|
Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 27 Tháng Tám, 2025, 07:40:15 am - Tên sách: Nhớ về bầu trời năm ấy
- Tác giả: Nguyễn Hồng Nhị - Nhà xuất bản: Lao động - Năm xuất bản: 2022 - Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian PHẦN MỘT Quê hương và tuổi thơ Bình Định là quê hương tôi nằm trên dải đất miền Trung của đất nước - dải đất được ví như chiếc đòn gánh, gánh hai miền Bắc Bộ và Nam Bộ. Người dân sống trên "dải đất đòn gánh" này rất chịu thương chịu khó, cần cù lao động, quanh năm "bán mặt cho đất, bán lưng cho giời" vậy mà vẫn chịu cảnh nghèo đói đến cùng cực, trong đó có làng quê tôi và gia đình tôi. Gia đình tôi có 6 anh em. Cha mẹ tôi chỉ riêng chuyện lo cho 6 miệng ăn hàng ngày đã chẳng đủ no thì còn lấy đâu ra hơi sức để lo cho việc mặc và học hành của chúng tôi. Anh chị em chúng tôi, mỗi người chỉ có độc một bộ quần áo vá chằng vá đụp. Với các chị và đứa em gái thì cha mẹ ưu tiên sắm cho mỗi người được thêm một chiếc quần lành lặn, nhưng phải để dành, chỉ mặc vào những ngày Tết, ngày lễ hoặc hội hè mà thôi. Tuổi thơ tôi thời sống ở quê chất chứa đầy ắp những kỷ niệm không bao giờ quên. Sau này, khi tôi lớn lên, dù có đi mọi chân trời góc biển hay chao liệng giữa những khoảng không bao la của bầu trời, có ác liệt hiểm nguy đến mấy, giữa cái sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc, thì tôi lại nhớ về những kỷ niệm sâu nặng ấy để mà tăng thêm nghị lực và tôi đã vượt qua hết thảy... Xứ Vũ Sơn - Bình Đê nằm ở cực Bắc tỉnh Bình Định, nay gọi là thôn Hy Văn, xã Hoài Sơn, Hoài Nhơn từng nổi tiếng một thời, được ví như xứ Đồng Nai ở Nam Bộ vậy. Xứ có đường giao thông thuận lợi: có tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy song song với đường quốc lộ số 1 xuyên qua, có 2 nhà ga và 1 bến ô-tô liên tỉnh. Giao thông đường thủy có cửa biển Tam Quan đón tàu thuyền ra vào nhộn nhịp. Án ngữ ở phía Tây xứ có dãy Núi Chúa, dưới chân núi có con suối gọi là Suối Vàng. Núi Chúa và Suối Vàng là hai địa linh của xứ Vũ Sơn - Bình Đê. Trên đỉnh Núi Chúa còn có một hòn đá rất to, cao, đứng sừng sững, từ xa đã thấy. Dáng nó trông như con gà trống đang vỗ cánh gáy nên có tên là hòn Gà Cồ (gà trống). Dãy núi án ngữ ở phía Đông xứ cũng có một hòn đá to cao đứng trên đỉnh núi được gọi là hòn Bò Cạp (khi bị loài bò cạp cắn thì vừa đau vừa buốt nên thấy nó là phải tránh). Hai hòn đá to cao đứng trên hai đỉnh núi là hai vị thần linh bảo vệ cho xứ Vũ Sơn - Bình Đê làm ăn yên ổn từ bao đời. Nhưng đến năm 1965, Ngô Đình Diệm đã "rước voi về giày mả tổ" - rước đế quốc Mỹ vào miền Nam Việt Nam giày xéo quê hương, trong đó có xứ Vũ Sơn - Bình Đê. Khi đến nơi này, chúng biết đây là vùng địa linh nên chúng rất lo sợ và đã đưa hàng tấn thuốc nổ cho phá tan hai hòn đá "Gà Cồ" và "Bò Cạp" là hai vị thần của xứ này. Bây giờ, những người dân từng sống ở đây không còn được thấy những vị thần ấy nữa. Tất cả chỉ còn trong ký ức mà thôi. Quê tôi được khai khẩn, mở mang phát triển kể từ thời Quận công Nguyễn Hoàng được nhà Lê giao vào trấn giữ đất phía Nam. Nguyễn Hoàng đưa người từ đàng ngoài vào định cư lập nghiệp, khai hoang và mở mang kinh tế, trở thành vùng đất hội tụ, có đủ cả "Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa", song, trái lại, đời sống của nhân dân lại rất khổ cực, nghèo đói. Các triều đại phong kiến rồi thực dân, đế quốc đã bóc lột dân đến tận xương tận tủy. Đè nặng trên đầu họ là hàng trăm thứ thuế, chồng chất quanh năm suốt tháng. Khi tôi lớn (chừng 7-8 tuổi) được cha giao nhiệm vụ cùng với các chị làm đủ mọi việc để cho người con trưởng của gia đình là anh Nguyễn Văn Tuần rảnh tay đi học. Anh Tuần ban ngày đi học, tối về thì dạy lại các em. Tôi biết chữ chính là nhờ anh dạy. Ngày ngày, khi các chị đi làm bất cứ việc gì cũng đều dẫn tôi đi theo để các chị hướng dẫn cho cách làm. Nhờ sự chỉ bảo của các chị mà tôi nhanh chóng thành thạo mọi việc, chẳng mấy chốc mà tôi đã tự đi làm được một mình. Bốn mùa đều có việc để làm. Mùa Xuân, tôi đi ra đồng bắt cua. Quê tôi có cánh đồng Trang, ruộng đất màu mỡ và lắm cua đồng. Mùa Hè, tôi lên núi dũ (hái) quả chà là chín đem về cho vào cối giã nhỏ rồi phơi khô, rây lấy bột để dành đến mùa Đông ăn. Mùa Thu thì đi hái ổi, hái sim đem ra chợ bán. Mùa Đông, tôi theo cha ra đồng đơm cá, bắt cua bắt ốc... Bốn mùa tuy công việc có những đặc điểm riêng, song tôi càng lớn lên thì càng làm được nhiều việc hơn, càng giỏi giang hơn. Tôi cũng càng ham, càng yêu thích hơn. Nhưng hoài bão của tôi chỉ thích đi học, thích làm những việc to tát như người lớn đang làm. Tôi nhớ mãi lời nói của cha tôi: "Các con lớn lên, đời các con phải khác, đừng lặp lại như đời cha mẹ, vừa khổ vừa bị người ta ức hiếp. Cha tôi rất ghét chính quyền phong kiến - thực dân, bởi vậy, họ ghép cho ông cái tội bất hợp tác với chính quyền. Cha tôi được ông nội tôi cho ăn học, có bằng cấp, giỏi chữ nho. Hồi đó, tất cả các đơn từ đều phải viết bằng chữ nho nên dân làng ai có vấn đề gì cần kiện tụng đều đến nhờ cha tôi viết hộ. Chính quyền phong kiến vời chatôi ra làm việc cho họ nhưng cha tôi kiên quyết từ chối, do đó họ tìm cách hãm hại cha tôi. Họ vu cáo cha tôi khai man thuế để trốn thuế. Họ đến nhà trói gô cha tôi rồi dẫn lên xã và bắt phạt 1,2 đồng bạc "gánh dưa". Mẹ tôi và anh chị em tôi ngồi khóc hết nước mắt. Thương cha quá nhưng không làm thế nào để giải oan cho cha được. Trong nhà, hễ có cái gì bán được thì mẹ tôi đem đi bán hết cố cho đủ 1,2 đồng để đem đi chuộc cha. Ngay đến con chó rất khôn, tôi rất qúy mà cũng không giữ lại được, phải đem đi bán nốt. Sau khi nộp phạt xong, họ trả cha tôi về làng thì làng lại phạt một tháng đi canh ban đêm. Làng tôi có cái điếm canh (trạm canh gác) ở đầu làng. Ban đêm, họ cắt cử một số người "bất hảo" ra nằm ở điếm canh, nếu thấy có người lạ vào làng thì phải đánh mõ báo động. Có những ngày cha tôi đi làm đến tối mới về nhà, vừa mệt lại vừa đói, tôi thương quá liền xin cha tôi cho tôi đi gác thay cha. Cha tôi đồng ý và dặn: "Con ra ngủ với các bác nhưng đừng tham gia đánh mõ báo động". Lúc này, ở quê tôi có nhiều tin đồn là tù cộng sản ở nhà tù Kon Tum vượt ngục về đây trú ngụ để tìm đường đi ra Quảng Ngãi lên chiến khu Ba Tơ nhập vào du kích. Do đó, họ tăng người gác ở các điếm canh đánh mõ báo động. Có đêm tiếng mõ kêu "chát, chát" ngay bên tai nhưng tôi nghe theo lời dạy của cha, cứ giả vờ ngủ say, không đánh mõ theo họ. Tình hình kinh tế ở quê tôi gặp nhiều khó khăn do thiên tai: bão lụt, hạn hán... Mùa màng mất trắng lại cộng thêm sưu cao thuế nặng, một cổ hai tròng (của Pháp và Nhật), nạn đói ngày càng trầm trọng, không có lối thoát. Cha tôi đành bỏ quê đi vào Đồng Nai phát rẫy trồng cao su cho chủ đồn điền người Tây vì nghe nói tiền công cao, sẽ có tiền gửi về cho mấy mẹ con mua gạo sống qua ngày. Mẹ và anh chị em tôi trông chờ tiền cha gửi về mỏi mắt mà chẳng thấy đâu. Cuối cùng thấy cha trở về với bộ quần áo rách trước rách sau nhưng cha con gặp nhau lại mừng khôn xiết. Cha tôi kể lại: không thể nào chịu đựng được cái cảnh công nhân đi làm bị cai đồn điền đánh đập dã man, lại còn ức hiếp ăn quỵt tiền công nữa... Mẹ tôi nói với các con: "Cha bọn bay còn dẫn xác về được đến đây, mẹ quý hơn được bạc được vàng! Không bị bỏ xác ở gốc cao su là may lắm rồi!". Anh chị em chúng tôi thấy cha gầy và yếu thì thương lắm, liền bàn với nhau tích cực đi làm, gánh hết phần khổ cho cha. Phía ngoại rất thương hoàn cảnh của cha mẹ tôi và các cháu ngoại, nhưng gia đình ngoại cũng nghèo, chỉ có thể giúp cho cha mẹ tôi nuôi được một đứa. Cha tôi chọn tôi gửi cho ông bà ngoại nuôi là có ý đồ tôi ở bên ngoại để theo các cậu học nghề thợ mộc (nghề chính bên gia đình ngoại). Ông ngoại và các cậu Năm, Bảy, Chín đều rất giỏi nghề mộc. Tồi ở với ngoại, suốt ngày theo các cậu tập làm thợ mộc. Đầu tiên là phụ việc cưa, dần dần đến việc đục rồi bào..., tất cả đều làm thành thạo, được các cậu tin nên ngày càng giao cho nhiều việc hơn, tôi rất phấn khởi. Đi làm với các cậu, được tiếp xúc với nhiều người, tôi được nghe nhiều điều rất mới lạ, rất thú vị... Các cậu và đám thợ thảo luận sôi nổi, đặc biệt nhất là các từ "cách mạng, khởi nghĩa độc lập, bình đẳng"... Các cậu tôi thích nhất là từ "cách mạng". Tôi ủng hộ theo các cậu vì có cách mạng thì các cậu sẽ được chia ruộng đất và lúc bấy giờ sẽ bỏ cái nghề mộc để đi làm ruộng, đỡ vất vả hơn, chứ cái nghề mộc này suốt ngày còng lưng, chai đít mà cũng chẳng đủ ăn. Hơn nữa, tình hình chiến tranh giữa phe Đồng Minh với Nhật sắp nổ ra rồi, không ai dại gì đi làm nhà mới, đóng mới bàn ghế, giường, tủ để làm gì. Họ có tiền, có lúa thìhọ sẽ tích trữ lại đề phòng chiến tranh. Nghề thợ mộc đang ngày càng khốn đốn. Ban ngày, tôi cùng các cậu đi làm, còn ban đêm, các cậu đi đâu, làm gì thì cả nhà không ai biết. Tôi xin đi theo, các cậu cũng không đồng ỷ. Sau này tôi mới biết là các cậu đi họp đoàn thể để chuẩn bị tham gia khởi nghĩa. Tôi xin ông bà ngoại cho tôi về thăm bà nội vì tôi nhận được tin nhắn của các chị tôi là bà nội bị bệnh. Nhớ bà nội lắm. Tôi chạy một mạch về đến nhà thì trời vừa tối. Các chị bảo vào thăm bà rồi cùng đi với các chị đến trụ sở đăng tên vào đội viên Đội thiếu nhi để tham gia biểu tình. Tôi nghe các chị nói thì mừng quá: như thế là cách mạng sắp về, sắp khởi nghĩa rồi! Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 27 Tháng Tám, 2025, 07:42:29 am Cách mạng về! Cách mạng tháng 8 năm 1945 về trên quê hương tôi giống như dòng lũ quét từ trên núi cao đổ xuống dòng sông. Nó quét đi tất cả những bùn đất, rác rưởi bẩn thỉu, đem lại dòng sông trong mát cho quê hương. Sự kiện lịch sử khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra trên quê tôi từ đêm hôm trước đến sáng ngày hôm sau (19-8-1945) đã cơ bản đập tan chính quyền phong kiến-thực dân đã từng cai trị hàng ngàn năm ở xứ Vũ Sơn - Bình Đê. Cách mạng đã thành lập chính quyền mới - chính quyền của dân và tiếp tục xóa bỏ những thể chế của chế độ thực dân - phong kiến áp bức, bóc lột, đàn áp nhân dân ta từ bao đời. Sau cái đêm khởi nghĩa cướp chính quyền và liên tiếp mấy ngày sau đó, nhân dân vẫn tiếp tục đi biểu tình, tuần hành, mít-tinh, đánh trống, đánh mõ và hô khẩu hiệu vang ười. Tôi còn nhớ khẩu hiệu chủ yếu lúc đó là: "Đả đảo thực dân Pháp, phát xít Nhật. Việt Nam vạn vạn tuế!". Những ngày cuối tháng 8-1945, cờ đỏ sao vàng bay rợp trời, khắp thôn xóm. Nhân dân nô nức chuẩn bị làm lễ ăn mừng Độc Lập. Ngày 2-9-1945, từ tờ mờ sáng, mọi người phải mặc quần áo cho dù có rách cũng sạch sẽ, gọn gàng để đi tập trung làm lễ chào cờ Tổ quốc. Lần đầu tiên tôi được nghe tiếng chào cờ Tổ quốc với cờ đỏ sao vàng năm cánh. Nhiều khẩu hiệu, băng rôn được căng lên cao cắt ngang qua các con đường lớn, nhu khẩu hiệu "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Độc lập Tự do Hạnh phúc" chẳng hạn. Nhìn thấy khẩu hiệu ấy thật sướng mắt và đọc lên nghe thật sướng bụng. Sau khi mít-tinh xong, các đoàn thể tiếp tục đi tuần hành biểu dương lực lượng cho đến tối mịt mới kết thúc. Những ngày đầu Cách mạng tháng 8, cả nhà tôi: cha mẹ, anh, các chị đều đi theo đoàn thể phục vụ cho Cách mạng mặc dù trong nhà không còn hạt gạo nào. Suốt ngày tôi chạy lon ton theo Đội thiếu nhi, quên cả đói mệt. Ban ngày đi biểu tình, ban đêm đi cổ động mọi người phải đi học. Cả làng Hy Văn chưa bao giờ vui và nhộn nhịp như những ngày Cách mạng về! Tất cả ruộng đất đều tịch thu sung công và được chia đều cho các công dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam hay nữ. Những gia đình có người đi bộ đội thì được ưu tiên tự chọn một suất ruộng tốt nhất. Số hộ công dân còn lại thì bốc thăm để nhận phần ruộng của mình, thực hiện quyền bình đẳng của mọi người. Sưu thuế, phu phen của chế độ cũ đều bị bãi bỏ hết thảy. Gia đĩnh tôi trước Cách mạng không có một tấc ruộng nào, nay nhận được hơn 5 sào ruộng để cấy lúa. Cả nhà mừng không sao kể hết. Gia đình tôi cho rằng đây là tài sản vô giá mà Cách mạng đã đem lại cho gia đình mình. Từ nay, gia đình tôi có ruộng để làm ra hạt gạo nuôi sống gia đình và đóng góp cho Cách mạng. Gia đình ngoại biết gia đình con gái mình có ruộng đã tìm cách giúp đỡ phương tiện làm ruộng để đỡ bớt phần vất vả cho anh chị em chúng tôi. Ông ngoại khi đi làm thợ mộc có dành dụm được ít tiền liền lấy ra mua cho mẹ tôi một con bò giống để tạo dần thành đôi bò cày. Những cái cày, cái bừa thì ông ngoại đóng cho vì ông là thợ mộc. Gia đình tôi từ đây có ruộng, có phương tiện làm ruộng, bớt được sức lao động, không phải kéo cày kéo bừa, có nhiều thời gian để cho anh chị em tôi đi làm cho Cách mạng. Anh thứ 3 thì làm Chính trị viên xã đội dân quân, chị thứ 5 thì đi làm giao thông, chị thứ 6 làm thư ký Hội phụ nữ xã, tôi làm phân đoàn trưởng Thiếu nhi. Tất cả anh chị em đều được đi học hoặc vừa học vừa tham gia công tác. "Vạn sự khởi đầu nan". Công việc của đoàn thể Cách mạng mới khai sinh ở quê tôi rất nhiều việc phải vừa làm vừa học, rất bận rộn. Cả nhà tôi chạy đôn chạy đáo lo việc cho đoàn thể khắp nơi nhưng ai cũng vui, lúc nào cũng có tiếng hát vang lên trong nhà với những bài hát cách mạng: "Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc…", "Anh em ta trong đoàn quân du kích...", "Bao chiến sĩ anh hùng...". Cách mạng về trên quê hương tôi mới hơn một năm vậy mà đã đem đến bao nhiêu đổi thay mới mẻ chung cho làng quê và riêng cho gia đình tôi, đặc biệt là kinh tế, văn hóa xã hội giống như quàng một chiếc áo mới lên quê hương tôi. Cha mẹ sắm cho anh chị em chúng tôi mỗi người một bộ quần áo mới để đón Tết cổ truyền đầu tiên sau ngày thoát khỏi ách thực dân-phong kiến. Không còn cảnh những ngày giáp Tết, tiếng trống dồn thuế thúc inh tai nhức óc như những năm trước, khi chính quyền thực dân-phong kiến bắt dân phải đi nộp thuế. Nếu hộ tịch nào không nộp đủ thuế thì đừng mong gì được ở nhà đốn Tết mà sẽ bị bắt giam và bị phạt nặng gấp mấy lần thuế phải nộp. Bây giờ thì những rác bẩn ấy đã được quét sạch. Ngày Tết cổ truyền của dân tộc mới thực sự là ngày vui đoàn tụ của mọi gia đình. Những ngày Tết ở quê, tôi thích nhất là được đốt pháo, được đi đánh bi với các bạn. Con bò nhốt ở nhà, không cho ra đồng nên tôi được tự do chơi mấy ngày Tết thỏa thích. Thời kỳ này, gia đình tôi có 4 con bò: một đôi bò cày và hai con bê cho nên không có lúc nào rảnh tay cả. Vì bò là phương tiện sản xuất để biến thành tiền, thành gạo nuôi sống cả nhà và đóng góp cho Cách mạng đều dựa vào đó. Cha mẹ tôi thường nhắc: "Các con đi làm cho Cách mạng giỏi và cũng phải cố gắng làm giỏi việc nhà". Cả nhà tuy đông anh chị em nhưng mỗi người một việc phân công nhau làm đâu vào đó nhanh chóng, chính xác, cha mẹ rất hài lòng, các con chưa bao giờ có tiếng cãi cọ, nói to với nhau. Cha tôi là người trụ cột trong gia đình. Ông rất nghiêm túc dạy bảo các con. Ông nói ra, mọi người răm rắp làm theo. Nề nếp gia giáo nhà tôi thuộc loại nhất nhì trong xứ, bên nội cũng như bên ngoại, đều được mọi người trong làng nể trọng. Mẹ tôi là người phụ nữ trung hậu đảm đang, thương yêu chồng con hết lòng. Tôi chưa hề thấy mẹ rầy la đứa nào bao giờ. Có một lần, người chị thứ 5 của tôi bị ngã bệnh rất nặng (bệnh kiết lỵ). Người gầy chỉ còn da bọc xương, nằm thoi thóp. Cả nhà ai cũng lo, sợ mất chị. Tí rủi nết của chị giống hệt tính của mẹ tôi: hiền lành, đôn hậu. Ai cũng quý mến chị. Cha tôi lùng khắp các hiệu thuốc dù xa mấy cũng đi, ai mách ở đâu có thuốc hay, cha cũng lẩn tìm đến bằng được để mua thuốc về chữa chạy cho chị. Cuối cùng, ơn Trời đà cho chị sống! Cha tôi đã tìm mua được loại thuốc đúng bệnh của chị, chị uống hết một gói thuốc bột là căn bệnh của chị đã hết. Thế là chị tôi được sống lại. Cả nhà mừng hơn được vàng. Cách mạng về đã cứu sống chị tôi vì nhờ có Cách mạng cha mẹ tôi mới có lúa, có tiền để mua thuốc cho chị uống. Thời đó ở quê tôi, mùa Đông hay bị mắc bệnh "ngã nước" (bệnh sốt rét). Mùa Hè thì hay bị bệnh "đau mắt" (đau mắt đỏ). Tôi thường bị mắc hai căn bệnh này. Mỗi lần bệnh phát thì khổ lắm. Ban đầu thì rét run cầm cập, khi hết rét thì lại nóng ghê gớm, cởi bỏ hết quần áo cũng không chịu được. Nhưng thuốc chữa đon giản chỉ là những lá cây thuốc ở trên rừng. Mẹ tôi lên rừng, nhờ mấy người dân tộc đi hái lá về sao vàng lên sắc uống là khỏi ngay. Còn khi bị đau mắt đỏ thì chữa bằng một loại củ có tên là củ "huỳnh liên", mài lấy nước đem nhỏ vào mắt vài lần là khỏi bệnh. Cách mạng về không chỉ đem lại cho quê tôi thoát khỏi cảnh đói rách, khổ cực mà còn mang lại cuộc sống văn minh cho mọi nhà. Mọi người đều được đi học, đều biết chữ, biết giữ vệ sinh, giữ gìn sức khỏe như nước uống phải đun sôi để nguội, ăn cơm dùng đũa hai đầu khi gắp thức ăn để đề phòng bệnh truyền nhiễm... Mùa Hè ở quê tôi thường bị những đợt gió nóng từ phía Tây dãy Trường Sơn tràn sang, ta thường gọi là "gió Lào". Gió quất vào người hệt như bị lửa đốt vậy. Những cây dừa, cây cau có nhiều rễ ăn sâu như thế nhưng cũng bị héo lá. Các dòng suối, các hồ ao đều cạn hết nước, khô kiệt. Dân phải đổ ra đồng đào những giếng, những ao để tìm lấy nước mạch, cứu lúa. Mùa Hè ở quê tôi, mọi người làm vụ lúa ngắn ngày - đấy là giống lúa tứ quý. Giống lúa này từ khi sạ đến khi trổ bông chưa đầy hai tháng là đã được gặt. Hạt lúa có vỏ ngoài màu đen rất đẹp nhưng hạt gạo thì màu lại đỏ. Món cháo vôi (gọi như vậy vì khi nấu cháo sắp chín thì đổ vào nồi cháo một ít nước vôi) có màu đỏ tươi và có mùi thơm, ngon tuyệt vời. Mẹ tôi thường nấu một nồi cháo vôi như vậy rồi để sẵn đấy cho anh chị em tôi khi đi họp hành về khuya có cái ăn lót dạ trước khi ngủ. Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Đức, Ý, Nhật đầu hàng phe đồng minh. Quân Nhật ở Đông Dương chuẩn bị rút về nước. Thực dân Pháp quay lại chiếm nước ta lần thứ hai. Quê tôi nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: "... Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ!". Phong trào tập luyện quân sự dấy lên chưa từng có ở quê tôi. Già trẻ, trai gái đều phải đi tập quân sự, lăn lê bò toài, đâm lê bắn súng, ném lựu đạn... ai ai cũng phải biết. Phong trào đuổi giặc Nhật, trừ Việt gian nổi lên khắp nơi. Trong cao trào ấy có xảy ra sai lầm thật đáng tiếc, đó là đã bắt và hành quyết những người theo đạo Cao Đài vì cho rằng họ là tay sai của phát xít Nhật, khi quân Nhật rút đi đã cài đạo Cao Đài lại để phá cách mạng. Cảnh bắt bớ, hành quyết điễn ra tạo nên sự bất an trong xóm làng mất một thời gian. Sau đó, cấp trên đã nhận thấy sự sai lầm và đưa người về sửa sai kịp thời, đảm bảo được sự đoàn kết giữa đạo và đời, cùng nhau đuổi giặc Nhật cút khỏi quê hương. Chẳng bao lâu, giặc Pháp bắt đầu gây hấn ở trong Nam và ngoài Bắc hòng bắt dân ta làm nô lệ cho chúng lần thứ hai. Quê tôi lại sôi sục chuẩn bị chiến đấu. Trên các cánh đồng, nhân dân được huy động cắm những cọc vót nhọn cao 2-3 mét, từng cụm ba chiếc một cách nhau vài chục mét để chống quân nhảy dù. Nhân dân lênrào làng chiến đấu. Mỗi làng chỉ để chừa mấy cửa ra vào làng và bố trí những ụ chiến đấu, có dân quân canh gác sẵn sàng chiến đấu. Khu vực miền Trung, Pháp đã đổ bộ vào chiếm các thành phố lớn như Đà Nẵng, Nha Trang... Ở Bình Định chúng muốn chiếm Quy Nhơn nhưng bị dân quân Bình Định đánh bại. Ở cửa biển Tam Quan, quân Pháp chiếm được các làng ven biển và phá phách tất cả những gì chúng cho là gây trở ngại đối với chúng. Đặc biệt, chúng đã đốt cháy chiếc đầu máy xe lửa được cất giấu trong đường hầm ở đèo Bình Đê trước khi rút chạy ra biển. Tiếng bom cảm tử của Ngô Mây đánh chặn địch trên đường 19 đã thổi bùng lên khí thế sục sôi tình nguyện xung phong ra trận của tuổi trẻ Bình Định nói chung và quê tôi nói riêng. Tôi xin gia đình và đoàn thể cho tôi gia nhập Vệ quốc đoàn để chiến đấu trả thù cho anh Ngô Mây. Nhưng gia đình và đoàn thể Thiếu nhi chưa đồng ý cho đi vì tôi còn trẻ quá, chưa đến tuổi tòng quân. Tôi đành phải nán lại mơ ước ấy mất mấy năm trời, nhưng trong tôi, hình ảnh anh Vệ quốc đoàn trong bộ quần áo xi-ta màu xám tro, sau lưng giắt lá ngụy trang, hành quân ra trận, thật oai phong lẫm liệt. Hình ảnh ấy luôn giục giã, thôi thúc tôi phải nhập ngũ bằng được. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 27 Tháng Tám, 2025, 07:43:42 am Bước ngoặt cuộc đời Ngày 25 tháng 5 năm 1952, tôi tạm biệt quê hương yêu dấu, lên đường nhập ngũ, đánh dấu bước ngoặt cuộc đời từ đấy. Cái tin có đoàn tuyển quân về làng lan đi rất nhanh chóng. Thanh niên nam nữ trong làng như bị một cơn gió lốc kéo đến nơi đăng ký tình nguyện đi bộ đội. Đội Thiếu niên của tôi chọn được 10 bạn có chiều cao, cân nặng khá hơn cả, trong số đó có tôi để giới thiệu đi dự tuyển quân. Để tăng độ tin cậy, tôi mượn đôi dép lốp của dượng Hai Điều đi vào để tăng thêm chút chiều cao. Khi vào phòng cân đo, tôi lẳng lặng cho vào túi quần 4 cục đá để cân được nặng hơn, nhưng không qua được mắt các anh khám tuyển. Song, cũng chính vì vậy mà tôi được các anh ghi ngay vào danh sách trúng tuyển vì các anh đánh giá cao tinh thần tình nguyện tòng quân của tôi. Tôi chỉ kịp viết mấy dòng thư gửi cho cha mẹ, anh chị và nhờ các bạn không trúng tuyển mang về đưa cho anh Ba và báo cho đoàn thể biết tin tôi đã trúng tuyển đi bộ đội. Những người trúng tuyển được đưa về khu vực tập trung, được biên chế vào các Tiểu đội, Trung đội, Đại đội và nhận bộ quần áo xi-ta màu xám tro. Mỗi người tự làm lấy bát ăn cơm cho mình bằng sọ dừa già (sọ dừa xin trong dân), một đôi đũa tre và một ống tre để đựng nước uống. Hành trang đầu tiên của bước ngoặt cuộc đời là những thứ thiết yếu như vậy để đảm bảo hành quân. Cán bộ phụ trách từ Tiểu đội trở lên đều là cựu binh để vừa chỉ huy quản lí, vừa là giáo viên dạy quân sự, chính trị. Bài học đầu tiên đó là 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật của quân đội nhân dân. Điều 1 của 10 lời thề in sâu vào tâm trí tôi không bao giờ quên, đó là: "Hy sinh tất cả vì Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa… sau này đổi lại là: "Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa...". Người lính có tinh thần dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, sáng tạo hay không, trước hết phải sẵn sàng hy sinh tất cả... Đã là người lính cách mạng thì đừng bao giờ sợ chết. Ý nghĩa của lời thề thứ nhất nó sâu sắc như vậy đó! Các anh cựu binh còn nói kinh nghiệm của các anh cho các em tân binh biết rằng: khi ra trận, trước giờ nổ súng mà ai tháy run sợ thì hãy nhớ ngay tới lời thề thứ nhất của quân đội thì sẽ hết run sợ ngay. Các anh còn dặn đò nhiều lần rằng phải luôn luôn nhớ lấy lời thề thứ nhất. Bước chân vào quân đội, khi tôi học xong 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật của quân đội là tôi đã thấy mình trưởng thành lên rất nhiều. Chặng đường đầu đi hành quân của đời bộ đội bắt đầu. Từ Hoài Nhơn vào Phù Mỹ chặng đường đi chưa dài nhưng cũng đầy thử thách. Đó là tôi chưa từng đi chân đất (không giày dép) đường xa như vậy bao giờ. Đêm đi, ngày nghỉ. Mỗi người mang theo một ống nước đầy để khi khát thì uống. Mới hành quân được hai đêm mà chân đã mỏi rời, không muốn bước. Hành quân đêm thứ ba thì đến địa điểm đóng quân gần cửa Châu Trúc, huyện Phù Mỹ. Chúng tôi ở nhờ nhà dân gần chợ Châu Trúc. Chợ không lớn nhưng đúng vào mùa được cá biển, do đó người bán cá hầu như đông hơn người mua. Giá cá mực rẻ gần như vừa bán vừa cho. Tôi được Tiểu đội trưởng phân công đi chợ mua mực về nấu ăn. Khi tôi trả tiền mua hai chục con mực xong thì bà bán mực lại cho thêm mười con nữa. Thời đó, bếp ăn của bộ đội mình không tập trung quá 1 Tiểu đội vì hậu cần quân đội chưa có trang bị gì cho chuyện bếp núc, mà đúng ra thì chăng có gì để trang bị cả. Bộ đội đóng quân ở nhà dân, tất cả dụng cụ hậu cần, bếp núc đều dựa vào dân hết. Hàng ngày, Tiểu đội cắt cử một người nấu cơm, luân phiên thay nhau, ai cũng phải trải qua làm đầu bếp. Một hôm, Tiểu đội trưởng phân công cho tôi nấu cơm cho Tiểu đội. Công việc này rất mới mẻ trong đời người chiến sĩ, lo nhất là không được để cơm khê hoặc sống. Thức ăn thì nấu một nồi canh rau muống với mực và mỗi người được một con cá nục kho. Bà chủ nhà theo dõi tôi làm, thấy tôi loay hoay, lóng ngóng, ngay từ khi đãi gạo cũng không sạch sạn. Bà bảo: "Con để đấy, má giúp cho!". Tôi mừng quá. Bà chủ nhà chỉ làm một loáng là xong hết. Cơm canh đã sẵn sàng. Cũng vừa lúc tan học, Tiểu đội về nhà ăn cơm. Cơm dẻo, không vướng một hạt sạn nào, canh lại ngọt... Cả Tiểu đội ai cũng khen ngon. Vậy là tôi được nổi tiếng về nấu ăn! Tất nhiên, tôi cũng được tốt nghiệp đầu bếp mà thầy giáo là bà chủ nhà - má Khương ở Châu Trúc. Châu Trúc thuộc vùng nghèo nhất huyện Phù Mỹ thời bấy giờ. Ruộng đất pha cát bạc màu, thiếu nước nên lúa rất xấu, mùa Hè cát khô trắng, nóng bỏng chân. Ngọn núi Chóp Vung cao vút, đứng sừng sững ở phía Tây, nhưng trên núi chỉ có các loại cây gai lúp xúp, không hề có rừng nên không tích được nước, trời mưa bao nhiêu thì nước chảy trôi tuột ra biển bấy nhiêu. Phía Đông có đầm Châu Trúc nước lợ nối với biển. Ở đây, cá nhiều vô kể, có cả loại cá nước lợ lẫn cá nước mặn. Không nơi nào có cá, mực, tôm, cua... nhiều và rẻ bằng ở đây. Những ngày mới nhập ngũ, trong lòng tôi tràn đầy sự háo hức làm anh lính Vệ quốc đoàn bao nhiêu thì đến giờ sự háo hức ấy cứ cạn dần đi bấy nhiêu... Bắt đầu những ngày nhớ nhà, nhớ quê, nhớ cha mẹ, anh chị thật ghê gớm. Cứ sau bữa cơm chiều là năm, ba người lại rủ nhau ra ngồi dưới gốc dừa để tâm sự cho vợi nỗi nhớ. Tôi nhớ từng chi tiết nhỏ ở quê hương, chỗ nào có vạt cỏ tốt nhất thường cho bò đến đó ăn, khúc mương nào sau nhà có nhiều cá, lươn, ốc, ếch...mà tôi hay ra đó câu, rồi ruộng lúa nhà nào thường có nhiều chim rẽ để đến đó đặt bẫy. Nhớ nhất là tiếng chim Tu hú kêu báo hiệu mùa chà là chín. Trong dân gian có câu: "Tu hú kêu là chà làchín, Tu hú núi là chà là xanh". Nhớ mùa chà là chín, mùa ổi mùa sim chín thì cứ khoảng gà gáy canh ba là dậy nấu cơm chỉ ăn một phần, còn phần kia thì gói vào mo cau đem theo để ăn bữa trưa. Gà gáy canh ba thì đã có nhiều tiếng hú ngoài đường để báo hiệu những ai đi hái chà là thì cùng đi cho vui. Từng tốp 5 đến 7 người đi lên đến chân núi thì dừng nghỉ chờ cho trời sáng hẳn mới lên núi vì mùa chà là, ổi, sim chín thì hổ hay về phục vồ người, nếu đi vào lúc trời nhập nhoạng, chưa sáng rõ thì khó phát hiện được hổ. Kinh nghiệm của những người đi rừng là phát hiện hổ bằng mùi thối của nước dãi nó chứ không phải bằng mắt. Hổ thường nằm trong bụi cây rậm mai phục con mồi, nước dãi chảy ra vừa thối vừa tanh. Mùi ấy lan tỏa ra cả vùng rừng. Ai đã nhận biết một lần rồi thì lần sau dễ phát hiện ra khu rừng có hổ phục và đi tránh sang khu rừng khác ngay. Tôi lại nhớ ngày nào mà chiều tối có mưa giông thì sáng hôm sau chà là chín rộ lắm. Những ngày ấy, tôi cứ mải mê hái chà là đầy gánh lúc nào không hay biết, gánh nặng không thể xuống núi được đành phải đổ bớt đi, tiếc đứt ruột mà chẳng biết làm thế nào... Mọi người cứ ngồi kể cho nhau nghe những chuyện ở quê nhà thời thơ ấu của mình như thế. Đồng chí Tiểu đội trưởng đã qua thời tân binh nên rất hiểu chúng tôi. Đồng chí đã động viên và bày ra nhiều trò chơi giải trí trong những giờ rảnh rỗi, đặc biệt là tổ chức hát thi bài "Đoàn vệ quốc quân". Ai cũng phải hát đơn ca trước Tiểu đội để mọi người chấm điểm. "Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi. Là có mong chi đâu ngày trở về. Ra đi, ra đi bảo tồn sông núi. Ra đi, ra đi thà chết chớ lui!...". Bài hát có tác dụng giáo dục rất lớn đối với những người lính nơi xa nhà như chúng tôi. Từ đó không còn thấy cảnh chiều chiều có người buồn nữa. Phong trào ca hát, biểu diễn văn nghệ gọi là "cây nhà lá vườn" trong Đại đội rất sôi nổi. Sau mỗi bữa cơm tối, chúng tôi tập trung để tập văn nghệ, không còn thời giờ rảnh rỗi ngồi dưới gốc dừa ngóng về quê nhà nữa. Phong trào ca hát, tập văn nghệ của bộ đội đã thu hút thanh thiếu niên trong thôn tham gia hào hứng. Đêm đêm, các cô phụ trách Thiếu nhi mời chúng tôi đến dạy cho các em ca hát, tập múa và các em tham gia chương trình biểu diễn cùng với chúng tôi ở các buổi liên hoan văn nghệ toàn Tiểu đoàn. Đơn vị chúng tôi đứng nhất toàn Tiểu đoàn với tiết mục "Quân với dân như cá với nước". Nhân dân Phù Mỹ nói chung, bà con vùng Châu Trúc nói riêng, đời sống kinh tế rất nghèo nàn, hầu như quanh năm ăn khoai độn với tí cơm nhưng đời sống văn hóa thì rất phong phú, vui tươi, lành mạnh, chan hòa tình cảm quân dân. Chúng tôi không muốn rời xa, nhưng vì có nhiệm vụ mới, chúng tôi đành phải chia tay với bà con để lên đường. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 27 Tháng Tám, 2025, 07:45:09 am Các cán bộ đi nhận quân của các Trung đoàn chủ lực 108, 803... đã về ở đơn vị chờ sẵn. Anh em chúng tôi xôn xao bàn tán, người thì thích về Trung đoàn 108 để ra mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng, người thì thích về Trung đoàn 803 để vào mặt trận Khánh Hòa... Tôi lúc này được điều về làm liên lạc cho Ban chỉ huy Đại đội. Đồng chí Trần Bát, quê ở Huế là Đại đội trưởng kiêm Chính trị viên rất thương tôi, muốn tôi ở lại đơn vị khung này lâu dài với anh, nhưng tôi một mực nằng nặc xin anh về đơn vị chiến đấu. Anh thường gọi tôi bằng em và hỏi: "Em không sợ chết sao?". Tôi trả lời anh bằng cách hát bài "Đoàn Vệ quốc quân" cho anh nghe. Anh ngồi nghe tôi hát, lấy khăn lau nước mắt. Tôi thương anh quá. Hồi đó, trong chiến tranh ác liệt, gian khổ, tình thương yêu giữa cán, binh thật là cao đẹp. Trước khi đi bổ sung cho đơn vị chiến đấu, anh cho tôi về thăm nhà 5 ngày, thực ra ở nhà chỉ được 3 ngày. Anh cho tôi mượn đôi dép lốp cao su để đi đường cho đỡ rộp da bàn chân. Tôi cầm tờ giấy phép có chữ ký "Trần Bát - Chính trị viên Đại đội", mừng quá, quốc bộ một mạch về đến nhà thì trời chạng vạng tối. Cả nhà có mặt đông đủ, đang ăn cơm tối - gọi là ăn khoai cõng cơm thì đúng hơn. Mẹ tôi thương con trai ở bộ đội mới về, trong nhà còn ít gạo, định nấu riêng cho tôi một niêu cơm không độn khoai nhưng tôi ngăn lại và thưa với mẹ rằng: "Ở bộ đội, con cũng ăn cơm độn khoai quen rồi!". Cả nhà mừng vui và khen tôi đã lớn lên rất nhiều.
Ba ngày trôi qua rất nhanh, tôi lại cuốc bộ một lèo về đơn vị. Gặp lại Chính trị viên, tôi báo cáo đã nghỉ phép xong, rất cảm ơn Chính trị viên đã cho tôi mượn đôi dép lốp đỡ rộp da bàn chân. Chính trị viên khen tôi chấp hành kỷ luật tốt và anh cho biết, tôi đã có quyết định bổ sung về đơn vị mới. Tạm biệt đất Châu Trúc, mảnh đất thấm đượm tình quân dân cá nước. Tôi không bao giờ quên được những ngày đầu ở bộ đội, đặc biệt là bà mẹ Châu Trúc đã chỉ bảo cho tôi cách nấu cơm dẻo canh ngọt cho Tiểu đội ăn trong thời gian huấn luyện tân binh ở đây. Các cán bộ khung huấn luyện như Chính trị viên Trần Bát, Tiểu đội trưởng Kính đã tận tình chỉ bảo cho tôi những bước đi đầu tiên của anh bộ đội Vệ quốc đoàn. Bước ngoặt của cuộc đời tôi có thể nói từ đây đã mãi mãi in sâu trong ký ức. Gần hai chục anh em tân binh bổ sung cho Đại đội 104 thuộc Phòng tham mưu Liên khu 5 (hồi đó, cơ quan Tham mưu Liên khu gọi là Phòng tham mưu). Đơn vị đóng quân ở huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Từ Châu Trúc, chúng tôi hành quân đến ga Phù Mỹ và lên chuyến tàu hỏa liên tỉnh Bình Định-Quảng Ngãi. Tàu chạy đến ga Nghĩa Hành thì chúng tôi xuống tàu. Lần đầu tiên đi hành quân bằng tàu hỏa thật là thích. Tàu chạy bằng than củi. Những đoạn đường dốc, nó ráng sức, chầm chậm bò lên, thở "xinh xịch, xinh xịch", ống khói khạc ra tàn lửa than như pháo hoa, trông rõ đẹp. Tàu vào ga vừa dừng bánh, trưởng tàu đã giục mọi người phải xuống nhanh để còn đưa tàu đi sơ tán, cất giấu đầu tàu vào vào tận trong hầm tàu Bình Đê. Trời sắp sáng, phải đề phòng máy bay địch đến oanh tạc. Ngành đường sắt Liên khu 5 chỉ còn được mấy đầu tàu hỏa, tuy đã cũ nhưng rất quý giá, phải cố gắng giữ. Chúng tôi xuống tàu, đi bộ chừng một giờ đồng hồ thì đến vị trí đóng quân. Cán bộ đã chờ sẵn đón chúng tôi và phân công về từng Tiểu đội. Chúng tôi được nghỉ 1 ngày để tắm giặt và ngủ bù. Ngày hôm sau, mới tờ mờ sáng, chúng tôi đã phải dậy để đi chống hạn giúp dân cứu lúa. Năm đó, ở Nghĩa Hành, trời nắng mấy tháng liền không có lấy một giọt mưa. Dòng sông Lệ nước cạn tới mức lội bộ qua được, các cánh đồng khô trắng. Lúa mới lên được dăm, bảy lá đã héo quắt. Chúng tôi cùng nhân dân đi múc nước ở các ao, các giếng lên đem tưới cho lúa. Kiểu múc nước từ giếng lên bằng gàu với cần vọt, tôi không quen nên chân tay nhanh mỏi rã rời, nhưng thấy lúa héo, ai cũng xót ruột, đều phải cố gắng làm mọi cách để cứu lúa, quên hết mệt và đói. Cuối mùa Thu, trời bắt đầu có mưa. Chúng tôi được ngừng đi tưới nước cho lúa. Cả mùa Hè nắng nóng, công sức của bộ đội bỏ ra, nay được đáp lại bằng một cánh đồng màu xanh như báo hiệu sắp có một mùa lúa tốt cho bà con Nghĩa Hành. Mùa huấn luyện lập công của bộ đội cũng bắt đầu. Để chuẩn bị cho Chiến dịch Đông Xuân 1952-1953, ở Nghĩa Hành, chúng tôi tập lăn lê bò toài, bắn súng rồi hành quân về Mộ Đức học chính trị, hành quân lên Nghĩa Thắng- Tư Nghĩa tập đánh công đồn, đánh vận động chiến... Chúng tôi đắp đồn giả để tập đánh bộc phá, phá rào mở cửa mở cho xung kích. Trong lúc tập, chúng tôi bị máy bay đến oanh kích nhưng không ai việc gì. Chúng tôi chuẩn bị hành trang để đi chiến dịch Bắc Tây Nguyên 52-53. Mỗi người được cấp phát 3 tháng lương khô, ngoài súng đạn ra còn thêm một chiếc cuốc chim, một con dao, ruột tượng gạo, ống tre đựng nước uống, ống tre lương khô, muối, rau, gạo... Rừng Bắc Tây Nguyên rộng mênh mông, rậm rạp nên phải đề phòng khi bị lạc đơn vị thì có thể tự túc được vài tuần lễ cho đến khi tìm được đơn vị. Xuất phát đi Chiến dịch Bắc Tây Nguyên, Đại đội chúng tôi rời Nghĩa Thắng trong một đêm cuối tháng 12 năm 1952. Trời tối đen như mực. Chúng tôi bám lưng nhau vượt qua Truông Ổi, hành quân qua Mộ Đức-Đức Phổ, băng núi vào Hoài Nhơn, Bình Định, tạm nghỉ mấy ngày. Đóng quân ở Hoài Châu, tôi được Đại đội cho ghé về thăm nhà ở Hoài Sơn trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Tôi về, được nhìn thấy mặt cha mẹ, anh, các chị và hai em là mừng vô kể. Tôi thấy sức khỏe của cha giảm sút đi nhiều so với hồi tôi mới nhập ngũ. Thương cha, lo cho sức khỏe của cha, nhưng tôi đành nuốt thương mà ra đi. Từ Hoài Nhơn, đơn vị hành quân vào Phù Cát, qua đèo Bồ Bồ lên Bình Khê. Để giữ bí mật cho các đơn vị chủ lực chiếm lĩnh trận địa tấn công, chúng tôi được lệnh gom một số người nghi làm tay sai cho giặc quanh các đồn Tứ Thủy, Cửu An đưa xuống xuôi để giáo dục. Chiến dịch được giữ bí mật tuyệt đối cho đến giờ khai hỏa. Trung đoàn 108 đánh đồn Cửu An được nổ súng trước. Trung đoàn 308 đánh đồn Tứ Thủy phát hỏa sau. Chiến dịch mở màn thắng lợi ròn rã, hai đồn bị tiêu diệt. Phát huy thắng lợi, hai Trung đoàn tiếp tục tấn công địch, tiêu diệt đồn Thượng An, thu được khẩu pháo 155 mm, chiếm lô cốt Eo Gió, khai thông đường 19 đi An Khê, đánh viện đường Hoàng Hoa Thám, đèo Măng Giang làm cho địch lo sợ, không dám tổ chức đánh chiếm lại các đồn Tứ Thủy, Cửu An nữa. Kết thúc chiến dịch, ta rút quân về Quảng Ngãi, mở Hội nghị thi đua mừng công. Đại hội được tổ chức ở núi Dầu Rái, Đức Phổ. Đại đội chúng tôi cùng với các đơn vị bạn được điều về đây chặt cây, cắt tranh (cỏ gianh) làm nhà để đón người về dự Đại hội. Rừng cây gỗ dầu lâu năm không khai thác, rất kín đáo, bảo đảm an toàn cho Đại hội, nhưng các khe suối rừng gỗ dầu quanh năm có nước làm cho lá gỗ dầu mục, sinh lắm muỗi, gây bệnh sốt rét. Tôi đã bị bệnh sốt rét hoành hành. Ngày nào cũng sốt nên phải nằm ở lán một mình còn anh em đi làm hết. Có hôm, hổ mò đến rình ở đầu lán, để lại một đống nước dãi to rồi bỏ đi, không dám vào lán. Rút lành nghiệm, hôm sau khi anh em đi làm thì đốt một đống lửa to ở đầu lán. Buổi sáng, khi cơn sốt dứt, tôi cố dậy, tự đi nấu một xoong cháo bí ngô để ăn cả ngày. Bệnh sốt dứt, Đại hội mừng công cũng kết thúc. Được lệnh trên, đơn vị hành quân về đồng bằng. Tôi gày yếu nhiều do bệnh sốt rét nhưng cố gắng hành quân theo anh em về đóng quân ở Phổ Phong. Ở đây xảy ra sự kiện long trời, đó là tin báo Đại nguyên soái Xtalin qua đời. Nhận được tin, ai cũng bàng hoàng thương tiếc. Đơn vị tổ chức lễ truy điệu cho Đại nguyên soái Xtalin ở Phổ Phong, Đức Phổ. Lễ truy điệu được tổ chức rất trang nghiêm. Bức ảnh chân dung Đại nguyên soái, khung được làm bằng màng chiếu phim treo phía trên, lư trầm khói thơm cả một vùng đặt ở phía dưới. Phút mặc niệm có bắn 5 phát súng SKZ. Kết thúc Chiến dịch Đông Xuân, đơn vị được nghi vài tuần lễ bồi dưỡng sức khỏe. Số anh em bị sốt rét, ghẻ ngứa hắc lào nặng được đưa về điều trị, an dưỡng ở Tiểu đoàn 45 đóng ở Phù Mỹ. Tôi cũng nằm trong diện đưa về đơn vị an dưỡng, về sau, khi đã dứt bệnh sốt rét, người tôi gầy xanh xao lại bị ghẻ khắp người nên không thể theo đơn vị vào hoạt động trong vùng địch được. Đơn vị chuẩn bị đi Chiến dịch Thu Đông trong vùng địch, tôi phải chia tay về đơn vị an dưỡng ở hậu phương. Thật là buồn! Hơn chục anh em sức khỏe òi ọp giống nhau cùng túc tắc hành quân từ Đức Phổ vào Phù Mỹ, nơi Tiểu đoàn 45 là đơn vị thu dung an dưỡng của Liên khu 5. Không hẹn mà gặp. Chúng tôi lại về đóng quân ở cửa biển Châu Trúc, gặp lại các má năm xưa đã từng giúp anh em chúng tôi khi mặc bộ đồ Vệ quốc đoàn bước vào đời bộ đội, gặp lại các cháu năm xưa chúng tôi dạy hát nay đã vụt lớn thành các cô thiếu nữ xinh tươi. Các cô gặp lại những anh bộ đội năm xưa bỗng má đỏ hồng lên, e lệ. Ở đâu cũng vậy, thiên thời địa lợi hầu như đều phú cho bên đàn bà con gái nhiều hơn. Cho dù cuộc sống nghèo khó, cực nhọc từ tấm bé, nhưng khi các cô gái lớn lên đến tuổi dậy thì, thì thân hình cũng trở nên gợi cảm và đôi mắt long lanh gợi bao nỗi nhớ thương, ao ước cho bên đằng trai. Cửa Châu Trúc, nơi dành cho bộ đội về an dưỡng là nơi có nhiều thuận lợi: độ an toàn cao, máy bay lẫn tàu chiến của địch ít chú ý tới; thực phẩm lại tươi ngon, có quanh năm; núi Chóp Vung có nhiều loại cây thuốc chữa bệnh ngoài da, nhất là căn bệnh ghẻ ngứa, hắc lào, sâu quảng... rất hiệu nghiệm. Tôi an dưỡng ở đây mới được một thời gian ngắn mà da dẻ đã hồng hào, các căn bệnh ngoài da cũng biến mất. Những anh em sức khỏe hồi phục tốt được biên chế về một Đại đội để sẵn sàng bổ sung cho các Trung đoàn chủ lực trong Liên khu. Không gì vui mừng hơn, tôi cũng được nằm trong diện đó. Tôi được bổ sung về Tiểu đoàn 365, Trung đoàn 803 chủ lực của Liên khu 5, tiếp tục chặng đường bước ngoặt cuộc đời ở Binh đoàn chủ lực Liên khu. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 27 Tháng Tám, 2025, 07:48:58 am Theo bước chân Tiểu đoàn 365 (Tiểu đoàn lá mít) Anh hùng Tiểu đoàn 365 là một trong những Tiểu đoàn chủ lực mạnh của bộ đội Liên khu 5. Sở trường chiến đấu của Tiểu đoàn giỏi đánh công kiên, giỏi đánh vận động chiến, giỏi đánh bao vây, giỏi thực hiện chiến thuật chặt đầu khóa đuôi, thọc sườn tiêu diệt gọn từng đơn vị địch, bắt tù binh, thu vũ khí... Tiểu đoàn 365 được thành lập ngày 15 tháng 5 năm 1949 tại xã Hòa Đa, Tuy Hòa, Phú Yên. Tôi về Tiểu đoàn 365 đúng vào dịp đơn vị đang gấp rút hoàn thành các bài tập đánh công đồn để kịp lên đường đi chiến dịch, về đơn vị, tôi chưa thuộc hết tên anh em trong cùng tiểu đội thì ngày hôm sau đã cùng anh em ra bãi tập.Đồng chí Tiểu đội trưởng phân công tôi ở tổ xung kích và giao cho tôi khẩu súng trường MAS có lê. Bài tập đầu tiên vượt chiến hào địch bằng cầu "giả thiết" ("giả thiết" được làm bằng tấm tre đan bắc ngang qua chiến hào). Chiến hào sâu độ vài mét, rộng chừng 4-5 mét, đáy hào có cắm chông cộng với dây thép gai. Động tác vượt cầu "giả thiết" phải chạy thật nhanh để chiếm giữ đầu cầu bên kia, hạn chế thương vong. Đã là lính xung kích thì bắt buộc phải thật giỏi vượt cầu "giả thiết" và chiếm đầu cầu. Nếu không giỏi thì dễ bị rơi xuống hào hoặc bị dính đạn địch. Sau khi chiếm đầu cầu, phát triển đánh vào trận nội. Trận nội gồm có tập đánh hầm ngầm bằng thủ pháo, lựu đạn, đánh địch phản xung phong, đánh địch giáp lá cà. Động tác cuối cùng của bài tập là dùng lưỡi lê đâm một "thằng bù nhìn rơm" được dựng sẵn ở trận nội. Ban ngày ra sức luyện tập các bài chiến thuật đánh công đồn. Ban đêm gấp rút hoàn thành các bài kỹ thuật bắn đêm. Đêm đêm, anh em kéo nhau đi bắt đom đóm, lấy dạ quang của nó để dán lên đầu ruồi và du tiêu của súng làm điểm ngắm bắn. Phương châm huấn luyện là một người phải thành thạo bắn được tất cả các loại súng được trang bị trong Tiểu đội, như súng trường, tiểu liên, trung liên, phóng lựu... để khi ra trận sẵn sàng thay thế cho nhau. Tôi mới về Tiểu đội, có vất vả hơn anh em cũ, nhưng cuối cùng cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện. Tổng kết huấn luyện, tôi được tặng giấy khen. Ngày lên đường đi chiến dịch đã cận kề. Công tác chuẩn bị rất bận rộn. Mọi người rất háo hức, vừa làm vừa hát, vui lắm. Những bài hát hào hùng nói về người lính, như "Bao chiến sĩ anh hùng", "Đoàn vệ quốc quân"... chúng tôi hát mãi mà vẫn thấy như mới. Những ngày chúng tôi chuẩn bị ra trận - giữa cái sống và cái chết mà trong lòng nhẹ tựa lông hồng. Anh em hồ hởi, phấn khởi, đoàn kết gắn bó như anh em một nhà. Những ngày cuối tháng 12 năm 1953, trời se lạnh, đêm tối đen như mực. Bộ đội đang ngon giấc thì được đánh thức dậy đi hành quân. Sau mấy chục phút, đơn vị đã tập hợp đầy đủ, đội hình chỉnh tề lên đường. Chúng tôi vừa rời khỏi nơi đóng quân (xã Mỹ Tài, Phù Mỹ) thì cùng tối đó có đơn vị khác đến thế chân, đóng quân ngay và hàng ngày luyện tập cho bộc phá nổ, hô xung phong vang trời. Tiếng kèn đồng quen thuộc (hồi đó, mỗi Tiểu đoàn chủ lực được biên chế một tổ kèn đồng, mỗi Đại đội một kèn đồng. Kèn đồng của nhà binh Pháp, ta thu được) vẫn dõng dạc kêu vang để đánh thức bộ đội, ăn cơm, đi ngủ... đã làm cho bọn tình báo của địch lầm tưởng Tiểu đoàn 365 vẫn còn đóng quân ở xã Mỹ Tài. Đến ngày chiến dịch mở màn, địch mới biết bộ đội chủ lực của Liên khu đã lên mặt trận Tây Nguyên. Một mưu lược nghi binh đánh lừa địch thật tuyệt vời của Bộ tư lệnh Liên khu 5. Chúng tôi đi từ Mỹ Tài vào huyện Phù Cát rồi lật cánh lên phía Tây đường quốc lộ số 1 rồi vòng lại, đi ra Hoài Nhơn. Hành quân đêm, trời tối đen như mực, người đi sau nhìn theo ánh sáng dạ quang đom đóm gắn trên lưng áo của người đi trước, cứ thế mà đi, không được nói chuyện, không được gọi nhau. Đi đến địa phận xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn thì trời vừa sáng. Đơn vị tạm nghỉ để đến tối hành quân tiếp. Hoài Sơn là quê tôi. Ngày xưa gọi là xứ Vũ Sơn - Bình Đê. Tôi được sinh ra và lớn lên ở đây cho đến ngày đi bộ đội. Gia đình nghèo, đông anh chị em, quanh năm ăn độn khoai. Làng Hy Văn gần làng Cản Hội là nơi đơn vị tạm trú quân. Tôi định xin Tiểu đội trưởng cho chạy về thăm nhà để thấy mặt cha mẹ, các anh chị em một chút cho đỡ nhớ. Lần này đi chiến dịch dài ngày, cha mẹ sẽ lo và nhớ mình lắm! Mấy lần tôi định đi gặp Tiểu đội trưởng, nhưng lại thôi, đành gác lại vì để giữ bí mật cuộc hành quân như lời dặn dò của cán bộ. Tôi thầm hứa với cha mẹ, sau khi hoàn thành con sẽ về thăm đền ơn cha mẹ, còn bây giờ, cha mẹ tha lỗi cho con. Trời tối hẳn, người đi trên đường không nhìn rõ mặt nhau. Đơn vị tiếp tục hành quân. Chúng tôi vượt qua đèo An Đổ sang đất Đức Phổ, Quảng Ngãi và đi về hướng Ba Tơ. Rừng núi Ba Tơ trùng trùng điệp điệp, nơi đây có căn cứ của Đội du kích Ba Tơ, là nơi cội nguồn của lực lượng vũ trang Liên khu 5. Ở đó, Đội du kích đã từng "ngày đêm mài sắt thành gươm súng, ngày đêm rèn chí lớn vang vang chiến khu...". Bài hát "Du kích Ba Tơ" còn đọng mãi trong lòng mọi người. Nó như tiếng kèn giục giã đoàn quân ra trận hôm nay phải giành chiến thắng. Đơn vị trú quân trong rừng Ba Tơ, học tập quán triệt nhiệm vụ và Nghị quyết của Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu về nhiệm vụ, mục tiêu của chiến dịch. "... Tập trung bộ đội chủ lực cho nhiệm vụ tấn công lên Tây Nguyên. Phải chiến thắng và thắng ngay từ trận đầu, kiên quyết đạt cho được mục tiêu đã đề ra…", đông thời cũng học và thảo luận, quán triệt phương châm tác chiến của Tổng quân ủy "Tích cực chủ động, cơ động linh hoạt...". Những nội dung sinh hoạt chính trị nâng cao nhận thức cho bộ đội rất cơ bản trước khi mở màn chiến dịch. Quyết tâm chiến đấu của bộ đội được nâng cao. Từ Ba Tơ đến Mang Đen, chúng tôi hành quân ban ngày. Bộ đội đi trong rừng già, bóng cây to che phủ kín mặt đất. Trời mới xế chiều mà như đã tối từ lâu. Cảnh rừng âm u. Hành quân đi qua các buôn của đồng bào Ê Đê khi hoàng hôn buông xuống, những tiếng cồng, chiêng vang lên nghe buồn làm sao! Ở trong vùng địch, đồng bào Ba Na, Ê Đê bỏ buôn vào ở sâu trong rừng, bất hợp tác với địch. Đời sống của đồng bào vô cùng khổ cực. Bà con phải lấy vỏ cây che thân vì không có vải, đốt cỏ tranh lấy than ăn thay muối, nhưng khi nghe tin bộ đội hành quân qua thì bà con lập tức bắt gà, hái trái bí đem cho bộ đội ăn để còn "mạnh cái chân mà đi đánh giặc Pha lăng (giặc Pháp)". Tấm lòng của đồng bào Tây Nguyên với cách mạng, với Bác Hồ thật thủy chung son sắt. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 27 Tháng Tám, 2025, 07:50:41 am Để giữ bí mật tiếp cận đồn quân địch, đơn vị phải lập đường hành quân trên đường núi cao dốc đứng, khó đi lắm. Nhưng tất cả anh em chúng tôi đều đến được nơi tập kết an toàn và bí mật.
Chúng tôi chuẩn bị đánh đồn Mang Đen - tiền đồn của tuyến phòng thủ của địch ở hướng Đông Bắc thành phố Kon Tum. Đồn có lô cốt bê tông, hầm ngầm, giao thông hào và hàng rào dây thép gai nhiều lớp rào bao quanh và dày đặc chông. Hỏa lực bố trí thành nhiều tầng đạn đan chéo hỗ trợ cho nhau. Trong đồn có 1 khẩu cối 120 mm đủ sức ngăn chặn ta tấn công mở đột phá khẩu. Trong khu rừng Mang Đen, anh em chúng tôi ngồi quây quần nghe thông báo: ngày 20 tháng 01 năm 1954, địch đổ bộ lên Tuy Hòa, Phú Yên, đánh phá ác liệt vùng tự do của ta. Nghe tin, ai ai cũng sục sôi căm thù, quyết tâm tiêu diệt đồn để trả thù cho đồng bào Phú Yên. Tiểu đoàn 365 được giao làm nhiệm vụ dự bị cho trận tiêu diệt đồn Mang Đen. Trận đánh mở màn cho chiến dịch phải đảm bảo chắc thắng. Đêm ngày 27 tháng 1 năm 1954, chúng tôi đã hành quân đến vị trí tập kết cuối cùng, triển khai đào công sự, chờ lệnh nổ súng. Đúng 23 giờ 30 phút, đơn vị chủ công khai hỏa, tấn công đồn. Các loại hỏa lực nổ dồn dập trút bão lửa xuống đồn. Đơn vị bộc phá ống đánh phá rào kết thúc. Tổ bộc phá 29 kg đánh phá lô cốt đầu cầu tạo tiếng nổ vang trời, rung đất. Bước mở đột phá khẩu thuận lợi, nhưng bước phát triển đánh trận nội gặp hỏa lực dày đặc, ác liệt. Anh em ta bị thương vong, trận đánh bị kéo dài. Chúng tôi rất sốt ruột, muốn xông lên hỗ trợ cho đơn vị bạn giải quyết dứt điểm trận nội. Trời rạng sáng. Được lệnh xuất kích. Chúng tôi vượt cửa mở, chiếm đầu cầu thì địch ở trong trận nội đầu hàng. Đơn vị bạn đang bắt tù binh, thu vũ khí chiến lợi phẩm. Trận đánh mở màn chiến dịch đã giành thắng lợi ròn rã, thực hiện được quyết tâm của trên. Tiểu đoàn 365 được lệnh hành quân cấp tốc lên Kon Tum. Trên đường đi đã bắt được tên quan Một của Pháp. Tên này chỉ huy một Trung đội lính người Thượng, phục kích ta bên ngoài đồn Mang Đen. Khi ta tấn công đồn, bọn lính người Thượng chạy hết vào rừng, tên Pháp không chạy kịp theo lính, bị ta bắt làm tù binh. Chiều ngày 28 tháng 1, trên đường hành quân đi Kon Rẫy, đơn vị bị một trận oanh tạc dữ dội của 4 máy bay khu trục Hen-cát. Nó thả bom na-pan và bắn pháo xuống giữa đội hình hành quân của Tiểu đoàn. Nguyên do lộ bí mật là gánh nồi xoong nấu cơm của tổ "anh nuôi" đi bên cạnh đường, ngụy trang không kín. Chiếc L-19 tinh quái bay trinh sát phát hiện, bắn pháo khói chỉ điểm cho khu trục oanh tạc. Đơn vị chưa xáp địch mà đã có anh em hy sinh, thật đáng tiếc. Tối 28 tháng 1, chúng tôi vượt sông Đác, qua cầu Kon Rẫy, tiến về hướng thành phố Kon Tum. Đến cách Kon Tum chừng 10 km, triển khai đội hình phục kích trên đường 24, đoạn Kon Tum - Kon Rẫy. Chúng tôi nằm phục kích đã mấy ngày nhưng địch vẫn chưa dám hành quân chiếm lại Kon Rẫy - Mang Đen. Dân công không gánh gạo theo kịp bộ đội. Chúng tôi bắt đầu thiếu gạo. Hàng ngày, suất ăn của một người chí được một vắt cơm bằng nắm tay, chia làm hai bữa sáng và tối. Mùa khô ở Tây Nguyên bắt đầu. Ban ngày rừng khô khốc, nóng toát mồ hôi nhưng đêm xuống thì rất lạnh, bụng đói cồn cào, không sao ngủ được. Đêm 30 Tết Giáp Ngọ (3-2-1954), một kỷ niệm khó quên của đời bộ đội đối với tôi: quà đón giao thừa, mỗi người được nhận một miếng kẹo sô-cô-la (kẹo chiến lợi phẩm) to bằng ngón tay để đến giờ giao thừa chuyền cho nhau biết và bắt đầu ăn kẹo. Gọi là ăn nhưng chỉ ngậm để nó tan dần ở đầu lưỡi càng lâu cảm giác càng ngon. Tất cả chúng tôi ngủ dưới hầm, đề phòng pháo 105 mm của địch. Lúc này dậy lên nỗi nôn nao nhớ quê, nhớ nhà, nhớ cha mẹ, anh chị em da diết! Không biết năm nay Tết mẹ mình có mua được pháo Tết hay không? Tập quán đón Tết cổ truyền ở quê tôi, dù nhà nghèo đến mấy cũng phải có pháo Tết vì pháo đối với mấy ngày Tết có nhiều ý nghĩa lắm. Từ đời xa xưa truyền lại rằng, tiếng pháo Tết sẽ đuổi ma tà đi khỏi nhà, đuổi cái nghèo khổ, buồn phiền của năm cũ đi và đón lộc, đón niềm vui của năm mới tới. Bởi vậy, nhà nào cũng cố phải có pháo Tết. Cha tôi thường dặn mẹ tôi phải mua cho được 5 trái pháo tít (còn gọi là pháo tống). Cúng tất niên xong, đốt 1 trái vào tối 30 để đuổi ma tà ra khỏi nhà và đón tổ tiên về nhà ăn Tết. Sáng mồng một, đốt một trái để rước lộc năm mới về nhà và tối hôm đó đốt một trái nữa. Mồng hai Tết, con cháu về chúc Tết phía nội, ngoại. Tối mồng ba Tết, đốt nốt số pháo còn lại và cũng đưa tiễn tổ tiên. Ở quê tôi, tập quán đốt pháo Tết như thế, nhưng những nhà khá giả thì họ đốt nhiều trái hom. Đến cuối thế kỷ 20 thì phổ biến là đốt pháo dây. Một dây có thể có đến 50-60 trái pháo. Nhiều nhà có điều kiện thì không chỉ đốt một dây mà đốt đến 3-4 dây. Ở các thành phố, đến giờ, pháo nổ đinh tai nhức óc. Khói pháo bay mù mịt đường phố. Tình trạng này kéo dài sang đầu thế kỷ 21 thì chấm dứt do lệnh cấm đốt pháo của Chính phủ. Sau Tết có nhiều gạo do dân công gánh từ dưới đồng bằng lên, nhưng lại xảy ra thiếu lương khô vì trong thời gian thiếu cơm, anh em đã sử dụng hết đám lương khô dự trữ rồi. Cứ ăn lương khô và uống nhiều nước vào là no. Bộ đội đi đánh giặc, cần nhất phải có 5 cái "có" là: "có cơm", "có đường", "có muối", "có nước" và "có đạn". Nếu chỉ thiếu một "có" là sức chiến đấu giảm sút ngay, huống chi lúc này, chúng tôi thiếu đến 4 "có" (cơm, muối, đường, nước), nhưng ý chí chiến đấu, khí thế tiến công của đơn vị không hề bị giảm. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 27 Tháng Tám, 2025, 07:52:07 am Sáng ngày 7 tháng 2 năm 1954, tức ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu, đúng ngày mà cách đây hơn 1 thế kỷ, vua Quang Trung đã cưỡi voi chiến, dẫn đầu đội quân tiến vào thành Thăng Long. Đơn vị nhận được tin địch bỏ thành phố Kon Tum, tháo chạy về Plây Cu.
Chúng tôi được lệnh hành quân đuổi theo. Bất chấp máy bay khu trục của địch bắn phá chặn đường, bất chấp đói và khát, chúng tôi vừa đi vừa chạy. Chúng tôi đến thị xã Kon Tum thì trời vừa tối, phố phường đã lên đèn, khung cảnh thật yên bình, không một tiếng súng. Chúng tôi tiếp tục hành quân qua cầu Kon Tum, rẽ trái đi đường 19 bis (Kon Tum - An Khê). Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ chuẩn bị đánh đồn Đắc Đoa. Đồn Đắc Đoa nằm trên đường 19 bis, là một trong những vị trí quan trọng bậc nhất, án ngữ bảo vệ hướng Đông Bắc thành phố Plây Cu và trục đường chiến lược số 19 Bình Định - Tây Nguyên. Đồn Đắc Đoa do 2 Đại đội lính Âu Phi của Tiểu đoàn 2, Binh đoàn cơ động số 100 chốt giữ. Đồn có lô-cốt, hầm ngầm vững chắc, có nhiều lớp hàng rào kẽm gai bao quanh. Phạm vi rào rộng, hình ngôi sao, gây nhiều khó khăn khi đánh bộc phá mở cửa khẩu. Đặc biệt, đồn được 1 Tiểu đoàn pháo 105 mm ở Biển Hồ (buôn Plâycó) yểm trợ. Ở sân bay Plây Cu, có một đội máy bay sẵn sàng cất cánh chi viện. Ta đánh đồn Đắc Đoa không còn yếu tố bí mật, bất ngờ vì địch đã biết quân ta đang vây hãm đồn. Đêm đêm, chúng gọi pháo ở buôn Plâycó bắn cản phá, gây cho ta gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận hàng rào đồn. Khi tiến đánh, ta đã có sáng kiến dùng bộc phá ống dài gấp đôi bộc phá ống bình thường để mở đột phá khẩu cho nhanh, hạn chế thương vong. Trên giao cho Đại đội 242 tổ chức một Tiểu đội trinh sát thọc sâu lên phía Bắc Biển Hồ (buôn Plâycó) để xác định vị trí trận địa pháo 105 mm, nhằm dẫn đường cho đơn vị tập kích trận địa pháo. Tiểu đội trinh sát do anh Thiện Tích chỉ huy.Tôi được anh giao nhiệm vụ đi sau cùng đội hình để cảnh giới phía sau. Tiểu đội luồn rừng, nhằm hướng đề-pa của súng ca-nông đi tới. Qua hai ngày luồn rừng, vẫn chưa tìm được buôn Plâycần, nơi địch đặt trận địa pháo. Tiểu đội nhận được tin đơn vị bạn cùng đi tìm trận địa pháo đã phát hiện được và sẵn sàng đánh tập kích chi viện cho Tiểu đoàn 365 đánh đồn Đắc Đoa. Tiểu đội tôi nhận lệnh về lại đội hình của Đại đội 212 chuẩn bị đánh đồn Đắc Đoa vì "ngày N" (ngày khai hỏa) đã đến. Đêm ngày 17 tháng 2 năm 1954, đúng vào đêm Rằm tháng Giêng, trăng sáng vằng vặc. Chúng tôi chiếm lĩnh trận địa, đào công sự vừa xong thì trận đánh khai hỏa. Trận đánh diễn ra tương đối thuận lợi ban đầu. Các chiến sĩ bộc phá đánh phá hàng rào kẽm gai nổ dồn dập. Hàng rào kẽm gai sắp bị phá tan. 12 khẩu pháo 105 mm ở buôn Plâycó không bắn được phát nào vì cũng bị đơn vị bạn tập kích. Chúng tôi nghĩ, trận đánh chắc chỉ độ một giờ nữa là kết thúc, ta chiếm xong đồn và thương vong sẽ không đáng kể. Song chỉ kéo dài được mấy phút thì pháo 105 mm ở buôn Plâycó bắt đầu bắn cấp tập, trút bão lửa xuống cửa đột phá khẩu. Trận đánh trở nên rất gay go, ác liệt. Bộ đội bị thương vong rất nhiều. Chỉ huy trận đánh lệnh cho Đại đội 211 từ hướng phụ chuyển thành hướng chính, thay cho Đại đội 213 vì Đại đội 213 bị thương vong nhiều, sức đột kích giảm. Đại đội trưởng Đại đội 211 là Lê Công Khai mặc dù bị thương nát cả hai chân, anh cắn răng nhịn đau, lết bằng hai tay theo đội hình để chỉ huy. Bộ đội mở cửa đột phá khẩu xong, anh tiếp tục động viên bộ đội xông lên chiếm đầu cầu. Vì bị thương quá nặng, anh Lê Công Khai đã hy sinh tại Trạm quân y dã chiến ở Đắc Đoa. Sau này, anh được tuyên dương Anh hùng quân đội. Đánh vào trận nội lại càng quyết liệt. Đại đội 212 vào trận nội ở hướng chính. Tôi cầm súng và xách một giỏ thủ pháo theo Tiểu đội xông vào trận nội, mặc cho đạn pháo 105 mm nổ dồn dập xung quanh mình. Trong đồn, khói lửa ngút trời, đạn vạch đường của địch bay chíu chíu trên đầu. Nhờ có ánh sáng trăng nên tôi nhìn rõ các lỗ châu mai của lô-cốt. Nó giống như miệng con cá sấu khổng lồ đã nhai nát bao nhiêu đồng đội của mình, uất ức quá! Tôi rút chốt an toàn quả thủ pháo, chuẩn bị tống vào lỗ châu mai thì thấy lá cờ trắng tung ra. Tôi dừng tay và báo cáo với Tiểu đội trưởng: "Địch đầu hang!". Toàn bộ địch trong lô-cốt, trong hầm ngầm lúc nhúc kéo ra, giơ hai tay lên trời, đầu hàng. Tiểu đội trưởng giao cho chúng tôi bắt tù binh, thu vũ khí. Chúng tôi đã bắt gọn gần 200 tu binh và thu nhiều vũ khí. Trời sáng dần, tôi nhìn cảnh đồn Đắc Đoa bị súng vòng cầu, bộc phá của ta bắn nát giống như cái xác của thằng Tây chết nằm giữa đồn. Thật đáng đời quân thực dân giết người. Mới cách đây mấy chục phút thôi, đồn Đắc Đoa giống như một con thú dữ. Đồn được pháo 105 mm cùng với các loại hỏa lực trong đồn đã làm cho ta bị thương vong hơn 100 (trong đó hy sinh 30, có 6 cán bộ Đại đội). Chúng tôi vô cùng thương tiếc các anh! Đơn vị tổ chức lễ truy điệu và mai táng chu đáo. Anh em đã nằm lại mảnh đất Đắc Đoa này mãi mãi. Đơn vị tiếp tục hành quân vào phía Nam chiến đấu trả thù cho các anh. Tiểu đội tôi được trên giao nhiệm vụ chốt giữ đồn cho tới chiều tối hôm đó mới được rút. Sáng ngày 18 tháng 2 năm 1954, địch cho 4 máy bay khu trục "Hen-cát" bay tới thả bom na-pan xuống quanh đồn. Bom na-pan đốt cháy kho chè và giết chết nhiều bò. Sở chè Đắc Đoa có nuôi đàn bò rất đông. Khi máy bay oanh tạc, chúng chạy tán loạn vào rừng. Trên cho phép đơn vị tìm bắt về cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Tiểu đội tôi đi lùng trong rừng tìm bò suốt đêm ngày 19-2, gần sáng mới bắt được 1 con, đem về giao cho tổ "anh nuôi" thịt. Chúng tôi được ăn một bữa thịt bò ngon tuyệt, như được thêm sức mạnh để hành quân vào Nam Tây Nguyên. Sau khi mất đồn Đắc Đoa, Bộ chỉ huy quân Pháp ở Tây Nguyên hoang mang, dao động mạnh. Nếu ta dân tới uy hiếp Plây Cu, địch có thể bỏ Plây Cu chạy về Buôn Mê Thuột. Nếu để xảy ra tình huống đó, sẽ giống như vuốt đuôi hổ, ta không thực hiện được mục tiêu là phải đánh lớn, diệt được nhiều sinh lực địch, đập tan chiến dịch Át-lăng của tướng Nava. Trên chủ trương đưa Trung đoàn chủ lực 803 bí mật vào Nam Tây Nguyên và đưa Tiểu đoàn 365 xuống đồng bằng Phú Yên một Tiểu đoàn chủ lực mạnh. Một chủ trương thượng sách, dùng quân của Bộ tư lệnh Liên khu là một đòn trời giáng xuống Bộ tham mưu Pháp ở Tây Nguyên. Tiểu đoàn 365 trong đội hình của Trung đoàn 803 chuẩn bị vượt đường 19, bí mật vào Nam Tây Nguyên. Bất ngờ, trên lệnh xuống: Tiểu đoàn tách khỏi đội hình của Trung đoàn, bí mật hành quân xuống Bình Định, vào Phú Yên tác chiến. Không được cùng đi với đội hình của Trung đoàn, anh em rất buồn, song bù lại cũng rất vui vì được về đồng bằng, đặc biệt lại được về Phú Yên, nơi cội nguồn của Tiểu đoàn để chiến đấu giải phóng quê hương. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 27 Tháng Tám, 2025, 07:52:59 am Từ Đắc Đoa, đơn vị hành quân đi liên tục 5 ngày 5 đêm, xuyên rừng lội suối vất vả, gian khổ. Về tới Bình Khê (Bình Định), đơn vị dừng chân làm lương khô, bổ sung gạo, đạn... Nhân dân Bình Khê mang đỗ đen, đường... đến ủng hộ bộ đội nấu chè bồi dưỡng vì bà con biết bộ đội ở trên rừng lâu ngày thiếu chất ngọt. Đơn vị tiếp tục hành quân vượt qua sông Côn (Bình Định) vào Đồng Xuân (Phú Yên). Tiểu đoàn dừng chân qua đêm tại xã Xuân Phước - Suối Cối. Từ tờ mờ sáng ngày 22 tháng 3 năm 1954, cán bộ tập trung đi nghiên cứu trận địa. Trinh sát Tiểu đoàn bất ngờ chạy về đơn vị báo cáo: "Có một Tiểu đoàn địch đang tiến đến hướng Xuân Quang-Suối Cối!". Thời cơ diệt địch đã đến! Anh em rất nóng lòng chiến đấu. Khi được tin trận đánh mở màn Đại chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi ròn rã (tiêu diệt đồn Him Lam tối ngày 13 tháng 3 năm 1954) càng cổ vũ tinh thần chiến đấu của bộ đội. Tiểu đoàn đang đi tìm địch để đánh thì chúng nó lại dẫn xác đến nộp. Cán bộ đi tìm trận địa đã về kịp triển khai ngay đội hình chiến đấu. Tiểu đoàn phân công cho Đại đội 211 đánh chặn đầu Đại đội 213 đánh khóa đuôi, Đại đội 212 đánh tạt sườn. Địch lọt vào trận địa, đơn vị chặn đầu, khóa đuôi khai hỏa, súng nổ dồn dập. Đại đội 212 xuất kích đánh tạt sườn. Tiểu đội tôi vượt qua mấy đám mì, cỏ cao lút đầu người, chưa thấy địch thì vấp phải con suối (suối Cối), đội hình bị khựng lại. Địch phát hiện bộ đội ta, chúng lập tức bám vào bờ suối làm công sự chống trả quyết liệt. Chúng gọi pháo 105 mm ở La Hai bắn lên chi viện. Đơn vị bị thương vong. Anh Nhạ Đại đội trưởng, anh Bé Chính trị viên Đại đội hy sinh. Đồng chí Xuân, tổ trưởng tổ "tam tam" của tôi cũng hy sinh. Tôi khóc, vô cùng thương tiếc các anh, đặc biệt thương anh Bé. Những ngày hành quân gian khổ, Chính trị viên Bé luôn đi sâu đi sát động viên chiến sĩ, trong đó có bản thân tôi. Sau này, tôi được biết ý định của Chính trị viên-Bí thư Chi bộ sẽ kết nạp tôi vào Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Sau trận đánh, các đồng chí trong Chi bộ kể lại như vậy. Nay anh Bé không còn nữa, cả đơn vị vô cùng tiếc thương, quyết xông lên tiêu diệt địch trả thù cho các anh. Bất chấp địch bắn như rải đạn trên đầu, anh Thiện Tích và tôi khiêng anh Bé đặt nằm trong bóng cây mát. Trên bầu trời, chiếc máy bay "bà già" bay quần đao chỉ điểm cho pháo 105 mm ở La Hai bắn chi viện. Máy bay thả xuống một lá cờ đuôi nheo động viên bọn "Hổ xám" (Tiểu đoàn 2 ngụy lâm quân) cố thủ chờ viện binh. Bọn địch ở La Hai không dám đưa quân lên suối Cối cứu viện. Ta nhiều lần gọi địch cố thủ ra đầu hàng sẽ được khoan hồng, song chúng rất ngoan cố chống lại. Trời sắp tối, không thể để trận đánh kéo dài thêm. Tiểu đoàn ra lệnh dùng đạn "phóng bom" nã vào khu vực cố thủ của địch. Công sự bị phá banh, ta tổ chức xung phong đánh giáp lá cà. Toàn bộ bọn địch còn sống sót giơ cờ trắng đầu hàng. Ta bắt sống hơn 100 tên. Số địch chết gần 200 tên. Trận đánh kết thúc thì trời cũng vừa tối. Ta đã tiêu diệt và xóa sổ Tiểu đoàn 2 ngụy lâm quân tại con suối Cối, Xuân Phước, La Hai, Phú Yên. Về phía ta, tổn thất tuy không lớn nhưng rất đau là hy sinh mất 4 cán bộ Đại đội, 8 cán bộ Trung đội và Tiểu đội, hầu hết là đảng viên ưu tú.
Tôi cùng với anh em trong Tiểu đội tìm đến chỗ mà tôi và anh Tích đã đặt anh Bé, Chính trị viên nằm, nhưng bà con Xuân Phước đã đưa anh về nghĩa trang của xã. Chúng tôi đứng nghiêm trước nơi đã đặt anh nằm, ngả mũ vĩnh biệt người Chính trị viên yêu quí cùng tất cả anh em đồng chí của mình đã anh dũng hy sinh, nằm lại mảnh đất Suối Cối này. Cũng tới lúc này, tôi mới có thời gian sờ lên cái chỏm "mũ phớt" của mình, mới thấy đạn đã xuyên thủng 5 lỗ, may mà không vào đầu! Chiến thắng Suối Cối có ý nghĩa rất lớn. Trước hết, nó cổ vũ quân và dân Phú Yên, Bình Định tích cực đẩy mạnh chiến tranh du kích, tìm diệt tiêu hao sinh lực địch, kìm chân địch ở Phú Yên, Bình Định, làm cho chiến dịch Át-lăng lâm vào thế sa lầy. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho chiến ưường Tây Nguyên phát triển tiêu diệt các Binh đoàn thiện chiến của Pháp, tạo thành 2 gọng kìm (đồng bằng và Tây Nguyên)/ địch không còn lực lượng để đưa ra chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ. Sau trận Suối Cối, có tin Binh đoàn 42 của địch chuẩn bị cơ động lên Tây Nguyên theo tuyến đường La Hai-Củng Sơn. Chúng tôi hành quân cấp tốc, nhằm phục kích, đánh chặn địch trên đoạn đường từ La Hai đi Củng Sơn. Cùng với đơn vị bạn, chúng tôi nằm phục kích gần 1 tuần lễ, nhưng không thấy động tĩnh gì. Với phương châm đi tìm địch mà đánh, Tiểu đoàn hành quân vào Nam Phú Yên. Mục tiêu là căn cứ Bàn Nham-Bàn Thạch do 1 Tiểu đoàn khinh quân số 506 của ngụy chốt giữ. Cứ điểm này nằm án ngữ bảo vệ phía Nam thị xã Tuy Hòa và con đường số 1 chiến lược, đoạn Nha Trang-Tuy Hòa. Cứ điểm được chia thành 2 khu (A và B). Khu A giao cho 2 Đại đội 211 và 212 đánh. Khu B giao cho Đại đội 213 hiệp đồng với đơn vị bạn đánh. Đúng 1 giờ ngày 20 tháng 4 năm 1954, ta bắt đầu khai hỏa. Hỏa lực vòng cầu dồn dập chế áp địch. Bộc phá ống phá mở rào đột phá khẩu rất thuận lợi, không có thương vong. Tôi ở Tiểu đội xung kích của Đại đội 212 được lệnh tiến vào đánh trận nội. Trong trận nội, địch chống trả yếu ớt. Một số địch bị ta diệt, một số đầu hàng, còn số đông địch chạy trốn. Chúng tôi đang lùng bắt tù binh thì được lệnh cơ động sang khu B chi viện cho đơn vị bạn. Đại đội vận động sang đến khu B, đang tìm hướng đột kích thì lại nhận được lệnh thu hết liệt sĩ, thương binh và rút lui vì trời sắp sáng, trận đánh kéo dài không lợi. Kết quả trận đánh: có 200 tên địch bị diệt, chưa kể số bị thương và bị bắt làm tù binh. 60 đồng bào bị giam trong đồn được giải phóng. Ta hy sinh 30 đồng chí. Đây là trận đánh thắng nhưng không diệt gọn được địch. Nguyên nhân chính là do chủ quan, chưa dự kiến hết các tình huống gặp khó khăn, như hiệp đồng với đơn vị bạn khi đánh khu B... Lúc này tình thế chiến trường rất thuận lợi cho chúng ta. Chiến dịch Điện Biên Phủ ta giành được đại thắng lợi. Địch đã bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh hơn 16.000 tên, ta thu rất nhiều vũ khí trang bị, có nhiều pháo lớn... Chiến dịch Át-lăng bị sa lầy, dẫm chân tại chỗ ở Phú Yên và Quy Nhơn-Bình Định. Hội nghị về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương đang tiến hành họp ở Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ). Thế trận nhìn chung, địch đang bị động đối phó trên khắp các chiến trường. Đây là thời cơ lớn, ta cần dấn tới để tiêu diệt nhiều sinh lực địch hơn nữa, nhanh chóng thu hồi lại các vùng đất tự do của Liên khu 5 vừa bị địch chiếm trong chiến dịch Át-lăng. Tiểu đoàn được lệnh hành quân cấp tốc lên phía Tây Phú Yên, chuẩn bị đánh cứ điểm Tuy Bình. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 27 Tháng Tám, 2025, 07:54:37 am Cứ điểm Tuy Bình nằm phía Tây tỉnh Phú Yên, án ngữ giữa ngã 3 đường số 7 và đường số 21 (Củng Sơn-Cheo Reo) và giữa 2 con sông (sông Ba và sông Hinh). Vị trí rất hiểm yếu. Địch chiếm giữ địa lợi. Vì vậy, chúng rất chủ quan đề phòng ta tấn công. Công sự thì tạm bợ, chỉ có 1 lớp hàng rào kẽm gai. Lực lượng của địch gồm 1 Tiểu đoàn khinh quân số 504 và 1 Trung đội xe bọc thép.
Tiểu đoàn hiệp đồng với đơn vị bạn cùng đánh cứ điểm, khai hỏa vào lúc 1 giờ ngày 2 tháng 6 năm 1954. Tiểu đoàn 365 hành quân tập kết phía Đông sông Ba (cứ điểm nằm ở phía Tây sông Ba), chờ cho trời tối thì bắc cầu phao vượt sông, tiếp cận áp sát cứ điểm. Đêm đã khuya nhưng địch trong cứ điểm vẫn còn thức để chơi bài, không hề hay biết gì. Đúng 1 giờ sáng ngày 2 tháng 6, hai đơn vị đồng loạt khai hỏa, tấn công cứ điểm. Các loại súng vòng cầu của ta bắn chính xác vào trận nội. Đơn vị mở đột phá khẩu đã hoàn thành. Tôi ở Tiểu đội xung kích của Đại đội 212 xung phong vào trận nội, chiếm giao thông hào, đánh địch chạy ra phía bờ sông Ba. Địch một số chết, một số đầu hàng, còn lại phần đông vứt súng chạy vào rừng trốn. Trận đánh kết thúc thì trời cũng vừa rạng sáng. Đơn vị tôi được phân công ở lại cứ điểm lùng bắt bọn tàn quân, thu vũ khí. Trưa ngày 2 tháng 6, địch cho 4 chiếc "Hen-cát" đến ném bom na-pan đốt cháy toàn bộ số xe chiến lợi phẩm mà ta cất giấu trong lùm cây cạnh bờ sông Ba. Máy bay ném bom trúng xe là nhờ bọn tàn quân khi chạy trốn có mang theo máy vô tuyến điện để chỉ điểm. Chiều hôm ấy, địch cho 1 chiếc "Đa-cô-ta" đến ném bom phá hủy một số phà đang đậu tại bến (bến phà Củng Sơn-Tuy Bình). Tối hôm đó, trời tối đen như mực nhưng anh em đã đốt đuốc để sửa chữa được một số phà và đưa toàn bộ số xe bọc thép sang phía Đông sông Ba rồi chạy về căn cứ của ta an toàn. Chúng tôi được lệnh hành quân tiếp tục lên phía Tây Phú Yên để đánh đồn Buôn A-ê-riêng. Đêm tối, trời nổi sấm chớp và mưa xối xả. Đến chừng nửa đêm, ta nhận được tin là địch đã bỏ đồn, chạy lên Cheo Reo. Đơn vị lại nhận lệnh quay về đồng bằng Phú Yên hoạt động. Lúc này, tại bàn Hội nghị ở Giơ-ne-vơ, hai bên (ta và Pháp) đang đấu tranh giằng co về việc đặt giới tuyến quân sự tạm thời ở vĩ tuyến nào? Phía Pháp khăng khăng đòi đặt ở vĩ tuyến 20. Phía phái đoàn của ta kiên quyết đòi đặt ở vĩ tuyến 13. Nghe tin đó, với sự nhạy bén về chính trị của các cấp chỉ huy, muốn tranh thủ tấn công mạnh hơn nữa, đẩy quân địch xuống dưới vĩ tuyến 13. Như vậy, ta vừa hỗ trợ đắc lực cho phái đoàn của ta ở Hội nghị Giơ-ne-vơ, vừa làm cho chiến dịch Át-lăng của Nava chóng phá sản, đồng thời thu hồi nhanh các vùng tự do của ta ở Phú Yên đang bị địch chiếm đóng. Sau này, được biết là sở dĩ vĩ tuyến quân sự tạm thời được đặt tại vĩ tuyến 17 chính do đề xuất của Chu Ân Lai, trưởng phái đoàn Trung Quốc. Phía Pháp như kẻ sắp chết đuối gặp được phao cứu sinh liền "chấp nhận ngay". Đơn vị hành quân về đến Tây Tuy Hòa lập tức chuẩn bị đánh tập kích thị xã Tuy Hòa và tiêu diệt cứ điểm Núi Sầm. Núi Sầm là một ngọn núi nhỏ, đứng độc lập ở cánh đồng Hòa Trị, án ngữ bảo vệ phía Tây thị xã Tuy Hòa. Đại đội 211 có nhiệm vụ tập kích địch đóng trong thị xã Tuy Hòa. Đại đội 212 có nhiệm vụ hiệp đồng với đơn vị bạn đánh tập kích địch đóng ở Núi Sầm. Đại đội 213 làm dự bị. Giờ "G" đêm ngày 20 tháng 6 năm 1954 phát hỏa. Ưu tiên cho đơn vị tập kích thị xã được nổ súng trước, sau đó, đơn vị đánh Núi Sầm mới được nổ súng. Đại đội 211 tấn công địch ở thị xã giành thắng lợi ròn rã: đốt cháy 2 kho xăng, 1 kho đạn và hon 200 xe các loại, tiêu diệt và làm bị thương nhiều tên địch. Thị xã Tuy Hòa náo động, địch hoang mang chống cự yếu ớt, một số chạy trốn trong nhà dân. Sau khi Tuy Hòa nổ súng ít phút thì Đại đội 212 khai hỏa đánh Núi Sầm. Ta ở thế bất lợi, lại không còn yếu tố bất ngờ nữa. Bộ đội nằm phơi trên cánh đồng dưới ánh trăng sáng trưng. Địch ở trên sườn núi bắn găm xuống, đạn vãi như mưa. Ta không thể áp sát mở đột phá khẩu, phải dùng cường tập đánh bộc phá. Tiểu đội xung kích của tôi nằm chờ cửa mở. Anh Phú, Tiểu đội trưởng bị thương, anh Bổn, tổ trưởng tổ "tam tam" bị thương. Tôi nghe rất rõ tiếng anh Bổn hô: "Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!". Mặc cho tiếng nổ của lựu đạn, tiếng kêu chíu chíu của đạn địch nổ xung quanh mình, anh vẫn gọi Bác Hồ hai lần. Sau này, nghe anh Bổn kể lại: "Mình phải gọi Bác Hồ vì thấy trận đánh ác liệt, khó "thoát" quá!". Chúng tôi băng bó cho hai anh và cõng các anh chạy ra ngoài vòng hỏa lực. Bàn tay của tôi bị trúng mảnh lựu đạn địch, máu ra nhiều. Anh Toàn trong tổ "tam tam" nằm cạnh, lấy băng ra băng cho tôi. Hai anh em kiên quyết nằm chờ cửa mở. Cửa mở chưa xong thì trời đã gần sáng, nếu càng kéo dài trận đánh thì càng bất lợi. Trên hạ lệnh rút quân. Trận đánh không chiếm được trận nội lại bị thương vong nặng là do chủ quan trong công tác chuẩn bị cho trận đánh, lại thiếu đạn vòng cầu, hai đơn vị hiệp đồng cũng chưa chặt chẽ... Sau trận đánh, anh Phú Tiểu đội trưởng, anh Bổn tổ trưởng tổ "tam tam" và tôi được nằm điều trị vết thương ở trạm xá dã chiến của đơn vị. Trạm xá dã chiến đóng ở xã Hòa Phong (Tuy Hòa). Chúng tôi rất nóng lòng, mong từng ngày cho vết thương chóng kéo da non để được trở về đơn vị chiến đấu. Tình hình chiến trường lúc này thay đổi từng ngày có lợi cho ta. Ngày 24 tháng 6, đơn vị bạn đại thắng trận Đắc Pơ (Tây An Khê): đánh tan Binh đoàn cơ động 100 của Pháp, bắt sống nhiều tù binh Âu Phi, thu gần 400 chiếc xe các loại và hàng chục khẩu pháo 105 mm. Chiến thắng Đắc Pơ càng cổ vũ quân và dân Khu 5 xốc tới giành thắng lợi lớn hơn nữa để cùng quân dân cả nước tăng thêm thế mạnh cho phái đoàn đàm phán của ta ở Hội nghị Giơ-ne-vơ, buộc Pháp phải mau chóng ký Hiệp định đình chiến sớm ngày nào thì xương máu của đồng bào, của chiến sĩ ta đỡ đổ ngày đó. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 27 Tháng Tám, 2025, 07:56:12 am Bác sĩ xem vết thương của ba anh em chúng tôi, thấy vết thương đã kéo da non, đồng ý cho ra viện, nhưng căn dặn: về đơn vị phải giữ băng thêm vài ngày nữa. Ba anh em chúng tôi về Trạm đón tiếp của Trung đoàn nhập cùng với số anh em đang còn ở Trạm, cùng nhau hành quân đuổi theo đơn vị lên Cheo Reo, chuẩn bị đánh đồn Bà Lá. Anh em đi tới Củng Sơn thì dừng lại làm lương khô bổ sung. Đồng bào Củng Sơn không còn một con vật nuôi nào trong nhà (như gà, lợn, bò...) vì bọn địch đóng ở Tuy Bình hàng ngày đi săn lùng, cướp bóc hết. Chúng tôi đành làm lương khô bằng thịt chó. Thịt chó đem rang khô với riềng, sả, mắm ruốc thật thơn ngon tuyệt vời...
Chúng tôi chuẩn bị hành quân để tiếp tục đuổi theo đơn vị thì có lệnh dừng lại nhận nhiệm vụ mới. Cán bộ chính trị của Trung đoàn xuống truyền đạt chỉ thị của đồng chí Nguyễn Chánh-Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu. Nguyên văn chỉ thị là: "... Đình chiến đến nơi rồi, lúc này không để đổ thêm một giọt máu nào của chiến sĩ nữa...". Chúng tôi nghe xong mà vừa mừng vui, vừa nuối tiếc. Ai cũng muốn đánh tiếp để đuổi địch ra khỏi đất Phú Yên. Đồng chí cán bộ chính trị giải thích có lý có tình nên mọi người mới thông suốt. Đúng ngày 20 tháng 7 năm 1954, ngày đánh dấu mốc son lịch sử của cuộc chiến tranh Đồng Dương: Hiệp định đình chiến giữa Việt Nam và Pháp đã được ký kết. Nó cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt sự đổ máu của đồng bào và chiến sĩ ta trên toàn chiến trường. Sau ngày 20 tháng 7, chúng tôi được lệnh hành quân về trú quân tại La Hai. Sau đó mấy ngày, toàn bộ Tiểu đoàn từ Cheo Reo cũng hội ngộ về đây. Anh em gặp nhau mừng vui không sao tả nổi. Sau 7 tháng trời ròng rã hành quân chiến đấu trên khắp các chiến trường Bắc Tây Nguyên, Nam Tây Nguyên, rồi đồng bằng Phú Yên..., những bước chân chiến sĩ đã vượt qua bao đèo cao, dốc đứng, đá dựng, khe sâu..., đã chịu đựng bao nỗi đói khát và đã vượt qua bao bom đạn ác liệt... Hôm nay gặp lại nhau, ngồi điểm lại xem ai còn ai mất, ai đã nằm lại ở chiến trường nào, trong trận đánh nào... Nhìn nhau, mọi người lại ngậm ngùi thương nhớ các đồng chí, đồng đội đã từng bên nhau trong chiến đấu mà giờ không còn nữa. Họ đã nằm lại vĩnh viễn trên khắp các chiến trường từ Tây Nguyên đến vùng đồng bằng của Liên khu 5. Cuối tháng 7 năm 1954, trên bãi cát cạnh bờ sông La Hai, quân và dân tổ chức cuộc mít-tinh mừng chiến thắng, đồng thời đây cũng là buổi chia tay với đồng bào Phú Yên vì cũng chẳng còn cơ hội nào gặp nhau đông vui như thế này nữa. Hòa Đa-Tuy An là nơi thành lập Tiểu đoàn 365 (tháng 5 năm 1949). Tiểu đoàn đã được bà con đùm bọc, nuôi dưỡng từ những ngày đầu trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thiếu thốn, nhiều lúc tưởng chừng như không thể vượt qua, đến nay, Tiểu đoàn đã trưởng thành, lớn mạnh, vững vàng... vậy mà chúng tôi cũng không thể về thăm bà con trước khi chúng tôi đi tập kết được, bởi Hòa Đa vẫn còn nằm trong vùng địch tạm chiếm của chiến dịch Át-lăng. Chúng tôi đành chịu lỗi với nhân dân Hòa Đa, với đồng bào Phú Yên. Hẹn có ngày nhất định sẽ gặp lại bà con Hòa Đa, Phú Yên! Hiệp định Giơ-ne-vơ ký ngày 20 tháng 7 quy định: lực lượng vũ trang của ta phải tập kết hết ra Bắc vĩ tuyến 17 (còn gọi là giới tuyến quân sự tạm thời). Lực lượng vũ trang Liên khu 5 sẽ tập kết ra Bắc vĩ tuyến 17 trong thời hạn không quá 300 ngày (kể từ ngày ký Hiệp định). Chiến dịch Đông-Xuân-Hè 1953-1954, quân và dân Liên khu 5 nói chung, Trung đoàn 803 chủ lực nói riêng, trong đó có Tiểu đoàn 365 đang trên đà chiến thắng dồn dập, khí thế như chẻ tre trên khắp chiến trường Liên khu, nay lại phải ngừng chiến đấu rồi lại phải tập kết ra Bắc. Mọi người lại phải sống xa gia đình, xa cha mẹ, vợ con, anh em, xa bạn bè, xa những người thân yêu, xa đồng bào và mảnh đất Liên khu 5 yêu thương mà quân và dân đã phải đổ bao máu xương mới giành và giữ được! Nhiều người suy nghĩ mung lung, không sao cầm được nước mắt. Chân tay bải hoải, rã rời...Nhưng sau khi được học tập lời kêu gọi của Bác Hồ gửi đồng bào miền Nam: "Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định sẽ được giải phóng! Tôi chắc rằng, đồng bào sẽ đặt lợi ích lâu dài lên trên lợi ích trước mắt...". Học xong lời kêu gọi của Bác, anh em không những tự giải quyết tốt tư tưởng cho mình mà lúc này còn là người vận động, tuyên truyền, giác ngộ cho nhân dân tin tưởng và chấp hành nghiêm đường lối, chính sách của Đảng. Tiểu đoàn hành quân từ Phú Yên ra Bình Định. Chúng tôi về Phú Tài-Phù Mỹ để chia tay tạm biệt đồng bào nơi đóng quân, nơi tình quân dân cá nước trước khi đi tập kết. Chúng tôi lại về đóng quân tại Cát Chánh-Phù Cát để tập luyện chuẩn bị tham gia diễu hành nhân dịp kỷ niệm ngày 2 tháng 9 tại sân vận động Phù Cát. Tại đây sẽ mừng Tết Độc Lập và mừng Đại thắng chiến dịch Đông-Xuân-Hè năm 1953-1954 ở Liên khu 5. Đây cũng là ngày hội lớn nhất sau 9 năm kháng chiến oanh liệt của quân và dân Liên khu 5. Cuộc diễu hành ngày 2 tháng 9 năm 1954 ở sân vận động Phù Cát là một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết quân dân như cá với nước ở Liên khu 5. Nó xuyên suốt trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, giành thắng lợi. Giờ đây chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu mới với bất kỳ kẻ thù nào, chúng ta càng cần phải biểu dương và giữ vững sức mạnh đoàn kết, đại đoàn kết, khi ấy không có thế lực nào có thể thắng nổi. Tiểu đoàn 365 nằm trong đội hình của Trung đoàn 803 có vinh dự được ở lại khu tập kết 300 ngày tại Liên khu 5, đảm bảo an toàn cho nhân dân và lực lượng vũ trang lần lượt xuống tàu đi tập kết. Nhiệm vụ của Tiểu đoàn rất nặng nề: vừa phải ra sức giúp nhân dân khắc phục hậu quả của chiến tranh, ổn định đời sống, vừa phải tuyên truyền, vận động nhân dân chống lại mọi luận điệu của địch nói xấu cách mạng, xuyên tạc phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, chia rẽ tình đoàn kết quân dân... đồng thời luôn phải sẵn sàng chiến đấu, đề phòng địch tập kích bất ngờ phá hoại cuộc chuyển quân của ta xuống tàu đi tập kết. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Chín, 2025, 09:22:48 pm Sau Lễ Quốc khánh ngày 2 tháng 9 và mừng chiến thắng ở sân vận động Phù Cát, Tiểu đoàn 365 được lệnh hành quân ra Quảng Nghĩa. Tiểu đoàn dừng chân ở Tam Quan Bắc một thời gian. Tôi được phép hai ngày về thăm nhà. Không còn gì vui sướng bằng! Tôi đã thực hiện được lời hứa với cha mẹ trước khi đi chiến dịch: "Con sẽ về thăm cha mẹ sau chiến dịch!". Tôi về tới nhà, gặp cha mẹ, anh, các chị, các em, đông vui quá! Tối đến, sau bữa cơm, cả nhà ngồi quây quần bên nhau nghe tôi kể chuyện chiến đấu, đặc biệt là chuyện ăn Tết Giáp Ngọ ở mặt trận. Tôi kể về chuyện đình chiến, về Hiệp định Giơ-ne-vơ, chuyện sắp tới đây bộ đội mình phải đi tập kết ra ngoài Bắc, vậy cha mẹ, anh chị em ở nhà hãy vui vẻ để tôi đi tập kết. Bộ đội mình ra miền Bắc tập trung xây dựng quân đội hùng mạnh, làm hậu thuẫn đấu tranh thống nhất nước nhà. Tôi động viên cha mẹ, anh chị em ở nhà yên tâm, xa nhau chỉ có hai năm thôi. Sau hai năm sẽ có Tổng tuyển cử, đất nước thống nhất sẽ lại gặp lại nhau. Cả nhà im lặng nghe cha tôi nói: "Con ra ngoài Bắc cố gắng công tác cho tốt để được gặp Bác Hồ. Khi nào được gặp Bác, nhớ chuyển lời của cha cầu chúc Bác Hồ luôn luôn mạnh giỏi, sống lâu để đến ngày đất nước thống nhất, đồng bào miền Nam được đón Bác vào thăm!". Hơn mười năm sau, tôi đã thực hiện được lời mong ước của cha. Đó là năm 1966, tôi bắn rơi 1 máy bay của giặc Mỹ. Năm đó được gặp Bác Hồ, tôi đã chuyển lời của cha tôi đến cho Bác.
Sau hai ngày thăm nhà, tôi trở lại đơn vị, tiếp tục hành quân ra Quảng Nghĩa. Tiểu đoàn đóng quân ở Thi Phổ-Mộ Đức, làm nhiệm vụ bảo vệ khu tập kết 300 ngày. Thi Phổ nằm chắn ngang quốc lộ số 1, giáp ranh giữa ta và địch (địch ở phía Bắc sông Vệ). Vừa đến vị trí đóng quân, đặt ba lô xuống là lao ngay vào công tác dân vận, giúp dân. Nhân dân ở đây đang ra sức khôi phục lại cuộc sống sau hơn 9 năm kháng chiến hy sinh mất mát, gian khổ. Giờ đây mới có được những ngày hòa bình đầu tiên, không gì vui sướng bằng, nhưng cũng đầy những âu lo, trăn trở... Chúng tôi đi làm mọi việc cùng với nhân dân, vừa lao động, vừa tuyên truyền, giải thích cho nhân dân về đường lối, chủ trương của Đảng. Thời gian còn lại không bao nhiêu ngày nữa, bộ đội sẽ đi tập kết ra Bắc hết. Quân thù sẽ đến chiếm đóng vùng kháng chiến của ta và tai họa sẽ giáng xuống đầu nhân dân. Cái cảnh tra tấn, chém giết, tù đày, tố cộng, diệt cộng... trả thù những người kháng chiến sẽ diễn ra khốc liệt. Trải qua hơn 9 năm kháng chiến, nhân dân ở đây được sống với cách mạng, họ mang ơn sâu nghĩa nặng của cách mạng, của Đảng, của Bác Hồ, đồng thời họ cũng hy sinh hết thảy sức người, của cải cho cách mạng, cho kháng chiến thắng lợi. Nay họ phải sống trở lại với chế độ phong kiến-đế quốc, chờ 2 năm thực hiện tổng tuyển cử thống nhất nước nhà như quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ, hay là họ phải sống với chế độ ấy bao nhiêu chục năm? (20 năm sau thì thắc mắc đó của đồng bào Thi Phổ được giải đáp). Thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, hồi ấy chủ trương của ta cố gắng giải thích và tuyên truyền cho đồng bào miền Nam thấy được giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của cách mạng. Ta phải "đặt lợi ích lâu dài lên trên lợi ích trước mắt" (lời kêu gọi của Bác Hồ). Trong kháng chiến chống Pháp, Đảng ta nói trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi! Ngày nay, trong đấu tranh chính trị, chúng ta cũng phải trường kỳ, gian khổ, hy sinh, nhưng nhất định thắng lợi! Đồng bào miền Nam đi trước về sau. Nhân dân mình vốn giàu lòng yêu nước, giàu truyền thống cách mạng, khi được thông suốt đường lối cách mạng của Đảng thì gạt bỏ hết thắc mắc, một lòng tin cách mạng, tin Bác Hồ. Thời gian chúng tôi được ở lại khu tập kết 300 ngày để làm nhiệm vụ thật quá ngắn. Mỗi giờ, mỗi phút đồng hồ được ở với nhân dân khu 300 ngày thật quý hơn vàng. Trong lòng mỗi chúng tôi chất đầy bao kỷ niệm không bao giờ mờ phai về tình quân dân cá nước, nghĩa đồng bào, tình đồng đội, đồng chí! Các buổi liên hoan quân dân chia tay diễn ra vô cùng cảm động. Những giọt nước mắt trên gò má các mẹ, các chị, các em cứ chảy dài kèm theo lời nhắn "nhớ 2 năm thì về!". Tình hình kinh tế khu 300 ngày được khôi phục chưa đáng là bao, nhân dân còn nghèo lắm. Nhưng khi quân dân chia tay, bà con cố gắng dành dụm sắm quà tặng cho bộ đội mang ra miền Bắc làm kỷ niệm. Những chiếc khăn thêu, những con gà, trái bí, cây mía, gói đường phổi đến gói thuốc rê, đặc biệt là những trái dừa Bình Định. Chúng tôi mang theo mỗi người một trái dừa Bình Định, trồng ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Chúng tôi ở khu tập kết 300 ngày, công việc vất vả ngày đêm, song rất vui vì được giúp cho đồng bào thật nhiều trước khi tập kết ra miền Bắc. Anh em tranh thủ đi thăm tất cả các nghĩa trang liệt sĩ trong khu vực để làm sạch cỏ, quét vôi mới, làm vệ sinh sạch sẽ và thắp tuần nhang tạm biệt đồng đội. Họ là những người con yêu quý của ba miền Bắc, Trung, Nam và có cả những người bạn quốc tế như người Đức, người An- giê-ri... là những người trong đội quân lê-dương của thực dân Pháp đã chạy sang hàng ngũ của ta, tình nguyện cùng ta đánh thực dân Pháp. Nay họ đã nằm lại mãi mãi trên mảnh đất Liên khu 5 này. Ngày 15 tháng 5 năm 1955, ngày cuối cùng chấm dứt khu tập kết 300 ngày. Tiểu đoàn 365 là đơn vị được làm nhiệm vụ cuối cùng xuống tàu. Cho đến giờ phút chót, chúng ta vẫn phải cảnh giác, đề phòng địch lật lọng đánh úp ta. Hôm đó, thành phố Quy Nhơn, Bình Định trở thành rừng cờ đỏ sao vàng năm cánh. Cờ cắm hai bên đường phố, cờ cắm trên mái nhà, cờ cầm trên tay các cụ, các mẹ, các anh chị, các em tiễn vẫy đưa bộ đội xuống tàu. Mọi người đi tiễn đều giơ lên hai ngón tay, nước mắt lăn dài trên má, miệng nói: "Hẹn hai năm!" Buổi chia tay lịch sử đó ở cảng Quy Nhơn-Bình Định, ai đã từng chứng kiến hẳn mãi mãi sẽ là dấu ấn trong ký ức không bao giờ phai mờ. Nó mãi mãi xanh tươi như rừng dừa Bình Định. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Chín, 2025, 09:24:17 pm Khi lên tàu, chúng tôi được lệnh đổ xuống biển các loại vũ khí có ngòi nổ như lựu đạn, thủ pháo... để lên tàu được gọn nhẹ và an toàn.
24 giờ ngày 15 tháng 5 năm 1955, tàu kéo còi tạm biệt cảng Quy Nhơn, nhổ neo rời cảng, chạy về phía chân trời có chòm sao Bắc Đẩu. Chúng tôi nhìn về thành phố Quy Nhơn mờ mờ trong sương đêm mà trong lòng trào dâng nỗi lưu luyến, nỗi nhớ tiếc mông lung... không cầm được nước mắt! Mờ sáng ngày 18 tháng 5 năm 1955, tàu cập bến Sầm Sơn-Thanh Hóa. Trời sáng hẳn, mặt trời giống như một đĩa lửa đỏ rực, từ từ nhô lên khỏi mặt biển. Chúng tôi rời tàu lớn chuyển sang tàu nhỏ để đổ bộ lên bờ. Trên bờ, nhân dân Sầm Sơn đã tập trung rất đông, có đủ các tầng lớp lứa tuổi đón chào bộ đội miền Nam tập kết. Cờ hoa, băng-rôn, khẩu hiệu rợp trời cảng Sầm Sơn. Nhân dân vỗ tay, các em nhỏ múa hát suốt chặng đường từ bến cảng về đến nhà nghỉ. Cảnh đón tiếp tràn đầy tình cảm yêu thương của đồng bào Sầm Sơn làm cho chúng tôi vơi bớt nỗi nhớ nhà, nhớ quê. Ngày 19 tháng 5 năm 1955, lần đầu tiên trên quê hương miền Bắc, đơn vị tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ 65 tuổi (1890-1955). Tại buổi lễ, anh em đồng tâm hứa với Bác: "Chúng cháu yên tâm công tác ở miền Bắc, ra sức xây dựng quân đội làm hậu thuẫn cho đồng bào miền Nam đấu tranh"... Những ngày chúng tôi sống ở sầm Sơn, bà con chăm sóc rất tận tình. Bà con coi bộ đội miền Nam tập kết như con em ruột thịt của mình, làm cho chúng tôi vợi bớt nỗi nhớ nhà. Rời Sầm Sơn, chúng tôi hành quân vào Tĩnh Gia-Thanh Hóa đóng quân. Đơn vị bước vào thời kỳ mới: thời kỳ xây dựng quân đội trong hòa bình. Hồi ấy, bộ đội đóng quân ở nhà dân (vì chưa xây dựng được doanh trại). Hàng ngày, chúng tôi tiếp xúc với bà con có nhiều phong tục, tập quán chưa quen nên rất bỡ ngỡ. Ở đây, khi đi ra ngoài đường, gặp người lớn tuổi phải chào (chào bằng lời). Chúng tôi hay quên chào bằng lời mà lại chào bằng tay theo kiểu của nhà binh. Phong tục gọi người đã có chồng có vợ, có con cũng rất khác trong Nam. Anh chị sinh con đầu lòng là con trai thì phải gọi là anh chị "cò", nếu là con gái thì gọi anh chị "hĩm". Khi vợ chồng chưa có con thì gọi là anh chị "đỏ". Kiêng gọi tên "cúng cơm" của người đã có vợ có chồng. Ăn cơm, uống nước chè cũng có tập quán riêng. Đang ăn cơm, nếu có người đến (không phân biệt quen hay lạ) đều phải "mời xơi cơm". Có một hôm, bà con làm đồng đang ăn cơm, gặp bộ đội ta, bà con mời bộ đội "xơi cơm". Thế là, có anh chàng ngồi ngay xuống, "xơi" rất thật thà! Nói về tập quán uống nước chè xanh, tôi đã bị một trận say lảo đảo. Bà con thường nấu nước chè xanh vào các buổi sáng sớm, mời mọi người trong xóm đến uống. Cái tên gọi "nác mới" rất to cho cả xóm nghe, ấn tượng một làng quê yên ả đọng mãi trong tôi. Đó là làng quê ở xứ Nghệ. Cuối năm 1955, vùng Thanh Sơn-Thanh Hóa đang thực hiện cải cách ruộng đất. Ruộng vườn, nhà cửa, trâu bò... của những gia đình gọi là "nhà địa chủ" đều bị tịch thu đem chia cho nông dân nghèo. Nông dân được chia của đáng lẽ phải rất phấn khởi, song ngược lại, vừa lo vừa buồn. Vì họ biết có nhà không phải là "địa chủ", có nhà còn có con em đi kháng chiến, bị quy sai nhưng không ai dám đứng ra thanh minh. Một số cán bộ, đảng viên bị quy sai cũng bị bắt, bị đấu tố. Tình hình nông thôn lúc đó rất căng thẳng. Dân chúng mất lòng tin, hoang mang. Kẻ địch đã lợi dụng sai lầm trong cai cách ruộng đất, tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, kích động nhân dân chống lại Đảng, chống phá cách mạng, gây chia rẽ giáo, lương... Mặt khác, chúng dụ dỗ bà con giáo dân tổ chức di cư vào miền Nam (họ nói: "Chúa đã vào Nam rồi!"). Có nhiều xóm công giáo kéo nhau di cư hầu hết vào Nam. Nhà cửa, ruộng vườn bỏ hoang, thiên tai ập đến tàn phá, mùa màng mất trắng... Dân tình đói khổ, dịch bệnh lây lan, bỏ nhà ra đường xin ăn... Nhà tập thể của đơn vị tôi, hàng ngày cứ đến bữa ăn, rất đông trẻ em kéo đến vây lớp trong lớp ngoài xin cơm. Chúng tôi không cầm được nước mắt, rất thương các cháu. Nhưng phần cơm có được để chia cho các cháu cũng chỉ một miếng lót dạ (mỗi bữa có 40-50 cháu). Đơn vị tạm dừng chương trình học tập, phân công nhau về các địa phương lao động, giúp nhân dân bị đói khôi phục sản xuất, tẩy trừ dịch bệnh... Chúng tôi tới từng nhà dân làm mọi việc từ trong nhà đến ngoài đồng. Trước mắt, trồng các loại cây ngắn ngày như rau, khoai... nhằm chống đói, đồng thời giúp bà con làm mùa vụ. Đồng ruộng cày ải nhưng thiếu trâu bò, chúng tôi hò nhau đi kéo cày. Anh em nào sức khỏe yếu quá thì ở nhà dọn dẹp vệ sinh, giặt quần áo, cắt tóc, tắm rửa cho các cháu rồi dạy học, dạy múa hát. Ban đêm, chúng tôi đốt lửa trại, biểu diễn văn nghệ. Xóm làng có tiếng hát, tiếng sáo trúc... xóa đi bóng đêm chết đói, chết bệnh... Bà con nông dân khen: "Bộ đội về làng làm cho bà con chúng tôi sống lại!". Và trong ký ức mỗi chúng tôi cũng không bao giờ quên những ngày làm công tác dân vận giúp bà con nông dân ở Thanh Sơn-Thanh Hóa năm 1955. Cách mạng tháng 8 năm 1945 là một cuộc cách mạng mở nước, đổi đời cho dân Việt Nam. Cải cách ruộng đất mặc dù có những sai sót khuyết điểm nhất định, song cơ bản là cuộc cách mạng mở ruộng, đổi đời cho nông dân miền Bắc ở thập kỷ 50 của thế kỷ 20. Nông dân từ chỗ không có ruộng vườn đã trở thành người chủ của ruộng vườn, từ không có cơm ăn áo mặc đã trở thành ăn no mặc lành. Đó là một cuộc cách mạng rung trời chuyển đất chưa từng có ở Việt Nam-một đất nước có đến 90% dân số là nông dân (năm 1955). Khẩu hiệu "Người cày có ruộng!" do Đảng khởi xướng. Khẩu hiệu đó có từ những ngày cách mạng còn trong trứng nước. Nó đã trở thành sức mạnh thành động lực cho 90% dân số (nông dân) theo Đảng làm cách mạng đến cùng. Hàng chục vạn chiến sĩ hy sinh ngoài mặt trận là con em của nông dân. Họ đã làm nên những mùa Xuân đại thắng chấn động địa cầu, đem lại độc lập, tự do cho đất nước, cho người cày có ruộng, thực hiện được niềm mơ ước hàng bao đời của người nông dân. Đem lại sự nghiệp vĩ đại đó cho nông dân, tất yếu là do Đảng của giai cấp công nhân khởi xướng và dẫn đường mới có được. Chúng ta nhớ lại thời thực hiện chính sách cải cách ruộng đất, cũng có những người làm sai chính sách gây thiệt hại cho Đảng và cho bà con nông dân, nhưng Đảng đã kịp thời sửa sai. Bác Hồ đã tự phê bình trước quốc dân đông bào. Bác đã khóc! Chúng tôi vô cùng xúc động và ai cũng khóc vì thương Bác Hồ quá! Một số cán bộ cải cách làm sai đã làm khổ cho Bác! Hồi ấy, sau khi được sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất, đời sống ở nông thôn được ổn định, an ninh chính trị được khôi phục, nạn di cư được chấm dứt, nông dân yên tâm chăm lo làm ăn, kinh tế được phát triển. Bài học vô giá của Đảng ta hồi ấy đối với nông dân miền Bắc là thấy được sai lầm và kiên quyết sửa chữa theo sự chỉ đường, dẫn lối của Bác Hồ. Nếu không có Bác Hồ, nông dân miền Bắc sẽ đi tới đâu? Đôi khi tôi ước mong Việt Nam mình sớm xuất hiện những nhà văn có tầm cỡ, viết ra những pho sách lịch sử về nông dân với cách mạng để lại cho đời. Nếu chậm, sợ mai mốt sẽ mờ phai hết vai trò lịch sử của một thời đất nước ta có 90% là nông dân cầm cày cầm cuốc và cầm súng. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Chín, 2025, 09:25:24 pm Anh em bộ đội miền Nam chúng tôi lần đầu tiên đón Tết cổ truyền dân tộc trên quê hương miền Bắc. Trong mỗi anh em chúng tôi đầy ắp những tâm tư buồn vui, thương nhớ quê hương. Chúng tôi thương nhất những anh em có vợ con ở lại trong miền Nam. Đêm đêm các anh ấy khóc thầm khóc trộm khi nghe đài đưa tin địch bắt đầu khủng bố những gia đình bộ đội đi tập kết.
Đơn vị đóng quân ở Tĩnh Gia-Thanh Hóa, vùng quê thuộc diện còn nghèo đói lại hay bị thiên tai tàn phá, mùa màng mất trắng. Chuẩn bị đón Tết, bà con tuy nghèo về vật chất nhưng tình quân dân cá nước không nghèo. Bà con biết bộ đội miền Nam nhớ nhà nhớ quê nhiều nên để động viên, bà con tổ chức rất nhiều trò chơi vui trong 3 ngày Tết. Những ngày Tết năm ấy (1955) trời rét đậm đột xuất, tay chân rét buốt nhưng trong lòng thấy ấm áp, vui mừng vì chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giúp dân chống đói, chống lụt bão, tăng gia sản xuất... Công sức của anh em chúng tôi đổ ra góp phần không nhỏ, đã giúp địa phương ổn định đời sống cho nhân dân được yên vui đón Tết, được chính quyền và nhân dân khen: "Các anh đúng là bộ đội của dân, bộ đội vì dân.. Những ngày Tết, mỗi người được một cái bánh chưng. Nếp, đỗ, lá... được trên đưa xuống, phần gói bánh, luộc bánh chúng tôi tự làm (sống, chín phải chịu). Mỗi người được một hộp thịt hộp (trên nói là của Bác Mao biếu). Tập quán vui chơi ngày Tết của bà con có nhiều trò chơi cổ truyền, truyền thống như chơi cờ người, đánh vật, đánh đu... Bộ đội ta thích nhất trò chơi đánh đu (còn gọi là xích đu). Chơi trò đánh đu: mỗi lần đu có hai người nam và hai người nữ hoặc một nam một nữ tùy theo bàn đu lớn hay nhỏ. Nam và nữ đứng lên bàn đu giáp mặt nhau. Hai người lần đầu lên đu còn ngượng đỏ mặt, nhưng khi quen sau vài lần đu có thể được hôn nhau nên hội đu càng thêm vui nhộn. Ban đầu khởi động bàn đu đong đưa, có người đẩy nhẹ bàn đu. Hai hoặc bốn người chơi đu nhún nhịp nhàng cho đu bay lên cao dần dần... Đúng là "Trai đu gối hạc khom khom cật. Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng..." (thơ Hồ Xuân Hương). Đôi nam nữ nào đánh đu bay lên cao nhất trong buổi chơi thì được giải nhất. Trò chơi đánh đu rất hợp với tuổi thanh niên. Nó vừa rèn tính dũng cảm, vừa phải uyển chuyển nhịp nhàng, phối hợp động tác nhún ăn khớp giữa hai người hoặc bốn người thì đu mới bay lên cao. Nhưng trò chơi đánh đu này cũng nguy hiểm vì không có dây an toàn, nếu sơ sảy rời tay nắm cần đu là cầm chắc tai nạn. Đã có trường hợp đôi nam nữ chơi đu bị tai nạn đáng tiếc. Khi đu đã bay lên cao, không may, cô gái bị đứt dây rút, váy bị tuột, cô gái vội bỏ tay cầm đu để giữ váy (thời đó mặc váy là phổ biến). Thế là tai nạn thương tâm xảy ra! Người đi xem đu chia vui trở thành đi chia buồn! Bài học cho người chơi đu là luôn luôn phải nhớ nắm chắc tay đu cho dù có bị tuột... cũng kệ! Đón Tết cổ truyền xong, đơn vị bước vào thời kỳ huấn luyện xây dựng quân đội chính quy (1956). Chúng tôi được học tập quán triệt nhiệm vụ, mục tiêu, yêu cầu xây dựng quân đội chính quy. Phải ra sức xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, đủ sức bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và làm hậu thuẫn cho nhân dân miền Nam đấu tranh đòi địch phải thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà... Kết thúc chính trị, đơn vị bước vào huấn luyện chính quy, rèn luyện "ngũ thông tứ tính" được đặt lên hàng đầu. Nhiều chương hình học tập rất mới lạ, chúng tôi chưa được nghe bao giờ, bởi đã quen lối sinh hoạt của một đội quân du kích đã 9 năm chỉ có đánh giặc. Giờ đây phải lột cái vỏ du kích đó đi để mang cái vỏ của người lính chính quy! Có nhiều anh em thắc mắc, cho rằng, thời 9 năm, ta không có chính quy vẫn đánh thắng đội quân chính quy của thực dân Pháp! Phát sinh tư tưởng: có nhiều người xin trở về miền Nam đi chiến đấu, có một số lại muốn ra quân để đi làm kinh tế. Trước tình hình đó, đòi hỏi công tác chính trị tư tưởng, công tác lãnh đạo phải được đặt lên hàng đầu. Nhiệm vụ của người chỉ huy lãnh đạo lúc này phải giải thích cho mọi người hiểu rõ và thông suốt thì huấn luyện xây dựng chính quy mới đạt kết quả. Đường lối chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện... Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân là cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc... Song song đó, phải xây dựng những Binh đoàn chủ lực, chính quy mạnh, có trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến trong Quân Binh chủng hợp thành. Bộ đội có khả nâng thực hiện những chiến dịch lớn, dài ngày, có khả năng giữ đất và giành đất (tức là bảo vệ được miền Bắc xã hội chủ nghĩa và tấn công giải phóng miền Nam). Đối tượng tác chiến là đế quốc Mỹ... Sau khi chúng tôi quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân và xây dựng quân đội nhân dân của Đảng, ai ai cũng hồ hởi, phấn khởi như mở cờ trong bụng vì hiểu được bây giờ chúng ta phải làm gì. Đơn vị nổ ra phong trào thi đua luyện quân lập công, rèn luyện "ngũ thống tứ tính" sôi nổi chưa từng có. Song, nhiệm vụ của "đội quân công tác" chúng tôi lúc nào cũng phải sẵn sàng giúp dân. Trên miền Bắc, bốn mùa đều có các loại "giặc" mà bộ đội phải tham gia chống. Đó là: chống bão lụt, chống hạn hán, chống dịch bệnh, chống rét, chống đói... Chúng tôi đếm trên đầu ngón tay, trong một năm có trên 20 loại "giặc" phải chống. Có những thời gian chúng tôi phải lấy đêm làm ngày để học tập, huấn luyện cho kịp chương trình chính quy đã đặt ra, còn dành thời gian ban ngày đi giúp dân, chống "giặc" trời. Chúng tôi không quản khó khăn vất vả, mọi người đều lăn xả vào công việc, với khẩu hiệu "Vì miền Bắc yêu thương. Vì miền Nam ruột thịt!". Từ năm 1956, quân đội ta bắt đầu áp dụng "ngũ thống, tứ tính" mạnh mẽ trong đời sống sinh hoạt của bộ đội. Nhiều kỷ niệm sâu sắc của một thời đã qua, chúng tôi không thể quên. Chế độ ăn của bộ đội thay đổi: trước ăn ngày hai bữa trưa và tối, nay ăn ba bữa sáng trưa tối. Thêm một bữa ăn là thay đổi cả tập quán thói quen của cái bụng. Ban đầu có nhiều người không đến nhà an làm cho "anh nuôi" lo bấn xúc xích vì thừa cơm nhiều quá! Cán bộ chính trị có việc làm: phải đi vận động bộ đội đi ăn sáng. Việc đưa cái gì vào bụng là do cái miệng nó tự giác, không thể "ra lệnh" được. Rồi ngày tháng qua đi, cái miệng cũng đã quen cơm, không cần cán bộ phải đi vận động nữa! Trang bị được thay đổi là một sự kiện lớn hồi bấy giờ. Súng cộng đồng và súng cá nhân được thay đổi từ chiến lợi phẩm lấy được của Pháp, nay thay bằng súng trường và tiểu liên do Trung Quốc sản xuất, một thời gian ngắn sau, lại được thay bằng AK, CKC... của Liên Xô sản xuất. Súng rất tốt. Đạn bắn đi rất căng và độ chính xác rất cao. Trong phong trào thi đua bắn giỏi, tôi đã đoạt giải nhất với thành tích trong bài bắn bia "lỗ châu mai" bằng súng tiểu liên AK. Tổng số đạn 15 viên bắn làm ba loạt thì đạn trúng bia 14 viên, chỉ có 1 viên trượt. Anh em trong đơn vị đã sáng tác tặng tồi bài hát với tựa đề "Nguyễn Hồng Nhị bắn rất hay!". Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Chín, 2025, 09:26:20 pm Năm 1956 là năm đơn vị lột cái vỏ du kích thay bằng vỏ chính quy. Quần áo, chiếu chăn, màn, mũ, giày, áo bông... đến cái bát ăn cơm, khăn mặt cũng đều cấp phát thống nhất với màu xanh lá cây rất đẹp.
Đơn vị bước vào mùa huấn luyện. Địa hình ở Thanh Hóa rất thuận lợi cho việc huấn luyện chiến thuật, có đủ các điều kiện để tập phân đội tấn công - phòng ngự - phản công, rồi tập vượt qua đồng lầy, vượt sông... Thời tiết ở Thanh Hóa rất khắc nghiệt. Mùa hè nắng cháy da khi tập ở ngoài thao trường. Buổi trưa nằm trong nhà tranh mà cứ nghe tre nổ lốp bốp trên mái, mồ hôi chảy nhễ nhại, không sao mà chợp mắt được. Mùa Đông thì lại rất lạnh, đặc biệt những đợt gió mùa Đông Bắc về gây ra rét đậm rét hại làm chân tay tê cóng. Ban đêm, chúng tôi ngủ trong ổ rơm. Nhà dân lợp lá cọ, vách thưng bằng mê nứa, gió Đông Bắc luồn qua vách thông thống, tuy ở trong nhà nhưng lanh buốt như ở ngoài sân. Cái khổ nhất của mùa rét đấy là các kẽ ngón chân bị nứt, môi bị nẻ, sáng sớm đụng vào nước là lạnh buốt thấu xương. Song, mặc cho rét buốt hành hạ, chúng tôi vẫn đi tập đều các khoa mục tấn công vượt đồng lầy, vượt sông..., phải dầm mình trong bùn lầy, nước lạnh buốt hàng ngày mà tinh thần tập luyện không hề nao núng. Chúng tôi hoàn thành các bài tập khó nhất, cấp trên xuống kiểm tra, đánh giá đạt giỏi toàn đơn vị. Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, sau 2 năm sẽ thực hiện Hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nhưng đã qua 2 năm (1955-1956) rồi mà không hề có Hiệp thương giữa hai miền, ngược lại, ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã vào hất cẳng Pháp ra. Đế quốc Mỹ tiếp tay đỡ đầu Ngô Đình Diệm cự tuyệt Hiệp thương tổng tuyển cử (xé bỏ Hiệp định Giơ-ne-vơ). Ngô Đình Diệm thực hiện tiêu diệt cộng sản đến cùng. Chúng kéo máy chém đi khắp các thành thị, nông thôn miền Nam, gieo tội ác trời không dung đất không tha! Chúng chặt đầu, mổ bụng moi gan bất cứ người nào chúng cho là Việt cộng hoặc thân Việt cộng và những gia đình có người tập kết ra miền Bắc. Mặt khác, Diệm gào thét lấp sông Bến Hải, Bắc tiến. Mỹ- Diệm đã dìm đồng bào miền Nam trong biển máu! Tình hình miền Nam càng đen tối bao nhiêu càng thôi thúc bấy nhiêu nghị lực và tinh thần của chúng tôi ra sức xây dựng quân đội nhân dân ta tiến nhanh, tiến mạnh lên chính quy... sẵn sàng chiến đấu cao. Chúng tôi nhớ lại lời nói của đồng chí Nguyễn Chánh - Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5 trước khi xuống tàu đi tập kết ra Bắc: "...Chúng ta nhất định sẽ trở về miền Nam bằng con đường trương cờ hòa bình lên để về hoặc đạp lên xác quân thù mà về!...". Chúng tôi sống trên miền Băc yêu thương sau 2 năm, nay càng thấy rõ con đường muốn trở về miền Nam ruột thịt, phải đạp lên xác thù mà về! Đó là lời tiên đoán của đồng chí Nguyễn Chánh 2 năm trước ở bên tàu Quy Nhơn-Bình Định, nay đã thành hiện thực. Đơn vị hành quân vào Nghệ An đóng quân và tham gia diễn tập "Sư đoàn tác chiến trong Quân Binh chủng hợp thành". Các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Nghi Lộc và Hưng Nguyên - Nghệ An có nhiều cánh đồng rộng (ít ruộng bùn sâu) phù hợp với sử dụng nhiều xe, pháo trong tác chiến Quân Binh chủng hợp thành. Hồi đó, trong diễn tập, ra tình huống là chính để rèn cho cán bộ chỉ huy-tham mưu, chứ xe, pháo đâu đã có nhiều, hơn nữa, ta còn bị ràng buộc bởi Ủy ban quốc tế giám sát thi hành Hiệp định Giơ- ne-vơ. Trong thành phần Ủy ban ấy có Ấn Độ, Ca-na-đa, Ba Lan, có một tổ đóng ở Vinh. Hàng ngày, họ đi soi mói bất cứ chỗ nào nếu họ nghi rằng ta có vũ khí, trang bị mới cho quân đội. Trong khi đó, ở miền Nam, đế quốc Mỹ đưa trang bị, vũ khí mới, hiện đại, ồ ạt vào thì họ không có phản ứng gì. Anh em mình rất ức! Diễn tập cấp Sư đoàn lần đầu tiên được tổ chức ở Sư đoàn 324, đặt nhiều tình huống tác chiến trực tiếp với kẻ thù chính là đế quốc Mỹ-một đội quân xâm lược nhà nghề được trang bị vũ khí hiện đại, nhưng ta có cách tác chiến của mình để đánh thắng Mỹ. Tất nhiên, trong tình huống diễn tập, bao giờ cũng dành cho "quân đỏ" phần thắng ("quân đỏ" là quân ta, "quân xanh" là quân địch). Sau khi hoàn thành nhiệm vụ diễn tập, đồng thời cũng là tổng kết công tác huấn luyện quân sự năm, tổng kết thi đua, liên hoan biểu diễn văn nghệ "cây nhà lá vườn", giao nhiệm vụ năm tới và đón Tết cổ truyền dân tộc. Những năm đầu hòa bình, lao động của người lính theo con đường xoắn ốc đi lên là như thế (... học tập chính trị-quân sự-tập luyện-diễn tập-tổng kết-lao động-ăn Tết...), Năm 1960, chủ trương xây dựng doanh trại chính quy, ở tập trung. Thời bình mà bộ đội ở nhờ nhà của dân mãi không tiện. Không tiện cho dân và không tiện cho cả bộ đội thực hiện "ngũ thống, tứ tính" trong xây dựng chính quy. Đơn vị ăn Tết cổ truyền xong, thay khẩu hiệu "Thi đua luyện quân lập công" bằng khẩu hiệu "Thi đua lao động nhanh, nhiều, tốt, rẻ". Đơn vị hành quân về đóng ở vùng Đô Lương-Anh Sơn (Nghệ An) làm nhiệm vụ lao động xây dựng doanh trại. Toàn đơn vị giống như một công trường xây dụng, có đủ các bộ phận ngành, nghề. Ai chưa biết về ngành nghề gì thì được tổ chức đào tạo tại chỗ, gồm kỹ thuật làm gạch, ngói, mộc..., kỹ thuật xây, tô trát, đúc, hàn... cho đến đổ trần bê-tông, nền móng... Tất cả công việc xây một tòa nhà đều phải thông hiểu và tự làm. Bộ phận vất vả nhất đó là bộ phận đi khai thác vật liệu (cát, đá, gỗ, luồng, nứa...). Đơn vị tôi được phân công đi khai thác gỗ. Núi rừng Con Cuông (phía Tây Nghệ An) thuộc loại rừng già lâu đời, có rất nhiều cây gỗ quý. Gỗ ở sâu trong rừng nên phải làm đường cho voi kéo gỗ từ trong rừng ra bãi để ô tô chở ra bờ sông Lam. Chúng tôi làm lán ở sâu trong rừng. Rừng có rất nhiều khỉ và vượn đen, có đuôi rất dài. Hai chân trước nó bám trên cành cây, cái đuôi dài thả thõng xuống đong đưa trông rất ngộ. Đặc biệt, tiếng kêu của vượn rất to. Mỗi đàn có hàng trăm con cùng kêu một lúc vang cả núi rừng. Nó di chuyển từ cây này sang cây khác nhanh thoăn thoắt, ý chừng biểu diễn cho các chú bộ đội xem. Cảnh rừng già có khỉ, vượn ở đây giống như cảnh rừng già ở Bắc Tây Nguyên, làm tôi sống lại một thời đi chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Nghịch ngợm, phá phách không ai bì được, đó là các chú khỉ. Bộ đội giặt quần áo phơi, nếu không cắt cử người canh gác thì chúng đến vơ cuộn, tẩu vào rừng ngay. Nhà bếp đến giờ chia cơm cho bộ đội phải có vài người trông coi đuổi khỉ. Cơm, canh, rau… tất cả thức ăn của bộ đội, khỉ đều thích cả, chỉ trừ mắm tôm thôi. Chúng rất sợ mùi mắm tôm, khi có mùi mắm tôm là chúng la hét, bỏ chạy hết vào rừng. Biết được đặc tính ấy của khỉ, nhà bếp lúc nào cũng để sẵn một bát mắm tôm. Kể từ đó, nhà bếp được an toàn, không phải lo đuổi khỉ. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Chín, 2025, 09:27:08 pm Nhiệm vụ khai thác gỗ gồm có các công đoạn chính, được phân công như sau: hạ cây, chặt đứt đoạn, bóc vỏ và tum đầu (để khi lao gỗ xuống núi không bị vướng), lao gỗ xuống núi (nếu gỗ tự lao đi không đúng hướng thì người xeo gỗ phải chạy theo xeo cho gỗ chạy đúng hướng). Có trường hợp gỗ chạy lạc sang biên giới nước bạn Lào, ta đành bỏ, gây lãng phí sức người. Khi gỗ đã tập trung từ trên sườn núi cao xuống các khe sâu trong rừng nhưng không có đường cho ô tô vào, phải sử dụng đến các "thớt voi" kéo gỗ ra bãi đưa lên ô tô. Gỗ được khai thác từ nơi núi cao rừng sâu ở vùng Tây Nghệ An giáp biên giới Lào, đưa xuống sông Lam đóng bè xuôi về đến Đô Lương phải qua bao nhiêu công đoạn lao động gian nan vất vả, qua bao nhiêu thác ghềnh nguy hiểm. Công đoạn nào cũng có bài học xương máu để lại thật đáng tiếc. Ngày nay, ngồi nghĩ lại, lại giật mình khi tôi không hề hấn gì trong quá trình lao động khai thác gỗ ấy thì thật là số may "trời cho" và đồng đội "phù hộ". Con sông Lam có dòng nước trong xanh chảy êm đềm từ thượng nguồn về đến thị trấn Đô Lương nhưng có mấy ai biết đến nó phải qua bao nhiêu thác ghềnh đá hung hãn. Nước đổ ào ào xuống thác, xoáy tít. Nếu có một cây gỗ rơi xuống vực, nó xoay tròn mấy vòng rồi biến mất. Người rơi xuống đó thì cũng giống như chiếc lá đối với nó mà thôi. Ban đầu xuôi bè, anh em chúng tôi chưa quen, đặc biệt là chưa thuộc hết các thác nguy hiểm cộng với ghềnh đá đã để bè bị vỡ, tai nạn xảy ra, đau xót vô cùng! Sau rồi phải mời một số người dân quen thuộc ghềnh thác, đi theo bè của bộ đội để giúp đỡ. Từ đó mới đảm bảo an toàn tuyệt đối cho những chuyến xuôi bè gỗ. Sau 3 tháng, đơn vị thực hiện nhiệm vụ khai thác gỗ cho Sư đoàn đã đưa được gần 1000 mét khối gỗ các loại về đến thị trấn Đô Lương, hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Tại đây, gỗ được đưa vào xưởng cưa (xưởng cưa của Phòng Hậu cần Sư đoàn) xẻ ra thành phẩm khác nhau để cung cấp cho các đơn vị trong toàn Sư đoàn làm nhà.
Các dãy đồi trọc (không có cây) ở các vùng Anh Sơn, Thanh Chương, Yên Thành... ngày nào còn nằm dưới cái nắng chói chang, không một dâu chân người, hoang vắng. Vậy mà giờ đây, bao nhiêu là nhà ngói mọc lên chen nhau. Ban ngày, mái ngói màu đỏ thắm, ban đêm điện sáng trưng tạo nên phong cảnh đẹp chưa từng có. Nhân dân địa phương đến xem nhà, rồi vườn rau của bộ đội thì đều trầm trồ khen: "Bộ đội giỏi quá! Bộ đội đã biến đồi sỏi đá thành nhà ngói, thành vườn rau, ao cá, bà con bầy tui phải theo gương bộ đội thôi!". Tổng kết phong trào thi đua "lao động nhanh, nhiều, tốt, rẻ" ai cũng tự hào với những thành tích đã đạt được trong lao động vừa qua. Khẩu hiệu thi đua "nhanh, nhiều, tốt, rẻ" nay được thêm chữ "nhất" vào thành "nhanh nhất, nhiều nhất, tốt nhất, rẻ nhất" mới tương xứng với công sức của bộ đội đã đổ ra. Tạm biệt nhà dân, chúng tôi ra doanh trại ở tập trung, có đầy đủ các điều kiện xây dựng chính quy tốt hơn và nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. Buổi liên hoan chia tay với nhân dân để đi "ở riêng diễn ra trong tình cá nước thật cảm động. Ai đã trải qua mọt thời làm người lính, một thời ở nhờ nhà dân, gắn bó keo sơn, tối lửa tắt đèn nhờ anh bộ đội, rồi bộ đội cần cái kim sợi chỉ để vá áo quần lại nhờ cậy dân. Bây giờ, tuy không còn ở nhờ nhà dân nữa nhưng tình quân dân vẫn gắn bó keo sơn, bởi bộ đội của dân, do dân, vì dân mà. Chúng tôi cùng với thanh niên nơi đóng quân cùng hát bài "Bộ đội về làng" với những lời ca: "Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi! Xóm làng tôi còn nhớ mãi! Các anh đi biết bao giờ trở lại. Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong…". Đúng là một thời để nhớ! Một thời mà mỗi khi nhắc đến lại như thấy sống lại một thời trai trẻ. Cuối thập niên (1958), một sự kiện lớn diễn ra trong toàn quân: giảm tám vạn quân thường trực để đưa đi làm kinh tế, góp phần đẩy miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà. Chấp hành chủ trương giảm quân thường trực, đơn vị nghiêm túc triển khai cho bộ đội quán triệt mục đích, ý nghĩa của chủ trương. Ban đầu, anh em chúng tôi có nhiều băn khoăn, thắc mắc, nhưng sau học tập, được trên giải đáp có lý có tình thì nhanh chóng thông suốt và sẵn sàng chấp hành nhiệm vụ, bất cứ việc gì cũng làm. Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ đối với quân đội là: "Quân đội ta luôn trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng!" Nghèo đói cũng là kẻ thù cần phải đánh thắng! Số anh em nằm trong diện giảm quân được tổ chức thành các Trung đoàn, Tiểu đoàn, Đội sản xuất... trương khẩu hiệu với nội dung như vậy, hành quân lên miền Tây Nghệ An, Thanh Hóa khai hoang, thành lập các nông trường mang tên "1-5", "19-5", "Đông Hiếu", "Tây Hiếu"... ở Nghệ An, rồi "Bãi Trành", Lam Sơn", "Sao Vàng", "Sông Âm"... ở Thanh Hóa. Những anh em tuổi còn trẻ, có thể còn phục vụ lâu dài trong quân đội thì được lựa chọn đưa đi các trường quân sự để đào tạo sỹ quan. Ngoài ra, có một số anh em được gửi đi các nước Xã hội chủ nghĩa, nhờ bạn giúp đỡ đào tạo kỹ thuật để làm nòng cốt xây dựng các Quân Binh chủng kỹ thuật, vũ khí hiện đại... Tương lai không xa, quân đội ta sẽ trở thành một quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà. Viễn cảnh làm nức lòng mọi người. Lòng tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng càng nhân lên gấp bội. Anh em chúng tôi sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ cho dù có gian khổ khó khăn đến đâu chăng nữa. Sau bữa cơm chiều, anh em bạn bè dắt nhau lên ngồi trên đỉnh đồi cầu Om. Cây cầu Om bắc qua suối Rào Gang là địa đầu của Truông Bồn. (Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Truông Bồn nổi tiếng là nơi ác liệt nhất, chịu đựng bom đạn nhiều nhất, là một trong những điểm đánh phá của Không quân, Hải quân Mỹ). Anh em tâm sự, nhắn nhủ nhau "Vì miền Bắc yêu thương. Vì miền Nam ruột thịt", hãy cùng phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trên giao, cùng nhau gìn giữ và phát huy truyền thống của Tiểu đoàn 365-Tiểu đoàn Lá Mít anh hùng. Ở nơi đó, anh em đã từng một thời gắn bó keo sơn như ruột thịt, đã trải qua bao nhiêu chặng đường gian khổ, ác liệt của chiến tranh, đã cùng nhau lập nên truyền thống hào hùng, ngày nay, trong hòa bình, lao động xây dựng thì truyền thống của Tiểu đoàn càng phải được phát huy trên quê hương Xô-viết Nghệ Tĩnh anh hùng. Nơi đây từng là khu đồi sỏi đá hoang vu, anh em của Tiểu đoàn 365 về đây cùng với những đôi bàn tay cần cù lao động đã biến đồi trọc thành vườn cây, ao cá. Những cụm nhà trên các đồi xinh xinh đó là doanh trại sống tập trung đầu tiên của Tiểu đoàn 365 do anh em tự làm để ở sau khi rời nhà dân. Nay dù đã xa Tiểu đoàn, nhưng trong ký ức của tôi không bao giờ quên thời trai trẻ của mình từng là chiến sỹ của Tiểu đoàn 365-Tiểu đoàn Lá Mít anh hùng. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Chín, 2025, 09:29:15 pm Bước chân không mỏi sẵn sàng "đi B" Gia tài của người chiến sỹ gói gọn trong chiếc ba lô bằng vải của ngành quân trang cấp. Cái chăn bông được cuộn tròn và buộc vòng quanh ba lô cùng chiếc chiếu con được buộc trên cùng. Chiếc bát ăn cơm bằng sắt tráng men hoa rất đẹp với đôi đũa tre được giắt bên hông ba lô. Chiếc bình tông đựng đầy nước đeo chéo qua vai. Tạm biệt anh em trong Tiểu đội, tôi lên đường nhận nhiệm vụ mới. Đại đội trinh sát đặc công của Sư đoàn-đó là điểm tôi sẽ đến để chuẩn bị "đi B" đang huấn luyện kỹ thuật đánh đặc công, kỹ thuật trinh sát..., rồi học các miếng võ hiểm, học cách sử dụng các loại vũ khí của Mỹ mới đưa vào miền Nam trang bị cho quân đội Sài Gòn để sau này chúng tôi về Nam chiến đấu, sẵn sàng lấy vũ khí địch diệt địch. Cách mạng miền Nam lúc này giống như cái lò xo. Lò xo bị ép càng mạnh thì sức bung của nó càng mạnh. Mỹ, ngụy càng ra sức khủng bố, đàn áp đẫm máu đồng bào miền Nam bao nhiêu thì phong trào nổi dậy đấu tranh càng mạnh bấy nhiêu. Ở nhiều địa phương đã thành lập các đội vũ trang và đang rất cần sự chi viện từ ngoài miền Bắc. Ở các đơn vị miền Nam tập kết lúc bấy giờ, phong trào tình nguyện về Nam chiến đấu cũng rất sôi nổi. Cái từ "đi B" (về Nam chiến đấu) lúc bấy giờ có sức hấp dẫn, thu hút diệu kỳ đối với những người lính miền Nam tập kết. Người nào được ghi tên "đi B" đợt... 1... 2... là rất vinh dự, tự hào vì được thay mặt cho những người con vì "miền Bắc yêu thương, vì miền Nam ruột thịt" về Nam chiến đấu giải phóng quê hương. Đơn vị đã có một số đồng chí lên đường "đi B". Tôi hy vọng sẽ được đi đợt sắp tới. Để đi được gọn nhẹ, đồ đạc cá nhân tôi tặng lại cho anh em. Tôi cũng chẳng có gì đáng kể vì thời đó, hàng tháng, mỗi người được lĩnh mấy đồng bạc gọi là "phụ cấp tiêu vặt". Tôi dùng tiền đó vào cách mua sách tự học tiếng Nga, tiếng Trung và các loại tiểu thuyết mà tôi rất thích, như "Đất nước đứng lên", "Bất khuất", "Vượt Côn Đảo"..., đặc biệt, một số tiểu thuyết nước ngoài như "Thép đã tôi thế đấy", "Sông Đông êm đềm", "Những người khốn khổ"... Anh em trong Tiểu đội ví cái ba lô của tôi là "cái tủ tiểu thuyết". Giải tán "cái tủ tiểu thuyết" ấy, tôi rất tiếc nhưng không còn cách nào khác! Giấy khen, Bằng khen của tôi trong kháng chiến chống Pháp, tôi gửi nhờ người bạn đồng hương giữ giúp nhưng không biết người bạn ấy bây giờ còn hay mất, vì sau đó người bạn ấy cũng "đi B" rồi mất liên lạc với nhau. Thời gian tôi ở Đại đội trinh sát-đặc công không lâu nhưng cũng để lại nhiều kỷ niệm khó quên. Khắp các miền trên quê hương Xô-viết Nghệ Tĩnh, chỗ nào cũng có bàn chân của chúng tôi đặt đến để vừa huấn luyện vừa rèn luyện đôi chân chuẩn bị vượt Trường Sơn về Nam. Bàn chân của người lính cách mạng là bàn chân vạn dặm. Bây giờ không đi được nữa, đành ngồi một chỗ nuối tiếc một thời không bao giờ lặp lại... Vượt "sông Cấm", chiếm cảng "Cửa Lò", đánh phá "Cửa Rào"... những chặng đường tập luyện đẫm mồ hôi ấy được các cô gái xứ Nghệ mời vào nhà uống nước chè xanh với giọng nói ngọt ngào, nghe thấm ngọt đến tận tim!, nhớ mãi không phai! Anh Dương Tấn Bộ - Chính trị viên Đại đội và tôi rất thương nhau. Anh nói: "Công việc "đi B" đã hoàn tất, bây giờ cho em đi nghỉ phép, tham quan một vài nơi cho biết trước khi "đi B", em ạ!". Tôi vừa mừng lại vừa lo! Chính trị viên thấu hiểu nỗi lo của tôi là không có tiền. Anh em trong Tiểu đội rất hiểu hoàn cảnh của nhau. Mỗi người góp mấy đồng cho tôi đủ chi tiêu trong 10 ngày phép. Khi hết phép, trở về đơn vị thì trong túi cũng hết sạch, không còn xu nào. Trên tuyến xe khách Kim Liên đi Vinh, không hẹn mà gặp người bạn tên Tôn cùng đi đã bao tiền tiêu dọc đường cho tôi về đến tận đơn vị. Suốt mấy ngày nghỉ phép ở Hà Nội, tôi đi bộ dạo quanh các phố, có hôm ngồi hàng giờ liền ở nhà hàng Thủy Tạ, xem cụ Rùa nổi lên mặt nước, rồi vào đền Ngọc Sơn "xóc quẻ", rút thẻ. Đến cổng Phủ Chủ tịch, tôi cứ đứng đó hàng giờ nhìn vào trong sân, may ra thấy được Bác Hồ đi trong đó. Tôi nhớ da diết lời cha tôi dặn trước khi đi tập kết mà đến nay vẫn chưa thực hiện được. Ngày đi chơi, tối về, tôi ngủ lại nhà anh Trịnh Hồng Kỳ ở khu nhà tập thể mới làm phía ngoài bờ đê, phân cho cán bộ miền Nam tập kết ở tạm. Gia đình anh được đi tập kết hết, con lại đông mà đồng lương của anh chị lại rất eo hẹp cho việc nuôi 8 miệng ăn. Tất cả các con của anh chị đều được đi học, trưởng thành là nhờ chế độ bao cấp tem phiếu và gia đình anh chị cũng như nhiều gia đình cán bộ miền Nam tập kết khác cũng nhờ đó mới vượt qua được những khó khăn vào thời ấy. Sau ngày miền Nam giải phóng, gia đình anh chị chuyển về thành phố Quy Nhơn sinh sống. Mỗi lần về Bình Định thăm quê, tôi lại ghé thăm gia đình anh chị Ba Kỳ. Còn lại 5 ngày phép, tôi lên chuyến tàu hỏa Hà Nội - Hải Phòng để thăm mấy bạn quen cùng đi tập kết đang công tác tại cảng Hải Phòng. Tôi đến thăm và ngủ lại nhà một bạn quen, nhắc lại những chuyện ở quê khi còn ở tuổi thiếu niên. Hai đứa rất thích súng (ná) cao su để bắn chim. Hai đứa mải miết đi săn chim quên cả việc chăn trâu bò nên đã để chúng ăn lúa của dân. Cũng vì vậy mà hai đứa đều bị "án" đòn-một trận đòn nhớ đời. Tôi cũng đến trường miền Nam số 4 thăm má Thạch, người cùng quê. Má có 2 cô con gái học ở trường miền Nam số 4, Hải Phòng. Hồi đó, các cô gái miền Nam đi tập kết được coi là vừa quý vừa hiếm nên được nhiều người rất mến mộ. Tôi cũng rất mến hai cô gái con của má Thạch. Sau này, tôi có ở sân bay Cát Bi học dự khóa bay một thời gian thì chủ nhật nào tôi cũng đến nhà má chơi. Má rất quý tôi. Tuy nhiên, tôi với con gái của má không có duyên số gặp nhau. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Chín, 2025, 09:30:13 pm Mặc dù còn rất quyến luyến với đất cảng, với các cô gái học sinh miền Nam rất dễ thương, nhưng tôi đành tạm biệt vì mấy ngày phép đã hết. Tôi lên chuyến tàu hỏa Hải Phòng - Hà Nội vào một chiều mùa Thu nắng vàng rực rỡ. Nắng xuyên vào cửa sổ tàu, soi rõ mặt từng người. Tôi thấy ai ai cũng đều lim dim mắt, mặc cho tiếng kêu xình xịch, mặc cho con tàu lắc lư. Con tàu như không phải chạy mà đang bơi trên cánh đồng lúa chín vàng óng của vùng Hải Dương, Hưng Yên. Ôi! Miền Bắc thật thanh bình làm sao! Tôi hình dung đến ngày đất nước thống nhất sẽ đáp chuyến tàu hỏa như thế này từ Hải Phòng về miền Nam, đến ga Tam Quan thì xuống tàu, cùng xuống tàu về quê thăm má thăm ba có con gái của má Thạch! Rồi tôi lại tự hỏi: ngày đó có đến không và bao giờ đến? Tiếng còi tàu rú lên một hồi dài cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. Tàu báo qua cầu Long Biên chuẩn bị vào ga Hàng Cỏ. Mọi người đều thức giấc, xách túi, chuẩn bị xuống tàu. Tôi rời ga, đi theo đường Trần Hưng Đạo đến đường phố Huế, theo đường xe điện về đến bến xe điện Bờ Hồ thì rẽ phải vào đường Lò Sũ, băng ngang qua đường Trần Quang Khải ra khu tập thể bờ sông. Nhưng đã hết giờ tiếp khách nên tôi không vào khu tập thể được. Tôi đành quay ra Bờ Hồ, đến đồn công an xin ngủ nhờ. Tôi trình bày lí do xin ngủ nhờ, các anh công an đồng ý ngay. Tôi đánh một giấc cho đến 4 giờ sáng thì thức dậy. Tiếng chổi quét đường sàn sạt trên đường phố đã đánh thức tôi dậy. Tôi cảm ơn các anh ở đồn công an và chuẩn bị đi đến bến xe Kim Liên. Một anh công an đã sốt sắng lấy xe đạp đưa tôi đi đến bến xe. Tôi thầm nghĩ, có thể, anh công an kiểm tra xem tôi có đúng là đến bến xe hay không. Cũng là một công đôi việc: vừa giúp được người mà lại vừa làm nhiệm vụ cảnh giác của người công an nhân dân.
Về đến đơn vị, trong lòng đang vui, tôi hào hứng kể chuyện đi Hải Phòng cho anh em trong Tiểu đội nghe thì nhận được tin chẳng thú vị gì. Đó là chuyện tôi được cử đi học Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam. Nguyện vọng của tôi trước sau như một, là "đi B", chưa khi nào tôi nghĩ đến chuyện học hành gì cả. Anh Dương Tấn Bộ-Chính trị viên gọi tôi lên giao nhiệm vụ. Anh nói: "Đi học cũng là nhiệm vụ Đảng giao, em hãy tạm gác nguyện vọng "đi B"để yên tâm đi học sỹ quan, phục vụ lâu dài cho quân đội!". "Quân lệnh như sơn" - là người lính thì phải nghiêm chỉnh chấp hành mặc dù trong lòng không vui. Tôi đã sẵn sàng về miền Nam chiến đấu, song đành phải gác lại. Tôi nhớ trong dân gian có câu: "Nói trước bước không qua!" và lấy đó để an ủi mình. Tôi cùng với 4 anh em nữa trong Đại đội được về Trường Lục quân kiểm tra sức khỏe và ôn văn hóa để dự kỳ thi tuyển học viên khóa 12 của nhà trường. Bốn anh em mang ba lô, đi bộ từ Đà Sơn lên bến xe Đô Lương. Chúng tôi vừa đi vừa ngắm cảnh, tạm biệt tình đất tình người cùng giọng nói dịu ngọt của các cô gái Đô Lương. Sáng hôm đó, chuyến xe khách Đô Lương - Vinh chỉ còn trống có 2 ghế, bởi vậy, hai người phải ngồi bệt xuống sàn xe. Tôi và anh Tửu xung phong ngồi bệt. Vệt nắng chiều xuyên qua cửa sổ thì xe mới bò đến thành phố Vinh. Mặc dù "kiến bò trong bụng" đã từ lâu, nhưng 4 anh em vẫn phải đi nhanh đến trạm bán vé để mua vé ngày mai đi Hà Nội bởi trạm bán vé sắp đóng cửa vì hết giờ làm việc. Chúng tôi ngồi đợi trước cửa phòng bán vé đến hơn hai tiếng đồng hồ mới nhận được vé. Nhận vé xong, bốn anh em lại phải "bôn tập" đến cửa hàng cơm vì cửa hàng cũng sắp đóng cửa. Bốn anh em đưa phiếu gạo cho o (cô) mậu dịch viên bán cơm để mua mỗi người được một đĩa cơm trắng. Nếu không có tem gạo thì chỉ được mua mì mà thôi. Cơm nước xong, bốn người lại tiếp tục "bôn tập" đi tìm nhà trọ. Ở bến xe Vinh, chỉ có mấy nhà trọ. Nhà lá, vách bằng mê nứa và vách ngăn các phòng bằng những tấm cót nên những tiếng chuyện trò thì thầm của phòng bên, chúng tôi đều nghe rõ mồn một, rồi những tiếng ếch nhái ở thửa ruộng sau nhà cứ vang suốt đêm. Tôi thiêm thiếp, chập chờn ngủ thì mơ thấy được trở về Đà Sơn gặp các cô thân quen đến thăm chúng tôi. Đang lúc ríu rít thì nghe tiếng còi ô tô đánh thức, báo hiệu ra bến xe. Chuyến xe Vinh đi Hà Nội khởi hành từ lúc còn mờ sương. Tôi căng mắt nhìn hai bên đường, nhớ lại những ngày tháng tập chiến thuật ở đây với những đêm rét cắt da cắt thịt vẫn phải nằm dưới ruộng lúa để mai phục bắt tù binh, cướp súng địch... Xe chạy đến chợ Còng (Thanh Hóa) thì dừng lại để ăn cơm trưa. Đất Thanh Hóa đã lưu lại trong tôi không biết bao nhiêu là kỷ niệm đáng nhớ ngay từ những ngày đầu tập kết. Từ miền đồng bằng đến vùng rừng núi của Thanh Hóa, đâu đâu cũng có dấu chân của bộ đội miền Nam tập kết, đi lao động giúp dân "chiến đấu" chống chọi lại thiên tai, dịch bệnh và nghèo đói... Qua đất Thanh thì đến Ninh Bình. Xe ghé vào cửa hàng ăn ở Gián Khuất. Tuy bụng chưa đói, nhưng đã đến bữa ăn tối. Cửa hàng ăn Gián Khuất do một bác bộ đội chuyển ngành tên là Khắc làm Giám đốc. Bác rất quýkhách hàng là bộ đội. Những người khách mặc áo lính thường được bác sắp xếp cho ngồi riêng một bàn. Bác dặn, các chú cứ nộp tem gạo cho cửa hàng theo tiêu chuẩn ăn hàng ngày của bộ đội, còn cơm không hạn chế, các chú cứ ăn thật no. Thật hiếm có người thông cảm với bộ đội như thế. Chúng tôi rất cảm ơn bác Khắc và lên xe. Xe chạy một mạch từ Ninh Bình ra đến Hà Nội là đúng 10 giờ đêm. Giờ này các nhà trọ đều đã đóng cửa nên chúng tôi vào đồn công an xin ngủ nhờ. Gần sáng, tiếng chổi quét đường của công nhân vệ sinh đã đánh thức chúng tôi dậy. Cảm ơn anh công an trực ban, bốn anh em chúng tôi đi lên bến xe Kim Mã mưa vé đi Sơn Tây. Tuyến đường Hà Nội- Sơn Tây chỉ dài hơn 40 km, có nhiều xe khách loại nhỏ và chạy nhiều chuyến trong ngày nên dễ dàng mua vé. Xe chạy đến Sơn Tây lúc hơn 10 giờ sáng. Chúng tôi vào cửa hàng ăn mậu dịch mua mỗi người một tô mì (vì cửa hàng thông báo hết gạo) để chống đói và hành quân gần ba giờ thì tới cổng Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam. Chúng tôi vào cổng trình giấy tờ. Trực ban nhà trường gọi trực ban Tiểu đoàn 2 ra nhận quân. Tiểu đoàn 2 thuộc khoa đào tạo sỹ quan chính trị viên Đại đội của Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Chín, 2025, 09:31:37 pm Ngày 14 tháng 4 năm 1960, ngày đầu tiên tôi sống theo nề nếp của nhà trường - một nhà trường mẫu mực chính quy của quân đội. Lần đầu tiên tôi được mặc quần áo sỹ quan và đeo quân hàm học viên sỹ quan nên cảm thấy hãnh diện lắm! Tôi nghĩ rằng, càng hãnh diện, tự hào bao nhiêu thì trách nhiệm càng nặng nề bấy nhiêu. Đã là học viên sỹ quan là phải mẫu mực trước ba quân, song, học viên sỹ quan chính trị lại càng phải mẫu mực gấp bội - đó là lời dặn dò của đồng chí Chính ủy nhà trường - Thiếu tướng Lê Quang Hòa nói hôm khai giảng khóa học.
Trường Sỹ quan Lục quân trong kháng chiến chống Pháp gọi là Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, sau khi hòa bình (1954) được đổi tên thành Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam. Trường đã trải qua 11 khóa đào tạo, đến khóa tôi vào học là khóa 12 (1960-1963). Cho đến năm 1954, trường đã có hàng ngàn cán bộ ra trường, bổ sung đi khắp các chiến trường Bắc, Trung, Nam. Học viên tốt nghiệp Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn về các đơn vị, có tiếng về đức độ, tài năng, được bộ đội và nhân dân mến phục. Chúng tôi nói với nhau: mình là đàn em thứ 12 cần phải ra sức rèn luyện đê xứng đáng với các bậc đàn anh. Ngày 14 tháng 4 năm 1960, tôi cắp sách đến lớp, nghe về lịch sử truyền thống của Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam. Buổi chiều ôn văn hóa. Tôi đi xem phim và gặp gỡ các anh em cùng đơn vị được đi học, cùng tâm sự cho khuây khỏa nỗi nhớ đơn vị cũ. Đúng 9 giờ 30 phút tối, kèn báo ngủ và đèn tắt. Ngày 15 tháng 4 năm 1960. Thời tiết ở xứ Sơn Tây này hay thật. Chiều hôm qua khi chơi bóng chuyền còn toát mồ hôi thế mà sáng nay đã phải mặc áo chống rét. Núi Ba Vì-Tản Viên chìm trong màn sương mù trắng đục. Tôi ngồi trong lớp ôn văn hóa, khi đến các bài toán xác suất, lúc bí quá thì nhìn lên núi Ba Vì nhớ lại những ngày đi chiến dịch ở núi rừng Bắc Tây Nguyên. Buổi chiều, sương mù tan hết, khoảng trời Ba Vì - Tản Viên lại hiện ra xanh trong thật là đẹp. Cơm tối xong, tôi giành 1 giờ để ôn toán xác suất. 9 giờ 30 phút tối. Kèn ngủ vang lên. Đèn tắt. Thời tiết lại mát mẻ dễ chịu nên giấc ngủ đến ngay. Ngày 16 tháng 4 năm 1960. Kiểm tra văn hóa. Bài toán xác suất làm sai do chủ quan. Bài học đầu tiên của người học viên sỹ quan. Thầy giáo nhắc nhở: "Tính cẩn thận, cần kiểm tra lại, không bao giờ thừa đâu nghe!". Buổi sáng sương mù dày đặc. Phải mặc áo chống rét. Tối nay thứ Bảy, không phải tập hợp điểm danh nhưng vẫn phải đề phòng báo động hành quân (tập). Mấy anh em quen thân nhau đi đến căng-tin mua mỗi người một cốc bia và một điếu thuốc lá Điện Biên (vì tiền trong túi chỉ đủ có thế). Ngày 17 tháng 4 năm 1960. Ngày Chủ nhật đầu tiên sống ở nhà trường, gặp đợt gió mùa Đông Bắc về mạnh, gây mưa và rét. Ngày Chủ nhật cũng không có kèn báo thức nên ai muốn dậy lúc nào cũng được. Hàng cây xà cừ trước nhà bị mưa phùn phủ trắng ngọn, núi Ba Vì lấp kín trong mưa, nhà trường như còn chìm trong giấc ngủ sáng. Bỗng nghe tiếng trực ban nội vụ gọi mọi người đi ăn sáng, tôi vùng dậy thì đã 8 giờ sáng rồi. Sau bữa ăn sáng, tôi đến phòng đọc sách, đọc truyện cho đến lúc ăn trưa. Chiều đến, kéo nhau đi dạo các cửa hàng Bách hóa, hiệu phở, căng-tin, cắt tóc, may vá... với mục đích chỉ là xem hàng và trêu các cô gái Sơn Tây bán hàng với tiếng nói địa phương nghe ngồ ngộ, như "con bò" thi gọi là "con bó", "núi Ba Vì" thì nói là "núi Ba Ví"... Tối đến, đi xem phim. Vậy là hết ngày Chủ nhật đầu tiên sống ở nhà trường trên "đất võ Sơn Tây". Những thời gian đầu tiên của khóa đào tạo sỹ quan, lao động chiếm đa phần. Thời gian lao động dài ngày và vất vả nhất là đào mương dẫn nước cho cánh đồng Thạch Thất-Sơn Tây gần nửa tháng, phải làm thông tầm (không nghỉ trưa) để bảo đảm kế hoạch và giành danh hiệu "năng suất cao". Trong phong trào thi đua lao động, học viên sỹ quan chính trị phải dẫn đầu phong trào. Chúng tôi đã cam kết thi đua và vượt mức rất nhiều lần. Sau lao động đào mương là đến lao động đào núi, làm hầm trường bắn hiện đại nhất của quân đội lúc bây giờ. Sau gần 1 tháng mặc bộ quần áo học viên sỹ quan Lục quân thấy rất vinh dự và hãnh diện, bất cứ làm việc gì cũng phải nghĩ đến việc phải gương mẫu. Là người sỹ quan trong quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng thì lúc nào cũng phải mẫu mực. Khối học viên sỹ quan chính trị được nhà trường nhận xét là khối dẫn đầu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lao động xã hội chủ nghĩa. Hôm nay, ngày 19-5-1960, toàn trường tập hợp làm lễ kỷ niệm ngày sinh nhật Bác Hồ lần thứ 70 và chính thức khai giảng Khóa 12 Trường Sỹ quan Lục quân. Tôi đứng trong hàng quân, hướng lên khán đài nhìn ảnh Bác, trong lòng trào dâng nỗi mong ước bao giờ mình được gặp Bác để chuyển lời của cha chúc Bác... Năm nay Bác đã đến tuổi 70 rồi, liệu đến ngày giải phóng miền Nam, Bác có còn khỏe không để vào thăm đồng bào trong đó có cha của mình. Nghĩ đến ngày thống nhất đất nước còn xa mênh mông quá, tôi cảm thấy lo lo... Nhà trường lấy ngày 19-5 khai giảng học chính khóa 12 đào tạo sỹ quan chính trị đầy ý nghĩa và dấu ấn sâu sắc cho mỗi học viên chúng tôi. Mọi người phải ra sức học tập, rèn luyện theo lời dạy của Bác: "Quân đội ta luôn trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng!". Bước vào học, tôi dành những ngày Chủ nhật lên thư viện nhà trường tìm đọc những sách mà mình tâm huyết nhất và chép lại những đoạn, những lời nói của các nhà tiền bối cách mạng. Tôi cho đây là chìa khóa nâng cao bản lĩnh của người cán bộ chính trị. Các Mác đã nói về đạo đức của giai cấp bóc lột như sau: "... Tất cả các giai cấp bóc lột đều lừa bịp và áp bức những người bị bóc lột; cướp đoạt lẫn nhau những sản vật thừa và thặng dư giá trị của những người bị bóc lột; vì thế mới tạo nên tính lừa bịp của tất cả bọn bóc lột, tạo nên tính áp bức người khác và tính tranh cướp lẫn nhau của giai cấp bóc lột, chia những sản vật thừa và thặng dư giá trị của người bị bóc lột mà sinh ra. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Chín, 2025, 09:33:02 pm Xây dựng hạnh phúc của mình trên cơ sở làm cho người khác đau khổ là đặc điểm chung của tất cả bọn bóc lột. Hy sinh tất cả hạnh phúc của nhân loại hay của số đông người, làm cho một số đông người bị đói rét và sa vào địa vị tủi nhục để tạo nên quyền lợi đặc biệt và hưởng thụ đặc biệt của một người hay một số ít người là cơ sở của sự "cao quý", "vĩ đại" và "kính trọng" là "đạo đức" của bọn bóc lột...", hoặc một đoạn khác, Mác viết: "... Giai cấp tư sản đã xé toang bức màn tình cảm phủ lên những quan hệ gia đình và đã thu hẹp những quan hệ ấy lại thành ra chỉ còn là những quan hệ "tiền nong đơn thuần"..." ... "Giai cấp tư sản đã dìm lòng mê đạo, tinh thần hứng khởi nghĩa hiệp, mối tình cảm tiểu tư sản trong dòng nước băng lạnh của lối tính toán ích kỷ... Nó đã biến phẩm chất con người thành một giá trị trao đổi tầm thường...".
Các Mác nói khi giai cấp vô sản nắm chính quyền: "... Khi giai cấp vô sản nắm chính quyền, vấn đề trước mắt phải giải quyết đầu tiên là làm thế nào để củng cố và tăng cường chuyên chính vô sản, trấn áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột đã bị đánh gục, tiêu diệt giai cấp bóc lột chưa bị tiêu diệt hết; cải tạo hàng chục triệu nông dân cá thể và những người thủ công khác thành những người lao động tập thể..." Tháng 6-1960, học viên nhà trường bắt đầu tập trung tập đội ngũ duyệt binh. Mồng 2 tháng 9 năm đó, kỷ niệm 15 năm ngày Độc lập. Tháng 6, đất Sơn Tây nắng và nóng cháy da, chúng tôi tập đứng nghiêm hàng giờ đồng hồ ngoài trời, ai chịu đựng được thì được đưa vào đội hình chính thức duyệt binh. Khối duyệt binh của học viên sỹ quan Lục quân là nòng cốt của đội hình duyệt binh. Các trường khác lấy đó làm chuẩn để đi theo. Chúng tôi rất tự hào và hãnh diện, ra sức tập cả ngày lẫn đêm, phải đạt điểm cao nhất khi kiểm tra. Cấp trên kiểm tra, rất hài lòng về khối sỹ quan chính trị. Những ngày Chủ nhật được nghỉ, tôi vẫn say đọc sách ở thư viện và ghi lại những điều tôi cho là rất bổ ích cho mình phấn đâu. Những đoạn bổ ích cho học tập chống chủ nghĩa cá nhân như sau: "... Khi lợi ích cá nhân mâu thuẫn nghiêm trọng với lợi ích tập thể thì chủ nghĩa cá nhân càng dễ phát triển... Chủ nghĩa cá nhân thường biểu hiện: kiêu ngạo, địa vị, quan liêu, tự do chủ nghĩa, bình đẳng tuyệt đối, mệnh lệnh, chơi trội, bè phái mất đoàn kết, tư tưởng vương quốc, vô chính phủ, đả kích báo thù, đặc quyền phi chính trị, kỹ thuật đơn thuần, không yên tâm công tác, xa xỉ, lãng phí, tham ô, hủ hóa, sợ khó, xa rời quần chứng, bạc nhược công tác... Đảng viên mắc bệnh cá nhân chủ nghĩa thì sẽ: - Không cả gan, hăng hái, sôi nổi, chăm chỉ, siêng năng. - Không trung thành, cầu thị tiến bộ. - Không gương mẫu, lập trường không vững. - Không bảo vệ sự đoàn kết, phá sự đoàn kết. - Không có quan điểm quần chúng, không tin tưởng quần chúng. - Thiếu cảnh giác cách mạng, không phân biệt đúng mâu thuẫn địch và địch, ta và ta. - Không cố gắng nghiên cứu kỹ thuật nghiệp vụ. - Không học tập, lười học mà đòi tiến bộ."... Tháng 6 đi qua cũng là kết thúc khoa mục đứng nghiêm. Tiếng hô "Nghiêm" nghe gọn vậy, nhưng tập đứng nghiêm hàng giờ, trên đầu nắng lại nóng như đổ lửa, dưới bàn chân thì nóng như dẫm vào nước sôi bấy giờ mới thấm thìa cái từ đứng "nghiêm". Trong đời quân ngũ, nếu ai có gặp may được một lần như thế ắt sẽ không bao giờ quên. Bước vào tháng 7, tập đi đều, đi nghiêm. Những ngày Chủ nhật, tôi vẫn giữ nề nếp đọc sách, đọc các sách bổ ích cho bài học xây dựng chi bộ Đảng, gương đảng viên và cũng ghi lại những trang đáng nhớ về các bậc tiền bối cách mạng. Trong sinh hoạt Đảng, chi bộ được xác định là: "Chi bộ là Đảng trong quần chúng, là linh hồn của phong trào cách mạng trong một xí nghiệp hay địa phương. Chi bộ là trung tâm điểm thu hút quần chúng, khác nào đá nam châm thu hút những mảnh sắt vụn. Chi bộ là nơi kết nạp những đảng viên mới, là trường học dạy những đảng viên, ví như ruộng mạ để gây thành những cây lúa". Đó là bài trong báo "Cờ Giải Phóng" ngày 10-10-1942 - Tân Trào. Tống Văn Trân, người đảng viên của Đảng đã để lại tấm gương mẫu mực cho muôn đời con cháu: khi bị đi đày đã lấy máu vẽ búa liềm lên ngực áo. Máu khô có màu nâu, búa liềm càng rõ nét. Người mang búa liềm máu trên ngực áo ấy là Tống Văn Trân. Những người cộng sản thuộc lớp đầu tiên như thế đấy. Họ mê say lý tưởng cao đẹp nhất của loài người. Đầu óc họ chói lòa ánh sáng mới, chân lý mới. Họ tin chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào họ cũng làm công tác cách mạng, nghĩa là tuyên truyền, giác ngộ, vận động, tổ chức. Tiếng hô khẩu hiệu, tiếng hát và tiếng nói của Tống Văn Trân và các đồng chí của anh còn vọng mãi đến bây giờ, sau này và mãi mãi. Sở Đầm (Côn Đảo) là nơi đóng thành công chiếc thuyền gỗ đầu tiên để vượt ngục. Đêm ấy vào cuối mùa Xuân, dưới ánh trăng sáng nhờ nhờ, thuyền Tống Văn Trân và các đồng chí của anh ra khơi. Chuyến ra khơi ấy, trong lịch sử vượt Côn Đảo là chuyến đầu tiên về tới đất liền. Chín đồng chí yêu mến của chúng ta đã làm thế nào mà vượt trót lọt được. Cuộc đời cách mạng đã dành cho người chiến sỹ được sống những cảnh đời thật cao rộng, con người vươn lên lồng lộng trươc quân thù và trước cả thiên nhiên. Còn gì đẹp bằng những con người giành lại được tự do như một đàn chim bằng sổ lồng, tháo cũi bay vù ra khơi xa thăm thẳm! Trên sóng trắng trùng dương là buồm căng gió... Tháng 7 đi qua, kết thúc khoa mục tập đi đều và đi nghiêm. Gần một tháng trời phơi ngoài nắng hè ở đất Sơn Tay, người nào người nấy đen như "cột nhà cháy", nhưng thân hình săn chắc lên nhiều lắm, không còn là những sinh viên sỹ quan quân đội da hồng hào, đẹp trai cho các cô gái Sơn Tây ngắm trộm nữa. Sang tháng 8 là giai đoạn hợp luyện, cả đội hình duyệt binh bắt đầu tập. Chúng tôi phải chịu đựng cái "nắng tháng Tám rám trái bưởi" đúng như câu nói ví von trong dân gian. Trên trời nóng, dưới đất nóng, xung quanh đều nóng, khắp nơi nóng... Suốt ngày mồ hôi chảy nhễ nhại...Thời gian đi qua rất nhanh, không đến một tháng nữa thì giờ phút vinh quang cho người học viên sỹ quan chính trị sẽ đến! Tôi nghĩ đến những phút giây mình đi nghiêm qua lễ đài Ba Đình, trên đó có Bác Hồ đứng vẫy tay chào! Ôi vinh quang và sung sướng biết bao trong đời quân ngũ của mình! Tôi mạo muội nghĩ: Bác Hồ mà biết trong đoàn quân diễu qua lễ đài có những người con của đồng bào miền Nam ruột thịt thì chắc Bác vui lắm! Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Chín, 2025, 09:33:59 pm Thời gian vào học nghiệp vụ, tài liệu nhiều, thi cử khắt khe, tôi không còn thời gian đọc truyện tấm gương của lớp người đảng viên trước cách mạng tháng Tám. Vì vậy, trong tháng 8, tôi phải tranh thủ đọc cho xong và ghi lại những điều tâm đắc nhất, hữu ích cho công tác chính trị.
Nói về thời kỳ đen tối của cách mạng và các đồng chí đảng viên trung kiên của Đảng nói gì? "... Năm 1932, hàng ngàn đồng chí bị bắn chết, hàng vạn đồng chí vào các nhà tù, các trại giam. Chính dưới làn sóng khủng bố trắng của thực dân Pháp ấy, cơ sở Đảng ở mọi noi bị đập phá cơ hồ tan nát. Trong phong ba bão táp, Đảng Cộng sản Đông Dương vào tuổi còn thơ non đã tỏ rõ cốt cách gang thép của mình. Dù trong lao tù hắc ám, lạc trên núi cao hay lọt giữa biển cả, xa lìa đông đảo quần chúng nhân dân là nguồn máu nóng của mình, Đảng của chúng ta vẫn vận dụng trí tuệ tập thổ không ngừng sáng tạo và năng lực tổ chức khoa học góp phần chuẩn bị cho đội ngũ và sức mạnh cho những trận chiến đấu mới. Câu nói của đồng chí Trần Phú hồi tháng 5-1931 trước tòa đại hình của thực dân Pháp ở Đông Dương: "... Trong cuộc đấu tranh giữa chúng tôi-những người mất nước và các ông-những kẻ cướp nước, sự hy sinh như tôi là lẽ dĩ nhiên. Nhưng cuối cùng, chúng tôi sẽ thắng!...". "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu!..." - câu nói cuối cùng ấy của đồng chí Trần Phú cũng là câu tóm tắt cuộc đời hành động tuy ngắn ngủi nhưng sáng ngời dũng khí của người cộng sản. Đó cũng là câu nói cuối cùng của đồng chí Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, mãi mãi khắc sâu vào tâm khảm của những người cộng sản Việt Nam. Năm 1930-1931, vụ án Lý Tự Trọng - một vụ án tốn nhiều giấy, mực... làm chấn động và thức tỉnh tinh thần yêu nước trong thanh niên. Lý Tự Trọng - người cộng sản Việt Nam đầu tiên ra trước tòa án đại hình của thực dân Pháp, đã giữ một khí phách cách mạng rất cao cả: "... Tôi hành động không phải là không suy nghĩ. Tôi hiểu việc tôi làm. Tôi làm vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đủ tuổi thanh niên nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường thanh niên Việt Nam phải đi. Tôi tin rằng các ông suy nghĩ kỹ thì các ông cũng thấy cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng những người cần lao như tôi..." Nói về đồng chí Lê Hồng Phong: "... Đồng chí Lê Hồng Phong, bí thư kính mến của Đảng đã anh dũng hy sinh vì Đảng, vì nhân dân. Gương tận tụy cách mạng và lòng tin tưởng săt đá của đồng chí Lê Hồng Phong cùng với gương sáng của các tiên liệt cách mạng đã chiếu rọi con đường chúng ta đi, thấm nhuần trong tư tưởng và công tác chúng ta, giúp chúng ta tăng thêm sức mạnh để vượt qua những giờ phút gian nguy nhất trong cuộc giao tranh với quân thù..." (Báo Nhân Dân số 73, ngày 11-9-1952). Nói về tấm gương của đồng chí Lê Viết Thuật: "... Bữa cơm chiều hôm nay lại vẫn như thường lệ: lá rau tàu bay nấu với muối. Cơm bữa thay bằng thân cây đu đủ giã nhỏ trộn với cám rang. Cuộc đời khổ cực của đồng chí Lê Viết Thuật đã qua, nhưng tinh thần sắt đá, ý chí kiên cường, sự hy sinh vô bờ bến cho Đảng, cho nhân dân vẫn mãi mãi còn đây. Ai qua nhà ngục Vinh mà không dừng lại trầm ngâm giây lát, nhẩm lại hai câu khẩu hiệu "Liên bang Xô-viết muôn năm!", "Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!" viết bằng máu với ngón tay cụt chỉ còn một nửa. Dòng chữ lờ mờ trên tường đá nhưng đọc qua dòng chữ đó không thể không nhớ lại một trang sử oanh liệt của Lê Viết Thuật, của người Xô-viết Nghệ An". Cuộc đời quân ngũ may ra cũng chỉ được một lần đi duyệt binh qua lễ đài 2-9 chào mừng ngày Quốc khánh, vậy mà tôi từ chính thức phải xuống đội dự bị. Khi bắt đầu vào tập, đo chiều cao đủ, nhưng đến hôm 1-9 đo lại để chuẩn bị đi duyệt chính thức thì bị thiếu mất mấy li chiều cao. Tôi tiếc ngẩn ngơ, chắc là do tập đứng nghiêm nhiều quá nên bị chùn chân chăng? Ngày 7-9-1960, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, Phó Chủ tịch Hội đồng quốc phòng Trung Quốc sang thăm Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam. Học viên toàn trường tập trung trước sân hiệu bộ nghe ông ta phát biểu. Tôi tranh thủ ghi tóm tắt lời ông nói như sau: "... Chiến đấu muốn thắng lọi người sỹ quan phải nắm chắc tình hình địch và ta, địa hình ta và địch... Phải biết hướng nào là chủ yếu kẻ địch sẽ tấn công ta, như thế có lợi cho chúng. Như thế chúng ta sẽ tập trung quân và hỏa lực hướng đó trội hơn. Như thế nếu kẻ địch tấn công, chúng ta sẽ dần cho chúng nó nhừ tử và cuối cùng chúng sẽ thất bại. Nếu chúng nó tấn công ở hướng thứ yếu của chúng ta, chúng nó càng thất bại hơn..." Tháng 11-1960, bắt đầu vào học chính trị cơ bản gồm duy vật biện chứng, triết học, chính trị - kinh tế, chiến tranh... "... Chiến tranh đã tàn phá hàng ngàn thành phố, hàng vạn làng mạc, tiêu diệt hàng trăm triệu sinh mệnh trên Trái Đất. Chiến tranh làm đảo lộn cuộc sống bình thường, tiêu hủy một chế độ xã hội này, làm nảy sinh những chế độ xã hội khác, kìm hãm hoặc thúc đẩy lịch sử trong một mức độ nhất định... Nhưng chiến tranh không thể thay đổi được hướng phát triển chung của xã hội loài người. Hướng phát triển đó cuối cùng vẫn do điều kiện kinh tế quyết định...". "... Chiến tranh có tính chất lịch sử, nghĩa là nó sinh ra trong thời đại này và sẽ mãi mãi mất đi trong thời đại khác. Chiến tranh đi qua suốt cả lịch sử có giai cấp, là sản phẩm của xã hội có giai cấp và sẽ mất đi cùng với thời đại lịch sử chia xã hội thành giai cấp...". "... Thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước có nghĩa là sự thành lập một xã hội mà nguyên tắc quốc tế là hòa bình và trong đó mọi dân tộc chỉ có một chủ nhân là lao động.(Mác - Ăng-ghen). Kết thúc tháng 11-1960, nhà trường tổ chức kiểm tra lý luận về triết học Mác - Lê-nin, duy vật biện chứng... Tôi dự kiểm tra đạt điểm 5 (hồi đó thang điểm cao nhất là 5). Tôi đã đọc nhiều sách cua Mác, Ăng-ghen, Lê-nin. Khi trả lời câu hỏi của thầy, tôi đã dẫn chứng được một số câu then chốt trong sách, do đó mới được điểm cao tột cùng như vậy. Sự thật, tôi vừa trả lời vừa run vì mình đâu có giỏi chính trị! Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Chín, 2025, 07:42:22 pm Tháng 12-1960, gió mùa Đông Bắc ào về rất nhanh, cứ từng đợt chồng lên nhau tạo thành rét đậm rồi rét hại. Học viên được vào frong làng xin rơm rạ của dân về làm đệm rơm nằm để bớt lạnh lùng. Người để lưng lạnh dễ bị các bệnh nguy hiểm như đau khớp, tim, phổi, thận... "Giặc cúm" (hồi ấy anh em miền Nam chúng tôi đặt tên cho bệnh cúm là "giặc cúm") nó tràn tới đâu thì mất sức chiến đấu tới đó vì chưa có thuốc đặc trị. Cúm tràn lan khắp trường, tôi cũng không tránh được, phải nằm cách ly ở nhà mất một tuần lễ. Bộ phim đèn chiếu của Tiểu đoàn đăng cai chiếu kỷ niệm ngày 22-12, ngày thành lập Quân đội sắp tới rồi. Tôi lại ở trong tổ vẽ hình lên kính nên phải tham gia, không thể bỏ qua được, hơn nữa, tôi lại được phân công vẽ chính nên dù bị đau đầu, đau lưng kinh khủng nhưng tôi vẫn phải ráng chịu, ngồi kiên nhẫn vẽ cho xong hình để tổ thuyết minh đặt lời. Thời đó, bộ đội rất thích xem phim đèn chiếu. Hình ảnh là những nét vẽ đơn giản trên miếng kính, còn lời thuyết minh thì bằng thơ lục bát ví von, dễ hiểu, dễ nhớ, ỷ lại sâu sắc có tính truyền cảm ca ngợi những điều tốt đẹp, phê phán đả kích những thói hư tật xấu... Tổ làm phim của chúng tôi đã không quản ngại bệnh tật, khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ và bộ phim đã được nhà trường biểu dương.
Kết thúc năm đầu của khóa học sỹ quan chính trị (1960) thật đầy ý nghĩa xen lẫn tự hào. Mọi người đều cảm nhận mình trưởng thành nhiều mặt. Bước đầu đã tạo đà thuận lợi để bước sang năm học thứ hai (1961). Những ngày đón Tết cổ truyền, anh em học viên có gia đình ở miền Bắc được về nhà ăn Tết. Anh em không có gia đình thì được nhà trường tổ chức đón Xuân, vui chơi mấy ngày Tết đậm đà tình cảm Bắc - Nam. Sáng mồng 2 Tết, tôi xin phép nhà trường về Hà Nội thăm và chúc mừng năm mới gia đình anh Ba Kỳ (gia đình cán bộ miền Nam tập kết). 9 giờ sáng, trời mưa phùn gió bấc, rét căm căm. Mặc kệ trời, tôi diện bộ quần áo mang quân hàm học viên sỹ quan Lục quân cốt cho dễ thuê xe đạp, rời khỏi trường. Tôi ra cửa hàng cho thuê xe đạp, thuê một chiếc xe "cà tàng" đạp một lèo bốn tiếng đồng hồ liền, về nhà anh Ba Kỳ ở khu tập thể bờ sông. Con đường từ thị xã Sơn Tây về Hà Nội hôm mồng 2 Tết rất đông người, kẻ xuôi người ngược, người về quê nội, người về quê ngoại để chúc Tết. Từng đoạn, tôi phải đạp xe đi chậm để lách qua đám đông các cô gái. Một chi tiết làm tôi nhớ mãi, đó là sự mạnh dạn của các cô gái đang tuổi dậy thì trêu học viên Lục quân: "Anh Lục quân ơi! Cho em "đí với"!". Các cô tranh nhau đùa và một cô nhảy lên boóc-ba-ga (cái đèo hàng) xe đạp của tôi ngồi luôn. Tôi nghĩ phải thể hiện sức mạnh của mình trước các cô gái này mới được. Vậy là tôi gắng đạp thật nhanh để xem cô em chịu đi tới đâu? Xe mới lăn bánh được vài chục mét thì cô nàng đã la toáng lên: "Dừng lại! Dừng lại cho em xuống! Anh ơi!" làm tôi ngượng quá. Thì ra cô nàng cũng non gan! Tối mồng 2 Tết, bà con ở xã Hoài Sơn tập kết đang công tác ở Hà Nội tổ chức họp mặt chúc mừng năm mới tại khu tập thể bờ sông. Anh Ba Kỳ giới thiệu với mọi người: tôi là con ông già Tuần ở thôn Hy Văn được đi học Trường Sỹ quan Lục quân đó. Mọi người đến vây quanh chúc mừng, đồng thời dặn tôi phải ráng học giỏi để xứng đáng với quê hương. Tôi rất cảm động, thưa với bà con quê hương sẽ cố gắng học tập và rèn luyện để xứng đáng với tấm lòng mong muốn của bà con. Sáng mồng 3 Tết, chị Ba Triều (chị Ba Kỳ) chiêu đãi bánh chưng của chị nấu theo khẩu vị quê hương, rất ngon. Ăn sáng xong, tôi tạm biệt anh chị để về trường. Tôi đạp xe rời khu tập thể bờ sông qua đường Lò Sũ ra Hồ Gươm. Tôi thong thả đạp xe quanh bờ hồ, chăm chú để ỷ xem cụ Rùa có nổi lên đón năm mới hay không? Không thấy cụ đâu! Chắc do trời lạnh quá. Tôi rẽ phải theo đường Quán Thánh đến đền Quán Thánh rồi rẽ phải, qua đường Hùng Vương, đi ngang qua Phủ Chủ tịch. Tôi nhìn vào trong sân, thầm mong nếu hôm nay mà được thấy Bác thì cả năm sẽ may mắn và sung sướng biết nhường nào. Trước cổng Phủ Chủ tịch có đông người. Tôi đoán, chắc họ cũng giống như tôi, mong thấy Bác trong ngày đầu Xuân! Các anh cảnh vệ gác cổng ra mời bà con giải tán. Tôi đạp xe ngược lại, theo đường Hoàng Hoa Thám, lấy hướng về Sơn Tây. Đường Hà Nội - Sơn Tây vào chiều mồng 3 Tết cũng tấp nập kẻ ngược người xuôi, chuyện trò râm ran thật là vui... về đến Sơn Tây, tôi vào cửa hàng thuê xe đạp trả xe và thanh toán tiền thuê xe. Ông chủ quán nhận xe rồi kiểm tra xem có hư hỏng gì không. Khi tôi trả tiền thì ông không nhận và nói: "Tôi giúp chú một chuyến đi chơi đầu năm!". Tôi cảm ơn và chúc ông "năm mới ở hiền gặp lành!", cổng trường giờ này rất đông học viên ăn Tết trở về. Tôi nhập với đoàn học viên Tiểu đoàn 2 cùng vào cổng trường. Tết năm 1960 là cái Tết thứ 5 tôi ăn Tết trên đất Bắc, nhưng đây là lần đầu tiên tôi được ăn Tết ở Hà Nội. Ấn tượng sâu sắc nhất trong tôi là đạp xe quanh Hà Nội sao mà thoải mái thế, muốn đạp đi đâu cũng được, dựng xe ở đâu cũng được, không sợ mất cắp. Hồi ấy, hầu như không bao giờ nghe thấy từ mất cắp hay móc túi. Mọi người sống thật chan hòa, che chở cho nhau. Tôi đến các chỗ vui chơi ngày Xuân ở Hà Nội, chỗ nào cũng có những trò chơi lành mạnh, bổ ích, mang tính giáo dục sâu sắc về Chủ nghĩa xã hội, về đấu tranh thống nhất nước nhà... Từ đền Ngọc Sơn, Hồ Gươm, chùa Quán Thánh, chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột... cho đến Câu lạc bộ Thống Nhất... đâu đâu đất Thủ đô cũng diễn ra cảnh vui Xuân thật thanh bình làm cho tôi càng nhớ quê hương da diết làm sao! Sau những ngày nghỉ Tết, chúng tôi tựu trường đông đủ, bước vào năm học mới. Nhìn mặt ai cũng vui tươi rạng rỡ bởi không khí ngày Tết vẫn còn đọng lại. Ngồi vào lớp học rồi mà vẫn thì thầm với nhau những mẩu chuyện khó quên về Tết. Một chuyện bất ngờ tưởng chừng không bao giờ có thể có nhưng lại đến với tôi: đó là được gọi đi khám sức khỏe để tuyển đi nước ngoài học lái máy bay. Danh sách do trên Tổng cục Chính trị lập sẵn, đưa xuống cho nhà trường khám sức khỏe. Qua 15 phòng khám trót lọt, tôi trúng tuyển đi học lái máy bay. Từ giã Trường Sỹ quan Lục quân, tôi mang theo bao nhiêu kỷ niệm sâu đậm của người lính Lục quân. Một năm ở Trường Sỹ quan Lục quân là một năm chứa đầy nắng gió của đất Sơn Tây. Vì chưa tốt nghiệp khóa học, do đó tôi chưa được phong quân hàm sỹ quan mà chỉ được phong lên một bậc hạ sy quan, đó là: từ Hạ sỹ lên Trung sỹ! Bước ngoặt con đường binh ngiệp từ mặt đất lên bâu trời bắt đầu từ đấy!... Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Chín, 2025, 07:45:52 pm PHẦN HAI Con đường tới bầu trời Số anh em học viên ở Trường Sỹ quan Lục quân trúng tuyển đi học lái máy bay đợt đó được hơn mười người, trong đó có tôi. Tất cả những người trúng tuyển tập trung về Tiểu đoàn dự khóa 95 do đồng chí Xê, Đại úy làm Tiểu đoàn trưởng, đóng quân ở sân bay Cát Bi - Hải Phòng. Ngoài ra, còn có anh em ở các đơn vị trong toàn quân trúng tuyển cũng tập trung về đây và tổ chức thành các lớp học ngoại ngữ tiếng Nga và tiếng Trung, số anh em học sinh vừa nhập ngũ được tổ chức thành các Tiểu đội để học quân sự. Các anh em học viên Lục quân được bố trí làm các cán bộ Tiểu đội nòng cốt. Tôi được phụ trách một Tiểu đội. Các em học sinh cấp 3 hoặc đang học đại học tuổi đời mới đôi mươi, trẻ khỏe, thông minh. Sau này, các em ở Tiểu đội tôi được đi học bên Trung Quốc, bên Liên Xô đều thành đạt cả, đều trở thành các giáo sư, tiến sỹ khoa học kỹ thuật, như em Nguyễn Đức Cương- giáo sư tiến sỹ kỹ thuật Hàng không, em Nguyễn Xuân Anh- giáo sư tiến sỹ kỹ thuật Quân sự. Các em Hùng, Đáp, Tân, Nhân... cũng đều thành đạt. Các em luôn nhớ người Tiểu đội trưởng của mình. Em Nguyễn Quang Tấn học ở bên Liên Xô đã viết tặng tôi bài thơ: Gửi đến tay anh ngọn lửa vàng Đốt lên trong rét lúc Xuân sang Sưởi lòng người sống xa tình Mẹ Ấp ủ ngàn năm tình Bắc - Nam Giữ lấy anh ơi, ngọn lửa vàng Đốt lên cho sáng lúc Xuân sang Rập rờn trong lửa, hình ai đó Có phải quê ta phá rào làng Cầm lấy anh ơi, ngọn lửa vàng Sưởi lòng cho ấm lúc Xuân sang Bao giờ gió rét không còn nữa Anh bước lên thang trở về làng Giữ lấy anh ơi, ngọn lửa vàng Hy vọng ngày mai lửa sáng loang Cháy bùng quê Mẹ, thiêu đồn giặc Gặp lại anh thêm với một nàng Bao giờ trở lại với miền Nam Anh nhớ đừng quên ngọn lửa vàng! (29-12-1963) Hồi ấy tất cả vì miền Nam ruột thịt. Tất cả đã thấm sâu trong trái tim, trong máu mỗi người. Từ đồng ruộng đến thao trường, từ nhà máy đến trường học, đâu đâu cũng vang câu khẩu hiệu: "Vì miền Nam ruột thịt!". Sân bay Cát Bi - thành phố Hải Phòng từ sau ngày giải phóng bị bỏ hoang, đường băng cỏ mọc cao ngập đầu, nay được dọn sạch sẽ. Phi đội máy bay vận tải Li-2 của Liên Xô sang bay vận tải hàng hóa giúp Lào. Sân bay Cát Bi trở thành hậu cứ càng ngày càng nhộn nhịp. Lần đầu tiên anh em chúng tôi nhìn thấy máy bay cất cánh, hạ cánh rồi tưởng tượng đến một ngày không xa nữa mình sẽ lái nó về giải phóng miền Nam. Thú vị biết bao! Ở Cát Bi, chúng tôi học tiếng Nga. Các bài tập phát âm và các chữ cái chưa thuộc thì chúng tôi nhận được lệnh về Hà Nội làm thủ tục giấy tờ để xuất cảnh đi Liên Xô. Mọi người vừa sung sướng vừa lo vì đi nước ngoài mà ngoại ngữ còn mù tịt thế này thì học hành ra làm sao? Ngày 30-10-1961, mặc cho cái ngủ vẫn còn đeo bám chưa buông tha khỏi mắt, trong tâm thức chúng tôi có sự thúc giục mãnh liệt là phải dậy để xem cảnh vật bên ngoài vì đây là nước Trung Hoa vĩ đại! Tàu hỏa chạy băng qua những dãy núi đồi thoai thoải xen kẽ với những đám ruộng vừa gặt xong con trơ gốc rạ... Cảnh quan, cứ na ná giống như vùng Bắc Giang, Lạng Sơn của Việt Nam. Bữa cơm trưa đầu tiên trên tàu liên vận Trung Quốc cũng là bữa ăn đầu tiên ở nước ngoài. Món ăn nào cũng có vị ngọt của đường. Ngày 31-10-1961. Sáng nay ngủ dậy, trông cảnh quan bên ngoài tàu đã khác hẳn. Cây cỏ đã đổ sang màu vàng ối. Có nhiều cây đã rụng trụi lá. Tàu chạy băng qua nhiều đồi núi trọc trơ đất đỏ. Trên cánh đồng lác đác thấy có người mặc quần áo bông, đội mũ trùm tai, bẻ ngô khô. Khung cảnh gợi nhớ quê nhà ghê quá! Ngày 1-11-1961. Sáng sớm, tàu đến Quế Lâm. Cô phát thanh viên giới thiệu lịch sử, địa lí, cảnh đẹp của Quế Lâm bằng tiếng Việt với âm thanh ngọt ngào làm sao. Bác Hồ bị bọn Tưởng bắt đi tù đày ngang qua đây! Giọng cô phát thanh viên trầm hẳn xuống nghe thật cảm động. Nghĩ lại những ngày gian khổ đó, thương Bác quá! Tàu qua Hoa Nam, cô phát thanh viên giới thiệu quê hương của Mao Chủ tịch. Đến giờ ăn cơm trưa thì tàu qua cầu Trường Giang, cầu làm 2 tầng: tàu hỏa chạy tầng dưới và ô tô chạy tầng trên. 9 giờ kém 5 phút, tàu đến Bắc Kinh. Chúng tôi xuống tàu, đi theo đường hầm ra ngoài phố. Tất cả đều là lần đầu tiên nhìn thấy, chỉ bàn tán với nhau là sao mà to và đẹp thế. Gặp các anh ở Đại sứ quán ra đón và đưa về khách sạn Bắc Vĩ. Đến bấy giờ mới thấy ngấm lạnh: tay tê, tai buốt... và lúc ấy mới mở va li ra để lấy đồ ấm để mặc. Bữa cơm trưa ở khách sạn Bắc Vĩ rất ngon và nhiều món vô kể. Các bác, các chị phục vụ ở khách sạn sao mà vui vẻ, niềm nở đến thế. Họ đón tiếp chúng tôi như đón những người thân đi xa về. Ngày mồng 2 và mồng 3 tháng 11 vẫn nghỉ ở khách sạn. Anh em tha hồ đi dạo ở Thiên An Môn, Cố Cung, Bách hóa Đại Lầu. Đó là những nơi sau này có dịp dừng chân ở Bắc Kinh, chúng tôi đều dạo qua. Chiều 4-11, chúng tôi rời khách sạn Bắc Vĩ, lên ga tiếp tục cuộc hành trình gọi là "từ bờ biển Thái Bình Dương đến Trung tâm lục địa". Cảm động làm sao khi các bác, các chị ở khách sạn đưa tiễn chúng tôi lên xe chẳng khác nào như tiên người nhà đi xa vậy. 17giờ 10 phút ngày 4-11-1961, chúng tôi lên tàu liên vận của Liên Xô-Bắc Kinh-Mạc Tư Khoa. Lần đầu gặp các bác, các chị Liên Xô, thấy người nào cũng to cao. Tôi chỉ nói đáp lại được mỗi câu chào bằng tiếng Nga (zơ-đơ-ras-xtơ vui-che) mà thôi. Các bác, các chị vừa nói vừa làm động tác mẫu cho chúng tôi làm theo về giữ gìn vệ sinh trên tàu, về đảm bảo an toàn khi tàu chạy, cấm không được mở cửa sổ vì bên ngoài rất lạnh! Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Chín, 2025, 07:47:37 pm Tàu rời Bắc Kinh chạy về phía Tây Bắc, đến ga Mãn Châu Lý mất hai ngày hai đêm (5 và 6-11). Hai ngày hai đêm đi qua vùng đất xa xôi, rất mới lạ này lại đúng vào mùa tuyết, đâu đâu cũng thấy tuyết. Nhà cửa, thôn quê vùng này giống như một cái hầm đắp nổi trên mặt đất, tuyết phủ trắng. Cửa nhà cho người vào ra trông như cái cửa hang.
8 giờ 30 phút ngày 7-11, tàu đến ga Mãn Châu Lý (Trung Quốc). Chúng tôi ăn sáng xong, chờ làm thủ tục nhập cảnh Liên Xô. Mọi người xuống tàu, vào ga nghỉ. Toàn đoàn còn thừa một số tiền ăn bằng tiền "nhân dân tệ". Anh Bình - đoàn trưởng đứng tên gửi tiết kiệm ở cửa hàng biên giới (gần 1000 nhân dân tệ). Sau gần 2 giờ chờ đợi làm thủ tục, chúng tôi lên tàu sang biên giới Liên Xô Za-bai-can. Đồng hồ nhà ga chỉ 7 giờ 30 phút. Tất cả chúng tôi ngồi trên tàu. Công an cửa khẩu và Hải quan Liên Xô lên tàu kiểm tra và làm thủ tục nhập cảnh. Đây là đất nước của Cách mạng tháng Mười thành trì vĩ đại. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi đó là các anh bộ đội biên phòng, các bác công nhân đường sắt, ai cũng vạm vỡ to béo, đang làm việc ngoài trời đầy tuyết rơi bám trên mũ, trên áo trắng toát. Hôm nay tận mắt nhìn thấy cảnh thật, người thật của đất nước và con người Xô-viết chứ không phải thấy trong phim ảnh mà tôi từng mơ ước nữa. Tàu bắt đầu chạy và bữa ăn đầu tiên trên tàu liên vận Liên Xô gồm có bánh mì trắng với súp bắp cải, thịt gà, chả trứng rất ngon, nhưng sao vẫn nhớ đến vị rau muống luộc chấm mắm tương ở quê nhà! Ngày 8-11-1961. Tàu chạy đến hồ Bai-can. Từ xa đã nhìn thấy toàn cảnh hồ. Hồ rộng và dài nằm ở hướng Tây Bắc - và Đông Bắc. Hồ nước đóng băng. Mặt hồ lổn nhổn những tảng băng to và cao như núi, màu trắng toát, nhìn lâu là bị lóa mắt. Ở hướng Đông Nam, Nam và Tây Nam thì một nửa hồ nước trong veo, có nhiều đàn chim le le, vịt trời bay rợp trời, trông thật thích thú. Tàu chạy quanh phía bờ hồ từ Đông Bắc đến Đông Nam đúng vào giờ ăn cơm trưa. Chúng tôi ngồi trong toa tàu nhà ăn, vừa ăn vừa ngắm mặt hồ và phong cảnh phía Nam của hồ thật là đẹp. Sát mép hồ có phố xá đông vui với cảnh trang trí kỷ niệm ngày cách mạng tháng Mười, tất cả vẫn còn rực rỡ, tươi vui. Dưới hồ, thuyền bè tấp nập, nhiều nhất vẫn là loại thuyền du lịch. 16 giờ, tàu chạy đến hướng Tây Nam hồ Bai-can, ánh đèn đã sáng rực rỡ thay cho ánh sáng mặt trời. 20 giờ, tàu rời ga cuối của hồ Bai-can. Đó là nói theo đường đến, còn nói theo đường đi khi rời đất nước Liên Xô thì sẽ gọi là ga đầu của hồ Bai-can. Tại ga này, tàu thay đầu máy chạy than bằng đầu máy chạy dầu làm cho tàu thoáng đãng hơn, ít bụi hơn, không còn mùi khét của than đá nữa, dễ chịu hẳn. Phía Tây Nam hồ, có những dãy núi cao chọc trời, tuyết phủ trắng từ đỉnh xuống đến chân. Chỉ có những cây thông là mạnh hơn tuyết, lá vẫn xanh rờn, cao chọc trời, trêu ngươi thần tuyết. Tàu chạy qua một vài làng nông dân Nga, có nhiều đám trẻ con đang chơi tuyết. Ngày 9-11-1961. Bữa ăn sáng hôm nay, nhà ăn cho đổi món: ăn bánh mì với pho-mai. Nhiều người không ăn được pho-mai, chỉ ăn bánh mì với nước chè đường. Đây là miền Nam Xi-bê-ri, tuyết vừa rơi lai rai, còn để lộ những cánh đồng cỏ khô rộng và rừng tai-ga bạt ngàn, lá vàng rụng đầy gốc. 12 giờ trưa, tàu dừng ở ga Va-gai. Chúng tôi ngồi ăn trưa nhìn ra ngoài ngắm cảnh tuyết rơi thật là ngoạn mục. Những hạt tuyết nhỏ xíu như những hạt cát rơi xuống sân ga, nhảy tâng tâng, những hạt rơi trên mũ trên áo đều lăn xuống đất hết. Ngày 10-1-1961. Sáng nay, tàu vào vùng U-ran. Dãy núi U-ran là nơi phân giới giữa châu Á và châu Âu. Những cánh rừng già phủ đầy tuyết trắng tạo thành những cây hoa tuyết khổng lồ. Tuyết phủ đầy trên đường ray nên đầu tàu phải lắp thêm bộ phận gạt tuyết. Trên các con sông, những tảng băng lớn trôi bồng bềnh. 20 giờ, tàu dùng ở ga Ristôp. Chúng tôi chia tay với cậu bé người Nga tên là Slava. Cậu cũng lưu luyến bắt tay các chú sinh viên Việt Nam cùng chuyến tàu với cậu từ Xi-bê-ri về đến Ristôp. Ngày 11-11-1961. Tàu chạy qua khỏi vùng U-ran vào vùng phụ cận Mạc Tư Khoa với bạt ngàn rừng thông. Chúng tôi ăn cơm trưa xong thì tàu đến vùng ngoại ô, chạy với tốc độ vừa phải. Đường phố thật đông đúc, đúng là "ngựa xe như nước, áo quần như nem". 13 giờ 45 phút, tàu đến ga Mạc Tư Khoa. Tôi chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Thanh Tịnh: "Ôi! Mạc Tư Khoa - ga vũ trụ đầu tiên!". Tất cả xuống tàu vào ga, ở đó đã có các anh trong Đại sứ quán ra đón. Va li, túi xách... đưa hết lên xe buýt. Trong thời gian chờ đợi tàu để đi tiếp về trường, chúng tôi được xe chở đi thăm quan một số nơi nổi tiếng của Mạc Tư Khoa, như Hồng Trường, Lăng Lê-nin, nhà thờ cổ kính, tháp chuông điện Crem-lanh, đồi Lê-nin, trường Đại học Lô-mô-nô-xốp. Đứng trên đồi cao này hầu như thấy được gần nửa toàn cảnh thành phố Mạc Tư Khoa. Rồi xe chở chúng tôi qua đường phố Gorky - đường phố trung tâm của Mạc Tư Khoa lộng lẫy vô cùng. 10 giờ 15 phút, lên chuyến tàu nội địa chạy về phía Nam-về vùng sông Đông. Ngày 12-11-1961. Sáng nay, con tàu đưa chúng tôi qua miền đồng lúa mì rộng mênh mông không hề thấy một ngọn núi nào. Lúa mì đã gặt xong, các máy gặt đập liên hoàn đang hoạt động trên đồng lúa, nhanh chóng thu dọn và gieo cỏ cho xong trước mùa tuyết ập đến. 18 giờ 30. Tàu đến thành phố Rôxtôp. Thành phố nằm ở bờ phía Bắc sông Đông. Tàu vào ga, chúng tôi xuống tàu, lên ô tô, chạy qua cầu sông Đông sang phía Nam sông Đông về trường Không quân Xô-viết đặt tại thành phố Ba-tai-xcơ, gọi là Trường Ba-tai-xcơ. Kết thúc cuộc hành trình dài nhất chưa từng có trong đời tôi bằng tàu hỏa từ ga Hà Nội - Việt Nam qua Bắc Kinh- Trung Quốc, qua Mạc Tư Khoa, Liên Xô đến ga Rốxtôp, qua 12 ngày đêm ròng rã, ăn ngủ trên tàu liên vận Việt Nam - Trung Quốc - Liên Xô. Đó là một chuyến đi xa đầu tiên trong đời lưu lại bao nhiêu kỷ niệm không quên. Những kỷ niệm đó rất bổ ích cho từng bước đi của cuộc đời. Trong 4 năm học tập ở Trường Không quân Liên Xô, tôi còn 3 lần hành trình bằng đường tàu hỏa như thế nữa. Đó là, tháng 10 năm 1963 được về nước nghỉ phép, đi từ ga Krasnôđar (vùng Cu-ban) - Mạc Tư Khoa- Bắc Kinh - Hà Nội và ngược lại. Và tháng 10-1964, sau khi tốt nghiệp trường Cusôpxcơ trên loại máy bay tiêm kích bom MiG-17 trở về nước. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Chín, 2025, 07:49:29 pm Trường Không quân Bataixcơ Trường Không quân Bataixcơ nằm ở vùng đồng bằng, đất đai trù phú, phía Nam sông Đông - con sông trong tiểu thuyết "Sông Đông êm đềm" nổi tiếng của nhà văn lớn Sôlôkhôp mà tôi rất thích đọc. Nay tôi được tận mắt nhìn thấy nó, tận tay vốc nước của nó để nếm thử. Chạy dọc theo bờ sông là những cánh đồng lúa mì, hướng dương, ngô, củ cải đường bạt ngàn chạy dài mãi đến tận chân trời. Cách trường hơn 30 km là thành phố Rôxtôp, cách 5 km là thị trấn Batai. Muốn đi dạo phố là phải đi xe chứ không đi bộ được. Chúng tôi vào trường từ ngày 13-11 đến ngày 29-11-1961, chủ yếu làm các thủ tục nhập học theo điều lệnh của quân đội Liên Xô - trường chính quy. Đầu tiên là đi đo may quần áo mùa Đông, áo dài bằng nỉ gọi là áo "xi-nhen" mặc rất ấm, rồi tập đi ủng da vì nó rất nặng, phải học cách quấn ghệt, tập đội ngũ đi đều, đi nghiêm, các động tác quay trái, quay phải, quay đằng sau theo kiểu của quân đội Liên Xô. Riêng động tác chào thì giống nhau nên không phải tập. Trước khi đi ngủ (lúc 9 giờ tối) là phải đi dạo mát, thực chất là phải đi đều và vừa đi vừa hát với đoạn đường dài chừng 200 - 300 mét gì đó. Cuối cùng là làm vệ sinh cá nhân và lên giường ngủ. Mỗi người được trang bị một cái tủ nhỏ ở đầu giường. Tủ có 2 ngăn: ngăn trên quy định thống nhất mỗi người phải có một cái gương soi, một cái lược, một lọ nước hoa, một dao cạo râu để trước khi lên lớp phải soi gương cạo râu, chải đầu và xịt tí nước hoa. Trước khi ra khỏi doanh trại, trực ban nội vụ phải kiểm tra. Nếu ai không chấp hành đúng quy định như tóc dài bù xù, râu ria lởm chởm... thì phải quay về cắt tóc, cạo râu sạch sẽ sau đó mới được đi. Điều lệnh quân đội ở Xô-viết rất nghiêm minh nên ai cũng phục, cũng khen. Có như vậy, trong Đại chiến thứ 2, họ mới đánh thắng quân đội phát xít Đức tinh nhuệ nhất toàn cầu. Tháng 11, mỗi người được nhận 8 rúp gọi là tiền tiêu vặt. Số tiền tuy ít ỏi như thế nhưng rất có giá. Mọi người tiết kiệm để mua máy ảnh, giấy ảnh, phim và thuốc rửa ảnh. Hồi đó, ai cũng thích chụp ảnh. Ngày chủ nhật đi chụp ảnh tối về là hì hục tráng phim, rửa ảnh... Ngày 30-11-1961. Nửa tháng đã trôi qua, chúng tôi được nghỉ lấy sức, song theo yêu cầu và quy chế của nhà trường, hôm nay chúng tôi chính thức lên lớp học tiếng Nga trong vòng 3 tháng. Ông Trung tá mặc quân phục Không quân, người to cao trông như một vị tướng đến dẫn bọn tôi vào lớp học. Ông ra hiệu bằng tay là ngồi xuống. Ông sắp xếp vị trí để người nào thấp thì ngồi phía trước, người cao ngồi phía sau. Ông chỉ bảo tỉ mỉ từ chỗ treo mắc áo khoác, treo mũ đến cách để sách vở trên bàn, cách để tay và tư thế ngồi học. Chúng tôi như cái máy, làm theo tay chỉ của ông. Ông tên là Xôclacôp Trung tá, từng trải qua Đại chiến thứ 2. Trán ông có một cái bướu và chúng tôi đặt tên cho ông là "Trung tá Bướu" để phân biệt với các người khác cùng cấp bậc nhưng chưa biết tên người đó. Ông Trung tá và chúng tôi cùng ngồi im lặng để đợi thầy giáo dạy Nga văn đến. Tiếng giày lộp cộp, gấp gấp ngay ngoài cửa lớp. Cửa mở. Một cô giáo bước vào! Ông Trung tá ra hiệu cho chúng tôi đứng dậy rồi đọc tên từng học viên Việt Nam. Hai người nói chuyện với nhau, chắc là ông bàn giao chúng tôi cho cô giáo rồi ông chào tạm biệt. Buổi học đầu tiên, cô giáo bắt đầu dạy đọc chữ "A"! Chữ cái tiếng Nga và chữ cái tiếng Việt giống nhau ở chữ đầu tiên, đó là chữ "A". Hầu như nhiều nước trên thế giới dùng chữ la-tinh cũng đều bắt đầu bằng chữ "A". Ngay con người ta khi sinh ra, cất tiếng chào đời đầu tiên cũng là "a... a...". Cả lớp cùng đọc chữ "A". Tôi lại nhớ đến cái thời nằm ngửa trên tay mẹ, khóc "a... a...". Trong buổi sáng, cô giáo dạy xong phần phát âm chữ cái, buổi chiều tự ôn tập. 14 giờ, tan lớp, nghỉ ăn trưa. Lần đầu tiên chúng tôi ăn trưa muộn hơn 3 tiếng đồng hồ so với tập quán Việt Nam nên bụng đói cồn cào mà đành chịu. Sau khi ăn trưa (lúc 15 giờ) thì lên lớp tự học đến 7 giờ tối nghỉ học, đi tập thể dục, tập trong nhà do một huấn luyện viên hướng dẫn vì ngoài trời lạnh lắm. 18 giờ 30 phút ăn tối và 19 giờ 30 phút lên Câu lạc bộ. Cứ mỗi tối, ăn cơm xong (gọi là ăn cơm cho vui để đỡ nhớ nhà thôi chứ thực chất chỉ toàn bánh mì) là ông Trung tá đã đứng chờ ở trước cửa nhà ăn và nói câu quen thuộc: "Tất cả đến Câu lạc bộ!". Ông giải thích với chúng tôi rằng phải đi Câu lạc bộ để giao lưu, nhảy van... có như thế thì mới nhanh giỏi tiếng Nga được. Lúc đầu, có nhiều người e ngại, lảng tránh nhưng xét cho cùng, đấy là giải pháp rất hợp lý để mau nói được tiếng Nga. 21 giờ, đi dạo mát chừng 20 phút. Cả lớp đi đều và hát những bài hát theo nhịp đi. Chúng tôi quen hát bài "Vừng Đông đã hửng sáng...". Đến 21 giờ 30 phút là tắt đèn đi ngủ. Chúng tôi sống, sinh hoạt, học tập, vui chơi... giống như bánh xe luân hồi từ ngày đầu đến những ngày tiếp theo cả khóa học đều như thế. Suốt tháng 12-1961, chúng tôi vùi đầu học tiếng Nga vì đó là chiếc chìa khóa để mở đường đi lên bầu trời. Mọi người đều nhận thức được và hết sức cố gắng học. Tinh thần học tập của chúng tôi không một ai chê. Cô giáo Nhilôva còn rất trẻ, đã có chồng và có một cậu con trai nhưng lúc nào cô cũng có mặt trong giờ tự học để phụ đạo cho chúng tôi. Ai cũng cảm phục cô với tinh thần quý mến học viên, không quản đêm khuya, chỉ mong cho học viên giỏi tiếng Nga. Tháng 12 có ngày Lễ Giáng sinh và ngày Tết dương lịch. Nhưng hồi ấy ở Liên Xô họ cũng không quan tâm mấy, chỉ có nghỉ ngơi chứ không tổ chức gì. Năm 1962 sẽ là năm chúng tôi được lên bầu trời. Nói đến bay là rạo rực trong lòng như sắp bước vào một thế giới mới, sẽ khám phá ra bao điều kỳ diệu trên không trung... Nhưng trước mắt phải hoàn thành chương trình tiếng Nga. Đã qua một tháng mới chỉ nói bập bẹ được đôi câu giao tiếp thôi. Tháng 1-1962, học đặt câu phức tạp, học đổi cách và học thuộc lòng những bài văn ngắn, học kể chuyện... Cô giáo xoay chất vấn làm cho mọi người càng rối bấn, mà càng rối bấn thì đáp án lại càng sai. Chúng tôi phải tăng giờ học về khuya và học viên Việt Nam nổi tiếng có "học thức" từ đó! Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Chín, 2025, 07:50:24 pm Hết tháng 2 dương lịch, Tết cổ truyền đến nhưng chúng tôi không được nghỉ. 30 Tết vẫn đi học bình thường, tối về chung tiền cùng nhau mua mấy cân kẹo, nước ngọt về để cùng nhau đón giao thừa. Sáng mồng 1 Tết vẫn lên lớp đúng giờ. Hôm nay bắt đầu ôn lại kiến thức toán học, hình học. Hai môn đó rất cần cho lý thuyết bay. Nói và viết bằng tiếng Việt thì dễ nhưng chuyển ngữ sang nói bằng tiếng Nga thì khó ơi là khó! Thầy giáo là ông Thiếu tá đầu hói. Chúng tôi đặt cho ông cái tên là "Thầy Hói" để cho dễ nhớ. Tên thật của ông là Êsôp. Thầy Thiếu tá Êsôp nhiệt tình giảng giải thường quên cả nghỉ giải lao 10 phút.
Tháng 3-1962. Trời ấm dần. Băng, tuyết bắt đầu tan gây nhiều mưa, không khí ẩm ướt, vì vậy mà bệnh cảm cúm cũng phát triển, hầu như ai cũng bị sổ mũi, phải bôi "dầu cù là". Trong lớp nồng nặc mùi dầu, cô giáo không quen, không chịu được, cứ "hắt xì hơi" liên tục. Mà tập quán của người Nga, mỗi khi bị "hắt xì hơi" thì người bên cạnh phải nói "bút-che zờ-đa-rôp!" (chúc sức khỏe!). Chúng tôi phải luân chuyển nhau chúc cô giáo "bút-che zờ-đa-rôp!", làm cho cô giáo không nhịn được cười, bò lăn ra bàn, cả lớp vui như diễn kịch. Vậy là hôm nay bài kiểm tra, cô giáo cho điểm 5 hết thảy. Ba tháng học tiếng Nga đi nhanh quá. Chúng tôi tưởng như Trái Đất quay nhanh hơn bình thường. Nhưng đó là do chúng tôi chưa nắm bắt được tiếng Nga là bao mà đã phải chia tay với thầy, cô giáo Nhilôva và Êsôp-những người đã rất tích cực ngày đêm dạy cho chúng tôi bước vào ngưỡng cửa tiếng Nga. Hôm nay nói được, đọc được, viết được chính là điều kiện đầu tiên để có thể bay lên bầu trời. Giờ tạm biệt thầy cô giáo thật lưu luyến, không muốn rời xa. Ngày 18-3-1962. Chúng tôi bước vào học môn Lý thuyết bay. Ngồi trong lớp Lý thuyết bay, nhìn những tranh vẽ, những bảng công thức treo và dán xung quanh tường nhiều vô kể, đọc và dịch ra nghĩa tiếng Việt đủ hiểu được đã khó mà phải thuộc lòng để trả bài cho thầy như cô giáo dạy tiếng Nga từng nói với chúng tôi càng khó hơn. Thầy giáo dạy Lý thuyết bay là ông Trung tá có cặp mắt đục ngầu, nhỏ xíu mà người ta thường ví là "người mắt lươn", mang kính trắng trông dữ tướng lắm, ai cũng sợ bị ông kiểm tra bài. Bởi kiểm tra một thì ông hỏi thêm đến mười. Ông có đặc tính là ai bị kiểm tra lần đầu mà bị điểm 2 thì hầu như suốt cả môn lý thuyết, ông ta chỉ xoay vào hỏi người đó. Ngoài Lý thuyết bay là phần khó nhất ra còn có các môn cũng quan trọng không kém. Đó là môn cấu tạo máy bay cấu tạo động cơ, tính năng tác dụng, trang thiết bị thông tin, thiết bị dẫn đường bằng vô tuyến và một môn không thể thiếu đó là khí tượng. Phi công là phải thành thuộc nhận dạng các loại mây, dạng mây nào nguy hiểm không được bay vào đó, phải bay cách nó bao nhiêu mét thì mới bảo đảm an toàn v.v. Sau hơn hai tháng vùi đầu vào học các môn lý thuyết bay cơ bản, bây giờ đến phần thi tốt nghiệp về lý thuyết. Tổng cộng các môn có đến hơn một nghìn câu hỏi ôn thi. Mỗi phiếu thi chỉ có 3 câu nhưng biết trúng vào câu nào, do đó phải học thuộc cả hơn nghìn câu. Mỗi câu phải dịch ra nghĩa Việt để hiểu đã khó nhưng phải trả lời miệng bằng tiếng Nga lại càng khó hơn. Câu trả lời khó nhất là thời gian. Bởi vậy phải thức đêm để mà học. Phải cử người gác ông "Trung tá Bướu" vì ông hay bất ngờ đi kiểm tra học viên chấp hành điều lệnh. Song, ông cũng rất thương học viên Việt Nam, ông sợ để chúng nó thức đêm nhiều sẽ mất sức khỏe, mắt kém thì không bay được. Người gác khi thấy ông "Trung tá Bướu" đến thì ra hiệu cho anh em tắt hết đèn, nằm im, giả vờ ngủ khi ông ta đi, lại tiếp tục học. Thời gian thì quá eo hẹp, kế hoạch nhà trường đã sắp xếp sẵn rất chính quy các công đoạn (học Lý thuyết bay, nghỉ phép, thi tốt nghiệp quốc gia...) bắt buộc phải hoàn thành. Tài liệu vừa dài vừa khó, lần đầu tiên chúng tôi tiếp xúc với những định luật, những đường cong, những công thức toán học, hình học, lực nâng, lực cản... lại có nhiều từ lý thuyết bay, kỹ thuật máy bay tra trong Từ điển Nga-Việt rồi Việt-Nga không tìm thấy từ Việt đành phải học thuộc lòng bằng chữ Nga. Khó khăn chồng chất khó khăn. Chúng tôi tưởng như không thể vượt qua được, nhưng cuối cùng, khi thi tốt nghiệp phần lý thuyết, tất cả đều đạt, không một ai phải thi lại. Đó là bài học vượt khó đầu tiên của chúng tôi khi bước vào nghề. Bài học khắc phục khó khăn, kiên nhẫn, đoàn kết giúp nhau, quan hệ tốt với thầy cô giáo. Dù có bận học đến đâu nhưng nề nếp sinh hoạt Đảng, sinh hoạt Đoàn vẫn luôn được giữ vững. Tổ chức kết nghĩa giữa các Đoàn thanh niên cộng sản Việt Nam và Đoàn thanh niên Côm-xô-môn của nhà trường để giúp nhau học tiếng Nga và tìm hiểu lịch sử Cách mạng tháng Mười Nga và Cách mạng tháng Tám của Việt Nam làm cho tình hữu nghị giữa học viên và giáo viên càng thêm gắn bó. Nhà trường thường tổ chức những buổi tham quan, gọi là học tập "ngoài trời": đi hái táo, hái dưa giúp nông trang thu hoạch cũng rất bổ ích cho chúng tôi, vừa làm thư giãn bớt những ngày ngồi ở lớp căng thẳng như dây đàn, vừa làm cho chúng tôi thấy trực tiếp cách làm ăn tập thể hóa ở Liên Xô. Trên những cánh đồng rộng mênh mông của nông trường vào mùa vụ, toàn là máy móc liên hợp đảm nhận hết thảy công việc các công đoạn từ khâu gieo trồng cho đến thu hoạch (gieo hạt, bón phân, phun thuốc diệt cỏ diệt sâu do máy bay đảm nhiệm), chỉ còn lại việc hái táo, hái dưa chưa có máy hái, do đó phải dùng đến bàn tay của con người. Bởi vậy, cứ đến mùa táo, mùa dưa là chúng tôi may mắn được đi hái giúp cho nông trang. Nói vậy chứ khi chúng tôi đến nông trang, được bà con đón tiếp như đón khách quý của nông trang. Họ tập trung bà con nông trang liên hoan biểu diễn những bài hát, những điệu nhảy dân tộc rất tuyệt vời. Hồi đó, sinh viên Việt Nam học ở Liên Xô được những bà mẹ Nga rất thương. Đó là những người đã từng trải qua chiến tranh chống phát xít. Họ rất thông cảm với Việt Nam khi đất nước còn chia cắt và chiến tranh có thể xảy ra. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Chín, 2025, 07:53:16 pm Chuẩn bị mặt đất Trước khi bay lên trời, phải trải qua một thời gian chuẩn bị bay ở mặt đất, bao gồm tập buồng lái, biểu diễn mô hình, học xử lý bất trắc, tập nhảy dù và thực hành nhảy dù. Giáo viên dạy nhảy dù là ông Đại úy. Trong tập luyện, ông ta cú xem mặt xem tay và chân để cho điểm, còn việc nói đúng hay sai thì không quan tâm. Đúng vậy, nghề nhảy dù là phải nhanh tay, nhanh mắt, hai chân khép lại cho chắc. Ông ta xem sổ kiểm tra sức khỏe của từng người: động tác "bóp tay", nếu ai đạt 50 kg trở lên thì ông cho điểm 5, còn 50 kg trở xuống thì chỉ cho điểm 4 hoặc 3 mà thôi. Tôi "bóp tay" tối đa chỉ đạt 48 kg nên chỉ được 4 điểm cộng (4+). Một buổi sáng tháng 5-1962, lần đầu tiên trong đời, tôi được lên trên trời cao để rồi từ trên trời cao đổ bộ xuống mặt đất bằng dù (tập nhảy dù). Bầu trời trong veo. Cảnh vật trên sân bay Bataiscơ còn chìm lặng trong sương sớm, chỉ có tiếng người í ới với nhau, Nga có, Việt có. Tiếng máy nổ mỗi lúc một to dần, phi công nổ máy xong lăn thử ra vị trí xuất phát. Máy bay hơi rướn về phía trước, người ngồi trên máy bay hơi tụt về phía sau. Chiếc máy bay An-2 có hai tầng cánh bắt đầu chạy lấy đà. Tôi ôm chặt chiếc dù phụ vào bụng, còn dù chính thì đeo sau lưng, mắt nhìn ra bên ngoài. Máy bay lướt trên bãi cỏ xanh có nhiều bông hoa màu trắng và vàng khoe sắc rực rỡ dưới những tia nắng sớm. Mặt đất lùi nhanh về phía sau và máy bay nhẹ nhàng bốc lên khỏi mặt đất. Thú vị tuyệt vời! Mặt đất cứ xa dần, xa dần... Con sôngngoằn ngoèo đã đổi màu nước xanh thay cho màu trắng bởi mùa Đông băng tuyết. Máy bay vòng lại bay về đích thả dù xác định tốc độ gió. Trên chuyến bay cùng chúng tôi có ông Thiếu tá bảo hiểm cho chúng tôi nhảy dù. Ông là một huấn luyện viên dù kỳ cựu, đã trải qua hàng ngàn lần nhảy biểu diên an toàn. Nếu có ai đó mà dù không mở hoặc bị xoắn trong lúc nhảy là lập tức ông lao ngay theo cứu nguy... Ông nhẹ nhàng nhắc nhở mọi người cứ bình tĩnh nhảy dù. Đến lượt tôi ra cửa máy bay. Bấy giờ mới thấy hồi hộp thực sự. Nhìn xuống mặt đất thấy sâu hun hút, trong người hơi ớn lạnh. Ông Thiếu tá nhắc: "Nhắm mắt lại và lao xuống đi!". Độ cao nhảy dù là 600 mét. Tôi nhắm mắt lao xuống dưới bụng máy bay. Thật hú vía vì không va vào đuôi máy bay. Đáng lẽ ra là phải lao ngang ra cửa máy bay chứ không được lao xuống. Qua mấy giây thì dù tự mở, người tôi treo lơ lửng giữa trời xanh. Tôi quan sát xung quanh, thấy có một số dù của các anh em cùng nhảy cũng đã mở. Nhìn xuống mặt đất để tìm chữ "T" (chữ đánh dấu điểm chạm đất). Nếu ai đang ở xa chữ "T" thì cần điều khiển cho dù về nơi đó để tiếp đất. Người và dù rơi dần theo tốc độ rơi 3-4 m/s. Dưới mặt đất đã có người cầm loa nhắc nhở mọi "vận động viên dù" chú ý khép chặt hai chân vào nhau (đề phòng khi tiếp đất bị gãy hoặc sai khớp xương). Tôi đã làm theo lời hướng dẫn và tiếp đất hoàn hảo. Tiếp đất xong, được nhận ngay tại bãi nhảy dù một chiếc huy hiệu "nhảy dù" rất đẹp. Công tác chuẩn bị mặt đất còn có một công đoạn rất quan trọng nữa: tập nổ máy mặt đất và "lăn" hay "bò" cũng vậy. Thầy giáo dạy kỹ thuật thì hướng dẫn động tác nổ máy: phải đặt cần ga, cần điều khiển có tải và không tải của cánh quạt, hỗn hợp giữa khí và xăng cho phù hợp không gây sặc khí dễ bị tự chết máy... Thầy giáo dạy bay thì hướng dẫn động tác "bò" vào bãi đậu máy bay sao cho đúng chỗ quy định. Tuy không phức tạp lắm nhưng nhất nhất đều phải làm đúng quy định. Đây là vấn đề bảo đảm an toàn tính mệnh và tài sản. Giữa tháng 6-1962, những chuyến bay đầu tiên lên không trung bắt đầu. Mỗi ngày chúng tôi thực hành từ 3 đến 5 lần tập cất cánh và hạ cánh. Lúc đầu, giáo viên làm mẫu cho học viên ngồi xem. Học viên được chia thành các "tổ bay" gọi là "gờ-rupa". Mỗi "tổ bay" do một giáo viên bay người Nga đảm nhiệm. Tổ bay của tôi có 4 học viên là tôi, Lê Đình Cảnh, Nguyễn Đăng Kính và Trần Thiện Lương. Vì Lương có vóc người nhỏ nhất tổ nên ông giáo đặt cho cái tên là "cậu bé". Ông giáo của chúng tôi tên là Rôpaep - phi công cấp 1 mang quân hàm Thiếu tá. Tài nghệ bay của ông thì không thể chê vào đâu được. Ông ở trong đội bay biểu diễn nhào lộn kỹ thuật cao cấp trên loại máy bay thể thao Iak-18 của nhà trường. Mỗi một ban bay, ông thường phải bay kèm (ngồi buồng lái sau) với 4 học viên chúng tôi không ít hơn 20 lần cất hạ cánh trong ban bay. Lấy số lần cất hạ cánh để đo mức cường độ lao động, nhưng thực tế, cường độ lao động của từng bài bay lại có mức độ khác nhau. Cường độ lao động lớn nhất là với những bài bay không vực kỹ thuật nhào lộn với những động tác cao cấp. Khi ấy, phi công sẽ phải chịu đựng những quá tải lớn và liên tục. Nghe ông giáo kể về kỹ thuật nhào lộn siêu cấp, anh em chúng tôi rất thích thú nhưng không biết sức khỏe có chịu đựng nổi không. Giai đoạn thầy giáo làm chính, học viên làm phụ đã qua. Bây giờ là giai đoạn học viên làm chính, thầy giáo làm phụ. Đây là giai đoạn quyết định để học viên có thể bay đơn được hay không? Đây là trận thử thách kỹ năng nắm bắt kỹ thuật bay, tính quyết đoán, quả cảm, bình tĩnh, nhạy bén, tự chủ, tự tin và điều tối quan trọng đó là xác định khoảng cách cuối cùng tới mặt đất khi hạ cánh. Nhiều người lao đao vì khoảng cách cuối cùng đó và tôi cũng không tránh khỏi. Bài bay "lượn vòng khép kín" hay "bay theo hàng tuyến" với mục đích chủ yếu là tập luyện cho thành thạo động tác cất hạ cánh. Các thầy dạy cho chúng tôi đã nói cái "khoảng cách cuối cùng" đó chỉ là khoảnh khắc thôi, nhưng lại là cho cả một đời! Đúng vậy! Người ta tổng kết về tai nạn Hàng không trên thế giới thì có đến 90% tai nạn xảy ra là ở cái "khoảng cách" cuối cùng đó. Trong bay, các thầy rèn cho chúng tôi rất kỹ lưỡng, tỷ mỉ, thận trọng, tính chính xác về kỹ thuật cất hạ cánh. Hồi đó, tôi xác định độ cao 1m cách mặt đất để kéo bằng tiếp đất không chuẩn xác, lần thì cao hơn 1m và ngược lại, có lần thấp hơn 1m. Chuyến bay nào cũng bị thầy giáo chê. Bởi vậy, cứ sau khi kết thúc ban bay, thầy mượn chiếc xe mô-lô-tô-va và thầy trò tôi ngồi trên đó chạy vòng quanh đường băng để thầy chỉ cho cách xác định độ cao 1m cách mặt đất. Thầy đã rèn cho tôi tính kiên trì vượt qua ngưỡng cửa về "khoảng cách cuối cùng". Sau này, tôi hạ cánh chuyến nào cũng được thầy khen "kha-ra-số" (tốt) và tiếng "pờ-lô-khờ" (xấu) thì không còn nghe thấy nữa. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Chín, 2025, 07:54:37 pm Tháng 7 ở sân bay Bataiscơ, cái nóng từ phía Đông Nam tràn tới đẩy những đêm dài lui về phía Tây Bắc. 20 giờ, chúng tôi phải lên giường ngủ mà mặt trời vẫn còn đỏ hoe xiên qua cửa sổ. Nhà trường phải lấy vải đen che cửa sổ để cho dễ ngủ nhưng mới 4 giờ sáng, mặt trời đã lấp ló ngoài cửa sổ rồi. Mùa Hè ở thành phố Lêningrat còn có hẳn một tháng gọi là "Đêm trắng", nghĩa là không hề có bóng tối, ngày và đêm sáng hệt nhau, 12 giờ đêm vẫn ngồi ngoài trời đọc báo bình thường.
Chúng tôi phải đi bay thật sớm để tránh cái nắng buổi trưa. Ban đêm thì mát không cần quạt, không dùng điều hòa bao giờ. 4 giờ sáng, chúng tôi dậy đi bay nhưng vẫn muộn hơn mặt trời vì lúc ấy, mặt trời đã rọi vào phòng ngủ rồi. Mỗi một lần nạp dầu cho 4 học viên luân phiên nhau bay còn giáo viên thì cứ ngồi nguyên trong buồng lái cho đến lượt nạp dầu lần thứ hai, thầy mới rời buồng lái, xuống để giải lao. Trong lúc đợi tra nạp dầu, thầy trò ngồi dưới cánh máy bay tránh nắng và nghe thầy giảng giải vì sao có lần hạ cánh tiếp đất vượt tít lên phía xa so với quy định, rồi có lần lại tiếp đất tít ở phía dưới mức quy định, rồi vì sao có lần lại tiếp đất nặng... Tiếp đó, thầy phân tích nguyên nhân và cách khắc phục. Sau này, khi tôi bay trên các loại máy bay phản lực có tốc độ hạ cánh lớn hơn nhiều so với loại Iak-18, như MiG-17, MiG-21, Su-22... nhưng tôi không một lần lặp lại lỗi trên. Tôi luôn cảm ơn thầy Rôpaep đã cho tôi một kỹ thuật hạ cánh hết sức vững chắc suốt cuộc đời bay. Càng về trưa, trời càng nóng, mật độ không khí càng loãng. Những chiếc máy bay cất cánh lấy độ cao bay vào không vực, có bao nhiêu công suất dự trữ phải dốc hết ra để cho đủ tốc độ "bò" cao, nghe tiếng máy rú rền mà thương. Các máy bay lên trời hết cả, bãi đỗ máy bay vắng tanh, từng đàn chim se sẻ bấy giờ mới xà xuống tìm nhặt những hạt cỏ, nhưng chúng gặp những luồng gió Nam đột ngột đổi chiều làm cho nhiều con không hạ cánh được, phải bay lại. Chúng kêu the thé, rồi bay vút lên cao, vòng lại tiếp tục xuống hạ cánh. Thầy giáo tôi cầm mũ bay, chỉ vào lũ chim và nói: "Đến con chim nó còn phải làm như vậy đó! Cậu phải chú ỷ động tác bay lại nhé!". Thầy trò tôi lên máy bay thực hiện chuyến bay lần hai. Thầy ngoái lại căn dặn thêm: "Giờ này gió đã chuyển sang cạnh phải và mạnh hơn. Chú ý chống gió cạnh cho chính xác nhé!". Trung tuần tháng 7-1962, một số người đã được thả bay đơn (bay một mình mà không có thầy giáo ngồi ở buồng lái sau). Trong số đó có anh Nguyễn Bình là người được bay đơn đầu tiên của đoàn. Lúc này, anh Bình là Đoàn trưởng đoàn học bay Việt Nam thay cho anh Mai Bá Quát đã sang đoàn học thợ máy vì anh Quát không đủ sức khỏe công tác trên không. Chuyến bay đơn đầu tiên của anh Nguyễn Bình được nhà ăn làm một chiếc bánh ga-tô để chúc mừng. Chuyến bay kiểm tra thả bay đơn cho tôi được ông Đại tá Hiệu trưởng bay kiểm tra. Thầy giáo rất lo vì sợ tôi không bình tĩnh, nếu bay không đạt yêu cầu thì bản thân thầy cũng "bị đòn" theo tôi. Cái chức Hiệu trưởng ở đây thường gọi là Trung đoàn trưởng. Tên ông là Voncôp - Đại tá, Anh hùng Liên Xô, là phi công thời chiến tranh với phát xít Đức. Ông là một trong những phi công chiến đấu còn may mắn sống sót. Đa số phi công hồi đó đã hy sinh. Ở dưới đất, trông ông dữ tướng lắm, ai cũng sợ, nhưng khi cầm cần lái thì ông lại rất hiền. Mang dù và kiểm tra khóa dù xong (hồi đó phải mang dù trước khi lên buồng lái), tôi báo cáo ông là đã sẵn sàng. Ông nhận báo cáo và ra hiệu cho tôi lên buồng lái. Trong buồng lái, động tác đầu tiên là móc cái khóa để kéo dây mở dù vào ghế ngồi, đề phòng trường hợp bắt buộc phải nhảy dù ở trên không. Động tác tiếp theo là quan sát xung quanh và ra hiệu cho thợ máy rời cánh quạt và nói to: "At-vin-tà!" (Rời xa cánh quạt!). Mở máy xong, phải kiểm tra toàn bộ hệ thống thiết bị làm việc của máy móc bằng hệ thống đồng hồ chỉ các số liệu nhiên liệu, áp suất dầu nhờn, khí, điện kế... Tất cả bình thường thì ấn nút vô tuyến xin Đài chỉ huy cho phép lăn máy bay ra tuyến cất cánh. "20 xin cất cánh!" (20 là số gọi của tôi khi mới bắt đầu vào bay). Đài chỉ huy cho cất cánh. Tôi tăng ga và kiểm tia vòng quay, nhiệt độ động cơ sau đó nhả phanh cho máy bay chạy đà. Tốc độ đạt 80 km/h, từ từ nhấc bánh mũi cho đầu máy bay ngóc lên trên đường "chân trời". Tốc độ đến 120 km/h, máy bay rời đất, giữ máy bay thăng bằng cách mặt đất 1m để tốc độ tăng lên đến 150 km/h thì kéo cần lái cho máy bay lấy độ cao. Độ cao đạt 150m, lượn vòng với một góc 90 độ và tiếp tục lấy độ cao. Từ vòng lượn 1 đến vòng lượn 2 mất 1 phút. Máy bay bay đến điểm vòng 2 thì lượn vòng về hướng ngược lại với hướng cất cánh. Từ điểm lượn vòng 2 bay thẳng đến điểm 3. Giữ máy bay bay bằng, giữ tốc độ không đổi với độ cao 400m. Khi bay đến ngang chữ "T" (dấu hiệu hạ cánh) thì thả càng. Kiểm tra càng đã thả hết thì báo cáo Chỉ huy bay: "20, càng thả hết,xin hạ cánh!". Bay khoảng 2 phút đến điểm 3 thì lượn vòng với góc 90 độ về điểm 4. Từ vòng 3 bay đến vòng 4 thì từ từ giảm độ cao và tốc độ để đến vòng 4, độ cao còn 150m và tốc độ là 130 km/h. Thực hiện làm vòng 4 cho đến khi trục dọc của máy bay trùng với hướng hạ cánh (đường băng), cho máy bay bay bằng, đặt góc xuống 10-15 độ, giữ hướng hạ cánh, giảm dần độ cao và tốc độ cho đến khi độ cao còn cách mặt đất 15m thì chuyển tầm nhìn sang bên trái với góc15-30 độ so với mũi máy bay để xác định độ cao còn cách mặt đất 4-5m thì kéo bằng, từ từ tạo tư thế cho máy bay tiếp đất với 2 bánh chính. Máy bay nhẹ nhàng lướt trên thảm cỏ xanh. Cho máy bay xả đà và phanh cho đến khi dừng lại. Tất cả chuyên bay vòng kín chỉ hết 6 phút đồng hồ, nhưng là 6 phút để làm nên bước ngoặt của đời binh nghiệp là phi công. Tôi lăn máy bay sang đường cất cánh, tiếp tục thực hiện chuyến cất cánh lần thứ 2, thứ 3 đều làm đúng như lần đầu. Trong kế hoạch kiểm tra, có bài sửa chữa sai lầm do thầy tạo ra nhưng suốt chuyến bay, thầy cứ ngồi im không nói một tiếng nào, tôi cũng đâm lo, sợ không được bay đơn. Bay đơn là điều ham muốn, là khát khao tột đỉnh của người phi công! Chúng tôi thường hát bài: "... Ta chỉ biết có bay trên không. Điều đó lớn vô cùng... Thế nhé cô nàng, việc ấy ngày mai rồi ta sẽ bàn...". Tôi lăn máy bay về bãi đỗ và tắt máy. Thầy Hiệu trưởng xuống máy bay trước. Tôi ngồi trong buồng lái chờ cánh quạt ngừng quay hẳn rồi mới được xuống máy bay. Tôi ghi vào sổ nhận xét : "Za-mê-trá-nhe Nhét!" (máy bay tốt, không có nhận xét gì!) và bàn giao máy bay cho thợ máy. Ông Hiệu trưởng đang nói chuyện với thầy Rôpaep. Tôi phải đứng chờ. Song, ông vẫy tay gọi tôi lại. Tôi chạy nhanh đến, giơ tay lên mũ bay chào và báo cáo: "Xin nhận xét chuyến bay". Tôi hồi hộp chờ chỉ độ mấy giây thôi mà tưởng chừng như nó dài bằng cả đời bay! Ông Hiệu trưởng-Đại tá Vôncôp nhìn tôi và nói rất ngắn gọn. Giọng nói âm vang đến tận bây giờ vẫn còn trong ký ức của tôi: "Po-liôt nhe pờ-lô-khờ!" (chuyến bay không tồi). "Đồng ý cho mày được bay đơn!" (người Nga khi thân mật thường xưng mày, tao). Nghe tiếng được bay đơn, tôi sung sướng đến rơi nước mắt. Vậy là từ đó, tôi đã qua được cái ngưỡng cửa khát khao nhất khi bước vào nghề bay: Đó là BAY ĐƠN! Tôi lấy khăn mùi soa lau những giọt mồ hôi còn đọng trên trán. Mặt trời đỏ hoe đã xuống thấp dưới những ngọn bạch dương. Từng bầy quạ khoang từ cánh đồng nườm nượp bay qua bầu trời sân bay về phía các làng quê có những hàng cây bạch dương ven bờ sông Đông... Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Chín, 2025, 07:55:50 pm Tháng 9-1962, ở sân bay Bataiscơ, sáng sớm đi bay phải mặc áo bông nhưng đến trưa thì nóng đổ mồ hôi. Chúng tôi bắt đầu bay những bài tập nhào lộn kỹ thuật phức tạp vất vả cả trí não và tay chân. Có những động tác rất cân não, nếu chi sơ sảy một tích tắc thì có thể gặp nạn. Thầy giáo Rôpaep luôn luôn dặn dò chúng tôi: đây là miếng võ của người phi công tiêm kích. Đúng vậy! Sau này trong không chiến, mỗi lần gặp khó khăn khi đối kháng với địch, tôi lại nhớ lời dạy của thầy và dùng miếng võ nhào lộn, kỹ thuật nhào lộn mà vượt qua hiểm nguy, giành chiến thắng.
Động tác kỹ thuật cơ bản trong không gian dành cho bất cứ ai hễ là phi công tiêm kích thì phải biết động tác "vòng thúng" lượn vòng với độ nghiêng 45, 60, 90 độ và lớn hơn 90 độ, giáp kín một vòng là 360 độ. Yêu cầu độ nghiêng ổn định (không thay đổi), độ cao, tốc độ, quá tải không thay đổi. Nếu lượn vòng bên trái giáp một vòng kín lại lật qua vòng bên phải ngay thì gọi là lượn vòng số 8. Kỹ thuật thắt vòng gồm có thắt vòng đứng, nửa thắt vòng đứng, thắt vòng nghiêng. Kỹ thuật lộn xuống, thắt vòng đứng, kỹ thuật khoan, kỹ thuật lượn vòng chiến đấu. Đó là những động tác kỹ thuật nhào lộn cơ bản nhất khi bay không vực mà mọi phi công phải thành thạo. Từ những động tác cơ bản đó sẽ nâng cao lên nhiều động tác phức tạp hơn, cao cấp hơn. Đặc biệt, phải thật thành thục xử lí khi máy bay rơi vào "xoắn ốc". Đó là trường hợp máy bay bị mất tốc độ (tốc độ dưới mức cho phép có thể bay được do động cơ bị trục trặc, mất lực đẩy, hoặc do động tác điều khiển sai lầm của phi công làm cho máy bay rơi vào góc tấn tới hạn, phát sinh dòng khí xoáy trên cánh, nhanh chóng mất lực nâng) trạng thái nhẹ thì máy bay rung mạnh, rơi từ từ, còn nặng thì máy bay rơi vào "xoắn ốc", có thể là "xoắn ốc” ngửa, "xoắn ốc" sấp hoặc nửa vòng ngửa nửa vòng sấp. Một vòng là 360 độ, độ cao mất rất nhanh từ mấy trăm mét đến mấy ngàn mét trong một vòng xoắn. Khốn nỗi là nếu đã để máy bay rơi vào "xoắn ốc" thì phi công không nhảy dù được. Con đường sống của phi công chỉ có một cách là phải đưa được máy bay ra khỏi "xoắn ốc". Trong đời bay, tôi đã có một lần chủ động làm cho máy bay rơi vào "xoắn ốc" và chủ động đưa máy bay ra khỏi "xoắn ốc" là động tác nhớ đời không bao giờ quên. Giản đơn thế này thôi, muốn cho máy bay rơi vào "xoắn ốc" cần giảm tốc độ tới hạn "xoắn ốc" rồi đạp chân bên phải hay bên trái tùy theo mình muốn cho "xoắn ốc" bên nào rồi kéo hết cần lái về mình. Lập tức, máy bay sẽ rơi vào "xoắn ốc", quay tròn 360 độ. Tùy mình có thể cho máy bay quay trọn một vòng, hai vòng hay ba vòng. Nhưng tối đa chỉ là ba vòng là phải đưa máy bay ra khỏi "xoắn ốc". Thứ tự động tác đưa máy bay ra khỏi "xoắn ốc" là phải đạp chân ngược lại với bên quay, đẩy cần lái hết cỡ về phía trước, máy bay lập tức ngừng quay, đưa chân và cần lái về vị trí trung lập, cho máy bay trở lại trạng thái bay bằng. Thứ tự động tác phải làm đúng tuyệt đối thì máy bay sẽ ra khỏi "xoắn ốc" rất nhanh và dễ dàng. Nếu làm sai động tác dù một tích tắc thôi thì nguy hiểm khôn lường, không thể ra khỏi "xoắn ốc" được, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng phi công. Chúng tôi phải nắm chắc kỹ thuật nhào lộn cơ bản ngay từ ban đầu bước vào nghề bay, nhờ đó mà sau này trong những trận không chiến ác liệt "một mất một còn" với bọn F-4 của Mỹ, chúng tôi đã giành thắng lợi. Bay đội hình 2 chiếc, 4 chiếc nhào lộn kỹ thuật phức tạp là khoa mục cuối cùng để kết thúc khóa bay. Tháng 10-1962, ở sân bay Bataiscơ bắt đầu có mưa. Đó sẽ là trở ngại lớn đối với chúng tôi trong việc hoàn thành kế hoạch đúng tiến độ. Trời mưa, đường băng ướt, bùn nổi lên, không thể cất cánh được, phải chờ cho sân khô. Tuy nhiên chúng tôi vẫn bận tíu tít, phải tranh thủ lên lớp ôn lí thuyết để chuẩn bị sát hạch quốc gia, nhận bằng tốt nghiệp phi công. Nghĩ đến lúc nhận bằng tốt nghiệp, trong lòng thấy tràn ngập niềm vui. Hôm sát hạch bay thật không may chút nào cho tôi. Khi cất cánh, bầu trời không hề có mây, vậy mà khi từ không vực bay về sân bay thì bầu trời phủ kín đầy mây, gió đổi chiều và thổi mạnh. Tôi bình tĩnh làm theo chỉ dẫn của Đài chỉ huy bay, hạ cánh an toàn, đúng quy định. Tôi nhận được điểm 5 về bay, điểm 4 về sát hạch lý thuyết. Tổng cộng điểm thi quốc gia, tôi được nhận bằng "xanh". Trong cái vui riêng là mình đã hoàn thành nhiệm vụ về bay, nhưng có cái buồn chung là có một số anh em trong đoàn đã không bay được do kỹ thuật yêu, phải chuyển đi học thợ máy, trong số đó có những anh em quen thân rất quý mến nhau như các anh Bối, An, Tôn, Vi... Tốt nghiệp khóa bay sớm được mấy tuần lễ, nhà trường cho đi thăm quan quanh vùng tỉnh "Rôstôp na Đônu" rất bổ ích cho tinh thần và sức khỏe. Đây là vùng đồng bằng miền Nam Liên Xô, đất đai rất phì nhiêu, vườn cây ăn trái bạt ngàn táo, lê, nho, mận... cùng với những cánh đồng hướng dương tít tắp chân trời đang mùa chín rộ trông thật thích mắt. Các vườn cây ăn quả tuy đã cuối mùa thu hoạch nhưng trên cây vẫn còn đầy trái vì thiếu nhân công. Chúng tôi đề nghị với nhà trường cho anh em đi hái táo giúp nông trang mấy buổi, thật là vui. Thấm thoắt chúng tôi đã qua một năm sống ở đất Bataiscơ thấm đượm tình hữu nghị Việt Nam-Liên Xô vô bờ bến. Đặc biệt là khi gặp những lớp người cao tuổi từng trải qua thời chiến tranh chống phát xít. Cứ nói đến Việt Nam là họ hô vang: "Hoan hô Hồ Chí Minh! Hoan hô Điện Biên Phủ!". Có lẽ đời học viên cũng chỉ có một lần được may mắn ở đất Bataiscơ này mà thôi vì Trường Bataiscơ là trường dạy bay sơ cấp. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Chín, 2025, 07:57:23 pm Trường Không quân Cusốpscaia Ngày 12-11-1962, chúng tôi từ biệt đất Bataiscơ, đi đến miền đất mới. Đó là miền đất Cusốpscaia. Chúng tôi cũng chia tay với các đoàn cùng bay để đi bay ở các sân bay khác: đó là đoàn của anh Cao Bá Giảng đi sân bay Zenôgrat để học bay máy bay trực thăng Mi-4. Đoàn gần 50 người do anh Cao Bá Giảng làm trưởng đoàn. Chia tay với đoàn về sân bay Krasnôđar để học bay máy bay ném bom IL-28, đoàn hơn 20 người do anh Võ Văn Xơng làm trưởng đoàn. Đoàn đi sân bay Cusốpscaia là đoàn đông nhất và là đoàn đầu tiên học đào tạo lái máy bay chiến đấu ở Liên Xô. Đầu tiên do anh Mai Bá Quát làm trưởng đoàn, sau đó do sức khỏe không bay được thì anh Nguyễn Bình thay. Rồi anh Bình do sức khỏe phải thôi bay thì anh Nguyễn Duy Mật làm đoàn trưởng. Một thời gian sau vì lí do sức khỏe, anh Mật không làm đoàn trưởng nữa và tôi được cử thay vào vị trí ấy. Sân bay Cusốpscaia là cơ sở chuyên đào tạo lái máy bay MiG-17 trực thuộc Trường Không quân Krasnôđar. Người chỉ huy cao nhất ở đây không gọi Hiệu trưởng, mà gọi là Trung đoàn trưởng. Sân bay nằm trên vùng đồng bằng rộng mênh mông, đất đai trù phú. Các nông trường ở đây chuyên trồng lúa mì, ngô, hướng dương. Sân bay được làm bằng bê tông rất hiện đại, nằm xa khu đông dân. Ngày nghỉ, chúng tôi muốn đi chơi đến Thị trấn và chợ Cusốpscaia cũng phải đi bộ hơn chục cây số. Đường đi gặp nắng khô thì bụi mù trời nếu gặp mưa thì lầy bùn bám đầy ủng. Tên là Trung đoàn nhưng tổ chức thì theo mẫu một Trường Không quân huấn luyện bay có đầy đủ các bộ môn thuộc các khoa. Chúng tôi đến trường. Bạn tranh thủ làm các thủ tục nhập học và lập kế hoạch khai giảng khóa học ngay. Bạn giao cho một ông Thiếu tá phụ trách học viên Việt Nam, Hungari và Cuba (cùng học với khóa chúng tôi có học viên bay của Không quân Hungari và Không quân Cuba cũng bay MiG-17). Ông Thiêu tá phụ trách tên là Xáppơlưkin và một ông Chuẩn úy chuyên nghiệp lo về công tác hậu cần (ăn ở, trang bị, đi lại...). Ông là chiến sĩ Hồng quân thời chống phát xit Đức, rât nhiệt tình với công việc được giao, rất vui tính. Bước vào học, khó khăn lớn nhất của chúng tôi hồi đó là tài liệu khai thác máy bay MiG-17 còn nằm trong diện tuyệt mật của Liên Xô (không được mang tài liệu ra khỏi lớp học). Trường phát cho mỗi Tiểu đội một chiếc va li đựng tài liệu. Tan giờ học, tất cả sách vở bỏ vào đó, khóa lại và ấn dấu (con dấu do Tiểu đội trưởng giữ) rồi gửi vào kho cất tài liệu mật của nhà trường. Bởi vậy, muốn học thêm (ngoài giờ) thì phải lên lớp học mới mượn được tài liệu để học tại lớp, không được mang tài liệu về nơi nghỉ. Kỷ luật giữ bí mật của Trường rất nghiêm, nếu vi phạm, nhà trường bắt được thì sẽ bị đuổi học. Song, những người phục vụ ở đây rất có cảm tình với Việt Nam, ban đêm, họ bí mật cho Việt Nam được mang tài liệu về phòng ngủ học thêm. Tất cả học viên Việt Nam từ đảng viên đến các đoàn viên đều nỗ lực phấn đấu học ngày học đêm để hoàn thành chương trình học lý thuyết máy bay phản lực MiG-17 với mục tiêu phải đạt từ yêu cầu trở lên thì xảy ra một việc không may làm cho cả đoàn sững sờ thương tiếc. Đó là học viên Trần Xuân Quế bị tai nạn tàu hỏa, đã hy sinh. Sáng sớm hôm đó, Trần Xuân Quế được cử đi Bataiscơ để phổ biến kinh nghiệm học tập cho đoàn của anh Nguyễn Bá Địch mới nhập trường đang gặp nhiều khó khăn giống như đoàn của anh Mai Bá Quát lúc đầu vậy. Đây chính là tình đồng đội giúp đỡ nhau "lúc thường cũng như lúc chiến đấu". Nhưng thật không may, khi Quế đi băng qua đường tàu hỏa thì có một chiếc tàu lao đến bất ngờ, Quế không tránh kịp, bị tàu đâm phải và lâm nạn. Quế là con em của quê hương miền Nam, hy sinh đang lúc tuổi đời còn trẻ, đầy triển vọng. Ai cũng ngậm ngùi thương tiếc. Chúng tôi báo cáo Đại sứ quán và Đại sứ quán đã cử người về Trường bàn với bạn tổ chức lễ truy điệu và mai táng Trần Xuân Quế tại Cusốpscaia.Các bà mẹ Nga đến dự lễ an táng rất đông, ai cũng rơi nước mắt. Theo phong tục Nga, các mẹ liệng một đồng xu (một cô-pếch) xuống huyệt trước khi lấp đất. Nhà trường còn cho một chiếc máy bay MiG bay lượn mấy vòng để chào tiễn biệt Trần Xuân Quế. Mùa Đông của năm 1962-1963 là một trong những mùa Đông khắc nghiệt nhất ở Liên Xô. Gió tuyết kéo dài nhiều ngày gây lạnh buốt. Chúng tôi ngồi trong lớp tuy có lò sưởi mà vẫn phải mặc áo xi-nhen (áo dài nỉ), tay cầm bút vẫn run, viết thật khó khăn. Phòng ngủ thì phải lấy chăn căng cho kín mà vẫn không ngủ được vì lạnh. Tháng 3-1963, kết thúc chương trình học lý thuyết bay MiG-17, chúng tôi cảm thấy nhẹ nhõm hẳn vì đó chính là khâu mở đường để có thể sờ được vào cần lái MiG. Nếu không tốt nghiệp phần lý thuyết này thì đừng mong gì gần nó được. Các thầy giáo rất nghiêm khắc với tất cả các môn học, cho dù khó hay dễ đều phải trải qua sát hạch để đánh giá kết quả. Các thầy dạy đến đâu chắc đến đó nên anh em chúng tôi rất tin tưởng và lạc quan sẽ bay được trên máy bay phản lực, vẫn biết rằng nó không hề đơn giản, dễ dàng chút nào. Chúng tôi bắt đầu ra sân bay để thực tập trên buồng lái MiG-17. Con người ta, nam cũng như nữ, ở độ tuổi 17 đều có thân hình đẹp nhất, bởi vậy, nhà thiết kế Micôiăng mới lấy con số 17 cho một kiểu thiết kế máy bay tiêm kích gọi là MiG- 17. Tôi cho đây là một kiểu máy bay có hình dáng đẹp nhất thế giới. Trong dòng họ MiG có rất nhiều loại, từ MiG-3 đến MiG-15,17,19,21,23,29... nhưng nhìn hình dáng MiG-17 thì không có chỗ nào để chê cả. Dáng đứng ở mặt đất hơi rướn mình lên phía trước giống như cô gái tuổi 17 đứng đối diện với chàng trai cùng trang lứa, như vừa e lệ vừa hãnh diện với thân hình tuổi dậy thì của mình! Với thân hình tròn cân đối, có bộ cánh vát về phía sau 45 độ, khi nó bay trên bầu trời càng thấy yêu thích làm sao! Sau gần 1 tháng thực tập trong buồng lái với cách nổ máy, cách lăn, chúng tôi đã học thuộc lòng các công tắc, các núm vặn với từng vị trí, từng vạch trên đồng hồ của bảng đồng hồ. Trong buồng lái còn có hàng trăm đèn tín hiệu để báo động khi thiết bị nào đó gặp sự cố, giúp phi công kịp xử lý. Ánh sáng của đèn tín hiệu có các màu: màu đỏ là nguy hiểm cần xử lý ngay, màu vàng chưa nguy hiểm như màu đỏ nhưng vẫn phải xử lý, màu xanh nước biển là an toàn. Cũng lại có loại tín hiệu nguy hiểm vừa báo bằng đèn đỏ đồng thời vừa phát những tiếng kêu tít...tít... trong tai nghe. Đó là tín hiệu đang có địch bám đuôi. Thời kỳ chúng tôi bắt đầu bay loại máy bay tiêm kích MiG-17, hệ thống tự động chưa phổ cập, đa phần phải xử lý bằng bộ nhớ của bản thân mình (đầu) và đôi tay của mình, cho nên yêu cầu phải học thuộc lòng tất cả, hệt như các nhà sư thuộc kinh ở chùa vậy. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Chín, 2025, 07:58:32 pm Cuối tháng 3-1963, ở vùng Cusốpscaia, tuyết vẫn rơi lai rai. Những bông tuyết cuối mùa trông thật đẹp. Nó nhỏ xíu, tròn vo, lúc rơi xuống cánh máy bay, nó nhún nhảy tâng tâng trước khi lăn xuống mặt sân bê tông. Chúng tôi đội mũ lông trùm kín tai mà vẫn thấy buốt. Sau khi hoàn tất công tác chuẩn bị mặt đất có đủ các thầy dạy lý thuyết và thực hành kiểm tra thì các giáo viên bay phụ trách kiểm tra bằng vấn đáp trực tiếp trong buồng lái. Chúng tôi phải trải qua nhiều lần sát hạch thật vất vả nhưng đó là sự cần thiết. Sự chặt chẽ, nghiêm túc, cẩn thận, nguyên tắc... chính là sự đảm bảo cho con người cùng chiếc MiG lên trời cao và trở về mặt đất an toàn. Đấy là bài học in sâu mãi trong đời bay của từng người.
Bài kiểm tra cuối cùng là thực hành nhảy dù. Buổi sáng hôm ấy, trên bãi nhảy dù, băng vẫn chưa tan hết nên khi tiếp đất, ai cũng bị trượt ngã vì trơn, nhưng nhờ có sự chuẩn bị kỹ lưỡng động tác tiếp đất, vì vậy không ai bị gãychân, trẹo khớp. Mọi sự chuẩn bị rất hoàn hảo trước khi chúng tôi bước vào bay trên loại máy bay tiêm kích phản lực. Sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo Nga, chúng tôi không bao giờ quên công ơn. Ngày nay tuổi đã cao, sức đã yếu, không còn nói đến bay được nữa, song giọng nói và âm thanh tiếng Nga của các thầy giáo bay như vẫn còn thì thầm trong tai tôi hàng ngày vậy. Ngày 10-4-1963, trên sân bay Cusốpscaia là ngày đầu tiên tôi "khai tay" cầm cần lái máy bay MiG bay lên bầu trời Xô-viết bao la, hùng vĩ - đất nước mà ở cực Đông khi ánh mặt trời đã xuyên qua cửa sổ thi ở cực Tây tất cả vẫn còn đang chìm trong giấc nồng của màn đêm. Trên chiếc UMiG-15 là máy bay huấn luyện có 2 chỗ ngồi. Buồng lái phía trước dành cho học viên còn buồng lái phía sau dành cho giáo viên. Ông giáo viên bay - Đại úy Amôxôp là người thầy đầu tiên dạy cho tôi biết lái máy bay MiG. Hình ảnh ông đã in sâu trong tâm trí tôi mãi mãi, không bao giờ phai mờ. Ông rất hiền lành, giản dị, khiêm nhường, thương yêu học viên hết mực. Học viên có làm sai, ông cũng không bao giờ nói to dù chỉ một tiếng, trong khi ông rất bực mình vì sai lầm của học viên mà ông phải gánh chịu lời phê bình của cấp trên. Tôi nghĩ, tìm được một người Nga có tâm tính như ông thì thật khó, thật hiếm vì tính người Nga vốn nói to, nói thẳng, không kiêng nể, không ngại mếch lòng... Trong tổ bay của tôi, cả ba anh em đều hợp tính hợp nết với ông giáo, vì vậy mà tình cảm thầy trò càng thêm gắn bó. Anh Lê Đình Cảnh, người con của đất Thanh Hóa. Anh Cảnh rất sáng dạ, học giỏi, nói tiếng Nga khá và ăn nói lưu loát, được thầy giáo mến lắm. Đối với bạn bè thì anh Cảnh giúp đỡ hết mình. Sau khi tốt nghiệp MiG-17 về nước, anh Cảnh bị bệnh, không tiếp tục bay được nên chuyển làm cán bộ tác chiến phục vụ ở các sân bay dã chiến trong khu Bốn- nơi được coi là "rốn bom" của Mỹ với cái sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc. May mắn là anh không bị sứt mẻ gì. Kết thúc cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, anh Cảnh được ra quân về lo giúp cho hậu phương riêng của mình đang trong cảnh ngập tràn khốn khó. Anh Cảnh có những ý nghĩ sâu xa mà ít người ngờ tới, đó là chắt chiu từng đồng lương công với sự vay mượn khắp nơi để "tậu" được một số mảnh đất quý hiếm ở Hà Nội. Nhờ vậy mà khi có cơn "sốt đất" ở Hà Nội, anh đã có kha khá đất làm vốn, làm tài sản xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho gia đình. Song, tình đồng chí đồng đội vẫn chất nặng lòng anh khi chưa tìm được hết phần mộ của những phi công đã hy sinh còn nằm rải rác ở các địa phương mà chưa quy tập được. Vấn đề là phải lần ra được nơi máy bay các phi công gặp nạn. Anh Lê Đình Cảnh đã lần tìm đến các địa phương, nơi mà có các máy bay của ta bị rơi trong chiến đấu, trong những trận không chiến vào những năm 1966,1967,1968 và 1972. Có người đã nằm trong nghĩa trang, có người chưa. Anh quyết tâm tìm bằng được để đưa đồng đội mình vào năm trong nghĩa trang và thuê thợ tạc bia mộ để giúp cho gia đình tìm người thân được dễ dàng hơn. Tình nghĩa của anh Lê Đình Cảnh thật đáng trân trọng! Người thứ hai trong tổ bay của tôi là Nguyễn Đăng Kính. Anh là người quê Thành Nam (Nam Định), mang tính nết hiền lành, chân chất của người nông dân miền vùng đồng chiêm Bắc Bộ, được thầy Amôxôp rất thương. Trong thời gian bay, anh Kính bị ốm, phải nằm viện mất một thời gian, bởi vậy, khi thi tốt nghiệp bay thì anh Kính chưa bay hết chương trình. Nếu không có được thầy giáo bản lĩnh thì anh Kính đã bị cắt bay và cho thôi bay. May có thầy Amôxôp rất nhiệt tình bảo lãnh cam kết cho anh Kính bay hết chương trình để được dự thi tốt nghiệp. Chúng tôi rất thương thầy trò anh Kính khi ngày ngày lẽo đẽo ra sân bay trong lúc mọi người khác đã thi tốt nghiệp xong được nghỉ ngơi, đi giao lưu rồi hái táo giúp nông trường... Sau khi tốt nghiệp trên MiG-17 về nước, anh Kính cũng được chọn đi bay chuyển loại lên MiG-21 đợt đầu tiên cùng với tôi và trải qua 2 năm (1966-1967) chiến đấu ác liệt với giặc Mỹ, anh Kính thường bay số 2 cho tôi. Tuy có hơi chậm nhưng khi bay số 2 để bảo vệ cho số 1 thì "chắc như đinh đóng cột", giúp cho tôi tin tưởng tập trung công kích địch Anh Nguyễn Đăng Kính đã bắn rơi được 6 máy bay Mỹ được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được phong hàm Trung tướng. Hiếm có thầy giáo bay nào dạy một tổ ba học viên thì có hai người trở thành Anh hùng thực thụ và thành đạt lên đến tướng lĩnh trong quân đội. Thầy Amôxôp-giáo viên bay của Không quân Liên Xô đã làm được điều đó. Học viên trong tổ bay ông dạy gồm Lê Đình Cảnh, Nguyễn Đăng Kính, Nguyễn Hồng Nhị. Chúng tôi mãi mãi biết ơn thầy Amôxôp! Theo kế hoạch bay, đúng 8 giờ ngày 10-4-1963 (giờ Mạc Tư Khoa), tôi bật công tắc điện gọi Đài chỉ huy và xin phép mở máy. Đài chỉ huy cho phép mở máy. Người tổ trưởng máy bay đứng trên thang máy bay giúp tôi mở máy thành công (hồi ấy ở máy bay UMiG-15, hệ thống khởi động chưa hiện đại (tự động hóa chưa cao) nên động cơ hay bị tắt, phải mở máy lại). Mở máy xong, kiểm tra máy phát điện phải đủ 27,5 von, tôi bật tất cả các công tắc đảm bảo cho hệ thống thiết bị của máy bay làm việc. Đồng hồ chỉ hướng bay (đồng hồ ARK), đồng hồ chân trời (đồng hồ AGĐ) làm việc tốt... Tôi báo cáo thầy giáo xin lăn ra đường băng cất cánh. Chuyến bay đầu tiên do thầy giáo làm động tác mẫu, thầy làm đến đâu hướng dẫn đến đó, nói ngắn gọn, động tác dứt khoát, rất dễ tiếp thu. Tôi tăng cần ga lên vòng quay tối đa, kiểm tra động cơ làm việc tốt (nhiệt độ, vòng quay của rô to tuốc bin bình thường) sau đó thả phanh cho máy bay rướn về trước chạy đà. Cái giây phút rời khỏi mặt đất bằng máy bay phản lực tuyệt diệu làm sao! Chiếc máy bay UMiG-15 nhấc bổng hai thầy trò lên không trung nhẹ như lông hồng. Nó lên cao dần, cao dần... một loáng đã đạt độ cao 5000 mét. Thầy trò bay một vòng quanh các không vực bay. Thầy chỉ tâm từng không vực ở dưới mặt đất có những đặc điểm gì đánh dấu làm mục tiêu để khi bay đơn không bị lạc đường. Thời gian bay hơn 30 phút thì xong 6 không vực. Tôi lấy hướng về sân bay. Kim đồng hồ chỉ hướng bay (đồng hồ ARK) chuyển về con số không (0). Năm phút sau về đến đỉnh đài, xin phép chỉ huy bay giảm độ cao. Kim đồng hồ chỉ độ cao 500 mét, lập hàng tuyến hạ cánh. Thầy trò hoàn thành chuyến bay và bàn giao máy bay cho tổ trưởng thợ máy tra nạp dầu chuẩn bị cho chuyến bay tiếp theo. Hai thầy trò xách mũ bay đi vào nhà ăn dã chiến để ăn bữa ăn phụ buổi sáng. Vừa đi thầy vừa tranh thủ giảng bình sơ bộ chuyến bay. Thầy hài lòng về chuyến bay và động viên tôi chuyến sau phải làm được như vậy, thậm chí tốt hơn. Các sân bay huấn luyện ở Liên Xô tổ chức hệ thống phục vụ ăn uống đều giống nhau, rất khoa học. Mỗi sân bay có một nhà ăn gọi là nhà ăn dã chiến, đến mùa bay thì triển khai phục vụ đầy đủ. Món nước uống giải khát được các phi công cũng như thợ máy rất yêu thích là món nước cờ-vát. Sau mỗi chuyến bay nhào lộn kỹ thuật phức tạp vừa phải chịu quá tải lớn, vừa ra nhiều mồ hôi, chỉ cần uống một ca nước cơ-vát là người thấy ráo mồ hôi ngay. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 29 Tháng Chín, 2025, 07:17:22 pm Mùa Hè đi qua đồng nghĩa với mùa bay năm 1963 của chúng tôi cũng kết thúc và mùa nghỉ phép của giáo viên, học viên cũng đến. Thầy trò chúng tôi tạm chia tay nhau, hẹn mùa sau gặp lại!
11 giờ trưa ngày 25-9-1963, tất cả anh em chúng tôi lỉnh kỉnh tay thì xách va li, tay thì xách túi du lịch lên chiếc máy bay IL-14 của quân sự mang số hiệu 09, bay từ sân bay Cusốpscaia đến sân bay Krasnodar. Ở đó có ga tàu hỏa chạy thẳng về Thủ đô Mạc Tư Khoa. Ở sân bay Krasnodar, có đoàn học kỹ thuật rất đông, có đủ các bộ môn kỹ thuật phục vụ cho nội trường, ngoại trường thuộc hệ MiG và máy bay ném bom IL-28. Đoàn kỹ thuật do anh Phạm Tâm và anh Mai Bá Quát phụ trách. Đoàn bay IL-28 do anh Võ Văn Xong phụ trách. Nhà trường cho cả ba đoàn cùng về nước nghỉ phép. Tối hôm đó, cả ba đoàn tổng cộng hơn trăm người cùng lên chuyến tàu hỏa chạy suốt từ Krasnodar về Mạc Tư Khoa. Sáng 26-9, tàu về đến Mạc Tư Khoa thì đã có người của bộ phận đối ngoại Bộ Quốc phòng Liên Xô cùng với cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Mạc Tư Khoa ra ga đón chúng tôi, đưa đi làm thủ tục để lên tàu hỏa liên vận Mạc Tư Khoa - Bắc Kinh - Hà Nội. Hồi ấy, khi cầm tấm vé đi tàu hỏa liên vận Mạc Tư Khoa - Bắc Kinh - Hà Nội thấy cảm giác sao mà thân tình gần gũi nhau đến thế. Mặc dù chúng tôi đã được biết tình hình chính trị giữa Liên Xô và Trung Quốc đang ngày một gia tăng trong việc lên án nhau về cái gọi là Chủ nghĩa xét lại. Nhưng chúng tôi thầm mong quan hệ giữa hai nước đừng xấu đi hơn nữa để đường tàu liên vận vẫn thông suốt, để sự vận chuyển hàng hóa từ các nước Xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam trong đó có việc đi học của chúng tôi không bị gián đoạn. Nếu bị gián đoạn thì uổng phí lắm vì cơ hội trở thành phi công chiến đấu của chúng tôi không còn xa nữa. Cả ngày chờ tàu hỏa, bạn tranh thủ đưa chúng tôi đi xem một số điểm ở thành phố như Lăng Lê-nin (chỉ xem phía bên ngoài, chưa được vào phía trong), Quảng trường Đỏ, Bách hóa tổng hợp (GUM), trường Đại học Lômônôxôp... cho đến khi đường phố lên đèn thì chúng tôi cũng lên tàu liên vận đi Bắc Kinh. Tàu hỏa bắt đầu lăn bánh, đêm tối ập đến, hai mi mắt cứ muốn dính lại với nhau nhưng chỉ chợp được một lát lại mở thao láo, người tỉnh như đang ngồi trong buồng lái MiG. Bao nhiêu chuyện hiện lên trong trí nhớ: chuyện ở nhà trường, chuyện bay, chuyện khi về Tổ quốc sẽ đi chơi ở đâu và thăm những ai. Rồi chuyện khi trở lại trường sẽ mua những quà kỷ niệm gì ở Việt Nam để tặng cho thầy giáo và các bà phục vụ ở văn thư (có công cho chúng tôi mượn sách bí mật), các bà phục vụ ở nhà ăn... Hai năm sống xa Tổ quốc thiếu thông tin, khát khao tình cảm, nay được về, mọi người tràn đầy sung sướng. Ai ai cũng mua quà kỷ niệm từ đất nước Xô-viết về cho gia đình, cho bạn bè, vì vậy khi lên tàu lỉnh kỉnh "tay xách nách mang" đủ thứ. Tàu chạy đến ga Zabaican (ga cửa khẩu của Liên Xô) làm thủ tục xuất cảnh sang ga Mãn Châu Lý (Trung Quốc). Đoàn trưởng vào cửa hàng rút số tiền gửi lại trước kia và chia cho anh em để khi đến Bắc Kinh sẽ mua quà kỷ niệm. Ngày 03-10-1963, chúng tôi về đến Bắc Kinh. Xe của Đại sứ quán ra đón chúng tôi về nghỉ ở khách sạn Bắc Vĩ. Chúng tôi ở đây 3 ngày vì lí do chuyến tàu về Bằng Tường bị trễ. Đêm nhớ Hà Nội không ngủ được. Nửa đêm còn nghe tiếng rao của người bán kem trên đường phố: "I mảo lẻng cơ!" (một hào hai chiếc!) nghe mà buồn làm sao. Không ngủ được nên đành nằm chờ cho trời sáng để rủ nhau đi dạo Cố Cung và Bách hóa Đại lầu. Sáng 6-10, chúng tôi lên tàu hỏa Bắc Kinh - Bằng Tường. Thời ấy tàu liên vận chưa chạy thông tới ga Hà Nội được vì đường ray của tàu hỏa Việt Nam hẹp hơn đường ray của tàu hỏa Trung Quốc. Tờ mờ sáng ngày 9-10, tàu liên vận đến ga Bằng Tường (Trung Quốc). Tàu hỏa Việt Nam đã chờ sẵn ở đường ray bên phải để nối chuyến về Hà Nội. Trời sáng hẳn, chúng tôi lễ mễ khuân vác đồ đạc từ tàu Trung Quốc sang tàu Việt Nam. Tàu hỏa của mình còn rất giản đơn, ghế cứng chỉ dùng cho chỗ ngồi. Các anh các chị nhân viên phục vụ rất niềm nở với khách. Chúng tôi rất có cảm tình. Cách đây 2 năm, cũng tai ga Hàng Cỏ, chúng tôi đi ra nước ngoài vào cuối tháng 9 (29-9-1961) nay về đầu tháng 10-1963. Ga Hàng Cỏ vào những ngày có tàu hỏa liên vận thì rất tấp nập, đông vui, kẻ tiễn người đón, tiếng khóc tiếng cười đều có đủ. Riêng tôi chỉ trơ trọi một thân một mình từ khi đi đến lúc về. Có anh em khuyên tôi vậy sao không ở lại Liên Xô, đi về vùng Xô Chi nghỉ ngơi cho sướng thân, về nước làm gì vì làm gì có người thân ở ngoài Bắc, nhưng tôi lại nghĩ khác: dù được nghỉ mấy ngày tôi cũng về Tổ quốc vì nhớ "miền Bắc yêu thương, miền Nam ruột thịt" lắm. Điều ấy đã thấm sâu trong tim tôi từ ngày tôi tập kết ra miền Bắc. Tàu hỏa về đến ga Hàng Cỏ, chúng tôi xuống tàu, được các anh đại diện Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị đón và đưa về Trạm 93 (sau này đổi thành Trạm 66). Các anh hướng dẫn làm thủ tục đăng ký đi nghỉ phép với địa chỉ, quê quán, nơi nghỉ của từng người. Tôi đăng ký nghỉ tại Trạm 93. Các anh hơi ngạc nhiên. Đêm xuống. Trời bắt đầu mưa. Những anh em có quê ở xa Hà Nội lục tục kéo nhau ra ga, còn những người ở xung quanh Hà Nội thì đi xích lô hoặc có người nhà đến đón bằng xe đạp. Sáng ngày, chỉ còn mỗi mình tôi. Tôi gọi xe xích lô xuống tiệm phở Bờ Hồ ăn liền hai bát tô. Sau hai năm mới được ăn phở Hà Nội thấy ngon tuyệt! Tôi đi ra khu tập thể bờ sông thăm gia đình anh Ba Kỳ. Sau hai năm, bao nhiêu chuyện ở quê hương mà anh chị có được là do các anh từ trong quê ra kể lại. Anh Ba Kỳ là cán bộ lãnh đạo của huyện Hoài Nhơn từ thời tiền khởi nghĩa, rất được cán bộ tin cậy. Các anh bám cơ sở trong quê ra Trung ương báo cáo đều đến gặp anh Kỳ tâm sự hoặc các anh được cử về Nam công tác, trước khi đi cũng đến gặp trao đổi kinh nghiệm... Anh Ba Kỳ cho tôi biết một vài tin ngắn về gia đình tôi ở trong quê, những tin ấy đối với tôi thật quý hơn vàng! Đó là cha mẹ, các anh, chị và em đều mạnh khỏe. Bọn tình báo ngụy quỷ quyệt đã dò biết cha tôi có con đi tập kết ra Bắc và đã "xuất dương sang Nga Xô". Chúng đến nhà đe dọa ông già nhiều lần nhưng may sao, chúng chưa biết cụ thể là tôi đi "xuất dương" để làm gì, cho nên cũng đỡ bớt phần khủng bố ông già. Hồi đó, những cán bộ miền Nam đi ra Bắc hoặc từ miền Bắc được vào Nam thì chỉ cố gắng nhớ được bao nhiêu lời nhắn nhủ thì nhớ chứ không được mang theo thư từ gì để phòng trường hợp bị địch bắt mà không kịp thủ tiêu thư từ, chúng lấy được thì rất nguy hiểm cho gia đình. Tôi nghỉ ở nhà anh Ba Kỳ gần một tuần lễ, tâm sự với anh chị đủ chuyện dưới đất trên trời. Sau đó, tôi đi Nghệ An thăm những anh em ở đơn vị cũ, thăm bà con ở các vùng đóng quân quen thân năm xưa. Cái thời mà đời sống của cà quân lân dân đều gặp nhiều khó khăn nhất, gian nan nhất mà cũng gắn bó với nhau bền chặt nhất nhớ lâu nhất. Nhưng vào đến Vinh thì mắc lũ. Con đường Vinh - Đô Lương - Diễn Châu - Đô Lương đều bị ngập trong nước lũ, cầu thì hỏng. Tôi thầm nghĩ: hay là ta đi bộ chăng? Bởi hai tuyến đường đó tôi đã tùng đi bộ nhiều lần hồi tôi ở Sư đoàn 324, đóng quân ở các vùng Chợ Ú, Minh Sơn, Đà Sơn, Đô Lương... Nhưng thời gian nghỉ phép đã hết, tôi phải ngược ra Hà Nội để tiếp tục sang Liên Xô học bay MiG năm thứ hai. Đấy là năm quyết định bước vào "chặng đường bầu trời" đầy oanh liệt của thời trai trẻ. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 29 Tháng Chín, 2025, 07:19:08 pm Đầu tháng 11-1963, chúng tôi có mặt đông đủ ở Trạm 93, đường Hoàng Diệu, Hà Nội để chuẩn bị lên chuyến tàu liên vận Hà Nội - Bắc Kinh - Mạc Tư Khoa. Đây là chuyến tàu liên vận thứ ba. Thật cũng hiếm có trong đời tôi!
Về đến trường, chúng tôi bước vào học lý thuyết bay năm cuối của khóa bay huấn luyện MiG-17. Sau khi nghỉ Đông, chúng tôi bắt tay vào công tác chuẩn bị mặt đất. Trên sân bay còn đầy tuyết trắng, trông xa lóa hết cả mắt. Bạn nắm bắt quy luật thời tiết rất chính xác, chuẩn bị mặt đất xong thì trời cũng ấm dần, tuyết tan hết nhưng đây cũng là thời điểm dễ bị bệnh cảm cúm nhất. Bởi vậy, mọi người phải phòng ngừa cho cẩn thận để không ảnh hưởng đến kế hoạch và tiến độ bay, vì năm nay hộ chiếu hết niên hạn rồi, mọi người phải về nước. Nếu không hoàn thành kế hoạch mà phải về nước thì buồn biết bao! Bước vào bay năm cuối của khóa học (tháng 3-1964). Năm nay chủ yếu bay những khoa mục ứng dụng chiến đấu như không chiến, bắn, ném bom mặt đất. Chúng tôi rất thích khoa mục không chiến, song, bạn lại nghiêng về các khoa mục tiêm kích bom nhiều hơn. Sau này trải qua không chiến với Không quân Mỹ, nghĩ lại những tháng năm bay huấn luyện ở Liên Xô, chúng tôi rất tiếc là chưa khai thác được nhiều bài học không chiến của các phi công Liên Xô. Một thời họ đã đụng đầu với Không quân Mỹ ở Triều Tiên. Thời đó, phía Liên Xô sử dụng chủ yếu MiG-15, còn phía Mỹ sử dụng loại F-84. Đặc biệt, một bài học kinh nghiệm mà các thầy thường nói với chúng tôi là: "Nếu phi công Việt Nam sau này có đụng đầu với Không quân Mỹ thì phải lưu ý cài trò "cắn đuôi" của phi công Mỹ!". Chúng tôi ghi nhớ cái từ "cắn đuôi" ấy. Sau này, trên bầu trời miền Bắc, trong cuộc không chiến giữa chúng tôi với Không quân Mỹ thì cái trò "cắn đuôi" đó của Mỹ cũng thường diễn ra ở các sân bay. Ở sân bay Đa Phúc, máy bay tiêm kích của Mỹ lợi dụng dãy núi Tam Đảo, bay thật thấp để "che mắt ra-đa", đột nhập vào đầu Tây sân bay (phía đầu mà các máy baỵ MiG thường về hạ cánh) để "cắn đuôi" (cắn trộm ấy mà!), ở sân bay Hòa Lạc thì chúng lợi dụng núi Ba Vì, sân bay Kép thì chúng lợi dụng những đồi núi nhấp nhô vùng Chũ - Sơn Động... để đột nhập vào "cắn đuôi" máy bay MiG sau khi đi chiến đấu về trong tình trạng dầu cạn, đạn hết hoặc máy bay bị thương phải xuống hạ khẩn cấp... Chúng tôi cũng thường nhận được những bản tin tổng hợp tình hình trong nước của Đại sứ quán gửi xuống. Đặc biệt tin về tình hình cách mạng miền Nam càng cổ vũ chúng tôi ra sức học tập. Anh em chúng tôi rất quan tâm những tin về đế quốc Mỹ đầu tư ồ ạt về quân sự cho chính quyền Sài Gòn, đặc biệt là xây dựng lực lượng Không quân ngụy. Đó là lực lượng sẽ đụng đầu trực tiếp với Không quân miền Bắc nếu có chiến tranh xảy ra. Chúng tôi chưa hề nghĩ đến việc đụng đầu đầu tiên lại là Không quân Mỹ. Vậy mà thực tế lại xảy ra giữa một Không quân rất nhỏ bé, non nớt (mới có mấy chục giờ bay tích lũy/một phi công, với một Không quân đồ sộ, già đời (có giờ bay tích lũy hàng ngàn giờ/một phi công). Và Mỹ đã hùng hổ tuyên bố "sẽ làm cỏ hết nhóm MiG của Bắc Việt!!!". Lúc này, Đài phát thanh tiếng Việt của Liên Xô và Trung Quốc "đáp trả" lẫn nhau ngày một nặng nề, càng làm cho anh em chúng tôi vô cùng lo lắng. Biết rằng có lo cũng chẳng đi đến đâu, nhưng sao vẫn lo? Ở Trường thì có một số cán bộ chính trị hay đặt câu hỏi: "Việt Nam ủng hộ quan điểm nào?" (của đài Liên Xô hay đài Bắc Kinh). Thật phức tạp vì mình đang sống ở Liên Xô! Nếu trả lời theo quan điểm của Liên Xô thì hóa ra anh cơ hội và sai với quan điểm của Đảng ta. Chúng tôi đã có cách trả lời vừa không làm phật lòng bạn, vừa không sai quan điểm của Đảng. Quan điểm của Việt Nam đó là "chủ nghĩa Mác- Lênin"... "Việt Nam chúng tôi luôn mong muốn các nước Xã hội chủ nghĩa đoàn kết lại chống kẻ thù chung đó là chủ nghĩa đế quốc...". Tháng 7-1964, ở sân bay Cusốpscaia rất nóng, gần giống như ở Hà Nội. Chúng tôi thực hiện các bài bay bắn và ném bom thật trên trường bắn. Về trưa, từ độ cao 2000 mét trở xuống, không khí nhiễu động rất dữ làm cho máy bay luôn bị bồng lên. Vì vậy, khi đặt điểm ngắm của máy ngắm lên mục tiêu (bắn súng loại 37 li thì mục tiêu là hình chiếu máy bay ném bom, còn khi ném bom thì mục tiêu vẽ hình chữ thập) điểm ngắm cứ chạy lòng vòng sang hết phải lại trái, hết phía trước lại phía sau, không ổn định theo quỹ đạo bổ nhào của máy bay. Các "ổ gà" trong không khí đã gây khó khăn trong việc ngắm bắn chính xác cho các phi công. Song, nhờ các thầy dày dạn kinh nghiệm truyền đạt kịp thời cho cách ngắm bắn nên kết quả khoa mục thực hành bắn và ném bom thật trong điều kiện không khí nhiễu động mạnh, chúng tôi đều đạt khá và giỏi. Ngày 21-4-1964, tờ báo viết tay "START" ở ngoài tuyến bay (sân bay), trên trang đầu đã đăng dòng tít chữ to màu đỏ với nội dung "Hoan hô Nguyễn Hồng Nhị là học viên bắn giỏi nhất! (16 viên đạn trúng mục tiêu)". Được nhà trường biểu dương, tôi sung sướng như mở cờ trong bụng! Tôi được các thầy giáo bay bắt tay khen ngợi, đặc biệt là thầy giáo bay Amôxôp của tôi nét mặt thật tươi vui rạng rỡ. Thầy tự hào với các thầy giáo khác vì đã có học viên bắn giỏi! Trong đời giáo viên của ông, ông đã dạy nhiều học viên bay nước ngoài như Hungari, Cuba... nhưng chưa có ai được lên báo "START" như tôi. Đối với tôi, đây là một kỷ niệm đẹp không bao giờ phai! Tôi nghĩ, bây giờ cần nói lại tỉ mỉ cái bài bay ấy một chút. Đó là bài bay thực hiện chức năng phi công tiêm kích bom - đánh mục tiêu mặt đất của máy bay tiêm kích. Bài bay bắn mục tiêu mặt đất với nội dung: súng 37 li lắp 4 viên đạn xuyên phá, hai khẩu súng 23 li lắp mỗi khẩu 6 viên đạn phá cháy. Độ cao bay đến mục tiêu là 1500 mét. Mục tiêu là một chiếc máy bay giả. Góc bổ nhào bắn không lớn hơn 40 độ. Tốc độ bắt đầu bổ nhào không lớn hơn 800 km/h. Độ cao thấp nhất (tối thiểu) không dưới 400 mét. Số lần bổ nhào không quá ba lần (ba loạt bắn). Thành tích: chỉ cần trúng 1 viên 23 li hoặc 37 li là đạt yêu cầu. Tôi thực hiện bài bay với 2 lần bổ nhào, 2 loạt bắn, mỗi loạt là 8 viên đạn đều trúng mục tiêu. Kết quả thật hy hữu: 16 viên trúng mục tiêu! Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 29 Tháng Chín, 2025, 07:20:46 pm Tháng 7-1964 ở sân bay Cusốpscaia, chúng tôi có cảm giác ngày tháng sao qua đi rất nhanh, bởi khoa mục bay mà kết thúc thì cũng đồng nghĩa với việc chia tay với Cusốpscaia - nơi mà mồ hôi của anh em chúng tôi đã ngấm ướt quần áo bay qua hai mùa Hè đầy ắp kỷ niệm giữa thầy và trò, giữa tình Nga-Việt. Nó cũng đồng nghĩa với việc chúng tôi đã trải qua hai mùa lý thuyết đầy tuyết rơi với cái lạnh thấu xương từ Bắc cực tràn về vây kín khu doanh trại của Trường chúng tôi ở.
Ngày kết thúc bay. Chuyến bay chót của một học viên Việt Nam đáp nhẹ nhàng xuống đường băng đất. Máy bay chạy xả đà để lại đằng sau một luồng bụi màu hồng bay lên. Đồng loạt các tiếng reo "Ura! Ura!..." vang lên từ các thợ máy phục vụ máy bay, từ các chiến sĩ thông tin phục vụ ở các đài trạm... Trong tiếng hoan hô đó có cả chúng tôi. Hoan hô mừng kết thúc ngày bay trọn vẹn! Hoan hô mừng kết thúc khóa bay đào tạo phi công MiG-17 đầu tiên cho Không quân nhân dân Việt Nam ở Liên Xô! Từ trên Đài chỉ huy bay, một phát pháo hiệu xanh bay vút lên không trung cùng với khẩu lệnh phát trên làn sóng vô tuyến: "Kết thúc bay!". Đó là quy tắc bay ở sân bay Liên Xô thời bấy giờ, bao giờ khi bắt đầu ban bay cũng có khẩu lệnh báo bằng sóng vô tuyến: "Bắt đầu bay!" cùng với một phát hiệu màu đỏ được bắn lên, còn khi kết thúc ban bay thì báo: "Kết thúc bay!" và phát pháo hiệu màu xanh được bắn lên. Trên sân đỗ máy bay, những chiếc MiG-17, MiG-15 sắp hàng thẳng tắp. Những chiếc MiG-17 thân tròn, đứng hướng về phía trước như thách thức lòng ham bay của chúng tôi: "Hãy bay nữa đi!". Ông Trung đoàn trưởng (Hiệu trưởng trường bay) tập họp tất cả các phi công giáo viên bay, thợ máy, các "sếp" phục vụ mặt đất... và chúng tôi. Ông đứng trước máy bay, nói mấy lời rất ngắn gọn: vừa chúc mừng sự thành công của ngày bay cuối khóa, vừa cảm ơn tinh thần lao động tích cực của mọi người đã đóng góp cho thành công ấy. Ông cũng không quên nhắc nhở chúng tôi: "Khi các anh về bay ở trong nước, cũng đừng quên trường Cusốpscaia của chúng tôi...". Nói xong, ông đến cài lên ngực áo bay cho mỗi phi công Việt Nam một chiếc huy hiệu phi công của Liên Xô. Thời đó, phi công Liên Xô được phân cấp như sau: phi công cấp 1 là đã tốt nghiệp bay thời tiết phức tạp ngày cũng như đêm (4 khí tượng), phi công cấp 2 là đã tốt nghiệp bay thời tiết phức tạp ban ngày và thời tiết giản đơn ban đêm (3 khí tượng), phi công cấp 3 là tốt nghiệp bay khí tượng giản đơn ban ngày. Còn loại huy hiệu chưa có cấp (không số) thì gắn cho phi công vừa tốt nghiệp như chúng tôi. Ông Trung đoàn trưởng làm thủ tục kết thúc ngày bay đồng thời cũng là kết thúc khóa bay rất đơn giản ngay tại sân đỗ máy bay rồi đi bắt tay từng người một và có lời tạm biệt. Anh em chúng tôj rất cảm ơn ông và luôn luôn nhớ một người chỉ huy Không quân Liên Xô mẫu mực, sâu sát giúp chúng tôi bay trong hai mùa bay (hai năm) thành công mỹ mãn. Trước khi lên xe rời sân bay, chúng tôi tranh thủ uống một ca nước cơ-vát để lưu nhớ mãi vào ký ức vì loại nước giảị khát này chỉ có ở tuyến bay và vào mùa Hè mới có. Chỉ cần uống một ca nhỏ là hết khát ngay, đặc biệt không đổ mồ hôi rất phù hợp với người bay. Bầu trời trong xanh, mặt trời đã nghiêng bóng chiều. Chúng tôi lên xe rời sân bay, về doanh trại. Anh em chúng tôi ngồi nhìn lại phía sau về hướng đường băng, đường lăn, sân đỗ máy bay có những dãy MiG đứng ở đó. Xin tạm biệt và cảm ơn MiG! Cảm ơn mọi người, mọi thành phần đã góp sức cho chúng tôi bay được an toàn và chất lượng! Xe chạy qua những vạt rừng non quen thuộc. Chúng tôi lại nhớ đến mùa Xuân vừa qua, sau khi chuẩn bị bay xong thì thầy trò rủ nhau vào rừng bới lá mục lên tìm nấm, lấy về xào với "côn-bá-xà"- một loại giò của Nga rồi đem nhắm với bia thấy ngon tuyệt trần! Nhưng hôm nay, thứ đó chỉ còn là ký ức... Sân bay đã lùi xa về phía sau. Chúng tôi bắt đầu cất tiếng hát bài "Chuyến bay" bằng tiếng Nga - bài hát mà mọi người đều yêu thích. Đến tận hôm nay, tôi vẫn nhớ những lời bài hát ấy. Tôi xin tạm dịch như sau: '"Niềm vui của chuyên bay không gì so sánh bằng! Pháo hiệu đã bay vút lên bầu trời. Đó là nhiệm vụ của Tổ quốc yêu dấu giao cho chúng ta. Hãy bay cao và bay xa hơn nữa…”. Những ngày đầu tháng 8-1964, chúng tôi tập trung ôn lý thuyết để bước vào kỳ sát hạch quốc gia. Các bài ôn thi rất dễ dàng, không có gì khó khăn lắm vì khâu thực hành tốt đã chứng minh kết quả của nhận thức. Chúng tôi đang tập trung ôn thi thì một cái tin ập đến làm mọi người bàng hoàng, sửng sốt. Đài phát thanh Mạc Tư Khoa và các báo của Liên Xô đưa tin: "Ngày 5-8-1964, Hoa Kỳ đã cho nhiều tốp máy bay tấn công đánh phá một số mục tiêu dọc bờ biển miền Bắc Việt Nam. Lực lượng Phòng không miền Bắc Việt Nam đã bắn hạ nhiều chiếc và bắt sống một phi công nhảy dù. Đó là tên Trung úy An-va-ret...". Chúng tôi nghe mà hết sức căm tức, ai cũng muốn về Tổ quốc ngay để được chiến đấu tiêu diệt địch, bảo vệ miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân! Chúng tôi rất cảm động khi nhà trường đã tổ chức mít-tinh phản đối Hoa Kỳ, đòi chấm dứt ngay hành động ăn cướp đó của Hoa Kỳ. Nhiều giáo viên bay đến gặp chúng tôi, chia sẻ và động viên mọi người ra sức học tập... Các thầy giáo dành cho nhiều thời gian tự ôn, bởi vậy kết quả sát hạch ai cũng được điểm cao. Tất cả chúng tôi dự thi đều đỗ tốt nghiệp quốc gia bằng lái MiG-17. Nhà trường tổ chức lễ phát bằng tốt nghiệp cho chúng tôi vào dịp lễ kỷ niệm lần thứ 19 ngày Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945 - 2-9-1964). Lễ phát bằng được tổ chức ở "Câu lạc bộ sỹ quan" của sân bay rất đông vui. Chúng tôi nhận bằng tốt nghiệp lái máy bay và huy hiệu rất đẹp, có khắc chữ "VU" (chữ viết tắt của Trường Không quân, cũng như chữ viết tắt của Liên Xô là CCCP ấy). Thật không gì vui sướng bằng! Cuối buổi lễ có liên hoan văn nghệ "cây nhà lá vườn". Cấc bà vợ của các thầy giáo lên sân khấu hát những bài hát dân ca với chất giọng mượt mà. Các thầy giáo thì nhảy những điệu nhảy "Cô-dắc" mạnh mẽ. Anh em chúng tôi tham gia hát đồng ca bài "Vừng Đông đã hừng sáng" và đơn ca bài "Chiếc khăn Piêu". Kết thúc văn nghệ là điệu nhảy van-xơ. Nga - Việt cùng nhảy, rất vui! Tạm biệt Trường. Tạm biệt đất Cusốpscaia, nhưng chúng tôi còn nán lại mấy ngày vì đăng kỷ tàu hỏa liên vận bị trễ. Vậy là có thời gian để anh em chúng tôi vét nốt những đồng cô-pếch (đồng xu) cuối cùng để mua quà tặng, cho dù có khi chỉ là một bao diêm. (Thời đó ở Liên Xô, rẻ nhất là bao diêm, giá chỉ 1 cô-pếch, còn Việt Nam thì rẻ nhất là tăm xỉa răng). Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 29 Tháng Chín, 2025, 07:22:22 pm Khi chúng tôi học đến năm thứ 3 thì phụ cấp tiêu vặt được tăng lên 15 rúp/tháng. Bởi vậy, lúc kết thúc khóa học là anh nào anh ấy cũng rủng rỉnh đủ mua quà cho người thân, bạn bè. Hấp dẫn nhất thời ấy là quạt "tai voi", sau là đài bán dẫn, đồng hồ để bàn nên ai cũng phải sắm mỗi thứ vài chiếc. Đặc biệt là bóng bán dẫn và mai-xo thì phải mua nhiều nhiều vì có bóng bán dẫn là có thể lắp được "đài bán dẫn" và mai-xo thì làm bếp điện. Xe đạp đua cũng chỉ có vài người mua thôi bởi nó khá đắt so với túi tiền của mình. Mua nó thì không mua được những thứ khác nên cũng phải tính toán...
Ngày rời đất nước Liên bang Xô-viết đã đến. Nhà trường cử một ông Đại úy đưa chúng tôi đến tận Mạc Tư Khoa để làm thủ tục chuyển tàu liên vận đi Bắc Kinh. Chúng tôi đi ô tô từ Cusốpscaia về Rôstôp. Từ Rôsstôp đi tàu hỏa đến Mạc Tư Khoa. Khi về đến Mạc Tư Khoa, ông tranh thủ đưa chúng tôi đi xem một số phố nổi tiếng ở Thủ đô. Suốt ngày 23-9 đi xem Mạc Tư Khoa. Hấp dẫn nhất là được xem bức tranh pa-nô-ra-ma về trận đánh của Cutudôp đập tan quân đội hùng mạnh nhất thế giới của Napôlêông ngay tại khu vực ngoại ô Mạc Tư Khoa. Xem tranh mà cứ như thấy mình đang ở ngoài mặt trận thật: nào người chết, ngựa chết, lửa bốc cháy... Đúng là tác phẩm của những họa sĩ tài năng! Ngày 24-9, chúng tôi dành trọn một ngày để viếng Lăng Lênin vì ngày 25 là ngày lên tàu liên vận Mạc Tư Khoa - Bắc Kinh rồi. Rất đông người đến viếng Lăng Lênin. Có người cònphải chờ xếp hàng nhiều ngày mới đến được lượt mình. 7 giờ sáng ngày 24, tất cả anh em đã sẵn sàng lên xe. 8 giờ, xe đưachúng tôi đến Hồng trường (Quảng trường Đỏ), sắp hàng và được ưu tiên đứng sau các cháu thiếu nhi nhưng cũng phải sau 10 giờ mới nhúc nhích từng bước một, qua hai tầng cửa trên mặt đất rồi đi xuống tầng chìm dưới đất. Càng xuống sâu, trong tầng càng im lặng, tôn nghiêm. Chân chỉ nhích từng tí một nên có cảm nghĩ như thi hài của Người đặt rất sâu trong lòng đất. Chúng tôi im lặng không dám thở mạnh,mắt nhìn chăm chăm về phía trước. Ánh sáng màu rất dịu mắt, nhìn rõ dần nơi lãnh tụ đang nằm. Kia rồi! Lênin đang"ngủ". Cảm giác lần đầu nhìn thấy Lênin nằm trong quan tài bằng kính hệt thế thật. Chúng tôi nhích dần, nhích dần, khicòn cách Người khoảng ba, bốn mét, thấy rất rõ từng sợi râu lúc Người ốm chưa kịp cạo, sắc mặt Người hồng hào. Hai tay đặt trên bụng, mặc chiếc áo mốc đen giản dị... Chúng tôi đi một vòng quanh quan tài kính, tưởng nhớ Người lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân, của Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại. Đúng 11 giờ 30 phút (giờ Mạc Tư Khoa) ngày 24-9-1964, chúng tôi ra khỏi Lăng. Thời khắc lịch sử ấy biết khi nào mới % lại. Đời tôi thật may mắn được nhìn thấy Lênin trong Lăng mà cứ tưởng Người đang đứng diễn thuyết trên Hồng trường cho giai cấp vô sản Nga làm Cách mạng Xã hội nghĩa và ngày 7-11-1917 đã giành thắng lợi vĩ đại! Kể từ ngày đặt chân lên đất nước của Cách mạng tháng Mười vĩ đại, tất cả chúng tôi đều ao ước được trực tiếp thấy Lênin thì giờ đây đã được thỏa lòng mong ước. Ngày 25-9, chúng tôi lên tàu liên vận trở về nước. Đây là lần thứ hai đi chuyến tàu liên vận nên quen, không có gì phải tả nữa. Từ ga Đồng Đăng về đến Hà Nội, chúng tôi cảm nhận được khí thế sẵn sàng chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược hừng hực khắp nơi. Những khẩu hiệu, băng-rôn chăng ngang khắp các nẻo đường. Ngồi trên tàu hỏa, chúng tôi còn thấy cả dân quân đang tập ngắm bắn máy bay. Chúng tôi nghĩ mình vừa được đi đào tạo lái máy bay chiến đấu về, phải làm gì đây? Phải chuẩn bị chiến đấu ngay thôi! Về đến Trạm 93, Tổng cục cho đi phép 15 ngày. Như vậy đủ biết tình hình căng thẳng rồi. Anh em tranh thủ lên đường ngay cho dù khi ấy trời đang mưa to. Tôi vẫn nghỉ ở Trạm 93, hàng ngày về nhà anh chị Ba Kỳ chơi, nghe anh kể chuyện ở quê hương. Tình hình cách mạng miền Nam phát triển rất lạc quan, nhưng Mỹ ngụy đàn áp đồng bào ta dã man lắm. Ngày 16-10, anh Trương Huynh từ Tổng cục ra Trạm tìm gặp tôi và thông báo cho tôi một tin buồn thấu tim gan, đó là Phan Hữu Tân bị chết đuối ở quê! Tân quê ở Hưng Nguyên, Nghệ An, đã có vợ. Tân học bay rất tốt. Tôi đã dìu dắt, kết nạp Tân vào Đảng giữa khóa học. Vậy mà số phận đã đẩy Tân đi với "Hà Bá". Anh em trong đoàn rất thương tiếc Tân, đòi vào Nghệ An thắp hương viếng Tân nhưng Tổng cục không cho đi vì trong khu Bốn trời vẫn còn mưa to. Đơn vị mất một phi công MiG, quê hương Xô-viết mất một người con với tương lai đầy hứa hẹn! Thật tiếc thương biết chừng nào! Tháng 11-1964, tất cả anh em phi công và thợ máy về đóng quân ở sân bay Gia Lâm để học chính trị - học Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương về chống chủ nghĩa xét lại, nâng cao ý chí chiến đấu... Ngày 16-12-1964, tất cả phi công và thợ máy học ở Liên Xô được biên chế về Trung đoàn Không quân 921 (gọi là Trung đoàn "Sao Đỏ"). Đây là Trung đoàn Không quân tiêm kích đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ai cũng cảm thấy rất vinh dự và cũng thấy trách nhiệm rất nặng nề. Đó là phải chuẩn bị thật chu đáo về mọi mặt để đánh thắng trận đầu với Không quân Mỹ chứ không phải với Không quân ngụy Sài Gòn như chúng tôi nghĩ. Cuộc đụng đầu lịch sử ở mặt trận trên không ác liệt đang treo lơ lửng trên đầu mọi người! Câu hỏi nóng bỏng đặt ra lúc bấy giờ là "đánh thế nào" để giành thắng lợi, thực hiện bằng được mệnh lệnh của Bác Hồ giao: "... Ngày xưa, ông cha ta đã đánh thắng địch ở trên mặt đất, mặt nước, bây giờ Bác giao cho các chú phải đánh thắng địch ở trên trời...". Quán triệt mệnh lệnh của Bác Hồ, toàn đơn vị đã dấy lên một phong trào thi đua lập công dâng lên Bác chưa từng có. Từng bộ phận đặt ra những mục tiêu hết sức cụ thể để phấn đấu. Với phi công là bắn trúng địch ngay từ loạt đạn đầu, bắn rơi tại chỗ. "Phải bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu" để nói lên yếu tố bí mật bất ngờ trong không chiến có tính quyết định thành công của trận đánh vì bao giờ ta cũng dùng lực lượng ít đánh với địch có số lượng đông hơn. Nếu loạt đạn đầu mà không trúng mục tiêu thì làm cho địch xem thường và dùng số đông bủa vây lại đánh ta... Bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu còn có khả năng tiết kiệm đạn để công kích địch được nhiều lần hơn... MiG-17 của ta có 1 khẩu pháo 37 li và 2 khẩu 23 li nhưng cơ số đạn chưa tới 300 viên. "Phải bắn rơi tại chỗ" nói lên phương châm tác chiến của ta là "tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu", luôn luôn gắn liền với nhau, không được xem nhẹ mặt nào. Không đánh xua, đánh đuổi để bảo vệ mục tiêu vì như thế thì địch càng lấn tới đánh phá mục tiêu. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 29 Tháng Chín, 2025, 07:23:05 pm Đối với thợ máy thì mục tiêu là "Không để lỡ thời cơ cất cánh. Không để máy bay cố hỏng hóc lên không trung". Mục tiêu này nói lên là phải luôn luôn giữ máy bay tốt nhất, đảm bảo hệ số kỹ thuật cao nhất, vì máy bay của mình số lượng đã ít lại đã cũ, phụ tùng thay thế thì ở mãi tít bên Liên Xô. Muốn thay thế phụ kiện nào, phải chờ bạn gửi bằng tàu hỏa. Bởi vậy, trong quần chúng đã có phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Đấy là yếu tố sống còn để duy trì sức chiến đấu của Không quân ta. Các bộ phận khác như: sân đường, thông tin, khí tượng, nuôi quân, quân y... thì phụ thuộc vào nhiệm vụ cụ thể mà đề ra mục tiêu phấn đấu. Tựu trung lại là bảo đảm cho xuất kích giành chiến thắng ngay từ trận đầu, làm quà dâng lên mừng sinh nhật lần thứ 75 của Bác!
Chúng tôi đón cái Tết Bính Ngọ cổ truyền trên miền Bắc yêu thương tràn đầy tình nghĩa quân dân, tình đồng đội không sao kể xiết. Sân bay Đa Phúc-sân bay lớn nhất miền Bắc vừa xây dựng xong đã đón những máy bay MiG đầu tiên từ Trung Quốc về do anh Đào Đình Luyện làm Trung đoàn trưởng, anh Đỗ Long làm Chính ủy. Cuối năm 1964, đoàn học MiG-17 tốt nghiệp ở Liên Xô được bổ sung về Trung đoàn "Sao Đỏ". Đoàn của anh Đào Đình Luyện học ở Cao Mật Trung Quốc với gần chục năm bay đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, còn đoàn của tôi học ở Liên Xô mới gần bốn năm nên còn non nớt. Các anh "cựu" rất tích cực giúp đỡ, dìu dắt chúng tôi để chúng tôi nhanh chóng trưởng thành, cùng chung sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc Xã hội chủ nghĩa. Trung đoàn có hai lớp phi công học ở hai nước lớn, khi về nước hợp lại thành một thì tình đồng đội càng thêm gắn bó hơn bao giờ hết. Hai nước bạn lớn đều lên án đế quốc Mỹ và ủng hộ Việt Nam nhưng sự mâu thuẫn của hai nước ngày càng trầm trọng làm cho chúng tôi rất lo lắng vì máy bay rồi khí tài của các nước Đông Âu viện trợ cho ta đều phải chạy trên con đường sắt xuyên qua đất nước Trung Quốc. Tết năm đó, các đơn vị Phòng không phải trực 100% quân số. Nhiệm vụ chiến đấu đặt lên trên sự nhớ nhà, nhớ quê... Mấy ngày Tết, đơn vị không lúc nào vắng khách. Nhân dân địa phương, các đoàn thể từ Trung ương đến địa phương đều đến thăm, chúc Tết đơn vị Không quân chiến đấu đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, rồi đi thăm sân bay, xem máy bay... Đây là cái Tết cổ truyền chúng tôi được đón trong cảnh bầu trời miền Bắc còn thanh bình. Tôi nhớ mãi đoàn văn công Quân khu Tây Bắc về biểu diễn rồi cùng đón giao thừa với Đại đội 2 của chúng tôi. Các diễn viên nữ trẻ đẹp, mặc trang phục dân tộc Thái hát tặng các anh phi công bài "Xuân chiến khu" của nhạc sĩ Xuân Hồng: "... Xuân về mừng anh bộ đội thêm một tuổi đời, mừng anh thêm một tuổi quân, lập nhiều chiến công toàn dân đang mong...". Những lời hát qua chất giọng mượt mà của các cô gái Thái thấm đượm mãi trong tôi khi chúng tôi vừa đón Xuân vừasẵn sàng chiến đấu, quyết đánh thắng trận đầu, mở mặt trận trên không lịch sử. Sau Tết, ngày nào đơn vị cũng có kế hoạch huấn luyện bay. Từ sáng sớm, chúng tôi đã xách mũ bay, đeo túi bay ra sân bay ngồi đợi, nhưng rồi lại phải trở về doanh trại vì trời xấu: mây thấp như sát đất, tầm nhìn chỉ vài trăm mét rồi có lúc còn mưa phùn... Cho dù rất sốt ruột nhưng không thể nôn nóng được, không chủ quan được. Phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho từng chuyến bay! Tháng 3-1965, khí tượng dần tốt lên, có thể tổ chức bay huấn luyện được. Tôi cất cánh chuyến bay đầu tiên của tôi trên bầu trời miền Bắc thanh bình. Từ trên cao ngắm nhìn cảnh quê hương miền Bắc mới thấy tươi đẹp làm sao, hiền hòa làm sao! Tôi lướt nhìn về bầu trời phương Nam - nơi quê cha đất mẹ của tôi mà nhớ da diết thời thơ ấu. Ước gì chuyến bay này được bay thẳng vào trong đó thì còn gì vui sướng bằng! Tôi nghiêng cánh phải để nhìn Hà Nội cho rõ hơn. Nơi đó có Bác Hồ đang làm việc... Tôi lại nghiêng sang cánh trái quan sát sông Hồng mà lại nhớ đến dòng sông Đông-nơi lần đầu tiên tôi được cất cánh bay lên bầu trời... Tuy là bay huấn luyện nhưng máy bay vẫn phải lắp đủ cơ số đạn cho 3 khẩu súng để đề phòng địch tập kích bất ngờ. Ngày nào địch cũng bay trinh sát từ Thanh Hóa trở vào đến Vĩnh Linh. Ai cũng biết rằng đấy là dấu hiệu địch sẽ đánh phá, gây tội ác đối với nhân dân ta. Ở vùng trời biên giới Tây Nam Bắc Bộ, ngày nào cũng có những tốp máy bay lạ bay lảng vảng sát đến biên giới rồi quay lại. Ngoài biển vịnh Bắc Bộ thường xuyên có tàu sân bay và máy bay Mỹ hoạt động. Ngày nào đơn vị cũng cóvài ba lần báo động xuất kích và sơ tán. Thời gian để địch leo thang ra đánh phá miền Bắc chỉ còn tính ngày tính giờ mà thôi! Chúng ta chuẩn bị cuộc đụng đầu lịch sử trên bầu trời miền Bắc với Không quân đế quốc Mỹ - một cường quốc về Không quân và Không quân của Hải quân chưa hề có địch thủ. Đế quốc Mỹ tuyên bố rất ngạo mạn, rằng sẽ làm cỏ nhóm Không quân MiG của Bắc Việt, sẽ đánh cho miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), đứng đầu là Bác Hồ kính yêu, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết một lòng, thực hiện quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Các tầng lớp nhân dân, già trẻ gái trai đã bình tĩnh chuẩn bị cho trận chiến đấu ác liệt sắp tới. Và trận chiến đấu đó đã đến! Ngày 3-4-1965, đế quốc Mỹ bất ngờ cho hàng trăm máy bay mang bom vào đánh phá dã man cầu Hàm Rồng và vùng phụ cận, gây nhiều tội ác. Cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân của đế quốc Mỹ gây ra trên miền Bắc Việt Nam từ ngày 3-4-1965 đến cuối năm 1972 đã để lại bao mất mát đau thương cho bao nhiêu gia đình. Mối thù này phải khắc cốt ghi xương mãi mãi không bao giờ phai! Không quân nhân dân Việt Nam đã mở mặt trận trên trời thắng lợi. Hôm đó, biên đội 4 chiếc MiG-17 của các anh Lan, Túc, Quỳ, Phương đã xáp địch, bắn hạ 2 máy bay chiến đấu của giặc Mỹ. Khi biên đội quay về sân bay, máy bay của anh Phạm Ngục Lan hết dầu nên phải hạ cánh "bằng bụng" xuống bài cát ven bờ sông Đuống. Thật tuyệt vời! Trận đấu mở mặt trận trên không đã giành thắng lợi, đồng thời cũn để lại bài học quý giá cho tất cả các phi công, đó là: dũng cả bình tình, thông minh, quyết đoán, xử lý tình huống bất trắc thật ngoạn mục! Ngày 4-4-1965, đế quốc Mỹ cho nhiều tốp máy bay của các Không đoàn Không quân đóng ở Thái Lan tiếp tục đánh phá cầu Hàm Rồng. Không quân nhân dân Việt Nam sử dụng biên đội 4 chiếc MiG-17 do anh Trần Hanh làm biên đội trưởng cất cánh từ sân bay Đa Phúc bay vào đánh chặn địch để bảo vệ mục tiêu. Biên đội MiG xáp địch, bắn rơi 2 chiếc F-105 của Không quân Mỹ. Trận đánh đã tiêu diệt được địch nhưng ta cũng chịu tổn thất nặng. Ba phi công Giấy, Huân, Năm hy sinh. Anh Trần Hanh máy bay hết dầu phải hạ cánh bắt buộc xuống bản Kẻ Tằm vùng Tây Nghệ An. Trong lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam có viết hai ngày 3 và 4-4-1965 là ngày đánh thắng trận đầu. Tôi cho rằng hai ngày đánh thắng trận đầu đều là đúng, vì ngày 3-4-1965 ta đánh thắng trận đầu với lực lượng Không quân của Hải quân Mỹ (đó là lực lượng bá chủ thế giới trên biển), sang ngày 4-4-1965 ta lại đánh thắng Không quân của lực lượng Không quân Mỹ (đó là lực lượng bá chủ thế giới trên đất). Rồi đến năm 1972, Không quân ta cũng đánh thắng trận đầu với lực lượng Không quân chiến lược của Mỹ. Đó là phi công Phạm Tuân đã bắn hạ "pháo đài bay bất khả xâm phạm" B-52 vào đêm 27-12-1972 và sang đêm 28-12-1972, phi công Vũ Xuân Thiều đánh tiếp trận thứ 2, bắn hạ 1 B-52 và đã anh dung hy sinh, để lại những dòng sử sáng chói cho Không quân nhân dân Việt Nam. Sau khi Không quân nhân dân Việt Nam đọ cánh với Không quân và Không quân của Hải quân Mỹ, đã đánh thắng trận đầu bằng máy bay MiG-17, gây tiếng vang lớn, nhiều nước ủng hộ Việt Nam, đặc biệt Chính phủ Liên Xô thông báo sẽ viện trợ cho Việt Nam 1 phi đội máy bay MiG-21 (máy bay tiêm kích vượt âm thanh). Tôi rất vinh dự được chọn trong đoàn sang Liên Xô để học chuyển loại từ MiG-17 lên MiG-21 và được giao nhiệm vụ làm trưởng đoàn. Đoàn gồm 16 phi công đã tốt nghiệp MiG-17 ở Trường Không quân Cusốpscaia. Hồi ấy, các anh em đi học về đều được Tổng cục Chính trị phong quân hàm sĩ quan từ cấp Chuẩn úy đến cấp cao nhất là Thiếu úy. Tôi được phong hàm Thiếu úy. Thời gian chuẩn bị rất gấp. Ngày 8-4 nhận lệnh thì ngày 10-4, anh em tôi đã va li, túi xách lên đường sang Liên Xô rồi. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 29 Tháng Chín, 2025, 07:25:15 pm Trường Không quân Krasnodar 2 giờ 30 phút sáng ngày 12-4-1965, tàu hỏa liên vận số hiệu M-1 khởi hành từ ga Hàng Cỏ, Hà Nội đi Bằng Tường, Trung Quốc. Đề phòng địch tập kích bất ngờ vào ban ngày nên tàu phải chạy vào ban đêm. Thời kỳ đó địch cũng chưa đánh phá vào ban đêm. Tuyến đường sắt nối liền ba nước Việt Nam - Trung Quốc - Liên Xô tôi đã may mắn được đi qua bốn lần và lần này là lần thứ năm. Ngày 14-4-1965, chúng tôi đến Bắc Kinh. Chúng tôi phải nghỉ lại đây mất hai ngày, chờ tàu liên vận của Liên Xô sang. Ngày 24-4-1965, chúng tôi tới Mạc Tư Khoa và nghỉ ở khách sạn Ôstankinô. Đấy là một trong những khách sạn hạng sang ở Thủ đô Mạc Tư Khoa. Chúng tôi nghỉ tại đây hai ngày chờ chuyến tàu hỏa chạy về phía Nam Liên Xô. Tuy được nghỉ ở khách sạn sang trọng, có đầy đủ tiện nghi và được vui chơi thoải mái nhưng cũng chẳng thấy vui, ai cũng muốn mau chóng được đến trường để học bay. 23 giờ ngày 26-4 tàu hỏa đưa chúng tôi đến ga Krasnodar. Nhà trường đưa xe ra tận ga đón chúng tôi về doanh trại. Ngày 27-4, nghỉ ngơi tắm rửa. Đoàn tập trung lên Hiệu bộ gặp ban lãnh đạo của nhà trường. Ông Hiệu trưởng Rômanhencô và các Hiệu phó ân cần bắt tay từng người, hỏi thăm sức khỏe và động viên chúng tôi phải ra sức học vì chương trình thì không nhiều nhưng khó hơn hẳn MiG-17. Để củng cố thêm kỹ thuật lái trước khi bay trên MiG-21, chúng tôi phải ôn lại lý thuyết và thực hành bay trên MiG-17. Cũng mất đến gần 3 tháng mới xong. Tháng 8-1965, chúng tôi bắt đầu học lý thuyết bay trên máy bay vượt âm thanh, sau này quen gọi là vượt tiếng động hoặc "máy bay siêu âm". Đó là loại máy bay được thiết kế, chế tạo đặc biệt bảo đảm bay an toàn trên mọi độ cao, mọi tốc độ và có lực đẩy mạnh hơn nhiều lần so với lực cản của máy bay. Khi máy bay bay với tốc độ nhanh hơn tốc độ lan truyền của sóng âm thanh (vượt tiếng động) sẽ sinh ra những tiếng nổ liên tục sau lớp sóng âm thanh bị dồn nén. Người đứng ở dưới mặt đất trong phạm vi hình chóp nón của vệt bay cũng sẽ nghe thấy tiếng nổ ấy. Tiếng nổ ấy có thể ảnh hưởng đến việc gà không đẻ trứng, bò không cho sữa, thậm chí các cửa kính bị vỡ và ảnh hưởng đến cả thai phụ... Bởi vậy, luật pháp của Liên Xô đã cấm máy bay bay vượt âm thanh ở độ cao từ 10.000 mét trở xuống. Khi bay làm động tác nhào lộn kỹ thuật phức tạp, các thầy giáo bay đều dặn dò kỹ lưỡng để không xảy ra trường hợp vượt âm thanh dưới 10 km, không để phạm pháp luật của Liên Xô. Tháng 9-1965, chúng tôi bắt đầu thực hành bay trên máy bay huấn luyện có hai chỗ ngồi, ký hiệu là E-6U. Thầy giáo dạy bay của tôi là ông Thiếu tá Zađerikhin. Thầy điềm đạm, ít nói nhưng rất tận tình chỉ bảo, nhờ vậy mà tôi tiếp thu nhanh, được bay đơn đầu tiên. Ngày 15-9 bắt đầu bay chuyến đầu tiên. Sân bay Krasnôđar vào mùa này có rất nhiều quạ. Sáng sớm chúng bay ra đồng kiếm ăn, chiều tối chúng kéo về ngủ ở các vườn cây bạch dương trong trường. Chúng tôi phải bay vào buổi trưa để tránh va chạm phải quạ vì chúng bay hàng đàn đông nghịt trên bầu trời sân bay với những tiếng kêu chói tai. Ngày 16-9, ông Phi đội phó - Thiếu tá Ghievôi bay kiểm tra. Ông rất hài lòng, đề nghị Trung đoàn bay kiểm tra tiếp. Ngày 21-9, ông Trung đoàn trưởng - Trung tá Vaxiliep bay kiểm tra. Ông hài lòng và phê chuẩn cho tôi bay đơn trên loại máy bay chiến đấu MiG-21PFL. Ngày 7-10, bài bay với tốc độ lớn nhất của máy bay (trị số Mach-M=2/0) và độ cao cao nhất 18.000 mét. Thực ra, máy bay có thể bay trên 20.000 mét nhưng chỉ có thể bay được với thời gian rất ngắn (không quá 2 phút). Càng bay lên cao thì khi nhìn xuống mặt đất càng thấy sáng còn nhìn lên cao thì ngược lại. Đó là kỷ niệm đẹp trong đời bay, có lẽ cũng chỉ một lần được bay cao thế mà thôi. Ngày 20-10, đoàn kỹ thuật học chuyển loại MiG-21 do anh Phạm Tám phụ trách đã tốt nghiệp, lên tàu về nước trước. Đoàn học bay của chúng tôi thì đến sân bay Axtrakhan để thực hành bắn tên lửa không đối không loại "hồng ngoại" và "điều khiển bằng sóng vô tuyến”. Đó là hai loại tên lửa được trang bị trên MiG-21 mà sau này chúng tôi sẽ dùng để chiến đấu, vì vậy cần phải được bắn thử để biết tính năng của nó. Ngày 1-11, chiếc máy bay IL-14 số 09 chở chúng tôi đến sân bay Êyscơ. Thành phố Êyscơ là thành phố lâu đời nằm trên bờ biển Azôp. Sau đó máy bay cất cánh bay tiếp đến sân bay dân dụng ở Stalingrat (sau đổi tên thành Vongagrat). Cái tên Stalingrat đã lừng danh một thời, nay tôi có may mắn được đặt chân đến nhưng không có thời gian để tham quan thành phố. Chúng tôi đến nhà ăn của ga sân bay ăn cơm trưa. Khách khứa thấy có người Việt Nam đến liền dồn đến bắt tay hỏi thăm làm chúng tôi rất cảm động. 14 giờ, máy bay cất cánh bay đến sân bay Astrakhan. Sân bay Astrakhan là sân bay sử dụng chung cho cả quân sự lẫn dân dụng, nằm cạnh thành phố Astrakhan. Đây là thành phô thực phẩm của Liên Xô, có những nhà máy cá hộp lớn được xây dựng ở đây. Những ngày chúng tôi thực hành bay bắn tên lửa ở đây là những ngày ăn chán cá, ngấy đến tận cổ. Bữa ăn có nhiều món nhưng hầu như chỉ cá là cá. Ngày 16-11, hoàn thành nhiệm vụ bay bắn tập. Tôi bắn hai quả đều trúng mục tiêu trên không. Chuẩn bị về lại sân bay Krasnodar, chúng tôi ra phố mua ít cá ướp khô (vẫn gọi là cá Vôbla hay cá Astrakhan mà dân nhậu rất thích vì rất hợp với bia) về để biếu các thầy. Ngày 18-11, thời tiết quá xấu, tuyết rơi dày đặc nên phải chờ đến tận 18 giờ, máy bay mới cất cánh, rời đất bay về Krasnodar. Ngày 20-11, nhà trường làm lễ tốt nghiệp cho lớp phi công đầu tiên lái MiG-21 của Không quân nhân dân Việt Nam. Chúng tôi nhận bằng tốt nghiệp, nhận huy hiệu phi công. Tôi thay mặt đoàn cảm ơn nhà trường, cảm ơn các thầy, cảm ơn tất cả mọi người... Khi chúng tôi về Việt Nam sẽ bước vào cuộc chiến đấu đầy khó khăn, ác liệt với Không quân nhà nghề của đế quốc Mỹ, nhưng hình ảnh đất nước Xô-viết vĩ đại không bao giờ phai mờ trong tâm khảm chúng tôi! Chúng tôi có may mắn là đã được sống và học tập trở thành phi công. Chúng tôi đặc biệt nhớ các thầy dạy bay đã luôn gắn bó với chúng tôi dù mùa Đông gió tuyết lạnh thấu xương hay mùa Hè nắng như thiêu như đốt, các thầy luôn có mặt ngoài sân bay với học trò của mình, như các thầy Thiếu tá Rôpaep, Thiếu tá Amôcôp, Thiếu tá Zađerikhin/Trung đoàn phó- Trung tá Xambôrôp, Trung đoàn trưởng-Trung tá Vaxiliep, Phi đội trưởng-Trung tá Kôlômenski, Trung tá Ređin, Thiếu tá Đubrôp, Đại tá Trung đoàn trưởng (Hiệu trưởng) Voncôp, Đại tá Rômanhencô... Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 29 Tháng Chín, 2025, 07:26:15 pm Những dòng ký ức này tôi chép lại trong những trang nhật ký cuối cùng viết tại Krasnôđar. Theo thời gian học, đêm nay sắp hết và ngày mai lại sắp đến. Tôi chưa nêu hết được những người "Xô-viết của chúng ta" rất thẳng thắn và đầy nhiệt tình đáng kính ấy. Họ sống mãi trong kỷ ức của chúng tôi!
Ngày 23-11-1965, chúng tôi lên tàu về nước và không có hẹn ngày trờ lại vì trước mắt chúng tôi là cuộc đọ cánh sống còn với quân xâm lược Mỹ. Đúng 8 giờ, chúng tôi lên máy bay An-10, số hiệu 11120 cát cánh rời sân bay Krasnôđar, qua Mạc Tư Khoa lấy hướng về vùng Uran, Xibéri. Đúng 12 giờ, máy bay hạ cánh xuống sân bay Ômscơ để tiếp dầu và để mọi người tiếp "nhiên liệu (ăn trưa). Sau đó, cuộc hành trình tiếp tục đến sân bay Uxlorođa gần hồ Bai can. 16 giờ, máy bay hạ cánh xuống sân bay Ircutxcơ. Chúng tôi ngủ qua đêm và nghỉ một ngày ở đây. Chắc là máy bay quân sự chở người nên phía Trung Quốc gây rắc rối một chút. Chúng tôi thì vô cùng biết ơn thiện chí và nhiệt tình từ phía Liên Xô. Bạn đã thấu hiểu bầu trời của đất nước ta đang rất cần các phi công nên bạn muốn cho chúng tôi về nước càng nhanh càng tốt. Trong cuộc hành trình của chúng tôi, bạn chở luôn theo các vật dụng như quần áo bay, mũ bay trung không, mũ bay cao không... để khi về nước là có thể tham gia chiến đấu được ngay. Thời đó quần áo bay cao không, mũ bay cao không còn nằm trong danh mục bí mật. Ngày 25-11, máy bay cất cánh từ sân bay Ircutxcơ bay qua Trung Quốc. Máy bay bay tới biên giới Xô-Trung đúng vào lúc rạng đông. Vào lúc 5 giờ theo giờ Bắc Kinh, máy bay hạ cánh xuống sân bay Bắc Kinh và đợi đến 9 giờ thì cất cánh bay về Việt Nam. Khi bay đến sân bay Trường Sa (Trung Quốc) thì tổ bay nhận được thông báo: "Có máy bay Mỹ đang hoạt động ở Bắc Việt Nam". Tổ bay đành phải hạ cánh xuống sân bay Trường Sa để chờ... Chúng tôi được ăn bữa cơm trưa ở đây sau đó máy bay cất cánh về sân bay Đa Phúc, hạ cánh lúc 16 giờ 30 phút (theo giờ Việt Nam), kết thúc ngoạn mục "hành trình tới bầu trời" của đoàn học viên Việt Nam đầu tiên học lái máy bay tiêm kích siêu âm ở Liên Xô. Ngày 26-11-1965, một ngày thật đáng nhớ. Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, Đại tá Phùng Thế Tài đến thăm đoàn phi công vừa đi học về và giao nhiệm vụ chiến đấu ngay. Tư lệnh cho biết: "Tình hình rất khẩn trương, ngày nào địch cũng bay trinh sát các mục tiêu chuẩn bị đánh phá...". Chúng tôi được bổ sung về Trung đoàn 921 và thành lập Đại đội 2 - Đại đội bay MiG-21 đầu tiên của Không quân ta. Tôi được Trung đoàn giao nhiệm vụ giữ chức Đại đội phó (tổ chức đơn vị cơ sở của Không quân ta thời đó gọi là Đại đội, Trung đội. Sau này mới đổi là Phi đội, Biên đội). Anh Nguyễn Duy Đài được giao giữ chức Chính trị viên Đại đội. Thời kỳ này, anh Trần Mạnh làm Trung đoàn trưởng thay anh Đào Đình Luyện lên giữ chức Tư lệnh Binh chủng Không quân, anh Chu Duy Kính làm Chính ủy thay cho anh Đỗ Long lên giữ chức Chính ủy Binh chủng Không quân. Đảng ủy Trung đoàn ra Nghị quyết: "... Khẩn trương chuẩn bị để đưa MiG-21 ra trực ban chiến đấu vào đầu năm 1966". Máy bay MiG-21 được tháo rời, đóng vào thùng gỗ, chở bằng tàu liên vận qua tuyến đường sắt Liên Xô - Trung Quốc - Việt Nam. Liên Xô cử một đoàn chuyên gia sang lắp ráp tại sân bay Đa Phúc, bay thử xong xuôi mới giao lại cho Việt Nam. Đầu tiên, bạn viện trợ một phi đội máy bay MiG-21PFL, không có máy bay huấn luyện UMiG-21. Vì vậy chúng tôi phục hồi kỹ thuật gặp nhiều khó khăn, nhưng không thể không thực hiện bởi chờ bạn đưa máy bay UMiG sang thì phải mất cả tháng trời. Lúc này là lúc phải có quyết định táo bạo. Chúng tôi đề nghị với Trung đoàn trưởng là cho bay kèm trên máy bay UMiG-15 sau đó sẽ bay đơn trên MiG-21. Đồng chí Trung đoàn trưởng đồng ý và thế là kế hoạch bay hồi phục chỉ mất có 5 ngày đã hoàn thành tốt đẹp. Bước chuẩn bị khó khăn nhất đã vượt qua! Bước tiếp theo là thảo luận phương án tác chiến và cách đánh chặn địch ở tầng cao. Thời kỳ này, địch thường cho các máy bay trinh sát bay ở tầng cao. Bọn này là tai mắt cho các máy bay cường kích đánh phá, chúng thường bay trinh sát trên độ cao 18-20 km. Ở trên độ cao đo, máy bay MiG-21 bị hạn chế rất nhiều về tính năng cơ động, do đó sĩ quan dẫn đường ở Sở chỉ huy và ở màn hình ra-đa với phi công phải tính toán, hiệp đồng sao cho thật ăn khớp với nhau, hiểu ý nhau từ động tác nhỏ nhất. Khi đưa máy bay ta tiếp cận vào phía sau máy bay trinh sát, độ sai lệch không được quá 10 độ. Nếu không dẫn được như vậy thì sẽ không công kích ngay từ lần đầu được và với tốc độ tiếp cận quá lớn, trên độ cao cũng quá lớn thì chẳng bao giờ có cơ hội vòng lại công kích lần hai. Mọi công tác hiệp đồng, chuẩn bị của chúng tôi với dẫn đường vừa xong thì cũng là lúc Trung đoàn lệnh cho MiG-21 ra trực ban chiến đấu. Tôi rất vinh dự được Trung đoàn chọn là người đầu tiên trực ban chiến đấu trên MiG-21 ở sân bay Đa Phúc từ ngày 25-1-1966. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 29 Tháng Chín, 2025, 07:27:51 pm Những trận chiến đấu nhớ đời trên bầu trời miền Bắc yêu thương Máy bay MiG-21 làm nhiệm vụ chiến đấu thời kỳ đầu của chiến tranh phá hoại trên miền Bắc chủ yếu là đánh máy bay trinh sát tầng cao của Mỹ gồm loại có người lái U-2 và loại không người lái BQM... Máy bay trinh sát của Mỹ thường bay ở độ cao 18-20 km, cao trên tầm bắn của hỏa lực Phòng không của ta lúc bấy giờ. Khi ta có MiG-21 và tên lửa "Sam-2" thì máy bay U-2 chỉ dám bay đến khu biên giới Việt - Lào, còn loại BQM thì bay sâu vào nội địa, qua các mục tiêu cần chụp ảnh. Tôi đã được cất cánh một số lần để đánh U-2 nhưng không tiếp cận được mục tiêu. Có đến mấy lần bay đến hết tầm hoạt động của MiG-21 nên phải quay về, tiếc ơi là tiếc! Từ ngày 25-1-1966, tôi được phân công làm số 1 để đánh máy bay trinh sát tầng cao, các số sau là các anh Nguyễn Đăng Kính, Vũ Ngọc Đỉnh, Đồng Văn Song, Nguyễn Văn Thọ... luân phiên nhau đảm nhiệm. Thời kỳ này tình hình chiến đấu chưa căng lắm, chúng tôi vừa trực ban chiến đấu vừa tranh thủ bay huấn luyện. Trưa ngày 7-2, phi công Nguyễn Văn Thọ thực hiện chuyến bay huấn luyện xuyên mây, khi bay về đến Vĩnh Yên thì mất liên lạc... Máy bay rơi gần thị xã Vĩnh Yên và phi công hy sinh trong buồng lái. Cả đơn vị vô cùng thương tiếc, tổ chức lễ truy điệu cho Nguyễn Văn Thọ. Anh em biến đau thương thành hành động cách mạng cụ thể trong công tác sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, học tập... Trước mắt, tập trung vào ôn luyện xử lí thành thục các trường hợp bất trắc khi có hỏng hóc xảy ra. Suốt tháng 2-1966, mây thấp giăng đầy sân bay, đáy mây chỉ 50-60 mét, tầm nhìn chưa đến 1000 mét, lại cộng thêm mưa phùn gió bấc nên chân tay rét cóng. Trực ban chiến đấu phải mặc bộ quần áo cao không bó sát lấy người mà vẫn rét. Hôm phái đoàn Anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm đơn vị thì trời lại hửng lên. Đáy mây cao hơn 500 mét và tầm nhìn đến 4 km. Trên cử tôi tiếp đoàn và bay biểu diễn chào mừng đoàn. Kết thúc chuyến bay, các anh chị trong đoàn, trong đó có chị Tạ Thị Kiều đã đến bắt tay chúc mừng. Tôi được nghe các anh chị kể chuyện đánh Mỹ ở quê hương với cách "bám thắt lưng địch mà đánh" thật tuyệt vời. Xuất hiện ý nghĩ trong tôi là phải học tập Quân giải phóng miền Nam, bắn thật gần cho chắc ăn! Những ngày cuối tháng 2, trời càng xấu hơn. Mây thấp tịt như đang bò trên mặt đường băng, nhưng đấy lại là dấu hiệu thời tiết sắp tốt lên. Thời tiết tốt đồng nghĩa với việc bọn địch sẽ bay vào miền Bắc trinh sát và sẽ tăng cường đánh phá. Đây chính là thời cơ để chúng tôi lập công trả thù cho đồng bào khu Bốn bị bom Mỹ sát hại trong những ngày gần đây. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 29 Tháng Chín, 2025, 07:28:31 pm Trận đầu đánh thắng! Ngày 4 tháng 3 năm 1966. Buổi sáng trời nhiều mây thấp, nhưng đến trưa chiều quang mây, thuận lợi cho máy bay chụp ảnh tầng cao hoạt động. Đồng chí Trung đoàn trưởng trực tiếp gọi điện gặp tôi và thông báo: "Hôm nay, tin tình báo cho biết sẽ có 1 U-2 và 1 không người lái trinh sát chụp ảnh bay ra miền Bắc (từ miền Nam bay ra) nhưng chưa biết cụ thể sẽ chụp mục tiêu nào. Vậy cậu phải chuẩn bị tất cả các phương án đánh địch nghe!". Đặt ống nghe vào máy, tôi giở bản đồ xem lại các phương án. Nếu U-2 vào thì chỉ có một phương án là biên giới Việt - Lào, còn nếu là máy bay không người lái thì nhiều phương án hơn. Đánh máy bay không người lái dễ thì ít mà khó thì nhiều. Dễ là máy bay không người lái bay theo chương trình lập sẵn, không có đối kháng gì. Cái khó nhất là thân hình nó nhỏ, khó phát hiện sớm. Khi phát hiện muộn, tốc độ tiếp cận lớn (hơn 1000 km/h) ta không kịp phóng tên lửa, dễ bị đâm vào hoặc xông lên trước nó. Bởi vậy, chiến thuật của MiG-21 lúc đó là từng chiếc một nối đuôi nhau công kích một mục tiêu. Nếu chiếc đi đầu công kích trượt thì chiếc thứ hai công kích tiếp... Từ trong Sở chỉ huy, đồng chí Chính ủy Trung đoàn gọi điện gặp tôi, động viên: "Hôm nay gặp thời cơ, cậu bình tĩnh bắn cho chuẩn xác nghe!". Tôi xác định lúc nào cũng phải bình tĩnh, lại được đồng chí Chính ủy động viên làm cho tôi càng bình tĩnh hơn. Tôi nhớ lại bài học hôm đồng chí Đặng Tính - Chính ủy Quân chủng xuống sân bay ra lệnh báo động diễn tập cất cánh. Tôi lăn máy bay từ sân đỗ ra đường băng bị trượt ra ngoài cỏ là do tôi hồi hộp, mất bình tĩnh. Đấy là bài học nhớ đời! Đồng chí Mại - trực ban tác chiến thông báo: Sở chỉ huy nhắc phi công ăn cơm sớm vì hôm nay trời tối sớm. Sau bữa ăn trưa, tôi ra đứng trước thềm nhà trực ban nhìn bóng mặt trời quấn tròn dưới chân, thấy đó là thời gian chụp ảnh thuận lợi. Tôi đang nhẩm lại phương án thì nghe tiếng hô: "Cấp 1!" rất to của đồng chí Mại. Đồng chí nói giọng Nghệ An vừa to vừa dõng dạc, rất dễ nghe: "Một chiếc cao không cấp 1!". Từ "cao không" cốt để cho tổ "mũ cao không" và thợ máy biết là phương án đánh cao không, phải mặc quần áo và mũ cao không. Mọi người trong phiên trực hối hả, răm rắp làm nhiệm vụ của mình. Tôi ngồi im trên ghế để đồng chí Ngãi - tổ trưởng mũ cao không đội cho tôi. Đồng chí báo: "Xong!". Tôi chạy thật nhanh, trèo lên buồng lái, trước tiên gài khóa dù sau đó bật công tắc vô tuyến liên lạc với Sở chỉ huy. Mật danh thời đó sử dụng cho việc mở máy lăn ra đường băng là "Ấp Bắc!", còn cất cánh là "Cờ Hồng!". Trong tai nghe của mũ bay vang lên hai từ "Ấp Bắc!" của đồng chí sỹ quan dẫn đường. Tôi lập tức vừa trả lời: "Nghe rõ!" vừa ấn nút khỏi động động cơ. Tiếng động co kêu to dần, đồng thời vòng quay của rô-to cũng tăng lên từ 0 đến 60% trong thời gian chưa đến 45 giây. Tôi giơ tay trái lên ngang đầu làm dấu hiệu báo cho đồng chí Tổ trưởng thợ máy biết để rút chèn bánh cho máy bay lăn ra đường băng cất cánh. Máy bay cất cánh lấy độ cao đến 300 mét thì chỉ huy cho tôi hướng bay 270 độ, độ cao 5.000 mét. Bay được 5 phút, Sở chỉ huy cho hướng bay 310 độ và độ cao 8.000 mét. Bay thêm 5 phút nữa, Sở chỉ huy cho hướng bay 90 độ và bật tăng lực lấy độ cao lên 16.000 mét. Lúc này, Sở chỉ huy cho hướng bay 150 độ rồi lại sửa lại là 130 độ. Tôi báo cáo đã phát hiện được mục tiêu, xin công kích. Sở chỉ huy trả lời: "Cho phép!". Lúc này, máu trong người tôi như chạy dồn hết về tim để tạo cho tôi một sức mạnh kỳ diệu là bình tĩnh, chính xác và nhanh chóng đưa mục tiêu vào tâm vòng ngắm chữ thập PKI, đồng thời ấn nút bám sát mục tiêu của ra-đa để xác định cự li bắn, còn động tác cuối cùng là ấn nút phóng tên lửa. Quả tên lửa hồng ngoại R-3S (ta gọi là K-13) vọt ra khỏi cánh máy bay và bay về phía trước tới mục tiêu. Tôi nhớ lại, nó giống như cái lần tôi bắn bia ở trường bắn Astrakhan! Trong tai nghe của mũ bay vẫn còn nghe thấy tiếng kêu o...o... của quả tên lửa thứ hai bắt được mục tiêu. Tôi lập tức ấn nút phóng quả thứ hai để đảm bảo chắc chắn mục tiêu đã bị tiêu diệt. Tôi báo cáo về Sở chỉ huy: "Đã uống bia xong!" (mật danh của việc phóng tên lửa). Đồng thời, Sở chỉ huy cũng thông báo là trên màn hình mục tiêu đã mất và cho tôi hướng bay về sân bay hạ cánh. Từ trên vùng trời cao Quảng Ninh, tôi bay về sân bay Đa Phúc với tâm trạng nhẹ nhõm khi đã hoàn thành được công việc mà cả tập thể Trung đoàn giao phó, thực hiện được nguyện vọng khát khao của bao người: từ chiến sĩ gác đường băng đến người chỉ huy lãnh đạo cao nhất của Trung đoàn, đó là: "Trận đầu, MiG-21 phải bắn rơi máy bay Mỹ!". Hôm nay, tôi đã thực hiện được trọn vẹn mong ước đó! Mọi người biết tin, ra tận sân đỗ máy bay đón và chúc mừng tôi. Tôi vô cùng cảm động. Đây là chiến công chung của Trung đoàn, tôi chỉ có công nhỏ bé, đó là ấn nút phóng quả đạn bay đến tiêu diệt mục tiêu, đem về trận đánh nhớ đời của tôi trên bầu trời miển Bắc yêu thương! Sau trận đánh ngày 4-3-1966, Trung đoàn quyết định đưa MiG-21 vào chiến đấu đánh địch ở tất cả các độ cao khác nhau, không phân biệt "cao không" hay "trung không". Sử dụng lực lượng MiG-21 chủ yếu là đội hình 2 chiếc. Anh em phi công MiG-21 bước sang giai đoạn mới trong cuộc đụng đầu lịch sử với Không quân và Không quân Hải quân Mỹ đầy khó khăn và ác liệt. Đó là một bọn giặc lái đẩy tham vọng, rất hống hách, ngạo mạn. Chúng bay vì tiền và vì danh vọng. Chúng có giờ bay tích lũy hàng ngàn giờ hơn chúng tôi, kỹ thuật bay lại không hề thua kém ai. Chúng luôn lấy số lượng đông để áp đảo chúng tôi. Khi xáp trận trên bầu trời, thấy bóng dáng MiG là chúng cuồng lên hệt như lũ thiêu thân lao vào tiêu diệt MiG cho bằng được vì đó là đô-la, là danh vọng và là mục tiêu cuối cùng của giặc lái Mỹ. Chúng tôi đối chọi với một kẻ địch đầy tham vọng, nhằm tiêu diệt bằng hết máy bay MiG của Bắc Việt như vậy thì việc gặp phải nhiều khó khăn và ác liệt là điều tất yêu. Song, mặc dù giờ bay của các phi công MiG-21 bấy giờ chưa đến 20 giờ bay trên máy bay chiến đấu, nhưng chúng tôi có mục tiêu, lý tưởng chiến đấu rất cao thượng, đó là vì độc lập tự do, lòng yêu Tổ quốc, yêu đồng bào nồng nàn. Khi xáp trận, chúng tôi chỉ nghĩ "vì miền Bắc yêu thương, vì miền Nam một thịt". Việc sống chết coi nhẹ như lông hồng. Vì vậy mà chúng tôi đã vượt qua hết thảy những khó khăn ác liệt, dũng mãnh tấn công trong các trận không chiến, giành thắng lợi, góp phần bảo vệ mục tiêu quan trọng, đập tan mưu đồ của đế quốc Mỹ là muốn "xóa sổ nhóm MiG của Bắc Việt!". Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 08 Tháng Mười, 2025, 08:08:11 pm Trận đánh thua ngày 26-4-1966 Hồi đó xác định trận đánh thắng, thua đối với Không quân ta như sau: Trận đánh mà ta bắn rơi địch, ta an toàn gọi là trận đánh thắng. Còn nếu trận đánh mà ta không bắn rơi được địch, trái lại, bị địch bắn rơi thì gọi là trận đánh thua. Trận đánh mà cả hai bên đều bị bắn rơi thì tùy tính chất của trận đánh bảo vệ mục tiêu, mức độ ác liệt để xác định thắng hoặc thua. Trận đánh ngày 26-4, mục tiêu là tiêu diệt máy bay EB- 66 (máy bay gây nhiễu ra-đa, tên lửa, cao xạ). Hôm đó bầu trời trong xanh, không một gợn mây. Tôi tiếp thu và kiểm tra máy bay xong, đứng trên sân đỗ nhìn quanh bầu trời. Tôi nghĩ: "Phải chuẩn bị đánh nhau!". Đi vào nhà trực, tôi cùng Vũ Ngọc Đỉnh ngồi ăn sáng (hôm nay nhà ăn cho ăn bánh cuốn). Vừa ăn vừa hiệp đồng biên đội với nhau khi gặp địch. Ăn sáng xong thì Sở chỉ huy gọi điện gặp tôi và giao nhiệm vụ: "Hôm nay biên đội chuẩn bị đi đánh máy bay gây nhiễu EB-66 có máy bay tiêm kích F-4 bảo vệ!". Tôi nói lại cho Vũ Ngọc Đỉnh - số 2 của mình quán triệt nhiệm vụ trên giao và chuẩn bị có thể phải đối chọi với tiêm kích địch. Sau khi ăn cơm trưa xong thì anh Đồng Văn Song ra thay trực cho Vũ Ngọc Đỉnh để anh Đỉnh đi bay huấn luyện. Tôi với Song từng trực ban chiến đấu với nhau nhiều lần rồi. Hai anh em đang trao đổi với nhau cách đánh E13-66 thì nhận được tín hiệu báo động: "Hai chiếc trung không cấp 1!". Chúng tôi chạy rất nhanh, leo lên máy bay. Đồng chí Tổ trưởng thợ máy đã cho "xe điện APA" khởi động, cung cấp đủ 27,5 vôn để khởi động động cơ. Tôi bật công tắc vô tuyến liên lạc với Sở chỉ huy và nhận được lệnh: "513 Ấp Bắc!". Đồng chí Tổ trưởng thợ máy giúp tôi ấn nút mở máy và bật tất cả công tắc cần thiết cho chuyến bay chiến đấu, đặc biệt là công tắc vũ khí để ở vị trí "tự động". Tôi và Đồng Văn Song lăn ra đường băng cất cánh, bay về hướng Bắc theo sự dẫn dắt. Bay qua Tuyên Quang rồi về hướng Cao Bằng thì Sở chỉ huy thông báo địch phía trước 30 km, độ cao 6.000 mét. Đó là độ cao của EB-66 thường bay. Sở chỉ huy báo tăng cường quan sát. Tôi và Song cùng phát hiện địch bên trái. Tôi báo cáo về Sở chỉ huy: "513 phát hiện mục tiêu nhưng không phải EB!". Sở chỉ huy trả lời: "Cho công kích!". Lúc này địch cũng đã phát hiện có MiG và bắt đầu lượn "vòng thúng" nối đuôi nhau để chống lại MiG. Số 2 báo cáo không thấy số 1 ở đâu nên Sở chỉ huy cho số 2 quay về. Còn lại mình tôi rơi vào cái "vòng thúng" của tiêm kích địch. Tình thế trở nên khó khăn và ác liệt. Song cái tính cay cú của tôi (kiểu cố đấm ăn xôi) muốn tìm xem thằng EB ở đâu bởi hồi ấy mà bắn rơi được EB thì rất giá trị về cả tinh thần lẫn chiến thuật (cách đánh của MiG-21). Tôi đâu có ngờ khi EB phát hiện có MiG đuổi đánh thì bọn tiêm kích vây kín lại chống chọi với MiG để cho EB chạy trốn. Máy bay của tôi bị thương, không thể điều khiển được. Hệ thống dầu đỏ của máy bay không còn giọt nào (kim đồng hồ chỉ số 0). Độ cao đồng hồ chỉ còn hơn 1.000 mét (nhưng độ cao thật tới mặt đất thì chỉ còn mấy trăm mét thôi vì tôi thấy cây và những hòn đá to rõ lắm rồi). Không thể chần chừ được nữa! Tôi quyết định nhảy dù! Ở đây là vùng đồi núi đá với những bụi cây lúp xúp, không có bãi đất nào bằng phẳng để có thể hạ cánh bắt buộc được. Thật vô cùng tiếc chiếc máy bay! Ruột tôi đau như đứt từng khúc trước khi đưa hai tay vào dây kéo để phóng ghế dù. Một tiếng nổ nhỏ đẩy tôi cùng với ghế ngồi rời khỏi máy bay, đồng thời nắp buồng lái cũng chụp vào ghế che kín người để không bị dòng không khí và lửa cháy của máy bay táp vào phi công. (MiG-21 được sản xuất đầu tiên cho trường hợp bắt buộc phải nhảy dù đã thiết kế nắp buồng lái úp vào khoang ghế rồi sau đó mới tách ra để dù mở. Đấy là khi nắp buồng lái không bị biến dạng, nhưng trong chiến đấu, đã có mấy trường hợp nắp buồng lái bị biến dạng, không tách khỏi ghế được, vậy là toàn bộ buồng lái cứ thế rơi xuống và phi công đành hy sinh trong đó. Bạn đã cử các chuyên gia sang nghiên cứu, cải tiến sửa đổi ngay thiết kế cũ). Tôi chạm đất, người bị ngã làm cho lưng va vào đá, đau ê ẩm. Tôi không thể đi được, nhưng các ông, bà dân quân người dân tộc với vẻ mặt hầm hầm bước tới chỗ tôi nằm, tay cầm dao phát rẫy, lưỡi dao sáng loáng. Họ đang căm phẫn bởi vì bom của Mỹ vừa ném xuống bản xong. Họ xem chứng minh thư của tôi thấy ghi: quê Bình Định thì họ tưởng tôi là phi công của Mỹ ngụy bay từ miền Nam ra đánh phá miền Bắc. Tôi nhờ một anh dân quân dìu tôi đi nhưng anh cũng chỉ năm vào khuỷu tay tôi để tôi dựa vào mà đi còn tay kia vẫn lăm lăm khẩu súng kíp, sẵn sàng nhả đạn bất cứ lúc nào. Hai tay tôi bị bẻ ra sau lưng kiểu trói cánh gà, còn hai chân thì trói riêng từng chân một nhưng chỉ có thể bước từng bước chứ không thể chạy được. Lê bước gần một giờ đồng hồ thì tới bản. Họ đưa tôi đến một cái nhà sàn to để nằm nghỉ và bắt đầu tra hỏi: "Khẩu súng giấu ở đâu?" (vì họ lục trong túi áo da bay của Liên Xô mà tôi mặc, thấy có cái móc dây đeo súng ngắn nhưng không thấy súng đâu). Hôm ấy thật xúi quẩy là tôi không mang súng. Cái bệnh chủ quan của tôi đã làm hại tôi, tôi đành chịu trận... Tôi khát nước tới mức cổ họng khô hết, không thể nói được nhưng tôi không dám xin nước vì sợ họ cho uống nước "lá ngón" (vì tôi nghe chuyện là khi người dân tộc thù ghét nhau hay dùng nước "lá ngón" để hãm hại nhau). Tôi nghĩ, bây giờ họ đang cơn căm thù giặc Mỹ, họ tưởng mình là Không quân của Mỹ ngụy nên mình phải đề phòng. Trời tối không nhìn rõ mặt người. Nhiều người bảo phải đốt đuốc lên cho sáng nhưng lắm người lại can ngăn vì sợ máy bay Mỹ đến. Vừa đói vừa khát, tôi thiếp đi với giấc mơ chập chờn tràn đến nhưng tới nay vẫn còn nhớ: "Đơn vị đã báo cho địa phương biết rồi và động viên tôi cố gắng chịu khát một chút nữa sẽ có nước uống!". Tôi mừng quá, tỉnh giấc ngay. Tôi mở mắt ra thấy có nhiều người ngồi quanh tôi: người thì quạt, người thì bóp chân bóp tay, rồi xoa lưng..., dây trói không còn nữa. Như vậy có nghĩa là bà con đã biết tôi là phi công của ta rồi! Tôi mừng quá! Cảm thấy lưng như hết đau, tôi muốn ngồi dậy nhưng ba con không cho, bắt phải nằm. Tôi nằm trên chiếc giường tre đau lưng quá liền xin xuống nằm dưới đất. Bà con đem nước và cháo đến nhưng tôi không tài nào ngồi được. Tôi vẫn phải nằm và bà con bón cho tôi từng thìa cháo một. Có ti nước cháo vào bụng, người tỉnh táo hẳn lên. Xe của Tỉnh về đưa tôi đến nghỉ ở nhà Giao tế của Tỉnh, chờ xe của đơn vị lên đón về bệnh viện 108, nhưng cũng phải mất mấỵ ngày sau xe mới lên được vì tắc đường. Nhưng ngày đó, địch tập trung đánh phá cầu Gia Bảy nên cầu bị hỏng. Tôi nằm bất động ở nhà Giao tế của Tỉnh, được các anh chị em chăm sóc tận tình, đặc biệt là anh y sĩ Lãnh Hải Toàn. Đêm đêm anh ngồi cạnh xoa bóp chỗ lưng đau cho tôi, nhờ vậy mà khong bị tụ máu. Ngày nào bà con trong bản cũng đem trứng, mật ong đến thăm tôi. Thật cảm động nhưng tôi không nói được tiếng Mường, còn bà con thì lại không nói được tiếng Kinh, chỉ nhìn nhau mà thương rơi nước mắt! Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 08 Tháng Mười, 2025, 08:09:09 pm Nhà Giao tế của Tỉnh sơ tán ở tạm trong một khu rừng già, có nhiều cây to rậm rạp. Mỗi ngày được nghe 3 lần ve sầu kêu vào lúc 9 giờ, 12 giờ và chừng 17 giờ. Khởi đầu chỉ có một con kêu, tiếp đến là hàng trăm hàng ngàn, thậm chí hàng vạn con cùng cất tiếng. Âm thanh trong, đục, véo von, rè... với tần số rung khác nhau nghe réo rắt quanh tai gây cảm giác với những nỗi nhớ buồn nhiều hơn vui! Tôi vô cùng nhớ đơn vị, nhớ đồng đội, nhớ chiếc MiG thân yêu của tôi đã cùng nhau gắn bó trong trận không chiến ác liệt vừa qua, nhưng không may đã phải vĩnh biệt nó. Thật buồn nhớ làm sao! Mỗi lần nỗi buồn nổi lên, tôi lại đọc câu thơ của nhà thơ Tố Hữu để làm cho tôi vui lại phần nào:
"Ai chiến thắng mà không hề chiến bại Ai nên khôn mà không dại đôi lần!..." Đúng thật! Trận thua ngày 26-4 là do "cái dại" của mình đẫn đến, do cái tính "cố đấm ăn xôi" đã mắc phải từ bé, từ cái thời còn đi đánh nhau với bạn cùng chăn bò trên cánh đồng Trang. Đã thừa hiểu là với MiG-21 trong không chiến không nên đánh quần kiểu "vòng thúng" với bọn F-4 vì bọn F-4 lượn vòng bán kính nhỏ hơn MiG-21. Chúng lượn "vòng thúng" thì MiG-21 lượn "vòng nong", không cắt bán kính bám đuôi chúng được. Hơn nữa, MiG-21 thời ấy vũ khí mang theo chủ yếu là tên lửa hồng ngoại, bởi vậy lại càng không phù hợp với kiểu lượn "vòng thúng". Một lần dại đã để lại hàng trăm bài học sâu sắc cho tôi trong những trận không chiến sau này không bao giờ lặp lại! Thật cảm động khi được tin Quân chủng đã cho một chiếc trực thăng Mi-4 bay lên Cao Bằng để đưa tôi về bệnh viện. Nhưng lại thật không may vì khi chiếc trực thăng bay lên đến Bắc Cạn thì bị hỏa lực mặt đất bắn rơi. May mắn là cả tổ bay và bác sĩ Lễ đều an toàn. Gần một tuần lễ sau, cầu Gia Bẩy mới sửa chữa xong và thông xe. Đơn vị lên đưa tôi về bệnh viện 108. Về tới nơi, các bác sĩ không quản đêm hôm, bắt tay ngay vào khám lưng và chụp cột sống cho tôi. Cột sống bị xẹp 3 đốt. Bây giờ chữa được cho lành đã là quá quý chứ hòng gì nói đến bay! Các bác sĩ bi quan một thì tôi bi quan gấp ngàn lần! Chẳng lẽ đến đây đành ôm hận tạm biệt bầu trời sớm như vậy sao! Buồn tới mức miếng ăn đưa vào miệng cũng thấy đắng ngắt. Sau khi nghiên cứu phim chụp đốt sống lưng của tôi, bác sĩ Địch - Trưởng khoa Không quân ở bệnh viện 108 đã đề ra phương pháp chữa trị để cho "3 đốt sống sẽ liền lại như cũ và có thể bay trở lại được"... Nhưng phải kiên trì chịu đựng phải nằm bất động trong 3 tháng. Ông hỏi tôi có chịu đựng được không. Tôi thưa: "Bác sĩ chữa cho tôi bay được thì dù có khổ cực đến mấy tôi cũng chịu đụng được!". Hàng ngày, ông đến phòng bệnh kiểm tra và nhắc tôi phải nghiêm túc nằm bất động. Bởi mỗi cử động đều ảnh hưởng đến cột sống, cho nên phải hạn chế tới mức tối thiểu mọi cử động. Chiếc phản tôi nằm có độ dốc đến 30 độ, bởi vậy phải treo hai hòn gạch buộc vào hai vai để giữ người không bị tụt xuống. Hai chân cũng buộc hai hòn gạch để kéo giãn đốt sống theo độ dốc của chiếc phản. Tôi nằm bất động được 1 tuần, rồi nửa tháng, rồi gần tròn một tháng thì thấy đây đúng là một cực hình. Tiết trời thì nóng bức, điện thì lúc có lúc không... Chiếc quạt "tai voi" chạy cả tháng tới giờ trông nó cũng uể oải lắm rồi. Song cái mừng vui trong tôi là "có thể được bay lại" đã chiếm lĩnh, đã đánh bật mọi khổ cực, đánh bật thương tật mỗi ngày một lùi xa. Bác sĩ Địch kiểm tra đốt sống thấy xương đã liền rất tốt và cho tỏi bắt đẩu tập đi trong nhà cho quen dần rồi tập cúi xuống, ngửng lên nhẹ nhàng để đề phòng đốt sống bị đơ cứng thì sau này sẽ khó chữa. Tôi kiên trì tập luyện theo sự hướng dẫn của bác sĩ Địch trong vòng gần hai tháng thì đi khám lại toàn bộ theo đúng quy trình "khám tuyển phi công". Sau khi khám, Hội đồng giám định ghi: "Đủ điều kiện bay!". Nghe kết luận của Hội đồng giám định, tôi sung sướng rơi nước mắt! Vậy là tỗi vẫn còn duyên với con đường tới bầu trời! Ngày 20-7-1966, tôi cầm tờ giấy xuất viện với nội dung: "Về đơn vị bav...". Trong lòng tràn ngập niềm vui. Chỉ có chiến đấu! Chiến đấu và chiến đấu! Tôi rất biết ơn bác sĩ Địch, bác sĩ chính là ân nhân, là người đưa tôi trở lại bầu trời lần thứ hai! Tôi cũng biết ơn bác sĩ Quý - phó của bác sĩ Địch và cám ơn chị Gái - người mà cả khoa Không quân ai cũng quý mến gọi chị là chị cả. Chị luôn tận tình, chu đáo, hòa nhã... Cách cư xử của chị làm cho ai buồn cũng phải vui, ai giận cũng phải thương. Thật hiếm có người phụ nữ đức độ như chị. Tôi trở lại đơn vị giữa lúc đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc với mức độ ngày càng gia tăng. Chúng đã đánh phá đến vùng ngoại ô thành phố Hà Nội. Kho xăng Đức Giang bị chúng thiêu rụi. Mỹ và một số nước chư hầu cũng ồ ạt đổ quân vào miền Nam để mở những đợt tấn công lớn nhằm xóa sổ quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó, quân và dân hai miền Nam Bắc kiên quyết thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ: "... Đế quốc Mỹ có thể đưa vào 10 vạn, 20 vạn quân hoặc nhiều hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, nhà máy, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song, nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do... Trên khắp các chiến trường, Mỹ đã bị giáng trả những đòn chí mạng, nhưng chúng như con thú dữ, càng bị đánh, càng gần ngày sắp chết, chúng càng hung hăng, dữ tợn. Không quân ta có sự phát triển lớn về lực lượng. "Trung đoàn Sao Đỏ" được bay chuyển loại MiG-21, toàn bộ số MiG- 17 của Trung đoàn bàn giao cho "Trung đoàn Yên Thế" sử dụng. Liên Xô viện trợ thêm cho ta mấy phi đội MiG-21 F-13. Loại máy bay MiG-21 F-13 là loại cũ hơn MiG-21 PFL. Nó được trang bị một khẩu súng 37 li và tên lửa hồng ngoại. Tính năng cơ động của nó có thể tiến hành không chiến với F-4 theo kiểu lượn "vòng thúng" không thua kém. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 08 Tháng Mười, 2025, 08:10:04 pm Thời kỳ này, bên cạnh "Trung đoàn Sao Đỏ" còn có một đội chuyên gia Liên Xô (gồm có giáo viên bay và thợ lắp ráp máy bay). "Trung đoàn Yên Thế" thì có một tổ chuyên gia bay biển của Cuba huấn luyện cho cách bay biển và ném bom thia lia để chuẩn bị đánh tàu chiến Mỹ khi chúng vào sâu trong Vịnh Bắc Bộ. Đặc biệt còn có lực lượng Không quân của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu giúp nhân dân Việt Nam. Lực lượng này gồm các phi công bay trên MiG-17 và MiG-21, gồm các chỉ huy tham mưu, dẫn đường... Ta gọi lực lượng của Triều Tiên là "các bạn Z". Công tác chỉ huy chiến đấu bạn tự đảm nhiệm, còn máy bay và công tác bảo đảm kỹ thuật do ta đảm bảo cho bạn bay huấn luyện và chiến đấu. Không quân nhân dân Việt Nam vô cùng cảm ơn tinh thần quốc tế trong sáng, vô tư, dũng cảm của các phi công Không quân nhân dân Triều Tiên. Bạn đã thực hiện được một số trận chiến đấu, bắn hạ được máy bay Mỹ nhưng cũng chịu tổn thất đáng kể. Chúng tôi coi sự tổn thất của bạn cũng như tổn thất của chính mình, đã lo liệu chu đáo, đáp ứng được mọi yêu cầu theo phong tục tập quán của bạn. Nhất là, khi có trường hợp bạn hy sinh, phải lo cho bạn một con cá chép còn sống để làm lễ cúng. Bộ phận làm công tác chính sách của ta đã đến các Hợp tác xã (dù ngày hay đêm) tìm cho bằng được cá chép to, tươi sống mang về cho bạn làm thủ tục, bấy giờ mới yên tâm, báo cáo "Đã hoàn thành nhiệm vụ!".
Cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân Mỹ ra miền Bắc Việt Nam vào khoảng giữa năm 1966 và năm 1967 có thể gần đến đỉnh cao. Hầu như ngày nào cũng có bom đạn của Mỹ dội xuống các mục tiêu mà Mỹ cho là tiềm lực của miền Bắc chi viện cho đồng bào và quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Thời kỳ này, Không quân chiến đấu của ta cũng đạt đến đỉnh cao về phát triển lực lượng. Ngoài 2 Trung đoàn MiG đã có, còn được thành lập thêm 2 Trung đoàn MiG nữa, gồm 1 Trung đoàn MiG-21 và 1 Trung đoàn MiG-19 đóng quân xung quanh, bảo vệ Hà Nội. Việc bố trí lực lượng đó có thể tổ chức thành các tuyến chiến đấu bảo vệ mục tiêu (đánh chặn từ xa, đánh ngoài mục tiêu và đánh trên mục tiêu), có thể đánh độc lập hoặc đánh hiệp đồng giữa các Trung đoàn với nhau hay là đánh hiệp đồng với cao xạ, với tên lừa. Đánh hiệp đồng theo hướng hoặc theo độ cao cho từng loại. Phương châm sử dụng lực lượng là dùng biên đội nhỏ (2 chiếc đến 4 chiếc). MiG-17 áp dụng chiến thuật "vòng thúng" đánh ở độ cao thấp. MiG-21 áp dụng chiến thuật đánh chặn, dùng tốc độ lớn đánh địch từ xa mục tiêu. Riêng MiG-19 thì chưa hình thành rõ rệt lối đánh riêng của mình. Chiến thuật đánh "vòng thúng" thời kỳ đầu của MiG- 17 tỏ ra rất hiệu quả, có nhiều trận đánh thắng ròn rã, bắn rơi 2-3 chiếc máy bay địch trong một trận, ta an toàn. Nhưng ta mất cảnh giác khi địch thay đổi thủ đoạn đánh "vòng thúng" bằng lối đánh "giã gạo". Chúng dùng ưu thế bay trên cao hơn MiG-17, từ trên cao bổ xuống phóng tên lửa rồi lại kéo cao lên thoát ly ra ngoài "vòng thúng", loại trừ khả năng bám đánh gần của MiG-17 (vì tốc độ nhỏ hơn và phải tiếp cận gần thì mới sử dụng được pháo). Lối đánh "vòng thúng" không còn hiệu nghiệm nữa, nhiều trận bị địch bắn rơi mà ta chậm thay đổi lối đánh, dễ bị tổn thất đáng tiếc. Đó là những trận không chiến nhớ đời thuộc về các phi công và các cơ quan tham mưu chỉ huy Không quân ta lúc bây giờ! Địch thay đổi thủ đoạn đánh mà ta không thay đổi là ta thua! Trong không chiến không có gì là bất biến cả, tất thảy đều là vạn biến! Để phá thủ đoạn đánh "giã gạo" của địch, ta áp dụng cách đánh hiệp đồng với MiG-21. MiG-17 ở tầng thấp đánh "vòng thúng", còn MiG-21 đánh trên cao phá thế "giã gạo" của địch từ trên xuống, nhưng lại không mấy hiệu nghiệm. Ngược lại, MiG-21 còn bị dính đạn pháo của MiG-17 bắn nhầm vì nhận dạng kém, cũng bởi chưa bay hợp luyện với nhau thành thạo... MiG-21 của ta thời kỳ đầu bước vào chiến đấu còn non nớt nhiều mặt cả về chiến thuật lẫn kỹ thuật nên áp dụng cách đánh nào cũng lúng túng. Bên MiG-17 áp dụng lối đánh "vòng thúng" giành thắng lợi như chẻ tre thì ai mà chẳng mê! Trong nội bộ MiG-21 đã xảy ra sự tranh luận rất sôi nổi. Số phi công chuyển loại từ MiG-17 sang MiG-21 thì xin áp dụng chiến thuật "vòng thúng", còn số anh em học ở Liên Xô về thì đòi áp dụng lối "đánh chặn". Trên chấp nhận cả hai cách đồng thời phải thay đổi phương án mang vũ khí. Số 1 thì mang tên lửa đánh chặn, còn số 2 thì đeo hai thùng rốc-két, mỗi thùng chứa 32 quả (tổng cộng là 64 quả) gồm cả đạn xuyên và đạn phá. Uy lực nghe chừng rất mạnh, phù hợp với lối đánh "vòng thúng" nhưng thực tế trong chiến đấu thì sức tấn công của biên đội không tăng mà lại giảm. Các số 2 thường không bảo vệ được cho số 1 vì đeo thùng rốc-két lực cản lớn, hạn chế rất nhiều đến khả năng cơ động và tăng tốc độ của MiG-21, đồng thời lại tốn nhiên liệu gần gấp đôi số 1 nên thường phải cho số 2 thoát ly khỏi trận chiến sớm mới đủ dầu liệu về hạ cánh. Sai lầm này nối tiếp sai lầm khác. Từ phi công đến chỉ huy và cơ quan tham mưu đều đổ lỗi cho 2 thùng rốc-két làm hạn chế tính năng của máy bay nên đã đề nghị Liên Xô viện trợ cho loại MiG-21 có súng. Vậy là Liên Xô đã viện trợ ngay cho loại MiG-21 F-13. Thế là trút bỏ được gánh nặng rốc-két. Anh em phi công thì cười tươi như hoa, còn anh em thợ máy thì cười ra nước mắt vì F-13 là loại máy bay cũ, thường xuyên có hỏng hóc. Rất nhiều đêm anh em thợ máy phải thức đến trắng đêm mới sửa chữa xong hỏng hóc để hôm sau có đủ số máy bay trực ban chiến đấu. Sử dụng MiG-21 F-13 đánh kiểu "vòng thúng" với lũ F-4 cũng chẳng khả quan gì hơn so với MiG-21 PFL. Bởi vậy, việc nghiên cứu lối đánh nào cho phù hợp với MiG-21 là rất bức bách! Theo giấy xuất viện của bác sĩ cho tôi về đơn vị nhưng phải đi nghỉ an dưỡng 1 tháng. Không thể không đi được. Tôi đành nài nỉ xin nghỉ nửa tháng thôi. Trên đồng ý. Tôi cùng với một số anh em hay bị ốm vặt xách túi lên xe, ngược núi lên khu nghỉ mát Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Nơi ấy cách sân bay chỉ chừng 60 km và ở độ cao trên 1.000 mét so với mực nước biển. Đó là nơi còn an toàn, địch chưa dòm ngó tới. Bấy giờ đã là giữa mùa Thu, cái lạnh đã kéo về, đêm ngủ phải đắp chăn bông và mặc áo ấm. Khu nhà nghỉ có các ngôi nhà làm bằng gỗ lợp tôn, nằm gọn trong thung lũng núi, xung quanh là những ngọn núi rất cao bao bọc. Cao nhất là đỉnh "rùng rình" hơn 1.900 mét. Rừng già có nhiều gỗ quý (rừng quốc gia cấm khai thác). Tổ chức chính quyền có 2 thôn: thôn 1 là khu nghỉ mát, khu 2 là khu dân sinh, sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng rau, làm vườn, trồng cây thuốc cho Đông y, nuôi ong mật... Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 08 Tháng Mười, 2025, 08:12:10 pm Khi đi nghỉ, đồng chí Trung đoàn trưởng Trần Mạnh dặn dò tôi: "Cậu lên Tam Đảo nghỉ để lấy lại sức sau trận nhảy dù, song cố gắng nghiên cứu đề xuất cách đánh của MiG-21 để sau khi nghỉ, về lại đơn vị sẽ tổ chức "quân sự dân chủ" thảo luận tìm cách đánh cho MiG-21!". Đã 1 tuần lễ trôi qua, tôi cùng số anh em đi nghỉ trao đổi đến nát óc mà vẫn thấy tối om như đường hầm không có lối thoát. Đánh kiểu "vòng thúng" thì không ổn rồi, còn đánh chặn như kiểu Liên Xô dạy thì là mình đánh với bọn "tiêm kích bom" chứ có phải đơn thuần là đánh máy bay ném bom đâu. Khả năng tự vệ của bọn ném bom là rất yếu, nhưng bọn tiêm kích bom thì khi nó vứt bom đi là nó thành tiêm kích rồi, đấy là đối thủ lợi hại với MiG. Lúc ấy không còn là trận đánh chặn "cổ điển" nữa mà không khéo thì lại quay lại kiểu đánh "vòng thúng" như chơi, lại sa vào đường hầm không lối thoát! Ý của Trung đoàn trưởng là muốn MiG-21 đoạn tuyệt hẳn với cách đánh "vòng thúng" càng sớm càng tốt. Thời gian thử nghiệm cách đánh ấy là quá đủ rồi, ta bị địch bắn rơi nhiều rồi và sự hy sinh của các phi công lẽ ra là không đáng có. Tiếc lắm! Đồng chí Trung đoàn trưởng nói vậy.
Anh em đi nghỉ mát mà cứ ngồi lì trong nhà tranh luận về chuyện đánh đấm, đau hết cả đầu. Hôm nay được ngày đẹp trời, anh em rủ nhau đi xem Thác Bạc. Thác Bạc đẹp nổi tiếng ở thung lũng Tam Đảo còn gắn với một câu chuyện oan uổng nữa. Thác nước từ trên cao đổ xuống khe sâu hun hút. Nước luồn qua các khe đá hoặc tràn qua những tảng đá tung bọt trắng xóa như bông. Tiếng réo ào ào của nước hòa với tiếng lá cây rừng đập vào nhau trong những cơn gió núi tạo thành bản hòa âm lúc trầm lúc bổng, hư hư ảo ảo, huyền diệu như trong mê cung. Những người sống lâu nhất ở đây kể lại rằng trước đây có một thương gia người Pháp đã đưa vợ và cô con gái đang tuổi học trò xuống thăm ngắm Thác Bạc. Cô con gái được người dân gọi là "cô đầm", đẹp như nàng tiên. Cả gia đình người thương gia đang ngây ngất ngắm cảnh mây trời sắc nước của Thác Bạc thì "cô đầm" bỗng gieo mình theo dòng nước trắng xóa và mất hút dưới khe sâu Thác Bạc. Cô đã để lại tuổi hoa học trò và sắc đẹp mê hồn ở khe nước Thác Bạc này mãi mãi. Hiếm có một ngày chúng tôi được ngắm cảnh Thác Bạc dưới khung trời xanh thắm với những đám mây trắng bồng bềnh trôi như thế này. Thật như chốn bồng lai tiên cảnh ở độ cao hơn 1.000 mét. Rời khu nghỉ Tam Đảo, về đơn vị, tôi nhanh chóng bay hồi phục để được tham gia trực ban chiến đấu cùng với anh em. Lúc này, ngày nào địch cũng trinh sát tầng cao, chụp ảnh tất cả các mục tiêu xung quanh Hà Nội. Đấy là dấu hiệu địch chuẩn bị đánh lớn. Tôi được phân công trực đánh trinh sát tầng cao vì đã có kinh nghiệm đánh trên tầng bình lưu này. Nhưng trận thứ hai của tôi không gặp may vì phát hiện nhầm mục tiêu. Mục tiêu ấy lại là máy bay của bạn bay ở xa bên kia biên giới. Ngay Sở chỉ huy cũng nhầm nên cho phép tôi công kích mục tiêu đó. Kết quả là máy bay tôi gần hết dầu, phải hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Bình Viễn của Trung Quốc. Hai ngày sau, Trung đoàn phó Trần Hanh và tổ thợ máy do anh Nguyễn Văn Sảnh phụ trách cùng anh Phạm Hồng Lợi là tổ trưởng đặc thiết được chiếc Li-2 chở sang làm việc với bạn để bạn nạp dầu cho máy bay tôi. Sau đó, tôi cất cánh từ Bình Viễn về sân bay Đa Phúc. Hôm đó, thời tiết ở sân bay Đa Phúc rất xấu: mây thấp và tầm nhìn rất kém, mọi điều kiện đều không đủ cho MiG-21 hạ cánh, nhưng cũng không còn đủ dầu liệu để đi sân bay khác được nữa, bởi vậy, mọi động tác xuyên mây hạ cánh của tôi phải đảm bảo thật chuẩn xác mới về một cách an toàn được. Tôi hạ cánh xong, Trung đoàn trưởng ra tận cầu thang máy bay đón tôi và ôm hôn thắm thiết. Những lời động viên của Trung đoàn trưởng hôm đó đã theo tôi trong suốt cả chặng đường chiến đấu của mình. Những lời ấy đã giúp tôi hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Hễ gặp bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào là tôi lại nhớ lại lời của Trung đoàn trưởng: Cậu đã bình tĩnh, quả cảm, xử lí chính xác cho nên người còn, máy bay còn về đây. Vậy phải giữ vững tinh thần, khí phách của người lái máy bay chiến đấu để tiếp tục chiến đấu nghe!". Những tháng cuối năm 1966, mức độ ác liệt của cuộc chiến ngày một tăng. MiG-17 vẫn áp dụng cách đánh "vòng thúng" hoặc còn gọi là "đánh quần". Anh em ta đã biết tính bọn giặc lái F-4 rất hiếu chiến. Chúng như những con thiêu thân, hễ thấy MiG-17 là lao vào, bởi vậy, anh em nhử mồi cho chúng vào "vòng thúng" sau đó ta cắt bán kính lọt vào trong, "điểm huyệt". Có nhiều trận, MiG-17 bắn rơi 2-3 F-4B của Không quân Hải quân Mỹ. Có tháng thắng lợi rất ròn rã: MiG-17 bắn hạ đến 27 máy bay Mỹ với các chủng loại F-4B, F-8, A-4... Những ngày cao điểm (ngày địch tập trung lực lượng đánh lớn vào mục tiêu quan trọng) thì MiG-17 trực ban chiến đấu từ 8 đến 12 chiếc, còn MiG-21 thì 8 chiếc. Chiến thuật đánh áp dụng đội hình 4 chiếc cho MiG-17 và đội hình 2 chiếc, cùng lắm là 4 chiếc cho MiG-21. Còn địch thì áp dụng đội hình từ 30 đến 40 chiếc, thậm chí có thời kỳ còn sử dụng đến 60 chiếc vào đánh một mục tiêu. Số lượng tiêm kích đi yểm hộ củng tăng gấp đôi. Bài đánh cổ điển của chúng vẫn là: một số tốp vào khống chế các sân bay của ta rồi tiêm kích bay chung với đội hình cường kích và có những tốp bay sau hoặc bay cạnh bên phải hay bên trái đội hình. Nhìn chung, địch tổ chức rất chặt chẽ theo bài bản không chiến hiện đại của Không quân nhà nghề. Vậy nhưng, chúng vẫn bị MiG-17 bắn hạ ngày càng nhiều. Thời kỳ này, MiG-21 cũng phát triển đánh biên đội 4 chiếc, phát huy được thế chủ động, bắn hạ được một số F-105 của địch nhưng cách đánh vẫn chưa tháo gỡ được lúng túng giữa kiểu đánh "vòng thúng" và "đánh chặn" nên hiệu suất chiến đấu chưa cao. Trận đánh ngày 19-12-1966 của biên đội 4 chiếc MiG-21 là trận đánh thắng nhưng không ròn rã (ta bắn rơi máy bay địch và ta an toàn). Biên đội ấy, tôi là số 1, Nguyễn Đăng Kính số 2, Vũ Ngọc Đỉnh số 3, Nghiêm Đình Hiếu số 4 cất cánh từ sân bay Đa Phúc theo hướng Đông-Tây bay đến địa phận Vĩnh Phúc thì gặp địch ở thế đối đầu. Biên đội vòng trái gấp để bám theo địch. Đội hình địch gồm hơn 20 chiếc (có cả tiêm kích và tiêm kích bom). Chúng phát hiện được MiG, nhanh chóng vứt bom, bay kiểu "vòng thúng" để không chiến với MiG. Kết quả trận đánh: Vũ Ngọc Đỉnh bắn rơi 1 F-105, tôi bắn bị thương 1 F-105 (sau này báo chí phương Tây đăng thì mới biết là nó đã bay lết về sân bay bên Thái Lan hạ cánh). Đó cũng là trận đánh kết thúc năm 1966 đầy thử thách gian nan đối với MiG-21. Rút kinh nghiệm trận đánh, Hội nghị kết luận: đấy là trận đánh thắng, bắn rơi máy bay địch, ta an toàn, bảo vệ được mục tiêu (địch ném bom ngoài mục tiêu). Những ngày còn lại của năm 1966 và những ngày đầu năm 1967, thời tiết cực kỳ xấu, tầm nhìn chỉ vài chục mét, mây thấp xà sát sân bay. Đơn vị không bay được, tập trung để "quân sự dân chủ", thảo luận sôi nổi tìm cách đánh cho MiG-21. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 08 Tháng Mười, 2025, 08:12:51 pm Ngày 2-1-1967, một trận đánh bất ngờ diễn ra trên vùng trời sân bay Đa Phúc. Biên đội 4 chiếc MiG-21 vừa cất cánh xuyên mây lên, ra khỏi mây thì gặp ngay tiêm kích địch. Địch đã dàn sẵn thế trận để đánh MiG, ta ở thế bị động, lúng túng vì vậy bị địch bắn rơi. Đó là trận thua cay đắng của MiG-21 khi bước vào đầu năm 1967. Cay đắng hơn nữa là lại bị thua tiếp trận nữa vào ngày 6-1-1967. Thế trận hai bên vào ngày này giống như ngày 2-1. Ta bị hy sinh một phi công giỏi. Đấy là phi công Đồng Văn Đe. Tôi lại đọc câu thơ của Tố Hữu: "Ai chiến thắng mà không hề chiến bại!...". Nhưng điều đáng nói để nhớ đời là trận thua của ngày 2-1 chưa rút kinh nghiệm xong thì lại để diễn ra cảnh tương tự vào ngày 6-1, rồi sau đó là từ người chỉ huy đến phi công, đến các thành phần của cơ quan tham mưu... phải ngồi lại vò đầu suy nghĩ, kiểm điểm với nhau... cho thật khách quan, không đổ lỗi cho nhau. Vấn đề đặt ra là cùng nhau rút ra bài học để những trận chiến đấu tới đây không bị lặp lại sự mất cảnh giác như vừa rồi nữa.
Sau này chúng ta mới biết chính xác âm mưu thủ đoạn của địch, là chúng chủ động tổ chức những trận không chiến trên bầu trời "thung lũng MiG" nhằm quét sạch bóng dáng máy bay MiG, giành quyền làm chủ bầu trời. Ngày 2-1, địch sử dụng 32 máy bay F-4, mỗi máy bay mang 8 tên lửa không đối không cùng với một số tốp F-105 "nhử mồi" cho MiG-21 quyết quây để tiêu diệt MiG. Địch đã lừa được cơ quan tham mưu chỉ huy, dẫn đường của ta làm cho ta phán đoán hoàn toàn sai về đối tượng địch, bởi vậy đã đưa 4 MiG-21 lâm vào thế trận bất lợi dẫn đến mất 4 chiếc MiG-21. Liền sau đó mấy ngày lại mất tiếp 2 chiếc MiG-21. Cay đắng hơn nữa là một phi công giỏi của ta đã hy sinh. Nguyên nhân trận thua để lại bài học nhớ đời đó là: không nắm được âm mưu địch, sự thay đổi thủ đoạn của địch nên bị địch lừa, tưởng đấy là bọn tiêm kích bom, thực chất đấy là bọn tiêm kích bay theo đội hình với tốc độ, độ cao như tiêm kích bom. Trong khi chúng ta vẫn còn đang loay hoay tìm cách đánh với tiêm kích địch, lại chưa thành thạo cách đánh trên mây thì bị chúng bẫy, một cái bẫy chết người vì ta rơi vào thế mạnh của chúng. Thế mạnh của chúng là lấy số đông để áp đảo MiG. Thế mạnh ấy xuyên suốt cuộc chiến tranh, nhưng một nguyên nhân hết sức cơ bản của trận thua là cách đánh của MiG-21 chưa phù hợp với tính năng và hỏa lực của nó. Đó là điều bức xúc bấy lâu nay kể từ ngày đưa MiG-21 ra chiến đấu của đồng chí Trung đoàn trưởng. Đó đồng thời cũng là ý kiến của đa số cán bộ tham mưu, phi công trong Trung đoàn. Rút kinh nghiệm trận thua này, đồng chí Trung đoàn trưởng kết luận: phải kiên quyết đoạn tuyệt với lối đánh "vòng thúng" hay còn gọi là "lối đánh quần" đối với MiG-21, cho dù lối đánh này MiG-17 đang áp dụng giành thắng lợi ròn rã. Quyết định thay đổi cách đánh của MiG-21 bấy giờ là quyết định táo bạo của Trung đoàn trưởng. Tất nhiên là phải dưới sự lãnh đạo của tập thể Đảng ủy và được sự phê chuẩn của cấp trên nhưng người khởi xướng ra cách đánh là vô cùng quan trọng. Cách đánh mới là "đánh chặn - thọc sườn", có nghĩa là dẫn máy bay MiG áp sát máy bay địch với một góc tiếp cận bên cạnh sườn đội hình địch (bên trái hoặc bên phải đội hình máy bay địch). Bởi vậy yêu cầu sự hiệp đồng tỉ mỉ, ăn ý nhau giữa sỹ quan dẫn đường ở bàn tiêu đồ với sỹ quan dẫn đường trên màn hình "IKO", cùng phối hợp dẫn sao cho máy bay ta áp sát địch có một góc "thọc sườn" không lớn hơn 90 độ (nghĩa là không xông lên trước đội hình địch) hoặc không nhỏ hơn 30 độ (tức là không tụt hậu sâu). Đồng thời, khi MiG tiếp cận địch luôn phải có đà, có thế, phải có tốc độ lớn hơn máy bay địch và độ cao cao hơn địch, mới đảm bảo lối đánh nhanh rút nhanh, mới không sa đà vào lối đánh vòng thúng". Trách nhiệm của các sỹ quan dẫn đường trong cách đánh này lớn hơn cách đánh cũ rất nhiều. Cách đánh mới này còn tạo lợi thế cho phi công ta quan sát được toàn bộ đội hình của địch, dễ dàng nhận ra tốp nào là tốp tiêm kích địch để loại trừ bị dẫn dụ vào lối đánh quần. Đối tượng tác chiến của ta hồi đó được xác định phải tiêu diệt chủ yếu là máy bay cường kích, tiêm kích bom, trinh sát, gây nhiễu... còn tiêm kích đơn thuần thì không phải là đối tượng chính của ta. Cách đánh mới đã đáp ứng được mục đích đó. Sau khi áp dụng cách đánh mới, Trung đoàn giành chiến thắng liên tiếp, bắn rơi nhiều máy bay địch, bảo vệ được mục tiêu, ta an toàn. Xuất hiện nhiều phi công chiến đấu giỏi, như Nguyễn Ngọc Độ, Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Văn Cốc (được mệnh danh là "Chim cắt số 2" của đơn vị), Mai Văn Cương, Vũ Ngọc Đỉnh, Đặng Ngọc Ngự, Nguyễn Đăng Kính, Nguyễn Nhật Chiêu, Đồng Văn Song, Nguyễn Hồng Nhị (được anh em tôn vinh là "Thanh kiếm bầu trời" vì tiêu diệt được nhiều máy bay trinh sát có giặc lái thuộc loại RF). Đặc biệt, trong Trung đoàn có phi công Hà Văn Chúc, một mình dùng lối "đánh nhanh thọc sâu" đã xuyên suốt đội hình 36 máy bay địch, bắn rơi tên Đại tá dẫn đầu tốp địch, làm cho đội hình địch rối loạn, bỏ dở cuộc ném bom vào mục tiêu ở phía Bắc Hà Nội. Hy hữu còn có lần bắn rơi 2-3 máy bay liền trong một trận. Sở dĩ Trung đoàn vượt qua được giai đoạn lùng nhùng, từ chỗ chưa có cách đánh tốt sang có cách đánh tốt, từ chỗ hiệu suất chiến đấu thấp sang hiệu suất chiến đấu cao, trước hết chính là nhờ thay đổi cách đánh phù hợp với MiG-21. Người táo bạo dám thay đổi cách đánh đó là đồng chí Trung đoàn trưởng Trần Mạnh. Anh em chúng tôi mỗi khi nói đến chiến thắng của Trung đoàn, nói đến cách đánh của MiG-21 là phải nhắc đến tên đồng chí Trung đoàn trưởng Trần Mạnh, tôn vinh đồng chí là "Trung đoàn trưởng của các Trung đoàn trưởng!". Đồng chi trưởng thành từ người lính bộ binh lên giữ chức Chính ủy Trung đoàn rồi được tuyển đi lái máy bay MiG-17. Năm 1966, đồng chí được bổ nhiệm là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 921 (Trung đoàn Sao Đỏ). Đồng chí có tác phong chỉ huy rất quyết đoán, táo bạo, thông minh, sáng tạo, phát hiện cái mới nảy sinh đúc kết thành kinh nghiệm kịp thời và vận dụng đạt hiệu quả cao hơn. Với phong thái chững chạc, điềm đạm, dân chủ, sâu sát, nhạy bén... đồng chí đã đánh giá mọi phát sinh trong không chiến giữa ta và địch một cách khách quan, nhờ vậy mà đưa ra được những đấu pháp chính xác, kịp thời. Đồng chí đã táo bạo đưa ra cách đánh mới cho MiG- 21 là "đánh chặn - thọc sườn - đánh có đà có thế - đánh nhanh thọc sâu". Nó bao gồm cả hành động và tư tưởng chỉ đạo cho hành động của người chỉ huy, các cán bộ tham mưu, dẫn đường và phi công áp dụng xuyên suốt cuộc chiến tranh một cách vững chắc, đập tan cuồng vọng của bọn chỉ huy Không quân Mỹ muốn xóa sổ Không quân Bắc Việt, muốn không còn một chiếc MiG nào bay trên bầu trời Bắc Việt nữa. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 08 Tháng Mười, 2025, 08:17:06 pm Nói đến MiG-21 vững vàng vượt qua thời kỳ khó khăn ác liệt nhất thì không thể thiếu vai trò của đồng chí Chính ủy Trung đoàn Chu Duy Kính. Đồng chí trưởng thành từ một người lính đặc công, từng vào đánh sân bay Cát Bi (Hải Phòng), đốt cháy nhiều máy bay của giặc Pháp. Đồng chí được bổ nhiệm Chính ủy Trung đoàn 921 cùng thời gian với Trung đoàn trưởng Trần Mạnh. Tác phong lãnh đạo của đồng chí rất sâu sát, gần gũi bộ đội, nhạy bén nắm bắt tình hình một cách kịp thời, đề ra phương pháp lãnh đạo, giáo dục sát thực có hiệu quả. Đồng chí rất thương yêu bộ đội, sống giản dị, khiêm tốn, gương mẫu. Đồng chí còn là một cán bộ chính trị có lý luận sắc sảo, có sức thuyết phục cao. Đồng chí đã cùng với Trung đoàn trưởng lãnh đạo, chỉ huy Trung đoàn Không quân 921 vượt qua giai đoạn chiến đấu khó khăn ác liệt nhất. Đó là thời kỳ Mỹ tập trung đánh nhằm tiêu diệt Trung đoàn MiG-21, nhưng chúng đã thất bại thảm hại, bị các phi công của Trung đoàn hạ gục hết chiếc này đến chiếc khác, kể cả máy bay chiến lược B-52. Nhắc đến chiến công rực rỡ của Trung đoàn Không quân 921 là nhắc đến công lao sáng tạo, tài trí lãnh đạo chỉ huy Trung đoàn chiến đấu của hai đồng chí Trần Mạnh và Chu Duy Kính (Trung đoàn trưởng và Chính ủy). Những ngày tháng khó khăn nhất hồi đầu năm 1967 đã lùi xa rồi nhưng hình ảnh của Trung đoàn trưởng và Chính ủy ngồi tại bàn tiêu đồ trong sở chỉ huy Trung đoàn tại nơi sơ tán là làng Thụy Hương đến nay vẫn còn in đậm trong trí nhớ của tôi. Hai ông thức trắng đêm dưới cái lạnh cắt da cắt thịt của gió mùa Đông Bắc tràn về, ngồi bóp trán suy nghĩ để đưa ra nhận định chính xác về âm mưu của địch, về tình hình của ta và đề ra cách đánh cho MiG-21 "phải thắng, phải tồn tại". Địch cũng tìm mọi cách tiêu diệt ta bằng được. Chúng đánh phá sân bay nhằm tiêu diệt khí tài và lực lượng phi công, thợ máy dưới mặt đất trên trời thì bày binh bố trận tiêu diệt máy bay và phi công trong các trận không chiến. Phi công ta nhảy dù ra, chúng dùng súng 20 li bắn dù để diệt phi công. Trường hợp của phi công Lộc bay trên MiG-17 là một ví dụ. Trong trận không chiến ở vùng trời Thái Nguyên, máy bay của đồng chí bị thương, đồng chí phải nhảy dù rời bỏ máy bay. Hai chiếc F-4 đã bay đuổi theo, nã súng 20 li vào dù của đồng chí. Một viên đạn sượt qua đầu làm bay mất một mảng xương sọ, may thay không phạm vào não. Đồng chí được đưa về bệnh viện 108 chữa trị. Các bác sĩ đã vá xương sọ bằng một miếng mi-ca. Sau này, đồng chí còn tiếp tục bay chiến đấu một thời gian nữa rồi mới chịu thôi bay, xuống làm công tác mặt đất.
Ý chí chiến đấu của bộ đội rất cao, cho dù có bị tổn thất nhưng không ai nao núng tinh thần. Tất cả đều hăng hái xin đi chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì đồng bào. Hai ông đã thảo luận, bàn bạc với nhau là lúc này, người lãnh đạo chỉ huy phải thật tỉnh táo, tìm mọi cách vượt qua khó khăn mang tính sống còn của đơn vị, không mắc mưu địch, không liều lĩnh đánh, không để xảy ra sự hy sinh không đáng có... Và các ông đã lãnh đạo Trung đoàn vượt được mọi trở ngại, giành chiến thắng. Khi Trung đoàn được phong danh hiệu Anh hùng và một số phi công của Trung đoàn cũng được phong Anh hùng, anh em phi công chúng tôi nói với nhau: Trung đoàn trưởng và Chính ủy của Trung đoàn hoàn toàn xứng đáng là Anh hùng của Anh hùng!". Tháng 6-1967, Liên Xô viện trợ cho ta MiG-21 loại mới, được cải tiến nhiều hệ thống, trong đó có hệ thống SPS giúp cho hạ cánh tốt hơn... Rồi tiếp đến là lực lượng phi công cũng được bổ sung dồi dào do số tốt nghiệp ở Liên Xô về... Đơn vị vẫn duy trì chế độ cho phi công nghỉ mát ở Tam Đảo theo từng tốp một. Ngày 30-6, tôi cùng với một số anh em đã bắn rơi máy bay Mỹ được đơn vị phân công cho đi nghỉ mát đợt này. Thực ra, không ai muốn đi nghỉ cả, chỉ muốn ở nhà để được trực, được chiến đấu, nhưng đơn vị dứt khoát phân công theo lịch phải đi nghỉ để lấy sức cho những trận chiến đấu nay mai. Đợt này đi cùng tôi có các anh Nguyễn Nhật Chiêu (đã bắn rơi 5 chiếc), Lê Trọng Huyên (đã bắn hạ 2 chiếc), Nguyễn Ngọc Xíu (bắn hạ 3 chiếc), Mai Văn Cương (bắn hạ 4 chiếc), Đặng Ngọc Ngự (bắn hạ 4 chiếc)... Năm nay đi nghỉ rất đông, vui và thoải mái chứ không như kỳ nghỉ của năm 1966. Năm ấy đi nghỉ mà cứ ôm đầu suy nghĩ tìm cách đánh, còn năm nay thì đã có cách đánh hiệu quả cho MiG-21 rồi. Trung đoàn động viên anh em thật yên tâm đi nghi để lấy sức đối chọi với địch trong mùa khô tới. Cấc cấp lãnh đạo dự đoán tình hình chiến sự từ nay đến cuối năm 1967 sẽ rất ác liệt và cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ trên miền Bắc luôn tỉ lệ thuận với việc Mỹ đổ quân vào miền Nam (hiện Mỹ và các nước chư hầu đã đưa 50 vạn quân vào miền Nam rồi và sẽ còn tiếp tục đưa thêm nữa). Địch đưa quân vào miền Nam càng nhiều, gây khó khăn cho ta càng lớn nhưng chúng sẽ chuốc lấy thất bại càng thảm hại hơn và chắc chắn cuối cùng sẽ thua. Chúng tôi tin tưởng như vậy. Chúng tôi đi nghỉ mát trong những ngày chiến tranh đang tiếp diễn ác liệt tuy vậy cũng rất vui, với tôi, niềm vui còn được nhân lên gấp bội! Một niềm vui chưa từng có đã đến với đời riêng của tôi. Một tình yêu thật bất ngờ đã đưa tôi và cô y sĩ phụ trách Trạm xá Tam Đảo là Nguyễn Thị Thanh Dậu đến với nhau. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 08 Tháng Mười, 2025, 08:18:18 pm Lần đầu tiên trong đời, tôi mạnh dạn bắt tay một người con gái xa lạ ấy và dám hỏi: "Em có yêu anh không?". Anh em trong đơn vị từng mệnh danh cho tôi là anh chàng nhát gái! Trung đoàn trưởng và Chính ủy đã dẫn tôi đi "xem mặt" mấy đám ở Đa Phúc, nhưng đám nào tôi cũng chỉ im lặng không nói nửa lời, vậy mà hôm nay tôi dám hỏi... Tôi có cảm giác trống ngực tôi ngày đập càng nhanh vì sợ cô mắng thì ngượng lắm. Nhưng cô không mắng mà đáp lại câu hỏi bằng nụ cười rất tươi xinh. Nụ cười hiền dịu ấy đọng lại trong tôi mãi mãi! Sau này khi chúng tôi trở thành đôi bạn hiền trăm năm của nhau, vào một đêm mùa Đông nằm trên Tam Đảo trong khung cảnh "đầu gối tay em, em gối mây...", nàng đã tâm sự:
- Hôm đó anh hỏi em, em không trả lời, anh có giận em không? - Anh không giận mà ngược lại càng yêu em hơn - Tôi trả lời. Nàng thủ thỉ: "Qua đó làm cho em càng hiểu tính nết của người miền Nam hơn và cũng càng yêu anh hơn!". Nàng sinh ra trong một gia đình vô cùng nghèo khổ. Thời Pháp đô hộ, cha nàng là Nguyễn Văn Tác, mẹ nàng là Nguyễn Thị Bì đã đi lang thang làm thuê kiếm sống hàng ngày từ vùng Ninh Bình, Hà Đông đi đến Thái Nguyên và cuối cùng dạt lên Tam Đảo làm phu vác đá cho thực dân Pháp mở đường xây dụng khu nghi mát Tam Đảo. Tiền công mỗi ngày được mấy hào bạc nhưng bị bọn cai thầu mưu ma chước quỷ quỵt nợ hết, có tháng không được hào nào. Đêm đêm phải nhịn đói lại cộng thêm cái lạnh của núi rừng Tam Đảo hành hạ nữa. Lại phải đi vay để chống đói. Lại nợ nần chồng chất hết lớp cũ đến lớp mới... Cha mẹ nàng sống trong cảnh lầm than, tương lai của cuộc đời ngày càng thêm bế tắc! Tháng 8-1945, cách mạng về đã thay đổi cuộc đời cho bao nhiêu người, xóa bỏ được cuộc sống lầm than nghèo đói cho bao nhiêu gia đình trong đó có gia đình của nàng. Nàng được đi học y sĩ, tốt nghiệp loại ưu, về phục vụ ở Trạm xá Tam Đảo. Các em của nàng gồm Nguyễn Dũng Chiến là bộ đội đi B, Nguyễn Tiến Thắng là công nhân quân giới quốc phòng, Nguyễn Thị Hồng Yên là bộ đội thông tin Không quân. Bố của nàng làm công tác bưu tá xã Tam Đảo, còn mẹ làm vườn, trồng rau và nuôi ong. Thời gian nghỉ mát đã hết, chúng tôi lưu luyến chia tay. Trước khi chia tay, nàng đưa tôi xuống xóm 2 thăm bố mẹ và để cho biết nhà nàng. Nàng đãi cả tốp phi công nghỉ mát chúng tôi mỗi người một chén nước chè xanh pha với mật ong thơm ngon không gì bằng! Về đến đơn vị, anh em phi công chuẩn bị quần áo bay, mũ bay để ngày mai đi trực chiến (theo nề nếp: 3 giờ sáng dậy vệ sinh cá nhân, 3 giờ 30 ăn sáng, 5 giờ đi sân bay, 5 giờ 30 tiếp thu máy bay và hiệp đồng với sĩ quan dẫn đường ở Sở chỉ huy và sẵn sàng cất cánh bất kể lúc nào!). Tôi chuẩn bị đi ngủ sớm thì được lệnh gọi tôi lên Sở chỉ huy để gặp Trung đoàn trưởng. Tôi bước vào Sở chỉ huy, giơ tay chào thủ trưởng. Đồng chí bắt tay tôi và bảo tôi ngồi vào bàn tiêu đồ đồng thời chỉ mục tiêu trên bản đồ và nói: "Ngày mai địch có thể vào đánh phá. Trước khi cường kích vào đánh sẽ có máy bay trinh sát có người lái RF vào trinh sát. Trung đoàn giao nhiệm vụ cho biên đội Nhị - Kính ngày mai phải bắn rơi chiếc RF vào trinh sát mục tiêu để phá tan đợt đánh phá và bảo vệ mục tiêu!". Đồng chí chỉ mục tiêu, dự kiến đường bay và phương án dẫn đường cho kíp trực sở chỉ huy ngày mai biết để chuẩn bị. Tôi rời Sở chỉ huy về nhà nằm trằn trọc suy nghĩ về cách đánh loại trinh sát có người lái RF. Bọn này sừng sỏ lắm cho nên phải chuẩn bị nhiều phương án đối chọi với nó. Tôi vừa chợp mắt được một lát thì trực ban đã gọi dậy để ra sân bay. Mắt ngái ngủ còn cay sè, ra đến tận sân bay mới hết cay. Tiếp nhận máy bay và kiểm tra xong, hai anh em vào nhà trực, vừa ăn sáng vừa trao đổi cách đối phó với RF khi chúng phát hiện có MiG tiếp cận. Tôi dặn Nguyễn Đăng Kính tuyệt đối không được mở ra-đa để giữ bí mật. Sở chỉ huy thông báo khoảng 10 giờ sáng sẽ có đợt đánh phá mục tiêu "X". Bởi vậy, loại RF có thể sẽ vào trinh sát trước 10 giờ. 8 giờ kém 15 phút ngày 31-8-1967, có lệnh "Biên đội vào cấp 1!". Tôi đeo quai dù vừa xong thì được lệnh mở máy cất cánh. Sở chỉ huy nhắc tôi: "420! Động tác khẩn trương!". Tôi nghĩ, RF đã bay vào. Tôi và Kính cất cánh từ đầu Đông sân bay Đa Phúc, lên đến độ cao 200 mét thì Sở chỉ huy cho hướng bay và độ cao lên 6000 mét. Đến vùng trời Phú Thọ, chúng tôi phát hiện 2 chiếc RF đang bay ra phía biên giới. Biên đội bật tăng lực toàn phần đuổi theo chúng. Đuổi đến vùng trời Nghĩa Lộ thì tôi ngắm bắn được thằng RF-101. Nó cắm thẳng xuống khu rừng và sau đó là một chiếc dù màu xanh đỏ bung ra. Trong quá trình chúng tôi đuổi đánh, nó làm những động tác cơ động kịch liệt để tránh tên lửa và làm nhiều động tác giả để đánh lừa chúng tôi, nếu chúng tôi lao theo nó thì sẽ đâm vào núi mất mạng ngay lập tức. Nhưng nó không thể lừa được tôi! Đó là lần đầu tiên biên đội xuất kích đi đánh RF giành thắng lợi đã góp phần phá tan kế hoạch của địch đánh phá Hà Nội. Sau lễ kỷ niệm ngày Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa lần thứ 22 (2-9-1945 - 2-9-1967), tình hình chiến sự có lắng dịu xuống đôi chút. Địch chỉ dùng những tốp lẻ đánh các mục tiêu xa Hà Nội, đồng thời tăng số lần trinh sát Hà Nội bằng loại RF. Trên nhận định đó là triệu chứng địch sắp đánh lớn. Tôi được phân công trực chiến liên tục để đánh RF nhưng chưa gặp thời cơ. Chiều chiều, trước giờ rút ban thường là khoảng thời gian yên ắng hiếm có. Tôi đứng cạnh chiếc MiG-21 nhìn về phía núi Tam Đảo xanh lơ dưới ánh nắng chiều mà da diết nhớ người yêu! Giờ này chắc cô y sĩ đang thu dọn đồ nghề để về nhà rồi đi vào rừng lấy củi nấu cơm đây. Tôi khe khẽ hát bài "Nụ cười sơn cước" để vơi bớt nỗi nhớ mong và cố không để anh em thợ máy nghe thấy, sợ anh em mà biết thì ngượng lắm... "Ai về sau dãy núi xanh lơ, nhắn giùm tim tôi chưa phai mờ, hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trắng, một chiếc vòng sáng lóng lánh với nụ cười nàng quá xinh... Những lời hát như nói hộ lòng tôi... Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 08 Tháng Mười, 2025, 08:19:17 pm Ngày 10-9-1967, địch bay nhiều tốp lớn vào miền Bắc đánh phá nhiều mục tiêu quanh Hà Nội.
Biên đội tôi và Đồng Văn Song được lệnh cất cánh bay lên đánh chặn tốp địch ở hướng Chiêm Hóa - Tuyên Quang. Biên đội bay đến vùng trời Tuyên Quang thì gặp địch. Tôi và Song triển khai đội hình đồng thời công kích. Tôi bắn rơi 1 F-4 và Song cũng bắn rơi 1 chiếc, phá tan đợt đánh phá của địch vào Hà Nội. Ngày 23-9-1967, biên đội tôi và Nguyễn Đăng Kính chiến đấu trên vùng trời Nghĩa Lộ, tôi đã bắn rơi 1 chiếc RF-4C. Ngày 10-10-1967, biên đội tôi và Nguyễn Đăng Kính chiến đấu trên vùng trời Sơn La, tôi tiếp tục bắn rơi 1 chiếc RF-4C nữa. Ngày 24 và 25-10-1967, địch tập trung đánh phá sân bay Đa Phúc tan tành không còn sót chỗ nào. Từ đường băng, đường lăn, sân đỗ đến ụ để máy bay, hầm hào, nhà ga sửa chữa máy bay, kho nhiên liệu, khu doanh trại, nhà ăn, nhà ở của phi công... hễ cứ nơi nào có mái ngói là chúng san bằng bình địa! Đó là kế hoạch tiêu diệt MiG tận gốc, kể cả máy bay trên trời, máy bay dưới đất và nhân lực từ phi công đến các thành phần bảo đảm... Trong hai ngày 24 và 25 tháng 10, chúng sử dụng Không quân và Không quân của Hải quân với số lượng 50-60 lần chiếc/mỗi lần đánh phá. Ngày 24 thì đánh vào buổi sáng. Ngày 25 thì đánh từ sáng sớm đến tận chiều tối. Khắp khu vực sân bay chỗ nào cũng còn bom phá, bom bi chưa nổ. Nhưng tối đến là nhân dân các xã xung quanh sân bay đã tập trung đi sửa gấp sân bay. Những tiếng hát, tiếng hò rộn lên vui vẻ mặc cho thi thoảng vẫn còn tiếng nổ của bom bi. Ngày 25-10, mới hơn 7 giờ sáng, tiếng kẻng báo động đã vang dồn dập trong làng Thụy Hương. Tôi lấy vội chiếc mũ sắt chạy ra hầm chưa kịp đội lên đầu thì những tiếng động cơ của bọn F-105, F-4 gầm thét đến inh tai nhức óc tràn ngập khoảng trời làng Thụy Hương, cứ lần lượt từng tốp 4 chiếc một lao xuống đường băng cắt bom. Sân bay bỗng trở thành một chảo lửa khổng lồ, khói bụi bốc lên tận trời cao, không còn nhìn thấy gì hết. Máy bay và thợ máy của ta đã đi sơ tán sân bay Gia Lâm, còn lại chỉ là số anh em thông tin, cảnh vệ, sân đường, Đài chỉ huy, khu nhà trực chiến... mà thôi. Chắc anh em không thoát khỏi sự hy sinh mất mát! Tôi thương anh em mình quá, nước mắt cứ chảy giàn giụa trên mặt lúc nào không biết. Ngày 30-10-1967, trên điều tôi và Nguyễn Đăng Kính xuống sân bay Gia Lâm trực ban chiến đấu thay cho các anh ở Đại đội 1. Máy bay trực ban chiến đấu ở đây là 2 chiếc MiG-21 F-13 - loại máy bay cũ thường phát sinh nhiều hỏng hóc. Anh em thợ máy đã thức trắng đêm để sửa chữa nên mặt anh nào anh nấy đều trũng sâu với nét mặt phờ phạc. Thương anh em lắm nhưng chẳng biết làm thế nào, tôi chỉ động viên anh em cố gắng sửa máy bay cho tốt để còn chiến đấu bảo vệ Hà Nội, bảo vệ Bác Hồ. Nghe nói đến Bác, anh nào cũng hăng hái, mắt sáng rực lên và cặm cụi làm việc để sớm đưa máy bay vào trực ban chiến đấu. Đường băng sân bay Đa Phúc vừa sửa chữa xong thì đêm 1-11-1967, đích lại cho F-111 bay cực thấp vào ném bom tiếp. Đường băng bị trúng 4 quả bom nên lại phải huy động nhân dân đến sửa gấp. Bà con nói: "Các chú "bộ đội quần xanh" cứ yên tâm. Hễ khi nào nghe tiếng bom nổ là chúng tôi sẽ cuốc xẻng lên vai ra sân bay ngay, không chờ đến hiệu lệnh kẻng hay loa gọi đi sửa sân bay nữa!". Đường băng của sân bay Đa Phúc vẫn chưa đảm bảo cho trực chiến được nên biên đội của tôi vẫn phải trực ở sân bay Gia Lâm. Đêm đêm, địch đều vào quấy phá giấc ngủ của Hà Nội. Bọn máy bay A-6 bay thấp lẻn vào đánh phá các cầu phao bắc qua sông Hồng nhằm cắt đứt tuyến đường chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Các loại đạn vạch đường của súng to súng nhỏ từ mặt đất bắn lên bủa vây vít đầu bọn giặc lái xuống dòng Nhị Hà - nơi cách đây hơn một thế kỷ đã diễn ra cảnh "lũ quân chàng Tôn sập cầu trôi đầy sông" (nói về quân tướng của Tôn Sĩ Nghị). Lửa đạn trông tựa như đêm pháo hoa, thật thích mắt. Ngày 7-11-1967, biên đội của tôi được lệnh về sân bay Đa Phúc trực ban chiến đấu. 6 giờ sáng, khi mặt trời vừa nhô lên với màu đỏ rực giống như cái đĩa lửa thì chiếc trực thăng Mi-4 đã đến chở tổ trực từ Gia Lâm về Đa Phúc. Tổ lái máy bay trực thăng cố tình bay thật thấp qua các nóc nhà dân, nhà máy, xóm làng rồi các trận địa cao xạ, tên lửa... và "bơi" qua các cánh đồng lúa đang chín vàng óng. Họ như cố tình trêu các phi công lái "vỉ ruồi" chúng tôi rằng: "Đấy! Các ông đã để cho máy bay Mỹ vào ném các loại bom phá, bom bi... lỗ chỗ khắp nơi, từ nhà máy đến nhà dân, từ làng xóm đến cánh đồng... Các ông "vỉ ruồi" đã thấy chưa?". Ngày ấy, anh em bay vận tải thường trêu đùa, gọi máy bay MiG-21 là "vỉ ruồi". Trêu đùa nhau cốt để giải tỏa những căng thẳng chứ không có ý gì khác! Mấy trận vừa rồi anh em tôi không bắn rơi được chiếc nào nên ai cũng buồn. Sau khi chiếc Mi-4 hạ cánh nhẹ nhàng xuống sân bay, tôi và Nguyễn Đăng Kính rời máy bay, đi kiểm tra đường lăn của sân bay để sắp tới chúng tôi sẽ cất cánh và hạ cánh từ đó. Việc ấy chưa hề có tiền lệ! Trong quá trình tiếp thu, kiểm tra máy bay, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến lốp máy bay vì khi cất cánh và hạ cánh trên đường lăn vừa sửa gấp xong, mặt đường lăn còn rất nhám, dễ bị nổ lốp lắm. Đồng chí Trung đoàn trưởng và đồng chí Chính ủy cùng đi trên chiếc "com-măng-ca đít vuông" do cậu Ngoạn lái từ Sở chỉ huy ra đỗ trước nhà trực chiến. Hai đồng chí bước xuống xe, bắt tay chúng tôi và dặn dò: "Hôm nay yêu cầu cần có một trận đánh của Không quân ta bắn rơi máy bay địch. Ngày hôm nay là ngày 7-11, trận đánh này có nhiều ý nghĩa lớn lắm. Trung đoàn mong biên đội cố gắng làm bằng được nghe!". Chúng tôi hứa với Trung đoàn trưởng và Chính ủy rằng "sẽ quyết tâm bắn rơi tại chỗ!" Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 08 Tháng Mười, 2025, 08:21:05 pm Hai đồng chí lên xe về Sở chỉ huy Trung đoàn, sở chỉ huy Trung đoàn được đặt trong căn hầm trong lòng núi Am Lợn. Đấy là căn hầm bê tông kiên cố, có thể chịu được các loại bom của địch. Kíp trực hôm nay được chọn gồm những sĩ quan có kinh nghiệm để đảm bảo dẫn dắt chắc chắn, không có gì sai sót. Tất cả chăm chú theo dõi tình hình trên bảng tiêu đồ xa. Đồng chí Chính ủy có chiếc cằm hơi nhọn và miệng hơi rộng, cặp mắt trũng sâu vì nhiều đêm thức trắng. Cộng thêm căn bệnh đau dạ dày nên người đồng chí sút sọp hẳn đi. Nhẽ ra đồng chí phải đi viện điều trị, nhưng đồng chí ấy nói: "Tao mà xa chiến đấu một ngày thì bệnh chỉ có nặng thêm mà thôi!". Thế đấy! Chính ủy lấy việc chiến đấu để vượt lên tất cả bệnh tật, lại khỏe ra và thông minh sáng suốt! Đúng vậy, cứ nhìn vào Chính ủy là như mình được truyền thêm quyết tâm, khó khăn mấy cũng vượt qua. Tác phong lãnh đạo của Chính ủy có sức thuyết phục cao. Tôi mà gặp Chính ủy thì không có ưu điểm gì mà không nói và cũng không có sai lầm, thiếu sót gì mà tôi không bộc lộ... Ngồi cạnh Chính ủy là Trung đoàn trưởng. Đồng chí có khuôn mặt hơi tròn, đôi mắt sáng, hiền hậu nhưng nghiêm túc. Đồng chí có tác phong chỉ huy rất điềm đạm, đĩnh đạc, rất quyết đoán, táo bạo. Lúc nào đồng chí cũng nhìn sâu vào bản chất kẻ thù để qua đó đánh giá hành động của chúng và chỉ huy bộ đội của mình chiến đấu giành thắng lợi. Đồng chí rất chú ý lắng nghe ý kiến của mọi người. Với tập thể thì rất dân chủ và với cá nhân thì rất độ lượng.
Tiếp thu máy bay xong, tôi và Nguyễn Đăng Kính đang đứng tán dóc với anh em thợ máy thì nhận được lệnh chuyển cấp. Chưa đầy phút sau thì có lệnh: "Ấp Bắc! Cờ Hồng!" (Mở máy! Cất cánh!). Đường lăn rộng 16 mét nên biên đội phải cất cánh từng chiếc một rồi tập hợp đội hình. Chúng tôi bay về phía Nghĩa Lộ trên độ cao 5.000 mét. Trời trong xanh không một gợn mây. Cảnh vật của vùng đồng bằng đến vùng rừng núi miền Tây Bắc thật tuyệt đẹp. Tôi càng thấy mến yêu Tổ quốc mình hơn. Bay qua vùng trời Nghĩa Lộ, chúng tôi nghe thấy tiếng trầm ấm của Trung đoàn trưởng vang lên trong tai nghe: "Ruồi xanh" (mật danh máy bay địch) bên phải 15 km. Biên đội chuẩn bị chiến đấu!". Tôi trả lời: "Nghe rõ!". Số 2 báo cáo địch bên phải 10 km gồm 6 tốp. Tôi hạ lệnh vứt thùng dầu phụ, tăng lực chuẩn bị công kích. Nguyễn Đăng Kính dõng dạc trả lời: "Nghe rõ!". Địch cũng đã phát hiện có MiG. Các tốp F-4 bắt đầu vòng vèo đan chéo nhau tạo thành chiến thuật "vòng thúng" nhưng không kịp nữa rồi. Chúng tôi đã tạo đà và thế trước lúc địch hành động. Biên đội tôi đã áp sát đội hình bọn F-105. Tôi phóng quả tên lửa đầu tiên trúng một thằng F-105. Nó bốc cháy. Tôi báo về Sở chỉ huy: "Một chiếc cháy rồi!" và nhận được lệnh: "Tất cả "Thắng Lợi!"" (thoát ly khỏi không chiến). Biên đội bay về trong niềm vui khôn tả. Một trận đánh làm cho địch không ngờ tới, không kịp trở tay, đành chấp nhận thất bại. Bộ đội và nhân dân quanh khu vực sân bay bừng lên niềm vui mới sau bao ngày đầy gian khổ và ác liệt tương như không thể trụ nổi. Ngày hôm nay, tiếng MiG đã vang lên mang theo chiến thắng trở về! Tôi đi tập huấn ở Quân chủng một tuần lễ, dự tổng kết chiến đấu của Quân chủng trong thời gian qua. Ngồi ở khu sơ tán thuộc Tiên Phương, Quốc Oai, Sơn Tây, ngày nào địch cũng bay qua đầu về phía Hà Nội đê đánh phá. Ở đây có ngôi chùa "Trăm Gian" nổi tiếng trang nghiêm và đẹp đẽ, xung quanh chùa có rất nhiều cây Trám, đặc biệt là Trám đen, lấy quả già của nó để kho cá thì ngon tuyệt. Cách chùa "Trăm gian" không xa là chùa Thổ Ngõa. Chúng tôi được bố trí ăn nghỉ ở chùa này. Ở đây có giống chè xanh lá rất dày và giòn, nước không chê vào đâu được, uống xong rồi mà trong cổ vẫn đọng mãi vị ngòn ngọt. Giếng nước ở đây có mạch từ đá ong chảy ra, trong vắt, múc gàu nước lên trông đã hấp dẫn rồi, chỉ muốn uống ngay. Phía Tây là núi Tản Viên và núi Ba Vì, ở đó có Trường Sỹ quan Trần Quốc Tuấn - nơi mà tôi đã từng nếm trải, rèn luyện một thời trai trẻ với những kỷ niệm đẹp không bao giờ quên! Kết thúc đợt tập huấn, tôi về đơn vị, khi đang bàn bạc với Đại đội bố trí lực lượng trực ban chiến đấu cho ngày 28- 11 thì đồng chí trợ lí chính sách của Trung đoàn đến gặp tôi và báo tôi phải lên gặp Chính ủy ngay. Tôi vừa đi vừa nghĩ "Chắc lại có nhiệm vụ đột xuất gì đây". Tôi vừa bước vào nhà, Chính ủy đã bảo tôi ngồi xuống uống nước và bắt đầu câu chuyện mà tôi chưa dám nghĩ vào thời điểm này. Chính ủy nói: "Trung đoàn quyết định ngày mai (28-11-1967) cho cậu về Tam Đảo tổ chức lễ cưới. Trong thời gian cậu đi tập huấn thì ở nhà, cơ quan cán bộ và chính sách đã chuẩn bị xong xuôi đâu vào đấy hết rồi, nhưng chưa cho cậu biết ngay vì sợ ảnh hưởng tư tưởng, không tập trung tập huấn...". Tôi ngồi im nghe Chính ủy nói mà lòng rối bời với bao nỗi mừng vui, e ngại... thật khó tả. Tôi thành thật báo cáo với Chính ủy là tình hình chiến đấu đang căng thẳng, vậy việc riêng của tôi có thể hoãn lại một thời gian nữa được hay không. Chính ủy nói ngay: "Việc đó không thể hoãn được vì địa phương rồi gia đình và đơn vị đã thống nhất rồi! Hơn nữa, sắp tới cậu lại được cử sang Liên Xô phổ biến kinh nghiệm và chuẩn bị cho đoàn học viên đang bay ở bên đó để khi anh em về nước có thể tham gia chiến đấu được ngay. Trung đoàn đang rất cần tăng cường lực lượng để mở rộng phạm vi hoạt động vào vùng trời khu Bốn, bảo vệ giao thông vận chuyển hàng hóa cho chiến trường, sắp tới công việc rất bận rộn, không có thời cơ cho cậu nữa. Thôi nhé! Cậu về chuẩn bị để sáng mai, Trung đoàn cho chuyến xe chạy lên Tam Đảo sớm chuẩn bị cho kịp để buổi tối liên hoan. Đến tối thì các cơ quan và anh em phi công sẽ lên Tam Đảo dự vui với cậu!". Thế là mọi chuyện đã rõ. Tôi rất cảm ơn Chính ủy. Ra về, trong lòng mừng vui thì ít mà lo lắng thì nhiều! Chưa biết lo cái gì trước, cái gì sau bây giờ đây! Tôi ghé vào Ban quân nhu Trung đoàn xin các đồng chí nhượng cho mấy tút thuốc lá "Xuân Mới", mấy cân kẹo Hà Nội, chè Hồng Đào, rượu Lúa Mới... Còn cái quà êm ấm nhất của ngày cưới là chiếc chăn bông vải hoa Trung Quốc vừa đẹp vừa ấm thì trong kho đã hết. Các đồng chí quân trang hứa sẽ gửi lên Tam Đảo cho tôi sau. Quà ngày cưới chỉ có vậy, nhưng trong bối cảnh chiến đấu và khó khăn thời bao cấp mà có được như thế cũng là quý lắm rồi. Anh em trong đơn vị biết tin đều đến chúc mừng tôi, tất cả không có điều kiện dự ngày vui của tôi vì đường lên Tam Đảo xa xôi không thể đi được. Tôi ngồi thẫn thờ nhìn mấy gói quà đề "Quà Cưới" mà trong lòng nhớ da diết ba má và các anh chị em ở trong quê. Ước gì ba má, anh chị em và bà con ở trong quê có mặt trong ngày cưới của tôi thì sung sướng biết ngần nào và cũng thỏa lòng mong ước của người yêu tôi. Nhưng đất nước còn bị chia cắt, mong ước ấy đành gác lại trong lòng đợi ngày thống nhất đất nước. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 08 Tháng Mười, 2025, 08:25:51 pm Suốt ngày 28-11-1967, người yêu tôi dẫn tôi đi khắp Tam Đảo, trước tiên, lên ủy ban nhân dân xã để đăng ký kết hôn và mời các đồng chí đến dự liên hoan, rồi tiếp đến là đi mới các bà con hàng xóm láng giềng, bạn bè, những người thân quen với gia đình bố Tác.
Trời tối, người yêu tôi dẫn tôi về tới nhà thì cũng vừa lúc đến giờ lên Hội trường để khai lễ. Lúc này, Dậu mới nhờ mấy chị bạn thân tết lại cái đuôi sam cho gọn. Dậu có mái tóc dài quá khoeo chân, rất đẹp, tôi rất thích. Buổi hôn lễ của chúng tôi được tổ chức rất đầm ấm, vui vẻ, được đơn vị và chính quyền lo cho rất chu đáo. Đại diện cho họ nhà trai và họ nhà gái phát biểu chúc mừng cô dâu chú rể và cám ơn tất cả đã đến dự. Cô Dậu bưng cái khay đựng ly, tôi cầm chai rượu đi đến từng bàn rót rượu vào ly và mời khách. Ly rượu "Lúa Mới" đậm đà hương vị quê hương mừng ngày cưới. Hôn lễ chỉ diễn ra trong vòng hơn một tiếng đồng hồ, nhưng nó sống mãi với vợ chồng tôi suốt cả đời người. Nó là bước ngoặt của cuộc đời riêng tư của hai người sống hạnh phúc với nhau mãi mãi! Tôi nghỉ ở nhà bốn ngày với vợ mới cưới ở tuổi 23 tràn đầy yêu thương. Gia đình còn có bố mẹ vợ và các em sống với nhau thật êm ấm cho dù hoàn cảnh rất nghèo khổ, thiếu thốn, khó khăn. Những ngày đầu tháng 12-1967, gió mùa Đông Bắc ào ào tràn về kéo theo cái lạnh tê buốt, người không muốn rời khỏi chăn. Đêm đã khuya, đơn vị cho xe lên đón tôi, chắc là có việc gấp gáp. Đúng vậy! Ngày mai tôi phải về Hà Nội làm các thủ tục giấy tờ để đi Liên Xô công tác. Tôi tạm biệt người vợ mới cưới được 4 ngày giữa đêm Đông lạnh buốt. Nước mắt của nàng từng giọt ấm nồng rơi xuống vai tôi nhưng miệng vẫn cười, vẫn tươi xinh động viên tôi: "Anh yên tâm đi công tác!...". Chào tạm biệt bố mẹ và các em, tôi dắt nàng đi bộ lên đầu dốc. Xe đơn vị đã đậu ở đó. Tôi cởi chiếc áo bông còn hơi ấm đưa cho nàng mặc và dặn: "Em mặc vào cho ấm để nhớ anh..." Tôi về tới đơn vị vẫn còn hơi ấm của người vợ mới cưới đem theo, không sao ngủ được. Trời mới mờ sáng, tôi gọi Vũ Ngọc Đỉnh dậy để cùng đi Hà Nội. Chúng tôi phải qua cầu Đuống và cầu phao bắc qua sông Hồng sớm để tránh những đợt đánh phá cầu của địch. Đang là mùa khô - mùa vận chuyển hàng cho chiến trường cho nên địch tập trung đánh phá các cầu, phà như cơm bữa. Sau khi về Quân chủng làm các thủ tục, giấy tờ xuất cảnh xong xuôi, chúng tôi được các thủ trưởng Quân chủng dặn dò, giao nhiệm vụ sang Liên Xô. Hai anh em trở về đơn vị chờ sự trả lời của bạn. Những ngày chờ đợi là những ngày ruột nóng như có lửa bỏ vào trong bụng. Tôi nghĩ chắc là người vợ yêu quý của tôi ở trên đỉnh núi Tam Đảo mong đợi. Thương nhớ nàng lắm nhưng tôi đành gác lại! Giữa tháng 12-1967, địch mở nhiều trận đánh lớn. Mỗi tốp có từ 20-30 lần chiếc F-105 và F-4 vào đánh các mục tiêu ở phía Bắc Hà Nội và các sân bay Đa Phúc, Yên Bái, Kép. Trong khi chờ đi Liên Xô, tôi và Vũ Ngọc Đỉnh được tham gia trực ban chiến đấu cùng với anh em. Trận đánh ngày 18-12-1967 là trận thắng lớn, ròn rã của Không quân ta. MiG-17 và MiG-21 đã hiệp đồng chiến đấu bắn rơi 6 máy bay Mỹ trên vùng trời phía Tây Bắc Hà Nội (vùng Sơn Tây, Phú Thọ, Vĩnh Phúc). Biên đội 3 chiếc của Nguyễn Hồng Nhị, Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Đăng Kính đã bắn rơi 2 chiếc (Nhị bắn rơi 1 F-4, Đỉnh bắn rơi 1F-105D) phá tan hoàn toàn cuộc oanh kích của địch định đánh vào các mục tiêu phía Bắc Hà Nội. Thời gian cuối tháng 12-1967 và đầu tháng 1-1968, bầu trời lúc nào cũng đầy mây bao phủ làm hạn chế rất lớn sự hoạt động của Không quân cả ta và địch. Tôi trực ban chiến đấu liên tục nhưng chưa có thời cơ xuất kích. Sau trận thua đậm ngày 18-12, địch chỉ dám dùng máy bay tiêm kích bay giả làm máy bay cường kích hòng đánh lừa ta. Chứng lại quay lại các bài bản hồi đầu năm 1967, nhưng ta không mắc mưu, không "húc đầu vào đá" làm gì. Ngày 8-1-1968, nhà trường Krasnodar, Liên Xô thông báo đồng ý tiếp nhận tôi và Vũ Ngọc Đỉnh sang trường. Trưa ngaỵ 18-1-1968, đổi ban trực. Tôi được một buổi chiều để chuẩn bị. Tối hôm đó chúng tôi về sân bay Gia Lâm và lúc 20 giờ 30 phút thì lên máy bay IL-14 của Trung Quốc bay theo tuyến thường lệ (tuần một lần) Bắc Kinh - Hà Nội - Bắc Kinh. Ra sân bay tiễn anh em chúng tôi có ông Thiếu tướng Xesencô - cố vấn trưởng Không quân Liên Xô bên cạnh Tư lệnh Quân chủng. Ông gặp anh em tôi dặn dò một số điểm sang gặp nhà trường, yêu cầu nhà trường cho anh em ta bay một số khoa mục cho phù hợp với tình hình chiến đấu ở Việt Nam. Tôi sang Liên Xô lần này là lần thứ 3, nhưng lần này được đi bằng máy bay (hai lần trước đi bằng tàu hỏa liên vận). Ngồi trên chiếc IL-14 hai động cơ cánh quạt cọc cạch vượt hàng ngàn cây số trong đêm tôi từ Gia Lâm đến Bắc Kinh. Trời gần sáng thì hạ cánh ở sân bay Bắc Kinh rồi chuyển sang máy bay IL-18 của Hàng không dân dụng Trung Quốc để bay đến Yrcut, Liên Xô. Đến đó, sau khi làm thủ tục nhập cảnh xong, chúng tôi chuyển sang máy bay Tu-104 của Hàng không dân dụng Liên Xô để bay đến Mạc Tư Khoa... Chiếc Tu-104 bay một mạch từ Yrcut đến Mạc Tư Khoa. Đây là lần đầu tiên chúng tôi được làm hành khách trên chiếc máy bay dân dụng phản lực, bay với tốc độ lớn, trên độ cao cao, thấy rất êm rất thích... Ngày 13-1-1968, hai anh em chúng tôi đi từ Mạc Tư Khoa về trường Krasnodar bằng tàu hỏa. Chuyến đi này mang kỷ niệm có một không hai, đấy là hai anh em ngủ cùng một phòng nhưng phòng lại hỏng hệ thống sưởi vậy là phải ráng chịu cái lạnh đến thấu xương suốt dọc đường cho đến Krasnodar. Ngày 15-1-1968, chúng tôi đến trường Krasnodar. Địa chỉ để viết thư về trường là: "Krasnôđar-5. P/Ya-24". Cứ đề như thế là thư sẽ đến tay người nhận. Tất nhiên là còn phải có họ tên và chữ "Liên bang Xô-viết - CCCP". Điều đầu tiên là tôi viết thư cho người vợ yêu quý ở trên đỉnh núi xanh lơ đầy thương nhớ. Chắc rằng ngày ngày nàng ở trên núi vẫn ngóng trông về phía sân bay Đa Phúc chờ chồng! Ngày 16-1-1968, tôi và Vũ Ngọc Đỉnh lên gặp Ban giám hiệu nhà trường để báo cáo về nhiệm vụ của chúng tôi, đặt vấn đề nhờ trường giúp đỡ cho đoàn học viên đang bay MiG-21 được bay thêm một số bài bay ứng dụng chiến đấu. Hiệu trưởng - Thiếu tướng Rômanhencô và các Hiệu phó rất vui vẻ, thân mật tiếp tôi và Vũ Ngọc Đỉnh. Sau khi nghe chúng tôi xin bổ sung một số bài bay vào chương trình huấn luyện, Hiệu trưởng vui vẻ nhận lời. Như vậy là chúng tôi đã thực hiện được nhiệm vụ của Quân chủng giao. Mai đây, số học viên bay MiG-21 tốt nghiệp về nước sẽ trực tiếp tham gia chiến đấu ngay. Trung đoàn sẽ có thêm một lực lượng phi công hùng hậu để cơ động vào khu Bốn chiến đấu bảo vệ hành lang chiến lược. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Mười, 2025, 08:06:17 pm Đầu tháng 4-1968, chúng tôi cùng hơn 30 phi công tốt nghiệp MiG-21 trên chuyên tàu hỏa liên vận Mạc Tư Khoa - Bắc Kinh - Hà Nội. Tàu hỏa liên vận về đến Bằng Tường thì xuống tàu hỏa, đi ô-tô về Hà Nội (vì đoạn đường sắt từ Đồng Đăng về ga Hàng Cỏ bị máy bay Mỹ đánh phá hỏng các cầu). Đoàn về đến Hà Nội được Tổng cục Chính trị cho đi phép thăm nhà mấy ngày. Tôi và Vũ Ngọc Đỉnh về Trung đoàn báo cáo tình hình của đoàn bay (trình độ kỹ thuật) với Trung đoàn trưởng và Chính ủy. Nghe chúng tôi báo cáo xong, nét mặt hai ông rạng rỡ niềm vui vì kể từ ngày thành lập Trung đoàn tới nay chưa có lần nào được bổ sung lực lượng phi công đông đảo vừa trẻ khỏe, vừa có trình độ bay khá đến như vậy. Đây sẽ là lực lượng chủ công của Trung đoàn trong tương lai. Hai ông còn nói riêng với tôi: "Sắp tới Trung đoàn sẽ đưa biên đội 3 chiếc (2+1) vào chiến trường khu Bốn đế đánh thí nghiệm. Ở ngoài Bắc, đội hình 2+1 đã được áp dụng và giành thắng lợi rồi, nhưng trong khu Bốn, đặc điểm địa hình có khác ngoài Bắc, bởi vậy cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng/ xử lí nhiều tình huống khó khăn hơn. Trung đoàn cho cậu lên Tam Đảo nghỉ vài hôm rồi về đơn vị chuẩn bị để bay vào khu Bốn thực hiện trận đánh thí nghiệm đội hình 3 chiếc (2+1)! .
Tôi ngược Tam Đảo nghỉ được đúng 2 hôm thì Trung đoàn cho xe lên đón tôi về đơn vị. Thời kỳ này, địch dừng đánh phá từ vĩ tuyến 20 trở ra nên bầu trời miền Bắc tạm yên hàn. Trung đoàn rất tích cực tổ chức bay huấn luyện cho số phi công mới về bổ sung cho Trung đoàn. Qua đợt huấn luyện sẽ chọn số anh em trội hơn về mặt kỹ thuật (chỉ về mặt kỹ thuật thôi, còn tinh thần thì không chê ai được) để đưa vào trực trong khu Bốn. Thời kỳ này, ở khu Bốn có mấy sân bay có thể dùng cho MiG-21 hoạt động được là sân bay Sao Vàng (Thọ Xuân), sân bay Vinh, sân bay Anh Sơn, sân bay Đồng Hới. Riêng sân bay dã chiến là sân bay Gát chỉ dùng cho MiG-17. Các sân bay này là những sân bay ngắn hẹp, mặt đường băng lại lát ghi sắt của Liên Xô nên cần kỹ thuật cất hạ cánh giỏi, chuẩn xác. Để đánh thí nghiệm đội hình 3 chiếc (2+1) trong khu Bốn, Trung đoàn cử hai phi công cũ và một phi công mới trong số vừa tốt nghiệp về nước. Biên đội đó là Nguyễn Đăng Kính bay số 1, Phạm Văn Mạo bay số 2 và tôi bay số 3. Biên đội chúng tôi đã có một số lần bay tập luyện ở sân bay Đa Phúc rất ăn ý nhau. Phạm Văn Mạo là một phi công mới nhưng rất có bản lĩnh. Anh quê Thái Bình, có nước da của người miền biển, chắc nịch, ít nói, được mọi người mến phục. Ngày đầu vào sân bay Sao Vàng (Thanh Hóa) trực chiến tôi nhớ là khoảng cuối tháng 7 bởi cái nóng tháng 7 mà ai từng ở đó thì không thể nào quên được. Sân bay Sao Vàng thời đó còn là sân bay dã chiến, nắng nóng kinh khủng, người lúc nào cũng nhớp nháp mồ hôi, nước ao thì đục ngầu nhưng cũng không đủ để tắm giặt. Ngày cũng như đêm, chỉ phành phạch chiếc quạt được làm bằng lá cọ để xua cái nóng mà thôi. Ngày 1-8-1968, trận đánh trên bầu trời Thanh Chương - Đô Lương, Nghệ An. Hôm đó, ba anh em vừa ăn cơm trưa xong thì báo động chuyển cấp. Tôi ngồi trong buồng lái nóng hầm hập, đồng chí Tổ trưởng thợ máy dùng chiếc quạt làm bằng lá cọ quạt liên tục để xua cái nóng. Chừng 10 phút sau thì có lệnh "Ấp Bắc! Cờ Hồng!" (Mở máy! Cất cánh!). Số 1 và Số 2 mở máy lăn ra cất cánh trên đường băng ghi, còn tôi cất cánh trên đường băng đất. Khi máy bay chạy đà, tôi có cảm giác hệ thống tăng lực của máy bay tôi làm việc không bình thường, máy bay cứ giật giật, nhưng sau khi tách đất, tắt tăng lực đi thì hiện tượng kia không còn nữa. Tôi nghĩ, nếu bây giờ mà báo cáo cho Sở chỉ huy biết thì chắc chắn Sở chỉ huy sẽ cho tôi quay về, như vậy tôi sẽ bỏ lỡ thời cơ xáp địch, hơn nữa tôi bay số 3 làm nhiệm vụ yểm hộ cho số 1 và số 2 vì vậy không dùng tăng lực cũng được, nỡ nào lại quay về để cho số 1 và số 2 đi không có yểm hộ. Tôi quyết định sẽ không dùng tăng lực trong trận đánh! Biên đội tôi bay đến vùng Bắc Đô Lương thì Trạm dẫn đường phía trước X3 thông báo địch ở phía Đông của Đô Lương 15 km trên độ cao 3.000 mét. X3 cho biên đội vòng trái áp sát địch. Lúc này, biên đội báo cáo đã phát hiện địch và xin công kích. Số 1 vòng phải gấp, bám theo 1 thằng F-4. Số 2 không theo kịp, báo cáo mất đội. Số 1 lệnh cho số 2 về sân bay hạ cánh rồi tiếp tục vòng phải lên mây. Ngay sau đó, tôi phát hiện 2 chiếc F-8 bay zic-zắc ở dưới thấp. Tôi báo cáo Sở chỉ huy và nghe tiếng Trung đoàn trưởng Trần Mạnh nhắc: "Bám tốt thì công kích!". Tôi nhanh chóng cơ động chiến thuật từ bất lợi sang có lợi, bám đuôi thằng F-8. Tín hiệu đầu tên lửa bám được mục tiêu kêu o...o... trong tai nghe, tôi liền ấn nút phóng tên lửa. Quả tên lửa bám theo thằng F-8, húc vào đuôi nó, nổ tung. Nhưng ngay lúc ấy, máy bay tôi cũng trúng tên lửa địch, bị thương. Trong thế trận đầy nguy hiểm tốc độ máy bay giảm đến tối thiểu, cần lái mất áp lực điều khiển. Số 1 và số 2 đã thoát ly khỏi khu vực chiến đấu theo lệnh của Sở chỉ huy. Tôi báo cáo: "Máy bay số 3 không thể tiếp tục bay được nữa, xin phép nhảy dù!". Sở chỉ huy trả lời: "Đồng ý!". Tôi nhảy dù xuống vùng "khe Sướng" Thanh Chương. Đây là vùng rừng già, có nhiều cây to, dù bị treo trên ngọn cây. Tôi tháo dây dù, vừa tụt xuống gốc cây vừa cẩn thận quan sát xung quanh đề phòng thú dữ. Tôi mở la bàn ra xem hướng nào là hướng Đông để tìm lối ra khỏi rừng vì nếu nhầm hướng thì càng đi sâu vào rừng. Trời chiều, cảnh vật âm u tĩnh mịch, không một tiếng kêu của ve sầu, tôi đoán chắc phải có động gì đây nên chúng mới không kêu. Đúng là có động thật! Tôi đi tiếp mấy bước nữa thì phát hiện một chú gấu to, lông đen tuyền đang nằm im cạnh gốc cây. Trên ngọn cây có nhiều ong mật bay. Tôi nhìn lên thấy con gấu thứ hai đang ăn mật ong ở trên ấy. Tôi cầm khẩu súng ngắn đạn đã lên nòng sẵn sàng nhả đạn. Song, hai con gấu không nhìn thấy tôi. Tôi nghĩ: "Mày không thấy tao thì thôi tao cũng không đụng tới mày nữa!". Một viên đạn súng ngắn không thấm vào đâu với hai con gấu to như hai con bò. Nếu bắn thì càng nguy hiểm cho mình hơn. Tôi tránh hai con gấu và tiếp tục xuống núi. Mặt trời đã xuống sát đỉnh núi. Lúc này tôi cảm thấy đói và khát ghê gớm, nhưng nỗi buồn cô đơn còn ghê gớm hơn nhiều. Tôi lo đêm nay phải ngủ trong rừng thì phải trèo lên ngọn cây nằm để đề phòng thú dữ. Tôi đang đi tìm cái cây có nhiều chạc to thì nghe văng vẳng ở phía dưới khe có tiếng người. Càng đi tới gần, tiếng nói cười càng rõ dần. Đúng là tiếng dân quân đi tìm bắt "giặc lái" rồi. Tôi cất tiếng gọi thì nhận ra nhau ngay, thật mừng vui khôn xiết! Các đồng chí dân quân đề phòng phải ngủ đêm trong rừng, có mang theo cơm và nước uống nhưng nỗi mừng được gặp "người mình" làm cho tôi quên hết đói khát. Các đồng chí dân quân đã quen đi rừng xung phong cõng tôi để đi cho nhanh ra khỏi khu rừng có thú dữ, đặc biệt có hai con gấu rất hung dữ thường hay đuổi vồ người. Vừa đi các đồng chí vừa kể cho tôi nghe những chuyện trong rừng. Vậy là tôi còn gặp may. Tôi kể lại chuyện tôi gặp hai con gấu đó. Ai cũng bảo tôi có số may. Chúng tôi đi theo ánh sáng mờ mờ của những ngôi sao, khi về đến Trạm kiểm lâm ở dưới chân núi thì trời đã khuya. Mọi người đều đói và khát, bấy giờ mới lấy gói cơm mang theo từ chiều giở ra cùng nhau ăn. Tôi tranh thủ chợp mắt được một chút thì trời đã sáng. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Mười, 2025, 08:07:26 pm 4 giờ sáng ngày 2-8, các đồng chí dân quân đánh thức tôi dậy để còn kịp vượt qua khu vực địch hay đánh phá để về nơi sơ tán của huyện Thanh Chương, nơi đó mới có đường dây liên lạc, mới gọi điện báo cho Quân chủng biết tình hình được. Sở chỉ huy tiền phương đã cho chiếc xe "đít vuông" vào Thanh Chương đưa tôi ra Giang Sơn, Yên Thành - nơi đặt Sở chỉ huy tiền phương của Trung đoàn. Tôi trình bày diễn biến trận đánh ngày 1-8 để cùng nhau rút kinh nghiệm, chuẩn bị cho những trận đánh sắp tới. Đối với chiến trường khu Bốn, được ví như chiếc "cán xoong", ta chỉ nên sử dụng biên đội 2 chiếc "đột kích" nhanh và rút nhanh là thượng sách.
Tính từ tháng 3-1966 đến tháng 8-1968, tôi đã đánh được 8 trận, bắn hạ 8 máy bay của giặc Mỹ trên bầu trời miền Bắc yêu thương. Nhưng có lẽ, trận ngày 1-8-1968 là trận tạo ra sự trùng hợp với nhiều con số 8 trong đời tôi nhất (tháng 8 năm 1968, đánh trận thứ 8, bắn hạ chiếc thứ 8 là máy bay F-8). Năm 1968 tôi cũng tròn 32 tuổi (32:4=8). Thật hy hữu! Trong 8 trận đánh, trừ mỗi trận đánh không người lái, còn lại 7 trận là 7 lần cái sống cận kề với cái chết chỉ trong gang tấc. Song, trận đánh ngày 1-8 là trận đánh bi hùng hiếm có chắc không bao giờ lặp lại. Tết Mậu Thân 1968, quân và dân miền Nam đồng loạt tấn công vào các thành phố lớn của miền Nam, gây nhiều thiệt hại cho địch, buộc Mỹ phải xuống thang ngừng ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán bốn bên ở Hội nghị Paris (Việt Nam dân chủ cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn). Đây là thắng lợi rất to lớn của cách mạng miền Nam, thời cơ rất thuận lợi để chúng ta xốc tới thực hiện lời chúc đầu năm mới của Bác Hồ: "... Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Tiến lên chiến sĩ, đồng bào. Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!". Con đường đi tới giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc ngày càng sáng sủa, càng sắp thành hiện thực, nhưng trên đầu mọi người vẫn lơ lửng những trận đánh lớn, những trận ác liệt, tàn bạo của đế quốc Mỹ xảy ra trên bầu trời miền Bắc. Chúng tôi luôn nhớ lời dạy của Bác: "... đế quốc Mỹ có thua sẽ chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội..." Năm 1969, từ các nơi sơ tán chúng tôi được về lại khu doanh trại cũ. Mặc dù đã bị đánh phá hư hỏng nhiều nhưng sửa chữa lại vẫn tốt, vẫn ở tạm để tạo điều kiện tập trung huấn luyện nâng cao trình độ bay cho phi công trẻ, nhất là huấn luyện chiến thuật đánh máy bay chiến lược B-52 của Mỹ. Trước ngày 2-9-1969, có tin kín truyền tai nhau là Bác Hồ bị mệt, ai nấy đều lo lắng cho Bác, mong sao Bác chóng qua khỏi. Sau ngày 2-9, tin về sức khỏe của Bác càng nặng thêm và đêm khuya ngày 3-9 thì tin Bác Hồ đã qua đời! Chúng tôi khóc thương Bác, đồng bào cả nước khóc thương Bác! Chúng tôi lập phòng thờ tại phòng Câu lạc bộ Đại đội để thắp hương tưởng nhớ Bác. Trung đoàn lập một Phi đội MiG-21 để bay vĩnh biệt Bác. Tôi được Trung đoàn giao nhiệm vụ dẫn đầu đội hình 12 chiếc MiG-21 bay qua Quảng trường Ba Đình trong giờ tang lễ vĩnh biệt Bác. Đây là một nhiệm vụ khó khăn nhất, nặng nề nhất và cũng quan trọng nhất trong đời tôi. Tôi dẫn đầu đội hình nên nhất cử nhất động tất cả anh em đều làm theo tôi. Chuyến bay này không cho phép có một sai sót nào dù là nhỏ nhất vì nếu để xảy ra thì hậu quả khôn lường. Những ngày quân và dân ta chuẩn bị làm tang lễ truy điệu Bác, chúng tôi tranh thủ bay tập luyện đội hình ba tốp MiG-21 với đội hình 12 chiếc MiG-17 của Trung đoàn Không quân 923. Như vậy là vào ngày cử hành lễ tang của Bác có 24 chiếc MiG bay qua Quảng trường Ba Đình. Đội hình khi bay qua Quảng trường phải nghiêm chỉnh, đúng giờ quy định và tuyệt đối an toàn. Chúng tôi đã thực hiện xuất sắc yêu cầu đó. Sáng ngày 9-9-1969, lễ truy điệu vĩnh biệt Bác Hồ được cử hành tại Quảng trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội. Đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thay mặt đồng bào và chiến sĩ cả nước đọc điếu văn và lời thề trước anh linh của Người. Bài điếu văn vừa dứt thì Phi đội máy bay MiG-21 và Phi đội máy bay MiG-17 xuất hiện bay qua khán đài vĩnh biệt Bác. Khi bay qua lễ đài, lòng xúc động thương nhớ Bác trào dâng, tôi cắn răng chịu đựng cái giây phút đau thương nhất, không để rơi nước mắt, giữ vững trạng thái máy bay không để nghiêng/trượt dù một phần nghìn độ. Hai mươi bốn anh em MiG (12 MiG-21, 12 MiG-17) tề chỉnh bay qua lễ đài Quảng trường Ba Đình vĩnh biệt Bác Hồ về cõi vĩnh hằng. Tôi dẫn đầu đội hình MiG-21, anh Nguyễn Văn Bảy dẫn đầu đội hình MiG- 17. Hai người con của đồng bào miền Nam, hai người Anh hùng đều được Bác Hồ ký quyết định phong tặng với lời dặn dò: "Mong các chú cố gắng hơn nữa, luôn xứng đáng là chiến sĩ thành đồng Tổ quốc!". Tôi ghi lòng tạc dạ lời dặn của Bác. Hôm nay chúng con bay tiễn Bác đi xa... Chúng con đã thực hiện được lời dặn của Bác nhưng chưa kịp báo cáo với Bác thì Bác đã đi xa! Anh Nguyễn Văn Bảy đã hạ được 7 máy bay Mỹ, còn tôi thì hạ được 8 chiếc, thực hiện lời dặn của Bác "luôn xứng đáng là chiến sĩ thành đồng của Tổ quốc". Hôm nay chúng con bay tiễn Bác đi xa nhưng bầu trời miền Bắc vẫn chưa thật sự bình yên, hàng ngày giặc Mỹ vẫn bay vào trinh sát mục tiêu Hà Nội, chuẩn bị cho một trận đánh lớn, dã man hơn, ác liệt hơn. Đó là bản chất của đế quốc Mỹ. Bước sang năm 1970, chủ trương của trên đem hết số máy bay MiG-21 F13 và một số máy bay MiG-21 mới cùng MiG-19 đang gửi ở sân bay Tường Vân, Trung Quốc về để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu tới. Tôi được Trung đoàn cử làm phụ trách đoàn gồm có thợ máy và các phi công bay thử bay sang sân bay Tường Vân ở đó gần 5 tháng. Trong thời gian ấy đã tổ chức chuẩn bị máy bay, bay thử máy bay và chuyển sân về nước hom 30 máy bay MiG-21, hơn 10 máy bay MiG-19 đảm bảo an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sân bay Tường Vân là sân bay ở độ cao hơn mặt nước biển gần 2.000 mét. Ở độ cao đó, không khí loãng nên cất cánh, hạ cánh có khó khăn hơn so với các sân bay ở miền Bắc mà chúng tôi đã bay quen. Sân bay Tường Vân còn có khu vực nước nóng thiên nhiên tắm rất tuyệt vời, có khu chợ Tiền Sở bán nhiều thứ đặc sản của cao nguyên Tường Vân. Những ngày Chủ nhật, anh em Việt Nam thường rủ nhau đi tắm nước nóng và không quên ghé qua chợ Tiền Sở. Khi đi chợ Tiền Sở thì phải đề phòng lợn cắn chân vì lợn nuôi thả rông nhiều lắm, khi có phiên chợ thì lợn cũng vào đó để kiếm thức ăn rơi vãi... Gần 5 tháng ở trên sân bay cao nguyên đầy nắng và gió táp làm cho da chúng tôi đổi màu, khi về Đa Phúc, ai cũng kêu là: "Sao đen thế!". Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Mười, 2025, 08:08:58 pm Về đến Trung đoàn, nhiệm vụ mới đang đợi tôi, đó là vào khu Bốn. Nhưng trước khi vào khu Bốn, tôi được về Tam Đảo mấy ngày thăm con gái. Cô con gái Hồng Tâm của tôi chưa đầy một tuổi, dễ thương lắm. Quà quý nhất cho con lúc bấy giờ là có mấy lọ mì chính để nấu canh và một cái áo len cho mùa Đông tới. Sau khi nghỉ mấy hôm, tôi cùng anh em của cơ quan Tham, mưu hành quân vào sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hóa tổ chức Sở chỉ huy tiền phương để trực tiếp chỉ huy máy bay hoạt động trong vùng "cán xoong". Chủ trương của trên là đưa máy bay MiG-21 và máy bay MiG-17 vào trực ban chiến đấu ở sân bay Sao Vàng và sân bay Vinh để mai phục đánh máy bay trinh sát của địch thường bay dọc theo đường số 1, đồng thời cũng rèn luyện cho số phi công mới dần dần dày dạn với chiến trường "cán xoong". Tôi được Trung đoàn giao nhiệm vụ trực chỉ huy ở Sở chỉ huy tiền phương để rèn luyện bản lĩnh chỉ huy ở Sở chỉ huy cấp Trung đoàn, sẵn sàng đảm đương chức vụ Trung đoàn trưởng một Trung đoàn mới sắp thành lập.
Như vậy là lực lượng chiến đấu của Quân chủng sẽ phát triển lớn mạnh chưa từng có. Tôi rất mừng. Mọi người rất mừng trước sự trưởng thành lớn mạnh của Không quân chiến đấu. Đó cũng là sự trả lời đích đáng cho Mỹ khi chúng đòi "quét sạch Không quân Bắc Việt" nhưng thực tế "Không quân Bắc Việt" lại ngày càng lớn mạnh. Mùa mưa đến cũng là mùa mưa bão ở vùng trời "cán xoong". Trời xấu, sân đất ướt làm hạn chế rất lớn đến việc hoạt động của máy bay tiêm kích, do đó, đơn vị thu quân chuyển ra Bắc để tranh thủ huấn luyện nâng cao kỹ thuật chuẩn bị cho mùa Xuân 1971 sẽ trở lại chiến trường "cán xoong". Tình hình chiến trường ngày càng sôi động, những trận đánh lớn diễn ra ngày càng dồn dập từ cả hai phía. Phía ta nỗ lực đánh quỵ "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, còn phía Mỹ nỗ lực hoàn thành kế hoạch "Việt Nam hóa" để rút quân Mỹ ra khỏi bãi lầy thất bại. Mỹ sử dụng lực lượng Không quân tối đa để đánh phá giao thông hành lang để ngăn chặn vận chuyển của ta vào chiến trường, đặc biệt sử dụng B-52 ném bom rải thảm đã gây cho ta nhiều khó khăn và tổn thất. Ở ngoài miền Bắc, chúng phong tỏa tất cả các cảng, ngăn chặn không cho tàu chở hàng của nước ngoài vào cảng bốc dỡ hàng nên có những tàu hàng phải neo đậu ngoài phao số 0 hàng tháng trời, đợi Hải quân của ta rà phá thủy lôi đảm bảo an toàn cho tàu vào cảng. Bước sang năm 1971, sau khi ăn Tết cổ truyền, đơn vị có sự thay đổi lớn về bố trí lực lượng ra tuyến trước và đơn vị ở tuyến sau. Trung đoàn Không quân 921 được bố trí ở tuyến đầu để bảo vệ vận chuyển hàng cho mặt trận, đồng thời sẵn sàng tiến vào phía Nam vùng "cán xoong". Đại bản doanh của Trung đoàn đặt tại sân bay Sao Vàng. Trung đoàn Không quân 925 trang bị máy bay MiG-19 đóng ở sân bay Yên Bái bảo vệ phía Tây Hà Nội. Trung đoàn Không quân 923 trang bị máy bay MiG-17 đóng quân ở sân bay Kép, bảo vệ vùng trời Đông Bắc. Trung đoàn Không quân 927 trang bị máy bay MiG-21 mới thành lập đóng quân ở sân bay Đa Phúc bảo vệ Hà Nội và sẵn sàng thay thế cho Trung đoàn Không quân 921 vào vùng "cán xoong" chiến đấu, đồng thời Trung đoàn cũng phải chuẩn bị cơ sở vật chất để sẵn sàng đón Trung đoàn Không quân 921 quay ra cùng đóng quân ở Đa Phúc để bảo vệ Hà Nội. Tình hình sau đó (vào năm 1972) diễn ra đúng như dự kiến. Tôi được trên bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 927. Tôi nhận nhiệm vụ mới vào thời điểm cực kỳ khó khăn: đơn vị mới thành lập, nhiệm vụ nhiều, nặng nề, lại phải lo chuẩn bị cơ sở cho "anh cả Đỏ" (tên gọi của Trung đoàn Không quân 921 - Trung đoàn Sao Đỏ) đến bất cứ lúc nào. Cứ mỗi lần gặp khó khăn trên con đường binh nghiệp, tôi lại nhớ đến lời động viên, dặn dò của Bác Hồ hôm Bác ký sắc lệnh tuyên dương Anh hùng quân đội cho tôi: "Mong chú Nhị cố gắng hơn nữa, luôn xứng đáng là chiến sĩ thành đồng Tổ quốc!". Nhớ lời Bác, tôi vượt qua hết thảy khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao trong bước ngoặt mới... Năm 1972 của Thế kỷ 20, dù thời gian đã qua đi, nhưng ở Hà Nội năm đó, những trận Mỹ dùng máy bay chiến lược B-52 bay vào ném bom rải thảm trong 12 đêm của tháng 12 xuống thành phố Hà Nội, giết hại dân thường vô tội là một tội ác đời đời khắc ghi, còn đối với nước Mỹ, dân tộc Mỹ thì mang thêm một tội ác ghê tởm thứ hai muôn đời không rửa sạch. Trong một Thế kỷ (Thế kỷ 20), đế quốc Mỹ đã gây ra hai tội ác giống nhau có chủ đích tàn sát dân thường đang sinh sống làm ăn, họ đâu có phải là người cầm súng. Năm 1945, Mỹ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống thành phố Hy-ro-si-ma và Na-ka-za-ki của Nhật Bản. Chưa đầy 30 năm sau (1972), chúng dùng máy bay B-52 ném bom rải thảm xuống thủ đô Hà Nội, Việt Nam. Trên thế giới còn rất nhiều thành phố lớn, nhiều thủ đô rất đông đúc dân cư sinh sống, không biết đế quốc Mỹ sẽ chọn nơi nào nữa để ném bom như kiểu Na-ka-za-ki, Hy-rô-si-ma hay rải thảm như kiểu thủ đô Hà Nội. Hãy luôn luôn nhắc nhở mọi người phải cảnh giác vì bản chất đế quốc Mỹ xâm lược là cha truyền con nối không bao giờ thay đổi. Suốt năm 1972, đường đời binh nghiệp của tôi có bước ngoặt mới, tôi không được tham gia những trận không chiến nảy lửa trên bầu trời miền Bắc mà ngồi ở Sở chỉ huy của Trung đoàn chỉ huy chiến đấu. Những trận chiến đấu nhớ đời của tôi bây giờ không phải ở trên bầu trời mà là ở trên bàn Sở chỉ huy của Trung đoàn Không quân 927. Suốt những tháng năm chỉ huy Trung đoàn chiến đấu, tôi đúc kết thành một bài học nhớ đời: sự thành bại của công tác chỉ huy chiến đấu đó là thời cơ cho máy bay cất cánh! Cho máy bay cất cánh đúng thời cơ là trận đánh chắc thắng, cho cất cánh muộn là tự chuốc lấy thất bại! Bởi vậy, người chỉ huy đừng bao giờ ngại đầu căng lưng mỏi, phải luôn luôn rèn luyện chí can trường, lòng nhẫn nại, ngồi đó (ở bàn tiêu đồ) mà hồn bay vào chiến trận, phải luôn tỉnh táo, sáng suốt, tinh tường... Nếu ai không giữ được điều đó thì dễ mắc phải sai lầm và thất bại! Dịp tháng 12-1971, tôi nhận nhiệm vụ cùng với các anh em phi công và thợ máy cơ động lên sân bay Yên Bái để vừa huấn luyện vừa trực ban chiến đấu, bảo vệ phía Tây Bắc Hà Nội. Sân bay Yên Bái vừa đưa vào hoạt động nhưng còn thiếu thốn nhiều, đặc biệt là nơi ăn ở còn tạm thời, nhà lá vách nứa, gió Bắc về rét thấu xương, ban đêm phải đốt củi sưởi, đấy cũng là dịp tốt để lùi sắn (nướng sắn), sáng sớm dậy ăn mấy củ, uống với nước chè tươi thì ngon tuyệt. Tôi ngồi ở Sở chỉ huy theo dõi tình hình địch bay ở bên kia biên giới, cảnh giới cho bộ đội bay huấn luyện đến tận trưa vẫn chưa thấy đói. Ban đêm thì rủ nhau đi bắn cầy (chồn) vì rừng Yên Bái rất nhiều cầy, dúi, trăn... Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Mười, 2025, 08:10:00 pm Sang tháng 1-1972, tình hình mỗi ngày một căng, triệu chứng địch chuẩn bị đánh phá miền Bắc trở lại ngày càng rõ. Theo tin tình báo ta nắm được, địch đã bắt đầu điều một lực lượng lớn các loại tàu chở máy bay, tàu ra-đa dẫn đường, tàu tên lửa Phòng không, tàu chở trực thăng tìm cứu... đến vùng biển Vịnh Bắc Bộ chuẩn bị mở chiến dịch đánh phá miền Bắc lần thứ 2.
Từ ngày mồng 1 đến mồng 8 tháng 1 năm 1972, trực ban chiến đấu ở sân bay Yên Bái gồm các phi công MiG-21: Ngô Văn Phú số 1, Nguyễn Văn Nghĩa số 2, Nguyễn Tiến Sâm số 3, Hạ Vĩnh Thành số 4. Trực ở Đài chỉ huy cất hạ cánh ngoài sân bay (K5) là Nguyễn Văn Lung. Tôi trực trong Sở chỉ huy. Đó là những ngày đáng nhớ nhất ở miền Tây Bắc, phải chịu đựng trong gió rét lạnh buốt và bầu ười u ám suốt ngày. Ngày 9-1-1972, tôi đi xe ô tô từ Yên Bái về sân bay Đa Phúc trên con đường lầy lội, có những đoạn bị "pa-ti-nê" - bánh xe cứ quay tròn một chỗ và mấy lần suýt rơi xuống vực. Ngày 10-1-1972, họp Đảng ủy Trung đoàn bàn công tác lãnh đạo chiến đấu cơ động lực lượng vào khu Bốn. Phân công lực lượng trực ban chiến đấu ở các B (các sân bay) như sau: B4 (sân bay Vinh) gồm Nguyễn Đăng Kính, Lương Thế Phúc, Nguyễn Văn Nghĩa; B1 (sân bay Thọ Xuân) gồm Đinh Tôn, Trần Thông Hào, Trần Cung, Bùi Đức Nhu, Nguyễn Công Huy, Đỗ Văn Lanh, Trần Việt, Cao Sơn Khảo; Sân bay Đa Phúc gồm Hoàng Biểu, Phạm Văn Mạo, Nguyễn Ngọc Thiên, Vũ Xuân Thiều, Phạm Tuân, Bùi Doãn Độ, Mai Văn Cương, Phạm Phú Thái, Võ Sỹ Giáp, Bùi Văn Long, Lê Thanh Đạo, Hoàng Quốc Dũng, Lê Minh Dương, Trần Sang, Mai Văn Tuế, Nguyễn Hồng Mỹ, Đặng Ngọc Ngự, Ngô Văn Phú, Nguyễn Văn Lung, Hạ Vĩnh Thành, Ngô Duy Thư, Nguyễn Ngọc Hưng... Tôi trực ở Sở chỉ huy. Giữa tháng 1-1972, lực lượng các tàu của Mỹ phục vụ cho chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2 đã tập kết đông đủ ở vùng vịnh Bắc Bộ, cụ thể như sau: - Tàu chở máy bay Conteslation đậu cách Nghi Xuân 143 km (ngoài biển), Corasia cách Nghi Xuân 178 km, Kittihawk cách đảo Nghi Sơn 140 km, Hankocwk cách Đà Nẵng 97 km. - Tàu tên lửa đối không-Long Bách ở phía Đông Tĩnh Gia 60 km, Oklahoma City phía Đông Bỉm Sơn 67 km, tàu ĐĐG ở phía Đông Diễn Châu 80 km, DDG đậu ở phía Đông Lạch Ghép 75 km. - Tàu dẫn đường thông báo có MiG hoạt động DAPA phía Đông Tĩnh Gia 60 km, Oska phía Đông Quỳnh Lưu 84 km, Sharar ở phía Đông Hoằng Hóa 130 km. - Tàu chở trực thăng tìm cứu và đổ bộ LPH-10 ở phía Đông Sầm Sơn 140 km. - Tàu chống ngầm ở phía Đông Hoằng Hóa 130 km. - 8 khu trục hạm đậu cách bờ từ 55 đến 140 km suốt từ Hòn Mê đến cửa Sót. Ngày 15-1-1972, Trung đoàn tổ chức bay huấn luyện. Mọi người tận dụng từng giờ khi bầu trời còn yên ả để nâng cao trình độ bay. Tôi được phân công bay kèm bài số 20 (không vực độ cao thấp) cho phi công Nguyễn Thắng Được và bài bay 113 (không chiến ở độ cao thấp) cho Lê Minh Dương và Bùi Thanh Liêm. Ngày 16-1-1972, kế hoạch huấn luyện 31 lần chiếc hoàn thành sớm, về nhà kéo nhau ra sân bóng thi đấu đến tối mịt mới tan cuộc. Những ngày chờ đợt đánh phá lần thứ 2 trên miền Bắc là những ngày rất căng thẳng. Và ngày đó đã đến! Ngày 17-1-1972, Không quân Mỹ cho một số tốp tiêm kích bay vào khiêu chiến ở vùng Ninh Bình - Hồi Xuân - Lang Chánh - Mộc Châu... Biên đội Nguyễn Hồng Mỹ, Lê Minh Dương xuất kích gặp địch bắn hết cả tên lửa nhưng không trúng mục tiêu. Ngày 18 và 19-1-1972, tôi đi họp ở Bộ Tư lệnh Quân chủng rút kinh nghiệm trận đánh ngày 17 và bàn kế hoạch huấn luyện chuyển sang thời chiến. Ngày 19-1-1972, địch đánh phá sân bay Anh Sơn, phá hỏng đường băng và 1 cánh cửa hầm làm cho 2 chiếc MiG-21 bị kẹt trong hầm không kéo ra được. Ngoài Bắc, địch tiến hành trinh sát Mộc Châu - Nà Sản - Hồi Xuân - Mường Xén. Sự cố ngày 19-1: biên đội trực ban chiến đấu ở B1 mở máy không thành công lần thứ nhất nên đã cất cánh chậm mất 7 phút. Nguyễn Hồng Mỹ và Trần Sang gặp địch, Nguyên Hồng Mỹ bắn 2 quả tên lửa, bị tắt máy trên không và mở máy lại thành công. Trần Sang xông lên trước mục tiêu, bị cướp cò bay mất 1 quả tên lửa vào không trung. Biên đội Nguyễn Đức Soát, Hạ Vĩnh Thành cất cánh từ sân bay Đa Phúc lên tiếp địch ở hướng Mộc Châu vào Yên Bái đã bắn nhầm biên đội MiG-19 từ Yên Bái lên. Phi công Nguyễn Tử Dung của MiG-19 đã nhảy dù an toàn. Những ngày cuối tháng 1-1972 (từ 20-1 đến 31-1) lại xảy ra sự cố hỏng hóc không đáng có: ngày 21-1 máy bay số 030 khi cất cánh thu càng chậm do rơi mất 1 chiếc lò xo ở nắp buồng càng bên phải, đến ngày 31-1 thì Lê Văn Kiền khi về hạ cánh đã kéo bồng máy bay để đuôi máy bay quệt xuống đường băng, mòn vẹt dao ổn định dòng, tiếp đến lại là bộ phận chăn bò của Phòng Hậu cần Trung đoàn bắt nhầm bò của dân ở xóm Nam Hà về thịt. Trung đoàn phải đi giải quyết đền tiền cho dân nhưng bà con thương tình tha cho, không lấy tiền... Những ngày đầu tháng 2-1972, đơn vị học chính trị về tài liệu "Đạo đức cách mạng" và sơ kết công tác "nâng cao chất lượng đảng viên" theo 7 yêu cầu của Trung ương đã đề ra, đó là: nâng cao ý chí chiến đấu, nhiệt tình cách mạng, phẩm chất đạo đức, gương mẫu học tập, vận động quần chúng... Mức bình chọn đảng viên đạt 4 mức là: phấn đấu tốt, chưa tốt, đạt yêu cầu, chưa phấn đấu tiến bộ. Đợt sinh hoạt kết thúc tốt đẹp. Anh em ai cũng phấn khởi, đầy lòng tin chuẩn bị bước vào hiệp 2 của cuộc chiến (cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ trên miền Bắc Việt Nam) sẽ giành thắng lợi ròn rã hơn. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Mười, 2025, 08:12:08 pm Ngày 13-2-1972, Thanh Dậu, người vợ yêu quý của tôi đi công tác lên Ty y tế Tỉnh để nhận thuốc nhưng cũng tranh thủ ghé qua sân bay để thăm tôi. Nhân dịp này, tôi xin đơn vị nghỉ 2 ngày để đưa vợ về Tam Đảo, để thăm con gái Hồng Tâm mới được 3 tuổi. Tôi nhớ con lắm! Vợ tôi xuống sân bay thăm tôi đi bằng xe đạp nên khi trở về, chúng tôi đeo nhau Tôi đèo vợ tôi từ sân bay đến suối ở chân núi Tam Đảo. Từ suối lên khu 2 Tam Đảo là đường dốc, vợ tôi dắt xe đạp leo dốc, tôi leo bộ chân mỏi rã rời, tôi liền cởi đôi giày da đeo vào cổ (leo dốc bằng chân không cho nhẹ). Lúc này chỉ cần thêm một cái cúc áo thôi là cũng có cảm giác nặng lắm. Sau này tôi kể lại cho anh em nghe, anh Nguyễn Ngọc Độ là người đầu tiên đặt cho tôi cái tên húy: "Ông Tư leo!". Xuất xứ cái tên là vậy chứ không có nghĩa gì khác.
Trước khi Mỹ mở chiến dịch không kích lớn trở lại miền Bắc, chúng đã tiến hành trận tập kích vào Sơn Tây hòng cướp số giặc lái bị ta bắt sống trong mấy năm đánh phá miền Bắc đang giam tập trung ở trại giam giữa cánh đồng Thạch Thất, Sơn Tây. Chúng ta giữ bí mật tuyệt đối, đề phòng biệt kích Mỹ hoặc có thể chúng ném bom để phi tang nhân chứng đã sát hại dân thường mà cả thế giới đang kịch liệt lên án. Không có bệnh viện, nhà trẻ, trường học... nào trên miền Bắc Việt Nam mà không có bom đạn của Mỹ từ trên trời ném xuống... Đến thời điểm đó có hơn 500 giặc lái bị ta bắt sống, nhưng giam giữ ở trại giam Sơn Tây chỉ hơn 300 tên. Hàng ngày chúng cho máy bay không người lái, rồi SR-71 bay qua trại giam chụp ảnh rất chi tiết, chúng nắm được cả thời gian sinh hoạt của tù nhân như giờ ăn, giờ nghỉ, giờ ra sân chơi, giờ làm vệ sinh... Bọn tù nhân đã vẽ những dấu hiệu trên sân chơi, đứng ở sân làm hiệu bằng tay... khi máy bay không người lái bay qua chụp ảnh. Bởi vậy chúng nắm rất chắc các chi tiết khi thả bọn biệt kích xuống trại giam. Gần đến ngày thực hiện kế hoạch đột kích, chúng cho máy bay không người lái bay thấp qua trại giam ngày đến 2-3 lần để chụp ảnh chi tiết. Thế nhưng chúng không hay biết gì chuyện bọn "tù giặc lái" ta đã chuyển đi nơi khác cách đó ít lâu rồi. Những bức ảnh không người lái chụp được có dấu lốp xe vận tải chạy vào trại giam, chúng không nghĩ đó là xe vào chở tù nhân đi mà cho rằng đó là xe tiếp tế hậu cần cho trại giam. Các đầu tham mưu của Mỹ ngày càng măc sai lầm. Đến giờ bay tập kích, chúng vẫn chắc mẩm còn 100% giặc lái đang tù ở trại giam. Phen này khi trở về Mỹ sẽ nhận được rất nhiều đô la tiền thưởng và Huân chương Bội tinh chiến thắng! Nhưng thất bại đã dành cho cả hai phía: phía Mỹ thì đã đổ quân xuống cái trại giam trống không rồi phải tự thiêu một chiếc trực thăng và rút quân, còn phía Việt Nam thì đã phóng lên không trung một số tên lửa "Sam-2" không trúng một máy bay thật nào của Mỹ cả, toàn những mục tiêu giả thôi. Nhưng cũng nhờ bài học đó mà tháng 12-1972, ta không tốn một quả tên lửa nào vào mục tiêu giả nữa. Hôm đó, tuy MiG-21 chưa triển khai trực ban chiến đấu ban đêm vì vậy không có chiếc MiG nào xuất kích, nhưng ở Sở chỉ huy Trung đoàn vẫn triển khai kíp trực đủ. Tôi ngồi ở Sở chỉ huy Trung đoàn trong khu E, nhìn về vùng trời Sơn Tây thấy rõ những vệt lửa của "Sam-2" bay vút lên không trung, nổ vào những mục tiêu giả, trong khi đó những mục tiêu thật là những máy bay C-130, AD-6, trực thăng... đang bay rất thấp đột nhập vào trại giam đổ quân biệt kích xuống để cứu tù giặc lái. Tôi cùng với anh em trực ở Sở chỉ huy nhìn thấy mà ruột gan nóng như thiêu đốt. Sau cái đêm thất bại cay đắng đó, đơn vị triển khai sẵn sàng chiến đấu toàn diện cả trên không lẫn mặt đất. Từ Sở chỉ huy đến bộ đội rồi khí tài dự bị, hậu cần... đều sơ tán về các hầm trong núi như hồi chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, đơn vị thực hiện kế hoạch gia cố lại tất cả các hầm ụ để máy bay, các hầm cho người... để chống các loại bom xuyên, bom phá rồi các loại bom bi "quả dứa", "quả ổi"... Phải có mũ rơm mang theo người để khi cần phải đội. Địch đánh phá ra miền Bắc lần thứ 2 sớm hơn ta dự kiến. Vừa ăn Tết cổ truyền vào ngày 15-2-1972 xong thì ngày 16-2-1972 địch bắt đầu đánh phá ồ ạt xuống vùng Vĩnh Linh, bị ta trừng trị, bắn rơi 2 chiếc. Sang ngày 17-2-1972, địch đánh phá ác liệt vùng Quảng Bình, bị ta bắn hạ 6 chiếc. Mỹ thực hiện đánh phá kiểu "vết dầu loang" bắt đầu từ Vĩnh Linh, Quảng Bình lan dần ra Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Phủ Lý, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, đường số 1 Bắc, Việt Trì... nhưng lần này "loang" nhanh hơn. Còn cái rốn là thủ đô Hà Nội gọi đó là "chảo lửa của bom B-52" thì chưa biết ngày nào. Bọn Mỹ gọi nơi đó là "thung lũng MiG" nên còn gờm MiG, chứ nghe chừng chúng xem thường "tên lửa Sam" lắm. Chúng đã đánh Hải Phòng, các B-52 bay thong dong vào rải bom rồi lại ung dung bay ra, có "quả Sam" nào đụng được vào đuôi chúng đâu! Từ Lầu năm góc đến Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ đều chắc mẩm lần này sẽ hủy diệt Hà Nội như hủy diệt Bình Nhưỡng hoặc Hy-rô-si-ma mà không tốn một B-52 nào! B-52 sẽ vẫn giữ được uy danh lừng lẫy và khắp thế giới vẫn run sợ. Đánh phá miền Bắc lần thứ 2 này, Mỹ dùng nhiều loại vũ khí mới chưa từng sử dụng bao giờ và ở đâu như bom từ trường, bom la-de, bom thông minh, bom phát quang có sức công phá lớn, bom khoan bê tông, ngòi nổ chậm, hẹn giờ, nổ theo tiếng động... Lực lượng phi công tham gia trực ban chiến đấu tháng 2 năm 1972 của hai Trung đoàn Không quân 921 và 927 như sau: Trung đoàn Không quân 921 hoãn kế hoạch di chuyển vào sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hóa và triển khai trực ban chiến đấu ở sân bay Đa Phúc, vì vậy lực lượng trực ở sân bay Đa Phúc rất dồi dào. Biên đội 4 chiếc được sắp xếp như sau: - Lê Thanh Đao - Lê Khương - Lê Minh Dương - Mai Văn Tuế. - Phạm Phú Thái - Võ Sỹ Giáp - Bùi Văn Long - Hoàng Quốc Dũng. - Đặng Ngọc Ngự - Cao Sơn Khảo - Ngô Văn Phú - Nguyễn Hồng Mỹ. - Nguyễn Văn Lung - Ngô Duy Thư - Nguyễn Đức Soát - Dương Đình Nghi. - Nguyễn Tiến Sâm - Nguyễn Thanh Xuân - Trần Cung - Nguyễn Đức Chiến. - Đặng Xây - Trần Văn Năm - Mai Văn Cương - Trần Sang... Đêm 21-2-1972, phi công Đặng Vân Đình xuất kích ban đêm, gặp địch, địch phóng 2 quả tên lửa đối đầu. Như vậy, địch đã giở trò bắn đối đầu ban đêm, phi công ta cần cảnh giác đề phòng. Cuối tháng 2-1972, tình hình các cửa hàng bán thịt ở Đa Phúc có gặp khó khăn. Bếp bay thiếu thịt nạc cho nên phải mổ lợn tăng gia của đơn vị mới đủ cho 2 bếp bay có thức ăn hàng ngày. Tình hình bệnh cúm phát triển đã ảnh hưởng đến lực lượng phi công trực chiến. Các bữa ăn phụ ngoài sân bay có bị giảm sút, cần phải khắc phục ngay. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Mười, 2025, 08:13:24 pm Mặc dù lúc này tôi thường xuyên túc trực ở Sở chỉ huy, bận bịu lo cho chiến đấu, tuy vậy, "thượng vàng hạ cám" công việc cho đến hậu cần bếp núc đều dồn về thủ trưởng trực Sở chỉ huy. Phải có quyết sách để các cấp dưới lo giải quyết kịp thời.
Công việc tối quan trọng của thời chiến đó là nhanh chóng, kịp thời. Tháng 2 trời u ám đã qua. Bước sang tháng 3 trời tốt dần lên. Đơn vị chuẩn bị lực lượng cơ động vào khu Bốn đánh B-52 thì nhiều sự việc không may xảy ra, đầy ắp trong đầu người chỉ huy lãnh đạo toàn những chuyện buồn tiếc thương. Đó là vào ngày 1-3-1972, phi công Đặng Vân Đình xuất kích ban đêm đến khu vực Mộc Châu thì bị địch bắn rơi. Ta mất cảnh giác vì địch đã cho một số tốp F-4 phục kích sẵn ở đó. Sau này ta bắt được giặc lái, bọn chúng khai rằng mưu đồ của chúng lúc đó là phải diệt hết phi công MiG bay đêm để dễ dàng đưa B-52 vào đánh Hà Nội. Chúng rất gờm MiG-21 đánh đêm. Trận B-52 gặp MiG-21 đêm 10-11-1971, bị MiG-21 bắn bị thương là trận nhớ đời của giặc lái B-52. Đêm 1-3-1972, phi công Phạm Tuân làm mũi chủ công dẫn đường chính vào trận thì lại không gặp địch. Ngày 3-3-1972, phi công Bùi Văn Long bay huấn luyện trên loại máy bay MiG-21F-96 (loại MiG cải tiến mang 4 tên lửa), lúc về thả càng hạ cánh thì càng không ra hết. Khi máy bay tiếp đất bị nghiêng lệch ra ngoài đường băng, chạy được 1.000 mét thì vấp phải rãnh thoát nước, hỏng hoàn toàn máy bay. Do va đập mạnh nên phi công đã bị hy sinh. Chiều ngày 3-3-1972 lại tiếp tục xảy ra một vụ tai nạn đau xót khôn lường nữa. Đó là chiếc máy bay vận tải Li-2 chở bộ phận cơ động của Trung đoàn Không quân 921 từ sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân bay vào sân bay Vinh. Trên máy bay có hơn 30 thợ máy ưu tú được lựa chọn đi cơ động cùng với tổ chỉ huy 3 người là Trung đoàn phó Lê Trọng Huyên-Thiếu tá phi công MiG-21 đã bắn rơi 4 máy bay Mỹ, Phó chính ủy Trung đoàn - Thiếu tá Nguyễn Văn Tho và phi công chỉ huy cất hạ cánh Phạm Văn Mạo, cộng với tổ bay Li-2 gồm 5 người. Khi máy bay bay vào đến sân bay Vinh, giảm độ cao vào vòng lượn để hạ cánh thì trận địa "Sam-2" ở Vinh đã bắn nhầm. Máy bay cháy và rơi. Tất cả số người trên máy bay đều hy sinh. Đó là một tai nạn vô cùng đau xót do sự hiệp đồng thông báo thiếu chính xác. Nó là bài học nhớ đời của đơn vị "tên lửa Sam". Ngày 4-3-1972, toàn Quân chủng kiểm tra về an toàn bay. Ngày 5-3-1972, họp Đảng ủy cả ngày. Các phi công đánh đêm Đinh Tôn, Hoàng Biểu cơ động vào B2 và B5 (Vinh và Đồng Hới). Ngày 12-3-1972, Trung đoàn Không quân 921 tổ chức băn thử tên lửa trên loại máy bay MiG-21F-96. Ngày 14-3-1972, Tiểu đoàn máy bay ném bom IL-28 huấn luyện bay đêm. Máy bay bị rơi xuống đầu Nam sân bay Hòa Lạc. Tổ bay hy sinh, chưa rõ nguyên nhân. Ngày 19-3-1972, Tư lệnh xuống kiểm tra sở chỉ huy và giao nhiệm vụ chiến đấu tới: - Lực lượng trực ban chiến đấu ở sân bay Đa Phúc ban ngày gồm 8-12 chiếc MiG-21. - Phương án đánh: 1 hướng chính, 1 hướng phụ. - Sở chỉ huy Trung đoàn phải đảm nhận dẫn cho được 2 tốp (8 chiếc). - Triển khai Sở chỉ huy hỗ trợ ở Mộc Châu. Trung đoàn cử Trung đoàn phó Nguyễn Nhật Chiêu lên đường ngay ngày hôm đó. - Tất cả các sân bay trên miền Bắc phải tổ chức chỉ huy hỗ trợ khi đánh quần với địch tại sân bay. - Bố trí lại các tuyến trực ban tại sân bay 1, 2, 3... - Phòng tránh và sơ tán phải làm triệt để, chống bệnh chủ quan không xuống hầm khi báo động có B-52, nhất là vào ban đêm khuya khoắt, trời lạnh... - Sẵn sàng di chuyển Sở chỉ huy. Khi có lệnh, trong một đêm phải hoàn thành. - Sơ tán phi công vào ở làng Thụy Hương, Hương Gia. Tư lệnh kết luận công tác phòng, chống bom rải thảm của B-52, đơn vị làm tích cực và kiên quyết nhưng cũng còn bộc lộ một số khuyết điểm yếu kém cần phải sâu sát chấn chỉnh cho kịp thời. Công tác Đảng, công tác chính trị cần nhạy bén nắm tư tưởng bộ đội, động viên kịp thời nhất là ý chí quyết thắng B-52 ngay từ đầu, trận đầu khi địch đánh vào Hà Nội. Nhắc lại lời tiên đoán của Bác Hồ "... sớm hay muộn gì thì đế quốc Mỹ cũng đem B-52 đánh phá Hà Nội...". Tháng 4-1972, Mỹ đánh phá hầu hết các tỉnh ở miền Bắc. Tuyến đường sắt lưu thông sang Trung Quốc gần như tê liệt hoàn toàn. Tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng cũng bị gián đoạn. Mỹ tiến hành chiến dịch phong tỏa tất cả các cảng biển, các cửa sông miền Bắc Việt Nam thông ra biển Đông- Tất cả đều bị rải thủy lôi, rải mìn không còn một khe hở nào để tàu bè có thể qua lại được. Các tàu thủy của Liên Xô, Trung Quốc... chở hàng viện trợ cho ta gồm đường, sữa, bột mì, thuốc cấp cứu, bông băng sát trùng, thuốc kháng sinh... phục vụ cho các bệnh viện, nhà trẻ, mẫu giáo, cho người già, cho thương binh... đều phải nằm chết dí ngoài phao số 0. Việt Nam lên án Mỹ. Thế giới phản đối Mỹ gây ra một kiểu chiến tranh đầy tội ác không thể dung thứ. Ở vùng biển khu Bốn, tàu Trung Quốc có sáng kiến là dùng bao tải bằng ni-lông rồi cho các mặt hàng đường, sữa, bột mì... vào, buộc chặt lại và thả xuống biển để sóng đánh vào bờ cho dân quân ven bờ biển Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh bơi ra vớt về giao cho các bệnh viện, nhà trẻ. Nhưng Mỹ lại cho máy bay trực thăng bay dọc bờ biển, dùng súng 20 li bắn theo các bao đó làm rách và chìm. Bao nào còn nổi, vớt được về thì cũng không sử dụng được vì ngấm nước mặn. Còn một tội ác nữa mà Mỹ gây ra nhằm hủy diệt mầm sống ở Việt Nam mà trên thế giới chưa từng có bao giờ. Đó là những bọn máy bay "con ma" F-4 bay vượt âm thanh ở độ cao cực thấp trên vùng đồng bằng Bắc Bộ đông đúc dân cư. Sóng âm thanh dồn nén khối không khí, gây ra tiếng nổ chấn động làm biến dạng (dị dạng) mầm sinh chưa hình thành sinh linh. Thời đó, trên bầu trời đất nước Xô-viết, luật pháp quy định chỉ cho phép máy bay bay vượt âm thanh phải ở độ cao từ 10 km trở lên. Hôm nay, ở Việt Nam, tuy rằng những lần bay vượt âm thanh của bọn F-4, F-105 ở độ cao cực thấp chưa có hồ sơ tài liệu của các nhà khoa học chứng minh sự thiệt hại do tội ác này gây ra cho đồng bào ta trên miền Bắc, nhưng lịch sử sẽ lời, bắt đế quốc Mỹ phải bồi thường cho đồng bào ta. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Mười, 2025, 08:16:33 pm Ngày 10-5-1972, Trung đoàn Không quân 927 (Trung đoàn MiG-21 thứ hai) đánh thắng trận đầu ròn rã do biên đội 2 chiếc MiG-21 của Lê Thanh Đạo, Vũ Văn Hợp bắn hạ 2 chiếc F-4 của Không quân Hải quân Mỹ trên vùng trời Hải Dương, mở ra trang sử vinh quang đầu tiên của Trung đoàn.
Trung đoàn mới thành lập chưa đầy ba tháng, lực lượng chiến đấu tuyệt đại đa số là phi công trẻ, mới tốt nghiệp bay MiG-21 ỏ Liên Xô về, chỉ có cán bộ Trung đoàn và Phi đội là đã qua trận mạc từ Trung đoàn Không quân 921 chuyển sang làm nòng cốt. Trung đoàn gặp muôn vàn khó khăn về quản lý một sân bay lớn (sân bay Đa Phúc) vừa lo đảm bảo cho mình xây dựng và chiến đấu, vừa đảm bảo phục vụ cho các Trung đoàn bạn cơ động tới làm nhiệm vụ (các Trung đoàn 921, 923, 925, 929...). Trung đoàn Không quân 927 bước vào trực ban chiến đấu đúng 1 tháng (từ 9-4 đến 10-5-1972) thì đánh thắng trận đầu. Thời gian một tháng đó là VÀNG của Trung đoàn. Tôi đã cố gắng truyền lại cho anh em những kinh nghiệm mình đã kinh qua trong các trận không chiến rồi đề đạt với Quân chủng tích cực cho anh em bay xuất kích chiến đấu. Có trận gặp địch nhưng chưa đánh được thì về rút kinh nghiệm. Có lần cho xuất kích giả là có địch đến gần, biên đội ở thế bất lợi. Cứ thông báo cho đội hình vòng trái gấp, vòng phải gấp..., rồi thông báo đằng sau có địch... để cho biên đội chỉ huy xử lý như có địch thật... để nghe anh em báo cáo về Sở chỉ huy với giọng nói bình tĩnh, đĩnh đạc hay là lập cập, hồi hộp. Ngồi ở Sở chỉ huy, người chỉ huy có thể hiểu được trạng thái tinh thần của phi công trên bầu trời (bình tĩnh, hồi hộp, lo lắng, mất tinh thần, sợ sệt...). Tùy từng trạng thái mà người chỉ huy sẽ ra khẩu lệnh hỗ trợ tinh thần cho phi công vượt qua giây phút mất bình tĩnh đó... Phát huy chiến thắng trận đầu, Trung đoàn liên tiếp giành thắng lợi từ ngày 10-5 đến ngày 31-12-1972. Toàn Trung đoàn đã bắn hạ được 41 máy bay của giặc Mỹ, trong đó 1 "pháo đài bay" rơi tại chỗ, bắt sống được 18 giặc lai từ cấp Trung úy đến Trung tá của Không quân Mỹ. Trong chiến công hiển hách đó phải nói đến những đôi bay, những phi công tài trí, dũng cảm của Trung đoàn như các đôi bay Lê Thanh Đạo-Vũ Văn Hợp, Nguyễn Đức Soát-Ngô Duy Thư, Nguyễn Văn Nghĩa-Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Tiến Sâm-Hạ Vĩnh Thành, Ngô Văn Phú-Ngô Duy Thư, Đỗ Văn Lanh-Dương Bá Kháng, Nguyễn Ngọc Hưng-Mai Văn Tuế, Lê Thanh Đạo-Trần Văn Năm, Lê Kiền-Hoàng Tam Hùng, Bùi Đức Nhu-Nguyễn Tiến Sâm... và một chọi một với nhiều chiếc như phi công Vũ Xuân Thiều, Nguyễn Ngọc Thiên... Phi công của Trung đoàn được Đảng, Quốc hội tuyên dương danh hiệu Anh hùng là: Nguyễn Đức Soát, Nguyễn Tiến Sâm, Nguyễn Văn Nghĩa, Vũ Xuân Thiều, sau này là Bùi Đức Nhu. Theo tôi, tất cả phi công của Trung đoàn họ chiến đấu rất dũng cảm, ngoan cường, sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc thân yêu. Họ "lặn lội" trong đám vũ khí hiện đại của Không quân Mỹ để bắn hạ được một chiếc máy bay Mỹ là xứng đáng Anh hùng rồi! Cuộc chiến giữa Không quân Việt Nam và Không quân Mỹ là một cuộc chiến không cân sức. Mỹ đã gây cho Không quân ta có nhiều tổn thất nói chung, trong đó có Trung đoàn Không quân 927 nói riêng. Chỉ qua hơn 6 tháng chiến đấu, Trung đoàn đã bị rơi 16 máy bay MiG-21 và 8 phi công hy Sinh. Đó là các phi công vô cùng yêu quý của chúng ta, của đồng đội, của gia đình, của Trung đoàn Không quân 927. Họ đã anh dũng chiến đấu quên thân vì dân, vì nước. Hình ảnh của họ còn đọng mãi mãi trên bầu trời và đêm đêm bay theo ánh sao về thăm Đất Mẹ! 8 phi công của Trung đoàn đã hy sinh trên bầu trời miền Bắc đó là: - Nguyễn Văn Lung. - Nguyễn Ngọc Hưng. - Vũ Văn Hợp. - Mai Văn Tuế. - Nguyễn Thắng Được. - Nguyễn Thế Đức. - Vũ Xuân Thiều. - Nguyễn Ngọc Thiên. Trong chiến công hiển hách của Trung đoàn, mỗi khi nhắc đến không thể nào không nhớ đến những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy lớp đầu tiên của Trung đoàn. Họ đã khắc phục biết bao khó khăn, thiếu thốn, chung lưng xây dựng Trung đoàn vượt qua hết thảy gian nan vất vả. Tất cả vì chiến đấu thắng lợi! Cũng không thể không nói đến công sức to lớn, chí khí dũng cảm, kiên cường của cán bộ, chiến sĩ toàn Trung đoàn từ phi công đến chiến sĩ thông tin, tiêu đồ, đến những chiến sĩ binh nhì gác đường băng... Tất cả họ đều dũng cảm ngoan cường, hiên ngang trước bom đạn địch để hoàn thành nhiệm vụ của Trung đoàn. Lớp cán bộ đầu tiên đó là: - Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Nhị. - Trung đoàn phó Nguyễn Nhật Chiêu. - Trung đoàn phó Nguyễn Đăng Kính. - Trung đoàn phó Nguyễn Văn Nhiên. - Chính ủy Trung đoàn Trần Ưng. - Phó Chính ủy Đinh Văn Dây. - Phó Chính ủy Lê Tự Do. - Chủ nhiệm Chính trị Nguyễn Trọng Yêng. - Tham mưu trưởng Nguyễn Văn Tỉnh. - Tham mưu phó Lương. - Chủ nhiệm kỹ thuật máy bay Mai Bá Quát. - Chủ nhiệm hậu cần kiêm Tiểu đoàn trưởng sân bay Đa Phúc Nguyễn Bá Thi. - Các Trưởng tiểu ban: Tác chiến Nguyên, Quân báo Tính, Dẫn đường Bình, Thông tin Giáo, Khí tượng Tài, Hành chính Tòng... Bằng một vài dòng ký ức ngắn, tôi xin bày tỏ lòng tri ân đối với tất cả cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Không quân 927 thân yêu của tôi! Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Mười, 2025, 08:18:01 pm Ở miền Bắc Việt Nam, độ từ tháng 6 cho đến tháng 10 hàng năm là mùa mưa to, giông bão... rất nguy hiểm cho hệ thống đê điều. Các tỉnh thuộc vựa lúa của Bắc Bộ có rất nhiều đê của các con sông lớn như sông Hồng, sông Luộc, sông Đuống... Nếu đê bị vỡ thì mùa màng mất trắng, người chết, bệnh tật truyền nhiễm phát triển... Đế quốc Mỹ đã lợi dụng vào mùa nước lên cao tràn ngập đê để tăng cường ném bom xuống hệ thống đê nhằm tiêu hủy nguồn lương thực sống của nhân dân miền Bắc và là nguồn lương thực chủ yếu chi viện cho chiến trường. Nông dân miền Bắc Việt Nam làm ra được một hạt gạo là chia làm 4 phần: 3 phần dành cho 3 chiến trường là miền Nam Việt Nam, Lào và Đông Bắc Căm-pu-chia, chỉ còn lại phần nhỏ dành cho cái nồi của mình. Mùa mưa lụt thì đế quốc Mỹ ném bom phá hoại hệ thống đê điều nhằm triệt phá nguồn lương thực, còn mùa khô, mùa lúa đang chín vàng rực rỡ trên các cánh đồng thì đế quốc Mỹ triệt phá bằng cách cho máy bay ném bom na-pan đốt cháy thành tro những đồng lúa đang chín. Người nông dân đứng chống cuốc nhìn cánh đồng lúa cháy mà ruột đau như cắt. Họ nghĩ đến các chiến sĩ con em của mình đang ở chiến trường phải ăn rau rừng để chiến đấu!
Cuộc chiến tranh đế quốc Mỹ gây ra ở Việt Nam là cuộc chiến tranh hủy diệt hết thảy sự sống ở Việt Nam. Ở miền Bắc Việt Nam thì Mỹ dùng máy bay, tàu chiến mang đầy bom đạn trút xuống bất kể đâu, từ làng quê đến phố phường, đồng ruộng, đê điều, bệnh viện, nhà trẻ, nhà hộ sinh... Còn ở miền Nam, ngoài bom đạn, Mỹ còn dùng chất độc đi-ô-xin rải xuống hầu khắp chỗ nào mà Mỹ cho là có Việt cộng ở để sát hại không chỉ một kiếp người mà hậu quả còn để lại di chứng dai dẳng cho nhiều kiếp sau nữa. Quân đội Mỹ đổ vào miền Nam Việt Nam cũng là một đội quân tàn ác dã man chưa từng có ở Việt Nam. Viết đến đây, tôi phải nói trường hợp lính Mỹ sát hại dã man đối với gia đình và người mẹ vô cùng yêu quý của tôi. Năm đó (năm 1968) cụ đã 60-70 tuổi, già yếu không làm gì nổi nữa. Cụ ở nhà mỏi mắt chờ người con trai đi tập kết ngoài Bắc về. Một hôm, lính Mỹ đi lùng sục, bắt được cụ. Chúng tra khảo cụ bằng cách thả cụ xuống giếng. Cụ bị chết ngạt thì chúng lại kéo cụ lên, rồi lại thả cụ xuống cứ nhiều lần như thế. Rồi chúng bỏ đi. Bà con hàng xóm đã đến cứu cụ sống lại. Lính Mỹ dã man hành hạ mẹ tôi chỉ vì chúng ghép cho cụ cái tội là đã báo cho Việt cộng biết tin lính Mỹ đi lùng sục qua làng... Tội trạng của cụ, chúng nó mới nghi ngờ vậy thôi mà đã hành hạ cụ cho đến chết! Cái thuyết dã man của lính Mỹ là "thà giết nhầm người không có tội còn hơn là bỏ sót!". Bà con trong làng đã tôn vinh cụ là Liệt sỹ thời chống Mỹ. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cấp bằng liệt sỹ cho cụ và đề nghị truy phong vinh danh là Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Chì, hy sinh ngày 18- 3-1968 tại làng Hy Văn, xã Hoài Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định. Cha tôi là cụ Nguyễn Luật cũng độ tuổi như mẹ tôi. Ông cụ mắt bị mờ không còn thấy rõ, tai bị điếc không còn nghe được gì, vậy mà chúng cũng gán cho cái tội là Việt cộng. Bọn lính Mỹ bắt giam cụ ở nhà giam Quy Nhơn để tra tấn. Người con trai cả của hai cụ là Nguyễn Văn Tuần bị lính Mỹ giết hồi tháng 2 năm 1967 tại quê. Anh Nguyễn Văn Tuần được phong tặng là Liệt sỹ chống Mỹ. Người con trai út của hai cụ là Nguyễn Văn Nhơn thì bị tai nạn ở Cam Ranh do đi trốn địch truy bắt lính. Quân đội Mỹ, quân đội các nước chư hầu của Mỹ đóng quân ở miền Nam Việt Nam lập ra rất nhiều nhà tù để giam cầm những người chúng gọi là Việt cộng (cộng sản). Bất cứ người già, người trẻ, trai hay gái mà chúng cho là cộng sản hoặc nuôi cộng sản thì hết thảy đều bị bắt giam và tra tấn băng các kiểu tàn bạo dã man nhất trên đời, làm cho họ chết dần chết mòn. Có ai may mắn còn sống sót thì cũng trở thành thân tàn ma dại, không còn làm được gì nữa. Trong tất cả các trại tù mà quân Mỹ lập ra, rùng rợn nhất là trại tù ở đảo Phú Quốc, còn có tên gọi là "Nhà lao cây dừa". Nhà lao ấy năm ở phần phía Nam đảo Phú Quốc. Đảo Phú Quốc là một hòn đảo giàu đẹp của Việt Nam đã trở thành nơi giết những người lính "Bắc Việt" ghê rợn nhất của quân sát nhân Mỹ. Anh em bộ đội quê ở ngoài Bắc tình nguyện vào miền Nam chiến đấu đánh đuổi quân xâm lược Mỹ, nếu có ai không may sa vào tay giặc thì quân Mỹ tập trung họ hết thảy ra "nhà lao cây dừa" do quân Mỹ trực tiếp quản lý và tra tấn với những đòn tàn bạo nhất trên đời đối với con người. Bọn cai tù là người Mỹ, chúng đã giết hại hàng vạn anh em bộ đội của ta bằng nhiều hình thức dã man tàn bạo nhất, ghê rợn nhất mà không ở đâu có. Sau ngày hòa bình, nhà văn Chu Lai đã tìm gặp một số người tù còn may mắn sống sót kể lại tội ác của giặc Mỹ ở "nhà lao cây dừa". Ai chưa được đọc thì nên tìm đọc để mà ghi nhớ có một thời tội ác của giặc Mỹ là như vậy đối với những người mà Mỹ gọi là "Việt cộng Bắc Việt". Theo tôi, nhà văn Chu Lai cố gắng lắm cũng chỉ mới ghi lại được một phần ngàn, phần vạn tội ác mà quân xâm lược Mỹ đã gây ra cho đồng bào, đồng đội của chúng ta ở miền Nam mà thôi. Còn hàng vạn tội ác dã man nữa kẻ thù đã gây ra cho những người tù mà Mỹ đã dìm chết dưới đáy biển Phú Quốc hoặc trong rừng già Phú Quốc hay ở ngay tại mảnh đất "nhà lao cây dừa" thì họ không còn kể lại được bằng tiếng nói, nhưng tâm linh của họ vẫn còn sống mãi ở đất nước này. Chúng ta, con cháu chúng ta muốn đời tri ân họ. Họ đã hy sinh oanh liệt trong cuộc chiến tranh vì sự thống nhất đất nước, vì cuộc sống hạnh phúc cho chúng ta hôm nay. Tháng 9 đi qua, tháng 10 tới cũng là chấm dứt mùa bão lụt ở miền Bắc, có nghĩa là bớt đi một kẻ thù hung hãn, đó là lụt, là đê vỡ phá hoại mùa màng. Không lo nạn Mỹ thả bom phá hoại đê điều thì Mỹ lại tăng cường thả mìn, thả thủy lôi xuống các cảng ven biển ngày càng dày đặc hơn. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Mười, 2025, 08:20:30 pm Hội nghị Paris có nguy cơ tan vỡ. Phía Mỹ lại kêu rên rằng "hòa bình cho Đông Dương đã ở trong tầm tay". Luận điệu lừa bịp quốc tế của Nich-xơn thật điêu luyện! Những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới thì thở phào nhẹ nhõm mừng cho Việt Nam sắp có hòa bình! Trong khi đó ở bàn Hội nghị Paris, phía Mỹ đòi sửa lại tất cả các điều khoản mà hai bên đã thỏa thuận chuẩn bị ký kết vào cuối tháng 10-1972. Thật là một sự tráo trở, lừa dối mua chuộc cử tri Mỹ bỏ phiếu cho Nich-xơn trúng Tổng thống Mỹ và lừa dối nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Còn nhân dân Việt Nam thì thừa biết trò lừa bịp của Mỹ cho nên những ngày này càng nâng cao cảnh giác hơn lúc nào hết. Suốt thời gian này, tôi luôn trực ở Sở chỉ huy của Trung đoàn Không quân 927 tại sân bay Đa Phúc, theo dõi tình hình một cách toàn diện giữa hai phía. Mỹ đã điều thêm máy bay B-52 đến căn cứ Utapao, Thái Lan đồng thời điều thêm 2 tàu chở máy bay đến vịnh Bắc Bộ, tăng lên là 4 chiếc và tăng thêm một tàu chở trực thăng cấp cứu giặc lái. Rõ ràng Mỹ tăng cường lực lượng máy bay chiến thuật và máy bay chiến lược để mở những trận đánh lớn xuống miền Bắc nhằm hủy diệt tất cả tiềm lực kinh tế, quốc phòng ở miền Bắc bằng Không quân là chính chứ chưa có dấu hiệu chúng dùng bộ binh tấn công miền Bắc để bắt Việt Nam phải chấp nhận những điều Mỹ đã đặt sẵn trên bàn Hội nghị Paris hoàn toàn có lợi cho Mỹ, giống như buộc Việt Nam phải đầu hàng vô điều kiện. Nếu Việt Nam không chấp nhận thì chiến dịch "cứu bóng trước khung thành lần 2" (chiến dịch Linebacker-2) sẽ bắt đầu. Và thực sự, chiến dịch Mỹ dùng vũ khí thông thường để hủy diệt Hà Nội và Hải Phòng đã bắt đầu! Theo các nhà tham mưu chiến lược thông thái của "Lầu năm góc" làm tham mưu cho Nich- Xơn là hiện nay vũ khí thông thường của Mỹ đã được cải tiến mới, có hiệu lực và độ chính xác cao, chỉ cần dùng "siêu pháo đài bay" rải thảm từ 3 ngày đến 1 tuần lễ thì Hà Nội sẽ thành đống gạch vụn! Như vậy, chúng ta (Mỹ) đủ sức bắt Hà Nội phải quỳ gối ký Hiệp định theo ý của Mỹ mà thôi! Mặt khác, bọn uống máu người không tanh của "Lầu năm góc" còn thuyết trình cho Nich-xơn rằng hiện tại Nga Xô cũng có vũ khí nguyên tử ngang bằng với Mỹ, khác với khi mà Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật. Hồi ấy, trên thế giới chỉ có mỗi mình Mỹ có bom nguyên tử nên không lo gì đến an ninh của nước Mỹ, còn ngày nay, nếu Mỹ hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng giống như Hi-rô-si-ma, Na-ka-za-ki, nhưng bằng vũ khí thông thường thì sẽ không ngại gì sự phản ứng của Nga Xô và Trung Cộng. Vậy là Nich-xơn quyết định hủy diệt Hà Nội bằng vũ khí thông thường trước Lễ Giáng sinh 1972.
Nich-xơn đe dọa hỗn xược rằng: nếu Hà Nội không chấp nhận những nội dung mà phía Mỹ áp đặt phải kỹ tại Hội nghị Paris thì Hà Nội sẽ không còn để đón Giáng sinh. Như vậy là Mỹ sẽ đánh hủy diệt Hà Nội trước ngày 24-12-1972. Đó là lý do tại sao Mỹ lại chọn ngày 18-12 để bắt đầu trận đánh hủy diệt Hà Nội, đồng thời ngày ấy cũng trùng với ngày mà cố vấn của đoàn Việt Nam - ông Lê Đức Thọ từ Paris về tới Hà Nội. Mỹ quyết định đánh nát tất cả các sân bay miền Bắc trước 20 giờ ngày 18-12 để chiếc máy bay chuyên cơ BH-195 chở ông Lê Đức Thọ về Hà Nội không còn chỗ đáp thì chỉ còn cách bay sang sân bay Trung Quốc đậu nhờ. Nich-xơn và Kitsinggơ chơi thâm hiểm như vậy đối với một nhà chính trị lừng danh của Việt Nam tại Hội nghị Paris cả thế giới đều nể phục ông. Khi trở lại Paris để ký kết chính thức Hiệp định, các nhà báo hỏi ông Lê Đức Thọ: "Khi về Việt Nam, bị Mỹ dùng B-52 ném bom rải thảm Hà Nội, ông nghĩ sao?" thì ông đã trả lời Mỹ đón tiếp ông ở Hà Nội rất "lịch sự". Mỹ định triệt đường về Hà Nội của ông Lê Đức Thọ, nhưng bị hụt... Sự việc ấy đã để lại tiếng xấu cho lịch sử ngoại giao Mỹ. Ngày 17-12-1972, tôi lên Quân y viện 9 ở Vĩnh Yên (nơi sơ tán) để thăm đồng chí Lê Thanh Đạo, phi công MiG- 21 của Trung đoàn bị thương đang điều trị ở đó (do trận chiến đấu hồi tháng 11 giành chiếc máy bay thứ 4000 nhưng không thành công). Quân chủng chỉ cho tôi đi trong ngày vì ngày 18-12 có chuyên cơ cho nên phải có mặt ở Sở chỉ huy Trung đoàn. Sáng ngày 18-12, tôi nhận ca trực thường trực ở Sở chỉ huy Trung đoàn. Trên thông báo khoảng 18 giờ sẽ có chuyên cơ đưa đồng chí Lê Đức Thọ từ Paris về Hà Nội. Trung đoàn sẵn sàng 2 chiếc MiG-21 trực để bảo vệ chuyên cơ. Cho đến 16 giờ, tình hình bầu trời vẫn im ắng, địch không đánh vào đâu cả. Anh em sỹ quan trực ngồi ở bàn tiêu đồ vẫn rất nghiêm túc theo dõi địch, bàn tán với nhau: "Chắc Mỹ sợ nhà chính trị lừng danh của Việt Nam bay về cho nên không dám xâm phạm. Máy bay chuyên cơ đã về sớm hơn trước giờ dự báo 1 giờ. Lúc 16 giờ 45 phút ngày 18-12, máy bay chuyên cơ đã hạ cánh an toàn. Dự báo 20 giờ sẽ gửi máy bay chuyên cơ sang sân bay Nam Ninh của bạn đậu nhờ. Nhưng chưa kịp cất cánh bay đi thì F-111 đã vào ném bom phá hỏng chiếc máy bay IL-18 BH-195 đậu ở sân bay Gia Lâm. Đó là chiếc máy bay chuyên cơ IL-18 mang kỹ hiệu và số BH-195 có nghĩa là "Bác Hồ -19-5 của Liên Xô tặng Bác". Tôi đang tranh thủ phút thư giãn sau khi chuyên cơ hạ canh an toàn, trao đổi với đồng chí Trần Ưng, Chính ủy Trung đòan về công tác động viên bộ đội đi cơ động trực chiến ở sân bay Cẩm Thủy thì điện thoại từ Sở chỉ huy Quân chủng gọi xuống trực tiếp cho tôi phải gặp ngay Tư lệnh Quân chủng. Tư lệnh hỏi: "Đồng chí Nhị nghe có rõ không?". Tôi trả lời: "Dạ, rõ lắm!". "Có tin tối nay Mỹ dùng B-52 đánh Hà Nội và sân bay Đa Phúc. Thế nên, ngoài lực lượng trực chiến, còn lại triệt để sơ tán ngay. Đồng chí rõ chưa?". "Dạ, rõ rồi ạ!". Mệnh lệnh của Tư lệnh ngắn gọn chỉ có thế. Chúng tôi chuẩn bị đánh B-52 vào Hà Nội đã từ lâu và nhất là mấy tuần lễ gần đây chuẩn bị rất ráo riết, nhưng khi nghe nói đêm nay B-52 đánh vào Hà Nội, tôi cũng bị những giây phút hẫng hụt, bàng hoàng. Ở đây không phải tôi sợ B-52 mà tôi nghĩ đến sự tàn phá dã man ghê gớm của giặc Mỹ đối với đồng bào Thủ đô. Ở đây không phải là căn cứ quân sự mà là tổ ấm của trẻ con, của các cụ già, bệnh viện, trường học, là di tích, công trình văn hóa lâu đời của dân tộc, của Thủ đô ngàn năm văn hiến, là trái tim của Tổ quốc. Kiểu đánh của B-52 là rải bom kiểu trải chiếu trên một diện rộng chứ đâu phải kiểu bổ nhào vào một điểm như F-105, F-4... Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 15 Tháng Mười, 2025, 08:22:04 pm Tôi gọi điện thoại lên Sở chỉ huy phía trước của Trung đoàn đóng ở Mộc Châu, gặp đồng chí Nguyễn Nhật Chiêu - Trung đoàn phó bay được phân công trực chỉ huy vòng ngoài tại Trạm ra-đa Mộc Châu. Đồng chí báo cáo là đã có nhiễu của B-52 bay qua Đà Nẵng và đang bay dọc theo sông Mê Công lên phía Bắc. Đồng chí Nguyễn Đăng Kính - Trung đoàn phó bay được phân công trực ở Sở chỉ huy Đại đội ra-đa C-43 đóng ở chợ Núi, Yên Phong cũng báo cáo đã có dấu hiệu B-52 bay ra miền Bắc. Tôi lại gọi điện xuống đơn vị công binh - sân đường gặp đồng chí Nguyễn Văn Nhiên, Trung đoàn phó mặt đất đang kiểm tra xe máy sẵn sàng cấp cứu khi bị sập hầm, kể cả cho nhân dân xung quanh sân bay, nhưng đặc biệt là công tác sửa chữa gấp sân bay.
18 giờ 30 phút, các đài trạm ra-đa báo cáo nhiễu trắng màn hình, không còn nhìn thấy gì. Cũng đúng 18 giờ 30 phút, máy bay cường kích F-111 bay ở độ cao cực thấp vào đánh khu trực ở đầu Tây sân bay Đa Phúc nhưng không trúng máy bay và đường băng. 19 giờ 30 phút ngày 18-12, Quân chủng lệnh cho Trung đoàn cho 2 chiếc MiG-21 trực đêm cất cánh bay ra ngoài vùng hỏa lực tên lửa để chặn đánh B-52. Nhưng các màn hình IKO của các đài trạm ra-đa đều bị nhiễu trắng không thể dẫn máy bay tiếp cận địch được. Tốp đầu tiên B-52 đã bay đến sân bay Đa Phúc, cắt một loạt bom rải thảm cắt đôi đường băng về phía Đông. Cả sân bay đỏ rực như một biển lửa, nguồn điện bị mất... Vào lúc 20 giờ 13 phút, chiếc B-52G mang 30 tấn bom bay vào rải thảm xuống Hà Nội đã bị Tiểu đoàn tên lửa Phòng không số 59 Trung đoàn tên lửa Phòng không 261 bắn, hạ gục xuống cánh đồng Chuôn, Phủ Lỗ, Đông Anh, Hà Nội nay là huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Đó là quê hương của truyền thuyết Thánh Gióng sau khi đánh tan giặc Ân đưa quê hương trở lại bình yên, Thánh Gióng đã cưỡi ngựa sắt bay về trời. Cũng mảnh đất đó, thời nay là nơi đầu tiên phơi xác "thần tượng" Hoa Kỳ mang bom vào định hủy diệt Hà Nội, nhưng Hà Nội không bị hủy diệt mà ngược lại là nơi đầu tiên chôn vùi uy danh nước Mỹ. Hai chiếc MiG-21 bay đã đến lúc cạn hết dầu phải về hạ cánh chỉ còn có một nửa đường băng và nhờ vào ánh sáng cháy của B-52 trên bầu trời Phủ Lỗ soi sáng đường băng. Hai chiếc MiG-21 do Trần Cung và Phạm Tuân điều khiển đã hạ cánh, phi công thì an toàn còn máy bay thì hỏng do bị gãy càng. Đêm đầu tiên B-52 đánh vào Hà Nội, Không quân ta chưa có dịp nổ súng. Từ phi công đến chỉ huy đều tức tối, bức xúc. Công sức chuẩn bị nhiều mà nhiệm vụ chưa hoàn thành. Phi công, chỉ huy, dẫn đường, ra-đa dẫn đường phải hiệp đồng chặt chẽ tìm cách dẫn máy bay ta áp sát bằng được B-52, phải bắn hạ gục nó để trả thù cho Hà Nội, cho đồng bào cả nước! Cả đêm ngày 18-12-1972, khu vực sân bay Đa Phúc tưởng như đêm hoa đăng, trên bầu trời đầy ắp ánh chớp của đạn cao xạ và tên lửa "Sam" nổ, dưới mặt đất thì ánh chớp lửa của bom B-52 và tiếng động cơ gầm rợn người, nhưng mọi người đều phớt lờ hết, ra ngoài hầm trú ẩn, lớp thì đi đào bới đất để cứu dân, cứu thương binh, liệt sĩ bị bom B-52 vùi lấp, lớp thì đi lùng bắt giặc lái B-52, lớp thì đi nhặt xác B-52 thu thập tài liệu xem loại B-52 gì (B-52G hay B-52H)... Đêm ngày 18-12-1972 trở thành mốc son lịch sử của dân tộc ta trong trang sử chống đế quốc Mỹ xâm lược. Ta đã hạ gục 1 trong 3 thần tượng của Mỹ răn đe thế giới, đó là "tên lửa hạt nhân, tàu ngầm nguyên tử và máy bay chiến lược B-52". 4 giờ 39 phút ngày 19-12-1972, Tiểu đoàn tên lửa Phòng không số 77 thuộc Trung đoàn 257 tên lửa Phòng không đã hạ gục tại chỗ 1 B-52 ở Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Nội. Sáng sớm tinh mơ ngày 19-12, Sở chỉ huy Trung đoàn đã nhộn nhịp tiếp các mẹ, các chị, những người vợ bộ đội và các em thiếu nhi đến thăm, mang theo đường sữa, trứng gà cho thương binh. Các mẹ nói: "Đêm qua lửa đạn bom nổ ở sân bay, các mẹ chưa từng thấy bao giờ, sáng sớm nay không nghe thấy tiếng nổ thử máy của máy bay mình như lâu nay. Các mẹ tưởng các con chết hết rồi, nhưng... thôi, các con còn sống vậy là các mẹ mừng lắm rồi!". Cô Dậu (vợ tôi) ở trên núi cao Tam Đảo cũng cấp tốc đạp xe đạp xuống sân bay xem chồng mình (tôi) có bị sao không. Cô Dậu nói: "Đêm qua em thức trắng, ngồi trên đỉnh núi nhìn xuống sân bay nhìn thấy bom nổ, lửa cháy khắp sân bay không còn sót một chỗ nào, em cứ lo cho anh... Thôi, còn được gặp anh đây là em yên tâm rồi. Vậy em phải về kẻo con nó khóc nhớ mẹ, tội nghiệp lắm!"... 20 giờ 10 phút ngày 20-12, Tiểu đoàn tên lửa số 93, Trung đoàn 261 đã bắn rơi 1 B-52 tại Yên Thường, Yên Viên, Hà Nội 20 giờ 34 phút, Tiểu đoàn tên lửa số 77, Trung đoàn 257 đã bắn rơi 1 B-52 tại Vạn Thắng, Ba Vì, Hà Nội. 5 giờ 9 phút ngày 21-12-1972, Tiểu đoàn tên lửa số 77, Trung đoàn 257 đã bắn rơi 1 B-52 tại Phúc Yên, Vĩnh Phúc. 5 giờ 11 phút ngày 21-12-1972, Tiểu đoàn tên lửa số 57, Trung đoàn 261 đã hạ gục 1 B-52 tại chợ Thá, Núi Đôi, Đa Phúc, Vĩnh Phúc. 5 giờ 14 phút ngày 21-12-1972, Tiểu đoàn tên lửa số 79, Trung đoàn 257 đã hạ gục 1 B-52 tại Phả Lại, Chí Linh, Hải Dương. 3 giờ 40 phút ngày 22-12-1972, kỷ niệm 28 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Tiểu đoàn tên lửa số 93, Trung đoàn 261 đã hạ gục 1 B-52 tại Quỳnh Côi, Quỳnh Phụ, Thái Bình. 3 giờ 41 phút ngày 22-12-1972, Tiểu đoàn tên lửa số 57, trung đoàn 261 đã hạ gục 1 B-52 tại Chợ Bến, Mỹ Đức, Hà lây (nay là Hà Nội). 3 giờ 42 phút ngày 23-12-1972, Tiểu đoàn tên lửa số 78, trung đoàn 257 đã hạ gục 1 B-52 tại Thanh Miện, Hải Dương. Đêm ngày 24-12-1972, Lễ Giáng sinh, Nich-xơn dắt tay phu nhân đi nhà thờ cầu Chúa và ra lệnh cho Không quân chiến lược ngừng ném bom Hà Nội để nghỉ lễ Nô-en. Nich-xơn mang theo một chuỗi những hồn ma thần tượng của 10 B-52 bị tên lửa Phòng không Việt Nam hạ gục tại chỗ. Xác phơi trắng ở các cánh đồng quanh Hà Nội còn hồn thì bay về Mỹ. Hà Nội vẫn đón Nô-en tưng bừng. Hà Nội chưa bị hủy diệt... Nich-xơn cùng phu nhân đứng dự Lễ Chúa Giáng sinh mà lòng tức uất đến tận cổ, lẩm bẩm cầu khẩn Chúa ban phước lành cho những trận đánh tới không có chiếc B-52 nào rơi tại chỗ nữa. Cầu Chúa che chở cho các thần tượng được an toàn hoặc nếu có vướng đạn tên lửa hay đạn của MiG thì cũng cố bay về đất Thái Lan hay ra biển mới nhảy dù, ở đó sẽ có trực thăng cấp cứu. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 06 Tháng Mười Một, 2025, 07:55:41 pm Đêm ngày 26-12-1972, Nich-xơn chỉ thị cho tướng Mỹ chỉ huy Chiến dịch Linebacker-2 còn bao nhiêu máy bay B-52 phải dốc hết lực đánh Hà Nội một trận hủy diệt để các nhà lãnh đạo Việt Nam nhớ đời và phải chấp nhận điều kiện của Mỹ đưa ra tại Hội nghị Paris. Song tướng Mỹ cũng chỉ huy động được tối đa số phi công của 105 chiếc B-52 chịu đi đánh, số còn lại hơn 20 tổ bay đều cáo ốm không bay được, thực chất là mất tinh thần. Chúng từng nói với nhau là "mở cửa buồng lái B-52, bước vào máy bay như bước vào nhà mồ khi bay vào Hà Nội. Thật khủng khiếp!".
Trận đánh đêm ngày 26-12-1972 đó là trận đánh lớn nhất từ trước tới giờ với 3.150 tấn bom phá trút xuống thành phố Hà Nội trong một đêm. Mở màn cho trận thua mang tầm lịch sử của Không quân chiến lược Mỹ đêm ngày 26-12-1972 đó là: - 22 giờ 29 phút, Tiểu đoàn tên lửa số 78, Trung đoàn 257 đã hạ gục 1 B-52 tại Định Công, Hà Nội. - 22 giờ 30 phút, Tiểu đoàn tên lửa số 76, Trung đoàn 257 đã hạ gục 1 B-52 tại Tương Mai, Hà Nội. - 22 giờ 33 phút, Tiểu đoàn tên lửa số 93, Trung đoàn 261 đã hạ gục 1 B-52 tại Đèo Kế, Thái Nguyên. - 22 giờ 47 phút, Tiểu đoàn tên lửa số 79, Trung đoàn 257 đã hạ gục 1 B-52 tại Sơn La. Như vậy là cái đêm mà Nich-xơn cầu Chúa ban phước lành cho B-52 để không có chiếc nào rơi tại chỗ thì ngược lại chúng bị rơi tại chỗ càng nhiều, bởi Chúa cứu dân lành chứ đâu cứu bọn giết người. Ngày 27-12-1972, vào lúc 23 giờ, Tiểu đoàn tên lửa số 94, Trung đoàn 261 đã hạ gục 1 B-52 tại Quế Võ, Bắc Ninh và cũng lúc 23 giờ, Tiểu đoàn tên lửa số 72 của Trung đoàn 285 đã hạ gục 1 chiếc B-52 tại hồ Hữu Tiệp, Ngọc Hà, Hà Nội. Đợt 1 (từ 18 đến 23-12-1972), tên lửa Phòng không đã bắn rơi tại chỗ 10 chiếc B-52. Không quân vẫn chưa bắn được chiếc nào. Sang đợt 2, trên chủ trương đưa MiG-21 ra các sân bay vòng ngoài để tạo điều kiện tiếp cận đánh B-52. Phi công Phạm Tuân cơ động lên sân bay Yên Bái tối ngày 27-12 và đã xuất kích gặp địch, bắn hạ 1 B-52. Phi công Vũ Xuân Thiều cơ động vào sân bay dã chiến cẩm Thủy, Thanh Hóa và tối ngày 28-12 đã xuất kích gặp B-52, anh đã bắn hạ gục 1 B-52. Vũ Xuân Thiều đã trở thành Anh hùng bất tử của Không quân nhân dân Việt Nam. Trận đêm ngày 26-12-1972, Mỹ thua quá đau, không còn phương kế gì để gượng nổi nữa, phải chấp nhận trở lại Hội nghị Paris vô điều kiện, có nghĩa là không đòi Việt Nam nhượng bộ một điều khoản nào theo văn bản đã thỏa thuận hồi tháng 10-1972. Mỹ cam kết rút hết quân và bọn chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, phá hủy hết tất cả thủy lôi và mìn đã rải trên các cảng biển Việt Nam, bảo đảm cho tàu biển ra vào Việt Nam không gặp trở ngại gì... Khắp thế giới hân hoan chào mừng thắng lợi của Việt Nam như thắng lợi của chính mình vậy! Suốt 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, tôi có vinh dự thường trực tại Sở chỉ huy Trung đoàn Không quân 927, nơi cập nhật chứng kiến mọi diễn biến, mọi chi tiết của 12 ngày đêm lịch sử chiến đấu của bộ đội Phòng không Không quân nhân dân Việt Nam, trong đó có Trung đoàn Không quân 927 thân yêu của tôi (khi ấy tôi là Trung đoàn trưởng). Cái tên "Chiến dịch không kích Linebacker-2" thất bại kéo theo sự chôn vùi uy danh của máy bay chiến lược Mỹ trên miền Bắc Việt Nam. Tổng số có 34 B-52 bị bắn rơi, trong đó có đến 16 chiếc rơi tại chỗ, phơi xác trên các cánh đồng của đồng bằng Bắc Bộ. Có những chiếc còn phơi xác trên đường phố, hồ ao ở ngay trong lòng Hà Nội. Thật hy hữu, từ cổ tới kim chưa có cuộc chiến tranh nào mà nhân dân, quân đội nhân dân Việt Nam làm rạng danh cho non sông, đất nước, tổ tiên dân tộc ta lên đỉnh cao khắp thế giới như thế, buộc tên đế quốc xâm lược hung hăng nhất thế giới phải chịu thua, chấp nhận ký Hiệp định rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt ném bom miền Bắc vô điều kiện! Hiệp định được các bên ký chính thức ngày 17-1-1973 tại Paris. Hôm nay, con cháu của Bác Hồ rất vui mừng kính thưa với Bác: chúng con đã thực hiện trọn vẹn lời Bác dặn trước lúc đi xa: "Đánh cho Mỹ cút!...". Chúng tôi vô cùng mừng vui và vô cùng nhớ Bác! Nước mắt tôi lại chảy tràn trên má!... Đến đây, những trận chiến đấu nhớ đời trên bầu trời miền Bắc yêu thương được khép lại, nhưng bầu trời miền Nam ruột thịt chưa bình yên. Tôi sẽ còn đi tiếp chặng đường còn lại theo lời Bác Hồ dặn trước lúc Người đi xa: "đánh cho ngụy nhào!...". Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 06 Tháng Mười Một, 2025, 07:58:08 pm Chặng đường tôi về lại bầu trời Quê Mẹ Tôi lớn lên khi biết yêu mặt đất đồng thời cũng biết yêu bầu trời. Bầu trời Quê Mẹ tôi đẹp lắm! Mùa Hè thì trong xanh, không một gợn mây. Tôi nằm ngửa trên lưng bò ngắm bầu trời trước lúc trời tắt nắng thật dịu êm. Có lúc lim dim ngủ cho đến khi bò về đến cổng chuồng, dừng lại thì tôi mới tỉnh ngủ. Nhưng thời gian như vậy hiếm lắm, mấy khi máy bay giặc Pháp để cho bầu trời quê tôi được bình yên. Giờ đây thì máy bay giặc Mỹ thay thế, chúng không chỉ trút bom đạn mà còn rải xuống biết bao nhiêu là chất độc nữa. Chặng đường tôi bay về bầu trời Quê Mẹ cũng đầy chông gai, mặc dù không có những trận không chiến nao nhớ đời nữa. Sau khi "Mỹ cút" khỏi bầu trời miền Bắc. Bầu trời được bình yên thì tôi cũng được lên đường đi học tập (đi Liên Xô) để về chuẩn bị con đường "đánh cho ngụy nhào". Giữa tháng 8-1973, tôi cùng 9 người nữa lên đường đi sang Học viện Hàng không Xô-viết mang tên nhà quân sự kiệt xuất của Xô-viết là Ku-tu-dôp - Cờ Đỏ - Ga-ga-rin (mà ta quen gọi là Học viện Ga-ga-rin) chuyên đào tạo chỉ huy cấp chiến dịch cho khối Vác-sa-va và các nước Xã hội chủ nghĩa. Học viện đóng tại thành phố Mô-nhi-nô cho nên thường nói tắt là Học viện Mô-nhi-nô. Mô-nhi-nô cách Mạc Tư Khoa khoảng 40-50 km. Thứ Bảy, chúng tôi nhảy tàu điện lên Mạc Tư Khoa chơi, thăm bạn bè rồi tối Chủ nhật lại xuôi tàu điện về Học viện thật tiện lợi. Chương trình học cực kỳ hóc búa. Việc kiểm tra sát hạch bài học là thường xuyên. Chúng tôi nói với nhau là chỉ cần học và thi đậu thôi là đã xứng đáng phong quân hàm Tướng rồi, chứ chưa cần nói đến việc chỉ huy đánh đấm ra sao. Tôi lại được sống một mùa Đông ở đất nước Xô-viết rét buốt nghiệt ngã nữa. Có những ngày nhiệt độ âm đến hơn 30 độ, tuyết rơi ngập trắng đồng. Rét buốt ghê vậy nhưng đến giờ tập trượt tuyết là phải ra bãi trượt. Đó cũng là một khoa mục bắt buộc. "Đã là sỹ quan thì phải giỏi trượt tuyết..." - ở đất nước Xô-viết là phải như vậy đó! Thời gian ở Học viện trôi qua cũng rất nhanh. Kết thúc về nước cũng bằng chuyên tàu liên vận. Thật không may, chuyến của chúng tôi lại trùng vé tàu hai đoàn về cùng một số ghế nên đành chịu chật với nhau, thay phiên nhau mà nằm nghỉ chứ biết làm thế nào nữa! Về đến Hà Nội, tôi được về Tam Đảo nghỉ 2 ngày với vợ và 2 con. Khi tôi đi học mới có 1 con gái là Hồng Tâm, nay về đã có thêm con trai, vợ chồng tôi thống nhất đặt tên cho con là Hồng Hưng - Nguyễn Hồng Hưng. Trong đời tôi không có gì vui sướng, hạnh phúc bằng khi có 2 đứa con! Cô Dậu - người vợ vô cùng yêu quý đã đem lại cho tôi nguồn hạnh phúc bất tận từ đây, từ trên đỉnh núi Tam Đảo xanh lơ này! Tôi định xin ở nhà thêm mấy ngày nữa với con, nhưng tối nay, Bộ tư lệnh đã cho xe lên Tam Đảo đón tôi phải về đơn vị ngay để đi công tác. Lúc này tôi đã được trên giao giữ chức vụ Phó tư lệnh Sư đoàn. Sư đoàn có tên là Sư đoàn Không quân 371. Tôi được trên giao nhiệm vụ chỉ huy Tổ đại diện của Không quân tham gian diễn tập với Quân đoàn 1 đóng quân ở Giang Mô, Ninh Bình. Tình huống diễn tập được đặt ra là: Quân đoàn 1 tấn công đánh chiếm một thành phố lớn ở miền Nam, có Hải cảng và khu quân sự liên hợp Hải - Lục - Không quân mạnh nhất ở miền Nam. Tổ lập kế hoạch của Không quân do tôi phụ trách về việc chi viện hỏa lực cho Quân đoàn khi tấn công cũng như khi lâm thời phòng ngự được đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Hòa-Tư lệnh Quân đoàn phê chuẩn với lời khen: "Không quân lập kế hoạch rất bài bản!". Chẳng là kế hoạch được lập theo bài bản học được ở Học viện mà! Kế hoạch chi viện hỏa lực của Không quân cho Bộ binh tấn công được Ban giám khảo cho điểm 5. Chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ thật mỹ mãn! Tạm biệt Quân đoàn 1. Tạm biệt đất Giang Mô, Ninh Bình - mảnh đất tuy chúng tôi "đậu" không lâu nhưng tình đất tình người đã để lại dấu ấn khó quên: 7 cô gái tuổi xinh mơn mởn bị gió cuốn lật thuyền ra đi mãi mãi với Hà Bá trên hồ Giang Mô. Rồi tiếp theo là 7 chàng trai trẻ đi trên chiếc trực thăng Mi-6 (toàn bộ tổ bay) đã bị đâm vào núi đá vôi Tam Điệp, hồn thiêng gửi cho trời Tam Điệp vĩnh hằng! Kết thúc diễn tập, tôi được lệnh trên phải khăn gói vào sân bay Đồng Hới ngay. Vào để tổ chức Sở chỉ huy phía trước của Không quân. Sở chỉ huy có nhiệm vụ chỉ huy Không quân chiến đấu bảo vệ phía Nam khu Bốn, bảo vệ vận chuyển cho chiến trường, đồng thời cũng sẵn sàng cơ động lực lượng, phương tiện chỉ huy theo Bộ binh tấn công giải phóng miền Nam. Suốt cả năm 1974, tôi được Bộ tư lệnh Binh chủng phân công thường xuyên trực ở Sở chỉ huy tiền phương đóng ở sân bay Đồng Hới. Mỗi quý ra Hà Nội họp vài ngày để quán triệt Nghị quyết và tranh thủ về lại Trung đoàn Không quân 927 ở sân bay Kép để bay hồi phục mấy hôm rồi lại vào Đồng Hới ngay. Tuy bầu trời miền Bắc rất yên ả từ khi Mỹ chấm dứt chiến tranh phá hoại đến nay, nhưng miền Nam thì ngày càng căng thẳng hơn. Ta đang tích cực điều chỉnh lực lượng, phương tiện, vũ khí, hậu cần... chuẩn bị thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về thực hiện kế hoạch giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trong vòng 2 năm là 1975-1976. Nghị quyết ra rất hợp lòng dân, ai cũng sướng vui, sẵn sàng xông ra mặt trận. Ngày thống nhất về thăm quê chỉ còn tính bằng tháng bằng ngày nữa mà thôi... Ở sân bay Đồng Hới, đêm nào ngủ tôi cũng thấy mình bay về trên bầu trời quê hương xanh thắm, trên cánh đồng Trang quê Mẹ! Mở mắt thức dậy thì nghe tiếng sóng vỗ vào bờ cát ầm ầm mới tỉnh hẳn... À! Đây còn là đất Quảng Bình (Đồng Hới)! Mùa Hè năm 1974 nóng bỏng ở sân bay Đồng Hới đã trôi qua cũng là một mùa Hè đầy ắp kỷ niệm trong tôi ở đầu cầu miền Bắc chi viện cho miền Nam. Kế hoạch vận chuyển tiếp tế hậu cần cho miền Nam chuẩn bị cho cả hai năm 1975-1976 đã hoàn thành. Ngồi trên Đài chỉ huy ở sân bay Đồng Hới nhìn ra đường quốc lộ số 1, tôi thấy từng đoàn xe ca chở quân, xe tải chở hàng vào Nam mà sướng mắt hết sức! Nghĩ đến cái ngày Tổng tiến công không còn xa xôi gì nữa! Có nghĩa là cái ngày thống nhất đất nước tôi được về quê thăm ba, má, thăm các anh, chị, em thật mừng vui không gì bằng! Qua mùa Hè nóng bỏng lại đến mùa Đông mưa phùn gió biển. Sân bay Đồng Hới là sân bay đất. Đất ướt, máy bay MiG-21, MiG-17 không thể hoạt động được do ướt lún. Máy bay được điều ra các sân bê tông ngoài Bắc để huấn luyện. Ban đêm, loài chim se sẻ về đậu và ngủ trên các bãi cỏ rất đông. Anh Lưu Huy Chao rất thiện nghệ chuyện đi úp chim về cắt lấy tiết pha với rượu "cuốc lủi" để nhấm nháp với thịt se sẻ nướng, tuyệt vời lắm. Nhưng những ai xa vợ thì không nên uống rượu pha tiết chim se sẻ vì... làm cho "của quý" rất sung mãn, khó ngủ... Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 06 Tháng Mười Một, 2025, 07:59:53 pm Mấy tháng mùa Đông không có máy bay hoạt động, tương đối rảnh rỗi, chúng tôi rủ nhau sang khu giải phóng Đông Hà-Cam Lộ tham quan khu tiếp khách của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Nơi đây đã từng đón tiếp Chủ tịch Phiđen Catxtơrô. Ông là lãnh tụ cách mạng Cu-ba đầu tiên đến thăm Việt Nam. Ông đi cùng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Kết thúc năm 1974, đón năm mới 1975, tôi được Quân chủng cho về ăn Tết với gia đình ngoại trên Tam Đảo. Trước khi ra Bắc, tôi không quên ghé qua làng Quang Phú mua mấy chai nước mắm và mấy cân cá khô về Tam Đảo làm quà ăn Tết Tân Mão... Sau khi nghỉ Tết xong, tôi lại trở lại sân bay Đồng Hới tiếp tục làm nhiệm vụ chỉ huy phía trước của Không quân. Tình hình chiến trường sôi động dần lên. Ta một số trận đánh thăm dò sự phản ứng của Mỹ. Mỹ cũng vần giở giọng ngoan cố, tuyên bố "ủng hộ Thiệu đến cùng". Ta tích cực hoàn thiện kế hoạch chuẩn bị tấn công Buôn Ma Thuột, đồng thời tăng cường lực lượng nghi binh ở Kon Tum và Plây Cu. Tháng 3-1975, chiến dịch Tây Nguyên mở màn. Ngày 10-3 khai hỏa tấn công thành phố Buôn Ma Thuột. Đây là trận mở màn giống như cách đây 20 năm (1954): cũng tháng 3 mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ - khai hỏa ngày 13-3-1954, đánh chiếm căn cứ Him Lam. Từ trận đầu đánh thắng đã đưa đến giải phóng miền Bắc và nay cũng vào tháng 3, trận đánh thắng sẽ làm cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc! Tháng 3, miền Bắc trời vẫn còn rất xấu: mưa phùn, sương mù và mây thấp... làm cho Không quân tiêm kích khó hoạt động nhưng ở vùng "cán xoong" này trở vào Nam thì trời tốt, ít mây. Trên Quân chủng cho triển khai 1 Phi đội MiG-17 ở sân bay Đồng Hới, bởi vậy công việc của tôi lúc này rất bận rộn. Đi tổ chức hiệp đồng với các lực lượng chiến đấu bảo vệ khu Bốn, đồng thời sẵn sàng chi viện cho mặt trận. Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột, tình hình chiến đấu phát triển rất nhanh, ta giành thắng lợi ròn rã từ Nam Bộ ra đến Tây Nguyên - Khu 5... Thắng lợi như chẻ tre! Thiệu cho quân ngụy "tùy nghi di tản" càng làm cho quân ngụy rối loạn... Tướng ngụy ở Quân khu 1 - Ngô Quang Chưởng tuyên bố tử thủ bảo vệ Đà Nẵng, nhưng chính hắn lại là tên tướng bỏ Đà Nẵng chạy ra biển theo Mỹ đầu tiên khi cuộc tấn công của ta vào Đà Nẵng. Ta đã giải phóng gần lãnh thổ cái gọi là Việt Nam Cộng hòa nhưng Mỹ chưa có triệu chứng can thiệp giúp Thiệu, bởi vậy, chủ trương của trên chưa nên sử dụng Không quân vào hỗ trợ cho Bộ binh tấn công mà nên tận dụng số máy bay chiến lợi phẩm A-37, F-5... của ngụy bỏ chạy để đánh lại ngụy là phương sách tốt nhất, làm cho Mỹ không có cớ can thiệp bằng Không quân vào miền Nam lúc này, mặc dù có 2 tàu sân bay đậu ngoài biển Đông. Chặng đường tôi bay về bầu trời quê cha đất mẹ thực sự được bắt đầu từ ngày 30-3-1975. Tôi bay về bầu trời quê cha đất mẹ không phải bằng máy bay chiến đấu MiG-21 mà là bằng máy bay trực thăng Mi-8, bay kiểu "nhảy cóc" từ sân bay Phú Bài - Đà Nẵng - Phù Cát - Phan Rang. Chính vì kiểu bay đó mà tôi đã suýt toi mạng ở Nha Trang. Chiều 30-3 Tư lệnh Lê Văn Tri cùng với một đoàn cán bộ trong đó có tôi đi trên chiếc trực thăng Mi-8 số 77 mở đường bay vào sân bay Phú Bài, bay sau là chiếc trực thăng Mi-6 do Lê Đình Kỷ lái cùng bay vào Phú Bài. Chuyến bay mở đường hơi liều mạng nhưng an toàn, tuy đuôi máy bay có bị vướng đạn AK của bộ đội ta bắn lúc bay qua Huế. Đêm hôm đó, sân bay Phú Bài còn rực lửa của các loại súng bộ binh cộng với các loại pháo sáng bắn lên trời để ăn mừng chiến thắng. Cũng phải thôi vì hàng ngàn năm mới có mà!... Ngày 6-4-1975, tôi bay vào sân bay Đà Nẵng. Sân bay mới được giải phóng 1 tuần lễ còn ngổn ngang đủ loại máy bay, xe cộ, súng ống trang bị của lính đủ kiểu loại vứt lại để tranh nhau xuống tàu rút ra biển. Quân chủng đưa một phần phi công và thợ máy của Trung đoàn Không quân 923 vào Đà Nẵng để tổ chức bay chuyển loại từ MiG-17 sang A-37 (máy bay chiến lợi phẩm ta thu được của Sư đoàn 1 Không quân ngụy ở sân bay Đà Nẵng). Tổ chức học lý thuyết A-37 và bay tập do anh Phạm Ngọc Lan phụ trách. Nguyễn Thành Trung từ Lộc Ninh được tổ chức đưa ra Đà Nẵng để làm giáo viên bay, ngoài ra, ta còn tuyển thêm một số phi công và thợ kỹ thuật A-37 của ngụy còn trốn tại Đà Nẵng. Ta phát thanh gọi anh em tự nguyện ra đăng ký phục vụ cho cách mạng. Lúc này, ta đặt tên cho số ấy là "nhân viên mới". Ngày 14-4, tôi bay ra Quân chủng nhận nhiệm vụ Đại diện Không quân ở Sở chỉ huy tiền phương tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhận nhiệm vụ xong lại bay vào sân bay Đà Nẵng ngay. Bay ra và bay vào đều dùng trực thăng Mi-6. Ngày 16-4-1975, tôi có mặt ở Đà Nẵng. Ngày 24-4-1975 tôi bay vào sân bay Phù Cát bằng trực thăng Mi-8 số 77 sơn cờ mặt trận giải phóng, cùng đi có tổ chỉ huy với máy móc thông tin đầy đủ. Đây là lần đầu tiên tôi về nhìn thấy lại mặt đất, bầu trời quê hương đúng sau 20 năm xa cách. Từ trên không trung nhìn xuống mà bồi hồi nhớ lại thời thơ ấu - tuổi thơ ấy! Ôi! Sung sướng quá! Tôi mường tượng lại những gương mặt sạm nắng "bán lưng cho trời, bán mặt cho đất" quanh năm của cha, của mẹ, của anh Ba Tuần, chị Ba Cẩn, anh chị Năm Phòng, anh chị Sáu Hoa, em Tám Khê, chú Chín Nhơn... Rồi đây, máy bay hạ cánh, tôi sẽ được gặp lại! Nhưng máy bay hạ cánh xuống sân bay, tôi còn phải tiếp tục theo chiến dịch, chưa có thể ghé qua làng quê được. Chiến dịch Hồ Chí Minh đang diễn ra thực hiện lời Bác Hồ dặn trước lúc Bác đi xa: "đánh cho ngụy nhào!...". Giờ đây là thời cơ có một không hai để "đánh cho ngụy nhào". Ngồi trên chiếc trực thăng Mi-8 lướt qua bao xóm làng xưa ở Quảng Ngãi sao mà bồi hồi, sao mà da diết, nhớ các má, các chị, các em một thời trai trẻ mến thương ấy bây giờ đã 20 năm sao xa lắc xa lơ rồi! Ôi! Sao mà nhớ quá!... Máy bay bay qua Đức Phổ, nơi Anh hùng Đặng Thùy Trâm đã anh dũng hy sinh. Rồi bay tới Hoài Nhơn "... mỗi đường băng một Tam Quan đợi chờ..." đây rồi! Nhưng rừng dừa Tam Quan đâu còn nữa, chỉ còn lại thân cây trơ như những cây chông mà thôi! Bay qua thung lũng Vũ Sơn, Bình Đê - nơi bầu trời của cha, đất lành của mẹ là nơi mà cha quanh năm bán lưng cho trời để nuôi con khôn lớn và cũng là nơi mà mẹ quanh năm bán mặt cho đất để nuôi con trưởng thành. Ôi! Da diết, bâng khuâng nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ anh, nhớ các chị và em! Biền biệt 20 năm xa cách nay tôi mới thấy lại dáng dấp quê hương từ trên trời nhìn xuống. Nỗi thương, nỗi nhớ dồn nén nghẹn trào!... Máy bay đáp xuống sân bay Phù Cát tra dầu, chuẩn bị để bay tiếp vào Phan Rang - nơi sẽ lập Sở chỉ huy phía trước của Không quân tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng thành phố Sài Gòn. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:01:00 pm Ngày 26-4-1975, trời Bình Định trong xanh, tầm nhìn xa tuyệt vời. Tôi thức dậy thật sớm, ra sân, đứng nhìn về phía biển, nhớ lại tuổi thơ ở quê, cũng giờ này đi ra cánh đồng Trang để cài bẫy bắt chim giẽ! Sao mà thích thú! Thích thú lắm! Bây giờ nhớ lại càng thấy thích thú làm sao!
Từ đây, tôi chia tay với thủ trưởng Đào Đình Luyện - Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân. Ông đại diện cho Quân chủng đi lên hướng Tây Nguyên để cùng đi với Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng tiến quân về Sài Gòn. Cũng tại sân bay Phù Cát, tôi chia tay với thủ trưởng Trần Mạnh đi bằng ô tô vào Thành Sơn. Thủ trưởng Đào Đình Luyện đi bằng máy bay trực thăng Mi-6 lên Tây Nguyên. Tôi đi bằng máy bay trực thăng Mi-8 số 77 có sơn cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từ Phù Cát bay thẳng vào Thành Sơn để chuẩn bị tiếp thu 5 chiếc A-37 từ Đà Nẵng bay vào Thành Sơn mắc bom đi đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Định ngày 28-4-1975 là bắt đầu oanh kích. Trên giao: chỉ nội trong ngày 28-4-1975 mà thôi. Nếu bỏ qua thì không còn cơ hội nào nữa! Tất cả đã ngồi trên chiếc trực thăng Mi-8 số 77, gồm tổ bay, tổ sỹ quan tác chiến và tôi đều rất vui, cùng nhau xác định rằng "đây là chuyến bay cảm tử" vì phải bay qua đầu các Quân đoàn chủ lực đang hành quân vào Sài Gòn, có hỏa lực Phòng không rất mạnh, nhưng ta lại chưa thông báo được cho họ biết rằng "có chuyến bay trực thăng Mi-8 vào" và bay qua trên đầu hỏa lực của Bộ binh. 8 giờ ngày 26-4, Mi-8 cất cánh bay qua đường 19 vào Phú Yên. Tôi lại nhớ đến sự tích đường 19, con đường có nhiều chiến công huyền thoại trong chiến đấu với thực dân Pháp cũng như trong chiến đấu đánh Mỹ của quân dân ta. Ở đó có chiến công bất tử của Ngô Mây ôm bom lao vào đội hình giặc, ngăn chặn cuộc tấn công của giặc Pháp xâm chiếm quê hương Bình Định năm 1945. Tấm gương Anh hùng bất tử của anh Ngô Mây sống mãi với đất nước và với quê hương Bình Định. Máy bay bay qua Bình Định an toàn và đi vào đất Phú Yên - mảnh đất mà máu của tôi đã từng đổ để bảo vệ nhân dân năm 1954 trong Chiến dịch Át-lăng. Bay qua hòn núi có tên là Núi Sầm, nơi đó trận đánh năm 1954 của Đại đội 12, Tiểu đoàn 365 có hơn 30 đồng đội của tôi đã hy sinh oanh liệt và trong trận đó tôi cũng bị thương ở bàn tay. Máy bay rời vùng trời Phú Yên bình yên và bắt đầu vào đất Khánh Hòa, bay đến khoảng trời Cầu Bóng, Nha Trang thì bị pháo cao xạ 37 li bảo vệ Cầu Bóng bắn lên dữ dội và lập tức, các loại súng bộ binh bảo vệ sân bay Nha Trang cũng bắn lên mãnh liệt. Máy bay bị thương nặng. Lái trưởng là đồng chỉ Huyên, dẫn đường lái phụ là đồng chí Uyển, cơ giới trên không là đồng chí Đáp cùng nhau tìm phương kế cứu máy bay, tìm bãi đáp và đáp xuống sân bay Nha Trang. Máy bay đáp khẩn cấp xuống sân đỗ, nói đúng hơn là nó rơi thẳng xuống, bốc cháy và nổ thùng dầu phụ 2.000 lít. Máy bay bị hất tung lên bầu trời, cao đến hơn 10 mét. Thật may mắn vô cùng. Tổ bay, tổ chỉ huy và tôi chỉ có thời gian chưa đầy 10 giây để thoát ra khỏi máy bay trước khi thùng dầu nổ. Hồi đó, mỗi chiếc Mi-8 được lắp thêm một thùng dầu phụ chứa được 2.000 - 3.000 lít dầu TC-1 (đặt trong thân máy bay) để bay được xa hơn. Sau khi máy bay rơi đập đầu xuống sân xi măng vỡ tan kính chắn phía trước, cũng nhờ đó mà chúng tôi chui ra được khỏi máy bay. Tôi đợi cho mọi người chui ra hết mới chui ra sau cùng. Lúc ấy, nhanh một giây thì sống, nếu chậm một giây thì sẽ tan xác cùng máy bay Mi-8 số hiệu 77 mang cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng. Tôi nghĩ, tôi thoát nạn, sống được có khi chính là nhờ khi bay qua Núi Sầm đã đón bao nhiêu hồn thiêng của đồng đội hy sinh ở đó và họ cùng bay theo che chở cho chúng tôi trong những giây phút hiểm nguy ấy để chúng tôi còn sống mà tiếp tục sự nghiệp "đánh cho ngụy nhào"! Tài liệu chỉ huy và tư trang mang theo bị cháy hết sạch, rất tiếc, nhưng tiếc nhất là tút thuốc lá "Thủ đô". Tôi có ý định mang theo để sau khi giải phóng Sài Gòn sẽ đem thuốc lá "Thủ đô" ra mời anh em hút vừa mừng giải phóng Sài Gòn vừa nhớ Thủ đô. Đêm 26-4, tôi phải ngủ lại tại sân bay Nha Trang, bụng nóng như lửa đốt. Trước khi đi ngủ, tôi nhấm nháp thanh lương khô 702 còn sót lại trong túi quần và "tài sản" cũng chỉ còn nửa bao thuốc "Trường Sơn" hút dở. Nhưng quyết chí ngày mai, ngày 27-4 bằng mọi cách cả tổ chỉ huy phải đến được sân bay Thành Sơn! 4 giờ sáng ngày 27-4, tôi phái đồng chí trợ lý tác chiến ra gặp Ủy ban quân quản thành phố Nha Trang xin mượn một chiếc xe chở được khoảng 12 người vào Phan Rang làm nhiệm vụ. Các đồng chí ưng thuận ngay và còn tặng cho đoàn một thùng lương khô để ăn sáng. 5 giờ sáng, chiếc xe "DODGE" thùng đến chở đoàn chúng tôi vào Phan Rang. Lái xe tên là Nhung, nguyên là lính thông tin ở sân bay Đà Nẵng. Nhung được anh Hà Cân giới thiệu là người nhà bà con ở quê, do đó chúng tôi tin tưởng và tuyển dụng ngay và được theo Sở chỉ huy khai thác thông tin hệ 2 (của Mỹ). Xe chạy được 30 km thì nổ lốp, suýt xảy ra tai nạn. Giữa nơi đồng không mông quạnh may sao có một chiếc xe cùng loại từ phía Nam chạy ra. Chúng tôi xin chiếc lốp dự phòng và người lái xe đồng ý ngay. Thật may, nhờ được sự giúp đỡ ấy mà chúng tôi đến Phan Rang chưa đến 12 giờ. Dừng xe ở cổng sân bay cho anh em ăn trưa. Suất ăn trưa của mỗi người là một phong lương khô 702 xong rồi nhanh chóng vào sân bay. Việc đầu tiên là quét đường băng chuẩn bị cho 5 chiếc A-37 từ Phù Cát đến hạ cánh vào ngày 28-4. Những đám cháy trong sân bay đã dập tắt hết nhưng càng về chiều gió càng mạnh làm cho tro bụi bốc lên mù mịt mang theo cả mùi xác chết, thật kinh khủng. Tôi không thể kể dài dòng mà chỉ làm mấy câu thơ ngắn gọn cho dễ nhớ, nhưng lại thôi vì viết vội vã lủng củng lắm! Tôi kể tiếp bằng văn xuôi vậy. Sau khi quét đường băng sạch sẽ xong thì trời cũng chập choạng tối. Quần áo tôi ướt đẫm mồ hôi nhưng không có gì để thay. Bộ quần áo mới tinh mang theo để khi vào Sài Gòn mặc diện thì đã bị cháy hết ở Nha Trang rồi! Đành sang đơn vị gác cổng sân bay mượn một bộ đồ bộ binh mặc tạm, còn bộ quần áo bẩn chỉ cần giặt và phơi trước gió chừng một giờ đồng hồ là khô ngay. Anh em tìm trong kho đồ của ngụy lấy cho mỗi người một chiếc màn còn mới nguyên, vẫn còn nhãn hiệu "Bắc Tiến". Vậy là màn này có từ thời Ngô Đình Diệm cơ đấy! Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:02:19 pm Sáng ngày 28-4, tiếp thu 5 chiếc A-37 từ Phù Cát bay vào hạ cánh an toàn và tiếp thu chiếc máy bay An-24 chở Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri cùng các trợ lý vào phê duyệt kế hoạch đánh sân bay Tân Sơn Nhất chiều ngày 28-4.
10 giờ sáng ngày 28-4-1975 là giờ phút lịch sử khi Tư lệnh Lê Văn Tri đặt bút kỹ duyệt phương án cho 5 máy bay A-37 đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Có mặt tại bàn ký quyết định là Hoàng Ngọc Diêu-Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân chủng, Trần Mạnh-Tham mưu phó Quân chủng, Trần Hanh-Tư lệnh Sư đoàn Không quân 371, Nguyễn Hồng Nhị - Phó Tư lệnh Sư đoàn Không quân 371, chỉ huy Sở chỉ huy tiền phương Không quân mặt trận. Biên đội mở màn trận đánh lịch sử đó gồm có các phi công: Nguyễn Văn Lục-Phi đội trưởng, Nguyễn Thành Trung, Hán Văn Quảng, Từ Đễ, Hoàng Mai Vượng. 16 giờ 15 phút, được lệnh của Bộ Tham mưu qua bức điện bằng mật mã cơ yếu do đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng ký: "Lệnh cho bộ đội Không quân bay vào đánh sân bay Tân Sơn Nhất ngay chiều nay 28-4...". Tôi ra lệnh cho 5 chiếc A-37 mở máy cất cánh đánh theo kế hoạch... ... Sân bay Phan Rang như bừng dậy Năm chiếc máy bay vút lên trời cao Lặc lè dưới cánh là bom của Mỹ Bom Mỹ phen này quân ngụy được "xơi"! Trận đánh có một không hai đó được ghi lại và để lại muôn đời cho lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, toàn dân đã thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ: "... Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!...". Trận đánh ngày 28-4-1975 của Không quân nhân dân Việt Nam đã góp phần làm cho quá trình tan rã và sụp đổ nhanh chóng của quân ngụy Sài Gòn, giảm đi việc đổ xương máu của bộ đội ta tấn công vào Sài Gòn. Đó là cái quý nhất không gì so sánh được! Khoảng 1-2 giờ sáng ngày 29-4, địch còn điên cuồng cho 2 lần gồm A-37 và F-5 ở sân bay Biên Hòa bay ra Phan Rang ném nhiều loạt bom xuống phá đường băng nhưng bom không trúng đường băng. Đất đá rơi lộp bộp trên đình màn. Tôi đã viết mấy vần thơ: Đêm Phan Rang nghe muỗi "kêu than" Ngỡ mình nằm giữa vạn tiếng đàn Trời sao nhấp nháy trên đình màn Ngỡ như vũ trụ sờ tay tới Ầm ầm tiếng bom của ngụy đó Ngỡ rằng tiếng pháo chào thắng lợi Đến khi đất đá roi lộp bộp Thì ra "chó chết" còn nhe răng! Nhe răng để rồi cắn răng lại Kẻ thì ôm hận, người thì vui!. Cả ngày 29-4-1975, tôi nằm ở sân bay Phan Rang chờ lệnh cho bộ đội xuất kích đánh tiếp vào Sài Gòn. 4 giờ sáng ngày 30-4-1975, điện từ Sở chỉ huy mặt trận thông báo: "Sân bay Biên Hòa quân ta đã làm chủ, vậy Sở chỉ huy tiền phương của Không quân nhanh chóng cơ động vào Biên Hòa để chỉ huy máy bay chiến đấu cơ động vào sân bay Biên Hòa. Từ sân bay Biên Hòa sẽ cất cánh ra đánh địch chốt ở Côn Đảo, nếu chúng không đầu hàng...". Nhiệm vụ thật cấp bách, tôi cùng với tổ chỉ huy lấy một chiếc xe tải của sân bay Phan Rang để chạy vào Biên Hòa. Từ sân bay Phan Rang qua Phan Thiết đến Biên Hòa, chạy trên quốc lộ số 1 thấy đông đúc bộ đội, nhân dân, vui thích làm sao! Xa xa trong làng quê nghèo khổ của đất cực Nam còn có những đám cháy do các trận đánh gây ra trước khi quân ngụy chạy về Sài Gòn. Tôi đi đến Trảng Bom thì nhận được tin Tổng thống lâm thời của ngụy Sài Gòn đọc lời đầu hàng Quân giải phóng. Quân ta đã vào chiếm dinh Độc Lập. Cờ giải phóng tung bay trên dinh Độc Lập đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, chấm dứt một thời đạn bom. Và một thời hòa bình đến từ đây. Bà con cô bác ai nghèo khổ Ruộng vườn đất tổ nay của ta Chiếc xe "DODGE" thùng chở Tổ chỉ huy chạy vào đến Xuân Lộc - Trảng Bom. Xe pháo lớn của ngụy quân vứt đầy đường, quần áo của lính ngụy vứt ngổn ngang. Chúng nó cởi bỏ quần áo lính để chạy lẩn trốn trong dân, trốn vì không có người bắt tù binh! Xe tôi chạy vào đến Hố Nai thì trận đánh Liên đoàn biệt động cuối cùng của ngụy cũng vừa tan. Máu tươi còn đọng từng vũng trên đường số 1, xác xe bọc thép, xác pháo còn đang cháy rừng rực... Xe chạy đến sân bay Biên Hòa, vào cổng sân bay còn đang ngổn ngang súng các loại vứt đầy trạm gác... Tôi cho xe chạy thẳng vào chòi chỉ huy và mở máy kiểm tra hồi phục vô tuyến để ngày 1-5-1975 tiếp thu A-37 từ Phan Rang bay vào mắc bom để đi đánh tàu địch trú ở Côn Đảo. Đêm ngày 30-4 nằm ở sân bay Biên Hòa thuộc đất miền Đông Nam Bộ - mảnh đất nổi tiếng gian lao mà anh dũng trong hai cuộc kháng chiến để giành độc lập. Đêm nay mới thật sự là một đêm độc lập tự do thuộc về ta. Tiếng nổ của đủ các loại súng, pháo sáng bay sáng rực bầu trời mừng vui chiến thắng của quân và dân ta chưa từng có bao giờ. Tôi nằm trăn trở không sao ngủ được vì nhớ Tam Đảo, nhớ vợ con quá! Không biết ngày nào sẽ đón vợ con vào Sài Gòn để cùng sống trọn niềm vui đã bao ngày mong đợi. 5 giờ sáng ngày 1-5-1975, tôi ra sân vươn vai mấy cái cho tỉnh hẳn rồi gọi tất cả anh em của Tổ chỉ huy dậy đi quét dọn đường băng, cùng với anh em thợ máy chuẩn bị sẵn sàng tiếp thu 5 chiếc A-37 bay từ Thành Sơn vào hạ cánh, chuẩn bị đi đánh Côn Đảo. Tiếp thu máy bay xong và lắp bom đầy đủ, vào lúc 8 giờ sáng, máy bay cất cánh bay ra Côn Đảo. Anh em phi công quan sát thấy có nhiều tàu địch đậu ở cảng. Máy bay ta giảm độ cao, chuẩn bị bổ nhào cắt bom thì quan sát kỹ hơn thấy tàu đã kéo cờ trắng. Như vậy là địch đã đầu hàng. Đó là trận cuối cùng máy bay mang bom đi đánh quân ngụy. Sở chỉ huy lệnh cho phi công vứt bom ngoài biển rồi về hạ cánh xuống sân bay Biên Hòa, hoàn thành nhiệm vụ. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:04:01 pm Lần đầu tiên thành phố Sài Gòn tổ chức Lễ kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1-5. Kể từ ngày thành lập thành phố đến nay đã hơn 30 năm. Tôi rất vinh dự được đại diện cho Không quân nhân dân Việt Nam đi dự mít tinh. Tại cuộc mít tinh đó, tôi đã làm bài thơ như sau:
Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh Lớp lớp người mơ Bác của mình Về đây thành phố Hồ Chí Minh Con cháu của Bác khắp muôn nẻo Không phân màu da, khác đôi mắt Ngơ ngác nhìn nhau thầm nhớ Bác 30 năm miền Nam trong tim Bác Ngày chiến thắng, Bác đã đi xa!... Ngày 17-5-1975, nhận được tin quân Pôn-pôt đánh chiếm đảo Thổ Châu, giết sạch 500 người dân sống trên đảo, chỉ còn một cụ già bơi trốn được vào đất liền báo tin cho bộ đội giải phóng. Không quân được lệnh đánh quân Pôn-pôt bảo vệ dân, bảo vệ các đảo ở biển Tây Nam của Tổ quốc: quần đảo Nam Du, Thổ Châu, Phú Quốc, Hòn Ông, Hòn Bà, Đảo Vai... Tôi lại ba lô trên vai cùng với Tổ chỉ huy đi lên miền Tây. Vừa đi vừa làm bài thơ: Tôi lại lên đường đi lục tỉnh Miền Tây Nam Bộ đất của mình Vậy mà có kẻ quẹt đuôi chó Ngúng ngoáy, khịt khịt gây giặc cỏ Miền Tây đất bùn thừa phân đó Lại có phù sa Tiền, Hậu Giang Trêu ngươi khốn kiếp chó theo đàn Đụng vào lục tỉnh ắt thêm phân... Ngày 29-5-1975, tôi bay ra đảo Phú Quốc, lập Sở chỉ huy Không quân tại sân bay An Thới để chỉ huy Không quân bay ra đánh Đảo Vai. Ta dùng 10 chiếc trực thăng UH-1 vũ trang dùng rốc-ket bắn các ụ súng địch chi viện cho Hải quân ta đổ bộ lấy lại đảo. Sáng nay tôi bay ra đảo Phú Quốc Trời xanh trong, biển lặng hiền hòa Nhấp nhô bao đảo trong tầm mắt Tổ quốc vươn xa mãi biển xa Thời xưa bao người đi mở mang, gìn giữ Thế hệ này ta không để mất đi Mặc ai bày kế gây oán hận Ta đâu có sợ máu xương rơi!... Chúng ta vừa sống trong cảnh đất nước thanh bình chưa đầy tháng thì đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Bọn cầm quyền Căm-pu-chia Pôn-pôt nghe theo sự xúi giục của bọn bành trướng là cứ đánh Việt Nam để được hưởng viện trợ! Dọc biên giới Tây Nam từ Phú Quốc cho đến Tây Nguyên đều có tiếng súng của bọn Pôn-pôt. Bao nhiêu bộ đội, dân thường đã ngã xuống do bọn đao phủ gây ra! Ngày 30-5-1975, tôi bay lên sân bay Tịnh Biên dự Hội nghị hiệp đồng chiến đấu với Sư đoàn 4 do anh Ba Trung "móm" làm Sư đoàn trưởng bảo vệ biên giới Tây Nam. Từ Châu Đốc đến Hà Tiên Con đường biên giới với nước Miên Thời giặc Mỹ, hai miền ba nước Chia cho nhau bát cháo trong rừng Giờ đây Mỹ đã cút, ngụy đã nhào Nỡ quên thời khó, hận thù nhau Ai dùng dao quắm chém dân mình Phải chăng bè lũ theo giặc bành trướng. Ngày 4-6-1975, tôi được phép về thăm nhà. Tôi đi xe từ Tây Đô về quê Bình Định. Ôi! 20 năm nay được phép về thăm quê! Xao xuyến lòng con nỗi nhớ nhà Tất cả việc quân tôi giao lại Mang mỗi tình quê để lên xe Từ đất Tây Đô về Đất Mẹ Qua bao đèo dốc bao phố lạ Quyến rũ đâu bằng cảnh quê ta Chăm chăm đôi mắt mong đến nhà! Chiếc xe du lịch "Đắc-sun" màu xanh lá cây do cháu Tùng lái chạy bon bon về đến làng Cự Lễ - Bến Đá thì gặp cô em út Khê cùng cô con gái là Diệu đi chợ bán mấy bó rau lang già, lá đã vàng ở chợ Hoài Châu về. Nhưng tôi đâu còn nhớ mặt em. Khi cháu Tùng dừng xe để hỏi đường về làng Hy Văn thì lúc này cô em nhận ra ông anh. Em Khê gọi: "Anh Bảy!". Hai anh em đều rơi nước mắt, mừng quá là mừng! Tôi nói: "Hai mẹ con lên xe cùng về với anh Bảy. Nhớ chỉ đường cho chú lái xe chạy về làng Hy Văn nghe!". Anh Bảy! Quên em sao, anh Bảy! Cha mẹ không còn để thấy anh Hy Văn làng mình đó Dừa, tre đều mới lên lại lá Nay đón anh về mà vắng bóng mẹ cha! Xe chạy qua cầu đập Bà Quyến, đi về hướng quán Rướng. Hy Văn làng mình đây này anh Dừa, tre đều mới lên lá lại Em tính đã trải qua 7.000 ngày rồi đó Có ngày đêm nào vắng tiếng bom! Bao nhiêu dừa chỉ còn trơ gốc Bao nhiêu người ngã xuống giữ quê Tôi cố hình dung buổi ra đi Quê đó người đi nay lại về! Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:05:00 pm Ngày 7-6-1975, tôi dâng hương thăm Ba, Má!
Chiều nay con về thăm Ba, Má Lớt phớt rơi mưa nước mắt ròng! Từ buổi con ra đi đời rong ruổi Ba, Má đợi mong lệ thấm đầy! Nay qua bao sương gió con về đây Những mong nũng nịu trong lòng Mẹ Cho thỏa bao ngày vắng bóng Cha! Nhưng loài bán nước-bọn yêu ma Đưa đày Ba, Má sớm đi xa! Chiều nay con quỳ bên đôi mộ Lạy Mẹ, Cha con đền đáp Công dưỡng sinh thành có hôm nay! Sống ở trên đời này không có ai tốt bằng Mẹ của tôi và tôi cũng thương Mẹ tôi hơn thương ai hết! Con những mong về quê thăm Mẹ Hôn bàn tay chai sạn thân thương Con những mong về đền ơn Mẹ Nũng nịu trong lòng để Mẹ thương Con những mong về thơm sữa Mẹ Dòng sữa nuôi con đã lớn khôn Giặc Mỹ cướp đi sữa Mẹ Sữa thành xăng thiêu cháy chúng rồi! Nay đây đất trời của Quê Mẹ Sữa lại thơm mát dịu như xưa! Ngày 8-6-1975, tôi thắp hương lạy anh Ba! Anh Ba núp ở hầm bí mật tại nhà. Bọn Mỹ dùng xe ủi đất cày bới lộ hầm, chúng ném mìn xuống hầm đã giết anh ngày 10-2- 1967 (âm lịch). Chiều nay em thắp hương lạy anh! Cùng chung núm ruột đã sinh thành Thù nhà, nợ nước đành ly biệt Hồn trẻ ngày ngày cưỡi gió mây Việc nhà gánh vác anh lo liệu Phụng dưỡng Mẹ, Cha, hiếu nước non! Một chiều giặc Mỹ giết anh Ba! Thù này ghi tạc mãi con cháu Dẫu cho cỏ lấp, dẫu mưa che! Ngày 9-6-1975, sau khi tôi về thăm các chị, em Tám, các cháu... tôi xin chị Ba cho mượn bò ra cày thửa ruộng đồng Trang của chị Ba để giúp cho chị, nhưng chủ yếu để nhớ lại kỷ niệm thời niên thiếu! Hai mươi năm tôi quen cầm súng Nay thử cầm cày sao ngượng tay "Thá", "Ví" từ lâu quên mất rồi! Giọng khác lạ, bò chẳng nghe! Vểnh tai ngoảnh đầu nhìn lại sau "Ông chủ cày là ai vậy?" Nhưng qua mấy đường cày, tay đã quen Bò, "thợ" cùng vui, thẳng đường cày... Tháng 8-1975, sau khi Không quân hỗ trợ cho Hải quân đánh chiếm xong Đảo Vai, tình hình biển Tây Nam tương đối yên, nhưng biên giới giữa các tỉnh miền Tây với biên giới Căm-pu-chia càng nổ ra những trận đánh ác liệt, liên tục. Không quân chi viện liên tục cho bộ đội Sư đoàn 4 chiến đấu giữ biên giới. Tôi biên thư gửi về Tam Đảo cho vợ và hai con: Anh gửi em yêu và hai con bé bỏng! Trọn tình yêu, đầy thương, tràn nhớ! Đất nước đã thống nhất rồi Thỏa lòng mong ước bao ngày xa Con hỏi: "Sao bố còn đi mãi Chưa về với mẹ, con?" Em yêu và hai con bé thương! Vì miền biên giới chưa bình yên! Ngày mai tan giặc, sạch biên cương Chân trời, góc biển dân bình yên Thì bố về Bắc đón mẹ, con vào Nam! Gia đình sum họp, trọn với nước non! Sau khi ta đánh tiêu diệt một số Tiểu đoàn quân Pôn-pốt ở sát biên giới với An Giang, làm cho chúng chùn bươc áp sát biên giới để hàng tối sang chém giết đồng bào ta. Tình hình tạm yên. Tôi trở về Sư đoàn để chuẩn bị đánh bọn Phun-rô ở Lâm Đồng - Đà Lạt. Mưu đồ của bọn Phun-rô định chiếm Đà Lạt, lập chính phủ Phun-rô để công bố cho thế giới biết và ủng hộ chúng! Sư đoàn Không quân 372, Trung đoàn Không quân 917 đưa 1 Phi đội UH-1 vũ trang cùng L-19, U-17 lên sân bay Cam Ly làm nhiệm vụ chiến đấu đánh Phun-rô. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:07:14 pm Tôi thường xuyên lên kiểm tra tổ chức chiến đấu ở trên đó. Mùa Đông năm đó, ở Đà Lạt - Lâm Đồng trời rất rét, đa số nhân viên mới phục vụ kỹ thuật UH-1 thiếu áo ấm, rét co ro, thật khổ nhưng không làm sao được. Tình hình đánh Phun-rô ở Lâm Đồng đang nóng lên thì bọn phản động lẩn trốn ở vùng núi miền Đông lại nổi dậy định cướp chính quyền ở Bà Rịa. Sư đoàn lại tổ chức sử dụng máy bay L-19 bay quan sát và dùng loa kêu gọi chúng ra đầu hàng. Nếu ngoan cố sẽ bị các máy bay UH-1 vũ trang và A-37 đến ném bom tiêu diệt. Nhiều tên đã ra đầu hàng. Tình hình tạm lắng. Tôi lại về Sư đoàn. Tình hình Mỏ Cày - Bến Tre sâu rầy đang phát triển mạnh, ta cải tiến UH-1 mang bình thuốc và vòi phun xuống Bến Tre diệt sâu rầy cho bà con nông dân. Kết quả cứu được hàng ngàn hec-ta lúa khỏi bệnh sâu rầy. Tôi lại xuống sân bay Cần Thơ kiểm tra trại nuôi heo thí điểm chăn nuôi, kết quả rất tốt. Trại do đồng chí Phạm Bối sáng kiến tổ chức. Đồng chí Phạm Bối cùng đi học bay ở Liên Xô, là con người rất gan dạ nhưng không bay được phải học thợ máy. Nay là Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 937, Sư đoàn Không quân 372. Tôi lại tiếp tục đi kiểm tra khâu gieo lúa của ông Dương Công Danh ở Đồng Tháp Mười. Trung đoàn căn cứ sân bay Tân Sơn Nhất xin Đồng Tháp mấy chục hec-ta để gieo lúa, nhưng kết quả không ngờ vì đồng nước phèn, chưa có kinh nghiệm làm. Ruộng của bà con nông dân làm thì lúa rất tốt. Tôi lại bay xuống Cà Mau kiểm tra trại tăng gia trồng lúa và nuôi heo của ông Sơn, Trung đoàn Không quân 917. Ông Sơn là Chính ủy Trung đoàn Không quân trực thăng 917 học hỏi nhân dân địa phương trước khi làm cho nên kết quả rất tốt. Chở lúa, lợn về đơn vị cải thiện đời sống cho bộ đội.
Đầu năm 1976, tôi được đi ra quần đảo Trường Sa. Cùng đi với đoàn có Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương, Phó Tổng tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền và nhiều cán bộ hải quân, Lục quân. Đi trên tàu HQ-01 - tàu do Mỹ viện trợ cho Hải quân ngụy, ta thu được sau giải phóng. Tàu chở theo 1 chiếc UH-1 để đưa người lên đảo. Lái chính của chiếc UH-1 này là Lê Đình Ký, quê ở quận Liên Chiểu, Đà Nẵng, trước đầy lái trực thăng Mi-6, lái phụ là Hồ Duy Hùng, nguyên là lái UH-1 cho Không quân ngụy, nay tình nguyện lái cho "Việt cộng". Cơ giới trên không là Nguyễn Đức Ngư trước là cơ giới của máy bay trực thăng Mi-8, lái phụ nữa là Nguyễn Đức Vinh. Chiếc tàu HQ-01 "bơi" hơn 1 ngày 2 đêm thì ra tới đảo Trường Sa lớn. Đoàn lên đảo nghỉ 1 ngày 1 đêm, sau đó, đoàn cán bộ lần lượt đổ bộ lên các đào nhỏ thuộc quần đảo Trường Sa: Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca, Song Tử Tây... Ở giữa biển khơi mênh mông chỉ có 3 người làm bạn với nhau đó là Trời, Biển, Đảo! Thật vĩ đại biết bao! Oai phong biết bao! Kỳ vĩ biết bao! Kỳ thú vô song, chẳng thể nào tả hết! Tôi rất muốn sống lâu với cảnh đó nhưng nhớ vợ và hai con lắm vì từ ngoài Bắc mới vào Nam mọi cái còn đang bỡ ngỡ... Mẹ con tự xoay xở lấy, tội nghiệp lắm, tiền lại không có nữa! Ở đảo về, có quà của biển là một túi san hô, vỏ sò, ốc biển rồi túi củ sâm nam mọc trên đảo do các chiến sĩ trên đảo tặng mang về nấu nước uống mát lắm! Sau khi vui Tết cổ truyền xong, tình hình vùng Đà Lạt-Lâm Đồng lại rộ lên. Bọn Phun-rô quấy phá gây mất an ninh. Chúng chủ trương đánh cướp chính quyền xã, thôn. Tôi lại lên đường cùng với 1 Phi đội UH-1 và L-19, bay lên sân bay Cam Ly - Đà Lạt để từ đây cất cánh đi đánh Phun- rô. Diệt Phun-rô xong lại quay vào biên giới Tây Nam đánh quân Pôn-pôt. Trên cho phép được sang biên giới truy đuổi diệt tận gốc quân giết người. Anh em rất hả lòng hả dạ vì sự nhượng bộ lâu nay, chúng ta càng kìm chế thì bọn Pôn-pôt càng lấn tới. Sau khi ta giải phóng Căm-pu-chia thoát khỏi bọn diệt chủng Pôn-pôt thì tình hình biên giới phía Bắc căng thẳng chưa từng có. Nguy cơ nổ ra một cuộc chiến tranh với Trung Quốc chỉ còn tính bằng giờ, bằng ngày nữa thôi! Ta chưa hề có một sự phòng thủ biên giới với Trung Quốc! Thật nguy hiểm xiết bao! Trung Quốc đã tập trung hàng vạn quân, hàng ngàn xe tăng, pháo binh dọc theo biên giới đoi diện với ta từ Móng Cái đến Lào Cai để chuẩn bị cho cái mà Trung Quốc gọi là "dạy cho Việt Nam một bài học nhớ đời!". Ta yêu cầu Liên Xô viện trợ vũ khí bộ binh, hàng ngày máy bay An-22 chở sang cho Việt Nam nhưng phải bay qua các nước phía Tây vì đường phía Đông thì Trung Quốc đã cấm máy bay của Liên Xô bay qua. Ngày 17-2-1979, Trung Quốc cho quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới từ Móng Cái - Lạng Sơn - Cao Bằng - Hà Giang - Lào Cai - Lai Châu... Có nơi đã vào sâu trong đất ta đến 10-15 km hoặc sâu hơn. Tôi, anh Trần Mạnh, anh Phạm Thanh Ngân đang học lớp ngắn ngày ở Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc được lệnh dừng học, về lại Quân chủng ngay. Tôi ôn lại những tháng ngày ở Trạm 66 Bộ Tổng một chút. Ba anh em ở Trạm, hàng ngày đến Trường nghe lên lớp và thảo luận Tổ học tập ở Trường. Thời gian rảnh còn lại thì nghỉ ở Trạm 66 cho nên có dịp đi dạo chợ Đồng Xuân - Bắc Qua, thi thoảng mua chui vài ký gạo ở chợ Bắc Qua gửi về Sài Gòn cho vợ con (gửi anh Trần Mạnh mang về giúp vì Chủ nhật, anh được về Sài Gòn theo tiêu chuẩn dân sự bởi khi ấy anh là Tổng cục trưởng Hàng không dân dụng, còn tôi và anh Phạm Thanh Ngân sinh hoạt theo chế độ quân sự nên ở lại Trạm 66). Có lẽ đây là thời kỳ Việt Nam khó khăn nhất về lương thực. Khắp cả nước ăn hạt bo bo thay cơm do thiếu gạo. Tôi về đến Quân chủng, được Quân chủng giao nhiệm vụ mới ngay, đó là làm Tư lệnh Sư đoàn Không quân 67 thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân. Căn cứ lâm thời đóng tại sân bay Đa Phúc và được sử dụng cơ sở vật chất của Sư đoàn Không quân 371 cho nhiệm vụ chiến đấu của Sư đoàn 67. Tôi đến sân bay Đa Phúc lập Sở chỉ huy để chỉ huy bộ đội chiến đấu. Sở chỉ huy tạm thời đặt tại phòng tiếp khách của Nhà truyền thống Sư đoàn 371. Đồng chí Đào Đình Luyện thay mặt Tư lệnh Quân chủng lên kiểm tra và phê chuẩn đạt yêu cầu. Lực lượng chiến đấu trước mắt gồm có 1 Phi đội F-5E, 1 Phi đội A-37 (ở sân bay Đa Phúc) và 1 Phi đội UH-1 vũ trang (đóng ở sân bay Bạch Mai). Tất cả máy bay, phi công, thợ máy của Sư đoàn 372 được chuyển sang cho Sư đoàn dã chiến 67 do tôi chỉ huy. Nhiệm vụ vô cùng nặng nề, phức tạp. Tất cả từ người chỉ huy đến người lính đều quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, lập công xây dựng truyền thống cho Sư đoàn ngay từ ngày đầu, trận đầu. Tất cả máy bay, trực thăng đều treo bom, tên lửa, rốc-két đầy đủ và sẵn sàng cất cánh. Những ngày cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1979 thời tiết xấu kinh khủng: mây thấp, sương mù dày đặc... máy bay không thể cất cánh được. Mặc cho gió rét, anh em phi công, thợ máy vẫn túc trực dưới cánh máy bay, sẵn sàng cất cánh khi có lệnh. Khoảng trung tuần tháng 3-1979, quân Trung Quốc rút khỏi lãnh thổ Việt Nam. Khi tấn công thì kèn trống thổi vang xóm núi nhưng khi rút thì lẳng lặng mang theo bao nhiêu thứ cướp được của dân ở biên giới, còn xác quân "chệch" chết thì bỏ lại thối ở biên cương đến hàng tháng sau đó. Sư đoàn Không quân 67 cũng chấm dứt từ đó. Tôi lại về Sư đoàn Không quân 372 để chuẩn bị một cuộc gọi là đi tập kết lần thứ hai (cơ động toàn Sư đoàn ra Bắc) vì đa số anh em cán bộ Sư đoàn 372 đã trải qua thời kỳ đánh Pháp và được tập kết ra Bắc từ 1954-1955 để xây dựng miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, làm hậu phương chiến lược cho cách mạng giải phóng miền Nam. Còn lần thứ hai này trở ra miền Bắc là để chống quân bành trướng phía Bắc. Tiêu đề: Nhớ về bầu trời năm ấy Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:08:45 pm Quân chủng Không quân có sự chuyển biến lớn về tổ chức, chuẩn bị lực lượng chiến đấu mới. Sự thay đổi đó là: thu hồi tên Sư đoàn không quân 67 để thành lập Sư đoàn mới đó là Sư đoàn 376 đóng quân ở miền Nam thay cho Sư đoàn 372 cơ động ra đóng quân ở sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hóa - là Sư đoàn Không quân tiêm kích bom được trang bị máy bay mới Su-22M cánh cụp cánh xòe. Mỗi chiếc có thể mang 3 tấn bom, như vậy 10 chiếc Su-22 thì có sức mạnh hỏa lực tương đương bằng B-52 của Mỹ. Như vậy, Sư đoàn Không quân 372 có thể đánh tiêu diệt các đội hình lớn tập kết quân chuẩn bị tấn công của địch. Chọn phi công đưa sang Trường Không quân Krasnôđar để bay chuyển loại Su-22. Tôi đi học chuyển loại tốp thứ 2, có 10 người. Tôi là người bay đơn đầu tiên trên Su-22 cánh cụp cánh xòe. Đó là lần thứ 3 trong đời phi công của tôi được sang Liên Xô để học bay trên máy bay chiến đấu MiG và Su. Một kỷ niệm sâu sắc không bao giờ quên - nó đã in sâu trong tâm trí tôi về tình đất tình người Xô-viết vĩ đại là mãi mãi!
Sư đoàn Không quân 371 được trang bị máy bay MiG- 21bis hiện đại, tối tân hơn loại MiG-21 F-94, 96, chuyên sâu nhiệm vụ tiêm kích bảo vệ mục tiêu và yểm hộ cho các loại máy bay khác. Sư đoàn đóng quân ở miền Bắc do anh Phạm Thanh Ngân làm Sư đoàn trưởng. Miền Trung có Sư đoàn Không quân tiêm kích 370 đóng ở Đà Nẵng do anh Mai Đức Toại làm Sư đoàn trưởng. Miền Nam có Sư đoàn Không quân 376 hỗn hợp tiêm kích-vận tải-trực thăng vũ trang do anh Lê Văn Nhã làm Sư đoàn trưởng, đóng ở sân bay Tân Sơn Nhất. Kết thúc năm 1979, tôi cũng hoàn thành một nhiệm vụ cực kỳ trọng đại nhất trong đời binh nghiệp, đó là dẫn đầu Binh đoàn Không quân mặt trận hành quân từ miền Nam ra miền Bắc mà anh em cán bộ người quê ở miền Nam gọi là cuộc tập kết lần thứ 2. Lần thứ nhất cách đây đã 24 năm (1955) sau khi thắng Pháp. Hồi ấy đi từ miền Nam ra miền Bắc bằng tàu thủy, còn bây giờ đi từ miền Nam ra miền Bắc bằng tàu hỏa, máy bay và ô tô. Tôi và các anh Sư đoàn phó Trần Tấn Sơn, Nguyễn Trọng (phó Chính trị), Trần Thạch (chủ nhiệm hậu cần)... thành tổ tiền trạm đi trước ra sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân để lập kế hoạch bố trí nơi đóng quân, xây dựng cơ sở hậu cần kỹ thuật cho Sư đoàn... Sân bay Sao Vàng lúc đó còn là bãi đất trắng với đồi trọc sỏi đá. Anh Sơn, anh Thạch chạy đi khắp các huyện miền núi Thanh Hóa để mua vật liệu về xây dựng doanh trại (luồng, nứa...), thực phẩm, rau... cho bộ đội. Xin cấp trên cấp cho một ít kinh phí đã khó rồi, nhưng khi có tiền đi mua vật liệu lại càng khó hơn! Phải có đủ giấy giới thiệu trên đời từ Trung ương đến địa phương vì thượng vàng hạ cám đều bao cấp mà! Hai anh Sư phó Sơn, Chủ nhiệm hậu cần Thạch phải chạy khắp hang cùng ngõ hẻm mãi rồi cũng được. Phải kể rằng nhờ vào tài năng nổ của hai anh đó. Sư đoàn đã hoàn thành cơ động ra Bắc để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc thân yêu! Đứng ở sân bay Sao Vàng, Thanh Hóa nhìn về phương Nam xa xăm nhớ vợ nhớ con. Tôi làm bài thơ: Biên giới Tây Nam vừa bình yên1 (Ngày 7-1-1979, nhân dân Căm-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng của chế độ Pôn-pốt, biên giới Tây Nam Việt Nam - Căm-pu-chia được bình yên) Biên giới Bắc Hà máu lại chảy!2 (Ngày 17-2-1979, Trung Quốc cho hơn 10 vạn quân tràn qua biên giới phía Bắc Việt Nam - Trung Quốc) Môi hở răng lạnh, hết lạnh rồi Môi mím răng nóng, nóng quá vậy! Bố lại lên đường ra ngoài ấy3 (Tôi ra Bắc thành lập Sư đoàn Không quân 67 tháng 3-1979) Trong này mẹ con sống sao đây! Rau cháo qua ngày không ngại đâu Xa nhau chỉ ngại buồn cút côi!4 (Tháng 6-1979 điều động Sư đoàn Không quân mặt trận 372 ra Bắc, tôi cùng đi với anh em cán bộ quê ở miền Nam gọi là đi "tập kết" lần thứ 2. Ba mẹ con cô Dậu ở trong Sài Gòn xa xôi (quê ngoại, quê nội đều xa xôi), buồn cút côi là thế) Sư đoàn Không quân 372 chuẩn bị đón Tết cổ truyền dân tộc lần đầu tiên trên quê hương Lam Sơn lịch sử - 1980. Sau khi Sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ cơ động ra Bắc chuẩn bị sẵn sàng đánh trả "bài học thứ 2" mà Trung Quốc vẫn rêu rao là sẽ dạy cho Việt Nam bài học thứ 2 nếu Việt Nam không chịu rút quân khỏi Căm-pu-chia. Nhưng những lời đe dọa đó chỉ như nước đổ lá khoai. Việt Nam vẫn đóng quân ở Căm-pu-chia giúp nhân dân Căm-pu-chia khôi phục lại cuộc sống. Sư đoàn đón Tết cổ truyền ở quê hương Lam Sơn rất nghèo về lúa gạo nhưng rất giàu về sắn (mì). Bạt ngàn là củ mì (củ sắn). Đón giao thừa, trời rất rét, mỗi đơn vị đốt một đống củi giữa sân để sưởi ấm và nướng sắn. Chúc giao thừa với nhau bằng củ sắn nướng và ly rượu mía đậm đà tình quê hương của vùng đất Lam Sơn lịch sử. Ăn Tết cổ truyền xong, cấp trên cho hạ cấp sẵn sàng (Hồi ấy có 4 cấp sẵn sàng chiến đấu: toàn bộ, cao, thấp, trung bình). Trên cho Sư đoàn xuống cấp thấp. Anh em tỏa lên đồi cuốc đất trồng sắn, đào ao nuôi cá, làm chuồng nuôi heo... Phong trào thi đua tăng gia sản xuất nổi lên chưa từng có trong Sư đoàn. Mọi sinh hoạt học tập, lao động theo chế độ chính quy bình thường hàng ngày. Thứ Bảy, Chủ nhật được nghỉ ra ngoài không quá 30% quân số (trừ phân đội trực chiến). Tôi tranh thủ giải quyết hết công việc trong tuần để ngày Chủ nhật rủ vài anh em đi vào rừng bắn gà rừng về cải thiện hoặc lội đồng bắn sít. Loại chim sít ưa ăn ở ruộng lầy theo bầy đông hàng trăm con. Ngày đi bắn, tối về làm bữa cháo sít ngon tuyệt vời! Ở Thanh Hóa, gà rừng thì có quanh năm, còn chim sít, cu xanh, cu đất, vẹt... thì có mùa theo từng loại ăn ở các cánh đồng khô hoặc lầy... khác nhau. Vũ khí thì có 3 loại: súng kíp, súng thể thao và súng hơi, cho nên phải chế tạo đạn khác nhau rất công phu thì khi đi bắn mới đạt kết quả cao được. Chim sâm cầm thì chỉ có ở vùng Ninh Bình, cho nên muốn bắn sâm cầm là phải đi xa, tốn cả ngày trời. Thịt sâm cầm rất bổ, đứng hàng đầu thịt các loại chim ăn ở đồng nước. Sinh thời, Bác Hồ rất khen thịt sâm cầm ngon! Cuối năm 1980, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam một Trung đoàn máy bay chiến đấu Su-22M kiểu tiêm kích bom cánh cụp cánh xòe (có thể cụp góc vát ra sau chỉ còn khoảng 60 độ hoặc xòe về trước góc cánh còn 30 độ, còn bình thường bay thì đặt góc cánh ở 45 độ, nghĩa là bằng góc chếch của MiG-17). Máy bay có thể chiến đấu trong mọi thời tiết. Tôi được Quân chủng giao dẫn đầu đoàn phi công sang Liên Xô bay chuyển loại từ MiG-21 sang máy bay Su-22 tại Trường bay Krasnôđar, nơi mà tôi đã trải qua 2 lần bay huấn luyện MiG ở đó. Chúng tôi sang Liên Xô lần này đi bằng đường Hàng không dân dụng. Chiếc máy bay IL-62 cất cánh từ sân bay Đa Phúc bay qua Lào - Thái Lan - Ấn Độ và hạ cánh xuống sân bay Đêli lấy dầu rồi bay một mạch sang Liên Xô. Máy bay hạ cánh xuống sân bay Mechevô 2 Mạc Tư Khoa, từ đó chuyển sang Tu-154 chuyến bay nội địa đi Krasnôđar. Chúng tôi về đến trường bắt tay vào công tác chuẩn bị bay ngay. Tháng 12-1980, chúng tôi tốt nghiệp lái Su-22M và trở về Việt Nam. Máy bay chiến đấu Su-22M được chở bằng An-22 sang lắp ráp tại sân bay Đà Nẵng. Các chuyên gia Liên Xô sang lắp ráp và bay thử rồi bàn giao cho Việt Nam. Chúng tôi nhận máy bay và bay chuyển sân ra sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hóa lắp bom đạn đầy đủ trực chiến sẵn sàng giáng trả quân thù. Năm 1982, biên giới phía Bắc giảm nhiệt thì vùng biển đảo Trường Sa lại nóng lên. Thủy quân Trung Quốc đánh chiếm một số đảo đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa (đá ngầm là đảo chưa nổi hẳn lên mặt nước). Trong cuộc chiến này, một số bộ đội Hải quân của ta canh gác trên vùng đá ngầm đã anh dũng hy sinh. Máy bay Su-22M được lệnh chuyển sân vào sân bay Thành Sơn chuẩn bị đánh Hải quân Trung Quốc trên vùng biển Trường Sa. Năm 1982, tôi được trên điều vào Đà Nẵng giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370. Đà Nẵng là địa bàn chiến lược của đất nước. Nếu địch chiếm Đà Nẵng coi như Đông Dương bị chia cắt. Bởi vậy, đóng quân trên địa bàn chiến lược này có 3 đơn vị Quân Binh chủng (Không quân, Phòng không và Hải quân). Lục quân thì có Quân khu 5. Trong ký ức, quân xâm lược đã có 3 lần đổ bộ đầu tiên chiếm Đông Dương là vào Đà Nẵng (Pháp, Mỹ, Nhật). Ba đơn vị chúng tôi: Phòng không - Tư lệnh là anh Nguyễn Thanh Tùng, Hải quân vùng 3 - Tư lệnh là anh Trần Quang Châu, không quân - Tư lệnh là Nguyễn Hồng Nhị. Ba anh em chúng tôi đoàn kết gắn bó như một để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn chiến lược của đất nước - nơi sẽ đụng đầu đầu tiên với địch khi nó xâm lược Việt Nam ta. Tôi ở Đà Nẵng hơn 7 năm, giữ chức Tư lệnh Sư đoàn hơn 14 năm (Sư đoàn 372 là 7 năm và Sư đoàn 370 cũng 7 năm) và được phong hàm Thiếu tướng kể cũng hiếm có lúc bấy giờ. Ở khúc giữa cây đòn gánh này gánh chịu tất thảy những vất vả gian truân của đất nước, của một thời bắt đầu sự đổi mới đầy phức tạp, gian nan... |