|
Tiêu đề: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Một, 2024, 05:56:00 pm BỘ QUỐC PHÒNG BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 4 QUÂN KHU 4 LỊCH SỬ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC (1975 - 2005) NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN Hà Nội – 2005 * Chỉ đạo nội dung: ĐẢNG ỦY - BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 4 * Tổ chức thực hiện: PHÒNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG QUÂN KHU 4 * Tham gia biên soạn: - Đại tá TRẦN NGỌC QUỲ - Đại tá PHAN XUYẾN (THANH ĐỒNG) - Đại tá TRẦN DOÃN YẾN - Đại tá ĐẶNG ÍCH CHÍNH (Chủ biên) * Hoàn chỉnh bản thảo: Đại tá, Tiến sĩ DƯƠNG ĐÌNH LẬP Lời nói đầu Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Chiến khu 4 nằm ở địa bàn phía Bắc Trung Bộ (gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên) được thành lập. Từ đó, ngày 15 tháng 10 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Quân khu 4 anh hùng. Trải qua 60 năm xây dựng và chiến đấu, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Quân khu 4 đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao phó, cùng quân và dân cả nước lập nhiều thành tích to lớn và chiến công oanh liệt trong 30 năm chiến tranh giải phóng, cũng như 30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương và chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự, thể theo nguyện vọng của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn Quân khu, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4 đã tổ chức biên soạn cuốn: "Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954", xuất bản năm 1990 và cuốn: "Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975", xuất bản năm 1994. Mặc dù còn thiếu sót do tư liệu thu thập chưa thật đầy đủ, những năm qua, hai cuốn sách được xuất bản đã phục vụ tốt công tác tổng kết, nghiên cứu, học tập, giáo dục truyền thống, góp phần làm phong phú thêm các công trình tổng kết và lịch sử quân sự của Quân khu. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống vẻ vang của Quân khu 4, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức biên soạn cuốn: "Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-2005)", nhằm kế tiếp hai cuốn lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã xuất bản trước đây, ghi lại quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân khu trong 60 năm qua. Hoạt động của Quân khu 4 thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa rất phong phú, đa dạng trên tất cả các mặt xây dựng, chiến đấu, công tác, làm nhiệm vụ quốc tế và thực hiện các nhiệm vụ khác. Trong những năm đầu của thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thống nhất, Quân khu 4 đã nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, điều chỉnh xây dựng lực lượng, cùng quân và dân cả nước ghi tiếp chiến công, giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Campuchia và cách mạng Lào; đồng thời xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tích cực lao động sản xuất, góp phần xây dựng kinh tế đất nước. Trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Quân khu 4 đã tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đồng thời phối hợp với cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng phát huy sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân địa phương, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững mạnh, kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân, gắn xây dựng cơ sở xã, phường với cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, góp phần phòng chống, làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình sưu tầm thu thập tư liệu và biên soạn, Quân khu đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Quân khu qua các thời kỳ, của các cơ quan, đơn vị và các tỉnh trên địa bàn Quân khu, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu xin chân thành cảm ơn các cơ quan, đơn vị, các đồng chí và các bạn đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do tư liệu sưu tầm chưa thật đầy đủ, trình độ và khả năng người viết có hạn, cuốn sách khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, phê bình để tiếp tục sửa chữa, bổ sung cho lần xuất bản sau có chất lượng tốt hơn. THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 4 Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Một, 2024, 05:05:00 pm Chương một QUÂN KHU 4 TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM THỐNG NHẤT (1975-1979) Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng đã kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng của quân và dân ta, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đây, Tổ quốc thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Cùng với quân dân cả nước, quân và dân Quân khu 4 bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; có nhiều mặt thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế tiếp tục chống phá cách mạng nước ta dưới nhiều hình thức, thủ đoạn mới. Chúng thực hiện “chiến tranh phá hoại nhiều mặt”, bao vây, phong tỏa, “cấm vận”, trả thù bằng các thủ đoạn thâm độc, trắng trợn; ra sức nuôi dưỡng, cài cắm lực lượng, đẩy mạnh “kế hoạch hậu chiến”. Chúng tiếp tục khơi sâu, lợi dụng các mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế, kích động các thế lực thù địch gây hận thù dân tộc, mưu toan làm cho Việt Nam “chảy máu”, kiệt quệ, suy yếu. Đế quốc Mỹ và các thế lực phản động chỉ đạo bọn tay sai lưu vong dựa vào đất Thái Lan, đưa lực lượng về ráo riết hoạt động, hòng gây chia rẽ, hoang mang, uy hiếp, khống chế nhân dân Lào trên nhiều địa bàn; uy hiếp, cô lập các thành phố lớn, nhất là ở thủ đô Viên Chăn, thị xã Sa Va Na Khẹt. Mục tiêu của chúng là gây bạo loạn, lật đổ chính quyền cách mạng Lào, tạo bàn đạp trực tiếp xâm nhập phá hoại cách mạng Việt Nam. Quân khu 4 là một trong những địa bàn trọng điểm chống phá quyết liệt của chúng. Đế quốc Mỹ và bọn phản động móc nối với các lực lượng, nhen nhóm các tổ chức, thực hiện “kế hoạch hậu chiến”, trong đó nổi rõ là: 1. Lợi dụng những khó khăn về kinh tế, xã hội sau chiến tranh, chúng tìm mọi cách gây bất ổn định về trật tự an toàn xã hội và an ninh chính trị; gây rối về giá cả trên thị trường, gieo rắc tâm lý hoang mang, lo lắng, thiếu tin tưởng trong nhân dân ta. Ở một số nơi vùng mới giải phóng Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của ta, chúng dùng mìn, lựu đạn, thuốc độc và các loại súng bộ binh cỡ nhỏ ám sát bộ đội, cán bộ, dân thường; phá kho tàng, cắt dây điện thoại, đốt nhà, thả tờ rơi1 tuyên truyền, xuyên tạc chính sách, chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, Chính phủ ta. Phần lớn những vụ gây rối trật tự, an ninh trên địa bàn Quảng Trị tập trung ở các vùng giáp ranh, đều do số ngụy quân, nhân viên ngụy quyền không chịu cải tạo gây nên. Riêng số vụ gây rối trong 11 tháng năm 1975 tăng gấp hai lần so với năm 1974. 2. Chúng lợi dụng sơ hở của một số cơ quan, cán bộ, tìm cách “chui” vào một số tổ chức trong hệ thống chính trị, tìm “vỏ bọc” hợp pháp, công khai, làm lạc hướng theo dõi, quản lý của cơ quan chức năng và chính quyền địa phương. 3. Bọn phản động đội lốt tôn giáo lợi dụng chiêu bài, vỏ bọc “tự do tín ngưỡng” tìm cách mê hoặc, lung lạc, lôi kéo quần chúng, phát triển tổ chức, tuyên truyền phát tán ảnh hưởng; cột chặt “tín đồ” vào các quy chế, quy định do chúng đặt ra nhằm đe dọa, hạn chế quần chúng tham gia các tổ chức yêu nước, các cuộc sinh hoạt, hoạt động cách mạng. Bên cạnh đó, một số lớn ngụy quân, nhân viên ngụy quyền, thành viên các đảng phái phản động (trong số đó có nhiều ác ôn nguy hại, trước đây dính nhiều nợ máu nhân dân, tiếp tục âm mưu hoạt động chống phá Tổ quốc) đang tìm cách lẩn tránh, chưa chịu ra trình diện cách mạng2. Tình hình trên đây thường xuyên diễn ra trên một số địa bàn, nhất là vùng mới giải phóng đã tác động tới an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Quân khu 4. Trong khi đó, những khối lượng công việc to lớn, nặng nề, dồn dập, khẩn trương sau 30 năm chiến tranh tàn phá ác liệt trên địa bàn 6 tỉnh và khu vực Vĩnh Linh tiếp tục đặt gánh nặng mới lên vai 4 triệu đồng bào và chiến sĩ Quân khu 4, một địa bàn đã từng đảm trách sứ mệnh lịch sử nặng nề: Nửa phía Bắc, từ Bến Hải trở ra “vừa là hậu phương trực tiếp của miền Nam, hậu phương trực tiếp của Trị Thiên Huế, của Trung - Hạ Lào; hậu phương chiến dịch của Mặt trận Đường số 9; vừa là tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa”. Nửa phía Nam, từ Bến Hải đến đèo Hải Vân “vừa là tiền tuyến của tiền tuyến lớn miền Nam, vừa là chiến trường lớn nhất thu hút, giam chân quân chủ lực Mỹ”. Đây là địa bàn đã trải qua 30 năm chịu đựng sự tàn phá khốc liệt dưới ách thống trị của hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ. Sự tàn phá cực kỳ khốc liệt của chiến tranh và những di hại của chủ nghĩa thực dân cũ, chủ nghĩa thực dân mới để lại hậu quả rất nặng nề mà quân và dân Quân khu 4 phải ra sức khắc phục trong một thời gian dài. Trước tình hình mới, Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9-1975) ra nghị quyết “về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới”, về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, Trung ương Đảng xác định: “Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta... Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng hùng hậu, có lực lượng thường trực mạnh, lực lượng dự bị to lớn được huấn luyện tốt, có quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, có lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp và vững chắc”3. Thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, cùng với quân dân cả nước, quân và dân trên dải đất từ Tam Điệp đến đèo Hải Vân, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy các địa phương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Khu ủy, Quân khu ủy Trị Thiên Huế. Quân khu ủy Quân khu 4, Quân khu 3 và sự chỉ huy của Bộ tư lệnh ba quân khu, thực hiện điều chỉnh về tổ chức, bố trí sắp xếp lại lực lượng, giải quyết nhiều vấn đề sau chiến tranh. ______________________________________________ 1. Từ tháng 4 đến tháng 12-1975, chúng gây ra 17 vụ, làm chết 20 người, bị thương 62; thực hiện 32 vụ cắt dây điện thoại, 135 vụ thả truyền đơn. 2. Theo số liệu báo cáo của Quân khu Trị Thiên, đến ngày 15-12-1975, số ngụy quân ở Thừa Thiên - Huế là 68.280, tăng 12.000 so với tài liệu nắm ban đầu. Địa phương đã cải tạo và trả tự do 11.108 người, còn 41.873 đang học tập, cải tạo; trong số này có 4.191 người thuộc diện học tập, cải tạo do cấp Quân khu quản lý. Như vậy, vẫn còn 15.299 người chưa tự giác trình báo. Số nhân viên cảnh sát lẩn tránh 3.100; số nhân viên ngụy quyền ở 40 cơ quan thuộc thành phố Huế là 4.546 người, có tới 728 lẩn tránh. Chưa tính số đảng viên thuộc các đảng phái phản động ra trình diện 31.877 người và hàng chục nghìn người đang “luồn", “lặn" chưa nắm hết. 3. Dẫn theo: 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 2004, tr.366. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Một, 2024, 05:07:53 pm I- CHUYỂN TỪ THỜI CHIẾN SANG THỜI BÌNH, THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ QUÂN KHU HỢP NHẤT Do tình hình chiến tranh và nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 6 tỉnh Liên khu 4 được tổ chức thành ba địa bàn chiến lược trực thuộc ba quân khu: - Từ nam sông Bến Hải đến đèo Hải Vân thuộc Khu ủy, Quân khu ủy Trị Thiên lãnh đạo, chỉ đạo, Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên chỉ huy. - Từ bắc sông Bến Hải đến Khe Nước Lạnh Nghệ An thuộc Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4. - Tỉnh Thanh Hóa chuyển thuộc Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 3. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc (30-4-1975), lãnh đạo, chỉ huy ba quân khu tiếp tục động viên, tổ chức, phát động quân và dân trên mỗi địa bàn chiến lược chủ động vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trên địa bàn Quân khu Trị Thiên (phía nam Bến Hải): Khu ủy, Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên khẩn trương triển khai chỉ đạo thực hiện 8 nhiệm vụ theo điện chỉ đạo của Quân ủy Trung ương 27-3-1975 và các chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. So với toàn miền Nam, Trị Thiên Huế được giải phóng sớm hơn một tháng 5 ngày. Ngày 25-3-1975 lá cờ cách mạng đã tung bay trên đỉnh cột Phu Văn Lâu (Huế)1. Khu ủy và Quân khu tăng cường lực lượng, phương tiện cho Quân đoàn 2 và các đơn vị tiếp tục tiến quân về phía Nam thực hiện các chiến dịch tiếp nối, tham gia giải phóng Đà Nẵng, thần tốc giải phóng các tỉnh Nam Trung Bộ và tiến vào giải phóng Sài Gòn. Đồng thời chỉ đạo một bộ phận lực lượng khẩn trương thực hiện nhiệm vụ tiếp quản vùng mới giải phóng. Từ các căn cứ miền núi trở về đồng bằng, thành phố, thị xã, trên những đống đổ nát do chiến tranh tàn phá, giữa các khu vực bom mìn địch cài đặt lại hàng chục vạn quả; hàng chục vạn ngụy quân và nhân viên ngụy quyền cũ, số thì tan rã bỏ súng về nhà, số khác lén lút trốn tránh chờ thời cơ phá hoại cách mạng, các cấp lãnh đạo, chỉ huy, bình tĩnh, tỉnh táo nhanh chóng triển khai ngay hệ thống quân quản từ tỉnh, thành phố, thị xã, huyện đến xã, thôn, khối phố. Các lực lượng vũ trang nhanh chóng tiếp quản các vùng mới giải phóng, cùng với bộ máy quân quản phát động quần chúng tổ chức trấn áp bọn phản cách mạng phá hoại hiện hành, xây dựng chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng, xây dựng, củng cố tăng cường lực lượng vũ trang nhân dân, an ninh nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an ninh địa phương. Để kịp thời phổ biến chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng và Ủy ban quân quản, xưởng in Quân khu Trị Thiên Huế được giao nhiệm vụ phối hợp in ấn các tài liệu đột xuất, tiếp tục phát hành báo Quân khu Trị Thiên. Nhiều tổ, đội công tác cơ sở đã cùng với các đơn vị bộ đội quân khu, tỉnh, thành phố, thị xã và lực lượng vũ trang địa phương đi sâu vào thôn xóm phối hợp tuyên truyền chiến thắng, giải thích rõ chủ trương, chính sách của Mặt trận; góp phần làm cho nhân dân phấn khởi, tự hào về sự đóng góp của mỗi người, mỗi gia đình và từng địa phương đối với cách mạng; quyết tâm phát huy truyền thống vẻ vang vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới; do hoàn cảnh chiến tranh chưa có dịp đóng góp với cách mạng, hoặc trót lỡ lầm, thì lúc này chính là cơ hội để tỏ rõ lòng trung với nước, hiếu với dân, đền đáp nghĩa tình với gia đình, quê hương. Là một địa bàn bị thực dân, đế quốc chiếm đóng gần 30 năm, nên sự chia ly, phân rẽ diễn ra ngay từng gia đình. Nhiều gia đình phải trong cảnh cha mẹ, con cái, anh em chồng vợ bị chia cắt tình cảm; nhiều trường hợp đối địch nhau trên hai bờ chiến tuyến, cầm vũ khí chống lại nhau. Nhiệm vụ tuyên truyền giác ngộ cho nhân dân nhận thức được rõ hoàn cảnh lịch sử, khép lại quá khứ, xóa bỏ mặc cảm, hận thù, cùng nhau bắt tay đoàn kết xây dựng lại Tổ quốc, quê hương đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, trở thành yêu cầu bức bách hàng đầu trong triển khai chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Tại các vùng mới giải phóng, đợt tuyên truyền, giáo dục, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước được đẩy mạnh. Những cuộc sinh hoạt, hội họp trong không khí chan hòa, cởi mở, dân chủ diễn ra khắp nơi, đem lại sự phấn khởi, niềm tin tưởng sâu sắc đối với cách mạng trong các tầng lớp nhân dân. Khí thế sẵn sàng quyết tâm thực hiện mọi nhiệm vụ công tác được phát động mạnh mẽ ở các cơ sở. Dựa vào quần chúng và thông qua các phong trào hành động, các đơn vị tiếp quản và hệ thống quân quản tuyển chọn được lực lượng cốt cán bổ sung vào lực lượng dân quân tự vệ2. Các tầng lớp quần chúng đã góp phần tích cực vận động con em, bà con thành thật cải tạo, đồng thời phát hiện trừng trị những phần tử phản động ngoan cố trốn tránh, phá hoại3. Các tiểu đoàn 10, 4, 2 bộ đội địa phương tỉnh, thông qua xây dựng cơ sở, tuyển chọn được 489 tân binh. Qua đó rút kinh nghiệm triển khai thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự ở vùng mới giải phóng trong những năm sau này. Các lớp tập huấn cán bộ ngắn ngày (3-4 ngày) và tương đối dài ngày (1 tuần trở lên) được tổ chức ở khắp các đơn vị địa phương. Nội dung tập huấn gồm các chuyên đề về huấn luyện quân sự, phát triển lực lượng, củng cố, xây dựng tổ chức, quản lý bộ đội, bồi dưỡng chức trách nhiệm vụ, học tập điều lệnh, tập huấn kỹ thuật rà phá, tháo gỡ bom, mìn. _____________________________________________ 1. Ngày 25-3-1975, Tiểu đoàn 8 Quảng Trị trong cánh quân hướng Bắc tiến vào đã cắm cờ báo tin vui Thừa Thiên-Huế giải phóng. Một số tư liệu căn cứ vào sự kiện ngày 26-3-1975, Trung đoàn 6 cắm lá cờ to thay cho lá cờ trước nhỏ hơn, ghi lại là 26-3. 2. Đến cuối tháng 4-1975. bộ đội địa phương các huyện, thị, thảnh phố đã được tổ chức rộng khắp. Thừa Thiên - Huế giải phóng sau Quảng Trị, nhưng đến lúc này tổ chức được 18 đại đội (trong đó có Phong Điền, Phú Vang, Hương Thủy và thành phố Huế mỗi nơi 3 đại đội. 3 huyện khác mỗi nơi 2 đại đội). Tỉnh cũng đã tổ chức được 68 trung đội du kích xã; 5.312 du kích thôn, 399 tự vệ. Đây là đợt củng cố tổ chức, phát triển lực lượng vũ trang được tiến hành rộng khắp đầu tiên, trong đó có 2.444 tân binh được bổ sung vào bộ đội. 3. Theo báo cáo của Quân khu Trị Thiên, đến 14-7-1975, số lính ngụy bị bắt và trình diện 58.772 người (có 3.781 sĩ quan); 14.000 nhân viên ngụy quyền bị bắt và trình diện (nhân dân phát hiện 1.939 đối tượng hình sự nguy hiểm). Ngoài ra có 36.000 phòng vệ dân sự học tập cải tạo tại chỗ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Một, 2024, 05:11:57 pm Thực hiện chỉ thị ngày 4-5-1975 của Quân ủy Trung ương về công tác thu hồi, quản lý, bảo quản sử dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật, và các tài liệu thu được của địch, các cấp đã tiến hành tổng kiểm kê, phân loại, đánh giá tình hình số lượng, chất lượng, phân cấp quản lý chặt chẽ theo chế độ, quy tắc quản lý tài sản Nhà nước, tài sản quân đội. Các đơn vị đều tổ chức học tập quán triệt ý nghĩa chiến lược quan trọng của công tác này đối với sự nghiệp xây dựng quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Ngoài số đạn pháo 130 ly, đạn Đ74, xe tăng, xe bọc thép, hơn 1.000 tấn gạo, hàng trăm tấn thực phẩm thu của địch ở căn cứ Phú Bài được chuyển giao cho Quân đoàn 2 làm nhiệm vụ giải phóng Đà Nẵng và tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam. Tất cả các kho tàng, công trình công cộng đều được tự vệ, công nhân và lực lượng vũ trang canh gác, bảo vệ. Nhà máy điện, nhà máy nước, bưu điện, đài phát thanh, bệnh viện Huế được giữ gìn bảo quản trang thiết bị và vận hành tốt, phục vụ kịp thời yêu cầu nhanh chóng ổn định đời sống và quốc phòng an ninh1. Trung đoàn 6 Phú Xuân bộ binh Quân khu được giao nhiệm vụ quân quản thành phố Huế. Chỉ sau vài ngày giải phóng, trung đoàn đã góp phần tích cực ổn định nhanh chóng tình hình mọi mặt. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn dựa hẳn vào nhân dân, cùng các lực lượng vũ trang địa phương lập lại trật tự an ninh, phát động nhân dân tích cực phối hợp phát hiện, truy quét số tàn binh, gián điệp, mật vụ, đảng phái phản động đang lẩn trốn. Hệ thống chính quyền cách mạng, phần lớn là cán bộ quân sự chịu trách nhiệm chủ trì, đã tổ chức tiếp quản, quản lý xã hội đi vào nền nếp. Việc đăng ký hộ tịch, hộ khẩu được tổ chức nghiêm túc, tạo điều kiện theo dõi quản lý chặt chẽ cư dân trên địa bàn cư trú. Được cách mạng và nhân dân giáo dục, giác ngộ, được hưởng chính sách khoan hồng của cách mạng, số ngụy quân và nhân viên ngụy quyền cũ lần lượt ra trình diện, nộp vũ khí, cung cấp những thông tin cần thiết cho chính quyền và cơ quan chức năng ngày càng tăng. Họ phấn khởi, tích cực tham gia công tác xã hội, tham gia các đội phòng, chống dịch bệnh, làm vệ sinh môi trường, thu nhặt vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch để lại, góp phần sửa chữa, hướng dẫn cách sử dụng một số trang bị, vũ khí thu được của Mỹ - ngụy. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ quân quản, các đơn vị bộ đội chủ lực được bố trí lại đội hình theo yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và sẵn sàng chiến đấu. Trung đoàn 6 trở lại vùng căn cứ kháng chiến chốt giữ địa bàn A Lưới, Trung đoàn 4 về Quảng Điền, Tiểu đoàn 814 về Đông Hà, Trung đoàn 16 pháo binh về vùng Quảng Lợi, Quảng Điền, Phong An, Phong Điền (huyện Quảng Điền), Lộc Sơn, Lộc An, Lăng Cô (Phú Lộc), Hương Bằng, Hương Phú (Hương Trà) xây dựng, huấn luyện, đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới. Sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn phá, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Các cấp lãnh đạo, chính quyền phát động rộng rãi phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất, Ổn định đời sống, tổ chức giúp đỡ các gia đình neo đơn, thiếu đói; nhất là các gia đình thuộc diện chính sách. Chính quyền tỉnh, thành phố, huyện, huy động mọi lực lượng, phương tiện đón và vận chuyển hàng chục vạn người từ các nơi sơ tán, di tản, các “ấp chiến lược” trở về quê cũ2. Vấn đề phức tạp, nặng nề cấp thiết nhất trong tổ chức sản xuất, ổn định đời sống nhân dân là giải quyết nơi ăn, ở, điều kiện, phương tiện sản xuất, sinh hoạt. Trong chiến tranh, Trị Thiên Huế là nơi tập trung đối đầu quyết liệt giữa các lực lượng tinh nhuệ thiện chiến của Mỹ - ngụy với lực lượng vũ trang tại chỗ và bộ đội chủ lực miền Bắc. Tại đây, Mỹ - ngụy đã đưa đến sử dụng loại vũ khí tối tân hiện đại nhất. Hầu hết các loại vũ khí được quân Mỹ trang bị, từ các loại bom, mìn cải tiến đến lần thứ 4, thứ 5, các loại mìn nhện, mìn vướng, mìn Jíp, đạn pháo “nơm”, pháo “chụp”, bom tấn, bom B.52 “rải thảm”, bom xuyên sâu, chất độc hóa học. Hậu quả tiềm ẩn khắp xóm thôn, đồng ruộng, vườn tược, khe suối, đường giao thông và ngay trên những nền nhà ở, trường học. Bom cày, đạn xối nhiều lần cùng với nước xói, đất vùi làm cho bom, mìn, đạn, pháo chưa nổ chìm sâu vào các tầng đất, lấp kín dưới những vùng lá cây khô, bãi cỏ. Bom mìn, chất nổ, các loại chướng ngại vật địch dùng xây dựng đồn bốt, trong đó có tuyến “hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra” (mà Mỹ từng tuyên bố là một con chuột cũng khó lọt qua) đã cản trở nghiêm trọng công cuộc hồi cư, xây dựng đời sống, phát triển sản xuất. Chúng đe dọa tính mạng nhân dân từng giờ, từng phút. Thực hiện chỉ thị của đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên phát động chiến dịch rà phá, tháo gỡ bom mìn, thu hồi vật liệu chiến tranh và các loại chất nổ trên khắp hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. Trung đoàn 414 công binh chủ lực của Quân khu cùng các cơ quan công binh quân khu, tỉnh, thành phố, thị xã, huyện và các đơn vị bộ đội địa phương tổ chức các hạt nhân nòng cốt lực lượng vũ trang học tập rút kinh nghiệm cách rà phá, tháo gỡ, vô hiệu hóa bom mìn, thu hồi vật liệu nổ. Các hạt nhân nòng cốt vừa làm nhiệm vụ rà phá, vừa hướng dẫn đồng đội và nhân dân tìm kiếm phát hiện bom mìn, tạo nên phong trào thi đua rà phá các loại bom mìn diễn ra khắp nơi. Để nhanh chóng khắc phục hậu quả bom mìn, Quân khu 4 tăng cường thêm lực lượng công binh, bộ đội chủ lực và dân quân tự vệ đã tích lũy nhiều kinh nghiệm rà phá bom mìn, thủy lôi Mỹ trong chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc tham gia. Trong điều kiện phương tiện khí tài thăm dò, phát hiện rất hiếm, chủ yếu bằng các phương tiện thô sơ, cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch phải tận dụng mọi phương pháp rà phá, tháo gỡ bằng trí tuệ kết hợp lòng dũng cảm và kỹ thuật, kinh nghiệm thực tế. Phương tiện phổ biến nhất là dùng mũi thuốn để thăm dò. Họ phải chia ô, chia hàng, cắm mốc thật chính xác để dò. Hết ngày này sang ngày khác, trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, cuộc thi gan, đọ trí đã diễn ra hết sức căng thẳng trên từng mũi thuốn. Đối với những nơi phát hiện có bom từ trường cán bộ, chiến sĩ lại phải dùng phương pháp rà phá khác. Trên mặt trận thầm lặng, căng thẳng kéo dài nhiều tháng này, một số cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống vì cuộc sống thanh bình, hạnh phúc của nhân dân. Trong điều kiện đất nước đã có hòa bình, nhân dân vui vầy trong cảnh sum họp, các đơn vị và mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thường xuyên động viên nhau và tự động viên mình, đã vượt qua những suy tính riêng tư, so sánh hơn thiệt, tiếp tục xả thân trên mặt trận rà phá bom mìn. Tinh thần, ý chí “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh” được nhắc nhở trong mỗi buổi sinh hoạt, trên từng mét vuông đất được cắm mốc, phân ô. Thực sự bảo đảm an toàn, không để sơ suất gây tai nạn cho mình đã khó khăn căng thẳng; bảo đảm an toàn tuyệt đối cho nhân dân sản xuất, ổn định và phát triển, tạo lập niềm tin đối với bà con, lại càng đòi hỏi sự tỷ mỷ, cẩn trọng, trách nhiệm đến cùng. _____________________________________________ 1. Bệnh viện Huế có 1.200 giường chỉ sau vài ngày đã tiếp nhận hàng trăm người bệnh. Ngay ngày đầu giải phóng, 9/15 tổng số máy của nhà máy điện và 50/127 công nhân đã hoạt động đều; sơ đồ đường dây điện được bảo vệ nguyên vẹn. Nhà máy nước 100% công nhân ở lại làm việc cung cấp 10.000m3/ngày. Đài phát thanh đưa tin đều đặn. Hệ thống bưu điện với 600 máy điện thoại liên lạc thông suốt. 2. Riêng Thừa Thiên - Huế phải tổ chức giải quyết một khối lượng công tác bảo đảm rất lớn để vận chuyển 32 vạn người hồi cư. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Một, 2024, 05:16:58 pm Trong đợt chỉ đạo tập trung từ ngày 8 đến ngày 17-6-1975 Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế (phiên hiệu đơn vị 610) đã trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 10, Tiểu đoàn 4 bộ đội địa phương và dân quân du kích các huyện Hương Thủy, Hương Trà, Quảng Điền, Phong Điền, Phú Lộc (có sử dụng một số binh lính, nhân viên kỹ thuật chế độ cũ có hiểu biết về bom mìn) đột phá vào vùng trọng điểm như Thủy Biều (Hương Thủy), Vinh Mỹ và nam bắc sông Truồi (Phú Lộc), Hương Bằng (Hương Trà), Phong Hiền (Quảng Hiền cũ), Phong An, Phong Sơn (Phong Điền). Trong 10 ngày, các lực lượng tham gia chiến dịch đã tháo gỡ được 2.921 quả bom mìn, phá nổ 900 quả, giải phóng 62km2 đất đai, vườn tược. Trong đợt rà phá này, 5 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh (trong đó có 2 bộ đội, 2 du kích, 1 cựu binh sĩ chế độ cũ), 4 đồng chí bị thương. Tấm gương mưu trí, dũng cảm của những dũng sĩ đã cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tiếp tục đúc rút kinh nghiệm mở các đợt rà phá những năm sau này. Do tính chất đặc thù của Trị Thiên Huế, ngay sau ngày giải phóng, lưu lượng người qua lại công tác và lưu trú tăng lên nhanh. Công tác giữ gìn an ninh trật tự xã hội được chú trọng. Nhiều đoàn khách quan trọng dự nhiều hội nghị và lễ hội được bảo đảm an toàn tuyệt đối. Trong lúc tập trung khắc phục hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, Trị Thiên Huế lại phải đương đầu với đợt lũ lụt lớn diễn ra trên diện rộng, gây nên những thiệt hại nghiêm trọng. Từ ngày 17 đến ngày 30-10-1975, các tiểu đoàn 10, 2 và ba trung đoàn 6, 16, 414 cùng lực lượng dân quân tự vệ, bộ đội địa phương huyện, thành phố liên tục vật lộn với sóng nước, hiểm nguy, đói rét, cứu 151 người bị trôi, ngập, tổ chức đưa 1.772 gia đình ra khỏi vùng ngập lụt; bốc chuyển di dời 4.140 tấn lương thực, cứu tài sản cho 87 gia đình, chuyển hàng cứu tế 193 tấn (đường sữa 52kg). Bộ đội còn tổ chức nấu cơm vắt hơn 2.600 nắm, sản xuất 4.750 chiếc bánh mì và đóng góp 12 tấn gạo chuyển đến vùng đồng bào gặp nạn nhanh chóng ổn định cuộc sống. Hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ “Bộ đội Cụ Hồ” đã khắc sâu vào tình cảm nhân dân thông qua công tác quân quản, qua những ngày đi sâu sát tuyên truyền vận động quần chúng, qua chiến dịch tháo gỡ bom mìn. Giờ đây, hình ảnh cao đẹp ấy lại tỏa sáng qua những hành động quên mình cứu giúp nhân dân khắc phục hậu quả bão lụt. Nước vừa rút; các chiến sĩ lực lượng vũ trang lại giúp dân sửa chữa và làm lại nhà cửa, làm vệ sinh môi trường; phát động trồng rau màu ngắn ngày1. Cùng thời gian này căn cứ vào quyết định của Thường vụ Quân ủy Trung ương (13-5-1975), Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức triển khai hai đề tài: Tổng kết cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 và tổng kết các mặt công tác lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Trị Thiên Huế. Trong những tháng đầu đất nước thống nhất, khối lượng công việc nhiều và khẩn trương, nhưng lãnh đạo, chỉ huy Quân khu Trị Thiên đã chú trọng đẩy mạnh các biện pháp nhanh chóng ổn định các vùng mới giải phóng, tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi cho hợp nhất quân khu đáp ứng giai đoạn cách mạng mới. Trên địa bàn Quân khu 4 (từ Vĩnh Linh đến Nghệ An)2. Hòa chung với niềm vui toàn thắng, ngày 29 và 30-4-1975, Thường vụ Quân khu ủy 4 kiểm điểm đánh giá kết quả hai tháng chấp hành nhiệm vụ tham gia cao trào tổng tiến công và nổi dậy cùng miền Nam; đồng thời xác định luôn luôn “bám sát yêu cầu phía trước, sẵn sàng về tư tưởng và tổ chức, phát huy thuận lợi và khắc phục khó khăn mới, chấp hành vô điều kiện mọi yêu cầu của miền Nam cũng như các nhiệm vụ mà Quân ủy Trung ương giao cho”. Nhờ lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sát đúng và phát huy bản lĩnh của các lực lượng vũ trang và nhân dân được tích lũy, rèn luyện trong quá trình cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, các đơn vị, địa phương chủ động triển khai thực hiện 6 công tác chính do Quân khu đề ra. Một trong những công tác quan trọng được xác định là "Tiếp tục quán triệt tình hình, nhiệm vụ mới, tận dụng điều kiện thuận lợi mới, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, động viên khí thế cách mạng tiến công, nâng cao ý chí chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật". Khắp nơi nô nức, nhộn nhịp tổ chức các cuộc mít tinh trọng thể, báo công, mừng công, biểu dương, tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu, trong đó có sự đóng góp xứng đáng của mỗi đơn vị, địa phương vào thắng lợi chung của dân tộc. Tất cả các cuộc mít tinh, lễ hội đều nhằm phát động thi đua phát huy thắng lợi, tiếp tục biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu hướng công tác tư tưởng vào yêu cầu xây dựng tinh thần tiếp tục tiến công, chủ động phòng chống tư tưởng thỏa mãn, dừng lại, xả hơi, chủ quan, công thần, kiêu binh... mà các đội quân chiến thắng trong lịch sử thường vấp phải. Một trong những biện pháp hiệu quả là sớm đưa lực lượng vũ trang quân khu vào phong trào hành động cách mạng mới, không xả hơi, dừng lại. Trên cơ sở ý kiến lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong các văn bản “chuyển từ thời chiến sang thời bình”; “về thực hiện nhiệm vụ tiếp quản và quân quản vùng mới giải phóng ở miền Nam”3, “về công tác thu hồi, quản lý, bảo quản, sử dụng các cơ sở vật chất - kỹ thuật lấy được của địch trong vùng giải phóng”4, “về một số công tác trước mắt của quân đội”5, Quân khu ủy (Thường vụ) và Bộ tư lệnh Quân khu tiến hành đồng bộ các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, nhằm tạo thế và lực chuyển biến mới trong bước ngoặt lịch sử ngay từ những ngày đầu đất nước thống nhất. Đồng thời, chuẩn bị dự kiến phương án, kế hoạch tham gia xây dựng đất nước. _____________________________________________ 1. Theo số liệu của Quân khu Trị Thiên và Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế, bộ đội tham gia làm lại và sửa chữa được 390 nhà dân ngay sau khi nước rút. 2. Lúc này, tỉnh Thanh Hóa đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 3 về mặt quân sự quốc phòng. 3. Điện chỉ đạo đầu tháng 5-1975. 4. Chỉ thị của Quân ủy Trung ương ngày 4-5-1975. 5. Thường vụ Quân ủy Trung ương quyết định một số công tác trước mắt của quân đội (31-5-1975). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Một, 2024, 05:19:52 pm Ngày 3-8-1975, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quyết định số 315/TTg giao cho quân đội thực hiện một số nhiệm vụ xây dựng kinh tế. Quân khu 4 được giao tham gia làm các công trình đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An; làm đường giao thông giúp bạn Lào trên các tuyến quốc lộ 7, 8, 9; trồng rừng, khai thác, kinh doanh tổng hợp về lâm nghiệp ở Nam Long Đại (Quảng Bình) và ở Tây Nghệ An. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên của Chính phủ giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 tham gia xây dựng kinh tế. Thực hiện nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao ngày 7-8-1975 Bộ tư lệnh Quân khu họp do Thiếu tướng Đàm Quang Trung, Tư lệnh Quân khu chủ trì. Hội nghị xác định những vấn đề then chốt về phương hướng, nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang quân khu là: "Sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị cho công cuộc phòng thủ đất nước lâu dài; tích cực xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến lên chính quy hiện đại là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên. Đồng thời, tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là nhiệm vụ cách mạng lâu dài và là yêu cầu quan trọng trong giai đoạn hiện nay"1. Quân khu xác định rõ nhiệm vụ cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu phải luôn chuẩn bị tốt cả về tư tưởng và tổ chức để bảo vệ vững chắc vùng biển, vùng trời, biên giới, hải đảo và những địa bàn chiến lược do Quân khu phụ trách. Một trong những nhiệm vụ quan trọng được Quân khu chủ động triển khai là chuẩn bị xây dựng tuyến đường sắt (đoạn Minh Cầm - Tiên An), giao cho các cơ quan Quân khu cử người chuyên trách theo dõi, đề xuất cách giải quyết giúp Đảng ủy và Bộ tư lệnh kịp thời giải quyết những vấn đề mới nảy sinh. Cục sản xuất Quân khu là cơ quan vừa làm tham mưu kế hoạch giúp Bộ tư lệnh, vừa chỉ huy, lãnh đạo các đội xây dựng, vừa bảo đảm khối lượng vật tư, kỹ thuật, công cụ lao động cho toàn công trình, đồng thời, chịu trách nhiệm hạch toán với Nhà nước2. Về công tác chính trị tư tưởng, Quân khu chỉ đạo các cơ quan và đơn vị quán triệt sâu sắc cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, toàn Quân khu phải ra sức khắc phục mọi khó khăn, tranh thủ thời gian, sớm triển khai mọi mặt lao động xây dựng. Các trung đoàn 167 pháo binh, 233 và 222 cao xạ, 89 công binh, 80 thông tin, Đoàn 22B huấn luyện quân tăng cường, Sư đoàn 341B3 được giao nhiệm vụ làm đường sắt khẩn trương chuyển vào Quảng Bình - Vĩnh Linh, trải dài theo địa bàn được phân công phụ trách. Cục Hậu cần Quân khu tổ chức các đội vận tải, trạm sửa chữa, trạm quân y do Cục Quản lý trực tiếp cùng một ban tài vụ do một Phó trưởng Phòng Tài vụ Quân khu phụ trách chuyên lo giải quyết ngân sách cho công trình đường sắt Thống Nhất, đoạn Minh Cầm - Tiên An. Quân khu phải thực hiện công trình mang tính chất đặc biệt "vừa thiết kế, vừa thi công", “vừa hành quân, vừa xếp hàng” mọi mặt ngân sách, vật tư, kỹ thuật, kinh nghiệm, nhân viên, cán bộ kỹ thuật đều rất thiếu, thời gian lại rất gấp. Trước tình hình đó ngày 11-8-1975, Thường vụ Quân khu ủy ra Nghị quyết chuyên đề số 358, do đồng chí Đàm Quang Trung, Bí thư Quân khu ủy ký, xác định rõ ý nghĩa, mục đích, tính chất, yêu cầu về chất lượng, thời gian hoàn thành từng công đoạn và toàn công trình, cùng các chủ trương lớn và biện pháp thực hiện. Nghị quyết nhấn mạnh: Đây là một nhiệm vụ "có ý nghĩa rất quan trọng và cấp bách, cả về chính trị, quốc phòng, kinh tế, cả trước mắt và lâu dài đối với công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, cũng như đối với Quân khu; đáp ứng nguyện vọng, tình cảm bức thiết của nhân dân cả nước". Đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An dài 144km là một trong số ít đoạn đường bị chiến tranh phá hoại nặng nề nhất. Nhiều quãng không còn nền đường, do bom đạn tàn phá ác liệt. Cầu cống hoàn toàn bị phá hủy. Công trình thuộc loại trọng điểm lớn của Nhà nước. Yêu cầu kỹ thuật rất cao, phức tạp, khối lượng rất lớn. Thời gian được xác định rõ: tháng 6-1976 hoàn thành đoạn Thuận Lý - Tiên An. Đầu tháng 12-1976 hoàn chỉnh toàn tuyến từ Minh Cầm đến Tiên An, bảo đảm thông xe đúng dịp khai mạc Đại hội lần thứ IV của Đảng Lao động Việt Nam. Quân khu phân công Đại tá Chu Thanh Hương, Phó chính ủy Quân khu (nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Binh chủng Công binh) chuyên trách theo dõi giúp Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề phát sinh. Đồng chí Trần Lư, Cục trưởng Sản xuất cùng các cán bộ cơ quan Quân khu được tuyển chọn những đồng chí có quyết tâm cao, năng lực tổ chức thực hiện tốt, tác phong chỉ đạo sâu sát, gương mẫu "đứng mũi chịu sào" bổ sung vào cơ quan chỉ đạo, chỉ huy xây dựng công trình. _______________________________________________ 1. Quân khu 4 - Sự kiện hàng năm (1975-1985), lưu tại Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quân khu 4, tr.7. 2. Ngày 10-3-1975, Quân khu đề nghị Bộ Quốc phòng cho phép thành lập Cục Sản xuất trực thuộc Bộ tư lệnh Quân khu. 3. Lúc này, Sư đoàn 341B mới có 4 trung đoàn theo biên chế chiến đấu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Một, 2024, 07:20:33 pm Ngày 22-11-1975, sau một quá trình nghiên cứu, chuẩn bị, Bộ tư lệnh đề nghị tổ chức biên chế Sư đoàn 341B theo hướng chuyên môn hoá, đảm nhận vai trò đơn vị chủ quản. Sư đoàn tổ chức 7 trung đoàn, 7 phòng, 5 đơn vị trực thuộc, bao gồm khảo sát, thông tin, huấn luyện, xưởng sửa chữa. Quân số của sư đoàn là 10.000 người, trong đó có 50% sĩ quan, 81% lao động trực tiếp. Bên cạnh các đơn vị lao động phổ thông, sư đoàn tổ chức huấn luyện các trung đoàn chuyên môn kỹ thuật: khai thác – nghiền sàng đá; làm cầu; đặt đường ray; thiết kế thi công hệ thống thông tin, tín hiệu. Chiến dịch xây dựng tuyến đường sắt Thống Nhất, đoạn Minh Cầm - Tiên An tiến hành vào mùa mưa lụt lớn ở Bình Trị Thiên, tiếp đó là các đợt rét cắt da, bộ đội phải vận dụng phương châm "Lao động bốn mùa, thi công mọi thời tiết”. Nhiều lúc, 12 giờ trong ngày, cán bộ chủ trì sư đoàn còn phải lặn xuống nước sâu để kiểm tra mố cầu. Có những công đoạn mặt bằng chuẩn bị xong, nhưng phương tiện, vật tư kỹ thuật Nhà nước chưa cung cấp kịp. Bộ đội phải tăng cường độ lao động theo tinh thần "Làm ngày chưa đủ, tranh thủ làm đêm", "ngày không giờ, tuần không thứ". Cùng với việc tăng cường những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy có kinh nghiệm, năng nổ về chủ trì sư đoàn1, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu duy trì chế độ giao ban, theo dõi chỉ đạo tiến độ thi công như chỉ đạo tác chiến. Ngày 29-10-1975, Quân khu họp thông qua bước đầu kế hoạch làm đường sắt, giao cho Sư đoàn 341B chuyên quản; rà soát lại tất cả các công việc cụ thể liên quan đến chức năng từng cơ quan Quân khu, định rõ yêu cầu và thời gian giải quyết2. Tại cuộc họp này, Quân khu phê chuẩn những nội dung cơ bản của dự án kế hoạch; những mốc chính của tiến độ thi công được khẳng định lại như giờ "G", ngày "N” trong chiến đấu. Quân khu giao cho Cục Sản xuất và Sư đoàn 341B tiếp tục bàn bạc với Bộ Giao thông vận tải, Tổng cục Bưu điện và các cơ quan của Chính phủ liên quan ký kết các hợp đồng kinh tế, đặc biệt là yêu cầu cung cấp kịp thời, đầy đủ thiết kế. Quân khu quyết định tăng cường Trung đoàn 79 công binh, Trung đoàn 185 Quảng Bình, Trung đoàn 214 cao xạ, Xưởng cơ khí 47, Đội điều trị 44, đại đội ô tô của Cục Hậu cần tham gia chiến dịch xây dựng tuyến đường sắt Thống Nhất. Ngày 10-12-1975, Quân khu trình lên Bộ Quốc phòng tình hình triển khai thực hiện nhiệm vụ và kiến nghị một số việc cần sự giúp đỡ của Bộ. Sau ba tháng ra quân, thi công đồng loạt giữa mùa mưa lũ, khó khăn chồng chất, kể cả hiểm nguy trong rà phá, tháo gỡ bom mìn, nhưng các đơn vị đã triển khai bảo đảm đúng tiến độ thi công nền đất. Trong quá trình xây dựng, cán bộ kỹ thuật, vật tư, thiết bị chuyên dùng, máy nghiền sàng sản xuất đá và công tác bảo đảm kỹ thuật làm nhà ga, làm cầu, đặt ray, vận chuyển còn rất thiếu thốn. Quân khu kiến nghị với các Bộ, ngành, nhất là Bộ Giao thông Vận tải, sớm bảo đảm vật tư, thiết bị, công nhân kỹ thuật theo đúng yêu cầu hợp đồng đã ký kết. Đồng thời, xin cấp 10 xe vận tải đường sắt cỡ lớn chuyên dùng vận chuyển các loại xe máy loại nặng, 5 xe tải D7E, 2 xe xúc lật, 2 xe khoan đá cỡ 100mm, gồm những xe máy thu được của Mỹ - ngụy ở miền Nam, 10 máy kinh vĩ, 10 máy thủy chuẩn để đo đạc. Trên các tuyến đang thi công, Quân khu cử cán bộ đến trực tiếp động viên chúc Tết bộ đội ngay trên công trường. Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tăng cường chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị theo một quy trình chặt chẽ đúng tầm "nhiệm vụ chính trị trung tầm trước mắt", đúng yêu cầu đối với "một mặt trận tiến công mới của toàn Quân khu, phải quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo như một chiến dịch" như nghị quyết của Thường vụ Quân khu ủy đã xác định. Quân khu cử các đoàn cán bộ chuyên ngành trực tiếp nghiên cứu, kiểm tra, rút kinh nghiệm kịp thời, phát hiện đề xuất những vấn đề về tổ chức, chỉ huy điều hành lao động, quản lý, sử dụng nhân lực, tài lực, vật lực phù hợp với điều kiện hạch toán kinh tế, định mức về quy trình kỹ thuật, chất lượng công trình, phân bố lao động trực tiếp, lao động gián tiếp; kiện toàn tổ chức từng bước nâng cao hệ thống mức tiền lương cho bộ đội. Ngày 10-2-1976, Quân khu tổ chức hội nghị sơ kết công tác đảng, công tác chính trị trong thực hiện nhiệm vụ làm đường sắt, nhằm "tiếp tục phát huy truyền thống vốn có của công tác tư tưởng, công tác tổ chức trong quân đội vào mặt trận mới"; "tạo chuyển biến nhận thức, tư tưởng, tình cảm trong cán bộ lãnh đạo, chỉ huy; đặc biệt là cán bộ chủ trì trung cấp, tạo chuyển biến mạnh mẽ về hành động, tập trung vào lãnh đạo xây dựng, nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện nhiệm vụ ngày càng khoa học"3; và quyết định tổ chức thật tốt phong trào thi đua Quyết thắng do Quân ủy Trung ương phát động. Ngày 2-3-1976, Quân khu chỉ thị các cấp cần đôn đốc, nhắc nhở các đơn vị tham gia làm nhiệm vụ xây dựng đường sắt làm tốt công tác bảo vệ an ninh: "Mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên nêu cao trách nhiệm, giữ vững sự nhất trí, phấn khởi, nhiệt tình với công tác, giữ vững quyết tâm, làm cho chính trị - tư tưởng trong đơn vị luôn lành mạnh. Phát hiện, khắc phục mọi biểu hiện tiêu cực nảy sinh". Cũng thời gian này, Bộ Giao thông vận tải cùng các cơ quan chức năng của Chính phủ và Bộ Quốc phòng kịp thời giúp Quân khu giải quyết một số khó khăn về vật tư. ______________________________________________ 1. Thượng tá Nguyễn Cận - Phó Tham mưu trưởng Quân khu (nguyên Tư lệnh Phòng không Quân khu) làm Sư đoàn trưởng, Đại tá Nguyễn Địch Sơn làm Bí thư Đảng ủy - Chính ủy sư đoàn. Trung tá Vũ Bá Tước - Kỹ sư chuyên trách kỹ thuật đươc bổ nhiệm làm Phó sư đoàn trưởng. 2. Cuộc họp do Thiếu tướng Đàm Quang Trung - Bí thư Quân khu ủy - Tư lệnh Quân khu chủ trì. Tham dự có Đại tá Đặng Hoà - Phó Bí thư Quân khu ủy - Phó chính ủy Quân khu, Đại tá Phan Văn Đường, Ủy viên thường vụ Quân khu ủy - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu; Đại tá Nguyễn Văn Thuận - Ủy viên Thường vụ Quân khu ủy - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu; Đại tá Lê Thanh - Phó tư lệnh Quân khu và Thủ trưởng cơ quan cục (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần. Sản xuất) và 6 phòng (Tác chiến, Tài vụ, Quân lực, Tổ chức, Cán bộ, Tuyên huấn). 3. Hồ sơ 136/KQU - Lưu trữ Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Một, 2024, 07:22:32 pm Sau khi Bộ Quốc phòng ngừng việc điều động Sư đoàn 316B vào Tây Nguyên, Quân khu quyết định tăng cường sư đoàn vào đoạn bắc Đồng Hới (Quảng Bình) để đẩy nhanh tiến độ xây dựng tuyến đường sắt Thống Nhất. Lúc này, lực lượng tham gia chiến dịch đường sắt lên gần 30.000 người, bao gồm Sư đoàn 341B (7 trung đoàn); Sư đoàn 316B (4 trung đoàn); 8 trung đoàn (185, 214, 167, 79, 89, 80, 233, 222) và Tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân. Trong không khí lao động khẩn trương, hăng say thực hiện 4 yêu cầu: "Đúng thiết kế kỹ thuật, chất lượng nâng cao; hoàn thành đúng thời gian đã định; năng suất cao, tiết kiệm nhiều, an toàn tuyệt đối; xây dựng bộ đội trưởng thành trong quá trình triển khai nhiệm vụ"; các đơn vị được vinh dự đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm. Đại tướng ra công trường thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ, cầm từng chiếc xẻng, chiếc cuốc xem chất lượng công cụ lao động; tiếp đó đến thăm một số nơi ăn, ở, sinh hoạt của bộ đội, nhắc nhở lãnh đạo, chỉ huy quan tâm đúng mức đời sống tinh thần, vật chất của bộ đội trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn. Lời nhắc nhở của Đại tướng đã động viên cổ vũ mạnh mẽ phong trào thi đua của các đơn vị, khắp nơi mở lò rèn, thu nhặt sắt vụn, rèn sửa xẻng cuốc, cải thiện công cụ lao động để đạt năng suất cao. Trải qua hơn 400 ngày đêm lao động gian khổ và quyết liệt, được Trung ương Đảng, Chính phủ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và sự phối hợp hiệp đồng của Bộ Giao thông vận tải, Tổng cục Bưu điện, các Bộ, ngành Trung ương cùng sự giúp đỡ trực tiếp của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các địa phương, (tổ chức bảo đảm lương thực, thực phẩm, dành nơi ăn, chốn ở, động viên, cổ vũ tinh thần), sáng ngày 7-12-1976, lễ thông xe nội bộ đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An được tổ chức trọng thể tại ga trung tâm Thuận Lý (Đồng Hới, Quảng Bình). Đây là công trình có ý nghĩa lớn của quân dân Quân khu, của các cơ quan, xí nghiệp Trung ương và địa phương chào mừng Đại hội lần thứ IV của Đảng. Để hoàn thành công trình có ý nghĩa lịch sử này, các sư đoàn 341B, 316B, các trung đoàn 185, 167, 79, 89, 80, 214, 233 222, các cơ quan, phân đội trực thuộc Quân khu và Tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân anh hùng đã đóng góp hơn 2 triệu ngày công, đào đắp hơn 1 triệu mét khối đất, hoàn chỉnh 144km nền đường, đặt hơn 150km đường ray (kể cả đường tránh ở các ga), xây dựng 12 khu ga (trong đó có nhà ga Phúc Tự xây vĩnh cửu); xây mới và sửa chữa 322 cầu cống loại vừa và loại nhỏ; sản xuất hơn 100.000m3 đá; xây dựng tuyến đường dây thông tin 277km; phá gỡ 29.300 quả bom mìn trên tuyến đường sắt; tham gia xây dựng các cầu lớn: Yên Xuân, Cửa Rào, Tân Đức, Kim Lũ I, Kim Lũ II; gia cố, tu sửa 3 đường hầm ở Minh Cầm. Trải qua quá trình lao động, hoàn thành đoạn đường sắt Minh Cầm - Tiên An, Quân khu đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật có tay nghề; cán bộ lãnh đạo, chỉ huy được bồi dưỡng một bước quan trọng về điều hành, quản lý lao động trong xây dựng kinh tế. Đáng chú ý là Sư đoàn 341B với 7 trung đoàn và một số trạm, xưởng được xây dựng và trang bị theo hướng chuyên sâu làm kinh tế, vừa làm, vừa học, tích luỹ vốn và kinh nghiệm, mua sắm được một số máy móc tương đối hiện đại. Sư đoàn được đánh giá là binh đoàn xây dựng kinh tế mạnh, đơn vị chủ lực đột phá trên mặt trận mới. Sau khi Sư đoàn 341B hoàn thành nhiệm vụ làm đường sắt, Bộ Quốc phòng quyết định điều động Sư đoàn rời Quân khu đi xây dựng tuyến đường chiến lược phía Bắc, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo quyết định của Bộ, Sư đoàn được mang toàn bộ cơ sở vật chất - kỹ thuật mua sắm trong quá trình xây dựng tuyến đường sắt. Đại tá Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh Quân khu và Đại tá Chu Thanh Hương-Phó Chính ủy Quân khu thay mặt bên giao và Thượng tá Phan Quang Tiệp - Cục trưởng Cục cầu đường, thừa ủy nhiệm Tổng cục Xây dựng kinh tế, thay mặt bên nhận, cùng Thượng tá Nguyễn Cận - Sư đoàn trưởng, Đại tá Nguyễn Địch Sơn - Chính ủy Sư đoàn 341B ký biên bản bàn giao. Quân khu coi việc chuyển Sư đoàn 341B làm nhiệm vụ mới là vinh dự, là trách nhiệm được đóng góp vào sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Đó cũng là một dấu ấn của sự trưởng thành về khả năng, tiềm lực của các lực lượng vũ trang quân khu trong những năm đầu xây dựng đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, mang lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào1. Song song với chiến dịch đường sắt Thống Nhất, các lực lượng vũ trang quân khu từ Vĩnh Linh đến Nghệ An, cả bộ đội làm đường sắt, đều tập trung thực hiện 6 công tác chính: 1. Tiếp tục quán triệt tình hình, nhiệm vụ mới, đẩy mạnh tuyên truyền, động viên khí thế cách mạng, nâng cao ý chí hành động, năng lực tổ chức thực hiện; 2. Tập trung xây dựng các sư đoàn chủ lực cơ động; 3. Tập trung huấn luyện bộ đội; 4. Tập trung chỉ đạo tuyển quân, tuyển sinh, tuyển dụng lao động; 5. Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; 6. Kiên quyết tạo chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện. Khắp nơi, từ thôn xã, khối xóm đến huyện, thị, thành, tỉnh lỵ đều tổ chức lễ phát động tiến quân vào mặt trận xây dựng quê hương, đất nước trong giai đoạn mới. Cờ đỏ sao vàng rợp trời, tiếng loa truyền dậy đất. Người người chạy đua với thời gian, khẩn trương làm việc vì quê hương, đất nước đẹp giàu. Cùng thời gian này, Quân khu chỉ đạo các đơn vị củng cố, kiện toàn, sáp nhập, giải thể, bổ sung quân số, giải quyết cho những cán bộ, chiến sĩ ra quân theo chính sách cho hàng chục đầu mối; hoàn thành việc tổ chức 4 tiểu đoàn và 1 đại đội huấn luyện, đào tạo tiểu đội trưởng binh chủng pháo binh, công binh, cao xạ, thông tin; 1 đại đội huấn luyện trinh sát. Chấn chỉnh 2 tiểu đoàn đào tạo sĩ quan bộ binh, 2 đại đội bổ túc cán bộ trung đội, đại đội quân sự địa phương, 4 đại đội bổ túc các binh chủng, 1 tiểu đoàn đào tạo quản trị trưởng, làm cho phân hiệu Lục quân 1 chuyển hướng nhiệm vụ đào tạo, bổ túc cán bộ phù hợp với yêu cầu mới. Thành lập thêm tiểu đoàn thứ hai cho Trung đoàn 206 xe tăng; tiểu đoàn thứ ba cho Trung đoàn 167 pháo binh và tổng đội công trình 29 (bao gồm 2.600 người) thuộc Cục Hậu cần Quân khu. Sáp nhập Tiểu đoàn 29 và Tiểu đoàn 8 cao xạ; chuyển đại đội "chốt" ở Hồng Lĩnh, và đèo Ngang về Tiểu đoàn 7 công binh Hà Tĩnh; đại đội "chốt" Thần Vũ về Tiểu đoàn 4 công binh Nghệ An; đại đội "chốt" Phú Thiết về đại đội "chốt" Hòn Bung (Quảng Bình). Tất cả các đơn vị này được chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng công trình. Trong khi đó, 5.130 chiến sĩ mới ở Đoàn 22B huấn luyện quân tăng cường được chuyển bổ sung cho Bộ tư lệnh Hải quân 3.400 người; Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân 1.000 người và Bộ Công an 730 người. ______________________________________________ 1. Sư đoàn 341B là đơn vị có cơ sở vật chất - kỹ thuật, có đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên môn và thợ vận hành máy móc được đào tạo, trưởng thành đứng hàng mạnh nhất Quân khu. Trước yêu cầu nhiệm vụ chung, Quân khu tự nguyện, phấn khởi chấp hành. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Một, 2024, 07:25:51 pm Trong năm 1975 kế hoạch "ra quân'' của Quân khu là 18.000 cán bộ, chiến sĩ. Ngay trong những tháng 6, 7, 8, 9, Quân khu đã triển khai hàng loạt khâu chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, chính sách, hậu phương quân đội, bảo đảm cho 12.841 đồng chí phục viên, chuyển ngành, xuất ngũ, chiếm 60% tổng quân số chuyển ra trong cả năm 1975. Đoàn an dưỡng thương bệnh binh 874, T (trại) 372, đoàn huấn luyện quân tăng cường 22A, T575 (quản lý giáo dục tù binh), các trung đoàn cao xạ dự nhiệm 281, 283 hoàn thành công việc giải thể trước và trong tháng 9. Đoàn 70 an dưỡng thương binh, bệnh binh ở Khe Cò (Hà Tinh), do điều kiện quân đông, quê quán ở khắp các tỉnh miền Bắc, việc đi lại liên hệ với địa phương giải quyết chính sách kéo dài hơn, nhưng đến ngày 15-10-1975 cũng hoàn tất công việc giải thể. Về Đảng, Thường vụ Quân khu ủy đã họp xem xét kịp thời khôi phục lại sinh hoạt Đảng cho 51 đảng viên và 1 tự khai là đảng viên, bị địch bắt trao trả lại cho ta. Trước sự tăng lên đột biến do nhu cầu đi lại thăm hỏi giữa hai miền, trong đó mật độ bộ đội qua lại cũng tăng lên đột xuất, Quân khu tổ chức ba trạm đón tiếp quân nhân từ chiến trường miền Nam ra (gồm trạm 31 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Quảng Bình, trạm 16 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Hà Tĩnh, trạm 21 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An). Sự ra đời của các trạm đón tiếp trên địa bàn Quân khu 4 giúp cho quân nhân có nơi dừng chân ăn nghỉ, đón đợi xe tàu, ra Bắc vào Nam thuận lợi. Để có dữ liệu lập kế hoạch tổ chức, xây dựng lực lượng trong thời kỳ mới, 0 giờ ngày 1-8-1975, toàn Quân khu tiến hành tổng kiểm tra quân số theo Chỉ thị 84/CT-TM của Bộ Tổng Tham mưu. Trong điều kiện công việc dồn dập, công tác tổ chức có nhiều biến động, toàn Quân khu đã chấp hành nghiêm chỉnh, hoàn thành tốt việc kiểm tra đúng nội dung quy định trong thời gian 2 ngày. Tất cả quân nhân thuộc bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công nhân quốc phòng và nhân viên phục vụ trong quân đội, kể cả số người đi công tác, học tập ở các tổ chức Nhà nước ngoài quân đội và nước ngoài, đều thuộc phạm vi và đối tượng tổng kiểm tra. Ngày 3-8-1975, việc phúc tra được tiến hành xong, bảo đảm số liệu chính xác báo cáo về Bộ1. Cùng việc tổng kiểm tra quân số, Quân khu tiến hành tổng thống kê vũ khí, xe cộ, trang bị kỹ thuật; đồng thời tiến hành từng bước việc thu hồi vũ khí, đạn dược, trang bị ở các địa phương; thu hồi trang bị ở các đơn vị giải thể và trang bị thừa ở các trung đoàn pháo cao xạ 233, 214 tập trung về các kho bảo quản. Đối với các đảo, ngày 31-8-1975, Bộ tư lệnh Quân khu ra Chỉ thị số 645/CT gửi Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh nêu rõ 5 việc cần làm để chuyển sinh hoạt cho phù hợp tình hình mới: 1. Tổng lau chùi vũ khí, tra dầu mỡ, tiến hành niêm cất những vũ khí tập thể không dùng đến trong nhiệm vụ trực chiến đấu. 2. Tiến hành ngay việc thu dọn đạn dược hư hỏng, rơi vãi trên đảo; thu hồi, khôi phục vũ khí bị hư hỏng. 3. Điều chỉnh trú quân theo hướng sinh hoạt tập trung, tối thiểu lấy đơn vị trung đội ở một khu vực. 4. Ưu tiên xây dựng kho ở đảo, củng cố chỗ ở theo hướng tập trung. 5. Xúc tiến nghiên cứu quy hoạch xây dựng đảo một cách toàn diện. Thực hiện chỉ thị của Bộ tư lệnh, các cơ quan, đơn vị của quân khu và các tỉnh tăng cường các đội, tổ sửa chữa trang bị ra đảo; vận chuyển vật chất, trang bị kỹ thuật, bảo đảm cải thiện sinh hoạt cho các đảo hoàn thành nhiệm vụ trong tình hình mới. Quân khu chỉ đạo tiếp tục xây dựng các công trình chốt ở đèo Ngang, Hòn Bung, làm trường bắn của xe tăng ở Kỳ Anh, xây dựng 2 kho cho Tổng cục Kỹ thuật ở Lệ Thủy và Đô Lương, hoàn thành đặt 94km đường ống dẫn dầu từ Đức Thọ đến Quảng Bình2. Vừa kết thúc chiến tranh, nhu cầu về nhà ở cho bộ đội, nhà kho vũ khí khí tài vững chắc đáp ứng yêu cầu bố trí sắp xếp lại lực lượng theo nhiệm vụ mới phát sinh với khối lượng rất lớn. Trước tình hình đó, Quân khu huy động 68.921 công làm đường, xây dựng 15.416m2 nhà kho, bảo quản 4.863 tấn đạn, kê kích, dồn dịch 1.400 tấn đạn ở các kho. Với tinh thần lao động khẩn trương đến cuối 1975, các đơn vị đã xây dựng được 32.705m2 nhà ở và 252m2 nhà kho cho đơn vị mình, tự túc 358.500 cây tre nứa, 76.430 cái tranh, đóng 254.000 viên gạch, 205.230 viên ngói, xây nhà xe, nhà pháo, giảm bớt lượng xe pháo dãi nắng, dầm mưa, hoặc che phủ bằng bạt rách nát. Quân khu còn sử dụng 8.808 công xây xong mạng lưới điện cao thế và 8.130 công tu sửa, xây dựng nhà cơ quan Quân khu bộ. Trong khi tập trung chỉ đạo chiến dịch đường sắt Thống Nhất, xây dựng doanh trại, kho tàng, Quân khu luôn bám sát tình hình, chỉ đạo nhiệm vụ cơ bản thường xuyên là xây dựng lực lượng bộ đội sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. ______________________________________________ 1. Tổng quân số toàn Quân khu là 78.367 người (trong biên chế 51.805, ngoài biên chế 26.562, bao gồm lực lượng của Cục sản xuất). 2. Từ sau ngày 30-4-1975 đến cuối năm 1975, Quân khu đào 376 mét đường hầm phòng thủ, xây dựng được 61 công sự lắp ghép, 12 công sự chốt, đổ 139m3 bê tông, làm 734m3 đá, với 93.126 công. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Một, 2024, 05:13:44 pm Nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện Quân khu tổ chức quán triệt nhiệm vụ, yêu cầu phương châm, huấn luyện cho các đơn vị, nắm vững khâu trung tâm là huấn luyện cán bộ. Theo phương hướng đó, toàn Quân khu đã tổ chức được 127 lớp cán bộ bộ binh với 11.810 lượt người từ tiểu đội trưởng (phó) đến cấp sư đoàn và cán bộ cơ quan Quân khu; 171 lớp cán bộ binh chủng với 10.946 lượt tiểu đội, khẩu đội đến trung đoàn đã được tập huấn, bồi dưỡng về các nội dung, khoa mục huấn luyện năm 1975. Về thời gian đối với bộ binh có lớp 2 ngày, lớp 45 ngày; cấp binh chủng từ 2 ngày đến 60 ngày. Sư đoàn 31 (từ Lào về), Sư đoàn 316B, Trung đoàn pháo binh 167, Trung đoàn 222 cao xạ, Đoàn 22B là những đơn vị tổ chức bồi dưỡng cán bộ đạt kết quả khá nhất Quân khu. Đối với huấn luyện phân đội, do nhiều mặt công tác và lao động đột xuất chi phối, nên mức độ hoàn thành và chất lượng huấn luyện gồm có 3 loại: Loại 1, đảm bảo học hết chương trình, có kiểm tra, đánh giá kết quả, gồm Sư đoàn 316B, Sư đoàn 31, các trung đoàn pháo cao xạ 222, 214, 233, Tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân, Tiểu đoàn 54, Tiểu đoàn 31 đặc công. Loại 2, gồm Sư đoàn 341, Trung đoàn 206 xe tăng, Trung đoàn 167 pháo binh, Trung đoàn 80 thông tin, hoàn thành 2/3 chương trình. Loại 3, gồm những đơn vị mới học được các khoa mục chung, điều lệnh và một số ít nội dung về kỹ thuật, chiến thuật cơ bản như các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, các trung đoàn 79 và 89 công binh. Trong ba loại nói trên, loại 1 chất lượng huấn luyện tương đối khá. Trong số 48 tiểu đoàn bắn súng bộ binh lần 1 có 11 tiểu đoàn giỏi, 35 tiểu đoàn khá, 1 tiểu đoàn trung bình, 1 tiểu đoàn không đạt. Bắn súng bộ binh lần 2 có 15 tiểu đoàn được kiểm tra thì 100% đạt yêu cầu, 12 tiểu đoàn khá. Bắn súng lần 3 có 16 tiểu đoàn tham gia thì 3 tiểu đoàn giỏi, 13 khá. Các môn kỹ thuật khác đều khá và giỏi. Về chiến thuật: Loại 1 hoàn thành học tập các nội dung, đạt các yêu cầu đề ra. Loại 2 nắm được một số nội dung chiến thuật và kỹ thuật cơ bản. Loại 3 chưa học đủ các nội dung nên không đánh giá kết quả. Đối với quân tăng cường, nhờ tập trung chỉ đạo thường xuyên, nên hoàn thành tốt các nội dung chương trình, tất cả các môn kiểm tra đều đạt kết quả tốt. Riêng bắn đạn thật lần 1 có 6 tiểu đoàn giỏi, 10 tiểu đoàn khá, 1 tiểu đoàn đạt, 1 tiểu đoàn không đạt. Phân hiệu Lục quân 1 Quân khu đào tạo được 557 trung đội trưởng, 74 đại đội trưởng, 235 quản trị trưởng đại đội. Đối với dân quân tự vệ, toàn Quân khu tổ chức được 122 lớp gồm 7.715 cán bộ (trong đó có 144 cán bộ quân sự huyện, 4.733 cán bộ tiểu đội đến đại đội và xã đội, 1.280 cán bộ tự vệ và 1.554 cán bộ binh chủng). Về huấn luyện cơ sở, 830/845 xã và 246 cơ sở tự vệ trong toàn Quân khu đã huấn luyện theo chương trình1. Đáng chú ý là việc huấn luyện quân sự cho học sinh các trường cấp III và sinh viên Đại học sư phạm Vinh được các địa phương chú trọng. Trong số 69.212 người, có 900 sinh viên hoàn thành nội dung quy định. Nổi bật nhất là Hà Tĩnh, 100% xã huấn luyện có 211/247 xã học xong chương trình, 140/152 cơ sở tự vệ huấn luyện, có 70 cơ sở xong chương trình. Các địa phương đã củng cố dân quân tự vệ theo kế hoạch đề ra được 832/845 xã (98,8%) và 457/581 cơ sở tự vệ2. Tại tỉnh Hà Tĩnh, kiểm tra 70% số xã, 100% số huyện, kết quả về mọi mặt đều khá hơn năm 1974. Tỷ lệ đảng viên trong dân quân tự vệ chiếm 18,3%, đoàn viên thanh niên lao động Hồ Chí Minh là 42,98%, quân nhân phục viên là 11,83%. Số lượng dân quân tự vệ tham gia huấn luyện ngày càng đông nơi thấp nhất đạt 50 - 60%, nơi cao đạt 80%. Ở Nghệ An, kiểm tra chất lượng huấn luyện lớp cán bộ tỉnh tại thành phố Vinh bắn súng bài 2 đạt 81,8% (43% giỏi, 21% khá); Quảng Bình kiểm tra 9 lớp cán bộ bắn súng bài 2 đạt 83,8% (34,6% giỏi, 38,9% khá); kiểm tra bắn đạn thật 99 xã đạt 100% (40% giỏi, 55% khá). Hà Tĩnh kiểm tra bắn đạn thật ở xã Cẩm Long đạt 97% (46% giỏi, 13,3% khá). Vĩnh Linh kiểm tra bắn đạn thật bài 2 ở 10 xã đạt 100% khá giỏi trong đó có 60% giỏi. Kiểm tra bắn súng lần 1: Tiểu đoàn 47 đạt giỏi; lần 2: Đại đội 13 pháo binh và Đại đội 25 cao xạ đạt khá, đảo Cồn Cỏ đạt giỏi; lần 3: Tiểu đoàn 54 đạt giỏi, đảo Cồn Cỏ đạt khá; lần 4: Tiểu đoàn 54 đạt khá. Công tác quân sự địa phương có nhiều chuyển biến tốt, cả về nhận thức, quan điểm tư tưởng và tổ chức. Ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, các chế độ trực chỉ huy, trực ban, phân đội trực chiến, cả bộ binh và binh chủng từ Bộ chỉ huy đến cơ sở được duy trì chặt chẽ. Việc tuần tra của dân quân tự vệ ở ven biển và biên giới vẫn được duy trì nền nếp. Ở phía hậu phương tỉnh Nghệ An "tổ chức dân quân tự vệ trong điều kiện có hoà bình đã giữ vững và phát triển, từng bước đi vào chiều sâu, cơ bản, cân đối, ngày càng phù hợp với yêu cầu phát triển, củng cố, xây dựng lực lượng tác chiến, bảo vệ trị an và tổ chức mới trong giai đoạn hiện nay"3. Dân quân tự vệ ở Nghệ An phát triển tăng 0,3%, chiếm 11% dân số ở cả 3 vùng. Quỳnh Lưu là huyện đồng bằng: tỷ lệ dân quân tự vệ đạt 16,7% so với dân số Quỳ Châu là huyện miền núi: dân quân chiếm 13% dân số. Tỷ lệ đoàn viên vào dân quân tự vệ đạt 84% (tăng 8% so với năm 1974). Riêng Quế Phong, 100% đoàn viên vào dân quân tự vệ, quân nhân xuất ngũ chiếm tỷ lệ 75,2% trong dân quân tự vệ. Lực lượng tự vệ chiếm 43,2% tổng số công nhân viên chức. Đảng viên trong cán bộ đại đội dân quân du kích chiếm 72% và trung đội 35%. 100% chính trị viên xã đội ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh là Bí thư Đảng ủy; Nghệ An có một số là ủy viên thường vụ. Dân quân tự vệ chiếm 12,32% dân số (tăng 0,4%) gồm 106.128 người, trong đó có 18,33% là đảng viên, 43% đoàn viên. Toàn Quân khu, cán bộ dân quân tự vệ có 80,54% là đảng viên và 69% cấp ủy, 37,2% là quân nhân phục viên chuyển ngành, 13,7% là nữ. ______________________________________________ 1. Nghệ An có 427/439 xã vả 108 cơ sở tự vệ, Hà Tĩnh có 247/247 xã và 70 cơ sở tự vệ, Quảng Bình 132/133 xã và 6 cơ sở tự vệ, Vĩnh Linh 24/26 xã và 12 cơ sở tự vệ. 2. Nghệ An có 434/439 xã và 144/268 cơ sở tự vệ, Hà Tĩnh 247/247 xã và 152/152 cơ sở tự vệ, Quảng Bình 133/133 xã và 139/139 cơ sở tự vệ, Vĩnh Linh 18/26 xã và 22/22 cơ sở tự vệ. 3. Tổng kết công tác quân sự địa phương năm 1975 của Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Một, 2024, 05:14:57 pm Năm 1975 Quân khu có những biến động rất lớn về tổ chức. Ngoài việc bổ sung cho chiến trường 2 sư đoàn (316, 341), 1 trung đoàn pháo (166), 1 tiểu đoàn xe tăng, 4 tiểu đoàn tân binh gồm 24.075 người, toàn Quân khu còn tuyển thêm 42.770 chiến sĩ mới (trong đó có 5.678 nữ) bao gồm 25.515 quân chiến đấu, 13.241 quân làm kinh tế ở A (miền Bắc), 2.330 quân làm kinh tế ở B (miền Nam) và 1.690 nhân viên kỹ thuật, giáo viên. Quân khu khẩn trương, tích cực chăm lo chỉ đạo tổ chức xây dựng lực lượng, đưa chất lượng ba thứ quân nhanh chóng trưởng thành, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Sau khi bổ sung quân cho phía trước, Quân khu tổ chức lại Sư đoàn 316B bộ binh, chuẩn bị cho Sư đoàn 316B đi làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế ở Tây Nguyên; tiếp nhận Sư đoàn 341 do Quân khu Hữu Ngạn xây dựng từ Ninh Bình - Thanh Hoá về đứng chân ở Quảng Bình - Vĩnh Linh, bao gồm Trung đoàn 57, Trung đoàn 154, Trung đoàn 3 và Trung đoàn 46 (đứng chân ở Cửa Việt). Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo các tỉnh và khu vực Vĩnh Linh xúc tiến việc tổng kết chiến tranh, lựa chọn, tập trung những cán bộ có năng lực, giao nhiệm vụ rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi để tổng kết có chất lượng. Nội dung tổng kết chủ yếu gồm: Công tác quân sự địa phương; công tác hậu cần và công tác động viên tuyển quân. Giữa lúc quân dân Quân khu 4 đang khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ đề ra, thì trận lụt lớn diễn ra trên diện rộng khắp 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Căn cứ vào Chỉ thị số 88/CT-TM ngày 21-6-1975 của Bộ Tổng Tham mưu và kế hoạch phòng chống bão lụt của Quân khu, các lực lượng vũ trang Quân khu Trị Thiên và Quân khu 4 phối hợp chặt chẽ với các địa phương triển khai đồng bộ việc tham gia ứng cứu đê điều; bảo vệ cơ quan, tài sản Nhà nước; cấp cứu, bảo vệ tính mạng, tài sản nhân dân; ứng cứu giao thông; kết hợp với địa phương làm tốt công tác bảo vệ trật tự an toàn xã hội, an ninh chính trị, kịp thời phát hiện và đập tan mọi hành động của bọn phản động nội địa lợi dụng bão lụt để phá hoại. Ngoài lực lượng của hai Quân khu, các lực lượng của Bộ Quốc phòng và quân binh chủng đóng trên địa bàn như hai trung đoàn 229 và 249 công binh, Trung đoàn xe tăng 215 đều được huy động tham gia chống thiên tai. Đối với nhân dân vùng Bắc sông Bến Hải, hình ảnh bộ đội quên mình lặn lội trong mưa bão, lũ lụt cứu dân đã trở thành quen thuộc. Với nhân dân vùng mới giải phóng, trước đây mỗi lần bão lụt là mỗi phen vừa lo đối phó với giặc trời, lại vừa nơm nớp bởi quân Mỹ - ngụy lợi dụng thiên tai, hùa vào càn quét, cướp phá, bắt bớ, bắn giết và nạn đầu cơ, tích trữ. Nhìn cảnh bộ đội dầm mình trong mưa gió hiểm nguy, đến từng nhà ngập lụt sơ tán người già, trẻ em, nhường cơm, xẻ muối, nhân dân rất cảm động và mến phục, càng tin yêu "bộ đội giải phóng", "Bộ đội Cụ Hồ". Đồng chí Lê Quang Liễu - Chính trị viên Tiểu đoàn 403 Trung đoàn 16 pháo binh cũng như đông đảo cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị nhớ mãi một cụ già tại Phú Lộc, nơi lụt tràn qua, nghẹn ngào trong nước mắt: "Tôi đã trên tuổi 70. Tôi sống qua nhiều thời kỳ Pháp, Nhật, Mỹ có, quân Diệm, quân Thiệu - Kỳ đều đủ cả. Thời nào cũng độc ác, bất nhân. Chỉ có "Bộ đội Cụ Hồ" mới đúng là con em của nhân dân, vì nước, vì dân mà quên thân phục vụ". Ngày 13-10-1975, các đồng chí trong Thường vụ Quân khu ủy dự hội nghị cán bộ quân sự cao cấp toàn quân, do Quân ủy Trung ương triệu tập. Tại hội nghị này, các cán bộ được nghiên cứu quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III về "Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới" và Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng "Về tình hình, nhiệm vụ quân sự và một sổ công tác quân sự cần kíp trong giai đoạn mới". Về nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta, Trung ương Đảng xác định: "Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội". Đối với nhiệm vụ quốc phòng và bảo vệ an ninh trong giai đoạn mới, Trung ương Đảng quyết nghị: "Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, bảo vệ Nhà nước chuyên chính vô sản, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo của nước Việt Nam thống nhất; luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đập tan mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và bè lũ tay sai. Tiếp tục truy quét tàn quân địch, các lực lượng phản cách mạng hiện hành, sẵn sàng đập tan mọi hành động bạo loạn, phá hoại, chống đối của chúng, giữ gìn trật tự, an ninh, bảo vệ chính quyền cách mạng. Các lực lượng vũ trang, kể cả các đơn vị thường trực, phải tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự đối với tất cả trai tráng và chế độ quân đội tham gia xây dựng kinh tế...". Căn cứ vào nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ quốc phòng và bảo vệ an ninh trong giai đoạn mới, Nghị quyết Bộ Chính trị (số 157/QU-A ngày 3-10-1975) đã nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhiệm vụ quân sự: "Trong tình hình hiện nay, muốn có một nền quốc phòng mạnh, thì trước hết phải có một nền kinh tế mạnh, độc lập tự chủ". "Trên cơ sở đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước về mọi mặt, ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng các khu vực chiến lược quan trọng, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho đất nước có lực lượng ngày càng mạnh, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công của bọn xâm lược...". Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết của Bộ Chính trị là những văn kiện chiến lược cơ bản đầu tiên của Đảng ta sau ngày đất nước thống nhất, đặt cơ sở cho việc xác định nhiệm vụ cơ bản của Quân khu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Một, 2024, 05:17:52 pm Ngày 15-11-1975, Quân khu ủy 4 ra nghị quyết đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 1975, đề ra phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn mới và một số công tác trước mắt. Đánh giá về những thắng lợi cơ bản của Quân khu năm 1975, nghị quyết nêu rõ: 1. Tập trung chi viện miền Nam, góp phần giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975; đồng thời, bảo đảm vững chắc hậu phương. 2. Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế, góp phần giúp bạn Lào giải phóng hoàn toàn đất nước. 3. Công tác quân sự địa phương có những chuyển biến tiến bộ mới. 4. Các mặt xây dựng, huấn luyện bộ đội đáp ứng nhiệm vụ chính trị của quân khu. 5. Sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân khu được tăng cường cả về tư tưởng và tổ chức. Nhìn chung, Quân khu đã chủ động chuyển nhiệm vụ, tư tưởng, tổ chức lực lượng vũ trang đúng hướng, bước vào giai đoạn mới của cách mạng và đã phát triển thêm truyền thống tốt đẹp của Quân khu, của các địa phương trong Quân khu, lãnh đạo cũng như quần chúng đều có tiến bộ mới, trưởng thành và tích luỹ thêm kinh nghiệm qua thử thách mới1. Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, rút ra ưu điểm, khuyết điểm, tìm đúng nguyên nhân, kinh nghiệm, Quân khu ủy quán triệt, vận dụng Nghị quyết Trung ương Đảng và Bộ Chính trị vào vị trí, nhiệm vụ Quân khu trong giai đoạn mới: "Phát huy cao độ sức mạnh lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng bộ Quân khu, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa Đảng bộ Quân khu và các Đảng bộ địa phương trong Quân khu. Phát động một cao trào thi đua hành động cách mạng sôi nổi với quyết tâm mới, nỗ lực mới, ngang tầm với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, phát huy truyền thống đoàn kết, quyết chiến quyết thắng, kết hợp chặt chẽ xây dựng Quân khu vững mạnh toàn diện, vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng với tốc độ nhanh, mạnh và vững chắc. Ra sức xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân trong Quân khu theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, ngày càng hùng mạnh, có lực lượng thường trực tinh mạnh, có lực lượng hậu bị to lớn, được huấn luyện tốt; có quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, có lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp và vững chắc. Luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, giữ vững trật tự trị an, bảo vệ vững chắc chính quyền chuyên chính vô sản, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của địa bàn Quân khu và của Tổ quốc; giữ vững và phát huy truyền thống đoàn kết đặc biệt với bạn Lào, làm tròn nhiệm vụ quốc tế trong giai đoạn mới2. Quân khu ủy đề ra 4 nhiệm vụ cơ bản và 9 chủ trương công tác cần kíp trước mắt. Trong lúc chờ hình thành tổ chức mới của Quân khu, theo Nghị quyết số 157/QU-A của Bộ Chính trị, được sự chỉ đạo của cấp trên, Quân khu 4 cùng Quân khu Trị Thiên phối hợp chuẩn bị cho việc chấn chỉnh, tổ chức quân khu và các lực lượng vũ trang quân khu theo phương hướng tổ chức quân khu mới. Từ ngày 20 đến ngày 30-11-1975, Thường vụ Quân khu ủy mở lớp học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết Bộ Chính trị (số 157/QU-A) cho 233 cán bộ cao cấp và trung cấp chủ trì toàn Quân khu. Tiếp đó, Quân khu mở lớp bồi dưỡng cho 56 phái viên đi chỉ đạo các đơn vị và trực tiếp chỉ đạo "điểm" lớp học của cán bộ trung cấp do Sư đoàn 316 tổ chức. Qua học tập, cán bộ bước đầu nắm được nội dung cơ bản của các nghị quyết về thắng lợi và nguồn gốc thắng lợi; nhận thức rõ nhiệm vụ chiến lược của cách mạng trong giai đoạn mới, hiểu sâu hơn nhiệm vụ quân sự, mối quan hệ giữa nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước, giữa kinh tế và quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Điểm mới trong nhận thức, quan điểm lần này là tầm quan trọng của việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nền quốc phòng toàn dân, với lực lượng vũ trang nhân dân trong giai đoạn mới. Trải qua 30 năm chiến tranh, nhân dân ta đã xây dựng được một lực lượng vũ trang và một nền quốc phòng toàn dân hùng mạnh, đủ sức đánh bại hai đội quân viễn chinh xâm lược của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, quân đội ngụy tay sai và các đội quân chư hầu của chúng. Tuy vậy, nền quốc phòng của ta còn những nhược điểm lớn, nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng phát triển chậm của nền kinh tế quốc dân. Nhìn chung nhân dân và các lực lượng vũ trang ta đã phát huy tinh thần tự lực rất cao chủ yếu là về sức người, về lương thực, thực phẩm, còn về vật chất, vũ khí, trang bị kỹ thuật thì một phần lấy của địch, một phần rất lớn nhờ sự chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa. _____________________________________________ 1, 2. Nghị quyết số 481/QKU4 ngày 15-11-1975 - Lưu trữ Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Một, 2024, 05:20:41 pm Trước tình hình cả nước hoà bình thống nhất, nhiệm vụ trung tâm của Đảng chuyển từ đẩy mạnh kháng chiến sang xây dựng kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội, khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng" được thay thế bằng khẩu hiệu "Tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì Tổ quốc giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân”1. Việc giải quyết mối quan hệ giữa kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng, củng cố quốc phòng và xây dựng kinh tế trong điều kiện mới đòi hỏi rất nghiêm ngặt; phải kết hợp trên phương hướng và nhiệm vụ chung cũng như trong kế hoạch cụ thể; kết hợp trên phạm vi cả nước cũng như ở các địa phương, các ngành và từng đơn vị. Đợt học tập, quán triệt Nghị quyết lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết của Bộ Chính trị, đã góp phần nâng cao nhận thức làm cho đội ngũ cán bộ phấn khởi, tự hào, tin tưởng, biểu hiện quyết tâm sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ Đảng giao. Đó là cơ sở vững chắc để triển khai giáo dục, tuyên truyền nâng cao trình độ giác ngộ cho các lực lượng vũ trang quân khu. Đồng thời, tạo cơ sở và niềm tin để xây dựng quyết tâm, nâng cao trình độ trước yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Song đây là vấn đề rộng lớn, mới mẻ, thời gian học tập có hạn, nhận thức không đồng đều; những trang bị về hiểu biết chỉ là bước đầu, nên khi vận dụng cụ thể để giải quyết các mối quan hệ trong điều kiện mới, không tránh khỏi những lúng túng. Tiếp tục thực hiện phương châm "bốn xây", "ba chống" trong công tác tư tưởng2, Quân khu tăng cường việc nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa của cán bộ, chiến sĩ, quán triệt sâu sắc hơn nữa đường lối, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân sự của Đảng, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, khẩn trương kiện toàn tổ chức vững mạnh, nâng cao trình độ mọi mặt của cán bộ các cấp, phát huy bản chất, truyền thống cách mạng, tăng cường đoàn kết, đề cao kỷ luật, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Ngày 28-11-1975, Thường vụ Quân khu ủy chỉ thị tiến hành đợt sinh hoạt chính trị trong các lực lượng vũ trang quân khu, quán triệt nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết của Bộ Chính trị và tình hình nhiệm vụ của Quân khu. Ngày 26-12-1975, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lênh Quân khu chỉ thị phát động phong trào thi đua quyết thắng trong giai đoạn mới nhằm "tạo ra khí thế cách mạng mới và một cao trào thi đua yêu nước xã hội chủ nghĩa sôi nổi, mạnh mẽ, rộng khắp trong cả ba thứ quân, trong cán bộ và chiến sĩ, trong đảng viền và quần chúng, từ cơ quan đến đơn vị, trên mọi lĩnh vực hoạt động, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ"3. Thông qua việc xây dựng và nhân điển hình thi đua, góp phần tích cực rèn luyện người cán bộ, chiến sĩ cách mạng ưu tú, xây dựng tổ chức vững mạnh toàn diện. Ở Thanh Hoá, từ tháng 5-1975 đến tháng 4-1976, dưới sự lãnh đạo, điều hành của Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh và sự chỉ đạo của Quân khu ủy, sự chỉ huy của Bộ tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, các hoạt động thi đua đã diễn ra sôi nổi trong thời kỳ chuyển tiếp của cách mạng. Sau khi tổ chức bàn giao 9 tiểu đoàn hành quân thần tốc bổ sung cho chiến trường miền Nam, Bộ chỉ huy quân sự tiếp tục chỉ đạo Trung đoàn 14 làm mọi công tác tổ chức, huấn luyện, giao thêm 10 tiểu đoàn cho Quân khu và Bộ Quốc phòng. Tháng 6-1975, Bộ chỉ huy quân sự điều tiếp 2 tiểu đoàn cho Bộ tư lệnh hải quân; tiếp đó là triển khai công tác kiểm tra, bảo quản các công trình quốc phòng trọng điểm ở Lau Chẹt, Sầm Sơn, Hoàng Hoá, đảo Mê. Năm chục bãi tre và hơn 80 cây phi lao đã được trồng làm vật che khuất, ngụy trang các công trình. Riêng ở đảo Mê, công trình chiến đấu F22 đã được giao cho Đại đội 4, Tiểu đoàn 25 và bộ đội trên đảo khởi công xây dựng vào ngày 1-8-1975. Đối phó với bão lụt uy hiếp nghiêm trọng lưu vực sông Lèn, ngày 3-9-1975, Bộ chỉ huy quân sự huy động 3.570 lượt cán bộ, chiến sĩ bộ đội phối hợp với dân quân du kích, khẩn trương vật lộn với sóng nước, đào đắp 3.313m3 đất đá, đẩy lùi nguy cơ vỡ đê, bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản nhân dân. _______________________________________________ 1. Nghị quyết Quân khu ủy 4 số 481/QKU, ngày 15-11-1975 - Lưu trữ Quân khu 4. 2. Theo Nghị quyết 402 ngày 19-5-1975 của Thường vụ Quân khu ủy 4: "Bốn xây” là "xây" tinh thần cảnh giác cách mạng, tư tưởng cách mạng tiến công cách mạng triệt để; “xây" ý thức tự lực tự cường, lao động quên mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; “xây” ý thức tổ chức kỷ luật; “xây” đoàn kết nội bộ, quân dân, quốc tế. "Ba chống": Chống hòa bình chủ nghĩa, lỏng lẻo cảnh giác, lỏng lẻo ý chí chiến đấu, suy tính cá nhân, kém kỷ luật, kém đoàn kết, thiếu dân chủ; quét sạch tiêu cực lạc hậu và ảnh hưởng văn hoá thực dân mới; đề phòng sa sút, thoái hoá và ảnh hưởng chủ nghĩa cơ hội. 3. Hồ sơ 26/QKU - Lưu trữ Quân khu 4, Chỉ thị 509/CT. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Một, 2024, 05:22:23 pm Bước sang năm 1976, trong không khí phấn khởi đón nhận vinh dự Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 54 đơn vị, 42 cán bộ, chiến sĩ lập công đặc biệt xuất sắc trong chống Mỹ, cứu nước; trong đó, Thanh Hoá có 6 đồng chí, Quân khu Hữu Ngạn và tỉnh Thanh Hoá phối hợp khởi công xây dựng công trình tiêu thủy lớn trên địa bàn 2 huyện Đông Sơn, Thiệu Hoá và thị xã Thanh Hoá. Công trình mang tên Thống Nhất, gọi tắt là Đông - Thiệu - Thị. Quân khu Hữu Ngạn và Tỉnh ủy Thanh Hoá giao nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang đảm nhiệm. Lực lượng tham gia gồm có Tiểu đoàn 27 công binh Quân khu Hữu Ngạn, Trung đoàn 14 bộ binh của tỉnh; 5 tiểu đoàn quân dự nhiệm của 5 huyện ven biển và thị xã Thanh Hoá; 13.000 dân quân tự vệ của 4 huyện và đội 202 (chuyên làm thủy lợi) của 8 huyện. Trên công trường xây dựng tuyến kênh có 24.000 dân quân tự vệ. Tất cả đều tổ chức lao động theo hình thức "quân sự hoá". Cấp trên tăng cường thêm 700 người, trong đó có 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 46 (Quân khu Hữu Ngạn) và cán bộ, chiến sĩ của cơ quan quân sự tỉnh, công an vũ trang, cụm Tĩnh Gia, Đoàn 585 và bộ đội đảo Mê. Đồng chí Nguyễn Đình Bảng được cử làm chỉ huy trưởng công trình. Trong số các hạng mục công trình, thì cống Quảng Châu thuộc loại tương đối lớn, đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao do Trung đoàn 14 đảm nhận. Qua một thời gian vật lộn với nắng mưa, khảo sát, thiết kế, thi công các phần việc chuẩn bị, ngày 3-6-1975, tại thôn Châu Lộc, xã Quảng Châu huyện Quảng Xương, sau khi Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hoá báo cáo quyết tâm và kế hoạch, Bộ tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn chính thức ký văn bản phê chuẩn kế hoạch xây dựng cống Quảng Châu. Ngày 5 tháng 6 tại Sầm Sơn, Thượng tướng Hoàng Văn Thái, thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng duyệt và phê chuẩn lần cuối phương án xây dựng công trình có ý nghĩa quan trọng mở đầu cho thời kỳ bộ đội tham gia xây dựng kinh tế theo Nghị quyết của Quân ủy Trung ương (12-1975) "mà lực lượng vũ trang địa phương của một tỉnh lần đầu tiên đảm nhận”, một công trình lớn ở tỉnh Thanh Hoá. Trước khi chuyển trực thuộc Quân khu 4, theo sự chỉ đạo của Thường vụ Quân ủy Trung ương và thực hiện quy trình tổ chức Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, ngày 19-5-1976, Đại hội đại biểu Đảng bộ quân sự tỉnh Thanh Hoá lần thứ 3 được tiến hành tại thị xã. Các đồng chí lãnh đạo Quân khu ủy Quân khu Hữu Ngạn và Quân khu 4 đã đến dự Đại hội. Biến thành công của Đại hội và thành quả trên toàn bộ công trình tiêu thủy thành hành động đỉnh cao chiến công, đột phá vào "trận then chốt cuối cùng", từ 18 giờ đến 19 giờ ngày 14-6-1976, lễ khởi công xây dựng cống Quảng Châu đã được tiến hành trọng thể tại thôn Châu Lộc. Thiếu tướng Vũ Yên - Tư lệnh Quân khu 3; đồng chí Nguyễn Thanh Bình - Bộ trưởng Bộ Thủy lợi; đồng chí Lê Thế Sơn - Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Hoàng Văn Hiều - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và các đồng chí lãnh đạo tỉnh Thanh Hoá đã tới dự. Sau 6 tháng liên tục "tranh nắng, thắng mưa", lao động miệt mài, khẩn trương theo những đòi hỏi khắt khe, nghiêm ngặt của quy trình kỹ thuật và xử lý các sự cố phát sinh, công trình cống Quảng Châu hoàn thành. 14 giờ ngày 30-8-1976, lễ khánh thành chính thức đưa công trình cống Quảng Châu vào sử dụng đã diễn ra trong không khí phấn khởi tự hào, tràn ngập niềm xúc động của cán bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương. Hai công trình xây dựng kinh tế có ý nghĩa trong dịp hợp nhất quân khu: đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An và công trình thủy lợi Thống Nhất, đỉnh cao kỹ thuật là cống Quảng Châu (Thanh Hoá), đánh dấu sự trưởng thành tính đột phá mở đầu của các lực lượng vũ trang Quân khu 4 trên mặt trận xây dựng đất nước. Đó là một trong những thành tựu cụ thể ghi mốc son lịch sử về tiềm năng, tiếm lực và khả năng của các lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy "Đội quân chiến đấu và đội quân công tác". Phát huy thành tựu đạt được, Trung đoàn 14 tiếp tục hoàn thành cầu Xuân Phương. Thực hiện Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về lực lượng vũ trang làm kinh tế, Đảng ủy và Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá thành lập tiếp đơn vị làm đường Hồi Xuân - Pù Nhi, chuyển Tiểu đoàn 923 thành Đoàn 923 - tiền thân của Đoàn 74 sau này1. _____________________________________________ 1. Tháng 11-1976 Bộ Tổng Tham mưu quyết định thành lập Đoàn 74, biên chế 1.500 cán bộ, chiến sĩ, tổ chức thành 8 đội cầu đường, 2 đội xe, 1 bệnh xá và cơ quan đoàn bộ. Những ngày đầu quân số chưa đủ, kinh nghiệm thiếu, phương tiện có hạn, năm 1976 đoàn mới làm được 4km nền đường (km 49 - km 53). Năm 1977, thông xe được 10km (km 62 - km 72). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Một, 2024, 05:24:03 pm Trong hai ngày 8 và 9-3-1976, Quân khu ủy họp quán triệt Nghị quyết Quân ủy Trung ương về phương hướng, nhiệm vụ quân sự năm 1976, chỉ thị về công tác quân sự năm 1976 của Bộ Tổng Tham mưu, kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị của Tổng cục Chính trị và kế hoạch công tác hậu cần - kỹ thuật của Tổng cục Hậu cần. Quân khu ủy xác định một số vấn đề lãnh đạo trước mắt làm cơ sở cho các cơ quan Quân khu chuẩn bị tiến hành họp hội nghị hợp nhất Quân khu. Căn cứ vào Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (số 39, ngày 3-10-1975) về việc phân chia địa giới hành chính trên phạm vi cả nước, trong đó có chủ trương hợp nhất các Quân khu trong cả nước, thì Quân khu Trị Thiên hợp nhất với Quân khu 4, thành Quân khu 4. Tỉnh Thanh Hoá được chuyển giao thuộc Quân khu 3 trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, nay trở về Quân khu 4. Quân khu ủy nhất trí cao với chủ trương hợp nhất Quân khu, vì hoàn toàn phù hợp đặc điểm, vị trí, địa bàn, nhiệm vụ trong tình hình mới; phù hợp với lịch sử, truyền thống, nguyện vọng, tình cảm của Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân trên địa bàn1. Và đây là một công việc đặc biệt hệ trọng. Quá trình chuẩn bị giữa Quân khu Trị Thiên với Quân khu 4 đã có sự bàn bạc, quán triệt theo chủ trương của Trung ương Đảng, tiến hành các bước công tác một cách chu đáo, cẩn trọng, tỷ mỷ. Nay phải tiếp tục làm tốt mọi mặt công tác tư tưởng, tổ chức với tất cả tinh thần tự giác, chủ động, ý thức trách nhiệm chính trị cao và tình cảm sâu nặng. Đó là cơ sở chính trị - tinh thần vững chắc, bảo đảm khi Nhà nước chính thức ban hành sắc lệnh hợp nhất, Quân khu chấp hành thực hiện chu đáo theo các nội dung, yêu cầu đề ra. Quân khu ủy nhất trí cao với kế hoạch tiến hành hợp nhất hai Quân khu: Quân khu Trị Thiên với Quân khu 4 thành Quân khu 4 rồi mới nhận bàn giao tỉnh Thanh Hoá từ Quân khu 3 về Quân khu 4. Ngày 29-3-1976, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh hợp nhất Quân khu Trị Thiên vào Quân khu 4. Ngày 4-4-1976, Bộ Tổng Tham mưu họp với lãnh đạo, chỉ huy hai Quân khu về vấn đề hợp nhất. Tham dự cuộc họp có các đồng chí Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam - Trung tướng Trần Quý Hai, Thượng tướng Lê Trọng Tấn, Đại tá Giáp Văn Cương. Về phía Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên có Đại tá Nguyễn Văn Thanh (Thanh Quảng) - Bí thư Quân khu ủy - Chính ủy Quân khu. Về phía Quân khu 4 có Thiếu tướng Đàm Quang Trung - Bí thư Quân khu ủy - Tư lệnh Quân khu; các đồng chí Phó tư lệnh Quân khu: Đại tá Lê Thanh (Tham mưu trưởng) và Đại tá Dương Bá Nuôi. Tham dự còn có đồng chí Đinh Thiện (Tổng cục Hậu cần), đồng chí Phúc (Tổng cục Kỹ thuật) cùng một số cán bộ Bộ Tổng Tham mưu và Phó Chủ nhiệm chính trị Quân khu 4 Lê Đình Sô (ủy viên Quân khu ủy). Trong kết luận, hội nghị nhấn mạnh một số vấn đề đã làm được: Quân khu 4 và Quân khu Trị Thiên đã làm tốt công tác quân sự địa phương, các đơn vị chủ lực binh chủng hợp thành, thực hiện nhiệm vụ phòng thủ sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn có bờ biển dài và nhiều đảo, tham gia xây dựng kinh tế; đồng thời, làm nhiệm vụ giúp cách mạng Lào. Tại hội nghị này, một số vấn đề biên chế về tổ chức khác cũng được quyết định: Quân khu giữ lại Trung đoàn 6 (tức Trung đoàn Phú Xuân), trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu Trị Thiên, đơn vị cắm cờ lên đỉnh Phu Văn Lâu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968. Trung đoàn 239 công binh chuẩn bị nhận nhiệm vụ sang Lào giúp bạn xây dựng đường giao thông. Bộ Tổng Tham mưu đồng ý cho Sư đoàn 324 cử tiền trạm về Quân khu 4 nhận vị trí đóng quân, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để tháng 6-1976 hoàn thành toàn bộ công tác bàn giao sư đoàn về Quân khu. Quân khu khẩn trương chuẩn bị mọi điều kiện đón nhận 5.000 tù binh cấp tá, trong đó có nhiều tên ác ôn để cải tạo. Trong khi chờ quyết định của Trung ương Đảng và Nhà nước, Quân ủy Trung ương chỉ định Thiếu tướng Đàm Quang Trung, nguyên Tư lệnh Quân khu 4 (cũ) làm Tư lệnh Quân khu 4 (hợp nhất); Thiếu tướng Lê Tự Đồng, nguyên Chính ủy Quân khu Trị Thiên đang đảm trách Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên làm Chính ủy Quân khu 4 (hợp nhất). Ngày 1-5-1976, mọi công tác hợp nhất hai Quân khu hoàn thành. Đi đôi với việc sáp nhập các quân khu, Nhà nước tiến hành sáp nhập một số tỉnh. Riêng ở địa bàn Quân khu 4, từ 6 tỉnh và một địa phương tương đương cấp tỉnh nhập lại thành 3 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh (Nghệ An, Hà Tĩnh) và Bình Trị Thiên (gồm Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh, Quảng Trị, Thừa Thiên). ______________________________________________ 1. Sau Cách mạng Tháng 8-1945 và suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954) 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên thuộc Liên khu 4. Sau Hiệp nghị Giơnevơ 1954, phần phía nam sông Bến Hải của tỉnh Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên thuộc sự lãnh đạo, chỉ đạo của Liên khu 5. Tháng 5-1966, thuộc Khu ủy và Quân khu Trị Thiên. Ngày 3-6-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập 6 quân khu ở miền Bắc. Theo sắc lệnh, tỉnh Thanh Hoá giao về Quân khu Hữu Ngạn (sau hợp nhất thành Quân khu 3). Khu vực Vĩnh Linh và các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình thuộc Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Một, 2024, 11:03:05 am Trong khi tập trung chỉ đạo 2/3 lực lượng bộ đội đẩy mạnh tiến độ và chất lượng thi công trên công trình trọng điểm đường sắt Thống Nhất đang thời kỳ cao điểm, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu lãnh đạo, chỉ huy triển khai thực hiện bảy công tác lớn trên toàn bộ địa bàn từ Tam Điệp đến Hải Vân. Việc chỉ đạo hợp nhất Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, tiếp nhận Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá và các lực lượng vũ trang thuộc quyền, cũng như các mặt công tác quân sự địa phương và lĩnh vực quốc phòng toàn dân trên địa bàn Thanh Hoá1 được coi như một công tác đột xuất. Lãnh đạo Quân khu cùng lãnh đạo các tỉnh đã phát huy trách nhiệm phối hợp, hiệp đồng hoàn thành tốt việc hợp nhất và giao nhận theo đúng tư tưởng nội dung chỉ đạo của Trung ương Đảng và Nhà nước. Quá trình hợp nhất và giao nhận, mọi mặt công tác vẫn được tiến hành thông suốt; đặc biệt là nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ trung tâm được đẩy mạnh trong khí thế thi đua quyết thắng chào mừng những ngày kỷ niệm lịch sử, chào mừng sự kiện trọng đại của đất nước như Tổng tuyển cử bầu cử Quốc hội nước Việt Nam thống nhất (Quốc hội khoá VI) tiến hành vào ngày 25-4-1976, thực hiện thống nhất Tổ quốc về mặt Nhà nước, lấy tên mới của nước ta là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ý thức sâu sắc trách nhiệm chính trị to lớn, nặng nề và vẻ vang trước sự kiện lịch sử trọng đại này, cùng với quân dân cả nước các lực lượng vũ trang quân khu từ biên giới đến hải đảo, từ các đơn vị đang làm nhiệm vụ thường xuyên sẵn sàng chiến đấu đến các công trường xây dựng đều nô nức đi bỏ phiếu; đồng thời vận động nhân dân hăng hái, phấn khởi làm tròn nghĩa vụ công dân, bảo vệ cuộc bầu cử thắng lợi trọn vẹn. Sau khi hoàn thành việc hợp nhất quân khu và hợp nhất các Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Quân khu khẩn trương chỉ đạo việc kiện toàn, ổn định tổ chức với tổng biên chế là 53.000, trong đó quân thường trực chiến đấu là 22.000, quân làm nhiệm vụ sản xuất xây dựng kinh tế là 30.000 người, quân làm nòng cốt xây dựng cơ bản là 1.000 người. Từ 70.700 người (trong đó quân thường trực gọi là A: 39.400, quân sản xuất 25.251, "khung” thương binh, bệnh binh 2.370, "động" thương binh, bệnh binh 3.210), nay rút xuống theo biểu biên chế mới. Cùng với việc giải quyết 17.700 người ngoài biên chế, Quân khu phải nghiên cứu hàng loạt các biện pháp, giải pháp về mặt tổ chức, chính sách, điều chỉnh bố trí nhân lực và nhân sự theo hướng khoa học, hợp lý, phát huy được sức mạnh mới của tổ chức và mỗi người. Ngoài số quân nhân đã giải quyết theo chế độ chính sách, Quân khu được quyền tạm thời giữ lại từ 7.200 đến 7.500 người, trong đó có 1.000 thương binh, bệnh binh cần tiếp tục nuôi dưỡng và 6.000 cán bộ, chiến sĩ làm các nhiệm vụ như: tổ chức thu hồi triệt để các trang bị của địch, các vũ khí, trang bị hư hỏng của ta; dồn dịch, xây dựng kho tàng; quy tập mộ liệt sĩ, xác minh quân nhân mất tin, mất tích; quản giáo tù binh; tổng kiểm kê cơ sở vật chất kỹ thuật; đi kiểm tra bàn giao lại các trận địa tên lửa, cao xạ trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, nay thuộc trách nhiệm bảo quản, gìn giữ của cơ quan quân sự địa phương... Những cán bộ có trình độ tổng kết được bố trí về các bộ phận lâm thời làm công tác tổng kết các chuyên đề về chiến tranh. Theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Quân khu 4 phải tập trung lực lượng cần thiết cùng với các lực lượng chức năng khác căn bản thanh toán xong bọn tàn quân địch và bọn phản cách mạng có vũ trang trên địa bàn Quân khu, chủ yếu là ở B4 cũ (Quảng Trị, Thừa Thiên cũ). Đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, giữ vững an ninh biên giới, quan hệ hữu nghị tốt với bạn Lào, tiếp tục tiến hành rà phá bom mìn, trước hết là các vùng trọng điểm. Đồng thời, tiến hành các công tác chuẩn bị xây dựng kế hoạch phòng thủ chiến lược lâu dài, trước mắt là trên hai hướng Thanh Hóa - Nghệ An và Vĩnh Linh - đèo Hải Vân. Trên chiến trường Lào trong khi đất nước Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng thì tình hình cách mạng Lào phát triển rất nhanh và sôi động. Tận dụng thời cơ được tạo ra sau khi Việt Nam toàn thắng “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", quân và dân nước Lào đẩy mạnh thế tiến công trên khắp các vùng. Theo yêu cầu của bạn, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4 tiếp tục chỉ đạo các đơn vị quân tình nguyện thuộc quyền nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, phối hợp với bạn hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước Lào anh em. Những tháng nửa cuối năm 1975, các đơn vị quân tình nguyện tập trung giúp bạn tiêu diệt lực lượng quân sự và xóa bỏ chính quyền địch; xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, ổn định tình hình xã hội, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân và xây dựng lực lượng cách mạng ở vùng mới giải phóng. Chỉ trong một thời gian ngắn, trên địa bàn hai tỉnh Khăm Muộn và Bô Li Khăm Xay do các đơn vị thuộc Trung đoàn 176 và bộ đội địa phương Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đảm nhận đã giúp bạn thành lập chính quyền tỉnh. Nhân dân các bộ tộc Lào phấn khởi, tin tưởng chào mừng sự ra đời của chính quyền cách mạng ở địa phương mình, và chấp hành chủ trương, chính sách cách mạng đề ra. Đến cuối năm 1975, ta đã giúp bạn cơ bản cải huấn xong ngụy quân và nhân viên ngụy quyền. Ngay sau đó, 5 tiểu đoàn ngụy quân cũ (bao gồm 1 tiểu đoàn cảnh sát) tự nguyện nhận làm đường giao thông. Riêng tỉnh Xiêng Khoảng, địch tìm cách phá hoại, nên việc lập chính quyền ở cấp tỉnh chậm hơn nơi khác. Số đông sĩ quan và binh sĩ ngụy ở vùng thấp được cải tạo. Ở Long Chẹng và vùng phụ cận chỉ mới cải tạo được một số. Phần đông quân ngụy ở đây còn tìm cách lẩn trốn. Ở Bom Lọng và Nậm Heo vẫn còn tình trạng quân ngụy trốn tránh, không ra trình diện. Các đơn vị tiếp tục nêu cao tinh thần đồng cam cộng khổ, chịu đựng hy sinh, cùng bạn tích cực tiến công và làm tan rã các ổ phỉ, các tổ chức phản động đang ráo riết mưu toan nổi dậy chống phá chính quyền cách mạng. Các đơn vị quân tình nguyện điều chỉnh lại đội hình chiến đấu và vị trí đứng chân của một số tiểu đoàn ở khu vực Cánh Đồng Chum, tạo điều kiện thuận lợi để bạn yên tâm rút bớt lực lượng ra làm nhiệm vụ ở phía trước. Các đơn vị còn giúp bạn xây dựng thêm hai tiểu đoàn bộ binh và một đại đội xe tăng pháo binh hỗn hợp ở tỉnh Khăm Muộn. _____________________________________________ 1. Quyết định số 112/QĐ-TM của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam điều động toàn bộ tổ chức quân số trang bị thuộc Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá về trực thuộc Bộ tư lệnh Quân khu 4 ghi rõ: Bộ lư lệnh Quân khu Hữu Ngạn giao cho Bộ tư lệnh Quân khu 4 xong trong tháng 6-1976. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Một, 2024, 11:04:07 am Để chủ động trước những diễn biến phức tạp có thể xảy ra, Quân khu tổ chức tập huấn cho cán bộ trung cấp và cao cấp về một số hình thức chiến thuật và chiến dịch. Nội dung tập huấn bám sát đối tượng tác chiến và điều kiện cụ thể trên chiến trường Lào; đặc biệt là vùng đô thị và rừng núi được ưu tiên quan tâm. Theo đề nghị của bạn, Quân khu kịp thời cử lực lượng, cả phía sau lên giúp sửa chữa các tuyến đường huyết mạch, bảo đảm giao thông thông suốt cả mùa khô và mùa mưa. Trong mùa mưa năm 1975, ở Lào có nhiều trận lũ lụt rất lớn. Đường sá bị hư hỏng nhiều; nhất là trên tuyến đường 8A, 8B, cầu đường hư hỏng nghiêm trọng, đòi hỏi sự tập trung lực lượng, phương tiện và sự nỗ lực lớn mới có thể hoàn thành đúng kế hoạch. Riêng đoạn Cánh Đồng Chum - Long Chẹng phải bảo đảm thông tuyến vào ngày 8-8-1975. Việc hoàn thành tốt chiến dịch bảo đảm giao thông đã giúp các đơn vị tổ chức vận chuyển lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc men và các phương tiện, trang bị chi viện cho bạn ở phía trước, trong mùa mưa (đặc biệt là đường 8A, 8B gặp nhiều khó khăn trở ngại nhất) góp phần quan trọng vào thắng lợi giải phóng hoàn toàn đất nước Triệu Voi ở thời điểm quyết định cuối cùng. Ngày 2-12-1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thành lập. Đây là bước ngoặt vĩ đại của quá trình đấu tranh anh dũng, lâu dài và bền bỉ suốt 30 năm đánh Pháp, đuổi Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào cùng sinh ra từ một cội nguồn với Đảng Cộng sản Việt Nam, trong mối quan hệ thủy chung đặc biệt: "Việt Lào hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà - Cửu Long"1. Đó cũng là niềm vui chung to lớn của nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự do cho mỗi nước. Đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi cơ bản để nhân dân nước bạn cùng đoàn kết xây dựng đất nước trong thời kỳ mới. Sự ra đời của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào mở ra một trang mới trong quan hệ thủy chung đặc biệt giữa Chính phủ và Quân đội hai nước Việt - Lào. Theo hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (3-12-1975), Quân khu 4 có nhiệm vụ tiếp tục giúp bạn Lào tổ chức bảo đảm giao thông - vận chuyển mùa khô 1975-1976. Trên tuyến đường 8, Quân khu thành lập Ban bảo đảm giao thông vận tải và Ban chỉ huy công trường, đồng thời điều động lực lượng phía sau gồm các tiểu đoàn 42, 48 bộ binh, Tiểu đoàn 37 công binh được phối thuộc 1 đại đội thông tin của Trung đoàn 80 thông tin Quân khu và tăng cường thêm Trung đoàn 176 lên tham gia bảo đảm giao thông. Trung đoàn 176 là nơi đặt trụ sở của Ban bảo đảm giao thông vận tải và Ban chỉ huy công trường. Cán bộ các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần quân khu được điều động tham gia Ban bảo đảm giao thông vận tải. Ngày 23 tháng 12, lãnh đạo 2 ban có mặt ở Trung đoàn 176. Ngày 25 tháng 12, Tiểu đoàn 37 có mặt ở Lạc Xao. Ngày 27-12-1975 bắc xong cầu Nậm Thơn dài 120 mét. Ngày 1-1-1976, Tiểu đoàn 37 hành quân lên Pắc Ca Đình. Ngày 3-1-1976 bắc xong cầu Pắc Ca Đình dài 368 mét đưa vào sử dụng. Trên địa bàn Khăm Muộn, Trung đoàn 176 và các tiểu đoàn 42, 48, 37 sử dụng 147.013 công, 11.102 lít xăng bảo đảm giao thông vận chuyển từ đường 8 đến đường 13, đường 8B và đường 12. Tại Xiêng Khoảng, 5 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 31, Trung đoàn 229 công binh, Tiểu đoàn 27 công binh chịu trách nhiệm bảo đảm tuyến đường 7 - Xảm Thông - Long Chẹng. Các đơn vị xây dựng mới được 60km đường, sửa chữa 156km đường sẵn có; bảo đảm giao thông cho 287km đường 7A Xiêng Khoảng - Tha Viêng và Lạt Luông - Xảm Thông. Tổng số nhân lực, vật lực huy động vào việc xây dựng tuyến đường này gồm 125.036 công, 50.000kg thuốc nổ, 155.009 lít xăng 12.519 lít dầu, 1.270kg đinh, 13.583 kíp nổ, 10.511 mét dây cháy chậm. Kết thúc chiến dịch bảo đảm giao thông - vận chuyển mùa khô 1975-1976 trên tuyến đường 8 (tính đến 7-5-1976) , các đơn vị vận tải đưa tới Pắc Xan 10.131 tấn hàng hóa (so với kế hoạch đề ra là 9.500 tấn, vượt mức 631 tấn) với tổng số huy động là 55.651 ngày công và chi phí 89.253,33 đồng2. Quân khu còn giúp bạn hoàn thành 250 mét đường hầm từ Phu Teng - Phu Keng, lắp 48 công sự, làm hai con đường lên núi dài 7km với tổng số 46.684 công, 117 tấn xi măng, 29,5 tấn thép, 1.000 mét ni lông, 80kg sơn chống gỉ. Các sân bay Bản Quý, Phôm Xa Vẳn, Nhom Ma Rát được sửa chữa xong với 1.070 ngày công. Trong số vũ khí trang bị Quân khu chuyển giao lại cho bạn có 3 xe tăng T59, 150 khẩu súng AK, 49 khẩu CKC, 2 khẩu pháo 122mm, 120 quả đạn, 10.000 kíp nổ, 5.000 nụ xòe, 40.000 viên đạn K56, 304 quả đạn B40, 409 quả cối 60, 2.000 viên K53. Các đơn vị quân tình nguyện vận chuyển cho bạn 183 tấn gạo, 35.000 lít xăng, 10 bộ săm lốp ô tô và một số quân phục giày dép. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ quốc tế “giúp bạn là tự giúp mình”, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã dạy, chấp hành thỏa thuận của lãnh đạo hai Đảng và hai Nhà nước Việt - Lào trong tháng 3 năm 1976, Quân khu khẩn trương tiến hành mọi công tác chuẩn bị rút quân tình nguyện về nước. Nhiều công việc với khối lượng lớn, thời gian gấp (bao gồm thu hồi các kho tàng; giải quyết các vấn đề liên quan đến các chính sách quan hệ quốc tế giữa bạn và ta; giải quyết các vấn đề chính sách thương binh, quy tập mộ liệt sĩ3, song các đơn vị đã khắc phục nhiều khó khăn, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương của hai Đảng, hai Nhà nước Việt - Lào rút quân về nước an toàn. Qua hơn một năm vừa nỗ lực khắc phục hậu quả nặng nề sau chiến tranh, vừa tích cực, chủ động triển khai thực hiện nhiệm vụ mới trong bước quá độ chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, phải tham gia giải quyết nhiều công việc chuẩn bị các điều kiện để cùng cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, Quân khu 4 - Quân khu Trị Thiên và tỉnh Thanh Hoá đã đạt được những thành tựu rất đáng kể. Đó là cơ sở tạo tiền đề để thực hiện tốt nhiệm vụ sau khi Quân khu 4 hợp nhất trong giai đoạn mới của cách mạng. _____________________________________________ 1. Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 9, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1979, tr.482. 2. Giá một bữa ăn đại táo lúc đó 0,3 đồng. 3. Trung đoàn 176 quy tụ xong phần lớn mộ liệt sĩ phân tán nhiều nơi, trên chiến trường rừng núi về cát táng tại những khu vực thoáng đẹp, an toàn. Riêng Sư đoàn 31 dùng 1.206 chuyến xe chở 6.775 cán bộ, chiến sĩ, 2.277 tấn phương tiện vũ khí. Trung đoàn 176 sử dụng 171 chuyến xe chở 1.842 cán bộ, chiến sĩ, 1.340 tấn trang bị, phương tiện. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2024, 02:49:09 pm II- THỰC HIỆN HAI NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 4 HỢP NHẤT Từ ngày 23 đến ngày 25-8-1976, tại Sở chỉ huy Quân khu 4 dưới chân núi Đại Huệ (Nam Đàn), Hội nghị Quân khu ủy 4 lần thứ nhất sau ngày hợp nhất Quân khu họp quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết 157 của Bộ Chính trị, các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về tình hình, nhiệm vụ quân sự của Đảng và xác định nhiệm vụ cụ thể của Quân khu. Hội nghị nhấn mạnh: "Giai đoạn mới, quân đội ta có hai nhiệm vụ chiến lược. Chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu là nhiệm vụ chung, nhiệm vụ chiến lược quan trọng bậc nhất của toàn quân; lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là nhiệm vụ chiến lược rất quan trọng của toàn quân". Hội nghị đề ra phương hướng trước mắt trong năm 1976 và đầu năm 1977. Hội nghị nêu lên những điểm yếu của Quân khu trước yêu cầu mới xây dựng Quân khu thành khu vực phòng thủ, thành hậu phương chiến lược, hành lang chiến lược và bàn đạp tiến công; mà nét nổi bật nhất là chưa giàu mạnh về lực, chưa hoàn chỉnh về thế, đòi hỏi phải nỗ lực rất lớn để biến tiềm năng thành sức mạnh hiện thực. Từ đặc điểm thế mạnh ba vùng cũng như đặc điểm vị trí Quân khu trong giai đoạn mới, Hội nghị xác định ba tính chất chiến lược của địa bàn Quân khu 4: Đây là một trong những khu vực chiến lược của nước ta, nằm giữa1 Việt Nam và Đông Dương, là hậu phương chiến lược gắn liền với hậu phương chiến lược quốc gia và là một trong những hướng phòng thủ chiến lược quan trọng của cả nước; nơi cơ động lực lượng ra các hướng chiến lược nước ta và Lào. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến lược đó, phải tập trung xây dựng thành địa bàn phòng thủ vững chắc, đủ sức đập tan mọi âm mưu chia cắt chiến lược của kẻ thù xâm lược, giữ vững thế liên hoàn chiến lược của ta trong mọi tình huống; phải có tiềm lực kinh tế - quốc phòng mạnh, hoàn chỉnh các căn cứ hậu phương chiến lược quốc gia mạnh và phát huy mạnh mẽ tác dụng căn cứ hậu phương trong mọi tình huống; có hành lang chiến lược Nam - Bắc, Đông - Tây hoàn chỉnh, đồng bộ, vững chắc, trong thời bình cũng như thời chiến: có bàn đạp vững chắc để cho các binh đoàn lớn, hiện đại đứng chân, cơ động lực lượng, nhanh chóng tiến công và phản công ra các hướng; đoàn kết, hợp tác lâu dài với bạn Lào, giúp bạn tăng cường khả năng củng cố quốc phòng phía Tây biên giới Quân khu. Phòng thủ luôn gắn liền với xây dựng và bảo vệ căn cứ hậu phương. Trong khi xây dựng thế mạnh liên hoàn về kinh tế - quốc phòng trên cả ba vùng, phải hướng mạnh về miền Tây Quân khu. Coi trọng xây dựng đúng mức về mọi mặt đối với miền Tây. Hội nghị đánh giá tình hình các lực lượng vũ trang quân khu bước vào giai đoạn mới đã bước đầu có những chuyển biến tốt về nhận thức, tư tưởng, tổ chức và hành động cách mạng. Về tổ chức, nhiều đơn vị đã ổn định biên chế theo quy định. Lực lượng còn lại tiếp tục củng cố tổ chức, chuẩn bị mọi mặt để bước vào xây dựng, củng cố theo hướng mới. Về phương hướng, nhiệm vụ Quân khu, hội nghị quyết nghị: "Ra sức xây dựng Quân khu ngày càng hoàn chỉnh, vững mạnh toàn diện, vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng; cùng với địa phương đẩy mạnh quá trình sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tăng cường khả năng và tiềm lực kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân ở địa phương. Trên cơ sở đó, không ngừng tích luỹ và phát triển thực lực cách mạng, tiềm lực quốc phòng, phấn đấu trong một thời gian lịch sử tương đối ngắn, đưa Quân khu tiến lên một cách nhanh chóng, trở thành một trong những căn cứ hậu phương chiến lược quốc gia vững chắc, một khu vực phòng thủ chiến lược bất khả xâm phạm. Xây dựng cả ba thứ quân hùng mạnh, chiến đấu giỏi, sản xuất và xây dựng kinh tế giỏi". Hội nghị khẳng định quyết tâm và trách nhiệm của toàn Quân khu: "Trong tương lai, nếu chiến tranh xảy ra, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Quân khu, đập tan âm mưu địch chia cắt chiến lược, giữ vững thế liên hoàn chiến lược của đất nước và Bắc Đông Dương, hoàn thành nhiệm vụ hậu phương chiến lược"2. Hội nghị bầu đồng chí Lê Tự Đồng giữ chức Bí thư Quân khu ủy, bầu Ban thường vụ và Ủy ban kiểm tra Quân khu ủy. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Đảng ủy Quân khu lần thứ nhất, Quân khu ủy đề ra yêu cầu phấn đấu là liên tục phát động phong trào thi đua Quyết thắng, hướng vào hoàn thành vượt mức các nhiệm vụ xây dựng quân đội, xây dựng kinh tế, giải quyết hậu quả chiến tranh, xây dựng các điển hình thi đua, các ngọn cờ tiêu biểu phong cách xã hội chủ nghĩa. Phong trào thi đua năm 1976 phải cố gắng tạo được nền móng để phát động một cao trào cách mạng sâu rộng trong năm 1977 và những năm sau, thực hiện: "Toàn Quân khu là một công trường xây dựng chủ nghĩa xã hội và củng cố quốc phòng”. Đi đôi với tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, tìm hiểu ý định chiến lược của cấp trên, Quân khu chủ động triển khai việc lấy ý kiến thống nhất của các cấp lãnh đạo, chính quyền ba tỉnh. Trong khi chờ những quyết nghị của Đại hội lần thứ IV của Đảng; quy chế các Bí thư Tỉnh ủy tham gia Quân khu ủy chưa có, Thường vụ Quân khu ủy và Quân khu ủy chủ trương cần đưa chính sách của nhà nước sớm đi nhanh vào cuộc sống trên địa bàn Quân khu. Trước hết, Quân khu và các địa phương phải chủ động tạo ra nền nếp và cách làm việc phù hợp, hiệu quả, vì mục đích chung cao cả, trên tinh thần đoàn kết, nhất trí, cùng nhau chịu trách nhiệm trước sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân. Quân khu chủ động đặt vấn đề với các địa phương tổ chức khảo sát tình hình thực tế, sưu tầm tư liệu, số liệu mọi mặt trên địa bàn ba tỉnh sau hợp nhất, để có căn cứ khách quan xem xét, đánh giá sát đúng tình hình, quán triệt, vận dụng nghiêm túc đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước vào đặc điểm tình hình, nhiệm vụ Quân khu. Trên cơ sở những kết quả chuẩn bị, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu lần lượt cùng các Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân ba tỉnh tổ chức Hội nghị liên tịch ở ngay từng tỉnh. ____________________________________________ 1. Ý nói nằm ở đoạn giữa của nước Việt Nam và ba nước Đông Dương. 2. Nghị quyết số 421/NQ, ngày 20-9-1976. Hồ sơ số 26/QKU4 - Lưu trữ Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:25:33 pm Ngày 3-9-1976, tại trụ sở Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh (ở thành phố Vinh), đã diễn ra cuộc họp liên tịch bàn một số vấn đề kinh tế - quốc phòng trên địa bàn Nghệ Tĩnh. Tham dự về phía Quân khu có đồng chí Lê Tự Đồng - Bí thư Quân khu ủy và hai ủy viên Thường vụ là Đại tá Nguyễn Văn Thuận - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng và Đại tá Phan Văn Đường - Phó chính ủy - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4. Tỉnh Nghệ Tĩnh có đồng chí Nguyễn Sĩ Quế - Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Nguyễn Tiến Chương - Phó Bí thư Tỉnh ủy; ba đồng chí ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy: Trần Quang Đạt - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Thượng tá Dương Diên - Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Thượng tá Nguyễn Hữu Phúc, nguyên Phó chính ủy Bộ chỉ huy quân sự, kiêm nhiệm Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy. Hội nghị nhất trí đánh giá về vai trò, vị trí, địa bàn "Quân khu 4 (từ Tam Điệp đến Hải Vân) và Nghệ Tĩnh (từ khe Nước Lạnh đến đèo Ngang) là địa bàn chiến lược rất quan trọng cả về kinh tế, quốc phòng, trùng hợp với hậu phương chiến lược"; đồng thời đánh giá cao truyền thống đoàn kết trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, những thành tích đạt được và quan điểm cơ bản về xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng trong thời kỳ mới. Hội nghị đề ra 6 chủ trương lớn gồm: 1. Xây dựng khu căn cứ chiến lược tây bắc Nghệ Tĩnh từ Tương Dương - Kỳ Sơn đến Quế Phong - Quỳ Châu, nối với tây nam Thanh Hoá, sát biên giới Việt - Lào thành vùng căn cứ chiến lược có kinh tế, chính trị, quốc phòng vững mạnh. 2. Sản xuất vật liệu xây dựng và xây dựng, trong đó có việc dùng lực lượng bộ đội Quân khu xây dựng khu công nghiệp vật liệu gạch, ngói Rào Gang; khai thác đá lèn Ba Thung, sản xuất vôi phục vụ xây dựng cơ bản cho Quân khu và cung cấp một phần cho nông nghiệp vùng phụ cận; xây dựng một xí nghiệp sản xuất xi măng tại khu lèn đá Kim Nhan, công suất ban đầu 10.000 tấn sau nâng lên 30 - 50 nghìn tấn/năm. 3. Làm đường giao thông: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng 122km đường 48 từ Yên Lý đến Quế Phong phục vụ xây dựng kinh tế - quốc phòng tây bắc Nghệ Tĩnh. Đề nghị Trung ương cho mở đường Mường Xén (đường 7) qua Mường Lống - Mường Lâm (Quế Phong) đến Thường Xuân (Thanh Hoá); giao vốn và thiết bị ban đầu cho Quân khu khảo sát, thi công từ năm 1977 đến năm 1980. 4. Xác định vị trí đóng quân và xây dựng các công trình quốc phòng Quân khu. 5. Về lực lượng làm kinh tế của bộ đội Nghệ Tĩnh, Bộ Quốc phòng xác định tỉnh có trung đoàn chuyên sản xuất kinh tế 1.500 người. Quân khu và tỉnh giao rõ nhiệm vụ làm đường vùng kinh tế mới ở miền Tây là chính. 6. Về vấn đề quân sự địa phương: Quân khu và tỉnh nhất trí phải khẩn trương đẩy mạnh mọi mặt công tác đã đề ra. Khi cần thiết, Quân khu và tỉnh tiếp tục bàn trong quá trình thực hiện. Những vấn đề liên quan về quy hoạch, xây dựng kinh tế được giao cho các cơ quan Quân khu và tỉnh trực tiếp thảo luận, triển khai. Riêng những vấn đề thuộc hậu cần liên quan tới mậu dịch, tài chính, ngân hàng, do tính chất đặc thù và những khó khăn về kinh tế, đời sống sau chiến tranh, tỉnh giao cho đồng chí Nguyễn Trọng Thể - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp phụ trách. Cũng tại hội nghị này, một số đề xuất cụ thể về tổ chức thực hiện, về bố trí địa bàn đứng chân của các sư đoàn, trung đoàn làm kinh tế (gồm Sư đoàn 316B, Đoàn 336, Trung đoàn 167, Trung đoàn 223, Tiểu đoàn 54, Đoàn 337, xí nghiệp cưa xẻ gỗ, các trường quản lý kinh tế (chương trình trung cấp), trường dạy nghề, các cơ sở chăn nuôi lợn giống, cá giống, các xí nghiệp vừa học, vừa làm của thương binh, bệnh binh (xưởng may mặc điện, xưởng sửa chữa máy thu thanh, thu hình, xưởng mộc, trường cơ khí) và một số dự án quy hoạch về đất đai sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp khai thác gỗ, ngư nghiệp, công nghiệp, do Quân khu đề nghị đã được lãnh đạo tỉnh Nghệ An chấp nhận. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:27:22 pm Từ những kinh nghiệm bước đầu ở Nghệ Tĩnh, ngày 27- 9-1976 Thường vụ Quân khu ủy - Bộ tư lệnh Quân khu 4 và Thường vụ Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên tổ chức cuộc họp tại trụ sở Tỉnh ủy Bình Trị Thiên (ở thành phố Huế). Tham dự về phía Quân khu, trên cơ sở thành phần đoàn họp ở Nghệ Tĩnh có thêm Đại tá Trần Văn Ân - Quân khu ủy viên - Phó chính ủy Quân khu (nguyên là Phó chính ủy Quân khu Trị Thiên). Tỉnh Bình Trị Thiên có đồng chí Bùi San - Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; đồng chí Cổ Kim Thành - Phó Bí thư Tỉnh ủy, 3 ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy: đồng chí Hồ Sĩ Thản - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân, đồng chí Ngô Đình Văn - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân và đồng chí Nguyễn Văn Đài phụ trách công nghiệp. Thường vụ Quân khu ủy thông báo đặc điểm, vị trí và nhiệm vụ Quân khu 4 trong giai đoạn mới, đề xuất với Thường vụ Tỉnh ủy Bình Trị Thiên về đánh giá vị trí chiến lược, yêu cầu nhiệm vụ quân sự, phương hướng kết hợp xây dựng kinh tế với xây dựng nền quốc phòng của tỉnh Bình Trị Thiên trong giai đoạn mới. Hội nghị trao đổi, bàn bạc và hoàn toàn nhất trí những vấn đề về kết hợp xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng, vấn đề lực lượng vũ trang tham gia xây dựng kinh tế và công tác quân sự địa phương trên địa bàn tỉnh. Xuất phát từ nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân sự trong giai đoạn mới của cả nước, Hội nghị xác định vị trí chiến lược của Bình Trị Thiên là địa bàn xung yếu nối liền đất nước, vừa là cửa ngõ của miền Trung Đông Dương; là một hướng chiến lược rất quan trọng đối với cả nước và miền Trung Đông Dương. Nếu chiến tranh có thể xảy ra trong tương lai, thì âm mưu của địch đối với Bình Trị Thiên chủ yếu vẫn là thực hiện chia cắt chiến lược và cuộc chiến đấu ở đây chủ yếu vẫn là chống chia cắt chiến lược. So với các tỉnh trong Quân khu, Bình Trị Thiên gặp nhiều khó khăn hơn, nhất là chiến tranh kéo dài, đã tàn phá gây hậu quả rất nặng nề và chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Thường vụ Quân khu ủy nhất trí cao với phương hướng do Tỉnh ủy đề ra là "Phấn đấu trong vòng 15 - 20 năm tới, biến Bình Trị Thiên từ một tỉnh nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn, mất cân đối nghiêm trọng hiện nay thành một tỉnh nông - công nghiệp phát triển với cơ sở vật chất - kỹ thuật cao, với sự phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng, làm cho Bình Trị Thiên giàu có về kinh tế, vững mạnh về quốc phòng. Hội nghị xác định quyết tâm, phương hướng “ra sức xây dựng tỉnh Bình Trị Thiên thành địa bàn chiến lược vững mạnh toàn diện, có thế và lực mạnh, có khả năng đánh bại mọi cuộc tiến công xâm lược của kẻ địch, quyết không để chiến trường bị chia cắt, giữ vững hành lang chiến lược Nam – Bắc, Đông - Tây, tạo điều kiện phát huy sức mạnh liên hoàn các chiến trường trong nước, cùng với các tỉnh trong Quân khu bảo vệ vững chắc Quân khu, góp phần cùng cả nước bảo vệ độc lập vĩnh viễn của Tổ quốc Việt Nam thống nhất xã hội chủ nghĩa”1. Hội nghị cũng bàn về sự cần thiết và nội dung cơ bản tạo thế liên hoàn vững chắc giữa các vùng trong tỉnh, xây dựng một bố cục chiến lược kinh tế gắn liền bố cục chiến lược quốc phòng vững mạnh theo những yêu cầu cụ thể sát đúng với đặc điểm, vị trí, nhiệm vụ từng vùng, nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhau. Đặc biệt, miền Tây của tỉnh có tầm quan trọng sống còn lâu dài, cần được quan tâm đúng mức. Việc kết hợp giữa các lực lượng của Trung ương đứng chân trên địa bàn với lực lượng của tỉnh và quân đội cần theo một kế hoạch thống nhất. Các nội dung khác cũng được thảo luận thống nhất bao gồm công tác quân sự địa phương trên hai vùng của tỉnh, nhất là vùng mới giải phóng và một số vấn đề cụ thể khác về bộ đội xây dựng kinh tế, các địa điểm bố trí các đơn vị, các cơ sở hậu phương của Quân khu, của tỉnh; các khu vực di tích lịch sử cần được bảo tồn, cũng như việc chuyển giao Nhà bảo tàng của Quân khu Trị Thiên, khách sạn Thuận Hóa cho tỉnh, đồng thời dành địa điểm xây dựng các khu an dưỡng cán bộ và trạm đón khách của quân khu. Đồng chí Lê Tự Đồng - Bí thư Quân khu ủy 4 và đồng chí Bùi San - Bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên đã ký vào văn bản hội nghị. Do tính chất đặc thù của Bình Trị Thiên, quá trình xây dựng đòi hỏi nhiều công sức đầu tư, nhất là sưu tầm, khảo sát điều tra, đánh giá tình hình mọi mặt sao cho sát đúng, chính xác. So với Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, các điều tra cơ bản ở Bình Trị Thiên thiếu nhiều. Ngày 4-9-1976, Thường vụ Quân khu ủy có văn bản số 362 về "Những vấn đề đề xuất của Thường vụ Quân khu ủy 4 trong hội nghị liên tịch đầu tiên của giai đoạn mới với Thường vụ Tỉnh ủy Bình Trị Thiên". Tiếp đó, ngày 17 tháng 9, sau khi tiếp nhận ý kiến của tỉnh, Thường vụ Quân khu ủy tu chỉnh thành văn bản mới số 420 về xây dựng tỉnh Bình Trị Thiên trong giai đoạn mới. _____________________________________________ 1. Hồ sơ 33/QKU4 - Lưu trữ Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:29:34 pm Ngày 15-10-1976, tại trụ sở Tỉnh ủy Thanh Hoá (ở thị xã Thanh Hoá), Thường vụ Quân khu ủy - Bộ tư lệnh Quân khu 4 và Thường vụ Tỉnh ủy — Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá họp Hội nghị bàn về chiến lược xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng trong giai đoạn cách mạng mới ở Thanh Hoá. Tham dự về phía Quân khu có Thiếu tướng Lê Tự Đồng - Bí thư Quân khu ủy, Chính ủy Quân khu; Đại tá Nguyễn Văn Thuận - Ủy viên Thường vụ Quân khu ủy - Phó tư lệnh Quân khu; Đại tá Lê Thiết - Quân khu ủy viên - Phó tư lệnh - Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu. Tỉnh Thanh Hoá có đồng chí Lê Thế Sơn - Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Phạm Len - Phó Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Hoàng Văn Hiều - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; các ủy viên Thường vụ: Hà Văn Ban - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân, Nguyễn Nghiễm, Vũ Văn Kính. Thanh Hoá vốn nằm vào vị trí đặc biệt, trực tiếp gắn liền với hậu phương chiến lược quốc gia ở phía Bắc và khu vực chiến lược Bắc Đông Dương, vừa là địa bàn bản lề nối liền miền Bắc với miền Trung Tổ quốc. Sau 17 năm chuyển thuộc Quân khu 3 rồi Quân khu Hữu Ngạn để phục vụ nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nay Thanh Hoá trở về hợp thành Quân khu 4, trên mảnh đất lịch sử truyền thống Thanh-Nghệ-Tĩnh - Bình-Trị-Thiên vì nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Hội nghị xác định trách nhiệm kế thừa, phát huy truyền thống đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng trong quá trình chiến đấu lâu dài trước đây thành sự nhất trí cao trong việc quán triệt đường lối, nhiệm vụ chính trị, quân sự của Đảng trước giai đoạn mới vào địa bàn Quân khu 4 và Thanh Hoá. Hội nghị hoàn toàn thống nhất về quan điểm, phương hướng lâu dài cũng như chủ trương trước mắt trên tất cả các vấn đề. Trước hết là khẳng định vai trò, vị trí, nhiệm vụ của Thanh Hoá: "Trong quá trình lịch sử của đất nước, Thanh Hoá có vị trí chiến lược rất quan trọng đối với cả nước. Ngày nay, đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lâu dài, địa bàn Thanh Hoá càng quan trọng cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng. Thanh Hoá là địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước, nằm ở vị trí bản lề của các khu vực chiến lược miền Bắc, miền Trung nước ta và miền Bắc Đông Dương. Thanh Hoá cùng với Nghệ Tĩnh là hậu phương chiến lược của Quân khu, gắn liền với hậu phương chiến lược cả nước; là một hướng phòng thủ chiến lược quan trọng; là cửa ngõ và địa bàn cơ động ra các hướng". Hai Thường vụ Quân khu ủy nhất trí cao về phương hướng "Xây dựng tỉnh thành một địa bàn chiến lược vững mạnh toàn diện, một khu vực hậu phương giàu mạnh, bất khả xâm phạm”, "xây dựng bàn đạp cơ động và hệ thống hành lang chiến lược vững chắc, giữ vững thế liên hoàn đất nước"1. Tuy nền kinh tế phát triển còn chậm, nền quốc phòng so với yêu cầu quốc phòng hiện đại còn khoảng cách lớn; nhưng bước vào thời kỳ mới, tỉnh Thanh Hoá có điều kiện thuận lợi và khả năng để khai thác, phát triển thế mạnh liên hoàn cả về kinh tế và quốc phòng trên cả ba vùng: đồng bằng, biển và miền Tây (bao gồm trung du và miền núi). Đặc biệt, miền Tây Thanh Hoá chiếm 3/4 diện tích đất liền, có địa hình hiểm hóc, nối liền với miền Tây Nghệ Tĩnh, và vùng miền núi Bắc Bộ hình thành căn cứ hậu phương của Quân khu cũng như cả nước. Cũng tại hội nghị này, một số vấn đề về bộ đội Quân khu tham gia xây dựng kinh tế ở Thường Xuân; phương hướng và phương thức sản xuất lương thực, thực phẩm; phát huy tác dụng gương mẫu xung kích lao động có kỷ luật, có kỹ thuật của các lực lượng sẵn sàng chiến đấu trong xây dựng kinh tế; yêu cầu Quân khu sớm có kế hoạch phòng thủ lâu dài để tỉnh có kế hoạch thực hiện kết hợp kinh tế quốc phòng được bàn bạc, giải quyết từng bước. Quân khu giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh 4.850 quân (có 1.850 làm nhiệm sẵn sàng chiến đấu, 3.000 chuyên làm kinh tế). Lực lượng chuyên xây dựng kinh tế lâu dài, do tỉnh giao nhiệm vụ, xây dựng, quản lý, đầu tư trang bị theo phương hướng xây dựng kinh tế; thống nhất tập trung vào nhiệm vụ làm công trình thủy lợi và làm đường miền Tây. Trung đoàn 14 hoàn thành công trình cống tiêu thủy Quảng Châu, cầu Xuân Phương tiếp đó chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng công trình chính trong hệ thống đập ngăn mặn Lạch Bạng; cùng với lực lượng dân quân du kích, hoàn thành có chất lượng, sớm đưa vào phục vụ nông nghiệp Đoàn 923 (sau này là Trung đoàn 74) đẩy mạnh tốc độ làm đường Hồi Xuân - Pù Nhi. Đối với dân quân tự vệ hội nghị nhấn mạnh: "Tổ chức dân quân tự vệ phải gắn liền với nhiệm vụ xây dựng kinh tế và sự phát triển của tổ chức kinh tế, hành chính; phù hợp với quá trình tổ chức lại sản xuất, phân công lại lao động, phải hướng vào mục tiêu phát huy được tác dụng nòng cốt xung kích của dân quân tự vệ trong nhiệm vụ kinh tế của địa phương và nhiệm vụ bảo vệ trật tự trị an", về các mối quan hệ và tổ chức thực hiện, Hội nghị xác định: Phó chỉ huy hoặc Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh là thành viên tham gia Ủy ban kế hoạch Nhà nước để tiện phối hợp - kết hợp kinh tế - quốc phòng ngay từ khâu đầu tiên - trọng yếu của quy trình tổ chức thực hiện các kế hoạch. Phó chính ủy, Chủ nhiệm (hoặc Phó chủ nhiệm) chính trị tham gia làm thành viên các ban tổ chức, tuyên huấn, kiểm tra của Tỉnh ủy để phối hợp các mặt công tác nói trên trong quá trình tiến hành công tác quân sự địa phương, xây dựng quốc phòng. Đồng thời, một trong ba thành phần nói trên tham gia Ban chấp hành Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh để phối hợp công tác vận động thanh niên, thiếu nhi và công tác quân sự ở các nhà trường. Thành công của Hội nghị này đã đặt nền móng cho sự đoàn kết, thống nhất, nhất trí từ cơ quan lãnh đạo cao nhất của Quân khu và của các tỉnh trên những vấn đề trọng yếu nhất liên quan đến những nội dung cốt lõi sống còn đối với sự ổn định, phát triển giàu mạnh, vững chắc của mỗi cơ sở, mỗi địa phương và toàn địa bàn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là cơ sở vững chắc để các đơn vị lực lượng vũ trang, trong đó có quân đội, có thêm những thuận lợi về địa bàn đứng chân, môi trường hoạt động, nhân tố hậu phương để hoàn thành nhiệm vụ được giao trong thời kỳ mới. Đồng thời tạo một bước quan trọng trong quá trình thể chế hoá, cụ thể hoá các nghị quyết của Đảng, pháp luật, nghị định của Nhà nước về kết hợp kinh tế - quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và về nhiệm vụ của quân đội trên địa bàn Quân khu 4. ______________________________________________ 1. Hồ sơ 31/QKU4 - Lưu trữ Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:32:09 pm Trong những ngày trước và sau hợp nhất Quân khu, các đơn vị và địa phương đã dấy lên phong trào thi đua Quyết thắng sôi nổi, lập thành tích chào mừng các ngày kỷ niệm lịch sử trong năm, chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV. Phong trào thi đua tập trung hoàn thành những công trình trọng điểm xác định. Ngày 24 tháng 4, Trường Văn hoá Quân khu được chấn chỉnh lại. Theo chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân khu, Trường có 3 nhiệm vụ: 1. Dạy văn hoá cho một số sĩ quan có điều kiện phục vụ lâu dài trong quân đội; 2. Bồi dưỡng văn hóa cho số hạ sĩ quan trước khi đi học các trường sĩ quan; 3. Ôn thi vào đại học cho số nam nữ thương binh, bệnh binh có đủ điều kiện và nhu cầu. Biên chế cán bộ, giáo viên, nhân viên phục vụ gồm từ 24 - 50 sĩ quan, 195 hạ sĩ quan. Hàng năm lưu lượng học viên từ 1.000 - 1.200 người. Trung đoàn 214 pháo cao xạ đang làm nhiệm vụ xây dựng đường sắt trên địa bàn Vĩnh Linh được điều về đứng chân trên địa bàn xã Xuân Viên (cạnh chân núi Hồng Lĩnh), huyện Nghi Xuân, Nghệ Tĩnh. Ngày 10-6-1976, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định điều Sư đoàn 324 của Quân đoàn 2, bao gồm toàn bộ quân số, trang bị khí tài về thuộc sự lãnh đạo, chỉ huy của Quân khu 4. Mọi công việc giao nhận xong trong tháng 6 năm 1976. Theo kế hoạch ngày 30-6-1976, việc bàn giao tổ chức, biên chế, trang bị của Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế cho Bộ tư lệnh Quân khu 4 hoàn thành, bao gồm: 1.880 quân thường trực (có 189 sĩ quan, 1.082 hạ sĩ quan); 1.478 quân xây dựng kinh tế (bao gồm 245 sĩ quan, 1.233 hạ sĩ quan); thương binh, bệnh binh 4.081 (có 328 sĩ quan); 101 sĩ quan chờ sắp xếp công tác. Các trang bị súng pháo đều cấp I, cấp II, bảo đảm đủ cho các đơn vị theo biên chế chiến đấu và 80 ô tô các loại. Trước yêu cầu bức thiết của nhiệm vụ xây dựng kinh tế trong điều kiện mới, Quân khu tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy vào hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, hướng về những khâu trọng yếu, nâng cao nhận thức tư tưởng, tổ chức quản lý, làm chủ khoa học - kỹ thuật, hạch toán kinh tế, tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả. Thông qua tổng kết công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy trong chiến tranh và tổng kết bước đầu về lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An và chiến dịch xây dựng công trình thủy lợi Thống Nhất ở Thanh Hoá, Quân khu tiến hành bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ và bộ đội: Bồi dưỡng tập huấn kinh nghiệm chung; bồi dưỡng, tập huấn theo chuyên đề và lồng vào các chương trình, nội dung, kế hoạch công tác, huấn luyện, xây dựng kinh tế. Căn cứ vào chỉ thị của Quân ủy Trung ương về việc quân đội tham gia cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Nam, Quân khu chỉ đạo Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên tăng cường giáo dục, động viên, tổ chức cho bộ đội thường trực và dân quân tự vệ vùng nam sông Bến Hải đến bắc Hải Vân tuyên truyền động viên gia đình, bà con của quân nhân hiểu rõ, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, chính sách của Đảng. Quân khu tăng cường một số cán bộ cùng cán bộ quân sự của tỉnh tham gia các tổ, đội công tác của tỉnh, huyện, xã, khối phố. Nhiệm vụ là thực hiện theo đúng quan điểm, chính sách của Đảng, xóa bỏ giai cấp tư sản mại bản, xoá bỏ tàn dư của chế độ thực dân phong kiến về ruộng đất, giải quyết tốt các vụ tranh chấp ruộng đất trong nội bộ nông dân và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Đồng thời tham gia cùng nhân dân tiến hành đấu tranh, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động chống đối, phá hoại của giai cấp bóc lột và các thế lực phản động. Tháng 8 năm 1976, Quân khu tổ chức một đợt sinh hoạt chính trị, tự phê bình và phê bình tiến hành sâu rộng khắp các cấp ủy, các đơn vị theo phương châm "cấp trên trước, cấp dưới sau", "Thường vụ và Quân khu ủy làm trước, các cấp ủy dưới theo thứ tự triển khai từ sư đoàn, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh xuống cơ sở", "trong Đảng làm trước, đơn vị làm sau". Qua sinh hoạt, cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu có những chuyển biến mới về nhận thức, tư tưởng và hành động. Cấp trên nêu gương trước cấp dưới, trong Đảng nêu gương trước đơn vị về tinh thần thành khẩn tự phê bình, phê bình, phát huy ưu điểm và thành tích, ra sức khắc phục, sửa chữa khuyết điểm. Sau khi hợp nhất Quân khu 4, hợp nhất Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh, hợp nhất Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên, tiếp nhận Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá, nhận bàn giao Sư đoàn 324 từ Quân đoàn 2 trở về Quân khu 41, sức mạnh của Quân khu tiếp tục được phát huy mạnh mẽ. Cùng với việc bàn giao Trung đoàn 89 công binh cho Quân khu 1, chuyển giao đại đội 38 hoá học cho Quân đoàn 1 và chuyển Sư đoàn 31 về Tổng cục Xây dựng kinh tế (9-1976), Quân khu đã triển khai toàn diện các mặt xây dựng lực lượng. Về lực lượng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu có 30.864 cán bộ, chiến sĩ, bao gồm Sư đoàn 324 bộ binh, Trung đoàn 176 bộ binh, Trung đoàn 16 pháo binh, Trung đoàn 214 cao xạ, Trung đoàn 206 xe tăng, Trung đoàn 414 công binh, Trung đoàn 80 thông tin. Lực lượng làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế có 32.000 người, gồm Sư đoàn 316 làm lâm nghiệp dừng chân ở Quế Phong, Sư đoàn 336 làm cầu đường 48 từ Yên Lý đi Quế Phong (lấy Trung đoàn 185 của Bộ chỉ huy quân sự Quảng Bình làm nòng cốt)2. Sư đoàn xây dựng kinh tế (hướng đi là xây dựng cơ bản và sản xuất vật liệu xây dựng) gồm Trung đoàn 4 bộ binh, hai Trung đoàn 222, 223 cao xạ và Trung đoàn 1673. Lực lượng xây dựng cơ bản gồm 1.200 và lực lượng quá độ có 7.500 người. Đến ngày 31-7-1976 quân số toàn Quân khu là 94.879 người, trong đó có 12.064 sĩ quan. ____________________________________________ 1. Trên thực tế mọi việc tổ chức, chấn chỉnh lực lượng và giải quyết trọn vẹn mọi khâu đến tháng 3 năm 1976 xong hợp nhất Nghệ Tĩnh, tháng 8 năm 1976 hoàn chỉnh hợp nhất quân khu và giao nhận Thanh Hóa; tháng 9 năm 1976 hoàn thành hợp nhất Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên và tiếp nhận Sư đoàn 324. 2. Sau này sư đoàn mang phiên hiệu Đoàn 336. 3. Sau này Đoàn 337 đổi phiên hiệu là Sư đoàn 337. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:33:06 pm Đi đôi với việc củng cố tổ chức biên chế theo yêu cầu mới, Quân khu hoàn thành nhiệm vụ tuyển quân đạt số lượng 31.700/31.500 người (đạt 100,06%), bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng (trong đó Thanh Hoá 10.800 nam và 3.000 nữ giao xong ngày 20-10-1976; Nghệ Tĩnh 13.000 nam và 3.300 nữ, giao xong ngày 19-8-1976). Nghệ Tĩnh đạt 102,8% về số lượng đối với nam và 100% đối với nữ, được Chính phủ công nhận là một trong 4 tỉnh miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân năm 1976. Riêng tỉnh Thanh Hoá đạt 100,3% về nam, 100,7% về nữ. Do tính chất hai vùng: vùng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa và vùng bị Pháp, Mỹ chiếm đóng trước đây, nên tỉnh Bình Trị Thiên tuyển quân chậm hơn. Ngày 23-9-1976 tỉnh thành lập Hội đồng nghĩa vụ quân sự, do đồng chí Trần Đồng - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Chủ tịch; Đại tá Nguyễn Chi - Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh làm Phó chủ tịch. Các huyện phía Bắc (từ Vĩnh Linh trở ra) đã trải qua nhiều năm thi hành Luật Nghĩa vụ quân sự, nay triển khai tuyển quân và đăng ký nghĩa vụ quân sự trước để rút kinh nghiệm. Đối với các vùng bị Pháp, Mỹ chiếm đóng nhiều thập kỷ, phần giáo dục, giác ngộ cho thanh niên và toàn dân về nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, biện pháp, mới dần dần xóa đi được những ấn tượng xấu về cảnh đế quốc và tay sai bắt lính đi giết hại đồng bào trước đây; mới thấu hiểu vinh dự, trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng hôm nay. Bên cạnh các buổi học tập, diễn đàn chung, những kinh nghiệm về "ba cử", "hai nguyện" mà các huyện phía Bắc đã làm nhiều năm được vận dụng một cách phổ biến, cán bộ còn phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, tác phong sâu sát, tìm hiểu kỹ tình hình cụ thể mọi mặt "thuộc từng ngõ, rõ từng nhà, rà từng trường hợp". Đến ngày 18-10-1976, các huyện phía bắc Bình Trị Thiên (từ Bến Hải trở ra) tuyển 1.471 người bàn giao xong quân (đạt 100,07% về nam, 100% nữ). Ngày 18-11-1976, các huyện phía nam (từ Bến Hải trở vào Phú Lộc) hoàn thành việc giao quân với 1.801 người. Trong điều kiện vừa sáp nhập tỉnh xong và triển khai nhiều công việc lớn, lại trải qua nhiều cơn gió lốc, gió xoáy gây nên nhiều thiệt hại ở vùng ven biển, bọn phản động tìm mọi cách chống phá, lần đầu tiên việc triển khai tuyển quân và đăng ký nghĩa vụ quân sự theo luật ở vùng mới giải phóng đạt được kết quả như vậy là một thành công lớn của tỉnh Bình Trị Thiên. Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng về vai trò, vị trí của dân quân tự vệ là "lực lượng của chiến tranh nhân dân, làm nòng cốt xung kích trong lao động sản xuất, xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở thôn xóm”, các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh (cũ) tiếp tục phát triển, củng cố tổ chức dân quân tự vệ theo địa bàn huyện mới hợp nhất đúng chỉ tiêu, kế hoạch đề ra ở 100% số xã và 696/801 cơ sở tự vệ (chiếm 85,6%). Trong năm 1976, riêng Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh phát triển được 45.981 dân quân tự vệ. Tỉnh Thanh Hoá cử cán bộ triển khai thí điểm xây dựng dân quân tự vệ trong các "đội 202" (đội thủy lợi chuyên) ở Thọ Xuân, tiếp đó mở rộng ra 23 huyện có 5 vạn "dân quân 202". Trên cơ sở đó, tỉnh mở ra hình thức tổ chức "quân sự hoá" trong lao động, điển hình là 16 huyện mở công trường thủy lợi huyện, 10 huyện tham gia công trường thủy lợi Quảng Châu, 8 vạn dân quân làm công trường thủy lợi sông Lý. 556 xã, khu phô (100%) được củng cố, có 212 xã, khu phố đạt danh hiệu Quyết thắng, 79 khá, 212 trung bình, 53 kém. Nghệ Tĩnh được Trung ương chỉ đạo tổ chức lại nền sản xuất xã hội chủ nghĩa; trong đó đồng bằng thực hiện chương trình điện khí hoá; ở miền núi giao đất, giao rừng. Lúc đầu, cán bộ chỉ đạo phong trào gặp khó khăn, nhưng sau một thời gian đã dần dần đi vào nền nếp, và có bước phát triển. Đến cuối năm 1976 số lượng dân quân tự vệ tăng nhanh. Tổ chức biên chế ngày càng phù hợp với tình hình thực tế, phát triển đúng hướng. Toàn tỉnh có 309.999 dân quân tự vệ và 247.001 du kích (chiếm 10,5% so với dân số, tăng 0,2% so với năm 1975); tự vệ 59.998, chiếm 53% tổng số công nhân viên chức. Đảng viên trong du kích chiếm 36,6%, trong dân quân 29,5%. Lực lượng cơ động có 79 đại đội; 656 trung đội du kích bộ binh; 27 trung đội súng cối; 46 trung đội 12,7 ly; 7 trung đội ĐKZ 75; 1 trung đội pháo 75. Lực lượng tại chỗ có 1.338 trung đội du kích, 1.659 trung đội dân quân, 648 trung đội hỗn hợp, 142 tiểu đội độc lập. Vừa củng cố, phát triển tổ chức, các địa phương vừa tích cực đưa dân quân tự vệ đến các công trường lao động do Ban chỉ huy quân sự huyện phụ trách. Trong đó đã đào đắp được 1.200.000m3 đất đá làm thủy lợi, làm 59,5km đường giao thông, khai hoang, phục hoá được 2805,5ha, di dời dân 7.131 hộ, cất bốc 23.558 ngôi mộ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:35:06 pm Tỉnh Bình Trị Thiên sau hợp nhất có 20 huyện, 269 xã, thị trấn, 2 thị xã1, 1 thành phố (Huế), dân số 1.724.970. Đi đôi với củng cố tổ chức biên chế, tăng cường chất lượng ở các vùng căn cứ cũ của cách mạng, vấn đề lớn đặt ra là phải khảo sát, điều tra, tuyên truyền, giáo dục, phát triển lực lượng ở các địa bàn mới giải phóng. Tỉnh và các huyện tăng cường mở các lớp bồi dưỡng cán bộ làm nòng cốt, hạt nhân cho mọi mặt công tác quân sự địa phương. 3.288 lượt cán bộ được huấn luyện, bồi dưỡng trở thành vốn quý đảm bảo cho việc củng cố "thí điểm" ở 20 xã vùng Trị Thiên cũ, kiện toàn được 696/801 cơ sở tự vệ, phát triển nâng số lượng dân quân tự vệ toàn tỉnh lên 103.702 người. So với các tỉnh bạn, thì tỷ lệ dân quân tự vệ ở Bình Trị Thiên thấp hơn (mới chiếm 6,01% dân số). Nhưng đó là lực lượng tại chỗ đặc biệt quan trọng góp phần tích cực, hiệu quả trong việc tuần tra canh gác bảo vệ trật tự an toàn xã hội và an ninh chính trị; đặc biệt là ở các trọng điểm Huế, Đông Hà, Đồng Hới, Lao Bảo, Thuận An, Phú Lộc, các bến phà, các tụ điểm đông người. Trong năm 1976, không có những vụ lộn xộn lớn xảy ra. Lực lượng dân quân tự vệ đã góp phần quan trọng cùng bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực và các lực lượng khác thực hiện xuất sắc nhiệm vụ tháo gỡ, phá bom mìn trong năm 1976. Theo báo cáo của Bộ tư lệnh Quân khu gửi Bộ Quốc phòng ngày 3-7-1976, nhờ những kinh nghiệm đúc kết của những tháng cuối năm 1975, trong 7 tháng đầu năm 1976, các cấp ủy, chính quyền đã huy động 28.000 công lao động trực tiếp và gần 7.000 công phục vụ, tháng cao nhất huy động 6.649 người, tiến hành rà phá quét sạch bom mìn trên diện tích gần 73km2 thuộc địa bàn hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên (cũ). Số lượng bom, mìn, đạn và các vật nổ phá, gỡ, thu hồi được gần 3 triệu quả (gần 2% là mìn chống bộ binh M14, M16; bom bi và bom phá 1,5%; đạn M72 và M79 gần 1,5%; đầu nổ đạn các loại hơn 94%). Ở Quảng Trị giải phóng xong phần lớn diện tích có bom mìn những nơi trọng điểm, phần lớn diện tích đất đai đưa vào sản xuất và xây dựng kinh tế. Lực lượng huy động tham gia phá bom mìn đông gấp 1,5 lần năm 1975. Bộ đội chủ lực Quân khu có 2 trung đoàn (4 và 6), chiếm 26% tỷ lệ quân số tham gia thường xuyên; bộ đội địa phương tỉnh, huyện chiếm 18%; du kích 24%; thanh niên 12%; những người đã phục vụ trong quân đội Mỹ - ngụy, trong đó có số đang tập trung cải tạo 18%. Khác với thời kỳ đầu, số bom mìn càng về sau càng khó phát hiện, phần lớn tập trung ở các "vùng giáp ranh" trước đây, cây cối phủ kín, rừng núi rậm rạp, địa hình phức tạp, đất đá, phù sa, cát sỏi lấp dày, bom đạn cày đi, xới lại trên diện tích rộng (khoảng 280km2), nhiều nơi ta chưa nắm chắc, công tác trinh sát, khoanh vùng chưa thực hiện được. Vì thế, trong quá trình rà phá đã xảy ra 9 vụ nổ đối với lực lượng trực tiếp tác nghiệp, hy sinh 20 đồng chí, bị thương 95 đồng chí; nhân dân bị 31 vụ, bị thương 42, tử thương 27. Trước thử thách căng thẳng, nguy hiểm đe dọa thường xuyên, nhưng vì cuộc sống của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ vẫn một lòng quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho quân đội xây dựng kinh tế, sau khi những đơn vị tham gia làm đường sắt ở những công trình lao động phổ thông hoàn thành, Quân khu rút bớt lực lượng đi làm nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế. Ngày 6 tháng 8, Trung đoàn 167 rời Bố Trạch về xã Nam Thái (Nam Đàn) và xã Thanh Khai (Thanh Chương) triển khai các mặt công tác chuẩn bị xây dựng khu sản xuất gạch ngói ở Rào Gang. Các loại vũ khí, khí tài pháo binh và pháo thủ, nhân viên chuyên ngành bàn giao cho Trung đoàn 16 pháo binh Quân khu. Còn doanh trại do Sư đoàn 316B và Cục Hậu cần Quân khu tiếp quản. Ngày 10 tháng 8, Tiểu đoàn 13 thông tin thuộc Quân khu Trị Thiên (cũ) được lệnh điều động thuộc về biên chế Trung đoàn 80 thông tin Quân khu. Ngày 28 tháng 8, Quân khu điều động Trung đoàn 271 bộ binh về đứng chân ở Quế Phong (Nghệ Tĩnh), Trung đoàn 4 bộ binh và Trung đoàn 233 cao xạ đứng chân ở Lệ Ninh (Bình Trị Thiên) chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, chuyên làm lâm nghiệp kết hợp công nghiệp chế biến lâm sản và nông nghiệp. Ngày 30 tháng 8, Trường Quân chính Quân khu Trị Thiên (cũ) được giao thuộc Cục Kinh tế Quân khu 4, tổ chức thành Trường Nghiệp vụ kinh tế sơ cấp. Tiểu đoàn 5 kiến thiết cơ bản của Quân khu Trị Thiên (cũ) được giao cho Cục Hậu cần đảm nhận nhiệm vụ làm kho tàng ở nam Quân khu. Tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 16 pháo binh Quân khu được điều động về trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên. Tháng 9 năm 1976t theo đề nghị của Quân khu quy hoạch tổ chức một số trận địa cao xạ được Bộ Quốc phòng duyệt, bao gồm 3 trận địa ở Hàm Rồng, 3 trận địa ở Bái Thượng (Thanh Hoá); 25 trận địa ở Nghệ Tĩnh (Đô Lương: 4, Vinh: 12, Cửa Hội: 3, sân bay: 3, sở chỉ huy: 2, đài quan sát: 1); 8 trận địa ở Bình Trị Thiên (sân bay Phú Bài: 3, thành phố Huế: 5). Cùng thời gian này, Quân khu tổ chức bàn giao Sư đoàn 31 về Tổng cục Xây dựng kinh tế bao gồm toàn bộ quân số 10.026 cán bộ, chiến sĩ, 1.267 đảng viên, 7.508 đoàn viên đúng thời gian quy định của Bộ Quốc phòng. Các loại pháo, xe kéo pháo, khí tài kỹ thuật và xe cơ giới do Quân khu nhận quản lý. ______________________________________________ 1. Thị xã Đồng Hới và thị xã Quảng Trị. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:36:31 pm Thực hiện chủ trương tinh giản tổ chức, tiết kiệm nhân lực, Quân khu quy định lại biên chế cơ quan và đơn vị trực thuộc Bộ Tham mưu Quân khu gồm 197 sĩ quan, 769 hạ sĩ quan; tổ chức biên chế lại cơ quan và đơn vị trực thuộc Cục Chính trị Quân khu gồm 97 sĩ quan, 250 hạ sĩ quan, chiến sĩ. Sau một thời gian triển khai nghiên cứu, đến tháng 9 năm 1976, Quân khu đã hoàn thành ba đề tài tổng kết gồm: "Tổng kết cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968)" và "Chiến dịch Xuân 1975 hoàn toàn giải phóng Trị Thiên Huế”, "Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào" (phạm vi Quân khu Trị Thiên). Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên đã thông qua. Đồng thời, Quân khu cũng hoàn thành các công trình tổng kết khác ở mức bản thảo của bộ phận chuyên trách bao gồm: Dự thảo "Tổng kết chuyên đề bảo đảm giao thông vận tải ở Quân khu 4 trong chống chiến tranh phá hoại”; dự thảo “Tổng kết công tác Đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1964-1972)"; dự thảo "Tổng kết công tác quân sự địa phương ở Quân khu 4 (1964-1972)"; dự thảo "Tổng kết công tác tham mưu ở Quân khu 4 (1964- 1972)" và dự thảo "Tổng kết 8 năm chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở Quân khu 4 (1964-1972)". Những tháng cuối năm 1976, nhịp độ công tác của các cơ quan, đơn vị trực thuộc Quân khu càng khẩn trương dồn dập. Những đơn vị xây dựng đường sắt Thống Nhất chuyển quân đến các địa bàn mới, nhận nhiệm vụ mới. Ngày 12 tháng 10, Tiểu đoàn 54 Vĩnh Linh (cũ) được lệnh chuyển giao về Cục Xây dựng kinh tế Quân khu, tổ chức giao nhận xong trước ngày 30-10-1976. Bắt đầu từ ngày 12-10-1976, Quân khu triển khai thực hiện kế hoạch bảo đảm cho cuộc chuyển quân gồm 11.500 người, 1.500 tấn hàng của Sư đoàn 316B từ Đồng Hới ra Quế Phong (Nghệ Tĩnh); trong đó có 100 quân và 300 tấn hàng chuyển đến Nghi Lộc. Các cơ quan Quân khu theo chức năng của mỗi cơ quan, có trách nhiệm bảo đảm hoàn thành việc chuyển quân quy mô lớn trên chặng đường dài 400km an toàn, đúng thời hạn ngày 15-12-1976. Ngày 13-10-1976, Tiểu đoàn 575 xe tăng thuộc Trị Thiên (cũ) được lệnh bàn giao về Trung đoàn 206, xong trước ngày 30 tháng 10. Ngày 16 tháng 10, hai đại đội 20 và 24 thông tin được lệnh giải thể. Việc bảo đảm thông tin ở phía nam Quân khu do Phòng Thông tin Quân khu và Trung đoàn 80 đảm nhận. Trên cơ sở lực lượng 1 đại đội của Tiểu đoàn 8 và số còn lại trong lực lượng ở phía nam Quân khu thành lập 1 tiểu đoàn thông tin cơ động giao cho Trung đoàn 80. Ngày 5-11-1976, Quân khu được Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ bảo đảm công tác giao thông đường 8. Thời gian chậm nhất là đầu tháng 12 phải bảo đảm đường thông, để Tổng cục Hậu cần chuyển gấp 2.000 tấn vật tư - kỹ thuật sang tiếp tục làm đường ống dẫn dầu từ Căm Cớt đến đường 12. Lực lượng Quân khu tham gia gồm Trung đoàn 176 và một bộ phận công binh phối hợp với Đoàn 476 (lực lượng chuyên môn đặt đường ống của Tổng cục Hậu cần), vừa xây dựng, vừa sẵn sàng chiến đấu. Ban chỉ huy chung các lực lượng gọi là Ban chỉ huy công trường 476. Trên cơ sở thống nhất giữa Quân khu với tỉnh Nghệ Tĩnh qua Hội nghị liên tịch ngày 3-9-1976, ngày 11-11-1976 Bộ tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 316B với 3 nội dung chính: 1. Sư đoàn 316B được bổ sung thêm Trung đoàn 375 Nghệ Tĩnh, quân số ban đầu 8.000 người, xây dựng thành sư đoàn chuyên xây dựng kinh tế "lâm - nông - công nghiệp”. 2. Nhiệm vụ cơ bản là: Kết hợp với quốc phòng, xây dựng khu kinh tế lâm - nông - công nghiệp trên địa bàn bắc Nghệ Tĩnh, nối liền với tây Thanh Hoá đến biên giới Việt - Lào. Đào tạo đội ngũ chuyên môn kỹ thuật, xây dựng sư đoàn thành đơn vị kinh tế tổng hợp. Phát huy các thế mạnh của vùng kinh tế miền núi, góp phần tích cực cùng địa phương định canh, định cư đồng bào miền núi. 3. Nhiệm vụ cụ thể: Về lâm nghiệp: Xây dựng và đưa vào sản xuất 3 lâm trường: Quế Phong, Phú Phương, Thông Thụ, mở đường thị trấn Quế Phong qua Pù Chung Cha vào Tri Lễ. Đối với nông nghiệp, trong kế hoạch 1977 - 1978 dự kiến khai hoang và đưa vào sản xuất khoảng 3.500 - 4.000ha. Về công nghiệp, xây dựng các cơ sở chế biến nông sản, lâm sản, xây dựng một số cơ sở sản xuất vật liệu phục vụ yêu cầu xây dựng cơ bản của đơn vị và một phần cho địa phương. Xây dựng xưởng cơ khí có năng lực sửa chữa lớn 300 đầu xe máy/năm. Với thủy lợi và thủy điện, trước hết khảo sát và thiết kế xây dựng thủy lợi - thủy điện Sao Va công suất 600 đến 700KW phục vụ yêu cầu phát triển công nghiệp, nông nghiệp và đời sống trong khu kinh tế. Nhằm tăng cường công tác cải tạo đối với tù hàng binh, ngày 13-11-1976, Quân khu ra chỉ thị về nhiệm vụ "cải tạo và sử dụng tù binh" do Đoàn 76 quản lý. Chỉ thị xác định rõ hai nhiệm vụ cơ bản của đoàn là: 1. Quản lý, giáo dục thật tốt tù binh, tàn binh địch mà Đoàn 76 đang quản lý, làm cho họ trở thành những người có ích cho xã hội. 2. Có kế hoạch quản lý chặt chẽ, vừa cải tạo, vừa sử dụng để lao động sản xuất, phục vụ nhu cầu đời sống của đoàn và góp một phần cho xã hội. Thực hiện nhiệm vụ sản xuất, cụm ở nam Quân khu sản xuất vật liệu cho công trường Cảnh Dương gồm khai thác đá, vỏ sò, cát, táp lô..., mở xưởng mộc và rèn. Cụm Ái Tử (Quảng Trị) xây dựng lò gạch, mở một số cơ sở rèn cơ khí để dần dần hình thành xưởng cơ khí sửa chữa. Các cơ quan Quân khu thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ Đoàn 76, từ các khâu làm quy hoạch, dự trù ngân sách, vốn, đến đầu tư trang bị, thiết bị, vật tư. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:37:21 pm Quán triệt phương hướng huấn luyện của Bộ Quốc phòng, phân hiệu Lục quân 1 tiếp tục huấn luyện đào tạo và tổ chức thi ra trường cho 582 cán bộ (gồm 113 trung đội trưởng, 116 chính trị viên đại đội, 231 quản trị trưởng, 122 cán bộ dự học bổ túc binh chủng). Khối đào tạo gồm 868 học viên tiếp tục huấn luyện theo chương trình thống nhất (bắn súng từ bài 2 đến bài 5, chiến thuật từng người đến đại đội, công tác chỉ huy, ôn kiểm tra giai đoạn hành quân, diễn tập, ôn thi cuối khoá). Ngày 6 tháng 12, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 thành lập hai đoàn làm nhiệm vụ kinh tế trực thuộc Quân khu mang phiên hiệu là Đoàn 336 và Đoàn 337 (tương đương sư đoàn). Để đáp ứng với nhiệm vụ xây dựng kinh tế trong năm 1977 Quân khu giao nhiệm vụ cho Đoàn 405 (nguyên là đoàn an dưỡng, điều dưỡng thương binh, bệnh binh cán bộ) thuộc Cục Xây dựng kinh tế Quân khu mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý kinh tế cho cán bộ trung cấp tại xã Nghĩa Hưng (Nghĩa Đàn) trong thời gian ba tháng. Lớp đầu tiên với quân số là 250 người, gồm thủ trưởng quân sự, chính trị cấp tiểu đoàn, trung đoàn, cấp trưởng (phó) phòng quân khu, sư đoàn, các trưởng (phó) ban của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và lữ đoàn, một số trợ lý cần thiết của cơ quan. Nội dung học tập gồm: một số kiến thức cơ bản về khoa học quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, bao gồm phần đường lối kinh tế, nguyên tắc, chế độ, nội dung quản lý và một số vấn đề về quan điểm kết hợp kinh tế - quốc phòng. Trong không khí sôi nổi thi đua lập công và những thành tích đạt được, các cấp Đảng bộ trong Quân khu bước vào Đại hội Đảng. Theo tinh thần nghị quyết của Quân khu ủy, chấp hành Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 25 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng "Về việc triệu tập Đại hội lần thứ IV của Đảng", Đại hội được tiến hành từ cơ sở. Đại hội Đảng bộ cấp trung đoàn và tương đương lần lượt diễn ra và kết thúc vào ngày 27-10-1976. Đại hội cấp sư đoàn và tương đương hoàn thành ngày 30-10-1976. Vào lúc 19 giờ ngày 6-11-1976, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu 4 khai mạc trọng thể tại Hội trường sở chỉ huy Quân khu 4 ở Đại Huệ (Nam Đàn, Nghệ Tĩnh). Tham dự Đại hội có 239 đại biểu chính thức thay mặt cho 26 Đảng bộ và hơn 15.000 đảng viên trong Đảng bộ Quân khu, được bầu từ Đại hội Đảng các cấp dưới lên theo quy chế của Trung ương. Ba đại biểu được Quân ủy Trung ương giới thiệu dự Đại hội Đảng bộ Quân khu và ứng cử đại biểu dự Đại hội đại biểu Đảng bộ toàn quân là Trung tướng Trần Văn Quang - Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) - Thứ trưởng Quốc phòng; Trung tướng Phạm Ngọc Mậu - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Đại tá Quách Sĩ Kha - Phó chánh án Toà án Quân sự Trung ương (nguyên là Phó chính ủy Quân khu 4); Đại tá Đoàn La, cán bộ hoạt động lâu năm trong Đảng và một số Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là khách mời của Đại hội. Sau 16 năm, tính từ Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9 - 1960), đến nay, Đảng mới có điều kiện tiến hành Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV. Nhiều vấn đề trọng đại đặt ra cần được giải quyết; trong đó có những nội dung hết sức mới mẻ, đòi hỏi Đảng phải nghiên cứu tiếp tục hoàn chỉnh về mặt lý luận để vận dụng phù hợp điều kiện đất nước ta. Đồng chí Lê Tự Đồng - Bí thư Quân khu ủy được phân công đọc Dự thảo "Đề cương báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III, trình bày tại Đại hội IV"; đồng chí Phan Văn Đường - Ủy viên Thường vụ Quân khu ủy đọc "Báo cáo dự thảo công tác xây dựng Đảng" và "Dự thảo Điều lệ Đảng sửa đổi". Đại hội phát huy trí tuệ, trách nhiệm, thảo luận đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Đảng. Đại hội hoàn toàn nhất trí các vấn đề về đường lối chung và đường lối cụ thể; nhấn mạnh yêu cầu tạo bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp, giải quyết đời sống, thúc đẩy các mặt công tác. Đại hội liên hệ một số mặt yếu kém, khuyết điểm, kiến nghị Đại hội toàn quốc tập trung bàn biện pháp giải quyết. Đại hội hoan nghênh việc đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Về những vấn đề liên quan đến tổ chức Đảng trong quân đội nhân dân, Đại hội thảo luận đề nghị Đại hội Đảng cấp trên nghiên cứu thêm trước khi đưa ra quyết nghị: Đối với chế độ một Thủ trưởng: Đại hội đề nghị nghiên cứu kỹ, làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn, có chỉ đạo làm thử tốt mới triển khai. Quân ủy Trung ương cần tổ chức hội nghị cán bộ toàn quân thảo luận thống nhất trước khi đề đạt với Trung ương Đảng và Đại hội Đảng toàn quân và toàn quốc. Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân khu, mọi hoạt động của các cơ quan, đơn vị, địa phương đều được triển khai, thực hiện một cách mạnh mẽ, toàn diện trên các mặt công tác. Giữa lúc quân và dân ta đang sôi nổi thi đua xây dựng đất nước, khắc phục hậu quả chiến tranh, từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV được tổ chức ở Hà Nội. Về nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang trong thời kỳ mới, Nghị quyết Đại hội nêu rõ: "Xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước. Đi đôi với xây dựng đất nước về mọi mặt, phải ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh", "... Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, có lực lượng thường trực mạnh, lực lượng hậu bị rộng rãi và được huấn luyện tốt, có quân đội nhân dân chính quy hiện đại gồm các quân chủng, binh chủng cần thiết; có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương; có lực lượng dân quân tự vệ hùng hậu". Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, cùng với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, quân dân Quân khu 4 tổ chức học tập, quán triệt và vận dụng những chủ trương đường lối cách mạng của Đảng vào trong thực tiễn công tác, sẵn sàng chiến đấu và triển khai xây dựng Quân khu toàn diện, mạnh mẽ hơn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:17:59 pm III- QUÂN KHU 4 THỰC HIỆN HAI NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC GIỮA HAI BƯỚC NGOẶT LỚN VỀ CHIẾN LƯỢC 1. Trong điều kiện có hoà bình, cùng cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng là cột mốc quan trọng trên con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam. Đại hội đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới: "Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Chào mừng thành công rực rỡ của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, từ ngày 27 đến ngày 29-1-1977, Quân khu ủy họp quán triệt những nội dung cơ bản của Đại hội vào nhiệm vụ cụ thể của quân khu, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ 1976 và đề ra nhiệm vụ trong năm 1977: "Năm 1977 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng, năm thứ hai thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ hai (1976-1980)". Trên cơ sở nắm chắc hai nhiệm vụ chính trị của quân đội: sẵn sàng chiến đấu và sản xuất xây dựng, Quân khu đặt yêu cầu phấn đấu mạnh mẽ trong toàn Quân khu: “Tạo sự nhất trí cao với đường lối, nhiệm vụ cách mạng của Đảng, tự giác hành động cách mạng, tạo nên bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, tư tưởng và tổ chức thực hiện, đưa phong trào thi đua Quyết thắng thành cao trào cách mạng sôi nổi trong cả ba thứ quân, trên tất cả các nhiệm vụ". Năm 1977 cũng là năm toàn quân đẩy mạnh công cuộc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng theo hướng chính quy, hiện đại. Nội dung chủ yếu là: cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng chiến đấu, xây dựng quân đội theo hướng chính quy, hiện đại, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất, xây dựng kinh tế; tích cực tham gia xây dựng lực lượng sản xuất theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; tiếp tục hoàn thành tốt nghĩa vụ quốc tế giúp bạn Lào. Những tháng đầu năm 1977, Quân khu chỉ đạo tiếp tục chấn chỉnh về tổ chức, biên chế, giao nhiệm vụ, chỉ tiêu cho các đơn vị, địa phương. Đối với các lực lượng vũ trang, Quân khu triển khai thế bố trí, phù hợp với nhiệm vụ mới. Quân khu điều động một loạt đơn vị: Trung đoàn 233 về Đoàn 336 làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế; chuyển Trung đoàn 167 pháo binh và Trung đoàn 233 cho Đoàn 337 làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế; điều Trung đoàn 732 thuộc Cục Hậu cần Quân khu về Cục Xây dựng kinh tế để xây dựng trường đào tạo thợ kỹ thuật xây dựng; điều Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 79, Sư đoàn 341B) về Trung đoàn 414 công binh Quân khu và điều Đại đội 3 thông tin (Sư đoàn 341B) về Trung đoàn 80 thông tin Quân khu; đồng thời giao cho Trung đoàn 80 tổ chức một trung đội thông tin hỗn hợp cho Đoàn 337. Tổ chức lực lượng xây dựng kinh tế được quy định 32.000 người, trong đó lực lượng chuyên xây dựng kinh tế trực thuộc Quân khu là 24.000, lực lượng giao cho Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh 8.000. Các đơn vị chuyên xây dựng kinh tế trực thuộc Quân khu gồm: Bộ tư lệnh làm công - nông nghiệp (Sư đoàn 316B) là 8.000 người; Bộ tư lệnh cầu đường (Đoàn 336) là 6.500 người; Bộ tư lệnh sản xuất vật liệu xây dựng (Đoàn 337) là 6.500 người; Tiểu đoàn thủy điện nhỏ (Tiểu đoàn 54) là 500 người; Xưởng mộc (Tiểu đoàn 74) là 500 người. Cơ quan trường, xưởng, vận tải bao gồm Trường trung cấp kinh tế - tài chính; Trường trung cấp xây dựng; Trường trung cấp nông lâm - cầu - đường, Trường thợ - lái xe do Cục Hậu cần đảm nhận 2.000 người. Lực lượng làm kinh tế giao cho Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh gồm: Thanh Hoá 3.000 (Trung đoàn 14 thủy lợi 1.500, Trung đoàn 74 làm đường miền núi 1.500); Nghệ Tĩnh 3.000 (Trung đoàn 175 làm đường miền núi 1.500, Trung đoàn 375 thủy lợi 1.500); Bình Trị Thiên 3.500 (Trung đoàn 6 kinh tế A Lưới 1.000, Trung đoàn 186 thủy lợi, thủy điện 1.500, Tiểu đoàn 10 đánh cá biển 500, Tiểu đoàn 21 sản xuất vật liệu xây dựng 500). Ngày 11-1-1977, Bộ tư lệnh Quân khu giao cho Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh bảo đảm hậu cần cho T38 thuộc Cục tình báo hoạt động trên địa bàn Vinh; Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên bảo đảm cho B56 hoạt động ở Huế. Ngày 13-1-1977, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu họp thông qua nhiệm vụ công tác quân sự năm 1977, trong đó xác định tập trung thực hiện 5 nội dung chủ yếu là: 1. Mọi kế hoạch quân sự phải chuyển hướng theo kế hoạch dài hạn và phải xuất phát từ kế hoạch 5 năm của Nhà nước. 2. Không ngừng nâng cao cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng cơ động, bảo đảm an ninh trật tự. 3. Nâng cao chất lượng ba thứ quân theo phương hướng chính quy. 4. Hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu xây dựng kinh tế. 5. Làm tốt nhiệm vụ giúp bạn Lào. Ngày 15 tháng 1, theo đề nghị của đồng chí Kim Mạnh - Trưởng ban chỉ đạo vùng kinh tế mới của Trung ương, Bộ tư lệnh Quân khu gửi Công văn số 28/TL đề nghị Bộ Nông nghiệp giao cho Quân khu xây dựng 1 nông trường ở xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp (Nghệ Tĩnh), quy mô từ 1.000 đến 2.000ha. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:18:57 pm Ngày 17 tháng 1, Bộ Tham mưu Quân khu thông báo quân số toàn Quân khu năm 1977 là 65.500 người, gồm lực lượng chiến đấu 28.300; lực lượng xây dựng kinh tế 32.000; lực lượng xây dựng cơ bản 1.200; quân số lâm thời để giải quyết chính sách là 4.000 người. Ngoài ra, Quân khu được tổ chức thêm 1 khung trung đoàn 700 người, bảo đảm huấn luyện được hai đợt tân binh trong năm 1977, mỗi đợt 2.500 người. Trong quá trình giải quyết chính sách cho số nam thanh niên nhập ngũ năm 1973, số nữ thanh niên nhập ngũ năm 1974, Quân khu chỉ đạo các đơn vị động viên những quân nhân có ngành nghề chuyển sang chế độ quân nhân chuyên nghiệp và công nhân viên quốc phòng. Cùng ngày 17 tháng 1, Đại tá Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh Quân khu thay mặt Bộ tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ xây dựng kinh tế cho Sư đoàn 316B và Đoàn 336. Trước tình hình khó khăn về lương thực, thực phẩm, ngày 21-1-1977, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị cho các đơn vị tận dụng đất đai trồng cây ngắn ngày, làm tốt vụ đông - xuân để tăng thu nhập cho bộ đội. Hàng tháng, điều chỉnh tiêu chuẩn bộ đội từ 2 - 4kg lương thực, theo kế sách lâu dài; nhưng các cấp phải chỉ đạo tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để bù vào, không ảnh hưởng nhiều đến đời sống bộ đội. Ngày 22 tháng 1, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định giao Trung đoàn 167 pháo binh về Đoàn 337, Cục Xây dựng kinh tế. Tiếp đó, ngày 25 tháng 1, Thượng tướng Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ký Quyết định số 07/QĐ-TM chuyển 2 trung đoàn làm kinh tế 176 và 335 (Quân khu 4) sang làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Ngày 29-1-1977, thực hiện Quyết định số 34/QĐ (ngày 29-12-1976) của Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức bàn giao Sư đoàn 341B về Tổng cục Xây dựng kinh tế theo đúng quy định. Ngày 31 tháng 1, Bộ tư lệnh Quân khu họp bàn kế hoạch tăng gia sản xuất tiết kiệm năm 1977. Chỉ tiêu sản xuất chất bột quy gạo bình quân đầu người 40kg; thịt (cá quy thịt 1,5kg cá = 1 kg thịt) 6kg; rau quả 150kg; đỗ, lạc, vừng 3kg. Từ tháng 2 trở đi, Quân khu khấu trừ dần gạo theo chỉ tiêu mỗi người một tháng/năm. Riêng thương binh, bệnh binh đang điều trị ở bệnh viện và các đoàn an dưỡng động viên mỗi người bớt 2kg/năm. Theo Quyết định số 319/QĐ-TM (ngày 31-12-1976) của Bộ Tổng Tham mưu, ngày 1-2-1977, Bộ tư lệnh Quân khu thông báo giao nhiệm vụ cho Ban chỉ huy quân sự các cấp báo cáo với Ủy ban nhân dân tỉnh việc giữ gìn, bảo quản các trận địa phòng không ở địa phương mình, không để bất cứ tổ chức hoặc cá nhân xâm phạm tới các trận địa cao xạ, trận địa ra đa. Ngày 7 tháng 2, Quân khu chấn chỉnh bổ sung nhiệm vụ cho Sư đoàn 316B, Đoàn 336, Đoàn 337; tách hai đơn vị thuộc Đoàn 337 là Trung đoàn 167 pháo binh và Trung đoàn 223 cao xạ chuyển thành trung đoàn làm kinh tế trực thuộc Quân khu; bổ sung quân số của Trung đoàn 22 (Sư đoàn 341) học nghề ở Nhà máy xi măng Cầu Đước thuộc biên chế của Trung đoàn 223 và tăng thêm Tiểu đoàn 54 làm lực lượng phối thuộc cho trung đoàn để đẩy mạnh tiến độ thi công xây dựng Nhà máy xi măng Anh Sơn; vốn đầu tư là 5,1 triệu đồng, khỏi công ngày 1-4-1977, hoàn thành tháng 8 năm 1977. Cùng ngày 7 tháng 2, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định điều Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 414 về Đoàn 336; điều Đại đội 10 (Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 222 Sư đoàn 341) về Đoàn 336, gồm 107 quân nhân (có 3 sĩ quan, 2 thợ máy nghiền đá, 2 thợ máy ép hơi, 6 thợ khoan mắt đá) và toàn bộ thiết bị kỹ thuật; điều Trung đoàn 375 Nghệ Tĩnh về Đoàn 336 và giao Trung đoàn 80 tổ chức một trung đội thông tin hỗn hợp cho Đoàn 336 do Quân khu cấp trang bị; điều Trung đoàn 4 bộ binh Quân khu về Đoàn 337; điều Trung đoàn 223 và 176 thuộc Đoàn 337 về trực thuộc Quân khu. Thực hiện quyết định của Bộ tư lệnh Quân khu, Trung đoàn 175 Nghệ Tĩnh chuyển về trực thuộc Quân khu, được bổ sung Tiểu đoàn 3 bộ binh Bình Trị Thiên làm nhiệm vụ tuyển quân, huấn luyện chiến sĩ mới, biên chế 700 quân nhân (có 172 sĩ quan). Lưu lượng chiến sĩ mới mỗi khóa từ 2.500 đến 3.000. Trung đoàn hành quân về tiếp quản khu doanh trại Trung đoàn 176 ở Voi Bổ (Hương Sơn, Nghệ Tĩnh). Trong khi đó, Trung đoàn 414 công binh Quân khu được giao trách nhiệm tổ chức, biên chế thêm 1 tiểu đoàn công binh vượt sông 251 người, có 21 sĩ quan, gồm tiểu đoàn bộ và 3 đại đội, mang phiên hiệu Tiểu đoàn 4. Ngày 29-2-1977, Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ trật tự an ninh, động viên tổ chức lực lượng dân quân tự vệ làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, nòng cốt xung kích trong sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Quân khu xác định những nhiệm vụ chủ yếu của các lực lượng vũ trang quân khu triển khai thực hiện là: 1. Đối với nhiệm vụ bảo vệ vùng biên giới, dân quân tự vệ làm nòng cốt giáo dục, tuyên truyền, giác ngộ nhân dân, nâng cao ý thức dân tộc và lòng yêu Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ; làm nòng cốt trong sản xuất nông nghiệp, làm đường, làm lâm nghiệp; cùng công an tham gia tuần tra, canh gác. Phương châm là bảo vệ chủ quyền, hữu nghị, đoàn kết, cảnh giác. 2. Đối với vùng biển, hải đảo: Thực hiện tuyên truyền giáo dục ý thức chủ quyền vùng biển; làm nòng cốt đánh bắt hải sản; phối hợp với hải quân bắt giữ, trục xuất tàu thuyền nước ngoài vi phạm lãnh hải; độc lập hay phối hợp các lực lượng tiêu biểu, bảo vệ chủ quyền biển, đảo thuộc phạm vi Quân khu 4 quản lý. 3. Tiếp tục truy quét tàn quân và bảo vệ an ninh chính trị nội địa. 4. Cùng công an giữ gìn trật tự và an toàn xã hội. 5. Động viên tổ chức phát huy sức mạnh to lớn của lực lượng dân quân tự vệ làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, nòng cốt xung kích trong sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:19:45 pm Từ ngày 28 tháng 2 đến ngày 2-3-1977, tại hội trường lớn Quân khu 4 (Sở chỉ huy Đại Huệ) đã diễn ra Đại hội phong trào thi đua Quyết thắng toàn Quân khu trong thời kỳ mới của cách mạng. Tham dự có 316 đại biểu Đơn vị Anh hùng, Đơn vị Quyết thắng, Chiến sĩ Thi đua, Chiến sĩ Quyết thắng của ba thứ quân thuộc Quân khu. Đại hội đánh giá: Trải qua gần hai năm phấn đấu gian khổ và quyết liệt, đương đầu với vô vàn khó khăn, vượt qua những bỡ ngỡ của buổi đầu chuyển giai đoạn cách mạng, các lực lượng vũ trang nhân dân toàn Quân khu sát cánh cùng nhân dân các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên đạt nhiều thành tích, trong đó có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, nổi bật là: - Thực hiện chủ trương hợp nhất Quân khu, hợp nhất Bộ chỉ huy quân sự 5 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và đặc khu Vĩnh Linh thành 2 tỉnh Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên; nhận bàn giao tỉnh Thanh Hoá từ Quân khu 3 chuyển về. Việc hợp nhất tiến hành nhanh, gọn, đoàn kết thống nhất cao, giữ vững sự liên tục về lãnh đạo, chỉ huy trong cả quá trình giao nhận; đồng thời xác định rõ đặc điểm, vai trò, vị trí, nhiệm vụ chiến lược của Quân khu và từng tỉnh trong giai đoạn mới. - Toàn Quân khu tập trung thực hiện thắng lợi đợt sinh hoạt chính trị, tự phê bình và phê bình, hoàn thành Đại hội Đảng các cấp, đóng góp nhiều ý kiến có chất lượng vào các dự thảo văn kiện của Đại hội Đảng toàn quân và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV. - Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; góp phần hiệu quả vào việc củng cố và xây dựng vùng mới giải phóng nhanh chóng ổn định và phát triển. - Thực hiện tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, truy quét ngụy quân, ngụy quyền còn lẩn trốn, phá gỡ bom mìn, giải phóng nhiều vùng đất đai, phục vụ nhiệm vụ phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống của nhân dân. - Các đơn vị được giao làm nhiệm vụ quốc tế đã sát cánh phối hợp chặt chẽ, giúp bạn Lào kịp thời đập tan âm mưu các thế lực thù địch đối với hai dân tộc, củng cố, giữ vững và phát huy thành quả cách mạng. - Trên mặt trận xây dựng kinh tế, các lực lượng vũ trang quân khu chủ động tiến quân vào các mũi nhọn cải tạo đồng ruộng, làm các công trình thủy lợi, xây dựng các công trình giao thông. Nổi bật nhất là hoàn thành nhiệm vụ khôi phục đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An đạt chất lượng cao, bảo đảm thời gian quy định, bước đầu đào tạo, bồi dưỡng được một lớp cán bộ, nhân viên kỹ thuật chuyên môn và quản lý kinh tế làm nòng cốt xây dựng lực lượng sản xuất mới. Đồng thời, toàn Quân khu phát huy truyền thống đội quân công tác, tiếp tục nêu cao ý chí tự lực, tự cường, cần kiệm, đẩy mạnh phong trào sản xuất tự túc. - Hoàn thành một khối lượng công tác to lớn sau chiến tranh như: tổ chức, biên chế lại lực lượng, bố trí lại đội hình, bảo đảm hậu cần, trang bị theo yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; triển khai mọi mặt huấn luyện, xây dựng. Trong công tác giải quyết các vấn đề thuộc chính sách hậu phương quân đội, Quân khu đã khẩn trương giải quyết việc báo tin hy sinh, phát hiện xác minh các trường hợp mất tin, biệt tích, kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, chăm sóc bố mẹ, vợ con liệt sĩ không nơi nương tựa; tổ chức tìm kiếm, quy tập mộ liệt sĩ, nhất là ở Bình Trị Thiên và Lào; xây dựng các nghĩa trang, đài liệt sĩ để động viên giáo dục truyền thống cho hôm nay và mai sau. Thực hiện các chính sách quy định, giải quyết tốt đời sống cho quân nhân nghỉ hưu, phục viên, chuyển ngành ngày càng đông; động viên bồi dưỡng họ phát huy bản chất truyền thống, năng lực, kinh nghiệm xây dựng và bảo vệ đất nước quê hương. Quân khu cùng các tỉnh ủy chủ động xác định sớm và đúng đắn vai trò, vị trí chiến lược của công tác quân sự địa phương trong giai đoạn mới, hoàn thành nhiệm vụ tuyển quân thời bình; bước đầu đưa giáo dục quân sự phổ thông vào trường học, phát huy tốt vai trò chiến lược của dân quân tự vệ làm nòng cốt, xung kích trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế, đặc biệt là trên các công trường lao động thủ công quy mô lớn, điều hành theo hình thức tổ chức quân sự và bảo vệ địa phương. Tại Đại hội này các đồng chí đại diện lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang ba tỉnh, các sư đoàn, các cơ quan Quân khu, các nhà trường, các đơn vị trực thuộc Quân khu lần lượt ký tên vào Sổ vàng truyền thống Quân khu 4, xác định rõ quyết tâm đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng sôi nổi mạnh mẽ hơn nữa. Trước mắt toàn Quân khu "quyết tâm biến năm 1977 thành một năm đại thắng lợi", thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng. Những tác phẩm "Hội diễn Nghệ thuật quần chúng Quân khu 4" sôi động trong thời kỳ này được tuyển chọn từ cơ sở lên, những sáng tác văn học nghệ thuật "Chiến sĩ với đường tàu", "Trên mặt trận mới", “Vùng cát cháy", những số báo đặc biệt của Quân khu cùng các ấn phẩm ra đời từ các đơn vị đều phản ánh không khí hừng hực của một vùng đất đã từng lấy "tiếng hát át tiếng bom", "hát từ đại đội hát ra, hát từ những tổ ba ba hát về", góp phần thúc đẩy mạnh mẽ phong trào thi đua toàn Quân khu trong giai đoạn mới với quyết tâm "Tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì Tổ quốc giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân". Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:22:20 pm Sau sáu tháng triển khai phong trào thi đua Quyết thắng, xét thấy tính chất đa dạng, phong phú của các hoạt động trên mỗi lĩnh vực, mỗi đơn vị, địa phương cần có sự chỉ đạo sát sao, hiệu quả hơn, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu chủ trương thành lập Hội đồng thi đua các cấp từ trung đoàn trở lên. Từ tiểu đoàn trở xuống, mỗi cấp có tổ thi đua của cấp mình. Theo chủ trương đó, ngày 28-8-1977, Trung tướng Lê Quang Hoà - Bí thư Quân khu ủy - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu ký quyết định thành lập Hội đồng thi đua (tổ thi đua) các cấp1. Ở Quân khu, Đại tá Trần Văn Ân - Phó chính ủy Quân khu làm Chủ tịch Hội đồng thi đua, thủ trưởng 4 cơ quan Quân khu làm ủy viên, Phòng Tuyên huấn Quân khu là cơ quan thường trực của Hội đồng. Nhiệm vụ của Hội đồng thi đua là: 1. Giúp lãnh đạo, chỉ huy Quân khu nghiên cứu đề xuất các chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể, nhằm đưa phong trào thi đua vào chiều sâu, có chất lượng, hiệu quả, phát triển liên tục, đều khắp, mạnh mẽ. 2. Giúp cấp ủy, thủ trưởng theo dõi, phát hiện, xây dựng, bồi dưỡng, xác minh và thẩm định các điển hình thi đua tiên tiến. 3. Xem xét, đúc kết, quản lý các kinh nghiệm tiên tiến, các sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và phương pháp tổ chức, chỉ huy, quản lý bộ đội, giảng dạy, học tập, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm. 4. Kiến nghị phổ biến, áp dụng rộng rãi các sáng kiến, cải tiến, hợp lý hoá động tác có giá trị; đồng thời kiến nghị đình chỉ, hoặc buộc thôi sử dụng những phương pháp, phương tiện, công cụ không còn phù hợp hoặc được gọi là "cải tiến"; nhưng đem ra áp dụng sẽ kém hiệu quả hoặc có hại. 5. Phát huy vai trò, vị trí trong suốt quá trình phát triển của phong trào thi đua Quyết thắng, góp phần tích cực và có hiệu quả cùng các tổ chức khác thuộc Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu giúp Quân khu và các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân đạt được nhiều thắng lợi mới trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng của Đảng. Sau một thời gian hoạt động, Bộ Quốc phòng nhận xét: Hội đồng thi đua Quân khu 4 là tổ chức hoạt động có nền nếp trong cụm thi đua 3 Quân khu (Quân khu 3, Quân khu Thủ đô và Quân khu 4). Những tháng đầu năm 1977, Quân khu lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị kịp thời tuyên truyền, phổ biến nhanh kết quả Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV duy trì chế độ nói chuyện thời sự, đọc báo, nghe đài, đồng thời quán triệt một bước vào việc thảo luận, xây dựng nghị quyết lãnh đạo của Quân khu ủy, kế hoạch tổ chức thực hiện của Bộ tư lệnh Quân khu và các cấp. Một trong những nhiệm vụ cơ bản hàng đầu và cũng là kinh nghiệm sâu sắc, bài học cốt lõi trong suốt quá trình cách mạng nói chung, cũng như ở Quân khu 4 những năm đầu xây dựng trong điều kiện đất nước thống nhất nói riêng, là thường xuyên, không ngừng học tập, quán triệt đường lối của Đảng. Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của vấn đề này, Thường vụ Quân khu ủy chỉ thị tổ chức chặt chẽ, chu đáo các lớp học tập Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, từ Quân khu đến cơ sở. Ngày 1-6-1977 lớp học đầu tiên được tổ chức cho 402 cán bộ trung cấp chủ trì và cán bộ cao cấp toàn Quân khu. Quân khu giao trách nhiệm cho các cơ quan, theo chức năng thường xuyên, bảo đảm cho lớp học đạt kết quả theo yêu cầu Quân khu đề ra. Do điều kiện ăn ở còn khó khăn, các cơ quan phân tán, mỗi cơ quan Quân khu (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Kinh tế) đảm nhận công tác bảo đảm hậu cần ăn ở cho một khối học viên. Trong 36 ngày học tập các học viên tập trung nghiên cứu, thảo luận ở cụm bao gồm 14 chuyên đề. Những chuyên đề này đã được Ban Tuyên giáo Trưng ương và Tổng cục Chính trị bồi dưỡng giáo viên và quy định thời gian học tập từng chuyên đề. Bên cạnh đội ngũ giáo viên của Quân khu được tập huấn theo chương trình của Trung ương, Quân khu mời một số cán bộ và chuyên viên cấp cao về kinh tế là Ủy viên Trung ương Đảng hoặc Bộ trưởng, Chủ nhiệm các ủy ban của Chính phủ2 tham gia giảng dạy những vấn đề cơ bản về đường lối của Đảng. Đây là lớp cán bộ đầu tiên của Quân khu được nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Các học viên học tập với tinh thần nghiêm túc, thảo luận, tranh luận sôi nổi đi đến thống nhất. Ngoài các nội dung chính còn có chuyên đề bổ trợ, các hoạt động văn hoá, văn nghệ. Cuối khóa học, các học viên viết thu hoạch trên năm cụm chuyên đề, tập trung vào những vấn đề then chốt: 1. Những kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam và kinh nghiệm trong chiến tranh cách mạng, vận dụng vào thời kỳ mới, điều kiện mới như thế nào; 2. Đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; 3. Những vấn đề về kinh tế, quản lý kinh tế, về kế hoạch Nhà nước 5 năm; 4. Những vấn đề về Đảng, Nhà nước, công tác vận động quần chúng và nhiệm vụ quốc tế; 5. Những vấn đề về quốc phòng, kết hợp kinh tế quốc phòng, quân đội làm kinh tế. Qua kiểm tra trình độ của các học viên được nâng lên rõ rệt. Sau lớp học tập trung này, Quân khu phân cấp, phân công cho các Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, các sư đoàn (và tương đương) mở 9 lớp cho 1.644 cán bộ cấp tiểu đoàn và đại đội. Tiếp đó, sĩ quan và chiến sĩ có chương trình học tập riêng do từng đơn vị phụ trách. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng giúp cho cán bộ quán triệt, vận dụng đường lối nhiệm vụ chung và quan điểm của Đảng vào quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở địa phương, đơn vị mình. Đồng thời, có cơ sở kiến thức để trang bị lại cho cấp dưới, tự giải đáp một phần đáng kể những vấn đề đặt ra trong cuộc sống không ngừng biến động; nhất là trước những khó khăn, thách thức trong bước đi đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; trước những hậu quả chiến tranh nặng nề chưa được giải quyết chu đáo. Cũng qua học tập, mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc thêm những âm mưu, hành động của đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ và tay sai, cùng các thế lực phản động tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam. _____________________________________________ 1. Sau một thời gian về nhận công tác ở Tổng cục Chính trị, đồng chí Lê Quang Hoà trở lại Quân khu 4. Đồng chí Lê Tự Đồng đi nhận nhiệm vụ mới. 2. Đồng chí Võ Thúc Đồng - Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban nông nghiệp Trung ương; Đậu Ngọc Xuân - Uy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch Nhà nước; Đoàn Trọng Truyến - Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Chính phủ. Cụm 1 do Đại tá Chu Thanh Hương - Phó chính ủy Quân khu giới thiệu. Cụm 2 do Đại tá Phan Văn Đường và Thượng tá Lê Đình Sô - Ủy viên Thường vụ Quân khu ủy phụ trách. Cụm 3 do các đồng chí Võ Thúc Đồng, Đậu Ngọc Xuân, Đoàn Trọng Truyến giới thiệu. Cụm này dành tới 17 ngày. Cụm 4 do đồng chí Đại tá Trần Văn Ân - Phó chính ủy Quân khu phụ trách. Cụm 5 do Đại tá Sùng Lãm và Đại tá Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh Quân khu phụ trách. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:24:26 pm Phát huy tinh thần trách nhiệm đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, các cán bộ nêu lên những băn khoăn suy nghĩ trước thực tiễn của tình hình, nhất là tình hình kinh tế, đời sống, kiến nghị những giải pháp đối với việc giải quyết các hiện tượng tiêu cực, trì trệ trong xã hội; đặc biệt là về khả năng, hiệu lực và hiệu quả của tổ chức thực hiện. Những ý kiến, kiến nghị chính đáng đã góp phần giúp cấp có thẩm quyền thêm cơ sở đánh giá đúng tình hình, bổ sung, hoàn thiện chủ trương để làm cho những chủ trương, quyết sách của Đảng trở thành hiện thực trong cuộc sống. Bám sát chức năng, nhiệm vụ cơ bản của các lực lượng vũ trang nhân dân "Nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị xã hội trong cả nước”1, toàn Quân khu phấn đấu thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976-1980) và kế hoạch năm 1977 theo nội dung cơ bản của nghị quyết Quân khu ủy (1-1-1977) "Về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng kinh tế mà Bộ Quốc phòng giao, nhằm hoàn thành 2 nhiệm vụ chính trị Quân khu phụ trách". Về sẵn sàng chiến đấu, Quân khu tăng cường bố phòng lực lượng thường trực trên các trọng điểm, kịp thời phối hợp phát hiện, bắt giữ một số vụ vượt biên, vượt biển trốn ra nước ngoài và từ nước ngoài xâm nhập trở lại nhằm mục đích móc nối, hoạt động phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Trên địa bàn Trị Thiên (cũ) ta đã khám phá, trấn áp kịp thời một số vụ bọn phản động nội địa âm mưu nhen nhóm phá hoại cách mạng. Trong cuộc đấu tranh trấn áp bọn phản động đội lốt tôn giáo ở Thừa Thiên - Huế lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng và Chính phủ ta để kích động quần chúng chống đối cách mạng, trung đoàn trưởng Trương Đình Thanh kiên quyết, tỉnh táo chỉ huy đơn vị vừa đấu lý, vừa thuyết phục, răn đe cô lập bọn đầu sỏ, phá tan âm mưu chống phá cách mạng. Phương án tác chiến trên các trọng điểm được tiếp tục bổ sung. Các chế độ sẵn sàng chiến đấu được chấn chỉnh lại và duy trì chặt chẽ, nghiêm túc. Từ cơ quan Quân khu đến các đơn vị, chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực chiến quy định nghiêm ngặt nhằm kịp thời ứng phó với mọi tình huống. Đối với các đảo, việc lãnh đạo, chỉ huy, bảo đảm trang bị hậu cần, tăng lượng dự trữ được chú trọng toàn diện hơn. Các đội sửa chữa lưu động do X41 phụ trách giữ đều chế độ, nền nếp ra đảo và đến các đơn vị binh chủng pháo binh, cao xạ giúp các cơ sở bảo quản, bảo dưỡng vũ khí, khí tài. Sau Hội nghị liên tịch đầu năm 1977 tại Quân khu, các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên đều xây dựng và ban hành nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy về công tác quân sự địa phương. Tỉnh Bình Trị Thiên họp riêng thành phố Huế và 7 huyện phía Nam chỉ đạo lập phương án tác chiến và kế hoạch sẵn sàng chiến đấu tại chỗ: Đối với các huyện biên giới các xã ven biển, tỉnh cử các đoàn cán bộ trực tiếp cùng địa phương chỉ đạo 2 khâu trọng yếu: Xây dựng, củng cố dân quân du kích, và tăng cường công tác bố phòng ở những nơi quan trọng. Ở tỉnh Nghệ Tĩnh, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị chuyên đề về "Xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn cấp huyện" tại Quỳnh Lưu. Các cấp ủy và chủ trì Ủy ban nhân dân, từ tỉnh đến thành phố, huyện, thị xã được triệu tập đã đến dự rút kinh nghiệm về triển khai xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn địa phương mình phụ trách. Thượng tướng Hoàng Văn Thái - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Đại tá Đặng Hoà - Phó chính ủy Quân khu 4 đến dự phát biểu ý kiến bổ sung, nhấn mạnh một số nội dung và yêu cầu cơ bản về lãnh đạo, chỉ đạo cần tập trung thực hiện. Từ kinh nghiệm huyện "điểm", toàn tỉnh tích cực triển khai hoàn chỉnh và thực hiện kế hoạch quân sự 5 năm. Huyện Kỳ Sơn được giao làm "điểm" tổ chức sơ kết lãnh đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn biên giới trong tình hình mới. Nông trường 1-5 làm mô hình "điểm" xây dựng cấp trung đoàn tự vệ bộ binh - pháo binh - cao xạ hợp thành. 11/27 huyện triển khai tương đối tốt phương án tổ chức dân quân tự vệ theo mô hình kinh tế kết hợp quốc phòng trong tình hình mới. Tại tỉnh Thanh Hoá, các đơn vị, địa phương đã cơ bản hoàn thành phương án tổ chức dân quân, trong đó có 31/48 xã trọng điểm miền núi, miền biển; xây dựng đại đội đánh cá Thanh Hà, tổ chức mô hình dân quân đánh cá trên biển ở một số xã. Huyện Thọ Xuân được chọn làm "điểm" tổ chức rút kinh nghiệm tại chỗ về chuyên đề "xây dựng nền quốc phòng toàn dân kết hợp xây dựng kinh tế trên địa bàn huyện", góp phần thúc đẩy mạnh mẽ việc ứng dụng các bài học chung và kinh nghiệm cụ thể trên diện rộng. Tiếp theo mô hình trung đoàn tự vệ nông trường Sao Vàng, tỉnh Thanh Hoá đã có thêm trung đoàn tự vệ mỏ Crôm Cổ Định phát huy tốt vai trò, vị trí, tác dụng trong hoạt động thực tiễn. Nhìn chung các tỉnh thuộc Quân khu đã cố gắng thực hiện xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bước đầu tạo ra những chuyển biến mới đáng ghi nhận. Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ của giai đoạn mới thì vấn đề xây dựng nền quốc phòng toàn dân và công tác quân sự địa phương vẫn còn những nội dung cần tiếp tục tìm hiểu, bàn bạc, quán triệt kỹ phấn đấu hơn, mới đáp ứng với vai trò, vị trí, nhiệm vụ chiến lược đòi hỏi ngày càng cao. ______________________________________________ 1. Nghị quyết Quân ủy Trung ương về phương hướng, nhiệm vụ quân sự năm 1977. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:27:52 pm Nhằm đẩy mạnh hơn nữa các mặt xây dựng Quân khu trong các ngày 30 tháng 8; 10 và 19 tháng 9 năm 1977, tại trụ sở các Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá và Bình Trị Thiên đã lần lượt diễn ra các cuộc Hội nghị liên tịch giữa Thường vụ Quân khu ủy với Thường vụ Tỉnh ủy mỗi tỉnh. Mục đích là nhằm kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện nội dung Hội nghị lần trước, thảo luận, tăng cường sự hiểu biết thống nhất nhất trí cao về tình hình nhiệm vụ, vai trò, vị trí của Quân khu và mỗi tỉnh trong tình hình mới để có sự phối hợp công tác tốt hơn. Bàn một số việc về kinh tế - quốc phòng, tập trung vào miền Tây, kết hợp thúc đẩy miền biển, thúc đẩy sẵn sàng chiến đấu. Đối với công tác quân sự địa phương, tập trung vào cấp huyện. Tranh thủ sự chi viện của các tỉnh đối với vấn đề sản xuất, xây dựng kinh tế của bộ đội chủ yếu là nhu cầu cấp bách sản xuất lương thực, thực phẩm. Tham dự các cuộc họp gồm các đồng chí chủ trì lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, các đồng chí ủy viên thường vụ phụ trách các ngành và thủ trưởng một số cơ quan ban, ngành có liên quan. Tại Nghệ Tĩnh, đoàn đại biểu Thường vụ Quân khu ủy do Trung tướng Lê Quang Hoà - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Quân khu ủy, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu làm trưởng đoàn, cùng đoàn đại biểu Thường vụ Tỉnh ủy do đồng chí Nguyễn Sĩ Quế - Bí thư Tỉnh ủy làm trưởng đoàn1, họp ở trụ sở Tỉnh ủy. Hội nghị thảo luận nhất trí cao về vai trò, vị trí của Quân khu và của tỉnh; đặc biệt nhấn mạnh: "Nghệ Tĩnh có chiều sâu lớn trải rộng trên cả địa bàn trung du và miền núi, có tiềm năng lớn về kinh tế cả trên mặt đất và trong lòng đất, có thế mạnh quốc phòng đối với phòng thủ cũng như tiến công và phản công", "là một địa bàn gắn liền căn cứ hậu phương của quốc gia và của Quân khu; là một trong những nơi tập trung thế và lực mạnh về kinh tế và quốc phòng; đồng thời là một trong những hướng phòng thủ chủ yếu của Quân khu, cả ở phía Đông và phía Tây"2. Hội nghị nhấn mạnh cần đặc biệt coi trọng đầu tư xây dựng miền Tây của tỉnh, lấy miền Tây làm hướng trọng điểm; miền biển là hướng rất quan trọng kết hợp xây dựng kinh tế và quốc phòng để khai thác tiềm năng kinh tế, xây dựng tiềm lực quốc phòng, cải tạo thế bố trí chiến lược quốc phòng. Đồng thời thống nhất quy hoạch kết hợp kinh tế - quốc phòng, quốc phòng kinh tế trong kế hoạch kinh tế 5 năm của tỉnh và kế hoạch phòng thủ của Quân khu trên tinh thần xây dựng Nghệ Tĩnh giàu mạnh, xây dựng Quân khu giàu mạnh; chỉ đạo cấp huyện tiến hành khẩn trương quy hoạch xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng trên địa bàn huyện. Trên tinh thần "Tập trung sức phát triển nông nghiệp, đặt nhiệm vụ phát triển nông nghiệp vào vị trí quan trọng hàng đầu trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta" (như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IV đã xác định), hội nghị bàn bạc thống nhất một số vấn đề cụ thể về bộ đội Quân khu sản xuất lương thực, thực phẩm trên địa bàn tỉnh. Tỉnh đặt việc sản xuất lương thực, thực phẩm của bộ đội Quân khu đóng tại địa phương vào kế hoạch Nhà nước hàng năm của tỉnh. Các đơn vị nhận chỉ tiêu về đất đai trồng trọt để xây dựng các điểm sản xuất tập trung. Cấp trung đoàn có 1 đến 2 điểm, quy mô 50 - 70ha. Cấp sư đoàn và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh có vài điểm, quy mô 150 - 190ha. Một số diện tích nhân dân và nông trường chưa trồng hết, tỉnh giao cho bộ đội sản xuất có thời hạn, khi có nhu cầu, tỉnh thu hồi lại. Tỉnh quy hoạch cho Quân khu vài ba điểm có từ 500 đến vài nghìn héc-ta để xây dựng các nông trường sản xuất tự túc và tạo nguồn nông sản xuất khẩu; dành một số khu vực ở Mường Lống để sản xuất dược liệu và rau cao cấp; chi viện cho Quân khu một số cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm về trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và chế biến hải sản. Quân khu nhận xây dựng vùng kinh tế lâm - nông - công nghiệp tây bắc Nghệ Tĩnh (thuộc Quế Phong và một phần Quỳ Châu); đề nghị Chính phủ giao đất rừng 3 lâm trường Quế Phong, Thông Thụ, Phú Phương cho Quân khu xây dựng. Trong trường hợp chưa có quy định cụ thể của Chính phủ, thì tỉnh có kế hoạch xây dựng cơ bản, làm đường, làm thủy lợi, khai hoang, xây dựng một số công trình dân dụng tạo điều kiện đưa dân lên; ủng hộ chủ trương bộ đội làm kinh tế. Về kết hợp kinh tế với quốc phòng, hội nghị thảo luận nhất trí làm đường số 7; đẩy mạnh tiến độ thi công đường 48; trồng cây phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, kết hợp phong trào “các lực lượng vũ trang và nhân dân trồng cây rộng rãi cải tạo môi trường, cải tạo địa hình”; bảo đảm đời sống cho các lực lượng vũ trang và nhân dân. Đối với công tác quân sự địa phương, hội nghị nhận định: Tiếp tục phát triển đúng hướng, đạt nhiều kết quả, đặc biệt là tổ chức và huy động lực lượng vũ trang quần chúng, bộ đội địa phương làm nòng cốt xung kích trên mặt trận sản xuất, điều hành lao động theo "tổ chức quân sự hoá" trong các chiến dịch, trên các công trường với các quy mô khác nhau; kinh nghiệm giáo dục phổ cập quân sự phổ thông trong các trường cấp III, trường trung học chuyên nghiệp; xây dựng "nếp sống quân sự hoá" ở nhà trường. Những vấn đề cơ bản về lãnh đạo quân sự địa phương, cần tăng cường quán triệt đường lối, nhiệm vụ, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội, xây dựng ba thứ quân cả về tư tưởng, tổ chức lực lượng, phương án, kế hoạch và hành động. Toàn bộ công tác quân sự địa phương phải lấy xây dựng cấp huyện làm trọng điểm; tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm bước đầu về củng cố quốc phòng toàn dân ở các huyện thí điểm, báo cáo kinh nghiệm thiết thực tại hội nghị quân sự địa phương toàn quốc. _____________________________________________ 1. Tham gia hội nghị về phía Quân khu có Đại tá Phan Văn Đường và Thủ trưởng 4 cơ quan Quân khu. Về phía tỉnh có đồng chí Trương Văn Kiện - Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng - Phó Bí thư Tỉnh ủy - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; các ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy: Trần Quang Đạt - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân; Nguyễn Sĩ Hoà - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân; Nguyễn Hữu Phúc – Trưởng ban Tổ chức tỉnh và Đại tá Nguyễn Phùng Quế - Ủy viên quân sự, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. 2. Hồ sơ số 36/QKU - Lưu trữ Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:30:06 pm Tại Thanh Hoá (3-9-1977), đoàn đại biểu Thường vụ Quân khu ủy do Trung tướng Lê Quang Hoà làm trưởng đoàn và đoàn đại biểu Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hoá do đồng chí Hoàng Văn Hiều - Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IV - Bí thư Tỉnh ủy làm trưởng đoàn, tiến hành hội nghị liên tịch, thảo luận thống nhất cao với các vấn đề Quân khu và tỉnh nêu ra. Sau khi đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng; công tác quân sự địa phương; nhiệm vụ phát triển nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IV, hội nghị bàn về việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Hội nghị nêu rõ: Dân quân tự vệ và bộ đội địa phương tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt, xung kích trong sản xuất, sẵn sàng chiến đấu, kết hợp hoạt động với củng cố tổ chức và huấn luyện. Công tác tuyển quân hoàn thành tốt; trong đó kinh nghiệm của huyện Đông Sơn giao quân trước một tuần, vượt chỉ tiêu, có tác dụng thúc đẩy phong trào vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Công tác quân sự địa phương tỉnh Thanh Hoá đóng góp cho Quân khu nhiều kinh nghiệm, nhất là kinh nghiệm lực lượng vũ trang bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, phát huy vai trò nòng cốt, xung kích trên các công trường Quảng Châu, Lạch Bạng, Sông Lý, giải quyết những mục tiêu có ý nghĩa, tạo ra năng suất, lực lượng lao động mới và những tiến bộ mới về kỹ thuật. Một số địa phương đã phát huy vai trò dân quân tự vệ trong xây dựng các "điểm kinh tế mới". Về sản xuất lương thực, thực phẩm, so với các nơi, bộ đội Thanh Hoá là đơn vị có nhiều cố gắng. Giáo dục quân sự phổ thông và xây dựng nếp sống quân sự, huấn luyện quân sự trong học sinh tiếp tục phát triển, có những kinh nghiệm tốt. Tổng Bí thư Lê Duẩn, trong dịp về thăm và làm việc ở Thanh Hoá (5-1977) đánh giá công tác thủy lợi ở đây "là một bài học lớn làm thay đổi bộ mặt nông thôn và cả nếp nghĩ của nhân dân". Bài học lớn có tính nguyên tắc Quân khu ủy rút ra từ Thanh Hoá là "công tác quân sự địa phương phải thường xuyên bám sát và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, tạo nên tác động qua lại mạnh mẽ, thúc đẩy lẫn nhau giữa kinh tế với quốc phòng, giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kết hợp lãnh đạo phát huy độ dày của truyền thống cách mạng với sự nhạy cảm tiếp thu, phát huy cái mới, phát động phong trào cách mạng của quần chúng để thực hiện mọi nhiệm vụ trong giai đoạn mới"1. Tại hội nghị này, tỉnh Thanh Hoá đồng ý giúp Quân khu đất đai xây dựng trung tâm huấn luyện chiến sĩ mới, bao gồm nơi xây dựng doanh trại, thao trường, điểm sản xuất. Quân khu đề nghị tỉnh quy hoạch cho bộ đội vài điểm sản xuất vừa tự túc lương thực, thực phẩm, vừa tạo nguồn xuất khẩu. Đầu tư xây dựng cơ sở đánh cá Hòn Mê trở thành một đơn vị vừa có khả năng khai thác nguồn hải sản lớn hơn, vừa làm tốt việc tuần phòng – cơ sở hải quân tương lai của địa phương. Quân khu ủng hộ tỉnh tiếp tục hoàn thành đường Pù Nhi và tăng cường lực lượng để làm nhanh hơn; tiếp tục quy hoạch, đưa dân lên miền Tây. Quân khu và tỉnh cùng phối hợp lãnh đạo xây dựng quốc phòng toàn dân, tiến hành công tác quân sự địa phương trên địa bàn huyện. Trước mắt, tập trung làm tốt xây dựng huyện thí điểm kinh tế kết hợp quốc phòng, đóng góp kinh nghiệm cho hội nghị tại chỗ của Quân khu. Quân khu tăng cường bồi dưỡng theo chế độ cho cơ quan quân sự địa phương; tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch đóng quân, xây dựng công trình quốc phòng trên địa bàn tỉnh; trước mắt, cùng với tỉnh củng cố, xây dựng đảo Mê. Ngày 19-9-1977, tại thành phố Huế, diễn ra hội nghị giữa Thường vụ Quân khu ủy Quân khu 4 và Thường vụ Tỉnh ủy Bình Trị Thiên. Đoàn đại biểu Thường vụ Quân khu ủy do Trung tướng Lê Quang Hoà làm trưởng đoàn và đoàn đại biểu Thường vụ Tỉnh ủy Bình Trị Thiên do đồng chí Bùi San - Ủy viên Trung ương Đảng khoá IV - Bí thư Tỉnh ủy làm trưởng đoàn. Hội nghị xem xét một cách toàn diện tình hình kết hợp kinh tế - quốc phòng, xây dựng quốc phòng toàn dân và quân sự địa phương, nhất là ở các vùng mới giải phóng và những chuyển biến mới sau khi thực hiện Nghị quyết 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III), Nghị quyết Thường vụ Quân ủy Trung ương và Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nét nổi bật là tình hình Bình Trị Thiên có nhiều mặt phát triển rất tốt. Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh phấn đấu, vượt khó khăn, giành thắng lợi rất có ý nghĩa trong khắc phục hậu quả chiến tranh, cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống, ổn định chính trị ở địa phương. Đặc biệt, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV và Đại hội Đảng bộ tỉnh, ý chí, nhiệm vụ, mục tiêu Đại hội đề ra ngày càng đi sâu vào quần chúng, biến thành phong trào hành động cách mạng rất sôi nổi, nhất là trên mặt trận thủy lợi, khai hoang, rà phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh. Phong trào này đã thúc đẩy mạnh mẽ việc thực hiện nhiệm vụ địa phương và tác động tích cực đối với lực lượng vũ trang. Công tác quân sự địa phương của tỉnh có bước phát triển mạnh mẽ; rõ nét nhất là lực lượng vũ trang cùng các lực lượng vũ trang khác làm tốt nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ cuộc sống nhân dân. Ở các huyện phía nam và thành phố Huế, lực lượng vũ trang quần chúng và bộ đội địa phương cùng thanh niên làm tốt vai trò xung kích sản xuất trong điều kiện quan hệ sản xuất mới bước đầu cải tạo. Ở cấp huyện, có lúc liên huyện và cả tỉnh đã vận dụng sáng tạo kiểu tổ chức lao động mới, hình thành những công trường thủ công lớn và vừa, lấy thanh niên và dân quân làm nòng cốt, "điều hành theo kiểu quân sự hoá", lao động có năng suất, xây dựng được những công trình có ý nghĩa như thủy lợi nam sông Hương, Châu Sơn, đập chắn cát Triệu Hải, công trường khai hoang của hai huyện Phong Điền, Quảng Điền. Một số nơi, thanh niên, dân quân làm nòng cốt tạo cơ sở vật chất ban đầu, sau đó đưa nhân dân lên làm ăn sinh sống. Đây là nét mới hiệu quả trong quá trình tổ chức lao động, sản xuất xây dựng kinh tế ở những địa phương còn nghèo nàn, lạc hậu. Đặc biệt, trên mặt trận phá gỡ bom mìn, phát triển sản xuất, Bình Trị Thiên vốn là ngọn cờ đầu của các tỉnh miền Nam, nay tiếp tục phát huy sáng tạo, hiệu quả. Trong cuộc chiến đấu thầm lặng này, các nam nữ chiến sĩ dân quân, bộ đội không chút quản ngại hy sinh, vượt lên những thử thách căng thẳng, quyết liệt từng giây, từng phút, anh dũng làm tròn nhiệm vụ. Nhờ vậy, tốc độ giải phóng đất đai, ruộng đồng ngày càng nhanh hơn. Trong 6 tháng, lượng bom mìn phá gỡ là 33.762 quả; giải phóng 174ha. Bình Trị Thiên cũng đã thực hiện tốt việc tổ chức học tập Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, hoàn thành thắng lợi việc sáp nhập các huyện về quân sự, từng bước củng cố và xây dựng dân quân tự vệ, triển khai thực hiện rộng rãi các chính sách, nhất là chính sách hậu phương quân đội, chính sách thương binh liệt sĩ, chính sách đối với những người có công với cách mạng, với kháng chiến; tìm kiếm, phát hiện, quy tập mộ liệt sĩ. Bình Trị Thiên là nơi sớm chủ động phát động phong trào "toàn dân đền ơn, đáp nghĩa liệt sĩ". Xã, thôn nào cũng có công trình nghĩa trang liệt sĩ. Tỉnh đã tích cực chuẩn bị một bước quan trọng cho việc thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, mở đầu bằng kết quả các đợt tuyển quân thí điểm xây dựng địa bàn cấp huyện. Hội nghị khẳng định Bình Trị Thiên cần tiếp tục quán triệt sâu sắc hơn nữa vị trí, vai trò của tỉnh xây dựng, tích luỹ mạnh mẽ hơn, khẩn trương xây dựng thế và lực kinh tế - quốc phòng mạnh hơn nữa, đủ sức đập tan âm mưu chia cắt chiến lược của địch trong chiến tranh, giữ vững sự liên hoàn vững chắc các khu căn cứ của ta ở phía Nam và phía Bắc, giữa ta với bạn Lào và cũng là giữ vững sự thống nhất thường xuyên của đất nước, sự hỗ trợ qua lại giữa các chiến trường Nam - Bắc Đông Dương, góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của ba nước anh em trên bán đảo Đông Dương chiến thắng kẻ thù chung. _____________________________________________ 1. Hồ sơ số 36/QKU4 - Lưu trữ Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:32:38 pm Các hội nghị liên tịch giữa Quân khu ủy với ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên đánh dấu một bước triển khai rất cơ bản các chủ trương, kế hoạch chiến lược dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng. Đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy trên địa bàn một quân khu, vấn đề xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân và công tác quân sự địa phương luôn luôn là một mảng công tác cực kỳ quan trọng, then chốt và nền tảng. Sự đoàn kết, thống nhất nhất trí cao và phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa Quân khu với các tỉnh, giữa cơ quan quân sự địa phương, các đơn vị bộ đội đứng chân trên địa bàn với các địa phương là một trong những nhân tố hàng đầu quyết định sự thành công và thắng lợi các nhiệm vụ của Quân khu trong mọi tình huống. Sau các hội nghị liên tịch này Quân khu và các tỉnh đẩy mạnh công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, đôn đốc, kiểm tra thực hiện theo các cơ chế, quy chế thống nhất trên toàn Quân khu, cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ. Để thu hút, động viên cán bộ đảng viên và chiến sĩ, sau Hội nghị Quân khu ủy (ngày 22 đến 24-8-1977), Quân khu chủ trương đưa Dự thảo nghị quyết của Quân khu ủy xuống Đảng bộ các đơn vị, các Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Qua thảo luận, cán bộ đảng viên, chiến sĩ có những sáng kiến hay, biện pháp tích cực được bổ sung, điều chỉnh. Qua đó, từng cấp và mỗi người tự liên hệ với thực tế tình hình đơn vị, địa phương, tự phê bình và phê bình để hoàn thành nhiệm vụ cao hơn. Rút kinh nghiệm đợt sinh hoạt tự phê bình và phê bình chuẩn bị cho Đại hội Đảng các cấp, lần này, Quân khu theo dõi, chỉ đạo chặt chẽ, hướng vào các trọng tâm, trọng điểm, quyết tâm thực hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ, 5 mục tiêu dự thảo Nghị quyết Quân khu ủy đề ra1. Các đợt thi đua 3-2, 19-5, "Tháng Tám quật khởi, tháng Chín vẻ vang”, “Ngày chủ nhật lao động xã hội chủ nghĩa", "Giờ thứ 8 lao động cộng sản chủ nghĩa”, đã được tổ chức khá rầm rộ, có mục tiêu và chỉ tiêu phấn đấu cụ thể. Đợt thi đua "Hướng về 70 năm Cách mạng tháng Mười Nga", tiến hành từ ngày 10-10 đến 25-12-1977 được phối hợp chặt chẽ với kỷ niệm ngày toàn quốc kháng chiến (19-12), ngày thành lập quân đội ta (22-12) kết thúc năm 1977 đánh dấu mốc thắng lợi đầu tiên trên chặng đường thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ mới. Từ điểm "đột phá" huấn luyện ở Trung đoàn 214 pháo cao xạ ngày 1-4-1977, các đơn vị chấp hành đúng sự chỉ đạo của Quân khu: Coi trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, tổ chức "hội nghị đầu bờ" rút kinh nghiệm huấn luyện chiến sĩ mới. Ở Trung đoàn 175, 100% cán bộ tiểu đội trở lên đều được tập huấn. Trường hạ sĩ quan Quân khu và các đội huấn luyện của các trung đoàn binh chủng đào tạo 194 tiểu đội trưởng, khẩu đội trưởng. Phân hiệu Lục quân 1 đã được sắp xếp, điều chỉnh thành Trường Quân chính Quân khu. Riêng Quân khu mở được 8 lớp bồi dưỡng cho 671 cán bộ trung cấp trở lên học chính trị - kinh tế, nội dung phương pháp huấn luyện quân sự bộ binh, binh chủng, quản lý kinh tế và chỉ huy hậu cần. Các trường Trung cấp Kinh tế - Tài chính; Trung cấp Xây dựng; Trung cấp Cầu đường và Nông - Lâm (do Quân khu đảm nhiệm); trường Thợ - Lái xe (do Cục Hậu cần đảm nhiệm), các đội huấn luyện và các tiểu đoàn huấn luyện, tập huấn cán bộ ở các trung đoàn, sư đoàn; các trường quân sự của các tỉnh chiêu sinh huấn luyện theo đúng nội dung, kế hoạch. Các đơn vị đều tổ chức học kinh tế - chính trị cho hầu hết cán bộ trung cấp, sơ cấp. Đối với cán bộ dân quân tự vệ có 12.153 người được tập huấn ở các trường quân sự tỉnh. Các lớp tập huấn do cơ quan quân sự cấp huyện đảm trách đã huấn luyện cho dân quân tự vệ ở 1.620 xã, 103 đầu mối cơ sở tự vệ với hơn 110.590 lượt người tham gia học tập. Các địa phương tiến hành bồi dưỡng kiến thức quân sự phổ thông cho 15.057 thầy giáo, cô giáo. Chương trình huấn luyện quân sự quy định cho các trường cấp III (sau này gọi là trung học phổ thông) và trung học chuyên nghiệp được chấp hành nghiêm chỉnh với 27.816 học sinh tham gia luyện tập, kiểm tra. Các cơ quan quân sự phối hợp với ngành giáo dục xây dựng "nếp sống quân sự hoá” cho 53.162 học sinh các trường. Hai đợt tuyển quân 15.300 chiến sĩ mới trong hoàn cảnh một số vùng gặp khó khăn, thiếu đói và triển khai rộng rãi ở vùng mới giải phóng, nhưng có biện pháp điều động dự phòng, bù trừ nên đã hoàn thành tốt theo chỉ thị trên giao2. Công tác xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện gắn với xây dựng trung đoàn mạnh, sư đoàn và tỉnh mạnh được triển khai thực hiện nghiêm túc. Các tổ chức cơ sở được kiện toàn một bước. Chức năng hoạt động, mối quan hệ tổ chức lãnh đạo, chỉ huy và quần chúng ngày càng gắn bó. Các chế độ chấp hành tốt hơn, số đơn vị mạnh tiếp tục giữ vững và phát huy tăng hơn trước. Số trung bình có chiều hướng vươn lên, một số trở thành đơn vị khá. Còn lại một số ít đơn vị yếu nhung cũng đã có tiến bộ trên một số mặt. Cuộc vận động rèn luyện kỷ luật, tạo sự chuyển biến rõ về chấp hành điều lệnh, chế độ chính quy, nền nếp quản lý bộ đội. Công tác hậu cần vừa phục vụ nhiệm vụ chính trị thường xuyên của Quân khu, vừa phải bảo đảm yêu cầu khẩn trương đột xuất (đưa lực lượng đi làm nhiệm vụ quốc tế, thành lập các đơn vị mới, tuyển quân, tổng kiểm kê tài sản) khối lượng công việc lớn. Riêng diện tích nhà mới, thay nhà tranh, tre đã tăng gấp đôi so với năm 1976. Trừ một số đơn vị mới thành lập, còn hầu hết các đơn vị đều ra khỏi nhà dân, có doanh trại ăn ở, sinh hoạt khang trang. ______________________________________________ 1. Hai nhiệm vụ: sẵn sàng chiến đấu giúp bạn và Xây dựng kinh tế. Năm mục tiêu: sẵn sàng chiến đấu giúp bạn, xây dựng kinh tế; rèn luyện kỷ luật; xây dựng chế độ chính quy; tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; cải thiện và nâng cao đời sống bộ đội. 2. Nghệ An chỉ tiêu 21.000, tuyển 21.280 (101,2%) có 1.305 người theo đạo Thiên Chúa, 1.209 người dân tộc ít người, 617 cán bộ cơ quan. Thanh Hóa tuyển đạt chỉ tiêu 100,71%, Nghệ Tĩnh đạt 101,2%, Bình Trị Thiên đạt 99,06% chỉ tiêu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:38:41 pm Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tiến hành chặt chẽ từ cơ sở đến quân khu, đã biến thành một đợt sinh hoạt chính trị nâng cao giác ngộ lý tưởng, ý chí phấn đấu, phẩm chất đạo đức trong tuổi trẻ lực lượng vũ trang. Trong công tác chính sách, các đơn vị, địa phương đã tích cực, khẩn trương thực hiện như Thanh Hoá và Nghệ Tĩnh cơ bản làm xong việc xác minh và báo tử số cán bộ, chiến sĩ mất tin. Bình Trị Thiên còn 40 trường hợp. 7.115/7.850 trường hợp quân nhân vắng tin ở khu vực Vĩnh Linh trở ra đã hoàn thành hồ sơ thông báo về địa phương, còn lại 695 trường hợp đang tiếp tục thống kê danh sách để điều tra giải quyết tiếp. Các địa phương và Quân khu đều khẩn trương chỉ đạo, tổ chức việc điều tra tìm kiếm, chuẩn bị phương án hiệp đồng với các địa bàn, chuẩn bị phương tiện, địa điểm quy tập mộ liệt sĩ theo quy hoạch địa phương. Việc giải quyết ra quân đối với thương binh, bệnh binh ở Đoàn 200, Đoàn 585 được xúc tiến mạnh mẽ theo hướng chuyển Đoàn 585 sang làm nhiệm vụ khác. Đoàn 200 thu gọn lại theo dạng một nông trường sản xuất lương thực, thực phẩm và trại lợn giống, cá giống cho Quân khu1. Việc khen thưởng theo kế hoạch và yêu cầu đột xuất, từ hình thức giấy khen đến danh hiệu Anh hùng được Quân khu chỉ đạo chặt chẽ, giải quyết được một khối lượng lớn. Quân khu tổ chức gặp mặt các Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và đại biểu Đơn vị Anh hùng; tổ chức các cuộc thăm thành phố mang tên Bác Hồ; động viên cổ vũ phát huy vai trò, vị trí, truyền thống vinh dự được mang tên lãnh tụ vĩ đại của dân tộc và nhà văn hoá của thế giới. Trong bảo đảm giao thông, đợt I chiến dịch làm đường 48B, các lực lượng đã hoàn thành 18km nền đường, 18km mặt đường chất lượng tốt. Các đơn vị xây dựng cơ bản trong ba tỉnh hoàn thành tốt các chỉ tiêu, vượt năng suất, đạt chất lượng (Trung đoàn 1 Nghệ Tĩnh làm đường ở Anh Sơn thu 907.168 đồng, Trung đoàn 2 làm đường ở Cửa Rào thu 238.000 đồng). Theo Quyết định số 307/QĐ-TM, ngày 26-10-1977 của Bộ Tổng Tham mưu, Quân khu bàn giao Đoàn 337 về Tổng cục Xây dựng kinh tế; đồng thời tiếp nhận Sư đoàn 565 từ Tổng cục Xây dựng kinh tế về Quân khu (Quyết định số 308/QĐ-TM, ngày 26-10-1977). Sau cuộc họp chuyên đề của Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu (ngày 30-7-1977) bàn việc thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, điện của Tổng Bí thư Lê Duẩn, nội dung truyền đạt trực tiếp của Bí thư Quân ủy Trung ương Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau một thời gian, việc sản xuất lương thực được đẩy mạnh theo tinh thần khẩn cấp: "Toàn Quân khu sẵn sàng chiến đấu cao, toàn Quân khu làm kinh tế, toàn Quân khu làm nông nghiệp, sản xuất lương thực, thực phẩm"2. Kết quả toàn Quân khu đã gieo trồng 1.340ha (250ha lúa, 60ha ngô, 30ha khoai, 814ha sắn), đào 148ha ao hồ thả cá 23 vạn con, chăn nuôi 2.737 con bò, 194 con trâu, 787 con dê, 204 lợn nái, 2.956 lợn thịt. Đoàn 200, Trung đoàn 214, Cục Hậu cần, Cục Chính trị, Bộ Tham mưu, Trung đoàn 80, Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316B) là những đơn vị đạt kết quả tương đối khá. Các đơn vị bắt đầu có khu vực sản xuất tập trung là Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá, Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh, Đoàn 336, Đoàn 337, Sư đoàn 316B, Trung đoàn 206 thiết giáp, Trung đoàn 214 cao xạ, Trung đoàn 80 thông tin và các cơ quan Quân khu. Thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương 1.111 cán bộ quân đội điều động tăng cường cho cấp huyện được Quân khu tổ chức động viên, giáo dục tập huấn và bàn giao chu đáo cho 3 tỉnh (Thanh Hoá 430, Nghệ Tĩnh 480, Bình Trị Thiên 201). Công tác chính sách được bảo đảm đã góp phần động viên cán bộ quyết tâm hoàn thành tốt vai trò, vị trí, trách nhiệm cán bộ tăng cường. Tuy nhiên, yêu cầu nhiệm vụ ngày càng nặng nề, tình hình có những biến động mới, nên tác động đến nhận thức, quyết tâm và kết quả hành động của lực lượng vũ trang. Ngay cả ý nghĩa chiến lược của việc đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm vẫn chưa được nhận thức đúng đắn, đầy đủ3: "Lương thực, thực phẩm hiện nay là vấn đề hết sức khẩn cấp, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải tranh thủ mọi thời gian, nhanh chóng khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm... Mọi lực lượng phải làm nông nghiệp, mọi lực lượng, mọi người phải sản xuất lương thực với quyết tâm rất cao, với tinh thần sôi nổi tiến công”. Qua theo dõi tổng hợp ý kiến của các Đảng bộ, Thường vụ Quân khu ủy thấy rằng: Đại đa số cán bộ cao cấp, trung cấp phát huy tốt vai trò, vị trí, trách nhiệm. Nhưng phần tự phê bình, phê bình cấp mình, đơn vị và bản thân mình chưa tốt. Trước tình hình đó, Thường vụ Quân khu ủy gửi công văn hoả tốc ngày 31-8-1977, nhắc lại những điểm mạnh, điểm yếu và yêu cầu mỗi cấp, sau hội nghị Đảng ủy cấp mình quán triệt và tham gia ý kiến với cấp trên. Cán bộ chủ trì và cơ quan phải chuẩn bị tốt nội dung để Đảng ủy ra nghị quyết tự phê bình và phê bình đạt chất lượng cao. Thực hiện chế độ thông báo tình hình theo quy chế hội nghị liên tịch đã quy định, Quân khu yêu cầu các địa phương tham gia khắc phục những mặt còn yếu, trong đó yêu cầu khẩn trương giải quyết thủ tục giấy tờ để có phương hướng đầu tư lâu dài cho những điểm sản xuất địa phương đã thoả thuận. Cả địa phương và Quân khu coi sản xuất lương thực, thực phẩm là ưu tiên tuyệt đối hàng đầu; phải triển khai sớm, tranh thủ thời tiết, kịp thời vụ. Các cấp ủy, thủ trưởng phải xây dựng kế hoạch cụ thể thông qua Quân khu như thông qua kế hoạch tác chiến. Công tác đảng, công tác chính trị thường xuyên rà soát khâu tư tưởng và tổ chức. ______________________________________________ 1. Đoàn 585 đã giải quyết xong hầu hết số thương, bệnh binh theo các hướng. Đoàn 200 do tính chất, đặc điểm, gặp nhiều khó khăn hơn nhưng đã giải quyết được 308/365 thương bệnh binh. 2. Hồ sơ 37/QKU - Lưu trữ Quân khu 4. 3. Lương thực, thực phẩm vốn khó khăn, lại do rét hạn kéo dài. thu hoạch giảm sút nghiêm trọng. Nghệ Tĩnh hụt 12 - 13 vạn tấn/kế hoạch. Thanh Hóa thu nhập rất thấp tính theo bình quân đầu người. Nam Bộ thì lúa gạo trong dân còn, nhưng thu mua được ít. Gian thương đầu cơ, tích trữ, gây ảnh hưởng giá cả. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:40:53 pm Cơ quan tham mưu và hậu cần Quân khu khẩn trương chuyển một số phương tiện kỹ thuật không thuộc diện dự trữ cho chiến đấu, đưa vào phục vụ sản xuất, trước hết cho mặt trận hàng đầu là nông nghiệp, số 1 là lương thực, thực phẩm. Theo chủ trương đó tất cả các đơn vị dấy lên phong trào thu gom sắt vụn giao cho các xưởng thuộc Cục Hậu cần sản xuất công cụ sản xuất. Cục Kinh tế hướng dẫn Đoàn 76 giáo dục tù hàng binh, tổ chức sản xuất công cụ. Cán bộ kỹ thuật các ngành và cán bộ hiểu biết kỹ thuật sản xuất nông nghiệp thảo luận hiến kế sản xuất lương thực, thực phẩm vượt chỉ tiêu. Phòng Sản xuất - tiết kiệm ra đời, giúp Cục Hậu cần hướng dẫn, chỉ đạo việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm trong toàn Quân khu. Phòng Tài vụ lên kế hoạch cho vay vốn đầu tư sản xuất lương thực, thực phẩm, nhất là đầu tư cơ bản về trang bị, thiết bị kỹ thuật. Đại hội Đoàn Thanh niên Quân khu phát động thanh niên đề cao tư tưởng cách mạng, trách nhiệm làm lực lượng xung kích sản xuất lương thực, thực phẩm. Trước khó khăn chung của đất nước và địa phương, Quân khu đặt rõ trách nhiệm cho từng đơn vị phải chủ động phát hiện, tổ chức cứu giúp nhân dân vùng thiếu đói, tuyệt đối không để một người dân bị đói. Sau khi các Đảng bộ, các đơn vị hoàn thành đợt sinh hoạt chính trị phê bình và tự phê bình, Quân khu ủy họp nghe tổng hợp những ý kiến đóng góp phê bình Quân khu ủy, Thường vụ Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu và các cơ quan Quân khu; nghiên cứu các ý kiến đề xuất bổ sung đánh giá tình hình thời gian qua và đề ra phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu, biện pháp hành động thời gian tới gồm 9 cụm vấn đề, trong đó 3 vấn đề nổi bật: 1. Về quy hoạch kế hoạch, tổng thể, toàn diện, cơ bản nhằm xây dựng Quân khu theo hướng vững về chính trị, mạnh về quốc phòng, giàu về kinh tế, làm cơ sở cho kế hoạch phòng thủ chiến lược trên địa bàn Quân khu, từng vùng, từng hướng, kết hợp kinh tế - quốc phòng, xây dựng ba thứ quân, xây dựng hậu phương căn cứ địa của Quân khu, xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn huyện. 2. Về sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, xây dựng chính quy cần có phương án sẵn sàng chiến đấu và phòng thủ theo yêu cầu mới (tại chỗ, cơ động, từng khu vực, từng hướng và trên toàn địa bàn Quân khu), giao nhiệm vụ cụ thể cho từng lực lượng, từng địa phương, chú ý các đơn vị kinh tế, các nhà trường, cơ quan, vùng trọng điểm. Với Bình Trị Thiên, nên có lực lượng chủ lực Quân khu tham gia. 3. Đối với Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu, các đơn vị đề nghị bốn cụm giải pháp chỉ đạo gồm: - Chế độ trực tiếp nghe Thường vụ Đảng ủy và thủ trưởng cấp dưới báo cáo tình hình; qua đó tạo điều kiện hiểu sâu đơn vị, chỉ đạo, bồi dưỡng năng lực, trình độ, phẩm chất cho cấp dưới. - Ngoài hội nghị liên tịch ở cấp lãnh đạo Quân khu với các Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, nên mở rộng diện gặp gỡ, tọa đàm với các bí thư huyện, thành, thị ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị, thành; chỉ đạo hội nghị liên tịch giữa các ban, ngành có liên quan của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh với các cơ quan Quân khu. - Phát động cuộc vận động rèn luyện kỷ luật, chấp hành pháp luật, xây dựng nền nếp chính quy, hiệp đồng giữa địa phương với các đơn vị của Bộ đứng trên địa bàn. - Chú trọng chỉ đạo chặt chẽ hơn công tác tổ chức và tổ chức thực hiện, trước hết từ cơ quan Quân khu. Để các nghị quyết, chỉ thị có hiệu lực, cần tập trung chỉ huy vào Tư lệnh, nhưng phải phân công và đề cao trách nhiệm phụ trách của các đồng chí trong Bộ tư lệnh đối với từng lĩnh vực được phân công giúp Tư lệnh. Quân khu ủy nghiêm túc tiếp thu toàn bộ ý kiến của các Đảng bộ. Có những nội dung bổ sung vào văn bản nghị quyết chính thức của Quân khu. Một số nội dung khác giao cho Thường vụ Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu và các cơ quan nghiên cứu thành chuyên đề. Những vấn đề liên quan và thuộc quyền hạn cấp trên thì đề xuất và kiến nghị lên trên giải quyết. Trong văn bản gửi các Đảng ủy, Quân khu ủy khẳng định: "Quân khu ủy rất hoan nghênh và nghiêm túc tiếp thu những ý kiến phê bình đối với sự lãnh đạo chỉ huy của Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu; phấn khởi với kết quả đạt được và rất tự hào với sức mạnh Quân khu. Bước đầu nghị quyết Quân khu ủy đã có hiệu lực, đã và đang trở thành hiện thực trong các cấp, các lực lượng và trong từng người ở đơn vị và cơ quan"1. Quá trình đưa dự thảo nghị quyết xuống các Đảng bộ cũng là quá trình Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu "nghiêm chỉnh chấp hành những chủ trương đề ra trong dự thảo, kiên quyết khắc phục bằng được những khuyết điểm trong tổ chức chỉ đạo, tổ chức thực hiện; tập trung vào một số việc cơ bản của 2 nhiệm vụ, trong ba thứ quân, cả cơ quan và đơn vị"2. Kết quả đợt sinh hoạt chính trị nghiêm túc, thẳng thắn tiếp thu phê bình, sửa chữa khuyết điểm, trước hết từ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu, đã tạo thêm bước phát triển trong thực hiện nhiệm vụ của ba thứ quân, được sự nhất trí, hỗ trợ của các cấp ủy Đảng địa phương, mở ra triển vọng mới và khả năng hiện thực để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đề ra. ______________________________________________ 1, 2. Văn bản thông báo số 461, ngày 5-10-1977 của Thường vụ Quân khu ủy gửi các Đảng ủy đơn vị trong Quân khu - Lưu trữ Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2024, 03:43:59 pm * * * Tiếp tục thực hiện các nội dung thoả thuận giữa Quân khu với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân qua hội nghị liên tịch giữa Quân khu với tỉnh, phát huy những kết quả trong đợt sinh hoạt dân chủ có ý nghĩa quan trọng vừa qua, ngày 8-10-1977, Trung tướng Lê Quang Hoà chủ trì cuộc hội nghị liên tịch giữa Thường vụ Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu với đại diện Đảng bộ, chính quyền địa phương, đại diện các nông trường, lâm trường, xí nghiệp, cơ quan Trung ương và địa phương trên khu vực miền Tây Nghệ Tĩnh. Lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn 316B, Đoàn 336, Trường quản lý kinh tế, Đoàn an dưỡng thương bệnh binh 200 và các cơ quan Quân khu cùng dự. Hội nghị tập trung quán triệt nhiệm vụ mới của cách mạng, của các lực lượng vũ trang và Quân khu vào phương hướng nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn các huyện miền núi Nghệ Tĩnh gắn với một số chủ trương của Quân khu. Hội nghị đánh giá vai trò, vị trí chiến lược của vùng đất miền Tây Nghệ Tĩnh. Trong thắng lợi vẻ vang của đất nước, đặc biệt là trong chống Mỹ, cứu nước, miền Tây Nghệ Tĩnh đã đóng góp một phần nhân - tài - vật lực cho sự toàn thắng của Tổ quốc. Nhân dân, cán bộ, đảng viên, công nhân, lực lượng vũ trang nơi đây đã giành giật từng giây, từng phút với máy bay, bom đạn cực kỳ ác liệt của đế quốc Mỹ để bảo đảm tuyến đường giao thông chiến lược chi viện các chiến trường thông suốt; để có từng giọt mủ cao su, từng quả cam, từng búp chè, từng hạt cà phê... Riêng 6 nông trường miền Tây Nghệ Tĩnh nộp ngân sách hơn một nửa tổng số tiền lãi các nông trường ở miền Bắc. Ngoài việc cung cấp lực lượng cho tiền tuyến, tại đây đã đào tạo hàng nghìn cán bộ, công nhân ưu tú bổ sung cho miền Nam xây dựng các nông trường sau ngày giải phóng Tổ quốc, thống nhất đất nước. Các nông trường Cờ Đỏ, Tây Hiếu, Đông Hiếu, 1-5, 19-5, 3-2, Công ty lâm nghiệp Sông Hiếu, Xưởng đại tu ô tô - máy kéo 250B... đã xây dựng "nền nếp quân sự hoá" trong lao động sản xuất, lao động có kỹ thuật, có kỷ luật nghiêm, tổ chức chặt chẽ, bước đầu đem lại hiệu quả thiết thực. Cùng với trung đoàn tự vệ nông trường Sao Vàng Thanh Hoá, ở Nghệ Tĩnh có nông trường 1-5 là nơi sớm ra đời trung đoàn tự vệ cao xạ được tổ chức xây dựng, trang bị tốt, biết kết hợp cụm dân quân tự vệ thành lực lượng quân sự thống nhất, có tổ chức chỉ huy, lãnh đạo, nến nếp phối hợp, hiệp đồng, giao ban chặt chẽ. Vị trí, vai trò của miền Tây Nghệ Tĩnh được Hội nghị khẳng định: "Nếu Bình Trị Thiên mỏng và hẹp nhất Quân khu thì Thanh Nghệ Tĩnh và miền Tây Thanh Nghệ Tĩnh là dày nhất Quân khu. Quân khu muốn có tiềm lực kinh tế - quốc phòng mạnh, có một căn cứ hậu phương chiến lược mạnh, một tung thâm phòng thủ có chiều sâu, một bàn đạp vững chắc để các binh đoàn lớn và hiện đại đứng chân, cơ động nhanh chóng tiến công và phản công ra các hướng, đập tan mọi âm mưu chia cắt chiến lược của kẻ thù, giữ vững thế liên hoàn chiến lược của ta trong mọi tình huống, thì Nghệ Tĩnh, đặc biệt miền Tây Nghệ Tĩnh, chính là nơi mang đầy đủ những nội dung và ý nghĩa chiến lược đó"1. Các đồng chí lãnh đạo các huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Quế Phong, Ban chỉ đạo vùng kinh tế mới Tây Nghệ Tĩnh, các nông trường (1-5, 19-5, Đông Hiếu, Tây Hiếu, Cờ Đỏ, 3-2), Trạm cơ giới I Bộ Nông nghiệp, Trạm thí nghiệm cây nhiệt đới, Công ty lâm nghiệp Sông Hiếu tham dự hội nghị đều xác định rõ trách nhiệm là phải phát huy tự lực rất cao của từng huyện, từng nông, lâm trường, trạm, trại, xí nghiệp với sự hiệp đồng góp sức của toàn tỉnh, của Quân khu và của Trung ương, từng bước nhanh chóng tạo thế lực kinh tế - quốc phòng, xây dựng những địa bàn bất khả xâm phạm khi xảy ra chiến tranh, nhất là chiến tranh hiện đại. Tuyệt đối không để mất đất, tiềm lực không bị phá hoại. Hội nghị xác định trước mắt, đối với vùng miền Tây Nghệ Tĩnh, Quân khu, tỉnh, huyện cần đặc biệt coi trọng phân bố lại lao động cân đối trên các vùng, tích cực đưa dân đồng bằng lên miền núi, xây dựng thêm các vùng kinh tế mới, các nông trường quốc doanh, cơ sở lâm nghiệp, tăng mật độ dân số, lao động, bố trí hợp lý mạng lưới phát triển giao thông, mở mang các thị trấn miền núi, nâng cao đời sống văn hoá, vừa đẩy nhanh xây dựng kinh tế, vừa tạo cơ sở cải thiện thế bố trí quốc phòng. Tiếp theo hội nghị về miền Tây Nghệ Tĩnh, Quân khu tổ chức hội nghị xây dựng tuyến phòng thủ các huyện vùng biển, miền núi biên giới. Tham dự có các đồng chí Bí thư, Phó Bí thư huyện ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các đơn vị hải quân, công an nhân dân vũ trang và các ngành trên địa bàn Quân khu. Hội nghị nhận định: Từ sau hội nghị do Quân khu tổ chức rút kinh nghiệm ở Quỳnh Lưu, bước đầu kết luận những nội dung về xây dựng huyện thành pháo đài quân sự, khắp các tỉnh, huyện (thị, thành) đều triển khai thực hiện. Những huyện, thành, thị xã có quy hoạch tổng thể về xây dựng kinh tế đều có quy hoạch về quốc phòng. Nhiều huyện có phương án phòng thủ, xây dựng lực lượng. Qua thảo luận, các đại biểu phân tích rõ đặc điểm từng huyện, phân tích âm mưu, thủ đoạn địch đối với địa bàn, nêu lên những việc triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới, vùng biển, xác định quyết tâm xây dựng tuyến phòng thủ trên các địa bàn miền núi, biên giới, miền biển, bảo vệ địa bàn, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch. Hội nghị quyết tâm hoàn thành thắng lợi chiến dịch 18km đường Quyết Thắng, đúng vào ngày 15-1-1978, giúp xây dựng khu chăn nuôi 2.000 con lợn tại Đoàn 2002; xây dựng khu chăn nuôi Đồng Nông 2.000 con lợn3; giúp xây dựng nông trường Châu Bình4; đỡ đầu xây dựng xưởng đồ mộc của Quân khu, cung cấp một số gỗ cành ngọn có thể làm giường ván nằm giải quyết nhu cầu của bộ đội5; giúp đào tạo một số thợ sửa chữa các loại xe xích, máy húc, máy kéo, thợ kỹ thuật vận hành trang thiết bị, giúp vận chuyển và ủng hộ đá làm đường6; góp phần xây dựng địa bàn chiến lược miền Tây vững mạnh, tạo ra tiền đề và nhân tố mới thúc đẩy các nơi khác cùng nhân rộng cách làm, nội dung làm, kinh nghiệm giải quyết các mối quan hệ giữa địa phương với quân đội, giữa kinh tế với quốc phòng, chuẩn bị thế trận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. _____________________________________________ 1. Bài phát biểu của Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4 do Trung tướng Lê Quang Hoà - Bí thư Quân khu ủy - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu trình bày tại hội nghị. 2. Có Nông trường Tây Hiếu, 3-2, trạm khai hoang, các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp đảm nhiệm. Riêng Nghĩa Đàn giải quyết 400ha đất cho khu chăn nuôi. 3. Các Nông trường Đông Hiếu và 1-5 giúp. 4. Các Nông trường Cờ Đỏ, 19-5 và huyện Quỳ Châu giúp. Diện tích 700 - 1.000ha. Huyện Quế Phong giúp một số trâu bò giống và sức kéo. 5. Lâm nghiệp Sông Hiếu cung cấp 1.000 đến 1.500m3 gỗ/năm. 6. 15.000m3 đá làm đường do các nông trường, trạm, trại, xưởng 250B giúp vận chuyển. X250B giúp đào tạo thợ các loại. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2024, 03:47:16 pm Trên địa bàn Thanh Hoá, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh1 tổ chức dân quân tự vệ tập trung tham gia xây dựng các công trình thủy lợi sông Lý, sông Hoàng, cống Lạch Bạng gồm Sư đoàn 344 dân quân du kích Tĩnh Gia; Sư đoàn dân quân du kích Quyết Thắng, huyện Nông Cống và các trung đoàn dân quân du kích các huyện Ngọc Lặc (3-2), Cẩm Thủy (3-2), Quảng Xương, Thọ Xuân, Hoằng Hoá. Các tỉnh triển khai phương hướng tổ chức dân quân du kích theo phương hướng của Cục Tổ chức - động viên. Nơi hợp tác xã toàn xã mà đội sản xuất cơ bản nhiều lao động, thì mỗi đội sản xuất tổ chức 1 trung đội du kích, 1 đến 2 trung đội dân quân. Nơi hợp tác xã có đội sản xuất cơ bản và tổ chức riêng đội chuyên canh ổn định, mỗi đội tổ chức từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội du kích, trung đội dân quân. Ở các khu vực công nghiệp, nơi có hơn 1.000 tự vệ thì tổ chức đến cấp trung đoàn tự vệ, phó giám đốc làm trung đoàn trưởng, Bí thư Đảng ủy làm chính ủy. Ở Bình Trị Thiên, trên cơ sở kết quả và kinh nghiệm các chiến dịch rà phá bom mìn trong 2 năm (1975-1976), ngày 5- 4-1977, Quân khu ra Chỉ thị số 229/CT giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tiếp tục tổ chức thực hiện một đợt tổng rà phá, nhằm giải quyết cơ bản bom mìn và vật nổ trên địa bàn tỉnh. Chỉ tiêu rà phá là 144km2; huy động từ 8.000 đến 8.500 công/ngày, hoàn thành vào tháng 9 năm 1977. Phương châm là: Triệt để, an toàn, nhanh và tiết kiệm. Để thực hiện chủ trương chuyển dời Sở chỉ huy Quân khu ở Đại Huệ (Nam Đàn) về thành phố Vinh, thuận tiện cho công tác chỉ đạo, chỉ huy, ngày 2-3-1977, Bộ Tham mưu Quân khu gửi tờ trình Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh làm thủ tục cấp khu đất ở Trường Thi (Vinh) để xây dựng cơ quan Quân khu. Nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới, Quân khu tiếp tục chấn chỉnh về tổ chức biên chế. Ngày 3-3, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định: thành lập Trung đoàn 654 vận tải thuộc Quân khu 4 phục vụ cho cả hai lực lượng sẵn sàng chiến đấu và xây dựng kinh tế, đồng thời thành lập một khung trung đoàn huấn luyện tân binh trực thuộc Quân khu 4, mang phiên hiệu Trung đoàn 858, do Trung tá Lê Thước, Phó chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hoá làm trung đoàn trưởng, trung tá Nguyễn Nhuận làm chính ủy2. Ngày 24-3, Quân khu giao nhiệm vụ cho Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh chấn chỉnh Trung đoàn 175 làm nhiệm vụ tuyển, huấn luyện tân binh; giao cho Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá chuyển nhiệm vụ Đoàn 585 đóng ở Tây Hồ, huyện Thọ Xuân làm nhiệm vụ huấn luyện tân binh, mỗi năm 2 khoá, mỗi khoá 2.500 đến 3.000. Thời gian còn lại, huấn luyện quân dự bị, biên chế 5 tiểu đoàn (mỗi tiểu đoàn 5 đại đội). Theo Quyết định số 46/QĐ-QP ngày 11-3-1977 của Bộ Quốc phòng, Quân khu triển khai tổ chức ở ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên mỗi tỉnh một trường quân sự trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Nhiệm vụ của trường là: đào tạo, bổ túc cán bộ xã đội và tự vệ, cán bộ tiểu đoàn, đại đội dân quân của huyện, tỉnh; tập huấn cán bộ cơ quan quân sự huyện, giáo viên quân sự các trường phổ thông, đại học trên địa bàn tỉnh; bồi dưỡng đường lối quân sự và kiến thức quân sự cho các ngành, đoàn thể của huyện, tỉnh; tham gia nghiên cứu biên soạn tài liệu quân sự địa phương. Thực hiện chỉ thị (số 189/QP ngày 18-3) của Bộ, Quân khu khẩn trương "kiên quyết hoàn thành việc thu hồi, kiểm tra, đánh giá chất lượng trang bị, vật tư và có chủ trương dứt khoát về sử dụng, xử lý”, Quân khu coi đó là nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong năm 1977. Ngày 31-3, kế hoạch tổ chức chiến dịch thu hồi và bảo quản cơ sở vật chất kỹ thuật năm 1977 được giao cho Thượng tá Phạm Lê Đoài chủ trì tổ chức thực hiện. Kế hoạch bao gồm 3 nội dung: 1. Thu hồi vũ khí, trang bị ngoài biên chế của các xã, thị trấn về kho tỉnh; dồn kho lẻ của tỉnh thành 3 điểm. 2. Thu hồi số xe ngoài biên chế về Quân khu. 3. Tập trung dồn dịch tất cả các kho lẻ thuộc KX2 và kho công binh về 3 kho lớn của từng đơn vị. Quân khu đã tổ chức rà soát một bước công tác biên chế tổ chức, khắc phục những chỗ còn chưa hợp lý, chồng chéo, lãng phí nhân vật lực và điều chỉnh cho phù hợp với từng cơ quan, đơn vị, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ngày 25-3-1977, Bộ tư lệnh Quân khu ra Quyết định số 167/QĐ-TL tách phân hiệu Lục quân 1 thành 2 trường: Trường Quân chính Quân khu và Trường hạ sĩ quan Quân khu. Trường Quân chính Quân khu có nhiệm vụ: Bổ túc cán bộ quân sự bộ binh, cán bộ chính trị cấp tiểu đoàn, đại đội và cơ quan; bổ túc cán bộ quân sự địa phương. Lưu lượng học viên 400 đến 500 học viên; đào tạo trung đội trưởng bộ binh theo yêu cầu của Bộ và Quân khu, lưu lượng 200 học viên; tổ chức các lớp tập huấn cán bộ và huấn luyện sĩ quan dự bị, từ 100 đến 150 người/khoá. Biên chế của trường có 134 sĩ quan, 192 hạ sĩ quan, chiến sĩ, được tổ chức thành 5 khung đại đội bổ túc, 2 khung đại đội đào tạo, 1 khung đại đội tập huấn, các phân đội trực thuộc và cơ quan. Trường Hạ sĩ quan Quân khu có nhiệm vụ đào tạo, bổ túc hạ sĩ quan bộ binh và binh chủng; đào tạo quản trị trưởng đại đội, lưu lượng học viên 1.000 đến 1.100. Biên chế 3 khung tiểu đoàn, các phân đội trực thuộc và cơ quan. Do thời gian gấp, đến ngày 30-4-1977 công tác biên chế, tổ chức mới hoàn thành; hai trường tiếp tục chiêu sinh mở lớp đào tạo, bổ túc học viên theo đúng quy định. Ngày 30-4-1977, Bộ tư lệnh Quân khu ra Quyết định số 285/QĐ chuyển nhiệm vụ của Đoàn 200 an dưỡng thương binh, bệnh binh. Theo quyết định này, đoàn có nhiệm vụ: Tổ chức thành đơn vị chuyên sản xuất cây công nghiệp, chăn nuôi và sản xuất đồ mộc cho cơ quan Quân khu; tiếp tục nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh với quân số khung phục vụ 200 và lưu lượng thương binh, bệnh binh 400. Cuối tháng 4-1977, Quân khu tổ chức dồn dịch đội hình đóng quân của một số đơn vị, chuyển giao một số đơn vị, công trình cho các Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, tổ chức tiểu đoàn kho xưởng công binh, triển khai chuẩn bị cho tổng kiểm kê trang bị khí tài, vật tư, tài sản vào 0 giờ ngày 25-6-1977. ______________________________________________ 1. Thượng tá Lê Công Phê - nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 thay Thượng tá Trịnh Tố Phan làm Chỉ huy trưởng; Thượng tá Hoàng Minh Côn - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy làm Chính ủy. 2. Trong đợt 1 huấn luyện năm 1977, sau 4 tháng, trung đoàn đã bổ sung 2.500 quân cho Mặt trận 479 Tây Ninh, phiên hiệu lúc giao quân là Đoàn 5. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2024, 03:49:47 pm Trước yêu cầu phát triển của tình hình, tháng 7 năm 1977, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định về quân số, tổ chức biên chế lực lượng cho Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên. Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá quân số là 5.921 người, trong đó lực lượng sẵn sàng chiến đấu 1.730, bao gồm Tiểu đoàn 6 pháo binh, Tiểu đoàn 68 đảo Mê, Đại đội 188 bộ binh, Đại đội 17 công binh, Đại đội 18 thông tin, Đại đội 19 trinh sát + vệ binh, Trường quân sự, Trung đội 25 vận tải, các trạm trại, các cơ quan quân sự huyện, thị xã, tỉnh và 409 quân số lâm thời. Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh quân số trực thuộc là 6.137 người, trong đó có 2.183 người thuộc lực lượng sẵn sàng chiến đấu và 154 quân số lâm thời, bao gồm Đại đội 211 bộ binh thuộc huyện Kỳ Sơn, Tiểu đoàn 25 pháo binh, Đại đội 32 đảo Mắt, Trung đội 33 đảo Ngư, Tiểu đoàn 1 và Đại đội 17 công trình, công binh, Đại đội 18 thông tin, Đại đội 23 vệ binh, Trung đội 20 trinh sát, Trung đội 25 vận tải, trạm khách T20, Trường quân sự, bệnh xá, trạm sửa chữa, cơ quan Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và các huyện, thành phố Vinh, thị xã Hà Tĩnh. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Trị Thiên có quân số trực thuộc là 6.887 người, trong đó quân số sẵn sàng chiến đấu 2.542, lực lượng lâm thời 845, gồm Tiểu đoàn 8 bộ binh, các đại đội 1, 3, 12 bộ binh, Đại đội 2 quân cảnh, các tiểu đoàn pháo binh 6, 14, Đại đội 32 Cồn Cỏ, Tiểu đoàn 7 và Đại đội 17 công binh, Đại đội 18 thông tin, Trung đội 20 trinh sát, Trung đội 25 vận tải, Trường quân sự, các trạm, trại, cơ quan Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố Huế, các thị xã Đồng Hới, Đông Hà, Quảng Trị và các huyện. Do tính chất đặc điểm của tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Trị Thiên được tổ chức 1 đại đội kiểm soát quân sự và vệ binh. Theo chức năng nhiệm vụ quân số lâm thời được bố trí cho các đội quy tập mộ liệt sĩ, công tác chính sách, thu hồi kho tàng, phá gỡ bom mìn, khung tiểu đoàn thu dung thương binh, bệnh binh và tăng cường cho 11 khu đội, thành đội Huế. Lực lượng xây dựng kinh tế của các tỉnh ở Thanh Hoá gồm Trung đoàn 14, Đoàn 74, Trung đoàn 858 huấn luyện tân binh, đội gạch ngói, Phòng Xây dựng kinh tế. Nghệ Tĩnh có hai Trung đoàn 1 và 2, Trung đoàn 177 huấn luyện tân binh, đội gạch ngói, đội đánh cá, hậu cứ, phòng kinh tế. Bình Trị Thiên có Trung đoàn 6, Trung đoàn 186, Tiểu đoàn 8 đánh cá, Tiểu đoàn 28 sản xuất vôi, xi măng, Phòng Xây dựng kinh tế. Theo yêu cầu nhiệm vụ mới, Quân khu chấn chỉnh Đoàn 405 thành trường cán bộ quản lý kinh tế trực thuộc Cục Xây dựng kinh tế có nhiệm vụ đào tạo, bổ túc, bồi dưỡng trình độ lý luận quản lý kinh tế cho cả hai lực lượng sẵn sàng chiến đấu và xây dựng kinh tế. Khung nhà trường gồm 88 người (39 sĩ quan), lưu lượng học viên 200 - 250 người. Tiểu đoàn 732 được chấn chỉnh thành trường sơ cấp xây dựng thuộc Cục Kinh tế. Lưu lượng học viên từ 350 - 400 người. Khung cán bộ, giáo viên, nhân viên 130 người (có 28 sĩ quan). Ngày 20-5-1977, Bộ tư lệnh Quân khu ban hành 3 quyết định về tổ chức trong Ngành Hậu cần Quân khu gồm: Quyết định về tổ chức, biên chế Trường Hậu cần Quân khu, gồm: 3 khoa Quân y, Quân nhu, Kỹ thuật với 540 học viên khoa; Lái xe 500 học viên. Quân số khung có 85 sĩ quan và 317 hạ sĩ quan, chiến sĩ. Quyết định tổ chức đội tập huấn trực thuộc Cục Hậu cần Quân khu để tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên hậu cần Quân khu với lưu lượng học viên thường xuyên từ 220 - 250 người. Cục Hậu cần phân công cán bộ các phòng làm giáo viên giảng dạy. Khung tập huấn có 4 sĩ quan và 23 hạ sĩ quan, chiến sĩ. Đồng thời quyết định Thiếu tá Đinh Trọng Thoan, bác sĩ, Trưởng phòng Quân y Quân khu làm Chủ tịch Hội đồng giám định y khoa thay đồng chí Đặng Đình Thức chuyển công tác đi nơi khác. Hội đồng có 3 ủy viên, gồm Thiếu tá Văn Đức Minh, bác sĩ Phó phòng Quân y; Trung tá Phan Duy Sơ, Phó phòng Chính sách; Đại úy Lê Vĩnh Hiền, Viện phó Viện quân y 4. Trước yêu cầu khối lượng giám định y khoa lớn, ngày 23 tháng 8, Bộ tư lệnh Quân khu thành lập Hội đồng giám định y khoa phụ trách khu vực phía nam Quân khu thuộc Viện quân y 268, gồm Thiếu tá Đoàn Thông, Viện phó - Chủ tịch; Thiếu tá Lưu Văn Thắng, bác sĩ - Phó chủ tịch; Trung tá Lê Phước Thanh, Chính ủy viện - Ủy viên, Thượng úy, bác sĩ Hoàng Văn Khôi và Thượng úy, bác sĩ Nguyễn Nghĩa là Ủy viên; Chuẩn úy, quân y sĩ Nguyễn Đắc Vẫy, thư ký Hội đồng. Theo Quyết định số 77/QP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu trưởng, ngày 28-5-1977 Bộ tư lệnh Quân khu quyết định tổ chức biên chế cơ quan Cục Xây dựng kinh tế1; biên chế Ban Thanh tra Quân khu; thành lập trung đoàn xây dựng cơ bản trực thuộc Quân khu mang phiên hiệu Trung đoàn 105. Thực hiện phương châm tinh giản cơ quan, nâng cao chất lượng sự lãnh đạo, chỉ đạo, Bộ tư lệnh Quân khu tiến hành chấn chỉnh tổ chức điều chỉnh biên chế ở các cơ quan Quân khu; đồng thời tổ chức một trung đội xe chuyên chở cán bộ, chiến sĩ đi công tác, đi phép trên các tuyến Vinh - Nam Đàn; Vinh - Huế; Vinh - Nghĩa Đàn; hợp nhất Phòng Dạy nghề thương binh với Phòng sản xuất tiết kiệm thành Phòng sản xuất - tiết kiệm trực thuộc Cục Hậu cần Quân khu. Trong điều kiện đời sống gặp nhiều khó khăn, giao thông vận tải còn quá nhiều bất cập, việc tổ chức các chuyến xe trên các tuyến và tổ chức các trạm đón tiếp quân nhân đã góp phần tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, chiến sĩ; góp phần giảm bớt mật độ tập trung xếp hàng đợi chờ xe cộ ở các bến, các ga; đặc biệt là giải quyết một bước tương đối cơ bản tình trạng giả danh quân nhân, trà trộn làm điều phi pháp, gây mất trật tự, an toàn nơi công cộng đông người. _____________________________________________ 1. Theo quyết định Bộ Quốc phòng ban hành ngày 17-5-1977: Cục Xây dựng kinh tế có 4 đồng chí trưởng - phó chính trị và phó chuyên môn ở cấp Cục, 7 phòng: Tham mưu - kế hoạch; Xây dựng cơ bản; Nông - lâm; Cơ quan vật tư xe máy; Tổ chức lao động tiền lương; Tài vụ; Chính trị và Ban Hành chính. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2024, 03:51:05 pm Triển khai thực hiện chỉ thị của Thường vụ Quân khu ủy về xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện (15-5-1977) và chỉ thị về công tác chính trị đối với lực lượng làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế (18-5-1977), các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị đã tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra trực tiếp các cơ sở. Các đoàn cán bộ cơ quan Quân khu bám sát các “điểm” chỉ đạo. Mục đích là tập trung sức xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh, tiến bộ đồng đều, vững chắc, toàn diện và thống nhất, tập trung vào việc nâng cao chất lượng, đưa vào chế độ, nền nếp hoạt động, theo yêu cầu: Đơn vị nào, địa phương nào, lĩnh vực công tác nào cũng trưởng thành, tiến bộ. Xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh, kết hợp chặt chẽ với việc xây dựng trung đoàn, sư đoàn và tỉnh mạnh. Đối với lực lượng làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, việc thường xuyên nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa và phương hướng nhiệm vụ quân sự, được đặt thành một trọng tâm của công tác chính trị làm cho cán bộ, chiến sĩ nhất trí cao, tuyệt đối tin tưởng vào đường lối xây dựng kinh tế của Đảng và Nhà nước; làm cho mỗi đơn vị, mỗi người không ngừng củng cố quyết tâm, gắn bó tình cảm, trách nhiệm đối với nhiệm vụ Đảng giao. Các đơn vị dân quân tự vệ và các lực lượng thường trực quán triệt những quy định của Bộ về sẵn sàng chiến đấu. Đối với dân quân tự vệ, tăng cường trạng thái sẵn sàng chiến đấu theo quy định 3 cấp: thường xuyên, tăng cường, lên cao và 3 cấp báo động. Báo động cấp 3 là cấp thấp nhất, có một thời gian để hành động sau khi nhận lệnh, nhưng chưa triển khai. Cấp 2 là sẵn sàng chiến đấu cao hơn cấp 3, các cơ sở chuẩn bị sẵn sàng nổ súng khi có lệnh. Cấp 1 đã triển khai hoàn toàn tại vị trí chiến đấu đợi lệnh nổ súng. Đối với các lực lượng thường trực có 3 trạng thái: thường xuyên, tăng cường, cao nhất và có 3 cấp báo động. Cấp 3 là sẵn sàng về mọi mặt để cơ động chiến đấu, nhưng chưa triển khai. Cấp 2 đủ để cho bộ đội kịp triển khai chiến đấu, chủ động nổ súng trước địch. Cấp 1 đã triển khai hoàn toàn, sẵn sàng nổ súng (bộ binh sẵn sàng xuất kích, pháo sẵn sàng bắn, máy bay sẵn sàng cất cánh, tàu thuyền sẵn sàng rời bến). Nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bao gồm cả bảo vệ Tổ quốc chống ngoại xâm; đồng thời chủ động nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, sẵn sàng phối hợp với các lực lượng khác khi có yêu cầu; thực hiện các nhiệm vụ đột xuất như chống bão lụt, chống cháy nổ, chống hạn, cấp cứu nhân dân khi có thiên tai, hỏa hoạn. Ngày 8-9-1977, Bộ tư lệnh quyết định giải thể cơ quan Văn phòng Bộ tư lệnh Quân khu, hoàn thành trước ngày 20 tháng 9. Những việc liên quan đến cơ quan nào thì cơ quan đó căn cứ chức trách phục vụ Bộ tư lệnh và có một thư ký giúp việc Tư lệnh. Cùng ngày 8-9, Bộ tư lệnh ra các quyết định: Giải thể Ban Chính trị của Bộ Tham mưu Quân khu, sắp xếp một số cán bộ làm công tác chính trị gồm 1 hiệp lý viên, 1 trợ lý tổ chức, chính sách, cán bộ, 1 trợ lý câu lạc bộ, 2 nhân viên thống kê Phòng Quản lý hành chính; quyết định chuyển giao cơ sở sản xuất Đồng Nông (kể cả Phòng sản xuất) thuộc Trường Quân chính Quân khu về Cục Hậu cần; tổ chức tiểu đoàn đánh cá biển (phiên hiệu Tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân) trực thuộc Cục Hậu cần gồm 175 người, trong đó có 10 sĩ quan. Tổ chức bộ phận B77 trực thuộc Cục Chính trị Quân khu gồm 23 người (có 20 sĩ quan) làm nhiệm vụ công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ quân đội dưới sự chỉ đạo nghiệp vụ của Tiểu ban đặc biệt Quân khu ủy1. Chuyển giao bệnh xá Quân khu bộ thuộc Cục Hậu cần về trực thuộc Bộ Tham mưu. Bệnh xá, đồng thời là tổ chức quân y của cơ quan Bộ tư lệnh, gồm 27 quân nhân và công nhân viên quốc phòng, quân nhân chuyên nghiệp (2 bác sĩ là sĩ quan, 6 y sĩ, 5 y tá, 1 dược trung, 1 hoá nghiệm, 3 dược công, 5 nấu ăn, tiếp phẩm, 1 tài vụ, 1 quản lý); lưu lượng 30 giường bệnh. Tổ chức trạm chế biến trực thuộc Cục Hậu cần, biên chế 50 người (do 1 sĩ quan phụ trách), nhằm góp phần giải quyết những khó khăn, thiếu thốn cho các cơ quan và bộ đội đứng chân trên địa bàn phụ cận, khắc phục tình trạng ăn mì hạt, bo bo, mì luộc kéo dài. Đồng thời, giúp các đơn vị học tập kinh nghiệm, vận dụng rộng rãi trong Quân khu. Trên cơ sở thực tế các đơn vị và tình hình ở các cơ sở, ngày 20-12-1977, Trung tướng Lê Quang Hoà thay mặt Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu gửi thư đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng trong Quân khu. Sau khi đánh giá thành tích Quân khu đạt được, đồng chí Trung tướng Lê Quang Hoà nhắc lại lời Bác Hồ dạy cán bộ: "Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống phải săn sóc đời sống vật chất - tinh thần của đội viên, phải xem đội viên như chân tay, ruột thịt, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên..." và kêu gọi, động viên cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu cố gắng tạo bước nhảy vọt vượt bậc trong tổ chức đời sống tinh thần, vật chất của bộ đội. Trong những năm đầu Tổ quốc thống nhất, quân dân Quân khu 4 vừa khẩn trương khôi phục sau chiến tranh, chấn chỉnh tổ chức biên chế, triển khai bố trí lực lượng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, đồng thời tham gia xây dựng kinh tế đất nước, kết hợp kinh tế với quốc phòng tạo cơ sở để tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn trong những năm tiếp theo, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. ______________________________________________ 1. Tiểu ban này do đồng chí Đại tá Phan Văn Đường - Ủy viên Thường vụ Quân khu ủy, Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu trực tiếp phụ trách. Các trưởng phòng cán bộ, tổ chức, bảo vệ, quân pháp, Văn phòng kiểm tra là ủy viên. Tiểu ban có nhiệm vụ giúp Quân khu ủy nghiên cứu, khai thác mọi nguồn tài liệu thu được của địch, phát hiện, xác minh rõ, kết luận chính xác những vấn đề liên quan âm mưu, thủ đoạn ly gián, chia rẽ, phá hoại nội bộ ta... Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Một, 2024, 12:13:11 pm 2. Bước ngoặt chuyển từ hòa bình sang “vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh". Các lực lượng vũ trang quân khu cùng quân dân cả nước chuyển vào thời chiến. Trong lúc quân dân Quân khu 4 cùng quân dân cả nước xây dựng trong điều kiện đất nước hòa bình, thống nhất, thì tình hình biên giới Tây Nam trở nên căng thẳng do tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri phát động một cách hệ thống, quy mô ngày càng lớn xâm lược lãnh thổ nước ta gây nên nhiều tội ác dã man đối với đồng bào vùng biên giới1. Thực hiện quyền tự vệ chính đáng, quân và dân ta đã kiên quyết chiến đấu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một phong trào thi đua lao động sản xuất, xây dựng đất nước, chuẩn bị chiến đấu sẵn sàng đánh thắng quân xâm lược dâng lên mạnh mẽ trong cả nước. Đầu năm 1978, Quân khu ủy 4 đề ra 3 nhiệm vụ, 8 mục tiêu, 13 chủ trương công tác lớn. Vượt lên những khó khăn gian khổ toàn Quân khu dồn sức thực hiện quyết tâm xây dựng Quân khu 4 "đáp ứng những yêu cầu chiến lược rất phức tạp, vừa phải phòng thủ vững chắc trên địa bàn, cả phía Đông và phía Tây, phía Nam và phía Bắc; vừa sẵn sàng đập tan âm mưu của địch chia cắt chiến lược nếu chiến tranh xảy ra; vừa phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ hậu phương đối với cả nước". Để tăng cường lực lượng đáp ứng nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, ngày 21-1-1978, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định lâm thời tổ chức hai sư đoàn 441 và 442 trực thuộc Quân khu làm nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới. Sư đoàn 441 gồm Trung đoàn 175 (trực thuộc Quân khu), Trung đoàn 177 (thuộc Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh) được Quân khu điều nguyên toàn bộ tổ chức, quân số, trang bị, cơ sở vật chất và 5 khung tiểu đoàn (điều từ Đoàn 565 hai khung, Cục Xây dựng kinh tế hai khung, Bộ Tham mưu Quân khu một khung). Trên cơ sở đó, Cục Chính trị, Bộ Tham mưu xây dựng kế hoạch điều chỉnh, điều động cán bộ, chiến sĩ, trang bị hình thành tổ chức theo biên chế Bộ Tổng Tham mưu quy định. Sư đoàn 442 bao gồm Trung đoàn 858 (điều từ Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá) và giao cho các đơn vị tổ chức 10 khung tiểu đoàn bổ sung cho Sư đoàn 442 (Sư đoàn 316B gồm 4 khung, Đoàn 336 gồm 4 khung, Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá 2 khung). Theo đề nghị của Quân khu ngày 23-1-1978, Bộ Quốc phòng chính thức ban hành Quyết định 19/QĐ-QP thành lập các đơn vị chuyên trách huấn luyện chiến sĩ mới ở Quân khu 1 và Quân khu 4. Trong đó, Quân khu 4 có Sư đoàn 441, Sư đoàn 442 và 1 trung đoàn mang phiên hiệu là 853. Sư đoàn 441 đóng quân ở Khe Lang (trên địa bàn hai huyện Can Lộc và Đức Thọ, Nghệ Tĩnh), Sư đoàn 442 đóng quân ở Chuồng - Chuối (huyện Nông Cống, Thanh Hoá). Trung đoàn 853 đóng quân ở huyện Triệu Hải (Bình Trị Thiên). Căn cứ vào quyết định Bộ Quốc phòng, ngày 4-2-1978, Bộ tư lệnh Quân khu ra Quyết định 167/QĐ giao Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên tổ chức Trung đoàn 853 trực thuộc Bộ chỉ huy để làm nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới khu vực Bình Trị Thiên. Quân số khung là 880 người (216 sĩ quan). Ngày 31-3-1978 các đơn vị hoàn thành công tác tổ chức biên chế và triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao. Trước tình hình quân Pôn Pốt đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Tây Nam, ngày 27-7-1978, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IV) ra nghị quyết về tình hình nhiệm vụ mới, xác định tình trạng đất nước ta vừa có hoà bình vừa có chiến tranh trên một bộ phận đất nước và nêu rõ cần khẩn trương rèn luyện bộ đội, nâng cao sức mạnh chiến đấu, đồng thời tích cực làm tốt nhiệm vụ xây dựng kinh tế. Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 4, Quân khu ủy 4 họp nghiên cứu, bổ sung những chủ trương công tác cần kíp nêu rõ: Toàn Quân khu chuyển vào một bước ngoặt rất lớn: Từ hòa bình chuyển sang vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh trên một bộ phận đất nước. Các lực lượng vũ trang quân khu chuyển vào thời chiến. Quân khu ủy chủ trương tiến hành một đợt giáo dục tình hình, nhiệm vụ trong các lực lượng vũ trang quân khu. Đồng thời, đề nghị các Tỉnh ủy phối hợp tuyên truyền, giáo dục tình hình nhiệm vụ trong nhân dân, đặc biệt trong thanh niên, học sinh, sinh viên. Đối với các lực lượng vũ trang Quân khu 4 được xác định là hướng vào "tập trung thực hiện nhiệm vụ quân sự đánh thắng trong chiến tranh biên giới Tây Nam, tăng cường khả năng và trình độ sẵn sàng chiến đấu trên các hướng..., tăng cường phòng thủ các đảo và bảo vệ vùng biển". Trên cơ sở phương hướng quyết tâm đó, Quân khu xác định tập trung khắc phục những hạn chế về tầm nhìn chiến lược; về đánh giá tình hình trước những xu thế biến động phức tạp; nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, nhiệm vụ mới của Quân khu; quán triệt vận dụng thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược lớn và nhiệm vụ quốc tế của Quân khu. ______________________________________________ 1. Từ sau 30-4-1975, bọn phàn động Pôn Pốt đã liên tiếp gây ra nhiều cuộc tiến công đẫm máu đồng bào ta. Đặc biệt là từ sau 30-4-1977, có những lần, những đợt, chúng sử dụng binh lực - hoả lực cỡ 1 sư đoàn đến 4 sư đoàn để đánh phá, xâm chiếm. Ngày 15-7-1977, chúng đánh sâu vào 19km, tàn sát 9.000 đồng bào ta ở 3 xã huyện Tân Biên (Tây Ninh). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Một, 2024, 12:15:09 pm Quán triệt chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Tăng cường lãnh đạo công tác quân sự địa phương trong tình hình mới", Quân khu và ba tỉnh xây dựng đề án thực hiện "3 yêu cầu" và "6 công tác chính về công tác quân sự địa phương". Theo chủ trương đó, các cấp ủy địa phương liên hệ tình hình, đối chiếu với yêu cầu nhiệm vụ, tự phê bình và phê bình về lãnh đạo công tác quân sự địa phương góp phần tạo chuyển biến trong xây dựng thế trận và lực lượng, bảo đảm yêu cầu sẵn sàng chiến đấu. Xét vai trò, vị trí của mỗi tỉnh trong thế chiến lược chung cùng với nhiệm vụ cụ thể của mỗi tỉnh, mỗi đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ tích cực xây dựng gắn với nhiệm vụ cụ thể của từng tỉnh và nhiệm vụ quốc tế, gắn với từng đơn vị xây dựng kinh tế, từng nhà trường, từng vùng trọng điểm và các đảo thuộc Quân khu. Đối với các tỉnh, huyện, thành, thị, Quân khu xác định cần tiến hành rà soát lại công tác tổ chức. Mỗi nơi bổ sung thêm một đồng chí chỉ huy quân sự vào thường vụ cấp ủy. Các huyện trọng điểm thì Bí thư cấp ủy trực tiếp làm chính trị viên. Trước sự phát triển mạnh về lực lượng, Quân khu ủy đặt ra mức phấn đấu tự giải quyết lương thực, thực phẩm theo hai chỉ tiêu: 3 tháng và 6 tháng trở lên. Quân khu kêu gọi mỗi người tự giác làm việc có hiệu quả 10 giờ/ngày. Mỗi tháng chỉ nghỉ hai chủ nhật với tâm khảm: "Dồn sức làm giàu cho đất nước"; "Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và huấn luyện tốt, làm kinh tế tốt, hợp tác giúp bạn tốt; xây dựng đời sống tốt, tiến tới tự nuôi mình". Ngày 21-8-1978, Quân khu ủy ra nghị quyết chấp hành Nghị quyết số 228 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về công tác nhà trường. Quân khu xác định rõ nhiệm vụ cụ thể của từng trường và đặt mục tiêu, yêu cầu "Đáp ứng chủ động, vững chắc nhu cầu về số lượng, chất lượng cán bộ, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ Quân khu trong tình hình mới". Theo nghị quyết, một đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân khu phụ trách công tác nhà trường. Quân khu ủy giao nhiệm vụ Bộ Tham mưu, Cục Chính trị và các cơ quan, các nhà trường tiếp tục khảo sát đánh giá lại thực trạng tình hình1, kiện toàn tổ chức, đầu tư phương tiện học tập, giảng dạy, phục vụ đời sống. Quân khu ủy quy định nhiệm vụ quyền hạn của 6 nhà trường (Trường Quân chính Quân khu; Trường Hạ sĩ quan Quân khu; Trường Hậu Cần Quân khu; Trường Văn hoá Quân khu; Trường Quân sự địa phương của các tỉnh và hệ thống các đội huấn luyện của các đơn vị binh chủng2. Quân khu ủy nhấn mạnh 5 vấn đề cần tập trung chỉ đạo thực hiện: 1. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ chính trị Quân khu, nắm chắc đối tượng tác chiến cụ thể, theo dõi sát sự phát triển của tình hình, kịp thời đề xuất nội dung, chương trình cho sát đúng. 2. Nắm chắc tiêu chuẩn chất lượng đào tạo, bồi dưỡng (lòng trung thành; trình độ chính trị; năng lực tổ chức thực hiện, chỉ huy, quản lý; kiến thức khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn; đạo đức, phẩm chất cách mạng). 3. Kết hợp chặt chẽ nhà trường - chiến trường, lý luận - thực tiễn; nhà trường - xây dựng - sản xuất; ngắn hạn - tương đối dài hạn; toàn diện - cơ bản - chuyên sâu; bảo đảm ra trường hoàn thành nhiệm vụ. 4. Trong một thời gian tương đối ngắn, đưa mọi công tác nhà trường vào nền nếp, thực hiện đúng các chế độ, tiêu chuẩn do Nhà nước quy định. 5. Nội dung, chương trình, đội ngũ giáo viên đều được "chuẩn hoá", mọi sinh hoạt theo điều lệnh quân đội, điều lệ công tác nhà trường. Phòng Nhà trường Quân khu được thành lập theo quyết định (5-7-1978) của Bộ Tổng Tham mưu, được biên chế trong cơ quan Bộ Tham mưu. Nhiệm vụ của Phòng Nhà trường là giúp thủ trưởng xây dựng kế hoạch và chỉ đạo huấn luyện các trường sĩ quan, hạ sĩ quan, chuyên môn kỹ thuật, trường quân sự địa phương; tổ chức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, huấn luyện sĩ quan dự bị. Chỉ đạo biên soạn và cung cấp các tài liệu giáo khoa, đồ dùng dạy học, kinh phí huấn luyện của nhà trường; chủ động hiệp đồng với các cơ quan có liên quan giải quyết các mặt bảo đảm cho kế hoạch huấn luyện. Thường xuyên đôn đốc các nhà trường chấp hành đúng mệnh lệnh huấn luyện. ______________________________________________ 1. Trong 3 năm (1975-1978), các nhà trường của Quân khu đào tạo, bổ túc, tập huấn 3.000 cán bộ, hơn 5.000 hạ sĩ quan, nhân viên kỹ thuật. Tuyệt đại bộ phận ra trường đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu. Đội ngũ cán bộ, giáo viên được chọn lọc, phần lớn qua chiến đấu, học tập tương đối cơ bản, có kinh nghiệm nhất định. Nội dung, chương trình, tài liệu giáo khoa, mô hình học cụ, phương pháp dạy học được cải tiến. Điểm yếu là hệ thống trường còn phân tán, chưa ổn định địa điểm lâu dài, cả biên chế, lưu lượng học viên, trang bị. Một số giáo viên trình độ văn hoá thấp, chưa đủ sức tiếp thu lý luận và khoa học kỹ thuật. Chưa có chế độ, tiêu chuẩn đối với giáo viên, cán bộ nhà trường. 2. Lực lượng học viên Trường Quân chính: 1.200 - 1.500; Trường Hạ sĩ quan đào tạo tiểu đội trưởng bộ binh, trinh sát, đặc công, quản trị trưởng đại đội: 900 - 1.200; Trường Hậu cần: 800 - 1.000; Trường Quản lý Kinh tế - Tài chính: 500 - 600; Trường Văn hoá bao gồm bổ túc văn hoá cấp II, cấp III, ôn thi đại học, trung học chuyên nghiệp, bổ túc đào tạo giáo viên văn hóa, ngoại ngữ; giáo dục đào tạo thiếu sinh quân; Trường Quân sự địa phương: Thanh Hoá 3.500; Nghệ Tĩnh 3.000; Bình Trị Thiên 2.700. Mỗi đội huấn luyện của binh chủng: 150 - 200 học viên. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Một, 2024, 12:16:36 pm Cùng với một loạt các quyết định về điều chỉnh, điều động lực lượng thuộc phạm vi Quân khu1, Bộ Tổng Tham mưu quyết định giao thêm một số nhiệm vụ mới hoặc bổ sung kế hoạch cho Quân khu 4: Chuyển Sư đoàn 316B xây dựng kinh tế thành sư đoàn bộ binh chiến đấu trực thuộc Quân khu 4 (gồm 2 trung đoàn bộ binh cơ động là Trung đoàn 2 và Trung đoàn 174, một trung đoàn pháo binh thiếu là Trung đoàn 150, cơ quan sư đoàn bộ và một số phân đội chỉ huy, phân đội binh chủng cần thiết). Quân số của sư đoàn là 4.660 người. Tập trung xây dựng khu lâm nghiệp Nam Long Đại. Triển khai nhanh chóng kế hoạch xây dựng đường 7 và đường 8 trên đất Lào. Tiếp tục thi công đường 48B, đẩy mạnh tốc độ thi công các cơ sở sản xuất vật liệu, sản xuất xi măng, gạch ngói phục vụ nhu cầu xây dựng cơ bản của Quân khu. Ra sức xây dựng lực lượng chuyên xây dựng kinh tế, hoàn thành xuất sắc kế hoạch năm 1978, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ trật tự an toàn khu vực. Giá trị tổng sản lượng xây dựng kinh tế năm 1978 theo kế hoạch là 12.652.000 đồng; sản lượng xây lắp 9.652.000 đồng; công trình xây dựng cơ bản 10.480.000 đồng; danh mục công trình nhận thầu 5.300.000 đồng. Đồng thời với chỉ thị, nghị quyết chuyên đề của Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu, Cục Chính trị Quân khu soạn đề cương phổ biến tinh thần chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, điện của Tổng Bí thư Lê Duẩn, ý kiến truyền đạt trực tiếp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Quân ủy Trung ương - Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, gửi đến từng cơ sở học tập. Qua thảo luận, mỗi cán bộ, chiến sĩ, nhận thức sâu sắc rằng: Quân khu 4 là nơi lưu lượng bộ đội tại chỗ đông nhất trong cả nước, luôn có những biến động và phát triển lực lượng lớn. Vì thế, cần quán triệt sâu sắc, thực hiện có hiệu quả vai trò "nông nghiệp mặt trận hàng đầu", "sản xuất lương thực, thực phẩm là vấn đề ưu tiên tuyệt đối hàng đầu hiện nay". Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu xác định: 1. Phát động quyết tâm thật cao, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm trên cả hai quy mô: Tận dụng đất đai quanh bếp, quanh nhà, kể cả nơi cách doanh trại vài ba kilômét. Cấp trung đoàn nhanh chóng tạo điểm sản xuất kiểu "nông trường nhỏ" 50ha trở lên. Trước mắt, phấn đấu sản xuất nhiều chất bột, màu bù vào mức ăn đã trừ bớt không cấp; có dư một phần dành cứu đói nhân dân ở nơi quá khó khăn trên địa bàn đóng quân. Triệt để thực hành tiết kiệm, từng hạt gạo, hạt ngô và mọi thứ sản xuất ra đều bảo quản, sử dụng tốt, không được lãng phí. 2. Về 12 biện pháp, Quân khu nhấn mạnh biện pháp hàng đầu là công tác tư tưởng: Phải dứt khoát làm ngay, làm bằng được chủ trương sản xuất lương thực, thực phẩm, không vì một lý do gì mà trù trừ, do dự. Phải quán triệt và thực hiện "Toàn Quân khu sẵn sàng chiến đấu cao; toàn Quân khu làm kinh tế, toàn Quân khu làm nông nghiệp, sản xuất lương thực, thực phẩm. Đồng thời, sớm nghĩ tới một số mặt hàng có thể xuất khẩu". Nhờ cố gắng không ngừng của cán bộ, chiến sĩ đến cuối năm 1978, tổng diện tích gieo trồng của các đơn vị bộ đội đạt 4.403,5ha, (bị bão lụt tàn phá mất 1.051ha), thu hoạch được 1.903,8 tấn, bình quân đầu người 29,1kg bột quy gạo (đạt 53% chỉ tiêu Bộ giao là 3.582 tấn). Thịt, cá quy thịt 176,8 tấn (35,7% chỉ tiêu Bộ giao là 495 tấn) bình quân đầu người 2,8kg. Cá biển 106,6 tấn/400 tấn chỉ tiêu Bộ giao, bình quân l,6kg/người. Đậu, lạc, vừng đạt 59,5 tấn (28% chỉ tiêu Bộ giao). Rau đạt 3.059 tấn, bình quân 47kg/người (43% chỉ tiêu Bộ giao). Nhiều đơn vị đã có thể tự túc được lương thực từ 4 - 6 tháng, có đơn vị tự túc cả năm. Đời sống của các lực lượng vũ trang quân khu được cải thiện một bước. _____________________________________________ 1. Chuyển khu vực đóng quân của Trường Văn hóa Quân khu ở sân bay Đồng Hới và Cộn (Quảng Bình) vào đóng tại khu vực Viện 268 và Trường Kinh tế tài chính ở Mang Cá (Huế) chậm nhất ngày 10-7-1978 xong. Bàn giao khu vực Tỉnh đội Quảng Bình cũ, Trung đoàn 185 cũ cho Tiểu đoàn 2 Cục Hậu cần Quân khu; khu vực Đoàn 40B cũ giao cho Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên. Điều động Trung đoàn 16 pháo binh từ xã Kỳ Trinh (huyện Kỳ Anh) về đứng chân xây dựng cơ bản ở hai xã Nghĩa Đồng, Nghĩa Dũng (huyện Tân Kỳ) toạ độ 00003 bàn đồ 1.500.000 (4-1978); hợp nhất Trường Sơ cấp tài chính với Trường Quản lý kinh tế thành Trường Nghiệp vụ kinh tế của quân khu, trực thuộc Cục Kinh tế về mọi mặt, có nhiệm vụ đào tạo, bổ túc, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế; tổ chức Trung đoàn 2 bộ binh cơ động của Quân khu, Trung đoàn 6 bộ binh xây dựng căn cứ, địa bàn, bảo vệ biên giới kết hợp xây dựng kinh tế - quốc phòng ở A Lưới (Bình Trị Thiên), Trung đoàn bộ binh 174 ở Tây Nghệ Tĩnh giáp Thanh Hoá, xây dựng tiểu đoàn đặc công; chấn chỉnh trung đoàn cao xạ và trung đoàn pháo binh; giải thể Viện 268 bổ sung quân số, trang thiết bị cho Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên chấn chỉnh bệnh xá thành đội điều trị khu vực. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Một, 2024, 11:32:27 am * * * Bất chấp thiện chí của Đảng và Chính phủ ta, tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri càng trắng trợn cho quân mở các cuộc tiến công quy mô ngày càng lớn vào lãnh thổ vùng biên giới Tây Nam. Trước tình hình đó, Đảng ta đã kịp thời vạch trần bản chất xâm lược của kẻ địch và đề ra nhiệm vụ cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải tăng nhanh tiềm lực kinh tế, quân sự, quốc phòng, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đánh bại kẻ thù xâm lược. Quán triệt chủ trương của Đảng, tiếp theo Nghị quyết Thường vụ Quân khu ủy ngày 12-7-1978, từ ngày 6 đến ngày 8-11-1978, hội nghị Quân khu ủy ra nghị quyết toàn diện về tình hình và nhiệm vụ quân sự của Quân khu trong giai đoạn mới. Đây là hội nghị đầu tiên có ba đồng chí Bí thư Tỉnh ủy được Bộ Chính trị chỉ định là Quân khu ủy viên (đồng chí Hoàng Văn Hiều - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hoá; đồng chí Trương Văn Kiện - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh; đồng chí Bùi San - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên). Từ hội nghị này, Quân khu ủy được quy định tên gọi là Đảng ủy Quân khu. Hội nghị xác định: "Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ vẫn là đối tượng chiến lược rất nguy hiểm của nhân dân ta và cả thế giới". Hội nghị nêu rõ kẻ thù mới xuất hiện và dự kiến âm mưu, thủ đoạn, khả năng, huy động lực lượng của chúng. Dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IV), Nghị quyết Bộ Chính trị và Nghị quyết Thường vụ Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Quân khu khẳng định hai tình huống chiến lược cơ bản có thể xảy ra đối với Quân khu: 1. Địch dùng lực lượng nhỏ, biệt kích, tập kích, kết hợp với bọn phản động nội địa khiêu khích, gây bạo loạn ở một số nơi. Địch có thể đánh chiếm một số đảo, hoặc một số nơi xung yếu. 2. Trong tình huống địch tiến hành chiến tranh xâm lược quy mô lớn, đối với địa bàn Quân khu 4, chúng sẽ thực hành các mũi vu hồi chiến lược, chia cắt chiến lược để phối hợp với chiến trường chính. Quân khu cần luôn luôn chủ động xúc tiến mạnh mẽ mọi mặt công tác để đối phó thắng lợi cả hai tình huống. Vị trí và nhiệm vụ Quân khu được bổ sung hoàn chỉnh thêm: “Là một hướng chiến lược quan trọng trực tiếp với đồng bằng Bắc Bộ; cùng nhân dân cách mạng Lào anh em giữ vững biên giới phía Tây, bảo vệ vững chắc hành lang Nam - Bắc. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sắp tới, Quân khu 4 vừa đứng ở tuyến đầu Tổ quốc, vừa là hậu phương chiến lược của cả nước". Nhiệm vụ quân sự của Quân khu là "Ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, làm cho Quân khu và từng địa phương giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, xây dựng tuyến phòng thủ bờ biển và hải đảo, biên giới, nội địa vững chắc, xây dựng căn cứ chiến lược chung và căn cứ chiến lược trực tiếp toàn diện, có hệ thống hậu cần tại chỗ ngày càng mạnh; xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân đủ mạnh, có số lượng thích hợp, có chất lượng và sức chiến đấu cao. Thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để giữ quyền làm chủ; chủ động loại trừ và nhanh chóng đập tan các cuộc bạo loạn nếu xảy ra. Tiêu diệt địch và đánh bại các cuộc tiến công quy mô lớn của chúng trên tuyến đầu phòng thủ của Quân khu, ngay từ thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh; bảo vệ các mục tiêu chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng trên địa bàn Quân khu; chi viện đắc lực cho các chiến trường; thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của hậu phương chiến lược, làm tròn nhiệm vụ quốc tế, nhằm bảo vệ vững chắc toàn bộ lãnh thổ địa bàn Quân khu..., giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ vững chắc sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta". Để thực hiện quyết tâm phòng thủ của Quân khu, yêu cầu là: đánh thắng từ những trận đầu và thê đội đi đầu của địch, đến hết năm 1978 hoàn toàn loại trừ bất ngờ đối với tình huống chiến lược 1, có cơ sở để đánh thắng địch, nếu chiến tranh quy mô lớn xảy ra, Đảng ủy Quân khu đề ra 8 chủ trương công tác lớn, cấp bách, trong đó nhấn mạnh công tác nghiên cứu khoa học quân sự, giải quyết những vấn đề cụ thể do thực tiễn Quân khu đặt ra, trong tình hình cuộc chiến tranh có những đặc điểm mới. Trước bước ngoặt quan trọng của đất nước và Quân khu, việc tổ chức quán triệt nghị quyết Đảng ủy Quân khu đòi hỏi phải có những biện pháp huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị một cách đồng bộ vào công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng quyết tâm vững chắc, kiên định trong toàn dân, các lực lượng vũ trang nhân dân, các cấp, các ban, ngành, đoàn thể. Đảng ủy Quân khu chủ trương triệu tập Hội nghị liên tịch chuyên ngành trong toàn Quân khu. Mở đầu là Hội nghị liên tịch tuyên huấn - tổ chức - cán bộ - bảo vệ bao gồm chủ trì lãnh đạo cơ quan tổ chức và tuyên huấn các tỉnh ủy, các cơ quan liên quan của Quân khu và các bộ chỉ huy quân sự tỉnh, các sư đoàn, trung đoàn trực thuộc1. Hội nghị nêu rõ hai điểm mới và ý nghĩa lịch sử của cuộc họp Đảng ủy Quân khu lần đầu tiên có các Bí thư Tỉnh ủy ở trong Đảng ủy Quân khu, ra nghị quyết lãnh đạo quân và dân Quân khu 4 khẩn trương đẩy mạnh sản xuất, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của kẻ thù hòng làm suy yếu, xâm lược, thôn tính nước ta, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hội nghị xác định: nhiệm vụ và quyết tâm phòng thủ của Quân khu đánh thắng quân xâm lược ngay từ trận đầu, ngày đầu, trên tuyến đầu phòng thủ là ý chí và quyết tâm của 7 triệu quân và dân Quân khu, là sự nghiệp hết sức nặng nề, đòi hỏi phải được thống nhất hành động, phối hợp triển khai tổ chức thực hiện của toàn Đảng bộ, toàn lực lượng vũ trang và toàn dân trong Quân khu; trước hết, quán triệt, thống nhất trong cơ quan tư tưởng và tổ chức của Đảng. Qua đó, làm tham mưu đắc lực cho cấp ủy lãnh đạo thực hiện khẩn trương, biến quyết tâm thành hành động cách mạng sôi nổi trong toàn Quân khu. Hội nghị thảo luận phân tích rõ thêm tình hình đất nước, xác định rõ kẻ thù chiến lược và đối tượng tác chiến mới, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chúng. Trên cơ sở đó nâng cao nhận thức sâu sắc đối với âm mưu, thủ đoạn trước mắt của kẻ thù và đề ra chủ trương, biện pháp Quân khu phải khẩn trương triển khai thực hiện. ______________________________________________ 1. Hội nghị tiến hành từ ngày 22 đến ngày 24-11-1978. Trung tướng Lê Quang Hoà - Bí thư Đảng ủy - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu chủ trì hội nghị. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Một, 2024, 11:34:46 am Những ngày tháng cuối năm 1978, toàn Quân khu khẩn trương tiến hành mọi mặt công tác quốc phòng với nhịp độ mới. Theo kế hoạch, tỉnh Bình Trị Thiên tiếp tục lát bê tông đường hầm KD7 (khởi công từ tháng 5-1974); Nghệ Tĩnh đổ tiếp bê tông đường hầm C9 (khởi công từ tháng 6 năm 1973) và đường hầm D4 (khởi công tháng 8 năm 1974); Thanh Hoá lát bê tông F22; Các đảo Mê, Mắt, Cồn Cỏ tiếp tục đẩy mạnh tiến độ xây dựng đường cơ động, hào giao thông, công sự các loại hoả khí. Ngày 30-10-1978, Tổng Tham mưu trưởng quyết định điều Trung đoàn 2 bộ binh thuộc Sư đoàn 316B vào trực thuộc Quân khu 9. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ ngày 11-11-1978, Quân khu tổ chức đưa toàn trung đoàn hành quân theo đường giao liên của Bộ đến nơi mới triển khai thực hiện nhiệm vụ được ngay. Ngày 4-11-1978, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 thành lập trung đoàn bộ binh thứ 3 thuộc Sư đoàn 316B, mang phiên hiệu Trung đoàn 153. Ngày 2-12-1978, Bộ trưởng Quốc phòng ra mệnh lệnh gửi Bộ tư lệnh Quân khu 4, nêu rõ đối tượng tác chiến, âm mưu của địch, phương châm tác chiến chiến lược của ta về quân sự và giao nhiệm vụ cụ thể của Quân khu 4. Căn cứ vào Mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu xác định tăng cường các mặt: Nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, xác định đúng đối tượng, đúng khu vực có mầm mống bạo loạn, kiên quyết không để xảy ra các vụ gây rối. Hiệp đồng chặt chẽ với hải quân, có kế hoạch bảo vệ an toàn vùng biển, chủ yếu biển gần và đảo. Tăng cường bảo vệ biên giới, trước mắt làm tốt công tác củng cố, xây dựng cơ sở, xây dựng dân quân tự vệ. Triển khai kế hoạch chống tập kích đường không của địch, bảo vệ vùng trời Quân khu, bảo vệ tốt các mục tiêu. Chuẩn bị phòng thủ toàn địa bàn Quân khu, hình thành thế phòng thủ vững chắc liên hoàn, nhiều hướng, nhiều tuyến, có trọng điểm. Cùng các địa phương tổ chức các căn cứ hậu phương cấp huyện, cấp tỉnh, cấp quân khu, từng bước phát triển công - nông nghiệp vững mạnh, bảo đảm tự túc lương thực, thực phẩm, chuẩn bị đánh lâu dài với địch. Đi đôi với nhiệm vụ tác chiến, hết sức coi trọng nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, làm tốt nhiệm vụ tham gia xây dựng kinh tế, sản xuất tự túc. Việc hiệp đồng các khu vực tiếp giáp giữa Quân khu 3 với Quân khu 4, giữa Quân khu 4 với Quân khu 5 được xác định rõ theo quy định của Bộ1. Công tác nắm địch, đặc biệt là mạng quân báo nắm địch trên biển trong các đơn vị dân quân tự vệ, được khẩn trương triển khai, gắn liền với việc xây dựng các đội trinh sát kỹ thuật của bộ đội Quân khu. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, Quân khu tổ chức lực lượng du kích và tự vệ chiến đấu, quy mô đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn hoặc sư đoàn có bộ binh và binh chủng. Tỷ lệ dân quân tự vệ so với dân số chiếm từ 15 - 18%, trang bị bảo đảm 50%. Bộ đội địa phương có 4 trung đoàn chủ lực tỉnh (trong đó Bình Trị Thiên có 2 trung đoàn); 3 tiểu đoàn bộ binh ven biển (mỗi tỉnh một tiểu đoàn), 4 tiểu đoàn pháo cấp tỉnh (Bình Trị Thiên 2 tiểu đoàn), 3 tiểu đoàn công binh và các phân đội thông tin, trinh sát, vận tải. Khi xảy ra chiến tranh lớn, Quân khu có thể huy động 3 - 4 sư đoàn cơ động. Tổ chức biên chế của lực lượng xây dựng kinh tế được quy định mới với tổng quân số 15.200 người. Trong đó, khối làm đường chiến lược gồm Đoàn 565 chuyển nhiệm vụ xây dựng khu lâm nghiệp Nam Long Đại sang xây dựng đường 7 từ Bản Ban đến Phôn Xa Vẳn (6.000 quân). Đoàn 336 gồm 5.000 người, xây dựng đường 8, từ biên giới Việt - Lào đến ngã ba đường 13 trên đất bạn. Trung đoàn 148 tiếp tục làm đường 48B từ Nghĩa Đàn đi Quế Phong. Trung đoàn 185 tiếp tục xây dựng đường 7, nhưng chuyển thuộc Đoàn 565. Khối sản xuất vật liệu xây dựng gồm Trung đoàn 167 (pháo binh) quân số 550 người, xây dựng khu sản xuất gạch ngói ở Rào Gang (Thanh Chương); Trung đoàn 223 pháo cao xạ xây dựng và vận hành nhà máy xi măng ở Anh Sơn gồm 500 người. Tiểu đoàn 54 biên chế 250 người, sản xuất đồ mộc, chẻ đá. Các đơn vị trực thuộc và cơ quan Cục Kinh tế gồm 1.000 người. Ngày 16-12-1978, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định thành lập thêm trung đoàn dân quân tự vệ lâm trường Hương Sơn - Nghệ Tĩnh. Đây là nơi đã từng lập chiến công bắn rơi máy bay Mỹ trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc và là một lâm trường có phong trào dân quân mạnh. _____________________________________________ 1. Khu vực tiếp giáp với Quân khu 3 do Quân khu 3 phụ trách gồm các điểm Mai An Tiêm - Tam Điệp, về phía tây, theo đường ranh giới tỉnh Thanh Hóa và Hà Nam Ninh tiếp giáp với Quân khu 2, do Quân khu 4 phụ trách. Tiếp giáp với Quân khu 5 do Quân khu 5 phụ trách gồm đèo Hải Vân (từ Lăng Cô trở vào, về quân sự do Quân khu 5 phụ trách). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Một, 2024, 11:39:10 am Để chủ động đối phó với tình hình đột biến có thể xảy ra, tháng 12 năm 1978, Quân khu họp, đánh giá tình hình các mặt trong năm bản lề của kế hoạch 5 năm (1976-1980) về đẩy mạnh xây dựng quân đội tiến lên chính quy hiện đại. Đặc điểm nổi bật là từ những tháng đầu năm 1978, tình hình diễn biến phức tạp, cường độ chiến tranh do tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri gây ra ở biên giới Tây Nam ngày càng tăng với mức độ nghiêm trọng. Tình hình vùng biên giới phía Bắc cũng trở nên phức tạp. Một số mặt công tác Quân khu đề ra trong kế hoạch đầu năm đã vượt ra ngoài dự kiến ban đầu; nhất là về nhiệm vụ chiến đấu và tổ chức xây dựng lực lượng. Riêng số tuyển quân đã vượt hẳn so với những năm cao nhất trong kháng chiến chống Mỹ. Quân khu đã tập trung lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang quân khu xây dựng ý chí và tư tưởng cách mạng tiến công, phát huy tinh thần làm chủ tập thể, động viên nỗ lực phấn đấu của cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 1978. Nhờ vậy, ý thức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu trong các lực lượng vũ trang nhân dân có sự chuyển biến rõ rệt. Các cấp và đội ngũ cán bộ đã chuyển mạnh, xây dựng quyết tâm đánh thắng quân xâm lược. Các đảo được tổ chức lại hoàn chỉnh đồng bộ. Phương án chiến đấu đã được phê chuẩn. Công trình chiến đấu được tu sửa và được xây dựng thêm các trận địa hoả lực bảo đảm cho chiến đấu. Đạn dược các loại bảo đảm từ 3-6 cơ số. Lương thực, thực phẩm dự trữ từ 3 tháng trở lên. Thuốc quân y thường xuyên đảm bảo 4 tháng. Khả năng chiến đấu của đảo đủ sức đánh địch tập kích, biệt kích; đánh địch đổ bộ đường biển. Trên các tuyến phòng thủ ven biển, biên giới, thành phố, thị xã đã có kế hoạch từng bước triển khai xây dựng các cụm chiến đấu liên hoàn giữa các hệ thống làng, xã chiến đấu với lực lượng dân quân tự vệ, bộ đội, công an nhân dân vũ trang. Hai mươi ba huyện, thị xã ven biển, 6 thành phố, thị xã là tỉnh lỵ và nguyên là tỉnh lỵ, 13 huyện trung du, đồng bằng đã có phương án tác chiến, phương án phòng – chống bạo loạn nội địa, được cấp trên phê duyệt. Nhiều nơi đã tổ chức luyện tập theo phương án tác chiến đề ra. Các đơn vị bộ đội chủ lực cơ động, các trung đoàn binh chủng và chuyên môn phục vụ được củng cố một bước. Quân khu đã tiến hành điều chỉnh, sắp xếp, ghép gọn một số đầu mối thuận tiện cho việc chỉ đạo, xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; chuyển một số đơn vị kinh tế sang làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Trình độ, khả năng chiến đấu của các đơn vị bảo đảm được yêu cầu sẵn sàng cơ động và phục vụ chiến đấu. Quân khu tập trung nâng cao chất lượng chiến đấu của bộ đội chủ lực cơ động; đồng thời chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng theo phương hướng: Có lực lượng tại chỗ mạnh để bảo vệ địa phương và sẵn sàng chi viện chiến trường khi cần thiết. Bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương được biên chế, tổ chức đúng tổng quân số theo quy định. Ngoài số cán bộ được điều động theo từng thời kỳ, trong năm 1978, Quân khu đã bổ sung 3 khung trung đoàn bộ binh cho Quân khu 2, bổ sung Trung đoàn 2, Sư đoàn 316 cho Quân khu 9; 1 tiểu đoàn và 1 đại đội công binh cầu phà cho Quân khu 1 và Quân đoàn 3; 71 tiểu đoàn chiến sĩ mới cho các đơn vị phía Nam. Cuối năm 1978, Quân khu tiếp tục kiện toàn, củng cố Sư đoàn 337 bộ binh và Trung đoàn 222 cao xạ để bàn giao cho Binh đoàn 678; huấn luyện đợt 3 gồm 15.000 chiến sĩ mới ở Sư đoàn 441, Sư đoàn 442 và Trung đoàn 8531. Trong năm 1978, Quân khu đào tạo được 2.852 tiểu đội trưởng và nhân viên kỹ thuật; trong đó có 1.900 tiểu đội trưởng, đáp ứng yêu cầu phát triển của quân đội. Xác định rõ huấn luyện là nhiệm vụ trung tâm, cấp bách, toàn Quân khu đồng loạt ra quân huấn luyện và hoàn thành chương trình cả năm đúng thời gian quy định. Nhiều đơn vị huấn luyện tốt như các trung đoàn 16 pháo binh, 214 cao xạ, 206 xe tăng, 80 thông tin; các sư đoàn 441, 442, các trường quân chính, hậu cần và bộ đội địa phương 3 tỉnh (Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá, Bình Trị Thiên). Công tác huấn luyện cán bộ được tiến hành tích cực, đồng bộ, khẩn trương đối với cả ba thứ quân, cả bộ binh và binh chủng. Quân khu đã tổ chức được 27.868 lượt cán bộ bồi dưỡng tại chức, 9.876 bổ túc và đào tạo tại trường (bao gồm một số nhân viên kỹ thuật), trong đó 3.549 đã ra trường, là một nỗ lực lớn. Việc huấn luyện cấp phân đội làm gọn từng phân đội, bảo đảm yêu cầu sẵn sàng chiến đấu, đồng bộ cả kỹ thuật, điều lệnh, đạt kết quả tương đối tốt: cơ bản đi đôi với ứng dụng, lý thuyết gắn với thực hành, huấn luyện gần sát yêu cầu chiến đấu. 80% số xã, 64% đầu mối đơn vị tự vệ đã huấn luyện được 221.582 lượt người, trong đó có 179.164 du kích, 42.418 tự vệ, tổ chức diễn tập 164 xã và cụm chiến đấu. Dân quân du kích và tự vệ có bước phát triển mới về số lượng, chất lượng và tổ chức. Trong tổng số 765.532 dân quân du kích và dân quân tự vệ, có 266.841 nòng cốt du kích và 80.394 tự vệ chiến đấu. Lực lượng du kích tự vệ được tổ chức theo 3 cấp độ: Lực lượng chiến đấu tại chỗ 3.912 tiểu đội, 7.040 trung đội, 1.638 đại đội, 53 tiểu đoàn, 11 trung đoàn. Lực lượng chiến đấu cơ động có 67 tiểu đội, 1.600 trung đội, 203 đại đội, 60 hải đội2 và lực lượng phục vụ chiến đấu gồm 4.416 trung đội, 164 tiểu đội. Quân dự nhiệm Quân khu được sắp xếp, lập danh sách biên chế ở các tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá, Bình Trị Thiên được 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, 19 đại đội, 1 trung đội3. Công tác quân sự địa phương chuyển hướng mạnh mẽ và đúng hướng, có mục tiêu, biện pháp rõ ràng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp tại chỗ để bảo vệ Quân khu, góp phần bảo vệ Tổ quốc. ______________________________________________ 1. Trong năm 1978 dù điều kiện khó khăn, hai Sư đoàn 441, 442 và Trung đoàn 853 đã huấn luyện hai đợt gồm 51.209 chiến sĩ mới, đáp ứng kịp thời yêu cầu bổ sung cho các đơn vị. 2. Riêng Thanh Hoá có 50 hải đội hoạt động trên biển. 3. Đến tháng 9-1978, ở Thanh Hoá quân dự bị động viên có 1 sư đoàn bộ binh hoàn chỉnh cho Bộ; 3 trung đoàn bộ binh hoàn chỉnh cho tỉnh; 4 tiểu đoàn công binh và 4 tiểu đoàn pháo cao xạ cho Quân khu 4; 6 tiểu đoàn bộ binh hoàn chỉnh cho 5 huyện miền biển và một huyện miền núi Quan Hoá; 6 đại đội bộ binh cho 6 huyện miền núi. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Một, 2024, 11:44:06 am Giữa Quân khu và địa phương có sự nhất trí cao trên một số vấn đề cơ bản, nhất là xây dựng tuyến phòng thủ ven biển, biên giới, chống bạo loạn nội địa, xây dựng và phát huy sức mạnh của lực lượng vũ trang vào nhiệm vụ kinh tế và quốc phòng. Ba tỉnh đã tổ chức được 31 vạn dân quân tự vệ sản xuất lao động tập trung trên các công trình thủy lợi của tỉnh và các huyện theo kiểu "quân sự hoá", trong đó Thanh Hoá có 14 sư đoàn, 6 trung đoàn, 1 tiểu đoàn; Nghệ An có 1 sư đoàn, 10 trung đoàn, 19 tiểu đoàn; Bình Trị Thiên có 5 sư đoàn, 8 trung đoàn, 4 tiểu đoàn và 1 binh đoàn. Công tác tuyển quân trong năm 1978 tiến hành 3 đợt. Quân khu và các địa phương xác định tuyển quân là công tác trung tâm đột xuất, khắc phục khó khăn về nhu cầu ăn ở, sinh hoạt, phương tiện vận chuyển đã hoàn thành các chỉ tiêu tuyển quân. Đợt 1: 31.579 nam, vượt chỉ tiêu 100,04%; 2.171 nữ, vượt chỉ tiêu 100,97%. Đợt 2: 29.733 nam, vượt 100,01%; 16.390 nữ, đạt 99,06%. Đợt 3 là 15.108 người; vượt 100,07%. So với năm 1977, số lượng tuyển quân năm 1978 tăng gấp 3,7 lần, cao hơn cả so với những năm cao nhất thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Trong xây dựng kinh tế, các đơn vị triển khai toàn diện theo tinh thần Nghị quyết Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Quân khu, đúng kế hoạch và có nhiều biện pháp thực hiện định mức, chỉ tiêu, kế hoạch cụ thể, đã hình thành được một số đầu mối làm kinh tế của Nhà nước, định hình được một số đơn vị, có cơ sở vật tư, vốn, trang bị, thiết bị và tạo được một số tay nghề. Giá trị tổng sản lượng năm 1978 đạt 11. 401.380/12.562.000 đồng = 88,99% (trong đó lâm nghiệp 449.500/620.000 đồng = 72,5%; xây lắp 5.576.260/9.752.000 đồng = 57,18%; công nghiệp 2.246.100/2.280.000 = 98,4%). Quân số làm kinh tế đến ngày 31-12-1978 là 8.995/12.700 (so với biên chế mới chiếm 70,8%), đạt được 87% mức tổng giá trị sản lượng giao cho 12.700 người. Năng suất lao động đạt 1.112,66 đồng/người/năm. Quân khu chấn chỉnh, tổ chức các đoàn an dưỡng kịp thời, bao gồm Đoàn 200 của Quân khu, Đoàn 585 Thanh Hoá, nhanh chóng tiếp nhận thương binh, bệnh binh ở các chiến trường về. Đồng thời, tổ chức ôn thi trung cấp, đại học cho số quân nhân thuộc diện giải quyết chính sách đạt kết quả cao: Vào đại học 255/293 người, đạt 87%; trung cấp 158/229 người, đạt 54%. Công tác hậu cần - kỹ thuật luôn lấy nhiệm vụ trung tâm hàng đầu là bảo đảm chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng lực lượng; tập trung mọi cố gắng bảo đảm tốt cho lực lượng trực tiếp chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu ở "C" (Lào) và ở các trọng điểm của Quân khu, phục vụ nhiệm vụ tuyển quân, huấn luyện, tổ chức xây dựng lực lượng mới, bổ sung lực lượng, trang bị cho các đơn vị. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng Quân khu vẫn bảo đảm cho lực lượng ở A (làm nhiệm vụ trong Quân khu và trong nước) có đủ một cơ số đạn, một cơ số xăng dầu, 7-10 ngày gạo. Riêng ở đảo bảo đảm 3 tháng lương thực, thực phẩm, 2-5 cơ số đạn, thuốc cấp cứu, điều trị chiến thương đủ cơ số. Đồng thời, bảo đảm phục vụ đầy đủ, kịp thời mọi trang bị vật chất và tổ chức vận chuyển hành quân nhập trạm giao liên, bàn giao bổ sung đi các hướng 3 khung trung đoàn bộ binh, 1 đại đội và 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 sư đoàn (324), 1 trung đoàn (176). Ngoài ra Quân khu còn bảo đảm 35.568 cán bộ, chiến sĩ, cung cấp 82 khẩu pháo, 462 đầu đạn pháo tăng cường cho các đơn vị ở phía trước. Đồng thời, Quân khu triển khai một bước những vấn đề cơ bản lâu dài đối với nhiệm vụ xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ở các địa phương và nhiệm vụ phòng thủ bảo vệ Quân khu. Trong năm 1978, nhu cầu về nhà ở cho bộ đội lớn, vật tư khó khăn, thêm vào đó lụt bão gây thiệt hại mất 36.339m2. Các đơn vị đã làm mới 102.492m2 nhà ở các loại; sửa chữa 517.760m2, trong đó xây dựng nhà ở, bệnh viện, đoàn an dưỡng đạt 110% - 115% kế hoạch chỉ tiêu, tự giải quyết nhu cầu ở của đơn vị được 90%, ván giường nằm được 80%. Quân khu cũng xây dựng được 13.001m2 nhà kho, dồn dịch 150 khẩu pháo, 109 xe, 28 bể chứa xăng dầu, 253 tấn khí tài, phụ tùng xe máy, bảo dưỡng 2.911 tấn đạn, 100% số xe đến kỳ hạn đều được sửa chữa, bảo dưỡng đúng chế độ. X46 làm được 330 mặt hàng, bảo dưỡng súng bộ binh được 90,95%, xe xích 58,7%, máy chỉ huy 66,67%. Lực lượng làm các công trình quốc phòng hoàn thành tốt nhiệm vụ, bảo đảm thời gian, khối lượng chất lượng tốt1. Công trình ở các khu vực trọng điểm đến tháng 6 năm 1978 đã bảo đảm cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu. Do thiên tai bão lụt gây ra, nên một số công trình vĩnh cửu phải sang năm 1979 mới hoàn thành2. Quân khu tích cực triển khai cuộc vận động rèn luyện kỷ luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Chất lượng chiến đấu của ba thứ quân tiến bộ rõ rệt, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu trước mắt, cơ sở để phát triển chất lượng lên một trình độ mới. Trong tình hình lương thực, thực phẩm, các nhu yếu phẩm cực kỳ khó khăn, việc sản xuất thêm được 1kg thóc, chăn nuôi thêm được một lạng thịt, cá đều có ý nghĩa rất thiết thực, không chỉ với bản thân cuộc sống người cán bộ, chiến sĩ mà cả với sự nghiệp cách mạng và với mỗi gia đình họ3. Vì thế, các đơn vị tích cực tranh thủ thời vụ sản xuất vụ đông - vụ xuân, phấn đấu quyết liệt để có nhiều điển hình tự túc được lương thực từ 4 đến 6 tháng. Sau một thời gian, việc chuẩn bị đối phó với "tình huống chiến tranh xâm lược lớn" nhằm vào đất nước ta và Quân khu đã đạt được một số thành tựu; chuẩn bị đề phòng "tình huống chiến lược 1" song chất lượng chưa cao. Nhiều mặt cơ bản về xây dựng tuyến phòng thủ và thế trận chiến tranh nhân dân mới triển khai bước đầu. Thế và lực nền quốc phòng toàn dân vẫn còn nhiều nhược điểm lớn, nhất là khả năng kinh tế còn thấp; đặc biệt là dự trữ hậu cần còn mỏng. Miền Tây chưa được cải tạo và xây dựng đáp ứng tình hình mới. Chất lượng các lực lượng vũ trang nói chung còn thấp. Ba thứ quân phát triển chưa ngang tầm nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức chưa hoàn thiện, quân số còn thiếu. Chất lượng chiến đấu chưa cao. Lực lượng hậu bị tổ chức và xây dựng chưa tốt. Khả năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa theo kịp yêu cầu. Sự phát triển của cơ quan quân sự địa phương chưa đáp ứng kịp nhiệm vụ mới. Quản lý bộ đội, quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật chưa chặt chẽ. Quản lý lao động, quản lý sản xuất còn nhiều thiếu sót, năng suất thấp, còn lãng phí nhân lực, đời sống của bộ đội còn nhiều khó khăn. Đây là nhiệm vụ Quân khu cần phải nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa để đạt thành tích to lớn, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ. ______________________________________________ 1. Công trình bán vĩnh cửu và dã chiến ở các khu vực trọng điểm hoàn thành đúng kế hoạch. Khối lượng bê tông đã đổ 416m3, đào và xây dựng 8 giường pháo 85 - 130mm với 8.895m3. Toàn bộ công sự hoả khí, trận địa pháo, đường hầm pháo (16 cái), công sự ẩn nấp lắp ghép (80 cái) đều tu sửa lại. 2. Khối lượng công trình vĩnh cửu thực hiện được 416m3/593,5m3. 3. Thời bấy giờ, mỗi lần về phép mang theo chục ký gạo, chai nước mắm, lạng mì chính đều là niềm vui cho cán bộ, chiến sĩ và gia đình. Có trong cảnh ngộ ngày 29, 30 Tết còn đi xếp hàng mua vài ký nếp, vài gói chè "chín hào ba" (tức là 3 gói 0,9 đồng), mấy lạng thịt... mà có lúc, có nơi đến lượt mình lại không còn, mới thiết tha, thấm thía ý nghĩa sâu sắc, thiết thực của chủ trương tự túc lương thực, thực phẩm. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Một, 2024, 11:44:57 am Nghiên cứu quán triệt quyết định (số 21/QĐ-TW ngày 17-6-1978) của Bộ Chính trị, Thường vụ Đảng ủy Quân khu nhận thấy việc thành lập Bộ chỉ huy quân sự thống nhất các tỉnh, thành phố là vấn đề mới, rất phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ địa bàn Quân khu và các địa phương trong tình hình mới. Ngày 3-9-1978, Thường vụ Đảng ủy Quân khu đề xuất ý kiến với Thường vụ Tỉnh ủy ba tỉnh thành lập bộ chỉ huy thống nhất các tỉnh, đồng thời xác định rõ về nhiệm vụ và các mổỉ quan hệ. Việc thành lập cơ quan chỉ huy thống nhất các tỉnh nhằm bảo đảm thống nhất lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ các lực lượng vũ trang, lực lượng công an, động viên nhân dân tham gia chiến đấu đánh địch, xây dựng tuyến phòng thủ biên giới, bờ biển, hải đảo, huy động nhanh chóng lực lượng phía sau lên phía trước, phát hiện và đập tan các cuộc bạo loạn trong nội địa. Về nhiệm vụ Bộ chỉ huy quân sự thống nhất, trên cơ sở quyết định của Bộ Chính trị, vận dụng vào vị trí, đặc điểm của các tỉnh vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương, Quân khu đề nghị và được các tỉnh nhất trí: 1. Xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng công an vững mạnh, có sức chiến đấu cao, thực sự sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống. 2. Xây dựng tuyến phòng thủ biên giới, bờ biển, hải đảo, nội địa, bảo vệ vững chắc địa bàn Quân khu, địa bàn các tỉnh. 3. Kịp thời phát hiện, đập tan các cuộc bạo loạn trong nội địa tỉnh. 4. Chi viện cho các tỉnh biên giới, cho các hướng về sức người, sức của một cách đầy đủ, kịp thời nhất, chất lượng tốt nhất. 5. Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, chỉ huy tập trung, thống nhất, tiến hành chiến tranh nhân dân ở địa phương, tiêu diệt bất cứ kẻ thù nào khi chúng có âm mưu, hành động gây chiến tranh xâm lược, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của chúng, kết hợp chặt chẽ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và sản xuất. Thường vụ Đảng ủy Quân khu đề nghị tổ chức, phân công trách nhiệm theo đúng quy định của Bộ Chính trị, trong đó nêu rõ: Bộ (ban) chỉ huy quân sự thống nhất làm việc tập thể, bàn bạc thống nhất, nhưng tổ chức thực hiện phân công cụ thể chức trách, nhiệm vụ chỉ huy trưởng, chính ủy, phó chỉ huy trưởng, phó chính ủy (ở cấp xã là chính trị viên, chỉ huy trưởng); trong đó, chỉ huy trưởng và chính ủy là thủ trưởng chịu trách nhiệm chỉ huy phụ trách chung. Chỉ huy trưởng: Nắm vững tình hình mọi mặt về quân sự ở địa phương, đề xuất các vấn đề về kế hoạch tác chiến, xây dựng lực lượng, xây dựng quốc phòng toàn dân để Bộ chỉ huy quân sự thống nhất nghiên cứu tập thể bàn bạc, thảo luận thống nhất. Chịu trách nhiệm chủ trì tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Bộ chỉ huy quân sự thống nhất. Chính ủy: Trên cơ sở nắm vững các chủ trương, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Quân khu ủy, Tỉnh ủy, các chỉ thị, mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân khu về nhiệm vụ quân sự; căn cứ vào tình hình thực tiễn địa phương mà đề xuất các vấn đề, chủ yếu là ý định, quyết tâm, nhiệm vụ quân sự, an ninh chính trị của địa phương để Bộ chỉ huy quân sự thống nhất bàn bạc, thảo luận. Chính ủy (là Bí thư Tỉnh ủy) chủ trì các cuộc họp của Bộ chỉ huy quân sự thống nhất. Theo dõi, chỉ đạo, uốn nắn việc triển khai các nhiệm vụ, kế hoạch đã được xác định. Đề đạt với cấp ủy, chính quyền giải quyết những vấn đề mà Bộ chỉ huy quân sự thống nhất thảo luận đề xuất. Sáu mối quan hệ (bao gồm với Quân khu; Tỉnh ủy; Ban chỉ huy quân sự thống nhất huyện, thành, thị, phường xã; với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh; các ngành, đoàn thể trong tỉnh; với bộ đội chủ lực Quân khu, chủ lực của Bộ đóng tại địa phương hoặc tham gia chiến đấu ở địa phương) cùng các chế độ sinh hoạt, lề lối làm việc và các bước triển khai thực hiện. Thường vụ Đảng ủy Quân khu đề nghị Thường vụ các tỉnh ủy nghiên cứu kiện toàn cơ quan chỉ huy quân sự tỉnh theo quyết định Bộ Chính trị, đồng chí phụ trách quân sự có chân trong thường vụ cấp ủy, bảo đảm thành phần cơ cấu để tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của cấp ủy đối với công tác quân sự địa phương. Thực hiện cuộc vận động "Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu" của các lực lượng vũ trang nhân dân, do Ban Bí thư Trưng ương Đảng và Quân ủy Trung ương chủ trương, Thường vụ Đảng ủy Quân khu thống nhất với các tỉnh và chỉ thị cho các đơn vị "lấy ngày 22-12-1978 làm ngày phát động thực hiện trong khắp Quân khu". Căn cứ vào chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu, Cục Chính trị hướng dẫn cụ thể việc triển khai thực hiện. Các cấp ủy đều có chỉ thị, nghị quyết, đề ra chỉ tiêu, kế hoạch, mức phấn đấu theo nhiệm vụ chính trị của đơn vị, địa phương. Thường vụ Tỉnh ủy ba tỉnh (Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên) có chỉ thị, hướng dẫn thực hiện cuộc vận động trong các ngành, các cấp, trong lực lượng vũ trang và ngoài nhân dân, phân công theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện. Các đồng chí Thường vụ Tỉnh ủy trực tiếp chuyển đạt nội dung, yêu cầu, mục tiêu cuộc vận động cho các bí thư huyện, thành, thị ủy, các trưởng ban, ngành, đoàn thể và cơ quan xí nghiệp, công nông trường đóng trên địa bàn. Hưởng ứng cuộc vận động lớn, tỉnh Thanh Hoá tổ chức hội nghị liên tịch thanh niên trong và ngoài quân đội, phát động xung kích trên 2 mặt trận chiến đấu và sản xuất. Nhiều huyện, cơ quan, xí nghiệp ở tỉnh Nghệ Tĩnh thông qua việc thành lập các trung đoàn, hải đoàn dân quân tự vệ để phát động cuộc vận động. Các đơn vị mới thành lập như các sư đoàn 318, 348, 358, các đơn vị mới hành quân từ phía Nam ra như 284, 453 đều được chỉ đạo triển khai kịp thời; lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra bằng nhiều hình thức, biện pháp phong phú (tổ chức các buổi học tập chính thức chỉ thị cuộc vận động, đọc báo, phát thanh gắn với phát động thi đua Quyết thắng, đón danh hiệu Anh hùng, tổ chức các buổi diễn đàn trong thanh niên, sinh viên, trong sinh hoạt văn hoá văn nghệ, trong dịp kỷ niệm ngày 22-12...). Nhìn chung, các lực lượng vũ trang nhân dân trong Quân khu và nhân dân nhận thức rõ đây là cuộc vận động lớn, không chỉ trong lực lượng vũ trang nhân dân mà là của toàn Đảng, toàn dân. Năm mục tiêu cuộc vận động được gắn vào mọi kế hoạch, chương trình, nội dung hành động thi đua. Thời gian này, trên địa bàn Quân khu chưa có chiến sự trực tiếp, nhưng địa bàn quốc tế được phân công cho lực lượng vũ trang quân khu đảm nhiệm, chiến sự đã xảy ra. Cuộc chiến đấu của các đơn vị quân tình nguyện đã phát triển sang một bước mới. Trên biên giới phía Bắc những hành động khiêu khích, trinh sát, lấn chiếm diễn ra với nhịp độ ngày càng tăng. Lực lượng vũ trang quân khu phát triển nhanh, nhiều đơn vị mới thành lập, quân số động viên tuyển quân nhiều. Nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu đặt ra hết sức cấp bách, khẩn trương. Tất cả lực lượng hướng về tuyến 1, tập trung cho tuyến 1, dồn sức cho tuyến 1, phải triển khai với khối lượng công tác rất lớn trên các mặt xây dựng kinh tế, lao động sản xuất, giúp bạn Lào. Cuộc vận động được phát động đã góp phần tạo động lực thúc đẩy mọi cấp, mọi ngành, mọi đơn vị, địa phương phát huy, huy động sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười Một, 2024, 01:19:11 pm 3. Phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân Lào giải phóng Phu Bia, giúp bạn tạo thế và lực mới. Lợi dụng những khó khăn của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào sau chiến tranh chủ nghĩa đế quốc tiến hành âm mưu chiến lược "hậu chiến", thúc đẩy bọn phản động điên cuồng chống phá cách mạng Lào; tiếp sức cho bọn phản động lưu vong trở về kết hợp với bọn phản động nội địa tiến hành phá hoại toàn diện cả quân sự, chính trị, kinh tế. Khoảng 2 vạn tên phản động nội địa ra sức tuyên truyền xuyên tạc chế độ mới, trong đó âm mưu gây chia rẽ mối quan hệ Việt - Lào, kích động bạo loạn ở nhiều nơi. Bọn phỉ Vàng Pao khôi phục hoạt động trên một số căn cứ ở Tây Nam Xiêng Khoảng, Long Chẹng, Phu Bia, Bom Lọng, đường số 9. Chúng dùng vũ trang uy hiếp, khống chế, cưỡng ép nhân dân chạy ra rừng hoặc vượt biên lập các căn cứ phỉ; tổ chức các cuộc tập kích cơ quan lãnh đạo, chính quyền, phục kích đánh phá các tuyến giao thông đường 7, 9, 13, hòng gây hoang mang trong nhân dân, gây rối loạn trật tự an toàn xã hội và an ninh chính trị, uy hiếp, cô lập các thành phố, trung tâm chính trị quan trọng, nhất là thủ đô Viên Chăn, thị xã Sa Va Na Khẹt, mưu toan lật đổ chính quyền cách mạng Lào. Theo yêu cầu của bạn, từ giữa năm 1976, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam lần lượt trở lại Lào kịp thời tăng cường lực lượng cơ động trên các địa bàn chiến lược quan trọng, sát cánh cùng bạn bảo vệ an toàn một số khu vực giặc uy hiếp ở Bắc và Nam Viên Chăn, Sa Va Na Khẹt. Đối với Quân khu 4, ngay khi các đơn vị quân tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ rút về nước, Trung đoàn 176 được lệnh để lại 2 tiểu đoàn và 1 đại đội giúp đỡ bạn trên địa bàn Đôn Viêng, Mường Mộc. Đây là nhiệm vụ quốc tế trong điều kiện hoàn cảnh mới đòi hỏi phải làm tốt công tác tư tưởng cho bộ đội. Ngày 24-4-1976, Quân khu 4 chỉ thị cho Trung đoàn 176 tiếp tục ở lại làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào. Chỉ thị nêu rõ: "Tăng cường đoàn kết hợp tác lâu dài về mọi mặt giữa hai Đảng và nhân dân hai nước là nhân tố cực kỳ quan trọng bảo đảm cho thắng lợi mỗi nước. Giúp bạn là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài của Đảng và nhân dân ta, của quân đội ta cũng như của lực lượng vũ trang quân khu". Mới được lệnh rút quân về nước, nay lại tiếp tục để một bộ phận lực lượng ở lại phối hợp với bạn "phát động quần chúng diệt và thu phục phỉ, giữ vững địa bàn Mường Mộc, Mường Mày", trung đoàn không tránh khỏi những khó khăn về nhiều mặt: Vừa lo cho hành quân lực lượng về nước an toàn, vừa xây dựng phương án sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu ở phía trước, “một chốn đôi quê”. Bao năm xây dựng, chiến đấu nơi chiến trường xa, chưa có dịp về phép, gặp gỡ gia đình, nay cán bộ, chiến sĩ lại tiếp tục những năm tháng phân tán hoạt động nhỏ lẻ, dài ngày nơi vùng sâu, vùng xa, địa bàn rộng, phức tạp, gian khổ, thiếu thốn, hiểm nguy, ở phía Tây Trường Sơn. Trong khi đó, ở phía Đông Trường Sơn, Tổ quốc đã bước vào thời kỳ hoà bình xây dựng, gia đình mong người thân ruột thịt trở về sum họp. Tuy vậy, khi được quán triệt tình hình, nhiệm vụ mới, thấy rõ âm mưu, thủ đoạn của địch, cán bộ, chiến sĩ trong trung đoàn, từ người về cho đến người ở lại, đều chủ động, tự giác nêu cao tinh thần và ý chí chiến đấu, tiếp tục xây dựng chương trình, chỉ tiêu hành động, phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ. Tiểu đoàn 42 và 43 ở lại. Tiểu đoàn 44 cùng cơ quan trung đoàn và các đơn vị trực thuộc về nước, nhanh chóng củng cố tổ chức, tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm, triển khai kế hoạch xây dựng, huấn luyện và luôn hướng về hai tiểu đoàn và một đại đội ở phía trước, sẵn sàng lên đường khi có lệnh. Tình hình ở Lào tiếp tục diễn biến phức tạp, khẩn trương và căng thẳng. Ngày 20-10-1976 tại sở chỉ huy Quân khu, thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4, Thiếu tướng Lê Tự Đồng, Bí thư Đảng ủy - Chính ủy Quân khu công bố Mệnh lệnh Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 3241, được tăng cường Trung đoàn 335 (quân tình nguyện vừa về nước) và một tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào; mật danh là "nhiệm vụ X". Quán triệt mật lệnh của Bộ Quốc phòng, tình thế đang đặt ra đối với các đơn vị làm nhiệm vụ quốc tế là: "Hành động, âm mưu của địch phản kích đối với thắng lợi của ba nước Đông Dương lúc này là khẩn trương. Do đó, nhiệm vụ của các đơn vị củng phải khẩn trương, ra sức chuẩn bị trong một thời gian ngắn, bảo đảm giúp bạn kịp thời và chủ động nhất"2. Theo tinh thần đó Sư đoàn 324 nhanh chóng triển khai mọi mặt công tác chuẩn bị về quân sự, chính trị, hậu cần - kỹ thuật, xây dựng quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao: "Tích cực, chủ động, khẩn trương, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng, bằng lực lượng mạnh, đủ sức hành động nhanh chóng, bí mật, bất ngờ, kịp thời giúp bạn, phối hợp với bạn đập tan mọi âm mưu bạo loạn, lấn chiếm, lật đổ của địch, kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân của bạn trong mọi tình huống, yêu cầu trực tiếp và cao nhất là phải bảo vệ bằng được địa bàn và mục tiêu chỉ định, nhất là mục tiêu chủ yếu"3. Đồng thời với chỉ thị của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, công tác chính trị trong các bước chuẩn bị, tổ chức hành quân; trong nhiệm vụ phối hợp chiến đấu và công tác với bạn; trong công tác tổ chức, cán bộ chính sách, hậu cần, kỹ thuật đã được chuẩn bị tỷ mỷ, quán triệt sâu rộng đến từng tiểu đội, từng người. ______________________________________________ 1. Sư đoàn trưởng Sư đoàn 324 Nguyễn Duy Sơn và Chính ủy Nguyễn Trọng Dần nhận nhiệm vụ. 2, 3. Hồ sơ CT137 - Lưu trữ Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười Một, 2024, 01:22:24 pm Ngày 27-10-1976, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị cán bộ trung cấp, cao cấp chủ trì trong các lực lượng vũ trang quân khu. Hội nghị tập trung nghiên cứu âm mưu của chủ nghĩa đế quốc chống phá cách mạng ba nước Đông Dương, đặc điểm tình hình địa bàn và chiến trường Lào, nhất là những âm mưu, thủ đoạn tổ chức lực lượng phản động và các hoạt động chống phá của chúng từ sau ngày đất nước Lào giành thắng lợi. Yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải nhận rõ: "Mối quan hệ mới giữa ta và bạn là quan hệ đặc biệt, quan hệ liên minh chiến đấu giữa hai nước đều có Nhà nước, có chủ quyền, cùng nhau bảo vệ và xây dựng. Mỗi nước phải tự bảo vệ mình là chính, đồng thời giúp đỡ bảo vệ lẫn nhau. Ta giúp đỡ và hợp tác với bạn để bạn đủ sức tự bảo vệ vững chắc đất nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội"1. Quán triệt nhiệm vụ quốc tế, Quân khu cần làm tốt "nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu để bảo vệ biên giới hữu nghị, thực hiện nghĩa vụ quốc tế của lực lượng vũ trang quân khu"2. Sự có mặt kịp thời của một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam thuộc Quân khu 4 tại Lào theo yêu cầu của bạn, tạo thế và lực hỗ trợ, phối hợp với bạn, làm cho địch hoang mang, dao động, lúng túng3. Chúng cố duy trì các hoạt động bình thường và tăng cường hơn, nhưng buộc phải thay đổi phương thức hoạt động. Một số nơi, chúng rút vào rừng. Tình hình ổn định chưa được bao lâu thì đến năm 1977, "chính sách 2 mặt" của đế quốc Mỹ và tay sai (vừa duy trì quan hệ ngoại giao diễn biến hoà bình, vừa nuôi dưỡng các lực lượng phản động từng bước tăng cường hoạt động bạo loạn lật đổ) đối với cách mạng Lào càng diễn biến phức tạp, nhất là ở các vùng Đông, Đông Bắc Viên Chăn (25 - 30km) Luông Nậm Thà, Xiêng Khoảng, Khăm Muộn4. Những hoạt động khiêu khích, tập trung quân ở biên giới Lào - Thái, xâm phạm vùng trời, tuần tiễu trên sông, đánh chiếm một số đảo thuộc chủ quyền Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào trên dòng Mê Kông nhằm 2 mục đích: vừa đối phó với lực lượng yêu nước Thái, vừa hỗ trợ cho bọn phản động chống phá cách mạng Lào, làm môi giới cho bọn này móc nối với đế quốc phương Tây. Lợi dụng những khó khăn về kinh tế của Lào, giới cầm quyền Thái Lan đóng cửa khẩu để gây sức ép với Chính phủ Lào. Bọn phản động Lào lưu vong thành lập các tổ chức "Đảng cứu nước Lào", "Ủy ban cứu nước người Mông", "Ủy ban người Lào tự do", "Lực lượng mũ nồi xanh"... Chúng được các thế lực đế quốc tạo điều kiện chuyển lực lượng về nước và đứng chân dọc biên giới, mưu toan móc nối lập chính phủ lưu vong. Ngày 22-3-1977 trong cuộc họp "Ủy ban cứu nước" tại U Bon, chúng hình thành cơ cấu chỉ huy quân sự, phân chia các khu vực hoạt động, chỉ huy thống nhất, có Bộ tư lệnh tối cao và hai Tư lệnh ở Bắc Lào, Nam Lào. Mưu toan của chúng là gây bạo loạn lật đổ chính quyền Viên Chăn. Trên những khu vực quan trọng và nơi cơ sở cách mạng còn yếu, chúng cài người vào các tổ chức chính quyền, móc nối lôi kéo những người cả tin, nhất là số có chuyên môn kỹ thuật, kỹ sư, bác sĩ, phi công, nhân viên cao cấp ngụy quyền cũ chạy theo chúng; hoặc đẩy mạnh hoạt động vũ trang, kết hợp lực lượng ngầm gây rối phá hoại kho tàng, đường ống, tổ chức cướp lương thực, vũ khí để giải quyết khó khăn về tiếp tế hậu cần, gây hoang mang, mất ổn định trong nhân dân các bộ tộc Lào. Những địa bàn bạn và ta truy quét mạnh như đường 13, Bắc Viên Chăn đi Luông Pra Băng, Phu Bia, Keng Koóc, chúng phân tán lực lượng, né tránh, cố bám trụ và tìm cách phản kích giành giật lại địa bàn. Lực lượng vũ trang phản động được tổ chức thành 36 tiểu đoàn, trong đó có 24 tiểu đoàn ở nội địa. Mục đích phản kích của đế quốc, phản động nhằm vào cách mạng Việt Nam, nơi chúng cho là thành trì cách mạng Đông Dương và Đông Nam Á. Theo yêu cầu của bạn, ngày 18-4-1977, Bộ Quốc phòng nước ta ra lệnh cho Quân khu 4 cử tiếp lực lượng sang giúp bạn. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, Bộ tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 324 sử dụng Trung đoàn 335 và 1 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp sang địa bàn Xa La Phu Khun, Mường Ca Xỉ, kịp thời cùng bạn ngăn chặn âm mưu, hành động phá hoại của địch. Thực hiện nhiệm vụ Bộ tư lệnh Quân khu giao, Sư đoàn phó Minh Long và Phó chính ủy sư đoàn Lê Văn Dánh cùng một số cán bộ cơ quan sư đoàn tổ chức thành Bộ tư lệnh tiền phương, hành quân cùng với các đơn vị sang Lào. Sau hai ngày nhận lệnh, Trung đoàn 335 do Trung đoàn trưởng Lại Thế Cường và Chính ủy Lò Văn Nhài chỉ huy, được phối thuộc Tiểu đoàn 1 xe tăng thiết giáp của Quân khu (do tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Ngãi và chính trị viên Nguyễn Thu Ba chỉ huy) rời địa bàn trú quân Con Cuông, Tương Dương (Nghệ An) vượt cửa khẩu Nậm Cắn. _______________________________________________ 1. Chỉ thị Công tác chính trị trong nhiệm vụ phối hợp chiến đấu và công tác với bạn (Hồ sơ 144/CT - Lưu trữ Quân khu 4). 2. Hồ sơ 15/QK4 - Lưu trữ Quân khu 4. 3. Âm mưu địch định phá hoại dịp Quốc khánh Lào (2-12) bị đập tan. 4. Chúng tiếp tay cho phỉ ở Phu Bia phục kích giao thông, gây áp lực với chính quyền ở một số địa phương, tăng cường chiến tranh tâm lý; đặc biệt trong dịp Tết cổ truyền “Xỉp Xoòng Tu Lan"; tìm cách gây rối ở một số đô thị, vùng đông dân. Từ ngày 10 đến ngày 17-3-1977, chúng đột nhập các bản Na Soa, bản Hai, bản Pháo, bản Na Than, cách Viên Chăn 25km về phía đông bắc Viên Chăn, bắt 23 du kích và 50 người dân. Ngày 23-3 chúng phục kích đoàn xe chở gạo ở Nậm Ngừm. Ngày 1-4, chúng từ biên giới tiến công Đang Xeng (đông Viên Chăn 30km). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười Một, 2024, 03:45:50 pm Ngày 24-4-1977 các đơn vị xuất phát. Toàn bộ đội hình hành quân bằng cơ giới đã vượt qua chặng đường dài 700km qua nhiều rừng núi, lắm dốc, nhiều suối, vừa đi vừa sẵn sàng chiến đấu chống địch tập kích đến vị trí tập kết vào ngày 26-4-1977 an toàn. Sự có mặt của một lực lượng mạnh, đã quen tác chiến trên chiến trường Lào nhiều năm sớm hơn dự kiến 2 ngày, kịp thời tạo thế và lực mạnh mới trên các địa bàn Xa La Phu Khun, Mường Ca Xỉ, Phôn Hồng và đoạn giao thông huyết mạch từ Huội Mọ vào Mường Trà trên quốc lộ 13. Suốt hơn một tháng sát cánh cùng bạn truy quét liên tục, mạnh mẽ, Trung đoàn 335 và Tiểu đoàn 1 tăng thiết giáp đã buộc quân địch phải rút chạy về căn cứ; không dám trắng trợn, liều lĩnh phá hoại. Chính quyền cách mạng của bạn được củng cố và xây dựng lại ở các vùng mới giải phóng1. Tuy nhiên, trên các địa bàn xung quanh thủ đô Viên Chăn và những vùng phụ cận, địch tiếp tục tăng cường các hoạt động phục kích, tập kích, đánh chặn các đoàn xe của bạn. Chúng móc nối với các cụm phỉ đột nhập vào các làng bản, khống chế chính quyền, đốt phá nhà cửa, cướp bóc của cải, bắt thanh niên đi phỉ, cưỡng ép dân vào rừng theo chúng2. Ngày 17-7-1977, lãnh đạo cấp cao nhất của hai Đảng, hai Nhà nước Việt - Lào ký kết hiệp ước hữu nghị hợp tác toàn diện, đoàn kết đặc biệt giữa hai nước nhằm tăng cường các mốì quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau về quân sự, quốc phòng - an ninh. Ngày 22-7-1977, Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Quốc phòng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thay mặt Chính phủ hai nước ký Hiệp định hợp tác quân sự Việt - Lào. Điều 2 Hiệp định ghi rõ: “Trong trường hợp một trong hai nước bị đế quốc, lực lượng phản động xâm lược và đe dọa tấn công thì hai bên sẽ kịp thời tiến hành mọi biện pháp quân sự, phối hợp hành động, nhằm loại trừ sự đe dọa tiến công hoặc làm thất bại sự tấn công đó”. Trước tình hình mới, ngày 18-10-1977, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị "Về việc tăng cường đoàn kết Việt – Lào". Căn cứ vào 4 nhiệm vụ Trung ương quy định và quyết định của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Đảng ủy Quân khu chỉ thị về công tác chính trị cần tiến hành đối với Sư đoàn 324 trong công tác chuẩn bị toàn sư đoàn tiếp tục làm nghĩa vụ quốc tế trên đất nước Lào anh em, mang mật danh là “Nhiệm vụ X”. Ngày 20-10-1977, Trung tướng Lê Quang Hoà - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu giao nhiệm vụ cho Sư đoàn: “Chuẩn bị lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, cùng lực lượng vũ trang nước bạn Lào sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, kịp thời đập tan những hoạt động gây rối, bạo loạn, lật đổ của bọn phản động bên trong và bọn xâm nhập từ bên ngoài, bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc, giữ vững chính quyền cách mạng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giao, với phương châm: Cơ bản, toàn diện, liên tục, lâu dài3. Ngày 27-10-1977, Bộ tư lệnh Quân khu quán triệt tình hình, nhiệm vụ mới và phân tích âm mưu, thủ đoạn, tổ chức lực lượng của địch ở Lào, nhằm vận dụng vào công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu sát đúng thực tế cho lực lượng vũ trang quân khu. Ngày 16-11-1977, Tư lệnh Quân khu ra mệnh lệnh giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 324, bao gồm 6 điểm: 1. Có kế hoạch và biện pháp tổ chức nắm chắc tình hình mọi mặt trong phạm vi phụ trách. 2. Luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, kịp thời cơ động phối hợp với bạn đập tan các cuộc bạo loạn lật đổ, giữ vững chính quyền cách mạng ở Viên Chăn, Luông Pra Băng. Sẵn sàng cơ động lên Xay Nha Bu Ri. 3. Trực tiếp hỗ trợ bạn thu phục phỉ ở Phu Bia, Mường Ca Xỉ. 4. Giúp xây dựng Trung đoàn 203 (bộ đội chủ lực) cho bạn. 5. Giúp bạn xây dựng thị trấn Bản Son. 6. Xây dựng sư đoàn thành đơn vị chủ lực cơ động, chính quy theo tiêu chuẩn sư đoàn loại 1. Tăng cường Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 206) xe tăng cho sư đoàn4. Thực hiện mệnh lệnh của Tư lệnh Quân khu sư đoàn cử đoàn cán bộ, do Sư đoàn phó Ma Vĩnh Lan dẫn đầu, có Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Trương Văn Núp, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3 Đinh Xuân Bài sang trước nghiên cứu tình hình. Đoàn xuất phát từ Tân Kỳ theo đường 8 lên Căm Cớt, Vang Đạo đến Viên Chăn vào Bản Son, Bản Chiềng, Mường Ca Xỉ, Na Mon và dừng lại ở Văng Viêng, nơi sẽ đặt sở chỉ huy, tiếp tục bổ sung hoàn chỉnh phương án tác chiến. ______________________________________________ 1. Tháng 5 năm 1977, Trung đoàn 335 cùng với bạn giải phóng hơn 5.000 dân ở Nậm Cáp. Tháng 7 và tháng 8 đánh Phu Kho, Thoong Hắc, Thoong Khun, Phu He, giải phóng 1.000 dân. Tháng 9 năm 1977, 2 tiểu đoàn vào “thay chân" cho bạn giữ vững và phát triển thế trận ở Mường Chà. 2. Đến tháng 8 năm 1977, xung quanh thủ đô Viên Chăn có 15 toán phản động với hơn 400 tên cả bọn lưu vong từ các căn cứ phỉ tung về phá hoại. 3. Chỉ thị 476/CT - Lưu trữ Quân khu 4. 4. Cùng thời gian này, Sư đoàn 968, thuộc quyền chỉ huy Quân đoàn 2 được giao nhiệm vụ sang Lào làm nhiệm vụ thay phiên cho Sư đoàn 325 ở Trung - Hạ Lào trên địa bàn từ thị xã Thà Khẹt đến Không Xê Đôn - Pắc Xế. (Mệnh lệnh của Thiếu tướng Lê Ngọc Hiển - Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và Chỉ thị số 500/CT của Bộ Tổng Tham mưu, ngày 6-12-1977). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười Một, 2024, 03:47:34 pm Cùng ngày 16-11-1977, Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324) được điều động giao cho Quân khu 4 trực tiếp chỉ huy làm nhiệm vụ trung đoàn bộ binh cơ động, sau đó bổ sung làm nhiệm vụ ở biên giới Tây Nam. Tiểu đoàn 4 bổ sung cho Lữ đoàn 176. Mệnh lệnh hành quân do Tư lệnh Quân khu Lê Quang Hoà ký (số 624/CT ngày 16-11-1977) quy định phương tiện hành quân của Sư đoàn 324 bằng cơ giới đến triển khai trên các khu vực thuộc tỉnh Viên Chăn. Đường hành quân theo trục quốc lộ 7 đến ngã ba Xa La Phu Khun, ra đường 13 đi về Mường Ca Xỉ và Hin Hợp (khoảng 650 - 700km). Đội hình lấy trung đoàn làm khối hành quân, chia làm 2 đợt Đợt 1, từ ngày 1 đến ngày 5-12-1977 gồm Trung đoàn 3, Trung đoàn 1 bộ binh và Trung đoàn 4 pháo binh. Sở chỉ huy sư đoàn và một bộ phận trực thuộc hành quân cùng các đơn vị trong đợt này bằng cơ giới. Đợt 2, từ ngày 23 đến ngày 30-12-1977, các đơn vị còn lại hành quân tiếp1. Trung đoàn 414 công binh bắc 2 phà ở Tri Lễ, 1 phà 25 tấn ghép 1 làn xe, 1 phà 40 tấn ghép 2 làn xe. 6 giờ ngày 30 tháng 11 bắt đầu hoạt động. Ngày 6-12-1977, Bộ Tổng Tham mưu ra Mệnh lệnh số 12/ML-TM, quy định cụ thể thêm: Điều Sư đoàn 324 sang Bắc Lào phối hợp cùng bạn vừa chiến đấu, vừa tham gia công tác xây dựng trên khu vực được phân công (Viên Chăn, Luông Pra Băng, Cánh Đồng Chum trong đó 1 trung đoàn từ Xa La Phu Khun đến Ca Xỉ; 1 trung đoàn từ Bản Son đến Mường Chà, Phu Bia; 1 trung đoàn và sư đoàn bộ cùng các đơn vị trực thuộc từ cầu Hin Hợp trở lên). Sư đoàn được tăng cường 3 tiểu đoàn gồm 1 tiểu đoàn xe tăng của Quân khu, 1 tiểu đoàn để tăng gia sản xuất của đơn vị; 1 tiểu đoàn làm nhiệm vụ kinh tế giúp bạn. Thời gian triển khai xong đội hình chiến đấu 30-12-1977, Tổng cục Hậu cần huy động 100 xe đến Sư đoàn 324 (ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh) để làm nhiệm vụ. Lương thực do Quân khu 4 bảo đảm cho sư đoàn hết tháng 12-1977. Để tiện lãnh đạo, chỉ huy, Bộ tư lệnh Quân khu 4 điều Tiểu đoàn 28 huấn luyện của Sư đoàn 324 về trực thuộc Trung đoàn 2 và bàn giao xong trước ngày 31-12-1977. Cùng ngày 6-12-1977, Bộ Tổng Tham mưu ban hành Chỉ thị số 99/CT-TM về nhiệm vụ của Trung đoàn 176. Chỉ thị nêu rõ: Căn cứ vào những nội dung đã thống nhất với bạn và thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 176 Quân khu 4: 1. Phối hợp với bạn sẵn sàng đập tan âm mưu bạo loạn của địch tại thị trấn Pắc Xan. Bảo đảm giao thông đường 13 và đường 8. 2. Làm công tác dân vận, truy quét phỉ, bảo vệ mục tiêu quân sự ở Phu Ma Thao và Mường Mộc. 3. Giúp bạn xây dựng các lực lượng vũ trang. 4. Làm tốt công tác xây dựng trên địa bàn đóng quân. 5. Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. 6. Chuẩn bị chiến trường phục vụ phương án tác chiến trước mắt và lâu dài. Ngày 10-1-1978, toàn bộ lực lượng của Sư đoàn 324 tập kết đầy đủ tại các vị trí quy định. Sư đoàn triển khai ngay việc nắm tình hình địa bàn, xây dựng xong kế hoạch tác chiến tại chỗ. Đồng thời, xây dựng nhà ở, trồng rau, tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm cuộc hành quân, sinh hoạt chính trị quán triệt nhiệm vụ, xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu. Sư đoàn tiếp tục chỉ đạo, chỉ huy tăng cường mọi mặt công tác chuẩn bị cho Trung đoàn 335 bước vào chiến dịch Phu Bia của Mặt trận 1A. Ngày 21-1-1978, phương án và quyết tâm chiến đấu giải phóng Phu Bia được thông qua lần cuối gồm 2 bước: Bước 1, trung đoàn cử 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 đại đội thiết giáp tham gia chiến dịch, có 2 đại đội giữ phía sau. Bước 2, tiểu đoàn thứ 3 của trung đoàn tham gia chiến dịch theo kế hoạch được Bộ Tổng Tham mưu phê duyệt. Bộ chỉ huy mặt trận dự kiến kế hoạch tác chiến từng cụm. Mỗi cụm giải quyết trong 2 tháng. Giữa từng giai đoạn dành từ 15 - 20 ngày làm công tác chuẩn bị. Quyết tâm giải phóng hoàn toàn Phu Bia vào cuối năm 1978. ______________________________________________ 1. Mệnh lệnh giao cho Trung đoàn công binh 414 bắc xong phà Tri Lễ trước ngày 30-11 bảo đảm cho sư đoàn vượt sông. Tiểu đoàn 34 (Trung đoàn 654 Quân khu 4) gồm 70 xe, tiểu đoàn vận tải của Bộ Quốc phòng 100 đại xa và xe vận tải của Sư đoàn 324 bảo đảm vận chuyển. Phòng Thông tin Quân khu bảo đảm thông tin thông suốt cả quá trình hành quân. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười Một, 2024, 03:48:37 pm Ngày 2 tháng 2, Bộ tư lệnh Quân khu báo cáo mọi mặt tình hình chuẩn bị chiến đấu của Sư đoàn 324, Trung đoàn 335 và Trung đoàn 176 lên Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và công tác chuẩn bị của các đơn vị đánh chiếm Phu Bia. Phu Bia là một căn cứ của bọn phỉ lâu năm, trải rộng trên một diện tích khoảng 2.500km2. Địa hình rất hiếm trở, rừng rậm, lèn cao, đá tai mèo, nhiều chỗ vực sâu, thành đá dựng đứng cao hàng trăm mét. Trong các lèn đá có nhiều hang động đầy những ngóc ngách hiểm yếu. Địa hình này có lợi cho địch trong phòng thủ cũng như trong đánh quần, đánh vòng và cả khi lẩn trốn, tháo chạy. Ngược lại, đối với liên quân Việt - Lào khi tổ chức tiến công phải khắc phục hàng loạt khó khăn về bảo đảm hậu cần tiếp tế, tiếp cận trinh sát nắm tình hình; đặc biệt là khi phát triển tiến công rất khó phát huy tác dụng của hỏa lực, hỏa khí và khó cơ động lực lượng. Lợi dụng thế hiểm yếu đó, địch tổ chức bố trí phòng thủ trên ba cụm chủ yếu: Cụm 1, từ Mường Chà đến Mường Ao, xuống phía nam Pha Khang; cụm 2, từ Mường Chà đi Po-lo-co chếch lên phía bắc Pha Khếch, Pha Khao, Pha Đeng và cụm 3, từ Phu Bia kéo về phía Bắc. Theo kế hoạch 4 giờ 30 phút sáng 10-2-1978, pháo binh liên quân đồng loạt bắn vào các mục tiêu trong cụm 1, mở màn chiến dịch giải phóng Phu Bia. Trước đó, ngày 6 tháng 2, bạn và ta chiếm Phu He, tây nam Phu Bia 25km để nghi binh, thu hút sự chú ý của địch. Từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 2, địch mất tiếp các vị trí Pha Khảo, Mường Om, Mường Ao, bản Nậm Phen. Đến 26-3-1978, ta và bạn đã loại khỏi vòng chiến đấu 985 tên địch, làm bị thương 737, bắt 375 tên, kiểm soát 65% khu đất căn cứ của địch. Tinh thần binh lính địch sa sút nghiêm trọng. Lương thực khan hiếm, cạn kiệt. Hơn 4.500 dân trong khu vực địch kiểm soát bỏ chạy về phía biên giới Lào - Thái. Sau gần bốn tháng chiến đấu liên tục, bạn và ta giải phóng vùng rừng núi rộng lớn từ điểm cao 1500, Phu Ka-nin, Mường Om, Keo Mo-na đến phía nam Phu Sẩm Liêm, Mường Ao, Pha Phay. Giai đoạn đầu phối hợp chiến đấu giữa ta và bạn kết thúc thắng lợi. Nhưng do ta tấn công không liên tục, địch có thời gian củng cố lực lượng phản công gây cho ta thương vong 108 cán bộ, chiến sĩ. Trong khi đó, hàng nghìn dân bị dịch cưỡng bức chạy theo vào rừng sâu, nước độc, ốm đau, đói rét hoành hành. Mùa mưa đến, kéo dài, càng gây thêm nhiều đau khổ, khó khăn cho người dân đói ăn, bệnh dịch phát sinh. Với quyết tâm diệt nhiều địch, phá tan sào huyệt của chúng, không cho chúng có điều kiện, thời gian nhen nhóm trở lại; cứu nhân dân thoát khỏi sự kiểm soát của địch, Bộ chỉ huy liên quân xác định quyết tâm tổ chức tiến công giải phóng Phu Bia trong thời gian sớm nhất. Trong giai đoạn 2 chiến dịch mục tiêu tiến công là khu vực xung quanh Phu Bia. Theo kế hoạch, các đơn vị đã khắc phục mọi khó khăn do mưa lũ, sốt rét, bệnh tật và bom đạn, chông bẫy của giặc gây ra. Sau một thời gian mở cuộc tấn công, đến chiều ngày 29-9-1978, liên quân đã quét sạch bọn địch ở xung quanh khu vực Phu Bia; giải phóng hơn một vạn dân, làm chủ địa bàn rộng lớn từ Phu Hoa đến Phu Lếch về Phu Ka-nin. Trước thắng lợi có ý nghĩa to lớn này, ngày 30-9-1978, Bộ Quốc phòng nước bạn và Bộ Quốc phòng nước ta đã gửi điện khen ngợi các đơn vị tham gia lập công xuất sắc trong 2 đợt chiến dịch. Bức điện Bộ Quốc phòng nước ta nêu rõ:... “Bộ nhiệt liệt biểu dương chiến thắng giải phóng Khang Tu Ngốc. Chiến thắng đó là kết quả của tinh thần chiến đấu dũng cảm, của tình đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể của Sư đoàn 324 với các đơn vị Quân đội nhân dân Lào. Phát huy thắng lợi đã đạt được, các đồng chí hãy tiếp tục tiến lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng Phu Bia”. Để đạt tới mục tiêu giải phóng hoàn toàn Phu Bia, theo phương châm tác chiến: “Diệt nhiều sinh lực địch, phá tan sào huyệt của chúng, không cho chúng có điều kiện khôi phục, nhen nhóm lại, nhưng phải cứu được dân, gìn giữ an toàn tính mạng cho dân...”, Bộ chỉ huy liên quân quyết định giao tiếp nhiệm vụ cho Sư đoàn 324 gấp rút chuẩn bị phương án tác chiến và bảo đảm hậu cần giúp bạn tổ chức đợt tổng công kích, giải phóng toàn bộ Phu Bia. Mùa mưa lũ đến, lưu lượng nước rất lớn. Nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh nhau có lúc hơn chục độ. Các phân đội trinh sát len lỏi trong rừng rậm, lèn đá đến khu vực dân nắm tình hình tuyên truyền dân ủng hộ và đến các vị trí địch nắm tình hình bố phòng của chúng, tìm đường cơ động cho các mũi, các hướng của ta. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười Một, 2024, 03:52:07 pm Ngày 18 tháng 10, trinh sát ta gặp địch ở các điểm cao 2553 1877, 2468, 2510. Ở các vùng Nậm Cay, Nậm Chia, chúng cài mìn dày đặc, tạo thành vành đai phòng thủ kiên cố. Chúng còn thúc ép dân gặt lúa chuyển vào vùng sâu, tìm mưu kế chống phá cách mạng Lào. Cán bộ liên quân tìm mọi cách tiếp cận nắm chắc tình hình để đánh tốt nhất, giành thắng lợi mà ta thương vong ít nhất. Đặc điểm hoạt động của bọn phỉ tại đây là luôn luôn cưỡng ép dân, mua chuộc dân, tổ chức dân cùng co cụm lại thành căn cứ phòng thủ nhiều tầng; khi không chống nổi thì lợi dụng thế quen thuộc địa bàn rừng núi, đường sá để rút vào rừng sâu, lèn đá, tổ chức đánh du kích. Để tiếp tế cho những đơn vị thọc sâu ở địa hình hiểm trở, bạn phải dùng máy bay lên thẳng chuyên chở khi thời cơ cho phép. Được tin ta chuẩn bị đánh, nhiều đồng chí còn sốt rét, hoặc vết thương chưa lành hẳn, cũng hăng hái xung phong trở về đơn vị tham gia chiến đấu. Đêm 27 tháng 10, ta và bạn tập kết ở một cánh rừng già. 6 giờ 30 phút sáng 28 tháng 10, các mũi, các hướng có mặt ở vị trí xuất phát tiến công. Từ ngày 3 đến ngày 12-11-1978, ta vừa đánh, vừa tổ chức vây hãm, gọi hàng và đánh chiếm toàn bộ các điểm cao xung quanh sào huyệt chính của bọn phỉ ở Phu Bia. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt ở các khu vực Nậm Cang, Nậm Chia, Nọng Xang; các điểm cao 1521, 1807, bản Phu Cút. Địch dựa vào lèn cao, hang đá tổ chức chống trả điên cuồng. Đến sáng ngày 1 tháng 11 khi điểm cao 1807 bị liên quân chiếm, địch buộc phải lùi về phòng ngự; nhưng vẫn thường xuyên tổ chức phản kích, hòng chọc thủng vòng vây. Trong thế khốn quẫn về tiếp tế, lại bị đánh liên tục, tinh thần địch hoang mang sa sút. Trước tình hình đó, Sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn và chỉ huy trưởng mặt trận, đồng chí Bun Chăn cùng các cấp lãnh đạo, chỉ huy ráo riết đốc thúc chuẩn bị cho đợt tổng công kích. Trước giờ nổ súng, các cấp nhắc nhở bộ đội nắm vững thời cơ, vây chặt, tiến công kiên quyết, không để địch chạy thoát. Phát huy thắng lợi, 7 giờ ngày 13-11-1978, tiểu đoàn tập trung mở đợt công kích cuối cùng vào sào huyệt địch ở Phu Bia. Suốt ba giờ chiến đấu, đến 10 giờ ngày 13-11-1978, liên quân hoàn toàn làm chủ Phu Bia. Cờ chiến thắng của cách mạng Lào tung bay trên đỉnh Phu Bia, báo hiệu chiến dịch Phu Bia đã kết thúc thắng lợi. Trải qua 200 ngày đêm chiến đấu kiên cường, bền bỉ, Sư đoàn 324 đã thực hiện nghiêm mệnh lệnh và nhiệm vụ phối hợp với bạn chiến đấu, góp phần tích cực và hiệu quả làm tan rã toàn bộ căn cứ bọn phỉ ở Phú Bia, giải phóng 5.000 dân, thu 2.000 súng các loại, 30 máy thông tin, nhiều phương tiện chiến tranh khác. Do tầm quan trọng của địa bàn rộng 2.500km2 này, từ lâu địch đã xây dựng trở thành một trong hai căn cứ phỉ lớn nhất trên đất nước Lào. Đây là lần đầu tiên Phu Bia được giải phóng1. Đánh giá ý nghĩa thắng lợi Phu Bia, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào nêu rõ: "Chiến thắng Phu Bia là một trong những thắng lợi to lớn nhất của cách mạng Lào, kể từ sau chiến thắng mùa Xuân 1975"2. Ngày 22-12-1978, Trung tướng Xa-mán Vi-nha-kệt - Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào, thay mặt Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Lào long trọng gắn Huân chương Ít-xa-la hạng Nhất lên Quân kỳ Quyết thắng của Sư đoàn 324. Tại Hội nghị cán bộ Đảng toàn Quân khu 4 - hội nghị lần đầu của Đảng bộ Quân khu sau Đại hội lần thứ IV của Đảng, đã đánh giá cao kết quả thực hiện nhiệm vụ chiến đấu giúp bạn Lào "thực hiện nghiêm túc, đáp ứng những yêu cầu cơ bản của Bộ đề ra, đã đưa lực lượng đến đứng lúc, khẩn trương chặn đứng mưu đồ gây bạo loạn của địch trên một địa bàn quan trọng”3. Trước tình hình cách mạng Lào phải đối phó với nguy cơ xâm lược từ bên ngoài và bọn phản động nội địa tăng cường hoạt động, Bộ Quốc phòng nước ta quyết định điều động một số đơn vị thuộc Quân khu 4 đi làm nhiệm vụ mới. Sư đoàn 324, Trung đoàn 176 và tiểu đoàn 1 xe tăng - thiết giáp đang hoạt động ở Lào thuộc Quân khu 4 được điều về trực thuộc Binh đoàn 6784. Trong khi Sư đoàn 324 và Trung đoàn 176 đang chiến đấu, mọi công tác chuẩn bị, bàn giao vẫn được chủ động tiến hành rất khẩn trương. ______________________________________________ 1. Ngoài ra còn có những đợt chiến thắng khác: Tháng 6-1978, ta đánh chiếm bản Nậm Noi, Phu Keo. Tháng 9-1978, ta đánh chiếm Nậm Buộc và Na Khang. Tháng 11-1978, ta chiếm Mường Ca Xỉ. Tại khu vực Viên Chăn, bạn và ta theo dõi, phát hiện, phá các hoạt động tình báo, gián điệp, chiến tranh tâm lý và xây dựng lực lượng ngầm của địch. Trên dọc tuyến đường 12 ở Phu San, địch lén lút hoạt động nhằm âm mưu đánh phá giao thông của bạn tại Na Khăn, Nậm Lô, Noọng Đơn, Pác Thuôi. Ngày 27-9-1978, bạn và ta phối hợp tiến công khu vực Nậm Tếch, diệt một số tên, gọi hàng 100 tên. 2. Hồ sơ B24, trang 232, Lưu trữ Cục Chính trị Quân khu 4. 3. Hồ sơ 49/QKU4 - Lưu trữ Quân khu 4. 4. Binh đoàn 678 quân tình nguyện Việt Nam thành lập ngày 28-6-1978 gồm 3 sư đoàn bộ binh (324, 968, 337), một số phân đội bộ binh, phân đội binh chủng và bộ đội chuyên môn đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2024, 01:02:18 pm Ngày 26-9-1978, tại Sở chỉ huy Quân khu 4 (Đại Huệ - Nam Đàn), Bộ tư lệnh Quân khu 4 và Bộ tư lệnh 678 ký biên bản bàn giao Sư đoàn 324, Trung đoàn 176 và Tiểu đoàn 1 xe tăng thiết giáp thuộc Binh đoàn 678. Sau phần bàn giao ở cấp lãnh đạo, chỉ huy cao nhất, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật Quân khu và Binh đoàn tiến hành bàn giao cụ thể theo chuyên ngành. Trong biên bản bàn giao giữa Quân khu và Binh đoàn 678 đã ghi nhận công lao của Sư đoàn 324 "là sư đoàn chủ lực cơ động của Bộ, được xây dựng, tổ chức trên địa bàn Quân khu 4, tham gia chiến đấu liên tục trên các chiến trường miền Nam nhiều trận với quy mô, hình thức, đối tượng qua nhiều chiến dịch, trong đó chiến dịch Mậu Thân 1968, sư đoàn có mặt trong cuộc bám trụ 25 ngày tại thành phố Huế; chiến dịch giải phóng Quảng Trị 1972 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sư đoàn và các trung đoàn 1, 3, 5; các tiểu đoàn 4, 7, 10, 16; đội 16 (Trung đoàn 1), Đại đội 6 (Trung đoàn 2), Đại đội 2 (Tiểu đoàn 10, Trung đoàn 4), Đại đội 3 (Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 4) cùng 3 cán bộ được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". Đối với Trung đoàn 176, ghi rõ: "Thành lập năm 1973, là đơn vị chủ lực cơ động độc lập chiến đấu của quân tình nguyện Quân khu 4 trên chiến trường Lào. Qua nhiều thời kỳ, trung đoàn luôn phát huy tinh thần cách mạng tiến công, tự lực, tự cường, phát huy truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam, giữ vững tình đoàn kết Việt - Lào, chủ động khắc phục khó khăn, liên tục sát cánh cùng bạn chiến đấu và công tác, liên tục hoàn thành nhiệm vụ, trưởng thành toàn diện, gắn bó với bạn, được bạn tin yêu". Với tinh thần trách nhiệm cao cả, Đảng ủy, Bộ tư lệnh và các cơ quan Quân khu đã tổ chức chu đáo mọi mặt công tác chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, chính sách, hậu cần, kỹ thuật, phương tiện bảo đảm vật chất, tổ chức bàn giao các đơn vị thuộc Quân khu 4 cho Binh đoàn 678 theo đúng các chế độ quy định. Theo quyết định của Bộ Quốc phòng, lực lượng vũ trang Quân khu 4 đảm nhận nhiệm vụ trên các địa bàn mà Sư đoàn 324 và Trung đoàn 176 vừa rút đi. Nhiệm vụ cụ thể là cùng bạn xây dựng kế hoạch, nắm tình hình địa bàn phụ trách, sẵn sàng dập tắt các vụ gây rối, bạo loạn phản cách mạng. Phối hợp với các lực lượng vũ trang và nhân dân bạn thu phục phỉ, trực tiếp giúp bạn xây dựng lực lượng quân sự, xây dựng kinh tế và chính trị. Xây dựng, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trưởng thành, xây dựng đơn vị gương mẫu về chính quy, hiện đại, tự túc một phần lương thực, thực phẩm. Địa bàn được bàn giao cho Quân khu 4 phụ trách gồm: Tỉnh Viên Chăn chủ yếu khu vực thành phố Viên Chăn, Pắc San, Bản Son, Phu Bia, Văng Viêng, Mường Ca Xỉ. Quân khu sử dụng ở tiểu đoàn của Sư đoàn 31, Trung đoàn 229, Tiểu đoàn 27 công binh tăng cường bảo đảm giao thông tuyến đường 7 Xảm Thông - Long Chẹng, bao gồm làm mới 60km, sửa chữa 175km, bảo đảm 287km phục vụ vận chuyển trên tuyến đường 7A, từ Xiêng Khoảng đi Tha Viêng, từ Lạt Luông đi Xảm Thông. Trên hướng đường 8 - Khăm Muộn, Tiểu đoàn 27 được điều động lên hướng Viên Chăn, còn lại Tiểu đoàn 37 công binh (có mặt ở Lào từ 1975) tiếp tục phụ trách các đường 8 - đường 13, đường 8B, đường 12. Tỉnh Xiêng Khoảng, chủ yếu ở khu vực Cánh Đồng Chum, Mường Mộc do Đoàn 565 phụ trách từ Bản Bay - Phôn Xa Vẳn. Một phần tỉnh Khăm Muộn, chủ yếu trục đường 8B, Đôn Viêng, trục đường 13 từ Hin Bun đi Pắc Xan do Đoàn 336 phụ trách. Địa bàn phụ trách không thay đổi, nhưng tính chất và cường độ hoạt động của địch có nhiều thay đổi, nên các đơn vị phải thường xuyên tăng cường bám sát tình hình, sẵn sàng chiến đấu cao. Cùng với việc điều động Sư đoàn 324, Trung đoàn 176, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định giao cho Quân khu 4 đảm trách xây dựng Đoàn 337 (từ Tổng cục Xây dựng kinh tế về trực thuộc Binh đoàn 678). Nhiệm vụ là: xây dựng thành một sư đoàn bộ binh (gồm 3 trung đoàn bộ binh, cơ quan sư đoàn, đơn vị trực thuộc sư đoàn và 1 trung đoàn pháo) theo biên chế của Bộ. Tháng 8-1978, Tổng cục Xây dựng kinh tế bàn giao Đoàn 337 cho Quân khu 4. Ngày 1-10-1978, Đội 145 Bộ Tham mưu Quân khu 4 (gồm 10 đảng viên, 26 đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) được điều về Cục Tình báo. Ngày 26 tháng 10, Bộ tư lệnh Quân khu 4 quyết định điều Sư đoàn 565 đang làm nhiệm vụ lâm nghiệp tại lâm trường Nam Long Đại (Quảng Bình) sang làm nhiệm vụ xây dựng đường 7B giúp bạn Lào, từ Bản Bay đến Phôn Xa Vẳn. Để chủ động đối phó với tình huống phức tạp do địch gây ra trên địa bàn phía Tây, ngày 9-2-1979, đồng chí Lê Quang Hoà - Bí thư Đảng ủy Quân khu thay mặt Thường vụ Đảng ủy chỉ thị cho các lực lượng vũ trang quân khu "Ra sức tăng cường xây dựng thật tốt mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và liên minh Việt – Lào". Sau khi điểm lại quá trình sát cánh cùng nhau chiến đấu chống kẻ thù chung suốt mấy chục năm ròng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Thường vụ Đảng ủy Quân khu khẳng định: “Ra sức tăng cường xây dựng thật tốt mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và liên minh Việt - Lào là vấn đề sống còn của hai nước, là quy luật phát triển của sự nghiệp giải phóng, xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân hai nước. Lực lượng vũ trang Quân khu 4, nhất là cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ giúp bạn, cần phải hiểu sâu sắc và cố gắng tới mức cao nhất việc hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao cũng như trong việc giữ gìn mối quan hệ nhân dân, quân đội, cấp ủy và chính quyền bạn". Thường vụ Đảng ủy yêu cầu các cấp lãnh đạo chỉ huy và mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên quán triệt sâu sắc và thực hiện 7 nội dung cơ bản; trong đó xác định phương châm "giúp bạn là cơ bản, toàn diện, lâu dài và có hiệu lực", lấy việc xây dựng và giữ gìn tốt mối quan hệ với bạn làm mục đích, xây dựng phong trào địa phương vững mạnh và xây dựng con người mới làm cơ sở. Đồng thời lấy chiến đấu giỏi, xây dựng kinh tế có hiệu quả cao, đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2024, 01:04:00 pm Bộ tư lệnh Quân khu 4 giao cho Trung đoàn 245 làm nhiệm vụ xây dựng nông trường Bắc Hin Bun1 bao gồm: Tổ chức khảo sát, thiết kế, xây dựng nông trường, chủ yếu sản xuất lương thực, thực phẩm. Việc khảo sát, điều tra cơ bản, quy hoạch phải làm toàn diện, tạo cơ sở cho xây dựng lâu dài; sẵn sàng làm nhiệm vụ chiến đấu tại chỗ. Đồng thời giúp Đảng bộ, chính quyền địa phương bạn xây dựng cơ sở, đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân theo yêu cầu của bạn. Giữ vững và tăng cường đoàn kết với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương của bạn. Nhằm bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và thống nhất đầu mối quan hệ với bạn, Quân khu giao cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Đoàn 336 lãnh đạo, chỉ huy, quản lý mọi mặt đối với Trung đoàn 245. Riêng về mặt nghiệp vụ do Quân khu chỉ đạo. Cục Kinh tế Quân khu được giao chủ trì hiệp đồng với các cơ quan, với Đoàn 565 (quản lý Trung đoàn 245) và Đoàn 336 (bên nhận) giải quyết các mặt bảo đảm cho Trung đoàn 245. Ngày 25-2-1979 trung đoàn bắt đầu hành quân. Nhiệm vụ cụ thể của trung đoàn được xác định: 1. Xác định nông trường Hin Bun là nông trường của bộ đội, làm hai nhiệm vụ: sản xuất và sẵn sàng chiến đấu. Nông trường do Bộ Quốc phòng Việt Nam giúp xây dựng theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng Lào, phải đầu tư xây dựng thật tốt. 2. Ngân sách, vật tư, thiết bị để xây dựng cơ bản và sản xuất trước mắt do Bộ Quốc phòng Việt Nam đầu tư, sau đó đề nghị Nhà nước cấp. 3. Quy hoạch tổng thể trước mắt của nông trường, việc xây dựng nông trường với lực lượng 1.000 người và kế hoạch hai năm 1979-1980 được giao cho Quân khu 4 làm, trình Bộ duyệt. Theo phương hướng Bộ phê duyệt, cần có kế hoạch làm từng bước phù hợp với khả năng, vừa thiết kế đồng ruộng, vừa phát triển sản xuất, đảm bảo có hiệu quả kinh tế nhanh và thiết thực, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu cao, phối hợp với bạn để bảo vệ địa phương, tham gia xây dựng cơ sở, khắc phục những ổ phỉ lẻ đang hoạt động ở địa phương. Để đáp ứng với tình hình Lào phát triển, đòi hỏi cần tiếp tục điều chỉnh tổ chức lực lượng phù hợp. Ngày 11-11-1979, Bộ Tổng Tham mưu quyết định, các đơn vị của Quân khu 4 (cũng như của các Tổng cục, quân khu, quân đoàn, binh chủng khác) làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế trên đất Lào được đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Binh đoàn 678 về mặt sẵn sàng chiến đấu và duy trì trật tự an ninh vùng đóng quân2. Đối với Trung đoàn 185, Đoàn 336, Trung đoàn 245, Bộ tư lệnh Quân khu báo cáo Bộ Quốc phòng đề nghị những giải pháp tạo điều kiện cho các đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. Báo cáo của Bộ tư lệnh Quân khu nêu rõ: từ tháng 4-1978, Trung đoàn 185 đã hành quân lên đường 7, Đoàn 336 đã lên đường 8; đầu năm 1979, Trung đoàn 245 lên nông trường Bắc Hin Bun. Các đơn vị khẩn trương triển khai nhiệm vụ. Nhưng kết quả bị hạn chế, không thực hiện được kế hoạch (đường 7 mới làm được 29% khối lượng mặt đường, 40% số công trình. Đường 8 chỉ mới làm móng, rải cấp phối, chưa có nhựa làm mặt đường, chưa có thiết kế công trình. Năm 1978, Đoàn 336 chỉ làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông). Các đơn vị đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn, đưa được 50% xe máy vào thi công cả mùa mưa, song năng lực xe máy, phương tiện đều chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Khi mùa khô đến không đủ vật tư bảo đảm tiến độ; thi công vào mùa mưa lại gặp nhiều khó khăn, trở ngại về khí hậu, thời tiết. Đối với nông trường Bắc Hin Bun thì sau khi khắc phục nhiều khó khăn, ổn định vị trí, làm xong khảo sát quy hoạch tổng thể đã trình Bộ từ ngày 16-6-1979. Do chưa được phê duyệt nên chưa triển khai tiếp các bước. Quân khu đề nghị với Bộ: Bổ sung quân số theo yêu cầu nhiệm vụ trên từng hướng3. Bộ cho Quân khu một số thiết bị chủ yếu (trong đó 18 lu cán đường, 30 ô tô ben, 30 ô tô vận tải, 6 máy phát điện 45KVA, 2 bộ thiết bị cầu trung). Đối với nông trường cần có một số thiết bị đồng bộ bảo đảm tiến độ khai hoang 200ha và đưa vào trồng trọt 100ha ngay trong vụ sản xuất đầu tiên. Đồng thời, cấp vốn đầu tư cho những năm tiếp theo, tranh thủ tiếp nhận vận chuyển các nguồn vật tư, bảo đảm hậu cần ngay trong mùa khô. Kể từ khi các đơn vị quân tình nguyện sang làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào, tình hình cách mạng Lào có nhiều biến động. Nhiệm vụ luôn khẩn trương, căng thẳng và nặng nề. Điều kiện bảo đảm vật chất, tinh thần dù hậu phương đã rất cố gắng vẫn gặp nhiều thiếu thốn, gian khổ, bệnh tật phát sinh, nhưng tất cả các đơn vị đều thực hiện “có lệnh là lên đường”. Nhiều cán bộ, chiến sĩ chưa được nghỉ phép về thăm gia đình sau khi chiến tranh kết thúc lại nhận nhiệm vụ quốc tế giúp Lào. Sự có mặt kịp thời và hoạt động có hiệu quả của các đơn vị đã góp phần tích cực cùng bạn ngăn chặn, đập tan âm mưu bạo loạn, lật đổ của địch. Đặc biệt là đã phá tan được một sào huyệt bọn phỉ nguy hiểm tồn tại và gây thiệt hại lớn cho bạn trong nhiều năm; góp phần tạo thế mới và lực mới giúp bạn, bảo vệ vững chắc thành quả đã đạt được góp phần tăng cường mối quan hệ đoàn kết giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào trong xây dựng và bảo vệ nền độc lập của mỗi nước. ____________________________________________ 1. Theo quân số Bộ quy định cho nông trường năm 1979 là 300 người. Nông trường tổ chức 4-5 đại đội, mỗi đại đội hơn 60 người. Cơ quan gọn nhẹ, bảo đảm nhiệm vụ trước mắt và có cơ sở để năm 1980 phát triển lên quy mô 1.000 người. 2. Sư đoàn 968 bộ binh lúc này thuộc Quân đoàn 2 được chuyển thuộc Binh đoàn 678. 3. Đường 7 lúc này mới có 3.400, xin bổ sung 600. Đường 8 đề nghị bổ sung thêm 1.000 cho đủ 3.400. Nông trường Bắc Hin Bun đề nghị bổ sung 250 cho đủ 525 người (Số bổ sung của 3 nơi chưa tính đến quân số thay quân). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2024, 01:04:36 pm * * * Từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đến bước ngoặt các lực lượng vũ trang quân khu chuyển vào thời chiến, thời gian chưa đầy 4 năm; trong đó mới có hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng. Trong hai năm này, chỉ có hơn một nửa thời gian đầu có hoà bình; còn một nửa sau thì đất nước đã phải đương đầu với tình hình vừa có hoà bình, vừa có chiến tranh trên một bộ phận lãnh thổ đất nước. Đối với các lực lượng vũ trang và nhân dân Quân khu 4, thì một số đơn vị, một số địa bàn vẫn chưa có mấy thời gian hoà bình trọn vẹn. Thương vong do bom mìn đế quốc Mỹ gài lại trong chiến tranh vẫn thường xảy ra trên các mặt trận lao động, xây dựng, nhất là các đơn vị tham gia đánh giặc ở biên giới Tổ quốc, các chiến sĩ dự các chiến dịch rà phá bom mìn, đặc biệt là từ Quảng Bình trở vào Huế. Bọn phản động tay sai vẫn tìm cách móc nối hoạt động phá hoại, tổ chức vượt biên, vượt biển và "đánh người" trở lại "cài cắm", thực hiện âm mưu "hậu chiến tranh", móc nối với các loại phản động tay sai hòng làm suy yếu ta nhưng chúng đã thất bại. Trong khi đó một bộ phận lực lượng vũ trang quân khu theo tiếng gọi của mối tình đặc biệt thủy chung "hạt muối chia đôi, cọng rau bẻ nửa" sang sát cánh cùng bạn Lào trong xây dựng, bảo vệ thành quả cách mạng ở địa bàn được phân công, nhất là có mặt kịp thời cùng bạn trong thời điểm thử thách cao độ, góp phần có hiệu quả đập tan âm mưu của các thế lực thù địch định lật đổ chính quyền bạn. Như vậy, trong những năm đầu xây dựng thời kỳ đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội (1975- 1979), Quân khu đã hoàn thành nhiệm vụ hợp nhất, tạo ra thế và lực mới để xây dựng thành một địa bàn chiến lược mạnh về thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Đảng bộ, các lực lượng vũ trang và nhân dân Quân khu không ngừng phấn đấu vươn lên, luôn chủ động, sáng tạo, kiên trì, dũng cảm, tự giác nhận thức vai trò, vị trí, nhiệm vụ của Quân khu, của từng đơn vị, địa phương trong giai đoạn cách mạng mới. Tranh thủ điều kiện có hoà bình, nhưng không “hoà bình chủ nghĩa"; không ảo tưởng chủ quan, lơi là mất cảnh giác, không xả hơi, thoả mãn chủ quan dừng lại; quân và dân Quân khu kiên định và kiên trì quyết tâm tiến lên phía trước theo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh luôn chăm lo củng cố, tăng cường phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, nhất trí vì nghĩa lớn - đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế. Đó là những bài học quý báu trong thời kỳ đầu chuyển giai đoạn cách mạng trên địa bàn Quân khu. Kết quả là Quân khu đã xây dựng được sự "nhất trí cao, xây dựng quyết tâm, tin tưởng sâu sắc. phát động được phong trào hành động cách mạng sôi nổi ", "làm được nhiều việc cấp thiết trước mắt, triển khai bước đầu được những vấn đề cơ bản lâu dài". Đây là cơ sở tạo tiền đề để quân dân Quân khu 4 cùng quân và dân cả nước thực hiện thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, làm tròn nhiệm vụ quốc tế đối với Campuchia và Lào, làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2024, 05:09:24 pm Chương hai CÙNG CẢ NƯỚC GIÀNH THẮNG LỢI TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ LÀM THẤT BẠI CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI NHIỀU MẶT CỦA ĐỊCH (1979 - 1985) Giữa lúc quân và dân ta đang ra sức vượt mọi qua khó khăn, thử thách, khắc phục hậu quả chiến tranh nặng nề, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, thì các thế lực phản động đã liên tiếp gây ra những cuộc tranh chấp, xung đột vũ trang biên giới, chia rẽ nước ta với các nước láng giềng. Sau khi xâm phạm biên giới phía Tây Nam hơn 2.000 lần, gây tổn thất cho ta hơn 4.000 người, từ ngày 30-4-1977, tập đoàn phản động ở Campuchia, đứng đầu là Pôn Pốt, bất ngờ mở đợt tiến công quy mô lớn trên toàn tuyến biên giới tỉnh An Giang từ Vĩnh Gia đến Vĩnh Xương. Tiếp đó, chúng mở những cuộc tiến công có hệ thống, quy mô ngày càng tăng cường, hành động vô cùng tàn bạo. Có lúc, chúng tập trung 13/17 sư đoàn ra biên giới Việt Nam, lấy các tỉnh Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang làm mục tiêu chính, uy hiếp Thành phố Hồ Chí Minh. Những hành động xâm lược của quân Pôn Pốt nằm trong ý đồ lâu dài của các thế lực phản động nhằm biến Đông Nam Á thành khu vực phụ thuộc, thoả hiệp với Mỹ và tay sai để tập trung mũi nhọn chống phá cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia, phá hoại chính sách độc lập, tự chủ của Việt Nam, làm suy yếu cách mạng Việt Nam, kìm hãm và phá hoại sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa của nước ta, phá hoại khối đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương để gây ảnh hưởng lớn xuống vùng Đông Nam châu Á. Đầu tháng 12-1978, đi đôi với các hoạt động gây xung đột vũ trang, đối phương tập trung một lực lượng lớn cùng phương tiện chiến tranh triển khai trên toàn tuyến áp sát vùng biên giới phía Bắc nước ta. Ở hướng biển, hạm đội Nam Hải huy động một số tàu chiến vào tuyến chuẩn bị. Để tránh khỏi bị 3 gọng kìm từ 3 phía kẹp lại, ngày 7-1-1979, một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam theo yêu cầu của Mật trận đoàn kết dân tộc của nước Campuchia đã phối hợp với các lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia tiến vào giải phóng Phnôm Pênh. Ngày 8 tháng 1, Hội đồng cách mạng Campuchia thành lập. Ngày 17 tháng 1, Cô Kông là tỉnh cuối cùng ở Campuchia được giải phóng. Đất nước Campuchia thoát khói họa diệt chủng do Pôn Pốt gây ra. Ngày 18-2-1979, Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Campuchia ký Hiệp ước hoà bình hữu nghị và hợp tác hai nước. Đầu năm 1979, tình hình trên biên giới phía Bắc trở nên hết sức căng thẳng. Vừa kết thúc cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, quân và dân ta lại tiếp tục phải đương đầu với những khó khăn, thử thách lớn ở phía Bắc. Quán triệt chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, quân và dân Quân khu 4 cùng quân dân các tỉnh phía Bắc không ngừng nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao nhất, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Ngày 17-2-1979, chiến tranh nổ ra trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Nhân dân và lực lượng vũ trang Việt Nam ở vùng biên giới buộc phải chiến đấu tự vệ, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và cuộc sống bình yên của mình. Trong khi đó, ở Campuchia, sau thất bại một bước nặng nề về chiến lược, bị tan rã, các thế lực đế quốc phản động lợi dụng việc “quốc tế viện trợ nhân đạo” để tiếp tế trang bị, khôi phục lại lực lượng Pôn Pốt, tập kích đánh chiếm một số vùng biên giới, lập căn cứ, tiến hành đánh du kích lâu dài, đưa các nhóm vũ trang vào nội địa móc nối cơ sở, mở “hành lang mòn”, thực hiện cái gọi là “kết thúc giai đoạn bảo vệ”, gây sức ép từ nhiều phía đòi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước. Ở Lào, đi đôi với việc phối hợp duy trì áp lực quân sự, đe dọa chiến tranh, thực hiện "diễn biến hoà bình", phá hoại về kinh tế, chính trị, gây chiến tranh tâm lý, gián điệp, các thế lực thù địch tập hợp các lực lượng phản động có vũ trang với nhiều quy mô, dùng bàn đạp từ bên ngoài kết hợp bên trong tiến công gây bạo loạn "dùng người Lào đánh người Lào", sử dụng "kiểu biên giới mềm", thâm độc xảo quyệt, thực hiện chiến lược "mối xông nhà", kích động chia rẽ, xuyên tạc liên minh Việt - Lào1. Trước tình hình trên bán đảo Đông Dương có nhiều diễn biến căng thẳng, nhất là chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đang diễn ra trên biên giới phía Bắc, đòi hỏi quân và dân cả nước, quân dân Quân khu 4 phải chuẩn bị khẩn trương về mọi mặt đối phó với "ba tình huống chiến lược". Trên địa bàn Quân khu, bên cạnh các hình thức ngấm ngầm hoạt động móc nối tổ chức vượt biển, vượt biên trốn đi nước ngoài, xâm nhập vào nội địa bằng đường biển, tung lực lượng phản động từ Thái Lan, từ Lào về tìm cách lôi kéo, chống phá ở các địa bàn miền núi dọc biên giới phía Tây; bọn phản động tăng cường các hoạt động ở nội địa, bằng nhiều hình thức, thủ đoạn thâm hiểm, trắng trợn hơn. Đáng chú ý là những vụ rải truyền đơn chống đối chủ trương chính sách của Đảng, trong đó có chống thực hiện Nghị quyết 297 của Bộ Chính trị về cải tạo công - thương nghiệp tư bản tư doanh, chống đi xây dựng vùng kinh tế mới và các dạng thư ngỏ, đòi yêu sách của những tổ chức phản động dưới các tên gọi: "Mặt trận dân tộc tự quyết", "Mặt trận quân dân chống cộng”, "Mặt trận cứu nguy dân tộc", "Mặt, trận thanh - thiếu niên Việt Nam yêu nước", "Mặt trận kháng chiến chống cộng", "Hội những người yêu khoa học...". Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu thường xuyên kiểm tra, rà soát, đánh giá đúng tình hình, kịp thời lãnh đạo, chỉ huy thực hiện tốt các nhiệm vụ và 6 mục tiêu cụ thể đề ra trong Nghị quyết của Đảng ủy Quân khu (28-12-1978). ____________________________________________________ 1. Âm mưu cơ bản là chống phá Lào một cách toàn diện, lâu dài, làm cho tình hình Lào ngày càng khó khăn, suy yếu, tạo điều kiện tổ chức hoạt động lật đổ, thôn tính. Lực lượng phản động có khoảng 17.500 - 18.000 tên, gồm nhiều phe nhóm. Chúng cố dung hoà mâu thuẫn, tích cực tập hợp thành tổ chức. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2024, 05:11:15 pm I- KHẨN TRƯƠNG ĐỘNG VIÊN MỞ RỘNG LỰC LƯỢNG THAM GIA CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC TRÊN BIÊN GIỚI PHÍA BẮC, THỰC HIỆN QUYẾT TÂM PHÒNG THỦ QUÂN KHU TRONG TÌNH HÌNH MỚI Ngày 2-1-1979, Đảng ủy Quân khu 4 ra Chỉ thị số 02 về việc tiến hành Đại hội Đảng cấp sư đoàn và tương đương trở xuống, nêu rõ: “Đại hội lần này tiến hành trong hoàn cảnh cuộc đấu tranh của dân tộc ta chống kẻ thù đang tìm cách làm suy yếu và lăm le xâm lược, thôn tính nước ta, còn tiếp tục diễn ra quyết liệt và phức tạp. Đất nước ta còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế và đời sống, lại vừa trải qua những thiên tai rất nặng nề. Năm 1979 là năm thứ hai chuyển hướng chiến lược, năm thứ tư thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1976-1980), thuận lợi có nhiều, nhưng không ít khó khăn mới, đòi hỏi phải ra sức khắc phục mọi khó khăn, gian khổ thử thách, nỗ lực vượt bậc, khẩn trương "phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu về mọi mặt của các lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu". Đại hội Đảng bộ các cấp lần này biểu thị quyết tâm cao với tinh thần cách mạng tiến công, quyết chiến, quyết thắng, đoàn kết nhất trí, quyết vươn lên giành thắng lợi đạt tới đỉnh cao trong thực hiện các nhiệm vụ, bám chắc quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IV), Nghị quyết Bộ Chính trị về tổ chức Đảng - tổ chức công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Nghị quyết Quân ủy Trung ương về xây dựng Đảng bộ quân đội và Nghị quyết Đảng ủy Quân khu về quyết tâm phòng thủ Quân khu trước tình hình nhiệm vụ năm 1979. Đại hội Đảng bộ các cấp nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm túc, phát huy trí tuệ tập thể, nhận định và đánh giá đúng những thành công, ưu điểm, khuyết điểm, tìm rõ nguyên nhân, chủ yếu là nguyên nhân chủ quan của lãnh đạo và chỉ đạo tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, xác định rõ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ trong nhiệm kỳ tới, đề ra các mục tiêu, biện pháp tích cực vững chắc, phấn đấu thực hiện cho bằng được. Về tư tưởng chỉ đạo, Đại hội Quân khu yêu cầu gắn chặt việc bàn nhiệm vụ chính trị với nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ, gắn với việc tiếp tục đẩy mạnh xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện với "phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu" của các lực lượng vũ trang nhân dân quân khu; lấy mục tiêu đối phó thắng lợi với mọi tình huống có thể xảy ra, tích cực làm nhiệm vụ kinh tế, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm đạt và vượt chỉ tiêu quy định, ổn định và nâng cao đời sống bộ đội, quản lý tốt cơ sở vật chất kỹ thuật tài chính, làm thước đo hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ. Phấn đấu đến cuối năm 1979, tất cả các đại đội đều có chi bộ từ 7 đảng viên trở lên; đồng thời chấp hành tốt Chỉ thị 22 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị 320 của Thường vụ Quân ủy Trung ương, đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng. Cấp ủy lần này chú ý cơ cấu gồm cả những đồng chí có trình độ chuyên môn kỹ thuật, số trẻ qua rèn luyện thử thách chiến đấu, công tác tốt, có triển vọng phát triển và số xuất thân giai cấp công nhân. Các Đảng bộ quân sự tỉnh chuẩn bị đề án đề xuất với Tỉnh ủy đưa nội dung công tác quân sự địa phương vào đề án Đại hội Đảng bộ tỉnh; soát xét đội ngũ cán bộ chủ trì cơ quan quân sự huyện, thành phố, thị xã, đề xuất những đồng chí đủ tiêu chuẩn cơ cấu vào cấp ủy. Phát huy nền nếp và kết quả các đợt sinh hoạt chính trị, tự phê bình và phê bình trước đây, các cấp tổ chức thảo luận, lấy ý kiến đóng góp vào các dự thảo văn kiện, các bản tự phê bình và phê bình của cấp ủy một cách thiết thực; tranh thủ lấy ý kiến của quần chúng tham gia đề án đại hội, đề xuất những người mà quần chúng thấy xứng đáng vào cấp ủy. Những ý kiến của quần chúng và của cấp dưới thảo luận tham gia được tập hợp đầy đủ để tập thể thảo luận, tiếp thu, bổ sung vào đề án. Quân khu quy định rõ trách nhiệm của từng cấp trong việc báo cáo, quản lý các bản tự phê bình và phê bình đối với các cấp ủy theo phân cấp. Trong đó, cấp cục, cấp sư đoàn (và tương đương), trường quân chính (cả đề án nhân sự, tự phê bình, phê bình) đều phải trực tiếp báo cáo với Thường vụ Đảng ủy Quân khu. Cấp trung đoàn và tương đương ủy quyền cho Cục Chính trị theo dõi chỉ đạo, sau đó báo cáo Thường vụ Đảng ủy Quân khu. Nội dung báo cáo Đại hội tập trung đánh giá kiểm điểm chủ yếu từ năm 1979, khi tình hình phát triển, chuyển hướng chiến lược từ "Tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì Tổ quốc giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân" sang thực hiện khẩu hiệu chiến lược "Tất cả vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa''. Ngày 17-1-1979, Thường vụ Đảng ủy Quân khu gửi công văn hoả tốc đến các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy là đảng ủy viên Quân khu, các đơn vị, địa phương1 về "Tình hình Campuchia - nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu thường xuyên trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Mùi (1979)". Sau khi nêu rõ: từ ngày 26-12-1978 đến ngày 7-1-1979, các lực lượng vũ trang quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia mở cuộc tiến công vào lực lượng bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri, diệt và đập tan 18/22 sư đoàn của chúng dọc biên giới Việt Nam, tiếp tục giúp bạn giải phóng hầu hết các thị xã, thị trấn và thành phố Phnôm Pênh, giành thắng lợi vĩ đại, đập tan tập đoàn phản động, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, khôi phục tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia, Thường vụ Đảng ủy Quân khu nhận định: "Chắc chắn bọn phản động bành trướng cấu kết với đế quốc và tay sai sẽ tìm cách trả đũa, chống phá quyết liệt" ____________________________________________ 1. Gồm các cục Chính trị, Hậu cần, Kinh tế, Bộ Tham mưu, các sư đoàn 336, 316, 565, 441, 442, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, các trường (Quân chính, Hạ sĩ quan, Văn hoá), các đoàn 200, 76; các trung đoàn 185, 148, 214, 16, 206, 414, 80, 245. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2024, 05:13:28 pm Ngoài các âm mưu cơ bản đã phổ biến, cần quán triệt những khả năng mới, địch có thể gây ra như Chỉ thị 03 của Quân ủy Trung ương nêu rõ: “với Quân khu 4, chúng có thể đánh chiếm một số đảo, một số vùng xung yếu dọc bờ biển; dùng bọn phỉ Mẹo hoạt động ở biên giới tây Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh. Trong nội địa, chúng có thể dùng bọn phản động trong ngụy quân, ngụy quyền cũ, bọn phản động tay sai các loại, trong đó có bọn đội lốt tôn giáo - nơi cơ sở ta yếu kém, đe gây bạo loạn". Quân khu cùng các tỉnh thống nhất quyết tâm: "Trong bất cứ tình huống nào cũng phải chủ động, kiên quyết loại trừ tình huống 1, chủ động sẵn sàng đập tan tình huống 2". Tất cả các lực lượng vũ trang quân khu sẵn sàng chiến đấu thường xuyên; nhất là các đơn vị trực chiến, các đơn vị ở đảo ven biển, biên giới phải bảo đảm từ 1/3 đến 1/2 bộ đội luôn trực tại trận địa, chiến hào. Pháo cao xạ, pháo bờ biển, hễ có địch là nổ súng được ngay. Trong những ngày Tết (tức các ngày 28, 29 và 30-1-1979) phải chấp hành nghiêm chỉ thị (số 1141/QP ngày 31-7-1978) của Bộ Quốc phòng, chỉ thị (số 101/CTTM ngày 15-7-1978) của Bộ Tổng Tham mưu quy định quân nhân ra ngoài doanh trại. Ngày 19-1-1979, Đảng ủy họp Quân khu đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ trong 3 năm (1976-1978). Trải qua 2 bước ngoặt: Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình chưa được bao lâu, lại từ hoà bình chuyển sang chiến tranh, Đảng bộ Quân khu đã lãnh đạo quán triệt đường lối, nhiệm vụ chính trị, quân sự, xác định đúng đắn nhiệm vụ chính trị mục tiêu hành động, nhanh chóng triển khai thực hiện các nhiệm vụ một cách toàn diện, tạo chuyển biến mới, khắc phục nhiều khó khăn, làm nhiều việc, thu được kết quả trên các mặt, có những nhiệm vụ đạt chất lượng tốt. Tuyệt đại bộ phận đảng viên tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối, sẵn sàng hy sinh chiến đấu, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ khó khăn nhất Đảng giao, luôn đứng hàng đầu trên mọi trận tuyến, gương mẫu, tận tụy trong lao động và công tác, đoàn kết, gắn bó với quần chúng, có tiến bộ về năng lực lãnh đạo, năng lực hoạt động, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, tiêu biểu cho truyền thống vẻ vang của Đảng, của dân tộc và quân đội. Với tinh thần khoa học và cách mạng, tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, nhân dân và quân đội, Đảng ủy Quân khu phân tích nguyên nhân khách quan, chủ quan, thảo luận phương hướng, mục tiêu biện pháp xây dựng Đảng bộ trước tình hình mới. Đảng ủy Quân khu nghiêm khắc tự phê bình, tập trung khắc phục nguyên nhân chủ yếu là do chủ quan. Những khuyết điểm đó đã được sửa chữa và lực lượng vũ trang quân khu có chuyển biến, tiến bộ, nhất là sau khi học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IV) và các nghị quyết của Trung ương Đảng về tình hình, nhiệm vụ mới, về đối tượng chiến lược cách mạng và đối tượng tác chiến mới. Đảng ủv Quân khu hạ quyết tâm thực hiện tốt những nhiệm vụ được giao trong tình hình mới, đặc biệt là quan điểm quân sự, quyết tâm chiến lược, tư tưởng chỉ đạo tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; bám sát nhiệm vụ, quyết tâm phòng thủ Quân khu, phối hợp chặt chẽ với các địa phương, tổ chức phát động cao trào hành động cách mạng: "Bảy triệu quân và dân Quân khu 4 một ý chí, chung sức, chung lòng bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và xây dựng Quân khu vững mạnh". Năm 1979 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị quy định cấp trung đoàn là cấp cơ sở. Sư đoàn và Bộ chỉ huy quân sự là cấp trên trực tiếp của cơ sở. Quân khu tập trung chỉ đạo hai cấp phải có chuyển biến thực sự về mọi mặt trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý bộ đội, phương pháp, tác phong, lề lối, chế độ làm việc đúng vai trò, vị trí, chức năng của cơ sở và cấp trên trực tiếp của cơ sở. Ngày 20-1-1979, Đảng ủy Quân khu ra Nghị quyết số 40 về phương hướng nhiệm vụ công tác năm 19791 xác định, tiếp tục rà soát lại việc thực hiện 3 nhiệm vụ, 8 mục tiêu, 13 công tác đề ra đầu năm 1978, đặc biệt đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương cần kíp trước mắt, nhằm đối phó có hiệu quả hai tình huống chiến lược cơ bản đã dự kiến trong nghị quyết toàn diện ngày 8-11-1978 của Đảng ủy Quân khu về nhiệm vụ quân sự và hạ quyết tâm chiến lược của quân và dân Quân khu trong giai đoạn mới. Năm mục tiêu cuộc vận động lớn được Quân khu tiếp tục tập trung lãnh đạo thực hiện là: "ý chí mạnh, chất lượng cao, đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm, đời sống tốt, quyết chiến quyết thắng". Quân khu chỉ đạo các đơn vị xây dựng chỉ tiêu phấn đấu cụ thể trên từng mục tiêu, gắn chặt cuộc vận động vào từng nhiệm vụ, thực hiện hiệu quả nhất. Năm 1979 cũng là năm triển khai thực hiện Hiệp ước hữu nghị - hợp tác Việt Nam - Liên Xô, quân và dân ta có điều kiện thuận lợi để xây dựng kinh tế - quốc phòng, đẩy nhanh xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đồng thời, đặt ra những vấn đề mới trong các mặt công tác, nhất là yêu cầu khẩn trương nâng cao trình độ làm chủ khoa học - kỹ thuật của các lực lượng vũ trang. Đối với đội ngũ đảng viên gồm 15.061 đồng chí (có 1.808 đảng viên dự bị), tỷ lệ lãnh đạo chiếm 23,57%2; nguồn phát triển thường xuyên có từ 12% trở lên trong quần chúng ở các đơn vị. Phát huy kết quả "3 năm Đảng bộ lãnh đạo quán triệt đường lối, nhiệm vụ chính trị, mục tiêu hành động, nhanh chóng triển khai thực hiện các nhiệm vụ một cách toàn diện, tạo chuyển biến mới, khắc phục nhiều khó khăn, làm được nhiều việc, thu được kết quả trên các mặt, có những nhiệm vụ đạt chất lượng tốt". Đảng ủy Quân khu kết luận "Khuyết điểm là tạm thời, hoàn toàn có thể khắc phục được”. "Trên thực tế, những khuyết điểm đó đã được sửa chữa, lực lượng vũ trang quân khu có chuyển biến tiến bộ rõ". "Phong trào hành động cách mạng phát triển sôi nổi, liên tục". Đó là cơ sở vững chắc để biến khẩu hiệu "Toàn quân một ý chí, quân với dân một ý chí" thành kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị số 61/CT-TW ngày 6-1-1979 của Ban Bí thư Trung ương Đảng "Tăng cường sẵn sàng chiến đấu ở các tỉnh phía Bắc". ______________________________________________ 1. Hồ sơ 38/QK4 - Lưu trữ Quân khu 4. 2. Trong số này có 90,8% Bí thư chi bộ, 86,2% chi ủy viên, 82,4% cán bộ cơ sở được bồi dưỡng, nâng cao trình độ theo quy định, 100% đảng viên học tập quán triệt nghị quyết; đảng viên tích cực tăng từ 94,7% năm 1977 lên 98,9% năm 1978; số đại đội khá chiếm 63,8% tổng số đại đội trong toàn Quân khu, tăng 5,8%; số yếu giảm 2%, còn 3% trên đà phấn đấu tích cực xoá yếu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2024, 05:16:21 pm Quán triệt 5 nhiệm vụ theo Chỉ thị số 61/CT-TW do Ban Bí thư Trung ương Đảng đề ra, Đảng ủy Quân khu nêu rõ: Các đơn vị, địa phương tiếp tục khẩn trương đẩy nhanh tiến độ "kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, khẩn trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng tuyến phòng thủ bờ biển, hải đảo, biên giới, nội địa vững chắc. Tích cực đẩy mạnh xây dựng hậu phương chiến lược, phấn đấu nâng cao khả năng hậu cần tại chỗ, ra sức nâng cao chất lượng mọi mặt các lực lượng vũ trang ba thứ quân. Đẩy mạnh xây dựng quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến, chuẩn bị lực lượng dự bị hùng hậu, xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng thực sự là lực lượng nền tảng của chiến tranh nhân dân có số lượng đông, chất lượng tốt, sức chiến đấu cao. Tăng cường một bước khả năng và trình độ sẵn sàng chiến đấu và phòng thủ của Quân khu, loại trừ bất ngờ một cách vững chắc đối với hai tình huống chiến lược dự kiến, sẵn sàng cùng cả nước đánh bại chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chi viện các hướng. Đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng kinh tế và sản xuất tự túc lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, thực hành tiết kiệm. Ra sức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giúp bạn mà Quân ủy Trung ương đã và sẽ giao". Trong quá trình triển khai 5 nhiệm vụ, 11 chủ trương công tác1, 7 yêu cầu và mục tiêu cụ thể, Quân khu tăng cường chế độ trực tiếp chỉ thị nhiệm vụ công tác cho từng Bộ chỉ huy quân sự, từng sư đoàn, trung đoàn trực thuộc; đưa công tác tổng kết nghiên cứu khoa học quân sự, chỉ đạo công tác pháp chế vào chương trình công tác trọng tâm; nâng mức phấn đấu trên một số nhiệm vụ, công tác, nhằm biến năm 1979 thực sự là năm tổ chức và hành động, chất lượng và năng suất cao, tạo nên sự phát triển mới về chất lượng mọi mặt. Trong đó, đưa tỷ lệ dân quân tự vệ so với dân số lên 16 - 18%, lực lượng nòng cốt trên 50%; thực hiện 2 yêu cầu2 trong phát triển kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh, huyện; thực hiện đầy đủ 9 nội dung cơ bản3 kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, về xây dựng kinh tế, phấn đấu đạt tổng giá trị sản lượng 20.969.836 đồng, sản xuất tự túc 4.800 tấn lương thực quy gạo, 535 tấn thịt, cá; 120 tấn đậu, lạc, vừng; 9.000 tấn rau xanh, có nhiều đơn vị đạt mức tự túc lương thực, thực phẩm 6 tháng và cả năm. Tập trung nhiều lực lượng, công sức tăng cường tốc độ xây dựng tuyến phòng thủ, trước hết là tuyến 1, hướng trọng điểm và khu quyết chiến, xây dựng làng xã chiến đấu, cụm liên hoàn, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân từ cơ sở. Ngày 22-1-1979, trên cơ sở các yêu cầu mới đã được Quân khu xác định, Bộ Tham mưu Quân khu đề ra phương hướng về công tác huấn luyện quân sự năm 1979, gồm 3 yêu cầu, 5 nội dung, các đối tượng, thời gian huấn luyện cho mỗi đối tượng và các vấn đề cần lãnh đạo, chỉ đạo. Nội dung chủ yếu gồm: 1. Đẩy mạnh công tác huấn luyện theo yêu cầu tác chiến tập trung quân - binh chủng, hiệp đồng ba thứ quân trong tiến công, phòng ngự (cả ban ngày, ban đêm) theo nhiệm vụ tác chiến của từng đơn vị, trên từng hướng, từng khu vực phòng thủ, bảo đảm đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ, đánh độc lập và đánh hiệp đồng trong đội hình cấp trên với những trang bị hiện có và sẽ được tăng cường. 2 Hết sức coi trọng huấn luyện cán bộ chỉ huy, cơ quan tham mưu, thường xuyên rèn luyện, diễn tập thủ trưởng, cơ quan các cấp. Đối với các đơn vị từ cấp trung đoàn bộ binh, trung đoàn binh chủng trở lên, đều phải diễn tập thủ trưởng và cơ quan có thực binh, thường xuyên diễn tập báo động sẵn sàng chiến đấu cho các đơn vị và kiểm tra toàn diện công tác sẵn sàng chiến đấu ở các đơn vị. Đối với hạ sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đáp ứng đủ yêu cầu biên chế và có dự trữ bổ sung chiến đấu, phát triển lực lượng. 3. Đối với chiến sĩ mới, lấy yêu cầu chất lượng bổ sung cho các đơn vị chiến đấu làm chỉ tiêu phấn đấu đạt cả về số lượng, chất lượng huấn luyện. 4. Đối với bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, dân quân du kích và học sinh thì tăng cường huấn luyện theo nền nếp, chế độ, nhất là bộ đội địa phương, du kích tự vệ ven biển, biên giới, đảo và các vùng có tình hình phức tạp. 5. Đi đôi với giáo dục chính trị - tư tưởng, huấn luyện quân sự, tăng cường giáo dục chấp hành pháp luật, pháp lệnh, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật. Việc huấn luyện cơ động bằng hành quân bộ, hành quân cơ giới, rèn luyện sinh hoạt dã ngoại, được đặt thành yêu cầu nghiêm ngặt. _____________________________________________ 1. 11 chủ trương cũng là 11 nhiệm vụ cụ thể về sẵn sàng chiến đấu; tổ chức xây dựng lực lượng; công tác huấn luyện; công tác nhà trường; công tác quân sự địa phương; công tác tổng kết và nghiên cứu khoa học quân sự; công tác pháp chế; công tác ngân sách vật tư; công tác hậu cần; công tác xây dựng cơ bản; công tác quản lý cơ sở vật chất, bảo đảm kỹ thuật. 2. Hai yêu cầu: 1. Điều hoà lao động, hoàn thiện quan hệ sản xuất ở phía Bắc, cải tạo quan hệ sản xuất ở phía Nam; 2. Nhanh chóng giải quyết lương thực, thực phẩm, tạo nguồn hậu cần tại chỗ. 3. Chín nội dung cơ bản: 1. Đẩy mạnh củng cố cơ sở chính trị kết hợp điều hoà lao động, củng cố, hoàn thiện và cải tạo quan hệ sản xuất. 2. Sản xuất lương thực, thực phẩm. 3. Phát triển lâm nghiệp. 4. Giao thông vận tải. 5. Phát triển công nghiệp. 6. Thông tin bưu điện. 7. Kết hợp xây dựng y tế, y tế phục vụ chiến đấu. 8. Các đơn vị quân đội ngoài chức năng nhiệm vụ chính, có nhiệm vụ xây dựng kinh tế trên toàn vùng. 9. Kết hợp xây dựng huyện thành đơn vị kinh tế lâm - nông - công nghiệp với xây dựng huyện thành pháo đài quân sự. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2024, 02:21:08 pm Trường Quân chính Quân khu phấn đấu theo yêu cầu thể chế hoá tiêu chuẩn đối với cán bộ quân đội trong hệ thống cán bộ Nhà nước, gắn liền nhà trường với chiến trường, gắn liền yêu cầu phát triển lực lượng với chất lượng xây dựng quân đội chính quy hiện đại, ra sức cải tiến nội dung, phương pháp huấn luyện, rút ngắn thời gian, nâng chất lượng huấn luyện, đáp ứng yêu cầu cán bộ biên chế năm 1979, có đủ cán bộ bổ sung và dự trữ cho mở rộng lực lượng. Nhà trường không chỉ đào tạo, bổ túc cán bộ cho các đơn vị thuộc Quân khu 4, mà còn tiếp nhận học viên từ Quân đoàn 2, Quân đoàn 3. Đại bộ phận họ đã qua chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam và các sĩ quan xuất ngũ, chuyển ngành, chấp hành Lệnh tổng động viên của Chủ tịch nước trở lại quân ngũ. Họ được chuyển đến nhà trường bổ túc một thời gian ngắn và bổ sung về các đơn vị mới thành lập của Quân khu. Lưu lượng học viên lên tới 2.426 người, tăng gấp 4 lần chỉ tiêu những năm trước. Sau 2 chiến dịch "Quyết thắng 1", "Quyết thắng 2" (1978), gần 3.000 cán bộ ra trường, trong đó có hơn 68% đạt khá giỏi, 100% được trao quân hàm sĩ quan, phấn khởi lên đường nhận nhiệm vụ mới. 2.100 cán bộ trong số đó được bổ sung cho các đơn vị chiến đấu ở các chiến trường, hoặc các sư đoàn mới thành lập. Ngày 20-2-1979, Trường làm lễ tốt nghiệp cho 1.328 học viên lớp bổ túc 6 tháng của cán bộ đại đội (quân sự và chính trị), biên chế ngay cho Sư đoàn 337 và Sư đoàn 316B kịp hành quân đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc. Ngày 28 tháng 2, Trường được Quân khu giao đào tạo lại 246 học viên là sĩ quan dự bị tái ngũ. Trường Quân chính Quân khu đã sớm đưa các nội dung đã được kết luận về kinh nghiệm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở hai đầu biên giới Tây Nam, chiến trường "C" (Lào), những thay đổi trang bị - kỹ thuật mới, phương thức tác chiến chiến lược của ta, những nội dung về pháp lệnh, điều lệnh mới vào chương trình huấn luyện, tăng cường rèn luyện, xây dựng nền nếp chính quy, bảo đảm cho mỗi học viên khi ra trường phải là những chỉ huy chiến đấu, huấn luyện, xây dựng và quản lý đơn vị giỏi. Đội ngũ giáo viên nhà trường không ngừng được chú trọng bồi dưỡng về phẩm chất, năng lực chuyên môn, nhiều giáo viên giỏi toàn diện, liên tiếp đạt danh hiệu "giáo viên dạy giỏi" cấp trường, làm nòng cốt, gương mẫu, tiêu biểu như các đồng chí Nguyễn Ngũ, Trung Kiên, Phan Du Thuận, Mai Lương, Nguyễn Xuân, Xuân Quỳ, Mạnh Hùng. Nhiều học viên do nhà trường đào tạo sau này trở thành những chỉ huy giỏi có đại đội trưởng Nguyễn Hữu Được, trung đội trưởng Trần Minh Lệ bổ sung cho Sư đoàn 337 đã lập công xuất sắc từ những trận đầu trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc. Trước tình hình diễn biến khẩn trương và mau lẹ trên hai đầu biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, đầu tháng 2 năm 1979, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tập trung chỉ đạo củng cố mọi mặt cho hai sư đoàn bộ binh 337 và 316B chủ lực cơ động sẵn sàng lên đường chiến đấu. Đối với Sư đoàn 337, Quân khu khẩn trương điều động cán bộ chủ trì kiện toàn tổ chức, thành lập Đảng bộ sư đoàn, chỉ định Đảng ủy, thành lập các tổ chức cơ sở Đảng Đoàn, tiến hành đại hội theo tính chất, nhiệm vụ của sư đoàn bộ binh cơ động chiến đấu1. Ngày 3-2-1979, Bộ tư lệnh Quân khu cho Sư đoàn 316B nêu rõ: Sư đoàn cần nhanh chóng kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng mọi mặt, tập trung đẩy mạnh công tác huấn luyện, xây dựng, rèn luyện trở thành sư đoàn chính quy, hiện đại, sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn Quân khu và cơ động chiến đấu trên chiến trường khác. Trước mắt, sư đoàn căn cứ vào quyết tâm, kế hoạch phòng thủ cơ bản của Quân khu, xây dựng phương án tác chiến và các kế hoạch bảo đảm trên các hướng được phân công, hoàn chỉnh kế hoạch phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương, đập tan các cuộc tập kích của địch vào hai tỉnh Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá; phối hợp với hai huyện Tân Kỳ, Đô Lương kịp thời ngăn chặn và dập tắt các vụ gây rốỉ, bạo loạn, gìn giữ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giúp nhân dân chống bão lũ, thiên tai. Bộ chỉ huy quân sự ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên và các sư đoàn, trung đoàn khác, sẵn sàng chờ mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân khu giao theo tình huống mới phát triển. Toàn Quân khu được thông báo kịp thời diễn biến chiến sự trên tuyến biên giới phía Bắc, phát động lòng căm thù, nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu. Để tăng cường lực lượng cho Quân khu 1, ngày 19-2-1979, Bộ tư lệnh Quân khu ra chỉ thị chấp hành Mệnh lệnh số 16/ML-TM của Bộ Tổng Tham mưu điều động Sư đoàn 337 tham gia chiến đấu trên hướng Lạng Sơn. Thực hiện Chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân khu, 18 giờ ngày 22-2-1979, toàn Sư đoàn 337 hành quân đến vùng Sơn Động, huyện Lục Ngạn, tỉnh Hà Bắc. 19 giờ cùng ngày, Bộ tư lệnh Quân khu 1 trực tiếp chỉ huy và bảo đảm mọi mặt cho sư đoàn đến vị trí tập kết nhanh chóng ổn định nơi ăn ở, sinh hoạt. Trước đó Sư đoàn 337 đã giao chuyển cho Binh đoàn 678, nên chiều ngày 18-2-1979, phái viên Bộ Tổng Tham mưu và Đại tá Chu Phương Đới - Phó tư lệnh Binh đoàn 678 đến trực tiếp chuyển đạt mệnh lệnh cho sư đoàn. Tuy vậy, mọi mặt công tác bảo đảm Quân khu 4 phải chịu trách nhiệm. Bằng kinh nghiệm thực tiễn của quá trình thực hiện “4 nhiệm vụ trên 3 chiến trường” luôn có nhiều biến động và phát triển, Quân khu chủ động chuẩn bị, kịp bổ sung 1.600 quân nhân cho sư đoàn. Biên chế, trang bị đều được bảo đảm đúng theo quy định của Bộ Quốc phòng (trong đó lương thực, thực phẩm đủ 8 ngày kể từ ngày hành quân, đạn mang theo từ 1-3 cơ số theo từng loại đã quy định). _____________________________________________ 1. Sư đoàn thành lập 28-7-1978, gồm các trung đoàn 4 (Đoàn Phong Quảng), 52 (Đoàn Tây Tiến), 222 pháo cao xạ (Đoàn Ba Đình), 92 (Đoàn Hồng Lĩnh): Các trung đoàn đều có truyền thống trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Thượng tá Nghiêm Phú Thạch nguyên Đoàn trưởng 337; Đại tá Bùi Đức Tùng nguyên Chính ủy đoàn được điều động trở lại cơ quan Quân khu. Thượng tá Đỗ Phú Vàng, cán bộ Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) được bổ nhiệm làm Sư đoàn trưởng. Đại tá Nguyễn Chấn, nguyên Chính ủy Sư đoàn 316 về làm Chính ủy Sư đoàn 337. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Hai, 2024, 02:46:07 pm 9 giờ ngày 19-2-1979, bộ phận tiền trạm xuất phát bằng máy bay lên thẳng. Tiếp đó, ngày 20 tháng 2, Trung đoàn 52 hành quân bằng ô tô. Các đơn vị khác hành quân bằng xe lửa do Binh trạm 18 của Bộ hiệp đồng tổ chức. Trên đường hành quân, Quân khu tiếp tục tổ chức bổ sung đủ quân số, vũ khí cho sư đoàn1. Do yêu cầu của mặt trận, trong vòng 5 ngày đầu, sư đoàn phải ba lần thay đổi nhiệm vụ và vị trí đóng quân. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Giang, Bắc Ninh) và nhân dân địa phương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ. Riêng Trung đoàn 4 (tức Đoàn Phong Quảng - tên ghép hai huyện Phong Điền và Quảng Điền tỉnh Bình Trị Thiên) được tỉnh Hà Bắc chi viện 20 xe chở ngược lên thị xã Bắc Giang kịp triển khai lực lượng chiến đấu trên mặt trận Lạng Sơn. 14 giờ ngày 25-2-1979, những phát súng đầu tiên của bộ phận đi đầu Trung đoàn 4 mở màn cho những tháng ngày “đạp bằng mọi khó khăn, trở ngại, phát huy mọi khả năng sẵn có, hăng hái xông tới, đánh thắng trận đầu, thắng liên tục, càng đánh, càng mạnh”2 của Sư đoàn 337 trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc. 7 giờ sáng 28-2-1979, đối phương tiến công vào tuyến phòng ngự của sư đoàn. Đại đội 9, Tiểu đoàn 3 chốt giữ điểm cao 649 án ngữ trên đường 1B đã liên tục đánh bại hàng chục đợt tiến công của một tiểu đoàn bộ binh, có hỏa lực yểm trợ mạnh. Đây là điểm cao nhất trong hệ thống các điểm cao 300, 400, 559, cầu Khánh Khê có ý nghĩa quan trọng đối với cả hai bên. Cuộc chiến đấu diễn ra cực kỳ ác liệt. Đối phương tập trung vũ khí, lực lượng tiến công theo kiểu “lấy thịt đè người”. Đại đội 9 kiên quyết, bình tĩnh cơ động bám chắc, trụ vững. Có ngày, trung đội do đồng chí Nguyễn Minh Lệ chỉ huy trên hướng chủ yếu ở điểm cao 649 đánh lùi 18 đợt tiến công của bộ binh đối phương có pháo binh yểm trợ dày đặc. Ở khu vực cầu và ngầm Khánh Khê, đối phương sử dụng 3 tiểu đoàn bộ binh, có hỏa tiễn 412 và pháo cối tập trung bắn mãnh liệt, hòng chọc thủng chốt phòng ngự do Đại đội 10 đảm trách. Tiểu đoàn 3 do đồng chí Trần Xuân Hoà làm tiểu đoàn trưởng, đánh lùi hàng chục đợt xung phong đối phương. Đại đội 10 phải hai lần thay đại đội trưởng, ba lần thay chính trị viên bị thương vong, nhưng “chốt” trận địa Khánh Khê vẫn được giữ vững. Đại đội 10 đã chiến đấu quyết liệt phá vỡ đội hình tiến công, buộc đối phương phải rút lui; góp phần cùng sư đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chặn đứng và đánh bại mũi vu hồi chiến dịch của đối phương. Suốt 12 ngày đêm chiến đấu liên tục, giành giật quyết liệt để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, Sư đoàn 337 đã góp phần cùng các đơn vị bạn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến dịch được giao. Sau đợt chiến đấu này, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh gửi thư khen ngợi sư đoàn: "Hành quân cấp tốc đến chiến trường khắc phục mọi khó khăn, nhanh chóng triển khai chiến đấu, đạt nhiều thành tích, hoàn thành nhiệm vụ được giao"3. Thượng tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam đến thăm đã ghi vào sổ vàng truyền thống của sư đoàn: "Sư đoàn 337 mới được thành lập, đã nhận nhiều nhiệm vụ rất nặng nề, khẩn trương cơ động ra biên giới phía Bắc, góp phần thắng lợi trong cuộc phòng thủ biên giới phía Bắc, đã và đang trưởng thành nhanh chóng"4. Đặc biệt, tên gọi "Đoàn Khánh Khê" gắn chặt với chiến công vang dội bên cầu Khánh Khê lịch sử đã đi vào truyền thống vẻ vang của sư đoàn như một mốc son tự hào mãi mãi trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 4 trân trọng ghi nhận những chiến công, thành tích và danh hiệu “Đoàn Khánh Khê” vào lịch sử vẻ vang của Quân khu, như một trong những trang mở đầu về cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chiến thắng lịch sử và những kinh nghiệm bước đầu của sư đoàn 337 được phổ biến kịp thời tới các cơ quan, đơn vị, làm nức lòng quân và dân toàn Quân khu. Trong khi Sư đoàn 337 làm nhiệm vụ chiến đấu ở biên giới phía Bắc, Quân khu cử đồng chí Phan Xuyến làm phái viên tham gia cùng đoàn cán bộ Tổng cục Chính trị do Đại tá Hoàng Kim - Cục trưởng Tuyên huấn phụ trách, trực tiếp đến các đơn vị trên tuyến Lạng Sơn - Bản Chắt - Đình Lập - Cao Ba Lanh - Tiên Yên, nắm tình hình, rút kinh nghiệm kịp thời phục vụ cho việc vận dụng kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị toàn Quân khu, trước mắt phục vụ lớp tập huấn cán bộ được tổ chức từ ngày 19-2 đến ngày 19-3-1979, nhằm sẵn sàng đối phó với tình huống mới có thể xảy ra. ____________________________________________ 1. Đến Quảng Xương (Thanh Hoá), Trung đoàn 108 pháo binh nhận thêm 8 khẩu pháo 85. Đến ga Kép, Trung đoàn 52 (Tây Tiến) được bổ sung thêm đủ chiến sĩ mới theo Chỉ thị 117 Quân khu ngày 17-2-1979. 2. Nghị quyết Đảng ủy sư đoàn 337, họp tối 24-2, tại mặt trận Lạng Sơn. 3. Lịch sử Sư đoàn bộ binh 337 (Đoàn Khánh Khê), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 1998, tr. 47. 4. Các đồng chí Trần Minh Lệ, Trần Xuân Hoà, Nguyễn Xuân Hồng, Hà Đăng Ninh, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Xuân Hoà, Nguyễn Đức Nga, Nguyễn Văn Trinh, Chu Minh Vỹ, Nguyễn Xuân Sang, Nguyễn Thái Hoà, Lê Đức Thân, Vi Viết Thắng cùng với bao tấm gương tập thể và cá nhân tiêu biểu khác trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc biên giới phía Bắc đã góp phần tô thắm thêm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và truyền thống sư đoàn nói riêng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Hai, 2024, 03:23:04 pm Trong ngày 19 tháng 2 và những ngày tiếp theo, Quân khu khẩn trương triển khai giao nhiệm vụ cho các đơn vị: Trung đoàn 16 pháo binh tập trung nghiên cứu khu vực tác chiến, bố trí đội hình chiến đấu (đài, trận địa, sở chỉ huy) nhằm thực hiện quyết tâm và kế hoạch tác chiến của Quân khu. Trung đoàn 414 công binh có nhiệm vụ bảo đảm cho các lực lượng vũ trang quân khu cơ động trên địa bàn Quân khu và trên các chiến trường khác khi chiến đấu; triển khai công tác phòng thủ về công trình, đường sá, bến vượt, Sở chỉ huy Quân khu; làm nòng cốt hướng dẫn cho các lực lượng vũ trang địa phương xây dựng tuyến phòng thủ trên địa bàn Quân khu. Sư đoàn 337 bàn giao Trung đoàn 222 cho Binh đoàn 678. Trung đoàn 245 thuộc Đoàn 565 chuyển về thuộc biên chế Đoàn 336 để xây dựng nông trường Bắc Hin Bun (xong trước ngày 10-3-1979). Đoàn 76 từ Ái Tử (Bình Trị Thiên) chuyển về Nghi Lộc (Nghệ Tĩnh), bảo đảm bí mật, an toàn, đi gọn đội hình thành một khối, theo quốc lộ 1A, cuối ngày 5-3-1979, triển khai xong ở vị trí mới. Thực hiện Mệnh lệnh số 263/ML của Bộ Quốc phòng, Quân khu tổ chức tuyển quân, động viên quân dự bị để khôi phục đủ biên chế chiến đấu cho Sư đoàn 316B và 6 trung đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn bộ binh ven biển của ba tỉnh. Sau đó, Bộ Quốc phòng quyết định điều động 2 trung đoàn của quân khu 4 lên tăng cường lực lượng cho Quân khu 2. Đồng thời, Quân khu tổ chức thêm 30 tiểu đoàn bộ binh (trong số này, Bộ Quốc phòng điều một số tiểu đoàn tăng cường cho phía Bắc). Các khung huấn luyện chiến sĩ mới 441, 442 được giao nhiệm vụ huấn luyện đã tiếp nhận số chiến sĩ mới bước vào giai đoạn huấn luyện theo chương trình đề ra. Quân khu triển khai công tác tuyển quân năm 1979, theo kế hoạch của Bộ trước dự định 2 đợt, nay dồn đợt I đã hoàn thành theo chỉ tiêu giao. Yêu cầu thời gian rất khẩn trương ngày 28-2-1979, các sư đoàn, trung đoàn khôi phục phải sẵn sàng chiến đấu được ngay. Các tiểu đoàn tổ chức thêm thì đến ngày 10-3-1979 phải hoàn thành huấn luyện và sẵn sàng nhận lệnh chiến đấu. Ngày 1 tháng 3, Bộ trưởng Quốc phòng ra Quyết định số 207/QĐ-QP giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 thành lập sư đoàn bộ binh chiến đấu trực thuộc Quân khu, mang phiên hiệu Sư đoàn 318, tổ chức xong trong tháng 3 năm 1979. Tiếp đó, ngày 4 tháng 3, Bộ trưởng Quốc phòng ra Quyết định số 151/QĐ-QP giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 nhanh chóng kiện toàn Tiểu đoàn 74 và 2 tiểu đoàn bộ binh thuộc tỉnh Thanh Hoá, bàn giao cho Sư đoàn 313 của Quân khu 2, tại Vĩnh Tuy (Hoàng Liên Sơn) trước ngày 10-3-1979. Cùng ngày 4 tháng 3 Tổng Tham mưu trưởng ra Quyết định số 145/QĐ-TM nêu rõ "Quân khu 4 có nhiệm vụ bàn giao Trung đoàn 214 cao xạ của Quân khu về thuộc Bộ tư lệnh đặc khu Quảng Ninh. Trung đoàn có mặt tại địa điểm mới trước ngày 10 tháng 3. Đồng thời Quân khu 4 phải xây dựng lại trung đoàn cao xạ khác thay thế vị trí nhiệm vụ Trung đoàn 214". Ngay sau đó, Trung đoàn 283 được thành lập xong trong tháng 3, gồm 138 sĩ quan, 802 hạ sĩ quan, chiến sĩ1. Ngày 6-3-1979, Bộ trưởng Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 tổ chức xong trung đoàn bộ binh trực thuộc tỉnh Bình Trị Thiên mang phiên hiệu Trung đoàn 755, xong trước ngày 10 tháng 3. Đồng thời chuyển Đoàn 74 Thanh Hoá thành Trung đoàn 762 bộ binh; Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 Nghệ Tĩnh thành Trung đoàn 763 và Trung đoàn 764 bộ binh. Trước tình hình chiến sự đang tiếp diễn, địch có thể mở một hướng tiến công vào Quân khu 4 để phối hợp với phía Bắc, ngày 5 tháng 3, Bộ tư lệnh Quân khu ra Mệnh lệnh chiến đấu số 1 cho Trung đoàn 16 pháo binh; trong đó có 2 nhiệm vụ chủ yếu: 1. Nhanh chóng bổ sung quân số, đến ngày 20 tháng 3 xong gấp rút huấn luyện, nâng cao trình độ sẵn sàng cơ động phối hợp chiến đấu theo lệnh của Bộ. 2. Trước mắt, điều Tiểu đoàn pháo 74 về khu vực đã chuẩn bị ở Nghi Hương (Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh) làm hoả lực đánh quân địch trên biển: đánh từ xa, đánh độc lập những tàu địch xâm phạm vùng biển Quân khu, trong khu vực đảm nhiệm của trung đoàn. Chi viện cho đảo Mắt, đảo Ngư chiến đấu và hải thuyền ta hoạt động đánh địch trên biển. Cùng các cụm hoả lực của Nghệ Tĩnh tạo thành lưới hoả lực dày đặc, nhiều tầng, nhiều lớp ở "quyết chiến điểm" tiêu diệt tàu, xuồng đổ bộ của địch. Ngày 25 tháng 4, Tổng Tham mưu trưởng ra Quyết định số 333/QĐ-TM giao cho Quân khu khẩn trương kiện toàn Trung đoàn 14 bộ binh - đổi phiên hiệu 816 bổ sung cho mặt trận Quảng Ninh (giao tại Tiên Yên, xong ngày 10-5-1979) và Quyết định số 331/QĐ-TM chấn chỉnh Trung đoàn 755 bộ binh bổ sung cho Quân đoàn 5 (giao tại thị xã Lạng Sơn xong ngày 10-5-1979). Tính từ tháng 12-1978 đến 25-3-1979, Bộ Quốc phòng đã điều nguyên 1 sư đoàn, 4 trung đoàn, 5 tiểu đoàn bộ đội địa phương, 1 tiểu đoàn đặc công bổ sung cho mặt trận phía Bắc2. Vừa mới tổ chức giao quân cho phía trước và hoàn thành vượt chỉ tiêu tuyển quân ngay trong đợt đầu (73.861/73.483 người), Quân khu lại được Bộ giao tiếp nhiệm vụ: Chuẩn bị cho Sư đoàn 316B cơ động; xây dựng các sư đoàn chiến đấu và đơn vị trực thuộc cho Quân đoàn 7 gồm: kiện toàn Trung đoàn 453 pháo binh và Trung đoàn 284 cao xạ; xây dựng 1 tiểu đoàn trinh sát bộ binh; 1 tiểu đoàn cảnh vệ và kiểm soát quân sự; 1 tiểu đoàn kho; 1 đội điều trị; 1 trạm khách; 1 trại kỷ luật; 3 đội chiếu bóng, thư viện, phát thanh; Phòng Quân báo; Phòng Pháo binh; Trường Quân chính; Trường Hạ sĩ quan; Trường Hậu cần. Tất cả công việc tổ chức xây dựng các đơn vị bàn giao cho Quân đoàn 7 xong ngày 30-4-1979. ___________________________________________ 1. Ngày 30-3-1979, Bộ trưởng Quốc phòng ra Quyết định số 142/QĐ-QP thành lập trung đoàn này, mang phiên hiệu Trung đoàn 283, lúc đầu tạm gọi Trung đoàn 214B. 2. Gồm Sư đoàn 337 lên Lạng Sơn - Quân khu 1, Trung đoàn 755, bộ đội địa phương Bình Trị Thiên bổ sung cho Quân đoàn 5, Trung đoàn 14 bộ đội địa phương Thanh Hóa về Quân khu 2; Trung đoàn 214 cao xạ Quân khu và Trung đoàn 816 bộ đội địa phương Thanh Hoá về đặc khu Quảng Ninh; 5 tiểu đoàn bộ đội địa phương về Quân khu 2, Tiểu đoàn 33 về Binh chủng Đặc công. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Hai, 2024, 03:27:52 pm Trong khi tập trung xây dựng các đơn vị chủ lực, Quân khu chú trọng xây dựng bộ đội địa phương. Ngày 10-3-1979, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị cho Bộ chỉ huy quân sự ba tỉnh khẩn trương triển khai tổ chức thực hiện các công tác cấp bách, bao gồm tổ chức xây dựng lực lượng; xây dựng công trình phòng thủ; nhiệm vụ chiến đấu; phục vụ chiến đấu, sẵn sàng bổ sung cho bộ đội thường trực; phát động, tổ chức phong trào "quân sự hoá toàn dân, vũ trang toàn dân, toàn dân đánh giặc". Khối lượng công tác khẩn trương và nặng nề, đến ngày 16 tháng 3 các tỉnh phải huy động lực lượng lớn gồm 1 sư đoàn, 1 trung đoàn và 18 tiểu đoàn bộ binh; 5 đội đặc công các tỉnh, 2 đội đặc công Quân khu; 1 tiểu đoàn và 1 trung đoàn pháo cao xạ; 3 đội điều trị; 240 lái xe xích, máy kéo (để lái xe tăng) và một số chuyên môn - kỹ thuật thông tin, bổ sung cho Quân khu1. Trong số 150.752 thanh niên, sau khi điều gấp 20.052 người khôi phục, tổ chức các đơn vị, còn 130.700 được sắp xếp tổ chức thành 7 sư đoàn bộ binh, 3 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn cao xạ, 3 trung đoàn thông tin, 3 tiểu đoàn trinh sát, 3 bệnh viện (Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh mỗi nơi 1 bệnh viện 300 giường, Bình Trị Thiên 1 bệnh viện 200 giường). Số đơn vị này được huấn luyện sẵn sàng chiến đấu tại các địa phương và được sử dụng làm công trình phòng thủ cho tỉnh; đồng thời sẵn sàng cơ động chiến đấu khi có lệnh. Ngoài công trình của tỉnh theo kế hoạch phòng thủ được Quân khu phê duyệt, các tỉnh tập trung xây dựng công trình tuyến 1 ở các huyện ven biển, các đảo, công trình sở chỉ huy, kho đạn, hầm hào thương binh; cấu trúc một số điểm tựa trên các cửa khẩu chính đường 217, đường Pù Nhi (Thanh Hoá), đường 7, đường 8 (Nghệ Tĩnh), đường 9 và đường 12 (Bình Trị Thiên). Tất cả các đơn vị tham gia xây dựng công trình đều được trang bị vũ khí bộ binh, đủ cơ số đạn, bảo đảm chiến đấu được ngay theo kế hoạch tác chiến. Công trình xây dựng đến đâu, tổ chức ngụy trang ngay đến đó. Từ tỉnh đến cơ sở hình thành hệ thống lãnh đạo, chỉ huy ba lực lượng: chiến đấu, phục vụ chiến đấu và tổ chức công tác sơ tán về tuyến sau. Lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu bao gồm những đảng viên, dân quân du kích trẻ, khoẻ, được tổ chức, huấn luyện, thực tập theo kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể. Ngoài các công sự chiến đấu và phòng tránh, các địa phương xây dựng căn cứ bí mật bảo đảm chiến đấu lâu dài. Phương châm xây dựng là: Tổ chức lực lượng được đơn vị nào thì lực lượng của đơn vị ấy bảo đảm chiến đấu được ngay2. Ngày 12-3-1979, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định thành lập 2 sư đoàn bộ binh trực thuộc Quân khu 4, mang phiên hiệu là Sư đoàn 358 và 348. Ngày 26 tháng 3, Bộ tư lệnh Quân khu ra Mệnh lệnh số 241/QL điều Trung đoàn 755 Bình Trị Thiên, Trung đoàn 14 Thanh Hoá (đều mới khôi phục) bao gồm toàn bộ tổ chức, quân số, trang bị, cơ sở vật chất hiện có, biên chế thành 2 trung đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 358. Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá được giao nhiệm vụ động viên 4.523 quân dự bị 1, quân dự bị 2, gồm 494 sĩ quan, phụ trách sĩ quan thành lập 1 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, cơ quan và đơn vị trực thuộc trong biên chế Sư đoàn 358. Thực hiện Mệnh lệnh số 251/QL của Bộ tư lệnh Quân khu, Sư đoàn 348 được tổ chức trên cơ sở điều Trung đoàn 763 Nghệ Tĩnh, bao gồm tổ chức, quân số, trang bị, cơ sở vật chất hiện có để biên chế 1 trung đoàn bộ binh trong sư đoàn. Đồng thời, giao cho Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh, động viên 6.851 quân dự bị hạng 1, hạng 2, gồm 698 sĩ quan và phụ trách sĩ quan, 5.117 hạ sĩ quan, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật tổ chức 2 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, cơ quan và các phân đội trực thuộc sư đoàn. Nhiệm vụ hai Sư đoàn 755 và 348 được Thường vụ Đảng ủy Quân khu xác định: "... Ra sức huấn luyện, xây dựng về mọi mặt thực sự trở thành đơn vị chủ lực cơ động mạnh, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến, có trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng giỏi, chiến đấu độc lập giỏi, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, tổ chức từ sư đoàn đến cơ sở thường xuyên vững mạnh, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm, vụ được giao". Với sự nỗ lực của Quân khu và các đơn vị đồng bộ, 2 sư đoàn được tổ chức xong trong tháng 4-1979 và bắt đầu vào tập huấn cán bộ, củng cố tổ chức quần chúng và triển khai huấn luyện theo yêu cầu "sẵn sàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, chiến đấu được ngay"3. Mỗi sư đoàn gồm có 9.177 người, trong đó có 972 sĩ quan, đúng theo biên chế sư đoàn bộ binh loại 1 do Bộ quy định. ______________________________________________ 1. Các tỉnh đã huy động gấp rút được 20.052 người (Thanh Hoá 6.873, Nghệ Tĩnh 12.035, Bình Trị Thiên 1.144 người) để tổ chức, khôi phục các trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh, cao xạ, đặc công. Thanh Hoá có Trung đoàn 14, Tiểu đoàn bộ đội địa phương Hoằng Hoá, 1 tiểu đoàn, 1 trung đoàn cao xạ tăng cường cho Quân khu; 2 đội đặc công của tỉnh + 1 đội cho Quân khu, 1 đội điều trị, 140 lái máy kéo, xe xích. Nghệ Tĩnh có 1 sư đoàn bộ binh, 2 đội đặc công tỉnh, 1 đội quân khu, khôi phục 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương huyện; 1 đội điều trị; 100 lái xe xích bổ sung cho trung đoàn xe tăng Quân khu. Bình Trị Thiên khôi phục các tiểu đoàn bộ đội địa phương huyện, 1 đội đặc công tỉnh, 1 đội điều trị và nhân viên kỹ thuật, thông tin, pháo thủ bổ sung cho Quân khu. 2. Theo Chỉ thị của Tham mưu trưởng Quân khu về trang bị và công tác bảo đảm cho các đảo thì tất cả các loại súng bộ binh trang bị đủ 8 cơ số đạn trở lên; các loại pháo mặt đất 10 cơ số; các loại pháo phòng không 12 cơ số; mỗi người 60 lựu đạn, các loại mìn, tuỳ tình hình thực tế từng đảo mà bố trí hợp lý. 3. Chỉ thị Thường vụ Đảng ủy Quân khu 4, hồ sơ lưu trữ tại Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Hai, 2024, 03:28:26 pm Tháng 4 năm 1979, Quân khu 4 tiếp nhận, củng cố Trung đoàn 453 pháo binh Quân khu 3, Trung đoàn pháo cao xạ (thiếu 1 tiểu đoàn) Quân khu 7, 2 tiểu đoàn cao xạ (1 từ Quân khu 5, 1 từ Quân khu 9). Tất cả các trung đoàn, tiểu đoàn này đều mới xây dựng1 . Việc điều động quân dự bị động viên, tuyển thanh niên nhập ngũ ở các tỉnh Quân khu 4 diễn ra trong bối cảnh tổng quân số được điều vượt quá số đã huy động lớn nhất so với các năm trước, đồng thời lại phải tổ chức quân dự nhiệm; nên số thanh niên ít hẳn đi. Trước tình hình đó, các tỉnh đã kiên nghị Chính phủ và Bộ Quốc phòng cần có chính sách phù hợp. Ngày 2 tháng 4, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá gửi Công văn số 05/TQ-UBTH báo cáo quyết tâm với Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Quốc phòng. Trong tháng 3 và đầu tháng 4-1979, Thanh Hoá phải tuyển 39.176 người (có 48 đại học); chưa kể 3.000 công nhân quốc phòng, 2.000 công an vũ trang, 1.900 công an cảnh sát. Đến ngày 27-3-1979, tỉnh đã tuyển và chuyển giao xong 31.790 người, trong đó có 30.782 người giao cho các đơn vị chủ lực Quân khu 4 đầu tháng 4 năm 1979. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá nêu rõ: Thời gian rất ngắn, phải hoàn thành nhiệm vụ trên là rất khó khăn. Nhưng tỉnh xác định đây là nghĩa vụ cao cả phải đáp ứng kịp thời cho lực lượng vũ trang, nên đã phát động mạnh mẽ khí thế tuyển quân trở thành phong trào quần chúng mạnh mẽ, hoàn thành chỉ tiêu trên giao. “Tỉnh đề nghị thống nhất chỉ tiêu tuyển quân giao cho Thanh Hoá năm 1979 và trước mắt không điều 3.000 công nhân quốc phòng. Nếu có điều, thì đề nghị tỷ lệ nam chỉ bảo đảm 10 - 15%”. Hai tỉnh Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên không đề nghị, nhưng cũng trong điều kiện tương tự như Thanh Hoá. Tuy vậy các tỉnh đều tuyển quân vượt chỉ tiêu2. Kế hoạch tổ chức lực lượng của Quân khu cũng bị chi phối mạnh mẽ bởi quy luật biến động và phát triển không đều ở các tỉnh. So với biên chế, dự kiến thiếu 18.300 người. Quân khu khẩn trương đề nghị Bộ có kế hoạch cho tuyển quân để bổ sung sớm3. Trong khi đó, việc chỉ đạo triển khai các mặt công tác đều khẩn trương, phải hoàn thành đúng thời gian quy định. Tháng 2-1979, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu thông qua, phê chuẩn quyết tâm phòng thủ của Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên. Tiếp đó, các tỉnh thông qua, phê chuẩn quyết tâm phòng thủ của các huyện, thành phố, thị xã trực thuộc. Cùng thời gian này, Quân khu tổ chức xây dựng được hệ thống hoả lực pháo binh trên tuyến ven biển gồm 14 cụm ở ba tỉnh (Thanh Hoá 5 cụm, Nghệ Tĩnh 5 cụm, Bình Trị Thiên 4 cụm). Sư đoàn 358 được lệnh rời khỏi sở chỉ huy từ Hưng Lộc (thành phố Vinh) ra đứng chân ở xã Hoằng Long, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Quân khu tuyển chọn 700 chiến sĩ mới bổ sung gấp cho Sư đoàn 324 thuộc Binh đoàn 678 và tổ chức chỉ huy, làm công tác bảo đảm, giao cho Binh đoàn ở Cánh Đồng Chum (Lào). Tổng cục Hàng không dân dụng được giao nhiệm vụ vận chuyển 700 chiến sĩ mới từ sân bay Gia Lâm qua sân bay Cánh Đồng Chum để chuyển giao cho Sư đoàn 324. _____________________________________________ 1. Quyết định số 252/QĐ-TM điều Trung đoàn 453 và Quyết định 250/QĐ-TM điều các đơn vị pháo cao xạ của Tổng Tham mưu trưởng. 2. Riêng Thanh Hoá đợt đầu 31.007/30.450 quân số điều động. 3. Đến ngày 14-4-1979, tổng quân số theo biên chế của Quân khu 4 tà 84.700 người (lực lượng chiến đấu 68.000. Trong đó lực lượng tập trung của quân khu 51.000, của các tỉnh 17.000; lực lượng xây dựng kinh tế 11.500; lực lượng xây dựng cơ bản 1.500; quân số nòng cốt sản xuất 1.700, quân số lâm thời 2.000). Thực lực có 105.751; quân số giảm trong năm 39.351, còn lại trong biên chế 66.400. Quân số thiếu so với biên chế 18.300. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 12:44:50 pm * * * Ngày 8-3-1979, Thường vụ Đảng ủy Quân khu họp quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng "về cuộc kháng chiến chống xâm lược”. Qua nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Chính phủ, Thường vụ Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết biểu thị sự nhất trí, hoàn toàn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, quyết tâm cùng các Đảng bộ địa phương phát huy sức mạnh tổng hợp của gần 7 triệu nhân dân và lực lượng vũ trang quân khu, kiên quyết đứng lên cùng cả nước đánh bại quân xâm lược, quét sạch chúng ra khỏi bờ cõi đất nước ta, bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc. Sau khi nhận định về bản chất, âm mưu của đối phương, tính chất tự vệ, tính chất bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; những quan điểm tư tưởng, phương châm chỉ đạo cơ bản của Đảng, Thường vụ Đảng ủy Quân khu họp quyết tâm "Ta phải kiên quyết đánh mới nhất định thắng. Phải động viên cao độ nhân tài, vật lực, thực hiện "bảy triệu quân và dân Quân khu 4 là một ý chí, vừa chiến đấu, vừa sản xuất, tạo thành sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân để đánh thắng". Thường vụ Đảng ủy Quân khu xác định rõ nhiệm vụ trước mắt của toàn Quân khu: "Từ Thanh Hoá đến Bình Trị Thiên nằm trong khu vực trực tiếp chuẩn bị chiến đấu; toàn bộ các lực lượng vũ trang quân khu đang ở trong thời chiến; các địa phương trong Quân khu thực hiện vũ trang toàn dân và quân sự hoá toàn dân theo Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ"1. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của Quân khu trên một hướng chiến lược quan trọng, hậu phương chiến lược, khu vực tập kết chiến lược, địa bàn chống chia cắt chiến lược, Thường vụ Đảng ủy Quân khu quyết nghị những công tác cần kíp, trong đó tập trung: Đến hết tháng 3 năm 1979 toàn Quân khu, từng tỉnh và các đơn vị chuẩn bị xong thế trận chiến đấu đến cơ sở theo phương án Quân khu đã thông qua. Nếu xảy ra chiến tranh trên địa bàn Quân khu phải đến, bảo đảm chủ động đánh thắng ngay từ trận đầu, ngày đầu và trên tuyến đầu phòng thủ. Gấp rút chuẩn bị lực lượng ba thứ quân và lực lượng dự bị đủ mạnh theo yêu cầu đánh thắng tại chỗ, chi viện đắc lực cho tuyến 1, sẵn sàng chuẩn bị lực lượng lớn trong thời chiến. Về chuẩn bị hậu phương, ngoài kế hoạch sẵn sàng chuyển từng bộ phận kinh tế sang thời chiến ở các tỉnh, riêng Nghệ Tĩnh và Thanh Hoá chuẩn bị địa bàn tập kết theo kế hoạch đã phân công; làm ngay các việc: trong sạch địa bàn, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, sửa chữa đường sá, chuẩn bị vật liệu và sẵn sàng lực lượng để xây dựng các công trình, có kế hoạch sản xuất thực phẩm cung cấp tại chỗ. Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh nắm chắc tình hình nhân lực, tài lực, vật lực, tính toán khả năng cung cấp cho thời chiến, có kế hoạch bảo đảm trước mắt và lâu dài làm căn cứ giao nhiệm vụ cho các ngành triển khai chuẩn bị thực lực cho động viên thời chiến. Vấn đề lớn nhất của công tác đảng, công tác chính trị là nhanh chóng làm chuyển biến nhận thức, tư tưởng, tổ chức hành động phù hợp với tình hình nhiệm vụ chiến đấu, tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng xả thân hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì nhiệm vụ quốc tế cao cả, kiên quyết cùng với toàn quân và toàn dân đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược trong mọi tình huống, kể cả tình huống kéo dài và mở rộng chiến tranh. Tất cả quân dân Quân khu 4 hướng ra tiền tuyến, luôn sẵn sàng về tư tưởng và tổ chức, có lệnh là lên đường chiến đấu, đã đánh là thắng. Đối với cán bộ: điều phải đi, đến phải nhận, thực hiện khẩn trương, đúng thời gian quy định. Trong lúc chưa có mệnh lệnh thì dồn toàn bộ tâm sức tổ chức xây dựng lực lượng, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện về tư tưởng, tổ chức, năng lực lãnh đạo, chỉ huy, trình độ kỹ thuật, chiến thuật, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân kết hợp chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, lao động sản xuất; chú ý các đơn vị mới xây dựng, các đơn vị kinh tế chuyển sang chiến đấu. Kiên quyết chống mọi biểu hiện chủ quan, đơn giản, dao động, hoài nghi, thiếu lòng tin, ngại ác liệt lâu dài, không dám tiếp tục chiến đấu xả thân vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Thường vụ Đảng ủy Quân khu yêu cầu toàn thể quân dân Quân khu nhận thức rõ nghĩa vụ thiêng liêng trước sự còn mất của Tổ quốc. Tổ quốc còn thì còn tất cả. Cả Quân khu đánh giặc, toàn dân là lính. Công tác động viên, tuyển quân, tổ chức quân dự nhiệm ngày càng lớn. Đăng ký hết, quản lý chặt chẽ, động viên nhanh trước hết là cán bộ; tổ chức đơn vị mới nhanh, gọn, đúng và vượt thời gian quy định, bảo đảm đủ cán bộ cho 33 tiểu đoàn, 20 - 25 trung đoàn, 3 sư đoàn, theo quy định của Bộ và Quân khu. Theo tính chất nhiệm vụ của từng lực lượng, từng đối tượng và địa bàn, Thường vụ Đảng ủy đặt yêu cầu cụ thể các mặt công tác chuẩn bị, bảo đảm chất lượng và hiệu suất chiến đấu cao, đánh tiêu diệt gọn - cả trong tác chiến tiến công, phản công và phòng thủ; tranh thủ từng giờ, từng phút chạy đua với thời gian, huấn luyện cơ bản và cấp tốc, giải quyết kịp thời những mặt thiếu, mặt yếu của đơn vị; từng người mạnh, cả đơn vị mạnh; giờ sau, ngày sau chất lượng và sức chiến đấu cao hơn giờ trước, ngày trước. ______________________________________________ 1. Hồ sơ 45/QKU - Lưu trữ Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 12:46:58 pm Bộ tư lệnh Quân khu triển khai đợt tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 1, coi đây là một nhiệm vụ trung tâm đột xuất của Quân khu, nhằm nỗ lực cao nhất, đẩy nhanh tốc độ huấn luyện và chất lượng chiến đấu của các lực lượng vũ trang, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, giành thắng lợi giòn giã ngay từ đầu, ở tuyến đầu, bảo vệ vững chắc các mục tiêu được giao. Đợt huấn luyện khẩn trương này đặt trong ý đồ chỉ đạo chung của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, theo yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và chuẩn bị chiến đấu đã được xác định cho từng đơn vị trên địa bàn Quân khu và trên các chiến trường khác. Do tình hình khẩn trương, cùng lúc phải triển khai nhiều công việc, yêu cầu chỉ đạo nội dung chất lượng huấn luyện được đặt ra nghiêm túc theo thời gian quy định: Huấn luyện xong tháng thứ nhất có thể chiến đấu tốt. Sau ba tháng, đạt trình độ thục luyện, bảo đảm đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn và đánh độc lập trong các hình thức vận động tiến công, tập kích, phản kịch và phòng ngự. Bảo đảm mọi lực lượng đều được huấn luyện, nhất là những đơn vị cơ động mới thành lập. Quân khu và các đơn vị liên tục mở các lớp tập huấn, bảo đảm cho cán bộ luân phiên học tập đầy đủ, có chất lượng các nội dung quy định; đi sát hướng dẫn, giúp đỡ cấp dưới huấn luyện bộ đội. Bộ đội được tập trung học tập 10 giờ/ngày. Quân khu và mỗi đơn vị phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, quán triệt thường xuyên các nội dung, mục tiêu/chỉ tiêu cuộc vận động "Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang” vào mọi lúc, mọi nơi. Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội được đặt thành mục tiêu, chỉ tiêu thi đua gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ huấn luyện. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thời sự, chính sách, thể dục, thể thao, tăng gia sản xuất được tổ chức hợp lý khoa học. Hoạt động bộ đội diễn ra khẩn trương, sôi nổi, lành mạnh, vui tươi; những nhu cầu thiết yếu hàng ngày của chiến sĩ được kịp thời giải quyết. Quân khu tổ chức lớp tập huấn cán bộ trung đoàn, sư đoàn, cán bộ chủ trì các cơ quan quân sự tỉnh, cơ quan trung đoàn, sư đoàn, cán bộ cơ quan Quân khu tại Sở chỉ huy Quân khu với thời gian 35 ngày. Nội dung tập huấn gồm: quán triệt sâu sắc hơn tình hình nhiệm vụ; nhận rõ hơn đối tượng tác chiến; phương thức tác chiến chiến lược của ta, nguyên tắc tác chiến hiệp đồng binh chủng; nguyên tắc chiến thuật trong tác chiến tiến công và phòng ngự cấp sư đoàn, trung đoàn; chiến dịch phòng ngự bờ biển; công tác tham mưu, công tác đảng, công tác chính trị, công tác hậu cần trong tiến công, trong phòng ngự. Trong 6 tháng đầu năm 1979, Quân khu đã mở được 303 lớp tập huấn cho 30.373 cán bộ (quý I: 105 lớp với 6.848 cán bộ; quý II: 198 lớp với 23.526 cán bộ). Các nhà trường đào tạo và bổ túc tổ chức được 62 lớp, 10.259 học viên (ra trường 4.593 sĩ quan, 1.136 nhân viên chuyên môn kỹ thuật). Các đơn vị tự bồi dưỡng được 1.739 nhân viên chuyên môn kỹ thuật. So với trước, công tác bồi dưỡng cán bộ được tập trung, có trọng điểm, hiệu quả thiết thực. Nhiều đơn vị, nhiều lớp học có chất lượng khá như các sư đoàn 316B, 318, Trường Quân chính Quân khu, tỉnh Bình Trị Thiên, các đơn vị pháo binh, thông tin. Đối với chiến sĩ phân đội, đơn vị huấn luyện nhiều nhất là 3 tháng rưỡi (Sư đoàn 316B, các trung đoàn pháo binh, thiết giáp), đơn vị trung bình 2 tháng rưỡi (Sư đoàn 318, các trung đoàn thông tin, công binh, 3 trung đoàn địa phương). Cả ba trung tâm 441, 442 và 853 huấn luyện đợt I được 8.367 chiến sĩ mới. Bắn súng lần 1 và ném lựu đạn đạt loại giỏi. Các khoa mục khác đạt yêu cầu trở lên. Các đơn vị bộ đội địa phương thời gian huấn luyện còn ít (5 - 6 tuần); một số tiểu đoàn, trung đoàn huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật đến cấp đại đội và luyện tập theo phương án chiến đấu. Nhiều đơn vị mới huấn luyện đến chiến thuật cấp tiểu đội. Dân quân tự vệ huấn luyện xong đợt 1 về kỹ thuật, chiến thuật từng người và tổ chiến đấu. Huấn luyện kết hợp diễn tập một số phương án được 84% số xã (1.357/1.606 xã); 67% số đơn vị tự vệ (1.690/2.506); trong đó có 147 xã và 120 cơ sở huấn luyện xong chương trình cả năm và diễn tập theo phương án chiến đấu ở 166 xã, 449 cơ sở tự vệ. Phát huy kết quả và kinh nghiệm huấn luyện giai đoạn 1, trong năm 1979 Quân khu tập huấn được 113.187 cán bộ, có 91.542 cán bộ bộ đội địa phương và dân quân tự vệ1, 5.536 cán bộ binh chủng, 3.324 nhân viên kỹ thuật. Đối với cán bộ cấp trung đội trưởng trở lên, Quân khu đã bồi dưỡng được 30.373 lượt cán bộ, trong đó có 14.491 lượt cán bộ thường trực, 15.882 lượt cán bộ dân quân tự vệ. Số bổ túc đào tạo ở các trường là 20.414 đồng chí (có 15.730 đã ra trường, 4.648 đang huấn luyện). Các trung tâm huấn luyện chiến sĩ mới khắc phục nhiều khó khăn, hoàn thành tốt 3 đợt huấn luyện gồm 16.788 chiến sĩ và huấn luyện gối đầu 1.489 người. Huấn luyện quân dự bị động viên là một nhiệm vụ mới mẻ; nhưng trong một thời gian ngắn, Quân khu đã hoàn thành chương trình, nội dung cho 1 sư đoàn, đưa về cơ sở. Kiểm tra bắn đạn thật bài 1 đạt loại khá, ném lựu đạn giỏi, các khoa mục khác đạt yêu cầu. Ba trung đoàn ở ba tỉnh, một số tiểu đoàn huyện và 1 sư đoàn tiếp tục huấn luyện theo chương trình đề ra. Đối với lực lượng vũ trang địa phương, Quân khu và các tỉnh tập trung nghiên cứu kỹ đối tượng tác chiến, thủ đoạn của chúng, cách đánh của làng xã chiến đấu ven biển, cách đánh của pháo đài huyện kết hợp với trung đoàn phòng ngự, cách đánh trên biển của các hải đội, hải đoàn và các lực lượng khác. _____________________________________________ 1. Nghệ Tĩnh đạt cao nhất: 74.830 người, Bình Trị Thiên: 9.390, Thanh Hoá: 7.322. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 12:51:13 pm Sau một thời gian tập trung huấn luyện, toàn Quân khu đẩy mạnh tiến độ, chất lượng huấn luyện, diễn tập, kiểm tra trình độ sẵn sàng chiến đấu đã nâng lên một bước mới. 1.493/1.610 xã cơ bản hoàn thành chương trình huấn luyện rộng rãi cho dân quân tự vệ (92,6% tổng số xã), 60% số xã bắn đạn thật (Bình Trị Thiên 374/392 xã đạt 96%, Nghệ Tĩnh 565/664 xã đạt 87,9%, Thanh Hoá 554/554 xã đạt 100%). 1.945/2.161 cơ sở tự huấn luyện đạt 90%. Sinh viên học sinh các trường được huấn luyện 155.682 người, có 80% trở lên đạt loại khá, giỏi. Trường Văn hoá Quân khu luyện thi đạt kết quả tốt; thi đại học và trung học chuyên nghiệp đạt 83%. Các trường hậu cần, kinh tế, các đội huấn luyện binh chủng và Trường Quân chính ba tỉnh cố gắng khắc phục nhiều khó khăn hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch (Trường Quân chính Thanh Hoá đào tạo, bồi dưỡng được: 1.753 cán bộ, Nghệ Tĩnh: 1.441, Bình Trị Thiên: 1.328; Trường Hậu cần Quân khu: 1.055; Trường Y Quân khu 748, Trường xe 668, Đội huấn luyện pháo binh 176, công binh 328, thông tin 677, cao xạ 191, trinh sát 287). Bên cạnh hệ thống nhà trường, Thường vụ Đảng ủy Quân khu chỉ thị tổ chức Trường Đảng Quân khu và hệ thống các lớp huấn luyện về Đảng ở các đơn vị. Trường Đảng Quân khu (gồm có 3 đồng chí trong Ban giám hiệu) do đồng chí Phan Văn Đường - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy - Phó chính ủy Quân khu trực tiếp làm Hiệu trưởng kiêm Chính ủy. Nhiệm vụ của nhà trường là: 1. Bồi dưỡng lý luận công tác đảng, công tác chính trị cho cán bộ chính trị cấp đại đội, cho Bí thư chi bộ và cán bộ trung cấp thuộc các ngành trong Quân khu. 2. Bồi dưỡng giáo viên chính trị cho các lớp tập huấn về Đảng ở sư đoàn, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, các cục, các trung đoàn trực thuộc. 3. Tập huấn cho cán bộ các ngành nghiệp vụ công tác đảng, công tác chính trị theo chương trình thống nhất do Tổng cục Chính trị quy định. Nghiên cứu những vấn đề lý luận - thực tiễn phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy, giúp cho sự chỉ đạo của cấp ủy về công tác đảng, công tác chính trị". Nhiệm vụ các lớp huấn luyện về Đảng ở các đơn vị là: bồi dưỡng cho chi ủy viên, bồi dưỡng lý luận chính trị công tác đảng, công tác chính trị cho cán bộ sơ cấp. Hưởng ứng chiến dịch huấn luyện do Bộ Quốc phòng phát động, Quân khu và các đơn vị, địa phương tích cực thực hiện sáng tạo, góp phần tạo ra bước đột phá mới cả về lãnh đạo, tổ chức chỉ huy, chỉ đạo và thực hiện. Nổi bật là tập trung bồi dưỡng cán bộ trước và trong quá trình huấn luyện, coi trọng nâng cao trình độ chỉ huy theo chức trách, bồi dưỡng công tác tham mưu cho cấp trung đoàn trở lên; đồng thời, chú trọng bồi dưỡng cán bộ cơ sở. Công tác huấn luyện các đơn vị tập trung, lực lượng vũ trang địa phương và quân dự bị động viên đạt kết quả tốt. Công tác đào tạo, bồi dưỡng ở các trường Quân khu "đúng hướng, tích cực, có nỗ lực rất cao, kiên quyết chấp hành đúng mệnh lệnh, chỉ thị của Bộ. Các nhà trường chú ý cải tiến nội dung, phương pháp huấn luyện, tăng cường cho học viên đi thực tế; bước đầu suy nghĩ, tìm tòi những cái mới để vận dụng vào huấn luyện, bảo đảm nâng cao chất lượng; nhất là trình độ tổ chức, chỉ huy, năng lực hành động. Tuyệt đại bộ phận cán bộ (bao gồm 400 lớp học tập, tập huấn với hơn 40.000 lượt sĩ quan, hạ sĩ quan, nhân viên chuyên môn nghiệp vụ ba thứ quân, hai lực lượng)1, bổ sung đi chiến đấu đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, có tinh thần chiến đấu ngoan cường, chấp hành kỷ luật nghiêm, quan hệ quần chúng tốt"2. Kết quả dạy và học của các nhà trường trong năm học 1978-1979 (10-1978 đến 10-1979) "đã làm cho cán bộ nhận thức đúng đắn những vấn đề cơ bản trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc"3, "đáp ứng yêu cầu cán bộ về số lượng và chất lượng”4. Trong đó Trường Quân chính Quân khu và Trường Hạ sĩ quan Quân khu đào tạo, bổ túc được 4.285 cán bộ và hạ sĩ quan tốt nghiệp ra trường 100%. Đi đôi với chiến dịch huấn luyện, ngày 30-5-1979, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị mở chiến dịch "bám biển quyết thắng giặc xâm lược". Trước mắt là tạo thế đoàn kết hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch đánh cá vụ năm, xây dựng thế trận chuẩn bị đánh địch trên biển, rút kinh nghiệm xây dựng thế trận liên hoàn cho những năm tiếp sau. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm có Tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân, các hải đội của xí nghiệp đánh cá Cửa Hội, hợp tác xã Hải Đông, Hùng Cường, Trần Phú của xã Nghi Hải (Nghi Lộc). Ngoài yêu cầu vượt chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao cho vụ cá, mỗi lao động phấn đấu sản xuất thêm 100kg cá "vì đồng bào 6 tỉnh biên giới ruột thịt, đánh thắng giặc xâm lược". Mỗi đơn vị đẩy nhanh, đẩy mạnh tốc độ, chương trình, chất lượng xây dựng, huấn luyện, kết hợp kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, canh gác, tuần tra trên biển với sản xuất, tổ chức 1 - 2 lần diễn tập xử lý tình huống đề ra. Xí nghiệp đánh cá Cửa Hội, các hợp tác xã Trần Phú, Hùng Cường, Hải Đông, mỗi nơi nhận đỡ đầu một đội tàu thuyền của Tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân, giúp tiểu đoàn nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật tiên tiến trong đánh bắt hải sản. Chiến dịch bám biển triển khai thực hiện trong 3 tháng (từ ngày 14-6 đến 14-9-1979), góp phần động viên mạnh mẽ tinh thần "bám biển như bám chiến trường" với khí thế cách mạng tiến công sôi nổi: "Người người sôi nổi tiến quân, mỗi tàu thuyền là mỗi mũi tiến công sắc bén, một pháo đài vững chắc trên biển". Các đơn vị đều tăng thời gian bám biển, tăng mẻ lưới, tăng năng suất và sản lượng, làm đà cho các chiến dịch sau. Đồng thời góp phần cổ vũ, động viên các hải đội, hải đoàn khác trong vùng cùng thi đua "Hai giỏi” (đánh cá giỏi, sẵn sàng chiến đấu giỏi). _____________________________________________ 1. Trong số này có 17.930 sĩ quan ra trường, bổ sung đơn vị chiến đấu 10.345. Tại các trường thường xuyên có 8.000 - 10.000 cán bộ và hạ sĩ quan tham gia học tập. 2, 3, 4. Báo cáo của Bộ tư lệnh Quân khu 4 ngày 20-11-1979 về kết quả dạy và học trong năm 1978-1979. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 12:52:52 pm Trong một thời gian ngắn, quân và dân trên địa bàn đã "nỗ lực khắc phục nhiều khó khăn, phức tạp, từng bước hình thành được thế trận, tuyến phòng thủ mới trên từng địa bàn, tổ chức và xây dựng thêm nhiều lực lượng mới; tuyển quân vượt chỉ tiêu; huấn luyện chiến sĩ mới chi viện lực lượng cho phía trước vượt thời gian quy định; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ với khối lượng rất lớn, chất lượng ngày càng cao. Trình độ sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh chiến đấu và chất lượng ba thứ quân được nâng lên; rõ nhất là các đảo, tuyến 1 ven biển và các trọng điểm"1. Tuy vậy, tốc độ vẫn còn chậm, chất lượng không đồng đều, thế trận chuẩn bị chiến đấu chưa hoàn chỉnh, chưa bảo đảm vững chắc trong mọi tình huống. Để tiếp tục "thực hiện nhiệm vụ và quyết tâm đánh thắng mọi hình thức chiến tranh xâm lược ngay trên tuyến 1, ngoài mép nước, kiên quyết không cho chúng chiếm bàn đạp và mở rộng chiến tranh, giành thắng lợi trong thời gian tương đối ngắn và sẵn sàng đánh lâu dài, lâu bao nhiêu cũng đánh và quyết đánh thắng hoàn toàn, đồng thời, làm tròn nhiệm vụ của hậu phương trực tiếp chi viện cho các hướng, trực tiếp nhất là hướng Bắc", Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu không ngừng quán triệt âm mưu địch, vị trí và nhiệm vụ Quân khu trước tình hình mới. Thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống pháp, chống Mỹ cũng như những năm sau giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc cho đến cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc lần này đã chứng minh ngày càng thấm thía bài học hàng đầu này. Đảng ủy Quân khu khẳng định rõ: "Quân khu 4 là tuyến đầu. Các xã ven biển từ Hải Vân trở ra nằm trong tuyến 1. Quân khu 4 là chiến trường chống vu hồi và chia cắt chiến lược. Quân khu 4 có thể trở thành một trong những hướng quyết chiến chiến lược khi cuộc chiến diễn ra giằng co quyết liệt và diễn biến phức tạp trên hướng chủ yếu". Vai trò hậu phương của quân khu 4 cũng được nhận thức sâu sắc hơn: "Là hậu phương gắn liền với hậu phương chiến lược quốc gia và là hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Bắc, mà Thanh Nghệ Tĩnh là trực tiếp nhất". “Khi ba nước trên bán đảo Đông Dương trở thành một chiến trường thì Quân khu 4 sẽ là hậu phương trực tiếp của chiến trường Đông Dương”. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc đó, quân và dân Quân khu 4 khẩn trương, tích cực chuyển mạnh phong trào hành động gấp rút hoàn thành chương trình công tác "bảy nội dung trước mắt" theo một hướng tư tưởng kiên định. "Kẻ địch đánh vào Quân khu 4 là một khả năng thực tế - nhất là đảo và tuyến 1, với nhiều tình huống khác nhau, quy mô lớn, nhỏ khác nhau". Trong số 8 công việc cấp bách, Quân khu đặt rõ thêm trách nhiệm cho các tỉnh dựa vào khả năng từng địa phương, tổ chức lực lượng cho phù hợp nhiệm vụ bảo vệ địa bàn; bảo đảm cho các đảo đủ lực lượng đánh liên tục, dài ngày, sắp xếp đội hình các đơn vị làm nhiệm vụ trên tuyến phòng thủ, khu vực phòng ngự then chốt để xây dựng trận địa và huấn luyện theo phương án tác chiến đề ra. Các tỉnh phát động chiến dịch toàn dân tham gia xây dựng trận địa trên các đảo, các tuyến phòng thủ, các khu vực phòng ngự, các vành đai bảo vệ thị trấn, thị xã, thành phố (gồm công sự bắn, hầm trú ẩn, đài quan sát, sở chỉ huy, trận địa pháo, hầm thương binh, hầm chứa đạn dược, lương thực, hào giao thông). Ở các vùng đồi núi đất cứng, tổ chức đào địa đạo dã chiến. Trong những tháng mùa mưa, toàn Quân khu triển khai kế hoạch sẵn sàng chiến đấu đề phòng các cuộc tập kích phá hoại các bến cảng, kho tàng, bãi tập trung trang bị kỹ thuật, các đầu mối giao thông, khu kinh tế quan trọng, các đê đập trọng yếu... Trong số đó, các đảo, thị trấn Bỉm Sơn, thị xã Thanh Hoá, các khu vực Cửa Lò, Cửa Hội, Vinh - Bến Thủy, Đèo Ngang, Đồng Hới, Cửa Việt, Cửa Thuận, thành phố Huế và Phú Lộc là trọng điểm của các khu vực bảo vệ. Trong lúc Quân khu triển khai bổ sung phương án tác chiến, ngày 26-6-1979, Bộ Tổng Tham mưu ra mật lệnh giao nhiệm vụ cho Quân khu tổ chức bàn giao Sư đoàn 316B (mang phiên hiệu 356) về làm lực lượng dự bị cơ động của quân khu 2, sẵn sàng cơ động lên Điện Biên làm nhiệm vụ chi viện cho hướng Bắc Lào khi có lệnh. Ngày 6-7-1979, Bộ tư lệnh Quân khu 4 ra mệnh lệnh hành quân cho Sư đoàn 356 quy định: Sư đoàn tổ chức đơn vị hành quân từ Tân Kỳ (Nghệ An) đến tỉnh Hoàng Liên Sơn. Yêu cầu là chuẩn bị chu đáo, lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ, bí mật, an toàn, đi gọn đội hình, đến đúng thời gian, địa điểm quy định, giữ tốt kỷ luật giao thông. Đường hành quân từ Tân Kỳ đến ga Si và ga Cầu Giát đi xe lửa ra ga Bảo Hà, rồi tiếp tục hành quân đến địa điểm quy định. Đội hình hành quân lấy trung đoàn làm đơn vị theo thứ tự: Trung đoàn 149, Trung đoàn 153, Sư đoàn bộ, Trung đoàn 150, Trung đoàn 174. Sau cùng là các loại pháo và cơ sở vật chất kỹ thuật còn lại. Kế hoạch hành quân được Quân khu phê duyệt thực hiện từ ngày 10 đến ngày 22-7-1979, sư đoàn triển khai xong ở vị trí mới. Quân khu quyết định chuyển giao toàn bộ khu doanh trại của Sư đoàn 356 ở xã Kỳ Sơn (Tân Kỳ), Giang Sơn (Đô Lương), Thịnh Thành (Yên Thành), ngã ba Săng Lẻ (Quỳ Hợp) thuộc quyền quản lý sử dụng của Sư đoàn 318. Sư đoàn 356 và Sư đoàn 318 tổ chức giao nhận đầy đủ theo đúng thủ tục, đầy đủ hồ sơ (bao gồm đất đai xây dựng, đất tăng gia, sản xuất, doanh trại, vật liệu làm nhà, thao trường học cụ...). ____________________________________________ 1. Nghị quyết Đảng ủy Quân khu 4 (11-12.6.1979), lưu tại Bộ tư lệnh Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 12:54:59 pm Chấp hành mệnh lệnh ngày 1-7-1979 của Bộ tư lệnh Quân khu, Sư đoàn 318 tổ chức cho các đơn vị từ Nghi Lâm (Nghi Lộc), Hiến Sơn (Đô Lương), Diễn Lộc (Diễn Châu), Viễn Sơn (Yên Thành) về thay thế Sư đoàn 356 đứng chân ở Kỳ Sơn - Làng Rào (huyện Tân Kỳ), ngã ba Săng Lẻ (Quỳ Hợp), Giang Sơn (Đô Lương), Thịnh Thành (Yên Thành). Cuộc tổ chức hành quân, giao nhận, kết hợp vận chuyển hai chiều (chở Sư đoàn 356 xuống ga Si, ga Cầu Giát, chở Sư đoàn 318 lên thay thế vị trí cũ của Sư đoàn 356) diễn ra khẩn trương, an toàn. Đây là một dịp thử thách thực tế trình độ cơ động sẵn sàng chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật của quân cơ động Quân khu, đúc rút được kinh nghiệm về nhiều mặt cho Quân khu từ cơ quan đến đơn vị. Trong 15 ngày (từ ngày 10 đến ngày 25-7), đội hình chiến đấu mới của hai Sư đoàn 356 và 318 đã triển khai xong. Đồng thời với việc điều chuyển hai sư đoàn 356 và 318, ngày 14-7-1979, Quân khu chỉ thị cho các đơn vị thực hiện kế hoạch tổ chức lực lượng năm 1979 theo quy định của Bộ Quốc phòng. Quá trình triển khai thực hiện, rút kinh nghiệm thực tế, Quân khu và các đơn vị đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng; nghiên cứu tính toán khoa học, cụ thể, tỷ mỷ xác định khi biên chế, tổ chức lực lượng1. Riêng cơ quan chính trị Quân khu, Tổng cục Chính trị điều chỉnh bổ sung: Tổ chức thêm Phòng Địch vận Quân khu (tuyến 1 gồm 6 sĩ quan có 1 phiên dịch; tuyến 2: 3 sĩ quan có 1 phiên dịch)2. Chấp hành Quyết định số 228/TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 688/QĐ-QP của Bộ trưởng Quốc phòng, Quân khu tổ chức một số đơn vị dự bị động viên như: Chuyển ngay Sư đoàn 358 thành sư đoàn dự bị động viên; thành lập Sư đoàn 359 thuộc Quân khu; đồng thời thành lập 3 trung đoàn dự bị động viên ở ba tỉnh (Trung đoàn 840 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá, Trung đoàn 841 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh, Trung đoàn 842 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên). Nhiệm vụ của các đơn vị quân dự bị động viên được quy định rõ: Cùng cơ quan quân sự địa phương đăng ký; quản lý, theo dõi quân dự bị được sắp xếp vào biên chế đơn vị; khi có lệnh, nhanh chóng tập trung nhận nhiệm vụ đúng thời gian quy định; tổ chức xây dựng, huấn luyện đơn vị theo thời gian quy định; bảo đảm đơn vị luôn luôn sẵn sàng chiến đấu; huấn luyện dân quân tự vệ, quân dự bị động viên theo nội dung, chương trình Quân khu và tỉnh giao. Ngoài các đơn vị dự bị động viên trên, mỗi tỉnh tổ chức 1 sư đoàn chưa có phiên hiệu và một số tiểu đoàn (Thanh Hoá 16 tiểu đoàn, Nghệ Tĩnh 22 tiểu đoàn, Bình Trị Thiên 12 tiểu đoàn). Các lực lượng này vẫn tiến hành huấn luyện rộng rãi, thực hiện “quân sự hoá toàn dân, vũ trang toàn dân”, sẵn sàng chiến đấu. Riêng Sư đoàn 358 nhanh chóng kiện toàn mọi mặt, tổ chức huấn luyện cán bộ và quân dự bị sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu vào cuối năm 1979. Ngày 12-7, Bộ tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ cụ thể cho Sư đoàn 358. Ngày 20-7 hoàn thành việc kiện toàn khung sư đoàn. Mọi mặt công tác chuẩn bị của sư đoàn được tiến hành đầy đủ. Từ ngày 21-7 đến ngày 10-8-1979, sư đoàn tập trung huấn luyện cán bộ. Chỉ trong một tháng, vừa chuẩn bị địa điểm đóng quân, quan hệ với các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, các đoàn thể ở Thanh Hoá, chuẩn bị mọi mặt công tác chính trị - tư tưởng, bảo đảm vật chất, tinh thần cho bộ đội, tiếp nhận trang bị, vũ khí. Từ ngày 14 đến ngày 20-8-1979, sư đoàn và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã hoàn thành việc giao nhận chiến sĩ quân dự bị. Ngày 20-8-1979, đợt huấn luyện chiến sĩ Sư đoàn 358, bắt đầu và hoàn thành chương trình vào cuối tháng 10-1979. Ngày 25-7-1979, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị nhiệm vụ cho Sư đoàn 359. Công tác điều động sĩ quan dự bị hoàn thành trong tháng 9. Tháng 10, tập trung huấn luyện cán bộ, chuẩn bị địa điểm để tiếp nhận chiến sĩ, triển khai mọi công tác bảo đảm và tháng 12 bắt đầu điều động quân dự bị, tổ chức huấn luyện theo chương trình, nội dung quy định. Đối với Sư đoàn 318, Bộ tư lệnh Quân khu tiếp tục kiểm tra, đánh giá tình hình và chỉ thị giao thêm một số nhiệm vụ mới. Trong một thời gian ngắn, sư đoàn phát triển đều trên các mặt, có nhiều triển vọng với khí thế và quyết tâm cao. Tuy nhiên, việc quán triệt tình hình, nhiệm vụ chưa thật sâu; công tác chính trị chưa đi sát huấn luyện. Trong huấn luyện chưa chú ý toàn diện. Việc bồi dưỡng điển hình ở các đơn vị chưa tích cực, thường xuyên. Quân khu xác định và giao trách nhiệm cho sư đoàn quán triệt sâu sắc hơn nữa đối với bộ đội về nhiệm vụ cơ bản của sư đoàn. Đây là sư đoàn chủ lực bộ binh cơ động của Quân khu có nhiệm vụ chiến đấu trên địa bàn Quân khu và sẵn sàng đi các hướng khi cần thiết. Trên cơ sở quyết tâm và kế hoạch phòng thủ cơ bản của Quân khu, sư đoàn xây dựng các phương án và kế hoạch tác chiến trên các hướng thuộc hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hoá. Nhiệm vụ cụ thể của sư đoàn được xác định: rèn luyện, xây dựng thành sư đoàn chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến, đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, tiến công và phản công giỏi, phòng ngự vững chắc, kiên cường. Ra sức xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện. Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phấn đấu vượt các chỉ tiêu Quân khu đề ra; nghiên cứu ổn định vị trí đóng quân của sư đoàn, từng bước xây dựng doanh trại, cải thiện đời sống tinh thần, vật chất của bộ đội. Đồng thời, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ quốc tế được giao. ______________________________________________ 1. Theo quy định của Bộ, Quân khu phân bổ cụ thể như sau: lực lượng chủ lực Quân khu 31.609; lực lượng các tỉnh: 13.391 (Thanh Hoá 4.587, Nghệ Tĩnh 4.656, Bình Trị Thiên 4.148). Tổng quân số chiền đấu là 45.000; quân số xây dựng cơ bản 1.500; quân số nòng cốt sản xuất 1.200; quân số lâm thời 2.000. Chưa tính quân số xây dựng kinh tế. 2. Cục Chính trị Quân khu đã có 185 người (88 sĩ quan) gồm 1 chủ nhiệm, 2 phó chủ nhiệm, Phòng Tuyên huấn 20 sĩ quan, Phòng Tổ chức 14 sĩ quan và 1 hạ sĩ quan, Phòng Cán bộ 18 sĩ quan, Phòng Bảo vệ 10 sĩ quan, Phòng Chính sách 10 sĩ quan, Phòng Kế hoạch - Hành chính 4 sĩ quan. Trợ lý công tác chính trị nội bộ 1 sĩ quan, Văn công có 3 sĩ quan và các phân đội trực thuộc như: Vật tư, công tác chính trị, bảo tàng, xưởng in, trại T41. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 01:20:08 pm Nhằm chuẩn bị thế trận sẵn sàng chiến đấu, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tập trung đầu tư một số mặt công tác cơ bản. Tháng 5 năm 1979, Quân khu tổ chức hội nghị cán bộ chủ trì các cấp từ trung đoàn trở lên nhằm nghiên cứu quán triệt kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc. Hội nghị tập trung nghiên cứu những vấn đề chủ yếu, trong đó có các nội dung cốt lõi, đã được đúc kết, vận dụng vào thực tiễn: quán triệt quyết tâm chiến lược, xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng; quán triệt đường lối, quan điểm, tư tưởng quân sự của Đảng trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; xây dựng và phát triển lực lượng, nâng cao chất lượng chiến đấu của các lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu; đồng thời xây dựng và kiện toàn cơ quan chính trị các cấp, cải tiến phương pháp, tác phong công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang. Hội nghị đánh giá tình hình xây dựng Đảng, thực hiện cuộc vận động lớn “Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang”; tổ chức rút kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong động viên quân dự bị ở thành phố Vinh; sơ kết việc thực hiện Nghị quyết 228 của Bộ Chính trị và chủ trương tổ chức sinh hoạt chuyên đề trong cấp ủy bàn về "tăng cường quản lý giáo dục, nâng cao kỷ luật của các lực lượng vũ trang, chấm dửt các vụ vi phạm nghiêm trọng". Về công tác xây dựng Đảng, Hội nghị nêu rõ: Tình hình phát triển đảng viên chưa theo kịp yêu cầu phát triển của nhiệm vụ. Nhiều quần chúng tốt được thử thách nhưng chưa được các cấp tích cực bồi dưỡng đưa vào Đảng, nên tỷ lệ lãnh đạo ngày càng sút giảm1. Sau Hội nghị này, Đảng ủy Quân khu chỉ đạo chuyên đề "tăng cường công tác phát triển Đảng, kiện toàn tổ chức Đảng trong lực lượng vũ trang". Yêu cầu phấn đấu đến tháng 10 năm 1979, các đại đội đều có chi bộ chính thức vững chắc; mỗi chi bộ có 7 đảng viên trở lên, tạo cơ sở tiền đề để năm 1980 tất cả các chi bộ đại đội đều có chi ủy, trung đội có tổ Đảng. Để khắc phục tình hình hoạt động của các tổ chức cơ sở 3 cấp chưa chuyển biến mạnh về phương thức, nhất là cấp trung đoàn vẫn theo nếp cũ (mang tính chất cấp trên cơ sở), Quân khu giao cho Cục Chính trị trực tiếp chỉ đạo 1 trung đoàn của Sư đoàn 318 rút kinh nghiệm về hoạt động cơ sở. Một trong ba biện pháp quan trọng được Quân khu đặc biệt coi trọng là: Tất cả mỗi cấp, mỗi đảng viên đều căn cứ vào 10 điểm quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng để đi sâu vào chức trách, nhiệm vụ, tự phê bình và phê bình. Cấp ủy coi trọng trách nhiệm xây dựng Đảng. Đảng viên rà xét sâu vào ý chí chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật, trách nhiệm và hiệu quả trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, rèn luyện trau dồi phẩm chất đạo đức. Cùng với việc chỉ đạo "điểm" của Quân khu, tất cả các nơi đều phải thực hiện đi xuống 2 cấp để kiểm tra, hướng dẫn thực hiện và rút kinh nghiệm hoạt động của Đảng ủy cơ sở và chi bộ. Đến cuối năm 1979, toàn Quân khu đã kết nạp được 3.200 đảng viên mới. Đội ngũ cán bộ các cấp và tổ chức Đảng được thường xuyên kiện toàn, bồi dưỡng. Hiệu lực lãnh đạo của các cấp ủy, hiệu lực chỉ huy của chế độ thủ trưởng bước đầu có chuyển biến. Công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ lực lượng vũ trang, chống chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp đều triển khai có kết quả. Chấp hành chỉ thị của đồng chí Lê Duẩn - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ thị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong dịp hai đồng chí vào thăm, làm việc với Quân khu 4 đầu năm 1979, Bộ tư lệnh Quân khu và các đơn vị vừa tập trung hoàn thành nhiệm vụ. huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, vừa triển khai chương trình, kế hoạch góp phần tham gia xây dựng huyện Nam Đàn quê Bác về mọi mặt. Thay mặt Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu, Trung tướng Lê Quang Hoà - Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu báo cáo Trung ương Đảng, Chính phủ và hai đồng chí đứng đầu cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Chính phủ những kết quả bước đầu nhưng có ý nghĩa như: Tham gia với Tỉnh ủy Nghệ An và Huyện ủy Nam Đàn về phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu xây dựng Nam Đàn. Bố trí lực lượng tham gia đào mương chống úng đắp đê phòng lũ ở vùng trọng điểm lúa; tham gia chiến dịch trồng màu, giúp 1.000kg giống khoai Hoàng Long, cử cán bộ kỹ thuật trực tiếp giúp đỡ hướng dẫn ươm nhân giống và thâm canh, cử cán bộ kỹ thuật giúp xây dựng Xưởng cơ khí 19-5 sản xuất công cụ cầm tay, máy công tác phục vụ nông nghiệp quy mô 560 tấn sản phẩm/năm, giá trị sản lượng 1 triệu đồng. Ngoài ra còn giúp đỡ xây dựng đường giao thông, giúp gieo ươm cây thông giống và tham gia trồng 180ha đồi thông; giúp các xã điểm xây dựng một số công trình nhà trẻ, trường mẫu giáo, vườn thuốc nam và cơ sở chế biến tự túc thuốc chữa bệnh; tham gia giảng dạy trường Đảng; cử cán bộ tham mưu về phương án kế hoạch xây dựng thế trận an ninh quốc phòng. Thường vụ Đảng ủy Quân khu trực tiếp truyền đạt các nghị quyết về quốc phòng. Việc tham gia trực tiếp xây dựng quê hương Bác góp phần nâng cao tình cảm thiêng liêng, ý thức trách nhiệm, lòng biết ơn sâu nặng đối với Bác, mở ra tiền đề, nền nếp tiếp tục những năm sau. Với truyền thống tự lực tự cường, kết hợp tranh thủ sức mạnh đoàn kết "quân dân một ý chí", Quân khu gửi thư thông báo cho các lực lượng vũ trang chủ trương xây dựng Viện quân y 4 tại thành phố Vinh, quyết tâm nhanh chóng chuyển Viện quân y 4 từ Thanh Cát về trong năm 1979. Ngoài lực lượng chủ yếu là Cục Hậu cần Quân khu và Trung đoàn 105, các đơn vị, các cơ quan đăng ký đóng góp lao động, kỹ thuật, vật liệu xây dựng. Các xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng của Quân khu ưu tiên số 1 cung ứng cho nhu cầu của Viện quân y 4. Thanh niên các cơ quan Quân khu, các trung đoàn 105, 654, 223, 167; các sư đoàn, trung đoàn chủ lực và địa phương tích cực tham gia "chiến dịch lao động quyết thắng thi công công trình Viện quân y 4 phục vụ thương binh, bệnh binh” hoàn thành đúng vào dịp kỷ niệm 35 năm ngày thành lập quân đội (22.12.1944 - 22.12.1979). ___________________________________________ 1. Mặc dù trong 3 tháng (tháng 4 đến tháng 6 năm 1979) Quân khu đã tập huấn 30.260 cán bộ các cấp, trong đó có 1.680 Bí thư chi bộ; các chi bộ kết nạp 865 đảng viên mới, nhưng vẫn còn 30 "chi bộ dự bị", 20 đại đội không có chi bộ. Đảng viên trung bình từ 2,09% (cuối năm 1978) tăng lên 2,98% (năm 1979); chi bộ chưa phấn đấu tốt còn chiếm tới 9,06 (tăng 1,05). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 01:22:14 pm Trước những thiệt hại trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, một số đơn vị đã chủ động đề nghị Quân khu cho phép quyên góp giúp đỡ đồng bào các tỉnh phía Bắc bị chiến tranh tàn phá. Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu gửi thư cho toàn bộ cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, kêu gọi "hướng về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc" phát huy tinh thần hữu ái giai cấp, đoàn kết quân dân; cho phép các đơn vị tổ chức lao động sản xuất lấy tiền, gạo gửi giúp. Chủ trương này được khắp nơi nhanh chóng hưởng ứng. Nguyên tắc là không rút bớt tiêu chuẩn bộ đội, không trừ vào tiền lương, phụ cấp. Ai ai cũng gắng làm nên sản phẩm lao động để tăng tiềm lực và thiết thực bày tỏ tình cảm “máu chảy ruột mềm” gắn bó với nơi nước sôi, lửa bỏng". Những tháng cuối năm 1979, nhịp độ mọi mặt công tác của Quân khu ngày càng trở nên khẩn trương. Những đợt mưa kéo dài đã làm sập bờ gây hư hại nhiều công sự dã chiến. Ngày 23-9-1979, cơn bão số 10 đổ bộ vào bắc Bình Trị Thiên, gây lũ lụt lớn ở Lệ Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch. Bộ tư lệnh Quân khu điều động một số xe lội nước, phương tiện và lực lượng nhanh chóng cơ động kịp thời đến vùng "rốn lụt" Lệ Ninh lức 21 giờ, phối hợp cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, cứu dân bị nạn và cứu tài sản bị ngập lụt. Trong khi đó, các đơn vị, địa phương khẩn trương triển khai thực hiện Mệnh lệnh tác chiến số 1 (ngày 24-9-1979) của Bộ Quốc phòng theo 3 tình huống có thể xảy ra ở Quân khu 4, với 5 nhiệm vụ cụ thể. Các địa phương, đơn vị huy động lực lượng khẩn trương xây dựng, củng cố lại trận địa, hầm hào, theo tư tưởng chỉ đạo "xây dựng bằng gạch đá và lắp ghép công sự có nắp, loại trừ dần công sự tạm bợ". Đồng thời, kiểm tra, tăng cường chất lượng thế trận. Nhìn chung, lực lượng ba thứ quân đã được huấn luyện và đứng chân theo phương án 3 tình huống. Lực lượng chủ lực Quân khu có 1 sư đoàn và 3 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn đặc công, các trung đoàn binh chủng kỹ thuật. Quân đoàn 7 đang xây dựng (gồm 3 sư đoàn) được Bộ giao cho Quân khu 4. Lực lượng dân quân tự vệ 93 vạn1. Khi chiến tranh xảy ra, trong chiến đấu, Quân khu có thể được chi viện cao nhất từ 30 - 40 lần/chiếc máy bay cường kích oanh tạc, một số máy bay trinh sát phục vụ chỉ huy, cấp cứu, tải thương thuộc Sư đoàn không quân 372. Nếu kẻ địch đổ bộ chủ yếu vào Quân khu 4, Quân khu được lực lượng của vùng I hải quân, một bộ phận của Hạm đội 171 và Lữ đoàn 126 hải quân lục chiến thuộc Bộ tư lệnh Hải quân hiệp đồng tác chiến. Quân khu còn có trung đoàn phòng không bảo vệ sân bay Thọ Xuân phối hợp với không quân tiêm kích Sư đoàn 372 bảo vệ không phận Quân khu 4 ở khu vưc trọng điểm. Trong khi tiếp tục phát triển thêm lực lượng theo kế hoạch động viên thời chiến2 với khối lượng lớn và khẩn trương, Quân khu dồn sức tập trung chỉ đạo các cuộc diễn tập và tổ chức bắn đạn thật vào các mục tiêu trên biển cho các loại pháo. Mở đầu là cuộc diễn tập bắn đạn thật các loại pháo cối mang vác và pháo xe kéo của tỉnh Bình Trị Thiên. Nhiệm vụ là: bắn mục tiêu trên biển, cự ly bắn trên dưới 10 kilômét; bắn mục tiêu tạm dừng của quân đổ bộ ở ba cự ly 7km, 3km và 1km. Tiếp đó là diễn tập theo phương án tác chiến trên khu vực phòng thủ tỉnh Thanh Hoá. Đề mục diễn tập là trung đoàn bộ đội địa phương tỉnh tổ chức và thực hành chiến đấu phòng ngự đánh quân địch đổ bộ đường biển trong pháo đài quân sự huyện và cụm chiến đấu liên hoàn trên hướng phòng ngự của tỉnh. Khu vực diễn tập là huyện Quảng Xương và thị trấn Sầm Sơn. Cơ quan quân sự Quảng Xương và Sầm Sơn cùng Trung đoàn 840 và 1 đại đội pháo chốt ở Sầm Sơn là lực lượng chính đảm nhiệm xử trí các tình huống. Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo, chỉ huy, triển khai thực hành diễn tập. Cơ quan Quân khu cử cán bộ trực tiếp chỉ đạo diễn tập. Chấp hành chủ trương của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương về chấn chỉnh hệ thống tổ chức cơ quan kỹ thuật trong toàn quân, ngày 24-2-1979 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 177/QĐ-QP thành lập Cục Kỹ thuật ở các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng. Ngày 15-9-1979, Bộ tư lệnh Quân khu ra quyết định thành lập Cục Kỹ thuật, trực thuộc Bộ tư lệnh Quân khu. Cùng thời gian, Bộ tư lệnh Quân khu lệnh cho Sư đoàn 359 hành quân từ xã Hưng Dũng (thành phố Vinh) đến khu vực xã Diễn Lộc (huyện Diễn Châu), xã Đức Thành (huyện Yên Thành). Sư đoàn triển khai đội hình trong thời gian 3 ngày từ lúc nhận lệnh (ngày 17-9-1979). Sư đoàn 318 triển khai diễn tập thực binh cấp trung đoàn và thủ trưởng cơ quan hai cấp (sư đoàn, trung đoàn) theo tư tưởng chỉ đạo chiến lược: "Phòng ngự và tiến công là một, phản công và tiến công là một, và tiến công”. “Kết hợp chặt chẽ chiến tranh nhân dân của binh đoàn chủ lực với chiến tranh nhân dân địa phương, tạo thành sức mạnh tổng hợp đánh thắng quân xâm lược". Phương pháp là: Diễn tập thực binh trung đoàn, cả quân sự, chính trị, hậu cần theo phương pháp một bên, có "quân xanh" và đạn hơi tượng trưng cho tình huống chiến đấu. Đồng thời, diễn tập thủ trưởng và cơ quan hai cấp theo phương pháp tập bài chiến thuật tại thực địa kết hợp với các chỉ thị, mệnh lệnh, thông báo của cấp trên, với việc báo cáo tình hình của các đơn vị, của hệ thống chỉ huy cấp dưới. Phân cấp chỉ đạo diễn tập thực binh trung đoàn do sư đoàn tổ chức. Diễn tập thủ trưởng và cơ quan hai cấp do Quân khu tổ chức, chỉ đạo; tổ chức hệ thống đạo diễn các cấp tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, các binh chủng. Vùng nam Cửa Lò (trên địa bàn hai xã Nghi Thu, Nghi Thủy, huyện Nghi Lộc) được chọn làm khu vực diễn tập. Khu tập kết, giấu quân, đường hành quân, vị trí triển khai ở phía tây các xã Nghi Thu, Nghi Thủy. Diễn tập thủ trưởng và cơ quan hai cấp diễn ra trên toàn bộ địa bàn huyện Nghi Lộc, liên quan đến việc hành quân, tập kết ở các huyện phía sau như Yên Thành, Đô Lương. Cuộc diễn tập thực binh được tiến hành trong 4 ngày. Diễn tập thủ trưởng và cơ quan hai cấp 4 ngày. ____________________________________________ 1. Đây là theo mệnh lệnh của Bộ, lúc đó Quân khu đã có 979.786 dân quân tự vệ (14.4% dân số), dân quân tự vệ chiến đấu 547.096. 2. Theo đó, Quân khu phải xây dựng xong 2 sư đoàn, 3 trung đoàn, 44 tiểu đoàn dự nhiệm, đưa quân số thường trực lên 10 vạn (không kể Quân đoàn 7) nâng số lượng dân quân tự vệ từ 93 vạn năm 1979 lên 128 vạn vào năm 1981, trong đó có 60 vạn thuộc lực lượng chiến đấu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 01:22:55 pm Chủ động đối phó với tình hình mới, ngày 2-10-1979, Bộ Quốc phòng quyết định điều Quân đoàn 7 về trực thuộc Quân khu 4 từ ngày 15-10-1979. Bộ Quốc phòng xác định: “Quân đoàn 7 là lực lượng cơ động của Quân khu 4, đồng thời là lực lượng dự bị của Bộ”. Ngoài nhiệm vụ chỉ huy, lãnh đạo các sư đoàn trong đội hình, Quân đoàn 7 “có trách nhiệm giúp Quân khu 4 quản lý, huấn luyện Sư đoàn 318 bộ binh của Quân khu”. Cùng với việc được tăng cường Quân đoàn 7, ngày 2-10-1979, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị huấn luyện bổ sung cho các trung đoàn địa phương và dân quân tự vệ, trong đó quy định một số nội dung chủ yếu: Các trung đoàn địa phương của 3 tỉnh (gồm các trung đoàn 6, 762, 764) phải huấn luyện trung đoàn phòng ngự bờ biển; huấn luyện thành thạo từ cá nhân đến đại đội; huấn luyện chiến thuật đại đội, tiểu đoàn cho cán bộ; huấn luyện nghiệp vụ công tác tham mưu cho cơ quan trung đoàn; tiến hành diễn tập thực binh trung đoàn kết hợp với pháo đài quân sự huyện. Các binh chủng pháo binh của các tỉnh huấn luyện các đại đội pháo dọc bờ biển và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu. Cán bộ, dân quân tự vệ của một số huyện trọng điểm ven biển và phía sau thì tập trung huấn luyện cán bộ đại đội, xã đội về chiến thuật cấp trung đội, đại đội; huấn luyện dân quân tự vệ thành thạo kỹ thuật bắn từ bờ ra biển và thành thạo chiến thuật cá nhân, tổ, tiểu đội phòng ngự. Các huyện phía sau huấn luyện tiểu đội, trung đội, đại đội đánh địch đổ bộ đường không bằng máy bay lên thẳng. Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị cho tỉnh Thanh Hoá về kế hoạch tổ chức thực hiện bắn đạn thật các loại hoả lực vào mục tiêu trên biển. Lực lượng tham gia bắn gồm Đại đội 14 phòng thủ ở Sầm Sơn, Đại đội 15 phòng thủ ở Lau Chẹt; Tiểu đoàn 6 cơ động có 2 đại đội đóng ở Sầm Sơn. Khu vực bắn từ Sầm Sơn đến Lau Chẹt. Hai đại đội 14 và 15 lần lượt bắn đơn pháo vào mục tiêu cố định trên biển. Hai đại đội của Tiểu đoàn 6 cùng hai đại đội 14 và 15 bắn tập trung vào một mục tiêu cố định trên biển. Chấp hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IV) và Nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương mở rộng (8-1979), trong hai ngày 20 và 21-10-1979, Đảng ủy Quân khu họp quyết định về nhiệm vụ khẩn trương, cấp bách là quyết thắng trong tình huống 1, tình huống 2, tiếp tục chuẩn bị đối phó với tình huống chiến tranh lớn, hoàn thành mọi nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch năm 1979, chuẩn bị tốt cho nhiệm vụ năm 1980. Thực hiện Nghị quyết Đảng ủy Quân khu ngày 22-11-1979, Thường vụ Đảng ủy Quân khu 4 chỉ thị cho các lực lượng vũ trang quân khu sẵn sàng chiến đấu chống địch tiến công đổ bộ đường biển vào Quân khu. Chỉ thị nêu rõ: "Hiện nay nước ta đang ở trong tình huống 1, bọn xâm lược đang ráo riết chuẩn bị hành động phiêu lưu quân sự mới, nên tình hình đang ở thời điểm nóng bỏng sắp xảy ra chiến tranh". Các đơn vị trong Quân khu phải tập trung cao độ vào nhiệm vụ hàng đầu là khẩn trương nâng cao hơn nữa chất lượng mọi mặt công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, loại trừ bằng được mọi bất ngờ, "phải thực sự chuẩn bị cho toàn Quân khu, từng đơn vị, từng địa phương sẵn sàng chiến đấu cao nhất, bước vào cuộc chiến đấu chống quân xâm lược đổ bộ tiến công từ biển vào Quân khu". Các địa phương, đơn vị rà soát, bổ sung, tăng cường mọi mặt chuẩn bị, bảo đảm trên toàn hệ thống phòng thủ đánh bại được địch trong tình huống 1, các tỉnh hoàn thành chuẩn bị đầy đủ phương án đánh thắng tình huống 2 có diễn tập. Trong thời gian ngắn, tổ chức xong hệ thống làng, xã chiến đấu ven biển, không nơi nào sơ hở. Trên các trọng điểm xây dựng các điểm tựa, cụm điểm tựa liên hoàn vững chắc của pháo đài quân sự huyện ven biển. Xây dựng xong hệ thống công sự nòng cốt, các cụm điểm tựa ven biển, nhất là các khu vực trọng điểm, các khu vực phòng ngự chủ yếu. Các nơi hoàn thành dồn vũ khí, trang bị từ phía sau lên phía trước, hoàn chỉnh bố trí hệ thống hoả lực, mạng lưới quan sát, phát hiện địch; thông tin, có kiểm tra báo động thử. Quán triệt chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Quân khu, cấp ủy, Bộ (ban) chỉ huy quân sự các cấp, các đơn vị vạch kế hoạch, định thời gian thực hiện nghiêm túc. Các tỉnh ủy, huyện, thành, thị ủy và các cấp chính quyền thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo điều hành tổ chức thực hiện. Nhiệm vụ trọng tâm là triển khai diễn tập từ xã, cụm chiến đấu ven biển đến Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Ban chỉ huy quân sự huyện, diễn tập chỉ huy cơ quan và đơn vị, liên quan đến nhiều khâu hiệp đồng, nhiều lực lượng. Nhờ quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ bức bách và mục tiêu đánh thắng, công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu chống địch tiến công đổ bộ đường biển trên toàn Quân khu được vận hành thông suốt, bảo đảm chấp hành đúng thời gian quy định. Bộ Tham mưu Quân khu xác định lịch diễn tập từng khu vực và từng tỉnh. Ngày 3-12-1979, Bộ tư lệnh Quân khu gửi công văn đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá, nêu rõ mục đích, yêu cầu nội dung, địa bàn diễn tập, lực lượng tham gia, thời gian diễn tập và đề nghị Ủy ban nhân dân giúp đỡ. Cuộc diễn tập chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn một - chuẩn bị chiến đấu từ ngày 8 đến 11-12-1979. Giai đoạn hai - thực hành chiến đấu từ ngày 12 đến 16-12-1979. Địa bàn nghiên cứu: diễn tập gồm Sầm Sơn, Quảng Xương, thị xã Thanh Hoá, các huyện Nông Cống, Tĩnh Gia, Hậu Lộc, Hoằng Hoá. Khu vực trọng tâm tập trung diễn tập là Sầm Sơn, Quảng Xương và thị xã Thanh Hoá. Bộ tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ đạo cuộc diễn tập. Lực lượng tham gia gồm Bộ (ban) chỉ huy và cơ quan quân sự tỉnh, các huyện, thị, một số đơn vị của Quân khu (bao gồm Sư đoàn 318, các đơn vị binh chủng), bộ đội địa phương tỉnh, huyện và một số lực lượng dân quân tự vệ Sầm Sơn, Quảng Xương, thị xã Thanh Hoá. Ngày 20-12-1979, cuộc diễn tập cấp tỉnh trên địa bàn Quân khu diễn ra ở Thanh Hoá đã kết thúc thắng lợi. Quân khu và các địa phương, đơn vị đã kịp thời rút kinh nghiệm bổ sung chủ trương, kế hoạch tác chiến của đơn vị mình sát đúng, hiệu quả hơn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 01:27:31 pm * * * Năm 1979 là một năm thử thách toàn diện ở đỉnh cao đối với cả nước cũng như đối với Quân khu 4. Lợi dụng và kết hợp với chiến tranh xâm lược diễn ra trên biên giới phía Bắc (2-1979), các thế lực thù địch tăng cường ráo riết các hoạt động phá hoại, quấy rối hậu phương trên các địa bàn, cả ở biên giới, nội địa và trên biển. Thường xuyên quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, đường lối, quan điểm quân sự của Đảng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhận thức kẻ thù mới, đối tượng tác chiến mới sâu sắc, triệt để, toàn Quân khu đã có chuyển biến nhiều mặt, tinh thần cảnh giác nâng cao hơn, ý thức chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu có chiều sâu và thiết thực. Quyết tâm phòng thủ của Quân khu được Bộ phê chuẩn. Trong năm 1979, Quân khu đã thông qua quyết tâm, 2 lần giao nhiệm vụ cho ba tỉnh (tháng 1 và tháng 11-1979). Các tỉnh, huyện căn cứ vào kế hoạch tác chiến Quân khu phê chuẩn đã có biện pháp cải tạo địa hình, tiến hành làm trong sạch địa bàn, cấu trúc công sự, tăng cường bổ sung lực lượng, trang bị vũ khí, bố trí vật chướng ngại, tuần tra canh gác, chốt giữ, phong toả. Hệ thống phòng thủ bờ biển đã có các điểm tựa, cụm điểm tựa, làng xã chiến đấu, cụm chiến đấu. Trên một số trọng điểm hình thành cụm chiến đấu liên hoàn (Thanh Hoá 1/5 cụm, Nghệ Tĩnh 2/6 cụm, Bình Trị Thiên 2/6 cụm). Bên cạnh 13.572 cán bộ, chiến sĩ các đơn vị chủ lực chiến đấu tương đối ổn định tổ chức biên chế, đã huấn luyện xong chương trình huấn luyện năm 19791, lực lượng bộ đội địa phương các tỉnh được tăng cường cả về số lượng và chất lượng2. Quân dự bị động viên được tổ chức, huấn luyện tốt3. Lực lượng làm kinh tế đứng chân trên địa bàn chiến lược, vừa kết hợp xây dựng các công trình, vừa có lực lượng cơ động chiến đấu (trong đó có 3.334 quân của Sư đoàn 565 làm đường 7, có 900 quân của Trung đoàn 185 làm lực lượng cơ động chiến đấu; 2.682 quân của Sư đoàn 336 làm đường 8, có 1.100 quân của 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 875 và 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 271 làm lực lượng cơ động chiến đấu); 1.321 quân của Trung đoàn 148 làm đường 48B; 356 quân của Trung đoàn 223 đứng chân ở Phúc Sơn (Anh Sơn) làm xi măng; 528 quân của Trung đoàn 167 đứng chân ở Rào Gang (trên đường 15B) làm gạch ngói. Dân quân tự vệ được chấn chỉnh, bổ sung nâng tổng số lên 1.051.933 người (đạt tỷ lệ 15,6% số dân); trong đó dân quân tự vệ chiến đấu 682.387 người, chiếm tỷ lệ 64,8% tổng quân số dân quân tự vệ. Quy mô tổ chức lực lượng dân quân tự vệ có bước phát triển mới. Toàn Quân khu có 27 trung đoàn, 21 tiểu đoàn cơ động, 38 tiểu đoàn tại chỗ, 1.552 đại đội cơ động, 2.137 đại đội tại chỗ, 1.971 trung đội cơ động, 4.873 trung đội tại chỗ, 3 hải đoàn và hải đội. So với năm 1978, lực lượng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ tăng 2 đến 5 lần, nhất là vùng trọng điểm. Sức chiến đấu của các lực lượng tại chỗ và cơ động được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu cao về chi viện tiền tuyến. Sau khi bổ sung cho phía trước 3 sư đoàn, 5 trung đoàn, 7 tiểu đoàn đi gọn (tăng hơn năm 1978 hai lần), Quân khu khẩn trương xây dựng mới 1 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn dự bị động viên, 3 trung đoàn bộ đội địa phương tỉnh, 3 trung đoàn dự bị động viên. Quân khu đã tổ chức xong Cục Kỹ thuật và hệ thống phòng, ban kỹ thuật các cấp. Cơ quan Quân khu, tỉnh, huyện, trung đoàn, sư đoàn và Quân đoàn 7 hướng mạnh vào phục vụ lãnh đạo chỉ huy sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ địa bàn. Cùng với chỉ đạo các cấp tiến hành diễn tập theo phương án tác chiến ở 246 xã, 2 huyện, 3 trung đoàn bộ đội địa phương, 3 trung đoàn của Sư đoàn 318, 25 tiểu đoàn bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực, Bộ tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ đạo một số cuộc diễn tập trên các hướng trọng điểm và các đơn vị trọng điểm nòng cốt đạt kết quả tốt4 theo yêu cầu kết hợp hai phương thức cơ bản. Công tác bảo đảm chỉ huy, thông tin liên lạc và bảo đảm vật chất kỹ thuật (cả yêu cầu trước mắt và dự trữ chiến đấu), xây dựng công trình vĩnh cửu, bán vĩnh cửu và dã chiến đã có chuyển biến mạnh mẽ, huy động được sức mạnh tổng hợp xây dựng thế trận5. Không tính các công trình do bộ đội công binh thi công; riêng 1.750km hào giao thông và chiến hào, 44.750 công sự hoả khí, 136km rào, 84 trận địa pháo mặt đất, 723 trận địa pháo cao xạ, 131.523 hố chiến đấu, 8.996 hầm ẩn nấp, 266km đường cơ động với 2.690.684 công đều do nhân dân đóng góp xây dựng trong một thời gian ngắn, đã chứng minh kết quả vận dụng sáng tạo phương châm "Nhà nước, toàn dân và quốc phòng cùng làm" trong điều kiện mới. Căn cứ hậu cần chiến dịch trên địa bàn Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh được xác định và triển khai. Hệ thống kho tàng đã xây dựng theo kế hoạch. Quân khu đã thực hiện được các chỉ tiêu, kế hoạch vận tải, chuyển quân, bảo dưỡng, sửa chữa trang bị kỹ thuật, nuôi dưỡng, điều trị thương binh, bệnh binh. Các tỉnh và các ngành của Quân khu đã giữ tốt và phát huy mối quan hệ phối hợp, hiệp đồng, hợp tác xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong xây dựng hậu cần tại chỗ. Trong điều kiện các thế lực thù địch luôn ráo riết hoạt động phá hoại bằng chiến tranh chính trị, tư tưởng, tâm lý, công tác đảng, công tác chính trị đã góp phần đắc lực và có hiệu quả tăng cường sức mạnh chính trị, tinh thần, tư tưởng, tổ chức. Đường lối, quan điểm, tư tưởng quân sự, khoa học và nghệ thuật quân sự của Đảng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Quân khu 4 vận dụng, phát triển lên tầm cao mới. Cuộc vận động lớn "Phát huy bản chất tốt đẹp nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân", các hoạt động thi đua trong các dịp kỷ niệm, nhất là kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân được đẩy mạnh trên khắp các lĩnh vực, các địa phương, đơn vị, tạo khí thế mới, chất lượng mới. Trong năm 1979, Quân khu đã kết nạp 3.200 đảng viên mới. Hầu hết các bí thư chi bộ trong Quân khu được bồi dưỡng tập huấn 1 tháng. Công tác tư tưởng và công tác tổ chức kết hợp chặt chẽ, góp phần kiện toàn và nâng cao sức mạnh lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, hiệu lực chỉ huy của chế độ thủ trưởng. Các tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức công tác chính trị được củng cố, kiện toàn theo Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Quân ủy Trung ương xây dựng Đảng bộ quân đội trong tình hình mới. _____________________________________________ 1. Bao gồm Sư đoàn 318, các trung đoàn binh chủng (16 pháo binh, 283 cao xạ, 206 xe tăng, 414 công binh, 80 thông tin, 654 ô tô vận tải, 31 đặc công). 2. Thanh Hoá có Trung đoàn 762: 1.197 người, Nghệ Tĩnh có Trung đoàn 764: 1.053 người, Trung đoàn 6 Bình Trị Thiên: 1.264 người. 3. Đợt 1 huấn luyện xong 2.853 người gửi về địa phương quản lý. Đang triển khai đợt 2 huấn luyện quân dự bị gồm 3 trung đoàn (Trung đoàn 840 Thanh Hoá: 1.390 người, Trung đoàn 841 Nghệ Tĩnh: 1.924 người, Trung đoàn 842 Bình Trị Thiên: 2.139 người). Hai sư đoàn dự bị động viên Quân khu thì Sư đoàn 358 hoàn thành huấn luyện đợt 1 gửi về địa phương 8.474 đồng chí, còn lại khung 1.590 đồng chí (530 sĩ quan); Sư đoàn 359 có 6.298 quân dự bị, riêng khung 1.248 (có 569 sĩ quan). 4. Diễn tập pháo đài quân sự huyện trên 2 hướng Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Trong diễn tập pháo đài quân sự huyện có trung đoàn bộ đội địa phương tỉnh làm nòng cốt và tổ chức bắn đạn thật các loại súng, pháo đạt kết quả tốt. Diễn tập thủ trưởng và cơ quan hai cấp Sư đoàn 318, diễn tập thực binh cấp trung đoàn ở 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn 318. 5. Dự trữ lương thực đủ 57.800 quân ăn 1 tháng, thực phẩm khô bảo đảm 15 ngày, thuốc chiến thương cấp đủ tỷ lệ và có dự trữ 5.000 suất ở kho Quân khu. Đạn pháo phòng không từ 5,2 tấn đến 12,3 cơ số, đạn pháo mặt đất từ 2,1 đến 6,3 cơ số. Toàn Quân khu huy động 2.743.865 công, 3.890m3 gỗ, 16.138m3 đá, 11.170m3 cát. 116 tấn sắt, 82 tấn xi măng, 1.797 tấn vôi xây đường hầm và công sự pháo. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:22:30 pm II- TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH TỔNG HỢP, BẢO ĐẢM ĐÁNH THẮNG TRONG TÌNH HUỐNG VỪA CÓ HOÀ BÌNH, VỪA CÓ THỂ XẢY RA CHIẾN TRANH, ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI NHIỀU MẶT CỦA ĐỊCH Năm 1980 cả nước sôi nổi chuẩn bị kỷ niệm các ngày lịch sử trọng đại của dân tộc trong điều kiện nước nhà vừa có hòa bình, vừa có thể xảy ra chiến tranh. Năm 1980 cũng là thời điểm bắt đầu thực hiện “chế độ thủ trưởng”, thực hiện chế độ ngày Đảng, hoàn thành phát thẻ Đảng, tiến hành hội nghị cán bộ Đảng theo quy định mới của Đảng. Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, ngày 28-1-1980, Đảng ủy Quân khu 4 triệu tập Hội nghị cán bộ Đảng bộ Quân khu. Đây là hội nghị lần đầu của Đảng bộ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng. Hội nghị thay thế cho Đại hội Đảng, có vị trí quan trọng như Đại hội Đảng. Hội nghị vinh dự được đón Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương1, chỉ đạo Hội nghị và nói chuyện với các cán bộ vào chiều 28-1-1980. Hội nghị đã nhất trí với báo cáo của Đảng ủy Quân khu về tình hình thực hiện các nhiệm vụ trong những năm qua; đóng góp ý kiến vào phương hướng nhiệm vụ 2 năm 1980-1981, vào bản tự phê bình của Đảng ủy Quân khu. Trong những năm qua, Quân khu đã làm được những việc lớn và cơ bản, đạt được chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện, thu được kết quả tốt đồng đều trên các nhiệm vụ, nâng cao thế và lực quốc phòng, khả năng phòng thủ sẵn sàng chiến đấu của quân khu lên một bước mới, hoàn thành nhiệm vụ Bộ giao cho Quân khu hàng năm. Riêng về kết quả chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, Hội nghị nhấn mạnh những bước chuyển biến mới: "Từ chỗ Quân khu và địa phương có lúc để bị bất ngờ, đến nay đã chủ động hơn, đang phấn đấu để loại trừ mọi bất ngờ; có khả năng đánh thắng địch trong tình huống chúng phá hoại, gây sức ép và phát động chiến tranh giới hạn vào Quân khu; bước đầu tạo cơ sở để tiếp tục chuẩn bị đề phòng địch gây chiến tranh xâm lược quy mô lớn". Nhiệm vụ cơ bản trong 2 năm 1980-1981 được xác định: "Đẩy mạnh công tác phòng thủ sẵn sàng chiến đấu, đưa tổ chức phòng thủ Quân khu vào thế vững chắc, bảo đảm luôn luôn sẵn sàng đánh bại mọi hành động mới của địch. Ra sức nâng cao chất lượng tổng hợp của các lực lượng vũ trang nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh nhiệm vụ sản xuất, tự giải quyết một phần lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng và xây dựng cơ bản, thuốc chữa bệnh và hàng tiêu dùng, hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế được cấp trên giao cho2. Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc tế giúp Bạn Lào được phân công”3. Từ khi hợp nhất Quân khu, Đảng ủy Quân khu thường xuyên giữ đúng chế độ sinh hoạt theo định kỳ, quyết nghị những vấn đề phù hợp với nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn lãnh đạo của cấp mình; thường xuyên giữ đúng chế độ tập thể nghiên cứu học tập các nghị quyết của Đảng; giữ đúng chế độ tự phê bình và phê bình. Các sinh hoạt của Đảng ủy Quân khu có chất lượng, chuẩn bị tốt, bao gồm khâu chuẩn bị đề án của Thường vụ, khâu chuẩn bị đề xuất ý kiến của các cơ quan giúp việc và các đảng ủy viên nghiên cứu trước đề án và lấy ý kiến đóng góp phê bình của cấp dưới. Với tinh thần nghiêm túc tự phê bình, Đảng ủy Quân khu nêu lên những điểm yếu và biện pháp khắc phục, trong đó nổi bật là: Thời kỳ sau hoà bình lập lại đến năm 1977 về lãnh đạo sẵn sàng chiến đấu, xây dựng nâng cao chất lượng vũ trang có hiện tượng kém chặt chẽ, phát sinh nhiều sơ hở về tổ chức và tư tưởng. Việc quán triệt đường lối, nhiệm vụ cách mạng, đường lối, nhiệm vụ quân sự của Đảng vào nhiệm vụ Quân khu mới là bước đầu. Có việc đã nhìn thấy, đề ra và giải quyết có kết quả. Có việc, tuy đã được đề ra, nhưng tổ chức thực hiện chưa hiệu lực, kết quả hạn chế...4. Trên cơ sở quán triệt đường lối của Đảng, chỉ thị, nghị quyết cấp trên, phát huy cao trách nhiệm và trí tuệ của Hội nghị cán bộ Đảng toàn Quân khu, Đảng ủy Quân khu sớm ra nghị quyết xác định vị trí, nhiệm vụ chiến lược của Quân khu 4 trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết nhận định một cách khoa học, cơ bản, toàn diện về tình hình âm mưu địch, nhiệm vụ của cách mạng, của Quân khu; nêu rõ ý nghĩa thắng lợi to lớn của chiến thắng oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên hai đầu biên giới; đánh giá đúng những thành tựu quan trọng trong hàn gắn vết thương chiến tranh, chống thiên tai, khôi phục sản xuất, bảo đảm yêu cầu tối thiểu của đời sống và xây dựng thêm một số công trình kinh tế. Hội nghị phân tích những khó khăn về kinh tế đời sống của ta, về các thủ đoạn quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, tâm lý, gián điệp, kích động, chia rẽ dân tộc mà kẻ thù ra sức hoạt động chống phá ta, cùng với "ba khả năng" có thể xảy đến trên địa bàn Quân khu. Hội nghị tiếp tục khẳng định sâu sắc hơn vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của quân khu 4 trong sự nghiệp phòng thủ bảo vệ Tổ quốc "vừa là tuyến đầu, vừa là hậu phương chiến lược chung, hậu phương trực tiếp của chiến trường phía bắc và tây Quân khu, là địa bàn chống các cuộc tiến công đánh vòng chiến lược, chia cắt chiến lược của địch, là bàn đạp ta xuất kích đi các hướng". Đồng thời phân tích rõ "vị trí rất quan trọng của địa bàn Quân khu 4 trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của cả nước". "Với 7.241.000 dân, với tiềm năng to lớn về nhiều mặt, với nền kinh tế, văn hoá cách mạng phát triển, cơ sở vật chất ngày càng tăng cường", "là quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Quân khu 4 còn có vị trí rất quan trọng về chính trị". ______________________________________________ 1. Ngày 7-2-1980, Chủ tịch nước ký sắc lệnh số 28/LCT bổ nhiệm Đại tướng Văn Tiến Dũng giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. 2. Quyết tâm được cụ thể hoá bằng Nghị quyết của Đảng ủy Quân khu ngày 28 tháng 1 về nhiệm vụ năm 1980, trong đó chỉ tiêu sản xuất tự túc lương thực thực phẩm để mức 7 tháng trở lên. 3, 4. Hồ sơ 49/QKU - Lưu trữ Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:26:52 pm Về phương hướng, nhiệm vụ những năm tới, Hội nghị xác định: "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy Quân khu đối với nhiệm vụ quân sự Quân khu, cùng với ba tỉnh ủy tăng cường sự lãnh đạo thống nhất đối với công tác quân sự địa phương", đẩy mạnh xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và xây dựng nền quốc phòng toàn dân với mô hình: "Huyện là pháo đài quân sự mạnh, tỉnh là địa bàn chiến lược hoàn chỉnh, Quân khu là chiến trường quyết thắng, vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, làm tròn 2 nhiệm vụ chiến lược"1. Hội nghị quán triệt những vấn đề khoa học và nghệ thuật quân sự nhằm tiếp tục nghiên cứu giải quyết những vấn đề cơ bản về "pháo đài quân sự mạnh", "địa bàn chiến lược hoàn chỉnh", "chiến trường quyết thắng", "các cách đánh" (bảo vệ đảo, đánh trên biển, ven biển, chống đổ bộ đường biển, cách đánh trong phòng ngự, phản công và tiến công ở ven biển, biên giới, rừng núi, cách đánh bảo vệ thành phố Vinh, thành phố Huế, cách đánh của pháo đài quân sự huyện). Đối với mỗi tỉnh đều có những yêu cầu cụ thể riêng, nhưng đều nhằm tới 9 tiêu chuẩn cơ bản của một địa bàn chiến lược vững mạnh toàn diện, tạo thế liên hoàn chiến lược hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành thế đánh, thế giữ chung của Quân khu vững mạnh và chiến trường quyết thắng. Trên cơ sở những vấn đề mới nảy sinh từ bước chuyển từ hoà bình sang chiến tranh trên một bộ phận đất nước và 3 khả năng chiến tranh đang tồn tại, phát triển, Hội nghị xác định: Năm 1980 và những năm tiếp theo đòi hỏi sự nỗ lực về mọi mặt nhằm đáp ứng yêu cầu mới ở đỉnh cao hơn: "Quân khu 4 phải lấy tình huống địch phát động chiến tranh xâm lược quy mô lớn trên cả nước và toàn Đông Dương, cùng một lúc tiến công vào địa bàn Quân khu 4 trên toàn tuyến và trên các hướng làm mục tiêu của yêu cầu chuẩn bị"2. Sau Hội nghị cán bộ Đảng, lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt Quân khu có sự thay đổi. Trung tướng Lê Quang Hoà - Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu được điều động về Bộ Quốc phòng công tác. Thiếu tướng Nguyễn Thế Bôn - Phó tư lệnh Quân khu đi học. Thiếu tướng Hoàng Minh Thi - Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá IV), nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô được điều động về đảm trách nhiệm vụ Bí thư Đảng ủy kiêm Tư lệnh Quân khu theo chế độ thủ trưởng. Đồng chí Lê Hữu Đức – quyền Tư lệnh Quân đoàn 7 được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Quân khu. Thực hiện Nghị quyết số 22/NQ-TW (10-10-1979) của Bộ Chính trị; Quyết định số 412/CP (19-11-1979) của Hội đồng Chính phủ; Quyết định số 1148/QĐ-QP (19-12-1979) của Bộ Quốc phòng, ngày 11-12-1980, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức Hội nghị triển khai chấn chỉnh lực lượng biên phòng trong Quân khu3. Sau khi quán triệt nghị quyết, quyết định của trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Quốc phòng về việc chuyển giao nhiệm vụ và lực lượng Công an nhân dân vũ trang sang Bộ Quốc phòng mang tên là "Bộ đội Biên phòng", "một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng nòng cốt thực hiện công tác biên phòng của các lực lượng vũ trang nhân dân", thực hiện 4 nhiệm vụ cơ bản, trong đó "quản lý bảo vệ chủ quyền quốc gia, giữ gìn an ninh biên giới và vùng biển của Tổ quốc là nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên", Hội nghị thảo luận, nhất trí về mục đích, yêu cầu, phương pháp các bước tiến hành. Đồng chí Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh Quân khu được giao phụ trách về công tác biên phòng. Giúp việc cho Bộ tư lệnh Quân khu về công tác biên phòng có Cục Biên phòng Quân khu do Đại tá Hoàng Minh Thi làm Cục trưởng; Đại tá Phan Nguyên Chất - nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Quân khu làm Phó cục trưởng về chính trị. Cấp tỉnh giải thể Ban chỉ huy và cơ quan công an nhân dân vũ trang tỉnh, lấy cơ quan tham mưu, trinh sát của cơ quan công an nhân dân vũ trang tỉnh tổ chức thành "Phòng Biên phòng" trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh; sáp nhập và kiện toàn các đơn vị thông tin, vận tải, bệnh xá, trạm sửa chữa và các đơn vị phục vụ khác thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Cấp huyện cơ bản duy trì hệ thống đồn biên phòng hiện có làm nòng cốt cho bộ đội huyện thực hiện nhiệm vụ I và III theo Quyết định số 1148 của Bộ Quốc phòng4; đồng thời là lực lượng chiến đấu tại chỗ trong hệ thống phòng thủ chung của huyện. Việc tổ chức thực hiện được tiến hành khẩn trương, có kế hoạch chu đáo, theo 3 bước vững chắc, nên đã bảo đảm lãnh đạo, chỉ huy thống nhất giữa hai lực lượng bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng; bảo đảm lãnh đạo chỉ huy liên tục, sẵn sàng chiến đấu cao: đoàn kết nhất trí cả về tư tưởng và tổ chức. Việc giải quyết cán bộ bảo đảm đúng tư tưởng chỉ đạo, giữ được đội ngũ cán bộ chủ trì, thành thạo nhiệm vụ. Bàn giao đúng thủ tục, rõ ràng, rành mạch, quản lý chặt chẽ hồ sơ, tài liệu mật và tài sản của Nhà nước. Nhờ vậy, Quân khu đã "tạo ra lực lượng mới, sức mạnh mới trong nhiệm vụ phòng thủ đất nước". Ngày 28-2-1980, mọi việc bàn giao bộ đội biên phòng sang Quân khu xong. Từ ngày 1-3-1980 các Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Ban chỉ huy quân sự huyện, thành, thị chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ huy quản lý mọi mặt các đơn vị thuộc lực lượng biên phòng ở địa phương mình. Đảng ủy mới, gồm các cán bộ lãnh đạo chủ trì của Bộ chỉ huy quân sự và Ban chỉ huy biên phòng được thành lập, bảo đảm sự thống nhất về lãnh đạo chỉ huy. Cấp tỉnh có Phòng Biên phòng, huyện có Ban Biên phòng do một Phó chỉ huy trưởng Bộ (ban) chỉ huy quân sự trực tiếp đảm trách trưởng phòng (ban). Sau khi ổn định tổ chức biên chế, các địa phương tổ chức diễn tập ở huyện trọng điểm theo phương án tác chiến phòng thủ rút kinh nghiệm trong chỉ huy bộ đội địa phương và bộ đội biên phòng làm nòng cốt cho lực lượng chiến đấu tại chỗ. ______________________________________________ 1. Báo cáo chính trị tại Hội nghị cán bộ Đảng bộ Quân khu 4 - Hồ sơ 49/QKU - Lưu trữ Quân khu 4. 2. Nghị quyết Đảng ủy Quân khu 4 số 97, ngày 30-1-1980 vế vị trí, nhiệm vụ chiến lược của Quân khu 4 trong giai đoạn mới của cách mạng... Hồ sơ 48/ QKU - Lưu trữ Quân khu 4. 3. Dự hội nghị có đoàn đại biểu của cơ quan Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Biên phòng, Quân khu 4 và các đơn vị biên phòng các tỉnh Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá, Bình Trị Thiên. 4. Nhiệm vụ I: Quản lý chủ quyền quốc gia, giữ gìn an ninh biên giới và vùng biển Tổ quốc; quản lý, bảo vệ các cột mốc, các dấu hiệu trên đường biên và vùng biển; quản lý quy chế biên phòng của Nhà nước và thực hiện các hiệp định, hiệp nghị về biên giới, về vùng biển đã được ký kết giữa nước ta với các nước khác. Nhiệm vụ III: Tham gia với địa phương phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang, truy bắt bọn tội phạm, bạo loạn, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội trong khu vực biên giới. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:29:18 pm Đối với Quân đoàn 7, sau khi chuyển thuộc Quân khu 4, Bộ Quốc phòng quyết định đổi tên là Quân đoàn 65. Quân đoàn được biên chế 35.000 người, gồm 3 sư đoàn 318, 341, 342, mỗi sư đoàn có 9.145 người. Cơ quan chỉ huy sư đoàn, các trung đoàn binh chủng, các đơn vị trực thuộc biên chế theo quân số Bộ quy định. Sư đoàn 342 được chuyển về đứng chân ở khu vực bắc Quảng Trị (đường số 9). Sư đoàn 341 sau khi hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tế phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia giải phóng đất nước Chùa Tháp khỏi họa diệt chủng do Pôn Pốt - Iêng Xa-ri gây ra, lại trở về Quân khu 4 – đứng chân trên vùng đất tây Quỳnh Lưu - đông Nghĩa Đàn vào cuối năm 19801. Việc điều chuyển đội hình Sư đoàn 342 từ Quảng Nam - Đà Nẵng ra đường 9 cũng như điều chuyển sở chỉ huy Quân đoàn 65 từ Phú Bài (Huế) gặp một số khó khăn. Quân khu kiên quyết tập trung chỉ đạo, trong một thời gian ngắn, đã giải quyết thành công, tạo sự ổn định đội hình cơ bản, góp phần tích cực vào việc xây dựng và tăng cường thế trận các vùng, các hướng theo phương án phòng thủ Quân khu, khắc phục những bất hợp lý trong bố trí lực lượng. Ngày 15-5-1980, theo lệnh điều động của Bộ Tổng Tham mưu, quân đoàn bộ và các đơn vị trực thuộc Quân đoàn 65 hoàn thành việc chuyển quân về đóng tại khu vực huyện lỵ Nghĩa Đàn - Rú Ngăn (62-32), Hòn Chóp Chài (54-18), phà Sen (36-18). Thay vào vị trí chỉ huy của Quân đoàn 65 ở Phú Bài là hệ thống các nhà trường quân khu, thường xuyên có khoảng 5.000 cán bộ, giáo viên, học viên, chiến sĩ. Cùng với việc điều chỉnh tổ chức thế bố trí bộ đội biên phòng và Quân đoàn 65, Quân khu tiến hành chấn chỉnh tổ chức các cơ quan Quân khu theo quyết định mới của Bộ Quốc phòng, theo biên chế số 0293 (ngày 27-12-1979) của Bộ Tổng Tham mưu. Cơ quan quân lực các cấp trong toàn quân chấn chỉnh thành cơ quan tổ chức và động viên (gọi tắt là tổ chức - động viên). Để việc kiện toàn cơ quan có chất lượng, hiệu lực, thiết thực giảm được quân số, tăng cường năng lực chỉ huy, chỉ đạo, đi đôi với việc lập kế hoạch sắp xếp, điều động, giải quyết lực lượng dư biên chế một cách chặt chẽ, sát đúng, Quân khu chỉ đạo các cơ quan tiếp tục làm tốt các khâu cơ bản: xây dựng chức trách, cải tiến lề lối làm việc, tác phong công tác, đẩy mạnh chấp hành điều lệnh, điều lệ. Việc biên soạn, xây dựng chức trách được tiến hành dân chủ, phát huy trách nhiệm, trí tuệ mỗi người và tập thể. Từng người, từng bộ phận tự xây dựng, biên soạn chức trách, tập thể đóng góp ý kiến, cấp trên phê duyệt, làm việc theo chức trách, điều hành theo kế hoạch, thực hiện đúng nền nếp chính quy. Trước yêu cầu công tác và chỉ đạo sản xuất lương thực, thực phẩm với chỉ tiêu ngày càng cao, Quân khu giao nhiệm vụ cho Bộ Tham mưu cùng Cục Hậu cần tiếp tục nghiên cứu đề nghị Bộ phê chuẩn phương án duy trì phòng sản xuất và bệnh xá Quân khu2. Việc kiện toàn các tổ chức gắn với yêu cầu giảm bớt quân số trong bước 1: 10.000 người, chuẩn bị tiếp nhận Sư đoàn 341 (8.000 quân); bổ sung 13.000 chiến sĩ mới và tổ chức bàn giao Trung đoàn 148 về trực thuộc Quân khu 3 trước ngày 30-1-1980; bàn giao Đoàn 336 và Đoàn 565 làm cầu đường thuộc bộ đội xây dựng kinh tế của Quân khu 4 về Binh đoàn 12 thuộc Bộ tư lệnh Công binh, hoàn thành trong tháng 1 và tháng 2 năm 1980. Cùng thời gian này Quân khu tập trung chỉ đạo hoàn thành tốt các cuộc diễn tập chiến dịch và chiến đấu, tổ chức động viên lực lượng, tiếp tục bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tài chính, bảo đảm lượng dự trữ lương thực, thực phẩm, đạn dược, nước uống, thuốc men cho các đảo, tuyến phòng thủ; tiếp tục tổ chức căn cứ hậu cần chiến địch ở Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá; đẩy mạnh chiến dịch sản xuất (phấn đấu đạt 60% chỉ tiêu cả năm, chuẩn bị tốt cơ sở cho hè - thu). ___________________________________________ 1. Sư đoàn 341 Sông Lam thành lập theo quyết định ngày 23-11-1972 của Bộ Quốc phòng, giao cho Quân khu 4 tổ chức, xây dựng. Sư đoàn là nơi đã sản sinh "Đại đội 2 tiến toàn diện đạt 3 đỉnh cao" ngay từ những ngày đầu xây dựng. Sư đoàn đã lập công xuất sắc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975) với những chiến công vang dội ở Xuân Lộc, Hố Nai, tiến quân vào tham gia giải phóng thành phố mang tên Bác; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quân quản thành phố được mệnh danh sư đoàn “vào thành vững như thành". Sư đoàn được vinh dự 2 lần nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. 2. Trong điều kiện đội hình cơ quan Quân khu trải dài trên triền núi bao gồm địa bàn 3 xã, cường độ công tác cao, nhiều bệnh tật sau chiến tranh để lại, bệnh viện ở xa; lương thực, thực phẩm trên địa bàn các tỉnh thường xuyên căng thẳng, lại luôn bão lụt, hạn hán mất mùa, yêu cầu dự trữ đòi hỏi cao, khả năng đáp ứng còn nhiều hạn chế, thì việc kiên trị đề nghị duy trì 2 tổ chức nêu trên là rất cần thiết sát đúng. Ngày 8-5-1980 Bộ đã chấp nhận đưa vào quân số sản xuất lương thực, thực phẩm, phòng sản xuất Quân khu 4 có 9 người. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:30:21 pm Ngày 4-1-1980, chấp hành Lệnh động viên (ngày 5-3-1979) của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Mệnh lệnh Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định động viên 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 801 thuộc Sư đoàn 358 dự bị động viên khu vực Thanh Hoá, gồm 30 sĩ quan và 1.000 hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị ra nhập ngũ vào ngày 7-1-1980, thành đơn vị thường trực chiến đấu. Tính từ khi Quân khu phát lệnh, sau 72 giờ quân dự bị đã có mặt. Từ lúc tỉnh nhận lệnh, sau 52 giờ quân dự bị có mặt, đúng 16 giờ ngày 7-1-1980. Trong đó, Tiểu đoàn 1 (thị xã) phát lệnh điều 465 người, có mặt tại trạm tập trung 377 người (đạt 81%); Tiểu đoàn 2 (Trung Sơn) phát lệnh điều 505, có mặt tại trạm tập trung của huyện (đạt 74,6%). Cơ sở huấn luyện gửi về địa phương 989 người (Tiểu đoàn 1 thị xã: 484 người, Tiểu đoàn 2 Trung Sơn: 505 người). Yêu cầu thực hiện tốt 3 nhiệm vụ cấp bách mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá IV) đề ra, nhằm góp phần tích cực hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu Đại hội lần thứ IV của Đảng, đòi hỏi toàn Quân khu phải phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp làm tốt 2 nhiệm vụ chiến lược của cả nước là: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; thực hiện tốt 2 nhiệm vụ chính trị cơ bản và nhiệm vụ quốc tế của các lực lượng vũ trang quân khu. Quân khu yêu cầu chỉ đạo thực hiện cuộc vận động lớn bước vào năm thứ hai như chỉ đạo chiến đấu. Phấn đấu đến cuối năm 1980 có từ 60% trở lên tổng số huyện, thị, thành và trung đoàn vững mạnh toàn diện; tất cả đều đạt ở mục tiêu theo kế hoạch đã đề ra; 30 - 40% đơn vị cấp đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, huyện, thị, thành đạt tiêu chuẩn đơn vị Quyết thắng; 30% số đại đội có phong trào văn hoá - văn nghệ giỏi. Mỗi sư đoàn ít nhất có 1 trung đoàn, mỗi tỉnh có 2 huyện đạt phong trào văn hoá - văn nghệ khá. Toàn Quân khu phát triển 4.000 - 4.500 đảng viên mới, đưa tỷ lệ lãnh đạo lên từ 24 - 26% (cấp đại đội 18 - 20%; tiểu đội, khẩu đội, bộ phận kỹ thuật chuyên môn có đảng viên). Đoàn viên thanh niên thực hiện "4 làm chủ" (về rèn luyện ý chí chiến đấu và trách nhiệm chính trị; về trang bị kỹ thuật hiện đại; về kỷ luật và nếp sống quân đội; làm chủ về phấn đấu rèn luyện trở thành đảng viên và đoàn viên tham gia xây dựng Đảng). 80% tổ chức Đoàn và đoàn viên đạt Quyết thắng. Không có tổ chức và đoàn viên yếu. Đây là chỉ tiêu Tổng cục Chính trị yêu cầu toàn Quân khu phải nỗ lực thật lớn mới đạt được. Động lực mạnh mẽ và biện pháp hiệu quả là phải tiếp tục đẩy mạnh đưa phong trào thi đua của cuộc vận động lớn lên tầm cao và nhịp độ mới. Một trong những biện pháp quan trọng nhằm động viên rộng rãi phong trào hành động trong toàn Quân khu là hướng tình cảm, trách nhiệm mọi người thực hiện tốt 2 đợt sinh hoạt chính trị tập trung tháng 5, hai tháng 8 và 9 năm 1980. Theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị, các lực lượng vũ trang phối hợp chặt chẽ với các địa phương, rước 5 ngọn đuốc lấy từ ngọn lửa truyền thống ở làng Sen, quê hương Bác Hồ, về 5 địa danh lịch sử, từ đó nhân toả ra các địa phương. Quân khu 4 được giao trách nhiệm tổ chức lễ rước với nghi thức trang trọng, kế hoạch hiệp đồng chặt chẽ; góp phần đạt tới yêu cầu làm cho mọi người nhận thức sâu sắc ý nghĩa, mục đích của sinh hoạt chính trị chủ yếu, sôi nổi, rộng khắp trong cả nước, từ ngày 3-2 đến 19-5-1980. "Đuốc là tượng trưng cho niềm tin và ánh sáng chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm được, đem soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Rước đuốc nhằm nâng cao sự hiểu biết về đất nước, về Đảng, Bác Hồ, truyền thống cách mạng và từng địa phương, gắn với lịch sử và cuộc đời hoạt động của Bác, nâng cao lòng tự hào, tin tưởng, phấn khởi, đẩy mạnh phong trào thanh niên xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nâng cao tinh thần cách mạng tiến công, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, đẩy lùi mọi khó khăn, quét sạch tiêu cực, lạc hậu". Năm ngọn đuốc được đặt tại các địa danh lịch sử: một ngọn để tại quê Bác, một ngọn rước về cảng Nhà Rồng, một ngọn về Cà Mau, một ngọn về Pắc Bó và một ngọn về Thủ đô Hà Nội. Mỗi ngọn đuốc được chế tác từ kim loại trắng không gỉ, hình thành những chiếc lọ đạt tới trình độ mỹ thuật, trong đặt bấc tẩm dầu, bảo đảm cháy trong mọi trường hợp. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:33:51 pm Sáng ngày 3-2-1980, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu phối hợp với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Tỉnh đoàn Nghệ An, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, Huyện đoàn Nam Đàn và xã Kim Liên tổ chức mít tinh trọng thể tại nhà Bác ở quê nội Làng Sen và làm lễ xuất phát theo hai hướng, vào Nam 2 ngọn, ra Bắc 2 ngọn. Hành trình được vạch cụ thể từng chặng, từng ngày, tổ chức đón nhận và bàn giao chặt chẽ, nhịp nhàng qua địa phận từng tỉnh giữa Quân khu 4 với hai quân khu giáp giới: Quân khu 3 tại Tam Điệp, Quân khu 5 tại Hải Vân. Trên mỗi địa bàn, các đơn vị đóng quân tại địa phương và các huyện, các xã tập trung đến nơi quy định đón và châm đuốc rước về. Các Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Ban chỉ huy quân sự huyện và các đơn vị quán triệt tinh thần chỉ huy rước đuốc như chỉ huy chiến đấu. Cuộc rước đuốc lịch sử đã gắn liền với phát động học tập, tìm hiểu truyền thống, ghi sâu ơn Đảng, ơn Bác, sống chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, gắn với thi đua hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương, chống tiêu cực, lạc hậu, chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt. Đặc biệt là gắn với phong trào "thanh niên xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc", gắn sự phối hợp giữa lực lượng vũ trang với nhân dân và tuổi trẻ địa phương, làm dứt điểm một số công trình có ý nghĩa, trong đó có “Vườn cây, ao cá Bác Hồ", công trình thủy lợi, nhà trẻ, trường học, trạm xá, thu gom quân đào, lạc ngũ; bảo vệ trật tự an ninh. Các cuộc hội thảo kết hợp giữa tuổi trẻ địa phương và tuổi trẻ trong quân đội nâng cao vinh dự, trách nhiệm của thanh niên cái đẹp của thanh niên, của "Bộ đội Cụ Hồ", các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, tham quan di tích hội thao, cắm trại... đậm màu sắc và dấu ấn thanh niên trong đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn đã góp phần tích cực thúc đẩy tiến độ và chất lượng thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch công tác, đẩy cuộc vận động toàn Quân khu tiến lên một bước mới. Tình cảm thiêng liêng được hun đúc, trách nhiệm được phát động gắn với cuộc vận động lớn tạo nên khí thế cách mạng tiến công, đẩy lùi và khắc phục những khó khăn tạm thời ban đầu. Đặc biệt là trong hoàn cảnh liên tục 3 năm bão lụt, hạn hán rất nghiêm trọng, đời sống kinh tế thiếu hụt, bữa ăn nói chung sút kém, nhưng 7 sư đoàn, 8 tiểu đoàn, 6 trung đoàn xấp xỉ 1,5 lần tổng quân số Quân khu được lệnh đi chiến đấu trên các hướng chiến trường đều bảo đảm 100% đơn vị đi nhanh, đến đủ, đến nơi hoàn thành nhiệm vụ, quân số thường đạt 98,5% đến 100% tới đích. Có lúc chỉ vài ba tuần, tỉnh vừa lấy quân, vừa làm mọi công tác bảo đảm để hình thành 2 - 3 trung đoàn đi chiến đấu; vừa tổ chức lại đơn vị khác. Có những tiểu đoàn tổ chức ngay ở huyện, mọi việc dân lo cho kịp. Tất cả các địa phương, các đơn vị, từ huyện, tỉnh, đơn vị chủ lực cơ động đến đơn vị làm kinh tế, cơ quan quân khu, quân đoàn, kho xưởng, dân quân tự vệ, dự bị động viên đều có lực lượng ra phía trước. Kể cả trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ở thời điểm động viên cao nhất, chưa có khi nào, trong thời gian 2 năm điều động một lực lượng lớn như năm 1979-1980. Chỉ riêng Sư đoàn 442 có 11.718 cán bộ, chiến sĩ mới đi chiến trường; Sư đoàn 441 có 341 cán bộ, 10.300 chiến sĩ mới ra chiến trường, trong đó 1.600 vào biên giới Khu 9 (chỉ trong 1 đợt). Trường Quân chính có 1.225 học viên tốt nghiệp và 225 cán bộ, chiến sĩ khung, Trường Hạ sĩ quan có 1.225 học viên và 174 cán bộ nhận lệnh là lên đường 100%. Mặc dù bị ảnh hưởng của bão lụt lớn nhưng công tác tuyển quân của quân khu vẫn được đảm bảo tốt, tỉnh Thanh Hoá đạt 98%, tỉnh Bình Trị Thiên 98,5% (riêng huyện miền núi A Lưới 118%, huyện Lệ Ninh 105%). Tất cả các đơn vị đều có một công trình giúp dân, trong đó có 40 công trình và công việc có ý nghĩa. Từ mức tự túc 2,5 tháng, năm 1980, toàn Quân khu đã tự túc gần 3 tháng lương thực. Hầu hết đủ rau ăn, 64% số đơn vị đã có đàn lợn nái sinh sản. 73% số đơn vị có đàn lợn thịt từ 50 con trở lên. Đảo Mê tự túc 100% rau củ; đảo Cồn Cỏ ngoài số dự trữ, còn chở vào đất liền hàng chục tấn bí. Cơ quan quân sự Triệu Hải 3 năm liền tự túc được lương thực. Đoàn 200 đạt chỉ tiêu tự túc cả năm trên 4 chỉ tiêu lương thực, thịt, rau và đỗ, lạc, vừng, tiếp tục phát huy vai trò là ngọn cờ đầu về sản xuất tự túc. Bộ đội toàn Quân khu phấn đấu giữ mức ăn được từ 2.000 đến 2.400 Calo/ngày. Trong xây dựng doanh trại, toàn Quân khu đã làm mới được 812.244m2 nhà ở các loại, 10.500 giường ván nằm. Khắc phục hậu quả trận bão tháng 10-1980, các đơn vị trong vùng thiên tai đã xây dựng hơn 800 nhà. Các đơn vị cơ bản có đủ nhà ở không dột, đủ giường ván nằm và xây dựng được một phần nhà ăn, nhà sinh hoạt. Bộ đội còn giúp nhân dân hàng vạn công lao động, nhường cơm xẻ áo, cứu đói đồng bào 360 tấn lương thực và dũng cảm cứu sống nhiều người giữa bão lớn, lụt to. Các địa phương giúp bộ đội 1.800ha đất canh tác, hàng chục tấn giống lúa, màu, hàng nghìn tấn phân bón, hàng nghìn công trâu bò, giúp xây dựng hệ thống truyền thanh ở đảo Cồn Cỏ, đảo Mắt, đảo Ngư, đảo Mê và giúp 2 trung tâm huấn luyện 441, 442 trong buổi đầu tổ chức chiêu quân, nhanh chóng ổn định nơi ăn ở, sinh hoạt để bước vào huấn luyện. Cùng thời gian này, 61/61 huyện, thị, thành triển khai nhanh và thực hiện nghiêm chỉnh chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu theo 4 trạng thái. Trong hoàn cảnh còn khó khăn, những kết quả đạt được như vậy là nỗ lực rất lớn và toàn diện của các địa phương. Tuy vậy, thành tích đạt được của các đơn vị chưa đồng đều; số đơn vị tiến nhanh, tiến vững chắc toàn diện ở cấp trung đoàn và huyện còn ít; bảo quản trang bị, khí tài một số nơi chưa nghiêm, vũ khí xe máy chưa đủ nhà bảo quản còn nhiều; quản lý, điều hành lao động, hạch toán kinh tế, áp dụng kỹ thuật còn yếu. Hạn chế đó do nhiều nguyên nhân, trong đó việc phát động tư tưởng, bồi dưỡng ý chí, tinh thần cách mạng tiến công có ý nghĩa sâu sắc, chưa sâu rộng ở các đơn vị. Đồng thời, công tác tổ chức kiểm tra, thanh tra chưa phát huy được hiệu lực, kỷ luật chưa nghiêm, dân chủ ở một số nơi lại chưa được phát huy. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, Tư lệnh Quân khu đã sử dụng, phát huy trách nhiệm, năng lực công tác tổ chức thanh tra của cơ quan thanh tra chuyên trách và người chỉ huy nhằm đúng đối tượng chính là các đơn vị ở tuyến 1, các nơi xung yếu có thể xảy ra chiến tranh (biên giới, hải đảo) phục vụ đắc lực cho lãnh đạo, chỉ huy, giúp các đơn vị xây dựng có chuyển biến, thúc đẩy nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, tích cực tham gia chống tiêu cực trong chiến đấu, trong chấp hành kỷ luật, pháp luật Nhà nước và quân đội. Được học tập 10 bài về pháp luật (do Tổng cục Chính trị biên soạn), bộ đội hiểu được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn, nên đơn thư gửi về Bộ tư lệnh và cơ quan chức năng tăng 30% so với năm 1983. Riêng tố cáo tăng 31%, trong đó tố cáo lợi dụng chức quyền, tham ô, móc ngoặc, thu vén cá nhân chiếm tới 56,65% tổng số đơn thư; trong số người bị tố cáo có đến 67% là cán bộ trung cao cấp. 91 quân nhân từ chuẩn úy đến đại úy có đơn thư thì 75 người thuộc các ngành Hậu cần, Tài chính, quản lý vật chất (82,41%). Đáng chú ý là những hiện tượng xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa tăng 22%. Một số cán bộ chỉ huy không quản lý chặt chẽ, nên để cho cán bộ nghiệp vụ lợi dụng, thao túng. Quân khu coi đây là những biểu hiện không lành mạnh, làm suy yếu sức mạnh chiến đấu, vi phạm bản chất truyền thống tốt đẹp của quân đội nhân dân, ảnh hưởng xấu đến xây dựng đơn vị và bảo đảm đời sống bộ đội cần phải chấn chỉnh kịp thời. Đi đôi với việc tăng cường giáo dục, tăng cường thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp chế, củng cố kỷ luật, kịp thời giải quyết 83,69% đơn thư khiếu tố, Quân khu coi trọng chỉ đạo việc trả lời, biểu dương những trường hợp khiếu tố đúng; tích cực giải quyết những khó khăn, thiếu thốn cho đơn vị, động viên khích lệ được mặt ưu điểm, mặt tốt, nhất là ở 212 lượt/đầu mối đơn vị được kiểm tra. Tư lệnh Quân khu chấn chỉnh lại chế độ, nền nếp, chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra. Mỗi đơn vị phân công 1 đồng chí phó chỉ huy phụ trách thanh tra, xem xét giải quyết đơn thư khiếu tố. Đơn thư khiếu tố phải đăng ký, quản lý chặt chẽ, sự việc giao cho ai giải quyết, giải quyết đến đâu phải có kiểm tra, theo dõi theo phân cấp và báo cáo kết quả với Tư lệnh Quân khu. Những hiện tượng vi phạm Nghị định 52 của Hội đồng Bộ trưởng, vi phạm các điều quy định "xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân" bị phân tích, phê phán và xử lý nghiêm khắc. Trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động phức tạp, tiêu cực xã hội không ngừng tác động, ảnh hưởng xấu đến phẩm chất, đạo đức, nếp sống, cách nghĩ và hành động của mỗi quân nhân, công tác thanh tra, kiểm tra đi sâu vào kiểm tra tiền, hàng, trách nhiệm người quản lý tiền hàng, góp phần tích cực xây dựng sự trong sáng, liêm khiết cho cán bộ, bộ đội, chống mọi biểu hiện thoái hoá, sai trái. Bộ Quốc phòng đánh giá cao kết quả công tác thanh tra của Quân khu, tặng cờ luân lưu "Ban Thanh tra khá nhất Ngành Thanh tra quân đội" cho Ban Thanh tra Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:36:41 pm * * * Những tháng cuối năm 1980, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá cách mạng nước ta. Đối phương không ngừng đe dọa “Dạy bài học thứ hai”, thường xuyên dùng lực lượng áp sát biên giới, đe dọa chiến tranh, nhất là phía Bắc Việt Nam và Bắc Lào. Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chỉ thị của Quân ủy Trung ương, ngày 25-11-1980, Bộ tư lệnh Quân khu ban hành Mệnh lệnh tác chiến gửi Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá, Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh, Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên giao 5 nhiệm vụ cụ thể về chiến đấu, nâng cao chất lượng phòng thủ; về chuẩn bị kế hoạch, lực lượng cơ sở quần chúng, căn cứ địa, bảo đảm hậu cần - kỹ thuật tại chỗ để đánh thắng địch trong tình huống chiến tranh diễn biến phức tạp kéo dài, kiên quyết giữ vững hậu phương trực tiếp của chiến trường chính; sẵn sàng chi viện nhân lực, vật lực và cơ động lực lượng đi chiến trường chính hoặc làm nghĩa vụ quốc tế. Thực hiện nhiệm vụ tập trung sức mạnh tổng hợp, tiếp tục nâng cao chất lượng thế trận phòng thủ hệ thống 1, Quân khu xác định trọng điểm của mỗi tỉnh, trong đó Thanh Hoá gồm khu vực thị xã Sầm Sơn, Quảng Xương, Hoằng Hoá, Tĩnh Gia. Nghệ Tĩnh từ Diễn Châu vào Nghi Xuân, bao gồm thành phố Vinh; khu vực Quỳnh Lưu, khu vực đèo Ngang. Bình Trị Thiên gồm: khu vực nam - bắc Cửa Việt, Đông Hà, xây dựng Huế thành thành phố chiến đấu. Về nhiệm vụ xây dựng lực lượng, hai tỉnh Thanh Hoá và Nghệ Tĩnh phấn đấu nâng tỷ lệ dân quân so với dân số trong năm 1980 lên 18%, làm tiền đề và cơ sở để tăng lên 20% trong 5 năm (1981-1985). Tỉnh Bình Trị Thiên do đặc điểm riêng, năm 1980 phấn đấu 11%, nhưng đến những năm 1981-1985 phải đạt 20%. Đó là mức phấn đấu nghiêm túc, quyết liệt để đáp ứng yêu cầu phát triển và biến động của tình hình nhiệm vụ, chủ động đánh thắng địch trong tình huống chiến tranh phức tạp kéo dài1. Theo tư tưởng chỉ đạo "Tổ chức lực lượng đúng quy định biên chế của Bộ, không có người thừa và người ít việc", Quân khu rà soát toàn bộ các tổ chức, trước hết là các đơn vị chủ lực cơ động, các đảo, tuyến biển, biên giới, các cơ quan quân sự địa phương, cơ quan Quân khu. Theo chủ trương đó, hai Sư đoàn 441 và 442 huấn luyện chiến sĩ mới được bổ sung thêm nhiệm vụ mới: Trong thời bình, hai sư đoàn chuyên trách huấn luyện chiến sĩ mới, trong đó có 1/3 huấn luyện sử dụng được các loại vũ khí hoả lực bộ binh; tiếp nhận huấn luyện quân thu gom; là sư đoàn dự bị động viên trên từng địa bàn đóng quân, đảm nhiệm chiến đấu một khu vực. Đồng thời quản lý, huấn luyện quân dự bị và tham gia xây dựng huyện pháo đài theo nhiệm vụ chiến đấu và làm nhiệm vụ khác được Quân khu giao2. - Khi có chiến tranh, hai Sư đoàn 441 và 442 sẽ chuyển thành sư đoàn bộ binh chiến đấu, gồm có: 2 khung trung đoàn bộ binh sẽ động viên quân dự bị ở các địa phương tổ chức thành 2 trung đoàn bộ binh hoàn chỉnh. Sư đoàn tiếp nhận thêm 1 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, một số đại đội; tiểu đoàn trực thuộc sư đoàn điều động từ lực lượng dự bị động viên của tỉnh theo phương án phòng thủ đã quy định. Một bộ phận của cơ quan sư đoàn cũ và 3 - 4 khung tiểu đoàn tách ra tiếp tục làm nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới. Để bảo đảm chỉ thị được thực hiện thống nhất, đặc biệt là khi có chiến tranh, Bộ tư lệnh Quân khu trực tiếp giao nhiệm vụ và tổ chức hiệp đồng giữa Bộ chỉ huy quân sự hai tỉnh và sư đoàn. Căn cứ vào nhiệm vụ được giao, hai bên quán triệt thực hiện các chế độ ngày càng nên nếp3. Sau khi chỉ đạo cho cả ba tỉnh diễn tập chiến thuật đánh quân địch đổ bộ đường biển cho thủ trưởng và cơ quan chỉ huy huyện, tỉnh trên các hướng chủ yếu, có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ tham gia, Quân khu tiếp tục chỉ đạo củng cố thế trận ở tuyến 1; tăng cường củng cố sửa chữa công sự chiến đấu, tăng cường trang bị quân số, bổ sung các nhu cầu bảo đảm; trồng cây ven biển tạo vành đai xanh trên tuyến phòng thủ. Kết thúc đợt diễn tập, tổ chức rút kinh nghiệm diễn tập xã, cụm chiến đấu liên hoàn và pháo đài quân sự huyện, liên huyện. ______________________________________________ 1. Riêng bộ đội biên phòng 3 tỉnh trước mắt giữ nguyên quân số. Thanh Hóa 33 đầu mối 2.571 người (có 307 sĩ quan, 33 nữ), Bình Trị Thiên 43 đầu mối 2.654 người (có 410 sĩ quan, 21 nữ). Bộ đội địa phương 3 tỉnh 13.399 (Thanh Hoá 4.556, Nghệ Tĩnh 4.650, Bình Trị Thiên 4.193). Cục Biên phòng Quân khu biên chế 40 người, có 35 sĩ quan. 2. Để chủ động trước tình hình mới, cả hai Sư đoàn vẫn giữ vững lưu lượng huấn luyện chiến sĩ mới, từ 9.000 - 9.500 người mỗi khoá theo chỉ tiêu Bộ Quốc phòng giao. Tổng quân số khung là 2.140, 15 tiểu đoàn, nay mỗi sư đoàn giảm 1 khung tiểu đoàn tăng thêm cơ quan sư đoàn, tổ chức 2 cơ quan tương đương cấp trung đoàn (mỗi khung quản lý 5 khung tiểu đoàn - khi cần thiết sẽ phát triển thành 3 khung tiểu đoàn bộ binh và các khung đại đội trực thuộc). 3. Ngày 27-5-1980 Quân khu chỉ thị bổ sung: tháng 6 tổ chức hiệp đồng, dần đưa vào nến nếp, chế độ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:40:22 pm Thực hiện quyết định (ngày 8-5-1980) của Bộ Tổng Tham mưu, các tỉnh tổ chức thêm Ban khảo sát phân giới cắm mốc thuộc Phòng Biên giới Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Biên chế mỗi ban 10 người. Nhiệm vụ của ban này là: Giúp Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đề xuất với cấp trên về kế hoạch khảo sát, phân giới cắm mốc trong địa bàn tỉnh; chỉ đạo các lực lượng vũ trang tỉnh thực hiện nhiệm vụ khảo sát, phân giới cắm mốc; làm lực lượng nòng cốt trong đoàn phân giới cắm mốc của tỉnh; thu thập quản lý hồ sơ, tài liệu có liên quan đến khảo sát, phân giới cắm mốc và các cột mốc biên giới. Nhiều vấn đề cơ bản trong xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân được đưa dần vào cơ chế lãnh đạo, điều hành của Đảng, chính quyền ở các tỉnh Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá, Bình Trị Thiên. Kế hoạch sẵn sàng động viên phục vụ nhu cầu quốc phòng khi có chiến tranh được Hội đồng Chính phủ1 giao cho Bộ trưởng Quốc phòng có trách nhiệm phối hợp với thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đôn đốc các đơn vị trực thuộc triển khai gấp việc ký kết các hợp đồng cụ thể về kế hoạch sẵn sàng động viên khi có chiến tranh. Theo quyết định này chỉ tiêu được giao cho các tỉnh Quân khu 4 gồm: Tỉnh Thanh Hoá tuyển 5.700 người (có 700 nữ), 400 công nhân kỹ thuật (cơ và điện là 230, lái và sửa ô tô máy kéo 170), 102 xe ô tô, 1.300 giường bệnh, 10.000 cuốc bộ binh. Tỉnh Nghệ Tĩnh tuyển 7.300 người (800 nữ), công nhân kỹ thuật 250 (cơ và điện 200, lái và sửa ô tô máy kéo 50), 100 xe ô tô, 1.250 giường bệnh, 10.000 cuốc bộ binh. Tỉnh Bình Trị Thiên tuyển 5.500 người (500 nữ), công nhân kỹ thuật 270 (cơ và điện 200, lái và sửa ô tô máy kéo 70), 88 xe ô tô. Riêng tỉnh Thanh Hoá được giao chuẩn bị chế thử đạn cối 60mm. Ngày 25 tháng 2, Hội đồng Chính phủ ban hành quyết định về kế hoạch tuyển quân: Ngày 15-3-1980, kế hoạch sẵn sàng động viên được gửi lên Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban kế hoạch Nhà nước tổng hợp báo cáo với Thường trực Hội đồng chính phủ. Nếu chiến tranh xảy ra, thì kế hoạch này coi như Mệnh lệnh chiến đấu. Các cơ quan, địa phương thuộc Quân khu 4 có trách nhiệm thi hành thật nghiêm chỉnh để bảo đảm phục vụ chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đồng thời với chuẩn bị kế hoạch sẵn sàng động viên Quân khu phải tuyển chọn 22.400 người (có 200 nữ) để đào tạo các ngành nghề cho Bộ Quốc phòng. Trong số đó có 1.700 đào tạo trung cấp kỹ thuật; 300 cơ yếu; 2.000 lái xe ô tô, 200 báo vụ 15W; 1.500 thợ sơ cấp các loại; 100 lái xe xích... Trong năm 1980 nhiệm vụ đào tạo, bổ túc cán bộ thuộc các trường, lớp Quân khu và các đơn vị được giao cao hơn các năm. Trường Quân chính Quân khu từ 1.200 - 1.300 học viên; Trường Đảng 250; Trường Hậu cần 110; Trường Văn hoá 1.100 - 1.200; Trường Quân chính Thanh Hoá và Nghệ Tĩnh mỗi nơi 1.000; Bình Trị Thiên 600. Các đội huấn luyện: Pháo binh (Trung đoàn 16) 130; Công binh (Trung đoàn 414) 65; Cao xạ (Trung đoàn 283) 40; Thông tin 65; Trinh sát (Tiểu đoàn 12) đều phải bảo đảm mức chiêu sinh từ 100 học viên trở lên. Để tập trung sự chỉ đạo, rút gọn biên chế, Quân khu sáp nhập các trường Quân khu 4 và Quân đoàn 65 (gồm Trương Quân chính, Trường Hạ sĩ, Trường Hậu cần, Trường Kỹ thuật, Trường Văn hoá)2. Việc sáp nhập bắt đầu từ ngày 1-5-1980, tiến hành từng bước chặt chẽ. Trừ Trường Kỹ thuật - căn cứ vào thời gian bàn giao của Trường Hậu cần Quân đoàn 2 sẽ di chuyển vào cuối tháng 9-1980, còn tất cả các trường Quân chính, Hạ sĩ, Hậu cần dời từ Nghệ An vào Phú Bài trong hai tháng 5 và 6, kịp khai giảng năm học mới đúng ngày 1-7-1980. Cuộc hành quân đường dài diễn ra trong điều kiện phương tiện vận chuyển khó khăn, gấp rút, nhưng các trường chấp hành nghiêm túc, bảo đảm an toàn, đúng thời gian quy định. Các trung đoàn 167 và 223 thuộc Cục Xây dựng kinh tế chuyển thuộc quyền chỉ huy, quản lý của Cục Hậu cần Quân khu. Quân số được tính trong lực lượng xây dựng, thuộc ngân sách quốc phòng. Theo quyết định ngày 12-4-1980 của Bộ trưởng Quốc phòng, các cơ quan và đơn vị xây dựng kinh tế thuộc Quân khu 4 gồm Cục Xây dựng kinh tế, Trường Quản lý kinh tế, Đội khảo sát, Tiểu đoàn 54 làm đá, tiểu đoàn vận tải; các trung đoàn 223 và 167 giải thể. Cùng trong thời gian này, 10 nam chiến sĩ và 5 nữ thuộc Quân khu 4 được điều động về Quân chủng Phòng không - Không quân để tổ chức đơn vị dù; 1 tiểu đoàn xe tăng thuộc Trung đoàn 206 được điều động bổ sung cho Lữ đoàn 405 thuộc Đặc khu Quảng Ninh. 39.900 tân binh (37.900 nam) được tuyển và bàn giao trong đợt 1 cho 16 đầu mối3. ___________________________________________ 1. Quyết định 58/CP ngày 25-1-1980 của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Quốc phòng ký hợp đồng với Ủy ban nhân dân ba tỉnh trong Quân khu thống nhất làm văn bản ký kết theo các chỉ tiêu Chính phủ giao. 2. Chỉ thị ngày 20-4-1980. 3. Điều ở Thanh Hóa 13.300 (12.600 nam), Nghệ Tĩnh 17.900 (16.900 nam), Bình Trị Thiên 8.700 (8.400 nam) giao cho Quân khu 4: 25.700 (24.800 nam), Quân đoàn 1: 200 nữ. Quân đoàn 3: 2.200 (2.000 nam), Binh đoàn 678: 4.700 (4.500 nam), Không quân: 2.200 (2.000 nam). Hải quân 1.200 (1.000 nam), Bộ tư lệnh Đặc công 300 (200 nam), Thiết giáp 1.600 nam. Thông tin 500 nam, Công binh 1.200 nam, Hoá học 100 nam. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:44:37 pm Hội đồng hậu cần của các tỉnh bắt đầu hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân tỉnh. Hội đồng có đủ các thành viên là các ngành lương thực, y tế, giao thông vận tải, thương nghiệp, công nghiệp, bưu điện, tài chính, giáo dục. Chỉ trong vài tháng Hội đồng đã huy động được lượng dự trữ 16.050 tấn lương thực, (Nghệ Tĩnh 5.600 tấn, Thanh Hoá 5.250 tấn, Bình Trị Thiên 5.200 tấn). Kế hoạch đăng ký, quản lý, huấn luyện quân dự bị động viên đợt 2 năm 1980 tiếp tục thực hiện đạt kết quả tốt ở Sư đoàn 359, hai Trung đoàn 841 và 842. Kế hoạch xây dựng công trình chiến đấu năm 19801 (trong đó Quân khu đảm nhận 17 điểm tựa cấp đại đội, 13 đại đội pháo dã chiến cho các tỉnh, các đảo, 2 sở chỉ huy Quân khu phía trước và cơ bản, 9 sở chỉ huy của tỉnh, huyện, trung đoàn) được xúc tiến khẩn trương cùng với hệ thống vật cản, chướng ngại, bao gồm trồng cây các loại trên chiều dài 120km dọc bờ biển kết hợp "vật cản nổ và không nổ" ở vùng trọng điểm. Việc tập huấn, bồi dưỡng kỹ thuật sản xuất lương thực, thực phẩm triển khai theo bài bản, gắn liền với phổ biến kinh nghiệm tiên tiến của các đơn vị điển hình tự túc 7 tháng đến 12 tháng lương thực, thực phẩm, góp phần tích cực đưa lại những chuyển biến mới về nhận thức, tư tưởng, chất lượng và hiệu quả mới. Quá trình triển khai các công tác toàn diện, đồng đều, khẩn trương, Quân khu chú trọng các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm chỉ đạo thực hiện. Xây dựng pháo đài quân sự huyện mạnh được Quân khu xác định là một chủ trương lớn, là một vấn đề then chốt để chuẩn bị chiến tranh nhân dân địa phương. Quân khu và tỉnh thống nhất yêu cầu cụ thể theo từng thời gian trên địa bàn những huyện cần tập trung chỉ đạo phải đạt bằng được trong vòng 6 tháng cuối năm 1980: Huyện có sự phát triển toàn diện về sản xuất, đời sống nhân dân được nâng dần lên; trị an thật tốt, quốc phòng mạnh thêm. Mỗi huyện xác lập được một văn kiện cơ bản chính thức đã qua nghiên cứu, thực nghiệm và kết luận chu đáo, kỹ lưỡng. Nhiệm vụ hoàn chỉnh xây dựng pháo đài quân sự huyện lần này phải do cơ quan quân sự tỉnh và huyện chịu trách nhiệm mọi mặt về kết quả đạt được, dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của cấp ủy địa phương. Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh có kế hoạch chỉ đạo các huyện triển khai thực hiện đúng nội dung, phương hướng. Ở các huyện trọng điểm của hai tỉnh Thanh Hoá và Nghệ Tĩnh, Bộ tư lệnh Quân khu tăng cường cho mỗi tỉnh 2 sư đoàn phối thuộc cùng cơ quan quân sự tỉnh, thành, huyện, thị tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu xây dựng pháo đài chiến đấu. Ở Thanh Hoá có Sư đoàn 442 và Sư đoàn 358. Ở Nghệ Tĩnh có hai sư đoàn 359 và 441. Quân khu quy định rõ: "Các sư đoàn nói trên vừa có nhiệm vụ thường xuyên, vừa có nhiệm vụ chiến đấu trong hệ thống phòng thủ của tỉnh". Trong đợt công tác đột phá 6 tháng từ tháng 6 đến tháng 11-1980 chia làm 3 bước2, nhiệm vụ các sư đoàn cùng các địa phương được quy định: Cùng Bộ (ban) chỉ huy quân sự làm chuyên gia cho cấp ủy (chính quyền) xây dựng hoàn chỉnh phương án tác chiến của pháo đài quân sự huyện. Chuẩn bị chiến trường cho sư đoàn sẵn sàng làm nhiệm vụ chiến đấu. Thực hành chỉ huy chiến đấu phòng thủ trong thế trận chiến tranh nhân dân địa phương Đối với Quân đoàn 65, Mệnh lệnh về tác chiến và xây dựng của Bộ tư lệnh Quân khu đặt cơ sở cho phương hướng nhiệm vụ cơ bản của quân đoàn là: Phối hợp chặt chẽ với lực lượng tại chỗ tiến hành các chiến dịch tiến công, phản công kiên quyết đánh thắng địch trong mọi tình huống trên địa bàn Quân khu. Hướng chủ yếu là Thanh Nghệ Tĩnh; hướng quan trọng là Bình Trị Thiên và hướng phối hợp là Quảng Nam - Đà Nẵng, sẵn sàng cơ động lên chiến trường phía Tây làm nhiệm vụ quốc tế, chủ yếu trên tuyến đường 7, đường 8; chú ý khu vực Cánh Đồng Chum (Xiêng Khoảng). Trước mắt, cần phối hợp chặt chẽ với địa phương, kiên quyết ngăn chặn, dập tắt kịp thời các vụ gây rối, phá hoại, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, tham gia xây dựng công trình phòng thủ, chống thiên tai, bão lụt ở các khu vực được phân công. Sau một thời gian khắc phục khó khăn, lúng túng về nơi ăn ở, vị trí đóng quân, quân khu và quân đoàn tập trung củng cố quân đoàn; xác định nhiệm vụ, biên chế, tổ chức, quan hệ lãnh đạo, chỉ huy, điều chỉnh, bổ sung, tăng cường lực lượng chiến đấu (bao gồm bộ binh, binh chủng kỹ thuật, bổ sung quân số chiến đấu, hoả lực) nghiên cứu xác định đội hình bố trí của quân đoàn và giải quyết một số vấn đề cụ thể, bức thiết3. Với 3 sư đoàn bộ binh, 5 trung đoàn binh chủng và đủ các đơn vị bảo đảm, phục vụ (6 tiểu đoàn, 2 đại đội, 1 trung đội chỉ huy phòng không, 2 đội điều trị, 1 đội vệ sinh phòng dịch) đứng chân trên các vị trí then chốt, chủ yếu, Tư lệnh quân đoàn khẩn trương triển khai chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu cho quân đoàn và từng đơn vị. Căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ các đơn vị trên từng khu vực Tư lệnh Quân khu, quân đoàn xác định trạng thái sẵn sàng chiến đấu cụ thể cho từng đơn vi (cao, tăng cường hoặc thường xuyên). Yêu cầu cao nhất là thực hiện đúng tinh thần Chỉ lệnh số 47/QP (22-3-1980) và Công văn 123/TM (2-5-1980) của Bộ Tổng Tham mưu: "Đề cao cảnh giác, từng ngày, từng giờ, từng phút phải luôn sẵn sàng chiến đấu kịp thời đánh bại mọi âm mưu và hành động phá hoại, tiến công xâm lược của địch", luôn luôn "nắm chắc tình hình địch, giữ vững thông tin liên lạc, để khi phát hiện âm mưu, hành động tiến công của địch thì kịp thời chuyển lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao theo quyền hạn quy định"4. _______________________________________________ 1. Ngoài số do Quân khu làm, các đơn vị, địa phương triển khai tiếp một khối lượng xây dựng công trình lớn, chú trọng công sự xây lắp, đúc để làm nòng cốt. Tính riêng công sự vũ khí từ trung liên đến 12,7 ly là 425 cái, hầm đạn 414 cái, hầm cấp cứu thương binh 35 cái, chứa lương thực 35 cái, pháo 85 và 130: 64 khẩu, sở chỉ huy cấp đại đội 28 cái, đài quan sát 44 cái, bể dự trữ nước 108 cái, cải tạo 250m hang, đào lát 80m đường hầm. 2. Bước 1: chuẩn bị, bước 2: thực hành, bước 3: sơ kết. 3. Theo Mệnh lệnh của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân ngày 6-9-1980, việc chuyển sở chỉ huy quân đoàn, cơ quan và đơn vị trực thuộc đóng ở Phú Bài về địa điểm mới, hoàn thành trước ngày 30-11-1980: Trung đoàn 284 về Giang Sơn (Tân Kỳ) trước ngày 30-9-1980, Sư đoàn 342 từ Đà Nẵng về Cam Lộ - Đồng Lâm - đường 9 trước ngày 30-9-1980. Sở chỉ huy quân đoàn, cơ quan, đơn vị trực thuộc về Nghĩa Thuận (Nghĩa Đàn), Quỳnh Tân (Quỳnh Lưu) trước ngày 30-11-1980. Sở chỉ huy bắt đầu làm việc ở nơi mới từ 0 giờ ngày 30-11-1980. 4. Theo kế hoạch rút quân tình nguyện, ngày 10-12-1980, Sư đoàn 341 mới hoàn thành chuyển quân từ vị trí tập kết "cua chữ V" (Tây Bắc Bát Tam Băng - Campuchia) về vùng Quỳnh Châu, Quỳnh Tam (Quỳnh Lưu), Nghĩa Thuận (Nghĩa Đàn). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:46:52 pm Trong số các đơn vị cấp sư đoàn của quân đoàn, buổi đầu do đặc điểm riêng (hầu hết tân binh tuyển ở các tỉnh phía Nam, chưa quen gian khổ), nên số quân bỏ ngũ ở Sư đoàn 342 chiếm tỷ lệ cao. Sau cuộc hành quân đường dài về tập trung xây dựng, củng cố, sư đoàn đã nhanh chóng chấn chỉnh bảo đảm quân số như các đơn vị bạn. Các đơn vị trong quân đoàn đã tham gia cùng lực lượng tại chỗ kiểm tra theo hệ thống từng cấp, diễn tập theo phương án tác chiến; trong đó đỉnh cao là diễn tập chiến dịch đánh địch đổ bộ đường biển do Quân khu chỉ đạo tiến hành ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên với quy mô tác chiến binh chủng hợp thành, kết hợp ba thứ quân, hai phương thức tác chiến trên nền chiến tranh nhân dân địa phương ở các tuyến phòng thủ ven biển. Việc triển khai đội hình của quân đoàn chủ lực kết hợp với tiến độ và chất lượng xây dựng làng xã, khu phố, công, nông, làm trường, xí nghiệp chiến đấu, xây dựng các điểm tựa, cụm điểm tựa đã từng bước gắn chặt với quy hoạch kinh tế - quốc phòng, kết hợp chặt chẽ sản xuất với chiến đấu. Tổ chức hệ thống chiến đấu tiền tiêu trên biển - đảo, lấy đảo làm nòng cốt. Lực lượng dân quân tự vệ đánh cá được tổ chức thành các hải đội nhân ra rộng khắp các huyện ven biển, trọng điểm là Quảng Xương, Tĩnh Gia, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, Nghi Xuân, Bến Hải, Triệu Hải. Trên hệ thống phòng thủ tuyến 1 trước tiền duyên mép nước, tổ chức hệ thống phòng ngự trận địa của pháo đài quân sự huyện, bao gồm khu vực phòng thủ của trung đoàn, các cụm điểm tựa cỡ tiểu đoàn phía trước và các làng xã chiến đấu cũng theo hình thức điểm tựa, cụm điểm tựa. Các huyện Hoằng Hoá, Quảng Xương, bao gồm thị trấn Sầm Sơn có Trung đoàn 840, Trung đoàn 762 bộ đội địa phương làm nhiệm vụ phòng thủ1. Các huyện Diễn Châu, Nghi Lộc, Nghi Xuân có Trung đoàn 841, Trung đoàn 764 bộ đội địa phương. Các huyện Bến Hải, Triệu Hải, thị xã Đồng Hới có Trung đoàn 842, Trung đoàn 6 bộ đội địa phương. Các huyện này đã xây dựng xong kế hoạch bảo đảm công trình, thiết lập sở chỉ huy các loại của các cấp, tổ chức chỉ huy thống nhất, tăng cường bảo đảm chỉ huy và tổ chức huấn luyện cho các lực lượng phòng thủ, bồi dưỡng công tác chỉ huy. Những huyện không có trung đoàn vẫn chuẩn bị sẵn khu vực phòng thủ cỡ trung đoàn (hoặc cụm điểm tựa cỡ tiểu đoàn) ngay trong hệ thống các làng xã (công, nông, lâm trường, xí nghiệp) chiến đấu. Các huyện phía sau, huyện biên giới chủ yếu đi sâu tổ chức các khu vực tác chiến cần thiết theo dự kiến khả năng địch có thể đổ bộ đường không để phối hợp với đường biển và theo phương án chống bạo loạn. Quân khu cử cán bộ quân sự về tăng cường cho các cơ sở ở vùng trọng điểm giúp triển khai xây dựng làng xã chiến đấu, điểm tựa, cụm điểm tựa của bộ đội địa phương, hoàn thiện phương án tác chiến cơ bản và phương án các xã trọng điểm phòng thủ2. Đối với “thành phố, thị xã chiến đấu", Quân khu và tỉnh tăng cường chỉ đạo thí điểm thành phố Huế để rút kinh nghiệm chung. Việc xây dựng làng xã chiến đấu, thực hiện chính sách công bằng, ổn định trật tự an ninh, được các địa phương gắn liền và kết hợp với việc thu gom quân đào ngũ bằng nhiều biện pháp tổng hợp: tư tưởng, tổ chức, nâng cao giác ngộ tự nguyện đi đôi với bắt buộc kiên quyết. Các tỉnh, các huyện tổ chức các công trường lao động giáo dục, định rõ thời gian lao động sau khi xem xét công khai - dân chủ từng hoàn cảnh cụ thể. Thời gian lao động bắt buộc được tính trừ vào thời gian phục vụ tại ngũ. Những trường hợp thuộc diện phải động viên trở lại đội ngũ thì giao cho các trung tâm huấn luyện giáo dục, huấn luyện bổ sung đi các hướng. Bằng cách tổ chức như vậy, tỉnh Thanh Hoá đã thu gom được 3.250 người lên các "công trường lao động giáo dục - chính trị". Tỉnh Nghệ Tĩnh giao cho Sư đoàn 441 được 859 người. Tỉnh Bình Trị Thiên giao cho Trung đoàn 853 và Trung đoàn 6 được 258 người, lên công trường thủy lợi nam Thạch Hãn 55 người. Nhằm đáp ứng yêu cầu cán bộ trước sự phát triển nhiệm vụ, Quân khu quyết định giao cho ba tỉnh triển khai huấn luyện, bồi dưỡng sĩ quan dự bị theo kế hoạch chỉ tiêu năm 1980. Thời gian mỗi lớp 1 tháng, tổng số 1.300 học viên (Nghệ Tĩnh và Thanh Hoá mỗi tỉnh 500, Bình Trị Thiên 300). Đồng thời, giao nhiệm vụ cho 3 trường Quân sự tỉnh và Cục Hậu cần Quân khu tổ chức huấn luyện hạ sĩ quan xuất ngũ trở thành sĩ quan dự bị. Những hạ sĩ quan giữ chức tiểu đội trưởng, chỉ huy đơn vị chiến đấu, được đào tạo hạ sĩ quan hoặc là hạ sĩ quan công tác ở các cơ quan hoàn thành tốt nghĩa vụ có đủ tiêu chuẩn sau đây được tuyển huấn luyện thành sĩ quan dự bị như: Lịch sử rõ ràng, chính trị không thuộc diện "cấm kết nạp Đảng”, là đảng viên hoặc đoàn viên; có năng lực tổ chức, chỉ huy, nghiệp vụ chuyên môn và phẩm chất chính trị tốt. Tuổi từ 30 trở xuống, sức khỏe loại A và B1. Thời gian huấn luyện là 3 tháng (từ tháng 9 đến 11-1980). Trường Quân sự Thanh Hoá đảm nhận từ 60 - 80 học viên; Trường Quân sự Nghệ Tĩnh từ 140 - 160; Trường Quân sự Bình Trị Thiên từ 200 - 250 học viên; Cục Hậu cần Quân khu 160 - 200 học viên. _____________________________________________ 1. Ở Thanh Hóa, chỉ đạo huyện Quảng Xương rút kinh nghiệm cho 6 huyện, thị ven biển; chỉ đạo huyện Thọ Xuân rút kinh nghiệm cho các huyện phía sau quy hoạch sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Các sư đoàn 358, 442; các trung đoàn 763, 840 cùng phối hợp với các huyện ven biển nghiên cứu, trinh sát địa hình, làm quyết tâm cơ bản, kế hoạch tác chiến và 10 văn kiện cơ bản cho chiến đấu, thông qua các cấp và giao nhận cơ sở, hiệp đồng giao nhận với các ngành thống nhất kế hoạch, xúc tiến các mặt cho diễn tập. 2. Nghệ Tĩnh tăng cường 30 cán bộ, Bình Trị Thiên 30, Thanh Hoá mỗi huyện tăng cường cho xây dựng cơ sở từ 7 - 8 cán bộ. Thực hiện chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu, mỗi xã vùng biển duy trì một trung đội 15 tay súng trực chiến; mỗi đơn vị tự vệ có 1 trung đội sẵn sàng cơ động. Miền núi biên giới mỗi xã 1 trung đội đủ trang bị, các xã nội địa mỗi nơi một tiểu đội trực chiến có 5 súng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:49:37 pm * * * Chủ động dự kiến trước tình hình, từ tháng 7 năm 1980, Bộ Quốc phòng quyết định điều chỉnh lực lượng ở Quân khu 4: Ngày 28-6-1980 Bộ Quốc phòng điều động Sư đoàn 318 thuộc Quân đoàn 65 (Quân khu 4) về trực thuộc Bộ Quốc phòng để làm Dầu khí ở Vùng Tàu1. Ngày 3-10-1980, toàn bộ khung Sư đoàn 359 Quân khu 4, đủ 1.500 người được Bộ Tổng Tham mưu điều động về Binh đoàn 773 thuộc Quân khu 5 để làm cà phê ở Kon Tum. Quân khu phải chuẩn bị xong mọi mặt cho sư đoàn trong tháng 10 để hành quân về đơn vị mới trong tháng 11-1980. Ngày 27-10-1980, Bộ trưởng Quốc phòng quy định sắp xếp lại biên chế của cơ quan quân khu, quân đoàn, trung đoàn gồm cơ quan tham mưu các cấp, các binh chủng, cơ quan kỹ thuật, cơ quan hậu cần. Cùng thời gian này Sư đoàn 441 và Sư đoàn 442 được Quân khu quyết định lâm thời về tổ chức và nhiệm vụ. Theo quyết định, thì 2 sư đoàn có nhiệm vụ: Huấn luyện chiến sĩ mới theo chỉ tiêu hàng năm của Bộ giao và huấn luyện quân dự bị động viên theo kế hoạch của Quân khu trên các địa bàn được phân công, sẵn sàng khôi phục thành các sư đoàn bộ binh chiến đấu; đồng thời vẫn duy trì huấn luyện chiến sĩ mới khi có chiến tranh. Tổ chức theo cơ cấu và biên chế khung sư đoàn bộ binh chiến đấu mạnh với tổng quân số 2.500 người; gồm 3 khung trung đoàn bộ binh trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện (mỗi trung đoàn có cơ quan và một số bộ phận trực tiếp phục vụ huấn luyện, 5 khung tiểu đoàn bộ binh). Khi có chiến tranh, mỗi trung đoàn tách 2 khung tiểu đoàn làm khung huấn luyện chiến sĩ mới. số còn lại chuyển thành trung đoàn bộ binh chiến đấu trong sư đoàn. Cơ quan sư đoàn đủ cán bộ theo biên chế. Tổ chức khung trung đoàn pháo binh tương đối đủ cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật theo biên chế. Mọi việc điều chỉnh tổ chức, sắp xếp quân số hoàn thành trong tháng 10 năm 1980. Giữa lúc quân dân Quân khu 4 khẩn trương chấn chỉnh lực lượng, thì xảy ra 2 lần áp thấp nhiệt đới và 2 cơn bão số 4 và số 6 tràn vào tàn phá nặng nề gây tổn thất nghiêm trọng về người và tài sản nhân dân. Sát cánh cùng Đảng bộ và nhân dân địa phương, các lực lượng vũ trang đã huy động 36.368 lượt người với 118.000 công tham gia phòng chống bão lụt, cứu người, cứu tài sản Nhà nước và nhân dân. Trong đó, các đơn vị bộ đội tham gia 12.886 lượt người với 56.305 công; dân quân tự vệ 23.482 lượt người với 61.775 công. Ở vùng Ghép - Nông Cống, Quân khu điều động 2 xe K61 và 1 xe Pap của Trung đoàn 414 công binh, luồn lách giữa gió bão, đêm ngày, kịp thời chở đồng bào đến nơi an toàn, đồng thời tiếp tế lương khô, bánh mì cho người bị kẹt lụt không còn lương thực, thực phẩm để qua những ngày mưa bão. Vừa khắc phục hậu quả bão lụt, tranh thủ đẩy mạnh sản xuất đông - xuân, trồng rau màu chống giáp hạt, các tỉnh vừa khẩn trương triển khai tuyển quân đợt 2 năm 1980. Ngày 10-11 ban hành chỉ thị, ngày 30-11 bắt đầu giao nhận. Chậm nhất đến ngày 10-12 phải hoàn thành. Ngoài số lượng tuyển đợt 2: 18.504 người (12.104 nam, 6.400 nữ)2, các tỉnh còn phải tuyển bù đợt 1: 1.534 nam thanh niên. Trong thử thách gian khổ, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội của quân dân Quân khu 4 tiếp tục bừng sáng. Toàn Quân khu đã chấp hành nghiêm chỉnh, hoàn thành xuất sắc đợt 2 tuyển quân theo chỉ tiêu giao. Khắc phục những điểm yếu của đợt phát thẻ Đảng dịp 3-2, "cập rập, chưa quán triệt sâu sắc mục đích, yêu cầu, chỉ đạo chưa chặt chẽ", các đợt tiếp sau đã phát huy kinh nghiệm làm tốt ở cơ quan Quân khu, Sư đoàn 441, Trung đoàn 414, tạo nên những chuyển biến rõ về kiểm tra tư cách đảng viên, nâng cao chất lượng xây dựng Đảng, làm cho đội ngũ đảng viên ý thức sâu sắc về Đảng, nâng cao tinh thần phấn đấu cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ, thúc đẩy cuộc vận động xây dựng Đảng vững mạnh, trong sạch; đưa công tác quản lý đảng viên vào nền nếp, ngăn ngừa kẻ địch và phần tử xấu chui vào Đảng, bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ cách mạng ngày càng cao. Phát thẻ Đảng gắn với phát huy sức mạnh lãnh đạo của Đảng và hiệu lực chỉ huy các cấp, thực hiện chế độ thủ trưởng, gắn với tăng cường xây đựng cơ sở ba cấp, kết hợp và lồng vào chỉ tiêu cuộc vận động lớn. Đối với những nơi thực hiện trước chế độ thủ trưởng: Quân khu đặt yêu cầu thường xuyên rút kinh nghiệm, ít nhất một quý đánh giá toàn diện một lần. Nơi chưa làm, nhưng đã có điều kiện thì mạnh dạn làm. Nơi còn thiếu điều kiện thì khẩn trương, tích cực tạo điều kiện để thực hiện, bảo đảm Nghị quyết Quân ủy Trung ương sớm được chấp hành ở khắp các đơn vị. Quân khu đã kiên quyết đưa những cán bộ có triển vọng đảm nhận cương vị thủ trưởng đi học. Cán bộ quân sự học chính trị. Cán bộ chính trị học quân sự. Mọi cán bộ phải học hết chương trình tại chức theo quy định, có tổ chức kiểm tra nghiêm túc, chặt chẽ. Tất cả cán bộ còn phục vụ từ 3 - 5 năm đều bố trí học xong văn hoá cấp II. Số phục vụ từ ở năm trở lên phải học hết cấp III. Quân khu chuyển mạnh công tác đào tạo cơ bản qua trường ngay từ cấp tiểu đội trưởng và đổi mới cơ cấu cán bộ một cách vững chắc. Thường vụ Đảng ủy Quân khu bàn chuyên đề về công tác quản lý cán bộ, giải quyết một cách cơ bản, toàn diện mối quan hệ giữa tăng cường sức mạnh lãnh đạo tập thể đi đôi với thực hiện chế độ thủ trưởng. _______________________________________________ 1. Quyết định có hiệu lực từ ngày 5-7-1980. Ngày 5-7-1980 Bộ Tổng Tham mưu ra Mệnh lệnh hành quân cho Sư đoàn 318; Trước ngày 14-7-1980, tiền trạm có mặt tại Đoàn an dưỡng Quân khu 7 ở Vũng Tàu. Từ ngày 1 đến ngày 5-8-1980 khối đầu tiên của Sư đoàn hành quân. Trước 24 giờ ngày 30-8-1980, sư đoàn hoàn thành việc chuyển quân đến địa điểm mới, bảo đảm an toàn, bí mật, triển khai làm nhiệm vụ được ngay. Sư đoàn vinh dự góp phần đặt những viên gạch đầu tiên cho nền công nghiệp dầu khí của Tổ quốc từ ngày khởi công xây dựng. 2. Thanh Hoá 4.876 người (nam 3.076. nữ 1.800) giao cho Binh đoàn 678, Quân đoàn 1, Sư đoàn 442. Bù đợt 1: 326 nam giao cho Sư đoàn 442, Nghệ Tĩnh 9.240 người (nam 5.740, nữ 3.500) giao cho Quân đoàn 1, Bộ tư lệnh Đặc công. Bộ lư lệnh Hải quân, Sư đoàn 441, Đặc công 32. Bình Trị Thiên 4.388 người (nam 3.288, nữ 1.100) giao cho Binh đoàn 12, Sư đoàn 441, Trung đoàn 853. Bù đợt 1: 1.208 nam giao cho Sư đoàn 441 và Trung đoàn 853. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:52:57 pm Trước tình hình trị an một số nơi diễn biến phức tạp, Đảng ủy Quân khu xác định: giữ vững an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, trong đó có trật tự quân nhân là nhiệm vụ hết sức quan trọng, để củng cố sức mạnh chuyên chính vô sản. Quân khu nhận định: "Các hoạt động phá hoại của bọn xấu cũng như hoạt động của các loại kẻ địch chỉ là một. Bọn lưu manh, côn đồ, buôn gian, bán lậu, những phần tử xấu khác phá hoại ta trong nội địa đều phải trấn áp". Trên cơ sở thống nhất quan điểm bảo vệ trật tự trị an, các Đảng bộ, chính quyền địa phương chủ trì lãnh đạo, tổ chức thực hiện, huy động lực lượng công an và lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho phong trào toàn dân bảo vệ an ninh. Khắp Quân khu tổ chức các chiến dịch truy quét trên các trọng điểm, đánh vào các đối tượng càn quấy, nhất là những địa bàn chúng tập trung hoạt động. Quân đội (bao gồm quân sự địa phương và bộ đội chủ lực đóng quân trên địa bàn) có nhiệm vụ đề xuất, phối hợp cùng địa phương duy trì trật tự an ninh, kiên quyết đập tan âm mưu và hoạt động của mọi loại đối tượng phá hoại chống đối khác. Các chiến dịch truy quét được tiến hành 3 đợt mở màn tạo đà, tạo thế, sau đó đưa vào nền nếp hỗ trợ cho phong trào quần chúng bảo vệ an ninh địa phương hình thành phong trào rộng rãi trấn áp bọn phá hoại, gây rối1. Cuộc truy quét trên diện rộng, làm đồng loạt, tập trung, có chỉ đạo chặt chẽ đã làm cho các băng nhóm trộm cướp, phá hoại, bọn lưu manh, côn đồ bị đòn đau và bất ngờ. Số bọn thoát lưới phải rụt lại, chờ thời cơ hoặc tìm tới địa bàn khác. Trên những trọng điểm, ở thành phố Vinh; các thị xã Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Đồng Hới, các bến xe, ga tàu, chợ búa, trên tuyến giao thông đường sắt, đường bộ, ta đã ngăn chặn một bước quan trọng các tệ nạn tiêu cực xã hội. Các hiện tượng cướp giật giữa ban ngày, "người ngay sợ bọn gian", thậm chí lượn lờ thách thức, "trêu ngươi" các nhân viên bộ máy công quyền làm nhiệm vụ giữ an ninh, trật tự, đã bị chặn đứng. Nhiều tài sản của công dân bị trộm cắp được thư hồi, trong đó có các loại vũ khí, chất nổ, ma tuý, hàng tạ đường hoá học, hàng trăm tấn lương thực, vật liệu xây dựng, xăng dầu thuộc loại hàng chiến lược đặc biệt quý hiếm thời kỳ đó. Bài học quan trọng hàng đầu được Bộ Quốc phòng và các địa phương, đơn vị phát huy, tạo bước chuyển mạnh mẽ trong vấn đề an ninh quốc phòng là: Mọi cấp mọi ngành, mỗi cơ sở, từng chiến sĩ, cán bộ, nhân viên nhà nước và toàn dân - trước hết là lãnh đạo, chỉ huy các cấp và cơ quan chuyên chính phải thống nhất cao về nhận thức: đánh bại bọn càn quấy lưu manh, gây rối, buôn gian bán lậu có mối quan hệ rất chặt chẽ với chống chiến tranh phá hoại nội địa ta. Lực lượng vũ trang phải hậu thuẫn đắc lực, kiên quyết, triệt để; phải có tổ chức chỉ huy hiệp đồng thống nhất, chặt chẽ; mục tiêu, yêu cầu, biện pháp rất cụ thể. Tại Hội nghị tổng kết Đảng ủy Quân khu, đồng chí Hoàng Minh Thi - Bí thư Đảng ủy nhấn mạnh: "Công an có vị trí trách nhiệm lớn, nhưng lực lượng có hạn. Lực lượng vũ trang ba thứ quân phải chịu trách nhiệm. Quân đội có quân đông, sức mạnh lớn, quân đội phải chịu trách nhiệm. Quân đội không được nề hà gì hết, miễn là bảo vệ cho được Đảng, chính quyền, thành quả cách mạng, không được để bất cứ kẻ nào phá hoại và làm suy yếu đi". Quyết tâm của lãnh đạo, chỉ huy và những kết quả đạt được trong thực tế đã biến thành tình cảm trách nhiệm, hành động của quân và dân trong Quân khu: "Hễ có một kẻ phản nghịch nào đó phá hoại, thì hàng nghìn người, kể cả người già, trẻ con đều chống lại chúng, đánh bại chúng. Bất cứ kẻ nào đụng đến chính quyền, đụng đến Đảng và chủ nghĩa xã hội đều vấp phải tức khắc sự quật trả của trăm nghìn người, nghìn nghìn người...". Quán triệt và triển khai thực hiện sáu vấn đề lớn về đường lối chiến lược quân sự của Đảng, căn cứ vào nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang quân khu đầu năm 1981, Tư lệnh Quân khu phê chuẩn kế hoạch huấn luyện C81 và chỉ thị về việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ trong năm 1981 và các năm tiếp theo. Tiếp đó, Bộ tư lệnh Quân khu thành lập Ban chỉ đạo giúp Bộ tư lệnh Quân khu trực tiếp tổ chức thực hiện thống nhất chỉ huy quân khu - quân đoàn trước sự biến động lớn về tổ chức lực lượng. Từ ngày 1-3-1981, Quân đoàn 65 giải thể, cơ quan quân đoàn sáp nhập với cơ quan quân khu2. Đối với các đơn vị, chấn chỉnh, kiện toàn Sư đoàn 341 theo biên chế 0255; Sư đoàn 342 thành sư đoàn rút gọn, Sư đoàn 358 khung thường trực; các trung đoàn binh chủng 80 thông tin, 16 pháo binh, 283 phòng không, 414 công binh, 206 xe tăng. Ba trung đoàn (74, 453 và 49) do Bộ Quốc phòng điều động đi xây dựng kinh tế. Quân khu chuyển giao 16.050 chiến sĩ mới cho các đơn vị của Bộ, trong đó có 800 nữ và 6.000 nam cho Mặt trận 479 Campuchia. Các công trình chiến đấu bao gồm các cụm điểm tựa, các sở chỉ huy, 5 tuyến đường cơ động, 4 bến vượt và nâng cấp 9km đường Hồng Sơn được triển khai xây dựng đúng kế hoạch3. _______________________________________________ 1. Riêng 3 đợt (1.5 - 19.6, 20.6 - 20.7, 21.8 - 10.9) phối hợp và làm hậu thuẫn cho công an, có sử dụng một bộ phận đặc công Quân khu và các tỉnh, đã bắt phá 3.012 vụ = 4.414 tên, trong đó có 28% ngoài địa bàn Quân khu. Ta thu 573 khẩu súng (có 66 súng ngắn), thu 20.864 kíp nổ, 11.900kg thuốc nổ. Ngoài ra, còn thu 172 chỉ vàng, 5 000USD, 416.452 đồng Việt Nam và 50.2kg thuốc phiện. 2. Ban chỉ đạo gồm các đồng chí: Đại tá Ngô Thành Vân - Chính ủy quân đoàn, trưởng ban; Đại tá Nguyễn Trọng Dần - Phó tư lệnh quân đoàn, phó ban; Đại tá Nguyễn Hải - Chủ nhiệm Hậu cần, ủy viên; Thượng tá Trần Quốc Chấn - Chủ nhiệm Phòng không quân đoàn, ủy viên. 3. Các cụm điểm tựa Sầm Sơn, Quảng Xương, Diễn Châu; cụm Yên - Tiến - Thiết (Nghi Lộc); cụm Cửa Việt. 5 sở chỉ huy cấp trung đoàn và huyện ở Quảng Xương, Nghi Lộc, Triệu Hải và 3 trung đoàn bộ binh 762, 764, Trung đoàn 6. Đường Cầu Tào đi Hoằng Trường 15km, đường thanh niên đi Quảng Giao 11km, ngã ba Tuần – Chuổng – Chuối - 1A 48km, Cổ Văn - Mỹ Lý 13km, Cửa Việt - Thuận An 40km; lát xong trường trạm 143 của Quân khu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:53:50 pm Ngày 6-3-1981, Tư lệnh Quân khu quyết định dời chuyển khu trung tâm vô tuyến điện từ Truông Băng về Rú Mượu để bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ sẵn sàng chiến đấu, trị an trong phạm vi địa bàn. Sau hội nghị cán bộ Đảng và 4 đợt phát thẻ Đảng cho 6.791 đảng viên chiếm 59% đảng số ở 97/110 Đảng bộ, 604/988 chi bộ, tình hình tổ chức cơ sở có bước chuyển biến mới. Trong 2 năm (1979-1980), Đảng bộ Quân khu đã kết nạp 6.463 đảng viên, tỷ lệ lãnh đạo từ 19,9% năm 1979 tăng lên 23,8%; đại đội có chi bộ từ 80% lên 88,2%; chi bộ có chi ủy từ 14,3% lên 19,8%; trung đội có tổ Đảng từ 11,6% lên 20,9%; tiểu đội có đảng viên từ 10,4% lên 27,3%. 80% Đảng bộ và 84% số chi bộ hoàn thành nhiệm vụ, trong đó số chi bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đơn vị đạt Quyết thắng là 27,9%, Đảng bộ cơ sở xuất sắc là 22%. 27% số đại đội chấm dứt vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, các hiện tượng tiêu cực được khắc phục giảm dần. Hơn 2.000 Bí thư chi bộ được bồi dưỡng chuyên sâu về công tác đảng, công tác chính trị và chức trách, nhiệm vụ bí thư. Hơn 7.000 đảng viên và đảng viên mới, hơn 6.100 đảng viên là cán bộ trung cấp, sơ cấp được bồi dưỡng lý luận cơ bản theo chương trình quy định. Gần ba vạn lượt cán bộ được tập huấn, bồi dưỡng về đường lối quân sự, hậu cần, chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ. Quán triệt chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về đào tạo, bồi dưỡng thanh niên, các cấp Đảng bộ triển khai xây dựng lực lượng vũ trang quân khu trong giai đoạn mới của cách mạng theo hướng: Giáo dục bồi dưỡng thanh niên thành những quân nhân ưu tú có trình độ giác ngộ mục tiêu, lý tưởng cao đẹp, có trình độ kỹ thuật, chiến thuật, nghiệp vụ chuyên môn giỏi, nếp sống chính quy, văn minh, có sức khỏe, thực sự là những con người mới xã hội chủ nghĩa giỏi đánh giặc, giỏi sản xuất, phấn đấu theo tiêu chuẩn đảng viên, đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, phát huy mạnh mẽ vai trò xung kích, sáng tạo. Xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn vững mạnh, làm tròn chức năng nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Trong các phong trào "Thanh niên làm theo lời Bác”, "Thanh niên xung kích làm chủ tập thể", "Ngày hội báo công", "Toàn Đoàn xây dựng Đảng", gần 1 vạn đoàn viên đã được bồi dưỡng, rèn luyện thành "đối tượng", "cảm tình" Đảng. Tuy vậy, ở từng đơn vị đối chiếu với yêu cầu nhiệm vụ mới, còn bộc lộ những điểm yếu làm hạn chế những điểm mạnh, những thành công của những phong trào thi đua. Thường vụ Đảng ủy Quân khu đã tập trung bàn sâu về các chuyên đề công tác tư tưởng, công tác bảo vệ lực lượng vũ trang, lãnh đạo "bảo đảm sinh hoạt dân chủ trong Đảng và giữ gìn kỷ luật phát ngôn", lãnh đạo "thi hành nghiêm chỉnh pháp luật trừng trị tội hối lộ"; tổ chức tốt các đợt sinh hoạt chính trị học tập các Nghị quyết 26, 32, 36 của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, Chỉ thị 04 của Thường vụ Quân ủy Trung ương; nâng cao chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên trong quá trình hoàn thành phát thẻ Đảng; lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành Đại hội Đảng cấp sư đoàn, cục, nhà trường, trung đoàn. Trong phiên họp chuyên đề ngày 17-7-1981, Thường vụ Đảng ủy Quân khu đã ra Nghị quyết tiến hành Đại hội Đảng bộ các cục, các nhà trường; Nghị quyết về "sinh hoạt dân chủ trong Đảng và giữ gìn kỷ luật phát ngôn". Thường vụ Đảng ủy Quân khu phân tích: "Bên cạnh mâu thuẫn chủ yếu giữa độc lập dân tộc của đất nước với âm mưu xâm lược của bọn phản động cấu kết với đế quốc, còn nổi lên mâu thuẫn chủ yếu nữa là đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đang diễn ra quyết liệt từng giờ, từng phút trong xã hội và ngay trong từng con người. Trong khi đó, chúng ta còn nhiều khó khăn về kinh tế, đời sống, còn nhiều khuyết điểm, nhược điểm về quản lý kinh tế, quản lý xã hội". Đánh giá những tác động ảnh hưởng đối với nội bộ lực lượng vũ trang: Thường vụ Đảng ủy Quân khu nêu rõ: "Trong quân đội ta đang thực hiện chế độ một người chỉ huy. Bên cạnh những mặt tốt, đúng, còn biểu hiện trong một số đồng chí chưa nắm thật vững nguyên tắc, chế độ, còn có những nhận thức, tư tưởng, cách làm nặng lề lối và dấu ấn cũ, để xảy ra những lẫn lộn, vấp váp". Thường vụ Đảng ủy đặt trách nhiệm cho các cấp ủy lấy "ngày Đảng" để sinh hoạt quán triệt chỉ thị về "sinh hoạt dân chủ trong Đảng, giữ gìn kỷ luật phát ngôn", nắm vững mục tiêu là củng cố đoàn kết thống nhất nội bộ, xoay quanh đường lối, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức của Đảng, chống tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, cá nhân cơ hội, không đứng vững trên vị trí của người cộng sản, không hiểu hết tình hình, không phân rõ đúng sai, phải trái; có người mang nặng động cơ cá nhân, dẫn đến phê bình, phát ngôn bừa bãi, thiếu trách nhiệm, làm rối đoàn kết nội bộ, làm cho kẻ địch lợi dụng và mắc mưu chúng. Đồng thời yêu cầu các cấp lãnh đạo thi hành nghiêm chỉnh "Pháp lệnh trừng trị hối lộ", tăng cường giáo dục rèn luyện cán bộ, đảng viên quân nhân nhận thức sâu sắc âm mưu kẻ thù đang phá hoại ta dữ dội, muốn làm cho chúng ta đi chệch sai mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng ta. Trận địa phá hoại của chúng là trong nội bộ ta, đất nước ta, phá từ trong phá ra, nhằm làm cho ta suy yếu, đi đến xâm lược và thôn tính. Trước thực trạng tình hình tiêu cực xã hội gia tăng, các cơ quan kiểm tra, thanh tra, pháp chế tăng cường chất lượng và hiệu quả hoạt động, vừa làm chức năng giám sát, thực hành công tố, vừa kịp thời giải quyết các vụ việc. Các cấp chú ý phát hiện mọi biểu hiện tiêu cực dù nhỏ, ngay trong cán bộ, cơ quan nắm tiền hàng, nắm cơ sở vật chất, nắm công tác điều động, thuyên chuyển, đề bạt cán bộ, trong tuyển chọn người đi học, ra quân, tuyển quân. Phải hết sức sòng phẳng, làm đúng chính sách chế độ. Đối với bên ngoài, lực lượng vũ trang phải góp phần tích cực, triệt để nhất thực hiện Pháp lệnh. Trong mối quan hệ với các cơ quan, phải có ý thức vừa giáo dục, vừa đấu tranh, không vì được việc cho mình mà không nghiêm chỉnh chấp hành pháp lệnh. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 11:49:42 am * * * Sau một thời gian khẩn trương học tập, huấn luyện, rèn luyện, các cơ quan Quân khu, các tỉnh, các sư đoàn, các lực lượng vũ trang từ bộ binh, binh chủng, chuyên môn kỹ thuật đã có sự tiến bộ nhanh và đồng đều về nội dung huấn luyện, diễn tập, về năng lực, trình độ và nền nếp công tác. Đó là cơ sở thuận lợi và yếu tố cơ bản, tạo khả năng thực tế để tiến hành các cuộc diễn tập trên quy mô quân khu đạt kết quả tốt hơn. Ngày 26-5-1981, Thượng tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ thị tổ chức diễn tập chỉ huy và tham mưu, nhằm kiểm tra nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu 4, Vùng I Hải quân, lực lượng không quân, không để địch tập kích bất ngờ bằng không quân vào các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế, giao thông quan trọng; đổ bộ đường biển kết hợp với tiến công đường bộ vào địa bàn Quân khu 4. Lực lượng tham gia diễn tập gồm Bộ tư lệnh Quân khu 4 (tên gọi trong diễn tập là Quân khu 14), các trung đoàn 206 xe tăng, 16 pháo binh, 283 cao xạ, 414 công binh, 80 thông tin; các sư đoàn 341, 342, 441, 442, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, tổ đại diện không quân và chỉ huy, cơ quan sư đoàn không quân 372 (Mic 21), tổ đại diện Vùng I Hải quân. Lực lượng thực binh gồm: 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 cụm pháo (4 khẩu), sở chỉ huy một trung đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 341; các đại đội ra đa trong khu vực Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh. Không quân tham gia với 8 lần/chiếc Mic 21D, 4 lần/chiếc Mi-24, 2 máy bay lên thẳng phục vụ diễn tập. Lực lượng dân quân tự vệ và bộ đội địa phương có 1 cụm và 1 xã của huyện Diễn Châu; 1 cụm và 1 xã của huyện Quảng Xương. Lực lượng dự bị động viên huy động tỉnh Thanh Hoá và Sư đoàn 358 (có 1 trung đoàn tập trung 10 ngày để huấn luyện và triển khai chiến đấu, các đơn vị khác tập trung kiểm tra xong thì giải tán. Tỉnh Nghệ Tĩnh và tỉnh Bình Trị Thiên, mỗi tỉnh động viên tập một trung đoàn bộ binh, kiểm tra xong giải tán. Bộ tư lệnhThông tin làm kế hoạch bảo đảm diễn tập và chỉ huy sẵn sàng chiến đấu. Cuộc diễn tập tiến hành từ ngày 20 đến 30-7-1980. Chấp hành Mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, chiều ngày 20-6-1981, Đảng ủy Quân khu 4 họp triển khai tổ chức và thực hành chiến dịch "Chống đổ bộ đường biển và động viên thời chiến" ở Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên dưới sự chủ trì của đồng chí Hoàng Minh Thi - Bí thư Đảng ủy1. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ diễn tập, Đảng ủy Quân khu họp khẳng định: "Việc tổ chức và thực hành diễn tập của Quân khu hiện nay là hết sức cần thiết, phù hợp với tình hình, nhằm nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu cho lực lượng vũ trang và nhân dân trước âm mưu thâm độc của kẻ thù". Do yêu cầu cao, tình huống phức tạp, lực lượng động viên lớn, phương tiện và trang bị hạn chế, thời gian ngắn, Đảng ủy Quân khu đề nghị với các Thường vụ Tỉnh ủy có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo; các đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh điều hành, triển khai thực tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu và kết hợp với việc dùng phương tiện vận tải đường thủy, đường bộ vận chuyển theo kế hoạch, đạt hiệu quả kinh tế. Đồng thời, kiểm tra lại kế hoạch chuẩn bị như Nghị định 58/CP của Hội đồng Chính phủ đã ban hành trước đây. Chú ý các ngành Ủy ban kế hoạch Nhà nước, Giao thông vận tải, Bưu điện, Công an, Y tế, Lương thực thực phẩm, Thương nghiệp, Hải sản, Thông tin - văn hoá, các ngành pháp luật cả ở cấp tỉnh và các huyện, các chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, các trưởng, phó ty, ban, phòng. Do tính chất và ý nghĩa quan trọng của diễn tập như một chiến dịch thực sự, diễn ra trên địa bàn rộng lớn, nội dung phong phú, nhiều vấn đề mới mẻ, rất khó, cần nhiều ngành, nhiều mặt, nhiều cấp, lần đầu tiên đón một khối lượng đông khách cấp trên và cả chuyên gia (Liên Xô), Thường vụ Đảng ủy đã cụ thể hoá Nghị quyết Đảng ủy Quân khu bằng Nghị quyết chuyên đề. Nhờ quán triệt cho tất cả mọi người, nhận thức đầy đủ ý nghĩa, mục đích, nội dung cuộc diễn tập, xác định trách nhiệm cụ thể từng bộ phận, từng người theo chức trách được giao, từ cán bộ từng cấp, từng ngành tham gia diễn tập đến công vụ, lái xe, quân y, tiếp khách, nấu ăn, ai cũng làm tốt phần việc được giao, giữ gìn tốt kỷ luật, tác phong quân nhân, bảo đảm an toàn, bí mật, trật tự, an ninh trong suốt quá trình diễn tập, cả ở nơi trọng điểm, khu vực diễn tập và các địa bàn liên quan, nhằm mục tiêu cao nhất là hoàn thành thắng lợi cuộc diễn tập theo yêu cầu đề ra. ____________________________________________ 1. Trừ đồng chí Lê Hữu Đức đi học vắng, các đồng chí trong Đảng ủy đều dự đông đủ: Đặng Hòa - Phó Bí thư Đảng ủy; Nguyễn Thế Bôn - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng; Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh; Trần Văn Ân - Phó tư lệnh; Nguyễn Đình Ước - Phó tư lệnh, Chủ nhiệm Chính trị; Lê Thiết - Phó tư lệnh, Chủ nhiệm Hậu cần; Lê Đình Sô - Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu; Nguyễn Trọng Dần - Phó tư lệnh Quân khu và ba đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư Tỉnh ủy ba tỉnh: Thanh Hóa: đồng chí Hoàng Văn Hiểu; Nghệ Tĩnh: đồng chí Trương Kiện; Bình Trị Thiên: đồng chí Bùi San. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 11:51:14 am Ngày 18-7-1981, Mệnh lệnh số 1 "Chiến dịch chống đổ bộ đường biển" gửi Tư lệnh Quân khu 14 được phổ biến tại Sở chỉ huy Quân khu. Nhiệm vụ Quân khu 4 là: 1. Tổ chức chiến dịch chống đổ bộ đường biển và phòng ngự trọng điểm hướng tây. Hiệp đồng với Không quân, Hải quân, lực lượng Phòng không quốc gia, kết hợp 2 phương thức, 2 lực lượng tiến hành chiến tranh, vận dụng 3 cách đánh, kiên quyết đánh bại chiến dịch đổ bộ đường biển của địch. Hiệp đồng với lực lượng Mặt trận 78 đánh bại quân địch trên hướng tây. 2. Giữ vững địa bàn chiến lược nam Thanh Hoá, bắc Nghệ An, giữ vững tuyến giao thông chiến lược Bắc - Nam, giữ vững mục tiêu CZ, các trục đường chiến lược sang Lào, không để địch đánh chiếm. Bảo đảm cơ động các lực lượng chiến lược và vận chuyển vật chất kỹ thuật của Bộ qua địa bàn Quân khu 14. 3. Bảo vệ các cơ sở kinh tế - quốc phòng - văn hoá trên địa bàn Quân khu, bảo vệ tính mạng, tài sản nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, an ninh quốc phòng, không để địch tàn phá. 4. Sẵn sàng lực lượng cơ động theo yêu cầu các hướng và chi viện sức người, sức của cho chiến trường chính. Dưới sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo và đạo diễn "C81" do Thượng tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu trưởng làm trưởng ban chỉ đạo kiêm đạo diễn Tư lệnh Quân khu1. Thành phần tham gia gồm 7.518 cán bộ, quân nhân khối chủ lực, 3.525 người khối địa phương (cơ quan Đảng, chính quyền, quân sự tỉnh, huyện và dân quân tự vệ). Đơn vị tham gia gồm Bộ tư lệnh và 5 cơ quan quân khu, Ban Thường vụ các Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và các ngành chủ chốt 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, Bộ chỉ huy quân sự 3 tỉnh, Ban chỉ huy quân sự 3 huyện (Quảng Xương, Diễn Châu, Triệu Hải), 2 thành phố (Vinh, Huế), 1 thị xã (Thanh Hoá), 4 sư đoàn bộ binh, 2 tổ đại diện không quân, hải quân, 5 trung đoàn binh chủng, 2 tiểu đoàn trinh sát, đặc công. Bộ phận thực binh gồm 1 trung đoàn bộ binh của Sư đoàn 341, 1 tiểu đoàn bộ binh, cụm pháo mặt đất (4 khẩu), 6 tàu hải quân (2 tàu tên lửa, 2 tàu phóng lôi, 2 tàu đánh cá), 8 lần/chiếc máy bay Mic 21D, 4 lần/chiếc Mi-24, 4 lần chiếc Mi-8, 1 lần/chiếc K25, 2.500 dân quân tự vệ các huyện Quảng Xương, Diễn Châu, Triệu Hải. Cuộc diễn tập diễn ra trong 7 ngày (24 - 30.7.1981) thể hiện rõ sự kết hợp cả 2 phương thức tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, cả trong bộ đội chủ lực, trong các lực lượng vũ trang địa phương, các cơ quan chỉ huy quân sự tỉnh, huyện, thành phố, thị xã, cả trong phòng ngự, tiến công, phản đột kích, cả trong tổ chức và chỉ huy. Trình độ công tác tham mưu được bồi dưỡng và nâng cao thêm (cả tác nghiệp trên bản đồ, tính toán kế hoạch, thời gian, công tác tổ chức hiệp đồng). Đối với các huyện, thành, thị, qua chiến dịch cũng như qua từng tình huống cụ thể, những vấn đề lớn và khó trong tổ chức hoạt động của pháo đài quân sự, huyện, thành phố, thị xã chiến đấu (bao gồm cả cách đánh, cả tổ chức động viên lực lượng, tổ chức hậu phương, chức trách, nhiệm vụ và các động tác triển khai các công việc cụ thể của cấp ủy, chính quyền, của các ban, ngành, đoàn thể, dân quân tự vệ và nhân dân...) đã được giải quyết một bước quan trọng. Các cơ quan nghiệp vụ, các binh chủng khắc phục được các mặt yếu về nắm tình hình, phân tích nghiên cứu địch, ta đã có sự tiến bộ theo mức thuần thục, nhuần nhuyễn, thông thạo, vững chắc. Cơ quan hậu cần khắc phục khó khăn, bảo đảm trang bị hoàn toàn mới, đủ các loại theo quy định cho các đơn vị quân dự bị động viên, tạo được ấn tượng tốt ngay từ đầu. Các mặt công tác bảo đảm diễn tập khá đa dạng. Thường vụ Đảng ủy giao cho đồng chí Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh trực tiếp phụ trách cùng các thủ trưởng cơ quan Cục, Chánh Văn phòng Bộ tư lệnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu, điều hành chu đáo, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các bản tin nhanh do báo Quân khu 4 cùng xưởng in Quân khu đảm nhận biên tập ấn hành ngay tại chỗ, góp phần cùng các mặt công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch đúc rút thêm những kinh nghiệm tốt. ____________________________________________ 1. Phó trưởng ban chỉ đạo: Trung tướng - Phó Tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài; 4 phó trưởng ban chỉ đạo kiêm đạo diễn: Thiếu tướng Hoàng Điền, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái (nguyên Phó chính ủy Quân khu 4 thời kỳ đầu năm 1960), Thiếu tướng Nguyễn Nam Khánh, Thiếu tướng Nguyễn Vân Thuận. Tham mưu trưởng kiêm đạo diễn Tham mưu trưởng: Đại tá Hoàng Nghĩa Khánh. Giúp Ban chỉ đạo đạo diễn quân - binh chủng, có 7 đại tá, 1 thiếu tướng Tư lệnh (hoặc phó) các quân, binh chủng, 2 đại tá, Phó Cục trưởng Quân báo và Cục Tổ chức - động viên; 4 thượng tá đạo diễn các sư đoàn. Đạo diễn các tỉnh do Quân khu tổ chức. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 11:55:06 am Ngày 8-9-1981, Đảng ủy Quân khu (mở rộng) họp đánh giá "chiến dịch C81": "Thắng lợi diễn tập C81 thể hiện rõ nét ở phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân theo đường lối quân sự của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới của nước ta, thể hiện sự đoàn kết nhất trí quân - dân - chính - Đảng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, thể hiện việc xử lý các tình huống chiến dịch một cách đúng đắn"1. Tiếp theo chiến dịch C81, từ ngày 23 đến 27-11-1981, cuộc diễn tập pháo đài quân sự huyện Hương Điền thành công đã góp phần rút ra những kinh nghiệm thực tế về vận hành chức năng, nhiệm vụ từng cơ quan, cách đánh của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, biên phòng và dân quân tự vệ trong phòng thủ2. Thắng lợi của cuộc diễn tập C81 càng thêm ý nghĩa khi các ngành, các cấp có những chuyển biến tích cực trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và các nhiệm vụ; gắn với thắng lợi của vụ mùa bội thu, sản xuất phát triển. Năng suất, diện tích, sản lượng đều tăng. Nhân dân phấn khởi tin tưởng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng (khoá IV), Nghị quyết Bộ Chính trị về phân phối lưu thông; chủ trương khoán sản phẩm đến tổ lao động và người lao động, tin vào kết quả đấu tranh chống tiêu cực, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Quân khu. Thắng lợi của các cuộc diễn tập và những mặt hoạt động khác của Quân khu đạt được trong điều kiện gặp rất nhiều khó khăn về lương thực, thực phẩm; đời sống nhân dân, bộ đội, công nhân viên chức thiếu thốn chứng tỏ nỗ lực và quyết tâm cao trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong khi đó, âm mưu thủ đoạn gây "chiến tranh phá hoại toàn diện"3 ở Việt Nam, chiến tranh "phá hoại tổng hợp” ở Lào của các thế lực thù địch diễn ra ngày càng thâm hiểm. Những hoạt động lấn chiếm biên giới với lực lượng lớn và phạm vi rộng hơn trong những tháng giữa năm 1981 cùng với sức ép thường xuyên của hơn hai chục sư đoàn quân địa phương và các quân đoàn chủ lực của đối phương, đòi hỏi Đảng bộ, quân và dân trong Quân khu những nỗ lực với cường độ cao, khối lượng công việc lớn và dồn dập, khẩn trương. Đối với dân quân tự vệ, Quân khu đã nâng tỷ lệ dân quân tự vệ lên 15,1% so với dân số (1.018.921), khối tự vệ đạt 59,2% tổng số cán bộ, công nhân viên chức. Nam dân quân tự vệ chiếm 58,5% (596.404); quân nhân phục viên, xuất ngũ, chuyển ngành 105.499 đồng chí (17,2%). Dân quân tự vệ được biên chế thành 25 trung đoàn và 7 tiểu đoàn tự vệ; 7 tiểu đoàn và 3.198 đại đội dân quân, 620 đại đội tự vệ. Các địa phương trồng được 1.250.000 cây phi lao dọc bờ biển, 27.000 cây tre ở các làng xã chiến đấu, huy động 74.040 công đào đắp 75.540m3 đất đá phục vụ công trình chuẩn bị diễn tập. Quân khu đã hoàn thành việc sáp nhập Quân đoàn 65 với Quân khu 4, giải thể 48 đơn vị, kiện toàn có chất lượng 3 sư đoàn bộ binh (341, 342, 358) đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến, huấn luyện. Đồng thời, chuyển quân và bàn giao 3 trung đoàn đi xây dựng kinh tế. Động viên quân dự bị đạt và vượt yêu cầu quân số (Thanh Hoá động viên cho Sư đoàn 358 đạt 9.384/9.358 người = 100,02%, 157/256 xe ô tô; Nghệ Tĩnh động viên 1 trung đoàn bộ binh đạt 2.518/2.405 = 102,2% và 8/7 ô tô. Bình Trị Thiên động viên 1 trung đoàn bộ binh 2.505/2.405, đạt 102,2% và 7/7 xe ô tô. Quân khu, các tỉnh, các sư đoàn mở được 361 lớp huấn luyện tập trung cho 21.045 cán bộ chỉ huy trung cao cấp; huấn luyện chiến sĩ mới được 39.200 người có 1.781 nữ. Trường Quân chính Quân khu mở 36 lớp bổ túc đào tạo 4.615 cán bộ. Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Hướng dẫn của Ban tổ chức Trung ương và Tổng cục Chính trị, Quân khu đã tổ chức lấy ý kiến đóng góp vào công tác nhân sự chuẩn bị Đại hội Đảng cấp trên (chủ yếu nhân sự trong phạm vi liên quan trực tiếp đến Quân khu). Đồng chí Lê Đình Sô - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân khu phụ trách cùng đồng chí Đoàn Thanh Lức – Trưởng phòng Cán bộ, đồng chí Nguyễn Khắc Sanh-Trưởng phòng Tổ chức Quân khu và một số cán bộ cơ quan chức năng được giao tập hợp thành văn bản báo cáo, phản ánh đầy đủ trung thực ý kiến của các cấp theo đúng quy định. Đáng tiếc là vào cuối năm 1981 có một vài đánh giá, kết luận và thái độ hành xử để lại dấu ấn không bình thường trong thực hành dân chủ, đoàn kết, trong tự phê bình, tiếp thu phê bình4. Vốn là một Đảng bộ dày dạn truyền thống và bản lĩnh, nhất là truyền thống đoàn kết xoay quanh đường lối chủ trương của Đảng, nhiệm vụ cách mạng, điều đáng tiếc được khắc phục. Song đó là một bài học sâu sắc. ___________________________________________ 1. Nghị quyết 61/NQ, ngày 14-8-1981 - Hồ sơ 51/QKU - Lưu trữ Quân khu 4. 2. Thành phần tham gia có Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, Ban chỉ huy quân sự huyện Hương Điền, Trung đoàn 6, Tiểu đoàn 14 pháo mặt đất, 2 đồn biên phòng 140, 142, tiểu đoàn bộ đội địa phương huyện. Nội dung diễn tập: Chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, thứ tự các động tác của người chỉ huy và cơ quan huyện. Thứ tự tiến hành các bước tổ chức chuẩn bị chiến đấu của chỉ huy, của cơ quan huyện của các đơn vị bộ đội. Động tác chỉ huy và cơ quan trong thực hành chiến đấu qua từng giai đoạn. 3. Sau một quá trình nghiên cứu, “chiến tranh phá hoại toàn diện" định danh lại, nhận dạng lại là "chiến tranh phá hoại nhiều mặt”. 4. Điều này thể hiện trong một số điểm ở văn bản Nghị quyết hội nghị Đảng ủy Quân khu 4 số 61, ngày 14-9-1981 và trong xử sự một số trường hợp, trong đó có kết luận về đồng chí Lê Đình Sô. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 11:57:46 am * * * Bước sang năm 1982, đất nước ta vẫn trong tình trạng vừa có hòa bình, vừa phải đối phó với tình huống có thể có chiến tranh xâm lược quy mô lớn và đối phó với kiểu chiến tranh phá hoại hết sức thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch. Vì thế, quân và dân Quân khu 4 phải đẩy mạnh các hoạt động, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu. Nhiệm vụ quân sự của các lực lượng vũ trang Quân khu 4 được Đảng ủy Quân khu xác định: "Thường xuyên nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, không ngừng xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp của các lực lượng vũ trang quân khu, sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược. Trước mắt, cùng với các lực lượng chủ động, kiên quyết tập trung đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của chúng trên địa bàn Quân khu và trên chiến trường Quân khu đảm nhiệm. Chuẩn bị sẵn sàng chi viện cho các chiến trường và làm tròn nghĩa vụ quốc tế”. "Chiến tranh phá hoại nhiều mặt" là một dạng chiến tranh mới, quan hệ rất chặt chẽ với chiến tranh xâm lược quy mô lớn, nhằm mục đích làm suy yếu để thôn tính đất nước ta. Ngày 7-2-1982, Đảng ủy Quân khu họp ở phần xác định 6 mục tiêu mà công tác đảng, công tác chính trị phải hướng vào tập trung giải quyết, đã đặt nội dung "chống chiến tranh phá hoại" ngay sau mục tiêu 1 (về nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa, củng cố sự nhất trí sâu sắc đối với đường lối nhiệm vụ của Đảng). Đảng ủy Quân khu chỉ rõ: "Công tác đảng, công tác chính trị từng cấp có nội dung, phương hướng, biện pháp đi sâu vào các nhiệm vụ chống chiến tranh phá hoại, chuẩn bị chống chiến tranh xâm lược lớn, nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang huấn luyện quân sự, công tác quân sự địa phương, hậu cần - kỹ thuật, nhưng tập trung vào việc chống chiến tranh phá hoại, huấn luyện quân sự, nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang1. Theo tinh thần "tập trung" đó, sau một thời gian tích cực chuẩn bị, ngày 31-5-1982, Quân khu đã hoàn chỉnh đề án "Kiên quyết đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch trên địa bàn Quân khu 4”. Đề án đưa ra 4 phương thức địch tiến hành "chiến tranh phá hoại nhiều mặt". 1. Dùng lực lượng vũ trang xâm phạm hải phận, vùng biên giới Quân khu, nhen nhóm các ổ phỉ ở biên giới, dùng vũ trang phá an ninh trong nội bộ. 2. Sử dụng chiến tranh tâm lý và chiến tranh gián điệp phá ta về chính trị, tư tưởng, tổ chức. 3. Tiến hành mọi thủ đoạn, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, lợi dụng mọi hiện tượng tiêu cực, khuyết điểm của ta về quản lý để phá hoại kinh tế, nhằm khoét sâu khó khăn về đời sống, làm cản trở công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của ta, thông qua phá hoại kinh tế để phá hoại chính trị và tư tưởng. 4. Phục hồi và phát triển tệ mê tín, dị đoan, nhằm mê hoặc quần chúng, phá hoại trận địa tư tưởng, văn hoá, xã hội. Về nhiệm vụ cụ thể và mục tiêu chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt trong năm 1982, đề án xác định 6 nội dung chủ yếu: 1. Kiên quyết đánh bại thủ đoạn địch nhen nhóm lực lượng vũ trang phản động dưới mọi hình thức, thu hồi toàn bộ súng đạn, chất nổ và các phương tiện chiến đấu, chấm dứt hiện tượng dùng chất nổ đánh cá. 2. Đánh bại các thủ đoạn chiến tranh gián điệp của địch, kịp thời phát hiện, truy quét và phá các ổ nhóm tổ chức phản động dưới nhiều hình thức. Quản lý chặt chẽ các đối tượng chính trị và hình sự, loại trừ nội gián, ngăn chặn có hiệu quả địch xâm nhập bằng đường biển và đường bộ, chấm dứt các vụ vượt biển, vượt biên ra nước ngoài. 3. Đánh bại các thủ đoạn chiến tranh tâm lý của địch, đấu tranh bài trừ các tệ nạn mê tín, dị đoan và tệ nạn xã hội khác, thực hiện mục tiêu "xây dựng gia đình văn hóa mới", "xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa". 4. Kiên quyết trừng trị bọn lưu manh chuyên nghiệp, bọn côn đồ hung hãn giết người, cướp của, kịp thời phát hiện, truy quét các ổ nhóm ăn hối lộ, móc ngoặc, trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của nhân dân. 5. Tăng cường và cải tiến quản lý kinh tế, kiên quyết khắc phục có hiệu quả hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội. Có kế hoạch đánh địch, bảo vệ an toàn cơ sở vật chất - kỹ thuật, bảo vệ tiềm lực quốc phòng - an ninh và kinh tế trong mọi tình huống. 6. Bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ sự trong sạch về chính trị của tổ chức Đảng, bộ máy Nhà nước, lực lượng vũ trang, công an nhân dân và các tổ chức quần chúng, xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện2. Bản đề án cùng với Dự thảo quyết tâm và kế hoạch triển khai thực hiện đã được Hội nghị liên tịch giữa Thường vụ Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân khu với Thường trực Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân ba tỉnh thảo luận sau hai ngày làm việc tại sở chỉ huy Quân khu 4. Ngày 10-7-1982, Hội nghị nhất trí hạ quyết tâm "kiên quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch trên địa bàn Quân khu". Hội nghị nhấn mạnh: Địch tiến hành kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt nhằm làm cho ta suy yếu về mọi mặt, nhằm mục đích cuối cùng phá hoại ta về chính trị và tổ chức, hòng buộc ta khuất phục chúng, buộc ta từ bỏ đường lối chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đại hội IV đề ra; từ bỏ chủ nghĩa quốc tế, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin... "Kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt" với thủ đoạn "dùng người Việt trị người Việt" nhằm đạt mưu đồ "không đánh mà thắng". ______________________________________________ 1. “Chiến tranh phá hoại toàn diện" đã được đề cập trong Nghị quyết Đảng ủy Quân khu 4 năm 1981, nhưng đến lúc này nhấn mạnh hơn và được nghiên cứu thành lý luận, đề án. 2. Hồ sơ C36 - Luu trữ Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:00:31 pm Để tiến hành thắng lợi 6 nhiệm vụ và các mục tiêu phấn đấu cụ thể đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, Hội nghị xác định quyết tâm: "Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp tập trung, thống nhất của các cấp ủy Đảng, ra sức xây dựng làm cho ta mạnh lên về nhiều mặt; kiên quyết đánh bại các thủ đoạn phá hoại của địch kết hợp với chống hữu khuynh, tiêu cực trong nội bộ ta, bảo vệ vững chắc đường lối và tổ chức của Đảng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hệ thống chuyên chính vô sản. Đồng thời, sẵn sàng về mọi mặt để đối phó thắng lợi mọi tình huống của chiến tranh xâm lược quy mô lớn do chúng gây ra". Đề án, quyết tâm, kế hoạch kiên quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch trên địa bàn Quân khu được Hội nghị nhất trí cao và coi là văn kiện quan trọng vận dụng thực hiện trong từng địa phương và toàn Quân khu. Căn cứ vào đề án - kế hoạch chung, Bộ Tham mưu Quân khu xây dựng và triển khai thực hiện, phân chia khu vực, sử dụng lực lượng theo chức năng nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể. Theo phương hướng đó, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ ba tỉnh cùng với nhân dân và công an nhân dân bảo đảm an toàn tuyệt đối người, tài sản của Nhà nước, của quân đội và địa phương; ngăn chặn và dập tắt ngay những vụ gây rối, làm mất an ninh, các vụ cháy nổ kho tàng, nhà máy, trạm, trại, các vụ vượt biên, vượt biển ở nội địa, biên giới, ven biển trong phạm vi của ba tỉnh. Kế hoạch xác định cụ thể các khu vực trọng điểm trên địa bàn mỗi tỉnh cần tăng cường lực lượng, tăng cường chỉ đạo thường xuyên, nhất là những thời kỳ cao điểm. Bộ đội Quân khu là lực lượng hỗ trợ bảo đảm trật tự, trị an, giữ các kho tàng trong phạm vi đóng quân canh phòng, ở những vùng có liên quan, thực hiện kế hoạch hiệp đồng với tỉnh, thành, thị... cơ động lực lượng khi cần thiết1. Bộ đội biên phòng ba tỉnh căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ Bộ (ban) chỉ huy quân sự giao, kết hợp với dân quân, công an, thanh niên và các lực lượng khác tại chỗ bảo đảm an ninh biên giới, chống biệt kích, thám báo xâm nhập trái phép. Đồng thời, tham gia xây dựng lực lượng vũ trang tại chỗ vững mạnh. Đến ngày 17-10-1982, tất cả các đơn vị, địa phương đã có nghị quyết lãnh đạo thực hiện chỉ thị của Hội nghị liên tịch, mở đợt giáo dục quyết tâm chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt kết hợp chống tiêu cực nội bộ. Một số đơn vị đã chủ động tổ chức những đợt truy quét trên các khu vực và vào các thời gian trọng điểm, tạo kết quả và đã phát triển tốt. Các huyện biên giới, các đồn biên phòng kết hợp chặt chẽ với bạn Lào, với lực lượng dân quân tự vệ, công an, hải quan tổ chức ngăn chặn có hiệu quả các vụ vượt biên, vượt biển, xâm nhập, gắn với thực hiện Nghị quyết 128 của Hội đồng Bộ trưởng, Chỉ thị 01, 02 của Liên bộ Quốc phòng - Nội vụ. Căn cứ vào Nghị quyết Quân ủy Trung ương (số 33/NQ-QU ngày 15-1-1982) và Mệnh lệnh Bộ trưởng Quốc phòng, quân số Quân khu 4 được quy định là 54.955 người (có 11.832 sĩ quan). Tháng 3 năm 1982, Quân khu tiến hành cuộc tổng sắp xếp, kiện toàn tổ chức trên quy mô rộng lớn. Trường Đảng kết hợp với Trường Quân chính và Trường Sĩ quan, tổ chức học tập chính trị - văn hoá cho cán bộ, chủ yếu học tại chức ở các đơn vị. Nhiệm vụ Trường Quân chính được xác định lại: Bổ túc cán bộ binh chủng hợp thành từ cấp tiểu đoàn trở xuống. Bổ túc và bồi dưỡng nghiệp vụ công tác quân sự địa phương cho cán bộ chỉ huy, các trưởng (phó) phòng, ban của cơ quan quân sự tỉnh, huyện, thành phố, thị xã và bộ đội biên phòng. Riêng số cán bộ trung đội khoá năm 1981 còn lại thì hoàn thành việc đào tạo. Trường Văn hoá biên chế khung 200 người (102 sĩ quan) chuyên lo bồi dưỡng trình độ văn hoá hết cấp III cho cán bộ nguồn đào tạo và phục vụ lâu dài trong quân đội; gồm bồi dưỡng hết cấp III cho nguồn đào tạo sĩ quan sơ cấp; luyện thi cho số quân nhân đi đào tạo các trường đại học quân sự; bổ túc văn hoá cho cán bộ dân tộc ít người (quân số học viên từ 800 - 900). Trường Hạ sĩ quan biên chế khung 285 người, có 125 sĩ quan, gồm 3 khung tiểu đoàn quản lý học viên. Nhiệm vụ đào tạo quản trị trưởng đại đội, hạ sĩ quan chỉ huy bộ binh, cối pháo mang vác, súng máy phòng không. Trường Quân y Quân khu tách khỏi Viện quân y 268, chuyển trực thuộc Cục Hậu cần Quân khu, làm nhiệm vụ đào tạo, chuyên tu y sĩ, đào tạo y tá, dược tá. Lưu lượng học viên 450 - 500 người/khoá, tổ chức thành 5 khung đại đội quản lý học viên. Biên chế khung 120 người (42 sĩ quan). Các trung đoàn binh chủng đều giảm quân số (Trung đoàn 16: 696 người, Trung đoàn 283: 600, Trung đoàn 206: 502, Trung đoàn 414: 800, Trung đoàn 80: 800). Mỗi trung đoàn đều sử dụng 1 - 2 tiểu đoàn khung làm trường đào tạo hạ sĩ quan binh chủng và đào tạo hạ sĩ quan xuất ngũ đủ điều kiện trở thành sĩ quan dự bị của binh chủng theo kế hoạch của Quân khu. Đại đội 38 hoá học, Tiểu đoàn 52 trinh sát pháo binh, Đại đội chỉ huy phòng không 53, Đại đội trinh sát kỹ thuật 34... được chấn chỉnh lại, trực thuộc các chủ nhiệm binh chủng chuyên ngành. Tiểu đoàn 3 cảnh vệ và điều chỉnh giao thông, đội quân nhạc, đội thể dục thể thao, ban quân y kiêm bệnh xá Quân khu bộ được kiện toàn, biên chế trực thuộc Bộ Tham mưu Quân khu. Ban Hải quân trong biên chế Phòng Tác chiến được điều về trực thuộc Bộ Tham mưu Quân khu (gồm 3 sĩ quan và 6 nhân viên tiêu đồ). Ban Khoa học quân sự sáp nhập vào Phòng Huấn luyện chiến đấu và Nhà trường thuộc Bộ Tham mưu. Ngành Thú y sáp nhập vào Ngành Quân lương Cục Hậu cần. Tổ chức 2 phòng quản lý hành chính thuộc Bộ Tham mưu và Cục Hậu cần; Ban Hành chính thuộc Cục Chính trị; Ban Vật tư thuộc Bộ tư lệnh. Lớp cơ yếu chấn chỉnh thành Trường nghiệp vụ tham mưu. Đại đội 2 kho trực thuộc Chủ nhiệm Công binh được chấn chỉnh thành 3 bộ phận kho Huế, kho Rú Mượu, kho Nam Hưng (gồm 26 người, có 2 sĩ quan). Trạm khách 50 Quân khu, xưởng, kho thông tin trực thuộc Bộ Tham mưu được sắp xếp biên chế theo hướng gọn, nhẹ, mạnh, người thạo việc, không thừa người. Các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, lương thực, thực phẩm và may mặc thực hiện chế độ hạch toán toàn bộ gồm Xí nghiệp gạch ngói 30-4, Xí nghiệp xi măng 19-5, Xí nghiệp mộc X74, Xí nghiệp đánh cá 814, Tiểu đoàn 15 sản xuất và chăn nuôi, Xí nghiệp may mặc 20C. _____________________________________________ 1. Theo kế hoạch này, Sư đoàn 358 đảm nhiệm từ ga Nghĩa Trang đến ga Minh Khôi và khu vực huyện lỵ Nông Cống đến Bến Sung. Sư đoàn 341 từ ga Tường Lâm vào chợ Si, lên thị trấn Nghĩa Đàn, chú trọng đường 48 từ Thái Hòa về Yên Lý và cầu Giát. Sư đoàn 441 từ ngã ba Vọt lên Đức Thọ vào ga Đức Lạc. Sư đoàn 342 từ Gio Linh theo đường 1 vào Đông Hà, lên đường 9 - Tân Lâm - Khe Sanh. Cụm Nhà trường Quân khu từ trạm kiểm soát An Cựu đến cầu Phú Bài - Trung đoàn 206 cùng Ban chỉ huy quân sự Nghĩa Đàn bảo đảm thị trấn Thái Hòa và đường 48 từ Nghĩa Liệt trở lên. Trung đoàn 80 từ Nam Anh về Cục Hậu cần Quân khu - thị trấn Thái Hòa - Trung đoàn cao xạ 283 và 654 (ô tô vận tải) cùng Ban chỉ huy quân sự thành phố Vinh bảo đảm thành phố Vinh. Trung đoàn 414 bảo đảm khu vực đóng quân và đoạn đường 49 từ Nam Đàn lên Rào Gang. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:03:14 pm Để giúp Quân khu nghiên cứu đề xuất ý kiến về tổ chức và quy mô sản xuất của các đơn vị trong toàn Quân khu; hướng dẫn kiểm tra kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt cá biển, sản xuất vật liệu xây dựng và giúp Cục Hậu cần trực tiếp chỉ đạo các xí nghiệp thực hiện chế độ hạch toán toàn bộ, Tư lệnh Quân khu quyết định tổ chức phòng sản xuất, biên chế 16 người (có 10 sĩ quan) trực thuộc Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu. Tiếp đó, Quân khu quyết định sáp nhập Xưởng 46 và trạm KX13 thành xưởng sửa chữa ô tô, máy nổ, lấy phiên hiệu là X46 - T45/K41 được chuyển về vị trí Xưởng 46. Biến động lớn nhất là 2 sư đoàn 441 và 442 huấn luyện chiến sĩ mới chuyển thành đơn vị dự bị động viên (khung thường trực), phiên hiệu 23581 và 235891. Biên chế mỗi khung là 1.000 người (403 sĩ quan). Sư đoàn 341 chấn chỉnh thành sư đoàn rút gọn, biên chế 4.259 người (có 855 sĩ quan). Sư đoàn 342 chuyển thành khung rút gọn. Sư đoàn 358 là khung thường trực. Ngày 25-3-1982, Tư lệnh Quân khu giao Mật lệnh nhiệm vụ cho các sư đoàn và 3 tỉnh. Trong đó, các sư đoàn 341, 342, 358 là sư đoàn chủ lực Quân khu tác chiến hiệp đồng binh chủng trong đội hình chiến dịch của Quân khu (hoặc trong đội hình quân đoàn chủ lực trực thuộc của Quân khu) cơ động trên các hướng chiến dịch quan trọng, cả Đông và Tây. Đồng thời, sẵn sàng cơ động ra ngoài Quân khu khi có lệnh. Hai sư đoàn 441 và 442 là sư đoàn chủ lực tác chiến hiệp đồng binh chủng trong đội hình chiến dịch của Quân khu; đồng thời, thành thạo tác chiến đội hình độc lập trên một hướng. Theo quy định biên chế cơ quan Bộ tư lệnh Quân khu, dựa trên 4 nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc thực hiện giảm 20% quân số so với biên chế số hiệu 0332 của Bộ Tổng Tham mưu, tổng quân số cơ quan Quân khu rút xuống còn 720, trong đó có 530 sĩ quan theo biên chế. Quân số tăng cường ngoài biên chế là 112 người (có 84 sĩ quan) được giải quyết một số công tác khác trong hai năm 1984-1985. Trong thời gian này, theo cơ chế lãnh đạo mới của Đảng, Phòng Cán bộ, Phòng Chính sách, Phòng Tài chính, Phòng Tài vụ, Phòng Vật tư, Ban Thanh tra, Viện Kiểm sát, Toà án, Phòng Điều tra hình sự được đặt trong diện phòng, ban trực thuộc Tư lệnh Quân khu. Phòng Lịch sử Quân khu, nguyên là Phòng Tổng kết thuộc Cục Chính trị được thành lập chuyển trực thuộc Tư lệnh Quân khu2. Phòng Vũ khí tách thành 2 ngành (ngành vũ khí gồm 9 sĩ quan và 1 chiến sĩ; ngành đạn 6 người, có 5 sĩ quan). Trong hai tháng 11 và 12-1982, cùng với việc tổng kết mọi mặt công tác chuyên ngành và tổng kết nhiệm vụ năm 1982, Quân khu tiếp tục chỉ thị cho các đơn vị và cơ quan thành lập, kiện toàn một số tổ chức. Bộ tư lệnh Quân khu thống nhất với đề nghị của các cơ quan Quân khu và Ban chỉ huy Trung đoàn 654 vận tải ô tô giữ nguyên phiên hiệu 654 Đơn vị Anh hùng, gồm 4 tiểu đoàn: Tiểu đoàn 1 xe vận tải mang phiên hiệu D34; Tiểu đoàn 2 phiên hiệu D32; Tiểu đoàn 3 (dự bị động viên) phiên hiệu D781; Tiểu đoàn 4 tàu thuyền phiên hiệu D682. Trung đoàn 10 công binh tổ chức lại theo biên chế mới, xong trước ngày 30-12-1982 để thực hiện nhiệm vụ mới; gồm 2 tiểu đoàn công trình, 1 đại đội xe máy, 1 trạm sửa chữa, 1 trạm xá, 1 tiểu đội thông tin, 1 tiểu đội cảnh vệ điều chỉnh giao thông cùng cơ quan trung đoàn; tổng biên chế là 463 người, có 70 sĩ quan. Theo quyết định ngày 8-12-1982 của Tổng Tham mưu trưởng, Phòng Chính sách Quân khu được biên chế 8 sĩ quan với nhiệm vụ chủ yếu là phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo theo dõi, điều tra tình hình thực hiện các chế độ, chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Đến tháng 12 năm 1982, số thương binh, bệnh binh Quân khu còn quản lý, tiếp tục nghiên cứu giải quyết chính sách là 753 đồng chí (có 649 là thương binh, gồm 125 thương binh nặng). Trong số này, Đoàn 200 có 485 người (437 thương binh), Đoàn 585 có 198 người (142 thương binh), Đoàn 581 có 70 thương binh. Đây là những trường hợp gặp khó khăn trong quá trình sắp xếp, đòi hỏi công tác chính sách phải nỗ lực làm tốt mới hoàn thành nhiệm vụ. Tiểu đoàn 15 được tách thành 2 đội: Đội 15 chăn nuôi gia súc (dê, bò, lợn) bảo đảm cung cấp một phần con giống cho các đơn vị và sản xuất, chế biến thức ăn gia súc bảo đảm cho nhiệm vụ chăn nuôi. Đội 100 sản xuất, chuyên trồng các loại cây thực phẩm, cây công nghiệp có giá trị cao, chủ yếu là đỗ tương, lạc, mía. Biên chế 2 đội là 150 người, trong đó có 6 sĩ quan. Ngày 23-11-1982, Quân khu thành lập Ban xây dựng công trình thông tin tại sở chỉ huy, do đồng chí Phạm Quốc Kiểm - Chủ nhiệm Thông tin Quân khu làm trưởng ban, đồng chí Hoàng Nậm - Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 80 làm phó ban và 4 trợ lý. Tháng 12-1982, Bộ Quốc phòng quyết định điều động Thiếu tướng Nguyễn Thế Bôn - Tư lệnh Quân khu nhận công tác mới. Trung tướng Hoàng Cầm trúng cử Ủy viên Trung ương Đảng khoá V, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 4 được cử làm Tư lệnh Quân khu. Bộ tư lệnh Quân khu gồm các đồng chí: Lê Hữu Đức - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng; Đặng Hòa - Phó tư lệnh về Chính trị; Trần Văn Ân - Phó tư lệnh quân sự địa phương; Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh Hậu cần, Kỹ thuật; Tống Viết Giao - Chủ nhiệm Kỹ thuật. Căn cứ Luật Sĩ quan mới, Bộ Quốc phòng quy định bắt đầu từ ngày 3-1-1983, bỏ cấp Thượng tá. Tất cả sĩ quan cấp Đại tá "4 sao 2 vạch" đều thống nhất mang cấp hiệu "3 sao 2 vạch". Tiền lương vẫn ở 2 mức: "3 sao" và "4 sao". Để tiện phân biệt, vẫn thường gọi "Đại tá 3 sao”, "Đại tá 4 sao”. _______________________________________________ 1. Theo quy định của Bộ Tổng Tham mưu, các đơn vị lấy phiên hiệu con dấu giao dịch công khai đều dùng phiên hiệu có 5 con số. 2. Tháng 4 năm 1983 chuyển chỗ ở về doanh trại Bộ Tham mưu Quân khu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:06:24 pm Sự thay đổi này gắn liền với việc thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Sĩ quan mới, đã nẩy sinh những vấn đề hệ trọng mà công tác đảng, công tác chính trị phải đầu tư công sức tích cực góp phần giải quyết, cả về tư tưởng và tổ chức, nhất là khi chiều hướng nhận thức tư tưởng của cả trong và ngoài quân đội diễn biến sâu sắc. Việc chiêu sinh vào các trường Quân khu chỉ đạt 77 đến 95%. Riêng Trường Lục quân khi chiêu sinh có 30% đăng ký, khi tuyển sinh chỉ đạt 4%. Trường Sĩ quan chính trị cũng đạt rất thấp. Trong khi đó, xu thế chọn thi vào các trường thương nghiệp, kinh tế, lái xe, hậu cần, kỹ thuật gấp đôi. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Quân khu chú trọng công tác giáo dục toàn diện. Một mặt, thông qua giáo dục chính trị - tư tưởng bằng nhiều hình thức, biện pháp đi sâu tiếp tục xây dựng, phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Đảng, dân tộc, quân đội và đơn vị, địa phương, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu xã hội chủ nghĩa, yêu chủ nghĩa quốc tế vô sản, nhận thức đúng đắn ý nghĩa vai trò, vị trí nặng nề của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, làm cho mọi người nâng cao nhận thức trách nhiệm trước nhiệm vụ chiến đấu. Mặt khác Quân khu xem xét đánh giá một cách khách quan, toàn diện và cơ bản tình hình tư tưởng trong các lực lượng vũ trang, kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức, cán bộ, chính sách, kiểm tra, hướng về cơ sở, hướng vào các đối tượng, nhất là các đối tượng chủ yếu, chủ chốt đông đảo, hướng vào chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu. Những biểu hiện lệch lạc được thẳng thắn nêu lên, bàn cách khắc phục như: Công tác tư tưởng mới chỉ do cấp ủy và cán bộ chính trị làm, chưa được tốt lắm. Cán bộ chỉ huy, quân sự, hậu cần, kỹ thuật còn nhiều đồng chí chưa thấy rõ trách nhiệm phải làm công tác tư tưởng của Đảng đối với đơn vị, với công tác mình phụ trách và cả bản thân mình. Một cuộc vận động con em cán bộ, đảng viên, quân nhân đủ điều kiện thi vào Trường Lục quân, Trường Sĩ quan chính trị được đặt ra; khởi đầu từ Đảng bộ Cục Chính trị. Nhiều đồng chí có con thứ 2, con thứ 3 hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ, trải qua chiến đấu ở chiến trường, được vận động, thuyết phục theo bước cha anh. Trước yêu cầu của cách mạng và quân đội, các gia đình đã vận động con em của mình đăng ký thi vào Trường Sĩ quan lục quân và Trường Sĩ quan chính trị. Qua việc vận động này, Quân khu và các đơn vị, địa phương phát hiện những điều chưa phù hợp về tổ chức, chính sách, đề nghị cấp trên nghiên cứu sửa chữa, bổ sung, điều chỉnh để dần đi vào thế ổn định và phát triển1. Kết thúc năm 1982, Quân khu tổng kết đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ từ cơ sở đến Quân khu 5 năm (1978-19S2), nhằm nhìn nhận một cách toàn diện, tổng quát, khách quan, giúp định hướng chủ trương công tác sát đúng trong những năm tiếp theo. Trải qua 5 năm, Quân khu đã nâng cao được một bước rõ rệt về chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu; xác định rõ vị trí của Quân khu, vừa là tiến tuyến, vừa là hậu phương; xác định quyết tâm phòng thủ cơ bản; xây dựng được một bước thế trận ở các hải đảo và tuyến ven biển; bố trí đội hình đóng quân các lực lượng theo phương án tác chiến; diễn tập từ Quân khu đến huyện; chấp hành các chỉ lệnh về 4 trạng thái sẵn sàng chiến đấu; động viên thử một bộ phận lực lượng dự bị động viên. So với những năm trước đây, Quân khu đã có những chuyển biến quan trọng, đáp ứng yêu cầu chiến đấu chống kẻ thù mới2. Quân khu đã cùng với các tỉnh từng bước xây dựng nền quốc phòng toàn dân, giáo dục toàn dân chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, chấp hành chính sách thương binh, liệt sĩ, tăng cường đoàn kết quân dân, thực hiện "quân với dân một ý chí". Công tác đảng, công tác chính trị đã tập trung làm tốt các đợt sinh hoạt chính trị quan trọng; tập trung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, coi trọng tổ chức cơ sở và đội ngũ đảng viên. Hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị được nâng cao và thể hiện rõ nét trong những công tác lớn, những chiến dịch lớn, những thời điểm thử thách cao nhất; (như các chiến dịch huấn luyện, chiến dịch động viên, tuyển quân, huy động lực lượng xây dựng thế trận, xây dựng công trình, xây dựng các tuyến, cụm phòng thủ, pháo đài quân sự huyện, trồng cây, chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt, chống bão lụt; các dịp Đại hội Đảng, phát thẻ Đảng, xây dựng quê hương Bác Hồ, trong thực hiện cuộc vận động lớn và các phong trào thi đua). Lực lượng vũ trang phát triển nhanh, tình hình xã hội diễn biến rất phức tạp, tiêu cực xã hội và địch phá hoại thâm độc ráo riết, nhưng bản chất, truyền thống quân đội và truyền thống Quân khu tiếp tục được phát huy. Điển hình là 2 sư đoàn 316, 337 và 7 trung đoàn lập công ở phía Bắc, 3 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn làm kinh tế và các trung đoàn bám trụ, kiên quyết hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trên các địa bàn đầy gian khổ, thử thách trong suốt những năm tháng làm nghĩa vụ quốc tế vẻ vang ở Lào. Tám đợt phát thẻ đảng viên trong 2 năm, bảo đảm đúng nguyên tắc; 100% đảng viên phát thẻ đều đủ tư cách. Kết hợp thực hiện nghiêm túc kiểm tra tư cách đảng viên với yêu cầu phát huy ưu điểm, đặt kế hoạch, nội dung biện pháp phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ, khắc phục khuyết điểm, điểm yếu, việc phát thẻ đảng viên đã góp phần có ý nghĩa quyết định nâng cao chất lượng lãnh đạo của tổ chức Đảng các cấp và trình độ của đảng viên. ___________________________________________________ 1. Sau này cấp trên tiếp thu nghiên cứu bổ sung sửa chữa một số quy định không hợp lý, trong đó khôi phục cấp Thượng tá, Đại tá. 2. Về xây dựng lực lượng: Thành lập 6 sư đoàn, 7 trung đoàn, 40 tiểu đoàn, 8 đại đội, 4 trung đội, 3 trường, 1 lớp, 2 công trường, 1 trạm khách, 1 đội điều trị, 2 cục, 6 phòng, 61 ban. Tiếp nhận 1 quân đoàn, 2 sư đoàn, 2 trung đoàn, 2 tiểu đoàn, 1 xưỡng sửa chữa, 13 đại đội cơ động, 62 đội, 2 trạm bộ đội biên phòng. Bàn giao 8 sư đoàn, 10 trung đoàn, 9 tiểu đoàn, 60 đại đội, 1 đội điều trị. Giải tán 2 trung đoàn, 31 tiểu đoàn, 1 trường, 1 đội điều trị, 1 cục. Xây dựng 5 trung đoàn tỉnh (có 3 trung đoan dự bị động viên), 33 tiểu đoàn bộ binh huyện; riêng năm 1979 bàn giao cho Quảng Ninh 2 trung đoàn của Thanh Hoá; bàn giao cho Quân đoàn 5: 1 trung đoàn của Bình Trị Thiên. Gọi nhập ngũ 294.964 người/282.844 người đạt 104,2% chỉ tiêu. Xây dựng 123.941 quân dự bị hạng 1; đăng ký 6.242 xe vận tải (có 4.812 xe tốt); nếu huy động 50% thi đủ biên chế cho 10 sư đoàn. Dân quân tự vệ có 908.615 người (13,6% dân số). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:08:07 pm Sang năm 1983, nhiệm vụ xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, là một trong những nội dung quan trọng trong xây dựng Quân khu, đáp ứng với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Cùng lúc với việc hoàn thiện phương án tác chiến và kế hoạch chống “chiến tranh phá hoại nhiều mặt” của địch, Quân khu tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện trên các vùng trọng điểm. Ba tỉnh xây dựng kế hoạch tác chiến cơ bản, tiếp tục xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng pháo đài quân sự huyện. Quân khu chọn Thanh Hoá làm tỉnh xây dựng “điểm” pháo đài quân sự huyện và cụm chiến đấu ven biển. Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên tăng cường chỉ đạo 2 huyện “điểm” là Nghi Lộc và Triệu Hải, nâng cao chất lượng các nội dung xây dựng pháo đài. Chỉ lệnh về 6 trạng thái sẵn sàng chiến đấu được quán triệt đến các cơ sở, gắn với tổ chức nắm địch, tăng cường tổ chức phòng thủ trên các đảo, các điểm xung yếu vùng ven biển và biên giới thuộc Quân khu quản lý. Để làm cơ sở rộng rãi hơn nữa cho sự gắn kết giữa chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt với xây dựng pháo đài quân sự huyện, Quân khu phối hợp với các tỉnh phát động phong trào thi đua xây dựng "xã, phường an toàn - chiến thắng" ở các địa phương cùng gắn kết với phong trào: "Xây dựng đơn vị an toàn trong các lực lượng vũ trang". Nhằm tập trung đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết “2 khâu then chốt” là xây dựng đơn vị cơ sở trong sạch vững mạnh và tổ chức tốt đời sống vật chất và tinh thần văn hoá của bộ đội, Quân khu đã mở 235 lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ cho 14.759 lượt cán bộ, đúng kế hoạch, đối tượng và thời gian quy định. Quân khu chú trọng chỉ đạo 3 loại cơ sở (gồm 25 cơ sở thuộc Cơ quan Quân khu, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, cơ quan chỉ huy sư đoàn; 14 cơ sở nhà trường, kho xưởng, bệnh viện; cơ sở đồn biên phòng và cơ quan quân sự cấp huyện. Việc chỉ đạo theo từng loại hình cơ sở giúp cho cả cấp quân khu, cấp trên cơ sở và cấp cơ sở nhận thức rõ những nét đặc thù trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chức trách nhiệm vụ của từng loại hình, khắc phục lối chỉ đạo chung chung. Về tổ chức đời sống vật chất và tinh thần văn hoá, trong điều kiện thiên tai diễn ra liên tiếp, giá cả biến động, Quân khu đã tập trung 3/4 tổng kinh phí xây dựng cho các đảo, đồn biên phòng, kho tàng, trạm xưởng. Còn 1/4 được dành cho tu sửa doanh trại. Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị thấy rõ hoàn cảnh khó khăn chung, đã động viên tổ chức huy động bộ đội tham gia tu sửa nhà cửa, khai thác nguyên vật liệu làm doanh trại, doanh cụ, trồng cây lương thực, thực phẩm, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Các đơn vị quản lý ngày công, giờ công, khắc phục tư tưởng “nước sông, công lính”. Các xí nghiệp tổ chức hạch toán quản lý lao động, tổ chức lại dây chuyển sản xuất, cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng kiến hiệu quả. Chế độ quản lý cơ sở vật chất, tài chính, bảo quản vũ khí, phương tiện, công cụ có nhiều tiến bộ, giảm mất mát, hao hụt, hư hỏng. Xăng dầu vận tải kết hợp được 2 chiều, phát huy các năng lực vận tải, cả thô sơ và hiện đại. Để phát huy vai trò của cán bộ công nhân và nhân viên quốc phòng, từ ngày 5 đến ngày 7-7-1983, Đại hội Công đoàn lần thứ nhất toàn Quân khu được tổ chức tại hội trường Sở chỉ huy Đại Huệ. Đại hội đánh giá hoạt động của Công đoàn Quân khu và biểu dương công đoàn cơ sở X41, X46, Viện Quân y 4, Xưởng may 20C đã có nhiều thành tích thời gian qua; đồng thời xác định nội dung, phương hướng nhiệm vụ xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh mọi mặt, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của đơn vị trong thời gian tới. Thực hiện chỉ thị của Tổng cục Chính trị, Cục Chính trị Quân khu tổ chức theo cơ chế mới. Đứng đầu là chủ nhiệm, 3 phó chủ nhiệm; giúp việc có 5 phòng, 3 ban, 6 đầu mối trực thuộc1. Theo cơ chế mới, Cục Chính trị không còn Phòng Chính sách; Phòng Cán bộ tách làm hai; Cục Chính trị chỉ biên chế Phòng Cán bộ chuyên quản lý cán bộ chính trị. Cán bộ quân sự, khoa học kỹ thuật do Phòng Cán bộ (chung) trực thuộc Bộ tư lệnh Quân khu. Ban Sử và tổng kết chuyển thành Phòng Lịch sử trực thuộc Tư lệnh Quân khu. Viện Kiểm sát, Tòa án, Điều tra hình sự, cơ quan thanh tra sinh hoạt trong Đảng bộ Cục Chính trị đều chuyển về khối các cơ quan trực thuộc Tư lệnh Quân khu. Sự chuyển đổi vị trí và giảm bớt biên chế đòi hỏi các cơ quan phải nỗ lực phấn đấu mới hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chỉ một thời gian ngắn, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Quân khu, các cơ quan, trong đó đội ngũ cán bộ đóng vai trò quyết định. Khi vào kiểm tra Quân khu 4, Đại tướng Hoàng Văn Thái - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nhận xét: “Quân khu 4 chấp hành nghị quyết Quân ủy về kế hoạch 5 năm và quy hoạch sắp xếp cán bộ nghiêm túc; kế hoạch, quy hoạch cụ thể, tỷ mỷ, có bước đi quá độ phù hợp với tình hình đội ngũ cán bộ Quân khu và giúp cho Bộ trong xem xét, đánh gia tình hình”. Đội ngũ cán bộ phát huy tinh thần trách nhiệm, năng lực tổ chức trên mọi mặt công tác không chỉ trong nội bộ lực lượng vũ trang, trong những công tác thường xuyên mà rõ nét trong những lúc tình hình phát triển biến động; trong hiệp đồng xây dựng thế trận giao thông vận tải, kết hợp quân dân y phục vụ kế hoạch sẵn sàng chiến đấu trước mắt, chuẩn bị tiền đề, điều kiện cho bảo đảm đánh thắng trong trường hợp chiến tranh lớn có thể xảy ra. Sau khi triển khai kế hoạch “chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt” của địch, công tác nắm địch của Quân khu trên biển, trên biên giới, trong nội địa và ở chiến trường Lào đã có những chuyển biến mới. Kế hoạch hiệp đồng bảo đảm thông tin liên lạc giữa thông tin quân sự với các sở, phòng, trạm bưu điện; giữa quân sự với công an, gắn bó chặt chẽ hơn với quá trình xây dựng pháo đài quân sự huyện và quá trình tổ chức lại sản xuất trên địa bàn huyện. ______________________________________________ 1. Gồm các phòng: Tổ chức 15 người, Tuyên huấn 12 người, Bảo vệ 6 người, Cán bộ 6 người, Chính trị hậu phương 7 người; các ban: Thanh niên 4 người, Vật tư chính trị 3 người, Hành chính 3 người (gốm cả bảo mật), 1 trợ lý chính trị nội bộ; 6 đầu mối trực thuộc có: Tờ tin + nhiếp ảnh, Trường Đảng, Đoàn nghệ thuật, Bảo tàng, Nhà văn hóa. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:09:29 pm Những tháng cuối năm 1983, cùng với việc phải khắc phục hậu quả bão lụt, nhiều huyện đã quyết tâm phấn đấu hoàn thành kế hoạch quân sự trong năm, trong đó có một số cuộc diễn tập điển hình. Huyện Phú Lộc (Bình Trị Thiên), huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) trở thành hai hình mẫu trong tổ chức diễn tập pháo đài quân sự. Phú Lộc là huyện tận cùng phía nam Bình Trị Thiên diễn tập pháo đài quân sự ven biển, có Tiểu đoàn 3 bộ đội biên phòng cùng tham gia. Huyện Hương Sơn là pháo đài quân sự miền núi - biên giới diễn tập chuyển trạng thái từ thời bình sang thời chiến và thực hành chiến đấu bảo vệ một hướng phía tây của tỉnh. Hai cuộc diễn tập ở Phú Lộc và Hương Sơn cùng một số cuộc diễn tập khác đã cung cấp những thông tin, kinh nghiệm bước đầu về cách giải quyết, tháo gỡ cụ thể những vướng mắc, khó khăn trước những vấn đề mới nảy sinh, bằng mô hình và việc làm cụ thể; góp phần tạo sự nhất trí cao hơn về nhận thức, quan điểm và quyết tâm trong xây dựng pháo đài quân sự huyện. Trước sự phát triển mới về nhiều mặt, nhất là về khoa học - nghệ thuật quân sự, nghệ thuật tổ chức chỉ đạo chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới và trước đối tượng tác chiến mới, Quân khu đã động viên mọi người, mọi cấp phát huy khả năng tư duy, tìm tòi sáng kiến, tìm những cách làm, những biện pháp mới. Trong đó ưu tiên nghiên cứu quán triệt, vận dụng 2 phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân, xây dựng và hình thành rõ nét cách đánh của lực lượng vũ trang địa phương, của lực lượng tham gia chiến tranh nhân dân, xây dựng quốc phòng toàn dân trong hệ thống pháo đài quân sự huyện; đi sâu vào các nội dung khoa mục huấn luyện, tập trung giải quyết điểm yếu trong xây dựng nền nếp chính, chỉ huy hiệp đồng quy mô lớn, sử dụng và phát huy có hiệu quả mọi khả năng, trang bị, vũ khí, phương tiện. Trước hết, các nhà trường, các cơ quan nghiên cứu, các cán bộ chủ trì lãnh đạo, chỉ huy phải đi đầu, đột phá trên lĩnh vực khoa học - nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Trường Quân chính Quân khu nghiên cứu các chiến lệ, các tư liệu, sách báo, đối chiếu với tình hình nhiệm vụ Quân khu, tổ chức biên soạn, bổ sung các tài liệu huấn luyện (bao gồm cả lý thuyết, tập bài và thực hành) ba hình thức chiến thuật: Đánh địch trong hang động và lèn núi cao; đánh tập kích; đánh phục kích trong điều kiện chiến đấu với đối tượng tác chiến mới. Chiến thuật tiến công, chiến thuật phòng ngự cũng được biên soạn lại với nhiều nội dung khác trước. Những khoa mục về phòng ngự, phản công, phản đột kích, khu vực phòng thủ cũng như những nội dung, những khái niệm liên quan đến quyết tâm đánh thắng trận đầu, trên tuyến đầu, trên tuyến khơi xa, ngay từ mép biển, trong ngày đầu, giờ đầu được dân chủ bàn bạc, thảo luận, bảo đảm kết hợp chặt chẽ tính cách mạng, khoa học và tính thực tiễn cao. Các lớp học ở nhà trường, lớp tập huấn cán bộ, các nội dung, chương trình huấn luyện ở phân đội đều chuyển mạnh "gắn thao trường với chiến trường", dành nhiều thời gian cho dã ngoại sát thực tế chiến đấu, lấy chiến thuật làm trung tâm, kỹ thuật làm cơ sở, huấn luyện và chấp hành điều lệnh làm điều kiện rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy. Trường Quân chính góp phần tích cực đưa các nội dung mới về phương thức, phương án, kế hoạch tác chiến cơ bản và nhiệm vụ chính trị của Quân khu vào các giáo trình, giáo án như: "Đề án chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt" của địch, "Lý luận về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên các khu vực phòng thủ", "đề án công tác quân sự địa phương và kế hoạch nguồn động viên thời chiến". Phòng Huấn luyện chiến đấu, Phòng Khoa học quân sự, Phòng Tuyên huấn, Phòng Tổ chức, Phòng Cán bộ và mỗi chuyên ngành, mỗi trường lớp quân sự, chính trị, kinh tế, hậu cần, kỹ thuật, tài chính thông qua nghiên cứu thực tiễn nhiệm vụ, thực tiễn chiến trường, xây dựng, bổ sung hoàn thiện từng bước các vấn đề mới đặt ra đòi hỏi tiếp cận chân lý trước khi bước vào thực hiện những nhiệm vụ được giao trong năm 1984 với những biến động và phát triển mới, trong đó nổi bật một số đặc điểm sau đây: 1. Chiến sự vẫn diễn ra trên biên giới phía Bắc. Trên biên giới phía Tây và Lào, các thế lực phản động mở mặt trận mới, lấn chiếm 3 bản của nhân dân Lào, tập kích các tuyến giao thông của bạn. 2. Trên địa bàn Quân khu, địch tăng cường xâm nhập từ biên giới vào nội địa, thực hiện âm mưu xây dựng cơ sở ngầm, tiến hành chiến tranh phá hoại nhiều mặt, trong đó tập trung nhất là khu vực tây Trị Thiên và huyện Kỳ Sơn (Nghệ Tĩnh). Trước tình hình đó, từ ngày 26-3-1984, Quân khu 4 được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao chính thức lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam ở Trung - Hạ Lào, gồm Binh đoàn 678 (có 2 sư đoàn 324, 968) và Trung đoàn 176. Phạm vi hoạt động từ Sầm Nưa (tỉnh Hủa Phăn) đến Hạ Lào. Ngày 2-4-1984, Quân khu tổ chức Hội nghị liên tịch về "Xây dựng huyện (thị) thành pháo đài quân sự". Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Phó Bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng đến dự chỉ đạo hội nghị. 340 đại biểu dự hội nghị đã nghe và đóng góp nhiều ý kiến rút ra từ thực tiễn, khẳng định ý nghĩa lịch sử của hội nghị, ý nghĩa chiến lược của xây dựng pháo đài quân sự huyện trong thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Đồng chí Hoàng Cầm - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu khai mạc và kết luận hội nghị. Tiếp theo Hội nghị liên tịch của Quân khu, Hội nghị liên tịch được tiến hành từ cơ sở đến huyện và tỉnh, gắn chặt với chủ trương xây dựng và tăng cường cấp huyện của Trung ương Đảng. Tất cả 64 huyện, thành, thị xã và cả 3 tỉnh đều quán triệt, chấp hành Nghị quyết 12 của Bộ Chính trị, ra nghị quyết cấp mình về quốc phòng - an ninh. Chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu của Quân khu và kế hoạch động viên quân dự bị được triển khai xuống cơ sở và tổ chức luyện tập ở các địa phương. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:12:20 pm Trong năm 1984, Quân khu tổ chức quán triệt, thực hiện toàn diện Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam”. Triển khai thực hiện Nghị quyết đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng, ngày 23-4-1984, Ban Chấp hành Trung ương ra Nghị quyết số 755/NQ-NS/TW, chỉ định nhân sự Hội đồng quân sự Quân khu 4 gồm. 1. Trung tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Quân khu. 2. Thiếu tướng Đặng Hòa - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu làm Phó Chủ tịch1. 3. Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu - ủy viên2. 4. Thiếu tướng Trần Văn Ân - Phó tư lệnh - ủy viên. 5. Thiếu tướng Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh - ủy viên. Theo Quyết định số 24/QĐ-TW và số 25/QĐ-TW, ngày 23-4-1984, Hội đồng Cục Chính trị Quân khu 4 được thành lập gồm. 1. Thiếu tướng Đặng Hòa - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu - Chủ tịch Hội đồng Cục Chính trị. 2. Thiếu tướng Lê Đình Sô - Phó Chủ nhiệm Chính trị thứ nhất - Phó Chủ tịch Hội đồng. 3. Đại tá Lê Đăng Dần - Phó Chủ nhiệm Chính trị - ủy viên. Các trưởng phòng trong Cục Chính trị là thành viên Hội đồng. Hội đồng Cục Chính trị có nhiệm vụ tập thể bàn bạc và quyết nghị chủ trương, biện pháp lớn về công tác đảng, công tác chính trị, về công tác cán bộ chính trị, về kỷ luật Đảng theo quyền hạn. Cũng như Hội đồng quân sự Quân khu, Hội đồng Cục Chính trị làm việc theo nguyên tắc tập thể, ít nhất phải có nửa số ủy viên tham dự mới đủ điều kiện ra nghị quyết. Nghị quyết của Hội đồng quân sự Quân khu được triển khai thực hiện bằng mệnh lệnh, chỉ lệnh, chỉ thị của Tư lệnh Quân khu. Nghị quyết của Hội đồng Cục Chính trị Quân khu được triển khai thực hiện bằng chỉ thị, thông tư, hướng dẫn... của Chú nhiệm Chính trị mới có giá trị và hiệu lực pháp lý thi hành. Đây là một bước ngoặt lịch sử có tác động toàn diện đến quá trình lãnh đạo xây dựng, trưởng thành của quân đội ta trong một thời kỳ mới, có quan hệ rộng lớn với nhiều tổ chức trong hệ thống chính trị của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trước khi tổ chức cuộc họp cuối cùng của Đảng ủy để chuyển giao công việc lãnh đạo theo Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị, Quân khu đã có những tổng kết chuyên đề, chuyên ngành ở năm (1978-1982) trên các lĩnh vực, các nhiệm vụ ở từng đơn vị, địa phương, học tập, quán triệt kỹ nội dung chủ trương của Đảng, quy chế cơ chế lãnh đạo mới của Đảng đối với quân đội, kiện toàn, củng cố tổ chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp theo yêu cầu thực hiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng. Ngày 14-5-1984, Đảng ủy Quân khu 4 họp phiên cuối cùng kiểm điểm quá trình lãnh đạo lực lượng vũ trang khắc phục khó khăn, hoàn thành các nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng, lao động, sản xuất, làm nhiệm vụ quốc tế và chuyển giao công việc lãnh đạo của Đảng cho Tư lệnh, Hội đồng quân sự, Chủ nhiệm Chính trị và Hội đồng Cục Chính trị Quân khu theo quy định của Nghị quyết 07 Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau khi nhận nhiệm vụ từ Đảng ủy chuyển giao, Hội đồng quân sự và tiếp theo, Hội đồng Cục Chính trị Quân khu họp phiên đầu tiên tập trung bàn về nhiệm vụ, nguyên tắc chế độ làm việc, các mối quan hệ trong công tác, làm cơ sở triển khai các hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ chế độ quy định, thực hiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng. Quá trình thực hiện, Tư lệnh Quân khu và Chủ nhiệm Chính trị với tư cách Chủ tịch Hội đồng và tư cách chỉ huy, lãnh đạo đã thường xuyên bám chắc và kiểm tra, đôn đốc các cấp quán triệt mục đích việc đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc của Đảng trong mọi tình huống, phát huy cao độ trách nhiệm của người chỉ huy, không ngừng nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Việc thực hiện cơ chế mới này được triển khai rộng khắp các đơn vị cơ sở và trên cơ sở kể từ ngày 20-5-1984. Cấp Quân khu thực hiện từ tháng 7-1984. Riêng các sư đoàn 324, 968 và Lữ đoàn 176 hoạt động ở Lào, do Binh đoàn 678 lãnh đạo, chỉ huy, quản lý. Tháng 3-1984 việc thục hiện theo cơ chế mới bàn giao cụ thể cho Quân khu 4, đến cuối năm 1984 đầu năm 1985 Quân khu mới thực hiện. ______________________________________________ 1. Đồng chí Nguyễn Đình Ước - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4 được điều về Bộ Quốc phòng. 2. Đồng chí Nguyễn Quốc Thước - nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3 về thay đồng chí Lê Hữu Đức. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:13:27 pm Cơ chế lãnh đạo mới của Đảng đã hình thành về tổ chức và đi vào hoạt động, từng bước phát huy được hiệu lực trong thực hiện các nhiệm vụ và xây dựng đơn vị. Theo Nghị quyết 07 (thường gọi tắt cơ chế 07), các tổ chức Đảng có 5 nhiệm vụ cơ bản, 9 nhiệm vụ chủ yếu. Nguyên tắc lãnh đạo và trách nhiệm cá nhân phụ trách (người chỉ huy) được quy định rõ trong chế độ sinh hoạt lãnh đạo ở cơ sở. Tổ chức Đảng từ cấp trên cơ sở không duy trì chế độ Đảng ủy lãnh đạo mà thay thế bằng cơ chế: 1. Hội đồng Phòng Chính trị và Phòng Chính trị với chức năng là cơ quan lãnh đạo về Đảng, cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở Đảng ở cấp sư đoàn và tương đương. 2. Hội đồng Cục Chính trị Quân khu, cơ quan chính trị Quân khu với chức năng là cơ quan lãnh đạo về Đảng; là cơ quan giúp người chỉ huy tiến hành công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang quân khu. Cấp sư đoàn, cấp Quân khu không còn tổ chức Đảng ủy. Cấp cơ sở thì ở trung đoàn có Đảng ủy, có 1 bí thư Đảng ủy chuyên trách về Đảng và 1 phó chỉ huy về chính trị phụ trách cơ quan chính trị; cấp đại đội có phó chỉ huy về chính trị được cơ cấu bầu làm Bí thư chi bộ chuyên trách công tác đảng và công tác chính trị. Ủy ban kiểm tra kỷ luật Đảng chuyển thuộc cơ quan chính trị. Hội đồng quân sự Quân khu do Thượng tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu làm Chủ tịch. Với chức năng là Chủ tịch Hội đồng, Tư lệnh chuẩn bị nội dung các cuộc họp của Hội đồng, thảo luận, ra nghị quyết. Trên cơ sở với tư cách là người chỉ huy thể chế hoá các nghị quyết thành các mệnh lệnh, chỉ lệnh của Tư lệnh Quân khu, Thượng tướng Hoàng Cầm đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng như: Mệnh lệnh "Về nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang Quân khu 4 năm 1985"; Mệnh lệnh về "Hoạt động mùa khô 1984-1985" cho các đơn vị của Quân khu 4 làm nghĩa vụ quốc tế; các chỉ lệnh ''Về công tác viết sử quân sự năm 1985"; "Về công tác xây dựng lực lượng năm 1985"; "Chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt"; "Chỉ lệnh huấn luyện chiến dịch năm 1985". Theo phân công, phân cấp Tư lệnh ủy nhiệm cho các Phó tư lệnh ký các mệnh lệnh, chỉ lệnh của Tư lệnh. Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu ký mệnh lệnh về nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu, xây dựng của Tiểu đoàn 31 đặc công, các trung đoàn binh chủng; mệnh lệnh về "Đóng quân và canh phòng" bao gồm 7 khu vực; mệnh lệnh về nhiệm vụ chiến đấu, huấn luyện của các đơn vị. Thiếu tướng Dương Bá Nuôi ký chỉ lệnh "Công tác biên phòng năm 1985". Thiếu tướng Trần Văn Ân - Phó tư lệnh Quân khu ký chỉ lệnh về công tác chính sách và trực tiếp phụ trách Hội đồng thi đua. Đồng chí Trần Trọng Trai - Phó tư lệnh Quân khu ký chỉ thị về "Hoạt động xây dựng cơ sở, phát động quần chúng kết hợp truy quét địch mùa khô 1985-1986, thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Lào". Đồng chí Đặng Hòa - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu, căn cứ vào các nghị quyết của Hội đồng Cục Chính trị, chỉ thị những nội dung mọi mặt hoạt động công tác đảng, công tác chính trị; chịu trách nhiệm về tình hình mọi mặt hoạt động và đời sống của cơ quan; kiểm tra, giúp đỡ hoạt động của các Hội đồng Phòng Chính trị Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, sư đoàn và tương đương. Đồng chí Lê Đình Sô - Phó Chủ nhiệm thứ nhất làm Phó Chủ tịch Hội đồng giúp Chủ nhiệm điều hành chương trình, kế hoạch làm việc của Cục Chính trị phối hợp, hiệp đồng công tác trong nội bộ Cục Chính trị và giữa Cục Chính trị với các cơ quan khác. Đồng thời trực tiếp chỉ đạo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, văn hoá, ủy viên thường trực Hội đồng thi đua, theo dõi công tác chính sách, lịch sử, pháp chế, phụ trách công tác nội bộ Cục. Đồng chí Lê Đăng Dần - Phó Chủ nhiệm Chính trị giúp Chủ nhiệm trực tiếp theo dõi, chỉ đạo công tác tổ chức, tổ chức Đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu huấn luyện diễn tập đối với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, bộ đội làm kinh tế và các binh chủng, các cơ quan tham mưu, hậu cần, kỹ thuật; công tác chính trị xây dựng hậu phương và trong lực lượng quân sự địa phương, các đơn vị làm nghĩa vụ quốc tế, khối nhà trường, chỉ đạo công tác cán bộ chính trị. Trong số các chỉ thị Chủ nhiệm Chính trị đã ban hành, có chỉ thị "Công tác đảng, công tác chính trị trong chiến đấu phòng ngự chống địch đổ bộ đường biển"; chỉ thị "Những vấn đề chủ yếu công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang quân khu năm 1985"; "Công tác vận động quần chúng xây dựng lực lượng cách mạng, công tác tuyên truyền đặc biệt năm 1984"; "Đánh giá tình hình tư tưởng và công tác tư tưởng của lực lượng vũ trang quân khu". Đó là những văn kiện cơ bản trong thực hiện đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội tại Quân khu 4. Quan hệ giữa cơ quan chính trị với Hội đồng quân sự bước đầu được thực hiện thống nhất, chặt chẽ, nhằm thực hiện nghiêm túc đường lối chính trị, đường lối, quan điểm tư tưởng quân sự của Đảng trong các lực lượng vũ trang quân khu, góp phần tăng cường hiệu lực chế độ một người chỉ huy, từng bước nâng cao sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang quân khu, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang hoàn thành các nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, huấn luyện, tăng gia sản xuất, hoạt động văn hoá, thể dục thể thao. Ngoài việc giải quyết những vấn đề thuộc quyền ủy nhiệm của Hội đồng quân sự như sắp xếp, đề bạt bổ nhiệm cán bộ, xét khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, đối với các đơn vị bộ đội, Thường trực Hội đồng quân sự đã họp 6 phiên chuẩn bị cho Hội đồng quân sự họp bàn các chuyên đề: Công tác cán bộ và công tác nhà trường; tăng cường kỷ luật bộ đội; bảo vệ an ninh, trật tự an toàn khu vực đóng quân; chủ trương phối hợp với bạn Lào khai thác gỗ xuất khẩu; thông qua thiết kế xây dựng Quân khu bộ ở Vinh; bàn về công tác chính sách hậu phương quân đội. Hội đồng quân sự và Thường trực Hội đồng quân sự hoạt động đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Nghị quyết 07 Bộ Chính trị, Quy định 23 của Ban Bí thư; làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ; đi sâu thảo luận quyết định những chủ trương, biện pháp lớn về công tác quân sự, công tác chính trị, công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; bàn, quyết định những vấn đề về chiến đấu và bảo đảm đời sống của lực lượng vũ trang quân khu; về nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Hội đồng quân sự đã bàn bạc tạo được sự nhất trí cao trong nội bộ, làm cơ sở đoàn kết thống nhất cao giữa Quân khu với ba tỉnh về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và quốc tế. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:14:52 pm Trên một địa bàn bị chiến tranh tàn phá nặng nề, tình hình kinh tế, xã hội ngày càng phát triển đi vào thế dần ổn định đã tạo ra những nhân tố mới cho tiềm lực quốc phòng. Công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân và tổ chức phòng thủ trên địa bàn Quân khu được chuẩn bị một bước. Trình độ sẵn sàng chiến đấu được nâng lên. An ninh chính trị được giữ vững. Trật tự an toàn xã hội ngày càng chuyển biến tiến bộ rõ rệt. Sớm đề ra chủ trương "đánh địch phá hoại kết hợp chống tiêu cực" và đã đánh bại một bước các thủ đoạn phá hoại của chúng. Hội đồng quân sự tiếp tục đề ra phương hướng, nhiệm vụ, nội dung đúng đắn về xây dựng pháo đài quân sự huyện gắn với xây dựng và tăng cường cấp huyện; đồng thời chỉ đạo xây dựng được một số huyện trọng điểm ven biển. Phong trào "xây dựng xã - tuyến an toàn làm chủ" phát triển rộng khắp. Kế hoạch tác chiến phòng thủ cơ bản của Quân khu, ba tỉnh và các huyện trọng điểm được xây dựng thành văn bản. Kế hoạch xây dựng quân dự bị động viên triển khai xuống cơ sở và tổ chức diễn tập nhiều lần. Công trình chiến đấu ở các đảo lớn được xây dựng theo kế hoạch ba năm. Người chỉ huy và cơ quan các cấp được luyện tập và diễn tập nhiều lần về chiến thuật và chiến dịch chống chiến tranh xâm lược trên địa bàn Quân khu. Về lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, lực lượng vũ trang quân khu đã làm được nhiều việc và thu những kết quả đáng kể. Riêng trong chiến dịch rà phá bom mìn Quân khu đã giải phóng được 79.300ha ruộng đất để sản xuất, phá bom từ trường, mở thông các dòng sông, cửa biển, củng cố đường số 7, 8, 48, 217, góp phần nhanh chóng khôi phục các tuyến giao thông thủy, bộ. Phong trào sản xuất được đẩy mạnh. Đời sống bộ đội tuy còn khó khăn, nhung từng bước được cải thiện ổn định. Phong trào sản xuất vật liệu cả ở các đơn vị và cơ sở công nghiệp của Quân khu phát triển, góp phần xây dựng kho tàng, doanh trại, đưa bộ đội ra khỏi nhà dân, phục vụ nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện theo hướng chính quy, hiện đại. Tổ chức biên chế được kiện toàn; sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang quân khu được nâng lên một bước rõ rệt. Dân quân tự vệ tổ chức rộng khắp, được rà xét về tiêu chuẩn chính trị, kiện toàn lại quy mô tổ chức hợp lý. Phân đội an ninh quốc phòng được tổ chức rộng khắp ở cơ sở. Phân đội trực chiến tổ chức ở những khu vực trọng điểm. Lực lượng dự bị động viên được xây dựng lớn, đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng đầu tiên khi chiến tranh xâm lược xảy đến. Bộ đội biên phòng được kiện toàn mọi mặt, đảm nhiệm hai chức năng an ninh và quốc phòng. Bộ đội địa phương hình thành mỗi tỉnh có 1 khung trung đoàn, có 1 tiểu đoàn có quân làm nòng cốt. Các đơn vị chủ lực ở A đã kiện toàn theo quy hoạch biên chế của Bộ. Quân tình nguyện ở C được tăng cường quân số, bổ sung cán bộ và trang bị chiến đấu. Hệ thống nhà trường được kiện toàn một bước. Sư đoàn 358 được biên chế, tổ chức thành trung tâm tập huấn chiến dịch, chiến thuật cho cán bộ trung cấp, cao cấp trên toàn Quân khu. Công tác lịch sử và nghiên cứu khoa học quân sự đã có những chuyển biến bước đầu, nhất là từ sau Hội nghị lịch sử quân sự Quân khu lần thứ 1 (7-1984). Nghị quyết Hội đồng quân sự và Mệnh lệnh Tư lệnh Quân khu đã xác định rõ trách nhiệm các địa phương phát động phong trào viết sử 3 cấp (xã, huyện, tỉnh). Các cơ quan Quân khu, các đơn vị triển khai viết truyền thống đơn vị mình. Sau khi khai thác tư liệu thành văn ở kho lưu trữ Bộ Quốc phòng được 28.600 trang đánh máy, 2.800 trang viết tay, 38 sơ đồ chiến dịch, chiến đấu và khai thác tư liệu ở các nhân chứng lịch sử, Quân khu khẩn trương hoàn thành đề cương nhân chứng lịch sử chống Pháp và biên soạn biên niên sự kiện thời kỳ kháng chiến chống Pháp gồm 1.500 trang. Một số địa phương và đơn vị, cơ quan đã có nhiều cố gắng triển khai và đạt kết quả trong công tác biên soạn lịch sử quân sự1. Để khắc phục sự chuyển biến chậm, không đều và nhận thức chưa đúng tầm quan trọng cấp thiết của công tác viết sử lịch sử quân sự đơn vị, trong Chỉ lệnh số 30/CS-LS, Thượng tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu đã xác định: "Viết lịch sử quân sự và viết truyền thống nhằm ôn lại, giáo dục truyền thống anh hùng để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, làm tròn nghĩa vụ quốc tế hiện nay, tìm ra những đặc thù có tính quy luật của từng địa phương vận dụng vào việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, xây dựng lực lượng, xây dựng tổ chức, đúc kết, vận dụng nghệ thuật quân sự và các hình thức chiến đấu, chiến dịch vào điều kiện cụ thể phù hợp với đối tượng tác chiến và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ địa phương". _____________________________________________ 1. Sư đoàn 341 xuất bản "Lịch sử Đoàn Sông Lam" (tập 1); Sư đoàn 324 tổ chức hội nghị lịch sử, kiện toàn tổ chức viết sử. Trường Văn hóa viết truyền thống 25 năm nhà trường. Phòng Hóa học viết xong truyền thống binh chủng. Tỉnh Nghệ Tĩnh xây dựng xong đề cương và Dự thảo lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bình Trị Thiên viết Dự thảo đề cương chống Pháp. Cục Hậu cần hình thành tổ chức viết sử. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:17:51 pm Nét nổi bật trong năm 1984 là tất cả mọi mặt công tác tập trung thực hiện cuộc vận động lớn “Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân" và “phong trào thi đua Quyết thắng”, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trung tâm, nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu. Kết quả được thể hiện rõ trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở C, chống địch phá hoại gắn với chống tiêu cực1; củng cố xây dựng lực lượng ở cơ sở; nhất là củng cố lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ theo yêu cầu mới2. Khả năng phòng thủ và trình độ sẵn sàng chiến đấu tiếp tục được tăng cường và củng cố. Đội ngũ cán bộ từ đại đội trở lên và các cơ quan được sắp xếp đủ chức danh theo cơ chế mới; hơn 60% được rèn luyện thử thách qua chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở chiến trường; trong đó cán bộ trung cấp và cao cấp qua chiến đấu và phục vụ chiến đấu chiếm 90% tổng số trung cao cấp. 87,2% cán bộ đã qua trường lớp đúng cương vị (số đào tạo cơ bản là 24%). Đại đa số cán bộ trung cấp và cao cấp kiên định đường lối của Đảng, giữ vững bản lĩnh chính trị, là lực lượng nòng cốt của các lực lượng vũ trang quân khu trong chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng và lao động sản xuất. Quân khu đã tác động, hỗ trợ phong trào các địa phương hướng vào thực hiện Nghị quyết 12 của Bộ Chính trị, tạo thành những chiến dịch chỉ đạo thống nhất, tập trung, những đợt hoạt động sâu rộng từ huyện đến cơ sở, đỉnh cao là kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, 40 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ “mỗi huyện làm một nhà ở lâu bền cho đảo" ở Bình Trị Thiên, phong trào đã nhân rộng khắp Quân khu. Ba tỉnh đã tuyên truyền vận động nhân dân đóng góp vật chất; động viên viết hàng chục vạn bức thư gửi lên điểm tựa, đồn biên phòng. Từ một địa phương Nghệ Tĩnh xây dựng hệ thống truyền thanh cho đảo, phát triển dần ra ba tỉnh. Có nơi còn đầu tư xây dựng truyền thanh kết hợp trang bị điện thắp sáng cho đảo. Tỉnh Bình Trị Thiên cấp cây giống cho các đơn vị bộ đội phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Thông qua việc xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận quân dân y kết hợp, tỉnh đã huy động khả năng cung cấp nhu cầu hậu cần, góp phần giảm bớt khó khăn cho bộ đội. Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo từng bước gắn chức năng chỉ huy với chỉ đạo thi đua hiệu quả; trong đó tập trung tổ chức các đợt thi đua liên tục làm động lực thúc đẩy thực hiện tốt 7 công tác chủ yếu, 12 công tác lớn, 8 vấn đề cấp bách cơ bản của Quân khu; tập trung giải quyết 2 khâu then chốt là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và rèn luyện kỷ luật, đoàn kết. Đối với một số mục tiêu như xây nhà kho, nhà xe pháo ở các địa phương, các đơn vị ở Lào thực hiện còn thấp, tình hình đào ngũ còn cao; vi phạm kỷ luật chưa chấm dứt, Quân khu và các đơn vị tập trung động viên lấy đoàn thanh niên làm xung kích, đột phá, thi đua học hỏi kinh nghiệm, đuổi, vượt nhau để tạo chuyển biến mới trên các mặt công tác. Cụm các nhà trường, các trung đoàn trực thuộc, một số trung đoàn thuộc các sư đoàn, nhiều huyện ở ba tỉnh và cơ sở thuộc Ngành Hậu cần - kỹ thuật, Biên phòng, người chỉ huy trực tiếp nắm và điều hành phong trào thi đua, xác định mục tiêu, chỉ tiêu, biện pháp, tổ chức phát động, ký kết giao ước, triển khai thực hiện, kiểm tra đôn đốc, tổ chức chấm điểm, kịp thời sơ kết khen thưởng. Người chỉ huy thực sự, đi sâu chỉ đạo xây dựng, bồi dưỡng mô hình cụ thể, tổ chức hội nghị chuyên đề mở rộng. Nhờ đó, phong trào thi đua đã diễn ra sôi nổi ở các đơn vị, cơ quan và địa phương. Quân khu và các địa phương, đơn vị đầu tư xây dựng một số chuyên đề thiết thực như: Xây dựng huyện thành pháo đài bảo vệ Tổ quốc; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; củng cố kỷ luật; viết lịch sử quân sự; phát huy bản chất truyền thống quân đội, tổ chức các hoạt động kỷ niệm những ngày lịch sử của dân tộc, quân đội, cơ quan và đơn vị. Lần đầu tiên Quân khu tổ chức diễn tập động viên trên diện rộng ở cả 3 tỉnh, quy mô lớn, lực lượng tham gia đông, huy động cả người và phương tiện. Hầu hết các cơ quan đơn vị trong Quân khu đều tham gia, trong điều kiện vừa trải qua lũ lụt nặng, thời gian chuẩn bị rất khẩn trương, nhưng các cơ quan, đơn vị đều huy động lực lượng, phương tiện tham gia đạt từ 90% trở lên. Trong phong trào thu hồi vũ khí tàng trữ trái phép, tỉnh Thanh Hoá thu hơn 2.400 khẩu súng, 2.500 dao găm, kiếm, 536 băng nhạc xấu, 5.200 mét dây điện, 392 sách cúng nhảm nhí, truy quét hàng trăm ổ nhóm lưu manh, côn đồ. Hai tỉnh Bình Trị Thiên và Thanh Hoá việc thu hồi vũ khí cũng đạt được một số kết quả đáng kể. Tuy bị bão lụt thiên tai lớn, thiệt hại nặng nề, nhưng 2 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh trở thành 2 ngọn cờ điển hình trong số 3 tỉnh, thành phố trong cả nước hoàn thành sớm nhất chỉ tiêu huy động lương thực vụ mùa năm 1984. Tỉnh Bình Trị Thiên duy trì được ổn định giá cả và đời sống nhân dân. Phong trào văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao phát triển sôi nổi từ cơ quan Quân khu đến cơ sở dưới các hình thức hội thao, hội thi tìm hiểu truyền thống, thi thông báo chính trị, thi giảng dạy, hội diễn khu vực, hội diễn toàn quân chọn từ cơ sở lên đều đạt từ khá đến giỏi. Triển lãm, bảo tàng lưu động tổ chức tương đối rộng khắp, có chất lượng, thu hút nhiều người tham quan học tập. Bằng sự nỗ lực to lớn, Quân khu hoàn thành xây dựng Bảo tàng Quân khu ở thành phố Vinh, kịp thời mở cửa phục vụ nhân dịp 40 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Hầu hết các đơn vị nhận cờ thưởng năm 1983 đều giữ vững và phát huy tốt, như: lực lượng vũ trang Bình Trị Thiên, lực lượng vũ trang huyện Triệu Hải, xưởng Dược Quân khu, Viện Quân y 268 và Trung đoàn 335. Trong số các đơn vị được xét nhận cờ thi đua năm 1984 có nhiều nhân tố mới như: Lực lượng vũ trang Thanh Hoá, Bộ Tham mưu Quân khu, Trường Hạ sĩ quan, Toà án, lực lượng vũ trang các huyện Nông Cống, Kỳ Anh, Kho K43 tiến bộ đều trên các mặt hoạt động. Số đơn vị có những tiến bộ rõ gồm Sư đoàn 442, các trung đoàn 80, 654, Cục Kỹ thuật, Phòng Tài vụ, Trường Văn hoá, Trường Quân y; lực lượng vũ trang các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Quảng Trạch, Lệ Ninh, Bến Hải; các thị xã Hà Tĩnh, Bỉm Sơn, Đồng Hới, Đông Hà; các đảo Mê, Mắt, Ngư, Cồn Cỏ. Đặc biệt là có 7 đơn vị bền bỉ phấn đấu, phát huy vai trò điển hình giữ cờ thi đua 3 năm liền gồm: Sư đoàn 324, Sư đoàn 342, Trung đoàn 176, Trung đoàn 19 (Sư đoàn 968), lực lượng vũ trang huyện Triệu Hải, Viện Quân y 268, xưởng Dược Quân khu. Hội đồng quân sự Quân khu trong phiên họp ra Nghị quyết 01/NQ (1-1-1985) và Hội nghị Quân chính Quân khu (từ ngày 5 đến ngày 8-1-1985) đã biểu dương thành tích của các lực lượng vũ trang, khen thưởng các đơn vị thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kết thúc kế hoạch 5 năm (1981-1985) tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. _____________________________________________ 1. Đẩy lùi và đánh bại một bước một số thủ đoạn chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch trên địa bàn Quân khu. 2. Đăng ký quản lý 547.000 quân dự bị (18.500 sĩ quan). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:20:48 pm Năm 1985 là năm đầu tiên trong lịch sử xây dựng lực lượng vũ trang quân khu, nghị quyết về tình hình, nhiệm vụ do Hội đồng quân sự thảo luận, thông qua, thay vì trước đó do Đảng ủy Quân khu đảm trách. Hội đồng quân sự xác định: "Nhiệm vụ Quân khu năm 1985 là thường xuyên bám sát diễn biến tình hình, nắm chắc âm mưu và hành động của địch để chủ động trong mọi tình huống, nâng cao hơn nữa khả năng phòng thủ, sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang, cùng toàn dân đánh bại một bước kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống chiến tranh xâm lược nếu xảy ra, bảo vệ vững chắc địa bàn Quân khu, làm tròn nhiệm vụ hậu phương chi viện cho tiến tuyến, làm tròn nhiệm vụ quốc tế được giao, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng của bạn, tăng cường tình đoàn kết Việt – Lào"1. Năm 1985 có nhiều ngày kỷ niệm lớn như: 50 năm ngày thành lập Đảng, 10 năm ngày chống Mỹ, cứu nước toàn thắng, 95 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 40 năm ngày Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9; và đợt 22-12 hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Đồng thời là năm thứ 7 cuộc vận động lớn, Quân khu tổ chức đợt thi đua tập trung thống nhất toàn Quân khu. Hội đồng thi đua Quân khu đề nghị với Hội đồng quân sự Quân khu phối hợp với ba tỉnh tổ chức một đợt thi đua có mục tiêu, nội dung, thời gian và điều hành thống nhất dưới khẩu hiệu "Bảy triệu quân và dân Quân khu 4 là bảy triệu dũng sĩ xây dựng và bảo vệ Quân khu", mở đầu bằng 32 ngày cao điểm thi đua đầu năm, chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ VI. Quân khu điều chỉnh lại các cụm thi đua: Cụm 7 nhà trường có thêm trung tâm huấn luyện chiến dịch, thành 8 đầu mối. Cụm các phòng trực thuộc Quân khu có thêm 2 phòng: chính sách và lịch sử quân sự, thành 9 đầu mối. Sau 6 tháng triển khai thực hiện phong trào thi đua, tháng 7-1985, Hội đồng thi đua Quân khu tiến hành sơ kết, thông báo tình hình, bổ sung biện pháp chỉ đạo tiếp tục đợt thi đua mới. Phương hướng là tập trung vào những mục tiêu và chỉ tiêu thi đua hướng về Đại hội lần thứ VI của Đảng, các địa phương, đơn vị nỗ lực thi đua vươn lên, chủ động khắc phục khó khăn, tiến bộ đồng đều và đạt chất lượng cao trên các lĩnh vực, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, nhất là nhiệm vụ chiến đấu giúp bạn ở Lào. Đồng thời với việc đẩy nhanh, đẩy mạnh tiến độ và chất lượng, hiệu quả hoàn thành các mặt công tác thường xuyên và trọng tâm, trọng điểm, theo 13 chủ trương công tác lớn trong năm 1985, Quân khu đầu tư chỉ đạo thực hiện một số công trình nghiên cứu, tổng kết khoa học - thực tiễn. Từ kết quả đánh giá những nét lớn về công tác đảng, công tác chính trị trong thời gian sau 30-4-1975, trên 6 lĩnh vực chủ yếu2, công trình đi sâu vào nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình tư tưởng và công tác tư tưởng trong thời gian 10 năm (1975-1985), đi sâu vào công tác xây dựng Đảng (nhất là trong các bước ngoặt chuyển cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy), công tác bảo vệ lực lượng vũ trang; khẳng định mặt mạnh cơ bản về tư tưởng của bộ đội mà nét nổi bật là: "... Dù trải qua nhiều khó khăn, thử thách rất gay go, phức tạp của tình hình thế giới, trong nước và trên địa bàn Quân khu, trụ vững và phát triển theo hướng đi lên, lành mạnh, kiên định vững vàng, luôn luôn nhất trí cao với đường lối, nghị quyết của Đảng, luôn luôn sẵn sàng và tự giác, nghiêm túc chấp hành mọi đường lối, nghị quyết của Đảng, mọi chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, trong bất cứ nhiệm vụ gì, trên các hướng chiến trường và trong mọi tình huống". Công trình tổng kết rút ra 6 điểm chung về cán bộ, đảng viên sau khi đi sâu phân tích cụ thể theo từng đối tượng (cán bộ, chiến sĩ, công nhân, nhân viên quốc phòng, quân nhân chuyên nghiệp, sơ cấp, trung cấp, cao cấp, làm nhiệm vụ trên địa bàn Quân khu, trên chiến trường quốc tế), phân tích trên các cấp độ (đối với đường lối của Đảng và 2 nhiệm vụ chiến lược; đối với các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị; đối với đối tượng chiến lược và đối tượng tác chiến; đối với nhiệm vụ quân đội và nhiệm vụ Quân khu; đối với nhiệm vụ quốc tế, với các đơn vị làm nhiệm vụ nơi biên giới, hải đảo). Quân khu cũng tiến hành tổng kết công tác cán bộ 5 năm (1981-1985). Trong điều kiện chuyển cơ chế lãnh đạo của Đảng, có thời gian công tác cán bộ tách thành hai bộ phận: Cán bộ quân sự, chuyên môn kỹ thuật, chỉ huy thuộc Hội đồng quân sự quản lý. Cán bộ chính trị thuộc quyền quản lý của Hội đồng cơ quan chính trị và Chủ nhiệm chính trị. Phòng Cán bộ thuộc Hội đồng Quân sự và Tư lệnh Quân khu; Phòng Cán bộ chính trị thuộc Hội đồng cơ quan chính trị và Chủ nhiệm chính trị, nhưng nguyên tắc tập thể lãnh đạo và tập trung thống nhất quản lý cán bộ được giữ vững3, thường xuyên quán triệt được yêu cầu nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của các lực lượng vũ trang, vận dụng thực hiện đường lối, chính sách cán bộ của Đảng sát với tình hình thực tiễn đội ngũ cán bộ Quân khu. Thực tiễn về các nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, chi viện lớn cho chiến trường, xây dựng hậu phương, xây dựng thế trận phòng thủ, xây dựng kinh tế, làm nghĩa vụ quốc tế luôn đòi hỏi cao, công tác cán bộ phải được chấn chỉnh, kiện toàn, bồi dưỡng, sắp xếp, sử dụng cho phù hợp với yêu cầu tổ chức mở rộng, nâng cao chất lượng, bảo đảm kịp thời yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. _____________________________________________ 1. Hồ sơ C36 - Lưu trữ Quân khu. 2. Về giáo dục nâng cao giác ngộ, bản lĩnh, quán triệt quan điểm đường lối; công tác đảng, công tác chính trị góp phần tích cực xây dựng lực lượng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang; công tác đảng, công tác chính trị đi sâu lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện quân sự hàng năm; công tác đảng, công tác chính trị trong công tác quân sự địa phương; công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng tổ chức cơ sở, xây dựng sư đoàn, trung đoàn mạnh, trong công tác hậu cần, kỹ thuật; công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ quốc tế. 3. Thời kỳ chuyển cơ chế lãnh đạo và thực hiện chế độ một người chỉ huy, bên cạnh truyền thống tốt đẹp của Quân khu được phát huy thì tính Đảng, tính tổ chức kỷ luật, tính nguyên tắc và đức độ, phẩm chất, phong cách của đồng chí Hoàng Cầm trên vị trí người chủ trì có sức thu phục đoàn kết và góp phần có ý nghĩa tích cực giải quyết các mối quan hệ trong điều kiện cơ chế chưa hoàn bị. Dù sao, việc phân chia công tác cán bộ làm 2 mảng thuộc 2 cơ quan quản lý, đã bộc lộ ngay từ đầu những điểm yếu thuộc về tính nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối tập trung, thống nhất của Đảng đối với công tác cán bộ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:23:48 pm Trải qua 30 năm chiến đấu liên tục, một bộ phận khá lớn cán bộ được chuyển qua làm kinh tế, chuyển ngành, phục viên để giảm quân số. Chưa được bao lâu, họ phải trở lại quân ngũ, đáp ứng yêu cầu khẩn trương khôi phục, mở rộng lực lượng tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên hai đầu đất nước, trên địa bàn Quân khu và làm nghĩa vụ quốc tế. Bước ngoặt ấy đặt ra nhiều vấn đề lớn, bức bách mà công tác cán bộ phải tập trung mọi nỗ lực lớn để khắc phục: "Nguồn" cán bộ thiếu nghiêm trọng, phải đào tạo cấp tốc; số lượng tăng, nhưng chất lượng hạn chế. Sức khỏe, hậu phương gia đình cán bộ gặp nhiều khó khăn, những năm về sau, phải chuyển ra gần hết. Đại bộ phận số còn lại tuổi cao, sức khỏe hạn chế, ít được đào tạo cơ bản, phần đông trưởng thành từ thực tế lên1. Đào tạo cơ bản không đủ, phải đào tạo cấp tốc ngắn hạn và tại chức đưa lên. Bên cạnh đó, lượng cán bộ dư nhiều, nhưng không bù đắp được số thiếu ở các cơ quan, nhất là đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Có thể nói, thời gian chuyển từ hòa bình sang chiến tranh là thời kỳ thử thách gay gắt đối với công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ với những nét đặc thù mới. Tuy vậy, Quân khu đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện nghiêm túc quy hoạch cán bộ dài hạn và kế hoạch công tác cán bộ 5 năm, cân đối số lượng, nâng chất lượng cán bộ; quy hoạch sắp xếp và tạo nguồn cán bộ trung cấp, cao cấp nhất là cán bộ chủ trì2. Quân khu cố gắng giải quyết một bước xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ, giải quyết đồng bộ, hợp lý giữa cán bộ bộ đội chủ lực với quân sự địa phương, giữa cán bộ lãnh đạo, chỉ huy với cán bộ chuyên môn kỹ thuật, cán bộ các binh chủng; giữa cán bộ thường trực với cán bộ dự bị động viên. Chất lượng cán bộ được cải thiện một bước, mở ra phương hướng về quản lý, sử dụng cán bộ và tạo nguồn cho các đơn vị, địa phương3. Đối với nguồn cán bộ chủ trì trung cấp, cao cấp, một khâu rất quan trọng trong Nghị quyết Quân ủy Trung ương về quy hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ dài hạn, ngay từ đầu, người chỉ huy và cán bộ chính trị các cấp đã đi sâu xuống dưới phát hiện “nguồn”, lập phương án sắp xếp. Quân khu cùng các tỉnh, các đơn vị lập phương án sắp xếp cấp trung đoàn, huyện, phòng, ban và cấp tương đương trở lên, hình thành 3 lớp kế tiếp (gồm đương chức, kế cận và lớp làm “nguồn” đào tạo lâu dài). Quân khu cùng đi sâu xem xét, đánh giá việc cải tiến công tác quản lý sử dụng cán bộ trong điều kiện thực hiện luật mới về sĩ quan (sửa đổi) và thực hiện chế độ một người chỉ huy, xem xét việc thực hiện các chế độ, chính sách về chăm lo đời sống hậu phương cán bộ. Ngoài việc phát hiện, đề nghị Đảng, Nhà nước, quân đội khắc phục khó khăn, bổ sung, sửa đổi một số chính sách đối với cán bộ như tăng phụ cấp lương, bảo đảm chế độ cung cấp tem phiếu, trợ cấp đột xuất và thường xuyên cho gia đình cán bộ ở các địa phương khó khăn gặp thiên tai, cấp đồ dùng sinh hoạt cho cán bộ nghỉ hưu, giải quyết những vấn đề còn lại sau chiến tranh đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, quy tập mộ tử sĩ, liệt sĩ, khen thưởng cá nhân và gia đình có công với cách mạng..., Quân khu còn đặt vấn đề cùng các tỉnh và được các địa phương, các ngành phối hợp thực hiện với nhiều biện pháp tích cực từng bước giải quyết có hiệu quả chính sách hậu phương cán bộ trong khả năng có thể. Nhờ vậy, độ tuổi cán bộ trẻ hơn, tạo “nguồn” kế tiếp dưới lên từng bước được cải thiện rõ. Năm 1980, số còn độ tuổi phuc vụ tại ngũ chỉ còn 66,8%, năm 1985 nâng lên 87,6%; rút bớt được tình trạng chênh lệch giữa cấp và chức, giảm được mất cân đối giữa cán bộ ở đơn vị, cơ quan và nhà trường. Công tác xây dựng “nguồn” sĩ quan dự bị từng bước vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, đã phát triển 1,7 lần so với sĩ quan thường trực. Qua động viên diễn tập, 95% sĩ quan dự bị có mặt, 85% đúng chuyên nghiệp quân sự, đúng chức danh. Hàng năm, theo kế hoạch, chỉ tiêu của Bộ, Quân khu gọi một số sĩ quan dự bị tốt nghiệp đại học có ngành nghề phù hợp vào phục vụ tại ngũ, chiếm 2,4% tổng số nhập ngũ hàng năm. Từ năm 1985, bước đầu thí điểm gọi một số cán bộ các cơ quan nhà nước có ngành nghề phù hợp thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh vào phục vụ trong quân đội, đáp ứng một phần nhu cầu về chuyên môn kỹ thuật còn hiếm. Tuy nhiên, công tác cán bộ còn một số điểm yếu như chưa nhận thức, quán triệt đầy đủ tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng và Nghị quyết Thường vụ Quân ủy Trung ương về đặc điểm của thời kỳ quá độ, và thực tiễn tình hình đội ngũ cán bộ, dẫn đến chủ quan, nóng vội, thiếu tính kế thừa. Trong nghiên cứu ban hành luật và xây dựng quy chế cán bộ của cấp trên có nhiều vấn đề chưa phù hợp điều kiện, hoàn cảnh của đất nước và quân đội. Trong tổ chức thực hiện, thiếu quan điểm thực tiễn, toàn diện, phát triển, nên vừa có biểu hiện chủ quan, nóng vội, vừa bảo thủ, trì trệ. Thường nhấn mạnh tuổi trẻ, văn hoá cao, qua đào tạo cơ bản, mà thiếu gắn kết chặt chẽ phẩm chất, đạo đức, năng lực, sức khỏe, hiệu quả thực tế. Nhìn chung công tác quản lý cán bộ của Quân khu mới đi vào một số mặt công tác sắp xếp, đề bạt, chưa nắm chắc toàn diện các mặt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, đánh giá, nhận xét từng cán bộ cũng như đội ngũ cán bộ và tạo “nguồn” kế tiếp. Mặt khác, công tác giáo dục về nội dung chưa kỹ, lãnh đạo về tư tưởng chưa chặt, hiểu chưa đúng, chưa đủ mục đích, nội dung, yêu cầu của luật và các quy định, nên cũng nảy sinh những hiện tượng tiêu cực trong đội ngũ cán bộ. Trong khi đó, việc giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên đi học sĩ quan tuy đã được các địa phương, các trường phổ thông bước đầu quan tâm, nhưng chưa thật sâu rộng, chưa thường xuyên, thiếu đồng bộ, nên “nguồn" đi đào tạo sĩ quan, nhất là sĩ quan chỉ huy rất khó khăn, thường không đạt số lượng quy định, chất lượng thấp. Một số cơ quan, đơn vị cử những cán bộ khó sắp xếp, đi học, nhất là học trường Quân khu, học xong lại đề nghị Quân khu điều chỉnh. Cũng do chưa xuất phát từ yêu cầu chất lượng tạo “nguồn’, nên tỷ lệ trả về trước khai giảng lên tới 2,5%. ____________________________________________ 1. Điều tra 12.584 gia đình cán bộ trong Quân khu có 1.647 đồng chí nhà ở chặt hẹp, hư hỏng nhẹ, còn 63% chưa có nhà ở gồm 7.894 đồng chí, trong đó 364 đồng chí phục vụ 30 năm trở lên trong quân đội và 3.585 phục vụ 20 - 25 năm. 2. 5 năm cử đi đào tạo, bổ túc, bồi dưỡng ở trường Bộ, Quân khu, sư đoàn, tỉnh được 10.126 cán bộ (86,3% chỉ tiêu), trong đó đào tạo trung cao cấp 210 người, bổ túc 440 người. 3. 88,3% cán bộ qua trường (21,2% đào tạo cơ bản). Chỉ tiêu Bộ giao là 80% và 30%. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:25:59 pm Từ những công trình tổng kết các mặt, nhất là công trình về tư tưởng, tổ chức, các công trình nghiên cứu khoa học quân sự về xây dựng huyện thành pháo đài quân sự, chống địch đổ bộ đường biển và các cách đánh gắn liền với tổ chức lực lượng, rèn quân, luyện quân, vận dụng các kết quả nghiên cứu vào giảng dạy ở các nhà trường và phát huy vai trò, khả năng của các nhà trường vào nghiên cứu khoa học - thực tiễn1, Quân khu đã rút ra những bài học quý, đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục đồng bộ, nhất là những vấn đề lớn của công tác đảng, công tác chính trị, trong đó có công tác tư tưởng, công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ. Đây cũng chính là cơ sở thuận lợi để tập hợp trí tuệ chuyên sâu đóng góp vào những dự thảo văn kiện sẽ trình Đại hội Đảng toàn quân và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Tuy vậy, có những vấn đề chưa phù hợp, trong đó nổi bật là mối quan hệ giữa Thường trực Hội đồng quân sự với người chỉ huy, giữa Thường trực Hội đồng quân sự với Bộ tư lệnh chưa được quy định. Hội đồng quân sự và Hội đồng chính trị là "tổ chức lãnh đạo tập thể”, nhưng theo quy định của cơ chế thì nghị quyết của Hội đồng lại không có hiệu lực thực hiện đối với cấp dưới. Quan hệ giữa Hội đồng quân sự với người chỉ huy; quan hệ của Chủ nhiệm chính trị chưa được xác định hoặc xác định không rõ. Quan hệ lãnh đạo của cấp ủy địa phương với phòng chính trị tỉnh và cán bộ chính trị cơ quan quân sự huyện, quan hệ phối hợp giữa các ban của cấp ủy địa phương với phòng chính trị tỉnh và cán bộ chính trị cơ quan quân sự huyện chưa được cấp trên quy định rõ và cụ thể hoá. Đáng chú ý là quan hệ giữa Bí thư chuyên trách, phó chỉ huy về chính trị và người chỉ huy; việc bỏ tổ chức Đảng ủy từ cấp trên cơ sở đến Quân khu tạo nên những điều không “thuận” trong nguyên tắc lãnh đạo đã thành kinh nghiệm máu thịt và truyền thống quý báu của Đảng. Để khắc phục những điểm chưa phù hợp, những điểm yếu kém, khuyết điểm, tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng đối với quân đội, ngày 6-6-1985, Hội đồng quân sự Quân khu họp kiểm điểm việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của Hội đồng quân sự và người chỉ huy sau một năm thực hiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng đối với quân đội trong Quân khu. Theo hướng dẫn của Tổng cục Chính trị, sau khi nghe cơ quan chính trị thông báo tình hình thực hiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng ở các cấp, nghe nội dung kiểm điểm của cơ quan chính trị, Hội nghị tiến hành kiểm điểm việc thực hiện chức trách nhiệm vụ của Hội đồng quân sự, của người chỉ huy, mối quan hệ và cách làm của người chỉ huy với Hội đồng quan sự, cơ quan chính trị, chủ nhiệm chính trị và các mối quan hệ khác. Hội nghị phân tích rõ ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân, bàn biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, phê bình cấp trên, đề nghị những vấn đề mới cần được hướng dẫn, bổ sung. Những đề nghị hướng dẫn bổ sung đều từ thực tế mà bản thân Quân khu không giải quyết được và chính là sự băn khoăn, trăn trở của các cấp; tập trung là: Qua hơn một năm thực hiện cơ chế lãnh đạo mới, vai trò và chất lượng lãnh đạo của Đảng ở cơ sở và cấp trên cơ sở không những không được nâng cao hơn trước, mà trái lại, có đơn vị yếu đi. Nguyên nhân là do cơ quan chính trị cấp trên cơ sở chưa làm được chức năng cơ quan lãnh đạo về Đảng; cán bộ chủ trì chính trị cấp trên cơ sở chưa đủ năng lực, bản lĩnh hoàn thành chức năng người Bí thư Đảng ủy, người Chính ủy2; đồng thời là Chủ nhiệm chính trị. Quá trình thực hiện cơ chế mới, trong cán bộ chính trị chưa giải quyết được những nhận thức, tư tưởng tiêu cực. Tuy nhiên, những quy định không hợp lý trong cơ chế 07 cũng là nguyên nhân quan trọng. Hội nghị đi sâu xem xét, đánh giá khách quan tình hình cụ thể ở từng cấp, ở cơ sở, trên cơ sở cả tổ chức và mỗi chức danh. Từ những kiến nghị và đề nghị của Quân khu cũng như của các đơn vị và qua quá trình theo dõi chỉ đạo, cấp trên đã nghiên cứu bổ sung hoàn thiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng. Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 27, thay cho những điểm không phù hợp trong Nghị quyết 07. Theo Nghị quyết 27, khôi phục lại chế độ Đảng ủy cấp trên cơ sở, giải thể Hội đồng quân sự, Hội đồng Cục (Phòng Chính trị), bỏ chế độ Bí thư Đảng ủy chuyên trách đã tách khỏi chức năng phó chỉ huy về chính trị ở cấp cơ sở. Xuất phát từ vị trí đặc điểm của Quân khu, trên cơ sở quy định của Bộ Quốc phòng trong kế hoạch tổ chức lực lượng những năm 1983-1985, theo phương hướng ưu tiên kiện toàn lực lượng chiến đấu; đồng thời bảo đảm yêu cầu cần thiết cho lực lượng làm kinh tế, xây dựng cơ bản, sản xuất lương thực, thực phẩm của Quân khu, Tư lệnh Quân khu tập trung chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng nhằm vào 4 trọng tâm: Tổ chức biên chế; công tác động viên; quân số và chính sách; công tác trang bị. Mọi công tác xây dựng lực lượng phải đáp ứng cho được yêu cầu chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, động viên giành thắng lợi trong mọi tình huống và hoàn thành các nhiệm vụ khác của Quân khu, tạo cơ sở cho việc triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm (1986-1990). ____________________________________________ 1. "Chỉ lệnh huấn luyện chiến đấu 1985", "Chỉ lệnh về công tác biên phòng 1985", Chỉ thị "hoạt động xây dựng cơ sở, phát động quần chúng kết hợp truy quét địch trong mùa khô 1985-1986", qua đúc kết từ thực tiễn, đã vận dụng những quy định chung vào điều kiện cụ thể của Quân khu với tinh thần sáng tạo trên cơ sở khoa học. Năm 1985 kiện toàn nâng cao chất lượng khoa quân sự địa phương của Trường Quân chính, chấn chỉnh các trường quân sự địa phương tỉnh bảo đảm đúng chức năng. Với trung tâm huấn luyện chiến thuật, chiến dịch lấy tập bãi chiến thuật cấp sư đoàn, trung đoàn và một phần nghệ thuật chiến dịch ngoài thực địa làm phương pháp chủ yếu. 2. Chế độ chính ủy (chính trị viên) thôi thực hiện từ khi Nghị quyết 07 có hiệu lực, nhưng thực tiễn và truyền thống cho thấy những việc làm thuộc chức năng, nhiệm vụ chính ủy (chính trị viên) không thể chuyển sang một cách suôn sẻ cho cấp phó về chính trị (với tư cách người giúp việc của chỉ huy); càng không "thuận" khi tách nhiệm vụ Bí thư Đảng ủy ra khỏi nhiệm vụ của phó chỉ huy về chính trị và ngược lại. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:26:40 pm Trong quá trình tiến hành tổng kết 3 năm thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự từ cơ sở lên, Quân khu kiên quyết xác định quyết tâm chấm dứt từ tháng 6-1985, việc kéo dài thời hạn phục vụ của hạ sĩ quan và binh sĩ theo luật quy định. Việc "chồng quân" chỉ áp dụng đối với các đơn vị làm nhiệm vụ ở Lào, các đồn biên phòng, các đảo; nhưng cũng chỉ trong thời điểm "quân ra, quân vào". Điểm mới là được tuyển một số nữ thanh niên hoàn toàn tự nguyện phục vụ quân đội theo chế độ quân nhân trong 3 năm, đúng theo vị trí biên chế mà Bộ Quốc phòng quy định. Những hạ sĩ quan, chiến sĩ nhập ngũ từ năm 1982 về trước (trừ số thuộc diện phục vụ tại ngũ 4 năm); số hạ sĩ quan, chiến sĩ nhập ngũ trước năm 1981 thuộc diện xuất ngũ năm 1984 do yêu cầu nhiệm vụ giữ lại đến tháng 4-1985; hạ sĩ quan, chiến sĩ trước khi nhập ngũ đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng và có thời gian phục vụ tại ngũ 24 tháng, đều được xếp vào "đối tượng xuất ngũ năm 1985". Đây là những quy định quan trọng nằm trong chiến lược điều chỉnh, tổ chức lực lượng trong tình hình mới. Để thực hiện chủ trương, Thượng tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu ra một số quyết định giải thể chấn chỉnh tổ chức biên chế. Ngày 6-3-1985, quyết định giải thể Trường Hạ sĩ quan Quân khu (xong trước ngày 30-4-1985). Việc đào tạo hạ sĩ quan chỉ huy bộ binh và hoả lực giao cho các đơn vị tự đảm nhiệm. Vị trí doanh trại, cơ sở vật chất kỹ thuật, bảo đảm công trình, bảo đảm sinh hoạt bàn giao cho Trường Hậu cần - Kỹ thuật Quân khu. Ngày 6-3-1985, căn cứ Mệnh lệnh số 235 về nhiệm vụ Quân khu năm 1985 và Quyết định số 69/TL chuyển Trung đoàn 176 thành Lữ đoàn 176, Tư lệnh Quân khu quyết định điều động Đại đội xe tăng 1 (T59) và Đại đội thiết giáp 3 (K63) thuộc Tiểu đoàn thiết giáp - xe tăng 1 bổ sung cho Tiểu đoàn xe tăng 1020, tổ chức thành Tiểu đoàn xe tăng thiết giáp 1020 gồm có 3 đại đội xe tăng và 1 đại đội thiết giáp thuộc Sư đoàn 324. Đồng thời điều động Đại đội xe tăng 17 - ΠT76 thuộc Tiểu đoàn xe tăng 1020 bổ sung cho Tiểu đoàn thiết giáp - xe tăng 1 để chấn chỉnh thành tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp (thiếu) có 1 đại đội ΠT76B và 1 đại đội K63 tăng cường cho Lữ đoàn 176, do Sư đoàn 324 chuyển đến Pắc Xan bàn giao cho lữ đoàn, xong trước ngày 30-4-1985. Ngày 6-6-1985, Thượng tướng Hoàng Cầm ký quyết định: chuyển khung thường trực 442 thành trung tâm huấn luyện chiến sĩ mới gồm 4 nhiệm vụ (trong đó huấn luyện mỗi năm 2 đợt chiến sĩ mới, mỗi đợt 3.000 - 3.500 người, huấn luyện hạ sĩ quan, thu gom, huấn luyện quân đào ngũ). Đồng thời kiện toàn các trung đoàn bộ binh 6, 762, Khung thường trực 764 biên chế 10 sĩ quan thành các trung đoàn bộ binh rút gọn, giữ nguyên phiên hiệu các trung đoàn bộ binh khung thường trực 840, 841, 842, không biên chế 10 sĩ quan mà xếp dự bị hoàn toàn. Việc sắp xếp này giao cho Bộ chỉ huy quân sự ba tỉnh hoàn thành trước ngày 31-8-1985, phục vụ tốt nhiệm vụ trước mắt của các trung đoàn, đồng thời tạo cơ sở để các trung đoàn 6, 762, 764 phát triển thành sư đoàn phòng thủ khi cần thiết. Trong hai ngày 23 và 24-7-1985, tiếp đó là ngày 16-9-1985, Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước - Phó tư lệnh Quân khu ký các quyết định tổ chức đội xây dựng nghĩa trang liệt sĩ ở Cánh Đồng Chum (Xiêng Khoảng); kiện toàn tổ chức, biên chế công trường C85 thành Công ty khai thác và chế biến gỗ xuất khẩu gọi tắt là Công ty C85 trực thuộc Bộ tư lệnh Quân khu; điều Đội điều trị 34 thuộc Tổng cục Hậu cần bàn giao cho Quân khu 4 về trực thuộc Cục Hậu cần Quân khu làm nhiệm vụ điều trị thương binh, bệnh binh thuộc các đơn vị hoạt động ở vùng Cánh Đồng Chum; thành lập ban quản lý công trình xây dựng Quân khu bộ tại thành phố Vinh; kiện toàn tổ chức biên chế Trung đoàn 10 xây dựng cơ bản làm nhiệm vụ thi công xây dựng cơ quan Quân khu trong 5 năm (1986-1990) theo hướng hạch toán kinh tế. Với sự kết hợp nghiêm túc khoa học và cách mạng trên một cơ sở nhận thức mới, chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu của Quân khu được nâng lên, góp phần làm chuyển biến "hai khâu then chốt", "ba mặt còn yếu" qua 4 năm thực hiện cuộc vận động lớn. Nổi bật là việc xây dựng tổ chức cơ sở trong sạch, vững mạnh, góp phần chỉ đạo rút kinh nghiệm từng loại hình cụ thể: cơ quan, đơn vị chiến đấu, đơn vị phục vụ, nhà trường, kho tàng, bệnh xá, xí nghiệp, cơ quan quân sự huyện, đồn, trạm biên phòng, đơn vị chuyên môn kỹ thuật, đơn vị tập trung, đơn vị hoạt động phân tán..., khắc phục một bước quan trọng lối làm việc thụ động, thiếu tư duy sáng tạo, rập khuôn, máy móc, giáo điều, duy ý chí, hình thức, phô trương, thành tích chủ nghĩa, thiếu tôn trọng thực chất, thực tài và hiệu quả. Công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính có bước chuyển biến tiến bộ rõ. Trong điều kiện thiên tai liên tiếp, giá cả biến động, Quân khu đã bảo đảm được yêu cầu chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và đời sống lực lượng vũ trang ở mức ổn định. Kế hoạch đánh bắt hải sản, gieo trồng cây lương thực, thực phẩm, phát triển gia súc, gia cầm được triển khai nghiêm túc, thành ý thức tự giác và chỉ tiêu pháp lệnh. Từng cơ quan, đơn vị hình thành ý thức nếp sống đẹp: tự cân đối sử dụng lao động bộ đội, cơ sở vật chất kỹ thuật (tự có và trang bị được phép sử dụng) để sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, làm hàng xuất khẩu, thu hồi tận dụng phế liệu, phế phẩm, tài sản vật tư cũ, tăng nguồn thu để bảo đảm các nhu cầu chi tiêu mà ngân sách không bảo đảm đủ, góp phần cải thiện đời sống bộ đội. Trải qua thời kỳ đất nước và Quân khu khó khăn về lương thực thực phẩm, phải phân phối từng cân đường, bộ lốp xe, từng lít xăng dầu, từng mẩu phụ tùng máy móc, trang bị, mới càng thêm trân trọng ý thức chủ động sáng tạo của các cấp và những ngày tháng vật lộn với nắng, mưa, bệnh tật lao động say sưa, quên mình, đầy bản lĩnh và trí tuệ của bộ đội trong các phong trào lao động; đặc biệt là lao động làm hàng xuất khẩu để nhập thiết bị, vật tư, xe ô tô, máy công nghiệp, xăng dầu. Từ mỗi mẩu phế liệu chiến tranh, mỗi mảnh bom thù, từng bó đót (chổi), khoanh song - mây, từng cân thiên niên kiện, bao ớt khô, nghệ khô - sản phẩm của phong trào quần chúng "Người người làm xuất khẩu ", "Nơi nơi làm hàng xuất khẩu", đến gỗ xuất khẩu của Công ty chủ lực 85 đã đi vào lịch sử lực lượng vũ trang Quân khu 4 với những nét son tương xứng như thời kỳ "mỗi viên đạn, một quân thù". Những thành quả của các lực lượng vũ trang Quân khu 4 đạt được chưa nhiều, nhưng đã góp phần thiết thực nâng cao một bước sức mạnh chiến đấu lực lượng vũ trang. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:27:22 pm * * * Chấp hành Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo của Đảng và Quyết định 1085 của Ban Bí thư về việc thành lập Đảng ủy Quân khu, ngày 8-11-1985, thường trực Hội đồng quân sự Quân khu báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị từ tháng 6-1984, chuẩn bị cho việc tái lập Đảng ủy Quân khu theo Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị. Ngày 22-11-1985, Hội nghị quân sự Quân khu công bố Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập lại Đảng ủy Quân khu. Tại Hội nghị quan trọng này, cơ quan chính trị Quân khu với chức năng là cơ quan lãnh đạo về Đảng (theo Nghị quyết 07) báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị, thực hiện các nhiệm vụ trong những năm qua. Báo cáo nêu rõ: "Từ năm 1979 đến nay, Đảng ủy Quân khu, Hội đồng quân sự và Hội đồng Cục Chính trị Quân khu luôn coi trọng công tác lãnh đạo tư tưởng đối với các lực lượng vũ trang, coi đó là một trong những công tác cơ bản hàng đầu của công tác đảng, công tác chính trị, một trong những nhiệm vụ chủ yếu của các cấp ủy và các Đảng bộ trong Quân khu"; "thực hiện nghiêm túc, chủ động, nhạy bén quán triệt và chấp hành đường lối, nghị quyết, nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ quân sự của Đảng, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên... coi trọng tất cả các đối tượng, trước hết là đội ngũ cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ trung cấp và cao cấp chủ trì; đi sâu thực hiện các nhiệm vụ, nhất là nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, nhiệm vụ quốc tế; đã phối hợp tốt giữa ta và bạn trong công tác tư tưởng đối với nhiệm vụ liên minh chiến đấu". Tuy nhiên, trong công tác vẫn còn nhược điểm: "Tính chiến đấu chưa cao, còn hữu khuynh trong công tác tư tưởng, nhất là ở đơn vị cơ sở, ở chi bộ, ở một số cấp ủy. Công tác tư tưởng chưa kết hợp chặt chẽ và cụ thể từ trên xuống cơ sở với công tác tổ chức, cán bộ, kiểm tra, chính sách; giải quyết tư tưởng còn phân tán, tách ra với các mặt khác, thiếu đồng bộ". Song công tác tư tưởng đã góp phần tích cực cùng các mặt công tác đảng, công tác chính trị, công tác tham mưu, hậu cần, kỹ thuật làm tốt các nhiệm vụ trong những điều kiện thử thách quyết liệt. Ngày 24-11-1985, Hội đồng thi đua Quân khu họp phiên toàn thể đánh giá tình hình phong trào thi đua thời gian qua. Hội nghị nêu rõ: Điểm nổi bật là các đơn vị, các địa phương tích cực, chủ động quán triệt và thực hiện sát đúng tư tưởng chỉ đạo phát huy tinh thần tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo, khắc phục trì trệ, ỷ lại, mạnh dạn tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, đoàn kết hiệp đồng, thi đua làm chuyển biến khâu yếu, mặt yếu. Từng bước khai thông được những cản trở nhiều năm qua, đạt chất lượng rõ rệt trên các mục tiêu, thực hiện thắng lợi các nội dung thi đua của cuộc vận động lớn, “phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân” do Ban Bí thư Trung ương Đảng phát động. Kết quả, số Đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh tăng hơn năm 1984 là 9,5% (43,8/43,3%). Chi bộ trong sạch vững mạnh tăng 7,4% (48,4/41%). Đảng viên mức I tăng 16% (62,6/46,6%). Các mặt công tác khác có những chuyển biến rõ rệt đạt kết quả tốt, chất lượng cao như: liên minh chiến đấu hợp tác với bạn Lào; xây dựng pháo đài quân sự huyện, cơ sở an toàn làm chủ, xây dựng Đảng; củng cố, rèn luyện kỷ luật, điều lệnh quản lý bộ đội; sản xuất và làm kinh tế ở các cấp, nhất là ở cơ sở. Tỉnh Thanh Hoá có 313/576 xã đạt an toàn làm chủ - Bình Trị Thiên có 243 xã, phường an toàn làm chủ. Nhiều xã yếu ven biển vươn lên rõ rệt. Quân khu biểu dương, khen thưởng các đơn vị tiêu biểu trong các cụm thi đua: Cụm bộ đội tình nguyện có Sư đoàn 324; Cụm 3 tỉnh có Thanh Hoá, Bình Trị Thiên; các huyện Nông Cống và Vĩnh Lộc (Thanh Hoá), Quỳnh Lưu và Kỳ Anh (Nghệ Tĩnh), Triệu Hải và Đông Hà (Bình Trị Thiên); cụm các sư đoàn, có Sư đoàn 342 giữ vững, phát huy vai trò cờ đầu suốt 4 năm (1982-1985); cụm nhà trường có Trường Quân chính, Trường Đảng, Trường Hậu cần - Kỹ thuật; cụm xí nghiệp quốc phòng có xưởng Dược và đội 100; cụm Viện quân y có Viện 268; cụm kho trạm có kho KX2, kho 41; cụm các trung đoàn có Trung đoàn 16, Trung đoàn 206. Như vậy, trong những năm 1980-1985, các lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã nỗ lực phấn đấu, từng bước xây dựng chính quy, hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu, góp phần cùng toàn quân, toàn dân tăng cường sức mạnh tổng hợp, phòng chống và làm thất bại mọi âm mưu phá hoại chiến tranh nhiều mặt của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc địa bàn Quân khu và cả nước, tạo cơ sở hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế khi Đảng, Nhà nước và quân đội hai nước Việt Nam - Lào giao nhiệm vụ mới. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Hai, 2024, 04:17:53 pm III- TIẾP NHẬN NHIỆM VỤ MỚI VÀ LỰC LƯỢNG MỚI LÀM NGHĨA VỤ QUỐC TẾ Ở LÀO Sau khi hoàn thành nhiệm vụ lịch sử ở một thời điểm lịch sử cần thiết, Binh đoàn 678 giải thể theo Quyết định số 640/NQHĐNN, do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh ký ngày 21-11-1983. Ngày 31-12-1983, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 đảm nhận công tác quân sự ở Lào, từ Viên Chăn, Xiêng Khoảng xuống Hạ Lào, trực tiếp chỉ huy các sư đoàn bộ binh 968, 324, Lữ đoàn bộ binh 176 đang hoạt động ở Lào, Sư đoàn 348 và Trường Quân chính Binh đoàn 678. Ngày 28-2-1984, Thiếu tướng Đỗ Văn Đức, đại diện Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Thượng tướng Hoàng Cầm, đại diện Quân khu 4, Đại tá Nguyễn Riềng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 968 và các cơ quan chức năng tiến hành bàn giao Sư đoàn 968 về Quân khu 4. Sư đoàn 968 thành lập ngày 28-6-1968 tại Lào, do yêu cầu nhiệm vụ nay trở về trong đội hình quân khu, sư đoàn mang theo vinh dự lớn là Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Riêng 5 năm trở lại làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào trong điều kiện mới (1979-1983) Sư đoàn 968 đã loại khỏi vòng chiến đấu 795 tên giặc, làm bị thương 325 tên, bắt và chuyển giao cho bạn 249 tên, gọi địch về đầu thú 606 tên, hỗ trợ cho bạn thanh lọc 863 tên, thu nhiều vũ khí. Các đơn vị trong sư đoàn bao gồm những đơn vị vốn đã gắn bó từ lâu với mảnh đất Liên khu 4, Quân khu 4, từng hoạt động nhiều năm trên đất bạn Lào trong các tổ chức tiền thân là Đoàn chuyên gia quân sự 763 rồi Đoàn 565 thành lập ngay trên đất Hà Tĩnh. Danh hiệu Đơn vị Anh hùng vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước càng thêm rực rỡ khi sư đoàn trở lại Trung - Hạ Lào với 8 nhiệm vụ mới được giao trong những thời điểm cực kỳ khẩn trương, nhạy cảm từ sau ngày 6-12-1977; đỉnh cao là kịp thời đập tan âm mưu địch dự định gây bạo loạn lật đổ ở Xa Ra Van và Pắc Xế vào ngày 31-8-1978. Giờ đây, trở về trong đội hình lực lượng vũ trang Quân khu 4, tiếp tục làm nghĩa vụ quốc tế ở vùng đất đã từng thấm máu bao đồng đội thân yêu hòa cùng máu xương, tình cảm cao quý của cán bộ, đảng viên, nhân dân và lực lượng vũ trang bạn mà mỗi người đã gắn bó, sư đoàn như người con thân thiết trở về nhà. Càng bồi hồi xúc động nhớ tới 16 chữ vàng trên bức trướng mà Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4 trao tặng ngày 10-1-1977 tại buổi lễ trọng thể Sư đoàn 968 tổ chức đón nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng: "Kiên trì bền bỉ Mưu trí ngoan cường Bạn mến, dân tin Quân thù khiếp sợ". Trên cơ sở các hiệp định được ký kết giữa hai Đảng, hai Nhà nước và quân đội hai nước, ngày 17-11-1984, đồng chí Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu đến Viên Chăn thăm và làm việc với Bộ Quốc phòng Lào bàn về kế hoạch hoạt động mùa khô 1984-1985 bao gồm: Quét phỉ, xây dựng cơ sở, cùng bạn phòng thủ bảo vệ các mục tiêu quan trọng. Thực hiện kế hoạch phối hợp thống nhất giữa hai quân đội, ngày 23-11-1984, ba đội xây dựng cơ sở biên phòng tỉnh Thanh Hoá nhận nhiệm vụ sang Lào công tác. Mỗi đội 26 người (có 9 cán bộ). Trong tháng 11-1984, Quân khu 4 chuyển 6.000 quân, chia 2 đợt, bổ sung cho các sư đoàn 324, 968, Lữ đoàn 176 đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và đưa quân về, bảo đảm an toàn, nhanh chóng. Ngày 24-11-1984, các đơn vị triển khai hoạt động kế hoạch mùa khô, theo phương châm, phương thức hoạt động của bạn: Chính trị + kinh tế + quân sự. Sư đoàn 324 đứng chân ở Viên Chăn, trọng điểm xây dựng cơ sở là huyện Ca Xỉ, huyện yếu nhất ở ngã ba Viên Chăn đi Xa La Phu Khun, đồng thời tham gia truy quét phỉ ở Phu Noọng Hầu. Theo phân công, Trung đoàn 1 của sư đoàn có pháo binh và xe tăng phối thuộc - bố trí xuống phía Tây Nam Viên Chăn, tạo thế phòng thủ chắc chắn cho mục tiêu trọng điểm. Trung đoàn 176 truy quét, phục lót các cửa khẩu. Sư đoàn 968 truy quét bọn địch xâm nhập từ ngoài vào theo hành lang nam đường số 9. Chiều ngày 16-4-1984, sau khi được tin Tiểu đoàn 5 của bạn phát hiện hai toán phỉ hơn 100 tên, do các tên Pu Vu và Rườn Chòi chỉ huy, ban ngày phân tán, ban đêm trà trộn về khu vực Cút Hi (đông Pắc Xoòng 6km), Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9 cùng một số cán bộ cơ quan Sư đoàn 968 xuống ngay Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 triển khai lực lượng chiến đấu. Tối ngày 16-4, Tiểu đoàn 2 hành quân. 2 giờ 30 phút ngày 17-4, đơn vị đến vị trí tập kết. Gần sáng ngày 17-4, Đại đội 5, Tiểu đoàn 2 áp sát Cút Hi, Tiểu đoàn 1 vây chặt Mường Mày. 5 giờ 30 phút sáng 17 tháng 4, Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 phát hiện địch, liền nổ súng tiến công. Theo tiếng súng của Đại đội 1, cả 2 tiểu đoàn nhanh chóng áp sát mục tiêu, đồng loạt xung phong, loại khỏi vòng chiến đấu 21 tên, làm bị thương 9 tên, thu 13 súng. Nhờ có kinh nghiệm hoạt động chiến trường, các chiến sĩ Trung đoàn 9 đã nắm chắc địch, dự kiến sát đúng các tình huống, phối hợp được các lực lượng, giữ được bí mật cho đến lúc nổ súng, nên diệt được địch, thu nhiều vũ khí, tạo được niềm tin đối với nhân dân địa phương của bạn. Qua trận đánh này, các đơn vị trong sư đoàn càng tích luỹ thêm kinh nghiệm, gắn bó mật thiết thêm với nhân dân và lực lượng vũ trang bạn, thường xuyên bám sát cơ sở, tham gia cùng địa phương xây dựng lực lượng, củng cố an ninh, góp phần xây dựng kinh tế, văn hóa, làm cho bạn và ta cùng mạnh lên làm cho quân địch phải hủy bỏ kế hoạch dự kiến tổ chức lực lượng phản động thành những trung đoàn để phá hoại, lật đổ; đẩy chúng vào thế bị động, lúng túng đối phó. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Hai, 2024, 04:20:23 pm Đại đội 6, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 19 là đơn vị cuối cùng bàn giao xong nhiệm vụ và địa bàn cho quân tình nguyện (thuộc lực lượng vũ trang Quân khu 5). Trước khi di chuyển về địa bàn mới, được tin du kích báo có một toán địch từ ngoài biên xâm nhập vào khu vực xã Xê Noan, lập tức, Đại đội trưởng Hoàng Kim Vinh cử ngay 8 đồng chí cùng 2 du kích bạn chia làm 2 tổ luồn cắt rừng truy lùng. Sau 4 giờ luồn cây, vượt suối, tổ đi đầu phát hiện liền bao vây bí mật. Cả 5 tên địch không kịp chống cự, bị tóm gọn. Tên toán trưởng khai rằng: Chúng được giao phá cầu Xê Noan và phục kích các chuyến xe vận tải của bộ đội địa phương. Hai lần chúng định tiếp cận cầu, cả ban ngày lẫn ban đêm, nhưng đều phải tháo lui vì bộ đội Việt Nam canh gác chặt chẽ. Được giao nhiệm vụ mới, sư đoàn kịp thời chỉ đạo chuyển hướng hoạt động cho phù hợp kế hoạch điều chỉnh lực lượng của Quân khu 4, phân tán thành 20 phân đội độc lập đứng chân trên các địa bàn trọng điểm; bàn giao Trung đoàn 425 đóng quân ở Xê Kông - Hạ Lào về Công ty khai thác gỗ Quân khu 4. Sư đoàn đầu tư công sức, thời gian, lực lượng giúp Lữ đoàn 4 bộ binh của bạn - đơn vị kết nghĩa với sư đoàn xây dựng, huấn luyện trưởng thành. Lần đầu tiên, Lữ đoàn 4 diễn tập chỉ huy có một phần thực binh đạt kết quả cao. Sư đoàn phối hợp với bạn xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang phát triển cả về số lượng và chất lượng. Dân quân du kích một số xã thuộc huyện Chăm Phon, Sông Khôn độc lập chủ động trong hoạt động giữ gìn trật tự và chiến đấu bảo vệ bản làng. Sư đoàn kết hợp giữa đánh địch ở ngoài rừng với thanh lọc "địch ngầm" trong các buôn bản, tổ chức điều tra nắm chắc tình hình kết hợp với nhân dân và lực lượng vũ trang bạn, kịp thời phát hiện âm mưu, thủ đoạn của địch, tiếp tục bắt gọn nhiều toán, nhiều tốp địch từ ngoài xâm nhập về ngay khi chúng chưa kịp trở tay hành động. Nhiều toán địch đột nhập phá hoại, khi thấy bộ đội Việt Nam luôn tổ chức tuần tra, canh gác nghiêm ngặt, người sẵn sàng, vũ khí sẵn sàng đã phải tháo lui. Đảng bộ, nhân dân, các lực lượng vũ trang bạn và các đồng chí lãnh đạo quân đội hai nước đã khen ngợi, biểu dương thành tích to lớn của Sư đoàn 968 cũng như các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Đồng chí Khăm Tày Xi Phăn Đon1 - Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã khẳng định: "giúp Lào, một lần nữa, các lực lượng tình nguyện Việt Nam đã nêu tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ, về tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, xả thân vì bạn”2. Ngày 18-1-1985, trong dịp cùng Trung tướng Xê Phôn - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào đến thăm sư đoàn, Đại tướng Hoàng Văn Thái - Thứ trưởng Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu dương thành tích 8 năm sư đoàn làm nghĩa vụ quốc tế: "Xây dựng được tinh thần đoàn kết quốc tế, có nhiều cố gắng trong hoạt động đánh địch; giúp bạn củng cố được lực lượng cách mạng, hỗ trợ cho nhân dân thanh lọc địch ngầm, xây dựng đơn vị có nhiều tiến bộ, kể cả tư tưởng, trình độ chiến thuật, kỹ thuật; giữ nghiêm kỷ luật, được bạn tin, dân mến”. Đối với Sư đoàn 324 và Lữ đoàn 176, trong thời gian chuyển thuộc Binh đoàn 678 đã tiếp tục thể hiện phẩm chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, thông cảm với nỗi khổ đau, nghèo đói của nhân dân Lào, yêu quý nhân dân Lào như nhân dân Việt Nam, tiếp tục hy sinh xương máu, đánh đuổi bọn phản động tay sai của các thế lực phản động quốc tế, giúp nhân dân xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng cuộc sống mới, huấn luyện và trang bị cho các lực lượng vũ trang địa phương, giúp dân lao động sản xuất xây dựng các công trình tình nghĩa. Ngoài việc phối hợp với bạn xây dựng cơ sở trên địa bàn 4 huyện, 43 xã, 490 bản; trong đó khó khăn nhất là 2 huyện Xây Xổm Bun và Ca Xỉ, Sư đoàn 324 đã cứu thoát 11.000 người dân bị địch cưỡng bức vào rừng theo phỉ ở địa bàn đông - tây Ca Xỉ. Sư đoàn tham gia bảo vệ an toàn những lễ hội quan trọng, kịp thời đập tan âm mưu địch phá hoại; trong đó có Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (5-1981), Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Nhân dân cách mạng Lào (4-1982). Sư đoàn 324 và Lữ đoàn 176 cùng với lực lượng vũ trang bạn chốt giữ bảo đảm giao thông an toàn trên các tuyến đường quan trọng, trong đó có đường huyết mạch số 13 xuyên Lào với nhiều đoạn hiểm yếu, loại trừ được nguy cơ uy hiếp của giặc. Các đơn vị còn phối hợp xây dựng cho bạn hàng chục trường học, hàng chục trạm xá, trụ sở, giúp hàng chục vạn ngày công làm thủy lợi, sản xuất, khám chữa bệnh cho hàng chục nghìn lượt người; trích bớt khẩu phần ăn giúp dân vùng đói kém hàng chục tấn gạo, hàng chục tấn muối. Sư đoàn và lữ đoàn đã cùng bạn tổ chức, huấn luyện, kèm cặp trong chiến đấu, giúp các đơn vị dân quân du kích và bộ đội địa phương tỉnh, huyện từng bước trưởng thành làm cơ sở bổ sung xây dựng, phát triển các đơn vị bộ đội chủ lực cấp trung đoàn, sư đoàn. Với tất cả tình nghĩa thủy chung, cao cả và kinh nghiệm xương máu tích lũy được qua xây dựng và chiến đấu, các đoàn cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật của sư đoàn và trung đoàn hòa mình với cán bộ, chiến sĩ bạn cùng xây dựng, rèn luyện, học tập, công tác... ____________________________________________ 1. Sau này, đồng chí Khăm Tày làm Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào. 2. Phát biểu trong buổi gặp gỡ các cán bộ chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam, sáng 7-3-1983, tại Viên Chăn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Hai, 2024, 04:23:51 pm Tháng 5 năm 1985, Sư đoàn 1 của bạn ra đời, đánh dấu bước phát triển mới của Quân đội nhân dân Lào. Ngày 20-7-1985, lễ kết nghĩa giữa Sư đoàn 1 Quân đội nhân dân Lào và Sư đoàn 324 quân tình nguyện Việt Nam được tổ chức trọng thể tại thủ đô Viên Chăn. Sư đoàn trưởng U Đôn thay một Sư đoàn 1, Sư đoàn trưởng Võ Chót thay mặt Sư đoàn 324 ký các văn kiện hợp tác giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt, đưa mối quan hệ truyền thống giữa hai đơn vị và quân đội hai nước lên tầm cao mới. Tiếp tục thực hiện chủ trương của bạn “kiên quyết đập tan mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại của địch, diệt tận gốc mọi tổ phỉ mới nhen nhóm, phát động toàn dân cùng với các lực lượng vũ trang giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm trong sạch địa bàn”, Sư đoàn 324 liên tục phối hợp với bạn mở các đợt hoạt động truy quét. Trong sáu tháng mùa khô 1983-1984, Sư đoàn đã phá tan các cụm phỉ còn lại ở Pha Phay, Phu Sẩm Liêm, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, thu hàng trăm súng, phá rã hoàn toàn tổ chức phỉ gồm các tiểu đoàn 2, 3, 4 do Dong Dua Hờ chỉ huy trên địa bàn xung quanh Phu Bia. Trong đợt 3 tiến công quân phỉ ở Phu Quang Khểu, Pha Long Pheng, Pha Chia thuộc các tiểu khu 11, 12 do tên trung tá Dua Phao Sòng chỉ huy; cán bộ, chiến sĩ ta đã vượt lên những thử thách gian nguy, ác liệt, suốt hơn 5 tháng cuối mùa khô, đầu mùa mưa 1984. Có những trận đánh kéo dài 2 - 3 ngày mới giải quyết xong một căn cứ tiểu khu. Điển hình như trận đánh căn cứ phỉ ở Pha Chia (4-10-1984). Địch dựa vào hang động, núi cao, rừng rậm, vách đá tai mèo, luồn sâu, đánh lén, phục kích và ngoan cố bám trụ, chống trả quyết liệt. Phải mất 3 ngày, hy sinh 12 chiến sĩ, ta mới chiếm được căn cứ. Sau khi bị ta đánh tan 11 tiểu khu, tên đại tá Chư Pao Mùa chỉ huy tiểu khu 1 chuyển dời căn cứ từ Na Nán về Bom Lọng. Tại đây, dựa vào thế hiểm của một loạt điểm cao trùng điệp nhiều tầng, nhiều lớp nằm trong huyện Mường Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng; Chư Pao Mùa và đồng bọn ra sức tập hợp lực lượng, cải tạo địa hình, đào hào, đắp lũy, dựng các chướng ngại vật trên các hướng, lập thành một căn cứ mới. Chỉ sau mấy tháng, Chư Pao Mùa đã thu gom được 1.200 tên phỉ; tổ chức thành đại đội, tiểu đoàn, trang bị đủ súng bộ binh, hỏa lực mang vác và các loại mìn. Các hang động trở thành kho tàng tích trữ lương thảo, nước uống, đạn dược của bọn phỉ. Chư Pao Mùa mưu toan biến khu rừng heo hút, tách biệt gần biên giới Việt - Lào, với hơn 5.000 dân sống rải rác ở 7 bản, thành căn cứ có thể tiến công và phòng thủ đủ mạnh để vừa làm bàn đạp chống phá cách mạng nước bạn, vừa đột nhập phá hoại cách mạng Việt Nam. Từ tháng 4 năm 1985, được các thế lực đế quốc phản động nước ngoài trực tiếp chỉ huy, tiếp tế lương thực, thực phẩm, vũ khí bằng máy bay và thường xuyên tác động mạnh mẽ về tinh thần, Chư Pao Mùa và đồng bọn càng hung hăng, chống phá cách mạng Lào. Chúng đột nhập vào các làng bản cướp phá, đe dọa, bắt người theo chúng, cài cắm phản động vào các tổ chức cơ sở của bạn. Chúng tập kích cả đoàn xe vận tải của ta trên đường 7 ngay giữa ban ngày. Lúc này nhiệm vụ tiêu diệt cụm phỉ Bom Lọng trở thành yêu cầu cấp bách, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đem lại niềm tin trong nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương bạn. Tỉnh ủy Xiêng Khoảng đề nghị cấp trên tăng cường lực lượng cùng tỉnh giải phóng vùng đất bị Chư Pao Mùa chiếm đóng. Bộ chỉ huy liên quân do đồng chí U-đôn Khát-thi-nạ - Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Bí thư Tỉnh ủy Xiêng Khoảng làm chỉ huy trưởng. Ngày 10-5-1985, mọi công tác chuẩn bị cơ bản hoàn thành. 5 giờ 30 phút sáng ngày 13 tháng 5, quân ta tiến công vào vị trí địch ở chân điểm cao 1375. Bộ binh ta lần lượt đánh chiếm từng khu doanh trại của địch. Chúng rút dần lên đỉnh núi đá, dựa vào hang, dùng lựu đạn và súng chống trả quyết liệt. 14 giờ, chúng còn bất ngờ luồn ra phía sau, tập kích vào sở chỉ huy quân ta. Cuộc tiến công của ta trên hướng này phải tạm dừng lúc 18 giờ để củng cố lực lượng. Phát huy kết quả của Tiểu đoàn 31 đặc công Quân khu trên hướng thọc sâu1 và trên hướng phối hợp của các đơn vị bạn2, sáng 14-5-1985, lợi dụng lúc sương mù chưa tan, quân ta nổ súng, khép chặt vòng vây. Địch buộc phải rút lui vào cố thủ trong các hang động ở khu trung tâm Bom Lọng. Quân ta vừa kết hợp bao vây, vừa gọi hàng; đồng thời tổ chức hướng dẫn nhân dân ra khỏi khu vực tác chiến. Hơn 1.300 người dân đã được dân quân địa phương đưa về nơi căn cứ an toàn. Quân địch vẫn ngoan cố chống cự. Quân ta tiếp tục tiến công mãnh liệt và dồn dập, quyết không cho chúng lợi dụng rừng núi để chống trả hoặc lẩn trốn. Đợt tiến công cuối cùng diễn ra từ 6 giờ 30 phút sáng 15 tháng 5 đã kết thúc lúc 15 giờ. Hàng trăm tên phỉ bị tiêu diệt, 510 tên bị bắt và đầu hàng (có 2 trung tá, 1 thiếu tá, 21 tên cấp úy)3. Phá tan sào huyệt phỉ thuộc loại lớn nhất khi địch vừa nhen nhóm đã tạo nên một đòn đánh mạnh vào âm mưu phá hoại của địch; góp phần thuận lợi đưa dần an ninh - quốc phòng của đất nước bạn đi dần vào ổn định; lực lượng vũ trang nhân dân Lào được củng cố, phát triển. _____________________________________________ 1. Tiểu đoàn 31 đã đánh chỉếm xong các vị trí phòng ngự vòng ngoài của địch, sẵn sàng lực lượng tiến công vào trung tâm chỉ huy Bom Lọng ở hang Thẩm Ngân. 2. Các đơn vị chiếm xong điểm cao 1570 và phát triển tiến công về phía nam điểm cao 1375. 3. Trong khi đó, các đội công tác cơ sở của các trung đoàn và các tiểu đoàn trinh sát, tiểu đoàn huấn luyện phối hợp với bạn truy quét bọn phỉ lẩn trốn, nằm vùng, diệt nhiều tên, bắt 55 tên, thu 82 khẩu súng ở những tiểu khu bị ta đánh tan rã trước đó. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Hai, 2024, 04:24:24 pm Đi đôi với liên minh hợp tác với bạn về quốc phòng - an ninh, thống nhất kế hoạch phòng thủ chiến lược, phòng thủ đối phó với “chiến tranh có giới hạn”, triển khai kế hoạch chống “chiến tranh phá hoại” nhiều mặt, các đơn vị quân tình nguyện và các địa phương trong Quân khu thực hiện các hình thức “kết nghĩa”, giúp bạn xây dựng và củng cố lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, đào tạo cán bộ theo cách: “ngành giúp ngành”, “tỉnh giúp tỉnh”, “huyện giúp huyện” xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng kinh tế giúp bạn. Mô hình tiêu biểu trong hợp tác kinh tế bến vững và phát triển là Công ty hợp tác kinh tế 85, tiền thân là công trường khai thác gỗ Quân khu. Trên cơ sở các văn bản đoàn kết - liên minh - hợp tác toàn diện giữa hai Chính phủ và Bộ Quốc phòng hai nước Việt - Lào, căn cứ vào Mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước ta về nhiệm vụ quân sự năm 1985, ngày 4-3-1985, Thường trực Hội đồng quân sự ra nghị quyết tổ chức công trường khai thác gỗ Quân khu 4. Ngày 23-3-1985, Thượng tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân khu quyết định giao nhiệm vụ cho công trường khai thác gỗ mang phiên hiệu là C85. Nhiệm vụ chủ yếu là hợp tác với công ty Chấn Hưng kinh tế miền núi của Bộ Quốc phòng Lào tiến hành khai thác gỗ xuất khẩu. Ban chỉ đạo công trường gồm: Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu làm trưởng ban; Đại tá Trần Trọng Trai - Phó tư lệnh Quân khu phụ trách về Lào và các ủy viên: Đại tá Bùi Thúc Nhâm - Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu; Đại tá Tống Viết Giao – Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu. Đại tá Nguyễn Văn Đăng - Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu được cử làm chỉ huy trưởng công trường. Mọi công việc khảo sát, nghiên cứu chuẩn bị luận chứng kinh tế, kỹ thuật, rút kinh nghiệm các đơn vị đang khai thác, ổn định biên chế tổ chức, tập huấn cán bộ, nhân viên kỹ thuật hoàn thành trong tháng 6 năm 1985. Trang thiết bị kỹ thuật được huy động theo 3 dạng gồm: Số huy động trong toàn Quân khu, trước hết huy động một số trang bị kỹ thuật làm kinh tế của Quân khu, các đơn vị và một phần trong trang bị quốc phòng, sử dụng nguồn tiết kiệm nhiên liệu của Quân khu; trang bị kỹ thuật làm kinh tế do nguồn vốn tự có của từng đơn vị huy động theo phương thức nhượng lại, hoặc tham gia hùn vốn hay nhận thầu với công trường; trang bị - kỹ thuật quốc phòng của Quân khu và các đơn vị làm kinh tế tập trung của Quân khu theo nhu cầu và khả năng mà điều động sử dụng. Trong thời gian đầu, trang thiết bị kỹ thuật của X74 (xưởng mộc Quân khu) là lực lượng nòng cốt. Tổ chức biên chế ban đầu của công trường khai thác gỗ Quân khu 4 gồm 94 đồng chí, hầu hết là cán bộ, chiến sĩ trải qua chiến đấu, trưởng thành trong quá trình làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào. Những ngày đầu, công trường gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn như: Trang - thiết bị kỹ thuật đã sử dụng nhiều năm trong chiến đấu vừa thiếu, vừa lạc hậu. Nguồn vốn thiếu thốn, đơn vị lại ra đời vào cuối thời kỳ bao cấp, không đủ đáp ứng yêu cầu sản xuất mở rộng. Kinh nghiệm, trình độ quản lý kinh tế còn thiếu và yếu. Tác động của mặt trái cơ chế thị trường, khủng hoảng tiền tệ; những biến động và cạnh tranh gay gắt của thị trường trong nước và quốc tế về công nghệ, giá cả, việc làm; điều kiện sinh hoạt rất khó khăn, ốm đau, bệnh tật phát sinh. Trong khi đó kẻ địch thường xuyên tuyên truyền kích động chia rẽ giữa hai dân tộc, hai quân đội. Chúng còn lén lút tổ chức phục kích, phá hoại các hoạt động của ta giúp bạn. Ngay từ đầu, đơn vị coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức và lao động, trước hết là nâng cao nhận thức, tư tưởng, bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bảo đảm thực hiện tốt hai nhiệm vụ kinh tế - quốc phòng trên địa bàn chiến lược của bạn. Đơn vị tổ chức các đội chuyên trách làm công tác giúp bạn xây dựng cơ sở trên các địa bàn vùng sâu, vùng xa, làm trường học, bệnh xá, mở đầu ở xã Mường Luổng, tổ chức khám chữa bệnh giúp dân, giúp đỡ gạo, muối, quần áo, thuốc men chữa bệnh nơi khó khăn, thiếu đói, tổ chức giao lưu văn hóa - văn nghệ, tuyên truyền, phổ biến chính sách, tăng cường các hoạt động thắt chặt quan hệ đoàn kết Việt - Lào trong điều kiện mới. Trong thời gian đầu, đơn vị tổ chức mở đường dân sinh cho xã Na Tăn, tỉnh Khăm Muộn (tuyến đường dài 26 km); tổ chức trồng 60ha rừng ở Lạc Xao. Việc sớm tổ chức mô hình kết hợp kinh tế - quốc phòng, kết hợp giữa bạn và ta trong xây dựng đạt hiệu quả đã mở ra những bước đi vững chắc cho sự lớn mạnh không ngừng của Công ty Hợp tác kinh tế thuộc Tổng công ty 4, Quân khu 4 sau này. * * * Năm 1985 là năm kết thúc kế hoạch Nhà nước 5 năm (1981-1985), đồng thời là năm chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm (1986-1990), đất nước vẫn trong tình thế có hòa bình chuyển sang thời chiến và có chiến tranh ở những mức độ khác nhau; “vừa có hòa bình, vừa có thể xảy ra chiến tranh”. Quân khu 4 luôn ở trạng thái phải sẵn sàng đối phó với 3 tình huống chiến tranh, thường xuyên đối phó với kiểu “chiến tranh phá hoại nhiều mặt” và làm nghĩa vụ quốc tế. Trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế Quân khu đã 3 lần biến động lớn về nhiệm vụ và tổ chức biên chế lực lượng. Có thể nói, đó là một giai đoạn thử thách quyết liệt, phức tạp ở mức cao. Nhưng "nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 4 không ngừng phát huy truyền thống cách mạng, nêu cao ý chí chiến đấu, tinh thần tự lực tự cường, tinh thần cách mạng tiến công, vượt qua mọi khó khăn, dốc sức phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ, giành được những thành tựu lớn về nhiều mặt"1. Trong những năm 1979-1985, quân và dân Quân khu 4 đã nỗ lực phấn đấu xây dựng về mọi mặt, nâng cao sức mạnh chiến đấu, góp phần cùng toàn quân, toàn dân ta thực hiện thắng lợi cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, làm tròn nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào, làm thất bại mọi âm mưu phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Những thành tựu đạt được trên nhiều mặt, trong đó có thành tựu to lớn về quân sự, quốc phòng - an ninh, thế trận quốc phòng toàn dân và làm nhiệm vụ quốc tế là cơ sở quan trọng giúp Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang Quân khu 4 phấn đấu xây dựng vững mạnh toàn diện. Lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quân lần thứ IV và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, toàn Quân khu sôi nổi thi đua phát huy mạnh mẽ truyền thống của quê hương anh hùng, ra sức xây dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng, kinh tế, xây dựng lực lượng vũ trang quân khu theo hướng cách mạng, chính quy, ngày càng hiện đại; đồng thời tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước và làm nhiệm vụ quốc tế. _____________________________________________ 1. Nghị quyết số 20/NQĐU Quân khu 4 đánh giá tình hình các mặt của Quân khu những năm qua (Lưu trữ Quân khu 4). Trong đó có thành tựu: nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, giải quyết tốt hơn một bước mục tiêu số một là lương thực; công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân và tổ chức phòng thủ được chuẩn bị một bước, trình độ sẵn sàng chiến đấu được nâng lên, an ninh chính trị giữ vững, trật tự an toàn xã hội càng ngày càng chuyển biến rõ rệt; chiến đấu ở chiến trường Lào giành thắng lợi, tạo chuyển biến mới... Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Hai, 2024, 10:01:06 pm Chương ba XÂY DỰNG QUÂN KHU THEO ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG, CÙNG TOÀN QUÂN THỰC HIỆN ĐIỀU CHỈNH LỚN VỀ BỐ TRÍ LỰC LƯỢNG VÀ THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG (1986 - 1995) Những năm giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, đất nước ta trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Thêm vào đó, sự sụp đổ chế độ chính trị xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, sự chống phá quyết liệt của đế quốc Mỹ và các thế lực phản động lợi dụng thời cơ mới thực hiện chiến lược xóa bỏ nhanh chủ nghĩa xã hội trên thế giới, trong đó Việt Nam là một trọng điểm đã tác động lớn đến tư tưởng của quân dân ta. Trước tình hình thế giới có nhiều biến động, thách thức lớn, Đảng Cộng sản Việt Nam tập trung cao trí tuệ, tư duy mới chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, tìm con đường đi để trụ vững và phát triển. Đảng khẳng định những nhân tố tích cực được phát triển từ Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (8-1979) và trong quá trình sắp xếp lại nền kinh tế theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3-1982) cùng những diễn biến tình hình của xu thế chung, định ra đường lối đổi mới, thể hiện đúng vai trò tiên phong trước vận mệnh của dân tộc, của chế độ, tạo ra bước ngoặt hết sức quan trọng trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1986, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tập trung thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, do Đại hội lần thứ VI của Đảng khởi xướng lãnh đạo. Đối với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, Đảng ta đã thực hiện cuộc điều chỉnh chiến lược lớn về thế bố trí lại lực lượng và thế trận, rút hết quân tình nguyện ở Campuchia và Lào về nước, giảm mạnh quân thường trực, xây dựng tăng cường khả năng và sức chiến đấu các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang ba thứ quân bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu thắng lợi, góp phần vào thành tựu đổi mới của cả nước. Ở Quân khu sau bước chuyển quan trọng hợp nhất thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc những năm 1975-1985, là thời kỳ chuyển tiếp có tính bước ngoặt quán triệt, thực hiện theo đường lối đổi mới của Đảng trên các lĩnh vực, trực tiếp là lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Theo tư tưởng chỉ đạo phải đổi mới tư duy và hành động được xác định từ Đại hội Đảng bộ lần thứ IV (9-1986), Quân khu đã cùng các tỉnh (thời gian đầu là ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên; sau này tách ra thành sáu tỉnh) kịp thời triển khai nhiều nội dung, cách làm mới có tính kế thừa và phát triển nhiều mặt. Trong những năm đầu xây dựng theo đường lối đổi mới của Đảng, Quân khu đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định vai trò của một địa bàn chiến lược trọng yếu trước bước ngoặt mới, cùng toàn quân thực hiện hiệu quả cuộc điều chỉnh lớn về chiến lược quốc phòng, “ổn định chính trị được giữ vững, quốc phòng, an ninh được củng cố”1, góp phần vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta không ngừng đổi mới và đạt những thành tựu to lớn. _____________________________________________ 1. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 1996, tr. 11. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Hai, 2024, 10:06:10 pm I- THỰC HIỆN ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC, CHUYỂN MẠNH CÔNG TÁC QUÂN SỰ ĐỊA PHƯƠNG VÀ CƠ SỞ, VƯỢT QUA THÁCH THỨC, TẠO THẾ ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Chấn chỉnh tổ chức lực lượng, tăng cường sức mạnh quốc phòng, khả năng phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch. Cuối năm 1985 và đầu 1986, tình hình kinh tế - xã hội đất nước vẫn còn nhiều khó khăn, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nhiều nơi còn phức tạp, nhưng từ những định hướng mở đầu quan trọng của quá trình tiến tới Đại hội Đảng lần thứ VI, trên nhiều mặt nhân dân ta đã có những chuyển biến tích cực. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, thực hiện Nghị quyết 27/NQ-TW của Bộ Chính trị (khoá V), hệ thống Đảng ủy cấp trên cơ sở và Đảng ủy quân sự tỉnh, Ban cán sự huyện, thị, thành được thành lập, củng cố. Đảng khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đã mở khâu đột phá quyết định chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, đồng thời xây dựng và không ngừng hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ huy, quản lý điều hành đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân và sự nghiệp củng cố quốc phòng1. Chấp hành Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị, Quyết định 1085 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá V) về thành lập Đảng ủy Quân khu 4, đầu tháng 1-1986, Đảng ủy Quân khu họp phiên thứ hai2 mang tính lịch sử với sự chủ trì của đồng chí Hoàng Cầm - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Quân khu quán triệt Nghị quyết 64 của Đảng ủy Quân sự Trung ương về nhiệm vụ quân sự năm 1986, đánh giá công tác quân sự, quốc phòng của Quân khu và các tỉnh những năm qua, xác định nhiệm vụ chủ yếu trong những năm tới và năm 1986 - nắm tiến hành Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Đảng ủy Quân khu thực hiện sự lãnh đạo theo nguyên tắc và chức năng được xác định, thẳng thắn phân tích thực trạng tình hình, nhất là nêu 5 mặt còn yếu cần tập trung khắc phục, về phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới, Hội nghị xác định: "Tiếp tục đánh bại các thủ đoạn kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch; tăng cường khả năng phòng thủ ở các đảo, tuyến ven biển và tuyến biên giới phía Tây; ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân; không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang quân khu; ra sức lao động sản xuất, xây dựng kinh tế và thực hành tiết kiệm, chống làng phí, tham ô; làm tròn nhiệm vụ hậu phương chi viện cho tiền tuyến; làm tròn nhiệm vụ quốc tế ở Lào; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh có sức chiến đấu cao; sẵn sàng đối phó thắng lợi mọi tình huống chiến tranh xâm lược quy mô lớn"3. Đây cũng là những định hướng để Đảng ủy, Bộ tư lệnh, các cơ quan Quân khu tập trung chuẩn bị cho Đại hội Đảng Quân khu lần thứ IV với tư tưởng chỉ đạo phải thể hiện cho được một bước đổi mới tư duy và hành động, trước hết là trong Đảng, đồng thời triển khai thực hiện chặt chẽ nhiệm vụ năm 1986, tập trung sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu thắng lợi cả ở A và trên chiến trường C, điều chỉnh lực lượng, xây dựng huấn luyện, củng cố quốc phòng địa phương, chăm lo công tác kỹ thuật, lao động sản xuất, bảo đảm hậu cần, đời sống. Quân khu và các địa phương thực hiện các chủ trương, biện pháp cụ thể: Toàn Đảng bộ quán triệt, chấp hành nghiêm túc các chỉ thị 79, 80 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Quân sự Trung ương về tự phê bình, phê bình và tiến hành Đại hội Đảng các cấp; tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trước tình hình khó khăn gay gắt diễn biến phức tạp, giáo dục quan điểm lập trường, ý chí chiến đấu, ý thức trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật trong thực hiện và bảo vệ quan điểm đường lối của Đảng, nâng cao cảnh giác cách mạng. Trong lực lượng vũ trang ba thứ quân gắn với các địa phương phát động phong trào thi đua rộng lớn "mỗi người làm 6 việc tốt theo chức trách; mỗi đơn vị, địa phương giành 6 đỉnh cao theo nhiệm vụ, thiết thực làm trong sạch Đảng, trong sạch nội bộ và góp phần làm lành mạnh hoá quan hệ xã hội" hướng tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Ở các địa phương củng cố, xây dựng, phát triển các pháo đài quân sự huyện, phấn đấu huyện an toàn làm chủ, lấy xây dựng cơ sở vững mạnh làm nền tảng để thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Quân khu và ba tỉnh Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá, Bình Trị Thiên cùng các huyện trọng điểm đều bổ sung kế hoạch tác chiến phòng thủ cơ bản, bước đầu soạn thảo kế hoạch B ở các tỉnh, chuẩn bị động viên lực lượng và nền kinh tế quốc dân, triển khai xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên tuyến ven biển, biên giới. Điểm mới trong kế hoạch đựợc bổ sung là các nội dung được đưa sát với tình hình đất nước vừa có hòa bình vừa đối phó với chiến tranh phá hoại nhiều mặt và chiến tranh lấn chiếm biên giới, đồng thời sẵn sàng chống nguy cơ chiến tranh xâm lược quy mô lớn có thể xảy ra. Trên địa bàn Quân khu, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh chiến tranh phá hoại nhiều mặt, nhất là lợi dụng những khó khăn về kinh tế, đời sống, tăng cường chiến tranh tâm lý, kích động những hoạt động chống đối, phạm pháp hình sự, gây rối trật tự an ninh, phá hoại việc thực hiện các nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 và thứ 9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V), phá hoại sự chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Chúng tiếp tục tung gián điệp vào nội địa cả tuyến biển, biên giới móc nối nhen nhóm gây cơ sở phản động; tiếp tục lôi kéo người chạy trốn ra nước ngoài. Mặt khác, chúng gây rối trên biển, quan hệ mua chuộc ngư dân nhẹ dạ và gây cơ sở. Trước tình hình đó, Quân khu thường xuyên giáo dục, nâng cao cảnh giác đề phòng địch tập kích các đảo và những mục tiêu quan trọng ven biển, đồng thời phải luôn luôn cảnh giác địch mở rộng chiến tranh. ______________________________________________ 1. Ngày 4-7-1985, Bộ Chính trị (khoá V) ra Nghị quyết 27/NQ-TW về "Tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng" xác định: Tổ chức Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo hệ thống dọc từ cơ sở đến toàn quân. Ở mỗi cấp có Ban chấp hành Đảng bộ (gọi tắt là Đảng ủy) do dân chủ bầu cử và được cấp trên chuẩn y. Đảng ủy các cấp có trách nhiệm lãnh đạo toàn diện các đơn vị thuộc quyền, theo phạm vi chức năng và nội dung quy định của từng cấp, thực hiện đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, lãnh đạo tập thể đi đôi với phân công cá nhân phụ trách. 2. Hội nghị Đảng ủy Quân khu lần thứ nhất (thay Hội đồng quân sự Quân khu) vào cuối năm 1985. 3. Trích Nghị quyết 20/NQ-ĐU của Đảng ủy Quân khu 4 ngày 14-1-1986. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Hai, 2024, 10:09:15 pm Kế hoạch phòng thủ của Quân khu được xây dựng chặt chẽ phù hợp với yêu cầu điều chỉnh lực lượng, giảm số lượng lớn quân thường trực, tăng cường công tác quân sự địa phương của các tỉnh Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá, Bình Trị Thiên. Quân khu khẩn trương thực hiện các công việc lớn, bảo đảm yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Trọng tâm là xây dựng hai cụm cơ động chiến đấu ở phía bắc do Sư đoàn 341 có một trung đoàn đủ quân làm nòng cốt và phía nam do Sư đoàn 342 có một trung đoàn đủ quân làm nòng cốt được tổ chức chỉ huy, huấn luyện, diễn tập, kiểm tra, giải quyết đầy đủ các mặt trang bị kỹ thuật, hậu cần. Tăng cường khả năng chiến đấu ở các đảo và ven biển, củng cố xây dựng công sự gắn với nhà ở chống được bão mạnh ở các đảo lớn Hòn Mê, Mắt; kịp thời sửa chữa công trình ở đảo Cồn Cỏ và ven biển Bình Trị Thiên bị tàn phá sau bão lụt số 7, 8 cuối năm 19851. Chấn chỉnh hệ thống đài quan sát bộ binh và binh chủng, hệ thống thông tin liên lạc kết hợp trinh sát và lực lượng quân báo nhân dân tăng cường khả năng nắm địch trên các hướng; tiến hành giải quyết những vấn đề cấp bách về công tác kho tàng và chống xuống cấp của vũ khí trang bị kỹ thuật. Hoàn thành kế hoạch đo đạc mạng không chế pháo binh 2.100km2 ở Sa Va Na Khẹt và nam bắc đường 9 - Bến Hải. Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ quốc phòng và chuẩn bị Đại hội các Đảng bộ địa phương, Quân khu cùng các tỉnh tổ chức sơ kết công tác xây dựng pháo đài quân sự huyện2, huyện an toàn làm chủ (1979-1985). Sau khi tiến hành tổng kết ở huyện điểm Quảng Xương (4-1986) và các tỉnh, huyện, Quân khu tổ chức hội nghị tổng kết toàn Quân khu thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháo đài quân sự huyện, huyện an toàn làm chủ. Hội nghị đánh giá những kết quả đạt được trong những năm qua; đồng thời rút ra 6 vấn đề quan trọng: Một là, bảo đảm tạo được sự nhất trí cao trong xây dựng pháo đài quân sự huyện, huyện an toàn làm chủ và phải được triển khai bằng cơ chế "Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, chính quyền quản lý, điều hành". Quá trình thực hiện là quá trình liên tục nâng cao nhận thức những quan điểm cơ bản về 2 nhiệm vụ chiến lược "xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa", quán triệt các nghị quyết 12 và 24 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 20 của Ủy ban Quốc phòng. Đồng thời cũng là quá trình đấu tranh khắc phục một số biểu hiện lệch lạc như: chưa coi nhiệm vụ xây dựng pháo đài quân sự huyện là một bộ phận hữu cơ trong xây dựng và tăng cường cấp huyện; cứ xây dựng huyện mạnh về mọi mặt là đủ; xây dựng pháo đài quân sự huyện là xây dựng công trình chiến đấu, phục vụ chiến đấu... 64/64 huyện, thị, thành đều có nghị quyết về quốc phòng an ninh, xây dựng pháo đài quân sự huyện, đạt kết quả nổi bật như các huyện Quảng Xương, Diễn Châu, Triệu Hải, huyện biên giới an toàn làm chủ như Quan Hoá, Kỳ Sơn, Hướng Hoá. Trên cơ sở đó đẩy mạnh xây dựng rộng ra các huyện Nga Sơn, Thọ Xuân, Đông Sơn, Vĩnh Lộc, Thiệu Yên, Cẩm Thủy, Nông Cống, thị xã Thanh Hoá, Quỳnh Lưu, Nghi Xuân, Đức Thọ, Tân Kỳ, thành phố Vinh, Bến Hải, Lệ Ninh, Hương Phú, Phú Lộc, Huế, A Lưới, Hương Điền. Hai là, nhận thức được tầm quan trọng của cơ sở, xây dựng cơ sở trong sạch vững mạnh toàn diện là nền tảng của pháo đài quân sự huyện; sức mạnh chiến đấu tại chỗ bắt nguồn từ cơ sở, từ trận địa lòng dân. Phong trào xây dựng đơn vị an toàn làm chủ những năm qua cũng là từ cơ sở, điển hình bắt đầu từ xã Hải Thượng (Triệu Hải, Bình Trị Thiên). Quân khu và các tỉnh tập trung chỉ đạo xây dựng củng cố những xã yếu kém, trước hết ở những khu vực chủ yếu, nơi trọng yếu về quốc phòng - an ninh. Ba là, kết hợp chặt chẽ kinh tế và quốc phòng, từng bước tích luỹ được kinh nghiệm về kinh tế và quốc phòng, bảo đảm hậu cần - kỹ thuật tại chỗ cho pháo đài quân sự huyện. Theo phương hướng chiến lược của Đảng xác định: từ lương thực, xuất khẩu, phát triển sản xuất hàng hoá đa dạng, phong phú mà đi lên, các huyện xây dựng và bổ sung quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội gắn quốc phòng với an ninh. Nhiều huyện thực hiện phương châm "Trung ương và địa phương cùng làm, Nhà nước và nhân dân cùng làm" đạt những kết quả đáng kể. Khởi đầu là bước đổi mới quan trọng từ huyện Tương Dương xây dựng hai tuyến đường vùng rừng núi; huyện Hương Phú tự lực làm được 3 cầu lớn và sửa nâng cấp 150km đường trên hướng chủ yếu cả kinh tế - quốc phòng; huyện Quảng Xương phát triển giao thông thủy lợi; vùng gò đồi Bình Trị Thiên và vùng núi Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh điều chỉnh bố trí mật độ dân cư phù hợp trên địa bàn huyện. Bốn là, tập trung nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang huyện, chủ yếu là dân quân tự vệ có số lượng, tổ chức thích hợp, chất lượng, quản lý được quân dự bị, tập trung chỉ đạo vùng trọng điểm, tuyến biển, biên giới, thành phố, thị xã, các trục đường giao thông. Quân khu xây dựng, củng cố được 2.579 phân đội an ninh - quốc phòng, có 1.054 phân đội của dân quân và 48 phân đội trực chiến, xung kích thường xuyên sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu, tham gia giữ gìn trật tự trị an, sản xuất, phòng chống bão lụt. Thành phố Vinh chỉ đạo xây dựng tự vệ đường phố, xí nghiệp; Bình Trị Thiên xây dựng dân quân vùng biển và đầm phá; Thanh Hoá chỉ đạo nông trường Vân Du xây dựng tự vệ trong các nhà máy, xí nghiệp. Nổi bật là huyện Hương Phú tổ chức xây dựng các khu định cư đầm phá gắn chặt với xây dựng lực lượng dân quân và huấn luyện diễn tập tại chỗ. Năm là, xây dựng cơ quan quân sự huyện đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, thực hiện được 2 chức năng: làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và chỉ huy lực lượng vũ trang, từng bước nắm vững kiến thức về kinh tế, văn hoá, xã hội, chủ động năng động tổ chức thực hiện ở cơ sở. Địa bàn trực tiếp của huyện là cơ sở, là nơi thường xuyên hoạt động của người chỉ huy và cơ quan quân sự huyện. Sáu là, trong chỉ đạo xây dựng pháo đài quân sự huyện, vừa coi trọng chỉ đạo điểm, vừa chỉ đạo đi sâu dứt điểm một số chuyên đề ở cấp huyện và cơ sở, thẳng xuống cơ sở. Quân khu chỉ đạo tỉnh Nghệ Tĩnh tổ chức rút kinh nghiệm xây dựng huyện miền núi an toàn làm chủ tại Kỳ Sơn để thúc đẩy phong trào ở các huyện biên giới khác. Các tỉnh cùng chỉ đạo triển khai và từng bước sơ kết các chuyên đề: xây dựng lực lượng; giải quyết quân nhân đào ngũ và thu hồi vũ khí chất nổ; chống vượt biên, vượt biển gắn với xây dựng xã, cơ sở an toàn làm chủ; phòng vệ dân sự ở một phường, xã của thành phố Vinh... _____________________________________________ 1. Thanh Hoá làm công trình đạt 127%, Nghệ Tĩnh 80%, Bình Trị Thiên 90%, Trung đoàn công binh 414 làm đường trên đảo, ở Lào và Sở chỉ huy Quân khu đạt 100%. 2. Ngày 21-2-1978, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 38/CT-KT xác định: "Kết hợp kinh tế với quốc phòng, xây dựng huyện thành pháo đài quân sự”. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Hai, 2024, 10:12:23 pm Quá trình xây dựng pháo đài quân sự huyện từ Quân khu đến cơ sở những năm qua có chuyển biến về nhận thức, thể hiện việc quán triệt sâu sắc đường lối quân sự của Đảng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, về 2 nhiệm vụ chiến lược. Nhờ vậy công tác xây dựng pháo đài quân sự huyện toàn Quân khu đã đạt được một số kết quả. Tuy nhiên, chất lượng một số mặt còn yếu, nhất là ở cơ sở chưa vững chắc, chưa nhiều, chưa đồng đều, rộng khắp kể cả những nơi được Quân khu, tỉnh tập trung xây dựng. Một số nơi có thực trạng là trên xuống thì dưới lên, trên lên thì dưới xuống", do chỉ đạo của trên và của huyện chưa đặt đúng vấn đề xây dựng cơ sở phù hợp tình hình mới. Có thể nói công tác xây dựng pháo đài quân sự huyện có một số mặt chưa đáp ứng yêu cầu chiến đấu trước mắt và lâu dài. Trong số 64 huyện thì 20 huyện chưa có kế hoạch tác chiến cơ bản, nhiều huyện chưa luyện tập theo phương án tác chiến đề ra. Số huyện bảo đảm tự cân đối lương thực còn mỏng (13/64 huyện, thị, thành). Công tác bảo đảm, nhất là hệ thống thông tin chỉ huy còn bất cập, nhiều cơ sở nơi trọng yếu, vùng biên giới còn yếu1. Quân khu và 3 tỉnh sơ kết xây dựng pháo đài quân sự huyện, huyện an toàn làm chủ đánh giá những thành công và hạn chế trên cơ sở nhìn nhận mới trong bước mở đầu tiến vào thời kỳ đổi mới đất nước. Đảng ủy Quân khu chủ trương tập trung lãnh đạo công tác thanh niên với những yêu cầu mới đưa vào nội dung đề án Đại hội Đảng các cấp. Ngày 5-3-1986, Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết về thực hiện Nghị quyết 26 Bộ Chính trị "Tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên”. Nghị quyết xác định: “Đối với lực lượng vũ trang Quân khu 4, đoàn thanh niên là một tổ chức quần chúng đông đảo nhất, là lực lượng xung kích thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của đơn vị và địa phương, là đối tượng lãnh đạo chủ yếu của các tổ chức Đảng, quản lý, huấn luyện, chỉ huy của cán bộ các cấp. Thực hiện tốt Nghị quyết 26 Bộ Chính trị, tăng cường công tác lãnh đạo thanh niên góp phần quan trọng trong thực hiện điều chỉnh chiến lược, xây dựng 2 lực lượng (thường trực và dự bị), xây dựng ba thứ quân, xây dựng đơn vị, địa phương vững mạnh toàn diện có sức chiến đấu cao, nâng cao sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang quân khu, củng cố quốc phòng, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng vững chắc. Đẩy mạnh phong trào thi đua "Tuổi trẻ với Đại hội VI", xung kích thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ. Xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh, phát huy vai trò chính trị và làm tốt chức năng của Đoàn góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, không ngừng nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang quân khu”2. Cũng thời gian này, Cục Chính trị Quân khu tổ chức Hội nghị liên tịch với Ban Tuyên huấn, Tỉnh đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên phối hợp hoạt động về công tác thanh niên. Hội nghị nêu rõ một số vấn đề chủ yếu về đẩy mạnh công tác thanh niên, trong đó xác định tập trung giải quyết 4 hiện tượng tiêu cực: trốn tránh không nhận nhiệm vụ; đào bỏ ngũ; tự do vô kỷ luật, trộm cắp, gây gổ; sống thiếu văn minh, lành mạnh. Các đơn vị quân tình nguyện trên đất nước Lào vận dụng vào công tác cơ sở địa bàn, tăng cường đoàn kết liên minh chiến đấu với bạn Lào. Thực hiện chỉ lệnh của Quân khu, các đơn vị, địa phương triển khai kế hoạch bảo vệ an toàn Đại hội Đảng các cấp, thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại toàn diện gắn phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Thực hiện Chỉ thị 135 của Hội đồng Bộ trưởng, các lực lượng vũ trang quân khu tập trung truy quét bọn lưu manh côn đồ, tội phạm, thu hồi vũ khí, chống vượt biên, vượt biển, khai thác buôn bán trầm hương, phế liệu ở biên giới, lập lại an toàn địa bàn, nhất là các tuyến đường 48, 7, 9, 217 và tuyến biên giới Việt - Lào. Khu kinh tế tây đường 48 - Nghĩa Đàn được mùa lớn cả kinh tế cũng như trật tự an ninh được giữ vững. Tỉnh Nghệ Tĩnh phối hợp với các lực lượng phá được tổ chức phản động "Mặt trận dân chủ người H'Mông" ở Kỳ Sơn, bắt 5 tên phản động ở Na Ngoi. Ta và bạn Lào phối hợp vây chặn phá được hành động xâm nhập của bọn phản động lưu vong Hoàng Cơ Minh từ Thái Lan qua Lào tiến về hướng A Lưới nhận thực hiện kế hoạch “Đông Tiến”. Qua đợt sinh hoạt tự phê bình, phê bình trong toàn Đảng bộ cho Đảng ủy Quân khu tổ chức nhằm quán triệt một bước những định hướng của Đại hội Đảng VI và chuyển từ thực hiện Nghị quyết 07 sang Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị đạt được kết quả to lớn. Đảng bộ các cấp đã chuẩn bị tốt nội dung, coi trọng lấy ý kiến cấp dưới, tập trung những vấn đề trọng yếu, tự kiểm điểm gắn với trách nhiệm được giao và thực trạng tình hình đơn vị địa phương, thành khẩn tiếp thu phê bình của đảng viên, quần chúng, đề ra biện pháp sửa chữa khuyết điểm. Tình hình chính trị tư tưởng, tổ chức của lực lượng vũ trang quân khu, đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ và với Đảng bộ, nhân dân 3 tỉnh tốt hơn. Tư tưởng quan điểm của cán bộ, chiến sĩ được nâng lên, lập trường cách mạng được củng cố, xác định rõ ý chí chiến đấu, trách nhiệm, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Kết quả to lớn của đợt sinh hoạt chính trị lần này thể hiện rõ vai trò trung tâm, tính nghiêm túc thẳng thắn và chân tình của Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, trực tiếp là của đồng chí Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu trong tự phê bình, phê bình thời gian đầu thực hiện Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị. Đảng ủy Quân khu họp kiểm điểm đánh giá công tác lãnh đạo những năm qua nêu rõ: Trước tình hình diễn biến phức tạp, thiên tai khắc nghiệt, đời sống nhiều khó khăn, biên chế tổ chức luôn thay đổi, Luật Nghĩa vụ quân sự và cơ chế lãnh đạo của Đảng trong quân đội nhân dân có sự thay đổi, việc thực hiện Nghị quyết 07 trong thời gian chỉ hơn 1 năm nhưng hiệu lực lãnh đạo ở cấp trên cơ sở và một số đơn vị cơ sở bị giảm sút, làm cho hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị không được phát huy. Trong bối cảnh đó, Quân khu vẫn tập trung mọi nỗ lực hoàn thành được các nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ hoàn thành tốt và đạt được thành tựu nhiều mặt. Trong lãnh đạo, Đảng ủy Quân khu đã đánh giá đúng vị trí, vai trò của địa bàn Quân khu nắm vững quan điểm Đông Dương là một chiến trường, sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang quân khu được nâng lên, sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân được củng cố. Quân khu đã quán triệt quan điểm thực tiễn, kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược, trong đó xác định nhiệm vụ chủ yếu là chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu; nắm vững nguyên tắc lãnh đạo tập thể, giữ vững được mối quan hệ với cấp ủy, chính quyền các địa phương trong Quân khu về chấp hành các nhiệm vụ quốc phòng. ______________________________________________ 1. Các nội dung sơ kết xây dựng pháo đài quân sự của Quân khu cũng được thông báo. trao đổi trong họp cụm thi đua với Quân khu 3, Quân khu Thủ đô giữa tháng 5 năm 1986. 2. Nghị quyết 56/NQ-ĐU của Đảng ủy Quân khu 4 - Lưu trữ Quân khu 4. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Hai, 2024, 10:15:06 pm Về hạn chế Đảng ủy Quân khu chỉ rõ: Các đồng chí trong Bộ tư lệnh còn thiếu kế hoạch cụ thể hoá nghị quyết phần việc mình phụ trách. Cơ chế, chế độ và lề lối làm việc chưa được cải tiến. Chưa quan tâm đúng mức xây dựng cơ quan Quân khu vững mạnh toàn diện; chậm đề ra các biện pháp chống đào ngũ. Chế độ kiểm tra của cấp ủy, tiếp thu ý kiến đóng góp của quần chúng chưa thành quy định, nhiều việc giải quyết không kịp thời, về công tác cán bộ, có nhiều trường hợp nắm chưa chắc, nghiên cứu chưa kỹ, nên sử dụng chưa hợp lý hoặc xử lý chậm đối với trường hợp vi phạm kỷ luật1. Để khắc phục những hạn chế đó, Đảng ủy Quân khu nêu 4 vấn đề cần tập trung giải quyết: Tiếp tục chỉ đạo chặt chẽ đợt sinh hoạt tự phê bình, phê bình. Nâng cao ý thức cảnh giác cho cán bộ, chiến sĩ, có kế hoạch đánh địch phá hoại. Tăng cường công tác quản lý kỷ luật. Triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng các cơ quan Quân khu, chấn chỉnh lề lối làm việc, tổ chức chính sách, chỉ đạo kế hoạch làm kinh tế. Từ ngày 16 đến 20-9-1986 Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu lần thứ IV diễn ra tại Sở chỉ huy Quân khu - Đại Huệ. Đây là Đại hội đánh dấu bước phát triển quan trọng trong thời kỳ đầu đổi mới trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng của Quân khu theo đường lối của Đảng. Tham dự Đại hội có 24 đoàn, 248 đại biểu thay mặt cho 12.000 đảng viên của Đảng bộ. Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng đến dự chỉ đạo Đại hội. Các đồng chí Nguyễn Kỳ Cẩm - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tinh ủy Nghệ Tĩnh; Hà Trọng Hòa - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hoá; Thái Bá Nhiệm - Phó Bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên và các đồng chí Đảng ủy quân sự tỉnh, Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã đến. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng về tiến hành Đại hội Đảng các cấp "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật và đổi mới tư duy", Đại hội xác định tư tưởng xuyên suốt là "đoàn kết thống nhất, đổi mới tư duy và hành động". Đại hội đã đóng góp nhiều ý kiến vào Báo cáo chính trị và Điều lệ Đảng (sửa đổi) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Đồng chí Hoàng Cầm - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Quân khu trình bày Báo cáo chính trị của Đảng ủy Quân khu về lãnh đạo thời gian qua về phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới. Đại hội thảo luận đánh giá đúng thực chất kết quả, những yếu kém, từ đó khẳng định trước hết phải thực sự đổi mới tư duy và hành động, đổi mới phong cách lãnh đạo, tác phong lề lối làm việc trong toàn Đảng bộ2. Đánh giá về tình hình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ trong nhiệm kỳ 5 năm qua, Đại hội nêu rõ: Quân khu và các tỉnh đã nỗ lực, đoàn kết nhất trí vượt qua nhiều khó khăn thách thức giành thắng lợi lớn trong sản xuất lương thực, chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, chi viện cho phía trước và làm nghĩa vụ quốc tế đối với bạn Lào, củng cố nền quốc phòng toàn dân, nâng cao thêm một bước sức chiến đấu của lực lượng vũ trang quân khu. Hậu phương được củng cố, thế và lực của chiến tranh nhân dân được tăng cường, tạo thêm những nhân tố mới và khả năng mới phát triển đi lên. Tình hình Đảng bộ có chuyển biến nhiều mặt, vai trò lãnh đạo của Đảng trong toàn Đảng bộ được giữ vững. Tuy nhiên, Quân khu cũng có một số mặt hạn chế như: tổ chức phòng thủ còn nhiều sơ hở, trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang quân khu cả tư tưởng, tổ chức và trang bị chiến đấu còn thấp. Việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân chưa có kế hoạch toàn diện. Chỉ đạo xây dựng huyện nhiều nơi quản lý không chặt chẽ. Sức chiến đấu tổng hợp các lực lượng vũ trang quân khu nhiều mặt còn yếu, hiện tượng tiêu cực trong lực lượng vũ trang còn khá phổ biến và kéo dài, có mặt nghiêm trọng như kỷ luật bộ đội kém, còn nhiều hiện tượng đào bỏ ngũ, mất vũ khí. Tình hình tổ chức cơ sở Đảng chuyển biến chậm, có một số chi bộ và Đảng bộ cơ sở yếu kém. Sau 1 năm thực hiện Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị phát sinh hiện tượng tiêu cực trong lãnh đạo và chỉ huy, vi phạm nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, gây mất đoàn kết nội bộ. ____________________________________________ 1. Công tác đảng, công tác chính trị Quân khu 4, tập III, Biên niên, Nxb Quân đội nhân dân, tr. 212, 214, 215. 2. Theo quy định, Đại hội Đảng cấp quân khu trong toàn quân lần này không bầu cử Ban chấp hãnh Đảng bộ mới. Từ Đại hội Đảng Quân khu lần thứ V (9-1991) mới tiến hành bầu cử. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Hai, 2024, 10:18:11 pm Đại hội xác định 4 nhiệm vụ chính trị cơ bản, các chủ trương công tác chính và công tác xây dựng Đảng bộ trong nhiệm kỳ 1986-1990 là: Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chuyên chính vô sản cùng toàn dân đánh bại về cơ bản các thủ đoạn chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, kết hợp chặt chẽ với chống tiêu cực, trước hết là quét sạch tiêu cực trong nội bộ làm cho các tổ chức cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh, tình hình trật tự trị an trên địa bàn ổn định, chuyển biến mạnh mẽ. Xây dựng tuyến biên giới và tuyến biển, kết hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, huyện, đẩy mạnh công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Về xây dựng lực lượng, tập trung theo phương hướng nâng cao chất lượng, giảm số lượng quân thường trực. Đẩy mạnh phong trào của các lực lượng vũ trang quân khu tham gia sản xuất xây dựng kinh tế, góp phần tăng nguồn lương thực, thực phẩm và nhiều mặt hàng xuất khẩu. Chỉ đạo tổ chức 3 tỉnh chấp hành thực hiện tốt nhiệm vụ hậu phương chi viện cho tiền tuyến. Hết sức coi trọng nâng cao chất lượng công tác nhà trường; tăng cường lãnh đạo và chỉ đạo tổng kết chiến tranh, nghiên cứu khoa học, công tác thanh tra, pháp chế, kiểm tra, quản lý trang bị kỹ thuật, vật tư, tài sản, hậu cần, tài chính. Về công tác xây dựng Đảng, tập trung nâng cao bản chất giai cấp công nhân, nâng cao tính Đảng, tính nguyên tắc, tính chiến đấu, tính tiên phong và phẩm chất cách mạng của đảng viên, làm cho Đảng bộ trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của cấp ủy Đảng, chấp hành nghiêm túc nguyên tắc tổ chức, nguyên tắc lãnh đạo và chế độ tự phê bình, phê bình từ Đảng ủy Quân khu xuống chi bộ. Phát huy vai trò và hiệu lực của chế độ một người chỉ huy ở các cấp, đưa việc thực hiện Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị ngày càng vào nền nếp, hiệu quả cao. Đại hội xác định chủ trương phối hợp với các tỉnh tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp Lào theo yêu cầu của bạn. Sau Đại hội Đảng bộ Quân khu, phong trào "Mỗi người làm 6 việc tốt theo chức trách, mỗi đơn vị giành 6 đỉnh cao theo nhiệm vụ "Tuổi trẻ với Đại hội VI" của Quân khu được nối tiếp từ sau tổng kết 7 năm phong trào thi đua thực hiện cuộc vận động "Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu" của lực lượng vũ trang nhân dân toàn Quân khu1 phát triển sâu rộng theo định hướng đổi mới tư duy và hành động, đã xuất hiện những nhân tố mới nổi bật với nhiều công trình, sản phẩm quan trọng. Công tác quốc phòng địa phương được phát triển mạnh mẽ ở cả ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên. Nổi bật là Thanh Hoá đã xây dựng được phòng tuyến an ninh quốc phòng gồm hai tuyến đông, tây, tập trung 48 xã ven biển, biên giới, 3 thị xã, 8 xã vùng sân bay, 39 xã trục đường sắt và đường 1, xây dựng hoạt động 859 phân đội dân quân tự vệ mạnh. Các huyện Quảng Xương, Nga Sơn, Hoằng Hoá xây dựng được quỹ quốc phòng. Bình Trị Thiên sau bão lụt đã khôi phục trồng cây trồng rừng, sắp xếp 12 điểm và 4 khu dân cư ven biển xây dựng kinh tế đời sống và quốc phòng an ninh. Các đội quy tập hài cốt liệt sĩ đã triển khai nhiệm vụ đưa về nước được 1.846 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện. Đội xây dựng XD8 của Cục Hậu cần xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Cánh Đồng Chum2. Các tổ chức Đoàn thanh niên Quân khu đóng góp 26.123 ý kiến xây dựng Đảng trong đợt sinh hoạt tự phê bình, phê bình. Năm 1986 các cơ sở Đoàn giới thiệu 2.512 đoàn viên ưu tú cho Đảng và 1.840 đoàn viên được kết nạp vào Đảng. Đoàn viên thanh niên là chiến sĩ mới ở Trung tâm 442, Trung tâm 441, Trung đoàn thông tin 80, Trung đoàn bộ đội địa phương 764, Trung đoàn công binh 414 hoàn thành huấn luyện đã hăng hái nhận nhiệm vụ lên vùng biên giới phía Bắc bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Phong trào lao động sản xuất làm kinh tế trong lực lượng vũ trang quân khu chuyển biến theo 3 chương trình kinh tế lớn của Đại hội VI (lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng; hàng xuất khẩu) có ý nghĩa đột phá quan trọng, bước đầu thoát ra khỏi tư tưởng bao cấp đạt hiệu quả thiết thực với ý chí tự lực tự cường cao và nhiều cách làm mới. Công tác hậu cần, kỹ thuật có sự chuyển biến mới, nổi bật ở các đơn vị Trung tâm 442, Sư đoàn 342, Trung đoàn 206, Trung đoàn 414, Sư đoàn 341, Sư đoàn 348, Trung đoàn 654... bằng tự lực là chính, các đơn vị tổ chức làm gạch, vôi, khai thác đá, cát xây doanh trại, nhà xe pháo kho tàng kỹ thuật đạt bằng 2 - 6 năm trước. Nhờ vậy, nhiều khu doanh trại của bộ đội đã cơ bản ngói hoá, mở ra khả năng giải quyết được một mục tiêu quan trọng của quân khu đề ra là đến năm 1990 tất cả đều xây dựng được nhà cấp 4, có một số kho, sở chỉ huy lâu bền. Một số xí nghiệp quốc phòng và lực lượng vũ trang Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, Sư đoàn 342 có sản phẩm xuất khẩu3. Công ty 85 trong mùa khô 1986-1987 có bước tiến vượt bậc, giữ vị trí mũi nhọn kinh tế của quân khu, khai thác được 9.241m3 gỗ thông và gỗ cứng, đã xuất khẩu 6.945m3 sang Nhật, Nam Triều Tiên, Liên Xô; khai thác 50 tấn nhựa thông, đã xuất khẩu 11 tấn cô-lô-phan; trồng hàng vạn cây thông, tu bổ rừng bị tàn phá. Các đơn vị quân tình nguyện ở Lào như Lữ đoàn 176 xây dựng được 20 vườn mang tên Đoàn thanh niên và trồng thêm 8.270 cây, Sư đoàn 968 gieo cấy 145ha lúa, Sư đoàn 324 phát triển chăn nuôi với đàn bò, dê hơn 1.000 con. ______________________________________________ 1. Ngày 2-1-1986, Quân khu tổng kết 7 năm thực hiện cuộc vận động (22-12-1978 - 22-12-1985). Trong quá trình thực hiện cuộc vận động hai Sư đoàn 324 và 341 đều được tuyên dương Đơn vị Anh hùng lần thứ hai, Tiểu đoan 31 được tuyên dương Đơn vị Anh hùng. Trong dịp 2-9-1985, Quân khu được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng; các sư đoàn 324, 341, lực lượng vũ trang các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên đều được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Sư đoàn 968 được thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Sư đoàn 342, 4 năm liền và Lữ đoàn 176, 3 năm liền được Hội đồng Bộ trưởng tặng cờ. 2. Năm 1984 Quân khu được giao nhiệm vụ tìm kiếm cất bốc đưa về nước hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hy sinh ở Lào. 3. Toàn Quân khu xây dựng doanh trại đạt 131% kế hoạch, sản xuất được 1.491 tấn lương thực, 98 tấn đậu lạc, 209 tấn thịt, 106 tấn cá, gần 5 tấn tôm xuất khẩu, 2.000 tấn than, 1.600 tấn xi măng, 11,5 triệu viên gạch, 1,2 triệu viên ngói, 12,4 triệu viên thuốc. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Hai, 2024, 10:23:22 pm Đối với dân quân tự vệ cũng xuất hiện nhiều điển hình mới về làm kinh tế quốc phòng trên địa bàn các huyện Tương Dương, Đô Lương, Diễn Châu, Đức Thọ, Nghi Lộc, Bến Hải, Lệ Ninh, Hương Phú, Bố Trạch, Đồng Hới. Dân quân tự vệ Quảng Xương khai thác hàng trăm mét khối đá xây dựng công trình phòng thủ chào mừng Đại hội Đảng VI (cụm Lưu - Hải - Thái). Lực lượng vũ trang Bình Trị Thiên rà phá bom mìn mở rộng nông trường ở Khe Sanh, làm thủy điện Tả Trạch và nhà máy dệt. Những thành quả trong sản xuất xây dựng kinh tế đạt được theo 4 mục tiêu thiết thực: giữ vững và nâng cao đời sống; giải quyết chính sách; nâng cao sức mạnh chiến đấu; góp sức xây dựng kinh tế địa phương giải quyết được một số phần kinh tế trước những khó khăn gay gắt do biện pháp giải quyết giá - lương - tiền phạm sai lầm, thiên tai lớn, nguồn viện trợ từ bên ngoài giảm hẳn. Đầu tháng 11 năm 1986, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu họp đánh giá các mặt hoạt động của Quân khu từ sau Đại hội Đảng Quân khu lần thứ IV, đồng thời nêu rõ cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường công tác sẵn sàng chiến đấu và công tác tư tưởng hướng về Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI họp tại Hà Nội mở đầu thời kỳ đổi mới đất nước. Đại hội đã thảo luận và nhất trí về đường lối đổi mới toàn diện đất nước, xác định nhiệm vụ cấp bách nhất là đổi mới tư duy kinh tế, nêu rõ vai trò của các thành phần kinh tế trong công cuộc đổi mới; khẳng định kinh tế quốc doanh là nền tảng của kinh tế cả nước; thống nhất quan điểm và chủ trương mới về công nghiệp hoá, tập trung 3 chương trình kinh tế lớn và quản lý kinh tế, kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nhấn mạnh sự thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội. Đối với nhiệm vụ quốc phòng an ninh, Đại hội nhấn mạnh: Phải quán triệt và thực hiện đúng quan điểm “toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”. Đại hội quyết nghị: “Trong giai đoạn mới phải xây dựng chính quy, ngày càng hiện đại, có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, có tổ chức hợp lý, cân đối, gọn và mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiến đấu cao”. “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời làm tốt nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Campuchia”. Về nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, Điều lệ Đảng được Đại hội thông qua ghi rõ: “Quân đội nhân dân Việt Nam... đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tập trung thống nhất về mọi mặt của Đảng theo một quy chế chặt chẽ do Ban Chấp hành Trung ương quy định”1. Tổ chức Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam được “Tổ chức theo hệ thống dọc từ cơ sở lên đến toàn quân theo quy định của Ban Chảp hành Trung ương”2. Tại Đại hội, Thượng tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu và Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ Đại hội Đảng VI, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới sâu sắc. Cùng với toàn quân, toàn dân, quân và dân Quân khu 4 phát huy mạnh mẽ truyền thống anh hùng, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Năm 1987 - năm đầu toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VI và Đại hội Đảng các cấp, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, cả nước bắt đầu thực hiện chuyển hướng chiến lược quốc phòng bảo vệ Tổ quốc được triển khai với những nội dung lớn quan trọng là: đổi mới, điều chỉnh bố trí lại lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước và từng địa phương; củng cố xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh gắn chặt với xây dựng đất nước mạnh lên về kinh tế; chấm dứt xung đột vũ trang; chấn chỉnh tổ chức biên chế, giảm mạnh quân thường trực, nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, ngày càng hiện đại, có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, có tổ chức hợp lý, cân đối, gọn và mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ chiến đấu và sức chiến đấu cao, coi trọng huấn luyện và quản lý lực lượng dự bị động viên gắn chặt củng cố nâng cao chất lượng dân quân tự vệ. Quân đội tích cực tham gia xây dựng phát triển kinh tế, làm tròn nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Campuchia trong điều kiện mới. Đối với Quân khu 4, ngày 10-1-1987, Đảng ủy ra nghị quyết xác định rõ nhiệm vụ tập trung của Đảng bộ và lực lượng vũ trang, công tác quốc phòng địa phương, đề ra 3 nhiệm vụ cụ thể để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ IV: Chuyển hướng sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, cơ quan Quân khu, các tỉnh đối với công tác quân sự địa phương và nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Đổi mới cơ chế, phong cách lề lối làm việc từ Quân khu đến cơ sở theo hướng sát cơ sở, sát thực tiễn, giải quyết tại cơ sở. Tăng cường lãnh đạo công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện, công tác quản lý và kế hoạch hoá, công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện nghị quyết, chấp hành nhiệm vụ. Trong chỉ đạo triển khai nhiệm vụ quân sự quốc phòng theo đường lối đổi mới, điều chỉnh bố trí chiến lược lớn, tại Hội nghị quân chính Quân khu đầu năm 1987, Bộ tư lệnh kết luận tập trung thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bốn nhiệm vụ cụ thể và công tác xây dựng Đảng do Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu lần thứ IV xác định và ba chương trình kinh tế lớn do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra. Bộ tư lệnh Quân khu nêu rõ: Tiếp tục thực hiện cuộc vận động lớn: làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, làm trong sạch và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước, đẩy lùi và xoá bỏ các hiện tượng tiêu cực, làm lành mạnh các quan hệ xã hội và thực hiện công bằng xã hội; đồng thời thực hiện ba đổi mới: tư duy và hành động, phong cách lề lối làm việc, tổ chức cán bộ. _____________________________________________ 1, 2. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 72, 73. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Hai, 2024, 10:27:23 pm Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và Nghị quyết Đại hội Đảng Quân khu lần thứ IV, toàn Quân khu và các tỉnh triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự quốc phòng cùng với việc điều chỉnh lớn về lực lượng cả ở cơ quan, đơn vị và quân tình nguyện theo đúng tinh thần của Nghị quyết 33 Bộ Chính trị khoá V1 và Nghị quyết Đại hội Đảng VI. Theo chủ trương đó, công tác quân sự địa phương trong Quân khu được triển khai đồng bộ, toàn diện và đổi mới trên các mặt: Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, hiệp đồng chặt chẽ giữa lực lượng chủ lực, địa phương Quân khu với bộ đội biên phòng, công an nhân dân, dân quân tự vệ đánh bại chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch. Tăng cường giáo dục ý thức quốc phòng toàn dân, nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang địa phương. Thực hiện tốt gọi thanh niên nhập ngũ và công tác động viên. Quân khu tiếp tục đẩy mạnh xây dựng pháo đài quân sự huyện, huyện an toàn làm chủ gắn với xây dựng và tăng cường cấp huyện, gắn kinh tế với quốc phòng. Xây dựng pháo đài quân sự huyện gắn liền xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện, củng cố chất lượng các huyện điểm, phát triển thêm 6 huyện biên giới là Bá Thước, Thường Xuân, Tương Dương, Hương Sơn, Tuyên Hoá, A Lưới; 8 huyện ven biển là Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Tĩnh Gia, Quỳnh Lưu, Nghi Xuân, Kỳ Anh. Bến Hải, Phú Lộc, 2 thành phố là Vinh và Huế, 3 thị xã là Bỉm Sơn, Thanh Hoá, Đông Hà. Tập trung xây dựng làng xã chiến đấu, cụm chiến đấu liên hoàn tuyến biển, bản, xã tuyến biên giới và những xã phường khu vực phòng thủ trọng điểm nội địa. Thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu thường xuyên. Các đơn vị đã phối hợp với dân quân tự vệ, bộ đội biên phòng, công an quản lý địa bàn, tuần tra canh gác, xây dựng lực lượng cốt cán, tổ chức nắm địch trong dân quân tự vệ ở khu vực tuyến biển, biên giới, trọng điểm trục đường giao thông, triệt phá một số băng nhóm tội phạm nguy hiểm, ngăn chặn được trên 60% vụ nhen nhóm hoặc đang vượt biển, nhiều vụ vượt biên có mục đích chính trị2. An ninh chính trị được giữ vững. Tiến hành kiềm tra, củng cố tổ chức, giao nhiệm vụ và luyện tập cho các lực lượng sẵn sàng cơ động, củng cố khả năng sẵn sàng chiến đấu trên tuyến đảo. Tuyển quân đợt 1 hoàn thành 100% kế hoạch gồm 26.200 quân, huấn luyện xong bổ sung cho toàn quân. Kết quả huấn luyện giai đoạn 1 cả bộ binh, binh chủng đạt khá. Công tác động viên quản lý nguồn tốt hơn, đạt trên 90% quân dự bị chuyển về huấn luyện tại cơ sở, đồng thời chuẩn bị diễn tập động viên ở hai sư đoàn 342, 341, các trung đoàn binh chủng và một số phân đội ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên. Công tác kỹ thuật chỉ đạo tập trung mọi khả năng các xưởng, trạm, kho thuộc Cục và các đơn vị nỗ lực thực hiện được khối lượng lớn công việc như thu hồi, dồn dịch, sắp xếp, sửa chữa tại chỗ và lưu động, ưu tiên xây dựng kho tàng; đổi mới tư duy và phong cách tạo chuyển biến mới về tổ chức quản lý nâng cao chất lượng, hiệu quả sửa chữa quốc phòng, tham gia xây dựng kinh tế, bảo đảm cho sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Phong trào khai thác vật liệu xây dựng doanh trại, kho kỹ thuật, sản xuất làm kinh tế phát triển đều ở các đơn vị, địa phương, cơ quan; riêng về xây dựng trong 5 tháng đầu năm 1987 đạt bằng cả năm trước. Đồng thời tìm biện pháp khắc phục thiếu thốn, đầu tư mới chủ yếu bằng vốn tự lực đẩy nhanh mục tiêu xây dựng Sở chỉ huy Quân khu tại Vinh. Hầu hết các đơn vị đều đẩy mạnh tăng gia sản xuất, góp phần đưa thêm vào bữa ăn bộ đội từ 3 - 5 đồng/người/ngày. Công tác hậu cần chú trọng đầu tư tuyến cơ sở đại đội, tiểu đoàn. Các đơn vị ở Lào giảm hẳn bệnh sốt rét, không xảy ra hiện tượng phù teo. Trong những tháng đầu năm 1987, lãnh đạo, chỉ huy Quân khu có những thay đổi lớn. Thượng tướng Hoàng Cầm - Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu nhận nhiệm vụ mới ở Bộ. Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân khu. Trung tướng Đặng Hòa - Phó tư lệnh - Chủ nhiệm Chính trị được chỉ định quyền Bí thư Đảng ủy Quân khu. Đại tá Nguyễn Xuân Chí giữ chức Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu được chỉ định vào Thường vụ Đảng ủy Quân khu. Sau một thời gian, Đại tá Lê Văn Dánh - Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu được bổ nhiệm giữ chức Phó tư lệnh Chính trị Quân khu. Đại tá Võ Chót - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 324 được bổ nhiệm Phó tư lệnh Quân khu. Công tác điều chỉnh lực lượng của quân khu được chỉ đạo thực hiện từng bước chặt chẽ, nghiêm túc theo mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng và chỉ thị của Tư lệnh Quân khu đầu năm 1987. Việc chấn chỉnh tổ chức, giảm quân số bắt đầu từng bước, tiến tới giảm quân số lớn đến năm 1990 và những năm tiếp theo, trong đó cơ quan các cấp, cơ sở bảo đảm phục vụ giảm từ 20 đến 25% biên chế theo quy định trước đây, tiếp đó giảm thêm 10 đến 15%. Mục đích là nhằm chấn chỉnh một bước lực lượng vũ trang quân khu theo hướng tinh giảm biên chế, nâng cao sức chiến đấu và trình độ sẳn sàng chiến đấu. Chấp hành Nghị quyết 47 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, tiếp tục kiện toàn bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương theo hướng gọn mạnh, chính quy, kỷ luật nghiêm minh, giữ vững kỷ cương, xây dựng dân quân tự vệ và các lực lượng dự bị động viên trong sạch vững mạnh, chất lượng chiến đấu cao, đủ sức làm nòng cốt chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt và giữ vững an ninh chính trị ở từng địa phương, hết sức chú trọng khu vực xung yếu và địa bàn trọng điểm3. Quân khu bố trí ưu tiên lực lượng cho các đơn vị quân tình nguyện ở Lào, lực lượng cơ động gồm: bộ binh, binh chủng, các đảo; điều chỉnh hợp lý hệ thống nhà trường và khung huấn luyện chiến sĩ mới; soát xét kỹ lực lượng làm kinh tế, cơ quan các cấp, cơ sở bảo đảm phục vụ. Quá trình thực hiện, tập trung lãnh đạo chặt chẽ công tác tư tưởng, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ phù hợp, giải quyết chính sách có tình có lý, chấp hành nghiêm kỷ luật, quản lý chặt chẽ vật tư, tài chính, tài sản, tổ chức thanh tra, kiểm tra kịp thời, cụ thể. Trong năm 1986 Quân khu giải thể Trung tâm huấn luyện chiến thuật - chiến dịch, các đội cắm mốc biên giới, các trạm đón quân trả phép, bàn giao bộ đội biên phòng4, sáp nhập Phòng Cán bộ chính trị và Phòng Cán bộ binh chủng hợp thành. _______________________________________________ 1. Nghị quyết 33/NQ-TW ngày 21-7-1986 của Bộ Chính trị (khoá V) về nhiệm vụ quốc phòng 1986-1990 xác định rõ: "Trên cơ sở kế hoạch phòng thủ chiến lược lâu dài của đất nước, kế hoạch xây dựng lực lượng vũ trang dài hạn mà chấn chỉnh tổ chức quân đội hợp lý, gọn mạnh, giảm số lượng nhưng chất lượng chiến đấu tổng hợp và trình độ sẵn sàng chiến đấu cao, đáp ứng mọi tình huống của chiến tranh xẩy ra". 2. Bắt ở A Lưới và Hướng Hoá: 6 vụ 9 người, trên đường 8: 2 vụ 10 người. 3. Nghị quyết 02/NQ-ĐU ngày 10-1-1987 của Đảng ủy Quân khu 4, lưu tại Bộ tư lệnh Quân khu 4. 4. Ngày 4-9-1986, Thiếu tướng Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh Quân khu thay mặt Bộ tư lệnh Quân khu 4 bàn giao Cục Biên phòng Quân khu và bộ đội biên phòng 3 tỉnh sang thuộc quyền Bộ lư lệnh Biên phòng do Thiếu tướng Trịnh Trân - Phó tư lệnh Bộ đội Biên phòng tiếp nhận. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 11:55:36 am Triển khai thực hiện Nghị quyết 47 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương về thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ các cấp nghỉ hưu, cán bộ thường trực về ngạch dự bị và công nhân viên quốc phòng, quân nhân chuyên nghiệp giảm biên chế về địa phương, tháng 3 năm 1987, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị liên tịch với lãnh đạo, chính quyền 3 tỉnh bàn chuyên đề giải quyết chính sách hậu phương quân đội khi lực lượng điều chỉnh chuyển về địa phương rất lớn, bao gồm cả Quân khu và các đơn vị toàn quân - một nhiệm vụ nặng nề của công tác quân sự địa phương, tác động trực tiếp đến tình hình xã hội, quốc phòng, an ninh của mỗi tỉnh. Quân khu và các tỉnh thống nhất: trên dưới cùng lo, tổ chức và cá nhân cùng làm, thực hiện đạt mục đích Nghị quyết Đại hội Đảng VI xác định: "Tạo bước chuyển biến tốt về mặt xã hội, bảo đảm nhu cầu quốc phòng - an ninh", cùng triển khai những cách làm mới, với các biện pháp cụ thể: Đối với sĩ quan nghỉ hưu, mất sức chưa có nhà ở: xét cấp đất, dành tỷ lệ một số căn hộ ở, nhượng bán một số nguyên vật liệu, nhất là các đồng chí qua ba cuộc chiến tranh. Sĩ quan1 và quân nhân chuyên nghiệp chuyển ngạch sĩ quan dự bị, dự bị động viên: tạo việc làm, nhất là ở khu vực thành phố, thị xã, thị trấn. Tổ chức việc học tập, đi lao động hợp tác ở nước ngoài. Động viên đón nhận anh em thương bệnh binh nặng về làng bảo đảm chế độ cho các gia đình chính sách. Nghiên cứu mở rộng tổ chức "Hội quân nhân hậu phương" như ở xã Thiệu Quang - Thanh Hoá, xã Phúc Sơn - Nghệ Tĩnh phát huy bản chất truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược2 xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Quân khu trích 10% tổng thu kinh tế trong năm giải quyết chính sách hợp lý cho các đối tượng. Sự thống nhất giữa Quân khu và các tỉnh trong công tác chính sách đã góp phần ổn định tư tưởng, tổ chức của lực lượng vũ trang và củng cố hậu phương ngày càng vững chắc. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, sự kiện nổi bật nhất trong cả nước là cuộc bầu cử Quốc hội khoá VIII và Hội đồng nhân dân các cấp ngày 19-4-1987. Quân khu vừa lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tốt bầu cử ở các địa điểm bỏ phiếu do từng đơn vị đảm nhiệm, đồng thời phối hợp với các địa phương tuyên truyền, giáo dục và sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm an toàn, góp phần vào thành công lớn của cuộc bầu cử. Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân khu trúng cử đại biểu Quốc hội khoá VIII. Trước tình hình thế giới có những diễn biến nhanh, nhiệm vụ của quân đội, của Quân khu có những phát triển mới, cần có những chủ trương lãnh đạo kịp thời, đầu tháng 7 năm 1987 Đảng ủy Quân khu họp mở rộng dưới sự chủ trì của đồng chí Đặng Hòa, quyền Bí thư Đảng ủy Quân khu, hội nghị xác định các nhiệm vụ cấp bách: Nhận rõ âm mưu, thủ đoạn chiến lược phá hoại toàn diện của Mỹ và các thế lực thù địch trong xu thế đối thoại - hòa hoãn chung, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị đánh bại các thủ đoạn kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, kết hợp với thực hiện cuộc vận động làm trong sạch nội bộ ta, giữ vững an ninh chính trị trong mọi tình huống. Chuyển hướng thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Lào cho phù hợp với tình hình phát triển mới và yêu cầu điều chỉnh lực lượng quân tình nguyện. Chỉ đạo chặt chẽ thực hiện điều chỉnh lực lượng đi đôi xây dựng nâng cao chất lượng tổng hợp các lực lượng vũ trang ba thứ quân, đặc biệt là cùng các tỉnh tập trung sức nâng cao chất lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, cơ sở xã phường. Sản xuất, tiết kiệm, tổ chức quản lý chặt chẽ bảo đảm đời sống bộ đội, nhất là các bếp ăn cấp tiểu đoàn trở xuống thiết thực nâng cao sức chiến đấu và củng cố kỷ luật. Xây dựng Đảng bộ, nâng cao năng lực toàn diện đội ngũ cán bộ3, nhất là đội ngũ cán bộ chính trị, hậu cần và cán bộ quân sự địa phương. Hội nghị xác định cần chuyển hướng mạnh mẽ, thiết thực và hiệu quả hơn nữa về chỉ đạo thực hiện công tác quân sự địa phương trong tình hình mới. Các tỉnh ra nghị quyết hoặc chỉ thị về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trước sự phát triển mới của tình hình Quân khu, quân đội và đất nước. Hưởng ứng kịp thời những bài viết trên báo Nhân dân của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (lấy bút danh N-V-L) về những việc cần làm ngay, ngày 18-7-1987 Tư lệnh Quân khu ra Chỉ thị số 125/CT-TL triển khai những việc cần làm ngay trong Quân khu, trước hết là chấp hành nghiêm minh các chỉ thị, mệnh lệnh, kế hoạch, kiên quyết kịp thời phát hiện khắc phục tiêu cực nội bộ4, củng cố kỷ luật bộ đội, quản lý chặt chẽ vật chất tài chính, nghiêm cấm việc khoán cho bộ phận hoặc cá nhân tự làm kinh tế. Tiếp đó, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị chuyên đề về chấp hành kỷ luật, pháp luật, giáo dục phát huy truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" trong toàn Quân khu. Các cơ quan Quân khu, các ngành kiểm tra, thanh tra, pháp chế trực tiếp đề xuất các chủ trương, biện pháp và tổ chức thực hiện nhằm tạo khí thế mới trong xây dựng các cơ quan, đơn vị. _____________________________________________ 1. Số cán bộ dư biên chế thời điểm này là 36%. 2. Thiếu tướng Trần Ân - Phó tư lệnh Quân khu phụ trách công tác quân sự địa phương đã cùng cơ quan Quân khu đến tận các cơ sở này nghiên cứu. rút kinh nghiệm. Đây cũng là cơ sở bước đầu hình thành Hội Cựu chiến binh vào cuối năm 1989. 3. Thực hiện Nghị quyết số 07/NQ-TW ngày 15-12-1982, cơ quan cán bộ chuyển sang trực thuộc Bộ tư lệnh Quân khu. Đến ngày 12-2-1984, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 172/QĐ-QP thành lập Phòng Cán bộ chính trị thuộc Cục Chính trị để theo dõi, quản lý, sắp xếp cán bộ chính trị. 4. Tòa án quân sự Quân khu xét xử vụ một trợ lý Phòng Quân lương "vi phạm chế độ tem phiếu” với mức án 13 năm tù giam, bồi thuờng số tem lương thực 301.901kg. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 11:59:32 am Ngày 30-7-1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 02 về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới, cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI về chuyển hướng chiến lược phòng thủ đất nước, thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, giữ vững hòa bình để xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện rõ quan điểm đổi mới của Đảng trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Ngày 30-11-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 20 về nhiệm vụ quốc phòng địa phương của các cấp ủy, chính quyền, các ban ngành đoàn thể. Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 20 của Ban Bí thư là cơ sở cho Quân khu có căn cứ bàn bạc với các địa phương đẩy mạnh công tác quân sự địa phương, thực hiện có hiệu quả việc chuyển hướng chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Quán triệt nghị quyết của Bộ Chính trị, chỉ thị của Ban Bí thư và thực hiện những nhiệm vụ cấp bách mà Nghị quyết Đảng ủy Quân khu giữa năm 1987 đề ra, các địa phương đầu tư hiệu quả hơn việc xây dựng thế trận phòng thủ trên các hướng chủ yếu, nhất là tiếp tục củng cố chất lượng xây dựng huyện gắn với xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ. Trên cơ sở thành tựu đạt được có những bước phát triển mới, nhiều huyện bước đầu thống nhất tiêu chuẩn làm căn cứ xác định xã, phường an toàn làm chủ gồm 5 nội dung: 1. Có chi bộ, Đảng bộ trong sạch vững mạnh. 2. Kinh tế phát triển, đời sống ổn định, hoàn thành kế hoạch và nghĩa vụ đối với Nhà nước. 3. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng được lực lượng vũ trang và an ninh mạnh. 4. Xây dựng nền văn hoá mới, con người mới ngày càng nền nếp. 5. Thực hiện tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, chính quyền quản lý, điều hành. Những tháng cuối năm 1987, Quân khu chỉ đạo các tỉnh đẩy mạnh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Ở Bình Trị Thiên, 14 huyện, thị, thành đều làm điểm xây dựng xã an toàn làm chủ, có mô hình mới liên kết giữa xã - đồn biên phòng như xã Tân Phước với đồn biên phòng Lao Bảo. Quân khu cùng tỉnh chỉ đạo xã Gio Việt tổ chức lực lượng dân quân chiến đấu trên biển. Tỉnh rà xét dân quân tự vệ 410/410 xã và 545/612 cơ sở tự vệ, đưa 27.330 người không đủ tư cách ra và phát triển mới 8.760 người. Một số địa phương trong tỉnh giữ được phong trào "cân thóc quốc phòng, ngày công quốc phòng” có quỹ quốc phòng 3 cấp: huyện, xã, gia đình. 100% cán bộ xã, phường ở 3 tỉnh sau bầu cử Hội đồng nhân dân được sắp xếp lại, các xã, phường đội trưởng đều là đảng viên, trong đó có 59,7% tham gia cấp ủy địa phương1, các phân đội dân quân tự vệ được củng cố. Theo tinh thần đổi mới, bám sát yêu cầu thực tiễn đặt ra, Cục Chính trị và Bộ Tham mưu Quân khu đã nghiên cứu đổi mới nội dung giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự theo yêu cầu "đánh như thế nào thì huấn luyện như thế" cho dân quân tự vệ, dự bị động viên, từng bước tìm cách khắc phục những khó khăn về tổ chức, huấn luyện, hoạt động trong chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế2. Trong số các huyện, huyện Lệ Ninh nổi bật với cách làm mới, vận dụng phương châm "trên dưới cùng làm, đơn vị và địa phương cùng làm", đi đầu trích ngân sách địa phương tập trung huấn luyện 300 quân dự bị 10 ngày, có cán bộ quân sự xã và khung đơn vị thường trực tổ chức trực tiếp. Từ kinh nghiệm của Lệ Ninh, việc gắn đơn vị, địa phương tạo nguồn, quản lý, huấn luyện, diễn tập lực lượng dự bị động viên đạt chất lượng ngày càng tốt hơn. Sư đoàn 324 tổ chức diễn tập lực lượng dự bị động viên ở các huyện Bến Hải, Lệ Ninh. Sư đoàn 341 diễn tập ở các huyện Yên Thành, Tân Kỳ, Quỳnh Lưu, Diễn Châu. Sư đoàn 390 (Quân đoàn 1) diễn tập ở các huyện Hà Trung, Thiệu Yên, Nga Sơn, Vĩnh Lộc. Trường đại học Sư phạm và đại học Y khoa Huế, đại học Sư phạm Vinh tổ chức đào tạo sinh viên tốt nghiệp thành sĩ quan dự bị mỗi lớp 3 tháng. Các sư đoàn và Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá, Bình Trị Thiên tiến hành xong diễn tập động viên; các sư đoàn 342, 341 và 5 trung đoàn binh chủng của quân khu, một số phân đội của 3 tỉnh hoàn thành kế hoạch diễn tập động viên. Trong sản xuất, làm kinh tế, nổi bật là Công ty hợp tác kinh tế Quân khu với vốn ít ỏi năm 1985, qua mùa khô 1986-1987 đã phấn đấu đạt tổng thu 45 vạn USD, mua sắm được một số xe, máy mới để khai thác, vận chuyển gỗ xuất khẩu, tiếp tục mở rộng sản xuất và hoàn trả lại Quân khu đem về niêm cất. Kết quả đạt được của công ty thể hiện sinh động quan điểm kinh tế - chính trị, kinh tế - quốc phòng, tạo thế đứng vững cho cả ta và Lào ở khu trung tâm, hậu phương chiến lược khi lực lượng quân tình nguyện rút về nước. ______________________________________________ 1. Thời gian này, Quân khu có 1.703 xã, phường, 1.848 cơ sở tự vệ. Lực lượng dân quân tự vệ cơ động có 20 đại đội, 1.288 trung đội, 140 tiểu đội. 2. Thực hiện khoán 10 trong nông nghiệp và quy định 217 trong các xí nghiệp. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 12:00:15 pm Thực hiện chỉ thị của Tư lệnh Quân khu về sẵn sàng chặn đánh tiêu diệt lực lượng phản động lưu vong do Hoàng Cơ Minh đứng đầu từ Thái Lan xâm nhập về biên giới, các đơn vị, địa phương triển khai cụ thể theo phương án: ở ngoại biên có kế hoạch chặn đánh không cho chúng xâm nhập; khi địch vào nội địa, kiên quyết lùng bắt. Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên triển khai lực lượng trinh sát và lực lượng của huyện A Lưới, gồm 11 tiểu đội dân quân thường trực chiến đấu của các xã chống xâm nhập. Quân khu cử Đại tá Trương Đình Thanh - Phó Tham mưu trưởng Quân khu và đồng chí trưởng Phòng Tác chiến vào chỉ đạo tổ chức thực hiện1; đồng thời bổ sung một số cán bộ, lực lượng trinh sát, thông tin vào góp phần cùng lực lượng tại chỗ đập tan âm mưu phá hoại của bọn phản động Hoàng Cơ Minh. Cùng với thực hiện "những việc cần làm ngay", Thường vụ Đảng ủy Quân khu kịp thời có chủ trương, cách làm mới về chỉ đạo tổ chức đợt sinh hoạt tự kiểm điểm, phân loại chất lượng đảng viên, tổ chức Đảng. Các tổ chức Đảng tập trung rà xét, đánh giá số đảng viên trong Đảng bộ có đủ phẩm chất năng lực người đảng viên cộng sản; số đảng viên bị quần chúng chê, ghét, không xứng đáng là bao nhiêu. Kết quả sửa chữa sau tự phê bình, phê bình theo Chỉ thị 79, việc gì đã dứt điểm, việc gì chưa. Các cấp ủy từ chi ủy trở lên đã trong sạch vững mạnh chưa và quần chúng có ý kiến như thế nào về 3 vấn đề trên. Qua đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, tình hình Đảng bộ có bước chuyển biến mới, nhất là về ý chí, trách nhiệm, tinh thần khắc phục khó khăn thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Qua một số năm phấn đấu, tổ chức phòng thủ đất nước và các lực lượng vũ trang có sự chuyển biến quan trọng, từ tháng 7 năm 1987, toàn quân khu2 thực hiện điều chỉnh lực lượng quy mô lớn, đồng thời bố trí lại lực lượng chiến lược để kết hợp giữa nhiệm vụ tác chiến với xây dựng lực lượng và thế trận. Theo phương hướng tinh giảm biên chế, quân số từ tháng 9 năm 1987, Quân khu quyết định giải thể Trung tâm huấn luyện chiến sĩ mới 441; sáp nhập Trường Đảng, Trường Văn hoá vào Trường Quân chính Quân khu; giải thể Trường Hậu cần - kỹ thuật chuyển một bộ phận sang Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật, chuyển Trường Quân y về Viện quân y 268; giải thể Cục Kinh tế và kiện toàn Phòng Kinh tế. Ở Lào, các sư đoàn 324, 968, Lữ đoàn 176 nhận thức đúng tình hình nhiệm vụ, phối hợp chặt chẽ với bạn bàn giao cụ thể địa bàn, đảm bảo bí mật, an toàn chấp hành đúng quy định quan hệ quốc tế Việt - Lào. Tháng 11 năm 1987, các đơn vị tổ chức hành quân về nước an toàn. Đánh giá về những thành tựu bước đầu xây dựng theo đường lối đổi mới của Đảng, ngày 11-1-1988 Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu họp nêu rõ: Quán triệt đường lối quan điểm đổi mới của Đảng, Quân khu đã thực hiện được nhiều việc lớn trong chuyển hướng về nhiệm vụ quốc phòng, chấn chỉnh tổ chức biên chế, điều chỉnh bố trí lại đội hình theo ý định chiến lược mới; các mặt công tác đều triển khai tích cực hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Trong lãnh đạo, chỉ đạo đã chú trọng cả về quân sự và chính trị, tư tưởng và tổ chức, giải quyết được nhiều vấn đề cơ bản theo phương hướng đúng đắn, có những cách làm mới, phù hợp tình hình thực tế của Quân khu. Quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ đã từng bước đổi mới tư duy và hành động, phong cách làm việc, tập trung khâu then chốt xây dựng Đảng, tăng cường đi sát cơ sở, đối thoại với cấp dưới, mở rộng tự phê bình, phê bình, phát huy dân chủ, tạo được nhất trí trên dưới, trong ngoài thuận lợi. Tuy nhiên, kết quả chưa tương xứng, đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới. Công tác quân sự địa phương phát triển chưa mạnh, chưa đồng đều, giáo dục quốc phòng làm được ít; những sơ hở mất cảnh giác còn nhiều, an ninh vùng biển và biên giới chưa tốt; tình hình chấp hành kỷ luật tiến bộ chậm, nhiều đơn vị còn nặng về biện pháp hành chính, chưa mở rộng dân chủ đề cao kỷ luật. Hiệu suất chiến đấu, công tác của bộ đội tình nguyện ở Lào còn hạn chế. Việc nhận xét đánh giá, đề bạt, sử dụng cán bộ một số trường hợp chưa chính xác, chưa thực hiện đầy đủ dân chủ trong công tác cán bộ. Nhìn chung, Quân khu đã thực hiện được một bước về chấn chỉnh lực lượng, giảm mạnh quân số, đẩy mạnh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, nâng cao sức mạnh và khả năng phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của các thế lực thù địch, tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế với Lào. ______________________________________________ 1. Báo cáo công tác quân sự địa phương của Đại tá Nguyễn Quốc Khánh - Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Trị Thiên, số 209/Tac ngày 15-9-1987 như sau: theo tin của bạn và Quân khu 5, lực lượng phản động Hoàng Cơ Minh sau khi 3 toán xâm nhập nội địa không thành, ngày 12-7-1987, chúng tổ chức xâm nhập lần thứ 4 qua Lào về tây A Lưới, nam Hướng Hoá gồm 140 tên, trong đó có 25 tên phản động Lào dẫn đường do Hoàng Cơ Minh trực tiếp chỉ huy. Chúng bị lực lượng bạn và quân tình nguyện chặn đánh 16 trận, trận cuối diễn ra ngày 29 tháng 8 ở đông nam Ka Lum. Kết thúc chiến dịch, ta và bạn diệt 40 tên, bắt và gọi hàng 63 tên, thu 15 AK, 3 B.40, 2 M.79, 1 K.54, 1 bộ bàn đồ, cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng và 5 bước công tác của chúng. Hoàng Cơ Minh và bộ tham mưu của chúng bị diệt, còn khoảng 10 tên bỏ chạy. 2. Từ tháng 7-1987 đến cuối 1990, toàn quân giảm 55% tổng quân số. (Sách "Tổng kết công tác chỉ huy - tham mưu chiến lược trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc", tr. 126). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 12:02:23 pm 2. Quân khu định hình sớm mô hình quốc phòng an ninh ở cơ sở, tập trung xây dựng bộ đội chủ lực và địa phương, diễn tập khu vực phòng thủ; kiên quyết bảo vệ đường lối quan điểm đổi mới của Đảng. Những tháng cuối năm 1987, Quân khu tiếp tục đẩy mạnh các mặt xây dựng theo đường lối đổi mới của Đảng. Tháng 10 năm 1987, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị cán bộ chủ trì cao cấp, trung cấp toàn Quân khu quán triệt Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ quốc phòng. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp đều nhất trí cao nghị quyết của Bộ Chính trị, nâng cao nhận thức những vấn đề cơ bản về đánh giá tình hình, 3 khả năng, 3 nhiệm vụ. Điểm nổi bật của Nghị quyết 02 Bộ Chính trị là căn cứ phân tích tình hình một cách toàn diện, đề ra các chủ trương, biện pháp thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận tăng cường khả năng quốc phòng của đất nước, tạo sự chuyển hướng chiến lược phòng thủ đất nước. Nghị quyết xác định: "Các Tỉnh ủy (Thành ủy) được giao nhiệm vụ xây dựng các tỉnh (thành) thành khu vực phòng thủ vững chắc của Tổ quốc theo kế hoạch thống nhất của Quân khu và của cả nước". "Việc xây dựng, củng cố quốc phòng toàn dân trên địa bàn tỉnh, thành phố, huyện, quận cũng như việc chỉ đạo các lực lượng vũ trang địa phương cùng với các tổ chức khác của Đảng, chính quyền và toàn dân hoạt động bảo vệ địa phương chống mọi âm mưu và hành động phá hoại của kẻ thù được đặt dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Tỉnh ủy (Thành ủy), Huyện ủy (Quận ủy) dưới sự điều hành của chính quyền địa phương và sự chỉ huy thống nhất của người chỉ huy quân sự tỉnh, huyện". Nghị quyết cũng nêu rõ: “Để xây dựng tỉnh (thành phố) thành khu vực phòng thủ vững chắc phải ra sức xây dựng củng cố hệ thống xã (phường) chiến đấu...”. Tại lớp học này, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu còn quán triệt Chỉ thị 20 của Ban Bí thư Trung ương Đảng cụ thể hoá trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện của cấp ủy, chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể địa phương. Ngày 25-2-1988 Đảng ủy Quân khu họp dưới sự chủ trì của Thiếu tướng Lê Văn Dánh - Bí thư Đảng ủy1 tiếp tục quán triệt sâu thêm về đường lối quan điểm của Đảng, Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 20 của Ban Bí thư, Nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương về nhiệm vụ quân sự năm 1988, cụ thể hoá vào nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của Quân khu, Đảng ủy Quân khu ra Nghị quyết số 62/NQ-ĐU, trong đó xác định rõ 5 nhiệm vụ, 2 yêu cầu, 2 chuyển hướng, trọng tâm nổi bật là chuyển hướng mạnh mẽ công tác quân sự địa phương và xây dựng cơ sở với sự phát triển mới; đạt được 2 yêu cầu là: tạo ổn định mọi mặt về tư tưởng tổ chức, cơ chế lãnh đạo mới và xây dựng được mô hình mới trên các mặt tác chiến, huấn luyện, giáo dục quốc phòng, xây dựng đơn vị cơ sở, xây dựng thế trận hậu cần - kỹ thuật, sản xuất kinh tế... Trong quá trình thực hiện nắm vững nhiệm vụ chống chiến tranh phá hoại, triển khai hệ thống phòng thủ khu vực và xây dựng nâng cao chất lượng các lực lượng vũ trang là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu. Nhiệm vụ thực hiện cuộc vận động "Làm trong sạch nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng..." là khâu then chốt để xây dựng các lực lượng vũ trang về chính trị và hoàn thành các nhiệm vụ2. Nghị quyết của Đảng ủy Quân khu về 5 nhiệm vụ, 2 yêu cầu, 2 chuyển hướng thể hiện rõ hơn, sâu hơn một bước đổi mới tư duy quán triệt vận dụng các quan điểm của Đảng trong xác định chủ trương biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của Quân khu năm 1988 và các năm tiếp theo, tập trung làm chuyển biến về nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và triển khai cơ chế lãnh đạo của Đảng xây dựng khu vực phòng thủ. Đảng ủy Quân khu giao cho Bộ Tham mưu chủ trì nghiên cứu 3 chuyên đề: phòng thủ khu vực, hoạt động của địch ở Lào và phương thức đối phó, tổng kết công tác động viên cho một sư đoàn bộ binh; Cục Chính trị nghiên cứu 2 chuyên đề: giáo dục chính trị, mở rộng dân chủ, đề cao kỷ luật và công tác thi đua; Ngành Hậu cần tài chính triển khai chuyên đề bảo đảm theo phương thức mới, tổ chức đời sống đơn vị cơ sở; ngành kỹ thuật với chuyên đề quy hoạch hệ thống kho tàng quân khu, các tỉnh, các đơn vị, đưa các chế độ công tác kỹ thuật vào nền nếp. Cùng thời gian này, Thường vụ Đảng ủy Quân khu làm việc với Thường trực Tỉnh ủy các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên về tổ chức quán triệt Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị sớm đưa vào nghị quyết, chủ trương lãnh đạo thực hiện của các địa phương, kiện toàn Đảng ủy quân sự các tỉnh theo Nghị quyết 02 Bộ Chính trị và Chỉ thị 20 của Ban Bí thư Trung ương Đảng. _____________________________________________ 1. Thiếu tướng Lê Văn Dánh - Phó tư lệnh Chính trị Quân khu có quyết định là Bí thư Đảng ủy Quân khu đầu năm 1988. 2. Đây là những nhiệm vụ cụ thể được quán triệt từ Nghị quyết 02/BCT vào tình hình Quân khu. Nghị quyết 02/BCT xác định 3 nhiệm vụ: Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả nước để đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch tại từng cơ sở. Ra sức xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận tăng cường khả năng quốc phòng của đất nước sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược, làm tốt nghĩa vụ quốc tế đối với bạn Lào và Campuchia. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 12:06:03 pm Bước vào năm 1988, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Chủ nghĩa đế quốc triển khai chiến lược "vượt trên ngăn chặn", thực hiện "không đánh mà thắng" nhằm mục tiêu "làm tan biến và thủ tiêu chủ nghĩa xã hội". Chúng ráo riết tập trung chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Đông Âu và Liên Xô. Liên Xô và các nước Đông Âu bước vào thời kỳ suy thoái, chính trị không ổn định, nội bộ ngày càng mâu thuẫn chia rẽ. Tình hình đó tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Mỹ triệt để lợi dụng những khó khăn của ta trong khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiếp tục siết chặt bao vây cấm vận, ráo riết chống phá các mặt, nhằm chuyển hoá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo hướng các nước Đông Âu. Trong khi đó, các thế lực thù địch vẫn thực hiện chính sách thù địch và hành động phá cách mạng ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, đặc biệt ráo riết chuẩn bị để đánh quần đảo Trường Sa và độc chiếm Biển Đông. Thái Lan chủ trương "biến Đông Dương từ chiến trường thành thương trường" chuyển sang đối thoại hợp tác nhưng vẫn tăng cường lực lượng quân sự và ủng hộ bọn phản động Campuchia, Lào và Việt Nam, tạo dựng căn cứ xuất phát1, nuôi dưỡng bọn phản động lưu vong Lào, Việt quay về chống phá cách mạng Lào và Việt Nam, xây dựng cơ sở ngầm, đưa hàng hoá sang lũng đoạn kinh tế, kích thích lực lượng cơ hội Lào đi về hướng Tây. Trên địa bàn Quân khu 4, các thế lực thù địch tập trung lực lượng phản động lưu vong, chuẩn bị tiếp tục chống phá2, kích động hỗ trợ bọn ngụy quân, ngụy quyền không chịu cải tạo, các phần tử cơ hội, phản động ngóc đầu dậy, hết sức lợi dụng thanh niên, sinh viên, trí thức văn nghệ sĩ dễ nhạy cảm tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, thông tin, văn hoá nghệ thuật nhằm làm nhiễu loạn tình hình, kích động xuyên tạc, chia rẽ, phá hoại niềm tin thông qua các "chiến dịch mùa xuân", "chuyển lửa về quê nhà" đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập hòng tạo dựng lực lượng đối trọng, dựng ngọn cờ bên trong3, đồng thời lôi kéo gây làn sóng vượt biên, vượt biển4. Đặc biệt là mọi hoạt động chống phá của chúng đều tập trung mũi nhọn đả kích sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền, các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Bọn phản động trong tôn giáo hy vọng Việt Nam cũng như Ba Lan thứ hai ở Đông Nam Á, dựa vào việc "phong thánh tử vì đạo" với ý đồ xấu mở rộng thanh thế, gây áp lực với chính quyền, công khai tuyên truyền chống chế độ, sẵn sàng xuống đường (nam Quân khu). Một số phản động trong người H'Mông vẫn nhen nhóm tổ chức chống phá (bắc Quân khu). Các địa phương trong Quân khu qua thiệt hại bão lụt năm trước, diễn ra thiếu đói diện rộng, nhất là ở Thanh Hoá, tiếp đó, vụ đông xuân lại bị hạn nặng ở nam Nghệ Tĩnh, bắc Bình Trị Thiên, nên kinh tế đời sống có những mặt khó khăn gay gắt. Trong bối cảnh chung của đất nước, quân đội và Quân khu; Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu và các tỉnh thống nhất cao kiên quyết thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu đã xác định, ổn định tình hình. Trước hết là lực lượng vũ trang quân khu phải kiên định vững vàng về chính trị, đường lối quan điểm đổi mới của Đảng, vượt qua thách thức đi lên. Quán triệt triển khai thực hiện Nghị quyết 02 Bộ Chính trị và Nghị quyết Đảng ủy Quân khu về 5 nhiệm vụ, 2 yêu cầu, 2 chuyển hướng, Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh ra Nghị quyết 20/NQ-TU về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự xã hội trong tình hình mới; Thường vụ Tỉnh ủy Bình Trị Thiên có Nghị quyết 12 về nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Tỉnh Thanh Hoá triển khai thực hiện Thông báo 74 của Ban Bí thư giải quyết một số vấn đề về nội bộ. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, các cơ quan Quân khu cùng các tỉnh định hướng và triển khai từng bước thực hiện 2 nội dung mới, để kịp thời rút kinh nghiệm chung về xây dựng, diễn tập khu vực phòng thủ ở Nghệ Tĩnh; xây dựng diễn tập một số làng xã chiến đấu, trọng tâm ở Bình Trị Thiên nhằm định hình mô hình về quốc phòng an ninh ở cơ sở. Đây là bước đột phá mới để thực hiện được 2 chuyển hướng: chuyển hướng công tác quân sự địa phương và xây dựng cơ sở chủ lực, địa phương, cơ sở kho tàng trạm xưởng như Nghị quyết Đảng ủy Quân khu đã xác định5. Theo phương hướng đó, Bộ Tham mưu Quân khu triển khai thực hiện phòng thủ khu vực cùng các cơ quan Quân khu hướng vào các nội dung trọng tâm đã xác định. Các đơn vị, địa phương đều kiểm tra, bổ sung các mặt bảo đảm, luyện tập báo động sẵn sàng chiến đấu các đảo, các huyện ven biển, biên giới và lực lượng sẵn sàng cơ động trên các hướng. ______________________________________________ 1. Ở U Bon, Mục Đa Hán... 2. Các kế hoạch Đông Tiến 2, 3 sau khi Hoàng Cơ Minh đã bị diệt. 3. Thời gian này, số cơ hội xét lại trong nước nêu những quan điểm tư tưởng về cái gọi là “ngôi nhà chung của thế giới”, về “sự hội tụ” và hòa nhập giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên thế giới, về "đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập" để “dân chủ hoá" và "có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn"... Thực chất những luận diệu này đi ngược đường lối quan điểm đổi mới, trong lúc đất nước còn nhiều khó khăn về kinh tế đời sống, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô khủng hoảng ngày càng trầm trọng, đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch chống phá quyết liệt hơn. 4. Ở Bình Trị Thiên, kẻ địch kích động lôi kéo xảy ra vượt biển mức cao chưa từng có, trong 6 tháng đầu năm 1988 có 139 vụ với 3.168 người. 5. Thực hiện theo đúng nội dung đã được kết luận trong tự phê bình, phê bình kiểm điểm của Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu số 06/TPB-ĐU về sự lãnh đạo, chỉ đạo từ sau thực hiện Chỉ thị 79 của Ban Bí thư và 1 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quồc lần thứ VI, nêu rõ điểm yếu và biện pháp khắc phục là: Nghị quyết đúng nhưng hiệu lực, kết quả thực hiện đạt chưa cao do khâu chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa đúng yêu cầu. Phải chỉ đạo chặt chẽ khâu cụ thể hoá nghị quyết bằng kế hoạch và đôn đốc kiểm tra thực hiện, sử dụng bộ máy lãnh đạo, chỉ huy, tham mưu giải quyết cho được các việc trọng điểm. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 12:08:28 pm Từ đầu tháng 2 năm 1988, toàn dân, toàn quân ta đều lo lắng theo dõi tình hình ở khu vực quần đảo Trường Sa. Khi báo Nhân Dân đăng bài "Không được đụng đến Trường Sa của Việt Nam", phong trào toàn dân lên án hành động quân sự gây nên tình hình căng thẳng của đối phương và phong trào chi viện Trường Sa dấy lên nhanh chóng trong cả nước, trong lực lượng vũ trang quân khu. Sau sự việc tàu quân sự nước ngoài chiếm bãi cạn Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của ta ngày 14-3-19881, các lực lượng vũ trang quân khu sôi nổi thực hiện phong trào học tập Trường Sa, thi đua với Trường Sa, ủng hộ Trường Sa, sẵn sàng đi chiến đấu ở Trường Sa, noi gương thiếu úy liệt sĩ Trần Văn Phương2 và các cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu anh dũng bảo vệ chủ quyền vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc. Nhiều đơn vị đã có những hoạt động sôi nổi, rõ nhất là trong huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Ở Trung đoàn 206, trưởng xe Văn Hữu Cừ, lái xe tăng Nguyễn Hữu Sơn cùng nhiều đồng chí khác viết đơn hoặc gặp chỉ huy đề nghị cho đi chiến đấu khi Tổ quốc cần. Ngày 1-5-1988, khi có lệnh điều động, 48 cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 trang bị 12 xe tăng bơi K63-85 và một số cán bộ của các đơn vị trong Quân khu đã nhanh chóng lên đường bổ sung cho Trường Sa. Tỉnh Bình Trị Thiên tổ chức lực lượng, phương tiện tham gia xây dựng công trình phòng thủ ở đảo Đá Nam. Sư đoàn 968 mới hoàn thành nhiệm vụ quốc tế ở Lào về đã tham gia lao động ngoài giờ, góp tiền giúp các gia đình có con đang ở Trường Sa gặp khó khăn và thăm hỏi những gia đình ở địa phương có con em hy sinh. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu thống nhất với lãnh đạo, chính quyền tỉnh Nghệ Tĩnh xây dựng, chuẩn bị sớm cuộc diễn tập thực nghiệm khu vực phòng thủ đầu tiên trên địa bàn của Quân khu. Đây là vấn đề rất mới đối với cả Quân khu và tỉnh. Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng kế hoạch cụ thể, tổ chức tập huấn trước cho các cơ quan, hình thành Ban chỉ đạo diễn tập triển khai song song các mặt cụ thể, huy động lực lượng lớn cán bộ các cơ quan Quân khu, cơ quan quân sự tỉnh, huyện thuộc Thanh Hoá, Bình Trị Thiên, Trường Quân chính Quân khu làm phái viên, đôn đốc, kiểm tra việc chuẩn bị diễn tập. Các cơ quan Quân khu từ Đại Huệ về thành phố Vinh giúp các ban ngành, cơ quan quân sự tỉnh, một số huyện và cơ sở tập huấn, làm kế hoạch. Ngày 14-7-1988, Bộ tư lệnh Quân khu đã hoàn thành kế hoạch số 232 về diễn tập 02-NT-88 xác định rõ 3 mục đích nhằm nghiên cứu: 1. Cơ chế lãnh đạo, điều hành, công tác tham mưu xây dựng và hoạt động của tỉnh là đơn vị quốc phòng địa phương đảm nhiệm 1 vùng lãnh thổ trong kế hoạch tổng thể xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc, bảo đảm đánh thắng địch cả trong chiến tranh phá hoại nhiều mặt và chống chiến tranh xâm lược lớn sau này. 2. Nghệ thuật quân sự, tác chiến của toàn dân đánh giặc, đánh giặc toàn diện, tác chiến và hoạt động của các lực lượng vũ trang tỉnh. Thực hành động viên quân dự bị và xây dựng lực lượng dự bị động viên cho tỉnh, Quân khu, Bộ (có trọng điểm). 3. Nội dung và phương thức kết hợp xây dựng kinh tế - xã hội để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng, quốc phòng với kinh tế chuẩn bị các yếu tố bảo đảm thực hiện chiến tranh nhân dân địa phương của khu vực phòng thủ tỉnh. ______________________________________________ 1. Trung Quốc chiếm các bãi cạn Chữ Thập (cuối tháng 1-1988), Châu Viên (18-2-1988), Ga Ven (26-2-1988), Huy Gơ (28-2-1988), Đá Su Bi (đầu tháng 3-1988), Gạc Ma (14-3-1990), Én Đất (25-3-1990). 2. Nguyên chiến sĩ mới ở Sư đoàn 441 Quân khu 4, quê ở Quảng Trạch, Quảng Bình. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 04:37:12 pm Trong diễn tập khu vực phòng thủ, tỉnh Nghệ Tĩnh tập trung thực hiện những vấn đề quan trọng: Chủ động độc lập đánh bại địch, bảo vệ lãnh thổ địa phương mình. Chi viện nhân tài, vật lực cho Trung ương (tổng động viên), cho Quân khu và tập trung mọi khả năng bảo đảm giao thông thông suốt Nam Bắc đường sắt, đường bộ, đường sông trên địa bàn. Thực hiện chi viện và liên minh chiến đấu với các tỉnh kết nghĩa Xiêng Khoảng, Bô Li Khăm Xay và cùng Quân khu làm nhiệm vụ quốc tế. Bất kỳ tình huống nào cũng phải bảo đảm sản xuất đời sống, chuyển kinh tế sang thời chiến, thực hiện các chính sách, vừa chiến đấu vừa sản xuất tự lực tự cường đánh địch. Theo kế hoạch cuộc diễn tập bắt đầu từ ngày 16 đến 19-9-1988. Chủ trì diễn tập ở tỉnh Nghệ Tĩnh gồm có các đồng chí Nguyễn Bá - Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư Tỉnh ủy - Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh; Nguyễn Văn Giản - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Thiếu tướng Bùi Đức Tùng - Chỉ huy trưởng; Đại tá Nguyễn Đăng Điệt - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó chỉ huy chính trị; Đại tá Nguyễn Hồng Niên - Phó chỉ huy - Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Các đồng chí Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu dự, chỉ đạo cuộc diễn tập. Thành phố Vinh, các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Yên Thành, Đô Lương và 2 xã; các ngành công an, giao thông, bưu điện, y tế, Ủy ban kế hoạch cùng thực hành diễn tập1. Qua các bước học tập thêm về lý luận, làm văn kiện, tập thử phân đoạn và tổng hợp ở 3 cấp, 3 hệ thống được chuẩn bị kỹ nên vận hành cơ chế 02 cấp tỉnh và một số huyện bước đầu khá đồng bộ, nhất là những thời điểm khó khăn như chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến, xử lý tình huống giả định và thật theo quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân của khu vực phòng thủ tỉnh, huyện. Cơ chế lãnh đạo mới bước đầu thể nghiệm và thực hiện có hiệu quả trong diễn tập, chủ yếu ở cấp tỉnh và một số huyện. Cuộc diễn tập giúp lãnh đạo, điều hành, chỉ huy tham mưu tiếp cận một bước những vấn đề cơ bản, rút được kinh nghiệm bước đầu về xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện trong tình hình mới. Tại buổi tổng kết cuộc diễn tập, đồng chí Tư lệnh Quân khu đánh giá kết quả lớn nhất cuộc diễn tập là tạo thêm sự nhất trí cao và niềm tin đối với nghị quyết của Đảng trong lãnh đạo, chính quyền, các ngành, các cấp về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc. Đây là một chủ trương chiến lược thể hiện quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, là cụ thể hoá đường lối xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng, nhằm khai thác và phát huy mọi khả năng của địa phương để thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua diễn tập, vấn đề đặt ra là tiếp tục nghiên cứu quán triệt sâu hơn nữa Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, vị trí, vai trò khu vực phòng thủ tỉnh Nghệ Tĩnh. Những vấn đề đặt ra không chỉ giả định trong diễn tập mà là khả năng trong thực tế. Cơ chế lãnh đạo mới cần được đưa vào hoạt động nền nếp, phát huy hiệu lực trong thời bình từ tỉnh xuống cơ sở. Quân khu và các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên học tập quán triệt nhiệm vụ xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc một cách chu đáo, khẩn trương, đạt được kết quả rất đáng kể. Rút kinh nghiệm cuộc diễn tập của một số tỉnh, thành trong cả nước và Nghệ Tĩnh2, các địa phương, đơn vị tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa công tác quân sự địa phương và xây dựng cơ sở với yêu cầu mới, cách làm mới. Quân khu sẽ tổ chức tập huấn bồi dưỡng cơ bản cho khôi chủ lực và chủ trì các tỉnh, huyện thời gian tới. Từ giữa năm 1988, các tỉnh Thanh Hoá, Bình Trị Thiên tổ chức bồi dưỡng về xây dựng cơ sở an toàn làm chủ, kết hợp kinh tế - quốc phòng một số xã điểm như Quảng Nham, Gio Việt, Hải An, Hải Vĩnh..., tiến hành diễn tập làng xã chiến đấu ở xã Vạn Trạch, huyện Bố Trạch (Bình Trị Thiên) đưa Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị xuống tận cơ sở Quân khu. Theo đường lối đổi mới của Đảng, Quân khu chỉ đạo hệ thống nhà trường chuyển hướng đào tạo bổ túc cán bộ, tổ chức khoa quân sự địa phương ở Trường Quân chính Quân khu, kiện toàn trường quân sự 3 tỉnh, đổi mới chất lượng dạy và học nâng cao hiệu quả bổ túc bồi dưỡng cán bộ đơn vị, địa phương, đưa việc đào tạo hạ sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật về các đơn vị và các cơ sở kỹ thuật để phát huy hiệu quả năng lực thực hành của học viên. Hệ thống các trường quân sự được giao nhiệm vụ toàn diện3. Trường Quân chính Quân khu bổ túc cán bộ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn trưởng; chỉ huy - tham mưu huyện, thị, trợ lý quân sự địa phương tỉnh, huyện; bồi dưỡng giáo viên các ngành quân sự tỉnh, khoa quân sự các trường đại học, trợ lý huấn luyện trung đoàn, tiểu đoàn tỉnh, huyện. Đồng thời tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể cấp tỉnh. Trường quân sự các tỉnh bồi dưỡng cán bộ đại đội, tiểu đoàn tự vệ chuyên trách; cán bộ phường, xã; chuyển loại sĩ quan dự bị thành phó đại đội trưởng chính trị; sĩ quan dự bị cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn binh chủng hợp thành và hoả lực đi cùng cho đơn vị dự bị động viên tỉnh, huyện. Khoa quân sự các trường đại học huấn luyện cho sinh viên, đào tạo sĩ quan dự bị một số nơi. Các sư đoàn, trung đoàn các binh chủng bồi dưỡng sĩ quan dự bị trung đội, đại đội, tiểu đoàn cho đơn vị mình. Ngành Hậu cần kỹ thuật bổ túc, đào tạo cán bộ và nhân viên chuyên môn cho đơn vị, địa phương, bệnh viện, cơ sở điều trị, trạm xưởng. ______________________________________________ 1. Mưa lụt lớn trở thành tình huống kết hợp tập thật, như huy động thực binh 350 quân dự bị hộ đê, 60 xe vận chuyển chống lụt 500 tấn lương thực, tổ chức sơ tán dân 1 xã, phà Bến Thủy - đơn vị Anh hùng, vượt sông trong lũ lớn chỉ mất 11 phút/chuyến, xử lý khôi phục cầu Đước; lực lượng công an truy quét bọn tội phạm, côn đồ, chống cháy có hiệu quả tốt. 2. Thời gian này trong toàn quốc chỉ mới diễn tập khu vực phòng thủ ở Lạng Sơn (3-1988), Hải Phòng (5-1988), Đà Nẵng (9-1988) và Kiên Giang (11-1988). 3. Nghị quyết 341/NQ ngày 4-11-1988 của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về công tác nhà trường. Từ năm 1982 đến 1987, các trường của quân khu, tỉnh đào tạo, bổ túc 18.827 lượt cán bộ, đào tạo 3.980 sĩ quan dự bị, bồi dưỡng 3.677 sĩ quan dự bị, 1.300 cán bộ xã phường đội trưởng, tự vệ trưởng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 04:41:07 pm Trận lũ lụt lớn cuối năm 1988 ở Nghệ Tĩnh là một thử thách trực tiếp, đồng thời cũng thể hiện một sức mạnh mới sau diễn tập gắn bó địa phương và đơn vị chống thiên tai. Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh, các huyện Đức Thọ, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Lữ đoàn 176, Trung đoàn 414, Sư đoàn 324 tổ chức lực lượng kịp thời chống lụt, nhất là lực lượng trực tiếp bám trụ những đoạn xung yếu bảo vệ được 2 tuyến đê sông La và 42 tránh được thiệt hại lớn cho nhân dân. Kết thúc nội dung huấn luyện năm 1988, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức đợt tập huấn 18 ngày cho cán bộ trung cao cấp chủ trì khối chủ lực, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh và một số huyện ven biển. Chương trình tập huấn gồm quán triệt sâu hơn Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị sau hơn 1 năm thực hiện, nghiên cứu kỹ một số vấn đề về nghệ thuật quân sự, về trung đoàn, sư đoàn phòng ngự bờ biển trong khu vực phòng thủ, về cơ chế Đảng lãnh đạo, bộ luật tố tụng hình sự. Tổng kết đợt tập huấn, đồng chí Tư lệnh Quân khu nêu rõ những quan điểm cơ bản của Nghị quyết 02, phân tích quan hệ mật thiết thống nhất giữa Nghị quyết 02 và Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị về công tác đối ngoại, cùng mục đích giữ vững hòa bình, bảo vệ Tổ quốc, tránh được ngoại xâm để tập trung xây dựng đất nước; xác định rõ kẻ thù cơ bản lâu dài là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn tiếp tục chính sách phá hoại cách mạng ba nước Đông Dương. Trong xu thế đối thoại, hòa hoãn, lực lượng vũ trang càng phải tăng cường cảnh giác, không mơ hồ, luôn luôn nhận rõ kẻ thù, đối tượng tác chiến, những nhiệm vụ Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị đã xác định. Đồng chí Tư lệnh Quân khu nêu rõ quan điểm, tư tưởng về phương châm chỉ đạo chiến tranh, tư tưởng chỉ đạo tác chiến, một số vấn đề nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trước yêu cầu mới; cách đánh của lực lượng vũ trang nhân dân: tác chiến của lực lượng vũ trang tỉnh, huyện với tác chiến của trung đoàn, sư đoàn chủ lực làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc theo phương án tác chiến của khu vực phòng thủ tỉnh, huyện; nắm vững cơ chế lãnh đạo của Đảng; quản lý, xây dựng, huấn luyện nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang trong đó xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ là quyết định1, người chỉ huy các cấp phải tự rèn luyện các mặt. Ngay sau đợt tập huấn kết thúc, cuối năm 1988, Quân khu tập trung chuẩn bị kế hoạch 1989-1990, trong đó xác định các việc lớn: tiếp tục giảm mạnh quân số trong lúc nhiệm vụ nhiều mặt phát triển mới; xây dựng rút kinh nghiệm về làng xã chiến đấu, diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện; triển khai kế hoạch C89 và A2, bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch A; tiến hành Đại hội Đảng các cấp hướng tới Đại hội VII của Đảng. Trong năm 1988, Quân khu đã xây dựng tạo được một số điển hình và nhân tố tích cực. Từng bước làm chuyển biến phong cách, chuyển hướng về công tác quân sự địa phương, giữ vững và phát huy được chức năng nhiệm vụ, góp phần đưa tình hình 3 tỉnh bước đầu vượt qua khỏi khó khăn gay gắt về kinh tế đời sống, thiệt hại do lũ lụt gây ra, giữ vững sản xuất, ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Quân khu2. Hội nghị quân chính Quân khu thống nhất triển khai tiếp theo sâu hơn các chuyên đề lớn từ Quân khu xuống cơ sở: Chống chiến tranh phá hoại kết hợp chống tiêu cực nội bộ. Tổ chức huấn luyện rèn luyện kỷ luật nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang quân khu. Đẩy mạnh công tác tư tưởng và xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, bảo đảm bữa ăn bộ đội. Nâng cao chất lượng bảo đảm kỹ thuật sẵn sàng chiến đấu3. Mục tiêu là tập trung xây dựng cơ quan các cấp; xây dựng một trung đoàn chủ lực cơ động vững mạnh; các trung đoàn, tiểu đoàn dự bị động viên của 3 đơn vị cơ động C; mỗi tỉnh 1 trung đoàn dự bị động viên và các tiểu đoàn huyện ven biển, biên giới; mỗi trung đoàn binh chủng xây dựng 1 tiểu đoàn dự bị động viên mạnh. Trên cơ sở thống nhất với lãnh đạo 3 tỉnh, giữa tháng 4 năm 1989, Quân khu tổ chức lớp tập huấn quy mô lớn về quân sự địa phương mà điểm tập trung là ở cơ sở. Trong khi Bộ Quốc phòng chuẩn bị tổ chức hội nghị toàn quốc về dân quân tự vệ, dự bị động viên và xây dựng làng xã chiến đấu trong thế trận phòng thủ khu vực tỉnh, huyện (6-1989), Quân khu và các tỉnh quán triệt tinh thần đổi mới cách nghĩ, cách làm, tinh thần chủ động sáng tạo, không chờ, được Bộ khuyến khích, mạnh dạn tổ chức lớp tập huấn tại thành phố Huế và đi dã ngoại ở huyện Triệu Hải. Nội dung tập trung đi sâu nghiên cứu khảo nghiệm chuyên đề làng xã chiến đấu (bao gồm cả làng, xã, bản, phường, cơ sở) vừa để xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn Quân khu, vừa có cơ sở đóng góp với Bộ. Đợt tập huấn có tính đột phá cụ thể hoá thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị ở cơ sở, đưa nghị quyết vào cuộc sống. Lãnh đạo 3 tỉnh, 64 huyện, thị, thành, các sư đoàn, Trường Quân chính, các cơ quan Quân khu và 4 xã đại diện cho các vùng của 3 tỉnh về dự gồm 353 đồng chí. Lớp tập huấn được tổ chức sau khi có Nghị quyết 6 của Trung ương đánh giá tình hình 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đề ra phương hướng 3 năm tiếp theo, khẳng định 5 nguyên tắc quan điểm cơ bản công cuộc đổi mới4 và Chỉ thị 56 của Hội đồng Bộ trưởng (ngày 11-3-1989) thể chế hoá Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ quốc phòng cho các Bộ, ngành và địa phương. ____________________________________________ 1. Theo tinh thần Nghị quyết 2691/NQ-ĐU của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về quy hoạch, sắp xếp cán bộ chủ trì đến năm 1995 và chuẩn bị cho năm 2000. 2. Trích Nghị quyết Đảng ủy Quân khu số 40/NQ-ĐU ngày 16-1-1989. Điển hình về huấn luyện, diễn tập sẵn sàng chiến đấu có các trung đoàn binh chủng Trường Quân chính Nghệ Tĩnh; hướng về Trường Sa có tỉnh Bình Trị Thiên, Cục Hậu cần, Trung đoàn 206; về xây dựng: có Trung đoàn 414 thi công hoàn thành tốt nhà tưởng niệm Bác Hồ bàn giao cho khu di tích Kim Liên; sản xuất làm kinh tế: Công ty 85 vượt kế hoạch khai thác xuất khẩu gỗ 2.900m3, tổng thu 59 vạn USD; làm tốt công tác hậu phương quân đội sau tổng kết 10 năm 1978-1988: Thanh Hoá, Bình Trị Thiên. 3. Tháng 4-1988, Cục Hậu cần tổ chức Hội nghị chuyên ngành bảo đảm đời sống bộ đội, phát triển mô hình VAC ở cấp đại đội, tiểu đoàn sản xuất thu hái dược liệu được quy ra lương thực, gắn sản xuất với bố trí căn cứ hậu cần trong kế hoạch phòng thủ, mạnh dạn đột phá vào chỗ yếu và khó trong xây dựng y tế quân sự địa phương Nghệ Tĩnh. Cục Kỹ thuật thực hiện tốt kế hoạch điều chuyển, sắp xếp kho tàng, phân lô, đảo xáo, bảo dưỡng số lượng lớn vũ khí đạn. 4. Năm nguyên tắc cơ bản là: đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của nước ta, là sự lựa chọn sáng suốt của Bác Hồ, của Đảng ta. Xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, là lý tưởng của Đảng ta. Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, có nghĩa là tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản, làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động năng động và có hiệu quả hơn. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quóc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyển làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản và quốc tế xã hội chủ nghĩa; kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 04:45:14 pm Quán triệt, nghiên cứu lý luận, thực tiễn Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, qua hơn 1 năm rưỡi triển khai thực hiện xây dựng và diễn tập khu vực phòng thủ, Quân khu và các tỉnh, thành đã xác định được mô hình mới làng xã chiến đấu - nền tảng của khu vực phòng thủ với các nội dung cụ thể1. Sau khi nghe 4 xã Quảng Hải, Diễn Thành, Triệu Thuận và Hồng Bắc báo cáo về cách xây dựng làng xã chiến đấu, toàn lớp đi 4 ngày về huyện Triệu Hải dự diễn tập làng xã chiến đấu của xã Hải An, nghiên cứu thực nghiệm hoạt động cơ chế Đảng lãnh đạo ở cơ sở, chuyển thời bình sang thời chiến, hoạt động tác chiến của dân quân tự vệ; tiếp đó chuyển về 3 xã Hải Vĩnh, Hải Thiện, Hải Thọ diễn tập động viên. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân khu thay mặt Bộ tư lệnh, Ban chỉ đạo phát biểu tổng kết nêu rõ lớp tập huấn này không chỉ là học mà cùng nhau tổng kết nghiên cứu đóng góp trí tuệ vào việc xây dựng làng xã chiến đấu phát triển theo yêu cầu nhiệm vụ chiến lược đề ra, bởi đây là sản phẩm đặc biệt của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Nghiên cứu thực nghiệm vì từ lý luận chung, từ quan điểm, nhiệm vụ Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị xác định, nghiên cứu vận dụng vào thực trạng một số xã hiện nay kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, khảo nghiệm rút ra các vấn đề, thống nhất về quan điểm, nguyên tắc, nội dung cụ thể để vận dụng sáng tạo trong chỉ đạo xây dựng làng xã chiến đấu ở địa phương. Qua đó, lớp học thống nhất làng xã chiến đấu là nền tảng của khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, của trận địa lòng dân, chuẩn bị lực lượng, thế trận góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch trong thời bình và chuẩn bị cho làng xã sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu thắng lợi khi có tình huống chiến tranh. Xây dựng làng xã chiến đấu phải đặt trong kế hoạch xây dựng làng xã toàn diện cả về chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá tư tưởng, quốc phòng - an ninh, luôn gắn kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong một kế hoạch thống nhất, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở và là nhân tố quyết định bản chất sức mạnh của làng xã chiến đấu, của thế trận làng nước, thế trận lòng dân. Xây dựng làng xã chiến đấu nhất thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, điều hành của chính quyền, tham mưu của quân sự xã, phường2. Sau đợt tập huấn này, các tỉnh triển khai tập huấn kịp thời cho cấp huyện và một số cơ sở. Cục Chính trị Quân khu phối hợp với Ban tổ chức Tỉnh ủy các tỉnh tiếp tục kiện toàn Đảng ủy quân sự các tỉnh, Ban cán sự huyện, thị, thành đảm bảo cho việc tổ chức tập huấn và thực hiện các nhiệm vụ. Mặc dù tỉnh Bình Trị Thiên chia tách trở lại thành 3 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế3; ở Thanh Hoá và bắc Nghệ Tĩnh bị bão số 6 tàn phá nặng nề4 nhưng đến tháng 10 năm 1989 đã có 44/64 huyện, thị thành tổ chức tập huấn đạt kết quả, tạo cơ sở chuyển biến một bước quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng từ tỉnh xuống huyện, xã, nhất là nhận thức mới về nhiệm vụ quân sự địa phương và cơ sở theo quan điểm đổi mới. Song song với việc tập huấn quân sự địa phương, các đơn vị tập trung triển khai kết quả đợt tập huấn quân sự có tính cơ bản cuối năm 1988 tiến hành bồi dưỡng các nội dung huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, công tác động viên, công tác hậu cần - kỹ thuật từ tiểu đội trưởng đến sư đoàn, tỉnh, cơ quan. Thực hiện chỉ đạo của Bộ, các đơn vị chuyển hướng huấn luyện với trang bị hiện có, mang vác cơ động bộ, nhấn mạnh các cách đánh truyền thống, đồng thời phải giỏi tác chiến hiệp đồng khi được tăng cường binh khí kỹ thuật, từng bước huấn luyện một số nội dung cần thiết cho nhiệm vụ A2. Tập trung rèn trình độ chiến đấu của phân đội và năng lực cán bộ đại đội làm trọng điểm, huấn luyện gắn chặt với rèn luyện kỷ luật xây dựng các trung đoàn mạnh. Kết quả huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật phân đội nhỏ, thí điểm huấn luyện chiến sĩ mới thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự từ 3 năm xuống 2 năm, huấn luyện động viên, diễn tập chiến đấu của các trung đoàn đủ quân như Trung đoàn 335 Sư đoàn 324 và Trung đoàn 19 Sư đoàn 968 đều đạt khá. ______________________________________________ 1. Phát triển từ làng xã chiến đấu trong chống Pháp, chống Mỹ; xã phường an toàn làm chủ - nền tảng của pháo đài quân sự huyện, từ năm 1979 trở đi theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, nhân dân làm chủ và những thành công cũng như hạn chế của pháo đài quân sự huyện đã được sơ kết năm 1986. 2. Khắc phục mặt yếu trước đây của việc xây dựng cơ sở trong pháo đài quân sự huyện là "trên xuống dưới lên, trên lên dưới xuống". 3. Bộ Chính trị ra Quyết định 87 ngày 7-5-1989 và tháng 7-1989 Chủ tịch nước Võ Chí Công ký quyết định chia tỉnh Bình Trị Thiên thành ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị. Thừa Thiên - Huế. 4. Thiệt hại ở 2 tỉnh: 102 người chết, 500 người bị thương, 94.000 nhà đổ, 921 trường học, bệnh viện hư hỏng, 256 tàu thuyền đắm, 5 vạn hécta lúa mùa mất. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 10:05:11 pm Đầu tháng 6, Thanh Hoá diễn tập khu vực phòng thủ, mang tên 02-TH-89. Sau 1 năm thực hiện Thông báo 74 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, tỉnh đã sơ kết, các mặt dần ổn định, củng cố đoàn kết nội bộ và sự tín nhiệm của nhân dân đối với Đảng bộ, triển khai Đại hội Đảng cơ sở lên huyện đạt kết quả tốt. Lãnh đạo tỉnh quyết tâm tiến hành diễn tập, để học tập, rút kinh nghiệm, chọn nội dung quốc phòng - an ninh làm khâu đột phá giành thắng lợi cho cả quốc phòng - an ninh, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội. Bộ tư lệnh và các cơ quan Quân khu tập trung cùng tỉnh triển khai kỹ các bước chuẩn bị diễn tập1. Thượng tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị - Tổng Tham mưu trưởng tới dự. Chủ trì cuộc diễn tập của tỉnh Thanh Hoá gồm các đồng chí: Lê Huy Ngọ - Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy quân sự; Mai Xuân Minh - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Khắc Dương - Chỉ huy trưởng; Đại tá Lê Văn Minh - Phó Bí thư Đảng ủy - Phó chỉ huy chính trị; Thượng tá Nguyễn Đức Kiền - Phó chỉ huy - Tham mưu trưởng. Nội dung cuộc diễn tập gồm hoạt động cơ chế 02 trong diễn tập, xử lý các tình huống của cấp tỉnh, một số huyện nhịp nhàng hơn. Trong bộ máy điều hành, các ngành Bưu điện, Y tế, Giao thông vận tải, Công an và Ủy ban kế hoạch với nội dung diễn tập mới nhưng vẫn thực hành nghiêm túc hiệu quả. Lực lượng thực binh chủ lực, biên phòng, công an, tự vệ pháo phòng không 37, giao thông, dân quân, dự bị động viên đều đạt kết quả, kết hợp làm được một số tuyến đường nông thôn của huyện, truy quét băng ổ tiêu cực làm trong sạch địa bàn một số khu vực trọng điểm. Với vị trí hậu phương chiến lược, cuộc diễn tập đặt rõ hơn nội dưng xây dựng, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc địa bàn trong mọi tình huống; đồng thời bảo đảm chi viện cho phía trước, cho bạn Lào, tích luỹ dự trữ tiềm lực kinh tế, sơ tán nhân dân, phương án chuyển trung tâm bưu điện, đài phát thanh... sang thời chiến. Trong quá trình diễn tập, tỉnh đã cách chức đồng chí Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân một huyện do không thực hiện đúng kế hoạch đã định - thể hiện sự nghiêm túc trong lãnh đạo, điều hành quản lý của địa phương. Về công tác tham mưu, mặt hạn chế là còn thể hiện tính chất của cơ quan tham mưu - chỉ huy của bộ đội chủ lực, chưa thực sự là cơ quan tham mưu - chỉ huy quân sự của khu vực phòng thủ, tham mưu cho lãnh đạo chính quyền về nhiệm vụ quốc phòng địa phương; vai trò trung tâm hiệp đồng cơ quan quân sự với bộ máy nhà nước còn lúng túng. Qua cuộc diễn tập này, đồng chí Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá đã mạnh dạn nêu một vấn đề mới cần nghiên cứu bổ sung về hoạt động, vận hành cơ chế 02 là: Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự cùng các ban ngành làm tham mưu theo chức năng trong nhiệm vụ quốc phòng địa phương. Sau khi quán triệt Nghị quyết Trung ương 6, 7 ở Bộ về, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tập trung chỉ đạo quán triệt, học tập sâu rộng trong cán bộ, đảng viên tạo thống nhất cao ý chí, tư tưởng, hành động trong toàn Đảng bộ, nhất là nhận rõ kẻ thù2, kiên định các nguyên tắc quan điểm cơ bản trong sự nghiệp đổi mới, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta đã lựa chọn, khẳng định đổi mới nhưng không đổi màu, kiên quyết chống đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xác định rõ vai trò nòng cốt và nhiệm vụ lực lượng vũ trang quân khu trước tình hình mới3. Từ đánh giá thực chất những mặt mạnh, yếu trong Đảng bộ, đối chiếu với yêu cầu của Trung ương, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng đề ra, Đảng ủy Quân khu tập trung lãnh đạo giải quyết trọng điểm vấn đề tư tưởng và kỷ luật. Ngày 11-7, Thường vụ Đảng ủy Quân khu ra chỉ thị về tăng cường kỷ luật, bảo đảm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu. Thường vụ Đảng ủy đã họp xét kỷ luật 4 cán bộ là đảng viên không nhận nhiệm vụ đi Trường Sa (chiếm 8% so tổng số cán bộ trong đợt điều động). "Đây là một biểu hiện sa sút ý chí chiến đấu ở một số cán bộ đảng viên. Tính chất lỗi phạm là rất nghiêm trọng làm tổn thương đến truyền thống quân đội, làm giảm sút lòng tin của quần chúng đối với Đảng". Trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, Thường vụ Đảng ủy Quân khu chỉ thị "lãnh đạo sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ giúp bạn Lào là nhiệm vụ hàng đầu quan trọng nhất của lực lượng vũ trang quân khu"4. Thực hiện chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Quân khu, các cấp ủy đều sinh hoạt ra nghị quyết chuyên đề đánh giá thực chất ý chí chiến đấu, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu ở biên giới, hải đảo, làm nhiệm vụ giúp bạn trong mọi tình huống; chống biểu hiện dao động, mất cảnh giác, hòa bình chủ nghĩa, tính toán cá nhân, sa sút ý chí chiến đấu, ngại hy sinh gian khổ; bảo đảm có lệnh gọi là lên đường. Trong các Đảng bộ, đơn vị đều quán triệt lời kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại Hội nghị Trung ương 6: "Trong khi tích cực mở rộng quan hệ đối ngoại, chúng ta phải đề cao cảnh giác với những âm mưu diễn biến hòa bình, những ảnh hưởng tiêu cực nhiều mặt trong quan hệ làm ăn với các nước tư bản, nhất là thế lực đế quốc và phản động đang còn có tham vọng đối với nước ta, ta biết thế để chủ động đối phó có hiệu quả chứ không phải vì thế mà không thực hiện một cách chủ động, có kế hoạch chính sách mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của chúng ta". _______________________________________________ 1. Kết luận của Bộ tư lệnh Quân khu về diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh Thanh Hóa, từ ngày 7 đến 9-6-1989. 2. Nghị quyết Trung ương 6 tháng 3-1989 nêu rõ: "Cuộc đấu tranh giai cấp trên thế giới tuy đã có một số thay đổi về hình thức, nhưng bản chất của cuộc đấu tranh không hề thay đổi, kẻ thù tuy có thay đổi một số sách lược nhưng chưa từ bỏ âm mưu phá hoại cách mạng nước ta”. 3. Nghị quyết Trung ương 6 khẳng định: “Đổi mới không phải làm thay đổi mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà làm cho mục tiêu ấy thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, với những hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp". 4. Chỉ thị số 02/ĐU-KT. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 10:07:55 pm Ngày 26-11-1989, Đảng ủy Quân khu (khối quân sự) ra Nghị quyết số352/NQ-ĐU lãnh đạo công tác tư tưởng trong các lực lượng vũ trang đánh giá những mặt chuyển biến và nêu rõ mặt còn yếu như: một bộ phận cán bộ, đảng viên có phần dao động về lý tưởng chủ nghĩa xã hội, nhận thức, đánh giá kẻ thù không rõ này, băn khoăn lo lắng trước khó khăn đời sống; tư tưởng trung bình chủ nghĩa, tình trạng vi phạm kỷ luật diễn ra nghiêm trọng, mất vũ khí, một số cán bộ, đảng viên trẻ muốn chuyển ra ngoài, thiếu gắn bó với quân đội, đặc biệt nghiêm trọng có một số cán bộ trung cấp, sơ cấp không nhận nhiệm vụ đi Trường Sa. Nghị quyết đề ra chủ trương, biện pháp tăng cường lãnh đạo, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng và quản lý giáo dục tư tưởng trong lực lượng vũ trang quân khu trước những tác động hết sức phức tạp của tình hình Đông Âu, sự phản kích quyết liệt của đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch đối với các nước xã hội chủ nghĩa, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang quân khu thực sự vững mạnh về chính trị, luôn luôn kiên định vững vàng trước mọi tình huống, góp phần tác động tích cực tình hình chính trị - xã hội ở địa phương, xứng đáng là nòng cốt xung kích trong cuộc đấu tranh quyết liệt trên mọi lĩnh vực, trước hết trên lĩnh vực chính trị tư tưởng của Đảng và quân đội. Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu đặt rõ vấn đề tăng cường kỷ luật thực chất là nâng cao ý thức chính trị; kiên định về chính trị tư tưởng là biểu hiện cao nhất của kỷ luật, từ đó mà xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, trước hết là về bản lĩnh chính trị, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống. Chính vì vậy, trước cuộc đấu tranh quyết liệt mới, lực lượng vũ trang quân khu được củng cố, là chỗ dựa của cấp ủy, chính quyền và nhân dân làm cơ sở đế chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt, phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Thường vụ Đảng ủy Quân khu kiến nghị với Trung ương Đảng kiên quyết chống biểu hiện cơ hội, chủ nghĩa xét lại xuất hiện trong Đảng và ngay trong Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương Đảng đánh giá cao. Gắn đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng với những nội dung có tính cơ bản quyết định trên đây, Quân khu coi trọng thực hiện chuyên đề thi đua làm động lực đột phá giải quyết khâu yếu, tập trung nâng cao bản lĩnh chính trị tư tưởng, ý thức tổ chức kỷ luật, nêu gương kịp thời nhân tố mới, hoàn thành tốt các nhiệm vụ hướng vào thời điểm chính trị quan trọng kỷ niệm các ngày lễ lớn trong hai năm 1989-1990, trọng tâm là kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ và 45 năm ngày truyền thống lực lượng vũ trang quân khu. Lập thành tích chào mừng những ngày lễ lớn, Hội đồng thi đua Quân khu xác định những chỉ tiêu cụ thể, vừa khó nhưng cũng vừa hấp dẫn, đáng khích lệ là đã đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ quan, đơn vị và địa phương. Toàn Quân khu xác định xây dựng từ 45 đến 100 xã phường cơ sở chiến đấu vững mạnh toàn diện; 45 đến 100 Đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh thực sự tiêu biểu; 45 đến 100 chi đoàn mạnh và đoàn viên thanh niên xuất sắc xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”. Quân khu sẽ tổ chức các điển hình báo công tại quê hương Bác Hồ và chọn báo cáo trong hội nghị sơ kết xây dựng làng xã chiến đấu vào năm 1990. Các tổ chức Đoàn thanh niên Quân khu hưởng ứng phong trào trong toàn quân do Tổng cục Chính trị phát động "Tuổi trẻ quân đội quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VI, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”. Hơn 1 vạn đoàn viên Quân khu đã tự nguyện đăng ký thực hiện cuộc vận động này. Căn cứ vào những vấn đề của Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu xác định mục tiêu trọng tâm, vấn đề có tính đột phá, cùng với những chỉ tiêu thi đua đỉnh cao và những biện pháp tổng hợp kiên quyết của các cơ quan Quân khu chuyển mạnh về cơ sở, tạo cho phong trào có những chuyển biến tích cực, mạnh mẽ cả trong đơn vị, địa phương. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng 54 cán bộ và hơn 2.000 chiến sĩ nhanh chóng lên đường nhận nhiệm vụ ở Trường Sa, trong đó có 520 đồng chí của Trung đoàn 19 và Trung đoàn 4 Sư đoàn 968. Lữ đoàn 176 cùng tổ chức một đơn vị sang Lào - nơi từng chiến đấu hoạt động chuyển 76 mộ liệt sĩ thuộc đơn vị mình và 46 mộ liệt sĩ thuộc đơn vị bạn về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Anh Sơn. Trường Quân chính Quân khu khoá đầu tiên (1988-1989) đào tạo, bổ túc cán bộ theo chức vụ cả chủ lực, địa phương đã nghiên cứu chọn lọc nội dung dạy và học của các trường Quân chính Quân khu 3, 5, Trường Quân sự Hải Phòng và có nhiều cải tiến đổi mới dạy và học trong cải cách giáo dục1, đạt kết quả cao qua 105 lần kiểm tra và kiểm tra cuối khoá. Lớp cán bộ quân sự huyện đạt 84% khá giỏi, lớp luyện thi vào sĩ quan 100% trúng tuyển. Trong quá trình chuyển từ Phú Bài ra Đại Huệ - Nam Đàn, trường đã huy động hàng ngàn ngày công làm mới 2 thao trường bắn cơ bản và tổng hợp, 2 thao trường bắn súng bộ binh, 2 thao trường chiến thuật. Khi cơn bão số 2 đổ bộ vào Đông Hà, Triệu Hải, Sư đoàn 968 kịp thời ứng cứu nhân dân. Thiếu tá Nguyễn Văn Hạnh - Chủ nhiệm Công binh sư đoàn đã hy sinh thân mình trong chống bão lũ, sau khi làm nhiệm vụ quốc tế cao cả trở về nước chưa được bao lâu, nêu tấm gương cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ" mãi mãi ghi sâu trong lòng quân và dân Quân khu2. Sư đoàn 341, Lữ đoàn 176, Trung đoàn 206, Bộ Tham mưu Quân khu, lực lượng vũ trang Nghệ Tĩnh lao động hiệu quả cao giúp huyện Kỳ Anh làm công trình thủy lợi sông Rác. Sau hội nghị kho tàng toàn Quân khu (10-1989), Ngành Kỹ thuật đẩy mạnh xây dựng kho vũ khí đạn cơ bản, thu hồi, phân loại, bảo quân số lượng lớn vũ khí trang bị, nhất là của các đơn vị giải thể, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu cho nhiệm vụ C89 và A2. Trung đoàn 206 là đơn vị đầu tiên xây dựng được khu kỹ thuật tốt. ______________________________________________ 1. Thực hiện Nghị quyết 34/NQ-ĐU ngày 4-11-1988 của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về công tác nhà trường. 2. Thiếu tá Nguyễn Văn Hạnh quê ở xã Liên Sơn - Đô Lương (Nghệ Tĩnh). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 10:16:01 pm Ngành Hậu cần chỉ đạo cụ thể chuyên đề về đời sống, triển khai bảo đảm hậu cần tài chính theo phương thức mới, từng bước tiền tệ hoá, đồng thời phát huy cao truyền thống tự lực tụ cường tăng gia sản xuất, xây dựng cơ bản, tạo bước chuyển biến về nơi ăn ở, điều kiện sinh hoạt, nâng cao chất lượng bữa ăn và sức khỏe bộ đội. Điển hình trong các đơn vị đủ quân, Trung đoàn 335 Sư đoàn 324 là điểm sáng. Hội đồng Nhà nước tặng danh hiệu Thầy thuốc ưu tú cho 2 đồng chí đầu tiên trong Quân khu là bác sĩ Văn Đức Minh, bác sĩ Lê Ngọc Trác. Công ty 85 và 12 xí nghiệp sản xuất thực hiện 3 chương trình kinh tế của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nghị quyết 112 của Thường vụ Đảng ủy Quân khu1 có chuyển biến mới theo hướng hạch toán kinh doanh trong cơ chế thị trường. Trên cơ sở từ kết quả sản xuất, làm kinh tế đã đạt được tạo cho Quân khu giải quyết được một số chính sách hậu phương cán bộ, đồng thời tham gia xây dựng, phát triển kinh tế địa phương. Quân khu và các địa phương lãnh đạo, chỉ đạo chia tỉnh Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh đối với khối quân sự2 tạo được sự thống nhất, nhanh chóng triển khai thực hiện nhiệm vụ theo tổ chức mới, trên cơ sở nguyên tắc đoàn kết, thống nhất, hợp tình hợp lý, sẵn sàng chiến đấu về mặt quân sự trước đây và sau nay Bình Trị Thiên vẫn là một hướng chiến trường thống nhất của Quân khu không thể chia cắt. Trong quá trình chuyển giao phân chia tỉnh, Quân khu tập trung chỉ đạo các cơ quan chức năng bảo đảm 3 tháng dự trữ lương thực cho đảo Cồn Cỏ. Thực hiện yêu cầu tinh giảm tổ chức biên chế, quân số Quân khu quyết định giải thể 2 Sư đoàn rút gọn 348 và 342, trung tâm huấn luyện 442, Đội điều trị 42, Tiểu đoàn 684 khai thác than, điều chỉnh Lữ đoàn 176 thành Trung đoàn 176 dự bị động viên có 1 tiểu đoàn đủ quân, Tiểu đoàn 31 đặc công thành Đại đội 31, tuyển quân thí điểm theo Luật Nghĩa vụ quân sự 2 năm đạt chất lượng tốt cả về sức khỏe, chính trị, văn hoá3. Đồng thời xây dựng hệ thống Viện kiểm sát và Tòa án quân sự ở 2 cấp, triển khai giáo dục pháp luật, đưa công tác pháp chế đi dần vào nền nếp. Kết quả nổi bật trong quá trình điều chỉnh lực lượng lớn của Quân khu và các đơn vị là triển khai kế hoạch lãnh đạo tổ chức chỉ huy chặt chẽ, kết hợp công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách, động viên được các cấp, các ngành và nhân dân góp sức, giải quyết hậu phương quân đội theo tinh thần đổi mới, giải quyết được một phần khó khăn cho hàng vạn cán bộ và quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng chuyển ra các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước4, đáp ứng yêu cầu chấn chỉnh tổ chức biên chế và thể hiện sự chăm lo của Đảng, Nhà nước, quân đội đối với con người, góp phần giải quyết việc làm. Quân khu một mặt chấp hành nghiêm túc điều chỉnh về tổ chức biên chế, một mặt chủ động chịu trách nhiệm xem xét kỹ, cân nhắc chọn lọc thận trọng, để lại những bộ phận lực lượng để phát triển đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Quân khu khi cần thiết. Theo phương hướng đó, tổng quân số Quân khu giảm mạnh (42,29%), tổ chức biên chế cả chủ lực và địa phương gọn lại, nhưng vẫn bảo đảm được chất lượng sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu. Với sự tham mưu đề xuất kịp thời của Cục Chính trị và Bộ Tham mưu Quân khu, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đã có quyết định đúng hướng là giữ lại Báo Quân khu, Đoàn nghệ thuật, Đội quân nhạc và Đội bóng trong tổng quân số chung5 - những lực lượng trực tiếp hoạt động xung kích trên lĩnh vực đời sống tinh thần tư tưởng văn hoá, thể dục thể thao của bộ đội trước những diễn biến phức tạp của tình hình. Trong khi đó, nhiều đơn vị toàn quân đã giải thể, mãi sau này mới khôi phục được6. Những thành tựu về chấn chỉnh tổ chức biên chế, quân số và các mặt hoạt động khác của quân và dân Quân khu 4 đã góp phần cùng toàn quân thực hiện một bước quan trọng về chuyển hướng chiến lược quốc phòng. Đánh giá hơn 3 năm thực hiện kế hoạch quân sự - quốc phòng 5 năm (1986-1990) và hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (3-1989) nhận định về thực hiện quốc phòng - an ninh như sau: "Đã điều chỉnh chiến lược bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành nhiệm vụ trên các chiến trường, giảm quân số và bước đầu chấn chỉnh quân đội thường trực, tăng cường thế trận chiến tranh nhân dân. Đã có những chuyển hướng về công tác bảo vệ an ninh chính trị phù hợp với tình hình mới". _____________________________________________ 1. Nghị quyết 112/NQ-ĐU ngày 22-3-1989 về đẩy mạnh lao động sản xuất và tham gia xây dựng kinh tế, chấn chỉnh tổ chức và cải tiến cơ chế quản lý các đơn vị làm kinh tế. 2. Chỉ thị số 208/CT ngày 3-6-1989 của Tư lệnh Quân khu về chia tỉnh Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế đối với khối quân sự. 3. Toàn Quân khu tuyển quân đạt 25.203/25.181. 4. Quân khu giải thể 2 sư đoàn bộ binh, 2 trung tâm huấn luyện; giải thể và rút gọn nhiều trung đoàn đơn vị tương dương; giải thể và tổ chức lại hệ thống các trường, hoàn thành rút quân tình nguyện ở Lào về nước, tổng số giảm 22.000 quân, có 10.771 người hưởng lương, so với tháng 12-1986 giảm 42,29% quân số. 5. Theo tinh thần Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 145 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chỉ thị 12/CT của Thường vụ Đảng ủy Quân khu ngày 11-1-1989 về công tác văn hóa văn nghệ. 6. Sách: "Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam 1944-2000", trang 789 nêu rõ: Do nghiên cứu chưa kỹ càng, thấu đáo, chủ yếu vì ngân sách quốc phòng có hạn, nên Đảng ủy Quân sự Trung ương và Tổng cục Chính trị đã quyết định đình bản các tờ báo ở quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng... và giải thể một số đoàn nghệ thuật trong quân đội. Quyết định ấy đã hạn chế hiệu quả hoạt động của công tác tư tưởng, để một lực lượng đáng kể cán bộ, nhân viên có chuyên môn báo chí và nghệ thuật được bồi dưỡng đào tạo tốt, giàu vốn sống thực tiễn ra khỏi quân đội rất là đáng tiếc. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 10:16:43 pm Để đáp ứng với yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quồc phòng trong tình hình mới, ngày 17-10-1989, thể theo nguyện vọng của nhân dân cả nước, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định lấy ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12 là ngày Quốc phòng toàn dân. Ngày 22-12-1989 kỷ niệm 45 năm ngày thành lập quân đội là ngày Quốc phòng toàn dân đầu tiên, đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới trên lĩnh vực quân sự - quốc phòng. Cuối tháng 11-1989, Quân khu hoàn thành trước thời gian một mục tiêu quan trọng của Đại hội Đảng Quân khu lần thứ IV đề ra là chuyển Sở chỉ huy từ Đại Huệ về vị trí trước đây tại thành phố Vinh, bảo đảm cho việc lãnh đạo, chỉ huy trước yêu cầu mới; tạo điều kiện thuận lợi hơn để tăng cường mối quan hệ với Trung ương, Bộ Quốc phòng, các đơn vị, địa phương trên cả nước; phù hợp với nguyện vọng của các lực lượng vũ trang và nhân dân1. Trước khi di chuyển, Quân khu tổ chức lực lượng đóng góp công sức tôn tạo mộ bà Hoàng Thị Loan - thân mẫu của Bác Hồ, hoàn thành nhà tưởng niệm Bác Hồ ở Kim Liên, nâng cấp đường Lê Hồng Sơn2. Ngày 25-11-1989 Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức giao ban đầu tiên tại Sở chỉ huy mới sau 25 năm sơ tán lên Nam Đàn - quê hương của Bác Hồ. Đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày hội Quốc phòng toàn dân đầu tiên (22-12-1989), Quân khu cùng tỉnh Nghệ Tĩnh tổ chức trọng thể lễ mít tinh, diễu hành tại thành phố Đỏ - Vinh, biểu dương lực lượng thể hiện ý chí, sức mạnh thống nhất của quân và dân trên quê hương Bác Hồ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thực hiện công cuộc đổi mới. Cũng nhân dịp này, Cục Chính trị Quân khu tổ chức Hội diễn nghệ thuật quần chúng có cả lực lượng sinh viên, học sinh thành phố Vinh tham gia với chủ đề ca hát về Đảng, Bác Hồ, quân đội và nhân dân anh hùng. Nối tiếp từ văn nghệ cách mạng trong kháng chiến, từ "tiếng hát át tiếng bom" trong chiến đấu, hội diễn lần này đã góp tiếng nói nghệ thuật lành mạnh, trong sáng, kịp thời cả nội dung và phong cách thể hiện của văn hoá văn nghệ “Bộ đội Cụ Hồ” trong cuộc đấu tranh quyết liệt trên mặt trận tư tưởng văn hoá, chống tư tưởng không lành mạnh trên lĩnh vực nhạy cảm này, do các thế lực thù địch thường xuyên chống phá tung vào nước ta3. Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế cũng lần đầu tiên tổ chức trọng thể, quy mô ngày kỷ niệm thành lập quân đội và ngày hội Quốc phòng toàn dân sau khi chia tách trở lại, hướng vào một trong những mục tiêu quan trọng của năm 1990 là chuẩn bị diễn tập khu vực phòng thủ, quyết thắng mở đầu trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Tỉnh Thanh Hoá là địa phương đầu tiên chuyển tinh thần kỷ niệm ngày thành lập quân đội, ngày hội Quốc phòng toàn dân vào cuộc diễn tập khu vực phòng thủ, đổi mới lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và công tác tham mưu triển khai thực hiện nhiệm vụ quốc phòng từ tỉnh xuống cơ sở4. Đây thực sự là nhân tố nổi bật đổi mới phong cách làm việc của địa phương trên địa bàn Quân khu. ____________________________________________ 1. Trung đoàn 10 Cục Hậu cần, Trung đoàn 414 công binh... thi công Sở chỉ huy Quân khu; Công ty 85, các cơ quan, đơn vị, địa phương đóng góp nhiều công sức. Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo thống nhất, liên tục, tập trung hoàn thành công trình này có dáng kiến trúc hiện đại bề thế, thoáng đạt, không gian mặt tiền rộng, cấu trúc bên trong và phía sau vững chãi, thực hiện sớm hơn mục tiêu chuyển Sở chỉ huy Quân khu về Vinh. Tiếp sau công trình nảy, đầu năm 1990, cầu Bến Thủy của Nhà nước cũng hoàn thành. Thành phố Vinh quê Bác có hai công trình lớn tạo thế mới cả kinh tế - văn hoá - xã hội, quốc phòng an ninh nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác Hồ. 2. Công trình này do Trung đoàn 414 và lực lượng một số đơn vị, cơ quan Quân khu xây dựng. 3. Hội diễn được công diễn ở Công viên Nguyễn Tất Thành và một số điểm khác ở Vinh. 4. Trước đây, Hội nghị quân chính đầu năm do quân sự chủ trì, nay chuyển sang Thường trực Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, huyện... chủ trì triển khai nhiệm vụ quốc phòng gắn với an ninh. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 10:19:08 pm * * * Các cơ quan, đơn vị, địa phương trong Quân khu triển khai thực hiện các nhiệm vụ năm 1990 đều bám sát chủ trương của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đề ra là hướng về những ngày kỷ niệm thành lập Đảng, ngày sinh Bác Hồ và ngày truyền thống của lực lượng vũ trang quân khu. Thường vụ Đảng ủy tự phê bình, phê bình về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 1989 và Đảng ủy Quân khu 6/6 đồng chí khối quân sự tiến hành kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng thể hiện được tính nghiêm túc, thẳng thắn, thống nhất xây dựng. Về ưu điểm, Thường vụ Đảng ủy Quân khu luôn luôn kiên định về mặt chính trị, đường lối đổi mới, đoàn kết thống nhất, tự lực tự cường, tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện 5 nhiệm vụ, 2 yêu cầu, 2 chuyển hướng. Lực lượng vũ trang quân khu có chuyển biến toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, công tác hậu cần - kỹ thuật và xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Quan hệ liên minh chiến đấu đặc biệt với bạn Lào đi vào chiều sâu, đúng đường lối quan điểm trong thời kỳ theo đường lối đổi mới của Đảng. Những kết quả đạt được nổi bật là: rút gọn, điều chỉnh quân số, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, chống tiêu cực nội bộ; thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị tiếp tục chuyển biến mạnh về quân sự địa phương, cùng các tỉnh kiên quyết chỉ đạo bồi dưỡng, diễn tập, tập huấn làng xã chiến đấu (ở Hải An), xây dựng diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện và nhiều cơ sở; công tác đảng, công tác chính trị đi sâu 5 chuyên đề, tập trung về tư tưởng, kỷ luật. Trước diễn biến tình hình thế giới, trong nước có những phức tạp Thường vụ Đảng ủy Quân khu đã nhạy bén đề ra các chủ trương biện pháp đúng đắn, kịp thời chống các quan điểm sai trái chủ nghĩa đa nguyên, chống văn hóa xấu độc; từng bước đổi mới phong cách, tác phong làm việc theo quan điểm đổi mới của Đảng. Thường vụ Đảng ủy Quân khu nêu lên một số khuyết điểm là: Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu có mặt yếu, lực lượng tuyến biển mỏng, khả năng phòng thủ một số khu vực thấp, chưa loại trừ hết bất ngờ. Chỉ đạo hoạt động của Đảng ủy quân sự địa phương theo tinh thần Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị chưa thực sự kiên quyết, chất lượng của Ban cán sự huyện hạn chế. Lãnh đạo làm chuyển biến về kỷ luật chuyển chậm và đang là điểm yếu. Chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy Đảng, năng lực, sức chiến đấu của một số tổ chức Đảng vẫn chưa được nâng lên. Việc sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ một số trường hợp chưa hợp lý1. Các đồng chí Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Ủy viên Trung ương Đảng - Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu; Thiếu tướng Lê Văn Dánh - Bí thư Đảng ủy - Phó tư lệnh Chính trị Quân khu; Thiếu tướng Nguyễn Xuân Chí - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu; Đại tá Lê Văn Mẹo - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu; Đại tá Trương Đình Thanh - Ủy viên Đảng ủy - Phó Tham mưu trưởng Quân khu; Đại tá Trịnh Bá Giản - Ủy viên Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu tiến hành sinh hoạt kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng. Chi bộ nơi sinh hoạt của các đồng chí ủy viên Đảng ủy Quân khu đã tiến hành kiểm tra đảng viên, 18/20 Đảng bộ trực thuộc đã góp ý kiến phê bình. Kết quả, 6 đồng chí đều đạt đảng viên chấp hành tốt điều lệ Đảng. Điểm còn yếu là thực hiện nhiệm vụ chức trách còn hạn chế, nguyên nhân do trình độ năng lực chưa vươn lên kịp yêu cầu cương vị công tác2. Trước những biến động lớn trong lãnh đạo, chỉ huy Quân khu và điều chỉnh lớn về lực lượng, nhưng các đồng chí đảm nhận cương vị mới đã kế thừa và phát triển những kinh nghiệm quý báu, nhanh chóng nắm bắt quán triệt thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trước hết đổi mới tư duy và hành động, chủ động sáng tạo trong chuyển mới về công tác quốc phòng địa phương và cơ sở, tạo sự thống nhất cao cùng các tỉnh giải quyết chính sách ra quân đông, tăng cường củng cố kỷ luật bộ đội, thực hiện những việc cần làm ngay, thực sự tạo được thế phát triển mới cho Quân khu trước những thách thức quyết liệt. Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết chuyên đề về công tác kiểm tra Đảng. Trong toàn Đảng bộ có 100% cán bộ chủ trì từ cơ quan Quân khu đến sư đoàn và 80% đảng viên lần lượt tiến hành kiểm tra. Ngày 3-2-1990, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu cùng lãnh đạo tỉnh Nghệ Tĩnh làm lễ trọng thể dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kim Liên và mít tinh kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định niềm tin, quyết tâm của Đảng bộ, nhân dân, các lực lượng vũ trang đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta đã lựa chọn, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra. ______________________________________________ 1. Nghị quyết số 08/NQ-ĐU của Đảng ủy Quân khu ngày 12-1-1990. 2. Báo cáo số 42/BC-KTĐVCH ngày 13-1-1990. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 10:23:38 pm Tiến tới kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác, tỉnh Nghệ Tĩnh tổ chức hội thảo Bác Hồ với quê hương. Thiếu tướng Lê Văn Dánh - Bí thư Đảng ủy - Phó tư lệnh Chính trị Quân khu dự và trình bày chuyên đề: Lực lượng vũ trang Quân khu 4 “Trung với nước, hiếu với dân”, nêu rõ những yêu cầu và trách nhiệm của lực lượng vũ trang quân khu rèn luyện, hành động để giữ trọn niềm tin yêu của Đảng, của nhân dân đối với "Bộ đội Cụ Hồ" trong công cuộc đổi mới. Đại diện Quân khu cũng dự hội thảo khoa học của Tổng cục Chính trị tổ chức tại Nam Đàn về “Hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ”. Cùng thời gian này, Quân khu hoàn thành và xuất bản công trình: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954). Lịch sử kháng chiến của quân và dân Khu 4 cũng như lịch sử kháng chiến toàn quốc là lịch sử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lịch sử đoàn kết và đấu tranh của toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trân trọng lịch sử và kinh nghiệm không những là ghi nhớ công lao của quân và dân Quân khu mà quan trọng hơn nữa là góp phần bồi dưỡng thế hệ hiện tại, tương lai hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn Quân khu trong giai đoạn mới1. Các đơn vị, địa phương tổ chức lễ ra quân huấn luyện giai đoạn 1 năm 1990, đồng thời sẵn sàng chiến đấu gắn với triển khai kế hoạch A2, phối hợp các lực lượng bảo đảm giữ vững an ninh chính trị thường xuyên và các thời điểm quan trọng. Sau Hội nghị dân quân tự vệ và dự bị động viên toàn quốc, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 29/HĐBT ngày (29-1-1990), ban hành điều lệ dân quân tự vệ quy định tổ chức, hoạt động và trách nhiệm của các ngành, các đoàn thể về xây dựng dân quân tự vệ. Quân khu và các địa phương chú trọng tổ chức, xây dựng, huấn luyện nâng cao chất lượng theo yêu cầu nội dung làng xã chiến đấu vững mạnh toàn diện đã được kết luận tại tập huấn quân sự địa phương ở Huế (4-1989). Đến giữa năm 1990, Quân khu đã rà xét ở 1.441/1.719 xã phường, 931/1.786 cơ sở tự vệ, chọn lọc đưa ra khỏi dân quân tự vệ 136.063 người, kết nạp mới 18.220 người, chỉ còn 4,6% dân số, tỷ lệ đảng viên 17,42%, đoàn viên 52,13%, quân nhân phục viên xuất ngũ 30,15%. Việc tổng điều tra quân dự bị cũng được tiến hành chặt chẽ, thực chất hơn, gắn với việc tổng kết 10 năm công tác động viên từ cơ sở lên. Trong hai năm 1989-1990 thực hiện phong trào “Tuổi trẻ quân đội quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” ở các tổ chức Đoàn Quân khu2 và phấn đấu theo các mục tiêu thi đua đạt 45 đến 100 nhân tố mới, điển hình mới, các đơn vị, địa phương trong Quân khu đã có nhiều chuyển biến phát triển, xứng đáng với niềm tin của Đảng bộ, nhân dân đối với lực lượng vũ trang trên quê hương Bác nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người. Trong thời gian này, Tổng cục Hậu cần mở Hội nghị quân y 5 tốt toàn quân tại Quân khu 4, phát động phong trào thi đua “Xây dựng đơn vị có phong trào quân y 5 tốt và chiến sĩ quân y làm theo lời Bác”. Sáng 19-5-1990, Quân khu và tỉnh Nghệ Tĩnh tổ chức trọng thể lễ tưởng niệm và báo công trước Bác Hồ tại khu di tích Kim Liên và mít tinh kỷ niệm trọng thể 100 năm ngày sinh của Bác tại thành phố Vinh. 100 đại biểu đoàn viên xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” và đại biểu chi bộ trong sạch vững mạnh xuất sắc trong Đảng bộ, các tổ chức Đoàn Thanh niên toàn Quân khu tới dự buổi lễ báo công trước Bác. Đoàn Thanh niên Quân khu cùng Tỉnh đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Nghệ Tĩnh tổ chức dạ hội tại công viên Nguyễn Tất Thành. Lực lượng nghệ thuật chuyên nghiệp và quần chúng Quân khu tham dự Liên hoan tiếng hát làng Sen với chương trình gọn, lành mạnh, đậm đà giai điệu quê hương xứ Thanh, xứ Nghệ, xứ Huế... đạt nhiều giải xuất sắc3. Tại huyện Tân Kỳ, lãnh đạo và nhân dân địa phương cũng tổ chức trọng thể lễ đặt mốc số 0 đường chiến lược Hồ Chí Minh, con đường đầy sự tích anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tại ngã ba Đồng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xây dựng khu di tích và tượng đài các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống nơi đây. Ngày 22 tháng 5, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Trung ương Đảng - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng vào dự kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác, đến thăm và làm việc với Quân khu. Từng nhiều lần vào thăm làm việc với Quân khu trong những năm tháng đầy gian khổ ác liệt chiến tranh, trong xây dựng hòa bình, Đại tướng đến khi Quân khu bộ mới trở về thành phố quê hương Bác. Các đồng chí Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, cơ quan Quân khu, cán bộ, chiến sĩ vui mừng xúc động đón tiếp Đại tướng. Đại diện Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ trong thời gian qua và quyết tâm của Quân khu. Đại tướng nói chuyện thân tình với cán bộ, chiến sĩ và căn dặn ghi vào sổ vàng truyền thống của Quân khu: “Tặng Quân khu 4 - Toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên, công nhân và nhân viên quốc phòng hãy ra sức phấn đấu dưới ngọn cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ do Trung ương Đảng và Đảng ủy Quân sự Trung ương, do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao phó”. _____________________________________________ 1. Lời giới thiệu của Thượng tướng Trần Văn Quang. Cuốn sử có sự tham gia chỉ đạo nội dung của các đồng chí: Thiếu tướng Trần Ân, Thiếu tướng Lê Nam Thắng; những người viết: Lê Đức Triêm, Trần Duy Thược, Hoàng Nghĩa Nhuần, Văn Đình Đồng, Bùi Trọng Cầu, Nguyễn Thanh Hồng. 2. Cục Chính trị Quân khu tổ chức sơ kết phong trào do Tổng cục Chính trị phát động từ năm 1988. 3. Chỉ thị 12/CT của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về công tác văn hóa, văn nghệ xác định: Xây dựng đoàn nghệ thuật Quân khu tinh, gọn, xung kích, xứng đáng đoàn nghệ thuật lực lượng vũ trang quê hương Bác Hồ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 10:30:02 pm Sáng ngày 26-5-1990, một sự kiện trọng đại, một vinh dự to lớn đến với lực lượng vũ trang quân khu: đồng chí Nguyễn Văn Linh - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đến thăm và làm việc với Quân khu. Trong buổi làm việc trước đó với lãnh đạo tỉnh Nghệ Tĩnh và lãnh đạo Quân khu, đồng chí Tổng Bí thư nói: “Ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội tôi thấy như ngồi trên đống lửa nhưng vào Quân khu 4 tôi thấy yên tâm hơn”1. Lời của đồng chí Tổng Bí thư là sự đánh giá cao của Đảng đối với địa phương chiến lược rất quan trọng của đất nước - quê hương của Bác Hồ, là vinh dự và cũng là trách nhiệm to lớn, nặng nề cổ vũ lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn Quân khu phấn đấu xây dựng vững mạnh toàn diện. Sau khi nghe Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu báo cáo tình hình, đồng chí Tổng Bí thư nói chuyện, đối thoại với cán bộ cao cấp cơ quan Quân khu, nêu rõ tình hình, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang quân khu trước những thách thức mới. Đồng chí đã ghi vào sổ vàng truyền thống của Quân khu: “Nhân dịp vào dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến, tôi được đến thăm các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Quân khu trong lúc Quân khu sẽ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Quân khu. Tôi xin chào mừng tất cả cán bộ, chiến sĩ của Quân khu đều là những chiến sĩ kiên cường, anh hùng của lực lượng vũ trang, của Tổ quốc Việt Nam. Tất cả đều xứng đáng danh hiệu “Anh Bộ đội Cụ Hồ"2. Trong không khí thiết thực lập thành tích chào mừng những ngày lễ lớn, Quân khu chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo với trách nhiệm cao, hiệu quả mới, trong đó tập trung sơ kết 2 năm xây dựng làng xã chiến đấu, tiến hành Đại hội Đảng các cấp, kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống Quân khu (15.10.1945 - 15.10.1990). Các Đảng bộ Cục Chính trị, Trường Quân sự, Trung đoàn 414 tổ chức Đại hội điểm vòng 1 và Sư đoàn 324, Cục Hậu cần, Trung đoàn 80 tổ chức Đại hội điểm vòng 2 đều chuẩn bị kỹ các bước cả tư tưởng, tổ chức cán bộ, nâng cao sức chiến đấu, chất lượng lãnh đạo của tổ chức Đảng, làm trong sạch và kiện toàn đội ngũ đảng viên cán bộ, kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, kiên định bản lĩnh chính trị. Trong bầu cử Ban chấp hành khoá mới, các Đảng bộ quán triệt nắm vững tiêu chuẩn, lựa chọn những đồng chí tiêu biểu cho trí tuệ của Đảng bộ, không cử những người có quan điểm chính trị sai lệch, những người cơ hội, tham nhũng, lợi dụng chức quyền, bất mãn, những người kém ý thức kỷ luật3. Việc tiến hành Đại hội Đảng các cấp được tiến hành gắn chặt với tổng kết 4 năm kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng4. Trước tình hình các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô khủng hoảng trầm trọng và tan rã, kinh tế đời sống trong nước, nhất là giá cả biển động lớn5 gây ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng tâm lý, nhân dân ta, đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch ráo riết thực hiện chiến lược xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta và chống phá cách mạng ba nước Đông Dương. Trong chiến lược phá hoại toàn diện và mục tiêu tiến công của địch, địa bàn Quân khu 4 là một trọng điểm chiến lược tập trung phá hoại của địch. Các thế lực thù địch tìm mọi biện pháp hòng vô hiệu hóa lực lượng vũ trang6. Thực hiện Chỉ thị số 60/CT-TW (ngày 20-5-1990) của Bộ Chính trị “về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới” và Nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về việc này, các đơn vị, địa phương đều soát xét, đánh giá rõ tình hình, tập trung thực hiện các biện pháp cấp bách: tăng cường lãnh đạo về chính trị tư tưởng; bảo vệ an ninh chính trị nội bộ; tăng cường quản lý bảo vệ an toàn vũ khí trang bị, phương tiện, kho tàng; thường xuyên chấp hành nghiêm chỉnh các chế độ quy định, loại trừ mọi sơ hở, không để kẻ địch, phần tử xấu lợi dụng hoạt động phá hoại. Các cơ quan Quân khu tập trung lãnh đạo, chỉ huy các cục, phòng, ban xây dựng cơ quan Quân khu vững mạnh toàn diện, trước tiên là kiên định vững vàng về chính trị tư tưởng, quan điểm lập trường, trong sạch gọn mạnh về tổ chức, nghiêm minh về kỷ luật, văn minh lịch sự về nếp sống, làm việc có năng suất chất lượng, hiệu quả thiết thực, phục vụ đắc lực cho lãnh đạo, chỉ huy Quân khu hoàn thành tốt các nhiệm vụ7. Trong sinh hoạt chính trị tư tưởng, cán bộ chủ trì các cấp, trong cơ quan Quân khu, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu xác định: Nhiệm vụ cơ bản của đất nước và toàn xã hội là giữ cho được ổn định chính trị trong mọi tình huống. Còn đối với các Đảng bộ, các đơn vị lực lượng vũ trang quân khu phải luôn luôn kiên định bản lĩnh chính trị, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, kiên định đường lối đổi mới về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Lực lượng vũ trang quân khu luôn luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy bảo vệ Đảng, chính quyền, nhân dân, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. _____________________________________________ 1. Thực tế tình hình lúc này ở Hà Nội, Thành phố Hổ Chi Minh rất nóng bỏng phức tạp do sự chống phá của các thế lực thù địch và bọn chống đối trong nội bộ. 2. Sách “Lực lượng vũ trang Quân khu 4 mãi mãi xứng danh Bộ đội Cụ Hồ", Cục Chính trị Quân khu 4 (12-1990). 3. Chỉ thị 70/CT-ĐU ngày 9-7-1990 của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về Đại hội Đảng các cấp trong Đảng bộ Quân khu. 4. Thường vụ Đảng ủy Quân khu tổ chức tổng kết ngày 3-7-1990. 5. Lạm phát năm 1989 giảm xuống còn 2,5% /tháng, nhưng năm 1990 tăng lên 7-10%/tháng. 6. Trích Nghị quyết 248/NQ-TVĐUQK ngày 10-7-1990 của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về tăng cường nhiệm vụ bảo vệ an ninh lực lượng vũ trang quân khu. 7. Nghị quyết 105/NQ-ĐU ngày 9-3-1990 của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về xây dựng cơ quan Quân khu vững mạnh toàn diện, phát động ngày ra quân huấn luyện, xây dựng mở đầu vào ngày 1-4-1990. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 10:33:46 pm Giữa tháng 6-1990, Quân khu tổ chức 5 đoàn xây dựng cơ sở cùng các tỉnh khảo sát, đánh giá và thúc đẩy thêm một bước xây dựng làng xã chiến đấu. Từ ngày 28-7 đến 1-8-1990, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị về xây dựng làng, xã, phường, cơ sở chiến đấu. Quân khu khởi đầu tập huấn quân sự địa phương tại thành phố Huế và sơ kết bước đầu tại thành phố Vinh nhằm tạo sự chuyển mạnh mẽ hơn trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng làng, xã, phường, cơ sở chiến đấu. Hơn 450 đại biểu của Bộ Quốc phòng, Quân khu, các đồng chí Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công an, quân sự của các tỉnh, huyện, thị, thành, trong toàn Quân khu, đại biểu các đơn vị chủ lực Quân khu và 40 điển hình xã, phường về dự. Tại hội nghị, 14 báo cáo điển hình đại diện cho các dạng cơ sở trên 3 vùng đã được trình bày, 17 ý kiến thảo luận tập trung đánh giá, nêu kinh nghiệm thực tiễn, nhất là thống nhất tính cấp thiết, các nội dung, mục tiêu, biện pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị về xây dựng làng, xã, phường cơ sở chiến đấu. Hội nghị đánh giá cao kết quả đạt được trong 2 năm qua, khẳng định việc tổng kết từ lịch sử truyền thống của Quân khu, khảo nghiệm từ thực tiễn đổi mới, khởi xướng xây dựng xã, phường, cơ sở chiến đấu với tư duy mới là kịp thời, đúng hướng, có tính sáng tạo, gắn xây dựng với bảo vệ, bảo vệ với xây dựng, tạo sức mạnh tổng hợp tại chỗ, sức mạnh thế trận lòng dân đúng theo tư tưởng quân sự của Đảng, tạo ổn định chính trị địa bàn, vì cả nước, cùng cả nước thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo đường lối đổi mới của Đảng. Qua phát biểu của đại diện các địa phương, đơn vị chủ lực và các báo cáo điển hình, hội nghị rút ra một số vấn đề quan trọng là tuy thời gian ngắn nhưng việc xây dựng xã, phường, cơ sở chiến đấu với các nội dung đã được đúc kết tạo bước chuyển biến mới như: tuyển quân tốt hơn, hiện tượng đào bỏ ngũ giảm hẳn, tạo cơ sở xây dựng lực lượng chủ lực mạnh, lực lượng dự bị động viên dồi dào, thực hiện chính sách hậu phương kết quả, gắn bó chặt chẽ giữa địa phương với đơn vị xây dựng tạo địa bàn an toàn. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Ủy viên Trung ương Đảng - Tư lệnh Quân khu thay mặt Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, Ban chỉ đạo phát biểu kết luận nêu rõ: Sau 4 ngày làm việc, hội nghị cơ bản nhất trí cao về quan điểm, phương hướng, mục tiêu, yêu cầu nội dung và biện pháp xây dựng làng, xã, phường cơ sở chiến đấu trong tình hình mới, mang ý nghĩa chiến lược trước mắt và lâu dài, góp phần giải quyết một vấn đề cụ thể mang tính chỉ đạo, định hướng cho việc triển khai thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân tại cơ sở trong tình hình mới. Việc sơ kết xây dựng làng, xã, phường, cơ sở chiến đấu theo tinh thần Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị trong tình hình mới rất quan trọng và có sự phát triển, không bó hẹp trong nội dung yêu cầu của nhiệm vụ quân sự địa phương đơn thuần mà được mở rộng khái niệm trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng và tích lũy sức mạnh từ cơ sở, chủ động từ cơ sở để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cơ sở. Sức mạnh của xã, phường chiến đấu là sức mạnh tổng hợp của cả chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và quốc phòng - an ninh1. Trong 2 năm qua, Đảng ủy Quân khu đã ra nghị quyết “5 nhiệm vụ, 2 yêu cầu, 2 chuyển hướng”, trong đó trọng tâm lớn nhất là chuyển hướng xây dựng công tác quân sự địa phương và chuyển mạnh về cơ sở. Tiếp đó, Tỉnh ủy các tỉnh ra các nghị quyết về quốc phòng - an ninh. Sau đợt tập huấn (4-1989), các tỉnh, huyện triển khai tập huấn cho lãnh đạo, chính quyền, cơ quan quân sự tỉnh, huyện, xã, lãnh đạo các ban ngành, cơ quan nhà nước, các công - nông trường, xí nghiệp, tiến hành chỉ đạo xây đựng điểm xã, phường, thông qua diễn tập khu vực phòng thủ 5 tỉnh, tất cả các huyện và nhiều xã, phường trọng điểm, thực nghiệm vận hành cơ chế 02 hiệu quả, vận dụng vào thực tiễn, phát huy mạnh mẽ trên cả lĩnh vực kinh tế, xã hội, có tác dụng tích cực đối với việc xây dựng các mặt khác2. Xây dựng làng, xã, phường, cơ sở chiến đấu được kết hợp với các cuộc vận động chống tiêu cực, nhất là thực hiện Chỉ thị 135 của Hội đồng Bộ trưởng và triển khai một bước kế hoạch chống gây rối bạo loạn, góp phần giữ vững ổn định về an ninh chính trị trên địa bàn Quân khu. Việc chống hiện tượng vượt biển có sự tiến bộ, chống xâm nhập của bọn phản động lưu vong đạt kết quả lớn (điển hình là xã Thanh - Hướng Hóa và A Lưới). Tuy nhiên, việc quán triệt Nghị quyết 02 xuống cơ sở còn chậm; tổ chức xây dựng làng, xã, phường, cơ sở chiến đấu theo nội dung tập huấn, nhiều cơ sở chưa triển khai. Số cơ sở khá chưa nhiều, số trung bình và yếu kém còn rất lớn, ngay chất lượng số cơ sở đạt khá cũng là theo yêu cầu cũ, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu mới. Các vụ việc xảy ra mất ổn định ở cơ sở vừa qua nhiều nơi chưa chủ động xử lý được (theo thông báo sơ bộ của các tỉnh có trên 80 cơ sở còn là “điểm nóng”, chưa khẳng định cơ sở có thể chủ động giải quyết được, chưa biết có thể bùng phát lúc nào). Khi mâu thuẫn bùng nổ đáng lẽ giải quyết bằng vận động quần chúng, giác ngộ quần chúng, cô lập bọn chủ mưu gây rối thì một số nơi dùng hành chính đơn thuần, vội vã; dùng công an, cơ quan pháp luật không đúng lúc, làm tăng tính phức tạp căng thẳng kéo dài một thời gian. ______________________________________________ 1. Lúc này, chủ trương của Quân khu chỉ đạo các tỉnh xây dựng làng xã an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu với 5 mục tiêu (nội dung) chưa được sự nhất trí của một số cơ quan Bộ và một số quân khu, cho Quân khu 4 làm như vậy là bao biện. Nhưng thực tế sau này mới khẳng định qua thực tiễn, được Chính phủ mở rộng khái niệm xây dựng xã phường vững mạnh toàn diện (cùng 5 nội dung trên) và Bộ Chính trị đề ra chủ trương xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở, thực chất bảo đảm sức mạnh của cơ sở (sau những vụ việc nổi cộm kéo dài nhiều nơi ở Thái Bình). 2. Từ chỗ hàng năm thiếu lương thực, đến năm 1990 lần đầu tiên các tỉnh trong Quân khu đạt được mục tiêu lớn thực hiện 3 chương trình kinh tế là tự trang trải được lương thực. Đây là thành công có ý nghĩa rất quan trọng của các địa phương trong 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới, ổn định và phát triển kinh tế, xã hội. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 10:36:42 pm Những nội dung, biện pháp thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị về xây dựng làng, xã, phường, cơ sở chiến đấu tiếp tục được Quân khu thực hiện, bổ sung phù hợp với tình hình mới: Trước âm mưu thủ đoạn của địch, vai trò, vị trí chiến lược của Quân khu càng trở nên hết sức quan trọng. Quân khu 4 là hậu phương chiến lược của cả nước, đồng thời có mối quan hệ rất khăng khít với khu trung tâm bạn Lào. Quân khu 4 vững mạnh, góp phần vào thế vững mạnh, ổn định của cả nước, cho bạn Lào. Quân khu 4 có gì biến động thì tác động rất xấu đối với cả nước và bạn Lào anh em. Đặc điểm hết sức quan trọng trên địa bàn Quân khu là do quá trình lịch sử chiến tranh hình thành 2 vùng phía bắc và phía nam, nên mỗi vùng có những đặc điểm khác nhau. Phía nam Quân khu ngoài mâu thuẫn nội bộ, chủ yếu là mâu thuẫn địch, ta, bạo loạn phản cách mạng tiềm ẩn ở Huế, Quảng Trị, nhất là Huế. Phía bắc chủ yếu là Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh từng là căn cứ địa trong 45 năm, Quảng Bình giải phóng 35 năm, nhưng qua xây dựng do những khuyết điểm sai lầm của cơ sở tích tụ lâu ngày và sự xáo động về cơ cấu dân cư, cơ cấu xã hội, tính cục bộ địa phương nảy sinh những mâu thuẫn nội bộ và các thế lực thù địch luôn tìm cách phá hoại1. Do vị trí chiến lược quan trọng như vậy, các tỉnh, huyện (đặc biệt là các huyện) cần nhận thức rõ trách nhiệm về vị trí quan trọng của địa bàn mình, tăng cường xây dựng góp phần giữ vững thế ổn định chung của địa bàn Quân khu, bảo đảm cho phía nam Quân khu được ổn định, phía bắc Quân khu thế vững vàng. Trên cơ sở phân tích đặc điểm tình hình chung, Đảng ủy Quân khu xác định phương hướng xây dựng làng, xã, phường, cơ sở chiến đấu trong giai đoạn mới là: Ra sức củng cố kiện toàn các tổ chức cơ sở vững mạnh toàn diện (bao gồm làng, xã, phường, cơ sở kinh tế, hành chính, văn hóa, xã hội...) không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu và năng lực hoạt động của cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, nhân dân làm chủ, cơ quan quân sự làm tham mưu (trung tâm hiệp đồng với các ban ngành đoàn thể đề xuất phương án và tổ chức triển khai thực hiện) ở cơ sở; nhằm xây dựng một hệ thống làng, xã, phường, cơ sở chiến đấu, đánh thắng mọi thủ đoạn chống phá xã hội chủ nghĩa ở cơ sở của các thế lực thù địch, sẵn sàng đối phó thắng lợi mọi âm mưu kết hợp bạo loạn chính trị với tiến công quân sự, hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta của mọi loại kẻ thù. Xây dựng làng, xã, phường, cơ sở chiến đấu cần tiếp tục thực hiện với các nội dung: cơ sở chính trị vững mạnh toàn diện, quốc phòng an ninh vững mạnh cả thế và lực; có kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ổn định; văn hóa - xã hội lành mạnh; thực hiện tốt chính sách xã hội và chính sách hậu phương quân đội. Quân khu đề ra các biện pháp triển khai thực hiện gồm: 1. Gắn việc củng cố lực lượng chuyên chính vô sản ở cơ sở với việc triển khai tốt Nghị quyết 8 của Ban Chấp hành Trung ương và tiến hành Đại hội Đảng bộ các cấp. 2. Từng địa bàn; từng huyện, xã khảo sát nắm chắc các loại cơ sở, dự kiến khả năng có thể diễn ra trên từng loại cơ sở để có kế hoạch chủ động ngăn ngừa, hạn chế, tiến tới xóa bỏ các điểm nóng. 3. Soát xét lại lực lượng vũ trang, củng cố về mặt chính trị tư tưởng của lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên, trong đó tập trung nơi trọng điểm và có nhân cốt, có phát triển rộng rãi, thực sự là chỗ dựa tin cậy của chính quyền cơ sở, đủ năng lực tham gia giải quyết các tình huống mất ổn định ở cơ sở, đủ sức hoàn thành các nhiệm vụ theo chức năng. 4. Xây dựng và phát huy vai trò tích cực chủ động của các tổ chức quần chúng cách mạng ở cấp tỉnh, huyện như Mặt trận, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Công đoàn, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân... thành lực lượng nòng cốt trong giải quyết các vụ việc gây rối mất ổn định, góp phần giữ vững an ninh trật tự an toàn xã hội. 5. Chỉ đạo chặt chẽ phối hợp hành động giữa các lực lượng vũ trang cơ sở với an ninh và biên phòng, nhất là các xã ven biển và biên giới, riêng các xã biên giới phải chỉ đạo chặt chẽ việc phối hợp hoạt động với bạn Lào để kiểm soát chống mọi âm mưu, thủ đoạn xâm nhập của các lực lượng phản động lưu vong từ nước ngoài trở về. 6. Các cơ quan Quân khu, cơ quan quân sự tỉnh, huyện theo chức năng, bám sát các mục tiêu, yêu cầu, nội dung và phương pháp cấp trên, có kế hoạch triển khai thực hiện, chủ động làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền trong xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện. 7. Tăng cường các đội cơ sở liên ngành hoạt động, kiểm tra, xây dựng điểm, nhân diện rộng trên địa bàn Quân khu. Kết quả sơ kết ở Quân khu, đến cuối năm 1990 đã có 24/73 huyện, thị, thành; 177/1.725 xã, phường trọng điểm sơ kết. Việc tổ chức sơ kết của Quân khu và các địa phương phù hợp, đúng hướng được quán triệt triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 về đổi mới công tác dân vận trong tình hình mới, một nội dung cốt lõi của công tác vận động quần chúng. Các cơ quan Quân khu, các đơn vị chủ lực cũng triển khai kế hoạch tổ chức các tổ công tác từ 5 đến 7 đồng chí được bồi dưỡng công tác dân vận, vận động quần chúng đi về từng đợt hoạt động ở các xã, bản vùng trọng điểm, cơ sở yếu, mở rộng các hoạt động kết nghĩa xây dựng đơn vị - địa phương an toàn2. _____________________________________________ 1. Một số vụ đã diễn ra như: Đức Thịnh, Xuân Hoa, Cẩm Nhượng, Nga Nhân, Hưng Thái, Hưng Long, Minh Lộc - Thanh Lộc, Thọ Ngọc... 2. Ngày 20-9-1990, Bộ tư lệnh Quân khu ra Quyết định số 317/QĐ (do Thiếu tướng Nguyễn Xuân Chí - Phó tư lệnh Quân khu ký) về việc lâm thời tổ chức cơ quan dân vận các cấp, ở Quân khu thành lập Phòng Dân vận - Tuyên truyền đặc biệt trực thuộc Cục Chính trị Quân khu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 10:39:00 pm Cuối tháng 9-1990, đoàn thanh tra của Bộ Quốc phòng do Thượng tướng Hoàng Cầm - Tổng thanh tra, vào thanh tra Quân khu 4 về thực hiện nhiệm vụ quân sự, chấp hành pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước về việc xét giải quyết đơn thư khiếu tố trong hai năm 1989-1990. Đoàn nghe Bộ tư lệnh Quân khu, các đơn vị báo cáo tình hình, tiếp đó, tiến hành thanh tra, kết luận cụ thể những mặt mạnh, yếu, nêu rõ các mặt cần tập trung thực hiện tiếp theo, nhất là chất lượng huấn luyện, rèn luyện kỷ luật bộ đội; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu ở cơ sở; kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong kế hoạch tổng thể của các địa phương; công tác quản lý vũ khí trang bị kỹ thuật, xét giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo kịp thời, đúng nguyên tắc. Ngày 14 tháng 10, lần đầu tiên tại thành phố Vinh, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ Tĩnh tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống lực lượng vũ trang quân khu 15.10.1945 - 15.10.1990. Cùng thời gian này, các tỉnh Thanh Hoá, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và các đơn vị trong Quân khu cũng tổ chức lễ kỷ niệm biểu dương lực lượng và nhiều hoạt động truyền thống, mang nội dung ý nghĩa thiết thực của ngày hội Quốc phòng toàn dân trên địa bàn Quân khu. Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống của Quân khu, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công đã gửi thư khen cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 4 về những chiến công, thành tích 45 năm qua với ý chí quyết chiến quyết thắng, tinh thần vì cả nước, cùng cả nước, đặc biệt là đã cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 5 tỉnh đoàn kết, dũng cảm, kiên cường vượt qua mọi thử thách, gian khổ, hy sinh trong chiến đấu, xây dựng, khắc phục hậu quả địch họa, thiên tai, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng và quân đội giao cho trên địa bàn Quân khu và các chiến trường, góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả, xây đắp nên tình đoàn kết đặc biệt, thủy chung son sắt với hai nước bạn Lào và Campuchia anh em. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước căn dặn lực lượng vũ trang Quân khu 4 luôn luôn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta đã lựa chọn, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đoàn kết nhất trí, đặc biệt là thường xuyên quán triệt sâu sắc quan điểm tự lực tự cường, độc lập trong xây dựng, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, ra sức rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác Hồ, để mãi mãi xứng đáng “Bộ đội Cụ Hồ”. Tại buổi lễ mít tinh kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống, quân và dân Quân khu vinh dự được đón tiếp Đại tướng Nguyễn Quyết - Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đến dự và phát biểu. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu đọc diễn văn về “Truyền thống vẻ vang, trách nhiệm lớn lao, luôn luôn xứng đáng là lực lượng chính trị trung kiên bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân”. Nội dung nêu bật 4 đặc trưng cơ bản về truyền thống lực lượng vũ trang quân khu 45 năm qua và nêu rõ: Kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống, chúng ta phấn khởi đón nhận kết quả Hội nghị Trung ương lần thứ 9 thông qua dự thảo Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ và Chiến lược ổn định phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, đồng thời vạch ra chủ trương cấp bách tập trung giải quyết mục tiêu hàng đầu trong 6 tháng cuối năm 1990 là ổn định tình hình kinh tế - xã hội để bảo đảm cho sự ổn định chính trị, một vấn đề có tính chất quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới ở nước ta, tạo điều kiện thuận lợi tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII. Với tất cả trách nhiệm và tình cảm thiêng liêng đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu, với nhân dân và quê hương, quân dân Quân khu hứa quyết tâm thực hiện tốt lời căn dặn của đồng chí Tổng Bí thư, của đồng chí Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị khi đến thăm đơn vị, ra sức nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang quân khu, xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, dự bị động viên có chất lượng cao; cùng cấp ủy và chính quyền 5 tỉnh chú trọng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, xây dựng làng, xã vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng - an ninh, văn minh về văn hóa - xã hội, luôn luôn xứng đáng là lực lượng chính trị trung kiên bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới đất nước của Đảng và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang, nỗ lực thi đua lập nhiều thành tích thiết thực nhất chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII. Trong dịp kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, các lực lượng vũ trang quân khu cũng nhận được thư, điện chúc mừng đầy tâm huyết của các đồng chí lãnh đạo Khu ủy, quân khu, các tỉnh qua các thời kỳ không đến dự được như: Trần Hữu Dực, Chu Huy Mân, Đồng Sỹ Nguyên, Trần Văn Quang, Trần Sâm, Hoàng Minh Thảo, Lê Tự Đồng, Bùi San, Hoàng Cầm, Nguyễn Kỳ Cẩm và nhiều đồng chí khác. Nhân dịp này, Cục Chính trị Quân khu xuất bản tập ký "Đường trong dân" và phát hành bộ phim nhựa truyền thống "Một vùng đất lịch sử"1 7 tập nêu rõ chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Quân khu trong những năm tháng chiến đấu đầy hy sinh gian khổ, chiến thắng vẻ vang, vừa là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn, vừa là tiền tuyến trực tiếp của hậu phương lớn, làm 4 nhiệm vụ trên 3 chiến trường, cùng quân dân cả nước vững bước tiến lên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới của Đảng. ______________________________________________ 1. Kịch bản: Nguyễn Khắc Thuần, đạo diễn: Hà Tài, lời bình: Vương Trọng, quay phim: Hoa Đình Đạt. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2024, 10:44:41 pm Những tháng cuối năm 1990, phong trào thi đua của các lực lượng vũ trang quân khu hướng tới Đại hội Đảng các cấp, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII thực sự là động lực mới khẳng định những thành công của công tác thi đua đã xác định, tạo được nhiều nhân tố mới trên các mặt như: năng động sáng tạo trong công tác quân sự địa phương của Thanh Hóa, tích cực đầu tư xây dựng kho vũ khí đạn của Nghệ Tĩnh, Quảng Trị; trồng cây kết hợp kinh tế - quốc phòng của Quảng Bình, chủ động triển khai kế hoạch A2 của Thừa Thiên - Huế, xây dựng huấn luyện tốt như Trung đoàn 335 Sư đoàn 324, Trung đoàn 19 Sư đoàn 968… Việc thực hiện nhiệm vụ quốc tế, xây dựng cơ quan nhà trường, xây dựng kinh tế đều có những chuyển biến mới. Các đơn vị làm nhiệm vụ C89 huấn luyện, diễn tập sát phương án, khả năng sẵn sàng cơ động. Sư đoàn 968 tổ chức giải quyết vấn đề về dân chủ, kỷ luật, giáo dục bộ đội, giảm 50% số vụ việc. Cuộc diễn tập A2 ở Huế góp phần nâng cao nhận thức về tình hình, nắm kỹ thêm một bước phương châm sử dụng lực lượng, xử lý tình huống. Thanh Hóa có 341 đầu mối có kế hoạch chống bạo loạn, phối hợp các lực lượng bắt gọn toán cướp 18 tên ở Bá Thước. Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa phối hợp thực hiện Chỉ thị 135 của Hội đồng Bộ trưởng thu nhiều súng, chất nổ. Quảng Trị bắt gọn toán phản động lưu vong xâm nhập. Sư đoàn 341 có 5 tổ gắn với địa phương làm tốt công tác vận động quần chúng. Trung đoàn 206 gắn chặt đơn vị với địa phương, đóng góp hàng nghìn ngày công làm hồ chứa nước, làm mương dẫn tưới cho 150ha lúa của nhân dân xã Nghĩa Thuận trồng cấy một vụ lên hai vụ; đồng thời cùng dân quân và công an xã giải quyết nhanh vụ gây rối ở trụ sở chính quyền xã; triển khai phương án chặt chẽ phối hợp bắt gọn 27 tên côn đồ đang lấy cắp cà phê của nông trường Đông Hiếu, bảo đảm an ninh khu vực. Các tỉnh Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế tổ chức diễn tập động viên bảo đảm đúng chuyên nghiệp quân sự cao hơn (53 - 93%), huy động phương tiện kỹ thuật nhanh (93 - 100%). Ngành Kỹ thuật nổi bật trong phong trào xây dựng kho vũ khí đạn cơ bản bằng đầu tư kinh phí của địa phương và đơn vị; tổ chức lực lượng sửa chữa vũ khí trang bị cho các đảo và đơn vị C89 bảo đảm sẵn sàng chiến đấu; dồn dịch khối lượng lớn trên 700 tấn đạn. Ngành Hậu cần Quân khu thực hiện chuyên đề bảo đảm hậu cần đời sống qua rút kinh nghiệm được mở rộng trong các đơn vị, nổi bật mô hình VAC ở Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 335 Sư đoàn 324. Công ty 85 qua 5 năm hợp tác với bạn, tạo thế vững cả quốc phòng - kinh tế, vượt kế hoạch khai thác gỗ xuất khẩu, xây dựng bàn giao cho bạn 22km đường giao thông, khu căn cứ Lạc Xao1 phát triển nhanh, tạo thế đứng chiến lược cho cả ta và bạn. Sau hội nghị công tác chính sách 10 năm (1987-1988), việc thực hiện cơ chế theo Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị tạo được bước phát triển tích cực trong các địa phương. Trong hai năm Quân khu đã quy tập được 2.285 mộ liệt sĩ ở Lào về và 1.009 mộ liệt sĩ trong nước, chuyển thương bệnh binh nặng ở các đoàn an dưỡng ra các hướng 213 đồng chí, làm mới 120 nhà tình nghĩa, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh quyết định lập quỹ đền ơn đáp nghĩa, hõ trợ kinh phí vận động đón thương bệnh binh về nuôi dưỡng ở gia đình. Với những thành tích đạt được, các đơn vị được tặng cờ thưởng của Bộ Quốc phòng năm 1990 là lực lượng vũ trang Thanh Hóa, Sư đoàn 968, Trung đoàn 414. Các đơn vị, địa phương đạt khá là: Nghệ Tĩnh, Công ty 85; các huyện Thiệu Yên, Lệ Ninh, Hướng Hóa, Phú Lộc, thị xã Hà Tĩnh, Sư đoàn 324, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế, Trường Quân chính, Trung đoàn 16, Trung đoàn 283, Trung đoàn 206, Trung đoàn 80, Đại đội 34, K5, K43... Nhiều đồng chí hoạt động trong lĩnh vực văn hóa - văn nghệ, báo chí của Quân khu cũng vinh dự đón nhận những phần thưởng cao quý: Danh hiệu “Nghệ sĩ Ưu tú”, Huy chương “Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam và Vì sự nghiệp thông tấn”2. * * * Đánh giá những năm đầu đổi mới, nhất là các năm 1988-1990, quân và dân Quân khu đã vượt qua những thách thức quyết liệt, giành được những thành tựu quan trọng trong xây dựng phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh. Đặc biệt là việc triển khai thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị có bước chuyển biến tích cực, năng động phù hợp với tình hình, xây dựng được nhiều nhân tố, điển hình mới. Những kết quả này bước đầu mang tính cơ bản, tạo cơ sở cho bước phát triển cao hơn của Quân khu và các tỉnh trong những năm của thập kỷ 90 trong thế kỷ XX. Tuy nhiên, việc xây dựng tỉnh (thành phố) thành khu vực phòng thủ vững chắc mới chuyển biến rõ nét ở lãnh đạo và chính quyền cấp tỉnh, huyện, chuyển xuống cơ sở còn chậm, tình hình còn nhiều sơ hở, yếu kém chưa loại trừ được bất ngờ. Về xây dựng nâng cao chất lượng tổng hợp các lực lượng vũ trang quân khu đã có nhiều cố gắng, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu trong tình hình mới. Lực lượng chủ lực chưa đủ mạnh, dự bị động viên chưa thực sự sẵn sàng, dân quân tự vệ đông mà chưa mạnh, chưa thực sự chủ động đối phó hiệu quả với mọi tình huống diễn biến phức tạp ở cơ sở. Tình hình quản lý kỷ luật, quản lý cơ sở vật chất còn nhiều sơ hở3. _____________________________________________ 1. Khu căn cứ hậu phương chiến lược Lạc Xao gồm 6 huyện: thuộc 2 tỉnh Bô Li Khăm Xay và Khăm Muộn. 2. Nghệ sĩ Ưu tú gồm: Bùi Tòng, Thu Hằng và các đợt sau là: Lệ Thanh, Mạnh Hà, Hiền Anh, Hoàng Thành, Quỳnh Như. Huy chương “Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam": Nguyễn Đàm, Thanh Đồng, Huyền Dân, Nguyễn Phi Sáu, Bá Đàn; Huy chương “Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam" và “Vì sự nghiệp thông tấn”: Doãn Yến. Nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, họa sĩ Phạm Ngọc Linh - tức Nhật Lệ (Nhà văn hóa Quân khu), nhạc sĩ Ánh Dương (Đoàn nghệ thuật Quân khu) đều đạt nhiều giải cao trong sáng tác nghệ thuật. 3. Nghị quyết Đảng ủy Quân khu đầu năm 1991. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:30:23 pm II- QUÂN KHU CÙNG CÁC TỈNH XÂY DỰNG THẾ VÀ LỰC VỮNG MẠNH, CHỦ ĐỘNG PHÒNG CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ, BẢO VỆ ĐẢNG, BẢO VỆ CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1. Chủ động phòng chống "diễn biến hòa bình" làm thất bại âm nnru, thủ đoạn phá hoại của các thể lực thù địch ở nam Quân khu, giữ vững thế ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong những năm 1988-1990, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới trong lĩnh vực quân sự và nhiệm vụ quốc phòng cả nước nói chung, Quân khu nói riêng đã ngày càng thu được kết quả, đưa đất nước ta thoát dần khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, đời sống của quân và dân ta đã giảm bớt khó khăn, ổn định chính trị được giữ vững, niềm tin của quân đội và nhân dân đối với Đảng và con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa được củng cố1. Nhưng đất nước ta vẫn đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Sau khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ; tiếp đến là những diễn biến của sự kiện ở Bắc Kinh, diễn biến ở Ni-ca-ra-goa, chiến tranh Vùng Vịnh và đặc biệt sự kiện ngày 19-8-1991 ở Liên Xô, tình hình ở Campuchia2, đế quốc Mỹ càng ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, công khai mục tiêu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta trước năm 2000. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, âm mưu, thủ đoạn thâm độc xảo quyệt chống phá của địch, cùng những khó khăn gay gắt về đời sống (phía Bắc mất mùa nặng, nông dân nhiều vùng thiếu đói), một số cán bộ, đảng viên trong Quân khu “thiếu trình độ bản lĩnh để phân biệt đúng sai, thiếu nhạy bén và kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, một số ít mơ hồ giảm sút lòng tin về mục tiêu xã hội chủ nghĩa, giảm sút ý chí, hiện tượng thiếu nhiệt tình trung bình chủ nghĩa còn khá phổ biến, một số vụ vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước, trong đó có những người sa đọa trong sinh hoạt, biến chất tham nhũng”3. Trước tình hình đó, Quân khu đã tập trung xây dựng lực lượng vũ trang, trước hết là xây dựng về chính trị, phối hợp với các địa phương giáo dục nắm vững các quan điểm của Đảng về nhiệm vụ quốc phòng, về âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, đặt rõ loại trừ “diễn biến hòa bình” từ bên trong, xây dựng củng cố bản lĩnh và sự kiên định vững vàng về chính trị tư tưởng, tăng cường nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, giữ vững an ninh chính trị nội bộ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân trước mọi thách thức và những biến động phức tạp. Đến cuối năm 1989, toàn Quân khu đã hoàn thành về cơ bản việc điều chỉnh bố trí chiến lược, xây dựng lại quyết tâm tác chiến trong tình hình mới. Bộ Quốc phòng lại lần nữa xây dựng và triển khai kế hoạch phòng thủ chiến lược với tư duy mới, chỉ đạo thực hiện từ trên xuống dưới theo phương hướng: Quốc phòng toàn dân, quốc phòng toàn diện; không những chuẩn bị cho đất nước với mọi quy mô, mọi loại hình chiến tranh mà phải chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; bảo vệ chế độ, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và môi trường. Năm 1990, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ tại các thành phố lớn. Những năm trước, toàn quốc chú trọng diễn tập các tỉnh biên giới với phương án chống chiến tranh xâm lược. Năm 1989, trọng tâm diễn tập các tỉnh, thành phố đối phó với các hoạt động của chiến tranh xung đột cường độ thấp. Lúc này, trọng tâm diễn tập khu vực phòng thủ đối phó với các tình huống đặc biệt4. Chống “diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa đã được xác định là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu phải kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ sẵn sàng ứng phó với các tình huống khác. Chấp hành chỉ thị của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu, từ cuối năm 1989, Quân khu cùng các địa phương đã triển khai bước đầu nhiệm vụ phòng chống bạo loạn, hình thành kế hoạch A2, gắn vào nội dung diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, xử lý một số tình huống giả định, trọng điểm ở phía Nam. Quân khu cũng hình thành sở chỉ huy tiền phương sẵn sàng cơ động khi thành phố Huế có tình hình phức tạp. _____________________________________________ 1. Năm 1987, lạm phát còn ở mức cao nhưng từ 1989, nước ta bắt đầu xuất khẩu được 1-1,5 triệu tấn gạo mỗi năm. 2. Tình hình Campuchia cũng diễn biến phức tạp, sau hội nghị quốc tế Pari (ngày 23-10-1991) đã đặt Campuchia lệ thuộc vào các giải pháp của Liên Hợp quốc trong đó quyền tối hậu quyết định thuộc đại diện đặc biệt của Tổng thư ký Liên Hợp quốc mà thực chất do Mỹ khống chế. 3. Báo cáo Đảng ủy Quân khu số 370/BC-ĐU ngày 10-9-1991 tại Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ V (vòng 2). 4. Từ năm 1984 đến tháng 4-1989, phần lớn trong toàn quân tiến hành diễn tập đối phó với chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Sau đó, xuất phát từ nhận định khả năng địch cấu kết với nhau, đế quốc Mỹ và bọn phản động lưu vong "có thể tăng cường hoạt động quân sự ở một số khu vực khác, có thể dùng không quân, hải quân tập kích vào một số mục tiêu" nên tháng 5-1989. Bộ chỉ đạo diễn tập sẵn sàng chiến đấu ở Đồng Nai với đề mục "Chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt ở mức cao kết hợp với bạo loạn”. Cũng tại đây ta đã phát hiện ra việc chuyển trạng thái của địa phương sang tình hình có chiến sự trong từng khu vực, bước đấu hình dung phương châm chống bạo loạn, phương pháp xử lý chống bạo loạn. (Sách "Tổng kết công tác chỉ huy - tham mưu chiến lược trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" (1975-2000) của Bộ Tổng Tham mưu, tr. 92). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:32:06 pm Đầu năm 1990, Quân khu chú trọng sâu hơn nội dung diễn tập, chỉ đạo cuộc diễn tập cả 3 tỉnh phía Nam - dải đất hẹp nhưng có vị trí rất quan trọng. Bộ xác định thành phố Huế là một trọng điểm kẻ địch tập trung thực hiện "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ. Tỉnh Quảng Trị mới tái lập gần 5 tháng, nhưng lãnh đạo tỉnh thống nhất tập trung thực hiện kế hoạch đề ra. Quá trình chuẩn bị, Quân khu và tỉnh thống nhất được bước đầu gắn phương án A và A2. Đầu tháng 1-1990, tỉnh tổ chức cuộc diễn tập mang tên 02-QT-90. Các đồng chí chủ trì diễn tập của tỉnh gồm: Nguyễn Đức Hoan - Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy quân sự; Nguyễn Bường - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Lê Hữu Thoả - Chỉ huy trưởng; Đại tá Đặng Thái Tư - Phó Bí thư Đảng ủy - Phó chỉ huy chính trị; Đại tá Trương Công Khuê - Phó chỉ huy - Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Trong thực hành diễn tập đã xử lý một số tình huống gây rối chống đối, chặn đánh lực lượng phản động lưu vong xâm nhập Hướng Hoá, gắn quốc phòng - an ninh với giải quyết một số mục tiêu kinh tế trong diễn tập ở Bến Hải... Quá trình diễn tập, các lực lượng đã thực hiện theo cơ chế 02 của Bộ Chính trị sát thực, hiệu lực, có kinh nghiệm đạt hiệu quả ở tỉnh và các huyện Triệu Hải, Bến Hải, thị xã Đông Hà, cuộc diễn tập thực nghiệm xã Gio Hải về làng xã chiến đấu được bổ sung thêm kinh nghiệm của xã Hải An trước đây. Cuộc diễn tập của tỉnh Quảng Trị đã mở đầu cho các cuộc diễn tập ở các địa phương Quân khu trong năm 1990, góp phần nâng nhận thức, trách nhiệm của địa phương thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, tạo được sự nhất trí của lãnh đạo, chính quyền tỉnh với Quân khu về đánh giá tình hình âm mưu của địch trên địa bàn có vị trí chiến lược rất quan trọng của tỉnh, nâng cao được tinh thần cảnh giác trong thực tế đối với địa phương, củng cố thêm sức mạnh của các khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, nhiều làng xã chiến đấu1. Tổng kết cuộc diễn tập, đồng chí Tư lệnh Quân khu nhấn mạnh: Quảng Trị là một địa bàn hết sức xung yếu đảm nhiệm trên một hướng chủ yếu của chiến trường phía nam Quân khu, có mối quan hệ và gắn bó chặt chẽ giữa hai tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế và có một vị trí chiến lược rất quan trọng đối với chiến trường Trung - Hạ Lào. Quảng Trị vững tạo điều kiện quan trọng cho sự vững chắc của chiến trường nam Quân khu, gắn Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và tỉnh Sa Va Na Khẹt (Lào) thành một chiến trường thống nhất trên hướng chính; đồng thời tạo điều kiện cho toàn Quân khu vừa giữ vững lãnh thổ của mình, vừa huy động nhân tài, vật lực của hậu phương chi viện cho chiến trường phía Bắc và làm nhiệm vụ quốc tế đối với nước bạn Lào anh em. Xây dựng tỉnh Quảng Trị thành khu vực phòng thủ vững chắc không những có vị trí quan trọng đối với quốc phòng, mà còn có tác dụng lớn trong việc ổn định ở một địa bàn quan trọng trong thời bình, thúc đẩy kinh tế phát triển, an ninh trật tự, an toàn xã hội ổn định, chính trị vững vàng, tạo nên sự vững mạnh của tỉnh cả về kinh tế và quốc phòng, góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng tỉnh ngày một phát triển trong công cuộc xây dựng đất nước theo đường lối đổi mới của Đảng. Giữa tháng 4-1990, tỉnh Thừa Thiên - Huế tổ chức cuộc diễn tập mang tên 02-TH-90. Thượng tướng Nguyễn Chơn - Phó Tổng tham mưu trưởng; đồng chí cố vấn Liên Xô - cố vấn Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu tham dự. Các đồng chí chủ trì diễn tập của tỉnh gồm: Vũ Thắng - Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư Tĩnh ủy, Bí thư Đảng ủy quân sự; Phạm Bá Diễn - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Quốc Khánh - Chỉ huy trưởng; Trung tá Phan Bá Trác - Phó bí thư Đảng ủy - Phó chỉ huy chính trị; Đại tá Đoàn Xuân Hiểu - Phó chỉ huy - Tham mưu trưởng. Trên một địa bàn trọng yếu, các đồng chí lãnh đạo, chủ trì và các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, Bộ chỉ huy quân sự, công an tỉnh nhận thức rõ hơn âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, diễn tập sát tình hình, gắn với nhiệm vụ phòng chống "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ cụ thể hơn. Do nhận thức vị trí có tính chất quyết định đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của địa phương, nên trong cơ chế 02 của Bộ Chính trị, tỉnh và thành phố, một số huyện có những chủ động, sáng tạo, làm được những nội dung mới, thiết thực, xử lý các tình huống phức tạp sát đúng. Kiểm tra tiểu đoàn động viên huyện Hương Điền, bắn chiến đấu pháo phòng không 37 ly của tự vệ Long Thọ, bắn súng máy 12,7 ly của thành phố Huế đều đạt loại giỏi; huyện A Lưới diễn tập phối hợp với bạn Lào chống lực lượng phản động xâm nhập biên giới đạt kết quả tốt. Phát biểu tại buổi tổng kết cuộc diễn tập, đồng chí Tư lệnh Quân khu nhấn mạnh thêm tình huống chống bạo loạn, đồng thời nêu rõ vị trí địa bàn quan trọng của Thừa Thiên - Huế để qua cuộc diễn tập này tiếp tục xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, các huyện vững mạnh, mà nền tảng là các xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, triển khai thực hiện nhiệm vụ A2 kịp thời, hiệu quả. Lần diễn tập này đã xử trí tình huống bạo loạn phản cách mạng từ bên trong, kết hợp với tấn công quân sự của địch từ ngoài vào, nhân tố bạo loạn phản cách mạng từ bên trong là điều kiện, là yếu tố cơ bản để kẻ thù thực hiện âm mưu xâm lược nước ta. Lực lượng vũ trang đã hành động kiên quyết, mau lẹ đập tan nguy cơ từ bên trong, đè bẹp một biện pháp chiến lược của địch có liên quan đến sự mất còn của địa phương, của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. _____________________________________________ 1. Sau cuộc diễn tập một thời gian, xảy ra một số hành động chống đối của bọn phản động trong tôn giáo trên địa bàn hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế càng làm cho lãnh đạo tỉnh nhận thức đầy đủ hơn về nhiệm vụ xây dựng thế trận của khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, xã. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:34:34 pm Thừa Thiên - Huế là một bộ phận quan trọng trong kế hoạch phòng thủ chung 3 tỉnh nam Quân khu, là một hướng chiến trường thống nhất của 3 tỉnh gắn liền một bộ phận quan trọng của chiến trường Trung - Nam Lào, Xa Ra Van, Sa Va Na Khẹt và một phần phía bắc Quân khu 5. Tỉnh Thừa Thiên - Huế có thành phố Huế là một trong những thành phố lớn của đất nước, trung tâm chính trị quan trọng, rất nhạy cảm trước tình hình diễn biến của thế giới và trong nước. Vì thế, Thừa Thiên - Huế giữ vững được thế ổn định trong thời bình, sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược của địch trên tất cả các hướng phòng thủ của tỉnh đều có tác động hết sức quan trọng để giữ thế ổn định trên chiến trường phía nam Quân khu, tạo thế cho Quảng Nam - Đà Nẵng khi chiến tranh xảy ra, đồng thời giữ thế ổn định phía nam Quân khu để cho Bộ tư lệnh Quân khu tập trung xử lý các nhiệm vụ nặng nề nhất trên cánh chủ yếu. Ngay sau cuộc diễn tập ở tỉnh Thừa Thiên - Huế, Bộ tư lệnh và các cơ quan Quân khu ra Quảng Bình dự chỉ đạo cuộc diễn tập mang tên 02-QB-90 vào cuối tháng 4-1990. Chủ trì cuộc diễn tập của tỉnh Quảng Bình có các đồng chí: Thái Bá Nhiệm - Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy quân sự; Trần Sự - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Cao Lương Bằng - Chỉ huy trưởng; Trung tá Phạm Hồng Thanh - Phó Bí thư Đảng ủy - Phó chỉ huy chính trị; Trung tá Hoàng Cao Thắng - Phó chỉ huy - Tham mưu trưởng. Rút kinh nghiệm các tỉnh trước, tỉnh Quảng Bình tổ chức tập huấn bồi dưỡng sâu rộng Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị trong các cấp ủy, chính quyền, ban ngành, chuẩn bị các kế hoạch, văn kiện, luyện tập thử, tổ chức thực binh chặt chẽ. Công tác tham mưu tổ chức hiệp đồng cụ thể hơn. Thực hiện vận hành cơ chế 02 ở cấp tỉnh, thị xã Đồng Hới và một số huyện, xã đã xử lý hiệu quả cả trong tình huống giả định và tình huống thật bảo vệ trật tự trị an, làm công trình kinh tế - quốc phòng. Tiếp đó tổ chức diễn tập thực nghiệm xã phựờng chiến đấu ở Quảng Phú để tiếp tục hoàn chỉnh kinh nghiệm ở Hải An, Gio Hải. Cơ quan quân sự đã có bước chuyển mới rõ rệt trong triển khai phương án chiến đấu bằng sức mạnh của khu vực phòng thủ, nền tảng là làng, xã chiến đấu. Nhân dân xã Vạn Trạch - Bố Trạch trong thời điểm đầy khó khăn thách thức những năm 1989-1990 đã quyết tâm xây dựng vùng đất tiêu biểu phong trào hai giỏi trước đây, nay quyết tâm thực hiện tốt cuộc diễn tập, góp phần xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh Quảng Bình vững mạnh. Ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế địa thế trải dài, là dải đất hẹp nhất của Tổ quốc. Các thế lực thù địch chọn nơi đây làm địa bàn chia cắt chiến lược, từng là Bình Trị Thiên khói lửa trong chống Pháp, là khu đệm, nơi đọ sức quyết liệt giữa 2 chế độ trong chống Mỹ, nay lại là một trọng điểm chống “diễn biến hòa bình”. Việc chỉ đạo xây dựng, diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững chắc có ý nghĩa thực tiễn, khẳng định vai trò và khả năng xã phường chiến đấu trong khu vực phòng thủ, tạo thế mới làm thất bại mọi âm mưu phá hoại, gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị; đồng thời bảo đảm phòng thủ theo hướng kịp thời, linh hoạt, độ co giãn lớn, tính tự lực cao, bám trụ vững chắc, không bị vỡ trong chiến đấu, xóa chia cắt chiến lược1. Sau 3 năm thực hiện cơ chế 02 hoàn thành diễn tập khu vực phòng thủ đợt đầu ở cả 5 tỉnh, trong hai ngày 28 và 29 tháng 5 năm 1990, tại Sở chỉ huy Vinh, Quân khu tổ chức hội nghị liên tịch gồm các đồng chí Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh tham dự. Các đồng chí Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, Thiếu tướng Lê Văn Dánh, Thiếu tướng Trần Ân, Thiếu tướng Nguyễn Xuân Chí, Thiếu tướng Võ Chót và chủ trì các cơ quan Bộ tư lệnh cùng dự. Hội nghị bàn sâu việc thực hiện cơ chế Nhà nước, chính quyền điều hành nhiệm vụ xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng địa phương trong thời bình, chủ động phòng chống ba chủ trương chiến lược của đế quốc Mỹ: “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, răn đe quân sự2. Hội nghị thống nhất đề ra một số chủ trương, biện pháp, quy chế, mối quan hệ giữa Quân khu với Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, giữa các cơ quan Quân khu với các ban, ngành của tỉnh trong hiệp đồng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng địa phương; thống nhất các nội dung thuộc chức năng điều hành của chính quyền trong nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân địa phương. Tại hội nghị này, Quân khu nêu lên cách làm mới của Thanh Hoá là cấp ủy, chính quyền chủ trì hội nghị triển khai nghị quyết, kế hoạch nhiệm vụ quốc phòng theo đúng tinh thần Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, đưa kết quả vận hành cơ chế 02 trong diễn tập vào hoạt động thường xuyên xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, xây dựng làng xã chiến đấu đạt hiệu quả. Các tỉnh cần rút kinh nghiệm phấn đấu xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững mạnh hơn. Đến cuối năm 1990 toàn Quân khu có 73/73 huyện, thị, thành; 515/1.725 xã phường3 thực hành diễn tập, trong đó thành phố Huế đã thực hành diễn tập A2. Các cuộc diễn tập theo cơ chế mới đã huy động được lãnh đạo Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, đạt hiệu quả thiết thực, giữ vững an ninh chính trị, giải quyết được nhiều vụ việc ở địa phương, phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình phải đối phó với những thách thức nghiêm trọng, có lúc hiểm nghèo. Trên cơ sở kết quả diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, việc xây dựng làng xã chiến đấu đã xuất hiện nhiều nhân tố mới, nổi bật là chiến công của nhân dân xã Thanh huyện Hướng Hóa. Dân quân và đồng bào dân tộc xã Thanh, quản lý địa bàn chặt chẽ, ai đi đâu, làm gì hễ thấy người lạ mặt là báo cáo cho xã bằng tín hiệu riêng. Lúc đi ăn giỗ ở Lào nắm được nguồn tin có bọn phản động lưu vong xâm nhập, dân quân và bà con vội bỏ ăn giỗ về báo cho xã. Nhờ đó, xã huy động được hơn 700 người trong thời gian ngắn vây chặt các hướng, bắt gọn cả toán 4 tên khi chúng vừa lọt vào địa bàn của ta. ____________________________________________ 1. Phát biểu bế mạc Hội nghị quân chính toàn quân (1-1989), Đại tướng Lê Đức Anh - Bộ trưởng Quốc phòng nêu rõ: Nghị quyết 02 nói xây dựng khu vực phòng thủ vũng chắc thì đặc tính vững chắc của nó là nhanh nhất, kịp thời nhất,... là linh hoạt cao, độ co giãn lớn, tính tự lực cao, bám trụ vững chắc, không bị vỡ. 2. Thực tế qua diễn tập thực nghiệm vận hành cơ chế 02, nhìn chung khối lãnh đạo thể hiện hoạt động rõ hơn, khối điều hành còn một số mặt lúng túng. Quân khu thống nhất cùng các tỉnh giải quyết vấn đề này. 3. Từ tháng 7-1990, các huyện chia tách gồm: Lệ Ninh, Tuyên Hóa, Bến Hải, Triệu Hải, Hương Phú, Hương Điền, Phú Lộc. Số xã, phường cũng tăng thêm một số. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:36:29 pm * * * Đầu năm 1991, Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết số 01 về nhiệm vụ quốc phòng 5 năm (1991-1995) đánh giá tình hình những năm qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ trong 5 năm tới. Nghị quyết xác định: Trong các nhiệm vụ, nhiệm vụ chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và nhiệm vụ chống chiến tranh xâm lược gắn bó chặt chẽ với nhau. Để chấp hành và thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đó, quân và dân ta tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân và các lực lượng vũ trang với chất lượng cao. Những tháng đầu năm 1991, quán triệt Nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương và những định hướng cơ bản, nhiệm vụ mục tiêu lớn đề ra trong Dự thảo các văn kiện Đại hội VII của Đảng, ngày 18 tháng 1 năm 1991, Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết về nhiệm vụ quốc phòng 1991 và tổ chức thực hiện trong Hội nghị quân chính Quân khu triển khai thực hiện. Nghị quyết nêu rõ trong những năm tới dự đoán có thể diễn ra ba khả năng và tình huống: 1. Chiến tranh xâm lược quy mô lớn đối với đất nước ta ít có khả năng xảy ra, nhưng phải chủ động đề phòng. 2. Các nước đế quốc, chủ yếu là đế quốc Mỹ chỉ đạo các bọn phản động tay sai tiến hành bạo loạn lật đổ chính quyền xã hội chủ nghĩa. Để hỗ trợ cho bọn phản động nội địa, Mỹ có thể đưa lực lượng vũ trang phản động lưu vong từ ngoài về phối hợp và có thể dùng một bộ phận phản ứng nhanh can thiệp theo phương thức của học thuyết “xung đột cường độ thấp” nếu chúng thấy thuận lợi và chắc thắng. 3. Lấn chiếm cục bộ có thể xảy ra ở các vùng biển, đặc biệt là khu vực quần đảo Trường Sa, khi tình hình chung có biến động bất lợi cho ta. Nhiệm vụ của Quân khu và các tỉnh tập trung thực hiện là: Xây dựng nâng cao chất lượng tổng hợp của các lực lượng vũ trang và sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, tạo thế và lực mới, thường xuyên đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, chủ động phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, giữ vững ổn định chính trị các địa bàn trong mọi tình huống. Tiếp tục chuyển mọi hoạt động về cơ sở, trọng tâm là cơ sở làng xã chiến đấu, phân đội chiến đấu, các cụm kho vũ khí đạn; chuyển mạnh phong cách lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện với trí tuệ và tư duy mới, thực sự đổi mới cách nghĩ, cách làm, hiệu quả thiết thực1. Những nhiệm vụ này được Hội nghị quân chính Quân khu thảo luận, thống nhất đề ra các mục tiêu cụ thể: Tập trung xây dựng đơn vị, cơ quan nhà trường vững mạnh toàn diện gồm: Trung đoàn 335 Sư đoàn 324, Trung đoàn 19 Sư đoàn 968 và các trung đoàn binh chủng theo 5 nội dung Bộ xác định; xây dựng cơ quan Quân khu, tỉnh, huyện, Trường Quân chính Quân khu và các trường quân sự tỉnh, các đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn bộ đội địa phương; các tiểu đoàn dự bị động viên huyện, trung đoàn dự bị động viên. Xây dựng các cụm kho, kho vũ khí đạn an toàn, vững mạnh, có 1/3 đến 1/2 kho vũ khí đạn cấp huyện đạt tiêu chuẩn lâu bền bằng kinh phí địa phương là chủ yếu. Rút kinh nghiệm chuyên đề bữa ăn bộ đội từ cơ sở đến quân khu, xây dựng 1/2 đến 2/3 bếp ăn tốt như mô hình Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 335. Xây dựng 1/3 đến 1/2 xã phường cơ sở chiến đấu an toàn làm chủ đạt 5 nội dung như đã kết luận, tập trung xây dựng cơ sở ở các thành phố Huế, Vinh và một số vùng trọng điểm, giải quyết tốt những vụ việc nổi cộm, giữ vững an ninh trật tự địa phương. Thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu về xây dựng quốc phòng năm 1991, các đồng chí Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, cơ quan Quân khu trực tiếp về các đơn vị, địa phương chỉ đạo, theo dõi tổ chức thực hiện. Các cơ quan, đơn vị, nhà trường triển khai giáo dục tình hình nhiệm vụ, tập huấn cán bộ, huấn luyện quân sự, rèn luyện kỷ luật theo mục tiêu xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; đồng thời tổ chức sinh hoạt góp ý kiến và quán triệt một bước Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng Quân khu lần thứ V, xây dựng kế hoạch bảo vệ an toàn Đại hội Đảng các cấp. Trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch liên kết trong ngoài ngày càng bộc lộ công khai, quyết liệt chuyển sang giai đoạn hành động trực tiếp trên địa bàn Quân khu2, nhất là phía nam, Quân khu rà soát bổ sung kế hoạch A2, phướng án phòng thủ và chỉ đạo triển khai ở các cấp sát với các tình huống dự báo. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng về tổ chức 1 trung đoàn bộ binh khoảng 1.000 cán bộ, chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, Quân khu điều động Trung đoàn 176 được bổ sung thêm Tiểu đoàn 4 Sư đoàn 968 vào Phú Bài. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 176 ở Lào về đứng chân trên hướng đường 8, khi có lệnh đã nhanh chóng tổ chức hành quân sẵn sàng chiến đấu ở địa bàn mới đầu tháng 4-1991 với nhiệm vụ được giao là: vừa là lực lượng cơ động làm nhiệm vụ A2 của Thừa Thiên - Huế và cả phía Nam; đồng thời sẵn sàng nhận nhiệm vụ C89 khi có yêu cầu. Trước đó, tháng 5-1990, 1 tiểu đoàn tăng thiết giáp của Trung đoàn 206 gồm 10 xe PT-76 và 4 xe ĐM2 cũng đã vào nhận nhiệm vụ theo phương án A2 trên địa bàn Thừa Thiên - Huế. Các đơn vị công binh của tỉnh, Quân khu tiến hành bảo quản, xây dựng một số đường hầm, công sự ở các đảo, một số vị trí then chốt ở các tỉnh Nghệ Tĩnh, Quảng Trị, xây dựng các cụm điểm tựa theo phương án tác chiến. Các công trình đều được xây dựng theo tiêu chuẩn đúc nguyên khối thay cho việc lắp ghép trước đây, bảo đảm chất lượng theo yêu cầu chiến đấu. ___________________________________________ 1. Nghị quyết 58/NQ-ĐU của Đảng ủy Quân khu, lưu trữ tại Bộ tư lệnh Quân khu 4. 2. Nghị quyết 117 của Đảng ủy Quân sự Trung ương nêu rõ: Đầu thập kỷ 90 "Đế quốc Mỹ và bọn phản động tay sai đã chuyển sang giai đoạn hành động quyết liệt nhằm chuyển hóa và lật đổ chế độ, an ninh chủ quyền biên giới phía Bắc và Việt Nam - Campuchia còn phức tạp. Tình hình tranh chấp trên Biển Đông và thềm lục địa còn tiếp tục diễn biến". Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:38:30 pm Ở các tỉnh thuộc Quân khu, trong năm 1991, việc triển khai nhiệm vụ quốc phòng có những chuyển mới quan trọng là đều tổ chức Hội nghị quốc phòng địa phương do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì, khắc phục những hạn chế, bó hẹp đơn thuần về quân sự của Hội nghị Quân chính những năm trước đây. Qua quá trình quán triệt Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, xây dựng diễn tập khu vực phòng thủ ở cả 5 tỉnh, xây dựng xã phường chiến đấu an toàn làm chủ, quan điểm đổi mới đã có những chuyển biến mang tính đột phá trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, công tác tham mưu tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng địa phương (điểm khởi đầu ở Thanh Hóa). Cách làm mới đã củng cố nâng cao hiệu quả vận hành cơ chế 02 trong cả 3 cấp, 3 hệ thống hướng nhiệm vụ quốc phòng gắn với an ninh, quốc phòng - an ninh gắn với kinh tế - xã hội của các địa phương. Đầu tháng 5-1991, Quân khu và các tỉnh tổ chức Hội nghị liên tịch quốc phòng. Những năm trước hội nghị chỉ tập trung vào cấp lãnh đạo, điều hành, lần này thêm 2 khối là các tổ chức quần chúng cách mạng và các cơ quan tư tưởng văn hóa, truyền thông đại chúng nhằm phát huy hiệu lực đồng bộ của cả hệ thống chính trị các cấp chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trước yêu cầu mới. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân khu; Thiếu tướng Nguyễn Xuân Chí - Phó tư lệnh; Thiếu tướng Võ Chót - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng và các Cục Chính trị, Tham mưu, Hậu cần, Kỹ thuật họp liên tịch với các Chủ tịch Hội đồng nhân, Ủy ban nhân dân các tỉnh. Thiếu tướng Lê Văn Dánh - Bí thư Đảng ủy - Phó tư lệnh Chính trị; Đại tá Lê Văn Mẹo - Chủ nhiệm Chính trị; Đại tá Trịnh Bá Giản - Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu và cơ quan họp liên tịch với Mặt trận, các đoàn thể cách mạng, Ban Tuyên giáo và cơ quan truyền thông đại chúng 5 tỉnh. Quân khu và các tỉnh kiểm điểm đánh giá tình hình phối hợp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, thống nhất tiếp tục nâng cao hiệu lực điều hành theo cơ chế 02, phát huy vai trò các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, cơ quan truyền thông giáo dục quốc phòng toàn dân, xây dựng làng, xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng khu vực phòng thủ và thực hiện kế hoạch A2, giải quyết chính sách tồn đọng sau chiến tranh, kịp thời cổ vũ động viên những nhân tố tiên tiến trong phong trào toàn dân củng cố, xây dựng quốc phòng, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, chăm lo hậu phương quân đội, - xây dựng kho vũ khí tỉnh; huyện. Trước đó, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu và các cơ quan cũng họp liên tịch lần đầu tiên với Thường trực Ban chấp hành lâm thời Hội Cựu chiến binh các tỉnh1. Hội nghị bàn bạc thống nhất phối hợp hoạt động, thể hiện quan hệ tình cảm gắn bó thân thiết, trách nhiệm chính trị cao của những đồng chí đang công tác với các đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ trở về với cơ sở; đồng thời cũng thống nhất khẳng định mối quan hệ có tính nguyên tắc giữa cơ quan quân sự với tổ chức quần chúng cách mạng của Đảng cùng một mục tiêu thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng VI, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VI). Với các phương thức hoạt động như vậy, Quân khu và các tỉnh đã tạo cơ sở trực tiếp cho cơ quan quân sự cấp tỉnh, huyện và một số cơ sở triển khai kịp thời và thành nền nếp ký kết phối hợp thực hiện chương trình hành động với các ban, ngành, đoàn thể, báo và đài phát thanh truyền hình địa phương tốt hơn. Các địa phương chỉ đạo tập huấn nội dung xây dựng cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu ở một số huyện, xã mới tái lập, tổ chức đội cơ sở về vùng trọng điểm giải quyết một số vụ việc mâu thuẫn nội bộ kéo dài2. Xây dựng cơ sở trọng yếu ở Huế, Vinh, các vùng núi và vùng biển. Thực hiện Chỉ thị 55 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Nghị định 29 của Hội đồng Bộ trưởng, các địa phương tiếp tục khảo sát, kiện toàn đội ngũ cán bộ cơ sở, củng cố dân quân tự vệ, xây dựng chất lượng phân đội mạnh, sẵn sàng chiến đấu với phương châm “dân bàn, dân cử, dân nuôi” trong chuyển đổi cơ chế kinh tế. Phần lớn xã, phường, cơ sở có đủ 3 đồng chí trong Ban chỉ huy quân sự, có phân đội mạnh hoạt động. Các tỉnh thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi (năm 1990 mới làm thí điểm), gọi thanh niên nhập ngũ 2 năm cả hai đạt đều đạt 100% kế hoạch cho cả Bộ và Quân khu gồm 17.587 chiến sĩ nam, nữ. Chất lượng tuyển quân bảo đảm cả về chính trị, văn hóa, sức khỏe. Một số địa phượng giảm được tỷ lệ dự phòng, gắn tuyển quân với giải quyết đào bỏ ngũ. Huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) giải quyết cơ bản xong vấn đề tuyển quân. Quân khu cùng tỉnh Nghệ Tĩnh chỉ đạo diễn tập A2 ở thành phố Vinh đạt kết quả tốt. Rút kinh nghiệm cuộc diễn tập này, Quân khu chỉ đạo tiếp cuộc diễn tập A2 ở thị xã Thanh Hóa, thị xã Đông Hà, một số huyện và cơ sở. Việc bổ sung kế hoạch A, A2, diễn tập thực nghiệm xử lý tình huống, có những tình huống thật góp phần nâng cao nhận thức và hiệu quả thực hiện cơ chế 02. Điểm nổi bật là Quân khu và các địa phương thống nhất cao việc thực hiện cơ chế 02, trước hết phải được vận hành thường xuyên trong phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; đồng thời được vận hành trong quá trình xây dựng khu vực phòng thủ làm trục chính trong xây dựng xã, phường cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Đây là kết luận quan trọng, cơ bản sáng tạo về thực hiện cơ chế 02 được đúc rút từ thực tiễn các cuộc diễn tập của Quân khu, tỉnh và cơ sở. Cùng với chức năng lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang, chức năng quản lý Nhà nước về quốc phòng, kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng ngày càng trở thành một nội dung quan trọng thường xuyên trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Quân khu. ____________________________________________ 1. Hội Cựu chiến binh Việt Nam thành lập ngày 6-12-1989. Chỉ thị 23/CT của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 22-4-1990 và Điện số 552 CV/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 1-10-1990 xác định rõ tính chất, mục đích, nhiệm vụ Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Các đồng chí đến dự họp có: Lê Tự Đồng, Dương Bá Nuôi, Lê Công Phê, Hoàng Đưỡm, Nguyễn Hữu Phúc, Trần Kỷ, Nguyễn Văn Vững, Lê Thể Danh, Trần Hường... 2. Vụ ở hai xã Tào Sơn (Anh Sơn) và Ngọc Sơn (Đô Lương), kéo dài từ năm 1990 đến năm 1992, tỉnh, huyện cơ sở mới tập trung giải quyết tình hình ổn định. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:40:42 pm Năm 1991, cả nước dấy lên phong trào thi đua lao động xây dựng và bảo vệ đất nước hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng - đại hội của “Trí tuệ, đổi mới, dân chủ, kỷ cương và đoàn kết”. Quân khu cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tham gia đóng góp ý kiến vào các văn kiện dự thảo của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII. Chấp hành chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Quân khu, các Đảng bộ cơ sở tiến hành Đại hội Đảng (vòng 1). Đại hội Đảng các cấp trong Quân khu tập trung quán triệt thực hiện 2 nội dung cơ bản là: Xây dựng sự kiên định mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa trong Đảng bộ và đơn vị; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các Đảng bộ tổ chức thảo luận, đóng góp quán triệt các dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, thảo luận xây dựng đề án Đại hội Đảng cấp trên và cấp mình gắn liền với xây dựng tư tưởng, quan điểm, chấn chỉnh củng cố tổ chức Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, giải quyết những vấn đề tồn đọng về kỷ luật, các đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng. Sau khi các Đảng bộ tiến hành xong đại hội (vòng 1) từ 25 đến 29-3-1991 Quân khu tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu (vòng 1) khoá V. Tham dự có 200 đại biểu thảo luận đóng góp ý kiến 5 dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, bầu 12 đại biểu chính thức, 1 đại biểu dự khuyết đi dự Đại hội Đảng toàn quân lần thứ V, hoàn thành tốt 2 nội dung. Tổng hợp chung ở các Đảng bộ cơ sở lên có 14.400 ý kiến và Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu có 67 ý kiến đóng góp vào các văn kiện. Các ý kiến đều thống nhất, nhất trí cao với các mục tiêu và những thành tựu đạt được. Trong giai đoạn cách mạng mới, Đại hội nhấn mạnh nhiệm vụ của Quân khu là xây dựng vững mạnh về chính trị, trong sạch về tổ chức, sẵn sàng chiến đấu cao, góp phần cùng quân dân cả nước làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Thực hiện Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 66 của Ban Bí thư về công tác tôn giáo trong tình hình mới, ngày 19-4-1991 Thường vụ Đảng ủy Quân khu ra Chỉ thị 240/CT nêu rõ những nguyên tắc, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về công tác tôn giáo nhằm đoàn kết lương - giáo, tăng cường đại đoàn kết dân tộc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại của kẻ thù. Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, các đơn vị đóng quân trên từng địa bàn cử một số cán bộ, chiến sĩ có phẩm chất năng lực, được bồi dưỡng công tác, tổ chức thành các tổ công tác bán chuyên trách, phối hợp với địa phương tham gia xây dựng cơ sở chính trị theo 5 nội dung xây dựng xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu ở vùng tôn giáo. Tại Đại hội Đảng toàn quân lần thứ V1, trong phần bầu cử, đoàn đại biểu Đảng bộ Quân khu 4 không có đại biểu trúng cử đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII. Việc này có tác động trực tiếp về tư tưởng, gây băn khoăn bức xúc trong lực lượng vũ trang quân khu. Ngày 11-5-1991, Đảng ủy Quân khu khối quân sự họp với các đồng chí trong đoàn đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quân lần thứ V và Bí thư Đảng ủy các cơ quan Quân khu, do đồng chí Lê Văn Dánh - Bí thư Đảng ủy chủ trì. Đảng ủy Quân khu nghiêm túc kiểm điểm, chủ yếu tập trung xem xét nguyên nhân chủ quan và quyết nghị các chủ trương biện pháp lãnh đạo trước mắt là: Nhanh chóng ổn định tình hình tư tưởng lực lượng vũ trang quân khu, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, tích cực đóng góp ý kiến về sự lãnh đạo của Đảng ủy, Thường vụ Đảng ủy Quân khu nhiệm kỳ qua, tập trung nhiệm vụ số một là tiến hành tốt Đại hội Đảng (vòng 2) các cấp, đẩy mạnh phong trào thi đua giành 3 đỉnh cao trong toàn quân “huấn luyện sẵn sàng chiến đấu tốt, lao động sản xuất tốt, rèn luyện chấp hành kỷ luật tốt”, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, lập thành tích cao nhất chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII. Đảng ủy Quân khu chỉ đạo chặt chẽ Đảng bộ Sư đoàn 324, Cục Hậu cần Quân khu, Trung đoàn 80 thông tin tiến hành điểm Đại hội Đảng (vòng 2) đạt kết quả tốt cả 2 nội dung. Chấp hành điện của Tổng Tham mưu trưởng về tăng cường công tác sẵn sàng chiến đấu, ngày 8-6-1991, Tư lệnh Quân khu ra Chỉ thị số 277/TL về soát xét lại phương án A2, nắm chắc tình hình địa bàn, không để bất ngờ, quản lý chặt chẽ lực lượng sẵn sàng chiến đấu và giao nhiệm vụ cho các đơn vị sẵn sàng cơ động cả chủ lực và địa phương trên từng hướng cụ thể, tổ chức hệ thống trực chỉ huy, trực ban, phân đội trực chiến, hệ thống thông tin liên lạc bảo đảm chủ động trong mọi tình huống. Thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, giáo dục ý thức cảnh giác với mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch, xây dựng tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, giữ nghiêm kỷ luật. Cùng với chính quyền địa phương giải quyết tốt mối quan hệ quân dân. Cùng thời gian này, Quân khu tiếp tục điều chỉnh tổ chức lực lượng theo yêu cầu sẵn sàng chiến đấu: Giải thể các trung đoàn bộ binh khung động viên của các tỉnh2, thành lập các tiểu đoàn bộ binh sẵn sàng chiến đấu gồm: Tiểu đoàn 40 Thanh Hóa, Tiểu đoàn 41 Nghệ Tĩnh, Tiểu đoàn 42 Quảng Bình, Tiểu đoàn 43 Quảng Trị; thành lập 2 trung đội bộ binh ở hai huyện biên giới Quan Hóa, Kỳ Sơn. Giải thể 3 trung đoàn bộ binh của 3 sư đoàn. Các trung đoàn binh chủng: 414 công binh, 283 phòng không, 16 pháo binh nâng cấp thành 3 lữ đoàn; chuyển Trường Quân chính Quân khu thành Trường Quân sự Quân khu; thành lập cụm kho kỹ thuật tổng hợp CK2 thuộc Cục Kỹ thuật Quân khu. ______________________________________________ 1. Đại hội Đảng toàn quân lần thứ V diễn ra từ ngày 23 đến 27-4-1991. Ở kỳ đại hội này của các cấp, bắt đầu thực hiện có đại biểu đương nhiên không qua bầu cử, là cấp ủy viên trong cấp ủy khóa trước đi dự đại hội đại biểu khóa mới. 2. Giải thể 7 trung đoàn khung động viên các tỉnh gồm: Trung đoàn 762, Trung đoàn 840 (Thanh Hóa), Trung đoàn 764, Trung đoàn 841 (Nghệ Tĩnh), Trung đoàn 996 (Quảng Bình), Trung đoàn 6 (Quảng Trị), Trung đoàn 842 (Thừa Thiên - Huế). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:41:44 pm Ngày 3-8-1991, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 8 quyết định phân định địa giới tỉnh Nghệ Tĩnh thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Quân khu chỉ đạo tổ chức thành lập Bộ chỉ huy quân sự 2 tỉnh theo quyết định của Bộ Quốc phòng. Như vậy, kể từ tháng 7-1976, trên địa bàn Quân khu có 3 Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên; đến năm 1991 tách thành 6 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Các đơn vị, địa phương giải thể, thành lập tổ chức mới đều được chỉ đạo triển khai chặt chẽ, khẩn trương, đúng kế hoạch, vừa bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, vừa được củng cố về tổ chức cán bộ trước khi bước vào Đại hội Đảng (vòng 2) cấp mình. Sau Đại hội (vòng 1) của các Đảng bộ trực thuộc Trung ương, từ ngày 24 đến 27-6-1991, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) triệu tập Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII. Đại hội đánh giá cao sự phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong 5 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI khởi xướng, đã đưa đất nước ta vượt qua nhiều khó khăn và đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Đại hội chủ trương tiếp tục lãnh đạo toàn dân, toàn quân đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 và Báo cáo xây dựng Đảng và Điều lệ Đảng sửa đổi. Đại hội khẳng định con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta. Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; đồng thời coi trọng đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng và nâng cao năng lực lãnh đạo là yêu cầu quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng. Đại hội khẳng định tiếp tục thực hiện đổi mới, bổ sung, phát triển và hoàn thiện thêm đường lối đổi mới, bước đầu hình thành một hệ thống các quan điểm chỉ đạo công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng, trong đó nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội được xác định: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước”. “Đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ trọng yếu trong thế trận chiến tranh nhân dân. Kết hợp kinh tế với quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân với quân số thường trực hợp lý, có chất lượng và sức mạnh chiến đấu cao; đồng thời xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ rộng khắp”. Đối với Điều lệ Đảng sửa đổi ở điều 28 chương VI đã trở lại như điều 12 chương II Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội IV, quy định rõ: “Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt theo quy chế do Ban Chấp hành Trung ương quy định”. Những vấn đề cơ bản Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII khẳng định phù hợp với thực tế cách mạng nước ta, với tình cảm và nguyện vọng của quân và dân ta, thực sự tạo niềm tin và động lực mới cho cả nước trong công cuộc đổi mới những năm đầu thập kỷ 90 thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1991-1995). Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đảng ủy và Bộ tự lệnh Quân khu tổ chức cho toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, công nhân viên học tập các văn kiện Đại hội Đảng, phát động phong trào thi đua trong toàn Quân khu. Phong trào thi đua của các lực lượng vũ trang quân khu chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, hướng tới Đại hội Đảng toàn quân lần thứ V và Đại hội Đảng Quân khu lần thứ V (vòng 2) đem lại hiệu quả thiết thực cả trong lực lượng chủ lực và địa phương, nhất là bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu thể hiện được sự vững vàng, tin cậy về chính trị tư tưởng, cùng các lực lượng giữ vững được ổn định địa bàn thường xuyên và trong các thời điểm chính trị quan trọng. Các tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong Quân khu nối tiếp phong trào phấn đấu “xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Đoàn đã động viên tuổi trẻ vươn lên hoàn thành các nhiệm vụ, đóng góp hơn 3.200 ý kiến vào Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, tiếp tục thực hiện cuộc vận động “xây dựng chi đoàn mạnh”. Các đơn vị Trung đoàn 335 Sư đoàn 324, Trung đoàn 19 Sư đoàn 968, Lữ đoàn 16, Trung đoàn 80, đặc biệt là Đoàn cơ sở Trung đoàn công binh 414 (vừa chuyển thành lữ đoàn) vinh dự được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương Chiến công hạng ba về thành tích xuất sắc trong công tác Đoàn 5 năm qua. Đảng ủy Quân khu kịp thời quán triệt, vận dụng những tư tưởng, quan điểm cơ bản của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII vào việc chuẩn bị cho Đại hội Đảng quân khu lần thứ V (vòng 2) tiến hành từ ngày 10 đến 12-9-1991 tại Sở chỉ huy Quân khu - Vinh, có 195 đại biểu về dự. Đại tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng đến dự chỉ đạo Đại hội. Các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy sáu tỉnh gồm: Lê Văn Tu, Nguyễn Bá, Trần Quốc Thại, Trần Đình Luyến, Nguyễn Đức Hoan, Vũ Thắng và Thường vụ Đảng ủy, Bộ chỉ huy quân sự sáu tỉnh dự. Đại hội tập trung thảo luận Báo cáo chính trị, xác định phương hướng nhiệm vụ quốc phòng Quân khu trong 5 năm (1991-1995) và bầu Ban chấp hành Đảng bộ Quân khu. Đồng chí Lê Văn Dánh - Bí thư Đảng ủy Quân khu trình bày báo cáo chính trị và tự phê bình của Đảng ủy Quân khu nhiệm kỳ qua, đánh giá thực chất tình hình nêu rõ 4 nhiệm vụ và công tác xây dựng Đảng bộ Quân khu trong 5 năm (1991-1995), tập trung đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng và hiệu lực công tác chính trị. Với tư tưởng chỉ đạo “Trí tuệ, đổi mới, dân chủ, kỷ cương, đoàn kết”, Đại hội thảo luận, phân tích tập trung hai nội dung cơ bản: kiên định mục tiêu, con đường xã hội chủ nghĩa và công tác xây dựng Đảng, nêu rõ mặt mạnh, yếu, nguyên nhân, những chủ trương, biện pháp lãnh đạo nhiệm kỳ mới, bảo đảm cho toàn Đảng bộ luôn luôn giữ vững và kiên định lập trường, quan điểm của Đảng, mục tiêu lý tưởng cách mạng, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang quân khu, nỗ lực phấn đấu cao nhất, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nghị quyết của Bộ Chính trị và nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương về nhiệm vụ quốc phòng trong 5 năm (1991-1995). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:42:34 pm Đại hội thảo luận nhất trí cao với kết luận Báo cáo chính trị đánh giá kết quả 5 năm: Đảng bộ Quân khu đã lãnh đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ trong bối cảnh quốc tế và trong nước diễn biến phức tạp, trên địa bàn Quân khu cũng có nhiều khó khăn chi phối. Nhưng đã lãnh đạo các lực lượng vũ trang quân khu phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp và nhân dân các địa phương, phát huy truyền thống cách mạng, nêu cao tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thách thức, hoàn thành tốt các nhiệm vụ trên giao, làm được nhiều việc có ý nghĩa chiến lược cả trước mắt và lâu dài. Đại hội cũng nghiêm khắc chỉ rõ các mặt yếu là: 1. Chưa đầu tư đúng mức cho nhiệm vụ xây dựng lực lượng chủ lực cơ động của Quân khu, đảm bảo thực sự là quả đấm mạnh, nòng cốt của lực lượng vũ trang quân khu. 2. Việc xây dựng cơ sở chính trị lòng dân của nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân chưa được quan tâm đúng mức, trên các vùng trọng điểm còn nhiều cơ sở yếu kém, nhiều điểm nóng là mầm mống của sự mất ổn định chưa được hạn chế khắc phục. Công tác dân vận chưa thực sự là cuộc vận động cách mạng đối với lực lượng vũ trang các cấp. 3. Công tác xây dựng Đảng chưa thực sự ngang tầm, công tác tổ chức cán bộ còn nhiều khuyết điểm. 4. Đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, chính sách hậu phương quân đội, hậu phương cán bộ còn nhiều khó khăn, bức xúc. Khối lượng tồn đọng về chính sách, về kho tàng vũ khí đạn còn lớn. Đại hội hoàn toàn nhất trí với phương hướng nhiệm vụ, chủ trương biện pháp đề ra trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ và nhấn mạnh 6 nội dung cơ bản cần thực hiện trong nhiệm kỳ khóa V: 1. Trước hết, từ Đại hội này cũng như Đại hội các cấp (vòng 2) sắp tới, vấn đề có ý nghĩa quyết định phải kiên định quan điểm chính trị của Đảng là tiếp tục đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ đã chọn, không có con đường nào khác. Trên cơ sở đó, xác định nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trước hết là bảo vệ Đảng, bảo vệ các quan điểm tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. 2. Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân, trước tiên là xây dựng thế trận lòng dân. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của cả chủ lực và địa phương. Phải có nhiều biện pháp tích cực trong tổ chức xây dựng cơ sở, vận động quần chúng, nhất là cơ sở quần chúng ở các vùng trọng điểm ở biên giới, ven biển và vùng xung yếu ở nội địa. Ngăn chặn và tiêu diệt cho được các lực lượng phản động lưu vong từ ngoài xâm nhập về và hạn chế, từng bước cùng nhân dân, cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể địa phương xóa bỏ các điểm nóng và những mầm mống gây mất ổn định ở các địa phương. 3. Trên cơ sở xây dựng lực lượng vũ trang quân khu vững mạnh về chính trị, tập trung đầu tư xây dựng lực lượng chủ lực cơ động của Quân khu và các tỉnh thực sự vững mạnh toàn diện, cách mạng chính quy, từng bước hiện đại, trước mắt tập trung xây clựng các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, đại đội mạnh theo 5 nội dung Bộ xác định. Chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, bồi dưỡng xây dựng cơ quan, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ và hậu phương cán bộ, phát huy tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng quân đội. Quán triệt đầy đủ phương châm tư tưởng chỉ đạo của trên đối với nhiệm vụ huấn luyện xây dựng tổ chức lực lượng. Chấp hành nghiêm chỉnh các nhiệm vụ trên giao. 4. Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế đối với bạn Lào, Quân khu và các tỉnh trước mắt và lâu dài tiếp tục đổi mới phương thức hợp tác giúp đỡ giữa hai nước Việt - Lào. 5. Về bảo quản trang bị vật chất kỹ thuật phải tiếp tục phát huy tinh thần tự lực tự cường, năng động sáng tạo, trên dưới cùng lo, cùng làm để khẩn trương hoàn chỉnh xây dựng hệ thống kho tàng, nhất là kho vũ khí đạn. Trong vài năm tới, thực hiện đưa vào niêm cất bảo quản tất cả các trang bị, vũ khí, phương tiện hiện có, vừa bảo đảm sẵn sàng chiến đấu trước mắt, vừa bảo đảm cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc lâu dài. 6. Tiếp tục xây dựng Đảng bộ Quân khu trong sạch vững mạnh, trước hết là vững mạnh về chính trị, tư tưởng chống mọi biểu hiện dao động, cục bộ, bản vị, gây mất đoàn kết. Mọi sự chia rẽ gây mất đoàn kết làm suy yếu sức mạnh của lãnh đạo, sức mạnh quân đội trong tình hình này là có tội lỗi với Đảng, với quân đội. Tại Đại hội, đồng chí Đoàn Khuê đã phát biểu, đánh giá những kết quả 5 năm qua của Đảng bộ Quân khu đạt được trong xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng - an ninh, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng. Đồng chí căn dặn trong nhiệm kỳ mới Quân khu cần tiếp tục thường xuyên củng cố xây dựng tốt mối quan hệ mật thiết với chính quyền và nhân dân, chú trọng xây dựng các đơn vị chủ lực mạnh, có sức chiến đấu cao, sẵn sàng đáp ứng mọi nhiệm vụ, lưu ý vấn đề đoàn kết nội bộ Đảng bộ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, khắc sâu lời dạy của Bác Hồ: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”. Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ Quân khu khoá mới gồm 13 đồng chí: Nguyễn Xuân Chí - Phó tư lệnh Quân khu; Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân khu; Lê Văn Mẹo – Chủ nhiệm Chính trị Quân khu; Trịnh Bá Giản - Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu; Võ Chót - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu; Trần Bá Toàn - Phó Tham mưu trưởng Quân khu; Tống Viết Phú - Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu; Phùng Khác Hiếu - Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu; Lê Xuân Tỵ - Phó Chỉ huy Chính trị Trường Quân sự Quân khu; Nguyễn Phong Phú - Phó Chỉ huy Chính trị Sư đoàn 341; Phạm Huy Chưởng - Sư đoàn trưởng 968; Nguyễn Văn Táo - Sư đoàn trưởng 324; Hồ Hữu Lạn - Tổng giám đốc Công ty 4. Đồng chí Nguyễn Xuân Chí được bầu làm Bí thư Đảng ủy và đồng chí Nguyễn Quốc Thước - Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:44:37 pm Sau Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ V, các Đảng bộ trực thuộc tiến hành Đại hội Đảng (vòng 2) gắn với việc hoàn thành các nhiệm vụ trong năm, nỗ lực theo phương hướng Đại hội xác định. Các đại hội cấp cơ sở tập trung thảo luận 6 nội dung, mục tiêu, khắc phục 4 mặt yếu. Các đơn vị, địa phương hoàn thành kế hoạch huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị cả năm, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu trong các tình huống, giữ vững an ninh chính trị. Trường Quân chính Quân khu chuyển thành Trường Quân sự Quân khu, nâng quy mô, chất lượng bồi dưỡng đào tạo, thi giáo viên dạy giỏi có 7 đồng chí, trên 700 học viên ra trường đạt yêu cầu 100%. Quân khu tổ chức 2 đợt gồm 136 cán bộ thuộc các cơ quan đơn vị đi Trường Sa1. Đầu năm 1992, hai tổ quân y của Viện 4 và Viện 268 làm nhiệm vụ ở đảo An Bang. Công tác kỹ thuật đi dần vào kế hoạch cơ bản, đặc biệt là các địa phương đầu tư ngân sách lớn (1.019 triệu đồng) xây dựng được 14 kho vũ khí đạn lâu bền của tỉnh, huyện, đảo. Ngành Hậu cần rút kinh nghiệm chuyên đề bữa ăn bộ đội, nâng cao một bước về chất lượng đời sống vật chất, phòng chữa bệnh, sức khỏe thể lực của đơn vị cơ sở. Thực hiện Chỉ thị 240 của Hội đồng Bộ trưởng, Chỉ thị 707 của Bộ Quốc phòng về đấu tranh chống tham nhũng, Quân khu đã kiên quyết xử lý 3 vụ: Vụ mua ô tô, lập chứng từ giả ở Quảng Bình; vụ quản lý lợi dụng nghiệp vụ cho vay không ghi sổ sách, tham ô ở Trung đoàn 283; vụ sử dụng xăng dầu không đúng nguyên tắc gây thất thoát, tham ô cá nhân ở Phòng Tác chiến2. Các địa phương tổ chức bồi dưỡng được hơn 4.800 lượt cán bộ chủ trì xã, phường. Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở của một số tỉnh, huyện được thành lập mở ra bước phát triển mới trong xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Các địa phương lập 8 đoàn cán bộ chỉ đạo với 24 tổ gồm 179 đồng chí về một số vùng trọng điểm làm công tác xây dựng cơ sở. Công tác chính sách cả ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh mới tái lập đã triển khai liên tục thực hiện được khối lượng lớn: quy tập 109 mộ liệt sĩ ở Lào về, trong nước 4.544 mộ, làm 45 nhà tình nghĩa, đón 84 thương binh nặng về gia đình, giải quyết 97.651 trường hợp huân chương, huy chương các loại. Điển hình là trong năm 1991, Bộ tư lệnh Quân khu đánh giá chọn khen thưởng là Quảng Bình, Thanh Hóa, Sư đoàn 324, Lữ đoàn 414, Trường Quân sự Quân khu, Lữ đoàn 16, Trung đoàn 335. Đại hội Đảng các cấp (vòng 2) gồm cả các Đảng bộ mới được củng cố sau khi điều chỉnh tổ chức đều đạt được 2 nội dung cơ bản. Tại Đại hội Đảng bộ Cục Chính trị lần thứ 8 (vòng 2), đồng chí Nguyễn Quốc Thước - Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu dự phát biểu khẳng định: Về mặt chính trị tư tưởng, Đảng bộ Cục Chính trị trước hết phải thể hiện là hạt nhân của tính kiên định cộng sản của lực lượng vũ trang quân khu. Về mặt tổ chức, Đảng bộ Cục Chính trị phải xây dựng thực sự là một trung tâm pháo đài trong hệ thống pháo đài của Đảng bộ Quân khu, từ đó mà tỏa xuống các đơn vị trong Quân khu. Thường vụ Đảng ủy Quân khu giao cho Đảng bộ Cục Chính trị chuyển vào trong nội dung sinh hoạt của các Đảng bộ cơ quan và đơn vị cuối năm 1991 và đầu năm 1992. _____________________________________________ 1. Đợt cuối năm 1990: 106 đồng chí, năm 1991: 30 đồng chí. 2. Báo cáo 43c/BC ngày 9-11-1991 của Bộ tư lệnh Quân khu. Các vụ này xảy ra từ năm 1990 về trước, qua thanh tra, kiểm tra, điều tra, xét xử kỷ luật vào năm 1991. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:47:50 pm * * * Đầu tháng 1-1992, Đảng ủy Quân khu họp gồm 13 đồng chí Đảng ủy Quân khu và 6 đồng chí Bí thư Tỉnh ủy được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) quyết định tiếp tục tham gia Đảng ủy Quân khu. Hội nghị thống nhất đánh giá: Thắng lợi của Đại hội Đảng các cấp trong Quân khu có ý nghĩa quyết định đối với bước phát triển mới của lực lượng vũ trang quân khu trong 5 năm (1991-1995), trước hết là 2 năm mở đầu (1991-1992), tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị tư tưởng là yếu tố cơ bản nhất làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, cùng các địa phương kiên định vững vàng vượt qua thử thách lớn sau sự kiện tháng 8-1991 ở Liên Xô, nguồn viện trợ của khối SEP không còn1. Hội nghị xác định nhiệm vụ quốc phòng năm 1992 và các năm tiếp theo trước tình hình hết sức khẩn trương, quyết liệt và phức tạp: với tư duy quân sự mới, phải đổi mới cả nội dung, phong cách, biện pháp, trọng tâm là đổi mới biện pháp tổ chức thực hiện các nội dung xây dựng thế trận, xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng chủ lực và địa phương, sẵn sàng đối phó các tình huống A2; đồng thời sẵn sàng đối phó các tình huống vũ trang có thể xảy ra, giữ vững ổn định chính trị trong mọi tình huống. Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh2 và các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, các ủy viên Đảng ủy Quân khu phát biểu thống nhất đánh giá toàn diện các vấn đề, trong đó Quân khu cần tập trung phòng chống “diễn biến hòa bình”, chống bạo loạn3. Hội nghị thống nhất phương hướng nhiệm vụ quốc phòng năm 1992, nhấn mạnh tập trung 4 nội dung: 1. Quán triệt cho mọi cấp, mọi ngành nhận rõ tình hình, hạ quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng an ninh, luôn luôn nắm chắc các diễn biến, lực lượng, chấp hành tốt nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. 2. Tập trung xây dựng cả cơ sở chủ lực (đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn mạnh, cơ sở hậu cần, kỹ thuật mạnh), cả cơ sở địa phương (làng, xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu). Chú trọng tuyển chọn thanh niên vào bộ đội để huấn luyện xây dựng đơn vị chủ lực mạnh, phát triển đảng viên, đào tạo cán bộ; lúc trở về làm nòng cốt ở địa phương, xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh, đồng thời là lực lượng dự bị động viên có chất lượng. 3. Chấn chỉnh, củng cố cơ quan quân sự cấp huyện. 4. Đổi mới công tác quân sự địa phương, trong đó triển khai cho được việc tổ chức Hội nghị quốc phòng địa phương cả 3 cấp tỉnh, huyện, cơ sở4. Bộ tư lệnh và các cơ quan Quân khu chỉ đạo bước quyết định là triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tạo sự thống nhất cao trong Hội nghị quân chính của các đơn vị và Hội nghị quốc phòng cả 6 tỉnh (sang năm 1992, lãnh đạo cấp tỉnh chủ trì Hội nghị quốc phòng đã thành nền nếp và nhiều huyện, thị, thành bắt đầu đổi mới việc này, chuyển dần xuống cơ sở). Thường vụ Đảng ủy Quân khu tham dự Đại hội Đảng bộ (vòng 2) của một số tỉnh đóng góp những ý kiến lãnh đạo nhiệm vụ quốc phòng địa phương nhiệm kỳ mới5. _____________________________________________ 1. Khối SEP là hiệp hội hợp tác tương trợ kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa, ra đời từ những năm 60 cho đến khi Liên Xô tan rã năm 1991. 2. Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh - Ủy viên Trung ương Đảng - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thay mặt Đảng ủy Quân sự Trung ương tham dự Đại hội. 3. Các ý kiến của đồng chí Vũ Thắng, Trần Đình Luyến, Trần Quốc Thại, Nguyễn Bá, Lê Văn Tu phát biểu về phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, sau đó được tạp chí Quốc phòng toàn dân trích đăng. 4. Kết luận 11/KL-ĐU ngày 11-1-1992 của Đảng ủy Quân khu. 5. Thường vụ Đảng ủy Quân khu dự Đại hội Đảng bộ Hà Tĩnh lần thứ 13 (vòng 2); Đại hội Đảng bộ tĩnh Nghệ An lần thứ 13 (vòng 2); Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ 13 (vòng 2); Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên - Huế lần thứ 10 (vòng 2). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:51:34 pm Thực hiện Mệnh lệnh số 26/TM ngày 11-1-1992 của Bộ Tổng Tham mưu về sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, Chỉ thị 38/CT-TM ngày 21-3-1992 về bảo vệ an ninh chính trị phòng chống bạo loạn lật đổ của địch, Bộ tư lệnh Quân khu nghiên cứu quán triệt bổ sung hoàn chỉnh một bước kế hoạch A2 từ Quân khu xuống cơ sở. Nội dung bổ sung tập trung thể hiện rõ địch tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm thực hiện chiến thắng không cần chiến tranh, trước hết dùng các thủ đoạn, biện pháp phá hoại nội bộ Đảng, nội bộ nhân dân làm ta “tự diễn biến”. Chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ lấy chủ động phòng ngừa là chính, trước hết trên mặt trận chính trị tư tưởng1, luôn kiên định về chính trị tư tưởng, nội bộ Đảng phải đoàn kết thống nhất về chính trị, xây dựng cơ sở vững mạnh, xây dựng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, không để xảy ra vụ việc khiếu kiện, tồn đọng kéo dài. Lực lượng vũ trang xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ, làm tốt công tác dân vận. Kế hoạch được bổ sung phù hợp với những phương án xử lý các tình huống, sẵn sàng chiến đấu chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và rút kinh nghiệm bổ sung. Thiếu tướng Võ Chót - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu báo cáo “Quyết tâm sẵn sàng chiến đấu bảo vệ an ninh chính trị, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa” của Quân khu trước Bộ Quốc phòng. Thực hiện Chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân khu, Thanh tra Quân khu và Phòng Tác chiến tổ chức thanh tra Sư đoàn 968, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế về nhiệm vụ A2, kịp thời kiến nghị bổ sung về giáo dục nhận thức âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của địch, nâng cao chất lượng huấn luyện, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bổ sung về tổ chức lực lượng và phương châm, phương án phối hợp xử lý tình huống. Các cơ quan, đơn vị bước vào huấn luyện gắn chặt với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện theo 5 nội dung, tập trung xây dựng chi bộ, Đảng bộ trong sạch vững mạnh, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện kỷ luật, kỷ cương, nền nếp chính quy; các cơ sở kho vũ khí đạn, đặc biệt chăm lo công tác bảo vệ an toàn, vũ khí trang bị, không để mất, cháy nổ, bảo quản, sử dụng, niêm cất2. Tiến hành xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện từ cơ sở và Quân khu tổ chức sơ kết vào đầu năm 1993. Việc xây dựng cơ sở xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu năm 1992 được triển khai thực hiện tập trung với 3 nội dung chính: xây dựng cơ sở về chính trị, kinh tế quốc phòng an ninh, tạo thế và lực mới thúc đẩy các mặt khác, bảo đảm yên dân, giải quyết các sự việc phát sinh, các điểm nóng hợp lòng dân. Quân khu và hầu hết các tỉnh, huyện đều thành lập Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở hoạt động hiệu quả, trực tiếp giúp cho cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo cụ thể, kịp thời, phát huy vai trò trung tâm hiệp đồng đồng bộ của hệ thống chính trị xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Một số địa phương cho rằng xây dựng cơ sở là việc làm trực tiếp của lãnh đạo, chính quyền các cấp, không phải thành lập thêm Ban chỉ đạo. Nhưng thực tiễn sơ kết lần đầu năm 1990 và thực hiện năm 1991 đã khẳng định rõ hơn hiệu lực hoạt động của Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở. Về tổ chức, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu do đồng chí Bí thư Đảng ủy - Phó tư lệnh Quân khu làm trưởng ban; ở các tỉnh, huyện, thị, thành do đồng chí Bí thư hoặc Phó Bí thư thường trực làm trưởng ban. Đầu năm 1992, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đại hội Đảng các cấp, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở và các tổ công tác xây dựng cơ sở của nhiều địa phương thường xuyên bám sát cơ sở chỉ đạo các mặt hoạt động cụ thể. Quân khu nêu rõ 2 vấn đề có tính chỉ đạo chung, đồng thời chuẩn bị sơ kết đợt 2 mang tính cơ bản hơn từ cơ sở lên Quân khu. Trong xây dựng cơ sở phải luôn luôn nắm vững phương thức tiến hành: Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành tổ chức thực hiện, các ban, ngành, đoàn thể, cơ quan quân sự làm tham mưu phối hợp chặt chẽ các lực lượng cùng làm, trong đó cơ sở là quyết định. Mục tiêu là xây dựng cơ sở vững mạnh, phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cao nhất cho cơ sở. Mọi chủ trương kế hoạch xây dựng của trên phải được quán triệt đến tận cơ sở, được cơ sở tiếp nhận đầy đủ, tự giác, tự thân vận động dưới sự chỉ đạo của hệ thống chính trị cấp trên3. Các đơn vị, địa phương tập trung mục tiêu hàng đầu phòng chống “diễn biến hòa bình”, giữ vững ổn định chính trị các địa bàn trước những thách thức mới. Lực lượng vũ trang quân khu cùng các địa phương bảo vệ an toàn cuộc bầu cử Quốc hội khóa IX. Trong cuộc bầu cử, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân khu, đại biểu Quốc hội khóa VIII được bầu tiếp là đại biểu Quốc hội khóa IX. Bộ tư lệnh Quân khu rút kinh nghiệm về thực hiện kế hoạch A2 ở Thừa Thiên - Huế, bổ sung Mệnh lệnh sẵn sàng chiến đấu số 04, 26/BTL phổ biến kịp thời cho 6 tỉnh, duyệt kế hoạch A2 cho các đơn vị, địa phương sau khi làm việc ở Bộ về4. Các tỉnh chỉ đạo diễn tập A2 ở các huyện thị còn lại, và một số xã phường, giải quyết kịp thời, đúng phương châm một số điểm nóng kéo dài, một số việc các thế lực thù địch dễ lợi dụng chống phá như Tiếng hát sinh viên, Liên hoan văn hóa Pháp - Việt ở Huế, lễ 100 năm dâng địa phận cho Đức Mẹ ở Xã Đoài, Lễ thánh ở Ba Làng, trước đó là Lễ Kiệu lớn thu hút hàng vạn người hành hương về La Vang (Quảng Trị). ______________________________________________ 1. R. Ních-xơn nêu: “Chiến tranh dưới cái tên gọi hòa bình", “cuộc chiến hòa bình”, “toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp ước mậu dịch, viện trợ và các quan hệ văn hóa sẽ không đi đến đâu, nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng". “Tâm lý chiến trở thành vũ khí chiến dịch và chiến lược chính, có thể mạnh hơn nhiều các sư đoàn thiết giáp” (Lý luận quân sự Mỹ. Tạp chí Quốc phòng toàn dân số 3 -1992, tr. 86). 2. Quân khu đánh giá công tác kho tàng từ Hội nghị chuyên đề kho vũ khí đạn tháng 10-1989 đến 1992, báo cáo số 130/BC ngày 20-4-1992 của Cục Kỹ thuật Quân khu. Quân khu tổ chức Hội nghị khoa học công nghệ Ngành Kỹ thuật tại cụm kho CK2. 3. Công văn 08/ND-CS ngày 7-1-1992 của Tư lệnh Quân khu về nội dung rút kinh nghiệm xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. 4. Duyệt kế hoạch A2 của Nghệ An rút kinh nghiệm trước, tiếp đó là 5 tỉnh các sư đoàn 324, 968. 341. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:53:01 pm Ở Thanh Hóa, Ban chỉ đạo tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc kéo dài ở Thọ Ngọc, nhất là ở xã Quảng Lộc, huyện Quảng Xương (Thanh Hóa). Ở đây, từ năm 1990 do mâu thuẫn nội bộ, hiềm khích cá nhân, một số cán bộ đảng viên lợi dụng chống tham nhũng mưu đồ thực hiện quyền lực, quyền lợi cá nhân, tập hợp lôi kéo quần chúng khiếu kiện, không chế những người tốt, gây mất an ninh trong xã, làm đảo lộn cuộc sống trong thôn xóm, sản xuất sa sút. Họ thành lập lực lượng dân phòng, soạn thảo luận cương 5 chương, 11 điều đòi giải tán Đảng ủy xã, đe dọa chính quyền, ngang nhiên hoạt động gây áp lực buộc mọi người phải theo. Tỉnh, huyện và cơ sở nhiều lần phải trực tiếp giải thích, giải quyết, phân rõ đúng sai. Địa phương tổ chức lực lượng cán bộ cơ sở kiên trì bám địa bàn, làm công tác vận động quần chúng, động viên nhân dân đẩy mạnh sản xuất, giữ vững đời sống, nắm chắc phần tử chủ mưu. Phát hiện số chống đối chuẩn bị tụ họp để bàn bạc, địa phương kịp thời triển khai lực lượng cơ động nhanh phối hợp với các nhân cốt tại chỗ bắt gọn toàn bộ cả nhóm đứng đầu khi chúng vừa đến nơi họp không kịp chống cự. Tình hình xã Quảng Lộc dần được ổn định. Ở phía nam Quân khu, các thế lực thù địch kích động bọn lưu vong cấu kết với lực lượng phản động bên trong lợi dụng các sự kiện chính trị, các ngày lễ lớn hàng năm tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, chính quyền nhưng bị thất bại. Ngày 3-5-1992 (tức ngày 25-4 âm lịch), Hoà thượng Thích Đôn Hậu mất tại chùa Linh Mụ - Huế. Do công lao của Hoà thượng, Nhà nước ta đã tặng Huân chương Hồ Chí Minh và tổ chức lễ tang Hòa thượng trọng thể. Với mưu đồ và chủ định từ trước, một số phần tử phản động cực đoan đội lốt Phật giáo (phái Ấn Quang) và Tăng đoàn (cũ) lợi dụng việc Hoà thượng Thích Đôn Hậu mất, tổ chức kích động phật tử đòi yêu sách không công nhận Đảng, Nhà nước ta tặng Huân chương và tổ chức lễ tang cho Hoà thượng, xuyên tạc chính sách tôn giáo, chia rẽ nội bộ, gây sức ép đòi thả những tên chống đối bị bắt, mưu toan biến đám tang thành cơ hội để ra mắt Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất. Ta đã trực tiếp làm việc, nêu rõ chủ trương, chính sách của Nhà nước. Việc làm được các vị chân tu và đông đảo tăng ni phật tử ủng hộ. Âm mưu của một số phần tử cực đoan không thực hiện được. Huyền Quang và một số phần tử trong Tăng đoàn tiếp tục hoạt động chống phá, tán phát tài liệu nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thực hiện chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương, ngày 26-4-1992, Đảng ủy Quân khu do đồng chí Nguyễn Xuân Chí - Bí thư Đảng ủy chủ trì Hội nghị nghiên cứu, thảo luận góp ý kiến vào dự thảo Nghị quyết Trung ương về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh từ năm 1992 đến 1995 (sau đó là Nghị quyết Trung ương 3). Đảng ủy Quân khu thống nhất đóng góp một số nội dung, chủ yếu về quan điểm tư tưởng như: Trong số 4 nhân tố có thể gây mất ổn định, cần nêu rõ có những mặt mất ổn định chủ yếu do từ bên trong, từ nội bộ, phải đặc biệt chăm lo xây dựng bên trong vững mạnh. Đối với 5 tình huống cần xác định rõ chống “diễn biến hoà bình” chiến thắng “diễn biến hoà bình” cũng do bên trong quyết định, giữ cho được bên trong và hết sức cảnh giác bên ngoài, cần chăm lo xây dựng cơ sở, lực lượng cơ sở và sức mạnh tại chỗ. Trong các quan điểm về tư tưởng chỉ đạo, vấn đề trước hết là cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, nhất là thời kỳ chuyển tiếp cán bộ. Ở huyện, thị, thành cần thành lập Đảng ủy quân sự huyện (thay Ban cán sự) để tăng thêm hiệu lực lãnh đạo. Qua thực tiễn tình hình Quân khu, ý kiến đóng góp của nhiều đồng chí lãnh đạo chủ trì địa phương trong các cuộc họp sơ kết xây dựng cơ sở, hội nghị liên tịch, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu trước đó cũng đã có kiến nghị gửi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng1 về việc xây dựng quỹ quốc phòng địa phương. Nội dung kiến nghị nêu rõ: Trung ương có Chỉ thị 55/CT-TW về tăng cường lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên trong tình hình mới. Việc thực hiện giảm quân thường trực phải đi đôi với nâng cao chất lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên là rất đúng đắn. Để thực hiện chủ trương trên, các địa phương đang thực hiện cơ chế khoán theo Nghị quyết 10 và Nghị định 217 gặp nhiều khó khăn, có mặt nan giải. Ở Quân khu 4, lực lượng dự bị động viên có 63 vạn, mỗi năm ngân sách quốc phòng cấp huấn luyện chỉ đáp ứng 750 đồng chí, phải hàng trăm năm mới huấn luyện hết một lượt. Nhiều địa phương trong Quân khu xây dựng, huấn luyện theo phương châm "dân bàn, dân cử, dân nuôi, bảo vệ dân", nhân dân nhất trí đồng tình đóng góp bảo đảm yên ổn sản xuất, đời sống. Ở Hà Tĩnh thực hiện khoán trong nông nghiệp có nhiều cơ sở trích 10 đến 12% quỹ đất chung để lo phúc lợi, chính sách, quỹ quốc phòng an ninh; ở một số huyện, nhiều cơ sở cũng được nhân dân đóng góp cho công tác huấn luyện, bảo vệ trị an. Từ kinh nghiệm Hà Tĩnh, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu và các địa phương vận động tạo nguồn kinh phí cho lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, đồng thời đề nghị Hội đồng Bộ trưởng, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng có chủ trương cho xây dựng quỹ quốc phòng trên từng địa phương bảo đảm cho lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên được huấn luyện tốt, sẵn sàng đối phó các tình huống theo tinh thần dân chủ, thông qua các nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp mà quy định cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, khả năng của các địa phương. _____________________________________________ 1. Kiến nghị số 114/KN ngày 16-3-1992 vào dự thảo Nghị quyết Trung ương 3, Đảng ủy Quân khu nêu tiếp vấn đề này. Trong kết luận tổng kết 10 năm công tác động viên tháng 11-1992, Quân khu tiếp tục đề nghị vận động nhân dân xây dựng quỹ quốc phòng để tăng khả năng bảo đảm nhiệm vụ động viên, đồng thời có nêu “Quân khu đã giảm 5 sư đoàn, chỉ cần trích ngân sách 1 sư đoàn đã giải thể có thể huấn luyện 10 sư đoàn dự bị động viên mỗi đơn vị 1 tháng". Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:56:07 pm Ngày 26-6-1992, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) ra Nghị quyết 03 về "Nhiệm vụ quốc phòng và bảo đảm an ninh quốc gia, chống diễn biến hòa bình" và Nghị quyết về "Chính sách đối ngoại và kinh tế đối ngoại". Nghị quyết Trung ương 3 nêu rõ 5 tình huống: "diễn biến hoà bình"; “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ có kết hợp vũ trang và không vũ trang; bạo loạn lật đổ có lực lượng phản ứng nhanh của đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch; bao vây phong toả dùng hoả lực tập kích đường không; chiến tranh cường độ trung bình (bằng hoặc lớn hơn chiến tranh Vùng Vịnh). Nghị quyết xác định: "Lực lượng vũ trang vừa có nhiệm vụ bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vừa phải bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa, coi 2 nhiệm vụ chiến lược đó gắn chặt với nhau thành một thể thống nhất". Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức lớp quán triệt Nghị quyết Trung ương 3 cho 321 cán bộ chủ trì toàn Quân khu và triển khai chương trình hành động 6 điểm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, tiếp đó chỉ đạo tổ chức chuyển nội dung nghị quyết tới các đơn vị, địa phương. Các cấp ra nghị quyết và lập chương trình hành động triển khai thực hiện nghiêm túc, khẩn trương, có hiệu quả từng mục tiêu đề ra. Ngày 30-7-1992, Đảng ủy Quân khu họp quán triệt Nghị quyết Trung ương 3. Từ tình hình thực tiễn trên địa bàn Quân khu, hội nghị thống nhất nhận định1: Âm mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của địch diễn ra ráo riết, quyết liệt, ngày càng phức tạp hơn, có diễn biến tại chỗ, có chỉ đạo của lực lượng thù địch bên ngoài bằng mọi thủ đoạn chống phá ta. Cuộc đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” diễn ra trên địa bàn Quân khu, mang tính chất địch, ta rõ rệt. Các thế lực thù địch đang tìm mọi cách xen vào để chống phá ta. Những nhân tố tạo sự ổn định phát triển, tăng lên. Nhưng những nhân tố mất ổn định cũng tăng lên do tính chất cuộc đấu tranh một mất một còn, ta kiên quyết bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, địch quyết tâm phá bỏ. Ta phải hết sức tỉnh táo, cảnh giác trong lúc đất nước đang mở rộng quan hệ đối ngoại. Nghị quyết xác định các nhiệm vụ, chủ trương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phòng chống “diễn biến hoà bình”, sẵn sàng chủ động kịp thời đối phó các tình huống, giữ vững ổn định chính trị cả nội địa và tuyến biên giới phía tây2. Tại Hội nghị này, Đảng ủy Quân khu bầu bổ sung Đại tá Trịnh Bá Giản - Ủy viên Đảng ủy, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu vào Ban Thường vụ. Sau Hội nghị Đảng ủy Quân khu, Bộ tư lệnh Quân khu kịp thời chỉ đạo thực hiện các biện pháp tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu như: tập huấn tiểu đoàn bộ binh chiến đấu tấn công sát với tình huống chiến đấu của Sư đoàn 324; soát xét nghiên cứu hệ thống công trình quốc phòng trong kế hoạch phòng thủ trước yêu cầu mới; triển khai hiệp đồng với các địa phương về tăng cường lực lượng, phương tiện đánh bắt hải sản xa bờ; phối hợp cùng bạn Lào quản lý tuyến biên giới, nhất là hướng trọng điểm; tiếp nhận 28 xe bọc thép BTR 152 bổ sung cho các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế theo kế hoạch sẵn sàng chiến đấu và nhiệm vụ A2, chỉ đạo Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An rút kinh nghiệm xây dựng hậu cần trong khu vực phòng thủ tỉnh. Thực hiện Chỉ thị 245 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng3, Chỉ thị 142 của Tổng Tham mưu trưởng gắn với Chương trình hành động 280/QK của Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, Quân khu triển khai kế hoạch tổ chức nghiên cứu đề tài lý luận KX 09-07 và xây dựng mô hình mẫu "Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, phân vùng các khu kinh tế, quy hoạch khu vực hậu phương và căn cứ hậu phương của tỉnh, xây dựng tỉnh, thành thành khu vực phòng thủ vững chắc để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa". Quân khu và các tỉnh thống nhất chỉ đạo tỉnh Thừa Thiên - Huế xây dựng mô hình mới cho toàn Quân khu; các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá xây dựng một huyện (hoặc một thành phố, thị xã) làm mẫu cho tỉnh. Công tác xây dựng khu vực phòng thủ của Quân khu và các tỉnh qua quá trình hình thành, diễn tập, đúc rút kinh nghiệm, triển khai xây dựng mẫu khẳng định rõ việc huy động lực lượng tổng hợp đồng bộ của địa phương theo cơ chế 02, trong đó tập trung xây dựng nền tảng là các làng, xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu theo 5 nội dung, chủ động phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ và sẵn sàng chống xâm lược. "Nếu không có bước phát triển mới này thì tình hình cơ sở còn phức tạp, còn xấu hơn nhiều và dễ có những diễn biến rất bất lợi... Qua triển khai đối phó với các sự việc, các tỉnh đều rút được nhiều kinh nghiệm bổ ích về chỉ đạo tổ chức xây dựng cơ sở, xây dựng khu vực phòng thủ, tạo thêm thế và lực cho cách mạng, thế ổn định chính trị các địa bàn"4. Việc xây dựng bảo đảm hậu cần - kỹ thuật tại chỗ cho hoạt động tác chiến khu vực phòng thủ trong cơ chế thị trường thông qua diễn tập 5 tỉnh và nhiều huyện, xã phường cũng được xác định: chính quyền chỉ đạo điều hành, Ủy ban kế hoạch phân chỉ tiêu cung cấp yếu tố hợp đồng và hướng dẫn các ngành kinh tế - xã hội là thành viên trực tiếp tổ chức thực hiện bảo đảm cho các lực lượng vũ trang và toàn dân đánh giặc dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy địa phương là đúng đắn5. ____________________________________________ 1. Kết luận 253/KL-ĐU của Đảng ủy Quân khu ngày 31-7-1992. 2. Thái Lan thực hiện chính sách 2 mặt đối với Lào, phản động Lào âm mưu lập chính phủ lưu vong tạo 2 vùng, 2 lực lượng. Ta phát hiện 70 tên phản động Việt Nam lưu vong thuộc tổ chức Nguyễn Văn Chức chuẩn bị xâm nhập từ Lào về hoạt động ở địa bàn Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế. 3. Chỉ thị 245/HĐBT ngày 2-7-1992 về việc tiến hành xây dựng tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. 4. Nghị quyết của Đảng ủy Quân khu giữa năm 1992 số 230/NQ-ĐU. Trong tổng kết 5 năm xây dựng khu vực phòng thù 1988-1992, Bộ Quốc phòng đánh giá: "Nếu các năm qua không làm tích cực (về xây dựng khu vực phòng thủ) thì tình hình chính trị, trật tự an ninh, an toàn xã hội, tình hình cơ sở còn phức tạp, có thể diễn biến xấu, nhất là các xã - phường - huyện". 5. Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện cơ chế 02 (về chính quyền điều hành) trong nhiệm vụ xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc của quân khu ngày 27-5-1990. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:58:39 pm Trong công tác chính sách nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thương binh liệt sĩ (27.7.1947 - 27.7.1992), các địa phương, đơn vị phát triển phong trào đền ơn đáp nghĩa sâu rộng từ cơ sở, làm mới 375 nhà tình nghĩa, tặng 9.860 sổ tiết kiệm (riêng lực lượng vũ trang tặng 219 sổ) với tổng cộng gần 2 tỷ đồng, xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa trên 1,7 tỷ đồng, quy tập mộ liệt sĩ ở Lào về trong nước 5.602 mộ, xây mới 59 nghĩa trang liệt sĩ, 12 tượng dài, 15 bia chiến tích với trên 2,3 tỷ đồng, trong đó 50% do nhân dân đóng góp. Cuối năm 1992, đầu năm 1993, Quân khu sơ kết, tổng kết những nội dung quan trọng về xây dựng cơ sở chủ lực, địa phương sau khi được sơ kết, tổng kết một bước từ cơ sở nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương về nhiệm vụ quốc phòng 5 năm (1991-1995), Nghị quyết Trung ương 3 và kế hoạch đã xác định, trong đó nổi bật nhất là từ ngày 4 đến 7-9-1992 tại Huế, Quân khu và các tỉnh tổ chức sơ kết đợt 2 xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Từ sơ kết đợt đầu (8-1990) tại Vinh đến sơ kết đợt 2 tại Huế - nơi khởi đầu tập huấn, khảo nghiệm, định hình mô hình xây dựng cơ sở thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, việc xây dựng xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn Quân khu có nhiều phát triển mới nhưng cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn cần được đúc rút, sơ kết quy mô lớn hơn. Tham dự hội nghị có gần 600 đại biểu của Trung ương, Bộ Quốc phòng, 7 Quân khu, 6 tỉnh, 75 huyện, thị, thành1, 22 xã phường, xí nghiệp, trạm trại, trường học. Đại tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng dự, chỉ đạo hội nghị. Tại hội nghị, 28 báo cáo đã được trình bày. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân khu thay mặt Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu trình bày báo cáo và phát biểu kết luận hội nghị nêu rõ: Hội nghị sơ kết lần này tập trung đi sâu vấn đề trọng yếu mà Nghị quyết Trung ương 3 về nhiệm vụ quốc phòng an ninh xác định. Đó là vấn đề xây dựng cơ sở, xây dựng xã phường cơ sở vững mạnh an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu - nền tảng của khu vực phòng thủ, địa bàn cơ bản của thế trận lòng dân, quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân tại cơ sở, đưa Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị khoá VI, Nghị quyết Đại hội Đảng VII và Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương vào cuộc sống, bảo đảm cho sự ổn định về chính trị, góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Có thể nói, đây là một hội nghị tập trung trí tuệ đầy đủ nhất của cả hệ thống chính trị trong Quân khu, từ Quân khu, tỉnh, huyện và xã, phường, cơ sở để bàn một vấn đề có tính chiến lược về quốc phòng an ninh. Hơn 2 năm qua, Quân khu và các tỉnh tập trung chỉ đạo xây dựng làng (bản), xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu có nhiều nhân tố mới, đạt hiệu quả, giải quyết được nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, có những vấn đề mà thực tế ở địa phương, cơ sở chưa chủ động giải quyết được, hoặc có giải quyết nhưng hiệu quả chưa cao do sự tác động chỉ đạo của hệ thống chính trị cấp trên chưa đúng mức và sự tự thân vận động của cơ sở chưa đủ mạnh. Việc này đòi hỏi cần được nghiên cứu đúc kết sâu thêm về quan điểm, nguyên tắc, nội dung, nhất là các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đáp ứng yêu cầu tổ chức xây dựng cơ sở xã phường trong xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Trước hết là đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở xã phường trước âm mưu thủ đoạn "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ; đồng thời chủ động đối phó với mọi tình huống phức tạp khác do kẻ thù gây ra, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh ngay tại cơ sở, gắn với xây dựng xã phường vững mạnh toàn diện, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở từng cơ sở. Phát biểu tại hội nghị, Đại tướng Đoàn Khuê đánh giá: Các quân khu đều chỉ đạo xây dựng xã, phường vững mạnh, tên gọi khác nhau nhưng nội dung cơ bản thống nhất với nhau, tất cả đều hướng tới xây dựng cơ sở về mọi mặt, tạo sức mạnh đánh thắng “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, sẵn sàng đối phó các tình huống khác. Thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, Đảng bộ Quân khu, Đảng bộ các địa phương đã tạo được sự nhất trí để thực hiện cơ chế 02 ngày càng có chiều sâu, ý nghĩa thiết thực hiệu quả. Trước tình hình phức tạp, trên địa bàn Quân khu có một số vụ việc xảy ra (ta thường gọi là điểm nóng) nhưng đã lần lượt được giải quyết, không gây biến động gì lớn. Tuy vậy, vấn đề xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn Quân khu chưa được thống nhất đầy đủ cả về nhận thức và hành động. Đại tướng nêu rõ tình hình, những quan điểm cơ bản của Nghị quyết Trung ương 3, đặc biệt Nghị quyết về quốc phòng an ninh, khẳng định cần tiếp tục xây dựng cơ sở thật vững mạnh, trong đó nêu 8 việc tập trung xây dựng làng xã an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, 6 việc cần làm khi sự việc xảy ra để Quân khu và các địa phương nghiên cứu thực hiện, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng cơ sở vừa chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, vừa chuẩn bị sẵn sàng đối phó mọi tình huống. Trong phòng chồng “diễn biến hòa bình” của địch, Quân khu 4 đã có những mặt lợi thế nhưng cũng còn có hạn chế cần nâng cao cảnh giác. Phía nam có những phức tạp khó khăn, nhưng chừng mực nào đó việc đánh giá âm mưu, thủ đoạn của địch, hiểu địch rõ hơn. Phía bắc hết sức kiên cường, nhưng trước những thủ đoạn lắt léo của địch, nên phải hết sức chú ý từng vùng để thống nhất về nhận thức và hành động hiệu quả. Quân khu 4 là nguồn tiềm lực, kho người, kho của của địa bàn chiến lược lớn cả nước. Chính vì vậy, việc xây dựng cơ sở xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn Quân khu càng đặt ra cấp thiết. Phát biểu kết thúc hội nghị, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước đánh giá tổng kết tình hình chỉ đạo xây dựng cơ sở xã phường: Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là từ những năm 1981 trở đi, Quân khu tổ chức xây dựng làng xã chiến đấu với những mô hình khác nhau là làng xã chiến đấu, cụm chiến đấu liên hoàn trong pháo đài quân sự huyện trên những hướng trọng yếu và xây dựng làng xã an toàn làm chủ ở một số địa phương. Làng xã là đơn vị chiến đấu trong địa bàn tác chiến phòng thủ cấp huyện. ______________________________________________ 1. Đại biểu tỉnh, huyện dự có: Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở, Mặt trận, các đoàn thể, công an, quân sự, biên phòng, cơ quan truyền thông đại chúng. Các đơn vị chủ lực Quân khu đều có các đại biểu tham dự. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:59:53 pm Từ khi có Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, Quân khu và các địa phương triển khai xây dựng và diễn tập khu vực phòng thủ cả 3 cấp, 3 hệ thống, bước đầu rút ra kinh nghiệm là muốn xây dựng khu vực phòng thủ có hiệu quả phải đưa cơ chế 02 xuống cơ sở và xác định rõ dần xã phường chiến đấu là nền tảng khu vực phòng thủ vững chắc của tỉnh, huyện1. Quá trình triển khai tiếp theo, nhiều địa phương đã chỉ đạo xây dựng cho đến các mạng lưới thôn, xóm, bản, khối phố (phía bắc Quân khu), cụm dân cư, địa bàn dân cư (phía nam Quân khu) gắn với mô hình kinh tế cụ thể trong bước chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, làm cầu nối để các cấp ủy, chính quyền cơ sở nắm chắc, nắm và giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh tại địa bàn. Từ cơ chế 02 nhiều xã, phường, cơ sở đã diễn tập A2 huy động cả hệ thống chính trị và cả các lực lượng xã hội cùng tham gia giải quyết một số tình huống thật, một số điểm nóng theo quan điểm đúng, rút được kinh nghiệm thiết thực về phán đoán tình hình, sử dụng lực lượng, không cho kẻ địch và bọn xấu thực hiện được ý định, chủ động ngăn ngừa tình huống 1 làm cơ sở để hạn chế các tình huống 2, 3, 4 từ cơ sở, từ bên trong. Qua quá trình triển khai, có thể rút ra một số vấn đề có tính nguyên tắc để chỉ đạo xây dựng xã phường trong tình hình mới là: 1. Xây dựng làng (bản), xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu là xây dựng và tích luỹ sức mạnh của toàn dân giữ làng giữ nước bảo vệ cơ sở - nền tảng của khu vực phòng thủ nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ngay từ cơ sở và trước hết từ cơ sở. 2. Xây dựng làng (bản), xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu phải thực hiện xuyên suốt gắn bó chức năng xây dựng và bảo vệ, sản xuất và bảo vệ sản xuất theo đúng quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa (đối phó thắng lợi 2 biện pháp chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ và chiến tranh xâm lược vũ trang của địch). 3. Xây dựng toàn diện theo 5 nội dung với mối quan hệ tác động thúc đẩy nhau, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở (gốc), phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện chính sách hậu phương quân đội là điều kiện, yếu tố cần thiết, xây dựng quốc phòng - an ninh là mục tiêu phải đạt, tạo ổn định về chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh vững mạnh. 4. Đặt xây dựng làng (bản), xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trong xây dựng xã phường cơ sở vững mạnh toàn diện, thống nhất, tập trung về chính trị và quốc phòng - an ninh, bảo đảm ổn định chính trị và an ninh trật tự, không để xảy ra diễn biến phức tạp ở cơ sở. 5. Xây dựng xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu từ quan điểm quốc phòng toàn dân, toàn dân xây dựng và bảo vệ với sức mạnh tổng hợp của cả chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá tư tưởng, quốc phòng - an ninh tại cơ sở, với lực lượng tổng hợp từ trong dân và từ cơ sở, nền tảng của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, trong đó xây dựng thế trận lòng dân có ý nghĩa quyết định. 6. Quốc phòng an ninh gắn bó chặt chẽ với nhau và quốc phòng an ninh gắn với kinh tế - văn hoá - xã hội, cùng tác động lẫn nhau và thúc đẩy nhau phát triển trên cơ sở lấy cơ sở làm địa bàn, lấy nhân dân làm chỗ dựa, quân sự, công an làm nòng cốt. 7. Xây dựng làng (bản), xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, điều hành tổ chức thực hiện của chính quyền, cơ quan quân sự, công an, các ngành, đoàn thể làm tham mưu phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong hệ thống chính trị, huy động lực lượng và sức mạnh toàn dân. Mục tiêu là xây dựng cơ sở vững mạnh về mọi mặt. Những biện pháp triển khai thực hiện tiếp theo là: Phải quán triệt nghiêm túc và xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 về quốc phòng - an ninh, đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Tiếp tục khảo sát, soát xét, đánh giá, phân loại để làm căn cứ xây dựng từng vùng, nhất là nơi xung yếu, trọng điểm; cùng cơ sở giải quyết các điểm nóng, đúc rút kinh nghiệm để phòng ngừa. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở, dân quân tự vệ, dự bị động viên, dân phòng làm nòng cốt, xây dựng cốt cán trong các tầng lớp nhân dân, nắm quần chúng, xây dựng thế trận lòng dân. Tăng cường tính năng động, sáng tạo của địa phương lo cho dân, vì dân, dân bàn, giải quyết được những chính sách kịp thời; nghiên cứu vận dụng phát huy hiệu lực của Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở cấp huyện, tỉnh; coi trọng sơ kết, tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm để tiếp tục xây dựng Quân khu vững mạnh toàn diện. Quán triệt Nghị quyết Trung ương 3, Tỉnh ủy Hà Tĩnh ra Chỉ thị 09/CT-TU về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh. Tiếp đó, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình ra Nghị quyết 04/NQ (ngày 14-12-1992) về lãnh đạo nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, phòng chống “diễn biến hòa bình” của địch. Sau hội nghị sơ kết của Quân khu, Hà Tĩnh là tỉnh đầu tiên tổ chức sơ kết 2 năm xây dựng xã, phường cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu (11-1992). Hội nghị nêu lên nhiều nhân tố mới, cách làm mới của các huyện Can Lộc, Hương Sơn, Công an tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Đồn biên phòng 751, thị trấn Hương Khê. Đặc biệt là trên cơ sở kinh nghiệm xã Thanh Lộc từ điểm nóng trở thành điểm sáng, tỉnh Hà Tĩnh đã hình thành một số cụm xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. ______________________________________________ 1. Về cơ chế của khu vực phòng thủ sau 5 năm xây dựng diễn tập khu vực phòng thủ (1988-1992) được xác định lại là: "Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý điều hành theo pháp luật, cơ quan quân sự - công an là trung tâm, cùng các ban ngành - mặt trận - đoàn thể làm tham mưu theo chức năng và tổ chức thực hiện; chỉ huy trưởng quân sự (công an) chỉ huy thống nhất các lực lượng thuộc quyền". (Sách “Tổng kết công tác chỉ huy tham mưu chiến lược trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1975-2000”, Nxb QĐND, HN.2001, trang 102). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 03:02:20 pm Giữa tháng 11-1992, Quân khu tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm công tác động viên (1981-1991) nhằm đánh giá, rút kinh nghiệm để chuyển sang phương thức động viên mới phù hợp thực tiễn đất nước. Hội nghị nêu rõ: Trong 10 năm qua, Quân khu, tỉnh, huyện và các đơn vị nhận thức rõ vị trí công tác động viên quân đội, nhất là sau khi có Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị chuyển hướng chiến lược quốc phòng, đã nhanh chóng triển khai các nội dung bảo đảm cho yêu cầu sẵn sàng chiến đấu, cả trong phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ; đồng thời sẵn sàng động viên cho chiến tranh. Việc lập kế hoạch động viên - mở đầu là KHĐV-81, đăng ký quản lý phúc tra nguồn cho cả Bộ, Quân khu, các địa phương, công tác huấn luyện, thực hành diễn tập động viên được rút kinh nghiệm, bổ sung điều chỉnh, khắc phục mặt yếu tạo được chất lượng ngày càng tốt hơn. Các địa phương thực hiện có hiệu quả cơ chế 02 xây dựng được nền nếp công tác động viên sát thực tiễn. Tuy vậy, công tác động viên còn nhiều khuyết điểm, nhất là nhận thức về ý thức, trách nhiệm của các địa phương, đơn vị có nơi còn yếu, công tác bảo đảm về chế độ chính sách, ngân sách, kinh phí chưa phù hợp. Về phương hướng nhiệm vụ những năm tiếp theo, Hội nghị khẳng định: Tiếp tục xây dựng nhận thức trong đơn vị, địa phương về ý nghĩa có tính chiến lược cả trước mắt, lâu dài của công tác động viên quân đội, đặc biệt trong chuyển hướng chiến lược quốc phòng, tăng cường xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên mạnh, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục gắn chặt 3 nhiệm vụ: tuyển quân, động viên, chính sách hậu phương; nâng cao chất lượng quản lý, huấn luyện, diễn tập động viên, trong đó đặc biệt chú trọng việc quản lý trực tiếp, thường xuyên của xã, phường, cơ quan, xí nghiệp, thực hiện tốt cơ chế 02 trong công tác động viên quân đội. Thực hiện phương thức động viên mới, sang năm 1993, Bộ Quốc phòng tổ chức tập huấn triển khai Nghị định 22 của Hội đồng Bộ trưởng. Căn cứ thực tiễn đạt được trong những năm qua, Quân khu và các địa phương, đơn vị chủ động xây dựng một bước các đơn vị động viên tròn khâu1, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để phát triển. Trước hết, thống nhất giữa địa phương và đơn vị nhận nguồn hiệp đồng chặt chẽ với nhau trong quá trình xây dựng lực lượng dự bị động viên. Tròn khâu là phân cấp để tổ chức xây dựng lực lượng dự bị (người và phương tiện) tạo ra sự hợp lý, cùng nhau chủ động lo, nhất là bảo đảm đúng chuyên nghiệp quân sự, bảo đảm công tác động viên được kịp thời, đầy đủ. Triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và Chỉ thị 18/QP-NV liên Bộ Quốc phòng - Nội vụ (ngày 7-11-1992) về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh bảo vệ vững chắc Đảng, chính quyền, chủ nghĩa xã hội và nhân dân2, Quân khu bổ sung kế hoạch A theo quan điểm Nghị quyết Trung ương 3, tăng cường cả hướng đông, hướng tây, trên không; kế hoạch B; điều chỉnh kế hoạch A2, nhất là ở phía nam có sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng Tham mưu, đáp ứng tình hình mới, sát 5 tình huống; chỉ đạo củng cố xây dựng mạng lưới phòng không nhân dân, thực hành diễn tập phòng không nhân dân, cụm phòng không nhân dân bắn máy bay bay thấp, tên lửa hành trình ở một số địa phương, đơn vị. Quân khu chỉ đạo các địa phương, đơn vị triển khai kế hoạch bảo vệ đường dây 500KV qua 6 tỉnh, 25 huyện trên địa bàn Quân khu. Từ thực tế tình hình các tỉnh phía nam Quân khu bị bão lụt nặng (cuối năm 1992, 4 tỉnh thiệt hại trên 140 tỷ đồng), Quân khu bổ sung kế hoạch phòng chống bão lụt của các cấp, tăng cường hiệu quả phòng, chống kịp thời khi bão lụt xảy ra. Ngày 15-2-1993, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 58/TTg về tăng cường chỉ đạo xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới, thể chế hoá Nghị quyết Trung ương 3 bằng văn bản pháp quy của Nhà nước. Chỉ thị xác định rõ: "Xây dựng cơ sở vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay và là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị, đòi hỏi sự cố gắng và phối hợp đồng bộ, kiên trì của các cấp, các ngành, nhằm đạt được mục tiêu cơ bản ở cơ sở là: ổn định về chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, quốc phòng - an ninh vững chắc, có nếp sống văn minh, lành mạnh, góp phần làm thất bại chiến lược "diễn biến hoà bình" và sẵn sàng đối phó thắng lợi với các tình huống khác". Chỉ thị nêu rõ yêu cầu các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo thực hiện 7 vấn đề cụ thể, 4 biện pháp xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện và quy định hàng năm Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phải báo cáo tình hình và kết quả của việc xây dựng cơ sở lên Thủ tướng Chính phủ3. Chấp hành Chỉ thị 58/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tư lệnh Quân khu ra chỉ thị gửi Bộ chỉ huy quân sự 6 tỉnh tổ chức nghiên cứu quán triệt và có kế hoạch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân triển khai thực hiện. Chỉ thị nêu rõ: Vấn đề xây dựng cơ sở, Quân khu đã sơ kết đợt 2 (9-1992) và tổ chức trong hội nghị liên tịch bàn về nhiệm vụ quốc phòng năm 1993 với chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể 6 tỉnh tại Thanh Hoá. Trong quá trình thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ cần nắm vững nội dung xây dựng chính trị, trận địa lòng dân, ổn định chính trị là mục tiêu xuyên suốt nhất. Trong xây dựng lực lượng chú ý củng cố các phân đội dân quân tự vệ nòng cốt ở xã, thôn xóm và các đơn vị dự bị động viên. Sau khi tổ chức sơ kết xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu ở xã, huyện, bổ sung các phương án phù hợp thực tế cơ sở, chú trọng đối phó các tình huống 1, 2, 3, 4. ______________________________________________ 1. Địa phương đảm nhiệm các khâu: đăng ký, quản lý, sắp xếp biên chế thành các đơn vị động viên theo chỉ tiêu nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu cơ bản về chuyên nghiệp quân sự. Về đơn vị nhận nguồn: tham gia với địa phương công tác quản lý, sắp xếp nguồn, tham gia duy trì sinh hoạt đơn vị. Riêng huấn luyện do đơn vị đảm nhiệm là chủ yếu, địa phương có thể huấn luyện một phần về bộ binh. 2. Chỉ thị 18/QP-NV nêu 7 quan điểm cơ bản và tư tưởng chỉ đạo về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. 3. Khi ra Chỉ thị 58/TTg, Chính phủ đã nghiên cứu từ những kinh nghiệm xây dựng cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu của quân khu 4. Nội dung của chỉ thị phù hợp 5 nội dung xây dựng cơ sở của Quân khu. Chỉ thị bảo đảm tính pháp lý đầy đủ để các cấp chính quyền triển khai thực hiện. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2024, 03:07:45 pm Sau 3 năm theo dõi âm mưu và các loại hình hoạt động phá hoại của địch, Bộ Tổng Tham mưu kịp thời chỉ đạo bổ sung thực hiện nhiệm vụ phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ trước tình hình mới, trong đó dự kiến khả năng sớm muộn Mỹ phải bỏ cấm vận và âm mưu của Mỹ trong việc xoá bỏ cấm vận, bổ sung một số quy định về phương châm và cách xử lý các tình huống cụ thể có thể xảy ra1. Như vậy đến đây, "toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã có được một hệ thống các quan điểm cơ bản và những nhiệm vụ cụ thể về quốc phòng - an ninh, những mục tiêu trọng yếu và một số chủ trương, biện pháp lớn cần tập trung thực hiện”2. Trước tình hình đó, Quân khu và các tỉnh tập trung công tác chính trị tư tưởng, công tác giáo dục quốc phòng, tạo chuyển biến về nhận thức đối với âm mưu thủ đoạn mới của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Mỹ bỏ cấm vận tạo cơ hội đẩy nhanh sự ổn định của ta3; Quân khu kịp thời thông tin rộng rãi trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân về tình hình, nhiệm vụ mới, và những nhận định của Trung ương, Bộ Quốc phòng giúp cho đơn vị, địa phương chủ động công tác tư tưởng, không mơ hồ ảo tưởng mà phải tăng cường cảnh giác cao hơn với những thủ đoạn mới của chủ nghĩa đế quốc. Trên cơ sở đó, kịp thời bổ sung thực hiện nghiêm kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ an ninh chính trị thường xuyên; đồng thời tăng cường đề phòng hoạt động của số cực đoan phản động trong tôn giáo và thủ đoạn hoạt động liên kết với bọn phản động ở nước ngoài, chọn thời cơ chống phá ta quyết liệt4. Cuối tháng 3 năm 1993, Thượng tướng Đào Đình Luyện - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp vào kiểm tra về công tác sẵn sàng chiến đấu của quân khu, 6 tỉnh, Sư đoàn 324, Trung đoàn 273, Sư đoàn 341, Tiểu đoàn tăng và Trung đoàn 176 Thừa Thiên - Huế, các cảng Cửa Thuận, Cửa Việt. Qua vụ xảy ra ở chùa Linh Mụ, thành phố Huế5 (24-5-1993), Quân khu chỉ đạo các đơn vị, địa phương tăng cường biện pháp chủ động phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ mức cao hơn, nhất là nắm chắc tình hình và lực lượng, cả tại chỗ và cơ động, nắm chắc phương châm xử lý các tình huống6, chăm lo công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác dân vận, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xã phường cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, nhất là các vùng trọng yếu. Quân khu và tỉnh Thừa Thiên - Huế cũng rút được những kinh nghiệm về sự phối hợp giữa Quân khu với tỉnh, thành phố, các ngành; phối hợp giữa Thừa Thiên - Huế với các tỉnh bạn (Quảng Trị, Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Ngãi) dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Trưng ương, trên cơ sở đó bổ sung vào kế hoạch A2 của các cấp. Quân khu và các tỉnh chỉ đạo diễn tập A2 cấp huyện, cơ sở, trong đó chú trọng diễn tập ở một số địa bàn trọng điểm như Huế, Vinh. Qua diễn tập, vai trò tham mưu của cơ quan quân sự và công an gắn bó, kịp thời bổ sung nội dung sát tình hình, tình huống hơn, vận hành của cơ chế 02 và hoạt động của hệ thống chính trị hiệu quả, góp phần ngăn ngừa, quy gọn, giải quyết được một số điểm nóng, ổn định tình hình chính trị - xã hội7. ______________________________________________ 1. Chỉ thị 49/CT-TM của Bộ Tổng Tham mưu. 2, 3. Nghị quyết 03/NQ-ĐU của Đảng ủy Quân khu về phương hướng nhiệm vụ quân sự 1993. 4. Như vụ "Đông Xuân khởi nghĩa"- LH90 ngày 7-3-1993 của "Liên đảng cách mạng Việt Nam" do tên Hoàng Viết Cương cầm đầu bọn phản động lưu vong từ Mỹ về định gây rối, đánh phá các mục tiêu chính trị, kinh tế, quân sự quan trọng hòng gây tiếng vang và kích động nhân dân biểu tình, bạo loạn chiếm đài phát thanh, truyền hình, lật đổ chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng ta đã phát hiện sớm, kịp thời dập tắt ngay trước giờ chúng hành động, bắt 42 tên, thu nhiều tang vật và tài liệu. 5. Ngày 21-5-1993, một nam thanh niên tự sát bằng xăng sau chùa Linh Mụ (Huế), được chuyển đến bệnh viện Trung ương Huế và chết. Ngày 24-5, nhân sự việc này, Thích Trí Tựu tổ chức 6 vị ở chùa Linh Mụ kéo xuống đường Lê Lợi kích động xuyên tạc ngăn cản làm ách tắc giao thông. Ta kiên trì giải thích, được nhân dân ủng hộ, bắt 9 bị can xử tội theo pháp luật. 6. Chỉ thị 58/TTg nêu rõ: "Khi có việc phức tạp xảy ra thì phải bình tĩnh, đánh giá đúng thực chất sự việc, có chủ trương, biện pháp phù hợp và kịp thời, không để kéo dài, nhưng không được nóng vội". 7. Trong năm 1993, Quân khu tổ chức diễn tập A2 thêm 29 huyện, thị, thành, 318 xã phường, trong đó có 6/6 tỉnh, 71/75 huyện thị thành, 1.212/1.757 xã phường, 54/1.427 cơ sở tự vệ đã diễn tập A2. Thanh Hoá giải quyết được một số vụ việc ở Hoằng Thịnh, Tiến Lộc; Nghệ An ở Nam Giang... Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:27:18 am 2. Tập trung xây dựng lực lượng chủ lực cơ động của quân khu và các tỉnh thực sự vững mạnh toàn diện, xây dựng xã phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu thành cuộc vận động cách mạng rộng lớn. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII xác định: “Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân với chất lượng cao. Xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại với cơ cấu và quân số hợp lý; nâng cao sức mạnh tổng hợp và sức mạnh chiến đấu... lấy chất lượng chính trị làm chính”. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương về nhiệm vụ quân sự 5 năm (1991-1995), toàn quân tiếp tục triển khai nhiệm vụ trung tâm xây dựng, huấn luyện sát thực tế chiến đấu, sát yêu cầu nhiệm vụ, địa bàn, tổ chức biên chế, trang bị của từng đơn vị phù hợp từng đối tượng tác chiến và cách đánh truyền thống của Việt Nam với phương châm: cơ bản, thiết thực, vững chắc. Tập trung xây dựng các đơn vị cơ sở, các trung đoàn, sư đoàn vững mạnh toàn diện với 5 nội dung theo Chỉ thị 116/CT-TM (ngày 13-12-1988) và Chỉ thị 05/CT-TM (ngày 10-2-1992) của Bộ Tổng Tham mưu, Chỉ thị 69/CT-H (ngày 12-3-1991) của Tổng cục Chính trị về huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Quân khu đã tiến hành nhiều việc như điều chỉnh quân số, giáo dục chính trị tư tưởng, củng cố tổ chức Đảng, tập huấn cán bộ các cấp, huấn luyện bộ đội chủ lực Quân khu, địa phương, dự bị động viên, dân quân tự vệ, giáo dục quốc phòng, hội thi, hội thao, diễn tập, củng cố công tác trang bị kỹ thuật, chăm lo sản xuất nâng cao đời sống. Đồng thời, Quân khu cũng triển khai công tác khoa học lịch sử quân sự, kiểm tra, thanh tra, pháp chế chỉ đạo bình xét đánh giá đơn vị, cán bộ đảng viên, đoàn viên thanh niên; tổ chức thành công Đại hội Đoàn cơ sở và Đại hội Đoàn Quân khu lần thứ 4, động viên, biểu dương, cổ vũ lực lượng đoàn viên thanh niên đi đầu thực hiện nhiệm vụ trung tâm xây dựng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng tổ chức Đoàn cơ sở vững mạnh, xung kích xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện. Trong những năm qua, Quân khu đã tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân sự địa phương, nền tảng là các xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu dần nền nếp, được sơ kết rút kinh nghiệm. Đầu tháng 1-1993, Quân khu tổ chức hội nghị sơ kết 2 năm xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện đối với các đơn vị chủ lực, chủ yếu ở cấp đại đội, tiểu đoàn, lữ đoàn, hội nghị đánh giá những thành tích đạt được và đề ra chủ trương, biện pháp phát triển xây dựng các trung đoàn, sư đoàn mạnh theo 5 yêu cầu, xây dựng khối chủ lực của Quân khu và địa phương theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng chính trị làm nền tảng, bảo đảm thực sự vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ đòi hỏi ngày càng cao như Nghị quyết Đại hội Đảng Quân khu lần thứ V đã xác định1. Trong 2 năm (1991-1992), thực hiện xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, các đơn vị tiến bộ khá toàn diện như Lữ đoàn 414, Lữ đoàn 16, Trung đoàn 206, Lữ đoàn 283, Trung đoàn 335 Sư đoàn 324; nhiều đơn vị trưởng thành rõ rệt trên một số mặt như Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 19, Trung đoàn 9 Sư đoàn 968, Trung đoàn 80, Trường Quân sự Quân khu, Trường Quân sự Quảng Bình, Tiểu đoàn 40 Thanh Hoá, Tiểu đoàn 41 Nghệ An, Đại đội bộ binh Quan Hoá, Đại đội bộ binh Minh Hoá, các kho vũ khí đạn K70 Nghệ An, kho Quảng Bình, KX3 thuộc Cục Hậu cần, K41, KX5, CK2 thuộc Cục Kỹ thuật Quân khu. Hội nghị xác định mục tiêu tập trung thực hiện trong năm 1993 và các năm tiếp theo là: Trên cơ sở xây dựng được các đại đội, tiểu đoàn, phân đội cơ sở thực sự vững mạnh toàn diện có chất lượng cao làm cơ sở xây dựng trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn mạnh toàn diện. Xây dựng sư đoàn bao gồm cả trung đoàn có quân, trung đoàn khung thực sự vững mạnh toàn diện. Các tỉnh phải xây dựng tiểu đoàn tỉnh, đại đội huyện, các phân đội trực thuộc tỉnh thành những tiểu đoàn, đại đội, phân đội thực sự vững mạnh toàn diện. Hệ thống kho trạm của Quân khu, tỉnh, huyện, các đơn vị phải tiếp tục xây dựng theo kế hoạch bảo đảm vững mạnh toàn diện, an toàn tuyệt đối. Nhà trường, bệnh viện tập trung xây dựng đội ngũ khung giáo viên, nhân viên điều trị với tinh thần tất cả vì chất lượng học viên, vì sức khỏe bệnh nhân. Các cơ quan Quân khu, tỉnh, sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, huyện (thị) phải vững mạnh toàn diện theo 5 yêu cầu vận dụng vào điều kiện cụ thể cơ quan các cấp, bảo đảm cơ quan mạnh để chỉ đạo đơn vị. Những biện pháp cụ thể Quân khu cần tập trung xây dựng trong thời gian tới gồm: 1. Xây dựng các tổ chức Đảng, đội ngũ đảng viên gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ thực sự trong sạch vững mạnh, thực hiện nghiêm túc đạt chất lượng cao nội dung yêu cầu đổi mới chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 3, gắn chặt công tác lãnh đạo của chi bộ, Đảng bộ với nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Đây là yếu tố cốt lõi nhất bảo đảm đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chính trị. 2. Tập trung năng lực lãnh đạo, chỉ huy các cấp cho công tác huấn luyện là nhiệm vụ trung tâm thường xuyên, nâng cao năng lực chỉ huy, trình độ chiến đấu của cán bộ chỉ huy và phân đội, xây dựng nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, quản lý đơn vị. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải tăng cường công tác kiểm tra chặt chẽ, kịp thời. 3. Tăng cường mối quan hệ chặt chẽ với lãnh đạo, chính quyền, nhân dân địa phương, thực hiện "quân với dân một ý chí", tham gia xây dựng xã, phường cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu và qua tác động của địa phương để xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. ______________________________________________ 1. Nghị quyết Đại hội Quân khu lần thứ V nêu rõ: “Trên cơ sở xây dựng lực lượng vũ trang quân khu vững mạnh về chính trị mà tập trung đầu tư xây dựng lực lượng chủ lực cơ động của Quân khu và các tỉnh thực sự vững mạnh toàn diện, cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại...". Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:30:17 am Sau một thời gian đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới, cuối tháng 6-1992, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết 03/NQ-TW về "một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng". Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng, Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết 79/NQ-ĐUQSTW về đổi mới và chỉnh đốn Đảng trong Đảng bộ quân đội. Cuối năm 1992, Đảng bộ Quân khu tổ chức quán triệt, tiến hành đợt tự phê bình, phê bình từ trên xuống chi bộ. Trên cơ sở đó, Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nêu rõ vị trí then chốt của công tác xây dựng Đảng trong xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện. Nghị quyết đánh giá, việc xây dựng Đảng bộ đã tập trung xây dựng tư tưởng, tổ chức, cán bộ, định hướng đúng về tư tưởng cho cán bộ đảng viên, quần chúng. Đại đa số cán bộ, đảng viên trung thành với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, con đường xã hội chủ nghĩa, là lực lượng nòng cốt tin cậy trong công cuộc đổi mới, thực hiện nhiệm vụ của lực lượng vũ trang quân khu. Các đại đội chiến đấu đều có chi bộ, các bộ phận quan trọng đều có đảng viên. Sau khi tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm thực hiện Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, cơ chế lãnh đạo của Đảng trong bộ đội chủ lực và lực lượng quân sự địa phương được thiết lập, hoạt động theo quy chế thống nhất. Tuy nhiên, trong Đảng bộ Quân khu tư tưởng trung bình chủ nghĩa; hiện tượng hữu khuynh né tránh, thiếu tính chiến đấu khá phổ biến; số tiểu đội không có đảng viên, trung đội không có tổ Đảng vẫn còn1, chưa có đại đội bộ binh nào có cấp ủy; thiếu cán bộ trung đội trưởng, đại đội phó chính trị chưa khắc phục được; hoạt động của chi bộ đang là khâu yếu nhất, thiếu chủ động sáng tạo, có 25% Bí thư chi bộ yếu cả phẩm chất, trách nhiệm2. Nghị quyết nêu rõ phương hướng trong thời gian tới là: tập trung xây dựng các tổ Đảng, nhất là tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, làm nòng cốt nâng cao sức chiến đấu của quân đội, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong mọi tình huống. Các chủ trương, biện pháp chính là: xây dựng sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, khắc phục tư tưởng trung bình chủ nghĩa, tư tưởng thực dụng. Xây dựng chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên kết hợp chặt chẽ với xây dựng đội ngũ cán bộ, trước mắt tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trung đội, đại đội, đại đội phó chính trị, trợ lý huyện, chăm lo đào tạo bồi dưỡng có trình độ toàn diện cả phẩm chất chính trị, kiến thức, năng lực chỉ huy, quản lý và năng lực tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Tập trung xây dựng chi bộ, cấp ủy cơ sở, đội ngũ bí thư. Điều chỉnh và tích cực phát triển đảng viên bảo đảm các đại đội có quân đều có chi bộ, các bộ phận phân tán có quần chúng đều phải có tổ Đảng hoặc đảng viên. Tăng cường mối liên hệ giữa đảng viên, tổ chức Đảng với quần chúng, chăm lo xây dựng hoạt động của các cơ sở Đoàn, Công đoàn, Phụ nữ, Hội đồng quân nhân3. Trong thời gian này, các địa phương vừa tổ chức sơ kết xây dựng xã phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên cơ sở những nội dung đã được thống nhất tại đợt sơ kết lần 2 của Quân khu, đồng thời triển khai thực hiện Chỉ thị 58/TTg thành cuộc vận động chính trị rộng lớn trong Quân khu, tập trung mục tiêu xây dựng cơ sở chính trị, chuyển vào xây dựng thôn xóm, làng bản, khối phố, kiện toàn các phân đội nòng cốt, xây dựng nhân cốt, giữ vững ổn định chính trị, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở. Qua sơ kết ở 5 tỉnh (Hà Tĩnh tiến hành cuối năm 1992; Thừa Thiên - Huế chưa sơ kết cấp tỉnh); 72/75 huyện, thị, thành và nhiều xã phường, đánh giá bước đầu của các địa phương, số xã phường khá trong toàn Quân khu chiếm từ 45 - 50%, số trung bình 25 - 30%, số yếu, kém còn 10 - 20%. Thanh Hoá sơ kết 4 năm, phân loại có 70% xã phường cơ sở khi có sự việc tự giải quyết được; 24% phải hỗ trợ một phần của trên; 6% cơ sở phải dựa hoàn toàn vào trên. Thanh Hoá cũng là tỉnh mở đầu việc thực hiện việc giữ lại 30 quân nhân người dân tộc sau 2 năm tại ngũ đào tạo bồi dưỡng thêm bằng kinh phí địa phương để làm nòng cốt công tác ở vùng miền núi. Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở các tỉnh đều do đồng chí Bí thư Tỉnh ủy làm trưởng ban, đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm phó ban, các thành viên có: Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, quân sự, công an. Hầu hết các huyện, thị, thành đã có Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở. Song có nơi mới dừng lại ở tổ chức, chưa triển khai lực lượng xuống được nhiều cơ sở hoặc triển khai còn chậm, lúng túng, kém hiệu quả4. Để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 14-3-1993, Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Chỉ thị 37/CT-DUQSTW “Về đẩy mạnh xây dựng chính quy Quân đội nhân dân lên một bước mới”. Chỉ thị nêu rõ: “Tập trung nâng cao trình độ chính quy về trang phục, lễ tiết tác phong quân nhân; thực hiện có nền nếp chính quy trong điều lệnh quản lý bộ đội, trước tiên là các chế độ sinh hoạt hàng ngày, các chế độ sẵn sàng chiến đấu huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, chế độ quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật”. ____________________________________________ 1. Từ năm 1986 đến 1992, tổng số đảng viên chuyển ra khỏi Đảng bộ Quân khu là 10.286, tiếp nhận vào 2.823 và kết nạp 5.723. 2. Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương tổ chức Hội nghị tổ chức toàn quân lần thứ 6 (4-1993) đánh giá công tác tổ chức trong quân đội từ 1986 đến quý I năm 1993 nêu rõ: Chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách nhận thức còn lộn xộn, thực hiện còn lúng túng, hiện tượng vừa bao biện, vừa buông trôi cùng tồn tại, nhưng buông trôi bỏ trống nhiều hơn. Có trường hợp bí thư, cấp ủy thụ động, phụ thuộc vào người chỉ huy, trở thành "vai trò bảo đảm" (sách: Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam 1944-2000, trang 849). 3. Ngày 24-5-1992, Tổng cục Chính trị ban hành quy định về “Tổ chức Hội đồng quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam". 4. Báo cáo số 50/BC-QP của Bộ tư lệnh Quân khu tại Hội nghị liên tịch quốc phòng của quân khu và 6 tỉnh (1993-1994). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:34:24 am Cuối tháng 5-1993, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị triển khai thực hiện chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương trong toàn Quân khu, Hội nghị nêu rõ: Toàn Quân khu tập trung triển khai thống nhất kế hoạch xây dựng chính quy, chấp hành điều lệnh, rèn luyện kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh xây dựng bản chất chính trị của quân đội chính quy hoá quân đội cách mạng, tự giác, thống nhất, nghiêm túc, kiên quyết, là cơ sở trực tiếp để thúc đẩy xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện theo 5 nội dung Bộ Tổng Tham mưu đề ra. Để đạt mục tiêu đó, Bộ tư lệnh Quân khu chủ trương mở một chiến dịch tập trung việc xây dựng rèn luyện điều lệnh, điều lệ, chế độ chính quy cho đội ngũ cán bộ toàn Quân khu gắn với khắc phục các mặt yếu trong Nghị quyết Đảng ủy Quân khu về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Từ các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân khu, các cơ quan Quân khu đến các chỉ huy, tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật của các các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, nhà trường, tỉnh, huyện... đều phải phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ huy làm chuyển biến đơn vị, địa phương. Bộ Tham mưu Quân khu, Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An, Trường Quân sự Quân khu, Sư đoàn 324, Lữ đoàn 414 là các cơ quan, đơn vị điểm của Quân khu. Sau một thời gian đẩy mạnh các mặt xây dựng, nhiều đơn vị bước đầu đã có sự tiến bộ rõ rệt như Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 176, Trường Quân sự Quân khu, các trung đoàn 206, 335, 19, 273, 80; các lữ đoàn 414, 283, các cơ quan quân sự Thừa Thiên - Huế, Nghệ An, Thanh Hoá, cơ quan Quân khu, các kho K41, KX5. Các cuộc diễn tập, tập huấn đều đạt khá, giỏi như: diễn tập tiểu đoàn bắn chiến đấu của Sư đoàn 324, đại đội bắn chiến đấu tấn công phòng ngự của Sư đoàn 341, 2 tiểu đoàn pháo binh bắn đạn thật của Lữ đoàn 16, tập huấn về tác chiến phòng ngự tiến công của Sư đoàn bộ binh trong khu vực phòng thủ ở Sư đoàn 968. Tỉnh Hà Tĩnh tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ lần đầu (từ khi chia tỉnh), cả 10/10 huyện, thị tham gia đều đạt kết quả theo các tình huống đề ra. Các đoàn đại diện cho Quân khu hội thao ở Bộ đều đạt giải cao như: Giải nhì về phòng không, giải ba về trinh sát chấm điểm lần đầu tiên. Đợt kiểm tra chính trị cán bộ cao cấp chủ trì toàn Quân khu có 85% đạt khá giỏi, nhiều đồng chí đạt kết quả cao như: Thiếu tướng Phạm Huy Chưởng, Thiếu tướng Cao Xuân Khuông, Đại tá Nguyễn Hồng Niên, Đại tá Nguyễn Duy Dĩnh, Đại tá Nguyễn Phong Phú, Đại tá Đinh Xuân Tứ, Thượng tá Doãn Yến, Trung tá Phan Sỹ Lý và tập thể Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quân khu1. Đoàn nghệ thuật Quân khu hoàn thành chuyến đi biểu diễn đầu tiên với 46 điểm ở quần đảo Trường Sa, gặp gỡ giao lưu ca hát cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ, trong đó có nhiều đồng chí là con em quê hương Quân khu 4 đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Ngành Kỹ thuật có 44/75 huyện, thị, thành và 85 điểm có kho xây dựng đúng tiêu chuẩn lâu bền, trong đó một số địa phương đã đầu tư kinh phí lớn. Cụm kho CK2 Cục Kỹ thuật và Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An hoàn thành việc chuyển đổi vũ khí trang bị kỹ thuật đảo Mắt, đảo Ngư. Trong xây dựng cơ bản, nhiều cơ quan, đơn vị, nhất là khối quân sự địa phương làm được sở chỉ huy cao tầng của tỉnh, huyện, tạo thuận lợi đưa cơ quan vào nền nếp chính quy. Ngành Hậu cần phát triển thêm điểm đời sống ở Trung đoàn 273 Sư đoàn 341, thực hiện Chương trình 12 quân dân y kết hợp, chương trình trồng rừng tập trung và phân tán theo dự án PAM 4304 đạt nhiều kết quả2. Về sản xuất xây dựng kinh tế, cả 3 khối tăng cường lực lượng, phương tiện thực hiện theo chỉ tiêu được giao; đồng thời tích cực tăng gia tại chỗ3. Nhờ vậy, kết quả đạt được tăng 50% so với năm 1992, với 27,3 tỷ đồng, trong đó khối thường trực đạt 5,8 tỷ, khối sản xuất hậu cần và sửa chữa quốc phòng 3,2 tỷ, khối các doanh nghiệp 18,3 tỷ, góp phần tăng trưởng kinh tế địa phương. Công ty hợp tác kinh tế khai thác 8.068m3 gỗ, xuất khẩu 5.113m3, có vườn ươm 2 vạn cây thông, trồng rừng đạt hiệu quả nhất trong các đơn vị ở Lạc Xao. Bộ tư lệnh Quân khu và các cơ quan tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm 3 năm thực hiện Chỉ thị 240/HĐBT, Chỉ thị 707 của Bộ Quốc phòng về chống tham nhũng, buôn lậu; giải quyết tồn đọng về chính sách 1984-1992 và phương hướng tiếp theo; tiếp đó đánh giá tình hình đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng; sơ kết đổi mới giáo dục chính trị và công tác thi đua cơ sở, công tác huấn luyện quân sự 3 năm; tiến hành Đại hội Công đoàn lần thứ 3; hội thao kỹ thuật toàn Quân khu và sơ kết cuộc vận động "Quản lý sử dụng xe, máy tốt, bền, an toàn, tiết kiệm” 1991-1993; giúp Bộ tổ chức Hội nghị bảo quản vũ khí đạn các đảo ven bờ đạt chất lượng tốt. Trong huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, từ năm 1990, toàn Quân khu đã có sự điều chỉnh thích ứng với tình hình mới. Cùng với huấn luyện theo nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh xâm lược, tăng cường huấn luyện theo nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, kết hợp với chiến tranh xung đột cường độ thấp với lực lượng tại chỗ trong các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố là chính. Cuối tháng 11-1993, Quân khu cùng các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị và Sư đoàn 968 tổ chức diễn tập phòng thủ nam Quân khu mang tên PT-93. Cuộc diễn tập lần này khác các chiến dịch phòng ngự bờ biển trước4 chủ yếu về quân sự. Nay diễn tập chiến dịch phòng ngự trong khu vực phòng thủ, theo quan điểm chiến tranh nhân dân toàn diện như Nghị quyết Trung ương 3 đề ra, kết hợp giữa phương thức tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương với phương thức tác chiến của bộ đội chủ lực trong tác chiến phòng thủ Quân khu, huy động triệt để sức mạnh tổng hợp của toàn dân giải quyết 2 mục tiêu là: đánh bại, đẩy lùi tấn công xâm lược từ biển vào và vu hồi đất liền từ phía tây sang, đồng thời sẵn sàng đập tan mọi hành động bạo loạn lật đổ từ bên trong kết hợp tấn công bên ngoài. Cuộc diễn tập diễn ra với quy mô lớn: Thừa Thiên - Huế có cả thành phố Huế, Trung đoàn 176, một tiểu đoàn dự bị động viên Hương Thủy, một tiểu đoàn của Trung đoàn 176 và các đơn vị bắn máy bay của dân quân tự vệ Huế; Quảng Trị có thị xã Đông Hà; Sư đoàn 968, trọng điểm là Trung đoàn 19. Tổng số lực lượng tham gia diễn tập gồm 350 sĩ quan, cán bộ địa phương và 600 quân tự vệ. Cuộc diễn tập được tiến hành sau khi 6 tỉnh và hầu hết các huyện, thị, thành, 80% xã, phường, cơ sở đã diễn tập thực nghiệm khu vực phòng thủ kết hợp với diễn tập A2, tỉnh Quảng Trị đã diễn tập phòng ngự đảo Cồn Cỏ. Lần này cuộc diễn tập diễn ra với yêu cầu cao hơn, mới hơn. Các lực lượng tham gia đã hoàn thành nhiệm vụ diễn tập theo các tình huống đề ra. Kết thúc diễn tập, đồng chí Tư lệnh Quân khu đánh giá: Cuộc diễn tập này đã đạt mục đích yêu cầu trong hoàn cảnh thời tiết khắc nghiệt5. Cả đạo và diễn các cấp đã đi sâu một bước vào nghệ thuật tác chiến chiến dịch và công tác tham mưu chiến dịch, nắm được nguyên tắc cơ bản về nghệ thuật chiến dịch phòng ngự bờ biển theo quan điểm Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 3 tác chiến trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, tác chiến bảo vệ tại chỗ trong khu vực phòng thủ, đặc biệt là nâng một bước nhận thức về chiến tranh nhân dân, chiến đấu trong khu vực phòng thủ với nội dung mới. _____________________________________________ 1. Tháng 4-1993, Phòng Lịch sử quân sự Quân khu giải thể, còn lại một bộ phận sáp nhập vào Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quân khu. 2. Từ năm 1993-1996, các đơn vị trong Quân khu được phê duyệt 19 dự án trồng rừng với diện tích trên 3.100ha. 3. Tháng 8-1993, Tư lệnh Quân khu ra Quyết định số 366/QĐ-TL thành lập Phòng Kinh tế thực hiện chức năng tham mưu làm kinh tế 3 lực lượng, làm tổng B về mặt đối ngoại. 4. Các diễn tập trước như C81, MB83, MB84... 5. Hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế vụ mùa bị hạn rất nặng, Quảng Trị bị khô cháy trên 18.600ha lúa màu, Thừa Thiên - Huế trên 12.700ha, tiếp đó lũ lụt, mùa màng thất bát, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống của nhân dân và lực lượng vũ trang. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:36:14 am * * * Năm 1994, tình hình kinh tế - xã hội đất nước có bước phát triển mới. Quân khu bước vào năm 1994 có nhiều thuận lợi lớn, nhưng nhiệm vụ cũng rất nặng nề đòi hỏi phải nỗ lực phấn đấu xây dựng tiến bộ, vững chắc hơn năm 1993. Tháng 1-1994, Hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII) diễn ra tại Thủ đô Hà Nội, Hội nghị nêu rõ: đất nước ta đứng trước thời cơ vận hội mới, nhưng cũng chỉ ra 4 nguy cơ: tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và tệ quan liêu; "diễn biến hoà bình” do các thế lực thù địch gây ra. Hội nghị xác định nhiệm vụ chủ yếu về quốc phòng và an ninh từ năm 1994 trở đi: Trong khi tập trung xây dựng đất nước, chúng ta phải coi trọng tăng cường quốc phòng và an ninh, chấp hành thật tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa”. “Cần quán triệt và tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ chung về quốc phòng - an ninh, nắm vững các quan điểm chỉ đạo mà Hội nghị Trung ương 3 đề ra. Tiến hành cuộc đấu tranh toàn diện lâu dài nhằm làm thất bại mọi âm mưu hành động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Tiếp đó, tháng 3-1994, Hội nghị đại biểu Đảng bộ toàn quân giữa nhiệm kỳ xác định rõ phương hướng nhiệm vụ quốc phòng 2 năm (1994-1995). Tổng Bí thư Đỗ Mười - Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương đến dự và biểu dương thành tích của quân đội 1991-1993 và xác định rõ trách nhiệm của quân đội những năm tới là xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng và nhân dân. Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Đảng ủy Quân khu họp đánh giá tình hình, nêu rõ 2 năm 1994-1995 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, cũng là thời điểm chính trị quan trọng kỷ niệm những ngày lễ lớn; đồng thời xác định phương hướng nhiệm vụ quốc phòng của Quân khu và các tỉnh năm 1994 và 1994-1995 với 4 mục tiêu cụ thể, chuẩn bị cho Hội nghị Đảng bộ Quân khu giữa nhiệm kỳ. Mục tiêu cấp bách hàng đầu là trực tiếp chiến đấu phòng chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, kết hợp chặt chẽ sẵn sàng đối phó với các tình huống khác, giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương1. Tiếp đó, Quân khu và 6 tỉnh cũng tiến hành hội nghị liên tịch triển khai thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và chuẩn bị hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng bộ các tỉnh. Chấp hành nghiêm túc Chỉ thị 94/CT-TM của Bộ Tổng Tham mưu, Tư lệnh Quân khu ra Chỉ thị 46/CT-TL (ngày 30-1-1994) gửi tất cả các địa phương bổ sung nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hoà bình” trong tình hình mới. Chỉ thị nêu rõ âm mưu thủ đoạn của đế quốc Mỹ và bọn phản động tay sai đã chuyển sang giai đoạn hành động trực tiếp, liên kết phối hợp trong ngoài thúc đẩy “diễn biến hoà bình” mức độ cao hơn, rộng hơn. Chúng cố gắng tìm cách dựng cớ, dựng ngọn cờ, tạo ngòi nổ ngay trên địa bàn Quân khu, trước hết là phía nam làm điểm đột phá gây rối chống đối lan rộng, khi có thời cơ kích động đẩy nhanh tới biểu tình, bãi thị, bạo loạn lật đổ, dự kiến 5 khả năng có thể xẩy ra trên địa bàn Quân khu. Chỉ thị yêu cầu các địa phương nắm vững và vận dụng đúng đắn phương châm tư tưởng chỉ đạo, hành động của lực lượng vũ trang trong từng tình huống và một số quy định trong thực hiện nhiệm vụ A2 theo đúng chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, bổ sung một số quy định về trường hợp và quyền hạn sử dụng quân đội, về quyển nổ súng, bổ sung điều chỉnh nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị, địa phương. Cùng thời gian này, ở huyện Quỳnh Lưu bùng nổ vụ xung đột gay gắt giữa hai xã Quỳnh Vinh và Quỳnh Thiện. Quỳnh Vinh, Quỳnh Thiện, Quỳnh Dỵ là 3 xã được sáp nhập vào xí nghiệp Quỳnh Mai vào năm 1976, đến năm 1981 tách thành ba xã như cũ. Khi tách, các đơn vị hành chính không có hồ sơ pháp lý và chỉ quản lý theo hiện trạng sử dụng đất. Từ năm 1982, mâu thuẫn tranh chấp xảy ra, huyện, tỉnh giải quyết không dứt điểm. Những ngày cuối tháng 1-1994, một số phần tử xấu ở hai xã lợi dụng tình hình lộn xộn gây rối làm ách tắc giao thông đường số 1. Tỉnh tổ chức lực lượng công an, quân sự tiến hành giải toả, nhưng phải 6 tiếng đồng hồ mới thông đường. Lực lượng giải quyết của huyện cũng giải toả đường nối giữa hai xã, huy động dân công xã Quỳnh Hồng đến bốc dỡ những nhà làm trái phép ở nơi tranh chấp. Chiều ngày 1-2-1994, Đại tá Lê Hải Anh - Phó Tham mưu trưởng Quân khu; đồng chí Bạch Hưng Đào - Phó Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An và một số cán bộ của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh vào làm việc với Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh và một số nhân dân hai xã. Đến ngày 5 tháng 2, sự việc giữa hai xã Quỳnh Vinh và Quỳnh Thiện mới lắng dần. Rút kinh nghiệm vụ xảy ra ở hai xã thuộc huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh chỉ đạo tăng cường phối hợp giữa lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ với công an, biên phòng, các cơ quan, đoàn thể tham mưu cho cấp ủy, chính quyền, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở chỉ đạo các cấp rà xét, đánh giá tình hình cơ sở địa phương, tổ chức phối hợp các lực lượng tập trung giải quyết, loại trừ kẻ xấu, kẻ địch lợi dụng chống phá, kiểm tra củng cố nắm chắc lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, thu hồi vũ khí, chất nổ tàng trữ trái phép. Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế, Nghệ An, các sư đoàn 324, 968, 341, Trung đoàn 176; các lữ đoàn, trung đoàn binh chủng, lực lượng thông tin của Quân khu được giao nhiệm vụ bổ sung điều chỉnh kế hoạch và tổ chức hiệp đồng giữa địa phương, đơn vị theo Chỉ thị 46/CT-TL của Tư lệnh Quân khu. Bộ tư lệnh Quân khu bổ sung tổ chức hoạt động của Sở chỉ huy tiền phương tại Huế. ____________________________________________ 1. Nghị quyết số 14/NQ-ĐU của Đảng ủy Quân khu ngày 3-1-1994. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:38:46 am Bước vào giai đoạn huấn luyện mới, các đơn vị, địa phương tập trung ba khâu trọng tâm là: tập huấn bồi dưỡng cán bộ, bồi dưỡng giáo viên, luyện tập đội hình mẫu. Triển khai huấn luyện gắn với rèn luyện xây dựng chính quy, củng cố kỷ luật, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện1 nhằm mục tiêu chuyển biến cơ bản trong năm 1994 và thực sự vững chắc trong năm 1995. Các cơ quan Quân khu, cơ quan quân sự tỉnh, huyện, sư đoàn, trung đoàn, nhà trường từng bước củng cố, tập trung thực hiện nghiêm túc, kiểm tra uốn nắn cụ thể đều có bước chuyển biến mới bảo đảm thực sự là cơ quan, bộ máy chính quy, thể hiện đúng bản chất chính trị của chính quy hoá, xây dựng đơn vị chủ lực theo đúng Chỉ thị 37/TVĐUQSTW, xây dựng cơ sở địa phương theo đúng Chỉ thị 58/TTg. Đây là định hướng quan trọng, kịp thời đúng đắn theo quan điểm đổi mới về chỉ đạo xây dựng cơ sở chủ lực, địa phương của Quân khu. Sau Hội nghị quốc phòng toàn quốc (11-1993), ngày 12-3-1994, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 19/CP (do Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký) về công tác quốc phòng ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương gồm 3 chương, 18 điểm, nêu rõ 4 nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan Chính phủ, 6 nhiệm vụ của địa phương về công tác quốc phòng, tổ chức, mối quan hệ và chế độ chính sách đối với công tác quốc phòng. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, các cơ quan Quân khu tổ chức quán triệt Nghị định 19/CP và chỉ đạo Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh tham mưu đề xuất triển khai học tập, quán triệt, thực hiện ở các địa phương. Thực hiện điều 30 chương 6 Điều lệ Đảng (khoá VII), Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân khu đánh giá 2 năm kiểm tra Đảng khối quân sự địa phương và xác định mục tiêu tiếp theo. Đảng ủy Quân khu và Tỉnh ủy các tỉnh thống nhất cao xây dựng các tổ chức Đảng theo Nghị quyết Trung ương 3, tăng cường lãnh đạo nhiệm vụ kiểm tra Đảng trong khối quân sự địa phương, phối hợp Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy, Huyện ủy kiểm tra Đảng ủy quân sự Nghệ An và 36 tổ chức Đảng ở cơ quan quân sự huyện. Đảng ủy quân sự tỉnh và Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy hai tỉnh Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế giúp Tỉnh ủy kiểm tra 5 huyện về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng địa phương. Thường vụ Đảng ủy Quân khu và Thường trực Tỉnh ủy 6 tỉnh tổ chức Hội nghị liên tịch chuyên đề về công tác kiểm tra Đảng. Kết quả có 71/76 huyện thị đã thành lập Đảng ủy quân sự thay cho Ban cán sự theo Quy định 72/TW, còn các huyện, thị: Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị, thị xã Đông Hà triển khai chậm; riêng thị xã Cửa Lò mới có quyết định thành lập thị xã. Trong hai ngày 15 và 16-3-1994, Đảng ủy Quân khu triệu tập Hội nghị đại biểu Đảng bộ Quân khu giữa nhiệm kỳ (khoá V). Thượng tướng Lê Khả Phiêu - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị tới dự chỉ đạo Hội nghị. Đồng chí Nguyễn Xuân Chí - Bí thư Đảng ủy Quân khu trình bày báo cáo kiểm điểm thực hiện công tác giữa nhiệm kỳ, quán triệt thực hiện Nghị quyết hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc, toàn quân giữa nhiệm kỳ, tiếp tục khẳng định phương hướng nhiệm vụ Đại hội Quân khu lần thứ V đề ra. Nội dung báo cáo đánh giá: nửa đầu nhiệm kỳ Đảng ủy Quân khu đã thực hiện đổi mới trong nhiệm vụ quốc phòng, tập trung huy động đồng bộ hơn sức mạnh của địa phương, đơn vị vào nhiệm vụ quốc phòng, gắn quốc phòng - an ninh với kinh tế - xã hội đạt chất lượng trên các mặt công tác, có những mặt đi vào chiều sâu cả trong chủ lực và địa phương, cả xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân. Lực lượng vũ trang quân khu được rèn luyện thử thách, lớn mạnh thêm một bước quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mối của Đảng. Quân khu vẫn còn một số mặt còn yếu như: bảo đảm sẵn sàng chiến đấu chưa thực sự vững chắc, tình huống phức tạp chưa loại trừ được bất ngờ. Trong đơn vị chủ lực, cơ quan, cơ sở kho tàng chưa chuyển biến rõ rệt về xây dựng đơn vị mạnh, thực chất xây dựng về chính quy của lực lượng chủ lực mới chỉ ở mức độ ban đầu. Xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu chưa đều, còn nhiều cơ sở trung bình và yếu. Công tác chính trị tư tưởng thiếu hiệu quả chiều sâu; đổi mới và chỉnh đốn Đảng chưa thật rõ; công tác cán bộ còn hạn chế, thiếu những cán bộ tham mưu chuyên sâu giỏi trên các mặt. Công tác chính sách hậu phương cán bộ còn nhiều việc phải giải quyết. Tại hội nghị, Thượng tướng Lê Khả Phiêu phát biểu nêu rõ vấn đề tổng kết một bước việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng của Đảng bộ cấp quân khu giữa nhiệm kỳ cần xem xét, đánh giá và xác định các chủ trương, giải pháp tiếp theo. Yêu cầu trước hết là nhận thức thật đúng về vị trí đặc điểm địa bàn chiến lược của Quân khu, tính chất nhiệm vụ chính trị thực hiện 2 chức năng: vừa xây dựng chỉ huy lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, vừa làm tham mưu xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thực hiện sự quản lý Nhà nước theo đường lối đổi mới của Đảng; luôn luôn nắm vững quan điểm đổi mới nền quốc phòng toàn dân thời bình, đáp ứng yêu cầu chủ động đập tan âm mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, đóng thời sẵn sàng đối phó với các tình huống khác, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy xây dựng kinh tế - xã hội phát triển. Do nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội V có một số đồng chí ủy viên Đảng ủy Quân khu chuyển công tác, nghỉ hưu, hội nghị đã bầu bổ sung 4 đồng chí vào Đảng ủy Quân khu gồm: Thiếu tướng Trương Đình Thanh - Tham mưu trưởng; Thượng tá Phạm Hồng Thanh - Phó Chủ nhiệm Chính trị; Thượng tá Lê Quyết Tiến - Chủ nhiệm Hậu cần; Đại tá Nguyễn Đức Lương - Hiệu trưởng Trường Quân sự Quân khu. ______________________________________________ 1. Chỉ thị 58 của Tổng Tham mưu trưởng và kế hoạch 193 của Tư lệnh Quận khu xác định rõ thực hiện nghiêm túc 4 nội dung: trang phục thống nhất; chấp hành đúng lễ tiết tác phong; thực hiện đúng chức trách, chế độ; quản lý tốt trang bị, quản lý tốt nội bộ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:40:18 am Sau Hội nghị đại biểu Đảng bộ Quân khu giữa nhiệm kỳ (khoá V), Đảng ủy, Bộ tư lệnh chỉ đạo triển khai nhiều việc ở cơ sở, đi sâu vào một số chuyên đề như rút kinh nghiệm hoạt động của Đảng ủy quân sự cấp huyện tại Quảng Bình; xây dựng tổ chức Đảng trong các kho tàng của Ngành Kỹ thuật; xây dựng Đảng trong cơ quan Quân khu tại Bộ Tham mưu; rút kinh nghiệm công tác hành quân dã ngoại vận động quần chúng toàn Quân khu tại Trung đoàn 206; rút kinh nghiệm đơn vị tổ chức đời sống tốt ở Trung đoàn 273 Sư đoàn 341; hội thao thợ bảo quản và thủ kho vũ khí đạn giỏi ở CK2; hội nghị chuyên đề kho quân khí cấp huyện ở Thạch Hà - Hà Tĩnh1; hội nghị quân dân y kết hợp và biểu dương phong trào quân y 5 tốt. Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu đã soát xét, đánh giá triển khai kế hoạch xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Bộ tư lệnh Quân khu làm việc với các Cục, Viện Kiểm sát, Tòa án quân sự, Điều tra hình sự, Thanh tra Quốc phòng Quân khu, Ủy ban kiểm tra Đảng, bảo vệ an ninh xử lý giải quyết các vấn đề về kiến nghị, thư khiếu nại về nhà đất, giải quyết kịp thời vụ việc nội bộ ở Viện 4, buôn bán vũ khí liên quan đến địa bàn Nghệ An, xử lý súng cấp 5 ở Z12, mất súng ở Trung đoàn 654 và một số vụ buôn lậu, tham ô xăng dầu, tài chính. Trong thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, phòng chống “diễn biến hòa bình”, Bộ tư lệnh Quân khu thường xuyên chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương nắm chắc tình hình diễn biến trên thế giới, nhất là âm mưu của đế quốc Mỹ bỏ cấm vận nhưng không bỏ “diễn biến hòa bình” mà càng ráo riết tập trung phá hoại quyết liệt hơn về chính trị tư tưởng, dân chủ nhân quyền, tự do hóa kinh tế... Các thế lực phản động lưu vong cấu kết thành lập “Liên minh thống nhất” thúc đẩy hoạt động của các tổ chức chống đối, tiếp tục tìm cách xâm nhập chống phá, tuyên truyền thành lập khu tự trị của người dân tộc. Chúng ngấm ngầm phát triển đạo Tin lành ở Quảng Trị, vận động lôi kéo người H’Mông tràn vào biên giới phía tây Quân khu, trong đó ở Thanh Hóa có trên 3.000 người. Tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo tập trung phối hợp đưa họ về nơi cũ nhưng một thời gian ngắn hầu hết quay lại. Bọn phản động cực đoan đội lốt Phật giáo đẩy mạnh “Phong trào đấu tranh Phật sự giai đoạn 3”, phong chui một số đại đức, kích động nói xấu ép Ban tự trị Phật giáo Thừa Thiên - Huế từ chức. Nhóm Huyền Quang âm mưu làm giả chúc thư của Hòa thượng Thích Đôn Hậu, lợi dụng lễ Đại tường của Hòa thượng để ra mắt Viện Tăng thống và Viện hóa đạo của Phật giáo Ấn Quang, nhưng ta nắm biết trước âm mưu nên đã kịp thời dập tắt được mưu đồ chính trị nguy hiểm đó. Số cực đoan trong Thiên Chúa giáo tuyên truyền thực hiện “năm thánh hóa gia đình”, phát triển lực lượng, có nơi hình thành “đội bảo vệ nhà thờ”. Một số tên phản động ở Huế bộc lộ tư tưởng chống đối quyết liệt như Nguyễn Văn Lý soạn thảo cái gọi là “Tuyên ngôn 10 điểm” xuyên tạc chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, chống lại Ủy ban Đoàn kết Công giáo nước ta. Ta kịp thời phát hiện, tổ chức đấu tranh làm vô hiệu hóa ý đồ thâm độc của bọn này. Ta cũng đấu tranh kiên quyết xử lý nghiêm minh theo pháp luật số chủ mưu cái gọi là “Tăng đoàn Thừa Thiên - Huế” do Thích Thiện Hạnh cầm đầu chống phá lễ khai giảng Trường cơ bản Phật học tại chùa Bảo Quốc - phường Trường An - Huế (27-11-1994). Ở xã Trung Lương thị xã Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), tình hình diễn biến phức tạp từ cuối 1991. Xã Trung Lương thuộc huyện Đức Thọ; khi thành lập thị xã Hồng Lĩnh, xã Trung Lương chuyển thuộc thị xã Hồng Lĩnh tháng (3-1992). Khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Kiều Thắng không được bầu vào Đảng ủy xã (sau đó có quyết định thôi chức Chủ tịch xã), số bất mãn do bị xử lý tham ô tài sản, mất chức tập hợp lôi kéo một số cán bộ, đảng viên và quần chúng xấu kiện cáo, phong tỏa địa bàn, chặn các tuyến đường ra vào xã gây tình hình rất căng thẳng. Các hoạt động của địa phương hầu như bị tê liệt, sản xuất, đời sống nhân dân địa phương bị đảo lộn, khó khăn. Từ cuối năm 1993, tình hình Trung Lương trở lại tương đối bình thường. Nhưng đến bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp cuối năm 1994, “lực lượng chống tham nhũng” do Kiều Thắng, Kiều Khoái lập ra tiếp tục hoạt động chống đối, ngăn chặn bầu cử. Trước tình hình đó, ngày 21-11-1994, các cơ quan pháp luật của địa phương đã tiến hành bắt 8 tên chủ mưu. Lãnh đạo địa phương tổ chức các đoàn công tác cùng cơ sở tuyên truyền giải thích rõ trong nhân dân về hành vi phạm pháp của số bị bắt, kiện toàn củng cố các tổ chức của xã, tiếp tục triển khai công việc, bảo đảm tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân an toàn đạt kết quả vào ngày 25-12-1994. Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu và các cơ quan đánh giá, đi sâu phân tích tình hình, tính chất, nguyên nhân các sự việc diễn ra, rút kinh nghiệm về thực hiện phương châm, phương pháp xử lý, kịp thời chỉ đạo các đơn vị, địa phương. Vấn đề được đúc rút trước hết là cả cấp trên và cơ sở phải lấy chủ động phòng ngừa là chính, hết sức chú ý nhân tố mất ổn định từ bên trong, bên trên. Những nơi xảy ra điểm nóng thường không phải kinh tế kém phát triển, việc quản lý chính trị nội bộ lỏng lẻo, nhất là tệ tham nhũng. Vì thế, cần tập trung giải quyết tốt, không để xảy ra theo phương châm lấy chủ động phòng ngừa, ngăn ngừa là hiệu quả nhất. _______________________________________________ 1. Đến cuối tháng 5-1994, toàn Quân khu có 49/75 huyện, thị, thành sắp xếp lại kho quân khí theo kết luận của Tư lệnh Quân khu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:43:45 am Chuyển sang giai đoạn 2 huấn luyện, Bộ tư lệnh Quân khu tập trung chỉ đạo rèn luyện chính quy hóa. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác huấn luyện đào tạo cán bộ: Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, “Năng lực của người cán bộ không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có”1. Quân khu lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chuyển trọng tâm huấn luyện đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó trực tiếp là cấp huyện (76 huyện, thị, thành). Giữa tháng 8 năm 1994, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức 4 đợt tập huấn, kiểm tra sát hạch và thực hiện điều lệnh, rèn luyện chính quy và giáo dục chính trị2. Các lớp tập huấn đều đạt kết quả tốt về nhận thức và thực hành tại thao trường. Theo phân cấp, các cơ quan đơn vị tiến hành tập huấn kiểm tra sát hạch 2 khối: khối cán bộ trung sơ cấp, quân nhân chuyên nghiệp gồm 8.103 đồng chí và khối hạ sĩ quan chiến sĩ hơn 12.000 đồng chí. Những kết quả bước đầu trong huấn luyện đội ngũ cán bộ các cấp đã làm chuyển biến sâu hơn về rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy trong lực lượng vũ trang quân khu, Bộ Quốc phòng đã đánh giá cao ý nghĩa mang tính đột phá này. Các đợt tập huấn, kiểm tra trong huấn luyện, rèn luyện các đơn vị, địa phương toàn Quân khu, thực sự nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt kế hoạch huấn luyện, diễn tập; góp phần đạt nhiều giải cao trong hội thi, hội thao ở Bộ. Quân khu dự hội thao lực lượng phòng không ở Bộ đạt giải nhất toàn quân; thi các trung đoàn trưởng, Trung tá Lý Nhật Bản - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 273 Sư đoàn 341 đoạt giải nhất toàn quân và toàn đoàn gồm 10 đồng chí đoạt giải nhì; thi giáo viên dạy giỏi toàn quân có hai giáo viên Trường Quân sự Quân khu đạt giáo viên dạy giỏi cấp Bộ3. Hội thao pháo binh, xe tăng, cơ yếu; diễn tập chiến thuật có bắn đạn thật pháo binh (Lữ đoàn 16); diễn tập bắn kẹp nòng pháo cao xạ (Lữ đoàn 283); diễn tập trung đoàn bộ binh tấn công địch phòng ngự (Trung đoàn 273 Sư đoàn 324) có bắn đạn thật 1 tiểu đoàn; đội chủ lực và đội dân quân tự vệ dự đại hội thể thao quốc phòng toàn quân... đều đạt khá. Cuối tháng 11 năm 1994, Quân khu tổ chức diễn tập thực nghiệm bổ sung phương án phòng thủ thời kỳ đầu chiến tranh bảo vệ vững chắc địa bàn bắc Quân khu mang tên PT-94. Cuộc diễn tập triển khai trên địa bàn các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Lực lượng tham gia gồm Sư đoàn 324, Sư đoàn 341, các lữ đoàn, trung đoàn trực thuộc; thực binh gồm 1 tiểu đoàn dự bị động viên Hưng Nguyên, Tiểu đoàn 41 bộ đội địa phương Nghệ An, Tiểu đoàn 31 đặc công, Tiểu đoàn 12 trinh sát của Quân khu. Trên cơ sở kết quả cuộc diễn tập PT-93 năm 1993, cuộc diễn tập lần này tập trung thực hành chiến dịch trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, kết hợp hai phương thức trong tác chiến phòng thủ Quân khu. Các lực lượng tham gia diễn tập đã hoàn thành yêu cầu theo các tình huống đề ra, góp phần để Quân khu và các địa phương, đơn vị bổ sung phương án phòng thủ tỉnh, thành phố. Sáng ngày 22-12-1994, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu và lãnh đạo tỉnh Nghệ An tổ chức trọng thế lễ mít tinh, diễu binh diễu hành của lực lượng vũ trang quân khu, học sinh, sinh viên, các tầng lớp nhân dân tại câu lạc bộ Lao động - thành phố Vinh kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày Quốc phòng toàn dân. Cùng thời gian này, các tỉnh, các đơn vị đều tổ chức các hoạt động kỷ niệm rộng lớn. Bộ tư lệnh Quân khu cử Thiếu tướng Nguyễn Xuân Chí - Bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh Quân khu và Thiếu tướng Nguyễn Khắc Dương - Phó tư lệnh Quân khu dự ở Thanh Hóa; Thiếu tướng Võ Chót - Phó tư lệnh Quân khu dự ở Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế; Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân khu dự ở Hà Tĩnh; Thiếu tướng Trương Đình Thanh - Tham mưu trưởng Quân khu dự ở Quảng Trị. Cũng trong dịp này, Quân khu hoàn thành và xuất bản công trình "Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975". Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết lời giới thiệu. Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo nội dung, có sự giúp đỡ trực tiếp của Thiếu tướng Trần Văn Ân. Các đồng chí biên soạn gồm: Đại tá Võ Văn Minh, Đại tá Trần Ngọc Quỳ, Đại tá Phan Xuyến, Đại tá Văn Đình Đồng, Đại tá Nguyễn Toàn Thắng, Thượng tá Nguyễn Thanh Hồng, Trung tá Trần Duy Thược, Đại úy Nguyễn Công Thành. Trong năm 1994, các địa phương, đơn vị tu sửa 182 nghĩa trang liệt sĩ, xây dựng 70 bia ghi công, quy tập 883 mộ liệt sĩ, làm mới 100 nhà tình nghĩa và sửa 275 nhà khác, tặng 3.629 sổ tiết kiệm, đề nghị xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đợt đầu tiên cho 1.285 mẹ4. Lực lượng vũ trang quân khu đóng góp ủng hộ nhân dân Cu Ba 160 triệu đồng, ủng hộ các cháu thiếu nhi Liên Xô bị nhiễm phóng xạ đến an dưỡng tại Nghệ An hơn 18 triệu đồng. Hàng năm, đến ngày 22 tháng 12, sư bà Thích Diệu Niệm trụ trì chùa Cần Linh - thành phố Vinh đều đến thăm, chúc mừng Quân khu, tặng quà gửi cán bộ, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ5. Lần này, sư bà đến Sở chỉ huy Quân khu chúc mừng, tặng đảo Cồn Cỏ 3 triệu đồng trong phong trào “Hướng về các chiến sĩ nơi biên giới, hải đảo”. Bộ tư lệnh Quân khu và các cơ quan Quân khu chân thành cảm ơn tấm lòng cao cả bác ái của sư bà Thích Diệu Niệm và các tăng ni phật tử chùa Cần Linh, hứa sẽ chuyển tấm lòng và quà của nhà chùa đến tận tay các chiến sĩ đảo Cồn Cỏ, chúc sư bà và nhà chùa phật sự tốt lành, sống phúc âm theo đường hướng đạo pháp - dân tộc - chủ nghĩa xã hội. ____________________________________________ 1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, H. 1984, tr.4, tr.500. 2. Lớp cán bộ chủ trì Quân khu gồm 107 đồng chí; lớp 76 huyện, thị, thành và các trung đoàn trong các sư đoàn:145 đồng chí; lớp các cơ quan Quân khu: 471 đồng chí; lớp cán bộ các cấp chủ trì kiểm tra về chính trị 216 đồng chí. 3. Đồng chí Nguyễn Minh Nguyên, giáo viên khoa chiến thuật; Phạm Viết Tín, giáo viên khoa học xã hội và nhân văn. 4. Ngày 20-10-1994, Chính phủ ra Nghị định 176/CP về việc thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Ngày 19-12-1994, Nhà nước tổ chức lễ tuyên dương danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” lần thứ nhất tại Hà Nội. 5. Sư bà Thích Diệu Niệm từng là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được gặp Bác Hồ nhiều lần. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 10:54:46 pm * * * Sang năm 1995, bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi, song công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta vẫn đứng trước thách thức lớn. Các thế lực thù địch lợi dụng cơ chế thị trường, tiếp tục chống phá ta. Trước tình hình đó, yêu cầu nâng cao chất lượng của các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trở nên cấp bách. Mở đầu năm 1995, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu đánh giá tình hình, hướng dẫn kế hoạch tổng kết 5 năm cuộc vận động xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu (1990-1995). Qua khảo sát đánh giá của quân khu và các tỉnh, có 56% xã phường khá, 36,5% trung bình, 7,5% còn yếu. Hai năm qua Quân khu đã tập trung xây dựng làm chuyển biến 120 cơ sở yếu kém, 69 xã phường có mâu thuẫn nội bộ; giải quyết được 269 vụ tranh chấp mâu thuẫn nội bộ, 211 vụ tranh chấp đất đai, 29 vụ tham ô, 19 vụ cục bộ bè phái. Các đơn vị chủ lực phối hợp địa phương triển khai xây dựng 85 xã, phường, 23 thôn xóm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Quân khu cử 3 lữ đoàn, 8 trung đoàn, 26 tiểu đoàn, 25 đại đội, 2 đội công tác hành quân dã ngoại vận động quần chúng1 ở 69 xã, 265 thôn xóm bản, trong đó 8 xã biên giới, 12 xã vùng dân tộc, 4 xã vùng tôn giáo, 5 xã vùng biển, tuyên truyền hàng vạn lượt người, làm 12km đường, sửa 25 trường học, dạy học 500 người, khám chữa bệnh và tặng quà cho các đối tượng chính sách trị giá 3,5 triệu, tham gia củng cố 24 chi đoàn. Thành quả các lực lượng vũ trang quân khu góp phần củng cố, giáo dục truyền thống bản chất tốt đẹp của quân đội, rèn luyện kỷ luật, bồi dưỡng nhận thức về kinh tế, văn hóa, xã hội, dân tộc, tôn giáo, gắn bó mật thiết “Bộ đội Cụ Hồ” với nhân dân, nhân dân với “Bộ đội Cụ Hồ”. Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu trực tiếp cùng tỉnh Thừa Thiên - Huế chỉ đạo tổng kết xây dựng cơ sở ở một số xã vùng biển huyện Phú Vang, vùng miền núi huyện A Lưới, một số xã phường ở thành phố Huế; cùng tỉnh Quảng Trị tổng kết một số xã vùng núi Hướng Hóa. Các tỉnh tổng kết thí điểm như: Quảng Bình nghiên cứu cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu; Hà Tĩnh phát triển sâu hơn về cụm và rút kinh nghiệm ở xã Trung Lương; Nghệ An rút kinh nghiệm ở hai xã Quỳnh Vinh, Quỳnh Thiện, một xã vùng công giáo ở Nghi Lộc; Thanh Hóa tổng kết rút kinh nghiệm một số bản, xã vùng núi Quan Hóa. Quân khu chỉ đạo các địa phương, đơn vị theo dõi chặt chẽ những diễn biến như: nhóm phỉ Già Xay Phia từ ngoại biên lén lút xâm nhập hoạt động phía tây huyện Tương Dương móc nối mua vũ khí, muối...; người H’Mông ở Tây Bắc tiếp tục kéo vào Pù Nhi và một số nơi ở Tây Nguyên. Các thế lực thù địch đứng sau đạo Tin Lành truyền đạo trái phép về Hướng Hóa, Cam Lộ. Khách nước ngoài tăng nhanh, nhất là ở Thừa Thiên - Huế. Đoàn MIA hoạt động dài ngày ở Quảng Trị, phát hiện có cả chuyên viên Mỹ thuộc CIA. Các địa phương, đơn vị đều tăng cường nắm tình hình địch, phối hợp lực lượng trinh sát, điệp báo, quân báo nhân dân chủ động xử lý các tình huống. Đầu tháng 4 năm 1995, Bộ tư lệnh Quân khu họp với Chủ tịch Ủy ban nhân dân, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự và một số ban ngành các tỉnh về thực hiện Nghị định 19/CP, Chỉ thị 610, triển khai công tác giáo dục quốc phòng thành môn học chính thức trong hệ thống các trường chính trị, hành chính, đoàn thể địa phương các cấp2, quán triệt thực hiện Pháp lệnh bảo vệ công trình quốc phòng, triển khai làm kế hoạch B sát với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương3 và yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới. Tiếp đó, Quân khu tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm chuyên đề về xây dựng dân quân tự vệ biên giới 5 năm (1991-1994). Tham dự có đại biểu đại diện của 17 huyện biên giới trong Quân khu. Hội nghị đánh giá một số thành tựu đã đạt được ở các xã như Hồng Vân - Thừa Thiên-Huế, Tân Phước - Quảng Trị, Thượng Hóa - Quảng Bình, Nậm Cắn - Nghệ An, Sơn Kim - Hà Tĩnh, Xuân Thủy - Thanh Hóa... Đồng thời nêu lên một số xã phong trào dân quân tự vệ chưa phát triển. Hội nghị thảo luận thống nhất các chủ trương, biện pháp chủ yếu trong thời gian tới là phải trên cơ sở xây dựng làng, bản, xã an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu để củng cố, xây dựng hoạt động của dân quân tự vệ biên giới, coi trọng đào tạo bồi dưỡng cán bộ quân sự người dân tộc, xây dựng lực lượng nòng cốt ở từng làng, bản với tổ chức từng tổ, tiểu đội, phối hợp bộ đội biên phòng tuần tra canh gác bảo vệ biên giới, gương mẫu chống tái trồng thuốc phiện, thực hiện định canh định cư phát triển sản xuất, xây dựng các điểm sáng biên giới. ____________________________________________ 1. Thực hiện Chỉ thị 137 của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chỉ thị 127 của Tổng cục Chính trị, Chỉ thị 05 của Tổng Tham mưu trưởng và Chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân khu về công tác dân vận. 2. Tháng 12-1990, Bộ Quốc phòng và Bộ Giáo dục - Đào tạo tổng kết 10 năm (1980-1990) phối hợp huấn luyện quân sự, đổi huấn luyện quân sự thành giáo dục quốc phòng, cùng triển khai giáo dục quốc phòng trong các trường trung học dạy nghề, cao đẳng, đại học; năm 1994 thống nhất thực hiện ở các trường chính trị, hành chính, đoàn thể. 3. Các tỉnh triển khai bước đầu một số khu công nghiệp, cửa khẩu quốc tế, cảng, mở rộng du lịch, thành phố Vinh được nâng lên thành phố loại hai năm 1993, thị xã Thanh Hóa nâng lên thành phố Thanh Hóa... Tỉnh Thanh Hóa năm 1994 đã vượt ngưỡng cửa tỉnh đạt 1 triệu tấn lương thực/năm. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 10:57:26 pm Ngày 3-2-1995 đúng vào dịp kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Đảng, Quân khu và tỉnh Hà Tĩnh tổ chức khởi công xây dựng đường ven biển Nghi Xuân - Hộ Độ mang tên đường 22-12 có ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh dài 37,5km chạy dọc ven biển nối liền phía bắc, phía tây của tỉnh với thị xã Hà Tĩnh. Đường 22-12 cũng là đường tránh thuận lợi nối thông Bắc - Nam khi đường 1A đoạn qua bắc Hà Tĩnh bị lũ lụt gián đoạn. Đầu tháng 3 năm 1995, Quân khu khởi công xây dựng mở rộng Nhà máy xi măng 19-5 với công nghệ lò đứng công suất 8 vạn tấn/năm nhằm tăng năng suất, chất lượng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, phát triển kinh tế địa phương. Hướng tới kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng 8, Quốc khánh 2-9 và 50 năm ngày truyền thống các lực lượng vũ trang quân khu, Quân khu và các địa phương phát động phong trào giúp đỡ, phụng dưỡng các “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, thương binh nặng chuyển về địa phương, giải quyết các vấn đề chính sách tồn đọng sau chiến tranh, từng bước giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo cho các đối tượng chính sách. Trong đợt đầu phong trào nhận phụng dưỡng các “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, các đơn vị trong Quân khu nhận phụng dưỡng 67 mẹ, Nhà máy xi măng Bỉm Sơn: 200 mẹ, Nhà máy thuốc lá Thanh Hóa: 100 mẹ, Nhà máy đường Lam Sơn: 84 mẹ, tỉnh Nghệ An: 159 mẹ... Quân khu đã có 3.239 bà mẹ được tuyên dương và truy tặng danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”1. Các địa phương tiếp tục xét đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Việc xét duyệt, phong tặng và nhận phụng dưỡng các “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đánh giá đúng công lao và sự hy sinh to lớn của các mẹ, có tác động sâu sắc đến tư tưởng tình cảm của quân và dân Quân khu, nỗ lực phấn đấu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới của Đảng. Thực hiện chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Thường vụ Đảng ủy Quân khu tổ chức quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII và Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng, tổng kết 5 năm công tác kiểm tra Đảng của Quân khu nhiệm kỳ V và 3 năm thực hiện đổi mới và chỉnh đốn Đảng, chuẩn bị một bước cho Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VI. Quân khu cũng tổ chức sơ kết thực hiện quy chế thanh niên, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn; công tác bảo vệ an ninh, bảo vệ chính trị nội bộ; tiếp tục triển khai thực hiện chỉ thị chống tham nhũng, buôn lậu, thực hành tiết kiệm. Cục Chính trị Quân khu tổ chức rút kinh nghiệm chuyên đề về công tác đảng, công tác chính trị trong động viên quân dự bị ở huyện Đô Lương; hội nghị biểu dương phong trào phụ nữ giỏi toàn Quân khu; thi các Chủ tịch Công đoàn giỏi, thi Bí thư chi bộ ở cơ sở2, hội diễn nghệ thuật quần chúng nhân dịp kỷ niệm các ngày lịch sử đất nước, quân đội, Quân khu trong năm 1995. Cùng thời gian này, Thường vụ Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết lãnh đạo cuộc vận động "Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm", thành lập Ban chỉ đạo công tác giữ gìn, bảo quản tốt các loại vũ khí trang bị kỹ thuật, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu lâu dài. Hội đồng khoa học Quân khu xét khen thưởng các sáng kiến của Ngành Kỹ thuật năm 1994, khen thưởng 13 sáng kiến, trong đó có những sáng kiến, sáng chế mới nhất như của đồng chí Lê Xuân Minh - phân xưởng sửa chữa súng bộ binh X41 nghiên cứu cải tiến thành công súng CKC bắn liên thanh, bắn thử đạt chất lượng tốt; đồng chí Nguyễn Đình Quế -phân xưởng cơ khí X41 sản xuất được bộ chày cối dập các chi tiết phụ sửa chữa súng AK (nhất là vũ khí cấp 5 đưa về xưởng). Nhân dịp này, Bộ trưởng Quốc phòng khen thưởng 2 sáng kiến cải tiến kỹ thuật của xưởng X4673 gồm: sáng kiến lắp đặt pa-lăng cầu chuyển khẩu độ 11 mét trong nhà xưởng rộng 15 mét và sáng kiến tiện ren đầu trục xe ô tô bằng phương pháp chép hình. _____________________________________________ 1. Thanh Hóa: 1.125 mẹ, Nghệ An: 664 mẹ, Hà Tĩnh: 346 mẹ, Quảng Bình: 172 mẹ. Quảng Trị: 498 mẹ, Thừa Thiên - Huế: 434 mẹ, trong đó có mẹ Trần Thị Mít xã Hải Phú - Quảng Trị có 7 con và 1 cháu nội là liệt sĩ. 2. Có 19/20 Đảng bộ trực thuộc tổ chức thi 782 Bí thư chi bộ, số khá giỏi đạt 36 - 94%. 3. Z167 của Tổng cục Kỹ thuật được sáp nhập với X46 của quân khu 4 thành xưởng 467 thuộc Quân khu 4; Z171 Tổng cục Kỹ thuật cũng được bàn giao cho Quân khu 4, hình thành cụm kho CK3. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 10:59:00 pm Ngày 8-5-1995, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu các cơ quan Quân khu phấn khởi và vinh dự được đón Cố vấn Phạm Văn Đồng vào thăm Nghệ An, thăm Quân khu trong dịp kỷ niệm 105 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu báo cáo với cố vấn về tình hình của Quân khu, công tác sẵn sàng chiến đấu, xây dựng cơ sở, xây dựng Đảng, sự phối hợp giữa Quân khu và các tỉnh thực hiện nhiệm vụ quốc phòng địa phương theo đường lối đổi mới của Đảng. Đồng chí Cố vấn Phạm Văn Đồng nói chuyện thân tình và căn dặn cán bộ chiến sĩ, các lực lượng vũ trang quân khu trên quê hương Bác Hồ kính yêu phấn đấu mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Quân khu trong tình hình mới. Đúng vào dịp kỷ niệm 105 ngày sinh của Bác, Công ty hợp tác kinh tế Quân khu hội thảo kỷ niệm 10 năm (1985-1995) thành lập. Trung tướng Phan Thu - Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và kinh tế; các đồng chí Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, lãnh đạo các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, các tỉnh Bô Li Khăm Xay, Khăm Muộn, Xiêng Khoảng (Lào) và trực tiếp là Tổng công ty phát triển miền núi Lào BPKP đã đến dự. Đồng chí Tư lệnh Quân khu thay mặt Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đánh giá: Ra đời từ cuối thời bao cấp, 10 năm qua với định hướng đúng, đổi mới tư duy trong hợp tác kinh tế với bạn Lào, chủ động, năng động sáng tạo trong thực hiện, công ty trở thành doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng hàng đầu của quân khu. Sự phát triển của công ty tạo tiền đề cho Quân khu tìm thêm hướng sản xuất làm kinh tế trên một địa bàn có nhiều khó khăn, để phát triển, góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt - Lào. Nhân dịp này, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tặng Công ty bức trướng “Năng động sáng tạo, kinh tế - quốc phòng giỏi, đoàn kết quốc tế tốt”. Trong thời gian này, Quân khu tổ chức lễ đón nhận Sư đoàn 337 từ Quân khu 1 trở về lại với đội hình Quân khu sau hơn 15 năm lên đường làm nhiệm vụ ở biên giới phía Bắc theo mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng. Quân khu và Quân khu 1 đã phối hợp thực hiện bàn giao, tiếp nhận chu đáo. Sư đoàn 337 hành quân về đứng chân trên địa bàn Quân khu 4 đúng kế hoạch, an toàn. Sư đoàn đóng quân tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh, đã nhanh chóng ổn định các mặt và triển khai thực hiện nhiệm vụ mới. Được Quân khu giao kiểm tra nhận nguồn hơn 8 ngàn quân dự bị, trong đó có trên 700 sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp, Sư đoàn đã chủ động về các địa phương phúc tra, quản lý nắm quân số, bảo đảm đạt yêu cầu theo quy định. Đầu tháng 9-1995, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu phối hợp cùng các tỉnh tổ chức tổng kết 5 năm cuộc vận động xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu (1991-1995). Các đồng chí chủ trì cấp ủy, chính quyền, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở, các ban ngành, đoàn thể, cơ quan truyền thông đại chúng, công an, quân sự, biên phòng và 12 cơ sở đã về dự1. Trung tướng Lê Hai - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thay mặt Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đến dự, chỉ đạo hội nghị. Tại hội nghị, 12 báo cáo được trình bày và 11 ý kiến của lãnh đạo địa phương tập trung đánh giá những mặt thành công, hạn chế, những vấn đề mới đặt ra trong xây dựng cơ sở. Trung tướng Lê Hai phát biểu đánh giá hội nghị tổng kết lần này phản ánh được ý chí của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân, lực lượng vũ trang trên toàn Quân khu. Cuộc vận động xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu đã thể hiện quan điểm quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong tình hình mới, tư duy mới về quốc phòng an ninh. Chính trên cơ sở thực tiễn và vận động xây dựng cơ sở của Quân khu 4 cùng với thực tiễn xây dựng cơ sở của Quân khu 5 và một số địa phương khác mà Chỉ thị 58/TTg của Thủ tướng Chính phủ ra đời. Đồng thời Chỉ thị 58/TTg cũng tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng xã, phường cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu của Quân khu 4. Thực tế khẳng định xây dựng cơ sở, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là vấn đề thiết yếu trong cuộc đấu tranh quyết liệt trong giai đoạn mới, phù hợp với sự phát triển của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quân khu 4 có vị trí chiến lược quan trọng, Thừa Thiên - Huế là một trong những trọng điểm của cả nước, cần tiếp tục chăm lo xây dựng cơ sở, xây dựng thế trận lòng dân trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Quân đội, các lực lượng vũ trang quân khu cần tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác dân vận, tham gia xây dựng cơ sở. Thay mặt Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu, đồng chí Tư lệnh Quân khu kết luận hội nghị nêu rõ: Chủ trương của Quân khu và 6 tỉnh phát động cuộc vận động, sơ kết, tổng kết xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quan điểm đổi mới của Đảng và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò tổ chức cơ sở, đặt đúng vai trò nền tảng của cơ sở trong thế trận phòng thủ tỉnh, huyện, của thế trận lòng dân. Mô hình xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu gồm 5 nội dung đã xác định phù hợp với tình hình và yêu cầu đặt ra cho cơ sở trong tình hình hiện nay nên đã được cơ sở tiếp nhận và đi vào cuộc sống, đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng, góp phần thúc đẩy xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, tạo được thế ổn định chung địa bàn Quân khu trước những thách thức quyết liệt. Trong 5 năm qua, Quân khu đã xây dựng được 1.775 xã, phường, trong đó có 32,45% vững mạnh toàn diện, 35,5% khá, 25,7% trung bình, 6,35% yếu. Xây dựng cơ sở toàn diện theo 5 nội dung với mối quan hệ tác động nhau, thúc đẩy lẫn nhau, lấy xây dựng chính trị “trận địa lòng dân” làm cơ sở (gốc) xuyên suốt, quyết định nhất. Phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, thực hiện chính sách hậu phương quân đội là điều kiện, là động lực thúc đẩy các mục tiêu khác. Xây dựng quốc phòng - an ninh là mục tiêu góp phần tạo ổn định, thúc đẩy kinh tế - văn hóa - xã hội phát triển. Thông qua thực hiện 5 nội dung, nổi bật quan điểm quân đội trở về với cội nguồn, quan hệ máu thịt quân dân càng được củng cố, tăng cường truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, truyền thống cách mạng tốt đẹp của Quân khu và từng địa phương ngày càng được phát huy. ____________________________________________ 1. Cấp tỉnh mỗi tỉnh 21 đại biểu; 76 huyện, thị, thành mỗi nơi 4 đại biểu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:00:49 pm Xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu là nhiệm vụ chiến lược quan trọng vừa lâu dài, vừa cấp bách. Mục tiêu trong các năm tới là: quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, các nghị quyết Trung ương, trên cơ sở nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ chế 02, kiên trì thường xuyên và liên tục củng cố xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu gắn với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, giữ vững phát triển cơ sở khá, tập trung xây dựng cơ sở vùng xung yếu, vùng yếu, nơi trọng điểm, xây dựng làng bản thôn xóm, cụm cơ sở thực sự an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng và sức chiến đấu, chủ động đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của địch, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống phức tạp khác, giữ vững ổn định chính trị để thực hiện nhiệm vụ trung tâm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong dịp này, Bộ tư lệnh Quân khu đã tặng bằng khen cho 12 xã, phường, cơ sở tiêu biểu, 6 cờ xuất sắc cho 6 địa phương là thành phố Thanh Hóa, các huyện Diễn Châu, Đức Thọ, Quảng Ninh, Hải Lăng và thành phố Huế. Trong công tác huấn luyện, Bộ tư lệnh Quân khu tiếp tục tiến hành tập huấn, sát hạch kiểm tra phúc tra về điều lệnh, rèn luyện chính quy, bổ sung thêm một số nội dung về quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật cho cán bộ chủ trì toàn Quân khu nhằm thực hiện triệt để Chỉ thị 37 về xây dựng các đơn vị cơ sở chủ lực, địa phương vững mạnh toàn diện. Quân khu kiểm tra cán bộ chủ trì gồm 137 đồng chí, đơn vị kiểm tra cán bộ thuộc quyền là 4.933 đồng chí. Các đơn vị, địa phương thực hiện nhiều mặt công tác lập thành tích kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống lực lượng vũ trang quân khu. Công tác tuyển quân đợt 2 đạt 100% chỉ tiêu với chất lượng khá. Nổi bật là Lữ đoàn 16 phối hợp chặt chẽ với huyện nhận quân Quảng Điền bảo đảm quá trình huấn luyện không có quân nhân bỏ ngũ. Đây là đơn vị điển hình trong toàn Quân khu về việc gắn bó chặt chẽ giữa đơn vị với địa phương trong công tác tuyển quân. Nhiều đơn vị bắt đầu thực hiện tổ chức chu đáo việc bàn giao quân xuất ngũ về các địa phương. Sư đoàn 968 là đơn vị làm tốt việc này. Trung tâm xúc tiến việc làm của Quân khu thành lập cuối năm 1993 qua 2 năm tổ chức học nghề tại trung tâm và X467 cho hàng trăm hạ sĩ quan, quân nhân trước khi xuất ngũ và con em đối tượng chính sách. Thực hiện pháp lệnh bảo vệ công trình quốc phòng, các địa phương khảo sát, lấp phủ, quản lý 152 hang động, khắc phục một số hiện tượng chạy theo lợi nhuận kinh tế du lịch đơn thuần tìm cách sử dụng hang động, công trình quốc phòng làm điểm kinh doanh. Nghệ An và Quảng Bình xây xong các trận địa đại liên theo kế hoạch, Thừa Thiên - Huế nghiệm thu xong đường hầm... Quân khu triển khai công tác quy hoạch đất quốc phòng gồm 424 vị trí. Các địa phương hình thành các khu căn cứ hậu cần khu vực phòng thủ như ở Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Triệu Sơn, Thường Xuân, Thọ Xuân, Bình Điền, Hương Sơn, T92 Quảng Bình, T34 Hà Tĩnh... Ngành Hậu cần phát triển tốt phong trào làm bếp đun than, góp phần làm giảm hẳn nạn chặt phá rừng. Sư đoàn 968 là đơn vị đã thực hiện tốt, được địa phương và nhân dân khen ngợi. 40 huyện, thị, thành xây dựng nhà làm việc 2 tầng, còn lại đang triển khai xây dựng. Ngành Kỹ thuật thực hiện cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm” do Tổng cục Kỹ thuật phát động1, tổ chức hội thao kỹ thuật toàn Quân khu tại cụm kho CK2. Việc thực hiện cuộc vận động và tổ chức hội thao từ cơ sở lên đã làm chuyển biến nhận thức nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, trước hết là lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan và cán bộ kỹ thuật đối với công tác kỹ thuật. Cuối năm 1995, Quân khu có 57/76 kho vũ khí cấp huyện bảo đảm lâu bền; đồng thời chỉ đạo niêm, sắp xếp, bảo quản vũ khí trang bị kỹ thuật bằng vật liệu mới ở các đảo và các kho của Quân khu, ứng dụng có hiệu quả các đề tài khoa học như hoạt động dây chuyền sửa chữa súng bộ binh, sơn điện di, nhuộm đen các chi tiết vũ khí bộ binh, lắp đặt bộ ca bin điện tử tập lái AT-90, hệ thống hàng rào điện tử bảo vệ kho K… Ngoài ra, các lực lượng vũ trang quân khu kịp thời ứng cứu các địa phương 3 tỉnh phía nam bị lũ lụt lớn2, ủng hộ nhân dân 3 tỉnh 100 triệu đồng, trong đó có 67 triệu do cán bộ, chiến sĩ đóng góp. Ngành Quân y phối hợp y tế địa phương dập tắt được dịch sốt xuất huyết lớn ở Quảng Bình, sốt rét ở Nghệ An, Thanh Hóa, dịch tả ở Thừa Thiên - Huế. Năm 1995 cũng là năm công tác xây dựng phát triển Đảng đạt kết quả cao. Quân khu đã kết nạp được 1.011 đảng viên mới, vượt kế hoạch, trong đó đợt 3-2 kết nạp 162 đồng chí, đợt 19-5 kết nạp 249 đồng chí. Cục Chính trị Quân khu tổ chức thi tìm hiểu về truyền thống lực lượng vũ trang quân khu nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập, có 11 vạn bài dự thi của học sinh, sinh viên, thanh niên, cán bộ, chiến sĩ. Các đợt thi của Quân khu do Bộ Quốc phòng tổ chức tiếp tục giành giải cao. Thi lũ đoàn trưởng cao xạ toàn quân, Thượng tá Hồ Thanh Tạo - Lữ đoàn trưởng 283 đạt giải nhất; thi trung đoàn trưởng thông tin toàn quân, Trung tá Nguyễn Cao Bằng - Trung đoàn trưởng 80 đạt giải nhất; thi sửa chữa súng bộ binh toàn quân, đoàn Quân khu 4 giải nhất; dự thi phim phóng sự truyền hình toàn quân, Quân khu đạt 2 giải vàng, 5 giải bạc. ___________________________________________ 1. Ngày 25-2-1995, Thường vụ Đảng ủy Quân khu ra Nghị quyết 52/NQ về lãnh đạo thực hiện cuộc vận động này. 2. Ba tỉnh phía nam bị bão lụt làm 57 người chết, hàng chục người bị thương, cả địa phương và đơn vị vùng lụt thiệt hại 180 tỷ đồng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:01:22 pm Ngày 15-10-1995, Quân khu tổ chức trọng thể lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống. Đến dự buổi lễ có Đại tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị - Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng; Trần Hoàn - Ủy viên Trung ương Đảng - Bộ trưởng Văn hóa thông tin Trưởng ban Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn của Nhà nước; Thủ trưởng các cơ quan Bộ; các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền 6 tỉnh, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại tướng Chu Huy Mân, các đồng chí lãnh đạo Xứ ủy, Khu ủy, Quân khu các thời kỳ; đại biểu các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng, học viện, nhà trường, trường thiếu sinh quân Liên khu 4 cũ, công ty chấn hưng miền núi Lào BPKP, các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, anh hùng lực lượng vũ trang, các đồng chí thương binh, tự vệ đỏ, lão quân, dân quân tự vệ và dự bị động viên, công an, biên phòng, thầy cô giáo, học sinh, sinh viên. Tổng Bí thư Đỗ Mười gửi điện chúc mừng. Nội dung bức điện có đoạn viết: “Truyền thống anh hùng, thành tích và chiến công vẻ vang của quân và dân Quân khu 4 trong chiến đấu và xây dựng suốt nửa thế kỷ qua thật to lớn. Đây là niềm tự hào, phấn khởi chung của toàn quân và toàn dân ta... Mong quân và dân Quân khu 4 hãy ra sức phấn đấu lập nhiều thành, tích xuất sắc hơn nữa, làm cho quê hương Xô-viết Nghệ Tĩnh, quê hương Bác Hồ kính yêu giàu về kinh tế, vững mạnh về quốc phòng - an ninh, văn minh về văn hóa - xã hội, mãi mãi xứng đáng niềm tin yêu của Đảng và nhân dân”. Tại buổi lễ, Đại tá Phạm Văn Long - Phó tư lệnh Chính trị Quân khu đọc lời khai mạc. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân khu đọc diễn văn nêu rõ: Chặng đường lịch sử suốt 50 năm của lực lượng vũ trang Quân khu 4 gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh vũ trang của Đảng bộ và nhân dân 6 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, với những bước trưởng thành và chiến thắng của đất nước, của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. 50 năm qua, bất cứ hoàn cảnh nào, lực lượng vũ trang quân khu luôn luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; biết đánh và biết thắng mọi kẻ thù; gắn bó máu thịt với nhân dân, hậu phương, tiền tuyến đồng lòng đồng sức, luôn luôn vì cả nước, với cả nước; đoàn kết gắn bó thủy chung với bạn. Nửa thế kỷ đã qua, các lực lượng vũ trang quân khu càng phấn đấu cao hơn trong sự nghiệp đổi mới của Đảng, tiếp tục thường xuyên cùng các địa phương chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, củng cố khu vực phòng thủ tỉnh, huyện và cơ sở, tập trung xây dựng xã phường an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu đi vào chiều sâu, vững chắc hơn, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân hùng mạnh với các trung đoàn, sư đoàn vững mạnh toàn diện, lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp với những phân đội nòng cốt có độ tin cậy cao, lực lượng dự bị động viên vững chắc, luôn luôn sẵn sàng động viên, thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế trong tình hình mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trên quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đại tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng phát biểu biểu dương những chiến công, thành tích các lực lượng vũ trang Quân khu 4 đạt được trong nửa thế kỷ qua; đồng thời nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ Quân khu tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang quân khu vững mạnh toàn diện, góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cùng thời gian này, Quân khu tổ chức triển lãm thành tựu kinh tế - kỹ thuật với hàng ngàn sản phẩm, hiện vật tiêu biểu cho bước phát triển mới về sản xuất, làm kinh tế và những thành công sáng kiến, sáng chế kỹ thuật của các lực lượng vũ trang quân khu trong 10 năm đổi mới, đóng góp vào việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong thời kỳ mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Xác định rõ vị trí, đặc điểm, nhiệm vụ của một địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước trước tình hình mới, nắm bắt sớm những yêu cầu mới về chuyển hướng chiến lược quốc phòng, xây dựng lực lượng và thế trận, trong những năm 1991-1995, Quân khu và 6 tỉnh đã chỉ đạo kiên quyết, liên tục và tập trung xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân gắn với xây dựng xã phường cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Kết quả nổi bật là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu chủ động phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, giải quyết tốt các vụ nhạy cảm về chính trị ở phía nam Quân khu và nhiều điểm nóng nổi cộm, không để các thế lực thù địch thực hiện được ý định của chúng, giữ vững ổn định chính trị. Đảng bộ Quân khu đã nắm khâu then chốt “đổi mới và chỉnh đốn Đảng”, đặt lên hàng đầu xây dựng Đảng bộ về chính trị tư tưởng gắn với xây dựng về tổ chức, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong lực lượng vũ trang quân khu và đấu tranh kiên quyết chống các quan điểm thù địch, sai trái, cùng với Đảng bộ các tỉnh xây dựng được đời sống chính trị tinh thần lành mạnh trong nhân dân. Chính từ cơ sở này đã tạo thế và lực đi lên trong quốc phòng - an ninh. Đồng thời quốc phòng - an ninh cũng tạo thế và lực cho kinh tế - xã hội của các địa phương phát triển bước vào thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển mối quan hệ đặc biệt truyền thống với bạn Lào trong tình hình mới. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:07:11 pm III-QUÂN KHU LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ GIÚP BẠN LÀO TRONG THỜI KỲ MỚI Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và phương hướng nhiệm vụ quốc tế đối với bạn Lào cả trước mắt và lâu dài đã được xác định, việc chỉ đạo triển khai thực hiện của quân khu và các địa phương trải qua 2 giai đoạn cụ thể: Trong hai năm 1986-1987, tập trung cùng bạn hoạt động quân sự truy quét địch, giải phóng dân, thu phục phỉ, làm cho địch suy yếu, thất bại; vận động quần chúng xây dựng cơ sở bản, xã vững mạnh theo phương châm 4 mặt và thực hiện 5 chương trình của bạn1, giúp bạn mạnh lên các mặt. Trên cơ sở đó cùng với toàn quân thực hiện điều chỉnh lớn về chiến lược quốc phòng, rút hết quân tình nguyện về nước. Từ 1988 trở đi, thực hiện nhiệm vụ quốc tế với phương thức mới, tăng cường hợp tác giúp đỡ bạn toàn diện, xây dựng lực lượng và phương án sẵn sàng cơ động khi có tình huống, phối hợp tiêu diệt bọn phản động lưu vong xâm nhập, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, cùng các tỉnh trong Quân khu gắn bó chặt chẽ với bạn xây dựng tuyến biên giới hữu nghị, “xây dựng hậu phương chiến lược, căn cứ địa cách mạng của 2 nước thành bàn đạp tiến công của cả 2 hướng chiến lược Tây và Đông”2. 1. Phối họp với bạn đánh bại nhiều thủ đoạn chống phá của địch, xây dựng cơ sở chính trị, củng cố địa bàn chiến lược, phát triển thế và lực cách mạng trước khi rút quân về nước. Thực hiện Chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân khu về nhiệm vụ quốc tế ở Lào, sang năm 1986, sự liên minh chiến đấu và vận dụng phương châm 4 mặt của bạn tiến bộ thêm một bước mới3. Điểm nổi bật là các đơn vị quân tình nguyện của Quân khu qua 2 kế hoạch hoạt động mùa khô tìm được phương thức đánh địch nội địa rất có hiệu quả. Những chủ trương của ta đề ra đúng hướng, đang phát huy tác dụng, được bạn tin cậy và ngày càng gắn bó. Các đơn vị tiếp tục chống xâm nhập, truy quét phỉ, cùng bạn phá nhiều căn cứ phỉ trên các vùng giáp ranh Xiêng Khoảng, Luông Pra Băng, Viên Chăn, Bô Li Khăm Xay; đồng thời xây dựng cơ sở ở khu trung tâm 11 huyện, làm cho địa bàn tuyến trung tâm thuộc 6 tỉnh, Thủ đô Viên Chăn và nam bắc đường 9 ngày càng ổn định, bảo vệ được mục tiêu, bảo đảm an toàn lễ kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Nước (2.12.1975 - 2.12.1985)4, Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ IV và Đại hội Đảng các cấp của bạn. Các phân đội trinh sát, biên phòng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh giúp tỉnh kết nghĩa Hủa Phăn, Xiêng Khoảng đánh địch, xây dựng cơ sở, cùng bạn xây dựng tuyến biên giới hữu nghị an toàn làm chủ hiệu quả. Sư đoàn 968 diễn tập chỉ huy - tham mưu sư đoàn vận động tiến công địa hình rừng núi cho 250 cán bộ trên bản đồ tại Sa Va Na Khẹt. Ở Viên Chăn, ta và bạn phối hợp diễn tập chỉ huy- tham mưu trên bản đồ “Chống địch tập kích bạo loạn vào thành phố Viên Chăn”. Công trường hợp tác khai thác gỗ xuất khẩu của Quân khu và Trung đoàn công binh 414 với thời gian rất ngắn làm xong đường từ Nậm Niên đến nam Nậm Thiên dài 19km (tuyến Lạc Xao - Nhom Ma Lạt) theo yêu cầu phát triển kinh tế của bạn, tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa bàn, xây dựng khu hậu phương chiến lược Lạc Xao5. Quân khu cử cán bộ luân phiên bổ sung sang Lào, dành ưu tiên quân và nhân viên kỹ thuật cho các đơn vị quân tình nguyện bảo đảm 99% quân số, vận chuyển hậu cần, tăng cường đội phẫu thuật của Viện quân y 4 cho Sư đoàn 324; đưa lực lượng lưu động của Cục Kỹ thuật và Trung đoàn tăng thiết giáp 206 sang sửa chữa xe, vũ khí; đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở chuyển sang; mở hội nghị công tác vận động quần chúng xây dựng cơ sở; giáo dục, xử lý các vụ việc kỷ luật về quan hệ quốc tế; nghiên cứu huấn luyện cách đánh, phương thức hoạt động mới. Phát huy sức mạnh tổng hợp trong thực hiện chủ trương kết nghĩa với bạn, cả 3 tỉnh, các huyện, xã có chung biên giới phối hợp giải quyết tình trạng xâm nhập trái phép, cứu trợ bạn lúc thiếu đói, tham gia xây dựng các huyện điểm6. Các đơn vị quân tình nguyện cũng tăng cường phối hợp hoạt động kết nghĩa với các đơn vị và địa phương bạn7. Sau những thất bại nặng nề, kẻ địch điều chỉnh sách lược và thay đổi phương thức hoạt động chống phá cách mạng Lào. Mỹ và Thái Lan cùng các lực lượng phản động tiếp tục gây áp lực thông qua đường viện trợ kinh tế đầu tư của nước ngoài thực hiện diễn biến hòa bình, chia rẽ các nước Đông Dương, lôi kéo Lào; đồng thời tăng cường hoạt động của bọn phản động lưu vong, tìm cách khôi phục các ổ phỉ, căn cứ lõm, xây dựng cơ sở ngầm, dùng lực lượng luồn sâu phục kích, tập kích các hành lang, mục tiêu quan trọng, ra sức lợi dụng các mối quan hệ đồng dạng Thái - Lào hòng lôi kéo Lào ngả sang phía “Tây”, xa dần phía “Đông”8. ______________________________________________ 1. Phương châm 4 mặt của bạn: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội; 5 chương trình: lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, giao thông vận tải và xây dựng con người. 2. Báo cáo 166/BC-ĐU ngày 10-9-1986 của Ban chấp hành Đảng bộ Quân khu tại Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ IV. 3. Báo cáo số 223/BC của Bộ tư lệnh Quân khu. 4. Chỉ thị 249/CT-TL của Thượng tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ các đơn vị ở Lào thực hiện tốt kế hoạch bảo vệ an toàn dịp lễ kỷ niệm 2-12 của bạn trên cả 2 hướng Viên Chăn và Sa Va Na Khẹt. 5. Trước đó, các lực lượng của ta cũng làm đường Hin Hợp - Mường Khi - Sa La Kham, Mường Hướng - Na Kun. 6. Thanh Hóa với huyện Sầm Nưa (Hủa Phăn), Nghệ Tĩnh với Noọng Hét (Xiêng Khoảng), Bình Trị Thiên với Xê Pôn (Sa Va Na Khẹt). 7. Sư đoàn bộ binh 1 của bạn thành lập tháng 5-1985, là sư đoàn cơ động đầu tiên của quân đội nhân dân Lào. Lữ đoàn bộ binh 4 của bạn chuyển thành Sư đoàn bộ binh 4 cơ động vào cuối năm 1987. Về kết nghĩa Sư đoàn 324 với Sư đoàn 1 và huyện Ca Xỉ (Viên Chăn), Sư đoàn 968 với Sư đoàn 4 và huyện At Xa Păng Thoong (Sa Va Na Khẹt), Lữ đoàn 176 với đại đội địa phương và Pắc Xan (Bô Li Khăm Xay). 8. Dưới sự chỉ đạo của một sổ nước đế quốc, Sạt Xai Cha Va Lít có kế hoạch dài hạn 4 bước về việc này (dự thảo nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lào về công tác quốc phòng - an ninh năm 1989). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:10:28 pm Ngày 3-10-1986, Thường vụ Đảng ủy Quân khu ra Chỉ thị số 184/CT-ĐU về nhiệm vụ hoạt động mùa khô ở Lào 1986-1987 nêu rõ: lực lượng quân tình nguyện và làm kinh tế - quốc phòng của Quân khu nhận rõ âm mưu thủ đoạn của địch, hưởng ứng phong trào thi đua chào mừng thắng lợi của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI “mỗi người làm 6 việc tốt theo chức trách; mỗi đơn vị, địa phương giành 6 đỉnh cao theo nhiệm vụ...”, “Tuổi trẻ với Đại hội VI” đã hoạt động đều hơn, liên tục cả mùa khô và mùa mưa, xây dựng cơ sở được triển khai trên địa bàn rộng hơn1, cùng bạn đánh địch ở nội địa, phá các cụm phỉ ở Mường Ca Xỉ, Phu Ma Thao, tích cực tham gia xây dựng các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, lực lượng du kích an ninh và giúp huấn luyện lực lượng vũ trang bạn, buộc địch phải thu hẹp hoạt động, bảo vệ các tuyến giao thông chiến lược và xây dựng cơ sở ổn định hơn. Ngày 28-1-1987, Sư đoàn 968 tổ chức kỷ niệm 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào lần thứ hai. Thượng tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và Trung tướng Ay - Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Thứ trưởng Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Lào đến dự, thăm hỏi, nói chuyện động viên cán bộ, chiến sĩ. Nhân dịp này, được ủy quyền của Nhà nước Lào, đồng chí đại diện Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trao tặng Sư đoàn 968 Huân chương Chiến công hạng nhất. Công trường hợp tác khai thác gỗ xuất khẩu triển khai đồng thời 3 kế hoạch: khảo sát và chặt hạ gỗ xuất khẩu, xây dựng địa bàn chiến lược, kinh tế kết hợp với quốc phòng. Sau 2 năm thành lập công trường có bước tiến vượt bậc giữ vị trí mũi nhọn kinh tế của Quân khu và giúp bạn cả kinh tế - quốc phòng, đồng thời đóng góp lớn cho đầu tư xây dựng Sở chỉ huy Quân khu ở Vinh. Công trường đã chuyển giao cho bạn 300m3 gỗ xây dựng; đội cơ sở về xã Mường Luổng xây dựng đời sống mới, phát triển kinh tế, nắm địch, khảo sát xây dựng các tuyến đường kinh tế, quốc phòng, dân sinh, giúp bạn xây dựng trạm xá 10 giường ở nông trường Bo Cho, vận chuyển cho bạn 156 tấn gạo, 60 tấn xi măng2. Thiếu tướng Chẹng Xay Nhạ Vông - Chủ tịch tập đoàn Công ty Chấn Hưng miền núi BPKP Bộ Quốc phòng Lào có công văn gửi Bộ tư lệnh Quân khu đánh giá những thành công trên đây của Công ty 85: Vượt kế hoạch cả số lượng, chất lượng, bảo đảm kỹ thuật - kỷ luật kinh doanh rừng đồng bộ. Chấp hành mệnh lệnh của Chính phủ Lào, cơ quan và cán bộ Công ty Chấn Hưng xây dựng cả ngầm Nậm Thơn. Công tác bảo đảm an ninh địa bàn, đội cơ sở tốt, kinh tế quốc phòng an ninh hiệu quả, góp phần xây dựng hậu phương chiến lược mỗi bên đều có lợi3. Giữa tháng 6-1987, lãnh đạo tỉnh Nghệ Tĩnh và tỉnh Bô Li Khăm Xay, huyện Căm Cớt4 họp tại Căm Cớt bàn bạc thống nhất chủ trương biện pháp giải quyết kịp thời tình trạng một số kẻ xấu khai thác trầm hương, bắn thú rừng, dùng chất nổ đánh cá, lấy trộm lương thực... gây thiệt hại làm cho một số dân hai xã Nậm Vẹo và Nậm Xắc phải di dời. Tỉnh Nghệ Tĩnh hỗ trợ cho nhân dân hai xã khắc phục một số khó khăn. Trong thời gian này, bạn mở đợt hoạt động lớn phối hợp chặt chẽ với lực lượng quân tình nguyện Việt Nam ở Trung và Hạ Lào cùng lực lượng nội địa của ta (Quân khu 5; Quân khu 4 hướng A Lưới, Hướng Hóa - Bình Trị Thiên) chặn đánh vây bắt tiêu diệt lực lượng lớn bọn phản động lưu vong do Hoàng Cơ Minh trực tiếp chỉ huy từ Thái Lan qua Lào về chống phá Việt Nam. Kết thúc chiến dịch ta và bạn đã diệt và bắt hơn 100 tên, trong đó Hoàng Cơ Minh và bộ tham mưu của chúng đều bị diệt ngay trên đất bạn. Chiến công này có sự giúp đỡ hết lòng của bạn phối hợp thường xuyên với quân tình nguyện và các địa phương vùng biên giới, góp phần “triệt phá” chủ trương cấu kết giữa bọn phản động nam Đông Dương năm 1987 gồm Võ Đại Tôn, Nguyễn Văn Thanh, Hoàng Cơ Minh với bọn phản động Lào, Campuchia5. _____________________________________________ 1. Sư đoàn 324 có 20 đội, Sư đoàn 968 có 20 đội, Lữ đoàn 176 có 9 đội và các đội cơ sở của các tỉnh. 2. Báo cáo 49/BC ngày 10-6-1987. 3. Văn bản lưu trữ tại Lưu trữ Quân khu 4. 4. Trưởng đoàn Nghệ Tĩnh: Vi Chiến Thắng - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Trưởng đoàn Bô Li Khăm Xay: Xiêng Coóng Xây Xông Bát - Ủy viên Thường vụ Bí thư Tỉnh ủy; Trưởng đoàn huyện Căm Cớt: Bun Ni Xỉ Xúc - Chủ tịch Ủy ban chính quyền huyện; đoàn Quân khu 4: Đại tá Hồ Duy Tiếu - Phó Tham mưu trưởng Quân khu. 5. “Tổng kết công tác tham mưu chiến lược thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1975-2000”, tr. 153. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:16:45 pm Từ năm 1986, thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV Đảng Nhân dân cách mạng Lào, đất nước Lào dần dần đi vào thế ổn định và phát triển. Sau nhiều năm phối hợp hoạt động chặt chẽ với quân tình nguyện Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân Lào phát triển, trưởng thành1, từng bước đảm nhiệm nhiệm vụ phòng thủ đất nước, xứng đáng là lực lượng nòng cốt giữ gìn an ninh và bảo vệ Tổ quốc, chống lại âm mưu thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch. Theo sự thỏa thuận giữa Trung ương hai Đảng, Chính phủ hai nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại bộ phận quân tình nguyện ở Lào rút về nước từ cuối năm 1987. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, các cơ quan Quân khu cử cán bộ trực tiếp cùng Sư đoàn 324, Sư đoàn 968, Lữ đoàn 176 chuyển quân; đồng thời làm việc với lãnh đạo chính quyền 3 tỉnh, các địa phương trong Quân khu phối hợp đón quân tình nguyện hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả trở về Tổ quốc, bố trí địa bàn đóng quân nhận nhiệm vụ mới. Trong kế hoạch thống nhất giữa Bộ Quốc phòng ta và Bộ Quốc phòng bạn về điều chỉnh bố trí lại lực lượng quân tình nguyện, trong khi phần lớn lực lượng ta rút về nước, chỉ để lại 3 trung đoàn hỗ trợ cho bạn một thời gian, riêng Quân khu 4 có 2 trung đoàn2. Bộ tư lệnh Quân khu điều chỉnh 750 quân từ Lữ đoàn 176 bổ sung cho Sư đoàn 324 và Sư đoàn 968, bố trí Trung đoàn 1 Sư đoàn 324 ở lại Văng Viêng (Viên Chăn), Trung đoàn 830 Sư đoàn 968 ở Pha Lan, Đồng Hến (Trung Lào). Trước đó, Đội điều trị 34 thuộc Cục Hậu cần bàn giao cơ sở điều trị cho tỉnh đội Xiêng Khoảng, hoàn thành nhiệm vụ rời Viêng Thoong - Mường Lạt trở về nước3. Tiểu đoàn 31 đặc công Quân khu tăng cường cho Sư đoàn 324 chiến đấu, hoạt động ở Bom Lọng, Mường Ca Xỉ, sau đó tăng cường cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ Tĩnh hoạt động ở Mường Mày, Mường Mộc tỉnh Xiêng Khoảng, lập được nhiều chiến công, diệt sở chỉ huy và binh lính địch, xây dựng cơ sở rồi trở về nước. Trong quá trình chuyển quân, các đơn vị chăm lo việc làm quan trọng đầy tình nghĩa là quy tập, cất bốc hài cốt các liệt sĩ đưa về nước, số còn lại bàn giao các đội quy tập tiếp tập chuyển về. Cuối năm 1988, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 830 hoàn thành nhiệm vụ quốc tế ở Lào rút hết về nước. Các đơn vị quân tình nguyện chiến đấu trên đất bạn từ 10 đến 15 năm4 đều được bạn tín nhiệm, đánh giá cao. Những chiến công, thành tích, sự hy sinh lớn lao đã góp phần tô thắm tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt truyền thống giữa quân đội và nhân dân hai nước, cùng nhau chuyển sang phương thức hợp tác, giúp đỡ, phát triển trong điều kiện mới, thực hiện đúng lời dạy của Bác Hồ “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”5. Ngày 4-11-1987 tại Viên Chăn, trong buổi gặp gỡ lưu luyến tiễn đưa cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 324, Thiếu tướng Thoong Lày Com Ma Xít - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào phát biểu nêu rõ: "Cuối năm 1977, tình hình chúng tôi vô cùng phức tạp, bè lũ phản động ra sức móc nối, hoạt động trắng trợn và âm mưu lật đổ chính quyền... Đáp lời kêu gọi của Đảng và Nhà nước chúng tôi, thực hiện các hiệp định về hợp tác toàn diện giữa hai nước, các đồng chí Sư đoàn 324 đã khẩn trương lên đường, kịp thời cùng quân và dân chúng tôi đè bẹp mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù. Đến nay vừa tròn 10 năm thời gian chưa dài so với lịch sử, song thật có ý nghĩa đối với cuộc đời của một đời người. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 324 đã sát cánh cùng quân và dân chúng tôi, no đói có nhau, cùng làm cùng chịu trách nhiệm; coi sự phồn vinh của nhân dân Lào như chính hạnh phúc, no ấm của dân tộc và gia đình mình, luôn luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng và chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả, kiên trì vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, liên tục chiến đấu, công tác, sản xuất, lập nên những chiến công vẻ vang, tận nghĩa hết tình cho nền tự do độc lập hạnh phúc, ấm no của các bộ tộc Lào. Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân Lào chúng tôi không bao giờ quên ơn các đồng chí tình nguyện Việt Nam. Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam anh em đã động viên, giáo dục những người con yêu quý của mình sang giúp đỡ nhân dân và quân đội chúng tôi". Được ủy nhiệm của Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, đồng chí trao tặng Sư đoàn Huân chương anh dũng hạng nhất. Trước đó Sư đoàn 968 và Lữ đoàn 176 cũng đã được Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào tặng Huân chương Ít-xa-la - Huân chương cao quý của Lào. Các cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện sang hoạt động nhiều năm cũng như các đơn vị biên phòng, trinh sát, đặc công, thông tin, vận tải, quân khí, cán bộ cơ quan Quân khu, tỉnh và đơn vị cơ sở sang thời gian ngắn đều thể hiện ý chí chiến đấu và trách nhiệm chính trị cao, vượt mọi khó khăn gian khổ, dám hy sinh vì nghĩa vụ quốc tế cao cả, dũng cảm, kiên quyết, mưu trí hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, vận động quần chúng xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng và kinh tế đời sống giúp bạn6, chấp hành tốt kỷ luật chiến đấu, chiến trường, chính sách quốc tế. Sư đoàn 324 và Trung đoàn 335 thuộc sư đoàn được tuyên dương Đơn vị anh hùng lần thứ 2. Tiểu đoàn 31 đặc công và Tiểu đoàn trưởng Trung tá Đặng Trung Thành cùng Đại đội trưởng Đại đội 3 Hoàng Viết Lượng được tuyên dương Anh hùng. Sư đoàn 968, Lữ đoàn 176, Đại đội 3 biên phòng Thanh Hóa, Đội điều trị 34 Cục Hậu cần, Đại đội 11 biên phòng và Đại đội 20 trinh sát Nghệ Tĩnh, các cán bộ, chiến sĩ như Đại đội trưởng trinh sát Nguyễn Hữu Hiền (Sư đoàn 324), Đại đội trưởng trinh sát Lê Văn Giang và Tiểu đội trưởng biên phòng Nguyễn Trọng Sửu (Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh)... lập nhiều chiến công. Bộ Quốc phòng Lào đánh giá: “Quân tình nguyện Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, đóng góp tích cực vào việc đập tan âm mưu gây bạo loạn lật đổ ở Lào khi chính quyền mới ra đời năm 1976-1977, vào việc giữ gìn trật tự an ninh chống phá các hoạt động phá hoại nhiều mặt của địch. Đồng thời quân tình nguyện cũng đã có nhiều cố gắng tham gia xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - văn hóa ở các địa bàn mình phụ trách”. ______________________________________________ 1. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa V) ngày 11-4-1983 đã xác định yêu cầu đối với các chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam: “Đặc biệt phải lấy việc giúp cán bộ bạn trưởng thành nhanh tự đảm đương được mọi nhiệm vụ làm mục tiêu phấn đấu của mình". 2. Quân khu 2 có 1 trung đoàn ở Mường Sài (Bắc Lào). 3. Ngày 3-4-1987, Bí thư tỉnh Xiêng Khoảng - Dộng Diê thay mặt Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh tặng bằng khen cho đội và ghi vào giấy chứng nhận: “Chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh và hết sức cảm ơn đối với cán bộ, chiến sĩ Đội điều trị 34, cảm ơn Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4, cảm ơn Bộ Quốc phòng Việt Nam, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhân dân Việt Nam anh hùng". 4. Lữ đoàn 176 (Trung đoàn 176 quân tình nguyện trước đây) làm nhiệm vụ ở Lào từ ngày 30-3-1973 đến tháng 10-1987 giúp bạn ở địa bàn 4 tỉnh: Khăm Muộn, Viên Chăn, Xiêng Khoảng, Bô Li Khăm Xay, có 1.167 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương. Sư đoàn 968 và Sư đoàn 324 làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào 2 lần, lần sau từ 1977-1987. Tiểu đoàn 31 chiến đấu ở Campuchia về nước tháng 8-1984, tháng 12-1984 sang chiến đấu ở Lào hết mùa khô 1985-1986. 5. Thư của Bác Hồ ngày 3-4-1953 căn dặn cán bộ, chiến sĩ đi chiến dịch giải phóng Thượng Lào. 6. Trong 10 năm, Sư đoàn 324 phối hợp với bạn truy quét phỉ hơn 1.000 lần, diệt 842 tên, có 1 cấp tướng, 12 đại tá; bắt 456 tên, có 12 cấp tá, làm bị thương 242 tên; thu 652 súng và 12.763 viên đạn. Đưa 50.000 dân về với cách mạng. Đánh tan 3 cụm phỉ lớn ở Phu Bia, Đông Tây Ca Xỉ, Bom Lọng, 12 lần đánh trúng căn cứ đầu sỏ của địch, diệt gọn 1 sở chỉ huy sư đoàn địch, tháo gỡ 245 tên địch ngầm, hỗ trợ bạn bắt 300 tên phần tử xấu. Tuyên truyền 444.000 lượt người dân, xây dựng 260 cơ sở cách mạng tin cậy, giúp bạn xây dựng 1 tiểu đoàn, 6 đại đội địa phương, 27 đội dân quân du kích, 90 tiểu đội tự vệ, 30 đội dân quân cấp bản, 36 đội du kích cấp xã, huấn luyện 500 buổi. Đồng thời xây dựng 196 chính quyền cấp bản, 36 cấp xã, 4 cấp huyện; giúp bạn thành lập 196 chi đoàn thanh niên, 13 tổ chức chi hội phụ nữ, bồi dưỡng giúp địa phương kết nạp 69 đảng viên, 161 đoàn viên; giúp dân 45.000kg gạo, 4.200kg muối, cho vay 470.000kg gạo, điều trị 2.780 lượt người, làm 75 nhà trụ sở chính quyền, trường học, bệnh xá, 91.400 ngày công làm thủy lợi, làm đường... Sư đoàn 968 tiêu diệt 1.029 tên địch, làm bị thương 476 tên, bắt sống 527 tên và thu 911 súng. Bồi dưỡng củng cố chính quyền bản xã 742 lần với 10.826 lượt người. Cùng bạn mở 319 lớp bổ túc văn hóa, xóa mù chữ cho 14.121 người. Cấp cứu điều trị 29.324 trường hợp, góp phần xây dựng 20 địa phương huyện, xã trọng điểm có phong trào khá. Lữ đoàn 176 tổ chức 950 lần truy quét phỉ, diệt 711 tên, bắt 312 tên, thu 346 súng các loại, 21 lựu đạn, 1.250 viên đạn, đưa 2.521 dân ra vùng ta quản lý. Các đội cơ sở phát hiện 577 địch ngầm, hỗ trợ bạn bắt 461 tên, có 97 tên đầu sỏ, vận động ra đầu thú 222 tên, thu 29 súng. Cùng bạn xây dựng củng cố 29 đại đội, 51 trung đội, 166 tiểu đội. Huấn luyện 47 lần với 3.215 lượt người. Tuyên truyền 1.633 lần cho 76.200 lượt người, tham gia bồi dưỡng cốt cán 452 người, phát triển 37 đảng viên, củng cố 112 bản, 45 xã. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 04:06:57 pm 2. Kiên định quan điểm quốc tế của Đảng, chủ động chuyển hướng hợp tác đoàn kết gắn bó keo sơn với bạn Lào theo phương thức mới. Tháng 7-1987, Hội nghị Đảng ủy Quân khu (mở rộng) ra nghị quyết về nhiệm vụ cấp bách trong tình hình mới xác định: “Đối với Lào vừa là nhiệm vụ quốc tế đặc biệt, vừa là nhiệm vụ quốc gia trực tiếp và lâu dài của Đảng bộ, của quân và dân trong Quân khu. Chúng ta cần theo dõi sự phát triển mới tình hình ở Lào để chuyển hướng nhiệm vụ hoạt động cho phù hợp”. Sau khi Quân khu hoàn thành việc rút quân tình nguyện về nước, đúng ngày 22-12-1987 kỷ niệm 43 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Lê Đức Anh - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng đã đến thăm Sư đoàn 324 tại Anh Sơn - Đô Lương. Đại tướng biểu dương những thành tích vẻ vang của sư đoàn làm nhiệm vụ quốc tế đối với bạn Lào, nhắc nhở nhiệm vụ của quân đội, nhiệm vụ của quân tình nguyện trở về, trực tiếp là của sư đoàn trong thời kỳ mới là: “Xây dựng chính quy, sẵn sàng chiến đấu cao, sẵn sàng có lệnh là lên đường”. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu kịp thời chỉ đạo giáo dục các đơn vị về tình hình nhiệm vụ mới, thống nhất nhận thức về việc rút quân tình nguyện ở Lào về nước nhưng nhiệm vụ quốc tế cao cả đối với bạn không thay đổi. Giúp quân và dân Lào là nhiệm vụ chiến lược trực tiếp, thường xuyên và lâu dài của quân và dân Quân khu. Quân khu cũng làm việc với lãnh đạo, chính quyền các tỉnh thống nhất trong điều kiện hoà bình qua lại thuận tiện, cùng tiến hành công cuộc đổi mới, quan hệ hai nước Việt - Lào là quan hệ song phương1, mở rộng thắt chặt tình đoàn kết đặc biệt truyền thống, mối quan hệ hợp tác toàn diện giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển, tăng cường các hoạt động kết nghĩa với bạn trên các mặt giữa tỉnh với tỉnh, huyện với huyện, xã với xã, ngành với ngành, đơn vị với đơn vị. Các đơn vị quân tình nguyện trở về được bố trí đứng chân trên các hướng theo kế hoạch phòng thủ cơ bản của Quân khu2. Bộ tư lệnh và các cơ quan Quân khu tập trung cùng các đơn vị khắc phục khó khăn, củng cố mọi hoạt động dần đi vào nền nếp, nhất là chuyển nhận thức và hành động trước hết trong đội ngũ cán bộ các cấp về giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, thực hiện các chế độ nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, sẵn sàng chiến đấu, chăm lo sản xuất, bảo quản vũ khí trang bị kỹ thuật, xây dựng đơn vị điểm theo đúng lời căn dặn của đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước ta. Các cơ quan Quân khu về sát cơ sở cùng lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị củng cố xây dựng các chế độ nền nếp chính quy trong học tập, huấn luyện sẵn sàng cơ động chiến đấu, giải quyết những khó khăn về đời sống, sinh hoạt, tiến hành cuộc vận động “làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng và bộ máy nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội...”, tổ chức Đại hội Đảng cơ sở và cấp trên trực tiếp cơ sở. Tuy hoạt động ở chiến trường nhiều năm, nhưng các đơn vị vượt qua những khó khăn lớn hòa nhịp nhanh với đơn vị ở hậu phương, nhất là thực hiện các kế hoạch, nhiệm vụ được giao. Qua kiểm tra tình hình, công tác tiến hành Đại hội Đảng ở Sư đoàn 968, Thiếu tướng Lê Đình Sô - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng Quân khu thay mặt đoàn kiểm tra đánh giá: “Tuy mới chuyển quân từ chiến trường nước bạn về Tổ quốc, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trên nhiều mặt, song Đảng ủy và toàn Đảng bộ đã lãnh đạo sư đoàn nhanh chóng ổn định chính trị nội bộ, đưa sư đoàn từng bước đi vào nền nếp, hoàn thành các nhiệm vụ trên giao trong tình hình mới”. Sau khi đoàn cán bộ Quân khu và các đơn vị, địa phương sang bạn nghiên cứu địa hình, nắm tình hình, phối hợp cùng bạn về kế hoạch sẵn sàng chiến đấu (11-1988), từ cuối năm 1988, Quân khu xây dựng kế hoạch C89 và sau đó tiếp tục bổ sung điều chỉnh phù hợp. Các cơ quan Quân khu cùng chỉ huy 3 tỉnh và các đơn vị sẵn sàng làm nhiệm vụ cơ động khẩn trương nghiên cứu phương thức, biện pháp hoạt động nắm địch, bám bạn, nắm dân phù hợp điều kiện mới, bảo đảm thường xuyên cung cấp được thông tin cần thiết cho lãnh đạo chỉ huy và xử lý kịp thời các tình huống khẩn cấp. Công ty 85, lực lượng duy nhất của quân khu còn hoạt động trên đất bạn thực hiện cả nhiệm vụ kinh tế và nhiệm vụ chính trị, bám sát địa bàn xây dựng cơ sở nắm tình hình, đảm nhiệm chức năng chỉ huy đóng quân canh phòng theo kế hoạch đã thống nhất với bạn. ___________________________________________________ 1. Ngày 22-2-1983, trên cơ sở bạn ngày càng trưởng thành và tình hình khách quan của thế giới, khu vực và ở Đông Dương, lãnh đạo ba nước Lào, Campuchia, Việt Nam đã họp Hội nghị cấp cao tại Viên Chăn xác định sự đoàn kết hợp tác toàn diện giữa ba nước, thống nhất những nguyên tắc chỉ đạo mối quan hệ hữu nghị giúp đỡ nhau trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, quan hệ ba nước là quan hệ song phương. 2. Sư đoàn 324 trên tuyến đường 7, Lữ đoàn 176 tuyến đường 8. Sư đoàn 968 tuyến đường 9. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 04:10:00 pm Tình hình ở Lào đối diện địa bàn Quân khu sau khi quân tình nguyện rút về nước, lực lượng phản động Lào tuy tiếp tục bị bạn truy quét liên tục nhưng chúng dựa vào đất Thái Lan vẫn duy trì được một số căn cứ ở vùng núi, âm mưu trở lại chống phá. Lợi dụng chính sách mở cửa của bạn, được sự chỉ đạo của các thế lực đế quốc và hỗ trợ của Thái Lan, bọn phản động lưu vong Lào tranh thủ đưa lực lượng vào nội địa hoạt động và cài cắm ở các địa bàn trọng yếu để phá cách mạng bạn lâu dài, bọn phản động lưu vong người Việt1 từ Thái Lan qua Lào luồn về nội địa ta nhằm mở các đợt hoạt động phá hoại. Giữa năm 1989, đầu 1990, khi một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, bọn phản động Lào tiến hành đợt hoạt động mạnh công khai tuyên truyền lôi kéo quần chúng kết hợp hoạt động vũ trang với nổi dậy hòng thực hiện mục tiêu lật đổ chính quyền cách mạng, lập ra hai vùng, hai lực lượng, hai chính phủ, từ đó kêu gọi quốc tế can thiệp. Bọn phản động lưu vong người Việt ở Thái Lan cũng lợi dụng cơ hội này đẩy mạnh xâm nhập về nội địa. Tháng 8-1989 phát hiện toán của lực lượng phản động Trần Quang Đô gồm 77 tên từ Thái Lan vào Sa Va Na Khẹt định về Việt Nam theo hướng Tà Ôi, Mường Noòng, ta và bạn mở đợt truy quét diệt 17 tên, bắt 31 tên; số còn lại luồn về biên giới bị ta đón chặn và làm tan rã. Trước đó, ta bắt được một đối tượng trong lực lượng phản động người H’Mông ở Xiêng Khoảng xâm nhập Kỳ Sơn; bắt 2 tên phản động lưu vong xâm nhập Hướng Hóa. Những kết quả phối hợp hoạt động của bạn và ta trên phạm vi địa bàn mỗi nước đã góp phần đập tan âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ được thành quả cách mạng, khẳng định bước phát triển mới trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả đối với Lào trong tình hình mới. Quân khu tiếp tục tăng cường công tác sẵn sàng chiến đấu, nhất là hướng tây, đồng thời xây dụng phương án cơ động lực lượng khi bạn yêu cầu, củng cố các đơn vị, nhất là trung đoàn thứ nhất của các sư đoàn 324, 968 và tiểu đoàn thứ nhất của Lữ đoàn 176. Căn cứ vào Hiệp ước đã ký kết giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Lào (ngày 2-3-1989) về việc Việt Nam giúp đỡ Lào xây dựng Trường Quân sự địa phương, Hiệp ước giữa Bộ tư lệnh Quân khu 4 và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sa Va Na Khẹt (ngày 7-5-1989), Quân khu tổ chức đoàn cán bộ chuyên gia sang giúp bạn, trong đó có đồng chí đã từng chiến đấu hàng chục năm ở Lào. Đến cuối năm 1990 đoàn cán bộ chuyên gia Quân khu đã giúp bạn xây dựng xong Trường quân sự địa phương và tổ chức bàn giao cho tỉnh Sa Va Na Khẹt2. Việc hoàn thành xây dựng Trường Quân sự địa phương Sa Va Na Khẹt đúng với quan điểm chủ trương về thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào trong điều kiện mới, trong đó nhiệm vụ quan trọng là giúp đỡ huấn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ địa phương và cơ sở của bạn đạt hiệu quả, được bạn đánh giá cao. Cùng thời gian này, Cục Kỹ thuật tổ chức lực lượng sửa chữa lưu động giúp bạn Lào kiểm tra xe tăng, súng pháo, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu theo kế hoạch đề ra. Thực hiện điều chỉnh lực lượng, tinh giảm quân số, nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu Quân khu quyết định chuyển Lữ đoàn 176 thành trung đoàn dự bị động viên và Sư đoàn 324 còn Trung đoàn 335, Sư đoàn 968 còn Trung đoàn 19 đủ quân, đồng thời chỉ đạo các cơ quan tập trung bồi dưỡng công tác động viên, ưu tiên nguồn động viên cho 3 đơn vị; chỉ đạo chặt chẽ huấn luyện và diễn tập theo kế hoạch. Hai Sư đoàn 324 và 968 đã tổ chức diễn tập chỉ huy tham mưu 2 cấp có một phần thực binh đánh dấu trình độ tổ chức chính quy. Cuộc diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, diễn tập A2 ở các địa bàn trọng yếu của Quân khu, các địa phương và diễn tập phòng thủ nam Quân khu mang tên PT-93, bắc Quân khu PT-94 đều quán triệt Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng, Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị (khóa VII), Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) và Nghị quyết Đại hội Đảng Quân khu lần thứ V3, trong lãnh đạo, chỉ huy, điều hành, công tác tham mưu thể hiện rõ liên minh chiến đấu, hợp tác toàn diện giúp đỡ lẫn nhau giữa ta và bạn. Qua các cuộc diễn tập này, nhận thức quan điểm về nhiệm vụ quốc tế đối với bạn của lực lượng vũ trang quân khu và các cấp, các ngành địa phương được củng cố sâu hơn, tạo cơ sở bổ sung các kế hoạch, phương án sẵn sàng chiến đấu và hợp tác tăng cường tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt - Lào. ______________________________________________ 1. Các nhóm phản động người Việt trên đất Thái thời điểm này gồm: Mặt trận quốc gia giải phóng Việt Nam, trước do Hoàng Cơ Minh cầm đầu, nay do Nguyễn Đông Sơn chỉ huy, căn cứ ở U Bon - Thái Lan. Tổ chức tình báo hỗn hợp của Đặng Văn Thanh có căn cứ ở Mục Đa Hán - Thái Lan, đối diện Sa Va Na Khẹt. Tổ chức người Việt tự do, do Hà Thúc Ký cầm đầu có căn cứ ở U Bon - Thái Lan hướng hoạt động về Tây Nguyên và Bình Trị Thiên. Hội người Việt di tản, có trụ sở ở Mục Đa Hán - Thái Lan, đối diện Sa Va Na Khẹt. Lực lượng các tổ chức trên được tập hợp, tuyển chọn từ bọn tàn quân ngụy Sài Gòn cũ, dân di tản và quân nhân đào ngũ chạy theo địch. 2. Ngày 5-12-1990, ta và bạn thống nhất “Biên bận giao nhận Trường Quân sự địa phương tỉnh Sa Va Na Khẹt và Quân khu 4". Về phía Quân khu 4 có Đại tá Trương Đình Thanh đại diện Bộ tư lênh Quân khu và các đồng chí trong đoàn chuyên gia. Tỉnh Sa Va Na Khẹt có: Đại tá Xi Năn Xay Nha Xển - Tỉnh đội trưởng; Trung tá Khăm Pà - Phó tỉnh đội trưởng; Thiếu tá Xăm Nưa - Phó tỉnh đội trưởng chính trị; Thiếu tá Bua La - Hiệu trưởng Trường Quân sự địa phương. 3. Nghị quyết Đại hội Đảng Quân khu lần thứ V (9-1991) xác định: "Nhiệm vụ quốc tế đối với bạn Lào của quân khu và các tỉnh trước mắt và lâu dài tiếp tục đổi mới phương thức hợp tác giúp đỡ nhau, đòi hỏi các lực lượng vũ trang quân khu và các tỉnh phải thường xuyên giữ mối quan hệ đặc biệt với các tỉnh bạn Lào. Tiếp tục liên doanh, liên kết về kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng hậu phương chiến lược của hai bên, chăm lo xây dựng biên giới hữu nghị, hạn chế đến mức thấp nhất việc vi phạm quy chế biên giới, phối hợp chặt chẽ với bạn chống phá hiệu quả các âm mưu xâm nhập của địch". Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 04:10:34 pm Các tỉnh kết nghĩa thông qua hoạt động về kinh tế, văn hóa, ngoại giao để tăng cường trao đổi qua lại, gắn bó với bạn, hiểu dân, nắm địch, trao đổi thông tin cho Quân khu; đồng thời tổ chức quản lý biên giới bằng các lực lượng công an, biên phòng, hải quan, dân quân tự vệ và rút kinh nghiệm bổ sung phương án quản lý, hạn chế tình trạng vi phạm, bảo vệ an toàn vùng biên giới hữu nghị. Đoàn cán bộ của Bộ tư lệnh, các cơ quan Quân khu, các đơn vị sẵn sàng làm nhiệm vụ cơ động ở Lào và Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh với Đoàn của Sư đoàn 4 và các tỉnh giáp biên giới Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Li Khăm Xay, Khăm Muộn, Sa Va Na Khẹt, Xa La Van hàng năm luân phiên qua lại thông báo tình hình, thống nhất ký kết các nội dung hợp tác giúp đỡ nhau, giải quyết kịp thời các vấn đề cần thiết, trong đó tập trung giúp Sư đoàn 4 xây dựng, huấn luyện, sửa chữa bổ sung trang bị kỹ thuật theo thống nhất giữa Bộ Quốc phòng ta và bạn. Các đội quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hy sinh ở Lào được Quân khu, lãnh đạo các tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh đầu tư chỉ đạo, được lãnh đạo và nhân dân bạn giúp đỡ tận tình đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, nổi bật là các đội quy tập của Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị. Công ty hợp tác kinh tế Quân khu thực hiện tốt kế hoạch khai thác, xuất khẩu, đặc biệt là trồng rừng, tu bổ rừng khai thác đạt hiệu quả nhất trong các đơn vị kinh tế ở Lạc Xao, đồng thời giúp bạn làm thủy lợi, nuôi cá giống, xây dựng đường sá, trường học, xây dựng cơ sở địa bàn, được bạn tín nhiệm giao làm đại diện (tổng B) các đơn vị hợp tác kinh tế của cả nước tại Lạc Xao. Công ty hợp tác kinh tế Quân khu thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần phát triển mối quan hệ đặc biệt truyền thống với nước bạn Lào, với Bộ Quốc phòng và Quân đội nhân dân Lào trong điều kiện mới ngày càng hiệu quả cả về chính trị, kinh tế, quốc phòng, nhất là tạo cơ sở cho bạn hướng làm ăn mới, mở về hướng đông, qua Việt Nam tiếp cận với thị trường các nước khác bằng xuất khẩu hàng hóa, lấy xây dựng kinh tế để phát triển khu căn cứ chiến lược, xây dựng Lạc Xao thành mô hình kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của bạn. Cùng thời gian này, Quân khu giúp Bộ Quốc phòng Lào “Công trình hữu nghị Quân khu 4 - Bộ Quốc phòng Lào” nhà khách 2 tầng tại Lạc Xao, do Công ty hợp tác xây dựng. Đầu tháng 9-1994, Ban công tác đặc biệt của Chính phủ ta và Ban công tác đặc biệt của Chính phủ Lào làm việc về công tác quy tập cất bốc hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hy sinh trên đất Lào. Theo thỏa thuận hai nước, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo các địa phương triển khai kế hoạch tiếp tục thực hiện trên các địa bàn được giao cho Quân khu 4: Trung Lào, một phần Nam Lào, tiến hành xây dựng tượng đài “Tình đoàn kết chiến đấu” ở nghĩa trang liệt sĩ Cánh Đồng Chum ngay khi di chuyển hết hài cốt liệt sĩ về nước. Quân khu và các địa phương thống nhất bổ sung lực lượng, phương tiện từ mùa khô 1994-1995. Thực hiện thoả thuận thống nhất giữa Ban công tác đặc biệt của Chính phủ ta và Ban công tác đặc biệt của Chính phủ Lào, đầu tháng 3-1995, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu cùng lãnh đạo tỉnh Nghệ An tổ chức lễ đón các hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam từ nghĩa trang liệt sĩ Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng về nghĩa trang liệt sĩ Việt - Lào ở huyện Anh Sơn. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân khu; Thiếu tướng Nguyễn Xuân Chí - Bí thư Đảng ủy - Phó tư lệnh Quân khu; Đại tá Nguyễn Phong Phú - Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu và các đồng chí Nguyễn Bá - Bí thư Tỉnh ủy, Nguyễn Như Vỹ - Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh và các ban ngành tỉnh Nghệ An đã đến nghĩa trang liệt sĩ Cánh Đồng Chum đón hài cốt các liệt sĩ. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể tỉnh Xiêng Khoảng và các sư sãi, nhân dân thị xã Pôn Xa Vẳn tổ chức lễ cầu siêu và lễ tiễn trọng thể các hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam do đồng chí Phu Mi - Bí thư Tỉnh ủy chủ trì. Trên đường từ Pôn Xa Vẳn về Noọng Hét, về nghĩa trang liệt sĩ Anh Sơn gần 400km, cán bộ địa phương và nhân dân các bộ tộc Lào đón hai bên đường bùi ngùi xúc động lưu luyến đưa tiễn các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của đất nước Lào, vì tình hữu nghị đặc biệt thủy chung Lào - Việt. Lãnh đạo và nhân dân lực lượng vũ trang các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, bộ đội biên phòng Nghệ An, Sư đoàn 324 xúc động bồi hồi thành kính đón các con em đã hy sinh vì nghĩa vụ quốc tế cao cả với nước bạn Lào trở về quê hương. Các đồng chí lãnh đạo Quân khu, tỉnh Nghệ An và đồng chí Bí thư tỉnh Xiêng Khoảng luôn có mặt bên các liệt sĩ quân tình nguyện suốt dọc đường 2 ngày đêm về Anh Sơn (Nghệ An). Lễ đón và an táng các liệt sĩ được tổ chức trọng thể, chu đáo đầy tình cảm sâu nặng của đông đảo các đại biểu của Ban công tác đặc biệt hai Chính phủ, Quân khu, tỉnh Nghệ An, tỉnh Xiêng Khoảng, huyện Anh Sơn, Sư đoàn 324. Tất cả cùng đắp những nắm đất, thắp những nén hương tưởng nhớ đến những người con đã hy sinh thân mình cho sự nghiệp cách mạng cao cả của nhân dân 2 nước Việt - Lào anh em. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 07:33:34 pm * * * Mười năm (1986-1995) nỗ lực phấn đấu thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng theo đường lối đổi mới của Đảng, quân và dân Quân khu đã thể hiện truyền thống anh hùng và bản lĩnh cách mạng của “Bộ đội Cụ Hồ” luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nằm ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, Quân khu và các tỉnh đã nhạy bén, kịp thời xác định đúng hướng đổi mới trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đổi mới tư duy và hành động, chủ động sáng tạo triển khai được những vấn đề có tính cơ bản cùng toàn quân thực hiện hiệu quả cuộc điều chỉnh chiến lược lớn về quốc phòng. Trước những khó khăn thách thức và biến động phức tạp, Quân khu đã xây dựng được bản lĩnh chính trị vững vàng, nâng cao cảnh giác cách mạng, không mơ hồ ảo tưởng, nhận rõ bản chất xuyên suốt, âm mưu thủ đoạn của Mỹ và các thế lực thù địch, chủ động kiên quyết phòng chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt, chiến tranh lấn chiếm biên giới, phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo bước phát triển mới về kinh tế - xã hội trong những năm đầu thập kỷ 90. Cùng với quá trình xây dựng lực lượng chủ lực, địa phương gọn mạnh, Quân khu và các tỉnh luôn tìm tòi, khảo nghiệm và định hình mô hình đổi mới về tổ chức quốc phòng - an ninh ở cơ sở, xây dựng trận địa lòng dân, đúng đường lối đổi mới của Đảng và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ thể hóa Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị khóa VI, Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII, Chỉ thị 58/TTg và Nghị định 19/CP của Thủ tướng Chính phủ, phù hợp quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế mới và chuyển hướng về chiến lược quốc phòng. Đảng bộ Quân khu, các lực lượng vũ trang quân khu luôn luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết trong đấu tranh bảo vệ đường lối quan điểm đổi mới của Đảng, giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, tập trung xây dựng hạt nhân then chốt Đảng bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang quân khu vững mạnh toàn diện, nâng cao bản lĩnh chính trị, bản chất giai cấp công nhân, bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trên quê hương Bác, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, chính quyền và nhân dân. Sự vững vàng của lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn Quân khu góp phần quan trọng của sự ổn định và phát triển cả nước; đồng thời mở rộng và phát triển hoạt động hợp tác kinh tế với bạn Lào, gắn chặt giữa nhiệm vụ quốc phòng, kinh tế và quốc tế hiệu quả, giữ vững biên giới hữu nghị, giữ vững và phát triển mối quan hệ đặc biệt truyền thống Việt - Lào ngày càng gắn bó trong điều kiện mới. Như vậy, trong những năm đầu xây dựng theo đường lối đổi mới của Đảng (1986-1995), quân và dân Quân khu đã tập trung xây dựng về mọi mặt, thực hiện điều chỉnh chiến lược, chuyển mạnh công tác quân sự địa phương và cơ sở, xây dựng thế và lực vững mạnh, góp phần cùng toàn dân, toàn quân chủ động phòng chống, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc sự ổn định và phát triển của đất nước, tạo cơ sở để tiếp tục vững bước xây dựng trong những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 07:38:31 pm Chương bốn XÂY DỰNG QUÂN KHU VỮNG MẠNH TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC (1996 - 2005) Tháng 11 năm 1995, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) nhận định: "Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa được củng cố vững chắc... Nước ta chuyển sang một thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". Những đánh giá và phương hướng Trung ương xác định đem đến cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta niềm phấn khởi, lòng tin và nghị lực, sức mạnh mới tiếp tục nỗ lực phấn đấu về mọi mặt nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Mười năm qua, quân và dân Quân khu đã trải qua giai đoạn đầy khó khăn, thử thách, phấn đấu liên tục quán triệt, nắm vững, thực hiện sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, đạt được những kết quả cơ bản về quốc phòng - an ninh, gắn quốc phòng - an ninh với kinh tế - xã hội và đối ngoại (nhiệm vụ quốc tế). Tuy nhiên, “thực trạng tình hình cả thế trận và lực lượng chưa thực sự chủ động, chưa loại trừ hết bất ngờ, nhất là trước tình hình diễn biến phức tạp... Công tác tư tưởng, tổ chức, công tác xây dựng Đảng trong đổi mới thực hiện nhiệm vụ quốc phòng chưa thật sâu sắc, chưa tập trung cao đột phá giải quyết một số mặt còn yếu”1. Hướng tới Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng tổng kết đánh giá một cách khách quan, toàn diện 10 năm đổi mới, Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ VI (3-1996) kiểm điểm mang tính tổng kết một bước quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, định ra phương hướng nhiệm vụ quốc phòng của Quân khu và các tỉnh trong 5 năm tới (1996-2000) làm cơ sở tiếp tục thực hiện đến những năm 2010; đồng thời xác định rõ nhiệm vụ tiếp tục đổi mới cùng toàn quân thực hiện điều chỉnh chiến lược quốc phòng - an ninh, phát huy nội lực, sức mạnh tổng hợp xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu và nền quốc phòng toàn dân vững mạnh đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vững bước tiến vào thế kỷ XXI. I- TIẾP TỤC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN GẮN VỚI AN NINH NHÂN DÂN VỮNG CHẮC THEO PHƯƠNG HƯỚNG NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI TOÀN QUỐC LẦN THỨ VIII CỦA ĐẢNG 1. Quân khu và các địa phương tập huấn đội ngũ cán bộ chủ lực, địa phương, xây dựng cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên 3 tuyến, tăng cường tiềm lực sức mạnh quốc phòng - an ninh. Từ cuối năm 1995, Đảng ủy, Bộ tư lệnh, các cơ quan Quân khu đã chuẩn bị kế hoạch nhiệm vụ quân sự, quốc phòng 5 năm (1996-2000), triển khai sớm nhiệm vụ năm 1996, năm có ý nghĩa đặc biệt tiến hành Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, mở đầu kế hoạch 5 năm (1996-2000). Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và các lực lượng vũ trang Quân khu bước vào thời kỳ phát triển mới cả về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đối với Quân khu nhiệm vụ năm 1996 được xác định trước hết tập trung phối hợp chặt chẽ quân đội, kể cả bộ đội biên phòng, công an, cả hệ thống chính trị trên địa bàn Quân khu bảo vệ Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Đồng thời luôn luôn chủ động nắm chắc tình hình, dự báo chính xác các diễn biến, tìm hiểu ý đồ, kế hoạch của địch để xây dựng phương án cụ thể chủ động triển khai lực lượng đối phó, nhằm ngăn ngừa chủ động dập tắt ngay khi có mầm mống, kiên quyết đập tan các thủ đoạn hành động "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, đặc biệt là ở phía nam Quân khu, kiên quyết giữ vững ổn định chính trị trong mọi thời điểm trước, trong và sau Đại hội Đảng, sẵn sàng đối phó thắng lợi các tình huống khác2. Sau hội nghị Bí thư Đảng ủy các đơn vị trực thuộc toàn quân (7-1995) do Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương chủ trì, Đảng ủy Quân khu chỉ đạo quán triệt Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiến hành Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, triển khai Đại hội Chi bộ, Đảng bộ cơ sở và cấp trên cơ sở, chuẩn bị Đại hội Đảng ủy Quân khu lần thứ VI. Thực hiện Chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Thường vụ Đảng ủy Quân khu chỉ đạo điểm Đại hội các Đảng bộ Lữ đoàn 16, Sư đoàn 324, Cục Kỹ thuật, Bộ chỉ huy quân sự Hà Tĩnh, chuyển tinh thần, nội dung Hội nghị Trung ương (11-1995) và Nghị quyết Đảng ủy Quân khu (đầu năm 1996) vào nội dung của Đại hội các Đảng bộ đơn vị, địa phương. Đại hội Đảng bộ các cấp trong Quân khu đều quán triệt thực hiện đúng Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương, của Đảng ủy Quân sự Trung ương, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị. Các Đảng bộ cơ sở và trên cơ sở đã làm tốt công tác tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII) về xây dựng Đảng, nghiên cứu học tập các chuyên đề về định hướng công tác tư tưởng trong tình hình mới; đồng thời giải quyết những vướng mắc, tồn đọng trước khi Đại hội. Các Đảng bộ đều chuẩn bị chu đáo báo cáo chính trị, nhân sự, tuyên truyền cổ động thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VI. Bộ tư lệnh Quân khu triển khai kịp thời Chỉ thị của Thường trực Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng về một số nội dung chỉ đạo thực hiện nghiêm ngặt công tác phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn mọi hành động chống phá của các thế lực thù địch. Sau một số đợt tổ chức hoạt động phá hoại không thành, mà "nguyên nhân chính là chưa có lực lượng bên trong, chưa có ngọn cờ", Mỹ và các thế lực thù địch sau khi Mỹ bình thường hoá thương mại với nước ta tiếp tục tăng cường các hoạt động chống phá nước ta. Trước tình hình đó, Quân khu và các đơn vị, địa phương đều tổ chức rà xét bổ sung kế hoạch A2, kế hoạch chiến đấu tại chỗ, bảo vệ các mục tiêu quan trọng, đặc biệt là kế hoạch phối hợp các lực lượng công an, bộ đội biên phòng, dân quân tự vệ bảo vệ an toàn Đại hội Đảng các cấp. Bộ tư lệnh Quân khu tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách, bảo đảm cho bộ đội biên phòng sẵn sàng chiến đấu, nhất là lực lượng cơ động chiến đấu ở biên giới, ven biển3. ______________________________________________ 1. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ VI. 2. Kết luận số 492/KL-ĐU của cuộc họp Đảng ủy Quân khu ngày 7-12-1995. 3. Tháng 8-1995, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 11 về xây dựng bộ đội biên phòng trong tình hình mới, chuyển bộ đội biên phòng từ Bộ Nội vụ về Bộ Quốc phòng. Trước đó, tháng 3-1995, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh bộ đội biên phòng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 07:41:43 pm Sau hội nghị tổng kết Quân khu (9-1995), các địa phương đều tổng kết xây dựng xã, phường, cơ sở ở những nơi còn lại, kiện toàn Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở tỉnh, huyện. Quân khu và các địa phương duyệt kế hoạch xây dựng cơ sở năm 1996 theo hướng thực hiện 5 nội dung phù hợp với yêu cầu phát triển thời kỳ mở đầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nêu một số cách làm mới đúng hướng và có hiệu quả như: xây dựng phát triển cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu của Hà Tĩnh; bộ đội biên phòng làm nòng cốt phối hợp với các ngành xây dựng các điểm sáng biên giới như ở Nghệ An; chỉ đạo làm chuyển biến nhiều cơ sở yếu ở Thanh Hoá, Quảng Bình; xây dựng cơ sở vùng tôn giáo ở Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị; đơn vị gắn với địa phương nơi đóng quân xây dựng cơ sở địa bàn an toàn của Trung đoàn 206, cụm kho CK2 Cục Kỹ thuật... Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu trực tiếp làm việc với lãnh đạo, chính quyền, các cơ quan quân sự, biên phòng, công an sớm đề ra các nội dung về quốc phòng - an ninh bổ sung vào nội dung Đại hội Đảng các cấp gắn với kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh - đối ngoại trong nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh, huyện, cơ sở nhiệm kỳ mới và kế hoạch phát triển năm đầu kế hoạch 5 năm (1996-2000) của các địa phương. Tháng 3 năm 1996, Quân khu tổ chức hội nghị sơ kết công tác dân quân tự vệ biển những năm 1992-1995. Trên địa bàn Quân khu có 29 huyện, thị có biển, 163 xã, phường sát biển. Hội nghị rút được một số vấn đề thiết thực để tiếp tục chỉ đạo thực hiện trên cơ sở một số kinh nghiệm tốt như Vạn Xuân - Nghi Lộc, Gio Hải - Gio Linh, một số xã ở Thạch Hà, Diễn Châu, 13 xã ven biển ở Thanh Hoá... Phải dựa vào tổ chức cơ bản trên bờ và trên cơ sở xây dựng xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu 5 nội dung để xây dựng dân quân tự vệ trên biển. Phải gắn phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng - an ninh trên biển. Đây là nhiệm vụ quan trọng đối với các xã, huyện ven biển. Hoạt động của dân quân tự vệ biển theo đơn vị sản xuất của doanh nghiệp (kể cả tư nhân), tập thể, tàu thuyền gia đình... là phối hợp với bộ đội biên phòng hải quan, cảnh sát biển, ngư dân phát hiện các mục tiêu lạ bảo vệ nguồn lợi thủy sản, chống buôn lậu, chống sử dụng chất nổ đánh bắt thuỷ sản, trong đó dân quân tự vệ phải gương mẫu không tham gia buôn lậu, dùng chất nổ. Hướng tới Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai các kế hoạch chuyên đề nâng cao chất lượng khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng chủ lực, địa phương gồm 7 mặt công tác: chính trị; quân sự; hậu cần; kỹ thuật, kinh tế tài chính; khoa học công nghệ và môi trường; thanh tra pháp chế và các cuộc vận động chuyên ngành xuống cơ sở. Trong đó nổi bật là việc xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật; khắc phục tình trạng quân nhân đào bỏ ngũ phấn đấu đạt mục tiêu giảm mức đào ngũ xuống dưới 0,5% với nhiều đơn vị không còn đào ngũ1; tổ chức rút kinh nghiệm thi đua khối các trung đoàn bộ binh đủ quân (tại Trung đoàn 335 Sư đoàn 324); phong trào “Ngành Hậu cần quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”; công tác kiểm tra Đảng và phong trào lao động sản xuất làm kinh tế trong khối chủ lực, Bộ chỉ huy quân sự 6 tỉnh. Từ ngày 26 đến 28-3-1996, Quân khu tổ chức Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ VI. Tham dự Đại hội có 203 đại biểu đại diện cho cán bộ, đảng viên các Đảng bộ trực thuộc Quân khu. Thượng tướng Đào Đình Luyện- Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương, Thứ trưởng Quốc phòng vào dự, chỉ đạo Đại hội. Các bí thư Tỉnh ủy là ủy viên Đảng ủy Quân khu; Chủ tịch Ủy ban nhân dân, chỉ huy trưởng và phó chỉ huy chính trị Bộ chỉ huy quân sự, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy biên phòng 6 tỉnh tới dự. Đồng chí Nguyễn Quốc Thước, quyền Bí thư Đảng ủy Quân khu trình báo cáo chính trị của Đảng ủy Quân khu nhiệm kỳ khoá V, nêu rõ: Trong nhiệm kỳ vừa qua, Quân khu và các tỉnh đã nắm vững đường lối đổi mới của Đảng, kiên trì, chủ động, có những sáng tạo triển khai thực hiện một cách toàn diện, hoàn thành các mục tiêu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và công tác xây dựng Đảng của Đại hội Đảng bộ lần thứ V đề ra. Tuy nhiên, công tác lãnh đạo thực hiện một số mặt còn yếu như trong xây dựng thế trận và lực lượng trước tình hình mới. Báo cáo nêu rõ 4 vấn đề chỉ đạo trong nhiệm kỳ mới của Đảng bộ Quân khu trên cả 2 phương diện: đóng góp tích cực xây dựng và bảo vệ vững chắc công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời tận dụng thành quả công nghiệp hoá, hiện đại hoá để nhanh chóng nâng cao sức mạnh chiến đấu, tiềm lực quốc phòng. Đó là: 1. Liên tục, kiên trì thường xuyên đấu tranh xây dựng thống nhất cao về nhận thức, quan điểm, mục tiêu thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo quan điểm đổi mới của Đảng, củng cố, tạo sự phát triển chất lượng chiều sâu. 2. Trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, lực lượng quốc phòng - an ninh là lực lượng nòng cốt phải tập hợp, huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân. Các cấp ủy Đảng của Quân khu và các cấp ủy Đảng các địa phương phải là trung tâm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động quốc phòng toàn dân toàn diện mới tạo được chất lượng và hiệu quả, gắn thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân, quốc phòng - an ninh với kinh tế - văn hoá - xã hội - đối ngoại, tạo chuyển biến tăng tiềm lực sức mạnh quốc phòng - an ninh và kinh tế - xã hội. 3. Trong xây dựng lực lượng phải nắm vững xây dựng chính trị là khâu then chốt để nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện trực tiếp là vai trò lãnh đạo của các Đảng bộ, các cấp ủy Đảng là nhân tố quyết định, gắn xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. 4. Trong lãnh đạo, chỉ đạo luôn luôn chủ động tìm tòi có tính sáng tạo, đổi mới phong cách làm việc, phải thực sự nghiêm túc, nắm chắc mục tiêu, mục đích để chỉ huy, điều hành một cách kiên quyết triệt để, đồng thời phải hết sức coi trọng tính giáo dục vận động phát động phong trào, xây dựng điển hình từ cơ sở thành phong trào phát triển mạnh mẽ, thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng đề ra. Thượng tướng Đào Đình Luyện thay mặt Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng phát biểu nêu rõ vị trí quan trọng của Đại hội Đảng bộ Quân khu lần này quyết định sự phát triển của Quân khu, định hướng cho Đảng bộ và toàn Quân khu phấn đấu vươn lên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong nhiệm kỳ mới Đảng bộ Quân khu cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể: Các lực lượng vũ trang Quân khu phải cùng lực lượng công an nhân dân thực sự làm nòng cốt cùng Đảng bộ chính quyền, nhân dân các địa phương thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược quan trọng, giữ vững chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trên địa bàn được giao (cả biên giới, biển đảo và đất liền, trên không). Tập trung xây dựng nâng cao một cách cơ bản, vững chắc chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng các đơn vị chủ lực và địa phương, cả bộ đội biên phòng vững mạnh toàn diện, lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, chất lượng cao, lực lượng dự bị động viên sẵn sàng động viên. Phát huy kết quả đổi mới chỉnh đốn Đảng, tiếp tục làm tốt công tác xây dựng Đảng, hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Quân khu trong giai đoạn mới. ______________________________________________ 1. Trong Quân khu năm 1995 đã tập trung giải quyết việc này giảm tỷ lệ đào ngũ xuống 2,4% năm 1996 còn 0,5%. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 07:46:09 pm Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ quốc phòng, công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ 1996-2000 là: Quân khu và các tỉnh là nêu cao tinh thần tự lực tự cường, chủ động sáng tạo, tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn Đảng, đáp ứng yêu cầu đánh bại âm mưu thủ đoạn chống phá của kẻ thù, giữ vững ổn định chính trị, phát triển công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhiệm vụ cụ thể là: Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng bộ các cấp, phối họp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các địa phương trong Quân khu tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, huyện thực sự vững mạnh mà nền tảng là các xã, phường, thôn, bản an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, gắn chặt thế trận quốc phòng toàn dân với an ninh nhân dân, nâng cao chất lượng tổng hợp cả ba thứ quân thực sự là công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, luôn luôn chủ động ngăn ngừa đập tan thủ đoạn "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống khác, giữ vững ổn định chính trị các địa bàn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của các địa phương, cùng toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, tiếp tục củng cố và phát triển mối quan hệ đặc biệt truyền thống Việt - Lào trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ khoá mới gồm 15 đồng chí (Phạm Văn Long, Nguyễn Quốc Thước, Nguyễn Khắc Dương, Trương Đình Thanh, Cao Xuân Khuông, Phạm Hồng Minh, Nguyễn Phong Phú, Trần Bá Toàn, Lê Quyết Tiến, Võ Hạnh, Hồ Hữu Lạn, Nguyễn Đức Lương, Đặng Quyết, Trần Quang Lộc, Lê Văn Đàm), cùng với 6 Bí thư Tỉnh ủy là Ủy viên Đảng ủy Quân khu theo Quy định 72 và bầu 11 đồng chí đi dự Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VI. Đồng chí Phạm Văn Long được bầu làm Bí thư Đảng ủy Quân khu. Đại hội bầu 11 đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VI. Sau Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ VI, Đảng ủy Quân khu phối hợp với các tỉnh chỉ đạo tiến hành Đại hội Đảng bộ quân sự 6 tỉnh, các huyện, thị, thành đạt kết quả tốt. Các đại hội tập trung thảo luận một số nội dung cơ bản, trong đó đi sâu chức năng tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng địa phương trước yêu cầu mới, đưa được nội dung nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng cơ sở vào nghị quyết lãnh đạo của cấp ủy nhiệm kỳ mới1, và chủ trương xây dựng kế hoạch đưa vào chương trình hành động của chính quyền các cấp. Đầu tháng 5 năm 1996, Đại hội Đảng bộ toàn quân lần thứ VI xác định phương hướng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội 5 năm (1996-2000) là: "Xây dựng được một nền quốc phòng toàn dân thực sự vững mạnh; tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang, trước hết là của quân đội nhân dân; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, đối phó có hiệu quả các tình huống phức tạp; xây dựng phát triển nền công nghiệp quốc phòng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội vững mạnh về chính trị - tư tưởng và tổ chức, củng cố và tăng cường nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội". Từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII tổng kết 10 năm đổi mới toàn diện đất nước, khẳng định: "Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới; nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh"2. Đại hội xác định nhiệm vụ quốc phòng và an ninh 5 năm (1996-2000) và những năm đầu thế kỷ XXI: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh của đất nước xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, nâng cao chất lượng các lực lượng vũ trang bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây mất ổn định xã hội, xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ gây tổn hại cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; ngăn ngừa và trừng trị mọi loại tội phạm, bảo đảm tốt trật tự, an toàn xã hội”3. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Dương - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Phó tư lệnh Quân khu được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trước, trong và sau Đại hội Đảng các cấp, Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ VI, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII các đơn vị, địa phương đều duy trì chặt chẽ kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, giữ vững thông tin liên lạc các hướng, diễn tập các phương án phối hợp các lực lượng, bảo vệ an toàn các địa bàn, giữ vững ổn định chính trị. _____________________________________________ 1. Các Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ 14, Nghệ An lần thứ 14, Hà Tĩnh lần thứ 14, Quảng Bình lần thứ 12, Quảng Trị lần thứ 12, Thừa Thiên - Huế lần thứ 11 đều tiến hành trong tháng 5 năm 1996. 2, 3. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 60-61. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 07:48:22 pm Triển khai thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VI, Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VI và các chuyên đề đã xác định, Quân khu chỉ đạo tiếp tục tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện cán bộ các cấp cả chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ, dự bị động viên, giáo dục quốc phòng, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, nâng trình độ cán bộ theo Nghị quyết 93 của Đảng ủy Quân sự Trung ương1, xây dưng chính quy, củng cố kỷ luật nội bộ và kỷ luật quan hệ quân dân. Sau 2 năm (1994-1995) huấn luyện, kiểm tra sát hạch tất cả cán bộ lực lượng tập trung, từ năm 1996, Quân khu chỉ đạo thực hiện kế hoạch tập trung bồi dưỡng, tập huấn, kiểm tra thực hiện nhiệm vụ quốc phòng cho cán bộ chủ trì địa phương từ cơ sở trở lên gồm: xã, phường (1996), cấp huyện (1997), cấp tỉnh (1998) và 5 năm (1999-2005) mở các lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho chủ trì cấp huyện, thị, thành, sở ban ngành cấp tỉnh gắn với diễn tập lần 2, lần 3 khu vực phòng thủ - A2 nâng cao của các tỉnh, huyện. Kế hoạch huấn luyện về quốc phòng dài hạn mang tính hệ thống, cơ bản hàng năm góp phần nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ chủ trì 3 cấp của các địa phương phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng tiềm lực sức mạnh quốc phòng an ninh để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, xã hội. Các địa phương đã triển khai cụ thể tổ chức học tập, bồi dưỡng, kiểm tra, phúc tra tập trung về nhận thức và thực hành nhiệm vụ quốc phòng địa phương, xây dựng cơ sở theo 5 nội dung cho các đồng chí chủ trì xã, phường (mỗi nơi 3 đồng chí: Bí thư, Chủ tịch, Chỉ huy trưởng quân sự). Trong đợt kiểm tra 1.783 xã, phường, thị trấn gồm: 1.648 Bí thư Đảng ủy, có 31,7% đạt loại giỏi; 1.578 Chủ tịch Ủy ban nhân dân, có 28,3% đạt loại giỏi; 1.707 Chỉ huy trưởng quân sự, có 8,3% đạt loại giỏi. Qua đợt kiểm tra này, các đồng chí cán bộ chủ trì xã, phường đều nâng cao một bước về nhận thức và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, xây dựng và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên ở xã, phường, gắn các nội dung xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh trong xây dựng cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Hội đồng kiểm tra, phúc tra Quân khu và các địa phương đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu, trong đó nổi lên vấn đề là số chỉ huy trưởng quân sự xã, phường (trực tiếp làm công tác quân sự, quốc phòng) lại yếu hơn so với các bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, số giỏi đạt thấp nhất. Từ thực trạng này, Quân khu kịp thời chỉ đạo các địa phương bổ sung kế hoạch bồi dưỡng tập huấn hàng năm, nhất là sau kỳ bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp (5 năm một lần) cho cán bộ cơ sở. Ngày 16-5-1996, Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Chỉ thị số 132/TV-ĐUQSTW về nhiệm vụ khoa học công nghệ môi trường trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng giai đoạn 1996-2000 với 5 nội dung chủ yếu, tập trung đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, nhanh chóng đưa các kết quả nghiên cứu vào ứng dụng trong thực tiễn chỉ huy, quản lý, xây dựng, huấn luyện các lực lượng vũ trang và sản xuất quốc phòng. Quán triệt Chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết về lãnh đạo phát triển công nghệ thông tin đến năm 2000. Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị phát triển công nghệ thông tin, thành lập Ban chỉ đạo triển khai công nghệ thông tin. Thực hiện nâng cao chất lượng công tác công nghệ thông tin, Quân khu mở được 13 lớp phổ cập tin học cho 400 sĩ quan, cán bộ chuyên môn đạt trình độ A, mua sắm thiết bị, từng bước nghiên cứu xây dựng các phần mềm ứng dụng. Các ngành khoa học công nghệ và môi trường, thông tin liên lạc, tác chiến, hậu cần, kỹ thuật, cán bộ, quân lực, kinh tế tài chính, Văn phòng Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân khu, nhà in Quân khu và một số đơn vị bước đầu triển khai ứng dụng phần mềm trong công tác. Năm 1996 và các năm tiếp theo Quân khu tiếp tục mở các lớp huấn luyện đào tạo sử dụng và vận hành hệ thống thu thập, quản lý tình hình, nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu, xây dựng đường truyền dữ liệu từ các đơn vị về máy chủ và từ sở chỉ huy Quân khu báo cáo Bộ. Trong thời gian này, Văn phòng Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân khu họp liên tịch với Văn phòng Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 6 tỉnh phối hợp thông báo, trao đổi tình hình, mối quan hệ công tác, thống nhất các chủ trương biện pháp hiệp đồng tăng cường thông tin hai chiều về các mặt, tạo cơ sở nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu tham mưu đề xuất chủ trương kế hoạch phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng của Quân khu và các tỉnh trong thời kỳ mới2. ____________________________________________ 1. Nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương số 93, năm 1994 về “đổi mới công tác đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và xây dựng nhà trường chính quy”. 2. Nghị quyết 74 ngày 26-4-1996 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương xác định Văn phòng Bộ Quốc phòng, Văn phòng Bộ tư lệnh các quân khu, quân chủng, binh chủng, Bộ tư lệnh Biên phong đồng thời là Văn phòng Đảng ủy cùng cấp, là cơ quan tham mưu, tổng hợp và hành chính của Đảng ủy - Bộ tư lệnh. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 07:51:18 pm Nhằm thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Quân khu tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 385 /CT của Tổng cục Chính trị về đổi mới giáo dục chính trị tại đơn vị (1992-1996). Hội nghị đánh giá: Các đơn vị, địa phương, nhà trường đã thực hiện đổi mới các nội dung, chương trình, phương pháp dạy - học, bảo đảm cơ sở vật chất, trực tiếp nâng cao nhận thức tư tưởng, quan điểm, năng lực trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ cho người học, thiết thực nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng cơ sở xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Bộ chỉ huy quân sự Hà Tĩnh tập trung chỉ đạo điểm giáo dục chính trị từng đối tượng: giáo dục dân quân tự vệ ở Can Lộc, giáo dục học sinh, sinh viên ở thị xã Hà Tĩnh, giáo dục bộ đội tập trung ở Trung đoàn 841. Trường Quân sự Quân khu 2 năm (1995-1996) đã nhanh chóng nắm bắt yêu cầu nhiệm vụ mới1 chiêu sinh đào tạo thêm các khoá học viên được giao như: đào tạo đại học đại cương, luyện thi tạo nguồn sĩ quan, đào tạo hoàn thiện sĩ quan chỉ huy phân đội, đào tạo học phần cử nhân chính trị, bồi dưỡng kiến thức văn hoá cho cán bộ... Quân khu liên kết với Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Đại học Sư phạm Vinh thực hiện chương trình đào tạo một số lớp đạt kết quả cao. Phong trào thi đua của lực lượng vũ trang Quân khu chào mừng thắng lợi Đại hội Đảng các cấp xuất hiện nhiều nhân tố mới hoàn thành tốt các mục tiêu thời gian đầu thực hiện nghị quyết Đại hội. Công tác đảng, công tác chính trị tập trung giải quyết hai khâu cơ bản làm chuyển biến rõ rệt ở các cơ quan, đơn vị là giảm hẳn tình trạng đào bỏ ngũ, không có vụ việc kỷ luật nghiêm trọng. Phong trào của Đoàn Thanh niên, Công đoàn, Phụ nữ có nhiều hoạt động phong phú. Hơn 60 phòng Hồ Chí Minh ở cả đơn vị chủ lực, địa phương, kho tàng hoạt động thiết thực, thường xuyên. Công tác phát triển Đảng được triển khai tích cực, đồng đều trong các Đảng bộ và các tổ chức Đoàn cơ sở, nhất là chăm lo bồi dưỡng các đoàn viên ưu tú với chỉ tiêu kết nạp 10% trở lên đoàn viên vào Đảng trong năm 1996 để tạo nguồn đào tạo sĩ quan và nguồn cán bộ xã, phường, cơ sở khi trở về địa phương, kết quả đạt cao hơn nhiều so các năm trước. Trong năm 1996 Quân khu đã kết nạp 1.204 đảng viên mới (kế hoạch đề ra là kết nạp 1.185 đồng chí). Các đơn vị hành quân dã ngoại trở về với cội nguồn vận động quần chúng xây dựng cơ sở 23 đợt, đến 14 xã vùng công giáo, 6 xã vùng dân tộc, 14 xã có mâu thuẫn nội bộ, 3 xã vùng ven biển cùng địa phương hoạt động tuyên truyền, xây dựng đời sống văn hoá lành mạnh, củng cố an ninh cơ sở, đóng góp công sức xây dựng một số công trình góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giúp các đối tượng chính sách. Các đơn vị nhận phụng dưỡng thêm 19 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, làm mới 4 nhà tình nghĩa. Sư đoàn 968 tham gia xây dựng đường 75 nối từ đường số 1 lên Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn 17km hướng tới kỷ niệm 50 năm ngày thương binh liệt sĩ. Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu cùng Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở các tỉnh kiểm tra 8 huyện, thị và nhiều xã phường ở các tỉnh phía bắc, 10 huyện thị và xã phường phía nam, chỉ đạo triển khai thực hiện mục tiêu đề ra. Đến cuối năm 1996, một số địa phương phát triển mới mô hình cụm và tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, phối hợp giải quyết hiệu quả một số vấn đề nảy sinh trên phạm vi chung liên xã, liên huyện cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh. Trong đợt bão lụt lớn tháng 8 năm 1996 diễn ra trên địa bàn 6 tỉnh gây thiệt hại nghiêm trọng2, Quân khu chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển khai phương án phòng chống bão lụt, huy động lực lượng, phương tiện đến những vùng trọng điểm ứng cứu dân, hộ đê, giảm được một phần thiệt hại, đồng thời ủng hộ tiền, thuốc chữa bệnh góp phần giải quyết hậu quả, giữ vững an ninh trật tự, sớm ổn định đời sống và sinh hoạt. Đối với công tác huấn luyện, Quân khu chỉ đạo học đến đâu kiểm tra đến đó, nhằm nâng cao tính toàn diện trong cả chủ lực, địa phương, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn luyện thể lực, năng lực công tác đảng, công tác chính trị, tham mưu, hậu cần, kỹ thuật... Quân khu tổ chức hội thi, trong đó có những nội dung, những cấp lần đầu tiên tổ chức hội thi, hội thao như thi chỉ huy trưởng quân sự tỉnh, phó chỉ huy chính trị huyện... nhằm tạo chuyển mạnh mẽ hơn nữa công tác quân sự địa phương và cơ sở. Thi chỉ huy trưởng các tỉnh, thành phố: giải nhất Thiếu tướng Phạm Huy Chưởng (Thừa Thiên - Huế); giải nhì Đại tá Phạm Bá Hoan (thành phố Vinh). Thi phó chỉ huy chính trị huyện, thị, thành: giải nhất Trung tá Trần Trung Thái (Yên Thành - Nghệ An); giải nhì Thượng tá Lê Đức Đằng (Tĩnh Gia - Thanh Hoá); nhất đồng đội - Hà Tĩnh; nhì - Nghệ An. Thi Phó chỉ huy chính trị trung đoàn, lữ đoàn: nhất - Lữ đoàn 2833, nhì - Trung đoàn 335 Sư đoàn 324. Thi hiệu trưởng và giáo viên trường quân sự các tỉnh: nhất - Quảng Bình, nhì - Hà Tĩnh. Thi các tiểu đoàn trưởng bộ binh, binh chủng: nhất - Sư đoàn 341, Lữ đoàn 414, Nghệ An. Thi sĩ quan pháo binh giỏi: nhất - Lữ đoàn 16, nhì - Tiểu đoàn 52. Thi xe tăng thiết giáp tốt: về xe tăng, nhất - Thừa Thiên - Huế; về xe thiết giáp, nhất - CK3 và Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An. Hội thao quân trang quân lương lần thứ 4: nhất - Sư đoàn 324; nhì - gồm Sư đoàn 968, Trung đoàn 80, Quảng Trị, Bộ Tham mưu Quân khu. Thi ở Bộ về kỹ thuật chiến đấu bộ binh: nhất toàn đoàn - Quân khu 4; về phân đội đặc công: Quân khu 4 xếp thứ ba. Cùng thời gian này, Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế tổ chức diễn tập chỉ huy - tham mưu một phần thực binh; Sư đoàn 968 diễn tập sư đoàn vận động tiến công địch phòng ngự ở địa hình rừng núi có Tiểu đoàn 5 bắn chiến đấu; Ngành Quân y diễn tập quân dân y kết hợp trên địa bàn thành phố Huế, đạt kết quả tốt. Qua 5 năm thực hiện Chương trình 12, Ngành Quân y Quân khu đã cùng các tỉnh xóa được điểm trắng y tế ở các vùng khó khăn. Ngành Kỹ thuật kiểm tra toàn bộ kho vũ khí đạn cấp huyện và tỉnh, làm thêm được 16 kho huyện cơ bản, chuyển hơn 1.000 ống nhựa ra bảo quản đạn trên đảo, hoàn thành đường hầm bắn chỉnh súng bộ binh đưa vào chỉnh súng, nghiên cứu và sản xuất được những chi tiết, phụ tùng trước đây chưa làm được để sửa chữa vũ khí trang bị bảo đảm sẵn sàng chiến đấu. Cục Kỹ thuật Quân khu phối hợp với Phòng Khoa học - công nghệ và môi trường thuộc Tổng cục Kỹ thuật tổ chức hội thảo về bảo quản pháo trên đảo của Quân khu. ____________________________________________ 1. Thực hiện Nghị quyết 93/ĐUQSTW, Quyết định 621/QĐ-QP của Bộ Quốc phòng về quy chế giáo dục - đào tạo trong các nhà trường quân đội, Đảng ủy Quân khu ra Nghị quyết 404/NQ-ĐU về công tác nhà trường. 2. Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, Quảng Trị thiệt hại khoảng 720 tỷ đồng. Các lực lượng vũ trang Quân khu ủng hộ các tỉnh 219 triệu đồng và một số thuốc (Cục Hậu cần) trị giá 7,5 triệu đồng. 3. Trung tá Hồ Duy Nhân - Phó chỉ huy chính trị Lữ đoàn phòng không 283. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 07:52:04 pm Thường vụ Đảng ủy Quân khu ra Chỉ thị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 14/NQ-TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị 161/CT-ĐUQSTW của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, tăng cường lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu trong lực lượng vũ trang Quân khu. Chỉ thị nêu rõ: Cần triển khai việc tuyên truyền, giáo dục, gắn chống tham nhũng buôn lậu với việc xây dựng cơ quan, đơn vị, xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên, rèn luyện kỷ luật, thực hiện nền nếp chính quy. Chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật tổ chức nhiều cuộc thanh tra, kiểm tra các vụ vi phạm nguyên tắc chế độ kinh tế tài chính; tham ô lãng phí; thanh xử lý vật tư kỹ thuật; phương tiện vận tải trên bộ, trên biển; dùng phương tiện vận tải chuyển hàng quốc cấm, chở thuê hàng lậu trốn thuế và các mặt tiêu cực khác. Tuy nhiên, những hiện tượng tiêu cực vẫn còn xảy ra ở công tác bảo đảm, phân phối và chi tiêu ngân sách; các đơn vị kinh tế làm ăn thua lỗ; sử dụng và quản lý con người, phương tiện vận tải chưa chặt chẽ. Để khắc phục các hiện tượng tiêu cực, Chỉ thị nhấn mạnh: Phải tập trung vào những lĩnh vực dễ lợi dụng tham nhũng, buôn lậu như: xây dựng cơ bản; những đơn vị làm kinh tế; công tác quản lý sử dụng phân phối ngân sách, nhất là các ngành trực tiếp quản lý việc thu chi, các phương tiện vận tải ô tô, tàu thuyền có điều kiện hoạt động buôn lậu, trốn thuế. Đặc biệt là xây dựng cơ bản và quản lý phân phối sử dụng ngân sách. Đầu tháng 11-1996, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức Hội nghị lần thứ nhất thẩm định đất quốc phòng trên địa bàn Quân khu. Tham dự có Hội đồng thẩm định đất quốc phòng Nhà nước, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Sở Địa chính 6 tỉnh. Số đất quốc phòng trên địa bàn Quân khu đã được quy hoạch chiếm 0,41% quỹ đất trên toàn Quân khu, nơi ít nhất là Thừa Thiên - Huế chỉ 0,21% quỹ đất toàn tỉnh, nơi cao nhất là Quảng Bình 0,45%. Hội nghị đánh giá: Trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì 0,41% đất quốc phòng trong tổng quỹ đất địa phương là phù hợp. Đồng thời đề nghị Nhà nước kiểm tra, thẩm định, tạo điều kiện cho Quân khu 4 hoàn thành việc thẩm định quy hoạch và hợp thức đất quốc phòng, bảo đảm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng căn cứ, hậu phương chiến lược cả trước mắt và lâu dài. Ngày 6-12-1996 Quân khu họp với các tỉnh triển khai nhiệm vụ quốc phòng năm 1997. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân khu thay mặt Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu nêu rõ: Bước vào năm 1997 - năm thực hiện yêu cầu hàng đầu là phải giữ vững cho được sự ổn định của đất nước và trên từng địa phương, từng hướng chiến lược để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Giữ vững ổn định chính trị có nhiều yếu tố, trong đó vai trò quốc phòng - an ninh là yếu tố quan trọng để giữ thế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đồng thời phát triển đất nước sẽ góp phần làm cho quốc phòng - an ninh ngày càng được củng cố vững mạnh. Đối với Quân khu 4 tăng cường thế trận quốc phòng - an ninh sẽ góp phần giữ thế cho cả nước phát triển. Trong thời kỳ phát triển đất nước, đòi hỏi chúng ta phải hết sức cảnh giác để đứng vững, nếu mất cảnh giác về mặt quốc phòng - an ninh kẻ địch sẽ lợi dụng nhen nhóm, xây dựng lực lượng chống phá gây cho ta khó khăn. Vì thế khi nghiên cứu chiến lược trong lĩnh vực kinh tế, phải chăm lo gắn quốc phòng - an ninh, đáp ứng được yêu cầu trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trên địa bàn Quân khu, sau khi Mỹ đặt đại sứ quán tại Việt Nam, số người nước ngoài vào tăng nhanh. Người Mỹ có mặt trên cả 6 tỉnh, trong đó có số lợi dụng mở rộng quan hệ trực tiếp tiếp cận các lực lượng phản động, cực đoan trong tôn giáo, số cơ hội mua chuộc lôi kéo, hòng tạo cơ hội "tự diễn biến, tự chuyển hoá" từ bên trong. Mặt khác, các hoạt động móc nối, xâm nhập, di dịch dân cư, truyền đạo trái phép dọc biên giới tăng lên; tình hình tranh chấp chủ quyền trên biển Đông tiếp diễn phức tạp. Căn cứ mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Quân khu điều chỉnh kế hoạch A2 sát diễn biến mới và chỉ đạo các đơn vị, địa phương bổ sung, chú trọng giáo dục nâng cao nhận thức, hết sức cảnh giác, xây dựng bên trong mạnh, không để tự diễn biến, tự chuyển hoá trong quá trình hoạt động trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh. Bộ tư lệnh Quân khu cùng Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng chỉ đạo xây dựng kế hoạch A3 của các tỉnh; phối hợp với các địa phương xây dựng kế hoạch kết hợp quốc phòng với kinh tế trên tuyến biên giới, bờ biển; xây dựng căn cứ hậu phương chiến lược phía tây; tham gia xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội gắn quốc phòng - an ninh - đối ngoại của các địa phương phù hợp với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu vùng, mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá; triển khai kế hoạch bầu cử Quốc hội khoá X và bầu bổ sung Hội đồng nhân dân các cấp. Bước sang năm 1997, lãnh đạo, chỉ huy Quân khu có một số thay đổi. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân khu nghỉ, chuyển sang công tác ở Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Thiếu tướng Nguyễn Khắc Dương - Ủy viên Trung ương Đảng - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Phó tư lệnh Quân khu giữ chức Tư lệnh Quân khu. Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở do Thiếu tướng Cao Xuân Khuông - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy - Phó tư lệnh Quân khu làm trưởng ban; Hội đồng khoa học xã hội và nhân văn do Đại tá Phạm Hồng Minh - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu làm Chủ tịch; Hội đồng khoa học - công nghệ và môi trường do Thiếu tướng Nguyễn Khắc Dương - Tư lệnh Quân khu làm Chủ tịch. Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu triển khai chương trình hành động xây dựng cơ sở năm 1997, trong đó xác định tiếp tục phát triển các cụm, tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên cả 3 vùng. Cuối năm 1997, 216 cụm tuyến ở các tỉnh Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An đã tiến hành sơ kết rút kinh nghiệm một bước về xây dựng cụm, tuyến an toàn làm chủ và đề ra một số nội dung tiếp tục thực hiện trong những năm tiếp theo. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 07:55:19 pm Những tháng đầu năm 1997, các đơn vị, địa phương tổ chức huấn luyện, giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật trong chủ lực, dân quân tự vệ, dự bị động viên sát với yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu phối hợp bảo vệ trị an; sơ kết, tổng kết một số nội dung thiết thực như xây dựng lực lượng dự bị động viên theo phương thức mới (1992-1996), thực hiện Chỉ thị 23 của Bộ Chính trị về bảo vệ chính trị nội bộ (1992-1996), thực hiện cuộc vận động xây dựng môi trường văn hoá 5 năm (1992-1997), cuộc vận động "quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn tiết kiệm và an toàn giao thông" (1995-1997), hội thi tổng kết công tác bệnh xá 5 năm (1992-1996), góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua ở các đơn vị, địa phương. Các trường Quân sự trong Quân khu quán triệt Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ lực, địa phương, chuyên môn kỹ thuật, chú trọng luyện tập thực hành. Trường Quân sự Quân khu tổ chức hành quân luyện tập tổng hợp cho 200 học viên đào tạo tiểu đội trưởng bộ binh, khẩu đội trưởng và hơn 300 học viên đào tạo trung đội trưởng thiết thực rèn luyện tổng hợp cả kỹ thuật, chiến thuật, thể lực; công tác đảng, công tác chính trị; công tác tổ chức chỉ huy tiểu đội, trung đội dã ngoại. Thanh Hoá là tỉnh đầu tiên tổ chức thi giáo viên quốc phòng các trường trung học phổ thông, góp phần nâng cao phương pháp, trách nhiệm và kiến thức mới về quốc phòng trong giảng dạy giáo dục quốc phòng. Các cơ quan Quân khu tập trung huấn luyện 3 tháng, luyện tập phân đoạn chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, xây dựng kế hoạch chiến đấu tại chỗ bảo vệ sở chỉ huy, phòng chống cháy nổ, chấn chỉnh nền nếp chính quy, làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh trong từng người, từng phòng, ban, tạo chuyển biến rõ rệt trên nhiều mặt công tác. Bộ Quốc phòng trực tiếp kiểm tra các nội dung, Quân khu và các cơ quan hầu hết đạt loại giỏi. Các cơ quan kiểm tra, thanh tra, pháp chế phối hợp chỉ đạo tập trung tăng hiệu lực xây dựng rèn luyện chính quy, củng cố kỷ luật, ngăn ngừa và xử lý một số vụ tham ô, thất thoát tài sản, tài chính. Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật (1993-1997). Công tác khoa học- công nghệ và môi trường nghiên cứu ứng dụng một số đề tài khoa học nghệ thuật quân sự và khoa học xã hội nhân văn1, đầu tư nâng dần trình độ tiếp cận một số công nghệ mới. Nhằm đánh giá, nâng cao chất lượng công tác quốc phòng, Quân khu và các tỉnh tổ chức đợt học tập và kiểm tra cho cán bộ chủ trì cấp huyện, mỗi nơi 4 đồng chí gồm Bí thư cấp ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, chỉ huy trưởng và Phó chỉ huy chính trị 81 huyện, thị, thành2. Toàn Quân khu có 283 đồng chí trong tổng số 324 đồng chí dự học tập kiểm tra, có 14 đạt giỏi và 234 khá. Về tập thể, nhất - Hà Tĩnh, nhì - Quảng Bình. Bộ tư lệnh Quân khu tặng bằng khen cho 6 đồng chí đạt điểm cao nhất. Kết quả kiểm tra đợt này góp phần tạo được chuyển biến mới về nhận thức, quan điểm, ý thức trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và công tác tham mưu thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trên địa bàn cấp huyện, gắn huyện với cơ sở, với dân. Đối với 41 đồng chí ở các huyện, thị, thành chưa học tập, kiểm tra, các tỉnh chỉ đạo thực hiện cuối năm 1997. Riêng ở Hà Tĩnh, các huyện, thị cũng bồi dưỡng, và tổ chức thi cho cán bộ xã, phường, thị trấn còn lại và mở rộng cả cán bộ chủ trì thôn, xóm, bản, khối phố là những người trực tiếp với dân gồm 1.800 đồng chí. Nhân kỷ niệm 50 năm ngày thương binh liệt sĩ (27.7.1947 - 27.7.1997) Quân khu triển khai kế hoạch, chương trình hành động cụ thể gắn với năm đầu thực hiện các nội dung công tác chính sách xã hội do Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đề ra. Tháng 7-1997 Quân khu tổ chức Hội nghị đánh giá 20 năm giải quyết chính sách tồn đọng sau chiến tranh, thực hiện chính sách hậu phương quân đội (1976-1996), thống nhất chủ trương biện pháp giải quyết khối lượng lớn còn lại và nội dung mới của công tác chính sách trên địa bàn quân khu trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hai mươi năm qua, công tác chính sách đã được các cấp ủy Đảng trực tiếp lãnh đạo, chính quyền trực tiếp điều hành, các đoàn thể, các đơn vị, các ban ngành và toàn dân tham gia thực hiện tích cực. Quân khu đã quy tập hài cốt liệt sĩ ở Lào đưa về nước 11.884 mộ/24.010; quy tập 101.953 mộ liệt sĩ trong nước đưa vào nghĩa trang liệt sĩ các địa phương; xây 710 nhà bia tưởng niệm; giải quyết mất tin mất tích 5.585 trường hợp. Công tác thương binh tiếp nhận 78.060 thương binh, bệnh binh vào các đoàn an dưỡng, sau an dưỡng, điều trị chuyển về địa phương 78.054, còn 6 thương binh nặng do cơ quan quân sự Hà Tĩnh, Nghệ An nuôi dưỡng. Trong những năm 1984-1996 có 40.773 trường hợp được cấp giấy chứng nhận bị thương, 31.307 trường hợp được cấp thẻ thương binh; đã cấp và đề nghị Nhà nước tặng thưởng 3.516.833 huân, huy chương. Từ năm 1994-1995 đề nghị tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho 148 tập thể, 13 cá nhân, phối hợp đề nghị tuyên dương 3.533 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Xây dựng 20.114 nhà tình nghĩa với 30,775 tỷ đồng, tu sửa hỗ trợ 25.969 nhà với 2,665 tỷ đồng. Quyên góp được 8,919 tỷ đồng và 376 tấn lương thực làm quỹ đền ơn đáp nghĩa; tặng 33.476 sổ tiết kiệm với 9,983 tỷ đồng; 912/3.533 Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống đều được nhận phụng dưỡng; 18.000 lượt cán bộ quân đội về hưu được đi điều dưỡng, an dưỡng. Cơ quan quân sự, thương binh - xã hội các cấp phối hợp làm tốt chức năng tham mưu tổ chức thực hiện. Các địa phương, đơn vị trong Quân khu phát động phong trào quần chúng nâng cao chất lượng hiệu quả các mặt công tác chính sách. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức Phụ nữ, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân đã phát huy vai trò của tổ chức mình trong công tác chính sách. Các cơ quan truyền thông đại chúng nêu gương tốt, phê phán tiêu cực, góp phần tích cực, quan trọng phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và quân đội, đưa thông tin về công tác chính sách đến cơ sở và người dân. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện công tác chính sách còn bộc lộ nhiều thiếu sót khuyết điểm, như để hiện tượng tiêu cực xâm nhập vào công tác chính sách và cơ quan làm công tác chính sách, việc chỉ đạo kiểm tra phát hiện chậm gây ảnh hưởng đến lòng tin đời sống của nhân dân, điển hình mộ giả ở Quảng Trị, vụ tham ô tiền chính sách ở Phòng Thương binh - xã hội huyện Thạch Thành. ______________________________________________ 1. Các đề tài như: Chủ động phòng chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; âm mưu thủ đoạn xâm nhập, lấn chiếm biên giới, đất liền, biển đảo của địch và biện pháp đối phó của ta trên địa bàn Quân khu 4; dự án công nghệ thông tin 1996 – 2000, ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong khu vực phòng thủ của quân khu 4... 2. Thêm một số huyện mới như: Thiệu Yên, Yên Định, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân, Thường Xuân, ĐaHRrông... Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 07:58:34 pm Quân khu xác định nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu công tác chính sách năm 1997 và những năm tiếp theo là quy tập mộ liệt sĩ trên 7 tỉnh ở Lào đưa về nước; xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, nâng cao mức sống gia đình liệt sĩ, thương binh, người có công; vận động đón 6 thương binh nặng về gia đình; giải quyết tiếp việc tồn đọng khen thưởng, xác minh báo tử mất tin mất tích; đăng ký quản lý và thực hiện chính sách đối với người có công; lãnh đạo tổ chức chu đáo việc lập sổ bảo hiểm xã hội cho tất cả người hưởng lương1; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Cuộc vận động nhân kỷ niệm 50 năm ngày thương binh, liệt sĩ được tuyên truyền giáo dục sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội thực hiện 5 chương trình tình nghĩa uống nước nhớ nguồn, đem lại kết quả to lớn cả về tinh thần, đời sống cho các đối tượng chính sách, tạo đời sống chính trị lành mạnh, đoàn kết gắn bó trong nhân dân. Quân khu tìm kiếm quy tập được 1.314 mộ liệt sĩ ở Lào về nước và 491 mộ liệt sĩ trong nước, bàn giao cho 17 tỉnh phía bắc 107 hài cốt liệt sĩ; làm 276 nhà bia liệt sĩ, xây 832 và tu sửa 1.062 nhà tình nghĩa, trong đó lực lượng vũ trang làm mới 18 nhà; lập 10.368 sổ tiết kiệm cho các đối tượng chính sách; các đơn vị nhận phụng dưỡng thêm 11 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Bộ tư lệnh Quân khu và các đơn vị tổ chức gặp mặt thăm hỏi tặng quà 1.977 đối tượng chính sách. Trung tâm xúc tiến việc làm của Quân khu mới thành lập hơn 3 năm mở được 33 lớp dạy nghề cho 2.357 quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự, 1.068 con em liệt sĩ, thương binh. Kỷ niệm 30 năm ngày mất của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (6.7.1967-6.7.1997), Bộ tư lệnh Quân khu cử đại diện tham dự hội thảo tưởng niệm Đại tướng do tỉnh Thừa Thiên - Huế tổ chức. Tham luận "Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhà quân sự chính trị lỗi lạc của cách mạng Việt Nam" đã được trình bày tại cuộc hội thảo này2. Quân khu và các tỉnh chỉ đạo thực hiện cuộc vận động xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu theo kế hoạch của các cấp. Ngay từ đầu năm, nhiều huyện, thị, thành duyệt kế hoạch của hầu hết các xã, phường, cơ sở. Nội dung, phương thức chỉ đạo, tổ chức thực hiện gắn triển khai bước đầu thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phấn đấu với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Qua sơ kết, tổng kết cuộc vận động, tập huấn bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và diễn tập khu vực phòng thủ gắn A2, vai trò cấp huyện trong quốc phòng - an ninh nói chung, trong xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu được tập trung hiệu quả ngày càng cao; đồng thời từng bước mở rộng xây dựng cụm, tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên từng khu vực, từng hướng gắn quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội. Trong một thời gian ngắn, toàn Quân khu hình thành 358 cụm, tuyến ở 3 vùng, trong đó có một số mô hình hoạt động rất hiệu quả. Để nghiên cứu, rút kinh nghiệm về nội dung phát triển mới này, Quân khu cùng các tỉnh tổ chức xây dựng cụm tuyến các đô thị, trục đường giao thông ở Thừa Thiên - Huế; tuyến ven biển ở Thanh Hoá; tuyến biên giới ở Hà Tĩnh. Tiếp đó, Quân khu tổ chức hội nghị sơ kết đánh giá thực chất của việc xây dựng cụm, tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, cụm thì rõ nhưng tuyến thì không rõ. Hội nghị khẳng định nhiều nơi có những cụm đã làm tốt, kết quả thiết thực, có kinh nghiệm hay, cần tiếp tục tập trung xây dựng xã, phường, làng bản, khối phố an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Tại cuộc bầu cử Quốc hội khoá X, Đại tá Phạm Văn Long - Phó tư lệnh chính trị Quân khu trúng cử đại biểu Quốc hội. Trong cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, các đơn vị, địa phương triển khai kế hoạch phối hợp các lực lượng chặt chẽ, bảo vệ an toàn cả 14.408 điểm bỏ phiếu ở xã, phường, cơ quan, đơn vị an toàn. Tuy nhiên, một số nơi luyện tập phương án chiến đấu, bảo vệ trị an, trực chỉ huy, trực chiến, canh gác có thời điểm chưa chặt chẽ. Đến giữa tháng 8 năm 1997, Thường vụ Tỉnh ủy các tỉnh và các Đảng bộ trong Quân khu hoàn thành sơ kết thực hiện các quy định 72, 73 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VII), trong đó các Đảng bộ cơ sở của Quân khu đều gắn chặt với sơ kết thực hiện Quy định 71 và Chỉ thị 37 của Đảng ủy Quân sự Trung ương3. Trên cơ sở đó, Thường vụ Đảng ủy Quân khu tổ chức hội nghị sơ kết kiểm điểm đánh giá kết quả, khẳng định những vấn đề cần tiếp tục thực hiện trong thời gian tới. Đồng chí Phạm Văn Long - Bí thư Đảng ủy Quân khu chủ trì hội nghị. Hội nghị thảo luận đánh giá thực chất những kết quả đạt được, chỉ rõ mặt yếu, cần khắc phục và khẳng định tiếp tục tổ chức quán triệt sâu hơn các quy định 71, 72, 73, Chỉ thị 37, nâng cao hiệu lực hiệu quả thực hiện ở các Đảng bộ đơn vị, địa phương, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và sự nghiệp quốc phòng, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật bộ đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng của quân khu và 6 tỉnh trong thời kỳ phát triển mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hội nghị kiến nghị một số vấn đề về tổ chức hoạt động của Đảng ủy quân sự huyện, mối quan hệ giữa Đảng ủy quân sự huyện với Đảng ủy cơ sở xã, phường; về đào tạo nguồn cán bộ chính trị ở cơ sở, nên chọn trung đội trưởng, đại đội phó quân sự đào tạo chuyển loại làm cán bộ chính trị ở cơ sở4. Cùng thời gian này, Quân khu tổ chức hội nghị đánh giá công tác cán bộ 10 năm (1987-1997); tổ chức thành công Đại hội Phụ nữ Quân khu lần thứ nhất, Đại hội Đoàn Quân khu lần thứ 5, triển khai kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ và bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong quân đội đến năm 2000. Quân khu được lựa chọn làm điểm cho Bộ tổ chức Hội nghị sơ kết cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bên, an toàn, tiết kiệm” của toàn quân. ______________________________________________ 1. Ngày 31-8-1996, Bộ Quốc phòng ra Chỉ thị 1510/CT-QP về cấp, quản lý sổ bảo hiểm xã hội trong quân đội. 2. Ngày 31-8-1996, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức lễ truy tặng Huân chương Sao Vàng của Nhà nước cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã có công lao to lớn vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. 3. Quy định 72 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VII) ngày 19-7-1993 về tổ chức Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Quy định 73 về tổ chức cơ quan chính trị trong Quân đội nhân dân Việl Nam; Quy định 71 của Đảng ủy Quân sự Trung ương ngày 22-7-1993 về tổ chức cơ sở Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam. 4. Từ năm 1998, Bộ chỉ đạo thực hiện chủ trương này. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ VI, năm 1998, Đảng ủy Quân sự Trung ương họp quyết nghị từ cấp tiểu đoàn trở xuống có 2 cán bộ chính trị, còn từ cấp trung đoàn trở lên vẫn thực hiện như cơ chế hiện hành. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 07:59:54 pm Sau khi tổ chức rút kinh nghiệm xây dựng cụm, tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu ở 3 vùng, Bộ tư lệnh, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu tổ chức Hội nghị, đánh giá thực chất kết quả công tác xây dựng. Đồng chí Tư lệnh Quân khu nêu rõ: Đến giữa năm 1998, toàn Quân khu có 364 cụm trên cả 3 hướng chiến lược. Nhiều cụm hoạt động có hiệu quả thiết thực như cụm Phú Tân - Thuận An (Thừa Thiên - Huế), cụm Lao Bảo (Quảng Trị), cụm Ninh Hoá (Quảng Bình), cụm 2 Sơn Thuỷ - Quảng Sơn (Thanh Hoá), cụm 1 Kỳ Sơn (Nghệ An), cụm 5 Trại Trụ (Hà Tĩnh). Các cụm đã phối hợp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; làm đường giao thông, xây dựng mô hình kinh tế mới, văn hoá mới; giúp hỗ trợ nhau xoá đói giảm nghèo, truy quét đấu tranh chống tội phạm, chống tiêu cực và tệ nạn xã hội, ngăn chặn khai thác lâm sản, buôn bán qua biên giới, trên biển, tàng trữ vận chuyển ma tuý, thuốc phiện, chống xâm nhập đường biên; xây dựng huấn luyện lực lượng nòng cốt dân quân tự vệ, dự bị động viên trong địa bàn; đồng thời phối hợp giải quyết các vụ tranh chấp đất đai, mâu thuẫn nội bộ nhân dân, khắc phục hậu quả thiên tai, giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh ngày càng vững mạnh. Hội nghị thống nhất nội dung hoạt động cụm, tuyến trong thời gian tới chủ yếu tập trung 5 nội dung xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu được xác định, hoạt động theo quy chế ở mỗi cấp, tập trung là: Phối hợp khép kín địa bàn, giải quyết tốt các tranh chấp mâu thuẫn nội bộ nhân dân, chủ yếu ngăn chặn giải quyết có hiệu quả tệ nạn xã hội, làm trong sạch địa bàn, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Liên kết hợp tác phát triển kinh tế - xã hội như làm đường giao thông liên thôn liên xã, bảo đảm an toàn giao thông, làm thủy lợi, bảo vệ rừng, giúp nhau phòng chống và khắc phục thiên tai. Phối hợp huấn luyện dân quân tự vệ, dự bị động viên, diễn tập quốc phòng - an ninh, tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục quốc phòng, các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể thao trong cụm, tuyến. Thực hiện giao ban kết quả hoạt động cụm, thông báo tình hình, giải quyết những vấn đề liên quan, sơ kết rút kinh nghiệm. Cuộc vận động xây dựng xã, phường, cơ sở, xây dựng cụm, tuyến phát triển trên các địa phương toàn Quân khu. Qua tổng kết đánh giá của các địa phương, số cơ sở yếu kém chỉ còn 2%. Hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế đã phối hợp các lực lượng dự báo sát tình huống, chủ động giải quyết được nhiều việc, giữ vững an toàn địa bàn trong dịp lễ lớn của Thiên Chúa giáo ở La Vang. Thực hiện mục tiêu năm 1998, năm cuối của kế hoạch 3 năm (1996-1998), Quân khu và các tỉnh tổ chức đợt tập huấn, bồi dưỡng, kiểm tra về quốc phòng cho chủ trì các sở, ban ngành, đoàn thể 6 tỉnh (mỗi tỉnh 26 đồng chí). Tổng số gồm 154 đồng chí, trong đó các ban 41, các ngành 81, các đoàn thể 24. Trong 6 tỉnh, số đi dự đúng chức danh 128 đồng chí, đi thêm 4 đồng chí, đi thay 26 đồng chí. Hầu hết các đồng chí dự kiểm tra đều nắm được các nội dung cơ bản, biết phân tích, liên hệ thực tế cơ quan, ban ngành, đoàn thể địa phương mình. Kết quả kiểm tra: Thứ nhất toàn đoàn: Quảng Bình, thứ nhì: Thanh Hoá, thứ ba: Quảng Trị. Về cá nhân có 25 đồng chí đạt loại giỏi. Như vậy, Quân khu và các tỉnh tập trung tập huấn, bồi dưỡng trong 3 năm về nhiệm vụ quốc phòng địa phương cho hệ thống cán bộ chủ trì từ cơ sở lên tỉnh, mở ra cách làm mới có hiệu quả thiết thực cả nhận thức, hành động, thực hiện được một nội dung quan trọng Nghị quyết Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VI đề ra. Kết quả đạt được có ý nghĩa quan trọng, Bộ và các địa phương đánh giá cao1. Phát huy tinh thần đạt được, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu xác định từ năm 1999 việc tập huấn bồi dưỡng kiểm tra về nhiệm vụ quốc phòng cho cán bộ chủ trì cả 3 cấp. Toàn Quân khu tập trung xây dựng cơ sở đạt mục tiêu có 70% xã, phường trở lên thực sự an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, tự giải quyết được các vụ việc xảy ra tại cơ sở, số còn lại đạt khá và trung bình, không có cơ sở yếu kém nhiều mặt; xây dựng được nhiều cụm, tuyến xã liền xã, huyện liền huyện, tạo tuyến liên hoàn vững chắc của khu vực phòng thủ, chú trọng tuyến biển, biên giới, chống xâm nhập, vượt biên vượt biển, chuẩn bị tổng kết 10 năm cuộc vận động vào năm 2000. Trong xây dựng phát triển các cụm, tuyến, tỉnh Hà Tĩnh có một số huyện giáp ranh liên huyện như Đức Thọ - Can Lộc - Hương Sơn kịp thời phối hợp bảo vệ trị an, giải quyết một số vụ việc hiệu quả tại địa bàn, bảo đảm mối đoàn kết quân dân gắn bó. Ở Thanh Hoá có 123 cụm và 4 tuyến cơ sở, bảo đảm công tác quản lý địa bàn giáp ranh và tuyến biển, biên giới tốt hơn, phối hợp công tác trị an, hợp đồng tác chiến, phòng chống bão lụt, phát hiện và giải quyết mâu thuẫn nội bộ ổn thỏa. Những nỗ lực phấn đấu của Quân khu và các địa phương trong xây dựng đội ngũ cán bộ chủ lực, địa phương, xây dựng cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên ba tuyến đã góp phần cùng quân dân cả nước làm thất bại âm mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch như: kích động làm lây lan vấn đề an ninh nông thôn và những điểm nóng; vô hiệu hoá tổ chức Đảng và chính quyền từ cấp cơ sở; thúc đẩy ý đồ nắm ngọn cờ tập hợp lực lượng, chống phá làm cho tình hình rối ren, mất ổn định. Sức mạnh quốc phòng - an ninh của Quân khu và các địa phương được củng cố vững chắc, tạo tiền đề để tiếp tục xây dựng, phát triển những năm tiếp theo. ____________________________________________ 1. Từ yêu cầu thực tiễn và qua kết quả của các đơn vị địa phương, tháng 3-1999, Bộ Quốc phòng ra Chỉ thị số 339/1999/CT-BQP giao nhiệm vụ cho các quân khu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ đầu ngành cấp tỉnh, thành, quận, huyện, thị xã. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 08:01:13 pm 2- Tập trung xây dựng chỉnh đốn Đảng, tăng cường huấn luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu, thực hiện tốt công tác dân vận. Cuối tháng 12-1997, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) họp Hội nghị lần thứ 4 ra Nghị quyết tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, chuẩn bị đưa đất nước vững bước vào thế kỷ XXI. Vào thời điểm này, tình hình thế giới, khu vực, tình hình biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp. Điểm nổi bật của các trào lưu, xu hướng chính trị - quân sự một mặt là hoà hoãn, hoà bình trên toàn cục, tập trung phát triển và đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị, tránh đối đầu vũ trang; mặt khác ráo riết chuẩn bị vũ trang, tiếp tục các biện pháp vũ trang ở các khu vực tranh chấp quyết liệt. Đối với nước ta, các nguy cơ và tình huống lớn mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII xác định vẫn tồn tại và đang là những thách thức to lớn đối với độc lập chủ quyền của đất nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trên địa bàn Quân khu, tình hình an ninh chính trị ổn định, kinh tế tiếp tục tăng trưởng, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao, lòng tin được củng cố. Song Quân khu xác định, cần hết sức đề phòng những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở một số nước ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta nói chung và địa bàn Quân khu nói riêng. Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, các thế lực thù địch tăng cường hoạt động chống phá toàn diện, cần hết sức lưu ý địch gia tăng các hoạt động móc nối, lôi kéo, tập hợp lực lượng. Đặc biệt phải thường xuyên nâng cao cảnh giác, chống âm mưu "phi chính trị hoá quân đội", dẫn đến vô hiệu hoá các lực lượng quốc phòng, xu hướng tách rời hai nhiệm vụ chiến lược, hạ thấp mặt đấu tranh, cường điệu mặt hợp tác trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa, phòng chống hiệu quả những "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của địch. Thực hiện Chỉ thị của Bộ Quốc phòng “nắm tình hình, điều chỉnh và hoàn thiện các kế hoạch, trọng điểm là kế hoạch phòng chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lột đổ, sẵn sàng đối phó với các tình huống chiến lược từ nay đến năm 2000”, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương khảo sát, nắm tình hình, không ngừng củng cố, xây dựng quốc phòng - an ninh vững mạnh. Ngày 17-12-1997, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức tổng kết 7 năm thực hiện nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hoà bình”. Thiếu tướng Trương Đình Thanh - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu trình bày báo cáo. Hội nghị đánh giá: Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đã có các nghị quyết, chỉ thị phối hợp cùng cấp ủy, chính quyền, ban ngành đoàn thể triển khai công tác giáo dục trong Đảng, nhân dân, lực lượng vũ trang ba thứ quân nhận thức rõ âm mưu thủ đoạn chống phá của địch trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, đặt rõ nhiệm vụ hàng đầu đề cao cảnh giác, chủ động phòng, chống đánh bại âm mưu chống phá của đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, bảơ vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, giữ vững ổn định chính trị địa bàn. Trên cơ sở thống nhất nhận thức, các đơn vị địa phương triển khai đồng bộ và diễn tập thực nghiệm các kế hoạch A2, tăng cường công tác nắm tình hình, nắm địch trên các hướng, trong đó chú trọng vùng phía nam Quân khu. Từ phương án A2, tập trung củng cố, xây dựng lực lượng chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ theo yêu cầu nhiệm vụ, xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng trận địa lòng dân, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ phòng chống tự diễn biến, tự chuyển hoá, tăng cường sự phối hợp giữa quân đội, công an, biên phòng, sự phối hợp trong hệ thống chính trị của địa phương dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, điều hành của chính quyền địa phương xử lý các vụ việc theo phương châm chỉ đạo đạt hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, việc xây dựng xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu ở cơ sở yếu kém vùng trọng điểm chuyển biến chậm. Công tác hiệp đồng của hệ thống chính trị có lúc có nơi chưa đồng bộ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp để phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ và tự diễn biến; hiệp đồng giữa quốc phòng - an ninh chưa gắn bó thường xuyên. Hội nghị đề ra phương hướng thời gian tới là: Tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương, Nghị quyết Đảng ủy Quân khu, tập trung mục tiêu cấp bách hàng đầu phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ và tự diễn biến, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống, tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiệm vụ cụ thể là: 1. Tăng cường giáo dục quốc phòng, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, chủ động nắm địch, tập trung chăm lo xây dựng bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, quản lý tư tưởng, củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng, huy động tổng hợp mọi nguồn lực chủ động tiến công phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, giữ vững ổn định chính trị. 2. Phối hợp các địa phương, các ngành nắm chắc các hoạt động trên lĩnh vực kinh tế - văn hoá, các tổ chức nước ngoài trên địa bàn Quân khu, chỉ đạo soát xét bổ sung kế hoạch A, A2, kế hoạch B, diễn tập A2 ở các cấp, đi sâu vùng trọng điểm, vùng xung yếu, các huyện mới được thành lập, hoàn thành kế hoạch phòng thủ cơ bản của Quân khu, tỉnh, huyện, tập trung xây dựng kế hoạch tác chiến tuyến biên giới phía tây, tuyến đảo. 3. Thường xuyên chỉ đạo xây dựng cuộc vận động xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu với 5 nội dung gắn chặt xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện làm chuyển biến thực sự các vùng xung yếu, bảo đảm vững chắc kế hoạch phòng thủ. Trên cơ sở tổng kết 7 năm thực hiện nhiệm vụ A2, Quân khu bổ sung hoàn chỉnh quyết tâm A, A2, A3 mới, kế hoạch C, điều chỉnh kế hoạch B. Bộ tư lệnh Quân khu báo cáo Bộ Quốc phòng về quyết tâm bảo vệ biên giới, vùng biển, vùng trời trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (A3), bố trí lại đội hình Sư đoàn 324, Sư đoàn 341 theo phương án phòng thủ, chuyển Trung đoàn bộ binh 273 cho Sư đoàn 324 chỉ huy quản lý, chuyển Trung đoàn bộ binh 3 khung thường trực từ Sư đoàn 324 về Sư đoàn 341 chỉ huy quản lý xây dựng đơn vị động viên. Bộ Tham mưu Quân khu chỉ đạo Trung đoàn 80 và lực lượng thông tin địa phương, đơn vị luyện tập thông tin trong nhiệm vụ A2 khu vực phía nam. Các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và nhiều huyện thị trong Quân khu đổi mới nội dung phương pháp diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện lần 2. Hai huyện Mường Lát và Quan Sơn (Thanh Hoá) diễn tập lần đầu về tác chiến trị an cụm và xã, phường, được tăng cường lãnh đạo, điều hành, công tác tham mưu xử lý tình huống A2 theo cơ chế 02, gắn nội dung mới là phòng chống bão lụt, chống cháy rừng. Trung đoàn 176 luyện tập thực nghiệm về cách đánh A2 theo chỉ đạo của Bộ. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 08:06:02 pm Bộ đội biên phòng 6 tỉnh thực hiện Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị1 (khoá VII), Nghị định 02/TTg của Thủ tướng Chính phủ về thi hành Pháp lệnh bộ đội biên phòng có bước phát triển mới về xây dựng, huấn luyện, diễn tập sẵn sàng chiến đấu, phối hợp chống buôn lậu trên biển, biên giới, vận động quần chúng xây dựng quản lý địa bàn, tham gia chương trình xoá đói giảm nghèo, xoá mù chữ, chống dịch bệnh, xây dựng các điểm sáng biên giới, cùng bạn tuần tra song phương, kịp thời xử lý các sự việc phát sinh, bảo vệ được biên giới hữu nghị. Ở Quảng Trị thành lập thêm Đồn biên phòng mới 214 tại đảo Cồn Cỏ. Đầu năm 1998, Thiếu tướng Phạm Văn Long - Bí thư Đảng ủy - Phó tư lệnh Chính trị Quân khu nhận nhiệm vụ chuyển công tác ở Tổng cục Chính trị. Đảng ủy Quân khu họp bầu bổ sung ủy viên Thường vụ, Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân khu. Thiếu tướng Phạm Hồng Minh - Phó tư lệnh Chính trị Quân khu được bầu làm Bí thư Đảng ủy Quân khu; Đại tá Nguyễn Phong Phú - Ủy viên Đảng ủy Quân khu - Chủ nhiệm Chính trị được bầu Ủy viên Thường vụ, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân khu. Thực hiện Chỉ thị của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Thường vụ Đảng ủy Quân khu ra Chỉ thị tiến hành Đại hội Đảng bộ, chi bộ cơ sở nhiệm kỳ 1998-2000, đồng thời chọn hai Đảng bộ tổ chức Đại hội điểm là Trung đoàn 80 và Ban chỉ huy quân sự thành phố Vinh; tổ chức quán triệt thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 trong cán bộ chủ trì toàn Quân khu2. Mục tiêu trọng tâm thực hiện là: Tập trung khơi dậy, phát huy cao nhất nội lực của lực lượng vũ trang Quân khu và nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn Quân khu trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả sản xuất quốc phòng, làm kinh tế của các doanh nghiệp, hiệu quả các dự án, triệt để thực hành tiết kiệm xây dựng đơn vị địa phương, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu nhiệm vụ quốc phòng, quân sự gắn với phát triển kinh tế - xã hội của Quân khu và 6 tỉnh đến năm 2000. Căn cứ vào chương trình hành động và triển khai Nghị quyết 06 của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Đảng ủy Quân khu ra Nghị quyết về thực hiện nhiệm vụ lao động sản xuất làm kinh tế từ 1998-2000 và những năm tiếp theo3. Nghị quyết đánh giá: hơn 2 năm hoạt động sản xuất, làm kinh tế lực lượng vũ trang Quân khu đã nâng nhận thức và hiệu quả xây dựng kinh tế đóng góp thiết thực hoàn thành nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, từng bước kết hợp quốc phòng - an ninh với kinh tế - xã hội - đối ngoại, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh và giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn Quân khu, xây dựng khu hậu phương chiến lược của bạn. Nhưng kết quả lao động sản xuất làm kinh tế còn thấp, chưa tương xứng năng lực và vốn đầu tư, lợi nhuận thấp, khả năng phát triển yếu. Thực trạng đó tác động đến tình hình xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu. Để khắc phục tình trạng đó, nghị quyết nêu rõ: tập trung khơi dậy và phát huy cao nhất nội lực của lực lượng vũ trang Quân khu, thực hiện tốt nhiệm vụ lao động sản xuất làm kinh tế, đặc biệt là phải tích cực chủ động làm tốt tham gia xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng trên các địa bàn chiến lược. Khai thác hết năng lực sản xuất tại chỗ và làm kinh tế hiệu quả cao, có lãi, tích luỹ để phát triển, đạt mức tăng trưởng hàng năm trong khối lượng tập trung là 5 - 6%, khối các doanh nghiệp 9 - 11%. Thực hiện nghiêm túc theo luật pháp và các quy định của Bộ Quốc phòng. Bộ tư lệnh Quân khu triển khai nhiều chủ trương biện pháp thực hiện như: xây dựng đề án sắp xếp lại các doanh nghiệp theo phương hướng nghị quyết đề ra; đồng thời kiên quyết xử lý một số vụ việc tồn đọng trong thanh quyết toán xây dựng công trình Nhà máy xi măng 19-5 thuộc Công ty Thanh Sơn và Xí nghiệp mộc 74 thuộc Công ty Lam Hồng, thanh tra kiểm tra giải quyết một số vấn đề vi phạm trong xây dựng cơ bản, các dự án 327, 773. Trong thời gian này, Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết chuyên đề về chăm lo xây dựng hậu phương, từng bước giảm nghèo cho đội ngũ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng của lực lượng thường trực Quân khu, đề ra mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp: phát huy tinh thần tự lực tự cường của từng gia đình, kết hợp sự giúp đỡ của đơn vị, địa phương, phấn đấu đến năm 2005 không còn hộ những người hưởng lương có mức thu nhập bình quân dưới mức lương tối thiểu (hiện gia đình cán bộ có mức thu nhập bình quân dưới mức lương tối thiểu là 19,3%, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng 22,6%)4. Thực hiện hai nghị quyết 06 và 150 của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Quân khu xác định nhiệm vụ củng cố xây dựng các căn cứ cách mạng có vị trí trọng yếu, kịp thời triển khai dự án và hình thành 2 khung đoàn kinh tế - quốc phòng gồm lực lượng của Trung đoàn 6 Quảng Trị và Trung đoàn 842 Thừa Thiên - Huế đứng chân trên địa bàn chiến lược phía tây Khe Sanh và A Lưới. Quân khu và Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh đã sắp xếp, điều động cán bộ, tổ chức các lớp học tập bồi dưỡng về công tác vận động quần chúng theo tinh thần Nghị quyết 133 của Đảng ủy Quân sự Trung ương, lập các tổ đội công tác xây dựng cơ sở về các vùng sâu, vùng xa, vùng trọng điểm quốc phòng - an ninh bám dân, bám địa bàn hoạt động, đóng góp thiết thực, trực tiếp vào việc xây dựng cơ sở, xây dựng địa bàn. ______________________________________________ 1. Nghị quyết 11/NQ-TW ngày 8-8-1995 của Bộ Chính trị về xây dựng bộ đội biên phòng thời kỳ mới nêu rõ: "Bộ đội biên phòng là một lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm nòng cốt chuyên trách quản lý, bảo vệ an ninh biên giới quốc gia theo nhiệm vụ và quyền hạn được giao; đồng thời là một thành viên của khu vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới". 2. Tại Hội nghị toàn quân ngày 28-3-1998, quán triệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng phát động trong toàn quân phong trào thi đua “tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, cần kiệm xây dựng quân đội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa". 3. Nghị quyết 415/NQ-ĐU của Đảng ủy Quân khu ngày 7-8-1998. 4. Nghị quyết 341/NQ-ĐU của Đảng ủy Quân khu ngày 7-8-1998. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 08:06:57 pm Trong nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đầu tháng 5-1998, Đảng ủy Quân sự Trung ương tiến hành kiểm tra Đảng ủy Quân khu theo điểm 2 điều 30 chương 7 Điều lệ Đảng (khoá VIII). Trước cuộc kiểm tra này, Thường vụ Đảng ủy Quân khu, các đồng chí ủy viên Thường vụ Đảng ủy đều tự phê bình, phê bình và thông báo tới các Đảng bộ trực thuộc sinh hoạt đóng góp ý kiến. Trong hai ngày 26 và 27-5-1998, Đảng ủy Quân khu họp tự phê bình, phê bình. Thượng tướng Phạm Văn Trà - Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ trưởng Quốc phòng thay mặt Đảng ủy Quân sự Trung ương dự. Cùng dự có Thiếu tướng Phạm Văn Long - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thiếu tướng Đỗ Bằng Quyền - Chủ nhiệm và Đại tá Lê Văn Mẹo, Ủy viên Thường trực Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương. Đồng chí Phạm Hồng Minh, Bí thư Đảng ủy báo cáo tự phê bình, kiểm điểm của Đảng ủy Quân khu về các nội dung kiểm tra; các ủy viên Thường vụ Đảng ủy Phạm Hồng Minh, Nguyễn Khắc Dương, Trương Đình Thanh, Cao Xuân Khuông, Nguyễn Phong Phú trình bày tự phê bình, kiểm điểm. Các ủy viên Đảng ủy Quân khu khối quân sự Trần Bá Toàn, Hồ Hữu Lạn, Lê Quyết Tiến, Võ Hạnh, Lê Văn Đàm, Trần Quang Lộc, Nguyễn Đức Lương, Đặng Quyết tham dự lần lượt góp ý kiến phê bình từng ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu. Đồng chí Bí thư Đảng ủy Quân khu chủ trì hội nghị kết luận: Trong gần 1 tháng, Đảng ủy Quân khu thực hiện nghiêm túc chỉ thị, hướng dẫn về công tác kiểm tra của Đảng ủy Quân sự Trung ương, bảo đảm đúng nguyên tắc, nâng cao được tính chiến đấu, tự phê bình, phê bình, tạo sự đoàn kết nhất trí cao, đạt các mục đích nội dung cuộc kiểm tra, thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng, thức đẩy hoàn thành nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Ngày 29 tháng 8 năm 1998, Trung tướng Phạm Thanh Ngân - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thông báo kết luận của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương về kiểm tra Đảng ủy và 5 ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu 4, yêu cầu Đảng ủy Quân khu 4 thực hiện: 1. Cần nắm vững và chấp hành nghiêm túc, có hiệu quả nguyên tắc tổ chức lãnh đạo của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. 2. Các vụ việc vi phạm được Thường vụ Đảng ủy Quân khu kết luận, cần tổ chức kiểm điểm phân rõ đúng sai, tìm nguyên nhân, quy rõ trách nhiệm, theo mức độ vi phạm xử lý nghiêm túc. 3. Sau khi có kết luận của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Đảng ủy Quân khu cần có kế hoạch phúc đáp những ý kiến phê bình của các tổ chức Đảng trực thuộc và Đảng ủy quân sự 6 tỉnh. Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu thực hiện nghiêm túc kết luận kiểm tra của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, tiếp thu các kiến nghị của Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, đề ra hướng khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót trên ở mặt công tác từ năm 1995-1998, triển khai cụ thể thực hiện trong các cơ quan, đơn vị. Sáng ngày 2-8-1998, nhân dịp kỷ niệm 53 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9, đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đến thăm và làm việc với Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu. Các đồng chí Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu và cơ quan Quân khu đón tiếp trọng thể đồng chí Tổng Bí thư. Thay mặt Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, đồng chí Tư lệnh Quân khu báo cáo, nêu rõ thành tích Quân khu đạt được, những mặt mạnh, mặt hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ quốc tế giúp bạn của Quân khu. Đồng chí Tổng Bí thư nói chuyện, đánh giá cao thành tích của Quân khu về tình hình xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, kết hợp kinh tế - quốc phòng và quốc phòng - an ninh trên địa bàn Quân khu; đồng thời nêu rõ những vấn đề cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiến hành Đại hội Đảng các cấp, chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 08:17:12 pm Cuối tháng 9 năm 1998, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức Hội nghị quán triệt, xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) và Nghị quyết 94 của Đảng ủy Quân sự Trung ương1 . Hội nghị đề ra: chương trình hành động 4 điểm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 gồm: 1. Xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu luôn luôn kiên định, vững vàng về chính trị tư tưởng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. 2. Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, xứng danh "Bộ đội Cụ Hồ" trên quê hương Bác. 3. Xây dựng lối sống trong sạch lành mạnh. 4. Xây dựng đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, phong phú. Đồng thời đề ra chương trình hành động 7 điểm thực hiện Nghị quyết 94 của Đảng ủy Quân sự Trung ương: Tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của sĩ quan các cấp, các ngành trong Quân khu tham gia ý kiến dự thảo luật sĩ quan. Quán triệt và thực hiện hiệu quả đề án đổi mới cơ cấu, diện bố trí đội ngũ cán bộ của Bộ Quốc phòng để tập trung giải quyết sự mất cân đối về cấp bậc quân hàm và tỷ lệ sĩ quan. Thực hiện hiệu quả quy trình đào tạo, sử dụng, luân chuyển cán bộ. Làm tốt quy hoạch cán bộ chủ trì, đầu ngành và tạo nguồn tài năng quân sự. Tiếp tục thực hiện chủ trương đại học hoá trình độ học viên của đội ngũ sĩ quan gắn liền với rèn luyện thực tiễn để nâng cao năng lực toàn diện đội ngũ cán bộ. Nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ sĩ quan dự bị, có số lượng cân đối, hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng thời kỳ đầu chiến tranh. Thực hiện tốt công tác hậu phương cán bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ yên tâm công tác, phát triển tài năng. Trong đó, tập trung ưu tiên cho cán bộ cơ sở, nông thôn vùng sâu, vùng xa, cán bộ các đơn vị chủ lực sống xa gia đình. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư và chương trình hành động của Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, các Đảng ủy trực thuộc tập trung lãnh đạo, chỉ đạo 274 Đảng bộ cơ sở chủ lực, địa phương hoàn thành tốt Đại hội Đảng nhiệm kỳ 1998-2000, góp phần nâng cao sức chiến đấu và chất lượng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, tạo cơ sở hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ VI, chuẩn bị một bước cho Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ VII. Công tác đảng, công tác chính trị bám sát yêu cầu, nhiệm vụ các đơn vị, địa phương tiến hành nhiều hoạt động với hình thức, nội dung hiệu quả như: chỉ đạo điểm giáo dục chính trị quản lý tư tưởng tại Trung đoàn 335 Sư đoàn 324 và Ban chỉ huy quân sự thành phố Vinh; nắm và quản lý chất lượng chính trị của dân quân tự vệ tại thành phố Thanh Hoá; hành quân dã ngoại xây dựng cơ sở ở Trung đoàn 19 Sư đoàn 968. Các hoạt động thực hiện chương trình hành động Nghị quyết Trung ương 5 rất đa dạng như: thi giảng dạy chính trị và tuyên truyền thời sự giỏi từ đơn vị cơ sở lên, có 48 đồng chí dự thi ở Quân khu, giải nhất Hà Tĩnh, nhì Sư đoàn 324; triển khai hoạt động hiệu quả các phòng Hồ Chí Minh ở Sư đoàn 968, Sư đoàn 324, Cục Kỹ thuật, Bộ Tham mưu, Trung đoàn 176, Lữ đoàn 414, Trung đoàn 206; tổ chức hoạt động thiết thực nhân kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi "thi đua ái quốc (11.6.1948-11.6.1998). Sư đoàn 341, Sư đoàn 968, Trường Quân sự Quân khu, Lữ đoàn 414, Trung đoàn 206, Trung đoàn 80, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế là những đơn vị, địa phương có phong trào hoạt động sôi nổi. Quân khu chỉ đạo các lực lượng vũ trang cùng địa phương xây dựng điểm và rút kinh nghiệm xây dựng môi trường văn hoá trong lực lượng vũ trang gắn với môi trường văn hoá cấp huyện, xây dựng gia đình, làng xã, cụm văn hoá địa bàn tại huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh2. Cuối tháng 6-1998 tại huyện Hướng Hóa, Bộ tư lệnh Quân khu cùng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Hướng Hóa tổ chức hội thảo khoa học: “Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh, giải phóng huyện Hướng Hóa” nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh (9.7.1968 - 9.7.1998). Trước yêu cầu mới của công tác tư tưởng văn hoá, công tác báo chí xuất bản theo phương hướng Nghị quyết Trung ương 5, báo Quân khu 4 - cơ quan của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu - tiếng nói của lực lượng vũ trang Quân khu được phép mở rộng tăng từ 1.000 số lên 3.500 số phát hành đến tận đại đội và xã phường trong Quân khu, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của báo và truyền hình giáo dục quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở cơ sở trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Cuối tháng 10 năm 1998, Hội đồng khoa học Bộ Quốc phòng tổ chức nghiệm thu đề tài: "Kết hợp giữa phương thức tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương với phương thức tác chiến của bộ đội chủ lực trong tác chiến phòng thủ quân khu của Quân khu 4"3. Đề tài được đúc rút từ thực tiễn hoạt động của quân khu trong những năm qua, tạo thêm cơ sở chỉ đạo xây dựng, diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện gắn xây dựng lực lượng chủ lực quân khu ngày càng vững mạnh trong năm 1999 và những năm tiếp theo. Cùng thời gian này, Hội đồng khoa học Quân khu tổ chức nghiệm thu một số đề tài như: Lý luận và giải pháp quản lý, bảo vệ biên giới Việt - Lào trên địa bàn Quân khu 4. Cải tiến tổ chức và công tác quản lý nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp của Quân khu. Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân khu xây dựng đề tài: "Những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác kiểm tra Đảng trong xây dựng Đảng bộ Quân khu 4 thời kỳ đổi mới". Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá thực hiện các đề tài: Âm mưu thủ đoạn của bọn phản động cực đoan đội lốt tôn giáo trên địa bàn Thanh Hoá trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ và biện pháp đối phó của ta. Thực trạng di cư của người H'Mông ở Thanh Hoá và giải pháp giữ vững thế trận quốc phòng - an ninh phía tây Thanh Hoá4. ______________________________________________ 1. - Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. - Nghị quyết 94 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (29-4-1998) về “Xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới" cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) về “Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". 2. Tháng 8-1997, Quân khu tổng kết 5 năm xây dựng môi trường văn hóa, có 65% đơn vị đạt tiêu chuẩn “Đơn vị có môi trường văn hoá tốt đẹp, lành mạnh phong phú”, phấn đấu đến 2000 có 100% đơn vị đạt danh hiệu này. Trung tướng Phạm Thanh Ngân - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị tới dự chỉ đạo, biểu dương chủ trương sáng tạo của Quân khu đưa cuộc vận động này vào các cơ quan quân sự huyện, thị, thành và đây cũng là cơ sở tốt thực hiện Nghị quyết Trung ương 5. 3. Chủ nhiệm đề tài: Thiếu tướng Cao Xuân Khuông - Phó tư lệnh Quân khu. 4. Người H’Mông phía Bắc di dịch vào địa bàn Quân khu, chủ yếu vào tây Thanh Hóa, gồm có 929 hộ, với 7.340 khẩu thường xuyên phá rừng làm rẫy, truyền đạo trái phép, ma tuý. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2024, 08:17:44 pm Tháng 12-1998, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị tổng kết 5 năm hoạt động sáng kiến, sáng chế của lực lượng vũ trang Quân khu (1994-1998), xác định phương hướng chủ trương đẩy mạnh các hoạt động này đến năm 2005. Hội nghị đánh giá: Trong 5 năm Quân khu có 379 sáng kiến sáng chế, trong đó có 71 sáng kiến sáng chế được Hội đồng các cấp nghiệm thu khen thưởng, 53 sáng kiến sáng chế được Bộ Quồc phòng tặng bằng khen, giấy khen; 82 sáng kiến sáng chế phục vụ cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện; 296 sáng kiến sáng chế phục vụ cho chuyên môn kỹ thuật, lao động sản xuất, 3 sáng kiến sáng chế (tiện ren đầu trục ô tô, chế tạo vành ly giác, cải tiến bếp đun than lò nung cưỡng bức) được Bộ Quốc phòng cho nhân rộng, áp dụng sản xuất. Trường Quân sự Quân khu và X467 Cục Kỹ thuật là hai đơn vị dẫn đầu phong trào được Bộ tư lệnh Quân khu tặng cờ. Về cá nhân có Trung tá kỹ sư Nguyễn Đức Minh - Giám đốc X467; Trung tá kỹ sư Bùi Thanh Bảo - Giám dốc Xí nghiệp xi măng 19-5; Đại tá bác sĩ Hoàng Bá Phúc - Giám đốc Viện quân y 4 là những đồng chí tiêu biểu trong hoạt động sáng kiến, sáng chế. Cuối năm 1998, Đảng ủy Quân khu tổ chức hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện quy chế 365 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương về "Lãnh đạo của Đảng ủy các cấp đối với Viện Kiểm sát và Toà án quân sự" 1988-1998. Hội nghị đánh giá: Đảng ủy Quân khu luôn đặt Viện Kiểm sát quân sự Quân khu, Toà án quân sự Quân khu là cơ quan chịu sự lãnh đạo thường xuyên và trực tiếp của Thường vụ Đảng ủy Quân khu, đồng thời Viện Kiếm sát quân sự Quân khu, Toà án quân sự Quân khu luôn chấp hành nghiêm chỉnh sự lãnh đạo của Đảng ủy Quân khu, trực tiếp là Thường vụ Đảng ủy Quân khu theo đúng quy chế 365 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương. Đảng ủy Quân khu, thường xuyên là Thường vụ Đảng ủy Quân khu đã lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải quyết án của Viện Kiểm sát và Toà án quân sự Quân khu, quán triệt sâu sắc các quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước vào công tác xét xử, không can thiệp sâu vào chức năng, quyền hạn của các cơ quan tư pháp. Từ giữa tháng 12 năm 1998, bộ đội biên phòng Đồn 547 Nghệ An nắm được nguồn tin bọn phỉ ngoại biên tìm cách xâm nhập biên giới. Đồng chí Nguyễn Cảnh Dần trinh sát đặc nhiệm cùng đồng đội trong tổ bám sát địa bàn nắm tình hình, tổ chức mai phục kịp thời. Khi áp sát tên phỉ trong đêm tối, đồng chí Nguyễn Cảnh Dần dũng cảm xông vào bắt và bị thương nặng do tên phỉ kháng cự. Đồng chí không quản đau đớn ôm chặt tên phỉ cho đồng đội kịp đến bắt gọn, sau đó hy sinh anh dũng. Gương chiến đấu dũng cảm của đồng chí Nguyễn Cảnh Dần từ biên giới huyện Kỳ Sơn được nhanh chóng truyền đi cả nước. Phong trào noi gương học tập liệt sĩ Nguyễn Cảnh Dần được phát động sâu rộng trong bộ đội biên phòng và các đơn vị, địa phương nhất là dịp kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống bộ đội biên phòng (3.3.1959-3.3.1999), 10 năm Ngày Biên phòng (1989-1999)1. Ngày 11-6-1999, Nhà nước ta đã quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ đổi mới cho Trung úy liệt sĩ Nguyễn Cảnh Dần. ____________________________________________ 1. Ngày 22-2-1989, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 6/HĐBT lấy ngày 3 tháng 3 hàng năm là Ngày Biên phòng trong cả nước. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 05:43:39 pm * * * Những năm cuối thập kỷ 90, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá ngầm, mềm và công khai quyết liệt hơn trên các lĩnh vực. Mỹ - NATO mở cuộc tấn công xâm lược Nam Tư làm cho tình hình thế giới thêm căng thẳng, phức tạp. Trước tình hình đó, Quân khu tổ chức Hội thảo nghiên cứu về việc Mỹ - NATO tấn công xâm lược Nam Tư1, rút ra một số vấn đề, trong đó xác định rõ nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang là phải vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc đề phòng chiến tranh, vừa phải luôn luôn chủ động phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu như Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII) đã xác định2. Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu khẳng định việc cần thiết phải chuẩn bị một nghị quyết về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang Quân khu trước tình hình mới. Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo bổ sung một số vấn đề về tác chiến phòng thủ, triển khai bước đầu kế hoạch phòng tránh, sơ tán; thông qua kế hoạch hiệp đồng A2 giữa các lực lượng; kế hoạch cơ động làm nhiệm vụ C; quyết tâm phòng không nhân dân; duyệt kế hoạch bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và an ninh chính trị của bộ đội biên phòng 6 tỉnh. Cơ quan biên phòng Quân khu cùng Bộ chỉ huy biên phòng các tỉnh chỉ đạo xây dựng quyết tâm A, A2 của các đồn biên phòng, kế hoạch phối hợp tuần tra song phương với bạn Lào bảo vệ biên giới cửa khẩu, chống phỉ và bọn phản động lưu vong xâm nhập, giữ vững ổn định biên giới hai nước Việt - Lào. Đầu năm 1999, Đảng ủy Quân khu ra Nghị quyết lãnh đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết 07/NQ-TW Bộ Chính trị, Nghị quyết 33 của Đảng ủy Quân sự Trung ương về tiếp tục điều chỉnh tổ chức biên chế đến năm 2005. Nghị quyết nêu rõ việc điều chỉnh tổ chức biên chế phải bảo đảm đúng phương châm xuyên suốt là: tích cực, thận trọng, có kế hoạch và bước đi thích hợp, nhưng kiên quyết, vững chắc, hiệu quả, giữ bí mật, không để xáo trộn, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu, giữ nghiêm kỷ luật, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Thường vụ Đảng ủy chỉ đạo các cơ quan quân khu triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy Quân khu về chấn chỉnh tổ chức biên chế các cơ quan, đơn vị theo hướng tinh giảm gọn mạnh. Cùng thời gian này, căn cứ vào tình hình cụ thể, Quân khu quyết định thành lập lực lượng điệp báo chiến dịch nắm tình hình phía tây; bổ sung mạng cáp thông tin trên các đảo; đồng thời chuyển Trung đoàn bộ binh 6 và Trung đoàn bộ binh 842 trở về Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế nhận nhiệm vụ quản lý, huấn luyện quân dự bị động viên, chuyển Sư đoàn 337 thành Đoàn kinh tế - quốc phòng ở Khe Sanh - Hướng Hoá và Đoàn 92 kinh tế - quốc phòng ở A Lưới. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 337 mới trở về Quân khu 4 năm, nhưng khi có lệnh chuyển thành đoàn kinh tế - quốc phòng đã nhanh chóng chuyển từ Hà Tĩnh vào tây Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, thể hiện ý thức chấp hành nghiêm mệnh lệnh được giao. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đã động viên các cơ quan, đơn vị, địa phương giúp Đoàn 337 kinh tế - quốc phòng một số mặt để nhanh chóng triển khai nhiệm vụ mới trên địa bàn chiến lược phía tây3. Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu cùng các tỉnh chỉ đạo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị định 19/CP của Thủ tướng Chính phủ, 3 năm thực hiện Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị về xây dựng bộ đội biên phòng từ cơ sở lên Quân khu. Các tổ chức ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong Quân khu cùng với các địa phương thực hiện tổng kết 10 năm phối hợp hoạt động giữa quân với dân. Thực hiện kế hoạch của Bộ, đầu tháng 4 năm 1999, Thiếu tướng Phạm Huy Chưởng - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu, đại biểu Quốc hội khoá 10 đã cùng đoàn cán bộ Nhà nước và Bộ Quốc phòng đi nghiên cứu tình hình các mặt, nhất là nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở tuyến đảo Trường Sa. Giữa tháng 4 năm 1999, đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao, đại biểu Quốc hội khoá 10 đến thăm tiếp xúc với cử tri lực lượng vũ trang Quân khu. Thiếu tướng Trương Đình Thanh - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Phó tư lệnh Quân khu thay mặt Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, các cơ quan Quân khu báo cáo tình hình. Đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm nêu rõ một số tình hình về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, những vấn đề cử tri trên địa bàn và lực lượng vũ trang đề xuất chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội sắp tới. ______________________________________________ 1. Mỹ - NATO tấn công xâm lược Nam Tư trong 79 ngày đêm từ ngày 24-3 đến ngày 10-6-1999. 2. Nghị quyết Trung ương 3 xác định: "lực lượng vũ trang vừa có nhiệm vụ bảo vệ độc lập chủ quyển, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vừa phải bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa, coi hai nhiệm vụ đó gắn chặt với nhau thành một thể thống nhất". 3. Ngày 20-7-1999, Bộ tư lệnh Quân khu ra Quyết định số 419/QĐ-TL thành lập Đoàn kinh tế - quốc phòng 92 trên cơ sở của trung đoàn bộ binh 92 khung thường trực Sư đoàn 337 khung thường trực và Quyết định số 420/QĐ-TL thành lập Đoàn kinh tế - quốc phòng 337. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 05:46:38 pm Từ đầu tháng 5 năm 1999, Thường vụ Đảng ủy Quân khu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ then chốt - công tác xây dựng Đảng với nội dung xuyên suốt cho cả thời gian của nhiệm kỳ Đại hội VI và Đại hội VII của Đảng bộ Quân khu. Trước hết là tổ chức quán triệt nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), triển khai "Cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng" theo tư tưởng Hồ Chí Minh với quyết tâm thực hiện tốt nhất những lời căn dặn của Bác Hồ nhân dịp kỳ niệm 30 năm Bác viết Di chúc (1969-1999)1 và hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu2. Đảng ủy Quân khu xây dựng các bước và Chương trình hành động 4 điểm, tổ chức cho 25/25 Đảng ủy trực thuộc đóng góp ý kiến phê bình Đảng ủy Quân khu, các ủy viên Đảng ủy, lấy ý kiến phê bình của quần chúng. Thường vụ Đảng ủy Quân khu đặt rõ vấn đề thống nhất nhận thức tư tưởng trong toàn Đảng bộ là kiểm điểm nghiêm túc, chặt chẽ theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) đã xác định. Đảng ủy Quân khu chỉ đạo hai Đảng bộ Cục Hậu cần và Đảng bộ Sư đoàn 324 làm điểm đóng góp ý kiến cho Đảng ủy và từng đảng ủy viên Quân khu để tiếp tục chỉ đạo thực hiện ở các Đảng bộ toàn Quân khu. Cuối tháng 9 năm 1999, Đảng ủy Quân khu họp tự phê bình, phê bình kiểm điểm 3 nội dung: nhận thức tư tưởng chính trị và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị; lãnh đạo thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, giữ gìn phẩm chất đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên; một số vấn đề về công tác tổ chức và chỉ đạo điều hành của Đảng ủy Quân khu. Đảng ủy tự phê bình, phê bình tập thể Thường vụ Đảng ủy, Đảng ủy quân khu, 5 đồng chí ủy viên Thường vụ sau khi có ý kiến chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương. Đồng chí Phạm Văn Trà - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương tới dự chỉ đạo hội nghị. Đảng ủy Quân khu, Thường vụ Đảng ủy Quân khu tập trung cao trí tuệ, tinh thần trách nhiệm chuẩn bị tốt tự kiểm điểm, lấy ý kiến đóng góp dân chủ của Đảng ủy cấp dưới, tổng hợp những dư luận liên quan đến tập thể, cá nhân, tiếp thu nghiêm túc ý kiến chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương, tự phê bình, phê bình đúng nguyên tắc, quy trình, trung thực, chân tình làm rõ ưu, khuyết, những vấn đề nổi cộm của Đảng bộ, Đảng ủy và từng Ủy viên Đảng ủy quân khu, thấy rõ trách nhiệm, có biện pháp khắc phục kịp thời, thể hiện tính chiến đấu, dân chủ, đoàn kết, thống nhất, hoàn thành tốt mục đích yêu cầu tự phê bình, phê bình, đồng thời rút được những kinh nghiệm thiết thực để tiếp tục chỉ đạo tự phê bình, phê bình của Đảng ủy cấp dưới. Tháng 5 - 1999, Đảng ủy quân khu tổ chức Hội nghị sơ kết 6 năm xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, chỉ đạo các Đảng bộ trực thuộc thực hiện "Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng" đúng yêu cầu đã xác định. Hội nghị đánh giá: Bước đầu thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), sinh hoạt tự phê bình, phê bình, Đảng bộ Quân khu thể hiện trách nhiệm chính trị trước Đảng, nghiêm túc kiểm điểm thấy rõ ưu điểm, khuyết điểm tạo chuyển biến một bước về vai trò tiền phong, ý thức trách nhiệm của đảng viên, nhất là cấp ủy viên trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, rèn luyện phẩm chất lối sống, xây dựng đơn vị mọi mặt, lấy xây dựng Đảng làm then chốt. Tăng cường đoàn kết nội bộ và chấp hành nguyên tắc tổ chức, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, coi trọng và nâng cao chất lượng xây dựng cấp ủy, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; tăng cường công tác kiểm tra, đưa hoạt động kiểm tra chấp hành Điều lệ Đảng, chỉ thị nghị quyết, thực hiện nhiệm vụ chính trị vào nền nếp. Qua thực tiễn tình hình, yêu cầu nhiệm vụ của Quân khu, và các tỉnh có sự phát triển mới, Bộ tư lệnh Quân khu triển khai kế hoạch chỉ đạo đổi mới hơn nữa việc diễn tập khu vực phòng thủ, trước hết đổi mới ở Quân khu và cấp tỉnh, mở đầu từ diễn tập khu vực phòng thủ Thanh Hoá, Quảng Trị gắn với các sư đoàn chủ lực của Quân khu. Kế hoạch này được triển khai thực hiện từ năm 1999 đến năm 2005. Từ cuối tháng 5 năm 1999, Ban chỉ đạo diễn tập của Quân khu cùng các tỉnh Thanh Hoá, Quảng Trị bồi dưỡng cho gần 700 đồng chí các ban ngành cấp tỉnh về tác chiến trong khu vực phòng thủ, làm kế hoạch chuẩn bị diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh gắn địa phương - chủ lực, gắn kết giữa hai phương thức tác chiến, sát các tình huống chiến đấu mới và một số tình huống A2. Tổ chức diễn tập cả cấp tỉnh, huyện, sư đoàn, trung đoàn; lực lượng thực binh có trung đoàn dự bị động viên tỉnh và các trung đoàn bộ binh của Quân khu, các phân đội của tỉnh, dân quân tự vệ huyện, thị, thành, diễn tập cả phòng tránh sơ tán trong chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao. Qua việc tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức, thống nhất những vấn đề cơ bản về khu vực phòng thủ tỉnh, huyện ở hai tỉnh Thanh Hoá, Quảng Trị và hơn 10 năm xây dựng và diễn tập thực nghiệm của Quân khu cho thấy: Khu vực phòng thủ tỉnh, huyện là tổ chức quốc phòng - an ninh ở địa phương, là nền tảng của thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, bộ phận hợp thành trong thế trận phòng thủ của Quân khu và cả nước. Khu vực phòng thủ tỉnh, huyện được xây dựng vững mạnh về mọi mặt theo kế hoạch chung thống nhất, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, độc lập, tự lực, ngăn ngừa và đối phó có hiệu quả với mọi tình huống (giữ vững ổn định chính trị, làm thất bại mọi âm mưu "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ và các hoạt động khủng bố; chủ động đánh địch ngay từ đầu, bám trụ kiên cường buộc địch phải sa lầy, phối hợp chủ lực đánh bại chiến tranh xâm lược nếu xảy ra). Xây dựng khu vực phòng thủ phải do Đảng, chính quyền và toàn dân, xây dựng cả "lực và thế", vững toàn diện, mạnh trọng điểm. Tập trung xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng các khu vực phòng thủ huyện vững chắc, các khu vực phòng ngự then chốt, các căn cứ hậu phương, căn cứ chiến đấu, bảo vệ nhân dân, bảo vệ được các mục tiêu trọng điểm. Tất cả các cơ quan ban ngành trong tỉnh, huyện đều có trách nhiệm làm tham mưu theo chức năng của mình. Cơ quan quân sự và công an phải gắn bó chặt chẽ với nhau, làm tham mưu cho cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, làm trung tâm hiệp đồng với các ngành và đoàn thể quần chúng trong tỉnh, huyện. Đảng ủy quân sự tỉnh do Bí thư Tỉnh ủy (Huyện ủy) làm Bí thư, Phó chỉ huy chính trị làm Phó Bí thư, các đồng chí Chủ tịch, Chỉ huy trưởng quân sự, Giám đốc công an tham gia Thường vụ Đảng ủy Quân sự, bảo đảm cho sự lãnh đạo chỉ huy thống nhất, hiệp đồng chặt chẽ các lực lượng đối phó kịp thời với mọi tình huống. ____________________________________________ 1. Trong Di chúc, Bác đã căn dặn: "Việc cần phải làm trước tiên là Chỉnh đốn Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân“. (Hồ Chí Minh – Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.557-558). 2. Tại lễ kỷ niệm 109 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 30 năm thực hiện Di chúc của Người, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu nêu rõ “... Từ vị trí then chốt của công tác xây dựng Đảng, từ yêu cầu của thời kỳ mới, từ thực trạng Đảng ta hiện nay, Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) đã đi tới một quyết định đặc biệt quan trọng: phải tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình”. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 05:49:10 pm Từ ngày 15 đến 18 tháng 6 năm 1999, Quân khu chỉ đạo cuộc, diễn tập khu vực phòng thủ Thanh Hoá. Lực lượng diễn tập gồm: Sư đoàn 341, Trung đoàn 273 Sư đoàn 324, lực lượng tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh, 9 huyện thị thành và 200 cụm xã phường. Chủ trì cuộc diễn tập có các đồng chí Trịnh Trọng Quyền - quyền Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh; Phạm Minh Đoan - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Đức Kiền - Chỉ huy trưởng; Đại tá Nguyễn Thanh Sơn - Phó chỉ huy chính trị - Phó Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh. Tiếp đó, từ ngày 7 đến 9 tháng 7 năm 1999, Quân khu chỉ đạo cuộc diễn tập khu vực phòng thủ Quảng Trị. Lực lượng tham gia gồm: Sư đoàn 968, lực lượng bộ đội địa phương tỉnh, 6 huyện thị, 30 xã, phường, một số cơ sở tự vệ. Chủ trì diễn tập của tỉnh có các đồng chí Nguyễn Đức Hoan - Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh; Nguyễn Bường - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Trần Sỹ Lừa - Chỉ huy trưởng; Thượng tá Trần Huy Liệu - Phó chỉ huy chính trị - Phó Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh. Thiếu tướng Nguyễn Khắc Dương - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu và các đồng chí Bộ tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ đạo diễn tập khu vực phòng thủ ở hai tỉnh. Hai cuộc diễn tập khu vực phòng thủ có lực lượng chủ lực tham gia được phát triển từ kinh nghiệm 2 cuộc diễn tập PT-93, PT-94, sát tình hình thực tế hơn. Cả địa phương và chủ lực thể hiện rõ được quan điểm quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, tác chiến trong khu vực phòng thủ. Đây là sự phát triển mới về lực lượng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, tạo nên ưu thế về lực lượng và sức mạnh tổng hợp trong tác chiến chiến dịch (thế và lực của chiến dịch). Vận hành cơ chế 02 đồng bộ, nâng cao được nhận thức năng lực trách nhiệm của cả 3 hệ thống: lãnh đạo, chỉ huy điều hành, công tác tham mưu, chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến, tác chiến của các lực lượng chủ lực Quân khu - địa phương đạt hiệu quả thiết thực. Qua đó, rút ra được kinh nghiệm tốt, an toàn, tiết kiệm, tạo cơ sở mới để tiếp tục đưa những kết quả diễn tập vận dụng vào thực tiễn hoạt động thường xuyên của địa phương, đơn vị. Trong diễn tập khu vực phòng thủ Thanh Hoá, các đơn vị bắn đạn thật cấp tiểu đoàn, đại đội, trung đội bộ binh đều đạt khá. Trong diễn tập khu vực phòng thủ Quảng Trị, hơn 500 cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 19, Sư đoàn 968 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vượt sông bằng khí tài tự tạo và tấn công địch đổ bộ đường không tại các điểm cao đèo Cùa; Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 cơ động lực lượng hoàn thành tốt nhiệm vụ hành quân trú quân chiến dịch. Trên cơ sở kết quả hai cuộc diễn tập, các tỉnh, và đơn vị chủ lực tiến hành bổ sung phương án tác chiến phòng thủ. Tiếp đó, các huyện Nam Đàn, Quỳnh Lưu, Đồng Hới, Quảng Trạch, Quảng Điền, Cam Lộ, Nghi Xuân... và nhiều cơ sở đều đổi mới những nội dung trong diễn tập. Một số địa phương tổ chức diễn tập quân dân y kết hợp, triển khai bệnh viện dã chiến theo kế hoạch. Hà Tĩnh diễn tập phòng chống bão lụt bảo vệ đê La Giang với lực lượng hơn 1.600 người. Tháng 9 năm 1999, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị tổng kết bước đầu thực hiện Nghị quyết 133 của Đảng ủy Quân sự Trung ương về tăng cường cán bộ quân đội tham gia xây dựng cơ sở địa phương và tổng kết 10 năm công tác dân vận của lực lượng vũ trang quân khu. Hội nghị đánh giá: Đến giữa tháng 5-1999, toàn Quân khu có 6 đội cơ sở ở 6 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và 48 tổ công tác với tổng số 250 cán bộ được tăng cường về 121 xã, có 37 xã biên giới miền núi, trong đó 22 xã đặc biệt khó khăn, 20 xã đồng bào dân tộc, 11 xã vùng công giáo, 27 xã có mâu thuẫn tranh chấp khiếu kiện trong nội bộ nhân dân, 17 xã ven biển, 29 xã yếu từng mặt. Các tổ đội công tác theo quy chế hoạt động, bước đầu bám sát địa bàn, nắm cơ sở, tiếp thu y kiến nhân dân, kịp thời đề xuất nội dung, biện pháp giúp cấp ủy, chính quyền chỉ đạo giải quyết hiệu quả một số công việc của địa phương; đồng thời tuyên truyền vận động nhân dân 185 thôn bản thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, giúp 65 cơ sở tổng kết 5 năm thực hiện Nghị định 19/CP của Thủ tướng Chính phủ, đề xuất giải quyết 24 vụ mâu thuẫn khiếu kiện, phối hợp củng cố xây dựng 12 chi bộ, 18 chi hội phụ nữ, 16 chi đoàn, 6 chi hội cựu chiến binh ở những nơi gặp khó khăn, củng cố 46 trung đội dân quân nòng cốt, 135 tổ hoà giải, 62 tổ an ninh. Những thành tích đạt được bước đầu khẳng định việc tăng cường cán bộ tham gia xây dựng cơ sở địa phương được chỉ đạo tổ chức chặt chẽ, đem lại hiệu quả và kinh nghiệm thiết thực trong đổi mới công tác dân vận1. Trên cơ sở tổng kết đánh giá 10 năm thực hiện phong trào Phụ nữ 2 giỏi trong Quân khu, Thường vụ Đảng ủy Quân khu ra Nghị quyết về lãnh đạo công tác Phụ nữ Quân khu trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan các cấp, trực tiếp là cơ quan chính trị đã đánh giá đúng vai trò phụ nữ và Hội Phụ nữ trong tình hình mới; hệ thống tổ chức Phụ nữ sớm được kiện toàn từ Quân khu xuống cơ sở (1993); hoạt động của hội lôi cuốn được đông đảo chị em tự nguyện, tự giác tham gia, nội dung, biện pháp hoạt động phù hợp, chú trọng xây dựng điển hình, đào tạo bồi dưỡng cán bộ hội, nêu cao vai trò, sự đóng góp của phụ nữ, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Quân khu và các đơn vị, nhất là các cơ sở bệnh viện, xí nghiệp, trường, cơ quan đông chị em2. Về phương hướng lãnh đạo công tác Phụ nữ trong các năm tới Nghị quyết xác định: Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, đề cao trách nhiệm của người chỉ huy và cơ quan các cấp đối với công tác Phụ nữ, xây dựng người phụ nữ trong lực lượng vũ trang quân khu "dũng cảm, sáng tạo, trung hậu, đảm đang" tiếp tục phối hợp với phụ nữ các địa phương, các tổ chức thanh niên, công đoàn trong Quân khu thực hiện 5 chương trình trọng tâm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, thực hiện tốt các chính sách liên quan đến phụ nữ, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho phụ nữ và trẻ em. Cùng thời gian này, các địa phương, đơn vị trong Quân khu triển khai rút kinh nghiệm nhiều nội dung thiết thực ở cả 3 cấp về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tham mưu tổ chức thực hiện, làm cơ sở chuẩn bị cho kế hoạch nhiệm vụ năm 2000 và nhiệm kỳ mới đầu thế kỷ XXI. Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức rút kinh nghiệm về vận hành cơ chế 02 giải quyết vụ việc nổi cộm ở cơ sở. _____________________________________________ 1. Báo cáo 115/BC-KN của Bộ tư lệnh Quân khu ngày 26-6-1999. 2. Thực hiện Nghị quyết 17/NQ-ĐUQSTƯ của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương ngày 14-9-1998 "Về công tác Phụ nữ quân đội trong thời kỳ mới" và chương trình công tác "Vì sự tiến bộ của phụ nữ" do Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 05:51:12 pm Tỉnh ủy Hà Tĩnh sơ kết xây dựng cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu liên huyện; sơ kết thực hiện nhiệm vụ phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ; chỉ đạo rút kinh nghiệm xây dựng và huấn luyện dân quân tự vệ theo pháp lệnh ở ba dạng cơ sở: phường Bắc Hồng, xã Sơn Kim, lâm trường Hương Sơn; rút kinh nghiệm lãnh đạo của cấp ủy xã phường đối với công tác quốc phòng ở xã Cẩm Thăng và phường Nam Hà. Quảng Bình sơ kết 2 năm xây dựng và hoạt động của dân quân tự vệ biển, 10 năm công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ lực lượng vũ trang tỉnh. Tỉnh cũng triển khai đề án "Cụm làng xã quốc phòng - an ninh kết hợp tiểu vùng kinh tế - xã hội địa bàn miền núi, biên giới thời kỳ 1998 - 2005". Thừa Thiên - Huế sơ kết chi trả phụ cấp trách nhiệm cho sĩ quan dự bị; chỉ đạo giáo dục quốc phòng ở Trung tâm giáo dục quốc phòng Huế cho 4.000 sinh viên; lập dự án khả thi đường cơ động Chân Mây. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh phối hợp với Sở Lao động thương binh - xã hội khảo sát xác minh số cán bộ, chiến sĩ người dân tộc về địa phương (trước tháng 4-1975), ra quân (trước tháng 1-1982) khi chưa có Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Sĩ quan) và có 10 năm tuổi quân lúc về địa phương chưa được hưởng chế độ chính sách, đề xuất các chủ trương biện pháp thực hiện hiệu quả. Quảng Trị gắn diễn tập với triển khai kế hoạch bảo vệ trị an, giữ vững ổn định chính trị trong các thời điểm, cả dịp lễ bế mạc năm toàn xá của Thiên chúa giáo ở La Vang. Quân khu tổng kết 7 năm thực hiện quy chế tổ chức và hoạt động của thanh tra quốc phòng theo Quyết định 358/QĐ-QP của Bộ trưởng Quốc phòng; 5 năm cuộc vận động "quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông"; 2 năm đổi mới giáo dục chính trị và tuyên truyền miệng; 4 năm xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh... Thực hiện Chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu về thi chỉ huy trưởng quân sự xã phường giỏi toàn quốc lần thứ nhất vào năm 1999, các địa phương trong Quân khu đã tổ chức các đợt bồi dưỡng và thi ở cơ sở lên Quân khu với 4 nội dung. Quân khu tuyển chọn được 6 đồng chí đại diện cho 1.787 xã, phường đội trưởng dự thi toàn quân. Từ cơ sở kết quả kiểm tra tại hội thi toàn quân, cả 6 đồng chí đều đạt giải cao, toàn đoàn đạt thứ 3 toàn quân, riêng môn bắn súng AK bài 1 đạt giải nhất. Từ ngày 1 đến 14 tháng 11 và đầu tháng 12 năm 1999, ba tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Quảng Bình bị trận bão lụt dài ngày, cường độ lớn, diện rộng, nhất là bão lũ tràn dâng vào ban đêm gây thiệt hại khoảng 2.097 tỷ đồng, riêng lực lượng vũ trang thiệt hại 7,3 tỷ đồng. Quân khu đã triển khai lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động gồm 6.022 bộ đội, 12.000 dân quân tự vệ, dự bị động viên, 167 xe máy các loại, 205 tàu thuyền ca nô tập trung cứu hộ cứu nạn vớt được 180 người dân, đưa 11.300 người đến nơi an toàn và vận chuyển 92 tấn hàng tiếp tế cho nhân dân vùng bị thiên tai. Trong bão lụt, các đồng chí Trung úy Phạm Văn Điền, binh nhất Lê Đình Tư ở Hải đội 2 biên phòng Thừa Thiên - Huế, Trung úy Phan Hiếu Nghĩa, biên phòng cửa khẩu Lao Bảo, Thiếu úy Nguyễn Công Minh, Ban chỉ huy quân sự huyện Nam Đông làm nhiệm vụ cứu dân đã hy sinh anh dũng1. Tấm gương cao đẹp vì dân, vì nước của các liệt sĩ được quân và dân quân khu tôn vinh, học tập, biến thành hành động trong việc cứu giúp khắc phục hậu quả thiên tai, nhanh chóng ổn định cuộc sống. Ngay sau bão lụt, Bộ tư lệnh Quân khu đã huy động gần 3.000 cán bộ, chiến sĩ các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn chủ lực; Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh; bệnh viện, đội vệ sinh phòng dịch về các địa phương bị thiệt hại nặng giúp đỡ nhân dân hơn 1 tháng xây dựng và sửa chữa được 1.272 nhà ở, 283 phòng học, 25 trạm xá, sửa 72km đường, nạo vét 12.530 m3 bùn đất, thu gom chôn 18.392 gia súc, nạo vét xử lý 4.958 giếng nước, bốc xếp 1.320 tấn hàng hoá, phơi 857 tấn thóc, vận chuyển 155 chuyến xe chở hàng cứu trợ, khám chữa bệnh phát thuốc cho 13.543 lượt người, phối hợp lực lượng y tế địa phương xử lý môi trường kịp thời không để xảy ra dịch bệnh. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu đã góp tiền lương, phụ cấp, hiện vật ủng hộ nhân dân và các gia đình chính sách 1.284,5 triệu đồng, trong đó hàng hoá quy ra tiền 211 triệu đồng. Cán bộ, chiến sĩ đội quy tập hài cốt liệt sĩ dang làm nhiệm vụ ở Lào thuộc Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An cũng gửi về ủng hộ nhân dân bị bão lụt 3.700.000 đồng. Đánh giá thành tích, chiến công của các đơn vị, cán bộ, chiến sĩ không nề gian khổ hy sinh chống bão lụt cứu người và tài sản của nhân dân, của Nhà nước, Bộ tư lệnh Quân khu đã đề nghị Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì cho Lữ đoàn công binh 414, Huân chương Chiến công hạng ba cho 5 tập thể, 4 cá nhân; bằng khen của Chính phủ cho 9 đơn vị, 4 cá nhân; bằng khen Bộ Quốc phòng cho 33 tập thể, 40 cá nhân; Bộ tư lệnh Quân khu tặng bằng khen, giấy khen cho 38 tập thể, 83 cá nhân, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế tặng bằng khen cho các lữ đoàn 414, 16, 283. Trong trận lũ ngày 3-11-1999, thôn An Hải (Hải Thành) xã Thuận An huyện Phú Vang (Thừa Thiên - Huế) bị cuốn trôi hoàn toàn ra biển. Thực hiện kế hoạch của Bộ Quốc phòng, Quân khu tổ chức xây dựng làng mới cho nhân dân thôn An Hải gồm 64 căn hộ cấp 4 có đủ hạ tầng điện nước với 25 m2/nhà ở và 2,56 m2/vệ sinh trong mỗi căn hộ, tổng vốn 1.231.175.000 đồng. Trung đoàn 176, lực lượng công binh Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế và Sư đoàn 968 bắt đầu thi công từ ngày 6-12-1999, hoàn thành ngày 30-1-2000 trước Tết Nguyên đán. Trong dịp Tết, nhân dân thôn An Hải phấn khởi được về ở nhà mới. Trong dịp Tết Canh Thìn, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đến thăm chúc Tết cán bộ, nhân dân thôn An Hải và thể theo tình cảm của dân đặt tên làng mới là làng Rồng. Cán bộ, nhân dân làng Rồng - An Hải cùng đồng chí Tổng Bí thư đón Tết trong niềm tưởng nhớ những người thân đã mất, những cán bộ, chiến sĩ bộ đội biên phòng anh dũng hy sinh, để có làng mới bước sang năm Rồng. _____________________________________________ 1. Ngày 6-11-1999, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu gửi điện tới Bộ Quốc phòng nêu gương các liệt sĩ đã quên mình chống lũ, cứu dân (dẫn theo “55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam”, Nxb QĐND, HN, 2000, tr. 606). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 05:52:02 pm * * * Trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với bạn Lào, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu thường xuyên tăng cường mối quan hệ hữu nghị đặc biệt truyền thống với bạn, thực hiện mở rộng công tác đối ngoại quân sự đối với Lào. Đầu năm 1998, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đón tiếp Thượng tướng Chum Ma Ly Xay Nha Xôn - Ủy viên Bộ Chính trị - Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Lào đến thăm và làm việc với Quân khu tại Huế. Thiếu tướng Nguyễn Khác Dương - Ủy viên Trung ương Đảng - Tư lệnh Quân khu được ủy quyền Bộ Quốc phòng làm việc với Thượng tướng Chum Ma Ly Xay Nha Xôn việc phối hợp, hợp tác, kết nghĩa của các địa phương và Quân khu với các tỉnh bạn Lào, xây dựng và phát huy mối quan hệ hữu nghị đặc biệt truyền thống giữa nhân dân và quân đội hai nước trong tình hình mới. Trước đó, Thiếu tướng Khăm Puông Chăn Tha Pông Ma - Ủy viên Trung ương Đảng - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào đến thăm và làm việc tại Quân khu. Kế đó, Đoàn đại biểu ban công tác đặc biệt của Chính phủ Lào, do đồng chí Xổn Phăn Pheng Khăm Mi - Ủy viên Trung ương Đảng - Bộ trưởng Lao động và phúc lợi xã hội Lào sang thăm và làm việc với Quân khu. Đoàn của Bộ tư lệnh Quân khu do Thiếu tướng Trương Đình Thanh - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu và cơ quan làm việc với Sư đoàn 4 và tỉnh Sa Va Na Khẹt, Khăm Muộn. Đầu năm 1999, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu họp đánh giá toàn diện việc hợp tác, kết nghĩa, phối kết hợp giúp bạn Lào, xác định các chủ trương biện pháp về nhiệm vụ quốc tế đối với bạn trong tình hình mới. Trước mắt thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VI đề ra là: Thường xuyên cùng cấp ủy, chính quyền, nhân dân 6 tỉnh chăm lo củng cố quan hệ, tình đoàn kết đặc biệt truyền thống với cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các bộ tộc Lào trong tình hình phát triển mới, chú trọng tăng chất lượng chiều sâu hợp tác kết nghĩa, giáo dục các thế hệ kế tiếp, xây dựng biên giới hữu nghị vững chắc. Trong thời gian qua, Bộ tư lệnh Quân khu, trực tiếp là các cơ quan và lực lượng vũ trang các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Sư đoàn 968 phối hợp với Sư đoàn 4 và lực lượng vũ trang 2 tỉnh Sa Va Na Khẹt, Khăm Muộn nắm, thông báo tình hình, đi sâu phân tích nêu rõ những âm mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, chống phá của đế quốc Mỹ, lực lượng phỉ, bọn phản động lưu vong, đồng thời trao đổi kinh nghiệm huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng thế trận quốc phòng địa phương, xây dựng cơ sở địa bàn. Hoạt động tác chiến giữa hai bên có sự phối hợp hiệp đồng, giao ban thông báo kịp thời; các đợt truy quét phỉ, bọn phản động lưu vong xâm nhập được phối hợp chặt chẽ, hiệu quả nhất là các hướng Nghệ An, Quảng Trị, bảo vệ địa bàn, rút được kinh nghiệm tốt cho ta và bạn. Lực lượng kinh tế - quốc phòng Công ty hợp tác Quân khu ở từng tổ, đội sản xuất bám địa bàn cùng bạn xây dựng cơ sở chính trị ở khu trung tâm Lạc Xao, Bô Li Khăm Xay và mở rộng hoạt động trên đất bạn mở ra phương thức mới gắn hiệu quả sản xuất kinh doanh với giúp bạn xây dựng phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, xây dựng cơ sở chính trị, an ninh địa bàn, xây dựng hậu phương chiến lược. Các tỉnh, lực lượng vũ trang, các đồn biên phòng duy trì tốt chế độ giao ban với bạn, cùng giải quyết được nhiều vấn đề phát sinh, giữ vững biên giới hữu nghị. Quân khu có 6 tỉnh, 21 huyện, 85 xã, 38 đồn biên phòng, 38 trạm kiểm soát tiếp giáp bạn. Cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang, lực lượng biên phòng thực hiện chế độ giao ban thường xuyên, kịp thời phát hiện tình hình, trao đổi biện pháp cùng chống xâm nhập, hoạt động phá hoại, chống tội phạm, buôn bán ma tuý, vũ khí chất nổ, xâm canh, xâm cư, bảo vệ an ninh biên giới, giúp đỡ đời sống. Quân khu phối hợp cùng bạn tìm kiếm, cất bốc, đưa về nước hài cốt các liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, thực hiện thắng lợi kế hoạch công tác đặc biệt hai Đảng, hai Nhà nước giao. Quân khu 4 đảm nhận địa bàn trọng điểm khó khăn 7 tỉnh ở Lào, tiếp nhận hồ sơ 24.010 phần mộ. Lực lượng vũ trang Quân khu được sự chỉ đạo phối hợp chặt chẽ của bạn, đã quy tập đưa về nước được 14.982 hài cốt liệt sĩ, xây dựng tượng đài trang trọng ở Xiêng Khoảng, Hủa Phăn. Trong những năm tới, Quân khu xác định tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quốc tế với bạn Lào cả trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh. Trong lực lượng vũ trang Quân khu, chăm lo giáo dục nhận thức, xác định rõ nhiệm vụ trực tiếp thường xuyên đối với cách mạng Lào. Lực lượng biên phòng tuyến biên giới, Công ty hợp tác kinh tế trực tiếp làm nhiệm vụ quốc tế xây dựng ý thức và hành động đúng đắn, củng cố mối quan hệ đoàn kết đặc biệt truyền thống, nhất là quan hệ đối ngoại, giải quyết các vấn đề kinh tế, kết hợp kinh tế với xây dựng hậu phương chiến lược của bạn. Triển khai thực hiện các nội dung giúp bạn khi có sự thống nhất giữa Bộ Quốc phòng hai nước như giúp Sư đoàn 4 huấn luyện kỹ thuật chiến thuật súng cối, bảo dưỡng sửa chữa xe tăng thiết giáp, xây dựng doanh trại, xây dựng khu trạm xá ở Lạc Xao. Hợp tác đầu tư cùng bạn xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nông lâm nghiệp vùng căn cứ, tiếp tục xây dựng cơ sở địa bàn các tỉnh tiếp giáp. Tiếp tục kế hoạch tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ ở những địa bàn khó khăn nhất, tìm kiếm, quy tập cả vùng có phỉ, trong đó có đặc khu Xay Xổm Bun. Đầu tháng 6 năm 1999, Bộ tư lệnh Quân khu dự hội nghị của Bộ Quốc phòng về tình hình và nhiệm vụ hợp tác, giúp đỡ bạn Lào. Quân khu nêu một số kiến nghị: Vấn đề nghiên cứu tình hình Lào hiện nay là thiết thực, nhất là trước tình hình đang có những tác động mới phức tạp tác động đến cả chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược quốc phòng - an ninh của bạn. Đề nghị các bộ, ban ngành của Đảng, Nhà nước và các địa phương tiếp tục kết nghĩa hợp tác toàn diện với bạn. Để thực hiện các chủ trương, kế hoạch phối hợp giúp bạn về quốc phòng kịp thời và hiệu quả theo đúng hiệp định, nghị định thư, quy chế đối ngoại, hai Bộ Quốc phòng cần trao đổi thống nhất sớm có chủ trương, biện pháp và văn bản ký kết hợp tác. Về thực hiện quy tập hài cốt liệt sĩ: đề nghị phối hợp chặt chẽ hai Bộ Quốc phòng để lực lượng khảo sát quy tập của ta được quân đội bạn dẫn đường và có phương án bảo vệ an toàn các địa điểm đang có phỉ hoạt động, nhất là khu vực Xay Xổm Bun. Nghiên cứu chính sách khen thưởng cho những công dân, cán bộ, chiến sĩ Lào có công tìm kiếm, phát hiện, cất bốc mộ liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam. Phối hợp chỉ đạo ban công tác đặc biệt các địa phương hai bên, trong đó tổ chức tiễn đưa và đón các phần mộ liệt sĩ về nước, tổ chức lễ bàn giao và an táng. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào (30.10.1949 - 30.10.1999), Nhà nước đã tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và Đảng, Nhà nước Lào tặng 59 Huân chương Ít-xa-la ghi nhớ công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ; các cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia đã làm tròn nhiệm vụ cao cả xây dựng vun đắp tình hữu nghị đặc biệt truyền thống mẫu mực thủy chung Việt - Lào anh em trong hơn nửa thế kỷ qua. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 06:02:12 pm * * * Trước tình hình thế giới và khu vực những năm cuối thế kỷ XX diễn biến ngày càng phức tạp, tác động trực tiếp đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội của ta, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 08 về Chiến lược an ninh quốc gia, nêu rõ các mối đe doạ an ninh quốc phòng mà ta phải chủ động ngăn ngừa. Trước đó, tháng 9 năm 1998, Bộ Quốc phòng cũng công bố Sách trắng quốc phòng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó khẳng định nhiệm vụ của quân và dân ta là: "Củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc", "Xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân..."1. Cuối tháng 11 năm 1999, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức Hội nghị quân chính, quán triệt Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, thống nhất chương trình hành động thực hiện 9 điểm, mục tiêu tập trung là: Giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh toàn diện, cùng với Đảng bộ, chính quyền, nhân dân 6 tỉnh phát huy sức mạnh tổng hợp cả hệ thống chính trị, chủ động phòng chống làm thất bại âm mưu thủ đoạn "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo đảm tốt an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, tạo thế và lực ngăn ngừa chiến tranh, chủ động ứng phó thắng lợi mọi tình huống2. Sau thời gian chuẩn bị, bám sát diễn biến tình hình và quán triệt các quan điểm tư tưởng chỉ đạo của Đảng về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, ngày 11-1-2000, Thường vụ Đảng ủy Quân khu họp mở rộng ra Nghị quyết số 21/NQ chuyên đề về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của Quân khu trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ tình hình, nhất là dự báo những hoạt động chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trên địa bàn Quân khu; xác định nhiệm vụ, tư tưởng chỉ đạo và những giải pháp tập trung lãnh đạo sẵn sàng chiến đấu. Nghị quyết nêu rõ: Quân khu 4 là địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước và Đông Dương - trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trước đây vừa là hậu phương vừa là tiền tuyến, làm 4 nhiệm vụ trên ba chiến trường. Trong nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, chủ động phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, sẵn sàng đối phó với chiến tranh xâm lược mới bằng vũ khí công nghệ cao của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch hiện nay, địa bàn Quân khu 4 càng có vị trí chiến lược quan trọng. Tình hình thế giới và khu vực sau chiến tranh lạnh, nhất là sau khi Mỹ - NATO tấn công xâm lược Nam Tư diễn biến đa dạng mau lẹ và ngày càng phức tạp. Tuy xu thế hoà bình hợp tác để phát triển tiếp tục được duy trì, nhưng cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc diễn ra quyết liệt. Chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc và tôn giáo, các hoạt động chạy đua vũ trang, can thiệp, lật đổ, khủng bố... xảy ra nhiều nơi, tính chất gay go quyết liệt kéo dài. Đối với Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thực hiện "diễn biến hoà bình" và thúc đẩy tự diễn biến toàn diện, mục tiêu là chính trị, mũi nhọn là kinh tế. Vì thế, quân dân ta phải luôn chủ động sẵn sàng đối phó với âm mưu hành động tấn công quân sự, sử dụng vũ khí công nghệ mới nhằm xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Địa bàn Quân khu 4 là một trong những trọng điểm trực tiếp, tập trung chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước trên các lĩnh vực, nhằm xoá bỏ một trong những trung tâm chính trị, văn hoá và giàu truyền thống cách mạng. Trên cơ sở phân tích tình hình, Thường vụ Quân khu xác định nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trong năm 2005 và những năm tiếp theo là: tập trung nỗ lực cao nhất của quân và dân Quân khu, chủ động phát huy cao nội lực xây dựng quân khu quê hương Bác Hồ thực sự là một hướng chiến lược vững mạnh của cả nước, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, tạo thế chủ động chiến lược, đẩy lùi, ngăn chặn làm thất bại âm mưu hành động "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ và thế tiến công quân sự của địch, giữ vững ổn định chính trị các địa bàn trong mọi tình huống, tạo điều kiện thuận lợi phục vụ đắc lực thực hiện nhiệm vụ trung tâm xây dựng kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược. Xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nền tảng là khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, các xã, phường, cơ sở, cụm tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả với bạn Lào. ______________________________________________ 1. Sách trắng quốc phòng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có 3 phần: 1. Nhận định, đánh giá tình hình thế giới và khu vực, chính sách quốc phòng hòa bình và tự chủ của Nhà nước ta. 2. Truyền thống cả nước một lòng, toàn dân giữ nước, ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân. 3. Truyền thống và việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Sách trắng nêu rõ "Thế trận quốc phòng toàn dân là thế trận toàn dân giữ nước. Thế trận an ninh nhân dân là thế trận toàn dân giữ vững an ninh. Hai thế trận cùng kết hợp chặt chẽ với nhau nhằm bảo đảm ổn định và hòa bình lâu dài cho đất nước...". 2. Chương trình hành động số 839/CTHĐ của lực lượng vũ trang Quân khu thực hiện Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh và trật tự an toàn xã hội ngày 27-11-1999. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 06:04:45 pm Thực hiện Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị và nghị quyết chuyên đề về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của Thường vụ Đảng ủy, Quân khu triển khai tổ chức kiểm tra các đơn vị, các đảo; điều chỉnh kịp thời lực lượng cho các đơn vị thường trực sẵn sàng chiến đấu; khảo sát tình hình 2 tuyến biên phòng, bổ sung phương án phòng tránh đánh trả bảo toàn lực lượng, kế hoạch C99 - 2000, quyết tâm chiến đấu giúp bạn bảo vệ các mục tiêu trọng yếu khu trung tâm, mở rộng các hoạt động kết nghĩa giữa các đơn vị, địa phương với bạn, giữ vững thế chủ động, loại trừ các thủ đoạn cài bẫy tạo cớ của địch. Ngành Hậu cần - Kỹ thuật bổ sung xây dựng kế hoạch B đáp ứng những năm đầu chiến tranh với những yêu cầu mới. Các địa phương chỉ đạo "tập trung làm chuyển biến những cơ sở yếu kém, xây dựng nhiều mô hình, điển hình trên cả 3 tuyến: tuyến biển, tuyến núi và tuyến trục đường giao thông"1, giải quyết các vụ việc gắn với thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, tiến tới tổng kết 10 năm xây dựng xã, phường, cơ sở, 4 năm xây dựng cụm, tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Ở Nghệ An, thực hiện Chỉ thị 36/CT-TƯ của Thường vụ Tỉnh ủy về "Tăng cường công tác bảo đảm an ninh vùng biên giới", Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã cử 38 cán bộ tăng cường cho các xã thuộc các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Quế Phong giúp cấp ủy, chính quyền cơ sở tăng cường công tác quốc phòng, bảo đảm an ninh biên giới. Tỉnh ủy Quảng Bình ra nghị quyết chuyên đề quốc phòng - an ninh năm 2000, chủ trương chuyển mọi hoạt động, coi trọng hoạt động quốc phòng - an ninh về cơ sở. Tập trung xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu gắn phong trào bảo đảm an ninh chính trị địa bàn nông thôn, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc gắn với tiếp tục củng cố nâng lên một bước chất lượng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân làm cho lực lượng vũ trang thực sự sẵn sàng đối phó thắng lợi mọi tình huống; chuẩn bị diễn tập khu vực phòng thủ theo kế hoạch. Trong hai ngày 12 và 13 tháng 1 năm 2000, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức Đại hội thi đua quyết thắng lực lượng vũ trang Quân khu lần đầu tiên trong thời kỳ đổi mới (1986-1999), trọng tâm là 5 năm (1995-1999) biểu dương, phong trào và những điển hình nổi bật trong thời kỳ đổi mới. Phong trào thi đua của lực lượng vũ trang Quân khu gần 15 năm qua tiếp nối phong trào thi đua thực hiện cuộc vận động "Phát huy bản chất tốt đẹp nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang" 1978-1985. Từ năm 1986 phong trào có những đổi mới trong nhận thức, cách làm, xác định mục tiêu biện pháp chỉ đạo tổ chức thực hiện, sơ kết, tổng kết và khen thưởng, gắn chặt các cuộc vận động, các phong trào, nổi bật là cuộc vận động xây dựng xã phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu; xây dựng cơ sở chủ lực, kho tàng vững mạnh toàn diện; xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh. Đại hội có 300 đại biểu tiêu biểu cho phong trào và các đơn vị, cá nhân tiên tiến trong thời kỳ đổi mới thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của Quân khu và các địa phương; báo công trước Đảng, trước Bác, trước nhân dân, trước các anh hùng liệt sĩ vào dịp kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng, 110 năm ngày sinh của Bác, 55 năm ngày thành lập nước và 55 năm ngày truyền thống lực lượng vũ trang Quân khu; chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Thiếu tướng Phạm Hồng Minh - Bí thư Đảng ủy - Phó tư lệnh Chính trị Quân khu trình bày báo cáo tổng kết nêu rõ: Gần 15 năm qua, cấp ủy, chỉ huy, các tổ chức quần chúng đã từng bước tăng cường, đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đưa phong trào thi đua vào nền nếp với nhiều hình thức, biện pháp phong phú, đạt chất lượng hiệu quả thiết thực. Phong trào luôn bám sát nhiệm vụ chính trị, thực hiện với chất lượng ngày một khá hơn, vững chắc hơn, nhất là nhiệm vụ trọng tâm chủ yếu, ở các địa bàn, đơn vị trọng điểm của Quân khu. Phong trào đã hướng về cơ sở, chuyển xuống cơ sở, tập trung giải quyết các mặt yếu, khâu khó, xây dựng các tổ chức Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn xây dựng chỉnh đốn Đảng với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, có môi trường văn hoá tốt đẹp, lành mạnh, phong phú, tăng cường phối hợp các hoạt động với các ngành, các cấp và nhân dân địa phương, tạo chuyển biến tiến bộ đồng đều. Đối với nhiệm vụ bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm kỹ thuật, lao động sản xuất làm kinh tế là một nội dung, mục tiêu thi đua thường xuyên tạo được phong trào khá sôi nổi. Về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, bảo vệ địa bàn nổi bật là Trung đoàn 176, Sư đoàn 968, Phòng Quân báo Quân khu, Tiểu đoàn 68 đảo Mê, thành phố Huế, Trung úy anh hùng liệt sĩ Nguyễn Cảnh Dần (Bộ đội biên phòng Nghệ An), Nguyễn Đình Văn (Đội trưởng đội đặc nhiệm Bộ Tham mưu Quân khu), Lê Thế Soái (Đại đội trinh sát Thanh Hoá). Trong phòng chống và giúp dân khắc phục hậu quả bão lụt, điển hình là Lữ đoàn 414, lực lượng vũ trang Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Thượng tá Phạm Văn Thắng (Ban chỉ huy quân sự Hải Lăng), Phòng tác chiến Quân khu; các đồng chí Nguyễn Văn Hạnh, Phạm Văn Điền, Lê Đình Tư, Phan Hiếu Nghĩa, Nguyễn Công Minh đã anh dũng hy sinh được truy tặng Huân chương Chiến công2; các đồng chí Nguyễn Xuân Khu, Nguyễn Trí Thức, Nguyễn Cảnh Toàn ở Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế được tặng Huân chương Chiến công. Trong huấn luyện xây dựng lực lượng, công tác quân sự địa phương có Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Hải Lăng, Sư đoàn 324 và các đơn vị binh chủng của Quân khu. Tiến bộ về chấp hành kỷ luật, pháp luật có Trung đoàn 206, cụm kho CK2 Cục Kỹ thuật, Bộ chỉ huy quân sự Quảng Bình, Quảng Trị. ______________________________________________ 1. Kết luận Hội nghị tổng kết 7 năm thực hiện nhiệm vụ A2 của Quân khu, tr. 6. 2. Trung úy Phạm Văn Điền - Bộ đội Biên phòng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 06:07:26 pm Tổng kết 10 năm công tác dân vận thời kỳ đổi mới có 31 đơn vị được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu khen thưởng, tiêu biểu là Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Sư đoàn 968, Sư đoàn 324, Lữ đoàn 414, Trung đoàn 206, Cục Chính trị Quân khu, Viện 268 Cục Hậu cần. Công ty hợp tác kinh tế thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế xây dựng cơ sở chính trị địa bàn, xây dựng hậu phương chiến lược giúp bạn Lào. Tổng kết 20 năm giải quyết chính sách tồn đọng chiến tranh và công tác hậu phương quân đội, Quân khu tặng bằng khen cho 21 tập thể, 26 cá nhân xuất sắc. Từ năm 1995 đến năm 2000 có 2.825 lượt đơn vị và 23.941 cá nhân được khen thưởng, trong đó 5 lượt đơn vị được tặng cờ của Thủ tướng Chính phủ, 11 cờ của Bộ Quốc phòng, 43 lượt cờ của Bộ tư lệnh Quân khu. Đặc biệt, Lữ đoàn 414 năm 1988 và Trung đoàn 206 năm 1999 được tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới. Nhiều đơn vị 3 năm liền giữ vững ngọn cờ đầu là: Trung đoàn 206, Lữ đoàn 414, Hải Lăng, Đồng Hới, Công ty hợp tác kinh tế, Cẩm Xuyên. Nhiều đồng chí 5 năm liền là Chiến sĩ Thi đua, tiêu biểu như Phạm Kim Liên (phòng Quân huấn), Nguyễn Đức Minh (X467), Lê Thế Soái (Thanh Hoá), Đỗ Thế mạnh (Lữ đoàn 16), Nguyễn Đình Văn, Nguyễn Thị Tâm (Bộ Tham mưu). Đại hội đã nghe 17 báo cáo điển hình và 10 ý kiến phát biểu đánh giá làm nổi bật phong trào thi đua toàn Quân khu. Trung tướng Nguyễn Khắc Dương - Ủy viên Trung ương Đảng - Tư lệnh Quân khu kết luận đánh giá tổng quát kết quả đạt được, rút ra những kinh nghiệm trong phong trào thi đua thời kỳ đổi mới và phát động phong trào thi đua mới với khẩu hiệu hành động thi đua "phát huy truyền thống, lập công xuất sắc xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trên quê hương Bác". Đợt thi đua này nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng, dân quân tự vệ, dự bị động viên lực lượng vũ trang Quân khu phát huy nội lực, tập trung sức nâng cao trình độ, khả năng chiến đấu, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và khu vực phòng thủ vững chắc, làm chuyển biến tốt hơn nữa về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, xây dựng 90% trở lên cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao, trước hết là chất lượng chính trị, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống. Sau thời gian tìm kiếm cất bốc hài cốt các liệt sĩ ở Lào trong mùa khô 1999-2000, đầu năm 2000 Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và Ban công tác đặc biệt 6 tỉnh đã thống nhất với các tỉnh bạn Lào tổ chức trọng thể đợt bàn giao, di chuyển về nước, lễ đón và lễ an táng. Bộ tư lệnh Quân khu, đại biểu các tỉnh bạn Lào kết nghĩa và nhân dân các địa phương đến dự lễ với tình cảm sâu nặng đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, phần mộ các liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp quốc tế cao cả được chăm lo chu đáo trước Tết Canh Thìn gồm: Thanh Hoá 60 liệt sĩ, Quảng Bình 82 liệt sĩ, Nghệ An 148 liệt sĩ, Quảng Trị 53 liệt sĩ, Hà Tĩnh 40 liệt sĩ, Thừa Thiên - Huế 23 liệt sĩ. Trong lễ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Thủ đô Hà Nội, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đọc bài diễn văn quan trọng. Trước đó, ngày 14 tháng 1 năm 2000, Tổng Bí thư đã gửi thư tới cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Bức thư có đoạn: “Cha ông ta thường căn dặn: Phàm có Nhà nước tất có võ bị Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy. Thời gian hiện nay là thời gian có lợi nhất kể từ 55 năm nay để các lực lượng vũ trang nhân dân ta tập trung sức học tập và xây dựng. Tranh thủ thời gian xây dựng là chủ động về chiến lược. Bộ đội Cụ Hồ - quân hùng - nước mạnh”. Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, các cơ quan đơn vị tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Đảng với yêu cầu thực hiện tốt nhất cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), học tập nội dung bài phát biểu và hưởng ứng thư của đồng chí Tổng Bí thư, mở đầu năm huấn luyện sớm hơn nửa tháng so với các năm trước1. Học tập, quán triệt thư của đồng chí Tổng Bí thư, tranh thủ thời gian xây dựng là chủ động về chiến lược, lần đầu tiên Quân khu chỉ đạo đổi mới phương pháp tiến hành đợt kiểm tra nâng cao trình độ cán bộ thay cho tập huấn, bảo đảm nắm được thực chất mạnh, yếu để bồi dưỡng đúng yêu cầu cho từng cán bộ theo phương châm rèn cán rồi mới luyện quân. Toàn Quân khu kiểm tra 768 cán bộ các cấp trực tiếp huấn luyện, mở đầu giai đoạn huấn luyện gắn với hội thi hội thao cả quân sự, chính trị, hậu cần - kỹ thuật ở các cấp thuộc cả lực lượng chủ lực và dân quân tự vệ, dự bị động viên. Những nội dung đổi mới đã có tác dụng bồi dưỡng, kịp thời sửa chữa những sai sót cho đội ngũ cán bộ và đơn vị địa phương trong tổ chức thực hành huấn luyện. Các địa phương cũng có bước chuyển mới về nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Ở một số tỉnh, huyện thị, thành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân trực tiếp đến dự lễ ra quân huấn luyện, dự lễ giao quân đầu xuân. Các đơn vị, địa phương đều tổ chức huấn luyện đúng phương châm, sát đối tượng tác chiến2, gắn huấn luyện bộ đội chủ lực với nhiệm vụ tác chiến trong khu vực phòng thủ, xây dựng chính quy quản lý bộ đội gắn với giáo dục nhận thức tư tưởng, giáo dục quốc phòng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, chấp hành kỷ luật pháp luật, tiến hành kiểm tra thanh tra chấn chỉnh mặt yếu, tăng cường công tác kiểm sát tuân thủ pháp luật tập trung kiểm sát một số lĩnh vực quan trọng về công tác quản lý của người chỉ huy3, nâng chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu, giáo dục nhiệm vụ quốc tế giúp bạn. Tổ chức quản lý giáo dục huấn luyện dân quân tự vệ, dự bị động viên ở cơ sở đồng đều và sát tình hình hơn. Đổi mới về nội dung huấn luyện phòng không nhân dân, phòng tránh sơ tán, huấn luyện hành quân mang vác nặng dài ngày. Trong lúc cán bộ, chiến sĩ đang sôi nổi huấn luyện, Trung tướng Lê Văn Dũng - Ủy viên Trung ương Đảng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam đến thăm và kiểm tra công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của Quân khu. Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng làm việc với Quân khu, lãnh đạo tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự, Bộ chỉ huy biên phòng Nghệ An, đi khảo sát nắm tình hình công tác bảo vệ biên giới ở Kỳ Sơn. ______________________________________________ 1. Toàn Quân khu ra quân huấn luyện ngày 15-2-2000. 2. Nghị quyết 21/NQ của Thường vụ Đảng ủy Quân khu ngày 11-1-2000 về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của quân khu trong tình hình mới xác định rõ đối tượng tác chiến. 3. Báo cáo 175/KS4 của Viện Kiểm sát quân sự Quân khu 4 ngày 19-12-2000. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 06:08:50 pm Thực hiện kế hoạch huấn luyện sẵn sàng chiến đấu từ năm 2000 đến 2005, đồng thời bồi dưỡng tập huấn cán bộ quân sự các cấp, Quân khu chỉ đạo thực hiện mục tiêu tập trung là tổ chức các lớp bồi dưỡng có tính cơ bản về kiến thức quốc phòng cho cán bộ chủ trì huyện thị thành và sở ban ngành cấp tỉnh. Ngay sau đợt ra quân huấn luyện, ngày 21 tháng 2, Bộ tư lệnh Quân khu khai mạc lớp đầu tiên tại Trường Quân sự Quân khu và sau đó mở tiếp 2 lớp với tổng số 130 đồng chí là Bí thư, Chủ tịch huyện thị thành, chủ trì sở ban ngành 6 tỉnh, mỗi lớp 16 ngày nghiên cứu 12 chuyên đề, có thực hành bắn súng ngắn. Các cơ quan Quân khu và Trường Quân sự Quân khu chuẩn bị nội dung, công tác bảo đảm cho cả 3 lớp học. Phát biểu khai mạc lớp tập huấn đầu tiên, Trung tướng Nguyễn Khắc Dương - Ủy viên Trung ương Đảng - Tư lệnh Quân khu nhấn mạnh: tổ chức các lớp lần này đặt vấn đề cao hơn là bồi dưỡng có tính hệ thống và cơ bản về quan điểm đường lối quân sự của Đảng, sự lãnh đạo và công tác điều hành quản lý Nhà nước về quốc phòng địa phương, nhiệm vụ quốc phòng và một số kiến thức quốc phòng, quân sự để vận dụng vào thực tế lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh gắn với phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các học viên là những cán bộ chủ trì địa phương về dự học thể hiện rõ trách nhiệm trong nghiên cứu tiếp thu kiến thức quốc phòng, nâng cao nhận thức và cả trong rèn luyện theo nền nếp của nhà trường quân đội. Kiểm tra cuối khoá lớp đầu tiên gồm 37 đồng chí có 7 giỏi, 30 khá; cả ba lớp số đạt giỏi chiếm 19%, số khá đạt 81%. Thực hiện kế hoạch đã xác định, ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu và các cơ quan tổng kết 10 năm xây dựng cơ sở và 4 năm xây dựng cụm, tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu ở một số xã phường, cụm. Các huyện Hương Sơn, Phong Điền, Nga Sơn, thành phố Vinh, thị xã Đồng Hới, Đông Hà, tỉnh Hà Tĩnh là những địa phương đầu tiên tổ chức tổng kết đánh giá thành tích đạt được và đề ra chủ trương, biện pháp tiếp tục thực hiện thời gian tới. Ban chỉ đạo diễn tập Quân khu cũng tổ chức đợt tập huấn cho 154 cán bộ các cơ quan ban ngành đoàn thể cấp tỉnh ở Quảng Bình, trong đó có nhiều đồng chí vừa học xong lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng ở Quân khu, chuẩn bị cho diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện. Đầu tháng 6 năm 2000, Quảng Bình tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ mang tên QB-20001. Chủ trì diễn tập của tỉnh gồm các đồng chí: Trần Hoà - Bí thư Tỉnh ủy - Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh; Đinh Hữu Cường - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Hoàng Cao Thắng, quyền Chỉ huy trưởng; Đại tá Lương Tiến Đại - Phó chỉ huy chính trị - Phó Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh. Quảng Bình là tỉnh thứ ba tiếp sau Thanh Hoá, Quang Trị thực hành diễn tập khu vực phòng thủ có bước phát triển mới cả về nội dung và quy mô diễn tập. Mục đích là nhằm thực hiện mục tiêu Nghị quyết Thường vụ Đảng ủy Quân khu về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trong tình hình mới "phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng hoạt động trong khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc của các tỉnh, huyện và địa bàn Quân khu". Cuộc diễn tập của tỉnh Quảng Bình đã đạt kết quả tốt. Đánh giá về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh năm 2000 và cuộc diễn tập này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình nêu rõ: dưới sự chỉ đạo của Quân khu, tỉnh đội tổ chức thành công cuộc diễn tập QB-2000 với sự tham gia 35 ban ngành cấp tỉnh, 7 huyện thị, 10 đồn biên phòng và 25 xã phường trọng điểm trên địa bàn rộng lớn gồm 2.585 cán bộ, chiến sĩ được huy động trực tiếp tham gia. Trong diễn tập sử dụng 335 lượt phương tiện thực hành di chuyển số chỉ huy tỉnh và 7 huyện, thị gồm 1.164 lượt người. Kết hợp diễn tập phòng thủ, tỉnh chủ động phối hợp diễn tập phòng chống thiên tai cứu hộ cứu nạn ở 2 huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy. Đây là cuộc diễn tập phòng thủ có quy mô cả lực lượng, phương tiện, thời gian lớn nhất ở Quảng Bình. Cuộc diễn tập hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt mục đích yêu cầu, ý định đặt ra. Thành công cuộc diễn tạp QB-2000 là kết quả của cả quá trình quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng và Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu. Qua diễn tập, trình độ vận hành cơ chế 02 của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể các cấp được nâng lên một bước cả nhận thức và tổ chức điều hành thực hiện. Đồng thời, thể hiện rõ sự phối hợp chặt chẽ giữa quân sự, công an và biên phòng trong chỉ đạo, chỉ huy thực hiện nhiệm vụ tác chiến, xây dựng thế trận phòng thủ, bảo vệ an ninh cơ sở. Ngày 11-7-2000 Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh và các cơ quan Quân khu vinh dự, phấn khởi được đón tiếp Chủ tịch nước Trần Đức Lương đến thăm và làm việc. Đồng chí Tư lệnh Quân khu báo cáo với Chủ tịch nước về tình hình Quân khu, việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng về nhiệm vụ quốc phòng, cùng 6 tỉnh tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân, đi sâu xây dựng xã, phường, cơ sở, cụm tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu làm nền tảng, xây dựng nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang ba thứ quân, thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm nhiệm vụ quốc tế đối với bạn Lào. Chủ tịch nước Trần Đức Lương biểu dương những cố gắng của lực lượng vũ trang Quân khu trong thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt phân tích rõ tình hình cách mạng trong giai đoạn mới, luôn luôn nắm vững thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, gắn chặt kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh - đối ngoại, phát huy nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX vào đầu thế kỷ XXI. Đồng chí Chủ tịch nước đến thăm ghi vào sổ vàng của Bảo tàng Quân khu, thăm Công ty hợp tác kinh tế của Quân khu làm nhiệm vụ kinh tế - quốc phòng và thăm nhà máy nhựa bao bì của Công ty. Tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện cuộc vận động xây dựng cơ sở là một mục tiêu quan trọng của Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VI, được Quân khu và các tỉnh chỉ đạo đến giữa năm 2000 ở cấp cơ sở, huyện và 2 tỉnh tiến hành cơ bản xong. Các địa phương đánh giá việc triển khai cuộc vận động xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, mặt mạnh đều phát triển, mặt yếu giảm, xây dựng tích lũy được sức mạnh tại chỗ - trận địa lòng dân, thực sự là nền tảng của khu vực phòng thủ, của thế trận quốc phòng toàn dân gắn thế trận an ninh nhân dân, giữ vững ổn định chính trị địa bàn, an ninh nội bộ, an ninh nông thôn. Về phương hướng trong những năm tới, các địa phương khẳng định tiếp tục chỉ đạo xây dựng cơ sở, cụm tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu đi vào vững chắc, thực hiện tốt quy chế dân chủ, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở và các tổ đội công tác, bảo đảm yên dân, ổn định và phát triển bước vào thế kỷ XXI. _____________________________________________ 1. Quảng Bình diễn tập lần đầu mang tên 02-QB-90 vào tháng 4 năm 1990. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 06:11:18 pm Giữa tháng 7 năm 2000, Quân khu tổ chức hội nghị tổng kết cuộc vận động xây dựng cơ sở 2 năm (1989-2000). Tham dự hội nghị có 400 đại biểu. Thượng tướng Phạm Văn Trà - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng đến dự. Thiếu tướng Cao Xuân Khuông - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy - Phó tư lệnh, trưởng Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu báo cáo đánh giá 10 năm thực hiện cuộc vận động xây dựng xã, phường, cơ sở và 4 năm xây dựng cụm, tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu gắn với thực hiện Chỉ thị 58/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Trong 10 năm qua, Quân khu và các địa phương đã đồng tâm nhất trí thực hiện cuộc vận động, triển khai sâu rộng liên tục ở tỉnh, huyện, cơ sở, đáp ứng được yêu cầu cấp bách của tình hình cơ sở, hợp lòng dân, đạt hiệu quả thiết thực, trực tiếp phòng ngừa và giải quyết hàng ngàn vụ việc tại cơ sở, không còn điểm nóng gay gắt, nhất là các vùng trọng yếu về quốc phòng - an ninh, nhiều điểm nóng trở thành điểm sáng. Số xã phường vững mạnh toàn diện tăng 41,75%, số trung bình giảm 22,71%, số yếu giảm 13,85% so với 10 năm trước. Toàn Quân khu có 63/81 huyện, thị, thành không còn xã phường yếu, có 329/432 cụm tuyến hoạt động hiệu quả. Thực tiễn trong 10 năm xây dựng cơ sở khẳng định đây là chủ trương đúng đắn hợp xu thế phát triển, thể hiện sự chủ động về chiến lược trước yêu cầu đổi mới toàn diện, đúng với tư tưởng chỉ đạo chuyển hướng nhiệm vụ quốc phòng - an ninh theo quan điểm đổi mới của Đảng, trở thành cuộc vận động lớn, đã và đang là động lực thúc đẩy kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh phát triển, tạo thế và lực mới đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Qua sơ kết, tổng kết đánh giá các đợt1 cuộc vận động xây dựng cơ sở, xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu với ở nội dung đã góp phần trực tiếp giữ vững ổn định chính trị các địa bàn. Nếu không chủ động chăm lo xây dựng cơ sở để xảy ra sự việc bùng phát kéo dài thì phải mất rất nhiều công sức, thời gian và nhiều cấp tập trung giải quyết, ảnh hưởng đến tình hình địa phương. Trước yêu cầu xây dựng cơ sở trong tình hình mới, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 58/TTg, Chỉ thị 610/TTg, Nghị định 19/CP, Chương trình 135/1988/QĐ-TTg, Quyết định 1232/QĐ-TTg2 và Bộ Chính trị (khóa VIII) ra Chỉ thị số 30/CT-TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở3 đều tập trung cho mục tiêu có ý nghĩa chiến lược là xây dựng cơ sở cả trước mắt và lâu dài trong sự nghiệp đổi mới của Đảng, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Cuộc vận động xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu của Quân khu và các tỉnh thống nhất, gắn chặt với thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ cùng mục tiêu xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện đúng theo quan điểm đổi mới của Đảng và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hội nghị nghe 16 báo cáo của các cơ sở và phát biểu của Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở các tỉnh, huyện nêu rõ những kết quả, kinh nghiệm và khẳng định tiếp tục thực hiện cuộc vận động với yêu cầu mới cao hơn theo quan điểm "lấy dân làm gốc", đạt mục tiêu "yên dân, ổn định để phát triển" bước vào thế kỷ XXI. Phát biểu tại hội nghị, Thượng tướng Phạm Văn Trà thay mặt Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng biểu dương, khen ngợi những kết quả đạt được 10 năm thực hiện cuộc vận động của quân và dân Quân khu 4; đồng thời nhắc nhở động viên lực lượng vũ trang Quân khu cùng với Đảng bộ, nhân dân 6 tỉnh phát huy hơn nữa thành tích đạt được, quán triệt sâu sắc quan điểm đổi mới của Đảng, tập trung thực hiện cuộc vận động xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu ngày càng hiệu quả, thiết thực. Hội nghị đề ra phương hướng, mục tiêu, các giải pháp thực hiện cuộc vận động đến năm 2005 là: Tiếp tục giáo dục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII), Nghị quyết Trung ương 8 (B), Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị (khoá VI), nâng cao ý thức, trách nhiệm, tình cảm của cả hệ thống chính trị, tiếp tục kiên trì đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng xã, phường, cơ sở, cụm tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Trước hết, tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền, vai trò tham mưu của cơ quan quân sự, công an, biên phòng và các sở ban ngành, đoàn thể quần chúng thực hiện cuộc vận động. Phấn đấu hàng năm từ 80% trở lên xã phường cơ sở đạt vững mạnh toàn diện, không còn xã, phường yếu kém, 100% cụm tuyến hoạt động có hiệu quả, trong đó trên 50% hoạt động tốt. ____________________________________________ 1. Các đợt sơ kết, tổng kết vào các năm 1990, 1992, 1995, 1997 (cụm tuyến), 2000. 2. Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa. Chính phủ phê duyệt danh sách gồm 1.870 xã diện này thuộc 284 huyện của 49 tỉnh thành trực thuộc Trung ương. 3. Chỉ thị 30/CT-TW của Bộ Chính trị ngày 18-2-1998. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 06:13:34 pm Tháng 8 năm 2000 Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu họp bàn về chương trình hành động, đánh giá 1 năm quán triệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2). Đảng ủy Quân khu đã tự phê bình, phê bình nghiêm túc, thẳng thắn, nêu rõ nguyên nhân đúng sai, tập trung khắc phục những việc nổi cộm, chỉ đạo trực tiếp các Đảng ủy trực thuộc sinh hoạt, kịp thời sơ kết đánh giá, hướng dẫn tự phê bình, phê bình ở cấp cơ sở, cán bộ, đảng viên. 15 Đảng ủy cấp trên cơ sở, 176 Đảng ủy cơ sở, 1.112 chi bộ tự phê bình, phê bình xong. Hầu hết các Đảng bộ, chi bộ, đảng viên thể hiện được tính Đảng, tính nguyên tắc, tự giác trung thực thẳng thắn làm rõ trách nhiệm, xác định các việc cần tập trung giải quyết, tạo đoàn kết thống nhất, nâng cao tính chiến đấu, trách nhiệm, hiệu lực lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ và đơn vị. Những chủ trương giải pháp tiếp tục thực hiện thời gian tới là: các cấp ủy rà xét bổ sung kế hoạch khắc phục sửa chữa khuyết điểm, nhất là những vấn đề chưa chuyển biến hoặc chuyển biến chưa mạnh, định thời gian và biện pháp sửa chữa: cấp trên đánh giá cấp dưới; cấp dưới và quần chúng góp ý. Thực hiện tốt 3 công khai: công khai kết quả kiểm điểm tự phê bình và phê bình; công khai kế hoạch khắc phục sửa chữa khuyết điểm; công khai giải quyết các vụ việc nổi cộm. Đưa việc kiểm điểm tự phê bình, phê bình vào sinh hoạt thường xuyên của cấp ủy, tổ chức Đảng, chuẩn bị tốt Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VII. Vào dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 55 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9, Bộ tư lệnh Quân khu long trọng đón nhận tượng Bác Hồ bằng đồng ở Bộ Quốc phòng. Ngày 28-8, tại sở chỉ huy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức trọng thể lễ trao tượng Bác của Bộ Quốc phòng tặng 6 tỉnh trên địa bàn Quân khu. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền, ban ngành đoàn thể 6 tỉnh đã đến dự. Trung tướng Nguyễn Khắc Dương - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu được Bộ Quốc phòng ủy quyền long trọng trao tượng Bác Hồ bằng đồng cho các đồng chí lãnh đạo các tỉnh trong không khí trang nghiêm, thành kính, xúc động thể hiện tình cảm sâu sắc của quân và dân Quân khu hướng về Bác kính yêu, nguyện sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại. Các tỉnh đón tượng Bác Hồ về đặt trang trọng nơi hội họp sinh hoạt chính trị của tỉnh. Thực hiện Nghị quyết 21/NQ của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, Sư đoàn 324, Sư đoàn 968 triển khai huấn luyện, diễn tập chỉ huy - cơ quan có thực binh, rèn luyện hành quân xa mang vác nặng trong điều kiện địa hình và thời tiết khắc nghiệt nhằm nâng trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng chủ lực cơ động, sẵn sàng làm nhiệm vụ C99 - 2000. Bộ chỉ huy quân sự Quảng Trị chỉ đạo diễn tập phòng thủ đảo Cồn Cỏ, huy động lực lượng dự bị động viên xã Vinh Quang - Vĩnh Linh hành quân ra đảo bổ sung cho Đại đội 1 bắn đạn thật đạt kết quả tốt; đồng thời diễn tập theo các tình huống sát yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ đảo trong tình hình mới. Lực lượng công binh hành quân xa, đóng quân dã ngoại, tổ chức thi công hợp lý hoàn thành xây dựng đường T, triển khai xây dựng công trình K và các lô cốt đúc đổ bê tông nguyên khối bảo đảm chất lượng. Trong năm 2000, các địa phương tuyển quân với tiêu chuẩn tốt hơn về sức khoẻ, văn hoá, chính trị1; đồng thời các đơn vị giáo dục, quản lý, huấn luyện, chiến sĩ mới chặt chẽ, bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, giảm hẳn số đào ngũ xuống 0,04%. Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An bồi dưỡng lớp quân nhân xuất ngũ người dân tộc gồm 26 đồng chí phát triển nhân cốt cho các đơn vị ở vùng miền núi. Ngành Kỹ thuật tiếp tục thực hiện kế hoạch đầu tư chiều sâu công nghệ cho các xưởng, trạm, kiểm tra bảo dưỡng sửa chữa 100% vũ khí cho các đảo Mắt, Ngư, Cồn Cỏ, bảo quản đạn ở đảo bằng vật liệu mới. Cục Hậu cần rút kinh nghiệm đầu bờ tăng gia sản xuất chế biến muối nén, rút kinh nghiệm công tác bảo đảm hậu cần cho tuyến đảo của Quân khu, thực hiện tốt chương trình 12 quân dân y kết hợp, xây dựng 9 điểm chăm sóc sức khoẻ vùng sâu vùng xa, chỉ đạo xây dựng xong khu doanh trại cơ bản đầu tiên cho cả Trung đoàn 1 Sư đoàn 324, thành lập hai căn cứ hậu cần Quân khu 1 và 2. Hai đoàn kinh tế - quốc phòng triển khai nhanh dự án trồng rừng phòng hộ, trong đó Đoàn 337 trồng mới 360 ha, khoanh nuôi tái sinh 400 ha, bảo vệ 2000 ha ở Khe Sanh - Hướng Hoá; Đoàn 92 vượt qua khó khăn xây dựng xong vườn ươm, phát quang khoanh nuôi 200 ha ở A Sầu - A Lưới. Cục trị Quân khu phối hợp chỉ đạo rút kinh nghiệm xây dựng môi trường văn hoá trong lực lượng vũ trang gắn với xây dựng làng bản văn hoá vùng núi huyện Hướng Hoá. Đoàn nghệ thuật Quân khu hoàn thành tốt chuyến biểu diễn lần 2 phục vụ cán bộ, chiến sĩ ở Trường Sa. Bộ đội biên phòng các tỉnh phối hợp cùng bạn chống xâm canh, xâm cư; cùng địa phương chống truyền đạo trái phép, trực tiếp xử lý 34 tàu nước ngoài xâm phạm hải phận của ta. Bộ đội biên phòng Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế cùng các đoàn khảo sát của hai Chính phủ Việt Nam và Lào đánh dấu biên giới giữa hai nước trên thực địa. Triển khai "Chương trình hành động thực hiện Chỉ thị 36/CT-TƯ của Bộ Chính trị tăng cường bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"2, ngành khoa học công nghệ và môi trường Quân khu khảo sát đánh giá chi tiết thực trạng môi trường, tăng cường hoạt động quản lý bảo vệ môi trường, giải quyết nước sạch cho một số đơn vị trọng điểm, xây dựng một số dự án khả thi nhằm cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao sức khoẻ cho bộ đội, đồng thời tổ chức thanh tra bảo vệ môi trường một số đơn vị, địa phương. Lực lượng hoá học của Tiểu đoàn 38 Quân khu và lực lượng công binh Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế tích cực làm nhiệm vụ trong hơn 1 tháng liền, hoàn thành thu gom hơn 10 tấn hóa chất độc (CS) của Mỹ rải xuống lòng hồ Khe Lời thuộc xã Thủy Phù huyện Hương Thủy (Thừa Thiên - Huế) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ bảo đảm nguồn nước sạch sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn, giải trừ được mối nguy hại về môi trường cho nhân dân trong vùng. Các lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế tặng bằng khen. Hội đồng khoa học Quân khu và Hội đồng khoa học Bộ Quốc phòng tổ chức nghiệm thu đề tài: Tổng kết vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể và cơ quan quân sự địa phương trên địa bàn Quân khu 4 trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chủ nghĩa đế quốc (1946- 1975)3. Những kinh nghiệm đúc rút được vận dụng, phát triển trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng của Quân khu và các tỉnh trong thời kỳ mới. Hoạt động khoa học xã hội nhân văn quân sự của quân khu trong 5 năm (1996-2000) có một số đề tài và tổng kết có giá trị thực tiễn như: Tìm lại tên cho các liệt sĩ từ những di vật nằm cùng hài cốt; xây dựng môi trường văn hoá trong các lực lượng vũ trang huyện thị thành; Bác Hồ với quân và dân Quân khu 4; công tác vận động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị trong các đơn vị bộ đội quân tình nguyện Quân khu 4. Đối với một số hoạt động của toàn quân, Quân khu cử các đoàn đại diện cho Quân khu và các đơn vị, địa phương tham gia hội thi, hội thao đạt kết quả. Tại hội thi toàn quân cuối năm 2000, đoàn Quân khu đoạt các giải nhất gồm: thi các tiểu đoàn thuộc Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh; thi ngành cơ yếu; thi ngành thông tin; thi kỹ thuật tăng thiết giáp (thuộc về Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế); thi bắn đạn thật phòng không A72 (thuộc về Lữ đoàn 283). Quân khu tổ chức thi trợ lý dân quân tự vệ giỏi của các địa phương, chọn được 30 đồng chí thi ở Quân khu, đoàn Thừa Thiên - Huế đạt giải nhất. ____________________________________________ 1. Số đảng viên nhập ngũ là 104/12.250 chiếm 0,8%. 2. Chỉ thị số 32/CT-QK của Bộ tư lệnh Quân khu ngày 18-1-2000. 3. Đề tài được đánh giá xuất sắc, xuất bản năm 2001; Thượng tá Đặng Ích Chính chủ biên và Đại tá Hồ Ngọc Thi, Đại tá Trần Ngọc Quỳ, Đại tá Phan Thanh Đồng, Thượng tá Trần Văn Tư biên soạn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 10:35:30 pm * * * Có thể nói, trong những năm đầu của thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới của Đảng. Quân khu và các địa phương tiếp tục phát huy được sức mạnh tổng hợp, ngăn ngừa đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ và các thủ đoạn phá hoại khác của các thế lực thù địch; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân, xây dựng củng cố khu vực phòng thủ từng bước đi vào chiều sâu và vững chắc, nhất là khả năng phòng thủ trên 2 tuyến biên phòng, trục đường 1; triển khai xây dựng hiệu quả các khu kinh tế - quốc phòng trên địa bàn chiến lược, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, biên giới quốc gia và nhiệm vụ quốc tế với bạn Lào trong thời kỳ mới. Quân khu thực hiện chủ trương xây dựng xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, vững mạnh về quốc phòng an ninh một cách toàn diện, có bước phát triển ở tất cả các địa phương, tạo cho Quân khu và các tỉnh có thế chủ động về chiến lược ngay từ cơ sở để giải quyết các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc biệt là Quân khu tập trung huấn luyện, xây dựng nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang Quân khu, trong đó thường xuyên coi trọng xây dựng vững mạnh về chính trị, triển khai thực hiện nghiêm túc chặt chẽ, bước đầu có hiệu quả cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, tự phê bình, phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), tạo cơ sở để nâng cao sức mạnh bảo đảm cho lực lượng vũ trang Quân khu thật sự có khả năng giữ vai trò làm nòng cốt cùng toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, phòng chống bão lụt, cứu hộ, cứu nạn. Đây là cơ sở tạo thế và lực cho Quân khu tiếp tục xây dựng và phát triển trong những năm đầu thế kỷ XXI. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 10:36:36 pm II- XÂY DỰNG QUÂN KHU VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN 1. Lực lượng vũ trang Quân khu sẵn sàng chiến đấu cao, tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn chiến lược phía tây, bảo đảm thế chủ động trong mọi tình huống. Cuối năm 2000, các Đảng bộ trong Quân khu và các địa phương tiến hành Đại hội Đảng các cấp, hướng tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Quân và dân Quân khu đẩy mạnh các hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 55 năm ngày truyền thống Quân khu và 56 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 11 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân với niềm tin, nghị lực và quyết tâm phát huy cao nội lực, sức mạnh của toàn quân, toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân vững chắc, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm tròn nhiệm vụ quốc tế. Chấp hành Chỉ thị số 112/CT-DUQSTW ngày 7-6-2000 của Đảng ủy Quân sự Trung ương về Đại hội Đảng các cấp trong quân đội, từ ngày 20 đến ngày 22-11-2000, tại thành phố Vinh (Nghệ An) đã diễn ra Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VII nhiệm kỳ 2001-2005. Đại hội tiến hành với tư tưởng chỉ đạo của Trung ương là: "Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa". Tham dự Đại hội có 204 đại biểu. Đại hội rất vinh dự được đón đồng chí Thượng tướng Phạm Văn Trà - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng tới dự và chỉ đạo Đại hội. Đại hội đã nghe báo cáo chính trị do Thiếu tướng Phạm Hồng Minh - Bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh Chính trị Quân khu trình bày và báo cáo 1 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2). Với ý thức trách nhiệm, Đại hội thảo luận báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ khoá VI, trong đó tập trung các vấn đề về quan điểm, chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo, các mục tiêu chỉ tiêu và giải pháp thực hiện, đồng thời bổ sung một số nội dung thiết thực, cần tập trung thực hiện trong những năm tới. Thay mặt Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Phạm Văn Trà phát biểu đánh giá rõ kết quả và mặt mạnh yếu của Đảng bộ Quân khu trong nhiệm kỳ qua, phân tích sâu tình hình nhiệm vụ quốc phòng trong những năm đầu thế kỷ XXI, xác định yêu cầu quán triệt sâu sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với tư duy mới tập trung xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng vững chắc, xây dựng Đảng bộ Quân khu trong sạch vững mạnh. Đại hội quán triệt ý kiến phát biểu chỉ đạo của Thượng tướng Phạm Văn Trà, thống nhất đánh giá: Đảng bộ Quân khu đã cùng Đảng bộ, chính quyền, nhân dân 6 tỉnh đoàn kết thống nhất kế tục thành quả, kinh nghiệm của các nhiệm kỳ trước, vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng về quốc phòng, dự báo sát diễn biến tình hình, quán triệt chấp hành nghiêm túc nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh, kiên định vững vàng về nhận thức tư tưởng, quan điểm, tập trung lãnh đạo chặt chẽ, bám sát cơ sở, hoàn thành tốt các mục tiêu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và công tác xây dựng Đảng do Đại hội Đảng ủy lần thứ VI đề ra. Tuy nhiên, công tác lãnh đạo, chỉ đạo giáo dục tình hình nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng ý thức phòng chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ và tự diễn biến chưa cao. Chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang ba thứ quân chưa đồng đều, công tác huấn luyện, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật có mặt chưa đáp ứng yêu cầu mới, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ, kinh tế kết hợp với quốc phòng, xây dựng hậu phương chiến lược ở một số địa phương chuyển biến còn chậm. Vùng trọng điểm, xung yếu còn những cơ sở yếu, chưa được tập trung xây dựng củng cố. Xây dựng Đảng bộ ở một số nơi, nhất là cơ sở chưa đạt vững chắc, vẫn còn chi bộ yếu. Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ mới tập trung là: Quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VII, nắm vững đặc điểm, vị trí chiến lược của địa bàn Quân khu trong sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trước yêu cầu mới, luôn luôn nắm chắc tình hình, dự báo sát các diễn biến, các tình huống, phát huy sức mạnh tổng hợp của quân và dân Quân khu, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là coi trọng xây dựng xã, phường, cụm, tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, nhất là các địa bàn trọng yếu, vùng xung yếu, căn cứ chiến lược phía tây. Tập trung xây dựng huấn luyện tạo bước phát triển mới về chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân, trong đó xây dựng vững mạnh về chính trị là hàng đầu, đáp ứng yêu cầu cao nhất của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Các lực lượng vũ trang Quân khu tiếp tục thực hiện Chỉ thị 133 của Đảng ủy Quân sự Trung ương, tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa bàn, triển khai các dự án kinh tế - quốc phòng, làm nòng cốt xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh vùng căn cứ cách mạng, địa bàn chiến lược phía tây, tiếp tục cùng các địa phương mở rộng hoạt động kết nghĩa, hợp tác với bạn Lào trong điều kiện mới. Tập trung khâu then chốt xây dựng Đảng bộ, khâu đột phá là rèn luyện xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình, phê bình thường xuyên, tạo chuyển biến thực sự trong các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết đối với cấp ủy, cán bộ chủ trì về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống, chấp hành nguyên tắc, kỷ luật và vai trò tiền phong gương mẫu trong công tác. Toàn Đảng bộ và lực lượng vũ trang Quân khu luôn luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm có tính nguyên tắc trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quân lớn thứ VII khẳng định, thực sự là lực lượng trung kiên, vững vàng ở tuyến đầu của cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và hạnh phúc của nhân dân. Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ Quân khu nhiệm kỳ 2001-2005 gồm 15 đồng chí là: Phạm Hồng Minh, Nguyễn Khắc Dương, Trương Đình Thanh, Cao Xuân Khuông, Nguyễn Phong Phú, Phạm Huy Chưởng, Trần Bá Toàn, Trần Quang Lộc, Võ Hạnh, Đặng Quyết, Lê Hữu Phúc, Lê Đình Tứ, Trần Xuân Được, Trần Đình Thoanh, Nguyễn Đình Giang. Đồng chí Phạm Hồng Minh được bầu làm Bí thư Đảng ủy và đồng chí Nguyễn Khắc Dương làm Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu và 6 Bí thư Tỉnh ủy tham gia Ban chấp hành Đảng bộ Quân khu theo Quy định 36 của Bộ Chính trị. Đại hội bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VII gồm 12 đồng chí. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 10:39:14 pm Đầu năm 2001, Quân khu tập trung công tác trọng tâm là theo dõi chỉ đạo kiểm tra các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ, đồng thời định hướng các vấn đề cơ bản của những năm đầu thập kỷ mới, kịp thời đưa nội dung nghị quyết. Đại hội Đảng các cấp và các quan điểm tư tưởng nhiệm vụ mục tiêu trong Dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX vào chủ trương kế hoạch công tác quân sự, quốc phòng. Bộ tư lệnh Quân khu ra chỉ thị bổ sung nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ an toàn Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, chủ động đối phó các tình huống, nhất là những hoạt động chống đối của số phản động cực đoan đội lốt Thiên Chúa giáo ở xứ Nguyệt Biều, An Truyền1, hoạt động của bọn lưu vong xâm nhập, tình hình người H'Mông di dịch cư trú phức tạp ở tuyến biên giới. Các đơn vị, địa phương, bộ đội biên phòng trực tiếp kiểm tra khảo sát tình hình 2 tuyến biên phòng, tập trung bổ sung phương án chiến đấu tại chỗ, phòng tránh sơ tán, phòng không nhân dân, làm nhiệm vụ quốc tế. Đặc biệt là chủ động phòng chống "diễn biến hoà bình" và tự diễn biến trong từng người, từng tổ chức, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ, loại trừ mọi bất ngờ, trước hết bất ngờ về chính trị tư tưởng. Tháng 2 năm 2001, Quân khu tổ chức hội nghị tổng kết huấn luyện 5 năm 1996-2000, triển khai sớm kế hoạch huấn luyện năm 2001. Hội nghị đánh giá trong 5 năm qua, các đơn vị, địa phương, cơ quan, nhà trường quán triệt phương châm, phương hướng, yêu cầu nhiệm vụ tổ chức huấn luyện đồng bộ, toàn diện về quân sự, giáo dục chính trị, chuyên môn kỹ thuật, bổ túc đào tạo, rèn luyện xây dựng nền nếp chính quy, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, A2. Trong chỉ đạo huấn luyện đã tập trung khâu cơ bản quyết định nâng cao chất lượng toàn diện của lực lượng vũ trang và nền quốc phòng toàn dân là tập huấn đội ngũ cán bộ các cấp với cách làm mới; tiến hành kiểm tra nâng trình độ trong khối chủ lực thay cho tập huấn trước đây; tổ chức bồi dưỡng kiểm tra kiến thức quốc phòng có tính hệ thống cho cán bộ chủ trì khối địa phương từ xã, phường cơ sở lên tỉnh2. Việc tập huấn, bồi dưỡng được gắn với diễn tập chỉ huy - tham mưu cấp trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn có một phần thực binh, diễn tập khu vực phòng thủ, A2 của các địa phương với quy mô mới địa phương, lực lượng chủ lực gắn 2 phương thức tác chiến trong điều kiện mới và tổ chức nhiều hội thi, hội thao ở các cấp thực sự tạo bước phát triển mới trong huấn luyện xây dựng lực lượng chủ lực vững mạnh toàn diện, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững chắc, các xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Hội nghị đề ra nhiệm vụ huấn luyện trong 5 năm (2001-2005): Tập trung thực hiện tốt nhất phương châm "cơ bản, thiết thực, vững chắc", huấn luyện cả chủ lực, địa phương, bộ đội biên phòng, dân quân tự vệ, dự bị động viên sát yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu theo phương án của từng lực lượng trên từng địa bàn, gắn chặt huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị, giáo dục quốc phòng, giáo dục pháp luật, rèn luyện chính quy. Coi trọng huấn luyện sức cơ động, sức chịu đựng bền bỉ dẻo dai, tác chiến nhỏ lẻ thành thạo địa hình rừng núi phức tạp, nâng cao chất lượng chiến đấu hiệp đồng, tác chiến trong khu vực phòng thủ. Tiếp tục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ Đảng, chính quyền, các ngành địa phương mới được bầu cử, bổ nhiệm, gắn kinh tế với quốc phòng, thiết thực xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc gắn với phát triển tăng trưởng kinh tế, xã hội trong công cuộc đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhằm tăng cường chất lượng huấn luyện, Bộ tư lệnh Quân khu tập trung chỉ đạo bồi dưỡng, kiểm tra đội ngũ cán bộ. Tháng 3-2001, Quân khu mở khoá 3 và 4 bồi dưỡng kiến thức quốc phòng tại Trường Quân sự Quân khu cho 117 cán bộ chủ trì cấp huyện, sở ban, ngành cấp tỉnh, trong đó có nhiều đồng chí đảm nhận cương vị công tác mới qua Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2001-2005. Tiếp đó, các tỉnh, huyện mở được 34 lớp cho 224 đồng chí. Nhiều đồng chí qua tập huấn đã vận dụng kịp thời kiến thức tiếp thu được vào chỉ đạo, quản lý điều hành các hoạt động quân sự, quốc phòng địa phương trên cương vị và địa bàn phụ trách, tạo cơ sở tốt thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh gắn với kinh tế, xã hội, đối ngoại trong năm 2001 và những năm tiếp theo. Đồng thời, Quân khu tổ chức tập huấn chiến dịch cho cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị; kiểm tra trình độ nghệ thuật chiến dịch của chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự 6 tỉnh, các sư đoàn và các chỉ huy trưởng, tham mưu trưởng 82 huyện, thị, thành. ______________________________________________ 1. Nguyệt Biều thuộc xã Thủy Biều, huyện Hương Thủy; An Truyền thuộc xã Phú An, huyện Phú Vang (Thừa Thiên-Huế). 2. Năm năm, toàn Quân khu bồi dưỡng 76.182 lượt cán bộ; đào tạo bổ túc, bồi dưỡng 6.885 lượt cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật; bồi dưỡng tập huấn kiến thức quốc phòng cho 8.442 lượt cán bộ lãnh đạo, chính quyền, các ngành, địa phương ở 3 cấp. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 10:42:27 pm Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị tổng kết 5 năm công tác sĩ quan dự bị (1996-2000). Hội nghị đánh giá điểm nổi bật Quân khu và các địa phương là tiến hành ngày càng tốt hơn công tác quản lý, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ sĩ quan dự bị, nâng cao được khả năng động viên, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đủ số lượng, chất lượng theo kế hoạch động viên, đáp ứng mở rộng lực lượng thời kỳ đầu chiến tranh theo ý định sử dụng lực lượng của Quân khu và Bộ1. Công tác sĩ quan dự bị có những chuyển biến cơ bản, nhận thức trách nhiệm của các ngành, các cấp ở địa phương, đơn vị, các nhà trường trong Quân khu và Trung tâm giáo dục quốc phòng các tỉnh, các trường đại học được nâng lên; quy trình đào tạo bồi dưỡng, động viên, huấn luyện, diễn tập tương đối thống nhất; ý thức trách nhiệm đội ngũ sĩ quan dự bị được thể hiện rõ hơn trong hoạt động thường xuyên ở cơ sở và sẵn sàng động viên. Huyện Thạch Hà 3 năm liền tổ chức Hội nghị quân chính tiểu đoàn dự bị động viên huyện. Quảng Trị, Thanh Hoá mở ra khả năng bước đầu đào tạo sĩ quan dự bị theo yêu cầu của Quân khu. Nghệ An tổ chức nắm đăng ký hết số lượng sĩ quan dự bị trên địa bàn triển khai kế hoạch điều chỉnh tổ chức, sắp xếp nguồn. Các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế phát huy vai trò tham mưu trong công tác quân dự bị, sĩ quan dự bị. Về phương hướng trong những năm tới, Hội nghị nhấn mạnh: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của cấp ủy, chính quyền địa phương, năng lực tham mưu của cơ quan quân sự, trách nhiệm đơn vị nhận nguồn theo Pháp lệnh về dự bị động viên; tổ chức tốt việc quản lý, nắm chắc số lượng, chất lượng, tạo nguồn đào tạo sĩ quan dự bị; tổ chức tốt chi trả phụ cấp trách nhiệm cho sĩ quan dự bị được bổ nhiệm chức vụ và thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ quản lý quân dự bị; kiện toàn nâng cao chất lượng cơ quan và đội ngũ chuyên trách sĩ quan dự bị, đáp ứng yêu cầu mới. Từ năm 2000, ở xứ Nguyệt Biều, xứ An Truyền, linh mục Nguyễn Văn Lý tập hợp lực lượng hoạt động chống đối và sang năm 2001 xúc tiến nhiều hành động công khai. Dưới sự chỉ đạo của nước ngoài, linh mục Nguyễn Văn Lý đứng ra tiến hành các hoạt động chống phá như: đòi đất, ngăn cản chính quyền xây dựng công trình phúc lợi xã hội, treo khẩu hiệu ở nhà thờ "đòi tự do tôn giáo", phát tán tài liệu cái gọi là "thực trạng tôn giáo tại Việt Nam" và "lời kêu gọi" tín đồ tu sĩ các tôn giáo vùng lên đấu tranh giành tự do tôn giáo, chống cộng sản, phối hợp với bọn phản động trong và ngoài nước kêu gọi Mỹ can thiệp chống Việt Nam. Những hành động sai trái phạm pháp của Nguyễn Văn Lý bị vạch trần, bị bắt và đưa ra xét xử, được nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo ổn định tình hình, góp phần xây dựng cuộc sống mới ở xứ đạo và trong địa bàn. Cùng trong tháng 3 và tháng 4 năm 2001, lực lượng phản động lưu vong "Việt Nam tự do" do Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu tung về Lào 3 toán nhằm phối hợp với bọn phản động Lào vận chuyển súng đạn, thuốc nổ, tài liệu phản động về Việt Nam với âm mưu gây cháy nổ ở một số địa bàn, nhưng do bạn và ta chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm âm mưu hành động của chúng, kịp thời chống xâm nhập, nên kế hoạch của bọn phản động lưu vong hoàn toàn thất bại, góp phần giữ vững thế chủ động, phát huy sức mạnh tổng hợp ổn định chính trị, bảo vệ an toàn Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Từ ngày 19 đến ngày 24-4-2001, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiến hành tại Hà Nội. Đây là Đại hội “phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”2. Đại hội quyết định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm đầu thế kỷ XXI, chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Đại hội xác định: "Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc". "Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó quân đội nhân dân và công an nhân dân là lực lượng nòng cốt"3. Nhiệm vụ xây dựng "Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị vững vàng; trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; có trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao; quý trọng và hết lòng phục vụ nhân dân; có phẩm chất, đạo đức, lối sống lành mạnh, giản dị; kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang; có năng lực chỉ huy và tác chiến thắng lợi trong bất kỳ tình huống nào; có trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiến đấu ngày càng cao; thường xuyên cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và an ninh quốc gia; ngăn chặn và đẩy lùi các tội phạm nguy hiểm và các tệ nạn xã hội, bảo đảm tốt trật tự an toàn xã hội"4. Lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng các cấp, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, phong trào thi đua của các đơn vị, địa phương đạt nhiều thành tích nổi bật trong sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và huấn luyện, sản xuất xây dựng kinh tế, làm nhiệm vụ giúp bạn. _____________________________________________ 1. Năm năm huấn luyện cho 9.481 lượt và thực hành động viên diễn tập 6.731 lượt sĩ quan dự bị, bổ nhiệm 5.735 đồng chí, đề bạt quân hàm 1.755 đồng chí, giải ngạch 1.411 đồng chí. 2, 3, 4. Sách: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2001, tr .9, 117, 118. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 10:46:31 pm Trong hai năm thực hiện Chỉ thị 133 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, các tỉnh cử 6 đội và 54 tổ công tác của 6 tỉnh về 45 xã miền núi dân tộc, 19 xã vùng công giáo, 42 xã biên giới, 37 xã có vụ việc phức tạp, 32 nơi có nhiều thiên tai dịch bệnh. Trong khi đó, Quân khu cử 3.585 cán bộ, chiến sĩ các đơn vị hành quân dã ngoại về 8 xã vùng sâu vùng xa, 11 xã vùng giáo, 14 xã biên giới làm công tác dân vận gắn với phong trào "Nghĩa tình biên giới, hải đảo", "Năm tình nguyện đầu thế kỷ XXI", "Mùa hè tình nguyện của học sinh, sinh viên" thực sự mang ý nghĩa và thiết thực cả về kinh tế - văn hoá - xã hội, quốc phòng - an ninh, nhất là trên các địa bàn trọng yếu. Đoàn thanh niên Quân khu tổng kết 3 năm phối hợp hoạt động với các tổ chức Đoàn 6 tỉnh đạt nhiều kết qua trên cả 4 mục tiêu, 8 nội dung cụ thể trong phong trào tuổi trẻ lập nghiệp và giữ nước. Công ty hợp tác kinh tế Quân khu hoàn thành tốt dự án giúp bạn xây dựng đưa vào sử dụng 2 công trình với chất lượng kỹ thuật bảo đảm là khu doanh trại của 1 tiểu đoàn bộ binh Sư đoàn 4 gồm hệ thống nhà làm việc, nhà ở, nhà ăn, nhà kho, các hạ tầng kỹ thuật và nhà kỹ thuật bệnh xá khu vực tỉnh Xiêng Khoảng gồm khoa xét nghiệm, phòng X.quang, 3 phòng điều trị, phòng thăm dò chức năng, khối mổ, khối hành chính quản trị. Cùng thời gian này, Công ty hợp tác kinh tế được Nhà nước tuyên dương danh hiệu "Đơn vị Anh hùng lao động", Đội quy tập 192 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế và Đoàn quy tập thuộc Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An được Nhà nước tuyên dương "Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới 1989-19991. Chấp hành Chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân khu, Trường Quân sự Quân khu tổ chức tập huấn cho 57 cán bộ phân đội thuộc Quân đội nhân dân Lào với 2 chuyên ngành. Nhà trường tập trung cao nỗ lực của lãnh đạo, chỉ huy và đội ngũ giáo viên tổ chức dạy, học chu đáo. 100% cán bộ của bạn hoàn thành tốt chương trình học tập trở về làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang của bạn. Ngành Hậu cần, Kỹ thuật Quân khu có 85 sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong sửa chữa, bảo dưỡng, niêm cất, sản xuất các loại dụng cụ chuyên dùng; nghiên cứu công tác bảo đảm hậu cần tài chính trong hoạt động tác chiến tuyến biên giới phía tây, ứng dụng công nghệ mới nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị ở bệnh viện, chỉ đạo diễn tập quân dân y kết hợp và bệnh viện dã chiến. Tháng 4-2001, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội thảo chuyên đề kinh tế kết hợp quốc phòng trong lực lượng chủ lực, địa phương, các doanh nghiệp Quân khu. Trung tướng Nguyễn Khắc Dương - Tư lệnh Quân khu chủ trì. Báo cáo của Quân khu nêu rõ: Thực hiện Nghị quyết 150 của Đảng ủy Quân sự Trung ương "Quân đội ta phải thực hiện tốt nhiệm vụ lao động sản xuất, làm kinh tế, đặc biệt là phải tích cực và chủ động làm nòng cốt tham gia xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn chiến lược", các lực lượng chủ lực, địa phương Quân khu đã triển khai nhiều dự án gắn với kế hoạch phát triển của các địa phương như: đường kinh tế - quốc phòng, hồ đập nước, trồng rừng trong chương trình 5 triệu ha rừng, xây dựng các làng quân nhân, khu kinh tế mới, khu căn cứ hậu cần các cấp, trồng rừng phòng hộ, xây dựng cảng cá trên đảo, bước đầu hình thành làng thanh niên sinh cơ lập nghiệp trên đảo Cồn Cỏ, trang bị tàu thuyền đánh bắt hải sản xa bờ và một số mô hình kinh tế trạm trại như T34, T92... Các doanh nghiệp của Quân khu đứng vững và bước đầu phát triển, trong 5 năm nộp ngân sách Nhà nước và Bộ Quốc phòng 150 tỷ đồng, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế - xã hội chung cả nước. Nhiều trang thiết bị (các loại hiện đại) cùng nguồn lực tài chính, đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân có thể huy động cho thực hiện nhiệm vụ quốc phòng khi cần thiết, tăng tiềm lực quốc phòng trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hoạt động hợp tác kinh tế với bạn Lào đạt tổng kim ngạch xuất khấu hàng hoá 5 năm là 12.460.000 USD, một số dự án dầu tư 100% vốn ra nước ngoài, tổ chức xuất khẩu lao động. Hợp tác kinh tế ở Lào có ý nghĩa hết sức quan trọng về chính trị, mối quan hệ đặc biệt với bạn, xây dựng phát triển kinh tế và tạo thế đứng trên địa bàn chiến lược. Các khu kinh tế quốc phòng mở hướng lồng ghép được dự án với các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tạo thống nhất tham gia thực hiện chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm, chương trình 135 phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, từng bước bố trí lại dân cư, phát triển nông lâm nghiệp, thủ công nghiệp, cơ sở hạ tầng, văn hoá, giáo dục, y tế, du lịch dịch vụ, bảo đảm quốc phòng - an ninh trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu vùng. Nhiệm vụ, mục tiêu trong thời gian tới xác định: "Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ rất quan trọng trong bối cảnh phát triển cạnh tranh và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới trong thập kỷ tới", tiếp tục đứng chân trên các địa bàn chiến lược, trên tuyến đường chiến lược Hồ Chí Minh2, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng làm nòng cốt tham gia phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, bố trí lại dân cư, hình thành các cụm làng xã an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên các tuyến; tạo thêm việc làm, ứng dụng công nghệ tiên tiến hiện đại, tăng đầu tư phát triển sản xuất, làm kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng tiềm lực quốc phòng; mở rộng nâng cao các hoạt động kinh tế đối ngoại, tăng xuất khẩu, thị trường xuất khẩu lao động, đầu tư và đưa lao động hợp tác kinh tế với bạn Lào. ______________________________________________ 1. Quyết định số 645/KT-CTN và Quyết định số 483/2001/QĐ-CTN của Chủ tịch nước. 2. Tháng 4 năm 2000, tại Xuân Sơn, Quảng Bình, Chính phủ tổ chức lễ khởi công xây dựng Đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1 (2000 - 2005) từ Khe Cò (Hà Tĩnh) đến Ngọc Hồi (Kon Tụm) 962 km qua 10 tỉnh. Ngày 2-3-2004, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định phê duyệt Định hướng quy hoạch chung xây dựng dọc tuyến Đường Hồ Chí Minh (giai đoạn 1) đến năm 2020. Kỳ họp Quốc hội thứ 6 (khóa XI) tháng 11-2004 thông qua Dự án xây dựng toàn tuyến Đường Hồ Chí Minh từ Cao Bằng đến Cà Mau dài 3.167km. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 10:47:15 pm Ngày 19-5-2001 đúng ngày kỷ niệm 111 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, các cơ quan Quân khu vô cùng phấn khởi được đón tiếp Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đến thăm và làm việc với Quân khu. Thiếu tướng Trương Đình Thanh - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Phó tư lệnh Quân khu thay mặt Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, các lực lượng vũ trang Quân khu bày tỏ niềm vinh dự to lớn được đón tiếp đồng chí Tổng Bí thư. Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của Quân khu nêu rõ: Quân khu đã tập trung thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng ba thứ quân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, góp phần giữ vững an ninh chính trị trong các tình huống, làm tròn nhiệm vụ quốc tế với bạn. Đồng chí Tổng Bí thư biểu dương Quân khu đã khắc phục khó khăn, phối hợp chặt chẽ với Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các địa phương giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn. Quân khu có vị trí đặc biệt quan trọng đối với cả nước, là Quân khu có truyền thống cách mạng và văn hoá, có nhiều đóng góp to lớn trong các cuộc kháng chiến. Lực lượng vũ trang Quân khu đã lập được nhiều thành tích xuất sắc, vinh dự được Nhà nước tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác. Đó là hành trang để lực lượng vũ trang Quân khu vững bước tiến vào thế kỷ XXI dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, trước tình hình trên thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu phải quán triệt thật tốt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, thường xuyên giải quyết tốt mối quan hệ gắn bó chặt chẽ 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phải tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng an ninh vững chắc, nhất là ở cơ sở, luôn luôn chủ động phát hiện, kịp thời ngăn chặn có hiệu quả mọi âm mưu chống phá của kẻ thù, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, làm tròn nhiệm vụ quốc tế. Đồng thời chăm lo công tác xây dựng Đảng bộ, chú ý đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán trong các lực lượng vũ trang Quân khu và các địa phương; xây dựng Đảng bộ Quân khu ngày càng vững mạnh trong sạch, ngang tầm nhiệm vụ cách mạng, xứng đáng là Đảng bộ lực lượng vũ trang trên quê hương Bác Hồ kính yêu. Thực hiện lời căn dặn của đồng chí Tống Bí thư và căn cứ kế hoạch đã đề ra, Thường vụ Đảng ủy Quân khu xây dựng Chương trình hành động 5 điểm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VII, Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ VII: 1. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh toàn diện, trước hết là về chính trị, không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, làm cho lực lượng vũ trang Quân khu thực sự là lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân và góp phần quan trọng vào giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. 2. Nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang ba thứ quân, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, xây dựng cơ quan đơn vị vững mạnh toàn diện theo 5 nội dung của Chỉ thị 917/BQP, xây dựng dân quân tự vệ, dự bị động viên đủ khả năng hoàn thành chức năng nhiệm vụ, thực hiện thắng lợi các cuộc vận động và phong trào thi đua trong lực lượng vũ trang Quân khu. 3. Tăng cường sự phối hợp lãnh đạo với cấp ủy chính quyền 6 tỉnh, thực hiện tốt Nghị quyết 8 của Bộ Chính trị, củng cố xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững mạnh, xã phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, tăng cường khả năng phòng thủ các hướng, nhất là các địa bàn trọng yếu. 4. Phát huy sức mạnh tổng hợp, nêu cao tinh thần tự lực tự cường, chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn, phấn đấu bảo đảm tốt đời sống bộ đội, đáp ứng các nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, xây dựng huấn luyện và các nhiệm vụ khác; lao động sản xuất làm kinh tế hiệu quả cao, tiếp tục tích cực chủ động tham gia phát triển kinh tế - xã hội và làm nòng cốt củng cố quốc phòng - an ninh trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu vùng xa, vùng căn cứ cách mạng cũ, tham gia một số chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. 5. Phát huy cao hiệu quả cuộc vận động "quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn tiết kiệm và an toàn giao thông", xây dựng chính quy hoá công tác kỹ thuật, thực hiện tốt các kế hoạch điều chuyển, bảo dưỡng, sửa chữa, niêm cất; phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, ứng dụng một số công nghệ mới; hạn chế thấp nhất xuống cấp, không mất mát cháy nổ, an toàn tuyệt đối, bảo đảm chất lượng kỹ thuật đồng bộ cho sẵn sàng chiến đấu. Quân khu phối hợp với các địa phương rà soát lại và tiến hành quy hoạch tổng thể kinh tế kết hợp quốc phòng trên địa bàn từng tỉnh và toàn Quân khu 10 năm (2001-2010), xác định vị trí chiến lược quan trọng của Quân khu trước yêu cầu mới bảo đảm giải quyết tốt mối quan hệ gắn bó chặt chẽ 2 nhiệm vụ chiến lược trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tiếp tục xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, gắn xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng, xây dựng thế trận, xây dựng lực lượng tại chỗ ở vùng sâu vùng xa, hình thành thêm Đoàn 4 kinh tế - quốc phòng ở tây bắc Nghệ An. Bộ tư lệnh Quân khu, trực tiếp là Ban chỉ đạo kế hoạch A của Quân khu xây dựng dự án điều chỉnh bổ sung quy hoạch kho tàng Quân khu trong 10 năm (2001-2010) nhằm tạo thế liên hoàn trong thế trận chung, đáp ứng yêu cầu bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật cho Quân khu và các binh đoàn chủ lực phối hợp tác chiến trên địa bàn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 10:49:05 pm Cuối tháng 5-2001, Cục Chính trị Quân khu tổ chức rút kinh nghiệm hoạt động phòng Hồ Chí Minh và hoạt động văn hoá thể thao trong các ngày nghỉ của bộ đội1. Toàn Quân khu có 57 phòng Hồ Chí Minh (cấp huyện có 5 phòng), 164 phòng đọc, 16 phòng truyền thống, 11 thư viện. Hoạt động phòng Hồ Chí Minh khá phong phú và hiệu quả ở Trung đoàn 206, Trung đoàn 335, Trung đoàn 273, Lữ đoàn 283, Lữ đoàn 16, Lữ đoàn 414, Trung đoàn 19, Trung đoàn 176, CK2, CK3, K55. Hoạt động phòng Hồ Chí Minh và hoạt động văn hoá thể thao trong các ngày nghỉ của bộ đội đã góp phần tích cực giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cách mạng, đạo đức phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" trong cán bộ, chiến sĩ; xây dựng đời sống tươi vui, lành mạnh, phong phú, củng cố kỷ luật, thiết thực xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Cấp ủy Đảng, chỉ huy, cơ quan các cấp tiếp tục chỉ đạo, tổ chức tốt hơn nữa các hoạt động ở cơ sở, đổi mới nội dung và hình thức hoạt động thu hút các sĩ quan trẻ, hạ sĩ quan chiến sĩ tham gia đạt hiệu quả thiết thực. Giữa tháng 6-2001, tỉnh Thừa Thiên - Huế diễn tập khu vực phòng thủ. Đây là cuộc diễn tập khu vực phòng thủ đầu tiên của cấp tỉnh trong kế hoạch 5 năm (2001-2005), tiếp tục đổi mới diễn tập khu vực phòng thủ gắn địa phương - chủ lực. Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo cuộc diễn tập này. Chủ đề diễn tập là "Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị, kiên quyết dập tắt làm thất bại các cuộc bạo loạn lật đổ, tổ chức phòng tránh sơ tán, đánh trả tập kích hoả lực và các lực lượng tiến công của địch bảo vệ vững chắc địa bàn". Mục đích, nội dung diễn tập được đưa sát tình hình của tỉnh, chủ yếu kiểm nghiệm quyết tâm A, A2, A3, kế hoạch phòng tránh sơ tán, đánh trả tập kích hoả lực của địch; một số huyện kết hợp phòng chống bão lụt. Lực lượng thực binh có Trung đoàn 176, Đại đội 20 trinh sát, Đại đội 594 phòng không, Tiểu đoàn 3 tăng thiết giáp, bộ đội biên phòng, công an, lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, Tiểu đoàn 4 Sư đoàn 968. Chủ trì diễn tập của tỉnh gồm các đồng chí Hồ Xuân Mãn - Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh; Nguyễn Văn Mễ - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Giáo - Chỉ huy trưởng; Đại tá Hồ Bân - Phó Bí thư Đảng ủy quân sự - Phó chỉ huy chính trị Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Trong diễn tập đã phát lệnh động viên 1 tiểu đoàn dự bị động viên của thành phố Huế xử trí tình huống A2 đạt tỷ lệ 100%; lực lượng thực binh của phân đội đặc nhiệm đánh địch, thể hiện khá tốt, an toàn, đúng ý định. Trung đoàn 176, đại đội thiết giáp, đại đội dự bị động viên Hương Thủy đánh địch đổ bộ đường không ở cao điểm B đạt mục đích yêu cầu đề ra. Tiểu đoàn 4 Sư đoàn 968 hành quân cơ động đường bộ gần 3 ngày bảo đảm thời gian nhận nhiệm vụ phối hợp kịp thời, đúng ý định. Đánh giá kết quả diễn tập, đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế nêu rõ: Việc tổ chức diễn tập của tỉnh đã thực hiện nghiêm túc và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Một lần nữa chúng ta thấy diễn tập khu vực phòng thủ, vận hành theo Nghị quyết 2 của Bộ Chính trị trong chuyển địa phương khi có chiến sự và chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến trong tình hình hiện nay là đúng hướng, thiết thực. Thông qua diễn tập, góp phần nâng cao được nhận thức quốc phòng an ninh ở một địa bàn trọng điểm, mối quan hệ chỉ đạo, điều hành, sự đoàn kết phối hợp chặt chẽ các lực lượng là yếu tố cơ bản bảo đảm diễn tập thành công tốt đẹp. Tuy nhiên, mức độ hoàn thành nhiệm vụ ở các đơn vị khác nhau, do nội dung là loại hình đang từng bước hoàn thiện như phòng chống bạo loạn, di chuyển sơ tán... Vì vậy phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo xuyên suốt của Đảng, phát huy vai trò của chính quyền và khối tham mưu các ban, ngành, đoàn thể để tạo sự thống nhất về quy trình chỉ đạo về mặt pháp lý và trách nhiệm của mỗi cấp, mỗi ngành. Cuộc diễn tập là đã thể hiện đầy đủ sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền. Tóm lại, cuộc diễn tập mang tên H-01 là một cuộc diễn tập tổng hợp cả 3 khối: Đảng, chính quyền, các cơ quan làm tham mưu diễn ra với nhiều nội dung, nhiều thành phần, lực lượng tham gia liên quan mọi mặt: chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, kết quả đạt được giúp cho tỉnh thêm kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện cơ chế 02 của Bộ Chính trị. Trong năm 2001, toàn Quân khu có 24 huyện, thị, thành và 538 xã, phường, cơ sở diễn tập khu vực phòng thủ, nhiều địa phương gắn diễn tập A2, phòng chống bão lụt. Nhiều đồng chí mới trúng cử cương vị chủ trì ở địa phương được tập huấn bồi dưỡng về quốc phòng, nên chỉ đạo diễn tập vận hành cơ chế 02 rất hiệu quả. Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở các cấp và Ban điều hành các cụm được kiện toàn sau Đại hội Đảng. Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu tổ chức 3 đoàn khảo sát kiểm tra tình hình từ sau tổng kết 10 năm ở 12 huyện, thị, thành, 24 xã phường. Các tỉnh kiểm tra khảo sát 64 huyện, thị, thành, 462 xã phường. Các địa phương tập trung đầu tư làm chuyển biến các cơ sở vùng trọng điểm, vùng sâu, vùng xa khá hơn. Hoạt động của 446 cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu phối hợp giải quyết tranh chấp mâu thuẫn, phòng chống tội phạm, bảo vệ sản xuất, phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế - xã hội, diễn tập sẵn sàng chiến đấu có hiệu quả thiết thực. _____________________________________________ 1. Thời gian làm việc chung, mỗi tuấn 40 giờ, trừ lực lượng thường trực sẵn sàng chiến đấu thực hiện trong toàn quân bắt đầu từ ngày 20-1-2000. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 10:50:41 pm Qua sơ kết đánh giá 5 năm thực hiện Pháp lệnh về dân quân tự vệ, Quân khu và cấp ủy, chính quyền, các ban ngành đoàn thể quán triệt mục đích ý nghĩa, vai trò, vị trí chiến lược của dân quân tự vệ trong tình hình mới, thống nhất nhận thức, quan điểm, nâng được vai trò trách nhiệm lãnh đạo của cấp ủy, điều hành của chính quyền các cấp lên một bước tổ chức thực hiện pháp lệnh. Các địa phương coi thực hiện nhiệm vụ xây dựng dân quân tự vệ, dự bị động viên là nhiệm vụ trọng tâm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trong tình hình mới, gắn xây dựng hoạt động của dân quân tự vệ với xây dựng cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu1. Về hoạt động tác chiến trị an, 100% cơ sở đã bổ sung kế hoạch A, A2, A3 phù hợp tình hình, tham gia hàng vạn ngày công tuần tra, canh gác, trực sẵn sàng chiến đấu, phòng chống thiên tai, bảo đảm an toàn địa bàn. Chất lượng đội ngũ cán bộ quân sự cơ sở qua Đại hội Đảng và bầu cử Hội đồng nhân dân các nhiệm kỳ được củng cố, bồi dưỡng, kiện toàn kịp thời, có khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chấp hành Chỉ thị của Bộ Quốc phòng, các địa phương đã tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ A2. Tháng 9 năm 2001, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị tổng kết xác định mục tiêu nhiệm vụ phòng chống "diễn biến hòa bình" trong những năm đầu thế kỷ XXI. Hội nghị nêu rõ: Trong 10 năm qua, Quân khu và các tỉnh nhận thức sâu sắc nhiệm vụ phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, đi sâu nắm bắt tình hình, tập trung lãnh đạo chỉ đạo giáo dục nâng cao cảnh giác cách mạng, xác định nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phòng chống đánh bại âm mưu thủ đoạn "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ và thúc đẩy "tự diễn biến" của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn Quân khu. Các đơn vị, địa phương đã tuyên truyền giáo dục nhân dân và lực lượng vũ trang, tăng cường công tác nắm địch, triển khai kế hoạch A2 và diễn tập bổ sung các phương án, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu sát yêu cầu nhiệm vụ, thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ và tự diễn biến ngay từ bên trong, giải quyết các điểm nóng, các vụ việc mâu thuẫn nội bộ, củng cố kiện toàn đội ngũ cán bộ các cấp, quản lý vũ khí trang bị. Hội nghị nêu rõ một số mặt hạn chế, thiếu sót, rút ra kinh nghiệm thiết thực và xác định phương hướng nhiệm vụ những năm tới là: 1. Thường xuyên chăm lo xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, của chính quyền các cấp, đặc biệt là cơ sở, làm tốt vai trò tham mưu của quân sự, công an, bộ đội biên phòng và các ngành chức năng trong nhiệm vụ phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ. 2. Tăng cường các biện pháp quản lý nắm chắc địa bàn, xây dựng mạng lưới quân báo nhân dân rộng khắp, chú trọng các địa bàn trọng điểm, phát hiện và dự báo kịp thời chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch, các nhân tố gây mất ổn định chính trị. Chuẩn bị tốt các phương án phòng chống đánh địch xâm nhập phá hoại, gây rối bạo loạn, xử lý kịp thời hiệu quả các tình huống. 3. Thường xuyên rà soát điều chỉnh bổ sung kế hoạch A2, luyện tập, diễn tập. 4. Giáo dục quán triệt sâu sắc nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, xác định rõ đối tượng tác chiến, đánh giá đúng bản chất, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, có phương châm xử lý đúng, chủ động phòng chống tự diễn biến, không để kẻ địch tạo cớ can thiệp. 5. Thực hiện tốt chương trình giáo dục chính trị, củng cố vững chắc trận địa chính trị tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tập trung phòng chống, làm thất bại chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị. 6. Tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, triệt tiêu những mầm mống gây mất ổn định từ cơ sở, không để xảy ra các điểm nóng, bảo đảm thực sự yên dân, ổn định để phát triển. Cuối tháng 9 năm 2001, Quân khu tổ chức Đại hội Phụ nữ lần thứ hai. Đại hội đánh giá: Công tác phụ nữ và phong trào phụ nữ lực lượng vũ trang Quân khu trong 5 năm qua đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân điển hình trong thi đua "giỏi việc nước, đảm việc nhà", "tích cực công tác, lao động, học tập, thực hành tiết kiệm, xây dựng gia đình hạnh phúc", đóng góp thiết thực công sức của phụ nữ vào hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị, địa phương. Phong trào cũng có nhiều nhân tố nổi bật trong giáo dục nâng cao kiến thức năng lực toàn diện cho phụ nữ, xây dựng người phụ nữ mới, xây dựng tổ chức Hội Phụ nữ vững mạnh, giáo dục mầm non, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ, trẻ em, phát triển kinh tế gia đình, phối hợp hoạt động với phụ nữ địa phương và các tổ chức quần chúng. Các hội phụ nữ cơ sở phong trào khá là: Lữ đoàn 283, Quảng Bình, Trung đoàn 80, X467, Lữ đoàn 414, Thanh Hoá, Đoàn 40B, Viện quân y 4, Công ty hợp tác kinh tế Quân khu, cơ quan Bộ Tham mưu Quân khu. Đại hội xác định mục tiêu phương hướng nhiệm vụ công tác phụ nữ và phong trào phụ nữ Quân khu trong 5 năm (2001-2006) là: phụ nữ Quân khu 4 tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn liền với nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Quán triệt các quan điểm, chỉ thị về công tác vận động quần chúng của Đảng trong tình hình mới, tăng cường lãnh đạo của cấp ủy Đảng, đoàn kết rộng rãi với các tổ chức, các cơ quan trong và ngoài quân đội, tạo điều kiện cho phụ nữ nâng cao kiến thức mọi mặt với tinh thần người phụ nữ mới "có kiến thức, sức khỏe, năng động, sáng tạo, biết làm giàu chính đáng, quan tâm đến lợi ích xã hội, cộng đồng, có lòng nhân hậu", đưa phong trào phụ nữ chuyển biến mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Ngày 15-10-2001, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức lễ kỷ niệm 56 năm ngày truyền thống lực lượng vũ trang Quân khu và long trọng đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh do Nhà nước trao tặng cho lực lượng vũ trang Quân khu vì đã có thành tích xuất sắc trong thời kỳ đổi mới. Lực lượng vũ trang Quân khu 4 cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 6 tỉnh đoàn kết thống nhất, kiên định vững vàng, thực hiện sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, xây dựng xã, phường, cơ sở, cụm, tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, quốc phòng ở địa phương và hoàn thành nhiệm vụ quốc tế. ___________________________________________ 1. Toàn Quân khu có 1.794 xã phường, 1.790 cơ sở đều tổ chức xây dựng dân quân tự vệ, tỷ lệ 2.5% số dân số, đảng viên trong dân quân tự vệ 15,6%, đoàn viên 51.9%, quân nhân phục viên xuất ngũ 22,9%; chỉ huy trưởng quân sự xã phường có 1.587/1.794 là cấp ủy viên. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 10:53:24 pm * * * Nhân dịp đón Xuân Nhâm Ngọ 2002, lực lượng vũ trang Quân khu vui mừng phấn khởi được đón tiếp đồng chí Nguyễn Văn An - Ủy viên Bộ Chính trị - Chủ tịch Quốc hội đến thăm và làm việc với Quân khu. Thiếu tướng Trương Đình Thanh - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, quyền Tư lệnh Quân khu thay mặt Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu báo cáo đồng chí Chủ tịch Quốc hội về tình hình thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng gắn với phát triển kinh tế - xã hội của Quân khu và các tỉnh trong thời gian qua, nêu rõ các mục tiêu, nhiệm vụ trong năm 2002, đặc biệt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trước tình hình diễn biến mới. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An biểu dương những thành tích của quân và dân Quân khu, nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu tiếp tục phát huy truyền thống, bản chất cách mạng "Bộ đội Cụ Hồ", phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Để xứng đáng là "Bộ đội Cụ Hồ" trên quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang Quân khu phải luôn luôn giữ vững phẩm chất cách mạng của quân đội nhân dân, tập trung xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, luôn luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân. Nhân dịp này, đồng chí Chủ tịch Quốc hội tặng Quân khu bức tranh "Bác cùng chúng cháu hành quân". Triển khai Chương trình hành động 5 điểm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VII, Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VII và lời căn dặn của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước khi đến thăm. Ngày 30-11-2001, Đảng ủy Quân khu ra Nghị quyết số 73/NQ-ĐU về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng năm 2002 nêu rõ: các lực lượng vũ trang Quân khu chủ động triển khai sớm Nghị quyết Đảng ủy Quân khu về nhiệm vụ quốc phòng năm 2002, tập trung trước hết giáo dục nhận thức sâu sắc âm mưu thủ đoạn mới của Mỹ và các thế lực thù địch, hết sức cảnh giác bảo đảm sẵn sàng chiến đấu chủ động xử trí mọi tình huống. Sau sự kiện 11-9-2001 ở Mỹ, lợi dụng "chống khủng bố", Mỹ tiến hành chiến tranh chống Áp-ga-ni-xtan mà mục tiêu chính là tập hợp lực lượng mới thực hiện chiến lược "đánh đòn phủ đầu". Đối với nước ta, các thế lực thù địch trong và ngoài nước công khai cấu kết chống phá với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Trên địa bàn Quân khu, chúng triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, tập hợp lôi kéo bọn xấu trong ngụy quân, ngụy quyền cũ kích động chống đối, nhất là tìm cách móc nối với các lực lượng phản động ở Lào phá hoại tình đoàn kết đặc biệt hai nước Việt - Lào. Trước những diễn biến mới, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương thường xuyên nắm chắc tình hình các địa bàn, hoạt động của các lực lượng thù địch, nhất là các vùng trọng điểm A2 ở phía nam và tuyến biên giới; tổ chức đoàn cán bộ cơ quan, đơn vị đi nghiên cứu địa hình theo nhiệm vụ C - 2002 đạt mục đích, an toàn. Các đơn vị, địa phương hoàn chỉnh một bước kế hoạch chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu; kế hoạch cơ động lực lượng; kế hoạch bảo vệ kỳ bầu cử Quốc hội khoá XI; tiếp tục triển khai điều tra quy hoạch quản lý bảo vệ hang động, các công trình quốc phòng. Quân khu xác định vị trí sơ tán cho cơ quan, hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể kế hoạch xây dựng công trình phòng thủ, phòng tránh sơ tán bảo toàn lực lượng và đường cơ động chiến đấu của Quân khu 2002-2010 báo cáo Bộ phê chuẩn; tổ chức nghiệm thu công trình chiến đấu của các đồn biên phòng xây dựng từ năm trước, tiếp tục khảo sát xây dựng một số công trình chiến đấu chính. Thực hiện quyết định của Bộ, Quân khu điều chỉnh tổ chức biên chế Trung đoàn 176, Trung đoàn 830, Tiểu đoàn 3 tăng thiết giáp... bảo đảm nhiệm vụ xây dựng, sẵn sàng chiến đấu; đồng thời chỉ đạo Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh phối hợp với Bộ chỉ huy biên phòng nghiên cứu vị trí bố trí các đồn biên phòng trên 2 tuyến phía tây và ven biển cho phù hợp1. Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: "Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân", Quân khu điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ và chỉ đạo các đoàn kinh tế - quốc phòng xây dựng kế hoạch A2, A3 theo chỉ thị của Bộ, phối hợp cùng các địa phương bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh vững chắc trên các địa bàn chiến lược trọng yếu, căn cứ hậu phương chiến lược; thành lập thêm Đoàn 5 kinh tế - quốc phòng ở Mường Lát (Thanh Hoá). Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức khởi công xây dựng tuyến đường miền núi đoạn Na Ngoi - Khe Kiền dài 21,5 km trong phân đoạn đường Mường Xén - Khe Kiền, đáp ứng nguyện vọng của đồng bào dân tộc ở các vùng Lưu Kiền, Nậm Cắn, Na Ngoi, Mường Ải, Mường Típ, tạo điều kiện phát triển kinh tế - quốc phòng - an ninh - văn hoá xã hội, hình thành các cụm tuyến biên giới Tương Dương, Kỳ Sơn2. Thực hiện kế hoạch hợp tác với bạn, Công ty hợp tác kinh tế thi công tuyến đường huyết mạch dài hơn 65km từ Nậm Tạc - Viêng Thoong đến biên giới Tam Hợp - Tương Dương (Nghệ An), góp phần giúp nhân dân sản xuất xây dựng đời sống, mở rộng căn cứ hậu phương của bạn ở vùng trọng yếu nối với địa bàn chiến lược phía tây của Quân khu. Sau một thời gian lao động khẩn trương, các đơn vị đã hoàn thành tuyến đường được giao. Công ty hợp tác kinh tế Quân khu được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì. _____________________________________________ 1. Tuyến biên giới mở các cửa khẩu quốc tế gắn trung tâm kinh tế thương mại như Lao Bảo, Cầu Treo, Nậm Cắn, Cha Lo; các cửa khẩu quốc gia Na Mèo, La Lay và 6 cửa khẩu phụ. Các cửa khẩu cảng biển quốc tế Quảng Hưng, Nghi Sơn, Bến Thủy - Cửa Lò, Vũng Áng - Nghi Xuân, Cảng Gianh, Cửa Việt, Thuận An, Chân Mây. 2. Lực lượng thi công gồm Lữ đoàn 414, Công ty hợp tác kinh tế Quân khu, Công ty xây dựng giao thông Nghệ An. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 10:55:55 pm Quân khu soát xét lại công tác phòng không lục quân - phòng không nhân dân, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu trước yêu cầu mới. Trong 5 năm (1998-2002), việc tổ chức huấn luyện lực lượng phòng không được chú trọng, từ tổ chức thế trận phòng không trên từng địa bàn lấy lực lượng tại chỗ là chính thành thế trận rộng khắp trong từng khu vực phòng thủ. Lực lượng phòng không nòng cốt của Quân khu, của Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, đơn vị được xây dựng, diễn tập sẵn sàng chiến đấu chặt chẽ1. Lực lượng phòng không dự bị động viên, dân quân tự vệ được củng cố, phát triển. Riêng dân quân tự vệ có hàng chục đại đội phòng không, hàng trăm tiểu đội súng máy phòng không, 2.876 tổ bộ binh bắn máy bay bay thấp. Quân khu tổ chức các vọng quan sát xa trên các hướng quan trọng. Các đồn biên phòng cũng tham gia trực chiến phòng không dọc tuyến biên phòng. Huấn luyện xây dựng diễn tập phòng không dự bị động viên khá là Lữ đoàn 283, Thanh Hoá, Quảng Bình, Quảng Trị; huấn luyện xây dựng diễn tập phòng không dân quân tự vệ khá là Hà Tĩnh, Quảng Trị. Tuy nhiên, một số đơn vị, địa phương (chưa) thực hiện nghiêm túc chặt chẽ thường xuyên 10 chế độ sẵn sàng chiến đấu; khả năng cơ động khẩn cấp, dài ngày, ban đêm còn khó khăn; kế hoạch phòng tránh sơ tán chưa được tính toán khoa học; chưa địa phương nào xây dựng được trận địa súng máy phòng không trên nhà cao tầng. Trong thời gian tới, Quân khu xác định: Tiếp tục tổ chức xây dựng thế trận phòng không ba thứ quân đánh máy bay, tên lửa hành trình của địch, tích cực tổ chức phòng tránh, sơ tán tránh đòn tập kích bằng hoả lực đầu tiên của địch hiệu quả nhất, bảo toàn lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất đủ sức đánh lâu dài, đồng thời sẵn sàng lực lượng tiêu diệt địch tấn công trong mọi tình huống. Cả ba lực lượng phòng không tập trung khắc phục những mặt yếu, chú trọng huấn luyện đêm, huấn luyện cơ động nhanh và rèn luyện thể lực tốt; đưa vào chương trình tại chức cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng huấn luyện bắn các phương tiện bay thấp và cực thấp của địch. Về công tác huấn luyện 2002, Quân khu tập trung tổ chức kiểm tra toàn diện đội ngũ trực tiếp huấn luyện tại đơn vị, bao gồm các cán bộ tiểu đoàn và trợ lý huấn luyện của các đơn vị, gắn huấn luyện bộ đội chủ lực Quân khu với nhiệm vụ tác chiến trong khu vực phòng thủ và tác chiến của các binh đoàn chủ lực cơ động. Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị chuyên đề về kỷ luật và an toàn quân đội từ cơ sở lên đạt kết quả góp phần tăng cường xây dựng nền nếp huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy, quản lý bộ đội, xây dựng đơn vị an toàn. Quân khu liên tiếp mở 3 khoá bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đồng chí Bí thư, Chủ tịch huyện, thị, thành và chủ trì sở, ban, ngành các tỉnh gồm 135 đồng chí; mở lớp thiếu sinh quân tại Trường Quân sự Quân khu cho 33 con em các dân tộc miền núi; lựa chọn cử tuyển 85 em tốt nghiệp trung học phố thông là con em cán bộ dân tộc 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế vào học các trường sĩ quan, trung học chuyên nghiệp; thực hiện luân phiên cán bộ đồng bằng, cán bộ Ngành y lên miền núi cho 135 đồng chí. Sau Đại hội Đảng các cấp, các địa phương có gần 25% xã, phường đội trưởng mới giữ chức. Qua sơ kết thực hiện Pháp lệnh về dân quân tự vệ, các địa phương tích cực tổ chức tập huấn bồi dưỡng cho tất cả các đồng chí xã, phường đội trưởng mới. Các tỉnh Thanh Hoá, Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh có 100% xã, phường đủ 3 đồng chí trong Ban chỉ huy quân sự xã, phường, chất lượng cán bộ được nâng lên. Các địa phương tập trung xây dựng lực lượng dân quân tự vệ cơ động, lực lượng phòng không, dân quân ở các địa bàn trọng điểm xung yếu. Ở các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Trị xây dựng mới 3 phân đội dân quân thường trực ở địa bàn trọng điểm biên giới Cầu Treo, Nậm Cắn, Lao Bảo. Nghệ An tổ chức hội thi lực lượng tự vệ chuyên ngành Bưu điện. Thừa Thiên - Huế sơ kết xây dựng hoạt động của lực lượng tự vệ cơ quan hành chính sự nghiệp, tổ chức bồi dưỡng kết nạp được 5 đảng viên là xã đội trưởng2. Các địa phương thực hiện Pháp lệnh về dự bị động viên đạt hiệu quả, thực hiện đúng kế hoạch chi trả phụ cấp trách nhiệm cho quân nhân dự bị giữ chức vụ chỉ huy đơn vị dự bị động viên, tổ chức kiểm tra huấn luyện dự bị động viên đạt 100% kế hoạch bằng nguồn ngân sách quốc phòng và địa phương. Các tỉnh triển khai sớm kế hoạch, chương trình xây dựng cơ sở, xã, phường, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu sát tình hình thực tế. Các đơn vị chủ lực triển khai kế hoạch phối hợp xây dựng đơn vị - địa bàn an toàn khá cụ thể. Lãnh đạo, chính quyền, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở các tỉnh kịp thời cùng cơ sở giải quyết hiệu quả việc di dịch tự do của người H'Mông ở Kỳ Sơn, Tương Dương, Mường Lát, Quan Sơn; ngăn chặn truyền đạo trái phép ở Hướng Hoá; xử lý nhiều vụ mâu thuẫn, khiếu kiện, tranh chấp, giữ vững ổn định tình hình địa phương. ____________________________________________ 1. Lực lượng phòng không Lữ đoản 283 và Sư đoàn 968 cơ động trực sẵn sàng chiến đấu ở Huế hoàn thành tốt nhiệm vụ. 2. Năm 2000, Thừa Thiên - Huế có 10 xã, phường đội trưởng chưa là đảng viên. Năm 2002 có 100% đồng chí là đảng viên. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 10:57:15 pm Trong chuyến thăm và làm việc chính thức với Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Chủ tịch nước Trần Đức Lương, ngày 15-5-2002, đồng chí Khăm Tày Xi Phăn Đon - Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao của Đảng, Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đến thăm Quân khu 4. Thiếu tướng Trương Đình Thanh - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu; Thiếu tướng Phạm Hồng Minh - Bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh chính trị Quân khu và các đồng chí Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, cán bộ, chiến sĩ cơ quan Quân khu nồng nhiệt đón tiếp đồng chí Khăm Tày Xi Phăn Đon, phu nhân và các đồng chí cùng đến thăm Quân khu 4 đúng vào dịp kỷ niệm 112 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong báo cáo của đồng chí Tư lệnh Quân khu khi đón đoàn đại biểu cao cấp của Đảng, Nhà nước Lào nêu rõ: Lực lượng vũ trang Quân khu 4 vô cùng tự hào có người bạn chiến đấu kiên cường, người đồng chí thủy chung, người anh em thắm thiết là Đảng nhân dân cách mạng Lào, Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, quân đội và nhân dân các bộ tộc Lào anh hùng. Quân khu 4 nguyện làm hết sức mình cùng Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Lào không ngừng củng cố phát triển quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào vì sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và lợi ích của hai dân tộc. Đồng chí Khăm Tày Xi Phăn Đon bày tỏ tình cảm chân thành trước sự đón tiếp nồng hậu, thân thiết của Bộ tư lệnh Quân khu, đồng thời đánh giá cao sự hợp tác, giúp đỡ, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam mà gần gũi là sự giúp đỡ chí tình của quân và dân Quân khu 4 trong những năm qua và đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay. Ngày 19-5-2002, lần đầu tiên nước ta tổ chức bầu cử Quốc hội đúng ngày sinh của Bác. Hướng về kỷ niệm 112 năm ngày sinh của Bác và cuộc bầu cử Quốc hội khoá XI, các đơn vị, địa phương trong Quân khu đã triển khai các kế hoạch bảo vệ an toàn tuyệt đối cuộc bầu cử có ý nghĩa lịch sử to lớn trong những năm đầu thế kỷ XXI; đồng thời tổ chức chu đáo chặt chẽ việc bầu cử ở các điểm bầu cử trong đơn vị. Trong bầu cử lần này, Thiếu tướng Phạm Hồng Minh - Bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh chính trị Quân khu trúng cử đại biểu Quốc hội khoá XI. Theo kế hoạch huấn luyện, trong năm 2002 Quân khu thực hành diễn tập và chỉ đạo các cuộc diễn tập trong năm đạt kết quả thiết thực, góp phần nâng cao trình độ các cấp, bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trước yêu cầu mới, nổi bật là 2 cuộc diễn tập mang tên HN-21 và MB-02. Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Quân khu và bạn Lào tổ chức thực hành diễn tập chỉ huy - tham mưu giữa Quân khu 4 với khu trung tâm Quân đội nhân dân Lào mang tên HN-21. Lực lượng của Quân khu có Bộ tư lệnh Quân khu, các cơ quan, Sư đoàn 324, Lữ đoàn 16, Trung đoàn 206, Trung đoàn 654, Bộ chỉ huy quân sự và Bộ chỉ huy Biên phòng Nghệ An, Hà Tĩnh, Công ty hợp tác kinh tế Quân khu. Cuộc diễn tập phối hợp xử lý các tình huống đạt ý định; thiết thực nâng cao hiệu quả trao đổi, học tập, bồi dưỡng trình độ chỉ huy - tham mưu, giúp nhau huấn luyện xây dựng; thống nhất hiệp đồng tác chiến, sẵn sàng đối phó với các tình huống, góp phần tăng cường mối đoàn kết hữu nghị đặc biệt truyền thống giữa ta và bạn. Chấp hành Chỉ thị của Bộ Quốc phòng về Quân khu 4 tham gia diễn tập MB-02 với các cơ quan Bộ Quốc phòng, tháng 10-2002 Quân khu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các bước chuẩn bị, tiến hành tập huấn lý luận chiến dịch, chiến lược và công tác tham mưu tổ chức chiến dịch thời kỳ đầu chiến tranh cho các cơ quan, đơn vị tham gia diễn tập. Trong diễn tập, Quân khu tổ chức và thực hành tác chiến chiến dịch trên hướng chủ yếu của Quân khu, đánh bại chiến tranh xâm lược của địch, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bộ tư lệnh Quân khu, cơ quan Quân khu, chỉ huy và cơ quan một số tỉnh, các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn binh chủng thực hành diễn tập các bước chặt chẽ. Thực binh có 1 trung đội pháo phòng không 37mm, động viên 2.312 quân dự bị ở Nga Sơn. Quân khu diễn tập di chuyển một phần sở chỉ huy đến khu tập trung bí mật. Quảng Trị, Sư đoàn 324, Sư đoàn 341, Lữ đoàn 283, Trung đoàn 80, các phòng như Tác chiến, Quân lực, Phòng không, Thông tin, Công binh, Pháo binh, Tăng thiết giáp, Tổ chức, Ban Bản đồ là những đơn vị đã hoàn thành tốt nhiệm vụ diễn tập. Đánh giá kết quả diễn tập, đồng chí Bộ trưởng Quốc phòng kết luận: "Quân khu 4 đã chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh của trên, quyết tâm tác chiến phòng thủ của Tư lệnh Quân khu đã thể hiện được ý chí quyết chiến và quyết thắng, kiên quyết đánh bại địch tiến công, giữ vững địa bàn, hoàn thành nhiệm vụ chiến lược đặt ra là bảo vệ vững chắc hướng T". Sau cuộc diễn tập khu vực phòng thủ Thừa Thiên - Huế năm 2001, Quân khu rút kinh nghiệm tiếp tục chỉ đạo diễn tập cấp tỉnh, huyện đạt hiệu quả thiết thực, tạo sự thống nhất cao. Trước đó, cuối tháng 6-2002, Nghệ An diễn tập khu vực phòng thủ mang tên NA-02. Đề mục là: "Phát huy sức mạnh tổng hợp của khu vực phòng thủ, làm thất bại chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, xâm nhập biên giới của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, tổ chức phòng tránh, đánh trả, tập kích hoả lực của địch, chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến". Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ đạo diễn tập. Chủ trì diễn tập của tỉnh có các đồng chí Trương Đình Tuyển - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh; Lê Doãn Hợp - Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Trần Đình Tiu - Chỉ huy trưởng; Đại tá Nguyễn Duy Hùng - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó chỉ huy chính trị Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Cuộc diễn tập gồm cả cấp tỉnh, huyện (9 huyện và thành phố Vinh) tổ chức thực binh một số nội dung về A2, động viên quân dự bị, đánh địch tập kích đường không, đánh địch xâm nhập biên giới, tổ chức phòng tránh sơ tán, bảo toàn lực lượng, đánh và giải thoát cán bộ khi bị bọn tội phạm bắt giữ con tin, phòng cháy chữa cháy... Diễn tập khu vực phòng thủ Nghệ An có những nội dung mới, yêu cầu mới, đạt được ý định, góp phần nâng cao nhận thức về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, xây dựng và tác chiến của khu vực phòng thủ, vận hành cơ chế 02 của Bộ Chính trị chuyển hướng thời bình sang thời chiến, hoạt động đồng bộ của lãnh đạo, điều hành, công tác tham mưu tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch và tổ chức thông qua kế hoạch cho một số ngành trọng điểm như quân sự, công an, giao thông vận tải, thương mại, ban tôn giáo, ban dân vận, mặt trận. Các kế hoạch thực hiện đầy đủ nội dung, khả thi cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu. Cùng với diễn tập khu vực phòng thủ của Nghệ An, Quân khu phối hợp với Ủy ban tìm kiếm cứu nạn quốc gia chỉ đạo Thừa Thiên - Huế diễn tập phòng chống bão lụt - tìm kiếm cứu nạn sát tình hình diễn ra trên địa bàn, tăng cường được khả năng chủ động phòng chống bão lụt lớn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 11:00:12 pm Cuối tháng 11-2002, Quân khu chỉ đạo Sư đoàn 324 diễn tập. Đây là lần đầu tiên tổ chức diễn tập chỉ huy - cơ quan cho một sư đoàn có 1 tiểu đoàn bộ binh thực binh bằng đạn hơi, thuốc nổ và 1 tiểu đoàn bộ binh bắn chiến đấu cùng với các lực lượng binh chủng pháo binh, xe tăng, cao xạ, công binh, thông tin của Quân khu tham gia ngoài thực địa, thời gian dài, không gian rộng trên địa bàn 2 tỉnh Nghệ An và Thanh Hoá, địa hình phức tạp. Trong tổ chức chuẩn bị diễn tập, chỉ huy trung đoàn, sư đoàn nắm và thể hiện được thứ tự, nội dung các bước công tác tham mưu tác chiến, chủ động và kịp thời nắm các lực lượng, tổng hợp phân tích các nguồn tin nhanh chóng, hợp lý, vận dụng nguyên tắc chiến thuật linh hoạt tác chiến trong hình thái chiến dịch phòng ngự của Quân khu, tác chiến trong khu vực phòng thủ. Các cấp, các cơ quan, đơn vị binh chủng hầu hết đề đạt ý định, kế hoạch nhanh, hợp lý, tạo điều kiện cho người chỉ huy dự kiến quyết tâm chiến đấu tương đối phù hợp, sát tình hình địch và thực tế địa hình. Trong giai đoạn thực hành diễn tập, chỉ huy và cơ quan các cấp dựa vào quyết tâm chiến đấu, nắm, tổng hợp được tình hình, giải quyết các yếu tố chiến thuật theo nhiệm vụ của các đơn vị sát tình huống. Lãnh đạo, chỉ huy trung đoàn, sư đoàn xử trí tình huống tương đối linh hoạt, tổ chức các cuộc hội ý Thường vụ Đảng ủy ngắn gọn, nội dung, mục đích rõ ràng, phù hợp tình hình chiến thuật đặt ra. Các đơn vị thực binh hoàn thành tương đối tốt nhiệm vụ diễn tập, hiệp đồng giữa bộ binh và xe tăng, khi tiến công bộ đội biết tận dụng địa hình làm bàn đạp và vật che đỡ thực hiện các thủ đoạn chiến thuật, đánh bên sườn, phía sau đội hình. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 273 diễn tập bắn đạn thật đạt tỷ lệ hoả lực diệt mục tiêu cao, an toàn. Cuộc diễn tập với lực lượng đông, cơ động nhiều, địch thay đổi nhiều thủ đoạn đòi hỏi phải vận dụng linh hoạt các nguyên tắc chiến thuật, tổ chức hiệp đồng binh chủng rộng diễn ra trên các loại địa hình khác nhau... nhưng đã đạt được mục đích, yêu cầu đề ra. Sư đoàn 968 thực hành diễn tập bắn chiến đấu tiểu đoàn bộ binh tập kích, đại đội bộ binh tiến công, trung đội bộ binh đột kích đều đạt khá giỏi, Trung đoàn 176 (về Sư đoàn từ tháng 2-2002) thực hành diễn tập đạt loại khá. Trong năm 2002, toàn Quân khu có 16 huyện thị thành diễn tập khu vực phòng thủ, 26 cụm của 18 huyện và 274 xã phường diễn tập tác chiến trị an. Cùng với tỉnh Thừa Thiên - Huế có 11 huyện thị thành trong Quân khu diễn tập phòng chống bão lụt tìm kiếm cứu nạn. Huyện A Lưới thực hành diễn tập A3. Sau hội nghị tổng kết 10 năm xây dựng xã phường và 4 năm xây dựng cụm tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu Quân khu tổ chức hội thảo đề tài "Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên các tuyến trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở địa bàn Quân khu 4". Qua hội thao, các địa phương đều khẳng định mô hình cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu có hiệu quả tác dụng thiết thực, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Trong triển khai công nghệ thông tin, Quân khu tiếp tục đẩy mạnh công tác quản lý, điều hành hoạt động của cơ quan, đơn vị làm cho công nghệ thông tin thực sự có tác dụng, nâng cao chất lượng hoạt động, đáp ứng yêu cầu công tác chỉ huy và quản lý của các ngành, các cấp, các lĩnh vực. Năm 2002 Quân khu đã lắp dặt hoàn chỉnh mạng máy tính cục bộ (mạng LAN) ở Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường, phục vụ công tác quản lý khoa học công nghệ và các sáng kiến cải tiến kỹ thuật, vận hành và khai thác có hiệu quả mạng thông tin tư liệu Trung tâm Thông tin Khoa học - Công nghệ và Môi trường Bộ Quốc phòng, phục vụ cho công tác nghiên cứu, lãnh đạo chỉ đạo, chỉ huy, công tác tham mưu của quân khu. Trước đó, hoạt động công nghệ thông tin cũng đã thực hiện ứng dụng chương trình phần mềm quản lý điện thoại và công văn trong mạng thông tin tư liệu Quân khu; xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ tự động hoá quân sự cho trường bắn, giảng đường chuyên dùng ở Trường Quân sự Quân khu và Sư đoàn 324. Thực hiện Chỉ thị 36 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương về “Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo quân đội thực hiện công tác tôn giáo trong tình hình mới”, trong hơn 3 năm (1999-2003), Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đã lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang Quân khu quán triệt các quan điểm, chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ quân đội thực hiện công tác tôn giáo trong tình hình mới, phối hợp với cấp ủy, chính quyền, mặt trận và các ban ngành đoàn thể tổ chức thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, bước đầu đạt hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, cán bộ, chiến sĩ trong công tác dân vận của lực lượng vũ trang vùng đồng bào tôn giáo. Thấm nhuần quan điểm của Đảng “Cốt lõi công tác tôn giáo là công tác tuyên truyền vận động quần chúng”, trước hết các cấp ủy, chỉ huy đơn vị đã chăm lo trực tiếp làm công tác vận động quân nhân có đạo trong đơn vị, tạo điều kiện cho anh em nhanh chóng hoà nhập và tiến bộ, hoàn thành nhiệm vụ, nhiều đồng chí được biểu dương khen thưởng1. Quân khu chỉ đạo các đơn vị giải quyết tốt các vấn đề liên quan giữa đơn vị và các tôn giáo về đất đai, đồng thời tăng cường công tác dân vận, góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương vùng tôn giáo2, tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương và tham gia giải quyết nhiều vụ việc phức tạp vùng tôn giáo. Mục tiêu nhiệm vụ của Quân khu trong thời gian tới là tiếp tục quán triệt, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc quan điểm, chính sách, chủ trương công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt phương châm "gần, hiểu, cảm hoá, bồi dưỡng và phát huy lòng yêu nước, ý thức cộng đồng và lòng tự hào dân tộc của đồng bào tôn giáo đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, tích cực tuyên truyền vận động đồng bào có đạo thực hiện tốt đường lối chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước trong công cuộc đổi mới, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng của địch, phối hợp chặt chẽ với địa phương làm tốt công tác vận động đồng bào tôn giáo, góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh toàn diện, an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, thực hiện tốt công tác quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch. ____________________________________________ 1. Trong 3 năm năm qua Quân khu tiếp nhận huấn luyện hàng trăm quân nhân có đạo; 1999: 264; năm 2000: 316; năm 2001: 496; năm 2002: 533; kết nạp vào Đảng được 9 đồng chí; toàn Quân khu hiện có 10 đồng chí sĩ quan cấp úy, cấp tá là quân nhân có đạo, gốc đạo. 2. Ba năm Quân khu tổ chức 45 đợt hành quân dã ngoại của đơn vị chủ lực và 65 tổ cán bộ tăng cường xây dựng cơ sở về 138 vùng tôn giáo. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 11:02:35 pm Trong năm 2002, Quân khu tổ chức các hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện cuộc vận động xây dựng môi trường văn hoá trong lực lượng vũ trang gắn với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư ở các địa phương, thống nhất phương hướng cuộc vận động những năm 2002-2005; tổng kết 10 năm thực hiện chương trình y tế 12 quân dân y kết hợp, đề ra phương hướng hoạt động kết hợp quân dân y giai đoạn 2002-2010; sơ kết cuộc vận động "quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn tiết kiệm và an toàn giao thông". Ngành Kỹ thuật Quân khu tổ chức lực lượng giúp Sư đoàn 4 của bạn bảo dưỡng được một số lớn trang bị và huấn luyện nhân viên kỹ thuật, nâng được chất lượng và khả năng sẵn sàng chiến đấu, được bạn đánh giá cao1. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII), Nghị quyết Trung ương 3 và Trung ương 7 (khoá VIII), các nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương về xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước và chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tháng 8 năm 2002 Đảng ủy Quân khu tổ chức Hội nghị chuyên đề về công tác tổ chức và cán bộ, xác định phương hướng nhiệm vụ công tác 5 năm (2002-2007). Hội nghị đánh giá: Đảng ủy Quân khu đã nghiêm túc quán triệt và đề ra các nghị quyết, chủ trương giải pháp tích cực, tiến hành củng cố xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị vững mạnh, trong đó trọng tâm là đổi mới chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh. Hệ thống tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, hệ thống cơ quan các cấp và tổ chức quần chúng ngày càng được củng cố kiện toàn về cơ cấu tổ chức, chất lượng và hiệu quả hoạt động được nâng lên. Trình độ đội ngũ cán bộ trưởng thành về mọi mặt, tương đối đủ số lượng, cơ cấu từng bước được cân đối hợp lý, chất lượng các mặt, nhất là chất lượng chính trị ngày càng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Quân khu, bảo đảm lực lượng vũ trang Quân khu luôn luôn kiên định vững vàng, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành tốt các nhiệm vụ, thực sự là lực lượng nòng cốt trung thành, tin cậy, góp phần quan trọng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối quan điểm của Đảng và trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn chiến lược của quân khu. Song công tác tổ chức cán bộ còn một số khuyết điểm tồn tại: hệ thống tổ chức có đơn vị chưa ổn định. Năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng, năng lực chỉ huy quản lý điều hành của hệ thống chỉ huy, năng lực làm tham mưu và hướng dẫn kiểm tra của hệ thống cơ quan các cấp còn một số mặt chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và sự phát triển tình hình. Bản lĩnh và trình độ năng lực của một số cán bộ còn yếu so với chức trách, nhiệm vụ được giao, ảnh hưởng đến hiệu quả lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ không cao. Hội nghị đề ra phương hướng nhiệm vụ trong những năm tiếp theo là: Tiếp tục quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VII và Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VII, Nghị quyết 7 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 33 của Đảng ủy Quân sự Trung ương, xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan các cấp và các tổ chức quần chúng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang Quân khu. Tiếp tục thực hiện thắng lợi cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ cả thường trực, dự bị có bản lĩnh chính trị vững vàng, có số lượng đủ, cơ cấu cân đối, hợp lý và đồng bộ, không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện, phát huy tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, tạo tín nhiệm cao, gắn bó mật thiết với quần chúng, thực sự là lực lượng nòng cốt thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Quân khu trước mắt và lâu dài. Cuối tháng 8-2002, Thường vụ Đảng ủy Quân khu tổ chức hội nghị sơ kết đánh giá công tác lãnh đạo xây dựng cấp ủy trong sạch vững mạnh, xây dựng chi bộ đại đội đủ quân có chi ủy và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Hội nghị đánh giá: Trong hơn 3 năm (1999-2003) thực hiện Chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị, Đảng bộ Quân khu đã triển khai nhiều biện pháp tích cực và đạt những kết quả rất quan trọng, làm chuyển biến rõ rệt về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức Đảng, lãnh đạo cơ quan đơn vị hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, các chế độ quy định chấp hành nghiêm túc. Tác phong, phương pháp công tác của các cấp ủy, cấp ủy viên từng bước được đổi mới. Tỷ lệ tổ chức Đảng, cấp ủy trong sạch và chi bộ, đại đội đủ quân có chi ủy tăng đáng kể. Các tổ chức cơ sở Đảng coi trọng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, gắn công tác củng cố kiện toàn cấp ủy, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì và rèn luyện đội ngũ đảng viên. Chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện từng bước được nâng lên2. Hội nghị xác định mục tiêu phấn đấu hàng năm thời gian tới đạt từ 95% trở lên cấp ủy trong sạch vững mạnh, và đến năm 2005 có 100% đại đội chiến đấu đủ quân có chi ủy. Sau khi tổ chức làm điểm ở Đảng bộ quân sự Quảng Trị, Thường vụ Đảng ủy Quân khu tiến hành sơ kết và tiếp tục chỉ đạo việc giới thiệu đảng viên đang công tác tham gia sinh hoạt nơi cư trú; kiểm điểm thực hiện quy định về những điều đảng viên không được làm và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo3. Thường vụ Đảng ủy Quân khu tổ chức Hội nghị liên tịch giữa Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân khu với Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy 6 tỉnh về phương hướng hoạt động trong những năm 2002-2005; đồng thời chỉ đạo giải quyết cụ thể các vụ việc sau 2 năm tự phê bình, phê bình, qua đó tạo sự chuyển biến tích cực về trách nhiệm, năng lực, phương pháp tác phong công tác, giữ gìn phẩm chất lối sống, tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ và đơn vị thực hiện tốt hơn nữa cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng. _______________________________________________ 1. Bảo dưỡng sửa chữa 16 xe ô tô, 28 xe pháo, 18 xe tăng thiết giáp, sắp xếp 78 tấn đạn, 270 súng bộ binh, huấn luyện 93 nhân viên kỹ thuật cho bạn. 2. Số đại đội chiến đấu có chi ủy năm 1999 là 24%, đến năm 2002 là 60%; đảng viên mức 1 từ 89,18% tăng lên 91,38%; cấp ủy trong sạch vững mạnh từ 86,36% lên 95,11%; tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh từ 90,34% lên 95,11%. 3. Ngày 12-5-1999, Bộ Chính trị đã ra Quy định số 55-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Tiếp đó, ngày 5-9-2000 Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Quy định số 168/ĐUQSTW về những điều đảng viên trong quân đội không được làm. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2024, 11:03:14 pm Đầu tháng 9-2002, Đại hội Đoàn thanh niên Quân khu lần thứ 6 được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú theo tư tưởng chỉ đạo là "Tuổi trẻ xung kích sáng tạo, đi đầu trong thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ góp phần xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu lớn mạnh", biểu dương lực lượng thế hệ trẻ trong lực lượng vũ trang Quân khu những năm đầu thế kỷ XXI. Đại hội đánh giá những trưởng thành, công hiến của thanh niên Quân khu trong phong trào phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ, nổi bật là: Tuổi trẻ Quân khu được bồi dưỡng về lý tưởng và hoài bão cách mạng, lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Tổ chức Đoàn được xây dựng ngày càng mạnh, khơi dậy và phát huy được vai trò đội quân xung kích của thanh niên, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ lực lượng vũ trang Quân khu, tiếp nối được truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân đùm bọc. Công tác đoàn và phong trào đoàn có những chuyển biến tốt cả 4 mặt: giáo dục rèn luyện đoàn viên thanh niên; tổ chức phong trào hành động cách mạng; xây dựng tổ chức Đoàn và tham gia xây dựng Đảng; hoạt động phối hợp kết nghĩa. Đại hội tuyên dương 5 cơ sở Đoàn được Trung ương Đoàn tặng cờ đơn vị xuất sắc, 5 đơn vị nhận cờ luân lưu của Tổng cục Chính trị, 18 cơ sở Đoàn được Bộ tư lệnh tặng cờ đơn vị có phong trào thanh niên khá nhất, 5 đoàn viên được Trung ương Đoàn tặng và truy tặng Huy chương tuổi trẻ dũng cảm, 1 đồng chí được chọn là gương mặt thanh niên tiêu biểu toàn quốc, 12 đoàn viên thanh niên đạt danh hiệu thanh niên 3 đỉnh cao quyết thắng. Tiêu biểu là các đồng chí Hồ Văn Tình, chi đoàn Ban chỉ huy quân sự Hướng Hoá dũng cảm mưu trí không sợ hiểm nguy xông vào hang ổ bắt 4 tên phản động lưu vong xâm nhập trái phép, cứu dân. Các liệt sĩ Phan Hiếu Nghĩa, Phạm Văn Điền, Nguyễn Công Minh, Lê Đình Tư dũng cảm hy sinh trong bão lụt khi làm nhiệm vụ cứu giúp nhân dân. Các đồng chí Nguyễn Sỹ Thức, Nguyễn Cảnh Toàn không sợ hiểm nguy cứu dân trong lũ cuốn, đoàn viên y sĩ Nguyễn Duy Trung ngâm mình dưới nước 3 giờ liền để mổ và cứu sống người dân trong nước lũ... Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ công tác Đoàn và phong trào Đoàn 5 năm (2002-2007) là: Tập trung rèn luyện thanh niên, đẩy mạnh phong trào phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ, tiếp tục thực hiện 3 xung kích: Xây dựng chính quy rèn luyện kỷ luật, nâng cao chất lượng huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, sản xuất, giữ gìn vũ khí trang bị; tình nguyện nhận và hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gì được giao; xây dựng môi trường văn hoá, người đoàn viên thanh niên văn hoá, nâng cao tri thức toàn diện lập nghiệp, giữ nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Khẩu hiệu hành động là "Phát huy truyền thống quê hương Quân khu 4 anh hùng, tuổi trẻ lực lượng vũ trang Quân khu đoàn kết, xung kích, năng động sáng tạo hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mãi mãi xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trên quê hương Bác". Đợt bão lụt lớn ở 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh diễn ra liên tục hơn một tuần đã gây một số thiệt hại cho nhân dân. Lực lượng vũ trang Quân khu phối hợp các địa phương triển khai lực lượng, phương tiện kịp thời hoàn thành tốt nhiệm vụ ứng cứu, khắc phục hậu quả. Cán bộ, chiến sĩ đã góp tiền lương, phụ cấp hỗ trợ nhân dân các vùng bị bão lụt 150 triệu đồng, góp phần nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống. Trung tướng Nguyễn Văn Rinh - Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng thay mặt Bộ Quốc phòng đến thăm, tặng quà các gia đình chính sách và nhân dân bị thiệt hại do lũ lụt gây ra ở xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh). Thực hiện kế hoạch của Bộ, Quân khu tiến hành xây dựng 25 căn nhà mới cho nhân dân làng An Ngãi, xã Sơn Kim bị bão lũ cuốn trôi, trong đó có 6 gia đình chính sách. Lữ đoàn 414, Công ty Thanh Sơn, Công ty hợp tác kinh tế Quân khu, Bộ chỉ huy quân sự Hà Tĩnh xây dựng vào đầu tháng 12 năm 2002 và hoàn thành bàn giao đúng vào dịp Tết Quý Mùi cho nhân dân về ở nhà mới, xây dựng phát triển mô hình VAC tại địa phương. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2024, 04:00:10 pm * * * Sang năm 2003, không khí chiến tranh bùng lên do Mỹ - Anh ráo riết tìm cớ, tạo cớ, kể cả chỉ mới "nghi ngờ" ráo riết chuẩn bị tấn công Irắc - nơi có nguồn lợi dầu lửa rất lớn. Thực hiện chiến lược an ninh quốc gia mới, Mỹ tăng cường sức mạnh quân sự, triển khai chiến lược "đánh đòn phủ đầu", đồng thời phát động chiến dịch "chống khủng bố", "chống sản xuất tàng trữ vũ khí giết người hàng loạt", nhưng chính Mỹ và nước đồng minh đã... đem quân xâm lược Irắc - một nước độc lập có chủ quyền. Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch tổ chức kích động, tập hợp lực lượng công khai gây biến động ở một số khu vực, hòng làm mất ổn định chính trị trong nội địa, phối hợp với các hoạt động lấn chiếm gây xung đột vũ trang ở một số điểm trên tuyến biên giới và gây ra các cuộc xung đột trên biển, đảo. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Quân khu kịp thời chỉ đạo các đơn vị, địa phương thường xuyên theo dõi phân tích đánh giá đúng tình hình, các động thái hoạt động của các lực lượng thù địch trên địa bàn, nhất là vùng trọng điểm, vùng biên giới phía tây và vùng biển đảo. Các lực lượng quân báo trinh sát, quân báo nhân dân, biên phòng, công an, tác chiến điện tử, phòng không và các cơ sở xã, phường được tăng cường, bám sát địa bàn, bám sát dân nắm tình hình, kịp thời phát hiện những diễn biến trên các hướng đối phó hiệu quả. Thực hiện điện của Tổng Tham mưu trưởng về sẵn sàng chiến đấu trong thời điểm liên quân Mỹ - Anh tấn công xâm lược Irắc, Quân khu tổ chức nhiều đoàn kiểm tra, báo động các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, A2, trực phòng không, lực lượng làm nhiệm vụ C, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những thiếu sót, khuyết điểm. Nhờ vậy, công tác sẵn sàng chiến đấu được duy trì chặt chẽ, thường xuyên hơn, nhất là dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, dịp tổ chức Đại hội thể thao Đông Nam Á lần thứ 22. Cục Chính trị chỉ đạo các đơn vị sinh hoạt chính trị quán triệt nội dung kết luận 94 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về nhiệm vụ đấu tranh chống "diễn biến hoà bình" trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá; các văn bản của Ban Bí thư Trung ương và Tổng cục Chính trị về chiến tranh Irắc; các chuyên đề giáo dục về âm mưu thủ đoạn ngày càng thâm độc tinh vi hơn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, cả những thủ đoạn chống phá về kinh tế, đối ngoại... bảo đảm cho lực lượng vũ trang nhận rõ tình hình, nhiệm vụ, nâng cao ý thức cách mạng, không mơ hồ ảo tưởng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao phó. Tình hình biên giới phía tây đối diện địa bàn Quân khu xuất hiện những diễn biến phức tạp. Đặc biệt ở các tỉnh Xiêng Khoảng, Bô Li Khăm Xay, đặc khu Xay Xổm Bun, Viên Chăn, Hủa Phăn, bọn phỉ Lào được Mỹ và Thái Lan chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động tập kích, phục kích vào một số địa bàn trọng điểm của bạn. Chúng tăng cường hoạt động tìm cách móc nối xây dựng cơ sở, mua chuộc lôi kéo cán bộ, cài người vào tổ chức của bạn; lôi kéo người H'Mông ở Việt Nam di cư sang Lào, cung cấp tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh cho chúng khi bị bạn truy quét1. Trong khi đó, một số phần tử phản động trong đạo tin lành liên kết móc nối với tin lành Đề Ga ở Tây Nguyên dùng tài liệu, băng hình xuất bản ở Mỹ bằng tiếng H'Mông gửi qua Lào đưa về địa bàn Quân khu tuyên truyền, truyền đạo trái phép ở phía tây các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị. Lực lượng phản động cực đoan trong Phật giáo, Thiên Chúa giáo, số ngụy quân ngụy quyền cũ không chịu cải tạo cũng lợi dụng tình hình mở rộng các hoạt động chống phá2. Trong những tháng đầu năm 2003, hoạt động của các tổ đội công tác xây dựng cơ sở của Quân khu còn phân tán, chưa tập trung cho địa bàn trọng điểm hiệu quả còn thấp. Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu rút kinh nghiệm tiếp tục kiện toàn và chỉ đạo chuyển hướng hoạt động của các tổ công tác xây dựng cơ sở. Sau hội nghị rút kinh nghiệm toàn Quân khu (4-2003), các đơn vị, địa phương đã nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, phương pháp công tác của cán bộ xây dựng cơ sở và cấp ủy, chính quyền, cơ quan quân sự các cấp chú trọng đến công tác xây dựng cơ sở. Lực lượng cán bộ cơ sở được bố trí tập trung và có trọng điểm ở 82 xã biên giới, hoạt động ngày càng hiệu quả3. Cùng với các đợt hành quân dã ngoại làm công tác vận động quần chúng, lực lượng vũ trang Quân khu đóng góp thiết thực giúp các địa phương nơi khó khăn, vùng sâu vùng xa, giữ vững an ninh chính trị, chăm lo sản xuất ổn định đời sống. _____________________________________________ 1. Trong năm 2003, có 56 hộ/269 khẩu ở địa bàn Nghệ An, Thanh Hoá, Quảng Trị di cư sang Lào tập trung ở vùng Viêng Thoong - Bô Li Khăm Xay và Sầm Nưa, Viêng Xay – Hủa Phăn. 2. Trong Phật giáo, Huyền Quang, Quảng Độ sau khi được giải chế thường xuyên chỉ đạo các phấn tử cực đoan đẩy mạnh hoạt động tiếp xúc với nước ngoài kêu gọi viện trợ phục hồi "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất"; nhóm tăng đoàn Thừa Thiên - Huế ngấm ngầm vận động lôi kéo một số người trong Ban trị sự và các cao tăng để thành lập Ban trị sự "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất", hòng chống phả Đảng, Nhà nước ta. 3. 82 tổ thực hiện nhiệm vụ ở 82 xã biên giới và 7 tổ công tác ở 7 xã trọng điểm. Các đơn vị tổ chức 5.022 lượt cán bộ, chiến sĩ về địa bàn 30 xã biên giới, miền núi và trọng điểm tôn giáo làm công tác dân vận. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2024, 04:03:37 pm Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị và Pháp lệnh về bộ đội biên phòng, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo Bộ chỉ huy biên phòng các tỉnh tăng cường khả năng phòng thủ phối hợp với bạn nắm chắc tình hình 2 tuyến biên phòng, thực hiện tốt chế độ giao ban, cùng giải quyết các vấn đề liên quan như mở nâng cấp cửa khẩu, đấu tranh chống buôn bán vận chuyển ma tuý, xâm canh, xâm cư, di dịch tự do, trao trả người qua biên giới... Nhằm tăng cường hơn nữa khả năng sẵn sàng chiến đấu, cơ quan biên phòng Quân khu cùng Bộ chỉ huy Biên phòng các tỉnh bổ sung kế hoạch A, xây dựng và duyệt quyết tâm A2 của các đồn, đơn vị biên phòng; xây dựng thí điểm kế hoạch A3 của bộ đội biên phòng Nghệ An, Hà Tĩnh; tham mưu kết nối kế hoạch chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu của bộ đội biên phòng với Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh; đồng thời rút kinh nghiệm bổ sung hoàn chỉnh hệ thống văn kiện kế hoạch phòng thủ, tác chiến của bộ đội biên phòng, các hoạt động phòng chống bão lụt, trực sẵn sàng chiến đấu phòng không. Thành quả đưa bộ đội biên phòng các tỉnh vào xây dựng, diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập quân sự trên địa bàn Quân khu được Bộ tư lệnh Biên phòng đánh giá là một điển hình của toàn quân. Công tác xây dựng bộ đội biên phòng có nội dung, phương pháp và hiệu quả, thể hiện rõ quan điểm đổi mới, đúng hướng với Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 15/TTg của Thủ tướng Chính phủ1 góp phần xây dựng thế trận biên phòng toàn dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội trên 2 tuyến biên phòng trước yêu cầu mới. Quán triệt vận dụng những quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết Trung ương 5 và Nghị quyết Trung ương 7 phần 2 (khoá IX) vào các hoạt động xây dựng cơ sở, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu và các địa phương tổ chức nhiều đoàn khảo sát nắm tình hình2. Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở địa phương phối hợp với các tổ đội công tác tập trung vùng trọng yếu, vận động đồng bào không di dịch cư tự do, chống truyền đạo trái phép, xử lý kịp thời các vụ việc tranh chấp, góp phần tạo được ổn định từ cơ sở, không để xảy ra điểm nóng và các vụ việc phức tạp. Các địa phương tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm về công tác dân vận của dân quân tự vệ trong tình hình mới; xây dựng hoạt động của dân quân tự vệ gắn với xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Quân khu đẩy mạnh các hoạt động xây dựng cơ sở ở các vùng dân tộc kinh tế nghèo, đời sống khó khăn. Tỉnh Thanh Hoá tổ chức các ban ngành đỡ đầu các bản đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn. Tỉnh Nghệ An tổ chức đưa cán bộ biên phòng về làm Phó Bí thư Đảng ủy xã vùng biên giới3. Tỉnh Thừa Thiên - Huế tăng cường phối hợp các lực lượng nắm và giải quyết tình hình cơ sở vùng tôn giáo phức tạp; tổ chức hội thảo "Đồng bào các dân tộc ít người miền núi mang tên họ Hồ của Chủ tịch Hồ Chí Minh" thể hiện tình cảm sâu nặng và tấm lòng thiết tha của đồng bào các dân tộc miền Tây đi theo Đảng và Bác kính yêu; đồng thời đặt ra một số vấn đề cần được Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội quan tâm hơn nữa để chính sách dân tộc, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi phát huy hiệu quả hơn, thống nhất đề nghị lấy ngày 2-9 hàng năm làm ngày kỷ niệm người dân tộc ít người mang họ Bác Hồ4. Tỉnh Quảng Bình thực hiện dự án xây dựng tuyến đường nối từ đường Hồ Chí Minh đến bản Ơn, bản Mò O của đồng bào người Rục. Tỉnh Hà Tĩnh xây dựng làng Rào Tre của đồng bào người Chứt ở Hương Khê và đặc biệt phát động phong trào giúp đỡ, đóng góp công sức xoá hết nhà tranh tre nứa lá cho các hộ nghèo đói trong toàn tỉnh. Tỉnh Quảng Trị, xây dựng tổ chức hoạt động lực lượng dân quân tự vệ vùng biên giới Hướng Hoá, hoạt động tác chiến trị an của dân quân tự vệ phối hợp bộ đội biên phòng ở thị trấn Lao Bảo. Hiệu lực lãnh đạo, chỉ đạo và sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị cơ sở ngày càng được củng cố, nhiều nơi đạt vững chắc, có khả năng tự giải quyết được các vụ việc từ cơ sở. Mục tiêu yên dân, ổn định và phát triển đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày càng được khẳng định ở nhiều địa phương của 6 tỉnh trên địa bàn Quân khu. Nhằm đẩy mạnh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, Quân khu tiếp tục mở hai khoá 8 và 9 bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho 140 đồng chí chủ trì huyện, thị, thành và sở, ban ngành cấp tỉnh; tiếp đó mở 2 lớp chuyên cho cán bộ quân sự huyện, thị, thành nâng cao trình độ cán bộ cơ quan quân sự cấp huyện 154 đồng chí, khắc phục những mặt còn yếu bộc lộ qua các đợt sát hạch kiểm tra những năm trước, góp phần nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm tham mưu về quân sự, quốc phòng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trung tâm giáo dục quốc phòng các tỉnh mở 5 khoá bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho 4.003 sinh viên, đào tạo ngắn hạn cho 40 giáo viên dạy môn giáo dục quốc phòng ở các trường trung học phổ thông, 269 trường giáo dục quốc phòng cho 264.000 học sinh. _____________________________________________ 1. Ngày 28-3-1998 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 15/TTg về "Tăng cường chỉ đạo xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các xã phường biên giới, hải đảo". Đây là bước phát triển mới trong thực hiện 5 nội dung "Ngày Biên phòng", thể hiện sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xây dựng và bảo vệ biên giới. 2. Trong năm 2003, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở các cấp kiểm tra 934/1.804 xã, phường, thị trấn. 3. Ở các xã có đồn biên phòng, đến năm 2003 có 19 đồng chí cán bộ biên phòng Nghệ An đảm nhận nhiệm vụ này có kết quả gắn đồn - xã bản, nắm tình hình quản lý biên giới, xây dựng cơ sở chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh. 4. Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế tổ chức hội thảo tại huyện A Lưới ngày 3-9-2003, do đồng chí Hồ Xuân Mãn - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy chủ trì. 20 tham luận được trình bày đã làm rõ một số vấn đề: bối cảnh lịch sử người dân tộc mang họ Bác Hồ; sự quan tâm sâu sắc, tình cảm thiêng liêng của Bác Hồ với đồng bào dân tộc ít người; lòng tin son sắt, sự tôn kính của đồng bào dân tộc ít người với Bác Hồ thể hiện qua những đóng góp to lớn của đồng bào với sự nghiệp cách mạng của Đảng trong lịch sử và hiện tại. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2024, 04:21:05 pm Cục Chính trị Quân khu tổ chức hội nghị sơ kết đánh giá thực chất tình hình đội ngũ cán bộ quân sự địa phương cả thường trực và dự bị trong thực hiện nhiệm vụ quân sự địa phương những năm đổi mới và xác định phương hướng nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự địa phương đến năm 2010. Hội nghị đánh giá: Trong những năm qua, Quân khu đã tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quân sự địa phương, bảo đảm 101,2%. Tất cả đều được học ở các trường, trong đó tập trung xây dựng cán bộ dân tộc ít người và cán bộ tại chỗ cho 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế. Đội ngũ sĩ quan dự bị qua 15 năm tạo nguồn bổ sung, được 6.065 đồng chí, đến năm 2003, số đủ tiêu chuẩn động viên của Bộ và Quân khu là 17.166 đồng chí. Hội nghị đề ra phương hướng từ năm 2003 đến năm 2010 là thực hiện có hiệu quả chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ quân sự địa phương nói riêng, thường xuyên bảo đảm số lượng, cân đối ngành nghề, binh chủng chuyên nghiệp quân sự và địa bàn. Tập trung bảo đảm nâng cao chất lượng toàn diện cho đội ngũ cán bộ quân sự địa phương cả thường trực và dự bị, trước hết là chất lượng chính trị, đáp ứng mọi yêu cầu nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng và bảo vệ vững chắc địa bàn Quân khu trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quân khu chủ động kịp thời nắm vững chủ trương kế hoạch công tác xây dựng lực lượng bảo đảm sẵn sàng chiến đấu theo chỉ lệnh của Bộ, chuyển đổi phiên hiệu một số trung đoàn bộ binh nhằm phát huy truyền thống của các đơn vị, gắn với địa bàn lịch sử, phù hợp nguyện vọng của đơn vị, địa phương1; thành lập thêm một số đơn vị; xây dựng bổ sung kế hoạch động viên thời chiến theo kế hoạch A và quy hoạch tổ chức lực lượng đến năm 2010. Công tác huấn luyện, công tác nhà trường triển khai huấn luyện chiến đấu - giáo dục chính trị, giáo dục quốc phòng và pháp luật được thực hiện nghiêm túc. Quân khu tổ chức tập huấn một số nội dung sửa đổi bổ sung tạo thống nhất trong toàn Quân khu, huấn luyện gắn với triển khai hội nghị chuyên đề về kỷ luật và an toàn quân đội ở đơn vị cơ sở, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Các cơ quan trong khối tư pháp bám sát nhiệm vụ nắm vững nguyên tắc, tích cực đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án bảo đảm tính kịp thời, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tổ chức xét xử lưu động có tác dụng thiết thực đấu tranh phòng ngừa vi phạm, tội phạm, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành luật pháp Nhà nước, kỷ luật quân đội2. Công tác quản lý bộ đội, xây dựng nền nếp chính quy ở các đơn vị có nhiều chuyển biến, tỷ lệ đào ngũ giảm rõ chỉ còn 0,037%. Quân khu coi trọng đổi mới hình thức phương pháp huấn luyện, diễn tập sẵn sàng chiến đấu đầu tư huấn luyện phòng không, A2, phòng tránh sơ tán, diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập chỉ huy - cơ quan và các đơn vị binh chủng, phòng chống bão lụt, tác chiến trị an3... Từ ngày 23 đến ngày 27-6-2003, Hà Tĩnh tổ chức cuộc diễn tập khu vực phòng thủ mang tên HT-03. Bộ tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ đạo diễn tập. Các đồng chí chủ trì tỉnh diễn tập gồm Đặng Duy Báu - Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh; Trần Đình Đàn - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Chính - Chỉ huy trưởng; Đại tá Hoàng Trọng Tình - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó chỉ huy chính trị Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Cuộc diễn tập lần này điều chỉnh về nội dung và phương pháp, thực hiện kiểm tra một số mặt như chống gây rối bạo loạn, đánh địch giải thoát con tin trong tình huống A2, đánh địch xâm nhập biên giới, bắn máy bay địch đột nhập đường không, thực hành di chuyển cấp tỉnh (487 người), huyện (1.325 người) và sơ tán dân (3.920 người), phòng chống bão lụt cứu hộ cứu nạn. Cuộc diễn tập thực hiện đúng ý định, mục đích, yêu cầu đề ra, có đánh dấu bước phát triển mới trong công tác huấn luyện. Cuộc diễn tập vận hành theo cơ chế 02 thể hiện khá tốt từng vấn đề, đặc biệt trong thực binh tình huống A2 được đánh giá hoàn thành tốt. Qua diễn tập, nhận thức của các cấp, các ngành, của đội ngũ cán bộ chủ trì địa phương, đơn vị, các cấp và nhân dân về âm mưu thủ đoạn của kẻ địch, tinh thần cảnh giác cách mạng được nâng lên; đồng thời khẳng định sự cần thiết phải xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, xây dựng khu vực phòng thủ vững mạnh mà nền tảng là các xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, gắn chặt quốc phòng - an ninh và quốc phòng - an ninh với kinh tế, xã hội, đối ngoại trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. ______________________________________________ 1. Chuyển đổi Trung đoàn bộ binh 6 Quảng Trị về Thừa Thiên - Huế; Trung đoàn bộ binh 842 Thừa Thiên - Huế về Quảng Trị: Trung đoàn bộ binh 273 Sư đoàn 324 về Sư đoàn 341; Trung đoàn bộ binh 3 Sư đoàn 341 về Sư đoàn 324; Báo Quân khu trực thuộc Cục Chính trị Quân khu. Thành lập tiểu đoàn bộ binh Thừa Thiên - Huế, tổ chức biên chế 5 vọng quan sát phòng không, kiện toàn đại đội trinh sát khung thường trực thành đại đội trinh sát có phân đội trinh sát bộ binh, thành lập một số trung đội súng mảy phòng không, tăng cường tổ đài 15W cho đảo, Đoàn kinh tế - quốc phòng 337. Bộ đội biên phòng thành lập thêm các đồn 497 Yên Khương, 545 Na Ngoi, 589 Ra Mai, 637 Hương Nguyên. 2. Tháng 5-2001 Quân khu thành lập Ban chỉ đạo 138 (chương trình qụốc gia phòng chống tội phạm giai đoạn 2001-2005) do Phòng Điều tra hình sự Quân khu làm cơ quan thường trực. Tháng 12-2003, hợp nhất Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm, phòng chống HIV/AIDS, phóng chóng ma túy và các tệ nạn xã hội với Ban chỉ đạo chống tham nhũng, buôn lậu, thành Ban chỉ đạo 138 Quân khu. 3. Diễn tập khu vực phòng thủ Hà Tĩnh và 21 huyện thị thành; diện tập chỉ huy - cơ quan sư đoàn 324, Sư đoàn 968, Thanh Hoá, Quảng Bình, Quảng Trị và 57 huyện thị; diễn tập phòng chống bão lụt 8 huyện thị thành; tác chiến trị an 195 xã phường. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2024, 04:23:17 pm Trong năm 2003, Quân khu chỉ đạo hoàn thành tốt đợt diễn tập chỉ huy - cơ quan sư đoàn với lực lượng tổng hợp quy mô lớn hơn các năm trước, sát diễn biến tình hình mới. Đó là cuộc diễn tập chỉ huy - cơ quan một bên hai cấp trên thực địa có một phần thực binh, 1 tiểu đoàn bộ binh bắn đạn thật của Sư đoàn 968, Tiểu đoàn 43 Quảng Trị, Đại đội pháo binh 122 Lữ đoàn 16, Đại đội phòng không 37 Lữ đoàn 283, Đại đội tăng thiết giáp Trung đoàn 206, phân đội hoá học Tiểu đoàn 38 và lực lượng tác chiến điện tử. Thiếu tướng Phạm Huy Chưởng - Phó tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ đạo. Cuộc diễn tập đã huấn luyện cho chỉ huy - cơ quan sư đoàn, trung đoàn, lữ đoàn, các đơn vị binh chủng vận dụng khá linh hoạt sáng tạo nguyên tắc chiến thuật, phương pháp công tác tham mưu trong các giai đoạn tổ chức chuẩn bị chiến đấu và thực hành chiến đấu, sát với đối tượng tác chiến và địa hình đặc thù của Quân khu. Đặc biệt, qua diễn tập đã rèn luyện cho chỉ huy, cơ quan phân đội thực hành trú quân, cơ động liên tục dài ngày (cự ly hơn 300km) trên một không gian rộng, địa hình phức tạp trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao, ác liệt với cường độ lớn, tác chiến trong khu vực phòng thủ của địa phương, phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh thắng địch. Thực hiện nhiệm vụ "Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ do Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ VII xác định, Thường vụ Đảng ủy Quân khu chỉ đạo Đại hội nhiệm kỳ ở 278/278 tổ chức cơ sở Đảng đạt kết quả tốt trên cả 2 nội dung: báo cáo chính trị và nhân sự. 15/15 Đảng ủy cấp trên cơ sở và Đảng ủy Quân khu tổ chức kiểm điểm 2 năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ VII đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Sau Đại hội Đảng cấp cơ sở và hội nghị giữa nhiệm kỳ cấp ủy các cấp, các cơ quan đơn vị có bước chuyển biến rõ rệt, trước hết là sự đoàn kết thống nhất trong lãnh đạo, chỉ huy trên cơ sở nguyên tắc, nhiệm vụ được giao. Quân khu tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra thực hiện công tác tổ chức xây dựng Đảng và công tác cán bộ giữa Cục Chính trị Quân khu với Ban Tổ chức Tính ủy 6 tỉnh; hội nghị tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong công tác quân sự địa phương những năm đổi mới (1987-2003) tạo sự thống nhất cao giữa Quân khu và các tỉnh về sự phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân, trực tiếp là hoạt động công tác đảng, công tác chính trị1. Thực hiện nghiêm túc bước 3 cuộc vận động "Xây dựng, chỉnh đốn Đảng" theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 lần 2 (khoá VIII) và Nghị quyết Trung ương 4 (khoá IX), Quân khu tiếp tục bổ sung hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy các cấp, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ lãnh đạo và sinh hoạt Đảng, phát huy vai trò tiên phong của đảng viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; chú trọng bồi dưỡng cấp ủy, bí thư những nội dung mới về công tác xây dựng Đảng, biện pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ, phương pháp công tác; kịp thời kiện toàn cấp ủy các cấp sau mỗi lần biến động; làm tốt công tác phát triển đảng viên mới, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, chi bộ và nâng tỷ lệ chi ủy ở đại đội đủ quân chiến đấu từ 67% năm 2002 lên 77% năm 2003. Trong thời gian này, lãnh đạo Quân khu có một số thay đổi. Trong Đảng ủy Quân khu, Đại tá Nguyễn Phong Phú - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu có quyết định nhận công tác mới. Đảng ủy bầu bổ sung các đồng chí Phạm Huy Chưởng - Phó tư lệnh Quân khu; Lê Hữu Phúc - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu vào Thường vụ Đảng ủy Quân khu. Chấp hành Chỉ thị 16 của Ban Bí thư, Hướng dẫn 01 của Đảng ủy Quân sự Trung ương và chỉ đạo của Quân khu, cơ quan quân sự các cấp đã tham mưu cho cấp ủy tỉnh, huyện ra Nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo xây dựng dân quân tự vệ, dự bị động viên trong tình hình mới; tham gia đóng góp sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Dân quân tự vệ và Nghị định 19/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ. Các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế đã thành lập 178 chi bộ quân sự - quốc phòng, chi bộ trung đội cơ động, bước đầu hoạt động hiệu quả. Bộ tư lệnh Quân khu sơ kết 5 năm (1998-2003) về xây dựng hoạt động của dân quân tự vệ gắn với xây dựng cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, xác định chủ trương biện pháp tiếp tục chăm lo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh về mọi mặt, gắn với xây dựng cơ sở theo 5 nội dung, cùng lực lượng vũ trang và toàn dân phòng chống, làm thất bại chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh gắn phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu hàng năm có trên 75% cơ sở, xã, phường thị trấn đạt vững mạnh toàn diện, thực sự an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, 80% trở lên cụm hoạt động khá, không có xã, phường, thị trấn yếu kém, không để xảy ra các điểm nóng, kịp thời phát hiện giải quyết dứt điểm các mâu thuẫn nảy sinh, các tiềm ẩn từ cơ sở2. Tháng 6-2003, Đảng ủy Quân khu tổng kết thực hiện Nghị quyết 93 của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Nghị quyết 404 của Đảng ủy Quân khu về nhiệm vụ giáo dục đào tạo, xây dựng nhà trường chính quy những năm (1994-2003). Hội nghị đánh giá: Trong 10 năm qua, Trường dạy nghề số 43 phát triển từ Trung tâm xúc tiến việc làm của Quân khu (đến năm 2003) đã đào tạo nghề cho 26.107 lượt người, trong đó có 12.085 là quân nhân xuất ngũ và các đối tượng chính sách, tư vấn và giải quyết việc làm cho 11.642 lượt người, đạt 39,12% trong tổng số đào tạo tại trường. Trường được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen vì đã có nhiều thành tích trong công tác đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm cho bộ đội xuất ngũ và các đối tượng chính sách xã hội, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, trong hơn 2 năm đầu của thế kỷ XXI, Quân khu đã tập trung xây dựng lực lượng vũ trang, nâng cao sức mạnh chiến đấu, đồng thời tích cực xây dựng cơ sở chính trị, tạo thế ổn định để tiếp tục phát triển trong những năm tiếp theo. _____________________________________________ 1. Tổng kết 15 năm. Bộ tư lệnh Quân khu tặng bằng khen cho các huyện Vĩnh Lộc, Cẩm Thủy, Vinh, Nghĩa Đàn, Can Lộc, Bố Trạch, Đông Hà, Phong Điền; Văn phòng Tỉnh ủy 6 tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự 6 tỉnh; các phòng Tổ chức, Dân vận, Quân lực, Dân quân tự vệ, Tham mưu kế hoạch Cục Hậu cần, Tham mưu kế hoạch Cục Kỹ thuật. 2. Bộ tư lệnh Quân khu tặng bằng khen cho 10 đơn vị, địa phương gồm các huyện: Cẩm Thủy, Nga Sơn, Kỳ Sơn, Đô Lương, Can Lộc, Quảng Ninh, thị xã Đông Hà, thành phố Huế, Phòng Dân quân tự vệ và Phòng Dân vận Quân khu thực hiện tốt công tác dân quân tự vệ. 3.Trung tâm xúc tiến việc làm Quân khu chuyển thành Trường dạy nghề số 4 năm 2002 theo Quyết định 86/QĐ-QP của Bộ Quốc phòng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2024, 04:28:43 pm 2. Quân khu cùng các tỉnh xây dựng lực lượng và thế trận ngày càng vững mạnh, bảo đảm yên dân ổn định và phát triển, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển tình hữu nghị đoàn kết đặc biệt thủy chung với bạn Lào. Từ ngày 2 đến ngày 12-7-2003, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) họp lần thứ 8 ra nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hội nghị kiểm điểm tình hình thực hiện các nghị quyết về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sau Đại hội VII của Đảng đến năm 2003. Trên cơ sở đó đề ra mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hội nghị Trung ương 8 xác định: Kiên định mục tiêu độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của đất nước. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 8, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nêu rõ: "Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước, trước hết là tiềm lực về chính trị, tinh thần, tiềm lực kinh tế, tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân mà mấu chốt là thế trận lòng dân; đẩy mạnh giáo dục quốc phòng; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng hước hiện đại, đủ sức làm nòng cốt cùng toàn dân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống". Ngày 22-7-2003, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức Hội nghị quân chính. Đại tướng Phạm Văn Trà - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng tới dự. Trước đó, đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiểm tra sẵn sàng chiến đấu Sư đoàn 324; viếng mộ các liệt sĩ tại nghĩa trang hữu nghị Việt - Lào; thăm và tặng quà cho thương bệnh binh ở Trại điều dưỡng 4, Viện điều dưỡng thương binh tâm thần Nghệ An, Viện quân y 4; thăm tặng quà Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Dụng 99 tuổi ở Anh Sơn. Tại Hội nghị quân chính Quân khu, đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thông báo kết quả Hội nghị Trung ương 8 những nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nêu rõ những nhiệm vụ của Quân khu cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện trong năm 2003 và những năm tiếp theo. Trung tướng Phạm Hồng Minh - Bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh Chính trị Quân khu phổ biến quán triệt nội dung Nghị quyết Đảng ủy Quân khu, nêu rõ Đảng bộ cần tập trung lãnh đạo chỉ đạo thực hiện 6 nhiệm vụ cụ thể hoàn thành thắng lợi các mục tiêu năm 2003, triển khai xây dựng sớm kế hoạch quân sự, quốc phòng năm 2004 theo phương hướng Nghị quyết Trung ương 8 xác định, đẩy mạnh phong trào thi đua thiết thực chào mừng kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và những ngày kỷ niệm lịch sử trong năm 2005. Tại Hội nghị này, được ủy quyền của Bộ Quốc phòng, Trung tướng Trương Đình Thanh - Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu trao Huy chương "Vì sự nghiệp Khoa học Công nghệ" của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường cho 20 đồng chí, bằng khen của Bộ Quốc phòng cho 4 đồng chí và giấy khen cho 3 đồng chí về sáng kiến sáng chế 2 năm (2001-2002)1. Trước đó, trong dịp kỷ niệm ngày Thầy thuốc Việt Nam ngày 27 tháng 2, Quân khu có 3 đồng chí cán bộ quân y được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Thầy thuốc ưu tú". Đến tháng 7 năm 2003, toàn Quân khu có 14 đồng chí cán bộ Ngành Y được phong tặng danh hiệu cao quý Thầy thuốc ưu tú2. Ngành Điều tra hình sự Quân khu chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban ngành trong và ngoài quân đội làm tốt chức năng tuyên truyền, giáo dục pháp luật, quản lý tình hình vi phạm, phòng chống tội phạm, hạn chế các vụ việc vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước, góp phần giữ vững trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh toàn diện. ______________________________________________ 1. Năm 1995 có 5 đồng chí được được tặng Huy chương "Vì sự nghiệp Khoa học Công nghệ" là: Nguyễn Quốc Thước, Võ Chót, Nguyễn Xuân Chí, Nguyễn Đức Lương, Cao Xuân Khuông. Đợt năm 2003 có 20 đồng chí được tặng là: Nguyễn Khắc Dương, Trương Đình Thanh, Phạm Hồng Minh, Phạm Huy Chưởng, Trần Bá Toàn, Trần Quang Lộc, Võ Hạnh, Nguyễn Phong Phú, Nguyễn Bá Dần, Nguyễn Hữu Đông, Nguyễn Doãn Chúc, Nguyễn Hữu Chinh, Đặng Ích Chính, Trần Xuân Được, Lê Hữu Tần, Phạm Quốc Việt, Hoàng Trọng Tình, Lê Minh Hoàng, Phan Văn Sừng, Trần Hữu Phiện. 2. Gồm các đồng chí: Văn Đức Minh, Lê Ngọc Trác, Nguyễn Hữu Cù, Nguyễn Khắc Tuyên, Hoàng Bá Phúc, Nguyễn Quốc Tuyển, Bùi Quang Kinh, Đặng Trang Hạ, Đặng Văn Thảo, Nguyễn Văn Quyền, Trần Đình Tùng, Phạm Doãn Tín, Trần Đình Duyệt, Hồ Đình Diệu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2024, 04:30:33 pm Nhân dịp kỷ niệm 55 năm ngày truyền thống Ngành Điều tra hình sự, được ủy quyền của Chính phủ, Thiếu tướng Phạm Huy Chưởng - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Phó tư lệnh Quân khu đã trao bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho Phòng Điều tra hình sự Quân khu 4 và Ban Điều tra hình sự Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá vì "đã có thành tích trong đấu tranh và phòng chống tội phạm hình sự trong những năm 1998-2002". Những thắng lợi to lớn của dân tộc và đất nước ta trong công cuộc đổi mới những năm 90 của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI là thắng lợi của quá trình vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Đáp ứng yêu cầu học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, ngày 27-3-2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới". Đầu tháng 8 năm 2003, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức lớp học tập nghiên cứu 10 chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh cho hơn 300 cán bộ chủ trì cao cấp, trung cấp toàn Quân khu. 73 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn luôn khẳng định vai trò, ý nghĩa to lớn của đường lối chính trị, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh. Từ Đại hội Đảng lần thứ VII đến Đại hội Đảng IX, Đảng ta đều xác định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta". Lớp học tập trung nghiên cứu sâu từng chuyên đề, phản ánh hệ thống quan điểm toàn diện của tư tưởng Hồ Chí Minh - tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về chăm lo thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng bạo lực trong đấu tranh để giành và giữ chính quyền, trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, trong việc xây dựng căn cứ địa hậu phương, đặc biệt là về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Qua lớp học này, mỗi cán bộ, đảng viên được củng cố sự kiên định về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quyết tâm rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Sau lớp học tập các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức lớp học quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thống nhất Báo cáo kiểm điểm đánh giá của Đảng ủy Quân khu thực hiện các nghị quyết về nhiệm vụ quốc phòng từ Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng đến năm 2003, Chương trình hành động 10 điểm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng đến năm 2010. Báo cáo của Đảng ủy Quân khu kiểm điểm thực hiện các nghị quyết về quốc phòng từ Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng đến năm 2003 nêu rõ: Trong hơn 10 năm qua, các cấp ủy Đảng trong Đảng bộ Quân khu đã tập trung lãnh đạo quán triệt sâu sắc và triển khai tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của Đảng về quốc phòng. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, các ban ngành địa phương thực hiện có hiệu quả xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nền tảng là xây dựng cơ sở xã, phường, thị trấn an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Thế và lực nền quốc phòng toàn dân được củng cố, phát triển và từng bước đã kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh. Tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị, giải quyết các vụ việc phức tạp ở cơ sở, góp phần giữ vững ổn định chính trị trong các thời điểm, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy kinh tế - xã hội các địa phương phát triển. Vị thế lực lượng vũ trang Quân khu ngày càng được khẳng định và là lực lượng nòng cốt tin cậy của cấp ủy, chính quyền và nhân dân 6 tỉnh1. Các lực lượng vũ trang Quân khu quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) gắn chặt với việc nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh. "Quán triệt và thực hiện nghiêm túc tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước, Nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là trách nhiệm chính trị của mọi cấp, mọi ngành, mọi người, trước hết là của cấp ủy Đảng, của các đồng chí Bí thư cấp ủy. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình với nỗ lực cao nhất để góp phần giành thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"2. _____________________________________________ 1. Báo cáo 142/BC ngày 21-10-2003 của Đảng ủy Quân khu. 2. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 8 (khoá IX) của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh ngày 12-7-2003. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2024, 04:32:09 pm Ngày 27-10-2003, Đảng ủy Quân khu đề ra Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX), xác định hướng mọi nỗ lực của Đảng bộ và lực lượng vũ trang Quân khu cùng các địa phương xây dựng Quân khu vững mạnh về mọi mặt, tiếp tục làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả đối với bạn Lào. Mục tiêu tập trung là: tăng cường sức mạnh quốc phòng, khả năng phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu cao, bảo vệ vững chắc địa bàn Quân khu, cùng cả nước giữ vững môi trường hoà bình ổn định; ngăn ngừa và đẩy lùi mọi nguy cơ; làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn chiến lược của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ quốc phòng của Quân khu được xác định đến năm 2010 là: - Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với lực lượng vũ trang Quân khu và công tác quốc phòng, quân sự, xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu về chính trị, làm tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức về nhiệm vụ quốc phòng, quân sự cho các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội và nhân dân. - Duy trì chặt chẽ chế độ sẵn sàng chiến đấu, luôn luôn chủ động nắm chắc tình hình, xử lý chính xác các tình huống, không để bất ngờ. Xây dựng bổ sung hoàn chỉnh hệ thống văn kiện tác chiến, phòng chống thiên tai và tổ chức luyện tập, diễn tập theo phương án. - Xây dựng củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn Quân khu, tiếp tục xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. - Tổ chức xây dựng lực lượng, bổ sung, điều chỉnh tổ chức biên chế, trang bị cho lực lượng vũ trang Quân khu theo quy định của Bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới nội dung, chương trình huấn luyện ở các cấp, các đối tượng; đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo ở các nhà trường; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, triển khai các đề tài cấp Bộ, Quân khu và cơ sở phục vụ thiết thực nhiệm vụ của Quân khu. - Xây dựng các đề án, quy hoạch, kế hoạch về kinh tế quốc phòng của Quân khu và các tỉnh. Bảo đảm cơ sở vật chất hậu cần - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu huấn luyện, chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu. Tổ chức thực hiện tốt các chính sách của Đảng, Nhà nước và quân đội về công tác quốc phòng, quân sự. Trên cơ sở những định hướng cơ bản đó, Quân khu nghiên cứu bổ sung xây dựng và hoàn chỉnh quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa báo cáo Bộ phê chuẩn. Đồng thời tổ chức giao nhiệm vụ, hướng dẫn Bộ chỉ huy quan sự các tỉnh, các sư đoàn, Đoàn kinh tế - quốc phòng 337, các lữ đoàn, trung đoàn binh chủng và cơ quan Quân khu điều chỉnh, bổ sung kế hoạch, quyết tâm phòng thủ của đơn vị mình, thông qua Bộ tư lệnh Quân khu. Cùng thời gian này, Quân khu cũng hoàn chỉnh kế hoạch phòng chống bão lụt - tìm kiếm cứu nạn, phòng chống cháy nổ, cháy rừng theo hướng dẫn mới, được Bộ phê chuẩn. Hoàn thành khảo sát, đo đạc mạng không chế pháo binh; khảo sát đất quốc phòng trên địa bàn Quân khu; tiếp nhận và quản lý ATK. Hệ thống công trình phòng thủ, phòng tránh, sơ tán được củng cố, nhất là công trình chiến đấu trên đảo, biên giới, các chốt chiến dịch và công trình đường hầm ở sở chỉ huy. Đồng thời chỉ đạo chặt chẽ 4 đoàn kinh tế - quốc phòng hoạt động hiệu quả cả về quốc phòng và kinh tế, góp phần cùng địa phương xoá đói giảm nghèo, di dãn dân, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh biên giới. Việc thực hiện quy chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới theo Quyết định số 107/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được các địa phương, đơn vị triển khai nghiêm túc, góp phần tăng cường mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh trong các lĩnh vực hoạt động, tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Trong dịp kỷ niệm 56 năm ngày thương binh liệt sĩ, sau một thời gian nghiên cứu của các nhà khoa học Viện Công nghệ sinh học, Viện Pháp y quân đội kết hợp với Bảo tàng Quân khu 4, đầu tháng 7 năm 2003, đồng chí Đặng Vũ Minh - Ủy viên Trung ương Đảng - Giám đốc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia và Đại tá Lê Hữu Phúc - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4 đã tổ chức trao giấy xác nhận kết quả và bàn giao kết quả giám định gen hài cốt liệt sĩ Nguyễn Hữu Vu (huyện Thạch Hà) cho vợ và con gái liệt sĩ. Đây là kết quả cụ thể trong nghiên cứu đề tài khoa học của Cục Chính trị Quân khu "Xác minh lý lịch liệt sĩ chưa biết tên qua di vật nằm cùng phần mộ" có sự phối hợp với giám định công nghệ gen1. Thực hiện công tác chính sách, Quân khu cùng cơ quan quân sự phối hợp với Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tập trung triển khai giải quyết chế độ bệnh binh cho 1.244 trường hợp quân nhân người dân tộc ít người (Quảng Trị: 563, Thừa Thiên - Huế: 681). Đây là kết quả rất lớn tạo niềm tin cho các đối tượng chính sách và nhân dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị địa phương vùng miền núi và đồng bào dân tộc ít người. Đồng thời, Quân khu tiến hành giải quyết được 15.833 trường hợp hưởng trợ cấp theo Quyết định 47 (ngày 14-4-2002) của Thủ tướng Chính phủ bảo đảm phương châm: công bằng, công khai, đúng đối tượng. Ngành chính sách cũng phối hợp mua 37.357 sổ bảo hiểm y tế cho thân nhân sĩ quan theo Nghị định 63 của Chính phủ. ______________________________________________ 1. Tháng 2-2004, Tổng cục Chính trị và Bộ tư lệnh Quân khu nghiệm thu đề tài khoa học này, luận giải một số cơ sở lý luận và thực tiễn xác minh lý lịch liệt sĩ chưa biết tên qua di vật nằm cùng phần mộ, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp xác minh lý lịch liệt sĩ chưa biết tên. Nhóm chủ trì đề tài chủ yếu là Bảo tàng Quân khu 4 đã đi khảo sát 4 đợt ở Lào, tìm được 1.200 di vật nằm cùng phần mộ, xác minh được 46 lý lịch liệt sĩ, phối hợp với Sư đoàn 321 xác minh được 183 liệt sĩ khác, trong đó có 1 trường hợp phối hợp với giám định công nghệ gen liệt sĩ Nguyễn Hữu Vu. Đề tài được đánh giá đạt xuất sắc; đang kết hợp với các chương trình Người đương thời, Hộp thư truyền hình... để góp phần xác minh lý lịch liệt sĩ chưa biết tên đạt kết quả tốt hơn. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2024, 04:36:02 pm Chuẩn bị sớm kế hoạch mùa khô 2003-2004, đánh dấu chặng đường 20 năm làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh ở Lào, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức rút kinh nghiệm công tác quy tập mộ liệt sĩ1. Tiếp đó, được ủy quyền của Bộ Quốc phòng, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu cũng tổ chức lễ trao tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đồng tới nghĩa trang liệt sĩ hữu nghị Việt - Lào tại huyện Anh Sơn, Nghệ An. Sư đoàn 324 - đơn vị hai lần anh hùng, tổ chức khởi công xây dựng nhà bia tưởng niệm hơn 11.000 anh hùng liệt sĩ sư đoàn đã hy sinh anh dũng trên các chiến trường cả nước và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, viết nên truyền thống vẻ vang “Trung dũng kiên cường, liên tục tấn công, đoàn kết chiến thắng”. Đánh giá về những đóng góp cho sự nghiệp lao động - thương binh và xã hội, Bộ trưởng Lao động - Thương binh và Xã hội đã tặng thưởng Huy chương "Vì sự nghiệp Lao động - Thương binh và Xã hội" cho 28 đồng chí cán bộ trong Quân khu2. Giữa tháng 7 năm 2003, nhận lời mời của Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, đồng chí Bun Nhăng Vo La Chít - Ủy viên Bộ Chính trị - Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào sang thăm Quân khu 4. Các đồng chí Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, cơ quan Quân khu phấn khởi đón tiếp đồng chí Bun Nhăng Vo La Chít và các đồng chí cùng đi. Trong buổi tiếp, Trung tướng Trương Đình Thanh - Phó Bí thư Đảng ủy - Tư lệnh Quân khu đã nêu một số tình hình của Quân khu và ôn lại chặng đường lịch sử cách mạng, của mỗi nước, tình hữu nghị đặc biệt thủy chung trong sáng hai nước Việt - Lào. Đồng chí Tư lệnh Quân khu cảm ơn Đảng, Chính phủ, nhân dân các bộ tộc Lào anh em đã chung vai sát cánh, tận tình giúp đỡ lực lượng vũ trang Quân khu hoàn thành nhiệm vụ. Thay mặt Đảng, Chính phủ Lào, đồng chí Bun Nhăng Vo La Chít đánh giá cao sự giúp đỡ quý báu và những đóng góp tích cực hiệu quả của quân và dân Quân khu 4 đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân các bộ tộc Lào. Thủ tướng mong rằng tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân hai nước Việt - Lào. Trước hết hai bên cần tập trung thực hiện hiệu quả các mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội gắn xây dựng tiềm lực quốc phòng - an ninh đã được ký kết giữa hai Đảng, hai Chính phủ và quân đội hai nước. Được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng nước ta và Bộ Quốc phòng Lào, đoàn đại biểu quân sự Lào do Đại tá Sổm Khểm - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 1 làm trưởng đoàn; Đại tá Bun Lườn - Chính ủy Sư đoàn 4 làm phó đoàn đến thăm và làm việc tại Quân khu. Thiếu tướng Nguyễn Song Phi - Ủy viên Đảng ủy - Phó tư lệnh Quân khu cùng thủ trưởng cơ quan Quân khu, các sư đoàn 324, 968, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Công ty hợp tác kinh tế thay mặt lực lượng vũ trang Quân khu tiếp và làm việc với đoàn. Trong buổi làm việc, hai bên thông báo cho nhau tình hình liên quan, trao đổi thống nhất các vấn đề phối hợp trong thời gian tới, nhằm tăng cường hơn nữa tình đoàn kết, hữu nghị, gắn bó đặc biệt thủy chung giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân 2 dân tộc Việt - Lào nói chung và giữa lực lượng vũ trang Quân khu 4 với Quân đội nhân dân Lào. Đặc biệt là gắn chặt hơn nữa giữa lực lượng vũ trang Quân khu 4 với lực lượng vũ trang các tỉnh Khăm Muộn, Sa Va Na Khẹt, Bô Li Khăm Xay, Sư đoàn 1, Sư đoàn 4 và các tỉnh có chung biên giới với các tỉnh trên địa bàn Quân khu 4. Trước đó, đoàn đại biểu ngành tư pháp và an ninh quân đội nhân dân Lào gồm các Đại tá Tha Vông Tan Đa Vông - Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự cấp cao; Đại tá Pa Xợt Xúc Kha Xơn - Chánh án Toà án quân sự cấp cao; Trung tá Bun Liêng Xiêng Phạ Chăn - Phó cục trưởng Cục An ninh bảo vệ quân đội nhân dân Lào sang thăm Quân khu, góp phần tăng cường tình đoàn kết giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào. Quân khu tổ chức thông qua Đề cương chi tiết cuốn sử "Quân khu 4 - lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1975-2005", công trình kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống Quân khu; nghiệm thu đề án sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp Nhà nước do Quân khu quản lý giai đoạn 2002-2005. Trong ba công ty: Lam Hồng, Thanh Sơn, Hợp tác kinh tế, thì Công ty hợp tác kinh tế là doanh nghiệp hạng 1, loại hình doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng, hoạt động công ích. Từ năm 2001, Công ty thành lập các công ty con đầu tư 100% vốn tại Lào và năm 2002 thí điểm mô hình công ty mẹ - công ty con mở rộng ngành nghề, tăng sản xuất kinh doanh trong nước và tạo thế đứng lâu dài hợp tác sản xuất kinh doanh với bạn trong chiến lược phát triển (2001-2010). Quân khu chuyển Nhà máy nhựa bao bì Vinh thành Công ty cổ phần nhựa bao bì Vinh3. Về công nghệ kỹ thuật nhà máy được đầu tư ngang với trình độ kỹ thuật tiên tiến của các nhà máy trong nước như dây chuyền sợi, dệt, nghiền sàng đá, máy cho sản xuất ngành xây lắp, chế biến gỗ... Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện AFTA vừa mở ra triển vọng phát triển, nhưng cũng tạo ra sự cạnh tranh gay gắt. Đó là thách thức lớn nhưng cũng là thời cơ để Công ty hợp tác kinh tế vượt lên tự hoàn thiện, phát huy cao nội lực, tranh thủ nguồn ngoại lực, nâng cao uy tín, sức cạnh tranh, mở rộng thị trường, phát triển bên vững cả ở trong nước và hợp tác hiệu quả với bạn Lào, hoàn thành vượt mức nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ kết hợp kinh tế - quốc phòng quốc tế. Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng4, Quân khu triển khai một bước sắp xếp lại doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khoá IX) về đổi mới doanh nghiệp. Các đơn vị, địa phương, các công ty đều phấn đấu đạt và vượt kế hoạch sản xuất, làm kinh tế, chấp hành và thực hiện nghiêm túc các chế độ quy định của Nhà nước, kỷ luật quân đội trong quá trình sản xuất, kinh doanh5. ______________________________________________ 1. Quân khu làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ ở Lào về nước từ năm 1984, đến năm 2003 đã quy tập đưa về nước 19.345 mộ/24.010 mộ trong danh sách bàn giao, riêng mùa khô 2002 - 2003 quy tập được 818 hài cốt, mùa khô 2003 - 2004 quy tập được 316 hài cốt liệt sĩ ở Lào. Các tỉnh và Đoàn kinh tế - quốc phòng 337 quy tập được 181 hài cốt liệt sĩ trong nước. 2. Quyết định 1116/QĐ-LĐTBXH của Bộ trưởng Lao động - Thương binh và Xã hội ngày 10-9-2003. 3. Công ty Hợp tác kinh tế có 3 công ty con ở Lào, 2 công ty cổ phần trong nước là Công ty nhựa bao bì Vinh, Công ty nước khoáng và du lịch Sơn Kim. Năm 2003, Công ty cổ phần nhựa bao bì Vinh có bước phát triển nhanh, đạt doanh thu 148%, lợi nhuận đạt 178%. 4. Quyết định 80/2003/QĐ-TTg ngày 29-4-2003 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết 71/NQ-ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Quyết định 111/2003/QĐ-BQP ngày 9-9-2003 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về sắp xếp lại các doanh nghiệp. 5. Năm 2003, khối thường trực đạt nguồn thu 16 tỷ đồng. Trường dạy nghề số 4 doanh thu dịch vụ kinh tế 3.532 triệu đồng, đạt 127% kế hoạch năm. Khối doanh nghiệp doanh thu 327.441 triệu đồng, đạt 106,3% kế hoạch năm. Bốn khu kinh tế - quốc phòng có tổng số vốn ngân sách Nhà nước và quốc phòng đầu tư 32.346 triệu đồng xây dựng cơ sở hạ tầng, trồng rửng, chương trình khuyến nông khuyến lâm và ổn định dân cư, tham gia xoá đói giảm nghèo trên địa bàn chiến lược, làm doanh trại. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2024, 04:38:16 pm * * * Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định, trong vài thập kỷ đầu thế kỷ XXI, phương hướng chung của đất nước là: "Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa". Mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001-2010) là, đến năm 2010 đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020, căn bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Xuân 2004, đánh dấu kết thúc nửa kỳ đầu và mở ra nửa kỳ sau của việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, cũng là mùa Xuân thứ 74 kể từ ngày Đảng ta ra đời. Lực lượng vũ trang Quân khu đẩy mạnh các hoạt động thiết thực chào mừng Đại hội thi đua Quyết thắng lực lượng vũ trang 2000-2003 và thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX1; đồng thời hướng các hoạt động vào kỷ niệm những ngày lịch sử trọng đại hai năm 2004-2005, mở đầu là 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Đầu năm 2004, Quân khu tổ chức Đại hội thi đua Quyết thắng 4 năm (2000-2003). Đại hội nêu rõ: Phong trào thi đua Quyết thắng của quân khu ngày càng được định hướng rõ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, Chỉ thị 35 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác thi đua - khen thưởng trong tình hình mới, Chỉ thị 198 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị trong quân đội. Công tác thi đua - khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng trong lực lượng vũ trang Quân khu được lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ nghiêm túc, hiệu quả, gắn việc thực hiện mục tiêu chung của phong trào thi đua quyết thắng với mục tiêu các cuộc vận động, các phong trào thi đua của các ngành, trong lực lượng vũ trang và các địa phương, góp phần thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của Quân khu, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, làm tròn nhiệm vụ quốc tế2. Trong phong trào thi đua Quyết thắng đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trên tất cả các lĩnh vực hoạt động. Đó là 5 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới; là các đơn vị, cá nhân 3-4 năm liền được Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu khen thưởng như các lữ đoàn 414, 16, 283, Trung đoàn 80, Trung đoàn 206, Xưởng 467, Công ty hợp tác kinh tế, lực lượng vũ trang Triệu Sơn, Tuyên Hoá, Thạch Hà, Tân Kỳ, Quảng Điền, thị xã Đông Hà...; các đồng chí Nguyễn Đức Minh, Hồ Trọng Bình, Lê Thế Soái... là cán bộ, chiến sĩ dũng cảm quên mình cứu dân, cứu tài sản trong lũ lớn năm 2002 ở Hà Tĩnh, Nghệ An. Đặc biệt là tấm gương hy sinh anh dũng trong chống bọn tội phạm ma tuý của anh hùng liệt sĩ Phạm Xuân Phong, thượng úy quân nhân chuyên nghiệp trạm Ta Đo đồn biên phòng 543 Mường Típ - Kỳ Sơn3. Lực lượng vũ trang thị xã Đông Hà được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì, Phòng Tuyên huấn Quân khu và Đoàn kinh tế - quốc phòng 337 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba vì đã có "Thành tích xuất sắc trong 5 năm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng". Trung đoàn 80 thông tin được tặng cờ của Chính phủ về dẫn đầu phong trào thi đua năm 2003. Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ của phong trào thi đua Quyết thắng của lực lượng vũ trang Quân khu trong 2 năm (2004-2005) là: tập trung thực hiện nhiệm vụ chính trị, quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 8 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết Đảng ủy Quân khu về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Nâng cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu, chủ động phòng ngừa, khôn khéo xử lý chính xác các tình huống, không để bị bất ngờ, làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh toàn diện theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nâng cao chất lượng tổng hợp nền quốc phòng toàn dân và khu vực phòng thủ , bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên địa bàn được phân công và làm tốt nhiệm vụ giúp bạn Lào. Tháng 3-2004, Thiếu tướng Nguyễn Song Phi - Phó tư lệnh Quân khu được phân công công tác ở Bộ. Thiếu tướng Đoàn Sinh Hưởng - Tham mưu trưởng Quân khu được bổ nhiệm giữ chức Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu. Đại tá Nguyễn Hữu Cường - Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự Quảng Bình được bổ nhiệm giữ chức Phó tư lệnh Quân khu. ______________________________________________ 1. Hội nghị Trung ương 9 từ ngày 5 đến ngày 12-1-2004. 2. Báo cáo "Phát huy truyền thống cách mạng, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", đoàn kết, đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh toàn diện" do Trung tướng Phạm Hồng Minh - Bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh chính trị Quân khu trình bày tại Đại hội. 3. Đồng chí Phạm Xuân Phong quê ở xã Liên Thành, huyện Yên Thành (Nghệ An), hy sinh ngày 13-3-2001. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2024, 04:42:22 pm Tháng 4-2004, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức lớp học tập quán triệt Nghị quyết Trung ương 9 cho cán bộ cao cấp, trung cấp chủ trì. Tại lớp học này, Quân khu chỉ đạo triển khai nhiệm vụ quân sự, quốc phòng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 và mục tiêu tập trung của Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 là: "Tăng cường sức mạnh quốc phòng, khả năng phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu cao, bảo vệ vững chắc địa bàn Quân khu, cùng cả nước giữ vững môi trường hoà bình ổn định; ngăn ngừa và đẩy lùi mọi nguy cơ; làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn chiến lược của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa". Đồng thời chỉ đạo tiếp tục nghiên cứu các âm mưu thủ đoạn mới của các thế lực thù địch trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, vấn đề "khủng bố" và "chống khủng bố", tổ chức lực lượng bám địa bàn, bám cơ sở nắm và giải quyết kịp thời, nhất là phía tây Thanh Hoá, Nghệ An1. Nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng trực phòng không cả chủ lực, địa phương, lực lượng công an, biên phòng, các tổ đội công tác, đoàn kinh tế - quốc phòng và các địa phương chủ động phối hợp triển khai các hoạt động tuyên truyền, xây dựng cơ sở chính trị, ngăn chặn xâm nhập, chống tiếp tế cho vùng phỉ đối diện; các tỉnh kết nghĩa kịp thời giúp đỡ bạn về cơ sở vật chất, giữ vững biên giới hữu nghị. Trong chuyến vào làm việc ở Thanh Hoá, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã lên miền Tây, đến thăm gặp gỡ cán bộ, chiến sĩ Đồn biên phòng 495 (Hiền Kiệt) và Đoàn 5 kinh tế - quốc phòng Quân khu 4. Đồng chí biểu dương những cố gắng của cán bộ, chiến sĩ đơn vị và căn dặn cần làm tốt hơn nữa nhiệm vụ cùng địa phương xây dựng cơ sở địa bàn chiến lược phía tây vững chắc, cùng bạn bảo vệ tốt biên giới hữu nghị Việt - Lào. Cùng thời gian này, đoàn đại biểu quân sự cấp cao nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào do Trung tướng Đuông Chay Phi Chít - Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào - Bộ trưởng Quốc phòng Lào dẫn đầu trong chuyến thăm hữu nghị chính thức nước ta, đã đến thăm làm việc tại Quân khu. Trong cuộc hội đàm, Trung tướng Đuông Chay Phi Chít thay mặt Chính phủ và Quân đội nhân dân Lào chân thành cảm ơn những tình cảm quý báu của quân và dân Quân khu 4 dành cho Đảng, quân đội và nhân dân các bộ tộc Lào trong suốt quá trình cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt truyền thống này tiếp tục được giữ vững và phát triển lên tầm cao mới trong tình hình hiện nay. Sau một thời gian thực hiện, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị tổng kết đánh giá tình hình triển khai thực hiện Quyết định 107/2003 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 28/2003 của Bộ trưởng Quốc phòng về quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới trên địa bàn Quân khu. Hội nghị nêu rõ: Lực lượng vũ trang Quân khu đã cùng công an, biên phòng 6 tỉnh thống nhất nguyên tắc, cơ chế, nhiệm vụ và các chủ trương hoạt động kịp thời, cụ thể như: trao đổi thông tin; công tác vận động quần chúng; phối hợp thực hiện nhiệm vụ phòng, chống biểu tình, bạo loạn, đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự trên khu vực biên giới, quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; công tác bảo vệ chính trị nội bộ lực lượng vũ trang; công tác huấn luyện, đào tạo và tổ chức diễn tập... Trong đợt kiểm tra toàn diện nhiệm vụ của các đơn vị, địa phương tuyến biên giới phía tây Quân khu, đồng chí Bộ trưởng Quốc phòng và đoàn của Bộ đánh giá Quân khu 4 là đơn vị đầu tiên trong toàn quân triển khai phối hợp giữa Quân khu và lực lượng công an trên địa bàn Quân khu đạt hiệu quả. Qua quá trình đúc rút nghiên cứu từ thực tiễn, vào dịp kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng, Quân khu thông qua đề tài: "Nâng cao hiệu quả hoạt động của Bộ đội Biên phòng trong khu vực phòng thủ" xác định cụ thể hoá nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Bộ đội Biên phòng trong khu vực phòng thủ, các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Bộ đội Biên phòng trên địa bàn Quân khu trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện2. Đây là vấn đề mới thể hiện bước phát triển mới trong lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và hoạt động của Bộ đội Biên phòng trên địa bàn Quân khu, vừa cấp thiết vừa cơ bản thiết thực thực hiện Nghị quyết 11/NQ-TW của Bộ Chính trị và Chủ tịch nước Trần Đức Lương thay mặt Đảng, Nhà nước căn dặn trong lễ kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống, đón nhận Huân chương Sao Vàng của Bộ đội Biên phòng là: "... Nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện đối phó thắng lợi với các tình huống; đập tan mọi âm mưu phá hoại gây mất ổn định ở địa bàn biên phòng"3. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu kịp thời kiện toàn Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở, triển khai kế hoạch hoạt động, bám sát các vùng xung yếu, trọng yếu, tuyến biên giới. Quân khu tổ chức nghiệm thu đề tài khoa học nghệ thuật quân sự cấp Bộ Quốc phòng: "Mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên các tuyến trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa" với mục tiêu là: Xây dựng từng cụm địa bàn dân cư trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện ổn định về chính trị, vững mạnh về quốc phòng - an ninh phòng, chống hiệu quả chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, ly khai của các thế lực thù địch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội; khi chiến tranh cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trở thành một cụm làng xã chiến đấu liên hoàn trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện. Thực tiễn và kinh nghiệm qua 8 năm xây dựng hoạt động của cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên các tuyến (tuyến biên giới, tuyến ven biển, tuyến đô thị và trục đường giao thông địa bàn Quân khu 4) thể hiện quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, sự phát triển về nghệ thuật giữ nước, có tính cấp thiết hiện nay, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) trong tình hình mới, tạo thế chủ động chiến lược từ cơ sở cả trước mắt, lâu dài, đóng góp vào lý luận chung4. Qua các đề tài khoa học, từ lý luận và thực tiễn về phát triển xây dựng hoạt động cụm trên các tuyến, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, Quân khu và các địa phương khẳng định điều cốt lõi phải thường xuyên chăm lo xây dựng từ gốc, từ nền cơ bản là xã, phường, thôn bản an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, "mấu chốt là trận địa lòng dân", thực sự chủ động phòng, chống có hiệu quả diễn biến các tình huống tại cơ sở, nhất là trước những diễn biến phức tạp mới với sự chỉ đạo và tiếp sức chống phá hết sức quyết liệt, thâm độc, lâu dài của kẻ địch từ bên ngoài, những hành động của kẻ xấu lợi dụng sơ hở gây mất ổn định. ______________________________________________ 1. Thời gian này, bạn Lào tiếp tục truy quét làm trong sạch địa bàn, làm tan rã nhiều cụm phỉ, bước đầu đập tan âm mưu đen tối của địch kích động nhằm tập hợp người H’Mông ở Lào, Việt Nam và một số nước láng giềng tới Lào đón "Vua" về tuyên bố lập cái gọi là quốc gia người H’Mông. Trong 6 tháng đầu năm 2004, bạn truy quét 19 đợt, diệt và bắt 148 tên, thu nhiều vũ khí và cờ, phù hiệu, truyền đơn của bọn phản động. 2. Chủ nhiệm đề tài: Đại tá Nguyễn Văn Dũng – Trưởng phòng Biên phòng Quân khu. 3. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Biên phòng tổ chức kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng (3.3.1959 - 3.3.2004), 15 năm Ngày Biên phòng và đón Huân chương Sao Vàng ngày 2-3-2004 tại Hà Nội. 4. Toàn Quân khu có 469 cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu liên xã, phường, thị trấn; 24 cụm liên huyện, liên tỉnh trên 3 tuyến. Chủ nhiệm đề tài Trung tướng Trương Đình Thanh - Tư lệnh Quân khu; Thư ký Đại tá Nguyễn Bá Dần - Trưởng phòng và Thượng tá Trần Quang Trung - Phó trưởng phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quân khu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2024, 04:45:50 pm Quân khu hoàn chỉnh thêm một bước các kế hoạch đảm bảo theo quyết tâm "Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" sát tình hình mới; tiếp tục điều chỉnh bổ sung các phương án tác chiến, phòng chống bão lụt thiên tai, cháy nổ sát yêu cầu nhiệm vụ; sắp xếp tổ chức biên chế các đảo và đơn vị làm nhiệm vụ chống khủng bố. Các kế hoạch, phương án đều được nâng lên về chất lượng, được thể hiện rõ bao quát trong nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, trong khu vực phòng thủ với sức mạnh được tích luỹ từ dân, từ cơ sở để phát triển. Từ kết quả Đại hội thi đua Quyết thắng đầu năm 2004, các hoạt động thi đua đột kích "Âm vang Điện Biên" và hưởng ứng "Tháng Thanh niên" với tình cảm, ý chí tiến về phía trước như gương các anh hùng liệt sĩ Điện Biên từ quê hương Quân khu 4 ra đi: Phan Đình Giót lấp lỗ châu mai, Tô Vĩnh Diện lấy thân chèn pháo, Trần Can truy kích giặc đến cùng, anh hùng Phan Tư1 phá thác mở luồng tiêu biểu cho các thế hệ trẻ nối tiếp, đã tạo nên những thành công mới, chất lượng mới nổi bật trong các đơn vị, địa phương. Đợt thi đua đột kích của lực lượng vũ trang và nhân dân trong Quân khu kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ thực sự tạo bước mở màn đầy sôi động cho cả phong trào hành động kỷ niệm các ngày lịch sử lớn trong năm 2004. Hàng vạn thanh niên trong 6 tỉnh nhập ngũ, trở thành lớp chiến sĩ mới đầy sức trẻ của tinh thần quyết chiến quyết thắng Điện Biên Phủ và năm thứ 60 kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam với chất lượng chính trị, học vấn, sức khỏe cao hơn. Quân khu tập trung nhiệm vụ trọng tâm là huấn luyện sẵn sàng chiến đấu; đổi mới chỉ đạo, quản lý điều hành nội dung phương pháp huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, triển khai mở màn thống nhất, đồng loạt, huấn luyện cơ bản các nội dung về chiến thuật, kỹ thuật chiến đấu bộ binh từ từng người đến phân đội cơ sở; chấp hành kỷ luật, xây dựng chính quy; nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức lớp tập huấn 3 ngày cho 200 cán bộ cao cấp, trung cấp chủ trì cơ quan đơn vị về nghệ thuật chiến dịch - chiến lược. Nội dung tập huấn xác định về âm mưu thủ đoạn tốc chiến của địch; những vấn đề lý luận xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tác chiến tiến công, phản công chiến lược trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc và một số tình huống của các lực lượng đặc nhiệm đánh bắt, tiêu diệt bọn khủng bố, giải thoát con tin... Từ tinh thần và những kinh nghiệm quý báu về chiến dịch chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cán bộ học tập nâng cao được nhận thức mới về lý luận nghệ thuật chiến dịch - chiến lược, vận dụng cụ thể vào lãnh đạo, tổ chức chỉ huy, huấn luyện, diễn tập, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu trong tình hình mới. Trước những diễn biến phức tạp trên tuyến biên giới phía tây Quân khu và Tây Nguyên, Quân khu chỉ đạo phối hợp các lực lượng biên phòng, công an, Bộ chỉ huy quân sự 6 tỉnh, 4 đoàn kinh tế - quốc phòng, 28 đội công tác cơ sở nắm tình hình hoạt động tuyên truyền vận động nhân dân, tuần tra, truy quét giữ vững an ninh chính trị biên giới. Trong thời gian này, các đơn vị cùng các địa phương tuyên truyền và triển khai kế hoạch bảo vệ an toàn bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp, tham mưu đề xuất các cán bộ quân sự địa phương vào Hội đồng nhân dân khoá 2004-2009, góp phần thiết thực vào thắng lợi cuộc bầu cử từ cơ sở lên tỉnh2. Trong đợt thi đua đột kích, toàn Quân khu có gồn 500 công trình, sản phẩm trên các lĩnh vực đạt kết quả góp phần thiết thực giáo dục truyền thống, nâng cao trình độ chính trị tư tưởng và hành động cách mạng, rèn luyện tu dưỡng phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", tăng cường sức mạnh quốc phòng. Các đơn vị có công trình tiêu biểu như: Lữ đoàn 414, Sư đoàn 324, Lữ đoàn 16... Ngành Hậu cần xây dựng được nhiều mô hình tăng gia sản xuất chăn nuôi theo hướng công nghiệp, đầu tư trồng các loại rau củ quả chất lượng cao, chăn nuôi tập trung, không để xảy ra dịch cúm gia cầm, giải quyết cơ bản rau xanh và thực phẩm tại chỗ cho bộ đội, triển khai được một số kỹ thuật mới vào ứng dụng ở 2 bệnh viện, tổng kết 8 năm công tác quản lý bệnh viện, bệnh xá và kết hợp 2 nền y học trên địa bàn Quân khu3. Công tác kỹ thuật sơ kết cuộc vận động 50 (từ 2002 đến giữa năm 2004) với kết quả nổi bật làm chuyển biến mạnh mẽ công tác xây dựng chính quy ngành kỹ thuật, có 10 đề tài cấp Quân khu được đưa vào áp dụng hiệu quả. Các địa phương, đơn vị đều có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiêu biểu là X467, X41, Cụm kho CK2, CK3, Sư đoàn 324, Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hóa, Trung đoàn 80. Hệ số kỹ thuật tăng 2%, hệ số đồng bộ tăng 2-4% bảo đảm tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Trên địa bàn Quân khu có gần 24.000 bài dự thi "Âm vang Điện Biên ", phần lớn là của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và thanh niên sinh viên, học sinh các trường, trong đó có gần 300 bài dự thi được tuyển chọn gửi về Tổng cục Chính trị4. Cùng với cuộc thi này, Quân khu và các địa phương tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền giáo dục sâu rộng tạo động lực mới trong huấn luyện, học tập, lao động, giúp đỡ gia đình chính sách, người nghèo, các nạn nhân chất độc da cam... Trong đợt thi đua đột kích, toàn Quân khu kết nạp được 405 đảng viên mới, hầu hết là Đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh5. _____________________________________________ 1. Anh hùng Phan Tư quê ở Yên Thành, Nghệ An. Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót quê ở xã Cẩm Quan, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Anh hùng liệt sĩ Tô Vĩnh Diện quê ở xã Nông Trường, Triệu Sơn, Thanh Hoá. Anh hùng liệt sĩ Trần Can quê ở Sơn Thành, Yên Thành, Nghệ An. 2. Trên địa bàn Quân khu có 14.309 khu vực bầu cử, bầu Hội đồng nhân dân cấp xã, phường 46.800 đại biểu, cấp huyện, thị, thành 3.040, cấp tỉnh 397. Đại biểu là lực lượng vũ trang ứng cử có 1.993 đồng chí (cấp tỉnh 7, cấp huyện 96, cấp xã phường 1.890). 3. Hai viện Quân y 4 và 268 đưa vào trang bị sử dụng gần 10 máy khám chữa bệnh hiện đại như máy phẫu thuật nội soi, máy điện não vi tính, chụp cắt lớp... Ngành y Quân khu ra tập kỷ yếu công trình khoa học kỹ thuật gồm 107 nội dung. 4. Quân khu được tặng 2 giải: Thiếu úy Trần Anh Tuấn - Sư đoàn 968, Thiếu úy Trần Thái Lâm - Cục Hậu cần. 5. Sáu tháng đầu năm 2004, Quân khu kết nạp 655 đảng viên mới (đợt 3-2 kết nạp 198 đảng viên mới). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 02:27:52 pm Phong trào tuổi trẻ sáng tạo và giành "Giải thưởng Nguyễn Viết Xuân" trong tuổi trẻ lực lượng vũ trang Quân khu nối tiếp với sức mạnh đột kích mới của "Âm vang Điện Biên" tạo được nhiều nhân tố tích cực thi đua nghiên cứu, tìm tòi sáng kiến, cải tiến trên nhiều lĩnh vực thực hiện nhiệm vụ, trong đó có những cải tiến kỹ thuật ứng dụng thiết thực, giá trị công nghệ cao. Trong vòng một năm có 10 đơn vị với 27 đề tài, công trình tham gia giải thưởng, có 6 nhóm đề tài, công trình được áp dụng hiệu quả đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tuổi trẻ. Bộ tư lệnh Quân khu đã trao "Giải thưởng Nguyễn Viết Xuân" cho các tập thể, cá nhân điển hình và phát động tuổi trẻ lực lượng vũ trang Quân khu tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua lập thành tích chào mừng 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, 40 năm chiến thắng trận đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của giặc Mỹ, 40 năm ngày Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân cùng đồng đội chiến đấu ngoan cường, dũng cảm trên trận địa miền Tây Quảng Bình và 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 15 năm ngày Quốc phòng toàn dân. Lập thành tích chào mừng những ngày kỷ niệm lớn trong năm 2004, các lực lượng vũ trang Quân khu đẩy mạnh công tác huấn luyện, xây dựng, sẵn sàng chiến đấu. Trong giai đoạn 1 huấn luyện, các đơn vị đều đổi mới theo Chỉ thị 16/CT-TM của Tổng Tham mưu trưởng "Về đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện", trong đó tập trung khâu cơ bản là huấn luyện cán bộ; huấn luyện với rèn luyện sức cơ động cả ngày và đêm trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao; chấp hành kỷ luật và xây dựng chính quy; thực hành diễn tập vòng tổng hợp nâng cao chất lượng toàn diện về trình độ sẵn sàng chiến đấu của đơn vị1. Quân khu hoàn thành khóa 3 bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ quân sự các tỉnh, huyện và sau bầu cử Hội đồng nhân dân ba cấp tổ chức khóa 10 bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đồng chí chủ trì huyện, sở ban ngành tỉnh tại Trường Quân sự Quân khu, đồng thời, chuyển nội dung Nghị quyết Trung ương 8, 9 (khóa IX) vào công tác quốc phòng địa phương trước yêu cầu mới, trong đó có các đồng chí mới đảm nhận cương vị công tác sau bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp. Hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị đi đầu mở lớp đào tạo chỉ huy trưởng quân sự xã phường, thị trấn giai đoạn 2004-2010 cho 116 đồng chí. Nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ Quân khu tổ chức lễ đổi thẻ đảng viên đợt đầu (ngày 19-5-2004) cho 998 đảng viên xuất sắc, thực hiện đúng Chỉ thị 29 của Ban Bí thư, Chỉ thị 274 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương. Trung tướng Phạm Hồng Minh - Bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh chính trị; Trung tướng Trương Đình Thanh - Phó Bí thư Đảng ủy - Tư lệnh Quân khu dự lễ trao thẻ đảng viên và phát biểu tại Đảng bộ Bộ Tham mưu Đảng bộ Cục Chính trị. Đợt đổi thẻ đảng viên 19-5 trong Đảng bộ Quân khu được gắn với tổ chức thi Bí thư Chi bộ ở các tổ chức cơ sở Đảng là một hoạt động chính trị, có ý nghĩa thực tiễn cao, góp phần nâng cao chất lượng đảng viên tổ chức cơ sở Đảng, thúc đẩy cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII và kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khoá IX), thực hiện đúng tư tưởng Hồ Chí Minh "Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt"2. Công tác đảng, công tác chính trị đổi mới phong cách chỉ đạo sâu sát cơ sở, sát bộ đội để triển khai, hướng dẫn, đúc rút kinh nghiệm những chuyên đề thiết thực: "Công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện xây dựng chính quy rèn luyện kỷ luật ở đơn vị cơ sở"; "Tổng kết 5 năm xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị"; "Hoạt động của 2 cán bộ chính trị cấp đại đội, tiểu đoàn"; "Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật, quản lý rèn luyện kỷ luật"; tổng kết công tác tư tưởng lý luận từ cơ sở lên... Những nội dung này góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm và năng lực lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ cơ sở cả chủ lực, địa phương xây dựng chi bộ, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Bốn đoàn kinh tế - quốc phòng trên tuyến biên giới phía tây xây dựng, hoạt động có bước phát triển mới, thể hiện rõ bản chất của đội quân chiến đấu, đội quân lao động sản xuất và công tác bằng những hành động thiết thực, cùng địa phương và bộ đội biên phòng, công an, các tổ đội cơ sở giữ vững an ninh địa bàn trước những tác động phức tạp, xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở hạ tầng hiệu quả, triển khai lồng ghép được 1 số chương trình đầu tư của địa phương như: bố trí sắp xếp và tiếp nhận dân cư, chương trình 661, 135..., được các địa phương và Bộ đánh giá cao3. Các công ty kinh tế của Quân khu nửa đầu năm 2004 phấn đấu đạt 72% giá trị sản xuất, 74% lợi nhuận của kế hoạch cả năm. Điển hình là Nhà máy xi măng 19-5 (Công ty Thanh Sơn) ứng dụng thành công sáng kiến cải tiến "máng khí động học" của Thạc sĩ Võ Văn Tích - Trưởng phòng Cơ điện nhà máy tăng được năng suất, tiết kiệm. Chất lượng sản phẩm xi măng nhà máy luôn phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam (tiêu chuẩn QUACERT cấp ngày 11-5-2001). Năm 2004, sản phẩm của nhà máy được tặng thưởng Quả cầu Vàng tại Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao và đóng góp vào tăng tổng sản lượng xi măng nội địa tỉnh Nghệ An đạt 1 triệu tấn/năm. _____________________________________________ 1. Năm 2004, năm đầu thực hiện chương trình và giáo dục huấn luyện kỹ thuật chiến đấu bộ binh mới, Quân khu đã đạt được hiệu quả, chất lượng nâng lên rõ rệt. Trường Quân sự Quân khu chiêu sinh hơn 15 đối tượng với 1.374 học viên, thi tốt nghiệp ra trường cho 1.228 đồng chí. Đối với dân quân có 1.635 cơ sở dân quân và 1.574 cơ sở tự vệ, chiếm 86% tổng số huấn luyện xong. Sư đoàn 341 hoàn thành diễn tập chỉ huy - cơ quan trên bản đồ, có giai đoạn được tiến hành trên thực địa theo kế hoạch chiến đấu, Lữ đoàn 283 cao xạ diễn tập chiến đấu bảo vệ mục tiêu. 2. Trong đợt thi Bí thư chi bộ, 1.200 Bí thư chi bộ dự thi ở cơ sở, đạt yêu cầu 100%, trong đó có 83% khá giỏi; 120 đồng chí được chọn dự thi ở Quân khu nhất toàn đoàn gồm: Cục Chính trị, Công ty Hợp tác kinh tế, Trung đoàn 80, Đảng bộ Quân sự Quảng Trị, Nghệ An; nhất cá nhân: Hoàng Quốc Long (Nghi Xuân), Trần Võ Dũng (Vinh). Đổi thẻ đảng viên đợt 2: 4.584 đồng chí, đợt 3: 2.076 đồng chí. 3. Toàn Quân khu có 29 đoàn kinh tế - quốc phòng. Trong 4 đoàn kinh tế - quốc phòng của Quân khu, Đoàn 92 và Đoàn 4 đạt khá hơn. Phòng kinh tế Quân khu - cơ quan tham mưu giúp Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo tổ chức thực hiện được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen vì đã có nhiều thành tích trong xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, góp phần xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 02:30:55 pm Luôn luôn ghi nhớ sự hy sinh cao cả vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của các anh hùng liệt sĩ trong năm 2004, Quân khu, 6 tỉnh và các tỉnh bạn Lào kết nghĩa tổ chức trọng thể, trang nghiêm, chu đáo lễ tiễn, đón an táng các hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh ở Lào quy tập được mùa khô 2003-2004. Với tinh thần và trách nhiệm cao cả một số đồng chí đã hy sinh khi làm nhiệm vụ đầy khó khăn gian khổ tìm kiếm, cất bốc hài cốt đồng đội1. Cũng trong dịp này, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An tổng kết 20 năm (1984-2004) làm nhiệm vụ quy tập mộ liệt sĩ ở Lào về nước và trên địa bàn để tiếp tục thực hiện tìm kiếm, cất bốc hài cốt các liệt sĩ còn lại ở những vùng khó khăn nhất trên đất bạn với tình cảm sâu nặng đền ơn đáp nghĩa và tình hữu nghị đoàn kết đặc biệt Việt - Lào son sắt thủy chung2. Tỉnh Nghệ An tổ chức trang trọng lễ hội Uống nước nhớ nguồn tại Nghĩa trang liệt sĩ Việt - Lào; tỉnh Quảng Trị tổ chức hành hương về hội trại tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn với chủ đề "Tuổi trẻ hồi tưởng về Trường Sơn", đêm nhạc "Huyền thoại Trường Sơn" tại nơi an nghỉ của hơn 1,2 vạn anh hùng liệt sĩ, tôn vinh truyền thống, tái hiện một bản anh hùng ca về xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước3. Nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, tạo chuyển biến sâu hơn nhận thức và thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, thực hiện Quyết định 107/2003 của Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới, tạo cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị 56/CT, từ giữa năm 2004, Quân khu tập trung chỉ đạo thực hành 2 đợt diễn tập lớn: ở địa phương, diễn tập khu vực phòng thủ Thanh Hóa; khối chủ lực, diễn tập chỉ huy - tham mưu có một phần thực binh Sư đoàn 968, Sư đoàn 324 cùng các đơn vị binh chủng gồm 3 lữ đoàn (283, 16, 414), hai trung đoàn 206 và 80. Từ ngày 19 đến 23-7-2004, Quân khu chỉ đạo cuộc diễn tập khu vực phòng thủ Thanh Hóa với đề mục "Phát huy sức mạnh tổng hợp, đánh bại chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ. Nắm vững thời cơ, chuyển địa phương sang thời chiến, tổ chức thực hành tác chiến giữ vững khu vực phòng thủ". Diễn tập lần này có một số vấn đề phát triển mới về nội dung (cả hướng biển, biên giới, trên không); quy mô rộng gồm cả địa phương và chủ lực (cấp tỉnh, 13 huyện thị thành, lực lượng thực binh của công an, biên phòng, dân quân tự vệ, trung đoàn bộ đội địa phương, Sư đoàn 324, Sư đoàn 341...); thực hành chủ yếu dã ngoại (nơi sơ tán). Chủ trì diễn tập của tỉnh gồm: Trịnh Trọng Quyền - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Đảng úy Quân sự tỉnh; Nguyễn Văn Lợi - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Lê Hữu Sinh - Chỉ huy trưởng và Đại tá Hoàng Văn Bá - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó chỉ huy chính trị Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Quân khu trực tiếp chỉ đạo cuộc diễn tập này. Cuộc diễn tập diễn ra đúng ý định. Các cấp, các ngành, các lực lượng của tỉnh và chủ lực Quân khu đều thực hiện nghiêm túc, thống nhất, thể hiện được năng lực vận hành theo cơ chế 02 của Bộ Chính trị từ hoạt động thường xuyên xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, chuyển địa phương sang thời chiến của cuộc chiến tranh nhân dân trong tình hình mới. Hiệp đồng của lãnh đạo, điều hành, lực lượng thực binh địa phương, chủ lực xử lý các tình huống, các thủ đoạn mới cả giả định và thật khá chặt chẽ, vừa có tính độc lập, chủ động sáng tạo, nâng cao tính thực tiễn kết hợp 2 phương thức tác chiến trên nền khu vực phòng thủ, chiến tranh toàn dân toàn diện. Các hoạt động động viên lực lượng dự bị, phương tiện kỹ thuật, sơ tán nhân dân, tác chiến của các lực lượng đánh địch đổ bộ đường không, đường biển tuyến mép nước, chống xâm nhập biên giới, chống gây rối bạo loạn, lực lượng phòng chống bão lụt, cứu hộ cứu nạn, làm đường giao thông thủy lợi... diễn ra khẩn trương, bảo đảm cho diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh đạt hiệu quả thiết thực, an toàn. Tại buổi tổng kết cuộc diễn tập, đồng chí Tư lệnh Quân khu nêu rõ: Kết quả lớn nhất đã làm chuyển biến quan trọng nhận thức của các cấp, các ngành, của đội ngũ chủ trì địa phương, đơn vị và nhân dân về âm mưu thủ đoạn của địch; về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, sự cần thiết phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thông qua diễn tập, tiếp tục nâng cao năng lực vận hành cơ chế 02/BCT và năng lực tổ chức, điều hành trong chỉ huy, hiệp đồng giữa các cấp, các ngành, các lực lượng trên địa bàn Quân khu. Từ "Âm vang Điện Biên", các lực lượng vũ trang Quân khu cùng với toàn dân, toàn quân nối tiếp những hoạt động sâu rộng trong phong trào hành động cách mạng "Sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ" kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân, 15 năm ngày Quốc phòng toàn dân với nhiều "Mô hình mới, đỉnh cao mới, kỷ lục mới" trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng an ninh, công tác dân vận, tham gia xây dựng phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện nhiệm vụ quốc tế. ___________________________________________ 1. Tổng số đưa về nước an táng 764 hài cốt liệt sĩ, trong đó Thanh Hóa 129, Nghệ An 374, Hà Tĩnh 45, Quảng Bình 107, Quảng Trị 91, Thừa Thiên - Huế 18. Các đồng chí Thiếu tá Phạm Đức Lục, Thiếu tá Lê Công Đường, Thiếu tá Hoàng Văn Quang thuộc đội quy tập Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An, Thượng úy Trần Văn Sâm thuộc đội quy tập Bộ chỉ huy quân sự Hà Tĩnh hy sinh khi làm nhiệm vụ. 2. Trong 20 năm, Nghệ An quy tập đưa về nước được 9.498 mộ liệt sĩ. Quá trình làm nhiệm vụ, 13 đồng chí đã hy sinh, 21 đồng chí bị thương, 16 đồng chí bị bệnh hiểm nghèo, trong đó bạn Lào hy sinh 8, bị thương 12. 3. Đây là điểm chốt trong Lễ hội "Nhịp cầu xuyên Á" của Quảng Trị được tổ chức vào dịp kỷ niệm 50 năm ký kết Hiệp định Giơnevơ 21.7.1954 - 21.7.2004 và 57 năm ngày thương binh liệt sĩ 27-7. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 02:34:30 pm Lực lượng chủ lực, địa phương trong Quân khu bước vào huấn luyện giai đoạn 2 gắn chặt với rèn luyện củng cố kỷ luật và bảo đảm thường trực sẵn sàng chiến đấu cao trong mọi tình huống, phòng chống thiên tai, giữ vững an ninh trật tự an toàn xã hội, nhất là dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn trong hai năm 2004-2005. Quân khu mở đầu bằng hai việc làm mới là Hội thi mô hình học cụ huấn luyện cấp Quân khu lần thứ nhất và tổ chức giao lưu với chủ đề "Lực lượng vũ trang Quân khu 4 với nhiệm vụ huấn luyện" tại Sư đoàn 324 tạo bước đột phá trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành phương pháp và công tác bảo đảm huấn luyện. Các đơn vị đều đạt quân số huấn luyện cao, chất lượng khá, rèn luyện thể lực và kỷ luật tiến bộ, chuyển vào trong thực hành diễn tập sẵn sàng chiến đấu của các cấp đều đạt khá, giỏi. Nổi bật là diễn tập của các sư đoàn, đơn vị binh chủng, đơn vị làm nhiệm vụ A2, nhiệm vụ C, bộ đội biên phòng, một số đơn vị động viên, lực lượng dân quân tự vệ1, diễn tập tổng hợp cuối khóa và làm công tác dân vận của hơn 1.000 giáo viên, học viên Trường Quân sự Quân khu. Trong bảo vệ an ninh biên giới, Trung úy Và Bá Giải, bộ đội biên phòng Đồn 551 (xã Tam Hợp, Tương Dương, Nghệ An) đã nêu tấm gương sáng về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Ngày 26-7-2004, Trung úy Và Bá Giải đã hy sinh khi làm nhiệm vụ chống bọn phỉ xâm nhập biên giới trái phép. Tấm gương chiến đấu hy sinh của Trung úy Và Bá Giải, người cán bộ ưu tú của dân tộc H’Mông2, được truyền khắp các đơn vị, địa phương Quân khu. Vào dịp kỷ niệm 59 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2-9, tại Quảng trường Hồ Chí Minh - thành phố Vinh, Bộ tư lệnh Biên phòng tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm Bác trước tượng đài Người, phát động cuộc thi tìm hiểu "Sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ" và học tập gương chiến đấu, hy sinh của Trung úy liệt sĩ Và Bá Giải trong bộ đội biên phòng cả nước. Cuối tháng 11 năm 2004, trận lũ lụt lớn 3 ngày đêm liền diễn ra trên địa bàn các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Quảng Bình. Trong thử thách hiểm nguy, nhiều hành động của cán bộ, chiến sĩ càng tỏa sáng phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" cứu dân, bảo vệ dân. Giữa đêm mưa khi biết tin cầu Ninh Hạ (Huế) có nguy cơ lũ cuốn, 14 cán bộ, chiến sĩ Ban chỉ huy quân sự thành phố do Thượng tá Nguyễn Viết Dũng - Chỉ huy trưởng trực tiếp chỉ huy nhanh chóng cùng dân quân dầm mình trong nước xiết, gạt vớt hàng tấn rác mắc kẹt đầu nguồn sông Hương dồn về, cứu được cầu. Đêm 25 tháng 11, lực lượng vũ trang thành phố kịp thời ứng cứu hơn 600 người dân ở xóm Giồng, xã Thủy An đến nơi an toàn. Trung đoàn 176, Sư đoàn 968 cứu giúp kịp thời 80 hộ dân ở Thủy Phù. Ở vùng cửa Thuận An, sau khi di dời nhanh 25 hộ dân an toàn của thôn Hiền An, Hải đội 2 biên phòng Thừa Thiên - Huế tập trung bảo vệ đập Hòa Duân. Thiếu tá Hải, Đội trưởng Nguyễn Đăng Tâm có tin nhà bị tốc mái, vợ và con đang trong cảnh nguy ngập lụt nhưng bằng tấm lòng và hành động nêu gương đầy thuyết phục: "Đập Hòa Duân chưa mất thì nhà mình vợ con mình vẫn còn; chúng ta phải bồi trúc cho con đập vững chãi thì bà còn mới yên lòng". Các đồng chí và toàn đơn vị đã cùng dân quân xã Hải Thành tôn chắn, bảo vệ được đập qua lũ lớn3. Tháng 12 năm 2004, Quân khu và các tỉnh đẩy mạnh các hoạt động thiết thực kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 15 năm ngày Quốc phòng toàn dân, Biên phòng toàn dân, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, an ninh nhân dân vững chắc gắn với phát triển kinh tế - xã hội. Các hoạt động sâu rộng trong đơn vị, địa phương nổi bật là mở những đợt tập trung tuyên truyền; thi tìm hiểu; thăm bảo tàng truyền thống; giao lưu văn hóa văn nghệ và nối cầu truyền hình với vùng sâu vùng xa, hải đảo4, địa danh văn hóa cách mạng, gặp gỡ những nhân chứng lịch sử..., tạo nên đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, hành động cách mạng sôi nổi, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ của năm 2004. Giữa tháng 12 năm 2004, Cục Chính trị Quân khu tổ chức trọng thể lễ trao tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh của Bộ Quốc phòng cho 16 đơn vị gồm các sư đoàn, trung đoàn đủ quân, trung đoàn, lữ đoàn binh chủng, 4 cơ quan Quân khu, tổ chức triển lãm chuyên đề "Quân đội nhân dân Việt Nam - 60 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành". Những hoạt động tuyên truyền xung kích tổng hợp, văn hóa văn nghệ lành mạnh, đậm đà âm điệu các miền đất Quân khu 4 giàu truyền thống của các lực lượng vũ trang Quân khu gắn với hoạt động của lực lượng Cựu chiến binh nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày thành lập Hội (6.12.1989 - 6.12.2004), Đại hội thi đua yêu nước Hội Cựu chiến binh các cấp lần thứ 3 thể hiện rõ nét đẹp truyền thống và sức sống mới của các "chiến sĩ văn hóa, đội quân văn hóa các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ" trong thời kỳ mới. Cũng trong dịp này, các trung đoàn đủ quân và đơn vị binh chủng hưởng ứng sôi nổi phong trào trong toàn quân "Xây dựng và quản lý doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp", khơi dậy được trí tuệ, tiềm năng sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ, đoàn viên thanh niên, có ý nghĩa thiết thực nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của bộ đội trong những ngày kỷ niệm lịch sử, thiết thực xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Tại hội thi cấp Quân khu, Lữ đoàn 16 đạt khá nhất, Trung đoàn 1 bộ binh, Sư đoàn 324 tham dự hội thi toàn quân đạt loại giỏi. _____________________________________________ 1. Toàn Quân khu huấn luyện quân dự bị với số lượng cao, đạt 97,84% kế hoạch năm, cuối 9 năm 2004, 6/6 tỉnh hoàn thành huấn luyện dận quân tự vệ, trong đó có những đơn vị dân quân mới thành lập như trung đội nữ súng cối Nga An (Nga Sơn), trung đội nữ pháo phòng không thường trực 37mm mang tên Anh hùng Trần Thị Lý (thành phố Đồng Hới). 2. Trung úy Và Bá Giải sinh tháng 11 năm 1975, quê ở xã Mường Lống, Kỳ Sơn, Nghệ An, trong gia đình người H'Mông có truyền thống cách mạng, bố là Huyện ủy viên, Bí thư Đảng ủy xã. Đồng chí được đào tạo ở Trường Đại học Biên phòng và được kết nạp Đảng tại trường. 3. Cán bộ, chiến sĩ trong Quân khu đã góp tiền lương, phụ cấp giúp nhân dân 3 tỉnh bị lụt 100 triệu đồng. 4. Các tỉnh đều tổ chức giao lưu, cầu truyền hình, trong đó Nghệ An nối cầu truyền hình giao lưu giữa trung tâm với đảo Mắt và trận địa pháo phòng không của Tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân anh hùng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 02:38:05 pm Các địa phương tập trung các hoạt động thực hiện kế hoạch công tác giáo dục quốc phòng đạt hiệu quả. Hội đồng giáo dục quốc phòng các cấp hoạt động ngày càng nền nếp1, tạo chuyển biến mới về nhận thức, và tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành, các trường quân sự, chính trị 6 tỉnh, trung tâm giáo dục chính trị các huyện thị thành, trung tâm giáo dục quốc phòng trường đại học, các đoàn thể, tổ chức kinh tế - xã hội không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng cho cán bộ chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở, thanh niên, sinh viên, học sinh và trong nhân dân. Thị xã Đông Hà là địa phương đầu tiên tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho 59 chức sắc, chức việc tôn giáo, cả 6 tỉnh mở khóa đào tạo cơ bản đầu tiên cho 451 đồng chí chỉ huy trưởng quân sự xã, phường, thị trấn2. Một số cấp ủy Đảng địa phương chỉ đạo thí điểm mở rộng tổ chức hoạt động của 189 chi bộ và 21 tổ Đảng quân sự ở cơ sở, góp phần tăng cường công tác quốc phòng địa phương, tạo cơ sở để phát triển xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc hơn. Việc bồi dưỡng kiến thức quốc phòng từ Quân khu xuống cơ sở được các cấp quan tâm thực sự nâng cao nhận thức, quan điểm, năng lực và trách nhiệm lãnh đạo, quản lý nhà nước về quốc phòng ở từng địa phương, tạo chuyển biến tương đối đồng đều gắn kết quốc phòng - an ninh với kinh tế. Thông qua giáo dục quốc phòng, các cuộc thi tìm hiểu về Đảng, Bác Hồ, về Điện Biên Phủ, về quân đội, "Bộ đội Cụ Hồ"..., các tầng lớp nhân dân nhận thức rõ hơn yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong giai đoạn hiện nay, phát huy được sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, động viên mọi người hăng hái thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo niềm tin vững chắc của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn Quân khu với Đảng, Bác Hồ3, chế độ xã hội chủ nghĩa. Cuộc thi tìm hiểu "Sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ" đã có số người và thành phần dự thi đông nhất trong số các cuộc thi của Quân khu với 1.000.332 bài gồm bộ đội, công an, biên phòng, cựu chiến binh, giáo viên, học sinh, sinh viên, cán bộ công chức nhà nước, người dân lao động, trong đó có cả các bài dự thi của các cụ già trên 80 tuổi, của người mù viết bằng chữ nổi... Các bài dự thi phản ánh sinh động, sâu sắc truyền thống phẩm chất tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ", quan hệ máu thịt quân - dân, công lao to lớn của Đảng, Bác Hồ và nhân dân anh hùng, thể hiện niềm tin, tình cảm, trách nhiệm và nghị lực đóng góp xây dựng quân đội cách mạng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, gắn quốc phòng - an ninh với kinh tế - xã hội của quân và dân quân khu. Các tỉnh Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Nghệ An, Quảng Bình, Sư đoàn 968, Cục Hậu cần Quân khu là những đơn vị có nhiều bài dự thi tốt nhất. Ban tổ chức cuộc thi Quân khu tặng giải nhất cho nhân dân và lực lượng vũ trang Hà Tĩnh, 3 giải nhì cho nhân dân và lực lượng vũ trang các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, Nghệ An; giải nhất cá nhân cho 7 đồng chí4 và 12 giải nhì. Thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả theo đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, Bộ tư lệnh Quân khu cùng các tỉnh, các ngành, tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác, giúp đỡ đặc biệt truyền thống với bạn Lào. Quân khu chỉ đạo triển khai các đợt hoạt động tuyên truyền vận động nhân dân tuyến biên giới 2 bên, tuần tra truy quét, ngăn chặn bọn phản động Việt Nam lưu vong, phỉ Lào, hạn chế các hoạt động vượt biên, truyền đạo trái phép, giữ vững an ninh biên giới hữu nghị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Cuối năm 2004, Đoàn cán bộ cao cấp quân y Quân đội nhân dân Lào do Đại tá Cục trưởng Bun Tơn Băn Đa Vông sang thăm, làm việc, trao đổi học tập kinh nghiệm Viện quân y 4 về công tác điều trị, đặc biệt là phương pháp đào tạo cán bộ để tiếp cận và làm chủ phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại. Trước đó, đoàn cán bộ hậu cần của bạn cũng đã sang tham quan học hỏi kinh nghiệm các mô hình tăng gia sản xuất ở Sư đoàn 324, Sư đoàn 968. Ngành Kỹ thuật Quân khu hoàn thành tốt kế hoạch giúp đỡ Sư đoàn 4 và Tỉnh đội Sa Va Na Khẹt sửa chữa vũ khí trang bị. Công ty hợp tác kinh tế cùng bạn khảo sát, bước đầu lập dự án giúp xây dựng khu kinh tế - quốc phòng Viêng Thoong - Bô Li Khăm Xay. Đoàn văn công Quân đội nhân dân Lào và Đoàn nghệ thuật Quân khu qua lại biểu diễn nhiều đợt phục vụ nhân dân và quân đội hai nước. _____________________________________________ 1. Theo Nghị định 15/2001/NĐ-CP của Chính phủ về giáo dục quốc phòng, ở địa phương do đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân làm chủ tịch, ở Quân khu do đồng chí Tư lệnh Quân khu làm chủ tịch. Quân khu có Trung tâm giáo dục quốc phòng ở Huế, đang xúc tiến xây dựng Trung tâm giáo dục quốc phòng ở Vinh (Nghệ An) và Hồng Đức (Thanh Hóa). 2. Toàn Quân khu hiện có 1.813 xã, phường, thị trấn, 83 huyện, thị, thành (Đồng Hới chuyển thành thành phố; Quảng Trị thành lập thêm huyện đảo Cồn Cỏ). 3. Ngày 2-9-2004. kỷ niệm 59 năm Quốc khánh 2-9 và 35 năm thực hiện Di chúc của Bác, tỉnh Thừa Thiên - Huế tổ chức trọng thể tại A Luới lễ chính thức lấy ngày 2-9 hàng năm làm ngày kỷ niệm đồng bào các dân tộc ít người mang họ Bác Hồ. 4. Gồm: Trần Đình Nghĩa và Nguyễn Hoài Việt - Công an Hà Tĩnh; Ngô Thu Hương - Liên đoàn lao động Thừa Thiên - Huế; Đặng Thị Thiếp - lực lượng vũ trang Quảng Bình; Trần Ngọc Hải - Đại học Vinh; Phạm Trung Kiên - Trường trung học phổ thông Vũ Quang; Trần Thái Lâm - Cục Hậu cần Quân khu (lần trước đã được giải cuộc thi "Âm vang Điện Biên"). Báo Quân khu 4 cũng được 7 giải thưởng báo chí của Tổng cục Chính trị về đề tài quốc phòng toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 02:40:19 pm Những tháng cuối năm 2004, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh và các cơ quan Quân khu cùng các tỉnh với tinh thần kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 15 ngày Quốc phòng toàn dân đã chỉ đạo tổng kết hai nội dung quan trọng, thiết thực là tổ chức thành công Hội nghị toàn quốc tại Quân khu 4 rút kinh nghiệm về xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu và tổng kết 15 năm xây dựng tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. Ngày 15-9-2004, Hội nghị toàn quốc rút kinh nghiệm xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu tổ chức tại thành phố Vinh (Nghệ An). Thượng tướng Phùng Quang Thanh - Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam tới dự chủ trì hội nghị. Hội nghị nghe báo cáo rút kinh nghiệm 15 năm xây dựng cơ sở xã, phường, thị trấn, 8 năm xây dựng cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu của Quân khu 4 (1989-2004) do Đại tá Nguyễn Hữu Cường - Phó tư lệnh, trưởng ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu trình bày. Tiếp đó, các huyện Kỳ Sơn, Hướng Hóa, Can Lộc; các tỉnh Thái Bình, Gia Lai, Hà Giang, Tây Ninh, Hà Tây, Bắc Giang, Trà Vinh, Thừa Thiên - Huế, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Quảng Trị lần lượt trình bày báo cáo đánh giá công tác xây dựng cơ sở, xây dựng các vùng trọng điểm về quốc phòng - an ninh, sát tình hình, nêu rõ kết quả, kinh nghiệrn, những vấn đề đặt ra và giải pháp chỉ đạo xây dựng cơ sở tiếp theo. Đối với Quân khu 4, chủ trương của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu và lãnh đạo 6 tỉnh đặt vấn đề phát động thực hiện cuộc vận động xây dựng cơ sở xã, phường, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu (xây dựng xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu từ năm 1989, phát triển cụm trên các tuyến từ năm 1996) là đúng đắn, thể hiện sự chủ động về chiến lược trước yêu cầu mới, phù hợp quan điểm của Đảng về vai trò, vị trí chiến lược của xã, phường, cơ sở trong thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Sau một thời gian xây dựng cơ sở xã, phường, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, Quân khu rút ra 5 bài học kinh nghiệm nổi bật là: 1. Phải tạo được sự thống nhất cao giữa Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu với lãnh đạo, chính quyền địa phương về chủ trương xây dựng cơ sở xã, phường, thị trấn, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu và khẳng định được vị trí, vai trò của xã, phường, thị trấn, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu là nền tảng vững chắc của khu vực phòng thủ tỉnh, huyện trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. 2. Nắm vững vận hành đồng bộ cơ chế 02/BCT Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, quản lý, cơ quan quân sự, công an, biên phòng, các ban, ngành, đoàn thể làm tham mưu, phát động được phong trào quần chúng thực hiện là yếu tổ quyết định thắng lợi cuộc vận động xây dựng xã, phường, thị trấn, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trong những năm qua. 3. Nêu cao trách nhiệm, vai trò của Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở các cấp, Ban xây dựng cơ sở xã, phường, thị trấn, Ban điều hành cụm, các đội xây dựng cơ sở, các đoàn kinh tế - quốc phòng việc chỉ đạo, triển khai thực hiện ở cơ sở, tập trung chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết làm chuyển biến căn bản, vững chắc mặt yếu, khâu yếu, cơ sở yếu, địa bàn yếu là yếu tố có tính quyết định trong thực hiện nhiệm vụ của địa phương, trong đó có nhiệm vụ xây dựng cơ sở. 4. Lồng ghép các cuộc vận động của Trung ương, địa phương với thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở là yêu cầu cần thiết nhằm phát huy nội lực, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân vào thực hiện 5 nội dung cuộc vận động xây dựng xã, phường, thị trấn, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu đạt hiệu quả. 5. Thường xuyên coi trọng chỉ đạo sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn, xây dựng mô hình, điển hình phổ biến, nhân rộng thành phong trào chung. Từ thực tiễn của Quân khu 4 Bộ Quốc phòng đã giao nhiệm vụ cho Quân khu nghiên cứu, biên soạn đề tài: "Mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên các tuyến trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"1. Hội nghị khẳng định: Trong hơn 10 năm thực hiện Chỉ thị 58/TTg (ngày 12-5-1993) của Thủ tướng Chính phủ về "Tăng cường chỉ đạo xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới", bằng nhiều biện pháp và cách làm thích hợp, các địa phương đã tiến hành xây dựng cơ sở đạt kết quả rất thiết thực, đặc biệt là kinh nghiệm xây dựng cơ sở, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu của Quân khu 4. Về phương hướng nhiệm vụ trong những năm tới, Hội nghị nêu rõ: Tiếp tục xây dựng cơ sở theo mục tiêu Chỉ thị 58/TTg là ổn định về chính trị; phát triển về kinh tế - xã hội; cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; quốc phòng – an ninh vững; có nếp sống văn minh lành mạnh, góp phần làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình'' và sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống. Hội nghị đề ra một số giải pháp chính là: 1. Tiếp tục quán triệt và thực hiện các Nghị quyết của Đảng về thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là thực hiện cho được mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trước mắt tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện xây dựng cơ sở ở Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Bắc, Tây Quân khu 4 và các trọng điểm ở nội địa vững mạnh, đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. 2. Đổi mới quy mô tổ chức, nội dung, nâng cao chất lượng xây dựng cơ sở. Từ kinh nghiệm của Quân khu 4 và một số địa phương trên toàn quốc đã làm, Bộ Quốc phòng sẽ nghiên cứu chỉ đạo xây dựng các cụm xã quốc phòng - an ninh ở các vùng trọng điểm, then chốt trong khu vực phòng thủ huyện, tỉnh, thành phố, nơi tình hình an ninh trật tự phức tạp. Kết hợp xây dựng cụm xã về quốc phòng - an ninh với cụm kinh tế, văn hóa, xã hội để chủ động giải quyết mọi tình huống theo phương án tác chiến. 3. Tập trung xây dựng cơ sở về chính trị, xây dựng trận địa lòng dân vững chắc. 4. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh trên từng địa bàn, coi trọng các địa bàn trọng điểm gắn các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Trung ương với địa phương ở cơ sở, đến từng thôn, ấp, bản, làng, khối phố và mọi người dân. 5. Xây dựng dân quân tự vệ, dự bị động viên và cán bộ quân sự ở cơ sở, góp phần nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở. 6. Nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp vận hành theo cơ chế 02, vai trò tham mưu của các ban ngành, đoàn thể, trong đó cơ quan quân sự địa phương các cấp là cơ quan trung tâm chủ trì xây dựng các kế hoạch về công tác quốc phòng, quân sự dài hạn, ngắn hạn, hàng năm được bổ sung điều chế phù hợp đặc điểm tình hình làm cơ sở cho các ban, ngành xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh. ______________________________________________ 1. Đầu tháng 11 năm 2004. Hội đồng khoa học Bộ Quốc phòng do Trung tướng, Tiến sĩ Nguyễn Thế Trị - Giám đốc Học viện Quốc phòng - Chủ tịch Hội đồng chủ trì tổ chức nghiệm thu đề tài cấp Bộ này tại Quân khu 4. Hội đồng đánh giá đề tài đạt loại xuất sắc. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 02:42:22 pm Ngày 26-10-2004 Quân khu tổ chức hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị 56/CT của Thủ tướng Chính phủ về 15 năm (1989-2004) xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. Hội nghị đánh giá: Trong 15 năm qua, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu và lãnh đạo 6 tỉnh đã nỗ lực phấn đấu, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp tổ chức xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững chắc, tập trung 4 nội dung, lấy xây dựng xã phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu theo 5 mục tiêu làm nền tảng, đạt được những kết quả quan trọng tạo bước chuyển biến mới cả thế và lực trên địa bàn, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp của thế trận quốc phòng toàn dân gắn thế trận an ninh nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ động phòng chống chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, của các thế lực thù địch từ cơ sở, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống. Trong hoạt động của khu vực phòng thủ, Quân khu phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức nhiều đợt diễn tập thực nghiệm từ năm 1990 bước đầu gắn với diễn tập A2, A3, A4, kế hoạch C, tác chiến trị an, phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn... Các cuộc diễn tập ngày càng đổi mới nội dung, hình thức, chất lượng càng cao, nâng cao được nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, các ngành trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng tại cơ sở, năng lực vận hành cơ chế 02/BCT của lãnh đạo, chính quyền các cấp, công tác tham mưu và phối hợp chỉ đạo tổ chức thực hiện thống nhất của cơ quan quân sự, công an, biên phòng, các ban ngành đoàn thể, khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang địa phương và chủ lực trong khu vực phòng thủ1. Hội nghị đề ra mục tiêu giải pháp tiếp theo là tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Quân khu, đặc biệt Nghị quyết 08/BCT về an ninh quốc gia, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, hiệu lực quản lý điều hành của bộ máy chính quyền, trách nhiệm và tính chủ động của các cơ quan tham mưu, năng lực vận hành thường xuyên cơ chế 02/BCT trong xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững chắc. Tăng cường công tác giáo dục quốc phòng, giáo dục chấp hành pháp luật từ trên xuống cơ sở để nâng cao nhận thức, kinh nghiệm, ý thức cảnh giác cách mạng trong các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn dân xây dựng xã phường cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá mức độ hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội của các cấp, các ngành gắn với xem xét kết quả thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng - an ninh để đánh giá kết quả của lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương một cách toàn diện. Trong dịp này, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đề nghị Nhà nước xét tặng Huân chương Chiến công hạng nhất cho 8 tập thể, Huân chương Chiến công hạng ba cho 6 đồng chí đã có thành tích xuất sắc trong xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố2. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội, 15 năm ngày Hội quốc phòng toàn dân, Quân khu, các tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn, các đơn vị đều tổ chức gặp mặt các thế hệ "Bộ đội Cụ Hồ" qua các thời kỳ; thăm tặng quà các Bà mẹ Viẹt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, gia đình liệt sĩ, thương binh; dâng hương hoa viếng các liệt sĩ; tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành thể hiện truyền thống đấu tranh anh dũng, biểu dương lực lượng, sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, các lực lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sáng ngày 22-12-2004 Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức lễ kỷ niệm trọng thể 60 năm ngày thành lập Quân đội, 15 năm Ngày Hội quốc phòng toàn dân tại sân vận động Quân khu. Tại cuộc mít tinh đã diễn ra lễ duyệt binh diễu binh diễu hành của 46 khối đại diện cho lực lượng vũ trang Quân khu, các cựu chiến binh, học sinh, sinh viên; biểu diễn màn hát múa "Hịch non sông" của Đoàn nghệ thuật Quân khu; hát múa tập thể của hơn 600 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 Sư đoàn 324 thể hiện niềm tin đối với Đảng, Bác Hồ, truyền thống và sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, của quân và dân Quân khu 4 anh hùng. Cùng ngày 22-12-2004, Nhà nước đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho Trung úy liệt sĩ Và Bá Giải; tặng danh hiệu Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ đổi mới cho lực lượng vũ trang thị xã Đông Hà - Quảng Trị, X467 Cục Kỹ thuật Quân khu, Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh va Đồn biên phòng 551 thuộc Bộ đội Biên phòng Nghệ An. Các đơn vị được tặng cờ thưởng gồm cờ Thủ tướng Chính phủ: Lữ đoàn 414; cờ Bộ Quốc phòng: Cục Chính trị, Sư đoàn 324, Bộ chỉ huy quân sự Quảng Trị; cờ Bộ tư lệnh Quân khu: Trung đoàn 3 Sư đoàn 324, Trung đoàn 206, Trung đoàn 80, Lữ đoàn 16, Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hóa, Bộ chỉ huy quân sự huyện Cẩm Thủy, thành phố Vinh, huyện Cẩm Xuyên, huyện Bố Trạch, huyện Phong Điền, huyện Kỳ Sơn, Đoàn kinh tế - quốc phòng 92, X467. ____________________________________________ 1. Quân khu đã tổ chức 19 cuộc diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh; 285 cuộc diễn tập huyện, thị, thành; 7.285 cuộc diễn tập cấp xã, phường, cơ sở. 2. Tám tập thể: lực lượng vũ trang Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Cục Chính trị, Bộ Tham mưu Quân khu. Sáu đồng chí gồm: Trịnh Trọng Quyền - Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa; Phạm Minh Đoan - Phó Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa; Lê Doãn Hợp - Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An; Nguyễn Thế Trung - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An; Đặng Duy Báu - Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh; Hồ Xuân Mãn - Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 02:45:09 pm * * * Năm 2005, năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đất nước và dân tộc ta, bởi có những ngày kỷ niệm lớn1, năm của những nhiệm vụ lớn; đồng thời là năm kết thúc thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2001-2005, hoàn thành Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần tốt nhất cho đất nước phát triển trong giai đoạn tiếp theo. Những hoạt động sâu rộng của quân và dân Quân khu dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Quân đội có ý nghĩa giáo dục chính trị sâu sắc và hành động thiết thực tăng thêm thế và động lực mới để tập trung thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân khu năm 2005. Cuối năm 2004, lực lượng vũ trang Quân khu vinh dự được đón Chủ tịch nước Trần Đức Lương đến thăm và làm việc. Đồng chí Chủ tịch nước biểu dương những thành tích của lực lượng vũ trang Quân khu thời gian qua, đặc biệt là trong năm 2004 trên các mặt; đồng thời nêu rõ vị trí, nhiệm vụ của Quân khu - một địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước; yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu ngày càng vững mạnh, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả đối với bạn Lào, luôn luôn xứng danh "Bộ đội Cụ Hồ" trên quê hương Bác Hồ kính yêu. Ngay sau Hội nghị quân chính Quân khu và Hội nghị liên tịch với lãnh đạo chính quyền, các ban ngành đoàn thể 6 tỉnh phối hợp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng năm 2005, Quân khu và các địa phương thống nhất chỉ đạo xây dựng, thông qua kế hoạch của các cấp, tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng với tinh thần và khí thế chung của quân và dân cả nước, xác định rõ gắn chặt việc hoàn thành kế hoạch nhiệm vụ quốc phòng - an ninh với kế hoạch nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm (2001 -2005)2. Những tháng đầu năm 2005, các đơn vị, địa phương tổ chức chặt chẽ nắm tình hình, quản lý địa bàn và âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, nhất là tuyến biên giới phía tây, các địa bàn trọng điểm A2, dự kiến những tình huống và soát xét triển khai các phương án xử trí bảo đảm sẵn sàng chiến đấu. Các cơ quan Quân khu, Bộ chỉ huy quân sự, Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An, Thanh Hóa đã cùng Bộ Tổng Tham mưu khảo sát tình hình, kiểm tra đường biên và các cột mốc, những diễn biến về hoạt động di dịch cư, móc nối xâm nhập. Trên cơ sở đó, Quân khu kịp thời bổ sung hoàn chỉnh và thông qua kế hoạch hoạt động tổng hợp biên giới phía tây, chỉ đạo phối hợp với các lực lượng công an, biên phòng, các đoàn kinh tế - quốc phòng, Công ty hợp tác kinh tế, các tổ đội công tác cơ sở, cơ quan quân sự tỉnh, huyện có chung biên giới với bạn chủ động trao đổi nắm chắc tình hình, xử lý hiệu quả những vấn đề nảy sinh phức tạp, không để kẻ địch tạo cớ can thiệp. Trong công tác thiết bị chiến trường, Quân khu tiếp tục xây dựng sở chỉ huy cơ bản, chốt chiến dịch Q, công trình chiến đấu trọng điểm một số đồn biên phòng. Trước đó, Quân khu xây dựng xong 2 cầu treo ở Mường Xén - Nghệ An và Mường Lát - Thanh Hoá do Bộ Quốc phòng tặng 2 huyện miền núi, dài 240m. Bộ chỉ huy quân sự Quảng Trị xây dựng đường cơ động ven biển Cửa Việt – Cửa Tùng dài 14,6km tạo thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội và tạo hệ thống cơ động liên hoàn hướng đông Quảng Trị. Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên Huế triển khai dự án đường cơ động quốc phòng - kinh tế Điền Hương - Quảng Ngạn chống chia cắt, tạo hành lang liên hoàn bảo vệ vùng biển Phong Điền - Phú Lộc theo kế hoạch phòng thủ, thúc đẩy kinh tế bờ biển và phá Tam Giang. Tỉnh Nghệ An đẩy nhanh thi công tuyến đường Tương Dương - Quỳ Hợp (nối đường 7 với đường 48) dài 107km có ý nghĩa lớn kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh trên địa bàn chiến lược phía tây. Công ty Hợp tác kinh tế hoạt động cả mùa mưa mùa khô mở đường từ A Đớt - A Lưới nối với Kà Lùm tỉnh Xê Kông (Nam Lào) dài hơn 125km. Trước đó, cuối năm 2004, tại huyện Như Xuân (Thanh Hóa), Nhà nước cũng tổ chức khởi công xây dựng giai đoạn 2 Đường Hồ Chí Minh, mở đầu hình thành toàn tuyến đường chiến lược từ đầu nguồn Pắc Pó (Cao Bằng) tới đất mũi Cà Mau qua địa bàn cả 6 tỉnh trong Quân khu. _____________________________________________ 1. Các ngày kỷ niệm lớn: 75 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3-2; 30 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam 30-4; 115 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19-5; 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9. Ở Quân khu 4 còn có: 30 năm giải phóng hoàn toàn Trị Thiên Huế 26-3; 60 năm ngày truyền thống Quân khu 15-10. 2. Các tỉnh trong Quân khu triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 37 (ngày 1-7-2004) và Nghị quyết 39 (ngày 16-8-2004) của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng, vùng trung du, miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung Bộ đến năm 2010. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 02:48:27 pm Tháng 1 năm 2005, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức lớp tập huấn quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các mặt công tác chuyên ngành1, tập trung khâu cơ bản là bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về nhận thức quan điểm trách nhiệm nội dung, biện pháp và năng lực tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trong năm 2005 đã được Nghị quyết Đảng ủy Quân khu xác định là: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang Quân khu. Tập trung đầu tư xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc trên cơ sở nâng cao chất lượng chiều sâu xây dựng cơ sở xã, phường, thị trấn, cụm, tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu; nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu, đáp ứng tình hình mới, bảo đảm luôn luôn kiên định vững vàng về chính trị, có khả năng và trình độ sẵn sàng chiến đấu cao, chủ động đối phó thắng lợi các tình huống, thực sự là lực lượng nòng cốt chiến đấu trung thành của Đảng, của nhân dân. Xây dựng Đảng bộ Quân khu vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ thành công Đại hội Đảng nhiệm kỳ các cấp và tổ chức tốt Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ VIII2. Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đặt rõ công tác lãnh đạo, chỉ huy điều hành, tổ chức thực hiện của tất cả các đơn vị, địa phương, của đội ngũ cán bộ các cấp phải lấy việc hoàn thành các nhiệm vụ của Đại hội Đảng cấp mình và nhiệm vụ quân sự - quốc phòng năm 2005 được xác định làm nội dung quan trọng nhất, đúng như tư tưởng chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 11 (khóa IX)3, và phát biểu của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh bế mạc Hội nghị: "Không một Đảng bộ nào, cấp nào được lấy lý do chuẩn bị tiến hành Đại hội Đảng bộ mà lơi lỏng các nhiệm vụ trước mắt, cả về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và các lĩnh vực khác. Phải coi việc tiến hành Đại hội Đảng các cấp là một cơ hội, một động lực để thúc đẩy các nhiệm vụ trước mắt, và lấy kết quả thực hiện các nhiệm vụ này để góp phần bảo đảm thành công của Đại hội các cấp cũng như Đại hội toàn quốc của Đảng"4. Cùng với việc mở các lớp tập huấn cán bộ, Trường Quân sự Quân khu tổ chức bế giảng cho 964 học viên tốt nghiệp bổ sung về đơn vị cơ sở gồm cán bộ đào tạo chuyển loại phó đại đội trưởng, trợ lý quân sự địa phương, hạ sĩ quan chỉ huy, một số nhân viên chuyên môn kỹ thuật, có 75,75% khá giỏi; đồng thời mở tiếp lớp trung đội trưởng ngắn hạn. Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An chọn trong số ra quân, giữ lại đào tạo nguồn cán bộ vùng sâu vùng xa khóa 4 với 39 học viên thuộc các dân tộc Thái, Thổ, Thanh, Khơ Mú, H’Mông, Kinh bổ sung cho các huyện miền núi. Trường dạy nghề số 4 mở 3 lớp dạy nghề dài hạn cho 182 bộ đội xuất ngũ, tư vấn việc làm cho 3.410 lượt quân nhân xuất ngũ. Với ý nghĩa đặc biệt trong hai năm 2004-2005 kỷ niệm những ngày lịch sử lớn của đất nước, của Quân khu và địa phương, đơn vị, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo tổ chức cụ thể nhiệm vụ quy tập hài cốt các liệt sĩ ở Lào về nước. Sau hội nghị Ban công tác đặc biệt của Chính phủ họp tại Quân khu 4 (8-2004), đội quy tập thuộc Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh triển khai kế hoạch mùa khô 2004-2005, trong đó đặc biệt chú trọng công tác lãnh đạo, tổ chức chỉ huy chặt chẽ việc tìm kiếm cất bốc đưa về nước được 823 hài cốt liệt sĩ. Lãnh đạo, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang các tỉnh cùng đoàn đại biểu các tỉnh bạn Lào tổ chức lễ an táng trang nghiêm trọng thể tại nghĩa trang liệt sĩ Hàm Rồng (Thanh Hoá), Anh Sơn (Nghệ An), Nầm (Hà Tĩnh), Đồng Lê (Quảng Bình), Đường 9 (Quảng Trị) và thành phố Huế. Trong thời gian này, đoàn Bộ Quốc phòng Lào, do Trung tướng Đuông Chay Phi Chít - Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Bộ trưởng Quốc phòng Lào sang thăm nước ta và được ủy quyền của Chính phủ Lào trao tặng 13 Huân chương Độc lập, 32 Huân chương Lao động cho tập thể, 284 Huân chương Hữu nghị, 36 Huy chương Hữu nghị cho các cá nhân thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam vì đã có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp giúp đỡ cách mạng cũng như Quân đội nhân dân Lào, ghi nhận, biểu dương những đóng góp to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lực lượng vũ trang Quân khu có một số đơn vị và đồng chí được tặng thưởng đợt này đánh dấu bước phát triển mới trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả đối với bạn Lào. Thực hiện kế hoạch bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, Quân khu tổ chức đoàn đi kiểm tra các hướng. Chiều ngày 26-1-2005, đoàn cán bộ của quân khu và Quân chủng Phòng không - Không quân gồm 16 đồng chí kiểm tra ở đảo Hòn Mê (Thanh Hóa) đã hy sinh khi làm nhiệm vụ. Ngay khi biết tin, Bộ Quốc phòng và Bộ tư lệnh Quân khu đã nỗ lực triển khai công tác cứu nạn và tìm mọi cách khắc phục hậu quả. Trong niềm thương tiếc vô hạn và những tình cảm, trách nhiệm sâu sắc nhất đối với các đồng chí hy sinh, với thân nhân gia đình các đồng chí, Bộ Quốc phòng, Quân khu, Quân chủng Phòng không - Không quân cùng các địa phương trực tiếp tổ chức lực lượng, các mặt bảo đảm giải quyết chu đáo. _____________________________________________ 1. Lớp tập huấn quân sự gồm 200 cán bộ tại Sư đoàn 968; tập huấn công tác đảng, công tác chính trị có 239 cán bộ. 2. Nghị quyết 196/NQ-ĐU của Đảng ủy Quân khu về nhiệm vụ quân sự - quốc phòng năm 2005. 3. Hội nghị Trung ương 11 (khóa IX) từ ngày 17 đến 25-1-2005 về chuẩn bị Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng vào quý II-2006. 4. Báo Nhân Dân số 18075 ngày 26-1-2005, tr.3. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 02:51:09 pm Ngày 27-1-2005, Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng ra thông báo: "Đoàn cán bộ Quân sự cấp cao Quân khu 4 và Quân chủng Phòng không - Không quân, do đồng chí Trung tướng Trương Đình Thanh - Tư lệnh Quân khu 4 làm trưởng đoàn trên đường đi kiểm tra nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị trong Quân khu bị tai nạn máy bay đã hy sinh hồi 15 giờ 45 phút ngày 26 tháng 1 năm 2005 tại đảo Hòn Mê cùng 15 thành viên trong đoàn1. Đây là một tổn thất to lớn của Đảng, Nhà nước và quân đội ta. Để tỏ lòng thương tiếc các đồng chí đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định tổ chức lễ tang trọng thể với nghi thức lễ tang cán bộ cấp cao". Sáng ngày 29-1-2005, tại Hội trường Bộ tư lệnh Quân khu, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân khu 4 và lãnh đạo chính quyền các tỉnh tổ chức trọng thể lễ viếng, truy điệu và an táng các liệt sĩ. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, đồng chí Xỉ Xa Vạn Kẹo - Ủy viên Bộ Chính trị Đảng nhân dân cách mạng Lào, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Đại tướng Chu Huy Mân và nhiều tướng lĩnh, cán bộ cấp cao gửi vòng hoa đến viếng. Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm, Đại tướng Phạm Văn Trà - Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ trưởng Quốc phòng đến dự lễ tang. Thay mặt Đảng, Nhà nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm ghi sổ tang: "Vô cùng thương tiếc các đồng chí đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Xin chuyển đến gia đình các đồng chí lời chia buồn sâu sắc về mất mát to lớn này". Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh - Ủy viên Trung ương Đảng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban tổ chức lễ tang đọc điếu văn nêu rõ công lao của các đồng chí hy sinh, các đồng chí mất đi là tổn thất to lớn của Đảng, Nhà nước, quân đội, nhân dân và không có gì bù đắp nổi đối với gia đình, người thân. Suốt trên đường đoàn đưa tang các liệt sĩ đến Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Vinh, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Nghệ An, thành phố Vinh, người dân qua lại trong nỗi tiếc thương vô hạn đã kính cẩn nghiêng mình vĩnh biệt các đồng chí hy sinh; rất đông cán bộ, nhân dân đã cùng đoàn xe tang tiễn đưa các liệt sĩ hy sinh vì nhiệm vụ đến nơi an nghỉ cuối cùng. Trước tổn thất to lớn của Quân đội, đặc biệt đối với quân và dân Quân khu 4, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu2 tập trung lãnh đạo chỉ đạo công tác chính trị tư tưởng, tổ chức, chính sách; chỉ huy điều hành chặt chẽ, phát huy được sức mạnh và nỗ lực lớn của cơ quan, đơn vị nhanh chóng ổn định các mặt, thể hiện sự vững vàng trước thách thức mới, tiếp tục thực hiện các kế hoạch, nhiệm vụ đã xác định, bảo đảm chất lượng, trong đó có những phần việc của các đồng chí vừa hy sinh. Nhiệm vụ trọng tâm là: bảo đảm luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, giữ vững ổn định chính trị các địa bàn, triển khai kế hoạch nhiệm vụ quân sự, quốc phòng xuống đến cơ sở; chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp; giao nhận quân; tổ chức huấn luyện đợt 1; đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền giáo dục về Đảng, Bác Hồ, nhân dân và quân đội anh hùng, công tác chính sách; triển khai kế hoạch sản xuất xây dựng kinh tế. Toàn Quân khu, từ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu đến các đơn vị, địa phương quyết tâm thực hiện nhiệm vụ với ý chí và hành động "đoàn kết, sáng tạo, thần tốc, quyết thắng" trong năm 2005. Bộ tư lệnh Quân khu thường xuyên theo dõi chặt chẽ tình hình các hướng, nhất là công tác sẵn sàng chiến đấu của lực lượng cơ động, A2, A3, bộ đội biên phòng, các đảo. Trước đó, Bộ và Quân khu kiểm tra Sư đoàn 324, đặc biệt đánh giá khả năng và kịp thời bổ sung những vấn đề cần thiết về tính đồng bộ sẵn sàng chiến đấu theo phương án của đơn vị. Thiếu tướng Đoàn Sinh Hưởng - quyền Tư lệnh Quân khu và các cơ quan kiểm tra Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An, Lữ đoàn cao xạ 283, công binh 414, trực tiếp đến một số tiểu đoàn, phân đội, khẩu đội, Ban chỉ huy quân sự huyện xem xét đánh giá cụ thể và nêu rõ những việc cần sửa kịp thời. Tiểu đoàn cao xạ 14 Nguyễn Viết Xuân - đơn vị Anh hùng được đánh giá là đơn vị bảo đảm khả năng sẵn sàng chiến đấu cao nhất. _____________________________________________ 1. 15 thành viên trong đoàn: 1. Thiếu tướng Nguyễn Bá Tuấn - Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 4. 2. Đại tá Lê Hữu Phúc - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4. 3. Đại tá Trần Quang Lộc - Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu 4. 4. Đại tá Nguyễn Duy Hùng - Phó chỉ huy trưởng về Chính trị - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An. 5. Đại tá Nguyễn Đức Minh - Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu 4. 6. Đại tá Trần Hữu Kiểu - Trưởng phòng Tác chiến Quân khu 4. 7. Thượng tá Lương Trọng Sáng - Phó trưởng Phòng Cán bộ - Cục Chính trị - Quân khu 4. 8. Thượng tá Trần Anh Tuấn - Phó trưởng Phòng Chính sách - Cục Chính trị - Quân khu 4. 9. Thượng tá Trần Trung Triệu - Phó trung đoàn trườởng Quân huấn Trung đoàn 954 Sư đoàn 372, Quân chủng Phòng không - Không quân. 10. Trung tá Trương Quang Minh - Chủ nhiệm dẫn đường Trung đoàn 954, Sư đoàn 372, Quân chủng Phòng không - Không quân. 11. Trung tá Tô Bá Hòa - Phó trưởng ban Tác huấn, Phòng Tham mưu - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An. 12. Trung tá Hoàng Danh Cầm - Cán bộ Văn phòng Bộ tư lệnh Quân khu 4. 13. Thiếu tá Võ Văn Duyệt - Cán bộ Ban chính sách Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An. 14. Thuợng úy Nguyễn Thanh Tùng - Phóng viên Báo truyền hình Quân khu 4. 15. Trung úy Nguyễn Công Tiến - cơ giới trên không K32, Trung đoàn 954, Sư đoàn 372, Quân chủng Phòng không - Không quân. 2. Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu gồm các đồng chí: Trung tướng Phạm Hồng Minh - Bí thư Đảng ủy - Phó tư lệnh Chính trị Quân khu Thiếu tướng Đoàn Sinh Hưởng - quyền Tư lệnh Quân khu. Thiếu tướng Phạm Huy Chưởng - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy - Phó tư lệnh Quân khu. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Cường - Phó tư lệnh Quân khu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 02:55:05 pm Cùng với triển khai khẩn trương kế hoạch nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, các địa phương đã chỉ đạo tập trung thực hiện công tác quốc phòng như tuyển quân, xây dựng cơ sở bảo đảm ổn định tình hình các địa bàn, giáo dục quốc phòng gắn trong các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn, lễ hội truyền thống, văn hóa du lịch..., trong đó có kỷ niệm 30 năm giải phóng hoàn toàn phần còn lại của tỉnh Quảng Trị gồm thị xã Quảng Trị và huyện Hải Lăng (19-3); 30 năm giải phóng Thừa Thiên - Huế (26-3); 40 năm chiến thắng Hàm Rồng (3.4.1965 - 3.4.2005). Công tác tuyển quân đợt 1 được các địa phương tuyên truyền giáo dục, khám tuyển, chăm lo chính sách, nhất là chọn nguồn cán bộ cơ sở vùng sâu, vùng xa. Nhiều thanh niên ở Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Nghệ An... đã viết đơn tình nguyện gia nhập quân đội. 100% xã phường đều được giao chỉ tiêu nhiệm vụ, đạt kết quả cao cả về số lượng, chất lượng, bảo đảm bổ sung quân cho toàn quân và Quân khu một lớp chiến sĩ trẻ của thế hệ "Bộ đội Cụ Hồ" mới1. Tháng 2 năm 2005, Đảng ủy Quân khu tổ chức hội nghị triển khai Chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về tiến hành Đại hội Đảng các cấp và hướng dẫn kế hoạch triển khai Đại hội Đảng các cấp cho 27 Đảng bộ trực thuộc, lấy các Đảng bộ Lữ đoàn 414 công binh, Sư đoàn 324, Cục Kỹ thuật Quân khu và Bộ Chỉ huy quân sự Quảng Trị làm điểm2. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng bộ và lực lượng vũ trang Quân khu, thể hiện quyết tâm xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh toàn diện, cùng các địa phương xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân vững chắc, hoàn thành tốt nhất mọi nhiệm vụ trong năm kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống Quân khu (15.10.1945 - 15.10.2005)3 và Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VIII (11-2005). Mở đầu đợt sinh hoạt chính trị có ý nghĩa to lớn này, các Đảng bộ trong Quân khu với quá trình triển khai trước đó, đã tổ chức kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 115 ngày sinh của Người, trong đó đợt đầu tiên gồm 270 đồng chí nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Đảng 3/2, tăng sức mạnh mới cho các chi bộ, đơn vị cơ sở. Thường vụ Đảng ủy Quân khu chỉ đạo các Đảng bộ rút kinh nghiệm đợt đầu (chỉ mới đạt 89,40% kế hoạch) để chuyển đồng đều hơn nữa, bảo đảm kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh vào dịp 19-5 đạt chất lượng, tạo động lực mạnh mẽ trong đơn vị ngay khi bước vào mùa huấn luyện mới. Ngày 1-3-2005, các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức trọng thể lễ ra quân huấn luyện năm 2005. Bộ tư lệnh Quân khu, các cơ quan Quân khu, lãnh đạo cấp ủy, chính quyền và đông đảo nhân dân các địa phương đến dự, chỉ đạo và thăm hỏi, động viên bộ đội. Cơ quan Quân khu mở đầu mùa luyện quân trước do Đại tá Nguyễn Văn Học, Phụ trách Tham mưu trưởng Quân khu chủ trì đã đi kiểm tra các đơn vị, địa phương. Thiếu tướng Đoàn Sinh Hưởng - quyền Tư lệnh Quân khu dự lễ mở đầu năm huấn luyện tại Sư đoàn 324, trao cờ thưởng "Đơn vị huấn luyện giỏi năm 2004" của Bộ Quốc phòng tặng sư đoàn4. Năm 2005 là năm Sư đoàn 324 - đơn vị hai lần anh hùng tròn 50 năm (1.7.1955 - 1.7.2005). Bước vào huấn luyện, sư đoàn đã tập huấn cho gần 1.000 cán bộ các cấp, đặt rõ chỉ tiêu trên các mặt huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, công tác hậu cần - kỹ thuật, rèn luyện kỷ luật, nền nếp chính quy. Đồng chí quyền Tư lệnh Quân khu kiểm tra tình hình tuyến biên giới phía tây Nghệ An. Các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức huấn luyện gắn với mục tiêu hành động "Tháng Thanh niên" và đợt thi đua cao điểm trong toàn quân "50 năm ngày đêm thần tốc, quyết thắng" từ ngày 10-3 đến ngày 30-4, kỷ niệm 30 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc và 115 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; các địa phương gắn với tuyên truyền giáo dục 70 năm truyền thống dân quân tự vệ. Ngày 23-3, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức tọa đàm về truyền thống dân quân tự vệ - một lực lượng chiến lược trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng trên địa bàn Quân khu. Cuộc tọa đàm khẳng định những thành công xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hoạt động, những chiến công to lớn, đặc sắc của lực lượng dân quân tự vệ các địa phương trong Quân khu suốt 70 năm qua; nêu rõ những yêu cầu mới xây dựng lực lượng chiến lược dân quân tự vệ vững mạnh, trước hết là chất lượng chính trị, nâng cao hiệu quả hoạt động đáp ứng nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền và nhân dân ở địa phương, cơ sở theo đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương 8 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong dịp kỷ niệm 70 năm truyền thống dân quân tự vệ, tại xa Nậm Càn, huyện Kỳ Sơn, Và Tổng Khư - trung đội phó dân quân cơ động của xã, người dân tộc H’Mông đã nêu tấm gương sáng ngời bám dân, bám địa bàn bảo vệ vùng biên cương của Tổ quốc. Trưa ngày 24-3-2005, khi cùng bộ đội biên phòng Đồn 547 - Nghệ An truy lùng những đối tượng xâm nhập chống phá Và Tổng Khư đã anh dũng hy sinh. Gương hy sinh của Và Tổng Khư, người cán bộ gần 20 năm gắn bó với công tác xây dựng và hoạt động của lực lượng dân quân biên giới tạo động lực mới cho đồng bào H’Mông, quân dân Nghệ An ghi tiếp truyền thống vẻ vang của dân quân tự vệ trong công cuộc đổi mới. _____________________________________________ 1. Toàn Quân khu chuyển giao 10.255 quân, sức khỏe loại 1: 60,97%; văn hóa: đại học, cao đẳng 0,07%; trung học phổ thông 65,71%, trong đó ở Thừa Thiên - Huế gần 75%; đảng viên 5%; đoàn viên 95,28%; dân tộc ít người 11%. 2. Chỉ thị số 205/CT-TVĐU ngày 18-2-2005 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương. 3. Ngày 6-9-2004, Bộ lư lệnh Quân khu có Kế hoạch 1553/KH-TuH về tổ chức các hoạt động kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống lực lượng vũ trang Quân khu, trong đó có mục tiêu cụ thể là: xây dựng toàn Quân khu có 60 điển hình tiên tiến, báo công với Bác Hồ dịp lễ kỷ niệm ngày 15-10-2005. 4. Năm 2004, Quân khu tặng danh hiệu "đơn vị huấn luyện giỏi" cho 12 tiểu đoàn bộ binh và binh chủng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 02:58:57 pm Từ sau Hội nghị rút kinh nghiệm toàn quân về xây dựng xã phường cơ sở, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên các tuyến do Bộ tổ chức tại Quân khu và tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị 56/CT của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng tỉnh, thành thành khu vực phòng thủ vững chắc, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu chỉ đạo phát huy những kết quả, kinh nghiệm quý báu phát triển ở nhiều địa phương, đầu tư trọng điểm đối với xây dựng cơ sở vùng tôn giáo, tuyến biên giới, tập trung chỉ đạo đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động các đội công tác xây dựng cơ sở1. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Cường - Phó tư lệnh Quân khu, Trưởng ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu cùng các thành viên dự theo dõi triển khai kế hoạch hoạt động xây dựng cơ sở năm 2005 của nhiều địa phương. Các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Thừa Thiên - Huế chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng cơ sở vững mạnh, có chiều sâu và đồng bộ. Cả 6 tỉnh, 82/82 huyện, thị, thành và hầu hết các xã, phường, thị trấn triển khai kế hoạch xây dựng cơ sở2. Lãnh đạo, chính quyền và Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Hà Tĩnh trực tiếp làm việc với tất cả các huyện, thị, trong đó có cả một số cơ sở nổi bật như trưởng thôn công giáo toàn tòng, trưởng họ tộc, bản, xã, cụm, đồn biên phòng, tổ đội xây dựng cơ sở để rút kinh nghiệm chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng cơ sở năm 2005 tốt hơn. Đồn biên phòng 575 thuộc Bộ chỉ huy biên phòng Hà Tĩnh trong những năm qua đã đạt kết quả lớn trong xây dựng cơ sở làng Rào Tre của người Chứt ở Hương Khê, năm 2004 và những tháng đầu năm 2005 tiếp tục xây dựng mới bản Giàng của người Mã Liềng. Thành công của Đồn biên phòng 575 đã đóng góp kinh nghiệm thành công quý báu về xây dựng cơ sở làng bản vùng biên giới và thực hiện Chương trình quốc gia vì người nghèo, đặc biệt là "lo cho dân", bảo vệ "bảo tồn một tộc người có nguy cơ tuyệt chủng" trong cộng đồng dân tộc Việt Nam ta. Đồn biên phòng 597 Quảng Bình xây dựng xong dự án thủy điện - thủy lợi góp phần cung cấp cho 90 ha ruộng bậc thang, tạo chuyển đổi căn bản về tập tục sản xuất và năng suất, mở ra một "thời kỳ đồ điện" cho khoảng 2.000 đồng bào các dân tộc trong vùng, thực hiện tốt Chỉ thị 15 của Chính phủ3. Đoàn kinh tế - quốc phòng 337 gắn chặt với địa bàn, thực hiện "3 bám, 4 cùng, 5 xoá" trong công tác xây dựng cơ sở, trong 2 năm thực hiện được một số dự án của địa phương và Trung ương xây dựng được 4 cụm dân cư mới trên địa bàn chiến lược tây Quảng Trị. Đúng dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Đoàn đã bàn giao làng thanh niên lập nghiệp biên giới, làng định cư giúp nhân dân xoá đói giảm nghèo, ổn định đời sống trong dự án kinh tế - quốc phòng, hợp với lòng dân các dân tộc Hướng Hoá - Khe Sanh4. Đoàn 4 kinh tế - quốc phòng ở huyện Kỳ Sơn tổ chức thành công chế biến được hàng trăm tấn dong riềng mua trong dân, lo tạo đầu ra sản xuất tăng thu nhập cho đồng bào dân tộc. Trên địa bàn đầy dấu tích bom đạn, chất độc hoá học diôxin trong chiến tranh còn để lại, Đoàn 92 đến từng bản làng của đồng bào dân tộc Ka Tu, Pa Kô - những người mang họ của Bác Hồ ở huyện A Lưới hướng dẫn và cùng bà con sản xuất, chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A Roàng trong dịp kỳ niệm 30-4 đã nói: "Có bộ đội về dân mới làm ăn no ấm được, dân quý mến bộ đội lắm". Những kết quả trên đây gắn với các hoạt động của bộ đội biên phòng, các tổ đội xây dựng cơ sở tạo thêm thế và lực mới cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh trên địa bàn chiến lược phía tây Quân khu, bảo đảm chủ động đối phó với những diễn biến phức tạp. Tỉnh Thanh Hóa tổ chức Hội nghị chuyên đề về công tác năm tình hình, tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cơ sở chính trị địa bàn, kiểm soát bảo vệ biên giới phía tây. Hội nghị đánh giá công tác xây dựng cơ sở chính trị đã góp phần củng cố, ổn định vùng biên giới và đề ra một số biện pháp tiếp tục thực hiện thời gian tới. Công tác chỉ đạo xây dựng cơ sở của các địa phương trong Quân khu gắn với những hoạt động thiết thực kỷ niệm các ngày lễ lớn 2 năm (2004-2005) tiếp tục tạo được thế ổn định chính trị các địa bàn, củng cố được thế trận lòng dân - nền tảng của khu vực phòng thủ tỉnh, huyện. "Thế trận lòng dân là sức mạnh phòng thủ cơ bản nhất của từng cơ sở, địa phương và cả nước"5. _____________________________________________ 1. Điện của Ban chỉ đạo xây dụng cơ sở Quân khu số 137/CV ngày 16-2- 2005 gửi Bộ chỉ huy quân sự 6 tỉnh về chỉ đạo hoạt động của các đội công tác xây dựng cơ sở địa phương. 2. Cuối 2004, thị xã Đồng Hới trở thành thành phố Đồng Hới, như vậy trong Quân khu có 4 thành phố. Ngày 18 tháng 4, Quảng Trị thực hiện Nghị định của Chính phủ, thành lập huyện đảo Cồn Cỏ. Từ đây, Quan khu có 83 huyện thị thành. 3. Chỉ thị 15 của Chính phủ về "Tăng cường chỉ đạo, củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn biên giới". 4. Toàn quân hiện có 19 dự án khu kinh tế - quốc phòng, thực hiện mục tiêu đỡ đầu, đón nhận giúp xoá đói giảm nghèo cho hơn 100.000 hộ dân tại các vùng dự án. 5. Thủ tướng Phan Văn Khải phát biểu tại Hội nghị tổng kết của toàn quốc 15 năm xây dựng khu vực phòng thù tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ ở Hà Nội (28-2-2005). Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 05:22:07 pm Để bảo đảm lãnh đạo lực lượng vũ trang Quân khu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Cuối tháng 3 năm 2005, theo đề nghị của Đảng ủy Quân khu, Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương quyết định kiện toàn Ban chấp hành Đảng bộ Quân khu nhiệm kỳ 2001-2005 gồm: 1. Thiếu tướng Đoàn Sinh Hưởng - quyền Tư lệnh Quân khu. 2. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Cường - Phó tư lệnh Quân khu. 3. Đại tá Hoàng Xuân Viên - Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu. 4. Đại tá Hoàng Trọng Tình - Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu. 5. Đại tá Nguyễn Văn Học - Phụ trách Tham mưu trưởng Quân khu. 6. Đại tá Nguyễn Duy Cần - Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu. 7. Đại tá Trần Việt Tuấn - Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu. 8. Đại tá Phạm Bá Vinh - Phó Sư đoàn trưởng chính trị Sư đoàn 324. Đầu quý II, có 3 đồng chí được bổ sung vào Thường vụ Đảng ủy Quân khu: 1. Đoàn Sinh Hưởng - Ủy viên Thường vụ, Phó Bí thứ Đảng ủy Quân khu. 2. Hoàng Trọng Tình - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu. 3. Đại tá Mai Quang Phấn - Phó tư lệnh Chính trị Quân khu 1, được điều động về giữ chức Phó tư lệnh Chính trị Quân khu, bổ sung vào Đảng ủy Quân khu 4, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy1. Cùng thời gian này, 5 đồng chí được bổ nhiệm chức vụ mới: 1. Thiếu tướng Đoàn Sinh Hưởng - Tư lệnh Quân khu. 2. Đại tá Nguyễn Văn Học - Phó tư lệnh Quân khu. 3. Đại tá Nguyễn Đình Giang - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu. 4. Đại tá Hoàng Trọng Tình - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu. 5. Đại tá Nguyễn Duy Cần - Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu. Ở 6 tỉnh cũng có 4 đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Ủy viên Đảng ủy Quân khu thay đổi công tác là Trịnh Trọng Quyền (Thanh Hoá), Đặng Duy Báu (Hà Tĩnh), Đinh Hữu Cường (Quảng Bình), Vũ Trọng Kim (Quảng Trị). Các đồng chí đảm nhận cương vị mới Bí thư Tỉnh ủy, Ủy viên Đảng ủy Quân khu là Phan Văn Tích (Thanh Hoá), Trần Đình Đàn (Hà Tĩnh), Hà Hùng Cường (Quảng Bình), Nguyễn Viết Nên (Quảng Trị). Có thể nói, chưa lúc nào cấp lãnh đạo, chỉ huy Quân khu có sự thay đổi lớn như thời gian này, nhưng chỉ sau một thời gian đã được bổ sung đầy đủ, nhanh chóng ổn định, tiếp tục triển khai thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch 2005 đề ra. Từ cuối tháng 4 năm 2005, Thường vụ Đảng ủy Bộ tư lệnh Quân khu làm việc với các cơ quan và trực tiếp kiểm tra đơn vị địa phương đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng nhiệm kỳ 5 năm (2001-2005), dự kiến phương hướng nhiệm vụ 5 năm (2006-2010), chuẩn bị văn kiện công tác nhân sự cho Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VIII. Đồng thời, Quân khu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chặt chẽ nhiệm vụ thường xuyên với tinh thần "thần tốc quyết thắng", trước hết luôn luôn bảo đảm sẵn sàng chiến đấu trên các hướng, kịp thời rút kinh nghiệm việc phối hợp hiệp đồng hoạt động trên hướng trọng điểm trên tuyến biên giới phía tây; tổ chức tập huấn chuyển mạnh hơn nữa việc rèn luyện điều lệnh kỷ luật, chấp hành các chế độ nền nếp chính quy, nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 1. Nối tiếp những hoạt động thiết thực trong "Tháng Thanh niên", các lực lượng vũ trang Quân khu và các địa phương tiến hành nhiều nội dung sinh hoạt, giao lưu về truyền thống chiến đấu anh hùng, tôn vinh những đơn vị, địa phương, những tập thể, cá nhân, đồng bào, đồng chí có công vì Đảng, vì nước, vì dân, khẳng định những bài học lịch sử được nối tiếp phát triển vào trong công cuộc đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay2. Từ ngày 22 đến ngày 25 tháng 4, quân và dân 6 tỉnh trong Quân khu sôi động hoà cùng cuộc hành quân tiếp lửa truyền thống xuyên Việt "Vang mãi khúc quân hành" của hơn 600 đại biểu Cựu Chiến binh từ các tỉnh, thành phía bắc với những cuộc giao lưu, gặp gỡ những nhân chứng lịch sử, đi tới những vùng đất Khu 4 ghi dấu bao sự tích anh hùng trong kháng chiến như Hàm Rồng - Nam Ngạn, Vinh - Quảng trường Hồ Chí Minh - Nam Đàn - quê Bác, Đồng Lộc - Khe Giao, Sông Gianh - Hoàn Lão, Hiền Lương - Thành cổ Quảng Trị, Huế - Hải Vân - đường Hồ Chí Minh... Đến các tỉnh và Quân khu, các Cựu Chiến binh và lực lượng thanh niên - thế hệ kế tiếp đã trao và đón nhận cờ lưu niệm cho tuổi trẻ. Cũng trong cuộc hành quân này, đoàn đã nhận được sự đóng góp của các địa phương và Quân khu ủng hộ quỹ cho các nạn nhân chất độc màu da cam/điôxin3. ______________________________________________ 1. Đầu tháng 2-2005, Đảng ủy Quân khu (khối quân sự) gốm 6 đồng chí, khuyết 9 đồng chí; Thường vụ Đảng ủy Quân khu còn 1 đồng chí, thiếu 3 đồng chí; đến cuối tháng 3-2005 có 13 ủy viên Đảng ủy Quân khu (khối quân sự), 4 đồng chí ủy viên Thường vụ Đảng ủy. 2. Tháng Thanh niên 2005, tuổi trẻ lực lượng vũ trang Quân khu nối tiếp phong trào "Tuổi trẻ sáng tạo" từ năm 2004, có 3 đề tài, 25 sáng kiến, 2 cải tiến trong huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, các mặt công tác, được Bộ tư lệnh Quân khu trao giải thưởng Nguyễn Viết Xuân; hướng tới thi đua mới với chủ để "Mãi mãi xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trên quê hương Bác", xây dựng 60 chi đoàn tiêu biểu trong Quân khu thiết thực kỷ niệm 115 ngày sinh của Bác, 60 năm ngày thành lập nước, 60 năm ngày truyền thống lực lượng vũ trang Quân khu. 3. Đợt này, các lực lượng vũ trang Quân khu ủng hộ thêm 10 triệu đồng. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 05:22:44 pm Ngày 1-5-2005 tại cầu Hiền Lương lịch sử, Quảng Trị tổ chức "Ngày hội thống nhất non sông”, làm lễ thượng cờ và chào cờ Tổ quốc tái hiện cuộc hành trình và khát vọng của cả dân tộc, giang sơn thu về một mối, Nam - Bắc sum họp một nhà, cùng bước vào thời kỳ mới1. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 968 đã có những hoạt động sôi nổi trong ngày hội lịch sử này. Với tinh thần 30 năm ngày toàn thắng và "Ngày hội thống nhất non sông", quân và dân Quân khu 4 - nơi trực tiếp chịu nỗi đau chia cắt đất nước tổ chức các hoạt động thiết thực thể hiện rõ quyết tâm và hành động thực hiện lời của Thủ tướng Phan Văn Khải thay mặt Đảng, Nhà nước, Chính phủ nêu rõ tại lễ mít tinh trọng thể kỷ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử 30-4 tại Thủ đô Hà Nội (29-4-2005) là: "Đưa đất nước tiến kịp thời đại với ý chí mãnh liệt như ý chí giành độc lập, thống nhất... Ngày kỷ niệm 30-4 hàng năm phải là ngày hội chung của cả dân tộc, là dịp phát huy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần hoà hợp dân tộc, ý chí đoàn kết, thống nhất mọi người Việt Nam để xây dựng thành công một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh như Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ". Trong thời gian này, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội thảo Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945-2000), phản ánh quá trình 55 năm tổ chức sự lãnh đạo của Đảng bằng các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị qua các giai đoạn cách mạng, nhất là ở những thời điểm bước ngoặt, đi sâu vào công tác quân sự, quốc phòng địa phương, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp cho lực lượng vũ trang Quân khu xây dựng, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, trở thành lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Quân khu tiến hành tổng kết 20 năm công tác tư tưởng, lý luận thời kỳ đổi mới (1986-2005) trong lực lượng vũ trang, đánh giá khẳng định những phát triển mới về tư duy và hoạt động thực tiễn khá phong phú, sinh động trong xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đồng thời nêu rõ những mặt còn hạn chế cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa, tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tập trung xây dựng thống nhất theo quan điểm tư tưởng của Đảng, rèn luyện bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng trước mọi thách thức, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Quân khu, góp phần trực tiếp vào thắng lợi Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng. Công ty Hợp tác kinh tế của Quân khu sau 20 năm xây dựng, hoạt động, phát triển, đến năm 2005 chuyển đổi tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con có bước phát triển mới về sản xuất kinh doanh, và làm nhiệm vụ quốc tế đối với bạn Lào2, tiếp tục xứng đáng là đơn vị kinh tế hàng đầu của Quân khu trong xu thế mở cửa hội nhập, hợp tác. Công ty đã tập trung xây dựng phát triển tạo được thế đứng chân sản xuất kinh doanh trên đất bạn, góp phần xây dựng cơ sở chính trị trên các địa bàn trong 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của bạn3. Trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Đảng nhân dân cách mạng Lào (22.3.1955 - 22.3 2005) kỷ niệm 30 năm ngày toàn thắng 30-4 và 115 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5), Công ty xúc tiến nhanh tiến độ xây dựng giúp bạn một số hạng mục công trình của Học viện Quốc phòng Lào; khảo sát các dự án xây dựng 2 khu kinh tế - quốc phòng gồm 6 cụm bản thuộc các huyện: Mường Mộc tỉnh Xiêng Khoảng; Viêng Thoong tỉnh Bô Li Khăm Xay; Sầm Nưa, Mường Ét, Viêng Thoong tỉnh Hủa Phăn. Công ty tổ chức khai thác thạch cao xuất khẩu ở Khăm Muộn đạt hiệu quả cao. _____________________________________________ 1. Ngày 1-5-1972, ngày giải phóng Quảng Trị, cầu Hiền Lương nối liền, cờ Tổ quốc và cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tung bay trên hai cột cờ đầu cầu Hiền Lương, nam bắc sông Bến Hải. 2. Công ty Hợp tác kinh tế tên viết tắt là COECCO, hoạt động với 13 ngành nghề kinh doanh, có vốn điều lệ 107 tỷ đồng Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng quản trị ông Lê Đình Tứ; Tổng Giám đốc ông Nguyễn Thành Lê; Trưởng ban Kiểm soát ông Trương Đắc Châu. 3. Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng nhân dân cách mạng Lào, bạn đã tự trang trải được lương thực, năm 2004 GDP tăng 6,5%, vượt 0,3% so với kế hoạch. Đầu tư của Việt Nam vào Lào tăng 13% so với các năm trước. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 05:23:17 pm Sáng ngày 19-5-2005, cán bộ, chiến sĩ Quân khu vinh dự được đón Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đến thăm sau khi dự mít tinh kỷ niệm 115 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nghệ An. Tại Quân khu bộ, Thiếu tướng Đoàn Sinh Hưởng - Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu; Trung tướng Phạm Hồng Minh - Bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh Chính trị Quân khu và các đồng chí Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, toàn thể sĩ quan, chiến sĩ các cơ quan Quân khu đã nồng nhiệt đón chào đồng chí Tổng Bí thư đến thăm giữa lúc Quân khu đang đẩy mạnh các hoạt động tiến tới kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống. Thiếu tướng Đoàn Sinh Hưởng thay mặt Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu báo cáo với Tổng Bí thư và đoàn hoạt động của lực lượng vũ trang Quân khu. Thay mặt Đảng, Nhà nước, Đảng ủy Quân sự Trung ương, đồng chí Tổng Bí thư biểu dương những thành tích và tiến bộ của lực lượng vũ trang Quân khu đạt được thời gian qua. Tổng Bí thư nhấn mạnh: Quân khu 4 có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đối với khu vực miền Trung và cả nước. Sự chuyển biến, tiến bộ của lực lượng vũ trang Quân khu 4 về chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu sẽ góp phần quan trọng tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ chung của miền Trung và cả nước, mong rằng trong thời gian tới, Quân khu 4 tiếp tục có nhiều chủ trương biện pháp cụ thể nâng cao chất lượng và hiệu quả các mặt công tác, đạt nhiều thành tích to lớn và phát triển nhanh chóng, vững chắc hơn nữa. Tiếp đó đồng chí Tổng Bí thư thăm Đoàn 4 kinh tế - quốc phòng, Đồn biên phòng 543 và Sư đoàn 324. Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đoàn 4 kinh tế - quốc phòng1 và bà con dân tộc 2 xã trong vùng dự án Na Ngoi, Nậm Càn, Tổng Bí thư khen ngợi những kết quả ban đầu Đoàn 4 tạo được trong phát triển kinh tế, phối hợp với các lực lượng khác trên địa bàn xây dựng thế trận toàn dân giữ gìn an ninh biên giới, đồng thời tạo niềm tin là chỗ dựa vững chắc cho bà con các dân tộc ở các xã vùng cao. Đồng chí cũng nêu một số gợi ý cho Quân khu 4, Đoàn 4 trong phát triển mô hình của hai xã Na Ngoi, Nậm Càn trên địa bàn biên giới phía tây Quân khu. Tại Sư đoàn 324, Tổng Bí thư biểu dương những thành tích của sư đoàn - đơn vị 2 lần anh hùng và căn dặn: Là sư đoàn chủ lực cơ động, cán bộ, chiến sĩ sư đoàn cần phải nhận thức đúng vị trí và nhiệm vụ, thường xuyên nêu cao cảnh giác, nhạy bén phát hiện nắm chắc âm mưu thủ đoạn của địch, luôn luôn giữ thế chủ động tiến công, không để bị bất ngờ trong bất kỳ tình huống nào và phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu tốt, cơ động cao, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng xử lý đúng đắn có hiệu quả các tình huống phức tạp có thể xảy ra. Tổng Bí thư và đoàn dâng hương, hoa, ghi vào sổ vàng nhà tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ của sư đoàn2. Thực hiện lời căn dặn của đồng chí Tổng Bí thư, các lực lượng vũ trang Quân khu mở đợt thi đua sôi nổi lập thành tích chào mừng 60 năm Cách mạng tháng Tám thành công, 60 năm thành lập nước và 60 năm truyền thống Quân khu, tập trung thực hiện nhiều việc lớn với hiệu quả chất lượng ngày càng cao. Rút kinh nghiệm đợt đầu 3-2, trong đợt 2 kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh đúng dịp kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người, Đảng bộ Quân khu phấn đấu đạt chỉ tiêu trên 113%, tạo bước tiến mới cả số lượng và chất lượng đảng viên. Số chi bộ đại đội đủ quân có chi ủy từ 45% năm 2000, đến tháng 5 năm 2005 tăng lên gần 82%, riêng đại đội bộ binh chiến đấu có cấp ủy từ 24% lên 100%. Đảng ủy Quân khu đã thông qua dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VIII, đề án Đại hội Đảng 9/9 Đảng bộ cơ sở và các Đảng bộ làm điểm. Quá trình Đại hội Đảng các cấp được gắn chặt với lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2005. Ngành Hậu cần Quân khu sơ kết 5 năm (lần thứ 2) phong trào "Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy". Phong trào thi đua này đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào của các chuyên ngành, tạo chuyển biến tiến bộ đồng đều từ cơ quan đến đơn vị, hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ bảo đảm hậu cần đầy đủ, kịp thời các yêu cầu nhiệm vụ của Quân khu. Ngành Kỹ thuật tiếp tục thực hiện kế hoạch đầu tư chiều sâu công nghệ các xưởng, trạm; từng bước hoàn chỉnh chế độ công nghệ tất cả các cơ sở kỹ thuật theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. ______________________________________________ 1. Đầu năm 2004 trong chuyến thăm miền Tây Thanh Hoá, đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã đến thăm nói chuyện với Đoàn 5 kinh tế - quốc phòng ở huyện Mường Lát. 2. Nhà tưởng niệm hơn 11.000 anh hùng, liệt sĩ của sư đoàn là con em của 39 tỉnh, thành trong cả nước hy sinh trong kháng chiến, khởi công ngày 1-7-2003 và hoàn thành ngày 15-12-2004. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2024, 05:23:57 pm Tháng 5-2005 Quân khu chỉ đạo tổ chức rút kinh nghiệm đợt phối hợp hoạt động bảo vệ biên giới và xác định các chủ trương biện pháp xây dựng cơ sở vùng biên giới những năm tiếp theo. Bộ tư lệnh Quân khu và Bộ tư lệnh Biên phòng đã tổ chức hội nghị hiệp đồng thực hiện Quyết định 2512/QĐ-BQP (ngày 17-10-2001) và Hướng dẫn 42/HD-TM (ngày 15-1-2002). Hội nghị đánh giá trong 5 năm qua, việc phối hợp hoạt động giữa Bộ tư lệnh Quân khu với Bộ tư lệnh Biên phòng, trực tiếp là Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, huyện, thị biên giới (bộ và biển) với Bộ đội Biên phòng các cấp trên địa bàn Quân khu thực hiện đúng quy chế, nguyên tắc và nội dung đã xác định. Điểm nổi bật là phối hợp nắm và thống nhất đánh giá đúng tình hình 2 tuyến biên phòng, thực hiện chỉ đạo chỉ huy Bộ đội biên phòng làm nhiệm vụ phòng thủ tác chiến đáp ứng yêu cầu mới, gắn nhiệm vụ phòng thủ tác chiến bảo vệ biên giới với nhiệm vụ quân sự địa phương, xây dựng, diễn tập các khu vực phòng thủ, hoạt động xây dựng làng bản xã, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Cơ chế bảo đảm chỉ huy và sử dụng bộ đội biên phòng trong chiến đấu thực hiện thông suốt 3 cấp. Bộ đội Biên phòng chỉ huy lực lượng dân quân tự vệ phối hợp tuần tra, bảo vệ xây dựng biên giới hữu nghị giữa ta và bạn, góp phần phát triển mối quan hệ đặc biệt truyền thống với bạn Lào. Nhiệm vụ phối hợp hoạt động giữa Bộ tư lệnh Quân khu và Bộ tư lệnh Biên phòng trong thời gian tới được xác định: Đẩy mạnh thực hiện các nội dung đã quy định thống nhất, trong đó tập trung nghiên cứu tổ chức thực hiện chủ trương giúp bạn Lào xây dựng các cụm bản vững mạnh, tiến tới xây dựng khu vực biên giới hai nước thành các vùng căn cứ địa chiến lược bền vững về mọi mặt, xây dựng biên giới hữu nghị Việt - Lào ổn định phát triển và vững mạnh toàn diện. Cuối giai đoạn 1 huấn luyện, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức lớp tập huấn về nghệ thuật chiến dịch, đi sâu lý luận và thực hành tác chiến chiến dịch sát với sự phát triển mới, yêu cầu mới, phù hợp với vị trí nhiệm vụ địa bàn chiến lược quan trọng của Quân khu đối với miền Trung và cả nước. Nội dung tập huấn được gắn chặt với đợt diễn tập chỉ huy - cơ quan Quân khu đạt kết quả tốt, góp phần nâng cao năng lực công tác tham mưu tổ chức thực hiện của lãnh đạo, chỉ huy cấp chiến dịch trong tình hình mới. Trong tổ chức xây dựng lực lượng, Thường vụ Đảng ủy Quân khu ra Nghị quyết chuyên đề về công tác sĩ quan dự bị. Đây là nghị quyết chuyên sâu đầu tiên về nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý đào tạo sĩ quan dự bị, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của kế hoạch công tác động viên 5 năm (2006-2010). Tại Đại hội thi đua quyết thắng toàn quân lần thứ VII (6-2005), đoàn đại biểu của Quân khu được vinh dự trình bày một số báo cáo điển hình đã góp phần tích cực vào thành công Đại hội. Sau Đại hội, lực lượng vũ trang Quân khu tập trung nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ những tháng cuối năm 2005 và nhiệm kỳ Đại hội Đảng Quân khu lần thứ VII (2001-2005) trong đợt thi đua cao điểm "60 ngày hành động cách mạng, phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trên quê hương Bác" (15.8 - 15.10.2005). Cùng với những công trình lịch sử "Quân khu 4 - lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1975-2005", "Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945-2000)", Quân khu triển khai nhiều nội dung hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống như: Xây dựng một số Nhà tình nghĩa, Nhà đại đoàn kết; dựng phù điêu về những đặc trưng tiêu biểu nhất của lực lượng vũ trang 6 tỉnh và Nhà tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, trưng bày một số di vật nằm cùng phần mộ các anh hùng liệt sĩ tại Bảo tàng Quân khu; xuất bản tập truyện, ký, đĩa nhạc và bộ phim tài liệu về Quân khu 4 thời kỳ đổi mới; giao lưu giữa các tướng lĩnh, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Quân khu qua các thời kỳ với thế hệ trẻ, giao lưu với các nhạc sĩ có những sáng tác hay về vùng đất Khu 4 và giao lưu Hành trang người lính trong những năm đầu thế kỷ XXI. Kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống Quân khu là một hoạt động lớn, nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong năm 2005. Vì vậy, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu cùng các cơ quan đơn vị, địa phương đã và đang tích cực chủ động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nhằm làm cho lễ kỷ niệm ngày truyền thống Quân khu trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, ngày hội của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn Quân khu. Như vậy, trong những năm 1996-2005 lực lượng vũ trang và nhân dân Quân khu 4 đã nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tích, đánh dấu bước tiến mới trong những năm đầu của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Kế thừa và phát huy những thành quả, kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh cách mạng 30 năm (1945-1975) và xây dựng bảo vệ Tổ quốc, quân và dân Quân khu đã vượt lên mọi khó khăn thách thức, tiếp tục đổi mới toàn diện tạo được những bước tiến mới quan trọng. Trong những năm cuối thế kỷ XX, và đầu thế kỷ XXI. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đã cùng cấp ủy, chính quyền, các ngành, các đoàn thể 6 tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng vũ trang và nhân dân nhận thức sâu hơn đường lối quan điểm đổi mới của Đảng về hai nhiệm vụ chiến lược, nhận rõ tình hình, xác định rõ đối tượng, đối tác, âm mưu thủ đoạn "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, chủ động tích cực triển khai có chiều sâu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng từ Quân khu đến cơ sở. Sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, trước hết là bản lĩnh chính trị, trình độ và khả năng tác chiến được nâng lên, bảo đảm thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; cùng toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, giữ vững ổn định chính trị trong mọi tình huống. Quân khu và các địa phương tiếp tục sự thống nhất cao nhận thức quan điểm, chủ trương biện pháp nâng cao chất lượng cuộc vận động xây dựng cơ sở xã, phường, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên các tuyến theo 5 nội dung với những phát triển mới trong những năm đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó chú trọng đến các vùng trọng yếu, vùng sâu vùng xa. Đồng thời đổi mới công tác dân vận, trở về với cội nguồn tham gia xây dựng cơ sở địa phương, nêu nhiều tấm gương anh dũng hy sinh trong chiến đấu, cứu giúp dân trong lũ lụt, sáng ngời bản chất truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ". Đây chính là những nhân tố quyết định tạo ổn định chính trị từ cơ sở, là nền tảng của thế trận chiến tranh nhân dân, tạo cơ sở cho Quân khu và các địa phương chủ động phòng ngừa, xử lý có hiệu quả một số vấn đề nhạy cảm, không để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, mâu thuẫn tranh chấp..., góp phần địa phương ổn định để phát triển. Việc xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng là bước phát triển mới của Quân khu, góp phần khẳng định được hiệu quả thiết thực về chính trị, quốc phòng an ninh, kinh tế - xã hội tạo thế chủ động trên các địa bàn chiến lược, đáp ứng đúng yêu cầu về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đóng góp trực tiếp thực hiện Chương trình 135 xoá đói giảm nghèo, xây dựng phát triển đời sống của nhân dân các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng. Trong nhiệm vụ quốc tế, lực lượng vũ trang Quân khu luôn luôn là một lực lượng nòng cốt giữ mối quan hệ đặc biệt truyền thống giữa quân đội ta với bạn Lào, thể hiện bước phát triển kế tiếp gắn bó mẫu mực thủy chung liên tục và bền vững giữa hai nước Việt - Lào trong đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế. Việc thực hiện chức năng lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang và quản lý Nhà nước về quân sự - quốc phòng của Quân khu có những sáng tạo và phát triển phong phú trong thực tiễn, tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng trước những thách thức quyết liệt và đầy biến động khó lường. Thế và lực của nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn Quân khu được củng cố và phát triển, kết hợp chặt chẽ giữa thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân, giữa kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh - đối ngoại, quốc phòng - an ninh - đối ngoại với kinh tế - xã hội, góp phần cùng toàn dân, toàn quân chiến thắng mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc sự ổn định và phát triển của Quân khu, của đất nước bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2024, 12:53:43 pm KẾT LUẬN Với Đại thắng mùa xuân 1975 đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân ta đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thống nhất Tổ quốc. Cùng với quân dân cả nước, quân và dân Quân khu 4 chuyển sang một thời kỳ lịch sử mới - Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, có nhiều thuận lợi rất cơ bản nhưng cũng có nhiều khó khăn phức tạp mới. Đó là hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề phải khẩn trương giải quyết trên cả hai vùng nam, bắc Quân khu; phải đối phó với kế hoạch "hậu chiến", chính sách cấm vận kinh tế và phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Ngoài ra, lũ lụt hạn hán xảy ra liên tiếp trên địa bàn Quân khu, vốn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu chậm phát triển lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Những khó khăn, thử thách tưởng chừng không thể vượt qua nổi. Dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng trực tiếp là Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, quân và dân Quân khu 4 kiên định vững vàng, phát huy truyền thống yêu nước, giữ vững lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với đường lối đổi mới của Đảng, nêu cao tinh thần tự lực tự cường, vượt mọi khó khăn, chủ động sáng tạo, hoàn thành mọi nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho trong tình hình mới. Với sự nhạy bén về chính trị, trong khi quân ta đang mở đợt tiến công cuối cùng vào Sài Gòn - Gia Định (ngày 29 và 30-4-1975), Quân khu ủy họp nhận định: Chiến tranh giải phóng kết thúc thắng lợi vẻ vang, nhưng nhiệm vụ cách mạng còn tiếp tục. Chúng ta có những thuận lợi cực kỳ to lớn, đồng thời cũng có những khó khăn phức tạp mới. Quân khu ủy xác định: phải bám sát yêu cầu phía trước, chuẩn bị sẵn sàng về tư tưởng và tổ chức, chấp hành mọi yêu cầu của miền Nam, cũng như mọi nhiệm vụ mà Quân ủy Trung ương giao cho. Tư tưởng chỉ đạo toàn quân khu là: tiếp tục quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, phát huy tinh thần làm chủ, kiên quyết làm tròn mọi nhiệm vụ trong tình hình mới. Chiến tranh kết thúc, hòa bình lập lại trên cả nước nhưng trên địa bàn Quân khu "hòa bình chưa hoàn toàn", Quân khu 4 phải bắt tay ngay tiến quân vào Mặt trận mới: khắc phục hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề ở cả hai vùng nam, bắc, huy động lực lượng công binh 3 thứ quân cùng nhân dân mở nhiều chiến dịch rà phá bom mìn chất nổ - một nhiệm vụ không kém phần gay go quyết liệt phải đổ máu hy sinh (lực lượng vũ trang hy sinh và bị thương hơn 100 đồng chí, nhân dân bị thương vong gần 200 người) để giải phóng đất đai, bảo đảm an toàn cho nhân dân sản xuất làm ăn, ổn định đời sống. Việc khắc phục hậu quả chiến tranh ở 2 vùng nam, bắc Quân khu có yêu cầu và tính chất khác nhau. Ở phía nam, vùng mới giải phóng Trị - Thiên, là vấn đề chính trị, thực chất là tiếp tục cuộc chiến đấu xóa bỏ triệt để tàn dư chế độ cũ, truy quét tàn binh và những phần tử nguy hiểm trong các đảng phái phản động, thiết lập chính quyền cách mạng; tuyên truyền giáo dục nhân dân vùng mới giải phóng hiểu, tin và ủng hộ cách mạng, lập lại an ninh trật tự, xây dựng cuộc sống mới. Ở phía bắc Quân khu phải khẩn trương rà phá bom mìn thủy lôi, san lấp hố bom, khôi phục thủy lợi, giao thông, khôi phục và đẩy mạnh sản xuất, thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976-1980). Ngay sau khi chuyển qua thời bình, Quân khu đã phối hợp với các địa phương giải quyết một khối lượng lớn về công tác chính sách: cho ra quân một số lượng lớn, giải quyết mất tin, mất tích, quy tập hàng vạn hài cốt liệt sĩ, thu dung và điều dưỡng hàng vạn thương binh, bệnh binh ở các chiến trường trong cả nước và chiến trường nước bạn, góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, tạo điều kiện để Quân khu bước vào thời kỳ xây dựng trong giai đoạn mới. Tiếp tục thực hiện chủ trương của Trung ương hoàn thành nhiệm vụ thống nhất Bắc - Nam, năm 1976, trên địa bàn Quân khu 4 đã diễn ra 2 sự kiện lớn: Một là hợp nhất Quân khu Trị - Thiên và Quân khu 4 thành Quân khu 4, góp phần tăng thêm sức mạnh về tư tưởng và tổ chức, truyền thống và kinh nghiệm, đưa Quân khu 4 trở thành địa bàn chiến lược của miền Trung và cả nước. Hai là, Quân khu 4 được giao nhiệm vụ khôi phục đường sắt Thống Nhất Bắc- Nam đã hoàn thành đoạn Minh Cầm - Tiên An dài 144km với hệ thống hoàn chỉnh 12 khu nhà ga và mạng lưới thông tin, đúng dịp khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, thể hiện nguyện vọng thiết tha thống nhất Bắc - Nam của lực lượng vũ trang Quân khu 4. Chiến tranh mới kết thúc, hòa bình chưa được bao lâu, lực lượng vũ trang Quân khu lại cùng quân và dân cả nước tiếp tục cầm súng kịp thời chi viện và trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới, phía Tây Nam và biên giới phía Bắc. Sư đoàn 341, Tiểu đoàn 31 đặc công và một số đơn vị khác của lực lượng vũ trang Quân khu 4 cùng các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam theo yêu cầu của lực lượng yêu nước và nhân dân Campuchia vượt mọi khó khăn, gian khổ hy sinh, tiến công tiêu diệt tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri, loại trừ họa diệt chủng, đưa đất nước Chùa Tháp hồi sinh, bảo vệ biên giới phía Tây Nam Tổ quốc, khôi phục tình hữu nghị truyền thống Việt Nam - Campuchia. Tiếp đó, Sư đoàn 337 thay mặt quân và dân Quân khu 4, hành quân thần tốc từ quê hương Bác Hồ lên vùng biên giới, cùng quân và dân địa phương dựng "cánh cung Khánh Khê" nổi tiếng, góp phần vào thắng lợi của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc. Trong khi đó, Trung đoàn phòng không 214 được tăng cường cho Đặc khu Quảng Ninh. Trong những năm đầu theo yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, Quân khu đã chi viện kịp thời cho các chiến trường 9 sư đoàn bộ binh, 7 trung đoàn, 9 tiểu đoàn, 1 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng, 4 tiểu đoàn tân binh gần 25 ngàn quân bằng 3,7 lần tổng quân số toàn Quân khu. Riêng năm 1979, Quân khu 4 tuyển quân rất lớn, gần 5 vạn quân, nhiều hơn lúc cao nhất thời đánh Mỹ. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Quân khu ủy xác định bổ sung hoàn chỉnh vị trí chiến lược của quân khu 4: là một hướng chiến lược quan trọng trực tiếp với đồng bằng Bắc Bộ, cùng nhân dân cách mạng Lào giữ vững biên giới phía Tây, bảo vệ vững chắc hành lang Nam - Bắc, chống chia cắt chiến lược. Quân khu 4 vừa đứng ở tuyến đầu Tổ quốc vừa là hậu phương chiến lược của cả nước. Quân khu cùng các địa phương tập trung khẩn trương tăng cường sức mạnh phòng thủ trên tuyến ven biển - đảo và tuyến biên giới. Tăng cường công sự, công trình bền vững cho các đảo, binh hỏa lực, bảo đảm cơ số dạn, lương thực, thuốc men, nước ngọt dự trữ đủ bám trụ đánh độc lập, dài ngày. Tổ chức diễn tập "Chiến dịch chống đổ bộ đường biển và động viên thời chiến". Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu cùng Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh tập trung thực hiện nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tăng cường công tác quân sự địa phương, xây dựng huyện thành pháo đài quân sự huyện mạnh gắn với tăng cường cấp huyện, tỉnh là địa bàn chiến lược hoàn chỉnh, quân khu là địa bàn quyết thắng. Từ xây dựng thí điểm ở huyện Quỳnh Lưu (Nghệ Tĩnh) Quân khu rút kinh nghiệm nhân rộng ra 3 tỉnh, 81 huyện, thị, thành thành pháo đài quân sự mạnh, làm cơ sở đẩy mạnh công tác quân sự địa phương trong toàn Quân khu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2024, 12:54:50 pm Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới, Quân khu cùng các địa phương tập trung xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, gắn kết quốc phòng - kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại, không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế - quốc phòng, xây dựng hậu phương chiến lược ngày càng vững mạnh. Nghị quyết Đảng ủy Quân khu quyết định "2 chuyển hướng": Chuyển mạnh về công tác quân sự địa phương, hướng mạnh về cơ sở, đó là một sự đổi mới tư duy quân sự có ý nghĩa chiến lược trong tình hình mới. Chấp hành Chỉ thị của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân khu điều chỉnh lại thế bố trí chiến lược theo phương án phòng thủ đất nước trong tình hình mới, bảo đảm có lực lượng tại chỗ mạnh, có lực lượng cơ động chất lượng cao. Xây dựng thế và lực mạnh, chủ động phòng chống, từng bước đánh bại "chiến tranh phá hoại nhiều mặt", âm mưu "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch trên địa bàn Quân khu. Quân khu tổng kết 10 năm xây dựng cụm tuyến xã phường, cơ sở (1989-2000) và 4 năm xây dựng cụm tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Cuộc vận động xây dựng đã đáp ứng yêu cầu cấp bách của cơ sở, hợp lòng dân, biến nhiều "điểm nóng" thành điểm sáng. 63/81 huyện, thị, thành không còn xã, phường yếu; 329/432 cụm tuyến hoạt động ngày càng hiệu quả, tạo động lực từ cơ sở đẩy mạnh công tác quân sự - quốc phòng - kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát huy truyền thống đoàn kết quốc tế trong chiến tranh giải phóng, Quân khu 4 tiếp tục làm nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào, cách mạng Campuchia, đặc biệt là với cách mạng Lào trong sáng, thủy chung theo tinh thần "giúp bạn là tự giúp mình" như lời dạy của Bác Hồ, coi Đông Dương là một chiến trường. Các đơn vị quân tình nguyện của Quân khu 4 cùng các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam đã sát cánh cùng lực lượng yêu nước và nhân dân Campuchia, tiêu diệt bọn diệt chủng, góp phần hồi sinh đất nước Chùa Tháp. Đối với cách mạng Lào, trong tình hình mới, Quân khu tiếp tục giúp bạn xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, bảo đảm giao thông vận tải thông suốt cả trong mùa mưa, chi viện đầy đủ kịp thời theo yêu cầu của bạn. Đặc biệt đã sát cánh cùng bạn, giúp đỡ bạn giành chính quyền trên cả nước năm 1975, tiến công tiêu diệt căn cứ Phu Bia, một trong 2 hang ổ lớn nhất của bọn phỉ Vàng Pao, phối hợp giúp đỡ bạn xây dựng khu căn cứ chiến lược Lạc Xao về kinh tế - quốc phòng, văn hóa, xã hội ở Trung Lào. Các sư đoàn 324, 968, Lữ đoàn 176, Tiểu đoàn 31... và các chuyên gia quân sự Quân khu 4 đã vượt qua mọi thiếu thốn, gian khổ, hy sinh chiến đấu hàng chục năm trên đất bạn, được Đảng, Nhà nước và nhân dân bạn ca ngợi: "giúp Lào, một lần nữa các lực lượng tình nguyện Việt Nam đã nêu tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng... tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, xả thân vì bạn". Nhiệm vụ xây dựng nâng cao chất lượng tổng hợp lực lượng vũ trang ba thứ quân lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, mà khâu trung tâm là huấn luyện đội ngũ cán bộ được đặt thành nhiệm vụ trung tâm thường xuyên. Xây dựng bộ đội thường trực chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; lực lượng dân quân tự vệ hùng hậu tin cậy về chính trị theo phương châm: ở đâu có dân ở đó có dân quân tự vệ; xây dựng lực lượng dự bị động viên theo hướng "ngụ binh ư nông", "sư đoàn trong dân", được đăng ký, quản lý chặt chẽ, huấn luyện và diễn tập. Thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm tra, sát hạch, thi cán bộ giỏi từ cấp đại đội, xã đội đến cấp sư đoàn, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Tổ chức các cuộc diễn tập với yêu cầu về quy mô khác nhau trên nền chiến tranh nhân dân trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thị, thành, có sự tham gia của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, các đồng chí chủ trì cấp ủy chính quyền, các đoàn thể nhân dân và một bộ phận nhân dân (diễn tập sơ tán) tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh phòng thủ của Quân khu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Quân khu và sự chỉ đạo của Tổng cục Chính trị, công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang quân khu được đặc biệt coi trọng, không ngừng nâng cao chất lượng. Tập trung xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, có chất lượng tổng hợp lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang quân khu. Công tác đảng, công tác chính trị ngày càng đi sâu vào quân sự - quốc phòng, công tác quân sự địa phương, hướng về tổ chức cơ sở Đảng, tạo khí thế hành động cách mạng sôi nổi toàn Quân khu, góp phần rất quan trọng trong xây dựng lực lượng vũ trang quân khu thành một lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu, là đội quân lao động sản xuất, đội quân công tác tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Thực hiện chức năng đội quân lao động sản xuất, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đã có nghị quyết và chỉ thị về 2 nhiệm vụ chính trị của lực lượng vũ trang quân khu trong thời kỳ mới: sẵn sàng chiến đấu và lao động sản xuất xây dựng kinh tế. Trong 30 năm qua, lực lượng vũ trang quân khu đã nêu cao tinh thần tự lực tự cường, cần cù và sáng tạo, lao động có kỷ luật, có năng suất cao, chất lượng, thực hiện khẩu hiệu "tự làm ra mà ăn, tự xây nhà mà ở, tự trồng cây thuốc mà chữa bệnh" để tự cải thiện đời sống bộ đội và giảm nhẹ đóng góp của nhân dân trong khi đất nước đang có nhiều khó khăn. Theo tinh thần đó, Quân khu chỉ đạo một bộ phận lực lượng trực tiếp tham gia xây dựng kinh tế bằng 3 mũi trọng tâm: Xây dựng khu kinh tế lâm - nông nghiệp miền Tây Thanh - Nghệ - Tĩnh, kết hợp kinh tế - quốc phòng. Xây dựng các căn cứ chiến lược của Quân khu và quốc gia; làm đường giao thông, thủy lợi, thủỵ điện; sản xuất vật liệu xây dựng, góp phần phát triển kinh tế địa phương, tăng tiềm lực của hậu phương lớn trong thời bình. Theo lệnh của Bộ Quốc phòng, Quân khu cử 5 sư đoàn và 2 trung đoàn vào Vũng Tàu tham gia xây dựng công trình dầu khí và làm kinh tế ở Tây Nguyên. Để tạo nguồn nhân lực - kỹ thuật cho nhiệm vụ xây dựng kinh tế, Quân khu thành lập 5 trường trung cấp kinh tế - kỹ thuật, 5 đoàn đi xây dựng 5 cụm kinh tế - quốc phòng trên các địa bàn chiến lược phía tây, cùng địa phương xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện chương trình trồng rừng, khuyến nông, khuyến lâm, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược cách mạng: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới, phát huy sức mạnh của toàn Đảng bộ, gắn bó chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và hệ thống chính trị 6 tỉnh trên địa bàn, Quân khu tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thị, thành thực sự vững mạnh. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng - an ninh với kinh tế - xã hội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng gắn với thế trận an ninh nhân dân. Đặc biệt coi trọng chất lượng xây dựng xã, phường, cụm tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng "thế trận lòng dân", thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, nhất là các địa bàn trọng yếu, căn cứ chiến lược phía tây Quân khu. Tranh thủ thời cơ, phát huy nội lực tập trung xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu cao, thực sự là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân đánh bại các âm mưu thủ đoạn "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, luôn luôn cảnh giác sẵn sàng đối phó thắng lợi với tình huống. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2024, 12:55:48 pm Trải qua 30 năm qua trong thời kỳ lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-2005), quân và dân Quân khu 4 đã trải qua nhiều khó khăn và thử thách, đổi mới và phát triển - một địa bàn có vị trí chiến lược hết sức quan trọng đối với miền Trung, cả nước và Nam Đông Dương, rất nhạy cảm về chính trị, luôn luôn cảnh giác cách mạng, nhận rõ kẻ thù, hiểu rõ nhiệm vụ, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao cho. Quân khu đã đạt những thành quả to lớn và toàn diện trong xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, làm nhiệm vụ quốc tế và xây dựng kinh tế - quốc phòng, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo thế và lực mới cho đất nước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trải qua 30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị trực tiếp là Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân khu 4 đã có sự trưởng thành nhiều mặt. Luôn luôn kiên định về chính trị, trung thành tuyệt đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, với Tổ quốc và nhân dân, với đường lối đổi mới, kiên quyết chống đa nguyên, đa đảng, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Luôn luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho. Đoàn kết nội bộ, trên dưới một lòng. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đoàn kết nhất trí cao, nêu cao trách nhiệm, kiên định vững vàng trong mọi tình huống, chấp hành triệt để mọi nhiệm vụ của cấp trên giao cho, chủ động, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ huy, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Các cơ quan Quân khu công tác tận tụy phục vụ đắc lực cho lãnh đạo và chỉ huy. Quân khu chủ động đoàn kết phối hợp chặt chẽ với Đảng bộ, chính quyền và hệ thống chính trị của các địa phương cùng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - kinh tế xã hội, xây dựng hậu phương chiến lược. Tuy nhiên, trong lãnh đạo, chỉ huy còn một số sơ hở, chưa nhạy bén, chủ động giáo dục giữ vững và phát huy bản chất truyền thống tốt đẹp của quân đội nhân dân Việt Nam, của lực lượng vũ trang Quân khu, để xảy ra hiện tượng tiêu cực (lơ là mất cảnh giác, giảm sút ý chí chiến đấu, vô kỷ luật, xảy ra nhiều vụ việc nghiêm trọng, vi phạm pháp luật...). Đoàn kết nội bộ ở một số đơn vị giảm sút kéo dài. Có thời kỳ phải tập trung nhiều chăm lo cho các đơn vị chủ lực cơ động thực hiện nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ quốc tế nên công tác quân sự địa phương và xây dựng lực lượng vũ trang địa phương có phần chưa coi trọng đúng mức. Đời sống cán bộ, chiến sĩ, hậu phương cán bộ (từ 1990 trở về trước) cũng chưa thật coi trọng. Trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật kinh tế và khoa học quản lý kinh tế còn bất cập so với nhiệm vụ tham gia làm kinh tế của Quân khu. Ngoài ra, việc thay đổi Tư lệnh Quân khu nhiều lần (từ năm 1976-1981 thay đổi 7 lần Tư lệnh), ảnh hưởng đến tính liên tục của lãnh đạo, chỉ huy và mối quan hệ phối hợp với địa phương. Tư lệnh kiêm Chính ủy hạn chế đến hiệu quả cả 2 chức trách, nhất là chức trách Tư lệnh. Từ thực tiễn xây dựng hoạt động của Quân khu trong 30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây: 1. Trong thời chiến cũng như thời bình, lãnh đạo, chỉ huy cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc tình hình nhiệm vụ, vị thế địa - chính trị, vị trí chiến lược của Quân khu 4 với cả nước, như đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn từng nói năm 1979: "Quân khu 4 mạnh là cả nước mạnh, Khu 4 còn là cả nước còn", thế vững Quân khu 4 tạo thế cho cả nước và bạn Lào. Trên cơ sở đó chủ động trong xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và làm nhiệm vụ quốc tế. 2. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tăng cường công tác khoa học công nghệ, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào lĩnh vực quân sự - quốc phòng, trong tất cả các mặt hoạt động của lực lượng vũ trang quân khu, triển khai rộng rãi công nghệ thông tin, tăng hàm lượng trí tuệ trong lãnh đạo, chỉ huy các cấp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quân sự - quốc phòng. 3. Trong điều kiện nước ta xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần nghiên cứu phương pháp tiếp cận mới phù hợp trong công tác quân sự địa phương, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, đặc biệt là xây dựng và động viên lực lượng dự bị. 4. Thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế cần có quy hoạch, kế hoạch dài hạn, trong tổng thể kế hoạch nhà nước và địa phương, tuân thủ các quy luật kinh tế khách quan (quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh và các quan điểm của Đảng: gắn xây dựng kinh tế với tiến bộ xã hội, kinh tế - quốc phòng). Phát triển mạnh mẽ mô hình cụm kinh tế - quốc phòng xây dựng các khu căn cứ chiến lược phía tây Quân khu. Các doanh nghiệp phải năng động, kinh doanh có lãi, chống lãng phí, tham ô, gian lận thương mại, không vi phạm pháp luật hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế và các chỉ tiêu quốc phòng, phấn đấu xây dựng thành doanh nghiệp kiểu mẫu. 5. Chủ trương xây dựng xã, phường, cơ sở, cụm tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu mà cốt lõi là xây dựng cơ sở chính trị, "trận địa lòng dân" làm nền tảng để xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thị, thành, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp thế trận an ninh nhân dân tăng cường sức mạnh phòng thủ, làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, của các thế lực thù địch bảo vệ vững chắc Tổ quốc. 30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một thời kỳ lịch sử kế thừa, phát huy thành tích, kinh nghiệm và truyền thống vẻ vang của dân tộc, đặc biệt là chiến tranh cách mạng 30 năm do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là thời kỳ đổi mới, sáng tạo và phát triển trong sự nghiệp quân sự - quốc phòng trên địa bàn Quân khu 4 tiếp tục ghi thêm những trang sử hào hùng mới của lực lượng vũ trang quân khu, khắc đậm bản chất và truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" trên quê hương Bác Hồ kính yêu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2024, 12:56:35 pm Cùng với thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã nối tiếp chặng đường lịch sử 60 năm Quân khu 4 xây dựng, trưởng thành, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và thắng lợi vẻ vang, hun đúc nên những truyền thống tốt đẹp của lực lượng vũ trang quân khu. 1. Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, quyết chiến và quyết thắng, biết đánh và biết thắng, luôn luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ. Là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện được xây dựng và chiến đấu trên quê hương của Bác Hồ vĩ đại, quê hương của Xô-viết Nghệ Tĩnh anh hùng, nên đã hun đúc cho lực lượng vũ trang quân khu 4 lòng trung với Đảng, hiếu với dân, ý chí quyết chiến quyết thắng, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao phó. 2. Tự lực tự cường, phát huy nội lực, khắc phục khó khăn, cần cù và dũng cảm, thông minh và sáng tạo, tìm mọi cách tạo ra thế mới, lực mới để giành thắng lợi trong mọi nhiệm vụ. Xuất thân từ nhân dân lao động, xây dựng và chiến đấu trên quê hương vốn có truyền thống cần cù dũng cảm, lại ở trên mảnh đất đời sống kinh tế còn khó khăn, thời tiết khắc nghiệt, thiên tai liên tiếp, một địa bàn dễ bị chia cắt chiến lược, lực lượng vũ trang Quân khu 4 nêu cao tinh thần tự lực tự cường, phát huy nội lực, dũng cảm mưu trí, chủ động giành thắng lợi, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. 3. Đoàn kết nội bộ, thương yêu nhau như ruột thịt, trên dưới một lòng, hiệp đồng lập công tập thể. Xây dựng củng cố, tăng cường đoàn kết nội bộ chặt chẽ, bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau như ruột thịt, giữa cán bộ và chiến sĩ, cấp trên và cấp dưới thành một khối thống nhất ý chí và hành động, góp phần nâng cao sức mạnh của từng người, từng đơn vị trong chiến đấu và công tác lập công tập thể, khắc đậm nét đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ" trên quê hương Bác. 4. Đoàn kết quân - dân, quân với dân một ý chí, gắn bó máu thịt với nhân dân, hậu phương - tiền tuyến đồng lòng chung sức, dốc sức chi viện tiền tuyến đánh thắng "vì cả nước, với cả nước". Vốn sinh ra từ nhân dân, do nhân dân nuôi dưỡng và chiến đấu vì dân, lực lượng vũ trang Quân khu 4 luôn luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, giữ vững quan điểm quân với dân một ý chí. Nhờ vậy, sức mạnh của lực lượng vũ trang Quân khu được phát huy cao độ, cả tiền tuyến và hậu phương đồng lòng chung sức, hậu phương Quân khu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ "vì cả nước, với cả nước" giành thắng lợi. 5. Đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, luôn luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế cao cả. Phát huy bản chất truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân khu 4 luôn luôn kết hợp giữa nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế, thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "giúp bạn là tự giúp mình", coi Đông Dương là một chiến trường, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ quốc tế với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia. Đặc biệt đối với bạn Lào, Quân khu 4 đã giúp đỡ ngay từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế, được bạn hết lòng tin yêu, khen ngợi. Qua thực tiễn 60 năm xây dựng và chiến đấu của Quân khu 4, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu: 1. Sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Đảng bộ Quân khu 4 và Đảng bộ các địa phương là nhân tố quyết định mọi thắng lợi trong xây dựng và chiến đấu. Đối với Quân khu 4, một địa bàn chiến lược, một hướng chiến lược rất quan trọng và là hậu phương chiến lược của cả nước, của Nam Đông Dương, thì vai trò và hiệu quả lãnh đạo của Đảng là hết sức quan trọng, là điều tiên quyết để giành thắng lợi. Vai trò và hiệu lực lãnh đạo của Đảng thể hiện sâu sắc ở sự nhất trí cao trong đoàn kết phối hợp chặt chẽ giữa Đảng bộ Quân khu và Đảng bộ các tỉnh, nêu cao trách nhiệm cùng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - kinh tế, xã hội thời chiến cũng như thời bình. Trong mọi tình huống phải luôn luôn coi trọng củng cố kiện toàn tổ chức, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng liên tục, toàn diện. Nắm vững khâu then chốt là xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh và đội ngũ cán bộ (trước hết là đội ngũ cán bộ chủ trì) có đủ phẩm chất và năng lực, kết hợp với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Xây dựng Đảng mạnh ở cấp chiến lược, chiến dịch và mạnh ở cấp chiến đấu, cấp cơ sở là bảo đảm chắc chắn cho mọi thành công. 2. Quán triệt sâu sắc, chấp hành triệt để và vận dụng sáng tạo linh hoạt đường lối chính trị, quân sự, quan điểm chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng vào điều kiện cụ thể của Quân khu, của từng khu vực, từng chiến trường, sáng tạo ra cách làm, cách đánh hay giành thắng lợi. Với địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, dễ bị chia cắt chiến lược, chiến trường ác liệt, nhiệm vụ nặng nề, vừa là hậu phương và là tiền tuyến, vừa làm nhiệm vụ dân tộc, vừa làm nhiệm vụ quốc tế do đó, cần nắm vững đường lối tư tưởng quân sự của Đảng, có phương thức, phương pháp tác chiến đúng, sáng tạo, linh hoạt, phướng pháp công tác hợp lý để tạo thế chủ động trong xây dựng và chiến đấu. Trong giai đoạn cách mạng mới, cần bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, trình độ năng lực, khoa học kỹ thuật quân sự cho đội ngũ cán bộ, mở rộng dân chủ quân sự, khuyến khích phát huy sáng kiến. Xây dựng tác phong công tác tích cực, chủ động, năng động sát thực tiễn, sát cơ sở và tính quyết đoán của người chỉ huy. 3. Nắm vững quan điểm "lấy dân làm gốc", thực sự tin vào dân, dựa chắc vào dân, phát động và tổ chức nhân dân phát huy truyền thống tốt đẹp của địa phương, tham gia xây dựng, chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước; đồng thời với huy động sức dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay phải ra sức thực hiện thắng lợi kế hoạch kinh tế - xã hội của Nhà nước, của địa phương, làm cho dân giàu, nước mạnh, giáo dục ý thức trách nhiệm quốc phòng toàn dân cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là lớp trẻ. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. 4. Đoàn kết phối hợp chặt chẽ giữa Đảng bộ Quân khu, lực lượng vũ trang quân khu với Đảng bộ, chính quyền và hệ thống chính trị các địa phương, với lực lượng Công an nhân dân và các lực lượng chức năng khác tạo sức mạnh tổng hợp để chiến thắng và hoàn thành mọi nhiệm vụ. Kinh nghiệm này đã được kiểm nghiệm thành công trong 30 năm chiến tranh cứu nước, cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, cần bồi dưỡng những yếu tố tạo thành sức mạnh tổng hợp, tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Quân khu với các địa phương, quy chế hóa, thể chế hóa mối quan hệ đó phù hợp với tình hình mới. 5. Muốn giành thắng lợi trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhất thiết phải có hậu phương chiến lược vững mạnh, gắn với hậu phương chiến lược quốc gia. Quân khu 4 là một địa bàn dài và hẹp, dễ bị chia cắt chiến lược, nên việc xây dựng hậu phương chiến lược Quân khu phải kết hợp với xây dựng hậu cứ ở các tỉnh, huyện, các chiến trường. Hướng chủ yếu là tập trung xây dựng các hậu cứ chiến lược phía tây Quân khu. Trong chiến tranh vũ khí công nghệ cao, hậu phương, tiền tuyến không rõ rệt, hình thành chiến trường "da báo", cài răng lược giữa địch và ta nơi chưa có chiến sự là hậu phương cho nơi có chiến sự. Vì vậy, ngay từ thời bình phải xây dựng tích lũy tiềm năng về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội trên cả 4 vùng đồng bằng nông thôn, ven biển, trung du miền núi, đô thị để làm tốt vai trò hậu phương, hậu cứ huy động cao nhất cho chiến tranh nếu xảy ra. 6. Với vị thế địa - chính trị đặc biệt với bạn Lào, Quân khu 4 phải sẵn sàng làm nhiệm vụ quốc tế khi bạn yêu cầu, đặc biệt là gắn bó đối với Trung - Hạ Lào. Đó vừa là nhiệm vụ quốc tế đặc biệt, vừa là nhiệm vụ quốc gia trực tiếp và lâu dài của quân và dân Quân khu 4. Do đó, cần giáo dục và huấn luyện lực lượng vũ trang quân khu cả 3 thứ quân (nhất là các đơn vị dự kiến là quân tình nguyện, bộ đội địa phương các huyện có biên giới chung với bạn) về nhiệm vụ quốc tế, về chiến - kỹ thuật chiến đấu ở chiến trường Trung - Hạ Lào, về phong tục tập quán, pháp luật, tiếng nói của bạn, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội - quốc phòng của bạn để chủ động đối phó thắng lợi với mọi tình huống. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2024, 12:57:02 pm * * * Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trực tiếp là sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân khu và Đảng bộ các địa phương, sự đoàn kết hiệp đồng tác chiến của các đơn vị trong toàn quân, sự giúp đỡ, ủng hộ của quân và dân cả nước, trên mảnh đất "địa linh nhân kiệt", quê hương của Bác Hồ kính yêu, kế thừa và phát huy khí phách hào hùng của Bà Triệu, truyền thống quật khởi của Xô-viết Nghệ Tĩnh anh hùng, tinh thần chiến đấu quật cường bất khuất của Bình Trị Thiên rực lửa, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang quân khu đã cùng nhân dân các địa phương, bằng mồ hôi và xương máu của mình xây nên lịch sử oanh liệt 60 năm Quân khu 4, lập nên nhiều thành tích to lớn, nhiều chiến công vang dội, góp phần xứng đáng vào chiến thắng vĩ đại của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Lịch sử 30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói riêng, lịch sử 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân khu 4 là lịch sử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng; là lịch sử đoàn kết đấu tranh của trên 9 triệu quân và dân Quân khu 4 theo quan điểm chiến tranh toàn dân, toàn diện, tinh thần tự lực cánh sinh, quyết đánh và biết đánh; đồng thời là lịch sử và kinh nghiệm về mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến, tiền tuyến và hậu phương, vì cả nước với cả nước; về mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế; đổi mới, phát triển, năng động và sáng tạo. Trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá những năm đầu thế kỷ XXI, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương đã khẳng định quân và dân ta phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình đó, quân và dân Quân khu 4 phải nghiêm túc quán triệt, thực hiện tốt các nhiệm vụ xây dựng Quân khu trong thời kỳ mới; đồng thời định ra những yêu cầu mới về xây dựng Quân khu phù hợp với điều kiện địa lý miền Trung và khả năng của đất nước, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân vững chắc đi đôi với xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược được giao; đồng thời tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước. Trong giai đoạn cách mạng mới, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân 6 tỉnh trên địa bàn Quân khu tiếp tục phát huy mạnh mẽ truyền thống anh hùng, quyết tâm đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng Quân khu vững mạnh toàn diện, nâng cao sức mạnh tổng hợp và trình độ sẵn sàng chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao phó. Những thành tích to lớn và bài học kinh nghiệm quý báu trong 60 năm là cơ sở để tạo tiền đề vững chắc để quân và dân Quân khu 4 cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục phát huy mạnh mẽ, sáng tạo, làm phong phú thêm kinh nghiệm và truyền thống vẻ vang của Quân khu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa những năm đầu của thế kỷ XXI. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2024, 12:58:47 pm PHỤ LỤC I. CÁC ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO CHỈ HUY QUÂN KHU (1975 - 2005) 1. Tư lệnh Quân khu
2. Chính ủy - Phó tư lệnh về Chính trị Quân khu
1. Có quyết định của Bộ nhưng chưa về Quân khu. Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2024, 01:00:29 pm 3. Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng
4. Phó Chính ủy và Phó tư lệnh Quân khu
Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2024, 01:01:45 pm II. THÀNH TÍCH CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4 (1975-2005) 1. Xây dựng tổ chức lực lượng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu + Tổ chức thực hiện Quyết định số 45/QĐ-LT ngày 29-3-1976 của Chủ tịch nước về việc sáp nhập Quân khu 4 với Quân khu Trị Thiên, bảo đảm đúng kế hoạch. + Tổ chức lực lượng bổ sung cho các quân khu, quân đoàn... và cho Bộ. - Sư đoàn 341B, Sư đoàn 337 bộ binh, Trung đoàn 222 cao xạ bàn giao cho Binh đoàn 678. - 2 trung đoàn của sư đoàn 316 B cho Quân khu 9, 1 tiểu đoàn, 1 đại đội công binh, cầu phà cho Quân khu 1 và Quân đoàn 3. - 71 tiểu đoàn chiến sĩ mới cho các đơn vị phía Nam. - Trung đoàn 2 Sư đoàn 324 bổ sung cho các đơn vị chiến đấu ở biên giới Tây Nam. - Thành lập Sư đoàn 318, bàn giao cho Quân khu 2 Sư đoàn 313, Trung đoàn 214 cao xạ, Trung đoàn 14 cho Đặc khu Quảng Ninh, Trung đoàn 775 bổ sung cho Quân đoàn 5. - Tổ chức Sư đoàn 356 làm nhiệm vụ ở Hoàng Liên Sơn. - Điều Sư đoàn 359 (1.500 quân) về Binh đoàn 773 (Quân khu 5); Sư đoàn 318 Quân đoàn 65 về trực thuộc Bộ Quốc phòng làm dầu khí ở Vũng Tàu. - Nhận tân binh, huấn luyện bàn giao 16.500 chiến sĩ mới cho các đơn vị của Bộ, trong đó có 800 nữ, 6.000 nam, cho Mặt trận 479 Campuchia. - Bàn giao Sư đoàn 336 và Sư đoàn 365 làm cầu đường của Binh đoàn 12. + Xây dựng và phát triển lực lượng: - Thành lập Bộ chỉ huy quân sự, cơ quan chỉ huy thống nhất các tỉnh, thành phố để đáp ứng yêu cầu mới sẵn sàng chiến đấu. - Thành lập Cục Biên phòng, Cục Kinh tế. - Sáp nhập Quân đoàn 7, Quân đoàn 65. - Tiếp nhận các đơn vị quân tình nguyện ở Trung Hạ Lào - Binh đoàn 678 (Sư đoàn 324, Sư đoàn 968, Trung đoàn 176). - Thành lập 2 sư đoàn (441 và 442 làm nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới của Quân khu và Trung đoàn 853 thuộc Bình Trị Thiên). - Thực hiện quyết định của Bộ Quốc phòng về việc sáp nhập các trường. - Thành lập trung tâm xúc tiến việc làm phát triển thành Trường dạy nghề số 4. - Thành lập Công ty 85, Công ty Thanh Sơn, Công ty Lam Hồng... - Tổ chức xây dựng lực lượng dân quân tự vệ có: 756.532 dân quân tự vệ, trong đó có 266.841 nòng cốt, 80.394 tự vệ chiến đấu. Lực lượng tại chỗ 3.912 tiểu đội, 7.040 trung đội, 1.638 đại đội, 53 tiểu đoàn, 11 trung đoàn, lực lượng chiến đấu 67 tiểu đội, 1.600 trung đội, 203 đại đội, 60 hải đội. Lực lượng phục vụ chiến đấu: 4.416 trung đội, 164 tiểu đội. Có 31 vạn dân quân tự vệ sản xuất tập trung. 2. Thực hiện nhiệm vụ chiến đấu + Tổ chức xây dựng lực lượng bổ sung cho các chiến trường (như trên). + Trực tiếp chỉ huy bảo đảm của Sư đoàn 324, Sư đoàn 968, Trung đoàn 176 chuyên gia quân sự làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Ta phối hợp cùng bạn giải phóng Phu Bia (diệt 985 tên, làm bị thương 737, bắt 375 tên, giải phóng 1 vạn dân, làm chủ địa bàn rộng 2.500km, thu 2.000 súng các loại). 10 năm: Sư đoàn 324, Sư đoàn 968, Lữ đoàn 176 đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.582 tên, bắt hàng ngàn tên, thu nhiều súng các loại. + Tăng cường cho Lào Sư đoàn 565 và 5 tiểu đoàn của Sư đoàn 31, Trung đoàn 229, Tiểu đoàn 27 công binh làm 60km đường, sửa chữa 175km, bảo dưỡng 287km đường, Trung đoàn 245 xây dựng nông trường Bắc Hin Bun. + Tổ chức các đợt diễn tập C81, C89... của Quân khu với cơ quan Bộ, của Quân khu với các tỉnh, các sư đoàn, lữ đoàn... Từng bước hoàn chỉnh các phương án: A, A1, A2. Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố được Bộ Quốc phòng, các tỉnh đánh giá cao. + Tổ chức nghiên cứu các đề tài khoa học, tổng kết như: xây dựng cơ sở xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên các tuyến trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Tiêu đề: Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005) Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2024, 01:04:14 pm 3. Xây dựng kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh - Rà phá bom mìn, mở các chiến dịch tháo gỡ trên 3 triệu quả bom mìn, phá nổ hàng ngàn quả, giải phóng 280km2 đất đai, vườn tược. - Làm đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An dài 144km, lực lượng tham gia gần 30.000 người đặt 150km đường ray, xây mới và sửa chữa 322 cầu cống các loại, sản xuất hơn 100.000m3 đá, phá gõ 29.300 quả bom, mìn... - Huy động 68.921 công làm đường, xây dựng 28.416m2 nhà kho, 132.705m2 nhà ở; bảo quản 4.863 tấn đạn; kê, dồn dịch 1.400 tấn đạn ở các kho. -Vận chuyển giúp bạn mùa khô 1975-1976: 117 tấn xi măng, 29,5 tấn thép; sửa chữa các sân bay: Bản Quý, Phôn Xa Vẳn, Nhom Ma Rát; giúp 185 tấn gạo, 35 ngàn tấn xăng, 3 xe tăng, 2.550 khẩu súng các loại và đạn dược xây dựng đường 48 dài 122km. - Xây dựng khu Lâm nghiệp Nam Long Đại, thành lập công ty hợp tác kinh tế Việt - Lào, các công ty, các đoàn kinh tế - quốc phòng góp phần rất quan trọng trong việc trồng rừng cải tạo môi trường, tạo ra sản phấm phục vụ đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội, xây dựng củng cố doanh trại, đồng thời góp phần ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn trong khu vực. - Chỉ tính trong 2 năm (1988-1989) Công ty 85 đã nộp cho ngân sách Nhà nước 62 tỷ; Đoàn kinh tế - quốc phòng 337 trồng 360ha rừng, Đoàn 92 khoanh nuôi, tái sinh 400ha, bảo vệ 2.000ha rừng ở khu Khe Sanh, Hướng Hóa. - Các doanh nghiệp của Quân khu nộp cho ngân sách Nhà nước và Bộ Quốc phòng 150 tỷ đồng (trong 5 năm từ 1995-2000). - Xây dựng đường Na Ngoi - Khe Kiền dài 21,5km, xây dựng 25 ngôi nhà mới cho làng An Ngãi, xã Kim Sơn bị bão lũ cuốn trôi. - Năm 2003, khối thường trực đạt nguồn thu 16 tỷ đồng, Trường dạy nghề số 4 doanh thu dịch vụ kinh tế 3.532 triệu đồng. Khối doanh nghiệp doanh thu 327.441 triệu đồng. Bốn khu kinh tế - quốc phòng có tổng vốn ngân sách Nhà nước và Quốc phòng đầu tư 32.346 triệu đồng xây dựng cơ sở hạ tầng, trồng rừng, chương trình khuyến nông, tham gia xóa đói giảm nghèo... 4. Thực hiện công tác đảng, công tác chính trị, hậu cần, kỹ thuật - Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh, phát triển hàng vạn đoàn viên ưu tú kết nạp vào Đảng (hàng năm kết nạp trên 1.200 đảng viên). - Tổ chức học tập quán triệt nghị quyết của Đại hội Đảng, chỉ thị của các cấp giúp cán bộ, chiến sĩ có đủ bản lĩnh, kiên định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, chống các luận điểm sai trái, xây dựng lòng tin thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. - Thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động tổ chức thực hiện nghiêm túc ở cơ quan, đơn vị, xây dựng đơn vị có nền nếp chính quy, vững mạnh toàn diện. Bảo đảm an ninh chính trị trong sạch nội bộ. - Đẩy mạnh và làm tốt công tác chính sách, quy tập hài cốt liệt sĩ, quy tập được: 11.884 mộ/24.000 mộ, xây 710 nhà bia, tiếp nhận 78.076 thương binh, bệnh binh vào các đoàn an dưỡng, chuyển về địa phương 78.054, cấp giấy chứng nhận thương binh cho 40.773 trường hợp, xây dựng 20.114 nhà tình nghĩa, trị giá 30.775 tỷ đồng; tu sửa hỗ trợ 25.969 nhà trị giá 2.665 tỷ đồng. Quyên góp 8.919 tỷ đồng và 376 tấn lương thực, thực phẩm làm quỹ đền ơn đáp nghĩa. Tặng 33.476 sổ tiết kiệm với 9.983 tỷ đồng, 912/3.533 Bà mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng... - Thực hiện tốt cuộc vận động "Ngành Hậu cần quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy", cuộc vận động "Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm"... bảo đảm cho lực lượng vũ trang Quân khu hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, phục vụ huấn luyện, công tác. III. KHEN THƯỞNG - Ngày 2-3-1979 được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. - Năm 1984 được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất. - Ngày 17-8-1985 được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã có: 511 đơn vị thuộc 27 đầu mối trực thuộc Quân khu được Đảng và Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 174 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Quân khu có 7 đơn vị được Đảng và Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: + Lữ đoàn 414 công binh. + Trung đoàn 206 tăng thiết giáp. + Công ty hợp tác kinh tế Việt - Lào. + Xưởng 467 - Cục Kỹ thuật. + Đội quy tập hài cốt liệt sĩ Nghệ An. + Đội quy tập hài cốt liệt sĩ Thừa Thiên - Huế. + Lực lượng vũ trang thị xã Đông Hà, Quảng Trị. - Có 13 đơn vị xuất sắc thuộc Quân khu được Thủ tướng Chính phủ tặng cờ. - 52 đơn vị được tặng cờ của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. - Đảng, Nhà nước Lào và Campuchia tặng nhiều phần thưởng cao quý cho các đơn vị, cán bộ, chiến sĩ trong Quân khu nhiều huân chương, huy chương. - Ngày 15-10-2001 Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh (lần 2) cho lực lượng vũ trang Quân khu. Hết! |