàn tàu và xe quân sự, làm tắc nghẽn giao thông của địch hàng tháng1. Trên Mặt trận đường số 9 tỉnh Quảng Trị, chỉ tính từ ngày 1 đến ngày 20 tháng 1, ta đã phá sập 17 cầu từ Đông Hà đến Rào Quán. Ở Thừa Thiên, bộ đội địa phương và du kích phá sập nhiều cầu trên đường số 1 và đã lật nhào hai đoàn tàu quân sự 19 toa của địch ở Lăng Cô, làm chết và bị thương 400 tên. Bộ chỉ huy Pháp vội vàng rải bốn tiểu đoàn cơ động ứng chiến, lập nhiều vị trí mới, cố bám lấy đường số 1, số 9 và đường xe lửa. Do đó ở nhiều vùng nông thôn đồng bằng địch lại sơ hở, tạo điều kiện thuận lợi cho ta đẩy mạnh chiến tranh du kích tiêu hao, tiêu diệt và kìm chân chúng, kết hợp với xây dựng cơ sở vùng sau lưng địch. Trung tuần tháng 1 năm 1954, trung đoàn 18 sau khi đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn cơ động của địch càn quét vào vùng Cùa, Mai Lĩnh đã chuyển sang phối hợp với bộ đội địa phương và du kích hai huyện Cam Lộ và Hướng Hóa bao vây tiến công bảy vị trí của địch trên đường số 9 gồm Đầu Mầu, Mai Lĩnh, Vụng Kho, Rào Quán, Khe Sanh, Tà Cơn, Lao Bảo, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, số địch còn lại bỏ chạy. Ngày 20 tháng 2, ta giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hóa và một phần huyện Cam Lộ. Sau đó trung đoàn 18 tiến lên Sê Pôn cùng quân tình nguyện và lực lượng vũ trang Trung Lào phối hợp đợt tiến công thứ hai của chiến dịch, chiến đấu trong đội hình đại đoàn 325. Bộ đội địa phương và dân quân du kích huyện Hướng Hóa và tây Cam Lộ giữ vững vùng giải phóng cho đến lúc kết thúc chiến tranh. Nhân lúc địch tập trung lực lượng đối phó với ta trên các đường giao thông, bộ đội và du kích tỉnh Quảng Trị đẩy mạnh tác chiến ở đồng bằng, luồn sâu vào lòng địch, đánh địch. Ngày 28 tháng 1, đại đội 245 mưu trí, dũng cảm bẻ gãy các cánh quân của hai tiểu đoàn địch có cơ giới yểm hộ càn quét xã Triệu Sơn (huyện Triệu Phong). Bằng các hình thức phục kích, tập kích, chống càn liên tiếp, lực lượng vũ trang Quảng Trị đã phá tan âm mưu bình định có trọng điểm của địch ở vùng Cửa Việt, Cửa Tùng và đồng bằng hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng. Ngày 6 tháng 2, tiểu đoàn tỉnh Thừa Thiên bí mật luồn sâu vào vùng địch tạm chiếm kết hợp với nhân mối tập kích vị trí Niêm Phò. Sau 15 phút chiến đấu, ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch tại đây. Hai ngày sau, hai trung đội bộ đội địa phương lại tập kích ngay vào hậu phương an toàn của địch tại vị trí Văn Thánh và hai lô cốt, gây cho địch nhiều thiệt hại. Ở Quảng Bình, hoạt động chiến tranh du kích có yếu hơn, chỉ đánh được hai trận ở Cầu Ngấn, Mỹ Trung tiêu diệt hai trung đội địch. Phối hợp với tiến công quân sự, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng diễn ra sôi nổi. Nhân dân chủ động đứng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột, chống bắt lính, vận động binh lính đảo ngũ, đòi chồng con về. Các cuộc đấu tranh của binh sĩ địch không chịu đi chiến trường khác, tự động bỏ súng về nhà ngày càng nhiều. Tiểu đoàn tám ngụy chống lệnh đi Lào, 560 ngụy binh ở Thừa Thiên, 230 ngụy binh ở Quảng Trị, 80 ngụy binh ở Quảng Bình bỏ súng về nhà. Tuy ta có giành được một số thắng lợi, nhưng đấu tranh chính trị chưa trở thành phong trào rộng rãi của đông đảo quần chúng tham gia. ______________________________________________ 1. Từ ngày 21 tháng 12 năm 1953 đến ngày 20 tháng 2 năm 1954, ta đã phá sập 35 cầu cống, trong đó có cầu Đuồi, cầu Đầu Mầu, cầu Hương Thủy, đánh đổ 12 đoàn tàu, trong đó có sáu đoàn tàu quân sự, phá hủy 18 xe cơ giới của địch. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:04:34 pm * * * Từ cuối tháng 2 năm 1954 trở đi, ta hoạt động mạnh ở Hạ Lào, đông-bắc Cam-pu-chia, bắc Tây Nguyên, đồng bằng Bắc Bộ và Điện Biên Phủ, càng làm cho địch lúng túng. Na-va vội rút ở Bình — Trị — Thiên ba tiểu đoàn ứng chiến, ba tiểu đoàn địa phương, 800 nghĩa dũng đoàn và nhân viên ngụy quyền vào nam Trung Bộ để chuẩn bị mở cuộc hành quân Át-lăng và tăng viện cho Hạ Lào. Lực lượng địch ở Bình — Trị — Thiên còn 18 tiểu đoàn chiếm đóng và bốn tiểu đoàn cơ động ứng chiến. Chúng bố trí quân chiếm đóng ở Quảng Bình bốn tiểu đoàn, Quảng Trị năm tiểu đoàn, Thừa Thiên chín tiểu đoàn. Lực lượng tuy có giảm, nhưng địch vẫn tiếp tục càn quét để đối phó với hoạt động của ta và tăng cường bắt lính, giữ thế bình định và chiếm đóng, song mức độ thấp hơn. Sau thời gian hoạt động phối hợp với chiến dịch Trung Lào, bộ đội địa phương và dân quân du kích Bình — Trị — Thiên trưởng thành thêm một bước, trình độ kỹ thuật, chiến thuật tiến bộ hơn, vận dụng các hình thức tác chiến ngày càng phong phú và có hiệu quả. Với tinh thần «Tất cả cho tiền tuyến», Thanh — Nghệ — Tĩnh đã vận chuyển 30 tấn lựu đạn, mìn, bộc phá tiếp viện cho Bình — Trị — Thiên, làm tăng thêm sức chiến đấu cho lực lượng vũ trang ở tiền tuyến tiêu diệt địch. Do đó, từ cuối tháng 2 năm 1954, khi trung đoàn 18 sang đánh địch ở Trung Lào mà lực lượng vũ trang Bình — Trị — Thiên vẫn đảm nhiệm được chiến trường, hoạt động tác chiến vẫn tiến bộ và có hiệu quả tốt. Ngày 22 tháng 2 năm 1954, địch cho năm tiểu đoàn càn quét đồng bằng hai huyện Triệu — Hải (Quảng Trị). Bộ đội địa phương và dân quân du kích lập tức chặn đánh quyết liệt, làm cho chúng bị thiệt hại nặng, phải rút chạy. Ta loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên, thu nhiều vũ khí, giải thoát cho 50 cán bộ và 200 thanh niên bị địch bắt. Tại Quảng Bình, lực lượng vũ trang địa phương chống càn thắng lợi ở Hoàn Phúc (ngày 9 tháng 3) và ở Thế Lộc, Nguyệt Áng, Võ Xá (ngày 11 tháng 3). Chiến thắng liên tiếp của quân và dân Bình — Trị — Thiên cùng với chiến thắng ở các chiến trường phối hợp khác tạo điều kiện thuận lợi cho ta chuẩn bị tiến công địch ở Điện Biên Phủ. Ngày 13 Tháng 3 năm 1954, quân ta bắt đầu nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngày 15 tháng 3, Bộ tư lệnh Liên khu 4 chỉ thị cho Bình — Trị — Thiên tích cực phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, đánh mạnh trên đường giao thông, tích cực chống càn quét, chống bắt lính. Quân và dân Bình — Trị — Thiên lúc này càng tích cực đẩy mạnh chiến tranh du kích liên tiếp tiêu hao sinh lực và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch1. Các hình thức tập kích phục kích có bước chuyển biến mới, tập kích kết hợp nhân mối đều hơn. Ở Thừa Thiên xuất hiện chiến thuật tập kích «sờ»2 của đặc công, thu kết quả, tiêu diệt sáu vị trí và 12 lô cốt địch. Cuối tháng 3 dầu tháng 4, hưởng úng «Tuần lễ đánh mạnh», phối hợp đợt hai của chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội địa phương các tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên liên tiếp tập kích các vị trí An Xá, Võ Xá, An Hòa (30-3), Kim Long (31-3), biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta. Đặc biệt là trận Võ Xá (Quảng Bình) tiêu diệt hai trung đội địch; trận An Hòa (Thừa Thiên) tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 610 quân ngụy, diệt 200 tên, làm chấn động dư luận ở Huế. Hòa nhịp với hoạt động quân sự trên chiến trường, các hoạt động phục vụ tiền tuyến và đấu tranh với địch của nhân dân cũng phát triển ngày càng cao. Mặc dù khó khăn gian khổ, mất mùa đói kém, lại bị địch o ép, bóc lột tàn khốc, nhưng nhân dân vẫn đoàn kết, khắc phục mọi khó khăn, hăng hái tham gia kháng chiến. Hàng chục vạn dân công đêm đêm cùng với du kích phá hoại hàng ngàn mét đường, ngăn bước tiến quân giặc. Nhân dân khắp nơi đoàn kết giúp đỡ nhau tăng gia sản xuất, tiết kiệm, nên đã vượt qua được nạn đói do lũ lụt tháng 10 năm 1953 gây ra. Trong vụ Đông — Xuân 1953 — 1954, tỉnh Quảng Trị đã gieo trồng được 23.000 mẫu lúa, 9.596 mẫu ngô, khoai, sắn, đã thu hoạch được: 2.393 tấn lúa, trên 3.000 tấn màu. Vụ chiêm năm 1954, tỉnh Quảng Bình đã tạm cấp 3.500 mẫu ruộng đất của Pháp và Việt gian, 1.000 mẫu vắng chủ cho nông dân cày cấy. Cũng trong vụ chiêm xuân này, nông dân tỉnh Quảng Bình đấu tranh với địa chủ đòi giảm tô, giảm tức, thu lại được 380 tấn lúa, 4.120 thùng khoai, sắn, 2.014.850 đồng tiền ngân hàng. Đến vụ chiêm năm 1954, ở Bình — Trị — Thiên đã có đủ lúa giống để sản xuất, có thóc ăn để đánh giặc. Trong vùng địch tạm chiếm, nhân dân đấu tranh chống bắt lính, chống dồn làng tập trung dân, thu được nhiều thắng lợi. Ngày 23 tháng 12 năm 1953, nhân dân xã Thế Lộc (Quảng Điền) đấu tranh đòi địch thả những người bị chúng bắt đi lính, buộc địch thả 713 người trong số 819 người bị chúng bắt. Trong tháng 12 năm 1953, nhân dân huyện Vĩnh Linh đấu tranh buộc địch thả 458 trong số 599 người bị chúng bắt đi lính. Đội trinh sát công an Vĩnh Linh phối hợp với du kích diệt 13 tên tề điệp gian ác ở các xã. Nét nổi bật của phong trào đấu tranh chính trị là công tác ngụy vận, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia. Ở thành phố Huế, ta phát ba vạn tờ truyền đơn, viết 4.000 khẩu hiệu, thành lập được 80 tổ gọi loa tuyên truyền, gửi 616 thư tay cho sĩ quan và binh lính ngụy, kêu gọi họ trở về với kháng chiến. Trong tháng 1 năm 1954 đã có 421 gia đình ở Huế gọi được chồng con bỏ hàng ngũ địch về với gia đình. Ngày 15 tháng 2 năm 1954, 150 binh lính đồn Đại Lộc (Phú Lộc) làm binh biến diệt đồn, mang 180 súng về với kháng chiến. Chỉ tính từ tháng 10 năm 1953 đến tháng 2 năm 1954, ở Bình — Trị —Thiên đã có 1.509 người bỏ hàng ngũ địch về với nhân dân (có 23 sĩ quan); 25 binh sĩ ngụy phản chiến, sáu vụ binh lính ngụy làm nội ứng cho du kích diệt dồn, 21 vụ lính ngụy tự nổi dậy diệt đồn, 11 vụ binh biến có lãnh đạo chỉ huy, các vụ binh biến đều thành công, mang về cho du kích 300 khẩu súng, 18 gánh đạn. _______________________________________________ 1. Đến tháng 3 năm 1954, Bình — Trị — Thiên đánh nhào 16 đoàn tàu, 100 toa, phá hỏng trên 50 xe ô tô của địch. 2. «Tập kích sờ» tức là sờ tận giường ngủ của địch để tiêu diệt (chiến thuật mới của bộ đội đặc công lúc đó). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:05:29 pm Đầu tháng 4 năm 1954, khi đợt hai của chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu và ở đồng bằng Bắc Bộ, lực lượng vũ trang ba thứ quân liên tiếp thu thắng lợi, thì ở chiến trường Bình — Trị — Thiên địch cũng bị thiệt hại nặng làm cho chúng càng lúng túng, bị động, mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung diễn ra gay gắt. Một mặt địch phải tập trung lực lượng đối phó với quân và dân Bình — Trị — Thiên trên mặt trận giao thông; mặt khác, chúng phải rải quân để giữ thế chiếm đóng bình định chiến trường này và rút lực lượng đi bổ sung cho các chiến trường khác. Đề giải quyết khó khăn lúng túng về quân số, địch lại phải rút sáu tiểu đoàn (cả quân ứng chiến và chiếm đóng) ở Bình - Trị - Thiên tiếp viện cho chiến trường khác. Đồng thời chúng tích cực bắt lính xây dựng thêm hai tiểu đoàn quân ngụy và ba đại đội pháo, điều một tiểu đoàn Ta-bo đến Bình - Trị - Thiên. Do đó, trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, địch vẫn giữ được lực lượng 20 tiểu đoàn để giữ thế bình định đồng bằng và đối phó với ta trên mặt trận giao thông, phá cơ sở, cướp phá mùa và giành lại các vị trí đã mất. Liên khu ủy họp với các tỉnh ủy Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên bàn kế hoạch phá âm mưu địch và phối hợp đợt hai chiến dịch Điện Biên Phủ, tích cực củng cố và phát triển cơ sở, khôi phục căn cứ ở bốn huyện Phong Điền, Quảng Điền (Thừa Thiên), Triệu Phong, Hải Lăng (Quảng Trị), mở rộng khu du kích, tiến tới thu hẹp vùng địch tạm chiếm. Đầu tháng 4, đại đội 9 bộ đội đặc công Liên khu vào tác chiến ở Quảng Bình. Với chiến thuật «đánh điểm nhỏ» và phương châm «đánh chắc thắng», bộ đội đặc công đã liên tiếp diệt bốn lô cốt và một vị trí địch. Thắng lợi này đã xây dựng được truyền thống đánh thắng ngay trận đầu của bộ đội đặc công Liên khu, góp phần đẩy mạnh đà tác chiến của bộ đội và du kích, giữ vững và phát triển hình thức tập kích ở Bình — Trị — Thiên. Bằng chiến thuật tập kích, bộ đội Quảng Bình đã tiêu diệt nhiều đồn quan trọng của địch, như Bình Phúc, Mỹ Phước (6-4), rồi đến An Lạc, Thạch Xá Thượng, mở rộng khu du kích nam Quảng Bình. Bộ đội Quảng Trị bí mật luồn sâu vào các tuyến chiếm đóng của địch, liên tiếp tập kích tiêu diệt bảy vị trí và một số lô cốt, bức địch rút khỏi vị trí Kim Giao (16-4), mở rộng được khu căn cứ ở Triệu Phong và Hải Lăng. Ngày 28 tháng 4, bộ đội Thừa Thiên mưu trí, dũng cảm liên tiếp mở các trận tập kích sâu vào lòng địch, đánh vào một loạt vị trí, lô cốt dọc tuyến sông Bồ từ Ưu Điềm đến Văn Trình thuộc hệ thống chiếm đóng của địch ở ba xã Quảng Ninh, Quảng Hòa, Quảng Đại (huyện Quảng Điền) thu thắng lợi lớn. Chiến thẳng của ta trên tuyến sông Bồ, tạo điều kiện xây dựng và phát triển lực lượng du kích, khôi phục căn cứ kháng chiến ở Phong Điền và Quảng Điền. Trên mặt trận giao thông, lực lượng vũ trang ba thứ quân Bình — Trị — Thiên thường xuyên tổ chức phục kích đánh tàu xe trên đường xe lửa và đường số 1 từ đèo Hải Vân ra Quảng Trị, lật nhào ba đoàn tàu quân sự, tiêu diệt ba đại đội địch, 76 xe vận tải, phá 10 cầu, trong đó có cầu Đông Hà (Quảng Trị) và cầu Nước Ngọt (Thừa Thiên). Cùng với bước tiến của bộ đội tập trung, dân quân du kích cũng tiến bộ vượt bậc, độc lập chống càn thu thắng lợi và phát triển các hình thức tác chiến tiêu diệt địch. Ngoài các cách đánh thông thường như địa lôi, bom, mìn, cạm bẫy, đã xuất hiện hình thức tập kích tiêu diệt lô cốt địch của du kích Hương Thủy, Hải Thái (Thừa Thiên), Vĩnh Hoàng (Quảng Trị). Du kích Nhã Phương (Quảng Bình); Diên Khánh (Quảng Trị) và Lương Mai (Thừa Thiên) liên tục bao vây vị trí, buộc địch phải rút bằng máy bay. Cùng với hoạt động quân sự, công tác vận động chống bắt lính có bước phát triển mới. Không cuộc bắt lính nào của địch lại không vấp phải sức đấu tranh quyết liệt của nhân dân. Nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân đã lôi kéo đông đảo gia đình ngụy binh tham gia, trong đó điển hình là cuộc đấu tranh chống địch bắt 80 thanh niên ở Vân Đô — Đông Hà (8-5), buộc địch phải thả hết. Nhân dân xã Tây Trạch (Bố Trạch) kiên trì và anh dũng đấu tranh, buộc địch phải thả 280 thanh niên bị chúng bắt. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, ta giành toàn thắng ở Điện Biên Phủ. Chiến thắng vĩ đại này đã làm cho hình thái chiến trường thay đổi hoàn toàn có lợi cho ta, đẩy địch vào thế bất lợi và đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Sự biến đổi to lớn đó tác động sâu sắc đến hình thái chiến trường Bình — Trị — Thiên. Trên chiến trường Bình — Trị — Thiên, so với trước Đông — Xuân, lúc này phong trào chiến tranh du kích đã phát triển mạnh, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính. Bộ đội địa phương và dân quân du kích tiêu diệt gần 10.000 tên địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, phá tan âm mưu của địch phong tỏa giao thông và bình định có trọng điểm bốn huyện Phong Điền, Quảng Điền, Triệu Phong, Hải Lăng, tinh thần binh lính địch sa sút, tư tưởng sợ ra trận, sợ chết lan tràn. Ta khôi phục và mở rộng được một số vùng du kích, phát triển được cơ sở, động viên được đông đảo nhân dân tham gia kháng chiến. Về ta: Các tiểu đoàn địa phương tỉnh trưởng thành rõ rệt, đã cùng với bộ đội địa phương huyện và dân quân du kích bẻ gãy từng cánh quân càn quét của địch, tiêu diệt nhiều sinh lực địch trong công sự, đã tiêu diệt từ đại đội đến tiểu đoàn địch, bắt tù binh, thu vũ khí, giữ vững và mở rộng nhiều vùng du kích ở đồng bằng, đưa lực lượng áp sát thành phố, thị xã đánh địch, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân trong vùng địch tạm chiếm. Thất bại nặng nề ở Điện Biên Phủ, chính phủ Pháp phải tiếp tục đưa quân bổ sung sang Việt Nam, bắt lính, xây dựng quân ngụy, tập trung quân cơ động, tranh thủ thêm viện trợ Mỹ để mong cứu vãn tình thế nguy ngập mới và tiếp tục kéo dài chiến tranh. Đối với Bình — Trị — Thiên, chúng thực hiện ý đồ chiếm lại đường số 9, ngăn cản giao thông Bắc — Nam của ta, tích cực càn quét khốc liệt hơn, nhất là ở nam Quảng Trị và bắc Thừa Thiên, ra sức bắt lính xây dựng quân ngụy. Chúng liên tiếp đưa quân tinh nhuệ đến Bình — Trị — Thiên, đặc biệt là đến Đông Hà và Huế. Ngày 25 tháng 5, chúng đưa đến Bình — Trị — Thiên hai binh đoàn cơ động số 10 và số 21. Trong hai ngày 28 và 30 tháng 5, chúng lại đưa 400 xe, 2.000 lính Âu —Phi, hai đại đội cơ giới và 10 khẩu pháo 105 mi-li-mét từ Đà Nẵng ra Huế, sau đó phần lớn hành quân ra Đông Hà. Như vậy, lực lượng địch chuẩn bị cho càn quét lớn lên tới 17 tiểu đoàn cơ động. Với lực lượng cơ động mạnh, địch liên tiếp mở những trận càn lớn nhằm bình định bốn huyện Phong — Quảng — Triệu — Hải, chiếm lại đường số 9 và biệt kích ra vùng tự do của ta ở Bình — Trị — Thiên. Nhưng tất cả các trận càn quét của chúng đều bị lực lượng vũ trang địa phương ba tỉnh phối hợp chặt chẽ trong thế trận chiến tranh nhân dân rộng lớn, kết hợp tác chiến với ngụy vận, liên tiếp chặn đánh, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:07:52 pm Ngày 31 tháng 5 và ngày 6 tháng 6, địch tập trung lực lượng mở hai trận càn lớn vào ba huyện Cam Lộ, Gio Linh và Vĩnh Linh. Chúng bị bộ đội và du kích đánh trả quyết liệt, hơn 350 tên bị tiêu diệt, cuộc càn quét của địch thất bại. Trong hai ngày 16 và 19 tháng 6, địch lại cho sáu tiểu đoàn và 200 xe cơ giới tiếp tục hành quân càn lớn vào hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng. Chúng đã bị bộ đội địa phương và dân quân du kích chiến đấu kiên cường, kết hợp tác chiến với tuyên truyền địch vận, liên tiếp bẻ gẫy tất cả các đợt tiến công của địch, loại khỏi vòng chiến đấu trên 500 tên, buộc địch phải tháo chạy. Ngày 9 tháng 7, du kích hai xã Phong Chương và Phong Dinh cũng bám đánh quyết liệt, bẻ gãy trận càn của ba tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên, buộc địch phải rút. Thắng lợi liên tiếp trong tác chiến chống càn đã phá tan âm mưu của địch chiếm lại đường số 9 và bình định bốn huyện Phong — Quảng — Triệu — Hải. Chiến thắng đó đánh dấu bước trưởng thành vững chắc của lực lượng vũ trang Bình — Trị — Thiên, nhất là Quảng Trị và Thừa Thiên1. Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng về «Đẩy mạnh công tác vùng tạm chiếm» và «phát động phong trào đấu tranh chính trị rộng rãi» làm hậu thuẫn cho đấu tranh quân sự và ngoại giao, phong trào đấu tranh chính trị ở Bình — Trị — Thiên diễn ra sôi nổi trên cả ba vùng — vùng căn cứ du kích, vùng du kích và vùng tạm bị chiếm. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Thừa Thiên, phong trào đấu tranh chính trị diễn ra sôi nổi. Ngày 17 tháng 6, tại Huế diễn ra cuộc mít tinh của 4.000 người với khẩu hiệu «Hoan nghênh Hội nghị Giơ-ne-vơ giải quyết vấn đề hòa bình ở Đông Dương», lập kiến nghị tố cáo âm mưu tàn bạo của địch, đòi chính phủ Pháp phải thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh. Cuộc mít tinh đã chuyển thành cuộc biểu tình tuần hành của trên 10.000 người tham gia kể cả một số cảnh sát và lính Âu —Phi. Địch đưa lực lượng đến nhưng không dám đàn áp. Thắng lợi của cuộc biểu tình ở Huế mở ra cao trào đấu tranh chính trị rộng lớn ở Bình — Trị — Thiên. Khắp nơi nhân dân đứng lên đấu tranh đòi hòa bình, đòi chồng con, đòi trả lúa tập trung, vạch trần âm mưu kéo dài chiến tranh xâm lược của bọn hiếu chiến Pháp, Mỹ và tay sai. Ngày 20 tháng 6 năm 1954, địch chủ trương dùng lực lượng giáo viên và học sinh trường Khải Định, kết hợp với nha giáo dục thành phố Huế làm nòng cốt để tổ chức cuộc biểu tình lớn ủng hộ Ngô Đình Diệm, một tên phản động đầu sỏ, một con bài mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Nhận rõ âm mưu của địch, Thành ủy Huế đã lãnh đạo giáo viên, học sinh trường Khải Định kiên quyết tẩy chay trò hề mới của địch. Cuộc biểu tình trở thành cuộc tuần hành «ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh», đòi chính phủ Pháp phải chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa hình ở Việt Nam. Ngày 6 tháng 6, gần 1.000 nhân dân xã Phong Chương (Phong Điền) kéo lên huyện đường đòi quyền lợi về ruộng đất và giảm sưu thuế. Cuộc biểu tình chuyển sang đòi đình chiến và chấm dứt chiến tranh. Thắng lợi về quân sự và đấu tranh chính trị của ta tác động sâu sắc đến tinh thần binh lính địch, gây thành phong trào đấu tranh rộng rãi trong sĩ quan, binh lính và nhân viên ngụy quyền, đòi trả lương, giải ngũ, bỏ súng về nhà hoặc làm binh biến, bắt liên lạc với ta. Ngày 9 tháng 7, 600 cảnh sát và an ninh biểu tình lên phủ thủ hiến đòi trả lương. Tiếp đến là một đại đội binh lính, sĩ quan địch ở Quán Hầu ra hàng lực lượng kháng chiến, cao hơn nữa là cả tiểu đoàn 27 ngụy đào ngũ. Hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền hoang mang sụp đổ, nhất là từ khi có lệnh ngừng bắn, mọi hoạt động của địch hầu như tê liệt. Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình được lập lại ở Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Ngày 27 tháng 7, Hội nghị Trung Giã bàn và kết thúc chiến tranh ở Đông Dương được khai mạc. Trên cơ sở các văn kiện hiệp nghị, ngày 1 tháng 8 năm 1954, ngừng bắn trên toàn cõi Đông Dương. Thắng lợi to lớn này là nguồn cổ vũ lớn lao đối với quân và dân ta, càng làm cho hàng ngũ địch hoang mang tan rã. Tuy vậy, từ ngày 20 đến 31 tháng 7, trong lúc chưa thi hành lệnh ngừng bắn thì chiến sự vẫn tiếp diễn. Địch cố gắng càn ba trận nhỏ vào Bích La, Triệu Phong, Vĩnh Lộc mong giành thắng lợi để giữ vững tinh thần cho bọn ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng cả ba trận càn này đều bị bộ đội và du kích ta chặn đánh, làm cho địch thiệt hại nặng, buộc phải rút lui. Tiếp tục phát huy thắng lợi, ngày 27 tháng 7, tiểu đoàn 229 tỉnh Quảng Bình tập kích diệt gọn vị trí Thượng Phong, tiêu diệt một đại đội địch. Cùng thời gian này, bộ đội địa phương và du kích Quảng Trị, Thừa Thiên tiếp tục đánh đổ sáu đoàn tàu quân sự của địch. Cuối tháng 7 năm 1954, cũng như trên các chiến trường cả nước, chiến tranh giải phóng ở Bình — Trị — Thiên đã kết thúc thắng lợi, quân địch buộc phải ngừng bắn vào ngày 1 tháng 8 năm 1954. * * * Trải qua tám tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến, quân và dân Bình — Trị — Thiên đã dũng cảm vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, liên tục chiến đấu kìm chân địch và đánh bại mọi cuộc hành quân càn quét, cướp phá của địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 10.000 tên, phá hủy 22 vị trí, hàng chục tháp canh, thu 1.566 súng các loại, đánh đổ 21 đoàn tàu, 83 xe quân sự, giải phóng một phần đất đai rộng lớn, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường Trung—Hạ Lào, đồng bằng Bắc Bộ, Điện Biên Phủ và bắc Tây Nguyên, hoàn thành tốt nhiệm vụ của một chiến trường phối hợp. Thắng lợi đó đánh dấu sự trưởng thành nhanh chóng của các lực lượng vũ trang và nhân dân ba tỉnh Bình - Trị - Thiên, đặc biệt là sự chỉ đạo chiến tranh và chỉ huy tác chiến của các cấp ủy Đảng và chỉ huy quân sự của các địa phương và đơn vị. Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu với tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cao đã khẩn trương chuẩn bị sớm cho bộ đội và cán bộ Bình — Trị — Thiên như quán triệt tình hình nhiệm vụ, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh về chỉ huy tác chiến. Các đơn vị được bổ sung quân số, trang bị và được huấn luyện cơ bản. Các địa phương cũng chuẩn bị chu đáo, toàn diện, nhất là công tác vận động quần chúng nhân dân, kết hợp với lực lượng vũ trang đẩy mạnh hoạt động đấu tranh chính trị và binh vận. Qua tám tháng chiến đấu liên tục trong hoàn cảnh về so sánh lực lượng chênh lệch (địch 5 ta 1), nhưng quân và dân Bình —Trị —Thiên đã chủ động phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang ba thứ quân, giữa quân và dân, giữa đấu tranh chính trị, quân sự, kinh tế và địch vận trong một kế hoạch tác chiến chung, có trọng tâm, trọng điểm ở từng chiến trường và từng thời gian thích hợp. Bước đầu vận dụng thành công kỹ thuật, chiến thuật đặc công, kết hợp nhân mối địch vận, kết hợp vũ khí công đồn, vận dụng linh hoạt các hình thức tác chiến du kích, đánh địch trên đường giao thông, trong căn cứ, tháp canh và đánh địch đi càn quét, cướp phá. Đánh thắng địch cả trên địa bàn rừng núi, trung du, đồng bằng, ven đô thị, trên bộ, trên sông, đánh thắng địch cả trong tác chiến, trong đấu tranh chính trị, kinh tế và binh địch vận, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn liên tục tiến công, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phá sập lô cốt, tháp canh, đánh sập và đánh hư hỏng các phương tiện vận tải của địch, đánh bại các cuộc càn quét, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, phối hợp đắc lực với các hướng chiến dịch, góp phần cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi cuối cùng. _____________________________________________ 1. Trong lúc cuộc đấu tranh giữa ta và địch đang diễn ra quyết liệt ở Bình—Trị—Thiên. Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho Tư lệnh Liên khu 4 dốc mọi lực lượng mở chiến dịch với nhiệm vụ trước mắt là tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng Quảng Bình, Vĩnh Linh. Nếu chiến dịch phát triển thuận lợi. Bộ sẽ tăng cường lực lượng giải phóng toàn bộ Bình — Trị — Thiên. Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu gấp rút tổ chức lực lượng, huy động lương thực, thực phẩm, nhân công ở Nghệ — Tĩnh để chuẩn bị đảm bảo cho chiến dịch. Khu sử dụng trung đoàn 270, trung đoàn 95 (điều từ Phủ Lý về), hai tiểu đoàn 195 (Nghệ An) và 392 (Hà Tĩnh) hành quân vào Quảng Bình để mở chiến dịch. Trong lúc lực lượng vũ trang Liên khu đang chuẩn bị cài thế đánh địch, trung đoàn 95 vừa đến bắc sông Gianh thì Hiệp nghị Giơ-ne- vơ được ký kết (20-7-1954). Chiến dịch giải phóng Quảng Bình, Vĩnh Linh chưa được thực hiện. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:11:00 pm III. QUÂN VÀ DÂN TOÀN LIÊN KHU THỰC HIỆN NHIỆM VỤ MỚI Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công chiến lược Đông— Xuân 1953 — 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 20 tháng 7 năm 1954. Hòa bình được lập lại trên toàn cõi Đông Dương, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Vĩ tuyến 17 trở thành giới tuyến tạm thời ngăn cách hai miền đất nước. Việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ làm cho tình hình Liên khu 4 có sự thay đổi lớn. Phía bắc Liên khu được hoàn toàn giải phóng, phía nam còn nằm trong vùng địch tạm đóng quân1. Quân Pháp phải rút khỏi Quảng Bình và huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị). Lực lượng ta ở Quảng Trị, Thừa Thiên ra Bắc tập kết. Tình hình đó tác động mạnh mẽ sâu sắc đến mọi hoạt động của Liên khu. Tuy nhiên, đối với Liên khu 4, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ ráo riết thực hiện âm mưu biến vùng tạm đóng quân Quảng Trị, Thừa Thiên (và cả miền Nam) thành căn cứ quân sự. Chúng ráo riết cưỡng bức đồng bào theo đạo Thiên chúa từ Bắc di cư vào Nam, kết hợp tung gián điệp ra vùng tự do, xây dựng cơ sở, nhằm thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Thực dân Pháp chuyển lính Âu — Phi ra Trị — Thiên, đóng dọc giới tuyến và các cứ điểm quan trọng như Huế, sân bay Phú Bài, Quảng Trị, Đông Hà, Dốc Miếu2. Đồng thời chúng đưa quân ngụy vào các tỉnh phía nam chỉ để lại 12 tiểu đoàn chiếm đóng các vị trí dọc bờ biển, chủ yếu là nam Thừa Thiên. Cùng với hoạt động chuyển quân, địch ráo riết bắt thanh niên để lập Bảo chính quân, là lực lượng trợ lực cho cơ quan ngụy quyền3. Song song với hoạt động quân sự, địch tăng cường hoạt động chính trị, ráo riết thực hiện âm mưu cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên chúa di cư vào Nam, chuẩn bị cơ sở chính trị cho Ngô Đình Diệm — trực tiếp là Ngô Đình Cẩn lập ngụy quyền tay sai, xúc tiến khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng để nhanh chóng ổn định tình hình của chúng ở Trị — Thiên. Tất cả hoạt động chính trị, quân sự của địch đều nhằm mục đích phá cơ sở chính trị của ta, phá Hiệp định Giơ-ne-vơ, tiến tới phá tổng tuyển cử tự do thống nhất nước nhà và thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Để lãnh đạo quân và dân trong Liên khu chấp hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ, ngày 2 tháng 8 năm 1954, Liên khu ủy họp hội nghị mở rộng quyết định những vấn đề cấp bách trước mắt cho toàn Liên khu: — Quy định phạm vi và kế hoạch tiếp thu vùng mới giải phóng Quảng Bình, Vĩnh Linh cho các đơn vị. — Chuẩn bị kế hoạch tập kết cán bộ, bộ đội và một bộ phận nhân dân Trị — Thiên, bố trí cơ sở Đảng và chính quyền ở lại hoạt động để lãnh đạo nhân dân Trị Thiên đấu tranh lâu dài với địch. — Chuẩn bị trao trả tù binh. — Chống âm mưu địch cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên chúa di cư vào Nam. — Xây dựng lực lượng vũ trang trong tình hình mới. Liên khu ủy đã điều chỉnh bố trí cán bộ, tổ chức cơ quan và bộ đội, đồng thời tổ chức học tập chính sách của Đảng đối với vùng mới giải phóng để chuẩn bị vào tiếp quản Quảng Bình và Vĩnh Linh. Do sự chuẩn bị chu đáo nên từ ngày 1 tháng 8 năm 1954 trở đi khi địch lần lượt rút khỏi Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy, Vĩnh Linh và trưa ngày 18 tháng 8, đơn vị cuối cùng của quân Pháp rút khỏi thị xã Đồng Hới, lập tức bộ đội và cán bộ ta lần lượt vào tiếp quản nhanh gọn, an toàn. Quảng Bình, Vĩnh Linh được hoàn toàn giải phóng. Ta đã nhanh chóng thành lập chính quyền cách mạng và ổn định mọi sinh hoạt bình thường cho nhân dân. Quê hương được giải phóng, nhân dân vui mừng phấn khởi, hăng hái tham gia mọi hoạt động xã hội, tích cực chuẩn bị đón tiếp cán bộ, bộ đội và một bộ phận nhân dân Trị — Thiên ruột thịt ra tập kết. Ở Trị — Thiên mặc dù thời gian chuẩn bị đi tập kết quá ngắn, nhưng cán bộ, bộ đội vẫn tranh thủ làm tròn trách nhiệm của chính quyền cách mạng đối với nhân dân. Một mặt tuyên truyền rộng rãi chủ trương chính sách của Đảng và thắg lợi của Hiệp định Giơ-ne-vơ, đồng thời vận động nhân dân giúp đỡ nhau nhanh chóng khôi phục lại sinh hoạt bình thường, bảo đảm đời sống và sản xuất. Mặt khác, để duy trì lãnh đạo, tổ chức quần chúng đấu tranh lâu dài với địch, các tỉnh ủy Quảng Trị — Thừa Thiên đã sắp xếp tổ chức Đảng, chính quyền và bố trí cán bộ, đảng viên ở lại hoạt động, gây cơ sở lâu dài để lãnh đạo nhân dân đấu tranh buộc địch thi hành đúng hiệp định. Do đó, sau khi cán bộ, bộ đội đi tập kết, phong trào đấu tranh ở Trị — Thiên vẫn được duy trì và phát triển. Ngày 23 tháng 8 năm 1954, sau khi hoàn thành mọi việc chuẩn bị, hơn 5.000 cán bộ, bộ đội và nhân dân Trị — Thiên đã rời nam vĩ tuyến 17 và ngày 15 tháng 9 đã ra tập kết tại Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Được đón tiếp ân cần, chăm sóc chu đáo trong tình thương yêu ruột thịt của nhân dân bắc Liên khu, cán bộ, bộ đội và nhân dân Trị — Thiên tập kết đã nhanh chóng ổn định đời sống. ______________________________________________ 1. Bắc Liên khu gồm các tỉnh Thanh Hóa. Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và huyện Vĩnh Linh. Nam Liên khu còn hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. 2. Đến tháng 11 năm 1954, lính Âu—Phi ở QuảngTrị có binh đoàn cơ động số 18 và tiểu đoàn 5 trung đoàn Bắc Phi (5/RTM). Thừa Thiên cũng có nhiều đơn vị lính Âu — Phi. 3. Đến tháng 11 năm 1954, Bảo chính quân ở Quảng Trị có 10 đại đội, mỗi đại đội 100 tên. Ở Huế có một tiểu đoàn dù ba đại đội, các nơi khác địch đang tích cực tổ chức. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:14:01 pm Ngày 28 lháng 7 năm 1954, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Liên khu tích cực chuẩn bị trao trả tù binh giữa địch và ta, huy động cán bộ, bộ đội và cơ quan ở Thanh Hóa, Nghệ An chuẩn bị trao trả tù binh. Đồng thời đấu tranh buộc địch phải trả hết sổ người của ta bị địch bắt từ trước tới nay. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo và đấu tranh kiên quyết, nên tại Sầm Sơn và Cửa Hội địch đã phải trả cho ta 27.790 anh em do trước đây địch bắt. Đồng thời ta cũng trả cho địch 3.084 tù binh và ân xá 790 tù chính trị. Việc trao trả tù binh giữa ta và địch diễn ra nhanh gọn, thể hiện lòng nhân đạo và thiện chí của ta. Nhưng địch lợi dụng việc trao trả tù binh trà trộn một số gián điệp vào phá hoại ta lâu đài. Liên khu còn tập trung chỉ đạo, tổ chức đón tiếp bộ đội giải phóng Lào, quân tình nguyện Việt Nam ở Lào và Cam-pu-chia về tập kết và đón đồng bào miền Nam (các tỉnh phía nam) ra tập kết. Các địa phương bố trí đầy đủ các trạm đón tiếp, huy động nhân dân Thanh — Nghệ — Tĩnh cung cấp lương thực, thực phẩm và chuẩn bị nhà cửa chu đáo. Do đó, công việc đón tiếp các đoàn về tập kết đã hoàn thành tốt đẹp. Tính đến tháng 11 năm 1954, Liên khu đã đón hơn 3.000 bộ đội giải phóng Lào, gần 4.000 quân tình nguyện Việt Nam ở Cam-pu-chia về tập kết, đồng thời đón 24 chuyến tàu chở 26.432 cán bộ, bộ đội và nhân dân miền Nam ra tập kết. Tất cả các đoàn đều được Liên khu đón tiếp ân cần, bố trí nơi ăn ở, sắp xếp công việc chu đáo, nên đời sống nhanh chóng được ổn định. Cùng thời gian này, các địa phương trong liên khu ra sức phục hồi sản xuất, ổn định đời sống sau chiến tranh và tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ phát động quần chúng giảm tô, giảm tức cho các xã còn lại, đồng thời tiến hành thí điểm cải cách ruộng đất ở sáu xã của huyện Nông Cống (Thanh Hóa)1, đánh đổ hoàn toàn giai cấp địa chủ, đem lại quyền làm chủ thực sự cho nông dân. Tháng 10 năm 1954, Hội nghị Liên khu ủy họp phân tích tình hình mọi mặt và chỉ rõ đặc điểm lớn nhất của Liên khu: Do giới tuyến phi quân sự ngăn cách lực lượng vũ trang ta và đối phương chạy ngang giữa liên khu (Trị — Thiên trở thành vùng tạm đóng quân của đối phương). Khu 4 là nơi duy nhất của miền Bắc Việt Nam tiếp giáp với địch, cho nên bảo vệ miền Bắc là nhiệm vụ nặng nề của Liên khu 4. Liên khu ủy đề ra nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang toàn liên khu: Phải xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích lớn mạnh không ngừng, đủ sức làm chỗ dựa cho nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh hoàn thành cải cách ruộng đất và cho Trị — Thiên đấu tranh hoàn thành thống nhất nước nhà, đồng thời đủ sức trấn áp bọn phản cách mạng, giữ vững và bảo vệ biên phòng, bờ biển và tham gia mọi công tác khác. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Liên khu ủy, Bộ tư lệnh Liên khu trực tiếp chỉ đạo chấn chỉnh, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, làm cơ sở xây dựng quân đội nhân dân tiến lên chính quy hiện đại. Sau khi hoàn thành tập kết chuyển quân, các đơn vị trong toàn Liên khu lần lượt học «Tình hình nhiệm vụ mới» và tài liệu quân đội nhân dân. Qua học tập, cán bộ, chiến sĩ nhận rõ trách nhiệm nặng nề của lực lượng vũ trang trong tình hình mới, yên tâm phấn khởi bước vào xây dựng, tổ chức, huấn luyện và công tác. Liên khu nhanh chóng ổn định tổ chức từ cơ quan đến các đơn vị, cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, bổ sung đủ quân số, trang bị, đủ khả năng công tác và sẵn sàng chiến đấu. Ngày 19 tháng 10 năm 1954, Bộ tư lệnh Liên khu quyết định chuyển bộ đội tập kết Trị — Thiên thành hai trung đoàn 269 và 271. Giải thể trung đoàn 161, lấy quân sổ bổ sung cho hai trung đoàn trên. Thành lập bốn tiểu đoàn biên phòng 923, 925, 927 và 929 để làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía tây Thanh — Nghệ — Tĩnh. Củng cố trung đoàn 280 và chuyển trung đoàn 44 huấn luyện sang làm nhiệm vụ khác. Kiện toàn trung đoàn 53 thứ hai (11-1954) đã đưa ra Bộ làm nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội. Cơ quan liên khu và các tỉnh đội cũng được kiện toàn theo tổ chức biên chế mới. Tháng 11 năm 1954, việc củng cố kiện toàn các cơ quan và đơn vị trong toàn Liên khu đã hoàn thành và bước vào huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, thực hiện thống nhất trang bị cho từng đơn vị để nâng cao sức mạnh chiến đấu2. Cùng với xây dựng bộ đội, dân quân du kích cũng được chấn chỉnh đúng mức về tổ chức chỉ huy, xây dựng lực lượng dân quân du kích trong sạch, vững mạnh làm nòng cốt trong công tác bảo vệ an ninh địa phương. Ngay từ khi ngừng bắn, Bộ tư lệnh Liên khu đã điều trung đoàn 270 vào Vĩnh Linh, thành lập ở đây đại đội công an thứ nhất (8-1954) và đại đội công an thứ hai (11-1954) làm nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến. Các đơn vị bộ đội, công an cùng với nhân dân và du kích Vĩnh Linh luôn đề cao cảnh giác, ngăn chặn kịp thời mọi âm mưu, hành động phá hoại của địch, bảo vệ an toàn khu phi quân sự. Tháng 12 năm 1954, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyễn Giáp thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ vào thăm quân và dân Liên khu 4. Đại tướng dành nhiều thời gian đến thăm cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 280 quân tình nguyện, trung đoàn 289, 291, bệnh viện K-43; các đơn vị bộ đội Khu 5, Nam Bộ, bộ đội giải phóng Lào, Cam-pu-chia tập kết trên địa bàn liên khu. Đại tướng ân cần thăm hỏi bộ đội, thương binh, bệnh binh, biểu dương thành tích chiến đấu và công tác của các đơn vị và nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ra sức xây dựng đơn vị vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu tốt, kỷ luật nghiêm, hoàn thành mọi nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Về tình hình và nhiệm vụ mới của Liên khu, Đại tướng chỉ rõ: Có hai khả năng: Một là ta đấu tranh kiên quyết, buộc địch phải thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ. Hai là Mỹ sẽ can thiệp sâu vào Đông Dương để phá hoại Hiệp nghị. ... «Trong Nghị quyết mới nhất về tình hình và nhiệm vụ mới, Bộ chính trị đã khẳng định: Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam. Cuộc đấu tranh để thống nhất đất nước là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, quyết liệt và cuối cùng sẽ giành được thắng lợi»3. Chấp hành chỉ thị của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và trên tinh thần nghị quyết này, quân và dân Liên khu 4 đã khẩn trương ổn định tình hình mọi mặt, nhanh chóng bước vào thực hiện nhiệm vụ mới của thời kỳ mới: xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. * * * Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, quân và dân cả nước đã giành thắng lợi quyết định trong Đông — Xuân 1953 — 1954, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Quân và dân Liên khu 4 dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh và trực tiếp là Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu, đoàn kết một lòng vượt qua mọi gian nan, thử thách ác liệt, hy sinh, dũng cảm chiến đấu, bền bỉ đấu tranh phá tan âm mưu địch trên cả ba chiến trường phía nam, phía tây, phía bắc của Liên khu, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ, cùng với quân và dân cả nước giành thắng lợi oanh liệt. Đông — Xuân 1953 — 1954, là một trong những thời kỳ thử thách lớn nhất, nỗ lực cao nhất của quân và dân Liên khu 4 trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Chỉ trong khoảng trên dưới 300 ngày, cán bộ, chiến sĩ, nhân dân trên cả ba chiến trường (ở ba hướng nam, bắc và tây) của Liên khu đều hoạt động tích cực, có hiệu quả cao mà chưa một thời kỳ nào đạt tới trong suốt 3.000 ngày kháng chiến. Ở hướng tây, quân và dân Liên khu 4 không tiếc sức người, sức của, cùng với quân và dân nước bạn mở cuộc tiến công lớn ở Trung Lào; ở hướng nam, chiến tranh du kích phát triển cao trên chiến trường phối hợp Bình — Trị — Thiên. Trên cả hai hướng này đã tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch và thu hút, giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược của chúng, góp phần tạo điều kiện cho chiến trường chính ở Điện Biên Phủ thắng lợi. Ở hướng bắc, đã dồn sức người, sức của cho kháng chiến, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của hậu phương đối với tiền tuyến, động viên và tổ chức một lực lượng lớn về bộ đội, dân công, một khối lượng lớn về lương thực, thục phẩm cho chiến trường trọng điểm của Liên khu là Trung Lào và đặc biệt cho chiến trường trọng điểm cả nước là Điện Biên Phủ với tinh thần, khí thế, số lượng và chất lượng phục vụ rất cao. Thắng lợi chưa từng có của Liên khu 4 trong Đông — Xuân 1953 — 1954 không chỉ nói lên lòng yêu nước nồng nàn và khả năng to lớn của nhân dân các tỉnh bắc Trung Bộ, mà còn thể hiện sự tiến bộ, trưởng thành trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp trong Liên khu. Trong giai đoạn cách mạng mới, phút huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết sắt son và những kinh nghiệm đấu tranh cách mạng kiên cường, sáng tạo trong cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp, quân và dân Liên khu 4 tiếp tục cùng cả nước tiến hành cuộc đấu tranh bền bỉ và anh dũng với kẻ thù mới lớn mạnh hơn, hung tàn và độc ác hơn — đó là đế quốc Mỹ, tiến lên giải phóng miền Nam mà trực tiếp là giải phóng Trị — Thiên, bảo vệ miền Bắc, trước hết là bảo vệ địa bàn Liên khu 4 hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. _____________________________________________ 1. Sáu xã: Dân Lý, Dân Lực, Dân Sơn, Dân Quyền, Minh Châu, Minh Sơn. 2. Đến tháng 11 năm 1954, lực lượng vũ trang toàn liên khu có hơn 25.000, trong đó bộ đội chủ lực có hơn 8.000 gồm ba trung đoàn 269, 270, 271 và tiểu đoàn 541, bộ đội địa phương có hơn 6.500 gồm bốn tiểu đoàn tỉnh, 34 đại đội và năm trung đội huyện. Ngoài ra, còn hơn 10.000 quân thuộc các trung đoàn 280, Trung đoàn 44, Đoàn an dưỡng 33, 34, K-42, K-43 và công an vũ trang. Cũng đến tháng 11 năm 1954, Đảng bộ quân đội trong Liên khu có 260 chi bộ với 5.600 đảng viên. 3. Theo lời kể của Thiếu tướng Lê Nam Thắng và đã được Đại tướng thông qua tư liệu thành văn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:16:23 pm KẾT LUẬN Theo tiếng gọi cứu nước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng, quân và dân Liên khu 4 cùng cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cực kỳ gian khổ, hy sinh anh dũng và giành thắng lợi hết sức vẻ vang. * * * Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, các đảng bộ địa phương ở Liên khu 4 còn rất non trẻ, thực hiện chức năng lãnh đạo công cuộc xây dựng một chế độ mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng tình hình trong nước và địa bàn liên khu lúc bấy giờ đặt ra cho đảng bộ cùng quân và dân Liên khu một tình thế hết sức hiểm nghèo như «ngàn cân treo sợi tóc”. Ngoài giặc đói, giặc dốt là những hậu quả tai hại của chế độ cũ để lại, bọn thực dân, đế quốc các loại và từ nhiều phía lăm le xâm lược nước ta. Âm mưu cơ bản của chúng là câu kết với các thế lực phản động trong nước nhằm lật đổ chính quyền cách mạng đang còn trong trứng nước, đặt lại ách đô hộ trên đầu nhân dân ta một lần nữa. Trên địa bàn Liên khu 4, quân Nhật còn hơn một vạn tên bại trận, chờ ngày giải giáp; gần hai vạn quân Tưởng có bọn tay sai phản động bám gót kéo vào; gần 1.000 quân Pháp đóng ở Huế và Vinh, tàn quân Pháp ở Lào áp sát biên giới Lào —Việt. Các loại kẻ thù trên câu kết với nhau âm mưu trong đánh ra, ngoài đánh vào, hòng tiến công đánh chiếm các tỉnh Liên khu 4. Đứng trước tình hình cực kỳ khó khăn, phức tạp ấy, Đảng và Chính phủ ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua biết bao khó khăn hiểm nghèo, hy sinh, gian khổ, từng bước đưa cách mạng tiến lên. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, các đảng bộ địa phương Liên khu 4 nắm vững đường lối chủ trương sách lược của Đảng, vận dụng sách lược đấu tranh thích hợp, khôn khéo nhằm phân hóa kẻ thù, tạm thời «hòa để tiến” với thực dân Pháp, gạt nhanh quân Tưởng ra khỏi địa phương, loại trừ bớt một kẻ thù nguy hiểm để tập trung đối phó với kẻ thù chủ yếu là thực dân Pháp. Với tinh thần rất kiên quyết về nguyên tắc và mềm dẻo về sách lược, với lòng yêu nước nồng nàn, tin tưởng vững chắc vào Đảng và Bác Hồ, với lập trường vững vàng và kiên định, với ý thức tổ chức kỷ luật cao và ý chí cách mạng triệt để, đảng bộ quyết tâm lãnh đạo quân và dân Liên khu 4 kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu khiêu khích của kẻ thù, cùng quân và dân cả nước duy trì khả năng hòa hoãn, tận dụng mọi thời cơ có lợi, biến thời gian thành lực lượng, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc. Thực dân Pháp ngày càng lấn tới, thời gian hòa hoãn không còn nữa, chiến tranh bùng nổ. Hưởng ứng lời kêu gọi «Toàn quốc kháng chiến» của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, đêm 19 tháng 12 năm 1946, quân và dân Liên khu 4 đã chủ động bao vây tiến công quyết liệt, giam chân quân Pháp tại Huế, bắt gọn quân Pháp tại Vinh, đánh bại các cuộc tiến công của quân Pháp ở biên giới Việt-Lào, giữ vững vùng tự do rộng lớn ở Thanh — Nghệ — Tĩnh, làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh» của thực dân Pháp ở Bình - Trị - Thiên. Suốt chín năm kháng chiến trường kỳ, trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, gian khổ của một chiến trường đã bị chia cắt, một chiến trường phối hợp mà bốn mặt đều có quân thù bao vây, quân và dân Liên khu 4 với tinh thần tự tin, quyết chiến, quyết thắng, tự lực, tự cường vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa chiến đấu, vừa sản xuất, phát động chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, lâu dài, từng bước đánh bại âm mưu «bình định» và thủ đoạn «lấy chiến tranh nuôi chiến tranh», «dùng người Việt đánh người Việt» của địch, xây dựng vùng tự do Thanh — Nghệ — Tĩnh thành một trong những hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến. Giải đất hẹp Bình — Trị — Thiên sớm bị thực dân Pháp đánh chiếm ngay từ đầu cuộc chiến tranh, khi lực lượng ta còn non yếu về mọi mặt, đây cũng là nơi địch tập trung nhiều lực lượng, áp dụng nhiều thủ đoạn đánh phá, bình định rất thâm độc. Quân dân ba tỉnh Bình — Trị — Thiên bền gan vững chí, kiên quyết khắc phục mọi khó khăn, ra sức khôi phục lại thế và lực, càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành. Từ những đội du kích nhỏ bé trong Cách mạng tháng Tám đã tiến lên xây dựng được ba thứ quân, xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp cả rừng núi, đồng bằng và đô thị, đưa quy mô tác chiến từ những trận đánh du kích nhỏ lẻ tiến lên những trận đánh tập trung quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn, kết hợp được tác chiến du kích với tác chiến tập trung với hiệu suất chiến đấu ngày càng cao, vừa chủ động đánh địch theo kế hoạch chiến trường, vừa phối hợp có hiệu quả trong kế hoạch tiến công chung của cả nước. Quân và dân Thanh - Nghệ - Tĩnh phát huy vai trò chiến lược của nhân tố hậu phương, một hậu phương đảm nhiệm chi viện cho ba chiến trường, tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ “phản đế, phản phong», vừa kháng chiến, kiến quốc, vừa thắng giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, đánh bại mọi cuộc biệt kích, tập kích của địch, trừng trị đích đáng các loại phản động, bảo vệ vững chắc hậu phương, vừa tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tiến hành giảm tô, cải cách ruộng đất, từng bước xây dựng hậu phương mạnh về chính trị, an ninh quốc phòng, kinh tế, làm cơ sở vững chắc nhất để quân và dân Thanh - Nghệ -Tĩnh dốc hết sức người sức của chi viện tiền tuyến. Hàng chục vạn thanh niên nhập ngũ, bổ sung xây dựng các đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, cung cấp hàng ngàn cán bộ từ Liên khu ủy đến chi ủy viên và đảng viên cho quân đội, hàng triệu lượt người đi dân công, thanh niên xung phong, hàng chục vạn tấn lương thực, thực phẩm phục vụ tiền tuyến, trong đó có năm chiến dịch lớn: Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, Trung Lào và Điện Biên Phủ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho các chiến trường, đồng thời góp phần giữ vững hành lang chiến lược Liên khu 3, Liên khu 10, và căn cứ Việt Bắc. Thấm nhuần tinh thần quốc tế vô sản cao cả, quân và dân Liên khu 4 đã giúp đỡ và phối hợp chặt chẽ với quân và dân Thượng Lào, Trung Lào tổ chức và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, phát triển chiến tranh du kích trên cơ sở liên minh chiến đấu, liên hoàn thế trận, liên kết hậu phương, góp phần xây đắp lên tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt-Lào. Được sự lãnh đạo sáng suốt của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Quốc phòng —Tổng tư lệnh, đảng bộ đã lãnh đạo quân và dân Liên khu 4 phát huy cao độ tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý thức tự lực, tự cường, vừa xây dựng, vừa chiến đấu, tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, gian khổ, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, đánh bại mọi thủ đoạn chiến lược, chiến dịch của địch trên chiến trường, chống sự chia cắt chiến trường của địch và phối hợp có hiệu quả với các chiến trường chính, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu phương, góp phần xứng đáng cùng quân và dân cả nước đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:17:19 pm * * * Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mang ý nghĩa lịch sử chiến lược to lớn. Quân và dân Liên khu 4 đã đánh bại mọi thủ đoạn chiến tranh và phá sập âm mưu chia cắt chiến trường Việt Nam, chia cắt chiến trường Đông Dương của kẻ thù. Đặc biệt là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một trong những hậu phương chiến lược của cả nước, mở ra một tiền đề tất yếu, một bài học sâu sắc góp phần khẳng định có tính lịch sử trên địa bàn Liên khu 4 cả trong cuộc đấu tranh quyết liệt chống kẻ thù mới là đế quốc Mỹ. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đưa đến sự biến đổi sâu sắc và toàn diện về chính trị và kinh tế, quốc phòng và an ninh trên địa bàn bốn tỉnh bắc Liên khu, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi bộ mặt và toàn bộ hoạt động của xã hội làm hậu thuẫn vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, giải phóng Trị — Thiên — Huế trong giai đoạn mới của cách mạng. Chặng đường chiến đấu gian khổ và thắng lợi vẻ vang của quân và dân Liên khu 4 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tài tình của Đảng, của Bác Hồ, sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Quốc phòng —Tổng tư lệnh, sự động viên cổ vũ và phối hợp với chiến thẳng trên các chiến trường, sự giúp đỡ của quân và dân Liên khu 3, Liên khu 5, là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu với quân và dân Lào anh em chống kẻ thù chung của hai dân tộc. Quán triệt đường lối kháng chiến của Đảng, vận dụng đúng đắn phương châm công tác trong từng giai đoạn, từng thời kỳ, trên từng địa phương, Liên khu ủy cùng các đảng bộ thuộc Liên khu 4 nắm vững quan điểm chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng, không ngừng xây dựng, củng cố và mở rộng mặt trận đoàn kết thống nhất toàn dân, kiên trì giáo dục và tổ chức quần chúng lấy việc giác ngộ tập hợp quần chúng, xây dựng thực lực cách mạng làm trung tâm... trên cơ sở đó mà tổ chức xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, giữa hai nhiệm vụ «phản đế và phản phong kiến», giữa «kháng chiến và kiến quốc» bằng nhiều hình thức và quy mô thích hợp. Do đó, đã xây dựng được cơ sở vững chắc trong nông dân, công nhân, lao động thành thị trong vùng tạm bị chiếm cũng như trong vùng tự do, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ trong thanh niên, phụ nữ, phụ lão, học sinh, trí thức tham gia kháng chiến, kiến quốc. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đảng bộ, quân và dân Liên khu 4 với truyền thống yêu nước và cách mạng kiên cường, được rèn luyện, thử thách trong cao trào Xô-Viết— Nghệ-Tĩnh và Cách mạng tháng Tám, với ý thức giác ngộ sâu sắc của nhân dân trong chế độ mới, đã chấp nhận mọi gian khổ hy sinh, kiên quyết đứng lên kháng chiến. Nó khẳng định một chân lý «Không có sức mạnh tàn bạo nào có thể phá nổi», «Ý chí độc lập của một dân tộc kiên cường». Tin vào dân và dựa chắc vào sức mạnh của lòng dân, kiên trì xây dựng, bồi dưỡng và phát triển lực lượng quần chúng cách mạng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân vững chắc trên cơ sở liên minh công-nông là một trong những nguồn gốc cơ bản của mọi chiến thắng, là động lực để thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh, là nguyên nhân của mọi thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta trong suốt chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ nhân dân mà ra, được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc, che chở, lực lượng vũ trang nhân dân Liên khu 4 đã không ngừng được xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, xứng đáng là nòng cốt trong cuộc chiến tranh nhân dân địa phương. Suốt chín năm kháng chiến phải trải qua nhiều gian lao, thử thách, có lúc rất gay go quyết liệt, song cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang vẫn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản lĩnh chiến đấu, gương mẫu chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, kiên trì bám đất, bám dân, ngày đêm lăn lộn để xây dựng và chiến đấu, củng cố cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang, tổ chức chính quyền, quần chúng tiến hành chiến tranh du kích, giết giặc, phá tề, trừ gian, đánh phá âm mưu bình định của địch, bảo vệ nhân dân, bảo vệ sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế, củng cố hậu phương, sẵn sàng đi chiến đấu trên các chiến trường. Trong cuộc chiến đấu gian khổ đó, biết bao nhiêu cán bộ, đảng viên, chiến sĩ đã ngã xuống, biết bao nhiêu tấm gương chiến đấu ngoan cường, dũng cảm và anh dũng hy sinh. Gương hy sinh oanh liệt của các liệt sĩ, thương binh, tinh thần chiến đấu bền bỉ, ngoan cường của đảng viên, cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang là một yếu tố của thắng lợi trên chiến trường, đưa đến thắng lợi vẻ vang của sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng bộ cùng quân và dân Liên khu 4. * * * Suốt chín năm chiến đấu, máu của đồng chí, đồng bào đã thấm đượm mảnh đất quê hương, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang và trang sử vàng chói lọi của tổ tiên ta. Cuộc chiến đấu của Đảng bộ, quân và dân Liên khu 4 cả ở tiền tuyến và hậu phương, cả nhiệm vụ quốc tế đã góp một phần xứng đáng cùng với toàn dân tộc để chiến thắng kẻ thù. Từ trong cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ đó, chúng ta đã làm phong phú thêm tính lý luận và thực tiễn góp phần làm sáng tỏ thêm những quy luật của cuộc chiến tranh cách mạng nói chung và chiến tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại. Từ thực tiễn về xây dựng và chiến đấu, đã nổi lên những vấn đề có tính quy luật và kinh nghiệm của cuộc kháng chiến trên địa bàn liên khu. 1. Nắm vững và vận dụng sáng tạo đường lối kháng chiến của Đảng, thấm nhuần tư tưởng «Nước lấy dân làm gốc» của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát động chiến tranh toàn dân, toàn diện trên địa bàn liên khu, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn nhất để đánh tháng quân địch. Do vị trí địa lý và đặc điểm địa hình, địa bàn Liên khu 4 có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng, cho nên suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Liên khu 4 luôn luôn là nơi diễn ra cuộc đụng độ gay gắt giữa các âm mưu thủ đoạn nham hiểm, tàn bạo của thực dân Pháp với ý chí quyết tâm kháng chiến sắt đá và nghệ thuật đánh giặc của đảng bộ và quân dân Liên khu 4. Đây không những là vùng đất hẹp, là chiến trường dễ chia cắt chiến lược, cắt đôi Việt Nam và Đông Dương, đây còn là vùng đất đã sản sinh ra những con người không dễ gì chịu khuất phục, chịu cúi đầu làm nô lệ, là nơi gây dựng và bùng nổ các cuộc đấu tranh, các cuộc khởi nghĩa chống xâm lược. Đánh chiếm và bình định được mảnh đất và con người Liên khu 4, sẽ là điều kiện cơ bản tạo thuận lợi cho thực dân, đế quốc nhanh chóng thôn tính nước ta, khuất phục nhân dân ta. Vì vậy, ngay từ đầu chiến tranh, thực dân Pháp đã dồn một lực lượng lớn và từ nhiều phía tiến công chớp nhoáng, đánh chiếm ngay hành lang chiến lược Đà Nẵng — Huế — Đông Hà — Xà-vẳn-nạ-khệt. Sau đó, chúng bố trí một hệ thống đồn bốt dày đặc để khủng bổ, tàn sát nhân dân, kết hợp thực hiện các thủ đoạn quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, hòng đè bẹp lực lượng kháng chiến, tiêu diệt ý chí chiến đấu của nhân dân ta, bình định cho được vùng chúng tạm thời kiểm soát. Biểu tượng của cuộc đụng đầu đó là «Bình — Trị — Thiên khói lửa». Ở vùng tự do Thanh — Nghệ — Tĩnh, chúng không đánh chiếm được bằng lực lượng bộ binh thì chúng dùng máy bay, tàu chiến, tung gián điệp, biệt kích phá hoại, ném bom, bắn phá ác liệt, hòng đánh vào ý chí chiến đấu của nhân dân, phá nát hậu phương, ngăn chặn sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến. Do những thủ đoạn tàn bạo và xảo quyệt của thực dân Pháp, phong trào kháng chiến có lúc, có nơi gặp những khó khăn vô cùng to lớn, những tổn thất nặng nề nhất là ở Bình — Trị — Thiên, nhưng cũng chính từ trong gian khổ, ác liệt đó, đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Liên khu 4 đã thể hiện đầy đủ bản chất cách mạng kiên cường, trí tuệ và mưu lược dày dạn hơn. Đội ngũ cán bộ, đảng viên và các chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang trưởng thành trong gian lao, thử thách đã nhanh chóng tiếp thu trung thành đường lối, các chủ trương và vận dụng sáng tạo mọi chính sách của Đảng vào thực tiễn liên khu, kiên định lập trường, vượt gian khổ, khắc phục khó khăn, luôn lạc quan tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ kính yêu, luôn giữ vững và nêu cao khí tiết của người cộng sản, phẩm chất của Anh bộ đội Cụ Hồ. Ở Bình — Trị — Thiên trải qua những năm tháng bị địch tàn sát, hủy diệt, phong trào kháng chiến tạm thời bị tan vỡ, đại bộ phận cán bộ, đảng viên bị bật khỏi cơ sở, bộ đội bị đẩy lên rừng. Nhưng với quan điểm quần chúng đúng đắn của đảng bộ địa phương «mất đất chưa phải là mất nước, phải tranh thủ từng người, từng thôn, quyết không để mất dân, chết cũng không rời cơ sở». Tỉnh ủy Thừa Thiên do đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư đã có chủ trương kiên quyết kịp thời động viên và tổ chức cho cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang quay về đồng bằng bám dân, bám đất, xây dựng cơ sở chính trị vũ trang, phát động chiến tranh du kích. Trong cuộc chiến đấu vô cùng quyết liệt đó, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, tinh thần bất khuất của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ đã gây niềm tin tưởng cho nhân dân vào sự nghiệp lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, tin tưởng mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến. Nhân dân sẵn có truyền thống yêu nước và cách mạng, và khi truyền thống ấy được phát động, được Đảng chỉ lối, đưa đường, truyền thống càng tăng lên gấp bội, trở thành sức mạnh vô địch, bảo đảm cho cuộc kháng chiến đi tới thành công, phong trào kháng chiến nhanh chóng khôi phục và phát triển nhảy vọt. Nhân dân vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh hướng về Đảng, về Bác Hồ kính yêu, với ý chí «tất cả cho tiền tuyến”, «tất cả để chiến thắng» bằng tấm lòng của mình, nhân dân tham gia nhiệt liệt «Tuần lễ Vàng», thực hiện triệt để lệnh tản cư, tiêu thổ kháng chiến, không hợp tác với địch... Hàng chục vạn thanh niên hăng hái đi bộ đội, đi dân công, thanh niên xung phong... hàng chục vạn già trẻ, gái trai vào dân quân, nhân dân dốc lòng, dốc sức chi viện cho tiền tuyến, và nếu cần «dốc bồ, thổ thúng» tất cả cho chiến sĩ ngoài mặt trận. Nhân dân còn hăng hái tăng gia sản xuất; phát triển kinh tế, hưởng ứng nhiệt liệt các phong trào «thi đua yêu nước, hậu phương thi đua với tiền phương». Với tính hơn hẳn của chế độ dân chủ nhân dân, nhân dân Thanh — Nghệ — Tĩnh đã có điều kiện dốc lòng, dốc sức «tất cả cho tiền tuyến chiến thắng». «Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc», sức mạnh tổng hợp to lớn của «trận địa lòng dân» đã biến thành sức mạnh phi thường, biến đường lối kháng chiến của Đảng thành hiện thực, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi vẻ vang. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:18:27 pm 2. Nắm vững đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, đáp ứng từng bước sự phát triển của cuộc kháng chiến. Từ nhân dân mà ra, do nhân dân đùm bọc, nuôi dưỡng và làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, các lực lượng vũ trang nhân dân Liên khu 4 luôn luôn được xây dựng trên tất cả các mặt: chính trị, quân sự, biên chế, trang bị, cách đánh... Ngay từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến đã được tổ chức gồm hai thành phần cơ bản, kết hợp chặt chẽ với nhau bao gồm lực lượng vũ trang tập trung và lực lượng vũ trang quần chúng rộng rãi, nhưng chưa được củng cố, trang bị lại kém cỏi, trình độ chỉ huy tác chiến của cán bộ còn non yếu, lại phải đối phó với một đội quân nhà nghề đông quân, vũ khí hiện đại ... lực lượng vũ trang nhân dân ở ba tỉnh Bình — Trị — Thiên bị tổn thất và lâm vào tình thế khó khăn... Trước tình hình đó, Liên khu ủy và các tỉnh ủy chủ trương đưa cán bộ, bộ đội trở về đồng bằng, bám dân, bám đất, tiến sâu vào lòng địch để xây dựng cơ sở chính trị vũ trang, phát động chiến tranh du kích... Các đơn vị chủ lực chuyển sang phương thức hoạt động «đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung» trực tiếp làm chỗ dựa cho phong trào chiến tranh du kích ở cơ sở, dìu dắt dân quân du kích lên bộ đội địa phương. Với phương châm «du kích chiến là chính» là phương thức tác chiến thích hợp với trình độ tác chiến của các lực lượng vũ trang trong giai đoạn 1948 — 1950, tiến lên «vận động chiến» quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn trong một chiến dịch dài ngày, tiêu diệt từng đơn vị, từng bộ phận quân địch. Đi đôi với việc xây dựng các tiểu đoàn, đại đội bộ đội địa phương tỉnh, huyện, lực lượng chủ lực qua rèn luyện đã trưởng thành, có thể tập trung thành «mặt trận của chủ lực», hình thành lực lượng ba thứ quân hoàn chỉnh làm cơ sở tiến lên thành lập đại đoàn chủ lực cơ động. Chỉ sau hơn ba năm kháng chiến, lực lượng vũ trang Liên khu 4 đã trưởng thành một bước: Ở tiền tuyến có «Mặt trận Bình — Trị — Thiên” là khối chủ lực tác chiến mạnh với ba trung đoàn bộ binh và một số đơn vị trợ chiến để phát triển thành sư đoàn 325, Liên khu có một số trung đoàn bộ binh được xây dựng toàn diện để phát triển thành đại đoàn (đại đoàn 304), tỉnh, huyện có các tiểu đoàn, đại đội bộ đội địa phương, xã, phường, thôn, xóm có lực lượng dân quân du kích đông đảo, hoạt động rộng khắp cả tiền tuyến, hậu phương, cả trong lòng địch và vùng sát địch mà nòng cốt là các đơn vị du kích chiến đấu. Ở hậu phương còn hình thành trung tâm huấn luyện tân binh, để sẵn sàng bổ sung quân cho chủ lực. Sự hình thành và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân ở Liên khu 4 đã phản ánh rõ nét tính chất vũ trang nhân dân với phương thức xây dựng là kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang tập trung với lực lượng vũ trang quần chúng rộng rãi, phát triển từ nhỏ đến lớn, từng bước hoàn thiện để phát huy sức mạnh của toàn dân, tiến hành chiến tranh nhân dân thắng lợi. Với sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang ba thứ quân trong thế trận toàn dân đánh giặc đã phát triển, Liên khu 4 đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ từ một chiến trường chiến tranh du kích, chuyển lên thành một chiến trường kết hợp chiến tranh du kích với vận động chiến, một chiến trường vừa có phong trào toàn dân đánh giặc, với những hoạt động tập trung của bộ đội chủ lực tác chiến phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ trong từng chiến dịch và chiến cuộc. Khi thời cơ đến, các đơn vị chủ lực phát triển thành đại đoàn chủ lực cơ động. Việc tác chiến tiêu diệt địch, bảo vệ địa bàn do lực lượng bộ đội địa phương và dân quân dư kích đảm nhiệm. Đó chính là kết quả cụ thể của sự nắm vững và biết vận dụng quan điểm và phương thức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng vào điều kiện cụ thể của Liên khu 4, với điều kiện và khả năng thực tế của cuộc kháng chiến trong từng giai đoạn, đáp ứng yêu cầu quy mô sử dụng lực lượng ngày càng lớn của cuộc chiến tranh. 3. Thấm nhuần sâu sắc ý nghĩa hậu phương là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh, ra sức xây dựng căn cứ và hậu phương chiến lược vững mạnh về mọi mặt. Đi đôi với xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, Đảng bộ và quân dân Liên khu 4 còn hết sức chăm lo xây dựng căn cứ hậu phương chiến lược vững mạnh về mọi mặt. Do đặc điểm và vị trí của địa bàn mà ở đây địch cố chia cắt và ta quyết chống chia cắt chiến lược và do vậy ở đây sớm hình thành ra hai vùng với hai nhiệm vụ cụ thể khác nhau. Bình - Trị - Thiên trực tiếp chiến đấu chống sự chiếm đóng, bình định và chia cắt chiến trường. Thanh - Nghệ - Tĩnh là hậu phương trực tiếp của chiến trường Liên khu và là một trong những hậu phương chiến lược của chiến trường chính Bắc Bộ và Trung Thượng Lào. Do nhận thức được hậu phương là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi trên chiến trường. Hậu phương lớn mạnh là nguồn cổ vũ, động viên chính trị, tinh thần, là nguồn cung cấp nhân tài, vật lực cho tiền tuyến, là cơ sở cho các quyết định phương hướng tiến công chiến lược và hoạch định đường lối chủ trương kế hoạch kháng chiến trong suốt quá trình tiến hành cuộc chiến tranh. Nhận rõ tầm quan trọng và cấp bách của nhân tố hậu phương nên Liên khu ủy đã có nhiều chủ trương, kế hoạch lãnh đạo quân và dân trong liên khu chăm lo xây dựng và củng cố hai vùng hậu phương vững mạnh về mọi mặt, nắm vững khâu then chốt là xây dựng chính trị, tinh thần, bảo đảm khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công — nông, tạo nên sự nhất trí cao, triệu người như một cùng hướng ra tiền tuyến, tất cả để chiến thắng. Ngay từ đầu kháng chiến, chấp hành chủ trương của Chính phủ, Liên khu ủy đã chủ trương tiến hành hai nhiệm vụ phản đế và phản phong, động viên nhân dân «kháng chiến kiến quốc», không ngừng «bồi dưỡng sức dân», xây dựng hậu phương ngày càng mạnh về kinh tế, đời sống nhân dân ngày được cải thiện vững chắc. Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, thực hiện khẩu hiệu «người cày có ruộng”, Đảng lãnh đạo nhân dân Liên khu 4 tiến hành cải cách ruộng đất, đánh đổ bọn địa chủ cường hào, đưa ruộng đất về cho nông dân — một cuộc đổi đời hết sức to lớn, nguồn cổ vũ động viên đối với người chiến sĩ ngoài mặt trận. Do thắng lợi của cải cách ruộng đất, nhân dân Liên khu 4 từng bước tiến hành lập các tổ đổi công, vần công, hợp tác xã nông nghiệp để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, trong sản xuất và tổ chức đời sống. Với một quan hệ sản xuất tập thể mang tính chất xã hội chủ nghĩa như vậy đã làm nền tảng cho việc huy động hàng chục vạn người ra tiền tuyến chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Những người ở lại hậu phương vừa đảm nhiệm công tác sản xuất, vừa bảo vệ hậu phương thay thế người ra trận, nhờ đó hậu phương Thanh — Nghệ — Tĩnh mới huy động được gần 900.000 tấn lương thực, thực phẩm cung cấp cho chiến trường. Một số lượng lớn so với sức sản xuất ở vùng đất Thanh — Nghệ — Tĩnh. Đi đôi với việc xây dựng hậu phương chiến lược Thanh — Nghệ — Tĩnh, Liên khu ủy và các tỉnh cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng hậu phương căn cứ tại chiến trường Bình — Trị — Thiên. Trong hoàn cảnh nhân dân bị địch kìm kẹp gắt gao và căn cứ kháng chiến thường xuyên bị uy hiếp. Nhưng nhờ quyết tâm của các cấp ủy Đảng từ tỉnh đến cơ sở, đã có những chủ trương, biện pháp có hiệu quả để xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng. Biện pháp cơ bản trước hết phải bắt đầu bằng các hoạt động bám đất, nắm dân để móc nối, tổ chức lực lượng quần chúng, vừa mở rộng các cơ sở chính trị bí mật, gắn liền với xây dựng cơ sở vũ trang bí mật; tổ chức nhân dân đấu tranh chống địch khủng bố, cướp bóc là chủ yếu, tiến lên tổ chức cho nhân dân hoạt động vũ trang, phối hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, dần dần biến những địa bàn vốn là vùng tạm bị chiếm thành các căn cứ du kích và vùng tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch, biến bậu phương an toàn của địch thành «tiền phương của ta». Khi tình hình thuận lợi hơn, cơ sở chính trị trong nhân dân đã củng cố vững chắc hơn, ta tiến hành phát động quần chúng nhân dân nổi dậy phá tề, trừ gian, biến các vùng tranh chấp thành căn cứ du kích, khu tự do của ta trong lòng địch, mở rộng vùng tự do xuống đồng bằng — nơi đông dân, nhiều của, là nơi cung cấp chủ yếu lương thực, thực phẩm cho nhân dân và bộ đội trên chiến trường. Để có điểm tựa vững chắc nhất cho các căn cứ du kích và vùng tranh chấp trong vùng tạm chiếm, ta xây dựng các “làng chiến đấu». Đó là hình thái tổ chức hạ tầng cơ sở của một phong trào toàn dân đánh giặc, có ý nghĩa thực tiễn trong chiến tranh giải phóng trước đây và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sau này. Làng chiến đấu và các căn cứ du kích, khu du kích tạo thành thế trận xen kẽ, cài răng lược, bao vây chia cắt trở lại hệ thống chiếm đóng của địch, vừa thu hút và giam chân địch, vừa bảo đảm cho các lực lượng vũ trang nhân dân trên chiến trường xây dựng và tác chiến thắng lợi. Theo đà phát triển của chiến tranh và sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang, từ những căn cứ du kích rải rác, bị địch chia cắt đã tiến lên xây dựng các căn cứ du kích liên hoàn, nối liền các căn cứ du kích ven biển, đồng bằng với các căn cứ miền núi phía đông Trường Sơn, tạo thành các căn cứ hậu phương, nối liền với vùng tự do Thanh — Nghệ — Tĩnh. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:19:02 pm 4. Luôn luôn chú trọng xây dựng, củng cố và phát triển khối đoàn kết liên minh chiến đấu Việt-Lào. Thấm nhuần tinh thần quốc tế vô sản cao cả và quan điểm Đông Dương là một chiến trường, quân và dân Liên khu 4 đã giúp đỡ và phối hợp chặt chẽ với quân và dân Lào và đông— bắc Cam-pu-chia tác chiến và xây dựng, góp phần xây đắp nên tình đoàn kết gắn bó, keo sơn giữa ba dân tộc Việt - Lào - Cam-pu-chia anh em. Xuất phát từ vị trí địa lý — từng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ — cùng chung một kẻ thù là thực dân Pháp xâm lược, cùng một mục đích chiến đấu là giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân, nên sau khi Hiệp nghị được ký kết giữa hai nước, tháng 1 năm 1945, cán bộ đông Lào đã cùng Xứ ủy Trung Kỳ và cán bộ các tỉnh Liên khu 4 đã bàn bạc với nhau liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc. Thực dân Pháp xâm lược ba nước Đông Dương, Đông Dương trở thành một chiến trường thống nhất, quân Pháp đánh chiếm Lào để đánh chiếm Tây Nguyên, Nam Bộ, lấy bắc Lào làm bàn đạp để tiến công bắc Việt Nam, sử dụng đường chiến lược số 7, số 8, số 9, số 12 tiến công các tỉnh Trung Bộ. Trung Lào với Liên khu 4 trở thành mặt trận miền trung Đông Dương. Lẽ đương nhiên hai nước Việt — Lào phải đoàn kết liên minh với nhau kháng chiến chống kẻ thù chung của hai dân tộc. Các đơn vị Liên quân Việt-Lào được tổ chức từ cuối năm 1945 đã phối hợp tác chiến dọc biên giới, cùng với bạn Lào xây dựng cơ sở trong các làng bản từ Sầm Nưa xuống Xa-ra-van, động viên nhân dân Lào đấu tranh từ thấp lên cao, từ đấu tranh chính trị, kinh tế kết hợp với đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp. Quán triệt đường lối kháng chiến mà Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã vạch ra, tiêu biểu cho sự trưởng thành lớn mạnh của kết quả liên minh chiến đấu Việt-Lào là thắng lợi của Đại hội đại biểu Trung Lào năm 1950. Đại hội đã đề ra phương châm và biện pháp cụ thể để vận động cách mạng. Mặt trận Ít-xa-la được mở rộng, cơ sở kháng chiến và căn cứ địa phát triển, nhiều địa phương ở Lào có chính quyền, đoàn thể và lực lượng bán vũ trang, chiến tranh du kích ở Trung Lào đã thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch. Trong suốt cuộc kháng chiến, Đảng bộ Liên khu 4 luôn chú trọng bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ ta về tinh thần quốc tế vô sản cao cả, về ý nghĩa của sự liên minh chiến đấu Việt — Lào, làm cách mạng ở Lào chính là làm cách mạng Việt Nam, giúp bạn là tự giúp mình. Quá trình hoạt động cách mạng ở Lào, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam luôn luôn bình đẳng và tôn trọng bạn, cùng làm cùng chịu trách nhiệm. Các chiến sĩ tình nguyện thấm nhuần phương châm đó, nên hết sức tận tụy, chịu mọi gian khổ, hy sinh, đồng cam cộng khổ với nhân dân Lào, góp phần xây dựng lực lượng cách mạng giúp bạn, Liên quân Lào — Việt mau chóng trưởng thành. Các tiểu đoàn Trấn Ninh (Nghệ An), tiểu đoàn Thanh Hóa xây dựng lực lượng giúp bạn ở Xiêng Khoảng, Sầm Nưa, tiểu đoàn 364 ở đường số 9, tiểu đoàn hai ở Nhom Ma Rát, Ma-ha-xây đã trở thành những hạt nhân đáng tin cậy của lực lượng vũ trang và nhân dân các bộ tộc ở phía đông nước Lào. Đầu năm 1953, với chiến dịch Thượng Lào, Liên quân Việt — Lào đã quét sạch quân địch ở miền tây Thanh — Nghệ —Tĩnh, giải phóng tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng, tạo ra vùng căn cứ rộng lớn, nối liền Việt Bắc—Tây Bắc, Thượng Lào với Thanh - Nghệ - Tĩnh. Đông-Xuân 1953- 1954, với chiến dịch Trung Lào, Liên quân Việt-Lào đã giải phóng hầu hết Trung Lào, tiểu đoàn 436 mũi thọc sâu của sư đoàn 325 cùng với bạn giải phóng Hạ Lào và đông—bắc Cam-pu-chia, góp phần cùng nhân dân Đông Dương hoàn thành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tình đoàn kết quốc tế, liên minh chiến đấu Việt-Lào phát triển theo quy luật khách quan của cách mạng mỗi nước, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc củng cố liên minh đặc biệt và hợp tác toàn diện chiến đấu chống kẻ thù mới là đế quốc Mỹ xâm lược trong những năm sau. Liên minh đặc biệt của tình đoàn kết chiến đấu Việt Lào là ý nghĩa sống còn của hai dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước hiện nay. * * * Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh của Đảng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Bác Hồ kính yêu, được sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Ouốc phòng — Tổng tư lệnh, nắm vững quy luật chiến tranh cách mạng Việt Nam, Đảng bộ Liên khu 4 đã lãnh đạo nhân dân và các lực lượng vũ trang liên khu tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo có những khuyết điểm và những lệch lạc trong chủ trương, chính sách và hoạt động thực tiễn, dẫn đến những tổn thất, những thất bại cục bộ tạm thời, gây khó khăn và ảnh hưởng đến sự trưởng thành của cuộc kháng chiến. Song, các cấp ủy đảng từ Liên khu xuống cơ sở, với bản lĩnh chính trị vững vàng, với ý chí kiên cường, dũng cảm, dám nhìn thẳng vào thiếu sót, khuyết điểm để tiếp tục khắc phục, dựa vào nhân dân, bám sát phong trào, đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi. Những kinh nghiệm thực tiễn về lãnh đạo, chỉ huy và những bài học quý báu trong xây dựng lực lượng và chiến đấu đã được các cấp ủy Đảng từng bước nghiên cứu và vận dụng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng quân thù. Kháng chiến thắng lợi nhưng chưa trọn vẹn, nhiệm vụ giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc chưa hoàn thành, một nửa nước thân yêu — trong đó có đồng bào hai tỉnh Trị—Thiên ruột thịt còn phải sống dưới nanh vuốt của kẻ thù Mỹ — ngụy. Giương cao cờ «Quyết chiến, quyết thắng» của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân Liên khu 4 cùng cả nước đứng lên tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:20:55 pm PHỤ LỤC THÀNH TÍCH CỦA QUÂN VÀ DÂN LIÊN KHU 4 TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Liên khu 4 bắt đầu từ 0 giờ 00 ngày 20 tháng 12 năm 1946 (nổ súng tấn công quân Pháp ở Huế và Vinh) đến ngày 01 tháng 8 năm 1954 (ngày có lệnh ngừng bắn tại chiến trường Bình — Trị — Thiên), quân và dân Liên khu 4 đã lập thành tích vẻ vang: I. VỀ CHIẾN ĐẤU — Đánh 7.400 trận, tiêu diệt 69.850 tên địch, bắt 3.400 tên, ra hàng 4.500 tên. — Thu: 8.130 súng các loại. — Phá hủy: 366 xe cơ giới, 200 khẩu pháo và súng cối, 15 đầu máy, 117 toa xe lửa. Bắn rơi 13 máy bay. II. VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG — Góp phần xây dựng: hai đại đoàn chủ lực, 11 trung đoàn bộ binh chủ lực, một trung đoàn pháo binh, một trung tâm huấn luyện, 16 tiểu đoàn, 60 đại đội, 12 trung đội bộ đội địa phương, 12 vạn dân quân du kích. III. HUY ĐỘNG SỨC NGƯỜI, SỨC CỦA CHO TIỀN TUYẾN — 134.600 thanh niên nhập ngũ. — Bổ sung đi các chiến trường gần 100.000 người, biên chế thành tám trung đoàn và đơn vị tương đương, sáu tiểu đoàn và 40 đại đội (không tính hai đại đoàn 304, 325). — Hơn hai triệu lượt người đi dân công hỏa tuyến. — 120.000 lượt người đi mở đường chiến lược. — Cung cấp cho chiến trường 870.000 tấn lương thực, thực phẩm. — 900 tấn vũ khí do địa phương liên khu sản xuất. — Làm 530 ki-lô-mét đường chiến lược, 145 cầu lớn, nhỏ, 30 ki-lô-mét đường xe goòng. Hết! |