Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:38:54 pm



Tiêu đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2024, 10:38:54 pm

QUÂN KHU 4
LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
(1954-1975)[/b]





NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
HÀ NỘI – 1994

 

 

CHỈ ĐẠO NỘI DUNG:

-   Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (có sự giúp đã trực tiếp của Thiếu tướng Trần Văn Ân)


BIÊN SOẠN:

-   Đại tá: Võ Văn Minh (chủ biên)
-   Đại tá: Trần Ngọc Quỳ
-   Đại tá: Phan Xuyến
-   Đại tá: Văn Đình Đồng
-   Đại tá: Nguyễn Toàn Thắng
-   Thượng tá: Nguyễn Thanh Hồng
-   Trung tá: Trần Duy Thược
-   Đại úy: Nguyễn Công Thành

SƯU TẦM TƯ LIỆU:

-   Thượng tá: Lê Đình Huy
-   Thiếu tá: Nguyễn Bá Hoan
-   Đại úy: Nguyễn Hữu Bộ


LỜI NÓI ĐẦU

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, song nhiệm vụ giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam chưa hoàn thành trọn vẹn. Đất nước ta tạm chia làm hai miền. Khu 4 là địa bàn trực tiếp chịu sự chia cắt đó.

Quảng Trị, Thừa Thiên - nam vĩ tuyến 17 còn chịu ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai của chúng. Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) – bắc vĩ tuyến 17 được hoàn toàn giải phóng.

Từ đó, quân và dân Khu 4 cùng lúc làm cả hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Quảng Trị, Thừa Thiên vừa làm nhiệm vụ giải phóng miền Nam, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trực tiếp là Quân khu 4. Các tỉnh phía bắc quân khu vừa làm nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vừa làm nhiệm vụ hậu phương cho cách mạng miền Nam, trực tiếp là Trị - Thiên - Huế.

Để phù hợp với ý đồ chiến lược chung, những năm đầu của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phần bắc vĩ tuyến 17, từ Vĩnh Linh đến Nghệ An được tổ chức thành Quân khu 4, có Đảng ủy và Bộ Tư lệnh quân khu, đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh1. Quảng Trị, Thừa Thiên là phân khu Bắc, thuộc Khu 5, do Khu ủy Khu 5 và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lãnh đạo, chỉ huy.

Đến giữa năm 1966, thực hiện chủ trương chiến lược của Trung ương, chiến trường phía nam quân khu có sự thay đổi lớn: Khu ủy, Quân khu Trị - Thiên (B4) và mặt trận Đường số 9 – bắc Quảng Trị (B5) được thành lập. Quân khu Trị - Thiên, do Khu ủy Trị - Thiên lãnh đạo, về mặt quân sự chịu sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh. Mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị, do Bộ Tư lệnh Quân khu 4 phụ trách, trực tiếp là Bộ Tư lệnh tiền phương của quân khu.

Từ năm 1968 đến năm 1972, trên hướng đường số 9 - bắc Quảng Trị, Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên chỉ đạo mọi mặt, nhưng khi mở những chiến dịch tác chiến quy mô lớn như: chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968), chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971) và chiến dịch giải phóng Quảng Trị (1972) đều do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy.

Sau chiến thắng Quảng Trị năm 1972, mặt trận B5 đã hoàn thành nhiệm vụ và nhập vào Quân khu Trị - Thiên. Toàn bộ chiến trường Trị - Thiên được thống nhất do Khu ủy và Quân khu Trị - Thiên trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy.

Ngoài việc lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang quân khu trên hai chiến trường trong nước, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 4 còn chỉ huy lực lượng tình nguyện Việt Nam ở chiến trường Trung Lào và Hạ Lào trong một thời gian dài.

Xuất phát từ vị trí có tầm quan trọng chiến lược, do yêu cầu nhiệm vụ, nên ở địa bàn Quân khu 4 (miền Nam cũng như miền Bắc) không chỉ có lực lượng địa phương mà luôn có những đơn vị chủ lực của Bộ, của nhiều quân chủng, binh chủng trực tiếp chiến đấu và lực lượng của các địa phương khác trên miền Bắc chi viện tích cực. Suốt 21 năm chống Mỹ, cứu nước, tiền tuyến - hậu phương Quân khu 4 đã thực hiện các nhiệm vụ chiến lược sau:

- Mười năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1964), quân và dân Quân khu 4 tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, cải cách ruộng đất, chống cưỡng ép di cư, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, khôi phục và phát triển kinh tế; ra sức xây dựng thực lực, củng cố hòa bình, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa, làm nhiệm vụ hậu phương trực tiếp cho cách mạng miền Nam, xây dựng hành lang chiến lược phối hợp cùng bạn Lào tiến công mở thế; chuẩn bị thế trận đánh bại những bước leo thang ra miền Bắc của đế quốc Mỹ.

Ở Trị - Thiên - Huế, đây là thời kỳ chuyển thế đấu tranh, giữ gìn lực lượng, tập trung đánh bại các âm mưu, thủ đoạn "tố cộng, diệt công", "bình định” tàn khốc của Mỹ - Diệm; chuẩn bị mọi mặt tiến lên đồng khởi ở miền núi, nông thôn, đồng bằng.

Bốn năm tiếp theo (1965 - 1968), thời kỳ cả tiền tuyến và hậu phương quân khu đã trở thành địa bàn đọ sức quyết liệt với chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Hậu phương chuyển hẳn vào thời chiến, đánh bại các bước leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của địch. Tiền tuyến chuyển sang một thời kỳ mới vô cùng sôi động. Sự ra đời của Quân khu Trị - Thiên và mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị, thu hút kìm chân gần một phần ba lực lượng quân viễn chinh Mỹ, tạo nên một thế mới, lực mới có lợi cho ta trên toàn bộ chiến trường. Là thời kỳ của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, 25 ngày đêm đánh địch phản kích giữ thành phố Huế, 170 ngày đêm vây hãm Khe Sanh làm chấn động nước Mỹ, và cũng là thời kỳ đế quốc Mỹ thực hiện thủ đoạn "ném bom hạn chế" cực kỳ thâm độc, hòng bẻ gãy "cán xoong", ''bóp nghẹt cuống họng", ngăn chặn sự chi viện từ hậu phương ra tiền tuyến.

Giai đoạn từ 1969 - 1972, tranh thủ lúc Mỹ phải "xuống thang" trong cuộc chiến tranh phá hoại, Quân khu 4 ra sức củng cố và bảo vệ hậu phương, chi viện đắc lực chiến trường; Trị - Thiên khôi phục lại thế chiến lược ba vùng, tham gia đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 - bước thí điểm chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ trên chiến trường Đường số 9 - Nam Lào. Tiếp tục phát triển thế tiến công, năm 1972, quân và dân ta mở chiến dịch Quảng Trị, đập tan một trong những tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở chiến trường miền Nam, giải phóng Quảng Trị, góp phần tích cực làm chuyển biến tương quan lực lượng, buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri, tạo điều kiện cho cách mạng miền Nam bước sang một giai đoạn mới.

Từ năm 1973 đến năm 1975 là giai đoạn toàn quân khu khẩn trương chuyển thế, chuyển lực, chống lấn chiếm, phá "bình định", giữ vững và cải thiện thế trận, chi viện đắc lực cho chiến trường trực tiếp, dồn sức cho chiến trường toàn miền Nam; tiến công giải phóng Trị - Thiên - Huế, cùng cả nước giành thắng lợi quyết định, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc; đồng thời làm hậu thuẫn vững chắc, hỗ trợ quân và dân Lào nổi dậy tiến công giành toàn bộ chính quyền, giải phóng đất nước.

Qua những năm chống Mỹ, cứu nước, trên địa bàn Khu 4, từ Tam Điệp đến Hải Vân, từng thời kỳ theo ý đồ chiến lược được phân chia cụ thể về tổ chức chiến trường, về chỉ đạo chỉ huy, có Quân khu 4, Quân khu Trị - Thiên, một trận Đường số 9... Nhưng về mục đích, nhiệm vụ chính trị, cũng như sức mạnh tổng hợp được phát huy, thực chất là một chiến trường thống nhất, Thanh, Nghệ, Tĩnh - Bình, Trị, Thiên là một, nam – bắc vĩ tuyến 17 là một.

Trong 21 năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, địa bàn Quân khu 4 vừa mang cả tính chất hậu phương, tiền tuyến, vừa là một trong những địa bàn tổ chức thực hiện sự liên minh chiến đấu của hai nước Việt - Lào trong công cuộc chống kẻ thù chung, giải phóng đất nước và phòng thủ bào vệ độc lập chủ quyền của từng nước.

Quân khu 4, sớm hình thành, tích tụ, và cũng sớm đương đầu với những thử thách mới của đất nước sau khi có Hiệp định Giơ-ne-vơ; nơi trực tiếp đọ sức quyết liệt với quân thù, chịu đựng biết bao hy sinh, để chiến đấu và chiến thắng. Và đây, cũng là nơi thể hiện sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam được phát triển cao: kết hợp giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị; kết hợp giữa phong trào đấu tranh của quần chúng cách mạng với hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương và tác chiến hiệp đồng binh chủng của các binh đoàn chủ lực cơ động trong những thời điểm có tính chiến lược quyết định.


*

*    *

Với những đặc điểm, tính chất vừa nêu, việc tái hiện chuẩn xác, sinh động toàn cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên địa bàn Quân khu 4 trong một tập lịch sử là việc làm hết sức khó khăn, đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực về công tác chỉ đạo và tổ chức biên soạn.

Cảm ơn các đồng chí cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cũ của Quân khu - những người đã từng giữ những trọng trách trên các hướng chiến trường trong thời kỳ đánh Mỹ; cảm ơn các đồng chí cán bộ các địa phương trong quân khu, các cơ quan Bộ Quốc phòng, đơn vị hữu quan và đặc biệt là Viện Lịch sử quân sự Việt Nam... đã động viên, chỉ đạo, giúp đỡ nhiệt tình chúng tôi trong quá trình biên soạn tập sách này. Cảm ơn Nhà xuất bàn Quân đội nhân dân đã tạo điều kiện để sách ra mắt bạn đọc.

Mặc dầu tập thể tác giả đã có nhiều cố gắng, song do việc lưu giữ, xử lý tư liệu và khả năng thể hiện còn nhiều hạn chế, nên lần đầu tiên đến với bạn đọc, cuốn sách khó tránh khỏi những sai, sót. Rất mong được sự đóng góp của các đồng chí và các bạn.


THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY,
BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 4

 ______________________________________________
1. Thời kỳ này tỉnh Thanh Hóa thuộc Quân khu Hữu Ngạn.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2024, 10:38:49 pm

CHƯƠNG I
CỦNG CỐ HÒA BÌNH, XÂY DỰNG THỰC LỰC,
KỊP THỜI CHUYỂN HƯỚNG ĐẤU TRANH
(1954 - 1960)


I - ĐẤU TRANH ĐÒI THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TUYẾN ĐẦU

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Theo những điều khoản của Hiệp định, thực dân Pháp phải rút quân và tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào.

Là một nước trực tiếp giúp Pháp trong chiến tranh xâm lược Đông Dương và là thành viên của Hội nghị Giơ-ne-vơ, nhưng đế quốc Mỹ không ký vào bản tuyên bố chung của Hiệp định. Với ý đồ chia cắt lâu dài nước ta, nên Hiệp định Giơ-ne-vơ vừa có hiệu lực, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam làm thủ tướng bù nhìn. Ngày 8 tháng 9 năm 1957, Mỹ lôi kéo các nước Anh, Pháp, Úc, Thái Lan, Phi-líp-pin, Pa-ki-xtan lập khối quân sự Đông Nam Á (gọi tắt là SEATO) và đặt miền Nam Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia dưới sự bảo hộ của khối này. Cùng trong tháng 9, chính phủ Mỹ quyết định viện trợ trực tiếp cho Diệm không qua Pháp, nhằm xây dựng một chính quyền tay sai thân Mỹ ở miền Nam.

Tháng 11 năm 1954, chính phủ Mỹ cử tuớng Cô-lin sang làm đại sứ ở Sài Gòn với kế hoạch sáu điểm nhằm tập trung củng cố chính quyền Diệm, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam. Trước sức ép của Mỹ, lại ở thế yếu, thực dân Pháp nhanh chóng nhượng bộ và bỏ trách nhiệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Ngay sau khi sang miền Nam Việt Nam, Cô-lin ra Quảng Trị nghiên cứu tình hình, vạch cho Diệm kế hoạch phòng thủ khu vực giới tuyến, ngăn chặn sự tiến công của ta từ miền Bắc.

Được Mỹ nuôi dưỡng, trợ giúp, Ngô Đình Diệm tổ chức xây dựng đội quân ngụy tay sai gồm 10 sư đoàn chính quy, đồng thời cho giải ngũ những sĩ quan thân Pháp, gạt bỏ những người không ăn cánh. Mỹ - Diệm điều ba trung đoàn Âu - Phi, sáu tiểu đoàn ngụy từ các nơi về Thừa Thiên, Quảng Trị, tập trung đánh phá phong trào cách mạng. Chúng tổ chức thêm 31 đại đội “nghĩa dũng đoàn", "bảo chính đoàn", mở rộng các sân bay Đông Hà, Phú Bài, xây dựng hệ thống hầm hào, công sự phòng thủ nam giới tuyến và vùng đường số 9, tung các toán gián điệp, biệt kích ra Vĩnh Linh, Quảng Bình móc nối với các ổ, nhóm phản động nằm vùng, phá hoại hậu phương ta.

Với mưu đồ sâu xa và những hoạt động trực tiếp của Mỹ - Diệm, vĩ tuyến 17 - giới tuyến quân sự tạm thời đã cắt đôi địa bàn Khu 4. Các tỉnh nam và bắc vĩ tuyến từ đây trở thành nơi đụng đầu trực tiếp giữa lực lượng cách mạng và thế lực phản cách mạng.

Cùng với cả nước bước vào cuộc đấu tranh mới, quân và dân Liên khu 4 đồng thời phải thực hiện cả hai nhiệm vụ mà Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung uang Đảng đã đề ra trong Nghị quyết tháng 9 năm 1954 là: "Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến để củng cố hòa bình; ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và phát triển sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam nhằm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc". Quán triệt nhiệm vụ Đảng đã đề ra, căn cứ tình hình thực tế địa bàn, Liên khu ủy chỉ đạo các tỉnh khẩn trương ổn định đời sống nhân dân, củng cố thế đấu tranh chính trị ở Quảng Trị, Thừa Thiên, kiên quyết đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Vừa lo khôi phục kinh tế, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, Liên khu 4 còn được Trung ương giao nhiệm vụ đón tiếp cán bộ, bộ đội và đồng bào miền Nam tập kết với phương châm "tận tình, chu đáo". Tuy công việc bề bộn, nhưng Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh liên khu đã tổ chức, chỉ đạo chặt chẽ việc đón tiếp, sắp xếp việc làm cho cán bộ, đồng bào miền Nam, coi đó là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của Liên khu trong những ngày đầu hòa bình. Liên khu thành lập ban chỉ đạo, ở các tỉnh có "Phòng miền Nam" và các bộ phận quân nhu, vận tải thường trực ở cửa Hội, Sầm Sơn cùng phối hợp với lực lượng của Bộ đón tiếp chu đáo cán bộ và nhân dân miền Nam tập kết. Đồng bào Vĩnh Linh và các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa đã coi cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết như anh em một nhà, đã "nhường áo, sẻ cơm" giúp đỡ trâu, bò, dụng cụ sản xuất..., để đồng bào nhanh chóng ổn định đời sống. Đồng bào miền Nam tập kết hết sức thông cảm với khó khăn của nhân dân Liên khu 4, đã đồng cam cộng khổ trong mọi công việc, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định trật tự an ninh. Liên khu đã thành lập 51 tập đoàn sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp cho cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết. Riêng Vĩnh Linh và Hà Tĩnh tiếp nhận 5.157 nhân khẩu về làm ăn, sinh sống ở địa phương. Trong thời gian ngắn, đã có hơn một phần ba số cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ở địa phận liên khu có một cuộc sống ổn định.

Hậu quả chiến tranh chưa khắc phục được, sản xuất nông nghiệp lại bị thiên tai cuối năm 1954 tàn phá đã làm cho toàn liên khu có hơn 600.000 người bị đói, nghiêm trọng nhất là nhân dân các huyện Kỳ Anh, Can Lộc, Hương Khê (Hà Tĩnh), Nông Cống, Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Quảng Trạch (Quảng Bình).

Nhân lúc ta gặp khó khăn, Mỹ - Diệm cấu kết với bọn phản động ở Vương quốc Lào phá hoại ta từ phía tây. Tháng 10 năm 1956, Trần Văn Đôn phó tổng tham mưu trưởng ngụy cùng với Thủ Quang Hoàng quân khu trưởng quân khu 2 bàn mưu với bọn phản động Vương quốc Lào phá hoại miền Bắc, chủ yếu là dọc biên giới Lào - Việt từ vĩ tuyến 17 đến Thanh Hóa.

Lúc này, các tổ chức phản động Việt Nam trước đây ở Lào theo chân Mỹ ngóc đầu dậy hoạt động. Một nhóm phỉ do tên Giáo Lê cầm đầu đóng tại vùng Mường Xải, Mường Pao, Sầm Tớ và tổ chức “Liên bang Thái tự trị" do Lò Khăm Thi cầm đầu, được Mỹ trực tiếp chỉ đạo (trụ sở của chúng đặt ở Bản Ban, gần biên giới Lào - Việt), có nhiệm vụ đào tạo biệt kích, tập hợp phỉ, gián điệp, lôi kéo dân di cư sang Lào. Vùng biên giới từ Thanh Hóa đến Quảng Bình luôn bị chúng phá hoại.

Tháng 9 năm 1955, hai toán gián điệp, biệt kích thâm nhập vào vùng núi Thanh Hóa, Nghệ An, móc nối với bọn phản động cũ, tuyên truyền kích động một số đồng bào vùng Kỳ Sơn (Nghệ An), Quan Hóa (Thanh Hóa) xuyên tạc đường lối của Đảng, dụ dỗ, lôi kéo họ di cư.

Cùng lúc này, bọn phản động nội địa, nổi lên phá hoại. Ở Quảng Bình có "đảng Việt Hưng" do tên Lễ cầm đầu. Huyện Hướng Hóa có "đảng Cù Xuân" gồm những tên phản động thuộc tầng lớp trên của dân tộc Vân Kiều ra đời từ năm 1949 do hai tên Bót Ót, Nhung Nhưa cầm đầu. Các đảng phái phản động này lợi dụng giáo lý, mê hoặc quần chúng, nói xấu chế độ, nói xấu Đảng ta, kích động hằn thù dân tộc.

Đặc biệt, địch ra sức lôi kéo, cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên chúa di cư vào Nam, với ý đồ tạo ra những cuộc bạo loạn chính trị, bổ sung lực lượng cho Diệm, "biến miền Bắc thành một bãi sa mạc để lại cho Việt Minh". Chúng lôi kéo hàng nghìn giáo dân di cư vào Nam và liên tiếp gây ra những vụ bạo loạn ở Nghệ An, Thanh Hóa.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2024, 10:41:09 pm

Tháng 4 năm 1955, địch gây ra vụ bạo loạn ở Diễn Tiến (Diễn Châu, Nghệ An). Đây là vị trí quan trọng có đường quốc lộ số 1 chạy qua, nơi xuất phát đường số 7, lại nằm sát cửa biển và là tụ điểm của bọn phản động ba huyện: Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu. Địch hy vọng ngọn lửa bạo loạn mà chúng nhen lên nơi này sẽ nhanh chóng lan sang vùng khác. Lực lượng nòng cốt là 17 tên phản động từ miền Nam ra. Bọn này tổ chức một đội vũ trang với 100 tên được trang bị giáo mác, kết hợp với bọn phản động ở địa phương tuyên truyền, lôi kéo giáo dân vào Nam. Địch tung luận điệu "chúa sắp hiện hình", "đến đây gặp chúa", "đi Nam để làm ăn, ở miền Bắc sẽ bị ném bom nguyên tử"... Bị chúng lừa bịp, cưỡng ép, hơn hai chục nghìn giáo dân các vùng Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu kéo đến tập trung xung quanh nhà thờ Diễn Tiến.

Trước khi bạo loạn nổ ra, Bộ Tư lệnh liên khu điều một tiểu đoàn của trung đoàn 269 gấp rút từ Vinh ra Diễn Châu. Đồng chí Lê Nam Thắng, Tư lệnh liên khu và đồng chí Nguyễn Hữu Phúc tỉnh đội trưởng Nghệ An trực tiếp chỉ đạo, phối hợp thống nhất lực lượng giữa ba huyện Diễn - Yên - Quỳnh để tiến hành dập tắt bạo loạn... Ta tổ chức một lực lượng quần chúng cách mạng khoảng một nghìn người (cả lương và giáo) gặp gỡ số giáo dân bị dụ dỗ lôi kéo, giải thích, nói rõ âm mưu kẻ thù, khuyên bà con trở về quê làm ăn. Tiếp đó, một đội vũ trang được lệnh vào nhà thờ Diễn Tiến, bắt năm tên đầu sỏ phản động đội lốt cha cố, đưa ra trước đông đảo quần chúng, buộc bọn này phải nói rõ mưu đồ của chúng. Được nhân dân hỗ trợ, 18 tên phản động khác lần lượt bị bắt. Trước những lời thú tội của chúng, nhân dân dần dần thấy rõ âm mưu thâm độc của địch và tự động giải tán.

Sau gần tám ngày đấu tranh liên tục, vừa vận động quần chúng vừa trấn áp bọn đầu sỏ, ta đã dập tắt hành động cưỡng ép di cư của địch ở khu vực Diễn Châu - Nghệ An.

Cùng thời gian này, tại Thanh Hóa, bọn phản động lôi kéo giáo dân gây ra vụ bạo loạn ở Ba Làng. Chúng lập ra đội vũ trang, tiến hành chém giết cán bộ, nói xấu chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước. Cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 305 kết hợp cùng chính quyền và nhân dân địa phương, tiến hành tước vũ khí, bắt toàn bộ bọn phản động, dập tắt vụ bạo loạn.

Vừa phá hoại ở đồng bằng, địch vừa đẩy mạnh hoạt động ở các vùng núi dọc biên giới Việt - Lào. Lợi dụng mê tín của đồng bào Mẹo vùng Pù Nhi sát biên giới thuộc huyện Quan Hóa, bọn phản động bày trò cúng bái, đón "vua Mẹo". Chúng tập hợp hơn ba trăm người trang bị súng, gậy, dao; lôi kéo dân sang Lào. Cán bộ địa phương cùng với bộ đội đồn biên phòng 923 đến thuyết phục, chúng nổ súng làm 19 người bị thương và tiếp tục cưỡng ép dân. Bộ đội cùng với một số đồng chí cán bộ người Mẹo kiên trì giải thích chính sách của Đảng, Bác Hồ cho đồng bào và nghiêm trị những tên tay sai, làm cho bà con thấy rõ âm mưu kẻ thù. Hơn 700 người ra đi, đã có 600 người trở về.

Vừa bước ra khỏi chiến tranh, trong một bối cảnh đầy khó khăn, nhưng với lòng tin vào chế độ mới, tin ở Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân liên khu vừa truy quét địch, dập tắt các cuộc bạo loạn, vừa hăng hái hưởng ứng phong trào thi đua sản xuất, khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước ổn định đời sống. Nhiều địa phương ở Thanh Hóa, Nghệ An đã chủ động san sẻ thóc giống, giúp đỡ những nơi khó khăn để đảm bảo thời vụ. Đang thời gian tập huấn chính trị, bộ đội các sư đoàn 324, 325, trung đoàn 270, 271 cũng tạm ngừng cùng nhân dân chống hạn, chống đói. Các đơn vị bộ đội đã đào đắp 3.000 mét khối đất đá, xây dựng các công trình thủy lợi ở Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Bình. Cán bộ, chiến sĩ nhiều đơn vị quyết định giảm bớt khẩu phần ăn hàng ngày, dành ra hơn 14 tấn gạo giúp đỡ đồng bào các vùng đói trầm trọng ở Nghệ An, Thanh Hóa.

Thời gian này, các địa phương liên khu đang thực hiện thắng lợi cải cách ruộng đất. Hơn 200 nghìn héc-ta ruộng đất được chia cho nông dân. Chế độ bóc lột bị xóa bỏ, nông dân trở thành người chủ ở nông thôn. Tháng 5 năm 1956, sư đoàn 324 được huy động cùng chính quyền các cấp sửa sai trong cải cách ruộng đất ở Nghệ An. Ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, cán bộ, chiến sĩ các trung đoàn 269, 271 cùng với chính quyền địa phương giúp đỡ nhân lực, phương tiện cho những gia đình bị quy sai, nhanh chóng bước vào ổn định sản xuất. Qua thắng lợi của cải cách ruộng đất và sửa sai, sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ. Đến tháng 12 năm 1957, có 98 phần trăm số hộ nông dân vào tổ đổi công, tăng 30 phần trăm so với năm 1956. Cùng với thành tựu sản xuất nông nghiệp, các mặt văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến. 98 phần trăm nhân dân được xóa nạn mù chữ, hơn 30.000 học sinh phổ thông đến trường, hàng chục bệnh viện được xây dựng với 35 000 cán bộ y tế.

Đối với các tỉnh phía nam vĩ tuyến 17, các chi bộ Đảng chuyển vào hoạt động bí mật. Thành ủy Huế có năm đồng chí. Các huyện ủy, quận ủy có từ bốn đến năm đồng chí. Chi bộ nông thôn nhiều nhất là chín đồng chí, chi bộ ở thành phố nhiều nhất bảy đồng chí, bám sát quần chúng phát động sản xuất và đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ở Quảng Trị, ta đã tổ chức sửa chữa cho bà con nghèo mỗi xã từ 100 đến 200 nhà mới. Ở Thừa Thiên, cách mạng chia cho dân hàng nghìn mẫu ruộng và đất vườn. Nhờ có gắng khắc phục khó khăn của các địa phương, nạn đói bị đẩy lùi. Hơn hai nghìn hèc-ta ruộng đất hoang hóa được phục hồi.

Về phía địch, vừa nắm được chính quyền, Ngô Đình Diệm tiến hành gạt các phe phái đối lập như Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Bình Xuyên... Tháng 3 năm 1955, Diệm đưa bốn tiểu đoàn lên đánh lực lượng Đại Việt ở miền tây Quảng Trị. Lính Đại Việt bỏ chạy, một thời gian sau bị các lực lượng vũ trang và nhân dân miền núi Quảng Trị tiêu diệt.

Cùng lúc Diệm hô hào “đả thực, bài phong, diệt cộng", Quảng Trị, Thừa Thiên được Mỹ - Diệm coi là "tiền đồn chống cộng”. Đầu năm 1955, Ngô Đình Diệm đã bố trí ở đấy một sư đoàn chủ lực (sư đoàn "Bắc tiến") và 10 đại đội bảo an, 50 trung đội dân vệ, ba đại đội cảnh sát, hình thành hệ thống phòng thủ dọc biên giới Việt - Lào và giới tuyến quân sự tạm thời.

Tại biên giới Việt - Lào, địch chiếm đóng các vị trí quan trọng như Lao Bảo, Tà Rụt, A So, A Lưới, Nam Đông, Khe Tre và đóng 18 đồn trên đường số 14, đường số 12, ở Truồi, Cầu Hai… Mỹ - Diệm đàn áp đẫm máu nhân dân hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, hòng uy hiếp tinh thần nhân dân, dập tắt phong trào đấu tranh ở đây. Tháng 9 năm 1954, chúng xả súng vào đoàn đấu tranh của bà con Kim Đôi (Quảng Điền, Thừa Thiên) đòi cải thiện đời sáng, chống khủng bố, làm 57 người chết. Tháng 10 năm 1954, địch lại đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng ở Đồng Lộc (Thừa Thiên) làm chết ba người. Mỹ - Diệm lập ra những đội "biệt kích áo đen" ngày đêm săn lùng cộng sản. Ngày 20 tháng 7 năm 1955, địch bắt 100 cán bộ, đảng viên về Sịa để "học tập". Thực chất các lớp học này là trại tra tấn, truy bức dài ngày để phát hiện tổ chức Đảng và khủng bố tinh thần quần chúng. Phần lớn cán bộ, đảng viên bị chúng sát hại.

Diệm ban hành chính sách "tố cộng, diệt cộng", lập "khu trù mật", "khu dinh điền". Chúng lập ra bộ máy "tố cộng, diệt cộng" từ trung ương đến cơ sở. Ở Quảng Trị, Thừa Thiên, chúng chia huyện thãnh quận; xã cũ thành hai đến ba xã mới; lập ủy ban "tố cộng” ở quận. Mỗi quận có một đội "tố cộng”, các đội xuống từng xã để tổ chức “tố cộng". Chúng chọn Thừa Thiên - Huế là một trong những trọng điểm "tố cộng, diệt cộng" và liên tiếp mở các chiến dịch đánh phá cách mạng nơi đây. Tháng 4 năm 1955, chúng tiến hành chiến dịch "Phan Chu Trinh"1, tập trung hơn 1.000 quân cùng với các đoàn "công dân vụ”, “đội biệt kích áo đen", bọn gián điệp, ác ôn đánh phá vùng Hải Lăng, Phong Điền. Hơn hai trăm ngôi nhà của dân bị đốt phá, hàng trăm người bị bắt, trong đó có 40 cán bộ, đảng viên. Tiếp đó, chúng đưa quân chiếm đóng các khu sát miền tây Quảng Trị...
______________________________________________
1. Chiến dịch này, địch đánh phá các tỉnh Trung Bộ, trọng điểm là Quảng Nam.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2024, 10:42:40 pm

Tháng 5 năm 1955, địch mở chiến dịch "Trịnh Minh Thế". Mặc dầu trọng điểm của chiến dịch này là đánh phá các tỉnh thuộc Khu 5, song địch đã huy động bốn tiểu đoàn, năm đoàn "công dân vụ" và hàng chục đội "biệt kích áo đen" càn quét các vùng đồng bằng Thừa Thiên, nhằm củng cố và đánh chiếm các xã, ấp chưa nắm được. Với phương châm "tát cạn nước để bắt cá", "giết oan một trăm còn hơn bỏ sót một cộng sản", Mỹ - Diệm đã giết hại, tra tấn dã man những người yêu nước, những người kháng chiến cũ. Tại Thừa Thiên, chúng tập trung đánh mạnh vào các trọng điểm: Sư Lỗ, Chợ Sam, Phong Bình, Phong Hòa, Quảng Thái, Khánh Mỹ... Càn quét đến đâu, chúng triệt hạ nhà cửa, bắt tra tấn những người có con em đi tập kết. Các tổ chức đảng bị tổn thất nặng.

Từ tháng 1 năm 1955, Liên khu ủy 4 chủ trương phát động toàn dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, giữ vững đấu tranh chính trị ở Quảng Trị, Thừa Thiên; các tỉnh bắc liên khu đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư, dập tắt các cuộc bạo loạn và hậu thuẫn cho đồng bào nam vĩ tuyến đấu tranh.

Tháng 3 năm 1955, Thường vụ đảng ủy Vĩnh Linh họp quán triệt chủ trương của liên khu đối với khu vực giới tuyến. Hội nghị nhấn mạnh: thực hiện đấu tranh chính trị, dựa vào pháp lý hiệp định, tạo ra nhiều hình thức đấu tranh phong phú. Hội nghị cũng đề ra biện pháp phối hợp hành động với lực lượng vũ trang - tiểu đoàn 57, trung đoàn 270.

Tháng 4 năm 1955, địch tung nhiều toán gián điệp qua giới tuyến khống chế chặt chẽ sự đi lại giữa hai miền, cưỡng bức hơn 200 người chuẩn bị vượt giới tuyến di cư vào Nam. Ta cử phái đoàn phụ nữ tiếp xúc với đối phương, đấu tranh và vận động chúng thực hiện hiệp định đình chiến, thuyết phục bà con trở về quê cũ. Kết quả 180 người đã trở về quê hương, trong số này ta phát hiện và xử lý 12 tên gián điệp địch cài vào để phá hoại ta.

Tháng 6 năm 1955, do được chuẩn bị từ trước, hàng trăm đồng bào ta gặp đại diện của ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế, gửi hơn 1.200 lá đơn tố cáo Mỹ - Diệm vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ, khủng bố đàn áp đồng bào miền Nam. Cùng thời gian này, hàng vạn bức thư, bưu thiếp tập trung từ các  tỉnh miền Bắc, được nhân dân bờ bắc sông Bến Hải chuyển qua bờ nam. Nhờ đấu tranh kiên quyết, đồng bào hai bên giới tuyến vẫn được qua lại, tình cảm Bắc - Nam không bị chia cắt. Đây là nguồn động viên lớn cho đồng bào vùng tạm chiếm tiếp tục đấu tranh.

Để công tác lãnh đạo phù hợp với điều kiện mới của cách mạng, từ ngày 28 tháng 4 đến ngày 7 tháng 5 năm 1955, Liên khu ủy 4 triệu tập hai Ban tỉnh ủy Quảng Trị, Thừa Thiên về Đồng Hới để học tập Nghị quyết lần thứ 7 của Trung ương và thông báo quyết định của Trung ương sát nhập Quảng Trị, Thừa Thiên vào Liên khu 5.

Dưới sự chỉ đạo của Liên khu ủy 5, Quảng Trị, Thừa Thiên được chọn làm thí điểm cho phong trào chống Mỹ - Diệm. Mục đích đấu tranh là đòi dân sinh, dân chủ, chống khủng bố đàn áp, thực hiện hiệp định đình chiến. Phương châm đấu tranh: "có lý, có lợi và đúng mức", kết hợp chặt chẽ hợp pháp và không hợp pháp, lấy không hợp pháp làm chính, lợi dụng mọi khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp mà tuyên truyền giáo dục quần chúng đẩy mạnh phong trào đấu tranh.

Ngày 1 tháng 5 năm 1955, ba mươi nghìn nhân dân Hương Điền và các xã ven Huế thuộc Quảng Điền, Hương Trà kéo vào Huế kỷ niệm ngày 1 tháng 5. Đoàn biểu tình nêu cao khẩu hiệu đòi dân sinh dân chủ, hòa bình; đòi đắp đập Thuận An ngăn nước mặn cho dân sản xuất. Nhiều binh lính, sĩ quan, công chức ngụy cũng tham gia mít tinh. Ngụy quyền Thừa Thiên - Huế phải chấp nhận các yêu sách của nhân dân.

Tháng 8 năm 1955, Đảng bộ Thừa Thiên - Huế huy động hàng chục vạn người ở Huế, Hương Thuy, Hương Trà, Phú Vang kéo vào thành đòi chính quyền Diệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử. Hàng chục vạn người ký vào biên bản kiến nghị; các đoàn đại biểu đến bao vây quận lỵ, tỉnh lỵ tuyên truyền, đưa kiến nghị. Ngô Đình Diệm vội vàng từ Sài Gòn ra Huế, giải quyết yêu sách, xoa dịu quần chúng.

Ngày 4 tháng 3 năm 1956, tại Quảng Trị đã nổ ra phong trào đấu tranh chống trò hề bầu cử của chính quyền Diệm. Hàng vạn nhân dân Triệu Ái, Triệu Thượng, Triệu Lễ (Triệu Phong), Hải Thượng (Hải Lăng)... đấu tranh đòi hiệp thương thống nhất Bắc - Nam, chống bầu cử gian lận. Ở Triệu Thượng, Hải Thượng, đa số nhân dân không đi bầu cử. Nhân dân Triệu Hải ném thùng phiếu xuống sông, bí mật bỏ truyền đơn vào thùng phiếu. Khắp nơi trong vùng nhân dân đã biến cuộc bầu cử của ngụy quyền thành cuộc đấu tranh vạch trần tội ác của Diệm.

Phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của nhân dân Trị - Thiên - Huế, kết hợp với hậu phương miền Bắc được củng cố khiến cho địch nom nớp lo sợ. Mỹ đã chi hàng trăm triệu đô-la để xây dựng chính quyền và hệ thống phòng thủ, tăng cường quân đội ngụy, hòng áp đặt ách thống trị của chúng ở Trị - Thiên. Chúng tăng cường phương tiện chiến tranh cho Huế, Đông Hà; bố trí hai sư đoàn chủ lực (sư đoàn 1 và sư đoàn 16 khinh chiến) cộng với hai trung đoàn địa phương (trung đoàn 164 của Quảng Trị, trung đoàn 161 của Thừa Thiên), 50 trung đội dân vệ, ba đại đội cảnh sát ở hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên. Tháng 9 năm 1957, địch triển khai cuộc diễn tập lớn giữn quân đoàn 1 phối hợp cùng quân khu 1 với tưởng định: tác chiến trì hoãn đối phó quân miền Bắc tiến công khu phi quân sự. Mục đích diễn tập là nhằm nâng cao sức chiến đấu cho quân ngụy, phô trương lực lượng, đe dọa miền Bắc và kích động đẩy mạnh "tố cộng diệt cộng" ở miền Nam.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2024, 10:43:24 pm

Đi đôi với xây dựng quân đội, Mỹ - Diệm hết sức coi trọng củng cố chính quyền. Chúng tiến hành chia nhỏ các quận, xã, để dễ bề cai trị: Thừa Thiên chia thành bốn quận, ba tổng, gồm 93 xã, Quảng Trị gồm bẩy quận, 86 xã. Diệm bổ sung thêm những tên lưu manh ác ôn, bọn công giáo phản động di cư tham gia vào chính quyền ngụy ở các cấp. Đảng "cần lao nhân vị", Diệm đặt ra từ năm 1954, là tổ chức những tên cực kỳ phản động. Chúng bắt dần vào các tổ chức “thanh niên cộng hòa", "phụ nữ liên đới", "hiệp hội nông dân", nhất là các vùng giáo dân Hương Điền, La Vang... Chúng nhồi sọ tư tưởng chống cộng và dùng các tổ chức này làm chỗ dựa đàn áp cách mạng.

Đối với nông dân, Diệm ban hành dụ số 7, về “cải cách điền địa". Ở Quảng Trị, Thừa Thiên chúng cướp lại hơn 10.000 héc-ta ruộng đất trước đây cách mạng đã chia cho nông dân, lập các khu dinh điền ở Cùa, Ba Lòng, Hoàn Cát, Cầu Nhi, và 11 nông trường ở Nam Đông, Khe Tre, Hòa Mỹ, A Sầu, A Lưới. Hàng chục nghìn người dân bị chúng bắt vào các "nông trường" khu dinh điền để dễ cai trị.

Củng cố thêm một bước về thế lực, Mỹ - Diệm thực hiện giai đoạn 2 của "tố cộng diệt cộng" với phương châm tàn bạo "dĩ cộng diệt cộng”, "nhổ cỏ tận gốc", "lâu dài, liên tục, cẩn thận sâu sắc". Rút kinh nghiệm giai đoạn 1 nặng đi khủng bố tràn lan, sang giai đoạn 2, Diệm tập trung phá từ trong ra.

Tháng 8 năm 1957, chúng sử dụng một nghìn học viên các trường quân sự "thực tập lùng sục cộng sản" ở nam khu phi quân sự. Chúng tập trung dân, bắt xé cờ Đảng Cộng sản bắt 50 cán bộ, đảng viên.

Tháng 9 năm 1957, ba tiểu đoàn ngụy kết hợp với các đội "công dân vụ" càn quét các vùng Triệu Lương, Cam Thanh, Cam Giang, Hải Thượng, Hải Phú. Ngày 15 tháng 9 năm 1957, bốn tiểu đoàn địch càn quét các vùng Triệu Ái, Triệu Thượng, Triệu Lễ. Chúng bắt hàng nghìn người vào các khu dinh điền, làm đường. Do sự khủng bố, vây quét khốc liệt của kẻ thù, các cơ sở Đảng bị bật khỏi dân. Nhiều cán bộ, đảng viên mặc dầu bị tra tấn dã man, vẫn giữ trọn khí tiết người cộng sản. Đồng chí Luyến ở Phú Lộc nhảy vào lửa hy sinh, quyết không ly khai Đảng. Đồng chí Nguyễn Đằng ở Phong Điền thà hy sinh, nhất quyết không xé cờ Đảng...

Đỉnh cao của hành động đàn áp cách mạng là việc Ngô Đình Diệm ban hành luật "10-59". Địch lê máy chém đi khắp nơi, lập phiên tòa xử chém tại chỗ cán bộ, đảng viên ta. Sau năm 1954, Thừa Thiên có 3.000 đảng viên, sau khi Diệm thực hiện luật “10-59” chỉ còn lại vài chục đồng chí. Quảng Trị trước đây có 8.400 đảng viên, qua đấu tranh chống địch "tố cộng" phần lớn hy sinh, ba huyện đồng bằng chỉ còn 176 đảng viên; ở Do Linh (Quảng Trị) tháng 7 năm 1954, có 920 cán bộ, đảng viên, chỉ còn 128 đồng chí. Ở Phong Điền từ 2.753 cán bộ, đảng viên, qua đấu tranh chỉ còn 52 người. Hương Trà, Quảng Điền khi đi tập kết còn ở lại 400 đảng viên, cuối năm 1956 đã bị địch bắt, giết gần hết. Huyện Cam Lộ không còn chi bộ nào.

Kẻ thù đàn áp dã man, ta lại nặng về đấu tranh chính trị, không chuyển hướng đấu tranh kịp thời nên phong trào cách mạng Quảng Trị, Thừa Thiên bị tổn thất nặng nề và tạm thời lắng xuống.

Đi đôi với “tố cộng", "diệt cộng" khốc liệt ở Trị - Thiên, kẻ thù tăng cường phá hoại các tỉnh tuyến đầu miền Bắc (chủ yếu là Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa). Để thực hiện ý đồ "không cho cộng sản rảnh tay xây dựng", đầu tháng 8 năm 1958, địch tung qua biên giới và dọc theo bờ biển chín toán gián điệp, biệt kích, Chúng còn cấu kết với bọn phản động Lào gây tranh chấp biên giới ở Hướng Lập, A Chốc, Keng Đu.

Tại xã Hướng Lập (Vĩnh Linh), tháng 7 năm 1959, ba đại đội thuộc lực lượng phái hữu Vương quốc Lào, kết hợp với một đại đội ngụy miền Nam khiêu khích gây tranh chấp biên giới. Là một vùng tiếp giáp với miền Nam và Lào, đồng bào ở đây số đông thuộc dân tộc Vân Kiều, có một số phần tử xấu ủng hộ địch. Để dập tắt ý đồ của địch, tránh xung đột gây căng thẳng biên giới, Liên khu chỉ đạo lực lượng vũ trang Vĩnh Linh (đại đội 3 tiểu đoàn 41) đấu tranh buộc địch tôn trọng chủ quyền biên giới lãnh thổ, xây dựng biên giới hữu nghị lâu dài. Quân phái hữu Lào buộc phải rút về.

Tại Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, địch móc nối với bọn phản động địa phương tổ chức phá hoại sản xuất, ám sát cán bộ...

Mọi âm mưu, hành động của địch đã bị nhân dân các địa phương Liên khu 4 làm thất bại, trật tự an ninh ngày càng được củng cố.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2024, 10:46:49 pm

*

*       *

Trên miền Bắc, sau khi cơ bản hàn gắn vết thương chiến tranh, nhằm củng cố tổ chức, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và thế trận chiến tranh nhân dân, Nhà nước ta quyết định thành lập các quân khu trên cơ sở các liên khu hình thành từ trong kháng chiến chống Pháp.

Ngày 3 tháng 6 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 017/SL thành lập các quân khu: Việt Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc, Tả Ngạn, Hữu Ngạn, Quân khu 4.

Nhiệm vụ của Quân khu 4 được xác định: phụ trách toàn bộ công cuộc phòng thủ tác chiến trong quân khu; lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng thường trực, hậu bị, dân quân tự vệ về xây dựng và tác chiến; chịu trách nhiệm mọi mặt công tác quốc phòng trong phạm vi quân khu.

Các đồng chí Nguyễn Đôn được cử giữ chức Tư lệnh, Chu Huy Mân - Chính ủy, Lê Nam Thắng - Tham mưu trưởng.

Cơ quan quân khu bước đầu gồm có: phòng tham mưu, phòng hậu cần, phòng chính trị. Lực lượng chủ lực của quân khu gồm ba trung đoàn độc lập (269, 270, 271), ba tiểu đoàn bảo vệ bờ biển (499, 500, 501), bốn tiểu đoàn biên phòng (923, 925, 927, 929)1. Thời gian này, Quân khu được bổ sung trung đoàn 120 bộ đội Tây Nguyên tập kết và tiểu đoàn 323 đặc công. Tổng quản số chủ lực toàn quân khu là 13.356 người. Lực lượng vũ trang địa phương gồm 18 đại đội, hai trung đội và 12.000 dân quân.

Sau khi thành lập, Quân khu nhanh chóng tổ chức, bố trí lực lượng phù hợp với đặc điểm, tình hình và nhiệm vụ của từng khu vực trên địa bàn. Trung đoàn 270, làm nhiệm vụ phòng thủ tại giới tuyến. Do yêu cầu nhiệm vụ phòng thủ giới tuyến, ngay từ tháng 4 năm 1956, trung đoàn được thay đổi toàn bộ vũ khí trang bị. Trung đoàn 269, đứng chân ở Hà Tĩnh, trung đoàn 271 đứng chân ở Quảng Bình làm nhiệm vụ bảo vệ nội địa. Bốn tiểu đoàn biên phòng chốt giữ vị trí cửa khẩu bốn đường giao thông qua Lào. Tiểu đoàn 923 ở đường 217, tiểu đoàn 925 ở đường số 7, tiểu đoàn 927 ở đường số 8, tiểu đoàn 929 ở đường số 12. Tháng 8 năm 1956, các tiểu đoàn bảo vệ bờ biển 500, 501, 499 đưa năm đại đội ra canh giữ các đảo: Mê, Mắt, Ngư, Cồn Cỏ.

Tỉnh đội các tỉnh nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Khu đội Vĩnh Linh được tăng cường cán bộ đảm bảo số lượng và chất lượng. Tháng 10 năm 1956, cơ quan tỉnh đội mỗi tỉnh được biên chế 40 người, mỗi huyện đội được biên chế từ 6 đến 10 người. Tháng 12 năm 1956, Quân khu thành lập thêm các đơn vị bảo vệ trực thuộc tỉnh đội. Nghệ An có tiểu đoàn 28, Quảng Bình có tiểu đoàn 26, Hà Tĩnh có tiểu đoàn 27, Thanh Hóa có tiểu đoàn 29. Lực lượng dân quân được biên chế thành tiểu đội, trung đội, có nơi tổ chức đến đại đội.
Năm 1957, Bộ Quốc phòng bổ sung cho quân khu sư đoàn 325 (đóng quân tại Quảng Bình) và sư đoàn 324 (đóng quân tại Nghệ An). Cũng thời gian này, Bộ quyết định điều tỉnh đội Thanh Hóa về Quân khu Hữu Ngạn2.

Công tác tổ chức, bố trí lực lượng các đơn vị trên địa bàn quân khu bước đầu vừa đảm bảo phòng thủ tại chỗ, vừa cơ động thuận lợi khi tác chiến xảy ra.

Tháng 3 năm 1957, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 đề ra nhiệm vụ cho quân đội trong giai đoạn mới là bảo vệ công cuộc xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ an ninh lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam. Nội dung, phương châm xây dựng lực lượng được Trung ương xác định: "Tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh tiến dần từng bước đến chính quy hóa và hiện đại hóa” và "không những có một lực lượng thường trực mạnh mà phải có một lực lượng hậu bị mạnh".

Thực hiện nghị quyết 12 của Trung ương, Quân khu đẩy mạnh xây dựng toàn diện lực lượng vũ trang, trong đó lấy công tác huấn luyện làm trung tâm, chú trọng các phương thức tác chiến hiện đại; vừa tranh thủ học tập tri thức khoa học quân sự tiên tiến, đồng thời bám sát phương châm huấn luyện những nội dung thực tế.

Tháng 9 năm 1958, sư đoàn 324 tổ chức diễn tập ở Nghệ An, bộ đội thực hiện hành quân mang vác nặng, luyện tập cơ động chiến đấu. Qua diễn tập, các cấp chỉ huy, các đơn vị trong sư đoàn nâng cao một bước quan trọng về năng lực tổ chức chỉ huy tác chiến hiệp đồng quy mô sư đoàn.

Tháng 10 năm 1958, sư đoàn 325 tổ chức diễn tập sư đoàn tiến công. Đây là hình thức huấn luyện tổng hợp để nâng cao trình độ hiệp đồng tác chiến giữa cơ quan chỉ huy và các đơn vị. Sư đoàn đã hoàn thành tốt đợt diễn tập. Cùng thời gian này, các trung đoàn 270, 269, tiểu đoàn 44 làm nhiệm vụ bảo vệ bờ biển tổ chức diễn tập chống địch đổ bộ đường biển, có phối hợp với bộ binh, pháo binh, thông tin cùng với dân quân địa phương các huyện ven biển Hà Tĩnh, Quảng Bình. Bước đầu các đơn vị đã nắm được phương thức tác chiến tổng hợp, hiệp đồng. Lữ đoàn 341, tiểu đoàn 41 bảo vệ giới tuyến huấn luyện chiến thuật phòng ngự3, tiến công từ cấp tiểu đội đến tiểu đoàn, chú trọng rèn luyện năng lực chỉ huy của các cấp.
______________________________________________
1. Ngoài ra còn có các đơn vị trực thuộc quân khu gồm: đại đội 240 bảo vệ, tiểu đoàn 541 đối không, đại đội 52 pháo 75 ly, đại đội công an vũ trang 1, đại đội công an vũ trang 2, đại đội du kích Quảng Trị.
2. Quyết định số 17, ngày 30 tháng 1 năm 1957.
3. Tiểu đoàn công an giới tuyến được gọi là tiểu đoàn 41 theo chỉ thị số 23/TC ngày 1 tháng 2 năm 1958 của Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2024, 10:48:57 pm

Song song với huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, quân khu đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ. Trong năm 1958, các trường bổ túc cán bộ, đào tạo hạ sĩ quan, trường văn hóa ra đời. Cán bộ chỉ huy tỉnh đội, huyện đội được bồi dưỡng về công tác quân sự địa phương theo định kỳ hàng năm. Tháng 6 năm 1958, Quân khu chỉ đạo các tỉnh đội Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình tổ chức đợt huấn luyện cho lực lượng dân quân tự vệ về trình độ chỉ huy, kỹ thuật bắn súng, chiến thuật tiểu đội tiến công, phòng ngự...

Cùng với huấn luyện quân sự, công tác giáo dục chính trị được coi trọng trong chương trình huấn luyện, nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho cán bộ chiến sĩ. Năm 1958, toàn quân khu thực hiện các đợt chỉnh huấn chính trị về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đường lối đấu tranh thống nhất nước nhà, đường lối quân sự của Đảng, quan điểm chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân.

Qua học tập chính trị, cán bộ, chiến sĩ được bồi dưỡng bản chất giai cấp công nhân, nâng cao ý chí quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà.

Trong thời điểm phong trào huấn luyện, xây dựng quân đội củng cố quốc phòng đang diễn ra mạnh mẽ toàn quân khu, kế hoạch khôi phục kinh tế của các tỉnh cơ bản hoàn thành thắng lợi, một niềm vinh dự lớn đến với nhân dân và lực lượng vũ trang quân khu: ngày 15 tháng 6 năm 1957, Bác Hồ về thăm quân và dân Quân khu 4. Sau 50 năm xa cách, Người lần lượt đi thăm nhân dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình; thăm cơ quan, nhà máy, trường học và thăm quê Kim Liên. Người dành nhiều thời gian đi thăm các đơn vị bộ đội miền Nam tập kết: sư đoàn 324, 325, trung đoàn 812, 120... Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ tại quân khu bộ, Nguời ân cần biểu dương những thành tích của lực lượng vũ trang quân khu trong thời gian qua là đã cố gắng bảo vệ mặt biển, biên giới của Tổ quốc, cùng nhân dân giữ gìn an ninh trật tự; cố gắng học tập chính trị, quân sự tiến bộ; giúp các địa phương sửa sai, chống đói, chống lụt, chống bão, chống hạn. Bác chỉ ra những khuyết điểm: tinh thần cảnh giác chưa đầy đủ, một số cán bộ chiến sĩ còn có tư tưởng công thần, ý thức lao động chưa cao; ý thức tổ chức kỷ luật chưa nghiêm, cần sửa chữa. Sau đó, Bác nêu những nhiệm vụ trước mắt cho lực lượng vũ trang quân khu: phải nâng cao cảnh giác, thực hiện tốt việc chỉnh huấn chính trị; cố gắng học tập kỹ thuật quân sự và nghiệp vụ; chống tham ô, lãng phí, giữ vững khối đoàn kết; đoàn kết nội bộ, toàn quân đoàn kết, đoàn kết Bắc - Nam, đoàn kết quân dân.

Ba điều khen ngợi, bốn điều phê bình và năm điều dặn dò của Bác chính là phương hướng hành động của các lực lượng vũ trang quân khu trong giai đoạn mới của cách mạng. Theo phương hướng đó, Quân khu ủy đẩy mạnh công tác lãnh đạo các đơn vị góp phần vào công cuộc cải tạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt tập trung xây dựng toàn diện các mặt quân sự, chính trị, hậu cần, đưa bộ đội tiến dần lên chính quy hóa. Quân khu đẩy mạnh thực hiện phong trào "tiến nhanh vượt mức kế hoạch", phong trào thi đua nhằm đẩy nhanh tốc độ xây dựng quân đội được thực hiện từ đầu năm 1958. Một số đơn vị của các trung đoàn 270, 271, sư đoàn 325, 324 hoàn thành kế họạch huấn luyện của năm 1959. Đặc biệt, qua phong trào thi đua "Ba nhất"1 đã xuất hiện nhiều tập thể "Ba nhất", chiến sĩ "Ba nhất" trong lực lượng vũ trang quân khu.

Tiêu biểu cho phong trào này là đại đội 3 mang tên Lê Hồng Phong thuộc trung đoàn 270 - đơn vị dẫn đầu về phong trào "Ba nhất". Chi bộ Đảng đại đội Lê Hồng Phong luôn bám sát chiến sĩ, gương mẫu rèn luyện về năng lực, phẩm chất, làm gương để giáo dục chiến sĩ. Qua mùa huấn luyện năm 1959, một trăm phần trăm cán bộ, chiến sĩ đạt khá giỏi. Hầu hết bộ đội trong đơn vị đạt danh hiệu "Ba nhất". Đại đội Lê Hồng Phong đã được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Khẩu hiệu "Ngày không giờ, tuần không thứ, để tất cả vì miền Nam ruột thịt" đã dấy lên sôi nổi trên các công trường, bãi tập. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Những bài thơ "Thương nhất anh nuôi", "Tôi muốn trở thành người bốn giỏi" của Lưu Trùng Dương, bài hát "Từ ngày anh đi tập kết” của Đức Đường, "Thu Bồn" của Thiện Mỹ, vè "Tò loe tùng cốc” của Huỳnh Thượng... Ở các sư đoàn 324, 325 được đông đảo cán bộ, chiến sĩ ưa thích. Đây là những hoạt động tinh thần sôi động lành mạnh của một thời rèn luyện xây dựng quân đội theo hướng chính quy hóa.

Đi đôi với công tác huấn luyện quân sự, để không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở trong quân đội, từ năm 1959, Quân khu tiến hành kiện toàn công tác chi bộ. Nhiều chi bộ điển hình ra đời trong phong trào xây dựng chi bộ vững mạnh, toàn diện, nhất là phong trào "xây dựng chi bộ gương mẫu” ở đảng bộ sư đoàn 324, phong trào xây dựng "chi bộ chiến lũy" ở sư đoàn 325.

Nguồn bổ sung cho đảng được các chi bộ đặc biệt chú trọng. Trong năm 1959, toàn quân khu phát triển được 1.300 đảng viên, đưa tổng số đảng viên toàn đảng bộ lên tới 14.893 đồng chí, so với năm 1955 tăng hơn 6.000 đảng viên. Đối với lực lượng thường trực, tỷ lệ đảng viên chiếm 19 phần trăm, riêng lực lượng dân quân tự vệ và hậu bị, tỷ lệ đảng viên chiếm 11,5 phần trăm.
Để tiến thêm một bước về chính quy hóa, từ tháng 3 năm 1958, cùng với toàn quân, Quân khu bắt đầu thực hiện các chế độ tiền lương, quân hàm, khen thưởng, điều lệnh điều lệ..., do Nhà nước ban hành.

Tháng 4 năm 1958, Nghệ An là một trong những tỉnh được chọn làm thí điểm thực hiện nghĩa vụ quân sự. Các huyện đội dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền địa phương đã hướng dẫn, giáo dục quần chúng về luật nghĩa vụ quân sự. Ban ngày, mọi người lo sản xuất, ban đêm tranh thủ học tập. Các tổ chức phụ nữ, đoàn thanh niên..., phối hợp tuyên truyền công tác nghĩa vụ quân sự. Thanh niên thấy rõ trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giải phóng miền Nam, hăng hái tình nguyện đăng ký nhập ngũ. Qua khám tuyển, đã có 5.200 thanh niên tham gia lực lượng thường trực, 9.200 quân nhân phục viên vào dự bị một, 4.200 người vào dự bị hai.

Rút kinh nghiệm ở Nghệ An, Quân khu triển khai thực hiện luật nghĩa vụ quân sự ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh. Cùng một lúc hơn hai mươi nghìn thanh niên vào quân đội. Như vậy, bên cạnh lớp cán bộ chiến sĩ tình nguyện trước đây, lực lượng vũ trang quân khu có thêm lớp trẻ kế tiếp được rèn luyện dưới chế độ mới.

Song song với xây dựng lực lượng thường trực, sẵn sàng chiến đấu cao, bảo vệ vững chắc địa bàn, Quân khu thực hiện chủ trương giảm quân số thường trực và chú trọng xây dựng lực lượng hậu bị làm nòng cốt cho nền quốc phòng toàn dân. Cuối năm 1958, quân số thường trực của quân khu từ 36.000 người giảm xuống còn 26.000 người. Mười nghìn cán bộ chiến sĩ được chuyển về các địa phương tham gia công tác sản xuất tại nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã... Trong đó gần 7.000 cán bộ, chiến sĩ (bộ đội miền Nam tập kết) tham gia xây dựng các nông trường, xí nghiệp...
_____________________________________________
1. Nhất về huấn luyện, quân sự, rèn luyện kỹ thuật, nhất về gương mẫu giữ gìn kỷ luật, nhất về lao động sản xuất.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2024, 10:54:32 pm

Tháng 3 năm 1958, hai sư đoàn 324 và 325, tiến hành khảo sát địa hình các vùng miền tây Nghệ An, Quảng Bình, Vĩnh Linh. Tháng 5 năm 1958, tại Nghĩa Đàn, 1.613 đồng chí thuộc trung đoàn 93 (sư đoàn 324) xây dựng nông trường "1 tháng 5", 1.272 đồng chí của trung đoàn 803, trung đoàn 90 (sư đoàn 324) xây dựng nông trường "19 tháng 5". Cũng ở miền tây Nghệ An, Quân khu xây dựng thêm nông trường "3 tháng 2", nông trường Bãi Phủ. Cùng thời gian này, một bộ phận của sư đoàn 325 xây dựng các nông trường Việt - Trung, Quyết Thắng, Bến Quang, Bến Hải. Ngoài ra; Quân khu còn xây dựng một diêm trường làm muối, ba đội đánh cá ở Nghệ An.

Chuyển sang thực hiện nhiệm vụ mới, trong thời gian đầu, một số cán bộ, chiến sĩ chưa thông suốt nhiệm vụ, nhưng từng bước đã quen dần với môi trường mới. Đến năm 1960, các nông trường: "19 tháng 5", "1 tháng 5", "3 tháng 2", Việt - Trung, Quyết Thắng, Bến Quan, Bến Hải đã có nhiều tiến bộ về sản xuất. Lực lượng bộ đội tham gia xây dựng nông trường đã khai phá hơn 1.000 héc-ta đất, thu 1.500 tấn lúa, 25 tấn lạc, 40 tấn hạt tiêu, 220 tấn muối; trồng ươm 220 nghìn cây cà phê, hơn 200 nghìn cây cao su, 85 mẫu hồ tiêu và nuôi hơn ba nghìn trâu, bò.

Từ những nơi rừng hoang hẻo lánh dọc miền tây đã mọc lên các vùng kinh tế mới, góp phần quan trọng thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng, đặc biệt là hình thành tuyến hậu phương chiến lược trong chiến tranh1...

Cùng với những vùng kinh tế mới, việc xây dựng các công trình công nghiệp đã góp phần thắng lợi thực hiện kế hoạch cải tạo và phát triển kinh tế của Nhà nước (1958 - 1960). Tháng 4 năm 1957, nhà máy gỗ Vinh được khánh thành và đi vào hoạt động. Tháng 6 năm 1959, nhà máy đường (Nghệ An) bắt đầu sản xuất. Cuối năm 1959, nhà máy điện Vinh, xí nghiệp gạch "22-12" hoàn thành... Hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang quân khu tham gia xây dựng đảm bảo kỹ thuật, giao các công trình cho Nhà nước trước thời hạn. Các công trình thủy nông ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh cũng lần lượt được xây dựng và đưa vào sử dụng.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, vụ mùa 1960 các tỉnh trong quân khu đạt gần 2,5 triệu tấn lương thực quy ra thóc. Hơn chín mươi phần trăm nông dân vào hợp tác xã, trong đó có ba mươi phần trăm lên hợp tác xã bậc cao2. Hợp tác xã Đại Phong (Lệ Thủy, Quảng Bình) trở thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua của ngành nông nghiệp toàn miền Bắc. Tháng 7 năm 1960, đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban công tác nông thôn đã về tổng kết công tác quản lý cải tiến kỹ thuật của hợp tác xã và phát động phong trào học tập Đại Phong.

Bên cạnh hợp tác hóa nông nghiệp, các hình thức hợp tác xã thủ công, hợp tác xã mua bán đã thu hút hơn 85 phần trăm số thợ thủ công và trên 50 phần trăm người buôn bán nhỏ. Từ cơ sở các hợp tác xã mà hình thành các đội tự vệ, dân quân giữ gìn an ninh quốc phòng ở các địa phương.

Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội cũng có bước phát triển quan trọng. Hệ thống giáo dục các tỉnh có hơn 4.000 trường phổ thông từ cấp một đến cấp hai, với đội ngũ giáo viên gần 40.000 người. Hơn 60 bệnh viện với hàng chục nghìn cán bộ y tế từ tuyến xã đến tỉnh đảm bảo cơ bản yêu cầu chữa bệnh cho nhân dân.

Thắng lợi của công cuộc cải tạo, phát triển kinh tế, văn hóa làm cho bộ mặt các địa phương trong quân khu thay đổi. Người lao động làm chủ nhà máy, hợp tác xã. Nhờ đó, nhiều gia đình khó khăn về tư liệu sản xuất, được tập thể giúp đỡ, thanh niên yên tâm thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc và tích cực tham gia công tác an ninh quốc phòng ở địa phương.

Những thành tựu đạt được về kinh tế, văn hóa, xã hội của các tỉnh trên địa bàn quân khu đã tạo điều kiện tốt cho việc xây dựng hệ thống phòng thủ. Quân khu khẩn trương tổ chức lại chiến trường và các khu vực hậu phương trên địa bàn từ Vĩnh Linh đến Nghệ An.

Đi đôi với công tác tổ chức chiến trường, Quân khu chú trọng xây dựng lực lượng bộ đội địa phương, nhằm nâng cao trình độ, khả năng tác chiến trên từng khu vực. Tiểu đoàn 26 tỉnh Quảng Bình, tiểu đoàn 27 tỉnh Hà Tĩnh, tiểu đoàn 28 tỉnh Nghệ An, được tăng cường trang bị vũ khí. Tại những địa bàn xung yếu dọc biên giới Việt - Lào, và ven biển, dân quân cùng phối hợp với các tiểu đoàn 26, 27, 28 tổ chức diễn tập chiến đấu bảo vệ làng bản. Các trung đoàn 269, 271 làm nhiệm vụ bảo vệ bờ biển bổ sung hai đại đội và tăng thêm hỏa lực cho các đảo Mắt, Ngư, Hòn La và Cồn Cỏ. Tại các điểm cao và những vị trí xung yếu ven biển, hơn một trăm công trình quốc phòng được xây dựng, bao gồm công sự, đài quan sát, hầm chứa đạn. Từ tháng 5 năm 1959 đến đầu năm 1960, cán bộ chiến sĩ lữ đoàn 341 dầm mình trong mưa nắng, chuyển hàng nghìn tấm bê tông lên các điểm cao xây dựng công sự, đào hơn 80 ki-lô-mét đường hào chiến đấu. Bộ đội các trung đoàn 269, 270 xây dựng công trình quốc phòng chủ yếu là các công sự pháo dọc bờ biển, sử dụng cải tạo nhiều lô cốt Pháp để lại ở Quảng Bình, Vĩnh Lĩnh làm công sự chiến đấu, làm kho tạm...

Song song với việc xây dựng những công trình phòng thủ, một số tuyến giao thông chiến lược cũng được triển khai trên địa bàn quân khu. Đến tháng 7 năm 1958, đường 15A đã được mở vào tới Nam Đàn3. Tiếp đó, Quân khu còn cho thi công kéo dài tuyến đường này qua Hà Tĩnh, Quảng Bình. Đến cuối năm 1959, đường 15A đã vào tới động Toàn. Trên toàn tuyến, xe cơ giới có thể hoạt động trong cả năm. Cùng với đường 15A, đường 15B cũng được mở từ Thanh Hóa vào Tân Kỳ (Nghệ An). Đây là tuyến đường vừa phục vụ cho mục đích kinh tế trước mắt vừa phục vụ nhu cầu vận tải quân sự khi chiến tranh xẩy ra.

Cùng với việc xây dựng những tuyến giao thông chiến lược theo trục Bắc - Nam, nhiều đoạn của tuyến đường ngang cũng được hoàn thiện thêm: đường 217, đoạn từ Đồng Tâm đến Na Mèo dài 80 ki-lô-mét; đường số 7, đoạn từ Diễn Châu đến Nậm Cắn dài 225 ki-lô-mét; đường số 8 từ Bãi Vọt đến Hương Sơn dài 60 ki-lô-mét.

Ngoài hệ thống đường bộ, đường sông và đường biển cũng được chú ý khai thác. Các cảng: Bến Thủy, Cửa Hội, Cửa Lò, Gianh, Nhật Lệ được xây dựng. Hệ thống cầu phà Bến Thủy, phà Gianh, phà Ghép trên quốc lộ số 1 thường xuyên được củng cố đảm bảo giao thông thông suốt.

Trong thời kỳ này, hệ thống kho bảo quản gồm những kho có sức chứa lớn cũng được khẩn trương củng cố và xây dựng mới ở miền tây quân khu.

Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn sau khi được thành lập, Quân khu 4 đã có những chuyển biến mạnh về mọi mặt: chế độ xã hội chủ nghĩa đang được định hình và tỏ rõ sức sống mới, sự nghiệp quốc phòng toàn dân được đẩy mạnh. Đặc biệt, lực lượng vũ trang được củng cố về tổ chức, đang từng bước tiến lên chính quy làm nòng cốt cho công cuộc phòng thủ trên địa bàn quân khu.
______________________________________________
1. Nông trường Việt - Trung có thể sửa chữa lớn 1.000 ô-tô trong một năm, có sức chứa hai sư đoàn bộ binh. Đường số 15 đi qua các nông trường, kho tàng ở miền tây Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.
2. Quảng Bình có hơn 90 phần trăm hộ nông dân vào hợp tác xã, trong đó có 48 phần trăm hộ thuộc hợp tác xã bậc cao.
3. Đường 15A xuất phát từ Hòa Bình, trong thời kháng chiến chống Pháp ta mở đến Bái Thượng (Thanh Hóa), 1956 mở đến Nghĩa Đàn (Nghệ An).


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2024, 10:55:37 pm

*

*       *

Sự lớn mạnh của miền Bắc nói chung và Quân khu 4 nói riêng qua những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực sự làm hậu thuẫn vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh của nhân dân miền Nam, đặc biệt trực tiếp là nhân dân Quảng Trị, Thừa Thiên. Hướng về miền Bắc, đảng bộ, nhân dân Trị - Thiên giữ vững niềm tin tuyệt đối vào Đảng, Bác Hồ và chế độ xã hội chủ nghĩa, vững vàng vượt qua thời kỳ đen tối, phục hồi dần phong trào cách mạng.

Nhận thức đúng vai trò, vị trí quan trọng của miền núi, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Liên khu 5, Tỉnh ủy Quảng Trị, Thừa Thiên chủ động nhanh chóng chuyển hướng hoạt động, đưa lực lượng từ nông thôn, đồng bằng lên xây dựng căn cứ địa ở miền núi.

Tháng 4 năm 1957, Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên còn lại bốn đồng chí đã tổ chức họp tại làng Ấp Bùng xã Thượng Long (Phú Lộc) quyết định đẩy mạnh phong trào cách mạng miền núi làm cơ sở thúc đẩy phong trào cách mạng toàn tỉnh. Tiếp đó, tháng 10 năm 1957, Tỉnh ủy Quảng Trị họp ra quyết định xây dựng căn cứ địa miền núi Quảng Trị, lấy miền núi làm căn cứ địa để khôi phục và phát triển phong trào. Đây là những quyết định có ý nghĩa chiến lược đối với phong trào cách mạng ở Trị - Thiên.

Trong xây dựng căn cứ địa, Tỉnh ủy Quảng Trị và Tỉnh ủy Thừa Thiên đều nhấn mạnh đến yêu cầu xây dựng lực lượng toàn diện, với phương châm: từ không đến có, từ yếu đến mạnh, từ ít đến nhiều, hết sức chú trọng việc giáo dục thực hiện chính sách dân tộc. Một số cán bộ, đảng viên bám chặt các bản làng, cùng đồng cam cộng khổ, cùng đóng khố, nói tiếng dân tộc, phát nương rẫy, hướng dẫn nhân dân cải tiến trồng trọt, giữ vệ sinh phòng bệnh..., qua đó vận động quần chúng tham gia cách mạng. Cuối tháng 9 năm 1958, hầu hết các bản làng vùng núi, hai tỉnh đều hình thành các tổ chức quần chúng như phụ nữ, đoàn thanh niên, mặt trận... Các tổ chức này từng bước phát huy chức năng của mình trong sản xuất, đoàn kết các dân tộc, làm chông, bẫy, chống địch càn quét. Các tổ chức quần chúng đã bồi dưỡng nhiều cán bộ người dân tộc, trong đó có ông Cần Một được bầu làm Chủ tịch Mặt trận các dân tộc ở miền núi Thừa Thiên.

Từ các tổ chức quần chúng, các đội du kích mật dần dần được hình thành gồm những hạt nhân nòng cốt. Mỗi xã có một đội, mỗi đội có khoảng 25 đến 30 người, vũ khí trang bị chủ yếu là tên ná tự tạo và vài khẩu súng trường. Nhiều quần chúng tích cực được kết nạp vào đảng. Đội ngũ đảng viên phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đến tháng 12 năm 1058, miền núi Quảng Trị, Thừa Thiên đã có 30 chi bộ với hơn 150 đảng viên, có Ban cán sự đảng miền tây của tỉnh, xã có chi bộ đảng. Đặc biệt, số đảng viên người dân tộc chiếm hơn 50 phần trăm ở các chi bộ. Chi bộ đảng thực sự làm nòng cốt trong quần chúng nhân dân thực hiện các chủ trương chính sách của tỉnh ủy.

Từ tháng 9 năm 1959 trở đi, trước nguy cơ không nắm được dân, địch tập trung bắt dân vào các nông trường ở Nam Đông, Khe Tre, A So, Khe Tranh. Các chi bộ đã kịp thời tổ chức và động viên người già, trẻ em ở lại bám làng đấu tranh trực diện chống địch gom dân, thanh niên vào rừng sâu làm nương rẫy phân tán, làm chòi canh, gài chông bẫy đề phòng địch càn quét. Địch không những thất bại trước ý đồ gom dân mà phong trào đấu tranh của nhân dân ngày một nâng cao.

Qua phong trào đấu tranh của nhân dân miền núi đã xuất hiện những yêu cầu mới về xây dựng lực lượng vũ trang để làm nòng cốt cho đấu tranh chính trị. Giữa năm 1959, các đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên ra đời.

Ở Quảng Trị, ngoài 12 đồng chí do quân khu điều vào làm nòng cốt, tỉnh lấy thêm một số đồng chí công an bảo vệ tỉnh và một số đồng chí ở Vĩnh Linh, gồm tất cả 23 người, thành lập hai đội công tác 59A và 59B. Tháng 6 năm 1959, tại xã A Bung, đội công tác 45 gồm 32 đồng chí được thành lập do đại úy Lê Cương phụ trách. Đầu năm 1960, ban quân sự tỉnh Quảng Trị ra đời, gồm ba đồng chí. Từ những tổ công tác, trong quá trình hoạt động, tỉnh đã bổ sung thêm lực lượng ở địa phương và thành lập đại đội 53, đại đội đầu tiên của tỉnh do đồng chí Cừ chỉ huy.

Lúc này ở Thừa Thiên, từ một lực lượng nhỏ bé gồm 15 cán bộ quân sự và một đội trinh sát gồm 8 đồng chí ở miền Bắc vào được phân công về các huyện làm nòng cốt trong phong trào đấu tranh, tỉnh đã chỉ đạo phát triển phong trào chiến tranh du kích và đến cuối năm 1959, đã tổ chức được hai đại đội vũ trang của tỉnh.

Nhiệm vụ của các đội vũ trang lúc này chủ yếu là bảo vệ cơ quan tỉnh, xây dựng cơ sở cách mạng, vũ trang tuyên truyền, phát động quần chúng, tổ chức lực lượng du kích và làm nòng cốt cho chiến tranh du kích ở miền núi.

 

Sự xuất hiện các đơn vị vũ trang đầu tiên của hai tỉnh Trị - Thiên là một sự kiện quan trọng. Từ chỗ miền núi là vùng địch kiểm soát, đến đầu năm 1959, ta cơ bản giành quyền làm chủ. Tổ chức đảng bước đầu được xây dựng từ tỉnh xuống đến chi bộ xã. (20 xã ở Quảng Trị và 12 xã ở Thừa Thiên có chi bộ đảng). Nhân dân tự do đi lại làm ăn, đa số tham gia vào các tổ chức quần chúng cách mạng. Hệ thống chính quyền ngụy tuy còn nhưng dần dần đã bị vô hiệu hóa.

Từ thoái trào, Quảng Trị, Thừa Thiên đã biết chọn miền núi làm căn cứ địa cách mạng để dần hồi phục và phát triển phong trào cách mạng của hai tỉnh. Cuối năm 1959, một số nơi ở miền núi Trị - Thiên đã có tiền đề trực tiếp cho những cuộc nổi dậy của nhân dân các dân tộc phá bỏ ngụy quyền, lập chính quyền cách mạng.

Căn cứ địa miền núi Trị - Thiên trở thành chỗ dựa vững chắc cho việc khôi phục lại phong trào cách mạng ở đồng bằng.

Tuy nhiên, do chưa nắm vững quan điểm, phương pháp, còn chậm chuyển hướng đấu tranh sát với thực tế tình hình, còn e ngại vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ, nên phong trào cách mạng Quảng Trị, Thừa Thiên bị chững lại, chưa tận dụng hết thuận lợi của hậu phương trực tiếp. Vai trò hậu phương trực tiếp đặc biệt là khu vực Vĩnh Linh, Quảng Bình thời kỳ đầu cũng vì quan điểm này mà chưa thể hiện rõ, chưa có tác dụng mạnh đối với phong trào cách mạng ở Trị - Thiên.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 08:41:11 pm

II - MIỀN NÚI TRỊ-THIÊN NỔI DẬY,
MỞ ĐƯỜNG HÀNH LANG CHIẾN LƯỢC VÀ PHỐI HỢP CHIẾN ĐẤU GIÚP BẠN LÀO

Qua cuộc đấu tranh chống địch "tố cộng, diệt cộng", mặc dầu cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề, nhưng những cuộc khởi nghĩa từng phần cũng đã xuất hiện ở nhiều nơi, nhất là miền núi Khu 5, đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ. Riêng Trị - Thiên do địch tập trung đàn áp, nhiều cơ sở đảng tan vỡ, nên phong trào cách mạng phát triển không đều, quần chúng nhân dân một số còn hoang mang. Ở miền núi Trị - Thiên tuy phong trào còn rất nhiều khó khăn, nhưng lực lượng lãnh đạo được tăng cường, quần chúng được giáo dục, tin ở cách mạng, căm thù Mỹ - Diệm, đã xây dựng được một số căn cứ. Không cam chịu ách kìm kẹp của kẻ thù, lại được tổ chức đảng cơ sở giác ngộ, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân Trị - Thiên nóng lòng chờ đợi và sẵn sàng nổi dậy khi có chủ trương của trên.

Tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 15. Sau khi phân tích sâu sắc tình hình trong nước và thế giới, xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam, Nghị quyết hội nghị chỉ rõ: con đường phát triển của cách mạng ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc, phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân. Hội nghị còn phân tích thêm: khi sử dụng lực lượng tự vệ và vũ trang tuyên truyền cần phải thấu suốt nguyên tắc phục vụ cho đấu tranh chính trị và phục tùng lợi ích của đấu tranh chính trị.

Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã vạch ra phương hướng đúng đắn cho cách mạng miền Nam, nó có ý nghĩa quyết định làm chuyển biến phong trào đấu tranh của nhân dân ta. Trị - Thiên, tiếp thu Nghị quyết 15 như hạn hán gặp mưa rào. Đường lối cách mạng miền Nam mà Nghị quyết vạch ra đáp ứng nguyện vọng bức thiết của đông đảo quần chúng, động viên mạnh mẽ tinh thần cách mạng của nhân dân cả miền núi lẫn đồng bằng, tạo nên sự nhất trí cao độ.

Tháng 5 năm 1959, Tỉnh ủy Quảng Trị quán triệt Nghị quyết 15, phổ biến đến từng chi bộ, đảng viên. Tháng 6 năm 1959, Tỉnh ủy Thừa Thiên triển khai học tập Nghị quyết 15 và phát động giáo dục quần chúng nhân dân hiểu đúng đường lối của Đảng, tiếp tục đứng lên đấu tranh chống Mỹ - Diệm. Dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, những cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ ở mức độ thấp diễn ra ở nhiều nơi, nhất là miền núi. Cuộc đấu tranh của nhân dân Trị - Thiên không còn ở thế thụ động, chính trị đơn thuần như trước.

Lo sợ trước phong trào cách mạng ngày càng lan rộng ở Trị - Thiên, tháng 4 năm 1960, địch cho ba tiểu đoàn càn vào miền tây Quảng Trị, thực hiện dồn làng, tập trung dân vào các khu: Khe Sanh, Lao Bảo, Hướng Hóa, Cùa, Ba Lòng, hòng bóp nghẹt cuộc sống nhân dân, tách dân khỏi đảng. Tháng 10 năm 1960, hai tiểu đoàn địch càn vào hai xã Thượng Hùng, Thượng Quảng (Thừa Thiên) gom dân vào các khu Nam Đông, Khe Tre, Bình Điền, A Lưới, A So. Càn đến đâu, chúng đều thực hiện đốt nhà, phá hoa màu, giết hại dân thường, bắt hàng trăm người đi dinh điền. Các làng, bản A Trìa, Tam Dần, A Lưới bị địch triệt hạ hoàn toàn.

Căm thù địch dồn nén tột độ trong nhân dân đã đến lúc bùng lên ngọn lửa đấu tranh mạnh mẽ. Được phong trào Đồng khởi toàn miền cổ vũ, Tỉnh ủy các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên liền phát động cuộc nổi dậy của quần chúng cách mạng ở miền núi hai tỉnh.

Mở đầu phong trào đấu tranh, một tổ đặc công và du kích xã Phong Lâm trừng trị tên chánh tổng phản động thuộc đảng "cần lao nhân vị" ở Khe Tranh (Thừa Thiên). Ngày 10 tháng 12 năm 1960, dưới sự lãnh đạo của chi bộ xã Hướng Lâm, do đồng chí Lộc bí thư và đồng chí Bân phó bí thư Ban cán sự miền tây Thừa Thiên chỉ đạo, bộ đội cùng du kích bắt gọn trung đội địch và tên phản động khét tiếng trong vùng. Tiếp đó, chi bộ tổ chức cuộc mít tinh với hơn 2.000 người tham dự. Sau khi tố cáo tội ác của Mỹ - Diệm, đoàn chủ tịch tuyên bố xóa bỏ chính quyền ngụy và tiến hành xử tử một số tên có nhiều nợ máu với cách mạng.

Ngày 15 tháng 12 năm 1960, hơn 2.000 nhân dân xã Phong Lâm mít tinh tuyên bố xử tử tên phó tổng bí thư đảng "cần lao nhân vị" (tên này thường xuyên về Huế trực tiếp báo cáo và nhận chỉ thị của Ngô Đình Cẩn) và quyết định xóa bỏ chính quyền ngụy, thành lập chính quyền cách mạng. Sau cuộc mít tinh, cấp ủy đảng chỉ đạo nhân dân khẩn trương sản xuất, làm chông, bẫy, sẵn sàng chống địch phản kích.

Nhân dân các xã quanh vùng đều nổi dậy đấu tranh lật đổ chính quyền địch, xây dựng bản làng chiến đấu.

Ở Quảng Trị, mở đầu cho phong trào nổi dậy, tháng 7 năm 1960, các lực lượng vũ trang tỉnh tiêu diệt vị trí Sa Mưu. Được lực lượng vũ trang hỗ trợ, nhân dân trong vùng nổi dậy đấu tranh chống địch gom dân, lập ấp chiến lược.

Phong trào tiếp tục lan rộng, đến tháng 12 năm 1960, nhân dân nam Hướng Hóa nổi dậy diệt trừ ác ôn, giải tán chính quyền địch, lập chính quyền cách mạng.

Tháng 10 năm 1960, ba tiểu đoàn địch từ đồng bằng lên phản kích vào Hướng Hóa. Các đội công tác 59A và 59B cùng với dân quân, du kích Hướng Hóa tổ chức đánh địch, buộc chúng phải rút về Đông Hà. Thành quả nổi dậy của nhân dân được giữ vững.

Tháng 11 năm 1960, Mỹ - Diệm dùng hai tiểu đoàn từ Hương Trà mở cuộc phản kích lên Phong Lâm, Hương Lâm (Thừa Thiên). Quyết không để địch chiếm lại miền núi, lực lượng vũ trang tỉnh cùng với dân quân, du kích Phong Lâm, Hương Lâm phục kích đánh địch. Bị chặn đánh, địch phải rút về Huế.

Cuối năm 1960, ở Quảng Trị, địch phải rút khỏi một số đồn bốt như Sa Mùi, Tà Rụt, Trại Cá, Sa Trầm, Li Tôn, làng ông Nhiệm, dọc biên giới và phía tây đường số 9. Tại Thừa Thiên, địch phải co về các điểm A So, A Lưới, Nam Đông, Khe Tre.

Lực lượng vũ trang Quảng Trị, Thừa Thiên không ngừng lớn mạnh. Đến tháng 1 năm 1960, bộ đội địa phương miền núi đã có hơn 366 người, được trang bị đầy đủ vũ khí, các xã đều có từ một đến hai tiểu đội du kích. Ý thức đánh địch được thể hiện ở mọi người dân.

Đến cuối năm 1960, miền núi Quảng Trị, Thừa Thiên căn bản được giải phóng đã trở thành địa bàn đứng chân cho lực lượng cách mạng Trị - Thiên.

Cùng với thắng lợi của phong trào Đồng khởi toàn miền Nam, những cuộc nổi dậy của miền núi Trị - Thiên đã góp phần đẩy Mỹ - Diệm vào giai đoạn khủng hoảng triền miên.

Thắng lợi của phong trào đấu tranh ở miền Nam là niềm cổ vũ lớn lao đối với quân và dân miền Bắc, trực tiếp là các tỉnh tuyến đầu hậu phương, động viên phong trào thi đua xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện của quân, dân các tỉnh Quân khu 4.

Trong thời gian này, một số địa phương trong quân khu đã phát động phong trào kết nghĩa Bắc - Nam. Mỗi tỉnh, mỗi huyện tiến hành kết nghĩa với mỗi tỉnh, huyện ở miền Nam. Cuối năm 1957, những "vườn dừa Bình - Trị - Thiên", "thư viện Bình - Trị - Thiên", "vườn cây An - Ngãi" ra đời.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 08:44:36 pm

Năm 1958, thực hiện thi đua sản xuất thực hành tiết kiệm, chuẩn bị chi viện lớn cho chiến trường miền Nam, các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thanh Hóa đã ủng hộ đồng bào miền Nam 500 tấn gạo. Bắt đầu từ đầu năm 1959, nhiều cán bộ trong quân khu được lệnh vào miền Nam chiến đấu. Tháng 8 năm 1959, một đoàn cán bộ gồm 70 đồng chí lên đường, trong đó có 12 đồng chí ở lại Quảng Trị xây dựng lực lượng vũ trang. Tháng 9 năm 1960, sau khi để khung tiểu đoàn đặc công 323 ở lại làm nhiệm vụ huấn luyện, Quân khu đã điều toàn bộ số còn lại của tiểu đoàn tăng cường cho miền Nam.

Cùng thời gian này, Quân khu tổ chức thêm đoàn 22 huấn luyện bộ đội bổ sung vào Nam chiến đấu, 400 đồng chí khi học xong đã hăng hái lên đường nhận nhiệm vụ.

Khi những nhóm cán bộ, những phân đội nhỏ lẻ đầu tiên của quân khu vào Nam làm nhiệm vụ, thì những đơn vị chủ lực như sư đoàn 325, sư đoàn 324..., cũng tích cực luyện tập, củng cố quyết tâm, sẵn sàng đợi lệnh đi chiến đấu.

Hoạt động chi viện cho miền Nam ngày một lớn, yêu cầu cấp thiết phải có hệ thống giao thông an toàn, hiệu quả. Lúc này giao lưu giữa hai miền Nam - Bắc chủ yếu bằng hệ thống đường liên tỉnh có trong thời kỳ chống Pháp chạy giữa giáp ranh miền núi và đồng bằng nối Liên khu 5 với Khu 4. Từ sau năm 1954, những con đường liên tỉnh được bảo vệ để vận chuyển thư từ, báo chí, đưa cán bộ đi lại hoạt động ở các huyện đồng bằng Trị - Thiên.

Phát hiện được những hoạt động của ta trên những tuyến đường này, địch cho nhiều đại đội lính ngụy càn quét các vùng gần đường, phục kích những nơi nghi ngờ, tung thám báo, biệt kích cải trang, làm thợ rừng, thường xuyên lùng sục tìm dấu vết giao liên ta. Việc đi lại của các đoàn cán bộ vào Nam, ra Bắc gặp nhiều khó khăn. Sớm nhận thấy điều đó, đầu năm 1956, Trung ương giao cho Liên tỉnh Trị - Thiên giúp bạn Lào xây dựng cơ sở cách mạng vùng sát biên giới để chuẩn bị xây dựng thêm tuyến đường phục vụ yêu cầu nhiệm vụ mới.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, tháng 11 năm 1956, Liên tỉnh ủy quyết định mở đường Trường Sơn (còn gọi là đường Thống nhất Trung ương) chạy suốt biên giới Lào - Việt thuộc sườn đông dãy Trường Sơn, nằm phía tây các căn cứ Mỹ - ngụy ở Nam Đông, Khe Tre, A Nhật, A So, A Lưới. Đồng bào các dân tộc Pa Cô, Tà Ôi, Vân Kiều, luôn cảnh giác, bảo vệ an toàn cho tuyến đường, nhất là những quãng đường chạy sát căn cứ địch. Chỉ một thời gian ngắn, đường giao liên Trường Sơn đi qua Trị - Thiên hoàn thành, kịp thời phục vụ cho nhiệm vụ chi viện tiền tuyến.

Tháng 7 năm 1957, trên tuyến đường này hơn 1.000 cán bộ các tỉnh Khu 5 đã được bảo đảm hành quân ra Bắc an toàn.

Cuối năm 1957, trên địa bàn Quảng Trị, Thừa Thiên đã có hai tuyến hành lang chiến lược hoàn chỉnh. Tuyến đường liên tỉnh ra Vĩnh Linh và tuyến đường Trường Sơn từ bắc đường số 9 vào Quảng Nam. Đây là những tuyến đường hết sức quan trọng đối với hoạt động chi viện cho miền Nam thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Để tăng cường hoạt động chi viện cho miền Nam, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng quyết định tổ chức tuyến vận tải quân sự Trường Sơn, có nhiệm vụ vận chuyển hàng quân sự chi viện cho chiến trường, tổ chức đưa đón cán bộ, chuyển công văn, tài liệu từ miền Bắc vào miền Nam và từ Nam ra Bắc.

Ngày 5 tháng 5 năm 1959, Tổng Quân ủy thành lập "Đoàn công tác quân sự đặc biệt" để nghiên cứu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên1. Thượng tá Võ Bẩm, cán bộ Liên khu 5 tập kết, nguyên chính ủy trung đoàn 803 sư đoàn 324, Cục phó Cục Nông trường, được giao nhiệm vụ tổ chức đoàn và được chỉ định làm Bí thư Ban cán sự Đảng. Nhiệm vụ của đoàn ngay sau khi thành lập là tổ chức tuyến giao liên quân sự Trường Sơn với nhiệm vụ chủ yếu là đưa quân bổ sung, đưa đón cán bộ, vận chuyển công văn tài liệu vào miền Nam và vận chuyển một phần hàng hóa quân sự theo yêu cầu khấn cấp của Khu 5 và Trị - Thiên với phương châm tuyệt đối bí mật, an toàn.

Chấp hành nhiệm vụ, Ban cán sự Đảng của Đoàn 559 đã khẩn trương làm việc với Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 4, với Thường vụ Liên tỉnh ủy Trị - Thiên, đặc khu Vĩnh Linh để triển khai tổ chức. Lực lượng được chọn để thành lập Đoàn 559 chủ yếu là cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc, tập trung ở các sư đoàn: 324, 325, các nông trường "19-5", "1-5", ... trong quân khu.

Ngày 10 tháng 6 năm 1959, tiểu đoàn 301 vận tải bộ (440 cán bộ, chiến sĩ) vào đến Khe Hó (tây Vĩnh Linh) lập tuyến đứng chân xuất phát. Đồng chí Cương, huyện ủy viên Hướng Hóa đảm nhiệm việc dẫn đường cho các nhóm vận chuyển vượt sông Bến Hải.

Tiếp theo sự ra đời của tiểu đoàn 301, tháng 7 năm 1959, tiểu đoàn 603 vận tải thủy được thành lập (107 đồng chí). Tiểu đoàn 603 tập kết tại cảng Thanh Khê (sông Gianh - Quảng Bình), triển khai việc vận chuyển đường biển, lấy tên "Tập đoàn đánh cá miền Nam".

Thời gian này, cán bộ, chiến sĩ đi lại trên tuyến đường Trường Sơn bắt đầu tăng. Mỗi ngày các trạm đưa đón 20 người vào Nam, ra Bắc, đồng thời cấp phát đủ gạo ăn cho cán bộ đi đường. Trên từng cung đoạn, mỗi ngày chuyển từ hai đến ba gùi hàng, mỗi gùi từ 20 đến 30 ki-lô-gam, gồm thư từ, công văn, báo chí, thuốc chữa bệnh... Phát hiện thấy những hoạt động của ta trên tuyến giao liên Trường Sơn kẻ địch đã tổ chức lùng sục, phục kích. Nhằm bảo đảm an toàn cho hoạt động trên tuyến, Ban cán sự miền núi Trị - Thiên cùng với ban chỉ huy giao liên thống nhất mở thêm một con đường mới ở tây Trường Sơn chạy ra tới Vĩnh Linh. Với quyết tâm hoàn thành tuyến đường để kịp thời nhận chuyến hàng đầu tiên, Ban cán sự Trị - Thiên khẩn trương tổ chức các bộ phận xoi đường, đặt cung trạm, tuyển thêm quân ở các xã, chuyển lương thực, muối đến các vị trí mới. Ban cán sự hai tỉnh liên hệ với tiểu đoàn 301 và ban chỉ huy giao thông vận tải Quảng Nam - Đà Nẵng để thống nhất kế hoạch thực hiện.

Vượt qua khó khăn, nhất là thiếu lương thực, tuyến đường mới hoàn thành đúng thời gian. Các cung, trạm hình thành và tiếp nhận hơn 100 thanh niên địa phương tình nguyện phục vụ. Các trạm vừa vận tải, vừa sản xuất tự túc lương thực. Khó khăn lớn thời gian đầu là tuyến đường đi qua nhiều vùng trên đất bạn mà ta chưa liên hệ được với các cơ sở cách mạng, hoặc gần với đồn của lính ngụy Lào. Tuy vậy, nhờ kiên trì vận động quần chúng, cán bộ, chiến sĩ ta đã nắm được dân, thuyết phục phần lớn lính ngụy Lào ủng hộ2.

Như vậy, đến cuối năm 1959, ở Quảng Trị, Thừa Thiên, tuyến vận tải quân sự thứ ba đã ra đời, Cùng với các tuyến vận tải có từ trước, tuyến vận tải quan trọng này đã góp phần đáp ứng yêu cầu công tác vận tải, giao liên đang đặt ra cấp bách.

Sau một thời gian định hình về tổ chức, tiến hành mở tuyến, chuẩn bị hàng hóa, ngày 13 tháng 8 năm 1959, chuyến vũ khí đầu tiên được đoàn 301 chuyển vào Nam. Ngày 20 tháng 8, hơn 500 ki-lô-gam vũ khí được giao cho Liên khu 5 ở Tà Riệp, gần trạm Pa Lin (tây nam Thừa Thiên).
______________________________________________
1. Ngày 12-9-1959, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 446/QĐ, hợp thức hóa việc thành lập “Đoàn công tác quân sự đặc biệt", lấy tên là Đoàn 559 trực thuộc Tổng tư lệnh.
2. Ở làng A Bỉ thuộc Lào, ông Quỳnh Ngọt - chủ làng đã ủng hộ bộ đội ta hàng chục thúng gạo, ngô, sắn.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 08:46:21 pm

Tháng 11 năm 1960, hơn 500 thanh niên Quảng Trị, Thừa Thiên tình nguyện tham gia bảo vệ, mở đường và vận chuyển hàng hóa. Có nhiều thanh niên dân tộc Vân Kiều đã đưa năng suất gùi lên 100 ki-lô-gam, tiêu biểu là A Nun, Hồ Dục1... Nhân dân các khu vực có tuyến đường đi qua đã ủng hộ lương thực và tham gia bảo vệ an toàn cho tuyến đường. Đến tháng 12 năm 1960, trên các tuyến chiến lược đã có 542 cán bộ chiến sĩ từ miền Bắc vào Nam chiến đấu và nhiều vũ khí, hàng hóa được chuyển vào Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên.

Tuyến hành lang được bảo vệ, căn cứ địa miền núi Trị - Thiên vững mạnh, hậu phương không ngừng củng cố, đã tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang quân khu sát cánh cùng quân và dân Trung - Hạ Lào đấu tranh chống kẻ thù chung, từng bước thực hiện mối liên kết chiến trường liên hoàn thế trận Trung - Hạ Lào và miền tây quân khu.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tình hình Lào có nhiều diễn biến phức tạp. Lực lượng Pa-thét Lào tập kết vào hai tỉnh Sầm Nưa, và Phong Sa Lỳ. Đế quốc Mỹ dựng lên chính quyền tay sai phản động Cà - tày, Phủi-xa-na-ni-con, tiến hành cho quân tiến công vào hai tỉnh, hòng bóp chết lực lượng Pa-thét Lào. Đối với Trung - Hạ Lào, địch khẩn trương xây dựng chính quyền tay sai để đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng. Chủ trương của bạn lúc này là xây dựng vùng giải phóng vững mạnh, xây dựng cơ sở cách mạng khắp 10 tỉnh, đấu tranh với địch để thành lập chính phủ liên hiệp.

Trung-Hạ Lào là một vùng rộng lớn của bạn, cơ sở cách mạng còn rất mỏng, bộ đội chủ lực chưa có, chỉ có những cơ sở du kích nhỏ lẻ ở các làng, bản hẻo lánh.

Đáp ứng yêu cầu trước mắt của bạn và thực hiện nhiệm vụ Trung ương giao, Quân khu 4 đã đưa cán bộ, chiến sĩ sang giúp bạn xây dựng cơ sở cách mạng và lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho phong trào chiến tranh du kích ở Trung - Hạ Lào.

Tháng 8 năm 1956. Quân khu cử 25 đồng chí sang vùng Xiêng Khoảng liên hệ với cơ sở cách mạng của bạn, xây dựng tổ chức dân quân, phát động quần chúng đấu tranh chống địch.

Liên tỉnh Trị - Thiên được Trung ương giao trực tiếp giúp bạn ở vùng gần biên giới Việt - Lào. Tháng 8 năm 1958, đồng chí Nguyễn Húng phụ trách Liên tỉnh Trị - Thiên cùng với đồng chí Khăm Xẻng bí thư liên huyện Mường Phìn, La Ve, họp bàn kế hoạch đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, tăng cường xây dựng cơ sở cách mạng vững mạnh, đoàn kết chiến đấu ở địa bàn biên giới hai nước. Cán bộ quân sự ta cùng cán bộ của bạn trực tiếp xuống các làng, bản, tổ chức lại tổ, đội dân quân du kích, huấn luyện quân sự, chính trị. Đến tháng 9 năm 1959, căn cứ cách mạng từ Sê Pôn đến Mường Noòng, La Ve, Ka Say hình thành.

Tháng 10 năm 1959, liên tỉnh Trị - Thiên đưa thêm 15 cán bộ quân sự giúp bạn xây dựng, huấn luyện một đội vũ trang Pa-thét Lào ở huyện Tà Ôi, một đại đội khác ở huyện Tà Ưu. Bước đầu, cán bộ, chiến sĩ Pa-thét Lào nắm vững cơ bản về kỹ thuật bộ binh, chiến thuật phân đội nhỏ, phương pháp tổ chức quần chúng...

Phong trào chiến tranh du kích đã có bước tiến khá mạnh, song vẫn chưa đáp ứng với thực tế chung của cách mạng Lào. Từ tháng 3 năm 1958, Quân khu 4 đã đưa một số cán bộ, chiến sĩ của trung đoàn 120, các tiểu đoàn 929, 927 sang giúp bạn. Tiếp đó, Quân khu cử năm tiểu đoàn thuộc các sư đoàn 325, 324, sang giúp bạn xây dựng lực lượng chủ lực và bộ đội địa phương, mở rộng căn cứ địa, góp phần hỗ trợ cho phong trào đánh địch ở Thượng Lào.

Tháng 6 năm 1959, một đơn vị thuộc sư đoàn 325, phối hợp với cơ sở cách mạng của bạn ở Khăm Muộn đánh đuổi địch tại Tha Phay Chòn, Ăng Kham, vùng căn cứ của bạn được mở rộng thêm.

Giữa năm 1959, Mỹ và tay sai liên tục mở các cuộc càn quét tiến công vào vùng giải phóng Lào và các cơ sở cách mạng ở Trung - Hạ Lào, nhằm bao vây, tiêu diệt tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào.

Được chỉ thị của Bộ, Quân khu 4 liền đưa một lực lượng gồm 35 cán bộ chiến sĩ trinh sát kịp thời bắt liên lạc với bộ đội Pa-thét Lào. Tiếp đó, ngày 20 tháng 5, một tiểu đội của tiểu đoàn biên phòng 925 được lệnh lên đường. Vượt qua địa hình rừng núi hiểm trở, luồn lách tránh địch phục kích, đến ngày 25 tháng 5, bộ đội ta gặp tiểu đoàn 2 ở đồi Bù Khai Khẳn (thuộc Xiêng Khoảng). Cán bộ, chiến sĩ ta nhanh chóng giúp bạn tổ chức cho tiểu đoàn 2 hành quân về tập kết tại Phu Cây Khảnh (một vị trí gần biên giới Việt - Lào). Ngày 6 tháng 6, toàn bộ tiểu đoàn 2 về tới căn cứ an toàn. Nhân dân và lực lượng vũ trang miền tây Nghệ An đón tiếp bộ đội Pa-thét Lào rất thân tình, chu đáo.

Để đối phó với phong trào cách mạng Lào đang phát triển rộng khắp 10 tỉnh, từ tháng 5 năm 1959, đế quốc Mỹ thực hiện chiến tranh đặc biệt, liên tiếp mở các cuộc càn quét ra toàn bộ nước Lào. Tháng 1 năm 1960, địch cho 10 tiểu đoàn càn mạnh vào các vùng của Trung - Hạ Lào, đặc biệt chúng càn quét dọc biên giới Lào - Việt nhằm hạn chế tác dụng của vùng căn cứ địa cách mạng nối liền với hậu phương miền Bắc Việt Nam và ngăn chặn tuyến vận tải quân sự tây Trường Sơn của ta.

Theo yêu cầu của bạn, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 tổ chức một lực lượng quân tình nguyện phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào giải phóng Noọng Hét. Đây là một mục tiêu trong toàn bộ chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng của bạn. Tham gia đánh Noọng Hét gồm một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 120 quân tình nguyện quân khu và hai đại đội Pa-thét Lào.

Ngày 16 tháng 12 năm 1960, trận đánh bắt đầu. Do chủ quan đánh giá địch thấp, nên những lần tiến công đầu tiên ta đã gặp phải sự phản kích điên cuồng của địch và không hoàn thành nhiệm vụ. Sau khi rút kinh nghiệm, Quân khu bổ sung thêm lực lượng của sư đoàn 324 và làm gấp gần 10 ki-lô-mét đường từ Mường Xén đến Noọng Hét để kéo pháo vào áp sát căn cứ của địch. Ngày 28 tháng 12, ta tổ chức đợt tiến công lần thứ hai. Sau ba ngày chiến đấu, bộ binh được hỏa lực pháo binh chi viện đã giải phóng hoàn toàn Noọng Hét.

Ngoài lực lượng tình nguyện của sư đoàn 324 và trung đoàn 120 tham gia giải phóng Noọng Hét, một trung đội của tiểu đoàn 929 được giao nhiệm vụ phối hợp với hai đại đội Pa-thét Lào tiến công Lằng Khằng. Sau bốn ngày chiến đấu (từ 16 đến 19-12-1960) Lằng Khằng cũng được giải phóng.

Đây là những thắng lại mở đầu của bộ đội tình nguyện Quân khu 4, phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào tiến công vào những vị trí khá quan trọng của địch.

Cùng với việc đưa bộ đội tình nguyện trực tiếp giúp bạn chiến đấu, Quân khu đặc biệt chú trọng giúp bạn tổ chức các lớp bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ.

Tháng 9 năm 1959, sư đoàn 325 giúp bạn thành lập tiểu đoàn 15 huấn luyện cán bộ. Tiếp đó, tháng 1 năm 1960, trường quân chính Quân khu được thành lập. Trong khóa học đầu tiên, trường đã đào tạo cho bạn 60 học viên. Nội dung học chủ yếu là những kiến thức cơ bản về cách mạng giải phóng dân tộc, đoàn kết quốc tế, về kỹ thuật, chiến thuật quân sự, kiến thức tổ chức, chỉ huy... Tháng 12 năm 1960, lớp học viên đầu tiên ra trường đã kịp thời bổ sung cho các đơn vị, giải quyết một phần khó khăn về cán bộ của bạn.

Vừa chiến đấu, lực lượng cách mạng vùng Trung - Hạ Lào đã có bước phát triển nhanh chóng. Từ những đơn vị du kích nhỏ lẻ, phát triển thành ba tiểu đoàn độc lập, được trang bị đầy đủ vũ khí, có hỏa lực cối 82, ĐKZ 57. Lực lượng dân quân được tổ chức thành tiểu đội ở các làng, bản, vũ khí trang bị chủ yếu là súng trường.

Hậu phương quân khu không ngừng được củng cố, tuyến vận tải quân sự ngày một phát triển cùng với sự phát triển của cách mạng vùng Trung - Hạ Lào đã tạo nên thế trận vững chắc trên địa bàn hậu phương kế cận của miền Nam cũng như chiến trường Lào.

Từ ngày 3 đến ngày 13 tháng 7 năm 1960, Đại hội đại biểu Đảng bộ quân khu họp lần thứ nhất để đánh giá và tổng kết kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và quân đội giao cho. Nghị quyết Đại hội nêu rõ những thành tựu quân khu đạt được trong thời gian qua là đã từng bước củng cố vững chắc công cuộc phòng thủ, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân có trình độ kỹ thuật tốt, vững vàng về chính trị, sẵn sàng chiến đấu giữ gìn an ninh, quốc phòng; thực hiện tốt nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng; đồng thời chi viện tích cực cho Trị - Thiên đấu tranh và giúp bạn Lào. Tuy nhiên, so với yêu cầu của cách mạng thì trình độ chính trị, kỹ thuật, chiến thuật của lực lượng vũ trang quân khu còn non yếu nhiều mặt, trong đó hiệu suất lãnh đạo của các cấp ủy đảng của một số đơn vị chưa cao, còn xem nhẹ việc xây dựng cơ sở chính trị tại những vùng công giáo.

Đại hội quyết nghị phải tăng cường hơn nữa công tác phòng thủ, bảo vệ trị an, luôn sẵn sàng chiến đấu, nâng cao trình độ chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ cho lực lượng vũ trang; nhanh chóng đưa bộ đội lên chính quy và tương đối hiện đại, cùng các cấp ủy đảng địa phương xây dựng lực lượng hậu bị tiến bộ đều khắp, thực hiện tốt việc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, củng cố hậu phương vững mạnh, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
______________________________________________
1. A Nun, Hồ Dục sau này được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:07:19 pm

CHƯƠNG II
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG, SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN ĐẤU,
GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1961 - 1964)


I - XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG,
CỦNG CỐ HẬU PHƯƠNG, SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU

Ngày 5 tháng 9 năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng khai mạc tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đề ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà. Các lực lượng vũ trang phải được tăng cường về mọi mặt nhằm bảo vệ vững chắc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Cam-pu-chia.

Cùng cả nước, quân và dân Quân khu 4 đón nhận tinh thần Đại hội với niềm tin và quyết tâm mới.

Những tháng đầu năm 1961, các địa phương trong quân khu tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ (vòng 2) nhằm đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ trong thời gian qua, đặc biệt là công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp và phong trào hợp tác hóa ở địa phương; đề ra nhiệm vụ và biện pháp trong thời gian tới. Đại hội các tỉnh đảng bộ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh đều chú trọng vấn đề xây dựng đảng bộ vững mạnh, tăng cường hiệu lực của chính quyền, củng cố khối liên minh công nông, làm tốt công tác trị an, quốc phòng góp phần xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam.

Ngày 18 tháng 2 năm 1961, hội nghị Quân khu ủy (mở rộng) được triệu tập. Kiểm điểm mọi mặt công tác năm 1960, hội nghị chỉ rõ: bên cạnh một số mặt thực hiện tương đối tốt, vẫn còn những yếu kém phải kiên quyết khắc phục đặc biệt là nhiệm vụ tăng cường khả năng phòng thủ trên địa bàn quân khu. Hội nghị cho rằng, lúc này tuy địch chưa có khả năng tiến công ra miền Bắc, nhưng khả năng khiêu khích từ bên ngoài vào và từ bên trong nội địa cần đặc biệt chú ý. Đấu tranh giai cấp ở miền Bắc vẫn đang tiếp tục đòi hỏi nền chuyên chính vô sản phải được củng cố vững chắc. Đấu tranh của đồng bào ta ở miền Nam càng mạnh thì địch càng ra sức đàn áp, "thậm chí có thể có những hành động khiêu khích đối với miền Bắc, trực tiếp nhất là đối với quân khu”. Đế quốc Mỹ và khối SEATO đang ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Tình hình Lào còn diễn biến phức tạp, chia cắt và nội chiến còn có thể kéo dài. Tình hình đó đòi hỏi Quân khu 4, "một quân khu đầu cầu, ba mặt đều có thể bị địch khiêu khích lại càng phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó với mọi tình huống, kể cả các tình huống lớn".

Hội nghị đề ra năm công tác lớn phải được thực hiện thật tốt trong thời gian tới:

1. Tăng cường phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu trong các đơn vị bộ đội chủ lực và lực lượng hậu bị, chủ động đối phó với mọi tình huống, phối hợp hoạt động bảo vệ biên giới.

2. Chấn chỉnh biên chế và tăng cường huấn luyện chiến đấu cho lực lượng thường trực phù hợp với yêu cầu sẵn sàng chiến đấu của quân khu, kiên quyết thực hiện chính quy hóa.

3. Tiếp tục củng cố tổ chức và đẩy mạnh huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật; nâng cao chất lượng hậu bị, sẵn sàng kế hoạch động viên thời chiến.

4. Tăng cường công tác bảo đảm vật chất phục vụ yêu cầu phòng thủ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện chuẩn bị động viên, nâng cao sinh hoạt vật chất của bộ đội.

5. Tăng cường công tác chính trị tư tưởng, xây dựng đảng, phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng.

Sau hội nghị Quân khu ủy (mở rộng) Bộ Tư lệnh và các cơ quan quân khu khẩn trương tiến hành biên chế thời chiến cho các đơn vị trực thuộc quân khu. Sư đoàn tăng thêm thành phần binh chủng và bổ sung đủ quân số, bảo đảm sẵn sàng cơ động; tăng thêm bộ binh và binh chủng cho lữ đoàn 341, bảo đảm phòng thủ giới tuyến. Sư đoàn 324 được tổ chức lại thành lữ đoàn. Mỗi tiểu đoàn biên phòng có từ một trung đội đến một đại đội là con em các dân tộc thiểu số. Các cơ quan quân khu cũng tinh giảm. Các trường huấn luyện bộ binh, binh chủng, văn hóa được chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Đội ngũ cán bộ trong quân khu được luân phiên về trường văn hóa học tập. Quân khu tiếp tục hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ giải quyết chế độ tình nguyện, bổ sung trang bị cho những đơn vị còn thiếu, thay vũ khí cho lực lượng dân quân tự vệ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Cùng với việc chấn chỉnh tổ chức biên chế, công tác giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự được triển khai có nền nếp.

Nhân dân và lực lượng vũ trang quân khu mở đợt sinh hoạt chính trị quán triệt các văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng. Các đơn vị, các địa phương học tập đường lối cách mạng, mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ kinh tế và quốc phòng trong giai đoạn mới. Đợt sinh hoạt chính trị đã nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tăng cường sự đoàn kết, nhất trí trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Khắp nơi trong quân khu đã dấy lên phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa hướng về miền Nam ruột thịt. Học tập Đại Phong - ngọn cờ đầu trong sản xuất nông nghiệp, các địa phương tích cực cải tiến kỹ thuật canh tác, nông cụ; cãi tiến công tác quản lý hợp tác xã và mở ngành nghề. Đặc biệt thanh niên nông thôn sôi nổi thi đua trở thành "trai gái Đại Phong"... Lực lượng vũ trang quân khu hưởng ứng phong trào thi đua "Ba nhất", ngày ra thao trường, tối sinh hoạt chính trị, văn hóa với quyết tâm đạt nhiều thành tích cao nhất trong huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Quân khu đặc biệt chú trọng bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ cơ quan tham mưu quân khu, sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn về trình độ tổ chức chỉ huy hiệp đồng chiến đấu, đồng thời đẩy mạnh huấn luyện chiến sĩ và phân đội nhỏ. Hướng ra tiền tuyến, cán bộ, chiến sĩ khắc phục gian khổ, khó khăn, ngày đêm rèn luyện, tập hành quân đường dài mang vác nặng ...

Tình hình biến chuyển khẩn trương. Ngay sau khi bước vào Nhà trắng (20-1-1961), tập đoàn cầm quyền Mỹ Ken-nơ-di - Giôn-xan thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam Việt Nam, nhằm ráo riết thực hiện âm mưu xâm lược, đối phó với bước tiến mạnh mẽ của cách mạng miền Nam. Ngày 8 tháng 5 năm 1961, Ken-nơ-đi phê chuẩn chính sách đối với Việt Nam do Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ soạn thảo; theo đó, phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ MAAG được tăng cường và mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy yểm trợ trên chiến trường miền Nam, đưa lực lượng đặc biệt Mỹ vào miền Nam. Mỹ đã giúp Diệm xây dựng lực lượng đặc biệt, chốt chặn biên giới, chống miền Bắc "xâm nhập", tăng cường ngụy quân, khẩn trương bình định, củng cố ngụy quyền, phong tỏa vùng biển, đẩy mạnh các hoạt động chống phá nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Trong khi tăng lực lượng cố vấn và lực lượng đặc biệt vào miền Nam, cải tiến hệ thống tổ chức chiến trường, thúc đẩy Diệm đẩy mạnh bắt lính, dồn quân, tăng thêm viện trợ cho chính quyền Diệm, bắt đầu từ tháng 7 năm 1961, Mỹ - ngụy triển khai chương trình bình định 18 tháng, dự định đến cuối 1962 cơ bản bình định xong miền Nam.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:09:52 pm

Trên chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, để đối phó với cả hai sức ép từ phía bắc và phía tây, quân ngụy ra sức bình định nông thôn, gom dân lập "ấp chiến lược"; mặt khác chúng lập tuyến phòng ngự để ngăn chặn ta ở phía bắc đường số 9 và tây Trị - Thiên, đánh phá miền núi và hành lang chiến lược của ta.

Địch điều đại bộ phận sư đoàn 1 ngụy ra Quảng Trị. Trung đoàn 1 ngụy được bố trí ở La Vang, trung đoàn 2 đóng ở Đông Hà - đường số 9, trung đoàn 3 đứng chân ở miền tây và vùng giáp ranh Thừa Thiên. Địch còn củng cố hệ thống các đồn bốt dọc quốc lộ số 1 và khu vực giáp ranh, lập tuyến , ngăn chặn miền núi và biên giới Việt - Lào. Chúng xây dựng và mở rộng đường 14, đường 76, làm thêm các tuyến đường mới như: Tuần - A Lưới, Bình Điền - Trái, cảng Cửa Việt - giáp ranh, Đại Thùy - Cùa, Tích Tường - Trái - La Vang - Phước Môn, lập bãi đổ bộ đường biển Cảnh Dương. Địch tăng cường xây dựng quân ngụy, cả quân chính quy và quân địa phương. Ngoài sư đoàn 1, mỗi tỉnh có một trung đoàn bảo an, mỗi quận có một đại đội bảo an và một số tổng đoàn, mỗi xã có từ hai tiểu đội đến một trung đội dân vệ. Trong khi tăng cường lực lượng cơ động, Mỹ - ngụy khẩn trương xây dựng lực lượng biệt kích, chú trọng tuyển mộ lính là người các dân tộc thiểu số để đánh phá căn cứ và hành lang của ta. Chúng còn tổ chức ba đại đội "lính phong trào" cũng đi vào "ba cùng" để lừa bịp, giám sát từng người dân, thực hiện bình định, thực hiện "đoàn ngũ hóa" quần chúng, "quân sự hóa" thanh niên và bộ máy ngụy quyền, bắt thanh niên phải gia nhập các tổ chức quân sự phản động: "thanh niên xung kích", "thanh niên cộng hòa", "thanh niên bảo vệ hương thôn", biến các trụ sở ngụy quyền thành đồn, bốt.

Với tổ chức lực lượng như trên, Mỹ - ngụy ra sức kìm kẹp nhân dân, hòng tách dân ra khỏi ảnh hưởng của cách mạng, triệt tiêu sức đề kháng của từng người dân ở nông thôn đồng bằng, đồng thời cũng tạo điều kiện để chúng dồn lực lượng lên đánh phá miền núi, trọng tâm là dọc đường số 9 và biên giới Việt - Lào. Những tháng đầu năm 1961, chúng mở cuộc hành quân lớn phối hợp giữa quân Diệm, quân Phu-mi Nô-xa-vẳn (Lào) đánh vào căn cứ địa của ta và bạn, gom dân, bắt lính, phá hậu phương và hành lang chiến lược đông - tây Trường Sơn. Đầu năm 1962, Mỹ - ngụy lại mở chiến dịch “Lê Lợi", huy động 800 quân với hàng chục máy bay càn đi, quét lại hàng tháng vào khu vực Ngược Nước (đường số 9). Đi đôi với hành quân càn quét, địch đóng chốt thêm một số đồn, bốt tại các vị trí hiểm yếu: Tà Rụt, Tà Lương, Cô Ca Va; củng cố và mở rộng các vị trí: Nam Đông, Khe Tre, A So, A Lưới; triển khai các đội hải thuyền kiểm soát tuần tra đề phòng ta đột nhập từ đường biển. Cùng với biện pháp quân sự, Mỹ - Diệm còn ra sức triệt phá về kinh tế, ngăn chặn tiếp tế tại chỗ của đồng bào ta cho cách mạng. Từ ngày 27 tháng 11 năm 1961 đến ngày 3 tháng 2 năm 1962, địch mở rộng cuộc hành quân dài ngày nhằm triệt lương thực của ta ở miền núi, bằng nhiều hướng tiến vào đánh phá các khu vực Ba Lòng, Cam Lộ. Điển hình là trận đánh vào Cù Đinh - Ba De; chúng đốt phá hàng chục bản làng, đốt hết nương rẫy, lúa, khoai, giết, chết hàng trăm đồng bào ta.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị (ngày 31 tháng 1 năm 1961) về chủ trương đẩy mạnh đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song, tiến công địch bằng chính trị và quân sự, ngày 24 tháng 4 năm 1961, tại chòi con Hiền, làng Tà Pát, Hội nghị Đảng bộ Thừa Thiên - Huế được triệu tập nhằm đề ra phương hướng và nhiệm vụ cho quân và dân Thừa Thiên - Huế trong thời gian tới. Kiểm điểm tình hình trong tỉnh từ tháng 7 năm 1954 đến cuối năm 1960, nhất là sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng và trên cơ sở nghị quyết Bộ Chính trị: hội nghị cho rằng trọng tâm công tác của Đảng bộ và các cấp ủy đảng là tập trung lãnh đạo nhân dân phá "quốc sách ấp chiến lược", phá hỏng một bước quan trọng thế kìm kẹp của địch. Nhiệm vụ trước mắt của quân và dân Thừa Thiên - Huế: đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, cương quyết phá tan ấp chiến lược, diệt ác trừ gian, xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng. Hội nghị quyết định thành lập ban chỉ huy quân sự tỉnh, thành, huyện, đại đội địa phương tỉnh và các đội vũ trang tuyên truyền huyện, thành.

Sau hội nghị, hoạt động của các huyện ủy, các đội công tác vũ trang tuyên truyền được đẩy mạnh. Cán bộ, đảng viên đi sâu xuống các vùng nông thôn đồng bằng phát động quần chúng trong các ấp chiến lược. Nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt của huyện ủy, như đồng chí Trí (huyện Phú Vang), đồng chí Nam (huyện Phong Điền), đồng chí Ái (huyện Hương Thủy)... đã kiên cường bám trụ, hoạt động ngay trong lòng các thôn, ấp, bất chấp nguy hiểm, gian khổ. Đồng thời, hệ thống liên lạc giữa tỉnh, huyện, đến cơ sở xã, thôn được xây dựng, bảo đảm cho sự lãnh đạo và chỉ huy được thông suốt và kịp thời hơn. Các đội công tác cùng với những gia đình cơ sở của ta đã đào nhiều hầm bí mật bảo vệ cho cán bộ hoạt động. Trong khi đó, đơn vị K105 của tỉnh1 liên tục đột nhập vào ấp chiến lược ở các xã vùng ven núi, phối hợp với lực lượng huyện tiến công trại biệt kích Nam Đông (huyện Phú Lộc) đánh bọn biệt kích ở khu 3 trên đường Cầu Hai - Bạch Mã, tập kích vị trí Đá Ngọc (huyện Hương Thủy), vị trí Tam Dần (huyện Phong Điền), hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy đấu tranh phá thế kìm kẹp của địch.

Tại Quảng Trị, từ sau khi tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương đến tháng 3 năm 1961, phong trào diệt ác trừ gian ngày càng phát triển. Lực lượng thực hiện chủ yếu là hai đội công tác 59A và 59B.

Điển hình là các vụ trừng trị tên ác ôn thôn trưởng Kiên Phước xã Triệu Hải, tên cảnh sát trưởng xã Ba Thành và một số tên ác ôn khét tiếng khác.

Từ thực tiễn phát triển của phong trào đấu tranh vũ trang cùng với yêu cầu của tình hình nhiệm vụ, ban quân sự tỉnh và đơn vị 55 bộ đội tập trung đầu tiên của Quảng Trị được thành lập. Ban quân sự tỉnh do đồng chí Phố (tức Hùng) phụ trách quân sự, đồng chí Hiền (tức Thìn) phụ trách chính trị. Đồng chí Nam Sinh, ủy viên thường vụ Tỉnh ủy, được phân công trực tiếp chỉ đạo công tác quân sự, hoạt động vũ trang.

Tháng 5 năm 1961, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, đội công an vũ trang Vĩnh Linh phối hợp với trung đoàn 270, được sự giúp đỡ của nhân dân, đã tổ chức một đợt hoạt động vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị ở khu vực phía tây, phía bắc đường số 9, phá 20 đồn bốt nhỏ, đánh thiệt hại các đơn vị địch đóng rải rác dọc đường số 9 và ở một số địa phương thuộc huyện Cam Lộ, giết 60 tên, bắt, gọi hàng 125 tên, làm tan rã 260 tên, thu 65 súng các loại. Hơn 100 ngụy binh thuộc dân tộc ít người theo lời kêu gọi của cách mạng đã bỏ hàng ngũ địch, mang theo 125 khẩu súng về với nhân dân. Kết thúc đợt hoạt động, ta đã giải phóng sáu tổng phía bắc đường số 9. Tại đây, các đội vũ trang cùng với cán bộ địa phương nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân, lập chính quyền cách mạng, xây dựng thôn, bản thành căn cứ liên hoàn. Địch buộc phải rút khỏi các vị trí A Rông, Tà Riệt, Nguồn Rôn, Ra Gà, Tà Rụt, Trại Cá, Sa Trầm, Sa Muồi... Đến cuối năm 1961, miền tây huyện Hướng Hóa đã hoàn toàn giải phóng.

Sau thắng lợi tháng 5, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị được triệu tập tại làng Tu Pông (huyện Hướng Hóa). Đại hội chủ trương nhanh chóng xây dựng và củng cố miền tây vững chắc về mọi mặt, quyết tâm phát động quần chúng, gấp rút xây dựng cơ sở chính trị; ở đồng bằng phải làm tốt công tác binh vận, coi đó là một công tác quan trọng và thường xuyên, giữ bí mật cơ sở và bảo tồn lực lượng, sẵn sàng hành động khi có thời cơ. Đại hội quyết định củng cố các đơn vị vũ trang của tỉnh, thành lập các đơn vị vũ trang của huyện.
_____________________________________________
1. K105 là đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên gồm 105 đồng chí đã hoạt động ở đồng bằng thời kỳ khó khăn khốc liệt nhất (11-1957) còn sống sót lại, bị bật lên miền núi, sau gom lại tổ chức thành đơn vị vũ trang. Trong đó, cán bộ cấp tỉnh có 22 đồng chí, huyện Phú Lộc 37, Phú Vang 3, Hương Thùy 3, Hương Trà 6, Quảng Điền 3, Phong Điền 9, Nam Hòa 3, miền Tây 13, đường dây 16.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:11:36 pm

Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh, ngày 7 tháng 8 năm 1961, đơn vị 55 tổ chức phục kích một toán địch vận tải tiếp tế cho đồn Tà Rụt, diệt và làm bị thương tám tên, trong đó có tên đồn trưởng kiêm chỉ huy bảo an, thu 4 súng, Thắng lợi này đã cổ vũ niềm tin cho bộ đội và nhân dân trong tỉnh.

Cũng thời gian này, tại huyện Hướng Hóa, Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Quảng Trị tổ chức lễ ra mắt nhân dân, tạo thêm điều kiện chính trị thuận lợi mới để tập hợp đông đảo quần chúng vào cuộc đấu tranh đang trong thời kỳ gay go quyết liệt.

Hoạt động quân sự trên các chiến trường Quân khu 4 quan hệ mật thiết với cách mạng Lào anh em, trực tiếp là trên chiến trường Trung - Hạ Lào. Đầu tháng 1 năm 1961 bộ đội Pa-thét Lào và lực lượng trung lập phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam, tiến công giải phóng toàn bộ Cánh Đồng Chum và tỉnh Xiêng Khoảng, thị xã Phong Xa Lỳ, Bản Ban. Trước tình hình đó, địch tập trung lực lượng lớn lên phía bắc nhằm đánh chiếm lại Cánh Đồng Chum và tỉnh Xiêng Khoảng. Lợi dụng sơ hở của địch ở chiến trường Trung - Hạ Lào và theo yêu cầu của bạn, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Quân khu 4 phối hợp cùng lực lượng Pa-thét Lào, khẩn trương tổ chức tiến công giải phóng đường số 8, tạo nên căn cứ địa rộng lớn cho bạn ở Trung Lào, uy hiếp cạnh sườn địch, phối hợp với chiến trường chính của ta.

Lực lượng địch chốt giữ trên đường số 8 gồm: 34 BV và ba đại đội Ma-ki. Bộ Tư lệnh Quân khu lệnh cho tiểu đoàn 14 bộ binh, một đại đội trợ chiến và một trung đội của tiểu đoàn 927, hai tiểu đội đặc công, một tiểu đội trinh sát của quân khu, được tăng cường hỏa lực gồm hai khẩu cối 120 ly, hai khẩu ĐKZ 57, sáu khẩu 12,7 ly của lữ đoàn 3241, cùng với các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân du kích của bạn tiến công các mục tiêu quy định.

Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 2, sương mù phủ trắng các triền núi đá. Bộ đội ta bí mật áp sát các vị trí địch. Lệnh nổ súng phát ra, các cánh quân lập tức hành động theo phương án đã hiệp đồng. 5 giờ sáng ngày 17 tháng 2, tiểu đoàn 14 cùng một đơn vị bạn tiến công thị trấn Na Pê. Sau ba giờ chiến đấu quyết liệt, ta chiếm được Na Pê. Trưa ngày 17 tháng 2, Lạc Xao được giải phóng. Tiếp đó, ngày 21 tháng 2, thị trấn Cam Cớt bị quân ta đánh chiếm. Như vậy, qua năm ngày chiến đấu, ta đã diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, thu một trung liên, hai tiểu liên, 20 súng trường, 10 các-bin, một xe jeep và nhiều quân trang, quân dụng. Một vùng dọc theo đường số 8 từ biên giới Việt - Lào đến thị trấn Cam Cớt và toàn bộ huyện Cam Cớt (tỉnh Bô Ly Khăm Xay), gồm 12 xã, 13.073 dân đã được giải phóng.

Chấp hành lệnh của Bộ Tổng Tham mun, ngay sau khi giải phóng đường số 8, bộ đội tình nguyện của ta tiếp tục phối hợp với bạn giải phóng Mường Ngàn. Lực lượng của địch ở đây gồm hai đại đội thuộc 22 BV, một đại đội Ma-ki. Để giải phóng Mường Ngàn, ta huy động tiểu đoàn 925 (thiếu một đại đội) và đại đội trợ chiến của lữ đoàn 324 với ba khẩu 12,7 ly. Về phía bạn có một đại đội Pa-thét.

Rạng sáng ngày 10 tháng 3, ta đánh vào Mường Ngàn, nhưng địch đã rút toàn bộ lực lượng lên Mường Phàn. Phán đoán ý đồ địch sẽ quay lại Mường Ngàn, ban chỉ huy liên quân quyết định chuyển qua phương án đánh phục kích khi chúng trở về. Đúng như phán đoán của ta, sáng ngày 12 tháng 3, quân địch từ Mường Phàn quay về Mường Ngàn. Quân ta bất ngờ nổ súng đồng loạt, tiêu diệt và bắt sống nhiều địch, số còn lại hoảng loạn chạy vào bìa rừng. Lợi dụng lúc chúng đang hoang mang cực độ, các chiến sĩ ta bám sát kêu gọi được một đại đội địch mang theo 80 súng các loại ra hàng.

Với thắng lợi lớn trong trận đường số 8 - Mường Ngàn ta đã phối hợp với bạn giải phóng một địa bàn có ý nghĩa chiến lược, mở rộng hành lang và căn cứ của bạn. Tiếp theo chiến thắng đường số 8, quân ta tiến công khu vực Xa La Phu Khum. Ngày 7 tháng 3 năm 1961, ta kiểm soát phần lớn con đường Viêng Chăn - Luông Pha Băng.

Trước những thắng lợi liên tiếp của cách mạng Lào, địch muốn mở hội nghị Giơ-ne-vơ về Lào nhưng với những điều kiện có lợi cho chúng.

Theo lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, lực lượng vũ trang Quân khu 4 tiếp tục phối hợp cùng bạn tiến công giải phóng đường số 12, Nhôm Ma Rát, Ma Hả Xây nối liền với đường số 8 thành khu giải phóng rộng lớn ở Trung Lào, góp phần buộc địch nhanh chóng ngồi vào bàn hội nghị theo điều kiện của ta.

Sau thất bại trên đường số 8 và Bắc Lào, tinh thần địch trên đường số 12 dao động mạnh. Ngày 30 tháng 3, ta cho tiểu đoàn 14 tiến về hướng Nhôm Ma Rát. Ngày 2 tháng 4, khi bộ đội ta đến Na Kay thì địch đã bỏ chạy. Hai ngày sau, địch đóng ở Nhôm Ma Rát cũng chạy nốt.

Sau khi được tăng thêm lực lượng, ngày 5 tháng 4, địch tổ chức hành quân chiếm lại Nhôm Ma Rát. Bộ Tư lệnh quân khu lệnh cho các tiểu đoàn 927, 929, 44 phối hợp với bộ đội bạn tổ chức lại đội hình, thay đổi cách đánh, nhanh chóng tiến công tiêu diệt địch khi chúng chưa kịp củng cố.

Nhôm Ma Rát là một thị trấn quan trọng nằm trên trục đường số 8B, cách thị xã Thà Khẹt 87 ki-lô-mét về phía đông, án ngữ đoạn giữa các trục đường nam - bắc, đông - tây nước Lào. Thị trấn này cùng với Ma Hả Xây là một trong những vựa lúa lớn nhất ở Trung Lào.

Địch tập trung ở đây một lực lượng khá lớn: 32 BV, 8 BI, đại đội 2/CB1, đại đội 16 dù và một số đại đội Ma-ki, có một trung đội cơ giới và một đại đội pháo 105 ly yểm trợ.

13 giờ 30 phút ngày 15 tháng 4, quân ta nổ súng tiến công. 16 giờ, ta chiếm Nhôm Ma Rát. Hôm sau, 16 tháng 4, ta tiến đánh ngã ba Na Kóc. Sáng ngày 17 tháng 4, ta tiến công Ma Hả Xây. Hai ngày sau, 19 tháng 4, quân ta chiếm Na Du một điểm cách Thà Khẹt 28 ki-lô-mét về phía đông. Địch bỏ chạy về Kô Nan Pa Van cách Thà Khẹt 15 ki-lô-mét. Thà Khẹt bắt đầu bị uy hiếp.

Gần một tháng liên tục chiến đấu, ta và bạn đã giải phóng toàn bộ đường số 8B từ Lạc Xao đến Nhôm Ma Rát, khống chế phần lớn đường số 12 từ biên giới Việt - Lào đến Na Du, trong đó có hai thị trấn quan trọng là Nhôm Ma Rát, và Ma Hả Xây. Mất một địa bàn chiến lược quan trọng ở Trung Lào, địch buộc phải chấp nhận những điều kiện về đình chiến ở Lào của Chính phủ kháng chiến Lào tại Hội nghị Giơ-ne-vơ.

Sau chiến thắng trên đường số 8B và đường số 12, Bộ Tư lệnh quân khu được lệnh sử dụng một bộ phận lực lượng phối hợp với bạn nhanh chóng đánh chiếm đường số 9, mở rộng vùng giải phóng ở Trung Lào nối thông với vùng giải phóng Hạ Lào, tạo thành hành lang an toàn, cắt đứt đường tiếp tế của Mỹ và quân ngụy miền Nam cho quân phái hữu Lào, thông qua trục đường số 9.
_____________________________________________
1. Tháng 2 năm 1961, theo yêu cầu biên chế và tình hình nhiệm vụ, sư đoàn 324 chuyển thành lữ doàn 324. Tháng 5 năm 1965, lữ đoàn 324 lại phát triển thành sư đoàn 324.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:13:21 pm

Do tầm quan trọng của tuyến đường số 9, địch tập trung ở đây một lực lượng gồm 33 BV và một số đại đội Ma-ki. Lợi dụng các dãy đồi núi vòng cung nhô ra phía trục đường, các hang động có sẵn, các điểm cao có tầm khống chế, địch đã tổ chức trận địa phòng thủ vững chắc. Để chắc thắng, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 điều một số các đơn vị được huấn luyện tốt và đã qua thử thách gồm một đại đội bộ binh tăng cường (lữ đoàn 324), một tiểu đoàn tăng cường (trung đoàn 101), một đại đội tăng cường của trung đoàn 95 (thuộc sư đoàn 325) và tiểu đoàn 19 phối hợp với đoàn 44 của bạn thực hành tiến công.

9 giờ 30 phút ngày 21 tháng 4, đại đội tăng cường của lữ đoàn 324 đánh chiếm Bản Na, Na Nai, Chiến Túp. Ngày 26 tháng 4, tiểu đoàn 19 đánh Mường Phìn. Địch bỏ chạy, ta thu hai xe AM, sáu xe GMC, hai xe jeep và một số vũ khí, quân trang, quân dụng. Tiếp đó, ngày 28 tháng 4, tiểu đoàn tăng cường của trung đoàn 101 tiến đánh Sê Pôn. Dựa vào trận địa phòng thủ kiên cố, địch chống trả quyết liệt, gây cho ta nhiều tổn thất. Trước tình hình đó, ta đã kịp thời thay đổi cách đánh, thực hiện bao vây chia cắt quân địch, triệt đường tiếp tế trên bộ và trên không của chúng. Sau năm ngày chiến đấu liên tục, ngày 29 tháng 4, ta chiếm được sân bay Thà Khống, buộc địch phải rút chạy.

12 giờ ngày 2 tháng 5, bộ đội Pa-thét Lào cùng quân tình nguyện hoàn toàn làm chủ khu vực Thà Khống, Sê Pôn. Thừa thắng, quân ta theo trục đường số 9 đánh mạnh về phía đông, chiếm cầu Ka Ki và tiến về phía tây giải phóng Mường Phìn. Từ Mường Phìn, ta tiến đánh Pha Lan. Giữa lúc chiến sự đang diễn ra quyết liệt ở đây thì cả ta và địch đều nhận được lệnh đình chiến.

Sau 15 ngày liên tục chiến đấu, liên quân Việt - Lào đã đập tan tuyến phòng thủ dài hơn 100 ki-lô-mét của địch trên đường số 9, loại khỏi vòng chiến đấu 87 tên địch, thu gần 200 súng và nhiều lương thực, quân trang, quân dụng. Một vùng giải phóng rộng lớn ở Trung Lào được mở ra, nối thông với vùng giải phóng Hạ Lào và miền Nam Việt Nam. Nhờ đó, Đoàn 559 đã "lật cánh" từ đông sang tây Trường Sơn. Hai tiểu đoàn công binh 25 và 26 của Quân khu 4 cùng tiểu đoàn 927 bộ đội địa phương Hà Tĩnh được lệnh mở đường 129 cho xe cơ giới, nối đường số 9 với đường số 12. Lực lượng công binh của sư đoàn 325 khẩn trương sửa chữa sân bay Thà Khống (Sê Pôn) đảm bảo cho máy bay vận tải của Không quân nhân dân Việt Nam từ sân bay Đồng Hới làm nhiệm vụ vận chuyển chi viện theo yêu cầu của bạn sang hạ cánh. Tháng 12 năm 1961, đường 129 hoàn thành. Từ đây trên tuyến vận tải chiến lược 559, bên cạnh phương tiện thô sơ, chúng ta bắt đầu vận tải bằng cơ giới.

Bị thất bại nậng trên chiến trường, phái hữu Lào đề nghị ngừng bắn. Tháng 5 năm 1961, lệnh ngừng bắn được ba phái thỏa thuận bắt đầu có hiệu lực. Ngay sau đó, bọn phản động vi phạm thỏa thuận, nống ra lấn chiếm vùng giải phóng của cách mạng Lào. Chúng tiến hành cắm chốt, hoạt động phỉ. Kiên quyết bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, theo đề nghị của bạn, Bộ Tư lệnh quân khu điều tiểu đoàn 3 và hai đại đội của tiểu đoàn 1 lữ đoàn 324 cùng trung đội công an vũ trang phối hợp với bạn tiến công tiêu diệt hai căn cứ tại Mường Ngạt và Phu La Bút. Đây là vùng núi đá hiểm trở, việc đi lại rất khó khăn. Địch ở hai căn cứ có khoảng 300 tên, trú đóng trong các hang động.

Trên các cánh rừng Lào vào mùa mưa việc cơ động lực lượng, tiếp cận mục tiêu gặp nhiều khó khăn. Khắc phục gian khổ, hy sinh, các chiến sĩ tình nguyện Quân khu 4 lại tiếp tục trèo đèo, lội suối, cơm vắt, muối vừng, sát cánh cùng bạn đánh giặc.

Sáng sớm ngày 13 tháng 5, ta nổ súng tiến công Mường Ngạt. Địch chống trả quyết liệt. Sau hơn tám giờ liên tục chiến đấu, chiều 13 tháng 5, ta làm chủ hoàn toàn Mường Ngạt. Tiếp đó, bộ đội ta đánh chiếm đồn Khăm Tạt, tiến lên bao vây căn cứ phỉ Phu La Bút. Ngày 20 tháng 5, bạn và ta giải phóng Phu La Bút. Với ba trận thắng liên tiếp, một lực lượng đáng kể của địch bị diệt và bị bắt, ta thu 58 súng các loại, 200 tên phỉ mang theo súng ra hàng.

Tháng 6 năm 1961, trên hướng đường số 7, tiểu đoàn 929 được lệnh hành quân về Bản Ban làm nhiệm vụ phòng ngự và sẵn sàng cơ động đánh địch. Sau khi giải phóng Noọng Hét, đại bộ phận quân tình nguyện được lệnh rút về nước. Tiểu đoàn 925 trực thuộc trung đoàn 120 với 220 cán bộ chiến sĩ có nhiệm vụ ở lại giúp bạn phòng thủ Noọng Hét. Một đại đội của lữ đoàn 324 ở lại bảo vệ binh trạm của Tổng cục Hậu cần đóng ở Noọng Dẻ. Ngay sau đó, đoàn 7 quân tình nguyện được thành lập thay thế cho trung đoàn 120, lữ đoàn 324 cũng được lệnh rút về nước.

Trên hướng đường số 12, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 929 và đoàn chuyên gia quân sự của ta (150 đồng chí) đã bền bỉ phối hợp cùng bạn bảo vệ an toàn cho tuyến đường.

Một năm liên tục chiến đấu trên chiến trường Lào, lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã hoàn thành nhiệm vụ của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao, sát cánh cùng bạn đánh 41 trận, diệt và bắt nhiều địch, gọi hàng 376 tên, thu 578 súng các loại, 7 tấn đạn, nhiều xe quân sự, lương thực, quân trang quân dụng. Bộ đội Pa-thét Lào và quân tình nguyện làm chủ các tuyến đường số 8, đường số 9, đường số 12, chiếm giữ một loạt vị trí quan trọng: Noọng hét, Na Pê, Lạc Xao, Nhôm Ma Rát, Ma Hả Xây, Sê Pôn, Thà Khống..., giải phóng một vùng rộng lớn ở Trung - Hạ Lào, mở rộng khu giải phóng Thượng Lào và hành lang chiến lược. Góp phần tạo nên thắng lợi trên có một phần đóng góp của nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Chỉ riêng sáu tháng đầu năm 1961, Quân khu đã sử dụng 418 xe vận tải và hơn một vạn dân công hỏa tuyến của Nghệ An, Hà Tĩnh tham gia phục vụ chiến đấu trên chiến trường Lào; đồng thời giúp bạn xây dựng sáu tiểu đoàn bộ binh, một số đơn vị địa phương, cao xạ, pháo binh, xe tăng, thiết giáp...


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:14:49 pm

Trên chiến trường Trị - Thiên, tháng 9 năm 1961, quân và dân ta mở đợt hoạt động quân sự và chính trị trên địa bàn rừng núi của hai tỉnh. Tháng 10 năm 1961, lực lượng vũ trang ta diệt đồn Khe Tre ở tây Thừa Thiên và tổ chức chiến đấu chống càn, bảo vệ căn cứ, hành lang tiếp tế. Trong khi đó, theo kế hoạch của ban quân sự tỉnh, trọng tâm hoạt động được chuyển dần xuống khu vực giáp ranh và đồng bằng. Các đội công tác vũ trang tuyên truyền luồn về đồng bằng, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị trong nhân dân. Phong trào phát triển mạnh cùng với việc mở rộng địa bàn càng bộc lộ vấn đề thiếu cán bộ. Kịp thời đáp ứng một phần yêu cầu của chiến trường, tháng 9 năm 1961, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng tăng cường cho Trị - Thiên đơn vị K300, gồm 800 cán bộ quê ở Trị - Thiên ra tập kết và 50 cán bộ người Vĩnh Linh, Quảng Bình. Ngoài K300, Quân khu còn tăng cường cho Trị - Thiên một đại đội đặc công và một khung cơ quan. Với lực lượng này, ban quân sự liên tỉnh – tiền thân của phân khu Bắc trên thực tế đã hình thành.

Trước tình hình ta đẩy mạnh các hoạt động quân sự và chính trị, đặc biệt khi phát hiện việc ta đưa lực lượng luồn sâu về đồng bằng, địch bắt đấu phản ứng mạnh. Chúng liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, quy mô lớn dài ngày, đánh lên miền núi hòng triệt phá căn cứ của ta ở tây Trị - Thiên và nam Tây Nguyên, ráo riết gom dân lập ấp chiến lược, triệt phá kinh tế, tiêu diệt lực lượng ta.

Lực lượng vũ trang cùng nhân dân các địa phương đã kiên cường đánh bại các cuộc hành quân của chúng. Ngày 27 tháng 11 năm 1961, địch càn vào xã Cam Giang (huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị), bắt năm người ở năm thôn: Cù Đinh, Ba De, Khe Chiềng, Khe Ái, Sông Ngân đi tập trung. Nhân dân Cam Giang đã đấu tranh chống lại hành động vây bắt của địch, quyết không vào trại tập trung. Địch đánh đập dã man và đốt sạch thôn Cù Đinh. Ở thôn Ba De, chúng bắt dân tra tấn tàn bạo, dìm đầu một em bé xuống nước rồi lấy ván ép vào bụng đạp lên cho nước và máu phọt ra mồm ra mũi. Chúng đốt sạch thôn Ba De, bắt đi 10 người cùng nhiều tài sản khác của đồng bào, phá nát nương rẫy, hoa màu.

Trước những hành động dã man của kẻ thù, người dân Cam Giang vẫn một lòng hướng về cách mạng. Thực tế này đặt ra cho lãnh đạo các cấp phải khẩn trương chuyển phương châm đấu tranh, đưa đấu tranh vũ trang lên ngang với đấu tranh chính trị, hỗ trợ đắc lực cho phong trào quần chúng.

Đấu năm 1962, Mỹ - Diệm đẩy mạnh thực hiện kế hoạch Sta-lây - Tay-lo, cải tổ hệ thống tổ chức chiến trường, điều chỉnh lực lượng bố phòng nhằm tăng thêm hiệu quả đánh phá phong trào cách mạng. Chúng giải thể các quân khu, lập các vùng chiến thuật (do các quân đoàn đảm nhiệm, vùng chiến thuật I từ vĩ tuyến 17 đến hết tỉnh Quảng Ngãi là địa bàn của quân đoàn 1 ngụy phụ trách.

Ở các cấp cơ sở như huyện, quận vùng đồng bằng, địch chú trọng kết hợp giữa quân sự, hành chính, kinh tế để kìm kẹp nhân dân, đánh phá cơ sở cách mạng của ta. Chúng liên tiếp tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét kết hợp với tăng cường hoạt động biệt kích, gián điệp, đánh phá ác liệt vùng tranh chấp, triển khai các chiến dịch "tố cộng", khủng bố trắng ở đồng bằng, đồng thời đẩy nhanh việc xây dựng lực lượng ở cơ sở; chuyển dân vệ lên tổng đoàn, đôn tổng đoàn lên làm nhiệm vụ bảo an. Ở xã, chúng để lại một hoặc hai tiểu đội làm nhiệm vụ "dân vận". Trên cơ sở lực lượng ở địa phương được tăng cường, địch rút các đơn vị chủ lực cơ động, mở các cuộc càn quét lớn. Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1962, địch liên tục mở nhiều cuộc hành quân dài ngày với lực lượng lớn đánh lên vùng núi phía tây Thừa Thiên (Xang. Cô Ca Va). Tháng 6 năm 1962, hai tiểu đoàn quân ngụy được máy bay trực thăng và phi pháo yểm trợ đã đánh vào căn cứ của ta ở Thừa Thiên. Tại Khe Tre và Nam Đông (tây nam Thừa Thiên), một lực lượng gồm từ hai đại đội đến một tiểu đoàn ngụy đã mở hai cuộc càn, bắt đi 135 đồng bào ta. Cùng thời gian đó, địch cho bốn tiểu đoàn ngụy đánh vào vùng A So, A Lưới, nhằm lấn chiếm và thu hẹp căn cứ địa của ta, phá hoại sản xuất, phá bàn đạp của ta ở vùng giáp ranh. Ngoài ra, chúng còn liên tiếp tổ chức gần 50 vụ biệt kích nống lấn vùng giải phóng, giáp ranh và miền núi. Phong trào đấu tranh của nhân dân gặp nhiều khó khăn, tổn thất, có nơi bị động, lúng túng.

Trước tình hình khó khăn đó, từ đầu năm 1962, Tỉnh ủy Thừa Thiên đã nghiêm khắc kiểm điểm và kịp thời đề ra một số biện pháp cấp bách: khẩn trương đưa lực lượng luồn về đồng bằng, thực hiện tiến công địch về chính trị và quân sự, phát động quần chúng mở rộng phong trào đấu tranh, Tỉnh ủy xác định "tranh thủ quần chúng là vấn đề cơ bản và lâu dài"1.

Thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy, cán bộ chủ chốt các huyện, thành đi sâu, bám sát quần chúng đưa lực lượng về đồng bằng tổ chức các đợt hoạt động vũ trang và chính trị. Chào mừng ngày Quốc tế lao động (1-5-1962), một bộ phận lực lượng vũ trang phối hợp với cán bộ chính trị huyện Phú Lộc tiến công đồn số 8 của địch trên đường đi Bạch Mã. Lực lượng địch ở đây gồm một tiểu đội biệt kích, hai tiểu đội bảo an có nhiệm vụ khống chế việc đi lại, hoạt động của ta giữa vùng núi với giáp ranh, đồng bằng. Lợi dụng địa hình rừng núi, quân ta bí mật luồn sâu, áp sát mục tiêu, bất ngờ nổ súng tiến công. Chỉ sau 10 phút chiến đấu, ta đã tiêu diệt vị trí này. Tiếp đó, ngày 27 tháng 5 năm 1962, ta diệt vị trí Khe Tre lần thứ hai, do một trung đội bảo an đóng giữ, thu toàn bộ vũ khí, đạn dược.
_____________________________________________
1. Nghị quyết Hội nghị Tỉnh ủy Thừa Thiên họp từ ngày 24 tháng 2 đến ngày 2 tháng 3 năm 1962.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:15:34 pm

Ngày 24 tháng 6 năm 1962, hội nghị quân sự tỉnh Thừa Thiên họp xác định phương châm tác chiến thời gian tới: lấy chiến tranh du kích là chính, đánh nhỏ ăn chắc, không dốc hết lực lượng và vũ khí lớn; quán triệt tư tưởng tích cực tiêu diệt sinh lực địch bồi dưỡng lực lượng ta. Đối tượng tác chiến của ta lúc này là: dân vệ, tổng vệ, biệt kích, bảo an, lính cộng hòa đi lẻ, cố vấn Mỹ, ác ôn, tề điệp. Hội nghị đề ra nhiệm vụ quân sự sáu tháng cuối năm 1962 là: tích cực đẩy mạnh chiến tranh du kích ở miền núi, bảo vệ căn cứ, đồng thời tăng cường hoạt động ở giáp ranh và đồng bằng với mức độ thích hợp, hỗ trợ thiết thực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng; phối hợp với các mặt đấu tranh khác làm lỏng thế kìm kẹp của địch chống phá việc lập ấp chiến lược, khẩn trương xây dựng lực lượng đủ sức làm nhiệm vụ trước mắt và chuẩn bị lực lượng khi có thời cơ.

Ở miền núi Trị - Thiên, vào những tháng cuối năm 1962, nhân dân và lực lượng vũ trang tiếp tục chiến đấu đánh bại các cuộc hành quân của địch, bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ sản xuất, giữ vững hành lang. Tại các vùng giáp ranh, lực lượng vũ trang và cán bộ chính trị kiên cường đánh địch, trụ bám địa bàn, xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng trong nhân dân. Trên chiến trường đồng bằng, cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra âm thầm nhưng quyết liệt. Cán bộ, đảng viên chịu biết bao gian khổ hy sinh, ngày đêm bám đất, bám dân, móc nối và gây dựng cơ sở ngay trong vùng địch chiếm, nhen nhóm lại phong trào. Cuối năm 1962, phong trào đấu tranh chính trị bắt đầu hồi phục và có bước phát triển tương đối rộng rãi. Tại nhiều địa phương, nhân dân tổ chức đấu tranh giằng co với địch; chống bắt lính, gom dân lập ấp chiến lược; chống đàn áp phật giáo...

Thông qua hoạt động chính trị và quân sự, các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng và các lực lượng vũ trang tiếp tục được khôi phục, củng cố và phát triển. Hệ thống chỉ huy lực lượng vũ trang hình thành và được chấn chỉnh. Tháng 12 năm 1962, cơ quan quân sự của hai tỉnh được thành lập. Cơ quan quân sự miền tây của Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và ban chỉ huy xã, thôn..., cũng lần lượt ra đời. Mỗi tỉnh đã xây dựng được các trung đội, đại đội tập trung, các huyện đồng bằng có các tổ vũ trang công tác. Đến cuối năm 1962, lực lượng vũ trang tập trung của Trị - Thiên lên tới 1.263 người; lực lượng dân quân, du kích gần 2.000 người; trong đó, tỉnh Quảng Trị có 828 người và Thừa Thiên có 1.052 người.

Được lãnh đạo, giáo dục và huấn luyện tốt, lực lượng vũ trang Quảng Trị, Thừa Thiên đã khắc phục thiếu thốn về trang bị và hậu cần, không nề gian khổ, hy sinh, tích cực hoạt động, luồn sâu về đồng bằng, chiến đấu liên tục và có hiệu quả, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng đấu tranh. Năm 1962, lực lượng vũ trang cùng nhân dân Quảng Trị - Thừa Thiên đã đánh trên 300 trận, giết và làm bị thương 974 tên, vũ trang tuyên truyền 50 lần hỗ trợ cho nhân dân đứng lên đấu tranh chính trị.

Vừa chiến đấu vừa sản xuất, coi sản xuất như nhiệm vụ tác chiến, tranh thủ thời gian sau và giữa hai đợt chiến đấu, cơ quan cũng như đơn vị khẩn trương trỉa lúa, trồng bắp, chăn nuôi lợn, gà; hái, nhặt, săn, bắt sản vật núi rừng, sông suối để cải thiện đời sống, giảm một phần gánh nặng cho hậu phương. Năm 1962, lực lượng vũ trang Trị - Thiên đã sản xuất được một số lương thực, thực phẩm đáng kể nhất là sắn và bắp. Bộ đội đã biến nhiều vùng đồi núi thành rẫy ngô, nương sắn, đủ ăn cho cả hai năm 1962 – 1963, lực lượng vũ trang Quảng Trị đạt bình quân đầu người tăng gia được 25 ki-lô-gam thịt các loại.

Cùng với chiến trường Trị - Thiên, chiến trường Trung- Hạ Lào đang chuyển biến ngày càng có lợi cho ta.

Từ cuối năm 1961 đến giữa năm 1962, trên chiến trường Lào, địch sử dụng hai phần ba lực lượng tập trung càn quét lấn chiếm vùng giải phóng. Phối hợp với bọn phản động ở Lào, quân ngụy Sài Gòn và bọn phản động ở Thái Lan được Mỹ nuôi dưỡng tăng cường hoạt động biệt kích xâm nhập vùng giải phóng; mở rộng chiến tranh đặc biệt sang đất Lào.

Được sự hỗ trợ của quân tình nguyện, lực lượng vũ trang của bạn đã kịp thời mở các cuộc phản công và tiến công đẩy lùi các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, giải phóng một vùng phía bắc tỉnh Luông Pha Băng (2-1962), Bắc Lào (5-1962), buộc Mỹ và tay sai phải chấp nhận quy chế trung lập ở Lào với cơ cấu chính phủ liên hiệp ba phái, chấp nhận sự tồn tại vùng giải phóng của cách mạng Lào. Ngày 2 tháng 7 năm 1962, Hội nghị quốc tế về Lào được tiến hành tại Giơ-ne-vơ gồm 14 nước tham dự. Ngày 22 tháng 7, Hội nghị ra tuyên bố công nhận nền trung lập của Lào.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:17:14 pm

Trước ngày thỏa thuận về chính phủ ba phái được ký kết, địch đã tập trung lực lượng lớn trên hướng đường số 12 gồm GM14 (7BI, 8BI và 9BI), GM12 (5BI và 24BI), BV34, pháo 105 ly và một số xe cơ giới tiến công vào ba đại đội thuộc quân Vương quốc đóng ở Khăm Pheng, Khăm Phườn. Chúng chiếm cả Na Đun.

Theo yêu cầu của bạn, Quân khu điều động một lực lượng cùng phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào đánh địch, mở rộng vùng giải phóng và ảnh hưởng của cách mạng Lào trên hướng đường số 12.

Tháng 1 năm 1962, Quân khu điều tiểu đoàn 927 cơ động tới phối hợp với lực lượng tại chỗ bảo vệ tuyến đường và lệnh cho tiểu đoàn 44 hành quân chiếm lĩnh hướng Thà Khống. Ngày 28 tháng 1 năm 1962, Bộ chỉ thị cho quân khu tranh thủ lúc địch đang tập trung lực lượng đối phó ở Nậm Thà (Thượng Lào), phối hợp cùng bạn nhanh chóng tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch trên đường số 12, đẩy mạnh hoạt động vùng sau lưng địch. Thực hiện chỉ thị của Bộ Quốc phòng, tiểu đoàn 2 trung đoàn 101 được lệnh ém sát biên giới Việt - Lào vùng Cha Lo (Quảng Bình) sẵn sàng cơ động sang đất bạn. Để đối phó với âm mưu địch có thể chiếm lại Ma Hả Xây và Nhôm Ma Rát, Quân khu đã điều tiểu đoàn 9 trung đoàn 101 từ đường số 9 lên đường số 12. Tiểu đoàn 18 của bạn tập kết tạm thời ở Thanh Lạng (tây Quảng Bình) cũng nhanh chóng trở lại cùng quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu.

Trên đường số 12, những tháng đầu 1962, ta tập trung một lực lượng mạnh gồm tiểu đoàn 927, tiểu đoàn 929, tiểu đoàn 9 của trung đoàn 101, tiểu đoàn 44, hai khẩu pháo 105 ly, một đại đội pháo cao xạ 37 ly. Lực lượng bạn có tiểu đoàn 16, tiểu đoàn 18 và một đại đội của tiểu đoàn 17. Ngoài ra, còn có một tiểu đoàn lực lượng Vương quốc tham gia phòng thủ Ma Hả Xây, Nhôm Ma Rát. Các đơn vị trên có nhiệm vụ tích cực hoạt động tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ đường số 12 huyết mạch, sẵn sàng đánh trả kẻ địch nếu chúng tiến công, kiên quyết giữ cho được các vị trí xung yếu.

Do vị trí chiến lược của chiến trường Trung Lào ngày càng quan trọng đối với cách mạng hai nước và để tăng cường hiệu quả chiến đấu, cần thống nhất chỉ huy các lực lượng trên chiến trường này, ngày 3 tháng 6 năm 1962, Bộ Tổng Tham mưu đã ra quyết định giao cho Bộ Tư lệnh Quân khu 4 tổ chức một cơ quan chỉ huy ở khu vực Trung Lào với bốn nhiệm vụ cụ thể:

1. Trực tiếp chỉ huy các lực lượng tình nguyện của ta hoạt động trên chiến trường Trung - Hạ Lào.

2. Trực tiếp giúp bạn xây dựng lực lượng, củng cố cơ sở trong khu vực này.

3. Tổ chức các lực lượng của ta và giúp bạn thực hiện kế hoạch phòng thủ vùng giải phóng.

4. Chuẩn bị chiến trường trước mắt, và đối phó với tình huống khẩn trương nhất, đồng thời chuẩn bị chiến trường có tính chất lâu dài.

Theo quyết định đó, Đoàn 959 chuyên gia quân sự giúp bạn ở khu vực Trung Lào, nay thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 4 chỉ huy và quản lý.

Với sự chuyển hướng về tổ chức lực lượng, thống nhất lãnh đạo, chỉ huy, cuộc chiến đấu của quân tình nguyện và lực lượng vũ trang của bạn trên chiến trường Trung - Hạ Lào trong sáu tháng cuối năm 1962 đạt hiệu quả cao, giành nhiều thắng lợi lớn. Được sự hỗ trợ của quân tình nguyện, trong năm 1962, lực lượng vũ trang của bạn ở Trung - Hạ Lào đã đánh 36 trận, diệt và làm bị thương nhiều địch, bắt 12 tên, gọi hàng 34 tên, thu trên 60 súng các loại, nhiều quân trang, quân dụng và hai kho gạo...

Đến cuối năm 1962, vùng giải phóng Lào mở ra rộng lớn gồm hai phần ba đất đai và một phần hai số dân, chạy dài từ Thượng Lào xuống Hạ Lào, nối liền với miền Bắc và vùng giải phóng miền Nam Việt Nam.

Quân và dân Quân khu 4 phấn khởi, tự hào bởi đã góp một phần sức mình củng cố tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt - Lào, góp phần vào thắng lợi bước đầu của bạn.

Đánh giá đóng góp của quân tình nguyện, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu 4 lần thứ hai ghi rõ: "Những đơn vị được phái di chiến đấu bên cạnh quân đội và nhân dân nước bạn đã nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, phát huy truyền thống cách mạng của quân đội và nhân dân Việt Nam anh hùng, góp phần vào thắng lợi lớn lao của nhân dân nước bạn".

Thi đua với tiền tuyến, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh đẩy mạnh sản xuất, tăng cường lực lượng, sẵn sàng đánh bại các hoạt động phá hoại của kẻ thù. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu cùng với đảng bộ, chính quyền các địa phương trong quân khu nhận rõ trách nhiệm, thống nhất ý chí và hành động triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, tăng cường khả năng phòng thủ, nhất là ở các vùng trọng điểm. Đi đôi với tổ chức lại lực lượng cho phù hợp yêu cầu mới, lực lượng vũ trang quân khu đồng thời thực hiện nghiêm túc chương trình huấn luyện, đặc biệt coi trọng huấn luyện chiến đấu cho trên 300 nghìn dân quân tự vệ. Các vùng giới tuyến, biên giới, bờ biển và tuyến đảo từ hòn Mê đến Cồn Cỏ, những vùng xung yếu được đặt vào vị trí ưu tiên số một trong công tác tổ chức và huấn luyện nâng cao khả năng phòng thủ, sẵn sàng đối phó với mọi hành động phá hoại của địch.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:19:04 pm

Ngày 19 tháng 2 năm 1961, được quần chúng báo tin và giúp đỡ, công an vũ trang Phước Lý cùng với dân quân đã vây bắt tên trung sĩ ngụy cải trang thành dân vạn chài chèo thuyền vượt sông Hiền Lương qua bờ bắc xâm nhập xã Vĩnh Giang và nữ gián điệp Lê Thị Bao cũng vừa đến xã này chưa kịp hoạt động.

23 giờ 30 phút ngày 2 tháng 6 năm 1961, Mỹ - ngụy cho một máy bay đa-cô-ta thả sáu tên biệt kích xuống khu vực Cây Lim thuộc xã Lâm Trạch (huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình). Xã Lâm Trạch nằm giữa cánh rừng rậm rạp, dân cư thưa thớt; phần lớn theo đạo Thiên chúa, xã có nhà thờ Tam Trang.

Kịp thời phát hiện hoạt động biệt kích của địch, đồng chí Lưu, bí thư đảng ủy kiêm chính trị viên xã đội lập tức ra lệnh báo động dân quân, du kích, tổ chức vây bắt, đồng thời báo cáo lên cấp trên xin chỉ thị. 3 giờ sáng hôm sau (ngày 3 tháng 6), lực lượng dân quân xã Lâm Trạch được lệnh cùng dân quân xã Phúc Trạch tổ chức thành ba mũi tiến vào rừng bao vây khu vực địch nhảy dù. Thường vụ tỉnh ủy và thường trực ủy ban hành chính tỉnh Quảng Bình nhận được điện báo của xã Lâm Trạch đã họp khẩn cấp, lập ra ban chỉ đạo vây bắt biệt kích gồm các đồng chí Cổ Kim Thành, phó bí thư tỉnh ủy làm trưởng ban, đồng chí Trần Sự, tỉnh đội trưởng, đồng chí Lê Thanh Phong, trưởng ty công an, đồng chí Hoàng Minh Thi, tham mưu trưởng công an vũ trang tỉnh. Vào lúc 8 giờ, ngày 3 tháng 6, ban chỉ đạo đã có mặt tại khu vực Cây Lim. Lực lượng tham gia vây bắt gồm phân đội công an vũ trang, một đại đội bộ binh của sư đoàn 325 và một đại đội dân quân. Trong khi lực lượng vây bắt tiến hành phong tỏa hai cao điểm 368 và 100, các đồn biên phòng và công an Quảng Bình, Vĩnh Linh được lệnh kiểm soát chặt tuyến biên giới và tuyến quân sự. Sau một tuần truy lùng ta đã bắt gọn toán biệt kích sáu tên và đầy đủ vũ khí, thu ba đài VTĐ, một đài VTĐ liên lạc với máy bay, bảy ký hiệu mật mã, một bản đồ, ba ống nhòm, 14 súng hiệu, ba giấy thông hành giả, 2.500 đồng tiền Ngân hàng Việt Nam, thư và ảnh gửi cha xứ nhà thờ Tam Trang và bọn phản động nội địa. Đây là toán biệt kích nhảy dù đầu tiên được Mỹ - Diệm tung ra miền Bắc, đã bị quân dân Quảng Bình - Vĩnh Linh bắt gọn.

Sau vụ biệt kích nhảy dù xuống Quảng Bình, ngày 22 tháng 6 năm 1961, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 20/CT-TW vạch rõ âm mưu và hành động phá hoại của Mỹ - Diệm đối với miền Bắc, yêu cầu toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kịp thời trấn áp các phần tử phản động tại chỗ, nhanh chóng tiêu diệt địch xâm nhập, phá tan âm mưu tung gián điệp, biệt kích ra miền Bắc của Mỹ - Diệm.

Nhận được chỉ thị của Ban Bí thư, các cấp, các ngành và lực lượng vũ trang trên địa bàn quân khu đã chấn chỉnh lại lực lượng, bổ sung, hoàn thiện các phương án tác chiến, kịp thời phát hiện, tiêu diệt, bắt gọn nhiều toán biệt kích, gián điệp của địch.

Đêm 29 rạng sáng 30 tháng 6 năm 1961, địch cho 17 tên biệt kích đột nhập cảng sông Gianh, gài mìn định phá tàu của hải quân ta. Theo phương án chuẩn bị sẵn, các chiến sĩ hải quân ở cảng sông Gianh cùng bộ đội biên phòng và tự vệ ngư trường Gianh, dân quân huyện Quảng Trạch nhanh chóng triển khai lực lượng, tiêu diệt và bắt gọn cả 17 tên. Tại khu vực giáp ranh hai tỉnh Quảng Bình - Hà Tĩnh, đêm 29 tháng 12 năm 1962, địch cho một toán biệt kích từ biển đột nhập Khe Lũy, gài mìn định phá hỏng chiếc cầu trên quốc lộ số 1. Cùng lúc, một tốp biệt kích khác được tung vào móc nối với các phần tử phản động ẩn náu trong nhà thờ Hương Phương (Quảng Phương, Quảng Trạch). Đề cao cảnh giác, hiệp đồng chặt chẽ, bộ đội biên phòng các đồn Roòn, Đèo Ngang và một bộ phận của đại đội 1 bộ đội biên phòng Hà Tĩnh cùng với lực lượng dân quân các xã Kỳ Phương, Kỳ Lợi (Kỳ Anh), Cảnh Dương (Quảng Trạch) đã tổ chức truy bắt các tốp biệt kích này. Sau năm ngày, bảy tên biệt kích bị sa lưới, trong đó có cả tên toán trưởng Lê Khoái. Các vụ biệt kích nhảy dù xuống Động Choắc (huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh), Phú Cộ (Thanh Hóa) cũng bị lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương tiêu diệt gọn. Ngoài thủ đoạn tung biệt kích, gián điệp vào địa bàn Quân khu 4 bằng đường không, đường biển, đường bộ; trong hai năm 1961 - 1962, Mỹ - Diệm còn dùng 224 lần chiếc máy bay trinh sát trên vùng trời quân khu.

Trước những diễn biến mới của tình hình trên ba hướng chiến trường, trong ba ngày (từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 7 năm 1962) Đại hội đại biểu Đảng bộ quân khu lần thứ hai được triệu tập tại thành phố Vinh (Nghệ An) nhằm kịp thời lãnh đạo, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang quân khu; đáp ứng tốt yêu cầu chi viện cho Trị - Thiên, miền Nam; bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc và thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế ở Lào.

Về tình hình và nhiệm vụ của quân khu trong thời gian tới, Đại hội chỉ rõ: trong hoàn cảnh đất nước vừa có hòa bình vừa có chiến tranh, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, là tuyến đấu trực tiếp với địch, có giới tuyến quân sự tạm thời, có bờ biển dài, nếu địch tấn công ra miền Bắc thì chắc chắn chúng sẽ đánh vào Quân khu 4. Vì vậy phương hướng nhiệm vụ cơ bản cho hai năm tới của các lực lượng vũ trang quân khu là: phải ra sức xây dựng bộ đội về mọi mặt, thực hiện nâng cao sức chiến đấu của các đơn vị bộ binh, binh chủng, sẵn sàng về tư tưởng và tổ chức, bảo đảm tiêu diệt địch nhanh gọn bất kỳ lúc nào và ở đâu, giữ vững lãnh thổ quốc gia, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ đột xuất.

Nắm vững quan điểm: công tác xây dựng đảng trong lực lượng vũ trang quân khu là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ, Đại hội quyết nghị: Đảng bộ phải được xây dựng vững mạnh, đủ sức lãnh đạo lực lượng vũ trang quân khu luôn luôn "sắc bén về chính trị, vững vàng về tư tưởng, chặt chẽ về tổ chức, nghiêm minh về kỷ luật, nhanh mạnh về tác phong, giỏi về khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ”1.

Đại hội đặc biệt nhấn mạnh việc tăng cường khả năng phòng thủ, tác chiến của lực lượng vũ trang quân khu với phương châm: "đánh tiêu diệt, phòng ngự ngoan cường, tiến công dũng mãnh, cận chiến, truy kích đến cùng, đánh thắng trận đầu, có gì đánh nấy, có bao nhiêu đánh bấy nhiêu, không ỷ lại chờ đợi. Phải bắn trúng, bắn rơi khi địch xâm phạm không phận, hải phận quân khu, phải sẵn sàng cơ động trên bất cứ chiến trường nào Tổ quốc cần đến".

Về nhiệm vụ xây dựng huấn luyện bộ đội, Đại hội quyết nghị: "Nâng cao chất lượng huấn luyện, huấn luyện phải gắn với nhiệm vụ chiến đấu, chiến đấu phải tiêu diệt sinh lực địch, lấy đó làm thước đo kết quả huấn luyện và xây dựng, quan điểm huấn luyện toàn diện: ý chí chiến đấu, tư tưởng tiến công tiêu diệt địch, trình độ thao luyện, sức chịu đựng bền bỉ dẻo dai là một thể hoàn chỉnh của một chiến binh"2.

Để kiện toàn Ban chấp hành Đảng bộ, Quân khu ủy đã cử thêm đồng chí Bùi Sinh vào Ban Thường vụ, đồng chí Trần Văn Ân và đồng chí Trần Sơn là Quân khu ủy viên chính thức. Quân khu ủy đề nghị lên Quân ủy Trung ương chỉ định thêm đồng chí Đặng Hòa (bí thư lữ đoàn ủy 324) và đồng chí Quách Sĩ Kha (bí thư sư đoàn ủy 325) làm ủy viên chính thức quân khu ủy.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân khu 4 lần thứ hai là mốc đánh dấu sự chuyển hướng mạnh mẽ trong lãnh đạo quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối, tư tưởng quân sự của Đảng, cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ trong quân khu vươn lên.
______________________________________________
1, 2. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu 4 lần thứ hai.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:20:22 pm

II - PHÁ THẾ KÌM KẸP Ở ĐỒNG BẰNG, CÙNG BẠN LÀO MỞ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG,
ĐÁNH THẮNG TRẬN ĐẦU KHÔNG QUÂN MỸ-NGÀY 5 THÁNG 8 NĂM 1964

Cuối 1962, chương trình bình định 18 tháng của Mỹ - Diệm căn bản bị sụp đổ trên khắp miền Nam. Đây là sự thất bại bước đầu rất quan trọng của chiến lược "chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Tuy nhiên, viện trợ kinh tế, quân sự cùng số cố vấn và lực lượng đặc biệt của Mỹ được đưa vào ngày càng nhiều tạo nên chỗ dựa cho quân ngụy tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh, vì thế, trên toàn chiến trường, địch và ta vẫn ở thế giằng co quyết liệt.

Ở Trị - Thiên, lực lượng địch đông và chiếm ưu thế. Phong trào đấu tranh của quân dân vùng đồng bằng Trị - Thiên tuy đạt được một số kết quả bước đầu nhưng chưa vững chắc. Tình hình vẫn khó khăn gay gắt.

Sang năm 1963, địch tăng cường đánh phá quyết liệt vùng giáp ranh và rừng núi, sử dụng cả chất độc hóa học để triệt hại cây cối, bản làng, khai quang địa hình, phá hoại kinh tế, ngăn chặn hành lang và triệt nguồn cung cấp lương thực của ta. Ở đồng bằng, chúng đẩy mạnh càn quét với quy mô lớn, ráo riết triển khai đợt hai kế hoạch lập ấp chiến lược.

Để kịp thời lãnh đạo nhân dân đối phó có hiệu quả hoạt động đánh phá của địch, trong hai ngày 1 và 2 tháng 2 năm 1963, Tỉnh ủy Thừa Thiên họp xác định nhiệm vụ của quân và dân toàn tỉnh trong năm 1963 là tập trung đẩy mạnh ba phong trào lớn: đấu tranh chính trị, chiến tranh du kích, sản xuất tự túc. Tỉnh ủy chủ trương phát động toàn dân tham gia chiến đấu chống địch càn quét lấn chiếm, toàn dân giết giặc bằng mọi thứ vũ khí, mọi hình thức; trước mắt, sử dụng lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân đánh phá một số ấp chiến lược để rút kinh nghiệm đồng thời cổ vũ phong trào, lấy ấp Hòa Mỹ làm điểm mở đầu.

Ấp chiến lược Hòa Mỹ nằm sát bìa rừng tây Thừa Thiên, là một ấp thuộc loại "kiểu mẫu" trong chương trình bình định của Mỹ - Diệm. Xung quanh ấp, địch bố trí ba lớp hàng rào kẽm gai dày đặc. Lực lượng địch gồm 100 lính bảo an dân vệ, biệt kích, tề điệp, ngày đêm tuần phòng, canh gác, giám sát và kìm kẹp mấy nghìn dân trong ấp.

Đêm mùng 3 rạng ngày 4 tháng 3 năm 1963, đơn vị vũ trang tỉnh (K105) cùng với cán bộ cơ sở đã tiến công ấp Hòa Mỹ. Sau một giờ nổ súng, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hai trung đội địch, diệt ba tên sĩ quan ngoan cố, bắt một tên ác ôn và năm dân vệ. Cùng với mũi tiến công quân sự, nhân dân đã vùng dậy phá tung hàng rào ấp chiến lược, truy bắt ác ôn, tổ chức mít tinh hoan nghênh cách mạng, lập chính quyền tự quản.

Ngày hôm sau, 30 tên lính vừa bỏ chạy bị bọn chỉ huy bắt phải trở về chiếm lại Hòa Mỹ. Được đội công tác vũ trang tuyên truyền hỗ trợ, nhân dân Hòa Mỹ đã vận động kêu gọi làm tan rã toàn bộ lực lượng này.

Trận Hòa Mỹ là thắng lợi đầu tiên của lực lượng vũ trang cùng nhân dân phá ấp chiến lược, mở ra khả năng thực hiện phương châm "hai chân, ba mũi", trong việc phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ nông thôn đồng bằng.

Tiếp đó, lực lượng vũ trang hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên đã thực hiện một số trận đánh vào ấp chiến lược ở vùng giáp ranh và đồng bằng, tổ chức chống càn, diệt trừ ác ôn có nhiều nợ máu, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá lỏng thế kìm kẹp của địch.

Nhận thấy vùng đồng bằng đã bị đe dọa bởi những hoạt động vũ trang và đấu tranh chính trị của ta, Ngô Đình Cẩn - em ruột Ngô Đình Diệm - thống lĩnh miền Trung, lo lắng đề nghị Mỹ - Diệm phải tăng cường đánh phá cơ quan lãnh đạo của các tỉnh. Ngày 23 tháng 3 năm 1963, chúng mở "chiến dịch Phượng Hoàng" nhằm đánh phá vùng căn cứ địa cách mạng, chiếm lại vùng núi đã mất, ngăn chặn ta tiến về đồng bằng. Với lực lượng hai trung đoàn chủ lực được nhiều máy bay, xe cơ giới và pháo binh yểm trợ, địch chia hai cánh: từ tây Thừa Thiên đánh ra Tà Rụt và từ Đá Bàn đánh vào Ba Bình. Trong khi đó, địch cho một lực lượng đổ bộ bằng trực thăng xuống Ly Tông, căn cứ của cơ quan đầu não kháng chiến của tỉnh. Địch càn trong khi các đồng chí chủ trì của Tỉnh ủy đang đi dự hội nghị liên tịch, một số cán bộ văn phòng tỉnh ủy, cơ quan quân sự, ban an ninh tỉnh (Thư, Vĩnh, Thành, Hiền, Phố...) cùng một số đồng chí trong thường vụ huyện ủy và ban chỉ huy huyện đội Hướng Hóa chủ động tổ chức chiến đấu chống càn, bảo vệ cơ quan, bảo vệ dân. Đại đội 45 do đồng chí Chương chỉ huy và đại đội 55 do đồng chí Cường chỉ huy, cùng lực lượng du kích các xã miền núi triển khai đánh địch. Ròng rã hai tháng chiến đấu (từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 5), quân dân vùng căn cứ khắc phục gian khổ hy sinh, liên tục tập kích, phục kích quân địch, gây cho địch những tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Phối hợp với vùng căn cứ, ở đồng bằng, ta mở một số trận tiến công vào ấp chiến lược, diệt và làm bị thương 43 tên, phá sập ba cầu.

Bị tổn thất do những hoạt động tập kích, phục kích liên tục của ta, cuối tháng 5 năm 1963, địch buộc phải kết thúc chiến dịch.

Suốt ba tháng mùa hè năm 1963, quân dân miền núi Trị - Thiên liên tục đánh địch lấn chiếm vùng giáp ranh và miền núi, giữ vững căn cứ, kho tàng, cơ quan và hành lang vận chuyển. Ở đồng bằng, ngày 1 tháng 4 năm 1963, địch cho quân càn vào khu vực Triệu Hùng (Triệu Phong). Bằng mọi vũ khí có trong tay, quân và dân địa phương mưu trí, bền bỉ đánh địch, tiêu diệt 54 tên, làm bị thương nhiều tên khác. Ngày 3 tháng 6, ở Ca Cứ, du kích ta đã bố trí trận địa phục kích kết hợp bãi chông, mìn và hỏa lực súng bộ binh, tiêu diệt một toán địch gồm 30 tên.

Tiếp đến, 5 giờ ngày 11 tháng 6 năm 1963, lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh cùng đội vũ trang tuyên truyền đã nổ súng tiến công ấp chiến lược Trường Thọ (Hải Lăng), một ấp thí điểm của địch ở Quảng Trị, diệt gọn một tiểu đội, bắt sống một số tên, thu một số vũ khí, đồ dùng quân sự. Nhân dân nổi dậy, phá bung ấp chiến lược. Đây là trận đánh ấp chiến lược đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh, mở đầu cho phong trào đánh phá ấp chiến lược ở Quảng Trị. Tại đồng bằng Thừa Thiên, bộ đội tập trung của tỉnh phục kích quân địch ở ki-lô-mét số 8 trên đoạn đường cầu Hai - Bạch Mã, bộ đội địa phương huyện Hương Thủy tập kích một trung đội địch ở Đá Đen, bộ đội Hương Trà diệt một tiểu đội địch ở lô cốt Cà Loi...

Phong trào đấu tranh ở đồng bằng Trị - Thiên bắt đầu có bước phát triển mới, ta đã phá được một số ấp chiến lược, xây dựng được cơ sở cách mạng ở nông thôn, đồng bằng. Đến giữa năm 1963, số cơ sở chính trị tăng 30 đến 40 phần trăm so với năm 1962. Ở Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng... mỗi địa phương có từ 100 đến 300 cơ sở. Tuy nhiên, lực lượng ta ở đồng bằng vẫn còn yếu, sức hỗ trợ của đòn quân sự cho quần chúng nổi dậy đấu tranh chính trị còn hạn chế.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:21:28 pm

Từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1963, Huế sục sôi cuộc đấu tranh của nhân dân thành phố, bắt đầu từ việc cảnh sát Diệm hạ cờ Phật trong ngày lễ Phật Đản. Hơn 20 nghìn người, trong đó gần một nửa là tăng ni, tín đồ theo đạo Phật đã biểu tình phản đối chính quyền. Hoảng sợ trước không khí đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, địch huy động lực lượng tới đàn áp, làm chết tám người, một số người bị thương, hàng trăm người bị bắt. Hành động đàn áp của kẻ thù đã làm phong trào đấu tranh của quần chúng bùng lên dữ dội. Nhân dân thành phố tổ chức cầu siêu, mít tinh, hội thảo, tuyệt thực; một số phật tử tự thiêu để phản đối chính quyền. Phong trào lan nhanh ra vùng phụ cận, tranh thủ được cả sinh viên, thanh niên, học sinh, trí thức thành phố, lôi kéo cả một số sĩ quan, nhân viên ngụy quyền Thừa Thiên - Huế, trong đó có cả những nhân viên cao cấp của ngụy quyền.

Ngày 15 tháng 5, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra tuyên bố về việc Mỹ - Diệm tàn sát các nhà sư và đồng bào theo đạo Phật ở Huế, kêu gọi nhân dân cả nước và dư luận thế giới ủng hộ đồng bào Phật giáo và sinh viên đại học Huế...

Theo dõi diễn biến cuộc đấu tranh của nhân dân thành phố, Tỉnh ủy Thừa Thiên nhận định: cuộc đấu tranh này mang tính chất dân tộc, dân chủ, chúng ta cần ủng hộ, tận dụng và cố gắng hướng phong trào tập trung vào mục tiêu chống Mỹ và tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm. Thành ủy Huế ra chỉ thị hướng dẫn cho cán bộ, đảng viên và cơ sở của ta trong nội thành lợi dụng cơ hội này đi sâu vận động công nhân, sinh viên, học sinh, trí thức... đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ, kéo lái phong trào phật tử vào mục tiêu chống Mỹ - Diệm, qua đó mà phát triển xây dựng cơ sở nội thành. Đồng chí Hoàng Lanh, ủy viên thường vụ thành ủy trực tiếp chỉ đạo công tác này.

Sau vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức tại Sài Gòn, nhiều vụ tự thiêu xảy ra ở Huế. Ngô Đình Cẩn cầu cứu Diệm cho cảnh sát dã chiến từ Sài Gòn ra đàn áp. Hàng nghìn nông dân các vùng phụ cận kéo vào cùng đồng bào Huế đấu tranh quyết liệt, đem bàn, ghế, tủ, giường ra làm vật chướng ngại trên đường phố; dùng đá, gậy gộc đánh trả cảnh sát.

Suốt ba tháng đấu tranh liên tục, quyết liệt, các tín đồ phật tử, nhân dân thành phố Huế và nông dân các xã ngoại vi đã làm cho quân thù hoảng sợ, mâu thuẫn giữa chính quyền với nhân dân và trong nội bộ chính quyền đã gay gắt càng gay gắt thêm. Phong trào này đã mở màn cho phong trào đấu tranh chính trị sục sôi trong các đô thị miền Nam, làm chấn động dư luận quốc tế, làm rung chuyển chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.

Hưởng ứng phong trào đấu tranh của nhân dân Huế, ngày 8 tháng 6, hàng trăm phật tử và nhân dân thị trấn Đông Hà kéo vào thị xã Quảng Trị cùng tham gia biểu tình tuần hành phản đối nhà chức trách đàn áp phật tử Huế. Những người biểu tình hô vang khẩu hiệu: "Chống chính phủ diệt Đạo"...

Lợi dụng sơ hở của địch do phải lo đối phó với phong trào đô thị, lực lượng vũ trang ta tăng cường hoạt động đánh địch ở vùng ven, phát động quần chúng phá rã từng mảng ấp chiến lược, diệt ác trừ gian. Đơn vị K105 gửi thư quyết tâm cho đồng bào Huế, hoan nghênh và hứa đẩy mạnh đánh địch hỗ trợ cho phong trào.

Ngày 15 tháng 10 năm 1963, hội nghị Liên tỉnh ủy Trị - Thiên họp (mở rộng) nhận định: hiện nay, địch đang trong tình trạng khủng hoảng, lúng túng, mâu thuẫn giữa Mỹ và tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm gay gắt, có nhiều khả năng nổ ra đảo chính. Tinh thần địch, nhất là bọn tay sai ở cơ sở hoang mang dao động, trạng thái "lỏng" đã xuất hiện ở một số thôn; có nơi chính quyền địch hầu như tê liệt. Hội nghị chủ trương: đẩy mạnh đánh phá ấp chiến lược trên toàn bộ nông thôn đồng bằng, làm lỏng thế kìm kẹp của địch. Nơi có điều kiện thì phát động quần chúng đấu tranh nhằm bốn yêu cầu cụ thể là: giành dân; đưa quần chúng vào thế đấu tranh "hai chân, ba mũi", tạo khí thế mới cho phong trào; xây dựng bàn đạp chuẩn bị mọi điều kiện đến đầu năm 1964 phát động phá kìm; giành một phần nhân tài vật lực để phát triển lực lượng rút kinh nghiệm cho chỉ đạo.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, đảo chính quân sự xảy ra ở Sài Gòn, Diệm - Nhu bị giết. Đứng sau cuộc đảo chính, Mỹ hy vọng sẽ tạo ra một tập đoàn tay sai mới phục vụ đắc lực hơn cho cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Trước đột biến của tình hình nội bộ địch, lãnh đạo hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên chủ trương khẩn cấp "lợi dụng thời cơ, đẩy mạnh hoạt động". Lớp tập huấn cán bộ phát động quần chúng gồm 38 đồng chí của Thừa Thiên đang học tại căn cứ được tổ chức thành các đội công tác vũ trang tuyên truyền về ngay cơ sở hoạt động. Nhiều đồng chí tỉnh ủy viên của hai tỉnh được phân công về các huyện trực tiếp chỉ đạo phong trào. Cán bộ các cấp, các ngành và lực lượng vũ trang nhanh chóng triển khai đi các hướng. Trong hai ngày 2 và 3 tháng 11, lực lượng vũ trang, các đội công tác và du kích các huyện của Thừa Thiên đã tổ chức tiến công tiêu diệt dịch, phát động quần chúng nổi dậy đánh phá 36 thôn ấp, phát triển cơ sở ở hầu khắp các huyện. Tại xã Phong Sơn (Phong Điền), sau khi tiêu diệt và làm tan rã trung đội bảo an dân vệ ở đây, cán bộ, chiến sĩ ta đã bám trụ lại, tuyên truyền giải thích chính sách của Mặt trận cho hơn 100 giáo dân ở nhà thờ Thanh Tân. Chiều ngày 3 tháng 11 địch cho hai đại đội và bảy xe M113 phản kích. Dựa vào trận địa chuẩn bị sẵn và sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, cán bộ, chiến sĩ ta đã chặn đánh quyết liệt, diệt tại chỗ 22 tên địch, thu 10 súng. Bọn còn lại bỏ chạy, nhân dân hoàn toàn làm chủ địa phương suốt một ngày đêm. Ở miền núi, ngày 11 tháng 11, bộ đội ta tiến công vị trí A Lưới, đánh sập một lô cốt, diệt một trung đội địch. Ta bao vây A Lưới một ngày, diệt thêm 50 tên, bắn cháy ba máy bay, phá hủy một số vũ khí, đạn dược.

Trong hai tháng cuối năm 1963, lực lượng vũ trang và các đội công tác vũ trang tỉnh Quảng Trị tiến công địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá 50 ấp chiến lược, đốt 20 nghìn mét rào.

Sau vụ đảo chính lật đổ chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, phong trào đấu tranh của nhân dân thị xã Quảng Trị ngày càng mạnh. Ngày 26 tháng 11, hơn 3.000 học sinh và đồng bào thị xã xuống đường biểu tình, dương cao biểu ngữ, hô vang khẩu hiệu đả đảo tỉnh trưởng mới Nguyễn Trà Đơn. Đoàn biểu tình kéo đến chi khu quân sự, đòi gặp đại tá Hiền, buộc tên này phải ra nhận kiến nghị. Hôm sau, hơn 4.000 đồng bào và học sinh ở Sải cùng nhân dân thị xã rầm rộ diễu qua các phố, kéo đến trước tòa thị chính phản đối tỉnh trưởng.

Phối hợp với phong trào đấu tranh ở đồng bằng, đô thị, một phong trào thi đua săn máy bay địch được phát động trong bộ đội và du kích miền núi. Ngày 20 tháng 11, một tổ săn máy bay của du kích xã Phong Bình bí mật phục kích sát sân bay A So (tây Thừa Thiên), bắn trúng một máy bay trực thăng. Hai ngày sau, du kích A So bắn rơi một chiếc Đa-cô-ta. Ngày 28 tháng 11, tại A Lưới, tổ săn máy bay lại bắn rơi tiếp chiếc Đa-cô-ta thứ hai.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:22:03 pm

Trái với dự tính của Mỹ, sau ngày đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, ngụy quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng; mâu thuẫn trong nội bộ ngày càng gay gắt. Để đẩy mạnh chiến lược "chiến tranh đặc biệt", sau khi cầm quyền ở Mỹ, Giôn-xan tăng cường lực lượng cố vấn Mỹ và phương tiện chiến tranh cho ngụy quyền Sài Gòn.

Được sự hỗ trợ của Mỹ, quân ngụy đẩy mạnh các hoạt động càn quét, bình định, lập ấp chiến lược với nhiều thủ đoạn tàn bạo hơn hòng giành lại quyền chủ động trên chiến trường.

Ở Trị - Thiên, trong và sau cuộc đảo chính, địch lo đề phòng lực lượng cách mạng từ phía bắc và phía tây đánh xuống đồng bằng. Chúng tăng quân ra đường số 9 và khu vực A Sầu, A Lưới; dùng không quân oanh tạc miền tây, kiểm soát chặt tuyến hành lang và khu vực giáp ranh, sử dụng cả chất độc hóa học khai quang địa hình dọc theo các trục đường hành lang ngang dọc.

Ở Lào, từ đầu năm 1963, Mỹ và tay sai đã phá bỏ chính phủ liên hiệp, tăng quân ngụy Lào lên ba nghìn tên, ra sức càn quét, đánh phá cơ sở cách mạng hòng kiểm soát chặt những vùng chúng chiếm đóng. Với sự yểm trợ hỏa lực của không quân Mỹ và pháo binh Thái Lan, quân ngụy Lào tiến công vùng giải phóng của Pa-thét Lào. Sau khi lấn chiếm Sê Nô, cùng quân ngụy Sài Gòn đánh chiếm Mường Noòng (Xa vẳn Na Khệt)... ngày 27 tháng 11 năm 1963, địch cho tiểu đoàn địa phương BK 340 và một số toán biệt kích bất ngờ tiến công các đơn vị bộ đội Pa-thét Lào, chiếm lại thị trấn Cam Kớt. Lực lượng của bạn ở đây chịu một số tổn thất. Ngày hôm sau, tiểu đoàn 11 thuộc BM 15 đổ bộ xuống Cam Kớt cùng với BK 340 đánh chiếm Lạc Xao, mở đường tiến xuống Na Pê. Tiểu đoàn 927 của ta chặn đánh quyết liệt.

Trong lúc đang họp, Thường vụ quân khu ủy nhận được điện của Bộ Tổng tham mưu cho biết địch đã hành quân xuống Lạc Xao và Nhôm Ma Rát, Quân khu 4 phải gấp rút tổ chức chiến đấu; sau bảy đến tám ngày có thể nổ súng được. Đồng chí Nam Long, quyền Tư lệnh quân khu cử đồng chí Tham mưu trưởng Quân khu ra Hà Nội nhận lệnh cụ thể của Bộ, đồng thời chỉ thị cho các cơ quan khẩn trương chuẩn bị chiến đấu.

Bộ giao cho quân khu cùng bạn mở chiến dịch "128" trên địa bàn nằm giữa đường số 8 và đường số 12; bao gồm một số địa phương thuộc tỉnh Khăm Muộn, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá âm mưu chiếm đóng vùng cao nguyên Trung Lào là tuyến tranh chấp giữa ta và địch, giải phóng khu vực phía tây sông Nậm Thơm bao gồm từ Na Kay đến núi Đá, tạo điều kiện cho bạn nống ra hoạt động trên đường số 13; giúp bạn xây dựng lực lượng và cơ sở cách mạng, củng cố vững chắc vùng giải phóng.

Trên địa bàn chiến dịch, lực lượng địch gồm 8BI của Coong-le, 2BI của Phu-mi và một tiểu đoàn biệt kích.

Căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ được giao, Thường vụ đảng ủy và Bộ Tư lệnh quân khu quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Nguyễn Ích Tỷ làm chỉ huy trưởng, đồng chí Quách Sỹ Kha làm chính ủy. Bộ Tổng tham mưu cử Cục phó Cục Tác chiến Lê Ngọc Hiền làm phái viên, trực tiếp giúp Bộ chỉ huy chiến dịch. Ngoai các đơn vị đang có mặt ở chiến trường, Bộ Tư lệnh quân khu điều thêm trung đoàn 95 thuộc sư đoàn 325 (do đồng chí Cư làm trung đoàn trưởng), tiểu đoàn 3 thuộc lữ đoàn 324 (do đồng chí Phương làm tiểu đoàn trưởng) là lực lượng dự bị chiến dịch. Mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương trong khi nhân dân đang đón Tết Giáp Thìn. Ngày 30 Tết, Tổng chỉ huy lực luợng Pa-thét Lào Khăm-tày Xi-phăn-đon tới sở chỉ huy chiến dịch thăm và chúc Tết bộ đội tình nguyện Việt Nam. Đó là sự cổ vũ động viên lớn đối với cán bộ, chiến sĩ ta trước giờ nổ súng.

Đúng bảy ngày sau khi nhận lệnh, ngày 16 tháng 12 năm 1963, từ hai hướng, liên quân Việt - Lào nổ súng tiến công mở màn chiến dịch. Trên hướng đường số 12, tiểu đoàn 929 trung đoàn 95 được pháo binh và hỏa lực phòng không yểm trợ nhanh chóng vượt đèo Phú Ác, đánh lên Nhôm Ra Rát. Từ hướng đường số 8, tiểu đoàn 927 và tiểu đoàn 3 lữ đoàn 324 cùng đặc công, pháo binh và công binh đánh xuống sân bay Na Cay. Ta và địch giành nhau từng ngọn đồi, từng khe suối. Cuối tháng 2 năm 1964, trước sức tiến công của ta, địch buộc phải tháo chạy. Vì chưa thông thuộc địa hình nên khi địch men theo hẻm núi, rút qua hang đá vôi Cuông Xang, ta đã không phát hiện được.

Gần hai tháng chiến đấu, liên quân Lào - Việt đã đánh thiệt hại 10 tiểu đoàn địch, làm tan rã hai tiểu đoàn khác, bắt hơn 2.000 tù binh, thu một số vũ khí và phương tiện chiến tranh, giải phóng một vùng cao nguyên rộng lớn với hai tuyến đường quan trọng số 8, số 12 và tuyến biên giới Lào - Việt dài 700 ki-lô-mét.

Sau chiến dịch, ngày 26 tháng 2 năm 1964, Bộ chỉ huy tiền phương rút về nước. Tiểu đoàn 927, tiểu đoàn 929, tiểu đoàn 3 lữ đoàn 324 tiếp tục cùng bạn làm nhiệm vụ phòng ngự và xây dựng cơ sở chính trị. Trung đoàn 95 rút về Lằng Khằng (đường số 12) củng cố và sẵn sàng cơ động. Tiểu đoàn 925 lên Nậm Cắn giúp bạn đánh thông đường số 7. Tiểu đoàn 15 công binh Quân khu Tây Bắc điều vào Quân khu 4 cũng được lệnh lên sửa chữa đường số 7.

Cả năm 1964, ta cùng bạn đánh 62 trận (bạn độc lập đánh 16 trận), tiêu diệt và làm bị thương nhiều địch, bắt 759 tên (kể cả lính ngụy miền Nam Việt Nam). Ta thu: 1.015 súng các loại (có năm khẩu pháo 75 ly), 52 tấn đạn, 17 VTĐ 15w, nhiều quân trang quân dụng, bắn rơi 16 máy bay, bắn bị thương 12 chiếc khác. Ta giúp bạn xây dựng được một tiểu đoàn bộ binh và 340 du kích ở khu vực đường số 8. Trên hướng đường số 12, ta giúp bạn củng cố các tiểu đoàn chủ lực và các đại đội độc lập, phát triển 1.257 du kích, tập huấn cho cán bộ xã đội, trung đội. Ở đường số 9, ngoài các tiểu đoàn chủ lực và đại đội độc lập được củng cố, bạn còn xây dựng thêm một đại đội.

Ở Trị - Thiên, Đảng ủy phân khu bắc họp tháng 12 năm 1963 đề ra nhiệm vụ cho các lực lượng vũ trang là: đẩy mạnh hoạt động của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích, tích cực tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, bảo vệ căn cứ và hành lang, hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh chính trị của quần chúng phá ấp chiến lược, phá thế kìm kẹp, mở rộng đồng bằng; đẩy mạnh sản xuất tự túc, coi sản xuất như nhiệm vụ tác chiến; ra sức xây dựng lực lượng vũ trang, bán vũ trang, tăng cường sức mạnh chiến đấu, đẩy mạnh phong trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công", xây dựng nhiều đơn vị và cá nhân tiên tiến.

Về tác chiến, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lệnh cho lực lượng vũ trang Trị - Thiên tiếp tục đánh ấp chiến lược, phá thế kìm kẹp của địch ở vùng giáp ranh và các trục đường quốc lộ, đường sắt ở các huyện Cam Lộ, tây Triệu Phong, tây Hải Lăng, tây Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Hương Thủy, Phú Lộc. Trọng điểm là vùng Hương Trà, Nam Đông, Khe Tre, đưa các vùng này thành vùng du kích, đấu tranh hai chân ba mũi giáp công, giải phóng vùng Nam Đông, Dương Hòa, Ba Lòng, tạo thành bàn đạp du kích nối liền với căn cứ, tiến công mở rộng cơ sở ở đồng bằng.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:23:36 pm

Bước vào năm 1964, lợi dụng sự suy yếu của chính quyền Sài Gòn, lực lượng vũ trang Trị - Thiên đã tổ chức các trận đánh vào ấp chiến lược, chi khu quân sự, quận lỵ địch.

Đêm mùng 8 rạng ngày 9 tháng 2 năm 1964, đại đội 12 đặc công phân khu do đồng chí Tâm chỉ huy cùng với K10 bộ đội tỉnh do đồng chí Phương chỉ huy1 đã tổ chức trận đánh công kiên vào quận lỵ Ba Lòng (tây Quảng Trị). Đây là cứ điểm có công sự kiên cố được xây dựng trên một địa hình cao hiểm trở do tên Trần Đình Lãm quận trưởng chỉ huy. Hắn huênh hoang tuyên bố quận lỵ Ba Lòng là bất khả xâm phạm. Sau khi nắm chắc địa hình và bố trí lực lượng của địch, quân ta bí mật tiếp cận mục tiêu, bất ngờ nổ súng tiến công, thực hành thọc sâu chia cắt đánh từ trong lòng địch ra. Bị bất ngờ, địch không kịp phản ứng. Trận đánh diễn ra chớp nhoáng. Sau 25 phút, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, diệt 58 tên, làm bị thương 18 tên, bắt 32 tên (có tên quận phó Nguyễn Cao Hưởng và tên thiếu úy đại đội trưởng đại đội bảo an 812), thu 85 súng (có bốn khẩu đại liên và trung liên, bốn khẩu cối 81 và 60 ly), toàn bộ điện đài và tài liệu quan trọng, phá hủy trụ sở chi công an, chi thông tin và quận lỵ. Chiến thắng Ba Lòng lan nhanh, gây chấn động mạnh. Địch choáng váng lo sợ. Nhân dân hả lòng hả dạ, thân nhân của ngụy binh bị chết kéo đi đấu tranh trước cửa cơ quan ngụy quyền quận lỵ, thị xã, dinh tỉnh trưởng, đòi bồi thường. Hàng trăm lính ngụy tìm cớ ốm đau, xin nghỉ phép... tránh phải ra trận. Để khuếch trương chiến thắng Ba Lòng, Ủy ban Mặt trận tỉnh tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Trấm. Hơn 3.000 đồng bào của 74 thôn vùng giáp ranh tới dự. Cán bộ ta nói ý nghĩa thắng lợi, vạch tội ác kẻ thù, giải thích đường lối chống Mỹ, cứu nước và nói rõ chủ trương của Mặt trận sẽ ngừng bắn bảy ngày trong dịp Tết Quý Mão. Bà con dự mít tinh về rất tin tưởng và khâm phục cách mạng, nói lại với đồng bào và binh lính ngụy, gây ảnh hưảng lớn trong nhân dân các đô thị và vùng giáp ranh. Hàng chục bà mẹ và chị em tìm đường lên Ba Lòng, Trấm để được gặp cách mạng. Lo sợ trước thanh thế và ảnh hưởng của cách mạng, địch rải quân quanh thị xã Quảng Trị, Đông Hà, Huế; cho bọn mật vụ trà trộn vào các làng xã, hai bên quốc lộ số 1 để ngăn chặn không cho đồng bào và binh lính đi lại đón xuân. Bất chấp lệnh cấm, nhiều chỉ huy cấp đại đội quân ngụy đã cho lính về ăn tết với gia đìrh. Họ làm như vậy bởi lẽ họ khẳng định với nhau rằng: "Mặt trận nói bao giờ cũng làm đúng".

Tình hình phát triển thuận lợi. Tinh thần địch sa sút. Ảnh hưởng cách mạng lan nhanh trong nhân dân. Ngày 20 tháng 3 năm 1964, khi du kích Gio Hải (huyện Gio Linh - Quảng Trị) tiêu diệt trung đội tổng vệ đóng ở thôn Diêm Hà Thượng, quần chúng 13 thôn trong xã đồng loạt nổi dậy phá rào kẽm gai, cắt đứt hệ thống thông tin liên lạc, truy lùng ác ôn, kêu gọi binh lính ra hàng. Các xã Gio Hải, Gio Cam, Gio Sơn, Trung Sơn được giải phóng.

Đầu tháng 4 năm 1964, Tỉnh ủy Thừa Thiên chủ trương phát động quần chúng đấu tranh theo phương châm “hai chân, ba mũi", giải phóng 20 đến 30 nghìn dân, hỗ trợ cho miền núi và tạo thế cho phong trào đô thị phát triển. Tỉnh ủy lấy xã Hương Thọ (huyện Hương Trà) làm thí điểm khởi nghĩa. Đồng chí Nguyễn Văn Quảng (tức Húng) ủy viên thường vụ Liên khu ủy 5 và là bí thư Ban cán sự liên tỉnh Trị - Thiên - Huế trực tiếp chỉ đạo khởi nghĩa. Đội công tác vũ trang có 38 đồng chí, đúng ngày giờ quy định tại Lương Miêu - Dương Hòa đã sử dụng nội ứng phối hợp đánh từ trong ra, ngoài vào, tiêu diệt một trung đội bảo an. Ta thu vũ khí, bắt tên trung đội trưởng. Nhân dân hai thôn nổi dậy phá ấp chiến lược, phục vụ chiến đấu. Mũi này kịp thời phát huy thắng lợi phát triển đánh vào Đình Môn, La Khê, Kiên Ngọc. Địch phản ứng quyết liệt, nhiều đồng chí ta bị thương. Sau một tháng giành đi giật lại, ta giành và giữ vững quyền làm chủ bốn thôn: Lương Miêu, Thác Hồ, Kim Ngọc, Thạch Hãn và đưa một số thôn khác vào thế tranh chấp, ta làm chủ ban đêm. Ủy ban mặt trận, chính quyền tự quản, các đoàn thể quần chúng, lực lượng du kích xã được hình thành. Chi bộ, đội công tác vũ trang thực sự là lực lượng nòng cốt, lãnh đạo phong trào đấu tranh của xã Hương Thọ.

Hương Thọ được giải phóng, ta tiếp tục mở rộng cơ sở này nối thông với một số vùng ở Phú Vang, Hương Thủy và cơ sở ở Huế. Từ thực tiễn khởi nghĩa Hương Thọ, Tỉnh ủy Thừa Thiên rút ra kinh nghiệm chỉ đạo: muốn đồng khởi thắng lợi phải kết hợp phát động quần chúng với công tác binh vận gây nội ứng, có lực lượng vũ trang từ ngoài đánh vào phối hợp với lực lượng bên trong, phải đánh trúng bọn địch trực tiếp kìm kẹp quần chúng. Quần chúng phải được phát động và sẵn sàng hành động. Chỉ đạo phải quyết tâm cao, nắm chắc tình hình, có kế hoạch chu đáo các bước và có phương án cho các tình huống có thể xảy ra.

Trước khí thế quần chúng chuẩn bị vùng dậy ở nhiều nơi, ngụy quân, ngụy quyền ở cơ sở càng hoang mang, một số đội "thanh niên chiến đấu" xã, ấp hoạt động cầm chừng hoặc tỏ thái độ ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân. Ngày 18 tháng 4, trung đội "thanh niên chiến đấu" gồm 25 người thuộc ấp Bốn Trì, xã Hương Chữ (huyện Hương Trà) đã bỏ đồn mang súng tìm đường lên căn cứ tham gia kháng chiến. Lực lượng này đã viết thư kêu gọi "thanh niên chiến đấu" toàn tỉnh Thừa Thiên quay súng bắn vào bọn ác ôn và trở về với cách mạng.

Hai tuần sau, 27 dân vệ thôn Niêm Phò mang theo súng chạy sang hàng ngũ cách mạng. Các đội "thanh niên chiến đấu" ở xã Phú Hồ, thôn Đồng Lâm và hàng trăm người đã chống lại địch, ra vùng căn cứ theo lời kêu gọi của mặt trận.

Tháng 4 năm 1964, tại Ro Ró (huyện Hướng Hóa) Tỉnh ủy Quảng Trị triệu tập hội nghị cán bộ mở rộng quyết định đồng khởi giành lại nông thôn đồng bằng, coi đó là nhiệm vụ sống còn số một. Khởi nghĩa sẽ chia ra ba đợt: đợt 1 từ 5 tháng 7 đến 30 tháng 8; đợt 2 từ 1 tháng 9 đến 31 tháng 10; đợt 3 từ 1 tháng 11 năm 1964 đến tháng 1 năm 1965. Hội nghị chủ trương tập trung lực lượng thích đáng cho đồng bằng, vùng sâu; dùng bạo lực của quần chúng và du kích mật là chủ yếu; lực lượng vũ trang chỉ sử dụng một số tổ chức nhỏ và sắc làm nòng cốt cho du kích. Lực lượng vũ trang huyện nào hoạt động tại huyện đó. Đơn vị 55 (bộ đội tỉnh) được điều về huyện Triệu Hải sẵn sàng cơ động. Cán bộ các ban, ngành của tỉnh thay nhau về trực tiếp tham gia phát động quần chúng. Tỉnh ủy quyết định lấy Cùa (huyện Cam Lộ) làm ngòi pháo khởi điểm cho đợt đồng khởi, thu hút địch, tạo điều kiện cho vùng giáp ranh toàn tỉnh vùng lên và lấy huyện Hải Lăng làm trọng điểm chỉ đạo toàn tỉnh.

Tỉnh mở lớp tập huấn cán bộ các cấp, quán triệt nghị quyết tỉnh ủy và phương pháp phát động quần chúng. Kết thúc lớp tập huấn, cán bộ tỏa ngay về các địa phương hoạt động phổ biến lời kêu gọi của tỉnh ủy: "Thời cơ đang tiếp diễn vô cùng thuận lợi, chúng ta hãy đồng tâm nhất trí vượt mọi khó khăn gian khổ, phát huy mọi nỗ lực và sáng kiến, bám sát cơ sở, bám sát nhân dân để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang".
______________________________________________
1. K10 là đơn vị bộ đội tập trung của tỉnh Quảng Trị thành lập tại Khe Bắp thuộc huyện Hướng Hóa, lúc đầu có 10 đồng chí do đồng chí Mai Hồng Phương làm đội trưởng, sau phát triển thành tiểu đoàn.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:24:37 pm

Đêm 24 tháng 6, được sự hỗ trợ của đòn tiến công từ ngoài vào, một số anh em binh sĩ yêu nước thuộc trung đội tổng vệ số 118 cùng nhân dân xã Ba Thành (quận Ba Lòng) đã nổi dậy, buộc những tên còn lại trong trung đội tổng vệ phải đầu hàng. Cùng đêm, đơn vị K10 đặc công tỉnh cùng chủ lực phân khu đã tiến công đánh chiếm Đầu Mầu, một vị trí án ngữ phía tây đường số 9, loại khỏi vòng chiến đấu gần 60 tên, pha sập cầu Đầu Mầu. Vụ binh biến Ba Thành và trận đánh Đầu Mầu nổ ra cùng một đêm giành thắng lợi hoàn toàn đã cổ vũ mạnh mẽ quần chúng nhân dân, và thúc đẩy lãnh đạo quyết tâm đồng khởi.

Sáng ngày 4 tháng 7 năm 1964, Thường vụ tỉnh ủy Quảng Trị phát đi bản mệnh lệnh số 1: "Lệnh cho các cấp, các ngành và toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong tỉnh mở màn đợt phát động quần chúng phá thế kìm kẹp, giành lại nông thôn đồng bằng vào ngày 5 tháng 7 năm 1964, hãy sẵn sàng hy sinh tất cả, giành thắng lợi lớn nhất!"

Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Vũ Soạn phó bí thư tỉnh ủy và đồng chí Lê San ủy viên thường vụ tỉnh ủy, đêm 4 rạng ngày 5 tháng 7, lực lượng vũ trang, đội công tác vũ trang cùng cơ sở bí mật trong thanh niên chiến đấu từ ngoài đánh vào, từ trong đánh ra hỗ trợ cho quần chúng hai thôn Mai Lộc, Mai Đàn và cả vùng Cùa nổi dậy đồng loạt giành quyền làm chủ. Ngay sau đó, mít tinh quần chúng được tổ chức, chính quyền cách mạng được thành lập. Để bảo vệ chính quyền, mỗi xã tổ chức một trung đội du kích. Bốn ngày sau, địch đem 500 quân phản kích. Bộ đội, du kích cùng nhân dân kiên cường chiến đấu, giữ vững vùng mới giải phóng.

Khởi nghĩa ở Cùa giành thắng lợi hoàn toàn. Phong trào lan nhanh ra các địa phương trong tỉnh. Ở các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, chưa đầy hai tháng đã nổi dậy giành được 40 nghìn dân (vượt chỉ tiêu trên 10 nghìn). Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đồng khởi, địch vô cùng hoảng sợ, chúng cấp tốc mở chiến dịch Lam Sơn 115A với hơn ba tiểu đoàn đánh lên vùng miền tây Quảng Trị. Áp dụng chiến thuật "trực thăng vận", địch dùng 50 máy bay trực thăng đổ quân ào ạt xuống Hương Điền hòng bất ngờ vây "chụp" chủ lực và cơ quan đầu não của ta, phá kho tàng và hành lang chiến lược. Bộ đội, du kích và nhân dân đánh trả quyết liệt, làm chậm bước tiến của địch, tiêu hao, tiêu diệt một số quân địch, bảo vệ căn cứ địa.

Cùng với Quảng Trị, từ đêm 5 tháng 7, quân và dân Thừa Thiên đã liên tiếp tiến công đánh phá hàng loạt đồn bốt, phá 130 ấp chiến lược, giành quyền làm chủ cho 10.821 dân, thành lập các ban tự quản, các đoàn thể quần chúng, phát triển du kích, lập làng chiến đấu, đánh địch phản kích, xây dựng cuộc sống mới.

Ở đô thị, các tổ chức Đảng trong nội thành đã lãnh đạo, hướng phong trào tập trung vào mục tiêu chống Mỹ và bọn tay sai ác ôn. Ngày 25 tháng 8, hơn 10 nghìn người đã biểu tình trên đường phố thị xã Quảng Trị. Hôm sau, 300 giáo viên, học sinh tiếp tục tuần hành giương cao khẩu hiệu "Mỹ không được can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam". Tại Huế, 50 nghìn đồng bào nội đô và vùng phụ cận xuống đường biểu tình, đưa yêu sách: "Nợ máu phải trả bằng máu", "phải chặt đầu Cẩn", "phải đem Cẩn ra xử tại Huế". Đoàn biểu tình bao vây và chiếm đài phát thanh Huế. Trước sức ép của phong trào đấu tranh, địch phải xử tử Phan Quang Đống - tỉnh trưởng Thừa Thiên. Tỉnh trưởng mới phải hứa sẽ giải quyết yêu sách của đồng bảo. Phong trào đã lôi kéo một số binh lính, cảnh sát ngụy tham gia.

Cũng trong thời gian này, tại Hải An, một xã vùng biển thuộc huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị, được sự hỗ trợ của một trung đội vũ trang ta, trung đội bảo an, dân vệ đã nổi dậy làm binh biến, diệt gọn bọn chỉ huy ác ôn, phá trụ sở ngụy quyền xã, mang toàn bộ vũ khí về với cách mạng. Xã Hải An được hoàn toàn giải phóng. Đây là vụ binh biến đầu tiên ở vùng biển Quảng Trị.

Giữa lúc phong trào đang diễn ra rộng khắp ở vùng đồng bằng Trị - Thiên - Huế, ngày 3 tháng 9 năm 1964, đoàn cán bộ do đồng chí Tư Minh làm trưởng đoàn từ Hà Nội vào truyền đạt chỉ thị của Bộ Chính trị cho quân và dân Trị - Thiên - Huế. Đánh giá tình hình năm 1964 trên chiến trường Trị - Thiên, Bộ Chính trị nhận xét: phong trào đã có bước phát triển; quân và dân Trị - Thiên đã anh dũng chiến đấu, bảo vệ được hành lang, xây dựng được căn cứ và mở rộng được vùng làm chủ ở đồng bằng. Tuy nhiên trong chỉ đạo, đánh giá tình hình địch - ta chưa sát đúng, vận dụng phương châm, phương thức chưa linh hoạt ... Vì thế, kết quả phần nào bị hạn chế.

Bộ Chính trị chỉ thị cho quân và dân Trị - Thiên - Huế phải tích cực chiến đấu bảo vệ hành lang, trong một thời gian ngắn phải biến đổi cho được tương quan lực lượng giữa ta và địch về quân sự, làm thay đổi tương quan lực lượng chính trị ở đồng bằng và đô thị, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, làm tốt công tác binh, địch vận.

Chỉ thị của Bộ Chính trị đáp ứng kịp thời yêu cầu chỉ đạo cho phong trào Trị - Thiên - Huế đang ở thời điểm sục sôi, quyết liệt.

Từ cuối tháng 9 năm 1964, Quảng Trị mở tiếp đồng khởi đợt 2, nhằm vào vùng sâu. Đợt hoạt động này kéo đến hết tháng 10 năm 1964. Phong trào lan rộng ra các huyện, phát triển mạnh ở Triệu Phong. Kết thúc đợt đồng khởi này, 60 nghìn dân đã giành quyền làm chủ. Vùng giải phóng Quảng Trị mở ra trên một địa bàn rộng lớn; nối liền từ khu vực giáp ranh Gio Linh và Cùa - Ba Lòng đến khu vực giáp ranh Triệu Hải; từ Cửa Việt vào Thẩm Khê, từ Triệu Phong đến Phương Lang Đông... Ở những vùng mới giải phóng, chính quyền cách mạng được thành lập. Chính quyền đã thực hiện chính sách ruộng đất và một số chính sách xã hội đem lại quyền lợi cho nhân dân.

Ở Thừa Thiên, sau đợt 1, Tỉnh ủy chuyển hướng chỉ đạo về khu vực phía nam của tỉnh, lấy xã Hải Thủy (huyện Hương Thủy) làm trọng điểm. Tháng 10 năm 1964, địch phản kích quyết liệt, mưa bão xẩy ra liên miên, hoạt động của bộ đội ta gặp nhiều khó khăn. Do vậy, lực lượng vũ trang Quảng Trị rút về căn cứ. Khí thế đấu tranh của quần chúng tạm thời lắng lại. Địch nhanh chóng chiếm lại Cùa - vùng căn cứ của ta.

Kiên quyết khắc phục khó khăn, từ tháng 11 năm 1964, quân và dân Trị - Thiên đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị, giữ vững vùng giải phóng ở miền núi và giáp ranh, mở rộng quyền làm chủ ở đồng bằng và ven biển. Quảng Trị mở được một số vùng sát ven thị xã, thị trấn dọc theo các trục lộ giao thông quan trọng. Ngày 20 tháng 1 năm 1965, nhân dân các thôn: Kinh Môn, Hói Cụ, Giang Phao, sát bờ nam sông Bến Hải, đã nổi dậy giành được quyền làm chủ. Ở Thừa Thiên, ta mở được 76 thôn, giành 45.000 dân; đặc biệt là mở được một số vùng sâu ở các huyện Hương Thủy, Phú Lộc, Phú Vang.

Sang tháng 12, phong trào đấu tranh ở thành phố Huế và thị xã Quảng Trị lại bùng lên. Hơn 10 nghìn nhân dân Huế đổ ra đường biểu tình, chiếm khu trung tâm thành phố, ngăn không cho một đoàn xe quân sự của địch tiếp viện ra phía bắc Huế, hô vang khẩu hiệu chống Mỹ, bao vây nhà thông tin Mỹ, xé cờ Mỹ. Địch hốt hoảng điều quân từ các nơi về bảo vệ thành phố và các trục giao thông.

Phối hợp với thành thị, nông dân các huyện ven đô biểu tình tuần hành tiến vào thành phố, tiếp sức cho phong trào nội đô.

Lợi dụng địch phải tập trung đối phó với phong trào đấu tranh ở đồng bằng, đô thị, chúng ta đẩy mạnh đánh phá ấp chiến lược ở khu vực ven đường số 9, giải phóng 22 thôn gồm hơn 5.000 dân, trừng trị 60 tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân.

Cùng với thắng lợi đó, căn cứ địa của ta được củng cố và mở rộng. Nhân dân các dân tộc vùng giải phóng ra sức sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trong năm 1964, đồng bào các dân tộc miền núi Trị - Thiên đã đóng góp 199.913 ngày công, chi viện cho đồng bằng hàng chục tấn lương thực.

Qua hơn bảy tháng tiến công và nổi dậy (tháng 5 năm 1964 đến tháng 12 năm 1964), quân và dân Trị - Thiên - Huế giữ vững, mở rộng vùng giải phóng miền núi và giáp ranh, phá thế kìm kẹp ở đồng bằng, đưa dân một nửa tổng số thôn trong hai tỉnh lên làm chủ với nhiều mức độ khác nhau, hàng trăm nghìn dân đã được giải phóng. Ta đã trừng trị 125 tên ác ôn, bắt cải tạo hàng nghìn tên khác, làm rả ngũ gần 2.000 "thanh niên chiến đấu", nghĩa quân, lính cộng hòa, bảo an, dân vệ. Khu vực nam sông Bến Hải cơ bản đã sạch bóng bọn tề điệp, ác ôn.

Trong gian khổ, ác liệt của chiến tranh, lực lượng ta vẫn không ngừng phát triển. Quảng Trị đã xây dựng được 126 chi bộ đảng với 1.017 đảng viên, 64 chi đoàn với 916 đoàn viên. Thừa Thiên phát triển thêm 26 chi bộ với 185 đảng viên, 18 chi đoàn với 192 đoàn viên. Đến đầu năm 1965, toàn phân khu đã có ba tiểu đoàn chủ lực (800, 802 và 806), mỗi tỉnh có từ ba đại đội đến một tiểu đoàn bộ đội tập trung, một đại đội đặc công; mỗi huyện đã xây dựng được đại đội bộ binh. Lực lượng dân quân, du kích phát triển rộng khắp. Thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng mở rộng trên cả ba vùng chiến lược, làng xã chiến đấu được xây dựng khắp nơi.

Tuy nhiên vùng làm chủ ở nông thôn đồng bằng chưa được củng cố, vùng phụ cận thành phố, vùng đông dân nhiều của và một số địa bàn trọng yếu mở ra còn ít, trình độ tác chiến của lực lượng vũ trang phân khu và tỉnh còn hạn chế, chưa đánh tiêu diệt được đơn vị đại đội, tiểu đoàn địch.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:25:49 pm

*

*       *

Trước sự phát triển của cách mạng miền Nam, Mỹ - ngụy tăng cường hoạt động khiêu khích chống phá miền Bắc. Chúng đẩy mạnh việc dồn dân lập vành đai trắng dọc khu phi quân sự, cảnh sát ngụy bắn phá thuyền bè của ngư dân ta, nã đạn vào xóm làng bắc sông Bến Hải, khiêu khích chiến sĩ ta đứng gác ở cầu Hiền Lương. Cuối năm 1963, đầu năm 1964, địch ngang nhiên vi phạm quy chế khu phi quân sự, dùng hàng trăm lượt xe quân sự và tàu thuyền chiến đấu hoạt động sát giới tuyến tạm thời.

Trước tình hình đó, miền Bắc khẩn trương chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng giáng trả mọi âm mưu và hoạt động phá hoại của Mỹ - ngụy.

Để tăng cường phòng thủ bảo vệ địa phương và sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến, những tháng đầu năm 1963, các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa đã mở cuộc vận động "xây dựng lực lượng hậu bị" nhằm củng cố và tăng cường chất lượng đội ngũ dân quân tự vệ và bộ đội địa phương, thực hiện tốt hơn công tác đăng ký nắm chắc và huấn luyện quân dự bị. Cuộc vận động được quần chúng hưởng ứng rộng khắp. Từ thành thị đến nông thôn, từ các  công trường, nông trường, lâm trường, xí nghiệp đến các cơ quan hành chính sự nghiệp, trường học, lực lượng dân quân tự vệ đã chấn chỉnh lại, được quân khu trang bị thêm vũ khí và phương tiện, thực hiện chế độ huấn luyện theo định kỳ. Cấp ủy các địa phương thực sự nắm và lãnh đạo lực lượng vũ trang. Bộ đội địa phương Nghệ An và Hà Tĩnh phát triển lên bốn tiểu đoàn và đưa lên hoạt động ở các huyện xung yếu trọng điểm miền núi: Tương Dương, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Hương Sơn, Hương Khê theo kế hoạch của quân khu.

Lực lượng công an nhân dân vũ trang của Nghệ - Tĩnh vừa làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan đầu não, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ biên cương. Các đồn biên phòng Nậm Cắn, bắc Đèo Ngang, Cửa Lò, Cửa Hội, Cửa Nhượng và các đồn dọc bờ biển, biên giới được củng cố, tăng khả năng phòng thủ bảo vệ chủ quyền biên giới. Các đảo tiền tiêu: Ngư, Mắt được tăng quân số lên đến đại đội, bổ sung vũ khí, khí tài kỹ thuật và xây dựng công sự kiên cố.

Là địa bàn tiếp giáp với địch qua giới tuyến quân sự, Vĩnh Linh giữ một vị trí quan trọng trong cuộc đấu tranh của quân và dân Quân khu 4 nhằm đánh bại các hoạt động phá hoại của kẻ thù. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu cùng Đảng ủy, chính quyền khu vực Vĩnh Linh thống nhất chủ trương chỉ đạo bộ đội, công an vũ trang, dân quân tự vệ và nhân dân tăng cường cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, bình tĩnh không để bị địch khiêu khích, đồng thời hoàn chỉnh các phương án tác chiến, giữ thế chủ động.

Theo kế hoạch của Bộ, đến đầu năm 1964, Quân khu 4 đã căn bản hoàn thành việc xây dựng các công trình phòng thủ trên các hướng trọng yếu ở giới tuyến, đảo, bờ biển, biên giới với hệ thống đường hầm cơ động, giao thông hào, chiến hào, hầm pháo, hầm dự trữ đạn, lương thực, thuốc men, hầm giải phẫu, hầm thương binh sơ cứu... bảo đảm cho từng tiểu đội, trung đội, đại đội bám trụ chiến đấu dài ngày. Hệ thống đài quan sát, trạm ra-đa, mạng thông tin, sở chỉ huy các cấp được xây dựng vững chắc. Đặc biệt uu tiên xây dựng cho đảo Cồn Cỏ và giới tuyến.

Trong năm 1964, ba tuyến phòng thủ cơ bản được củng cố hoàn chỉnh thêm: tuyến phòng thủ giới tuyến, tuyến phòng thủ bờ biển và tuyến phòng thủ biên giới Việt - Lào. Dựa vào địa hình tự nhiên có lợi liên kết với các cụm làng xã chiến đấu, hệ thống các công trình quốc phòng được xây dựng từng bước, bố trí sử dụng các lực lượng tại chỗ là chính, trước hết kết hợp với phân công cho các trung đoàn, sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng của quân khu sẵn sàng cơ động thực hành phản kích, phản công theo phương án tác chiến đã chuẩn bị và đã diễn tập trên các khu vực phòng thủ chủ yếu.

Phán đoán những hướng tiến công chủ yếu của địch nếu chúng đưa quân xâm lược miền Bắc, Quân khu và các địa phương tăng cường khả năng phòng thủ phía nam, tập trung từ khu vực đảo Cồn Cỏ đến khu vực dọc bờ sông Bến Hải lên phía tây quốc lộ số 1, xây dựng Vĩnh Linh thành pháo đài quân sự vững chắc, dựa lưng vào tỉnh Quảng Bình, bảo đảm tiền duyên và chiều sâu của tuyến phòng thủ giới tuyến đều mạnh. Ngoài ra các cửa sông, bãi biển và các khu vực mà địch có thể đổ bộ, quân khu đều xây dựng công trình phòng thủ vững chắc, bố trí các trung đội, đại đội, bổ sung vũ khí trang bị khí tài, tăng cơ số đạn dự trữ cho tuyến đảo từ các đào: Mê, Ngư, Mát, Hòn La đến Cồn Cỏ, bảo đảm cho bộ đội bám trụ chiến đấu dài ngày.

Ở phía tây, phối hợp với quân và dân Lào, quân khu đã tăng cường khả năng phòng thủ ở các địa bàn xung yếu các cửa khẩu, các tuyến đường số 7, số 8, đường 217...

Nhằm nâng cao khả năng tác chiến các lực lượng vũ trang, quân khu chú trọng chất lượng huấn luyện cho cả ba thứ quân, tiến hành diễn tập công tác tham mưu và thực binh theo phương án tác chiến, tăng cường huấn luyện phân đội nhỏ đánh gần, đánh đêm, tập kích, phục kích, rèn luyện hành quân đường dài mang vác nặng.... huấn luyện binh chủng và nghiệp vụ chuyên môn, nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng (chủ yếu giữa bộ binh với pháo binh và xe tăng). Cấp ủy và chính quyền các địa phương chú trọng chất lượng dân quân tự vệ về khả năng tác chiến, chống biệt kích đường biển, đường không, đặc biệt là kỹ thuật ném lựu đạn, bắn súng. Nhiều địa phương tổ chức diễn tập trung đội tập kích, phục kích. Để tăng cường sự lãnh đạo, các cấp ủy đảng địa phương đã cử một ủy viên thường vụ trực tiếp chỉ huy ở các cấp. Cơ quan quân sự được kiện toàn từ tỉnh đến xã. Bộ Tư lệnh quân khu có chỉ lệnh bồi dưỡng cán bộ dân quân tự vệ hàng năm. Mỗi tỉnh có một trường huấn luyện cán bộ hậu bị. Năm 1964, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã huấn luyện 6.523 cán bộ xã đội và cán bộ tự vệ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn.

Hơn 400 nghìn dân quân tự vệ là lực lượng nòng cốt trong sản xuất, bảo vệ trật tự trị an, và cũng là lực lượng chủ yếu tiêu diệt, bắt gọn hầu hết các toán biệt kích do Mỹ ngụy tung ra địa bàn quân khu.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:27:45 pm

Đầu năm 1964, các tỉnh trong quân khu đã hoàn thành đăng ký quân dự bị loại 1 và loại 2, sắp xếp theo biên chế khung các đơn vị binh chủng từ tiểu đoàn đến trung đoàn. Bộ Tư lệnh quân khu đã động viên một trung đoàn để rút kinh nghiệm. Quân dự bị được huấn luyện theo định kỳ hàng năm, do khung trung đoàn 271 và các trường quân sự của tỉnh phụ trách.

Đi đôi với huấn luyện quân sự, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang ba thứ quân được tiến hành nghiêm túc theo đúng dự thảo "Điều lệ công tác chính trị" của Tổng cục Chính trị ban hành. Nổi bật là công tác chính trị ở đại đội, giáo dục chính trị nghiêm túc; văn hóa, văn nghệ sôi nổi, tuyên truyền cổ động liên tục, kịp thời.

Mặc dù đời sống còn nhiều thiếu thốn, luyện tập, lao động và chiến đấu gian khổ, nặng nhọc, nhưng cán bộ, đảng viên, chiến sĩ đoàn kết gắn bó, yêu thương nhau, hăng say học tập và công tác. Phong trào thi đua quyết thắng trong lực lượng vũ trang diễn ra sôi nổi, rộng khắp. Nhiều đơn vị và cá nhân được tặng danh hiệu "Đơn vị tiên tiến", "Đơn vị quyết thắng”, "Chiến sĩ thi đua", "Chiến sĩ quyết thắng". Dân quân xã Mai Thủy (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình) được Hội đồng Chính phủ tuyên dương "Đơn vị tiên tiến"...

Được sự giúp đỡ tận tình của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Nghi Ân (Nghi Lộc - Nghệ An), đoàn 22 đã hoàn thành được kế hoạch hàng năm nhiệm vụ tuyển chọn, huấn luyện, nuôi dưỡng và giao quân cho các chiến trường miền Nam theo chỉ tiêu của Bộ và của quân khu giao. Các đơn vị thuộc sư đoàn 325B, lữ đoàn 324B, trung đoàn 120 và hàng chục đại đội, tiểu đoàn, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ được huấn luyện, bồi dưỡng thể lực trên đất Quân khu 4 để đi vào Nam chiến đấu.

Do yêu cầu các chiến trường càng tăng, từ 1963, tuyến vận tải chiến lược 559 phát triển mạnh từ vận chuyển thô sơ lên vận tải cơ giới qua tây Trường Sơn xuống Hạ Lào. Đường bay Đồng Hới - Thà Khống (Sê Pôn) được sử dụng để vận chuyển tiếp tế cho chiến trường Lào. Cảng sông Gianh trở thành một đầu mối của tuyến vận tải biển 759 đưa vũ khí vào miền Nam. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang quân khu được bổ sung cho Đoàn 559.

Những tháng đầu năm 1964, bị thua đau ở miền Nam, đế quốc Mỹ đẩy mạnh các hoạt động phá hoại miền Bắc. Tháng 4 năm 1964, Mỹ và quân ngụy Lào tăng cường lực lượng tiến công lấn chiếm vùng giải phóng Lào, tạo ra hướng uy hiếp phía tây quân khu, buộc ta phải chú ý đối phó. Không quân địch xâm phạm vùng trời Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An.

Ngày 12 tháng 6 năm 1964, địch cho các toán biệt kích người nhái đánh phá cầu Hang (Thanh Hóa). Ngày 30 tháng 6, biệt kích địch tập kích nhà máy nước Bàu Tró (Quảng Bình). Tiếp đó, ngày 19 tháng 7, máy bay địch thả biệt kích xuống vùng Quỳ Châu (Nghệ An). Nhằm thực hiện kế hoạch thâm nhập phá hoại miền Bắc (kế hoạch 34A), tàu khu trục thuộc hạm đội 7 Mỹ tăng cường tuần tiễu trong vùng Vịnh Bắc Bộ.

Trước tình hình hoạt động thâm nhập, phá hoại miền Bắc của địch ngày càng tăng, được sự ủy nhiệm của Chính phủ, ngày 9 tháng 1 năm 1964, Bộ Tổng Tham mưu triệu tập hội nghị phòng không nhân dân toàn miền Bắc lần thứ nhất. Ngày 27 tháng 3 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt tại thủ đô Hà Nội. Tại Hội nghị, Người đã đọc bản báo cáo chính trị quan trọng khẳng định ý chí của quân và dân cả nước quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Người kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân miền Bắc "mỗi người làm việc bằng hai, để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt".

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Quân khu 4 phát động cao trào hành động cách mạng, chuẩn bị cho cuộc đọ sức với không quân Mỹ. Đến cuối tháng 5 năm 1964, các địa phương trong quân khu đã xây dựng 646 đài quan sát báo động máy bay, 4.043 đội bắn máy bay, 2.000 trận địa phòng không, 386 đội tuần tra canh gác bờ biển. Những lực lượng này được bố trí có trọng điểm trên toàn bộ địa bàn quân khu như: tuyến đảo tiền tiêu từ đảo Mê đến Cồn Cỏ, trên các mỏm nhô ra ở các cửa sông, các đồi cao, các vùng xung yếu ở ven biển, các yếu địa ở vùng rừng núi phía tây; trên các nhà cao tầng ở thành phố Vinh, các thị xã Thanh Hóa, Hà Tĩnh, thị trấn Hồ Xá, các đầu mối giao thông đường bộ (đường số 1, đường số 15), đường sắt, đường thủy, các nhà ga chính, bến bãi, chân hàng... Hơn 24 triệu hầm, hố phòng không được đào sẵn hai bên đường, cạnh bến xe, bến đò, bến phà, nhà ga, trường học, bệnh viện, các chợ và các nơi công cộng đông người. Dân quân tự vệ và nhân dân một số địa phương diễn tập báo động chiến đấu, cứu thương, cứu sập, cứu hỏa, vây bắt giặc lái, biệt kích. Các đơn vị phòng không của Bộ, của quân khu và của các địa phương được bố trí ở những trọng điểm, theo phương án tác chiến của Bộ Tư lệnh Quân khu 4.

Những ngày cuối tháng 7, đầu tháng 8 năm 1964, địch tăng cường các hoạt động khiêu khích, phá hoại miền Bắc, đặc biệt trên địa bàn Khu 4.

Đêm 30 rạng ngày 31 tháng 7, tàu hải quân ngụy có tàu chiến Mỹ yểm hộ, bắn phá đảo Mê (Thanh Hóa), đảo Ngư (Nghệ An). Liên tiếp trong hai ngày 1 và 2 tháng 8, Mỹ cho máy bay đánh phá đồn biên phòng Nậm Cắn và bản Noọng Dẻ (tây Nghệ An). Đồng thời, tàu Ma-dốc và tàu Tơn-nơ-goa Mỹ tiến sâu vào vùng biển miền Bắc, cách bờ sáu hải lý. Đêm mùng 3 tháng 8, tàu hải quân ngụy lại bắn phá cửa sông Ròn (Quảng Bình) và khu vực đèo Ngang.

Để tiến hành leo thang đánh phá miền Bắc, Mỹ đã dựng lên cái gọi là "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, lấy cớ tàu hải quân Mỹ bị Hải quân nhân dân Việt Nam tiến công, Giôn-xơn, lệnh cho không quân Mỹ tiến hành các phi vụ trả đũa. Trưa ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ đã sử dụng 64 lần chiếc máy bay chiến đấu A1, A4, F4 và F8U từ hướng đông lao tới đánh phá dữ dội cảng cửa Hội, Vinh - Bến Thủy, kho dầu Vinh (Nghệ An), cảng Gianh (Quảng Bình), Lạch Trường (Thanh Hóa) và thị xã Hòn Gai, Bãi Cháy (Quảng Ninh). Cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân và hải quân Mỹ bắt đầu.

Tại sở chỉ huy quân khu, đồng chí Nam Long lệnh cho tất cả các lực lượng cao xạ phòng không nêu cao quyết tâm, bám sát mục tiêu, nổ súng chính xác, đánh trúng máy bay, trừng trị đích đáng quân thù.

Ở khu vực Cửa Hội, Vinh - Bến Thủy, lưới lửa phòng không trên các tàu hải quân, trung đoàn pháo cao xạ 280, các đơn vị phòng không quân khu và hỏa lực dân quân, tự vệ đánh trả mãnh liệt, bắn cháy một máy bay địch. Tự vệ nhà máy điện, nhà máy xay Vinh, lợi dụng tầng cao tòa nhà đặt súng máy, súng trường đánh địch. Dân quân xã Vinh Tân đặt súng trên bờ đập bắn máy bay Mỹ. Khắp nơi trong thành phố và vùng phụ cận, ai có súng trong tay đều nhanh chóng chiếm lĩnh địa hình có lợi đánh địch. Anh chị em dân quân, tự vệ gần các trận địa cao xạ, trực tiếp giúp pháo thủ tiếp đạn, củng cố công sự, tải thương. Công an, tự vệ bình tĩnh làm nhiệm vụ trật tự trị an trên đường phố, bảo vệ nhà cửa, tài sản của nhân dân. Một tổ tự vệ chiến đấu cảng Bến Thủy gồm có Phan Quang Ngô, Nguyễn Quang Chung và Nguyễn Quang Thông chiến đấu rất dũng cảm. Đồng chí Chung bị thương nặng ở hông vẫn không rời vị trí, bám sát trận địa chiến đấu đến cùng. Khẩu đội trưởng Phan Đăng Cát (trung đoàn 280) chuẩn bị về nghỉ phép, nghe lệnh báo động, không một chút chần chừ, đã chạy ngay ra công sự chỉ huy khẩu đội chiến đấu. Hai lần bị thương nặng, Phan Đăng Cát vẫn không rời trận địa, lần thứ ba bị thương nặng, anh mới chịu trao cờ chỉ huy và trút hơi thở cuối cùng trên tay đồng đội.

Ở khu vực cảng sông Gianh, một tốp tám máy bay địch từ hướng núi phía tây lao tới đánh vào cảng. Hải quân, bộ đội phòng không, dân quân các xã Quảng Thọ, Quảng Phúc, Thanh Trạch, Thuận Trạch... và tự vệ ngư trường sông Gianh, phối hợp chặt chẽ đánh trả quyết liệt. Đồng chí Trương Vừa Thích một dân quân với một khẩu trung liên đã cùng con trai 11 tuổi Trương Ngọc Bích chiến đấu vô cùng dũng cảm. Con tiếp đạn, cha nổ súng. Tại khu vực này, một máy bay Mỹ bị bắn cháy rơi xuống biển, một chiếc khác bị thương.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2024, 09:28:22 pm

13 giờ 53 phút, máy bay Mỹ từ ngoài biển lao vào đánh phá Hòn Nẹ, cảng Lạch Trường (Thanh Hóa). Hỏa lực cao xạ trên tàu hải quân; súng máy, súng trường của công an vũ trang đặt ở mỏm cao dãy núi Trường đồng loạt nổ súng đánh địch. Dưới làn bom đạn quân thù, nữ dân quân Tạ Thị Đạo xung phong ra biển cấp cứu người bị thương và là người đầu tiên hiến máu cứu thương binh trong trận đầu đọ sức với kẻ thù. Nhân dân xã Hòa Lộc (huyện Hậu Lộc) tiếp tế cơm nước, phục vụ lực lượng vũ trang đánh máy bay địch, kịp thời chuyển thương binh về trạm cấp cứu.

16 giờ 20 phút, 11 máy bay Mỹ lại đánh cảng sông Gianh lần thứ hai. Chúng đã bị lưới lửa phòng không trừng trị kịp thời. Hai máy bay địch bị bắn rơi.

Kết thúc trận chiến đấu đánh trả máy bay Mỹ ngày 5 tháng 8, hỏa lực phòng không trên địa bàn Quân khu 4 đã bắn rơi sáu chiếc, bắn bị thương ba chiếc khác. Sau trận đánh các đơn vị, các địa phương khẩn trương khắc phục hậu quả, tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu và công tác sơ tán, phòng tránh; gấp rút chuẩn bị nhằm đối phó có hiệu quả các đợt đánh phá tiếp theo của không quân, hải quân Mỹ. Một số đơn vị phòng không quân khu được điều vào phục kích ở miền tây các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, tham gia bảo vệ tuyến vận tải chiến lược 559.

Với chiến công đầu ngày 5 tháng 8, quân và dân ta đã chứng minh một sự thật "không lực Hoa Kỳ" chẳng có gì đáng sợ, khẳng định sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam sẽ đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Giữa tháng 10 năm 1964, tin về người công nhân Sài Gòn - Nguyễn Văn Trỗi bị Mỹ - ngụy giết hại đã gây xúc động mạnh trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Quân khu 4. Khắp nơi dấy lên phong trào thi đua sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, trả thù cho anh Trỗi.

Trưa ngày 18 tháng 11 năm 1964, máy bay Mỹ vào vùng trời tây Quảng Bình. Các chiến sĩ đại đội 3, tiểu đoàn 14 pháo cao xạ 37 thuộc sư đoàn 325 làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến vận tải chiến lược 559 ở khu vực Cha Lo lập tức bám sát mục tiêu. Khi một tốp ba máy bay lao xuống, đại đội trưởng Lê Hữu Mai hô lớn: "Nhằm chiếc đi đầu bắn!". Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân hô tiếp: "Máy bay giặc Mỹ không có gí đáng sợ. Nhằm thẳng quân thù bắn! Trả thù cho đồng đội đã hy sinh".

 Trong khói đạn mịt mù, Nguyễn Viết Xuân chạy xuống từng khẩu đội, động viên chiến sĩ giữ vững tinh thần. Vừa quay về hầm chỉ huy, anh bị ngay một mảnh rốc-két làm nát đùi phải. Cắn răng chịu đựng không một tiếng kêu rên, dựa vào thành công sự, anh cùng đại đội trưởng tiếp tục chỉ huy trận đánh. Để khỏi vướng, anh động viên đồng chí y tá cắt bỏ đoạn chân anh còn dính lại. Vết thương quá nặng, Nguyễn Viết Xuân đã anh dũng hy sinh.

Sau bốn giờ đánh trả quyết liệt với 22 chiếc máy bay Mỹ, đại đội 3 cùng tiểu đoàn 14 đã bắn rơi tại chỗ ba chiếc, bảo vệ được hành lang vận tải.

Nguyễn Viết Xuân với lời hô bất tử "Nhằm thẳng quân thù bắn!", đã nhanh chóng trở thành khẩu lệnh chiến đấu của quân và dân ta trong suốt cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Bốn năm (1961-1964), là thời kỳ đấu tranh sôi động của quân và dân Khu 4 trên cả ba chiến trường. Quân và dân Trị - Thiên - Huế đã tự lực tự cường, kiên trì bền bỉ, chuyển từ thế yếu lên thế mạnh, từ bị động lên thế chủ động, tiến công địch bằng "hai chân, ba mũi", giữ vững và mở rộng căn cứ địa miền núi, tiến công về đồng bằng, uy hiếp đô thị, mở ra nguy cơ phá sản quốc sách ấp chiến lược và chiến tranh đặc biệt của Mỹ - ngụy. Quân và dân Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, đánh thắng trận đầu không quân Mỹ, hết lòng chi viện tiền tuyến và làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Những thắng lợi của quân khu trong thời gian từ 1961 - 1964 và bước phát triển của chiến trường Trị - Thiên đã tạo ra thế và lực mới góp phần cùng quân và dân cả nước giành thắng lợi trong cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù trên cả tiền tuyến và hậu phương quân khu trong giai đoạn tiếp theo.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2024, 08:17:50 pm

CHƯƠNG III
CÙNG CẢ NƯỚC ĐÁNH BẠI TỪNG BƯỚC CHIẾN TRANH CỤC BỘ,
TlỀN TUYẾN - HẬU PHƯƠNG KHU 4 TRỞ THÀNH ĐỊA BÀN ĐỌ SỨC QUYẾT LIỆT GIỮA TA VÀ ĐỊCH
(1965 - 10-1967)



I. CÙNG CẢ NƯỚC BƯỚC VÀO CUỘC CHIẾN ĐẤU MỚI

Trước tình hình ngụy quân, ngụy quyền không đủ sức đương đầu với thế tiến công của cách mạng miền Nam trên khắp cả ba vùng chiến lược, ngày 1 tháng 4 năm 1965, tổng thống Mỹ Giôn-xơn quyết định đưa vào miền Nam 18.000 đến 20.000 quân Mỹ và tăng cường chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân.

Ngày 17 tháng 7 năm 1965, Giôn-xơn quyết định triển khai 44 tiểu đoàn chiến đấu Mỹ ở chiến trường miền Nam, thông qua kế hoạch "tìm và diệt" của Oét-mo-len, tư lệnh quân Mỹ tại Sài Gòn. Với quyết định này, tổng thống Mỹ đưa nước Mỹ chính thức "bước vào cuộc chiến tranh trên bộ ở châu Á".

Hơn 100.000 quân chiến đấu Mỹ, hàng chục vạn tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh ùn ùn đổ vào miền Nam, đưa số quân Mỹ và chư hầu có mặt trên chiến trường lên tới 206.000 tên vào cuối 1965.

Trên chiến trường Trị - Thiên, lực lượng địch có một sư đoàn chủ lực ngụy, 25 đại đội bảo an, hàng trăm trung đội dân vệ, khoảng 2.000 quân Mỹ làm nhiệm vụ xây dựng căn cứ, kho tàng ở Phú Bài và thị xã Quảng Trị, chuẩn bị cho việc triển khai các đơn vị chiến đấu Mỹ.

Với số quân hơn 20 nghìn, từ giữa 1965, địch liên tiếp mở các cuộc càn quét vùng đồng bằng ven biển và những khu vực dọc theo các trục giao thông, hòng "líp" lại vùng giải phóng của ta.

Tháng 8, mùa mưa lũ, địch chuyển hướng càn quét lên vùng giáp ranh. Dựa vào ưu thế về quân số, hỏa lực, sức cơ động và khả năng đảm bảo hậu cần, địch đã chuyển từ "chốt" giữ lẻ sang "chốt" từng vùng cấp tiểu đoàn, hình thành "cụm tác chiến", kết hợp và phát huy tối đa chỗ mạnh của xe bọc thép, máy bay lên thẳng đổ quân, càn quét, đồng thời sử dụng máy bay, pháo binh bắn phá căn cứ và vùng giải phóng của ta. Bom đạn địch đã triệt hạ nhiều làng mạc, ruộng vườn, nhà cửa và giết hại đồng bào ta. Một số nơi, nhân dân buộc phải bỏ vào vùng địch để tránh bom đạn, pháo bầy... Ngày 4 tháng 8 năm 1965, máy bay B52 giội 130 tấn bom, triệt năm thôn: Mai Sơn, Hà Vựng, Thạch Xá, Làng Hạ, Hà Giữa, mở đầu cho hành động dùng B52 đánh phá ở Trị - Thiên. Tiếp đó, Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh quân đoàn 1 ngụy trực tiếp chỉ huy sáu tiểu đoàn thuộc sư đoàn 1 ngụy, năm đại đội biệt động quân và một đại đội Mỹ, càn vào Triệu Thượng, Hải Lệ, Ba Lòng. Chúng cho máy bay rải chất độc hóa học tàn phá rừng, rẫy từ Khe Bắc, Ba Lê, Ba Hy đến A Cho, A Ven thuộc Hướng Hóa. Hai phần ba số dân trong vùng bị ốm, 150 người ra hàng địch. Tỉnh ủy Quảng Trị chủ trương đưa số dân còn lại lên miền tây, nhưng cả nơi mới đến cũng bị địch đánh phá. Ở Cam Lộ, địch bắt nhân dân xây dựng và mở rộng các đồn Tân Sở, Cồn Trung, sân bay Đường Đèo, xây dựng nhiều lô cốt cạnh các cầu tại ki-lô-mét số 6, số 7, số 10 trên trục đường số 9. Đi đôi với càn quét, bắn phá, cướp bóc, chúng ráo riết tiến hành chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng, mua chuộc, tăng cường kìm kẹp, khủng bố nhân dân. Ở Triệu Phong và Hải Lăng bọn biệt chính, hải thuyền, bảo an, tổng vệ, tề điệp lưu vong, khủng bố trắng trợn nhân dân trong vùng. Bọn đầu hàng, đầu thú, phản bội, chỉ điểm cho địch xăm quét hầm bí mật, truy bắt thanh niên, cán bộ, du kích... Chúng dùng đủ kiểu nhục hình tra tấn người bị bắt. Các gia đình cách mạng hoặc có người thân tham gia cách mạng đều bị đấu tố, khủng bố dã man. Chúng đội lốt luồn vào hàng ngũ đấu tranh của học sinh, sinh viên, đồng bào đô thị để phát hiện bắt giam hoặc thủ tiêu những hạt nhân nòng cốt của phong trào, gây hoang mang, nghi ngờ trong quần chúng. Ở Gio Linh, bằng cách này và do ta mất cảnh giác, địch đã bắt cả chi bộ năm đồng chí và hàng chục cốt cán cơ sở. Ở Thừa Thiên, 14 lần địch đánh trúng vào cơ quan ta, gây thiệt hại về người và của...

Vùng giải phóng đồng bằng của ta cơ bản bị địch chiếm lại gần hết. Vùng phía trên đường số 1 và đường sắt bị lấn chiếm một mảng quan trọng. Lực lượng ta bị tiêu hao nặng. Du kích Thừa Thiên từ chỗ 1.400 người, còn lại 806 người. Huyện Hương Trà có 62 du kích chỉ còn lại 25, huyện Phú Lộc từ 50 du kích còn 30 người. Du kích một số nơi ở Phong Điền, Quảng Điền, Triệu Phong, Hải Lăng phải chôn súng, chạy lên rừng. Lực lượng Đại Việt, Việt Nam Quốc dân đảng thừa cơ trỗi dậy truy tróc nhân dân.

Vượt qua hy sinh, gian khổ, quân và dân Trị - Thiên giữ vững lòng tin, bền bỉ chiến đấu. Quần chúng nhiều nơi trong vùng địch tìm cách bắt liên lạc với cán bộ và du kích. Dân quân, du kích và cán bộ vẫn bám trụ chống càn, trừ gian, diệt ác, bảo vệ địa phương. Nhiều nơi, bọn phản động, tề điệp cũ không dám đứng ra lập ngụy quyền cấp xã. Tuy nhiên, trên toàn chiến trường, ta vẫn gặp khó khăn gay gắt. Thương vong ngày càng tăng. Quân số bổ sung không có. Tất cả các đơn vị đều thiếu gạo, thiếu tiền. Những chuyến đi thu mua lương thực thường phải đổi bằng máu. Cán bộ xã đội ở đồng bằng thiếu 75 phần trăm, huyện đội thiếu 50 phần trăm, đại đội thiếu 27 phần trăm. Lo chạy gạo, hoạt động của bộ đội bị phân tán, thiếu tập trung, không bảo đảm tác chiến liên tục.

Trước tình hình đó, phân khu và hai tỉnh tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ xã đội, trung đội, tiểu đội, huyện đội; tổ chức huấn luyện tân binh để đáp ứng nhu cầu bổ sung lực lượng trước mắt và chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo. Phân khu khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang cho thành đội Huế, củng cố chấn chỉnh hệ thống quân báo, điệp báo nhân dân để bám nắm địch. Phân khu đề nghị với Khu 5 cho lập hội đồng cung cấp tiền phương cấp phân khu, cấp tốc triển khai kế hoạch bảo đảm cho Thừa Thiên 500 tấn gạo, Quảng Trị 260 tấn trong sáu tháng cuối năm 1965; đề nghị cho xây dựng xưởng sửa chữa vũ khí, xưởng quân dược. Phân khu coi thu mua lương thực là nhiệm vụ của quân đội, trước mắt cố gắng bảo đảm cho lực lượng tác chiến. Vừa tranh thủ thu mua ở đồng bằng, phân khu vừa giao chỉ tiêu cụ thể cho các đơn vị sản xuất tự túc, bảo đảm lương thực thường xuyên cho bộ đội và có lượng dự trữ trong hai đến ba tháng. Tỉnh Quảng Trị đạt mức "mỗi cán bộ, chiến sĩ phải sản xuất đủ ăn và nuôi một người" để chuẩn bị phát triển lực lượng.

Việc sửa chữa vũ khí có trong tay, làm các loại vũ khí thô sơ như đạp lôi, đạn đạp, làm công cụ cho địa phương sản xuất, làm xẻng, cuốc cho bộ đội và dân quân tác chiến cũng được phân khu chú trọng.

Các cấp ủy triển khai chỉnh huấn trong nội bộ Đảng, xây dựng quyết tâm và biện pháp lãnh đạo chỉ đạo đánh thắng Mỹ - ngụy, khắc phục tư tưởng hữu khuynh và hiện tượng mất đoàn kết. Lực lượng vũ trang học tập tình hình nhiệm vụ cách mạng (theo nội dung Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng). Tám mươi phần trăm quân số được huấn luyện bổ sung về kỹ thuật và chiến thuật cần cho chiến đấu. Phân khu và các tỉnh mở hội nghị chuyên đề về chiến tranh du kích và bồi dưỡng cán bộ theo phân cấp.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2024, 08:21:25 pm

Ngày 10 tháng 10 năm 1965, tại chiến khu Ba Lòng, trung đoàn 6 làm lễ ra mắt. Đây là trung đoàn chủ lực đầu tiên của Trị - Thiên, gồm ba tiểu đoàn 800, 802, 806, các đại đội đặc công trinh sát, công binh, trợ chiến. Tiểu đoàn 800 là đơn vị chủ lực đầu tiên của phân khu gồm phần lớn con em Trị - Thiên tập kết ra Bắc trở về năm 1961. Tháng 8 năm 1963, được bổ sung một đại đội của Quảng Bình. Tiểu đoàn 806 là tiểu đoàn 2 giới tuyến (tiểu đoàn 4 sư đoàn 341) vào Trị - Thiên tháng 2 năm 1965. Tiểu đoàn 802 đã hỗ trợ cho quần chúng tiến hành đồng khởi giải phóng Phú Lộc tháng 2 năm 1965.

Tháng 10 năm 1965, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Phân khu Trị - Thiên: "Nông thôn đồng bằng là hướng tiến công chủ yếu, phải đánh tiêu diệt địch ở đồng bằng, kết hợp giữa đánh địch và phát động quần chúng gây dựng cơ sở, đẩy mạnh chiến tranh du kích và cần đưa chủ lực về hoạt động ở đồng bằng để mở phong trào".

Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, sau đợt hè-thu, quân và dân Trị - Thiên mở đợt hoạt động thu-đông 1965, nhằm tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng làm chủ ở đồng bằng, làm thất bại âm mưu của địch tăng cường chiếm đóng đường số 9, bịt hành lang của ta.

Trên hướng chính, trung đoàn 6 được giao nhiệm vụ đánh chiếm Ba Lòng - Tân Lệ, căn cứ trọng yếu của địch khống chế một vùng rộng lớn, chặn tiếp tế của ta từ đồng bằng lên căn cứ miền núi.

17 giờ ngày 19 tháng 10 năm 1965, trong gió mưa lầy lội, các mũi hành quân chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công. 23 giờ, pháo ta nã đạn vào sở chỉ huy, khu thông tin, trận địa hỏa lực và đại đội cơ động của địch. Từ đồi Sim, đồi Cháy, địch tập trung hỏa lực bắn chặn dữ dội vào "cửa mở". Các chiến sĩ tiểu đoàn 806 băng qua hàng rào dây thép gai xông lên. Sau một giờ chiến đấu, quân ta chiếm được một nửa đồn địch, hai lô cốt, đánh tan đại đội thám báo. Địch từ các hầm ngầm phản kích quyết liệt. Trung đoàn 6 mới tập hợp từ các tiểu đội độc lập lại, chưa có đủ thời gian luyện tập đánh công kiên nên không dứt điểm được trận đánh.

Phía Tân Lệ, do có trở ngại, nên ngày 20 tháng 10, bộ đội ta mới nổ súng tiến công. Ngay từ những phút đầu, dưới sự chỉ huy của tỉnh đội trưởng Quảng Trị, Trần Phố và chính trị viên Nguyễn Văn Lương, quân ta đã diệt nhiều địch, bắt viên tiểu đoàn trưởng ngụy và dùng tên này gọi binh lính thuộc quyền ra hàng. Cùng lúc, đặc công và bộ binh ta đánh chiếm sở chỉ huy và các trận địa pháo. Trong vòng 30 phút tiến công, ta hoàn toàn làm chủ trận địa.

Sau khi đánh chiếm không dứt điểm Ba Lòng, trung đoàn 6 chuyển qua tiến công diệt vị trí A Chùm trên đường số 9, đánh tan một tiểu đoàn địch đến cứu viện. Địch buộc phải co về giữ Khe Sanh - Tà Cơn. Ta giải phóng hoàn toàn vùng Huội San - Lao Bảo.

Thừa thắng, trung đoàn 6 tiến quân về đồng bằng, vừa đánh địch, vừa tham gia phát động quần chúng diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ. Tháng 11 năm 1965, tiểu đoàn 802 trung đoàn 6 tiến công quân địch ở Tây Hoàng, Mỹ Phú (Thừa Thiên) làm tan rã một tiểu đoàn ngụy, diệt 15 xe M113 (đây là trận tiêu diệt nhiều nhất xe bọc thép ngụy so với các trận đánh xe bọc thép trước đó ở Trị - Thiên). Phối hợp với du kích và bộ đội địa phương huyện Long Điền, tiểu đoàn 806 đánh tan một tiểu đoàn ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên.

Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích đẩy mạnh hoạt động nhỏ lẻ, tiêu hao tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch. Xung quanh căn cứ quân sự Phú Bài, vành đai diệt Mỹ được tổ chức bao gồm các xã Thủy Phương, Thủy Châu, Thủy Phú, Thủy Tân.

Kết thúc đạt hoạt động thu-đông, Trị - Thiên đã tiêu hao tiêu diệt được một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, mở được một đoạn hành lang. Tuy nhiên, quy mô tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích còn nhiều hạn chế, chưa hỗ trợ được cho phong trào đấu tranh của nhân dân đồng bằng phát triển.


Trong khi Trị - Thiên vẫn gặp nhiều khó khăn, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh ngày càng phải đương đầu với bom đạn đánh phá ác liệt của không quân và hải quân Mỹ.

Tiếp theo những hoạt động phá hoại nhằm vào phần đất Khu 4 trong năm 1964, hai giờ sáng ngày 1 tháng 2 năm 1965 (30 Tết Ất Tỵ) lợi dụng tối trời, tàu biệt kích quân đội Sài Gòn xâm nhập vùng biển Vĩnh Linh, bắn phá xã Vĩnh Thái. Ngay từ những phút đầu tiên, đại đội 2 tiểu đoàn 13 pháo binh giới tuyến đã bắn chìm tại chỗ một chiếc.

13 giờ 50 phút ngày 7 tháng 2 năm 1965, Giôn-xơn ra lệnh cho không quân Mỹ mở chiến dịch "Mũi lao lửa". Địch cho 48 máy bay A4D, F8 từ các tàu sân bay Cô-ran-xi, Răn-giơ, Hen-cốc đậu ngoài khơi Đà Nẵng cùng với một phi đoàn máy bay AD6 của ngụy ném bom, bắn phá thị trấn Hồ Xá, thị xã Đồng Hới.

Ngày 8 tháng 2 và ngày 11 tháng 2, Mỹ lại tiếp tục cho máy bay ném bom, bắn phá khu vực doanh trại bỏ trống của sư đoàn 325 ở Chánh Hòa, Thuận Lý, doanh trại sư đoàn 341 ở Chấp Lễ. Bom đạn Mỹ đánh bừa bãi vào cả các khu vực dân cư ở Thuận Lý, Lộc Ninh, thị trấn Hồ Xá. Cùng ngày 11 tháng 2, máy bay Mỹ xâm phạm vùng trời Nghệ An.

Nhờ chuẩn bị tốt và sẵn sàng chiến đấu cao, ngay từ đầu, hỏa lực phòng không ba thứ quân kịp thời nổ súng, đánh trả quyết liệt.

Qua ba ngày chiến đấu; quân và dân Quảng Bình, Vĩnh Linh và Nghệ An đã bắn rơi 12 máy bay Mỹ, bắn bị thương 4 chiếc (trong đó có máy bay của tên đại tá Nguyễn Cao Kỳ, tư lệnh không quân ngụy).

Ngày 14 tháng 2 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Quảng Bình, Vĩnh Linh, Nghệ An đã chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ.

Đêm 14 tháng 2 năm 1965, tàu biệt kích địch tiếp tục bắn phá vùng biển Ngư Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Đại đội 2 pháo binh sư đoàn 341 bắn chìm một tàu. Tàu hải quân ta bắn bị thương hai chiếc khác.

Chiến dịch "Mũi lao lửa I” của không quân Mỹ bị đập tan, chúng chuyển sang thực hiện chiến dịch "Mũi lao lửa II", đánh phá tới vĩ tuyến 19. Ngày 2 tháng 3, không quân Mỹ bắt đầu chiến dịch "Sấm rền"; đánh rộng ra toàn miền Bắc với cường độ ngày càng ác liệt. Phần đất Khu 4 trở thành tuyến lửa ngăn chặn thường xuyên và khốc liệt của không quân, hải quân Mỹ.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2024, 08:24:11 pm

Tại cảng Gianh, lúc 14 giờ 47 phút ngày 2 tháng 3, địch cho 164 lần chiếc máy bay chia thành nhiều tốp, từ nhiều hướng khác nhau ồ ạt tiến công căn cứ hải quân, đánh phá ngư trường và các thôn Mỹ Hòa (Quảng Phúc), Bắc Hải (Thanh Trạch).

Các tàu 161, 177, 171, 173, 175, đại đội 24 và đại đội 47 (thuộc lực lượng hải quân), tự vệ ngư trường, dân quân Quảng Phúc, Quảng Thuận, Thanh Trạch tập trung hỏa lực đánh trả quyết liệt. Giữa khói đạn mù mịt, các chiến sĩ dân quân xông vào dập lửa, cứu doanh trại hải quân. Tự vệ ngư trường phía nam sông Gianh bơi qua sông rộng gần 1.000 mét, phối hợp chiến đấu với hải quân. Nhân dân Quảng Phúc đưa thuyền ra áp sát mạn tàu, chuyển thương binh vào bờ cấp cứu. Thầy giáo và học sinh xóm Quán dũng cảm lao vào dập lửa, bảo đảm kho đạn an toàn. Các chiến sĩ dân quân Quảng Thuận, Quảng Phúc, Thanh Trạch kịp thời cơ động đến chi viện cho các tàu hải quân. Khi các chiến sĩ hải quân bị thương vong, anh chị em dân quân đã theo thuyền tiếp đạn của cụ Lê Hiến và của một số ngư dân khác ra tàu thay thế các pháo thủ chiến đấu.

Kết thúc trận đánh, bảy máy bay (gồm A4 và F8) của địch bị bắn rơi. Nhưng phía ta, doanh trại bộ đội và nhà cửa nhân dân xóm Cửa bị bom đạn Mỹ phá nát. Nhân dân thôn Đan Sa, Diên Phúc chuyển ngay 3.000 cây tre đến giúp bà con xóm Cửa dựng lại nhà ở. Cụ Lê Hiến, một giáo dân ở Mỹ Hòa, nói với bà con xóm đạo: "Mỹ muốn ta sợ nó. Ta cóc sợ. Đánh xong Mỹ, ta phá đá nung vôi. Ta sẽ làm lại nhà ngói như hồi đánh thắng Tây"1.

Trên hướng Khe Bang (Lệ Thủy), sau bốn giờ chiến đấu quyết liệt giữa vùng rừng núi rậm, đại đội 6 tiểu đoàn 6 cao xạ 37 ly đã cùng lực lượng tại chỗ bắn rơi và bị thương tám máy bay.

Sau trận đánh ngày 2 tháng 3, Quân khu 4 huy động hàng trăm xe ô-tô của các nông trường và đơn vị cùng hàng nghìn người bốc dỡ, vận chuyển sơ tán 4.700 tấn hàng về các kho dã chiến, chuyển 8.815 tấn vật chất phục vụ yêu cầu chiến đấu trong địa bàn quân khu và trên các tuyến đường số 8, số 9, số 12, Hạ Lào; tiếp nhận 8.250 tấn hàng hóa, phương tiện từ Tổng cục Hậu cần vào; nâng mức dự trữ từ 5.000 tấn lên 20.000 tấn. Nhân dân bảy xã của Hưng Nguyên, Nghi Lộc quanh thành phố Vinh đóng góp sức người, sức của, giúp quân khu sơ tán hệ thống kho trạm, xưởng sửa chữa, bệnh viện ở Vinh về các địa phương. Nhân dân thị xã Đồng Hới, thị trấn Hồ Xá và các khu vực trọng điểm được sơ tán triệt để. Các nhà máy, cơ quan, trường học sơ tán, phán tán về nông thôn, một số chuyển lên vùng núi an toàn.

Để đánh trả máy bay có hiệu quả, bảo vệ được các kha vực trọng yếu, quân khu điều chỉnh lực lượng pháo cao xạ tập trung bảo vệ những mục tiêu chủ yếu, chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển khai mạng lưới bắn máy bay rộng khắp, phán đoán kịp thời, âm mưu thủ đoạn địch, đề ra biện pháp đối phó có hiệu quả. Quân khu 3 tăng cường cho Thanh Hóa 100 cán bộ, giúp các địa phương xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, bảo đảm địch đến là đánh thắng, khắc phục tình trạng "người ngủ, súng ngủ". Đồng thời, quân khu xác định: "Hàm Rồng là một trọng điểm có ý nghĩa chiến lược" tập trung về đây 80 phần trăm số đại đội cao xạ, dành ra một tháng chuẩn bị cho cuộc chiến đấu ở trọng điểm này.

Ngày 15 tbáng 3, tổ dân quân xã Diễn Hùng do Tô Đức Hùng chỉ huy đón đánh bắn rơi một máy bay địch, mở đầu phong trào bắn hạ máy bay Mỹ bằng súng trường trên miền Bắc. Tiếp đó, ngày 21 tháng 3, ba máy bay AD6 của địch bị bắn rơi, khi oanh tạc đồn công an vũ trang Cù Bai và khu vực A Re, động Chặt dọc triền sông Bến Hải. Chính quyền Sài Gòn 22/3 đã phải thú nhận ngày 22 tháng 3. “Thật là một ngày ảm đạm của không lực Việt Nam cộng hòa".

Ngày 22 tháng 3, tiểu đoàn 14 cơ động đến Đèo Ngang, phối hợp với hải quân, bắn rơi ba máy bay.

Bốn ngày sau, bằng cách bố trí trận địa ra-đa giả trên núi Nài, đại đội 8 cao xạ phối hợp với lực lượng phòng không của thị xã Hà Tĩnh và các xã lân cận phục sẵn, bắn rơi bốn máy bay.

Những ngày cuối tháng 3 năm 1965, không quân Mỹ tập trung oanh tạc hệ thống cầu cống lớn trên trục đường sắt và các tuyến đường bộ số 1, số 7, số 8, số 12, số 15, đánh phá các mục tiêu khác như bến đò, bến phà, bến vượt dọc các dòng sông trên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình... Bộ đội phòng không và dân quân tự vệ kiên cường đánh trả bảo vệ mục tiêu, hạ 22 chiếc, đưa tổng số máy bay giặc Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc lên hơn 100 chiếc, trong đó, quân và dân các tỉnh Khu 4 đã hạ 53 chiếc2.

Trước tình hình địch đánh phá ngày càng ác liệt vùng đất Khu 4, hòng ngăn chặn nguồn tiếp tế của hậu phương miền Bắc cho miền Nam, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thường vụ Hội đồng Chính phủ đã dành thời gian làm việc cụ thể với lãnh đạo các tỉnh ở Khu 4. Kế hoạch nhà nước được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với tình hình địch đánh phá và đáp ứng yêu cầu, phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội, cải thiện đời sống nhân dân và động viên lực lượng chi viện cho miền Nam, chiến đấu bảo vệ miền Bắc.

Ba tháng leo thang chiến tranh, tập trung đánh phá ác liệt các tỉnh Khu 4, đế quốc Mỹ vẫn không làm suy giảm được quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta, không ngăn chặn được sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Vì thế, từ tháng 4 năm 1965, địch chuyển sang đánh cắt giao thông, liên tục oanh tạc dữ dội toàn bộ hệ thống cầu, cống, bến phà, các phương tiện vận tải trên trục đường số 1 ở địa bàn Khu 4. Bom đạn Mỹ đã phá sập một số cầu, cống, tàn phá nhiều khu vực dân cư, đập nước, trường học, bệnh viện, gây cho nhân dân ta nhiều tổn hại nặng nề về sinh mạng và tài sản. Ngoài khơi vùng biển Khu 4, địch sử dụng chất độc hóa học hủy diệt đào Cồn Cỏ.

Không nao núng quyết tâm, lực lượng phòng không trên địa bàn Quân khu 4 ngày đêm có mặt ở các trận địa, kiên quyết chiến đấu bảo vệ mục tiêu.
_____________________________________________
1. Cụ Lê Hiến được tuyên dương Anh hùng ngành công an nhân dân.
2. Ngày 1 tháng 4 năm 1965; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng cờ luân lưu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" cho quân và dân Quân khu 4, quân và dân Quân khu 3.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2024, 08:28:18 pm

Ngày 9 tháng 4, quân và dân Nghệ An đánh trả mãnh liệt, bắn rơi 12 máy bay khi chúng tiến công cầu Cấm, đò Đao, khe Kiền, cầu Hoàng Mai... Trong ba ngày 17, 19 và 20 tháng 4, lực lượng phòng không Vĩnh Linh, Quảng Bình, Nghệ An và đảo Cồn Cỏ đã hạ 24 chiếc. Đêm 20 tháng 4, tự vệ công trường Cẩm Ly (Quảng Bình) dùng súng bộ binh bắn rơi tại chỗ một chiếc AD61. Tuần lễ từ ngày 19 đến 25 tháng 4, trên 40 máy bay các loại, đã bị bắn rơi trên vùng trời Quân khu 4.

Cuộc chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng diễn ra quyết liệt trong hai ngày 3 và 4 tháng 4. Địch sử dụng hàng trăm lần chiếc máy bay thay đổi các thủ đoạn chiến thuật hòng đánh sập chiếc cầu lớn vắt qua sông Mã, cắt đứt tuyến vận tải chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Máy bay địch đã bắn hàng trăm quả rốc-két, thả hàng trăm quả bom xuống khu vực cầu. Lực lượng cao xạ trung đoàn 213, 234, tàu hải quân, cùng tự vệ lò cao nhà máy điện, đội cầu 19-5 và dân quân các xã Hoàng Long, Hoàng Anh, Hoàng Quang, Hoàng Lý, Nam Ngạn, Đông Tác, Quảng Trung, Quảng Chính, Hải Châu, Hải Ninh, Hải An, Tân Dân, Triều Dương... đón đánh địch quyết liệt. Tổ trung liên của bộ đội địa phương bố trí trận địa đánh máy bay trên mỏm núi Ngọc sát mố cầu phía bắc, đại đội 1 cao xạ đưa pháo vào núi Rồng, tạo tầm bắn, góc bắn có hiệu quả. Đại đội 4 trung đoàn 234 đang vượt phà Ghép tiến về khu vực cầu Hàm Rồng thì máy bay Mỹ lao ập tới. Không chần chừ, dù pháo chưa tháo khỏi xe kéo, các pháo thủ lập tức đánh trả máy bay địch. Phối hợp với lực lượng phòng không bảo vệ cầu, Không quân nhân dân Việt Nam kịp thời xuất kích đánh địch trên bầu trời Thanh Hóa. Khắp các ngõ xóm khu vực Hàm Rồng — Nam Ngạn các tốp dân quân tỏa đi tiếp đạn, tải thương. Nhiều anh chị em chèo thuyền đưa đạn, chở pháo thủ dự bị đến các trận địa. Các mẹ, các chị trong xóm thôn, nhân viên cơ quan mậu dịch quốc doanh tổ chức nấu cơm nước đưa ra trận địa cho bộ đội và dân quân. Thiếu niên tiếp lá ngụy trang. Sư bà Đàm Xuân dành nơi trụ trì làm chỗ cấp cứu, điều trị thương binh.

Qua hai ngày chiến đấu, lực lượng phòng không cùng nhân dân Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã bắn rơi trên 50 máy bay. Tại trận địa Hàm Rồng, Không quân nhân dân Việt Nam xuất trận lần đầu đã hạ bốn máy bay địch.

Cầu Hàm Rồng vẫn đứng vững trong bom đạn quân thù.

Sau ngày 4 tháng 4, không quân địch ngừng đánh phá khu vực Hàm Rồng một tháng.

Ở các đào thuộc vùng biển Khu 4, cuộc chiến đấu chống không quân, hải quân địch ngày càng trở nên quyết liệt. Địch liên tục đánh phá dữ dội các đảo: Nẹ, Mê, Ngư, Mắt, Cồn Cỏ; vây bắt ngư dân, chặn luồng tiếp tế từ đất liền ra đảo. Tại Cồn Cỏ, trong tháng 3 năm 1965, hầu như không một ngày ngớt tiếng gầm rú của máy bay và bom đạn địch. Cuộc sống và chiến đấu của bộ đội ta trên đảo thiếu thốn, khó khăn và thường xuyên căng thẳng. Bệnh tật phát sinh. Liên lạc thông tin giữa đảo và hậu phương có lúc gián đoạn mấy ngày liền. Trong những ngày gian nan ấy, cán bộ, chiến sĩ trên đảo thề với nhau: "Thà hy sinh, quyết không để đảo lọt vào tay quân thù". Chi bộ Đảng trên đảo chủ trương: "Công sự hóa toàn đảo, toàn năng hóa mọi người". Mỗi cán bộ, chiến sĩ luyện tập sử dụng thành thạo các loại vũ khí có trong tay. Toàn bộ cuộc sống được chuyển xuống dưới mặt đất. Nơi ăn, ở, ngủ, nghỉ, phòng mổ cấp cứu, điều trị thương binh, nơi vệ sinh tắm giặt, đều có hầm che chở.

Khắc phục khó khăn do địch phong tỏa, bao vây, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ tổ chức tăng gia quanh trận địa; trồng rau, bắt cua, câu cá cải thiện bữa ăn.

Ở đất liền, quân và dân Vĩnh Linh, quân và dân Kha 4 ngày đêm hướng về đảo Cồn Cỏ. Vĩnh Linh đã lập nhiều đội cảm tử vượt biển tiếp tế cho Cồn Cỏ trong những ngày địch bắn phá đảo dữ dội. Quân khu cử văn nghệ xung kích ra biểu diễn phục vụ... Tổng cục Chính trị cử một số nhà văn, nhà làm phim và họa sĩ ra đảo. Từ mọi miền, hàng vạn bức thư gửi tới cán bộ, chiến sĩ Cồn Cỏ.

Đứng vững giữa muôn trùng thử thách, Cồn Cỏ trở thành niềm tự hào của nhân dân Vĩnh Linh và của cả nước.

Ngày 12 tháng 4 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen cán bộ chiến sĩ đảo Cồn Cỏ đã chiến đấu liên tục và dũng cảm, đã bắn rơi nhiều máy bay và đánh đuổi tàu biệt kích Mỹ.

Từ thực tiễn thời kỳ đầu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên địa bàn quân khu, trong hai ngày 7 và 8 tháng 5 năm 1965, Hội nghị Quân khu ủy (mở rộng)2 được tiến hành nhằm phân tích, đánh giá âm mưu, thủ đoạn kẻ thù và đề ra nhiệm vụ cho quân và dân trong quân khu. Để đánh thắng chiến tranh phá hoại của địch, Nghị quyết hội nghị khẳng định: "quyết tâm lấy chiến tranh nhân dân đánh bại chiến tranh phá hoại, bất luận cuộc chiến tranh đó quyết liệt đến mức nào. Quyết tâm lấy chiến tranh nhân dân đánh bại "chiến tranh cục bộ". Sẵn sàng nhận và làm tốt nhiệm vụ chi viện và đi chiến đấu ở miền Nam. Tích cực, liên tục làm nhiệm vụ ở Lào. Làm tốt nhiệm vụ bảo vệ sản xuất, bảo vệ an ninh, đập tan mọi hoạt động tập kích, biệt kích, thổ phỉ, làm tốt công tác phòng không nhân dân. Chuyển hướng mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt của nhà nước, của nhân dân thích hợp với thời chiến, vừa phục vụ quốc phòng, vừa phục vụ dân sinh làm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục phát triển ngay trong chiến đấu; càng chiến đấu, các mặt kinh tế, chính trị, quân sự càng phát triển, càng lớn mạnh"... "Trước mắt, tập trung chống chiến tranh phá hoại với mức độ cao nhất. Khẩn trương chuẩn bị sẵn sàng đối phó thắng lợi với "chiến tranh cục bộ" với bất cứ hình thức và mức độ nào".

Hội nghị Quân khu ủy 4 lần này đánh dấu một mốc quan trọng, đặt nền tảng cho cơ chế và nền nếp hoạt động lãnh đạo chiến tranh và xây dựng hậu phương trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

Trong điều kiện cơ cấu tổ chức Đảng ủy quân khu không có các đồng chí lãnh đạo các địa phương trên địa bàn quân khu thì việc hình thành cơ chế lãnh đạo như hội nghị Quân khu ủy lần này đã tạo sự đoàn kết, nhất trí, thống nhất chủ trương lãnh đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp trên địa bàn.

Tiếp theo hội nghị Quân khu ủy, trong hai ngày 31 tháng 5 và 1 tháng 6 năm 1965, Hội đồng quốc phòng Quân khu 4 họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch hội đồng - Thiếu tướng Lê Hiến Mai, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy quân khu3. Quán triệt quyết định ngày 7 tháng 5 năm 1965 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thường vụ Hội đồng Chính phủ về một số vấn đề trong công tác giao thông vận tải ở các tỉnh Khu 4, hội nghị quyết định một số chủ trương cụ thể, nhằm: "... làm cho mọi người hiểu rõ bảo đảm giao thông vận tải là nhiệm vụ cách mạng của mình, bằng bất cứ giá nào cũng phải bảo đảm cho được tuyến đường số 1, đường số 15, các đoạn đường số 8, đường số 12 thông suốt". Hội nghị đã quyết định những biện pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt các vấn đề phối hợp hiệp đồng, tổ chức lãnh đạo chỉ huy, kết hợp giữa đánh địch với bảo vệ giao thông vận tải (tổ chức làm đuờng động viên lực lượng và phương tiện phục vụ giao thông vận tải, bảo đảm bí mật an toàn...
______________________________________________
1. Đây là chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi ban đêm đầu tiến bằng súng bộ binh.
2. Dự hội nghị, ngoài các đồng chí đảng ủy viên quân khu, còn có các đồng chí bí thư tỉnh ủy các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và bí thư đảng ủy khu vực Vĩnh Linh.
3. Hội đồng gồm các đồng chí: Lê Hiến Mai, Nam Long, Nguyễn Xuân Linh. Các đồng chí Võ Thúc Đồng, Hồ Sĩ Thản, Đồng Sĩ Nguyên..., đi công tác vắng. Hội đồng mời một số đồng chí tỉnh ủy viên các tỉnh, các trưởng ty giao thông vận tải dự để về báo cáo lại với cấp ủy và chính quyền triển khai thực hiện. Bộ Tổng Tham mưu cử đồng chí Phạm Hoàng, Cục trưởng Công binh dự.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2024, 08:30:05 pm

Từ tháng 6 năm 1965, cùng với việc mở rộng phạm vi đánh phá ra nhiều tỉnh của miền Bắc nước ta, không quân và hải quân Mỹ tập trung bắn phá ác liệt hệ thống đường sắt đường bộ, đường thủy; hệ thống cầu cống, bến phà, bến vượt; các phương tiện vận tải, các đầu mối giao thông và những khu vực tập kết hàng hóa trên dịạ bàn Khu 4. Ở Thanh Hóa, chúng tập trung đánh Hàm Rồng, Ghép, Kiểu, Khoa Trường, Hang, Hố. Ở Nghệ An, chúng tập trung vào các cầu Hoàng Mai, Bùng, Cấm, khu vực Vinh - Bến Thủy. Ở Hà Tĩnh, địch đánh quyết liệt hệ thống giao thông của ba huyện phía nam: Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Hương Khê. Một loạt trọng điểm ở Quảng Bình, Roòn, Tú Loan, Xuân Kiều, Gianh, Khe Nước, Quán Hàu (trên tuyến đường số 1), Mụ Giạ, Bãi Dinh (đường 12), Ca Tang, Khe Ve, Xuân Sơn, Long Đại (đường 15) và các khu vực tập kết, kho tàng ở Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh đều bị máy bay, tàu chiến địch oanh kích dữ dội và liên tục. Trên mỗi mục tiêu chúng đánh liên tục từ 5 đến 10 ngày để dứt điểm. Đêm đêm, bầu trời Khu 4 ở các trọng điểm giao thông cháy rực pháo sáng và không ngớt tiếng máy bay. Trên nhiều quãng đường, bom bi địch rải dày, tạo thành từng dải dài từ 6 đến 10 ki-lô-mét. Hàng ngày, trung bình 100 đến 250 lần chiếc máy bay Mỹ hoạt động.

Trong đạn bom đánh phá khốc liệt của quân thù, các hoạt động của quân và dân Khu 4 càng trở nên khẩn trương. Các địa phương và các đơn vị tập trung sức khắc phục khó khăn, triển khai toàn diện công tác bảo đảm giao thông, chi viện tiền tuyến. Thường vụ tỉnh ủy các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh xác định bảo đảm giao thông vận tải là nhiệm vụ trung tâm đột xuất số một của Đảng bộ và nhân dân địa phương. Nhiều cán bộ lãnh đạo của Bộ Giao thông vận tải và của quân khu được điều về giúp các tỉnh, các địa phương triển khai thực hiện công tác đảm bảo giao thông vận tải. Lực lượng đánh máy bay tầm thấp của dân quân tự vệ được củng cố về tổ chức và tăng cường quân số. Vũ khí bắn máy bay trong dân quân tự vệ có 48.227 súng trường, 250 đại liên, 1.027 trung liên. Bên cạnh bộ phận "tay cày, tay súng", "tay búa, tay súng" và trực chiến không thường xuyên, các địa phương tự tổ chức 584 đội dân quân, tự vệ trực chiến thường xuyên. Cấp ủy đảng các địa phương, các cơ quan lựa chọn những cán bộ có kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy tăng cường cho lực lượng chiến đấu, đồng thời quan tâm giáo dục chính trị tư tưởng cho dân quân, tự vệ. Các hợp tác xã có chính sách đãi ngộ cho lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu như chấm công điểm lao động, khi bị thương, hoặc hy sinh được chăm sóc theo chính sách đối với thương binh, liệt sĩ, trợ cấp cho các gia đình khó khăn.

Ngoài lực lượng dân quân tự vệ đánh máy bay địch tầm thấp được bố trí rộng khắp, còn có 12 trung đoàn, 16 tiểu đoàn cao xạ và 300 khẩu 12,7 ly được tổ chức thành các đại đội độc lập, là lực lượng nòng cốt "chốt" giữ bảo vệ một số mục tiêu quan trọng1 hoặc cơ động phục kích đánh địch trên các tuyến giao thông.

Để đảm bảo giao thông vận tải trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, quân khu chủ trương tập trung lực lượng bảo vệ các mục tiêu trọng yếu kết hợp cơ động, phục kích, kiên quyết thực hiện phương châm "tìm địch mà đánh, bám địch mà đánh, gặp địch đâu đều đánh, đánh liên tục 24 trên 24 giờ". Quân khu chú trọng huấn luyện cho bộ đội và dân quân, tự vệ kỹ thuật bắn máy bay trong các điều kiện địa hình, thời tiết...

Đến tháng 9 năm 1965, các đơn vị bộ đội và cơ sở dân quân, tự vệ đều được học tập và rèn luyện kỹ thuật bắn máy bay. Hà Tĩnh tổ chức cho cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh cùng học. Các trận địa có sổ tay nhận dạng và tính năng các loại máy bay địch; loại nào địch thường sử dụng được làm thành hình mẫu cho bộ đội và dân quân tự vệ luyện tập. Đồng thời, các tỉnh trong quân khu tổ chức rút kinh nghiệm đánh trả các hoạt động của máy bay, tàu chiến địch. Từ chiến công nổi bật của dân quân Hà Trung, Thiệu Hóa, Quảng Xương, Nam Ngạn, tỉnh Thanh Hóa mở hội nghị chuyên đề bắt giặc lái, rút ra những bài học có giá trị thiết thực về cách tổ chức truy lùng, sục sạo, cách tổ chức chỉ huy cách tiếp cận bắt giặc lái và các động tác cụ thể (tắt đài, tắt tín hiệu liên lạc...). Tỉnh có cơ sở thực tế để khẳng định: dân quân tự vệ là lực lượng chính trong việc truy bắt kịp thời giặc lái Mỹ.

Hà Tĩnh và Bộ Tư lệnh Quân khu 4 tổ chức rút kinh nghiệm bắn máy bay bằng súng bộ binh, kinh nghiệm hiệp đồng đánh máy bay phản lực, máy bay lên thẳng đến cứu giặc lái.

Đấu tháng 7 năm 1965, Bộ Chính trị ra nghị quyết chuyển hướng công tác tổ chức, tập trung lãnh đạo kinh tế và quốc phòng đối với miền Bắc.

Ngày 20 tháng 7 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "... Đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.

Đáp lời kêu gọi của Bác, quân và dân Khu 4 quyết tâm cùng cả nước quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

Trên địa bàn Khu 4, toàn bộ sinh hoạt và sản xuất nằm trong trọng thái hoàn toàn có chiến tranh ở mức độ cao. Hơn 70 nghìn dân các thành phố, thị xã, thị trấn được sơ tán triệt để. Các nhà máy điện, cơ khí, cùng hàng trăm cơ quan, xí nghiệp và hợp tác xã thủ công nghiệp được chuyển đến các vùng tương đối an toàn, tiếp tục sản xuất và phục vụ chiến đấu. Xí nghiệp cơ khí Sông Chu, cơ khí Vinh, cơ khí Ấp Bắc, cơ khí 3-2 và các trạm, xưởng sửa chữa của các nông trường được giao thêm nhiệm vụ sửa chữa ô-tô, súng, pháo cho lực lượng vũ trang dừng chân trên địa bàn theo yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu. Trường Đại học sư phạm Vinh, Trường Quân chính Quân khu 4, đoàn 22 huấn luyện quân tăng cường, chuyển đến Thanh Hóa. Chợ búa, trường phổ thông, sơ tán thành từng lớp nhỏ vào nơi kín đáo, có hầm hào bảo đảm.

Đoàn thanh niên phát động "Ba sẵn sàng" thu hút 13.730 người (có 5.753 nữ) vào các đội thanh niên xung phong chống Mỹ. 4.120 người đi dân công hỏa tuyến ở Lào. Hội phụ nữ phát động phong trào "Ba đảm nhiệm” sau đổi thành "Ba đảm đang". Mặt trận Tổ quốc kêu gọi "Toàn dân đoàn kết chống Mỹ", thiếu niên nhi đồng "học tập các dũng sĩ măng non ở miền Nam, vâng lời Bác dạy làm nghìn việc tốt”. Phong trào "Tiếng hát át tiếng bom” được triển khai rộng rãi trong thôn xóm và trong các đơn vị bộ đội.
_____________________________________________
1. Trong số mục tiêu quan trọng này có cụm Hàm Rồng, đập Bái Thượng, đập Đô Lương, khu vực Vinh - Bến Thủy, Linh Cảm, khu vực Gianh - Xuân Sơn - Long Đại.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2024, 08:33:08 pm

Ngày 17 tháng 7 năm 1965, nhân dịp quân và dân Quảng Bình bắn rơi 100 máy bay Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi Quảng Bình "Chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi". Bác kêu gọi các địa phương khác thi đua với Quảng Bình. Từ đó dấy lên phong trào "Hai giỏi" sôi nổi khắp các tỉnh.

Vừa tổ chức lại lực lượng và thế trận, quân và dân các tỉnh Khu 4 vừa đánh trả mạnh mẽ không quân, hải quân địch; bảo đảm giao thông thông suốt. Một thời gian ngắn, sau khi tổ chức lại, tiểu đoàn 14 (sau này là tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân) đã bắn rơi 19 máy bay; tiểu đoàn 15 bắn rơi 11 chiếc; tiểu đoàn 6 bắn rơi 5 chiếc, tiểu đoàn 9 bắn rơi 4 chiếc. Tại các trọng điểm giao thông, số máy bay địch bị bắn hạ ngày càng nhiều. Chỉ riêng trên địa bàn Nghệ An, ở cầu Hoàng Mai sáu máy bay địch bị bắn rơi, cầu Bùng ba chiếc, cầu Giát bốn chiếc, đập Đô Lương - cống Mụ Bà 13 chiếc... Ngày 28 tháng 7 năm 1965, quân và dân khu vực Hàm Rồng - Thanh Hóa đánh một trận đặc biệt xuất sắc, bẻ gãy các đợt tiến công của máy bay A6A "kẻ đột nhập" vừa được cải tiến, bắn rơi ba chiếc1.

Ba chiến sĩ phân đội tự vệ nông trường 12A (Minh Hóa, Quảng Bình) gồm Nguyễn Tiến Vân, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Văn Nhung, bằng ba viên đạn súng trường bắn rơi tại chỗ một A4. Một chiếc khác đến cứu đồng bọn, bị tổ chiến đấu của trung đội trưởng Nguyễn Phương bắn bị thương, phải bỏ cuộc. Trong tháng 8 và những ngày đầu tháng 9, các lực lượng phòng không thành phố Vinh đã hạ 11 máy bay. Ngày 3 tháng 8, dân quân Sơn Bằng (Hương Sơn, Hà Tĩnh) hạ một F105 bằng hai loạt súng bộ binh. Ngày 4 tháng 8, tại Hàm Rồng ta lại hạ một máy bay rơi tại chỗ ngay từ loạt đạn đầu...

Ngày 7 tháng 8, hai AD6 và hai A4D bị bắn rơi khi ném bom thị xã Đồng Hới. Trên các đảo, lực lượng phòng không đảo Mê, đảo Mắt đánh trả máy bay địch có hiệu quả, chỉ trong ngày 8 tháng 8 đã hạ hai máy bay. Ở đất lửa Vĩnh Linh, ngày 24 tháng 9 năm 1965, lúc 15 giờ 50 phút, trong đợt đánh trả ba tốp A4D, F4H và F8U đến ném bom thị trấn Hồ Xá, tiểu đoàn 6 cao xạ đã cùng dân quân tự vệ bắn rơi hai máy bay. Đây là chiếc máy bay thứ 599 và 600 bị bắn rơi ở miền Bắc.

Trước những hoạt động đánh phá có tính ngăn chặn của không quân và hải quân Mỹ, bảo đảm giao thông tăng cường sự chi viện cho miền Nam trở thành nhiệm vụ trọng yếu của quân và dân miền Bắc. Ngày 26 tháng 8 năm 1965, liên bộ Quốc phòng - Giao thông vận tải họp với Quân khu 4 quyết định mở chiến dịch vận chuyển trong tháng 9 năm 1965. Tiếp đó, ngày 31 tháng 8 năm 1965, Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị thay mặt Hội đồng Chính phủ giao nhiệm vụ và chỉ tiêu về bảo đảm giao thông vận tải cho chủ tịch ủy ban hành chính các tỉnh, coi đó là pháp lệnh thời chiến.

Trên mặt trận bảo đảm giao thông vận tải thời gian này, công tác tổ chức chỉ huy và phân công nhiệm vụ được điều chỉnh một cách cơ bản. Tất cả các đội công nhân bảo đảm giao thông ở các tỉnh, huyện được tăng cường thêm lực lượng. Bộ đội chuyển hẳn thành lực lượng giao thông - công binh do các tỉnh đội, huyện đội chỉ huy2. Lực lượng này có ba nhiệm vụ: Bảo đảm cầu đường, đánh địch và phòng tránh bảo vệ mình. Ngành giao thông vận tải được quân sự hóa từ cơ sở.

Quân khu 4 và Quân khu 3 hoàn toàn đảm nhận nhiệm vụ bảo đảm giao thông và ứng cứu trên các tuyến đường chiến lược đi qua địa bàn quân khu. Trung đoàn 152 công binh và cao xạ hỗn hợp thuộc Quân khu 4 được thành lập, vừa làm nhiệm vụ đánh địch bảo vệ đường, vừa mở đường số 15 ở khu vực tây Quảng Bình và đường số 12. Lực lượng vận tải tập trung của quân khu từ một đại đội xe 36 chiếc phát triển thành sáu binh trạm, biên chế 1.110 người với 130 xe ô-tô, 22 ca-nô, 35 xà lan chuyên vận chuyển cung cấp cho các lực lượng vũ trang quân khu (cả số làm nhiệm vụ ở Lào).

Bộ Giao thông vận tải chuyển 12.665 công nhân của các công ty 2, 3, 4, 8 các đội công trình 3, 4, 5, 8 vào thi công các tuyến đường số 7, 12, 21 và đường số 22.

Các tổng đội thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước ở các tỉnh gồm 12.611 người chuyên lo làm đường mới vừa sửa đường ở một số tuyến. Một số tuyến đường mới khác: từ Bò Lăn đi Tam Lê, từ Hoàng Mai đi chợ Tuần, Tân Kỳ đi dốc Lụi (Nghệ An), Ba Trại (Quảng Bình) được khẩn trương xây dựng.

Đến cuối tháng 9 năm 1965, các tuyến đường số 1, 7, 8, 12, 15 và các tuyến sông ở Khu 4 cơ bản thông suốt. Đường sắt thông đến Hoàng Mai. Đường goòng nối liền Đức Thọ - đò Vàng. Lưu lượng xe và vòng quay tăng hai lần. Thời gian tắc xe trên các bến giảm 50 phần trăm.

Tình hình bảo đảm giao thông đang từng bước được cải thiện thì đầu tháng 12 năm 1965, Mỹ tiến hành một đợt đánh phá tập trung quyết liệt trên toàn bộ tuyến giao thông vận tải của ta. Phía Thanh Hóa trở ra, chúng đánh mạnh để cắt chân hàng; từ Nghệ An trở vào, đánh dứt điểm từng đoạn xung yếu, nhất là phía nam quân khu. Có những nơi như ki-lô-mét 39 - 40 đường số 15, chỉ trong năm ngày chúng đánh 43 lần liền, ki-lô-mét 19 đường số 12 đánh 152 lần với 700 quả bom, phà Quán Hàu, 19 lần, 190 quả. Trên tuyến đường số 1, ở các đoạn Lý Hòa, sông Gianh, Roòn, đèo Ngang địch còn dùng máy bay chỉ điểm cho pháo tàu biển bắn phá bổ sung sau mỗi đợt máy bay ném bom. Âm mưu của địch là phá kế hoạch vận chuyển của ta trong dịp tết dương lịch và Tết Nguyên đán, hỗ trợ cho các hoạt động quân sự của chúng ở miền Nam.
_______________________________________________
1. Để chào mừng Mác Na-ma-ra, Bộ trưởng bộ quốc phòng Mỹ đến hàng không mẫu hạm Indépendance, trong chuyến thị sát chiến trường miền Nam Việt Nam, địch đã cho 18 chiếc A6A xuất kích hòng chặt đứt cầu Hàm Rồng, nhưng chúng đã bị thất bại thảm hại.
2. Số này gồm 26 đại đội, 4.200 người.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2024, 08:34:15 pm

Hưởng ứng lời kêu gọi của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12, những ngày cuối 1965, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Khu 4 đồng loạt tiến quân vào chiến dịch bảo đảm giao thông vận tải mang tên "chiến dịch Quang Trung”.

Hàng trăm nghìn lượt người lên mặt đường, tập trung lấp hàng nghìn hố bom, làm hàng trăm ki-lô-mét đường vòng tránh. Hàng chục nghìn mét khối đã được vận chuyển lên các tuyến đường phục vụ yêu cầu hàn vá, nâng cấp mặt đường. Hà Tĩnh huy động hơn chín mươi nghìn lượt người. Đoạn đường Hạ Trạch ở nam phà Gianh bị đánh bật đi 300 mét, 1.000 cán bộ, bộ đội và nhân viên các cơ quan đảm nhận hàn gắn xong kịp phục vụ chiến dịch. Hàng chục trọng điểm bị bom địch biến thành ao, đều được đắp lại như: Khoa Trương, cầu Hang, cầu Quan, phà Ghép, cầu Cấm, Sim, Tú Loan, Xuân Kiều, Gianh, Võ Xá, Ca Tang, khe Rinh, thác Cóc, Long Đại. Các cầu Hang, Hồ, Dinh, Sở, Đậu, Nầm, Nga, Sim, khe Giao, Ba Dốc, cầu Hiểm được bắc xong. Ở Nghệ An, Hà Tĩnh hình thành thêm một hệ thống cầu phao song song với cầu phà ở các bến trên tuyến đường số 1. Trong dịp này, ta còn phá thêm hàng chục thác nước trên rào Trố, từ Kỳ Lâm (Kỳ Anh) đi Minh Cầm (Tuyên Hóa) dài 50 ki-lô-mét, mở thêm một tuyến vận chuyển hàng hóa và chở thương binh.

"Tết Quang Trung" Bính Ngọ (1966) làm sống dậy hào khí thời Quang Trung. Toàn dân lên mặt đường, ăn tết trên mặt đường, bến sông và tại các kho tàng, trên các chuyến xe. Các binh trạm tổ chức cung trạm bảo đảm ăn tết theo ca kíp. Thương nghiệp đưa hàng ra phục vụ trên mặt đường. Công binh các bến phà trực suốt ngày đêm với khẩu hiệu "Phà chờ xe, không để xe chờ phà". Phong trào "Những hòn đất, hòn đá chống Mỹ bảo đảm giao thông vận tải" dấy lên từ xã Diễn Phúc (Diễn Châu) được nhân nhanh ra các nơi.

Ngày đầu xuân, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Khu 4 vui mừng được đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm, chúc Tết. Trong mưa phùn gió bấc sáng mồng một Tết, Thủ tướng về với đồng bào và chiến sĩ Thanh Hóa, Đại tướng đến thăm bộ đội cao xạ Hàm Rồng tiểu khu Nam Ngạn, thăm đại đội Nguyễn Viết Xuân, xã Diễn Thành (nơi có thành tích chiến đấu, sản xuất cùng bộ đội chiến đấu 60 trận, góp phần bắn rơi 4 máy bay Mỹ). Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chuyển lời thăm hỏi ân cần của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ, biểu dương tinh thần quyết chiến, quyết thắng của đồng bào, cán bộ và chiến sĩ, chúc quân và dân trong quân khu sang năm mới lập nhiều chiến công và thành tích mới.

Biến lời chúc đầu xuân của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ thành hành động, suốt những ngày Tết, đồng bào, cán bộ, chiến sĩ không ngừng tranh thủ thời gian, thực hiện vượt mức yêu cầu khối lượng vận chuyển, kết thúc tốt đẹp "chiến dịch Quang Trung". Hàng vào Vinh, thực hiện được 115 phần trăm kế hoạch (36.781 tấn so với kế hoạch đề ra là 33.210 tấn). Hàng vào Quảng Bình, thực hiện đựợc 25.396 tấn so với yêu cầu 25.222 tấn, đạt 59 phần trăm kế hoạch cả năm 1966. Hàng vào Vĩnh Linh, thực hiện được 123,5 phần trăm chỉ tiêu (2.470 trên 2.025 tấn). Vòng quay xe từ Thanh Hóa đến Vinh thông thường mất bốn ngày, trong chiến dịch rút xuống còn một ngày; Vinh - Quảng Bình từ sáu đêm rút xuống hai ngày.

Cùng với vận chuyển phục vụ chiến dịch Quang Trung, các tỉnh, huyện tổ chức vận chuyển vật tư, hàng hóa phục vụ kế hoạch sản xuất, chiến đấu và đời sống của địa phương.

Trong gian khổ, ác liệt của chiến tranh, nhân dân các tỉnh Khu 4 vẫn ngày đêm bám ruộng đồng, nhà máy; vừa sản xuất, vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Tháng 9 năm 1965, cuộc vận động cải tiến quản lý (vòng II) trong nông nghiệp bắt đấu triển khai trên toàn miền Bắc.

Các hợp tác xã nông nghiệp, ngư nghiệp trên địa bàn quân khu chia thành nhóm nhỏ, thực hiện "ba khoán", "đi sản xuất coi như đi chiến đấu", ở những vùng trọng điểm bị địch đánh phá, đội sản xuất tổ chức các tổ xung kích bám ruộng đồng sản xuất, thâm canh. Phong trào làm bèo hoa dâu, làm phân xanh, làm thủy lợi, cấy chăng dây thẳng hàng, chăm bón đúng quy trình kỹ thuật, đưa giống mới vào đồng ruộng gắn liền với tiêu chuẩn thi đua, với yêu cầu xây dựng Đảng, xây dựng con người xã viên mới ở nông thôn. Nông dân nhiều nơi ở Quảng Bình xác định: "Địch càng đánh phá ác liệt, ta càng cấy thật thẳng hàng, để chúng trên máy bay nhìn xuống thấy rằng bom đạn Mỹ không dễ gì làm chúng ta run tay, nhụt chí". Nhiều nơi, nông dân ra đồng phải khoác áo rơm bện, phải đào hầm bên ruộng. Trâu bò cũng phải dưa xuống hầm. Ngư dân ra biển luôn có phao bơi, dây dòng vào người, phòng khi tàu chìm, thuyền vỡ.

Các xã vùng biển Quảng Bình tổ chức lại sản xuất, chuyển chị em "buôn thúng, bán bưng" đi lập làng mới ở vùng gò đồi. Một bộ phận bám trụ học nghề đánh cá biển, cưa xẻ gỗ đóng thuyền, làm gạch, nung vôi, kết hợp trục chiến bảo vệ quê hương. Các gia đình buôn bán ở các thành phố, thị xã, thị trấn, có bộ phận chuyển về gắn với sản xuất nông nghiệp, có bộ phận tiếp tục tham gia mạng lưới phân phối - lưu thông trên thị trường nông thôn.

Từ khi bước vào chiến tranh, những vùng làng mới được thành lập như vùng Cộn, Ba Dốc, Phụ Trạch, Cao Mại, Rỏi, Bưởi, chân đèo Ngang (Quảng Bình) một số xã ở Tân Kỳ, Nghĩa Đàn (Nghệ An) vùng động Lách, Vĩnh Thạch, Thọ Xuân (Thanh Hóa).

Đến đầu năm 1966, tỉnh Thanh Hóa đã đào đắp 24 triệu mét khối bờ vùng, bờ thửa (tăng sáu phần trăm so với năm 1964), xây dựng xong 46 công trình chống hạn, chống úng, bảy cơ sở công nghiệp địa phương: (nhà máy ép dầu, chế biến sắn, khai thác than...). Quảng Bình có thêm nhà máy sản xuất diêm, đồ gốm. Hàng loạt công trường thủy lợi mở ra khắp các địa phương. Có nhiều công trình lớn như thủy nông Rào Nam, Cẩm Ly (Quảng Bình), La Ngà (Vĩnh Linh), Linh Cảm (Hà Tĩnh), Lam - Trà (Nghệ An).

Các chiến dịch thủy lợi đắp bờ vùng, bờ thừa, cải tạo đồng ruộng tiến hành thường xuyên ở các huyện, trong đó có những chiến dịch hưởng ứng rầm rộ các chiến thắng lớn ở các tỉnh kết nghĩa miền Nam.

Các cấp ủy địa phương có nghị quyết chuyên đề về công tác quân sự địa phương, giải quyết những khâu yếu, những khuyết điểm: huấn luyện quân sự chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, nặng hình thức, trình độ thấp. Tư tưởng thì có nơi chủ quan khinh địch, có nơi, có lúc lại sợ địch, ngại khó khăn, gian khổ, ngại hy sinh. Ở cấp cơ sở, những biểu hiện này càng bộc lộ rõ nét hơn.

Đáp ứng yêu cầu bổ sung lực lượng cho tiền tuyến đẩy mạnh kháng chiến và bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ quân khu, năm 1965, Quân khu 4 đã bổ sung 22.111 cán bộ, chiến sĩ lên đường vào Nam chiến đấu. Trong số này, có một sư đoàn hoàn chỉnh (sư đoàn 325B), hai trung đoàn (trung đoàn 18 và 101), 12 tiểu đoàn, 7 đại đội. Cũng trong năm đầu chiến tranh, 61.207 thanh niên và quân nhân xuất ngũ, phục viên đã được tuyển gọi hoặc động viên vào bộ đội (Thanh Hóa 21.519, Nghệ An 21.320, Hà Tĩnh 12.364, Quảng Bình 2.533, Vĩnh Linh 713). Trong đó có 6.840 đảng viên, 29.731 đoàn viên, 5.108 dân quân tự vệ, 230 người theo đạo Thiên chúa, 4.622 thuộc các dân tộc ít người. Số quân nói trên bằng tổng số quân tuyển gọi nhập ngũ từ năm 1958 đến năm 1964.

Qua một năm trực tiếp đương đầu với không quân và hải quân Mỹ, quân và dân các tỉnh Thanh Ilóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh giữ vững niềm tin, đánh trả mạnh mẽ quân địch, bắn rơi 454 máy bay, bắn chìm bắn cháy hàng chục tàu, thuyền biệt kích. Dưới bom đạn ác liệt của quân thù, giao thông vận tải vẫn được bảo đảm. Các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy thông suốt; những đoàn tàu, đoàn xe đêm ngày vẫn lăn bánh hướng vào Nam. Nhịp sống và sản xuất không bị ngưng trệ mà trở nên khẩn trương sôi động. Nền nếp đăng ký lập công, báo công thi đua đạt danh hiệu "Hai giỏi” (chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi), sống có văn hóa, có tình nghĩa, đi vào cuộc sống như một nhu cầu thiết yếu.

Giữa lúc Mỹ chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", cuộc chiến đấu đang diễn ra quyết liệt trên khắp hai miền đất nước, ngày 27 tháng 12 năm 1965, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã được triệu tập tại thủ đô Hà Nội. Hội nghị phân tích toàn bộ tình hình trong nước và trên thế giới, đánh giá tương quan lực lượng giữa địch và ta, hạ quyết tâm chiến lược: "Động viên lực lượng cả nước, kiên quyết đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà". Hội nghị kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên khắp hai miền của Tổ quốc: "Phải có tinh thần chiến đấu cao, dũng cảm phi thường, phải có chí khí anh hùng và quyết tâm dời non lấp biển, đạp bằng bất cứ trở lực nào, hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào, đánh bại bất cứ kẻ thù nào".


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2024, 08:36:24 pm

II. ĐẨY MẠNH TÁC CHIẾN Ở ĐỒNG BẰNG TRỊ - THIÊN,
PHỐI HỢP CÙNG BẠN TIẾN CÔNG ĐỊCH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG TRUNG - HẠ LÀO TRONG MÙA KHÔ 1965-1966

Thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ", đế quốc Mỹ tăng cường lực lượng và phương tiện chiến tranh cho chính quyền Sài Gòn. Mùa khô 1965-1966, quân Mỹ và chư hầu đã vào miền Nam hơn 206.000 tên, với nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại; cùng với hơn 50 vạn quân ngụy, tổng số địch trên chiến trường lên tới 720.000 tên gồm 13 sư đoàn, 5 trung đoàn, 30 tiểu đoàn bộ binh.

Bước vào 1966, địch đã hoàn thành việc triển khai lực lượng trên các hướng, bắt đầu thực hành phản công chiến lược (mùa khô 1965 - 1966) nhằm vào hai chiến trường trọng điểm: miền Đông Nam Bộ và Khu 5, hòng giành lại quyền chủ động chiến trường.

Ở Trị - Thiên, địch chủ trương sử dụng quân ngụy càn quét, bình định vùng đồng bằng, ven đô và dọc các trục lộ giao thông; tăng cường đánh phá căn cứ, kho tàng, hành lang vận chuyển của ta.

Tháng 2 năm 1966, Quân ủy Trung ương chủ trương lấy chiến trường rừng núi làm chiến trường tiêu diệt địch, trọng điểm lấy Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, chú trọng đẩy mạnh tác chiến ở Khu 5, làm chuyển biến chiến trường Trị - Thiên thành một hướng chiến lược quan trọng để phối hợp với chiến trường toàn miền, bảo đảm đường chi viện vào miền Nam.

Nhiệm vụ của Trị - Thiên lúc này là tập trung phát triển chiến tranh du kích và đẩy mạnh tác chiến ở đồng bằng, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh chính trị và công tác binh vận. Phân khu chủ trương mở chiến dịch tiến công địch ở bốn huyện đồng bằng Phong Điền, Quảng Điền (Thừa Thiên), Triệu Phong, Hải Lăng (Quảng Trị).

Từ cuối năm 1965, đầu năm 1966, bộ đội địa phương và dân quân, du kích các huyện đẩy mạnh tác chiến chống càn, diệt ác, phá kìm, trừ gian.

Ở Thừa Thiên, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh cùng với bộ đội địa phương và dân quân, du kích các quận, huyện đánh địch trên cả năm huyện đồng bằng. Phía bắc Quảng Trị, Quân khu 4 đưa một bộ phận lực lượng của sư đoàn 324 và tiểu đoàn 4 thuộc Bộ tư lệnh 270 Vĩnh Linh, đại đội Lê Hồng Phong cùng các đoàn cán bộ cơ sở, các đội tuyên truyền văn hóa, đội chiếu phim lưu động vào vùng Gio Linh, Cam Lộ vừa đánh địch, vừa phát động quần chúng, cài thế, tạo thế cho bước phát triển tiếp sau.

Đầu tháng 1 năm 1966, được cơ sở mật báo thời gian, địa điểm địch họp bàn kế hoạch đánh phá phong trào cách mạng, phân khu giao nhiệm vụ cho đội 10 đặc công đột nhập quận lỵ Triệu Phong đánh địch. 12 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 1 năm 1966, từ vùng căn cứ, đội 10 xuất quân vượt qua 20 ki-lô-mét đường rừng và băng qua sông Ba Lòng, Ái Tử. Đến 2 giờ 30 phút ngày 21 tháng 1, toàn đội bất ngờ nổ súng tiến công, diệt 102 tên cảnh sát ác ôn, bắt 15 tên, thu 30 súng, thu 100.000 đồng tiến chính quyền Sài Gòn. Trận đánh diễn ra trong vòng 30 phút. Đây là trận đầu tiên đặc công thọc sâu đánh trúng đầu não địch ở Quảng Trị, phá tan âm mưu địch trên bàn hội nghị. Cơ sở ta được bảo đảm an toàn. Nhân dân phấn khởi, gói cả xôi, thịt gà cho bộ đội ăn trên đường trở về căn cứ.

Ở bắc đường số 9, bộ đội và dân quân, du kích đánh nhiều trận phục kích, tập kích tại Hà Trung, Hà Thượng, Lâm Lang... Nổi bật là trận phục kích giữa ban ngày, diệt trung đội ác ôn do tên Chùm chỉ huy đã gây nhiều nợ máu đối với nhân dân. Trận thắng đưa lại niềm phấn khởi lớn cho đồng bào Cam Lộ.

Ở tây Thừa Thiên, từ ngày 17 tháng 2 đến đầu tháng 3 năm 1966, hai trung đoàn chủ lực và hai chi đoàn xe bọc thép của địch do Nguyễn Chánh Thi trực tiếp chỉ huy mở cuộc hành quân "Lam Sơn 234". Lực lượng vũ trang Thừa Thiên bám đánh liên tục trong nửa tháng, tiêu hao tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, làm thất bại cuộc hành quân này. Ngày 21 tháng 2, lực lượng vũ trang Phong Điền chặn đánh bốn tiểu đoàn địch càn vào Phong Sơn, diệt 60 tên, bắn rơi ba máy bay B57. Một đại đội ngụy và bọn ác ôn kìm kẹp ở Cao Ban bị ta tập kích diệt gọn. Đêm 24 tháng 2, ta tập kích lính Mỹ ở Phú Bài. Đồn cảnh sát An Cựu ở thành phố Huế cũng bị đánh. Các trận diệt ác, phá kìm, giải phóng một số thôn, xã nổ ra nhiều nơi ở Phú Lộc, Phú Vang, Hương Trà.

Trên hướng đồng bằng Phong Điền, Quảng Điền, Triệu Hải hướng tiến công của trung đoàn 6, bộ phận đi đầu của trung đoàn nhanh chóng tiêu diệt bọn địch án ngữ ở cầu Hội Yên, mở đường tiến quân cho toàn đơn vị. Trung đoàn 6 lập bàn đạp đứng chân ở Ba Du, Cù Lũy và phát triển dần thế triển khai chiến dịch, vừa đánh địch, vừa hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Địch vội vã huy động lực lượng chủ lực, bảo an đến đối phó. Suốt chín ngày, địch tập trung máy bay và các cỡ pháo đánh phá các khu vực bố trí trận địa của trung đoàn. Sau mỗi đợt máy bay ném bom, đại bác bắn phá, là những đợt tiến công của bộ binh địch. Lấy rơm rạ, ván gỗ làm thành chắn cát, xây dựng công sự hầm, hào, bộ đội ta bám đánh địch suốt một dải từ Gia Đẳng, Cù Hoan, Đan Quế đến Phương Lang Đông, Phương Lạng Tây, Chợ Cạn, Trường Thọ. Sở chỉ huy trung đoàn và tiểu đoàn 1 có ngày đánh bật năm đến sáu đợt phản kích của bọn lính thủy đánh bộ. Trung đoàn trưởng Hoàng Ngọc Cường trúng đạn pháo, hy sinh. Đồng chí Hùng, quyền tỉnh đội trưởng Quảng Trị cùng với chính ủy trung đoàn Nguyễn Trọng Dần, chỉ huy đơn vị liên tiếp đánh bại ba đợt tiến quân mới, buộc chúng phải lui quân. Trên cồn cát trắng Gia Đẳng, đại đội 3 tiểu đoàn 1 quần nhau quyết liệt với địch, diệt gọn một đại đội. Đại đội súng máy 12,7 ly bắn rơi hai máy bay và hạ nòng súng bắn thẳng vào đội hình địch, yểm trợ đắc lực cho bộ binh xuất kích. Ba chiến sĩ đặc công thuộc đại đội 12, suốt một ngày đánh lùi nhiều đợt tiến công của cả tiểu đoàn ngụy, giữ vững trận địa. Từ ngày 21 tháng 2 đến ngày 8 tháng 2, trung đoàn 6 đã chiến đấu quyết liệt, ghìm chân sáu tiểu đoàn chủ lực ngụy, tạo điều kiện cho đồng bào nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ. Trong những cuộc chiến đấu này, trung đoàn 6 diệt gần 500 tên địch, bắt 30 tên, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự, cùng với nhân dân phá tan bộ máy kìm kẹp của địch, xây dựng cơ sở cách mạng trên một vùng rộng lớn ở hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng. Một số nơi đã thành lập chính quyền cách mạng.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2024, 08:37:18 pm

Ngày 1 tháng 3 năm 1966, trung đoàn 6 vượt sông Ô Lâu về đứng chân ở tây và nam điểm cao 673, chuẩn bị đợt 2 giải phóng Phong Điền và Quảng Điền. Về với đồng bào Phong - Quảng lần này, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 6 như người con xa nhà, nay trở lại. Nhân dân náo nức và bí mật góp gạo nuôi quân, chuẩn bị nhà cửa, hầm hào, bảo đảm an toàn nơi trú quân, mua góp thuốc men, đường sữa cho bộ đội. Nhân dân thêm vui mừng, phấn khởi, vì các lần trước mới là từng tiểu đoàn đi lẻ về hoạt động; lần này cũng phần lớn là những khuôn mặt quen thuộc, nhưng đã nằm trong đội hình lớn hơn, bố trí trải rộng trên nhiều xã. Tiểu đoàn 1 đứng chân ở Mỹ Phú - Chánh An (Phong Chương). Tiểu đoàn 6 chốt ở Tây Hoàng, Nhất Phong (Quảng Thái). Trung đoàn bộ ở Phong Chương. Tiểu đoàn 2 làm nhiệm vụ ở tuyến sau bảo vệ đường dây liên lạc của trung đoàn. Các đại đội cối 82, ĐKZ, súng máy 12,7, trinh sát, thông tin, đặc công bố trí trong đội hình chiến đấu. Bộ Tư lệnh quân khu kịp thời cử trung tá Nguyễn Văn Thu làm trung đoàn trưởng thay đồng chí Cường vừa hy sinh.

Sự xuất hiện của trung đoàn 6 cùng với việc mở ra vùng giải phóng gần sát cửa ngõ phía bắc thành phố Huế, tạo nên sức ép trực tiếp trung tâm chỉ huy của địch ở vùng chiến thuật 1 và quân đoàn 1. Sau gần một tháng chuẩn bị, ngày 24 tháng 3 năm 1966, địch tập trung ba tiểu đoàn dù (7, 8, 9) ở Quảng Trị và sáu tiểu đoàn bộ binh khác cơ động từ Huế - nam Thừa Thiên ra. Máy bay hải quân Mỹ từ các  tàu sân bay hạm đội 7, đại bác từ các căn cứ Từ Hạ, Phò Trạch tập trung đánh phá dữ dội vào làng Chánh An, chi viện trực tiếp cho các cánh quân của chúng. Xe tăng địch từ An Lỗ - Sịa, Quảng Thái, Phò Trạch sang, từ Lương Mai, Phong Hòa đến. Bọn ở Đồng Lâm băng ngang trảng cát. Tất cả hướng về hợp điểm cuối cùng là Phong Chương. Đến 11 giờ ngày 24 tháng 3 năm 1966, sau khi cho ném bom, bắn pháo dọn đường, dọn bãi xong, một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống phía trận địa đại đội 1, cố chiếm làng Chánh An. Bị đánh bật ra khỏi làng, địch lại củng cố đội hình, tiếp tục đột phá vào thôn. Nhiều lần, chiến sĩ ta nhảy lên khỏi chiến hào, đánh giáp lá cà với chúng. Từ trong khói lửa của cuộc chiến đấu, đồng chí Nguyễn Văn Tâm đạt hai danh hiệu dũng sĩ (dũng sĩ diệt cơ giới và dũng sĩ diệt Mỹ). Đồng chí Võ Công Liêm sử dụng nhiều loại vũ khí, cùng với xạ thủ trung liên Trịnh Xuân Phong, bẻ gãy nhiều đợt xung phong của địch. Các mũi, các cánh quân của tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 2 bố trí phía Mỹ Phú, Tây Hoàng, Nhất Phong, liên tục bẻ gãy các đợt tiến công của các tiểu đoàn dù 7, 8, 9 và các tiểu đoàn địch cơ động từ Huế ra. Những ngày cuối tháng 3, xe tăng, pháo binh và máy bay địch dồn sức yểm trợ cho bộ binh mở những đợt tiến công cuối cùng, hòng đánh bật lực lượng ta ở Phong Chương. Địch dùng máy bay lượn suốt ngày trên bầu trời ra rả gọi loa: "Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Thu và chính ủy Nguyễn Trọng Dần, hãy ra hàng, để hưởng lượng khoan hồng". Chiến sĩ ta trên các trận địa đã đáp lại chúng bằng những đợt đánh trả liên tục và kiên quyết. Tất cả mọi cố gắng cao nhất của địch đã bị chặn lại. 17 giờ 30 phút ngày 1 tháng 4 năm 1966, địch phải bỏ cuộc. Chỉ riêng ở rìa làng Chánh An, 54 chiến sĩ đại đội 1 tiểu đoàn 1 cùng với dân quân đã loại khỏi vòng chiến đấu nhiều lính thủy đánh bộ Mỹ.

Trong đạn bom dồn dập ác liệt, trong khi ta và địch giành giật từng ngõ xóm, đường thôn; nhân dân Phong Điền, Quảng Điền, Triệu Phong, Hải Lăng sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ, phân công nhau đưa thương binh về nhà mình chăm sóc, nuôi dưỡng. Thanh niên cùng bộ đội kịp thời chuyển những thương binh nặng về tuyến sau. Thương binh nhẹ được giữ lại và tổ chức điều trị nuôi dưỡng chu đáo. Lúc bộ đội bám trụ chiến đấu, nhân dân cung cấp lương thực, đường sữa, thuốc men. Khi bộ đội lui quân về căn cứ, nhân dân mua gạo đóng thành từng túi, đêm đêm vượt vòng địch kiểm soát, mang ra điểm hẹn, đắp thành mộ giả, để bộ đội trở lại lấy. Các cụ già và cả các cháu thiếu niên cũng tham gia nhiệm vụ đầy thử thách nguy hiểm này. Lần đầu tiên ở vùng nông thôn đồng bằng, sát các căn cứ đầu não địch, trung đoàn chủ lực của ta đã trụ bám và đánh thiệt hại nặng, tiểu đoàn Mỹ, trong điều kiện địch đông hơn ta 15 lần về số quân, hơn ba lần về đơn vị cấp tiểu đoàn; có ưu thế hơn hẳn về không quân, pháo binh, cơ giới.

Cùng lúc với chiến thắng ở đồng bằng Trị - Thiên, Quân khu 4 được giao trách nhiệm tổ chức cho sư đoàn 325B vào chiến trường miền Nam. Trên đường tiến quân, sư đoàn có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm A Sầu.

Quân địch chiếm đóng ở đây gồm có một tiểu đoàn biệt kích tăng cường, một đại đội pháo hỗn hợp 105-106,7 ly. Ngoài những thành đất, lô cốt, hầm ngầm, các bãi mìn và rào dây thép gai như các cứ điểm khác, địch ở đây có lực lượng máy bay lên thẳng sẵn sàng cơ động đổ quân nhanh chóng xuống các vùng rừng núi xung quanh, lùng sục đánh phá các trạm giao liên, các kho tàng của ta.

Để đảm bảo đánh chắc thắng, từ tháng 1 năm 1966, trung tá Trần Văn Trân sư đoàn phó và phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn vào trước bắt liên lạc với Phân khu Trị - Thiên, lập phương án tác chiến. Trung đoàn 95B, do trung đoàn trưởng Lê Khắc Cần và chính ủy Nguyễn Hữu Hưu chỉ huy, được sư đoàn tăng cường hỏa lực, làm nhiệm vụ bao vây, tiến công ''diệt điểm". Trung đoàn 101B cơ động "đánh viện".

Binh trạm 1 Đoàn 559 được giao nhiệm vụ bảo đảm đủ lương thực cho sư đoàn 325B trong hai tháng. Do khó khăn, binh trạm chỉ chuẩn bị được vài chục tấn. Lương thực cạn kiệt trong quá trình chuẩn bị chiến đấu, Bộ chỉ huy phân khu và Tỉnh ủy Thừa Thiên động viên đồng bào các dân tộc, các cơ quan và lực lượng vũ trang tại chỗ thu hoạch toàn bộ những nương sắn cuối cùng của mình, tiếp tế cho bộ đội. Sư đoàn phải dùng thêm củ mài, rau rừng, dành lương thực cho thương binh và bệnh binh. Dù vậy, quyết tâm chiến đấu của sư đoàn và tinh thần háo hức lập công của bộ đội vẫn được giữ vững. Ngày 6 tháng 3 năm 1966, trung đoàn 95B từ Tà Rụt cắt rừng hành quân vào, hình thành thế bao vây A Sầu. Hỏa lực ta khống chế sân bay và pháo binh địch. Xung lực khóa chặt đường bộ, tạo điều kiện cho trung đoàn 101B diệt quân tiếp viện ở vòng ngoài. Suốt sáu ngày liên tục bao vây, áp sát, lấn dũi, ta dồn địch vào thế khốn quẫn. Viện binh không lên được, quân đồn trú rút chạy không xong. Nắm đúng thời cơ khi địch đã dao động, ngày 11 tháng 3 năm 1966, trung đoàn 95B đột phá tiến công diệt gọn vị trí A Sầu. Ta diệt và bắt gần 1.000 tên địch. A Sầu bị diệt, cả tuyến hành lang tây Trị - Thiên, từ nam đường số 9 vào tây Quảng Nam - Đà Nẵng được nối liền thông suốt, tạo thêm thuận lợi cho việc tiếp tế, chuyển quân của ta.

Oay-nơ Mua-ray, cố vấn Mỹ ở A Sầu, nhờ máy bay cứu mà thoát chết đã bộc lộ tâm trạng: "Suốt 24 giờ đó, tôi không tin mình có thể sống. Ngay phút đầu, sáu quả đạn cối trúng nóc hầm chỉ huy. Điện đài đứt từng lúc, chỉ dùng tín hiệu. Lúc 2 giờ, nghe đào đất phía ngoài rào dây thép gai. Sáng sau, gọi máy bay, nhưng thời tiết xấu quá. Kho đạn cháy. Có lúc máy bay bay quá thấp dưới tầm bắn súng máy của "Vi-ci" (Việt Cộng) trên đồi quanh doanh trại, sáu máy bay bị bắn rơi. Cả phản lực đâm đầu vào núi".


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2024, 08:37:53 pm

Phát huy thắng lợi xuân - hè năm 1966, đội 10 đặc công tiểu đoàn 4 trung đoàn 270, phân đội 12 đặc công và dân quân du kích Gio Linh, Cam Lộ tiếp tục mở đợt tiến công vào các đồn Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cầu Dài. Dốc Miếu là căn cứ pháo binh của ngụy án ngữ trên đường số 1 phía nam cầu Hiền Lương, gồm hai khu vực: khu trận địa pháo và khu trận địa bộ binh bảo vệ căn cứ.

Nhận nhiệm vụ cấp trên giao, đội 10 đặc công đã men theo vùng giáp ranh từ bờ sông Mỹ Chánh, vượt 40 ki-lô-mét qua các khu rừng đầy lau lách, tiếp cận đồn địch. Đêm 15 tháng 5 năm 1966, bằng lối đánh tiềm nhập bí mật, bất ngờ luồn qua bảy lớp rào dây thép gai và bãi mìn, đội 10 đã diệt toàn bộ bọn lính pháo binh ở Dốc Miếu, có một ban chỉ huy tiểu đoàn, hai ban chỉ huy đại đội, 280 tên lính bảo vệ căn cứ. 50 tên bị bắt, được ta giải thích chính sách khoan hồng của Mặt trận dân tộc giải phóng và được phóng thích tại trận. Ta thu một ĐKZ 75, một đại liên, một trung liên. 60 súng bộ binh, một điện đài 15w, một xe ô-tô, phá hủy tám khẩu pháo. Đây là trận đánh thử sức của đặc công (có kết hợp với bộ binh) đánh vào nơi địch phòng thủ khá mạnh tiếp giáp với miền Bắc. Trận đánh nhằm hỗ trợ cho đồng bào Gio Linh chống địch dồn dân vào trại tập trung; đồng thời, thăm dò phản ứng của địch và cài thế, tạo thế, chuẩn bị cho bước mở hướng tiến công mới ở mặt trận đường số 9.

Tháng 3 năm 1966, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng cách mạng phát triển mạnh mẽ, từ thành phố Đà Nẵng, Huế lan nhanh ra Quảng Trị, Hội An, Quảng Ngãi, Quy Nhơn... Nhân dân liên tục xuống đường biểu tình, đòi hòa bình, chống chiến tranh, giương cao các khẩu hiệu "Lật đổ Thiệu - Kỳ", “Thiệu - Kỳ là Hít-le", "Đả đảo Mỹ ủng hộ Thiệu - Kỳ". Học sinh bãi khóa. Tiểu thương bãi chợ. Công chức bỏ việc. Sinh viên Huế lập đội "Thanh niên quyết tử". Học sinh lập đội "xung kích". Giáo chức tổ chức "lực lượng chống đàn áp". Chị em tiểu thương chợ Đông Ba, nữ sinh trường Đồng Khánh tham gia cứu thương, tiếp tế cho "Quyết tử quân". Hàng trăm sĩ quan sư đoàn 1 ngụy tuyên bố "ly khai Thiệu - Kỳ". Sau khi tìm đủ cách dọa dẫm, xoa dịu, lừa bịp không được, Mỹ - ngụy phải đưa bảy tiểu đoàn "trâu điên" ác ôn thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ ra Đà Nẵng, Huế, để đàn áp phong trào.

Phong trào tuần hành của quần chúng ở thành phố, thị xã kéo dài 76 ngày. Tháng 5 năm 1966, cả thành phố Huế bừng bừng khí thế đấu tranh. Ngụy quân, ngụy quyền hầu như tê liệt. Sáng ngày 25 và 29 tháng 5, hàng chục nghìn người tổ chức mít tinh biểu tình ở Huế. Ngày 27 tháng 5, khoảng 15 nghìn người biểu tình tại thị xã Quảng Trị bác bỏ yêu cầu của Phan Văn Khoa, tỉnh trưởng Thừa Thiên, đòi lấy lại đài phát thanh do lực lượng đấu tranh chiếm giữ.

Phong trào nổ ra, địch tập trung lực lượng lớn đàn áp dã man, ta chưa tập trung được lực lượng lãnh đạo kịp thời và đầy đủ, nên đã bỏ lỡ cơ hội giành thắng lợi lớn hơn. Một số cơ sở của ta hoạt động trong phong trào này bị vỡ. Một số rút vào bí mật. Phong trào đấu tranh tuy không kết thúc thắng lợi, nhưng đã khoét sâu mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, chuyển thành một cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược, chống bọn tay sai bán nước và đã làm suy giảm cố gắng chiến tranh" của Mỹ-ngụy. Từ sự hình thành và phát triển của phong trào đấu tranh này đã gợi ý về một khả năng lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù, hình thành một mặt trận công - nông - binh - trí thức liên hiệp chống Mỹ và tay sai, mở ra một hình thức nổi dậy của quần chúng đô thị chống lại chính sách thực dân mới của Mỹ - ngụy.

Trong đợt hoạt động xuân - hè 1966, chiến trường Trị - Thiên đã loại khỏi vòng chiến đấu 5.400 tên địch, 30 trung đội dân vệ. Tất cả các trung đoàn của sư đoàn 1 ngụy đều bị thiệt hại. Ta giải phóng một vùng liên hoàn 30 ki-lô-mét ở nông thôn đồng bằng từ Triệu Phong, Hải Lăng đến Thanh Hương, giải phóng hoàn toàn miền núi của hai tỉnh từ nam đường số 9 trở vào. Trong dịp này, trung đoàn 270 và khu vực Vĩnh Linh đã đưa các đội tuyên truyền văn nghệ xung kích, các đội chiếu bóng vào những vùng giải phóng bắc Quảng Trị phục vụ đồng bào. Lần đầu tiên được công khai trực tiếp nghe lời ca, tiếng hát, phim, ảnh miền Bắc, đồng bào vùng giải phóng Trị - Thiên hết sức vui mừng phấn khởi và xúc động, tin tưởng. Bao năm bị địch kìm kẹp, muốn thấy lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc bay trên đỉnh cột cờ Hiền Lương, đồng bào ta cũng phải nhìn lén lút, nay lực lượng vũ trang cách mạng đã xuất hiện ở vùng nam khu phi quân sự.

Dựa vào tinh thần đóng góp tự nguyện của nhân dân vùng đồng bằng, ta đã thu mua, vận chuyển dự trữ được một lượng lương thực lớn. Các đơn vị bộ đội chủ lực, địa phương và các cơ quan đều đã có gạo cung cấp từ đồng bằng.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2024, 08:40:45 pm

*

*       *

Trên chiến trường Trung - Hạ Lào, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra dai dẳng, quyết liệt.

Mỹ và quân phái hữu ở Lào tập trung 5 binh đoàn cơ động, 17 tiểu đoàn BV, BR địa phương, 35 đại đội lẻ, có không quân Mỹ, biệt kích ngụy miền Nam Việt Nam phối hợp, đánh phá quyết liệt vùng Hạ Lào, từ đường số 12 đến Bô Lô Ven. Chúng mở các cuộc hành quân lớn như Sân Xi, Si Khốt, Ta Bông, bình định lấn chiếm Bô Lô Ven, bắc - nam đường số 9. Các lực lượng phỉ, biệt kích, gián điệp tìm cách cắm sâu vào hậu phương của Pa-thét Lào. Lợi dụng tính chất sắc tộc, dân tộc, địch tập trung một số cụm phỉ ở Nậm Ngừm, Nha Hớn, Phu Voong Tay. Trong khi đó, không quân Mỹ ráo riết đánh phá ác liệt vùng giải phóng Lào, tập trung cắt đứt hệ thống vận chuyển 559, đoạn qua Trung Lào. Một ngày, máy bay chiến lược B52 ném bom trung bình 100 lần chiếc trên đất Lào.

Địch hình thành thế phòng ngự toàn tuyến Nậm Him Bun, dọc Xê Băng Phai, Sê Kun Kam, Xê Kông, tạo thế chia cắt vùng giải phóng của cách mạng Lào.

Được quân Mỹ làm hậu thuẫn, bọn phản động Lào tỏ ra rất hung hăng, tuyên bố lấn chiếm lại Mường Phìn và toàn bộ lưu vực sông Xê Kông (Hạ Lào). Mùa mưa, địch tăng cường bình định vùng đông dân, giàu của.

Đầu năm 1965, chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 giao nhiệm vụ cho một số đơn vị dừng chân ở khu vực đường số 9 mở một chiến dịch ở vùng Trung Lào, có nhiệm vụ:

1. Phối hợp với bạn, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, bẻ gãy một cánh quân, đập tan âm mưu lấn chiếm, khôi phục vùng giải phóng, bảo vệ hành lang.

2. Giúp bạn củng cố vùng giải phóng, xây dựng cơ sở nhân dân; diệt phỉ, gián điệp.

3. Đẩy mạnh hoạt động địch hậu, giúp bạn phát triển dân quân, du kích.

4. Giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, huấn luyện tân binh, cải tạo tù binh.

Lúc này ở khu vực đường số 9, lực lượng của bạn có tiểu đoàn 14, tiểu đoàn pháo, hai đại đội đặc công, hai đại đội cao xạ 37 ly và súng máy 12,7 ly. Về lực lượng tình nguyện, có trung đoàn 9 (sư đoàn 304) do Quân khu 4 chỉ đạo, tiểu đoàn 929, hai đại đội pháo, cối, hai tiểu đoàn cao xạ 37 ly và súng máy 12,7 ly.

Bộ Tư lệnh quân khu tổ chức bộ chỉ huy và cơ quan chiến dịch. Tham mưu trưởng quân khu được cử làm chỉ huy trưởng kiêm bí thư đảng ủy; đồng chí phó chủ nhiệm chính trị quân khu làm chính ủy, phó bí thư đảng ủy chiến dịch; sư đoàn phó sư đoàn 304 giữ chức chỉ huy phó chiến dịch.

Do nắm địch không chắc, kế hoạch xây dựng không cụ thể, chu đáo, phân công nhiệm vụ các bộ phận không cụ thể; quyết tâm chiến đấu: đánh nhỏ, chắc thắng từ trận đầu không được quán triệt tốt đến từng cán bộ chiến sĩ cộng với tư tưởng ỷ vào khí thế, trông chờ hỏa lực, nên khi thực hành tiến công địch, ta gặp nhiều khó khăn. Giai đoạn 1 của chiến dịch, ta không hoàn thành nhiệm vụ, thậm chí còn bị tổn thất trong các trận Đồng Hến (ngày 9 tháng 3), Huội Mua (ngày 10 tháng 3). Rút kinh nghiệm giai đoạn 1, sang giai đoạn 2 của chiến dịch, ta đánh có hiệu quả hơn, song vẫn chưa thực hiện được ý đồ chiến thuật bao vây diệt gọn địch.

Tháng 5 năm 1965, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Mặt trận 565, thuộc Quân khu 4, nhằm phối hợp cùng bộ đội Pa-thét Lào đánh bại các cuộc càn quét, tiến công của địch nhằm lấn chiếm vùng giải phóng; xây dựng, củng cố, tăng cường lực lượng vũ trang, khôi phục đẩy mạnh phong trào vùng sau lưng địch. Phạm vi hoạt động của Mặt trận 565 từ Trung đến Hạ Lào. Lực lượng gồm trung đoàn 29, trung đoàn 27, tiểu đoàn 2 quân tình nguyện ở Hạ Lào, tiểu đoàn 1 quân tình nguyện, ba đại đội công tác cơ sở (7, 8, 9), sáu trung đội địch hậu và bốn trung đội cán bộ làm công tác xây dựng cơ sở. Phía bạn có năm tiểu đoàn chủ lực bộ binh, một tiểu đoàn pháo mặt đất, một tiểu đoàn pháo cao xạ; mỗi tỉnh có từ một đến hai đại đội độc lập, bộ đội địa phương huyện và du kích.

Ngoài ra, mặt trận thành lập thêm các đại đội binh chủng: thông tin, trinh sát, công binh, trung đội vệ binh và hệ thống trạm.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2024, 08:42:30 pm

Ngày 31 tháng 10, mặt trận mở đợt hoạt động trên đường số 12, phá vỡ hệ thống phòng ngự Na Đu - Xê Băng Phai, thu hút chủ lực địch ở các nơi đến, đặc biệt là chủ lực ở đường số 9, phá kế hoạch của địch lấn chiếm đường số 9, bảo vệ an toàn hành lang vận chuyển của ta.

Sau một loạt trận đánh phục kích, tập kích, ở Bản Khen, Khát Khan, Kê Peng, Na Đon. Noọng Bua, tập kích phỉ Mẹo ở Văng Viêng, ngày 11 tháng 11 năm 1965, tiểu đoàn 927 được giao nhiệm vụ phối hợp với một đại đội thuộc tiểu đoàn 15 của bạn, tiến công tiêu diệt cứ điểm Pha Hom.

Pha Hom nằm sâu trong tung thâm phòng ngự của địch, án ngữ đường số 12, cách thị xã Thà Khẹt 14 ki-lô-mét về phía đông – bắc, cách vị trí Na Đôn 12 ki-lô-mét. Cứ điểm được bố trí theo kẹt núi đá, sát chân núi đá. Địch lợi đụng sự che chở của các lèn đá phía đông - bắc và đông - nam làm những bức thành ngăn cách vùng ta với vùng chúng kiểm soát. Lực lượng địch ở đây bố trí thành cụm, kết hợp lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động khá chặt chẽ.

. Do cơ sở cách mạng của bạn chưa được tạo lập trong nhân dân vùng này, cộng với tính chất hiểm hóc của địa hình, nên mặc dầu đã tổ chức trinh sát Pha Hom ba lần, ta không nắm chắc được tình hình địch.

Khắc phục gian khổ khó khăn, tiểu đoàn 927 liên tục hành quân từ ngày 9 đến 11 tháng 11, dòng dây, bắc thang qua những mỏm đá tai mèo, dốc núi dựng đứng, mang vác vũ khí vào vị trí tập kết. Bốn đồng chí bị thương do trượt núi. Mặc dầu địch bắn vào đội hình, cả đơn vị vẫn kiên trì chịu đựng, giữ bí mật đến khi trận đánh bắt đầu. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra giằng co quyết liệt. Vào lúc 15 giờ ngày 11 tháng 11, địch núng thế phải bỏ chạy về Na Đon. Tiểu đoàn 927 hỗ trợ cho bạn truy kích, phục kích diệt một số ở cầu Nậm Dơn, bắc cầu Xê Băng Phai.

Trận Pha Hom đánh dấu sự tiến bộ về chiến thuật và kỹ thuật của bộ đội ta trong tiến công đột phá vị trí hiểm yếu làm vỡ thế phòng ngự của địch.

Tháng 1 năm 1966, mặt trận sử dụng một số đơn vị tiến xuống Hạ Lào. Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện (mới thành lập), xuất phát từ Vinh ngày 12 tháng 12 năm 1965, tới Hạ Lào ngày 2 tháng 1 năm 1966. Tiểu đoàn 927 rời đường số 12 từ ngày 26 tháng 11 năm 1965, xuống Lào Ngam. Để buộc địch phải bị động đối phó và bảo đảm thời gian hoạt động, tiểu đoàn được lệnh bỏ kế hoạch hành quân theo đường hành lang 559, tạt sang đường 23, qua huyện Tùm Lan, vượt sông Xê Đôn vào bắc Lào Ngam. Trên đường tiến đánh Noọng Xây, gặp lúc năm tiểu đoàn địch (4BI, BR460, BR470, BV41, BV44) đang mở cuộc càn "In-ta", tiểu đoàn 2 lập tức phối hợp cùng bạn tiến công, diệt sở chỉ huy và lực lượng 4BI tại Hun Cau.

Tiểu đoàn 4BI tan rã, buộc địch phải bỏ ngay cuộc càn vào ngày 13 tháng 11.

Sự xuất hiện của tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 927 buộc địch phải điều GM 21 xuống Sa Ra Van. Một đại đội tiểu đoàn 2 đã kịp thời vận động phục kích tại Pho Tốc, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên địch. Tiểu đoàn 927 vận động bẻ gãy cuộc càn vào Kép Pheng của đại đội CR4705 địch, thu 38 súng, giải tán hai trung đội dân vệ ở Noọng Pe, Noọng Pua. Đêm 22 tháng 1, đội đặc công ta tập kích vào thị xã Pắc Xế, diệt nhiều địch, phá hủy hai xe cơ giới, một khẩu pháo 105 ly, một đài 15w.

Ở khu vực Pheng Đeng (Mường Cầu), tiểu đoàn 3 sau hai tháng hành quân mang nặng, nhiều lần bị máy bay địch đánh, lại gặp lụt dừng mất bốn ngày, lương thực cạn, bộ đội phải ăn cả củ rừng, 38 người bị ốm, ngày 20 tháng 2 đã đến vị trí tập kết.

5 giờ ngày 25 tháng 2, tiểu đoàn 3 nổ súng tiến công căn cứ Pheng Đeng. Sau một giờ chiến đấu, lực lượng của bạn cùng đại đội 3 đánh ở hướng chính (bắc Pheng Đeng) đã phối hợp với đại đội 1 loại khỏi vòng chiến đấu đại đội 4 của địch và phát triển về Pheng Đeng, loại tiếp một đại đội của BR450, gồm 67 tên. Đại đội 3 phối hợp với bạn lùng sục tàn binh địch. Ngày 26 tháng 2, hai đại đội của tiểu đoàn BR450 và BI25 ở Phu Xa Pong và bọn Ma-ky ở Cheng Phoọc có máy bay và pháo yểm trợ, tiến về Pheng Đeng. Đại đội 2 giúp bạn chặn đánh địch, truy kích và tiếp tục phục kích đánh bại đợt tiến công thứ hai của chúng, loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội gồm 12 tên, thu 13 súng.

Sáng 28 tháng 2, bốn đại đội của BR450, BI25, BI26 từ A Tô Pơ theo trục đường cái tiến về Pheng Đeng, tiểu đoàn 3 phối hợp cùng với bạn kết hợp các hình thức phục kích, tập kích, vận động tiến công đánh vỡ đội hình địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, ta thu 15 súng (có hai khẩu cối 60 và ba ĐKZ, bảy đại liên).

Ở hướng đường số 9, trong thời gian này ta và bạn chỉ tổ chức một số trận đánh nhỏ.

Các lực lượng vũ trang của bạn cùng bộ đội tình nguyện Quân khu 4 chiến đấu ở Pha Nom, Na Đon, Hin Bun, đông Bản Xanh, Bản Bung, cao điểm 164, đánh bọn lính Vàng Pao ở Bản Khoe.

Mùa khô 1965 - 1966, Mặt trận 565 đã hỗ trợ cho lực lượng của bạn loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, bắt 77 tên, thu sáu xe (có hai xe bọc thép), 16 khẩu ĐKZ, 14 súng cối, 295 súng bộ binh, 131 tấn đạn, 19 đài vô tuyến điện, giải phóng hoàn toàn Xê Con Đan, đẩy lùi địch về Xê Đăng Xoi. Tiếp đó, ta giải phóng vùng Cheng Ra Tê Pơ, buộc địch bị động phân tán lực lượng đối phó, bỏ dở kế hoạch lấn chiếm đường số 9, không thực hiện được kế hoạch "bình định" vùng Lào Ngam và Sa Ra Van.

Sang tháng 4 năm 1966, Liên quân Việt - Lào liên tục bao vây uy hiếp địch ở Lào Ngam, ghìm chân GM21 đến hết mùa mưa. Tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 4 quân tình nguyện tiếp tục giúp bạn động viên thêm quân, xây dựng lực lượng vũ trang, tiếp nhận viện trợ, tăng cường lực lượng, củng cố vùng giải phóng.
______________________________________________
1. Cuộc càn của địch bắt đầu từ ngày 12 tháng 1 năm 1966, dự định ngày 28 tháng 1 năm 1966 đến Bản Phon.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 06:55:09 pm

III. TỔ CHỨC LẠI CHIẾN TRƯỜNG,
TIỀN TUYẾN - HẬU PHƯƠNG ĐÁNH GIỎI THẮNG LỚN

Kết thúc mùa khô 1965 - 1966, đế quốc Mỹ không thực hiện được các mục tiêu đề ra cho cuộc phản công lần thứ nhất; quyền chủ động chiến trường vẫn thuộc về Quân giải phóng miền Nam.

Mùa mưa năm 1966, thêm nhiều đơn vị quân Mỹ cùng hàng vạn tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh tiếp tục đổ vào miền Nam. Tổng số quân Mỹ có mặt trên chiến trường lên tới 389.000 tên. Không quân Mỹ tăng cường các phi vụ ném bom, bắn phá triệt hạ làng mạc, hành lang vận chuyển của ta. Địch đẩy mạnh "bình định" gom dân, ráo riết triển khai lực lượng, chuẩn bị phản công chiến lược lần thứ hai.

Đối với chiến trường Trị - Thiên, sau đông-xuân 1965 - 1966, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhận định: "Phong trào tuy có thu một số thắng lợi, nhưng chỉ mới là bước đầu. So với đà phát triển chung của toàn chiến trường miền Nam, thì phong trào ở Trị - Thiên tiến triển chậm, trong điều kiện địch ở đây yếu hơn các chiến trường khác. Lực lượng vũ trang và đội ngũ cán bộ của ta thì tương đối mạnh".

Bộ Chính trị chỉ rõ: để đưa phong trào cách mạng Trị - Thiên tiến lên mạnh mẽ và vững chắc, vấn đề căn bản nhất là tiếp tục nâng cao tư tưởng tiến công địch, vận dụng đúng đắn các phương châm của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, xác định những hình thức đánh địch về quân sự, sáng tạo ra những hình thức phong phú về đấu tranh chính trị thích hợp với hoàn cảnh cụ thể của Trị - Thiên.

Tháng 4 năm 1966, Bộ Chính trị Trung ương Đcảng quyết định thành lập Khu ủy Trị - Thiên gồm các đảng bộ Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, đặt dưới sự chỉ đạo của Trung ương. Bộ Chính trị ủy nhiệm Quân ủy Trung ương chỉ đạo về mọi mặt đối với Khu ủy Trị - Thiên. Thường trực Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân khu Trị - Thiên, tách khỏi Khu 5. Quân khu Trị - Thiên đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy Trị - Thiên, đồng thời có nhiệm vụ báo cáo và xin chỉ thị của Quân ủy Trung ương về mọi mặt công tác.

Nhiệm vụ của chiến trường Trị - Thiên được Thường trực Quân ủy Trung ương xác định: "tiêu diệt và làm tan rã phần lớn quân ngụy, tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, ra sức chuẩn bị lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang thành phố để phục vụ kế hoạch tổng công kích và tổng khởi nghĩa khi có điều kiện chín muồi... cắt đứt các đường giao thông chiến lược của địch, xây dựng đường hành lang của ta, giành thắng lợi lớn về mọi mặt và tạo nên một tình thế mới trên chiến trường Trị - Thiên, phối hợp tốt với các chiến trường khác trong mọi tình huống (kể cả tình huống đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh trên đất liền ra Trung - Hạ Lào)1.

Nhằm phân tán lực lượng chủ lực cơ động chiến lược Mỹ - ngụy, tạo thuận lợi cho chiến trường toàn miền, trực tiếp là vùng đồng bằng Trị - Thiên, tháng 6 năm 1966, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy trung ương quyết định mở mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị (mật đanh là mặt trận X).

Tổ chức lực lượng và công tác chuẩn bị cho mặt trận do Quân khu 4 đảm nhận.

Sư đoàn 324 và trung đoàn 31 thuộc sư đoàn 341 được sử dụng trong thời kỳ đầu mở mặt trận. Đại tá Nam Long Phó tư lệnh và thượng tá Quách Sỹ Kha, Chủ nhiệm chính trị Quân khu 4 làm Tư lệnh và Chính ủy mặt trận. Thượng tá Chu Phương Đới, sư đoàn trưởng và thượng tá Nguyễn Tiến Lợi, chính ủy sư đoàn 324 làm Phó tư lệnh và Phó chính ủy. Mật danh thường dùng là "công trường 1-5". Đảng ủy mặt trận lấy đảng ủy sư đoàn 324 làm cơ sở, có đồng chí Trương Chí Công - Bí thư tỉnh ủy Quảng Trị và đồng chí Hồ Sỹ Thản - Bí thư đảng ủy khu vực Vĩnh Linh tham gia. Bộ Tư lệnh mặt trận được coi như Sở chỉ huy tiên phương Quân khu 4, vừa chỉ huy phía trước, vừa chỉ đạo xây dựng hậu phương Vĩnh Linh, chuẩn bị chiến trường của khu vực và chỉ huy tác chiến đối với các lực lượng vũ trang Vĩnh Linh, Quảng Bình trong trường hợp địch tiến công bằng bộ binh ra phía nam Quân khu 4.

Ngày 20 tháng 6 năm 1966, Quân ủy trung ương và Bộ Quốc phòng làm việc thêm với đại tá Đàm Quang Trung trước khi đồng chí về nhận chức Tư lệnh quân khu, thay đồng chí Trần Văn Quang vào làm Bí thư Khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Quân ủy trung ương và Bộ thống nhất thời gian nổ súng mở màn chiến dịch ở mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị, nhiệm vụ phối hợp với Trị - Thiên; lưu ý đến phương án tác chiến ở bắc giới tuyến quân sự tạm thời chống bộ binh địch tập kích và không quân địch đánh mạnh ở Khu 4.

Mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị mở ra và sự phát triển mới của chiến trường Trị - Thiên, đặt vùng đất Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Vĩnh Linh trở thành hậu phương trực tiếp, trong đó Quảng Bình và Vĩnh Linh trở thành hậu phương chiến dịch.

Ngày 19 và 20 tháng 8 năm 1966, Thường vụ Quân khu ủy 4 họp xác định: "Quân khu được Bộ giao nhiệm vụ dùng chủ lực của quân khu trực tiếp tác chiến ở chiến trường X (Quảng Trị) cùng với quân dân bắc Quảng Trị tiêu diệt địch, giải phóng đất đai ở khu vực này và để phối hợp với các chiến trường khác. Do đó, quân khu đã hoàn toàn trở thành một quân khu có chiến tranh, có vùng bị địch tạm chiếm là bắc Quảng Trị, có vùng tự do (Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An) đang chống chiến tranh phá hoại. Tất cả mọi hoạt động của quân khu đều nhằm giải quyết hai vấn đề chủ yếu:

1. Tập trung mọi khả năng bảo đảm đầy đủ mọi nhu cầu của tiền phương và quyết giành cho được thắng lợi to lớn ở đó.

2. Xây dựng, bảo vệ hậu phương chống chiến tranh phá hoại cho tốt, chuẩn bị tốt việc chống "chiến tranh cục bộ" mở rộng ra phạm vi quân khu. Nhiệm vụ nổi bật của quân khu là tập trung mọi khả năng hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ tác chiến ở mặt trận Quảng Trị"2.

Ngay sau khi mặt trận Đường số 9 được thành lập, Quân khu khẩn trương bổ sung cán bộ, chiến sĩ cho sư đoàn 324 và trung đoàn 31 là những đơn vị được điều vào mặt trận. Đoàn 22 huấn luyện quân tăng cường (đóng ở Nông Cống - Như Xuân, Thanh Hóa) tuyển thêm tân binh ở Thanh Hóa cùng với Trường Quân chính quân khu và cán bộ quân khu nghiên cứu thực tế chiến trường đường số 9 để huấn luyện sát nhiệm vụ chiến đấu. Hệ thống kho tàng, đội điều trị, trạm chuyển thương binh đường bộ và đường sông, các trạm sửa chữa vũ khí, phương tiện được bố trí, điều chỉnh lại trên cả hai tuyến đường núi (dọc các đường số 15, 12, đường số 7) và tuyến đồng bằng (theo quốc lộ số 1 và các tuyến đường liên hương).

2.600 dân công hỏa tuyến của Hà Tĩnh trở thành lực lượng phối thuộc của mặt trận. Khu vực Vĩnh Linh và tỉnh Quảng Bình đề cao tinh thần cảnh giác, thực hiện "ba không" (không nghe, không biết, không thấy) để "phòng gian, phòng gián, phòng biệt kích" và đẩy mạnh xây dựng làng xã chiến đấu. Ngày sản xuất, trưa, tối, dân quân tranh thủ huấn luyện bổ sung, nhân dân củng cố, phát triển hệ thống hầm hào, công sự, rào làng. Các xã phía sau huy động lực lượng nguyên liệu, vật liệu lên giúp các xã phía trước xây dựng làng, xã chiến đấu. Các gia đình đào thêm hầm, hào dự phòng cho bộ đội trú quân.

Hai tiểu đoàn ca-nông 100 và lựu pháo (trung đoàn 164 pháo binh Quân khu 4) cơ động vào phối hợp tác chiến với mặt trận Đường số 9 và phối hợp với mạng lưới pháo binh của các địa phương sẵn sàng đánh địch đổ bộ. Quân khu tăng cường 29 khẩu pháo 55 và 75 ly cho các tỉnh từ Nghệ An trở vào tổ chức các phân đội pháo dân quân vùng biển.
______________________________________________
1. Nghị quyết của Thường trực Quân ủy Trung ương về nhiệm vụ của chiến trường Trị - Thiên, tháng 4 năm 1966.
2. Nội dung hội nghị Thường vụ Quân khu ủy 4 ngày 19-20 tháng 8 năm 1966. Dự hội nghị có các đồng chí Lê Hiến Mai, Trần Văn Quang, Trương Công Cẩn, Vũ Lăng, Đàm Quang Trung và Trần Sơn. Đồng chí Lê Thanh, Tham mưu trưởng và đồng chí Nguyễn Ích Tỷ, Phó tham mưu trưởng quân khu được mời dự. Văn bản lưu tại bảo mật Quân khu 4.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 06:57:25 pm

Cuộc vận động xây dựng quyết tâm đánh thắng bộ binh địch, được tiến hành sâu rộng khắp quân khu. Từng đội sản xuất, từng tiểu đội, trung đội lực lượng vũ trang đăng ký, giao ước chỉ tiêu chiến đấu, phục vụ chiến đấu, sản xuất, phòng tránh: địch đông bao nhiêu cũng đánh, chúng đến lúc nào cũng đánh, đánh thắng cả địch trên trời, ngoài biển, trên biên giới và nội địa.

Vừa tập trung bảo đảm cho tiền phương, Khu 4 vừa tổ chức lực lượng đánh máy bay, tàu chiến địch có hiệu quả. Tiêu biểu là các trận: ngày 3 tháng 2 năm 1966, bắn rơi một A3J tại cầu Hoàng Mai. Ngày 7 tháng 4 năm 1966, quân, dân Nghệ An bắn rơi hai máy bay Mỹ (đây là chiếc thứ 900, 901 bị bắn rơi ở miền Bắc). Đến cuối tháng 5 năm 1966, số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời Khu 4 đã lên tới 500 chiếc. Các địa phương khẩn trương mở các chiến dịch sửa đường, san lấp hố bom, làm đường vòng tránh, bến vượt, đóng mới và sửa chữa các phương tiện bảo đảm giao thông. Nghệ An, Hà Tĩnh, tổ chức thêm 182 đội công binh nhân dân gồm 2.580 người. Quảng Bình tổ chức đội xung kích bảo đảm giao thông vận tải ở từng xã, gồm thanh niên và dân quân tự vệ, Thanh Hóa tổ chức thêm bốn đại đội công binh, tiếp nhận thêm một tiểu đoàn (gồm ba đại đội) của tỉnh Hòa Bình. Tỉnh huy động 753 xe đạp thồ, 683 thuyền và 3.451 thủy thủ tổ chức thành các đơn vị chuyên chở hàng quân sự, chuyển thương binh. Các cơ sở sản xuất phao phà được mở rộng về quy mô...

Tại các bến vượt và những trọng điểm địch đánh phá, các trạm điều chỉnh xe được củng cố, tăng cường, nhằm khắc phục tình trạng ùn xe, tắc đường, hoặc bị bom địch phá hủy do thiếu thông tin.

Ngoài ra, các địa phương tổ chức thêm các trạm quan sát báo động ban đêm, hướng dẫn xe vào các nơi giấu xe. Hà Tĩnh là nơi đầu tiên có sáng kiến hình thành hệ thống trạm đèn tín hiệu phòng không trên các tuyến đường. Đèn có mái che; ánh sáng dọi ra vừa tầm đủ cho người lái xe thấy, có trục quay và dây điều khiển kéo đến hầm người gác. Những ngọn đèn trên các nẻo đường Khu 4 đã trở thành chỗ dựa đầy tin cậy cho các chiến sĩ lái xe vững vàng tay lái.

Bên cạnh hệ thống trạm đèn, nhân dân còn trồng cây ngụy trang, làm cọc tiêu, quét vôi ở các thân cây còn lại bên đường. Kỹ thuật và kỷ luật chạy xe bằng đèn ngầm, kỷ luật sử dụng ánh sáng, đèn, lửa trong mọi sinh hoạt ban đêm được quy định và kiểm tra nghiêm ngặt.

Đối phó với các loại máy bay tuần thám xăm tìm, Quảng Bình đào âu phà ngay gần bến, sáng tháo nút dìm phà, tối đóng nút bơm cạn nước cho phà nổi, không mất thời gian đi về cất giấu. Tỉnh Hà Tĩnh chuyển từ phà kéo tay sang cầu dẫn, tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian, tăng lưu lượng xe từ ba tới bốn lần.

Ủy ban hành chính Thanh Hóa quyết định lập công ty xe đạp thồ thuộc ty giao thông vận tải để đáp ứng yêu cầu vận chuyển ngày càng tăng. Tỉnh giao chỉ tiêu cho 10 huyện dọc các tuyến giao thông tổ chức các đội xe thồ kết hợp vận chuyển bộ. Các xã có sông tổ chức thuyền vận tải.

Trên bến Đò Lèn, trung đội công binh (thuộc Quân khu 3) có sáng kiến bắc, dỡ cầu phà theo kiểu "rồng rắn" trên sông, giảm bớt thời gian chờ đợi bắc, dỡ tại bến từ 39 đến 40 phút.

Khắp 26 bến vượt lớn và khắp nơi trên các tuyến giao thông, lực lượng công binh ba thứ quân cùng với thanh niên xung phong ngày đêm đối đầu với gian khổ, hiểm nguy, thực hiện: "Sống bám trụ cầu đường, chết kiên cường dũng cảm", "Tăng từng tấn, lấn từng chuyến". Trên khắp các địa phương quân khu, tại những khu vực địch đánh phá ác liệt, nhân dân đã "Nhường nhà để hàng, nhường làng để xe". Ba trăm cụ phụ lão và lớp tuổi trung niên xã Kỳ Trinh (Kỳ Anh) mở "hội Diên Hồng” cùng hướng về tuyến đường qua xã mình, nơi có những chiếc cầu địch đánh hàng chục lần, tuyên thệ: "Kỳ Trinh không chịu bó tay. Mạch máu ta tắc, giao thông không thể tắc". Dân quân và các đoàn thể họp bàn, từng hộ đóng góp phương tiện, nguyên liệu, vật liệu sửa chữa đường sá, cầu, cống. Mỗi người dân trong xã có một dụng cụ làm đường, một gánh vật liệu để sẵn sàng chống lầy. 4.050 dân xã Kỳ Trinh dành ra 82.000 công, khai thác 1.550 mét khối đá, thường xuyên đảm nhận ứng cứu cho tuyến đường tám ki-lô-mét quốc lộ số 1 với hơn chục cầu lớn nhỏ, làm thêm 18 ki-lô-mét đường xe, mua sắm 242 xe "cút kít” vừa phục vụ sản xuất, vừa phục vụ giao thông. Hơn 8.000 cây tre, khóm nứa và hàng nghìn các loại cây ngụy trang khác được chuyển ra trồng hai bên đường. Sáng kiến của Kỳ Trinh được phổ biến rộng toàn huyện Kỳ Anh. Du kích các xã xa mặt đường luân phiên tới phối hợp trực chiến với các xã ven đường. Mỗi xã đều nhận phụ trách một đoạn đường. Hai bên đường cứ cách từ năm đến 10 mét có một hầm tròn, 20 mét có một cọc tiêu, khoảng từ một đến hai ki-lô-mét có một trạm đèn. Các xã gần đường có trạm đón tiếp xe. Các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên hướng dẫn xe vào nơi ẩn nấp, ngụy trang xe, bố trí nơi ăn nghỉ cho lái xe. Mỗi xã đều có đội công binh nhân dân. Toàn huyện làm thêm 41 ki-lô-mét đường xe và sửa 100 ki-lô-mét đường liên hương.

Trong ba ngày: 5, 6 và 7 tháng 5 năm 1966, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu tiến hành đại hội "Thi đua quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" toàn quân khu. Hơn 200 đại biểu từ khắp các chiến trường và địa phương trong quân khu về xã Thanh Khê (Thanh Chương, Nghệ An), dự đại hội. Đại hội nhiệt liệt biểu dương 952 cán bộ, chiến sĩ, 139 đơn vị quyết thắng và các đơn vị là lá cờ đầu của phong trào thi đua: đại đội 3 Nguyễn Viết Xuân, đảo Cồn Cỏ, xã Vĩnh Giang, xã Ngư Thủy, xã Hướng Trạch...

Thiếu tướng Lê Hiến Mai, Ủy viên Trung ương Đảng, Chính ủy quân khu và đồng chí Võ Thúc Đồng, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Hội đồng quốc phòng quân khu, Bí thư tỉnh ủy Nghệ An, được ủy nhiệm của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trao cờ thưởng danh dự cho hai tỉnh Nghệ An, Quảng Bình, trao Huân chương Độc lập hạng hai cho bộ đội Cồn Cỏ.

Tiếp đó, Quân khu mở hội nghị sơ kết ba năm thực hiện cuộc vận động xây dựng chi bộ 4 tốt, rút ra những bài học kinh nghiệm tiếp tục tăng cường vai trò, vị trí lãnh đạo của chi bộ trước yêu cầu nhiệm vụ mới.

Ở Trị - Thiên, ngay sau khi thành lập, Khu uy và Quân khu ủy chủ trương đẩy mạnh hoạt động trong những tháng 6, 7, 8 năm 1966 để phối hợp với toàn miền và mặt trận Đường số 9.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 06:58:24 pm

Ngày 29 tháng 6 năm 1966, ta chính thức mở mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị.

3 giờ ngày 29, đại đội đặc công sư đoàn 324 tập kích vị trí Đầu Mầu, diệt gần hết trung đội bảo an đồn trú. Cùng lúc, pháo binh sư đoàn dội đạn vào Cam Lộ, loại khỏi vòng chiến hàng trăm tên địch.

Sáng 30 tháng 6, tiểu đoàn 3 trung đoàn 3 chặn đánh địch từ Cùa ra Phương An, diệt 45 tên, phá sập cầu xóm Búng và vây ép tiểu đoàn 3, trung đoàn 2 (sư đoàn 1 ngụy) ở Cùa. Bị mất Đầu Mầu và bị vây ép ở Cùa, ngày 5 tháng 7 năm 1966, địch mở cuộc hành quân "Lam Sơn 287", đưa hai tiểu đoàn dù đến giải vây cho lực lượng của chúng ở Cùa. Bị đánh mạnh, ngày 6 tháng 7, địch phải lui quân. Ngày 8 tháng 7, sư đoàn 1 ngụy tung bốn tiểu đoàn vào cuộc hành quân "Lam Sơn 288", đánh chiếm Đầu Mầu. Trước sự xuất hiện của bộ đội chủ lực miền Bắc ở đường số 9, Mỹ - ngụy bắt ngờ và lo sợ. Chúng tăng cường các hoạt động trinh sát trên không, dồn dập ném bom, bắn phá liên tục cả ngày đêm những nơi nghi ngờ có quân ta. Từ ngày 4 đến 14 tháng 7 năm 1966, Mỹ - ngụy điều lực lượng lính thủy đánh bộ từ Huế và Phú Bài ra Đông Hà.

Ngày 11 và 12 tháng 7, Oét-mo-len, tổng chỉ huy quân Mỹ và chư hầu ở miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Thiệu tổng thống và Nguyễn Cao Kỳ thủ tướng ngụy cùng với tư lệnh vùng 1 chiến thuật thị sát chiến trường, quyết định sử dụng một lực lượng lớn bao gồm bảy tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, hai chiến đoàn ngụy (có ba tiểu đoàn dù và một tiểu đoàn bộ binh thuộc lực lượng tổng dự bị ngụy), hai chi đoàn xe tăng, mở cuộc hành quân mang tên Hát-xting hòng giải tỏa đường số 9.

Lính thủy đánh bộ Mỹ từ Chu Lai, Đà Nẵng và lực lượng dự bị quân ngụy từ Sài Gòn ồ ạt đổ ra đường số 9. Máy bay B52 ném bom ác liệt vùng Cù Đinh - Ba De.

Ngày 15 tháng 7, máy bay lên thẳng đổ hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ xuống Cù Đinh - Ba De, chặn đường di chuyển lực lượng của ta, một tiểu đoàn của trung đoàn l ngụy xuống bản Hiệu, các điểm cao 300, 215 và Gia Hy. Tiểu đoàn 5 lính thủy đánh bộ Mỹ cũng được hành quân bằng trực thăng tới Sáp Đá Mài yểm trợ cho cánh ở Cù Đinh.

Cù Đinh cách thị trấn Cam Lộ 12 ki-lô-mét về phía tây-bắc. Lính thủy đánh bộ Mỹ đảm nhận mũi chủ yếu ở bắc đường số 9. Tập trung lực lượng vào khu vực này gồm ba tiểu đoàn ngụy đứng chân ở Cùa - sườn phía nam đường số 9, cách Cam Lộ tám ki-lô-mét phía tây-nam, một bộ phận quân địch bố trí ở Gio Linh làm lực lượng dự bị.

Lần đầu đọ sức với lính thủy đánh bộ Mỹ, cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 324 vận dụng kinh nghiệm: "bám thắt lưng Mỹ mà đánh" của các đơn vị từng đánh Mỹ ở Vạn Tường, liên tục tiến công quân địch ở Cù Đinh, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 trung đoàn 4 lính thủy đánh bộ Mỹ, buộc quân Mỹ tại đây phải chuyển sang phòng ngự, dùng không quân và pháo binh bắn phá dữ dội trận địa ta. Đồng thời, chúng phải vội vã điều hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ từ Đà Nẵng ra ứng cứu.

Ngày 16 tháng 7, tiểu đoàn 1 trung đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ đổ quân xuống Cù Đinh, Be De, lập tức bộ đội ta bám đánh ngay từ đầu, tiêu diệt nhiều sinh lực và máy bay lên thẳng của địch. Hãng AFP ngày 17 tháng 7 năm 1966 nhận xét: "Sở chỉ huy tiểu đoàn 1 trung đoàn 3 lính thủy đánh bộ giống như bãi tha ma máy bay trực thăng".

Ngày 19 tháng 7, tiểu đoàn 3 trung đoàn 9 Mỹ rút bỏ Ba De, lùi về điểm cao 182, tiểu đoàn 2 trung đoàn 4 chuyển sang tây Cù Đinh một ki-lô-mét, bỏ lại trận địa còn nham nhở hố bom và khét lẹt thuốc súng. Sở chỉ huy trung đoàn 1 ngụy ở Cam Lộ bị uy hiếp mạnh, máy bay B52 phải dội bom vào khu vực xung quanh hòng giải tỏa. Địch đổ thêm hai tiểu đoàn xuống Tân Lâm và Sáp Đá Mài (tây - tây-bắc Cam Lộ từ 8 tới 10 ki-lô-mét). Ta chặn đánh kìm địch ở Sáp Đá Mài; bao vây, pháo kích, tập kích địch ở Cù Đinh. Từ sáng đến trưa ngày 18 tháng 7, lực lượng địch ở Sáp Đá Mài định ứng cứu cho Cù Đinh bị chặn đánh liên tiếp. Tiểu đoàn 3 trung đoàn 5 từ hạm đội 7 được lệnh vận chuyển cấp tốc bằng đường không vào lập khu phòng thủ mới. Ngay khi mới đổ quân, bọn này đã bị đánh liên tục. Đêm đến, ta đánh thốc vào bãi đỗ máy bay lên thẳng và sở chỉ huy tiểu đoàn, diệt 50 tên. Các cánh quân địch ở khu vực điểm cao 402 (bắc đường số 9), ở phía trung đoàn 4 đều bị đánh. Một đại đội địch đánh chiếm Đầu Mầu, bị diệt gần hết. Tại điểm cao 402, xạ thủ súng máy Nguyễn Phi Hùng lợi dụng xác địch làm vật che đỡ, bám trụ lại bên bìa rừng, đánh lui hết tốp lính này đến tốp lính khác, cùng đồng đội hạ máy bay lên thẳng, giữ vững trận địa. Nhiều trận đánh liên tiếp diễn ra trong ngày 18 tháng 7. Phát ngôn viên quân sự Mỹ ở Sài Gòn thú nhận: "Hai đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ đã bị thiệt hại nặng trong một trận đánh kéo dài bốn giờ. Quân Mỹ đã phải thu hẹp lại chu vi phòng thủ và phải củng cố lại hàng ngũ" (AP, ngày 19 tháng 7 năm 1966).

Ngày 19 và 20 tháng 7 năm 1966, máy bay lên thẳng Mỹ lại đổ quân xuống Cù Đinh, Khe Chùa (đông nam Cù Đinh, tây bắc Cam Lộ). Bộ Tư lệnh mặt trận cho rằng, ý đồ của địch là tập trung lực lượng lập tuyến phòng ngự Ba De - Cù Đinh - Sáp Đá Mài - Cam Lộ - Tân Lâm - cầu Đầu Mầu. Bộ Tư lệnh ra lệnh cho các đơn vị phải tích cực tiến công quân địch. Ngày 19 tháng 7, lợi dụng lúc địch đang dồn quân, ta liên tiếp tổ chức bốn trận đánh vào tiểu đoàn quân Mỹ mới đổ xuống Khe Chùa. Sáng ngày 20, khi địch rục rịch bỏ điểm cao đông nam Cù Đinh, ta vận động diệt 80 tên, hạ một máy bay. Đêm hôm đó, pháo cối ta bắn phá dữ dội vào quân Mỹ ở Cù Đinh. Suốt sáu ngày chiến đấu, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 700 tên địch, bắn rơi 20 máy bay lên thẳng. Ngày 20 và 21 tháng 7, địch bắt đầu co cụm. Ngày 23 tháng 7, ta tập kích nhiều nơi. Đêm 24 tháng 7, quân ta xiết chặt vòng vảy, nã cối vào bãi đỗ máy bay lên thẳng ở Cù Đinh. Tiểu đoàn 5 lính thủy đánh bộ Mỹ mất sức chiến đấu. Mỹ phải đưa quân ngụy vào vòng chiến và rút lính Mỹ ở Cù Đinh về lập tuyến phòng ngự ở nam đường số 9.

Những tháng tiếp theo, địch tập trung củng cố tuyến phòng ngự kéo dài từ Lao Bảo đến Cửa Việt; gấp rút xây dựng các căn cứ lớn Đông Hà, Ái Tử, Đồng Lâm, Phú Bài, củng cố hệ thống sân bay, kho tàng, đường sá; đồng thời mở cuộc hành quân "Đếch-hao" đánh vào vùng Cam Lộ (từ ngày 7-7 đến 3-8), cuộc hành quân "Đồng cỏ" đánh ra Cồn Tiên (từ 3-8-1966 đến 31-1-1967).

Mặt trận Đường số 9 – bắc Quảng Trị vừa mở ra đã giành được thắng lợi có ý nghĩa lớn: tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, thu hút và kìm chân một bộ phận chủ lực Mỹ - ngụy gần 41.000 tên, trong đó có 16.700 lính Mỹ, phối hợp đắc lực toàn miền Nam trong hè-thu năm 1966.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 06:59:26 pm

Trong khi tiếng súng ở mặt trận Đường số 9 rộ lên, thì ở Trị - Thiên, bộ đội địa phương hai tỉnh và các huyện tiến xuống đồng bằng cùng dân quân, du kích đẩy mạnh tác chiến, cắt đường giao thông, phá sập đồn bốt và lô cốt, tiêu diệt bọn bảo an, hỗ trợ cho nhân dân giành quyền làm chủ, lập làng chiến đấu. Quanh các khu vực có quân Mỹ đóng đã xuất hiện thêm các "vành đai diệt Mỹ" như Phú Bài, Đồng Lâm...

Du kích Phong Nguyên, Quảng Thái, Phú Đa kết hợp vũ khí thô sơ và bắn tỉa đánh bại các cuộc càn quy mô đại đội và tiểu đoàn địch (tháng 7 năm 1966). Du kích Triệu Ái, Triệu Giang phục kích diệt xe, cướp súng (tháng 6 năm 1966). Du kích Tân Lộ (Quảng Trị) táo bạo đưa lực lượng bí mật vào phục kích ngay phía trong hàng rào đồn địch, diệt bọn đi tuần và cướp súng. Hầu hết các cầu nhỏ và cống lớn trên đường giao thông của địch đều bị dân quân, du kích đánh phá. Trong tháng 8 năm 1966, nhiều đoạn giao thông của địch tê liệt từ hai tới ba ngày. Bằng nhiều hình thức: đắp ụ nghi binh, đào hố, kết hợp cài mìn, phục kích trên đường giao thông, du kích đã làm cho địch nơm nớp lo sợ, mất rất nhiều thời gian dò phá, khắc phục. Bộ đội địa phương, dân quân, du kích cùng nhân dân xung quanh "vành đai" liên tục bám đánh địch. Du kích Phong Sơn diệt một trung đội. Dân quân ba xã Quảng Ninh, Quảng Đại, Quảng Hòa (Quảng Điền) đồng loạt nổi dậy phối hợp với bộ đội bao vây bức rút một số đồn địch ở Lương Mai, Nam Giảng, Tà Rụt, Khe Tre. Lực lượng vũ trang cững đã thọc sâu xuống vùng phía dưới quốc lộ số 1, quận lỵ, thành phố Huế, cùng cán bộ chính trị tuyên truyền khởi nghĩa giành dân, mở rộng vùng giải phóng ở Thanh Thủy Thượng, Quảng Điền, diệt ác, phá kìm ở Phong Điền. Đêm 19 tháng 6, lần đầu tiên, lực lượng vũ trang Huế tiến công diệt chi khu quân sự Phú Xuân. Tiểu đoàn 6 trung đoàn 6, phối hợp với du kích và nhân dân đánh bại một tiểu đoàn Mỹ càn vào xã Phong Chương, bắn rơi bốn máy bay; phục kích một đoàn xe quân sự ở ngã tư Đồng Lâm. Lực lượng pháo binh chuyên trách đánh vào các bãi pháo và khu vực đóng quân của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng. Bộ đội đặc công tập kích sâu vào hậu cứ của một tiểu đoàn vận tải ngụy đóng ở An Cựu (thành phố Huế), diệt và làm bị thương gần 100 tên, đánh cháy nhiều xe ô-tô.

Ở vùng núi và giáp ranh, phong trào đánh máy bay, biệt kích phát triển. Riêng ba huyện miền núi Thừa Thiên thường xuyên có 45 tổ phục kích đánh máy bay và đánh biệt kích. Du kích miền núi còn phối hợp với bộ đội địa phương bao vây đồn bốt, bắn tỉa, đánh mìn, gài chông, tiêu hao và tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hỏng một số phương tiện chiến tranh của chúng, góp phần bảo vệ vững chắc căn cứ và vùng giải phóng miền núi, tạo điều kiện cho trung đoàn 6 chủ lực liên tục đánh địch ở khu vực giáp ranh, trên các tuyến đường giao thông; hỗ trợ cho bộ đội tỉnh, huyện đẩy mạnh hoạt động diệt các cụm bảo an, dân vệ; mở rộng vùng giải phóng đồng bằng.

Ngày 29 tháng 6 năm 1966, trung đoàn 6 tổ chức trận đánh "độn thổ" ở Cầu Nhi trên đường số 1, cách Huế 20 ki-lô-mét về phía tây-bắc. Cầu Nhi do một trung đội địch bảo vệ. Tiểu đoàn 2 do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quốc Khánh chỉ huy, cùng các đại đội trinh sát, thông tin, công binh và đại đội 16 cối 82 của trung đoàn được giao nhiệm vụ đánh địch. Suốt một đêm thức trắng đào hầm, đến 5 giờ sáng 29 tháng 6, bộ đội đã hoàn thành việc chuẩn bị trận địa. Ta vừa bố trí xong lực lượng, thì địch cho 26 xe GMC chở đầy lính từ Huế ra tiếp ứng cho đường số 9 - Quảng Trị.

Khi 26 chiếc GMC lọt vào trận địa phục kích, các cỡ súng 12,7, cối 82, súng bộ binh đồng loạt nhả đạn vào đội hình hành quân của địch. Vừa đánh chính diện vừa chốt chặn đường rút của địch, tiểu đoàn 2 đã biến Cầu Nhi thành mồ chôn viện binh địch. Sau tám phút chiến đấu, cả 26 xe GMC đều bị bắn cháy, bắn hỏng; toàn bộ tiểu đoàn 2 lính thủy đánh bộ ngụy được tăng cường một đại đội, cùng ban chỉ huy tiểu đoàn gồm một đại tá, một trung tá và ba thiếu tá bị tiêu diệt. Ta thu 30 súng bộ binh và 6 súng cối.

Ngay sau đó, địch vội vã điều 30 xe lội nước từ Phò Trạch ra, cùng với một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống các điểm cao 53 và 79 để bao vây, chặn đường ta lui quân. Nhưng bộ đội ta đã rút về căn cứ an toàn.

Cuối tháng 7 năm 1966, một tiểu đoàn ngụy được tăng cường một đại đội bảo vệ và một nhóm "hải tặc" tổ chức một cuộc càn vào thôn Vĩnh Trình (Phú Vang). Tiểu đoàn 2 bộ đội địa phương đã phối hợp cùng dân quân, du kích bí mật đón địch và chiến đấu kiên cường bẻ gãy các mũi tiến công của địch. Sau một giờ chiến đấu, tiểu đoàn bộ và đại đội trợ chiến thuộc trung đoàn 2 ngụy bị tiêu diệt, ta thu toàn bộ vũ khí.

Đêm mùng 1 rạng ngày 2 tháng 8 năm 1966, tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Thừa Thiên vận động tập kích tiểu đoàn 4 trung đoàn 3 ngụy vừa đi càn quét về đứng chân ở Diên Đại, án ngữ phía đông-bắc Huế. Sau 20 phút chiến đấu, ta đã tiêu diệt sở chỉ huy tiểu đoàn và một đại đội địch, bắt sống một đại tá, hai cố vấn và thu nhiều tài liệu quan trọng.

Kết thúc đợt hoạt động hè-thu 1966, ta đã khôi phục lại vùng nông thôn Trị - Thiên bị địch lấn chiếm từ cuối năm 1965 đấu năm 1966. Đến tháng 11 năm 1966, có 500 thôn với 350 nghìn dân trong số 929 thôn thuộc vùng đồng bằng Trị - Thiên đã giành quyền làm chủ, mở ra vùng giải phóng liên hoàn kéo dài hơn 60 ki-lô-mét từ Triệu Phong đến Quảng Điền, Phú Vang.

Thắng lợi về quân sự, chính trị ở đường số 9 và Trị - Thiên góp phần cùng toàn miền Nam giữ vững và củng cố thế chủ động chiến lược; đẩy địch lún sâu vào thế phòng ngự trên chiến trường.

Nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược, đế quốc Mỹ tiếp tục tăng quân, nâng tổng số quân Mỹ và chư hầu có mặt tại miền Nam cuối năm 1966 lên 395 nghìn tên, quân ngụy lên tới 560 nghìn tên và mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai vào mùa khô 1966 - 1967. Chúng tập trung lực lượng vào hướng chính là miền Đông Nam Bộ; trọng điểm là chiến khu Dương Minh Châu. Trên các hướng từ Trị - Thiên đến Quảng Ngãi, Tây Nguyên, đồng bằng Khu 5 và đồng bằng sông Cửu Long, địch chủ trương kiềm chế ta. Phía mặt trận Đường số 9 địch tăng cường khả năng phòng thủ nhằm ngăn chặn bộ đội chủ lực của ta.

Hỗ trợ cho các hoạt động trên chiến trường miền Nam, không quân, hải quân địch tăng cường đánh phá miền Bắc, vừa ngăn chặn chi viện, vừa gây sức ép mạnh đối với ta.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 07:04:05 pm

Sau khi dùng máy bay B52 đánh vào Hướng Lập, Vĩnh Linh (ngày 15 tháng 10 năm 1966) và tiếp tục đánh phá ác liệt các nơi khác, tháng 12 năm 1966, Mỹ đánh lớn bốn đợt vào ngoại vi Hà Nội.

Giôn-xơn thông qua kế hoạch tiến công mùa xuân bằng không quân "nhằm đánh mạnh vào sáu hệ thống mục tiêu ở miền Bắc"1 chuẩn y kế hoạch tăng cường độ đánh phá của máy bay chiến lược B52 từ 60 lần chiếc lên 800 lần chiếc một tháng. Số phi vụ máy bay chiến thuật, từ chỗ 12.000 lần xuất kích một tháng tăng lên 84.000 lần2. Đồng thời, địch dùng pháo hạm và hải quân khống chế ven biển phía bắc vĩ tuyến 17, 18, nhằm cô lập Hải Phòng, Hà Nội, chặn mọi luồng tiếp tế vận chuyển từ ngoài vào Việt Nam, từ miền Bắc vào miền Nam và mọi luồng tiếp tế trong nội địa.

Dưới bom đạn đánh phá ác liệt của kẻ thù, lực lượng phòng không các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh đánh giỏi, bắn trúng, hạ nhiều máy bay Mỹ. Ngày 31 tháng 8. Quảng Bình bắn rơi tại chỗ một chiếc F4. Đầu tháng 9 năm 1966, trung đoàn 214 cao xạ bảo vệ bến vượt Xuân Sơn (Quảng Bình) chiến đấu quyết liệt, bắn rơi hai chiếc. Cũng thời gian này, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa hạ sáu chiếc. Giữa tháng 9, quân dân thành phố Vinh đã bắn rơi chiếc thứ 100 trên bầu trời thành phố. Các ngày 21, 22, 23 tháng 9, địch mở đợt đánh phá ác liệt cầu Hàm Rồng. Lực lượng bảo vệ cầu cùng quân và dân Thanh Hóa chiến đấu anh dũng, hạ tám máy bay. Trong tháng 10, thêm ba chiếc bị bắn cháy trên vùng trời khu vực Bò Lăn (Thanh Hóa).

7 giờ ngày 11 tháng 11, tiểu đoàn 6 pháo cao xạ Vĩnh Linh và tiểu đoàn 5 trung đoàn 218 bắn rơi một chiếc L19 tại Hải Cụ. Một giờ sau, hỏa lực phòng không của bộ đội lại phối hợp với dân quân Vĩnh Thủy bắn rơi hai chiếc F4 từ biển lao vào đánh phá trận địa pháo. Trong ngày 11 tháng 11, ba máy bay Mỹ còn tiếp tục bị bắn rơi trên đất Vĩnh Linh.

Nhằm động viên kịp thời quân và dân Vĩnh Linh, ngay 15 tháng 11 năm 1966, Bác Hồ đã gửi thư khen. Thư của Bác có đoạn: "Đó là chiến công oanh liệt của một địa phương trong một ngày. Giặc Mỹ đã phải thú nhận, đó là một ngày đen tối của không quân chúng. Các địa phương hãy ra sức đánh giỏi, thắng lớn như Vĩnh Linh".


Tháng 10 năm 1966, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp đề ra chủ trương đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị động viên cả nước cố gắng lớn hơn nữa tranh thủ thời cơ giành thắng lợi to lớn, toàn diện trong năm 1967. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua sáu phương thức tác chiến chiến lược áp dụng trên các chiến trường. Tiếp đó, Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng lần thứ 13 họp từ ngày 23 đến 26 tháng 1 năm 1967, đã quyết định mở mặt trận tiến công ngoại giao nhằm tố cáo mạnh mẽ những tội ác của đế quốc Mỹ trước dư luận thế giới, đề cao chính nghĩa của ta, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quốc tế.

Đối với chiến trường Trị - Thiên - Huế, Quân ủy trung ương chỉ thị: "Tiếp tục quán triệt và tích cực thi hành Nghị quyết Trung ương lần thứ 12, Nghị quyết Bộ Chính trị, Nghị quyết của Thường trục Quân ủy về chiến trường Trị - Thiên - Huế (tháng 4 năm 1966) mà thực hiện với quyết tâm cao hơn, cố gắng với tinh thần sáng tạo hơn nhằm đẩy chiến trường Trị - Thiên - Huế lên một bước mới, trở thành một chiến trường đánh tiêu diệt, tiêu hao nhiều lực lượng địch, phát triển chiến tranh nhân dân đến trình độ cao, giành thắng lợi lớn"3.

Về nhiệm vụ của mặt trận Đường số 9 trong tình hình mới, Đảng ủy B5 có nghị quyết chỉ rõ: chiến trường đường số 9 phải là nơi "bắt giặc Mỹ phải trả giá đắt, tiêu diệt từng bộ phận quan trọng quân Mỹ và kiềm chế, tiêu hao lực lượng chúng ở mức cao nhất, đồng thời tạo thời cơ cùng quân dân Trị - Thiên - Huế tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy"4.

Do vị trí của Khu 4 và mặt trận Đường số 9, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng dành nhiều thời gian làm việc với Thường vụ đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Các đồng chí Lê Quang Đạo, Ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trần Sâm, Thứ trưởng quốc phòng; Vương Thừa Vũ, Phó Tổng tham mưu trưởng vào Khu 4 đôn đốc, giúp đỡ, kiểm tra việc triển khai nhiệm vụ.

Ngày 26 tháng 1 năm 1967, Hội nghị Quân khu ủy 4 được triệu tập. Dự hội nghị có các đồng chí: Lê Quang Hòa, Trần Thế Môn, Vũ Lăng, Hoàng Kiện, Lê Thanh, Phan Văn Đường, Đoàn La, Trần Sơn (hai đồng chí Đàm Quang Trung và Nguyễn Xuân Hoàng vắng mặt vì đang chỉ huy chiến đấu ở mặt trận Đường số 9). Hội nghị xác định rõ: Quân khu có bốn nhiệm vụ trên ba chiến trường. Những nhiệm vụ đó rất to lớn, nặng nề, khẩn trương, phức tạp nhằm thực hiện một phương hướng chiến lược của Trung ương Đảng "đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trên chiến trường chính là miền Nam".

Quân khu 4 và mặt trận Đường số 9 khẩn trương bổ sung quân số, trang bị, nội dung huấn luyện, tổ chức biên chế lại các lực lượng chiến đấu cho phù hợp yêu cầu tham gia đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của Mỹ. Ngoài việc tiếp tục kiện toàn cách đánh của các phân đội để mở rộng diện đánh tiêu diệt, quân khu và mặt trận tích cực nghiên cứu giải quyết cách đánh của các trung đoàn, nhằm tiêu diệt từng đơn vị quân địch. Từ cấp quân khu xuống tới các đơn vị, địa phương tích cực chuẩn bị tư tưởng và tổ chức bảo đảm chiến đấu liên tục trong điều kiện ác liệt và gian khổ hơn trước nhiều lần; tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng các đơn vị cơ sở một cách toàn diện, quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật, nuôi quân, phòng bệnh, khắc phục hiện tượng đào ngũ, giảm bớt thương vong.

Quân khu và mặt trận khẩn trương làm thêm mạng đường cơ động, điểu chỉnh lại hệ thống cơ sở tiếp nhận thương binh, bệnh binh, hệ thống kho tàng. Hơn 3.000 dân công Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, bổ sung cho mặt trận. Trung đoàn 152 chuyển vào mở đường Bồng Lai - Vít Thù Lù. Bộ Giao thông vận tải đảm nhận thêm phần bảo đảm giao thông ở tuyến đường số 8 và đường số 12.
______________________________________________
1. Sáu hệ thống mục tiêu: điện lực, công nghiệp, giao thông thủy bộ, các kho nhiên liệu, hệ thống phòng không, các cơ quan quân sự.
2. Mác Na-ma-ra muốn hạn chế ở mức 12.000 lần chiếc như tháng 10 năm 1966, nhưng phái hiếu chiến đã thắng trong quyết định "gia tăng sức ép không thương tiếc đối với hai miền Nam – Bắc Việt Nam.
3. Chỉ thị Quân ủy Trung ương gửi chiến trường Trị - Thiên - Huế, tháng 1 năm 1967.
4. Nghị quyết hội nghị Đảng ủy B5, họp tháng 1 năm 1967.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 07:06:16 pm

Tất cả lực lượng vũ trang ở phía nam Quân khu 4 được bố trí lại đội hình theo phương án vừa bảo đảm tác chiến tốt ở đường số 9, vừa chống chiến tranh phá hoại có hiệu quả, vừa sẵn sàng đánh thắng địch tiến công bằng bộ binh ra nam Quân khu.

Các trung đoàn thuộc sư đoàn 324 và trung đoàn 31 tác chiến ở đường số 9, sư đoàn 325 cùng với ba trung đoàn pháo binh chủ lực, ba tiểu đoàn, sáu đại đội bộ đội địa phương và 30.000 dân quân, du kích, tự vệ được trang bị mạnh, sẵn sàng đánh bộ binh Mỹ.

Quân khu 4 điều tiểu đoàn 1 pháo binh 130 ly (trung đoàn 164) từ Nam Đàn vào đứng chân ở Vĩnh Linh có nhiệm vụ đánh địch ở phía nam và sẵn sàng chi viện cho Cồn Cỏ.

Quân khu mở lớp tập huấn học tập kinh nghiệm đánh tập trung lớn của chủ lực ở miền Nam. Các đồng chí bí thư tỉnh ủy, huyện ủy, chỉ huy các đơn vị về dự, có thêm những kiến thức về vận dụng chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu...

Lực lượng cao xạ quán triệt tư tưởng chỉ đạo: "tích cực tiêu diệt địch, khống chế trọng điểm, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ giao thông là chủ yếu, coi trọng đúng mức nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu kinh tế quan trọng và dân cư..." đã điểu chỉnh lại việc bố trí trên các hướng trọng điểm:

Cụm trung đoàn 222 bảo vệ đập Đô Lương và đường số 7, đường số 15, đường số 1 ở phía bắc Nghệ An, với các trọng điểm cụm cầu, ba-ra, phà Đô Lương và các cầu Bùng Đao, Yên Lý.

Cụm trung đoàn 282, bảo vệ khu vực Vinh - Bến Thủy và các tuyến giao thông phía nam Nghệ An (trên trục đường số 34, 49, 15, 1) với các trọng điểm Vinh - Bến Thủy, cầu Cấm, Phương Tích, Nam Đàn.

Cụm trung đoàn 284 cơ động đánh địch trên tuyến đường số 1 từ Hà Tĩnh đến bắc Gianh.

Cụm trung đoàn 214, chốt kết hợp cơ động đánh địch ở khu vực "tứ giác" Xuân Sơn - Gianh - Quán Hàu - Long Đại.

Cụm trung đoàn 280 cơ động đánh địch trên tuyến đường số 12, đường số 15 ở tây Quảng Bình và tuyến đường goòng Đò Vàng (Tuyên Hóa).

Cụm trung đoàn 218 hiệp đồng tác chiến với mặt trận Đường số 9 (B5) bảo vệ hậu phương chiến dịch.

Tiểu đoàn 74 và 75 (súng 12,7 ly) tăng cường cho mặt trận Đường số 9.

Trung đoàn 238 tên lửa chuyển hai tiểu đoàn vào phục kích ở Vĩnh Linh - Quảng Bình với quyết tâm bắn rơi B52; hai tiểu đoàn còn lại bố trí ở bắc quân khu.

Hai tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly của quân khu (tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân và tiểu đoàn 12) bố trí ở Nghệ An.

Trên địa bàn Thanh Hóa có trung đoàn 228.

Lực lượng phòng không địa phương gồm có tiểu đoàn 6 Vĩnh Linh, tiểu đoàn 9 Quảng Bình, tiểu đoàn 8 Hà Tĩnh, đại đội 552 Nghệ An cùng với 396 đài trực chiến thường xuyên1 và lực lượng "tay cày, tay súng" và trực chiến không thường xuyên gồm 50.698 súng trường, 1.251 trung liên, 432 đại liên, 444 khẩu 12,7 ly kết hợp thành mạng lưới hỏa lực rộng rãi ở địa phương thực hiện "tìm địch mà đánh" đến nơi xung yếu mà diệt dịch", kết hợp linh hoạt phân tán đánh địch ở nhiều nơi với tập trung đánh lớn khi nhiệm vụ yêu cầu và có thời cơ.

Giữa lúc quân và dân các tỉnh Khu 4 đang khẩn trương tăng cường lực lượng, củng cố thế trận đánh địch, một tin vui đến với mọi người: Đại hội anh hùng chống Mỹ, cứu nước họp tại thủ đô Hà Nội (đầu tháng 1 năm 1967) đã tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 9 đơn vị và 12 cá nhân thuộc Quân khu 4.

Tiếp theo những thành tích chống chiến tranh phá hoại của Mỹ trong năm 1966, quân và dân Khu 4 bước sang năm 1967 với một khí thế mới. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, lực lượng phòng không Quảng Bình bắn rơi một máy bay RF4, trừng trị kịp thời hành động vi phạm thỏa thuận tạm thời ngừng những hoạt động quân sự chống phá miền Bắc của Mỹ. Ngày 2 tháng 1, bộ đội đảo Mê phối hợp với hỏa lực phòng không ở đất liền bắn rơi một máy bay Mỹ khi chiếc máy bay này đang đánh phá làng thuyền ngư dân. Ngày 6 tháng 1, chỉ trong vòng 45 phút, lực lượng phòng không Thanh Hóa hạ hai máy bay. Cùng ngày, đại đội 552 Nghệ An hạ một A4. Đơn vị bộ đội địa phương huyện Diễn Châu vừa mới thành lập đã bắn rơi một máy bay địch vào đánh phá ban đêm.

Những ngày giáp tết cổ truyền, lực lượng phòng không Quảng Bình vẫn bám sát trận địa, đánh trả các đợt oanh tạc của không quân địch, hạ tại chỗ bốn máy bay (cả trinh sát, cường kích và lên thẳng). Bằng diều vải, quân và dân Vĩnh Linh đã hạ một chiếc A6A của Mỹ vào lúc 19 giờ ngày 10 tháng 3 năm 1967.

Ngoài hoạt động đường không, Mỹ còn cho máy bay AD5, AD6 của hải quân tăng cường các hoạt động chỉ điểm cho pháo hạm tàu bắn phá đường giao thông và các làng xóm ven biển Khu 4. Với hoạt động này, địch gây cho ta nhiều khó khăn, lúng túng. Sau nhiều lần rút kinh nghiệm, cụm pháo trung đoàn 214 đã tìm được cách đánh hiệu quả, bằng 95 viên đạn 37 ly diệt gọn cả tốp máy bay loại này. Từ đó trở đi, máy bay AD5, AD6 không dám đi sâu vào đất liền chỉ điểm cho pháo của hải quân Mỹ.
______________________________________________
1. Trong đó có 106 đội trang bị súng 12,7 ly, 90 đội trang bị đại liên, 11 đội nữ dân quân, 2 đội lão quân.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 07:08:32 pm

Tháng 5 năm 1967, Mỹ thực hiện "quyết tâm tăng cường sức ép đối với Hà Nội". Cả miền Bắc phối hợp chặt chẽ với Hà Nội, Hải Phòng, bắn rơi 160 máy bay. Nhiều địa phương ở Khu 4 lập công lớn: Thanh Hóa hạ 11 chiếc, Vĩnh Linh 15 chiếc, Quảng Bình 14 chiếc. Đặc biệt, ngày 18 tháng 5, tiểu đoàn 14 hạ hai chiếc; ngày 19 tháng 5, trận đầu ra quân trung đoàn 238 tên lửa diệt một tốp hai F4 ở Vĩnh Linh.

Trên vùng rừng núi Quan Hóa (Thanh Hóa), dân quân xã Phú Lễ sau nhiều ngày công phu nghiên cứu đã bắc bảy lần cầu, 10 lần thang, đưa súng lên đỉnh lèn Pa U Hò, kiên trì phục kích và bắn rơi một F105 “thần sấm”, đưa lại niềm tin lớn cho nhân dân địa phương.

Đêm ngày 6 tháng 7, trung đoàn 238 diệt gọn một tốp hai F105. Vào lúc 15 giờ ngày 16 tháng 7, trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc (Thanh Hóa) do đồng chí Nguyễn Thị Mợi chỉ huy, bắn rơi một AD6 ở Kênh De. Đây là trung đội nữ dân quân đầu tiên trên miền Bắc bắn rơi máy bay Mỹ. Được tin này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen trung đội và tặng mỗi một đồng chí một huy hiệu của Người.

Ngày 7 tháng 8 năm 1967, đại đội 10, tiểu đoàn 2 trung đoàn 214 độc lập chiến đấu, hạ một F4 tại Long Đại. Đêm 23 tháng 8, đại đội 10 lại liên tiếp đánh trả quyết liệt ba trận đánh phá của máy bay AD6, F4, F105, bắn rơi tại chỗ một F4, bảo vệ an toàn cho các đoàn xe kéo pháo vào mặt trận Đường số 9.

Liên tiếp trong hai ngày 2 và 3 tháng 3 năm 1967, tại Tuyên Hóa, trung đoàn 280 bắn rơi năm máy bay Mỹ.

Suốt những tháng mùa hè 1967, cứ chiều tối và đêm đêm, ở nhiều vùng dân cư ở Quảng Bình, sáng rực lửa của bom cháy, bom lân tinh. Vùng đồng bằng Vĩnh Linh và phía bên kia đường số 9 máy bay B52 rải bom kéo dài từng vệt hàng nghìn mét. Nhân dân Quảng Bình và Vĩnh Linh khắc phục mọi khó khăn, cùng bộ đội xây dựng trận địa đưa tên lửa vào đánh máy bay địch. Để bảo đảm bí mặt trận địa tên lửa, chống những cuộc săn tìm của máy bay tuần thám, trinh sát, nhân dân đã cùng bộ đội đào hàng loạt cây to, đưa đến trồng trên các vệt đường xe qua, trồng quanh các trận địa. Những ngày mưa tầm tã, bộ đội và nhân dân luân phiên tát nước chống ngập, chống lún cho trang bị, khí tài.

Vào lúc 20 giờ 28 phút ngày 13 tháng 9, trung đoàn 214 trên đường di chuyển trận địa phục kích địch, đã chiến đấu ngoài công sự, bắn rơi tại chỗ một chiếc B57. Từ đó, địch buộc phải hạn chế thủ đoạn dùng máy bay B57 rải bom cháy, bom lân tinh.

Sau một thời gian chuẩn bị những yếu tố cần thiết để đánh B52, chiều ngày 17 tháng 9, tại Vĩnh Linh, trung đoàn 238 tên lửa đã tổ chức trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao: trong vòng 30 phút, trung đoàn đã bắn rơi hai máy bay B52. Đây là những chiếc B52 đầu tiên của Mỹ bị bắn rơi trên chiến trường Việt Nam và là hai chiếc máy bay thứ 999 và 1.000 bị bắn rơi ở Quân khu 4. Thần tượng "siêu pháo đài bay" của Mỹ bị sụp đổ.

Ngày 19 tháng 9, Bộ Tổng tư lệnh gửi điện khen các đơn vị và nhân dân cán bộ, chiến sĩ Vĩnh Linh đánh thắng B52. Tiếp đó, ngày 20 tháng 9, Bác Hồ đã gửi thư khen quân và dân Vĩnh Linh. Bác viết: "... Vĩnh Linh thật xứng đáng là tiền tuyến anh hùng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa…”.

Sau chiến thắng có ý nghĩa quan trọng này, trung đoàn 238 vinh dự được Nhà nước, Quốc hội tặng thưởng Huân chương Quân công hạng hai.

12 giờ ngày 14 tháng 10 năm 1967, đội lão dân quân xã Hoằng Trường, Hoằng Hóa (Thanh Hóa) bắn rơi một A4. Mười ngày sau, các lão dân quân Hoằng Trường lại lập công mới, hạ một AD6 trên vùng trời cửa biển quê nhà ghi công đầu trong đội ngũ các lão quân miền Bắc bắn rơi máy bay Mỹ.

Ngay sau chiến công này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen các lão dân quân Hoằng Trường: "Tuổi già, chí không già" và tặng mỗi cụ một huy hiệu của Người.

Ngày 4 tháng 11, Hồ Chủ tịch gửi thư khen quân và dân Nghệ An, nhân chiến công bắn rơi tròn 400 máy bay giặc Mỹ. Tiếp đó, ngày 6 tháng 11, Bác khen và tặng huy hiệu của Người cho các chiến sĩ dân quân gái xã Võ Ninh (Quảng Bình) về thành tích hạ tại chỗ một máy bay.

Chiến trường ngày càng đánh lớn; việc bảo đảm nhu cầu cho chiến trường miền Nam, Lào và mặt trận Đường số 9 ngày càng tăng. Khối lượng vận chuyển tăng gấp đôi năm 1965, trong khi cường độ oanh tạc của địch trở nên dữ dội ác liệt. So với năm 1965, chỉ riêng số bom nổ chậm của địch ném xuống đường sá, cầu, phà ở Khu 4 năm 1966 tăng bốn lần và năm 1967 tăng 18 lần. Ngoài các loại bom đạn thường dùng, lần đầu tiên trên địa bàn Khu 4, địch sử dụng bom TN, tập trung vào khu vực Quảng Bình. Các đoạn đường hiểm yếu phía tây, các bến vượt, các phương tiện vượt sông và vận tải, các chân hàng và hệ thống cầu cống trên dải đất Khu 4 chật hẹp, là mục tiêu đánh phá liên tục của không quân Mỹ. Cứ mỗi tuần trăng, trước mỗi đợt ngừng bắn, trước mùa mưa, đợt mưa, địch tập trung đánh hỏng đường sá, cầu, ngầm, gây nhiều khó khăn cho ta trong khắc phục hậu quả và tổ chức vận chuyển. Hạm đội 7 của địch tăng cường oanh kích các bến vượt gần biển như Hoàng Mai, Bến Thủy, Gianh...

Khu vực nam-bắc sông Bến Hải và quanh tuyến phòng ngự đường số 9, máy bay trinh sát chiến thuật thường xuyên hoạt động; kết hợp với pháo sáng của không quân, máy dò tiếng động và các đài quan sát, các toán do thám, biệt kích phát hiện, chỉ điểm cho máy bay cường kích và pháo tàu biển, pháo bờ nam đánh phá. Các loại máy bay RF101, RF4C được huy động trinh sát chiến dịch, ít nhất từ 8 đến 10 chiếc một ngày, chuẩn bị cho những đợt đánh phá tập trung. Có lúc chúng dùng 16 chiếc cùng trinh sát trên một khu vực. Ngày đêm, bầu trời và mặt đất nơi đây rung chuyển bởi tiếng máy bay rú rít, tiếng nổ các loại bom đạn địch. Chỉ riêng từ tháng 6 năm 1966 đến hết năm 1967, địch đánh Vĩnh Linh 255.889 quả bom, 298.611 quả đạn đại bác.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 07:10:06 pm

Giao thông vận tải trên địa bàn Khu 4 trở thành mặt trận nóng bỏng, đẩy gian khổ, hy sinh. Trước tình hình đó, từ tháng 12 năm 1966, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương giao cho Quân khu 4 chỉ huy thống nhất các lực lượng bảo đảm giao thông vận tải trên các tuyến đường chiến lược số 1, 7, 8, 12, 15 thuộc địa bàn quân khu. Cơ quan bảo đảm giao thông được củng cố từ tỉnh đến xã, cơ quan quân sự tỉnh, huyện và các ty, phòng giao thông làm tham mưu cho cấp ủy. Các địa phương phát triển thêm lực lượng bảo đảm giao thông tại chỗ, lấy lực lượng giao thông - công binh làm chủ lực, thanh niên xung phong làm nòng cốt, kết hợp giữa làm giao thông thường xuyên với tổ chức các chiến dịch. Nhân dân các địa phương đã cùng lực lượng bảo đảm giao thông mở 619 ki-lô-mét đường vòng, chuẩn bị 1.319.859 mét khối đất, 152.384 mét khối đá dự trữ. Lực lượng giao thông của Bộ Giao thông vận tải và các tỉnh tập trung xây dựng nhanh 462 ki-lô-mét đường mới trên các tuyến đường số 20, 21, 22A, 22B, và 15; làm 1.000 cầu gỗ, 1.515 mét cầu phao, 88 phà. Các cầu bị hỏng có cầu thấp, cầu dự bị; nơi nước cạn thì làm ngầm. Mỗi điểm vượt sông đều có từ ba đến bốn bến, mỗi vùng trọng điểm địch đánh phá, có hai tới ba đường vòng tránh. Nhân dân đóng góp hơn một triệu ngày công san lấp hố bom, sữa chữa đường sá, làm đường giao liên, đường vòng tránh và các thiết bị báo hiệu, trồng cây ngụy trang cầu cống, bến vượt; làm cầu giả, phà giả, nghi binh lừa địch. Thanh Hóa đã mở thêm và sửa chữa 200 ki-lô-mét trên tuyến đường chiến lược, 784 ki-lô-mét đường huyện, hơn 1.500 ki-lô-mét đường thôn xã, làm mới 2.115 mét cầu phao bằng luồng, 21 phà loại 18 tấn. Tỉnh Hà Tĩnh làm mới và sửa chữa 122 lượt cầu gỗ, làm thêm tám ki-lô-mét đường ray, 103 ki-lô-mét đường dây thông tin phục vụ bảo đảm giao thông. Tỉnh Nghệ An nạo vét 29 ki-lô-mét kênh nhà Lê...

Về lực lượng vận tải, Quân khu 4 tổ chức thêm ba binh trạm mới, hình thành hệ thống binh trạm bố trí trên sáu điểm: Vinh, Chu Lễ, Cẩm Xuyên, Gianh, Long Đại và Trường Thủy - Thái Thủy. Hình thức tổ chức tiểu đoàn ô-tô chạy suốt không còn phù hợp trước sức đánh phá ác liệt của địch và tình trạng cầu đường bị phá hỏng liên tục. 158 xe ô-tô được tổ chức theo đại đội, giao hẳn cho từng binh trạm. Cuối năm 1966, địch phong tỏa đường biển. Phương tiện vận chuyển trên sông, biển thường xuyên bị không quân địch chặn đánh. Quân khu tổ chức bốn đại đội thuyền (361 tấn, có thuyền 7 tấn đi biển). Binh trạm 1 (Vinh) và binh trạm 5 (Gianh) được tăng cường xà lan và ca-nô kéo thuyền, bảo đảm chuyển tải qua sông khớp nối thủy-bộ. Cách tổ chức phân các cung đường thành từng tuyến nhỏ thuận lợi cho việc chỉ huy, giúp cho người lái thạo thuộc đường sá, địa hình, nắm chắc quy luật hoạt động của không quân địch để xử lý kịp thời và hiệu quả các tình huống; tuy rằng sự vận chuyển qua nhiều cung, trạm có hao hụt hàng hóa.

Cùng với mạng lưới vận chuyển do Bộ và quân khu đảm nhận, các tỉnh đội, sư đoàn 341, trung đoàn 270, 271, được chính quyền và nhân dân địa phương giúp đỡ, đã tự đảm nhận 40 đến 60 phần trăm tổng khối lượng vận chuyển của đơn vị. Việc tiếp tế cho bộ đội các đảo lúc này đều dựa vào phương tiện của địa phương, của nhân dân.

Hòng ngăn chặn có hiệu quả khả năng vận chuyển của ta, địch đưa vào sử dụng bom TN. Chúng đánh vào ban đêm, ném lẫn bom nổ ngay với bom TN gây cho ta những thiệt hại bất ngờ, tạo nên nhiều tình huống khó khăn, phức tạp, nguy hiểm trong phát hiện, rà phá. Trước tình hình đó, ta đã tổ chức các đội nghiên cứu, các đội rà phá chuyên nghiệp, bố trí ở các trọng điểm sông Gianh, Nhật Lệ, cửa Hội, Bến Thủy, Lạch Trường, Hàm Rồng. Đồng chí Lương Văn Ới cùng các cán bộ công binh Quân khu 4 đi vào bãi bom địch nghiên cứu cấu tạo, nguyên lý gây nổ của bom TN, tổng kết thành tài liệu huấn luyện phổ biến rộng rãi. Bên cạnh 600 đội dân quân - công binh gồm 3.578 người ở Nghệ An, Hà Tĩnh, 132 đội quân xung kích ở Quảng Bình, các huyện trọng điểm trong quân khu đều tổ chức đại đội chủ lực bảo đảm giao thông. 273 đội rà phá bom TN bằng các dụng cụ thô sơ được tổ chức huấn luyện và đưa vào hoạt động. Cán bộ, chiến sĩ ở 140 đài quan sát cắm tiêu bom TN và bom nổ chậm, được bố trí ở các trọng điểm đánh phá của địch, thực sự là những con người gan vàng, dạ thép. Lúc địch ném bom, đánh phá, họ có mặt tại vị trí, quan sát từng đoạn đường, từng khúc sông, đánh dấu điểm bom rơi, quả nào đã nổ, quả nào chưa nổ. Vừa im tiếng máy bay, các chiến sĩ tháo gỡ bom nổ chậm, rà phá bom TN nhanh chóng bò vào giữa "túi bom", làm nhiệm vụ. Họ lái ca-nô lướt nhanh qua bãi bom để mở đường cho phà, thuyền vượt bến an toàn. Họ lặn xuống đáy sông sâu, tìm cách phát hiện, tháo gỡ các loại đầu nổ địch cải tiến đến lần thứ tư, thứ năm; phục vụ cho công tác nghiên cứu. Nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh. Có đồng chí nhiều lần bị bom nổ hất tung lên cao, rơi xuống giữa bùn nước, vừa hồi phục lại tiếp tục làm nhiệm vụ. Chiếc ca-nô "Bất khuất" của tiểu đoàn 27 công binh đầy thương tích và các đồng chí Nguyễn Tấn Kiêng, Võ Xuân Nở, Hà Huy Ty, Trần Ngọc Mật, Nguyễn Thị Hồng, Cao Viết Danh, Lê Đăng Tới, Nguyễn Văn Nhỏ, Nguyễn Đắc Điềm đã vô hiệu hóa hàng nghìn quả bom nổ chậm. Trụ bám trên đoạn đường đèo Lý Hòa, từng phút, từng giờ, đầy thử thách nguy hiểm; trên trời là máy bay địch, ngoài biển là pháo hạm tàu, dưới chân là bom chờ nổ, trung đội nữ dân quân công binh do Võ Thị Đởn chỉ huy, dù trong điều kiện sống chết chỉ tấc gang; có thể người còn, kẻ mất, vẫn không rời trận địa. Họ đã làm lễ "truy điệu sống" thề "thà hy sinh chứ không bao giờ chùn bước", cả trung đội đã bám chắc, trụ vững đoạn đường này suốt thời gian địch đánh phá ác liệt, bảo đảm mạch máu giao thông. Anh thương binh chống Pháp, Nguyễn Xuân Hoàng ở Kỳ Trinh tuy bị cụt một chân, nhưng dù đêm hay ngày, hễ địch đánh phá đường qua xã, là anh có mặt nghiên cứu đề xuất phương án huy động lực lượng cứu chữa kịp thời.

Bằng sự nỗ lực lớn, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã phá được thế độc tuyến, đơn luồng. Lợi dụng lúc địch tập trung đánh ở trọng điểm này ta mở chiến dịch vận tải ở chỗ khác. Trong các đợt không quân Mỹ ngừng hoạt động, lực lượng giao thông vận tải tranh thủ mở các chiến dịch vận chuyển, tạo chân hàng dự trữ, tạo nguồn hàng liên tục. Trên địa bàn từ Vĩnh Linh vào đường số 9, địch đánh phá ác liệt, đường ô-tô chưa phát triển được, hơn 500 dân công vận chuyển bộ, cùng với các đại đội "gùi cõng" của mặt trận khắc phục gian khổ, tạo nhiều bến vượt, nhiều đường vòng, thực hiện "khi vào tải gạo, đạn, khi ra tải thương". Ở phía đông khu vực Vĩnh Linh, những tuyến đường giao thông trong hầm hào liên hoàn được xây dựng. Thương binh từ mặt trận đưa ra có cung, trạm dừng chân để chăm sóc, cấp cứu an toàn.

Hàng vào Quảng Bình trong năm 1967 gấp 2,67 lần so với năm 1965 và 19 lần năm 1966. Kế hoạch vận chuyển cho mặt trận đường số 9 đạt 360 phần trăm, vận chuyển cho Trung - Hạ Lào đạt 134 phần trăm. Khối lượng hàng vận chuyển bằng đường sắt vào Nghệ An năm 1967 tăng 31 phần trăm so với năm 1965, chiếm 53 phần trăm tổng khối lượng vận chuyển. Khối lượng vận chuyển đường sông, đường biển tăng: Quảng Bình tăng 322 lần so với năm 1966, chiếm 14 phần trăm tổng khối lượng vận chuyển; Nghệ An tăng 147 lần... Cùng với việc vận chuyển bằng cơ giới, trong hai năm 1966-1967, vận tải thô sơ đóng góp một phần quan trọng (419.358 tấn, 3.712.845 tấn ki-lô-mét), vận tải hợp tác xã 307.171 tấn, 31.622.323 tấn ki-lô-mét.

Trong 43 ngày của ba chiến dịch vận chuyển (tranh thủ địch ngừng bắn nhân dịp lễ Nô-en, ngày Tết dương lịch và Tết âm lịch), Nghệ An chở được 36.780 tấn (đạt 111 phần trăm kế hoạch chiến dịch và đạt 23 phần trăm kế hoạch vận chuyển của cả năm 1967); Quảng Bình chở 25.400 tấn (đạt 32 phần trăm kế hoạch năm 1967); Vĩnh Linh 2.470 tấn (đạt 123 phần trăm kế hoạch chiến dịch).


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 07:14:06 pm

Được hậu phương chi viện sức người, sức của, cán bộ chiến sĩ mặt trận Đường số 9 và chiến trường Trị - Thiên - Huế đẩy mạnh tiến công quân địch cả về quân sự, chính trị và binh vận. Đêm 14 rạng 15 tháng 1, dân quân, du kích và bộ đội địa phương tiến công bọn "bình định'' ở Triệu Đại, Triệu Thượng, Triệu Phước, bắn phá dữ dội nơi trú quân của Mỹ ở Cửa Việt. Ở phía tây Đông Hà, ta loại khỏi vòng chiến đấu một trung đội lính thủy đánh bộ Mỹ, bắn rơi liền ba chiếc máy bay lên thẳng cỡ lớn (hai CH46 và một UH34) đến cứu đồng bọn.

Ngày 4 tháng 2, đại đội 1 và 2 trung đoàn 6 đánh vào thị trấn chợ Sịa - hang ổ của bọn ác ôn, mật vụ Đại Việt, Quốc dân đảng xây dựng từ hơn 20 năm. Sáng hôm sau, đơn vị tiếp tục đánh bọn đến giải tỏa. Trong trận này, ta diệt 468 tên địch, bắn hỏng ba xe bọc thép M113. Vào dịp Tết Đinh Mùi (1967), ta mở đợt tiến công chính trị vào Gio Linh, Cam Lộ, tuyên truyền chính sách mặt trận, vận động gia đình lính ngụy, kết hợp diệt ác ôn.

Các cán bộ chính trị và lực lượng vũ trang luồn sâu vào vùng đường số 4, Triệu Phong, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phong Điền, Quảng Điền chiếm lĩnh địa bàn vùng đồng bằng, đánh địch, phát động chiến tranh du kích. Ngày 11 tháng 3, sau 15 phút tiến công, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và du kích Phú Vang diệt gọn một đại đội địch, làm chủ chi khu quân sự Phú Thứ (đông nam Huế 15 ki-lô-mét), đánh thiệt hại nặng bốn trung đội bảo an, dân vệ ở Hòa Đa Tây. Sở chỉ huy trung đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ ở Phú Bài bị pháo kích mạnh. Ngày 12 tháng 3, ta chặn đánh đẩy lùi hai cuộc hành quân cứu viện của địch ở Hòa Đa, bắn cháy hai máy bay và năm xe bọc thép. Đòn tiến công này gây hoang mang trong hàng ngũ địch. Ngày 19 tháng 3, cả đại đội ngụy ở trại huấn luyện Đống Đa, Phú Bài bỏ ngũ. Đêm 24 tháng 3, tiểu đoàn 1 trung đoàn 6 tiến công diệt gọn một đại đội ngụy ở Quế Chi - Phú Ó. Ngày 1 tháng 4, ta xóa sổ một đại đội chốt ở An Đô Hạ.

Trong khi đó, ở Hồ Khê, Tân Kim, trung đoàn 2 sư đoàn 324 dùng một lực lượng nhỏ nổ súng nhử địch. Ngày 27 tháng 2 năm 1967, một đại đội Mỹ từ Đá Bạc, có sáu xe tăng yểm hộ nống ra thăm dò. Ta dùng tiểu đội trinh sát đánh trong sáu giờ liền, gây cho địch thiệt hại lớn. Tối đến, địch co cụm lại, đại đội 3 tiểu đoàn 4 tập kích vào đội hình địch, diệt gọn sáu xe tăng và xóa sổ toàn bộ đại đội này và tiếp tục phục kích đón đánh bọn đến ứng cứu.

11 giờ ngày 28 tháng 2, một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ và 15 xe tăng kéo ra Tân Kim. Đại đội 2 do Trần Xuân Đồng chỉ huy vượt hai ki-lô-mét đường rừng, đánh thắng vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch. Bị thất bại bước đầu, địch cho máy bay đánh phá trận địa của ta. Cuộc chiến đấu kéo dài đến chiều tối. Ta đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ.

Trận đánh "châm ngòi" ngày 28 tháng 2, thu hút thêm hai tiểu đoàn Mỹ vào cuộc. Suốt hai ngày 1 và 2 tháng 3, máy bay, đại bác địch dồn dập dội bom đạn xuống Tân Kim - Hồ Khê.

Tiểu đoàn bám riết địch, không để lâm vào thế phân tuyến, liên tục phục kích, tập kích các cụm quân Mỹ, bắn cháy ba máy bay, bảy xe tăng, loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội địch. Lần đầu tiên ở chiến trường đường số 9 và Trị - Thiên, một tiểu đoàn chủ lực ta, kết hợp nhiều hình thức tác chiến, bám trụ liên tục nhiều ngày trên địa hình đồi núi với nhiều tiểu đoàn Mỹ, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn Mỹ. Thương vong ta giảm rất nhiều so với khi mở mặt trận Đường số 9.

Chiến sự đang diễn ra ác liệt ở Tân Kim - Hồ Khê, thì pháo binh ta liên tục đánh vào các vị trí đóng quân của Mỹ ở các điểm cao 137, 160, 196, Cồn Tiên, Dốc Miếu. Riêng Dốc Miếu trong hai đêm 26 và 29 tháng 2, ta đã bắn hàng trăm quả đạn pháo.

Phía khu vực suối La La, trong lúc trung đoàn 84B đang tập kết đạn dược chuẩn bị cho đợt tập kích của pháo DKB vào căn cứ pháo binh 241 của địch1, thì Mỹ đổ quân xuống quanh khu vực ta bố trí trận địa. Các trận địa được lệnh phải giữ bí mật và bảo đảm an toàn lực lượng cho trận ra quân đầu tiên của loại hỏa lực mới ở mặt trận Đường số 9. Khi địch càn, tiểu đội Bùi Ngọc Đủ sử dụng mọi loại vũ khí bộ binh có trong tay (lựu đạn, súng trường, tiểu liên, thủ pháo) chặn địch lại, không cho chúng sục vào nơi cất giấu đạn dược. Sau 15 đợt chiến đấu với 200 tên địch, 10 anh em trong tiểu đội diệt 41 tên, thu 9 súng, cả 10 đồng chí đều được tăng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Nêu gương tiểu đội Bùi Ngọc Đủ, mặt trận Đường số 9 phát động phong trào học tập tiểu đội "một thắng 20" của anh.

Do tình huống đột xuất trên, ý định tập kích hỏa tiễn vào căn cứ 241 phải tạm lùi lại. Sau sáu ngày chịu đói và bom đạn ác liệt, vào lúc 0 giờ 4 phút ngày 7 tháng 3, bộ đội ta bắt đấu trận đánh, hỏa tiễn DKB, H6 và các loại đạn cối 82 ly, 120 ly dồn dập đánh trúng các mục tiêu trong căn cứ. Lửa khói ngút trời, các kho đạn trong căn cứ nổ suốt hai ngày liền. Hơn 1.000 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 21 khẩu pháo và 35 xe bị đánh hỏng.

Cùng đêm, pháo binh ta tập kích trận địa pháo địch ở Gio Linh, phá hủy bốn đại bác, diệt nhiều địch.

Liên tiếp từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 3, pháo ta đánh vào Cồn Tiên, các điểm cao 137, 182 bắc Tân Kim. Ngày 5 tháng 3, một tiểu đoàn địch càn ra Trung An (bắc Cam Lộ 10 ki-lô-mét) bị trung đoàn 2 chặn đánh. Du kích Cam Lộ bám sát một đơn vị trính sát vũ trang của địch diệt 30 tên. Cùng ngày, đại đội Mỹ sục sạo ra tây Dốc Miếu, bị đánh thiệt hại nặng hai trung đội. Ở tây bắc Đông Hà 10 ki-lô-mét, ta tập kích diệt sáu xe tăng và 130 tên địch. Một cánh quân địch từ Nam Đông đi Cam Lộ bị ta chặn đánh, diệt 70 tên. Ở hướng Tà Cơn (nghi binh) ta tập kích sân bay, bắn cháy năm máy bay lên thẳng, kho xăng và nhiều xe quân sự. Ngày 3 tháng 3, lính Mỹ và biệt kích ngụy nống ra càn xung quanh Tà Cơn bị chặn đánh, tổn thất lớn và phải bỏ chạy.
______________________________________________
1. Trên diện tích 12.000 mét vuông này, Mỹ tập trung bảy pháo đội gồm 40 khẩu pháo lớn, một sân bay lên thẳng, nhiều kho tàng và nhà cửa cho hai tiểu đoàn Mỹ đóng quân. Từ căn cứ này, pháo địch bắn sang bờ bắc Bến Hải, bắn tới nam Lệ Thủy (Quảng Bình) và yểm trợ rất đắc lực cho bộ binh chúng từ Cửa Việt lên Sa Mưu, Cà Lu, tây đường số 9.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 07:17:07 pm

Từ ngày 10 đến 14 tháng 3 năm 1967, đại bác tầm xa của Mỹ - ngụy từ bờ nam sông Bến Hải lại bắn ra miền Bắc. Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra lệnh cho Quân khu 4 và mặt trận Đường số 9 tổ chức trận tập kích pháo binh quy mô lớn vào căn cứ Dốc Miếu. Quân khu 4 sử dụng tiểu đoàn 1 ca-nông 100, tiểu đoàn lựu pháo 105 thuộc trung đoàn pháo binh 164, đại đội cối 82 trung đoàn 270 Vĩnh Linh tham gia trận tập kích này. Trận địa giả nghi binh thu hút hỏa lực địch được giao cho 16 nam nữ dân quân xã Vĩnh Sơn đảm nhận. Được sự giúp đỡ của nhân dân xóm Bàu, hợp tác xã Thủy Ba đem gỗ ván chống lầy, ty giao thông Vĩnh Linh đem máy húc kéo pháo..., các đơn vị chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian.

Trước khi vào trận, Bác Hồ gửi điện căn dặn cán bộ và chiến sĩ các đơn vị tham gia trận đánh: "Các chú đại diện cho lực lượng pháo binh miền Bắc xã hội chủ nghĩa đánh trả hành động leo thang phá hoại của pháo binh địch ở bờ nam. Vì vậy trận đầu các chú phải đánh thắng".

Chiều 20 tháng 3, trước giờ nổ súng, đài quan sát báo về: địch dùng 149 lần chiếc máy bay lên thẳng đổ quân xuống Dốc Miếu và đưa thêm năm khẩu pháo lớn chuẩn bị cho cuộc càn Đếch-hao.

18 giờ 16 phút, dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Nguyễn Cư và chính ủy Phạm Công Mạc, trận đánh bắt đầu. Pháo ta phát hỏa đồng loạt. Căn cứ Dốc Miếu chìm trong lửa khói. Bị bất ngờ, địch hoàn toàn rối loạn. Đến 1 giờ 30 phút sáng, đại đội cối 82 trung đoàn 270 áp sát căn cứ, bắn tiếp 350 quả đạn, lửa đạn càng bốc cao thêm. Mờ sáng ngày 21 tháng 3, đài quan sát báo địch cho xe vận tải đến ứng cứu, pháo ta được lệnh bắn tiếp, diệt thêm 25 xe.

Với 480 viên lựu pháo 105, 739 viên đạn pháo 100, 350 viên đạn cối 82, ta đã phá hủy 17 khẩu pháo, 57 xe, 5 máy bay lên thẳng, bắn cháy một kho xăng, một kho đạn, diệt hàng nghìn tên địch. Nhiều hầm ngầm công sự địch bị phá nát. Ta đập tan cuộc càn của địch ngay từ đầu.

Giữa lúc địch đang bối rối, ngay đêm 20 tháng 3, hơn hai trăm cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 4 trung đoàn 84 được đơn vị bạn giúp súc, đã cấp tốc vượt sông Bến Hải, đưa 78 ống phóng và 258 quả đạn hỏa tiễn A12, băng qua chặng đường 20 ki-lô-mét vào tập kết đặt pháo ở bãi cát Cường Gián.

2 giờ ngày 21 tháng 3, những vệt lửa kéo dài kèm theo những tiếng rú khủng khiếp bất thần chụp xuống đầu lính Mỹ ở Đông Hà, gây nên những đám cháy lớn. Cùng đêm, pháo binh ta đánh mạnh vào Tân Lâm, Cam Lộ, Cồn Tiên, Cửa Việt, kìm chế pháo địch, không để chúng chi viện cho Dốc Miếu.

Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 3, nhân dân Vĩnh Linh trèo lên các cây cao, điểm cao, trông về phía đồn địch bị trúng đạn, reo hò vang dậy. Sau trận này, biệt đoàn cảnh sát 333 ngụy có 540 tên gần như tan rã hoàn toàn.

Cùng với chiến thắng vang dội ở Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cam Lộ, mười ngày cuối tháng 3 năm 1967, những trận đánh địch liên tiếp diễn ra ở Long Sơn, Xuân Hải, Hảo Sơn, An Định, Tân Văn, Khe Sanh, đường 75, 76. Ta đập tan cuộc càn Bô-cô-him. 1.689 tên địch, bốn máy bay lên thẳng, ba xe bọc thép bị loại khỏi vòng chiến đấu. Trung đoàn 18 do trung đoàn trưởng Ma Vĩnh Lan và chủ nhiệm chính trị Lê Thế Diễn phụ trách vào thay phiên hoạt động ở Gio Linh, Cam Lộ, liên tiếp đánh địch, bẻ gãy các cuộc hành quân Pre-ri, Lam Sơn 253, diệt gần 1.000 tên địch ở Hồ Khê, Trung An, Đá Bạc và các điểm cao 161, 162, 183...

Đêm 31 tháng 3 năm 1967, hai chiến sĩ đặc công hải quân (đội 1A) Đỗ Văn Khắc và Nguyễn Văn Kiểm, vượt qua tuyến bảo vệ của địch, lọt vào càng Cửa Việt, đánh chìm chiếc tàu cuốc 70 tấn của quân Nam Triều Tiên.

Đợt 1 hoạt động lớn của mặt trận Đường số 9 kết thúc ngày 31 tháng 3 năm 1967.

Theo kế hoạch, từ tháng 4 năm 1967, chiến trường đường số 9 – Trị - Thiên bước vào đợt 2.

Khu ủy và Quân khu Trị - Thiên chủ trương trong đợt này tập trung lực lượng đánh mạnh ở đồng bằng, tiêu diệt địch, củng cố và mở rộng vùng giải phóng, đánh bại kế hoạch "bình định", đưa chiến tranh vào vùng sau lưng địch, tập dượt bộ đội tiếp cận chiến trường thành phố.

Đêm 5 tháng 4 năm 1967, trung đoàn 6 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và đặc công đồng loạt tiến công vào 11 mục tiêu trên tuyến dài 40 ki-lô-mét, trong đó có các căn cứ lớn: Từ Hạ, La Vang, thị xã Quảng Trị, trường huấn luyện Long Thọ.

Từ Hạ là một căn cứ quân sự lớn. Sở chỉ huy trung đoàn 3 sư đoàn 1 ngụy đặt tại đây. Quân địch có một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội công binh, các đại đội thông tin, quân y, vận tải, hai đại đội pháo binh 105 ly và 175 ly, một chi đoàn xe bọc thép và hơn 100 xe quân sự. Xung quanh căn cứ có chiến hào sâu hai mét, rộng sáu mét và hệ thống lô cốt kiên cố. Hỏa lực của địch bố trí thành lưới lửa dày đặc bắn chéo, hỗ trợ cho nhau. Bên trong chiến hào là ba lớp rào kẽm gai và các bãi mìn. Thường xuyên có từ một đến hai đại đội bảo vệ vòng ngoài.

Đúng 23 giờ ngày 5 tháng 4, sau hiệu lệnh phát hỏa, đặc công ta đánh sập các lô cốt vòng ngoài. Quân ta nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu. Mặc dù tổ chức chống cự quyết liệt, nhưng do đội hình đã bị băm nát, ý chí đề kháng của địch nhanh chóng bị suy giảm. Sau một giờ chiến đấu, sở chỉ huy trang đoàn 3, năm đại đội bộ binh, hai đại đội pháo, sáu trung đội binh chủng phục vụ, một chi đoàn thiết giáp, 12 khẩu pháo, hơn 100 xe bị tiêu diệt và gần 1.000 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Tên trung đoàn trưởng địch bị diệt tại trận.

Ở La Vang, đội 10 đặc công phối hợp với tiểu đoàn 14 tiến công tiêu diệt căn cứ trung đoàn bộ trung đoàn 1 ngụy.

Bằng lối đánh bất ngờ, táo bạo và dũng mãnh, các chiến sĩ đặc công ta tiêu biểu như Phan Thanh Chung, Nguyễn Chí Phi cùng đồng đội nhanh chóng đánh sập nhiều lô cốt, chiếm các mục tiêu, phá hủy hai kho xăng, đốt cháy hơn 10 nghìn lít xăng, nhiều xe cơ giới, pháo lớn và ba máy bay L19, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch.

Cùng lúc đó, ba tổ đặc công của đội 10 cùng với tiểu đoàn 14 vượt sông Thạch Hãn, tiến công bọn địch ở thị xã Quảng Trị. Đặc công đánh thẳng vào nơi ở cố vấn Mỹ. Tiểu đoàn 14 chia làm hai mũi đánh vào cửa Hậu, và theo bờ sông đánh vào cửa Hữu, tiêu diệt và bắt nhiều địch, phá hủy, phá hỏng 15 xe quân sự, phá cửa nhà lao, giải thoát 260 tù chính trị.

Đây là lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, ta tổ chức đánh lớn vào một thị xã.

Sau loạt trận tiến công nói trên, hệ thống phòng ngự của địch dọc đường số 1 phía bắc Huế bị uy hiếp mạnh. Được đòn quân sự hỗ trợ, trong vòng năm tháng, nhân dân vùng đồng bằng Trị - Thiên nổi dậy diệt tề điệp, ác ôn, giải phóng 100 xã, làm chủ 21 xã với 200 nghìn dân và đưa 17 xã vào thế tranh chấp.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 07:19:34 pm

Trên mặt trận Đường số 9, hướng chính Khe Sanh trở thành "điểm nóng".

Khe Sanh là một vùng lòng chảo ở tây Quảng Trị, bao gồm ba vị trí lớn: Tà Cơn, Làng Vây, Hướng Hóa, tạo thành hệ thống phòng ngự hình tam giác, khống chế cả một vùng rộng lớn dọc đường số 9 đến giáp biên giới Việt - Lào. Oét-mo-len đánh giá: "Mỹ có thể dùng căn cứ này làm một lá chắn ngăn chặn Việt cộng từ Lào sang và là căn cứ quan trọng cho cuộc hành quân "tìm diệt" đánh phá kho tàng".

Vì thế, ở Tà Cơn, địch lập sân bay lớn, chuyên dùng cho các loại máy bay trinh sát, đánh phá đường tuyến chi viện 559. Chúng bố trí ở đây một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, một tiểu đoàn pháo hỗn hợp, một chi đoàn xe tăng, xe thiết giáp. Tà Cơn được bảo vệ bằng hệ thống dây thép gai nhiều lớp, nhiều tầng, các bãi mìn và vật chướng ngại. Phía tây – bắc Tà Cơn là vùng đồi núi, với các điểm cao 832, 845, 1009 động Tri, 689, 682, động Tri... có giá trị về quân sự. Địch tuyên bố: đây là mỏ neo vững chắc về phía tây của hệ thống phòng ngự Mác Na-ma-ra, là cái bẫy nghiền nát chủ lực miền Bắc.

Bộ Tư lệnh mặt trận Đường số 9 quyết định sử dụng sư đoàn 325 cùng một số lực lượng bộ đội địa phương, dân quân, du kích phối thuộc đánh chiếm Tà Cơn. Trung đoàn 95 và tiểu đoàn 8 trung đoàn 18 do trung đoàn trưởng Hồ Ngọc Trai và phó chính ủy sư đoàn Trần Văn Ân phụ trách đánh trận mở đầu.

Sáng 19 tháng 4 năm 1967, tiểu đoàn 8 trung đoàn 18C, đứng chân cách Tà Cơn ba ki-lô-mét, dùng ĐKZ, súng cối bắn cấp tập vào Tà Cơn và tiến hành vây ép để kéo địch, gây cho địch một số thương vong. Hai máy bay đỗ trên đường băng sân bay Tà Cơn bị cháy. Trung đội phó Nguyễn Văn Huynh chỉ huy một tiểu đội luồn sâu vào phục kích ngay sát cổng đồn địch ở điểm cao 682. Khi trung đội địch đi càn vừa ra khỏi cổng đồn, lập tức cả tiểu đội bật nắp hầm xốc tới đánh diệt nhiều tên. Bộ đội ta phục kích, bắn tỉa, tiếp tục vây ép địch. Trưa 23 tháng 4, sau một đợt pháo bắn dồn dập dọn đường, dọn bãi, địch tung một đại đội lên cao điểm 832 (địch gọi là 861).

Lập tức, hỏa lực bắn chéo của tiểu đoàn 8 đánh mạnh vào đội hình địch, ghìm chúng lại. Bị đánh mạnh, địch cho máy bay, đại bác liên tục đánh phá điểm cao 832. Vào lúc 11 giờ trưa ngày 25 tháng 4, hai đại đội Mỹ từ Tà Cơn nống ra nhằm đẩy lùi bộ đội ta trên điểm chốt 832. Ta chặn đánh quyết liệt, buộc chúng cụm lại ở một ngọn đồi gần điểm cao đó. Tiểu đoàn 8 dùng súng cối tập kích vào bọn này; đồng thời hỏa lực của sư đoàn bắn mạnh vào Tà Cơn.

Sáng 26 tháng 4, địch cấp tốc điều hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ từ Tân Lâm, Cam Lộ lên giải tỏa Tà Cơn. Ngay từ đầu, bọn này đã bị chặn đánh. Đến hết ngày 26 tháng 4, điểm cao 832 vẫn do ta khống chế. Hôm sau - ngày 27 tháng 4, máy bay địch đánh phá dữ dội các điểm cao 832, 845. Hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, một tiểu đoàn pháo binh Mỹ từ Huế và hạm đội 7 cấp tốc tăng viện cho Tà Cơn bằng đường không. Ba đại đội máy bay lên thẳng gồm 69 chiếc túc trực ở Đông Hà sẵn sàng chi viện cho Khe Sanh. Đêm 27 tháng 4, pháo binh ta dội đạn vào Đông Hà, gây thiệt hại nặng cho cả ba đại đội này, địch buộc phải dùng ô-tô theo đường số 9 chở quân và hàng quân sự lên Khe Sanh.

Trong lúc đó, tại khu vực điểm cao 845 (địch gọi là 881) diễn ra những trận đánh quyết liệt giữa ta và địch. Bộ đội ta nhiều lần đánh giáp lá cà với lính Mỹ1. Đối mặt với kẻ thù, nhiều chiến sĩ, cán bộ của ta đã chiến đấu với tinh thần "quyết lập công đầu, xả thân vì sự nghiệp chống Mỹ". Lương Văn Sang, chưa đầy 19 tuổi, dân tộc Thái, sau hai trận đánh, diệt 42 tên địch. Hoàng Đình Nối, ngón tay trỏ bóp cò bị mảnh đạn địch tiện cụt, dùng ngón tay giữa tiếp tục bắn và chỉ huy tiểu đội truy kích địch 100 mét, diệt đến tên cuối cùng. Phạm Văn Bảo chuyển gạo lên cho phân đội phía trước, gặp lúc địch tiến công, đã tham gia chiến đấu, diệt 20 tên, bắt sống một tên, thu năm súng. Trần Công Tời liên lạc viên, hai ngày chiến đấu, diệt 14 tên địch. Võ Ngọc Biên đào "bếp Hoàng Cầm" ngay tại trận địa, bảo đảm ngày hai bữa cơm nóng, đủ nước sôi để nguội cho đồng đội dùng cả ngày. Ba lô cơm vắt trên lưng, với khẩu súng, Biên bò đến từng công sự trên điểm cao 832 tiếp tế cho đồng đội. Gặp địch chặn đường, Biên nổ súng diệt hai tên. Bùi Văn Tân 20 tuổi, dùng trung liên và lựu đạn diệt 23 tên địch. Súng bị địch bắn hỏng, chân bị thương, Tân tự băng bó và dùng súng của một thương binh khác bắn chết thêm tám tên nữa2.

Địch đang lúng túng đối phó với chủ lực ta ở các ngọn đồi phía tây-bắc lòng chảo Khe Sanh, thì đêm mồng 1 tháng 5, năm 1967, sư đoàn 325 sử dụng tiểu đoàn 8 và đại đội 40 đặc công, do trung đoàn phó trung đoàn 18 Trần Sĩ Kịch chỉ huy, luồn sâu vào sau lưng chúng, tập kích cứ điểm Làng Vây.

Làng Vây là căn cứ biệt kích ngụy lớn nhất ở chiến trường miền núi Quảng Trị. Bọn lính biệt kích khét tiếng gian ác, chuyên lùng sục, phá phách kho tàng ở vùng giải phóng, đàn áp, giết hại, cưỡng bức đồng bào miền núi vào các khu tập trung. Chúng còn được tung vào do thám, tập kích hậu phương ta.

Bằng lối đánh tiềm nhập sâu kết hợp xung lực đột phá mạnh, trong vòng 30 phút, ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ tiểu đoàn biệt kích này, phá tan các công sự và hầm ngầm.

Mất căn cứ Làng Vây, Tà Cơn lại bị vây ép, trưa ngày 2 tháng 5, Oét-mo-len, tổng chỉ huy quân đội Mỹ và chư hầu ở miền Nam Việt Nam cùng với Uôn-tơ, tư lệnh lính thủy đánh bộ Mỹ bay ra Khe Sanh tìm cách đối phó.

Ngày 2 và 3 tháng 5, địch cho ba đại đội đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống đồi không tên (giữa hai điểm cao 832, 845), tiểu đoàn 4 trung đoàn 95 đón đánh, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Để đánh địch có hiệu quả hơn, trung đoàn 95 và các tiểu đoàn khắc phục lối "đóng chốt" cứng nhắc, bổ sung phương án tác chiến, kiên quyết vận động xuất kích kết hợp chốt chắc, trụ vững.
_____________________________________________
1. Hãng thông tin Mỹ UPI thú nhận: "Ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1967 là ngày không bao giờ quên được của trung đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ số 3. Cả hai tiểu đoàn gặp khó khăn ngay khi họ bắt đầu tiến qua cỏ tranh, lên sườn đồi. Cộng sản đã bố trí sẵn những khẩu súng cối để bắn chính xác lên đỉnh đồi này và đạn súng cối rơi như mưa xuống đầu lính thủy đánh bộ mắc kẹt ở đây. Nó không thể tiến lên và cũng không thể rút lui; vì những boong-ke và hố cá nhân bắn tỉa ở hai bên sườn đồi bây giờ lô nhô những quân Cộng sản đang chặn đường. Cuối cùng, lúc 18 giờ, số bị mắc kẹt ở đây, nhờ có hỏa lực yểm trợ dày đặc, mới rút xuống đồi được, nhưng bị thương vong 200 người".
2. Vẻ đẹp người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam làm cho hãng thông tin Roi-tơ (Anh) dành những trang tường thuật: "Khi lính Mỹ cách đỉnh đồi chừng một ki-lô-mét thì một lính Mỹ phát hiện thấy một dòng chữ khắc vào gốc cây, cạnh công sự quân Bắc Việt: "Đời thật đẹp. Phải có tinh thần chiến đấu cao".


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 07:22:21 pm

Ngày 7 tháng 5, thêm một đại đội Mỹ được đổ bộ xuống điểm cao 845. Phân đội 5 do Lê Đức Huân phụ trách, dùng một bộ phận thu hút binh lực và hỏa lực địch, còn đại bộ phận kết hợp với phân đội 4 do Nguyễn Hữu Thọ chỉ huy, bất ngờ đánh thọc vào sau lưng địch. Trong lúc đó, quân y sĩ Lê ở phía sau chân đồi kịp thời tập hợp các chiến sĩ nuôi quân, y tá và anh em bị ốm, đánh trả máy bay lên thẳng, ngăn địch tập kích vào hậu cứ đơn vị. Nhân lúc địch phân tán hỏa lực về phía này, Lê Đức Huân lệnh cho trung liên đánh mãnh liệt yểm trợ cho đơn vị xung phong. Phân đội 6 do Đinh Vân Chương dẫn đầu đột phá vào sở chỉ huy của địch, đánh giáp lá cà, diệt gọn hai trung đội địch. Nhằm tạo điều kiện cho hỏa lực phát huy tác dụng, địch dùng lựu đạn khói phân tuyến. Máy bay lên thẳng vãi đạn xuống trận địa ta. Nguyễn Hữu Thọ bị thương lần thứ hai vẫn bám sát chỉ huy đơn vị chia làm ba mũi truy kích địch. Phân đội 5, phân đội 6 nhanh chóng vượt qua màn khói ngăn cách, tiếp cận địch. Các tay súng bắn tỉa được giao trách nhiệm tiêu diệt các ổ súng máy, súng cối. Cứ mỗi phát đạn bắn tỉa là một tên địch ngã. Các bộ phận xung kích tiếp cận đánh thẳng vào các ổ đề kháng. Sau 1 giờ 20 phút giành giật quyết liệt, địch núng thế, gọi máy bay thả chất độc hóa học xuống trận địa ta. Bộ đội ta nhanh chóng xung phong băm nát đội hình địch trước khi chất độc chưa kịp tải ra mặt đất. Đêm đó, ta tập kích vào toán biệt kích vừa được đổ xuống phía sau đội hình của ta, diệt gọn cả 50 tên. Kết quả trận đánh ta tiêu diệt một đại đội địch, đánh thiệt hại nặng hai đại đội khác, bắn cháy năm máy bay lên thẳng, diệt gọn tổ đi trên máy bay.

Khe Sanh trở thành nỗi lo sợ ngày càng tăng đối với bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở miền Nam1. Nhiều đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ được điều tới tăng cường cho trung đoàn 3 và trung đoàn 9 đang có mặt ở Khe Sanh.

Phối hợp với mặt trận Khe Sanh, các đội pháo binh mang vác luồn sâu của trung đoàn 270 Vĩnh Linh và các trung đoàn 84, 164, 78; các đơn vị pháo cối "đánh lẻ, bắn tỉa" trong đội hình các trung đoàn bộ binh, đoàn đặc công 1A hải quân liên tiếp tập kích các căn cứ hậu cần của địch ở Đông Hà, Cửa Việt. Sở chỉ huy trung đoàn 3, trung đoàn 9 lính thủy đánh bộ Mỹ bị đánh đi đánh lại nhiều lần. Tàu Ri-ta của Mỹ ở Cửa Việt cũng bị đánh chìm.

Đêm 27 tháng 4, pháo binh ta đồng loạt bắn vào các căn cứ lớn: Dốc Miếu, Dốc Sỏi, Gio Linh, Cồn Tiên, Đông Hà, Cửa Việt, sát thương nhiều địch, phần lớn là sĩ quan chỉ huy, nhân viên lái máy bay, nhân viên kỹ thuật; phá hủy, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh, đốt cháy ba kho xăng, hai kho đạn, hai đài ra-đa, gây cho chúng nỗi kinh hoàng, lo sợ.

Nổi bật là trận pháo kích "chọc thủng dạ dày quân Mỹ ở Khe Sanh" đặt tại Đông Hà. Căn cứ Đông Hà rộng 20 ki-lô-mét vuông nằm ở ngã ba đường số 9 và đường số 1, thuộc bắc Quảng Trị. Đông Hà có sân bay, kho tàng và thường xuyên có 3.000 quân Mỹ đồn trú. Đây cũng là nơi đặt sở chỉ huy nhẹ của sư đoàn 3, sở chỉ huy trung đoàn 3 và trung đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ. Không chỉ khu vực đóng quân mà cả khu vực kho xăng, đạn, hàng hóa dùng tiếp tế cho Khe Sanh và bắc đường số 9 cũng được bảo vệ rất cẩn mật. Ngoài ra, căn cứ này còn có từ 70 tới 75 xe tăng, xe bọc thép, 16 tới 20 khẩu pháo cỡ 75-175 ly. Cạnh khu vực quân Mỹ đóng là sở chỉ huy trung đoàn 1 sư đoàn 1 ngụy, một tiểu đoàn công binh, hai khu trung tâm thông tin và đài ra-đa.

Đông Hà nằm sâu giữa các tuyến bảo vệ vòng ngoài. Để tập kích vào đây, các chiến sĩ pháo binh đã phải bí mật vác hàng trăm quả đạn hỏa tiễn từ bờ bắc sông Bến Hải vào thiết lập trận địa sát địch, đánh trúng các mục tiêu trong căn cứ và các trận địa pháo của chúng xung quanh, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, phá hủy, phá hỏng năm khẩu 175 ly, trung tâm thông tin, trạm ra-đa. Đặc biệt pháo binh của ta đã gây thiệt hại nặng cho đội máy bay địch gồm 71 chiếc, có hai chiếc vận tải cỡ lớn, chuyên làm nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho Khe Sanh.

Đường vận chuyển hàng không từ Đông Hà tiếp tế cho Khe Sanh bị gián đoạn sau trận pháo kích đêm 27 tháng 4 chưa được khôi phục lại, thì đêm 7 tháng 5, trung đoàn 31, tiểu đoàn 47 Vĩnh Linh, đặc công mặt trận B5 tiến công đồng loạt bốn vị trí: Cồn Tiên, Dốc Miếu, trận địa pháo 241, căn cứ Đông Hà, diệt gần hàng trăm tên địch, bắt nhiều tù binh.

Liên tiếp các ngày 14, 15, 16 tháng 5, bộ đội ta tiến công bọn Mỹ ở Gio An, diệt 10 xe tăng và hàng trăm tên địch.

Vào lúc 2 giờ 15 phút ngày 18 tháng 5, lần thứ ba trong vòng 20 ngày, sở chỉ huy trung đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ lại bị pháo binh ta tập kích. Kho xăng, kho đạn cháy nổ dữ dội. Cùng đêm, Cồn Tiên, Dốc Miếu, và trận địa pháo 241 của địch cũng bị pháo kích.

Phối hợp với bộ binh, pháo binh đội 1 đặc công nước do hai đồng chí Mai Năng và Lương Mẫn chỉ huy vượt qua sông Bến Hải, luồn qua núi rừng tây Cam Lộ, lách giữa các điểm Quán Ngang, ngã tư Sòng, đột nhập vào Cửa Việt, Đông Hà. Đêm 8 tháng 5, hai đồng chí Tống Duy Kiên và Nguyễn Văn Kiểm đánh chìm tàu cuốc Hây-đa ở cảng Cửa Việt. Vào lúc 2 giờ ngày 15 tháng 7, Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Đình Thi đột nhập cảng Đông Hà đánh chìm một chiếc LCU. Bộ phận đặc công ở Cửa Việt đánh chìm một tàu LST trọng tải 5.000 tấn chở đầy xe tăng và vũ khí.

Trước những trận tập kích của ta, địch đã có những phản ứng quyết liệt. Ngày 18 tháng 5, năm 1967, hàng nghìn quân Mỹ, có máy bay, pháo binh yểm trợ, mở cuộc càn lớn vào các xã phía nam khu phi quân sự, thực hiện “đốt sạch, phá sạch” và bắn giết rất dã man, để xúc tát nhân dân vào các "ấp chiến lược". Du kích ta bám đánh rộng khắp trên từng đường thôn, ngõ xóm. Hàng trăm gia đình kiên quyết đấu tranh với địch, quyết không chịu "dồn dân".

Ngày 7 tháng 6 năm 1967, mặt trận Đường số 9 mở tiếp đợt hoạt động nhằm vào hướng chính Gio An2. Ngay từ đêm 6 tháng 6, trung đội 1 bộ binh tiểu đoàn 8 vượt mưa rừng tầm tã và núi đá cao, dốc đứng, tập kích diệt gọn đại đội địch chốt giữ điểm cao 1009 (động Tri).

Ngày 7 tháng 6, bộ binh ta chặn đánh diệt ba đại đội địch tại Khe Sanh và Hồ Khê. Pháo binh tập kích vào Cùa, phá hủy nhiều xe cơ giới, kho tàng, diệt nhiều địch. Phối hợp với chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích Gio Linh, Cam Lộ tổ chức một loạt trận đánh cắt giao thông trên đường số 9; đồng thời phát động rộng rãi phong trào săn máy bay tiếp tế, trinh sát. Trong vòng 10 ngày ta đã bắn rơi 10 máy bay địch.

Đêm 26 tháng 6, pháo binh ta tập kích mãnh liệt các vị trí ở Khe Sanh, phá hủy nhiều kho tàng, nhà hầm, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Ngày 27, bằng những trận đánh giáp lá cà, bộ đội ta diệt gần hết hai đại đội địch phản kích ngoài trận địa của chúng. Tình hình thương vong tăng nhanh buộc Mỹ cấp tốc đưa tàu bệnh viện Sa-tu-ry đến Đông Hà, cấp cứu lính Mỹ bị thương từ Khe Sanh đưa về.
______________________________________________
1. Oét-mo-len sau khi đi thị sát tình hình, thốt lên với Uôn-tơ: "Ở đây chúng ta gặp một đối thủ cứng rắn nhất". Theo hãng Roi-tơ (7-5-1967): "Những ngày cuối tháng 4, đầu tháng 5, lính thủy đánh bộ Mỹ (ở Khe Sanh) bị thương vong gần 50 phần trăm".
2. Gio An cách Gio Linh bảy ki-lô-mét về phía tây.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 07:24:34 pm

Bước sang tháng 7 năm 1967, những trận đánh hiệp đồng binh chủng của chủ lực ta liên tục diễn ra ở Gio An.

Để bảo đảm trận đánh hiệp đồng lớn đầu tiên chắc thắng, cả hậu phương Vĩnh Linh - Quảng Bình và phía trước dồn sức cho công tác chuẩn bị. Dân quân Vĩnh Thủy làm trận địa nghi binh thu hút bom đạn địch. Các chiến sĩ ra trận thêu lên ngực có bốn chữ "sát Mỹ, diệt ngụy", hạ quyết tâm bắt cho được tù binh...

Sáng 2 tháng 7, bằng cách nghi binh, ta kéo đại đội 9, tiểu đoàn 1, trung đoàn 9 lính đánh bộ Mỹ từ Cồn Tiên nống ra Gio An. Sau một giờ chiến đấu, các chiến sĩ trung đoàn 1 đánh thiệt hại nặng đại đội này1. Cùng lúc, pháo ta cấp tập vào Cồn Tiên và Gio Linh, khống chế trận địa pháo binh của địch. Chỉ huy sư đoàn 3 cấp tốc điều tiểu đoàn 3, trung đoàn 9 đang ở nam Quảng Trị đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống Cồn Tiên. Một đại đội của tiểu đoàn 1 trung đoàn 9 lính thủy đánh bộ Mỹ thua trận đang củng cố ở Đông Hà cũng bị điều ra trận.

Gần trưa, lực lượng địch từ Cồn Tiên chia làm bốn cánh có xe tăng, đại bắc tiến về Gio An. 13 giờ 30, địch cụm lại quanh Hảo Sơn, điểm cao 88, điểm cao 100 (nam Gio An một ki-lô-mét). Đây là khu vực ta bố trí sẵn trận địa đánh địch. Lập tức, pháo ta đồng loạt giã trúng đội hình chúng, tạo điều kiện cho bộ binh xuất kích. Các chiến sĩ ta vận dụng lối đánh sở trường "bám thắt lưng địch" chia cắt đội hình, đánh gần, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề. 16 giờ 30 phút, 41 lần chiếc máy bay lên thẳng cùng với lính thủy đánh bộ từ Cồn Tiên, có xe tăng yểm trợ, tiếp tục kéo đến Gio An. Bãi đỗ máy bay lên thẳng của địch chìm ngập trong những đợt pháo kích. Trong ngày 2 tháng 7, ta liên tiếp xuất kích nhiều đợt. Năm đại đội Mỹ bị đánh thiệt hại nặng, tiểu đoàn 1 (trung đoàn 9 sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ) bị loại khỏi vòng chiến đấu.

Ngày 3 tháng 7, địch tung tiểu đoàn 3 trung đoàn 9 và tiểu đoàn 1 trung đoàn 3 vào Gio An. Cả năm đợt tiến công của địch đều bị ta bẻ gãy. Du kích dùng mìn phá hủy ba trong số 15 xe tăng địch trên đường tiến quân.

Qua hai ngày quần nhau với lính Mỹ, đã xuất hiện những tập thể, cá nhân chiến đấu ngoan cường như tổ đài trinh sát luồn sâu của trung đoàn 84 pháo binh gồm 14 đồng chí, do Phạm Xuân Huy phụ trách chiến đấu đến người cuối cùng bảo đảm cho trận đánh thắng lợi.

Ngày 6 tháng 7, quân ta chặn đánh ba đại đội Mỹ ở An Hòa (tây Gio Linh 10 ki-lô-mét) diệt nhiều tên. Tiểu đoàn 3 trung đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ chia nhiều mũi tiến lên Gio An. Đến 15 giờ 30, địch lọt sâu vào trận địa phục kích, pháo binh và bộ binh ta tập kích mãnh liệt đội hình chúng. Cùng lúc, pháo ta ghìm chặt pháo địch ở các căn cứ Dốc Miếu, Cồn Tiên. Ta và địch giành nhau quyết liệt từng mỏm đồi, từng vật chướng ngại. Bộ đội ta dùng súng B40, B41 bắn chính xác diệt bảy xe tăng. Lực lượng cao xạ diệt một máy bay L19. Mất xe tăng, địch hốt hoảng co cụm lại. Bộ đội ta sử dụng súng cối tập trung bắn vào các điểm tụ quân của địch. Sau ba giờ chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ trận địa.

Sau loạt trận đánh lớn này, bước vào mùa mưa, ta tiến hành vây lấn căn cứ địch; cắt đứt giao thông, đánh hậu cứ, gây cho địch nhiều thiệt hại.


Ở Lào, sau thất bại mùa khô 1966, địch không đủ khả năng tập trung lực lượng lớn lấn chiếm vùng giải phóng. Chúng quay về củng cố lực lượng của chính phủ phản động Lào, tăng cường phòng thủ đường số 9, cố giữ khu vực Nậm Bạc; phối hợp với quân Thái Lan đánh phá dọc biên giới Lào - Thái hòng phá căn cứ du kích, sử dụng không quân đánh phá ác liệt hành lang vận chuyển và các khu căn cứ chiến lược của cách mạng Lào. Máy bay B52 tập trung đánh phá hủy diệt một số vùng. Các toán phỉ và các toán biệt kích được tung vào phá hoại vùng giải phóng. Các binh đoàn cơ động GM18, GM15 và các tiểu đoàn BV của Vàng Pao càn đi, quét lại nam - bắc đường số 9, GM12 và BV32 càn vùng nam Thà Khẹt. BV34 càn quét vùng Hin Bun và giáp ranh khu giải phóng. Đồng thời, Mỹ trực tiếp chỉ huy xây dựng lại các đường chiến lược dọc sông Mê Công và các đường số 15, 16, 23, Pắc Xế, Pác Xoòng.

Tại nhiều vùng giải phóng Lào, tình trạng đói ngày càng trở nên nghiêm trọng, việc tiếp nhận sự chi viện của Trung ương bạn và của các tỉnh Khu 4 chuyển sang gặp nhiều khó khăn, vì địch tăng cường đánh phá ác liệt các tuyến hành lang vận chuyển.

Hưởng ứng lời kêu gọi của khu ủy bạn, Mặt trận 565 phát động cứu đói cho dân, tổ chức sản xuất, vận động nhân dân bạn cùng đẩy mạnh sản xuất tự túc2.

Vừa phối hợp với bạn đánh địch càn quét lấn chiếm, bộ đội tình nguyện vừa tổ chức các lực lượng luồn sâu đánh vào sau lưng chúng. Các tiểu đoàn 14, 18, đại đội 25, 27 luôn có bộ phận luồn sâu vào Sa Ra Van. Các tiểu đoàn 15, 17 tổ chức lực lượng vào vùng sau lưng địch ở Thà Khẹt. Bộ đội tỉnh A Tô Pơ phối hợp với quân tình nguyện đánh địch ở Pheng Đeng, Mường Cầu và Cheng. Bộ đội Chăm Pát Xắc tập kích quận lỵ Phôn Teng diệt một số tên, thu 186 súng, bắt bốn tên. Bộ đội địa phương Lào Ngam, Sa Ra Van, Đồng Hến phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam phục kích, tập kích quấy rối địch. Bộ đội miền Đông đánh địch càn ra Tha Teng, giết 30 tên, thu 10 súng. Lực lượng vũ trang Lào Ngam tham gia cùng quân tình nguyện bao vây vị trí Lào Ngam suốt hai tháng. Bộ đội Xi Phăn Đon gọi hàng chục tên địch. Tại Bản Đông, được sự hỗ trợ của bộ đội tình nguyện, bạn đã diệt hai đại đội thuộc tiểu đoàn 66 biên phòng...

Mùa mưa 1967, khắc phục khó khăn do thời tiết và đường sá bị chia cắt, các đơn vị bạn và quân tình nguyện vẫn liên tục tổ chức đánh địch, bảo vệ hậu phương, bảo vệ hành lang, truy quét phỉ. Nhiều trận đánh trúng nơi bọn trùm phỉ chiếm giữ, thu nhiều súng, lương thực, quân trang, quân dụng, bắt tù binh, gọi được một số địch ra hàng.

Quân tình nguyện phối hợp với bạn tuyên truyền tổ chức thêm 2.340 du kích (có 445 nữ). Dọc đường số 12 có 11 xã đã tổ chức lực lượng dân quân, dọc đường số 9 có 56 xã, A Tô Pơ có 10 xã... Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh tiếp tục viện trợ cho bạn những mặt hàng thiết yếu, trao đổi hàng hóa, giúp cán bộ kỹ thuật, máy móc, dụng cụ, vật tư, giúp công nhân và đào tạo cán bộ kỹ thuật.

Đến cuối năm 1967, vùng giải phóng của bạn ở Trung - Hạ Lào đã mở rộng bao gồm một tỉnh, 16 huyện, 163 tà xèng, 2.082 bản. Quân chủ lực ngụy Lào đã lui về phòng ngự, co cụm để bảo tồn lực lượng. Địch không những không lấn chiếm được vùng giải phóng mà còn mất thêm nhiều địa bàn quan trọng: Tùm Lan, Pha Lan, tây A Tô Pơ.

Vượt qua gian khổ, hy sinh, gần ba năm trực tiếp đương đầu với các loại hình chiến tranh của địch trên các chiến trường, tiền tuyến, hậu phương Khu 4 đã trở thành địa bàn đọ sức quyết liệt, góp phần cùng cả nước bước đầu đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, tạo nên thời cơ lớn cho mùa Xuân 1968.
_____________________________________________
1. Trung đoàn 1 sư đoàn 324, lúc này do mặt trận B5 trực tiếp chỉ huy.
2. Có những cán bộ trồng 3.000 gốc sắn. Nhiều đại đội trồng 150.000 gốc. Các đơn vị dành 20 tấn gạo, 300 nghìn công giúp nhân dân bạn làm mùa.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười, 2024, 07:26:49 pm

CHƯƠNG IV
VƯƠN LÊN CÙNG CẢ NƯỚC
ĐÁNH BẠI HOÀN TOÀN CHIẾN LUỢC CHIẾN TRANH CỤC BỘ
(10-1967 - 1968)


I. TẠO THẾ, TẠO LỰC, CHUẨN BỊ TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN (1968)

Sau những thất bại qua hai mùa khô 1965-1966, 1966-1967 trên chiến trường miền Nam và trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân, đế quốc Mỹ tiếp tục tăng quân, nâng tổng số quân Mỹ có mặt trên chiến trường miền Nam lên 480.000 vào cuối năm 1967 và ráo riết triển khai lực lượng, chuẩn bị phản công chiến lược lần thứ ba. Chúng dự định đánh vào miền Đông Nam Bộ và Trị - Thiên, nhằm ngăn chặn bất cứ sự đảo lộn bất ngờ nào về quân sự và chính trị ở miền Nam Việt Nam, giữ cho tình hình ổn định để bước vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, tháng 11 năm 1968.

Về phía ta, sau thắng lợi vang dội đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Gian-xơn-xi-ti tháng 6 năm 1967, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp phân tích tình hình, chủ trương trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn, dự kiến trong năm 1968.

Quán triệt phương hướng chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, lực lượng vũ trang và nhân dân Quân khu 4 khẩn trương chuẩn bị, đẩy mạnh hoạt động góp phần tạo ra và kịp thời đón thời cơ lớn.

Ở hậu phương quân khu, quân và dân các tỉnh từ Thanh Hóa đến khu vực Vĩnh Linh, vừa đánh trả không quân, hải quân địch, vừa khẩn trương thực hiện kế hoạch chi viện chiến trường.

Tháng 9 năm 1967, Thường vụ Quân khu ủy họp quán triệt phương hướng chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, xác định toàn Đảng bộ phải cố gắng hết sức mình, tập trung mọi trí tuệ, tài năng, quyết giành thắng lợi và phải kiên định vững vàng trong mọi tình huống.

Từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1967, được sự giúp đỡ của đoàn cán bộ Bộ Tổng Tham mưu, cơ quan quân khu cụ thể hóa và tiếp tục hoàn chỉnh kế hoạch phòng thủ quân khu trong tình huống dự kiến địch tiến công ra nam Khu 4, lực lượng tại chỗ được lệnh chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Ở các địa phương từ nam sông Gianh trở vào, dân quân tự vệ được củng cố, 397 xã trọng điểm trong tổng số 844 xã trên địa bàn quân khu được xây dựng thành làng xã chiến đấu, tổ chức cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích diễn tập tác chiến phòng thủ chống địch tập kích bằng đường bộ, đường biển và đường không vào nam quân khu.

Theo chủ trương của Quân khu ủy, đảng bộ và chính quyền các địa phương rà soát lại lực lượng, tổ chức sơ tán trên 10.000 dân, chủ yếu là người già, yếu, phụ nữ có con dưới năm tuổi và trẻ em từ Vĩnh Linh ra các tỉnh phía bắc. Nhiều con em Vĩnh Linh, Quảng Bình được các gia đình ở Nghệ An, Thanh Hóa nuôi dạy khôn lớn.

Những tháng cuối năm 1967, địch tăng cường đánh phá các trung tâm dân cư, các cơ sở nông nghiệp, các tuyến đường giao thông. Chúng sử dụng nhiều loại bom đạn mới như bom vô tuyến truyền hình, bom bi nổ chậm, thủy lôi từ trường, thủy lôi âm thanh...., áp dụng nhiễu điện từ dày đặc..., tập trung lực lượng máy bay không quân và máy bay hải quân oanh tạc các bến vượt, các đoạn đường hiểm yếu, các phương tiện vận tải và hệ thống kho tàng, chân hàng, bến bãi... trên địa bàn Quân khu 4, trên tuyến hành lang vận chuyển Trường Sơn. Chỉ trong tháng 9 năm 1967, địch cho 266 lần chiếc B52 ném một khối lượng lớn bom gấp 13 lần cả năm 1966 xuống các tuyến hành lang vận chuyển của ta.

Khắc phục bom đạn đánh phá ác liệt của kẻ thù, quân dân Khu 4 vừa chiến đấu, vừa tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo đảm giao thông vận tải, chuyên chở hàng hóa, vũ khí cho miền Nam. Quân khu và các tỉnh phối hợp lực lượng, phương tiện, hoàn thành các tuyến đường quy định, thông xe trong cả mùa mưa lũ. Đến tháng 12 năm 1967, Thanh Hóa mở thêm 200 ki-lô-mét đường thôn xã, đóng mới 2.115 mét cầu phao bằng luồng, 21 phà loại 18 tấn, Hà Tĩnh làm mới và sửa chữa 12 cầu gỗ, đặt thêm 8 ki-lô-mét đường goòng, mắc 105 ki-lô-mét đường dây thông tin liên lạc. Nghệ An huy động lực lượng trong ngành giao thông sản xuất vật liệu dự phòng, cải tạo bến bãi đậu xe, đóng thêm thuyền vận tải vượt sông, nạo vét thông dòng kênh Nhà Lê.

Ở Trị - Thiên, tháng 9 năm 1967, Khu ủy họp soát xét toàn bộ tình hình đã nhận định: "Địch đã bị thất bại nghiêm trọng trong kế hoạch phản công mùa khô, không những không ngăn chặn được ta mà lại bị ta tiêu diệt, tiêu hao lớn trên tuyến đường số 9 và đường số 1. Kế hoạch bình định năm 1967 của địch bị thất bại nặng. Phạm vi kìm kẹp của chúng bị thu hẹp. Chiến tranh đã đi từ rừng núi về đồng bằng và đã tiến vào thành phố và hậu cứ của địch. Thế và lực của ta đã hơn địch. Tình hình phát triển của phong trào đã tạo ra khả năng đánh lớn vào thành phố Huế.

Khu ủy chủ trương gấp rút chấn chỉnh tổ chức và bố trí lực lượng chính trị, quân sự, binh vận, đẩy mạnh tiến công địch theo phương châm kết hợp tiến công tiêu diệt địch bằng quân sự và nổi dậy của quần chúng, kết hợp đánh từ trong nội thành ra và đánh từ ngoài vào, kết hợp các hoạt động ở nông thôn và ở đô thị. Khu ủy cho rằng phải tổ chức nhiều lực lượng quân sự khác nhau phù hợp từng mục tiêu, lấy ít đánh nhiều, số lượng là quan trọng nhưng tốt nhất là chất lượng cao, tinh nhuệ, giữ được bí mật, bất ngờ, xây dựng nhanh "vành đai diệt Mỹ” ở bốn góc thành phố Huế, đưa lực lượng đặc công, biệt động vào bám các mục tiêu, tiến hành trinh sát và tập dượt cách đánh, xây dựng nhanh các tiểu đoàn chủ lực và địa phương. củng cố và phát triển nhanh du kích vùng bàn đạp, áp sát vào thành phố.

Sau hội nghị Khu ủy, mọi công tác chuẩn bị được gấp rút tổ chức triển khai, về phát triển lực lượng, đến cuối tháng 12 năm 1967, mỗi huyện xây dựng được một đại đội bộ binh, riêng các huyện Phú Lộc, Phú Vang, Quảng Điền, Triệu Phong có hai đại đội. Các huyện đồng bằng phát triển 17.000 dân quân và 5.000 du kích, các huyện miền núi có 4.000 du kích. Mỗi huyện xây dựng 11 đội biệt động. Thành phố Huế có bảy đội biệt động. Toàn quân khu có hơn 10.000 cán bộ cơ sở bám các thôn xã và nội thành Huế. Suốt từ tháng 10 năm 1967 đến đầu tháng 1 năm 1968, các đơn vị đặc công và đội trinh sát vũ trang tổ chức huấn luyện cho các lực lượng này ngay trong quá trình chiến đấu. Các "vành đai diệt Mỹ" quanh Phú Bài, Ấp 5, động Tòa, Thành Huế, thị xã Quảng Trị được nhanh chóng hình thành. Các phân đội đặc công, biệt động, trinh sát vũ trang, du kích mật áp sát dần vào vùng ven, vừa hoạt động tác chiến vừa xây dựng bàn đạp. Khối chủ lực quân khu được tăng cường trung đoàn 9 (sư đoàn 304) trung đoàn 2 (sư đoàn 324) và trung đoàn 3 (sư đoàn 325).


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:01:47 pm

Để phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới, ngay từ tháng 5, Trung ương Đảng đã chuẩn y việc giải thể Tỉnh ủy và Tỉnh đội Quảng Trị, Thừa Thiên, thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế do đồng chí Trần Văn Quang, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, làm Bí thư khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Đồng chí Lê Chưởng làm Chính ủy. Các đồng chí Nam Long, Phó tư lệnh; Hồ Tú Nam, Phó chính ủy; Đặng Kinh, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng. Các huyện ủy chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy.

Về tổ chức chiến trường, trên các hướng thành lập các đoàn trực thuộc Bộ Tư lệnh quân khu. Đoàn 4 có nhiệm vụ đánh giao thông từ nam Phú Lộc đến bắc đèo Hải Vân, lực lượng có tiểu đoàn 804B bộ binh và hai tiểu đoàn công binh do Nguyễn Chi làm đoàn trưởng, Lê Tư Cường làm chính ủy. Đoàn 5 phụ trách Huế và ba huyện vùng ven Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, lực lượng gồm ba tiểu đoàn bộ binh 804A, 810, 845, hai tiểu đoàn đặc công K1, K2 và 14 đội biệt động. Đoàn 5 chia làm hai cánh: cánh bắc và cánh nam sông Hương. Cánh bắc do đồng chí Trần Thanh Liên bí thư kiêm chính ủy, Nguyễn Thu làm chỉ huy trưởng. Các đồng chí Dương Đấu, Ngô Quang Chính, Nguyễn Trọng Dần, Nguyễn Hữu Hường làm phó chỉ huy. Đồng chí Hường trực tiếp làm bí thư huyện Hương Trà. Cánh nam do đồng chí Nguyễn Vạn làm bí thư kiêm chính ủy, Thân Trọng Một làm chỉ huy trưởng. Các đồng chí: Hoàng Lanh, Tô Đình Khản làm phó chỉ huy. Đồng chí Xuân Ngà làm bí thư huyện Hương Thủy, Phan Nam bí thư huyện Phú Vang.

Đoàn 6 phụ trách ba huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Điền, có trung đoàn 6 bộ binh, do Vũ Thắng làm bí thư kiêm chính ủy, Lê Sáu chỉ huy trưởng. Đoàn 7 phụ trách các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị, Đông Hà. Lực lượng có trung đoàn 9 (sư đoàn 304), hai tiểu đoàn bộ binh 808, 814, tiểu đoàn đặc công K10 và hai đại đội bộ đội địa phương huyện. Cuối năm 1967, trung đoàn 9 được rút về làm lực lượng cơ động của quân khu, trung đoàn 2 (sư đoàn 324) được điều về thay thế. Đoàn 7 do Hồ Sĩ Thản làm bí thư kiêm chính ủy, Sùng Lãm chỉ huy trưởng, Hồ Tú Nam, Phó chính ủy quân khu trực tiếp chỉ đạo. Đoàn 31 phụ trách khu vực từ đường số 9 đến giới tuyến quân sự tạm thời gồm địa bàn hai huyện Gio Linh, Cam Lộ. Hoạt động khu vực này có hai tiểu đoàn bộ binh đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh mặt trận Đường 9 - bắc Quảng Trị (B5).

Các huyện miền tây của hai tỉnh tổ chức thành Đảng ủy miền Tây, do đồng chí Lê Hành làm bí thư, đồng chí Cù Pàng chỉ huy trưởng. Các đồng chí khu ủy viên, tỉnh ủy viên được phân bổ về cơ sở trực tiếp chỉ đạo phong trào. Các đoàn được sử dụng lực lượng tại chỗ, kể cả chủ lực của quân khu đóng trên địa bàn.

Đầu tháng 10 năm 1967, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Khu ủy và quân khu Trị - Thiên - Huế: "Tổ chức chuẩn bị đánh vào Huế. Làm kế hoạch ra Bộ báo cáo và nhận lệnh cụ thể".

Trung tuần tháng 10 năm 1967, Khu ủy họp dưới sự chủ tọa của Bí thư Trần Văn Quang để nghiên cứu chỉ thị của Quân ủy Trung ương, bàn kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy đánh chiếm Huế, giải phóng Trị - Thiên.

Sau khi phân tích tình thế đã được tạo ra trong năm 1967 Khu ủy quyết định: "Tích cực chuẩn bị mọi mặt tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi to lớn trong năm 1968" và hạ quyết tâm: "Tập trung sức lực của toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân trong quân khu với nỗ lực và cố gắng cao nhất, tiến công địch liên tục và toàn diện cả về quân sự, chính trị, binh vận, tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận quan trọng quân Mỹ, cô lập chúng và làm cho chúng không cứu vãn được quân ngụy, chiếm lĩnh những vùng nông thôn xung yếu, làm rối loạn thành phố và hệ thống phòng thủ của địch. Phối hợp với các chiến trường khác tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giải phóng Trị - Thiên - Huế, giành chính quyền về tay nhân dân, đánh bại mọi cuộc phản kích của địch".

Kế hoạch chia làm hai bước:

1. Đông - xuân 1967 -1968: vừa đánh địch, mở rộng vùng giải phóng, vừa xây dựng lực lượng vùng ven và nội thành.

2. Trên cơ sở bước 1: đến hè năm 1968 tiến hành tổng tiến công và nổi dậy chiếm Huế, Phối hợp với toàn miền đánh bại quân địch.

Cùng với việc tăng cường lực lượng, xây dựng phương án tác chiến, bố trí chiến trường, Khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu chỉ đạo quân và dân Trị - Thiên mở đợt hoạt động quân sự thu - đông 1967.

Sau khi đưa sư đoàn 325, hai trung đoàn bộ binh cùng các binh chủng kỹ thuật vào mặt trận Đường số 9, tăng sức ép tuyến phòng thủ Mac Na-ma-ra, mở đợt tiến công vào các căn cứ Mỹ trên tuyến phòng thủ này, từ tháng 8 năm 1967 trở đi, ta tăng cường hoạt động ở đồng bằng, đánh cắt đường xe lửa Huế - Đà Nẵng, giải phóng thêm nhiều thôn ven đường, diệt đồn Nam Giảng, Lương Mai, Mỹ Chánh, Cây Xanh, Cầu Vực. Đêm 8 tháng 8, pháo binh ta đánh vào sân bay Phú Bài, phá hủy 75 máy bay, 50 xe quân sự, diệt hơn 100 tên địch. Cũng thời gian này, đặc công Thừa Thiên đột nhập vào căn cứ Mỹ ở Tam Sao, gây cho địch thiệt hại lớn. Liên tiếp từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9, đoàn 126 hải quân đưa cả bốn tiểu đoàn vào hoạt động. Đêm 1 rạng ngày 2 tháng 9, hải quân ta đánh chím năm tàu địch trên sông Cửa Việt. Trong đợt hoạt động này, đoàn 126 đã đánh chìm 12 tàu địch.

Cùng với đòn tiến công về quân sự, quân và dân ta đẩy mạnh đánh phá chương trình bình định của địch, mở rộng vùng làm chủ và vùng tranh chấp, tạo nên nhiều bàn đạp xung quanh thành phố, khôi phục lại vùng đồng bằng địch lấn chiếm, giải phóng thêm 22 thôn ở Gio Linh, Cam Lộ. Vùng giải phóng được mở rộng tạo thành thế liên hoàn từ nam sông Bến Hải vào Triệu Phong, Hải Lăng, Hương Điền, thông đến Hương Trà, Phú Vang và áp sát thành phố Huế.

Tại Huế, phong trào đấu tranh chính trị tiếp tục phát triển, nhiều cuộc biểu tình của quần chúng đòi ly khai Thiệu, Kỳ, chống bắt lính, đôn quân, đòi Mỹ rút về nước lôi cuốn hàng vạn người tham gia. Cơ sở cách mạng ở nội thành có bước phát triển.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:02:57 pm

Để phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới, ngay từ tháng 5, Trung ương Đảng đã chuẩn y việc giải thể Tỉnh ủy và Tỉnh đội Quảng Trị, Thừa Thiên, thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế do đồng chí Trần Văn Quang, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, làm Bí thư khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Đồng chí Lê Chưởng làm Chính ủy. Các đồng chí Nam Long, Phó tư lệnh; Hồ Tú Nam, Phó chính ủy; Đặng Kinh, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng. Các huyện ủy chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy.

Về tổ chức chiến trường, trên các hướng thành lập các đoàn trực thuộc Bộ Tư lệnh quân khu. Đoàn 4 có nhiệm vụ đánh giao thông từ nam Phú Lộc đến bắc đèo Hải Vân, lực lượng có tiểu đoàn 804B bộ binh và hai tiểu đoàn công binh do Nguyễn Chi làm đoàn trưởng, Lê Tư Cường làm chính ủy. Đoàn 5 phụ trách Huế và ba huyện vùng ven Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, lực lượng gồm ba tiểu đoàn bộ binh 804A, 810, 845, hai tiểu đoàn đặc công K1, K2 và 14 đội biệt động. Đoàn 5 chia làm hai cánh: cánh bắc và cánh nam sông Hương. Cánh bắc do đồng chí Trần Thanh Liên bí thư kiêm chính ủy, Nguyễn Thu làm chỉ huy trưởng. Các đồng chí Dương Đấu, Ngô Quang Chính, Nguyễn Trọng Dần, Nguyễn Hữu Hường làm phó chỉ huy. Đồng chí Hường trực tiếp làm bí thư huyện Hương Trà. Cánh nam do đồng chí Nguyễn Vạn làm bí thư kiêm chính ủy, Thân Trọng Một làm chỉ huy trưởng. Các đồng chí: Hoàng Lanh, Tô Đình Khản làm phó chỉ huy. Đồng chí Xuân Ngà làm bí thư huyện Hương Thủy, Phan Nam bí thư huyện Phú Vang.

Đoàn 6 phụ trách ba huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Điền, có trung đoàn 6 bộ binh, do Vũ Thắng làm bí thư kiêm chính ủy, Lê Sáu chỉ huy trưởng. Đoàn 7 phụ trách các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị, Đông Hà. Lực lượng có trung đoàn 9 (sư đoàn 304), hai tiểu đoàn bộ binh 808, 814, tiểu đoàn đặc công K10 và hai đại đội bộ đội địa phương huyện. Cuối năm 1967, trung đoàn 9 được rút về làm lực lượng cơ động của quân khu, trung đoàn 2 (sư đoàn 324) được điều về thay thế. Đoàn 7 do Hồ Sĩ Thản làm bí thư kiêm chính ủy, Sùng Lãm chỉ huy trưởng, Hồ Tú Nam, Phó chính ủy quân khu trực tiếp chỉ đạo. Đoàn 31 phụ trách khu vực từ đường số 9 đến giới tuyến quân sự tạm thời gồm địa bàn hai huyện Gio Linh, Cam Lộ. Hoạt động khu vực này có hai tiểu đoàn bộ binh đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh mặt trận Đường 9 - bắc Quảng Trị (B5).

Các huyện miền tây của hai tỉnh tổ chức thành Đảng ủy miền Tây, do đồng chí Lê Hành làm bí thư, đồng chí Cù Pàng chỉ huy trưởng. Các đồng chí khu ủy viên, tỉnh ủy viên được phân bổ về cơ sở trực tiếp chỉ đạo phong trào. Các đoàn được sử dụng lực lượng tại chỗ, kể cả chủ lực của quân khu đóng trên địa bàn.

Đầu tháng 10 năm 1967, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Khu ủy và quân khu Trị - Thiên - Huế: "Tổ chức chuẩn bị đánh vào Huế. Làm kế hoạch ra Bộ báo cáo và nhận lệnh cụ thể".

Trung tuần tháng 10 năm 1967, Khu ủy họp dưới sự chủ tọa của Bí thư Trần Văn Quang để nghiên cứu chỉ thị của Quân ủy Trung ương, bàn kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy đánh chiếm Huế, giải phóng Trị - Thiên.

Sau khi phân tích tình thế đã được tạo ra trong năm 1967 Khu ủy quyết định: "Tích cực chuẩn bị mọi mặt tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi to lớn trong năm 1968" và hạ quyết tâm: "Tập trung sức lực của toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân trong quân khu với nỗ lực và cố gắng cao nhất, tiến công địch liên tục và toàn diện cả về quân sự, chính trị, binh vận, tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận quan trọng quân Mỹ, cô lập chúng và làm cho chúng không cứu vãn được quân ngụy, chiếm lĩnh những vùng nông thôn xung yếu, làm rối loạn thành phố và hệ thống phòng thủ của địch. Phối hợp với các chiến trường khác tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giải phóng Trị - Thiên - Huế, giành chính quyền về tay nhân dân, đánh bại mọi cuộc phản kích của địch".

Kế hoạch chia làm hai bước:

1. Đông - xuân 1967 -1968: vừa đánh địch, mở rộng vùng giải phóng, vừa xây dựng lực lượng vùng ven và nội thành.

2. Trên cơ sở bước 1: đến hè năm 1968 tiến hành tổng tiến công và nổi dậy chiếm Huế, Phối hợp với toàn miền đánh bại quân địch.

Cùng với việc tăng cường lực lượng, xây dựng phương án tác chiến, bố trí chiến trường, Khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu chỉ đạo quân và dân Trị - Thiên mở đợt hoạt động quân sự thu - đông 1967.

Sau khi đưa sư đoàn 325, hai trung đoàn bộ binh cùng các binh chủng kỹ thuật vào mặt trận Đường số 9, tăng sức ép tuyến phòng thủ Mac Na-ma-ra, mở đợt tiến công vào các căn cứ Mỹ trên tuyến phòng thủ này, từ tháng 8 năm 1967 trở đi, ta tăng cường hoạt động ở đồng bằng, đánh cắt đường xe lửa Huế - Đà Nẵng, giải phóng thêm nhiều thôn ven đường, diệt đồn Nam Giảng, Lương Mai, Mỹ Chánh, Cây Xanh, Cầu Vực. Đêm 8 tháng 8, pháo binh ta đánh vào sân bay Phú Bài, phá hủy 75 máy bay, 50 xe quân sự, diệt hơn 100 tên địch. Cũng thời gian này, đặc công Thừa Thiên đột nhập vào căn cứ Mỹ ở Tam Sao, gây cho địch thiệt hại lớn. Liên tiếp từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9, đoàn 126 hải quân đưa cả bốn tiểu đoàn vào hoạt động. Đêm 1 rạng ngày 2 tháng 9, hải quân ta đánh chím năm tàu địch trên sông Cửa Việt. Trong đợt hoạt động này, đoàn 126 đã đánh chìm 12 tàu địch.

Cùng với đòn tiến công về quân sự, quân và dân ta đẩy mạnh đánh phá chương trình bình định của địch, mở rộng vùng làm chủ và vùng tranh chấp, tạo nên nhiều bàn đạp xung quanh thành phố, khôi phục lại vùng đồng bằng địch lấn chiếm, giải phóng thêm 22 thôn ở Gio Linh, Cam Lộ. Vùng giải phóng được mở rộng tạo thành thế liên hoàn từ nam sông Bến Hải vào Triệu Phong, Hải Lăng, Hương Điền, thông đến Hương Trà, Phú Vang và áp sát thành phố Huế.

Tại Huế, phong trào đấu tranh chính trị tiếp tục phát triển, nhiều cuộc biểu tình của quần chúng đòi ly khai Thiệu, Kỳ, chống bắt lính, đôn quân, đòi Mỹ rút về nước lôi cuốn hàng vạn người tham gia. Cơ sở cách mạng ở nội thành có bước phát triển.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:04:08 pm

Trên miền Bắc, mặc dù địch đánh phá ngày càng ác liệt, nhưng quân và dân ta không nao núng quyết tâm, vừa kiên cường đánh trả không quân Mỹ, vừa bảo đảm giao thông vận tải chi viện tiền tuyến. Đến cuối 1967, toàn Quân khu 4 đã vận chuyển cho chiến trường miền Nam đạt 117 phần trăm kế hoạch, cho Lào đạt 104 phần trăm kế hoạch, cho chiến trường Trị - Thiên được 28.529 tấn. Trong không khí cả nước ra quân, 11.130 chiến sĩ con em các địa phương trong quân khu đã lần lượt lên đường nhập ngũ và có 10.000 người đã vào chiến đấu ở Trị - Thiên.

Theo dõi chặt chẽ diễn biến của tình hình trên chiến trường, trong nước và trên thế giới, tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp quyết định: "Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định". Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh khi xây dựng phương án tổng công kích - tổng khởi nghĩa đã xác định đường số 9 - Khe Sanh là chiến trường chính của bộ đội chủ lực nhằm thu hút, giam chân lực lượng cơ động chiến lược của địch, lấy Sài Gòn, Nam Bộ và Trị - Thiên - Huế làm chiến trường chính của đòn tổng công kích - tổng khởi nghĩa, trong đó Sài Gòn, Huế và các thành phố lớn là trọng điểm.

Dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Quân khu Trị - Thiên thành lập mặt trận thành phố Huế (gồm sáu quận, huyện nội và ngoại thành) và mặt trận Trị - Thiên (B4). Ban chỉ đạo tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở B4 và mặt trận Huế do Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy trực tiếp chỉ đạo. Các ban chỉ đạo, chỉ huy ở cánh nam, bắc Huế, và ở mặt trận Quảng Trị, Phú Lộc và ban chỉ đạo hậu phương toàn quân khu được gấp rút thành lập.

Cán bộ chủ chốt của quân khu, huyện, thị, thành phố được cử về các địa phương bám nắm địa bàn.

Bí thư Đảng bộ các cấp, các đội trưởng đội công tác cơ sở, chỉ huy trưởng các đơn vị về quân khu dự các lớp tập huấn quán triệt chủ trương, kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy, cùng cơ quạn quân khu thảo luận, xây dựng phương án tác chiến cụ thể trên từng cánh, từng mũi. Trong khi đó các đội trinh sát tăng cường hoạt động điều tra tình hình địch, chuẩn bị chiến đấu. Lúc này các xã ở ven thành phố Huế đã có vùng "lõm" và hệ thống hầm bí mật nuôi giấu cán bộ vào hoạt động. Nội thành Huế đã xây dựng 1.000 cơ sở mật và 40 tổ vũ trang công tác. Ở cánh nam, trong tháng 1 năm 1968, thêm 300 tự vệ chiến đấu được cài cắm ở các khu phố. Xí nghiệp Long Thọ, nhà máy đèn, nhà ga có hai đến ba tiểu đội tự vệ vũ trang. Các huyện ngoại thành bổ sung 700 cán bộ vào đội công tác.

Mạng giao thông liên lạc từ miền núi về đồng bằng vào thành phố được thiết lập. Đêm đêm, giao liên đưa đón cán bộ ra, vào thành hoạt động.

Tết đang đến gần. Lợi dụng việc nhân dân đi lại mua sắm hàng tết; đặc công, biệt động, cán bộ dân - chính - Đảng, quần chúng cách mạng cải trang lọt vào thành phố Huế, thị xã Quảng Trị bám sát các mục tiêu nắm địch và chuẩn bị lực lượng.

Từ vùng địch kiểm soát, cơ sở cách mạng đã sử dụng các phương tiện vận tải ô-tô, xuồng máy... đi bằng đường hợp pháp công khai hoặc đường bí mật, đêm ngày chuyển gạo, thuốc men ra vùng giải phóng và nhận về súng đạn, thuốc nổ.

Ở Hương Thủy, quần chúng cách mạng mua gạo chuyển lên vùng giáp ranh. Chị Nguyễn Thị Toen đã hy sinh trong khi chuyển gạo qua sông cung cấp cho quân giải phóng.

Các xã Hương Thanh, Hương Mai, Hương Phú huyện Hương Trà được phân công thu mua lương thực, thực phẩm. Xã Hương Vinh mua nhu yếu phẩm. Đến cuối năm 1967 đã có 1.700 tấn lương thực, 18 con trâu được đưa lên căn cứ.

Huyện Phú Vang huy động 2.000 tấn lương thực, 30 triệu (tiền ngân hàng chính quyền Sài Gòn), 500 thùng sắn khô. Ở Quảng Trị, nhân dân Triệu Hải mua gạo từ đồng bằng ven biển chuyển về các xã Hải Phong, Hải Vĩnh, Hải Thượng. Đến trung tuần tháng 1 năm 1968 đã tập kết được 1.500 tấn.

Vừa hoàn thành công tác chuẩn bị, tăng cường lực lượng, bố trí chiến trường, Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên phối hợp với Bộ Tư lệnh mặt trận Đường số 9 mở đợt hoạt động quân sự, nhằm thu hút lực lượng địch và nghi binh, đánh lạc hướng phán đoán của địch.
Đêm 6 rạng ngày 7 tháng 1 năm 1968, tiểu đoàn 804 bộ binh cùng một đại đội đặc công, một đại đội súng cối và ĐKZ, một đại đội công binh do đồng chí Trần Lưu Chử, đoàn phó đoàn 4 chỉ huy đã nổ súng tiến công diệt đồn Cầu Hai, quận Phú Lộc, đồn An Bằng và Nước Ngọt, loại khỏi vòng chiến đấu gần 400 tên, trong đó có tên quận trưởng Phú Lộc. Được sự hỗ trợ của đòn tiến công quân sự, nhân dân đã phá giao thông địch trên đường số 1, đoạn Phú Lộc - Hải Vân. Địch phải điều một tiểu đoàn Mỹ từ Phú Bài vào đối phó. Trong khi tuyến đường số 1 chưa được giải tỏa, ngày 13 tháng 1, trên hướng Quảng Trị, tiểu đoàn 8 bộ binh phục kích phá đoàn xe vận tải gồm chín chiếc, trên đoạn Tân Lâm - Cà Lu (tây đường số 9) diệt hàng trăm tên địch. Năm ngày sau, đoàn 31 đặc công phối hợp với pháo binh tập kích diệt quân Mỹ trên các điểm cao động Tri, 845, 832.

Đêm 21 tháng 1, pháo binh bờ bắc sông Bến Hải dội đạn vào căn cứ Ái Tử và tập kích vào xóm Búng, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, phá hỏng một đài ra-đa, một xe M113, gây nổ một kho đạn.

Đêm 12 tháng 1, lực lượng vũ trang huyện Hương Trà, cùng với tiểu đoàn 12 đặc công đánh bại cuộc hành quân càn quét của hai tiểu đoàn ngụy vào vùng núi huyện Hương Trà, bảo vệ địa bàn đứng chân và cơ sở vật chất chuẩn bị cho tổng tiến công.

Trong tháng 1, các đội biệt động nội thành Huế cũng diệt gần 300 tên ác ôn, mật vụ.

Đêm 19 tháng 1, ta đưa trung đoàn 270 vào chốt giữ các điểm: Lâm Xuân, Bạch Cầu, Hoàng Hà; sử dụng tiểu đoàn 25 công binh làm lực lượng mở cửa cho trung đoàn 48 sư đoàn 320 vào đánh Cam Lộ và đánh giao thông địch trên đường số 9. Đặc công hải quân kết hợp với một bộ phận trung đoàn 270 đánh cắt giao thông thủy của địch trên sông Bồ Điền, đoạn Cửa Việt - Đông Hà.

Trong lúc địch đang cố phán đoán về đợt hoạt động mới của ta, từ ngày 12 đến 27 tháng 1, Liên quân Lào - Việt thực hành thắng lợi chiến dịch Nậm Bạc, đánh thiệt hại nặng 11 tiểu đoàn ngụy Lào, giữ vững hành lang chiến lược, buộc Mỹ và bọn phản động Lào phải lúng túng đối phó.

Giữa lúc chiến dịch Nậm Bạc diễn ra sôi động thì đêm 20 tháng 1 năm 1968, Bộ Tư lệnh chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh ra lệnh tiến công tập đoàn cứ điểm Khe Sanh và tuyến phòng thủ đường số 9.

Sáng 21 tháng 1, trung đoàn 66 sư đoàn 304 đánh chiếm quận lỵ Hướng Hóa (phía tây Khe Sanh), giải phóng hơn 8.000 dân. Tiểu đoàn 6 trung đoàn 2 sư đoàn 325C đánh chiếm điểm cao 832 án ngữ tây bắc cụm cứ điểm Tà Cơn. Đêm 23 tháng 1, trung đoàn 24 sư đoàn 304 được tăng cường một đại đội xe tăng PT76 tiến công đánh chiếm căn cứ Huội San, phá một mắt xích quan trọng trên tuyến phòng thủ phía tây đường số 9. Khi chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh nổ ra, địch cho rằng ta sẽ đánh chiếm thị xã Quảng Trị. Chúng vội điều lực lượng ra bảo vệ thị xã Quảng Trị và quận lỵ Triệu Phong, tăng thêm quân cho khu vực đường số 9.

Huế và Phú Lộc vẫn là nơi sơ hở nhất của địch.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:06:56 pm

II. CHIẾM GIỮ HUẾ 25 NGÀY ĐÊM, VÂY HÃM MỸ - NGỤY 170 NGÀY ĐÊM Ở KHE SANH - ĐƯỜNG SỐ 9

Giữa lúc địch đang dồn tâm trí và lực lượng đối phó ở hướng đường số 9 - Quảng Trị, trưa ngày mồng một Tết Mậu Thân (ngày 30 tháng 1 năm 1968)1  từ những cánh rừng phía tây Hương Trà, Hương Thủy, Phong Điền, các đơn vị chủ lực và địa phương khẩn trương hành quân tới vị trí tập kết. Bộ chỉ huy tiền phương Quân khu Trị - Thiên rời căn cứ Phong Điền, chuyển xuống vùng Khe Trái huyện Hương Trà để bám sát các mũi tiến công. Cùng lúc đó, các đội biệt động, tổ công tác đã vào thành phố, ém sát các mục tiêu, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng tiến công.

Bộ chỉ huy cánh bắc do đồng chí Nguyễn Thu làm chỉ huy trưởng, Trần Anh Liên làm chính ủy đã có mặt ở phía Khe Trái huyện Hương Trà. Lực lượng cánh này gồm trung đoàn 6 bộ binh (do trung đoàn trưởng Dương Đấu và chính ủy Nguyễn Chí Thành chỉ huy), được tăng cường tiểu đoàn 6 trung đoàn 9, tiểu đoàn 12 đặc công, hai đội biệt động, một đại đội trinh sát, các đơn vị hỏa lực, công binh, thông tin và lực lượng địa phương huyện Hương Trà. 17 giờ 30 ngày 30 tháng 1, toàn bộ lực lượng đã vượt qua dốc Ông Ấm tiến vào khu vực An Hòa, Bồn Trì, Bồn Phổ.

Bộ chỉ huy cánh nam do đồng chí Thân Trọng Một làm chỉ huy trưởng có mặt ở khu vực Viễn Trình huyện Phú Vang. Chiến đấu ở cánh này có trung đoàn 9 bộ binh (thiếu tiểu đoàn 6) do trung đoàn trưởng Tô Đình Khản và chính ủy Lê Khả Phiêu chỉ huy, được bổ sung hai tiểu đoàn 864, 810 bộ binh của thành đội Huế, tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 2 đặc công, tiểu đoàn 32 pháo ĐKB, một lực lượng hỏa lực B41 (có 50 khẩu), bốn đội biệt động, các đơn vị binh chủng và lực lượng hai huyện: Phú Vang, Hương Thủy. 22 giờ ngày 30 tháng 1, toàn bộ lực lượng đã tập kết ở khu vực Viễn Trình, Phú Tài, Hải Thủy.

Ngoài hai hướng trên, một số đơn vị của ta cũng áp sát mục tiêu trên nhiều hướng. Bộ đội sẵn sàng, hồi hộp ở vị trí xuất phát tiến công, chờ lệnh nổ súng.

2 giờ 33 phút ngày 31 tháng 1 năm 1968, pháo ĐKB cánh nam bắn vào sân bay Phú Bài. Hiệu lệnh tổng tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường Trị - Thiên - Huế đã điểm.

Trên cánh bắc: một tổ du kích mật do Đặng Văn Hiếu chỉ huy mở đường cho đại đội 1, tiểu đoàn 12 đặc công và tiểu đoàn 6, trung đoàn 6 bộ binh đánh vào sở chỉ huy sư đoàn 1 ngụy ở Mang Cá.

Một bộ phận đặc công bí mật vượt qua tường thành khu Mang Cá; nhung lúc phát triển vào bên trong căn cứ thì bị địch phát hiện chống trả, một số cán bộ, chiến sĩ thương vong. Mũi trưởng Nguyễn Văn Châu dùng cối 82 bắn chế áp để đưa lực lượng đánh vào cổng Bắc, diệt được bốn lô cốt, sau đó đánh sang cổng Tây. Ở vòng ngoài, đại đội 2 bộ binh vấp phải sự chống trả mãnh liệt của địch; bị địch cầm chân. Cuộc chiến đấu kéo dài năm giờ. Hàng trăm tên địch bị diệt, nhưng số thương vong của ta cũng tăng dần. Vào lúc 7 giờ 30, ta buộc phải rút ra củng cố.

Bộ chỉ huy cánh bắc tung tiểu đoàn 2 và lực lượng đặc công đánh vào Mang Cá lần thứ hai, nhưng vẫn không đột nhập được vào tung thâm. Ta chỉ tổ chức bao vây Mang Cá trong suốt quá trình chiếm giữ Huế. Mục tiêu chủ yếu của cánh bắc không giải quyết được.

Ở Tây Lộc: sau khi bí mật vượt qua cống Thủy Quan và cửa Chánh Tây, đại đội 2 đặc công và tiểu đoàn 1 trung đoàn 6 bộ binh ba lần tiến công vào sân bay, gây thiệt hại nặng hai tiểu đoàn địch, phá hủy 20 máy bay, nhưng chỉ giữ được đến 11 giờ.

Tại khu vực Thành Nội, đại đội 4 đặc công cùng đại đội 5 tiểu đoàn 2 trung đoàn 6 đột phá từ cửa Hữu, diệt đơn vị thám báo và 131 tên cảnh sát, bắt 26 tên, sau đó phát triển đánh chiếm khu vực cột cờ. Đúng 9 giờ ngày 31 tháng 1, cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tung bay trên đỉnh Phu Văn Lâu. Chiến sĩ Nguyễn Văn Tuyển là người được phân công kéo lá cờ này.

Sau khi đánh chiếm khu cột cờ, tiểu đoàn 2 phát triển qua cửa Đông Ba, cửa Thượng Tứ, cống Thanh Long tiến ra phía bắc cầu Tràng Tiền đánh chiếm các ty, sở ngụy quyền ở quận Nhất, diệt đồn cảnh sát chợ Đông Ba, truy quét lũ ác ôn, cảnh sát suốt dọc đường Trần Hưng Đạo.

Ở khu vực phường Gia Hội, đội biệt động số 14 đã đập tan chính quyền ngụy. Sáng ngày 1 tháng 2, nhân dân toàn phường nổi dậy truy lùng ác ôn, tề điệp, mật vụ, tham gia phục vụ chiến đấu.

Phối hợp với nội thành, ở vùng ven, tiểu đoàn 818 cùng lực lượng vũ trang huyện Hương Trà nổ súng tiến công diệt các vị trí địch ở vòng ngoài như Kim Long, Kẻ Vạn, Văn Thánh, cầu Bạch Hổ, cầu An Hòa, Đốc Sơ, Bồn Tứ, Bồn Phổ, An Lưu, Quế Chử..., diệt và bắt hàng trăm ác ôn, cảnh sát và nhân viên ngụy quyền. Trưa ngày 1 tháng 2, bộ đội địa phương huyện Hương Trà cùng nhân dân nổi dậy cướp chính quyền ở một số xã, diệt và bắt nhiều ác ôn, gọi hàng hơn 1.000 tên phòng vệ dân sự. Sáng ngày 2 tháng 2, các xã còn lại trong huyện nổi dậy phá bỏ chính quyền của địch, thành lập chính quyền cách mạng và hăng hái tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Nhân dân xã Hương Thái góp hơn 700 thùng gạo, hàng tấn thực phẩm, tổ chức nhà ăn tập thể phục vụ cho hàng nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ, đồng bào cánh bắc Huế trong suốt quá trình tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.

Cùng Hương Trà, lực lượng vũ trang huyện Quảng Điền tiến công mạnh mẽ, đánh chiếm đồn Phổ Lại, uy hiếp các vị trí Đức Trọng, cầu Kẽm; cắt giao thông tuyến Phú Ốc - Sịa; giải phóng các xã An Gia, Thanh Bình, Thu Lễ, làm chủ Sịa, bao vây quận lỵ Quảng Điền. Cùng lúc, lực lượng vũ trang huyện Phong Điền đột nhập vào chợ Phò Trạch, làng Thanh Hương, hỗ trợ cho hơn 3.000 quần chúng bao vây, uy hiếp quận lỵ, buộc địch rút bỏ ba vị trí ở Thanh Hương. Vùng giải phóng nối liên hoàn từ Hải Lăng vào Phong Điền, Quảng Điền...

Đòn tiến công bất ngờ của ta ở cánh bắc buộc địch phải rút bỏ nhiều đồn bốt ở Sịa và các điểm cao 367, 54, cầu Kẽm để đưa quân về Đồng Lâm, An Lỗ, tăng cường lực lượng giữ tuyến sông Bồ làm bàn đạp chuẩn bị phản kích.

Ở cánh nam Huế, tiểu đoàn 1 đặc công dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trường Trần Đức Tuyển cùng chính trị viên Trương Đình Chiến tăng cường một trung đội bộ binh và một khẩu đội ĐKZ, đánh chiếm căn cứ trung đoàn 7 thiết giáp ngụy ở Tam Thai. Đến 6 giờ 31 tháng 1, ta đã làm chủ hầu hết các vị trí trong căn cứ, phá 35 xe tăng, thiết giáp, diệt trên 350 tên địch.

7 giờ ngày 31 tháng 1, các đơn vị xe tăng và bộ binh địch ở vòng ngoài quay lại phản kích. Tiểu đoàn 1 đặc công trụ lại trong căn cứ, liên tiếp đánh bật các đợt phản kích của chúng. Suốt ba ngày chiến đấu liên tục và quyết liệt, lực lượng ta bị tổn thất, quân số không được bổ sung. Chiều 2 tháng 2, đặc công ta phải rút về Ngũ Tây để củng cố sau khi đã giữ Tam Thai liên tục ba ngày, mở cửa cho các đơn vị vào đánh Huế từ phía nam, góp phần hình thành thế chặn địch tăng viện bằng đường bộ từ Phú Bài, Ấp 5, động Tòa vào giải vây Huế.

Trong khi tiếng súng tiến công của tiểu đoàn 1 đặc công đang rộ lên ở Tam Thai, tiểu đoàn 2 đặc công dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Hùng Hải Vũ và chính trị viên Trần Đăng Hiền tiến công táo bạo vào khách sạn Thuận Hóa và tiểu khu Thừa Thiên. 4 giờ ngày 1 tháng 2, đại đội 1 đã chiếm tầng một khách sạn Thuận Hóa và đại đội 2 chiếm tiểu khu Thừa Thiên, ngã 5 Tòa Khâm và phát triển xuống khách sạn Hương Giang, cùng tiểu đoàn 840 bộ binh chiếm đài phát thanh Huế và phía nam cầu Tràng Tiền.

Đại đội 3 cùng với biệt động thành đánh đồn An Cựu, diệt hai đoàn bình định, phát triển lên Kho Rèn, diệt gần 50 tên cảnh sát, bắn cháy sáu xe tăng, kết hợp với đại đội 1 tiểu đoàn 804 bộ binh tiến công hai tiểu đoàn cảnh sát dã chiến ngụy ở Bốt Cò. Đại đội 2 tiểu đoàn 804 tiến công trại hậu cần Lê Lai, diệt hơn 200 tên ngụy, phá hủy trên 100 xe vận tải. Sau khi diệt các mục tiêu được phân công, toàn bộ tiểu đoàn 804 vòng ra khu vực nam cầu Tràng Tiền xây dựng trận địa chốt để chuẩn bị đánh địch phản kích.
____________________________________________________
1. Theo lịch đo chính quyền Sài Gòn công bố: Ngày mồng một Tết Nguyên đán năm 1968 là ngày 30 tháng 1 năm 1968, sớm hơn một ngày so với lịch sử dụng trên miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:08:13 pm

Hòa nhịp với tiểu đoàn 804, tiểu đoàn 810 do hai đồng chí Bảy Khiên và Đặng Văn Đáp chỉ huy, tiến công mạnh mẽ, đánh chiếm cầu Ga, Bến Ngự, Nam Giao, đường Lê Lợi..., diệt tiểu đoàn bình định, tỉnh đoàn bảo an, ty sắc tộc, tòa đại điện chính quyền Sài Gòn ở Trung Phần, tòa tỉnh trưởng, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Đại tỉnh phó Thừa Thiên. Thừa thắng, tiểu đoàn 810 tiến công nhà lao Thừa Phủ, giải phóng hơn 2.000 cán bộ cách mạng bị địch giam cầm. Cùng lúc, đại đội 4 đặc công đột nhập vào trại biệt giam thẩm vấn, giải thoát 107 cán bộ cách mạng.

Tiểu đoàn 8 trung đoàn 9 cùng tổ du kích mật xã Thủy An, diệt cụm xe tăng ở cầu Nhà Đèn, đánh chiếm cầu An Cựu, tiến công vào Phước Quả, Phú Cam, diệt 1.300 tên gián điệp, biệt kích, bắt 246 tên, thu nhiều tài liệu vũ khí. Sau đó, tiểu đoàn phát triển sang xưởng quân cụ, trường huấn luyện biệt kích người Thượng, đồn cảnh sát ga Huế và căn cứ của tiểu đoàn công binh ngụy ở Bò Ghè.

Phối hợp nhịp nhàng với các đơn vị ở nội thành cánh nam Huế, đội đặc công huyện Hương Thủy cùng du kích diệt đồn cảnh sát An Cựu, miếu Đại Càng, đồn Cầu Vực, Gia Lệ, chợ Cống..., diệt bọn ác ôn, mật vụ và cảnh sát ở các xã Mỹ Thủy, An Thủy, Thanh Thủy. Sau khi làm chủ khu vực này, đặc công phối hợp với du kích xây dựng trận địa chốt, chuẩn bị đánh địch từ Phú Bài vào phản kích, đồng thời hỗ trợ cho nhân dân các xã Mỹ Thủy, Vân Dương, Xuân Hòa, An Thủy, Hải Thanh nổi dậy, phá bỏ chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng, tham gia du kích. Huyện đã kịp thời bổ sung 300 du kích cho bộ đội chủ lực.

Ở Phú Vang, đội biệt động huyện phối hợp với đại đội 117 bộ đội địa phương cùng du kích diệt một đại đội biệt kích ngụy ở Phú Xuân, một trung đội cảnh sát, một trung đội dân vệ và hai đoàn bình định ở Đập Đá, đốt cháy kho xăng chợ Dinh, cắt đường giao thông thủy của địch từ cửa Thuận lên Huế, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy giành chính quyền ở các xã Phú Ân, Phú Bài, Phú Thiện và khu phố 5 (vùng Vĩ Dạ, Ngọc Anh).

Từ ngày 2 đến ngày 7 tháng 2, huyện Phú Vang đã thành lập được hai đại đội vũ trang huyện và xây dựng trận địa chốt chuẩn bị đánh địch phản kích.

Cùng với Huế, khắp nơi ở Trị - Thiên, lực lượng vũ trang ta đồng loạt tiến công các mục tiêu, căn cứ địch. Đoàn 4 nổ súng tiến công diệt quận lỵ Phú Lộc, phá sập cầu Hai, cầu Nước Ngọt, bức địch rút bỏ các đồn An Bằng, Thừa Lưu, giải phóng thêm một số xã ở vùng Truồi, nam Cầu Hai và khu 3 Phú Lộc, sau đó chuyển sang đánh cắt giao thông địch từ Phú Bài vào Hải Vân. Lực lượng vũ trang mặt trận 7 kết hợp với đoàn 31 đồng loạt tiến công các vị trí trên tuyến phòng thủ bắc Quảng Trị của địch.

Đêm 31 tháng 1, tiểu đoàn 10 đặc công tập kích đại đội địch ở điểm cao 49 và tiến công tiêu diệt sở chỉ huy tiểu đoàn 1 dù ngụy ở mộ ông Chưởng.

Tiểu đoàn 1 trung đoàn 2 sư đoàn 324 bí mật vượt sông Thạch Hãn tiến công ty cảnh sát, dinh tỉnh trưởng Quảng Trị, đánh thiệt hại tiểu đoàn dù số 9 ngụy ở Hành Hoa. Tiểu đoàn dù số 8 ngụy ở Tri Bửu cũng bị tiểu đoàn 14 bộ binh Quảng Trị tiêu diệt.

Trung đoàn 270 tiến công tiêu diệt các căn cứ địch ở Lâm Xuân, Hoàng Hà.

Sáng 3 tháng 2, trung đoàn 27 đánh chiếm Phúc Sa. Lực lượng vũ trang các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, phối hợp cùng bộ đội chủ lực tiến công các vị trí địch ở cầu Nhùng, La Nghi, Bến Đá, Ngô Xá... giải phóng các xã Triệu Trung, Triệu Phương, Triệu Đại, Triệu Hoa...

Đoàn 126 đặc công hải quân dùng thủy lôi đánh chìm 12 tàu địch trên sông Cửa Việt. Chỉ mấy ngày đầu của cuộc tổng tiến công, quân và dân Trị - Thiên - Huế đã đánh chiếm nhiều mục tiêu bên trong và bên ngoài thành phố Huế, thị xã Quảng Trị, Đông Hà và các chi khu quân sự, quận lỵ, giam chân và tiêu diệt, tiêu hao nhiều đơn vị Mỹ - ngụy trên đường số 9, buộc Mỹ - ngụy phải rút lực lượng ở các nơi về đối phó, bỏ hở vùng nông thôn.

Được đòn tiến công quân sự hỗ trợ, nhân dân nổi dậy phá vỡ bộ máy kìm kẹp của địch ở hầu hết các quận trong thành phố Huế và nhiều vùng nông thôn đồng bằng Trị - Thiên, giành quyền làm chủ.

Ở Huế, công nhân, nông dân, tiểu thương, học sinh, sinh viên, các tầng lớp trí thức, tu sĩ... tham gia diệt ác trừ gian truy quét địch, lùng diệt ác ôn, cảnh sát, mật vụ, vận động binh lính địch ra đầu thú. Chính quyền cách mạng được thiết lập ở hầu khắp các phường xã, khối phố. Nhân dân nô nức tham gia tự vệ, dân quân, du kích, tiếp tế nuôi quân, cứu chữa, chăm sóc thương binh.

Xã Thủy Xuân có 30 y sĩ và bác sĩ giúp quân y tổ chức các trạm phẫu thuật dã chiến. Chùa Ngũ Tây, chùa Thích Quang Tự được các sư thầy cho sử dụng làm trạm phẫu thuật. Các ni sư ở chùa Từ Đàm, chùa Tường Vân cung cấp lương thực, thực phẩm, bảo đảm ăn uống cho hơn 2.000 cán bộ cách mạng mới được giải thoát khỏi nhà lao Thừa Phủ và trại thẩm vấn. Xưởng Vị Hương Tố của nhà chùa ủng hộ 250 bao muối cho các đơn vị bộ đội. Các nhà sư ở chùa Thiên Hữu ủng hộ 20 tấn gạo cho bộ đội...

Ngay sau khi Huế giải phóng, các đoàn thể quần chúng được thành lập và bước đầu đi vào hoạt động. Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình thành phố Huế ra đời, tập hợp nhiều nhân sĩ, trí thức, sinh viên, các chức sắc tôn giáo yêu nước, tiến bộ, hình thành mặt trận yêu nước, yêu hòa bình, chống Mỹ và tay sai. Ủy ban nhân dân cách mạng thành phố Huế ra mắt quần chúng trong niềm phấn khởi, tự hào của quân và dân thành phố.

Chỉ trong tuần đầu của cuộc tổng tiến công, ta đã giải phóng thêm 200.000 dân của 100 xã, 296 thôn xung quanh Huế và hàng trăm nghìn dân ở nông thôn, đồng bằng haỉ tỉnh Trị - Thiên.

Phối hợp chặt chẽ với mặt trận Huế, lực lượng vũ trang cùng nhân dân các địa phương bao vây uy hiếp các quận lỵ, chia cắt giao thông, đánh bại các cuộc phản kích của địch, giữ vững địa bàn, bảo đảm được hành lang thông suốt từ Vĩnh Linh vào bắc Huế. Tuyến hành lang này được củng cố sau khi trung đoàn 1 sư đoàn 324 do trung đoàn trưởng Tứ Duyệt và chính ủy Nguyễn Đàm chỉ huy chọc thủng tuyến phòng thủ Cửa Việt, vào đứng chân ở vùng đồng bằng Quảng Điền, Phong Điền.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:09:28 pm

Ở mặt trận Đường số 9 — Khe Sanh, ta tăng cường vây ép các điểm cao 845, 832, 530, 950.

Ngày 6 tháng 2, trung đoàn 24 sư đoàn 304, tiểu đoàn 3 trung đoàn 1 sư đoàn 325C, có sự chi viện của xe tăng, pháo binh, súng phun lửa, đặc công và công binh nổ súng tiến công căn cứ Làng Vây (phía tây Khe Sanh).

Sau hơn chín giờ tiến công, ta đã diệt trên 400 tên địch, bắt 253 tù binh, thu toàn bộ vũ khí, làm chủ hoàn toàn cứ điểm Làng Vây.

Đây là trận đánh hiệp đồng binh chủng đầu tiên trên chiến trường Trị - Thiên.

Chiếm Làng Vây, quân ta làm chủ đoạn đường từ Khe Sanh lên biên giới Việt - Lào dài 40 ki-lô-mét trên đường số 9, tạo bàn đạp vững chắc vây hãm Tà Cơn.

Ngày 10 tháng 2, ta đánh chiếm các cứ điểm xung quanh Tà Cơn.

Dựa vào trận địa chốt được xây dựng sâu trong lòng đất, bộ đội ta đánh lui nhiều đợt phản kích của địch từ trong căn cứ nống ra và từ ngoài đánh vào. Các tổ bắn tỉa tích cực hoạt động và pháo binh ta lúc bắn cấp tập, lúc bắn cầm canh, làm cho lính Mỹ thường xụyên sống trong tình trạng căng thẳng. Địch phải dùng máy bay lên thẳng tiếp tế lương thực, nước sinh hoạt và vũ khí, đạn dược. Nỗi lo về một "Điện Biên Phủ thứ 2" ám ảnh bộ chỉ huy quân Mỹ buộc chúng phải đưa lực lượng lên giải tỏa.

Ở Gio Linh, Cam Lộ, Vĩnh Linh, nhân dân dỡ nhà, chặt tre, đẽo hàng nghìn cọc nhọn cắm cừ chặn sông Cửa Việt ngăn tàu địch qua lại. Chúng buộc phải dùng máy bay đổ xăng xuống đốt. Các tiểu đoàn đặc công 126, 31 từ Vĩnh Lịnh luôn theo mép biển đưa chất nổ vào Cửa Việt, kết hợp với pháo binh, cao xạ và lực lượng dân quân liên tục quần nhau với địch ở ngã tư Sòng, bắn cháy 35 tàu, đánh chìm 82 xuồng của địch. Sáu đại đội hỏa lực của dân quân Vĩnh Quang, Vĩnh Giang, Vĩnh Long, Vĩnh Lâm, Vĩnh Thái, Vĩnh Thành vượt sông Bến Hải vào cảng Cửa Việt phục kích săn tàu, bắn chìm 12 xuồng, bắn cháy bốn tàu vận tải và hai xe tăng địch.

Đại đội 3 tiểu đoàn 49 và đại đội 1 tiểu đoàn 46 Quảng Bình, đại đội súng cối 82 của Hà Tĩnh chiến đấu ở mặt trận Đường số 9 đã bắn cháy hàng chục xe vận tải của địch. Trong 10 ngày cuối tháng 2, các tổ bắn tỉa của dân quân Vĩnh Nam, Vĩnh Tú đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên địch. Nữ du kích Trần Thị Buổi, trong đội bắn tỉa xã Vĩnh Tú, từ một chiến sĩ phục vụ đã xin được trực tiếp cầm súng và chỉ ba ngày phục kích, với 26 viên đạn đã diệt 19 tên địch.

20 ngày của đợt hoạt động, các lực lượng vũ trang mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị liên tục chiến đấu, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bắt 233 tên, phá gần hết ấp chiến lược ở hai huyện Gio Linh - Cam Lộ, giải phóng thêm 20.000 dân, thu hút giam chân 29 tiểu đoàn địch (có 19 tiểu đoàn Mỹ), làm cho chúng không rút được lực lượng nào đáng kể ở đường số 9 vào giải tỏa Huế.

Tại Huế, sau những phản ứng yếu ớt ban đầu, từ ngày 7 tháng 2, một lực lượng lớn Mỹ - ngụy gồm 16 tiểu đoàn có máy bay, xe tăng và pháo binh yểm trợ đã mở nhiều đợt phản kích quyết liệt chiếm lại thành phố.

Các lực lượng vũ trang ta chiến đấu kiên cường, dũng cảm, song vì ngay từ đầu ta không chiếm được sở chỉ huy sư đoàn 1 ngụy ở Mang Cá, không chia cắt địch từ Cửa Thuận lên Bao Vinh, nên khi địch phản kích mạnh ta bị thương vong lớn. Có đơn vị gần chục lần thay thế cán bộ chỉ huy, nhưng không được bổ sung quân số kịp thời, nên ta mất dần ưu thế.

Trước tình hình đó, sáng 13 tháng 2, Khu ủy họp thảo luận và xin ý kiến của Bộ Tổng tư lệnh cho phép rút lực lượng ra khỏi Huế vào ngày 14 và 15 tháng 2.

Tối 15 tháng 2, tiểu đoàn 9 trung đoàn 3 của ta được lệnh vào nội thành cùng lực lượng đang có mặt trong thành phố đánh địch phản kích. Ba tiểu đoàn của trung đoàn 3 và trung đoàn 6 chuyển sang đánh chặn địch.

Từ ngày 14 tháng 2 trở đi, địch tập trung lực lượng lớn, được pháo binh và không quân chi viện, liên tiếp mở các cuộc phản kích hòng đánh chiếm lại các mục tiêu vừa bị mất. Pháo binh và máy bay địch đánh phá dữ dội khu vực Đại Nội, sân bay Tây Lộc, dọn đường cho xe tăng, thiết giáp cùng đủ mọi sắc lính liên tục phản kích vào các chốt của ta. Chúng còn đánh vào các khu vực đông dân ở An Cựu, Gia Hội, Đông Ba, làm chết hàng trăm dân thường.

Các đơn vị vũ trang ta được nhân dân giúp đỡ kiên cường bám trụ đánh địch giữ từng góc phố, căn nhà, tường thành, bờ sông, hình thành các điểm chốt kiên cường chặn đánh, đẩy lùi nhiều đợt phản kích của địch. Đặc biệt, ở các khu vực chợ Đông Ba, cửa Chánh Tây, cửa Hữu, sân bay Tây Lộc... cuộc chiến đấu diễn ra liên tục và ngày càng ác liệt.

Trong hai ngày 14 và 15 tháng 2, địch từ hướng An Hòa, Bao Vinh và Mang Cá đồng loạt phản kích đánh chiếm bốn cửa: Chánh Tây, Đông Ba, Cửa Hữu, Thượng Tứ. Trung đoàn 6 cùng tiểu đoàn 12 đặc công dựa vào tường thành chiến đấu, cầm chân địch. Chiều 15 tháng 2, ta dùng hỏa lực yểm trợ cho bộ binh phản công chiếm lại bốn cửa, diệt hơn 300 tên, đẩy địch về vị trí cũ.

Sáng 15 tháng 2, Quân ủy Trung ương điện chỉ thị cho Khu ủy Trị - Thiên: "Vì lợi ích của toàn miền và bản thân Trị - Thiên nên phải giữ Thành Nội, phối hợp với mặt trận Đường số 9 hoạt động vào ngày 18 tháng 2".

Chấp hành nghiêm mệnh lệnh của trên, Khu ủy hạ quyết tâm: giữ Huế thêm ba ngày nữa. Ngày 16 tháng 2, ở khu vực chợ Đông Ba, một lực lượng lớn quân dù ngụy đông gấp 10 lần lực lượng ta từ Đập Đá chia thành ba cánh tổ chức phản kích mở đường tiến vào Thành Nội. Các đợt phản kích này bị ta bẻ gãy. Ta diệt 400 tên, hạ 5 máy bay, phá 6 xe M113, 13 giờ ngày 17 tháng 2, địch chiếm lại cửa Đông Ba. Ở Phu Văn Lâu các trận giao tranh quyết liệt diễn ra dưới chân cột cờ. Ta và địch đều thương vong nặng. Cờ Giải phóng vẫn tung bay trên bầu trời thành phố Huế.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:11:36 pm

Ngày 17 tháng 2, tiểu đoàn 1 thiết giáp của địch yểm trợ cho hai tiểu đoàn bộ binh vượt cầu An Cựu phản kích vào nam Huế. Trung đoàn 9 bộ binh và tiểu đoàn 1 đặc công chặn đánh quyết liệt. 20 xe tăng và thiết giáp địch bị bắn cháy trên đoạn cầu Lim - Nam Giao, hàng trăm tên địch bị diệt.

Cùng ngày, lực lượng vũ trang huyện Hương Phú đánh bật đợt phản kích của hai đại đội Mỹ ở xã Phú Xuân, gây cho chúng tổn thất lớn.

Sáng 18 tháng 2, địch đột nhập qua cống Thủy Quan, uy hiếp Cửa Hữu, cửa An Hòa và cửa Thượng Tứ.

Ở vùng ven, từ 13 tháng 2, một bộ phận địch từ Liêu Cốc Thượng đánh vào Quế Chử và từ Rú Lầu đánh vào Bồn Trì, Bồn Phổ.

Ngày 15 tháng 2, ta tập trung hỏa lực tập kích mạnh vào Quế Chử và Bồn Phổ, đẩy địch về vị trí cũ, giữ chắc bàn đạp để đêm 16 tháng 2, bộ chỉ huy cánh bắc kịp thời điều tiểu đoàn 816 vào Thành Nội tăng cường cho trung đoàn 6, đưa tiểu đoàn 815 từ Thành Nội ra Bồn Trì, An Lưu củng cố và chuẩn bị đánh phản kích. Đêm 17 tháng 2, Bộ chỉ huy đưa tiểu đoàn 7 trung đoàn 3 sư đoàn 325C và điều tiểu đoàn 810 từ Phú Vang vượt sông Hương, qua cánh bắc vào Thành Nội.

Với lực lượng được tăng cường, bộ chỉ huy cánh bắc quyết định sử dụng tiểu đoàn 7 đánh địch ở Hương Cần, chiếm bàn đạp uy hiếp Bao Vinh. Tiểu đoàn 810 đánh vào khu Đông Ba, đồng thời một bộ phận của tiểu đoàn phục kích, ngăn tầu địch trên sông Hương để đưa toàn bộ trung đoàn 3 sư đoàn 325C vào Thành Nội.

Sau khi củng cố lại thế bố trí, các lực lượng cánh bắc dốc sức đánh địch ở các cửa ra vào quanh Thành Nội.

Tiểu đoàn 810 đánh bật các đợt phản kích nhỏ của địch từ cầu Tràng Tiền và Gia Hội tiến vào cửa Đông Ba, bắn chìm 10 xuồng của địch trên sông Hương. Lúc này trung đoàn 1 sư đoàn 324 đã vào đánh địch phản kích ở Phong Điền, Quảng Điền. Tình thế tuy có được cải thiện, nhưng địch tăng cường quá nhiều quân (nội thành Huế 11 tiểu đoàn, vùng ven 12 tiểu đoàn), lại được máy bay, pháo binh, xe tăng chi viện, dần dần chúng chiếm lại các bàn đạp xung yếu ở vùng ven, chốt chặn các ngả ra vào thành và dùng lực lượng lớn đánh mạnh trên hai khu vực Gia Hội và Tây Lộc.

Sau gần một tuần trụ thêm giữ Huế trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn và ác liệt, sáng 20 tháng 2, Khu ủy Trị - Thiên tiếp tục đề nghị Quân ủy Trung ương cho rút khỏi Huế.

Do yêu cầu phối hợp toàn miền Tổng tiến công đợt sau Tết được dự kiến vào ngày 25 tháng 2, nên Quân ủy Trung ương điện chỉ thị cho Bộ Tư lệnh quân khu: "Cố giữ, sẽ có tiếp tế, kể cả không quân".

Tử đêm 20 đến 23 tháng 2, những chiếc máy bay IL14 của không quân ta đã bay tới thả dù tiếp tế cho lực lượng ta ở Huế. Tuy hiệu quả còn thấp, song sự chi viện của không quân đã động viên tinh thần chiến đấu cho quân và dân ta trên chiến trường.

Ở Thành Nội ta vẫn tiếp tục cầm chân địch ở phía ngoài tường thành. Đêm đêm, các phân đội vượt thành ra ngoài tập kích gây cho địch nhiều thiệt hại. Các phân đội đặc công, biệt động bí mật phục kích các đoàn xe địch trên đường Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, cầu Tràng Tiền và bắn chìm nhiều tầu xuồng địch trên sông Hương. Ngày 21 tháng 2, tiểu đoàn 814 đánh thiệt hại nặng một đại đội xe tăng của sư đoàn 1 "kỵ binh bay" Mỹ vừa từ đường số 14 về tham gia phản kích, bắn cháy tám xe, diệt gần 100 tên. Tiểu đoàn 2 đặc công tiếp tục bám đường, đánh cắt giao thông địch từ cửa Thuận lên Huế, bao vây uy hiếp quận lỵ Phú Vang.

Đêm 22 tháng 2, tiểu đoàn 1 đặc công tập kích diệt một đại đội ngụy ở Tiên Non và một trung đội biệt động ngụy ở Vĩ Dạ.

Cùng ngày, trung đoàn 3 sư đoàn 325C đánh bại cuộc phản kích lớn của địch từ rú Lầu đánh vào Bồn Trì, Bồn Phổ, An Lưu, nhưng sáng hôm sau (23-2) địch phản kích tiếp và chiếm lại các vị trí này. Vòng vây của địch đã khép chặt quanh Thành Nội. Chúng chiếm giữ cống Thủy Quan, cửa An Hòa, cửa Thượng Tứ, đẩy lùi lực lượng ta về phía tây Thành Nội. Lúc này ta thương vong cao. Thương binh, liệt sĩ chưa di chuyển được, vũ khí, đạn dược, lương thực đã cạn... Nhìn chung, tình hình cánh bắc xấu đi nhanh chóng.

Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng về mọi mặt và được Quân ủy Trung ương đồng ý, ngày 24 tháng 2, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên - Huế ra lệnh rút lực lượng vũ trang ta ra khỏi thành phố để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị cho các đợt tiến công sau này.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:14:19 pm

Kế hoạch rút quân được bí mật triển khai. Mặt trận điều tiểu đoàn 815 về trung đoàn 9 ở cánh nam, tiểu đoàn 816 trụ lại ở Trúc Lâm, Nhan Biều, cùng với trung đoàn 3 sư đoàn 325C tăng cường hoạt động nghi binh, cầm chân địch. Tiểu đoàn 810 trụ lại vùng Gia Hội, tiếp tục đánh địch bảo vệ các đơn vị rút an toàn. Ngày 25 tháng 2, trong lúc ta đang gấp rút chuẩn bị, hai tiểu đoàn Mỹ có xe tăng yểm trợ từ An Cựu đánh ra Vân Dương, chợ Cống, nơi đặt sở chỉ huy cánh nam. Quân địch đã bị tiểu đoàn 810 đặc công cùng với tiểu đội nữ du kích Thủy Thanh chặn lại ở khu Đập Đá suốt buổi sáng. Nhiều đợt phản kích của địch bị đẩy lùi.

Ngày 25 tháng 2, các đơn vị đang chiến đấu trong nội thành được lệnh rút khỏi Huế.

Chiều 25, địch dùng lực lượng rất mạnh để phản kích, lực lượng ta phải rút qua sông Vân Dương và dựa vào bờ sông chặn đánh quyết liệt, kéo dài thời gian cầm giữ chân địch, bảo đảm cho sở chỉ huy rút an toàn. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt dọc đường Nguyễn Công Trứ. Nhiều chiến sĩ lần lượt hy sinh, bốn cô gái trong tiểu đội nữ du kích đã vĩnh viễn nằm lại với mảnh đất quê hương. Trong trận đánh không cân sức này, hàng trăm tên địch bị diệt, năm xe tăng Mỹ bị bắn cháy.

Chiến công của 11 cô gái sông Hương1 tiêu biểu cho khí phách anh hùng của quân và dân Huế trong những ngày Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968).

Được tin từ tiền tuyến báo về, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen 11 cô gái sông Hương và tặng máy vần thơ:

Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường.
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái.
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương.

Đêm 25 tháng 2, các đơn vị lần lượt bí mật rút ra khỏi thành phố Huế. Trung đoàn 6 lùi về hậu cứ ở huyện Hương Trà. Trung đoàn 8 rút về Quảng Điền. Trung đoàn 9 về Phú Vang. Tiểu đoàn 804 cùng cơ quan chỉ huy cánh nam rút về hậu cứ ở Phú Vang.

Trên đường rút quân, các đơn vị vừa đánh địch vừa di chuyển quân, ưu tiên đưa liệt sĩ, thương binh ra trước, bố trí, sắp xếp lại cán bộ cơ sở bám địa bàn để tiếp tục hoạt động sau này. Những người bị lộ phải rút ra ngoài, hoặc bố trí sang hoạt động ở các địa bàn khác.

Trong lúc các đơn vị rút ra ngoài an toàn thì tiểu đoàn 810 nhanh chóng củng cố lại trận địa chốt. Sáng 26 tháng 2, hai đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ và một đại đội biệt động ngụy được xe tăng, thiết giáp, pháo binh, máy bay chi viện từ Bao Vinh phản kích vào vùng Gia Hội, nhưng chúng không qua được trận địa chốt của tiểu đoàn 810. Cả tám đợt phản kích của chúng đều bị đánh lui, gần 100 tên bị diệt, một máy bay bị bắn rơi, hai xe tăng bị bắn cháy.

Cuối ngày, địch mở một đợt phản kích dữ dội. Tiểu đoàn 810 rút ra phía Phú Mỹ và đêm hôm đó vượt đò Chợ Dinh về căn cứ Phú Vang. Đây là đơn vị cuối cùng rút khỏi Huế.

Đợt 1 Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân kết thúc. Cùng với bốn thành phố, 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn trên toàn miền Nam, quân và dân Trị - Thiên - Huế đã tiến công nổi dậy mãnh liệt và đều khắp với khí thế chưa từng có. Ngay ngày đầu đã đánh trúng 40 mục tiêu địch trong và ngoài thành phố Huế, 34 quận, huyện, thị trấn, chi khu ở nông thôn, đồng bằng... phá vỡ phần lớn bộ máy ngụy quân, ngụy quyền, các tỉnh đoàn bình định, các ty, sở cảnh sát, chi khu quân sự của địch.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy tại Trị - Thiên - Huế, ta đã giải phóng 227.000 dân, 40 xã và 296 thôn. Ủy ban nhân dân cách mạng ở một số huyện và thành phố Huế được thành lập. Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thành phố Huế ra đời.

Cuộc chiến đấu anh dũng, liên tục 25 ngày đêm của quân dân thành phố Huế là mốc nổi bật về chiến thắng của cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, đã làm cho "cả nước tự hào về Huế, mảnh đất yêu thương của Tổ quốc đã góp phần rất vẻ vang vào thắng lợi mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy của miền Nam anh hùng”. Huế trở thành một chiến trường nổi bật và xuất sắc nhất. Quân và dân Trị - Thiên - Huế vinh dự được đón nhận tám chữ vàng của Trung ương Cục và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trao tặng: TIẾN CÔNG – NỔI DẬY - ANH DŨNG - KIÊN CƯỜNG, ghi thêm truyền thống vẻ vang và thành tích chói lọi của Đảng bộ cùng quân, dân Trị - Thiên - Huế trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân trên chiến trường Trị - Thiên - Huế góp phần cùng quân và dân ta trên chiến trường miền Nam thực hiện cuộc Tổng tiến công chiến lược, giáng một đòn mạnh làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, thể hiện sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân Việt Nam ngay tại trung tâm, sào huyệt của Mỹ - ngụy, buộc đế quốc Mỹ phải đưa chiến tranh xâm lược vào bước ngoặt mới. Bộ trưởng quốc phòng Mac Na-ma-ra và tư lệnh bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam, Oét-mo-len được thay thế bằng Clác Clép-phớt và A.Bram. Chiến lược quân sự "quét và giữ" được thay cho chiến lược "tìm diệt" trước đây. Ngày 31 tháng 3 năm 1968, xuất hiện trên màn ảnh vô tuyến truyền hình toàn liên bang với vẻ thận trọng và đắn đo, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom một phần miền Bắc, sẵn sàng chấp nhận giải pháp kết thúc chiến tranh Việt Nam. Cuối cùng, Giôn-xơn quyết định không ra tranh cử nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo.
______________________________________________
1. Đây là tiểu đội nữ du kích thôn Vân Thê, xã Thanh Thủy, huyện Hương Thủy, gồm: Phan Thị Liên tiểu đội truởng, Đỗ Thị Cúc, tiểu đội phó và chín chiến sĩ: Nguyễn Thị Hoa, Đỗ Thị Hoa, Hoàng Thị Sao, Hoàng Thị Nở, Nguyễn Thị Hợi, Nguyễn Thị Xinh, Nguyễn Thị Diến, Hoàng Thị Sương, Hoàng Thị Xê.

Bước vào tổng tiến công, tiểu đội được giao nhiệm vụ bảo vệ sở chỉ huy cánh nam và làm nhiệm vụ chuyển thương, tiếp đạn. Khi địch chuyển sang phản kích giải vây Huế, tiểu đội xin được trang bị vũ khí, trực tiếp chiến đấu. Các nữ du kích đã bám trụ trận địa, giữ vững các vị trí ta chiếm giữ từ trước, tạo điều kiện cho tiểu đoàn 804 đột nhập vào khu vực nam cầu Tràng Tiền thay chân tiểu đoàn 1 đặc công lùi về sau củng cố.



Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:17:30 pm

III. KIÊN CƯỜNG CHIẾN ĐẤU, KHÔI PHỤC THẾ TRẬN ĐÁNH ĐỊCH

Sau khi lực lượng vũ trang ta rút khỏi Huế, quân và dân Trị - Thiên bước vào một thời kỳ chiến đấu ác liệt, chống sự phản kích điên cuồng của địch trên khắp chiến trường.

Các đơn vị trụ bám ở Phú Lộc, vùng ven Hương Trà, Hương Thủy tiếp tục đánh cắt giao thông, gây cho địch nhiều thiệt hại.

Các đơn vị còn trụ bám ở nam Quảng Trị phối hợp với chủ lực mặt trận B5 tiếp tục hoạt động nhằm thu hút lực lượng địch để giảm bớt sự phản kích của địch ở đồng bằng và đô thị.

Được nhân dân che chở và dẫn đường, ngày 10 tháng 3, trung đoàn 270 bất ngờ tiến công căn cứ hậu cần Cửa Việt, diệt 140 tên địch, đốt cháy năm nhà kho chứa đầy hàng, phá hủy 30 xe quân sự. Cùng ngày, một bộ phận trung đoàn 1 sư đoàn 324 tiến công vào thị trấn Đông Hà, đánh trúng sở chỉ huy sư đoàn lính thủy đánh bộ, diệt gần 400 tên, đốt cháy 12 kho chứa hàng.

Bộ đội địa phương các huyện phối hợp với sư đoàn 320 tiếp tục vây ép Cồn Tiên, Dốc Miếu, Quán Ngang, điểm cao 31, đánh cắt giao thông địch trên đường số 1, số 76... gây cho địch nhiều tổn thất.

Về phía địch, mặc dù bị thất bại nặng trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, nhưng chúng vẫn tiếp tục đưa thêm quân vào Trị - Thiên - Huế. Đến tháng 4 năm 1968, số quân Mỹ và ngụy ở đây lên tới 140.000 tên1.

Với lực lượng lớn được tăng cường, chúng tiến hành phản kích điên cuồng để "quét trong và giữ ngoài", phòng ngự chiều sâu bằng hai biện pháp chính "ngăn chặn từ xa" và "bình định cấp tốc" nhằm giải tỏa đô thị và bình định nông thôn, đồng bằng.

Chúng tập trung đại bộ phận quân ngụy có quân Mỹ tham gia, tiến hành "bình định" bằng mọi thủ đoạn dã man, tàn bạo nhất, liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét ác liệt vùng nông thôn, đồng bằng, đánh phá hết vùng này sang vùng khác, chà đi xát lại hàng chục lần. Ở Phú Vang, chúng tập trung 30 tiểu đoàn càn quét suốt ba tháng liền.

Ở Quảng Trị, chúng dồn dân vào các khu tập trung Cửa Việt, Quán Ngang, Vĩnh Đại, Tân Tường, Hoàn Cát... Dồn dân xong, chúng lập đoàn bình định tiến hành giám sát, thanh tra, thanh lọc, phân loại quần chúng, tổ chức lại "liên gia", củng cố ngụy quyền các cấp, đưa nhiều tên ác ôn khét tiếng vào bộ máy thôn, xã, thiết lập các phân chi cảnh sát xã, tổ chức phòng vệ dân sự, phát triển lưới điệp ngầm, mật vụ, cộng tác viên, tuyên truyền xuyên tạc kích động, gây hoang mang, nghi ngờ lẫn nhau giữa cán bộ với quần chúng, giữa quần chúng với nhau, đi đến vô hiệu hóa chính quyền cơ sở của ta.

Ở Hương Thủy, chúng đốt phá hơn 1.000 ngôi nhà xã Thủy Phượng, triệt hạ hoàn toàn thôn Thủy Chánh xã Thủy Thanh, dồn dân các xã Phong Sơn, Phong Nguyên, Hương Đồng, Hương Thọ xuống phía đông đường số 1, lùa dân Quảng Thụ, Quảng Thọ, Quảng Phước vào các khu tập trung ở Thư Lễ, Cồn Sắn. Chúng dùng máy bay bắn phá, săn lùng vây chụp cán bộ ta trên các trảng cát và cửa khẩu.

Song song với các biện pháp tàn bạo, địch còn sử dụng viện trợ kinh tế để lừa bịp và khống chế nhân dân, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng. Chúng tăng cường bắt lính, đôn quân. Chỉ ba tháng quý 2 năm 1968, chúng lập thêm 11 đại đội bảo an, 57 trung đội dân vệ, 24 đoàn bình định, thành lập thêm trung đoàn 54 bộ binh để củng cố tuyến ngăn chặn Mac Na-ma-ra ở giới tuyến và tuyến phòng thủ sông Bồ (tây bắc Huế). Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ phối hợp với sư đoàn 101 không vận và sư đoàn 82 dù liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét dọc sông Cửa Việt, đường số 1 (từ Đông Hà vào Quảng Trị) và vùng giáp ranh đồng bằng, rừng núi hai tỉnh Trị - Thiên.

Tiếp theo cuộc hành quân Đi-lơ-ce (Lam Sơn 216) của sư đoàn 1 "kỵ binh bay", sư đoàn 101 không vận, lữ đoàn 198 bộ binh Mỹ và sư đoàn 1 ngụy vào thung lũng A Sầu (từ ngày 19 tháng 4 đến 17 tháng 5 năm 1968), sư đoàn 1 "kỵ binh bay" Mỹ mở tiếp cuộc hành quân từ 17 tháng 4 đến 3 tháng 11 vào dọc biên giới Việt - Lào thuộc địa phận hai tỉnh Trị - Thiên, kết hợp với máy bay (cả máy bay B52 ném bom), rải chất độc hóa học phá kho tàng, căn cứ miền núi, mùa màng của nhân dân, chốt giữ các cao điểm để khống chế ta, đồng thời ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược của ta. Phối hợp với các cuộc hành quân lên vùng Trị - Thiên, bộ chỉ huy Mỹ tiến hành thủ đoạn "ném bom hạn chế", tập trung máy bay, pháo hạm đánh vào giải đất hẹp Khu 4 hòng chặt đứt đường chi viện của ta vào Nam, đánh phá địa bàn tập kết là Quảng Bình, Vĩnh Linh, phá các cuộc chuẩn bị tiến công của ta trong thời gian tới.

Trước sự đánh phá ác liệt của địch, ta bị tổn thất và gặp nhiều khó khăn. Cơ sở cách mạng ở các huyện đồng bằng và nội thành Huế bị phá, không nắm và không liên hệ được với quần chúng. Lực lượng vũ trang ta bị đẩy khỏi vùng giáp ranh. Nhiều đơn vị phải rút lên miền tây, thậm chí bật sang phía tây Trường Sơn, có đơn vị phải ra miền Bắc.
______________________________________________
1. Quân Mỹ ở Trị - Thiên - Huế lúc này có ba sư đoàn: sư đoàn 1 và sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ, sư đoàn 101 không vận, trung đoàn 26 lính thủy đánh bộ và 28 thiết đoàn xe tăng. Tổng quân số là 98.000 tên.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:21:17 pm

Ngày 24 tháng 4, Bộ Chính trị họp đánh giá tình hình tổng tiến công và nổi dậy đợt 1, quyết định mở tiếp đợt 2. Ý đồ chiến lược của ta trong đợt này là vây hãm Khe Sanh, kìm chân và tiêu diệt địch ở đường số 9, Trị - Thiên, Tây Nguyên. Trọng điểm tổng tiến công và nổi dậy là Sài Gòn - Gia Định. Điểm tiến công quan trọng là Huế - Đà Nẵng. Thời gian hoạt động thống nhất toàn miền Nam từ ngày 4 tháng 5 đến hết tháng 6 năm 1968.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 4 tháng 4 năm 1968, Bộ Tổng tư lệnh điện chỉ thị cho Quân khu Trị - Thiên - Huế chuẩn bị đánh vào Huế đợt 2, chiếm lĩnh một thời gian càng lâu càng tốt1 và xác định: "Đánh chiếm Huế là một yêu cầu quan trọng trong kế hoạch phối hợp chung với toàn miền"2.

Mặc dù lúc này chiến trường Trị - Thiên đang rất khó khăn, lực lượng chưa được bổ sung, yếu tố bất ngờ đã mất, nhưng vì yêu cầu phối hợp với toàn miền và chấp hành nghiêm mệnh lệnh của Bộ, ngày 4 tháng 4 năm 1968, Khu ủy Trị - Thiên họp để ra kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy đợt 2: các địa phương sử dụng lực lượng tại chỗ tăng cường tập kích, phục kích vừa đánh phá "bình định" của địch, tạo điều kiện để đưa lực lượng chủ lực tăng cường cho Huế thực hành tổng tiến công và nổi dậy. Các đơn vị đặc công tập kích các căn cứ địch ở phía nam Huế, mở đường đưa lực lượng vào nội thành.

Chấp hành Nghị quyết Khu ủy, các đơn vị đã khắc phục khó khăn, động viên bộ đội nổ súng đúng quy định.

0 giờ 30 phút ngày 5 tháng 5, bộ binh, pháo binh, đặc công cùng lúc tiến công vào các mục tiêu ven Huế, thị xã Quảng Trị, Đông Hà, tám quận lỵ và 12 căn cứ hành quân của địch.

Ngày 6 tháng 5, ba tiểu đoàn thuộc sư đoàn 1 "kỵ binh bay" Mỹ có xe tăng, thiết giáp yểm trợ từ Đông Hà phản kích vào vùng giải phóng Gio - Cam. Bộ đội địa phương Gio Linh, Cam Lộ dựa vào các trận địa chốt được xây dựng trong tổng tiến công đợt 1 đã liên tục chặn đánh, diệt trên 150 tên, bắn cháy hai xe tăng.

Ngày 8 tháng 5, tiểu đoàn 7 đặc công tập kích địch trên điểm cao 552 (bắc Quảng Trị), diệt gần 300 tên. Cùng ngày, tiểu đoàn 33 đặc công được tăng cường một đại đội bộ binh đánh vào trận địa pháo địch ở điểm cao 520, diệt trên 100 tên, phá bảy khẩu pháo.

Ngày 21 tháng 5, tiểu đoàn 10 đặc công bí mật luồn vào Khe Xá phá hủy hơn 25 xe tăng, thiết giáp.

Ngày 22 tháng 5, trung đoàn 2 sư đoàn 324 phục kích diệt đoàn xe địch trên đường số 1 đoạn từ Mỹ Chánh vào Huế, diệt trên 100 tên, bắn cháy 16 xe quân sự. Cùng ngày, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 12 đặc công cùng tiểu đoàn pháo hỗn hợp tiến công căn cứ trung đoàn thiết giáp Mỹ ở động Tòa, phá hủy hơn 100 xe quân sự, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên. Đây là trận sử dụng nhiều lực lượng đặc công, kết hợp pháo binh, được du kích địa phương chuẩn bị tốt, đánh một căn cứ của một trung đoàn Mỹ giành thắng lợi. Phối hợp với trận đánh động Tòa, tiểu đoàn 2 đặc công tập kích trận địa pháo Mỹ ở Phú Bài, diệt và làm bị thương hơn 150 tên, phá hủy 10 khẩu pháo. Chiến sự có tiếng vang lớn trong tháng 5 là trận phản kích đánh bại cuộc hành quân của Mỹ - ngụy tại thung lũng A Sầu.

Ngày 16 tháng 5, sư đoàn 101 kỵ binh bay, lữ đoàn 196 bộ binh Mỹ và sư đoàn 1 ngụy mở cuộc hành quân càn quét vào thung lũng A Sầu, A Lưới nhằm đánh phá kho tàng và ngăn chặn đường vận tải chiến lược của ta. Hai trung đoàn 6 và 9 chủ lực quân khu lợi dụng địa hình rừng núi, bằng các trận đánh nhỏ, tập kích, phục kích ban đêm vào các cụm trú quân của địch, đã gây cho chúng nhiều tổn thất. Chỉ bốn ngày đầu của cuộc hành quân, 12 đại đội Mỹ đã bị ta đánh thiệt hại nặng, hơn 20 máy bay bị bắn rơi... Ngày 28 tháng 5 địch phải kết thúc cuộc hành quân và rút bỏ A Lưới

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đợt 2 diễn ra đều khắp trên toàn quân khu nhưng quy mô không lớn, chủ yếu đánh bằng đặc công và pháo. Bộ đội chủ lực ít đánh được những trận tiêu diệt lớn. Hướng nam Huế bị địch phong tỏa, nên ta không đưa được lực lượng vào, do đó kế hoạch đánh chiếm Huế không thực hiện được.

Tiếng súng tổng tiến công đợt 2, rộ lên rồi nhanh chóng lắng xuống, chỉ còn cuộc chiến đấu ở Khe Sanh - đường số 9 vẫn tiếp diễn và ngày càng quyết liệt.

Ngay từ tháng 3 năm 1968, địch tổ chức các đợt trinh sát, tung biệt kích lùng sục dọc đường số 9 từ Rào Quán xuống Tân Lâm. Tiếp đó, chúng cho máy bay, pháo binh bắn phá cấp tập xuống Cà Lu, Tà Cơn và tập trung toàn bộ lực lượng sư đoàn 1 "kỵ binh bay” chuẩn bị cho cuộc hành quân giải tỏa khu vực Khe Sanh.

Ngày 1 tháng 4, sư đoàn 1 "kỵ binh bay” Mỹ phối hợp với chiến đoàn 3 dù ngụy, sáu tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ và một tiểu đoàn biệt động ngụy đang phòng ngự Khe Sanh mở cuộc hành quân lớn mang tên "Ngựa bay" và "Lam Sơn 207” do hai tên tướng Mỹ là Rốt-sơn và Quyt-man chỉ huy. Chúng tập trung 17 tiểu đoàn chiến đấu cả Mỹ lẫn ngụy tiến hành cuộc đổ bộ bằng máy bay lên thẳng, kết hợp với tiến công bằng đường bộ theo đường số 9 lên hướng Khe Sanh.

Cuộc chiến đấu nơi đây diễn ra vô cùng quyết liệt. Dưới bom đạn chi viện liên tục của không quân và pháo binh địch, quân ta vẫn lấn ép căn cứ Khe Sanh, đồng thời ngăn chặn lực lượng giải tỏa của địch. Các trận đánh giằng co ác liệt diễn ra trên các điểm cao 845, 832, 689, 471, Tà Cơn, làng Troài, làng Cát gây cho địch nhiều tổn thất.

Sáng 3 tháng 4, một tiểu đoàn "kỵ binh bay" đổ bộ xuống khu vực điểm cao 471 cách ngã ba Ku Bốc hai ki-lô-mét, kết hợp cùng bọn ở Tà Cơn nống ra định đánh chiếm ngã ba Ku Bốc. Sáu chiến sĩ cảnh giới của ta kiên cường chặn đánh địch, bẻ gãy cánh quân giải tỏa này của chúng. Chiều ngày 3 tháng 4, địch lại đổ một tiểu đoàn "kỵ binh bay” xuống điểm cao 471. Nhưng vừa tới đất, chúng đã bị quân ta bao vây và tiêu diệt hai đại đội, bắn rơi năm máy bay lên thẳng.

Sáng ngày 7 tháng 4, trung đoàn 45 pháo ĐKB, kết hợp với trung đoàn 2 sư đoàn 325C, tiến công chiến đoàn 3 dù ngụy vừa đổ xuống chiếm điểm cao 460, diệt gần 600 tên.
_______________________________________________
1. Điện số 4648, ngày 4 tháng 4 năm 1968, đồng chí Văn Tiến Dũng ký.
2. Điện số 592B, ngày 19 tháng 4 năm 1968, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào ký.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:25:33 pm

Phối hợp với hướng tây đường số 9, các trung đoàn 270, 27, các tiểu đoàn, đại đội địa phương Quảng Bình, Vĩnh Linh, Do Linh, Cam Lộ, tiếp tục bao vây Cồn Tiên và liên tục đánh phá giao thông địch.

Từ ngày 2 tháng 4, Quân khu quyết định thành lập cụm pháo gồm 44 khẩu từ 85 đến 130 ly do trung đoàn 164 chỉ huy, chi viện cho các trung đoàn 270, 27 và lực lượng địa phương đánh vào một loạt căn cứ địch ở Đại Độ, Kim Đậu, Hoàng Hà... trên một diện rộng 20 ki-lô-mét và sâu tới 25 ki-lô-mét.

Bị uy hiếp liên tục, ngày 10 tháng 5, một tiểu đoàn quân Mỹ phải nống ra để giải tỏa. Chúng lọt vào thế trận chuẩn bị của trung đoàn 1 sư đoàn 320 và bị ta đánh thiệt hại nặng ở Lâm Xuân. Địch vội vã điều hai tiểu đoàn "kỵ binh bay" từ Khe Sanh về ứng cứu.

Ngày 17 tháng 5, tiểu đoàn 2 trung đoàn 84 tập kích hỏa lực gây thiệt hại nặng cho một tiểu đoàn Mỹ đang đổ xuống vùng Hồ Khê, Bái Sơn.

Do liên tục bị tập kích, phục kích và bị thiệt hại lớn về sinh lực và phương tiện chiến tranh, ngày 19 tháng 4, sau khi nối thông được với căn cứ Khe Sanh, địch phải kết thúc cuộc hành quân giải tỏa "Ngựa bay"1 và đưa trung đoàn 4 sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ lên Khe Sanh mở tiếp cuộc hành quân "Scốt-len II” nhằm tiêu diệt lực lượng ta ở khu vực xung quanh Khe Sanh. Tại đây, trong trận đánh ở điểm cao 689, ngày 28 tháng 6 năm 1968, trung đội trưởng Phạm Ngọc Khánh, đại đội 10 tiểu đoàn 3 trung đoàn 246, mặc dầu bị thương nặng, vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị. Hai chân bị dập nát, anh dùng hai tay còn lại bò đến hỏa điểm địch, ném liền hai thủ pháo diệt địch và đã anh dũng hy sinh. Trong trận này, một mình Phạm Ngọc Khánh đã diệt bốn ụ súng, 26 tên địch. Phạm Ngọc Khánh được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ở phía đường số 9, địch cũng mở liên tiếp hai cuộc hành quân mang tên "Na-pô-lê-ông" và "Sta-lin" dọc sông Cửa Việt nhằm giữ giao thông tiếp tế từ Cửa Việt lên Đông Hà.

Tuy đã giải vây được cho căn cứ Khe Sanh, nhưng trước thế cô lập và luôn luôn bị uy hiếp của căn cứ này, ngày 9 tháng 7, địch buộc phải rút chạy khỏi vùng này. Lực lượng vũ trang ta được lệnh chuyển sang đánh địch rút chạy.

Trung đoàn 46 vây chặt các điểm cao 832, 845 và 689, kiềm chế địch hót quân bằng máy bay lên thẳng, buộc chúng phải tăng thêm ba đại đội để đối phó.

Trung đoàn 88 đánh chặn cánh quân địch rút chạy về phía nam đường số 9, tiêu diệt được bộ phận bảo vệ. Trong thời gian này, pháo binh ta hoạt động có hiệu quả, gây cho địch nhiều tổn thất trên đường rút chạy.

Ngày 15 tháng 7, địch rút hết về khu vực Cà Lu - Tân Lâm, Đường số 9 từ Cà Lu lên biên giới Việt - Lào dài trên 40 ki-lô-mét hoàn toàn giải phóng. Đường vận tải chiến lược thông suốt cả đông và tây Trường Sơn.

Sau 170 ngày đêm giao tranh quyết liệt ở đường số 9 - Khe Sanh, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 17.000 tên địch, bắn rơi, bắn cháy 400 máy bay, kìm chân một bộ phận lớn lực lượng cơ động chiến lược của chúng, giải phóng toàn huyện Hướng Hóa. "... Thắng lợi của ta ở Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân, dân và cán bộ ta, nó góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của toàn miền Nam từ đầu Xuân đến nay..."2.

Tháng 8 năm 1968, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp quyết nghị về tiến hành đợt 3 tổng công kích – tổng khởi nghĩa.

Nhiệm vụ của đường số 9 và Trị - Thiên được xác định là: tiếp tục tác chiến phối hợp, thu hút giam chân địch.

Thời gian nổ súng vào ngày 17 tháng 8, kết thúc vào ngày 28 tháng 9 năm 1968.

Lúc này Trị - Thiên có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức. Tháng 8 năm 1968, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Mặt trận Trị - Thiên (B5 - T8)3 thay Quân khu Trị - Thiên và cử đồng chí Vũ Yên làm Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Quyết làm Chính ủy. Ban Bí thư Trung ương Đảng cử đồng chí Hoàng Anh vào làm Bí thư Khu ủy, đồng chí Trần Văn Quang ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Theo quyết định của Bộ, chủ lực của mặt trận Trị - Thiên gồm sư đoàn 308, sư đoàn 324, một số đơn vị cao xạ, xe tăng và toàn bộ lực lượng vũ trang của B4; khi được ủy nhiệm sẽ chỉ huy cả lực lượng thuộc B5. Địa bàn của mặt trận từ đường số 9 đến giáp Đà Nẵng.

Sự thay đổi cơ cấu tổ chức và sắp xếp lực lượng góp phần tăng cường hơn nữa sự đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ huy và có thêm lực lượng để tiến hành đợt 3 tổng tiến công và nổi dậy. Song ta vẫn gặp nhiều khó khăn, tình hình vẫn không được cải thiện.

Sau khi rút chạy khỏi Khe Sanh, địch chuyển hẳn vào phòng ngự, tập trung bình định cấp tốc vùng đồng bằng. Mặt trận Trị - Thiên chỉ thực hiện được một số trận pháo kích, chống càn nhỏ, tác động không lớn đối với tình hình. Trong lúc đó, địch càng thấy rõ nhược điểm của ta, tiếp tục phản kích, đẩy chủ lực ta lên giáp biên giới Việt - Lào. Địch đóng chốt ngăn chặn, chia cắt miền núi với đồng bằng và thành phố.
______________________________________________
1. Sau 47 ngày đánh quân cứu viện (từ 1 tháng 4 đến 7 tháng 5), chủ yếu là đánh bại cuộc hành quân giải tỏa "Ngựa bay", quân và dân ta loại khỏi vòng chiến đấu 5.200 tên địch, tiêu hao 15 đại đội Mỹ, một chiến đoàn và hai tỉểu đoàn ngụy, bắn rơi 82 máy bay, bắn cháy 21 xe quân sự.
2. Trích thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi luật sư Nguyễn Hữu Thọ và Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam, ngày 13 tháng 7 năm 1968.
3. Mặt trận B5 - T8 chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn vì không phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. Tổ chức chiến trường trở về cơ cấu cũ là Quân khu Trị - Thiên.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:28:43 pm

Tháng 8, mùa mưa đến, khó khăn càng gay gắt. Địch dồn lực lượng liên tục phản kích đẩy chủ lực ta lên vùng rừng núi. Không quân, pháo binh địch bắn phá dữ dội hành lang vận chuyển tiếp tế lương thực. Các toán biệt kích, thám báo gia tăng hoạt động lùng sục, tập kích kho tàng, căn cứ của ta. Trên thực tế, chúng đã phân tuyến, kiểm soát được đồng bằng, ngăn chặn được giáp ranh, liên tục đánh phá và uy hiếp căn cứ vùng rừng núi của ta. Mùa mưa lũ địa hình rừng núi bị chia cắt, việc tiếp tế hậu cần của ta càng trở nên khó khăn. Tháng 10 năm 1968, đại bộ phận chủ lực quân khu phải rút ra Quảng Bình củng cố; một bộ phận ở lại tiếp tục chiến đấu giữ địa bàn, giữ thế.

Cuối năm 1968, do địch rải chất độc hóa học và do thiên tai, mùa màng bị mất nặng. Miền núi Trị - Thiên lâm vào thiếu đói nghiêm trọng. Địch tăng cường phục kích vùng giáp ranh nhằm khống chế, ngăn chặn ngặt nghèo luồng tiếp tế lương thực từ đồng bằng lên miền núi, gạo phải đổi bằng mồ hôi và cả máu của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta.

Trước tình hình ngày càng khó khăn, quần chúng lo lắng, một số ra đầu hàng, đầu thú; hoặc bỏ vào vùng địch. Khu ủy đã không kịp thời đề ra nhiệm vụ phương châm, biện pháp nhằm làm chuyển biến tình hình, không phản ánh và đề đạt lên cấp trên những khó khăn mà chấp hành mệnh lệnh một cách thụ động.

Cuối tháng 8, Khu ủy Trị - Thiên họp dưới sự chủ trì của Bí thư Hoàng Anh đánh giá lại tình hình, xác định lại nhiệm vụ và phương châm hành động. Sau một tuần làm việc, hội nghị quyết định: không tiếp tục tổng công kích - tổng khởi nghĩa, mà phải đẩy mạnh tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, giữ gìn và xây dựng lại cơ sở, xây dựng lại thế ba vùng liên hoàn có lợi cho ta, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đấu tranh hợp pháp với nửa hợp pháp ở vùng địch kiểm soát, nhằm từng bước vượt qua khó khăn, khôi phục lại thế và lực của ta trên chiến trường.

Hội nghị cho rằng: cần triển khai ngay thế đứng mới ở miền núi, phát động phong trào sản xuất, tự túc, phấn đấu trồng cho được 15 triệu gốc sắn để chống đói. Để bảo vệ sản xuất phải đẩy mạnh phong trào săn máy bay, hạn chế máy bay rải chất độc, đồng thời kiên quyết chặn đánh các cuộc hành quân "nhảy cóc", "chốt giữ điểm cao" của địch, bảo vệ tốt kho tàng, căn cứ và đường vận chuyển chiến lược.

Ở đồng bằng và thành phố, phải khẩn trương tập hợp lực lượng, phát triển lực lượng mới, chuyển dần sang đấu tranh chính trị thích họp, kết hợp với đấu tranh vũ trang, từng bước phá kế hoạch "bình định" của địch.

Thực hiện chủ trương của Khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu và các huyện, xã, phường... khắc phục gian khổ, bám dân, bám đất, cùng quần chúng từng bước vượt qua khó khăn, khôi phục dần thế trận.

Ở miền nùi, từ đồng chí Lê Hành, Bí thư Đảng ủy miền Tây đến từng cán bộ, đảng viên vào từng bản làng, từng gia đình vận động nhân dân đóng góp lương thực, thực phẩm nuôi quân trong bốn tháng và ra sức phát rẫy trồng ngô, khoai, sắn.

Nhân dân huyện Hướng Hóa đã góp 250 tấn lương thực cho lực lượng vũ trang cách mạng. Mỗi gia đình nhận nuôi từ ba đến năm chiến sĩ. Trong tháng 10, toàn huyện đã trồng trên ba triệu gốc sắn.

Lúc này, Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình đã đưa sáu tiểu đoàn bộ binh, sáu đại đội đặc công, ba tiểu đoàn phòng không, ba tiểu đoàn pháo cối, một số lớn thanh niên xung phong và dân công vào đường số 9 thay chân các đơn vị B5 ra hậu phương củng cố. Kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Quảng Trị, các đơn vị vừa vào đã tập kích, phục tích trên đường giao thông, bắn pháo cối vào các căn cứ 241, Cồn Tiên, Dốc Miếu; phục kích tàu địch trên sông Cửa Việt, gây cho địch nhiều thiệt hại.

Ở Triệu Phong và Hải Lăng, lực lượng vũ trang ta đẩy mạnh phong trào bắn máy bay của lữ đoàn "kỵ binh bay" Mỹ. Chiều ngày 19 tháng 8, lực lượng vũ trang huyện Triệu Phong bắn rơi 19 máy bay lên thẳng.

Ở Nam Lào, các tiểu đoàn 2, 3 và 927 quân tình nguyện Việt Nam kết hợp với bạn tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm của địch ở thị trấn Thà Teng, giải phóng một vùng rộng từ Mường Phìn tới thị xã Pắc Xoòng, giữ vững hành lang vận chuyển tây Trường Sơn, tạo điều kiện để ta đưa lực lượng chủ lực trở lại chiến trường, chuẩn bị cuộc chiến đấu mới.

Lợi dụng địch tập trung lực lượng mở các cuộc hành quân lên vùng núi và giáp ranh, lực lượng vũ trang ta đẩy mạnh hoạt động vùng đồng bằng. Bộ đội địa phương các huyện Hương Thủy, Phú Vang, Phú Lộc tăng cường phục kích, tập kích, diệt nhiều tên ác ôn, cảnh sát có nhiều nợ máu.

Ngày 6 tháng 8, một phân đội trinh sát do mũi trưởng Đỗ Nam chỉ huy bí mật tập kích bất ngờ vào tiểu đoàn "bình định" của địch ở chợ Cống, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Tiếp theo trận tập kích chợ Cống, ngày 12 tháng 8, đại đội 3 đặc công do đại đội trưởng Nguyễn Trung Thành chỉ huy tập kích hai đại đội Mỹ ở Mũi Né, loại khỏi vòng chiến đấu 250 tên, phá sáu khẩu pháo 105 ly, 10 xe quân sự, đốt cháy, nổ hàng chục tấn đạn.
Huyện ủy các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Thủy đưa dần lực lượng về bám trụ địa bàn để đánh địch, giữ thế, xây dựng và phát triển cơ sở. Một số cơ sở Đảng ở huyện, xã đã dựng lại đến lần thứ năm, thứ sáu. Ở Quảng Điền, chỉ trong một đêm có hai phần ba số huyện ủy viên hy sinh, sáng hôm sau đã được kiện toàn, bổ sung.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị - Trương Công Kỉnh; Phó bí thư Nguyễn Hoành; thành ủy Huế - Trần Anh Liên,... và biết bao đồng chí khác nêu tấm gương kiên trung bất khuất: "Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám giặc để đánh giặc". Nữ du kích Trần Thị Tâm, Nguyễn Thị Lài, Chế Thị Mừng, Đoàn Thị Trâm..., chưa một ngày rời dân, cùng đội du kích liên tục đánh địch.

Chi bộ làng Mai Xá (Quảng Trị) suốt từ năm 1954 đến năm 1968 chưa bao giờ bị bật khỏi dân. "Gan Mai Xá - đá Hảo Sơn" đã trở thành bản sắc của địa phương mà kẻ thù không dễ gì khuất phục được.

Thành ủy Huế (bộ phận cánh nam) trong tổng tiến công và nổi dậy chủ trương đảng viên không công khai hoạt động, vì vậy, sau đợt 1 đã vững vàng trụ lại ở địa phương, tiếp tục bám cơ sở, tập hợp và hướng dẫn nhân dân đấu tranh chống địch bình định. Đến cuối tháng 8, các đồng chí Hoàng Lanh, Hoàng Kim Loan (thành ủy viên Huế) đã tổ chức được hai đội biệt động ở quận Hữu và các đội công tác ở vùng Vĩ Dạ, An Cựu tiếp tục đánh địch... Tiếng súng của cách mạng không bao giờ ngừng trong nội thành Huế, kể cả lúc khó khăn nhất.

Ở vùng ven, mặc dù hoạt động trong hoàn cảnh thiếu cơm, lạt muối, ốm đau, thường xuyên phải đối phó với mọi âm mưu thủ đoạn tàn bạo của địch, nhưng lực lượng vũ trang các huyện ngoại thành chưa ngày nào rời địa bàn, duy trì và phát triển lực lượng lên nhiều lần. Đến cuối tháng 10 năm 1968, mỗi huyện đã có một tiểu đoàn trinh sát, một đại đội trinh sát đặc công. Thành phố Huế phát triển được 500 chiến sĩ biệt động. Tháng 11 năm 1968, Khu ủy họp để ra biện pháp kiên quyết khắc phục khó khăn về hậu cần, đưa lực lượng trở lại chiến trường tiến công địch, khôi phục lại thế trận chiến tranh nhân dân ở ba vùng chiến lược; trước hết là vùng rừng núi.

Tháng 12 năm 1968, các đơn vị sau khi ra hậu phương củng cố đã lần lượt trở lại chiến trường hoạt động.

Chiến trường Trị - Thiên - Huế đang từng bước vươn lên, khôi phục dần thế trận và lực lượng. Tuy nhiên nhiều khó khăn vẫn chưa khắc phục được, thế liên hoàn ba vùng vẫn bị địch chia cắt và chiến trường chưa được tổ chức lại, do vậy chưa tạo được thế chủ động tiến công địch.

Qua tám tháng thực hành tổng tiến công và nổi dậy (từ 31 tháng 1 đến hết tháng 9 năm 1968) quân dân Trị - Thiên - Huế đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200.000 tên địch (chưa tính chiến trường Khe Sanh - đường số 9) bắn rơi và phá hủy hơn 200 máy bay, phá hỏng 400 xe quân sự, 48 tầu xuồng chiến đấu, 13 kho đạn, 70 khẩu pháo các loại, phá sập 30 cầu, cống; diệt, bức hàng, bức rút 34 đồn, bốt và chi khu1.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 ở Trị - Thiên - Huế là to lớn. Mặc dù ta bị tổn thất khá lớn, thương vong cao, mất nhiều cơ sở vùng đồng bằng, đô thị, để lại những khó khăn cho những năm sau, song nó vẫn nổi lên là một chiến công xuất sắc của quân và dân Trị - Thiên trong chiến đấu chống chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ; những thành tích đạt được trong năm 1968 đã khẳng định ý chí kiên cường và bất khuất của Đảng bộ cùng quân và dân Trị - Thiên - Huế.
_____________________________________________
1. Theo số liệu thống kê trong tổng kết chiến tranh của tỉnh Bình - Trị - Thiên (cũ).


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:30:43 pm

IV. ĐÁNH BẠI THỦ ĐOẠN NÉM BOM HẠN CHẾ CỦA KHÔNG QUÂN MỸ, GIỮ VỮNG MẠCH MÁU GIAO THÔNG

Trong khi chiến trường Trị - Thiên - Huế đang trải qua thời kỳ đầy gian lao, thử thách, thì ở phía bắc vĩ tuyến 17, các tỉnh trên địa bàn Khu 4 hàng ngày, hàng giờ đối phó quyết liệt với sự đánh phá liên tục và dữ dội của không quân, hải quân Mỹ.

Ngay sau tuyên bố của tổng thống Mỹ Giôn-xơn ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, máy bay, tàu chiếu Mỹ tập trung đánh mạnh, ác liệt ở Quân khu 4, với mục đích ngăn chặn toàn bộ hệ thống giao thông, phá các phương tiện vận tải, hòng cắt đứt sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho miền Nam tổng tiến công và nổi dậy. Trung bình mỗi ngày, máy bay địch xuất kích trên 300 lần chiếc, nhằm đánh vào các đầu mối giao thông, các điểm hiểm yếu. Không quân, hải quân Mỹ liên tục khống chế việc vận chuyển và sửa chữa giao thông của ta 24 giờ trên 24 giờ mỗi ngày. Pháo tàu chiến Mỹ tăng cường mật độ đánh phá các đoạn đường số 1 chạy dọc ven biển gấp hai lần so với thời gian trước. Trên giải đất hẹp bằng một phần tư miền Bắc, chỉ trong vòng bảy tháng, mật độ bom đạn địch giội xuống tăng gấp 20 lần, số trận ném bom của máy bay Mỹ tăng 2,6 lần so với toàn bộ năm 1967. Ngoài số lần xuất kích và khối lượng bom đạn tăng lên nhiều lần, địch thay đổi thủ đoạn, tập trung đánh phá các trọng điểm trong từng khu vực: cầu Cấm, Phương Tích, rú Nguộc, truông Bồn, phà Nam Đàn, phà Bến Thủy (Nghệ An); bến Linh Cảm, ngã ba Đồng Lộc, Thượng Gia, Hạ Vàng, Khe Út, bến Ràng, Còi Sâu (Hà Tĩnh); bến Roòn phà sông Gianh, Xuân Sơn, Long Đại, Quán Hàu, Phong Nha (Quảng Bình). Trên các tuyến đường số 10, 12, 20 và đường số 8... những cửa khẩu như Nam Thôn, Seng Phan, Tà Lê và Đèo Dước liên tục bị máy bay Mỹ khống chế ngạt nghèo. Chỉ riêng khu vực ngã ba Đồng Lộc và Thượng Gia (Hà Tĩnh), không quân địch đã tập kích 5.300 lần chiếc, ném 37.500 quả bom phá và thả 5.000 quả bom từ trường.

Giao thông vận tải giờ đây thực sự là mặt trận nóng bỏng; nơi thử thách quyết liệt về ý chí, quyết tâm giữa ta và địch.

Bền lòng, vững chí, quân và dân Khu 4 nêu cao quyết tâm, kiên cường đánh trả không quân và hải quân Mỹ, giữ vững giao thông thông suốt. Ngay từ đầu năm 1968, lực lượng phòng không ba thứ quân trên địa bàn quân khu được tăng cường; thế trận chiến tranh nhân dân đánh trả không quân và hải quân Mỹ được củng cố. Bộ Tư lệnh phòng không quân khu giải thể; sư đoàn phòng không 375 được thành lập gồm các trung đoàn 214, 218, 284, bố trí đánh địch trên tuyến đường số 15, bảo vệ các mục tiêu phà Xuân Sơn, Long Dại, đồng thời bảo vệ lực lượng pháo binh triển khai trên đất Vĩnh Linh để đánh địch ở bờ nam sông Bến Hải, bảo vệ khu tập kết của bộ binh. Lực lượng phòng không các tỉnh, huyện và những đơn vị còn lại của quân khu được sắp xếp bố trí theo yêu cầu mới, vừa đảm bảo tác chiến bảo vệ địa bàn, vừa làm nòng cốt để thành lập thêm sáu trung đoàn, 11 tiểu đoàn, 9 đại đội phòng không trực thuộc quân khu. Những đơn vị mới thành lập là lực lượng làm nhiệm vụ đánh địch trên các tuyến giao thông bắc quân khu, tập trung vào các trọng điểm Nam Đàn, Linh Cảm, ngã ba Đồng Lộc... Cùng với quân khu, các tỉnh đã xây dựng 528 đội trực chiến của dân quân, trang bị súng 12,7 ly, 14,5 ly và 37 ly bảo vệ mục tiêu từng địa phương. Trong số 528 đội, các tỉnh chọn ra 245 đội được thoát ly sản xuất, cơ động phục kích đánh địch dọc các con sông lớn và dọc kênh nhà Lê, nhằm hạn chế máy bay địch săn tìm phương tiện vận tải của ta.

Tăng cường khả năng tác chiến bảo đảm giao thông vận tải, các sư đoàn phòng không 367, 377, 368 và sư đoàn pháo binh 351 lần lượt vào đánh địch trên vùng trời, vùng biển Quân khu 4. Quân chủng Phòng không - Không quân quyết định sử dụng không quân tham gia đánh máy bay Mỹ trên vùng trời Nghệ An, Hà Tĩnh. Các đơn vị phòng không trên địa bàn quân khu gồm bốn trung đoàn tên lửa, 14 trung đoàn cao xạ, sáu tiểu đoàn và bốn đại đội cao xạ 37 ly, hai tiểu đoàn 12,7 ly và 500 đội dân quân trang bị súng 12,7 ly và 14,5 ly được giao bảo vệ từng mục tiêu cụ thể, có lực lượng trọng điểm và lực lượng cơ động; tạo thành lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều lớp, bố trí trên nhiều hướng, nhiều vùng khác nhau.

Lực lượng, thế trận được củng cố và tăng cường, quân dân Khu 4 kiên cường chiến đấu, đánh trả có hiệu quả không quân và hải quân địch, hạ nhiều máy bay, bắn cháy nhiều tàu chiến. Tháng 5 năm 1968, lập chiến công mừng Bác Hồ 78 tuổi, trung đoàn tên lửa 238 bắn rơi bảy chiếc. Ngày 31 tháng 5, không quân và hải quân Mỹ đánh phá đảo Cồn Cỏ suốt tám giờ liền. Bộ đội đảo Cồn Cỏ bám trụ trận địa, kiên cường chiến đấu bắn rơi bốn chiếc, giữ vững hòn đảo tiền tiêu của Tổ quốc, được Bác Hồ gửi thư khen ngợi: "Cồn Cỏ xứng đáng là đảo nhỏ anh hùng" và tặng các chiến sĩ Cồn Cỏ hai câu thơ:

"Cồn Cỏ nở đầy hoa thắng trận
Đánh cho tan xác giặc Hoa Kỳ"

Trong dịp này, Quân khu ủy phát động đợt thi đua với đào Cồn Cỏ, quyết tâm bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 3.000 trên miền Bắc. Phong trào diễn ra sôi nổi khắp các trận địa.

19 giờ 45 phút ngày 25 tháng 6, các đội trực chiến của dân quân huyện Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình hiệp đồng chặt chẽ, bắn rơi tại chỗ một F4. Đây là chiếc máy bay Mỹ thứ 3.000 bị bắn rơi trên miền Bắc. Ngày 27 tháng 6, Bác Hồ gửi thư khen: "... Thế là Nam – Bắc hai miền đều đánh giỏi.

... Tôi nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Quân khu 4 rất xứng đáng là tuyến đầu của miền Bắc, anh dũng đập tan mọi thủ đoạn dã man của giặc Mỹ...".

Tháng 8, lực lượng phòng không ba thứ quân Quảng Bình lập thành tích mới, bắn rơi hai máy bay trong một ngày, trong đó có chiếc thứ 500 bị hạ trên vùng trời của tỉnh.

Thi đua với Quảng Bình, ngày 5 tháng 8, quân và dân Vĩnh Linh bắn rơi cả tốp hai chiếc F4H trong đó có chiếc thứ 200 ở địa phương. Trong niềm vui chiến thắng, đồng bào và chiến sĩ Vĩnh Linh lại hân hoan đón nhận thư khen và hai câu thơ của Bác Hồ:

"Đánh cho giặc Mỹ tan tành
Năm châu khen ngợi Vĩnh Linh anh hùng".

Ngày 28 tháng 8, tự vệ lâm trường huyện Hương Khê, Hà Tĩnh bắn rơi chiếc máy bay F111A của Mỹ đầu tiên trên miền Bắc. Đêm 20 tháng 9, trung đội lão dân quân xã Đức Ninh huyện Quảng Ninh, Quảng Bình với 30 viên đạn 12,7 ly diệt một A4. Dân quân xã Tiến Hóa huyện Tuyên Hóa đưa súng đại liên lên đỉnh lèn Bảng cao gần 1.000 mét lập trận địa và ngày 29 tháng 8, hạ tại chỗ một F4H.

Tiểu đội dân quân gái xã Kỳ Phương, huyện Kỳ Anh do tiểu đội trưởng Tưởng Thị Diên chỉ huy, trong hai ngày cuối tháng 8 bắn rơi ba máy bay. Cô dân quân theo đạo Thiên chúa Nguyễn Thị Xuân xã Quảng Phúc (Quảng Bình), một mình, một súng, một trận địa bắn rơi một F4H.

Trong tháng 8: trung đoàn 230 bắn rơi 15 chiếc, trung đoàn 233: sáu chiếc, trung đoàn 224: hai chiếc, trung đoàn 228: hai chiếc, trung đoàn 232: ba chiếc, trung đoàn 222: 12 chiếc, trung đoàn 214: 14 chiếc, tiểu đoàn 17: bảy chiếc.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:32:05 pm

Ở các vùng ven biển, lực lượng pháo binh ba thứ quân kết hợp với bộ đội hải quân, đặc công nước, không quân, liên tiếp đánh bại các đợt tiến công của hải quân Mỹ, bảo vệ vùng biển và chi viện đắc lực cho các đơn vị bám trụ chiến đấu trên các đảo ngoài khơi. Các xã ven bờ tích cực tham gia xây dựng trận địa pháo và phục vụ chiến đấu. Các đội thuyền đánh cá, thuyền vận tải được trang bị hỏa lực mạnh để sẵn sàng đánh đuổi tàu biệt kích Mỹ, bảo vệ sản xuất của ngư dân. Các đơn vị pháo bờ biển hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị phòng không ở gần để đối phó có hiệu quả với kẻ địch ngoài biển và địch trên không.

Đêm 14 tháng 5, công an vũ trang đồn Cửa Tùng phối hợp với dân quân xã Vĩnh Quang cảnh giác cao, nổ súng kịp thời bắn chìm một tàu biệt kích Mỹ khi chúng tập kích thuyền đánh cá của dân.

Ngày 7 tháng 8, tàu biệt kích địch liều lĩnh bất ngờ lẻn sâu vào bờ biển huyện Quỳnh Lưu, nhưng không lọt qua được con mắt cảnh giác của quân và dân ta. Hai tàu biệt kích Mỹ bị hải quân phối hợp với dân quân bắn chìm. Những chiếc còn lại vội vàng tháo chạy. Cùng ngày, đội thuyền vận tải tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ cũng anh dũng đánh trả tàu biệt kích ngụy, bắn chìm ba chiếc.

Mưu trí, dũng cảm, nghi binh giỏi, phòng tránh tốt, đại đội 13 pháo binh Vĩnh Linh trong ngày 26 tháng 7, đã đánh bại cuộc tiến công của 17 tàu chiến địch, bắn cháy hai chiếc.

Từ ngày 7 tháng 2 năm 1968 đến ngày 16 tháng 5 năm 1968, đội nữ pháo binh dân quân Ngư Thủy, Lệ Thủy (Quảng Bình) do đại đội trưởng Ngô Thị The chỉ huy đánh giỏi, ba lần nổ súng, ba lần bắn cháy tầu chiến Mỹ.

Trên mặt trận giao thông vận tải, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Bộ Tư lệnh bảo đảm giao thông vận tải Khu 4 và cử đồng chí Phan Trọng Tuệ, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bộ trưởng Giao thông vận tải làm Tư lệnh và đồng chí Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Chính ủy Quân khu 4 làm Chính ủy, để chỉ đạo tập trung và tổ chức hiệp đồng các lực lượng giao thông vận tải có mặt trên địa bàn Khu 4. Một số cán bộ các ngành giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, y tế, Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và cán bộ Tổng cục Hậu cần được huy động vào Khu 4 trực tiếp chỉ đạo công tác giao thông vận tải.

Ở các tỉnh có bộ chỉ huy bảo đảm giao thông vận tải do Chủ tịch tỉnh làm chỉ huy trưởng. Các đồng chí tỉnh ủy viên, huyện ủy viên, chỉ huy cơ quan quân sự, công an... cũng tham gia ban chỉ đạo. Bộ Tư lệnh bảo đảm giao thông vận tải Khu 4 được quyền huy động tất cả lực lượng, phương tiện bảo đảm giao thông của quân đội và của Trung ương hoạt động trên địa bàn Quân khu 4. Hệ thống thông tin liên lạc cũng được quân sự hóa. Các ty bưu điện và đơn vị thông tin quân đội được bổ sung phương tiện và giành quyền sử dụng ưu tiên cho các trọng điểm. Tăng cường sức mạnh cho lực lượng bảo đảm giao thông vận tải có các đơn vị cầu đường của ngành vận tải trung ương, các trung đoàn công binh 229, 249, 239 của Bộ Quốc phòng, bảy tiểu đoàn công binh của Quân khu Tà Ngạn và Quân khu Hữu ngạn. Bộ còn điều thêm hai đại đội phá bom mìn của Cục Công trình Bộ Tư lệnh Công binh. Bộ Tư lệnh Quân khu 4 thành lập thêm hai tiểu đoàn công binh công trình. Mỗi tỉnh tổ chức thêm một đại đội công binh. Các huyện, xã trong quân khu có 500 đội công binh - dân quân thoát ly sản xuất.

Các lực lượng trên được biên chế thành hai bộ phận: một bộ phận chuyên rà phá bom mìn, san lấp hố bom, giải phóng đường, mở đường vòng tránh... bao gồm các đơn vị công binh và thanh niên xung phong... lấy lực lượng công binh chủ lực làm nòng cốt. Một bộ phận chuyên làm nhiệm vụ vận tải, lấy các đơn vị vận tải của Trung ương, các binh trạm, các tiểu đoàn xe ô-tô vận tải, các hợp tác xã vận tải biển và các đoàn thể phụ nữ, thanh niên, sinh viên, học sinh tham gia bốc vác vận chuyển. Trong lực lượng vận tải được tổ chức thành các đơn vị vận tải cơ giới, đường sắt, đường goòng, gùi thồ, các đội tàu, các đoàn thuyền của hợp tác xã... và được phân chia cung đoạn vận chuyển phù hợp với đặc điểm, tính chất từng đơn vị và hiện trạng của từng tuyến đường. Các ban công an giao thông được thành lập từ tỉnh đến xã, phường để điều phối phương tiện vận tải, lực lượng bốc vác và bảo vệ an ninh trật tự ở các bến vượt.

Được tăng cường và tổ chức hợp lý, các lực lượng bảo đảm giao thông vận tải trên địa bàn Khu 4 đã vượt qua đạn bom ác liệt để thực hiện nhiệm vụ. Trung đoàn 239 đảm nhiệm vận chuyển vượt sông Lam, sông La qua hai trọng điểm Nam Đàn và Linh Cảm trên trục đường số 15, dùng khung dây nam châm, bộc phá, hoặc lái ca-nô với tốc độ nhanh, rà phá hàng nghìn quả bom từ trường, đảm bảo cho hàng nghìn chuyến xe vượt sông an toàn, đưa hàng ra tiền tuyến.

Các bến phà Long Đại, Xuân Sơn, Gianh, địa hình phức tạp, vừa rộng, vừa sâu, trống trải..., đáy sông có nhiều sỏi cát; sau các trận mưa, nước sông chảy xiết rất khó neo cầu, lái phà, trong khi đó địch đánh phá liên tục suốt ngày đêm, rải hàng nghìn bom từ trường, bom nổ chậm. Sau mỗi lần địch đánh, trung đoàn 249 vừa tổ chức lực lượng phá bom vừa vận dụng nhiều phương thức lắp ghép cầu phà; rút ngắn thời gian, và giảm bớt thương vong, đảm bảo cho xe qua nhanh trọng điểm đánh phá của máy bay địch... Trong 100 ngày đêm chốt tại bến phà Long Đại, tiểu đoàn 1 trung đoàn 249 đã bảo đảm được yêu cầu cơ động binh khí, kỹ thuật và vận tải qua sông an toàn. Ngày 14 tháng 3, nhiều tốp máy bay thả hơn 300 quả bom từ trường xuống khu vực phà Quán Hàu. Đội tự vệ bến phà dùng khung dây rà quét gây nổ 122 quả. Cùng ngày, đội phá bom dân quân xã Đức Ninh dùng bộc phá áp vào bom, phá 250 quả bom nổ chậm dọc sông Nhật Lệ.

Là tỉnh địa bàn vừa hẹp, vừa dốc, có nhiều sông suối chia cắt, Hà Tĩnh trở thành địa bàn không quân, hải quân Mỹ chọn làm nơi "chẹn họng". Chúng đã tập trung gần 60 phần trăm số lượng đạn bom đánh vào khu vực bắc Hà Tĩnh. Chỉ riêng cầu Họ dài hơn chục mét trên đường số 1 đã phải chịu hơn 500 quả bom các loại.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:34:09 pm

Từ tháng 2 năm 1968, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã xác định quyết tâm: "Địch đánh ta sửa ta đi, đi trên nhiều tuyến đường với nhiều hình thức vận chuyển khác nhau. Hoàn thành gấp tuyến đường liên huyện, liên xã; sản xuất nhiều nguyên vật liệu dự phòng, cải tạo và mở mang nhiều bến bãi đậu xe, đóng thật nhiều phương tiện vận tải thô sơ, kiên quyết thông xe trong mọi tình huống".

Một lực lượng lớn dân quân được huy động cùng với công binh, thanh niên xung phong mở chiến dịch làm đường vòng tránh san lấp hố bom, sửa chữa đường sá, cầu phà, bến bãi. Hàng chục vạn lượt người được huy động tham gia đảm bảo giao thông vận tải.

Trên khu tam giác trọng điểm Nam Đàn - Linh Cảm - Bến Thủy, trung đoàn 239 và tiểu đoàn 27 phối hợp với các đội công binh - dân quân ngày đêm rà phá hàng nghìn bom từ trường, bom nổ chậm dọc sông Lam, sông La; ghép phà chở hàng dọc theo sông Lam, sông Ngàn Sâu trên tuyến dài 100 ki-lô-mét. Tiểu đoàn 27 đã thường xuyên rút kinh nghiệm phát huy sáng kiến cải tiến thao tác đã rút ngắn thời gian ghép phà từ ba giờ xuống hai giờ.

Tại ngã ba Đồng Lộc - khu vực rộng chừng 100 ki-lô-mét vuông giao điểm giữa hai tuyến đường số 15 và tỉnh lộ số 2 đi qua giữa ruộng lầy xen đồi trọc, cuộc đọ sức giữa đạn bom và ý chí con người diễn ra vô cùng quyết liệt.

Tại ngã ba này không lúc nào ngớt tiếng bom đạn, nhưng cũng không lúc nào vắng bóng người phá gỡ bom mìn, lấp hố bom, san sửa mặt đường. Lực lượng bảo đảm giao thông ở khu vực ngã ba Đồng Lộc có năm đại đội thanh niên xung phong, ba đại đội công binh giao thông, một đội cầu và một đại đội công binh phá bom thuộc tiểu đoàn 30. Ngoài ra, tiểu đoàn 500 công binh trạm 9 sẵn sàng chi viện trong những trường hợp cần thiết.

Tháng 5 năm 1968, địch đánh 158 trận, thả hơn 3.000 quả bom phá và 970 bom từ trường, cắt đứt đường số 1 ở khu vực Hà Tĩnh.

Các lực lượng bảo đảm giao thông vừa chống địch phá hoại, sửa chữa các đoạn bị hư hỏng, làm thêm 17 ki-lô-mét đường vòng tránh đoạn Thượng Gia - Hạ Vàng. Trên đường số 15, địch đánh 88 trận, thả 2.000 bom phá và 126 bom từ trường. Ta mở đường tránh dài bốn ki-lô-mét vòng qua ngã ba, nên đường vẫn thông. Phát hiện ta làm đường vòng tránh, địch đánh rộng ra với cường độ ngày càng lớn. Lực lượng phòng không bảo vệ Đồng Lộc được tăng cường tới 12 đại đội đã anh dũng đánh trả. Nhưng đường số 1 vẫn tắc từ cầu Nghèn đến cầu Già. Ta phải mở đường vòng tránh từ Tùng Cốc đến Khe Giao dài 16 ki-lô-mét vòng qua ngã ba.

Từ cuối tháng 7 trở đi, địch đánh phá ngày càng dữ dội, gây ra 10 điểm tắc trong khu vực này. Các lực lượng bảo đảm giao thông tập trung mở gấp đường 70B tránh xa khu vực trọng điểm, giải quyết được một phần khó khăn ở khu vực ngã ba Đồng Lộc. Suốt hơn 200 ngày đêm đọ sức với địch tại ngã ba này đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu dũng cảm.

Dũng sĩ phá bom Vương Đình Nhỏ gần 200 ngày đêm bám trọng điểm, đảm nhiệm phá bom ở những vị trí quan trọng và nguy hiểm nhất. Với dụng cụ thô sơ, tự tạo, anh đã phá gỡ được 189 quả, trở thành người phá bom xuất sắc nhất ở ngã ba Đồng Lộc.

Công nhân Uông Xuân Lý với chiếc máy húc C100 của mình đã xúc gạt hàng trăm quả bom của địch ra khỏi mặt đường, vừa húc đẩy hàng nghìn mét khối đất đá để san đường, lấp hố bom.

Chị La Thị Tám ở đại đội 2 giao thông huyện Can Lộc, liên tục có mặt 86 ngày tại ngã ba Đồng Lộc, 30 ngày tại Thượng Gia, Cổ Ngựa, theo dõi từng quả bom rơi, nắm chắc từng thủ đoạn đánh phá của địch, cùng tổ đánh dấu 703 quả bom. La Thị Tám đã bị bom nổ vùi lấp 23 lần khi chị đang làm nhiệm vụ cắm tiêu đánh dấu bom chưa nổ.

Ở đây, còn có 10 cô thanh niên xung phong vào độ tuổi 20, gồm hai đảng viên, tám đoàn viên, có nhiệm vụ san lấp hố bom, làm đường, bảo đảm an toàn xe qua lại. Có ngày chỉ trong năm giờ, địch đánh xuống đây bốn trận liền, giội hàng trăm tấn bom, nhưng cả 10 chị em không rời vị trí. Ngày 24 tháng 7 năm 1968, cả 10 cô gái đã bám trụ kiên cường trên trọng điểm sau 18 lần địch đánh phá ác liệt và đã anh dũng hy sinh, cả tiểu đội thanh niên xung phong do Võ Thị Tần làm tiểu đội trưởng đã được Quốc hội, Chính phủ truy tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng.

Ở Nghệ An, sau quả bom từ trường đầu tiên do anh Nguyễn Văn Minh ở thành đội Vinh phá thành công, phong trào phá gỡ bom mìn nhanh chóng lan rộng. Với những công cụ thô sơ như viên nam châm, lưỡi cuốc, lưỡi cày, vỏ phuy xăng, khung dây, kết hợp với máy phóng từ gắn trên xe con... nhân dân Nghệ An phá hàng nghìn bom từ trường.

Đại đội 3 tiểu đoàn 30 công binh cùng với 10 cô gái thanh niên xung phong Đô Lương (trong tháng 8 ) đã phá gần 2.000 bom từ trường tại trọng điểm truông Bồn. Chiến sĩ dân quân Nguyễn Trọng Được ở xã Hưng Vĩnh, Hưng Nguyên trong bảy tháng phá 33 bom nổ chậm, 400 bom từ trường tại khu vực cầu Đước. Các chị Nguyễn Thị Tính ở Nam Giang, Nam Đàn, Trần Thị Cúc xã Hưng Hòa, Hưng Nguyên, Nguyễn Thị Vợi ở rú Nguộc, Thanh Chương, Vương Thị Hải xã Trung Sơn, Đô Lương... đều là những dùng sĩ phá bom từ trường xuất sắc. Chiếc ca-nô "Bất Khuất" của tiểu đoàn 27 do đồng chí Nguyễn Xuân Toán lái đã gây nổ hàng trăm bom từ trường ở sông Lam đoạn từ Nam Đàn xuống Bến Thủy.

Từ tháng 4 đến cuối tháng 10 năm 1968, lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh Khu 4 đã phá được hàng chục nghìn bom Mỹ. Trong đó có 24.750 bom từ trường1.

Phà Bến Thủy, một bến vượt quan trọng trên đường số 1 từ Nghệ An vào Hà Tĩnh thường xuyên bị địch đánh phá. Không quản gian khổ, hy sinh, công nhân phà Bến Thủy luôn luôn có mặt tại bến. Tháng 8 là tháng địch đánh phá ác liệt nhất, cộng với mùa mưa lũ, nước sông Lam dâng lên cao, công nhân phà Bến Thủy đã vượt qua đạn bom, mưa lũ, đưa 4.200 lượt chuyến xe qua sông. Cứ mỗi lần đường tắc, phà trôi, nhân dân các xã Hưng Hòa, Hưng Dũng và thành phố Vinh lại kéo ra mặt đường, dùng sức người kéo phà, dùng trâu bò kéo xe cơ giới vượt lầy.
______________________________________________
1. Công binh chủ lực phá 5.540 quả, dân quân phá 29.210 quả, phá bằng xe phóng từ: 2.200 quả, phá bằng phương tiện thô sơ 31.000 quả, phá dưới nước 3.142 quả.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:36:04 pm

Nhân dân Hà Tĩnh, Quảng Bình tự nguyện dời nhà để làm đường vòng tránh, dỡ nhà để lấy gạch, gỗ, ván lát đường, chống lầy. Nhân dân xóm Trường Giang, xã Tiến Lộc, Can Lộc (Hà Tĩnh) đã bốc dỡ và sẵn sàng bốc dỡ hết cả xóm làng thân yêu của mình gồm (130 nóc nhà) để làm đường tránh cho xe qua. Đồng chí Phạm Đình Dương, bí thư Đảng ủy xã Võ Ninh huyện Quảng Ninh dỡ căn nhà ngói ba gian của mình ra để chống lầy giải phóng xe hàng. Các đồng chí trong đảng ủy, ủy ban và nhân dân toàn xã đã đăng ký hiến 300 ngôi nhà gạch. Trong tháng 8, xã đã có 37 căn nhà được tháo dỡ ra để chống lầy. Ban 67 giao thông vận tải cùng đơn vị cầu đường 4 và tổng đội thanh niên xung phong Quảng Bình đã đào đắp gần một triệu mét khối đất đá để san đường, mở 48 ki-lô-mét đường vòng tránh qua các trọng điểm, sửa chữa 1.033 mét cầu gỗ, làm mới 230 mét cầu cáp, đóng mới 22 phà. Từ tháng 4 đến tháng 10 đã bảo đảm cho 30.400 lượt xe qua các trọng điểm phà Gianh, Long Đại và Xuân Sơn.

Tỉnh Hà Tĩnh mở đường Phan Đình Giót và đường 57 với tổng chiều dài 26 ki-lô-mét, sửa chữa 170 mét cầu gỗ, 135 mét cầu phao và đóng mới 55 chiếc phà.

Tỉnh Nghệ An làm mới tuyến đường truông Sắt - truông Bồn dài 20 ki-lô-mét, mở 49 ki-lô-mét đường vòng tránh, sửa chữa 600 mét cầu gỗ, đóng 50 chiếc phà và sửa chữa 9 ca-nô.

Do thời tiết đã chuyển sang mùa mưa và địch đánh phá ác liệt, nên dù các lực lượng bảo đảm giao thông vận tải đã dũng cảm tận tụy ngày đêm ra sức khắc phục, giao thông đường bộ vẫn cứ bị tắc nghẽn dài ngày, không bảo đảm được kế hoạch chi viện chiến trường.

Trước tình hình đó, cuối tháng 8, Quân khu ủy họp quyết định: tận dụng nhiều phương tiện, hợp lý hóa tổ chức vận chuyển, nâng tốc độ, tăng trọng lượng, giảm thời gian, củng cố và điều chỉnh lực lượng kho, trạm vùng và cả trên đường đi, theo phương châm: xa trước, gần sau, đạn hỏa lực trước, đạn bộ binh sau, hàng quý hiếm trước, hàng thường sau, nhà dân là kho đạn, chủ nhà là thủ kho. Thực hiện quyết định trên, Cục Hậu cần quân khu thành lập thêm đại đội 5 vận tải, bốn binh trạm rút xuống còn hai. Binh trạm 1 phụ trách từ bắc sông Gianh trở ra và các tuyến qua Lào. Binh trạm 2 phụ trách từ nam sông Gianh trở vào.

Bốn ngày đầu tháng 8, binh trạm 1 đã vận chuyển gần 800 tấn hàng phân tán vào bảy xã xung quanh thành phá Vinh.

Trung đoàn 239 rút một phần lực lượng ở hai bến phà Nam Đàn, Linh Cảm, sử dụng bốn ca-nô kéo, một ca-nô rà phá bom và một số sà lan tổ chức thành lực lượng vận tải đường sông từ Dùng (Nghệ An) vào Địa Lợi (Hà Tĩnh) dài 115 ki-lô-mét, đồng thời bố trí sáu chốt dọc tuyến vận tải để quan sát, rà phá bom, khơi thông luồng lạch. Mỗi tiểu đoàn còn tổ chức một đội phá bom cơ động hộ tống đoàn sà lan. Đến ngày 24 tháng 10, trung đoàn đã vận chuyển được 350 tấn hàng vào Hà Tĩnh.
Lợi dụng kênh Nhà Lê (kênh đào có từ thời nhà Lê) từ Thanh Hóa vào Nghệ An, tiểu đoàn 1 ca-nô Hồng Hà và các đội thuyền nan, thuyền gỗ có trọng tải từ một đến ba tấn đã bền bỉ đêm ngày vận chuyển hàng vào các bến bãi quy định.

Trung đoàn 249 dùng xe lội nước K61 chuyển tải hơn 1.000 tấn gạo qua sông Gianh. Tiểu đoàn 27 dùng xe K61 "cõng” 60 xe ô-tô vận tải vượt trọng điểm Thượng Gia, Hạ Vàng.

Bộ đội xăng dầu cũng lắp đặt xong tuyến đường ống từ Nghệ An vào bắc Hà Tĩnh.

Ngày 1 tháng 9, Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa huy động hàng trăm thuyền nan của nhân dân để thành lập đoàn vận tải Điện Biên và cử đồng chí Đào Đức Bình phó Ty Giao thông làm trưởng đoàn. Đoàn được biên chế thành các đại đội vận chuyển trên từng cung đoạn. Riêng đại đội 28 (Tĩnh Gia) và đại đội 2 (Hoằng Hóa) đảm nhiệm đưa hàng theo kênh Nhà Lê vào Nghệ An, Hà Tĩnh. Trong tháng 8, hai đại đội đã chuyển được 3.000 tấn. Thanh Hóa còn huy động 2.216 chiếc xe đạp thành lập đoàn xe thồ Lam Sơn để vận chuyển từng cung đoạn ngắn. Trong tháng 10, đoàn Lam Sơn đã chuyển giao cho Hà Tĩnh 4.000 tấn. Các đồng chí Ngọ, Tứ, Tường, sử dụng xe thồ đã lập kỷ lục vận chuyển mỗi chuyến 700 ki-lô-gam.

Để tăng lực lượng bảo đảm giao thông, ngày 28 tháng 10, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ Tư lệnh 500 bảo đảm giao thông vận tải trên địa bàn Khu 4 thay thế cho cơ quan tiền phương Tổng cục Hậu cần. Lực lượng của Bộ Tư lệnh 500 có hai trung đoàn và 35 tiểu đoàn công binh, một sư đoàn, ba trung đoàn, 23 tiểu đoàn cao xạ, 14 tiểu đoàn ô-tô vận tải, hai tiểu đoàn đường ống.

Cuối tháng 10, Thủ tướng Chính phủ huy động của Thanh Hóa 2.000 xe đạp thồ (cả người), 500 thuyền nan, 800 thuyền biển vào tăng cường cho Quảng Bình, Hà Tĩnh.

Tỉnh nghệ An tổ chức đoàn xe đạp thồ 7.000 chiếc, đoàn xe ba gác 8.500 chiếc, đoàn xe "cút kít" 11.600 chiếc, đoàn xe trâu 6.400 chiếc để đưa hàng chục nghìn tấn hàng vượt từng cung đoạn vào Hà Tĩnh, Quảng Bình. Trong tháng 8, tỉnh Hà Tĩnh huy động 2.000 xe đạp thồ, 800 thuyền nan, vận dụng phương thức vận chuyển liên huyện, liên xã, chuyển vào chiến trường 37.340 tấn hàng các loại.

Lực lượng vận tải huyện Kỳ Anh dùng thuyền độc mộc ngược sông, suối, thác nước miền tây, đưa 3.000 tấn hàng vào Quảng Bình. Tháng 9, đường bị tắc nghẽn nhiều ngày, tỉnh vận động nhân dân quyên góp thóc, gạo, chi viện chiến trường. Riêng ba huyện Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh đã cho Nhà nước vay 900 tấn lương thực.

Dù lực lượng giao thông vận tải nỗ lực rất lớn, song do địch đánh rất ác liệt, cộng với mưa lũ lớn, nên các tuyến đường bị tắc nhiều ngày, phương tiện vận tải không đủ bổ sung số bị hư hỏng, khối lượng vận chuyển không đạt kế hoạch. Hàng từ Thanh Hóa vào Khu 4 đạt 86 phần trăm kế hoạch năm 1968, từ Khu 4 vào chiến trường đạt 84 phần trăm. Mức ăn của bộ đội ở chiến trường trong tháng 5 được 500 gam một ngày, tháng 6 được 300 gam, tháng 7 là 200 gam, sang tháng 8 chỉ còn 150 gam. Cầu hỏng, đường tắc..., chiến trường từng phút từng giờ mong đợi. Cả Quân khu 4, từ Bí thư tỉnh ủy các tỉnh đến đảng viên và từng người dân, tất cả vì chiến trường, tất cả ra mặt đường bảo đảm giao thông vận tải. Hầu hết lực lượng thanh niên, trung niên được huy động triệt để cho chiến dịch vận tải "Vì miền Nam ruột thịt". Bộ Tư lệnh đoàn 500 tổ chức nhiều đội gùi cõng từng bao gạo, từng can xăng vượt qua trọng điểm. Đã có hơn 200 nữ thanh niên xung phong, dân công hy sinh trong chiến dịch gùi xăng qua Cổng Trời trên đường số 12. Tiểu đoàn 1 (Quảng Bình) suốt hai tháng cõng gạo, xăng vượt trọng điểm Chà Là, Phu La Nhích. Bác Đặng Văn Chước ở thị trấn Cầu Giát huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) có ba con đang chiến đấu trên chiến trường, vẫn hăng hái cùng thanh niên địa phương tham gia chiến dịch vận tải. Chỉ trong tháng 9, chiếc xe trâu do bác sử dụng đã chuyển được 200 tấn hàng.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2024, 06:36:39 pm

Trong chiến dịch vận tải "Vì miền Nam" tỉnh Quảng Bình đã chủ trương "Trút gạo trong nồi cho miền Nam đánh thắng". Với vùng đất cội cằn, sản xuất không đủ ăn lại bị địch đánh phá có tính hủy diệt, nhưng nhân dân Quảng Bình vẫn sẵn sàng nhường phần gạo ít ỏi cho chiến trường. Chỉ trong tháng 6 và tháng 7, tỉnh đã góp được 2.600 tấn. Các binh trạm 12, 14, 16 đã kịp thời chuyển số gạo này vào Trị - Thiên.

Được tin này, Bác Hồ đã kịp thời biểu dương tinh thần hết lòng vì tiền tuyến của quân dân Quảng Bình. Bác dặn đồng chí Bí thư tỉnh ủy Quảng Bình phải tìm cách trả cho dân hết số gạo đã vay, không được lợi dụng lòng tốt của dân.

Khắc phục B52 rải thảm, pháo chụp, pháo bầy đủ loại, đủ cỡ, từ bờ nam sông Bến Hải bắn sang, từ ngoài biển bắn vào... nhân dân Vĩnh Linh vẫn vững vàng trụ bám sản xuất và chiến đấu. Các xã bờ bắc Bến Hải chèo thuyền đưa bộ đội vượt sông vào đường số 9. Cha hy sinh con thay thế. Chị ngã xuống, em thay chèo. Huyện đoàn Vĩnh Linh giao cho đoàn xã Vĩnh Thủy điều động 40 đoàn viên cõng đạn sang bờ nam trong chiến dịch đánh địch giải tỏa căn cứ Khe Sanh. Đoàn viên đã xung phong đến 120 người. Đoàn viên nông trường Quyết Thắng đảm nhận toàn bộ công việc bốc vác, vận chuyển hàng chục vạn tấn hàng trong chiến dịch vận tải "Vì miền Nam".

Dân quân các xã Vĩnh Mốc, Vĩnh Kim tổ chức các đội tình nguyện giỏi bơi lặn chi viện cho Cồn Cỏ, giữ trọn lời thề: "Vĩnh Linh còn, Cồn Cỏ còn"...

Bảy tháng chống thủ đoạn "ném bom hạn chế" của đế quốc Mỹ, quân, dân Quân khu 4 đã anh dũng chiến đấu, cùng lực lượng phòng không và pháo binh trên địa bàn quân khu bắn rơi 425 máy bay, bắn cháy 31 tàu chiến địch. Toàn quân khu đã huy động 10 triệu lượt người ra mặt đường; khôi phục và làm mới 2.500 ki-lô-mét đường cơ giới, 173 ki-lô-mét đường goòng. xí nghiệp Chiến Thắng đóng 21 chiếc phà mới, 17 bộ cầu phà, 17 phao cầu, sửa chữa 33 phà, 200 thuyền cho các binh trạm 1, 2, 3, 14 chuyển gấp 26.000 tấn hàng vào chiến trường đường số 9 trong chiến dịch "Quang Trung II". Cả năm 1968, khối lượng hàng vận chuyển vào miền Nam và sang Lào tăng gấp hai lần so với năm 1967.

Vừa chiến đấu đánh trả không quân, hải quân Mỹ, giữ vững giao thông vận tải, các tỉnh Khu 4 tiếp tục động viên con em mình nhập ngũ vào Nam chiến đấu. Năm 1968, các địa phương đã sớm chủ động khám tuyển, chú trọng công tác giáo dục, động viên, chuẩn bị tốt và đầy đủ cho thanh niên lên đường nhập ngũ. Được giáo dục tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất của dân tộc và của quê hương, được chính quyền, đoàn thể địa phương chăm lo săn sóc, thanh niên Khu 4 nhận rõ nghĩa vụ vinh quang của mình hăng hái lên đường ra trận.

Hàng nghìn gia đình trong quân khu có từ ba con trở lên đi bộ đội. Đến hết năm 1968, Thanh Hóa có 66 gia đình, Nghệ An có 60 gia đình, Hà Tĩnh 32 gia đình, Quảng Bình 46 gia đình có năm con trở lên đang chiến đấu ở các chiến trường. Nhiều gia đình cả cha và con cùng chiến hào đánh Mỹ.

Ông Lưu Quang Nghĩa ở xã Minh Sơn huyện Ngọc Lạc, Thanh Hóa có tám con đi bộ đội. Bảy cha con đồng chí Nguyễn Văn Hoàn xã Quảng Ngọc huyện Quảng Xương cùng tại ngũ. Cụ Bột ở xã Họp Lý huyện Triệu Sơn cả con và cháu có 11 người đi bộ đội. Bà Sáu ở xã Vĩnh Thanh, Vĩnh Lộc có ba thế hệ ông, con, cháu đang đánh Mỹ. Đến năm 1968, tỉnh Thanh Hóa có 150 nghìn bộ đội đang chiến đấu trên các chiến trường. Tỉnh Nghệ An có 70 nghìn hộ gia đình có con đi đánh Mỹ.

Năm 1968, toàn quân khu có trên 66.000 thanh niên nhập ngũ, bổ sung cho tiền tuyến 60.000 cán bộ, chiến sĩ, đạt mức cao nhất trong chiến tranh, đáp ứng kịp thời nhu cầu cho miền Nam tổng tiến công và nổi dậy. Quân khu còn bổ sung đi chiến trường 1 sư đoàn, 5 trung đoàn, 21 tiểu đoàn, 30 đại đội. Trung đoàn 27 thành lập trên quê Bác ngày 8 tháng 2 năm 1968, thì ngày 31 tháng 3 đã chiến đấu ở cánh đồng trên mặt trận Đường số 9. Tiểu đoàn 491 (Lam Sơn) đặc công vào chiến trường Khu 5 lập công xuất sắc được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các trung đoàn 270, 84, 164, 204, 218, 282 cùng hàng nghìn dân quân, du kích Quảng Bình, Vĩnh Linh "ăn cơm bờ Bắc, đánh giặc bờ Nam" trực tiếp chiến đấu trên chiến trường đường số 9.

Dưới bom đạn đánh phá ác liệt và mặc dù một lực lượng lớn nhân lực trẻ khỏe được huy động ra tiền tuyến, nhưng sản xuất ở hậu phương vẫn được duy trì. Nhiều hợp tác xã đạt năng suất từ năm tấn thóc một héc-ta trở lên. Thanh Hóa có 37 xã, Nghệ An có 17 xã, và 60 hợp tác xã đạt năm tấn một héc-ta.

Ở Vĩnh Linh, diện tích gieo trồng đạt 101 phần trăm kế hoạch. Bình quân lương thực đầu người đạt 305 ki-lô-gam. Hợp tác xã Vĩnh Kim, Nam Hồ đạt năng suất năm tấn. Các xã Vĩnh Chấp, Vĩnh Thủy vẫn duy trì đàn lợn tập thể.

Cơ sở vật chất kỹ thuật của các hợp tác xã nông nghiệp từng bước được tăng cường. Hệ thống thủy lợi vẫn đảm bảo tưới tiêu cho đồng ruộng. Các xí nghiệp cơ khí nhỏ, sản xuất phân bón, chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng đã làm ra một số lượng sản phẩm góp phần đảm bảo sản xuất và đời sống của nhân dân.

Trong khói lửa chiến tranh, tình làng nghĩa xóm, tình đồng chí, đồng bào, tình cảm Bắc - Nam ngày càng thêm gắn kết, nồng đậm theo nhịp sống sôi động của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Trẻ em vẫn đội mũ rơm, cắp sách đến trường. Bệnh viện, trạm xá sơ tán tới những nơi ít bị địch đánh phá, tiếp tục khám chữa bệnh cho nhân dân. An ninh chính trị, trật tự xã hội được củng cố vững chắc.

Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 cùng với việc đánh bại thủ đoạn "ném bom hạn chế" của không quân Mỹ trên địa bàn Khu 4 là nhân tố trực tiếp buộc Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống miền Bắc Việt Nam kể từ ngày 1 tháng 11 năm 1968, chấp nhận hội nghị bốn bên ở Pa-ri. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã có bước chuyển biến quan trọng.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2024, 06:51:09 pm

CHƯƠNG V
BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG, CHI VIỆN CÁC CHIẾN TRƯỜNG,
KHÔI PHỤC THẾ CHIẾN LƯỢC BA VÙNG, THAM GIA CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO
(1969 - 1971)



I. BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG, CHI VIỆN CÁC CHIẾN TRƯỜNG (1969 - 1970)

Sau thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của ta trong cuộc Tổng tiến công chiến lược Mậu Thân 1968, đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược từ "chiến tranh cục bộ" sang "phi Mỹ hóa" rồi "Việt Nam hóa chiến tranh", tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác đối với miền Bắc Việt Nam. Nhưng đế quốc Mỹ vẫn âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh xâm lược nước ta.

Ngày 5 tháng 11 năm 1968, Quân khu ủy Quân khu 4 họp, nhận định: "... tùy diễn biến tình hình quân sự trên chiến trường, tình hình chính trị trong nước Mỹ và diễn biến của cuộc đấu tranh ngoại giao, địch có thể đánh lại bất ngờ trên toàn miền Bắc hoặc có thể sử dụng bộ phận mở các cuộc tập kích, tiến công hạn chế ra quân khu". Quân khu ủy đề ra nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang quân khu là: "Tập trung mọi khả năng, trí tuệ, tình cảm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ chi viện của miền Bắc đối với miền Nam mà quân khu trực tiếp đảm nhiệm. Tranh thủ thời gian củng cố nâng cao sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang quân khu về mọi mặt, đồng thời tập trung chuẩn bị tốt mọi công tác phòng thủ, chuẩn bị tác chiến, sẵn sàng đánh thắng địch tại chỗ trong mọi tình huống và sẵn sàng cơ động đánh thắng địch ở bất cứ chiến trường nào”1.

Mặc dù đã tuyên bố chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom, bắn phá miền Bắc, đế quốc Mỹ vẫn dùng máy bay trinh sát, đánh phá lẻ tẻ khu vực chân hàng, kho tàng trên địa bàn quân khu, tung các toán gián điệp biệt kích từ bờ nam sang phá hoại bờ bắc sông Bến Hải. 13 giờ 17 phút ngày 23 tháng 11, Mỹ đã cho hai máy bay RF4C vào trinh sát khu vực kho tàng, bến bãi ở thị xã Đồng Hới (Quảng Bình). Tiểu đoàn cao xạ Nguyễn Viết Xuân với tinh thần cảnh giác cao, đánh giỏi, bắn rơi tại chỗ một chiếc. Tiếp đó, ngày 25 tháng 11, trung đoàn 222 bắn rơi tại chỗ một RF4C. Ngày 1 tháng 1 năm 1969, đồn biên phòng Cù Bai (Vĩnh Linh) phối hợp với bộ đội binh trạm Đoàn 559, dân quân xã Hướng Lập phát hiện và truy lùng toán biệt kích, thám báo ở các bản A Sóc, Tà Rụt, diệt 13 tên.

Ngay sau khi địch ngừng ném bom miền Bắc, quân và dân Quân khu 4 đã chuẩn bị tích cực phục vụ chiến dịch vận tải mang tên "VT5"2 để chi viện chiến trường miền Nam và Lào. Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, khu vực Vĩnh Linh hàng ngày có hàng chục vạn người ra mặt đường lấp hố bom, sửa chữa đường sá, cầu, phà, bến bãi. Chỉ sau năm ngày địch ngừng bắn, đường sắt đã thông đến cầu Giát và sau 10 ngày đến Vinh. Đầu tàu mang tình hữu nghị Việt-Xô sau nhiều năm vắng bóng, giờ đây lại vang lên tiếng còi rộn rã. Sau ba ngày, tàu vận tải sông biển vào Bến Thủy, sau năm ngày vào cảng Gianh, sau tám ngày vào cửa Nhật Lệ (Quảng Bình). Chiếc cầu phao qua sông Gianh dài 800 mét chỉ ba ngày đã bắc xong, sẵn sàng đón những đoàn xe vận tải vào, ra.

Theo kế hoạch của Trung ương giao, Quảng Bìreh tiếp nhận 120.000 tấn hàng từ đường bộ vào Đồng Hới và từ biển vào cảng Nhật Lệ, rồi từ đó giao tiếp vào đường số 20, đường số 16 và Vĩnh Linh. Nhà nước điều động một số tàu của hải quân và các đoàn thuyền vận tải của các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa chuyển hàng vào Nam3. Đoàn xe tải của Quân khu 4 lấy hàng từ cảng Gianh, Đồng Hới, chuyển thẳng vào A Sầu, A Lưới (Thừa Thiên). Bộ Giao thông vận tải cử đồng chí Thứ trưởng Dương Bạch Liên chỉ đạo thống nhất các lực lượng vận tải của Trung ương và địa phương ở Quảng Bình, Vĩnh Linh. Tỉnh ủy Quảng Bình chia làm hai bộ phận: bộ phận thứ nhất do đồng chí Cổ Kim Thành - Chủ tịch tỉnh, đồng chí Lại Văn Ly - trưởng ty Giao thông vận tải, đồng chí Trần Sự - tỉnh đội trưởng chỉ đạo các lực lượng vận tải của tỉnh tham gia chiến dịch. Bộ phận thứ hai do một đồng chí ủy viên thường trực chỉ đạo sản xuất, huy động xã viên các hợp tác xã bám ruộng đồng, quyết giành vụ đông - xuân 1968 - 1969 thắng lợi.

Trong các tháng 11, 12 năm 1968 và tháng 1 năm 1969, quân, dân Quảng Bình đã tiếp nhận 132.000 tấn hàng, vượt kế hoạch 11 phần trăm.

Nhằm tổng kết kinh nghiệm và cổ vũ phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước, tháng 3 năm 1969, Đại hội thi đua quyết thắng của các lực lượng vũ trang Quân khu 4 họp. Hơn 700 đại biểu về dự4. Đại hội đã đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu để thúc đẩy cao trào hành động cách mạng, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng của các lực lượng vũ trang quân khu trong những năm tới.

Đại hội cử đoàn đại biểu ra Hà Nội báo cáo với Bác Hồ, Quân ủy Trung ương về thành tích và quyết tâm của quân, dân trong quân khu. Bác vui vẻ tiếp đoàn và chăm chú nghe các đồng chí Phạm Doãn Sửu đại biểu đảo Cồn Cỏ, đồng chí Đặng Đình Trương đại biểu tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân, đồng chí Trần Thị Thản, đại biểu đại đội dân quân gái pháo binh xã Ngư Thủy, đồng chí Nguyễn Trung Hùng đại biểu xã Hưng Dũng (Vinh)... báo cáo thành tích. Bác khen ngợi: "Trong thắng lợi hết sức to lớn của quân và dân miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, quân dân quân khu 4 đã góp phần rất quan trọng, lập thành tích to lớn và toàn diện trong chiến đấu, sản xuất, giao thông vận tải, phục vụ tiền tuyến, phòng không nhân dân, bảo vệ trật tự trị an, bảo đảm đời sống. Bác rất vui lòng về tinh thần anh dũng, kiên cường và mưu trí sáng tạo khắc phục khó khăn và tinh thần đoàn kết nhất trí của đồng bào và chiến sĩ Quân khu 4". Bác căn dặn các đơn vị và địa phương trong Quân khu: "... Không được thỏa mãn với thành tích, phải luôn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, tăng cường đoàn kết, đã chiến đấu giỏi phải chiến đấu giỏi hơn nữa, đã sản xuất giỏi phải sản xuất giỏi hơn nữa, đã giành được thắng lợi to lớn phải giành được thắng lợi to lớn hơn nữa. Phải cố gắng hơn nữa về mọi mặt góp phần xứng đáng cùng toàn quân và dân đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược. Quân khu 4 phải làm tốt hơn nữa nhiệm vụ vẻ vang là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn anh hùng"5. Bác tặng mỗi đồng chí trong đoàn một huy hiệu của Bác. Đoàn đến thăm Thường trực Quân ủy Trung ương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trưng ương thân mật đón tiếp đoàn.
_____________________________________________
1. Nghị quyết Quân khu ủy Quân khu 4 ngày 15 tháng 11 năm 1968.
2. Lúc đầu Bộ Giao thông vận tải gọi là Chiến dịch vận tải tranh thủ tụt thang "Chiến dịch VTTTTT" sau gọi "Chiến dịch VT5".
3. Quảng Ninh 10 chiếc thuyền buồm, gắn máy – mỗi chiếc chở 100 tấn. Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa 400 thuyền gỗ nhỏ làm nhiệm vụ chuyển tải.
4. Đồng chí Lê Hiến Mai, đại diện Quân ủy Trung ương, đồng chí Nguyễn Phú Soại – Quyền trưởng đoàn đại diện Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền Bắc, đồng chí Lê Quang Hòa - Chính ủy Quân khu, đồng chí Ngô Thuyền - Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa; đồng chí Võ Thúc Đồng - Bí thư tỉnh ủy Nghệ An; đồng chí Nguyễn Tiến Chương - Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh; đồng chí Trần Đồng - Bí thư Khu ủy khu vực Vĩnh Linh tham dự Đại hội.
5. Trích "Truyền thống lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1954-1975)" Quân khu 4 xuất bản.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2024, 06:53:01 pm

Giữa lúc cuộc chống Mỹ, cứu nước đang trải qua thời kỳ đầy thử thách ác liệt, ngày 2 tháng 9 năm 1969, dân tộc Việt Nam chịu một tổn thất vô cùng to lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cha của lực lượng vũ trang, vị lãnh tụ vĩ đại kính yêu của Đảng ta, nhân dân ta qua đời. Nhân dân và lực lượng vũ trang Khu 4 vô cùng thương tiếc Bác. Biến đau thương thành hành động cách mạng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu phát động phong trào lập công đền ơn Bác. Khắp các đơn vị ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, từ mặt trận bắc Quảng Trị, Trị - Thiên - Huế, đến Trung - Hạ Lào, cán bộ, chiến sĩ quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, ai ai cũng muốn lập công để kính dâng lên Người. Các đơn vị tổ chức những trận đánh với chủ đề "Trận đánh đền ơn Bác", "Trận đánh lập công dâng Đảng, Bác kính yêu". Qua hơn một tháng sôi nổi thi đua lập công, các đơn vị ở mặt trận bắc Quảng Trị (từ ngày 10 tháng 9 đến 15 tháng 10) tiêu diệt hơn 1.200 tên địch, bắn rơi 58 máy bay, bắn chìm 4 tàu vận tải, phá hủy 37 xe quân sự.

Đi đôi với việc động viên các địa phương chi viện lương thực, thực phẩm cho Trị - Thiên. Quân khu chủ trương làm thêm nhiều đoạn đường mới để tiếp nhận nhanh, nhiều hàng từ hậu phương gửi ra tiền tuyến. Đội thanh niên xung phong Cù Chính Lan (Nghệ An) và đội thanh niên xung phong Quyết Thắng (Quảng Bình) làm đoạn đường từ làng Ho đến dốc Khỉ, qua đèo 1001 đến phía bắc sông Xê Băng Hiên (đường số 16). Chỉ sau một thời gian khẩn trương thi công đoạn đường này đã hoàn thành. Thanh Hóa huy động đoàn xe đạp thồ trên 2.000 chiếc do đồng chí Hoàng Văn Hiều - Phó chủ tịch tỉnh phụ trách kịp thời chuyển hàng nghìn tấn hàng vào Trị-Thiên.

Cuối năm 1969, đế quốc Mỹ tập trung đánh phá ác liệt các cửa khẩu, nhất là ở đường số 12, đường số 20 để ngăn chặn sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến. Địch dùng nhiều loại máy bay trinh sát cả ban ngày, ban đêm. Thủ đoạn trinh sát lẻ bị đánh, địch thay đổi bằng cách dùng cả tốp bốn đến sáu chiếc trinh sát có hộ tống để đánh trả nhanh và rút nhanh. Địch ném bom 847 lần vào các khu chân hàng, các đơn vị thanh niên xung phong đang làm đường. Chúng tập trung đánh phá ác liệt (kể cả máy bay B52) khu giáp ranh, vùng Hướng Lập. Chúng còn tung nhiều toán biệt kích, thám báo nắm tình hình, phục kích những đoàn xe vận tải, phá hoại trật tự trị an ở địa phương. Quyết tâm bảo đảm mạch máu giao thông vận tải thông suốt, các đơn vị cao xạ của quân khu: các trung đoàn 280, 282, 284, tiểu đoàn 15, 16... được tăng cường thêm các đơn vị phòng không của Bộ, của Đoàn 559 đã đánh mạnh, áp chế địch bảo đảm cho các đoàn xe vượt qua cửa khẩu an toàn, đạt chỉ tiêu vận chuyển kịp thời cho tiền tuyến. Trung đoàn 222B tiểu đoàn 12 cao xạ tỉnh Nghệ An chiến đấu suốt mùa mua ở phía tây đường số 7, bắn rơi tám máy bay phản lực Mỹ cùng với các đơn vị bạn Lào hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ giao thông vận tải tuyến miền tây.

Toàn quân khu đã tu sửa hầm hào cũ và làm thêm được 7.345 hố cá nhân, 862 hầm tập thể, 532 hầm công cộng, 418.113 mét giao thông hào. Chính quyền các địa phương tổ chức sơ tán dân ở các thành phố, thị xã, thị trấn: Vinh, Hà Tĩnh, Đức Thọ... Vĩnh Linh là nơi tiếp giáp với chiến trường nên các cụ già, trẻ em tiếp tục sơ tán ra Hà Tĩnh, được đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương nơi đến tiếp đón chu đáo, giúp đỡ hàng vạn ngày công, hàng vạn tấm tranh, hàng nghìn cây tre, gỗ để làm nhà. Nhân dân các xã Kim Lộc, Trung Lộc, Hậu Lộc (Can Lộc); Thạch Lâm, Thạch Hương, Thạch Điền (Thạch Hà) làm trên 500 ngôi nhà ở trị giá gần 200.000 đồng ủng hộ đồng bào sơ tán. Các ngành ngân hàng, thủy sản đầu tư gần 750.000 đồng để giúp đồng bào sơ tán mua chài lưới đánh cá biển.

Năm 1969, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh đã làm tốt công tác giao thông vận chuyển và công tác động viên tuyển quân1. Các địa phương còn thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ, chính sách hậu phương quân đội. Con liệt sĩ, con em thương binh, bệnh binh, quân nhân tại ngũ được chăm lo học hành, trở thành con ngoan, trò giỏi. Nhiều hợp tác xã trong quân khu đã động viên nhân dân làm trên 1.000 ngôi nhà "tình nghĩa" cho gia đình liệt sĩ. Xã Hoằng Quý tỉnh Thanh Hóa nêu gương lá cờ đầu của phong trào toàn dân thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội để toàn tỉnh học tập. Nhờ làm tốt chính sách hậu phương quân đội, hầu hết các gia đình thương binh, liệt sĩ, quân nhân tại ngũ đã giữ vững và phát huy truyền thống vẻ vang, gương mẫu trong lao động sản xuất, học tập và công tác.

Bước sang năm 1970, trong khi đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ từng bước mở rộng chiến tranh xâm lược ra các nước trên bán đảo Đông Dương, hòng cô lập, bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam.

Trước âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù, nhân dân ba nước Đông Dương phát huy truyền thống đoàn kết, tăng cường khối đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung. Miền Bắc Việt Nam không những là hậu phương lớn của miền Nam mà còn là hậu phương của cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Quân khu 4 là tuyến đầu của hậu phương lớn càng có vị trí đặc biệt quan trọng, phải bảo vệ bằng được đường hành lang vận chuyển chiến lược từ đầu nguồn, động viên sức người, sức của cho tiền tuyến, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu đánh bại mọi âm mưu khiêu khích mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Nhằm động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong quân khu, đầu năm 1970, Quân khu ủy họp ra nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ của quân khu là: "Nêu cao tinh thần chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang của quân khu, đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn của địch, đáp ứng đầy đủ nhất, kịp thời nhất mọi yêu cầu của chiến trường, làm tốt nhiệm vụ quốc tế, tích cực tham gia củng cố hậu phương về mọi mặt".

Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, quân khu liên tục mở các đợt sinh hoạt chính trị, quán triệt tình hình nhiệm vụ học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quán triệt Nghị quyết 81 của Trung ương Đảng về công tác vận động thanh niên, công tác xây dựng chi bộ "Bốn tốt"; mở nhiều lớp bồi dưỡng bí thư chi bộ, tiếp tục thực hiện cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh. Đội ngũ đảng viên trong quân khu có số lượng đông, chất lượng tốt.
______________________________________________
1. Nghệ An đã vận chuyển được 847.631 tấn hàng, Hà Tĩnh 213.200 tấn, Quảng Bình 315.928 tấn, Vĩnh Linh 191.573 tấn. Thanh Hóa đã tuyển 7.069 thanh niên vào quân đội, vượt số lượng, đảm bảo chất lượng, Thanh Hóa có trên 300 gia đình có từ 5 con trở lên đi bộ đội. Nghệ An, Hà Tĩnh tuyển 9.613 thanh niên vào quân đội, vượt 5 phần trăm.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2024, 06:55:44 pm

Từ năm 1965 đến cuối năm 1969, quân khu đã phát triển được 21.157 đảng viên, nâng tỷ lệ lãnh đạo từ 18,9 phần trăm (1965) lên 44,9 phần trăm (4-1970). Trong 5 năm số lượng đảng viên bổ sung các chiến trường và cung cấp cho quân khu trên 23.422 đồng chí, gấp hai lần tổng số đảng viên Đảng bộ quân khu năm 1969.

Đảng bộ quân khu đã thực hiện được phương châm đã có chỉ huy là có lãnh đạo, có tổ chức cơ sở là có chi bộ, có hoạt động quần chúng là có đảng viên lãnh đạo. Tỷ lệ lãnh đạo các đơn vị của quân khu ở chiến trường miền Bắc: 40,4 phần trăm, ở chiến trường miền Nam: 41,1 phần trăm, ở chiến trường Lào: 48,75 phần trăm, tỷ lệ đảng viên ở các cơ quan từ trung đoàn trở lên là 62,1 phần trăm.

Nhờ tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị, quân khu đã kịp thời bổ sung cán bộ, đảng viên cho các đơn vị đang hoạt động ở chiến trường đường 9; Trung - Hạ Lào, đảm bảo sức chiến đấu liên tục trong điều kiện chiến đấu vô cùng gian khổ ác liệt1.

Phong trào "luyện hay, đánh giỏi" học tập kinh nghiệm chiến đấu của quân giải phóng Trị - Thiên đánh bại các chiến thuật co cụm, chốt điểm cao của địch, tổ chức hội thao kỹ thuật cao xạ pháo binh, công binh, chỉ đạo các đơn vị diễn tập phương án tác chiến hiệp đồng quân binh chủng được triển khai ở các đơn vị trong toàn quân khu.

Để thực hiện "Mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng là một pháo đài", trong hai ngày 17, 18 tháng 9 năm 1970, Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu đã tổ chức hội nghị liên tịch với các tỉnh trong quân khu bàn về công tác quân sự địa phương. Hội nghị xác định: có làm tốt công tác quân sự địa phương mới tạo được cơ sở vững chắc cho việc phát huy cao độ lực lượng đánh giặc tại chỗ, rộng khắp, hùng mạnh.

Sau hội nghị liên tịch, cấp ủy và chính quyền các địa phương trong quân khu ra sức huy động sức người, sức của, đảm bảo giao thông vận tải thông suốt.

Năm 1970, Vĩnh Linh chuyển được 9.857 tấn, trong đó có một phần ba số lượng hàng phục vụ chiến trường miền Nam. Nghệ An, Hà Tĩnh vận chuyển được 213.261 tấn, Thanh Hóa vận chuyển được 96.500 tấn, trong đó có 32.013 tấn phục vụ chiến trường miền Nam.

Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa chuẩn bị đầy đủ mọi mặt để động viên cho chiến trường từ 12 đến 16 tiểu đoàn và tiếp nhận nuôi dưỡng gần 1.700 thương bệnh binh từ chiến trường gửi ra. Công tác phòng không nhân dân được đẩy mạnh, đặc biệt chú ý các trọng điểm cầu Hàm Rồng, ga Thanh Hóa, phà Ghép... Ở các huyện, hầm hào được tu sửa thêm, các biện pháp phòng tránh liên hoàn được duy trì phù hợp với tình hình chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu. Xã Hải Lĩnh huyện Tĩnh Gia có phong trào toàn dân xây dựng làng, xã chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bảo đảm giao thông vận tải, xây dựng lực lượng vũ trang và đẩy mạnh sản xuất. Chỉ trong ba ngày cuối tháng 8 năm 1970, nhân dân trong xã đóng góp trên 2.000 cây tre, đào đắp thêm 1.000 hầm 5.000 mét giao thông hào để cơ động tác chiến và phòng tránh.



Để tiếp tục ngăn chặn sự chi viện của hậu phướng đối với tiền tuyến đồng thời chuẩn bị cho những bước phiêu lưu quân sự mới, đế quốc Mỹ càng tăng cường đánh phá đường hành lang chiến lược. Tháng 9 năm 1970, Mỹ đã huy động gần 100.000 phi vụ máy bay chiến thuật và gần 1.500 phi vụ B52 tập trung đánh vào những trọng điểm Cổng Trời, đèo Mụ Giạ, thung lũng Seng Phan, có tính chất hủy diệt môi sinh.

Nhằm bảo đảm kế hoạch vận chuyển cho chiến trường đánh to thắng lớn, các đơn vị phòng không của quân khu: trung đoàn 230, trung đoàn 233, tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân phối hợp với trung đoàn tên lửa 270, trung đoàn pháo cao xạ 100 ly của Bộ, tổ chức một đợt chiến đấu dài ngày tiêu diệt máy bay trinh sát có hệ thống trên tuyến hành lang ngã ba Khe Ve, bắn rơi bảy máy bay Mỹ, bảo vệ an toàn các kho tàng và phương tiện vận chuyển. Tiểu đoàn 12 (pháo cao xạ Nghệ An) bảo vệ phía tây đường số 7, bắn rơi hai F105, tiểu đoàn 8 pháo cao xạ Hà Tĩnh bảo vệ phía tây đường số 8, bắn rơi hai F4.

Năm 1970, các lực lượng phòng không chiến đấu trên địa bàn quân khu đã nêu cao tinh thần tích cực, chủ động bắn rơi nhiều loại máy bay địch, bảo vệ được giao thông vận chuyển trong suốt các mùa, bảo vệ các chân hàng, kho tàng, góp phần quan trọng tăng cường lực lượng vật chất kỹ thuật cho các chiến trường và hoàn chỉnh tổ chức phòng thủ của quân khu. Các đơn vị dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh cùng với các đơn vị thanh niên xung phong các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình... đã hoàn chỉnh nhiều trục đường vượt khâu chủ yếu, thiết lập được tuyến đường ống nhiên liệu cho chiến trường. Các đoàn xe vận tải của Bộ, của quân khu (tiểu đoàn 32, các binh trạm 1, 5...) nêu cao tinh thần "sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm” đã chuyển một khối lượng lớn hàng hóa vào chiến trường miền Nam2.

Chiến sĩ lái xe Đoàn Minh Nguyệt, đại đội 3, binh trạm 1 thực hiện khẩu hiệu "tăng từng tấn, lấn từng chuyến". Từ tháng 1 năm 1965 đến tháng 6 năm 1969, trên các tuyến đường ác liệt: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh, Trung - Hạ Lào, Nguyệt đã lái 95.000 ki-lô-mét an toàn, với 82.500 tấn ki-lô-mét, trung bình 141 ki-lô-mét mỗi đêm. Có thời gian thức suốt 100 đêm chạy liên tục. Có lần qua phà bom nổ hất ngã xuống sông, bị nhiều thương tích, Nguyệt vẫn kiên quyết cứu hàng cứu xe. Có khi phụ trách một đội xe bốn chiếc chở lương thực, thực phẩm ra tiền tuyến, giữa đường thiếu gạo, đói, khát, anh đã vận động đồng đội: đói thì vào rừng đào củ mài, chứ không nên động đến hàng hóa của tiền tuyến. Với thành tích phục vụ chiến đấu, Đoàn Minh Nguyệt đã được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, ngày 16 tháng 2 năm 1970.

Chiến sĩ lái xe Nguyễn Văn Diên, bị thương vẫn cùng đồng đội lăn xả vào trọng điểm địch đánh phá để cứu xe, cứu hàng. Sau khi cùng đồng đội dập tắt đám cháy, Diên nhanh chóng đưa xe mình vượt trọng điểm, nhưng một quả bom nữa lại nổ, mảnh bom găm trúng ngực, anh gục xuống trên tay lái của chiếc xe mang biển số BA 38-24.
______________________________________________
1. Trong 17 tháng. (7-1968 đến 1-1970) trung đoàn 27 chiến đấu ở đường 9 - bắc Quảng Trị, mỗi đại đội phải thay đổi sáu lần chính trị viên và tám lần đại đội trưởng. Nhiều đại đội bộ binh, sau một trận chiến đấu ác liệt với bộ binh cơ giới Mỹ phải bổ sung toàn bộ cán bộ sơ cấp.
2. Năm 1970 kế hoạch trên giao 338.800 tấn, tuyến vận tải chiến lược hậu phương bao gồm các lực lượng của Bộ, của quân khu... đã thực hiện 35.095 tấn đạt 107,5 phần trăm kế hoạch.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2024, 06:57:52 pm

Bị thất bại liên tiếp trên chiến trường ba nước Đông Dương, không thực hiện được ý đồ bắt "Việt cộng" phải quay về đánh du kích ở chiến trường miền Nam Việt Nam, Mỹ cho rằng ngăn chặn được từ đầu con đường chiến lược Trường Sơn, nhất là ở đoạn đường số 9 - Nam Lào, cách mạng miền Nam sẽ "tàn lụi" dần, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" sẽ thành công.

Tháng 10 năm 1970, địch đã có những hành động nghi binh, chúng tung tin sẽ mở cuộc tiến công ra bắc vĩ tuyến 17, đồng thời đưa quân Mỹ ra Quảng Trị...

Về phía ta, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nắm được ý đồ và dự đoán đúng về khả năng địch có thể mở cuộc tiến công quy mô lớn trong mùa khô 1970 - 1971 ra vùng Trung - Hạ Lào và đông bắc Cam-pu-chia. Ta đã tích cực chuẩn bị sẵn sàng thế trận, quyết tâm đánh bại quân địch, làm chuyển biến cục diện chiến trường theo hướng có lợi.

Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Quân khu 4 phải chuẩn bị cả hai phương án:

- Đánh địch tiến công hạn chế ra phía nam quân khu, bảo vệ đường hành lang chiến lược, bảo vệ giao thông vận chuyển chi viện chiến trường.

- Tham gia đánh địch nếu chúng đánh ra đường số 9 - Nam Lào.

Chấp hành chỉ thị Quân ủy Trung ương, ngày 14 tháng 12 năm 1970, quân khu ủy họp, đề ra nhiệm vụ của quân và dân trong quân khu: "Kiên quyết đập tan cuộc tiến công bằng bộ binh của địch ra quân khu, bất kỳ địch đánh phá bằng hình thức nào, thời gian nào với quy mô và lực lượng như thế nào. Tập trung sức người, sức của chi viện đắc lực cho chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của Mỹ và tay sai".

Sau hội nghị Quân khu ủy, quân khu bước vào chuẩn bị cho chiến dịch. Khắp các địa phương, đơn vị dấy lên phong trào "toàn dân đánh giặc", "toàn dân bàn việc nước". Các cụ phụ lão họp bàn hiến kế đánh Mỹ, giữ làng, làm sống lại không khí Diên Hồng" đời Trần thuở trước. Nam nữ thanh niên hăng hái xung phong làm nghĩa vụ quân sự, đi dân công hỏa tuyến1. Phụ nữ phát huy vai trò "Ba đảm đang" động viên chồng, con, em tòng quân. Trong ba thứ quân rộ lên phong trào đăng ký "Dũng sĩ diệt Mỹ", "Dũng sĩ diệt ngụy", “Dũng sĩ bắn tỉa"... Ngày đêm, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ hăng say rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật, diễn tập theo phương án tác chiến, xây dựng làng xã chiến đấu, cụm chiến đấu liên hoàn. Các đơn vị bộ đội chủ lực, kể cả của Bộ đóng trên địa bàn quân khu, tổ chức hiệp đồng chiến đấu giữa ba thứ quân. Lực lượng vũ trang quân khu được tăng cường về số lượng và chất lượng. Toàn quân khu có 48.000 bộ đội chủ lực, 94.000 dân quân, tự vệ với 50.000 khẩu súng. Mỗi xã có từ một đến ba trung đội cơ động gồm những chiến sĩ du kích trẻ, khỏe có kinh nghiệm chiến đấu, được trang bị vũ khí đầy đủ. Mỗi xã có một tiểu đội đặc công. Quân khu chủ trương rút 320 cán bộ bộ đội chủ lực tăng cường cho các xã trọng điểm. Địa bàn quân khu được phân chia thành nhiều khu vực tác chiến2. Các khu vực trọng điểm ở phía nam được bố trí lực lượng của ba thứ quân, lấy lực lượng tại chỗ là chủ yếu. Ở các điểm cao như đèo Lý Hòa, rú Bung, đèo Ngang... các phân đội bộ đội địa phương tỉnh, huyện chốt giữ với ý thức thường trực chiến đấu cao "địch vào là biết, địch đến là diệt", "sẵn sàng chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ quê hương". Dân quân tự vệ miền biển phối hợp với các đồn biên phòng duy trì chặt chẽ chế độ tuần tra bờ biển đề phòng quân địch bất ngờ tập kích vào đất liền bảo vệ trật tự an ninh xã hội. Các đơn vị pháo binh của địa phương như đại đội 13 Vĩnh Linh, đại đội gái pháo binh Ngư Thủy, đại đội 9, đại đội 8 (Quảng Bình) được bố trí sát bờ biển, sẵn sàng đánh tàu chiến, ca-nô và xe lội nước của địch trong tầm cự ly có hiệu quả.

Ở các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, công tác chuẩn bị chiến đấu cũng được tiến hành tích cực khẩn trương và sẵn sàng đánh thắng địch trong mọi tình huống.

Việc tích cực chuẩn bị mọi mặt để đánh bại âm mưu địch nếu chúng tiến công ra phía nam của hậu phương quân khu có ý nghĩa rất quan trọng, vừa nâng cao sức mạnh chiến đấu toàn diện của ba thứ quân, bảo vệ vững chắc hậu phương, đường hành lang chiến lược, bảo đảm giao thông vận chuyển thông suốt trong mọi tình huống, vừa tích cực chuẩn bị tham gia và chi viện đắc lực cho chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào.
_____________________________________________
1. Năm 1970, quân khu làm tốt công tác động viên tuyển quân vượt số lượng đảm bảo chất lượng và thời gian. Thanh Hóa tuyển 8.045 thanh niên vào bộ đội. Nghệ An, Hà Tĩnh, 213.261 người nhập ngũ, đạt tỷ lệ 102 phần trăm.
2. Khu vực Lệ Thủy bố trí hai trung đoàn bộ binh (270 và 27), hai trung đoàn cao xạ (218 và 285), trung đoàn 164 pháo binh, một đại đội xe tăng T75, tiểu đoòn 45 bộ đội địa phương Quảng Bình. Khu vực Bắc Gianh - Hoàn Lão, Đồng Hới, bố trí hai trung đoàn bộ binh (64 và 66), tiểu đoàn 7 trung đoàn 271, tiểu đoàn 96 Quảng Bình, hai trung đoàn cao xạ (214 và 241), trung đoàn tên lửa 282, đại đội 48 rú Bung, đại đội 365 Quảng Trạch.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2024, 07:01:22 pm

II. BÁM ĐẤT, BÁM DÂN GIỮ THẾ TIẾN CÔNG, CÙNG BẠN LÀO MỞ RỘNG ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC (1969 - 1970)


Năm 1969 là năm khó khăn khốc liệt nhất của quân và dân Trị - Thiên. Lực lượng địch còn mạnh1. Chúng ra sức bình định đồng bằng, đẩy mạnh hành quân đánh phá rừng núi hòng tiêu diệt và đẩy bộ đội chủ lực ta sang bên kia biên giới Việt - Lào; ngăn chặn đường hành lang vận chuyển nhằm giành thế chủ động chiến lược trên ba vùng, thực hiện một bước âm mưu: "Việt Nam hóa chiến tranh", rút một bộ phận quân Mỹ về nước.

Trị - Thiên là một trong những trọng điểm bình định. Mỹ - ngụy đẩy mạnh việc đánh phá tiêu diệt hạ tầng cơ sở của cách mạng. Địch cho quân các tiểu khu, chi khu mở cuộc hành quân bắt dân tập trung để thanh lọc, phân loại, truy bức quần chúng, phát hiện du kích nằm vùng. Cuối năm 1968, địch dồn dân vào 24 khu tập trung; nhưng đến đầu năm 1969, chúng chủ trương cho dân về làng vì địch đang muốn tạo bộ mặt mới ở nông thôn miền Nam. Thực chất âm mưu này là chúng đưa dân về tập trung thành ấp nhỏ quanh quận lỵ, thị xã, lập hàng rào và tổ chức canh phòng chặt chẽ, làm lá chắn ngăn chặn ta tiến công vào các cơ quan đầu não của chúng ở địa phương. Có nơi, chúng phát dây kẽm gai cho từng nhà để rào quanh vườn tạo nên những khu vực che chắn phức tạp quanh các căn cứ, gây khó khăn cho ta khi vào liên lạc móc nối cơ sở. Địch khống chế được quần chúng, thu hút được nhân lực, vật lực, thiết lập được bộ máy kìm kẹp ở hầu hết thôn xã.

Đi đôi với công tác bình định, liên tiếp mở các cuộc hành quân lên miền núi, địch đưa bộ binh Mỹ đóng chốt các điểm cao, đánh phá đường hành lang chiến lược hết sức ác liệt để ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Do địch ném bom, bắn pháo, rải chất độc hóa học, cộng với thiên tai mùa màng bị mất, nên nạn đói hoành hành nghiêm trọng. Đời sống của nhân dân vùng giáp ranh và miền núi lúc này gặp nhiều khó khăn. 6.000 dân miền núi phải sống dựa vào rau rừng, củ rừng là chính. Bộ đội ở phía trước chỉ được ăn từ hai đến ba lạng gạo mỗi ngày, bộ đội phía sau và cán bộ cơ quan ăn từ một lạng rưỡi đến hai lạng.

Trước âm mưu thủ đoạn vô cùng dã man, tàn bạo của địch, đầu năm 1969, Quân khu Trị - Thiên đề ra nhiều biện pháp kiên quyết khắc phục khó khăn về hậu cần, xây dựng lại thế trận ở rừng núi, đánh bại các cuộc hành quân của địch, trực tiếp hỗ trợ cho phong trào đấu tranh ở đồng bằng. Từ ngày 21 tháng 1 đến 8 tháng 2 năm 1969, Mỹ - ngụy hành quân lên vùng rừng núi Cô Ca Va giáp giới phía tây hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên nhằm "trục" lực lượng ta ra xa, phá kho tàng, phá đường hành lang vận chuyển. Quân địch đã huy động một lực lượng lớn gồm 12 tiểu đoàn (có sáu tiểu đoàn Mỹ), hướng hành quân chính là Cô Ca Va.

Trung đoàn 6 tiểu đoàn 3 đặc công phối hợp với lực lượng binh trạm và du kích miền tây Trị - Thiên đánh địch quyết liệt, tiêu diệt 2.863 tên, bắn rơi 14 máy bay, gây thiệt hại nặng trung đoàn 9 thủy quân lục chiến Mỹ, buộc địch phải bỏ Cô Ca Va. Cuộc hành quân của địch bị thất bại.

Chiến thắng Cô Ca Va mở đầu cho những trận chiến đấu của năm 1969, động viên cổ vũ quân và dân Trị - Thiên, Huế nỗ lực vươn lên tiêu diệt địch, đồng thời làm cho quân địch phải chùn bước trong âm mưu đánh phá miền núi của ta.

Ở mặt trận Đường số 9, ngày 10 tháng 2 năm 1969, Đảng ủy mặt trận họp xác định: "Hiện nay cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn tiếp tục trong cục diện mới "vừa đánh vừa đàm", Đường số 9 phải có phương thức hoạt động mới cho phù hợp, phải đánh những đòn đau, hiểm, đánh thường xuyên, liên tục để làm thất bại âm mưu ngăn chặn chia rẽ Bắc - Nam, nhưng không rầm rộ, không ồn ào trong khi Mỹ đang tăng cường khả năng cho quân ngụy để rút các đơn vị quân chiến đấu Mỹ về nước".

Quân và dân mặt trận Đường số 9 tiến công toàn diện cả quân sự, chính trị, binh vận, mở đợt hoạt động mùa xuân từ ngày 10 tháng 2 đến ngày 20 tháng 3, tiêu diệt 164 tên địch, bắt 12 tên, phá hủy 210 xe. Ngày 2 tháng 2, sư đoàn 324 thọc sâu vào Tân Lâm rồi chuyển sang đánh động Tiên, An Thái Thượng, điểm cao 300. Địch tăng cường phòng ngự cho những đơn vị xe tăng nống ra chống đỡ. Ngày 18 tháng 3, đại đội 1 tiểu đoàn 11 trung đoàn 2 diệt gọn một đại đội bộ binh cơ giới Mỹ và tám xe tăng tại Đá Bạc. Chiến sĩ Dương Bắc với ba quả đạn B40 diệt ba xe tăng. Ngày 18 tháng 4 năm 1969, đại đội 1 tiểu đoàn 4 trung đoàn 95D tập kích Hồ Khê, diệt 80 tên địch. Trong trận vận động tiến công kết hợp chốt ở điểm cao 353 từ ngày 10 tháng 5 đến ngày 20 tháng 5, tiểu đoàn 6 trung đoàn 95D và đại đội trinh sát của trung đoàn 101D đánh thiệt hại nặng cả bốn đại đội ngụy và một tiểu đoàn Mỹ, bắn rơi 13 máy bay2.

Phối hợp với đòn tiến công quân sự, nhân dân hai huyện Gio Linh, Cam Lộ nổi dậy phá kìm giành quyền làm chủ, đẩy mạnh chiến tranh du kích, diệt 700 tên, bắn cháy năm máy bay, bốn tàu chiến, phá hủy 47 xe quân sự. ngày 19 tháng 5, bộ đội địa phương và dân quân, du kích tiến đánh Tân Lâm, Cồn Tiên, Dốc Miếu diệt gần một trăm tên địch. Ngày 20 tháng 3, du kích Cửa Việt đánh vị trí bắc Cửa Việt, diệt 80 tên ác ôn.

Tuy bị thất bại nặng nề ở Cô Ca Va và đường số 9, nhưng còn khá đông quân, nên từ ngày 17 tháng 3 đến 31 tháng 4, địch lại huy động năm tiểu đoàn mở cuộc hành quân lên vùng Tam Tanh, A Giới (tây nam Quảng Trị). Trung đoàn 2 sư đoàn 324 tiến công cánh quân gồm hai tiểu đoàn Mỹ từ Tam Tanh đến Ka Mai. Đoàn 7 bộ đội địa phương Quảng Trị, đại đội du kích Hướng Hóa tiến công quân ngụy và một tiểu đoàn Mỹ trên hướng A Giới, cả hai cánh quân đều bị thiệt hại, buộc địch phải bỏ dở cuộc hành quân.
______________________________________________
1. Đầu năm 1969, ở Trị - Thiên, quân Mỹ có bảy tiểu đoàn của sư đoàn 3 thủy quân lục chiến, bốn tiểu đoàn của sư đoàn 1 dù, ba tiểu đoàn của sư đoàn 101, lữ đoàn 1 sư đoàn 5 bộ binh cơ giới. Quân ngụy ở đây có 16 tiểu đoàn bộ binh, 34 đại đội bảo an, 126 trung đội dân vệ, 8 đại đội cảnh sát.
2. Sau khi sư đoàn 325C bổ sung cho Tây Nguyên, tháng 3 năm 1969 sư đoàn 325D được thành lập, trung đoàn 95 sư đoàn 325D phối thuộc chiến đấu với B5, trung đoàn 18D làm đường tây Trường Sơn, trung đoàn 101D ở lại Quảng Bình làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2024, 07:03:13 pm

Sau thắng lợi ở Cô Ca Va và nhiều nơi khác, bộ đội địa phương, dân quân, du kích và cán bộ ta đã trở lại bám vùng giáp ranh. Tình hình miền núi bước đầu đã có chuyển biến. Tuy vậy, ta cũng còn gặp rất nhiều khó khăn về hậu cần, tổ chức chiến trường. Chủ quan trong việc đánh giá khả năng của ta, địch cho rằng "Việt Cộng không đủ sức tiến công cấp trung đoàn mà chỉ dừng lại hoạt động ở biên giới Việt - Lào". Lợi dụng khó khăn của ta, từ ngày 10 đến 20 tháng 5 năm 1969, Mỹ - ngụy lại mở tiếp cuộc hành quân ra vùng thung lũng A Lưới, A Bia, cách Huế khoảng 50 ki-lô-mét về phía tây - nam. Địch tập trung lực lượng gồm 13 tiểu đoàn (tám tiểu đoàn Mỹ, năm tiểu đoạn ngụy) nhằm đẩy cơ quan chỉ huy và bộ đội ta ra sát biên giới Việt - Lào, phá đường hành lang vận chuyển. Trung đoàn 3 sư đoàn 324, trung đoàn 6 và du kích Thừa Thiên liên tục tiến công, thực hiện đánh tiêu hao, đồng thời bố trí sẵn trận địa tiêu diệt địch ở khu vực A Bia, đập tan cuộc hành quân của địch, chặn đứng cuộc tiến công của lữ đoàn 3 dù, tiêu diệt 1.500 tên, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Tướng hai sao Mô-đi-xơn, tư lệnh lữ đoàn 3 sư đoàn dù 101 bị thương nặng. Chiến thắng A Bia làm chấn động dư luận quốc hội Mỹ. Thắng lợi A Bia không những có ý nghĩa về quân sự mà còn tác động, làm phân hóa dao động nội bộ địch và thúc đẩy nhân dân đồng bằng đánh phá bình định của địch.

Phối hợp với các cuộc hành quân lên miền núi, địch càn quét khốc liệt vùng đồng bằng, nhất là ở các vùng đông dân, trù phú như: Triệu Phong, Hải Lăng (Quảng Trị), Phong Điền, Quảng Điền (Thừa Thiên). Do địch đánh phá rất ác liệt, cơ sở cách mạng ở những nơi này bị tổn thất nặng. Chỉ riêng thôn Thượng Xá, xã Hải Thượng (Hải Lăng), địch dùng một đại đội Mỹ, hai đại đội ngụy, một đại đội cảnh sát càn quét 28 ngày liền. Hàng trăm người bị giết, bị bắt, bị tra tấn rất dã man, trong đó có 11 người bị tra tấn đến chết. Mặc dù vậy, dân quân, du kích, nhân dân vẫn kiên cường bám trụ, tổ chức hàng nghìn cuộc đấu tranh chống địch cào nhà, cày ủi ruộng vườn, rào làng, dồn dân; chống bắt lính, chống lập phòng vệ dân sự.

Tháng 3 năm 1969, địch đem xe cày ủi các cồn đống để tìm hầm bí mật, bắt cán bộ, đảng viên, du kích; phá hoại các lăng mộ, miếu thờ quanh vùng Phú Vang, Mỹ Đức, Quảng Thái. Nhân dân đã dũng cảm chặn địch, che chở cho một số cán bộ đang nằm hầm bí mật ở khu vực địch đang cày ủi. Sau bốn giờ giằng co, địch phải từ bỏ hành động nói trên. Các mẹ, các chị không quản gian khổ, hy sinh bám trụ giữ làng, đào hầm bí mật, nuôi giấu cán bộ. Nhân dân Phò Trạch (Phong Chương) chỉ còn sáu gia đình vẫn đấu tranh kiên quyết không về khu tập trung. Nhân dân Quảng Thái dỡ nhà làm hầm tránh bom đạn địch, quyết không về khu tập trung. Địch khủng bố khốc liệt, huyện ủy Quảng Điền tổ chức ở Quảng Thái hai chi bộ, một chi bộ bám địa bàn để khôi phục lực lượng cách mạng, một chi bộ theo nhân dân vào khu tập trung tiếp tục hoạt động. Các chi bộ Khánh Mỹ, Vĩnh Nguyên, Phong Thu tổ chức hàng trăm chị em nằm chắn trước mũi cày thép, trước những bánh xe xích của Mỹ - ngụy, buộc chúng phải ngừng gây tội ác. Bà Ngô Thị Lễ xã Thủy Thanh đã dẫn đồng chí Lộc, cán bộ thành đội Huế xuống hầm bí mật trốn thoát sau khi đồng chí Lộc đã bắn bị thương hai tên địch.

Bộ đội địa phương huyện phối hợp chặt chẽ với dân quân du kích chống địch càn quét, phá kế hoạch bình định của chúng. Đội 4 biệt động quân Gio Linh, trong hai tháng 5 và 6 năm 1969, đánh tan hai đoàn bình định, diệt trên 100 tên lính bảo an, dân vệ.

Đến tháng 7 năm 1969, ta đã đẩy lùi địch về tuyến giữa, củng cố một bước vùng rừng núi, cổ vũ nhân dân đồng bằng đánh phá bình định của địch. Tuy nhiên địch vẫn phát triển được ngụy quân, củng cố ngụy quyền, rút dần một bộ phận quân Mỹ về nước. So với đầu năm 1969, quân ngụy được tăng thêm 10 tiểu đoàn bộ binh, 59 đại đội bảo an, 199 trung đội dân vệ. Ở Hải Lăng (Quảng Trị), Phú Vang (Thừa Thiên) ta mất thêm 10 xã, khoảng 50 nghìn dân.

Chiến trường Trị - Thiên - Huế trong những ngày này vẫn còn nhiều gian khổ ác liệt, khó khăn chồng chất. Nhằm tạo thêm khó khăn cho quân và dân ta trên chiến trường, địch tăng cường đánh phá tuyến chi viện chiến lược. Chúng cho máy bay B52 ném bom rải thảm và dùng chất độc hóa học đốt trụi nhiều cánh rừng, đồng thời tăng cường các toán biệt kích, thám báo sục sạo khắp nơi. Ban đêm, hễ nghe một tiếng gà gáy, một tiếng chó sủa là biệt kích mò vào để tìm diệt lực lượng cách mạng hoặc gọi các trận địa pháo bắn chỉ điểm cho các loại máy bay đến ném bom. Nhân dân, bộ đội chịu đựng nạn đói chưa từng có từ trước đến nay. Thôn Hương Hữu, huyện Hướng Hóa có 171 người, chết đói hơn 70 người. Bộ đội cũng thiếu cơm, thiếu muối, bệnh tật tăng, sức chiến đấu bị giảm sút nghiêm trọng.

Ở tuyến giáp ranh, địch phục kích bộ đội đi lấy gạo. Gùi được một tấn gạo, ta phải hy sinh từ sáu tới bảy người. Tiêu chuẩn ăn của bộ đội mỗi ngày một lạng rưỡi, nhưng vẫn dành một phần cứu đói cho dân.

Trước những khó khăn gay gắt về hậu cần, cộng với sự đánh phá ác liệt của địch, có cán bộ, chiến sĩ dao động, ngại gian khổ, ác liệt, hy sinh, ở một số đơn vị, do cán bộ quản lý bộ đội lỏng lẻo, hiện tượng vi phạm kỷ luật diễn ra nghiêm trọng.

Đầu tháng 9 năm 1969, Khu ủy, Quân khu ủy Trị - Thiên có những nghị quyết củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang, giữ vững và phát huy truyền thống quân đội. Cục Chính trị quân khu tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị quán triệt tình hình nhiệm vụ, mở cuộc vận động chính trị: “Học tập đạo đức của Bác, biến đau thương thành hành động cách mạng”. Các đơn vị mở hội nghị chuyên đề nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh, công tác bảo đảm hậu cần, sản xuất tự túc, và tổ chức các đợt tập huấn quân sự rút kinh nghiệm chiến đấu ở Cô Ca Va, A Bia, chiến thuật đánh địch ở điểm cao, kinh nghiệm đánh phá các thủ đoạn bình định của các đơn vị điển hình. Qua sinh hoạt chính trị, các đơn vị đã khắc phục dần những hạn chế. Cán bộ, chiến sĩ quán triệt tốt nhiệm vụ, tích cực hỗ trợ cho lực lượng bán vũ trang. Cuối năm 1969, ở đồng bằng Trị - Thiên ta có trên 500 đảng viên và hàng nghìn du kích; ở giáp ranh có trên 900 cán bộ và du kích vẫn kiên cường bám đất, bám dân, đánh địch giữ thế.

Ở thành phố và thị xã, phong trào đấu tranh chính trị khá sôi nổi. Ở thành phố Huế, nhân dân và sinh viên đấu tranh chống tăng thuế, chống bắt lính, đòi quyền tự do dân chủ. Đặc biệt là phong trào đấu tranh quyết liệt của sinh viên, học sinh đòi bãi bỏ "quân sự hóa học đường", đòi hòa bình, chấm dứt chiến tranh; đòi Mỹ cút khỏi miền Nam. Tinh thần cách mạng, tình cảm thiêng liêng của mọi tầng lớp nhân dân đối với Đảng và Bác Hồ được thể hiện sâu đậm trong những ngày cả nước để tang Người. Cả tuần lễ, chợ Đông Ba vắng người, cửa hàng đóng cửa, trường học vắng bóng học sinh. Sinh viên dùng quai nón bằng màu đen, chùa chiền tổ chức cầu siêu… Ở thị xã Quảng Trị, công sở nghỉ việc, nhân dân công khai lập bàn thờ Bác.

Như vậy, mặc dù địch cố đẩy ta vào khó khăn, nhưng ta đã đưa lực lượng về bám trụ, đánh bại các cuộc hành quân của địch lên miền núi, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng1, từng bước khôi phục thế làm chủ ở miền núi, hỗ trợ cho phong trào chống phá bình định ở đồng bằng. Cán bộ chính trị, dân quân, du kích, lực lượng an ninh kiên cường bám đất, bám dân đấu tranh chống mọi âm mưu thủ đoạn bình định khốc liệt của địch, tích cực xây dựng cơ sở, đánh vào bộ máy kìm kẹp của địch, tiêu diệt nhiều tên ác ôn.
_______________________________________________
1. Năm 1969, mặt trận bắc Quảng Trị diệt 23.000 tên địch, bắn cháy 360 máy bay, phá hủy 800 xe quân sự, 300 xe tăng và xe bọc thép, phá 62 xuồng. Quân khu Trị - Thiên diệt gần 1.500 tên, bắn rơi và phá hủy 176 máy bay, 370 xe quân sự các loại.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2024, 07:05:00 pm

Đầu năm 1970, sau nhiều trận bị đánh đau ở rừng núi địch lui về củng cố tuyến giáp ranh, đồng thời bình định đồng bằng một cách khốc liệt, biến đồng bằng, thành phố thành hậu phương an toàn của chúng, đồng thời tăng cường đánh phá hành lang chiến lược, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc. Sau khi sư đoàn 3 thủy quân lục chiến Mỹ rút khỏi đường số 9, địch xây dựng sư đoàn 1 bộ binh thành sư đoàn mạnh, có phương tiện cơ động như một sư đoàn của Mỹ và xây dựng trung đoàn 3 thành lữ đoàn phòng vệ giới tuyến. Địch cố gắng bắt lính, dồn quân, tăng cường xây dựng và cải tiến trang bị cho quân ngụy.

Tháng 1 năm 1970, Trung ương Đảng họp lần thứ 18, đánh giá tình hình năm 1969, để ra nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là: "Kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và kinh tế kết hợp với tiến công ngoại giao... đánh bại âm mưu của chúng xuống thang từng bước kéo dài chiến tranh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi quyết định…”

Chấp hành Nghị quyết của Trung ương Đảng, ngày 18 tháng 3 năm 1970, Quân khu ủy Trị - Thiên họp đề ra nhiệm vụ: đánh bại "Việt Nam hóa chiến tranh" trên đất Trị - Thiên, phải tạo ra thế và lực mới đánh đòn tổng hợp táo bạo, tạo bước chuyển biến lớn. Quân khu ủy nhấn mạnh: "bình định là chính sách quan trọng bậc nhất, là xương sống của "Việt Nam hóa chiến tranh", đánh bình định là nhiệm vụ trung tâm cấp bách của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân hiện nay".

Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu đã đề ra những chủ trương lớn năm 1970 là: chủ động đánh bại các cuộc hành quân lên miền núi và hành lang chiến lược, đánh bại các chiến thuật chốt điểm cao, nhảy cóc, trực thăng vận, phục kích giáp ranh; đẩy mạnh đánh phá kế hoạch bình định của địch; củng cố bộ đội chủ lực, tăng cường lực lượng huyện và du kích xã, phát động phong trào bắn máy bay trực thăng và phong trào sản xuất.

Thực hiện chủ trương trên, toàn quân khu đã tiến hành ba đợt hoạt động chính:

Đợt mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1970, đánh địch ở Tà Lương, động Tranh, đánh nhỏ ở giáp ranh và đường số 12.

Đợt mùa hè từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1970, trung đoàn 1 sư đoàn 324 và một bộ phận của trung đoàn 6 hình thành khu vực chiến đấu ở tuyến giữa (các điểm cao 935, 550, Dốc Mây, Tam Tanh), bao vây đánh lấn và đánh quân giải tỏa của địch ở điểm cao 935 và 550, đánh thiệt hại hai tiểu đoàn dù Mỹ, diệt một đại đội bộ binh và một cụm pháo binh Mỹ ở điểm cao 550, bắn rơi nhiều trực thăng ở Quảng Trị. Sư đoàn 304 chiến thắng giòn giã với các trận diệt trại biệt kích Mai Lộc, Cùa, Cô Tiên, động Ché1. Các đoàn ở đồng bằng đã cùng lực lượng dân quân, du kích và lực lượng chính trị tích cực đánh phá kế hoạch bình định của địch. Đoàn 7 (Quảng Trị) đánh địch ở Chiêm Dòng, tập kích Tân Điền, tiêu diệt quận lỵ Mai Lĩnh. Đoàn 6 (Phong Quảng) đánh địch ở khu vực Cóc Muôn, Ca Cúi, A Tầm diệt nhiều địch và kết hợp với du kích địa phương thọc sâu, đánh bình định. Đoàn 5 (thành đội Huế) đánh Tân Ba và La Sơn. Đoàn 4 đánh địch ở An Bằng, Hòa Miên (Phú Lộc) diệt căn cứ Hói Mít, phá hai ấp chiến lược.

Đợt hè-thu từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1970, trong lúc Mỹ - ngụy đang bị sa lầy ở Cam-pu-chia, các lực lượng vũ trang Trị - Thiên, bắc Quảng Trị tranh thủ tiêu diệt địch, đồng thời chấp hành lệnh của Bộ Tổng tư lệnh mở hai chiến dịch tiến công và sẵn sàng đánh địch khi chúng đánh phá đường hành lang chiến lược. Sư đoàn 324 chịu trách nhiệm ở khu vực cao điểm 935. Sư đoàn 304 ở khu vực nam Ba Lòng, kết hợp với đẩy mạnh hoạt động ở giáp ranh và đồng bằng, thành phố, tạo một đợt tiến công quy mô trên cả ba vùng.

Từ ngày 1 đến 23 tháng 7, sư đoàn 324 và trung đoàn 6 dùng chiến thuật vây ép điểm, đánh quân giải tỏa cứ điểm 935 ở tây Thừa Thiên do hai tiểu đoàn dù của sư đoàn 101 Mỹ đóng giữ. Sau 32 ngày đêm chiến đấu, sư đoàn 324 đã chiến thắng oanh liệt ở điểm cao 935, loại khỏi vòng chiến đấu 1.700 tên địch, đánh quỵ lữ đoàn 3 sư đoàn dù 101 Mỹ.

Để giành giật lại địa bàn này, ngày 30 tháng 7 năm 1970, lữ đoàn dù 3 Mỹ lại đưa tiểu đoàn 1 trung đoàn 506 xuống động Ngãi, Cô Pung, mở cuộc hành quân thăm dò, nhưng bị ta đánh trả mãnh liệt. Sau khi đánh bại địch ở điểm cao 935, sư đoàn 324 bố trí lực lượng sẵn sàng đánh địch "nhảy cóc” vào phía nam. Tại điểm cao Cô Pung, khẩu đội 1 của đại đội 3 súng máy 12,7 ly do Đăng Thọ Truật chỉ huy, với 135 viên đạn bắn rơi 10 máy bay lên thẳng Mỹ, sau đó dùng súng máy bộ binh đẩy lùi các mũi tiến quân của Mỹ, tiêu diệt nhiều địch.

Bộ Tổng tư lệnh nhiệt liệt khen ngợi cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 324 đã không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu giành những thắng lợi mới và chỉ thị cho sư đoàn tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm: vây điểm dài thời gian, diệt viện, tiến tới diệt điểm bằng nhiều hình thức chiến thuật ở điểm cao 935. Đây là phương thức tác chiến thích hợp để phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở Trị - Thiên, đánh bại chiến thuật "chốt điểm cao" của địch.

Sau khi tiêu diệt cứ điểm 935, sư đoàn 324 bao vây đánh lấn cứ điểm Cốc Bai. Sư đoàn 304 đánh Đá Bàn (tây Quảng Trị). Tháng 10 năm 1970, địch phải rút hai cứ điểm trên. Tuyến ngăn chặn giữa của Mỹ - ngụy bị phá vỡ và từ đó miền núi của Trị - Thiên đã hoàn toàn giải phóng.

Trong thời gian này, Quân khu Trị - Thiên đã rút 1.500 cán bộ, bộ đội chủ lực khu, tỉnh bổ sung cho các huyện, xã ở Quảng Trị và Thừa Thiên (Thừa Thiên 800 đồng chí, Quảng Trị 700 đồng chí). Các lực lượng vũ trang quân khu đã cùng với nhân dân làm thất bại kế hoạch bình định của địch ở giáp ranh và đồng bằng Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Lộc, thọc sâu xuống đánh địch và xây dựng cơ sở ở Phong An, Phong Sơn, Phong Thu, Quảng Đại, Quảng Thái, Hương Thanh, Phú Hồ... Ở nhiều xã, ta đã tổ chức ban tề "hai mặt". Đồng chí Vương Văn Tế ở xã Phú Hồ vừa là ấp trưởng của địch, vừa là bí thư chi bộ của ta. Một số đồng chí cốt cán khác được lồng vào hoạt động ở các tổ chức xã hội khác nhau như hội Phật tử, hội trị sự chùa.
_____________________________________________
1. Bộ tăng cường sư đoàn 304 cho Quân khu Trị - Thiên để rút lực lượng địa phương ra làm đường.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2024, 07:08:32 pm

Chiến tranh du kích phát triển ở nhiều nơi. Du kích Thủy Phương phối hợp với lực lượng của thành đội Huế đánh vào đồn bốt địch ở đầu cầu Tràng Tiền. Ngày 20 tháng 8, tự vệ cùng đội biệt động thành phố Huế diệt một nữ mật vụ và một tình báo Mỹ tại Tây Lộc. Đêm 14 tháng 9, bộ đội địa phương phối hợp với dân quân, du kích huyện Phong Điền, tiến công quận lỵ diệt một đại đội bảo an, hai trung đội dân vệ, 50 tên bình định ác ôn, đốt một kho xăng. Bộ đội địa phương huyện phối hợp với dân quân, du kích đánh địch ở các xã vùng giáp ranh Lộc Tiến, Lộc Sơn, Thủy Phương, Hương Hà, Phong Sơn... đẩy lùi địch từng bước, cải thiện thế đứng chân của ta ở vùng giáp ranh; tiến hành thu mua lương thực, thực phẩm để chuyển lên chiến khu. Các xã Phong Thu, Phong An, Phong Sơn mua được 200 tấn gạo, 20 tấn muối, 700 ki-lô-gam bột ngọt, hàng trăm mét vải, hàng nghìn mét ni-lông. Đây là những xã điển hình của phong trào xây dựng địa bàn đứng chân ở vùng giáp ranh, ở thành phố, thị xã, nhân dân đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị. Thành ủy Huế phát động nhân dân thực hiện năm điểm trong phong trào đô thị do Trung ương Cục đề ra với nội dung: đòi hòa bình; chống tệ nạn xã hội và thảm họa chiến tranh; đòi dân sinh, dân chủ; chống văn hóa đồi trụy; chống bắt lính và quân sự hóa học đường.

Ngày 1 tháng 9, đại hội sinh viên toàn miền Nam được tổ chức tại Huế. Đại hội ra nghị quyết đấu tranh đòi hòa bình, đòi Mỹ rút quân, đòi áo cơm, đòi quyền dân tộc tự quyết, đòi bãi bỏ chế độ quân sự hóa học đường. Đại hội quyết định phát động đợt đấu tranh bảy ngày. Trong hai ngày đầu, tại Huế có 10 nghìn người xuống đường, có hàng trăm thương binh, phế binh ngụy tham gia. Khẩu hiệu "Mỹ cút về nước" được viết lên mặt đường. Những người biểu tình đã đốt phá phòng "quân sự hóa học đường'' của Mỹ - ngụy và chống trả quyết liệt với cảnh sát.

Cuối năm 1970, cán bộ chính trị của ta đã đi sâu vào các thôn, xã, xây dựng cơ sở chính trị, tuyên truyền đường lối chủ trương chính sách của Đảng, kết nạp đảng viên, đoàn viên, rút thanh niên ra vùng giải phóng bổ sung cho bộ đội huyện, tỉnh. Ở hai huyện Gio Linh, Cam Lộ (Quảng Trị) các đoàn cán bộ chính trị đã phát triển được 27 cơ sở, kết nạp 88 đảng viên, 38 đoàn viên, rút 100 thanh niên bổ sung cho bộ đội tỉnh và huyện.

Học tập kinh nghiệm của quân, dân miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Quân khu Trị - Thiên phát động phong trào quần chúng bắn máy bay rộng khắp từ miền núi đến đồng bằng. Già, trẻ, gái, trai thi đua bắn rơi máy bay Mỹ. Phong trào thi đua đã đưa lại kết quả tốt, hạ uy thế "không lực Huê Kỳ" góp phần quan trọng đánh bại chiến thuật "trực thăng vận" của Mỹ - ngụy. Đến tháng 12 năm 1970, các lực lượng vũ trang trong quân khu đã bắn rơi, phá hủy gần 800 máy bay các loại, hầu hết là trực thăng. Công tác tổ chức chiến trường có bước phát triển mới. Ta mở tiếp các đường 71, 72... xây dựng vùng giáp ranh, xây dựng miền núi, sản xuất hơn năm triệu gốc sắn ...

Năm 1970, chiến trường Trị - Thiên - Huế giành được thắng lợi quan trọng. Các lực lượng vũ trang quân khu đã tích cực đánh địch ở miền núi và vùng giáp ranh, tích cực hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của đồng bào nông thôn và đô thị giải phóng hoàn toàn miền núi, đẩy lùi kế hoạch bình định của địch, bước đầu tạo thế tiến công ở ba vùng chiến lược.

Tuy nhiên, ở Trị - Thiên phong trào đấu tranh chính trị, quân sự đánh phá bình định, chiến tranh du kích ở đồng bằng vẫn còn yếu, công tác bảo đảm hậu cần còn gặp nhiều khó khăn.


Giữa lúc quân và dân Quân khu 4 phải lo xây dựng, bảo vệ căn cứ hậu phương chiến lược và chi viện cho Trị - Thiên đánh địch, giữ vững thế tiến công, thì đế quốc Mỹ ra sức tăng cường chiến tranh đặc biệt ở Lào, chuẩn bị mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương.

Trước tình hình đó, lực lượng vũ trang Quân khu 4 và bộ đội tình nguyện ở Lào được lệnh phối hợp với bạn Lào quét những nhóm phỉ lâu năm trong vùng giải phóng, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích, bảo vệ hành lang vận chuyển và mở rộng vùng giải phóng1.

Chấp hành mệnh lệnh cấp trên, bộ đội tình nguyện Việt Nam đã hổ trợ để bộ đội Pa-thét Lào, bộ đội địa phương, dân quân du kích bạn đánh địch ở Nậm Bạc, Mường Xủi, diệt quân địch nống ra gần biên giới Việt - Lào, Bản Ban, Noọng Hét; chủ động tiến công địch trong khu đệm giữa Xiêng Khoảng và Bô Ly Khăm Xay củng cố, xây dựng khu giải phóng liên hoàn hai tỉnh.

Tháng 8 năm 1969, các đơn vị bộ binh, cao xạ, đặc công của Quân khu 4, của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã hỗ trợ cho bộ đội Pa-thét Lào, lực lượng trung lập yêu nước và dân quân, du kích Lào đánh tan các cụm phỉ hoạt động lâu năm trong vùng giải phóng của bạn ở Nậm Giàng, Đôn Viêng (ở đường số 8 ), Nậm Xòng, Phà Ngưu, Phù Xủng, Mường Mộc (ở đường số 7); đánh địch quyết liệt trong cuộc hành quân "Cù Kiệt" lấn chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Cùng thời gian này, sư đoàn 968, tiểu đoàn 46 bộ đội địa phương Quảng Bình cùng với quân và dân Lào bẻ gãy cuộc lấn chiếm của địch, giải phóng Mường Phìn.

Tháng 2 năm 1970, quân và dân Lào phối hợp với bộ đội tình nguyện Việt Nam đuổi địch ra khỏi Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, bảo vệ đường hành lang chiến lược, củng cố và mở rộng vùng giải phóng, đập tan cố gắng quân sự của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở Lào, đánh bại âm mưu địch muốn giữ vùng này để làm bàn đạp tiến sâu vào vùng giải phóng uy hiếp Sầm Nưa, căn cứ địa cách mạng của Lào.
______________________________________________
1. Nhiệm vụ do đại diện Quân ủy Trung ương ta và Quân ủy Trung ương bạn thống nhất đề ra ngày 18 tháng 7 năm 1969.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2024, 07:09:17 pm

Tháng 3 năm 1970, Mỹ giật giây bọn phản động Lon-non Xi-ric Ma-tắc làm cuộc đảo chính lật đổ Chính phủ Xi-ha-núc, thiết lập một chính phủ thân Mỹ, nhằm mục đích trước hết đánh phá các cơ sở hậu cần và cắt tiếp tế của ta qua tuyến chi viện 559 và cảng Xi Ha Núc Vin vào miền Nam.

Tình hình diễn biến phức tạp ở Cam-pu-chia, hàng vận chuyển vào Nam Bộ và một phần Tây Nguyên có thể bị cắt đứt thì tuyến hành lang chiến lược Hạ Lào càng trở nên quan trọng.

Nhận rõ tầm quan trọng đó, tranh thủ thời cơ khi quân địch bị đánh bật ra khỏi Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và khi Mỹ - ngụy bị sa lầy ở Cam-pu-chia, ở Hạ Lào, tháng 3 năm 1970, Trung ương quyết định thành lập một trận "X" để cùng với lực lượng vũ trang của bạn giải phóng thị xã A Tô Pơ. Đồng chí Hoàng Kiện - Phó tư lệnh Quân khu 4, được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, đồng chí Trần Quyết Thắng làm Phó chính ủy. Lực lượng tham gia gồm có: sư đoàn 968, trung đoàn 24 của mặt trận B3 do trung đoàn trưởng Nguyễn Quốc Thước chỉ huy, phối hợp với lực lượng vũ trang của bạn ở Hạ Lào. Ngày 25 tháng 4, ta và bạn tiến công vào sào huyệt địch ở A Tô Pơ. Từ A Tô Pơ địch thường tung phỉ và biệt kích đánh phá vùng giải phóng ở ngã ba biên giới. Lực lượng địch ở đây có tiểu đoàn BV43, một đại đội công chức vũ trang, một đội cảnh sát, tổng số gồm 800 tên. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 30 tháng 4, gần 500 tên bị tiêu diệt, số còn lại phải rút khỏi thị xã A Tô Pơ. Ngày 1 tháng 5, thị xã A Tô Pơ và các vùng phụ cận Phu Xa Phay, Phu Lay Keo, Xê Ca Mán được giải phóng.

Phát huy thắng lợi, ngày 19 tháng 5, Quân ủy Trung ương lại quyết định thành lập mặt trận "Z" do đồng chí Hoàng Biền Sơn làm Tư lệnh để phối hợp với các lực lượng vũ trang của bạn giải phóng Xa Ra Van. Bộ đội Lào - Việt đã liên tiếp tiến công, đánh bại nhiều đợt phản kích của địch. Ngày 9 tháng 6, được sự ủng hộ của nhân dân địa phương, sư đoàn 968 phối hợp với bộ đội địa phương và tự vệ thị xã giải phóng Xa Ra Van. Các đơn vị lính ngụy Lào BV41, SGU30 bị tổn thất nặng nể.

Chiến thắng A Tô Pơ, Xa Ra Van có ý nghĩa to lớn về quân sự và chính trị, đánh tan âm mưu của địch nống ra đánh phá vùng giải phóng và hành lang chiến lược của ta, thực hiện được ý định của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương của hai nước: bất kỳ trong tình huống nào cũng giải phóng A Tô Pơ, Sa Ra Van trước khi Mỹ - ngụy rút khỏi Cam-pu-chia.

Chiến đấu xa Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam chịu đựng muôn vàn gian khổ, ác liệt, nhưng với tinh thần quốc tế vô sản cao cả đã nêu cao tinh thần chiến đấu ngoan cường dũng cảm.

Tiểu đoàn 1 Anh hùng1 sư đoàn 968 thường xuyên được sự động viên cổ vũ của Đảng bộ, nhân dân Hà Tĩnh, đã đánh những trận đạt hiệu suất chiến đấu cao ở Bản Phòn, Bản Tửu, Noọng Lầu, tích cực xây dựng cơ sở, được nhân dân Xa Ra Van quý trọng.

Hạ sĩ Động Quốc Phiếu là đảng viên đại đội 1 tiểu đoàn 1, sau khi cùng đơn vị tiêu diệt đồn Bản Thảm, đã xung phong đánh quả bộc phá nặng tám ki-lô-gam phá lô cốt chính đồn Nậm Sắn. Bị thương nặng vào hai mắt, chịu đựng đói khát bảy ngày, anh vẫn luồn rừng, tìm đường và mang đầy đủ vũ khí trở về đơn vị.

Không những anh dũng chiến đấu bảo vệ tính mệnh, tài sản của nhân dân nước bạn, bộ đội tình nguyện Việt Nam còn kính trọng người già, hết lòng thương yêu chăm sóc các em nhỏ, dạy múa, dạy hát, dạy học chữ Lào cho các em.

Nhân dân Lào tích cực giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam, dẫn đường cho bộ đội đánh giặc, tiếp tế lương thực, thực phẩm. Thấy anh em trinh sát của đại đội 1 ở ngoài rừng không có cái ăn, cụ Lạp và nhân dân Bản Phao huyện Lào Ngăm đang phải sống trong trại tập trung đã khôn khéo dùng những quả bầu khô, để gạo xuống dưới, đựng nước ở trên bỏ vào hốc cây cổ thụ tiếp tế cho bộ đội. Cán bộ, chiến sĩ đại đội 2 quân tình nguyện còn nhớ mãi mẹ Binh hết lòng thương yêu bộ đôi. Mẹ động viên dân bản "Đường Mòn" tỉnh Sa Ra Van tiếp tế ba mươi típ xôi cho bộ đội đánh đồn Noọng Pè (tháng 7 năm 1970).

Chiến thắng A Tô Pơ, Sa Ra Van cùng với việc giải phóng vùng đông bắc Cam-pu-chia, và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trong nửa đầu năm 1970, có ý nghĩa chiến lược rất to lớn, hình thành khu vực căn cứ cách mạng rộng lớn, tạo nên thế trận mới vững chắc dựa lưng vào nhau của nhân dân ba nước Đông Dương.
______________________________________________
1. Tiểu đoàn 1 là tiểu đoàn 927 bộ đội địa phương tỉnh Hà Tĩnh thành lập trong kháng chiến chống Pháp.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 08:41:27 pm

III. THAM GIA CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO, KHÔI PHỤC THẾ CHIẾN LƯỢC BA VÙNG (NĂM 1971)

Hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương và cũng để thử thách vai trò quân ngụy trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tháng 2 năm 1971, địch mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719", đánh ra đường số 9 - Nam Lào. Ý đồ của địch là triệt phá kho tàng dự trữ chiến lược của ta ở đây và cắt đứt tuyến chi viện 559, ngăn chặn cuộc tiến công của quân giải phóng miền Nam.

Mỹ - ngụy đã tập trung một lực lượng lớn bao gồm tất cả lực lượng dự bị chiến lược, cùng lực lượng cơ động của quân khu 1. Bộ binh và thiết giáp Mỹ phối hợp tác chiến ở phía nam. Mỹ trực tiếp chi viện hỏa lực pháo binh và không quân. Quân ngụy Lào phối hợp hoạt động ở tây đường số 9 và Mường Noòng. Địch dự tính chỉ trong ngày thứ hai của cuộc hành quân là chiếm được Sê Pôn và sau đó tiến về Xa Va Na Khét, hình thành tuyến ngăn chặn chia cắt Đông Dương.

Để đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của Mỹ - ngụy, ta quyết tâm tập trung lực lượng kiên quyết tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, bảo vệ bằng được tuyến vận tải Trường Sơn. Bộ Chính trị đã chỉ thị cho Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng “Nhất thiết phải đánh thắng trận này, dù có phải động viên sức người, sức của như thế nào” vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược.

Bộ Tổng Tham mưu điều động lực lượng cho chiến dịch gồm Binh đoàn 70, lực lượng vũ trang Mặt trận B5, sư đoàn 2 Quân khu 5, sư đoàn 324 chủ lực Quân khu Trị - Thiên, bốn tiểu đoàn thiết giáp, bốn trung đoàn pháo mặt đất, ba trung đoàn cao xạ, ba trung đoàn công binh, một số tiểu đoàn đặc công của Bộ và lực lượng Đoàn 559.

Là hậu phương trực tiếp của chiến dịch nên bước vào giai đoạn chuẩn bị, nhiệm vụ các lực lượng vũ trang Quân khu 4 rất nặng nề và khẩn trương. Cuối năm 1970, Thường vụ Quân khu ủy họp xác định lại một lần nữa vị trí, nhiệm vụ chính trị của quân khu: tiếp tục làm bốn nhiệm vụ trên ba chiến trường, chi viện Mặt trận Đường số 9 - Nam Lào là nhiệm vụ hàng đầu.

Các đơn vị công binh của quân khu, của các tỉnh đội; các đại đội thanh niên xung phong Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã làm việc suốt ngày đêm để sửa đường, sửa ngầm, sửa cầu, bắc cầu phao, sửa chữa các bến vượt bảo đảm cơ động cho các lực lượng, binh khi kỹ thuật từ hậu phương đến vị trí tập kết đúng thời gian quy định. Đường số 15 dành cho binh khí kỹ thuật hạng nặng cơ động. Trung đoàn công binh 249 cùng với các tiểu đoàn công binh vượt sông 27, 37 bảo đảm các bến vượt Nam Đàn, Đò Trai, Long Đại... Các bến ngầm từ Phú Quý vào Lệ Ninh do đại đội 8 trung đoàn 249 đảm bảo. Lực lượng bộ binh, binh khí kỹ thuật nhẹ cơ động trên các trục đường số 1, 10, 18, 20... Đến ngày 5 tháng 1 năm 1971 trên 200 xe cơ giới các loại, 80 nghìn tấn lương thực, đạn dược, thuốc chiến thương đã được tập kết ở nam Long Đại.

Càng gần đến ngày hành quân ra đường số 9 - Nam Lào địch tung nhiều tốp máy bay các loại tiến hành trinh sát, đánh phá dữ dội các tuyến hành lang vận chuyển.

Nam Quảng Bình, Vĩnh Linh là nơi tập kết lực lượng phương tiện vật chất kỹ thuật, là địa bàn xuất phát tiến công của các binh đoàn chủ lực, các binh chủng. Với tinh thần: "Chiến trường cần gì, hậu phương sẵn sàng đáp ứng", đảng ủy chính quyền địa phương động viên nhân dân bỏ ra hàng trăm nghìn ngày công phục vụ chiến đấu, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chuẩn bị bước vào chiến dịch. Phong trào tòng quân, đi dân công hỏa tuyến rầm rộ sôi nổi khắp các địa phương trong quân khu1. Tiểu đoàn pháo binh 25 (Nghệ An), tiểu đoàn 8 pháo cao xạ (Hà Tĩnh), tiểu đoàn 46 bộ binh (Quảng Bình), đại đội 361 (huyện Lệ Thủy), đại đội 362 (huyện Quảng Ninh) các phân đội súng 12,7 ly của các huyện Thiệu Hóa, Nông Cống, Ngọc Lạc (Thanh Hóa)..., hăng hái xung phong vào chiến đấu ở đường số 9 - bắc Quảng Trị. Với khẩu hiệu: "Đưa nhiều hàng kịp thời phục vụ chiến dịch", đầu tháng 1 năm 1971, các đại đội dân công hỏa tuyến của Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã vận chuyển vào chiến trường hàng vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm.

Ở Quảng Bình, bảy đoàn dân công hỏa tuyến của các huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh, thị xã Đồng Hới, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa và bốn đại đội dân công hỏa tuyến của các cơ quan cấp tỉnh, các trường trung cấp sư phạm, nông nghiệp, trường sỹ quan... chỉ hai ngày sau khi có lệnh đã lên đường với khí thế phấn khởi sôi nổi.

Ngày 30 tháng 1 năm 1971, chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào bắt đầu. Trong lúc các đơn vị chủ lực của Bộ căn cứ vào nhiệm vụ tác chiến cơ động vào vị trí qui định, các lực lượng của B5 được giao nhiệm vụ ngăn chặn bước triển khai lực lượng tiến công của địch. Trung đoàn 27, đơn vị chủ lực của B5 có nhiệm vụ luồn sâu vào đường số 9 để phục kích địch. Ngày 6 tháng 2, đơn vị phục kích quân địch trên đường Bông Kho, bắn cháy chín xe, diệt 90 tên dịch. Những ngày tiếp sau, đơn vị cùng các đơn vị đặc công tập kích vào đội hình lữ đoàn 1, sư đoàn 5 bộ binh cơ giới Mỹ ở các khu vực Kế Sóc, Ba Lào. Ngày 7 tháng 2, đại đội 5 tiểu đoàn 33 đặc công tập kích phá hủy tám ô-tô, diệt trên 30 tên địch.
______________________________________________
1. Cuối năm 1970, toàn quân khu đã tuyển 11.846 tân binh. Thanh Hóa: 8.045 người, nhiều hơn năm 1969: 976 người, Nghệ Tĩnh: 8.175 người.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 08:42:39 pm

Vào đợt 2 chiến dịch (từ ngày 8 tháng 2 đến ngày 11 tháng 3) trong khi ở phía trước các đơn vị chủ lực của Bộ đang tập trung bẻ gãy cánh quân phía bắc với những trận đánh nổi tiếng (trung đoàn 102 sư đoàn 308 diệt gọn tiểu đoàn 39 biệt động quân ở điểm cao 500, trung đoàn 64 sư đoàn 320 vây lấn bắt toàn bộ bọn chỉ huy lữ đoàn 3 dù ở điểm cao 543, trong đó có tên đại tá Nguyễn Văn Thọ, lữ đoàn trưởng); thì ở phía nam, các lực luợng của B5 đánh địch ngày càng dồn dập hơn, bằng những trận pháo kích và tập kích vào các căn cứ hậu cần, các sở chỉ huy của địch ở Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử, Cửa Việt gây cho địch tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Ngày 28 tháng 2 đại đội 2 tiểu đoàn 33 đánh kho Sa Mưu, đốt cháy 240 nghìn lít xăng.

Cùng ngày, tiểu đoàn đặc công của Bộ cùng với đại đội 5 tiểu đoàn 53 đánh kho Ái Tử, đốt cháy 1,5 triệu lít xăng. Tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 trung đoàn 27 cùng với tiểu đoàn 7, tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị đánh quân địch nống ra ngoài ở Ba Lào, Tà Cơn tiêu diệt hàng trăm tên địch. Lực lượng của mặt trận bắc Quảng Trị đánh mạnh vào các đường giao thông, tập kích sân bay, kho tàng, bến cảng buộc địch phải tăng thêm hai lữ đoàn Mỹ và ba tiểu đoàn pháo binh để giải tỏa.

Tại khu vực phía tây, để phối hợp chặt chẽ với cánh quân ngụy Sài Gòn, địch dự kiến điều các đơn vị quân ngụy Lào GM30 tiến ra khu vực Pha Dô Tuya và Mường Noòng; tiếp đó, ngày 29 tháng 2, sẽ phá kho xăng, ngăn chặn tiếp tế và lực lượng cơ động của ta. MG33 tiến xuống Mường Phìn nối với cánh quân ngụy Sài Gòn cùng phối hợp lùng sục phá kho tàng cho đến ngày 1 tháng 3 năm 1971. Nhưng địch không thực hiện được âm mưu nói trên. Sư đoàn 968 phối hợp với các đơn vị bạn Lào lần lượt đánh thiệt hại nặng MG30 ở Pha Dô Tuya và MG33 ở Pha Lan, buộc chúng phải rút về hướng Đồng Hến. Ta giải phóng vùng phía đông cao nguyên Bô Lô Ven, giải phóng Pắc Xoòng, Huội Sai, Tha Teng, đuổi địch chạy về hướng Pac Xan, giải phóng thị xã Pắc Xoòng, mở rộng tuyến hành lang chiến lược, đẩy mạnh truy quét bọn thổ phỉ. Ngày 7 tháng 2, địch điều thêm ba tiểu đoàn: 781, BC101, BC303, tiến công ra Pha Lan. Sư đoàn 968 đã hỗ trợ cho bộ đội, dân quân du kích bạn bẻ gãy đợt tiến công của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 408 tên, bắt 254 tên.

Phối hợp với chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Quân khu Trị - Thiên đang chuẩn bị chiến dịch tiến công ở vùng giáp ranh và đồng bằng theo kế hoạch, thì nhận được lệnh của Bộ điều sư đoàn 324 trực tiếp tham gia chiến dịch phản công. Sư đoàn 324 nhận được chỉ thị của quân khu trong lúc đơn vị đang gấp rút triển khai thế trận chuẩn bị đánh địch ở phía bắc đường 12 (tây bắc Huế), đã nhanh chóng cơ động ra khu vực Mường Noòng. Ngày 16 tháng 2 năm 1971, sư đoàn trưởng Chu Phương Đới thông qua phương án tác chiến với Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu Trị - Thiên và Bộ Tư lệnh chiến dịch, nhằm tiêu diệt trung đoàn 3 sư đoàn 1 ngụy ở điểm cao 619, góp phần tiêu diệt lực lượng địch ở cánh nam, cùng các đơn vị bạn hình thành thế bao vây chiến dịch, không cho địch tiến xuống Sa Đi, Mường Noòng. Ngày 24 tháng 2, sư đoàn bắt đầu tiến công. Trung đoàn 29 tiêu diệt quân địch bên ngoài, trung đoàn 812 vây lấn tiến tới tiêu diệt quân trong căn cứ. Trong hai ngày 27, 28 tháng 2, sư đoàn 324 (thiếu) đã diệt gọn tiểu đoàn 2, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 3 sư đoàn 1 ngụy ở điểm cao 619. Một trong những chốt quan trọng cánh nam của địch bị bẻ gãy.

Đến ngày 3 tháng 3. Binh đoàn 70 và sư đoàn 324 đã bẻ gãy cánh quân phía bắc, đánh thiệt hại nặng cánh quân phía nam của địch. Kế hoạch tiến công của địch bị đảo lộn. Toàn bộ đội hình địch bị ta đánh cả phía trước, phía sau, buộc chúng phải điều chỉnh lực lượng. Trên đà thắng lợi lớn, ta quyết tâm sử dụng lực lượng lớn không cho địch lên Sê Pôn, hình thành thế bao vây chia cắt đánh đòn tiêu diệt quét địch ở hướng Bản Đông, tiếp tục tiêu diệt sư đoàn 1 ngụy, tiêu diệt lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở hai điểm cao 550, 532.

Ngày 12 tháng 3 (ngày đầu của đợt ba chiến dịch từ ngày 12 tháng 3 đến ngày 23 tháng 3) Bộ Tư lệnh chiến dịch điện cho sư đoàn 324: "Hiện tượng địch rút bỏ các điểm cao phía nam đường số 9 đã rõ, nhiệm vụ của sư đoàn là bao vây tiêu diệt lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở điểm cao 550". Để tiêu diệt địch ở điểm cao này, sư đoàn 324 được tăng cường một phân đội xe tăng, một phân đội cao xạ, một phân đội công binh. Các lực lượng của hai binh trạm 56, 51; đại đội địa phương huyện Hướng Hóa, dân quân du kích các bản Lào - Việt phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu tiếp tế đạn dược lương thực, thực phẩm.

Sau năm ngày vây chặt quân địch tại điểm cao 550, đêm 22 tháng 3, được sự phối hợp chiến đấu chặt chẽ của xe tăng, pháo phòng không, sư đoàn 324 đã tiến công mãnh liệt, đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến. Tuy vậy, do lực lượng vây lấn không bám sát địch, công tác tổ chức chiến đấu chậm, địch đã nghi binh rút được một phần lực lượng ra khỏi điểm cao 550 và rút chạy bằng máy bay.

Cùng với những trận đánh của sư đoàn 2 tiêu diệt trung đoàn 1, thiết đoàn 11 ngụy ở Phu Rệp; trận diệt trung đoàn 2, thiết đoàn 11 ngụy ở điểm cao 650, trận diệt lữ đoàn 3 dù ở điểm cao 543 của trung đoàn 64 sư đoàn 320, trận đánh của sư đoàn 324 ở điểm cao 550 là một trong những trận đánh xuất sắc ở chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào.

Cùng thời gian này, trong lúc các đơn vị đang tập trung đánh địch rút chạy, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ thị: "Các đơn vị ở cánh đông tiếp tục áp sát đường số 9 để chặn đánh địch rút chạy". Ngày 14 tháng 3, sau bảy ngày vận chuyển gạo, đạn, phục vụ chiến dịch, tiểu đoàn 3 trung đoàn 27 do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu và chính trị viên Trần Xuân Gứng chỉ huy, được lệnh cơ động đánh địch ở động Na, Kế Sóc, Ba Lào. Trên đường số 9, từng đoàn xe địch chở bọn tàn binh từ Nam Lào vội vã chạy về. Cứ mỗi lần xe đi qua là mỗi lần máy bay địch rải bom hai bên đường. Với sở trường đánh gần, xung phong dũng mãnh, tiểu đoàn 3 đã tiêu diệt đoàn xe 30 chiếc từ Nam Lào chạy về Sa Mưu, đốt cháy 28 chiếc, diệt 120 tên địch. Bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp với các phân đội đặc công của quân khu đánh chìm bốn tàu, làm dòng sông từ Đông Hà đến Cửa Việt bị tắc nghẽn bảy ngày liền. Đặc biệt ngày 23 tháng 3, tiểu đoàn đặc công của Bộ và tiểu đoàn 33 đặc công quân khu tập kích vào Tà Cơn diệt hàng trăm tên địch chủ yếu là nhân viên kỹ thuật, phá 42 máy bay lên thẳng và năm xe tăng. .

Trong quá trình chiến dịch, phối hợp với lực lượng của B5, các phân đội bộ binh, súng máy 12,7 ly, các tổ bắn tỉa của các địa phương chiến đấu ở bắc Quảng Trị tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng. Hai đại đội 12,7 ly của dân quân các huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ bắn rơi ba máy bay Mỹ. Các đoàn dân công hỏa tuyến Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày đêm vượt suối, trèo đèo, vượt qua bom đạn ác liệt chuyển gạo, đạn kịp thời cho các đơn vị chiến đấu ở phía trước và chuyển thương binh về tuyến sau. Đoàn dân công cơ quan tỉnh Quảng Bình đạt kế hoạch vận chuyển 135 phần trăm. Đại đội dân công hỏa tuyến huyện Bố Trạch đạt năng suất 121 phần trăm. Đồng chí Dương Văn Tiên (xã Phú Trạch) thường xuyên gùi một tạ hàng. Đại đội 2 do đồng chí Hồ Thị Thu Hiền chỉ huy, sau đợt phục vụ chiến dịch được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng hai. Các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ủng hộ cán bộ, chiến sĩ đường số 9 trên 500 con trâu, bò. Đoàn xe đạp thồ của tỉnh Thanh Hóa đạt năng suất vận chuyển cao. Chiếc xe đạp thồ của anh Nguyễn Đức Thọ (huyện Đông Sơn) chở được 750 ki-lô-gam hàng trong một chuyến.

Những chiến công của nam, nữ dân công hỏa tuyến các địa phương Quân khu 4 đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi lịch sử của chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 08:45:55 pm

Phối hợp với Nam Lào, Quân khu Trị - Thiên sử dụng trung đoàn 6 đánh địch và tạo địa bàn mới ở đường số 12. Trung đoàn 6 đã chiến đấu liên tục, kiên cường, có tác dụng hỗ trợ cho đồng bằng và phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính. Ở đồng bằng, vì lực lượng ta còn yếu nên không lợi dụng được thời cơ đẩy mạnh chiến tranh du kích và đấu tranh chính trị.

Ở hậu phương, các lực lượng vũ trang quân khu đã cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc địa bàn quân khu, bảo vệ đường hành lang vận chuyển. Từ ngày 1 tháng 2 đến ngày 23 tháng 3, quân và dân trong quân khu đã bắn rơi 14 máy bay, bắn chìm ba tàu biệt kích Mỹ - ngụy.

Ngày 23 tháng 3 năm 1971, chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi1. Ta đã thực hiện đánh tiêu diệt lớn, tiêu diệt gọn nhiều đơn vị tính nhuệ thuộc lực lượng dự bị chiến lược của địch. Thắng lợi của chiến dịch đã bảo vệ được tuyến vận chuyển chiến lược, góp phần bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn âm mưu địch tiến công hạn chế ra nam Quân khu 4.

Thắng lợi của chiến dịch đã đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội chủ lực, thể hiện bước phát triển mới nghệ thuật tác chiến chiến dịch Việt Nam, mở đầu thời kỳ quân ta mở các chiến dịch đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn.

Cùng với việc đánh bại cuộc hành quân lớn trên chiến trường Cam-pu-chia và Lào, thắng lợi của chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào tạo một bước ngoặt quan trọng, mở ra triển vọng hiện thực đánh bại hoàn toàn chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh” – sản phẩm đầu tiên của học thuyết Ních-xơn.

Các lực lượng vũ trang quân khu vui mừng phấn khởi vì đã: "... góp phần xứng đáng vào chiến thắng Đường 9 - Nam Lào"2. Các lực lượng vũ trang quân khu tham gia chiến đấu trong chiến dịch này đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng3, tích cực phục vụ chiến đấu, có bước trưởng thành toàn diện...

Sau cuộc hành quân lớn ra đường 9 - Nam Lào, thế và lực của Mỹ - ngụy bị suy sụp, nội bộ quân Mỹ cũng như quân ngụy ngày càng lủng củng. Ở Trị - Thiên, sư đoàn 1 bộ binh ngụy tổn thất quá lớn (5 tiểu đoàn bị thiệt hại nặng nề từ 33 đến 50 phần trăm quân số). Thiết đoàn 7 bị thiệt hại nặng trên 50 phần trăm quân số. Ngụy quân, ngụy quyền hoang mang giao động, tâm lý thất bại sợ chết lan tràn. Để thăm dò ngăn chặn ta tiếp tục phát triển thắng lợi đánh sâu vào Trị - Thiên, đồng thời nhằm trấn an dư luận, ổn định tình hình cho ngụy quân, ngụy quyền, địch tổ chức các cuộc hành quân lên miền tây Quảng Trị, tây Thừa Thiên; tổ chức lễ ăn mừng giả tạo cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Chúng tiếp tục bình định gắt gao đồng bằng, ráo riết hoạt động tuyên truyền cho việc bầu tổng thống ngụy, xoa dịu làn sóng phản đối chiến tranh của dư luận và nhân dân Mỹ, lấy lòng cử tri trong kỳ bầu cử tổng thống Mỹ sắp tới.

Về phía ta, sau những thắng lợi to lớn trong chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, các lực lượng vũ trang tranh thủ tiến công không cho địch có điều kiện củng cố.

Địch mở các cuộc hành quân “Lam Sơn 720” lên vùng động Ché, Đá Bàn (Quảng Trị), Tà Lương, A Tây (Thừa Thiên) đã bị ta đẩy lùi và gây cho chúng nhiều thiệt hại. Ngày 2 tháng 6, ta đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến, buộc chúng phải đưa về Sài Gòn củng cố. Ngày 30 tháng 6, trong trận động Ché, tiểu đoàn 7 lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến cũng bị tổn thất nặng nề.

Sau chiến thắng Nam Lào, Bộ Tổng tư lệnh chấn chỉnh lại mặt trận bắc Quảng Trị, rút một số đơn vị bộ đội chủ lực của Bộ ra cũng cố, giải thể Bộ Tư lệnh chiến dịch 703, B70, tăng cường sư đoàn 304 cho mặt trận B5 (cũ).

Cuối tháng 5, Khu ủy Trị - Thiên họp đã đề ra các chủ trương:

- Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị trên cả ba vùng, giữ vững địa bàn giáp ranh, đánh bại các cuộc hành quân lên miền tây của địch.

- Tiếp tục xây dựng thế và lực ở đồng bằng, đẩy lùi kế hoạch bình định của địch, khôi phục thế chiến lược ba vùng.

- Xây dựng củng cố lực lượng vũ trang ba thứ quân.

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tổ chức chiến trường, làm đường cơ giới, sản xuất tự túc.

Ngày 1 tháng 6, Bộ Tư lệnh mặt trận bắc Quảng Trị mở chiến dịch A2. Chiến địch kéo dài đến ngày 30 tháng 6, ta đã diệt và bức rút một số vị trí của địch ở Bến Ngự, Bến Xanh (Gio Linh) áp sát tuyến sông Cửa Việt, đánh vỡ từng khúc và uy hiếp mạnh tuyến phòng ngự của chúng. Trong chiến dịch này, nổi bật nhất là trận diệt vị trí 544 do một tiểu đoàn bộ binh ngụy đóng giữ, có công sự phòng ngự vững chắc, được chi viện tối đa của không quân, pháo binh địch. Trung đoàn 27 do trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm và chính ủy Nguyễn Võ Hiển chỉ huy (đơn vị chủ công của mặt trận bắc Quảng Trị) được tăng cường một đại đội đặc công, một đại đội súng 12,7 ly của đoàn 75 pháo cao xạ, một đại đội công binh, một đại đội súng phun lửa, một đại đội súng cối 120 ly. Các đơn vị có nhiệm vụ vây ép địch từ ngày 20 tháng 6. Đánh vây ép là hình thức tác chiến rất táo bạo và cũng là sở trường tác chiến của bộ đội chủ lực Quân khu Trị - Thiên. Trong quá trình vây ép dài ngày, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 27 và các đơn vị bạn phải chịu đựng muôn vàn gian khổ ác liệt, hy sinh. Có ngày địch sử dụng 154 lần chiếc máy bay cường kích và 12 lần chiếc B52 ném bom quanh cao điểm 544. Các chiến sĩ bộ binh, đặc công bám thắt lưng địch mà đánh, xung phong dũng mãnh, táo bạo, thọc sâu đạt hiệu suất chiến đấu cao, hạn chế được mức thương vong thấp nhất do phi pháo địch gây ra. Ngày 30 tháng 6 năm 1971, ta làm chủ hoàn toàn vị trí 544. Chiến thắng ở cao điểm 544 của trung đoàn 27 và các đơn vị bạn thể hiện rõ sức mạnh chiến đấu của một trung đoàn bộ binh tham gia nhiều chiến dịch mà vẫn sung sức, thể nghiệm phương hướng tác chiến hiệp đồng binh chủng, đánh tiêu diệt từng tiểu đoàn địch chốt giữ trên điểm cao, phòng ngự tương đối vững chắc, thể nghiệm phương châm vừa chiến đấu, vừa xây dựng của quân khu là đúng đắn.
______________________________________________
1. Qua 32 ngày đêm diễn biến chiến dịch (31 tháng 1 đến 23 tháng 3) ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 21.102 tên địch, trong đó giết và làm bị thương 19.900 tên, bắt 1.147 tên. Trong số địch bị diệt có những đơn vị bộ binh tinh nhuệ và binh khí kỹ thuật như sư đoàn 3 dù, trung đoàn 1 sư đoàn 1 bộ binh, lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến, tám tiểu đoàn pháo, bốn thiết đoàn. Ta thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch, thu hai máy bay lên thẳng, 24 xe các loại, bắn rơi và phá hủy 550 máy bay, phá hủy và đánh chìm 43 tàu, xà lan.
2. Trích lời phát biểu của đồng chí Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng trong buổi nói chuyện với cán bộ trung, cao cấp cơ quan quân khu: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào ta thắng lớn, Quân ủy Trung ương nhiệt liệt biểu dương các lực lượng vũ trang, đồng bào Quân khu 4 đã góp phần xứng đáng chiến thắng đường 9 - Nam Lào.
3. Sư đoàn 324 đã tiêu diệt: 3.900 tên, bắt 176 tên, bắn rơi và phá hủy 154 máy bay, 150 xe, 45 khẩu pháo. B5 đã tiêu diệt 4.756 tên, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Sư đoàn 968 tiêu diệt 408 tên, bắt 284 tên, gọi hàng 612 tên, thu 770 súng trường, bảy súng cối 106,6 ly, bảy khẩu ĐKZ 76...


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 08:46:47 pm

Sau chiến dịch A2 thắng lợi, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh mặt trận bắc Quảng Trị tiếp tục đẩy mạnh tác chiến để phối hợp với chiến trường toàn miền. Từ 11 tháng 8 đến 30 tháng 8, các lực lượng vũ trang mặt trận bắc Quảng Trị đã hoạt động sôi nổi, diệt quận lỵ Cam Lộ và Gio Linh, vị trí đồi Tròn... loại khỏi vòng chiến 1.687 tên, bắt 24 tù binh, bắn rơi 42 máy bay, phá hủy 66 xe, 15 tàu và 10 kho xăng, kho đạn. Ta đánh thiệt hại lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến và trung đoàn 2 sư đoàn 1 ngụy. Địch phải điều thêm trung đoàn 54 ra đường số 9.

Trên mặt trận đánh phá kế hoạch "bình định" của địch sau chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, tình hình đồng bằng đô thị có bước phát triển mới, chiến tranh du kích được đẩy mạnh ở nhiều nơi. Để chỉ đạo có hiệu quả phong trào chiến tranh nhân dân ở địa phương, tháng 6 năm 1971, Trung ương Đảng quyết định thành lập lại Tỉnh ủy Quảng Trị và Tỉnh ủy Thừa Thiên.

Từ tháng 6 đến tháng 9, bộ đội và dân quân du kích các huyện thuộc đồng bằng đã đánh nhiều trận, có những trận đánh đau, đánh hiểm vào trụ sở ngụy quân, ngụy quyền, diệt các tụ điểm ác ôn. Lực lượng vũ trang huyện Quảng Điền diệt một trung đội ngụy ở An Lỗ, đánh tan trụ sở ngụy quyền xã Phong Điền, diệt một trung đội dân vệ ở Đồng Lâm, bọn ác ôn ở Phò Nam. Nhân dân xã Phong Thu làm công tác binh vận, tuyên truyền giác ngộ một trung đội phòng vệ dân sự mang súng trở về với cách mạng. Dân quân, du kích huyện Hương Thủy diệt các tụ điểm ác ôn ở La Sơn. Dân quân du kích Thủy Phương phá ống dẫn dầu của địch từ cửa Thuận về Phú Bài và vận động nhân dân quyên góp được trên 2.000 tấn lương thực chi viện cho lực lượng vũ trang vùng giáp ranh. Lực lượng vũ trang Quảng Trị đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, diệt ác phá tề, giành quyền làm chủ ở nhiều địa bàn quan trọng. Đội biệt động Gio Linh diệt trên 200 lính bảo an và nhiều đoàn bình định, đánh bại kế hoạch bình định của địch tại địa phương. Lực lượng dân quân xã Gio Hải do đồng chí Trương Quang Thọ làm xã đội trưởng, đã chiến đấu dũng cảm, nhiều lần táo bạo xông vào hang ổ của bọn ngụy quyền đánh hàng chục trận, tiêu diệt chín xe tăng, đánh chìm bảy tàu trên sông Cửa Việt; ngày 23 tháng 11 năm 1971, giết tên ác ôn khét tiếng Hồ Chánh Thi ở trong vùng. Tổ du kích xã Triệu Thượng do đồng chí Lê Thị Tám chỉ huy, hoạt động ở một địa bàn vùng sâu nằm lọt trong lòng địch, đã kiên trì bám dân, bám đất xây dựng hàng chục cơ sở ở nông thôn và năm cơ sở ở thành cổ Quảng Trị. Tổ du kích đã vận động bà con đòi về làng cũ làm ăn, rải hàng vạn tờ truyền đơn, chống tăng thuế, và vét lúa gạo, đòi bãi bỏ phòng vệ dân sự, chống bắt thanh niên đi lính làm bia đỡ đạn cho Mỹ - ngụy. Gắn liền với đấu tranh quân sự, chính trị, mũi binh vận cũng phát huy tác dụng rộng khắp ở nhiều nơi. Lực lượng dân quân, du kích vận động nhân dân lên trụ sở ngụy quyền, ngụy quân đòi chồng, con, đòi bồi thường tính mệnh cho những gia đình có người đi lính ngụy bị chết ở chiến trường, vận động binh lính địch chống lệnh hành quân, mang súng trở về với cách mạng.

Tổ du kích xã Hải Phú do đồng chí Văn Thị Xuân chỉ huy, đã dũng cảm xông vào tận hang ổ của bọn bình định giết một tên ác ôn khét tiếng. Du kích chủ trương lấy súng địch, đánh địch, làm vũ khí tự tạo, bom, mìn, cạm bẫy diệt nhiều địch; vận động một trung đội lính ngụy mang súng trở về với nhân dân; vận động bà con ủng hộ bộ đội 150 tấn lương thực.

Đi đôi với nhiệm vụ tiêu diệt quân ngụy, làm tan rã bộ máy ngụy quyền, ta tích cực tuyên truyền vận động nhân dân ủng hộ cách mạng, chống mọi âm mưu thủ đoạn bình định của địch, làm chủ nhiều thôn, xã, đưa tỷ lệ các thôn tranh chấp với địch ngày càng cao. Ta làm chủ ban đêm trên 40 xã ở vùng giáp ranh, mỗi xã có trung bình khoảng 15 du kích hoạt động bí mật và công khai.

Phong trào đấu tranh chính trị tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở thành phố, thị xã, nhất là ở thành phố Huế với các khẩu hiệu đòi "hòa bình hòa hợp dân tộc", đòi "Mỹ rút hết quân", đòi "Thiệu từ chức"... ủng hộ bảy điểm của phái đoàn Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại cuộc hội đàm ở Pa-ri. Phong trào diễn ra sôi nổi trong đợt chống trò hề bầu cử tổng thống và phó tổng thống chính quyền Sài Gòn. Sinh viên Huế dùng gạch, đá, chai xăng ném cảnh sát. Nhân dân chợ Đông Ba, sinh viên trường Đại học Văn khoa biểu tình chống bầu cử gian lận. Tỉnh hội Phật giáo Quảng Trị làm lễ cầu siêu để chống bầu cử, chống tăng thuế, chống văn hóa đồi trụy, chống các tệ nạn xã hội, do đó đã tập hợp được lực lượng rộng rãi kể cả binh sĩ ngụy cùng tham gia. Phong trào đã liên kết thành mặt trận chống Mỹ - ngụy rất rộng rãi. Nhiều tổ chức yêu nước, chống Mỹ - ngụy ra đời làm cho hậu phương địch ngày càng hỗn loạn.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 08:50:56 pm

Thi đua với tiền tuyến, ở hậu phương, các lực lượng vũ trang Quân khu 4 ra sức nâng cao chất lượng, chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, công tác. Lực lượng dân quân, du kích - nòng cốt, xung kích trong sản xuất. Vụ đông - xuân năm 1970 - 1971, các tỉnh được mùa lớn. Nghệ An vượt sản lượng vụ đông - xuân 1969 - 1970 là 32.688 tấn. Năng suất chung toàn tỉnh đạt trên 2,6 tấn một héc-ta. Nhiều hợp tác xã đạt năng suất trên bốn tấn một héc-ta1. Hà Tĩnh vượt sản lượng vụ đông - xuân 1969 - 1970 là 2.500 tấn. Đức Thọ là huyện được mùa nhất, đạt năng suất 2,5 tấn một héc-ta. Ở Quảng Bình tuy thủy lợi gập nhiều khó khăn, nhưng nhiều hợp tác xã đạt năng suất cao. Hợp tác xã Đại Phong (Lệ Thủy) đạt 4,8 tấn một héc-ta. Sản lượng lúa tỉnh Quảng Bình tăng 3.380 tấn so với vụ đông - xuân năm 1969 - 1970.

Sau thất bại nặng nề ở đường số 9, Mỹ - ngụy lo sợ một cuộc tiến công lớn của ta. Chúng tăng cường dùng không quân đánh phá ác liệt bến bãi, kho tàng, các cửa khẩu trên các trục đường chính. Máy bay trinh sát lùng sục vị trí tập kết, sự chuyển vận của các binh đoàn chủ lực để phán đoán hướng tiến công của ta.

Thấu suốt hơn nữa vị trí chiến lược của quân khu "Hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam và trước hết là với Trị - Thiên - Huế ruột thịt", nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang quân khu lúc này là nắm vững tư tưởng chỉ đạo "phía trước mạnh, phía sau vững"2, không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, sẵn sàng đập tan mọi hành động phiêu lưu quân sự của giặc Mỹ và tay sai, dốc lòng chi viện chiến trường ngày càng đánh to thắng lớn.

Trên địa bàn hậu phương quân khu, quân và dân ta tiếp tục đánh trả các hành động phá hoại của không quân Mỹ và đẩy mạnh hoạt động chi viện cho chiến trường.

Ngày 21 tháng 9, trung đoàn 280, trung đoàn 218 bắn rơi hai máy bay Mỹ.

Ngày 10 tháng 10, đoàn Hoa Lư phối hợp với dân quân Quảng Bình bắn rơi tại chỗ một F4.

Ngày 31 tháng 10 năm 1971, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vào Quảng Bình làm việc với Bộ Tư lệnh đoàn 559 và Quân khu 4. Sau khi nghe các đơn vị báo cáo tình hình, Đại tướng trực tiếp xem cách phá bom từ trường của một đơn vị dân quân - công binh. Đồng chí căn dặn các đơn vị phải chuẩn bị tốt mọi mặt cho chiến dịch đông - xuân 1971 - 1972.

Cùng thời gian này, thực hiện khẩu hiệu "đánh địch mà đi, mở đường mà tiến" các đơn vị vận tải phấn đấu vượt mức kế hoạch vận chuyển. Tính đến cuối tháng 10 năm 1971, binh trạm 2 vận chuyển vượt 11 phần trăm khối lượng hàng. Các đơn vị thuộc trung đoàn 271, tiểu đoàn 3 trung đoàn 27; các đơn vị bộ đội địa phương, thanh niên xung phong Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình hoàn thành nhiều đoạn đường phục vụ cho việc cơ động lực lượng binh khí kỹ thuật.

Nhằm động viên lực lượng lớn bổ sung kịp thời đáp ứng theo yêu cầu của chiến trường, trong ba ngày 9, 10, 11 tháng 11, Quân khu mở hội nghị trao đổi kinh nghiệm công tác động viên tuyển quân. Đại biểu các tỉnh ủy, ủy ban hành chính tỉnh, các tỉnh đội, đại biểu các huyện, xã làm tốt công tác động viên tuyển quân về dự hội nghị. Trong hội nghị, các đại biểu đều hứa hẹn quyết tâm: "Chiến trường cần gì, hậu phương sẵn sàng đáp ứng đầy đủ nhất, tốt nhất". Nhân dịp này Bộ Tư lệnh quân khu đã trao tặng các phần thưởng cao quý mà Chính phủ dành cho nhiều địa phương3. Quân khu còn đề nghị tặng huân chương các loại cho 60 xã làm tốt công tác động viên tuyển quân, và các địa phương làm tốt công tác giao thông vận tải, chi viện chiến trường năm 19714.

Do yêu cầu phát triển nhiệm vụ, Bộ Tư lệnh quân khu quyết định thành lập trung đoàn 271B. Trung đoàn gồm các tiểu đoàn bộ binh của ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình có truyền thống và có nhiều kinh nghiệm chiến đấu ở chiến trường Lào và chiến trường bắc Quảng Trị. Sau khi được thành lập, trung đoàn tham gia làm đường chiến lược rồi hành quân nhanh, gọn vào chiến trường miền Đông Nam Bộ đảm bảo quân số, sức khỏe, triển khai kịp thời nhiệm vụ chiến đấu.

Các lực lượng phòng không của Bộ gồm sư đoàn 361, 363, 365 được điều động vào Quân khu 4 để bảo vệ các đầu mối giao thông quan trọng, các kho tàng, chân hàng và đường hành lang chiến lược.

Công tác quân sự địa phương trên địa bàn quân khu được đẩy mạnh. Trong hai ngày 14, 15 tháng 11 năm 1971, các đồng chí đại diện các tỉnh và khu vực Vĩnh Linh họp hội nghị liên tịch. Hội nghị đã thảo luận và đề ra những biện pháp cụ thể để thực hiện tốt các nhiệm vụ chi viện chiến trường, tuyển quân, huy động dân công phục vụ chiến dịch, về giao thông vận tải, phòng không nhân dân, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.
_____________________________________________
1. Hợp tác xã Liên Sơn, Bùi Chu, Hồng Long, Phú Thanh, Minh Châu... hợp tác xã Liên Thành (Yên Thành) vượt năng suất vụ đông - xuân 1969 - 1970: 620 ki-lô-gam một héc-ta.
2. Phương châm chỉ đạo hành động của các lực lượng vũ trang Quân khu 4 (Nghị quyết Quân khu ủy đầu năm 1971).
3. Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất cho sáu xã: Lam Sơn, Lưu Sơn, Lạc Sơn (Đô Lương), Nam Tiến (Nam Đàn), Kỳ Sơn (Kỳ Anh), Lâm trường Hương Sơn; Huân chương Kháng chiến hạng hai cho 10 xã: Quỳnh Hậu (Quỳnh Lưu), Thanh Liên (Thanh Chương), Bài Sơn (Đô Lương), Xuân Hải, Xuân Lam, Xuân Mỹ, Xuân Thành (Nghi Xuân), Hương Lộc (Hương Khê), Song Lộc (Can Lộc), thị xã Hà Tĩnh.
4. Năm 1971 Nghệ An, Hà Tĩnh, Vĩnh Linh vận chuyển 340.420 tấn hàng, Thanh Hóa vận chuyển 96.500 tấn trong đó có 32.013 tấn cho chiến trường miền Nam.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 08:51:50 pm

Ngày 2 tháng 12 năm 1971, đồng chí Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí rhư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng vào làm việc với Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và đi kiểm tra tình hình của chiến trường Trị - Thiên - Huế. Đồng chí Trần Văn Quang - Bí thư Quân khu ủy Trị - Thiên báo cáo tình hình địch, ta và triển vọng phong trào Trị - Thiên.

Chiến dịch đông - xuân 1971 - 1972 càng đến gần, các loại máy bay Mỹ càng tăng cường, trinh sát, đánh phá nhiều nơi hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến1. Trên cơ sở tổng hợp tình hình, phán đoán âm mưu thủ đoạn của địch, ngày 15 tháng 12 năm 1971, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 họp nhận định địch sẽ tập trung đánh thành phố Vinh, cảng Bến Thủy, cảng Gianh và quyết định triển khai nhiệm vụ chiến đấu ở các trọng điểm đó. Ban chỉ huy cụm chiến đấu ở Vinh được thành lập. Bộ Tư lệnh quân khu trực tiếp thông qua kế hoạch tác chiến và kiểm tra tỷ mỷ các đơn vị bố trí hỏa lực. Ngày 30 tháng 12, đế quốc Mỹ huy động một lực lượng lớn không quân, đánh thành phố Vinh, Bến Thủy và nhiều khu vực khác. Trung đoàn 222, trung đoàn 233, một số đơn vị của sư đoàn 367, 361 (tên lửa), tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân, các phân đội súng máy cao xạ 12,7 ly của dân quân xã Hưng Dũng, tự vệ thành phố Vinh đã kịp thời nổ súng. Bảy chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi, có năm chiếc rơi tại chỗ.

Cùng ngày, các đơn vị bảo vệ cảng Gianh bắn rơi hai chiếc, đơn vị bảo vệ cầu Hàm Rồng bắn rơi một chiếc.

Cuối năm 1971, các địa phương trong quân khu đã nỗ lực lớn, huy động mọi lực lượng, phương tiện, làm tốt công tác động viên tuyển quân. Lực lượng vũ trang quân khu được tăng cường số lượng, chất lượng. Bảo đảm vừa có lực lượng phòng thủ vững chắc quân khu, vừa có lực lượng bổ sung đầy đủ, kịp thời cho chiến trường. Quân khu đã tổ chức lực lượng gồm một sư đoàn, sáu trung đoàn, 17 tiểu đoàn, 17 đại đội bao gồm các đơn vị bộ binh, pháo binh, công binh, đặc công, pháo cao xạ, bảy đại đội súng máy 12,7 ly, sẵn sàng chi viện cho chiến trường. Trường Quân chính quân khu khẩn trương mở lớp bồi dưỡng bổ túc cho hàng nghìn cán bộ và kịp thời bổ sung 400 đồng chí cho Quảng Trị. Bốn tiểu đoàn dân công hỏa tuyến của Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, chuyển gấp hàng trăm tấn lương thực, vũ khí, đạn dược, thuốc men, phục vụ chiến dịch. Quân khu còn tổ chức thêm 12 tiểu đoàn pháo cao xạ, tám tiểu đoàn công binh dự nhiệm.

Trong vòng ba năm (từ 1969 - 1971), các lực lượng vũ trang trong quân khu cùng với quân và dân cả nước giành được những thắng lợi to lớn toàn diện, vững chắc. Quân và dân Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh đã có sự nỗ lực lớn trong xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương, dốc lòng, dốc sức chi viện chiến trường. Quân và dân Trị - Thiên chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ, ác liệt đã kiên trì bám đất, bám dân khôi phục thế chiến lược ba vùng.

Quân và dân trong quân khu đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đánh bại bước thí điểm "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ.

Các lực lượng vũ trang, cả ba thứ quân vừa đánh địch, vừa xây dựng lực lượng, vừa làm nhiệm vụ dân tộc, vừa làm nhiệm vụ quốc tế. Hậu phương ngày càng vững mạnh, chiến trường ngày càng ổn định và có đà tiến công mới.

Tuy nhiên có thời kỳ ở Trị - Thiên do chưa nắm vững nguyên tắc xây dựng Đảng, đoàn kết nội bộ hạn chế, phương hướng, chủ trương tác chiến không rõ ràng, nên chiến trường có lúc gặp nhiều khó khăn, tổn thất. Những nhược điểm, khuyết điểm trên đã được Khu ủy, Quân khu ủy từng bước uốn nắn, sửa chữa. Với quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác: "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn", toàn quân khu lại dấy lên cao trào hành động cách mạng, chuẩn bị sẵn sàng thế trận và lực lượng đón thời cơ mới trong năm 1972.
______________________________________________
1. Từ ngày 26 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 1971, có 1.090 lần chiếc máy bay địch ném bom bến bãi, kho tàng dọc các trục đường chính trên địa bàn Quân khu 4.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 08:54:53 pm

CHƯƠNG VI
THAM GIA GIẢI PHÓNG QUẢNG TRỊ, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ 2
VÀ CÙNG BẠN MỞ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG TRUNG LÀO (1972)



I. THAM GIA GIẢI PHÓNG QUẢNG TRỊ

Sau những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của các chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đông bắc Cam-pu-chia và Tây Nguyên, cục diện chiến trường miền Nam chuyển biến có lợi cho ta. Tháng 5 năm 1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã xem xét tình hình mọi mặt, sớm đề ra quyết tâm chiến lược cho năm 1972: "Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị, ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên cả chiến trường Đông Dương, đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Cam-pu-chia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thuạ, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài".

Quyết tâm chiến lược đó đã được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng triển khai thực hiện. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị (B5), Quân khu Trị - Thiên (B4) nhận nhiệm vụ chuẩn bị kế hoạch cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên hướng Trị - Thiên. Quân và dân toàn quân khu, từ hậu phương đến tiền tuyến, lại được vinh dự đón nhận nhiệm vụ lịch sử mới nặng nề nhưng rất vẻ vang.

Vùng chiến thuật 1 mà trong đó Trị - Thiên là "khu vực phòng thủ mạnh nhất, kiên cố nhất" là "con đê ngăn chặn rắn nhất" của địch. Tại đây địch đã bố trí phần lớn binh lực của quân đoàn 1 ngụy gồm hai sư đoàn bộ binh và hai lữ đoàn thủy quân lục chiến, cùng ba trung đoàn thiết giáp (184 xe, có 93 xe tăng), 15 tiểu đoàn pháo binh (258 khẩu), hai đội giang thuyền... Số quân chủ lực ngụy lên tới 35.200 tên. ,

Quân địa phương trong vùng có 18.000 tên (4 tiểu đoàn, 90 đại đội bảo an, 502 trung đội dân vệ và 5.100 cảnh sát vũ trang). Tổng số quân cả chủ lực và địa phương lên tới 53.200 tên. Riêng quân chủ lực sư đoàn 1, sư đoàn 3 bộ binh, các lữ đoàn 147 và 258 thủy quân lục chiến... đều là những đơn vị sừng sỏ của quân ngụy, lại rất thông thạo chiến trường này.

Cùng với lực lượng quân sự, hệ thống ngụy quyền tay sai và lực lượng kìm kẹp bình định được sàng lọc xây dựng từ lâu, cắm sâu xuống tận thôn ấp với hàng trăm đội phòng vệ dân sự, đội "bình định", đội "phượng hoàng", đội "trường sơn lôi hổ" (ở miền núi), nhiều đảng phái phản động và hàng nghìn ác ôn, gián điệp chỉ điểm... Bình quân mỗi xã trong vùng địch kiểm soát có hơn 300 tên các loại này.

Địch tổ chức phòng thủ trên hai hướng: Quảng Trị và Thừa Thiên, lấy Quảng Trị làm trọng điểm. Chúng bố trí ở đây năm trung đoàn bộ binh, bảy tiểu đoàn thiết giáp, chiếm hai phần ba lực lượng bộ binh và thiết giáp trên chiến trường Trị - Thiên. Hệ thống phòng thủ hình thành ba tuyến theo chiều sâu gồm:

- Tuyến ngoài (phạm vi giáp ranh giữa ta và địch từ biển Đông đến sát biên giới Việt - Lào).

- Tuyến phòng thủ cơ bản (lợi dụng các điểm cao bắc đường số 9 và phía tây quốc lộ số 1).

- Tuyến sau (chủ yếu là các thị xã, thị trấn đông dân cư, vùng nông thôn đồng bằng ven biển và các hậu cứ quan trọng).

Với một lực lượng phòng thủ ken dày trên một địa bàn không rộng, lại được chuẩn bị công phu và thường xuyên củng cố trong nhiều năm, thuận tiện cho không quân và hải quân Mỹ chi viện khi bị uy hiếp, chúng có cơ sở tin là đủ sức đối phó với bất cứ cuộc tiến công nào.

Đấu năm 1972, khi nói về khả năng hoạt động mùa khô 1971 - 1972 của ta, bộ trưởng quốc phòng Mỹ Men-vin Le-dơ phán đoán "Việt Cộng" định làm một cái gì đó ở Tây Nguyên, ở Trị - Thiên và Đông Nam Bộ. Riêng ở Trị - Thiên, chúng cho rằng ta có thể dùng khoảng bốn sư đoàn bộ binh và một số binh chủng mở một đợt tiến công nhằm giam chân, thu hút chủ lực của chúng, tạo điều kiện cho các hướng khác hoạt động.

Trên đường hành lang chiến lược, địch tăng cường độ trinh sát, oanh tạc bằng không quân để chặn phá trước khi phát hiện ta có những hoạt động vận chuyển lớn. Từ tháng 9 năm 1971 đến tháng 3 năm 1972, địch mở rộng phạm vi đánh phá ra phía bắc giới tuyến đến tận Vinh - Bến Thủy (Nghệ An) thành từng đợt tập trung với quy mô lớn, cường độ cao.

Mãi đến gần cuối tháng 8 năm 1972, Tết Nhâm Tý đã qua, mùa khô sắp hết mà không thấy có hoạt động gì đáng kể của ta trên toàn miền Nam, Nhà Trắng huênh hoang tuyên bố: chương trình "Việt Nam hóa" đã thành công vượt cả dự kiến (AP ngày 20 tháng 3 năm 1972). Tổng thống Thiệu hủy bỏ lệnh báo động ở nhiều nơi.

Trong khi đó mọi công tác chuẩn bị chiến dịch và chiến đấu trên mọi nẻo đường của Quân khu 4 và suốt dọc vùng rừng già tây Trị - Thiên... của quân và dân ta được tiến hành khẩn trương, bí mật.

Tất cả dồn sức cho Quảng Trị. Các tỉnh hậu phương Quân khu 4 sẵn sàng đội ngũ cán bộ, nhân viên, dành cho Quảng Trị1.
____________________________________________
1. Tháng 9 năm 1971, các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An tổ chức tuyển đột xuất 6.000 tân binh bổ sung cho bộ đội địa phương Trị - Thiên. Tổ chức biên chế trang bị đầy đủ bảy đại đội bộ binh đưa trực tiếp vào bộ chỉ huy quân sự Quảng Trị. Đến cuối năm 1971, bộ đội địa phương Quảng Trị đã có hai tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn đặc công, một đại đội hỏa lực của tỉnh, ba đại đội bộ binh, năm đại đội đặc công, ba trung đội bộ binh độc lập, 13 đội biệt động của huyện, thị. Du kích toàn tỉnh có 2.597 đội viên, trong đó 510 du kích Vĩnh Linh đưa vào hoạt động lâu dài, 406 du kích mật hoạt động hợp pháp. 74 phần trăm số thôn có cơ sở cách mạng, 40 phần trăm số thôn có đảng viên, 20 phần trăm số thôn có chi bộ Đảng.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 08:56:20 pm

Nhiệm vụ hàng đầu, trực tiếp lúc này của Quân khu 4 là phối hợp với lực lượng của Bộ bảo đảm giao thông vận tải, mở đường chiến dịch, triển khai cơ sở hậu cần, kỹ thuật, bảo đảm tập kết cơ động cho các lực lượng chiến dịch. Từ Nghệ An đến Vĩnh Linh hàng chục nghìn dân công đã được huy động để tu sửa, nâng cấp, mở thêm đường sá, cầu cống; đường goòng được khai thác triệt để. Đến cuối năm 1971, với lực lượng chủ yếu của Bộ và Đoàn 559, sự tham gia tích cực của các tỉnh hậu phương quân khu, đường vận tải chiến lược qua địa bàn quân khu đã được cải thiện khá. Từ miền Bắc vào hành lang 559 đã có sáu hướng vượt khẩu với 13 tuyến đường. Đoạn đầu hành lang qua Trị - Thiên, ta mở thêm tuyến đường số 14 đông Trường Sơn, kết hợp với các tuyến tây Trường Sơn. Lần đầu tiên ta tổ chức "chạy lấn mùa" phá thế độc tuyến, bớt lệ thuộc vào thời tiết, đẩy nhanh tốc độ và khối lượng vận chuyển Bắc - Nam.

Trong nhiệm vụ vận tải chiến dịch, phối hợp chặt chẽ với đoàn vận tải 571 bộ đội vận tải 559 các địa phương Quân khu 4 thành lập các ban chỉ huy giao thông vận tải thống nhất ở cấp tỉnh. Mọi khả năng của địa phương được huy động. Tỉnh Quảng Bình đã sử dụng cả 100 phần trăm lao động ngành thủy sản, hàng chục nghìn lao động nghề cá làm nhiệm vụ vận tải quân sự trên các tuyến sông biển. Hàng chục nghìn thanh niên xung phong, dân công và nhân dân các xã ven các tuyến đều lên mặt đường. Hầu hết nhà dân, đền chùa, còn sử dụng được trở thành kho hàng, bến bãi. Những vùng gần địch, việc vận chuyển phải tổ chức hết sức bí mật. Trên 15.000 dân công Quảng Bình, Vĩnh Linh và các huyện Hướng Hóa, A Lưới của Quảng Trị, Thừa Thiên được huy động suốt ba tới bốn tháng, miệt mài, cần mẫn gồng gánh, gùi thồ vật chất, đạn dược luồn sâu đưa hàng tận các kho chiến dịch. Trong số những thành viên người dân tộc Vân Kiều tham gia vận chuyển, có em bé 13 tuổi cũng tự nguyện xung phong. Hồ Côn, một thanh niên Vân Kiều giữ mức gùi 40 ki-lô-gam hàng suốt mấy tháng liền. Do yêu cầu đột xuất, có lúc anh đã gùi tới 120 ki-lô-gam.

Cùng một lúc, Quân khu 4 đã sử dụng hai phần ba lực lượng bộ đội công binh và hàng nghìn thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến cùng lực lượng công binh Đoàn 559, của Bộ làm nhiệm vụ mở đường chiến dịch. Từ tháng 6 năm 1971 đến tháng 3 năm 1972, bộ đội công binh và thanh niên xung phong hỏa tuyến phải vật lộn với bão lũ, mưa rét, rừng sâu. Vừa mở đường, vận chuyển, vừa đối phó với địch thường xuyên trinh sát chặn phá, nhưng các lực lượng thi công đã kiên cường, mưu trí và sáng tạo, bí mật hoàn thành 400 ki-lô-mét đường cơ động xuyên qua địa hình phức tạp có 264 ki-lô-mét đường mới làm) gồm chín trục đường dọc chiến dịch áp sát các căn cứ chủ yếu của địch.

Việc hoàn thành mở đường cơ động và chuẩn bị hậu cần - kỹ thuật cho chiến dịch đúng thời gian, bí mật, an toàn; bảo đảm cho lực lượng lớn bộ đội và binh khí kỹ thuật cơ động, triển khai trên một khu vực hẹp, eo thắt nhất của miền Trung là yếu tố quyết định để bộ đội thực hành chiến dịch tiến công đúng thời gian.

Công tác chuẩn bị hậu phương chiến dịch được chỉ đạo khẩn trương, nhất là nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ hậu phương mà Quảng Bình, Vĩnh Linh - hậu phương trực tiếp là trọng điểm số một. Trên cơ sở kế hoạch phòng thủ đã có từ trước nhằm chủ động đối phó với ba tình huống dự kiến, từng cấp tiến hành việc rà soát và bổ sung phương án tác chiến cho phù hợp với tình hình khi ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam, trực tiếp là Trị - Thiên. Quán triệt những nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo phòng thủ khu vực, để phát huy ngay từ đầu vai trò của chiến tranh nhân dân địa phương trong tình huống phải đối phó với một cuộc tiến công hạn chế vào địa bàn quân khu, các địa phương đã dốc sức xây dựng lực lượng, chuẩn bị thế trận mới, củng cố và nâng cao sức mạnh tại chỗ về mọi mặt.

Bộ đội địa phương, dân quân tự vệ các tỉnh được phát triển với số lượng lớn hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó, chất lượng cũng cao hơn.

Lực lượng bộ đội địa phương từ Vĩnh Linh đến Nghệ An tính đến đầu năm 1972 có 11.807 cán bộ, chiến sĩ; biên chế 16 tiểu đoàn bộ binh, tám đại đội bộ binh độc lập, ba trung đội chốt, ba đại đội đặc công; năm tiểu đoàn, 19 đại đội pháo mặt đất, tám tiểu đoàn, hai đại đội pháo và súng máy cao xạ. Trang bị vũ khí kỹ thuật tương đương với bộ đội chủ lực cùng cấp. Dân quân tự vệ chiếm 14,8 phần trăm số dân, có gần 300 nghìn cán bộ đội viên, nòng cốt là 150 nghìn du kích, tự vệ, trong đó có hơn 80 phần trăm số đảng viên. Hàng chục nghìn súng bộ binh được trang bị thêm. Bình quân mỗi xã có một đại đội du kích cơ động, mỗi cụm xã chiến đấu hoặc khu công nghiệp có một tiểu đoàn tự vệ cơ động. Du kích, tự vệ chiến đấu vùng trọng điểm có hơn 30 phần trăm quân nhân phục viên, xuất ngũ. Hầu hết cán bộ, đội viên dân quân đã dày dạn trong chiến đấu, được trang bị 100 phần trăm súng các loại.

Trên các khu vực tác chiến trọng điểm toàn quân khu đều thực hiện quân sự hóa, "công sự hóa" cao. Hàng trăm cuộc tập trận lớn nhỏ từ xã, xí nghiệp đến toàn khu vực hoặc hiệp đồng nhiều khu vực trên một hướng đã được tiến hành. Có xã, cụm xã, cụm chốt diễn tập từ hai đến ba lần. Quyết tâm của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu được quán triệt sâu rộng đến từng cán bộ, chiến sĩ, từng người dân, "bất cứ tình huống nào, kẻ địch nào, thời gian nào, quy mô nào, địch đến cũng quyết đánh và quyết thắng" (Nghị quyết ngày 11 tháng 2 năm 1972 của Thường vụ Quân khu ủy).

Để tăng cường lãnh đạo chỉ huy hậu phương, tháng 11 năm 1971, đồng chí Vương Thừa Vũ - Phó Tổng tham mưu trưởng được cử giữ chức Tư lệnh Quân khu 4. Các đồng chí Cao Văn Khánh, Lê Tự Đồng giữ chức Tư lệnh và Chính ủy mặt trận B5, nay kiêm Phó tư lệnh và Phó chính ủy Quân khu 41.

Theo kế hoạch tạo thế và nghi binh chiến dịch, liền trong ba tháng, lực lượng vũ trang tại chỗ ở Quảng Trị và Thừa Thiên tiến hành đợt hoạt động tác chiến vừa rộng khắp, vừa có trọng điểm. Các lực lượng của tỉnh Quảng Trị trong đợt này đã đánh hơn 300 trận, tiêu biểu là trận tiêu diệt cứ điểm đồi 31 (tháng 1 năm 1972), tập kích chi khu quân sự Mai Lĩnh (tháng 3 năm 1972)... Ở Thừa Thiên rộ lên các hoạt động nhỏ lẻ đánh tiêu hao, vũ trang tuyên truyền, diệt ác phá kìm ở khắp đồng bằng và vùng ven đô. Trong khi đó, Bộ Tư lệnh B4 chỉ đạo một bộ phận chủ lực quân khu và các lực lượng vũ trang Thừa Thiên tiến công vào tuyến phòng thủ của sư đoàn 1 ngụy trên đường số 11 tây Huế, đánh địch ở Tà Lương, Cù Mông, Sơn Na, Chìa Vôi. Các hoạt động trên vừa làm cho thế kìm kẹp của địch lỏng bớt, cài thêm lực lượng của ta vào vùng sâu, vừa giữ được bí mật cho chiến dịch, đánh lạc hướng phán đoán của chúng.
_____________________________________________
1. Đến tháng 3 năm 1972 đồng chí Vương Thừa Vũ chuyển về cơ quan Bộ, đồng chí Nguyễn Đôn - Phó Tổng tham mưu trưởng được cử làm Tư lệnh quân khu trong thời gian đồng chí Đàm Quang Trung vắng mặt. Đồng chí Lê Quang Hòa vẫn giữ chức Chính ủy quân khu.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 08:58:15 pm

Ngày 11 tháng 3 năm 1972, sau khi soát xét lại kết quả chuẩn bị trên các hướng, Thường vụ Quân ủy Trung ương quyết định "tiến hành cuộc Tiến công chiến lược năm 1972, hướng chủ yếu là chiến trường Trị - Thiên"1. Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ đạo chiến dịch tiến công Trị - Thiên. Đây là "một chiến dịch quy mô lớn, là một trong những hướng chiến lược rất quan trọng, một chiến dịch hiệp đồng binh chủng, một chiến dịch tổng hợp cả về quân sự và chính trị". Mục tiêu của chiến dịch nhằm "góp phần tích cực cùng với các chiến trường khác thực hiện Nghị quyết lần thứ 20 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đánh bại về cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và "học thuyết Ních-Xơn" của đế quốc Mỹ ở Đông Dương, góp phần làm chuyển biến cục diện chiến tranh, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta và nhân dân các nước Đông Dương tiến lên một bước mới" (điện động viên của Quân ủy Trung ương gửi các đơn vị, địa phương tham gia chiến dịch).

Ngày 13 tháng 2 năm 1972, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh chiến dịch tiến công Trị - Thiên (lấy phiên hiệu là B702) được thành lập. Đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo làm Chính ủy. Các đồng chí Hồ Sĩ Thản (Bí thư tỉnh ủy Quảng Trị) và Trần Đồng (Bí thư Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh) được chỉ định tham gia Đảng ủy chiến dịch do đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư.

Tham gia trực tiếp với chủ lực của Bộ trên hướng chủ yếu của chiến dịch là toàn bộ lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Quảng Trị.

Quyết tâm chiến dịch ở thời kỳ đầu là trong khoảng 20 đến 25 ngày tiến công tiêu diệt cho được từ bốn đến năm trung đoàn địch, phát động quần chúng nổi dậy và giải phóng Quảng Trị, sau đó tiếp tục phát triển vào hướng Thừa Thiên. Các lực lượng của chiến dịch cùng với quân và dân Quảng Trị sẽ đột phá vào tuyến phòng thủ của địch ở Quảng Trị trên ba hướng: bắc, tây – bắc và tây Quảng Trị (tây-bắc và tây được chọn làm hướng tiến công chủ yếu). Các lực lượng vũ trang, chính trị của tỉnh ngoài việc phối hợp với bộ đội chủ lực trong các hoạt động quân sự lớn, còn đẩy mạnh hoạt động du kích, tiêu diệt các lực lượng kìm kẹp, đập tan bộ máy chính quyền tay sai, tạo điều kiện đưa quần chúng nổi dậy, thành lập chính quyền cách mạng, làm chủ địa phương, chống địch bắt dân, lùa dân đi nơi khác, hỗ trợ chính quyền các cấp từng bước làm trong sạch địa phương, ổn định sinh hoạt vùng mới giải phóng.

Đối với Quảng Trị, trong giờ phút lịch sử này tuy còn nhiều khó khăn và hạn chế của một tỉnh bị chiếm đóng lâu ngày, lực lượng vũ trang, chính trị hoạt động phân tán, cơ sở ta xen cài với địch, ở những vùng sâu, cơ sở nội tuyến của ta không được phổ biến chuẩn bị trước, khả năng hậu cần tại chỗ mỏng yếu... nhưng Tỉnh ủy, cơ quan quân sự tỉnh vững tin vào thắng lợi chung, vào sức mạnh tổng hợp và áp đảo của chiến tranh nhân dân trên một hướng có ý nghĩa quyết định nhất. Tỉnh ủy chủ trương: "Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của chủ lực, phát huy cao độ đòn nổi dậy của quần chúng, tiêu diệt và làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch, hình thành mặt trận tiến công địch rộng khắp để phối hợp với đòn tiến công của chủ lực nhằm tiêu diệt, làm tan rã lực lượng bảo an dân vệ, ngụy quyền, từng bước giải phóng đất đai, tiến lên giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị".

Tỉnh ủy quyết định tổ chức chỉ đạo chỉ huy và phân chia lực lượng địa phương theo hai cánh.

- Cánh bắc gồm hai huyện Gio Linh, Cam Lộ và thị xã Đông Hà do đồng chí Nguyễn Thư, Ủy viên Thường vụ tỉnh ủy, chỉ huy trưởng quân sự tỉnh phụ trách.

- Cánh nam gồm hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị do các đồng chí Nguyễn Đức Dũng, Phó bí thư tỉnh ủy và Nguyễn Văn Lương, Ủy viên Thường vụ tỉnh ủy phụ trách.

Mỗi cánh tùy theo nhiệm vụ, mục tiêu tính chất của địa bàn mà chia thành cụm (khu) để sử dụng lực lượng, tổ chức hiệp đồng giữa đấu tranh vũ trang và chính trị, tiến công và nổi dậy, chủ lực và địa phương... theo ý định chung của chiến dịch, lấy hoạt động của chủ lực làm trung tâm.

Thừa Thiên là hướng phối hợp sau lưng. Thường vụ, Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên một mặt chỉ thị cho các lực lượng vũ trang Quảng Trị chủ động phối hợp, mặt khác chỉ đạo các lực lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên - Huế tích cực đánh phá bình định của địch trên diện rộng, đẩy mạnh phong trào ở thành phố, cài thế trận ba vùng để đón thời cơ, đồng thời mở chiến dịch địa phương của quân khu, trọng điểm trên đường số 12, phá vỡ tuyến phòng thủ của sư đoàn 1 ngụy ở phía tây. Khi có thời cơ thì áp sát Huế, chia cắt bao vây thành phố và các cụm còn lại của địch.

Ở hậu phương Quân khu 4, địa bàn "vừa là hành lang chiến lược, bàn đạp tiến công, vừa là đội hình và hậu phương chiến dịch của Trị - Thiên", Thường vụ Quân khu ủy xác định quyết tâm huy động "toàn bộ lực lượng quân khu bước vào chiến dịch của năm 1972... Tất cả các lực lượng, các địa phương, tất cả các đơn vị và cơ quan dấy lên một cao trào hành động cách mạng với khí thế hào hùng sôi nổi của cả quân khu lên đường". (Nghị quyết hội nghị Thường vụ Quân khu ủy họp ngày 12 tháng 2 năm 1972).

Chiến trường đã chuẩn bị, hậu phương đã sẵn sàng, quyết tâm và khí thế của quân và dân đang lên cao. Trong những đêm ngày sôi động của tháng 3 năm 1972, hàng chục nghìn bộ đội, hàng nghìn xe pháo cùng với toàn thể lực lượng vũ trang, chính trị trên chiến trường Quảng Trị đã bí mật chiếm lĩnh trận địa, triển khai đội hình chờ lệnh nổ súng, giữ được bí mật bất ngờ đến phút cuối cùng.
_____________________________________________
1. Chủ trương của Thường vụ Quân ủy Trung ương được Bộ Chính trị thông qua ngày 23 tháng 2 năm 1972.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 09:01:03 pm

Chiến dịch tiến công Quảng Trị bắt đầu vào 11 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1972. Hàng trăm nòng pháo các cỡ mở đợt tập kích hỏa lực vào toàn bộ các căn cứ pháo binh, sở chỉ huy địch ở nam – bắc đường số 9.

Quân ngụy ở những nơi bị tiến công ra sức chống đỡ. Những trận đánh quyết liệt diễn ra ngay từ đầu. Đêm 30 tháng 3, các chiến sĩ trung đoàn 27 tiến công trên cánh bắc, trong một trận đánh mưu trí lợi dụng lúc địch thay quân, đã chiếm được căn cứ địch ở điểm cao 544 do một bộ phận của trung đoàn 2 sư đoàn 3 ngụy đóng giữ (còn gọi là căn cứ Phu-lơ), bắt sống viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng Hà Thúc Mẫn. Sáng sớm hôm sau, ta chiếm tiếp cứ điểm Đồi Tròn gần đó. Đây là trận đánh tiêu diệt, bắt sĩ quan chỉ huy sớm nhất do cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 27 thực hiện, mở đầu thắng lợi cho toàn chiến dịch.

Cùng ngày, cũng ở cánh bắc ta chiếm cứ điểm Cồn Tiên sau khi địch tháo chạy về Miếu Bái Sơn.

Ở cánh tây, ta tiến công tuyến phòng thủ của lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ngụy, đánh chiếm các cứ điểm Ba Tum, Ba Hồ.

Ở phía đông, các đơn vị đặc công hải quân ta phối hợp với lực lượng địa phương tiếp đánh thủy đội địch trên sông và tại cảng Cửa Việt. Ta làm chủ một khúc sông, chia cắt Cửa Việt với Đông Hà.

Ngày 21 tháng 3 năm 1972, một bộ phận của trung đoàn 56 ngụy đi giải tỏa và tăng viện bị ta chặn đánh và tiêu diệt ở Thiện Xuân. Nhân đà thắng lợi, ta phát triển đánh chiếm căn cứ Đầu Mầu.

Phát huy thế áp đảo của bộ đội chủ lực, các lực lượng vũ trang, chính trị của Quảng Trị ở cánh bắc kịp thời phát động quần chúng bao vây gọi hàng, tiêu diệt quân địa phương của địch ở các chi khu, thôn ấp, đập tan hệ thống kìm kẹp, giải phóng quận lỵ Gio Linh, khu tập trung Bến Ngự, Mai Xá Thị, Tuân Khánh, Hà Thượng. Thắng lợi đó tạo đà cho quần chúng cách mạng ở vùng sâu cùng với du kích các xã Gio Hà, Gio Lễ, Gio Mỹ và khu tập trung Quán Ngang nổi dậy bắt diệt bọn ác ôn, bảo an, dân vệ, giải tán phòng vệ dân sự, làm chủ thôn xã, cô lập các cụm còn lại của địch. Gio Linh là huyện đầu tiên được giải phóng (ngày 31 tháng 3 năm 1972).

Ngày 1 tháng 4 năm 1972, bộ đội chủ lực ta ở cánh tây chặn đánh và tiêu hao nặng mũi phản kích của một bộ phận thuộc lữ đoàn 147 ngụy ở đèo Cùa. Nhân đà thắng lợi, ta tiến công chiếm cứ điểm động Toàn, động Ngô, điểm cao 365. Tuyến phòng thủ của thủy quân lục chiến ngụy bị bóc một mảng lớn. Cùng lúc, ở cánh bắc, quân địch bỏ Dốc Miếu, Dốc Sỏi chạy về Quán Ngang.

Ngày 2 tháng 4 năm 1972, trung đoàn 24 (sư đoàn 304) xiết chặt vòng vây và mãnh liệt tiến công địch ở điểm cao 241, căn cứ sở chỉ huy trung đoàn 56 ngụy. Khiếp đảm vì hỏa lực pháo binh của ta và bị bao vây, toàn bộ quân ngụy trong căn cứ gồm chỉ huy, cơ quan tham mưu trung đoàn cùng một tiểu đoàn bộ binh và đơn vị trực thuộc do viên trung tá trung đoàn trưởng Phạm Xuân Đính, thiếu tá trung đoàn phó Vĩnh Phong cầm đầu phải chấp nhận đầu hàng. Ta chiếm căn cứ, tiếp nhận hàng binh và mọi vũ khí phương tiện. 12 giờ 45 phút ngày hôm đó toàn bộ khu vực phòng thủ của trung đoàn 46 ngụy bị phá vỡ, cũng là trung đoàn ngụy đầu tiên bị diệt gọn trong chiến dịch.

Cùng ngày, bộ đội chủ lực cùng với lực lượng địa phương Quảng Trị ở cánh bắc đánh chiếm chi khu quân sự Cam Lộ. Các lực lượng tại chỗ phối hợp tiến công dồn dập giải phóng hoàn toàn Cam Lộ. Nhiều cứ điểm của địch bị cô lập buộc chúng phải rút bỏ. Quân địch ở Miếu Bái Sơn, Quán Ngang tháo chạy về Đông Hà. Thủy quân lục chiến ngụy bỏ căn cứ chỉ huy ở Mai Lộc rút về phía sau. Toàn bộ hai huyện Gio Linh, Cam Lộ được gỉải phóng. Các khu vực phòng thủ mạnh của bộ binh và thủy quân lục chiến ngụy ở phía bắc và tây-bắc bị phá vỡ. Phần lớn thủy quân lục chiến và trung đoàn 57 ngụy lùi về tuyến Đông Hà.

Ngày 4 tháng 4, ở hướng tây - nam quân địch bỏ cứ điểm động Ông Do co về giữ động Chiêm Dòng, một vị trí án ngữ phía tây quốc lộ số 1 và căn cứ La Vang. Cùng ngày, ở hướng đông ta phát hiện địch ở căn cứ Cửa Việt có hiện tượng rút chạy. Chớp thời cơ, một bộ phận hải quân ta, phối hợp với lực lượng địa phương, dựa vào cơ sở cách mạng nhanh chóng bao vây, gọi hàng, kết hợp tiến công áp đảo đã diệt và bắt gọn địch trong căn cứ. Ta giải phóng và làm chủ khu vực Cửa Việt lúc 16 giờ ngày 4 tháng 4 năm 1972.

Qua gần sáu ngày đêm mở đầu chiến dịch, với sức mạnh tiến công áp đảo, các lực lượng chủ lực và địa phương đã hiệp đồng, phối hợp chặt, phá vỡ toàn bộ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch ở bắc Quảng Trị. Ta diệt gọn một trung đoàn, đánh thiệt hại nặng ba trung đoàn khác và thiết đoàn 20, bốn căn cứ trung đoàn, bảy căn cứ tiểu đoàn. Toàn tuyến "ngăn chặn" của Mỹ đã bất lực. Hai huyện Gio Linh, Cam Lộ gồm 100 nghìn dân được giải phóng, cùng với vùng giải phóng cũ ở miền tây đã nối thông với hậu phương Quảng Bình - Vĩnh Linh của miền Bắc.

Trong thắng lợi mở đầu chiến dịch, các lực lượng vũ trang, chính trị tỉnh Quảng Trị (chủ yếu là các lực lượng thuộc cánh bắc1, cơ sở cách mạng ở khắp thôn xã, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đã tích cực phối hợp với nỗ lực cao nhất. Quân và dân bắc Quảng Trị vừa phát động quần chúng, tích cực vận động binh lính địch, vừa tiến công các đồn bốt bảo an, trụ sở tề ấp, phá bỏ các khu tập trung, quét sạch bộ máy ngụy quyền tay sai, thiết lập ngay chính quyền cách mạng. Nhân dân xã Gio Hải phá bỏ khu tập trung bắc Cửa Việt, bắt sống 150 lính ngụy và ác ôn, thu vũ khí, vận động hàng trăm tên khác nộp súng trở về với cách mạng. Gần mười nghìn đồng bào Kinh, Thượng ở các khu tập trung Cùa, Ba Lòng trở về làng bản cũ, tuyên truyền lôi kéo cả lính bảo an, dân vệ. Nhiều đảng viên, cán bộ cơ sở, chiến sĩ biệt động đã dũng cảm kiên cường quên mình diệt địch giành dân. Đồng chí Hồ Thảo, một cán bộ cơ sở người Vân Kiều đã dùng xe lấy được của địch chạy gọi loa vận động binh lính và đồng bào dân tộc theo cách mạng. Trong cuộc chiến đấu này, cán bộ cơ sở, đội viên du kích Nguyễn Xuân Cân, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Hoài Thu và nhiều đồng chí khác đã anh dũng hy sinh2.

Tuy về toàn cục, khi mở đầu chiến dịch thành tích chưa cao, các lực lượng địa phương ở cánh nam, phần lớn là các tiểu đoàn chủ lực của tỉnh Quảng Trị (hai tiểu đoàn 8, 14 bộ binh, tiểu đoàn 10 đặc công, đại đội 34 pháo cối...) bị địch chặn lại ở vùng giáp ranh, không thực hiện được ý định luồn sâu xuống đồng bằng; phong trào nổi dậy chưa hòa nhịp với đòn tiến công áp đảo của chủ lực, nhưng thắng lợi ở bắc Quảng Trị là rất to lớn.
______________________________________________
1. Lực lượng vũ trang Quảng Trị ở cánh bắc lúc này gồm có: đại đội 10 bộ binh, đại đội 11 đặc công, 10 đội biệt động, một đội an ninh vũ trang của huyện Gio Linh, các đại đội 14, 15 bộ binh, đại đội 12 đặc công, bốn đội biệt động của huyện Cam Lộ. Trực thuộc ban chỉ huy cánh bắc có tiểu đoàn 10 đặc công (thiếu đại đội 11), tiểu đoàn 47 bộ binh khu đội Vĩnh Linh, hai đại đội 12,7 ly của Nghệ An, Nam Hà vào tăng cường trước chiến dịch.
2. Riêng các lực lượng địa phương và nhân dân cánh bắc đã đánh 62 trận, diệt 623 địch, bắt 206 tên (có 115 ác ôn ngụy quyền thôn xã). Một số đơn vị nhỏ quân ngụy gồm một đại đội lính cộng hòa, hai ban chỉ huy liên đội bảo an, bảy trung đội dân vệ, một trung đội và ba đại đội bảo an bị diệt gọn, phá hủy 21 xe quân sự các loại, thu hàng nghìn súng, phá 12 đồn bốt, chi khu quân sự, bốn khu tập trung, vận động ba trung đội dân vệ, một trung đội bảo an ra hàng tập thể, gọi hàng hàng trăm tên khác.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 09:04:47 pm

Ở hướng phối hợp Thừa Thiên, các lực lượng của Bộ Tư lệnh B4 liên tục đánh địch ở Cù Mông, điểm cao 620, uy hiếp đường số 12, thu hút và kiềm chế một bộ phận quan trọng của sư đoàn 1 ngụy. Du kích các huyện trên toàn tỉnh, nhất là hướng bắc Thừa Thiên hoạt động rộng khắp, tiêu hao địch, buộc chúng phải phân tán đối phó.

Ở hậu phương trực tiếp, nhân dân khu vực Vĩnh Linh, khẩn trương huy động 8.000 dân công ngày đêm khôi phục nối liền quốc lộ số 1, bắc cầu phao qua sông Hiền Lương, chuẩn bị bến vượt cho xe, pháo lớn của ta kịp chuyển lên phía trước; đón nhận, chăm sóc thương binh, thu dung tù binh, hàng binh, giúp cho nhân dân Gio Linh, Cam Lộ các nhu cầu cần thiết lúc đầu.

Cùng với hướng trọng điểm Quảng Trị, từ ngày 31 tháng 3 đến cuối tháng 4, quân ta tiến công tuyến phòng thủ địch ở tây sông Pô Cô, giải phóng Đắc Tô, Tân Cảnh, uy hiếp vùng bắc Công Tum (Tây Nguyên), giải phóng Lộc Ninh, Bù Đốp, Thiện Ngôn, bao vây An Lộc, uy hiếp Sài Gòn (Đông Nam Bộ)...

Bất ngờ trước những đòn tiến công mở đầu của ta trên toàn miền Nam, nhất là trước tình hình đang diễn biến nghiêm trọng ở Quảng Trị, giới chóp bu Mỹ - ngụy tìm cách đối phó, phản ứng, hòng xoay chuyển lại tình thế. Tổng thống Ních-Xơn ra lệnh ném bom trở lại miền Bắc. Chính phủ Mỹ đơn phương ngừng các phiên họp ở Hội nghị Pa-ri và đưa không quân, hải quân trở lại tham chiến ở miền Nam.

Ở Sài Gòn, hội đồng an ninh quốc gia ngụy họp khẩn cấp, bàn cách chặn đứng cuộc tiến công của ta, giữ Đông Hà - Quảng Trị và các huyện phía nam.

Địch điều quân cấp tốc từ Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế ra Quảng Trị đối phó với ta. Chỉ trong một thời gian ngắn, địch đã dồn về khu vực Đông Hà, Quảng Trị hơn 15.000 quân gồm năm trung đoàn bộ binh cùng với xe tăng, thiết giáp pháo binh các loại1. Với lực lượng mới tăng cường cùng với quân của sư đoàn 3 bộ binh và lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến đã đưa tổng số quân chủ lực ngụy ở đây vào giữa tháng 4 năm 1972 lên tới 54.500 tên, tương đương số quân trước ngày 30 tháng 3 năm 19722.

Với quân số đông, xe tăng, xe bọc thép nhiều (350 chiếc, có 130 xe tăng), hỏa lực mạnh (297 khẩu pháo các loại) lại được không quân và hải quân Mỹ chi viện ồ ạt, địch sử dụng phần lớn quân chủ lực tổ chức tuyến ngăn chặn mới trên chiều sâu 17 ki-lô-mét, chiều rộng không quá năm ki-lô-mét dọc theo quốc lộ số 1, gồm ba cụm lớn: Đông Hà - Lai Phước (là cụm chủ yếu, có ba trung đoàn bộ binh, hai thiết đoàn), Ái Tử (hai trung đoàn bộ binh, một thiết đoàn tăng cường, đây là cụm trung gian); La Vang - Quảng Trị (một trung đoàn bộ binh, một chi đoàn thiết giáp, căn cứ chỉ huy sư đoàn 3). Mỗi cụm triển khai số xe tăng, thiết giáp thành những "pháo đài thép di động" làm vỏ cứng vòng ngoài kết hợp với "hàng rào lửa” bằng hỏa lực nhiều tầng nhiều lớp của không quân, pháo hạm, pháo mặt đất kiểm soát chặt chẽ các hướng phát triển của ta bằng những "túi lửa" phong tỏa từ xa đến gần, nhằm ngăn chặn và tiêu hao lớn lực lượng ta trên một giải địa hình đồng bằng trống trải dưới thời tiết nắng nóng giữa mùa gió Lào miền Trung.

Một bộ phận quân chủ lực địch cùng với quân địa phương củng cố hệ thống phòng thủ bên sườn, phía sau, dọc vùng đồng bằng ven biển thuộc hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng, ra sức kéo dân sơ tán vào phía nam.

Quá trình thiết lập tuyến phòng thủ mới, chúng dồn bom, đạn bắn phá hủy diệt khu vực bắc Quảng Trị, phá cầu Đông Hà, rải chất độc hóa học khu vực Cùa - Ba Lòng, gây cho ta không ít khó khăn và thiệt hại.

Sau thắng lợi mở màn, biết địch đã thay đổi bố trí, Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận định: "địch tuy tăng cường lực lượng nhưng chưa được củng cố, tinh thần hoang mang dao động, nếu ta đánh nhanh, đánh mạnh thì chúng sẽ tan vỡ nhanh". Từ nhận định trên, ta quyết định tiến công vào các cụm địch mới thiết lập. Đợt tiến công diễn ra đêm 8 và cả ngày 9 tháng 4, nhưng không thành công. Các lực lượng đột kích chưa chọc thủng được "vành đai thép" bằng xe tăng, thiết giáp của địch; chưa tạo ra nhiều hướng uy hiếp phân tán đối phó của chúng, phải tạm ngừng để chuyển sang bước hoạt động đêm, duy trì đánh nhỏ, vừa đánh giao thông tiếp tế, vừa tiếp tục tiêu hao địch, vừa tìm biện pháp đánh bại chiến thuật mới của chúng, tranh thủ chuẩn bị chu đáo hơn.

Các lực lượng tham gia chiến dịch được nhanh chóng bổ sung, củng cố. Lực lượng địa phương Quảng Trị khẩn trương luồn sâu xuống đồng bằng. Du kích, cán bộ chính trị, cơ sở quần chúng trong vùng địch vừa hoạt động nhỏ lẻ, rộng khắp, vừa giúp chuẩn bị chiến trường tạo thế. Một cánh bộ binh thiết giáp của chiến dịch được thành lập, có các lực lượng địa phương tham gia, lấy Cửa Việt làm bàn đạp khẩn trương chuẩn bị sẵn sàng bước vào chiến đấu trên hướng đông.

Trong khi chiến đấu tạo thế ở khu vực Đông Hà - Ái Tử các khẩu đội B72 của Lục Vĩnh Tưởng, Lê Văn Trung và nhiều tổ bộ binh ta đã giành thắng lợi bước đầu trong việc săn diệt xe tăng, xe bọc thép địch bằng vũ khí mới và cách đánh gần3.

Ở tuyến sau, vượt qua bom đạn, chất độc hóa học và mọi thủ đoạn ngăn chặn của địch, quân và dân Hướng Hóa, Gio Linh, Cam Lộ đã kiên cường bám trụ, vừa sẵn sàng chiến đấu giữ vững vùng mới giải phóng, vừa đảm đương nhiệm vụ của hậu phương trực tiếp tham gia chuẩn bị cho đợt tiến công. Giao thông qua sông Bến Hải đã thông suốt bằng mọi phương tiện của quân đội, Nhà nước và nhân dân. Tuyến hậu cần - kỹ thuật mới đã chuyển lên sát Đông Hà. Hàng chục nghìn dân Gio Linh, Cam Lộ được sơ tán an toàn ra Quảng Bình, Vĩnh Linh.
___________________________________________
1. Ngày 4 tháng 4, liên đoàn 1 biệt động quân từ Đà Nẵng ra La Vang, thiết đoàn 17 từ Đà Nẵng ra Quảng Trị. Ngày 5 tháng 5, một chi đoàn thiết giáp từ Sài Gòn ra Quảng Trị. Ngày 7 tháng 4, liên đoàn 5 biệt động quân từ Sài Gòn ra Lai Phước.
Cùng thời gian, địch còn điều lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến từ Sài Gòn ra đứng ở Mỹ Chánh, liên đoàn 4 biệt động quân từ Sài Gòn ra đứng ở Phú Bài. 1200 lính Mỹ giữ căn cứ Đà Nẵng được lệnh báo động sẵn sàng ra Quảng Trị, thiết đoàn 18 cũng từ Sài Gòn ra đứng ở Đồng Lâm.

2. Gồm bốn sư đoàn bộ binh và thủy quân lục chiến, năm trung đoàn tăng - thiết giáp, 17 tiểu đoàn pháo binh và quân địa phương còn lại.
3. Trong đợt này, 60 xe tăng, xe bọc thép, hai kho đạn, một số xe tải và lô cốt địch đã bị diệt bằng 116 viên dạn B72. Riêng khẩu đội Lục Vĩnh Tưởng ngay ngày đầu đã diệt sáu xe tăng địch bằng sáu viên đạn B72. Sau này hai pháo thủ Lục Vĩnh Tưởng và Lê Văn Trung đều được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 09:06:13 pm

Sau thời gian chuẩn bị, ngày 20 tháng 4 năm 1972, quyết tâm và kế hoạch tiến công của Bộ Tư lệnh chiến dịch đã được phê chuẩn. Nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch tiến công là: "Tập trung lực lượng tiêu diệt các cụm địch ở Đông Hà, Ái Tử, Quảng Trị, La Vang, hỗ trợ cho quần chúng ở Triệu Phong, Hải Lăng nổi dậy, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, sau đó nắm thời cơ phát triển giải phóng Thừa Thiên". Xác định hướng tiến công chủ yếu là Đông Hà - Lai Phước. Hướng phối hợp quan trọng là Ái Tử. Hướng thọc sâu vu hồi và tiến công hỗ trợ quần chúng nổi dậy là đồng bằng Triệu Hải. Hướng chia cắt là nam Quảng Trị. Thừa Thiên vẫn là hướng phối hợp chung.

Quán triệt quyết tâm của chiến dịch, Tỉnh ủy, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị dồn đại bộ phận lực lượng vào cánh nam để hoạt động phối hợp, thành lập thêm cánh đông do đồng chí Nguyễn Văn Lương, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách. Ngoài ra, tỉnh còn cử một số đơn vị du kích và cán bộ chính trị tăng cường vào đội hình các lực lượng đột kích của chủ lực trên các hướng chủ yếu giúp trinh sát dẫn đường và liên lạc với du kích, cơ sở của ta phối hợp hoạt động.

Ở hậu phương Quân khu 4, quân và dân các tỉnh đã kịp thời đánh trả không quân, hải quân Mỹ, giữ vững mạch máu giao thông, không ngừng động viên sức người, sức của dồn ra phía trước, chi viện tiền tuyến và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn.

5 giờ ngày 27 tháng 4 năm 1972, pháo binh ta bắn gần 30.000 quả đạn vào các cụm địch ở Đông Hà, Lai Phước, Ái Tử, La Vang.

Dưới sự chi viện mạnh mẽ của pháo binh, bộ đội binh chủng hợp thành thuộc sư đoàn 308 đã đột phá mãnh liệt vào các cụm phòng ngự của địch ở Đông Hà, Lai Phước, phá vỡ từng mảng xe tăng, thiết giáp, bẻ gãy các mũi phản kích của chúng. Trận đánh diễn ra quyết liệt suốt ba ngày đêm, đến khi ta chiếm sân bay Đồng Hà, phá sập cầu Lai Phước, diệt phần lớn trung đoàn 57 và các liên đoàn biệt động số 4, số 5, thì địch ở đây mới hoảng hốt tháo chạy về Ái Tử, bỏ lại gần hết xe cộ và súng pháo nặng. Ta chiếm Đông Hà, Lai Phước lúc 18 giờ ngày 28 tháng 4 năm 1972.

Cuộc tiến công cụm địch ở Ái Tử của sư đoàn 304 quyết liệt và kéo dài hơn. Ta và địch quần nhau suốt ngày đêm, giành đi giật lại từng mục tiêu, nhất là cầu Quảng Trị, các thôn Trung Chỉ, Đại Áng trên quốc lộ số 1, cửa ngõ vào thị xã. Khi Đông Hà đã mất, lực lượng bị tiêu hao nặng nề, địch ở Ái Tử tìm cách rút chạy về thị xã qua cầu Quảng Trị. 20 chiến sĩ do trung đội trưởng Mai Quốc Ca chỉ huy (thuộc trung đoàn 9, sư đoàn 304) đã mưu trí, quả cảm chiếm lô cốt đầu cầu, đánh hất địch lại và chiến đấu đến người cuối cùng, bịt chặt đường rút của chúng tạo điều kiện cho quân ta ập đến tiêu diệt. Tàn quân địch vứt bỏ xe cộ, trang bị, liều lội qua sông bị diệt thêm một số. Ta chiếm Ái Tử lúc 2 giờ ngày 1 tháng 5 năm 1972, phá và hai cụm mạnh nhất của tuyến phòng thủ Đông Hà - Quảng Trị, áp sát thị xã từ tả ngạn sông Thạch Hãn.

Cùng lúc diễn ra cuộc tiến công vào quân địch co cụm dọc quốc lộ số 1, cánh thọc sâu vu hồi chiến dịch của trung đoàn 27 bộ binh và tiểu đoàn 66 bộ binh thiết giáp có các lực lượng địa phương tham gia1, được sự hỗ trợ rất tích cực của cán bộ cơ sở và quần chúng cách mạng, sự chi viện hết lòng của hậu phương Vĩnh Linh, đã từ bàn đạp Cửa Việt bước vào tiến công trong hành tiến, đột phá vào hệ thống phòng thủ của địch dọc vùng đồng bằng ven biển Triệu Hải. Quân đi đến đâu đều được nhân dân phấn khởi chào đón và phối hợp đánh địch bằng sức mạnh áp đảo bất ngờ, bằng binh vận, kêu gọi địch đầu hàng hoặc làm binh biến. Nhờ đó ta đã nhanh chóng đánh chiếm Gia Đẳng, một khu tập trung lớn gần 10 nghìn dân (28 tháng 4), bao vây bức hàng chi khu quân sự Triệu Phong (29 tháng 4), làm chủ các thôn Linh Chiêu, Phương Lang (30 tháng 4) và tiến chiếm chi khu quân sự Hải Lăng lúc 10 giờ, ngày 2 tháng 5. Thừa tháng, đội hình thọc sâu phát triển tiếp đến bắc sông Mỹ Chánh (3 tháng 5). Các lực lượng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thọc sâu vu hồi trên một chiều dài ngót 90 ki-lô-mét từ sông Cửa Việt đến sông Mỹ Chánh, đánh một đòn hiểm sau lưng địch, giải phóng hai huyện đồng bằng, tạo thuận lợi lớn cho nhiệm vụ giải phóng Quảng Trị.

Phối hợp chặt chẽ với các hướng khác, ở hướng nam, cánh chia cắt chiến dịch do sư đoàn 324 làm nòng cốt, có lực lượng tại chỗ tham gia đã tiến công vào hệ thống phòng thủ của địch trong khu vực này. 6 giờ ngày 30 tháng 4, ta đánh chiếm cầu Dài, cầu Bến Đá, làm chủ đoạn quốc lộ số 1 giữa hai cầu, mở rộng vùng kiểm soát ra phía bắc đến Nhùng và phía nam đến sông Mỹ Chánh, đánh lui các đợt ứng viện của lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến ngụy ra giải tỏa cho đồng bọn bị vây hãm ở Quảng Trị, La Vang.

Đang lúc địch ở các cứ điểm hoang mang, lúng túng, thì trưa ngày 2 tháng 5, hàng loạt đạn hỏa tiễn BM14, Đ74 bắt thần dội xuống làm chúng thêm khiếp đảm và rối loạn. Cố vấn Mỹ bỏ về Sài Gòn, Vũ Văn Giai vội vã lên trực thăng tẩu thoát. Mất chỉ huy, đội hình địch tan vỡ liều chết theo quốc lộ số 1 chạy về Mỹ Chánh, nhưng chúng đã bị các đơn vị phía nam của ta chặn đánh lại. Suốt đoạn đường số 1 từ cầu Dài đến cầu Bến Đá, hàng trăm xe pháo, xác địch ngổn ngang.

18 giờ ngày 2 tháng 5 năm 1972, quân ta tiến vào thị xã Quảng Trị, cắm cờ chiến thắng lên tòa hành chính ngụy, đánh dấu ngày tỉnh Quảng Trị hoàn toàn được giải phóng sau một thời gian dài bị thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chiếm đóng.

Trong đợt tiến công này, nhân dân, du kích các thôn xã, các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện đã nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, kiên cường bám trụ, phục vụ và phối hợp với các binh đoàn chủ lực chiến đấu dũng cảm. Du kích và nhân dân các xã Triệu Thượng, Triệu Lễ, Triệu Ái sát cánh với bộ đội trong những trận đánh rất ác liệt để giải phóng Ái Tử và thị xã. Dưới bom đạn của địch, nhân dân xã Triệu Thạch tự dỡ nhà mình làm công sự cho bộ đội; tham gia tiếp tế đạn, lương thực cho các chiến sĩ đánh địch phản kích. Ngư dân ven biển, ven sông đem hết thuyền, chặt thêm tre, chuối kết bè mảng giúp bộ đội vượt sông. Các tiểu đoàn 8, 10, 14 bộ đội địa phương tỉnh cùng với du kích và nhân dân Hải Lăng kịp thời đánh chiếm từng mảng đồn bốt, phá bỏ hệ thống kìm kẹp của địch, phối hợp đắc lực với chủ lực. Du kích và nhân dân xã Triệu Vĩnh chủ động chiếm đồn Thị Ông, xã Hải An chiếm cảng Mỹ Thủy, xã Hải Thiện tham gia truy kích lính "cộng hòa", xã Hải Châu chiếm đồn Đa Nghi, xã Hải Thượng vây đánh địch rút chạy, gọi hàng và bắt hàng trăm tên địch; trong đó, có hai bà mẹ đã tiến thẳng vào căn cứ một tiểu đoàn lính "cộng hòa", kêu gọi chúng bỏ súng đầu hàng. Các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy của địa phương ở cánh đông đã lên xe thiết giáp dẫn đường cho bộ đội tiến công và tuyên truyền phát động quần chúng, gọi hàng binh lính địch. Đồng chí Lê Thị Tám, người bí thư đảng ủy xã, chỉ huy du kích Triệu Thượng cùng đồng đội bám sát thôn xã chiến đấu. Đồng chí Bích Lan, thị ủy viên, mưu trí dẫn đường cho các đơn vị vượt sông chiếm thị xã.
____________________________________________
1. Lực lượng địa phương trong đội hình thọc sâu gồm có: tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 47, khu vực Vĩnh Linh; các đại đội địa phương Triệu Phong, Hải Lăng. Ngoài ra, khu đội Vĩnh Linh còn tăng cường thêm đại đội 11 bộ binh, đại đội 18 pháo cối, đại đội 14 Công binh phối hợp với lực lượng tỉnh Quảng Trị trên cánh này.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 09:07:39 pm

Trên hướng phối hợp Thừa Thiên, lực lượng địa phương hoạt động trên đường số 12. Một bộ phận chủ lực B4 đánh sâu xuống chi khu Hương Trà, Nam Hòa. Tỉnh mở thêm đợt hoạt động du kích ở các huyện phía nam, phá hỏng nặng đường sắt Đà Nẵng - Huế, địch phải bỏ hẳn tuyến đường sắt này kể từ đó.

Trong 34 ngày đêm (từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 2 tháng 5) của giai đoạn đầu chiến dịch, các lực lượng của ta đã diệt và làm bị thương hơn 14.000 địch, bắt hơn 3.000 tên, trong đó sư đoàn 3 ngụy bị tiêu diệt. Toàn bộ quân địa phương ở Quảng Trị bị tan rã. Ta phá hủy và thu 636 xe tăng, thiết giáp (thu nguyên vẹn 56 chiếc) và 187 xe quân sự khác, 419 khẩu pháo (73 khẩu thu nguyên vẹn), bắn rơi và phá hủy 340 máy bay; giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị với gần 30 vạn dân. Quân và dân Quảng Trị đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung. Vừa phục vụ chiến đấu và phối hợp chiến đấu cùng với bộ đội chủ lực, các lực lượng địa phương và nhân dân Trị - Thiên đã diệt và chiếm lĩnh hai thị xã, sáu quận lỵ, chi khu, 55 đồn bốt bảo an dân vệ, 56 cơ quan ngụy quyền thôn xã, triệt hạ toàn bộ hệ thống chính quyền tay sai, tổ chức chính quyền cách mạng từ tỉnh đến cơ sở, phá trên 10 khu tập trung dân của địch, đưa hàng chục nghìn dân về làng cũ, sơ tán 15 nghìn dân Gio Linh, Cam Lộ đến nơi an toàn. Riêng Triệu Phong, Hải Lăng, 160 nghìn trong số 210 nghìn dân kiên cường bám quê hương, chiến đấu; phá hai nhà lao, giải thoát gần 150 anh chị em tù chính trị bị giam cầm.

Quê hương được giải phóng, nhưng quân và dân Quảng Trị đang đứng trước nhiều thử thách nặng nề. Ngày 1 tháng 6 năm 1972, Tỉnh ủy Quảng Trị ra nghị quyết "bảo vệ và xây dựng vùng giải phóng một cách toàn diện". Ngày 9 tháng 6 năm 1972, Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Quảng Trị làm lễ ra mắt tại thị xã. Các cấp chính quyền từ huyện đến xã được thành lập. Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng và các đoàn thể quần chúng từ tỉnh đến cơ sở bắt đầu hoạt động. Toàn tỉnh có gần 1.000 đoàn viên thanh niên nhân dân cách mạng, 5.029 hội viên thanh niên giải phóng, 12.600 hội viên phụ nữ giải phóng, 1.069 hội viên hội mẹ chiến sĩ. Tỉnh ủy đã khẩn trương củng cố lại các huyện ly, thành lập các chi bộ đảng ở xã, phát triển thêm đảng viên. Số đảng viên tăng nhanh cả số lượng và chất lượng. Nếu quý 1 năm 1972 toàn tỉnh có 2.757 đảng viên thì quý 2 tăng lên 3.357 đảng viên. Cán bộ các ngành cấp huyện và tỉnh có 2.080 người.

Tỉnh đội triển khai củng cố, xây lực lượng vũ trang địa phương và đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích. Sau khi tiếp nhận tiểu đoàn 3 (bộ đội địa phương khu vực Vĩnh Linh chuyển giao lại), tỉnh đã điều chỉnh bố trí các đơn vị phù hợp với nhiệm vụ mới, vừa làm nòng cốt trong phòng thủ khu vực, vừa xây dựng làng chiến đấu, dìu dắt dân quân, du kích1. Bộ đội địa phương huyện được bổ sung quân số, vũ khí. Hơn 2.000 thanh niên được tuyển chọn và tự nguyện tham gia lực lượng vũ trang của tỉnh, ở các thôn, xã có 1.512 du kích xã, 3.266 du kích thôn, 1.048 dân quân. Mỗi xã đều có trung đội du kích tập trung. Cán bộ thôn đội, xã đội, trung đội có 703 người đều có kinh nghiệm chiến đấu ở địa phương.

Nhân dân được phát động đã tích cực xây dựng làng xã chiến đấu. Trong thời gian ngắn, nhân dân đã đào được 17.212 hầm, 34.404 mét giao thông hào...

Hệ thống tổ chức an ninh được khẩn trương xây dựng và hoạt động với 315 an ninh vũ trang, 96 an ninh nhân dân và 300 an ninh huyện. Tỉnh thành lập công an xã, thôn và mạng lưới an ninh cơ sở.

Kết hợp vừa xây dựng củng cố, vừa chiến đấu bảo vệ địa bàn, lực lượng vũ trang và an ninh địa phương đã cùng nhân dân liên tục đánh trả địch bắn phá và lấn chiếm, diệt 35 tên, bắn rơi hai máy bay, bắn cháy hai xe tăng, truy bắt bọn phản động, kêu gọi 65 tên ra đấu thú, cải tạo và phóng thích 182 tên khác.

Những kết quả trên đây của một tỉnh mới giải phóng trong những ngày đầu còn non trẻ, thể hiện cố gắng lớn của quân và dân Quảng Trị.

Trước tình thế Quảng Trị bị thất thủ, Thừa Thiên bị uy hiếp nặng nề, Mỹ - Thiệu cách chức Hoàng Xuân Lãm, đưa tướng Ngô Quang Trưởng thay làm tư lệnh quân khu 1 (quân đoàn 1) giải thể luôn sư đoàn 3. Địch khẩn trương củng cố bổ sung các đơn vị bị tổn thất, đồng thời đưa hết lực lượng dự bị của quân đoàn 1 cùng với 17 tiểu đoàn pháo binh, năm trung đoàn xe tăng, xe bọc thép thiết lập một phòng tuyến mới ở nam sông Mỹ Chánh, nhằm trước mắt ngăn chặn ta phát triển vào Thừa Thiên đồng thời tranh thủ thời gian chuẩn bị cho một cuộc phản công quy mô lớn chiếm lại Quảng Trị.

Trên tuyến phòng ngự này, bộ binh và xe tăng địch vừa ngăn chặn ta theo lối "phân tán, di động", kết hợp với các trận phản kích quy mô vừa và tích cực lấn chiếm một số địa hình có lợi phía bắc sông Mỹ Chánh, vừa lập thêm bàn đạp vừa thăm dò và phá các hoạt động chuẩn bị của ta. Không quân, pháo hạm và pháo mặt đất liên tục bắn phá những khu vực ta kiểm soát. (Trung bình 11 lần chiếc mỗi ngày trong tháng 5 năm 1972, lên 51 lần chiếc, cao nhất tới 106 lần chiếc mỗi ngày trong tháng 6 năm 1972).

Tình hình địch, ta thay đổi. Thế trận và yếu tố bất ngờ trong ý định giải phóng Thừa Thiên không còn nữa. Cả thế và lực của ta đều chưa đủ mạnh. Tuy có tổ chức hoạt động tạo thế trong khu vực nam sông Mỹ Chánh, bắc sông Bồ từ ngày 3 tháng 5 đến ngày 19 tháng 6, các lực lượng của chiến dịch có tiêu hao thêm một số địch, chiếm được một số bàn đạp, nhưng không tạo ra được một chuyển biến nào có ý nghĩa. Hệ thống đường sá phía nam phải chuẩn bị trong hoàn cảnh vừa đánh địch, vừa mở đường nên rất chậm. Mùa mưa đến sớm gây lũ lớn ở sông Thạch Hãn, địch lại khống chế ác liệt các điểm vượt sông, nên vận chuyển từ sau lên gặp khó khăn lớn. Nhiều đơn vị phải dùng một phần lực lượng làm vận tải. Hầu hết các đơn vị chủ lực ta tuy có được bổ sung quân số, song cán bộ, chiến sĩ đều mệt mỏi, sức khỏe giảm sút, quân số bị hao hụt không bù kịp, các vũ khí nặng vận chuyển khó khăn và thiếu dạn. Trong khi đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch vẫn cho rằng khả năng của địch chỉ có thể phản công vào mùa mưa với điều kiện phải có thêm từ một đến hai sư đoàn nữa; trước mắt chúng chỉ có thể tổ chức cuộc hành quân vừa tại Hải Lăng. Từ đó Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương tiếp tục tiến công, phá vỡ tuyến phòng thủ nam sông Mỹ Chánh của địch, thực hiện quyết tâm của trên: "tiêu diệt đại bộ phận lực lượng quân sự của địch, giải phóng Thừa Thiên. Kể cả Huế và Phú Bài - đưa cuộc tiến công chiến lược ở Thừa Thiên đến toàn thắng” (diện Quân ủy Trung ương gửi Bộ Tư lệnh B702).
______________________________________________
1. Bố trí lực lượng của tỉnh Quảng Trị sau khi được giải phóng: tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 8 tại thị xã Quảng Trị, tiểu đoàn 14 tại Cửa Việt, tiểu đoàn 10 tại Mỹ Thủy, Diên Sanh. Mỗi huyện phía sau và hai thị xã có một đại đội, riêng Triệu Phong, Hải Lăng mỗi huyện hai đại đội.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 09:09:32 pm

Sau khi đã phải kéo dài công tác chuẩn bị, đến 20 tháng 6 năm 1972, ta mới mở đầu tiến công. Một vài đơn vị chủ lực chọc thủng được phòng tuyến địch, bắt liên lạc với lực lượng địa phương bắc Thừa Thiên, tích cực thọc sâu vào tuyến sông Bồ. Nhưng cuộc tiến công của ta không đồng đều, sức chiến đấu bộ đội giảm nhanh. Sau bảy ngày chiến đấu (20 tháng 6 đến 26 tháng 6 năm 1972), ta diệt thêm gần 3.000 tên địch, nhưng các mũi đột phá của ta đều bị chặn lại. Ta không giải phóng thêm được đất đai, ngược lại bị mất thêm một số bàn đạp ở bắc sông Mỹ Chánh. Tổn thất lúc này của ta còn cao hơn cả tổn thất trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị.

Trước thực tế đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương ngừng tiến công để chuẩn bị đối phó với địch phản kích. Nhưng đã muộn, sáng 28 tháng 6 năm 1972, cuộc hành quân “Lam Sơn 72" - cuộc phản công lớn của quân ngụy đã bắt đầu. Tỉnh Quảng Trị mới được giải phóng gần hai tháng lại đứng trước thử thách mới.

Âm mưu địch trong cuộc Phản công này là tái chiếm thị xã Quảng Trị trong tháng 7 và toàn tỉnh Quảng trị trong tháng 9 năm 1972. Sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến phản công trên hai trục: quốc lộ số 1 (sư đoàn dù) và tỉnh lộ 68 (sư đoàn thủy quân lục chiến). Lực lượng dự bị của địch có chiến đoàn 4 mới được thành lập (gồm một trung đoàn bộ binh và một trung đoàn xe tăng, xe bọc thép). Toàn bộ pháo binh của quân đoàn 1, tất cả sư đoàn 1 không quân, vùng 1 hải quân ngụy cùng với không quân và hải quân Mỹ bảo đảm chi viện hỏa lực. Mỹ đã tăng gấp đôi số máy bay B52, triển khai trở lại toàn bộ lực lượng không quân chiến thuật ở miền Nam để chi viện hỏa lực cho quân ngụy phản công. Đứng sau đội hinh phản công là sư đoàn 1 bộ binh và một bộ phận của sư đoàn 2, liên đoàn 1 biệt đông quân... kể cả một bộ phận thủy quân lục chiến Mỹ đã sẵn sàng ở căn cứ Phú Bài.

Ngày 20 tháng 6 năm 1972, địch tổ chức cuộc đổ bộ giả vào vùng ven biển từ Cửa Việt đến Cửa Tùng để nghi binh. Sau đó liên tiếp trong hai ngày đêm (26 và 27 tháng 6) địch bắn phá dọn đường. Sáng sớm ngày 28 tháng 6 năm 1972 từ tuyến xuất phát đông Mỹ Chánh, bộ binh và xe tăng dịch mở cuộc phản công. Chúng kết hợp tiến công đường bộ (đường số 1 và đường 68) với đổ bộ đường không (nam sông Nhùng, Cổ Lũng) và đường biển (khu vực Thuận Đầu) từ nhiều hướng tiến đánh các chốt của ta trên đường tới thị xã.

Bộ đội chủ lực ta đang ở thế tiến công phải vừa điều chỉnh gấp đội hình, vừa chiến đấu chặn địch. Chỉ trong một tuần địch đã tràn qua một vùng khá rộng từ Gia Đẳng, Long Hưng đến La Vang, chiếm lại quận lỵ Hải Lăng, ốp sát ngoại vi phía nam thị xã Quảng Trị.

Bộ chỉ thị cho mặt trận Quảng Trị "chỉ có một khả năng giữ Quảng Trị, đánh bại cuộc hành quân của địch". Bộ Tư lệnh B702 quyết định "tăng cường và chi viện cho lực lượng giữ thị xã, đồng thời liên tục tổ chức những trận phản kích hai bên sườn, chủ yếu là hướng tây, từng bước đánh bại ý đồ của địch, nhanh chóng chiếm thị xã". Lực lượng ta “chuyển từ chiến dịch tiến công sang phản công” để đánh bại cuộc phản công của địch.

Trước yêu cầu cấp bách phải bảo vệ quê hương mới được giải phóng, Tỉnh ủy Quảng Trị chủ trương "kiên quyết phối hợp vơi chủ lực đánh bại cuộc phản kích của địch" và đề ra biện pháp: tập trung giữ vững thị xã Quảng Trị, nhanh chóng hình thành chiến tranh du kích sau lưng địch, tổ chức sơ tán dân Triệu Phong, Hải Lăng về phía sau, tích cực phòng tránh, hạn chế thiệt hại.

Tại khu vực thị xã, ngoài lực lượng nòng cốt là trung đoàn 48 được tăng cường xe tăng, pháo binh, tỉnh đã bổ sung quân số đầy đủ cho các tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 8 của tỉnh, đại đội 32 của thị xã và một số du kích, cán bộ cơ sở để phối hợp bảo vệ địa bàn.

Tiểu đoàn đặc công tỉnh và các đại đội bộ đội địa phương huyện Hải Lăng cùng với du kích bám trụ thôn xã, tích cực hoạt động ở những vùng chúng đã tràn qua, xây dựng phong trào chiến tranh du kích sau lưng địch.

Tiểu đoàn 14 với nhiệm vụ chủ yếu là cùng chủ lực chốt giữ Cửa Việt và các điểm trọng yếu ở phía đông, nhưng phải khẩn trương cùng cán bộ cơ sở vận động và tổ chức sơ tán dân Triệu Hải về phía sau, kể cả những vùng địch tràn qua.

Cuộc đánh trả địch phản công của quân và dân ta trên mặt trận Quảng Trị quyết liệt ngay từ những ngày đầu.

Sau khi chiếm được một số bàn đạp có lợi, địch chuyển sang tiến công vào thị xã. Suốt từ ngày 4 đến 24 tháng 7, quân dù ngụy đã đột phá từ hướng tây - nam, trong khi thủy quân lục chiến ngụy đánh vòng lên phía bắc. Ý định của địch chiếm thị xã vào ngày 10 tháng 7, nhưng không thành, chúng lùi thời hạn đến ngày 18 tháng 7, rồi 27 tháng 7. Trong thời gian đó, quân dù đã tổ chức hai lần tiến công. Trận địa chốt hiểm yếu của ta do các chiến sĩ đại đội 5 (trung đoàn 48) ở khu vực ngã ba Long Hưng trên cửa ngõ vào trung tâm thị xã, do đại đội trưởng Tạ Đình Dong và chính trị viên Vũ Trung Thướng chỉ huy phải chiến đấu với tương quan lực lượng quá chênh lệch "1 chọi 100". Bộ đội ta đã kiên cường, mưu trí đánh quỵ lữ đoàn 2 dù.

Một bộ phận địch đến sát đông nam Thành cổ, các chiến sĩ của tiểu đoàn 8, tiểu đoàn 3, đánh bật lại. Nhiều tên liều chết tìm cách trèo lên bờ thành cắm cờ, liền bị trung đội trưởng Hán Duy Long (tiểu đoàn 8 ) và đồng đội tiêu diệt1. Tiểu đoàn 14 địa phương và lực lượng tại chỗ cùng chủ lực chặn đánh địch ở tuyến các làng Ngô Xá, Cù Hoan, Trà Trì, Trà Lộc. Ngày 22 tháng 7, địch đổ bộ bằng trực thăng xuống bắc sông Vĩnh Định, bị các lực lượng ta đánh thiệt hại nặng tại Lệ Xuyên.

Sau 20 ngày tiến công thị xã, địch chỉ lấn thêm đến làng Tri Bưu, làng Cổ Thành và khu vực chợ Sải. Lực lượng ta trên các trận địa đã vượt qua những thử thách ban đầu. Nhưng tình hình vẫn chưa được cải thiện, thị xã vẫn bị bao vây và bị uy hiếp, tiếp tế vận tải từ hậu phương tới rất khó khăn, lực lượng hiện có của ta trên toàn mặt trận chưa có một thế bố trí thích hợp.
_____________________________________________
1. Thị xã Quảng Trị nằm sát bờ nam sông Thạch Hãn, phía đông quốc lộ số 1, rộng khoảng 2,5 ki-lô-mét vuông. Thành Cổ nằm trong thị xã, xây bằng gạch từ năm 1927, có hình gần vuông mỗi cạnh 500 mét, rộng gần 25.000 mét vuông, có tuờng cao ba mét, dầy năm mét, phía ngoài có hào rộng 15 mét bao quanh. Ở đây, dưới thời ngụy có nhà tỉnh trưởng, tòa thị chính, khu cố vấn Mỹ và một cơ quan dân sự ngụy.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 09:15:30 pm

Trung tuần tháng 7 năm 1972, lực lượng bảo vệ thị xã được tăng thêm trung đoàn 95 (sư đoàn 325D). Một ban chỉ huy chung được thành lập. Riêng bộ đội chủ lực tại thị xã đã lên tới tám tiểu đoàn bộ binh1. Sư đoàn 325D (thiếu) được triển khai trên bờ bắc sông Thạch Hãn, sư đoàn 308 đứng chân phía tây và sư đoàn 320 (thiếu) hoạt động ở phía đông. Một thế trận mới được hình thành hai bên sông Thạch Hãn, trong đó thị xã Quảng Trị là mục tiêu bảo vệ chủ yếu.

Phía nam tỉnh, trong vùng địch đã tràn qua, chiến tranh du kích đang lan rộng. Bộ đội địa phương tỉnh đã có những trận đánh tốt ở Hội Yên, Gia Đẳng (tiểu đoàn 14), ở Trà Trì, Trà Lộc (tiểu đoàn 10), đánh sập cầu Hội Yên, Ngô Xá Đông, cầu Ba Bến trên tỉnh lộ 68, (đại đội 24 công binh). Du kích Triệu Sơn, Triệu Trạch, Hải Thượng..., đã đánh địch bằng súng bộ binh, chông, bẫy. Các xã đội trưởng Hải Thượng (đồng chí Nam), Triệu Trạch (đồng chí Kỳ) đều anh dũng lập công, bắn cháy xe địch, được thưởng huân chương. Đồng chí Trần Thị Tâm, huyện đội phó Hải Lăng cùng một tổ nữ du kích xã Hải Quế đã bám trụ làng xã chiến đấu, quần đánh một tiểu đoàn địch càn quét suốt một ngày. Phát hiện thấy hầm của ta, từ trực thăng địch dùng rốc két bắn thẳng vào hầm. Tâm bị trúng đạn. Trước khi hy sinh, chị đã kịp tháo giấu súng, đốt hết tài liệu. Nơi đồng chí Tâm ngã xuống cách không xa ngôi nhà thân yêu của chị. Trần Thị Tâm được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Cũng trên vùng đất này, du kích và cán bộ cơ sở đã không quản hy sinh, gian khổ, lăn lội dưới bom đạn, trong đêm tối đến từng nhà, từng đoạn hầm, hào, vận động thuyết phục và tổ chức đưa dân đi sơ tán. Cần mẫn và nhẫn nại, hết đêm này đến đêm khác, len lỏi qua đội hình dày đặc của địch, cán bộ, du kích quyết tìm cho được từng người già, phụ nữ, trẻ em còn kẹt lại. Bằng sự kiên trì đó, ta đã đưa 60 nghìn dân Triệu Hải về sau an toàn, được hậu phương "nhường áo sẻ cơm", góp phần động viên chiến sĩ và du kích yên tâm ở lại chiến đấu.

Trong suốt tháng 8 năm 1972, lính thủy quân lục chiến thay quân dù, ba lần tiến công vào thị xã. Dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của pháo binh, không quân, bộ binh và lính thủy đánh bộ ngụy đột kích liên tục, đánh "lấn dũi" nhích dần đến mục tiêu, chiếm từng đoạn hào, giành từng ô đất. Bộ đội ta kiên cường chiến đấu, đẩy lùi hết đơn vị này đến đơn vị khác của địch, không phân biệt ngày đêm, thời tiết nắng, mưa.

Phần lớn khu vực ngoại vi đã bị mất, lực lượng ta ở thị xã thực sự đang chiến đấu trong vòng vây ngày càng thít chặt của địch. Nhưng từ những trận địa đang nghiêng ngả, chao đảo vì bom đạn, các chiến sĩ ta vẫn kiên cường đánh trả quân địch. Các chiến sĩ tiểu đoàn 5 (trung đoàn 95) do tiểu đoàn phó Vũ Xuân Cương chỉ huy quần đánh với tiểu đoàn 1 thủy quân lục chiến ngụy ở chốt Tri Bưu. Do tương quan lực lượng ta, địch quá chênh lệch, địch chiếm được trận địa của tiểu đoàn 5. Sáng ngày 5 tháng 8, đại đội 7 với 27 tay súng đã táo bạo tập kích và nhanh chóng chiếm lại trận địa. Các chiến sĩ tiểu đoàn 8, tiểu đoàn 3 trực tiếp giữ Thành Cổ có ngày đánh lui 13 lần tiến công của địch. Chiến sĩ Phan Văn Ba bị thương nát một bàn tay vẫn xin ở lại chiến đấu. Pháo thù súng cối Bùi Huy Hoàng bắn liên tục 60 quả, tay phồng rộp, lại bị địch phản pháo, vẫn không hề nao núng. Đồng chí Phan Thị Hồng, cán bộ cơ sở của thị xã vừa gan góc bám trụ chiến đấu vừa mưu trí dẫn đường cho chủ lực đánh địch, lại còn bảo đảm liên lạc, đưa đón các đơn vị ra vào thị xã thay quân giữa vòng vây và bom pháo của địch. Du kích và nhân dân xã Triệu Thượng bên kia sông, đứng vững dưới bom đạn của quân thù, giữ vững mạch máu giao liên với thị xã trong mùa lũ lớn, mưa to và địch thường xuyên phong tỏa2.

Cuộc chiến đấu ở Thành Cổ kéo dài giữa lúc cuộc hòa đàm ở Pa-ri bước vào giai đoạn gay cấn nhất và phong trào phản đối chiến tranh ở Mỹ lên cao. Địch quyết tái chiếm cho được Quảng Trị để xoa dịu công chúng Mỹ và "mặc cả" với ta tại bàn hội nghị. Chúng ráo riết đôn quân bắt lính bổ sung quân số, liên tục phản công.

Các lực lượng của ta phải chiến đấu trong điều kiện thiếu quân số và trang bị nghiêm trọng. Thời tiết xấu, mưa lũ sớm, mật độ bom đạn địch nhiều, càng làm cho tình hình xấu thêm. Bộ đội chủ lực ta tuy số lượng đầu đơn vị có nhiều, song quân số và trang bị tổn thất khá lớn. Bộ đội địa phương, dân quân, du kích tình hình cũng tương tự.

Lúc này từ các huyện Gio Linh, Cam Lộ đến Hướng Hóa đều huy động gần hết nhân lực để bổ sung cho lực lượng các huyện phía trước. Các tỉnh Quân khu 4 vừa chiến đấu vừa khẩn trương tuyển quân bổ sung cho chiến trường, rút bất cứ đơn vị nào (kể cả dân quân tự vệ) có thể rút được để đưa vào Quảng Trị. Các địa phương thuộc Quân khu Hữu Ngạn và Tả Ngạn (Thanh Hóa, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình) cũng đưa nguyên từng đại đội, tiểu đoàn quân dự nhiệm hoặc du kích tập trung vào chiến trường Quảng Trị với tinh thần “ưu tiên tiền tuyến, chủ động đáp ứng, chọn cái tốt nhất đưa đi, tình huống nào cũng kiên quyết bảo đảm số lượng, chất lượng tốt, đúng thời gian, vượt yêu cầu". Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 không những bổ sung lẻ hoặc đưa gọn, đưa hết các đơn vị quân tăng cường, mà còn đưa gọn cả hai khóa học viên sĩ quan và hạ sĩ quan (350 cán bộ) chưa kịp học hết chương trình, cùng với một phần ba số cán bộ khung và giáo viên của trường quân chính và trường hạ sĩ quan của quân khu cho Quảng Trị. Số đạn pháo 130 ly dự trữ trong kho cũng được chuyển nốt vào chiến trường.

Lúc này trên tuyến hành lang chiến lược địch đánh phá vô cùng ác liệt, gây cho ta nhiều thiệt hại về người và vật chất. Vì thế, các chiến sĩ chốt giữ ở thị xã Quảng Trị đã phải sống bằng lương khô và nước lã, bắn dè xẻn từng viên đạn suốt gần hai tháng trong vòng vây của quân thù.
____________________________________________
1. Ban chỉ huy lúc đầu gồm các đồng chí Lê Quang Thúy và Nguyễn Văn Thiệu làm chỉ huy trưởng và chính ủy, các đồng chí Trần Minh Vân, Vũ Thả, Vũ Quang Thọ làm phó chỉ huy trưởng và phó chính ủy. Từ hạ tuần tháng 8 đến 16 tháng 9, đồng chí Nguyễn Việt được giao chỉ huy trưởng thay đồng chí Thúy ra Hà Nội báo cáo. Ngoài các trung đoàn 48 (sư đoàn 320) và trung đoàn 95 sư đoàn 325D còn có các tiểu đoàn lẻ của các sư đoàn 308, 312 tham gia ở ngoại vi thị xã.
2. Trong thời gian diễn ra cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Cổ, các xã trên vòng cung bao quanh thị xã về phía bắc đã phải chịu đựng từ 100 đến 140 phi vụ B52, như xã Triệu Long, Triệu Thượng, Triệu Trạch. Xã ít nhất cùng chịu 10 lần B52 đánh phá như Triệu Đó, Triệu Tài. Đặc biệt xã Triệu Trạch chịu 131 tốp B52 với 839 lần chiếc và 72 vụ đánh phá của máy bay chiến thuật. Tính sơ bộ địch đã thả 15.680 quả bom các loại. Bình quân mỗi người dân chịu 250 quả bom và 1.500 quả đạn pháo...


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2024, 09:15:59 pm

Ngày 15 tháng 9, tiểu đoàn 3 lữ đoàn 147 địch chiếm góc đông – bắc thành và kiểm soát được cửa Bắc. Các lực lượng của ta chiến đấu giành giật với địch từng mô đất, mảng tường, góc hầm. Cuộc cận chiến diễn ra suốt ngày 16 tháng 9 trong Thành Cổ. Ngày 16 tháng 9, trung đoàn 18 được lệnh vượt sông chi viện. Vượt qua sự phong tỏa của địch, bộ phận đi đầu vừa qua sông thì tình hình Thành Cổ đã hết sức nghiêm trọng: lực lượng ta bị thương vong lớn, đã phải rút lui hồi 18 giờ ngày 16 tháng 9 năm 1972.

Cuộc chiến đấu tại thành cổ Quảng Trị kéo dài 81 ngày đêm. Từ một thị xã nhỏ ít ai biết đến, Quảng Trị đã trở thành trung tâm thu hút sự chú ý của nhân dân cả nước và thế giới bởi tính chất hung bạo của kẻ thù và tinh thần anh dũng vô song của đồng bào và chiến sĩ ta. Địch đã huy động vào đây nhũng sư đoàn thiện chiến nhất, những đơn vị binh chủng được trang bị tối tân nhất, lại được quân Mỹ chi viện tối đa về hỏa lực, với khối lượng bom đạn tương dương "bày quả bom nguyên tử ném xuống Hi-rô-si-ma". Nhưng ta đã làm chủ thị xã trong một thời gian dài, diệt hơn 24.000 địch, phần lớn là quân dù và thủy quân lục chiến, bắn rơi 180 máy bay, phá hủy 40 xe quân sự (có 90 xe tăng, xe bọc thép, hơn 20 khẩu pháo cùng nhiều đồ dùng quân sự khác).

Cuộc chiến đấu dài ngày ở đây còn phối hợp tích cực vào cuộc đấu tranh ngoại giao kiên trì và bền bỉ của ta trên bàn hội nghị. Tạo điều kiện cho toàn mặt trận chuyển hẳn sang thế trận mới thích hợp, đánh địch phản kích, bảo vệ vùng mới giải phóng.

Sau khi chiếm được thị xã, ngày 22 tháng 9, địch tuyên bố chấm dứt cuộc hành quân "Lam Sơn 72" và mở tiếp cuộc hành quân "Lam Sơn 72A" nhằm mở rộng bàn đạp ra phía đông và phía tây thị xã.

Từ đó cho đến tháng 1 năm 1973, các lực lượng ta tiếp tục bẻ gãy nhiều cuộc hành quân của địch định tràn sang phía bắc sông Thạch Hãn.

Ngày 1 tháng 11 năm 1972, bộ đội ta đánh bại cuộc hành quân "Sóng thần", diệt gọn tiểu đoàn 6 thủy quân lục chiến ngụy khi chúng tìm cách bí mật vượt sông Thạch Hãn ở khu vực Nhan Biều.

Từ ngày 11 tháng 11 năm 1972 đến 20 tháng 1 năm 1973, địch mở liên tiếp các cuộc hành quân "Sóng thần 36", "Sóng thần 45”, "Sóng thần 18", nhưng đều bị đánh bại.

Cùng với cuộc chiến đấu bảo vệ vùng mới giải phóng, quân và dân Quảng Trị lại phải đối phó với âm mưu "tràn ngập lãnh thổ" của Mỹ - Thiệu, tìm cách "cắm cờ" mở rộng những khu vực kiểm soát, xóa thế "da báo", để khi hiệp định được ký kết chúng sẽ hợp pháp hóa vùng đất đã chiếm.

Chiến dịch tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị và cuộc chiến đấu bảo vệ vùng mới giải phóng trong cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 trên hướng Trị - Thiên không những là mốc lịch sử chói lọi của quân và dân Trị - Thiên - tiền tuyến anh hùng của Khu 4, mà còn là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của quân ngụy. Tính toàn mặt trận Trị - Thiên từ ngày 30 tháng 3 năm 1972 đến 31 tháng 1 năm 1973, ta đã diệt 83.790 địch, bắt 3.685 tên; thu, phá hủy 922 khẩu pháo lớn, 2.143 xe cơ giới (có 81 xe tăng), thu 2.899 súng các loại; bắn rơi cháy 714 máy bay; bắn chìm, bắn cháy 28 tàu chiến; thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh khác. Nhiều binh đội lớn của địch bị diệt hoặc bị tiêu hao lớn (sư đoàn 3 bộ binh, các lữ đoàn dù và thủy quân lục chiến...). Riêng quân dù và thủy quân lục chiến "con chủ bài của quân lực Việt Nam cộng hòa” đã bị tổn thất nặng. Đó là đòn chí mạng đối với cả Mỹ lẫn ngụy khi chúng phải mất hơn 80 nghìn quân trên một hướng trong gần một năm, khi mà chúng đang đặt hy vọng vào quân ngụy sẽ là: "xương sống" của chương trình "Việt Nam hóa chiến tranh" thay cho quân Mỹ rút dần trong danh dự.

Lần đầu tiên một tỉnh của miền Nam, tuyến đầu rắn chắc của chế độ tay sai Sài Gòn được giải phóng, mặc dầu sau đó địch điên cuồng phản kích chiếm lại nhưng không thực hiện nổi. Vùng mới giải phóng từ nay nối liền với miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã nhanh chóng được xây dựng thành căn cứ địa của cách mạng trong lãnh thổ miền Nam, nơi đặt trụ sở của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo thế đấu tranh ngoại giao mới, cổ vũ nhân dân trong cả nước.

Tuy nhiên, trong thắng lợi to lớn đó, cũng có những hạn chế, khuyết điểm: việc tổ chức, chuẩn bị chiến trường cho bước phát triển vào Thừa Thiên chưa chủ động, thiếu sự đánh giá đúng so sánh địch - ta trên chiến trường qua từng thời điểm để có những chuyển hướng chính xác; yêu cầu nổi dậy của quần chúng, thế trận chiến tranh du kích chưa đủ mạnh. Những nhược điểm đó hạn chế thắng lợi và gây cho ta nhiều tổn thất. Tuy vậy, đúng về toàn cục, thắng lợi to lớn trên hướng Trị - Thiên đã góp phần thực hiện rất tích cực quyết tâm chiến lược của Đảng giành thắng lợi quyết định năm 1972.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:20:16 pm

II. GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ HAI, BẢO VỆ QUÂN KHU TRONG MỌI TÌNH HUỐNG

Cuối năm 1971, khi phát hiện ta có hoạt động vận chuyển lớn và phán đoán khả năng có thể ta đang chuẩn bị cho hoạt động quân sự quy mô ở miền Nam, trong đông -  xuân 1971 - 1972, địch tăng cường nhanh số lượng các phi vụ "tuần thám vũ trang" và tiến hành đánh phá lớn bằng không quân từ cửa ngõ hành lang ra đến bắc quân khu. Trong thời gian từ tháng 9 năm 1971 đến tháng 3 năm 1972, chúng đã sử dụng tới 1.731 lần chiếc máy bay (có 612 lần chiếc B52) tổ chức bốn đợt tập kích vào các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An. Cuối tháng 12 năm 1971, địch tập trung đánh phá suốt năm ngày với 1.096 lần chiếc nhằm vào các kho, bãi, chân hàng, trận địa pháo từ bắc Quảng Bình đến Vinh - Bến Thủy. Ngoài hoạt động trên không, chúng còn ráo riết tiến hành các hoạt động biệt kích, chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp ở một số nơi vùng biển, giới tuyến và biên giới.

Trong khi quân và dân Trị - Thiên thực hành cuộc Tiến công chiến lược năm 1972, thì hậu phương quân khu ra sức phục hồi kinh tế, phát triển sản xuất, tiếp tục củng cố quốc phòng, an ninh và phục vụ tích cực cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam, trực tiếp là Trị - Thiên; đồng thời, nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu chống mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch, nhất là chống địch trinh sát, bắn phá bằng không quân, bảo vệ giao thông vận tải chiến lược và chiến dịch, bảo vệ quân khu trong mọi tình huống.

Từ tháng 10 năm 1971 trở đi, Bộ Quốc phòng lần lượt triển khai một lực lượng lớn các đơn vị phòng không từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh, gồm ba sư đoàn (sư đoàn 361, 363, 365) thay cho các sư đoàn 367, 377 vào chiến trường theo kế hoạch bảo vệ hành lang. Một nhóm sỹ quân và nhân viên kỹ thuật của Quân chủng Phòng không Không quân vào Quảng Bình nghiên cứu, chuẩn bị xây dựng sân bay dã chiến bí mật để tập kết máy bay chiến đấu phục kích đánh tàu chiến Mỹ. Các đơn vị không quân chiến đấu ở các sân bay Sao Vàng (Thanh Hóa), Dừa (Anh Sơn, Nghệ An) được chỉ thị nghiên cứu tìm cách đánh máy bay chiến lược B52 của Mỹ để rút kinh nghiệm.

Tháng 11 năm 1971, Quân khu tổ chức hội nghị liên tịch giữa Thường vụ Quân khu ủy với các Thường vụ tỉnh ủy và Khu ủy Vĩnh Linh để quán triệt và thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về quyết tâm chiến lược năm 1972. Hội nghị đã thống nhất nhận định về âm mưu địch trong thời gian tới và quyết định nhiều chủ trương, biện pháp thiết thực để phối hợp lãnh đạo các nhiệm vụ quốc phòng và an ninh trước mắt, theo yêu cầu phát triển và biến động của tình hình nhiệm vụ. Đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, nhằm ngăn ngừa và khắc phục những biểu hiện lơ là mất cảnh giác, ảo tưởng hòa bình đang xuất hiện trong một bộ phận nhân dân, cán bộ và lực lượng vũ trang. Về tác chiến phòng không, hội nghị quyết định phải phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng không cấp trên và chỉ đạo tốt công tác phòng tránh ở các trọng điểm.

Đầu tháng 12 năm 1971, máy bay ta cất cánh đánh máy bay B52 Mỹ trên bầu trời Vĩnh Linh. Thường vụ Quân khu ủy dự đoán địch sẽ phản ứng trả đũa. Mục tiêu có thể bị địch đánh phá là các sân bay, kho nhiên liệu, trận địa phòng không và chân hàng lớn. Trọng điểm là khu vực Gianh - Xuân Sơn (Quảng Bình) và Vinh - Bến Thủy (Nghệ An).

Thường vụ Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu chủ trương gấp rút tổ chức chiến dịch phòng không nhân dân, kiên quyết bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống giặc lái, trừng trị địch ngang nhiên vi phạm vùng trời, vùng biển Quân khu 4 (chỉ thị số 102 của Bộ Tư lệnh quân khu gửi các đơn vị, địa phương ngày 11 tháng 12 năm 1971).

Chiến dịch được triển khai với lực lượng phòng không ba thứ quân, lấy phòng không chủ lực làm nòng cốt, chọn Vinh - Bến Thủy và vùng phụ cận làm trọng điểm, do quân khu trực tiếp chỉ đạo. Đấy cũng là nơi tập trung nhiều đầu mối giao thông và hàng nhất lúc bấy giờ. Lực lượng phòng không ở khu vực này có các trung đoàn cao xạ 222, 233, tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân, một trung đoàn tên lửa thuộc sư đoàn 361 và một số đơn vị phòng không địa phương (Nghệ An), dân quân tự vệ Vinh - Bến Thủy. Ban chỉ huy tác chiến khu vực trọng điểm gồm các đồng chí Nguyễn Cận chỉ huy trưởng, Phạm Thành Minh chính ủy.

Đúng như ta dự kiến, cuối tháng 12 năm 1971, ngay sau lễ Giáng sinh, địch sử dụng 201 lần tốp với. 1.096 lần chiếc máy bay đánh một lúc vào nhiều mục tiêu ở Quảng Bình (trong những ngày 26, 27, 29, 30 tháng 12 năm 1971) và Nghệ An, Hà Tĩnh (trong những ngày 28, 29, 30 tháng 12 năm 1971). Quân và dân Quân khu 4 phối hợp với chủ lực của Bộ đánh trả kịp thời. Ở Quảng Bình, sau bốn ngày chiến đấu, ta bắn rơi tám máy bay Mỹ, riêng khu vực Gianh bốn chiếc. Ở Nghệ An, Hà Tĩnh sau ba ngày chiến đấu, ta bắn rơi 12 máy bay Mỹ. Riêng Vinh và phụ cận bắn rơi bảy chiếc, có hai chiếc rơi tại chỗ. Như vậy, lần đầu tiên quân khu chỉ đạo một chiến dịch phòng không, vừa mở đầu đã giành thắng lợi lớn: bắn rơi 20 máy bay Mỹ, giáng trả đích đáng âm mưu của địch, rút được nhiều kinh nghiệm về tác chiến phòng không, nhất là khắc phục được ảo tưởng hòa bình, lơ là mát cảnh giác trong một số đơn vị vũ trang và nhân dân trong quân khu.

Mặc dầu bị thua đau, nhưng địch xảo quyệt lợi dụng dịp Tết Nhâm Tý để tập kích vào địa bàn quân khu. Lần này chúng chọn đánh vào các mục tiêu khu vực cửa ngõ đường số 10 và đường số 16 tây Quảng Bình. Suốt từ mùng 2 đến mùng 4 Tết (16 đến 18 tháng 2 năm 1972), địch sử dụng 56 lần tốp (142 lần chiếc) săn xe, xăm hàng, phá các mục tiêu giao thông vận tải của ta trên cửa ngõ hành lang. Các chiến sĩ phòng không miền tây Quảng Bình với khẩu hiệu "Vui Tết đón xuân trên trận địa" đã đánh giỏi bắn trúng, hạ máy bay Mỹ tại chỗ.

Thắng lợi đánh trả không quân địch trong đông - xuân 1971 - 1972 đã nâng tổng số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên địa bàn Quân khu 4 trong hơn ba năm địch ngừng ném bom miền Bắc (từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 3 năm 1972) lên 116 chiếc. Chiến dịch phòng không tháng 12 năm 1971 và chiến thắng Tết Nhâm Tý tháng 2 năm 1972, trong hoàn cảnh cả miền Bắc có hòa bình, được coi là sự mở đầu của một năm mới tiến công thắng lợi của quân và dân Quân khu 4.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:22:55 pm

Tháng 12 năm 1971, Bộ quyết định giao cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân thống nhất chỉ huy toàn bộ lực lượng phòng không chủ lực hoạt động từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh. Quân khu 4 làm nhiệm vụ xây dựng, bổ sung và tham gia chỉ đạo tác chiến các lực lượng phòng không địa phương hiệp đồng, phối hợp trên từng khu vực.

Đến đầu tháng 3 năm 1972, các lực lượng phòng không chủ lực đã hoàn thành việc bố trí như sau:

Từ Thanh Hóa đến Nghệ An: sư đoàn phòng không 361 của Bộ được tăng cường trung đoàn cao xạ 222 (bảo vệ Vinh) và trung đoàn 233 thuộc quân khu (bảo vệ sân bay Dừa), do sư đoàn 361 thống nhất chỉ huy.

Từ đèo Ngang đến bắc Long Đại: sư đoàn phòng không 365 thuộc Bộ được tăng cường trung đoàn cao xạ 214 thuộc quân khu (bảo vệ khu vực Gianh) do sư đoàn 363 thống nhất chỉ huy.

Từ nam Long Đại đến Vĩnh Linh: sư đoàn phòng không 365 thuộc Bộ, được tăng cường trung đoàn cao xạ 218 thuộc quân khu, do sư đoàn 365 thống nhất chỉ huy.

Tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân (tiểu đoàn 14 cao xạ thuộc quân khu) phụ trách khu vực Nam Đàn.

Quân khu phát lệnh động viên bốn tiểu đoàn cao xạ dự nhiệm (trong số chín tiểu đoàn dự nhiệm) triển khai ở các trọng điểm: tiểu đoàn 15 ở Hoàng Mai, tiểu đoàn 17 ở cầu Bùng, các tiểu đoàn 19, 20 ở phía nam Hà Tĩnh trên quốc lộ số 1.

Ngoài ra, trên phạm vi từ Thanh Hóa trở vào còn có lực lượng máy bay chiến đấu tại các căn cứ không quân Sao Vàng (Thanh Hóa) và Anh Sơn (Nghệ An) cùng một số sân bay dã chiến khác.

Một số biên đội tàu chiến đấu loại nhỏ ở các căn cứ cửa Hội và cửa Gianh cũng được giao nhiệm vụ chiến đấu phối hợp.

Với chủ trương chuyển hầu hết các loại súng máy cao xạ trong các đơn vị phòng không chủ lực cho dân quân tự vệ, cùng với việc ban hành Nghị định 62-CP ngày 23 tháng 2 năm 1972 của Thủ tướng Chính phủ thể chế hóa chế độ đài thọ và đãi ngộ đối với dân quân, tự vệ làm nhiệm vụ thường trực chiến đấu, đã tạo thuận lợi cho dân quân, tự vệ trong quân khu tổ chức các đội trực chiến phòng không tập trung 24 trên 24 giờ một ngày. Ngoài ra còn hàng chục nghìn dân quân, tự vệ khắp các thôn xã, công - nông - lâm trường xí nghiệp, cơ quan với hình thức tổ chức "tay cày tay súng” giăng lưới tầm thấp rộng khắp và dày đặc1.

Lực lượng cao xạ bộ đội địa phương đến đầu năm 1972 cũng được tăng cường trang bị và hoàn thiện biên chế tổ chức. Các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh lúc này đã triển khai xong tám tiểu đoàn cao xạ và hai đại đội lẻ, trang bị chủ yếu là pháo cao xạ 37 ly (nhiều gấp hai lần so với năm 1968) chưa kể các đảo Mê, Ngư, Mắt, Cồn Cỏ; mỗi đảo là một trận địa nổi hỗn hợp nhiều tầm bắn và cỡ nòng cùng với hàng trăm súng bộ binh của ngư dân đánh cá ven biển.

Lực lượng pháo mặt đất và pháo bờ biển cũng được chú trọng tăng cường suốt dọc tuyến biển, đảo của quân khu để đánh trả hải quân Mỹ, trừng trị bọn biệt kích và lực lượng đổ bộ đường biển của địch. Bên cạnh lực lượng pháo binh chủ lực của quân khu và các sư đoàn bộ binh đứng chân trong địa bàn được triển khai phần lớn trên tuyến 1 ven biển, lực lượng pháo binh địa phương và dân quân tự vệ trên hướng này đều được bổ sung và tăng cường thêm số pháo mặt đất (kể cả pháo tăng 130 ly), pháo bờ biển (cỡ từ 85 đến 100 ly), pháo đi cùng ĐKZ, cối2, chưa kể hàng chục tàu, thuyền đánh cá được biên chế tổ chức thành tàu thuyền chiến đấu, trang bị thêm B40, B41, đại liên, lựu đạn và chất nổ các loại, sẵn sàng đón đánh các mục tiêu trên biển trong tầm hoạt động và thời cơ có lợi.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn theo dõi sát sao công cuộc phòng thủ trên địa bàn Quân khu 4. Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng trực tiếp kiểm tra sẵn sàng chiến đấu ở quân khu và các địa phương, đã chỉ thị và bổ sung cho các cấp việc xúc tiến xây dựng thế trận của chiến tranh nhân dân, phát huy cao độ vai trò chiến tranh nhân dân địa phương trong phòng thủ, đánh bại những âm mưu thủ đoạn liều lĩnh của địch mở cuộc tiến công hạn chế bằng bộ binh ra quân khu.
______________________________________________
1. Tính riêng từ Nghệ An đến Vĩnh Linh, trước khi diễn ra cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của địch, dân quân tự vệ đã triển khai xong 280 đội trực chiến, phần lớn là trực thường xuyên (có bốn đội lão dân quân, 11 đội nữ), trong đó có 211 đội trang bị súng máy cao xạ 12.7 ly hoặc 14.5 ly, một trung đội trang bị súng 20 ly và 10 đội trang bị pháo cao xạ 37 ly. Nếu so với năm 1971, số đại liên trong dân quân tự vệ tăng 20 phần trăm, số nòng súng phòng không tăng 17 phần trăm, trong đó súng máy cao xạ 14.5 ly tăng 4,7 lần, pháo cao xạ 37 ly tăng hai lần.
2. Đến đầu năm 1972, trên tuyến ven biển, đảo từ Nghệ An đến Vĩnh Linh đã triển khai ba trung đoàn, hai tiểu đoàn pháo binh chủ lực và năm tiểu đoàn, 10 đại đội pháo binh bộ đội địa phương, 42 đội pháo binh dân quân tự vệ trực chiến, có đội trang bị pháo 85 - 100 ly. Số lượng pháo các loại trong dân quân tự vệ so với năm 1971 tăng 28,5 phần trăm, tạo mật độ trên hướng trọng điểm cứ 500 mét có một khẩu pháo, 300 mét có một khẩu ĐKZ, cối.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:23:56 pm

Ngày 11 tháng 3 năm 1972, Thường vụ Quân khu ủy họp đánh giá kết quả thực hiện mọi mặt nhiệm vụ trong đông - xuân 1971-1972 và chủ trương: "Động viên toàn Đảng bộ, toàn thể lực luợng vũ trang và nhân dân trong quân khu nỗ lực cao nhất, chuẩn bị khẩn trương, đưa công tác chuẩn bị mọi mặt lên kịp sự phát triển của tình hình, phát huy tinh thần tiến công cách mạng, dũng cảm, kiên cường, bằng bất cứ giá nào cũng quyết đánh bại mọi bước phiêu lưu quân sự của địch trong thời gian ngắn nhất. Bảo vệ địa bàn quân khu, bảo vệ hành lang chiến lược thông suốt, hậu phương chiến dịch an toàn, bảo đảm cho yêu cầu phát triển tiến công phía trước, góp phần cùng miền Nam và các chiến trường khác giành thắng lợi lớn nhất".

Lúc này ở miền Nam, "chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh" đang đứng trước nguy cơ thất bại, nhưng đế quốc Mỹ không thể leo thang trở lại bằng cuộc chiến tranh trên bộ. Ngày 6 tháng 4 năm 1972, đế quốc Mỹ lại gây chiến tranh phá hoại đánh phá miền Bắc lần thứ hai. Chính quyền Ních-xơn đã đưa cuộc chiến tranh phá hoại lần này lên mức độ ác liệt gấp bội, hòng ép nhân dân ta phải nhân nhượng. Quân và dân Quân khu 4 cùng với nhân dân và lực lượng vũ trang miền Bắc bước vào cuộc chiến đấu mới vô cùng ác liệt, quyết đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn của địch, chi viện cho miền Nam phát triển cuộc tiến công. Vào lúc 2 giờ ngày 6 tháng 4, tàu chiến Mỹ lần luợt bắn phá dọc bờ biển miền Bắc từ Vĩnh Linh đến cửa sông Thái Bình. Tiếp đó, suốt ngày 6 tháng 4, chúng huy động 300 lần chiếc máy bay ném bom ồ ạt từ sông Gianh trở ra và mở rộng dần phạm vi đánh phá ra khắp miền Bắc.

Trước hành động leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ, theo kế hoạch đã dự kiến, ngày 7 tháng 4, Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh: "Tăng cường sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ miền Bắc và làm tốt nhiệm vụ chi viện tiền tuyến trong tình hình mới". Đại bộ phận lực lượng vũ trang, nhân dân miền Bắc được chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao hơn.

Tiếp đó ngày 16 tháng 4, Trung ương Đảng và Chính phủ ta ra lời kêu gọi "Toàn dân, toàn quân ta quyết tâm đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ".

Trên địa bàn Quân khu 4, từ ngày 6 tháng 4 đến ngày 8 tháng 5, máy bay và tàu chiến Mỹ đánh phá liên tục. Chỉ trong hai ngày 6 và 7 tháng 4, chúng đã sử dụng đến 150 lần chiếc mỗi ngày. Nhưng, quân và dân quân khu cũng ngay lập tức giáng trả địch ở khắp mọi nơi. Ngày 6 tháng 4, Quảng Bình lập công đầu, bắn rơi 13 máy bay Mỹ, trong đó, dân quân tự vệ độc lập bắn rơi hai chiếc. Các lực lượng pháo binh trên toàn tuyến ven biển, và các đảo cũng nổ súng đánh trả tàu chiến địch. Đại đội 10 pháo binh Quảng Bình tại trận địa ở thôn Phú Hội trong trận đánh sáng 6 tháng 4, đã bắn trúng hai tàu chiến Mỹ. Trong tháng đầu tiên đánh trả hải quân Mỹ, pháo binh ta đã bắn cháy 20 lần chiếc tàu địch trên vùng biển từ Nghệ An đến Vĩnh Linh.

Ngày 19 tháng 4, máy bay chiến đấu ta từ một sân bay bí mật ở huyện Bố Trạch (tỉnh Quảng Bình) đã bất ngờ xuất kích, bắn trọng thương một tàu khu trục Mỹ ở ngoài khơi Quảng Bình và trở về căn cứ an toàn.

Trong hai ngày (ngày 5 tháng 5 và ngày 9 tháng 6) đại đội pháo binh gái Ngư Thủy (Quảng Bình) bắn cháy thêm hai tàu chiến của hải quân Mỹ đến gây tội ác ở vùng biển địa phương.

Cùng với việc mở rộng phạm vi đánh phá, địch tập trung hủy diệt các mục tiêu giao thông vận tải, nhất là đường số 1 và tuyến vận tải ven biển. Riêng pháo tàu địch đã bắn 203 lần với 17.581 quả đạn, hòng cắt đứt hẳn đường số 1 và tuyến vận tải ven biển. Từ ngày 6 tháng 4 đến ngày 8 tháng 5, giao thông trên đường số 1 tuy chỉ bị tắc 10 đêm trên đoạn qua Hà Tĩnh và hai đêm tại phà Gianh, nhưng địch đã gây khó khăn không ít cho ta, tuyến giao thông vận tải ven biển cơ bản bị ngừng trệ. Việc phòng tránh những ngày đầu chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng hầm hào chưa đủ độ bền chắc chống lại các loại bom bi, bom xuyên, tên lửa của địch đã cải tiến, nên thương vong cũng khá cao.

Ngày 3 tháng 5 năm 1972, Thường vụ Quân khu ủy họp đánh giá "kết quả chiến đấu là tích cực, chủ động, giữ vững và phát huy được khí thế của quần chúng trong sinh hoạt, lao động, chiến đấu và sản xuất, kể cả các nơi bị đánh phá ác liệt". Thường vụ Quân khu ủy cũng chỉ rõ những khuyết điểm, nhược điểm về mặt chiến đấu của lực lượng vũ trang và công tác phòng không nhân dân và chủ trương "nhiệm vụ quan trọng nhất là đánh địch để bảo vệ giao thông vận tải, bảo vệ kho tàng, chân hàng và tính mệnh tài sản của nhân dân, của nhà nước và tập thể".

Để phù hợp với đặc điểm địch và yêu cầu chiến đấu phòng không trên toàn miền Bắc trước những biến chuyển mới, Bộ quyết định giao lại cho Quân khu 4 thống nhất chỉ huy các lực lượng phòng không chủ lực đang hoạt động trên địa bàn, tăng cường cho quân khu sư đoàn phòng không 377. Cơ quan phòng không quân khu tổ chức thành Bộ Tham mưu phòng không trục thuộc Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu kể từ tháng 6 năm 1972. Từ đó quân khu càng chủ động hơn trong lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng phòng không trên địa bàn.

Sau một tháng đánh phá miền Bắc thấy không ngăn chặn được tiến công của ta trên chiến trường miền Nam mà còn bị mất gọn tỉnh Quảng Trị, Đắc Tô, Tân Cảnh, Lộc Ninh, đế quốc Mỹ một mặt đơn phương tuyên bố hoãn hội nghị Pa-ri không thời hạn kể từ tháng 5 năm 1972; mặt khác tăng nhanh số máy bay Mỹ ở miền Nam Việt Nam từ 1.027 chiếc lên 1.450 chiếc cường kích, từ 40 chiếc lên 140 chiếc B52 ở các căn cứ gần Việt Nam, ráo riết chuẩn bị mở rộng leo thang chiến tranh bằng không quân, hải quân.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:25:42 pm

Đối với miền Bắc, một mặt, tổng thống Mỹ Ních-Xơn tuyên bố lừa bịp “Hòa bình tại Việt Nam đang ở trong tầm tay", mặt khác ra lệnh phong tỏa toàn bộ vùng biển, sông và hải cảng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở rộng đánh phá sâu vào Hà Nội, Hải Phòng, cùng với các cửa khẩu đường sắt, đường bộ ở biên giới phía bắc, rải chất độc hóa học ở miền tây Thanh Hóa. Quân khu 4 vẫn là trọng điểm số một của cuộc phong tỏa đó.

Ngay sau khi mở đầu bằng hành động thả bom từ trường, thủy lôi ở khu vực cảng Hải Phòng, trong hai ngày 9 và 10 tháng 5, địch tập trung vào vùng Khu 4. Từ ngày 11 tháng 5 đến ngày 2 tháng 6, chúng rải bom thủy lôi ở tám cửa sông (cửa Lạch Trường, Cửa Lò, cửa Hội, cửa Sót, cửa Khẩu, cửa Nhượng, cửa Gianh và cửa Nhật Lệ). Ngày 26 tháng 7, địch phong tỏa hầu hết các tuyến sông chủ yếu (sông Mã, sông Hoàng Mai, sông Lam, sông La, sông cửa Sót, sông Gianh, sông Nhật Lệ). Hầu hết các bến vượt đất liền và cầu, phà quan trọng đều bị phong tỏa bằng bom TN với mật độ chưa từng có (Hàm Rồng, Ghép, Hoàng Mai, cầu Bùng, cầu Họ, cầu Phủ; các phà Linh Cảm, Sen, Bến Thủy, Gianh, Xuân Sơn, Long Đại...). Khi phát hiện ta tiếp nhận hàng đường biển tại đảo Ngư (Nghệ An), Hòn La (Quảng Bình), địch phong tỏa luôn cả từng vùng biển gần quanh các đảo đó1.

Đi đôi với phong tỏa chặt các tuyến sông, biển, địch tập trung đánh phá ráo riết hệ thống cầu cống lớn, nhỏ trên bộ. Từ ngày 16 tháng 4, địch đánh sập toàn bộ cầu đường bộ ở Nghệ An và 12 cầu còn lại trên đường số 1 qua Hà Tĩnh. Đường số 1 từ Thanh Hóa vào bị cả không quân và hải quân Mỹ khống chế, tạo ra những "điểm tắc" ở những đoạn xung yếu: Hàm Rồng, Ghép, Hoàng Mai, Bến Thủy, Cày, cầu Phủ, Gianh, Quán Hàu. Những nơi đó trở thành những "cửa tử", suốt đêm ngày ta phải đối phó với mìn, thủy lôi, bom đạn... từ máy bay ném xuống và từ tàu chiến địch bắn vào. Kể từ hạ tuần tháng 5, toàn tuyến vận tải biển của ta không thể duy trì hoạt động, phải rút vào sông.

Trước hành động leo thang chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, ngày 30 tháng 5, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị số 81 dự kiến địch còn có thể tiến hành những âm mưu thủ đoạn khác, quyết liệt và liều lĩnh đối với miền Bắc. Chỉ thị nêu rõ "nhiệm vụ quân sự của miền Bắc là phải đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại mới của đế quốc Mỹ, đập tan mọi hành động phiêu lưu quân sự khác của chúng, bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vừa sản xuất vừa chiến đấu, trong bất cứ tình huống nào cũng kiên quyết làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn". Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu quyết định chuyển toàn bộ lực lượng vũ trang nhân dân vào thời chiến, gấp rút điều chỉnh bổ sung các phương án tác chiến, chuẩn bị mọi mặt để đối phó, giành thắng lợi trong các tình huống, kể cả địch tiến công hạn chế bằng bộ binh quy mô vừa và lớn.

Tiếp đó, ngày 1 tháng 6 năm 1972 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra nghị quyết về "chuyển hướng và đẩy mạnh mọi mặt công tác ở miền Bắc để tiếp tục đánh thắng giặc Mỹ xâm lược".

Quán triệt và chấp hành các chỉ thị, nghị quyết quan trọng đó, quân và dân quân khu càng có cơ sở để thống nhất ý chí, phát huy mọi thế mạnh, động viên mọi khả năng tiềm tàng, thúc đẩy việc thực hiện toàn bộ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của quân khu và các địa phương.

Bảo đảm giao thông vận tải lúc này là mặt trận quyết liệt nhất, đặc biệt là ven các tuyến đường thủy, bộ. Tham gia vận chuyển và bảo đảm vận chuyển lâu nay đã trở thành trách nhiệm và nghĩa vụ tự nguyện của toàn dân Khu 4, mà nòng cốt là lực lượng công binh.

Các chiến sĩ công binh ba thứ quân, trong đó công binh của vùng 3 (cửa Hội) và căn cứ 4 (Gianh) của Hải quân đã dũng cảm đi đầu nghiên cứu cấu tạo, nguyên lý nổ các loại bom, thủy lôi mới của địch. Kết hợp với hướng dẫn của cơ quan chuyên môn kỹ thuật, bộ đội công binh hải quân đã nắm được cách rà phá, gây nổ hoặc làm mất hiệu lực thủy lôi của địch bằng các phương tiện tương đối hiện đại hoặc thô sơ, đơn giản. Kinh nghiệm rà phá nhanh chóng được phổ biến rộng rãi. Bên cạnh các đội công binh chủ lực, đã hình thành một hệ thống lực lượng công binh - dân quân rộng khắp gồm tổ chức quan sát đánh dấu, trinh sát phát hiện, tổ chức rà phá, tháo gỡ làm mất hiệu lực bom, mìn. Mỗi huyện tổ chức từ một đến hai đội rà phá chuyên nghiệp sẵn sàng làm nhiệm vụ trong và ngoài huyện. Các đơn vị công binh chủ lực và địa phương được trang bị máy phóng từ, xuồng máy cao tốc. Các đội rà phá của dân quân tự vệ được trang bị các khung dây từ IM và chế tạo nhiều phương tiện rà phá giản đơn thô sơ khác.

Với phương tiện đó, lực lượng công binh - dân quân suốt đêm ngày đã vật lộn với sông nước trên từng đoạn đường, từng bến vượt, khắc phục các loại vũ khí giết người của kẻ thù. Kết quả trong hơn 30 ngày từ cuối tháng 5, từ Nghệ An đến Quảng Bình có 209 quả bom từ trường đã bị phá hủy, chiếm một phần tư số bom, thủy lôi, địch đã rải (đường bộ 60 trong tổng số 90 quả, đường sông 120 trong tổng số 322 quả và đường biển 29 quả trong số 437 quả). Trong số đó, dân quân tự vệ đã phá được 95 quả. Các chiến sĩ dân quân xã Xuân Tiên (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) chỉ sau một giờ địch rải bom, thủy lôi, đã triển khai đội hình, rà phá trong ngày đầu được 30 quả trên sông Lam từ cửa Hội đi Bến Thủy, chiếm 80 phần trăm số bom, thủy lôi địch đã rải trong ngày. Dân quân xã Tường Lâm (Tĩnh Gia, Thanh Hóa) phá 83 quả trên bộ bằng sắt nam châm và khung dây PK. Anh công nhân Mai Xuân Điểm là người đầu tiên tự nguyện dùng ca-nô kéo phà (thay cho xuồng máy cao tốc) chở máy phóng từ, kích nổ thủy lôi địch, bảo đảm cho phà thông suốt. Tấm gương quả cảm cùng với trí thông minh và sáng tạo của Mai Xuân Điểm đã để lại trong lòng cán bộ, công nhân phà Ghép tình thương yêu, sự kính phục và đã cổ vũ họ vượt mọi hy sinh giữ vững mạch máu giao thông.

Tháng 6 năm 1972, Quân khu ủy kịp thời tổng kết và phổ biến kinh nghiệm tổ chức quan sát, phá gỡ thủy lôi và bom TN. Rút kinh nghiệm tìm tòi bước đầu, Quân khu đã phát động thành phong trào quan sát, rà phá rộng rãi, đại trà bằng lực lượng địa phương, bằng mọi khả năng tại chỗ là chính. Các phương tiện phong tỏa của địch dần dần không còn là nỗi lo nhức nhối nữa. Chỉ sau ba tháng, kể từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1972, tỉnh Nghệ An phá được 1.911 quả, Hà Tĩnh phá 481 quả, Quảng Bình 187 quả, Vĩnh Linh 55 quả. Bằng kết quả đó, quân và dân Khu 4 đã góp phần vô hiệu hóa về cơ bản thủ đoạn phong tỏa miền Bắc của đế quốc Mỹ.
______________________________________________
1. Trong chiến tranh phá hoại lần trước, địch có dùng bom, thủy lôi phong tỏa một số nơi nhưng không liên tục và ở mức thấp. Lần này địch phong tỏa trên diện rộng hơn, hỗn hợp nhiều kiểu loại thủy lôi, bom mìn, liên tục thả bổ sung. Mật độ trên từng khu vực bị phong tỏa rất cao. Như vùng đảo Ngư với diện tích mặt nước 30 ki-lô-mét vuông, chúng đã rải 1.352 quả các loại, vùng Hòn La 1.162 quả trên 30 ki-lô-mét vuông, đoạn sông Lam từ cửa Hội đến Bến Thủy 820 quả, từ phao số hai cửa Gianh vào thôn Văn Phú 1.010 quả.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:27:01 pm

Để tiếp nhận hàng viện trợ của nước ngoài qua đường biển, hai khu chuyển tải: đảo Ngư và Hòn La trở thành những trọng điểm quyết liệt nhất. Nơi đây đã diễn ra cuộc đọ sức giữa máy bay, tàu chiến Mỹ với "gan vàng dạ sắt" của quân và dân vùng biển các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Các thủy thủ trên các tàu biển của các nước anh em với tình nghĩa quốc tế cao cả đã giành giật với đạn bom Mỹ những kiện hàng, từng bao lương thực. Có đồng chí đã anh dũng hy sinh để lại niềm tiếc thương, lòng cảm phục trong bộ đội và nhân dân ta.

Ta bốc dỡ hàng ban ngày bị địch phát hiện và ngăn chặn, bốc dỡ ban đêm bị địch dùng đèn dù soi sáng cả vùng để kiểm soát và oanh tạc; ta lại có sáng kiến dùng dây tời, ròng rọc, bí mật đưa hàng từ tàu lên bãi. Quyết liệt nhất là khâu chuyển hàng từ đảo vào bờ, vào sông. Phát hiện ta chuyển hàng bằng ca-nô, thuyền máy, địch tập trung đánh phá tan nát cả hàng và phương tiện. Quân, dân các tỉnh dùng bè mảng nhỏ và người trực tiếp bơi đẩy. Có nơi dùng dây kéo hàng từ đảo đến bờ (xa hàng nghìn mét). Mặc dù vậy, địch vẫn phát hiện và cho máy bay lên thẳng rà sát mặt nước bắn phá bất cứ vật gì nổi trôi trên mặt biển. Các đồng chí thủy thủ nước ngoài cho hàng vào bao ni-lông kín, chờ nước triều lên thả trôi vào bờ, ta bố trí người đón nhặt chuyển về nơi cất giấu.

Nhân dân và dân quân các xã Nghi Hương (Nghi Lộc, Nghệ An), Xuân Hội, Xuân Trường, Xuân Đan... (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), Quảng Đông (Quảng Bình) và các xã khác trong khu vực trung chuyển đã không tiếc xương máu và tài sản, lúc tối trời cũng như khi biển động sóng cồn, đã luôn luôn có mặt bên bờ, đón nhận từng bao hàng, lấy nhà mình làm kho chứa, lấy gồng gánh và xe cộ của mình làm phương tiện chuyển hàng trong khi từng đoàn máy bay, tàu chiến địch cứ dai dẳng lồng lộn, bắn phá. Thắng lợi của việc chuyển tải ở hai đảo đã góp thêm một chiến công nữa trong nhiệm vụ bảo đảm giao thông vận tải trên tuyến lửa Quân khu 4 trong những ngày tháng đầy thử thách gian truân.

Mặt trận giao thông vận tải ngày càng trở nên ác liệt. Cuối tháng 7 năm 1972, Quân ủy Trung ương chỉ thị "tăng cường tuyến vận tải quân sự trên hậu phương miền Bắc trong tình hình mới" và thành lập cơ quan tiền phương của Tổng cục Hậu cần ở Khu 4, thống nhất chỉ huy bảo đảm giao thông vận tải trên đường 15A (trước đó do Bộ Giao thông vận tải phụ trách), đồng thời tổ chức thêm tám tiểu đoàn vận tải đường bộ, một tiểu đoán vận tải sông - biển, 11 tiểu đoàn công binh cầu đường, bốn đại đội công binh cầu phà, 10 tiểu đoàn cao xạ, bảy đại đội thông tin và ba binh trạm. Lúc này đường số 15A chạy suốt dọc nội địa quân khu được chuyển thành tuyến vận tải quân sự nối với đường chiến lược Trường Sơn do lực lượng của Bộ bảo vệ và bảo đảm. Các địa phương và nhân dân ven tuyến có nhiệm vụ phối hợp hỗ trợ. Quân khu dồn sức vào các tuyến khác, nhất là tuyến đường số 1A.

Tháng 10 năm 1972, Phủ Thủ tướng triệu tập Hội nghị bảo đảm giao thông ở Quân khu 4, quyết định giao tuyến đường goòng Đức Thọ - Minh Cầm cho quân đội phụ trách; các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An có nhiệm vụ khôi phục dần tuyến đường sắt Thanh Hóa - Vinh. Thực hiện quyết định đó các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An đã tổ chức các tổng đội thanh niên xung phong, lập các công trường, huy động hàng nghìn dân công cùng ngành đường sắt lao động quên mình thu gom từng thanh tà vẹt, từng đoạn đường ray, sửa chữa nền đường, cầu cống, đầu máy, toa hàng cho đường sắt sớm được khôi phục.

Để bổ sung cho vận tải cơ giới trong tình hình địch đánh phá và phong tỏa ngặt nghèo, Tỉnh ủy, Ủy ban Hành chính tỉnh Thanh Hóa có sáng kiến thành lập lại đoàn vận tải thuyền nan và xe đạp thồ do Ty Giao thông quản lý, điều hành. Nhân dân Thanh Hóa đã huy động hàng chục nghìn thuyền, xe, tham gia phong trào "Giao thông quyết thắng" do tỉnh phát động từ ngày 23 tháng 5 năm 1972, sau chuyển thành "Chiến dịch vận chuyển 19-8".

Từ kinh nghiệm của Thanh Hóa, đầu tháng 8 năm 1972, Hội đồng Chính phủ ra chỉ thị 237 về "Tổ chức lực lượng vận tải nhân dân" ở các tỉnh Khu 4, làm nhiệm vụ vận chuyển hàng theo hình thức tiếp sức từ tỉnh này sang tỉnh khác cho đến hành lang 559. Mỗi tỉnh trong quân khu đều thành lập ban chỉ đạo vận tải nhân dân. Trên các nẻo đường những đội xe đạp thồ, xe trâu, xe kéo, xe ba gác, xe "Kiến An"... của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình suốt đêm ngày cần mẫn chuyển hàng ra phía trước. Khối lượng hàng hóa được bảo đảm an toàn cao, khó có loại binh khí kỹ thuật nào của địch có thể đánh phá, ngăn chặn triệt để được. Lực lượng vận tải nhân dân được duy trì cho đến cuối năm 1972 là hình ảnh sinh động của chiến tranh nhân dân, toàn dân làm vận tải và đánh giặc, là một trong những đóng góp quan trọng của nhân dân Khu 4.

Cường độ đánh phá và phong tỏa của địch càng cao thì việc bảo đảm giao thông càng khó khăn phức tạp. Đến cuối tháng 6 năm 1972, các địa phương trong quân khu đã tổ chức 248 trạm quan sát bom, 166 đài quan sát biển, 293 đội rà phá, 385 đội ứng cứu, 116 trạm điều chỉnh, khai thác gần 200 nghìn mét khối đá, 50 nghìn mét khối sỏi, gần 150 nghìn gánh bổi, làm hơn 13 nghìn cọc tiêu, huy động hơn 330 nghìn ngày công sửa chữa, hồi phục các tuyến đường bộ, làm mới hơn 400 ki-lô-mét đường vòng, đường xế, đường tránh, phà dã chiến, ngầm, bến vượt; đào đắp hàng nghìn âu xe, bồn xăng dã chiến. Trên tuyến vận tải đường sông, các nơi đã chăm lo nạo vét luồng lạch, đào đắp hơn 2.000 âu thuyền ngụy trang kín đáo làm nơi trú đậu an toàn cho phương tiện. Đây cũng là nơi bốc dỡ và giao nhận hàng. Từ ngày 9 tháng 5 đến ngày 8 tháng 6 năm 1972, tuyến đường số 1 qua Nghệ An, Hà Tĩnh thông 20 đêm, qua Quảng Bình thông 23 đêm, qua Hà Tĩnh thông 29 đêm. Riêng đường sông hầu như thông hoàn toàn. Khối lượng do các địa phương vận chuyển qua quân khu vào hành lang đều được bảo đảm.

Từ ngày 9 tháng 6 đến ngày 22 tháng 10 năm 1972, địch mở cuộc phản công quy mô lớn trên chiến trường Quảng Trị và dồn sức tìm kiếm một thắng lợi quân sự để mặc cả với ta trên bàn hội nghị ở Pa-ri. Để hỗ trợ cho âm mưu và hành động đó, địch dồn đánh vào các khu vực phía nam Quân khu 4, hòng bóp nghẹt mọi chi viện từ ngoài vào mặt trận. Từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972, không quân Mỹ đánh phá vào Quân khu 4 tới 22.014 lần chiếc máy bay các loại. Trung bình 4.400 lần chiếc mỗi tháng, 140 lần chiếc mỗi ngày. Máy bay B52 phần lớn tập trung đánh vào Quảng Bình - Vĩnh Linh và hành lang. Ngoài ra, từ ngày 1 tháng 6 đến ngày 30 tháng 10 năm 1972, chúng còn rải thêm 6.305 thủy lôi và bom từ trường trên các trọng điểm.

Nhiệm vụ chính trị của các lực lượng phòng không trên địa bàn quân khu lúc này là "phải phát huy cao độ tư tưởng cách mạng tiến công, tinh thần chủ động kiên quyết tiến công địch, tập trung khả năng, trí tuệ, tình cảm, trực tiếp đánh thắng không quân Mỹ - lực lượng chủ yếu tiến hành chiến tranh phá hoại..."1.
______________________________________________
1. Nghị quyết Quân khu ủy, họp trong hai ngày 13 và 14 tháng 6 năm 1972.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:27:41 pm

Cuối tháng 6 năm 1972, Bộ Tham mưu phòng không quân khu mở hội nghị chuyên đề về bắn máy bay, nghiên cứu cách đánh có hiệu quả nhất. Hạ tuần tháng 8 năm 1972, Bộ Tư lệnh quân khu triệu tập hội nghị quân chính phòng không, có hơn 280 đại biểu các đơn vị phòng không ba thứ quân tham dự. Hội nghị tập trung nghiên cứu và quán triệt quyết tâm và kế hoạch chiến dịch phòng không của Bộ Tư lệnh quân khu.

Mục đích chiến dịch lần này nhằm: phối hợp chiến trường, đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ bảo đảm giao thông vận chuyển trong tình hình mới, gây khí thế thi đua bắn rơi chiếc máy bay thứ 4.000 trên đất quân khu. Ban chỉ huy tác chiến hướng bắc Nghệ An (hướng chủ yếu của chiến dịch) do đồng chí Nguyễn Cận làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Đình Sô làm chính ủy; các đồng chí Hoàng Quế và Nguyễn Hữu Phúc làm phó chỉ huy và phó chính ủy. Tại trọng điểm Quỳnh Lưu, ban chỉ huy tác chiến còn được giao nhiệm vụ "tích cực chủ động, tạo thời cơ đánh thắng cho được thủ đoạn tuần thám vũ trang phản ứng trận địa và hành động cứu giặc lái của địch. Nếu giặc lái nhảy dù ngoài biển ở cự ly gần cũng kiên quyết bắt". Để thực hiện tốt ý định đó, quân khu đã tập trung vào trọng điểm một tiểu đoàn tên lửa phòng không của trung đoàn 263, bảy tiểu đoàn pháo cao xạ cùng với toàn bộ lực lượng phòng không dân quân tự vệ huyện Quỳnh Lưu. Thời gian chiến dịch phòng không của quân khu kéo dài suốt cả tháng 10 năm 1972.

Được động viên tốt, chuẩn bị chu đáo, có kinh nghiệm, các lực lượng phòng không quân khu bước vào chiến dịch tháng 10 năm 1972 rất sôi nổi hào hứng. Tin thắng lợi liên tiếp báo về, toàn quân khu bắn rơi thêm 28 máy bay Mỹ. Địa phương nào cũng lập chiến công: Nghệ An bắn rơi 12 chiếc, Hà Tĩnh: sáu chiếc, Quảng Bình: bảy chiếc, Vĩnh Linh: ba chiếc. Trung đoàn 233 là đơn vị được xếp loại trung bình yếu, nay dẫn đầu về hiệu suất chiến đấu khá; bình quân bốn trận bắn rơi một máy bay, tỷ lệ rơi tại chỗ nhiều hơn các đơn vị bạn (5 trong tổng số 13 chiếc), 18 lần địch đánh trúng vào trận địa vẫn bám trụ chiến đấu. Trung đoàn 218 chiến đấu ở vùng quyết liệt nhất (nam quân khu) đã bắn rơi hai chiếc và thu hút chín lần địch đánh vào trận địa giả với 25 lần chiếc. Các tiểu đoàn 15, 16 (mới thành lập) 19, 20 đều bắn rơi được máy bay. Tiểu đoàn 15 đưa trận địa áp sát mục tiêu, trong 19 ngày bắn rơi ba máy bay Mỹ. Bộ đội địa phương huyện Quảng Trạch đặt súng lên bè thả trên biển dụ máy bay trực thăng địch đến. bắn rơi hai chiếc trong khu chuyển tải Hòn La. Đội trực chiến dân quân gái xã Kỳ Phương (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) đã nắm vững quy luật hoạt động của địch, linh hoạt khôn khéo di chuyển trận địa, cơ động phục đánh máy bay Mỹ quanh khu vực bắc đèo Ngang, liền trong hai tháng 9 và 10 năm 1972, đã bắn rơi hai chiếc. Tự vệ thị xã Đồng Hới, xí nghiệp 250B Nghĩa Đàn..., đã cơ động ra ngoài huyện (thị) tìm địch mà đánh, dựng mục tiêu giả lừa địch đến để tiêu diệt.

Trên hướng trọng điểm Quỳnh Lưu, quân và dân địa phương đã bắn rơi bảy máy bay Mỹ. Tiểu đoàn tên lửa hạ một chiếc, tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân hạ một chiếc, dân quân tự vệ Quỳnh Lưu hạ hai chiếc, tiểu đoàn 17 trung đoàn 222 hạ một chiếc, tiểu đoàn 15 Nghệ An hạ hai chiếc. Thủ đoạn tuần thám vũ trang của không quân Mỹ đã bị đòn đau. Sau này chúng không bay lẻ, đánh lẻ nhiều như trước. Thắng lợi của chiến dịch này càng củng cố quyết tâm của quân và dân Quân khu 4 đánh bại mọi thủ đoạn đánh phá của địch.

Ở Thanh Hóa, đại đội 94 dân quân tập trung huyện Quảng Xương, với 94 cán bộ, đội viên mới thành lập cuối tháng 5 năm 1972, chiến đấu tại trọng điểm phà Ghép từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972 đã bắn rơi năm máy bay Mỹ. Chiến sĩ công an vũ trang Trương Khắc Vánh đốn 60 biên phòng, một mình một súng trường bắn rơi máy bay địch khi chúng giảm tốc độ, hạ độ cao để soi tìm giặc lái.

Sau 136 ngày đêm (từ ngày 9 tháng 5 đến ngày 22 tháng 10) cùng chia lửa với quân và dân Quảng Trị bảo vệ Thành Cổ, quân và dân Quân khu 4 đã liên tục chiến đấu và chiến thắng, bắn rơi 100 máy bay Mỹ các loại và bắn cháy 31 lần chiếc tàu chiến địch. Riêng lưới lửa tầm thấp của dân quân tự vệ hạ 54 máy bay.

Tháng 10 đã qua. Cuộc tiến công hạn chế bằng bộ binh của địch ra nam Quân khu 4 không xảy ra, nhưng công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị chiến đấu và chi viện miền Nam của quân, dân Quân khu 4 càng diễn ra khẩn trương sôi nổi. Lúc này lực lượng chủ lực của quân khu có sư đoàn 341 và trung đoàn 270 cùng một số binh chủng. Bộ tăng cường thêm hai tiểu đoàn xe tăng. Quân khu xây dựng và tổ chức 10 tiểu đoàn cao xạ, sáu tiểu đoàn công binh, một đại đội pháo 130 ly cơ động và một số cơ sở hậu cần - kỹ thuật. Bộ còn phối thuộc cho quân khu các đơn vị hải quân thuộc vùng 2 và căn cứ 4. Như vậy, Quân khu đã có một lực lượng quân - binh chủng hợp thành, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và quen thuộc địa bàn.

Bộ đội địa phương các tỉnh vừa phát triển, vừa khôi phục có 11.807 cán bộ, chiến sĩ, cao nhất so với bất cứ thời kỳ nào trước đó. Như vậy, lực lượng chủ lực và địa phương trong quân khu vào lúc này lên tới 46.100 quân (chưa kể Thanh Hóa).

Dân quân tự vệ gần 300 nghìn cán bộ, đội viên, chiếm 11,3 phần trăm so với số dân. Trong đó, hơn 100 nghìn là lực lượng chiến đấu nòng cốt, có bộ binh và một số binh chủng cần thiết. Tổ chức dân quân tự vệ được xây dựng thực sự rộng khắp theo hướng "ở đâu có dân là có dân quân tự vệ", được trang bị tốt nhất với 76.233 súng pháo các loại và hàng chục vạn lựu đạn, mìn, chất nổ, các loại vũ khí thô sơ tự chế tạo. Các "xưởng quân khí nhỏ" có mặt ở khắp làng xã, công - nông - lâm trường, xí nghiệp. Bình quân đạt mức trang bị năm người có một súng. Trong lực lượng nòng cốt, gần hai người một súng. Nhưng ở các trọng điểm tuyến 1, lực lượng chiến đấu đạt mức 100 phần trăm trang bị súng bộ binh và hỏa lực đi cùng. Súc chiến đấu của các phân đội cơ động của dân quân, tự vệ trên những trọng điểm tương đương với bộ đội địa phương cùng cấp. Chất lượng nhiều mặt khá cao, phần lớn cán bộ, đội viên là đảng viên và đoàn viên. Hơn 30 phần trăm dân quân, tự vệ là quân nhân phục viên, xuất ngũ, đã từng qua chiến đấu, nhiều đơn vị được tổ chức theo ngành, theo giới (đội lão, đội nữ, đội công nhân cơ khí, đội trại gà, nông trường...). Nền nếp quân sự hóa trong dân quân, tự vệ cao, kỷ luật nghiêm, được nhân dân, gia đình, cơ quan xí nghiệp bảo đảm tốt, trực tiếp nuôi dưỡng, săn sóc và động viên.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:28:14 pm

Sức mạnh của lực lượng vũ trang còn được nhân lên gấp bội khi quân và dân Quân khu 4 đã từng bước xây dựng, bổ sung và củng cố một thế trận phòng thủ vững chắc trên sáu khu vực tác chiến dọc theo tuyến 1 ven biển từ Quỳnh Lưu đến Vĩnh Linh, với hàng trăm làng xã chiến đấu, cụm chiến đấu liên hoàn, điểm tựa - cụm điểm tựa, nhiều chốt, cụm chốt, khu then chốt, khu quyết giữ... trên mọi hướng dự kiến được chuẩn bị đến từng chi tiết. Hơn 300 cán bộ chỉ huy chủ lực được tăng cường về các xã, cụm chiến đấu, khu công nghiệp... bổ sung vào các ban chỉ huy quân sự cơ sở. Một hệ thống trận địa kết hợp dã chiến và kiên cố, lợi dụng thế hiểm của các dạng địa hình khác nhau, nhằm phát huy cao nhất ưu thế của các dãy điểm cao như núi Kiến (Quỳnh Lưu), Thần Vũ (Nghi Lộc), Hồng Lĩnh (Nghi Xuân), đèo Ngang (Kỳ Anh), Hồn Bung (Quảng Bình) và dốc Sỏi (Vĩnh Linh). Đứng ở vị trí xung yếu nhất, quân và dân Vĩnh Linh đã nâng trình độ "vũ trang hóa toàn dân, công sự hóa toàn khu vực" lên chất lượng mới. 21.620 mét địa đạo và hàng vạn hầm hào nối liền toàn khu vực. Quân và dân Quảng Bình dựng tám hầm chốt dưới sân thành cổ Đồng Hới, sẵn sàng bảo vệ thị xã với toàn bộ sức mạnh của "quê hương Hai Giỏi", kiên quyết không để cho địch đánh chiếm thị xã Đồng Hới. Quân và dân quân khu sẵn sàng phát huy vai trò và khả năng của mình phối hợp chặt chẽ với chiến tranh của các binh đoàn chủ lực trong một cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa trên địa bàn Quân khu 4.

Vào đầu tháng 10 năm 1972, tại Pa-ri, các bên đàm phán đang tiến dần đến một giải pháp sau một thời gian bế tắc. Dự thảo Hiệp định về "chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" do phái đoàn ta đưa ra sẽ được ký chính thức vào ngày 31 tháng 10 năm 1972. Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra kể từ ngày 22 tháng 10 năm 1972. Quân khu 4 lúc này vẫn là trọng điểm đánh phá thường xuyên của không quân, hải quân Mỹ.

Từ tháng 10 đến ngày 17 tháng 12 năm 1972, không quân Mỹ cho 459 tốp B52 (1.394 lần chiếc) hoạt động trên vùng trời Khu 4 và ném bom rải thảm những nơi chúng nghi có kho tàng dự trữ lớn của ta (đường số 22, đường goòng từ Yên Duệ đến Tân Ấp, ngã ba Bãi Vọt, rú Đụn, Anh Sơn, Đô Lương, Giang Sơn, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ). Từ Nghệ An trở vào, có tới 82 phần trăm số huyện (thành, thị) và toàn khu vực Vĩnh Linh bị B52 rải thảm. Toàn bộ số huyện của Quảng Bình, số xã và thị trấn của Vĩnh Linh bị B52 đánh phá nhiều lần. Đợt ném bom hạn chế này kéo dài 53 ngày đêm. Không quân Mỹ chịu thêm tổn thất mới: 40 máy bay đã bị bắn rơi trên vùng trời Quân khu 4. Đặc biệt đêm 22 tháng 11, bộ đội tên lửa phòng không bố trí ở Yên Thành (Nghệ An) đã bắn cháy một tốp hai chiếc B52 trong một lần phóng. Từ trận này, bộ đội tên lửa rút ra được nhiều kinh nghiệm về đánh trả B52 bằng tên lửa trong điều kiện địch gây nhiễu mạnh.

Trong 53 ngày đêm đó, tình hình giao thông vận tải đã không bị ngưng trệ mà còn bảo đảm tốt hơn. Ngày 30 tháng 11 năm 1972, Hội đồng Chính phủ ra quyết định "thống nhất công tác giao thông vận tải ở Khu 4 theo tổ chức quân sự hóa". Các ban chỉ huy giao thông vận tải cấp tỉnh thành lập. Lực lượng giao thông vận tải được biên chế chặt chẽ, trang bị mạnh; các cung, trạm bố trí hợp lý hơn. Từng đoàn, đội, kho trạm, cung đường đều có tổ chức chỉ huy chu đáo... Nhờ đó, mặc dầu địch dồn sức đánh phá ồ ạt, trên các tuyến đường bộ số 15A, 1A, tỷ lệ hàng hóa bị tổn thất hao hụt giảm từ 15 phần trăm xuống còn 8 phần trăm. Số bom, thủy lôi được rà phá tính đến ngày 15 tháng 12 gồm 2.324 quả trong tổng số 9.252 quả địch đã thả.

Trong tháng 12 năm 1972, khối lượng hàng và xe vận chuyển qua quân khu nhiều hơn trước, số hàng đến nơi đều vượt chỉ tiêu.

Hơn tám tháng ném bom ác liệt phần đất Quân khu 4, đế quốc Mỹ chẳng những không ngăn chặn được luồng hàng miền Bắc tiếp tế cho miền Nam, mà còn bị thua nặng trên các chiến trường. Mặt khác, do vẫn bàn Hiệp định "Về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam" do ta đưa ra không có lợi cho phía Mỹ và chính quyền tay sai Sài Gòn, ngày 18 tháng 12 năm 1972, Ních-Xơn ra lệnh mở cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng để gây ép cao nhất buộc ta phải nhân nhượng

Trong thời gian này, mật độ đánh phá của không quân Mỹ trên địa bàn quân khu có giảm. Từ ngày 18 đến 25 tháng 12 năm 1972, máy bay Mỹ chỉ oanh tạc vào địa bàn quân khu 441 lần chiếc cường kích và 69 lần chiếc B52. Quân và dân quân khu đã bắn rơi thêm 20 chiếc. Nhân cơ hội này, các lực lượng giao thông vận tải đã tranh thủ chạy xe cả ban ngày trên các tuyến đường nội địa số 15, 21. Đến cuối tháng 12, tất cả các tuyến đều tận dụng chạy ngày, các bến vượt từ một phà nâng lên hai phà, tiến thêm một bước nữa là chuyển thành cầu phao. Trên các tuyến đường sông, đường goòng, đường sắt, từng đoàn xe, thuyền chở đầy hàng chạy suốt đêm ngày vào Nam. Từ ngày 26 đến 30 tháng 12, khi cường độ đánh phá vào Hà Nội, Hải Phòng giảm dần, thì địch tập trung đánh mạnh Quân khu 4.

Bị thất bại nặng trong cuộc tập kích chiến lược đường không vào Hà Nội, Hải Phòng và nguy cơ chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam bị phá sản trước cuộc tiến công của Quân giải phóng, Ních-Xơn phải tuyên bố ngừng hoạt động quân sự ném bom bắn phá, phong tỏa miền Bắc nước ta. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định "Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" được ký kết tại Pa-ri.

Riêng đối với Khu 4, thời gian 15 ngày xuống thang lần cuối của đế quốc Mỹ cũng là 15 ngày không quân của chúng điên cuồng dồn số lượng máy bay ném bom ác liệt cho đến ngày Hiệp định Pa-ri có hiệu lực.

Cuộc đánh phá cuối cùng của không quân Mỹ đã gây cho nhân dân Khu 4 tổn thất nặng nề về người và tài sản. Ngày 4 tháng 11, xã Sơn Diệm (Hương Sơn) bị thương vong 80 người. Ngày 14 tháng 11, xã Thanh Hà (Thanh Chương) thương vong 62 người. Ngày 6 tháng 1 năm 1973, xã Cẩm Mỹ (Cẩm Xuyên) thương vong 70 người. Ngày 2 tháng 1 năm 1973, xã Quảng Sơn (Quảng Trạch) thương vong 191 người...

Nhận thức sâu sắc tinh thần Nghị quyết Quân khu ủy (tháng 11 năm 1972): "nơi đây, địch đánh đầu tiên và sẽ kết thúc sau cùng..." và "chiến sự sẽ diễn ra quyết liệt ngày càng tăng cho đến khi kết thúc chiến tranh...", quân và dân trong toàn quân khu đã dũng cảm chiến đấu, ghi tiếp chiến công bắn rơi thêm 10 máy bay Mỹ (có sáu máy bay B52).

Ngày 30 tháng 12 năm 1972, trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc (Hậu Lộc - Thanh Hóa) bắn rơi một F4H. Đây là lần thứ ba trung đội này bắn rơi máy bay Mỹ.

Vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 17 tháng 1 năm 1973, dân quân xã Ngư Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình) bắn rơi một máy bay không người lái Mỹ. Đây là chiếc máy bay cuối cùng của Mỹ bị quân và dân Quân khu 4 bắn rơi, kết thúc thắng lợi hai lần chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:21:07 pm

III. CÙNG BẠN XÂY DỰNG, CỦNG CỐ VÀ MỞ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG TRUNG LÀO

Mùa khô 1971 - 1972, quân và dân Lào đã giành được nhiều thắng lợi lớn trong các chiến dịch phản công chiếm lại các khu vực chiến lược quan trọng ở Bắc và Nam Lào. Cả quân ngụy Lào và lính đánh thuê nước ngoài đều bị suy yếu, vùng kiểm soát của chúng bị thu hẹp dần về phía tây dọc sông Mê Công. Nội bộ phái hữu Lào lục đục. Nhằm duy trì chế độ tay sai Viêng Chăn, Mỹ tăng viện trợ quân sự, thúc ép ngụy quyền tăng cường bắt lính, củng cố quân chính quy, đẩy mạnh chiến tranh đặc biệt, thực hiện lùng quét bên trong, lấn chiếm bên ngoài, bình định các vùng đông dân đô thị, trì hoãn đàm phán với phía Pa-thét Lào. Mặt khác, thông qua cơ quan tình báo CIA, Mỹ trực tiếp nuôi dưỡng và củng cố lực lượng đặc biệt Vàng Pao ở Thượng Lào, sử dụng vào những âm mưu thâm độc trước mắt và lâu dài.

Ở Trung Lào, từ cuối năm 1972 đến mùa mưa 1973, các hoạt động lấn chiếm của địch giảm hẳn so với trước. Quân ngụy Lào ở vùng này (gồm các tiểu đoàn địa phương BV32, 34, 51 và các tiểu đoàn chính quy BI11, BI19 thuộc binh đoàn GT312) co lại chốt giữ đường số 13, ra sức kiểm soát chặt vùng chiếm đóng còn lại của chúng dọc sông Mê Công. Các lực lượng kìm kẹp của ngụy quyền ráo riết thực hiện kế hoạch bình định, dựa vào các điểm dân cư lớn, bốc dân các nơi về lập "ấp chấn hưng" thực chất là những khu tập trung trá hình mới được đưa vào áp dụng.

Ở vùng rừng núi, rẻo cao, các tiểu đoàn thuộc lực lượng Vàng Pao chia ra từng phân đội nhỏ tìm cách luồn trở lại một số khu vực trong vùng giải phóng các tỉnh: Xiêng Khoảng, Bô Ri Khăm Xay, nhen nhóm những ổ phỉ mới ở các huyện Mường Mộc, Mường Mày, mua chuộc người Mẹo, người Khơ Mú theo chúng chống lại Pa-thét Lào. Chúng lôi kéo thanh niên theo phỉ chiếm lại một số căn cứ đã bị lực lượng vũ trang cách mạng Lào triệt phá trước đây: Nậm Heo, Mường Nham, Tha Si (huyện Mường Mộc), Mường Chuồn, Pha Xin, Phá Lai (Mường Mày). Những hoạt động đó đã làm cho vùng giải phóng của bạn ở Trung Lào kém ổn định. Sự kiểm soát của các lực lượng cách mạng ở một số vùng bị lỏng lẻo dần. Thực chất âm mưu địch là chiếm lại vùng rừng núi thuộc hai tỉnh Xiêng Khoảng và Bô Ri Khăm Xay, tiếp giáp phía tây Quân khu 4, nhằm thâu tóm các thế lực phản động trong người H’mông và các dân tộc ít người khác, biến vùng này thành căn cú thứ hai của quân phỉ Vàng Pao nối liền với Xảm Thông - Long Chẹng.

Trước tình hình phát triển có lợi cho cách mạng hai nước, bước vào năm 1972 giữa ta và bạn đã có những chủ trương và biện pháp mới nhằm củng cố vùng giải phóng.

Tháng 12 năm 1971, do yêu cầu thực hiện có hiệu quả hơn nữa nghĩa vụ quốc tế, Quân ủy Trung ương quyết định tổ chức lại lực lượng quân tình nguyện của ta ở Lào. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 có nhiệm vụ lãnh đạo và chỉ huy các hoạt động của ta và giúp bạn về mặt quân sự ở khu vực từ nam đường số 7 đến đường số 12 bao gồm tỉnh Bô Ri Khăm Xay và huyện Mường Mộc (tỉnh Xiêng Khoảng). Chuyên gia quân sự và quân tình nguyện ở khu vực này đều trực thuộc Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 4.

Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu giao cho các tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngoài giúp đỡ về kinh tế, văn hóa vốn có từ trước, có thêm nhiệm vụ giúp đỡ hai tỉnh kết nghĩa Xiêng Khoảng và Bô Ri Khăm Xay về mặt quân sự. Theo chủ trương trên, Tỉnh ủy và tỉnh đội Hà Tĩnh đã điều chỉnh tổ chức lực lượng tiểu đoàn 48 bộ đội địa phương tỉnh và đoàn 128 chuyên gia quân sự giúp bạn tại Bô Ri Khăm Xay. Tỉnh ủy và tỉnh đội Nghệ An cũng thành lập tại huyện Mường Mộc tỉnh Xiêng Khoảng lực lượng thường xuyên gồm tiểu đoàn 43 bộ đội địa phương và một đội công tác cơ sở, lấy phiên hiệu đoàn 7.

Cuối mua khô 1971 - 1972 và mùa mưa năm 1972, các lực lượng giúp bạn của Nghệ An, Hà Tĩnh thực hiện kế hoạch xây dựng và củng cố vùng giải phóng, phát triển và nâng cao chất lượng vũ trang địa phương của bạn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng. Đến trước mùa khô 1972-1973, ở các vùng giải phóng tỉnh Bô Ri Khăm Xay và huyện Mường Mộc, phong trào cách mạng có bước phát triển. Lực lượng vũ trang tỉnh Bô Ri Khăm Xay đã có tiểu đoàn 17 và bốn đại đội độc lập. Mỗi huyện đều có trung đội bộ đội địa phương huyện. Toàn tỉnh đã có 1.766 cán bộ, đội viên dân quân ở các bản, xã, trong đó gần 600 du kích vũ trang. Phần lớn các xã vùng giải phóng có trung đội du kích tập trung. Ở huyện Mường Mộc, bạn đã tích cực củng cố đại đội 125 bộ đội địa phương huyện, phát triển và củng cố được 150 cán bộ, đội viên dân quân các xã, bản, trong đó, lập được ba tiểu đội du kích vũ trang vùng xung quanh thị trấn. Ngoài lực lượng vũ trang, bạn chú trọng xây dựng, củng cố và tăng cường chỉ đạo hoạt động của các đội công tác cơ sở.
Đầu năm 1972, hội nghị lần thứ 17 Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào đề ra quyết tâm chiến lược và phương hướng cách mạng Lào trong tình hình mới: "Phát huy thế thắng lợi chủ động và khẩn trương đẩy mạnh mọi mặt hoạt động và xây dựng tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ giành thắng lợi to lớn hơn, làm chuyển biến mạnh mẽ cục diện cuộc chiến tranh ở Lào hoàn toàn có lợi cho cách mạng".

Về phía ta, nghị quyết hội nghị Quân ủy Trung ương tháng 2 năm 1972 (phần về nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào) cũng xác định: "Theo tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương, cần phải giúp đỡ và phối hợp với bạn thật tốt trong nhiệm vụ tác chiến, xây dựng lực lượng và củng cố vùng giải phóng, cùng nhau tạo nên những đợt hoạt động nhịp nhàng, tiến công địch đồng đều, đón thời cơ giành thắng lợi to lớn".

Mùa mưa năm 1972 đã qua, cả ta và địch trên khu vực đường số 7, đường số 8, ở phía bắc Trung Lào đều lấy việc xây dựng và củng cố là chính, không có hoạt động quân sự lớn. Cuối mùa mưa, bạn và ta chủ trương tranh thủ mở đợt hoạt động tác chiến ở Trung Lào trong mùa khô 1972 - 1973, lấy tỉnh Khăm Muộn (đường số 12) làm hướng chủ yếu nhằm: "mở rộng thêm vùng giải phóng mới, đông dân, dọc sông Mê Công thuộc tỉnh Khăm Muộn, uy hiếp đường số 13, bảo vệ hành lang chiến lược của ta, phối hợp các chiến trường khác ở Lào tạo chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh ở Lào"1. Nhiệm vụ này được giao cho Quân khu 4 thực hiện.
______________________________________________
1. Chỉ thị của Quân ủy Trung ương gửi Quân khu 4, tháng 9 năm 1972.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:21:49 pm

Khăm Muộn là tỉnh tiếp giáp với vùng Hạ Lào, phía đông là vùng rừng núi dọc theo giải Trường Sơn giáp biên giới các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình; đồng thời là khu vực cửa ngõ hành lang của ta ở phía tây Trường Sơn từ cửa khẩu Ba Na Phào đi xuống phía nam. Trước đây, Đoàn 559 đảm nhiệm việc giúp bạn và bảo vệ hành lang ở khu vực này. Phía đông tỉnh Khăm Muộn, dọc theo đường số 12, đường số 15 gồm thị xã Thà Khẹt và vùng đồng bằng đông dân cư còn chịu sự kiểm soát của ngụy quyền Viêng Chăn khống chế đoạn hiểm yếu nhất của đường số 13 xuyên Lào. Địch triển khai một hệ thống đồn bốt dày đặc từ Nậm Thơn ở phía bắc qua thị xã Thà Khẹt đến sông Sê Băng Phai ở phía nam thị xã Thà Khẹt - căn cứ chủ yếu, đồng thời là trung tâm đầu não của ngụy quyền tỉnh. Tiến công vào vùng này, không những khôi phục lại vùng giải phóng trước đây của Pa-thét Lào, lập lại ranh giới khi có hiệp định năm 1962, mà còn trực tiếp uy hiếp đường số 13, trục giao thông chiến lược độc nhất của Lào, thực hiện đòn chia cắt chiến lược Bắc Lào và Nam Lào, mở ra một hướng tiến công mới để phối hợp với các hướng khác.

Ở chiến trường Trung Lào, tỉnh Khăm Muộn là vùng đất quen thuộc đối với các lực lượng vũ trang Quân khu 4. Song, trong thời gian này, toàn quân khu đang phải tập trung đối phó với chiến tranh phá hoại cực kỳ ác liệt của đế quốc Mỹ, thực hiện chi viện miền Nam, củng cố hậu phương vô cùng khẩn trương và cấp bách. Mặc dầu vậy, Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu và lãnh đạo các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh vốn chủ động trong mọi tình huống nên khi được giao nhiệm vụ hoạt động tác chiến trên một hướng đã khẩn trương chuẩn bị triển khai đợt hoạt động đúng ý định của trên.

Trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1972, Thường vụ Quân khu ủy họp phiên đặc biệt để quán triệt nhiệm vụ giúp bạn và quyết định những chủ trương lớn sau đây:

- Sử dụng lực lượng chủ lực của quân khu phối hợp với lực lượng chính trị của bạn mở chiến dịch tiến công trên hướng đường số 12 do quân khu trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy, lấy phiên hiệu "chiến dịch 972”.

- Giao cho tỉnh đội các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh với lực lượng của địa phương, cùng với lực lượng vũ trang và chính trị của bạn mở đợt hoạt động tác chiến phối hợp trực tiếp với "chiến dịch 972".

Lực lượng vũ trang Hà Tĩnh hoạt động trên đường số 8, phiên hiệu là 872.

Lực lượng vũ trang Nghệ An hoạt động nam đường số 7, khu vực huyện Mường Mộc, phiên hiệu là 772.

- Ban cán sự Đảng và Bộ chỉ huy chiến dịch 972 do đồng chí Nguyễn Văn Thuận - Phó tư lệnh quân khu làm Tư lệnh và đồng chí Lê Đình Sô - Phó chủ nhiệm chính trị quân khu làm chính ủy. Đồng chí Nguyễn Văn Trị - Hiệu trưởng trường quân chính quân khu làm tham mưu trưởng.

Lãnh đạo, chỉ huy các hướng phối hợp (đường số 8, đường số 7) do Đảng ủy, tỉnh đội các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An chỉ định, trên cơ sở tăng cường cho các ban chỉ huy đoàn 128 và đoàn 7 đã có.

- "Chiến dịch 972" và các hướng phối hợp phải khẩn trương xúc tiến mọi công tác chuẩn bị tổ chức chiến đấu để hạ tuần tháng 10 năm 1972 bước vào hoạt động.

Sau khi cân nhắc, soát xét mọi mặt nhiệm vụ tác chiến của quân khu trên các hướng, cả phía trước và phía sau, Bộ Tư lệnh quân khu quyết định sử dụng lực lượng gồm ba tiểu đoàn bộ binh (tiểu đoàn 4 trung đoàn 270, tiểu đoàn 42 Nghệ An, tiểu đoàn 44 Hà Tĩnh), đại đội 1 đặc công tiểu đoàn 3, đại đội 3 xe tăng tiểu đoàn 206, tiểu đoàn 22 pháo mặt đất, đại đội 14 súng cối trung đoàn 270, tiểu đoàn 25 pháo cao xạ trung đoàn 233, đại đội 16 súng máy cao xạ 12,7 ly, một đại đội vận tải cơ giới thuộc trung đoàn 25, và một số phân đội trực thuộc khác. Ban lãnh đạo tỉnh Bô Ri Khăm Xay cử hai đội công tác cơ sở gồm 22 đồng chí tham gia chiến dịch.

Ngày 4 tháng 10 năm 1972, Bộ Tư lệnh quân khu theo dõi đánh giá kết quả chuẩn bị các hướng, phê chuẩn quyết tâm chiến đấu và ra lời động viên các lực lượng của ta: "Ra sức giúp đỡ bạn, cùng bạn đẩy mạnh cuộc tiến công giành thắng lợi to lớn hơn nữa, tạo cho bạn thế có lợi vững chắc để đưa cách mạng bạn tiến lên mạnh mẽ trong giai đoạn đấu tranh sắp tới, nhất là khi có thời cơ thuận lợi".

Mặc dầu phải tác chiến trên một chiến trường xa quân khu, thời gian gấp, lực lượng hỗn hợp tách từ nhiều đơn vị khác nhau, có chủ lực, có bộ đội địa phương, bộ binh và binh chủng với khả năng tác chiến chưa đồng đều, Ban cán sự, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tích cực chủ động chỉ đạo làm tốt công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, trinh sát nắm chắc địch và vạch phương án tác chiến cụ thể tỷ mỷ, tạo thuận lợi cho các đơn vị hoàn thành các nhiệm vụ.

Trên hướng 872, tỉnh đội Hà Tĩnh đã tăng cường cho đoàn 128 hai đại đội đặc công, hai đại đội súng máy cao xạ, một đại đội súng cối, một đại đội DKB và 500 dân công. Đồng chí tỉnh đội phó tỉnh Bô Ri Khăm Xay tham gia ban chỉ huy mặt trận 872. Toàn bộ lực lượng vũ trang chính trị của tỉnh cùng phối hợp chiến đấu.

Trên hướng 772, tỉnh đội Nghệ An tăng cường cho đoàn 7 một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội súng cối và 2.000 dân công. Đồng chí bí thư huyện ủy Mường Mộc tham gia ban chỉ huy mặt trận 772. Đại đội 125 và cán bộ cơ sở của huyện Mường Mộc phối hợp hoạt động tác chiến.

Căn cứ kết quả chuẩn bị, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương mở màn chiến dịch bằng trận tập kích tiêu diệt cứ điểm Nậm Thơn, sở chỉ huy của tiểu đoàn quân địa phương ngụy (BV43) nằm trên đường số 13 cách thị xã Thà Khẹt về phía bắc 12 ki-lô-mét. Rạng sáng ngày 28 tháng 10 năm 1972, các chiến sĩ thuộc đại đội 1 tiểu đoàn 31 đặc công đã hỗ trợ cho lực lượng của bạn tập kích diệt gọn cứ điểm Nậm Thơn. Trận đánh mở màn giành thắng lợi giòn giã đã thu hút sự đối phó của địch về phía bắc thị xã Thà Khẹt.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:22:34 pm

Ngày 12 tháng 11 năm 1972, tiểu đoàn 4 tiến công trên hướng chủ yếu đã đồng loạt nổ súng đánh chiếm các cứ điểm tiền tiêu Pa Nom, Pha Lai trên đường số 12, cửa ngõ vào thị xã Thà Khẹt từ phía tây. Trong khi đó, một mũi đặc công và bộ binh luồn sâu áp sát thị xã, ngay đêm 13 tháng 11 năm 1972, tập kích một số mục tiêu trong nội thị gây cho địch nhiều tổn thất.

Trong khi địch vì lo sợ thị xã Thà Khẹt bị tiến công đang lúng túng đối phó ở phía bắc và phía tây thì tiểu đoàn 49 quân tình nguyện cùng với các đội cơ sở của bạn thọc sâu vào vùng địch hậu phía tây đường số 13. Các đồn, bốt lẻ của địch và hệ thống kìm kẹp ở các bản, ấp nhanh chóng bị ta xóa bỏ. Nhân dân được phát động, cơ sở mới của cách mạng được xây dựng, lực lượng Pa-thét Lào làm chủ một vùng đồng bằng rộng gồm 17 xã thuộc hai huyện Thà Khẹt và Noọng Bốc, phá tung tuyến phòng thủ vòng ngoài của thị xã Thà Khẹt, kiểm soát nhiều đoạn trên đường số 13.

Địch hốt hoảng điều động lần lượt tám tiểu đoàn từ Viêng Chăn tới để cùng với quân địch ở đây giữ các vị trí then chốt còn lại, nhất là thị xã Thà Khẹt và cứ điểm Sê Băng Phai ở phía nam. Ta chuyển sang bao vây uy hiếp thị xã, tiếp tục củng cố thế làm chủ vùng mới giải phóng và chuẩn bị đạn dược, lương thực cho đợt hoạt động tiếp theo.

Trên hướng 872, các lực lượng tỉnh Hà Tĩnh hỗ trợ tích cực cho bạn nhanh chóng đánh chiếm một số đồn, bốt lẻ của địch ở vùng giáp ranh phát triển ra đường số 13, đánh chiếm cầu Pha Ca Đin, vây ép cứ điểm Pắc San, giải phóng 11 xã thuộc Bô Ri Khăm Xay và Hin Bun, làm chủ đoạn đường sá 13 từ Pha Ca Đin tới Pắc San.

Trong khí chiến sự đang được đẩy dần về phía trước thì vùng giải phóng phía sau lại xảy ra vụ phản loạn chính trị do Khăm-xổm cầm đầu. Khăm-xổm lúc đó là bí thư tỉnh ủy Bô Ri Khăm Xay, nhưng do bất mãn cá nhân nên đã lôi kéo một số tay chân, mua chuộc một bộ phận nhân dân và du kích, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng tỉnh, chiếm căn cứ để đón quân phái hữu về chiếm lại vùng giải phóng. Từ đêm 16 tháng 11 năm 1972, bọn phản loạn tập kích vào một số cơ quan tỉnh trong đó có nơi ở và làm việc của đoàn chuyên gia Việt Nam, bắt giết nhiều cán bộ, đảng viên trung kiên, chiếm khu vực Noọng Leng - Noọng Bạc.

Theo yêu cầu của bạn nhằm trấn áp kịp thời bọn phản cách mạng, ban chỉ huy mặt trận 872 điều một bộ phận lực lượng ở đường số 13 quay lại cùng với bạn dập tắt cuộc bạo loạn, bảo vệ vùng giải phóng. Đêm 29 tháng 11, ta hỗ trợ cho bạn tiến công vào sào huyệt của Khăm-xổm ở Noọng Leng, bắt diệt một bộ phận quân phản loạn. Riêng Khăm-xổm chạy thoát sang khu vực núi đá Pha Hom ẩn náu, thu thập tàn quân, bắt liên lạc với Viêng Chăn và được tăng cường một tiểu đoàn quân phái hữu Lào, lập sân bay dã chiến, định biến nơi đây thành căn cứ, chờ thời cơ.

Sau một thời gian kiên trì thuyết phục, gọi hàng không kết quả, ngày 16 tháng 12 năm 1972, ta buộc phải hỗ trợ để bạn tiến công Pha Hom. Cuối tháng 12 năm 1972, vụ phản loạn do Khăm-xổm cầm đầu bị dập tắt hoàn toàn, vùng giải phóng ở đây được ổn định.

Tại mặt trận 772, ngày 29 tháng 10 năm 1972, lực lượng tình nguyện của Nghệ An hỗ trợ cho lực lượng của bạn ở Mường Mộc tiến công căn cứ BS.226 ở Mường Nham. Đánh chiếm sân bay Mường Nham và các điểm ngoại vi, buộc địch phải chạy sang căn cứ của BS.225 ở vùng Phu Luông - Nậm Heo. Sau một thời gian chuẩn bị, đêm 22 tháng 12 năm 1972, được ta hỗ trợ, bạn đã tập trung lực lượng tiến công vào căn cứ địch ở Phu Luông - Nậm Heo. Các mũi vũ trang luồn sâu vào sào huyệt phỉ, trực tiếp tiến công vào các vị trí do quân phỉ đóng giữ. Các đội công tác cơ sở bắt liên lạc với dân bị địch bốc theo, hướng dẫn và bảo vệ cho dân tách khỏi địch, trở về vùng giải phóng an toàn. Cuộc chiến đấu của bạn nhằm giành dân, diệt phỉ kéo dài tới ngày 1 tháng 1 năm 1973. Quân phỉ bị đánh bật ra khỏi các sào huyệt của chúng. Ta đã cùng bạn giải phóng hàng nghìn dân, đưa họ về bản cũ. Sau đó ta còn tiếp tục giúp bạn làm trong sạch địa bàn, giúp dân ổn định đời sống, khôi phục lại vùng giải phóng nam đường số 7, nối liền Xiêng Khoảng với Bô Ri Khăm Xay.

Sau những trận tiến công mở đầu thắng lợi, Bộ chỉ huy chiến dịch 972 quyết định tập trung lực lượng hỗ trợ để bạn tiến công tiêu diệt cứ điểm địch ở Sê Băng Phai, một vị trí xung yếu trên đường số 13, vừa bảo vệ cầu sắt Sê Băng Phai, vừa là điểm nối giữa hai căn cứ Thà Khẹt ở phía bắc và Sê Nô ở phía nam. Cứ điểm này được phòng thủ khá kiên cố và vững chắc do một tiểu đoàn tăng cường đóng giữ. Bộ chỉ huy 972 đã phối hợp với bạn sử dụng lực lượng binh chủng hợp thành, gồm bộ binh xe tăng, pháo binh, cao xạ tiến công cứ điểm. Trận đánh diễn ra suốt hai ngày đêm 19 và 20 tháng 12 năm 1972. Đến ngày 20 tháng 12, ta và bạn chiếm được Sê Băng Phai và làm chủ vùng này trong nhiều ngày. Đường số 13 hoàn toàn bị cắt đứt. Tuy không diệt gọn được địch, nhưng trận tiến công cứ điểm Sê Băng Phai là trận đánh then chốt, kết thúc chiến dịch 972 trên hướng đường số 12, tỉnh Khăm Muộn. Đầu tháng 1 năm 1973, các lực lượng chiến đấu trên đường số 12 rời khỏi chiến trường, các lực lượng bạn được bổ sung thêm để bảo vệ và củng cố vùng mới giải phóng.

Từ tháng 1 năm 1973, các lực lượng tình nguyện hoạt động giúp bạn từ nam đường số 7 đến đường số 12 được thống nhất tổ chức thành đoàn 128, góp phần cùng bạn tạo nên thế trận mới của cách mạng ở Trung Lào sau hiệp định ngừng bắn tháng 2 năm 1973.

Hoạt động của lực lượng tình nguyện trên các mặt trận 772, 872, 972, thể hiện nỗ lực lớn của quân và dân Quân khu 4 đối với nghĩa vụ quốc tế trên chiến trường Trung Lào năm 1972.

Với việc mở các mặt trận này, lực lượng tình nguyện của quân khu đã phối hợp với bạn đánh địch ở cả ba hướng (đường số 7, đường số 8 và đường số 12) với 280 trận lớn nhỏ. Ta đã thu hút và giam chân một lực lượng quan trọng quân ngụy Viêng Chăn, buộc chúng phải dồn tới vùng Thà Khẹt và xung quanh đó thường xuyên từ 8 đến 12 tiểu đoàn quân phái hữu, tạo thuận lợi cho các chiến trường khác giành thắng lợi.

Đồng thời, lực lượng tình nguyện của ta còn giúp bạn quét sạch địch và bọn phản loạn trong vùng giải phóng cũ, mở thêm vùng giải phóng mới trong khu vực đồng bằng đông dân, nhiều của dọc theo đường số 13 với số dân trên 70 nghìn người, đưa số dân vùng giải phóng Trung Lào lên 170 nghìn trên tổng số 215 nghìn.

Thắng lợi này đã nâng cao uy tín và sức mạnh cho Mặt trận Lào yêu nước trong cuộc đàm phán với phái hữu Viêng Chăn, góp phần quan trọng đẩy địch vào thế suy yếu hơn trước trên chiến trường ba nước Đông Dương. Do thắng lợi trên chiến trường cùng với lập trường đúng đắn, thái độ kiên trì và thiện chí của đoàn đại biểu Pa-thét Lào, ngày 21 tháng 2 năm 1973, tại Thủ đô Viêng Chăn, hai bên đã ký kết "Hiệp định về lập lại hòa bình thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào". Cách mạng Lào có được một bước ngoặt quyết định.

*

*        *

Năm 1972, quân và dân Quân khu 4 đã hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trên các hướng chiến trường trong nước cũng như nhiệm vụ quốc tế với cách mạng Lào.

Trên chiến trường Trị - Thiên, nhất là mặt trận Quảng Trị, quân và dân ta đã thực hiện một chiến dịch tiến công lớn nhất, phá vỡ một hệ thống phòng thủ cực mạnh của địch, sau đó là cuộc bảo vệ vùng mới giải phóng dài ngày, tiêu biểu là 81 ngày đêm dũng cảm kiên cường bảo vệ thành cổ Quảng Trị. Cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường Trị - Thiên đã góp phần tích cực cùng quân và dân ta đánh bại về cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, tạo điều kiện để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Ở hậu phương Quân khu 4, suốt thời gian tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ hai, giặc Mỹ đánh phá vô cùng ác liệt, tưởng chừng quân, dân Quân khu 4 sẽ bị tê liệt hoàn toàn. Song với trách nhiệm là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến miền Nam và là hậu phương chiến dịch của chiến trường Trị - Thiên, lực lượng vũ trang và nhân dân Quân khu 4 đã vượt qua bao ác liệt, hy sinh, đem hết tinh thần, vật chất, bảo vệ vững chắc hậu phương và chi viện kịp thời cho tiền tuyến.

Năm 1972 cùng một lúc, Quân khu phải tiến hành bốn nhiệm vụ trên ba chiến trường khác nhau, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu, các tỉnh ủy, đảng bộ, chính quyền địa phương, quân và dân Quân khu 4 đã biết huy động sức người sức của "dồn ra phía trước", "ưu tiên tiền tuyến", "hết lòng hết sức giúp đỡ bạn Lào" trong những thời cơ quyết định góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:25:39 pm

CHƯƠNG VII
DỐC SỨC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG, GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN TRỊ - THIÊN - HUẾ, CÙNG CẢ NƯỚC GIÀNH TOÀN THẮNG TRONG MÙA XUÂN 1975 (1973-1975)

Hiệp định Pa-ri được ký kết, miền Bắc nước ta thực sự có hòa bình. Ở miền Nam, chiến tranh còn tiếp diễn, nhưng sau khi quân Mỹ, chư hầu rút, thế và lực của quân ngụy suy yếu hẳn. Ta có vùng giải phóng rộng lớn, nối liền với hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa, có lực lượng vũ trang phát triển mạnh mẽ và đứng vững trên những địa bàn chiến lược quan trọng, nhất là bộ đội chủ lực.

Để tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Mỹ tăng cường viện trợ quân sự cho quân ngụy Sài Gòn. Với viện trợ của Mỹ, quân ngụy không ngừng củng cố lực lượng, ngang nhiên phá hoại Hiệp định Pa-ri. Chúng tổ chức nhiều cuộc hành quân bình định, lấn chiếm, lập tuyến phòng thủ nhằm đẩy lực lượng ta ra xa, hòng tiến tới xóa bỏ vùng giải phóng của ta. Do đó, cuộc chiến tranh giải phóng của quân và dân ta ở miền Nam vẫn diễn ra gay go phức tạp và quyết liệt.

Tháng 3 năm 1973, Quân ủy Trung ương họp xác định nhiệm vụ của lực lượng vũ trang cả nước là: "Ra sức tổ chức và nâng cao sức mạnh chiến đấu nhằm đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng, đồng thời tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tham gia đấu tranh chính trị và xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, xây dựng căn cứ địa và vùng giải phóng ở miền Nam, luôn luôn nêu cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu đập tan mọi âm mưu gây lại cuộc chiến của địch".

Trong bối cảnh chung đó, đòi hỏi quân và dân Khu 4 phải tiếp tục phát huy tinh thần cách mạng tiến công, nỗ lực phấn đấu cao độ cùng cả nước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ.

I. CHỐNG LẤN CHIẾM, PHÁ "BÌNH ĐỊNH” CỦA ĐỊCH, GIỮ VỮNG VÀ CẢI THIỆN THẾ TRẬN TRÊN BA VÙNG CHIẾN LƯỢC

Đến cuối năm 1972, đầu năm 1973, vùng giải phóng Trị— Thiên trải rộng trên khu vực đồng bằng bắc Quảng Trị và miền tây của hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên chiếm 83 phần trăm đất đai với 15 phần trăm dân số1. Lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn hai tỉnh gồm trên 50.000 bộ đội chủ lực, gần 10.000 bộ đội địa phương, bố trí thành thế trận bao vây uy hiếp và chia cắt địch từ ba phía: bắc, tây và tây-nam. Tuy vậy, lực lượng chính trị và vũ trang quần chúng của ta ở cơ sở vẫn còn yếu, nhất là vùng địch tạm kiểm soát.

Từ sau Hiệp định Pa-ri Mỹ - ngụy vẫn chia miền Nam Việt Nam thành bốn quân khu. Trị - Thiên - Huế năm trong quân khu 1 của chúng. Ở đây địch bố trí lực lượng mạnh nhất bao gồm năm sư đoàn chủ lực (trong đó có hai sư đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị) và bốn liên đoàn biệt động, 21 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo gồm 418 khẩu, năm thiết đoàn và sáu chi đội xe tăng, thiết giáp có 449 xe, một sư đoàn không quân và 96 máy bay chiến đấu. Ngoài ra, chúng còn có một bộ máy chính quỵền, cảnh sát và lực lượng phòng vệ dân sự dày đặc để kìm kẹp nhân dân và đánh phá cơ sở cách mạng. Phần lớn quân chủ lực được bố trí tập trung bảo vệ Huế và Đà Nẵng.

Trị - Thiên là chiến trường hiểm yếu mà cả ta và địch đều tập trung mọi nỗ lực lớn để giành ưu thế. Do đó, từ năm 1973 trở đi, hình thái cơ bản trên chiến trường Trị - Thiên là địch cố lấn chiếm, ta chống lấn chiếm; địch bình định, ta phá bình định để giữ vững và cải thiện thế trận

Ngay trước ngày Hiệp định Pa-ri được ký kết, Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên chủ trương đẩy mạnh đợt hoạt động từ bảy đến mười ngày, sử dụng đại bộ phận lực lượng vũ trang gồm sư đoàn 324, trung đoàn 6 và lực lượng vũ trang hai tỉnh cùng với cán bộ chính trị tiến công tiêu diệt để lập một số vùng "lõm" ở đồng bằng, cài thế xen kẽ với địch và giữ thế có lợi cho ta ở giáp ranh.

Thực hiện chủ trương đó, lực lượng vũ trang và chính trị của ta liên tiếp tiến công địch ở phía tây đường số 1, chiếm lĩnh được 39 thôn, giải phóng trên 10.000 dân của hai tỉnh Trị - Thiên. Cùng với tiến công quân sự, lực lượng vũ trang và lực lượng đấu tranh chính trị tiến hành vũ trang tuyên truyền, hướng dẫn cho trên 30.000 dân đấu tranh đòi ngụy quân, ngụy quyền phải thi hành Hiệp định Pa-ri.

Nhưng do lực lượng địch vẫn còn đông, các vùng ta vừa chiếm thiếu liên hoàn vững chắc, nên chỉ sau một thời gian ngắn hầu hết đã bị địch phản kích chiếm lại. Về cơ bản, ta vẫn giữ được thế trận như trước ngày ngừng bắn.

Hiệp định Pa-ri vừa ký, tranh thủ lúc hiệp định chưa có hiệu lực, quân ngụy đã tập trung lực lượng, thực hiện kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ", mở đầu là chiến dịch "Sóng thần lần thứ tư” (Tan-go Ci-ty) phản kích đánh chiếm Cửa Việt.

Trong các ngày 25, 26 tháng 1 năm 1973, địch dùng phi pháo, ném bom, bắn phá rất ác liệt vào vùng Cửa Việt2. Vào hổi 4 giờ ngày 27 tháng 1 năm 1973, lợi dụng mưa to gió lớn, biển động, hàng trăm xe tăng và xe bọc thép địch từ Long Quang phối hợp với một lực lượng lớn bộ binh3 bám theo mép biển tiến ra cắm cờ ở Cửa Việt trước lúc Hiệp định Pa-ri có hiệu lực.

Phát hiện địch ra đến Cửa Việt, sư đoàn 320 lập tức cùng các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân, du kích đang làm nhiệm vụ ở đây đã phát động nhân dân làm công tác binh vận và tổ chức phản công tiêu diệt địch. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra liên tục và quyết liệt. Ta đã đánh bại hàng chục cuộc phản kích của địch. Đến ngày 31 tháng 1, địch bị thiệt hại nặng nề, những tên sống sót vội vàng tháo chạy thục mạng về Long Quang. Chiến dịch tái chiếm Cửa Việt của địch hoàn toàn thất bại. Ta đã tiêu diệt trên 1.500 tên địch, bắt trên 160 tên, bắn cháy gần 100 xe tăng và xe bọc thép, thu 13 xe tăng, bắn rơi năm máy bay, bắn cháy ba tàu chiến và phá hủy 10 khẩu pháo lớn.

Chiến thắng Cửa Việt là đòn trừng trị kịp thời và đích đáng hành động lấn chiếm của địch, bước đầu đánh bại kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" của Mỹ - ngụy. Với chiến thắng đó, vùng giải phóng của ta được giữ vững, lòng tin của nhân dân đối với cách mạng được củng cố.

Tuy ta đã giành thắng lợi, nhưng trong lãnh đạo, chỉ huy và tổ chức chiến đấu đã mất cảnh giác, chậm phát hiện địch; khi phát hiện đã không kiên quyết tiến công tiêu diệt địch lấn chiếm mà lại chủ trương binh vận nên để cho trận đánh kéo dài, không diệt gọn được địch.
______________________________________________
1. Cuối năm 1972, đầu 1973, dân số hai tỉnh Trị - Thiên khoảng 900.000 người, diện tích đất đai khoảng 10.300 ki-lô-mét vuông.
2. Cả chiến dịch, địch đã sử dụng 72 lần chiếc máy bay chiến lược B52 ném bom, bắn 45.000 viên đạn pháo vào khu vực Cửa Việt.
3. Lực lượng địch huy động cho chiến dịch: lữ đoàn 147 thủy qụân lục chiến, liên đoàn 15 biệt động quân, hai chiến đoàn thiết giáp, ba tiểu đoàn pháo binh và thường xuyên có bốn đến năm khu trục hạm của Mỹ ở ngoài biển chi viện.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:27:10 pm

Sau thất bại ở Cửa Việt, địch phải lùi ngay về đồng bằng và giáp ranh, vừa củng cố tuyến phòng thủ, vừa tổ chức lực lượng lớn, chuẩn bị tiến hành lấn chiếm các "lõm" giải phóng của ta, nhằm xóa thế "da báo" và đẩy lực lượng ta ra xa để ổn định tinh thần cho ngụy quân, ngụy quyền.

Tại Thừa Thiên, từ ngày 28 tháng 1, địch tập trung lực lượng lớn từ bốn tiểu đoàn đến hơn năm tiểu đoàn, có xe tăng yểm trợ, liên tiếp mở các cuộc hành quân lấn chiếm, líp lại được các "lõm" giải phóng của ta ở An Đô, Lai Bằng, Thượng An, Bồ Điền, Đồng Dạ và An Lỗ. Từ 28 tháng 1 đến ngày 2 tháng 2, địch cho năm tiểu đoàn, hai đại đội bộ binh và hai chiến đoàn xe thiết giáp hành quân lấn chiếm vùng giáp ranh ở nam Phổ Cần, Dưỡng Mông, đẩy được trung đoàn 4 chủ lực của ta ra khỏi Phổ Cần và líp lại được vùng này. Sau đó địch lại liên tiếp lấn chiếm các khu vực địa hình có lợi ở giáp ranh tây Thừa Thiên như: Khe Thai (15-2), cao điểm 502 (16-2), cao điểm 303 (20-2), bắc Mỏ Tàu - Ly Hy (2-3), Đồng Dương và cao điểm 620 (14-3), núi Bông, cao điểm 165 và núi Sơn (15-3)...

Cùng thời gian này, tại Quảng Trị, địch huy động trên 2.500 quân, đa số là chủ lực, có xe tăng, pháo binh và máy bay chi viện, tổ chức nhiều cuộc hành quân đánh bật lực lượng ta ra khỏi tám xã trong vùng chúng kiểm soát ở đồng bằng hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng, nhưng chúng đã phải trả một giá đắt, 760 tên bỏ mạng và 22 xe quân sự bị phá hủy. Cùng với việc lấn chiếm các "lõm" giải phóng ở đồng bằng, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân quy mô lớn1 lấn chiếm giáp ranh của ta ở Tích Tường, Như Lệ, các cao điểm 52 và 15. Tại đây, quân và dân ta đánh trả quyết liệt, gây cho địch thiệt hại nặng nề, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng.

Tại các khu vực vừa lấn chiếm, địch nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng chốt, hình thành tuyến phòng ngự kiên cố theo địa hình vòng cung ôm lấy vùng kiểm soát của chúng ở đồng bằng Trị - Thiên. Hệ thống phòng thủ của địch hình thành ba tuyến: bắc, tây và tây-nam, nhằm ngăn chặn và đề phòng ta tiến công từ hướng bắc, hướng tây xuống đồng bằng và thành phố Huế.

Tuyến phòng thủ phía bắc dài 60 ki-lô-mét, từ Thanh Hội qua thành cổ Quảng Trị đến động Ông Do, cao điểm 367, cao điểm 300.

Tuyến phía tây gồm Cổ Bi, Núi Gió, Sơn Na, Chúc Mao...

Tuyến tây - nam Huế đang hình thành với các chốt ở Mỏ Tàu, cao điểm 224, cao điểm 303, dãy Kim Sắc...

Suốt hơn hai tháng tranh chấp quyết liệt, ta bị mất một số "lõm" giải phóng ở đồng bằng, nhưng vẫn giữ được thế trận cơ bản như trước ngày ngừng bắn.

Để giữ vũng và phát triển phong trào cách mạng, kịp thời uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc vừa qua và bàn phương hướng nhiệm vụ sắp đến, sau khi hợp nhất B4 và B5 thành Quân khu Trị - Thiên, Quân khu ủy họp phiên đầu tiên từ ngày 7 đến 12 tháng 4 năm 1973, phân tích kỹ tình hình, xác định nhiệm vụ cơ bản của quân và dân Trị - Thiên: "... kiên định quan điểm bạo lực, nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu tốt, kiên quyết bảo vệ vững chắc vùng giải phóng và hành lang chiến lược, làm hậu thuẫn mạnh mẽ cho đấu tranh chính trị, giữ vững hòa bình đưa cách mạng tiến lên".

Hội nghị đề ra phương hướng vài năm tới phải nhanh chóng tạo ra chuyển biến mới trong tương quan lực lượng cả thế và lực trên cả ba vùng chiến lược, sẵn sàng chủ động giành thắng lợi lớn trong mọi tình huống.

Tháng 5 năm 1973, Thường vụ khu ủy họp nêu rõ nhiệm vụ chung cho Đảng bộ Trị - Thiên - Huế là: trên cơ sở nắm vững mục tiêu hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, nắm vững chiến lược tiến công, đánh lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn mà chuyển sang lãnh đạo đấu tranh chính trị là chính", với khẩu hiệu "Hòa bình độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa hợp dân tộc". Đồng thời hội nghị cũng đề ra bốn công tác lớn là:

- Đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị.

- Xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, sẵn sàng đánh bại những cuộc hành quân lấn chiếm của địch, kiên quyết bảo vệ vùng giải phóng.

- Ra sức xây dựng căn cứ địa cách mạng và vùng giải phóng.

- Củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới.

Nghị quyết của Quân khu ủy và Thường vụ khu ủy đã thể hiện sự quán triệt đường lối, quan điểm quân sự của Đảng trong giai đoạn mới, đề cập toàn diện nhiệm vụ quân sự của chiến trường và xác định quyết tâm chính xác cho quân và dân Trị - Thiên.

Lực lượng vũ trang ở Trị - Thiên đã tích cực, chủ động tiến công và phản công, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch. Kết hợp tiến công quân sự với đẩy mạnh công tác binh vận, ta đã giành nhiều thắng lợi, nhất là ở các khu vực Tích Tường, Như Lệ, cao điểm 262 tỉnh Quảng Trị và Phong Sơn, Tà Lương, Khe Thai, Mỏ Tàu, cao điểm 673 tỉnh Thừa Thiên, bảo vệ vững chắc được vùng giải phóng ở bắc và tây Trị - Thiên.

Đối phó với những đòn tiến công, phản công của ta, địch tăng cường các cuộc hành quân lấn chiếm, đẩy mạnh "bình định", thực hiện kế hoạch "cộng đồng tái thiết", "cộng đồng phát triển địa phương" nhằm triệt phá cơ sở cách mạng, bảo vệ vững chắc vùng chúng kiểm soát, tăng cường lực lượng, lấn đất giành dân, kiểm soát chặt chẽ dân chúng.

Năm 1973, địch ra sức quân sự hóa và cảnh sát hóa bộ máy ngụy quyền, thành lập các phân chi khu quân sự, đưa các sĩ quan ác ôn về tận thôn, xã nhằm thanh lọc quần chúng, tổ chức lại các đảng phái phản động, nhất là đảng dân chủ của Thiệu, tăng lực lượng phòng vệ dân sự ở Trị - Thiên từ 18.000 lên 30.000 tên.

Cùng với việc củng cố bộ máy ngụy quyền, địch tăng cường sử dụng tổng hợp các lực lượng, cả chủ lực, phòng vệ dân sự và cảnh sát; tổ chức hành quân cảnh sát liên minh để thanh lọc, vơ vét, bóc lột làm cho đời sống nhân dân trong vùng chúng kiểm soát vô cùng cực khổ. Năm 1973, địch đã mở 15.862 cuộc hành quân, "thanh lọc" và đưa hàng chục nghìn dân thường vào các trại tập trung để dễ bề kìm kẹp.
_____________________________________________
1. Lực lượng địch gồm có: 2.500 tên, 20 xe tăng, 45 khẩu pháo, có máy bay của lữ đoàn dù số 1 và số 2 chi viện.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:30:17 pm

Từ đầu năm 1973, Khu ủy Trị - Thiên đã chủ trương; tăng cường cán bộ cho vùng địch kiểm soát ở nông thôn đồng bằng để đưa phong trào đấu tranh chống phá bình định lên bước phát triển mới.

Thực hiện chủ trương đó, một số tỉnh ủy viên được điều xuống làm bí thư huyện ủy; các huyện ủy viên về làm bí thư các thôn, xã để xây dựng lại phong trào ở vùng nông thôn địch hậu. Chỉ sau một thời gian ngắn, lực lượng vũ trang, chính trị ở nông thôn đồng bằng đã được khôi phục; phong trào tuy chưa mạnh nhưng đã có bước phát triển.

Khu ủy Trị - Thiên đã phát động quần chúng nắm chắc Hiệp định Pa-ri để tiến công địch bằng cả quân sự và chính trị, nhằm phá âm mưu bình định của chúng. Các cơ sở đảng đã dùng nhiều hình thức phong phú: tổ chức hội thảo, nói chuyện về hiệp định, mít tinh, biểu tình, tuyên truyền vận động quần chúng xuống đường đấu tranh chính trị, với khẩu hiệu "Hòa bình, độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh và hòa hợp dân tộc". Phong trào đã lôi cuốn được các tầng lớp nhân dân, kể cả môt bộ phận binh sĩ và nhân viên ngụy quyền ở cơ sở của địch, khơi dậy tư tưởng muốn hòa bình, chán ghét chiến tranh trong hàng ngũ địch. Ở nhiều địa phương vùng đồng bằng, nhân dân đấu tranh đòi về làng cũ, tự do đi lại làm ăn, đòi quyền dân sinh, dân chủ và thả những người bị bắt; chống gài mìn, phục kích, chống phân tuyến, phân vùng gây chia rẽ hận thù, chống khủng bố. Phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi của quần chúng đã thu hút hàng trăm nghìn người tham gia. Do áp lực đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng nên địch phải nhượng bộ, để cho dân của 60 ấp trở về làng cũ và 78 ấp về theo khu vực quy định của chúng. Ngụy quân, ngụy quyền ở thôn xã có nơi ủng hộ quyền lợi của quần chúng, thế kìm kẹp của địch phần nào kém hiệu quả. Do kết quả của đấu tranh chính trị và vũ trang, ta đã bảo vệ và phát triển được cơ sở cách mạng, đẩy lùi các thủ đoạn khủng bố, chia rẻ và chống phá của địch.

Bên cạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân, công tác binh vận được tăng cường với nhiều hình thức khác nhau. Ta đã in hàng chục nghìn tập Hiệp định, gửi đến tận tay binh lính ngụy, tổ chức gọi loa vào các chốt của địch ở tuyến giáp ranh, trực tiếp gặp gỡ sĩ quan, binh sĩ địch để tuyên truyền nội dung Hiệp định Pa-ri và chính sách hòa hợp dân tộc của ta, đồng thời chỉ rõ thế thắng của ta và thế thua không tránh khỏi của chúng.

Đòn tiến công chính trị, binh vận và tề vận của ta góp phần làm cho hàng ngũ sĩ quan, binh lính địch hoang mang giao động. Một số trung đội, đại đội và tiểu đoàn địch, cả chủ lực và quân địa phương bắt đầu có hiện tượng chống lệnh chỉ huy, đào ngũ, rã ngũ1. Đến cuối năm 1973 đầu năm 1974, cơ sở cách mạng trong vùng địch kiểm soát đã được củng cố và phát triển. Thừa Thiên có hai hệ thống cơ sở mật và công khai với hơn 3.000 cơ sở thuộc các đoàn thể quần chúng, trên 270 cơ sở nội tuyến, 315 du kích mật và gần 850 cán bộ phong trào. Ở Quảng Trị, tuy địch kiểm soát gắt gao hơn, nhưng các đội biệt động cùng với cán bộ xã, huyện đội và cán bộ chính trị vẫn liên tục thay nhau bám cơ sở trong vùng sâu để hoạt động nên đã móc nối được cơ sở ở 23 trên 58 thôn (của 14 trên 19 xã).

Tuy nhiên, lực lượng tại chỗ của ta vẫn còn ít và yếu, thế hỗ trợ trực tiếp của đòn tiến công quân sự chưa đủ mạnh, địa bàn đứng chân vùng giáp ranh và hành lang về đồng bằng, thành phố còn nhiều khó khăn, sức mạnh đấu tranh trên các vùng chiến lược của ba thứ quân chưa được phát huy đều khắp. Kết quả phong trào đấu tranh của ta chống phá bình định của địch bị hạn chế.

Tại các vùng giải phóng, thực hiện nghị quyết Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên đề ra đầu năm 1973: “xây dựng vùng giải phóng vững mạnh toàn diện", trong đó nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế phải được hết sức coi trọng, phấn đấu một vài năm tới phải tự túc được lương thực và thực phẩm, nhân dân và lực lượng vũ trang đã nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi, nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống xã hội. Mọi người, mọi lực lượng hăng hái tham gia khai hoang, phục hóa; xây dựng các công trình thủy lợi, đẩy mạnh sản xuất, tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, chính trị, củng cố quốc phòng để bảo vệ vững chắc vùng giải phóng.

Trong các vùng mới giải phóng ở Quảng Trị, nhân dân và lực lượng vũ trang đã tập trung sức rà phá, tháo gỡ bom, mìn, phục hồi sản xuất, cải thiện đời sống. Hàng chục nghìn quả bom, mìn đã được tháo gỡ, gần 37.000 héc-ta đất hoang hóa đưa vào sản xuất. Nhân dân đóng góp hàng chục nghìn ngày công xây dựng các công trình thủy lợi, đảm bảo tưới tiêu cho đồng ruộng; đồng thời mạnh dạn áp dụng kỹ thuật tiên tiến, đưa giống mới vào gieo cấy trên đồng ruộng quê hương. Gần hai năm sau ngày giải phóng, sản xuất được phục hồi, sản lượng và năng suất lương thực ngày càng tăng, trong đó điển hình là xã Mai Xá, huyện Gio Linh2. Cùng với sản xuất lương thực, chăn nuôi và các ngành nghề khác đều phát triển. Đời sống nhân dân trong vùng mới giải phóng ở đồng bằng Quảng Trị nhanh chóng được ổn định và cải thiện.

Vùng giải phóng miền núi Trị - Thiên liên hoàn từ nam Thừa Thiên tới bắc Quảng Trị, nối liền với hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa là địa bàn, căn cứ địa cách mạng có tầm quan trọng về chiến lược. Vì vậy, ngày 21 tháng 4 năm 1973, Khu ủy Trị - Thiên họp với cán bộ các địa phương, các ngành và Đoàn 559 đã nhất trí xác định: phải xây dựng miền núi tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, toàn diện và có trọng điểm theo yêu cầu: vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, tiến bộ về văn hóa kỹ thuật, làm tròn nhiệm vụ là căn cứ địa cách mạng trong khả năng hòa bình cũng như khi có chiến tranh... đặc biệt là vùng giáp ranh phải được xây dựng thật mạnh, giữ vững thế liên hoàn giữa ba vùng chiến lược.

Ngay sau ngày giải phóng, nhân dân đã nhanh chóng trở về xây dựng quê hương mới tại Nam Đông, Khe Tre, A So, A Lưới, vùng Ka Kê thuộc tỉnh Thừa Thiên; Ba Lòng, Khe Sanh, dọc đường số 9 của tỉnh Quảng Trị. Trong niềm vui quê hương vừa giải phóng, lại được miền Bắc chi viện, nhân dân đã hăng hái đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống, một số nơi đồng bào dân tộc ít người bắt đầu định canh, định cư... 3.

Góp phần giải quyết khó khăn về lương thực, thực phẩm trong điều kiện chiến tranh, hai năm 1973 và 1974, lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên trồng 50 héc-ta cây lương thực, thu hoạch đạt sản lượng quy ra gạo được trên 330 tấn. Bình quân đầu người tự túc được 34 ngày trên chỉ tiêu hai tháng lương thực.

Cùng với đẩy mạnh sản xuất, xây dựng lại quê hương, nhân dân bỏ ra hàng chục nghìn công cùng lực lượng vũ trang Trị - Thiên xây dựng công trình phòng thủ bắc Quảng Trị, tham gia vận chuyển hàng hóa ra phía trước.
______________________________________________
1. Đến tháng 9 năm 1973, ở Trị - Thiên có một đại đội, 13 trung đội chủ lực, sáu tiểu đoàn, ba đại đội bảo an, một trung đội biệt kích và 73 trung đội dân vệ giao động, chống lệnh chỉ huy; 9.500 sĩ quan và binh sĩ đảo ngũ.
2. Sản lượng lương thực năm 1973 ở vùng giải phóng Quảng Trị đạt 58.000 tấn.
3. Về sản xuất nông nghiệp ở miền núi: năm 1973, Thừa Thiên cấy 3.620 héc-ta lúa, thu hoạch 106.000 thúng lúa, Quảng Trị cấy 7.780 héc-ta, thu hoạch trên 10.000 tấn. Năm 1974, Thừa Thiên thu hoạch 3.900 tấn lương thực, Quảng Trị thu 12.000 tấn lương thực.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:32:12 pm

Mạng lưới phòng không bắn máy bay ở Quảng Trị cũng tổ chức được gần 340 trận địa bắn máy bay tầm thấp, liên tục đánh trả mọi hành động xâm phạm của địch, bảo vệ được vùng giải phóng.

Tuy phải liên tục chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, nhưng các lực lượng vũ trang Trị - Thiên được sự chi viện của Bộ đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn trở ngại, từng bước chủ động điều chỉnh, bổ sung quân số và trang bị ngày càng hợp lý trên cơ sở ưu tiên hàng đầu cho lực lượng chiến đấu1. Đến tháng 6 năm 1974, Quân khu Trị - Thiên đã xây dựng được lực lượng vũ trang ba thứ quân gồm: ba trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo binh cơ giới, một trung đoàn cao xạ cơ giới, một trung đoàn công binh, một tiểu đoàn đặc công, một tiểu đoàn bộ binh đánh giao thông và một tiểu đoàn vận tải cơ giới. Bộ đội địa phương tỉnh có: năm tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn đặc công; huyện có 12 đại đội và 13 trung đội bộ đội huyện, 16 đội vũ trang công tác với tổng số 2.342 người.

Nhằm không ngừng nâng cao khả năng tác chiến của lực lượng vũ trang, Quân khu chú trọng công tác huấn luyện. Ngay từ cuối năm 1973, sau khi hoàn chỉnh biên chế tổ chức, từ quân khu đến các tỉnh và đơn vị tập trung mở nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn và tại chức cho cán bộ các cấp từ tiểu đội đến trung đoàn và tương đương. Nội dung huấn luyện chủ yếu là về kỹ thuật, chiến thuật, tổ chức và phương pháp huấn luyện chiến sĩ, chất lượng đội ngũ cán bộ chỉ huy trong toàn quân khu được nâng lên rõ rệt.

Trên cơ sở nỗ lực cao trong huấn luyện và xây dựng lực lượng, trình độ tổ chức chỉ huy, khả năng vận dụng kỹ thuật, chiến thuật trong tác chiến tập trung của bộ đội có tiến bộ rõ rệt. Nhờ sự trưởng thành của lực lượng vũ trang quân khu nên ta đã rút được ba sư đoàn chủ lực ra cơ động, vừa đánh địch tạo thế, vừa tranh thủ củng cố lực lượng chuẩn bị cho tổng tiến công tiêu diệt địch.

Để đáp ứng yêu cầu của tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, Quân khu chú trọng việc xây dựng mạng đường, tổ chức hệ thống kho tàng, các công trình chiến đấu... Ngay từ đầu năm 1973, Quân khu đã huy động lực lượng bộ đội, du kích không trực tiếp làm nhiệm vụ chiến đấu cùng nhân dân vùng giải phóng làm mới và sửa chữa các đường số 15N, 71, 72, 73A, 73B và đường số 9B nối liền với đường số 14 từ hướng tây xuống nam và bắc Trị - Thiên để vận chuyển vật chất, lương thực, thực phẩm, vũ khí, binh khí kỹ thuật và cơ động bộ đội, bảo đảm phục vụ cho yêu cầu tác chiến của các lực lượng vũ trang trên chiến trường Trị - Thiên và Quảng Nam - Đà Nẵng. Đến tháng 9 năm 1973, ta đã hoàn thành 97 ki-lô-mét đường ô-tô, bảo đảm cho xe vận tải chở hàng chạy trong suốt mùa khô.

Ngoài đường bộ, Quân khu còn khắc phục mọi khó khăn, tận dụng sông Mỹ Chánh, sông Tả Trạch và sông Bồ để vận chuyển hàng bằng bè mảng và thả hàng bằng túi ni-lông từ phía tây xuống giáp ranh và đồng bằng Trị - Thiên - Huế.

Cùng với giải quyết mạng lưới giao thông, Quân khu xây dựng các cụm kho ở Cam Lộ (tây Quảng Trị), ở đường số 71 đường số 15N và đường số 73 (tây Thừa Thiên) để phục vụ cho các hướng chiến dịch. Đến tháng 7 năm 1973, công tác vận chuyển cung cấp cho chiến trường cũng được hoàn thành vượt mức, đảm bảo cho các đơn vị ở hướng bắc Trị - Thiên một khối lượng lương thực dự trữ tương đối lớn. Đơn vị ít nhất, đủ ăn đến hết tháng 9 năm 1973, đơn vị nhiều nhất đủ ăn đến hết tháng 1 năm 1974; hướng nam Thừa Thiên bảo đảm ăn đến tháng 11 hoặc tháng 12 năm 1973.

Các tuyến quân y, trạm sửa chữa xe máy, vũ khí, khí tài, các hệ thống công trình quân sự và thông tin liên lạc cũng được xây dựng khẩn trương, bước đầu bảo đảm kịp thời cho công tác chỉ huy chiến đấu. Tuy vậy, số lượng và chất lượng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu chiến đấu lớn cũng như yêu cầu phòng tránh.

Hơn một năm chiến đấu và xây dựng trên chiến trường Trị - Thiên, thế và lực của ta được nâng lên một bước. Ta đã làm chủ được vùng giáp ranh, giữ được vùng giải phóng, buộc địch phải lui về phòng ngự và thường xuyên bị uy hiếp. Tuy nhiên, chúng còn kìm kẹp được một bộ phận khá lớn nhân dân, thực hiện được phân tuyến, phân vùng, ngăn chặn ta về vùng sâu đồng bằng. Vì thế, lực lượng ta ở vùng đồng bằng Thừa Thiên và nam Quảng Trị còn yếu.

Để tiếp tục đưa cách mạng miền Nam tiến lên, tháng 7 năm 1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 đã đề ra đường lối nhiệm vụ cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Hội nghị khẳng định con đường cách mạng miền Nam là: "con đường bạo lực cách mạng", là "đường lối chiến lược tiến công"; đồng thời chỉ rõ: "Vấn đề giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển lực lượng cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết, vừa cơ bản trong tình hình mới"2.

Tháng 1 năm 1974, Khu ủy Trị - Thiên họp quán triệt Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng, đã vạch ra hai nhiệm vụ cơ bản của quân khu là:

1. Kiên cường đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, binh vận và vũ trang, từng bước đánh bại kế hoạch bình định và lấn chiếm, phá lỏng, phá rã kìm kẹp của địch, ra sức giành dân, từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng tại chỗ, đưa phong trào vùng địch kiểm soát lên cao hơn.

2. Tranh thủ thời gian, ra sức xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng vững mạnh toàn diện. Tổ chức hậu cần đảm bảo chi viện phía trước và đánh thắng địch trong mọi tình huống.

Khu ủy cũng xác định hướng tiến công chính của ta là vùng nông thôn, đồng bằng, nhằm đạt mục tiêu cơ bản là tạo thế, tạo lực, tiến lên giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế.
______________________________________________
1. Đến tháng 6 năm 1973, Bộ bổ sung cho Quân khu Trị - Thiên 2.000 quân, trong đó có hai tiểu đoàn lựu pháo 122 ly, một đại đội pháo 85; đưa 2.700 thương bệnh binh nhẹ, lạc ngũ về đơn vị cũ. Quân khu tự điều chỉnh được 1.394 đồng chí và tuyển chọn lên chủ lực được 425 người.
2. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, nhũng sự kiện quân sự, Hà Nội 1980, tr.170 và 171.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:34:06 pm

Triển khai nhiệm vụ quân sự, tháng 4 năm 1974, Quân khu ủy chủ trương đẩy mạnh tiến công của lực lượng vũ trang hướng về khu vực giáp ranh và đồng bằng; lấy đánh bình định chống lấn chiếm làm trung tâm. Nhiệm vụ trong thời gian tới của các lực lượng vũ trang quân khu là:

- Tập trung đánh phá bình định, chống lấn chiếm, giành dân, giành quyền làm chủ, xây dựng thực lực cách mạng ở nông thôn đồng bằng và thành phố Huế.

- Tích cực xây dựng thế và lực mới, đặc biệt chú trọng tổ chức chuẩn bị chiến trường, trọng tâm là làm đường cơ giới.

- Ra sức xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa vững mạnh toàn diện.

Thực hiện chủ trương của Khu ủy và Quân khu ủy, từ tháng 3 năm 1974, các lực lượng vũ trang của ta đã mở đợt hoạt động tiến công địch trên dọc tuyến giáp ranh từ Hải Lăng đến Hải Vân, đánh phá "bình định", chống địch lấn chiếm, cải thiện thế trận và hỗ trợ cho phong trào ở đồng bằng mà trọng tâm là nam – bắc đường số 14 thuộc nam Thừa Thiên.

Mở đầu cho đợt hoạt động ở nam - bắc đường số 14, tiểu đoàn 8 trung đoàn 271 đánh chiếm các điểm cao 144, 273 và 300 buộc địch phải rút khỏi Ly Hy. Tiếp đó, từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 6, ta đánh địch phản kích ở bắc điểm cao 100 (nam Khe Thai, huyện Hương Trà), tiêu diệt 90 lính dù.

Trên các hướng khác, lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta liên tiếp đánh địch, chiếm lại các điểm cao 58, 61 và ba điểm cao khác ở tây Cổ Bi thuộc hai huyện Phong Điền và Quảng Điền. Cùng lúc, lực lượng phòng thủ bắc Quảng Trị liên tiếp tiến công địch ở Tích Tường, Như Lệ, cao điểm 367, tiêu diệt hàng trăm tên địch, giữ vững tuyến phòng thủ.

Phối hợp với hoạt động ở vùng giáp ranh, các đơn vị đặc công, biệt động cùng với bộ đội chủ lực quân khu, bộ đội các huyện và du kích ở vùng sâu đồng bằng và thành phố Huế liên tiếp tiến công địch, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị của quần chúng và móc nối xây dựng lại cơ sở cách mạng. Bộ đội đặc công cùng với bộ binh quân khu liên tiếp đánh địch phản kích ở điểm cao 273, đánh cắt giao thông đường số 1 (từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 6), tập kích kho xăng Đồng Lâm và kho đạn Phú Bài (ngày 29 tháng 6), gây cho địch nhiều thiệt hại.

Các đội vũ trang công tác, biệt động tích cực diệt ác, trừ gian, tuyên truyền vận động quần chúng đấu tranh ở vùng sâu địch hậu, tiêu biểu là ở các xã Phong Nhiêu, Phong Thái, Hương Bình, Hải Thủy, Diên Lộc, Tân Lộc và Nguyệt Biều; hạn chế sự lùng sục của địch. Kết quả đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc cài cắm lực lượng, xây dựng và phát triển cơ sở, chuẩn bị cho quần chúng nổi dậy khi có thời cơ.

Kết thúc đợt hoạt động, Quảng Trị mở được hai khu "lõm", hai đường hành lang về đồng bằng. Tại Thừa Thiên, ta xây dựng thêm 15 khu "lõm" cùng một số hành lang.

Với những thắng lợi ở giáp ranh và vùng sâu đồng bằng, ta đã tạo được thế xen kẽ với địch ở một số khu vực trên tất cả các tuyến đồi trọc từ tây đường số 1 đến đèo Hải Vân. Nơi đây trở thành khu vực tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển của chiến trường, ngày 17 tháng 5 năm 1974, chấp hành chỉ thị của Quân ủy Trung ương, các lực lượng vũ trang trên chiến trường Trị - Thiên được tách thành Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên1.

Phát huy thắng lợi trong đợt hoạt động xuân - hè 1974, đồng thời phối hợp với chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức (Quân khu 5), theo lệnh của Bộ, Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 mở đợt tấn công hè - thu ở tây nam Thừa Thiên với mật danh là chiến dịch K18 (chiến dịch La San).

Lực lượng tham gia chiến dịch gồm sư đoàn 324 (thiếu trung đoàn 3) của Quân đoàn 2, trung đoàn 6 và K4 của Quân khu Trị - Thiên cùng một số đơn vị binh chủng trực thuộc, do bộ tư lệnh sư đoàn 324 trực tiếp chỉ huy.

Địa bàn chiến dịch là khu vực đường số 14 - La Sơn, Mỏ Tàu ở tây nam Huế. Là khu vực rất quan trọng để bảo vệ giao thông chiến lược Huế - Đà Nẵng và căn cứ sân bay Phú Bài, quân khu 1 ngụy đã bố trí ở đây phần lớn lực lượng sư đoàn 1 và các đơn vị bảo an chiếm giữ các vị trí có lợi, đề phòng ta tiến công.

Được sự giúp đỡ của nhân dân và sự phối hợp của các lực lượng vũ trang địa phương, sư đoàn 324, trung đoàn 6 và các đơn vị tham gia chiến dịch nhanh chóng tổ chức trinh sát nắm địch, xây dựng kế hoạch tác chiến, vận chuyển gần 1.000 tấn lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược và gần 3.000 viên đạn pháo, mở đường bí mật kéo pháo và hành quân vào khu vực tập kết an toàn. Cuối tháng 8, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn thành.

5 giờ ngày 28 tháng 8 năm 1974, chiến dịch La Sơn bắt đầu. Các chiến sĩ trung đoàn 78 pháo binh bắn phá dữ dội vào các trận địa pháo địch ở điểm cao 41, căn cứ Bạch Thạch, Phú Bài. Cùng lúc, lực lượng luồn sâu cài thế sẵn của sư đoàn 324 đồng loạt nổ súng tiến công chiếm lĩnh các điểm cao 75, 76, 303, 144, 224, 204 và 273. Sau hơn ba giờ chiến đấu quyết liệt, ta đã làm chủ hầu hết các điểm cao này. Riêng ở điểm cao 273, cuộc chiến đấu kéo dài đến sáng 29 tháng 8 mới kết thúc. Ta hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt tiểu đoàn 3 trung đoàn 3 và tiểu đoàn 219 bảo an (thiếu một đại đội) của địch, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 2, bắt hơn 300 tù binh.

Bị mất một loạt vị trí quan trọng ở khu vực đường số 14, tư lệnh sư đoàn 1 ngụy vội vàng điều tiểu đoàn 3 trung đoàn 51 lên tăng cường cho trung đoàn 3; điều hai tiểu đoàn khác của trung đoàn 1 ra tăng cường cho căn cứ La Sơn, gấp rút điều chỉnh lại thế trận, hình thành tuyến phòng thủ mới để ngăn chặn ta tiến công.
______________________________________________
1. Quân đoàn 2 gồm: sư đoàn 304, sư đoàn 324, sư đoàn 325 và một số đơn vị binh chủng. Quân khu Trị - Thiên gồm tất cả các lực lượng còn lại trên chiến trường này.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:37:39 pm

Phát huy thắng lợi ngày đầu chiến dịch, đồng thời nắm vững tư tưởng liên tục tiến công và đánh tiêu diệt, sư đoàn 324 quyết định tổ chức ngay đợt tiến công thứ hai đánh thẳng vào giữa tuyến phòng thủ của địch, áp sát đường số 1, uy hiếp tuyến giao thông Huế - Đà Nẵng của chúng.

Với quyết tâm đó, các chiến sĩ sư đoàn gấp rút dò gỡ mìn, làm đường kéo pháo lên hai cao điểm 75 và 76 đánh địch chi viện cho bộ binh.

5 giờ 10 phút ngày 3 tháng 9, các chiến sĩ trung đoàn 1 sư đoàn 324 đồng loạt nổ súng tiến công địch ở khu vực điểm cao 31 do tiểu đoàn 3 trung đoàn 51 ngụy chiếm giữ. Sau 45 phút chiến đấu, tiểu đoàn 3 ngụy bị thiệt hại nặng, hai đại đội bị diệt, 91 tên bị bắt làm tù binh. Sáng 7 tháng 9, trang đoàn 2 sư đoàn 324 đánh chiếm các điểm cao 121, 141, núi Bông, núi Nghệ do tiểu đoàn 2 trung đoàn 3 ngụy chiếm giữ. Trước sức tiến công mạnh mẽ của ta, tiểu đoàn 1 ngụy hoảng sợ bỏ chạy tán loạn về phía sau. Thừa thắng, sư đoàn 324 cùng các lực lượng vũ trang địa phương nhanh chóng truy kích địch xuống sát đường số 1, bắt gần 200 tên.

Từ ngày 14 tháng 9, ta bước vào đợt 3 của chiến dịch. Sư đoàn 324 và trung đoàn 6 tiến công cứ điểm Hồng Hà (điểm cao 31) và các trận địa của địch ở phía đông các điểm cao 52, 41 do các đơn vị của trung đoàn 1 và trung đoàn 51 sư đoàn 1 ngụy chiếm giữ. Sau gần một ngày giành đi giật lại với địch, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn địch, bắt 500 tên.

9 giờ ngày 27 tháng 9, sư đoàn 324 và trung đoàn 6 mở đợt tiến công cuối cùng của chiến dịch La Sơn, đánh vào khu vực Mỏ Tàu do tiểu đoàn 2 trung đoàn 51 ngụy chiếm giữ. Sau hơn hai ngày chiến đấu quyết liệt, đến 10 giờ 30 phút ngày 29 tháng 9, ta tiêu diệt đại bộ phận quân địch, hoàn toàn làm chủ Mỏ Tàu. Chiến dịch La Sơn kết thúc thắng lợi.

Sau hơn 30 ngày đêm chiến đấu liên tục, sư đoàn 324 và lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên đã giành thắng lợi vẻ vang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ta đã tiêu diệt và bắt 1.800 tên địch, diệt gọn hai tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng chín tiểu đoàn khác, thu 2.734 khẩu súng các loại và bắn rơi năm máy bay địch; thu hẹp được vùng chiếm đóng của địch, phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng ngự của chúng ở tây nam Huế. Với chiến thắng La Sơn, ta đã mở rộng được vùng giải phóng, hỗ trợ tích cực cho phong trào cách mạng ở vùng sâu đồng bằng.

Phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang và nhân dân Trị - Thiên đẩy mạnh hoạt động trên toàn tuyến giáp ranh từ huyện Hải Lăng đến đèo Hải Vân. Tiểu đoàn 4 và bộ đội huyện Phú Lộc tiến công địch ở khu vực đèo Phú Gia; tiểu đoàn 2 trung đoàn 6 đánh chiếm điểm cao 16 và mỏm A đồi Bạch Đàn, liên tiếp đánh phá giao thông gây cho địch nhiều thiệt hại. Đường sắt Huế - Đà Nẵng hoàn toàn bị cắt đứt từ ngày 18 tháng 8, đường số 1 bị cắt đứt năm lần, làm cho hậu phương và các hoạt động của địch ngày càng khó khăn nghiêm trọng.

Cùng với hoạt động quân sự, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân và sinh viên Trị - Thiên - Huế cũng phát triển.

Tại Huế, ngày 21 tháng 3 năm 1974, nhân việc chính quyền tay sai Thừa Thiên - Huế can thiệp thô bạo vào các hoạt động của sinh viên, lập tức sinh viên Huế phát động một cuộc đấu tranh chống ngụy quyền Sài Gòn vi phạm Hiệp định Pa-ri.

Phong trào đấu tranh của sinh viên đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia sôi nổi và liên tục từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1974; đặc biệt, trong tháng 8 năm 1974, hàng chục nghìn nhân dân và sinh viên rầm rộ xuống đường biểu tình giương cao biểu ngữ chống Nguyễn Văn Thiệu độc tài, đòi thực hiện hòa bình, hòa giải dân tộc và tự do dân chủ.

Được phong trào ở Huế cổ vũ, nhân dân nông thôn đồng bằng Trị - Thiên liên tục đấu tranh, đòi dân sinh dân chủ, cải thiện đời sống, chống các luật lệ hà khắc của địch. Ở nhiều địa phương Thừa Thiên, quần chúng nhân dân đứng lên phản đối bầu cử gian lận, chống tham nhũng, hối lộ của chính quyền địch. Đến tháng 8 năm 1974, phong trào đấu tranh rộ lên đòi lật đổ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chống thiết quân luật, đòi tự do đi lại làm ăn. Tháng 9, nhân dân các xã Quảng Lợi, Hướng Bằng và khu 3 huyện Phú Lộc đấu tranh đòi về làng cũ. Khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng khiến cho địch lúng túng, buộc phải nhượng bộ để cho hàng trăm người dân ở khu vực Đồng Lâm, khu 1 và khu 4 huyện Hương Thủy, khu 2 huyện Phú Lộc tự do lên rừng làm ăn.

Từ thực tế đấu tranh quân sự và chính trị ngày càng phát triển, Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên quyết định: "mùa mưa 1974 là mùa mưa tiến công" và "phải đẩy mạnh tiến công trên cả ba vùng" để giành thắng lợi lớn nhất khi có thời cơ đến và thiết thực chuẩn bị cho mùa khô 1975.

Khi mùa mưa sắp đến, các cấp khẩn trương và kiên quyết đưa lực lượng vũ trang địa phương, an ninh, biệt động, du kích và cán bộ từ căn cứ miền tây về tăng cường cho vùng sâu đồng bằng và thành phố; vừa làm nhiệm vụ đánh địch, xây dựng cơ sở, vừa chuẩn bị mục tiêu đón thời cơ lớn. Đến cuối năm 1974, cơ sở cách mạng ở đồng bằng Trị - Thiên và thành phố Huế được củng cố và phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, ta đã xây dựng được hàng trăm cơ sở nội tuyến trong binh lính, tề ngụy và phòng vệ dân sự ở thôn, ấp1.

Song song với việc củng cố và phát triển cơ sở cách mạng ở đồng bằng và thành thị, Khu ủy và Quân khu ủy quyết định tổ chức 150 đội vũ trang công tác với trên 3.000 tay súng chuẩn bị đưa về đồng bằng hoạt động khi có thời cơ, đồng thời phải mở cho được hành lang về đồng bằng, nhất là hướng nam Thừa Thiên, tây - nam Huế, nhằm đảm bảo đưa một số lớn lực lượng và vật chất từ căn cứ xuống vùng sâu địch hậu để đánh địch, hỗ trợ cho quần chúng đánh phá "bình định".

Thực hiện chủ trương của Khu ủy, sau hè - thu 1974 đến đầu năm 1975, lực lượng vũ trang quân khu vẫn duy trì các hoạt động quân sự trên toàn tuyến giáp ranh, nhất là ở khu vực đường số 14 thuộc tây nam Huế2 để thu hút, kìm chế tiêu hao sinh lực địch. Cuộc chiến đấu diễn ra dai dẳng và quyết liệt. Cuối cùng, địch đã chiếm lại Mỏ Tàu và cao điểm 303, ngăn chặn đường tiến xuống đồng bằng của ta. Mặc dù ta không giữ được Mỏ Tàu và cao điểm 303, nhưng đã thu hút được lực lượng và tiêu hao nặng sinh lực chúng ở khu vực này, khiến cho sư đoàn 1 ngụy không có thời gian củng cố và chấn chỉnh, nên cũng không nống ra để củng cố thế phòng thủ được. Trong khi đó, trên toàn chiến trường Trị - Thiên, ta vẫn bám trụ đồng bằng, tích cực xây dựng cơ sở chuẩn bị lực lượng và mục tiêu cho thời cơ lớn, đồng thời mở thêm một số hành lang về đồng bằng thành phố. Nhờ vậy, các đơn vị chủ lực quân khu, tỉnh đã hành quân về áp sát các mục tiêu, hàng chục nghìn tay súng, hàng trăm cán bộ chủ chốt các cấp, hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm đã được đưa về đồng bằng, thành phố một cách an toàn.

Đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng, Quân khu tiếp tục huy động hàng chục nghìn bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, du kích cùng với cán bộ và nhân dân hai tỉnh làm mới, tu sửa và nâng cấp các con đường số 15N, 71, 72, 73A, 73B và 74 từ miền núi vươn dài xuống đồng bằng, thành phố, tiến sát tới đường số 1 và căn cứ địch. Cuối năm 1974, ta đã có mạng đường tương đối hoàn chỉnh từ bắc vào nam, từ miền tây xuống miền đông quân khu, nhất là hướng Phong Điền, Hương Thủy và hướng nam quân khu bảo đảm cho việc cơ động lực lượng và các đơn vị pháo binh, xe tăng, vận tải tiến sát về phía trước chuẩn bị tiến công địch3.

Cùng với việc xây dựng mạng đường, công tác bảo đảm hậu cần cũng được các chiến sĩ hậu cần thuộc các cụm kho triển khai, bao gồm việc chuẩn bị hệ thống kho tàng, trạm dự trữ xăng dầu, trạm sửa chữa xe cơ giới, vũ khí, khí tài và tổ chức tiếp nhận hàng từ hậu phương miền Bắc chi viện cho chiến trường Trị - Thiên. Đồng thời lực lượng vận tải quân khu cùng với Đoàn 559 chuyển hàng chục nghìn tấn vật chất cho các lực lượng hoạt động trên các hướng chiến dịch và vùng sâu đồng bằng ở Trị - Thiên, đảm bảo kịp thời và đầy đủ cho chiến đấu, có dự trữ theo yêu cầu của kế hoạch năm 1975.

Ngoài ra, Quân khu còn huy động hàng nghìn cán bộ và nhân dân hai tỉnh Trị - Thiên đi dân công phục vụ cho chiến dịch.

Trong những năm chống Mỹ, cứu nước, chưa bao giờ ở chiến trường Trị - Thiên có được lượng lương thực, vũ khí, đạn... dự trữ nhiều như lúc này.

Những kết quả trong chiến đấu, xây dựng lực lượng và thế trận mà quân và dân Trị - Thiên giành được trong hai năm 1973 - 1974 đã tạo ra các yếu tố cơ bản, vững chắc để tiếp tục phát huy thế tiến công, hoàn thành nhiệm vụ đánh phá "bình định" của địch, cùng cả nước tiếp tục giành những thắng lợi mới to lớn hơn.
_______________________________________________
1. Tại Quảng Trị: có 310 cơ sở các loại ở 36 thôn, xã, hai chi bộ, 200 du kích mật. Tại Thừa Thiên: có 2.749 cơ sở các loại của 216 trên 435 thôn, 43 chi bộ mật và 417 du kích mật trên tổng số 1.589 du kích ở sáu huyện đồng bằng. Thành phố Huế: có 15 chi bộ với 59 đảng viên và 1.270 cơ sở các loại.
2. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm La Sơn, ngày 13 tháng 10 năm 1974, sư đoàn 324 rút về A Lưới để củng cố, giao khu vực đường số 14, Mỏ Tàu. La Sơn lại cho Quân khu Trị - Thiên đảm nhiệm.
3. Năm 1974, Quân khu đã làm được 210 ki-lô-mét đường, chủ yếu là đường số 74.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 07:47:26 pm

II. TĂNG CƯỜNG LỰC LƯỢNG, ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG VÀ LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ (1973 - 1974)

Hiệp định Pa-ri được ký kết, cả miền Bắc dồn hàng cho Quân khu 4, nhất là vào các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh, nhằm tạo chân hàng dồi dào để vận chuyển bổ sung kịp thời cho các chiến trường. Việc bảo đảm giao thông thông suốt liên tục từ hậu phương ra tiền tuyến càng bức thiết. Trong những năm chiến tranh phá hoại, mạng đường sá, hệ thống cầu, cống trên địa bàn Khu 4 bị đánh phá nặng nề, phải nhiều năm mới có thể khôi phục lại. Nhưng trước yêu cầu cấp bách của chiến trường, để đảm bảo giao thông, hàng trăm nghìn người mà nòng cốt là dân quân, tự vệ và phần lớn lực lượng công binh, bộ đội toàn quân khu đã được huy động, phối hợp với công binh của Bộ tập trung sửa chữa các tuyến đường giao thông chiến lược, trước hết là đường số 1 và đường số 15 cũng như làm đường đông Trường Sơn nhằm phục vụ kịp thời cho việc cơ động lực lượng và vận tải Bắc - Nam. Dọc các tuyến đường chiến lược từ Thanh Hóa đến khu vực Vĩnh Linh, các lực lượng bảo đảm giao thông Quân khu 4 ngày đêm rà phá thủy lôi, tháo gỡ bom, mìn nổ chậm, san lấp hố bom, tu sửa đường sá cầu cống và bắc thêm cầu phao qua sông.

Chỉ sau một tuần, kể từ ngày Mỹ ngừng ném bom đánh phá miền Bắc lần thứ hai, hầu hết cầu phao qua sông ở các vùng trọng điểm đã được công binh và nhân dân địa phương hoàn thành. Đặc biệt, trên địa phận tỉnh Quảng Bình, quân và dân địa phương đã khẩn trương chở đất đá san lấp cầu Dài qua sông Kiến Giang, sửa đường và bắc cầu qua các sông Long Đại, sông Ròn và Lý Hòa. Đến ngày 21 tháng 1 năm 1973, cầu phao đã bắc xong, đường thông xe. Riêng cầu phao qua sông Gianh có khó khăn hơn, nhưng đến ngày 22 tháng 2, cũng đã nối liền. Cũng thời gian này, việc sửa chữa đường sá, bắc cầu phao Hàm Rồng, Ghép (Thanh Hóa), Bến Thủy (Nghệ An) và nhiều cầu khác cũng được hoàn thành nhanh chóng. Số xe ô-tô vận tải chở hàng ra tiền tuyến từ 300 chiếc tăng lên 900 chiếc và cao điểm có ngày lên tới 1.500 chiếc, tạo thuận lợi cho chiến dịch vận tải năm 1973 (chiến dịch "ĐB3")1 của Bộ qua địa bàn Quân khu 4 được nhanh chóng, an toàn.

Tháng 1 năm 1973, các đơn vị vận tải của Bộ và quân khu gấp rút chuyển hàng vào miền Nam theo đường số 1 và đường số 15... Các đoàn xe của Cục Vận tải đường bộ và Tổng cục Hậu cần chở các loại vũ khí, khí tài, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men và các loại hàng phục vụ dân sinh vào nam Quân khu 4 để tạo chân hàng, trong đó có các đoàn xe chạy thẳng vào chiến trường Trị - Thiên.

Chỉ trong 35 ngày tham gia chiến dịch vận tải "ĐB3", nhân dân và các lực lượng vận tải tỉnh Quảng Bình đã tiếp nhận và chuyển tiếp được trên 120.000 tấn hàng cho chiến trường Trị - Thiên và miền Nam, bằng 80 phần trăm khối luợng hàng hóa mà tỉnh đã vận chuyển trong năm 1972; khối lượng vận chuyển trong 10 ngày của chiến dịch này đã bằng một tháng của chiến dịch "VT5" năm 1968.

Tháng 2 năm 1973, quân và dân Quảng Bình lại tập trung hoàn thành vận chuyển 100 nghìn tấn hàng lên Khương Hà, Phong Nha giao cho Đoàn 559 chuyển tiếp cho chiến trường Lào. Trên tuyến đường số 7, lực lượng vận tải quân khu cũng hoàn thành sớm khối lượng hàng hóa vận chuyển sang Lào, đồng thời tạo được chân hàng dự trữ ở Nậm Cắn, Bản Ban để chuyển giao tiếp cho bạn.

Kết thúc đợt vận tải đầu năm 1973, quân khu đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu cả về khối lượng và thời gian, đạt 120 phần trăm kế hoạch trên giao, đạt 50 phần trăm so với tổng khối lượng hàng vận chuyển của cả mùa khô 1972 - 1973.

Vừa dồn sức đẩy mạnh hoạt động chi viện chiến trường, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu vừa chú trọng công tác xây dựng lực lượng vũ trang quân khu, nhằm đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới.

Ngày 31 tháng 5 năm 1973, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho các lực lượng vũ trang là: xây dựng và huấn luyện đòi hỏi cấp thiết và khẩn trương, nhằm nâng cao chất lượng chiến đấu của lực lượng vũ trang, bảo đảm đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu trước mắt, đồng thời phải ra sức chuẩn bị mọi mặt để xây dựng và rèn luyện bộ đội theo hướng chính quy, hiện đại, cơ bản, hệ thống và toàn diện.

Chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, ngày 12 tháng 6 năm 1973, Hội nghị Quân khu ủy 4 đề ra chủ trương: ra sức củng cố chấn chỉnh lực lượng ba thứ quân, phấn đấu nâng cao chất lượng, không tăng quân số, hợp lý hóa cơ cấu tổ chức, tăng thêm thành phần chiến đấu, kiện toàn đội ngũ cán bộ, tổ chức đảng và tăng cường trang bị kỹ thuật; đẩy mạnh huấn luyện cơ bản, tăng cường rèn luyện kỹ thuật cho bộ đội có sức chiến đấu cao; đồng thời ra sức xây dựng dân quân tự vệ mạnh, đảm bảo chiến đấu tại chỗ và làm các nhiệm vụ khác, xây dựng lực lượng hậu bị hùng hậu, phù hợp với yêu cầu xây dựng quân đội chính quy hiện đại, tác chiến hiệp đồng binh chủng.

Các lực lượng vũ trang quân khu đã khẩn trương ổn định biên chế tổ chức, trọng tâm là lực lượng vũ trang địa phương mà trước hết là các tỉnh phía nam quân khu và các đơn vị sẵn sàng chiến đấu.
_____________________________________________
1. Chiến dịch "ĐB3" là chiến dịch vận tải Điện Biên 3.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 07:51:46 pm

Đầu năm 1973, Quân khu đã kịp thời xây dựng sư đoàn 341 bộ binh (thiếu một trung đoàn) với đủ các bộ phận trực thuộc và hai tiểu đoàn pháo binh cơ giới, ổn định biên chế trung đoàn 167 pháo binh. Đồng thời, các tỉnh cũng tích cực xây dựng hoàn chỉnh các đơn vị bộ đội địa phương, đặc biệt là đã xây dựng xong trung đoàn 175 và tiểu đoàn 210 của Nghệ An, tiểu đoàn 361 và 365 của Quảng Bình và tiểu đoàn 271 của Hà Tĩnh. Đến quý 3 năm 1974, Quân khu thành lập thêm trung đoàn 80 thông tin, trung đoàn 89 công binh, trung đoàn 177 bộ binh. Công trường 774 được thành lập có nhiệm vụ xây dựng trường bắn phục vụ cho huấn luyện xe tăng. Quân khu còn tổ chức phân hiệu Lục quân 1 làm nhiệm vụ đào tạo sĩ quan. Nhờ tinh thần chủ động và tích cực đó, Quân khu đã thường xuyên đáp ứng kịp thời yêu cầu xây dựng, huấn luyện và bổ sung lực lượng cho các chiến trường trong mọi tình huống.

Từ đầu năm 1973, các tỉnh từ Thanh Hóa đến khu vực Vĩnh Linh đã xác định và xây dựng các trọng điểm phòng thủ trên từng khu vực. Bộ Tư lệnh quân khu cùng với cơ quan quân sự các tỉnh bố trí lại lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, với tinh thần ưu tiên cho các khu vực trọng điểm. Đến quý 3 năm 1974, Quân khu đã điều tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân vào bảo vệ cảng Gianh thay trung đoàn 214 cao xạ vào bảo vệ Đồng Hới; điều một tiểu đoàn cao xạ của Quảng Bình vào ngã ba đường số 15 và đường số 10 thay cho trung đoàn 233 pháo cao xạ vào Hồ Xá để bảo vệ cầu Hiền Lương. Cuối năm 1974 đầu 1975, bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa đưa tiểu đoàn 4 cao xạ lên bảo vệ đập Bái Thượng, tiểu đoàn 7 cao xạ ra bảo vệ cầu Đò Lèn; bổ sung vũ khí, khí tài đạn dược cho đảo Mê, và đảo Nẹ; tăng cường lực lượng bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ cho các cụm phòng thủ của ba huyện Quảng Xương, Tĩnh Gia và Hoằng Hóa.

Song song với việc bố trí lại lực lượng, Quân khu và các tỉnh đội đã củng cố các đơn vị chiến đấu. Đến đầu năm 1975, Quân khu đã củng cố được 13 đại đội và 148 trung đội súng máy cao xạ, bốn đại đội cao xạ 37 ly, hai đại đội pháo bờ biển, 16 đại đội và 162 trung đội cơ động ở xã, cụm xã và huyện làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Đặc biệt, các tỉnh củng cố các đơn vị súng máy 12,7 ly sẵn sàng bắn máy bay bay thấp của địch. Nghệ An có 13 đại đội và 6 trung đội, Hà Tĩnh có 40 đại đội, Quảng Bình có 44 đại đội và Vĩnh Linh có 17 đại đội. Hệ thống quan sát, trạm gác, trạm báo động phòng không từ đèo Ngang đến Vĩnh Linh và đảo Cồn Cỏ đã được hoàn chỉnh. Các hệ thống công sự phục vụ cho phòng thủ, chiến đấu và sơ tán vũ khí, khí tài được củng cố chu đáo. Quân khu đã tăng cường cán bộ, nhân viên kỹ thuật cho các kho, trạm. Ngoài ra, các đoàn an dưỡng 405, 200 và đoàn 70 của quân khu, đoàn 585 và 595 của Thanh Hóa cùng được chấn chỉnh. Quảng Bình giải thể đoàn 80 và rút gọn đoàn 205, đáp ứng kịp thời và đầy đủ yêu cầu tiếp nhận, nuôi dưỡng thương bệnh binh từ chiến trường gửi ra.

Từ năm 1973 trở đi, theo yêu cầu tuyển quân bổ sung cho chiến trường, hàng năm các địa phương trong quân khu đã đưa hàng chục nghìn dân quân, tự vệ vào bộ đội, đồng thời thường xuyên tuyển chọn thanh niên, quân nhân phục viên và quần chúng tích cực bổ sung vào dân quân, tự vệ một cách kịp thời. Lực lượng dân quân, tự vệ thường xuyên có hàng trăm nghìn người, chiếm từ 10 đến 12 phần trăm dân số.

Hai năm 1973, 1974, Quân khu đã xây dựng được đội ngũ cán bộ tăng gấp 10 lần so với năm 1965, đảm bảo chất lượng đáp ứng kịp thời và đầy đủ cho xây dựng và phát triển lực lượng, bổ sung đi các hướng chiến trường.

Trong điều kiện luôn luôn biến động về quân số do phải thường xuyên bổ sung lực lượng lớn cho chiến trường, nên tổ chức đảng và đảng viên cũng biến động theo. Quân khu, các tỉnh đã chú ý bổ sung, kiện toàn, phát triển tổ chức đảng và đảng viên trong các đơn vị lực lượng vũ trang. Do đó, đến năm 1974, tổng số đảng viên trong lực lượng vũ trang quân khu có 22.433 đồng chí, chiếm tỷ lệ lãnh đạo chung là 38,8 phần trăm và được tổ chức thành 1.234 chi bộ. Tất cả các đơn vị cơ sở chiến đấu đều có chi bộ, 86,7 phần trăm số trung đội có tổ đảng, khẩu đội và tiểu đội có đảng viên.

Từ năm 1973 trở đi, cơ quan quân khu và các tỉnh, huyện, các đơn vị liên tiếp mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ, kể cả bộ binh và binh chủng dưới hình thức tập trung và tại chức. Đội ngũ cán bộ được bồi dưỡng về kỹ thuật, chiến thuật và phương pháp tổ chức huấn luyện. Bằng các hình thức phong phú, linh hoạt, Quân khu và các tỉnh đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ gồm hàng chục nghìn người kể cả bộ đội và dân quân, tự vệ, cả bộ binh và binh chủng1.

Để hoàn thành kế hoạch huấn luyện trong hai năm (1974-1975) tháng 2 năm 1974, Quân khu ủy họp xác định: phải đưa công tác huấn luyện thành một cao trào rèn luyện cán bộ, bộ đội thật sự có hiệu quả cao, tạo ra chất lượng mới, sức chiến đấu mới để xây dựng quân đội chính quy và hiện đại.

Các đơn vị bộ đội chủ lực và địa phương, kể cả bộ binh và binh chủng toàn quân khu đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi giành chất lượng huấn luyện cao nhất, hoàn thành và đạt kết quả 100 phần trăm trở lên, trong đó đa số đạt khá và giỏi2. Nổi bật trong phong trào huấn luyện là đại đội 21 Nghệ An, cả bốn môn kiểm tra đều đạt giỏi. Cùng với huấn luyện bộ đội, phong trào rèn luyện dân quân, tự vệ cũng được triển khai toàn diện và kịp thời.

Chiến trường đòi hỏi ngày càng lớn, yêu cầu tuyển quân và huấn luyện ngày càng nhiều, Quân khu chủ động tổ chức đoàn 22 huấn luyện quân, đưa từ sáu tiểu đoàn lên chín tiểu đoàn. Tỉnh Thanh Hóa cũng hoàn thành việc củng cố tám tiểu đoàn khung huấn luyện của trung đoàn 14.

Năm 1973, Quân khu 4 giao hơn 19.500 quân, đạt 127 phần trăm chỉ tiêu. Tỉnh Thanh Hóa giao gần 14.600 quân, đạt 106,5 phần trăm chỉ tiêu.

Năm 1974, Quân khu giao trên 17.900 quân và Thanh Hóa giao 13.000, đạt chỉ tiêu trên giao.
______________________________________________
1. Kết quả bồi dưỡng huấn luyện cán bộ của quân khu qua các năm:
- Năm 1973, bồi dưỡng huấn luyện trên 22.000 cán bộ các cấp gồm bộ đội, du kích và cả bộ binh, binh chủng.
- Năm 1974, huấn luyện tập trung cho 358 cán bộ, bộ đội bộ binh từ cấp tiểu đoàn tới cấp sư đoàn, cán bộ tỉnh đội, huyện đội và 310 cán bộ các binh chủng. Các tỉnh và huyện huấn luyện cho 685 cán bộ bộ địa phương từ cấp trung đội đến cấp tiểu đoàn, trên 10.000 cán bộ dân quân và tự vệ từ xã đội phó đến huyện đội phó.
- Năm 1975, Quân khu bồi dưỡng được gần 7.000 cán bộ, bộ đội và dân quân, tự vệ.

2. Năm 1974, kiểm tra bắn súng bộ binh bài 1, có 23 trên 26 tiểu đoàn đạt kết quả tốt và 110 trên 175 đại đội bộ binh đạt loại giỏi; 11 trên 45 tiểu đoàn và 16 trên 50 đại đội binh chủng đạt loại giỏi.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 07:54:03 pm

Bước vào năm 1975, Bộ Quốc phòng giao cho Quân khu 4 và tỉnh Thanh Hóa đảm bảo tuyển quân và huấn luyện với chỉ tiêu rất lớn, chủ yếu tập trung vào đợt đầu năm.

Quân khu ủy và các tỉnh ủy xác định: công tác tuyển quân năm 1975 được coi như một chiến dịch, phải được chuẩn bị rất chu đáo và tổ chức chặt chẽ. Từ nhận thức đó, Quân khu cùng với các tỉnh và huyện đã tập trung mọi khả năng, phương tiện và huy động tối đa cán bộ và các ngành các cấp xuống tận cơ sở, đi vào quần chúng để tuyên truyền giáo dục, trên cơ sở đó phát động quần chúng nêu cao tinh thần làm chủ trong công tác tuyển quân.

Được phát động, nhân dân khắp các tỉnh trong quân khu đâu đâu cũng rộ lên các phong trào: đăng ký ghi tên tòng quân, viết đơn tình nguyện đi bộ đội. Thời kỳ này xuất hiện phong trào "ba cử, ba nguyện" trong các đoàn thể, trong hợp tác xã và từng gia đình. Đến ngày 15 tháng 6 năm 1975, hậu phương Khu 4 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giao quân cả năm trong một đợt, vượt chỉ tiêu trên giao và bằng năm 1965 là năm cao nhất về tuyển quân trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước1.

Bộ Tư lệnh quân khu đã huy động trung đoàn 185 tỉnh Quảng Bình và trung đoàn 273 sư đoàn 341 chủ lực của quân khu làm đường tránh ở Long Đại, điều một tiểu đoàn của trung đoàn 270 bổ sung cho công trường 71 làm đường số 22C. Đồng thời, lực lượng vũ trang cùng nhân dân địa phương còn phối hợp với Đoàn 559 và lực lượng công binh của Bộ làm đường đông Trường Sơn để hoàn chỉnh mạng giao thông Bắc - Nam, phục vụ kịp thời cho các chiến trường.

Cùng với làm đường chiến lược, các địa phương đã huy động hàng trăm nghìn dân quân, du kích, tự vệ và bộ đội địa phương mở các con đường trong tỉnh, phục vụ cho vận chuyển hàng hóa và cơ động lực lượng. Vĩnh Linh khôi phục được 32 ki-lô-mét, tiểu đoàn 7 Quảng Bình làm mới 75 ki-lô-mét đường rú Bung...

Trên cơ sở hệ thống giao thông chiến lược Bắc - Nam ngày càng mở rộng, năng lực vận chuyển đường bộ, đường biển năm 1973 được tăng thêm, nên khối lượng hàng vận chuyển từ trung ương vào Quân khu 4 và đến các chiến trường tăng lên gấp bội. Ở Quảng Bình, hàng từ trung ương đưa vào đã tăng lên tới 330.000 tấn. Các đoàn xe ô-tô chở hàng chục nghìn tấn hàng đã qua Quân khu 4 vào tận vùng giải phóng Đông Hà, Cam Lộ tỉnh Quảng Trị, tạo chân hàng dồi dào cho Đoàn 559 chuyển tiếp vào chiến trường xa.

Từ năm 1974 đến đầu năm 1975, trên các trục đường chiến lược, xe vận tải nối đuôi nhau chạy suốt ngày đêm chở quân, dồn hàng vào chiến trường. Các đơn vị vận tải tranh thủ thời gian, phấn đấu tăng chuyến, tăng khối lượng vận chuyển, đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch vận chuyển chi viện của Trung ương giao2. Lực lượng vũ trang quân khu và nhân dân một số địa phương (chủ yếu là Quảng Bình) đã phối hợp cùng bộ đội xăng dầu Đoàn 559 củng cố và phát triển tuyến đường ống xăng dầu đi qua địa bàn quân khu.

Cùng với vận tải chi viện chiến trường, nhân dân và các lực lượng vũ trang quân khu đã tạo được lượng vật chất dự trữ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu cho mọi lực lượng hoạt động ở nội địa cũng như ở chiến trường Lào. Năm 1973, lượng vật chất dự trữ của quân khu đạt trên 5.000 tấn. Năm 1974, lượng vật chất dự trữ đảm bảo cho các đơn vị hoạt động trên đất liền là 15 ngày và ở hải đảo được sáu tháng, cho các đơn vị hoạt động ở Lào là 1.815 tấn các loại, đủ cho 3.000 quân hoạt động liên tục.

Năm 1973, các tỉnh hậu phương Khu 4 lại tiếp tục bổ sung cho các chiến trường và các đơn vị của Bộ gần 14.000 quân. Năm 1974, bổ sung cho chiến trường 20 tiểu đoàn, cho Bộ một tiểu đoàn, một đại đội và 300 quân. Đồng thời, các đoàn an dưỡng của quân khu, của tỉnh đội đã tổ chức tiếp nhận, nuôi dưỡng hàng chục nghìn thương bệnh binh từ các chiến trường gửi về một cách tận tình, chu đáo. Được sự chăm sóc tận tình của hậu phương, thương binh, bệnh binh nhanh chóng khỏi bệnh, chóng lành vết thương. Một số người sau khi phục hồi sức khỏe đã trở lại chiến trường tiếp tục chiến đấu. Những người không đủ sức khỏe phục vụ trong các lực lượng vũ trang, được giải quyết chính sách đầy đủ để trở về xây dựng hậu phương.
_____________________________________________
1. Năm 1965, tỉ lệ tuyển quân so với dân số là 1,4 phần trăm. Từ 1965 đến 1975, các tỉnh hậu phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh đã đưa trên 452.400 người vào bộ đội, trong đó Thanh Hóa có gần 196.000 người. Riêng 1975, Thanh Hóa tuyển được gần 21.000 quân, vượt chỉ tiêu 10 phần trăm.
2. Trong hai năm 1973-1974, Quân khu 4 tiếp tục vận chuyển hàng cho các hướng chiến trường: Quảng Trị đạt 150 phần trăm, Thừa Thiên 110 phần trăm, Quân khu 5 đạt 145 phần trăm...


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 07:56:35 pm

*

*       *

Cùng với thắng lợi của nhân dân ta, cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân Lào cũng giành được thắng lợi to lớn; đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Viêng Chăn "về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Lào", ngày 21 tháng 2 năm 1973.

Không cam chịu thất bại, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục đeo đuổi chính sách thực dân kiểu mới ở Lào, hỗ trợ cho lực lượng phái hữu Viêng Chăn bằng mọi cách phá hoại Hiệp định, tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, hòng làm suy yếu lực lượng cách mạng Lào. Cuộc đấu tranh cách mạng ở Lào vì thế còn tiếp diễn; nhiệm vụ giúp Lào của nhân dân Việt Nam mà trực tiếp là Quân khu 4 vẫn rất nặng nề.

Theo yêu cầu của bạn, ngày 2 tháng 3 năm 1973, Quân ủy Trung ương đề ra nhiệm vụ cho lực lượng tình nguyện Việt Nam ở Lào là: "Phải phối hợp cùng bạn bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, nhất là ở các địa bàn quan trọng, giúp bạn bảo vệ những thành quả cách mạng đã giành được". Đồng thời, Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Quân khu 4 giúp bạn ở khu vực Trung Lào gồm các tỉnh Khăm Muộn, Bô Ly Khăm Xay và huyện Mường Mộc thuộc tỉnh Xiêng Khoảng.

Ngày 23 tháng 4 năm 1973, Thường vụ Quân khu ủy 4 họp xác định: đoàn kết chặt chẽ với đảng bộ, với quân và dân bạn đấu tranh buộc địch thi hành hiệp định đã ký kết, tình huống nào cũng phải kiên quyết giúp bạn đánh bại mọi cuộc lấn chiếm của địch, bảo vệ và củng cố vùng giải phóng vững mạnh toàn diện, đồng thời phải tập trung nhanh chóng nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của ta.

Năm 1973, lực lượng tình nguyện của quân khu hoạt động ở Trung Lào gồm đoàn 128, trung đoàn 176, hai đoàn chuyên gia và các đơn vị tham gia chiến dịch 872 và 972. Lực lượng tình nguyện của quân khu đã hỗ trợ bạn đánh 70 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn bốn trăm tên địch, bắt 53 tên, gọi hàng 200 tên, bắn rơi bốn máy bay, thu một số vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng.

Chiến thắng của bạn trong năm 1973 là đòn trừng trị đích đáng hành động lấn chiếm của địch. Được sự hỗ trợ của lực lượng tình nguyện. Bạn giữ vững được vùng giải phóng, củng cố được thế phòng thủ ở giáp ranh.

Tháng 1 năm 1974, Bộ quyết định hợp nhất tiểu đoàn 43 Nghệ An đang hoạt động ở Lào vào trung đoàn 176 gồm 2.200 quân và 200 chuyên gia. Hai tháng sau, Quân khu sát nhập trung đoàn bộ trung đoàn 176 vào đoàn 128 với lực lượng biên chế là bốn tiểu đoàn bộ binh và các phân đội trực thuộc, tổng quân số là 3.000. Lúc này, lực lượng vũ trang của bạn đã trưởng thành, thế trận chiến tranh nhân dân được củng cố vững chắc, đủ khả năng độc lập phòng thủ trên tuyến tiếp xúc với địch. Vì thế, tháng 4 năm 1974, lực lượng bộ đội tình nguyện lùi về tuyến sau để củng cố, sẵn sàng hỗ trợ cho bạn đánh địch lấn chiếm, đồng thời giúp bạn xây dựng và huấn luyện lực lượng vũ trang, xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng.

Lực lượng quân tình nguyện một mặt tiếp tục giúp bạn củng cố các chốt để giữ vững thế đứng chân ở phía trước, mặt khác vừa tranh thủ giúp cơ quân quân sự của bạn hoàn thành phương án, kế hoạch phòng thủ, vừa huấn luyện cho lực lượng vũ trang của bạn nâng cao sức mạnh chiến đấu. Sức chiến đấu của bộ đội Lào được nâng lên cả về kỹ thuật và chiến thuật, đủ khả năng độc lập đánh địch, giữ chốt, nhất là ở Khăm Muộn và Bô Ly Khăm Xay.

Sau khi kiện toàn biên chế, tổ chức, Quân khu đã đưa ba tiểu đoàn lên phía trước, bố trí trên ba hướng là đường số 7, đường số 8 và đường số 12 để làm nhiệm vụ giúp bạn phòng thủ, đánh địch lấn chiếm đồng thời bố trí một tiểu đoàn ở phía sau làm nhiệm vụ dự bị cơ động, sẵn sàng tăng cường cho các hướng đánh địch.

Giữa năm 1974, Quân ủy Trung ương giao thêm cho Quân khu 4 giúp bạn ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Để đảm bảo cho quân khu đủ sức đảm nhiệm địa bàn mới, Quân ủy Trung ương cũng giao cho quân khu lãnh đạo, chỉ huy toàn diện sư đoàn 31. Mọi công việc nhận bàn giao sư đoàn 31 đến ngày 1 tháng 8 năm 1974 đã được hoàn tất.

Đến tháng 8 năm 1974, các lực lượng tình nguyện của quân khu ở Lào đã ổn định về biên chế tổ chức, được bố trí phù hợp với nhiệm vụ mới, đảm bảo cùng lực lượng vũ trang của bạn đánh địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng và hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh buộc địch thi hành Hiệp định Viêng Chăn.

Vừa giúp bạn đánh địch lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng, xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng chuyên gia và quân tình nguyện vừa tích cực bám sát quần chúng tuyên truyền vận động nhân dân bạn xây dựng và củng cố được chính quyền cách mạng ở Mường Mộc, bảy xã và 18 bản ở Noọng Bốc cùng với năm xã và 35 bản ở Thà Khẹt1.

Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu còn chỉ đạo, tổ chức lực lượng tình nguyện tranh thủ thời gian giúp bạn sửa chữa đường số 8A, đường số 8B, đồng thời mở thêm tuyến đường từ Căm Kớt đi Xa La Phu Khun dài 54 ki-lô-mét cho xe cơ giới cơ động ra tuyến trước và phục vụ vận chuyển.

Năm 1974 vừa củng cố lực lượng, vừa hỗ trợ cho bạn đánh địch lấn chiếm, tiễu phỉ, bộ đội tình nguyện còn huy động 310.000 ngày công và 1.438 kíp máy giúp bạn làm đường mới, tu sửa đường cũ trên các tuyến ở Khăm Muộn và Bô Ly Khăm Xây, mở con đường mới từ Căm Kớt đi Hin Bun, sửa chữa nâng cấp các đường số 8A, 8B, tu sửa các đường số 7 và 12. Trong năm 1974, ta đã giúp bạn xây dựng được 120 ki-lô-mét đường mới, sửa chữa 200 ki-lô-mét đường cũ.

Trên hướng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, được Bộ và quân khu tăng cường trung đoàn 229 và tiểu đoàn 27 công binh, sư đoàn 31 bộ binh đã chủ động sử dụng lực lượng bộ binh, binh chủng và phương tiện kỹ thuật để sửa chữa đường, đảm bảo cho đơn vị cơ động chiến đấu2.

Vừa giúp bạn xây dựng mạng đường, Quân khu vừa khắc phục mọi khó khăn gian khổ, tổ chức lực lượng vận chuyển vật chất các loại cung cấp cho chiến trường Lào, đảm bảo đầy dủ kịp thời yêu cầu tác chiến và dự trữ hậu phương của ta và bạn.

Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề đó, Cục Hậu cần quân khu xác định cho các ngành, các cấp và các lực lượng đẩy nhanh tốc độ vận chuyển, đảm bảo cung cấp đủ kịp thời và đúng chủng loại cho chiến trường Lào. Đồng thời, Quân khu nhanh chóng tổ chức lực lượng vận tải gồm tiểu đoàn 32 và trung đoàn 1 tỉnh Nghệ An. Lực lượng đảm bảo vận tải có binh trạm 1, tiểu đoàn 44 công binh...

Được giao nhiệm vụ, tất cả các lực lượng đã phát huy tinh thần chủ động, nỗ lực cao độ, nhanh chóng triển khai thực hiện nhiệm vụ với quyết tâm đạt kết quả cao nhất vận chuyển vật chất đủ nhất và kịp thời nhất cho chiến trường Lào. Lực lượng vận tải quân khu cùng với quân tình nguyện hoạt động ở Lào đã hoàn thành và hoàn thành vượt chỉ tiêu trên giao, đảm bảo đủ nhu cầu tác chiến và xây dựng của lực lượng ta và bạn3.

Những hoạt động của lực lượng tình nguyện Quân khu 4 trên chiến trường Trung - Hạ Lào góp phần củng cố tình đoàn kết chiến đấu Việt - Lào, là nhân tố hỗ trợ tích cực cho nhân dân các bộ tộc Lào đưa sự nghiệp cách mạng của bạn đến toàn thắng.

Kể từ sau khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, trong điều kiện có hòa bình, quân và dân các tỉnh từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh đã không quản hy sinh gian khổ, khó khăn, góp phần xứng đáng cùng cả nước phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và làm tròn nhiệm vụ quốc tế.
______________________________________________
1. Lực lượng tình nguyện cùng bạn đưa 750 thanh niên nhập ngũ, phát triển 169 du kích ở Noọng Bốc và Thà Khẹt. Ở Mường Mộc ta giúp bạn xây dựng và huấn luyện hai trung đội bộ đội địa phương huyện với quân số 70 người, tổ chức được hai trung đội và một đại đội du kích gồm 221 người, ba xã có ban xã đội. Tất cả các lực lượng đều tích cực hoạt động đánh địch, tiễu phỉ, bảo vệ an toàn cho địa phương.
2. Quý 1 năm 1975, sư đoàn 31 huy động 18.600 công của hai trung đoàn bộ binh và ba đại đội trực thuộc, 6.300 ki-lô-gam thuốc nổ và một số nguyên vật liệu khác sửa chữa được 156 ki-lô-mét đường ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.
Quý 3 năm 1975, sư đoàn 31 huy động 60.000 công và nhiều nguyên vật liệu, phương tiện mở 60 ki-lô-mét đường từ Lạt Luông đi Sảm Thông để đưa xe, pháo đến Sảm Thông - Long Chẹng hỗ trợ cho bạn; đồng thời, bảo đảm đường số 7A và đường số 4 thông suốt trong mùa mưa.

3. Mùa khô 1973-1974, lực lượng vận tải của quân khu đã vận chuyển cung cấp cho chiến trường Lào 5.120 tấn hàng các loại, vượt chỉ tiêu trên giao là 443 tấn (riêng vận chuyển cung cấp cho lực lượng tình nguyện của quân khu 2.182 tấn).
Mùa khô 1974-1975, Quân khu hoàn thành việc tổ chức vận chuyển 7.500 tấn hàng cho chiến trường Lào.



Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 07:59:16 pm

III. GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN TRỊ - THIÊN,
CÙNG CẢ NƯỚC KẾT THÚC THẮNG LỢI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

Sau hai năm vừa đánh địch, vừa tạo thế tạo lực, quân và dân Trị - Thiên đã trưởng thành toàn điện và vững chắc. Lực lượng vũ trang Quân khu và Quân đoàn 2 đã được bố trí trên các địa bàn chiến lược quan trọng ở miền núi và vùng giáp ranh, hình thành thế xen kẽ với địch, tạo thế uy hiếp chung ở nông thôn đồng bằng và thành phố Huế. Vùng giải phóng được xây dựng vững mạnh toàn diện, chiến trường được tổ chức tương đối hoàn chỉnh, lại được sự chi viện tích cực của hậu phương mà trực tiếp là Quân khu 4 và Thanh Hóa, nên Trị - Thiên đã có lượng dự trữ vật chất lớn đủ đảm bảo cho tiến công và nổi dậy khi có thời cơ.

Bước phát triển về thế và lực của cách mạng ở Trị - Thiên là nhân tố góp phần quan trọng tạo nên sự thay đổi cục diện chiến trường miền Nam ngày càng có lợi cho ta, bất lợi cho địch.

Trên cơ sở so sánh thế và lực của ta và địch trên chiến trường, tháng 10 năm 1974 và tiếp đến tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết lịch sử: giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 và 1976.

Tháng 10 năm 1974, Quân ủy Trung ương triệu tập Thường vụ Quân khu ủy Trị - Thiên ra Hà Nội nhận nhiệm vụ của chiến trường Trị - Thiên - Huế năm 1975. Quân ủy Trung ương chỉ rõ nhiệm vụ của Trị - Thiên là: "Đánh bại về cơ bản bình định của địch, tạo ra ở Trị - Thiên một tình thế mới có ý nghĩa quyết định để chuẩn bị cho giành thắng lợi trong năm 1976, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế"1. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, Quân ủy Trung ương cho rằng: Trị - Thiên - Huế phải tiến hành một chiến dịch tổng hợp, nhằm tiêu diệt và làm tan rã một phần quan trọng sinh lực địch, tạo điều kiện đánh bại về cơ bản bình định của chúng ở đồng bằng, giành phần lớn nhân dân, giành quyền làm chủ, khi địch đã hoang mang giao động thì phải nhanh chóng chớp lấy thời cơ tiến lên hành động mạnh bạo, giành thắng lợi to lớn nhất. Phải có kế hoạch "cơ bản" và kế hoạch "thời cơ" để giành thắng lợi hoàn toàn.

Đầu tháng 12 năm 1974, Khu ủy Trị - Thiên họp đề ra nhiệm vụ năm 1975: đẩy mạnh tiến công tổng hợp trên cả ba vùng, tiêu diệt, tiêu hao lực lượng địch, phá hẳn thế phân tuyến và đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch, giành dân, giành quyền làm chủ ở nông thôn đồng bằng, nhằm làm thay đổi cục diện chiến trường trên toàn địa bàn quân khu. Nếu có thời cơ đột xuất thì tận dụng một cách có hiệu quả nhất, giành thắng lợi một bước nhảy vọt.

Khu ủy cũng nhấn mạnh: phá thế phân tuyến và đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch, giành dân, giành quyền làm chủ ở nông thôn, đồng bằng là nhiệm vụ trung tâm số một của Trị - Thiên - Huế.

Về nhiệm vụ quân sự, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu xác định: "Tập trung toàn bộ lực lượng, tranh thủ thời cơ thuận lợi của năm 1975, đẩy mạnh tiến công tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch ở Trị - Thiên, giành từ 35 vạn dân ở nông thôn đồng bằng, phát động cao trào đấu tranh chính trị ở thành phố, đánh mạnh kho tàng hậu cứ, triệt phá giao thông, tích cực sáng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn kể cả giải phóng Huế"2.

Quân khu dự kiến trong năm 1975 sẽ mở hai chiến dịch tiến công tổng hợp ở Trị - Thiên - Huế là: chiến dịch xuân - hè từ tháng 3 đến tháng 5 và chiến dịch mùa thu vào tháng 7 và tháng 8. Cùng với kế hoạch cơ bản, Quân khu còn dự kiến kế hoạch thời cơ, kế hoạch nghi binh địch và xác định: trong chiến dịch xuân - hè 1975, trọng điểm đánh phá bình định, giành dân là các huyện Phong Điền, Quảng Điền thuộc bắc Huế; trọng điểm quân sự và giành dân là các huyện Hương Thủy, Phú Vang, Phú Lộc thuộc nam Thừa Thiên.

Thực hiện quyết tâm và kế hoạch của quân khu, chiến trường Trị - Thiên - Huế hình thành hai mặt trận: đồng bằng và giáp ranh để hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau phát triển. Nhiệm vụ của mặt trận đồng bằng là trực tiếp phá bình định của địch và ở giáp ranh là tiêu hao tiêu diệt, thu hút và kiềm chế địch, thiết thực hỗ trợ cho mặt trận đồng bằng. Toàn bộ chiến trường Trị - Thiên được chia thành năm khu vực tiến công: khu vực Quảng Trị, khu vực bắc Thừa Thiên, khu vực thành phố Huế và ven đô, khu vực đồng bằng nam Huế, khu vực đánh giao thông trên trục đường số 1 từ động Truồi đến đèo Hải Vân thuộc huyện Phú Lộc. Theo kế hoạch, Quân đoàn 2 tập trung lực lượng đảm nhiệm tiến công địch trên hướng chủ yếu của chiến dịch - từ đường số 14, khu vực Mỏ Tàu, cao điểm 303 trở vào nam Thừa Thiên. Lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên chịu trách nhiệm đánh địch ở mặt trận đồng bằng và các hướng còn lại trên toàn tuyến giáp ranh. Khu vực Quảng Trị có trung đoàn 46 bộ binh, một đại đội xe tăng và tiểu đoàn 6 pháo binh quân khu, năm tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh cùng với bộ đội địa phương, du kích của năm huyện ở Quảng Trị và 51 đội vũ trang công tác.

Khu vực nam Thừa Thiên gồm các huyện Phong Điền, Quảng Điền và Hương Trà, sử dụng lực lượng trung đoàn 4 bộ binh, đại đội 25 đặc công quân khu, tiểu đoàn 10 chủ lực tỉnh và bộ đội địa phương ba huyện cùng với 11 đội vũ trang công tác.

Khu vực đồng bằng nam Huế gồm các huyện Hương Thủy, Phú Vang và ven đô: lực lượng có tiểu đoàn 4 bộ binh và một đại đội đặc công của tỉnh, bộ đội địa phương huyện và 31 đội vũ trang công tác.

Khu vực Phú Lộc: sử dụng tiểu đoàn 5 (thiếu một đại đội) và tiểu đoàn 21 bộ binh quân khu, một đại đội đặc công của tỉnh, bộ đội địa phương huyện Phú Lộc và 14 đội vũ trang công tác. Ngoài ra có bốn trung đội bộ đội địa phương và hơn 100 du kích của các quận 1 và 2 miền núi Thừa Thiên tăng cường xuống chiến đấu ở giáp ranh hai huyện Phú Lộc, Hương Thủy.
______________________________________________
1, 2. Lê Tự Đồng: Trị - Thiên - Huế Xuân 1975, Nxb Quân đội nhân dân. Hà Nội, 1983, tr.45.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:01:20 pm

Thời kỳ đầu chiến dịch, sở chỉ huy quân khu tách làm hai bộ phận – sở chỉ huy tiền phương đặt ở nam Thừa Thiên do các đồng chí Lê Tự Đồng, Nguyễn Chi trực tiếp chỉ huy toàn bộ cánh nam và trực tiếp hiệp đồng tác chiến với Quân đoàn 2. Sở chỉ huy cơ bản do các đồng chí Hồ Tú Nam, Dương Bá Nuôi, Trần Văn Ân trực tiếp chỉ huy chiến đấu ở cánh bắc Huế và Quảng Trị.

Để thống nhất lãnh đạo chỉ huy chung toàn mặt trận Trị - Thiên - Huế, ngày 8 tháng 2 năm 1975, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng ủy mặt trận Trị — Thiên, thành phần gồm có Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên, Đảng ủy Quân đoàn 2, đồng thời chỉ định đồng chí Lê Tự Đồng, Bí thư khu ủy kiêm Bí thư quân khu ủy làm Bí thư Đảng ủy mặt trận1.

Thời gian mở màn chiến dịch thống nhất trên toàn miền Nam là ngày 5 tháng 3 năm 1975. Xuất phát từ tình hình thực tế của chiến trường Trị - Thiên và để phối hợp chặt chẽ với chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã thống nhất lấy ngày mở màn chiến dịch ở Trị - Thiên là ngày 8 tháng 3 năm 1975.

Toàn bộ kế hoạch chiến dịch xuân - hè 1975 ở Trị Thiên - Huế đã được hội nghị Đảng ủy mặt trận nhất trí thông qua ngày 21 tháng 2 năm 1975. Cuối tháng 2, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh thông qua lần cuối kế hoạch và chỉ thị cho Đảng ủy, Bộ Tư lệnh mặt trận phải có biện pháp để hiệp đồng thống nhất, ăn khớp giữa mặt trận đồng bằng và mặt trận giáp ranh, phải đưa được lực lượng lớn về đồng bằng và thành phố.

Đây là hai vấn đề rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với nhiệm vụ tiến công và nổi dậy vào xuân - hè 1975 trên toàn chiến trường Trị - Thiên - Huế. Trước vấn đề rất hệ trọng này, Thường vụ khu ủy đã quyết định:

- Phải đồng loạt tiến công địch trên cả hai mặt trận giáp ranh và đồng bằng, buộc địch phải bị động đối phó khắp nơi, không có khả năng tập trung lực lượng cùng một lúc phản kích lớn ở nhiều hướng, nhiều khu vực và nhiều mục tiêu. Tạo điều kiện cho mặt trận giáp ranh và đồng bằng phối hợp được chặt chẽ và hỗ trợ đắc lực cho nhau.

- Phải đưa lực lượng lớn của ta xuống đồng bằng ngay từ đầu chiến dịch để hành động đồng loạt, phối hợp chặt chẽ giữa hai mặt trận đồng bằng và giáp ranh.

Những ngày cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 1975, trong lúc cả quân khu đang gấp rút bước vào thực hiện kế hoạch chiến dịch thì cục diện chiến trường miền Nam chuyển biến hết sức mau lẹ. Đúng ngày 5 tháng 3 năm 1975, cuộc tiến công của quân và dân ta đồng loạt nổ ra trên khắp miền Nam.

Để kịp thời phối hợp với chiến trường toàn miền Nam và chiến dịch Tây Nguyên, Thường vụ khu ủy và Đảng ủy mặt trận Trị - Thiên - Huế quyết định chỉ đạo các lực lượng vũ trang đẩy mạnh hoạt động đánh địch tạo thế, kết hợp với diễn tập nghi binh và triển khai lực lượng phát triển về đồng bằng chuẩn bị cho tổng tiến công và nổi dậy.

Từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 3, các lực lượng vũ trang quân khu đã tổ chức nhiều trận đánh nhỏ, đều khắp trên chiến trường Trị - Thiên, gây cho địch nhiều thiệt hại. Tiểu đoàn 21 bộ binh liên tiếp đánh các đoàn xe địch trên đèo Hải Vân, làm tắc nghẽn giao thông Huế - Đà Nẵng của địch. Tiểu đoàn 8 Quảng Trị cùng với lực lượng du kích của các huyện phía sau, tiếp tục vây ép địch ở các điểm cao 367, động Ông Do trên tuyến phòng thủ của địch ở Quảng Trị, buộc chúng phải rút bỏ 11 chốt ở khu vực này. Đại đội 25 đặc công đánh sập cầu An Lỗ trên đường số 1. Lực lượng pháo binh quân khu và tỉnh liên tục bắn vào các mục tiêu của địch ở ấp 5, Đồng Lâm...

Cũng thời gian này, để đánh lạc hướng phán đoán của địch ở bắc Quảng Trị, lực lượng vũ trang tỉnh cùng với trung đoàn 9 sư đoàn 304 tiến hành cuộc diễn tập thực binh trên hai hướng. Hướng chủ yếu ở Thanh Hội, Cửa Việt, Long Quang. Hương thứ yếu ở Ái Tử, Như Lệ, Tích Tường.

Với cuộc diễn tập thực binh ở bắc Quảng Trị, một mặt ta đã bí mật rút sư đoàn 325 và trung đoàn 9 của sư đoàn 304 từ bắc Quảng Trị vào nam Thừa Thiên, tập trung lực lượng cho hướng chủ yếu của chiến dịch mà vẫn giữ vững được tuyến phòng thủ. Mặt khác, cuộc diễn tập đã làm cho địch hốt hoảng, bị động, không phán đoán nổi hướng tiến công chủ yếu của ta trên chiến trường Trị - Thiên. Do đó, địch vội vàng tăng cường lực lượng bố phòng trên tuyến tiếp xúc bắc Quảng Trị, tạo thuận lợi cho ta chuẩn bị tiến công trên hướng chủ yếu của chiến dịch ở nam Thừa Thiên.

Được hoạt động quân sự hỗ trợ, các lực lượng của ta phát triển về đồng bằng không quản gian khổ hy sinh, bí mật vượt qua các hệ thống phòng ngự ngăn chặn dày đặc của địch, móc nối xây dựng cơ sở và phát triển thực lực cách mạng. Đến ngày 7 tháng 3, khoảng 3.000 tay súng, trong đó có năm tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn đặc công, gần 150 đội vũ trang công tác và các đội vũ trang địa phương từ quân khu đến cơ sở cùng với lực lượng chính trị và cơ quan lãnh đạo chỉ huy các cấp đã bí mật đột nhập chiếm các địa bàn quan trọng ở vùng sâu đồng bằng được an toàn2.

Các hoạt động tạo thế này khiến cho địch ngay từ đấu không phán đoán nổi quy mô và hướng tiến công chủ yếu của ta, chúng buộc phải căng lực lượng ra đối phó trong một thời gian dài, tạo điều kiện cho ta thực hành tiến công và nổi dậy đồng loạt trên cả hai mặt trận giáp ranh và đồng bằng trong bước 2, đợt 1 của chiến dịch.
_____________________________________________
1. Theo quyết định số 2328/NQ-N3-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 8 tháng 2 năm 1975, Đảng ủy mặt trận Trị - Thiên có 11 đồng chí do đồng chí Lê Tự Đồng làm Bí thư. Thường vụ gồm năm đồng chí: Lê Tự Đồng, Lê Linh, Nguyễn Hữu An, Nguyễn Húng, Nguyễn Văn Thánh và sáu đồng chí ủy viên là: Nguyễn Chi, Nguyễn Công Trang, Hoàng Đan, Nguyễn Ngọc Thực, Dương Bá Nuôi, Trần Minh Đức.
2. Lực lượng về đồng bằng đến ngày 7 tháng 3 năm 1975, ở các khu vực gồm:
- Quảng Trị có: tiểu đoàn 8, lực lượng bộ đội địa phương các huyện Gio Linh, Triệu Phong, Hướng Hóa và 51 đội vũ trang công tác.
- Bắc Thừa Thiên có: các tiểu đoàn 10, 15, đại đội bộ đội địa phương và 41 đội vũ trang công tác.
- Nam Thừa Thiên có: các tiểu đoàn 4, 5, 21, hai đại đội đặc công, bộ đội huyện và 45 đội vũ trang công tác.



Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:02:28 pm

Ngày 8 tháng 3 năm 1975, theo kế hoạch thống nhất toàn mặt trận, chiến dịch xuân - hè 1975 ở Trị — Thiên — Huế bắt đầu.

Ở mặt trận giáp ranh, sáng ngày 8 tháng 3 năm 1975, bộ đội chủ lực quân khu và Quân đoàn 2 trên hướng chủ yếu của chiến dịch đồng loạt nổ súng tiến công địch ở khu vực đường số 14. Dưới sự chỉ huy của sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn và chính ủy Nguyễn Trọng Dần, sư đoàn 324 (thiếu trung đoàn 3) tiến công mãnh liệt vào khu vực Mỏ Tàu, điểm cao 303, hệ thống điểm cao liên hoàn khống chế toàn bộ đồng bằng nam Huế; địa bàn then chốt bảo vệ sân bay Phú Bài và trung tâm huấn luyện Đống Đa của địch.

5 giờ 45 phút, các chiến sĩ trung đoàn 78 pháo binh đã dồn dập dội bảo lửa xuống cứ điểm ở Mỏ Tàu, cao điểm 303. Sau 20 phút bắn cấp tập, pháo chuyển làn bắn xuống sân bay Phú Bài và các trận địa pháo địch ở Mũi Né, La Sơn, Chúc Mao. Cùng lúc trên hướng thứ yếu của sư đoàn, các chiến sĩ trung đoàn 1 bộ binh đồng loạt nổ súng, xung phong đánh chiếm các vị trí địch. Sau hai giờ chiến đấu quyết liệt, ta chiếm gọn các điểm cao 76, 75 và các đồi ven đường số 145, sau đó phát triển tiến công đánh chiếm núi Bông. Ở hướng chủ yếu của sư đoàn, trung đoàn 2 gặp khó khăn, không dứt điểm được các điểm cao 224 và 303 nên phải dừng lại để củng cố lực lượng. Đến 14 giờ ngày 10 tháng 3, các chiến sĩ trung đoàn 2 đã chiếm được điểm cao 224 và 303.

Đòn đánh phủ đầu của ta đã diệt gọn hai tiểu đoàn của trung đoàn 1 và trung đoàn 54 thuộc sư đoàn 1 bộ binh địch, chiếm một số vị trí quan trọng ở khu vực đường số 14. Bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 ngụy phải gấp rút tăng cường cho khu vực Mỏ Tàu, cao điểm 303 toàn bộ trung đoàn 1 và trung đoàn 54, tiểu đoàn 3 trung đoàn 3 thuộc sư đoàn 1 liên đoàn 15 biệt động, hai chi đoàn thiết giáp 27 và 37 tiểu đoàn 154 bảo an nhằm giữ vững những khu vực then chốt mà chúng đang chiếm đóng và tổ chức nhiều cuộc phản kích chiếm lại các vị trí đã mất. Từ 11 đến 17 tháng 3, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra vô cùng ác liệt. Đến ngày 15 tháng 3, sư đoàn 324 đã phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch ở khu vực đường số 14, tiêu diệt gần 1.500 tên địch, thu hút phần lớn chủ lực địch vào khu vực trọng điểm này, tạo thuận lợi cho ta tiến công đều khắp trên toàn mặt trận Trị - Thiên.

Trong lúc sư đoàn 324 đánh Mỏ Tàu và cao điểm 303 thì trung đoàn 271 chủ lực Quân khu Trị - Thiên tiến công địch ở khu vực điểm cao 144 La Sơn. 5 giờ 30 phút ngày 8 tháng 3, tiểu đoàn 9 trung đoàn 271 nổ súng đánh chiếm căn cứ La Sơn. Sau 30 phút chiến đấu ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Chiếm xong La Sơn, trung đoàn 271 đã chuyển về đường số 12 cùng trung đoàn 6 chủ lực quân khu tiến công về đồng bằng.

Phối hợp nhịp nhàng với hướng tiến công chính của Quân đoàn 2, các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương Quân khu Trị - Thiên trên các hướng khác dồn dập tiến công tiêu diệt địch trên toàn tuyến giáp ranh.

Tại khu vực Phong Sơn, 17 giờ ngày 8 tháng 3, trung đoàn 4 bộ binh được hỏa lực pháo binh của trung đoàn 16, trung đoàn 223 quân khu chi viện mạnh mẽ đã tiến công vào căn cứ Phổ Lại do tiểu đoàn 130 bảo an địch đóng giữ. Tiểu đoàn 2 trung đoàn 4 nhanh chóng đánh chiếm khu A của căn cứ. Từ khu A, ta dùng hỏa lực ĐKZ 82 và súng máy 12,7 ly phối hợp với bộ binh tiếp tục tiếp công tiêu diệt địch ở khu B và các mục tiêu còn lại ở căn cứ Phổ Lại.

Sau năm giờ chiến đấu quyết liệt, trung đoàn 4 đã hoàn toàn làm chủ căn cứ Phổ Lại. Tiếp đó, trung đoàn tổ chức lực lượng chốt giữ và chuẩn bị đánh địch phản kích.

Bị mất địa bàn chiến lược quan trọng, địch tập trung một lực lượng lớn pháo binh, máy bay và bộ binh, liên tiếp tổ chức phản kích trên nhiều mũi, nhiều hướng nhằm chiếm lại căn cứ Phổ Lại. Cán bộ và chiến sĩ trung đoàn 4 đã liên tiếp bẻ gãy mọi cuộc phản kích của địch, giữ vững trận địa.

Qua sáu ngày đêm tiến công và đánh địch phản kích, tiểu đoàn 2 trung đoàn 4 đã tiêu diệt trên 530 tên, bắn rơi một máy bay, phá hủy sáu xe quân sự và ba khẩu pháo, thu nhiều vũ khí.

Phối hợp với tiểu đoàn 2, các chiến sĩ tiểu đoàn 1 trung đoàn 4 luồn sâu về đồng bằng, liên tiếp tập kích quân địch ở các vị trí Trung Kiều, Đông Hồ và Sơn Tùng, diệt trên 170 tên, bắn cháy chín xe tăng, bắn rơi một máy bay lên thẳng, thu nhiều vũ khí. Đòn tập kích táo bạo của tiểu đoàn 1 ở đồng bằng đã hỗ trợ tích cực cho quần chúng nổi dậy phá bình định, giành quyền làm chủ.

Ở tây Hải Lăng: lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Trị và dân quân, du kích đồng loạt tập kích các điểm cao 122, 118, 90; tiếp đó, ta sử dụng pháo cối, phóng bom bắn chế áp các trận địa địch ở dốc Bàu, Tân Điền và các điểm cao 367, 235, động Ông Do..., buộc địch phải rút bỏ 21 chốt lẻ ở khu vực này.

Chi khu quân sự Mai Lĩnh là một mắt xích quan trọng trên tuyến phòng thủ của địch ở Quảng Trị. Nhằm ngăn chặn ta tiến công về đồng bằng, địch đã tập trung ở đây lực lượng ác ôn khét tiếng để kìm kẹp dân chúng, đánh phá cơ sở cách mạng một cách triệt để, gây cho ta nhiều khó khăn. Cuộc chiến giữa ta và địch diễn ra ở đây rất quyết liệt.

Sau khi bí mật vượt qua các vị trí bố phòng đày đặc của địch, áp sát các mục tiêu, đại đội 12 phối hợp với đại đội 30 trinh sát, tiểu đoàn 10 đặc công Quảng Trị đã nổ súng tiến công chi khu quân sự này vào lúc 0 giờ ngày 9 tháng 3. Địch ngoan cố kháng cự. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Các chiến sĩ đại đội 12 đã mưu trí, dũng cảm đánh địch, diệt hết tốp này đến tốp khác. Rạng sáng ngày 9 tháng 3, đại đội 12 đã san phẳng chi khu quân sự Mai Lĩnh, diệt hơn 100 tên ác ôn và bảo an.

Cùng với thắng lợi ở Phổ Lại, chiến thắng Mai Lĩnh đã gây tiếng vang lớn ở đồng bằng, hỗ trợ cho nhân dân trong vùng địch kiểm soát ở Quảng Trị và ba huyện bắc Thừa Thiên nổi dậy phá vỡ từng mảng hệ thống kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:03:57 pm

Trên khu vực đường số 12, trung đoàn 6 chủ lực được Bộ Tư lệnh quân khu giao nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Chúc Mao và điểm cao 300. Ban chỉ huy trung đoàn cùng các đơn vị khẩn trương chuẩn bị mọi mặt. 3 giờ 30 phút ngày 13 tháng 3, cuộc tiến công căn cứ Chúc Mao bắt đầu. Đại đội 1 tiểu đoàn 6 sau 10 phút chiến đấu đã diệt gọn một trung đội địch, làm chủ hoàn toàn trận địa. Trong lúc đó, tại điểm cao 300, sau khi các giá mìn bấm của tiểu đoàn 2 nổ đồng loạt phá tung hàng rào, bộ binh xung phong tiêu diệt các ổ đề kháng và lô cốt địch. Sau 45 phút chiến đấu, tiểu đoàn 2 hoàn toàn làm chủ mỏm 1 và 2. Quân địch sống sót tháo chạy sang mỏm 3 cùng với lực lượng tại chỗ dùng hỏa lực chống trả quyết liệt gây cho ta thiệt hại nặng. Quyết tâm tiêu diệt địch, tiểu đoàn 2 liền tung lực lượng dự bị vào chiến đấu, nhanh chóng tiêu diệt địch ở mỏm 3, làm chủ hoàn toàn điểm cao 300.

Chiếm được Chúc Mao và điểm cao 300, trung đoàn 6 đã tạo được áp lực uy hiếp địch từ phía tây Huế, góp phần thiết thực hỗ trợ cho đồng bằng đẩy mạnh tiến công quân địch.

Thắng lợi của ta trên toàn tuyến giáp ranh, một mặt làm cho địch lúng túng, bị động đối phó và do đó không phán đoán được hướng tiến công chủ yếu của ta, mặt khác, đối với ta đây là cuộc tập dượt tiến công địch, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ và chuẩn bị đón thời cơ tổng tiến công và nổi dậy giành chính quyền, đồng thời hỗ trợ cho lực lượng vũ trang và quần chúng ở vùng sâu đồng bằng tiến công và nổi dậy phá bình định, giành dân, giành quyền làm chủ.

Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của chủ lực ở mặt trận giáp ranh, đêm 8 tháng 3 năm 1975, ở mặt trận đồng bằng, từ nam sông Thạch Hãn đến vùng Lăng Cô bắc đèo Hải Vân, lực lượng vũ trang địa phương, các đội vũ trang công tác và các đoàn cơ sở của ta đồng loạt tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền xây dựng cơ sở quần chúng, chuẩn bị thực lực cách mạng và chuẩn bị mục tiêu đón thời cơ tiến công và nổi dậy.

Vào hồi 0 giờ ngày 8 tháng 3, ở đồng bằng Quảng Trị, tiểu đoàn 8 của tỉnh tập kích diệt gọn quân địch ở phân chi khu quân sự Hải Nhi. Phối hợp với tiểu đoàn 8, các đội vũ trang công tác cùng với bộ đội huyện và du kích đồng loạt tiến công các phân chi khu quân sự Hải Kinh, Hải Văn, Hải Vĩnh, Hải Lê, Hải Lâm và Hải Phú (huyện Hải Lăng), Triệu Sơn, Triệu Tài (huyện Triệu Phong), tiêu diệt các chốt Bích La Trung và điểm cao 11. Vừa tiến công địch, ta vừa phát động quần chúng nổi dậy ở 15 ấp. Cuộc tiến công nổi dậy của ta ở đồng bằng Quảng Trị đã giải phóng ba phân chi khu quân sự Hải Nhi, Hải Văn, Hải Vĩnh. Hệ thống kìm kẹp của địch tan rã ở nhiều nơi.

Tại đồng bằng bắc Huế, được chiến thắng quân sự ở Phổ Lại hỗ trợ, tiểu đoàn 10, tiểu đoàn 15 của tỉnh cùng với bộ đội tập trung huyện và các đội vũ trang công tác đã đồng loạt nổ súng tiến công giải phóng hơn một nửa phân chi khu quân sự địch1, đánh chiếm đồn bảo an và dân vệ ở cầu Đen, Tháp Nhuận, Đồng Hồ...; làm cho địch bị động lúng túng. Chớp thời cơ này, các tổ chức cơ sở đảng và các đội vũ trang tuyên truyền đã vận động quần chúng nổi dậy cùng với lực lượng vũ trang làm tan rã phòng vệ dân sự, khiến cho ngụy quyền ở nhiều thôn, xã phải giấu triện đồng, đốt tài liệu, bỏ chạy tán loạn.

Ở nông thôn đồng bằng nam Thừa Thiên, lợi dụng lúc chủ lực địch tập trung đối phó với Quân đoàn 2 tiến công trên khu vực đường số 14, các tiểu đoàn 4, 5, 21 bộ binh và hai đại đội đặc công cùng với lực lượng tại chỗ đá nổ súng tiến công đánh vào 11 phân chi khu quân sự của địch ở ba huyện: Phú Vang, Hương Thủy và Phú Lộc. Đồng thời, đặc công và bộ đội huyện tiến công vào các thôn Nam Đương, Trung Chiếm Chánh, Lô Xá Tây xã Phú Lương và thôn Lang Xe Bầu xã Phú Hồ. Cùng thời gian này tại Phú Lộc, một mũi của tiểu đoàn 4 cùng các đội vũ trang công tác đánh chiếm toàn bộ xã Vĩnh Phú, ba thôn của xã Phú Đa, bốn thôn của xã Vĩnh Thái và một thôn của xã Vĩnh Hải.

Cuộc tiến công bất ngờ, đồng loạt của ta ở khắp nông thôn đồng bằng Trị - Thiên trong hai ngày 8 và 9 tháng 3 là đòn đánh hiểm, đánh trúng vào kế hoạch bình định của địch, uy hiếp trực tiếp hậu phương của chúng. Ta đã tiến công trên 30 phân chi khu và một số chi khu là lực lượng kìm kẹp chủ yếu của địch, kết hợp đánh địch với vũ trang tuyên truyền ở 150 thôn, ấp thuộc 53 xã đồng bằng, hỗ trợ cho 200.000 quần chúng nổi dậy phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ với những mức độ khác nhau.

Hòng ngăn chặn bước tiến công của ta và trấn an tinh thần quân ngụy đang hoang mang, rệu rã, một lực lượng hỗn hợp của chúng được huy động phản kích ta rất quyết liệt.

Ở Quảng Trị, địch đưa liên đoàn 913 và tiểu đoàn 120 bảo an, lữ đoàn 139 thủy quân lục chiến cùng 12 xe tăng đánh vào các xã Hải Kinh, Hải Vân, Hải Nhi (Hải Lăng) và xã Triệu Vinh (Triệu Phong), đàn áp phong trào nổi dậy của quần chúng ở đây và ngăn chặn hành lang về đồng bằng của ta.

Tại bắc Huế, địch tập trung một lực lượng hỗn hợp mạnh, có máy bay trực thăng yểm trợ, tổ chức phản kích quyết liệt vào các xã Phong Bình, Phong Hòa, Phong Chương huyện Phong Điền và xung quanh khu vực cầu An Lỗ.

Ở khu vực nam Huế, địch huy động các đơn vị thuộc trung đoàn 51, sư đoàn 1 bộ binh; lính dù, biệt động, bảo an, dân vệ, xe tăng, máy bay A37 bay đêm..., đánh phá mãnh liệt vào khu vực do tiểu đoàn 4 cùng các đội vũ trang tuyên truyền và bộ đội các huyện Phú Vang, Phú Lộc chiếm giữ.

Các cuộc phản kích điên cuồng của địch đã làm tiêu hao một phần lực lượng của ta, gạo và đạn dự trữ cạn dần. Tư tưởng giao động bi quan, thiếu tin tưởng vào khả năng thực hiện tiến công và nổi dậy ở đồng bằng đã xuất hiện trong một số ít cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, quần chúng nhân dân. Nhưng nhìn chung, cả lãnh đạo và quần chúng, cả lực lượng vũ trang và chính trị của ta đều quyết tâm bám trụ, đánh địch phản kích, giữ vững phong trào và địa bàn đứng chân ở đồng bằng. Đặc biệt, các tiểu đoàn tập trung của tỉnh được lệnh rút về phía sau chuẩn bị cho cuộc tiến công mới. Nhờ vậy khi thời cơ đến, ta đã kịp tiến công tiêu diệt địch, giành thắng lợi nhanh chóng.
_______________________________________________
1. Các phân chi khu bị ta tiến công gồm có: Phong Bình, Phong Hòa, Phong Chương, Phong Nhiêu và Phong An (Phong Điền); Quảng Lợi, Quảng Hòa, Quảng Phú (Quảng Điền); Hương Chữ, Hương Sỹ, Hương Xuân (Hương Trà).


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:04:44 pm

Trong đợt hoạt động đầu năm 1975, nhân thời cơ Quân đoàn 2 tiến công thu hút một lực lượng lớn chủ lực của địch, quân và dân Trị - Thiên - Huế đã phối hợp ăn ý, đồng loạt nổ súng tiến công địch trên cả hai mặt trận giáp ranh và đồng bằng, thực hiện được một bước quan trọng quyết tâm phá lỏng, phá rã hệ thống kìm kẹp của địch ở đồng bằng, buộc chúng phải co cụm chiến thuật; gom chốt lẻ thành chốt lớn, tập trung lực lượng "be bờ" cố thủ ở giáp ranh. Những ngày cuối cùng của đợt 1 chiến dịch xuân - hè ở Trị - Thiên - Huế, địch đã phải rút hai lữ đoàn 369 và 258 thủy quân lục chiến từ Quảng Trị vào phía nam làm lực lượng cơ động. Do đó, thế phòng thủ của địch ở Trị - Thiên bị ảnh hưởng nghiêm trọng, lực lượng giảm sút nhiều, nội bộ dao động mạnh, phòng thủ ngày càng lỏng lẻo, kìm kẹp kém hiệu quả... Địch khó có thể giữ vững được địa bàn khi bị ta tiến công.

Trước tình hình đó, viên tiểu khu trưởng Quảng Trị triệu tập các liên đoàn trưởng 913 bảo an và 14 biệt động về họp bàn kế hoạch phòng thủ Quảng Trị, đồng thời lệnh cho các đơn vị thu gọn đội hình, các tiểu đoàn trưởng phải túc trực nhận lệnh trong ngày và sẵn sàng đối phó khi bị ta tiến công. Địch cũng bắt đầu dồn ép nhân dân Quảng Trị di tản vào Huế và Đà Nẵng. Điều này chứng tỏ địch có khả năng rút bỏ Quảng Trị vào co cụm lớn để bảo vệ Huế.

Căn cứ vào tình hình thực tế, ngày 17 tháng 3 năm 1975, Thường vụ khu ủy và Thường vụ quân khu ủy họp dưới sự chủ tọa của đồng chí Lê Tự Đồng - Bí thư khu ủy. Hội nghị nhận định: địch ở Trị - Thiên đang hoang mang giao động mạnh, thời cơ mới đã xuất hiện. Do vậy ta cần phải khẩn trương và mạnh bạo tiến công, dùng lực lượng tại chỗ đánh mạnh vào tuyến phòng thủ của địch, kết hợp với thọc sâu chia cắt, phá thế co cụm của chúng, giành thắng lợi lớn ở đồng bằng, tiến tới bao vây và cô lập Huế, không cho địch rút khỏi Quảng Trị một cách an toàn. Hội nghị quyết định:

- Kiên quyết, táo bạo dùng toàn bộ lực lượng vũ trang của Quảng Trị đang phòng ngự trên tuyến tiếp xúc, chủ động bất ngờ chuyển sang tiến công địch trên hai hướng: hướng đông từ Thanh Hội theo trục đường số 68 và hướng tây từ Tích Tường, Như Lệ theo trục đường số 1 tiến vào phía nam.

- Tập trung toàn bộ lực lượng đang chấn chỉnh, củng cố ở giáp ranh, kể cả trung đoàn 271 bộ binh hiện đang ở nam Thừa Thiên đưa về đồng bằng đánh địch, phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.

- Đưa trung đoàn 4 bộ binh ra đánh chia cắt địch ở cầu An Lỗ (bắc Huế) và tăng thêm lực lượng địa phương về đồng bằng. Hướng nam đánh cắt giao thông địch trên đường số 1 từ Lương Điền đến Đá Bạc huyện Phú Lộc.

- Thời gian chậm nhất là ngày 19 tháng 3, tất cả các lực lượng phải tiến công địch.

Trong khi tình hình ở Trị - Thiên đang diễn biến nhanh theo hướng có lợi cho ta thì chiến thắng Buôn Ma Thuột (Tây Nguyên) đã mở ra một cục diện mới hết sức thuận lợi của cách mạng miền Nam.

Trước sự phát triển mau lẹ của tình hình, ngày 18 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị họp nhận định: "Thời cơ chiến lược lớn trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam đã bước sang giai đoạn nhảy vọt", và hạ quyết tâm chiến lược: "giải phóng miền Nam trong năm 1975”.

Cùng ngày, Bộ Tổng tư lệnh khẩn trương chỉ đạo các lực lượng chuẩn bị chiến dịch Huế - Đà Nẵng theo tinh thần Nghị quyết Bộ Chính trị, nhằm tiêu diệt quân đoàn 1 địch, không cho chúng co cụm lớn về Sài Gòn. Đồng thời, Bộ lệnh cho Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 phải hoạt động một cách táo bạo, khẩn trương, không cho địch rút bỏ vùng bắc Huế một cách an toàn; phải nhanh chóng đánh cắt giao thông đường số 1 của địch và đánh sân bay, kho tàng ở Phú Bài.

Chủ trương bao vây Huế, không cho địch rút khỏi Quảng Trị của Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy được truyền đạt nhanh xuống các đơn vị, địa phương trên toàn chiến trường Trị - Thiên. Lập tức, các cấp lãnh đạo, chỉ huy địa phương và đơn vị khẩn trương triển khai kế hoạch tác chiến. Công tác đảm bảo đã hoàn thành một khối lượng lớn công việc, nhất là hướng Quảng Trị và bắc Huế.

Đêm 18 rạng ngày 19 tháng 3 năm 1975, tất cả các lực lượng vũ trang hướng bắc đồng loạt nổ súng đồng loạt tiến công vào toàn bộ tuyến phòng thủ của địch ở Quảng Trị, mở màn cho đợt 2 của chiến dịch xuân - hè 1975.

Ở hướng đông, mờ sáng ngày 19 tháng 3 năm 1975, tiểu đoàn 3 Quảng Trị phối hợp với đại đội 7 xe tăng (lữ đoàn 203) và một đại đội pháo hỗn hợp, nhanh chóng chia làm hai mũi tiến công địch. Mũi chủ yếu có xe tăng đi cùng, nhanh chóng tiến công đột phá vị trí Trường Sơn và theo tỉnh lộ số 8 tiến công diệt địch ở Tài Lương, Đạo Đầu. Được du kích dẫn đường, các đơn vị tiếp tục thọc sâu đánh vào hậu phương của địch. Đến 15 giờ cùng ngày, đại đội 3 nổ súng tiến công địch ở Phù Lưu, đại đội 9 và đại đội 11 tiến đánh địch ở Triệu Dương. Ở mũi thứ yếu, một đại đội của tiểu đoàn 3 được pháo binh yểm trợ, tập kích tiêu diệt địch ở Thanh Hội, sau đó tiến ra Gia Đẳng, Mỹ Thủy, Thẩm Kế..., phối hợp cùng các lực lượng khác tiếp tục thọc sâu tiêu diệt địch.

Ở hướng Quảng Trị, tiểu đoàn 14 của tỉnh được tăng cường đại đội Lê Hồng Phong, chia làm ba mũi tiến công địch. Mũi 1 sau khi đánh chiếm điểm cao 15, tiếp tục truy kích địch đang rút chạy vào Phú Lương, đánh địch co cụm ở Đá Bạc và phát triển theo đường số 1 đánh chiếm Hải Sơn, Mỹ Chánh. Mũi 2 đánh vào Phước Môn, phát triển sang Long Hưng, Thường Xá, thọc sâu vào Diên Sanh, đánh chiếm Trung Sơn, Phước Điền, An Nhơn. Mũi cuối cùng tiến công tiêu diệt địch ở Tích Tường, Như Lệ, La Vang. Đúng 3 giờ ngày 19 tháng 3 năm 1975, tiểu đoàn 14 cắm lá cờ chiến thắng lên thành cổ Quảng Trị.

Cũng tại hướng này, tiểu đoàn 8 Quảng Trị tiến công theo dọc sông Nhùng rồi về Trường Thọ vào Mỹ Chánh. Tiểu đoàn 812 của tỉnh từ Hải Lăng truy kích tiêu diệt địch ở Dốc Bầu, tiến vào Mỹ Chánh, đánh địch co cụm ở các xã Hải Kinh, Hải Nhi, Hải Văn. Tiểu đoàn 10 đánh địch ở tây nam điểm cao 367, tiến vào uy hiếp khu vực Hồ Lầy. Lực lượng du kích Quảng Trị đang vây ép địch ở tây nam Hải Lăng cũng đồng loạt chuyển sang tiến công, truy kích tiêu diệt địch ở các điểm cao 235, 367, 222, động Ông Do và các mục tiêu khác ở tây Hải Lăng.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:06:04 pm

Phối hợp với chiến trường Quảng Trị, ở khu vực bắc Thừa Thiên, tiểu đoàn 15 trung đoàn 4 chủ lực quân khu và đại đội 10 đặc công Thừa Thiên cùng với lực lượng tại chỗ chống trả quyết liệt các cuộc phản kích điên cuồng của địch, kiên trì bám trụ địa bàn, phát động quần chúng nổi dậy. Tại các xã Phong Hòa, Phong Bình, Phong Chương huyện Phong Điền, nhân dân chủ động đánh địch phản kích, giải phóng quê hương.

Cùng lúc, pháo binh của ta đánh mạnh vào các căn cử của địch ở Hiệp Khánh, cầu An Lỗ, khu Tây Lộc và Mang Cá, gây cho chúng tổn thất lớn, làm tăng thêm sự hoang mang giao động và rối loạn hàng ngũ địch. Riêng ở nam Thừa Thiên, ta hoạt động nhỏ, kìm chế tiêu hao địch để bộ đội chủ lực di chuyển đội hình chuẩn bị cho tổng tiến công giải phóng Huế.

Nhân lúc địch hoang mang giao động mạnh, nhân dân Quảng Trị và ba huyện bắc Thừa Thiên đồng loạt nổi dậy diệt ác, phá kìm, bung khỏi các khu tập trung, giành quyền làm chủ ở nhiều thôn, xã.

Bị đòn tiến công bất ngờ, dũng mạnh của lực lượng chủ lực của Bộ và lực lượng vũ trang Trị - Thiên cùng với đòn nổi dậy mạnh mẽ của quần chúng cách mạng, địch ở Quảng Trị vội vàng tháo chạy về phía nam. Cuối ngày 19 tháng 3 năm 1975, chúng co cụm ở Mỹ Chánh, Thanh Hương, lập tuyến phòng thủ mới.

Hơn một ngày tiến công dồn dập, bằng cả lực lượng quân sự và nổi dậy của quần chúng, quân và dân Quảng Trị đã giải phóng nốt phần đất còn lại của tỉnh. Thắng lợi to lớn của quân và dân Quảng Trị buộc địch phải co cụm lớn trong thế bị động, khốn quẫn và hoang mang cực độ. Thời cơ lớn đã đến, khả năng giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên — Huế đã xuất hiện.

Ngay chiều 19 tháng 3, Bộ Tư lệnh quân khu họp nghiên cứu tình hình và đề ra phương án, kế hoạch giải phóng Thừa Thiên - Huế để trình Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy thông qua. Tối 19 tháng 3 năm 1975, Bộ Tư lệnh quân khu lệnh cho tỉnh đội Quảng Trị tiếp tục sử dụng các lực lượng vũ trang phát triển tiến công vào phía nam, bám địch mà đánh, thừa thắng xông lên, tuyệt đối không được dừng lại. Bộ Tư lệnh quân khu nhấn mạnh: "Dừng lại là một tội lỗi không thể tha thứ được".

Các lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Trị gấp rút tổ chức lực lượng cùng với quân và dân Thừa Thiên — Huế chuẩn bị thực hiện bước 2 giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên - Huế.

Ngày 20 tháng 3 năm 1975, Bộ Tổng tư lệnh điện biểu dương thành tích giải phóng thị xã và phần đất còn lại của tỉnh Quảng Trị, đồng thời chỉ thị phải tiếp tục tiến công không được dừng lại.

Thực hiện quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975 của Bộ Chính trị và chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh ngày 20 tháng 3, Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy họp quyết định: "Tranh thủ thời cơ, dốc toàn lực giải phóng Thừa Thiên - Huế bằng một cuộc tiến công tổng hợp, toàn diện, lấy chia cắt và bao vây chiến dịch kết hợp với các mũi thọc sâu của chủ lực làm biện pháp then chốt, đồng thời sử dụng lực lượng vũ trang địa phương trực tiếp tiến công địch hỗ trợ và vận động quần chúng nổi dậy giành dân và giữ dân, đưa chiến dịch đến thắng lợi. Hết sức chú ý không cho địch cụm lại trong thành phố Huế".

Hội nghị đã thông qua phương án, kế hoạch giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên; xác định, các hướng tiến công chính và sử dụng lực lượng ở từng hướng chiến dịch như sau:

- Hướng nam: Quân đoàn 2 sau khi đánh cắt giao thông đường số 1 dưới chân núi Kim Sắc - Lưỡi Hái sẽ phát triển tiến công theo hai mũi: một mũi từ bàn đạp cắt giao thông nhanh chóng thọc ra cảng Tân Mỹ, một mũi từ điểm cao 303 - La Sơn tiến ra Huế. Trong khi đó, hai tiểu đoàn 5 và 21 của quân khu sử dụng hỏa lực khống chế cửa Tư Hiền, đánh chiếm quận lỵ Vĩnh Lộc và phát triển ra cửa Thuận An.

- Hướng bắc, sử dụng hai tiểu đoàn bộ binh tỉnh Quảng Trị được tăng cường pháo binh, xe tăng đánh chiếm quận lỵ Hương Điền (cánh đông); trung đoàn 4 được tăng cường tiểu đoàn 8 Quảng Trị, trung đoàn 46 làm lực lượng dự bị tiến công lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến (cánh tây). Tiếp đó, hai cánh sẽ cùng phát triển tiến công vào cửa Thuận An và ngã ba Sình.

- Hướng đường số 12, trung đoàn 6 sau khi cùng trung đoàn 271 quân khu đánh chiếm các mục tiêu Đình Môn, Kim Ngọc, sẽ vượt qua sông Hương, tiến vào khu tam giác thành phố, chặn đánh trung đoàn 3 ngụy từ đường số 12 về. Trung đoàn 271 tiến về phía đông thành phố, chia cắt Huế - Phú Bài, phát triển về quận lỵ Phú Vang cùng với Quân đoàn 2 hợp vây diệt địch.

- Lực lượng pháo binh của quân khu, Quân đoàn 2 và K5 hải quân khống chế chặt của Thuận An, cửa Tư Hiền, đánh mạnh vào sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy ở Huế và khu vực cảng Tân Mỹ.

- Tất cả lực lượng còn lại của tỉnh, huyện, xã tiến xuống đồng bằng đánh địch và phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền.

Toàn bộ quyết tâm và phương án giải phóng Thừa Thiên - Huế của quân khu đều thống nhất với Quân đoàn 2 và đã được Bộ Tổng tư lệnh chấp nhận. Bộ chỉ thị thêm: ngày 21 tháng 3, phải cắt bằng được đường số 1 đoạn từ Huế đi Đà Nẵng.

Sáng 21 tháng 3 năm 1975, bước hai chiến dịch tiến công giải phóng Thừa Thiên - Huế bắt đầu.

Trên hướng chủ yếu của chiến dịch, sư đoàn 325 tiến công hướng phòng ngự của địch dọc theo dãy núi Kim Sắc với các điểm cao: 560, 494, 520... Sư đoàn 324 tiến công địch ở khu vực núi Bông, La Sơn, điểm cao 224... Sau một ngày đánh địch, giành giật với chúng từng điểm cao một, chiều ngày 21 tháng 3, tuyến phòng ngự của địch ở phía tây đường số 1 từ Lương Điền đến Phú Lộc đã bị đập tan. Cửa ngõ xuống đường số 1 đã mở. Thừa Thắng, các đơn vị thuộc Quân đoàn 2 đánh tràn xuống đồng bằng. Đến chiều 22 tháng 3, ta đã cắt được 10 ki-lô-mét đường số 1 từ Mũi Né đến Bái Sơn. Giao thông của địch từ Huế đi Đà Nẵng bị tắc nghẽn. Hàng nghìn xe cơ giới bị chặn lại ở Lương Điền. Địch ở Thừa Thiên - Huế hoang mang cực độ.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:09:11 pm

Trước tình hình phát triển thuận lợi của chiến dịch, chiều 22 tháng 3, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 lệnh cho các sư đoàn tiếp tục tiến công quân địch.

Sáng 23 tháng 3, tiểu đoàn 8, trung đoàn 18 thuộc sư đoàn 325 tiến công địch ở Mũi Né. 14 giờ cùng ngày, ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Sau khi đánh chiếm Mũi Né, trung đoàn 18 liên tiếp truy kích tiêu diệt địch ở Phú Lộc, Thừa Lưu, Phú Gia và Lăng Cô, làm chủ hoàn toàn khu vực sát đèo Hải Vân. Được đòn quân sự hỗ trợ, nhân dân hai xã Gio Lễ, Gio Hải, huyện Gio Linh, Quảng Trị bị địch cưỡng ép vào khu tập trung Phước Hưng huyện Phú Lộc đã nổi dậy vận động gọi hàng một trung đội bảo an, một trung đội dân vệ, vây bắt bọn ác ôn, giải tán toàn bộ ngụy quyền xã, ấp.

Trên đường tiến công Huế, để mở đường cho sư đoàn 324 tiến về đồng bằng, 8 giờ ngày 23 tháng 3, trung đoàn 101 sư đoàn 325 đã đánh chiếm nhanh gọn căn cứ Lương Điền.

Căn cứ Lương Điền bị tiêu diệt, cánh cửa phía nam đã mở. Lập tức, ngày 23 tháng 3, trung đoàn 1 và trung đoàn 2 sư đoàn 324 nhanh chóng vượt quốc lộ số 1, đánh địch và tiến về đồng bằng. Đêm 23 rạng ngày 24, hai trung đoàn 1 và 2 đã về tới đồng bằng Phú Thứ. Trung đoàn 1 cùng với các đội vũ trang công tác và du kích tích cực tiến công tiêu diệt sư đoàn 1 bộ binh ngụy tụ tập ở đây, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy làm chủ hoàn toàn Phú Thứ, truy quét tàn binh địch. Sau đó, trung đoàn 1 cùng với trung đoàn 2 phát triển tiến công tiêu diệt địch ở Phú Vang, cảng Tân Mỹ, cửa Thuận An và phía đông thành phố Huế.

Sau khi đánh chiếm căn cứ La Sơn, trung đoàn 3 sư đoàn 324 cùng một đại đội xe tăng (lữ đoàn 203) nhanh chóng theo đường số 1, phối hợp với trung đoàn 1 sư đoàn 325 chuẩn bị tiến công thành phố Huế.

Với đòn tiến công thần tốc, táo bạo, đến ngày 25 tháng 3 năm 1975, từ phía nam Quân đoàn 2 đã hình thành hai hướng tiến công kẹp chặt quân địch ở Huế và cửa Thuận An.

Trên hướng bắc, ngày 22 tháng 3, tiểu đoàn 3 Quảng Trị nhanh chóng tiến công hai tiểu đoàn bảo an ở Xuân Viên và Thanh Hương. Cuộc chiến đấu ở Thanh Hương diễn ra rất quyết liệt suốt ngày 22. Cửa ngõ phía đông vào bắc Thừa Thiên chưa mở được. Ngày 23, được xe tăng của quân khu yểm trợ, tiểu đoàn 3 tiếp tục tiến công vị trí Thanh Hương. Trước sức tiến công mãnh liệt của bộ binh và xe tăng, địch phải rút về Đại Lộc. Thừa thắng, tiểu đoàn 3 truy kích, tiêu diệt địch ở Đại Lộc và các thôn Thế Chi Đông, Thế Chi Tây. Sáng 24 tháng 3, ta giải phóng hoàn toàn quận lỵ Hương Điền.

Lúc này, phá Tam Giang - con đường duy nhất của địch chạy ra cửa Thuận An bắt đầu bị ta uy hiếp mạnh ở phía đông. Từ Hương Điền, tiểu đoàn 3 cùng một xe tăng tiếp tục tiến công truy kích địch. 15 giờ 30 phút ngày 25 tháng 3, tiểu đoàn 3 đã làm chủ cửa Thuận An. Tại đây, tiểu đoàn 3 dùng pháo 85 ly và 57 ly liên tiếp bắn vào tàu và xà lan của địch đậu ở ngoài cửa biển.

Trong lúc tiểu đoàn 3 đánh xuống Thuận An, tiểu đoàn 14 vượt sông Ô Lâu đánh địch ở Phong Hòa, Phong Bình và truy kích chúng xuống Sịa, rồi chốt giữ ngã ba Sình1. Ngày 25 tháng 3, tiểu đoàn 14 đánh thẳng vào Mang Cá Nhỏ thuộc thành nội Huế.

Trên mũi thứ yếu của hướng bắc, từ ngày 21 tháng 3, tiểu đoàn 812 tiến công theo đường số 1, vượt sông Mỹ Chánh, diệt gọn địch ở xóm Bồ - Phò Trạch. Chiều 23 tháng 3, tuyến Mỹ Chánh vỡ, địch co về tuyến sông Bồ. Lập tức, tiểu đoàn 812 cùng với lực lượng vũ trang Phong Điền tiến công giải phóng quận lỵ Phò Trạch. Ngày 24, ta tiến đánh Lương Mai. Sáng 25, Bao Vinh, Mang Cá Nhỏ đã thuộc quyền kiểm soát của ta.

Trong lúc lực lượng vũ trang Quảng Trị tiến công trên tuyến Mỹ Chánh, ở phía tây vào 15 giờ ngày 23 tháng 3, trung đoàn 4 chủ lực quân khu vượt qua sông Bồ đánh quỵ tiểu đoàn 5 lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến. Lập tức địch tung liên chi đoàn 4 biệt động và một chi đoàn xe M.113 ra phản kích quyết liệt nhằm chặn đường tiến công của trung đoàn 4. Cuộc chiến đấu diễn ra dai dẳng suốt ngày 24. Đến 17 giờ cùng ngày, địch đánh sập cầu An Lỗ rồi rút chạy. Trung đoàn 4 chuyển sang truy kích tiêu diệt địch. Chiều 25, tiểu đoàn 1 đến động Ấp, phối hợp với tiểu đoàn 3 Quảng Trị chốt chặn cửa Thuận An, tiểu đoàn 2 chốt cầu Thanh Hà, tiểu đoàn 3 từ Hương Cần, ngã ba Sình phát triển vào Huế.

Phối hợp với đòn tiến công quân sự, các đội vũ trang công tác ở phía bắc thành phố Huế tích cực vận động quần chúng nhân dân nổi dậy tiến công hệ thống ngụy quyền, truy quét tàn binh địch, thu vũ khí. Nhân dân các xã Quảng Lợi, Quảng Ninh, Quảng Hòa, Quảng Đại huyện Quảng Điền dẫn đường cho bộ đội truy kích địch chạy ra cửa Thuận An. Các đội vũ trang công tác đã phát động quần chúng các xã: Hương Phú, Hương Thanh, Hương Sơn, Hương Xuân, Hương Cần, Hương Mai, Hương Chữ huyện Hương Trà và các xã Phong Nhu, Phong An, Phong Sơn huyện Phong Điền nổi dậy giành chính quyền, truy lùng ác ôn, kêu gọi người thân bỏ hàng ngũ địch về với gia đình, dẫn đường cho bộ đội tiến công vào thành phố Huế.

Trên hướng đường số 12, trung đoàn 6 và trung đoàn 271 đang đánh địch thì được lệnh hành quân cấp tốc tiến về Huế. Ngày 24 tháng 3, cả hai trung đoàn đã vượt qua tuyến phòng thủ của địch, tiến vào đánh chiếm hai làng Đình Môn và Kim Ngọc sát tả ngạn sông Hương, xây dựng thành bàn đạp uy hiếp trực tiếp thành phố Huế từ phía tây.

Phối hợp với đòn tiến công của các đơn vị bộ binh, bộ đội pháo binh liên tiếp giội đạn vào các mục tiêu của địch. Ngày 21 tháng 3, pháo ta bắn vào ấp 5, động Tòa, Phú Bài Mang Cá. Từ ngày 22 đến 25 tháng 3, cửa Thuận An, của Tư Hiền và cảng Tân Mỹ bị pháo bắn mãnh liệt. Cùng với pháo binh tầm xa, đêm 24 tháng 3, đặc công nước của K5 hải quân thả thủy lôi phong tỏa cửa biển Thuận An và Tư Hiền, không cho tàu biển địch cập bến bốc quân lính tháo chạy vào Đà Nẵng.
____________________________________________
1. Ngã ba Sình là nơi sông Bồ và sông Hương gặp nhau rồi chảy ra phá Tam Giang, tiếp giáp hai huyện Phú Vang và Hương Trà (xã Phú Mậu huyện Phú Vang và xã Hương Vinh, Hương Phong huyện Hương Trà) nằm ngay trên đường giao thông từ Thuận An lên Mang Cá - Huế.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:09:45 pm

Trước tình hình quân ngụy ở Thừa Thiên - Huế đang rối loạn, hoang mang cực độ do bị bao vây tiến đánh từ nhiều phía, bộ tư lệnh quân đoàn 1 ngụy quyết định bỏ Huế. Tối 24 tháng 3, từ các cấp úy chỉ huy đến binh lính địch tháo chạy thục mạng về cửa Thuận An, cửa Tư Hiền, định lên tàu biển vào Đà Nẵng.

Tình hình chuyển biến mau lẹ. Ngay trong đêm 24 tháng 3, các đồng chí lãnh đạo trực tiếp của Thành ủy Huế và huyện ủy Phú Vang đã quyết định phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Lập tức, các cơ sở mật cùng biệt động thành đẩy mạnh truy kích địch ở chi khu quân sự quận 2; vận động quần chúng các quận 1, 2, 3 nội thành Huế và quận Phú Vang nổi dậy tiến công địch. Sáng 25, lực lượng vũ trang Huế phối hợp với nhân dân đánh chiếm quận lỵ Phú Vang, chiếm xe địch, cắm cờ cách mạng chạy thẳng vào thành phố. Trong lúc đó, nhiều nơi nhân dân đã tổ chức đón và dẫn đường cho chủ lực ta tiến công vào thành phố, đánh chiếm các vị trí quan trọng ở An Hòa, Bao Vinh, Mang Cá, Tây Lộc, Phu Văn Lâu, tòa Khâm Sứ, các nhà máy điện, nước cùng các vị trí quan trọng khác. Các cửa Thuận An, cửa Tư Hiền đều bị bộ binh và pháo binh ta khóa chặt. Bộ binh ta từ các hướng tiến về hợp điểm tại Huế.

Trước đó, ngày 23 tháng 3, tiểu đoàn 8 Quảng Trị đang cùng với trung đoàn 4 hoạt động ở cánh tây thì được lệnh chuyển hướng tiến công theo đường số 1 đánh vào nam sông Mỹ Chánh. Tuyến phòng thủ của địch ở Mỹ Chánh nhanh chóng bị phá vỡ. Lập tức, tiểu đoàn 8 truy kích tiêu diệt địch ở An Lỗ, sau đó, theo đường số 1 đánh chiếm cầu An Hòa đang bỏ ngỏ. Vừa tới An Hòa, bộ phận đi đầu của tiểu đoàn 8 được tự vệ thành ra dẫn đường tiến vào đánh chiếm thành phố Huế. Cùng thời gian, trung đoàn 101 (trung đoàn Trần Cao Vân) sư đoàn 325 — đứa con chủ lực đầu lòng của nhân dân Thừa Thiên - Huế được nhân dân dùng xe lam, xe máy cơ động nhanh từ hướng nam vào thành phố.

10 giờ 30 phút ngày 25 tháng 3 năm 1975, lá cờ chiến thắng được các chiến sĩ giải phóng cắm trên cột cờ Phu Văn Lâu tung bay trong gió báo tin vui thành phố Huế được giải phóng.

Buổi trưa và chiều ngày 25 tháng 3, lực lượng vũ trang Trị - Thiên phối hợp cùng Quân đoàn 2 tiếp tục giải phóng những sào huyệt cuối cùng của địch ở Huế và cùng quần chúng cách mạng làm chủ hoàn toàn thành phố.

Từ sau ngày 25 tháng 3, các đơn vị chủ lực của Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 cùng với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân tiếp tục truy quét tàn quân địch ở Huế, khu 3 Phú Lộc, khu vực từ Lăng Cô đến đèo Hải Vân, của Thuận An...

Sau 22 ngày đêm cùng Quân đoàn 2 chiến đấu liên tục khẩn trương, quân và dân Trị - Thiên - Huế đã giành được thắng lợi nhanh chóng và trọn vẹn. Đây là thắng lợi to lớn nhất, triệt để nhất, là chiến công rực rỡ nhất của quân và dân Trị - Thiên trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ. Tiếp theo chiến thắng của ta ở Quảng Trị, tại Thừa Thiên - Huế, quân địch đã bị quật ngã trước đòn tiến công quyết liệt, táo bạo và thần tốc của ta, khiến cho chúng tuy quân đông, vũ khí phương tiện hiện đại vẫn không kịp trở tay, chịu thất bại hoàn toàn. Với chiến thắng trên chiến trường Trị - Thiên - Huế, ta đã đập tan lá chắn mạnh nhất của địch ở phía bắc, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch ở đây1, giành và giữ được tuyệt đại bộ phận nhân dân ở lại quê hương, cùng với lực lượng vũ trang tiến công tiêu diệt địch; sau đó lại kịp thời đón hết số dân bị địch cưỡng ép di tản trở về quê hương thu hồi toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật, vũ khí, trang bị của địch.

Ngày 28 tháng 3 năm 1975, Quân ủy Trung ương gửi điện biểu dương các lực lượng tham gia chiến dịch giải phóng Trị - Thiên - Huế. Quân ủy Trung ương khẳng định: "Việc đánh chiếm và giải phóng thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược và chính trị rất lớn. Chiến công đó làm cho nhân dân cả nước nức lòng phấn khởi, làm cho địch suy yếu thêm một bước mới hết sức nghiêm trọng, các đồng chí đã góp phần làm rạng rỡ truyền thống đấu tranh anh dũng kiên cường của quân và dân cả nước ta".
______________________________________________
1. Số quân địch bị tiêu diệt và tan rã ở chiến trường Trị - Thiên - Huế xuân 1975 gồm: 59.000 tên, trong đó có 3.781 sĩ quan và 14.000 nhân viên ngụy quyền các cấp.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:11:48 pm

*

*       *


Chiến thắng vang dội ở Trị - Thiên - Huế hòa chung với chiến thắng Tây Nguyên, tạo ra thời cơ chiến lược lớn, dẫn tới thắng lợi trọn vẹn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Trước thời cơ "nghìn năm có một" này, quân và dân Trị - Thiên cũng như Quân khu 4 với trách nhiệm to lớn và tình cảm sâu nặng đối với đồng bào miền Nam, bất chấp mọi gian khổ, hy sinh, dồn sức lực và của cải chi viện cho các cánh quân trên chiến trường đang thần tốc truy đuổi quân thù đến sào huyệt cuối cùng của chúng.

Quê hương vừa giải phóng, biết bao công việc bộn bề, phức tạp, song với tinh thần tất cả cho tiền tuyến, ngày 27 tháng 3 năm 1975, Đảng ủy mặt trận và Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên đã quyết định tăng cường phần lớn các đơn vị chủ lực của quân khu cùng vũ khí, trang bị và lương thực cho Quân đoàn 2 để tiếp tục tiến công địch1. Nhân dân Trị - Thiên — Huế lưu luyến tiễn đưa Quân đoàn 2 và con em mình vượt đèo Hải Vân vào phía nam, phối hợp cùng các đơn vị và nhân dân địa phương kịp thời giải phóng Đà Nẵng, các tỉnh duyên hải miền Trung, kịp thời tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Thời cơ lịch sử đã tới, đòi hỏi hậu phương phải dốc sức tăng cường lực lượng cho chiến trường. Nhiều đơn vị bộ đội của quân khu dồn dập lên đường vào miền Nam chiến đấu. Sau khi sư đoàn 316 vào Tây Nguyên tham gia tiến công Buôn Ma Thuột giải phóng Tây Nguyên, sư đoàn 341 lại hành quân thần tốc vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngoài hai sư đoàn bộ binh, trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, Quân khu 4 còn bổ sung cho chiến trường miền Nam 13 tiểu đoàn bộ binh, trung đoàn 166 và tiểu đoàn 12 pháo 130 ly, tiểu đoàn 2 xe tăng, 100 chiến sĩ lái xe giỏi.


Ở Lào, mặc dầu Hiệp định về lập lại hòa bình thực hiện hòa hợp dân tộc đã được ký kết, nhưng do bản chất xảo trá của lực lượng phản động phái hữu, sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của bạn vẫn diễn ra phức tạp. Theo yêu cầu của bạn, lực lượng vũ trang và chuyên gia tình nguyện của Quân khu 4 tiếp tục hỗ trợ cho Pa-thét Lào và quần chúng cách mạng tiến công địch và nổi dậy giành chính quyền.

Sư đoàn 31 tình nguyện của quân khu đã cử ba tổ trinh sát giúp bạn nắm địch ở Xa La Phu Khum, Sảm Thông, Long Chẹng, đồng thời cơ động trung đoàn 886 (thiếu tiểu đoàn 7), đại đội pháo 130 ly và đại đội súng máy 14,5 ly vào Sảm Thông, cơ động đại đội pháo nòng dài 85 ly hỗ trợ cho bạn hướng Bom Lọng...

Được sự hỗ trợ của quân tình nguyện, lực lượng vũ trang Pa-thét Lào liên tiếp tiến công lực lượng phái hữu Viêng Chăn, nổi bật là trận đánh lữ đoàn 2 của Vàng Pao ở ngã ba Xa La Phu Khum. Tiếp đó, với sự yểm trợ của pháo binh và xe tăng ta, bộ đội Lào liên tiếp truy kích địch dọc đường số 13, thu thắng lợi lớn. Bị thất bại nặng nề, Vàng Pao bỏ vị trí chỉ huy, để cho các đơn vị thuộc quyền "tùy nghi di tản". Thừa thắng, lực lượng Pa-thét Lào tiếp tục tiến sâu vào vùng địch kiểm soát. Đến ngày 31 tháng 5, lực lượng Pa-thét Lào và lực lượng trung lập yêu nước đã triển khai 40 trên 44 tiểu đoàn vào các khu vực thuộc lực lượng của chính phủ Viêng Chăn kiểm soát, tạo được thế vững chắc về quân sự trên những địa bàn quan trọng, làm chỗ dựa cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền thắng lợi.

Tại Viêng Chăn, đầu tháng 5 năm 1975, hàng chục nghìn nhân dân liên tiếp đấu tranh chống bọn phản động Lào, ủng hộ cương lĩnh 18 điểm của Mặt trận yêu nước Lào. Phong trào từ Viêng Chăn lan nhanh ra các thành phố, thị xã, thị trấn và tỏa đến nông thôn. Chớp thời cơ thuận lợi này, các ban lãnh đạo nhân dân kịp thời đưa kiến nghị yêu cầu quân Giải phóng Lào vào bảo vệ các thành phố và bảo vệ nhân dân. Trước áp lực của quần chúng cách mạng, Hoàng thân Phu-ma buộc phải chấp nhận yêu sách để cho Quân giải phóng vào thành phố.

Dựa vào cơ sở pháp lý, Quân giải phóng Lào tiến nhanh vào các thành phố tước vũ khí quân đội phái hữu, từng bước đập tan bộ máy chính quyền phản động của địch, xóa bỏ sự can thiệp của Mỹ ở Lào, thành lập hệ thống chính quyền nhân dân cách mạng từ trung ương đến cơ sở. Nước Lào thực sự độc lập.

Chiến thắng của quân và dân Lào năm 1975 hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước là kết quả của quá trình chiến đấu bền bỉ, kiên cường và anh dũng của lực lượng vũ trang và nhân dân các bộ tộc Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Đó cũng là thắng lợi của tình đoàn kết đặc biệt thủy chung của cách mạng hai nước Lào - Việt Nam. Quân và dân Quân khu 4 tự hào đã kề vai, sát cánh thủy chung cùng bạn trong những năm tháng đấu tranh gian khổ, ác liệt, đầy hy sinh và thử thách; góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cách mạng Lào năm 1975.

*

*       *

Thực hiện quyết tâm chiến lược hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất Tổ quốc, quân và dân Quân khu 4, Quân khu Trị - Thiên dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng, đã vượt qua mọi hy sinh thử thách, hăng hái phục vụ chiến đấu và chiến đấu dũng cảm, liên tiếp đánh bại các bước tiến hành chiến tranh tàn bạo và các thủ đoạn phá hoại Hiệp định Pa-ri của địch, cùng với cả nước hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ giải phóng miền Nam và cùng với quân, dân Lào đưa sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Lào đến thắng lợi trọn vẹn.

Thắng lợi của quân và dân Quân khu 4 trên mảnh đất truyền thống từ Tam Điệp đến đèo Hải Vân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là sự thể hiện tinh thần yêu nước thiết tha và khả năng to lớn của nhân dân ta đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; đồng thời là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh đưa cách mạng đến thắng lợi, đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng vũ trang ba thứ quân trong tác chiến trên một địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước.
___________________________________________
1. Quân khu Trị - Thiên tăng cường cho Quân đoàn 2 gồm: ba trung đoàn bộ binh 4, 46 và 471, tiểu đoàn 403 pháo binh và toàn bộ đạn pháo 130 ly, 1.000 tấn gạo. Quân đoàn 2 được chọn xe vận tải GMC, xe tăng, xe bọc thép và các loại đạn chiến lợi phẩm còn sử dụng được để đảm bảo cho chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:30:47 pm

CHƯƠNG KẾT

Suốt 30 năm, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quân và dân Quân khu 4 đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng cả nước, cũng như đối với nghĩa vụ quốc tế.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc trên địa bàn quân khu đã nêu cao tinh thần yêu nước, tự lực tự cường, vừa đánh địch vừa xây dựng và ổn định cuộc sống về mọi mặt, cùng cả nước tiến hành cuộc chiến tranh cực kỳ gian khổ, chịu nhiều mất mát, hy sinh nhưng đã giành thắng lợi vẻ vang.

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh là phần đất của quân khu có được cuộc sống hòa bình. Công cuộc xây dựng cuộc sống mới trong hòa bình đã nhanh chóng tạo nên những biến đổi sâu sắc, toàn diện về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh... ở địa bàn quân khu, nâng cao được bàn lĩnh chính trị, tri thức quân sự của từng cán bộ, chiến sĩ, từng người dân. Đây là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho quân khu có thế đứng vững chắc để bước vào cuộc chiến đấu mới vô cùng gay go, quyết liệt.

21 năm chống Mỹ, cứu nước là chặng đường lịch sử đầy gian khổ, hy sinh, nhưng hết sức vẻ vang, oanh liệt của dân tộc. Trong suốt thời gian đó, Quân khu 4 cùng lúc thực hiện cả hai nhiệm vụ chiến lược: vừa tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam, vừa tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa; vừa làm nhiệm vụ tiền tuyến, vừa làm nhiệm vụ hậu phương, vừa làm nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào, Cam-pu-chia.

Trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang ấy, tiền tuyến, hậu phương quân khu đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ.

Ở hậu phương lớn, giặc Mỹ gây chiến tranh phá hoại, mục đích là làm lung lay quyết tâm giải phóng miền Nam của quân và dân ta, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc.

Trong cuộc chiến đấu này, vị trí Quân khu 4 càng trở nên quan trọng. Việc đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch trên địa bàn Quân khu 4 là vấn đề có ý nghĩa chiến lược tác động lớn đến toàn bộ sự nghiệp bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam. Do đó, cuộc đọ sức giữa ta và địch diễn ra ở đây vô cùng quyết liệt. Giặc Mỹ đánh phá Quân khu 4 trước tiên và cũng là nơi chúng đánh phá đến phút cuối cùng trước khi kết thúc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Nhưng các mục tiêu mà Mỹ đề ra đã không đạt được, trái lại chúng còn bị thất bại nặng nề.

Trên tiền tuyến lớn miền Nam, Mỹ - ngụy chọn Trị - Thiên làm địa bàn chia cắt về chiến lược, chúng tổ chức tại đây hệ thống phòng ngự ngăn chặn hướng tiến công chiến lược của ta từ miền Bắc, đồng thời củng cố thực lực và khi có điều kiện thì tiến công xâm lược miền Bắc, trước hết là nam Quân khu 4. Trị - Thiên - Huế trở thành đầu cầu chiến lược quan trọng để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế, nơi thử thách sức mạnh hai chế độ, giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng, nơi tụ điểm quyết liệt của chiến tranh.

Để chiến thắng địch, quân dân Trị - Thiên - Huế đã phát huy sức mạnh tổng hợp, đánh địch bằng cả quân sự chính trị, trên cả ba vùng chiến lược, kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ chính trị của địa phương với nhiệm vụ toàn cục, giữa hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam với bảo vệ miền Bắc.

Được sự chi viện to lớn của miền Bắc, của hậu phương trực tiếp Quảng Bình, Vĩnh Linh và Thanh - Nghệ - Tĩnh ruột thịt, quân và dân Trị - Thiên - Huế đã vượt qua muôn vàn khó khăn, hy sinh, gian khổ, giành được thắng lợi to lớn.

Từ tiền tuyến đến hậu phương, quân và dân Quân khu 4, được tôi luyện trong cuộc chiến đấu dài ngày. Các Đảng bộ ở đây trưởng thành về mọi mặt. Lực lượng vũ trang và nhân dân trưởng thành nhanh chóng cả về trình độ chính trị và năng lực tổ chức. Chiến tranh nhân dân phát triển cao, đã rèn luyện nên những con người mới, đánh giặc giỏi, sản xuất giỏi, có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quốc tế vô sản cao cả, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, đoàn kết, tin tưởng vô hạn vào Đảng, vào Bác Hồ, vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Là một địa bàn có ý nghĩa chiến lược, bằng việc hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình qua hai cuộc kháng chiến, Quân khu 4 đã góp phần vào thắng lợi to lớn của cách mạng cả nước, cũng như đối với sự nghiệp cách mạng của Lào và Cam-pu-chia.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kế thừa và phát huy truyền thống chống ngoại xâm, quân và dân Quân khu 4 đã lao động, chiến đấu sáng tạo, mưu trí, góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghệ thuật quân sự cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh.

Từ Xô-viết Nghệ - Tĩnh, hình thức chính quyền công nông phôi thai của cách mạng, quân và dân Quân khu 4 đã bền bỉ chiến đấu, thiết tha xây dựng một chế độ mới công bằng, không có người bóc lột người - một khát vọng lâu đời đã phải đánh đổi bằng sự hy sinh vô cùng to lớn. Vì vậy, dù phải trải qua bao thử thách, Đảng bộ, quân và dân quân khu vẫn trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, với tư tưởng Hồ Chí Minh, với con đường mà Bác Hồ vô vàn kính yêu và nhân dân ta đã chọn.

Quân khu đã giành thắng lợi vẻ vang, nhưng trên chặng đường 30 năm của cuộc chiến tranh, cũng không tránh khỏi những vấp váp, sai sót, hạn chế đến bước tiến của sự nghiệp cách mạng. Đó là tư tưởng hữu khuynh trong đấu tranh giai cấp, ảo tưởng hòa bình trong thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ và Hiệp định Pa-ri; là sự kéo dài quan niệm "khu đệm" Trị - Thiên, tư tưởng thỏa mãn, dừng lại sau chiến thắng chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, chủ quan không dự kiến hết những tình huống khó khăn phức tạp diễn ra trên địa bàn quân khu sau cuộc Tổng tiến công nổi dậy tết Mậu Thân (1968) cũng như cuộc tiến công Quảng Trị (1972)... Tuy vậy, thực tiễn sống động của tình hình đã giúp lãnh đạo và chỉ huy các cấp kịp thời rút ra bài học, nhằm đảm bảo cho thắng lợi ngày càng vững chắc hơn.

Phần đất Quân khu 4 qua các thời kỳ lịch sử là điểm kẻ thù thường thực hiện âm mưu chia cắt đất nước ta. Vì vậy nhiệm vụ chống chia cắt, giữ vững sự thống nhất của đất nước, tạo bàn đạp cơ động tiến công kẻ thù luôn luôn là nhiệm vụ hàng đầu, là sứ mệnh chính trị của quân và dân Quân khu 4.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:31:52 pm

Suốt 30 năm trong hai cuộc kháng chiến, dải đất này luôn thể hiện vai trò, vị trí vừa hậu phương, vừa tiền tuyến. Mối quan hệ nằm trong một thể thống nhất, hậu phương tiền tuyến cùng hỗ trợ lẫn nhau để chiến đấu, tồn tại và phát triển. Trong mối quan hệ tiền tuyến - hậu phương, vai trò hậu phương luôn luôn quyết định tính chất chiến lược của địa bàn. Ý thúc được tầm quan trọng vị trí chiến lược Quân khu 4, Đảng bộ và quân, dân quân khu đã ra sức xây dựng thành căn cứ hậu phương vững mạnh mà nội dung chủ yếu là xây dựng chế độ mới - chế độ Dân chủ nhân dân trong kháng chiến chống Pháp và xây dựng chế độ Xã hội chủ nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ. Đó là động lực to lớn để phát huy hết khả năng, tiềm lực của địa phương trong chiến tranh.

Kháng chiến đi đôi với kiến quốc, phản đế đi đôi với phản phong; vừa làm nhiệm vụ giải phóng, vừa làm nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ; chiến đấu gắn liền với sản xuất..., giải quyết tốt mối quan hệ trên luôn là nhiệm vụ chiến lược nặng nề của Quân khu 4. Nét đặc thù về tính chất địa bàn luôn đòi hỏi quân và dân nơi đây nắm vững quy luật giành thế chủ động, chống thủ đoạn chia cắt của các thế lực ngoại xâm.

Thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả, với lợi thế về vị trí địa lý trong suốt 30 năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quân và dân Quân khu 4 luôn kề vai sát cánh cùng bạn Lào chống kẻ thù chung. Mỗi bước trưởng thành của bạn không tách rời tình đoàn kết chiến đấu thủy chung Việt - Lào, đồng thời cũng chính là nhân tố bảo đảm sự vững chắc cho địa bàn quân khu trước mọi thủ đoạn tiến công đánh phá của kẻ thù.

Do vị trí địa lý, điều kiện thiên nhiên, vùng đất, con người ở đây đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình dựng nước và giữ nước. Một vùng đất mà ông cha ta xưa cho: "tiến có thế công - phòng có thế thủ", có đủ yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa", là nơi "địa linh, nhân kiệt”. Không phải ngẫu nhiên hàng nghìn năm qua, mỗi khi đất nước đứng trước tai họa bị ngoại bang thôn tính, ông cha ta thường vào đây chiêu mộ nhân tài, tổ chức kháng chiến để thu phục non sông về một mối.

Thực tiễn sống động của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở địa bàn Khu 4 càng thể hiện rõ một đặc trưng nổi bật: chiến tranh dẫu ác liệt, nhiều gian khổ hy sinh, người dân ở đây vẫn lạc quan tin tưởng. Tất cả đều nô nức lên đường, người già như trẻ lại, trẻ em khôn trước tuổi, thanh niên trùng điệp ra chiến trường, phụ nữ đảm đang từ việc nhà, việc sản xuất đến việc chiến đấu. Ngoài tiền tuyến người trước ngã, người sau tiếp bước. Ở hậu phương, tất cả già, trẻ, gái, trai..., triệu người như một, ra sức thi đua sản xuất, chiến đấu, phục vụ giao thông vận tải... Toàn dân cùng một mục tiêu là đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc.

Ý chí và niềm lạc quan cách mạng của người dân ở đây có cội rễ từ truyền thống chống ngoại xâm kiên cường từ hàng nghìn năm lịch sử, từ phong trào Xô-viết Nghệ - Tĩnh những năm 1930 - 1931 và đỉnh cao là tư tưởng Hồ Chí Minh - "Tinh hoa của dân tộc, lương tâm của thời đại”, nhưng cũng chính là con người rất bình dị của xứ sở này.

Luôn trung thành với Đảng, với Bác Hồ, với cách mạng, trong thử thách ác liệt của chiến tranh, biết bao người dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang quân khu đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng từ những hành động bình thường. Một bà mẹ ở bến phà Long Đại đã dành những quà trứng cho thương binh. Xóm Bàu xã Vĩnh Kim (Vĩnh Linh), dưới ách thống trị của thực dân Pháp đói nghèo cơ cực, sau Cách mạng tháng Tám đã "thay da đổi thịt". Khi không quân và hải quân Mỹ đánh phá quyết liệt, nhân dân ở đây sống chết bám làng, bám đất chiến đấu, sản xuất, quyết không chịu khuất phục trước quân thù. Gia đình cụ Ngân (Quảng Bình) có bốn con, mặc dầu trong một chuyến vận tải ba người đã hy sinh, cụ vẫn quyết cho người con cuối cùng "tiếp tục tay chèo, chở hàng ra tiền tuyến mà các anh nó còn bỏ dở".

Mẹ Diệm ở xã Lĩnh Sơn (Nghệ An) suốt cả cuộc đời tần tảo, gánh vác việc gia đình, hậu phương cho ba thế hệ: chồng, con, cháu đi đánh giặc. Mặc dù chống và con trai đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, mẹ vẫn động viên đứa cháu độc nhất của mình đi đánh Mỹ...

Cùng với ý chí, lòng trung thành cách mạng, quân và dân Khu 4 luôn nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, tư tưởng cách mạng tiến công, dũng cảm, mưu trí, tự lực tự cường, đoàn kết trong chiến đấu.

Ngay từ những phút đầu, khi máy bay Mỹ tiến hành đánh phá, hủy diệt, gây bao tổn thất, thương đau ở hậu phương Quân khu 4, thì quân và dân nơi đây đã kiên cường đánh trả quyết liệt với mọi thứ vũ khí trong tay. Khẩu hiệu đầy khí thế tiến công - "Nhằm thẳng quân thù, bắn" của Nguyễn Viết Xuân đã trở thành hành động phổ biến. Dân quân xã Tiến Hóa (Quảng Bình) đã dùng thang mây, vượt lèn cao, dốc đứng, đưa súng máy lên đỉnh lèn Bảng cao gần 1.000 mét và bắn rơi tại chỗ một F4 Mỹ. Dân quân Quỳnh Long (Quỳnh Lưu - Nghệ An) dùng thuyền nan tiếp cận tàu chiến Mỹ và trừng trị lũ "cướp biển" này bằng súng B40. Nữ dân quân Nguyễn Thị Xuân, giáo dân xã Quảng Phúc (Quảng Bình), một mình, một súng, một trận địa bắn rơi tại chỗ một máy bay F4.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:33:37 pm

Trên một trận giao thông vận tải, chỉ trong một thời gian ngắn, máy bay Mỹ đã ném xuống ngã ba Đồng Lộc hơn 30 nghìn tấn bom đạn, hòng hủy diệt mọi mầm sống nơi đây. Nhưng ở chính "túi bom" này vẫn ngân lên những lời tâm tình đầy lạc quân của những người con gái: "Ở đây vui lắm mẹ ạ, ban đêm chúng đến thắp đèn để chúng con làm đường, ban ngày chúng đem bom giết cá để chúng con cải thiện. Bom giặc có thể rung chuyển đồi núi, nhưng làm sao rung chuyển được trái tim chúng con...”1.

Mặc bom đạn giặc đánh phá ác liệt ngày đêm, quân và dân Quân khu 4 vẫn chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, tổ chức đời sống vui tươi. Những cánh đồng cao sản ngày càng nhiều thêm, những cơ sở công nghiệp vẫn không ngừng cung cấp những mặt hàng cho nhân dân; khắp mọi miền quê, các em nhỏ vẫn cấp sách đến trường. Nghệ An có xã Diễn Kỷ với phong trào "đội bom đi học". Hà Tĩnh có xã Cẩm Bình, điển hình của ngành giáo dục cả nước về phát triển văn hóa giáo dục...

Dũng cảm, lạc quan trong chiến đấu; bền bỉ, sáng tạo trong khó khăn thiếu thốn, cũng là những biểu hiện rất đáng tự hào của quân dân Khu 4 trong những năm chiến tranh quyết liệt.

Để chiến thắng một tên đế quốc tàn bạo, có nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại như đế quốc Mỹ, cùng với quân và dân cả nước, quân và dân trong Quân khu 4 không những chiến đấu dũng cảm, mà còn phải thông minh, tài trí để tìm ra cách đánh tốt nhất, đạt hiệu quả cao nhất. Giặc Mỹ càng xảo quyệt, quân, dân ta càng mưu trí quyết giành thắng lợi ngày càng lớn hơn.

Để tạo nên sức mạnh tại chỗ, chiến đấu lâu dài, chủ động trong mọi tình huống, quân và dân Khu 4 luôn nêu cao tinh thần tự lực tự cường, khó khăn cùng nhau khắc phục, thiếu thốn cùng nhau chịu đựng, giữ vững nếp sống trong sạch lành mạnh, chắt chiu từng đồng tiền, bắt gạo, để nuôi sống con em ăn no đánh thắng. Trong những ngày chiến tranh khốc liệt, thiếu thốn nhất "hạt gạo phải cắn làm ba", nhân dân vẫn luôn bảo nhau giữ tròn đạo lý: "đói cho sạch, rách cho thơm", “của công cho không lấy, thấy bảo quản"...

Càng trong gian khổ ác liệt, tinh thần đoàn kết càng gắn bó keo sơn: "một miếng khi đói, bằng một gói khi no", "lá lành đùm lá rách", nhân dân đã nhường áo, sẻ cơm cho nhau khi hoạn nạn. Nơi nào địch đánh phá ác liệt thì nơi đó không ít tấm gương: hiến máu cho người bị thương, góp sữa nuôi các cháu mất mẹ; chia nhà, nhường hầm cho những gia đình bị địch tàn phá. Trong chiến đấu thì giành khó khăn nguy hiểm về mình, nhường thuận lợi cho bạn. Bộ đội chiến đấu ở đâu là ở đó có hình ảnh đồng bào giúp lấy lá ngụy trang, đào công sự, giặt giũ, vá may, cử người làm pháo thủ, anh nuôi... Nhiều mẹ, nhiều chị thức quạt suốt đêm cho thương binh ngủ; hàng tháng trời cõng thương binh đi đại tiện, tiểu tiện, dành cả vườn chè đun nước cho thương binh...

Trên tiền tuyến Trị - Thiên, tinh thần "Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám giặc, đánh giặc” là biểu hiện của cuộc đấu tranh anh hùng, đầy hy sinh, gian khổ, quyết liệt. Nhiều cấp ủy huyện, xã phải tổ chức lại hàng chục lần; nhiều chi bộ đảng mặc dầu bị kẻ thù chà xát khốc liệt vẫn kiên cường bám dân để đánh địch, nhiều gương anh hùng bám trụ nổi tiếng như Trần Thị Tâm, Nguyễn Thị Lài...

Tình đồng chí đồng đội, tình hậu phương - tiền tuyến, tình quân dân thắm thiết đều là những biểu hiện của mối quan hệ truyền thống đẹp đẽ, bình dị giữa những con người Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ.

Qua 30 năm chiến tranh, đặc biệt là những năm kháng chiến chống Mỹ, quân và dân Khu 4 càng thể hiện rõ sự trung thành vô hạn với Đảng, với cách mạng; dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu; nhiệt tình, hăng say cần cù trong công tác; đoàn kết, giản dị, lành mạnh trong cuộc sống đời thường... Những đặc trưng cơ bản này là yếu tố chính trị - tinh thần của những con người trên vùng đất vốn có truyền thống đánh giặc, là cội nguồn tạo nên sức mạnh cực kỳ to lớn để chiến thắng kẻ thù.

Những nguyên nhân cơ bản để quân và dân Khu 4 giành được thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là:

- Có đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng, có sự lãnh đạo sáng suốt của Ban Chấp hành Trung ương đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, có sự chỉ đạo kịp thời và sáng tạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng.

- Có sự chi viện đắc lực, sự phối hợp, cổ vũ to lớn của quân, dân miền Bắc và cả nước; sự giúp đỡ hết lòng của bè bạn quốc tế; sự liên minh chặt chẽ thủy chung với nước bạn Lào.

- Có sức mạnh to lớn của truyền thống cách mạng vẻ vang, cùng với sức mạnh tiềm tàng của chế độ mới - chế độ Dân chủ nhân dân trong kháng chiến chống Pháp và chế độ Xã hội chủ nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ.

- Cán bộ, chiến sĩ thuộc các lực lượng vũ trang trong quân khu, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của các cấp bộ Đảng, đã nêu cao lòng trung thành vô hạn với Đảng với nhân dân, giữ vững vai trò nòng cốt, xung kích trong thế trận chiến tranh nhân dân vĩ đại.

- Trong các nguyên nhân trên, sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Trung ương Đảng; sự lãnh đạo, chỉ huy của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cùng với trình độ tổ chức, chỉ đạo, chỉ huy của các cấp trên các chiến trường và các địa phương là nguyên nhân bao trùm có ý nghĩa quan trọng nhất.
______________________________________________
1. Trích thư của Võ Thị Tần, tiểu đội trưởng nữ thanh niên xung phong (10 cô gái) ở ngã ba Đồng Lộc, gửi cho mẹ, ngày 20 tháng 7 năm 1968.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:35:02 pm

Thực tiễn phong phú của 30 năm chống ngoại xâm dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã cho Quân khu 4 những kinh nghiệm quý:

1. Bám sát đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhận rõ đặc điểm, vị trí, nhiệm vụ, đánh giá đúng âm mưu thủ đoạn cụ thể của địch, để có chủ trương, quyết tâm đúng, làm cho các lực lượng của quân khu luôn nhận rõ vị trí, nhiệm vụ chính trị, mục tiêu hành động, đứng vững trên vị trí của mình.

Từ trước đến nay, trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm ở mỗi bước ngoặt hay bước phát triển mới của cách mạng đều có những thuận lợi mới, nhưng cũng nảy sinh những khó khăn mới.

Trong suốt quá trình lãnh đạo xây dựng và chiến đấu, Quân khu không ngừng bám sát đường lối, nhiệm vụ của Đảng đánh giá đúng âm mưu thủ đoạn của địch đối với địa bàn, để xác định nhiệm vụ cho các lực lượng vũ trang quân khu, cũng như của từng địa phương, đơn vị sát hợp với từng thời kỳ cách mạng.

Trong kháng chiến chống Pháp, sau khi mặt trận Huế vỡ, tình hình vô cùng phức tạp, nhưng Đảng bộ Thừa Thiên chủ trương: "Mất đất, chưa phải mất nước. Chúng ta quyết không để mất dân, chết không rời cơ sở. Chúng ta nhất định thắng", nên đã kịp thời ngăn chặn bước đi xuống của phong trào, đưa cuộc kháng chiến ở Thừa Thiên từng bước đi lên để cuối cùng giành thắng lợi.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhờ sớm nắm bắt quan điểm bạo lực cách mạng, Bắc - Nam thống nhất, Đông Dương là một chiến trường, Quân khu đã chủ động ứng phó được trước mọi tình hình biến chuyển. Chủ trương T - 01 của Quân khu 4 trong thời điểm miền Bắc còn tạm thời hòa bình là chủ trương đúng đắn, là sự bắt mạch đúng nhiệm vụ, bảo đảm cho lực lượng vũ trang quân khu sẵn sàng trước mọi tình thế có thể xảy ra.

Khi ta mở mặt trận Đường số 9, Quân khu đã xác định vị trí nhiệm vụ chính trị của mình lúc này là: "Quân khu 4 cùng với Trị - Thiên, đường số 9 và Trung - Hạ Lào thành một chiến trường, nam Quân khu 4 cùng với đường số 9 là một mặt trận”. Từ nhận thức đó, các lực lượng vũ trang quân khu ở phía sau đã khẩn trương chuẩn bị tăng cường cho các hướng. Các lực lượng vũ trang trên đất Vĩnh Linh, Quảng Bình phối hợp chặt chẽ với mặt trận Đường số 9, vừa chống chiến tranh phá hoại, vừa làm tròn nhiệm vụ hậu phương chiến dịch, vừa sẵn sàng đối phó âm mưu tiến công bằng bộ binh của đế quốc Mỹ. Khi miền Nam bước vào giai đoạn Tổng tiến công, nổi dậy, Quân khu nhận rõ nhiệm vụ của mình lả: "Đội dự bị trực tiếp của Trị - Thiên và Đường số 9". Trung đoàn 27 ra đời trong hoàn cảnh đó. Vừa thành lập, trung đoàn đã trực tiếp đối đầu với Mỹ - ngụy và giành chiến thắng ngay từ trận đầu.

Trong bảy tháng địch tiến hành "ném bom hạn chế”, trước sự hủy diệt tàn khốc của bom đạn Mỹ, Quân khu đã xác định vị trí của mình lúc này là "đại biểu cho miền Bắc, quyết đánh thắng hoàn toàn chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ". Nhận rõ vị trí, trách nhiệm và vinh dự ấy, lực lượng vũ trang và nhân dân quân khu càng vững vàng trước mọi thử thách. Đây cũng là thời điểm xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân anh hùng trên mặt trận đánh địch, bảo đảm giao thông vận tải...

Ở Trị - Thiên, sau khi cơ sở cách mạng và phong trào đấu tranh của đồng bằng bị tổn thất nặng, nghị quyết của Tỉnh ủy Thừa Thiên (tháng 1 năm 1957) của Tỉnh ủy Quảng Trị (tháng 10 năm 1957) đều xác định nội dung quan trọng là phải xây dựng miền núi, lập căn cứ làm chỗ đứng chân và chỗ dựa để khôi phục lại đồng bằng. Chủ trương đúng đắn đó có ý nghĩa quyết định tới toàn bộ quá trình phát triển của phong trào cách mạng Trị - Thiên.

Đến năm 1962, phong trào ở Trị - Thiên phát triển còn chậm và yếu, một mặt do lực lượng địch đông và mạnh hơn ta nhiều, mặt khác, quan niệm "sách lược khu đệm", đã hạn chế tư tưởng tích cực tiến công. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, tỉnh ủy các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên đã quyết nghị: “Phải khẩn trương đưa phong trào lên một cách khéo léo, từng bước vững chắc, nắm vững đấu tranh chính trị là chủ yếu, đồng thời cần nâng cao hoạt động vũ trang... Khéo kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang...". Với chủ trương đúng đắn đó, phong trào ở Trị — Thiên — Huế năm 1963 đã có những bước phát triển mới.

Thực tế cho thấy, dù tình huống khó khăn phức tạp đến đâu, nếu lãnh đạo quán triệt quan điểm giai cấp, tư tưởng cách mạng tiến công, sẽ nắm bắt, đánh giá chuẩn xác tình hình, có chủ trương hành động đúng đắn, kịp thời giành thắng lợi. Ngược lại, để tư tưởng hữu khuynh chi phối, đề ra chủ trương không đúng, sẽ bỏ lỡ thời cơ, thậm chí còn phải chịu tổn thất.
_______________________________________________
1. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ quân khu lần thứ hai (1962) để ra chủ trương T = 0 (không còn thời gian, tất cả phải sẵn sàng).


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:36:42 pm

2. Động viên toàn dân phát huy vai trò chiến tranh nhân dân, góp phần đánh bại các loại hình chiến tranh xâm lược.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quần chúng nhân dân trong chiến tranh đã được khẳng định. Bước vào thời kỳ đánh Mỹ, chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử chiến tranh ở nước ta. Nhưng trên cơ sở nắm vững quan điểm chiến tranh nhân dân, với ý chí quyết thắng cao, Đảng bộ Quân khu 4 đã lãnh đạo nhân dân và lực lượng vũ trang xây dựng ngay từ đấu thế trận chiến tranh nhân dân “đất đối không” đánh thắng trận đầu, thắng liên tục. Thực tiễn đó đã đưa lại niềm tin rất lớn trong nhân dân. Đảng tin quần chúng, càng tích cực giáo đục, tổ chức mọi lực lượng thành đội ngũ chiến đấu. Quần chúng tin Đảng, trước thử thách mới nặng nề, ác liệt, càng tỏ rõ sức mạnh phi thường cả về lòng dũng cảm và trí thông minh sáng tạo. Sự tác động qua lại đó, đã thúc đẩy phong trào quần chúng triển khai thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phong phú, có hiệu quả.

Quần chúng vốn có sức mạnh tiềm tàng, nhưng phát huy được đến mức độ nào, tùy thuộc ở vai trò lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Thực tiễn phong phú của cuộc chiến tranh nhân dân trên địa bàn Khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ cho thấy: muốn phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân, không những phải làm tốt công tác phát động tư tưởng, mà còn phải biết phát huy sức mạnh của quần chúng một cách có tổ chức khoa học.

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Quân khu 4 đã có một hậu phương lớn, sức mạnh quần chúng đã có chuyển biến về chất. Vì vậy, khi tiến hành kháng chiến chống Mỹ, Quân khu không chỉ chủ trọng yếu tố chính trị, tinh thần mà còn phải chú trọng cả yếu tố về tổ chức. Trong những năm kháng chiến, hệ thống tổ chức chính quyền các cấp và tổ chức quần chúng đã phát huy tính ưu việt của mình trong quá trình phát động toàn dân tham gia chiến tranh. Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp là nơi động viên tổ chức lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu, nơi giải quyết chính sách, đảm bảo đời sống, tiêu biểu cho sức mạnh, sự vững chắc của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nông thôn.

Các cơ quan Nhà nước như bưu điện, y tế, thương nghiệp đã trở thành một bộ phận của ngành thông tin liên lạc quân sự, của ngành quân y, của công tác hậu cần quân đội. Các đoàn thể quần chúng như phụ nữ, thanh niên, phụ lão, thiếu niên đều tìm được chỗ đứng để phát huy tác dụng hội viên, đoàn viên của mình tham gia kháng chiến. Các phong trào thanh niên "ba sẵn sàng", phụ nữ "ba đảm đang", các cuộc vận động "tay cày, tay súng", "hai giỏi", phát triển sôi nổi có chất lượng cao, biểu hiện vai trò của các tổ chức quần chúng trong chiến tranh.

Quá trình phát huy sức mạnh quần chúng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu và các tỉnh ủy không ngừng tăng cường vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm cả ba thứ quân; thường xuyên coi trọng xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ, đảm bảo yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tại chỗ, đảm bảo trật tự trị an. Nhờ đó, ngay từ những ngày đầu chiến tranh, ngoài hoạt động có hiệu quả của chủ lực, dân quân tự vệ đã tỏ rõ sức mạnh to lớn của mình. Trong đánh địch, từ tay cày, tay súng, tiến lên kết hợp với tổ chức trực chiến có trọng điểm; từ những đơn vị trang bị vũ khí bộ binh, tiến lên những đơn vị có nhiều loại vũ khí tương đối hiện đại... Trong đảm bảo giao thông vận tải, từ việc lấp hố bom, chỉ đường, thông xe, dân quân, tự vệ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Vĩnh Linh dần dần đảm nhiệm những công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật như phá bom nổ chậm, bom bi, bom từ trường, bắc cầu, ghép phà...

Ở Trị - Thiên - Huế, từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ phong trào du kích miền núi cũng được đẩy mạnh với khẩu hiệu "Mỗi người dân là một du kích, sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi". Các thôn, xã có phương án tác chiến. Quần chúng tham gia rào làng chiến đấu, làm chông, bẫy... Địch càn quét hoặc dùng không quân oanh tạc đều bị du kích chặn đánh, tiêu hao và bắn rơi máy bay. Trong đợt tiến công bao vây vị trí A Lưới, du kích đã diệt nhiều sinh lực địch. Khi Mỹ vào Trị - Thiên, trong tháng 7 năm 1965, tổ du kích ba người do đồng chí Nguyễn Việt Phong chỉ huy đã gây cho chúng nhiều tổn thất.

Thấu suốt đường lối chiến tranh nhân dân, với tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng, quân dân Quân khu 4 đã sáng tạo nhiều hình thức tác chiến linh hoạt: chốt kết hợp cơ động, bố trí hỏa lực nhiều tầng, phục kích đón lõng, vận động phục kích, nghi binh lừa địch, theo dõi nắm chắc quy luật hoạt động địch... chủ động đánh bại mọi hành động của chúng. Trong số 2.183 máy bay Mỹ bắn rơi ở Quân khu 4, có 1.100 chiếc bị bắn rơi vì lưới lửa tầm thấp1.

Ngày 28 tháng 3 năm 1968, dân quân Hà Tĩnh với hỏa lực tầm thấp bắn rơi chiếc máy bay F.111A đầu tiên trên miền Bắc.

Trên mặt trận Đường số 9 và Trị - Thiên - Huế, với thế rộng và hiểm của chiến tranh nhân dân địa phương, kết hợp với hoạt động tác chiến của các binh đoàn chủ lực, ta đã tiến công địch bằng cả "hai chân, ba mũi" trên cả ba vùng chiến lược, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của địch; đập vỡ, tiêu diệt hệ thống phòng ngự vòng ngoài của chúng, tiến lên giải phóng quận lỵ, thị xã, giải phóng nhiều vùng đông dân cư ở đồng bằng.

Hai sư đoàn chủ lực lính thủy đánh bộ Mỹ vừa đưa sang Việt Nam làm nhiệm vụ tiêu diệt chủ lực ta, phải ra vùng rừng núi Trị - Thiên để đối phó với chủ lực miền Bắc và chiến tranh du kích đã như "cá voi mắc cạn". Quân khu 4 càng có thêm điều kiện để diệt Mỹ, chia lửa cho đồng bào miền Nam.

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân trên chiến trường Trị - Thiên - Huế với thắng lợi 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế, 170 ngày đêm vây hãm - Khe Sanh, buộc Mỹ rút chạy, là thắng lợi rất lớn về quân sự, chính trị. Đó là kết quả của việc kết hợp hai phương thức tiến hành chiến tranh, là thế mạnh hai chân, ba mũi, ba vùng ở Trị - Thiên.

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân và chiến dịch tiến công Quảng Trị năm 1972, mặc dù phải huy động binh hỏa lực rất lớn, nhưng ta vẫn giữ được bí mật tuyệt đối, làm cho kẻ địch hoàn toàn bất ngờ. Đó là kết quả của nghệ thuật tổ chức chỉ huy và ý thức chính trị cao của nhân dân Khu 4.
______________________________________________
1. Tiểu đoàn 14 cao xạ 37 ly bắn rơi 121 chiếc. Tiểu đoàn 6 cao xạ 37 ly bộ đội địa phương Vĩnh Linh bắn rơi 109 chiếc. Dân quân, tự vệ toàn quân khu bắn rơi 288 chiếc.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:37:42 pm

3. Kết hợp chặt chẽ tiền tuyến với hậu phương, dân tộc với quốc tế.

Do nhận thức được nhân tố hậu phương với tiền tuyến, đặc biệt là mối quan hệ trực tiếp giữa chiến trường Bình - Trị - Thiên với Thanh - Nghệ - Tĩnh, trong kháng chiến chống Pháp, Liên khu ủy 4 đã có nhiều chủ trương kế hoạch, chăm lo xây dựng, củng cố hậu phương về mọi mặt, tạo nên sự nhất trí triệu người như một, cùng hướng ra tiền tuyến, tất cả để chiến thắng. Thực hiện chủ trương "kháng chiến, kiến quốc”, "bồi dưỡng sức dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh ngày càng mạnh về kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện. Nhờ đó, Thanh - Nghệ - Tĩnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu phương, huy động hàng trăm nghìn người ra tiền tuyến chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đặc biệt là cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

Bước sang thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, ở miền Nam kẻ địch xây dựng Trị - Thiên thành tuyến phòng thủ mạnh và căn cứ xuất phát để có thể tiến công miền Bắc (khi có điều kiện), ra sức ngăn chặn, cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Vì vậy, Trị - Thiên trong chiến tranh chống Mỹ không chỉ là một hướng chiến trường mà còn là tiền tuyến trực tiếp chiến đấu để bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trước hết là bảo vệ Quân khu 4.

Trong chiến tranh phá hoại, Quân khu 4 trở thành "tiền tuyến của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương trực tiếp của miền Nam và Trung - Hạ Lào”. Ở vị trí đó, Quân khu 4 là nơi tập kết cơ sở vật chất kỹ thuật, là đoạn cuối của hành lang chiến lược nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam, là bàn đạp tiến công, là đội dự bị trực tiếp của chiến trường Trị - Thiên, là nơi chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn kịp thời và có hiệu quả nhất. Vì thế nhiệm vụ của quân và dân quân khu hết sức nặng nề. Nhiệm vụ đó chi phối sâu sắc, thường xuyên về tư tưởng và tổ chức trong suốt 21 năm đánh Mỹ.

Nhờ ý thức được tầm quan trọng của địa bàn và nhiệm vụ nên Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu đã giải quyết tốt các mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến, phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt yếu của từng khu vực cụ thể, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chia cắt chiến lược của kẻ địch.

Quân khu đã biết phát huy sức mạnh của hậu phương để chi viện đắc lực cho tiền tuyến và cùng với tiền tuyến đánh bại kẻ địch để bảo vệ hậu phương, có tiến công địch mới bảo vệ được mình.

Với quan điểm "nam Quân khu 4 với Trị - Thiên là một chiến trường, bắc Quảng Trị và Vĩnh Linh là một mặt trận", nhân dân Quảng Bình, Vĩnh Linh đã vì Trị - Thiên mà không tiếc công sức, của cải và tính mạng của mình. Dân quân, du kích Quảng Bình, Vĩnh Linh và cả Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa đã “ăn cơm bờ Bắc, đánh giặc bờ Nam” sát cánh chiến đấu cùng quân dân Trị - Thiên ruột thịt.

Với tinh thần "tiền tuyến có đánh to thắng lớn hay không là do sức mạnh chi viện của hậu phương lớn quyết định; hậu phương có đáp ứng được yêu cầu tiền tuyến hay không, vị trí đầu cầu trung chuyển của Quân khu 4 giữ vai trò quyết định", quân và dân Quân khu 4 đã dồn tất cả sức lực, tài năng, trí tuệ; bằng cả mọi phương tiện thô sơ, hiện đại, vượt lên mọi thử thách hy sinh, thực hiện bằng được quyết tâm chiến lược của Đảng là bảo đảm giao thông thông suốt, chi viện nhiều nhất, tốt nhất, nhanh nhất cho tiền tuyến đánh to thắng lớn.

Chiến tranh là cuộc đọ sức quyết liệt giữa hai bên tham chiến. Sức mạnh của tiền tuyến, chủ yếu lại bắt nguồn từ hậu phương vững mạnh. Trong những năm chiến tranh, Quân khu 4 đã giải quyết linh hoạt và thắng lợi cả hai nhiệm vụ chiến lược là chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi to lớn trên hai nhiệm vụ chiến lược ấy đã làm tăng thêm tiềm lực chính trị, kinh tế, quốc phòng ở các địa phương trong quân khu. Phong trào toàn dân đánh giặc đã tạo nên một tiềm lực quân sự rất mạnh. Lực lượng vũ trang nhân dân địa phương phát triển đến 12 phần trăm dân số (chỉ kể người cầm súng) là lực lượng tại chỗ rất hùng mạnh, có giác ngộ chính trị cao, có trình độ quân sự khá, là đội dự bị dồi dào sung sức, bổ sung cho các lực lượng chủ lực tại chỗ và các chiến trường.

Tri thức quân sự không còn là của riêng quân đội mà đã được phổ cấp cho toàn dân. Nhiều nông dân bình thường, nhiều cô gái đồng quê hiền lành, chất phác, đã trở thành "vua", "kiện tướng" phá bom như Vương Đình Nhỏ, Cao Thị Yến... Các mối quan hệ giữa chiến đấu và sản xuất, giữa động viên toàn dân và bồi dưỡng sức dân, giữa tiến lên phía trước và bảo vệ phía sau, cũng được lãnh đạo quân khu giải quyết một cách chặt chẽ, khoa học. Nhờ vậy, trong bom đạn ác liệt, nơi đây vẫn giữ vững sản xuất. Trên đất lửa Vĩnh Linh, chồng ngã xuống trên luống cày, vợ tiến lên thay chống tiếp bước. Vì sản xuất trong chiến tranh, không chỉ để giải quyết đời sống trước mắt, mà sản xuất là để thắng giặc.

Vừa động viên nhân dân tham gia kháng chiến, các đảng bộ địa phương vừa coi trọng bồi dưỡng sức dân, bảo vệ dân. Các cấp ủy và chính quyền các tỉnh trên địa bàn quân khu vừa lãnh đạo sản xuất, chiến đấu, vừa quan tâm đến chính sách lưu thông phân phối, vệ sinh phòng bệnh, giáo dục, văn hóa, văn nghệ..., tạo cho nhân dân có được cuộc sống tương đối ổn định về mọi mặt; đồng thời tích cực đôn đốc việc đào hầm hào phòng tránh và sơ tán để bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản nhân dân. Chính vì vậy, trong điều kiện chiến tranh gian khổ, tinh thần quần chúng vẫn vững vàng, lạc quan tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

Hậu phương, tiền tuyến Quân khu 4 có chung đường biên giới 1.162 ki-lô-mét với nước bạn Lào, cùng dựa lưng vào Trường Sơn, cùng chung kẻ thù, chung lý tưởng; cho nên mối đoàn kết liên minh chiến đấu là nét đẹp truyền thống và luôn là vấn đề sống còn. Từ ngày Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, liên minh đó được bồi đáp bằng tinh thần quốc tế vô sản trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đã không ngừng được củng cố và phát triển. Với tinh thần: "giúp bạn là tự giúp mình", và theo yêu cầu của bạn, Quân khu 4 đã gửi nhiều đơn vị quân tình nguyện sang cùng bạn xây dựng cơ sở, phát triển chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng và thế trận, tạo lập căn cứ địa quan trọng Sầm Nưa - Phong Sa Lỳ trong kháng chiến chống Pháp.

Bước sang giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi đất nước Lào xẩy ra sự kiện bọn phái hữu bắt giam các lãnh tụ Pa-thét Lào, uy hiếp, tước vũ khí của lực lượng Pa-thét; theo yêu cầu của bạn và chấp hành chỉ thị của Bộ, Quân khu 4 đã kịp thời hỗ trợ cho tiểu đoàn 2 Lào vượt vòng vây về tập kết ở miền tây Nghệ An. Quân khu còn tiếp tục giúp bạn củng cố lực lượng, huấn luyện quân sự, chuẩn bị trở về nước chiến đấu.

Từ những năm hậu phương Khu 4 còn có hòa bình đến khi trở thành trọng điểm đánh phá, ngăn chặn của không quân và hải quân Mỹ, nhân dân và lực lượng vũ trang quân khu luôn luôn sát cánh cùng bạn Lào; gian khổ, ác liệt, đói no có nhau: "hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa", cùng chống kẻ thù chung vì sự nghiệp cách mạng của mỗi nước.

Kết hợp chặt chẽ hậu phương với tiền tuyến, dân tộc và quốc tế là một trong những quy luật để tồn tại, phát triển và chiến thắng của quân và dân Quân khu 4.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:38:47 pm

4. Xây dựng Đảng vững mạnh, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dân tộc ta đương đầu với những kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần, nhưng cuối cùng chúng ta đã giành được thắng lợi rất vẻ vang. Có nhiều nhân tố chủ quan, khách quan tạo nên sức mạnh để nhân dân ta đánh thắng kẻ thù, nhưng nhân tố có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hò Chí Minh và vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

Đảng có đường lối đúng, tổ chức, chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát và có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong gương mẫu trên tất cả các mặt trận sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Luôn ý thức được Đảng Cộng sản Việt Nam - người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Đảng bộ quân khu và các địa phương không ngừng chăm lo xây dựng đảng lớn mạnh về mọi mặt. Công tác xây dựng đảng đã được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện, cả chính trị, tư tưởng, tổ chức, từ trên xuống dưới, từ cấp ủy các cấp đến từng đảng viên. Quân khu đặc biệt coi trọng xây dựng đảng bộ cơ sở và chi bộ, làm cho cơ sở, chi bộ, có khả năng lãnh đạo toàn diện, vững vàng, chủ động giải quyết những vấn đề cấp bách trong tình huống chiến tranh ác liệt, gian khổ. Ở Quảng Bình, Đảng bộ tỉnh quy định đảng viên được quần chúng bình bầu "Hai giỏi", mới được công nhận là đảng viên “Bốn tốt". Đảng bộ Vĩnh Linh gắn việc xây dựng đảng với phong trào cách mạng quần chúng, vận dụng các tiêu chuẩn "Bốn tốt" để xây dựng chi bộ và đảng bộ "thép"...

Sức mạnh của Đảng là ở khối đoàn kết nhất trí giữa Đảng và quần chúng. Không đoàn kết được quần chúng, không dựa vào quần chúng thì Đảng ta mất sức chiến đấu. Trong chiến tranh ác liệt, quần chúng đã góp hàng nghìn sáng kiến trên nhiều lĩnh vực, giải quyết được những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua nổi.

Sự đoàn kết nhất trí ấy còn phải được bắt nguồn từ sự đoàn kết giữa tổ chức đảng quân khu và đảng bộ các địa phương với tinh thần: cùng bàn, cùng làm, cùng chịu trách nhiệm. Ở địa bàn Quân khu 4 trong chiến tranh chống Mỹ, mặc dù không có Khu ủy lãnh đạo thống nhất, nhưng giữa Quân khu ủy và cấp ủy các địa phương đã xây dựng được mối quan hệ đoàn kết thống nhất lãnh đạo, trên cơ sở vì thắng lợi chung mà chủ động tìm đến bàn bạc về cả hai phía, chân thành lắng nghe ý kiến lẫn nhau để có sự nhất trí về các chủ trương, kế hoạch, nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mà Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho quân khu và các địa phương trong quân khu. Sự đoàn kết nhất trí được thử thách qua lửa đạn chiến tranh, khó khăn, thiếu thốn, đã trở thành truyền thống vô cùng quý báu.

Ở Trị - Thiên, tuyến đầu của tiền tuyến lớn – một trong những chiến trường khốc liệt nhất, thì mọi thử thách nặng nề, gay gắt nhất của chiến tranh trước tiên đều nhằm vào tổ chức đảng. Với mưu đồ hòng vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng, kẻ thù đã tập trung mọi khả năng quét sạch toàn bộ cơ sở đảng ở nơi đây, tách dân ra khỏi Đảng. Cao điểm của những hành động khủng bố, đàn áp dã man, tàn bạo của kẻ thù tập trung vào những năm 1956-1957 (sau Hiệp định Giơ-ne-vơ) và 1968 - 1969 (sau Tổng tiến công Tết Mậu Thân). Trên thực tế, ta cũng đã gặp những khó khăn và chịu bao tổn thất tưởng chừng không gượng nổi. Khó có thể nói hết những gian khổ, hy sinh của những đảng viên bám đất, bám dân, nhen nhóm từng "ngọn lửa" nhỏ cách mạng từ trong vùng địch kiểm soát. Nhưng cũng chính từng "ngọn lửa" nhỏ nhoi đó đã bùng cháy thành biển lửa dữ dội, thiêu rụi quân thù, giải phóng quê hương. Đó chính là mối quan hệ sinh tồn, phát triển giữa Đảng với dân, giữa dân với Đảng, mà người đảng viên của Đảng đã nắm chắc ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong suốt 30 nam đấu tranh cách mạng, quan hệ đó ngày càng được củng cố, tạo nên sức mạnh mà không thể thủ đoạn thâm độc, tàn bạo nào của kẻ thù có thể phá vỡ nổi.

Một nét rất đáng tự hào là Đảng bộ Trị - Thiên đã hết sức chăm lo việc phát triển đảng vào vùng dân tộc ít người, xây dựng nên tổ chức đảng ở miền núi, gồm những con người được giác ngộ tuyệt đối trung thành với cách mạng làm nòng cốt, tổ chức miền núi thành một vùng căn cứ cách mạng vững mạnh đóng vai trò quyết định trong việc giành quyền làm chủ ở căn cứ địa miền tây, chỗ dựa sống còn của cách mạng và kháng chiến ở Trị - Thiên.

Quá trình phát triển chiến tranh cũng là quá trình phát triển của đảng bộ với đội ngũ đảng viên đã được tôi luyện từ trong khói lửa của địa phương cùng với một đội ngũ hùng hậu được tăng cường từ Quân khu 4, từ miền Bắc vào, tạo thành lực lượng lãnh đạo và chiến đấu, có sức mạnh về tinh thần, ý chí, trí tuệ, có năng lực toàn diện, đủ sức đương đầu với mọi thử thách, giải quyết được những nhiệm vụ ngày càng khó khăn, phức tạp, đưa cuộc chiến đấu của chiến trường Trị - Thiên từ phát triển chậm đến tiến kịp và có lúc còn là tiêu biểu của các chiến trường.

Nhờ không ngừng tăng cường sự lãnh đạo thường xuyên của các cấp ủy Đảng và phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên; củng cố khối đoàn kết thống nhất giữa Đảng với quần chúng mà những năm chiến tranh ác liệt, hàng triệu đảng viên, quần chúng đã vì lý tưởng của cách mạng, vì lòng yêu nước, thương dân đã tự giác đối đầu với kẻ thù, góp phần tạo nên thắng lợi của quê hương, của dân tộc.

*

*       *

Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc, đánh dấu một chặng đường lịch sử chiến đấu, chiến thắng đầy huy hoàng của dân tộc Việt Nam, đồng thời để lại trên địa bàn Khu 4 những trang sử đẹp đẽ.

Ngày xưa, Khu 4 từng là "địa linh, nhân kiệt". Trong thời đại Hồ Chí Minh, mà đặc biệt là suốt 30 năm kháng chiến anh dũng, trên mảnh đất này, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam lại có bước phát triển rực rỡ. Qua hai cuộc kháng chiến, hàng trăm nghìn tên xâm lược bị tiêu diệt, hàng nghìn máy bay Mỹ bị bắn rơi... Từ thực tiễn ác liệt của cuộc chiến đấu nơi đây đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân anh hùng, dũng sĩ.

Quân và dân Khu 4 nhận thức sâu sắc rằng: thắng lợi này trước hết thuộc về Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không có thắng lợi nào của quân và dân Khu 4 tách rời sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ vĩ đại.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân Trị - Thiên - Huế xứng đáng với tám chữ vàng "Tiến công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường" do Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng. Quân và dân Quân khu 4, cũng hết sức vinh dự với lời khen của Bác Hồ: "Quân và dân Quân khu 4 rất xứng đáng là tuyến đầu của miền Bắc anh dũng".

Lịch sử là sợi dây nối liền quá khứ với hiện tại và tương lai. Càng tự hào và trân trọng truyền thống vẻ vang, quý báu của quê hương, quân và dân Quân khu 4 càng đoàn kết, nhất trí, khắc phục thiên tai, nghèo nàn lạc hậu, từng bước xây dựng quân khu giàu về kinh tế, vững về quốc phòng, an ninh, góp phần cùng cả nước xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:39:41 pm

PHỤ LỤC

"HÀNG RÀO ĐIỆN TỬ MAC NA-MA-RA"

Tuyến "hàng rào điện tử Mac Na-ma-ra" bắt đầu thiết lập từ những tháng cuối năm 1966, chạy dọc theo đường số 9, từ bờ biển kéo lên biên giới Việt - Lào, qua Sê Pôn, Mường Phìn, tổng chiều dài 100 ki-lô-mét, chiều rộng 30 ki-lô-mét.

Đây là sáng kiến của Mac Na-ma-ra, bộ trưởng quốc phòng Mỹ và là công trình đồ sộ, thu hút nhiều tiền, vật tư - kỹ thuật và nhân lực của nước Mỹ.

Mac Na-ma-ra cho rằng, các chiến dịch ném bom mở rộng không có khả năng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, cần có giải pháp thay thế, đó là việc xây dựng một "hàng rào điện tử", một cuộc "chiến tranh điện tử", một "chiến trường tự động hóa" ngăn chặn triệt để nguồn tiếp tế đối phương.

Hàng rào được bố trí thành hai hệ thống chống xâm nhập: hệ thống chống hành quân bộ và hệ thống chống hoạt động vận tải. Các nhà khoa học Mỹ đã sáng tạo ra một hệ thống máy cảm ứng địa chấn, cảm ứng âm thanh, được máy bay thả xuống khắp núi rừng, mệnh danh là những kẻ "gác đường tin cậy" và còn được gọi là "cây nhiệt đới" (loại thiết bị này được ngụy trang như những mầm cây, dùng truyền bắt cả âm thanh và tiếng động. Có loại còn truyền bắt cả mùi của mồ hôi người và nước tiểu). Cộng vào đó là máy bay tuần tra suốt 24 giờ trong ngày, máy bay C.130 còn thả hàng nghìn tấn hóa chất trên các đoạn đường để làm nhão đất, nhằm biến đường giao thông thành những suối bùn...

Cùng với hệ thống trinh sát, chỉ huy tối tân, là những loại vũ khí giết người rất tinh vi.

- Bom WAARM là loại bom hình tròn, có rãnh. Các trái bom chứa trong bom mẹ. Bom mẹ rơi, bom con tự quay lên cò và rải đều trên mặt đất. Chỉ cần chạm nhẹ bom sẽ nổ và gây sát thương.

- Bom MIG - bom mẹ, có 182 bom con; rải xuống nổ ngay; có khả năng sát thương hàng trung đội.

- Bom BLU31 - được ném cắm sâu vào lòng đất, khi có tác động của xe cơ giới, bom sẽ nổ và có sức công phá lớn.

- Bom PAVE PALIL, là loại bom có dù. Khi ném từ máy bay xuống, bom nổ cách mặt đất sáu mét, tạo một áp suất lớn, quét sạch mọi vật dưới mặt đất trong diện tích 1.000 mét vuông.

- Bom răng rồng, bom túi, bom lá cây..., để sát thương người.

- Bom điện quang, tự quay đến mục tiêu để tăng khả năng sát thương.

- Bom dẫn bằng "la-đe" còn gọi là "bom khôn ngoan"...

Để xây dựng hàng rào điện tử Mac Na-ma-ra, chính phủ Mỹ đã chi trên một tỷ đô-la. Các phóng viên, báo chí Mỹ phô trương đây là "Magiaot phương đông" - một chiến tuyến bất khả xâm phạm.

Thực tế lịch sử khẳng định: không một thủ đoạn thâm độc, không một loại binh khí kỹ thuật tối tân nào của địch có thể ngăn chặn được sức mạnh, ý chí của con người Việt Nam quyết giành độc lập, tự do, thực hiện thống nhất Tổ quốc. Tướng Mỹ - Tay-lo đã cay đắng thú nhận rằng: "Không có cách gì có thể ngăn cản nổi sự thâm nhập ngày càng tăng của đối phương".

Hàng rào điện tử Mac Na-ma-ra đã bị vô hiệu hóa bởi trí thông minh, lòng quả cảm của những con người Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:40:19 pm

NGÃ BA ĐỒNG LỘC

Ngã ba Đồng Lộc là giao điểm giữa quốc lộ số 15 và tỉnh lộ số 2 thuộc vùng đất đồi Can Lộc, Hà Tĩnh, năm lọt giữa ba ngọn núi thấp: núi Trọ Voi ở phía đông-bắc, núi Mũi Mác ở phía tây-nam và núi Môi ở phía đông.

Sau khi cầu Cổ Ngựa bị địch đánh sập và cả tuyến đường số 1 bị phá hoại nặng nề, ngã ba Đồng Lộc trở thành “yết hầu" của tuyến giao thông vận tải từ Bắc vào Nam. Đế quốc Mỹ đã huy động một lực lượng lớn không quân đánh phá để cắt đứt con đường huyết mạch này. Qua hai lần đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, nơi đây đã phải chịu đựng hơn 2.057 trận bom. Mỗi mét vuông đất ở khu vực ngã ba phải chịu đựng từ ba tới năm quả bom các loại.

Ngã ba Đồng Lộc là nơi diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt giữa ý chí, trí tuệ của con người Việt Nam và bom đạn của đế quốc Mỹ.

Ở ngã ba nhỏ bé này đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân dũng cảm kiên cường trên mặt trận bảo đảm giao thông, chống địch đánh phá, ngăn chặn.

Tiểu đội thanh niên xung phong Võ Thị Tần gồm 10 nữ (hai đảng viên, tám đoàn viên), làm nhiệm vụ san lấp hố bom, làm đường, đào hầm trú ẩn, bảo đảm an toàn cho xe và người qua ngã ba. Có ngày chỉ trong năm giờ, địch đánh xuống đây bốn trận, giội hàng trăm tấn bom, nhưng cả tiểu đội đều không rời vị trí chiến đấu. Đây là một tập thể luôn luôn nêu cao tinh thần thương yêu đùm bọc lẫn nhau, nhường áo, sẻ cơm, động viên nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dưới mưa bom, bão đạn của kẻ thù.

Ngày 24 tháng 7 năm 1968, sau 18 lần địch đánh phá ác liệt vào ngã ba Đồng Lộc, cả 10 cô gái vẫn trụ bám kiên cường, giữ vững mạch máu giao thông và đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Năm 1972, tiểu đội thanh niên xung phong Võ Thị Tần đã được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng.

Để kịp thời đối phó với thủ đoạn ném bom của địch, một tổ quan sát bom được bố trí ở ngã ba Đồng Lộc do La Thị Tám làm tổ trưởng. Tổ có ba người, suốt 24 tiếng đồng hồ trong ngày phải thay nhau theo dõi hoạt động của máy bay địch, đếm số bom rơi và quan sát vị trí của nó. Ban ngày, các chiến sĩ trong tổ cắm tiêu báo hiệu cho xe biết để tránh bom nổ chậm và để phá gỡ; ban đêm, họ dùng đèn, súng làm tín hiệu, dẫn dắt xe nhanh chóng vượt qua nơi nguy hiểm. Làm việc dưới bom đạn, nhưng cả tổ vẫn bình tĩnh, lạc quan. La Thị Tám đã cùng tổ cắm tiêu hơn 500 quả bom tại ngã ba Đồng Lộc và 203 quả bom tại Thượng Gia - Cổ Ngựa. Chị đã 23 lần bị bom nổ vùi dập... Ngày 22 tháng 12 năm 1969, La Thị Tám vinh dự được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngã ba Đồng Lộc còn nổi danh bởi tổ phá bom Vương Đình Nhỏ (phòng quân sự ty giao thông Hà Tĩnh). Rà phá bom ở khu vực máy bay địch không ngừng đánh phá là điều hết sức nguy hiểm, nhưng điều gây không ít khó khăn cho tổ là sự thay đổi chiến thuật ném bom, sự xuất hiện nhiều loại bom mới. Một yêu cầu đặt ra là làm sao hạn chế tối đa việc phá bom để bảo vệ đường. Tổ phá bom Vương Đình Nhỏ chấp nhận phương án táo bạo nhưng vô cùng nguy hiềm là tháo gỡ bom. Trường hợp phải cho bom nổ thì phải đánh bằng phương pháp nổ hai lần. Lần một cho bom từ lòng đất bắn lên trên không, và lần hai, từ trên không bom được nổ tung. Sáng kiến đó của Vương Đình Nhỏ đã được sử dụng hiệu quả. Không một ai trong tổ phá bom của Vương Đình Nhỏ được đào tạo về kỹ thuật phá bom. Toàn tổ vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Bằng ý chí và trí thông minh, những chiến sĩ phá bom ở ngã ba Đồng Lộc đã từng bước làm chủ được kỹ thuật. Một mình Vương Đình Nhỏ đã tháo gỡ và phá gần 200 quả bom nổ chậm.

Trong điều kiện hết sức khó khăn nguy hiểm, tổ máy gạt do Uông Xuân Lý phụ trách đã bám trụ suốt ngày đêm trên trọng điểm, kịp thời san lấp những đoạn đường bị bom phá hỏng. Có lần, tổ phải xử lý một quả bom từ trường ngay ở giữa ngã ba, giải phóng đường cho cả đoàn xe đang ùn tắc. Uông Xuân Lý xung phong dùng máy xúc để đưa quả bom đó ra xa. Biết việc mình làm rất nguy hiểm, nhưng với quyết tâm và lòng dũng cảm, Lý nói với anh em trong tổ: "Tôi còn trẻ, chưa có vợ con, để tôi làm". Người con trai “đất lửa" Kỳ Anh ung dung, tự tin ngồi vào sau cần gạt đối mặt với tử thù. Quả bom được máy gạt của anh đẩy ra xa 40 mét. Khi xe của Uông Xuân Lý lùi lại được nửa đường thì bom nổ. Sức ép của bom làm Uông Xuân Lý ngất đi, nhưng đường đã thông, cả đoàn xe tiếp tục qua ngã ba Đồng Lộc, đem hàng ra tiền tuyến.

Khó có nơi nào trên miền Bắc, sự căng thẳng, khốc liệt của bom đạn kẻ thù lại kéo dài như ở ngã ba Đồng Lộc. Bom, đạn thù hủy diệt không còn một ngọn cỏ, nhành cây. Nhưng chính nơi đây những con người bình thường đã trụ bám kiên cường đánh địch và đã lập được những chiến công kỳ diệu.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:41:00 pm

THƯ CỦA VÕ THỊ TẦN GỬI VỀ THĂM MẸ

Đồng Lộc, ngày 20-7-1968

Mẹ kính yêu của con!

Ngày mai, chị Thúy về nhận thực phẩm sẽ ghé vào nhà ta. Con viết mấy dòng gửi về thăm mẹ.

Mấy hôm nay giặc Mỹ đánh hơn dạo trước, chắc là mẹ lo cho chúng con nhiều? Đừng có lo mẹ ạ! Ở đây vui lắm! Ban đêm, chúng đến thắp đèn để chúng con làm đường. Ban ngày, chúng đem bom giết cá để chúng con cải thiện. Bom đạn chúng làm rung chuyển đồi núi, nhưng không thể làm rung chuyển trái tim chúng con. Bom đạn chúng có thể làm nát ngã ba, nhưng không thể làm một xe nào mất lối. Thằng Mỹ còn hung hăng, con còn nhiều chuyện kể mẹ nghe thất bại của chúng trên mảnh đất bé nhỏ này.

Mẹ ơi, thời gian này mặc dầu địch đánh phá ác liệt, nhưng bọn con vẫn tập được nhiều bài hát mới. Quyển số tay mẹ gửi dạo nọ, con ghi đã gần hết rồi, mẹ nói Tửu cho con một ít giấy.

Mẹ, mới về thăm mẹ đó mà con thấy nhớ mẹ quá! Mẹ dạo này có khỏe không? Giờ đây, cũng như bao lần con khuyên mẹ hãy giữ gìn sức khỏe và đừng lo cho con nhiều. Còn con thì dạo về đến nay vẫn khỏe, công tác tốt. Các chị em trong đơn vị cũng thế. Lần đầu tiên được giao làm tiểu đội trưởng, con thấy bỡ ngỡ quá, nhưng nay nhờ sự giúp đỡ của chị em và sự cố gắng của bản thân nên đã quen dần. Mấy ngày nay, con còn đang chuẩn bị tổng kết cuối tháng.

Tửu! Tình hình học tập của em ra sao, có tốt không? Cho chị biết với. Chị nhắc em phải tranh thủ thay chị giúp mẹ, đừng bắt mẹ làm nhiều mà tội.

Các chị em trong đơn vị gửi lời thăm hỏi sức khỏe mẹ đó. Cho con gửi lời hỏi thăm sức khỏe cậu, mự cùng các cháu và bà con xung quanh.

Thôi mẹ nhé!

Con của mẹ
Chị của em

TẦN


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:46:07 pm

 
ĐÓNG GÓP CỦA HẬU PHƯƠNG THANH - NGHỆ - TĨNH TRONG KHÁNG CIIIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

Từ năm 1965 đến 1975, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã động viên 405.161 thanh niên vào quân đội, 42.449 người tham gia thanh niên xung phong. Năm 1968, Thanh Hóa có 30.200 thanh niên vào quân đội, có gia đình có người con thứ tám đi bộ đội, có xã giao hẳn một đại đội, có huyện giao hẳn một trung đoàn. Nghệ An, Hà Tĩnh có 104 gia đình có năm con nhập ngũ, bảy gia đình có sáu con nhập ngũ, 192 gia đình cả cha và con cùng tại ngũ. Mẹ Tính, xã Sơn Trường có chín con đi bộ đội. Cụ Ngô Phúc Hợp (Thạch Thanh, Thạch Hà) có bảy con trai đi bộ đội và ba con dâu đi thanh niên xung phong. Mẹ Nguyễn Thị Hợp (Hưng Lộc, Vinh) có sáu con, tất cả đều lên đường chống Mỹ. Cụ Võ Tá An (Thạch Hà), mẹ Nguyễn Thị Luận (Nghi Lâm, Nghi Lộc), ông Trần Văn Quán (Mỹ Thành, Yên Thành) theo đạo Thiên chúa có năm con nhập ngũ. Xã Minh Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) gồm 500 gia đình, có tới 300 thanh niên vào quân đội. Xã Cẩm Nhượng (Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) có 600 bộ đội tại ngũ. Các xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu), Diễn Bình (Diễn Châu), Thạch Linh (Thạch Hà), Tùng Ảnh (Đức Thọ)..., là những xã liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

Đầu năm 1965, với khẩu hiệu "Tuổi trẻ quê hương Trần Phú, Lý Tử Trọng sẵn sàng lên đường diệt Mỹ", chỉ một tháng, Hà Tĩnh đã có 70 nghìn đảng viên, đoàn viên, thanh niên, dân quân, tự vệ viết đơn tình nguyện nhập ngũ, 258 xã trong tỉnh sục sôi phong trào "2 nguyện, 5 cử" (bản thân tự nguyện, gia đình tự nguyện; Đảng cử, đoàn cử, dân quân tự vệ cử, hợp tác xã, xí nghiệp cử, gia đình cử).

Mẹ Nguyễn Thị Trực xã Thạch Hưng, cử bốn con trai và một con gái nhập ngũ. Khi được tin hai con trai hy sinh, mẹ cùng chồng lên ủy ban hành chính xã, tha thiết cử thêm một con trai, một con gái và một con dâu tiếp tục lên đường chống Mỹ, cứu nước...

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh có 77.384 liệt sĩ, 25.235 thương binh. Riêng Thanh Hóa có 33.463 liệt sĩ và 14.428 thương binh.

Trên nghĩa trang Trường Sơn (Quảng Trị), có 10.036 mộ liệt sĩ. Trong đó, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh có 3.139 mộ (Thanh Hóa 1.099, Nghệ An 1.262, Hà Tĩnh 778).

 

CÁC ĐƠN VỊ VÀ CÁ NHÂN ĐƯỢC TUYÊN DƯƠNG ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

ĐƠN VỊ

- Tuyên dương năm 1967:

1. Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ.
2. Đại đội 32 (đảo Cồn Cỏ).
3. Đại đội 9 đoàn 565.
4. Dân quân xã Vĩnh Giang (Vĩnh Linh).
5. Dân quân du kích xã Triệu Hải (Triệu Phong, Quảng Trị).
6. Dân quân Tây Thôn xã Ngư Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình).

- Tuyên dương năm 1968:

7. Trung đoàn 214 pháo cao xạ.
8. Tiểu đoàn 6 pháo cao xạ Vĩnh Linh.
9. Tiểu đoàn 1 trung đoàn 164 pháo binh.
10. Đại đội 1 vận tải Cục Hậu cần Quân khu 4.
11. Tự vệ phà Bến Thủy (thành phố Vinh).
12. Dân quân xã Võ Ninh (Quảng Bình).
13. Dân quân xã Vĩnh Thủy (Vĩnh Linh).
14. Dân quân xã Hương Trạch (Hà Tĩnh).

- Tuyên dương năm 1969:

15. Tiểu đoàn 10 đặc công (Quảng Trị).
16. Đại đội 1 tiểu đoàn 75 (B5).
17. Đại đội 6 tiểu đoàn 75 (B5).
18. Đại đội 11 pháo binh (B5).
19. Đại đội 1 đoàn 1A (đoàn 126) đặc công hải quân (B5).
20. Đại đội 1 tiểu đoàn 7 trung đoàn 270.
21. Đại đội 2 tiểu đoàn 27 công binh Quân khu 4.
22. Đại đội 15 vận tải (B5).
23. Đại đội 1 tiểu đoàn 1 trung đoàn 414 công binh.
24. Dân quân xã Vĩnh Quang (Vĩnh Linh).
25. Dân quân xã Quảng Phúc (Quảng Bình).
26. Dân quân du kích xã Do Hải (Quảng Trị).

- Tuyên dương năm 1970:

27. Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ (tuyên dương lần thứ hai).
28. Tiểu đoàn 75 súng máy 12,7 ly (B5).
29. Đại đội 32 (đảo Cồn Cỏ, tuyên dương lần thứ hai).
30. Đại đội 13 pháo binh trung đoàn 270.
31. Đại đội 1 bộ binh đoàn 968.
32. Đại đội 20 quân y trung đoàn 270.
33. Dân quân xã Hưng Dũng (Hưng Nguyên - Nghệ An).
34. Đơn vị tự vệ nữ 404 đường goòng.

- Tuyên dương năm 1971:

35. Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy (Lệ Thủy - Quảng Bình).
36. Dân quân xã Vĩnh Sơn (Vĩnh Linh).
37. Dân quân xã Tiến Hóa (Tuyên Hóa - Quảng Bình).
38. Đội nữ dân quân xã Kỳ Phương (Kỳ Anh - Hà Tĩnh).
39. Dân quân du kích xã Cam Chính (Cam Lộ - Quảng Trị).


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:47:49 pm

- Tuyên dương năm 1972:

40. Tiểu đoàn 27 công binh Quân khu 4.
41. Tiểu đoàn 8 pháo cao xạ (Hà Tĩnh).
42. Tiểu đoàn 15 trung đoàn 4 (Quân khu Trị - Thiên).
43. Tiểu đoàn 32 đặc công (Quân khu Trị - Thiên).
44. Tiểu đoàn 8 bộ binh (Quảng Trị).
45. Tiểu đoàn 1 đặc công (Thừa Thiên).
46. Tiểu đoàn 2 đặc công (Thừa Thiên).
47. Đại đội 8 pháo binh (Quảng Bình).
48. Đại đội 32 (đảo Mắt - Nghệ An).
49. Đại đội 4 biệt động (Do Linh - Quảng Trị).
50. Đại đội 14 công binh (Quân khu Trị - Thiên).
51. Đại đội 4 vận tải tiểu đoàn 32 (Quân khu Trị - Thiên).
52.  Đội điều trị Cục Hậu cần (Quân khu Trị - Thiên).
53. Dân quân xã Vĩnh Chấp (Vĩnh Linh).
54. Dân quân xã Lộc Ninh (Quảng Bình).
55. Dân quân du kích xã Trung Giang (Do Linh - Quảng Trị).
56. Dân quân du kích xã Hải Phú (Quảng Trị).
57. Dân quân du kích xã Phong Thu (Thừa Thiên).
58. Dân quân du kích xã Phú Trạch (Thừa Thiên).
59. Dân quân du kích xã Mỹ Thủy (Hương Thủy - Thừa Thiên).

- Tuyên dương năm 1973:

60. Trung đoàn 6 (Quân khu Trị - Thiên).
61. Tiểu đoàn 2 trung đoàn 4 (Quân khu Trị - Thiên).
62. Tiểu đoàn 3 (Quảng Trị).
63. Tiểu đoàn 12 đặc công (Quân khu Trị - Thiên).
64. Đại đội 12 trung đoàn 166.
65. Đọi đội 211 trung đoàn 218.
66. Đại đội 10 pháo binh (Quảng Bình).
67. Đại đội 442 pháo binh (Hà Tĩnh).
68. Ban ngoại 1 viện quân y 41.
69. Đại đội 69 vận tải (Cục Hậu cần Quân khu 4).
70. Đại đội 12 đặc công trung đoàn 6 (Quân khu Trị - Thiên).
71. Dân quân xã Hướng Lập (Vĩnh Linh).
72. Dân quân xã Phong Thủy (Lệ Thủy - Quảng Bình).
73. Dân quân du kích xã Hải Thượng (Hải Lăng - Quảng Trị).
74. Dân quân du kích xã Trung Hải (Do Linh - Quảng Trị).
75. Dân quân xã Kỳ Tân (Kỳ Anh - Hà Tĩnh).
76. Dân quân xã Nghi Hương (Nghi Lộc - Nghệ An).

- Tuyên dương năm 1974:

77. Tiểu đoàn 5 trung đoàn 218.
78. Đại đội 3 tiểu đoàn 13 đặc công.
79. Đại đội 3 tiểu đoàn 26 thông tin.
80. Đại đội 3 tiểu đoàn 9 Quảng Bình.
81. Đại đội 33 (đảo Ngư - Nghệ An).
82. Dân quân xã Quỳnh Long (Quỳnh Lưu - Nghệ An).
83. Dân quân xã Trung Trạch (Quảng Bình).
84. Dân quân xã Đức Ninh (Quảng Bình).

- Tuyên dương năm 1975:

85. Tiểu đoàn 804 (Quân khu Trị - Thiên).
86. Đội biệt động quận Hữu, thành phố Huế.

- Tuyên dương năm 1976:

87. Tiểu đoàn 814 (Quảng Trị).
88. Đại đội 15 trung đoàn 6.
89. Đại đội 12 (Thừa Thiên).
90. Đại đội 94 (Quảng Xương - Thanh Hóa).
91. Đại đội 4 pháo cao xạ Hàm Rồng.
92. Dân quân xã Cảnh Dương (Quảng Bình).
93. Dân quân du kích xã Triệu Trạch (Quảng Trị).
94. Dân quân du kích xã Triệu Thượng (Quảng Trị).
95. Dân quân du kích xã A Túc (Quảng Trị).
96. Dân quân xã Phú Thủy (Quảng Bình).
97. Dân quân xã Thông Thụ (Nghệ An).
98. Đại đội dân quân Nam Ngạn (thị xã Thanh Hóa).
99. Trung đội lão dân quân xã Hoằng Trường (Hoằng Hóa - Thanh Hóa).
100. Bộ đội đảo Mê (Thanh Hóa).
101. Trung đội nữ dân quân xã Hoa Lộc (Hậu Lộc - Thanh Hóa).
102. Dân quân xã Thanh Thủy (Thanh Hóa).

- Tuyên dương năm 1978:

103. Sư đoàn 324.
104. Trung đoàn 1 sư đoàn 324.
105. Trung đoàn 3 sư đoàn 324.
106. Trung đoàn công binh 14 đoàn 565.
107. Tiểu đoàn 7 trung đoàn 3 sư đoàn 324.
108. Tiểu đoàn 4 trung đoàn 2 sư đoàn 324.
109. Tiểu đoàn 10 trung đoàn 4 sư đoàn 324.
110. Tiểu đoàn 16 (súng máy 12,7 ly) sư đoàn 324.
111. Tiểu đoàn 33 trung đoàn công binh 14 đoàn 565.
112. Đại đội 17 (trung đoàn 1 sư đoàn 324).
113. Đại đội 17 (trung đoàn 2 sư đoàn 324).
114. Đại đội 2 (tiểu đoàn 10 sư đoàn 324).
115. Đại đội 3 (tiểu đoàn 16 sư đoàn 324).
116. Đại đội 1 tiểu đoàn 7 trung đoàn 39 đoàn 565.
117. Đại đội 211 (trung đoàn 245 đoàn 565).
118. Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
119. Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Nghệ An.
120. Lực lượng với trang nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
121. Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Quảng Bình.
122. Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Quảng Trị.
123. Lực lượng vũ trang nhân dân khu vực Vĩnh Linh.
124. Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Tĩnh Gia - Thanh Hóa.
125. Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An.
126. Lực lượng vũ trang nhân dân thành phố Vinh - Nghệ An.
127. Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Kỳ Anh - Hà Tĩnh.
128. Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Hướng Hóa - Quảng Trị.
129. Dân quân du kích xã Phong Chương (Thừa Thiên).
130. Dân quân du kích xã Quảng Thái (Hương Điền - Thừa Thiên).
131. Dân quân du kích xã Thủy Thanh (Hương Phú - Thừa Thiên).
132. Dân quân du kích xã Phú Hồ (Hương Phú - Thừa Thiên).
133. Dân quân du kích xã Lộc Tụ (Phú Lộc - Thừa Thiên).
134. Dân quân du kích xã Hồng Quảng (A Lưới - Thừa Thiên).

- Tuyên dương năm 1979:

135. Lực lượng vũ trang nhân dân Thừa Thiên - Huế.
136. Lực lượng vũ trang nhân dân miền tây Thừa Thiên.

- Tuyên dương năm 1985:

137. Trung đoàn 335 sư đoàn 324.
138. Trung đoàn 273 sư đoàn 341.
139. Tiểu đoàn 41 đặc công Quân khu 4.

- Tuyên dương năm 1989:

140. Tiểu đoàn 5 trung đoàn 9 sư đoàn 968.
141. Tiểu đoàn 34 (sư đoàn 324)1.
____________________________________________
1. Các đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân xếp thứ tự từ 87 đến 141, tuyên dương sau năm 1975, nhưng cơ sở để xét tặng danh hiệu cao quý đó là những thành tích mà các đơn vị đã lập được trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:57:06 pm
CÁ NHÂN

1. Nguyễn Viết Xuân (liệt sĩ)
2. Nguyễn Huy Hồng (liệt sĩ)
3. Phạm Ngọc Khánh (liệt sĩ)
4. Nguyễn Bá Vanh (liệt sĩ)
5. Phan Thanh Chung (liệt sĩ)
6. Nguyễn Viết Phong (liệt sĩ)
7. Trần Tiến Lực (liệt sĩ)
8. Trần Thị Tâm (liệt sĩ)
9. Võ Trọng Thiện (liệt sĩ)
10. Nguyễn Văn Chư (liệt sĩ)
11. Biện Văn Thanh (liệt sĩ)
12. Dương Quang Bổ (liệt sĩ)
13. Nguyễn Hùng Lễ (liệt sĩ)
14. Thái Vân A
15. Nguyễn Văn Mật
16. Nguyễn Hữu Ngoãn
17. Dương Chí Uyển
18. Cao Văn Khang
19. Đỗ Trọng Ngân
20. Trần Thị Lý
21. Lê Văn Ban
22. Đặng Văn Đài
23. Lê Đăng Tới
24. Hồ Vai
25. Hồ Dục
26. Can Lịch
27. Nguyễn Chí Phi
28. Nguyễn Thị Lài
29. Nguyễn Thị Thanh
30. A Nun
31. Cao Tất Đắc
32. Ngô Thị Tuyển
33. Trương Thị Khuê
34. Nguyễn Hữu Quyền
35. Cao Lương Bằng
36. Trần Ngọc Mật
37. La Thị Tám
38. Nguyễn Văn Nuôi
39. Hoàng Kim Nông
40. Đoàn Minh Nguyệt
41. Nguyễn Văn Mạo
42. Đỗ Văn Chuyền
43. Nguyễn Thị Bằng
44. Đặng Đình Chí
45. Lê Văn Long
46. Bùi Hạnh
47. Nguyễn Thái Giám
48. Bùi Thị Thiêm
49. Trương Văn Đo
50. Nguyễn Văn Thái
51. Hồ Soi
52. Trịnh Tố Tâm
53. Văn Thị Xuân
54. Trương Quang Thọ
55. Hán Duy Long
56. Lê Thị Thu Hạnh
57. Lê Thị Tám
58. Hà Quang Đinh
59. Phạm Văn Thọ
60. Phan Châu Mỹ
61. Đặng Văn Lồi
62. Nguyễn Đức Nghĩa
63. Lê Thị Mịch
64. Hoàng Ngọc Chương
65. Đặng Trung Thành.


Hết!