|
Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Chín, 2025, 08:42:24 pm - Tên sách: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam
- Tác giả: Hồ Khang - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân - Năm xuất bản: 2017 - Người số hóa: macbupda, vnmlitaryhistory LỜI NÓI ĐẦU Cuộc chiến tranh Việt Nam dài 21 năm (1954-1975) là cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất thời kỳ Chiến tranh lạnh, xét trên nhiều phương diện khác nhau: về phương tiện chiến tranh, về quy mô, lực lượng tham gia, về tính chất và cường độ... Trong chiến tranh Việt Nam, với sự ủng hộ, tham gia của 34 nước đồng minh, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã huy động vào cuộc chiến một lực lượng vật chất - kỹ thuật hết sức to lớn, thực hiện nhiều chiến lược chiến tranh khác nhau. Bằng những cố gắng đó và cùng với tiềm lực kinh tế, quân sự vượt trội, nước Mỹ luôn tin tưởng ở một chiến thắng nhanh chóng và tuyệt đối. Tuy nhiên, lịch sử không diễn ra một cách đơn giản, theo ý muốn chủ quan - diễn biến và kết cục của chiến tranh Việt Nam đã khiến nhiều vấn đề từng được định hình hoặc mang tính mô thức cần phải được nhận thức lại. Sau những năm tháng dài sa lầy vào cuộc chiến như không có hồi kết thúc, cuối cùng, nước Mỹ hùng mạnh đã phải rút khỏi miền Nam Việt Nam khi rất nhiều trù định ban đầu chưa thành hiện thực. Chiến tranh Việt Nam ngay cả khi đang diễn ra cũng như khi đã kết thúc luôn tác động nhiều chiều và sâu rộng đến tình hình không chỉ của các bên tham chiến, mà cả của khu vực cũng như thế giới. Tính thời sự, ảnh hưởng của cuộc chiến, vì thế, càng trở nên nóng bỏng và thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế cũng như của giới nghiên cứu. Suốt toàn bộ thời gian diễn ra cuộc chiến và cả khoảng thời gian 40 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, chiến tranh Việt Nam đã làm tổn không ít giấy mực làm hao tổn và lấy đi rất nhiều tâm sức của các nhà khoa học. Cuộc chiến ấy được nghiên cứu rộng rãi cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài, được mổ xẻ, soi chiếu dưới nhiều góc độ khác nhau, gây ra những cuộc tranh luận khoa học với rất nhiều chiều kích. Tất yếu, với ngần ấy nỗ lực, kết quả nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam trên mọi chiều cạnh của nó là hết sức to lớn, nhận thức, tri thức lịch sử về cuộc chiến ngày càng đẩy lên. Tuy nhiên, cũng như bao sự kiện lịch sử quan trọng khác, hiểu biết, nhận thức thu nhận được bao nhiêu đi chăng nữa cũng không bao giờ là đầy đủ, các giới hạn được đặt ra rồi lại bị phá vỡ. Để mô tả, phục dựng, đánh giá, nhìn nhận thấu tỏ hơn, chân thực, đầy đủ hơn nhiều vấn đề, sự kiện của chiến tranh Việt Nam, vẫn hết sức cần thiết đối với những công trình nghiên cứu mới. Trên quan điểm ấy và với tâm thế đó, chúng tôi đã nghiêm túc, cẩn trọng trong nghiên cứu và cho ra đời công trình: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam (1954-1975), hy vọng đóng góp vào nỗ lực chung của giới khoa học trong nghiên cứu về cuộc chiến mười ngàn ngày - cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. Để làm rõ con đường, cách thức kết thúc chiến tranh từ phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngoài Lời nói đầu, Kết luận, chúng tôi bố cục cuốn sách thành bốn chương; trong đó, chương I dành để viết về nguyên nhân bùng nổ chiến tranh và tình hình, đường lối tiến hành chiến tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chương II có nội dung trọn vẹn về quá trình xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc của Việt Nam; chương III làm rõ những nét lớn, những hoạt động quan trọng của miền Nam thành đồng trên tuyến đầu gian khó; chương IV làm sáng tỏ quá trình Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tranh thủ và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại - đó đồng thời cũng là những yếu tố cốt lõi làm nên chiến thắng quyết định dẫn đến kết cục cuối cùng của cuộc chiến. Với tinh thần thực sự cầu thị, chúng tôi mong được bạn đọc đón nhận và thảo luận, góp ý, phê bình. Chúng tôi luôn biết ơn và trân trọng mọi nhận xét, đóng góp từ phía độc giả để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau! HỒ KHANG Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Chín, 2025, 08:44:34 pm Chương I VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA BƯỚC VÀO CUỘC ĐỤNG ĐẦU LỊCH SỬ I-HỘI NGHỊ GENEVA (GIƠNEVƠ) NĂM 1954 VÀ SỰ KHỞI PHÁT CỦA CHIẾN TRANH VIỆT NAM 1- Hội nghị Geneva năm 1954 và vĩ tuyến 17 Cho đến mùa Xuân năm 1953, cục diện chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương chuyển biến theo chiều hướng bất lợi cho nước Pháp. Những thất bại liên tiếp trên chiến trường đẩy Pháp vào tình thế khó khăn, ngày càng lệ thuộc vào Mỹ. Cuộc chiến giằng co với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm bộc lộ rõ thêm những yếu điểm trong hoạt động quân sự của quân đội dày dạn kinh nghiệm chinh chiến và khiến ngân khố nước Pháp thâm hụt trầm trọng1 (Chiến tranh đã tiêu tốn của nước Pháp khoảng 5.000 tỉ franc cũ, chưa kể 477 tỉ viện trợ của Mỹ đổ vào Đông Dương trước tháng 7-1954 (Nguồn: Bernard B. Fall, Hell in a very small place: The siege of Dien Bien Phu, Da Capo Press, 2002, p.3)). Nhằm cứu vãn tình hình, hy vọng tìm "một lối thoát danh dự", Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương một lần nữa được thay thế - R. Salan (R. Xalăng) kế nhiệm J. L. de Tassigny (J. L. D. Tátxinhi) bị cách chức, thay bằng Tướng H. Navarre (H. Nava) - viên tướng sáng giá của nước Pháp. Một thời gian ngắn sau khi sang Đông Dương, Tướng H Navarre đã cho ra đời kế hoạch H. Navarre - một kế hoạch được Mỹ đánh giá cao, tin tưởng rằng kế hoạch đó nếu không phải là một thắng lợi hoàn toàn, thì ít nhất cũng thu được kết quả nhất định về quân sự. Một trong những mục tiêu quan trọng của kế hoạch H. Navarre là nhằm "chứng minh cho Việt Minh thấy rằng nếu như chúng ta (tức phía Pháp - TG) không thắng trong cuộc chiến tranh thì họ cũng không có hy vọng gì thắng ta bằng quân sự và do đó cần phải thương lượng"1 (Jean Pouget, Tướng Navarre với trận Điện Biên Phủ, Nxb Công an nhân dân, 2004, tr.61). Để thực hiện kế hoạch chiến lược quan trọng này, Pháp tăng thêm viện binh, phát triển quân đội, xây dựng khối cơ động chiến lược. Sau cuộc tiến quân của bộ đội chủ lực Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lên Tây Bắc, cái tên "Điện Biên Phủ" bắt đầu được nhắc đến thường xuyên hơn trong các cuộc thảo luận của các tướng lĩnh quân đội Pháp và cuối cùng nó được chọn lựa để trở thành "Verdun" (Vécđon) của Đông Nam Á, được xây dựng thành pháo đài bất khả xâm phạm. Điện Biên Phủ trở thành nơi đọ sức, cuộc chạy đua nước rút quyết liệt, mà mỗi bên đều gửi gắm vào đó những mục tiêu quyết tử, có giá trị quyết định trong ván cờ cuối cùng. Đặc biệt, cuộc quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ lại càng ý nghĩa, vai trò to lớn, quan trọng hơn khi ngày 25-1-1954, Hội nghị cấp Bộ trưởng Ngoại giao giữa Liên Xô, Anh, Pháp, Mỹ khai mạc tại Berlin (Béclin) ra thông báo sẽ triệu tập Hội nghị Geneva bàn giải pháp cho vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương. Trước khi khai mạc Hội nghị Geneva, liên quan đến Đông Dương và Việt Nam, hai nước lớn vốn được coi là đồng minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Trung Quốc và Liên Xô đã có phương án - đó là án "vạch ranh giới đình chiến ở Đông Dương giống như Triều Tiên"1 (Dương Khuê Tùng, Nghiên cứu về lịch sử thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tập 2, Nxb Nhân dân Giang Tây, 2008, bản dịch Quốc Thanh), lấy "vĩ tuyến 16 độ Bắc như là một trong những phương án để xem xét"2 (Qian Jiang, Zhou Enlai and the Geneva Conference, Beijing: History of CPC Press, 2005, p.38), cả Moscow (Mátxcơva) và Bắc Kinh đều cố gắng thuyết phục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp thuận phương án này. Nhận xét về đường ranh giới được đặt tại "vĩ độ 16", Đại sứ Trung Quốc tại Liên Xô Trương Văn Thiên cho rằng, đó là lựa chọn "có lợi cho Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh nên và cần phải đồng ý khi đề nghị này được nêu lên chính thức"3 (ABЛ РФ, Ф, 06, on, 13a, Н.25, Л.7, Л.43). Nhằm bắn tín hiệu cho "phía bên kia", đầu tháng 3-1954, trao đổi với nhân viên của Đại sứ quán Mỹ ở London (Luân Đôn) và nhân viên Bộ Ngoại giao Anh (G. Holerom - Hôlêrôm), hai nhà ngoại giao Liên Xô (Rodionov - Rôđiônôp, Belokhvostikov - Bêlôkhơvôxtikốp) đã "vô tình" đề cập đến quan điểm giải quyết vấn đề Việt Nam của Liên Xô theo mô thức Triều Tiên và nhắc đến vĩ tuyến 164 (И. В. Гайдук, Соьемский иа Жеиеьской коифеpem no Ииоокumano, allconspirology.org). Có vẻ như hình mẫu cho đình chiến Đông Dương đã được lựa chọn và mọi chuyện đã được quyết định, ý kiến, nguyện vọng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ còn là hình thức. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Chín, 2025, 08:46:47 pm Thực hiện "vai trò bảo vệ thế giới" và "sứ mệnh ngăn chặn làn sóng đỏ", Hoa Kỳ can thiệp ngày càng sâu vào chiến tranh Đông Dương. Song dù đã đổ lượng vật chất to lớn1 (Theo tính toán của Pháp, viện trợ Mỹ đã chiếm gần 80% chiến phí của Pháp, tổng cộng khoảng 1.700 triệu USD. Trong tổng số 1.700 triệu USD Mỹ viện trợ đó, tuyệt đại bộ phận là vũ khí và dụng cụ chiến tranh. Theo "Tài liệu mật của Lầu Năm Góc", tính đến ngày 21-1-1954, Mỹ đã viện trợ cho Pháp 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 619 máy bay, 390 tàu đổ bộ, 16.000 ô tô, 175.000 súng trường và súng máy, 2.555 triệu viên đạn, trong đó có 15 triệu viên đại bác), yểm trợ người Pháp "ngăn chặn họa cộng sản", nhưng tình hình diễn biến không như trông đợi của Mỹ. Pháp không thể dùng biện pháp quân sự để tiêu diệt Việt Minh, tình hình Đông Dương đang xấu đi, "cộng sản chiếm vị trí không chế trong phong trào dân tộc"2 (U. S. Policy toward Southeast Asia (NSC 51), dated 1 July 1949, Harry S. Truman Library, Independence, Missouri, 137). Tuy không hài lòng về hiệu quả chính sách của Pháp, song Mỹ vẫn hy vọng về một chiến thắng quân sự của Pháp trước Việt Minh. Bằng nhiều biện pháp, Mỹ củng cố quyết tâm tiếp tục chiến đấu của Pháp; đồng thời, quyết liệt phản đối các cuộc đàm phán ở Đông Dương. Nghiêng về phương án can thiệp và trợ giúp quân sự cho Pháp, song Mỹ phụ thuộc vào việc thuyết phục được Anh phối hợp nhất trí cùng với Mỹ, chỉ có như vậy Quốc hội Mỹ mới có thể phê chuẩn3 (Qian Jiang, Zhou Enlai and the Geneva Conference, lbld, p.57). Song, nhận thấy đe dọa quân sự không giúp gì cho việc giải quyết vấn đề Đông Dương, trái lại có thể dẫn đến cuộc xung đột lớn hơn, Anh kiên quyết phản đối. Trong tình thế đó, quan điểm của Mỹ là nếu đàm phán, Pháp phải tiến hành đàm phán trên thế mạnh, không vội chấp nhận ngừng bắn. Mỹ phản đối phương án phân vùng và từ giữa tháng 6-1954, tích cực vận động cho một Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á. Sau khi chính phủ Laniel (Lanien) sụp đổ vào ngày 12-6-1954, Thủ tướng mới của Pháp Pierre Mendès France (P. M. Phơrăng) tuyên bố sẽ giải quyết vấn đề Đông Dương trong vòng bốn tuần lễ, Mỹ mới bắt đầu cân nhắc và thay đối lập trường, hướng tới chấp nhận phương án đàm phán của Pháp, đồng ý với giải pháp chia cắt Việt Nam. Đây là lần đầu tiên kể từ cuốỉ năm 1953, Mỹ và Pháp có chung quan điểm về các chính sách đối với Đông Dương. Nhìn chung, lập trường tham gia Hội nghị của Mỹ là bảo đảm ảnh hưởng đối với các quyết định, song không ràng buộc, "là một quốc gia quan tâm, nhưng không phải là một bên tham chiến, cũng không phải là người tham gia chính trong cuộc đàm phán"1 (The Pentagon Papers, Gravel Edition, Volume 1, Document 47, Memorandum from Secretary of State Dulles on Instruction to the American Delegation at Geneva, 12 May 1954, p. 507-508). Đó là cách Mỹ né tránh để không phải chịu trách nhiệm và không bị chế định bởi kết quả của Hội nghị, chuẩn bị trước cho khả năng can thiệp vào Đông Dương khi cần thiết, nhằm ngăn chặn khối cộng sản2 (The Pentagon Papers, Gravel Edition, Volume 1, Chapter 3).
Ngày 26-4-1954, Hội nghị Geneva chính thức khai mạc với sự tham gia của năm nước và bốn bên, nhằm giải quyết cuộc chiến tranh trên Triều Tiên và thảo luận về khả năng khôi phục hòa bình ở Đông Dương. Các cuộc thảo luận về Đông Dương bắt đầu từ ngày 8-5-1954 - một ngày sau khi Quân đội nhân dân Việt Nam chiếm Sở chỉ huy cứ điểm Điện Biên Phủ, Tướng C. de Castries (C. Đờ Cát) và toàn bộ Bộ Tham mưu bị bắt sống. Wilfred Burchett (W. Bớtchét) bình luận: "Người đồng chí thân thiết của ông Phạm Văn Đồng là ông Võ Nguyên Giáp đã trao lại cho ông một vũ khí hiệu nghiệm nhất, mà không phải bất kỳ nhà thương lượng nào cũng dám nghĩ đến khi bắt đầu một hội nghị như vậy - Điện Biên Phủ thắng lợi hoàn toàn một ngày trước khi Hội nghị khai mạc. Nhờ thời điểm tuyệt diệu của ông Giáp, kế hoạch Dulles (Đalét) nhằm quốc tế hoá cuộc chiến tranh đã thất bại"1 (George Burchett and Nick Shimmin, Memoirs of a Rebel Journalist: The Autobiography of Wilfred Burchett, University of New South Wales Press, Sydney, New South Wales, 2005, p.190). N. Khrushchev (N.Khơrútxốp) nhớ lại: "Một điều kỳ diệu đã xảy ra. Khi các phái đoàn vừa đặt chân đến Geneva, những người kháng chiến Việt Nam đã giành được thắng lợi to lớn ở Điện Biên Phủ [tháng 5-1954]"2 (Nikita Sergei Khrushchev, Memoirs of Nikita Khrushchev, volume 3 statesman (1953-1954), Pennsylvania State University Press, 2006, p.501. Khrushchev viết tiếp: Chúng tôi đã chỉ thị cho phái đoàn của mình tại Geneva đưa yêu cầu về đường giới tuyến dịch chuyển xuống phía Nam, đến vĩ tuyến 15; tuy nhiên, chúng tôi cũng khuyến cáo rằng đó là vị trí [vĩ tuyến 15 - TG] đặt ra để thương lượng và bằng cách đó, những thành quả đạt được của những người cộng sản Việt Nam được bảo đảm. Hiệp định đã được ký kết vì lý do đó"). Thực vậy, Điện Biên Phủ thất thủ đã khiến nội tình nước Pháp thêm chia rẽ sâu sắc, Pháp tìm cách nhanh chóng rút lui khỏi Đông Dương, nhiệm vụ cấp bách nhất của phái đoàn Pháp tại Hội nghị Geneva là đạt được ngừng bắn càng sớm càng tốt. Đến Geneva, đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mang theo giải pháp tám điểm: 1- Pháp công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cambodia (Campuchia); 2- Ký một hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi ba nước (Đông Dương - TG) trong thời hạn do các bên tham chiến ấn định. Trước khi rút quân, đạt thỏa thuận về nơi đóng quân của lực lượng Pháp hay Việt Nam trong một số khu vực hạn chế; 3- Tổ chức tổng tuyển cử tự do trong ba nước (Đông Dương - TG) nhằm thành lập chính phủ duy nhất cho mỗi nước; 4- Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố ý định xem xét việc tự nguyện gia nhập Liên hiệp Pháp và những điều kiện của việc gia nhập đó; 5- Ba nước thừa nhận các quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp tại mỗi nước. Sau khi chính phủ duy nhất được thành lập, các quan hệ kinh tế và văn hóa được giải quyết theo đúng các nguyên tắc bình đẳng và củng cố; 6- Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh; 7- Trao đổi tù binh và dân thường bị bắt trong chiến tranh; 8- Các biện pháp nói trên sẽ được thực hiện sau khi đình chỉ chiến sự. Tóm lại, toàn bộ nội dung các giải pháp phản ánh về thiện chí hòa bình của Hà Nội, mong muốn toàn vẹn lãnh thổ và độc lập; tự do cũng như mối quan hệ thân thiện với Pháp. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Chín, 2025, 08:49:39 pm Trong thời gian diễn ra Hội nghị, các bên trình bày lập trường về cách giải quyết vấn đề Việt Nam và Đông Dương, nhưng do lập trường giữa các bên tham gia Hội nghị quá khác xa nhau, nên các cuộc đàm phán tiến triển rất chậm chạp. Để thúc đẩy tiến trình đàm phán, các bên tăng cường gặp nhau tay đôi, tay ba trong cuộc thảo luận riêng và các thỏa thuận chủ yếu đạt được trong những phiên họp hẹp. Diễn biến các phiên đàm phán cho thấy, mọi vấn đề về Đông Dương phụ thuộc vào sự sắp đặt và quyết định của các nước lớn. Đến Hội nghị với những yêu cầu phù hợp tương quan lực lượng trên chiến trường, song dưới áp lực của Liên Xô, Trung Quốc, dù cố giữ lập trường cứng rắn, nhưng cuối cùng, các yêu cầu đàm phán buộc phải hạ thấp dần. Mặc dù mong muốn độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nhưng phân tích tình hình, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hiểu rằng Liên Xô, Trung Quốc không muốn giúp đưa cuộc kháng chiến lên cao hơn. Hơn nữa, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, dù tương quan lực lượng thay đổi tuy có lợi cho Việt Nam, song chưa căn bản, Việt Nam "cần một thời gian để quân đội, đất nước củng cố, xốc lại lực lượng"1 (ABПРФ, Ф, 0445, оп. 1, п. 1, д. 1, л. 3-4). Trong điều kiện thiếu sự giúp đỡ của các nước đồng minh, nếu Mỹ trực tiếp tham chiến, cuộc chiến đấu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ hết sức bất lợi.
Sau nhiều tranh cãi, thảo luận, thoả thuận và thỏa hiệp, cuối cùng, ngày 20-7-1954, Hiệp định Geneva về Đông Dương được ký kết, gồm những văn kiện chủ yếu sau: - Ba hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam, Lào và Campuchia. - Bản Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị. - Bản Tuyên bố riêng ngày 21 tháng 7 của Mỹ tại Hội nghị Geneva. - Bản tuyên bố của chính phủ Pháp ngày 21 tháng 7. - Các công hàm trao đổi giữa Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Pháp Pierre Mendès France. Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam gồm có 6 chương, 47 điều được ký bởi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tạ Quang Bửu thay mặt cho Quân đội nhân dân Việt Nam và Thiếu tướng H. Deltei (H. Đentây) thay mặt cho Quân đôi Liên hiệp Pháp ở Đông Dương. Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam quy định hàng loạt vấn đề như vùng ranh giới tạm thời, khu phi quân sự, thời hạn tối đa để hai bên rút quân, giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định1 (Cụ thể như sau: Việt Nam chia làm hai vùng tập trung, giới tuyến quân sự tạm thời được quy định từ phía Đông sang phía Tây, từ cửa sông Bến Hải (Cửa Tùng) và theo dòng sông đó đến làng Bồ Hồ Sừ, biên giới Việt-Lào. Ranh giới khu phi quân sự là những đường hạn định khu phi quân sự ở phía Bắc và phía Nam vĩ tuyến 17, mỗi bên cách vĩ tuyến 17 khoảng 5 km (có hiệu lực từ ngày 14-8-1954). Cuộc ngừng bắn bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 27-7-1954 ở miền Bắc, ngày 1-8-1954 ở miền Trung Việt và ngày 11-8-1954 ở miền Nam Việt Nam. Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Mỗi bên sẽ tập hợp quân đội của mình và tự tổ chức nền hành chính riêng. Cấm phá hủy trước khi rút lui, không được trả thù hay ngược đãi những người đã hợp tác với phía bên kia. Trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ bên này sang bên kia hoặc ngược lại. Không phát triển thêm quân đội, vũ khí hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới. Tù binh và thường dân bị giữ được trả tự do trong thời hạn 30 ngày kể từ khi thực sự ngừng bắn. Giám sát và kiểm soát thi hành Hiệp định sẽ giao cho một Ủy ban Quốc tế. Thời hạn rút quân riêng cho từng khu vực kể từ khi thực sự ngừng bắn như sau: Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng (300 ngày), miền Nam Trung Việt (80 ngày), Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày), đợt cuối cùng ở khu tập kết Trung Việt (300 ngày))... Ngày 21-7-1954, các phái đoàn họp tiếp và thông qua Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Geneva năm 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương, gồm 13 điều, ghi nhận những nội dung liên quan đến việc chấm dứt chiến sự tại ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Bản Tuyên bố cũng đồng thời ghi nhận tuyên bố của chính phủ Pháp về giải pháp khôi phục và củng cố hoà bình tại Việt Nam, Lào và Campuchia cũng như cam kết của chính phủ Pháp về việc sẽ tôn trọng sự tự do, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương1 (The Final Declaration of the Geneva Conference: On Restoring Peace in Indochina, July 21, 1954, The Department of State Bulletin, XXXI, No. 788 (August 2, 1954), p. 164). Đối với Việt Nam, Hiệp định "công nhận mục đích chính của Hiệp định liên quan tới Việt Nam là để giải quyết vấn đề quân sự theo hướng chấm dứt xung đột và đường ranh giới quân sự tạm thời này không thể diễn giải bằng bất cứ cách nào rằng đó là một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ"2 (The Final Declaration of the Geneva Conference: On Restoring Peace in Indochina, July 21, 1954, The Department of State Bulletin, XXXI, No. 788 (August 2, 1954), p. 164). Hội nghị cũng hy vọng rằng việc thực hiện những điều khoản trình bày trong tuyên bố và trong những hiệp định đình chiến sẽ tạo điều kiện giúp Việt Nam, Lào, Campuchia có được nền độc lập, tự chủ hoàn toàn. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Chín, 2025, 08:51:26 pm Bản tuyên bố cuối cùng không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào tham dự Hội nghị, song Điều 12 của Hiệp định đã nói lên thái độ và cam kết đối với việc thực thi Hiệp định của các bên liên quan (trừ Việt Nam Quốc gia và Mỹ). Về phía Mỹ, cũng trong ngày 21-7-1954, Trưởng phái đoàn Mỹ là Bedell Smith (B. Xmít) đưa ra bản tuyên bố riêng; theo đó, tuy không tham gia vào tuyên bố cuối cùng, song Mỹ cam đoan không đe dọa hay dùng vũ lực để sửa đổi Hiệp định - đồng thời, phản đối mọi hành vi vi phạm Hiệp định. Mỹ khẳng định tôn trọng việc thực hiện thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do đặt dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Bản tuyên bố riêng của Mỹ cũng bày tỏ hy vọng rằng, các thỏa thuận đạt được "sẽ cho phép Việt Nam, Lào và Campuchia giành được độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ (...), là cơ sở để các dân tộc Đông Dương có thể tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình"1 (The Pentagon Papers, Gravel Edition, Volume 1, Chapter 1, "The Geneva Conference, May - July, 1954", Boston: Beacon Press, 1971).
Như vậy, các bên tham gia Hội nghị Geneva cũng đã đạt được những nhất trí mang tính then chốt, thể hiện sự hòa hoãn và tư tưởng "chung sống hoà bình" giữa các nước lớn trong thương lượng. Đặc biệt, mặc dù mục tiêu của Hội nghị là để giải quyết cuộc xung đột ở Đông Dương, các cường quốc tham gia Hội nghị đã quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề về an ninh châu Âu, về quan hệ song phương, về các lợi ích có được sau Hội nghị Geneva. Để đạt được mục đích khi đến Geneva, các nước này sẵn sàng hy sinh lợi ích của các nước Đông Dương. Đó cũng là một trong những lý do để Hiệp định được thông qua ở Geneva nghiêng về kế hoạch của Pháp hơn là của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc Trung Quốc và Liên Xô sắp đặt sẵn với Pháp, Anh một giải pháp về Việt Nam đã làm mất hiệu lực của chiến thắng Điện Biên Phủ. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy thắng lớn trên chiến trường, song dưới tác động của các yếu tô khách quan, chủ quan đành phải chấp nhận bị chia cắt với ranh giới là vĩ tuyến 17 (thay cho vĩ tuyến 13 yêu cầu ban đầu) và thời hạn hai năm tổng tuyển cử (thay vì sáu tháng như đề nghị), rút hết quân đội khỏi Lào và Campuchia. Bảo toàn lợi ích riêng, "cả Liên Xô, Trung Quốc đã tiết chế bớt những yêu cầu của Việt Minh và đóng vai trò quan trọng trong việc dàn xếp thỏa hiệp"1 (George C. Herring, America's Longest War: The United States and Vietnam 1950-1975, with Poster (4th Edition), McGraw-Hill Humanities, Social/Sciences/Languages, 2001, p.28), về ranh giới phân vùng, tại Hội nghị Liễu Châu, khi Chu Ân Lai nhắc đến giới tuyến 17, cả Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh đều cảm thấy ngỡ ngàng, vì "với so sánh lực lượng trên thực tế chiến trường hiện nay, ta đề ra vĩ tuyến 13 là hợp lý, vĩ tuyến 17 đối với ta là không thể chấp nhận, chí ít cũng phải giành được vĩ tuyến 16"2 (Võ Nguyên Giáp: Tổng tập - Hồi ký: Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Nxb QĐND, Hà Nội, 2010, tr.1.114). Sau này, Phạm Văn Đồng nhớ lại: "Chúng tôi có thể giành được nhiều hơn, nhiều hơn nữa. Nhưng tất cả đều đã thay đổi"3 (Wilfred G. Burchett, The China Cambodia Vietnam Triangle, London: Vanguard Books; Zed Press, 1981). Jean Lacouture (J. Lacốttơ) mô tả nỗi "ấm ức" của Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như sau: "Chung quanh một chiếc bàn lớn, ghế xô đẩy ngổn ngang, người ta thấy Eden (Êđen) và P.M.F (Pierre Mendès France - TG), Molotov (Môlôtôp) và Chu Ân Lai đang bao quanh Phạm Văn Đồng. Phạm Văn Đồng nhìn vào bản đồ Đông Dương trước mặt: Lãnh thổ của Việt Nam cộng sản bị đẩy lùi dần từng cây số một về phía Bắc"1 (Jean Lacouture, Philippe Devillers, La Fin d'une guerre: Indochine 1954, Éditions du Seuil, Paris, 1960, p.311). Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã buộc phải chấp nhận một giải pháp tồi tệ hơn so với diễn biến quân sự trên chiến trường, còn Pháp đã đạt được một kết quả khả quan hơn dự kiến, mặc dù tương quan trên bàn đàm phán như Bidault (Biđôn) đã so sánh thì trong ván bài, "Việt Nam Dân chỉ Cộng hòa đã sở hữu những con át chủ bài như K cơ, Át cơ, còn Pháp chỉ có những con bài tẹp nhẹp như Hai nhép, Ba rô"2 (Fredik Logevall, Embers of War, The fall of an Empire and the making of America's Vietnam, Random House Trade Paperbacks, 2012, p.607). Là kết quả của một cuộc hoà giải không vững chắc, Hiệp định Geneva đã góp phần kết thúc chiến tranh ở Đông Dương, song cũng lại đặt Đông Dương trên bờ vực của một cuộc chiến tranh mới. Hòa bình được tái lập bởi Hiệp định Geneva là một nền hòa bình hết sức mong manh và không vững chắc, nhất là khi bị ám ảnh bởi sự nguy hiểm của chủ nghĩa cộng sản, một trong năm cường quốc tham gia Hội nghị đã bắt đầu các hoạt động chuẩn bị cho sự can thiệp sâu rộng hơn vào Việt Nam. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Chín, 2025, 08:55:00 pm 2- Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào Đông Dương và sự khởi phát của chiến tranh Việt Nam
Sự quan tâm thực sự của Hoa Kỳ đối với châu Á bắt đầu vào cuối năm 1941, sau khi người Nhật tấn công Trân Châu Cảng và Washington (Oasinhtơn) phản ứng bằng cách tuyên bố chiến tranh với Nhật Bản. Năm 1944, Office of Strategic Services (OSS) của Mỹ, tiền thân của Cục Tình báo Trung ương (CIA), đã hoạt động ở miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam. OSS đã tìm kiếm và thiết lập quan hệ với Hồ Chí Minh, yêu cầu hỗ trợ bảo vệ, hồi hương phi công Mỹ bị bắn rơi trên lãnh thổ Việt Nam đổi lại bằng việc Mỹ sẽ cung cấp trang bị, vũ khí cho Việt Minh. Đây là mối quan hệ được sắp đặt trên liên minh lợi ích trong thời gian chiến tranh chứ hoàn toàn không phải trên sự tương đồng về quan điểm chính trị, mặc dù Hồ Chí Minh nuôi dưỡng một số hy vọng rằng hợp tác với Hoa Kỳ có thể mang lại sự ủng hộ của Washington đối với vấn đề độc lập của Việt Nam sau chiến tranh. Từ năm 1945, sự tham gia của Mỹ ở châu Á, trong đó có Đông Dương và Việt Nam được định hướng và định hình bởi cuộc Chiến tranh lạnh và chính sách đối ngoại của Mỹ phần lớn được dẫn dắt bằng học thuyết Truman - Tờruman (1947)1 (Học thuyết Truman là một chính sách của chính quyền Mỹ dưới thời Tổng thống H. S. Truman được thông qua vào tháng 3 năm 1947 với mục đích hỗ trợ Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ bằng viện trợ quân sự, kinh tế nhằm ngăn hai quốc gia này rơi vào vòng kiểm soát của các lực lượng cộng sản. Học thuyết này chính thức đánh dấu sự chuyển hướng chính sách của Mỹ từ hòa hoãn sang ngăn chặn đối với Liên Xô, trở thành một nền tảng quan trọng của chính sách đối ngoại Mỹ thời kỳ Chiến tranh lạnh; đồng thời, tạo ra những tiền lệ cho các chương trình viện trợ kinh tế, quân sự của Mỹ đối với các thể chế chính trị chống cộng sản ở khắp nơi trên thế giới. Học thuyết Truman nhận được sự hoan nghênh rộng rãi của công luận Mỹ, vì nó thể hiện vai trò lãnh đạo của nước Mỹ trong việc ủng hộ tự do và dân chủ trên thế giới. Học thuyết trở thành yếu tố trung tâm đối với việc hình thành thế đối đầu phe phái và ý thức hệ thời kỳ Chiến tranh lạnh, thúc đẩy một chiến dịch lớn ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới). Chính quyền Mỹ cho rằng, những tư tưởng, quan điểm của học thuyết Truman đặc biệt phù hợp với tình hình và diễn biến các sự kiện chính trị ở châu Á, nơi chính phủ nhiều nước không đủ mạnh để ngăn chặn sự xâm nhập của chủ nghĩa cộng sản và các lực lượng cộng sản. Các nhà hoạch định chính sách Mỹ tin rằng sau khi lây lan từ Trung Quốc đến Bắc Triều Tiên, các lực lượng cộng sản sẽ tiếp tục chuyển động về phía Nam tới các quốc gia như Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar (Miến Điện), Malaysia (Malaixia) và Indonesia (Inđônêxia). Theo quan điểm của Washington, nếu như cộng sản thành công ở những quốc gia nói trên thì đó thực sự là một hiểm họa đối với thế giới tự do - cộng sản sẽ thống lĩnh hơn một phần tư thế giới, từ Đông Đức đến bên kia bờ Thái Bình Dương. Từ năm 1947, Hoa Kỳ quyết tâm ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, ủng hộ sự trở lại Việt Nam của người Pháp, đẩy mạnh hỗ trợ Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp - Việt. Ngày 13-5-1947, gửi điện cho Đại sứ Mỹ ở Paris (Pari), Bộ Ngoại giao Mỹ bày tỏ nỗi lo lắng về việc Việt Nam chính là tâm điểm của phong trào chống phương Tây ở châu Á, làm lợi cho phe cộng sản trên thế giới. Khẳng định quan điểm ủng hộ Pháp trở lại Đông Dương, Bộ Ngoại giao Mỹ nhấn mạnh: "Việc nước Pháp và Liên hiệp Pháp gắn kết với nhau không chỉ có lợi cho những người liên quan mà còn có lợi cho Mỹ" và "người Việt Nam, trong một thời gian nhất định, vẫn cần sự hỗ trợ về trang bị và kỹ thuật của người Pháp"1 (Department of State, Foregin relations of the United States, 1947, The Far East Vol, VI, United States Government Printing office, Washington, 1972, p.96, 181, 132-134). Lo ngại về một Việt Nam cộng sản và độc tài, mùa Hè năm 1947, Mỹ quyết định không thúc đẩy Pháp thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa2 (Department of State, Foregin relations of the United States, 1947, The Far East Vol, VI, United States Government Printing office, Washington, 1972, p.96, 181, 132-134) và cuối năm 1947, nước Mỹ đã tài trợ 160 triệu USD cho Pháp tiến hành chiến tranh; đồng thời, làm ngơ khi Paris chuyển một số quỹ của Kế hoạch Marshall (Mácsan) sang phục vụ chiến tranh Đông Dương. Trong vòng ba tháng, từ tháng 3 đến tháng 6-1950, Washington quyết định viện trợ cho Pháp 54,5 triệu USD; trong đó có 31 triệu USD viện trợ quân sự1 (William J. Duiker, US containment policy and the conflict in Indochina, Stanford University Press, California, 1994, p.96, 76). Tháng 11-1952, Hoa Kỳ đã gửi 200 tàu chất đầy quân dụng, 222 phi cơ chiến đấu, 225 chiến hạm hải quân, 1.300 xe tải, trả 1/3 chi phí cho cuộc chiến của người Pháp ở Việt Nam2 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Chick Pub, 1984, p.16). Ủng hộ việc thành lập các nhà nước phi cộng sản ở châu Á, mùa Thu cùng năm, Nhà Trắng cử cựu Đại sứ ở Pháp W. Bullit đến Hồng Kông tiếp xúc với Bảo Đại để chuẩn bị cho việc lập một chính phủ bản xứ không cộng sản3 (Lưu Văn Lợi, Nguyễn Hồng Thạch, Pháp tái chiếm Đông Dương và Chiến tranh lạnh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, tr.1.981). Ngày 21-6-1949, sau khi Tổng thống Pháp ký thỏa ước Elide (Êlidê) với Bảo Đại (8-3-1949) thừa nhận Việt Nam độc lập, thống nhất trong Liên hiệp Pháp, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố: "Sự kiến lập một nước Việt Nam độc lập thống nhất là một bước phát triển đáng hoan nghênh giúp đẩy nhanh việc lập lại hòa bình ở Việt Nam và tạo cơ sở cho việc dần hiện thực hóa những nguyện vọng chính đáng của người Việt Nam"4 (Department of State, Foregin relations of the United States, 1947, The Far East Vol, VI, United States Government Printing office, Washington, 1972, p.96, 181, 132-134). Tháng 2-1950, Washington công nhận chính quyền Bảo Đại và chỉ một tháng sau đó (3-1950), hai chiến hạm của Mỹ đã đến Sài Gòn để ủng hộ Bảo Đại; đồng thời, Hoa Kỳ đồng ý để Pháp lo liệu chuyện Việt Nam trong khi Mỹ bận tham chiến ở Triều Tiên5 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Chick Pub, 1984, p.16). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Chín, 2025, 08:56:44 pm Tháng 12-1950, Mỹ và Pháp cùng các chính phủ "quốc gia" Việt Nam, Campuchia, Lào ký kết bản "Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương"; theo đó, Mỹ cam kết sẽ viện trợ quân sự cho các nước nói trên để đối phó với lực lượng cộng sản tại các nước này. Tháng 9 và tháng 12-1951, Mỹ ký với chính phủ Bảo Đại bản "Hiệp ước hợp tác kinh tế Việt - Mỹ" và "Hiệp ước an ninh chung". Bên cạnh đó, càng ngày, viện trợ của Mỹ cho Pháp để tiến hành chiến tranh càng tăng đáng kể: Nếu như năm 1951, viện trợ quân sự Mỹ cho Pháp đã tăng gấp ba lần so với năm 1947, đạt 450 triệu USD, thì năm 1953 đã lên đến 785 triệu USD1 (US involvement in Vietnam, alphahistory.com). Quân đội Pháp tại Việt Nam sử dụng tàu và máy bay được cung cấp bởi quân đội Mỹ; CIA tiến hành các hoạt động bí mật hỗ trợ quân đội Pháp thực hiện các chiến dịch quân sự tại Việt Nam.
Sự bùng nổ của chiến tranh Triều Tiên cũng như diễn tiến của toàn bộ cuộc chiến càng củng cố thêm nhận thức của Mỹ về sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản dưới ảnh hưởng của Trung Quốc và Liên Xô. Cuộc chiến tranh của người Pháp chống Việt Minh được coi là một yếu tố rất quan trọng trong việc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở khu vực cũng như toàn cầu. Tổng thống Mỹ H. Truman nhận xét về cuộc chiến này như sau: "Không còn nghi ngờ gì nữa, các cuộc tấn công vào Nam Triều Tiên cho thấy rõ hơn bao giờ hết ngoài việc sử dụng hình thức lật đổ để chinh phục các quốc gia độc lập, chủ nghĩa cộng sản còn sử dụng cuộc xâm lược vũ trang và chiến tranh"2 (Martin J. Medhurst and H. W. Brands, Critical Reflections on the Cold War: Linking Rhetoric and History, Texas A&M University Press; 1st edition (August 1, 2000), p.31). Người Mỹ nhìn nhận cả hai cuộc chiến tranh (chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất) là những cuộc có sự thao túng, can dự của Trung Quốc trong một nỗ lực tăng sức mạnh, mở rộng phạm vi của chủ nghĩa cộng sản. Bước chân vào Nhà Trắng năm 1953, D. Eisenhower (D. Aixenhao) có chung quan điểm với người tiền nhiệm H. Truman về nhiều vấn đề liên quan đến Đông Dương cũng như Việt Nam. Ngoại trưởng John Foster Dulles nhận định rằng, trong trường hợp tất cả các khu vực Đông Nam Á thuộc cộng sản, một sự liên kết với chủ nghĩa cộng sản ở Ấn Độ và trong dài hạn với Trung Đông sẽ gâỵ ra những nguy hiểm cho sự ổn định, an ninh của châu Âu1 (Department of State Bulletin (Washington D.C.), May 17, 1954, P. 744). John Foster Dulles khẳng định: "Sự kiểm soát của cộng sản đối với Đông Nam Á và Indonesia sẽ đe dọa vị trí của Mỹ ở Thái Bình Dương và chuỗi đảo ngoài khơi, làm tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích an ninh cơ bản của Mỹ ở vùng Viễn Đông. Những mất mát của khu vực Đông Nam Á sẽ gây những hậu quả kinh tế nghiêm trọng cho nhiều quốc gia trong thế giới tự do và ngược lại sẽ thêm nguồn lực đáng kể cho khối cộng sản do Liên Xô đứng đầu. Đông Nam Á, đặc biệt là Malaysia và Indonesia có nguồn cao su tự nhiên, thiếc, dầu mỏ và các hàng hóa chiến lược quan trọng khác. Đánh mất khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Malaysia và Indonesia có thể dẫn đến những áp lực kinh tế, chính trị đối với Nhật Bản và điều này sẽ tạo ra những khó khăn to lớn trong việc ngăn chặn sự lây lan của chủ nghĩa cộng sản đến Nhật Bản"2 (Department of State Bulletin (Washington D.C.), May 17, 1954, P. 744). Lo sợ sự lây lan chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương thông qua phong trào do Hồ Chí Minh lãnh đạo với "kẻ đứng sau" Trung Quốc, D. Eisenhower kết luận sự sụp đổ của Đông Dương sẽ để lại hậu quả chính trị, kinh tế và chiến lược tai hại đối với Hoa Kỳ3 (George C. Herring, America's Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975, Random House, Inc (2nd edition), New York, 1986, p.25.8). Nhận thức rằng việc hỗ trợ người Pháp tiến hành chiến tranh hiệu quả ở Đông Dương sẽ làm suy yếu sức mạnh của Trung Quốc cộng sản tại khu vực cũng như trên thế giới, Hoa Kỳ tăng cường viện trợ quân sự cho Pháp chiến đấu với "bóng ma" của chủ nghĩa cộng sản: Từ năm 1950 đến năm 1954, Mỹ đã chuyển cho Pháp hơn 400 nghìn tấn vật liệu chiến tranh, 150 nghìn vũ khí, 340 phi cơ và 350 tàu chiến1 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Ibid, p.51). Có thể thấy rằng, mặc dù không mấy thiện cảm và luôn phản đối chủ nghĩa thực dân, song đối với nước Mỹ, thà nhìn thấy chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương, còn hơn là thấy ở đó chủ nghĩa cộng sản. Mặc dù được các nước đồng minh tăng cường viện trợ, sự kiểm soát của Pháp đối với Đông Dương ngày càng thu hẹp: Cuối năm 1950, Pháp mất quyền kiểm soát biên giới Đông Bắc Việt Nam; đầu năm 1952, không có khả năng ngăn cản quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoạt động ở các vùng trung du, đồng bằng, vùng núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam; mùa Xuân năm 1953, Pháp mất thêm 4.000km2 đất đai ở Thượng Lào... Bối cảnh đó đòi hỏi nước Pháp phải nhanh chóng tìm ra một giải pháp cho cuộc xung đột - một giải pháp như Bernard B. Fall (Bécna B. Phôn) nhận xét: "Nếu không giành được chiến thắng thì cũng tạo ra một tình thế cho phép quân đội quốc gia các nước liên kết Việt Nam, Cao Miên, Lào thanh toán được chiến tranh du kích, một khi quân đội chính quy Pháp đã tiêu diệt được đội quân chủ lực của Việt Minh sau một loạt những trận giao chiến lớn"2 (Bernard B. Fall, Hell in a very small place: The siege of Dien Bien Phu, J.B. Lippincott (2nd edition), 1967, p.3). Và như đã nói ở trên, H. Navarre và Điện Biên Phủ chính là điểm mấu chốt trong toàn bộ giải pháp đó; tuy nhiên, bất chấp mọi nỗ lực của quân đội Pháp cũng như sự hỗ trợ ngày càng tăng của người Mỹ, Điện Biên Phủ đã thất thủ (7-1954). Đại bại ở Điện Biên Phủ đã làm tiêu tan nốt hy vọng đàm phán trên thế mạnh của Pháp; đồng thời, đặt dấu chấm hết sự có mặt của người Pháp ở Đông Dương cũng như Việt Nam. Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Geneva 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương (4-1954) ghi nhận cam kết sẵn sàng rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam, Lào và Campuchia của chính phủ Pháp cũng như sự tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương của mỗi thành viên tham dự Hội nghị Geneva1 (The Final Declaration of the Geneva Conference: On Restoring Peace in Indochina, July 21, 1954, Ibid, p. 164). Theo cam kết tại Hội nghị, ngày 28-6-1954, người Pháp thực hiện cuộc hành binh cuối cùng ở Đông Dương - cuộc hành binh rút khỏi miền Bắc. Không công nhận kết quả Hiệp định Geneva và thấy trước kết quả sẽ thiên về phe Cộng sản nếu tổng tuyển cử được thi hành, Mỹ bắt đầu các hoạt động tại Việt Nam, chuẩn bị cho sự can thiệp sâu rộng hơn. Năm 1954, dưới sự chỉ huy của Edward Lansdale (người làm việc cho CIA, từng làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ năm 1953), đội bán quân sự Mỹ đã chọn và gửi người Việt tới các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương huấn luyện; huấn luyện các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam (sau là Việt Nam Cộng hòa); xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippines; bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; phát triển các kế hoạch "bình định Việt Minh và các vùng chống đối". Đặc biệt, một trong những kế hoạch quan trọng của Mỹ là tiến hành các hoạt động tuyên truyền tâm lý chiến để khuyến khích dân chúng miền Bắc di cư vào Nam. Được sự giúp đỡ của Mỹ, Ban Công giáo di cư Trung ương của chính quyền Ngô Đình Diệm do Lê Hữu Từ đứng đầu được thành lập. Cuộc di chuyển lớn của người Công giáo đã bắt đầu ngay khi những tin tức của Hiệp định Geneva và những điều khoản chuyển quân của nó được công bố. Khi Hội nghị Geneva kết thúc, đã có 25.000 người Công giáo tị nạn tại Hà Nội, 15.000 ở Hải Phòng và 5.000 ở Hải Dương. Bên cạnh đó, Tổng thống D. Eisenhower chỉ đạo phải dựng lên một liên minh để kiềm chế sự xâm lấn của chủ nghĩa cộng sản vào các lãnh thổ tự do thuộc Việt Nam, Lào, Campuchia và Đông Nam Á. Ngày 8-9-1954, liên minh quân sự có tên gọi Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization - SEATO) ra đời, cam kết sẽ "hành động để chống lại các mối nguy hiểm chung" trong trường hợp xảy ra xâm lược chống lại bất kỳ quốc gia tham gia hiệp ước nào. Một nghị định thư riêng biệt gắn với Hiệp ước coi Lào, Campuchia, và "các lãnh thổ tự do thuộc thẩm quyền của Quốc gia Việt Nam" là các khu vực chịu sự điều chỉnh của Hiệp ước này. Hiệp ước quy định phải tổ chức tham vấn lẫn nhau trong trường hợp xảy ra xâm lược chống lại một bên ký kết hoặc một bên tham gia nghị định thư trước khi bất kỳ hành động phối kết hợp nào được tiến hành. Như vậy, đi từ bảo trợ đến viện trợ, cuối cùng sự can thiệp và can dự của Mỹ vào Việt Nam ngày càng rõ nét. Sự can thiệp và can dự ấy cũng báo trước khả năng bùng nổ chiến tranh - điều mà Hiệp định Geneva đã cố gắng ngăn chặn song không thể làm được. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười, 2025, 08:11:58 pm II- VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA ĐỐI DIỆN VỚI CHIẾN TRANH
1- Tình hình Việt Nam sau tháng 7-1954 Sau khi Hiệp định Geneva ký kết (7-1954), miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời thuộc về "phía bên kia", sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước chưa hoàn thành. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào một giai đoạn hết sức đặc biệt: Tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở cả hai miền Nam, Bắc hướng vào mục tiêu thống nhất đất nước. Ở miền Bắc, yêu cầu trước mắt là hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế, giảm bớt khó khăn, nâng dần mức sống của nhân dân, chuẩn bị điều kiện cho việc cải tạo và phát triển kinh tế, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn, căn cớ địa vững chắc cho cả nước. Trước nhiệm vụ to lớn đó, miền Bắc Việt Nam phải đối diện với rất nhiều khó khăn - hậu quả của gần một thế kỷ thuộc địa và hơn chín năm chiến tranh. Nền kinh tế miền Bắc vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của miền Bắc bị thiệt hại nghiêm trọng: 1.430.000ha đất bị bỏ hoang, tám công trình thủy nông lớn và nhiều công trình thủy nông vừa và nhỏ bị phá hủy. 1/7 ruộng đất bị bỏ hoang, 1/3 ruộng đất không có nước tưới để cấy cày, các công trình thủy lợi đều bị phá hủy, 1/4 số trâu, bò bị bắn giết... Phần lớn ruộng đất chỉ làm một vụ, năng suất rất thấp, kỹ thuật sản xuất thô sơ, thiên tai, mất mùa, hạn hán, lũ lụt lại liên tiếp xảy ra (đầu năm 1955 miền Bắc bị hạn nặng, tháng 9 cùng năm lại xảy ra bão lũ), hàng trăm ngàn gia đình không có nhà ở, nông thôn xơ xác, tiêu điều vì hậu quả của chiến tranh và bão lũ. Hoà bình lập lại, nhưng nạn đói vẫn tiếp tục xảy ra, tháng 9-1954, miền Bắc có nửa triệu người chết đói. Trong khi đó, nền công nghiệp nhỏ, yếu lại bị thiệt hại nặng nề, số nhà máy đã ít ỏi lại đều bị phá hoại, máy móc bị tháo dỡ mang đi, sản xuất bị bế tắc phần lớn các xí nghiệp ngừng hoạt động, nguyên liệu, nhiên liệu thiếu trầm trọng. Tỷ trọng của công nghiệp trong giá trị tổng sản lượng công - nông nghiệp từ 10% năm 1939, tụt xuống còn 1,5% khi miền Bắc được giải phóng. Khi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản miền Bắc, không chỉ có các cơ sở kinh tế hầu như không hoạt động, mà hạ tầng còn hết sức thấp kém, giao thông vận tải, mạch máu của nền kinh tế quốc dân bị phá hủy nặng nề. Đường ô tô bị phá hủy, hư hỏng nặng, hàng nghìn kilômét đường sắt bị tàn phá, 3.500 cây cầu lớn, nhỏ bị đánh sập1 (Vũ Như Khôi (chủ biên), 75 năm Đảng Cộng sản Việt Nam dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (3.2.1930 - 3.2.2005), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 343). Thương nghiệp đình đốn, các hoạt động đầu cơ, nâng giá, lũng đoạn thị trường diễn ra phổ biến. Sản xuất ngưng trệ, lưu thông, phân phối khó khăn, hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng, hàng vạn người thất nghiệp. Bên cạnh đó, tình trạng của tiểu - thủ công nghiệp cũng rất sa sút, không mấy sáng sủa, nhất là không có nguyên liệu sản xuất. Nhiều ngành, nghề thủ công truyền thống bị mai một hoặc mất hẳn. Giáo dục, y tế nghèo nàn, lạc hậu, nhiều bệnh dịch như sốt rét, lao phổi... hoành hành phổ biến. Tình hình an ninh, chính trị, trật tự và an toàn xã hội trên các địa phương miền Bắc rất phức tạp, nhiều vấn đề xã hội cả cũ và mới chưa có điều kiện giải quyết, các vấn đề tôn giáo, dân tộc, giai cấp có nhiều nổi cộm... Bên cạnh đó, hệ thống chính quyền chưa được củng cố, kiện toàn, trình độ, năng lực tổ chức, quản lý kinh tế, quản lý xã hội của bộ máy nhà nước thấp kém... Một trong những khó khăn lớn nhất vào thời điểm bấy giờ của miền Bắc Việt Nam liên quan đến cuộc di cư lịch sử của giáo dân nhiều giáo phận. Ngay từ khi vấn đề chấm dứt chiến tranh Việt Nam và Đông Dương còn đang được bàn thảo trên bàn đàm phán Hội nghị Geneva, Washington đã trù tính về một kế hoạch di cư người Việt từ Bắc vào Nam, một cuộc di cư như một hành động chính trị, nhằm "làm cho chủ nghĩa quốc gia thêm sáng tỏ và cho thế giới hiểu rõ chế độ độc tài, khát máu của Cộng sản"1 (Báo cáo số 655/TUNP/M của Phủ Tổng ủy di cư tị nạn Về hoạt động của Phủ tổng ủy di cư tị nạn trong năm chấp chánh thứ hai của Ngô Tổng thống (từ tháng 1-1954 đến tháng 7-1955), Trung tâm lưu trữ Quốc gia II). Được sự hỗ trợ của Mỹ, Giáo hội Công giáo Việt Nam mở chiến clịch tuyên truyền: "Chính phủ Hồ Chí Minh sẽ cấm đạo, ai mang tượng Đức Mẹ phải đóng thuế 50 đồng Đông Dương và mỗi lần đến lễ Nhà thờ phải trả 5 đồng"2 (Bộ Tuyên truyền, Tội ác của đế quốc Mỹ, phải thực dân Pháp phản Hiệp định và bẻ lũ Ngô Đình Diệm trong âm mưu cưỡng ép và dụ dỗ đồng bào di cư ở Việt Nam, Bộ Tuyên truyền xuất bản, 1955, tr.31, 33, 63); "Chúa đi đâu con chiên phải theo đó. Ai ở lại miền Bắc sẽ bị mất đạo, sẽ bị rút phép thông công, đày xuống địa ngục lửa và mất linh hồn"3 (Bộ Tuyên truyền, Tội ác của đế quốc Mỹ, phải thực dân Pháp phản Hiệp định và bẻ lũ Ngô Đình Diệm trong âm mưu cưỡng ép và dụ dỗ đồng bào di cư ở Việt Nam, Bộ Tuyên truyền xuất bản, 1955, tr.31, 33, 63); "ở lại dưới Chính quyền Cộng sản sẽ bị bom nguyên tử hủy diệt"'4 (Bộ Tuyên truyền, Tội ác của đế quốc Mỹ, phải thực dân Pháp phản Hiệp định và bẻ lũ Ngô Đình Diệm trong âm mưu cưỡng ép và dụ dỗ đồng bào di cư ở Việt Nam, Bộ Tuyên truyền xuất bản, 1955, tr.31, 33, 63). Các nhà chiêm tinh được yêu cầu soạn những cuốn lịch dự báo số phận thảm khốc của giáo dân dưới chính quyền cộng sản, tiếng đồn thổi về những kế hoạch trả thù của Việt Minh được phát tán rộng rãi. Tất cả các làng mạc miền Bắc có giáo dân đều tràn ngập hàng triệu tờ rơi truyền đơn, "giáo dân được báo rằng Chúa Giêsu đã đi vào Nam. Khi một số giáo dân bày tỏ nghi ngờ về chuyện di chuyển của Giêsu, liền có thêm hàng triệu tờ rơi khác xuất hiện khắp nơi, tuyên bố rằng Mẹ của ông, bà Mary, đã rời miền Bắc. Tại sao Đức Mẹ rời miền Bắc? Vì Mẹ của Thiên Chúa muốn vào Nam để sống dưới một Thủ tướng Catô - ông Diệm"5 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Ibid, p.63). Việc Mỹ chi 112 triệu USD6 (Phong Hiền, Chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam Việt Nam 1954-1975, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1984, tr.37) thực hiện cuộc di cư; Mỹ, Pháp sử dụng 19 máy bay, 41 tàu thủy chuyên chở người di cư vào Nam cũng khiến cuộc di cư trở nên rầm rộ, thu hút thêm người ra đi. Năm 1956 được xem là thời điểm kết thúc cuộc di cư, khoảng 880.000 người đã vào Nam, trong đó có 750.000 đồng bào Công giáo (chiếm 85% số lượng người di cư)1 (Linh mục Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr.112) và nó đã để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho miền Bắc Việt Nam đang hết sức cần thiết nguồn nhân lực phục vụ khôi phục, phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười, 2025, 08:13:58 pm Sau Hiệp định Geneva, tình hình miền Nam Việt Nam đã có những thay đổi to lớn. Trước tiên, phục vụ cho việc thành lập một chính phủ chống cộng và thân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, cần phải lựa chọn người đứng đầu. Ngô Đình Diệm - một giáo dân hăng say, một người chống cộng điên cuồng đã được lựa chọn và được "đặt" vào chức tổng thống bởi Hồng y Spellman (Xpenman) và Giáo hoàng Pius (Piút) XII2 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Ibid, p.56).
Ở miền Nam Việt Nam thời gian này, bên cạnh lực lượng Công giáo khá đông đảo còn có lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên với quân số khá đông đảo. Mỗi lực lượng đều có lãnh địa hoạt động riêng, có tầm ảnh hưởng nhất định, theo đuổi những mục đích và có thủ đoạn riêng nhưng chủ trương liên kết hình thành nên một mặt trận chống Diệm. Tháng 3-1955, sau khi củng cố quyền lực, Ngô Đình Diệm chủ trương tiêu diệt các giáo phái thân Pháp, thống nhất quân đội dưới quyền mình. Quá trình loại bỏ các thế lực thân Pháp và ảnh hưởng của nó được chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện bằng nhiều phương thức, từ mua chuộc lôi kéo, gây sức ép về chính trị, đến dùng sức mạnh quân sự. Trước áp lực của đó, "Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia" bị phân hóa, nhóm Cao Đài liên minh Trịnh Minh Thế quay về hàng chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Diệm thực hiện các chiến dịch "Hoàng Diệu", "Đinh Tiên Hoàng tắn công vào các phái Bình Xuyên, Hòa Hảo, dùng biện pháp chia rẽ nội bộ để phá bỏ bộ máy hành chính của Cao Đài, uy hiếp Toà thánh Tây Ninh. Đến tháng 6-1956, đại bộ phận lực lượng Cao Đài hoặc bị tiêu diệt hoặc ra đầu hàng chính phủ Ngô Đình Diệm. Sau những hoạt động này, uy tín của Ngô Đình Diệm tăng lên đáng kể và Pháp hết cơ hội loại bỏ Ngô Đình Diệm. Vào cuối năm 1955, Ngô Đình Diệm gần như kiểm soát hoàn toàn miền Nam Việt Nam và quyền lực của chính phủ đã mạnh hơn bao giờ hết. Với những thuận lợi đó, tháng 12-1955, chính phủ Ngô Đình Diệm xóa bỏ tất cả các hiệp ước kinh tế, tài chính ký kết với Pháp trước đó, yêu cầu Pháp hủy bỏ Hiệp định Geneva và cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, Ngô Đình Diệm rút đại diện của Quốc gia Việt Nam ra khỏi Liên hiệp Pháp và ngày 22-3-1956, Pháp thỏa thuận với Quốc gia Việt Nam rút toàn bộ quân Pháp ra khỏi Việt Nam và đến ngày 26-4-1956, giải thể Bộ chỉ huy quân sự Pháp tại Sài Gòn1 (Archimedes L.A Patti, Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?), Nxb Đà Nẵng, 2008, tr. 744). Năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức cuộc trưng cầu dân ý (cuộc trưng cầu dân ý bị tố cáo là gian lận), phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, Ngô Đình Diệm trở thành Quốc trưởng. Tiếp đó, tháng 3-1956, tổ chức bầu cử Quốc hội lập hiến; tháng 10-1956, ban hành bản Hiến pháp của Việt Nam cộng hòa. Trong vòng hai năm (từ tháng 7-1954 đến tháng 7-1956) dưới sự giúp đỡ của Mỹ, về cơ bản chính quyền Ngô Đình Diệm đã đánh sập toàn bộ cơ cấu thống trị của Pháp ở miền Nam Việt Nam, thay vào đó là một chế độ mới. Tháng 6-1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đã hoàn tất việc xây dựng quân đội, bảo an với lực lượng khá hùng hậu2 (Lục quân có bốn sư đoàn dã chiến, sáu sư đoàn khinh chiến, 13 trung đoàn địa phương, năm trung đoàn giáo phải, một trung đoàn dù. Pháo binh có bảy tiểu đoàn và chín đại đội. Cơ giới - kỹ thuật có năm trung đoàn, công binh có sáu tiểu đoàn, 14 đại đội, vận tải có 12 đại đội. Không quân với 100 chiếc máy bay chiến đấu, 132 chiếc dự trữ, xây dựng bốn sân bay lớn ở Phú Bài, Đà Nẵng, Nha Trang, Tân Sơn Nhất và 58 sân bay nhỏ rải rác ở khắp nơi. Lực lượng hải quân có 121 tàu chiến trên sông, 25 tàu chiến trên biển, 96 tàu của lực lượng ở các căn cứ). Sau khi được thành lập, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành chính sách "cải tiến nông thôn" và lập "khu dinh điền, khu trù mật" nhằm ổn định tình hình nông thôn cũng như các địa bàn xung yếu dọc tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia. Lấy chính sách "cải cách điền địa" làm nền tảng, bắt đầu từ năm 1955, chương trình "cải tiến nông thôn" kết thúc vào cuối năm 1962. Trong tất cả các chương trình, Ngô Đình Diệm được chính phủ Mỹ hỗ trợ tích cực. Đáp ứng lợi ích của Mỹ, "Ngô Đình Diệm cắt đứt thương mại với Bắc Việt Nam và khiến công nghiệp miền Nam Việt Nam suy yếu bởi tác động cạnh tranh hàng dệt may và các sản phẩm khác của Mỹ theo thỏa thuận nhập khẩu hàng hóa năm 1953"1 (Walter L.Coleman and Michael Robinsonw, U.S. Battling Peasant Revolt in Vietnam, The Harvard Crimson, February 19, 1965). Bên cạnh đó, chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng các phương pháp cứng rắn để chống lại những người kháng chiến, thực hiện chiến dịch tố cộng với các khẩu hiệu như "đồng tâm diệt cộng", "tiêu diệt cán bộ nằm vùng", "tiêu diệt nội tuyến, diệt trừ nội tâm", "đạp lên oán thù để thực thi dân chủ, nhân vị quốc gia", "tiêu diệt cộng sản tận gốc", "giết nhầm còn hơn bỏ sót"... Ngô Đình Diệm tuyên bố: "Thấy cộng sản ở đâu là phải bắn bỏ ngay, thấy ai tuyên truyền cho cộng sản cũng bắn bỏ ngay"2 (Marilyn B. Young, The Vietnam Wars 1945-1990, Harper Perennial, Reprint edition, 1991, p.297). Báo cáo của CIA (2-1957) mô tả chế độ Ngô Đình Diệm như sau: "Một bộ mặt chính quyền đại diện cho dân được duy trì, nhưng thực chất chính quyền là độc tài. Quyền lập pháp của Quốc hội bị hạn chế gắt gao, quyền tư pháp chưa phát triển và tùy thuộc quyền hành pháp và những nhân viên trong ngành hành pháp không gì hơn là những tay sai của ông Diệm. Không có một tổ chức đối lập nào, dù trung thành hay không, được phép thành lập và mọi chỉ trích chính quyền đều bị đàn áp... Quyền lực và trách nhiệm tập trung nơi ông Diệm và một nhóm nhỏ gồm có những thân nhân của ông Diệm, những người quan trọng nhất là ông Nhu và ông Cẩn"1 (The Pentagon Papers, Volume 1, Chapter 5, "Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960", Boston: Beacon Press, 1971). Chế độ độc tài của Ngô Đình Diệm dựa trên mạng lưới mật vụ, tòa án quân sự và công chức tham nhũng, tuyên bố không những chiến đấu chống cộng mà còn chống bất cứ nhóm nào không trung thành với Ngô Đình Diệm và kết cục là nhiều người không cộng sản vào tù hơn là cộng sản. Theo số liệu của CIA, từ năm 1955 đến năm 1960, đã có 48.250 người bị bắt bớ, tù giam2 (The Pentagon Papers, Volume 1, Chapter 5, "Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960", Boston: Beacon Press, 1971), còn theo tổng kết của Avro Manhattan thì có khoảng 24.000 người bị thương, 80.000 người bị hành quyết hoặc bị ám sát, 275.000 người bị cầm tù, thẩm vấn và khoảng 500.000 ngươi bị đưa đi các trại tập trung3 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Ibid, p.89). Theo số liệu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì chỉ trong vòng bốn năm (1955-1958) đã có gần 90 vạn người bị bắt tù đày, gần 20 vạn người bị tra tấn thành tật4 (Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr. 42). Ngô Đình Diệm "đã biến Tổng thống chế thành một nền độc tài Catô thực sự, nghiền nát tàn nhẫn các đối lập tôn giáo và chính trị"5 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Ibid, p.89). Theo đánh giá của người Mỹ thì Ngô Đình Diệm là một kẻ độc tài, một người Công giáo hiếu chiến và một người bảo thủ trong quan hệ với những người bất đồng chính kiến6 (Walter L.Coleman and Michael Robinsonw, U.S. Battling Peasant Revolt in Vietnam, The Harvard Crimson, February 19, 1965). Nhà báo Neil Sheehan viết: "Tình báo quốc gia đoán trước: Sự bất mãn và phẫn nộ đối với chính quyền có lẽ sẽ tiếp tục tăng lên và nêu những chiều hướng bất lợi này không bị ngăn chặn thì hầu như chắc chắn sẽ dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của chế độ Diệm"1 (Neil Sheehan, Sự lừa dối hào nhoáng: John Paul Vann và nước Mỹ ở Việt Nam, tập 1, Nxb Hồ Chí Minh, 1990, tr. 250). Như vậy, sau Hiệp định Geneva, tình hình Việt Nam có một số thuận lợi, song khó khăn, phức tạp là hết sức to lớn. Đặc điểm cơ bản, quan trọng nhất, chi phối toàn bộ yêu cầu, hoạt động và nhiệm vụ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Đặc điểm này chi phối và quyết định đường lối chiến lược, phương pháp đấu tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong nước cũng như trên trường quốc tế hướng tới mục tiêu thống nhất đất nước. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười, 2025, 08:21:40 pm 2- Đường lối tiến hành chiến tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nếu như khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hình thành ngay một đường lối tương đối rõ nét - đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, thì khi chiến tranh với Mỹ bùng nổ, không phải ngay từ đầu, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có ngay một đường lối tiến hành chiến tranh hoàn chỉnh. Trải qua một quá trình tính toán, phân tích, đánh giá toàn bộ tình hình khu vực và trên thế giới có liên quan, lường định những chuyển động của tình hình trong nước, Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã dần định hình và đề ra những nội dung lớn, khái quát nhất của đường lối tiến hành chiến tranh. Bên cạnh đó, đường lối ấy còn là kết quả của cả một quá trình vận động thực tiễn không hề đơn giản, thành công có, hạn chế, vấp váp có, hy sinh, tổn thất có và đặc biệt là kết quả của những cố gắng, nỗ lực vượt qua tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài. Đường lối đó được hình thành trong những năm 1954-1959 và được hoàn chỉnh, ấn định tại Đại hội lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9-1960), sau đó, ở những giai đoạn tiếp theo, được cụ thể hóa và có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với những diễn biến thực tế của tình hình. Từ tháng 7-1954 đến tháng 7-1956 là khoảng thời gian Việt Nam thực hiện Hiệp định đình chiến, thực hiện các quy định của Hiệp định Geneva. Ngay từ khi Hội nghị Geneva chưa kết thúc, Đảng Lao động Việt Nam đã tổ chức Hội nghị lần thứ 6 (khóa II) từ ngày 15 đến ngày 18-7-1954, đề ra nhiệm vụ, quyết định chủ trương, phương châm, sách lược đấu tranh trong tình hình mới. Nhận thức "Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 225, 181), Hội nghị xác định: "Chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp, dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực hiện hoà bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 225, 181). Để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất và độc lập và dân chủ trong toàn quốc, Hội nghị chủ trương đàm phán trên cơ sở đối phương phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của Việt Nam. Hội nghị chỉ rõ: "Muốn đàm phán có kết quả thì ta phải nhân nhượng, nhưng nhân nhượng có chừng mực, trong nguyên tắc, và đối phương cũng phải nhân nhượng với ta"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 225, 181) và nếu đối phương nhất định phủ nhận những thắng lợi mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đạt được, muốn đòi những điều kiện vô lý, thì ''một mặt ta giương cao ngọn cờ hoà bình, một mặt phải tiếp tục chiến tranh để đạt tới mục đích, quyết không từ một gian khổ, hy sinh nào để giành lấy thắng lợi cuối cùng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr. 181, 273-274, 287). Như vậy, tinh thần cốt yếu trong đấu tranh thực hiện Hiệp định Geneva được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xác định là để nhằm đi tới là hoà bình, thống nhất, độc lập thực sự. Tiếp nối Hội nghị lần thứ 6, ngày 6-9-1954, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết về tình hình mới và nhiệm vụ công tác mới của miền Nam. Trên cơ sở phân tích diễn biến mọi mặt của tình hình, nghị quyết xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam: "Củng cố hoà bình, đòi tự do dân chủ và cải thiện dân sinh, tiến tới thực hiện thống nhất và hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr. 181, 273-274, 287). Nghị quyết khẳng định: "Nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chưa phải đã hoàn thành, cuộc đấu tranh ái quốc không vì đình chiến mà kết thúc, cuộc đấu tranh đó còn đang tiếp tục, nhưng phương thức đấu tranh cần phải thay đổi. Chúng ta cần hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc trong hình thức đấu tranh mới"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr. 181, 273-274, 287). Những "hình thức đấu tranh mới" được áp dụng ở miền Nam Việt Nam là kết hợp đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị, thực hiện những hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười, 2025, 08:23:50 pm Bước sang năm 1955, Đảng Lao động Việt Nam tổ chức hai Hội nghị Trung ương: Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (3-1955) và Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (8-1955). Điểm chung của hai hội nghị là đã nhận thức và chỉ rõ những thay đổi nhanh chóng, mau lẹ của tình hình. Nhận định chính quyền Sài Gòn và đứng sau là Mỹ - Pháp phá hoại Hiệp định Geneva, đàn áp phong trào cách mạng, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 và lần thứ 8 có cùng quan điểm: Muốn củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc, phải có lực lượng. Lực lượng được các hội nghị Trung ương xác định bao gồm toàn quốc, "nhưng chủ yếu là ở miền Bắc. Muốn có lực lượng phải ra sức củng cố miền Bắc". Như vậy, từ khá sớm, Đảng Lao động Việt Nam đã nhận thức rằng, để cuộc đấu tranh có chỗ dựa vững chắc không chỉ trước mắt mà còn về lâu dài, nhất là khi mức độ ác liệt, khó khăn, gian khổ của chiến tranh ngày càng gia tăng, cần phải củng cố, bồi dưỡng miền Bắc một cách toàn diện, coi miền Bắc là chỗ đứng, là cơ sở, là nền, là gốc cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Bên cạnh đó, các hội nghị Trung ương 7 và 8 cũng nhấn mạnh nhiệm vụ đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam, chỉ rõ mối quan hệ giữa nhiệm vụ củng cố miền Bắc và đấu tranh ở miền Nam: "Để lợi cho việc tranh thủ rộng rãi trong toàn quốc đặng thực hiện thống nhất nước nhà, phải luôn luôn chiếu cố miền Nam. Củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam không thể tách rời"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 485); yêu cầu "khắc phục tư tưởng sai lầm cho rằng: để chiếu cố miền Nam nên hạ thấp yêu cầu củng cố miền Bắc, hoặc chỉ biết củng cố miền Bắc mà không chú ý chiếu cố miền Nam"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 485).
Giữa năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm từ chối hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước, triển khai giai đoạn hai "tố cộng, diệt cộng", đánh phá có chiều sâu cơ sở cách mạng. Chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức học tập "tố cộng" rộng rãi trong nhân dân, trong chính quyền; phân loại quần chúng... Ngoài ra, chính quyền Ngô Đình Diệm còn mở nhiều đợt càn quét có trọng điểm vào các chiến khu cũ như chiến dịch "Thoại Ngọc Hầu" (từ 6-1956 đến 10-1956) ở 18 tỉnh miền Tây Nam Bộ, Chiến dịch "Trương Tấn Bửu" (từ 7-1956 đến 12-1956) ở miền Đông Nam Bộ và giáp biên giới Campuchia. Tình hình miền Nam hết sức căng thẳng, nhiều cơ sở bị phá vỡ, hàng vạn quần chúng, đảng viên bị giết hại, bị bắt giam, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề. Khả năng thực hiện điều khoản chính trị của Hiệp định Geneva không còn tồn tại nữa. Trước tình hình đó, tháng 6-1956, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết xác định tính chất và nhiệm vụ cách mạng miền Nam: "Tính chất cuộc vận động cách mạng của ta ở miền Nam là dân tộc và dân chủ. Nhiệm vụ cách mạng của ta ở miền Nam là phản đế và phản phong kiến"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 224, 228). Nghị quyết nêu rõ: Tuy hình thức đấu tranh trong cả nước là đấu tranh chính trị, nhưng như thế không có nghĩa là không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định. Vì thế, cần "củng cố các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ làm chỗ dựa. Đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 224, 228). Điểm mới của Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1956 so với những nghị quyết trước đó là đã nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì, phát triển lực lượng vũ trang. Đó là bước ngoặt đánh dấu sự chuyển hướng ban đầu trong lãnh đạo cách mạng miền Nam của Đảng Lao động Việt Nam thông qua phương thức đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang tự vệ. Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1956 được đưa xuống Xứ ủy Nam Bộ và Liên khu ủy Liên khu 5 và trong hai năm 1956-1957, hàng chục đơn vị vũ trang cách mạng ra đời, nhiều đội trừ gian thành lập ở Nam Bộ và Liên khu 5. Được Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1956 phát "tín hiệu" về hướng đấu tranh mới và trên cơ sở sự vận động của thực tiễn cách mạng miền Nam, tháng 8-1956, Lê Duẩn - Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đã soạn thảo Đường lối cách mạng miền Nam1 (Ở nhiều cuốn sách và các công trình khác, văn kiện này thường được gọi là Đề cương cách mạng miền Nam, chúng tôi lấy tên như trên là theo Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr.783). Đường lối cách mạng miền Nam chỉ rõ ba nhiệm vụ chính làm đường lối chung cho toàn bộ cách mạng Việt Nam: "1) Củng cố thật vững chắc miền Bắc; 2) Đẩy mạnh phong trào cách mạng miền Nam; 3) Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình, dân chủ, độc lập dân tộc trên thế giới"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 784, 785). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười, 2025, 08:24:49 pm Đường lối cách mạng miền Nam luận giải sự cần thiết phải thực hiện đồng thời ba nhiệm vụ nói trên như sau: Có củng cố miền Bắc thật vững mạnh mới đảm đương được nhiệm vụ "làm hậu thuẫn cho phong trào cách mạng giải phóng miền Nam"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 784, 785); phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh ở miền Nam, vì đồng bào miền Nam đang rên xiết dưới ách thống trị tàn bạo của chế độ Mỹ - Diệm. Để chống lại Mỹ - Diệm, "nhân dân miền Nam chỉ có con đường cứu nước và tự cứu mình, là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng không có một con đường khác"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 784, 785). Thực hiện hai nhiệm vụ ở miền Bắc và miền Nam không thể tách rời nhiệm vụ tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới, vì đương đầu với thế lực mạnh nhất thời đại về kinh tế, quân sự, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ cuộc đấu tranh ấy không chỉ cần mà còn nhất định có được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới. Bản Đường lối giải thích: Nhờ sự ủng hộ đó "mà ta được thêm sức mạnh, địch sẽ bị cô lập và yếu thế, ta có thêm điều kiện thuận lợi để thắng địch, để hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn dân tộc ta"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 785, 785-786, 787). Nhấn mạnh lại một lần nữa sự cần thiết phải thực hiện đồng thời ba nhiệm vụ quan trọng nói trên, Đường lối cách mạng miền Nam chỉ rõ mối liên hệ gắn bó chặt chẽ giữa chúng: "Ba nhiệm vụ ấy không thể tách rời nhau được, ba nhiệm vụ ấy liên quan mật thiết với nhau. Có làm tròn ba nhiệm vụ ấy, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta mới đi đến thành công"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 785, 785-786, 787).
Đường lối cách mạng miền Nam tập trung xác định mục đích, vị trí và đối tượng của phong trào cách mạng miền Nam, chỉ rõ mục đích của cách mạng miền Nam là "đánh đổ chính quyền độc tài, phát xít Mỹ - Diệm, thực hiện một chính quyền liên hiệp dân chủ có tính chất dân tộc độc lập, để giải phóng nhân dân miền Nam ra khỏi ách đế quốc, phong kiến độc tài phát xít Mỹ - Diệm để cùng với toàn quốc thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập dân tộc"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 785, 785-786, 787). Tranh đấu thực hiện mục đích riêng của mình, "tức là tranh đấu tự giải phóng ra khỏi chính quyền đế quốc, phong kiến Mỹ - Diệm"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 785, 785-786, 787), cách mạng miền Nam đã cùng với cả nước đấu tranh thực hiện mục đích chung thống nhất đất nước. Đường lối cách mạng miền Nam nói rõ thêm: Mục đích của cách mạng miền Nam và mục đích cách mạng cả nước có mối quan hệ chặt chẽ, gắn với nhau làm một, không thể tách rời. Nguyên nhân chính gắn kết hết sức chặt chẽ hai mục đích đó là bởi quá trình tranh đấu của phong trào cách mạng chung cả nước chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn vì độc lập, tự do, hoà bình thống nhất sẽ tạo những điều kiện thuận lợi cho nhân dân miền Nam tranh đấu chống lại những chính sách độc tài phát xít của chính quyền ấy; đồng thời, quá trình tranh đấu của phong trào cách mạng miền Nam chống lại chính sách phản tiến bộ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn để tự giải phóng sẽ tạo những điều kiện thuận lợi cho công cuộc tranh đấu hoà bình, thống nhất đất nước. Như vậy, theo nhận thức của Đảng Lao động Việt Nam, cách mạng miền Nam là một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng chung cả nước, đẩy mạnh phong trào cách mạng miền Nam là để thực hiện một trong ba nhiệm vụ chiến lược chung và ngược lại, thực hiện những nhiệm vụ chiến lược chung là biện pháp hiệu quả nhất thúc đẩy cách mạng miền Nam phát triển. Nghiên cứu, xem xét toàn bộ nội dung và những luận giải của bản Đường lối cách mạng miền Nam, có thể nhận thấy một trong những điểm đặc biệt của nó là đã đồng thời xác định ba nhiệm vụ; trong đó hai nhiệm vụ thuộc về đối nội liên quan đến cách mạng miền Bắc và cách mạng miền Nam, nhiệm vụ còn lại là về đối ngoại. Ba nhiệm vụ này là ba bộ phận hợp thành đường lối chung của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn cách mạng mới - chuyển dần từ đấu tranh chính trị sang kết hợp giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Xác định những nội dung, nhiệm vụ cụ thể bám sát tình hình thực tiễn, hướng đến mục tiêu giải quyết những vấn đề nóng bỏng của thực tiễa, Đường lối cách mạng miền Nam là những chỉ định trực tiếp đối với phong trào cách mạng miền Nam. Đó đồng thời cũng là những cơ sở quan trọng để sau đó Đảng Lao động Việt Nam tiếp tục hoạch định đường lối tiến hành chiến tranh chống Mỹ. Tiếp nối tư tưởng chỉ đạo về đẩy mạnh xây dựng miền Bắc vững mạnh mọi mặt của Hội nghị Trung ương, Hội nghị Bộ Chính trị trước đó; đồng thời, để khích lệ khí thế đấu tranh của cách mạng miền Nam, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (11-1958) đề ra kế hoạch ba năm phát triển kinh tế - văn hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh (1958-1960). Hội nghị một lần nữa khẳng định lại quan điểm: Việt Nam tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng ở cả hai miền: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam; hai nhiệm vụ cách mạng nói trên đều quan trọng, coi nhẹ một nhiệm vụ nào cũng đều sai lầm. Như vậy, những năm đầu tiếp quản miền Bắc giải phóng, Đảng Lao động Việt Nam chủ trương giữ gìn lực lượng, đấu tranh thực hiện những điều khoản cơ bản của Hiệp định Geneva, từng bước hiệp thương thống nhất đất nước bằng con đường hoà bình. Tuy nhiên, khi nhận thấy khả năng thực hiện các điều khoản của Hiệp định Geneva khó thành hiện thực, Đảng Lao động Việt Nam đã chuyển hướng đấu tranh, chuẩn bị, bồi dưỡng lực lượng, chuẩn bị cho một khả năng chiến tranh kéo dài và leo thang. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười, 2025, 08:29:36 pm Sau năm năm (1954-1959), tình hình miền Nam ngày càng trở nên căng thẳng bởi chính sách thanh trừng của chính quyền Ngô Đình Diệm. Chính sách đó của Ngô Đình Diệm dẫn đến sự bất mãn ngày càng dâng cao của dân chúng. Thomas D. Boettcher (T. D. Bôtchơ) mô tả tình hình đó như sau: "Hậu quả của những biện pháp đàn áp càng ngày càng tăng là sự bất mãn của quần chúng đối với Diệm cũng ngày càng gia tăng, bất kể là Diệm luôn toan tính sử dụng mọi cơ hội để dập tắt sự bất mãn này"1 (Thomas D. Boettcher, Vietnam: The Valor and the Sorrow, Little, Brown Boston, 1985, p.150). Thật vậy, nếu như năm 1957, có 2 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, thì đến năm 1958 đã có tới 3,7 triệu lượt người và sang năm 1959, đã lên tới gần 5 triệu. Trong khi đó, dưới sự lãnh đạo của các cơ sở cách mạng còn trụ lại, cuộc đấu tranh vũ trang tự vệ, trừ gian, diệt ác vẫn được tiến hành (tuy không thường xuyên) và nhiều đơn vị vũ trang cách mạng đã ra đời. Thời kỳ này, phong trào cách mạng miền Nam phải trải qua những thử thách cực kỳ nghiêm trọng, những năm tháng hết sức khó khăn.
Cần phải nói thêm rằng, dù bản Đường lối cách mạng miền Nam do Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn soạn thảo có đề cập đến sử dụng bạo lực cách mạng để giải quyết các nhiệm vụ của cách mạng miền Nam, song hình thức đấu tranh vũ trang vẫn chưa được vận dụng. Trong hai năm 1957-1958, trong các cuộc Hội nghị, khi đề cập đến cách mạng miền Nam, Đảng Lao động Việt Nam có bàn về xây dựng lực lượng, tổ chức các đội vũ trang, song hình thức, biện pháp đấu tranh chủ yếu vẫn là bằng chính trị. Việc xây dựng, tổ chức các đơn vị vũ trang vẫn được tiến hành song hết sức gọn nhẹ, quy mô nhỏ, các hoạt động vũ trang ở mức nhỏ lẻ. Khi các đợt khủng bố, thanh trừng của chính quyền Sài Gòn được tiến hành khá rầm rộ, thì sự phản ứng của lực lượng cách mạng lại khá im ắng và tình hình này kéo dài cho đến tận tháng 6-1959. Báo cáo của Nha Tống giám đốc Bảo an (chính quyền Sài Gòn) đã cho thấy điều đó: "Việt cộng miền Nam đang sống những phút hồi hộp, tinh thần bị dao động, đang chờ quyết định của thượng cấp của chúng"2 (Bản Tổng kết tin tức tháng 6-1959 của Nha Tổng giám đốc Bảo an hồ sơ 5795, phông ĐICH, Trung tâm lưu trữ Trung ương II). Trong khi cách mạng miền Nam đang ở trong tình thế "dầu sôi, lửa bỏng" rất cần những quyết sách phù hợp, thì trong khối xã hội chủ nghĩa, giữa các đồng minh lớn của Việt Nam có những bất đồng, mâu thuẫn gay gắt. Đối với cách mạng Việt Nam, bị chi phối bởi tư tưởng "ba hòa", "chung sống hòa bình", Liên Xô muốn Việt Nam giữ nguyên hiện trạng, e ngại nếu Việt Nam đẩy cuộc đấu tranh ở miền Nam lên cao, "một đốm lửa đốt cháy cả cánh rừng". Về phía Trung Quốc, kiên trì thuyết phục Việt Nam "trường kỳ mai phục", Mao Trạch Đông nêu quan điểm: "Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ... Nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm"1 (Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua (In lần thứ hai), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 37)... Những lập trường, ý kiến nói trên, ở một mức độ nhất định không thể không tác động đến nội bộ Đảng Lao động Việt Nam, đến tư duy, chính kiến một số lãnh đạo cấp cao của Hà Nội. Trong bối cảnh đó, tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ 15. Hội nghị Trung ương 15 họp thành nhiều đợt và khi bàn về phương pháp tiến hành cách mạng ở miền Nam, có khá nhiều luồng ý kiến khác nhau, quy về ba phương án: 1- Tiến hành đấu tranh vũ trang; 2- Đấu tranh bằng phương pháp hòa bình dựa trên những điều khoản của Hiệp định Geneva; 3- Tiến hành khởi nghĩa từng phần2 (Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.197). Kết thúc họp đợt 1 (từ 12 đến 22-1-1959), Hội nghị vẫn chưa thống nhất được quan điểm và chưa ra được nghị quyết, cuối cùng quyết định tiếp tục nghiên cứu và sẽ kết luận vào đợt 2. Hai đại biểu Xứ ủy Nam Bộ là Phan Văn Đáng và Phạm Văn Xô ra báo cáo với Trung ương đã phải chờ đợi hơn một năm mà chưa có nghị quyết nên đã xin trở về Nam Bộ. Giữa hai đợt họp, Xứ ủy Nam Bộ liên tục báo cáo, phản ánh tình hình, chuyển đến Trung ương Đảng Lao động Việt Nam mong muốn và để nghị được đứng lên đấu tranh. Tháng 7-1959, Hội nghị Trung ương 15 họp đợt 2 và trên cơ sở thống nhất ý kiến qua hai đợt họp, Hội nghị chính thức thông qua nghị quyết. Nghị quyết viết: "Do sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền Nam, nước ta bị tạm thời chia làm hai miền: Miền Bắc đã được giải phóng và độc lập hoàn toàn, còn miền Nam vẫn là một thuộc địa (kiểu mới) của đế quốc Mỹ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 59, 60). Hội nghị nêu lên hai mâu thuẫn cơ bản mà cách mạng Việt Nam phải giải quyết: "1) Mâu thuẫn giữa một bên là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giai cấp địa chủ phong kiến, và bọn tư sản mại bản quan liêu thống trị ở miền Nam và một bên là dân tộc Việt Nam, nhân dân cả nước Việt Nam, bao gồm nhân dân miền Bắc và nhân dân miền Nam; 2) Mâu thuẫn giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa ở miền Bắc"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 59, 60). Nghị quyết phân tích: Đó là hai mâu thuẫn có tính chất khác nhau, nhưng có quan hệ biện chứng với nhau và tác động mạnh mẽ lẫn nhau. Những mâu thuẫn này thể hiện sự đối kháng rất gay gắt giữa một bên là lực lượng của dân tộc ta (Việt Nam - TG) mong muốn hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và một bên là thế lực của chủ nghĩa đế quốc và tay sai, cụ thể là bè lũ Mỹ - Diệm xâm lược gây chiến và chia cắt nước ta (Việt Nam - TG). Đồng thời, những mâu thuẫn ấy cũng thể hiện sự đối kháng rất gay gắt giữa lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, hoà bình dân chủ trên thế giới với thế lực do đế quốc hiếu chiến và xâm lược do đế quốc Mỹ cầm đầu ở khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 60, 62). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười, 2025, 08:30:49 pm Để giải quyết hai mâu thuẫn nêu trên, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 nhận định rằng, cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược: "Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau, nhằm phương hướng chung là giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 60, 62). Nghị quyết làm rõ nội dung hai cuộc cách mạng đó như sau: Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi đã giành được, xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà, còn tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở miền Nam, nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam, giải phóng miền Nam, đồng thời cũng là để bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa - cơ sở vững chắc của công cuộc thống nhất, độc lập và dân chủ trong cả nước. Đó chính là "quan hệ biện chứng giữa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và việc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước, giữa sự nghiệp hoà bình thống nhất nước nhà và cuộc đấu tranh cách mạng đánh đổ ách thống trị của Mỹ - Diệm ở miền Nam"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 60, 62).
Khẳng định "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, nhân dân Việt Nam quyết không chịu làm nô lệ và đứng lên tranh đấu đến cùng, giải phóng đất nước, thống nhất non sông", Nghị quyết 15 xác định: Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 82, 82-83). Con đường đó dựa vào sức mạnh của quần chúng, lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân. Định hướng đó cho thấy Nghị quyết Trung ương 15 chủ trương sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để đánh đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng nhân dân. Nghị quyết cũng lường định về tính lâu dài, gian khổ của cách mạng miền Nam, đặt ra yêu cầu "phải tích cực xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng, thì mới có thể có điều kiện nắm lấy thời cơ thuận lợi và giành lấy thắng lợi2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 82, 82-83). Như vậy, Nghị quyết Trung ương 15 đã chỉ ra một cách toàn diện con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, xác định rõ đường lối, phương pháp cách mạng chung của cả nước và đặc biệt là của cách mạng miền Nam - với những nội dung quan trọng, thể hiện sự chuyển hướng chiến lược trong lãnh đạo cách mạng của Đảng Lao động Việt Nam, Nghị quyết 15 được mệnh danh là "bó đuốc soi đường cho cách mạng miền Nam". Lưu ý thêm rằng, Nghị quyết 15 được thông qua vào giữa tháng 7-1959, song tháng 9-1959, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam vẫn chỉ thị Xứ ủy Nam Bộ chỉ sử dụng lực lượng vũ trang để tự vệ, tuyên truyền, trừ gian, phục vụ nhiệm vụ chính trị, giành thắng lợi chính trị, chứ chưa phải là giành thắng lợi quân sự3 (Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Sđd, tr.186) và đến tháng 11-1959, Xứ ủy Nam Bộ mới nhận được điện của Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về "Những nội dung cơ bản của Nghị quyết 15". Căn cứ vào diễn biến thực tế, Xứ ủy Nam Bộ đưa ra quan điểm: cần thiết phải phát động phong trào đấu tranh vũ trang mới duy trì được phong trào và phát triển ra các vùng khác; đồng thời, đề nghị Trung ương "cần có ngay kế hoạch, vì để lâu lực lượng ta mất đi nhiều, tinh thần quần chúng sa sút, sau này có muốn chuyển cũng khó"1 (Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Sđd, tr. 187). Quan điểm của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam là Xứ ủy nghiên cứu, áp dụng nghị quyết sát hợp với hoàn cảnh Nam Bộ. Tháng 11-1959, Xứ ủy Nam Bộ họp Hội nghị lần thứ tư và quyết nghị: "Cần phải nhận rõ rằng: Mọi hoạt động võ trang hiện nay đều nhằm phục vụ cho phong trào đấu tranh chính trị, hỗ trợ thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền khi có đủ điều kiện và thời cơ thuận lợi"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 988). Hội nghị Xứ ủy quán triệt cần thấu suốt nguyên tắc "sử dụng lực lượng võ trang hiện nay chỉ là một chiến thuật để phục vụ chiến lược đấu tranh chính trị của quần chúng, mở rộng sự sử dụng này có tính chất chiến lược là sai lầm nhưng không sử dụng theo phương châm chiến thuật kịp thời có mức độ thì cũng không đúng"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 988). Trên thực tế, từ nửa cuối năm 1959, ở nhiều vùng miền Nam, các đảng bộ đã chỉ đạo sử dụng lực lượng vũ trang chống bắt bớ, lùng sục và hỗ trợ quần chúng nổi dậy, điển hình là các trận đánh của Tiểu đoàn 502 và Đại đội 271 tại Giồng Thị Đam và Gò Quản Cung (Đồng Tháp Mười, tỉnh Kiến Phong) vào ngày 26-9-1959 chống lại cuộc càn quét cấp trung đoàn của quân đội Sài Gòn. Sau đó, những tháng cuối năm 1959, ở các huyện tả ngạn sông Tiền, một số xã vùng đồng bằng sông cửu Long và tỉnh Tây Ninh, các lực lượng vũ trang đã hỗ trợ nhân dân nổi dậy giành chính quyền. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười, 2025, 08:31:53 pm Sau khi Hội nghị Xứ ủy lần thứ tư kết thúc, Xứ ủy Nam Bộ tiếp tục kiến nghị với Trung ương không thể giữ hoạt động vũ trang ở các vùng nông thôn căn cứ kháng chiến cũ ở mức vũ trang tuyên truyền như trước, mà cần phải nâng cao một bước hoạt động vũ trang, mở rộng và phát huy hoạt động vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và binh vận để giành quyền làm chủ. Ba tháng cuối năm 1959, Xứ ủy tiếp tục chỉ đạo lực lượng vũ trang tiến hành một số trận đánh ở một số xã vùng đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Tây Ninh, hỗ trợ nhân dân nổi dậy. Tại các tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường và một số địa phương khác, Xứ ủy Nam Bộ và các đảng bộ đã chỉ đạo quần chúng đấu tranh vũ trang kết hựp với đấu tranh chính trị, tấn công một số đồn bốt và trụ sở chính quyền địa phương. Tại tỉnh Kiến Phong, lực lượng vũ trang đã hạ bảy đồn, giải phóng bảy xã. Tại tỉnh Kiến Tường, lực lượng vũ trang diệt đồn, giải phóng nhiều thôn, ấp, mở rộng các căn cứ Mỹ An, Cao Lãnh thành thế liên hoàn lên sát biên giới Campuchia. Tại Bến Tre, được sự hỗ trợ của các đội vũ trang tự vệ, quần chúng các xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh nổi dậy giành chính quyền. Từ huyện Mỏ Cày, cuộc "Đồng khỏi" của nhân dân Bến Tre đã lan rộng sang các huyện Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri, Thạnh Phú.
Làn sóng nổi dậy đồng loạt nhanh chóng lan rộng và dâng cao ở các tỉnh miền Trung Trung Bộ và Nam Bộ. Đảng bộ các cấp ở nhiều nơi lãnh đạo nhân dân vùng lên diệt ác ôn, đánh đồn bốt, làm chính quyền ở nhiều thôn, xà mất quyền kiểm soát, làm chủ nhiều khu vực ở rừng núi và nông thôn. Nhiều làng xã thành lập chính quyền cách mạng, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang tạo nên một hình thức căn cứ địa, có nơi hình thành thế liên hoàn bao gồm các vùng giải phóng và vùng du kích. Phong trào đấu tranh chính trị phát triển nhanh chóng: Năm 1960, có hơn 10 triệu lượt người và năm 1961 đã lên tới 33 triệu lượt người. Giữa lúc phong trào "Đồng khởi" của nhân dân Bến Tre đang sôi sục, đêm 26-1-1960, theo kế hoạch đã định trước, lực lượng vũ trang cách mạng tấn công căn cứ Trung đoàn 32 thuộc Sư đoàn 21 tại Tua Hai, huyện Châu Thành (Tây Ninh) - một cứ điểm lớn án ngữ hai mặt biên giới Việt Nam - Campuchia. Đây là trận thắng lớn đầu tiên của các lực lượng vũ trang Nam Bộ, một điển hình của "Đồng khởi" bắt đầu từ đòn tiến công quân sự phối hợp với nổi dậy của quần chúng. Khởi nghĩa giành quyền làm chủ ở nông thôn đã thúc đẩy phong trào đồng khởi phát triển mạnh mẽ và lan rộng. Thắng lợi của đợt 1 "Đồng khởi" đã tạo bước ngoặt căn bản cho phong trào cách mạng ở Nam Bộ cũng như phong trào cách mạng toàn miền Nam, đẩy chính quyền Sài Gòn vào thời kỳ khó khăn, khủng hoảng. Trong lúc làn sóng cách mạng ở miền Nam đang dâng cao, miền Bắc đã hoàn thành kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (1954-1957), thực hiện kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế - văn hóa (1958-1960). Tình hình ở hai miền Nam, Bắc Việt Nam đã có những thay đổi nhanh chóng và quan trọng, đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới phải giải quyết. Trước những chuyển biến của tình hình; đồng thời, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc đấu tranh, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba Đảng Lao động Việt Nam được tổ chức (9-1960). Nếu như Đại hội lần thứ hai là Đại hội kháng chiến, thì Đại hội Đảng lần thứ ba là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Đại hội Đảng lần thứ ba xác định nhiệm vụ chủ yếu nhất, quan trọng nhất lúc này là "tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Vàn kiện Đảng toàn tập, tập 20 Sđd tr. 512,505). Đại hội phân tích: Do Mỹ xâm chiếm miền Nam, nước ta (Việt Nam - TG) đang tạm thời bị chia làm hai miền... Miền Bắc hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng dân chủ nhân dân, đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Miền Nam còn đang bị chủ nghĩa đế quốc và thế lực phong kiến thống trị2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Vàn kiện Đảng toàn tập, tập 20 Sđd tr. 512,505). Do đó, ở Việt Nam hình thành hai khu vực có chế độ chính trị - xã hội khác nhau - đặc điểm đó đồng thời quy định cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ thuộc hai chiến lược: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Đại hội đặt ra yêu cầu phải nhận rõ bản chất của nhiệm vụ cách mạng ở mỗi miền; theo đó, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội chính là đáp ứng yêu cầu khách quan của xã hội miền Bắc trên bước đường phát triển; đồng thời, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người dân miền Bắc. Chỉ có đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội thì mới có thể củng cố và phát triển những thắng lợi cách mạng đã giành được, làm cho miền Bắc vững mạnh về mọi mặt, trở thành nền tảng, gốc rễ, căn cứ địa cách mạng của cả nước, thành hậu phương vững chắc của cách mạng miền Nam. Nghị quyết nhấn mạnh: "Sự lớn mạnh không ngừng của miền Bắc không những nâng cao lòng tin tưởng và cổ vũ tinh thần hăng hái cách mạng của đồng bào yêu nước ở miền Nam"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 509, 507). Với chế độ xã hội ưu việt, có một nền kinh tế phát triển, một nền văn hoá dân tộc và hiện đại, một nền an ninh - quốc phòng không ngừng lớn mạnh, miền Bắc là sức mạnh tập hợp tất cả những người yêu nước, tiến bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Trên quan điểm đó, Đại hội xác định phương châm tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: "Xây dựng miền Bắc, chiếu cố miền Nam"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 509, 507). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười, 2025, 08:33:02 pm Về cách mạng miền Nam, Đại hội chỉ ra rằng: "Giải phóng miền Nam tức là giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản tồn tại trong xã hội miền Nam"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 509, 507) - đó là mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam với đế quốc xâm lược và với giai cấp địa chủ phong kiến. Những mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt và để bảo vệ sinh mạng, quyền lợi thiết thân của mình, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác ngoài con đường đánh đổ chế độ độc tài phát xít của Mỹ - Diệm, giải phóng hoàn toàn miền Nam4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 509, 507).
Đại hội chỉ rõ sự cần thiết "phải nắm vững quan hệ giữa hai nhiệm vụ cách mạng ở hai miền trong quá trình phát triển của cách mạng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 505, 512, 511), để có biện pháp, cách thức thực hiện đúng đắn, hiệu quả các nhiệm vụ. Hai nhiệm vụ dù được thực hiện ở hai miền, thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền, song trong điều kiện Việt Nam tạm thời bị chia cắt, hai nhiệm vụ đó đều có một mục tiêu chung là thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam và thế lực ngoại bang. Vì thế, hai nhiệm vụ này có môi "quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 505, 512, 511); trong đó, "nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta và sự nghiệp thống nhất nước nhà"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 505, 512, 511) còn cách mạng miền Nam có "tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 505, 512, 511). Văn kiện Đại hội phân tích: Chỉ có xác định đúng đắn vị trí cách mạng mỗi miền, mới có quan điểm toàn diện về nội dung và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, mới có chủ trương, phương châm, kế hoạch, biện pháp đúng đắn để tiến hành thắng lợi các nhiệm vụ đặt ra. Đại hội cũng xác định cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, lâu dài, gian khổ, phức tạp và "là một bộ phận tích cực của phong trào quốc tế đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc và hòa bình thế giới". Do đó, cuộc đấu tranh ấy, một mặt, được nhân dân tiến bộ trên thế giới cổ vũ, giúp đỡ; mặt khác, góp phần thúc đẩy trào lưu hòa bình, dân chủ và tiến bộ của nhân loại. Để phát huy sức mạnh nội lực, tranh thủ sức mạnh thời đại, đường lối, chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ mọi sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Những vấn đề nêu trên đồng thời cũng là nội dung của "đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước" - đường lối tiến hành chiến tranh mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng bước xác định, bổ sung, hoàn thiện và thông qua dựa trên những nhận thức quan trọng được rút ra từ quá trình tìm tòi, tổng kết thực tiễn những năm tháng trước đó. Đó là đường lối giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đồng thời, ra sức tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo ra sức mạnh tổng hợp cần và đủ để có thể đương đầu, trụ vững và kết thúc chiến tranh theo cách có lợi nhất. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Mười, 2025, 08:34:58 pm Chương II HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC VIỆT NAM TÔI RÈN VÀ PHÁT TRIỂN TRONG LÒ LỬA CHIẾN TRANH I- XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN 1. Về chính trị Ngay sau khi Hội nghị Geneva kết thúc không bao lâu, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng Lao động Việt Nam được tổ chức (8-1955), xác định: "Miền Bắc là căn cứ địa của ta. Bất cứ trong tình hình nào, miền Bắc cũng phải được củng cố về mọi mặt"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Sđd, tr. 498, 160). Nhằm củng cố vững chắc miền Bắc, một trong những nhiệm vụ trọng yếu là xây dựng miền Bắc về chính trị; trong đó, cải cách ruộng đất cần phải được tiếp tục tiến hành vì "có cải cách ruộng đất mới củng cố được hậu phương chính trị của ta, mới củng cố được cơ sở của ta ở nông thôn và mới tạo thêm điều kiện để hoàn thành thắng lợi những công tác khác, như khôi phục kinh tế, củng cố quốc phòng, củng cố chính quyền nhân dân"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Sđd, tr. 498, 160). Trong thời gian ba năm 10 tháng (từ 10-1954 đến 7-1956), trên miền Bắc Việt Nam đã tiến hành tám đợt giảm tô và năm đợt cải cách ruộng đất. Cải cách ruộng đất được tiến hành ở 3.653 xã (xã mới chia lại) tại 22 tỉnh, bao trùm cả đồng bằng và trung du miền Bắc, chia khoảng 334.100ha ruộng đất cho khoảng 2 triệu hộ nông dân không có hoặc thiếu ruộng. Tuy nhiên, do không nắm vững những biến đổi trong nông thôn miền Bắc từ sau Cách mạng tháng Tám, Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đánh giá thấp lực lượng cách mạng ở nông thôn, đánh giá quá cao thế lực kinh tế và chính trị của địa chủ miền Bắc nên đã phạm phải một số sai lầm, gây nên những tổn thất nặng nề1 (Xem kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương cải cách ruộng đất, số 148/BCT, ngày 25-5-1994). Những sai lầm đó nghiêm trọng, phổ biên, kéo dài, đã gây hoang mang, hoài nghi, mất niềm tin không chỉ với bản thân và gia đình những người bị quy kết, đấu tố, xử trí oan sai, mà còn lan rộng trong các tầng lớp khác. Hệ quả là làm cho lực lượng của Đảng Lao động Việt Nam ở nông thôn bị tổn thất; ảnh hưởng đến uy tín của Đảng trong quần chúng, quan hệ giữa Đảng, chính quyền và quần chúng nhân dân bị ảnh hưởng. Mục tiêu và yêu cầu của cải cách ruộng đất là củng cố và mở rộng mặt trận chống phong kiến ở nông thôn, nhưng những sai lầm đó đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến khối đoàn kết ở nông thôn và lan rộng đến thành thị, đến các giai cẫp ở miền Bắc và miền Nam. Khi phát hiện những sai lầm, Đảng đã tự kiểm điểm, công khai tự phê bình, sửa chữa những sai lầm phạm phải, nhằm lấy lại uy tín trong quần chúng nhân dân; nhờ vậy, đến cuối năm 1957, "công tác sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đã mang lại kết quả tốt"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 19, Sđd, tr. 558-559). Sau chiến tranh, để nâng cao sức mạnh, tăng cường hiệu quả lãnh đạo, Đảng chú trọng công tác tư tưởng và tổ chức, công tác lý luận, chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy, tích cực sửa đổi lề lối làm việc và phương pháp lãnh đạo, đi sát thực tế và gắn bó với nhân dân, đẩy mạnh phê bình và tự phê bình đi đối với việc thực hiện dân chủ nội bộ. Bên cạnh đó, Đảng Lao động Việt Nam coi trọng công tác lựa chọn, rèn luyện, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, đẩy mạnh công tác kiểm tra. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khoá II, tháng 3-1955) chỉ rõ: "Mạnh dạn đề bạt cán bộ, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ công nông một cách thường xuyên trong công tác hằng ngày, lựa chọn cán bộ cho thích hợp với từng công tác, tập trung lực lượng, bố trí cán bộ để đảm bảo thực hiện chu đáo những công tác chính trị. Thực hiện việc thống nhất quản lý cán bộ. Cần lập Ban Kiểm tra Trung ương, và ngành nào cũng phải tự tổ chức việc kiểm tra của mình để kiểm tra một cách có trọng điểm việc thi hành những chính sách của Đảng và Chính phủ"1 (). Nhiều đảng viên của Đảng có phẩm chất tốt, có năng lực, qua rèn luyện và thử thách trong thực tế công tác, chiến đấu được bố trí vào bộ máy Nhà nước và các cấp chính quyền. Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình thông qua việc đề ra và chỉ đạo thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, phương châm công tác lớn. Đồng thời, Đảng thông qua các tổ chức đảng, đoàn ở Hội đồng Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước, của Mặt trận để biến đường lối của Đảng thành chính sách hoạt động của Nhà nước. Các cấp ủy Đảng chú trọng lãnh đạo việc tăng cường hiệu lực của các cấp chính quyền, đẩy mạnh công tác kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, chống hiện tượng "khoán trắng" cho chính quyền. Chuyển sang thời bình, đội ngũ cán bộ, đảng viên đứng trước những nhiệm vụ nặng nề về kinh tế và xã hội. Do vậy, tất cả các cấp ủy Đảng ở miền Bắc và toàn bộ đảng viên được học tập chính sách kinh tế, tài chính, nhằm nâng cao hiểu biết và năng lực lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực mới này. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2026, 08:58:10 pm Trong những năm kháng chiến chống Pháp, bộ máy chính quyền từng bước được xây dựng, nhưng do điều kiện lúc bấy giờ, tổ chức và hoạt động còn nặng về hành chính và kháng chiến. Hoà bình lập lại, Đảng Lao động Việt Nam chủ trương: "Củng cố chính quyền về các mặt: Chính trị, tổ chức và công tác"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Sđd.tr. 146), về chính trị, phải đẩy mạnh việc tuyên truyền, giải thích, phổ biến chính sách của Chính phủ, làm cho nhân dân hiểu biết, tin tưởng chính sách và hăng hái làm đúng chính sách, tự động, tự giác chống lại những kẻ xuyên tạc hay phá hoại chính sách, về tổ chức, tập trung kiện toàn bộ máy chính quyền theo nguyên tắc dân chủ tập trung, phù hợp với yêu cầu của đất nước về mặt tổ chức, cán bộ và phương pháp làm việc, chú trọng nâng cao kỷ luật của chính quyền.
Thực hiện các nhiệm vụ đó, Đảng Lao động Việt Nam chỉ đạo kết hợp phát động quần chúng cải cách ruộng đất với việc củng cố chính quyền cấp xã và huyện, làm cho chính quyền các cấp thật sự là chính quyền của nhân dân lao động. Bên cạnh đó, đã từng bước chỉnh đốn, cải tạo, nâng cao hiệu lực của chính quyền ở các vùng mới giải phóng, xây dựng chính quyền ở các đô thị một cách vững vàng và rộng rãi. Kết quả là cơ quan Nhà nước trở lại hoạt động đều đặn, trách nhiệm, quyền hạn, thể lệ, chế độ được quy định rõ ràng, cụ thể, đặc biệt trong lĩnh vực tổ chức và quản lý kinh tế. Các kỳ họp của Quốc hội tiến hành theo định kỳ nhằm thông qua các chủ trương, chính sách lớn, thông qua các kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Nhà nước. Hội đồng Chính phủ được kiện toàn về cơ cấu, tổ chức, từng bước nâng cao hiệu lực quản lý, chỉ đạo thực tiễn. Chính quyền các cấp được tăng cường theo nguyên tắc vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Hội đồng Chính phủ vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cơ sở. Nhằm đẩy mạnh việc dân chủ hoá cơ quan tư pháp, Quốc hội quyết định thành lập Toà án nhân dân tối cao và Viện Công tố nhân dân, tách hệ thống toà án nhân dân và hệ thống công tố khỏi Bộ Tư pháp, chuyển thành hai cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ. Để phát huy tinh thần chủ động của nhân dân, động viên nhân dân tích cực tham gia xây dựng miền Bắc, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Luật Công đoàn bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân. Trung ương Đảng Lao động Việt Nam công bố chính sách đối với trí thức (8-1957), đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh (8-1957). Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết về văn hoá, văn nghệ... Sau gần ba năm biên soạn, lấy ý kiến đóng góp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, ngày 31-12-1959, Hiến pháp mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được Quốc hội thông qua. Hiến pháp năm 1959 là đạo luật cơ bản, quy định tính chất, chế độ chính trị - kinh tế - xã hội của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thể hiện nội dung, định hướng, quyết tâm xây dựng, bảo vệ miền Bắc, đảm bảo cho miền Bắc trở thành cơ sở của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Tuy nhiên, do một số những lý do khách quan, chủ quan, về sự phân công giữa quyền lực nhân dân và quyền lực Nhà nước, Hiến pháp năm 1959 có sự thụt lùi so với Hiến pháp năm 1946, không có sự quy định rõ ràng về sự phân định, phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa hai loại quyền lực này và có xu hướng hợp nhất quyền lực Nhà nước với quyền lực nhân dân, tập trung quyền lực Nhà nước vào Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp đó, các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước và các cấp chính quyền từ Trung ương tới cơ sở về kinh tế, văn hoá, xã hội, về quyền tự do dân chủ, về quốc phòng, an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được ban hành. Việc ban hành các văn bản pháp luật đó góp phần tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân lao động trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội..., thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội. Khối đại đoàn kết toàn dân - nguồn sức mạnh của chính quyền dân chủ nhân dân tiếp tục được củng cố. Để xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tháng 9-1954, Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ rõ một trong những nhiệm vụ quan trọng là tranh thủ sự ủng hộ của công nhân, nông dân, trí thức cách mạng. Cần thường xuyên chăm lo tuyên truyền, giáo dục cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân hiểu rõ tình hình và nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, nêu cao ý thức cảnh giác, củng cố niềm tin và quyết tâm kháng chiến chống Mỹ, tăng cường khả năng định hướng về chính trị cho mọi người dân, trước hết là cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2026, 09:00:16 pm Thực hiện nhiệm vụ nói trên, tháng 9-1955, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc họp tại Hà Nội đã quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thay cho Mặt trận Liên Việt trước đây. Tuyên ngôn và Cương lĩnh của Mặt trận khẳng định đây là "mặt trận của tất cả những người Việt Nam yêu nước, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, xu hướng chính trị, thành phần xã hội miễn là tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ"1 (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tuyên ngôn, Cương lĩnh, Điều lệ và Nghị quyết của Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc, Mặt trận Tổ quốc xuất bản năm 1955, tr.30). Cương lĩnh của Mặt trận gồm 10 điểm, kêu gọi: Đồng bào toàn quốc, không phân biệt dân tộc, trai gái, nghề nghiệp, giàu nghèo, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, không phân biệt trước đây đã đứng về phe nào, hãy đoàn kết chặt chẽ để thực hiện sự nghiệp thiêng liêng là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Phát biểu tại buổi bế mạc Đại hội, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Muốn thực hiện cương lĩnh của mặt trận, thì chúng ta phải ra sức củng cố miền Bắc về mọi mặt, phải làm cho miền Bắc vững mạnh và tiến lên mãi"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 67). Sau khi ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xây dựng, củng cố và phát triển hệ thống tổ chức của mình (các ủy ban Mặt trận) từ Trung ương xuống tận cấp xã, tích cực vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ "ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Sđd, tr. 576), vì "miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới chắc"2 (Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Sđd, tr.67).
Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặc biệt quan tâm đến thành phần các dân tộc ít người, ban hành và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế văn hóa - xã hội miền núi. Khu tự trị Thái - Mèo (Khu tự trị Tây Bắc) và Khu tự trị Việt Bắc lần lượt được thành lập để thực hiện mục tiêu nói trên. Chữ Thái được thống nhất về cách viết, được lấy làm ngôn ngữ chính để dạy ở các trường trong Khu tự trị Thái - Mèo. Trong thư gửi đồng bào khu tự trị, Hồ Chí Minh giải thích: "Mục đích thành lập khu tự trị là để cho các dân tộc anh em và toàn khu cùng nhau tự quản lý công việc của mình, phát huy khả năng của mình để tiến bộ mau chóng về mọi mặt"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Sđd, tr.520). Tiếp đó, từ tháng 8-1959, các khu vực và tỉnh miền núi thực hiện cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển sản xuất kết hợp với hoàn thành cải cách dân chủ. Cuộc vận động đã thu được kết quả bước đầu, từng bước tạo điều kiện cho vùng núi phát triển, cải thiện một bước đời sống sinh hoạt của đồng bào các dân tộc vùng cao... Đối với vấn đề tôn giáo, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: Chính sách tôn giáo đúng hay không sẽ quan hệ rất lớn đến việc đoàn kết giáo dân; vì thế, Đảng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng tự do tín ngưỡng, không can thiệp vào hoạt động của tôn giáo ổn định giáo dân, tranh thủ đa số tín đồ. Đảng và Nhà nước chủ trương giáo dục cho cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân hiểu rõ và làm đúng chính sách tôn giáo, không can thiệp vào hoạt động tôn giáo, không xâm phạm đến tài sản và lợi ích hợp pháp của nhà thờ, nhà chùa. Trên cơ sở phân biệt rõ tín ngưỡng tôn giáo với việc lợi dụng tín ngưỡng đó, Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì thuyết phục đồng bào theo đạo tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng miền Bắc, kiên quyết trừng trị những lực lượng đội lốt tôn giáo, lợi dụng nhà thờ, nhà chùa để chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Đây là công tác phức tạp, khó khăn vì mặc cảm và tâm trạng cách biệt giữa người theo đạo và người không theo đạo vốn luôn tồn tại... Sau rất nhiều nỗ lực, các cấp chính quyền ở vùng có đông đồng bào theo đạo đã dần dần khắc phục được sự cách biệt đó, động viên được mọi người ra sức làm ăn xây dựng đời sống, góp phần xây dựng miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước. Bên cạnh đó, Đảng Lao động Việt Nam cũng chú trọng tăng cường vận động đoàn kết với Phật giáo, chủ trương thành lập Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam (1958), đoàn kết rộng rãi giới tăng ni, tu sĩ tiến bộ. Hội Phật giáo thống nhất có trách nhiệm "giáo dục, đoàn kết tăng ni; vận động tăng ni ủng hộ và tham gia thi hành các chính sách của Đảng và Chính phủ tham gia phong trào đấu tranh thống nhất nước nhà và bảo vệ hoà bình"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr.399). Để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố chính - quyền, liên minh công nông được tăng cường trên nền tảng chính trị - kinh tế - xã hội mới. Những biến động sâu rộng trong đời sống chính trị, kinh tế những năm sau giải phóng đưa lại sự thay đổi về kết cấu giai cấp trong xã hội miền Bắc. Giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trở thành chủ thể của chế độ xã hội mới. Trình độ giác ngộ chính trị, năng lực sản xuất, ý thức làm chủ, tinh thần cách mạng của công nhân, nông dân, trí thức ngày càng nâng cao - đó là một đảm bảo cho miền Bắc được xây dựng vững mạnh về chính trị. Đảng và Nhà nước thường xuyên chú trọng công tác giáo dục chính trị cho nhân dân, làm cho mọi người dân hiểu rõ tình hình, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, thấy rõ âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù. Qua đó nâng cao ý thức chính trị, củng cố sự đoàn kết nhất trí trong mọi tầng lớp nhân dân, động viên nhân dân giữ vững ý chí, quyết tâm kháng chiến. Ngay khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Đảng đã tổ chức nhiều cuộc vận động chính trị. Thông qua các cuộc vận động đó, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, phù hợp nguyện vọng và ý chí của nhân dân, được nhân dân đón nhận và thực hiện tự nguyện, tự giác. Mặt khác, Đảng cũng thường xuyên chăm lo giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ đảng viên của mình, kịp thời phát hiện để uốn nắn hoặc xử lý nghiêm khắc mọi biểu hiện xa rời lập trường, quan điểm của Đảng, xa rời quần chúng nhân dân của một số cán bộ, đảng viên làm cho cán bộ, đảng viên ngày càng gắn bó với nhân dân, gương mẫu và tiên phong trong lối sống, công tác và chiến đấu được nhân dân tin yêu và mến phục. Tinh thần đoàn kết quốc tế cũng được Đảng chú trọng giáo dục đến mọi tầng lớp nhân dân, làm cho mọi người hiểu rõ nhiệm vụ đối với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia. Miền Bắc không chỉ là hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam mà còn mang trên mình trọng trách hậu phương của cách mạng hai nước láng giềng. Chính nhờ có công tác giáo dục chính trị tốt cho nhân dân mà tình hình chính trị - an ninh miền Bắc được giữ vững. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2026, 09:01:32 pm 2- Về kinh tế, văn hoá - xã hội
Sự vững mạnh về chính trị vừa là điều kiện, vừa là kết quả của một chế độ kinh tế phát triển lành mạnh, cân đối. Cho nên, cùng với việc xây dựng miền Bắc vững mạnh về chính trị, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã đề ra và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh tế, văn hoá - xã hội ngắn hạn nhằm biến đổi sâu rộng kinh tế miền Bắc. Sau khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, Đảng, Nhà nước chủ trương dành khoảng thời gian ba năm (1955-1957) để phục hồi nền kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Những chính sách và biện pháp của Đảng, Nhà nước đưa ra thời kỳ này đã động viên được khí thế chiến thắng thành sức mạnh phục hồi kinh tế, ổn định sản xuất và đời sống trên miền Bắc; đã phát huy được mọi năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế; nhờ đó, những mục tiêu của kế hoạch đã được thực hiện. Mặc dù yếu tố kỹ thuật trong canh tác chưa có gì mới, nhưng nhờ phục hồi các công trình thủy lợi bị chiến tranh tàn phá, nhờ nỗ lực của người nông dân, nền nông nghiệp được khôi phục và có bước phát triển cả về diện tích, năng suất, chăn nuôi, nghề phụ. Sau ba năm, nông thôn miền Bắc một thời điêu tàn đang hồi sinh khởi sắc. Nạn đói từng bước được khắc phục. Đến cuối năm 1956, miền Bắc đã sản xuất được hơn 4 triệu tấn lương thực, vượt năm 1939 (năm cao nhất trước Chiến tranh thế giới thứ hai) là 2 triệu tấn. Trải qua thử lửa chiến tranh, phát huy ý chí tự lực tự cường, đội ngũ công nhân miền Bắc khắc phục thiếu thốn khó khăn duy trì và mở rộng sản xuất ở các xí nghiệp mới. Nhờ vậy, năm 1957, sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp đạt mức năm 1939; đưa giá trị sản lượng công nghiệp trong tổng giá trị sản lượng công nông nghiệp từ 1,5% (1954) lên 24% (1957), đáp ứng yêu cầu thiết yếu về hàng tiêu dùng của nhân dân. Trong 3 năm (1955-1957), lần lượt bốn tuyến đường sắt với 168 cầu, công được phục hồi, nối Thủ đô với các miền đất nước. Đường bộ, đường sông, cảng biển cũng đã lưu thông. Các tuyến điện thoại, điện báo đường thư và công văn từ Trung ương về địa phương và đường dây liên tỉnh, nội tỉnh được nối liền, phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo sản xuất, cải cách ruộng đất, chống cưỡng bức di cư, chống phỉ và các yêu cầu về quốc phòng, an ninh. Kết quả khôi phục kinh tế thúc đẩy sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế. Hai hệ thống giáo dục ở vùng tự do và vùng tạm chiếm trước đây, bây giờ được thống nhất thành hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm. Chăm lo đến việc học hành của con em nhân dân, các địa phương mở nhiều trường cấp I, cấp II, cấp III. Các trường học sinh miền Nam, các trường sư phạm miền núi cũng được xây dựng. Năm học 1956-1957, 65 vạn học sinh miền Bắc cắp sách tới trường, trong đó 60.000 con em các dân tộc ít người và 15.000 con em cán bộ miền Nam tập kết. Cùng với giáo dục phổ thông, các lớp bình dân học vụ được mở ra ở mọi địa phương, mọi công trường, xí nghiệp... Lần thứ hai trong lịch sử của chế độ dân chủ cộng hoà, "diệt dốt" trở thành phong trào quần chúng biểu hiện ý chí của một dân tộc không cam chịu thất học và đói nghèo. Ngoài ra, để nâng cao trình độ văn hoá cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên và nhân dân lao động, Nhà nước và chính quyền các cấp mở các lớp bổ túc văn hoá, lập các trường bổ túc công nông. Hệ thống các trường đại học, trung học chuyên nghiệp được tổ chức lại. Trong tuyển sinh, các trường chú trọng cơ cấu xã hội theo hướng tăng dần tỉ lệ học sinh xuất thân từ công nhân, nông dân, bộ đội, miền núi, phụ nữ... Năm học 1956-1957, toàn miền Bắc có 3.860 sinh viên đại học. Mạng lưới y tế bước đầu hình thành với 50 bệnh viện, 13 cơ sở điều dưỡng, 5.000 ban, phòng hoạt động ở các địa phương. Nhân viên y tế đi về các bản làng xa xôi, các vùng nông thôn hẻo lánh, khám chữa bệnh cho nhân dân, phát động phong trào "Vệ sinh yêu nước". Ba năm sau chiến tranh là khoảng thời gian ngắn. Trong khoảng thời gian đó, mặc dù vẫn còn nhiều gian khổ, phức tạp phải vượt qua để đưa miền Bắc trở thành hậu phương vững mạnh những với sự cố gắng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, tình hình bớt khó khăn gaý gắt. Chính trị ổn định, sản xuất phục hồi, đời sống văn hoá được cải thiện, giao lưu kinh tế, văn hoá giữa mọi miền đất nước được khuyến khích đã góp phần bồi đắp tình đoàn kết, gắn bó trong nhân dân. Kết thúc kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế, miền Bắc bước vào kế hoạch ba năm cải tạo và phát triển kinh tế (1958-1960). Trọng tâm của kế hoạch này là cải tạo các thành phần kinh tế tư nhân; thiết lập chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất. Nhờ làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong nhân dân, nhờ có biện pháp tổ chức thực hiện đúng nên sau ba năm, công cuộc cải tạo đã hoàn thành về cơ bản. 85,8% số hộ nông dân, 87,9% thợ thủ công vào hợp tác xã. 100% số hộ tư sản công nghiệp, 99% tư sản vận tải và 97,1% tư sản thương nghiệp đã được cải tạo bằng hình thức công tư hợp doanh và các hình thức khác. Năm vạn tiểu thương chuyển sang sản xuất. Kết quả cải tạo xã hội chủ nghĩa đã xoá bỏ về cơ bản chế độ người bóc lột người, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nhất là trong điều kiện đất nước có chiến tranh. Hợp tác xã đã đảm bảo những điều kiện cần thiết cả về kinh tế, chính trị, tinh thần cho những người tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Các chỉ tiêu khác về kinh tế, văn hoá, xã hội cũng được hoàn thành. Sức mua toàn xã hội từ năm 1955 đến năm 1960 tăng 70%, thu nhập quốc dân bình quân đầu người tăng gấp đôi. Miền Bắc căn bản đã xoá nạn mù chữ cho những người dưới 50 tuổi, số trường học, bệnh viện cũng tăng mạnh. Nạn thất nghiệp và nhiều tệ nạn xã hội khác do chế độ cũ để lại tiếp tục được khắc phục tích cực bằng các biện pháp hiệu quả. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2026, 09:03:07 pm Hoàn thành cơ bản công cuộc cải tạo nền kinh tế, thiết lập quan hệ sản xuất mới trong một thời gian tương đối ngắn là một thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, để giữ vững thành tựu đó cần có một khoảng thời gian dài hơn nữa, trong đó đòi hỏi phải có đường lối, chính sách, biện pháp đúng để biến đổi và phát triển sản xuất. Đường lối cơ bản để giải quyết nhiệm vụ này được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng đề ra; theo đó miền Bắc phải: "Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội". Cuộc cách mạng này gắn bó chặt chẽ với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước; đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà.
Theo phương hướng đó, từ năm 1960 đến năm 1965, miền Bắc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với nhiệm vụ cơ bản đặt ra là "xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa"1 (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 566). Khắp nơi trên miền Bắc, phong trào thi đua thực hiện các chỉ tiêu của kế hoạch diễn ra sôi nổi. Nhiều cuộc vận động lớn cũng được phát động trong công nghiệp, nông nghiệp, trong lực lượng vũ trang... Đến cuối năm 1965, các mục tiêu kinh tế cơ bản cũng được thực hiện. Giá trị sản lượng công nghiệp nặng đến năm 1965 đã tăng ba lần so với năm 1960; toàn miền Bắc có 88,8% số hộ nông dân vào sản xuất tập thể, 71,7% tổng số đơn vị sản xuất tập thể thuộc hợp tác xã nông nghiệp bậc cao. Giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh với việc xây dựng thêm nhiều trường mới, có chính sách ưu tiên đào tạo con em vùng cao, con em đồng bào miền Nam, nâng cao tỷ lệ học sinh nữ; kết hợp vừa đào tạo chính quy dài hạn vừa đào tạo tại chức; đào tạo trong nước là chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước bạn đê đưa học sinh đi học ở nước ngoài. Hệ thống y tế đã phát triển rộng khắp, nhiều loại dịch bệnh từng phổ biến ở miền Bắc căn bản được xoá bỏ. Mười năm sau ngày giải phóng, từ đổ nát của chiến tranh, nhân dân miền Bắc khắc phục trở ngại, xây dựng cuộc sống mới, nền kinh tế có bước tiến vững chắc với hai ngành kinh tế chính công - nông nghiệp và hai hình thức sở hữu bao trùm là quốc doanh và tập thể. Tháng 4-1965, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ quyết định tăng cường lực lượng yểm trợ của Mỹ từ 18.000 lên 20.000 quân sang Việt Nam, triển khai bốn tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ từ phòng giữ các căn cứ sang yểm trợ tấn công. Tháng 6-1965, máy bay Mỹ đe dọa vùng trời Hà Nội, Hải Phòng; quy mô và cường độ đánh phá miền Bắc gia tăng cùng với sự phát triển chiến tranh ở miền Nam. Sự việc Mỹ đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và tăng cường ném bom miền Bắc đã làm cho tình hình Đông Dương hết sức căng thẳng, chiến tranh Việt Nam được đẩy lên một nấc thang mới. Để ứng phó với tình hình, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tổ chức hai hội nghị - Hội nghị lần thứ 11 (3-1965) và Hội nghị lần thứ 12 (12-1965) khẳng định lại nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba đề ra. Các hội nghị nhấn mạnh: Đường lối và phương châm thực hiện các nhiệm vụ được nêu ra trong những văn kiện trước đây về cơ bản không thay đổi. Song, trong tình hình mới, "miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn, nhưng nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 108); mỗi miền phải đảm trách một chiến lược cách mạng với những nhiệm vụ khác nhau song nhiệm vụ của hai miền có quan hệ khăng khít, gắn bó hữu cơ. Đặc biệt, khi Mỹ càng đẩy mạnh chiến tranh, chiến tranh càng trở nên quyết liệt ở miền Nam thì nhiệm vụ của miền Bắc đối với miền Nam càng nặng nề và quan trọng. Để miền Bắc có thể vừa xây dựng kinh tế vừa chiến đấu phù hợp với tình hình cả nước đang có chiến tranh Đảng Lao động Việt Nam quyết định chuyển hướng tư tưởng và tổ chức, chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng đối với miền Bắc. Về kinh tế, trong nông nghiệp, Nhà nước chỉ đạo các địa phương thực hiện kế hoạch phân bố lại lực lượng lao động, đầu tư số vốn thích đáng để phát triển sản xuất chăn nuôi. Đồng thời, Nhà nước còn ban hành Điều lệ tóm tắt hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (4-1969), trong đó quy định rõ tính chất, nhiệm vụ của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, những nguyên tắc đảm bảo quyền làm chủ của xã viên. Nhờ có chính sách đúng đắn, kịp thời mà sản xuất nông nghiệp của miền Bắc trải qua sự ác liệt của chiến tranh phá hoại vẫn không ngừng được củng cố và phát triển. Cuối năm 1968, 94,9% hộ nông dân vào hợp tác xã. Hàng chục nghìn công nhân, cán bộ kỹ thuật được đào tạo để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nhiều địa phương năng suất lúa đã đạt trên 5 tấn/ha. Trong những năm 1966-1971, sản xuất nông nghiệp tăng 141,9% so với thời kỳ 1954-1957 và những năm 1972-1975 tăng 158,9%. Trong công nghiệp, Nhà nước cũng đề ra nhiều biện pháp để duy trì đẩy mạnh sản xuất theo phương châm "tích cực bảo vệ, duy trì và phát triển sản xuất". Những kho tàng, xí nghiệp được phân tán, sơ tán về những nơi an toàn để tiếp tục ổn định sản xuất. Nhà nước chủ trương đầu tư phát triển công nghiệp địa phương, chú trọng xây dựng các xí nghiệp vừa và nhỏ. Tổng số vốn đầu tư vào công nghiệp trong các năm 1965-1967 tăng gấp 33 lần so với tổng số vốn đầu tư trong ba năm trước đồ. Mạng lưới công nghiệp địa phương với các xí nghiệp quy mô nhỏ cũng được hình thành và bước đầu phát triển, sản xuất công nghiệp nhờ vậy mà không ngừng phát triển. Đặc biệt sản lượng công nghiệp địa phương ngày càng tăng. Năm 1965 chiếm 46,7% sản lượng công nghiệp thì đến năm 1971 chiếm 54,1%. Các lĩnh vực tài chính, ngân hàng cũng đạt được những thành tựu quan trọng. Văn hoá - giáo dục cũng ngày càng lớn mạnh. Năm 1965, miền Bắc có 60.000 học sinh các trường trung học và 24.000 sinh viên đại học, đến nàm 1975 con số tương ứng là 69.000 và 55.000. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2026, 09:04:30 pm 3. Về quân sự
Sau ngày Hiệp định Geneva được ký kết, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp và chỉ rõ: "Bất kỳ tư tưởng và hành động nào cho là đình chiến rồi thì mọi việc đều tốt đẹp, rồi bỏ rơi việc chuẩn bị chiến đấu, để cho tinh thần đấu tranh uể oải, lơ là việc xây dựng lực lượng vũ trang đều là sai lầm, nguy hiểm... Cho nên, tăng cường quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và toàn thể nhân dân"1 (Nghị quyết Bộ Chính trị (tháng 9-1954), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr. 29). Tháng 3-1957., Hội nghị lần thứ 12 (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhóm họp tại Hà Nội. Một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị là bàn về việc "tích cực xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng". Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhấn mạnh nhiệm vụ "tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước lên chính quy, hiện đại"2 (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, (tháng 3-1957); Văn kiện Đảng toàn tập, tập 18, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 195). Về xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, Trung ương Đảng chỉ rõ: - Thực hiện chính quy hoá, nhằm thống nhất quân đội về mọi mặt, chủ yếu là thống nhất chỉ huy, biên chế, huấn luyện, chế độ, kỷ luật, thích hợp với yêu cầu của chiến tranh hiện đại. - Thực hiện hiện đại hoá nhằm từng bước trang bị cho quân đội các loại vũ khí và phương tiện hiện đại, rèn luyện con người nắm vững khoa học - kỹ thuật hiện đại, đưa quân đội từ một quân đội đơn thuần bộ binh sang một quân đội gồm nhiều quân chủng, binh chủng. - Trong tình hình kinh tế của đất nước chưa phát triển, việc hiện đại hoá quân đội một phần quan trọng nhờ vào sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Trung ương Đảng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu của quân đội, làm cho quân đội dù ở trình độ nào, tình thế nào cũng luôn sẵn sàng chiến đấu. Trung ương Đảng chủ trương xây dựng lực lượng thường trực mạnh, có số lượng thích hợp và chất lượng cao, xây dựng lực lượng hậu bị hùng mạnh, phát triển đến phạm vi toàn dân, trên cơ sở thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự. Bên cạnh đó, Trung ương Đảng cũng chỉ rõ, trong khi quán triệt tư tưởng "tích cực xây dựng quân đội tiến dần từng bước vững chắc lên chính quy, hiện đại", cần phải tránh tư tưởng nóng vội, thoát ly thực tế, song hết sức cố gắng tranh thủ thời gian, vì đòi hỏi của tình hình lúc này là hết sức cấp bách, nhiệm vụ xây dựng quân đội rất khẩn trương, nặng nề. Cũng tại Hội nghị lần thứ 12 (3-1957), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phê chuẩn kế hoạch xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong 5 năm (1955-1959). Đây là kế hoạch xây dựng một lục quân chính quy, tương đối hiện đại, đặt những cơ sở đầu tiên cho việc xây dựng hai quân chủng Không quân và Hải quân và chuẩn bị điều kiện để tới kế hoạch sau sẽ hiện đại hoá quân đội lên một bước. Nội dung của kế hoạch này gồm những vấn đề chính như: Tổ chức biên chế lại quân đội về tổng số quân thường trực; cải tiến trang bị vũ khí một cách căn bản; đẩy mạnh huấn luyện quân đội một cách toàn diện; tăng cường công tác cán bộ; kiện toàn cơ quan tham mưu các cấp; xây dựng và nâng cao cơ sở vật chất trong quân đội; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội... Kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ nhất (1955-1959) đề ra nhiều công tác cụ thể, nhằm tăng cường phòng thủ và chuẩn bị chiến đấu cho quân đội. Trung tuần tháng 3-1958, Tổng Quân ủy quyết định điều chỉnh kế hoạch xây dựng quân đội, tăng thời gian thực hiện kế hoạch thêm một năm (đến năm 1960) cho phù hợp với kế hoạch ba năm cải tạo, phát triển kinh tế, văn hoá của Nhà nước (1958-1960), đẩy nhanh tiến độ xây dựng quân đội về mọi mặt. Thực hiện kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ nhất, Tổng Quân ủy tập trung chỉ đạo các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chuyển quân tập kết, khẩn trương chấn chỉnh một bước tổ chức, biên chế, cải tiến trang bị, bảo đảm cho quân đội sẵn sàng chiến đấu và chuẩn bị bước vào xây dựng chính quy, hiện đại. Sau khi lực lượng cách mạng miền Nam tập kết ra miền Bắc, quân số bộ đội khoảng 33 vạn, chủ yếu là bộ binh; biên chế, điều lệnh, trang bị chưa thống nhất. Trước thực tế đó, quân đội tiến hành chấn chỉnh một bước về mọi mặt. Các sư đoàn, trung đoàn bộ binh được thành lập. Bên cạnh đó, các đơn vị phòng thủ bờ biển, bộ đội biên phòng, bộ đội bảo vệ nội địa, bảo vệ giới tuyến cũng được thành lập. Các đơn vị binh chủng, hệ thống phân xưởng quốc phòng, kho tàng, viện quân y được biên chế và bố trí phù hợp với phương án phòng thủ miền Bắc. Tháng 2-1961, Bộ Chính trị họp nhận định về kết quả 5 năm xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại; thông qua nhiệm vụ quân sự 5 năm lần thứ hai (1961-1965) nhằm đẩy mạnh hdn nữa sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng toàn dân, đáp ứng đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới. Trên cơ sở đó, lực lượng vũ trang miền Bắc được xây dựng, phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Các sư đoàn bộ binh được biên chế đủ quân số và trang bị. Tháng 10-1962, bộ đội phòng không và không quân hợp nhất thành Quân chủng Phòng không - Không quân gồm 12 trung đoàn, 17 tiểu đoàn. Hệ thống rađa triển khai thành mạng trinh sát cảnh giới phòng không quốc gia, một số sân bay được nâng cấp hoặc xây dựng mới. Lực lượng hải quân xây dựng bốn tiểu đoàn tàu ven biển làm nhiệm vụ tuần tiễu, vận tải, săn ngầm; một số đơn vị được bố trí ở các trọng điểm. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 (1965) đã ra quyết nghị về các vấn đề xây dựng quân đội nhân dân, củng cố quốc phòng, thông qua kế hoạch xây dựng quân đội tiến lên chính quy và tương đối hiện đại. Thực hiện kế hoạch này, quân đội tiến hành giảm tổng quân số đi đối với nâng cao chất lượng toàn diện của bộ đội tập trung, tận dụng khả năng xây dựng kinh tế, xây dựng các công trình quân sự và đẩy mạnh công tác tổng kết nghiên cứu khoa học quân sự. Năm 1965, gần 290.000 thanh niên tình nguyện gia nhập quân đội, trong đó, tháng 5-1965, đã có tới 150.000 người. Những tháng cuối năm 1965, hàng chục nghìn thanh niên và quân nhân chuyển ngành hoặc phục viên được động viên vào quân đội, hàng chục nghìn người khác được gọi vào lực lượng thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến. Đến cuối năm 1965, khối bộ đội chủ lực trên miền Bắc tăng từ 195.000 lên 400.000 quân, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần các cấp trong toàn quân cũng được chấn chỉnh, sắp xếp theo biên chế mới nhằm nâng cao hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy. Một số quân chủng, binh chủng mới lần lượt ra đời, các quân chủng, binh chủng cũng tăng gấp ba lần so với một năm trước đó. Từ chỗ bộ binh chiếm ưu thế tuyệt đối về số lượng, đến năm 1960, cơ cấu, biên chế quân đội được điều chỉnh căn bản. Tỉ lệ giữa bộ binh và các binh chủng kỹ thuật xấp xỉ nhau: 51/49%. Riêng Quân chủng Phòng không - Không quân, những tháng năm ấy, đã phát triển vượt bậc - không chỉ có pháo phòng không mà còn có các binh chủng tên lửa đất đối không, rađa cảnh giới, không quân tiêm kích. Nếu năm 1964, lực lượng phòng không miền Bắc chỉ có 15 trung đoàn và 14 tiểu đoàn pháo cao xạ, một trung đoàn không quân tiêm kích, hai trung đoàn rađa, thì từ năm 1965 đến năm 1967, con số đó tăng lên 33 trung đoàn và 66 tiểu đoàn cao xạ, 10 trung đoàn tên lửa đất đối không, hai trung đoàn không quân tiêm kích, bốn trung đoàn và một tiểu đoàn rađa. Đến năm 1972, số trung đoàn, tiểu đoàn pháo phòng không của bộ đội chủ lực tăng gấp 5 lần đến 7 lần so với năm 1965. Bên cạnh bộ đội phòng không chủ lực, lực lượng phòng không của bộ đội địa phương cũng phát triển với tốc độ nhanh, được tổ chức thành nhiều tiểu đoàn, nhiều đại đội pháo phòng không 12,7mm, 14,5mm, 37mm, 100mm; dân quân tự vệ hình thành hàng nghìn đơn vị trực chiến, tham gia phốỉ hợp chiến đấu với bộ đội. Cùng với lực lượng phòng không, lực lượng phòng thủ biển cũng có bước phát triển mạnh mẽ, bao gồm các đơn vị pháo binh bờ biển của chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ. Đến năm 1972, pháo binh của bộ đội chủ lực có 12 trung đoàn, một tiểu đoàn, bốn đại đội; của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ lên tới 500 đơn vị và được trang bị các loại pháo bắn biển nhiều gấp 17 lần so với năm 1964. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2026, 09:05:21 pm Đến cuối 1965, bộ đội chủ lực miền Bắc đạt 27 vạn; bộ đội địa phương và dân quân du kích tăng nhanh, vũ khí trang bị đều được đổi mới nhờ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, hoả lực, sức cơ động của bộ đội do vậy được tăng cường. 37.250 cán bộ từ trung đội trở lên bao gồm cán bộ chính trị, quân sự, hậu cần các quân chủng, binh chủng được bổ túc hoặc đào tạo chính quy ở các trường quân sự trong nước hoặc nước ngoài. Đó là một đảm bảo quan trọng để thực hiện nhiệm vụ xây dựng quân đội tiến lên chính quy.
Thực hiện nhiệm vụ này, việc huấn luyện quân sự ở các đơn vị đi vào nền nếp với hội dung sát thực và phương pháp ngày càng được cải tiến. Thông qua huấn luyện, bản lĩnh chiến đấu, trình độ kỹ thuật, chiến thuật và trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ, chiến sĩ được nâng cao. Khả năng chiến đấu hiệp đồng quân chủng, binh chủng quy mô cấp trung đoàn, sư đoàn cũng được dự tính và triển khai huấn luyện. Hệ thống điều lệnh quân đội được tổ chức biên soạn và thực hiện nhằm đưa bộ đội vào nếp sống chính quy, tăng cường sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao của quân đội. Xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, xây dựng quân đội trở thành một quân đội cách mạng nói riêng, Đảng Lao động Việt Nam đặc biệt coi trọng việc xây dựng về chính trị, xem đó là yếu tố quyết định bản lĩnh và sức mạnh của quân đội. Vì vậy, song song với các mặt công tác khác, Đảng đẩy mạnh công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Từ năm 1957, Đại hội Đảng bộ ở các cấp tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn bắt đầu được tiến hành thường xuyên theo định kỳ nhằm thực hiện sự lãnh đạo toàn điện theo chế độ tập trung dân chủ của các cấp ủy Đảng trong lực lượng vũ trang. Tháng 11-1958, Hội nghị chính ủy và chủ nhiệm chính trị toàn quân được triệu tập. Hội nghị đã bàn bạc và quyết nghị về tính chất, nhiệm vụ, nội dung công tác đảng, công tác chính trị, chức trách và quyền hạn của các cơ quan chính trị trong các đơn vị. Tổng cục Chính trị chỉ đạo toàn quân mở nhiều đợt học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, thời kỳ này, các đơn vị thực hiện cuộc vận động lớn nhằm "nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa", "rèn luyện lập trường giai cấp vô sản cho đảng viên", "xây dựng chi bộ vững mạnh". Hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị và bầu không khí chính trị - xã hội ở miền Bắc cũng như sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên đã cổ vũ, lôi cuốn mạnh mẽ thanh niên trong quân đội; thôi thúc họ phấn đấu trong công tác, học tập, rèn luyện và chiến đấu. Trên cơ sở đó, hàng chục nghìn đoàn viên, chiến sĩ qua thử thách đã gia nhập hàng ngũ của Đảng, đưa tỉ lệ đảng viên trong quân đội lên đến 40% năm 1960. Đường lối quân sự của Đảng Lao động Việt Nam là đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Vì vậy, Đảng Lao động Việt Nam thường xuyên quan tâm đến việc nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, ý thức quốc phòng trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu niên. Nhà trường, bên cạnh giáo dục cho học sinh về kiến thức, khoa học, luôn luôn chú trọng bồi đắp tình yêu quê hương đất nước, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người trước vận mệnh của dân tộc. Đảng và Nhà nước đã phát động nhiều phòng trào thi đua, mở nhiều cuộc vận động lớn, tổ chức cho các tầng lớp nhân dân học tập chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng... nâng cao sự thống nhất về chính trị và tinh thần trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Trên cơ sở đó, Nhà nước huy động nhân dân tham gia đóng góp vào việc xây dựng các công trình quân sự, các hệ thống phòng thủ ven biển, vùng giới tuyến, phục hồi và xây dựng mới nhiều tuyến giao thông có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế và quốc phòng. Để củng cố hơn nữa nền quốc phòng toàn dân, căn cứ vào thế bố trí chiến lược chung, miền Bắc được chia thành các quân khu. Bộ Tư lệnh Quân khu là cơ quan quân sự cao nhất, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng, xây dựng tiềm lực quân sự trên địa bàn quân khu. Đảng Lao động Việt Nam chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Kết quả sự kết hợp giữa hai lĩnh vực này, các nông trường, lâm trường quốc doanh và quân đội, các tập đoàn sản xuất của cán bộ tập kết ra đời. Các cơ sở đó được bố trí trên những địa bàn có ý nghĩa chiến lược về chính trị, kinh tế và quân sự. Trên thực tế, từ năm 1965, nhiều nông - lâm trường trở thành địa bàn đóng quân, đảm bảo hành quân... cho các đơn vị chủ lực vào miền Nam chiến đấu. Ngày 31-3-1959, Quốc hội thông qua Luật Nghĩa vụ quân sự. Từ chế độ tòng quân tình nguyện, chuyển sang chế độ nghĩa vụ quân sự là bước phát triển mới của sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Nó cho phép tăng cường lực lượng hậu bị, giam bớt quân số thường trực, tiết kiệm tài lực để tập trung cho công cuộc kiến thiết miền Bắc. Ngoài ra, chế độ nghĩa vụ quân sự còn tạo điều kiện phổ cập tri thức quân sự, nâng cao ý thức quốc phòng trong xã hội, động viên sự tham gia đóng góp của toàn dân vào sự nghiệp củng cố quốc phòng. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2026, 09:06:20 pm 4- Về đối ngoại
Trong bối cảnh quốc tế rất phức tạp, đất nước đứng trước muôn vàn những khó khăn, thử thách, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là "xây dựng và phát triển quan hệ ngoại giao với bất cứ nước nào dựa theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên đểu có lợi và tôn trọng lãnh thổ, chủ quyền của nhau"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr.304); theo đó, nhiệm vụ đối ngoại phải góp phần "chống chính sách chiến tranh của đế quốc Mỹ, chống Mỹ tổ chức khối xâm lược Đông Nam Á, củng cố hoà bình ở Đông Dương, bảo vệ hoà bình Đông Nam Á và toàn thế giới"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr.304). Giữ vững độc lập, tự chủ, ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ quốc tế để đẩy mạnh cuộc kháng chiến gắn với không ngừng tăng cường đoàn kết quốc tế, trước hết là đối với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc và hai nước láng giềng là Lào và Campuchia. Đối với Cách mạng Lào và Campuchia, Đảng, Nhà nước Việt Nam chủ trương giúp đỡ trên tinh thần quốc tế. Đảng và Nhà nước Việt Nam thường xuyên giáo dục cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân hiểu rõ tầm quan trọng của liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương, đề phòng tư tưởng hẹp hòi hoặc chủ nghĩa sôvanh nước lớn. Suốt những năm chống Mỹ, nhất là từ năm 1960 trở đi, miền Bắc không chỉ là hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam mà còn là hậu phương của cách mạng Lào, Campuchia. Những người lính tình nguyện và cán bộ chiến đấu, công tác ở vùng giải phóng Lào hay Campuchia đều thấu suốt đường lối, quan điểm trên đây của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chính vì vậy, cán bộ và chiến sĩ Việt Nam được nhân dân Lào, Campuchia tận tình ủng hộ, giúp đỡ coi như chính con em của mình. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản, Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì giải thích, thuyết phục, để các nước này hiểu rõ và hiểu đúng chủ trương chiến lược, khả năng chiến thắng và sách lược của Việt Nam trong tiến hành chiến tranh, qua đó, tranh thủ sự đồng tình, giúp đỡ tối đa nhất có thể. Trước những biện pháp vận động ngoại giao đa phương, song phương của Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đẩy mạnh tuyên truyền đối ngoại, làm cho nhân dân và chính phủ nhiều nước - trước hết là các dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh đồng tình, ủng hộ sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam, phản đối chính sách của Mỹ ở miền Nam Việt Nam và Đông Dương. Đối với nhân dân tiến bộ Mỹ, Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương làm cho họ ngày càng hiểu rõ lập trường và thiện chí của Việt Nam, thấy được tính chất phản tiến bộ của cuộc chiến tranh mà các đời Tổng thống Mỹ theo đuổi ở Việt Nam. Tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, những thắng lợi ở hai miền Nam - Bắc, sự vững chắc của hậu phương chiến lược trước thử thách ác liệt của chiến tranh cùng đường lối đối ngoại trên đây của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm thất bại âm mưu và nhiều thủ đoạn ngoại giao của Mỹ, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ quốc tế ngày càng rộng rãi, to lớn. Trên thực tế trong kháng chiến chống Mỹ, mặt trận đoàn kết quốc tế ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam đà hình thành, Toà án quốc tế Bertrand Russell (Béctơrăng Rútxen) được thành lập và tiến hành các phiên họp xét xử tội ác của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Chính phủ, các nhà hoạt động chính trị, xã hội và dư luận nhiều nước, kể cả một số đồng minh chiến lược của Mỹ đã lên tiếng phê phán cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và Đông Dương... Về mặt đó, hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ không chỉ là miền Bắc. Hậu phương đó còn là sự đồng tình, cổ vũ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của dư luận tiến bộ và chính phủ nhiều nước trên thế giới. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2026, 09:07:57 pm II- BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC
1- Bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc luôn luôn phải đối phó với âm mưu và thủ đoạn chống phá của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên tất cả các mặt, trong đó chống phá bằng biện pháp quân sự ngày càng trở nên ác liệt theo mức độ gia tăng của chiến tranh ở chiến trường chính miền Nam. Theo quan điểm của Mỹ, nếu chặn được luồng tiếp viện từ miền Bắc vào Nam thì cũng có nghĩa là cuộc chiến tranh ở miền Nam phần thắng thuộc về phía Mỹ. Vì vậy, Mỹ ngày càng tăng cường tiến hành chiến tranh chống phá miền Bắc hòng đè bẹp ý chí chiến đấu, làm kiệt quệ miền Bắc. Miền Bắc chiến đấu chống âm mưu và hành động phá hoại của Mỹ, nhất là qua hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân là tiến hành một cuộc đấu tranh hết sức cam go, quyết liệt. Từ năm 1954 đến năm 1964, Mỹ tiến hành nhiều hoạt động chống phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (tung biệt kích, thám báo vào miền Bắc, móc nối với các phần tử phản động nằm vùng hoạt động gián điệp, xây dựng chương trình tuyển mộ người Việt Nam thành lập các đội đánh mìn hoạt động ở vùng ven biển...). Từ ngày 5-8-1964, Mỹ chính thức tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Việt Nam. Tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đó, Mỹ muốn hủy hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng, ngăn chặn nguồn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam; bẻ gãy ý chí kháng chiến của nhân dân Việt Nam, nâng đỡ tinh thần của quân đội Sài Gòn. Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh này một lực lượng không quân và hải quân rất lớn, gồm hàng nghìn máy bay tối tân thuộc 50 loại khác nhau, kể cả những loại mới nhất như B.52, F.111 và với các loại vũ khí hiện đại. Không quân, hải quân Mỹ tập trung đánh phá các mục tiêu quân sự, các đầu mối giao thông, nhà máy, xí nghiệp, các công trình thủy lợi, khu đông dân; đánh cả vào trường học, nhà trẻ, bệnh viện... Máy bay, tàu chiến Mỹ đánh phá liên tục, khắp mọi nơi, mọi lúc, trong mọi thời tiết với cường độ ngày càng tăng. Trung bình mỗi ngày có 300 lần chiếc máy bay đi gây tội ác, với 1.600 tấn bom đạn trút xuống các làng mạc, phố xá. Theo tính toán của một số tác giả người Mỹ, chỉ tính đến năm 1967 thôi, thì không lực Hoa Kỳ cũng đã kịp ném xuống miền Bắc Việt Nam 1.630.000 tấn bom đạn các loại, nghĩa là nhiều hơn khối lượng bom đạn mà Mỹ ném xuống chiến trường châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai và gấp đôi số bom ném xuống Triều Tiên, gấp ba lần số bom ném xuống chiến trường Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. "Cái thác bom giội xuống Việt Nam đạt tới mức cứ mỗi dặm vuông hứng chịu tới 12 tấn ở cả miền Bắc và miền Nam, và khoảng 100 pound (50kg) chia cho mỗi đầu người dân Việt, kể cả đàn bà và trẻ con mà rất nhiều người trong số họ không nặng tới trọng lượng đó - kể cả máu, thịt và xương". Lời nhận xét trên đây của tác giả Don Oberdoifer (D. Ôbơđoiphơ), quả thật đã được chứng tỏ trên thực tế. Cơ quan phân tích Cục Tình báo Trung ương Mỹ ước tính, chiến dịch ném bom miền Bắc của Mỹ đã cướp đi sinh mạng 13.000 người dân trong năm 1965, 24.000 người trong năm 1966, khoảng 29.000 người trong năm 1967 và con số đó tăng theo nhịp độ của các bước "leo thang". Hầu hết toàn bộ hệ thống giao thông, cầu, đường, nhà ga, kho bãi, bệnh viện, trường học, nhiều cơ sở kinh tế, công trình công cộng, hệ thống thủy lợi như đê điều, đập nước bị bom đạn Mỹ tàn phá nặng nề; trong đó có các cơ sở y tế, hàng trăm nhà thờ và chùa chiền, phá vỡ nhiều công trình giao thông, cơ sở kinh tế quan trọng mà phải mất nhiều năm miền Bắc mới khôi phục được. Bom đạn Mỹ đã tàn phá 4.000/5.780 xã, 28/30 tỉnh lỵ, 350 bệnh viện, 1.300 trường học và các hệ thống giao thông, công trình thủy lợi. Do xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân, dự đoán chính xác âm mưu của Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, quân dân miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giữ vững sản xuất và không ngừng tăng cường tiềm lực chi viện cho chiến trường miền Nam. Miền Bắc đã xây dựng được lực lượng công an và dân quân tự vệ lớn mạnh. Năm 1965, lực lượng này có 1.670.785 người, đến năm 1969 lên đến 2.202.216 và đến năm 1975 là 2.051.865 người. Bên cạnh lực lượng công an và dân quân tự vệ, miền Bắc còn xây dựng và tăng cường được lực lượng biên phòng. Tại các vùng biên giới, hải đảo, giới tuyến quân sự và những vị trí có tầm quan trọng về an ninh, hệ thống đồn canh, tram kiểm soát, các công trình phòng thủ được củng cố. Tháng 6-1961, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc tập trung cải tạo những phần tử có hoạt động nguy hại cho trật tự trị an. Tháng 6-1962, Hội đồng Chính phủ ra nghị định quy định rõ những vấn đề thuộc về an ninh bí mật quốc gia và trách nhiệm của mọi công dân trong việc giữ gìn, bảo vệ bí mật Nhà nước. Những văn bản đó đã góp phần kịp thời vào việc trấn áp những lực lượng phản động để giữ vững an ninh và trật tự an toàn xã hội. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2026, 09:09:14 pm Từ đầu năm 1964, trước âm mưu tăng cường và mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ, Hội nghị phòng không nhân dân toàn miền Bắc được triệu tập. Hội nghị bàn biện pháp triển khai và tăng cường hệ thống phòng không nhân dân ba thứ quân, kế hoạch sơ tán nhân dân khỏi những vùng trọng điểm. Tiếp theo đó, tháng 3-1964, Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt tại Hà Nội nhằm đoàn kết toàn dân giữ vững ý chí chiến đấu, kêu gọi nhân dân miền Bắc mỗi người "phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho miền Nam ruột thịt". Tháng 6-1964, Bộ Chính trị ra chỉ thị về tăng cường công tác phòng không, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, kết hợp mọi biện pháp đánh địch bằng mọi thứ súng, trong đó lấy bộ đội phòng không làm nòng cốt.
Thực hiện chủ trương đó, quân và dân miền Bắc tích cực chuẩn bị mọi mặt. Lực lượng vũ trang gấp rút chấn chỉnh biên chế, tổ chức, tăng cường về số lượng. Năm 1965, gần 290.000 thanh niên tình nguyện gia nhập quân đội. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, 68.874 thanh niên và quân nhân chuyển ngành hoặc phục viên được tuyển vào quân đội, hàng chục nghìn người khác được gọi vào thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến. So với đầu năm, đến cuối năm 1965, khối bộ đội chủ lực miền Bắc tăng gấp hai lần - từ 195.000 quân lên 400.000 quân. Các binh chủng, quân chủng cũng tăng nhanh về lực lượng, tăng cường về vũ khí, trang bị. Đến cuối năm 1965, quân số các quân chủng, binh chủng tăng gấp ba lần so với năm 1964, riêng Quân chủng Phòng không - Không quân, nhiều đơn vị được gấp rút xây dựng, trong đó có các đơn vị tên lửa phòng không, pháo phòng không, rađa cảnh giới, không quân tiêm kích. Bên cạnh lực lượng bộ đội phòng không chủ lực, lực lượng bộ đội phòng không các địa phương cũng phát triển với tốc độ nhanh, tổ chức thành nhiều tiểu đoàn, nhiều đại đội; dân quân, tự vệ hình thành hàng nghìn đơn vị trực chiến. Dân quân, tự vệ là lực lượng nòng cốt phát triển phong trào toàn dân bắn máy bay và tàu chiến Mỹ, làm công tác phòng không nhân dân, bảo đảm giao thông vận tải, bảo vệ trị an, xung kích trong sản xuất ở những địa bàn đối phương thường xuyên đánh phá ác liệt... Vùng ven biển, lực lượng phòng thủ bao gồm các đơn vị bờ đối biển của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ nhanh chóng được tăng cường. Ngoài ra, ở các làng xã vùng ven biển, hàng trăm đội tuần tra được tổ chức, tăng cường canh gác, kịp thời phát hiện và đập tan mọi hành động đột nhập, phá hoại của biệt kích, thám báo. Các lực lượng vận tải và bảo đảm giao thông như công binh, vận tải quân sự, vận tải Nhà nước, vận tải nhân dân..., theo nhịp độ gia tăng của cuộc chiến tranh cũng ngày càng lớn mạnh. Quân chủng Phòng không - Không quân hoàn chỉnh phương án chiến đấu, triển khai lực lượng theo hướng tập trung hoả lực bảo vệ các mục tiêu quan trọng. Quân chủng Hải quân từ tháng 7-1964 chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Các quân chủng, binh chủng khác cũng gấp rút hình thành phương án chiến đấu, đảm bảo giao thông trong điều kiện địch đánh ra miển Bắc. Các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với công an vũ trang, dân quân tự vệ chuẩn bị triển khai theo kế hoạch phòng thủ. Trong nội địa, các binh đoàn chủ lực tập kết tại những khu vực quy định, sẵn sàng cơ động chiến đấu ở những hướng cần thiết. Toàn bộ lực lượng phòng không, phòng thủ biển được bố trí thành thế trận chiến tranh nhân dân, vừa đánh địch rộng khắp vừa tập trung hoả lực mạnh bảo vệ các khu vực mục tiêu trọng điểm. Thế trận đó cho phép quân dân miền Bắc đánh địch rộng khắp, liên tục ở mọi nơi, mọi lúc và sáng tạo nhiều cách đánh mưu trí, táo bạo, hiệu quả cao, vô hiệu hóa được nhiều thủ đoạn đánh phá cũng như nhiều loại vũ khí, khí tài hiện đại của máy bay, tàu chiến Mỹ. Tháng 1-1965, Hội đồng Quốc phòng họp đề ra nhiệm vụ và phương hướng công tác quốc phòng cho miền Bắc trước mắt là tăng cường công tác phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu; ra sức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; tích cực xây dựng và củng cố miền Bắc về mọi mặt. Như vậy cuối năm 1964, đầu năm 1965, miền Bắc đã chuẩn bị một bước rất cơ bản, ở vào tư thế sẵn sàng đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Tháng 3 và tiếp đó là tháng 12-1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ 11 và lần thứ 12, ra quyết định chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời chiến nhằm bảo đảm cho miền Bắc tiếp tục đi lên trong điều kiện có chiến tranh và đảm bảo cho việc chi viện vào chiến trường miền Nam, hạn chế mức thấp nhất những thiệt hại do cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ gây ra. Thực hiện nhiệm vụ đó, các cơ quan Đảng, Nhà nước gấp rút chân chỉnh, sắp xếp kiện toàn về tổ chức và lề lối làm việc, thực hiện đúng chức năng, giản tiện hoá các thủ tục hành chính, kịp thời giải quyết các vấn đề cấp thiết đặt ra. Mặt trận Tổ quốc tiếp tục được củng cố, mở rộng trên cơ sở khối liên minh công nông vững chắc. Các tổ chức quần chúng phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều tầng lớp nhân dân, các thành phần xã hội tham gia. Hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên, Công đoàn, Hội Phụ nữ... đã tập hợp và động viên quần chúng nhân dân thực hiện đầy đủ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua chiến đấu và công tác, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày, góp phần ổn định tình hình hậu phương và động viên những người ra trận. Trong khi công cuộc xây dựng miền Bắc càng có bước phát triển, thì cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ ngày càng được đẩy mạnh cả về quy mô và cường độ đánh phá. Do luôn nắm thế chủ động, phát triển cuộc chiến tranh nhân dân toàn diện, Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lãnh đạo quân và dân miền Bắc đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Ba, 2026, 09:10:04 pm Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (từ 5-8-1964 đến 1-11-1968), từ khắp nơi trên miền Bắc, các phong trào "ba sẵn sàng", "ba đảm đang", "cử người đi đánh Mỹ", "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người"... dấy lên mạnh mẽ, sôi nổi và rộng khắp ở mọi địa phương. Với quyết tâm cao, cơ cấu tổ chức, bố trí lực lượng và thế trận hợp lý; với vũ khí, trang thiết bị, phương tiện bảo đảm ngày càng được cải tiến và tăng cường; với nghị lực và sức sáng tạo được phát huy cao độ của con người Việt Nam, lực lượng phòng không, lực lượng phòng thủ biển và lực lượng bảo đảm giao thông vận tải ba thứ quân ở miền Bắc thực sự là nòng cốt phát động toàn dân tham gia chống chiến tranh phá hoại. Vì vậy, suốt những năm chiến tranh, phong trào toàn dân bắn máy bay, tàu chiến Mỹ bằng mọi thứ vũ khí, ở mọi nơi và trong mọi lúc phát triển rộng khắp các địa phương. Tự vệ các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, công trình; dân quân các bản làng, xóm thôn đều tổ chức các tổ bắn máy bay để vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Khắp nơi các khẩu hiệu "Tay cày, tay súng", ''Tay búa, tay súng'' trở thành phương châm hành động của giai cấp công nhân và nông dân...
Bên cạnh phong trào bắn máy bay và tàu chiến Mỹ, các địa phương còn phát động phong trào toàn dân tham gia bảo đảm giao thông vận tải, toàn dân giúp đỡ bộ đội, phục vụ chiến đấu, toàn dân làm công tác phòng không. Các đội thuyền nan, bè, mảng, xe thồ của nhân dân với phương thức vận tải thô sơ nhưng phù hợp, ngày đêm bền bỉ vận chuyển hàng hoá qua những vùng trọng điểm đối phương thường xuyên đánh phá. Chỉ riêng việc phục vụ chiến đấu như tiếp đạn, kéo pháo, đào đắp công sự, cứu chữa và chăm sóc thương binh..., những năm tháng chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, nhân dân miền Bắc đã đóng góp hàng triệu ngày công. Tính ra mỗi ngày, trên miền Bắc, có tới 92.000 lao động theo nghĩa vụ thời chiến chiếm tới 10,5% số nhân khẩu trong độ tuổi lao động của miền Bắc tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trong điều kiện miền Bắc phải liên tục động viên thanh niên vào lực lượng vũ trang, vào thanh niên xung phong; trên ruộng đồng, trong nhà máy, lao động nữ là chủ yếu. Những con số trên phản ánh những nỗ lực cao độ của hậu phương lớn, chứng tỏ sự tham gia tích cực, rộng rãi và hiệu quả của nhân dân, tạo ra lực lượng vật chất và tinh thần to lớn, góp phần quan trọng bảo đảm cho miền Bắc có đủ sức mạnh đương đầu, đánh trả liên tục và có hiệu quả nhiều thủ đoạn đánh phá, vô hiệu hoá nhiều loại vũ khí hiện đại của Mỹ. Vì thế, dù chiến tranh diễn ra ngày càng khốc liệt, tác động lên toàn bộ đời sống văn hoá, kinh tế, xã hội... nhưng miền Bắc vẫn vững vàng trong lửa đạn, ngẩng cao đầu đánh Mỹ, trừng trị đích đáng lực lượng không quân và hải quân Hoa Kỳ trên bầu trời và vùng biển. Trong cuộc chiến đấu đó, quân và dân miền Bắc đã kết hợp chặt chẽ phương thức tác chiến tại chỗ và rộng khắp của lực lượng phòng không, phòng thủ biển của cả ba thứ quân với phương thức tác chiến hiệp đồng binh chủng - chủ yếu là Quân chủng Phòng không - Không quân. Một sự kết hợp như vậy cho phép vận dụng và sáng tạo nhiều cách đánh độc đáo phù hợp với con người Việt Nam, điều kiện Việt Nam, tạo nên lưới lửa phòng không, phòng thủ liền mạch, dày đặc, rộng khắp và đầy hiệu lực. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ thừa nhận: "Trong chiến dịch đánh phá bằng không quân vào các khu vực được bảo vệ dày đặc ở miền Bắc Việt Nam, cứ mỗi lần xuất kích, Mỹ mất một phi công". Báo Mỹ Người hướng dẫn khoa học đạo Thiên Chúa số ra ngày 22-7-1967 xác nhận rằng: "Trong khi đánh nhau với pháo bờ biển miền Bắc Việt Nam, các tàu chiến Mỹ đã gặp phải sự chống trả ngày càng có hiệu lực. Các tàu khu trục và tuần dương phải chạy nhanh qua vùng nguy hiểm để bắn vào mục tiêu trên bờ". Còn như những nỗ lực chặn cắt luồng tiếp tế từ ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam của không quân và hải quân Mỹ, cũng không mang lại hiệu quả như phía Mỹ trông đợi. Tất cả những thực tế đó, không phải sau này mà ngay từ những năm đầu chiến tranh phá hoại, giới chức cao cấp Mỹ đã nhận thấy rằng: "Không một khối lượng bom đạn nào ném xuống miền Bắc - trừ phi có một sự hủy diệt mang tính diệt chủng, điều mà không một ai tính tới, mới có thể chấm dứt nổi cuộc chiến tranh" (thừa nhận của Mc Namara (M. Namara) trong cuốn: Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam), vả chăng, như chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara trong Bị vong lục gửi lên Tổng thống Mỹ B. Johnson (B. Giônxơn) ngày 15-9-1967 mà ở đó, ông cho rằng: "Hình ảnh một siêu cường lớn nhất thế giới cứ mỗi tuần lại giết hại hoặc làm bị thương 1.000 dân thường trong khi tìm cách khuất phục một dân tộc bé nhỏ, lạc hậu vì một vấn đề mà giá trị của nó đang bị tranh cãi sôi nổi - hình ảnh ấy không đẹp đẽ gì". Trong bốn năm (1964-1968), lưới lửa phòng không miền Bắc bắn rơi 3.243 máy bay (trong đó có cả máy bay B.52 và F.111), bắn cháy, bắn chìm 143 tàu chiến Mỹ. Sản xuất, về cơ bản không bị ngừng trệ mà tiếp tục được duy trì, hơn nữa trên một số mặt như năng suất lúa, kinh tế địa phương... còn có bước phát triển. Đời sống nhân dân, kể cả vùng tuyến lửa Khu 4, không bị đảo lộn lớn. Dưới bom đạn đánh phá của Mỹ, học sinh vẫn mũ rơm đội đầu đến trường, ngày đêm lên lớp. Gian khổ, thiếu thốn, mất mát, hy sinh, nhưng phong trào "Tiếng hát át tiếng bom" xuất hiện và phát triển khắp nơi trên mọi nẻo đường chống chiến tranh. Giữa những ngày Mỹ leo thang đánh phá, nhân dân Việt Nam vẫn tổ chức trọng thể lễ mít tinh 200 năm ngày sinh của Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Trên mặt trận bảo đảm giao thông, mặc dù toàn bộ hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy, cầu công, bến cảng, kho tàng thường xuyên bị đánh phá, bị uy hiếp nhưng nhịp độ và khối lượng vận chuyển vẫn không ngừng tăng lên, đáp ứng kịp thời, liên tục và ngày càng đầy đủ yêu cầu của cuộc chiến đấu trên hai miền Nam, Bắc. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tư, 2026, 08:22:01 pm Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần hai (từ 6-4-1972 đến 15-1-1973), các lực lượng vũ trang được tăng cường về số lượng và chất lượng theo yêu cầu nhiệm vụ và quy mô mới của cuộc chiến đấu. Bộ Quốc phòng thành lập thêm một sư đoàn, ba trung đoàn và 20 tiểu đoàn cao xạ. Bộ đội phòng không chủ lực được bổ sung, trang bị pháo cao xạ, tên lửa và rađa cùng nhiều khí tài mới. Hai sư đoàn bộ binh cơ động 325 và 320 trực thuộc Bộ và sáu trung đoàn chủ lực cơ động thuộc Quân khu 4, Quân khu Việt Bắc, Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn biên chế đủ số quân và trang bị. Học viên sĩ quan các trường lục quân và binh chủng tổ chức thành một sư đoàn dự bị thuộc Bộ Tổng Tư lệnh (mang phiên hiệu Sư đoàn 312B), sẵn sàng cơ động chiến đấu bảo vệ phía bắc Quân khu 4. Hàng chục trung đoàn, tiểu đoàn pháo binh, thiết giáp, đặc công, công binh, thông tin được thành lập. Một số bộ phận lực lượng phòng không đang chiến đấu ở Quảng Trị được điều gấp ra miền Bắc. Các trung đoàn không quân được giao nhiệm vụ đảm trách tác chiến không đối không trên từng khu vực, hỗ trợ và sẵn sàng chuyển đến bảo vệ những mục tiêu cần thiết. Mỗi trung đoàn không quân đều khẩn trương chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật và phương tiện chỉ huy, để có thể cơ động chiến đấu trên hai hoặc ba sân bay. Cùng với việc tiếp tục mở mặt trận đánh địch trên không, việc chuẩn bị đánh các mục tiêu trên mặt đất, mặt nước của Binh chủng Không quân cũng được triển khai tích cực. Binh chủng Pháo binh và các quân khu được Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ tổ chức các trận địa pháo bờ biển đánh hạm tàu dịch. Chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng vũ trang tập trung trên miền Bắc đã phát triển lên 530.000 người (tăng 10 vạn so với năm 1968), trong đó, bộ đội chủ lực thuộc các quân khu tăng gấp hai lần, riêng Quân khu 4 tăng gấp năm lần.
Lực lượng dân quân tự vệ ở các cơ quan và địa phương tăng nhanh, được trang bị khá mạnh. Ngoài các tổ đội trực chiến, dân quân tự vệ miền Bắc đã tổ chức hàng chục đại đội trang bị pháo cao xạ 37, 57 và 100 ly; 170 đại đội, trung đội trang bị súng máy cao xạ; 20 đại đội, trung đội trang bị pháo 85 ly đánh tàu chiến Mỹ. Tổng số lực lượng dân quân tự vệ bắn máy bay trên toàn miền Bắc đến năm 1972 có 414 đội với 1.441 khẩu pháo, súng các loại. Vận dụng và phát triển kinh nghiệm qua cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, lực lượng phòng không - không quân bố trí thành thế trận chiến tranh nhân dân, vừa có thể đánh địch rộng khắp, vừa tập trung được lực lượng mạnh trên các địa bàn trọng yếu, bảo vệ các mục tiêu quan trọng. Ngay sau khi địch bắt đầu chiến dịch phong toả miền Bắc lần thứ hai, ngày 10 tháng 5 năm 1972, Thường vụ Hội đồng Chính phủ họp đề ra các chủ trương, biện pháp đối phó. Ngày 16 tháng 5 năm 1972, Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho các lực lượng chủ lực, theo đó, "Quân chủng Hải quân làm lực lượng nòng cốt rà phá, tháo gỡ thủy lôi, bom mìn ở các cảng, cửa sông, ven biển. Binh chủng Công binh và lực lượng vũ trang các quân khu, các tỉnh rà phá, tháo gỡ bom mìn thả trong các sông và trên bộ. Viện Kỹ thuật quân sự cùng với Bộ Tư lệnh Hải quân và Bộ Tư lệnh Công binh nghiên cứu cấu tạo thủy lôi, bom từ trường, cải tiến chế tạo thiết bị khí tài và hướng dân các địa phương cách sử dụng các phương tiện rà phá thủy lôi, bom mìn của địch"1 (Chỉ thị số 31/CT-TM của Bộ Tổng Tham mưu). Với tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, các lực lượng phòng không, phòng thủ biển ba thứ quân trên miền Bắc, ngay từ những ngày đầu địch đánh phá, đã liên tiếp bắn rơi nhiều máy bay, bắn cháy nhiều tàu chiến Mỹ. Ngày 6 tháng 4 năm 1972, quân và dân Quảng Bình - Vĩnh Linh bắn rơi 10 máy bay. Ngày 9 tháng 4, các đơn vị pháo bờ biển Quảng Bình bắn cháy tàu chiến Mỹ. Ngày 16 tháng 4, Hà Nội, Hải Phòng bắn rơi 15 máy bay, trong đó có một chiếc B.52. Ngày 19 tháng 4, máy bay chiến đấu MiG-17 đánh trúng một tàu khu trục địch ở ngoài khơi Quảng Bình. Trong tháng đầu Mỹ leo thang đánh phá trở lại, miền Bắc đã bắn rơi 90 máy bay, bắn cháy 20 tàu chiến Mỹ, trong đó quân dân Hải Phòng đã bắn cháy một máy bay B.52 trên bầu trời thành phố. Trong sáu tháng chiến đấu liên tục, từ ngày 9 tháng 5 đến ngày 22 tháng 10 năm 1972, quân dân miền Bắc đã bắn rơi 561 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 60 tàu chiến địch, bắt nhiều giặc lái Mỹ. Chỉ riêng ngày 10 tháng 5 năm 1972, 18 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi. Đây là con số kỷ lục máy bay Mỹ bị hạ trong một ngày kể từ khi Níchxơn ra lệnh đánh phá miền Bắc lần thứ hai. Trong toàn bộ cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần hai, miền Bắc bắn rơi 735 máy bay Mỹ, trong đó có 61 chiếc B.52, 10 chiếc F.111, bắn chìm và bắn bị thương 125 tàu chiến, tàu biệt kích. Cuộc chiến đấu để bảo vệ hậu phương miền Bắc là một bộ phận rất quan trọng của cuộc chiến tranh nhân dân. Leo thang đánh phá miền Bắc, mục tiêu hàng đầu của Mỹ là uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Thế nhưng, trải qua bốn năm chống chiến tranh phá hoại, quân và dân miền Bắc đã đoàn kết một lòng, giáng trả đích đáng không quân, hải quân Mỹ, gây cho đối phương những tổn hao nặng nề về người lái và máy bay, tàu chiến; làm suy giảm ý chí xâm lược của giới lãnh đạo cao cấp Mỹ. Đánh bại các bước leo thang của không quân và hải quân Mỹ, hậu phương miền Bắc đã làm suy giảm nặng nề uy tín và sức mạnh Mỹ, góp phần quan trọng vào thắng lợi ở chiến trường miền Nam, đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ. Qua đó, hậu phương miền Bắc đã thể hiện được sức mạnh và tính bền vững của mình - đó là sức mạnh của một hậu phương được tổ chức chặt chẽ và được củng cố vững chắc. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tư, 2026, 08:23:06 pm 2- Miền Bắc chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam và chiến trường Đông Dương
Dựa trên nền tảng chế độ xã hội mới được xây dựng trong 10 năm hoà bình (1954-1964), được củng cố và bảo vệ vững chắc trong 10 năm chiến tranh (1965-1975), Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành và thực hiện các biện pháp nhằm làm cho miền Bắc phát huy đầy đủ, liên tục vai trò, tác dụng có ý nghĩa quyết định đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đảng thường xuyên chăm lo giáo dục công tác chính trị, làm cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nhận thức rõ tính chất chính nghĩa của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, mức độ quyết liệt, lâu dài của cuộc đọ sức giữa nhân dân Việt Nam với một đối phương có tiềm lực mạnh, nhiệm vụ nặng nề, vẻ vang của hậu phương miền Bắc, sức mạnh tổng hợp và to lớn của nhân dân Việt Nam... qua đó, củng cố niềm tin vào thắng lợi cuối cùng, giữ vững quyết tâm kháng chiến; phát huy cao độ sức mạnh của lòng yêu nước, yêu chế độ trong mọi tầng lớp nhân dân miền Bắc, biến chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước thành hành động cách mạng, thành phong trào thi đua sôi nổi của quần chúng. Mặt khác, Đảng, Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng công tác rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong gian khổ, hy sinh, đội ngũ này càng thể hiện tính tiên phong trên các mặt trận chiến đấu, giao thông, sản xuất; gắn bó chặt chẽ với nhân dân; thực sự là tấm gương cho quần chúng noi theo, được mọi người tin yêu, mến phục. Trên nền tảng của chế độ xã hội mới, giải quyết mối quan hệ giữa chiến đấu và sản xuất, giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài, giữa yêu cầu Trung ương và yêu cầu địa phương, giữa vùng trọng điểm bị địch đánh phá... Đảng, Nhà nước Việt Nam đã đề ra và thực hiện có hiệu quả chính sách động viên sức người, sức của phù hợp với điều kiện thực tế của từng thời kỳ, từng địa phương. Đồng thời với công tác động viên, Đảng và Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm và đề ra những biện pháp bồi dưỡng sức dân. Trong những năm chiến tranh, Đảng, Nhà nước chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương không ngừng củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, đặc biệt là củng cố các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nhằm cho phép động viên cao độ sức người, sức của phục vụ kháng chiến, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao về quân số của chiến trường. Tại hậu phương, Đảng, Nhà nước Việt Nam ban hành và tổ chức các chính sách kinh tế, văn hoá - xã hội, chính sách phân phối thu nhập, chế độ tiền lương, chính sách thuế... theo định hướng đảm bảo duy trì và ổn định đời sống nhân dân trong chiến tranh. Đối với công nhân viên, cán bộ trong biên chế, bên cạnh tăng tiền lương, Nhà nước Việt Nam ban hành chính sách cung cấp theo định lượng, bán theo tem phiếu các nhu yếu phẩm với giá tương đối ổn định thống nhất. Đối với nông dân, Nhà nước chỉ đạo các địa phương, các hợp tác xã thực hiện chính sách phân phối theo phương thức kết hợp, trong đó một phần lương thực được phân phối theo nhu cầu thiết yếu căn cứ theo định suất (mức ăn đã được xác định cho từng nhân khẩu) và phần này được bán theo giá cả ổn định do Nhà nước quy định, thấp hơn giá thị trường tự do. Đối với bộ phận cư dân thành thị không nằm trong biên chế, Nhà nước đảm bảo các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm thiết yếu theo tem phiếu theo giá thấp hơn giá thị trường tự do... Ngoài ra, việc học hành, chữa bệnh cũng được Nhà nước bao cấp phần lớn. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, chi viện cho chiến trường ngày càng tăng, việc thực hiện chính sách phân phối thu nhập quốc dân, đảm bảo định hướng cho mọi người dân, ổn định đời sống nhân dân là cố gắng to lớn của Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là một chính sách cần thiết và đúng đắn, thể hiện sự chăm lo cho đời sống nhân dân của Đảng và Nhà nước. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tư, 2026, 08:25:35 pm Trong khi đó, các cấp bộ Đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức quần chúng đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong nhân dân và giữa những vùng ít bị địch đánh phá với những trọng điểm đánh phá của địch. Chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình bộ đội neo đơn trong thời kỳ chiến tranh trở thành lương tâm và trách nhiệm của mọi người, mọi nhà. Chính quyền các địa phương, các tổ chức quần chúng, các trường học đã có nhiều hình thức giúp đỡ, tương trợ kịp thời; hiệu quả với những người mẹ, người vợ liệt sĩ, thương binh hoặc gia đình bộ đội ở địa phương mình trong cuộc sống, trong sản xuất. Ngoài việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội, Đảng, Nhà nước ban hành các chế độ chính sách ưu tiên đối với những vùng trọng điểm bị địch đánh phá, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đối với con em cán bộ miền Nam...
Nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, chính quyền các cấp luôn luôn chú trọng công tác sơ tán, phòng tránh, vận động và tổ chức toàn dân làm nhiệm vụ phòng không nhân dân. Nhờ thế dù chiến tranh ngày càng ác liệt nhưng miền Bắc vẫn hạn chế được tối đa những tổn thất về người và của trước sự đánh phá của không quân và hải quân Mỹ. Nhìn chung lại, suốt những năm chiến tranh, đặc biệt trong hai cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và lần thứ hai của không quân, hải quân Mỹ, Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đề ra và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, biện pháp nhằm làm cho miền Bắc phát huy vai trò tác dụng của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn một cách mạnh mẽ, liên tục. Dù chiến tranh gây ra nhiều tổn thất, tác động tối toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; dù đòi hỏi của chiến trường ngày càng cao, nhu cầu của cuộc kháng chiến ngày càng lớn và cuộc sống của người dân miền Bắc có bị xáo trộn, còn nhiều thiếu thốn, gian lao, nhưng miền Bắc luôn luôn là một hậu phương vững mạnh được tổ chức chặt chẽ. Hậu phương đó không ngừng đứng vững trước thử thách ác liệt mà còn vươn lên đáp ứng mọi yêu cầu của cuộc kháng chiến. Ngay sau Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15, miền Bắc bắt đầu tổ chức chi viện sức người, sức của cho miền Nam, cho cách mạng Lào và sau đó, cách mạng Campuchia. Sự chi viện đó ngày càng tăng, đáp ứng đòi hỏi của chiến trường. Năm 1959, miền Bắc chi viện cho miền Nam 542 người thì năm 1964, con số đó tăng lên 17.475 người. Trong thời gian diễn ra những cuộc tiến công chiến lược (1968, 1972, 1975), nhân lực động viên từ miền Bắc phục vụ nhu cầu chiến tranh tăng lên gấp từ 4 đến 5 lần so với trước đó. Không tính số quân bảo vệ miền Bắc, làm nhiệm vụ dự bị chiến lược và chiến đấu, công tác trên tuyến vận tải 559, chỉ riêng số quân từ miền Bắc vào các chiến trường ở miền Nam trong những năm kể trên như sau: 1968: 141.081, 1972: 152.974, 1975: 117.193. Năm 1975, năm cuối của cuộc kháng chiến, tổng số nhân lực miền Bắc động viên theo nhu cầu quốc phòng chiếm tới 30% lực lượng lao động xã hội ở miền Bắc; 60 - 65% trong số đó vào lực lượng vũ trang. Giai đoạn 1973-1975, 50% số quân bộ đội tập trung ở miền Nam là lực lượng do miền Bắc tăng cường. Ngoài lực lượng trực tiếp chiến đấu, các lực lượng vận tải, lực lượng đảm bảo giao thông, mở đường và các lực lượng đảm bảo khác... bao gồm hàng chục vạn người cũng đều được động viên ở miền Bắc. Đại bộ phận lực lượng động viên phục vụ nhu cầu chiến tranh thời kỳ này là thanh niên. Đó là những người trưởng thành trong chế độ xã hội mới, dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, có giác ngộ, có tri thức, có phẩm chất đạo đức, có sức khoẻ. Do vậy, đây là lớp người có trình độ nắm vững và sử dụng thành thạo có hiệu quả các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại1 (Trong kháng chiến chống Mỹ, binh chủng kỹ thuật chiếm khoảng 52% trong biên chế Quân đội nhân dân Việt Nam), là lớp người chiến đấu với niềm tin và ý chí giác ngộ cao. Về vật chất, phần lớn vũ khí, thiết bị chiến tranh, lương thực, thuốc men... phục vụ công tác chiến đấu và ổn định vùng giải phóng ở miền Nam là do miền Bắc chi viện. Miền Bắc đã tổ chức tiếp nhận hàng triệu tấn vật chất, phương tiện vật chất kỹ thuật do nước ngoài viện trợ, tổ chức nghiên cứu, thiết kế, cải biên, cải tiến nhiều loại vũ khí, khí tài chiến đấu, vận chuyển vượt hàng nghìn kilômét dưới bom đạn đánh phá của địch, đưa các loại vật chất vào các mặt trận, các vùng giải phóng. Trong những năm từ 1965 đến 1968, miền Bắc đã tổ chức vận chuyển vào miền Nam khối lượng vật chất lớn gấp 10 lần so với những năm 1961-1964. Tổng khối lượng vật chất mà miền Bắc chi viện cho miền Nam trong những năm chống chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" còn tăng gấp nhiều lần so với thời kỳ "chiến tranh cục bộ". Như vậy, lực lượng và vật chất - hai nhân tố chiến lược quan trọng trong chiến tranh đã được hậu phương miền Bắc đáp ứng kịp thời, đầy đủ, liên tục cho chiến trường miền Nam. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tư, 2026, 08:26:27 pm Suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, với chế độ xã hội mới được thiết lập trong 10 năm hoà bình (1954-1960), được bảo vệ và tỏ rõ sức sống trong khói lửa chiến tranh (1965-1975), miền Bắc xã hội chủ nghĩa trở thành chỗ dựa vững chắc cho cách mạng miền Nam. Nếu từ năm 1955 đến năm 1959, miền Bắc là chỗ dựa về tinh thần, là niềm tin và hy vọng của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam trong những ngày tháng chịu nhiều tổn thất, hy sinh, thì từ năm 1960, đặc biệt từ năm 1965 trở đi, miền Bắc không chỉ là nguồn cổ vũ tinh thần mà còn là nguồn sức mạnh vật chất to lớn của cách mạng miền Nam. Từ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn, thế trận chiến tranh nhân dân bị suy giảm nghiêm trọng. Trước tình hình đó, miền Bắc đã đưa vào miền Nam số lượng lớn người và vật chất để khôi phục lại lực lượng và thế trận của cách mạng miền Nam. Nhiều đơn vị chủ lực mới từ miền Bắc vào đã phân thành các bộ phận nhỏ xuống các cơ sở làm nhiệm vụ của du kích và bộ đội địa phương. Năm 1968, 141.081 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, cán bộ dân - chính - Đảng và 72.499 tấn vật chất từ miền Bắc chi viện cho miền Nam. Trong ba năm tiếp theo (1969-1972), miền Bắc chi viện cho miền Nam 162.501 người và 111.045 tấn vật chất. Sự chi viện đó đã giúp cho cách mạng miền Nam nhanh chóng phục hồi và phát triển.
Như vậy, bên cạnh việc chi viện sức người, sức của cho chiến trường, miền Bắc còn là chỗ dựa vững chắc cho cách mạng miền Nam về vật chất và tinh thần, nhất là những lúc cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề, khó khăn... Đánh bại các bước leo thang của chiến tranh không quân và hải quân Mỹ, làm thất bại các mục tiêu chiến lược chủ yếu của cuộc chiến tranh này, quân và dân miền Bắc đã góp phần rất quan trọng cùng tiền tuyến lớn miền Nam trên tuyến đầu chống Mỹ. Thành quả của công cuộc xây dựng miền Bắc, sự ổn định của miền Bắc trong những năm chống chiến tranh phá hoại, sự phục hồi nhanh của miền Nam sau năm 1972 là một trong những cơ sở để Đảng Lao động Việt Nam để ra chủ trương chiến lược giải phóng miền Nam, hoàn thành độc lập dân chủ trong hai năm 1975-1976. Mặt khác, Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã động viên cao độ sức mạnh toàn diện của miền Bắc cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975: Trong hai năm 1973-1974, 25 vạn thanh niên miền Bắc được động viên vào lực lượng vũ trang, 15 vạn quân từ biệt hậu phương vào chiến trường chiến đấu, hàng vạn cán bộ, nhân viên kỹ thuật, thanh niên xung phong miền Bắc tới các vùng giải phóng góp phần ổn định tình hình. Lực lượng công binh, bộ đội Đoàn 559, ngành vận tải miền Bắc cùng hàng vạn dân công miền Bắc dồn sức mở rộng đường Trường Sơn, đặt thêm đường ông dẫn dầu. Trong hai năm này, 379.000 tấn vật chất từ miền Bắc được chuyển vào các mặt trận, bằng 54% tổng khối lượng vật chất giao cho chiến trường trong suốt 16 năm trước đó. Được sự chi viện mạnh mẽ của miền Bắc, thế và lực của cách mạng miền Nam trở nên áp đảo quân địch. Trên miền Bắc, các lực lượng dự bị chiến lược được tăng cường, các quân đoàn chủ lực gồm các đơn vị hợp thành lần lượt được ra đời. Các quân binh chủng cũng xây dựng thêm nhiều đơn vị mới. Toàn bộ tình hình trên đây là cơ sở để Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đi đến quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975. Thực hiện quyết tâm đó, bốn tháng đầu năm 1975, miền Bắc đưa nhanh vào miền Nam hơn 110.000 cán bộ, chiến sĩ, 230.000 tấn vật chất các loại. Như vậy, vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, miền Bắc đã dốc toàn bộ sức mạnh của mình cho miền Nam tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi hoàn toàn. Kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc: trên 80% quân số, 81% vũ khí, 60% xăng dầu, 65% thuốc men, 85% xe vận tải trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là từ miền Bắc đưa vào. Như vậy, suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc trở thành hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến, được xây dựng và bảo vệ theo một đường lối nhất quán và bằng những biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả. Đường lối và biện pháp đó là: Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, gắn chặt nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc với nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, kết hợp giữa nhiệm vụ xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá với xây dựng quân đội nhân dân, củng cố nền quốc phòng toàn dân; kết hợp nhiệm vụ xây dựng với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc hậu phương; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, biến quyết tâm của Đảng thành phong trào và cao trào cách mạng của đông đảo quần chúng, nhằm xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của hậu phương miền Bắc trong chiến tranh. Miền Bắc trở thành nguồn cung cấp chủ yếu sức người, sức của cho tiền tuyến; nơi đề ra đường lối chiến lược và sách lược trong các giai đoạn chiến tranh; là cơ sở để tiến hành đường lối đối ngoại nhằm mở rộng hậu phương của cuộc kháng chiến. Ngoài ra, miền Bắc còn là nguồn cổ vũ to lớn đối với đồng bào miền Nam, đối với cán bộ, chiến sĩ chiến đấu ở ngoài mặt trận hay trong vùng địch chiếm đóng. Báo cáo chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tư (1976) đánh giá về vai trò, vị trí của miền Bắc như sau: "Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa suốt 16 năm qua luôn luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt từ năm 1965, khi Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thì miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.490). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tư, 2026, 08:28:22 pm III- XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC
1- Xây dựng tuyến vận tải chiến lược Từ sau Hiệp định Geneva đến năm 1958, Ban Thống nhất Trung ương đã tổ chức đường dây Thống nhất để đưa đón cán bộ, chuyển tài liệu và một số hàng cần thiết giữa miền Bắc và miền Nam. Đây là thời kỳ chính quyền Sài Gòn đánh phá mạnh mẽ các tổ chức cách mạng ở miền Nam, song đường dây Thống nhất vẫn được duy trì, giữ vững. Bước vào năm 1959, phong trào cách mạng miền Nam có bước phát triển, nhiều căn cứ hình thành ở vùng rừng núi, bưng biền đã tạo nên thế đứng mới của lực lượng cách mạng miền Nam. Từ giữa năm 1959, cách mạng Lào chuyển hẳn sang thời kỳ kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng lực lượng vũ trang, thành lập chính quyền cách mạng. Sau gần 5 năm (1954-1959) phục hồi và xây dựng mới nền kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, phát triển văn hoá, củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực của Nhà nước, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và quân đội nhân dân, sự nghiệp củng cố miền Bắc thành nền tảng cho cách mạng miền Nam đã đạt được một số kết quả vững chắc. Khắc phục những sai lầm trong cải cách ruộng đất và trong một số mặt công tác khác, miền Bắc tiếp tục hoàn thành các kế hoạch phát triển kinh tế - văn hóa. Tháng 1-1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và khẳng định: Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là con đường sử dụng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, miền Bắc phải đẩy mạnh chi viện cho miền Nam. Trong điều kiện đó, đường dây Thống Nhất Bắc - Nam không còn phù hợp. Hậu phương miền Bắc và hậu phương tại chỗ ở miền Nam trong chiến tranh chỉ có thể phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng và sức mạnh khi nó được nối liền bằng hệ thống giao thông thông suốt. Đất nước Việt Nam dài và hẹp, nhân dân miền Bắc còn nghèo, Mỹ lại là một nước giàu về tiềm lực kinh tế, quân sự, có nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại... Vì vậy, việc xây dựng và bảo vệ tuyến vận tải nối liền hai miền vừa cấp thiết, vừa phức tạp và khó khăn... Nhận thức được tầm quan trọng cùng những phức tạp và khó khăn đó, Đảng và Nhà nước đã quyết định xây dựng tuyến vận tải chiến lược; chỉ đạo chặt chẽ quá trình xây dựng, mở rộng, bảo vệ và phát huy vai trò, tác dụng của nó trong chiến tranh. Ngày 5-5-1959, Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập tuyến giao liên quân sự trên bộ (Đoàn 559). Tiếp đó, tháng 7-1959, tuyến vận tải đường biển chi viện miền Nam ra đời (Đoàn 759). Buổi đầu, tuyến vận tải đường bộ dựa vào đường dây Thống nhất để thực hiện nhiệm vụ, chủ yếu làm công tác giao liên, vận chuyển một số vật chất bằng phương pháp gùi thồ với phương châm: Phòng tránh, giữ bí mật tuyệt đối để bảo vệ lực lượng, bảo vệ mục tiêu, nhiệm vụ. Tuyến vận tải biển do Mỹ có lực lượng hải quân mạnh khống chế chặt chẽ vùng biển miền Nam nên Đoàn 759 gặp nhiều khó khăn. Mặc dù đã tìm nhiều biện pháp, mở nhiều tuyến ven biển vòng qua tây Trường Sa, nhưng kết quả hạn chế. Từ năm 1962 đến năm 1972, đoàn vận tải biển chi viện miền Nam tổ chức 101 chuyến vận chuyển cho chiến trường được 5.616 tấn vũ khí, đạn dược. Việc bảo đảm chi viện chiến trường, nối liền hậu phương miền Bắc với hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam, cách mạng Lào và cách mạng Campuchia chủ yếu dựa vào tuyến vận tải chiến lược trên bộ. Sau Đồng khởi, ngày 24-1-1961, Hội nghị Bộ Chính trị quyết định: "Đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Sđd, tr. 158, 159); đồng thời chủ trương "tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên một phạm vi ngày càng rộng lớn; tiến lên làm chủ rừng núi, giành lại toàn bộ đồng bằng"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Sđd, tr. 158, 159). Thực hiện những nhiệm vụ trên đây, chiến trường miền Nam rất cần sự chi viện về lực lượng, về vũ khí, đạn dược, thuốc men, quân trang, quân dụng... với số lượng lớn. Chi viện sức người, sức của kịp thời trở thành yêu cầu sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của cách mạng miền Nam và điều đó đòi hỏi phải gấp rút mở những tuyến đường huyết mạch nối liền hậu phương với tiền tuyến. Những tuyến đường ấy phải đủ sức đảm nhận, hoàn thành nhiệm vụ vận tải chiến lược, đáp ứng yêu cầu, tình hình phát triển của chiến trường và thậm chí phải vượt trước một bước. Trước tình hình cấp bách lúc đó, Bộ Chính trị đã giao nhiệm vụ cho Quân ủy Trung ương và Ban Thống nhất Trung ương chỉ đạo công tác quân sự ở miền Nam, quyết định tăng cường cán bộ, đẩy mạnh việc tiếp tế vũ khí, tài chính cho cách mạng miền Nam và mở rộng giao thông liên lạc Bắc - Nam. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chủ trương nhanh chóng tăng cường lực lượng cho Đoàn 559 nhằm mở rộng tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn theo phương hướng: Kiên trì giữ vững hành lang phía đông, khẩn trương mở đường vận tải phía tây Trường Sơn. Đồng thời, mạnh dạn áp dụng phương thức vận tải cơ giới, kết hợp với phương thức vận tải thô sơ (xe đạp thồ), chú trọng khai thác đường sông. Được tăng cường lực lượng và bằng những biện pháp tổ chức chặt chẽ, hiệu quả, đến giữa năm 1964, Đoàn 559 đã xây dựng được địa bàn hoạt động từ tây Quảng Bình vào đến ngã ba biên giới, triển khai được một số tuyến, thành lập được các cung trạm, xây dựng được tuyến hành lang nối liền miền Bắc với chiến trường miền Nam. Nhờ đó, trong bốn năm thực hiện nhiệm vụ (1961-1965), Đoàn đã vận chuyển, bàn giao cho các chiến trường gần 3.000 tấn vật chất các loại, đảm bảo hành quân cho 12.000 lượt người qua lại trên đường Trường Sơn. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tư, 2026, 08:29:24 pm Từ năm 1965, Mỹ sử dụng không quân, hải quân leo thang đánh phá miền Bắc, đưa các lực lượng quân bộ Mỹ và đổng minh tham chiến trực tiếp tại chiến trường miền Nam. Trước tình hình đó, "tất cả chi viện tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" là ý chí của hậu phương miền Bắc đối với cách mạng miền Nam. Miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa tăng sức chi viện cho chiến trường miền Nam, cho cách mạng Lào và cách mạng Campuchia.
Để đảm bảo vận chuyển người và phương tiện chiến tranh cùng các loại vật chất cần thiết khác vào chiến trường, trong điều kiện đánh phá ác liệt, toàn bộ hệ thống giao thông vận tải từ miền Bắc vào chiến trường đều được chấn chỉnh và tăng cường. Lực lượng vận tải quân sự cùng lực lượng vận tải dân sự trên miền Bắc tập trung năng lực vận chuyển tạo chân hàng cho Đoàn 559. Lực lượng phòng không, lực lượng đảm bảo giao thông tăng nhanh về số lượng; hình thành thế trận vừa đánh địch rộng khắp vừa tập trung bảo vệ các đầu mối giao thông, các địa bàn trọng điểm. Trên tuyến vận tải chiến lược, Đoàn 559 được tăng cường lực lượng và phương tiện, hình thành lực lượng binh chủng hợp thành. Lực lượng này được bố trí thành thế trận đánh địch, đảm bảo giao thông và vận tải quân sự trên toàn tuyến theo phương châm vừa có lực lượng tại chỗ, vừa có lực lượng cơ động mạnh. Nhiều cán bộ và nhân viên kỹ thuật thuộc nhiều binh chủng và cơ quan dân sự được điều động vào chiến đấu, công tác trên đường Trường Sơn. Khắc phục gian khổ, khó khăn, cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong và nhân viên kỹ thuật của Đoàn 559 đã bền bỉ, mưu trí đánh địch, mở đường, đảm bảo giao thông, thực hiện nhiệm vụ trung tâm là tiếp nhận các nguồn hàng từ hậu phương miền Bắc và nguồn thu mua từ hướng Campuchia, tổ chức vận chuyển chi viện tới các chiến trường miền Nam và Lào, đảm bảo hành quân cho bộ đội và các đoàn cán bộ qua lại trên đường Trường Sơn. Bốn năm (1965-1968), Đoàn 559 đã chuyển tới chiến trường miền Nam và Lào gần 100.000 tấn vật chất, đảm bảo cho hơn 200.000 lượt người qua lại trên đường Trường Sơn; góp phần đánh bại "chiến tranh đặc biệt" ở Lào; tạo điều kiện cho việc hoàn thành các nhiệm vụ ở giai đoạn tiếp theo. Từ năm 1969 đến năm 1972, Mỹ triển khai một loạt biện pháp nhằm ngăn chặn bằng được mọi nguồn tiếp tế từ bên ngoài vào miền Nam. Mỹ đánh phá hệ thống đường Trường Sơn với những loại vũ khí hiện đại và mật độ ngày càng cao. Được tăng cường về lực lượng và phương tiện, bộ đội Trường Sơn nhanh chóng tổ chức lại đội hình, bố trí lại thế trận, điều chỉnh giới tuyến chiến đấu, hiệp đồng giữa các quân chủng, binh chủng... Vì vậy, mặc dù đánh phá ác liệt nhưng tuyến vận tải chiến lược vẫn không ngừng được xây dựng và mở rộng, vươn sâu, vươn xa vào các chiến trường. Nếu trong thời kỳ "chiến tranh cục bộ", Đoàn 559 mới chỉ mở được trục đường 20 - cửa khẩu vượt đỉnh Trường Sơn, nối với hệ thống đường chiến lược ở đường phía tây Trường Sơn, rút ngắn cung độ đến các hướng chiến trường..., thì từ năm 1968 đến năm 1972, thêm bốn trục đường từ đông Trường Sơn sang tây Trường Sơn được mở, bao gồm các đường 18, 16, 10 và 12 tạo thành hệ thống đường vượt khẩu chống địch ngăn chặn, nâng tổng số chiều dài tuyến đường từ 2.930km (1968) lên gần 11.000km (1972), chưa kể 6.500km đường giao liên, gùi thồ. Nhờ đó, chỉ trong bốn năm (1968-1972), tuyến vận tải chiến lược đã vận chuyển được tổng khối lượng vật chất đạt 118%; đảm bảo hành quân đạt 190% so với chỉ tiêu; bàn giao cho các chiến trường khối lượng vật chất và nhân lực tăng gấp 3 - 6 lần so với bốn năm trước đó1 (Giai đoạn 1965-1968: Kế hoạch chi viện 85.000 tấn, hành quân 324.000 lượt người; giai đoạn 1969-1972: Kế hoạch chi viện 114.820 tấn, hành quàn 598.000 lượt người, Dẫn theo: Công tác vận tải quân sự chiến lược, Tài liệu lưu hành nội bộ của Tổng cục Hậu cần, 1984, tr 100), đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của cách mạng miền Nam, cách mạng Lào và cách mạng Campuchia, đặc biệt vào những thời điểm quân và dân miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, quân và dân Lào mở cuộc tiến công chiến lược nhằm buộc địch phải ký Hiệp định Paris và Hiệp định Vientiane (Viêng Chăn). Thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh (1973-1975), nhiệm vụ của tuyến vận tải chiến lược là phải tranh thủ thời cơ, "tiếp tục thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chiến lược, tiếp tục bảo đảm hành quân vào các chiến trường... đảm bảo cho các quân khu thực hiện tốt việc tổ chức chiến trường, xây dựng lực lượng dự trữ chiến lược. Đồng thời phải đảm bảo một phần nhu cầu dân sinh kinh tế, góp phần xây dựng căn cứ địa, vùng giải phóng miền Nam và các nước bạn"2 (Nghị quyết số 221/NQ-ĐU559, Dẫn theo: Công tác vận tải quân sự chiến lược; Tlđd, tr.106-107). Tháng 11-1973, Hội đồng Chính phủ phê chuẩn kế hoạch thiết kế, mở rộng tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Lực lượng công binh của Đoàn 559 và ngành vận tải miền Nam được huy động làm đường. Từ tám trung đoàn và 65 tiểu đoàn năm 1972, lực lượng công binh của Đoàn 559 đã tăng lên một sư đoàn, 17 trung đoàn và 40 tiểu đoàn với tổng quân số 36.341 người. Bên cạnh lực lượng công binh, lực lượng mở đường còn có 2.741 thanh niên xung phong và dân công hoả tuyến...; đồng thời, Nhà nước và quân đội còn tăng cường thêm phương tiện cho Đoàn 559, bao gồm hàng nghìn xe máy các loại, xe lu, máy ép hơi, máy san ủi... Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tư, 2026, 08:30:21 pm Khí thế chiến thắng trên khắp chiến trường cùng với việc lực lượng và phương tiện được bổ sung, được tổ chức chặt chẽ đã tạo nên sức mạnh mới, giúp Đoàn 559 nhanh chóng mở thêm 3.480km đường cơ giới với các trục dọc men theo đông và tây Trường Sơn. Chiều dài của các đường mới mở còn lớn hơn tổng số chiều dài đường giao thông được xây dựng trong vòng 13 năm trước đó. Các tuyến đường ngang hỗ trợ cũng được khai thông. Gần 5.000km đường ống dẫn nhiên liệu lỏng với hệ thống trạm bơm, bể chứa tương đối hiện đại từ hậu phương miền Bắc, men theo các trục dọc Trường Sơn, vươn tới các chiến trường. Các tuyến đường bộ phía tây được sửa chữa, bảo dưỡng, mở rộng, bảo đảm cho việc vận chuyển cơ giới theo đội hình lớn.
Qua gần 16 năm xây dựng, từ lối mòn giao liên bí mật len lỏi dưới các triền rừng, với phương thức vận tải thô sơ, gùi thồ là chủ yếu, tuyến vận tải chiến lược phát triển thành hệ thống trục dọc và trục ngang, ngày càng vươn xa tối các chiến trường, vươn sâu vào các hướng chiến dịch. Tính đến năm 1975, tuyến vận tải chiến lược lên tới gần 20.000km, bao gồm bốn hệ thống trục dọc dài 6.810km, 13 hệ trục ngang dài 4.980km, năm hệ thống đường vượt khẩu dài 700km, một hệ thống đường vòng tránh các trọng điểm dài 4.700km, một hệ thống đường ống dài 1.300km, tuyến vận tải đường sông vào tới Stungtreng. Trên các nẻo đường, hệ thống cung binh trạm làm nhiệm vụ vận tải, điều chỉnh giao thông, cấp phát, giao liên, bảo đảm hành quân, đưa đón và điều trị thương bệnh binh; hệ thống kho trạm, trận địa phòng không, trạm sửa chữa và bảo dưỡng xe máy... cũng được xây dựng và hoàn chỉnh, bảo đảm sự hoạt động thông suốt của con đường trong mọi tình huống. Dọc dài theo các tuyến, nhiều khu căn cứ dự trữ chiến lược của Bộ và các khu căn cứ hậu cần của các quân khu, các mặt trận được bố trí dưới những tán rừng Trường Sơn, tiếp cận các hướng chiến trường, đáp ứng mọi yêu cầu chiến lược, chiến dịch... Từ khi được đưa vào sử dụng cho tới lúc kết thúc chiến tranh, tuyến vận tải chiến lược thường xuyên bị địch đánh phá dữ dội bằng nhiều lực lượng với nhiều phương thức khác nhau. Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở nhiều cuộc tiến công của bộ binh, hàng chục vạn cuộc đánh phá của không quân, tung hàng nghìn toán biệt kích, thám báo hoạt động sâu trong khu vực đường mòn, rải xuống các cánh rừng hàng chục triệu quả bom, mìn vướng nổ và nhiều thiết bị điện tử tinh vi cùng nhiều chất độc làm trụi lá cây rừng... Trung bình hằng năm, mỗi kilômét thuộc khu vực đường Trường Sơn phải chịu 736 quả và loạt bom. Chỉ hai năm 1970-1971, ngoài 4.959.489 quả và loạt bom, cùng hàng chục vạn quả mìn và nhiều thiết bị điện tử tinh vi rải xuống Trường Sơn, Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn sử dụng một lực lượng lớn quân đội đánh cắt tuyến vận tải: Cuộc hành quân Chenla I, Chenla II của 25.000 quân đánh vào vùng ngã ba Biên giới; cuộc hành quân "Lam Sơn - 719" của 20.000 quân với sự yểm trợ của 9.000 binh lính Mỹ cùng 2.000 máy bay các loại đánh vào đường 9 - Nam Lào - một chi nhánh quan trọng của tuyến vận tải chiến lược. Dọc các đường 14, 23, 16, 13... quân đội Sài Gòn và quân đội Vientiane bố trí hàng loạt cứ điểm, sân bay quân sự và hệ thống đồn bốt nhằm không chế, chặn cắt, ngăn cách khu vực Trường Sơn với vùng giáp ranh và vùng đồng bằng. Tuyến vận tải chiến lược trở thành mặt trận nóng bỏng, quyết liệt, nơi thử thách ý chí, quyết tâm, lòng dũng cảm, sức chịu đựng của đôi bên. Trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, khí hậu thời tiết phức tạp, việc xây dựng và bảo vệ tuyến vận tải kéo dài hàng nghìn kilômét qua nhiều khu vực địa hình bị chia cắt mạnh đòi hỏi không chỉ lòng dũng cảm mà còn phải có trí thông minh, có biện pháp tổ chức lực lượng, bố trí thế trận... đúng đắn, hiệu quả. Buổi đầu, lực lượng công tác trên tuyến chỉ có một số đơn vị nhỏ lẻ, tổ chức thành các "trạm đường dây" với nhiều vụ soi đường, dẫn quân, gùi thồ luồn sâu qua các vùng địch chiếm. Dần dần trước yêu cầu chi viện chiến trường ngày càng tăng, không gian chi viện ngày càng rộng, địch đánh phá, ngăn chặn quyết liệt, lực lượng chiến đấu và công tác trên tuyến không ngừng lớn mạnh. Lực lượng đó bao gồm các đơn vị binh chủng hợp thành như vận tải cơ giới, bộ binh, phòng không, công binh, thông tin và các lực lượng bảo đảm khác như quân y, nhân viên kỹ thuật, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến. Đến cuối cuộc chiến tranh, chỉ riêng bộ đội Trường Sơn đã tăng đến 100.495 người, trong đó có tám sư đoàn và cấp tương đương, 14 trung đoàn trực thuộc và cấp tương đương, lực lượng công tác và phục vụ trong các xưởng sửa chữa, trạm xá... Toàn bộ lực lượng trên đây được tổ chức thành hai bộ phận: Lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ. Lực lượng cơ động là những đơn vị hợp thành, những đơn vị chuyên môn binh chủng thực hiện các chiến dịch vận chuyển và đánh địch trên từng hướng hoặc vào những thời điểm quan trọng, phục vụ ý đồ chiến lược chung. Lực lượng tại chỗ là những binh trạm với các bộ phận binh chủng và lực lượng phục vụ, đảm nhiệm công tác chiến đấu, vận chuyển, bảo vệ giao thông, bảo đảm hành quân... trên từng cung, chặng được giao. Giữa các bộ phận lực lượng có sự liên quan chặt chẽ, hỗ trợ, phối hợp và dưới sự lãnh đạo, chỉ huy tập trung, thống nhất. Các lực lượng đó lấy việc vận chuyển, mở đường, bảo đảm hành quân, bảo vệ tuyến vận tải làm nhiệm vụ chủ yếu, trong đó nhiệm vụ vận chuyển chi viện là trung tâm. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tư, 2026, 08:31:29 pm Để hoàn thành nhiệm vụ đó, bộ đội Trường Sơn đã chủ động, tích cực quy hoạch và xây dựng mạng giao thông bao gồm nhiều trục dọc, trục ngang, đường vòng tránh, đường nghi binh; hình thành nhiều hệ thống đường cho các loại xe cơ giới, triệt để khai thác đường sông, xây dựng tuyến đường ống với hệ thống trạm bơm, bể chứa tương đối hiện đại; phối hợp với các chiến trường, các quân khu mở mạng đường chiến dịch nối với mạng đường chiến lược; cấu trúc các công trình cầu, bến vượt, bãi trú quân, bãi giấu xe; tổ chức các binh trạm, khu kho, trạm sửa chữa, bệnh viện; xây dựng các đài quan sát, trạm điều phối giao thông... Cùng với sự gia tăng của chiến tranh, thế trận giao thông vận tải của tuyến ngày càng phát triển, hoàn chỉnh, đảm bảo cho việc vận chuyển liên tục, mức độ ngày càng tăng, quy mô ngày càng lớn bảo đảm tốt yêu cầu cơ động lực lượng của các binh đoàn chủ lực.
Thế trận đó được mệnh danh là "trận đồ bát quái xuyên rừng rậm", khiến sự đánh phá của địch không thể nào ngăn chặn nổi nguồn tiếp tế từ miền Bắc tới các chiến trường. Ngoài việc xây dựng và hoàn chỉnh thế trận giao thông vận tải, bộ đội Trường Sơn còn luôn gắn chặt nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ tuyến vận tải chiến lược với việc tác chiến mở rộng khu vực hành lang, xây dựng địa bàn vững mạnh, xem đó là một điều kiện quan trọng làm thất bại các hoạt động ngăn chặn, phá hoại của địch; khắc phục tác động tiêu cực của địa hình và thời tiết đối với nhịp độ mở đường và vận chuyển. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, các trung đoàn chủ lực của miền Bắc Việt Nam đã phối hợp với lực lượng cách mạng Lào tổ chức nhiều đợt chiến đấu giải phóng một khu vực khá rộng phía tây Trường Sơn bao gồm Mường Phin, Bản Đông (1960-1961), đường 12, từ Mụ Giạ đến đường 9 (1962-1963); Pha Lan - Đồng Hến (1964-1965)... Trong những năm 1970-1972, bộ đội Việt Nam đã giải phóng Atôpơ, cao nguyên Bôlôven, Saravan, Pha Lan (lần 2)... Những hoạt động tác chiến đó có mục tiêu mở rộng vùng giải phóng dọc tuyến hành lang, tạo ra sự liên hoàn giữa tuyến vận tải chiến lược. Mở rộng địa bàn đến đâu, bộ đội Trường Sơn khẩn trương tổ chức triển khai các đơn vị như công binh, giao liên, cơ sở sản xuất, kho tàng... Các đơn vị này vừa thực hiện nhiệm vụ chuyên môn vừa đảm nhiệm chức năng lực lượng vũ trang địa phương tác chiến bảo vệ địa bàn khắc phục điều kiện thiếu vắng dân cư. Đối với vùng có dân, bộ đội Trường Sơn đã giúp đỡ chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng làng chiến đấu, xây dựng lực lượng bảo vệ làng bản, duy trì và đẩy mạnh sản xuất. 16 năm chiến đấu và công tác, bộ đội Trường Sơn đã góp phần bảo đảm, ổn định đời sống và sinh hoạt cho 250.000 đồng bào trên địa bàn hoạt động của mình. Đối với vùng giải phóng dọc tuyến vận tải, cán bộ, chiến sĩ Trường Sơn đã tích cực giúp đỡ bạn xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, phát động chiến tranh bảo vệ và mở rộng tuyến hành lang, xây dựng những địa bàn vững chắc đảm bảo đối phó với mọi âm mưu và hành động phá hoại của kẻ địch. Mặc dù có vai trò hết sức to lớn, song tuyến đường trên bộ chủ yếu vận tải cho các vùng căn cứ, miền rừng, miền Đông Nam Bộ. Vả lại, thời kỳ đầu, hiệu quả vận chuyển trên tuyến đường này thấp, không thể ngay lập tức vươn tới chiến trường Đông Nam Bộ và đồng bằng Nam Bộ - nơi cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam đang diễn ra quyết liệt từng phút, từng giây và yêu cầu về vũ khí, về phương tiện vật chất để chiến đấu, hoạt động trở thành yêu cầu sinh tử, quyết định sinh mệnh đồng bào và chiến sĩ. Trước bài toán đó, tháng 7-1959, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Tổng Quân ủy Trung ương quyết định tổ chức đường vận tải trên biển chi viện cho các tỉnh vùng duyên hải miền Trung và đồng bằng Nam Bộ. Đơn vị được giao nhiệm vụ vinh dự, song hết sức nặng nề nói trên thuộc Tổng cục Hậu cần, thành lập vào tháng 7-1959, do đó, có biệt danh là Đoàn 7591 (Đến ngày 23-10-1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 97/QĐ do Trung tướng Hoàng Văn Thái, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng ký, chính thức thành lập Đoàn 759 trực thuộc Bộ Quốc phòng, cử Trung tá Đoàn Hồng Phước làm Đoàn trưởng, Võ Huy Phúc làm Chính ủy. Thượng tá Võ Bẩm được giao nhiệm vụ làm Tư lệnh Đoàn 759). Với 38 chiến sĩ và 6 chiếc thuyền gỗ thô sơ, Đoàn 759 bước vào cuộc thử thách đầu tiên. Theo kế hoạch, chiếc thuyền sẽ chở 5 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men cho tĩnh Quảng Nam (Khu 5), điểm đến là bến Hố Chuối (dưới chân đèo Hải Vân) và hành động theo hai phương án chiến đấu: 1- Nếu đưa được hàng vào bến an toàn, sẽ tìm cách hủy tàu và đi theo đường bộ để trở lại đơn vị; 2- Nếu lạc đường, lạc hướng thì thả hàng xuống biển để giữ bí mật con đường vận tải biển, còn trường hợp bị địch bắt, cho nổ mìn phá thuyền. Đêm 27-1-1960, sau cuộc chia tay bịn rịn, lặng lẽ và cảm động, chiếc thuyền gồm sáu người dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Nguyễn Bất rời bến. Do sóng to, gió lớn, do trục trặc tay lái, con thuyền trôi dạt về phía Nam. Sau ba ngày gió lặng, những thuyền dân đánh cá và tàu địch đổ ra biển rất đông, tình hình hết sức khẩn cấp. Để đảm bảo bí mật con đường vận chuyển trên biển, thuyền trưởng Nguyễn Bất quyết định phi tang hàng theo phương án đã định. Chiều hôm đó, sáu thủy thủ trên thuyền bị bắt, năm người đã vĩnh viễn không bao giờ trở về, một người bị đày ra Côn Đảo, bị địch tra tấn nhiều năm nhưng không hề khai báo. Chuyến vượt biển đầu tiên thất bại, Bộ Quốc phòng chỉ thị tạm ngừng hoạt động để tìm một phương thức vận chuyển mới, trên cơ sở tổ chức hết sức chặt chẽ với những tính toán, lựa chọn phương án thật chuẩn xác. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tư, 2026, 08:32:32 pm Trong khi chờ đợi tìm ra một phương thức vận chuyển vũ khí theo đường biển từ miền Bắc vào miền Nam một cách an toàn, đảm bảo nhất, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ thị cho các tỉnh Nam Bộ chuẩn bị bến bãi và tổ chức những chuyến vượt biển ra Bắc để nhận vũ khí. Đó là những chuyến đi mang tính chất thăm dò, nghiên cứu, mở đường và tổng kết, báo cáo tình hình. Quyết định của Trung ương Đảng đáp ứng lòng mong mỏi của các địa phương đang "đói" vũ khí cho cuộc đấu tranh ngày một quyết liệt. Những địa phương tiên phong đi đầu là các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Bà Rịa. Có kinh nghiệm vượt biển ra Bắc chở vũ khí từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, trong một thời gian ngắn, tỉnh Bến Tre - quê hương của "Đồng khởi" đã tổ chức được hai đội tàu. Các tỉnh Bạc Liêu cử hai đội tàu; tỉnh Trà Vinh, Bà Rịa - mỗi tỉnh cử một đội. Sáu chuyến đi chỉ có một chuyến phải quay trở về. Những người con của Nam Bộ thành đồng, "đi trước, về sau" đã thành công mở đường đột phá ra Bắc. Trong những chuyến vượt biển đầu tiên này, các thủy thủ nắm bắt quy luật, hiểu biết rõ hơn tình hình trên biển, rút kinh nghiệm, cùng với Trung ương đánh giá, đưa ra và lựa chọn phương án.
Sau khi bàn bạc, cân nhắc, tính toán, tháng 4-1962, Quân ủy Trung ương quyết định cử Bông Văn Dĩa (một chiến sĩ vượt biển kỳ cựu của đội thuyền tỉnh Bạc Liêu, ngay từ năm 1947 đã điều khiển thuyền buồm đi Thái Lan để mua vũ khí rồi chở về cho Nam Bộ) trở vào Nhật Lệ bằng chính chiếc tàu mà năm trước anh đã vượt biển ra Bắc. Lần trở về này, thuyền anh chưa vận chuyển vũ khí mà ra đi với mục đích tiếp tục thăm dò, tìm kiếm phương án. Ngày 18-4-1962, Bông Văn Dĩa vào tới cửa Bồ Đề, thuộc Cà Mau và tháng 7-1962, Trung ương có lệnh gọi anh trở ra để báo cáo1 (Đặng Phong. Năm đường mòn Hồ Chí Minh, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008, tr. 157). Dựa trên phân tích, tổng kết của các chuyến đi thăm dò hai chiều Nam - Bắc, Bắc - Nam, sau khi khảo sát, điều nghiên kỹ lưỡng, chuẩn bị loại tàu vận tải thích hợp và lên phương án, "Quân ủy Trung ương và đích thân Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn đã chọn Bông Văn Dĩa phụ trách chiếc tàu đầu tiên chở vũ khí vào Nam"1 (Đặng Phong. Năm đường mòn Hồ Chí Minh, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008, tr. 157). Đêm 12-10-1962, chiếc tàu "Phương Đông 1" gồm 10 thủy thủ dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Lê Văn Một, chính trị viên Bông Văn Dĩa chở gần 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) đi về phương Nam. Đến 6 giờ sáng ngày 16-10-1962, tàu an toàn vào tới Chùm Gọng (Vàm Lũng, Tân An). Tàu "Phương Đông 1" đã đi vào lịch sử - chính thức khai thông một tuyến vận tải hết sức đặc biệt của chiến tranh nhân dân Việt Nam - đường Hồ Chí Minh trên biển. Sau chuyến đi thành công của tàu "Phương Đông 1", ba chiếc tàu khác cũng đã cập bến Cà Mau an toàn. Cùng thời điểm đó, các bến Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa cũng đón những chuyến tàu đầu tiên, hình thành nên bốn cụm bến đầu tiên đón hàng của tuyến vận tải trên biển. Cũng từ đây trở đi, công tác vận tải của đường Hồ Chí Minh trên biển được liên tục cải tiến mọi khâu, từ phương tiện vận chuyển, phương thức vận chuyển, đến đội ngũ và nguyên tắc vận chuyển; nhờ thế, vận hành ngày càng chủ động, hiệu quả hơn. Có lẽ trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, chưa từng có một con đường vận tải nào độc đáo đến thế và cũng thành công đến thế trong các biện pháp bảo mật, ngụy trang. Chở nặng hàng hóa, vũ khí, thực hiện hành trình trong khu vực biển trông trải, nơi tàu địch thường xuyên kiểm soát, lùng sục gắt gao, song phần lớn những con tàu không số đã ngụy trang đến mức nghệ thuật và ứng phó hết sức bản lĩnh trong nhiều tình huống nguy hiểm, vượt qua sự nhòm ngó của đối phương để về tới bến bãi, kịp thời đưa hàng hóa, vũ khí đến với tuyến lửa miền Nam. Và "nếu tính từ chuyến đầu tiên của tàu "Phương Đông 1", cập bến Vàm Lũng ngày 16-10-1962 đến con tàu số 143 vào bến Vũng Rô ngày 15-2-1965, đã có 87 chuyến tàu ra đi; trong đó chỉ có một chuyến tàu số 6 đi ngày 10-10-1963 là phải quay về, còn tất cả đều tới đích"1 (Đặng Phong, Năm đường mòn Hồ Chí Minh, Sđd, tr. 201). Mỗi chuyến đi là một cuộc đấu trí căng thẳng, quyết liệt với kẻ thù, với thiên nhiên, với mọi khó khăn, thử thách, dường như vượt qua mọi giới hạn chịu đựng của con người. Thế nhưng, bắt đầu từ những chiếc thuyền thô sơ, trọng tải nhỏ, chỉ đi theo lộ trình dọc ven biển, tuyến vận tải chiến lược đã nhanh chóng phát triển, có hàng trăm chiếc tàu sắt trọng tải lớn, vươn rộng ra ngoài hải phận quốc tế với phương thức vận chuyển linh hoạt, kết hợp giữa hợp pháp với bất hợp pháp; uyển chuyển lựa chọn lộ trình (biển xa, biển gần); nhanh nhạy lựa chọn địa hình, bến bãi, lợi dụng con nước, thời tiết; khéo léo nghi binh, lừa địch một cách táo bạo, bất ngờ; càng đi, càng tinh, càng tỉnh táo, quyết đoán. Sự tồn tại của tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển với những chuyến vượt biển thành công của các đoàn tàu không số là kết quả của trình độ chỉ huy, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng hỗ trợ, các cơ quan tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần, hệ thống thông tin vô tuyến điện, các bến bãi, kho tàng tiếp nhận, bảo quản, phân phối, lực lượng bốc dỡ, lực lượng vũ trang chiến đấu khi xảy ra sự cố, các đường dây cứu thương... hoạt động theo một hệ thống hoàn chỉnh, thông suốt, khoa học. Trên tất cả, đường Hồ Chí Minh trên biển là tuyến đường của thế trận lòng dân trong thế trận chiến tranh nhân dân. Dựa vào dân, có sự chở che, giúp đa, hỗ trợ hết lòng của nhân dân, tuyến vận tải chiến lược trên biển đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách khốc liệt, gian nan, vất vả, vượt qua mọi sự phong tỏa của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. 14 năm âm thầm chở nặng những chuyến hàng, chở nặng nghĩa tình, chở nặng những "thắt lưng, buộc bụng" của miền Bắc đến với miền Nam, đường Hồ Chí Minh trên biển cũng gánh chịu không ít những tổn thất, hy sinh. Đó là việc bắt buộc phải cho nổ tàu 143 ở Vũng Rô (2-1965), có hàng chục chuyến tàu xuất bến phải quay về. Trong số 168 con tàu đã ra đi từ năm 1966 đến năm 1972, có tám con tàu đã phải phá hủy để xóa dấu vết nhằm bảo đảm bí mật tuyệt đối của tuyến đường huyết mạch. Quá trình chiến đấu với nhiệm vụ đặc biệt này, "đã có 117 cán bộ, chiến sĩ hy sinh quên mình trên biển"1 (Bùi Đình Nguyên, Mở đường trên biển với Đoàn tàu không số, Báo Sức khỏe và đời sống, số 792, ngày 31-3-2005). Những chiến sĩ Phan Vinh, Huỳnh Ngọc Trạch, Nguyễn Chánh Tâm, Nguyễn Ngọc Lương, Nguyễn Văn Hiệu... và bao đồng đội khác đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng biển bao la và sâu thẳm. Trong chặng vượt biển cuối cùng, các anh đã không thể cùng đồng đội đi trọn quãng đường, ở lại với biển khơi, với sóng gió, các anh đã dệt nên huyền thoại bằng tuổi thanh xuân, bằng nhiệt huyết, bằng niềm tin giản dị, trong trẻo và bằng hy vọng về một ngày toàn thắng không xa. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2026, 06:54:39 pm 2- Phát huy vai trò của tuyến vận tải chiến lược
Tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn không chỉ nối liền, chi viện cho chiến trường miền Nam mà còn là tuyến đường chi viện cho cả chiến trường hai nước bạn Lào và Campuchia. Suốt 16 năm xây dựng, tuyến vận tải đó đã không ngừng mở rộng, vươn sâu, vươn xa, trở thành hậu phương tại chỗ, thành căn cứ vững chắc của cách mạng ba nước, nối liền hậu phương tại chỗ của cách mạng ba nước với hậu phương chiến lược miền Bắc. Nhờ vậy, sự chi viện của miền Bắc và bạn bè quốc tế cho cách mạng Lào và Campuchia luôn luôn được giữ vững và tăng cường. Từ năm 1959 đến năm 1964, tuyến vận tải chiến lược đã đảm bảo vận chuyển và hành quân cho chiến trường miền Nam và Lào được 10.136 tấn cùng hàng nghìn tấn vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho cách mạng Lào. Trong các năm từ 1967 đến 1969, vận chuyển chi viện cho chiến trường Lào và các đơn vị hành quân đạt từ 105% đến 115% chỉ tiêu kế hoạch. Năm 1970, tuyến vận tải chiến lược đã chuyển trên 5.000 tấn vũ khí, đạn dược phục vụ kịp thời cho lực lượng giải phóng Campuchia phối hợp với Quân giải phóng miền Nam đập tan cuộc hành quân "Chenla". Các đơn vị tình nguyện của tuyến 559 phối hợp với quân và dân Lào đánh địch, giải phóng một vùng rộng lớn phía tây bao gồm Atôpơ, Saravan, Pha Lan... Từ sau cuộc đảo chính của Mỹ - Lonnon, đường vào cảng Sihanoukvin (Xihanúcvin) bị cắt đứt, toàn bộ vật chất chi viện cho lực lượng Quân giải phóng Campuchia đều do Đoàn 559 đảm nhiệm. Hai năm 1973-1974, Tuyến 559 đã vận chuyển cho chiến trường Lào, Campuchia và chiến trường miền Nam một khối lượng vật chất gấp 3,8 lần giai đoạn 1969-1972 và bằng 65,5% tổng khối lượng vận chuyển chi viện trong 17 năm trước đó (1955-1972), tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng ba nước giành thắng lợi. Đối với tuyến vận tải trên biển, đối đầu với lực lượng của kẻ thù mạnh hơn hàng trăm lần về sức mạnh quân sự1 (Hải quân Mỹ trên bờ biển Việt Nam thời đó là một lực lượng hải quân hùng mạnh bậc nhất trên thế giới (Hạm đội 7 (Seventh Fleet), huy động 40% lực lượng vào việc ngăn chặn vận tải biển của miền Bắc vào miền Nam. Trực thuộc Hạm đội 7 của Mỹ ở Thái Bình Dương là một loạt lực lượng đặc nhiệm (Task Force) trực tiếp tham chiến ở Việt Nam (lực lượng đặc nhiệm 73, 76, 77, 78, 115, 116, 117) với sự hỗ trợ của hơn 30 hàng không không mẫu hạm. Các lực lượng này đều trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân Mỹ tại Việt Nam (Naval Forces Vietnam) với quân số năm cao nhất lên tới 36.500 người (dẫn theo: Đặng Phong, Năm đường mòn Hồ Chí Minh)), bằng ý chí, sức mạnh tinh thần, sự nỗ lực, can trường, lòng quả cảm và được nhân dân chở che, trong suốt 14 năm liên tục (1961-1975), những chiến sĩ bình dị của đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại đã vận hành "1.789 chuyến tàu không số, vận chuyển 150.000 tấn vũ khí, trang bị và 80 nghìn lượt cán bộ, vượt qua hàng vạn hải lý, khắc phục hơn 400 quả thủy lôi, chống chọi hơn 20 cơn bão, chiến đấu 300 lần với tàu địch, đánh trả 1.200 lần máy bay địch tập kích, bắn rơi năm chiếc và bắn cháy nhiều tàu, xuồng địch"2 (Mai Thắng, Đường Hồ Chí Minh trên biển: 50 năm - huyền thoại một trường ca, Daidoanket.vn, ngày 13-7-2011), hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, thực hiện chỉ thị "thần tốc", "đại thần tốc" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đường Hồ Chí Minh trên biển đã thần tốc vận chuyển "130 lần với 143 chuyến tàu, chở 8.741 tấn vũ khí hạng nặng, gồm 50 xe tăng và đại pháo; đưa 18.741 cán bộ, chiến sĩ vượt 65.721 hải ]ý để kịp thời tham gia chiến đấu"3 (Bộ Tư lệnh Quân khu 9, Bảo đảm giao thông vận tải ở đồng bằng sông Cửu Long 1954-1976, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Nxb Phương Đông, Hồ Chí Minh, 2008, tr. 31-32), hợp đồng tác chiến với cánh quân đường bộ. Những chiến công của con đường Hồ Chí Minh huyền thoại trên biển chính là những kỳ tích lịch sử, được làm nên bởi trí tuệ, bởi lòng yêu nước, bởi sức mạnh của ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và bởi khát vọng hòa bình, khát vọng về một ngày mai tươi sáng. Như vậy, quyết định xây dựng tuyến vận tải chiến lược và thực hiện thắng lợi quyết định đó là một trong những thành công to lớn trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyến đường vận tải chiến lược đó mãi đi vào lịch sử như là con đường huyền thoại, là sản phẩm kỳ diệu của tài năng, sự kiên nhẫn và sự hy sinh vô bờ bến của con người, là biểu hiện của tình đoàn kết chiến đấu và giúp đỡ lẫn nhau của cách mạng ba nước trên bán đảo Đông Dương. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2026, 06:56:23 pm Chương III MIỀN NAM THÀNH ĐỒNG TRÊN TUYẾN ĐẦU GIAN KHỔ I- XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG TẠI CHỖ VÀ ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ 1- Xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của hậu phương tại chỗ Khi Hiệp định Geneva được ký kết và lệnh ngừng bắn có hiệu lực, Xứ ủy Nam Bộ, các cấp ủy Đảng và chính quyền kháng chiến - hành chính ở các địa phương miền Nam khẩn trương sắp xếp, bố trí lực lượng tập kết và lực lượng ở lại. Bộ phận ở lại bao gồm những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm hoạt động trong những điều kiện khó khăn, phức tạp trước Cách mạng tháng Tám và trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp trên địa bàn miền Nam. Đây là lực lượng nòng cốt tổ chức và phát động quần chúng đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Geneva. Ở các địa phương, việc cất giấu vũ khí, muối, một số vật chất cần thiết cho hoạt động sau này được bí mật xúc tiến. Các huyện Đức Hoà, Nhơn Ninh, Thạnh Phước, Vĩnh Đức thuộc Long An chôn nhiều hầm vũ khí đủ trang bị cho ba trung đội vũ trang. Tỉnh Sóc Trăng chôn bốn hầm với 200 khẩu, tỉnh Kiến Tường chôn ba hầm với 280 khẩu. Phân liên khu miền Tây để lại một số vật chất thiết yếu và 14 triệu đồng "tiền" Cụ Hồ, giao cho Ban căn cứ thuộc Xứ ủy quản lý. Ngoài vật chất, vũ khí, một số thợ cơ khí, thợ quân giới được bố trí ở lại hoạt động hợp pháp. Khi cần thiết họ sẽ là người tập hợp lực lượng, tổ chức sửa chữa, chế tạo các loai vũ khí thô sơ. Dù số lượng không nhiều và phân bố rải rác nhưng vũ khí, lực lượng để lại là một trong những điều kiện thiết yếu cho việc xây dựng căn cứ kháng chiến buổi đầu. Sau ngày Hiệp định Geneva được ký kết, thực hiện chính sách "tố cộng", tiêu diệt các phe phái chống đối, chính quyền Ngô Đình Diệm gom dân lập "khu trù mật", "khu dinh điền", nhằm kiểm soát chặt người dân miền Nam, tách người dân khỏi sự liên hệ với những người cộng sản. Dọc các trục lộ giao thông Khu 5, dọc các cánh rừng từ Tây Ninh, Kon Tum đến miền Đông Nam Bộ... một loạt khu tập trung được xây dựng. Mục tiêu của chính quyền Sài Gòn là thiết lập một cơ cấu kiểm soát chặt vùng tiếp cận giữa vùng núi và đồng bằng nhằm đảm bảo an ninh tại các địa bàn bị tình nghi có liên hệ với cách mạng. Trước hành động khủng bố của chính quyền Sài Gòn, cách mạng miền Nam bị tổn thất về tổ chức và lực lượng ngày càng cao, quần chúng cách mạng bị khống chế gắt gao. Một số địa phương, cán bộ, đảng viên, quần chúng cách mạng rút vào hoạt động bí mật, chuyển vùng... hoặc chuyển vào các căn cứ kháng chiến cũ ở rừng núi, bưng biền, tổ chức sản xuất tự túc và tự vệ. Miền rừng núi Khu 5, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên xuất hiện các "trại bí mật". Ở các chiến khu Đ, Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ) hình thành "làng chiến đấu", "làng thoát ly"; vùng Đồng Tháp Mười ra đời các mũi "túi dân tản cư". Sâu trong miệt rừng U Minh thuộc Tây Nam Bộ có các "làng rừng"; vùng đồng bào S.Tiêng có các "làng Độc Lập"... Đó là những hình thức khác nhau, là cơ sở ban đầu hình thành các căn cứ địa trong giai đoạn đầu chiến tranh Việt Nam. Mặt khác, từ sau Hiệp định Geneva, đặc biệt những năm 1955, 1956, để duy trì sự liên hệ về mặt tổ chức đảng giữa các vùng để xây dựng các địa bàn đứng chân của lực lượng cách mạng, Xứ ủy và Khu ủy Khu 5 đã chỉ đạo việc mở các "đường giao liên bí mật", thành lập Ban miền Tây, Ban căn cứ. Ở Khu 5, đến cuối năm 1955, đường dây liên lạc bắt đầu từ Bắc vào Nam, qua Quảng Trị, Thừa Thiên đến Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum... vào tận các tỉnh Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Ở Đông Nam Bộ và Nam Bộ, các tuyến liên lạc cũng được thiết lập, kết nối giữa các vùng rừng núi, đồng bằng với các đô thị. Sự liên hệ giữa các cơ sở Đảng ở nhiều địa phương vẫn được duy trì. Đường giao liên bí mật hình thành và ngày càng phát triển tạo điều kiện cho việc xây dựng tuyến hành lang, hệ thống căn cứ địa - hậu phương tại chỗ ở miền rừng núi và vùng giáp ranh những năm 1955-1956... Như vậy, trước sự bức bách của tình thế, để tự vệ, để bảo tồn lực lượng, một yêu cầu lớn đặt ra cho cách mạng miền Nam là phải hình thành những vùng căn cứ làm chỗ đứng chân cho các lực lượng cách mạng. Những vùng như vậy đã xuất hiện ở miền rừng núi, ở các vùng căn cứ cũ thời kháng chiến chống pháp. Bộ Quốc phòng Mỹ cũng đã phát hiện ra thực tế này: "Những càn cứ địa vững chắc của cộng sản đã được thiết lập ở Nam Việt Nam trong quá trình cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất chống lại người Pháp. Dân cư ở những vùng này vẫn duy trì mối quan hệ chặt chẽ về Đảng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tạo ra những vùng đất thánh an toàn và những căn cứ hoạt động hỗ trợ cho các hoạt động chống chính phủ Việt Nam"1 (Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, Thư viện Trung ương quân đội sao lục, 1982). Từ cuối năm 1956, để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, Xứ ủy Nam Bộ chủ trương thành lập các đội vũ trang tuyên truyền, cử Nguyễn Hữu Xuyến làm ủy viên quân sự của Xứ ủy. Từ U Minh, Nguyễn Hữu Xuyến đã về miền Đông để chỉ đạo công tác xây dựng căn cứ địa của Xứ ủy và tổ chức các lực lượng vũ trang tập trung. Từ năm 1957 trở đi, các đơn vị vũ trang tập trung xuất hiện ngày càng nhiều, bao gồm của Xứ ủy, của các tỉnh và lực lượng du kích mật của các địa phương. Cùng với quá trình hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang tập trung, yêu cầu xây dựng, củng cố và mở rộng các vùng căn cứ thành hậu phương tại chỗ cho lực lượng cách mạng, cho các đơn vị vũ trang được đặt ra và giải quyết. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2026, 06:57:36 pm Đầu năm 1958, Xứ ủy Nam Bộ quyết định thành lập khu căn cứ miền Đông. Khu căn cứ này nối thông với các vùng đất sát biên giới Việt Nam - Campuchia theo hai hướng tây bắc và đông bắc. Ở Khu 5, tháng 2-1958, Tỉnh ủy Quảng Ngãi họp tại căn cứ Trà Bồng quyết định tăng cường công tác xây dựng các vùng căn cứ du kích, trọng tâm là các huyện Trà Bồng, Ba Tơ, Sơn Hoà. Hội nghị để ra nhiệm vụ thành lập các đội tự vệ vũ trang ở các xã để bảo vệ căn cứ, tổ chức sản xuất để tự túc lương thực, thực phẩm và có một phần dự trữ. Nhiều địa phương ở Quảng Ngãi đã thành lập các đội "Nông binh" làm nòng cốt trong việc bảo vệ và sản xuất ở các vùng căn cứ; tích lũy gạo, muối, thuốc men. Đồng bào các dân tộc miền núi đã bí mật làm "rẫy cách mạng" để đóng góp, ủng hộ lương thực cho lực lượng dân quân, du kích. Trong khi đó, một số lương thực, thuốc men, muối cũng được bí mật chuyển từ đồng bằng lên các vùng căn cứ bổ sung vào nguồn dự trữ.
Giữa năm 1958, Liên khu ủy Khu 5 họp Hội nghị mở rộng, quyết định xây dựng miền Tây các tỉnh đồng bằng và khu vực Tây Nguyên thành căn cứ địa cách mạng, tổ chức lực lượng vũ trang và bán vũ trang để bảo vệ căn cứ, bảo vệ cán bộ và nhân dân. Sau Hội nghị, việc xây dựng căn cứ, xây dựng lực lượng được xúc tiến mạnh mẽ. Các đơn vị vũ trang tập trung, các đội tự vệ và du kích mật đẩy mạnh hoạt động diệt ác, trừ gian, làm trong sạch địa bàn vùng căn cứ và khu vực tiếp giáp với vùng địch kiểm soát. Các dân tộc Tây Nguyên tích cực rào làng, cắm chông, canh phòng. Năm 1958, một số xã ở Gia Lai, Kon Tum, tây Quảng Ngãi đã thành lập "Ban tự quản", "Ban cán sự" nhằm quản lý mọi mặt vùng căn cứ, vùng làm chủ. Đến cuối năm 1958, bên cạnh một số căn cứ có từ thời chống Pháp tiếp tục được duy trì, củng cố sau Hiệp định Geneva, nhiều vùng căn cứ mới xuất hiện dọc những miền rừng núi nối với nhau bằng các đường dây liên lạc bí mật. Các vùng căn cứ này được thiết lập ở các tỉnh Tây Nguyên, miền Tây các tỉnh đồng bằng Khu 5, khu vực Đông Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ tạo thành thế đứng mới của cách mạng miền Nam. Năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khoá II) xác định: Con đường phát triển của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực, là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Nhiệm vụ của các địa phương miền Nam là phải tích cực xây dựng những "cơ sở an toàn", "khu an toàn" làm cơ sở để xây dựng lực lượng, chuẩn bị điều kiện cho bước phát triển mới của cách mạng. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 15, Tổng Quân ủy họp bàn nhiệm vụ chi viện cho cách mạng miền Nam quyết định mở tuyến vận tải trên biển và trên bộ nối liền hậu phương miền Bắc với hậu phương tại chỗ ở miền Nam. Tại miền Nam, sau khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15, phong trào Đồng khởi - phong trào đấu tranh chính trị với sự hỗ trợ của các lực lượng tự vệ, lực lượng vũ trang ngày càng phát triển, công tác xây dựng lực lượng, mở rộng hậu phương tại chỗ được đẩy mạnh. Dựa vào đó, các đơn vị vũ trang tăng cường các hoạt động diệt ác, phá tề, trừ gian; tiến công, bao vây, bức rút đồn bốt địch; hỗ trợ cho quần chúng đồng loạt nổi dậy giành quyền làm chủ, mở ra vùng giải phóng trên nhiều khu vực rộng lớn ở đồng bằng và rừng núi miền Nam: 800 xã trong số 1.202 xã ở Nam Bộ, 3.200 thôn, bản ở Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh đồng bằng Khu 5 - tại đây, chính quyền cách mạng được thành lập. Chính quyền cách mạng đã chia ruộng đất cho dân nghèo, tổ chức lực lượng tự vệ, vũ trang, vận động nhân dân khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, tham gia bảo vệ vùng giải phóng. Trên đà thắng lợi, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập (20-12-1960), đánh dấu bước ngoặt trong quá trình phát triển của cách mạng miền Nam, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng, lấy đấu tranh chính trị làm hình thức đấu tranh chủ yếu sang thế tiến công rộng khắp, liên tục; kết hợp chặt chẽ và vận dụng linh hoạt hai hình thức đấu tranh cơ bản: Đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Từ đây, cùng với sự phát triển của cách mạng miền Nam, hậu phương tại chỗ ngày càng mở rộng và được củng cố vững chắc trên cả ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị. Đô thị là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Trong hơn 20 năm cầm quyền, chính quyền Sài Gòn ra sức tăng cường lực lượng bảo vệ, áp dụng các biện pháp về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá nhằm biến đô thị thành hậu phương an toàn, thành căn cứ quân sự vững chắc của chiến tranh. Vì vậy, cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và chính quyền Sài Gòn ở địa bàn đô thị diễn ra phức tạp, quyết liệt trên tất cả các mặt. Trong cuộc đấu tranh đó, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng trong đô thị, lấy đó làm chỗ dựa vững chắc để phát triển lực lượng, phát động các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh đấu tranh bằng nhiều hình thức và với những mức độ khác nhau. Mặt khác, các cơ sở cách mạng ở đô thị còn là nơi giấu ém lực lượng và vũ khí; nơi xuất phát của các đội biệt động, đặc công tập kích vào các mục tiêu quan trọng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn tận sào huyệt; nơi thu gom tài liệu, thuốc men, tin tức tình báo... phục vụ cho việc chỉ đạo chiến tranh của Đảng. Vùng nông thôn đồng bằng từ Trị - Thiên qua ven biển miền Trung đến Nam Bộ là khu vực đông dân, nhiều của, có tầm quan trọng đối với cả lực lượng cách mạng cùng như chính quyền Sài Gòn. Vì vậy, đây là nơi diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa "bình định" và chống phá bình định nhằm giành quyền kiểm soát, giành đất, giành dân. Để bình định nông thôn miền Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đưa người dân vào sống trong các trại tập trung "khu trù mật", "ấp chiến lược", "ấp tân sinh", "ấp đời mới", nhằm mục đích thiết lập sự kiểm soát chặt chẽ vùng đồng bằng, tách nông dân khỏi sự liên hệ với cách mạng, xoá bỏ "hạ tầng cơ sở" của chiến tranh nhân dân bao gồm cơ sở chính trị, căn cứ du kích, vùng làm chủ và vùng giải phóng rộng lớn... Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2026, 06:58:29 pm Cuộc chiến đấu giành quyền kiểm soát vùng nông thôn đồng bằng diễn ra dai dẳng, quyết liệt trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng. Trong cuộc chiến đấu đó, quân và dân miền Nam thực hiện phương châm "ba bám", "một tấc không đi, một ly không rời", đẩy mạnh ba mũi giáp công, không ngừng mở rộng quyền làm chủ ở nhiều vùng nông thôn, xây dựng hành lang chiến đấu thành căn cứ du kích, "vành đai diệt Mỹ", tiến tới áp sát và uy hiêp nhiều tuyến giao thông huyết mạch, nhiều đô thị, nhiều căn cứ quân sự của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đỉnh cao là những năm 1964 và 1968. Vùng giải phóng được củng cố, mở rộng ở nông thôn đồng bằng trở thành hậu phương tại chỗ của lực lượng cách mạng, của dân quân du kích, bộ đội địa phương và các đơn vị bộ đội chủ lực.
Vùng rừng núi bao gồm tây Trị - Thiên, Tây Nguyên, tây Khu 8, Đông Nam Bộ, dải rừng U Minh ở Tây Nam Bộ có vị trí chiến lược trọng yếu cho toàn bộ chiến trường miền Nam và Nam Đông Dương. Nếu trước Đồng khởi, đây là địa bàn che giấu, bảo tồn lực lượng cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam phục hồi và phát triển thì sau Đồng khởi, từ năm 1961 trở đi, vùng rừng núi trở thành địa bàn tiếp nhận sự chi viện của hậu phương miền Bắc, nơi đặt bản doanh của các cơ quan chỉ đạo miền Nam, nơi xây dựng, phát triển của lực lượng vũ trang tập trung. Khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ", vùng rừng núi là nơi lực lượng cách mạng tổ chức các trận đánh lớn nhằm thu hút, kìm chân, tiêu diệt một bộ phận lớn chủ lực địch, tạo điều kiện cho các chiến trường khác đẩy mạnh tiến công chống phá bình định, mở rộng vùng giải phóng ở nông thôn đồng bằng, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị. Cùng với sự phát triển của cách mạng miền Nam, địa bàn rừng núi do lực lượng cách mạng làm chủ ngày càng được mở rộng, bao gồm vùng rừng núi từ tây Trị - Thiên đến miền núi Khu 5 vào tới Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, vùng núi Khu 6; nối với vùng giải phóng Hạ Lào, vùng Đông Bắc Campuchia, vùng U Minh Thượng, U Minh Hạ, vùng rừng đước Năm Căn Quân khu 9... Từ năm 1969 trở đi, do chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Đông Dương thực sự là một chiến trường, quân và dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia cùng chung một chiến hào, trong đó miền Nam Việt Nam là chiến trường chính. Trong cuộc chiến đấu đó, nhiều vùng đất thuộc Campuchia và nhất là Lào trở thành hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam; miền Bắc Việt Nam là hậu phương căn cứ địa cho cách mạng miền Nam, cách mạng Lào và cách mạng Campuchia. Trên thực tế, đã hình thành một vùng giải phóng rộng lớn thuộc ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Vùng giải phóng rộng lớn đó được xây dựng, củng cố, nối với hậu phương miền Bắc qua hệ thống đường vận tải chiến lược 559 để trở thành hậu phương trực tiếp, thành bàn đạp tiến công của các binh đoàn chủ lực Quân giải phóng, uy hiếp ngày càng mạnh hệ thống phòng thủ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên toàn bộ chiến trường. Suốt 21 năm chiến tranh, sự hình thành và phát triển của hậu phương tại chỗ gắn bó chặt chẽ với sự lớn mạnh của cách mạng miền Nam. Hậu phương đó dựa vào lòng dân, bao gồm cơ sở cách mạng bí mật, khu du kích, làng chiến đấu, hệ thống vành đai, hệ thống căn cứ địa được xây dựng và không ngừng mở rộng trên khắp ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị. Đó vừa là điều kiện, vừa là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ hai phương thức đấu tranh quân sự và chính trị; là điều kiện hình thành và phát triển của thế trận chiến tranh nhân dân ở miền Nam; là kết quả của đường lối, chủ trương, biện pháp xây dựng, bảo vệ hậu phương tại chỗ do Đảng Lao động Việt Nam đề ra trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp. Giữ một vai trò to lớn trong suốt quá trình phát triển của cách mạng miền Nam, là điều kiện để triển khai thế trận chiến tranh nhân dân, thực hành chiến lược tiến công rộng khắp trên ba vùng chiến lược, hậu phương tại chỗ trở thành mối uy hiếp trực tiếp, ngày càng mạnh hậu phương, hậu cứ của địch trên nhiều hướng. Vì vậy, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã đề ra và thực hiện nhiều kế hoạch bình định, sử dụng các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng nhằm giành đất, giành dân, thu hẹp dần và tiến tới xoá bỏ cơ sở cách mạng, lõm căn cứ, vùng làm chủ, vùng giải phóng. Trước tình hình đó, cuộc đấu tranh chống phá bình định, duy trì, mở rộng hậu phương tại chỗ của quân và dân miền Nam Việt Nam trên khắp chiến trường diễn ra quyết liệt. Trong cuộc đấu tranh đó, tuỳ điều kiện và tình hình cụ thể, quân và dân các địa phương miền Nam vận dụng nhiều biện pháp, sáng tạo nhiều hình thức, kết hợp chặt chẽ các mặt đấu tranh, tạo nên sức mạnh bảo vệ, mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng xây dựng thành hậu phương tại chỗ của các lực lượng cách mạng. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2026, 06:59:17 pm Thành thị là căn cứ, là hậu phương quan trọng của chính quyền Sài Gòn. Tại đây, chính quyền Sài Gòn thiết lập hệ thống cảnh sát, do thám, gián điệp dày đặc. Trong tình hình đó, để phát động và đẩy mạnh cuộc đấu tranh ở thành thị trên cơ sở vận động quần chúng, tập hợp lưc lượng, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc giải phóng bao gồm cả các tổ chức nghiệp đoàn, các tổ chức tôn giáo, các đảng phái và tổ chức chính trị khác nhau, các cấp ủy Đảng miền Nam luôn kết hợp phong trào đấu tranh công khai với các hoạt động bán công khai và các hoạt động bí mật. Bên cạnh đó, các cấp ủy Đảng miền Nam chủ trương ra sức xây dựng cơ sở cách mạng trong các thành thị mà lực lượng nòng cốt là các đảng viên, tổ chức đảng, những quần chúng có giác ngộ chính trị, trung kiên trong công nhân, thanh niên, phụ nữ... Các cơ sở đó bao gồm những tổ chức bí mật, kể cả các cơ sở ngầm, mai phục lâu dài và lồng sâu trong tổ chức hoặc bộ máy của chính quyền Sài Gòn. Để đảm bảo cho các cơ sở này vững mạnh và trong sạch, các nguyên tắc, các biện pháp tổ chức và hoạt động bí mật, công tác bảo vệ cán bộ, bảo vệ nòng cốt, che giấu lực lượng được bảo vệ nghiêm ngặt. Dựa vào các cơ sở cách mạng đó, cán bộ, đảng viên hoạt động ở thành thị có điều kiện bám sát thực tiễn, bắt mạch kịp thời các động thái chính trị, quân sự của chính quyền Sài Gòn, có biện pháp tập hợp, tổ chức quần chúng, phát triển lực lượng nòng cốt và xung kích trong các khu dân cư, xóm thợ; trong các ngành, các giới, không ngừng củng cố và mở rộng cơ sở chính trị bí mật. Mặt khác, lực lượng cách mạng còn tìm cách thâm nhập vào các tổ chức, các nghiệp đoàn, các đảng phái chính trị, các tôn giáo và các công sở của chính quyền Sài Gòn; vận động và giác ngộ binh lính, qua đó, gây dựng cơ sở cách mạng.
Ở nông thôn đồng bằng thuộc vùng kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ cách mạng thực hiện "ba bám", tập hợp các tầng lớp nhân dân, tổ chức thành đội ngũ bao vây, bức rút đồn bốt, đấu tranh chống cào ủi làng xóm, ruộng vườn, gom dân vào các trại tập trung; chống bắt lính, vây ráp; giành dân, che giấu, bảo vệ thanh niên trốn lính và đào binh; buộc chính quyền phải ngừng các hoạt động bắn phá bừa bãi, phải bồi thường thiệt hại về tính mạng và tài sản cho nhân dân. Qua đấu tranh, sự giác ngộ chính trị của quần chúng nhân dân vùng đối phương kiểm soát được nâng cao, tạo điều kiện để xây dựng, củng cố và phát triển cơ sở cách mạng trong các vùng bị chiếm đóng, ở các địa bàn trọng điểm, các cấp ủy Đảng chỉ đạo lập ra bộ phận lãnh đạo gồm đại diện cấp ủy Đảng, cán bộ chính trị, quân sự để chỉ huy thống nhất các lực lượng quân sự, chính trị, binh vận nhằm tạo nên sức mạnh phá rã chính quyền đối phương, giành quyền làm chủ trên từng vùng, từng mảng, từng khu vực ngày càng rộng lớn, xây dựng các vùng này thành căn cứ, khu du kích, vùng giải phóng liên hoàn, thành hậu phương tại chỗ của lực lượng cách mạng miền Nam. Nhìn chung, hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam đan xen "cài răng lược" với vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát hoặc vùng tranh chấp. Vì vậy, để bảo vệ, phát huy vai trò của hậu phương tại chỗ, hậu phương đó phải được xây dựng vững mạnh toàn diện. Xây dựng hậu phương tại chỗ vững mạnh về chính trị là nhiệm vụ hàng đầu vì sự vững chắc của cơ sở cách mạng, khu du kích, làng chiến đấu, căn cứ địa... trước hết dựa vào sự giác ngộ chính trị của nhân dân; dựa vào sự vững mạnh của các tổ chức chính trị của quần chúng cách mạng. Buổi đầu, tình hình mọi mặt ở vùng giải phóng, căn cứ địa phức tạp. Các tổ chức do chính quyền Sài Gòn cài lại, các gián điệp ngầm thường trà trộn, lén lút hoạt động, phá hoại. Do vậy, ở những vùng mới giải phóng, cùng với việc xoá bỏ bộ máy được chính quyền Sài Gòn thiết lập, phải thường xuyên làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao giác ngộ chính trị và ý thức cảnh giác cho nhân dân, tổ chức nhân dân tham gia công tác bảo đảm trị an. Việc xây dựng và củng cố chính quyền được đẩy mạnh nhằm đảm bảo cho hậu phương tại chỗ không ngừng mở rộng và phát huy vai trò, tác dụng đối với cuộc kháng chiến. Trong giai đoạn Đồng khởi, các ủy ban nhân dân tự quản hình thành ở nhiều xã, ấp, đồng bằng và miền núi, thay thế cho chính quyền địch bị tan rã hoặc bỏ chạy. Các ủy ban này đảm nhận chức năng của chính quyền cách mạng: Tổ chức nhân dân ổn định sản xuất, xây dựng cuộc sống mới; chống các cuộc càn quét, đánh phá của địch. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân tự quản mới là hình thức chính quyền sơ khai, mới ở cấp cơ sở và chưa thành một hệ thống. Từ khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, Ủy ban Mặt trận được xây dựng ở các địa phương. Đối với những địa phương chưa có chính quyền cách mạng, những vùng còn tranh chấp hoặc những vùng mới giành quyền làm chủ, Ủy ban Mặt trận đảm nhiệm chức năng của chính quyền cách mạng. Ở các vùng giải phóng, Ủy ban Mặt trận đóng vai trò của Hội đồng nhân dân. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tự quản được kiện toàn, củng cố và đóng vai trò chính quyền cách mạng cơ sở. Từ năm 1965, úy ban nhân dân tự quản đổi thành Ủy ban giải phóng nhằm nêu bật nhiệm vụ hàng đầu của chính quyền cách mạng là chống xâm lược, giải phóng đất nước. Sau thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tổ chức tuyển cử bầu ra Ủy ban nhân dân cách mạng ở các địa phương. Các cuộc bầu cử thực sự là những đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân vùng giải phóng. Thông qua các cuộc bầu cử này, nhân dân ý thức sâu sắc hơn những quyền lợi mà chính quyền cách mạng đem lại; cổ vũ họ tham gia tích cực và tự nguyện vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chính quyền, bảo vệ vùng giải phóng. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2026, 07:00:24 pm Tháng 6-1969, trước yêu cầu của cuộc đấu tranh trong giai đoạn mới, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập; từ đó, hệ thống chính quyền từ Trung ương tới cơ sở được kiện toàn, củng cố. Hệ thống chính quyền đó đã phát huy mạnh mẽ vai trò to lớn trong việc vận động và tổ chức quần chúng tham gia tích cực nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ hậu phương tại chỗ.
Trong sự nghiệp xây dựng và củng cố hậu phương tại chỗ, các tổ chức chính trị của quần chúng đóng một vai trò quan trọng. Các tổ chức này tập hợp nhân dân theo nghề nghiệp, lứa tuổi hoặc theo giới và động viên mọi người thực hiện đường lối chính sách của Đảng và chính quyền, đóng góp tích cực vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ. Trên thực tế, ở các vùng giải phóng, các tổ chức quần chúng được thành lập như Hội Lao động giải phóng, Hội Phụ nữ giải phóng, Hội Nhà báo yêu nước, Hội Liên hiệp sinh viên và học sinh, Hội những người Công giáo kính Chúa, yêu nước... Các tổ chức quần chúng đó thu hút ngày càng nhiều hội viên tham gia và đã phát huy tác dụng đoàn kết, động viên mọi người tham gia xây dựng, bảo vệ vùng giải phóng. Dựa vào sự giác ngộ chính trị của nhân dân và tính hiệu lực của chính quyền cách mạng, các cấp ủy Đảng và chính quyền thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng dân quân du kích, bộ đội địa phương làm nòng cốt cho toàn dân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Bên cạnh dân quân du kích và bộ đội địa phương, lực lượng chính trị của quần chúng nhân dân được chú trọng phát triển. Nòng côt của lực lượng này là các tổ chức chính trị của quần chúng do các cấp ủy Đảng ở cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo. Năm 1960, toàn miền Nam có khoảng 12.000 bộ đội địa phương và 10.000 dân quân du kích cùng hàng chục vạn dân quân tự vệ. Lực lượng này tiếp tục được tăng cường cùng với quá trình mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng. Đến năm 1965, bộ đội địa phương của các huyện, tỉnh miền Nam lên tới 68.000 và dân quân du kích là 137.000. Đây là lực lượng nòng cốt cho việc phát động phong trào đấu tranh chống phá bình định, mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thất bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" và chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ. Từ giữa năm 1968 trở đi tối các năm 1969, 1970, trước sự đánh phá dữ dội của chính quyền Sài Gòn, cách mạng miền Nam bao gồm cơ sở cách mạng, quần chúng cách mạng, cán bộ đảng viên và lực lượng vũ trang bị tổn thất nặng nề. Riêng về lực lượng dân quân, nếu năm 1967, toàn miền Nam có 302.638 người thì đến cuối năm 1968 con số đó chỉ còn 184.081 người và năm 1969 còn lại 104.744 người. Cùng với quá trình sút giảm lực lượng là sự thu hẹp dần vùng giải phóng, vùng làm chủ ở ven đô thị và nông thôn đồng bằng. Mất bàn đạp tiến công, bộ đội chủ lực phải lùi về vùng rừng núi. Thế trận chiến tranh nhân dân bị giảm sút nghiêm trọng... Như vậy, giữa xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ với nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị có mới liên quan chặt chẽ, hỗ trợ và tác động lẫn nhau. Khi nào và ở đâu, vấn đề này được các cấp ủy Đảng, chính quyền và chỉ huy chú trọng giải quyết tốt thì khi đó, hậu phương tại chỗ được bảo vệ và mở rộng, thế trận chiến tranh được củng cố và phát triển. Đồng thời với xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, quân và dân các vùng giải phóng, vùng căn cứ đã xây dựng làng chiến đấu với hệ thống công sự, trận địa được bố trí, tổ chức phù hợp với điều kiện địa hình và phương án chiến đấu cụ thể từng nơi, từng lúc. Thế trận đó cho phép quân và dân miền Nam vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu kịp thời, hiệu quả bằng mọi vũ khí sẵn có. Dựa vào hệ thống công sự, trận địa đó, quân và dân miền Nam đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và binh vận, bảo vệ, mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng, tạo thành thế liên hoàn hỗ trợ cho nhau. Tại các vùng tranh chấp, vùng nằm sâu trong hậu phương địch, ngoài hệ thống công sự, trận địa, quân và dân miền Nam còn xây dựng hầm bí mật để ém giấu lực lượng, tài sản; chống các cuộc càn quét bình định. Một số địa bàn xung yếu uy hiếp mạnh các mục tiêu chiến lược của địch; nơi thường xuyên bị địch đánh như Củ Chi, Bến Cát và những làng mạc xung quanh căn cứ quân sự Mỹ, quân và dân miền Nam đã đào địa đạo sâu trong lòng đất, tổ chức các tuyến giao thông, giao liên bí mật liên kết các làng xã giải phóng với nhau, hình thành các tuyến trước, tuyến sau, bố trí lực lượng quân sự, chính trị phù hợp trên từng tuyến, tạo thành thế trận vững chắc bảo vệ vùng giải phóng. Vùng căn cứ rừng núi và khu vực giáp ranh là địa bàn đứng chân của bộ đội chủ lực và các cơ quan chỉ đạo kháng chiến của cách mạng miền Nam, nơi tập kết lực lượng và vật chất chi viện từ miền Bắc vào. Đây là khu vực thường xuyên bị chính quyền Sài Gòn đánh phá, uy hiếp bằng các cuộc hành quân quy mô lớn, bằng không quân, biệt kích, thám báo, bằng các loại vũ khí, khí tài hiện đại, kể cả chất độc khai quang và các thiết bị điện tử... Trước tình hình đó, để bảo vệ vững chắc căn cứ, kho tàng, mạng lưới đường sá và các khu vực tập kết lực lượng, bên cạnh việc bố phòng ngụy trang, phòng gian, tuần tra canh gác... quân và dân miền Nam đã tích cực và chủ động tiến công quân địch, bẻ gãy các cuộc hành quân lớn đánh lên vùng căn cứ (tiêu biểu là các cuộc hành quân Attleboro, Cedar Falls, Junction City (Áttơnbord, Xêđaphôn, Gianxơn Xity) mùa khô 1966-1967 đánh vào căn cứ kháng chiến). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2026, 07:01:12 pm Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, Mỹ và chính quyền Sài Gòn luôn tìm mọi cách phá hoại kinh tế, phá hoại vùng giải phóng và ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc thì việc duy trì và đẩy mạnh sản xuất, xây dựng đời sống mới ở vùng giải phóng là cuộc đấu tranh quyết liệt, là nhiệm vụ cần kíp để ổn định đời sống nhân dân, xây dựng tiềm lực kinh tế - chính trị tinh thần của hậu phương tại chỗ.
Tại những vùng vừa giành được quyền làm chủ, những vùng căn cứ và vùng giải phóng, chính quyền cách mạng đã tịch thu ruộng đất chia cho nông dân, xóa bỏ những tô phụ do chính quyền cũ đặt ra trước đó. Việc chia cấp ruộng đất cho nông dân còn được thực hiện ở những vùng tranh chấp khi tình hình cho phép. Đồng thời, quyền sở hữu chính đáng về ruộng đất của các tổ chức tôn giáo kể cả đồng bào di cư từ miền Bắc vào trước và sau năm 1954 cũng được bảo đảm; ngoài ra, gia đình của binh lính quân đội Sài Gòn và vợ con cũng được chia ruộng đất. Chính sách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam được thực hiện ở vùng giải phóng đã thu phục được nhiều tầng lớp nhân dân. Đến năm 1965, nông dân miền Nam đã được chia 2.100.000ha ruộng đất1 (Lâm Quang Huyên, Cách mạng ruộng đất ở miền Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) và đến năm 1968, chính quyền cách mạng đã chia thêm hàng vạn hécta ruộng đất cho nông dân, chống lại các chính sách về nông thôn của chính quyền Sài Gòn. Các con số trên đây có ý nghĩa không chỉ về mặt kinh tế mà còn về chính trị - xã hội. Việc chính quyền cách mạng chia ruộng đất cho nông dân, xác lập quyền làm chủ của người nông dân trong các vùng giải phóng đối với loại tư liệu sản xuất cơ bản này đã tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền lợi kinh tế của người lao động với chế độ chính trị - xã hội mới hình thành ở vùng giải phóng. Đó là nguồn động viên to lớn đối với các tầng lớp nhân dân miền Nam nói chung, nhân dân ở các vùng làm chủ, vùng giải phóng nói riêng; cổ vũ họ trong cuộc đấu tranh chống phá bình định của địch, hăng hái tham gia xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ ruộng đất, các cấp ủy Đảng và chính quyền cách mạng đã lãnh đạo và tổ chức nhân dân bám đất, giữ làng, đấu tranh chống địch lấn chiếm và phá hoại kinh tế vùng giải phóng. Trong cuộc đấu tranh đó, quân và dân vùng giải phóng đã kết hợp nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu để bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ sản xuất; phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh kinh tế với đấu tranh chống địch bình định, lấn chiếm vùng giải phóng. Ở nhiều địa phương, nhân dân thực hiện "hầm tốt hơn nhà tốt", biến nơi ở thành công sự, đào đắp hệ thống hầm hào, địa đạo... ở trong làng và ngoài đồng, tổ chức lực lượng tuần tra, canh phòng để bảo vệ làng xóm, bảo vệ sản xuất. Trong vùng địch kiểm soát, với danh nghĩa để sản xuất, nhân dân đã phá thế kìm kẹp, bỏ khu tập trung, bung về làng cũ. Phong trào quần chúng bung ra ngày càng nhiều góp phần phục hồi sản xuất, lấp dần vào các vùng trắng, tạo điều kiện xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ. Ở Tây Nguyên, với phương châm "lấn đất, ép địch, giành dân, tạo thế chiến trường", cán bộ và chiến sĩ miền Nam đã đẩy mạnh tăng gia sản xuất, mở rộng nương rẫy dọc hai bờ sông Pô Cô, Sa Thầy, đặc biệt là ở phía đông, hình thành hệ thống nương rẫy sản xuất ở các vùng địch tạm chiếm, các trục đường 14, 19... thu hẹp vùng chiếm đóng của địch, tạo điều kiện cho nhân dân bám trụ vùng ven, duy trì và đẩy mạnh sản xuất, thực hành các hình thức đấu tranh. Bên cạnh đòn tác chiến của lực lượng vũ trang, nhân dân vùng ven, vùng tranh chấp tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị phản đối Mỹ và chính quyền Sài Gòn cào ủi ruộng vườn, nhà cửa, mồ mả; buộc địch phải bồi thường thiệt hại. Song song với cuộc đấu tranh bảo vệ sản xuất, chống địch phá hoại kinh tế, quân và dân vùng giải phóng, vùng căn cứ thường xuyên chú trọng tăng gia sản xuất, khai thác nguồn hậu cần tại chỗ. Năm 1967, vùng căn cứ Khu 5 bị bom đạn và chất độc Mỹ phá hoại hầu hết mùa màng. Khắc phục thiếu đói, khó khăn, nhân dân vùng căn cứ khai thác sản vật của rừng làm nguồn lương thực, kiên quyết trụ bám căn cứ, đẩy mạnh khai thác nương rẫy, từng bước phục hồi sản xuất. Sau thắng lợi Tết Mậu Thân, từ năm 1968 cho đến năm 1970, cách mạng miền Nam gặp khó khăn và thử thách nặng nề về nhiều mặt, trong đó có hậu phương tại chỗ. Ở nhiều nơi, cơ sở cách mạng bị vỡ, hậu phương tại chỗ ở thành thị, vùng ven, đồng bằng bị thu hẹp, vùng căn cứ rừng núi bị uy hiếp, sự chi viện từ miền Bắc bị ngăn chặn quyết liệt. Trong tình hình đó, vấn đề bảo đảm hậu cần cho các đơn vị bộ đội chủ lực, cho lực lượng vũ trang, các cơ quan dân - chính - Đảng và nhân dân vùng căn cứ trở nên bức xúc. Trong các cấp lãnh đạo, chỉ huy chiến trường xuất hiện ý kiến cho rằng cần phân tán khối chủ lực về hoạt động lẻ ở các địa phương để khôi phục phong trào, khắc phục trở ngại, khó khăn về lương thực... Trung ương Cục, Quân ủy Miền đã chỉ thị cho các đơn vị vừa đánh địch bảo vệ căn cứ, vừa tổ chức tăng gia sản xuất; xem tăng gia sản xuất là một nhiệm vụ cần kíp và rất quan trọng. Quân dân Khu 5 nêu khẩu hiệu: "Sản xuất như đánh giặc". Hết thảy cán bộ, chiến sĩ trong quân khu đều thực hiện "ngày sản xuất đêm chiến đấu và công tác". Quân khu Trị - Thiên phát động phong trào trồng 5 triệu hốc sắn; Đảng bộ, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định giành 10% quân số làm nhiệm vụ tăng gia sản xuất. Một số đơn vị bộ đội chủ lực được đưa ra miền Bắc để củng cố và khắc phục khó khăn về hậu cần ở các vùng căn cứ... Những chủ trương, biện pháp trên đây đã thúc đẩy phong trào phát triển sản xuất tự túc, góp phần ổn định dần tình hình vùng căn cứ, giữ vững khối bộ đội tập trung. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2026, 07:03:31 pm Trong điều kiện chiến tranh liên miên, địch thường xuyên càn quét, đánh phá, để duy trì và phát triển sản xuất, nhân dân các vùng giải phóng và vùng căn cứ đã phát huy mạnh mẽ truyền thống "lá lành đùm lá rách", giúp đỡ, tương trợ nhau trong sản xuất và cuộc sống thông qua hình thức các tổ văn công và đổi công. Hình thức này ra đời trong kháng chiến chống Pháp, được duy trì và phát triển trong kháng chiến chống Mỹ. Sau Hiệp định Geneva, mặc dù Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm cấm đoán nhưng tại nhiều vùng, nông dân vẫn duy trì các tổ vần công, đổi công - đây là chỗ dựa nửa hợp pháp cho cán bộ, đảng viên hoạt động. Sau Đồng khởi, cùng với vùng giải phóng rộng lớn hình thành, các tổ đổi công, vần công xuất hiện ngày càng nhiều, thu hút đông đảo nông dân lao động tham gia.
Nhờ vần công, đổi công mà nông dân vùng giải phóng, vùng căn cứ khắc phục có hiệu quả sự đánh phá của địch, sự tàn phá của thiên tai; duy trì và đẩy mạnh sản xuất cả về diện tích, năng suất, thời vụ; bảo vệ sản xuất khỏi sự phá hoại của địch. Các tổ vần công, đổi công đã tổ chức cảnh giới để cày cấy, thu hoạch, giúp nhau làm công sự chống bom, pháo, cất giấu trâu, bò, dụng cụ, lương thực mỗi lần địch càn quét... Ngoài ra, các tổ viên còn động viên và giúp đỡ nhau trong cuộc sống hằng ngày, trong việc đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến, cho việc xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ... Sản xuất được duy trì và đẩy mạnh, đời sống kinh tế tương đối ổn định tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng đời sống văn hóa mới ở vùng giải phóng. Chính quyền cách mạng và các đoàn thể như Công hội, Nông hội, Đoàn Thanh niên giải phóng, Hội Phụ nữ giải phóng... đã vận động nhân dân tham gia bài trừ văn hoá thực dân, bảo tồn và phát huy vốn văn hoá dân tộc để xây dựng đời sống văn hoá mới. Cùng với sự phát triển của cách mạng, các tổ chức văn hoá như Hội Văn học - Nghệ thuật giải phóng, Hội nhà báo giải phóng, Đài phát thanh giải phóng, Nhà xuất bản Giải phóng, Xưởng phim tài liệu giải phóng, các đội văn công ra đời với đội ngũ cán bộ văn hoá văn nghệ trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh cách mạng. Hoạt động của các tể chức đó góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, của mặt trận; xây dựng và nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần ở các vùng giải phóng. Sau năm 1954, ở các làng rừng sâu trong các cánh rừng tràm, rừng đước U Minh (Tây Nam Bộ), ở chiến khu Đ (miền Đông Nam Bộ), ở Tây Nguyên... một số cán bộ giáo dục được phân công ở lại đã tổ chức các lớp bổ túc văn hoá và dạy chữ cho cán bộ, con em nhân dân vùng căn cứ. Từ sau Đồng khởi, vùng giải phóng ngày càng mở rộng, nhiều địa phương thành lập Tiểu ban giáo dục bên cạnh Ủy ban tự quản để chăm lo việc học tập ở vùng giải phóng. Được sự chi viện của miền Bắc, ngành giáo dục giải phóng nhanh chóng phát triển vươn lên đáp ứng yêu cầu "giải phóng tới đâu, mở trường tới đấy". Đến năm 1966, toàn vùng giải phóng đã có gần 6.000 trường học phổ thông với 500.000 học sinh. Năm 1967, các trường sư phạm giải phóng đào tạo giáo viên cấp I, II được thành lập. Bên cạnh giáo dục phổ thông, phong trào bổ túc văn hoá đã bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hoá cho hàng trăm nghìn lượt cán bộ các cấp của mặt trận, của chính quyền cách mạng và đoàn thế quần chúng. Giáo dục giải phóng của cách mạng miền Nam cũng đã mở rộng ảnh hưởng vào các trường học ở vùng tranh chấp. Tại đây, cán bộ giáo dục giải phóng khắc phục hy sinh, gian khổ bám trụ địa bàn, mở lớp học cho con em nhân dân lao động. Trong khói lửa chiến tranh, ngành giáo dục giải phóng đã góp phần đào tạo thế hệ trẻ có lòng yêu quê hương, đất nước; có kiến thức, đạo đức, sức khoẻ. Giáo dục giải phóng còn góp phần nâng cao trình độ chính trị, văn hoá cho nhân dân vùng giải phóng, cho cán bộ các cấp, các ngành và lực lượng vũ trang. Mạng lưới y tế phát triển mạnh ở vùng giải phóng, vùng giáp ranh, vùng tranh chấp từ sau ngày miền Nam đồng khởi. Các ban dân y của các khu, tỉnh, huyện, xã lần lượt được thành lập cùng với các bệnh viện, các cơ sở bào chế, cơ sở nghiên cứu... tạo thành mạng lưới y tế điều trị, khám chữa bệnh rộng khắp. Mạng lưới này ngày càng phát triển đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khoẻ cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân vùng giải phóng và tham gia cứu chữa thương bệnh binh từ tuyến trước gửi về. Bên cạnh số cán bộ dân y từ miền Bắc vào (bao gồm 1.641 người từ năm 1961 đến năm 1975), ngành y tế giải phóng đã thành lập hệ thống các trường trung cấp, sơ cấp y, dược; mở các lớp chuyên tu, bổ túc; đào tạo được một đội ngũ những người thầy thuốc và nhân viên y tế tận tụy trong công việc, có năng lực chuyên môn, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của cuộc kháng chiến, của vùng giải phóng ngày càng mở rộng. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, tuỳ điều kiện và tình hình cụ thể, chính quyền cách mạng các cấp, các địa phương chú trọng đảm bảo quyền tự do, dân chủ cho nhân dân: quyền bầu cử các cơ quan chính quyền, quyền về ruộng đất, về văn hoá - xã hội... Nhìn chung lại, Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp động viên và phát huy sức mạnh của lòng yêu nước, ý thức dân tộc, truyền thống đoàn kết, bất khuất tiềm tàng trong mỗi người dân miền Nam, làm cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ thực sự là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, dựa trên sự giác ngộ của nhân dân. Mặc dù chiến tranh kéo dài và ngày càng ác liệt, nhưng đại đa số cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân vùng giải phóng hay vùng địch chiếm vẫn giữ vững niềm tin, khắc phục gian khổ, hy sinh, vừa đẩy mạnh cuộc đấu tranh quân sự, chính trị vừa ra sức xây dựng, bảo vệ hậu phương tại chỗ. Nhờ đó, hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam không ngừng mở rộng và được củng cố vững chắc trên khắp ba vùng chiến lược, với nhiều hình thức đa dạng, ngày càng phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2026, 07:04:38 pm Để tồn tại và phát triển, quân và dân miền Nam phải khắc phục bao trở ngại khó khăn, phải chịu nhiều hy sinh, mất mát; dù vậy, cách mạng miền Nam không ngừng ở thế đi lên, lực lượng cách mạng ngày càng lớn mạnh. Một trong những nguyên nhân quan trọng của thực tế đó là cách mạng miền Nam đã dựa vào lòng dân, dựa vào sức dân để xây dựng và mở rộng hậu phương tại chỗ làm cơ sở để bảo tồn và phát triển lực lượng cách mạng. Giai đoạn 1954-1959, được sự đùm bọc, che chở, nuôi giấu của nhân dân mà cán bộ, đảng viên nằm vùng mặc dù bị tổn thất nặng nề nhưng vẫn duy trì được lực lượng, vẫn dựa chắc vào nhân dân mà tồn tại và đi lên. Trong khi đó, tại vùng rừng núi, bưng biền, một số căn cứ kháng chiến cũ được duy trì, một số khác mới hình thành là nơi xây dựng các đơn vị vũ trang, bán vũ trang; là bàn đạp thực hiện một số cuộc tiến công quân sự vào chi khu, đồn bốt địch. Sau ngày miền Nam Đồng khởi, vùng làm chủ, vùng giải phóng rộng lớn được mở ra đã tạo điều kiện để xây dựng lực lượng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân. Tại những vùng này, vổi sự tham gia tích cực của nhân dân vào nhiệm vụ sản xuất và đánh giặc, với nguồn tích trữ, cất giấu và tiếp tế từ ngoài vào, lực lượng cách mạng miền Nam có điều kiện để phát triển mạnh mẽ. Lực lượng đó bao gồm các cơ quan dân - chính - Đảng, lực lượng vũ trang ba thứ quân và đông đảo quần chúng nhân dân một lòng đi theo kháng chiến.
Thời điểm cách mạng miền Nam gặp những thử thách nặng nề như những năm 1969, 1970... vai trò của hậu phương tại chỗ càng trở nên quan trọng. Trước sự đánh phá ác liệt, cơ sở cách mạng ở đô thị, vùng giải phóng rộng lớn và các căn cứ du kích ở đồng bằng bị thu hẹp. Mất chỗ đứng chân và bàn đạp tấn công ở vùng ven và đồng bằng, bộ đội giải phóng phải lùi dần về căn cứ rừng núi dọc miền biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia. Tại đây, quân dân vùng căn cứ phải trải qua những ngày tháng đầy gian khổ, thiếu thốn, khó khăn. Bộ đội Khu 5 hy sinh hàng nghìn người trong khi đi thu gom lương thực. Bộ đội và nhân dân vừa vận chuyển vũ khí vừa phải đào củ mài, hái rau rừng thay cơm. Phụ nữ vùng căn cứ Khánh Hoà không có vải mặc phải lấy vỏ cây rừng làm quần áo, khi tải đạn phải mở lối đi riêng, ở Khu 6 và Trị - Thiên - Huế, do địch ném bom, bắn pháo, rải chất độc hoá học cộng với thiên tai mất mùa, mỗi tấn gạo thu gom lúc này phải đổi bằng sinh mạng của 5, 6 chiến sĩ. Những đơn vị trực tiếp chiến đấu phía trước, mỗi người chỉ được cấp 2, 3 lạng gạo mỗi ngày, còn ở phía sau, cán bộ, nhân dân, chiến sĩ ăn củ rừng, khoai, sắn thay cơm. Ở Tây Nguyên, toàn bộ gạo còn tồn năm 1968 chỉ còn 1/3 so với số tồn kho năm 1967, dự trữ lương thực năm 1969 chỉ đủ nuôi sống bộ đội trong khoảng 1 tuần..., đói rét, ghẻ lở đe doạ nghiêm trọng sức khoẻ của bộ đội, nhân dân; vũ khí thiếu hụt, sức chiến đấu của lực lượng vũ trang giảm sút. Dù vậy, một lần nữa, dựa vào căn cứ rừng núi, dựa vào sự đùm bọc, che chở của nhân dân, lực lượng vũ trang ba thứ quân khắc phục khó khăn, vừa đẩy mạnh tăng gia tự túc, tích cực đánh địch bảo vệ căn cứ rừng núi, vừa bám đất, bám dân, bám địch ở đồng bằng; từng bước khôi phục vùng làm chủ, vùng giải phóng, phục hồi thế trận chiến tranh nhân dân ở ba vùng chiến lược và cách mạng miền Nam đã vượt qua thời kỳ đầy khó khăn, thử thách, tiếp tục phát triển. Như vậy, hậu phương tại chỗ là cơ sở để xây dựng, duy trì và phát triển lực lượng cách mạng trong mọi tình huống chiến tranh; mặt khác, suốt 21 năm kháng chiến, hậu phương tại chỗ là một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng thê chiến lược chiến tranh nhân dân. Về mặt quân sự, chiến trường miền Nam hẹp, mật độ quân địch (bao gồm lực lượng vũ trang, bộ máy kìm kẹp) dày đặc. Chỉ riêng lực lượng vũ trang, địch tập trung một số lượng lớn gồm các quân chủng, binh chủng của quân đội Mỹ, chính quyền Sài Gòn và đồng minh với những vũ khí hiện đại, chi phí chiến trường khổng lồ... vượt xa mức độ và chi phí của Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên cũng như trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trên một diện tích xâp xỉ 18 vạn kilômét vuông, lúc cao nhất, lực lượng vũ trang của quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn lên đến 1.591.356 binh lính (1 triệu quân đội Sài Gòn, 550.136 quân Mỹ, 70.220 quân đồng minh). Để đương đầu và chiến thắng, Đảng Lao động Việt Nam đã phát động quân và dân miền Nam tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân dựa trên thế trận được xây dựng và ngày càng phát triển ở khắp ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị. Đó là thế trận xen cài giữa vùng giải phóng và vùng chính quyền Sài Gòn tạm thời kiểm soát; bao gồm những cơ sở cách mạng, lõm căn cứ, khu du kích, vùng làm chủ, vùng giải phóng, vùng căn cứ được xây dựng thành hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam, thành địa bàn triển khai các lực lượng vũ trang và chính trị một cách tương đối hợp lý trên khắp các vùng chiến lược. Thế trận đó cho phép quân và dân miền Nam thực hành chiến lược tiến công quân địch rộng khắp liên tục và ngày càng mạnh mẽ cả về quân sự và chính trị bằng nhiều hình thức, với những vũ khí sẵn có trong tay. Bị bao vây, chia cắt, bị tiến công liên tục và từ mọi phía, Mỹ và chính quyền Sài Gòn buộc phải dàn mỏng lực lượng để đối phó khiến cho ưu thế về binh lực, hoả lực, sức cơ động bị hạn chế. Suốt cuộc chiến tranh, Mỹ và chính quyền Sài Gòn luôn bị lâm vào tình thế giằng co, vào mâu thuẫn giữa chiếm đóng và cơ động, giữa phân tán và tập trung, giữa phòng ngự và tiến công, giữa bình định và tìm diệt... Trong "chiến tranh đặc biệt", "chiến tranh cục bộ", hay trong "Việt Nam hoá chiến tranh", mặc dù số quân chủ lực, quân địa phương và lực lượng kìm kẹp không ngừng -tăng lên nhưng Mỹ và chính quyền Sài Gòn luôn luôn thiếu quân. Trong "chiến tranh cục bộ", 1/3 lực lượng Mỹ thường xuyên buộc phải làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ trước sức tiến công, uy hiếp của quân và dân miền Nam ở các "vành đai diệt Mỹ". Lính thủy đánh bộ Mỹ - một trong số những binh chủng mạnh nhất của quân đội Mỹ sau khi vào miền Nam đã phải "tập trung cố gắng vào việc phòng thủ ba căn cứ Chu Lai, Phú Bài, Đà Nẵng"1 (Shelby L. Stanton, Sự thăng trầm của đạo quân đánh bộ Hoa Kỳ ở Việt Nam (1965-1973), Nxb Presidio Press, 1985, tài liệu dịch, lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Thế trận chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ những năm "chiến tranh cục bộ" là một trong những cơ sở để Đảng Lao động Việt Nam hạ quyết tâm mở cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân nàm 1968, nhằm tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2026, 07:05:20 pm Ngoài vai trò quan trọng trên đây, hậu phương tại chỗ còn là nguồn cung cấp sức người, sức của quan trọng cho chiến trường; nơi tiếp nhận, bảo quản, phân phối vũ khí, phương tiện chiến tranh và các vật phẩm khác từ hậu phương miền Bắc đưa vào.
Bên cạnh sự chi viện của miền Bắc, nguồn hậu cần khai thác từ hậu phương tại chỗ đóng góp một phần quan trọng. Dựa vào sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân vùng địch chiếm và dựa vào cơ sở cách mạng ở đô thị, lực lượng cách mạng đã tổ chức thu mua và vận chuyển được một số lượng thuốc chữa bệnh và các vật phẩm thiết yếu khác từ vùng địch kiểm soát. Trong các giai đoạn kháng chiến, tổ chức hậu cần của Quân giải phóng bao gồm hậu cần miền, quân khu, hậu cần các địa phương và hậu cần nhân dân đã trụ bám tại vùng tranh chấp, vươn sâu vào vùng địch kiểm soát, tới tận hậu phương chiến lược của địch là vùng nông thôn đồng bằng đông dân, nhiều của và vùng đô thị để khai thác nguồn hậu cần ngay trong hậu phương của địch. Ngoài ra, thị trường nội địa Campuchia cũng là một địa bàn quan trọng mà tổ chức hậu cần của cách mạng miền Nam khai thác có hiệu quả trong suốt những năm chiến tranh. Từ năm 1969, trước những khó khăn của cách mạng miền Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mở rộng phạm vi hoạt động hậu cần sang Campuchia. Trên chiến trường miền Nam lúc bấy giò chỉ còn có một số đoàn hậu cần và cơ sở hậu cần bám trụ ở vùng sâu - đó là Đoàn hậu cần 81 ở khu vực chiến khu Đ, một bộ phận lực lượng của các đoàn hậu cần 82, 83 ở khu vực núi Bà Đen, Dầu Tiếng, Long Nguyên... Do kịp thời mở rộng tổ chức và phạm vi hoạt động ở Campuchia nên đã tạo được nguồn vật chất rất quan trọng, đủ đảm bảo cho đơn vị vũ trang đứng chân trên đất Campuchia; đồng thời chi viện về cho các đơn vị đang chiến đấu trên chiến trường Nam Bộ và chi viện một phần quan trọng ra chiến trường Tây Nguyên, Tuyến 559, góp phần tích cực cùng với hậu cần Trung ương giải quyết khó khăn về nguồn cung cấp và vận chuyển vật chất cho chiến trường trong những năm 1970-1971. Từ cuối năm 1971, bên cạnh một sô đoàn hậu cần vẫn hoạt động ở Campuchia, các đoàn hậu cần của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã vươn sâu vào chiến trường miền Nam để chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Vùng làm chủ, vùng giải phóng được xây dựng vững mạnh toàn diện và ngày càng mở rộng, đã tạo điều kiện cho việc huy động sức người, sức của phục vụ kháng chiến, thực hiện hậu cần tại chỗ. Dựa vào sự giác ngộ chính trị của nhân dân vùng căn cứ, hậu phương tại chỗ, các cấp ủy Đảng bộ miền Nam đã phát huy mạnh mẽ sự tham gia đóng góp của nhân dân vào nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng hậu phương tại chỗ. Đã huy động hàng triệu lượt người phục vụ chiến đấu, hàng chục vạn thanh niên nam nữ vùng giải phóng gia nhập lực lượng vũ trang. Từ đô thị và vùng nông thôn địch chiếm, nhiều thanh niên yêu nước đã tìm đến với cơ sở cách mạng hoặc vào vùng giải phóng gia nhập lực lượng vũ trang. Trên thực tế, suốt những năm chiến tranh, ở vùng giải phóng hay vùng địch tạm thời kiểm soát, phần lớn các tầng lớp nhân dân miền Nam từ cụ già tới em bé đều tự nguyện tham gia, ủng hộ cách mạng bằng nhiều hành động như che giấu cán bộ, giao liên dẫn đường, đấu tranh chính trị chống địch phá hoại nhà cửa, tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu... về vật chất, trong 15 năm (từ 1960 đến 1975), hậu phương tại chỗ đã đảm bao 22,5% nhu cầu vật chất của lực lượng vũ trang miền Nam. Nếu tính cả số chiến lợi phẩm thu được của địch và số lương thực, thực phẩm do bộ đội tập trung sản xuất thì trong 21 năm chiến tranh, hậu cần tại chỗ đáp ứng được khoảng 35% nhu cầu của các chiến trường. Tỷ lệ đó có ý nghĩa to lớn trong điều kiện Mỹ và chính quyền Sài Gòn thường xuyên sử dụng các biện pháp quân sự, kinh tế, chính trị đề ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, phá hoại và bao vây kinh tế đối với vùng giải phóng, đánh phá kho tàng, căn cứ dự trữ chiến,lược... Đặc biệt tỷ lệ 35% mà hậu cần tại chỗ đáp ứng nhu cầu của các chiến trường càng trở nên quan trọng vào những thời điểm sự chi viện từ miền Bắc bị ngừng trệ và nguồn thu mua từ chiến trường Campuchia gặp khó khăn. Cùng với sự gia tăng của chiến tranh, nhu cầu về nhân lực và vật chất của các chiến trường ngày càng lớn, Tuyến vận tải chiến lược 559 không ngừng được mở rộng với hệ thống trục dọc, trục ngang và hệ thống đường nhánh vươn tới các chiến trường, các hướng chiến dịch để đáp ứng sự chi viện ngày càng mạnh mẽ của hậu phương miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Hầu hết mạng đường chiến lược chạy qua các khu vực hậu phương của chiến trường Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên vào tới Lộc Ninh của chiến trường miền Đông Nam Bộ. Hệ thống căn cứ hậu cần, kho chứa, trạm sửa chữa, khu vực tập kết bộ đội... cũng được bố trí ở các vùng giải phóng, vùng căn cứ dọc theo trục dọc, trục ngang và mạng đường nhánh chiến dịch thuộc Tuyến vận tải chiến lược 559 và hệ thống các đường trục trong khu căn cứ, vùng giải phóng. Trong điều kiện vận tải chiến lược trên đường Trường Sơn chủ yếu thực hiện vào mùa khô, toàn bộ số vật chất, vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh từ miến Bắc đưa vào nhằm tạo nguồn dự trữ chiến lược, cung cấp cho các chiến trường hay phục vụ cho việc xây dựng và bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng... đều dồn vào một số tháng trong năm. Dựa vào hệ thống kho tàng, mạng đường trong khu căn cứ, vùng giải phóng, vật chất, vũ khí... được tiếp nhận, cất giấu, bảo quản kịp thời nên đã hạn chế được hư hao, tổn thất, ùn tắc do địch lùng sục, đánh phá và do thiên tai, thời tiết gây nên. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Năm, 2026, 09:06:21 pm Ở vùng ven biển miền Nam, dựa vào sự che chở của nhân dân, sự giúp đỡ của chính quyền và đoàn thể cách mạng ở vùng giải phóng, một số bến bãi, kho chứa tiếp nhận vũ khí do miền Bắc chi viện bằng đường biển đã được xây dựng. Năm 1962, Đoàn 926 đã mở được các bến bãi ở Cà Mau, Trà Vinh, Bên Tre. Từ năm 1963 đến năm 1965, Đoàn 759 thuộc Miền đã xây dựng bến bãi ở vùng giải phóng Hàm Tân - Xuyên Mộc, tiếp nhận 70 tấn vũ khí, giải quyết một phần khó khăn về vũ khí của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ thời kỳ này. Tại ven biển Khu 5, khắc phục địa hình trống trải, cơ sở bí mật đã tổ chức được các bến bãi ở Vũng Rô (Phú Yên), Lộ Giao (Bình Định), Đạm Thủy (Phổ An, Quảng Ngãi), Bình Đào (Quảng Nam); tiếp nhận vũ khí do Đoàn 125 hải quân chuyển giao. Cuối năm 1965, theo đường hàng hải quốc tế, tàu biển từ miền Bắc đã cập bờ biển Rạch Kiến Vàng (Tây Nam Bộ) và bãi biển Cà Mau, chuyển giao cho các đơn vị chủ lực Miền 197 tấn vũ khí, đạn dược, góp phần quan trọng giải quyết vấn đề trang bị vũ khí thời kỳ đầu "chiến tranh cục bộ".
Càng về cuối cuộc chiến tranh, hậu phương tại chỗ, đặc biệt là vùng căn cứ rừng núi càng được mở rộng, đảm bảo cho các binh đoàn chủ lực lớn tập kết lực lượng, chuẩn bị điều kiện thực hiện các đòn đánh chiến lược. Trong cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam, tác chiến của các binh đoàn chủ lực ngày càng quan trọng - giữ vai trò quyết định trong việc tiêu diệt những bộ phận sinh lực lớn của địch, làm chuyển biến cục diện chiến trường, tạo điều kiện để kết thúc chiến tranh thắng lợi. Một trong số những nhân tố đảm bảo cho các binh đoàn chủ lực phát huy vai trò và hiệu lực trên chiến trường là hậu phương tại chỗ phải được xây dựng và mở rộng, trở thành chỗ đứng chân vững chắc và bàn đạp tiến công của các binh đoàn. Trong những năm "chiến tranh cục bộ", sở dĩ Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị được thành lập và trở thành hướng tiến công mới của Quân giải phóng vào nơi yếu của địch trên chiến trường miền Nam, thành chiến trường thu hút, giam chân và tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động địch là bởi tại đây, dựa vào vùng căn cứ tại chỗ kết hợp với sự hỗ trợ của các cơ sở hậu cần ở nam Quảng Bình; vì thế, có điều kiện đảm bảo hậu cần, đảm bảo bàn đạp tiến công cho các sư đoàn, trung đoàn từ miền Bắc đưa vào. Những năm 1969-1970, tại vùng căn cứ rừng núi dọc miền biên giới phía tây và vùng giải phóng của cách mạng Campuchia, của cách mạng Lào, các đơn vị bộ đội tập trung được duy trì, củng cố, từng bước tăng cường lực lượng, đẩy mạnh tiến công, phục hồi thế trận chiến tranh nhân dân ở nông thôn đồng bằng và mở rộng căn cứ địa rừng núi. Bước sang năm 1971, các sư đoàn và trung đoàn bộ đội tập trung mở một số chiến dịch lớn, đặc biệt là chiến dịch binh chủng hợp thành quy mô lớn đầu tiên của chủ lực ở Đường 9 - Nam Lào, đánh bại các cuộc hành quân của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, giữ vững và mở rộng hậu phương tại chỗ miền rừng núi phía tây. Đây là khu vực tiếp nhận, bảo quản một khối lượng vật chất, vũ khí, là địa bàn tập kết của các binh đoàn chủ lực từ miền Bắc vào, tạo điều kiện quyết định để thực hiện cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đánh vào tập đoàn lớn quân địch trong hệ thống phòng thủ chiến lược của chúng. Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, quân và dân miền Nam trên chiến trường tiếp tục đẩy mạnh tiến công mở rộng hơn nữa hậu phương tại chỗ, của các binh đoàn chủ lực nói riêng. Hai năm 1973, 1974, một vùng giải phóng rộng lớn nối liền tây Trị - Thiên tới vùng rừng núi Khu 5, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ được xây dựng thành hậu phương trực tiếp của các binh đoàn chủ lực. Dựa vào đó, sau khi củng cố và tăng cường lực lượng, chuẩn bị thế trận, các binh đoàn chủ lực mở cuộc tiến công mãnh liệt giải phóng Tây Nguyên, tiến nhanh xuống đồng bằng, cùng quân và dân cả nước mở cuộc tiến công thần tốc giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh ven biển miền Trung... góp phần tạo nên tính thần tốc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tạo nên thế và lực áp đảo đối phương trước khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Được thắng lợi Tây Nguyên cổ vũ, quân và dân trên khắp chiến trường, từ rừng núi, đồng bằng nông thôn tới thành thị đã diễn ra tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, làm tan rã tại chỗ chính quyền và lực lượng địch ở cơ sở, hỗ trợ cho đòn tiến công của các binh đoàn chủ lực. Trên những nẻo đường Quân giải phóng tiến công, nhân dân ủng hộ Quân giải phóng bằng nhiều hành động thiết thực. Nhìn chung lại, trong kháng chiến chống đế qưôc Mỹ, hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam là một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng và tăng cường tiềm lực, sức mạnh của cuộc đấu tranh cách mạng, xây dựng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân trên khắp ba vùng chiến lược. Thế trận đó cho phép quân và dân miền Nam thực hành chiến lược tiến công, giữ vững quyền chủ động chiến trường, uy hiếp và thu hẹp hậu phương địch, buộc chúng phải lâm vào tình thế bị động về chiến lược, chiến thuật, phải đối phó cả phía trước, phía sau, không phát huy được ưu thế về binh lực, hoả lực và sức cơ động trong một thế trận đan xen, cài răng lược, không phân vùng, phân tuyến. Sở dĩ hậu phương tại chỗ đã phát huy ngày càng đầy đủ vai trò, tác dụng đối với cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam là bởi hậu phương đó được xây dựng, bảo vệ và không ngừng mở rộng theo một đường lối phù hợp, bằng những biện pháp hiệu quả. Đường lối và biện pháp đó đã tạo được sự bền vững, tạo ra tính đa dạng và rộng khắp của hậu phương tại chỗ ở rừng núi, ở đồng bằng, ở thành thị. Tuỳ điều kiện từng nơi, từng lúc mà đề ra và thực hiện các biện pháp xây dựng, bảo vệ, củng cố và mở rộng hậu phương tại chỗ phù hợp với tình hình cụ thể nhưng tựu trung phải biết tin vào dân, dựa vào nhân dân, cùng đồng cam cộng khổ với nhân dân, xuất phát từ quyền lợi, nguyện vọng và ý chí của nhân dân mà tìm ra các hình thức và biện pháp xây dựng, phát triển cơ sở cách mạng trong nhân dân, phát động nhân dân đẩy mạnh đấu tranh, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ ngày càng vững mạnh. Thực tiễn chiến trường những năm đánh Mỹ cho thấy ở đâu và lúc nào, công tác xây dựng, bảo vệ và mở rộng hậu phương tại chỗ được chú trọng thích đáng, được thực hiện bằng những biện pháp tích cực, đúng đắn thì các nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng lực lượng đạt được kết quả rõ rệt, to lớn. Buông lỏng việc xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ, để cho địch lấn đất, giành dân, thu hẹp hậu phương tại chỗ thì lực lượng cách mạng bị tổn thất, thế trận chiến tranh nhân dân bị sa sút, cách mạng miền Nam bị uy hiếp nặng nề. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Năm, 2026, 09:07:28 pm 2- Tư tưởng chiến lược tiến công và quá trình đánh thắng các kế hoạch quân sự của Mỹ ở miền Nam
Sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Việt Nam lại phải bước vào một cuộc đọ sức mới với tương quan lực lượng hết sức bất lợi. Nhìn vào tương quan lực lượng đó, nhiều người cho rằng Việt Nam khó có thể đương đầu nổi; Việt Nam sẽ thua và Mỹ sẽ thắng, song nhưng thực tế đã diễn ra với những kết thúc hết sức bất ngờ... Trên cơ sở phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan trong bước chuyển mới của cách mạng, Đảng Lao động Việt Nam chủ trương thay đổi sách lược đấu tranh, khẩu hiệu "kháng chiến đến cùng" được thay bằng khẩu hiệu "hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ", nhằm phân hoá lực lượng đối phương, tìm kiếm những điều kiện có lợi cho cách mạng Việt Nam, phát huy thế mạnh chính trị. Trong hai năm đầu của chiến tranh, Đảng Lao động Việt Nam đã chủ trương lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định Geneva, đòi củng cố hoà bình, thực hiện các quyền tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập, dân chủ; đấu tranh chống khủng bố, đàn áp của chính quyền Sài Gòn, chống chính sách "tố cộng, diệt cộng" của chính quyền Ngô Đình Diệm. Trong hai năm đó, đã có 12 triệu lượt quần chúng đấu tranh chính trị dưới những hình thức và mức độ khác nhau; tuy nhiên, loại hình đấu tranh chính trị đã tỏ ra không đủ mạnh để đối phó có hiệu lực với địch và tạo chuyển biến cơ bản tình hình miền Nam. Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tháng 6 năm 1956 đã chỉ rõ: Đấu tranh chính trị không có nghĩa là tuyệt đối không dùng hình thức vũ trang tự vệ trong hoàn cảnh nhất định... Từ tháng 8-1956, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã soạn thảo Đường lối cách mạng miền Nam (Đề cương cách mạng miền Nam), chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là trực tiếp đánh đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, ngoài con đường đó không có con đường nào khác; tuy nhiên bản Đề cương vẫn chưa để ra được những biện pháp cụ thể, thích đáng để đối phó có hiệu quả với địch, giảm bớt tổn thất của quần chúng. Trên cơ sở những vận động của thực tiễn, những kiến nghị khẩn thiết của cán bộ, đảng viên và một số cấp ủy Đảng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã dành nhiều công sức chuẩn bị một giải pháp cơ bản cho cách mạng miền Nam. Năm 1959, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 đã xác định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, chỉ rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng miền Nam. Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam; nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm; phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và dự kiến xu hướng phát triển từ khởi nghĩa của nhân dân có thể tiến lên cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ. Nhằm làm rõ thêm chủ trương chuyển hướng đấu tranh, tiếp sau đó, nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng (9-1960) đã hoàn chỉnh đường lối kháng chiến chống Mỹ, khẳng định đường lối và phương pháp đấu tranh cách mạng chung cả nước cũng như cách mạng miền Nam. Những nghị quyết của Trung ương Đảng và chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị trong giai đoạn chiến lược này cũng như những thực tế diễn biến chiến lược trên chiến trường miền Nam đã cho thấy sự lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng Lao động Việt Nam trong giai đoạn đầu của chiến tranh có những điểm nổi bật: Đảng Lao động Việt Nam đã sớm xác định và chỉ rõ kẻ thù mới của dân tộc, từ đó xác định hai chiến lược cách mạng phải đồng thời tiến hành ở hai miền Nam, Bắc, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã củng cố miền Bắc để trở thành hậu phương của cách mạng miền Nam; tìm giải pháp đưa cách mạng miền Nam tiến lên theo con đường đúng đắn, có lợi nhất. Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối, phương pháp cách mạng giải phóng miền Nam, giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa giải phóng miền Nam và củng cố bảo vệ miền Bắc, giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng quốc tế và phong trào bảo vệ hoà bình thế giới. Chiến tranh nhân dân ở miền Nam Việt Nam là một cuộc chiến tranh toàn dân và toàn diện phát triển lên một bước rất cao, dựa trên cơ sở những quy luật chung trong phương pháp cách mạng miền Nam, là một cuộc chiến tranh bao gồm đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, phát triển lên từ phong trào khởi nghĩa của quần chúng với tư tưởng nhất quán là tư tưởng chiến lược tiến công. Đó là tư tưởng chiến lược của cách mạng miền Nam từ khi chuyển sang thế tiến công bằng cao trào Đồng khởi năm 1959-1960. Thế tiến công của chiến tranh cách mạng miền Nam trong thời kỳ chống "chiến tranh đặc biệt" là thế tiến công dựa trên ưu thế về chính trị và tinh thần, trên sức mạnh áp đảo của quần chúng cách mạng, kiên quyết vùng lên đấu tranh để giành quyền sống. Tư tưởng ấy luôn luôn được giữ vững và phát triển từ thấp đến cao, từ cục bộ đến toàn bộ, bằng hai quả đấm quân sự và chính trị ngày càng mạnh trong thời kỳ chống "chiến tranh cục bộ", thế tiến công ấy dựa vào sự triển khai lực lượng quân sự và chính trị trên các địa bàn chiến lược trên toàn chiến trường, khiến cho quân và dân miền Nam có thế trận vững chắc và có lực lượng hùng hậu để giữ vững thế chủ động tiến công đã giành được sau khi đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ. Nhìn toàn cục, quá trình phát triển của chiến tranh cách mạng là quá trình vận dụng tư tưởng chiến lược tiến công, là quá trình tiến công kiên quyết, liên tục và ngày càng mãnh liệt, phát triển từ thấp đến cao, theo những bước tuần tự, xen kẽ những bước nhảy vọt. Trong quá trình đó, cũng có lúc, có nơi phòng ngự, song đó chỉ là chiến thuật, chỉ là tạm thời để tạo điều kiện tiếp tục tiến công. Với chiến lược tiến công ấy, quân và dân miền Nam đã đánh bại các kế hoạch, các chiến lược quân sự của Mỹ, đánh đổ chế độ Ngô Đình Diệm, đánh bại "chiến tranh đặc biệt" và tiếp đó đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" trong giai đoạn leo thang cao nhất. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Năm, 2026, 09:08:09 pm Chiến lược tiến công của chiến tranh nhân dân miền Nam là chiến lược toàn dân đánh giặc, dựa vào sức mạnh tổng hợp của hai lực lượng quân sự và chính trị, dựa vào sự kết hợp hai hình thức đấu tranh quân sự và chính trị song song, là chiến lược tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, kết hợp tác chiến của ba thứ quân với các cuộc khởi nghĩa của quần chúng cách mạng; là chiến lược kết hợp đánh địch với giành quyền làm chủ; luôn luôn giành thế chủ động và quyền chủ động đánh địch trên toàn chiến trường, buộc địch luôn căng ra, bị bao vây, chia cắt phải bị động đối phó với cách đánh của Quân giải phóng.
Khả năng tiến công của chiến tranh nhân dân miền Nam gắn liền với sự đánh giá đúng đắn đặc điểm và xu thế phát triển của tình hình so sánh lực lượng giữa quân, dân miền Nam với Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Đối thủ tuy đông về số lượng, mạnh về phương diện kỹ thuật, song có những mặt yếu rất cơ bản không thể nào khắc phục được. Trái lại, quân và dân miền Nam, bên cạnh những mặt yếu lại có những chỗ mạnh rất cơ bản. Nhờ biết phát huy những mặt mạnh, chỗ mạnh của mình, nhằm vào những chỗ yếu, mặt yếu của địch mà đánh, quân và dân miền Nam đã giành được thế chủ động tiến công và làm tăng thêm sức tiến công của mình lên gấp bội. Muốn áp dụng chiến lược tiến công, thì nhất thiết phải giải quyết được một loạt vấn đề về nghệ thuật quân sự, về hình thức chiến thuật và phương thức tác chiến, về mặt này, quân và dân miền Nam đã sáng tạo ra nhiều cách đánh thích hợp, rất độc đáo, phong phú và linh hoạt, có hiệu lực cao làm cho địch thua đau mà lực lượng cách mạng thì ít bị tổn thất nhất. Đó là cách đánh kết hợp các hình thức tác chiến du kích của bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ với các hình thức tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực. Đó là phương thức tác chiến kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, vừa để nâng cao mức đánh tiêu diệt quân địch, vừa để củng cố và mở rộng không ngừng quyền làm chủ của nhân dân trên cả ba vùng chiến lược. Đó là cách đánh lấy chất lượng cao của lực lượng vũ trang cách mạng để thắng số lượng đông của địch, luôn luôn tạo ra thế mạnh để lấy ít thắng nhiều, lấy nhỏ thắng lớn. Đó là lối đánh táo bạo, mưu trí, bí mật, bất ngờ, khi thì mỗi binh chủng độc lập tác chiến, khi thì hiệp đồng các binh chủng nhằm vào chỗ yếu, chỗ hiểm của địch mà tiến công, đánh vào đầu não, yết hầu của địch, tạo ra hiệu suất chiến đấu rất to lớn. Đó là lối đánh tiến công kiên quyết và chủ động do lực lượng vũ trang cách mạng hoàn toàn lựa chọn, không cho địch đánh theo sở trường, làm cho chiến thuật của đối phương bị động, chắp vá, làm cho mọi phản ứng mọi sự phòng ngự của địch đều trở nên bất lực. Đó là lối đánh kết hợp nhiều phương pháp và hình thức tiến công tiêu diệt địch, sử dụng mọi lực lượng, mọi thứ vũ khí và phương tiện chiến tranh có trong tay, tận dụng mọi điều kiện địa hình và thời tiết, đánh địch trong mọi tình huống, khi địch tiến cũng như lúc rút lui, đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc khi địch yếu và sơ hở; cả ở chỗ chúng mạnh và có đề phòng. Tất cả đó là những hình thức chiến thuật và phương thức tác chiến dựa vào tính năng động, chủ quan, trí thông minh, tài sáng tạo của cán bộ và chiến sĩ Quân giải phóng và của đồng bào miền Nam, những con người yêu nước, chẳng những dám đánh và quyết đánh mà còn biết đánh và biết thắng một cách có lợi nhất. Phương châm chiến lược của chiến tranh nhân dân miền Nam là đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh. Đó cũng là quy luật của chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam trong toàn bộ chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong cuộc chiến tranh với đế quốc Mỹ, quân, dân miền Nam phải đương đầu với một quân đội đông và trang bị hiện đại, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn gấp nhiều lần, cho nên cần phải có thời gian từng bước tiêu diệt và làm suy yếu lực lượng của địch, hạn chế chỗ mạnh và khoét sâu chỗ yếu của đối phương, để bồi dưỡng và phát triển lực lượng vũ trang và chính trị của mình, tạo ra tình hình so sánh lực lượng ngày càng có lợi, làm cho địch càng đánh càng yếu, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam đánh ngày càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn. Quá trình đánh lâu dài là quá trình liên tục tiến công địch từ nhỏ đến lớn, đánh lui địch từng bước, đánh bại từng âm mưu chiến lược của đối phương, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch. Trong quá trình đánh lâu dài, nếu biết phát huy đến mức cao nhất cố gắng chủ quan, tận dụng mọi điều kiện khách quan thuận lợi, biêt tạo ra và lợi dụng những chỗ yếu của địch, chỉ đạo chiến lược chính xác và sắc bén, biết nhằm phướng hướng, mục tiêu đúng và chọn thời cơ có lợi, giáng những đòn thật đau, thật hiểm, giành thắng lợi lớn về quân sự, lại biêt khéo kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, công kích với khởi nghĩa thì có thể tạo ra những bước nhảy vọt rất quan trọng làm thay đổi thế lực của đôi bên và chuyển biến của cục diện chiến tranh. Trong quá trình phát triển của chiến tranh giải phóng ở miền Nam Việt Nam đã diễn ra những bước nhảy vọt như thế với chiến dịch Bình Giã vào Đông Xuân (1964-1965), với việc mở Mặt trận Trị - Thiên năm 1967, với cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trong dịp Tết Mậu Thân. Những bước phát triển trên đây chứng tỏ quân và dân miền Nam đã biết chọn phương hướng đúng, đã khéo léo kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, kết hợp đánh lâu dài, liên tục với đánh mạnh, đánh chớp nhoáng rất táo bạo, bất ngờ, và trên cơ sở kiên trì đánh lâu dài, đã biết cố gắng rất cao về mọi mặt để sáng tạo thời cơ, tranh thủ thời gian, giành thắng lợi ngày càng to lớn. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Năm, 2026, 09:08:41 pm Trên cơ sở nhận định thế, lực và tương quan so sánh lực lượng giữa hai bên, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam xác định trong khi kiên trì tiến công địch toàn diện về quân sự, chính trị, ngoại giao, cần chuẩn bị đánh những trận quy mô lớn, có hiệu suất cao, tạo điều kiện để đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại giao. Đối với cách mạng miền Nam, vấn đề chớp thời cơ, táo bạo, sáng tạo cách đánh mới, tạo nên hiệu lực có ý nghĩa chiến lược mới có quyết định lớn đến bước chuyển của cách mạng. Đảng Lao động Việt Nam đã nhìn xuyên suốt về sức mạnh, về so sánh lực lượng địch - ta trong chiến tranh cách mạng miền Nam. Trong bài viết ở Tạp chí Quân đội nhăn dân, tháng 3 năm 1967, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn chỉ rõ: "Chiến tranh nhân dân ở miền Nam là một cuộc tiến công toàn diện của cách mạng miền Nam vào nền tảng thống trị của bọn Mỹ và tay sai chứ không đơn thuần là một cuộc tiến công về quân sự. Sức mạnh của nó không đơn thuần là sức mạnh quân sự (nhất là trong thời kỳ đầu thì chủ yếu không phải là sức mạnh quân sự), mà là một sức mạnh tổng hợp mọi mặt về chính trị - tinh thần, về quân sự, về thế và lực của cả nhân dân và đất nước (...). Khi so sánh lực lượng, nói mạnh yếu là nói trong những điều kiện nhất định. Nhất là phải xem những lực lượng đó với hiệu lực thực tế trong hành động, trong cuộc đọ sức trực tiếp với nhau, mà trong hành động thì trên cơ sở những điều kiện vật chất nào đó, tính năng động của con người (bao gồm cả ý chí, tài năng, mưu trí, sáng tạo) có tác dụng quyết định". Trong thư gửi Khu ủy Sài Gòn - Gia Định tháng 7-1967, Lê Duẩn nhấn mạnh: Xét lực lượng so sánh đôi bên trên chiến trường "là phải xét kết quả tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, của các lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá mà mỗi bên sử dụng để chống lại đối phương. Nó không phải là trừu tượng mà là cụ thể, nó không phải là một tỉ lệ bất biến mà là một so sánh trong vận động, kết quả của quá trình phát triển biện chứng về số lượng cũng như về chất lượng của các yếu tố, các lực lượng nói trên".
Chiến lược tiến công của chiến tranh cách mạng miền Nam không chỉ dựa trên so sánh tương quan lực lượng một cách khoa học và cách mạng mà còn gắn liền với đường lối động viên và tổ chức toàn dân đánh giặc, xây dựng lực chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân, đường lối xây dựng cơ sở chính trị, căn cứ địa, hậu phương của Đảng, đảm bảo cho lực lượng cách mạng có chỗ đứng chân ở nông thôn cũng như thành thị, ở vùng rừng núi cũng như vùng đồng bằng. So với lực lượng của toàn dân Việt Nam, với tiềm lực của đất nước, quân địch tăng bao nhiêu quân, dùng bao nhiêu vũ khí cũng không đủ, kết quả là muốn tập trung nhưng phải phân tán, muốn tiến công nhưng không thể không đi vào con đường phòng ngự. Chiến lược tiến công của quân và dân miền Nam Việt Nam còn gắn liền với nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân, với các hình thức đấu tranh, các biện pháp tác chiến độc đáo và sáng tạo của chiến tranh nhân dân ở Việt Nam. Do biết tiến công địch một cách toàn diện bằng cả đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, bằng cả tác chiến và nổi dậy, bằng cả chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, cho nên quân và dân miền Nam đã phát huy mọi khả năng để tiến công. Do biết sáng tạo ra nhưng cách đánh thích hợp và có hiệu lực lớn cho nên các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam đã phát huy đến trình độ cao sức mạnh tiến công và tiêu diệt đối phương. Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1970 nhận định: Chỉ trên thế tiến công của toàn dân với mọi phương pháp thích hợp mới đánh bại được từng bước, từng mặt, ở từng vùng đi đến đánh bại hoàn toàn quân địch. Chỉ có nắm vững quy luật nối dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy, làm chủ và tiêu diệt, tiêu diệt và làm chủ, tiến công địch trên cả ba vùng, mới biến những cuộc đấu tranh chính tri và quân sự thành một lực lượng tổng hợp, mới biến lực lượng quân chúng và lực lượng vũ trang thành một lực lượng tổng hợp. Chỉ trên cơ sở đó mới có được chiến lược tiến công của quân đội cách mạng, của nhân dân cách mạng của một nước nhỏ, đánh thắng quân đội của một nước đế quốc mạnh nhất - nước Mỹ và chỉ có trên thế tiến công mới đánh bại được đối phương. Chỉ có tiến công một cách tích cực, kiên quyết và liên tục mới phát huy được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, do đó mà làm cho sức mạnh thực tế của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam được nhân lên gấp bội. Tiến công là hành động để giành quyền chủ động buộc địch phải luôn luôn ở vào thế bị động đối phó, do đó mà làm suy yếu cả thế và lực của đối phương, làm cho đối phương bị thất bại từng bước, cuối cùng giành lấy thắng lợi hoàn toàn. Đảng Lao động Việt Nam luôn luôn nêu cao và quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, đi vào chủ trương tác chiến cụ thể, không phủ nhận sự cần thiết phải tiến hành phòng ngự hoặc rút lui trong một thời gian nào đó, ở một khu vực nào đó, khi tình hình so sánh lực lượng không có lợi. V. I. Lênin nói: "Những cuộc chiến tranh từ khi bắt đầu đến khi kết thúc chỉ toàn tiến công hầu như không có trong toàn bộ lịch sử thế giới, hoặc nếu có thì chỉ là trường hợp ngoại lệ". Hoặc như trong lịch sử dân tộc Việt Nam, ba cuộc chiến tranh chống quân Nguyên thời nhà Trần, cuộc chiến tranh chống quân Thanh thời Tây Sơn đều có rút lui khỏi Thăng Long. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mới bắt đầu, sau một thời gian kiên quyết ngăn chặn bước tiến của quân địch, quân và dân Việt Nam đã chấp hành chỉ thị của Đảng "tránh những trận bất lợi, rút lui tới một mức nào đó". Nhờ vậy mà đã bảo toàn được lực lượng, giữ vững được cuộc kháng chiến lâu dài. Trong chiến dịch và chiến đấu, quân đội cũng đã từng tiến hành phòng ngự hoặc rút lui khi cần thiết. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Năm, 2026, 09:09:44 pm Điều cần luôn luôn chú ý là những bước phòng ngự hay rút lui đó chỉ là bộ phận và tạm thời để tạo điều kiện tiếp tục tiến công. Trong chiến tranh, khi cần thiết phải tiến hành phòng ngự, các cấp chiến lược chủ trương phòng ngự tích cực. Trong phòng ngự, Quân giải phóng vẫn tìm mọi cách tiến công và phản công tiêu diệt địch, nhờ vậy mà tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển hoá so sánh lực lượng có lợi, phát triển được thế tiến công từ nhỏ đến lớn để giành thắng lợi. Đó cũng là một biểu hiện của tư tưởng tiến công trong chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Nhìn lại toàn bộ tiến trình của cuộc chiến tranh (1954-1975), có thể thấy được rằng, chiến lược của cách mạng Việt Nam là chiến lược tiến công. Đó là tiến công bằng hai lực lượng quân sự và chính trị, bằng ba mũi giáp công, chính trị, quân sự, binh vận; tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị. Đó là tiến công địch rộng khắp, thường xuyên, bằng mọi vũ khí có trong tay, với nhiều hình thức phong phú, đầy tính sáng tạo của lực lượng tại chỗ, của dân quân du kích, của chiến tranh nhân dân địa phương. Đó còn là tiến công địch trên những vùng, những chiến trường, những hướng chiến lược chủ yếu bằng những lực lượng vũ trang tập trung của bộ đội chủ lực. Kết hợp hai hình thức, hai phương thức tiến công chiến lược trên đây của lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, quân dân miền Nam đã tạo ra và nhân lên sức mạnh tổng hợp to lớn của chiến tranh nhân dân, đã tiến công liên tục và ngày càng mạnh, ngày càng hiệu lực vào lực lượng quân sự địch cũng như vào hệ thống chính quyền các cấp. Chỉ đạo chiến lược tiến công, trong chiến lược quân sự mà nội dung quán xuyến là xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược cho từng giai đoạn chiến lược, các cơ quan chỉ đạo chiến lược đặc biệt chú trọng việc chọn hướng tiến công chiến lược chủ yếu và việc xác định nguyên tắc tác chiến của lực lượng vũ trang trên hướng đó. Giải quyết các nội dung trên đây của chiến lược quân sự, ở từng giai đoạn cũng như trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân Việt Nam đã tổ chức và thực hiện thành công các hoạt động tác chiến chiến lược, các đòn tiến công và phản công chiến lược, tạo nên những bước chuyển biến lớn, làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho cách mạng và bất lợi cho đối phương. Đó là việc Đảng Lao động Việt Nam quyết định chuyển cách mạng miền Nam từ Đồng khởi tiến lên chiến tranh cách mạng miền Nam, từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công về chiến lược. Đó còn là hoạt động tiến công quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng trong Đông Xuân 1964-1965 với những chiến dịch quân sự khởi đầu như Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài làm nòng cốt, đánh lại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" khi quân đội Sài Gòn còn nguyên vẹn 11 sư đoàn bộ binh. Trong những năm Mỹ tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ", Quân giải phóng mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất của Mỹ, tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh. Cuộc phản công có ý nghĩa chiến lược trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (Xuân năm 1971) của Quân giải phóng đã đánh thắng một bước quan trọng về quân sự chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Tiếp đó, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 với ba chiến dịch tiến công ở Quảng Trị, An Lộc, Kon Tum và hai chiến dịch tổng hợp Khu 5, Khu 8 đã làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam. Trên đà thắng lợi, đầu năm 1975, quân và dân Việt Nam mở cuộc Tổng tiến công và nối dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối, kết thúc thắng lợi chiến tranh. Những hoạt động tiến công và phản công chiến lược nêu trên thể hiện hiệu lực của chiến lược quân sự Việt Nam cũng như sự tài giỏi trong việc tổ chức, điều hành của các cơ quan chỉ đạo chiến lược trên mặt trận đấu tranh quân sự nói riêng, trên các mặt trận đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao nói chung. Đó là một chiến lược quân sự tiến công chủ động đầy sáng tạo; một chiến lược quân sự của toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, phối hợp chặt chẽ hành động tác chiến của lực lượng vũ trang với đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng cách mạng và đó cũng là cơ sở để giải quyết thành công những vấn đề thuộc về nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật trên chiến trường miền Nam. Về chiến dịch, từ năm 1964 đến năm 1965 là giai đoạn bắt đầu vận dụng nghệ thuật chiến dịch tiến công qua các chiến dịch khởi đầu như chiến dịch Bình Giã (từ 2-12-1964 đến 7-3-1965), chiến dịch Đồng Xoài (từ 10-5 đến 2-7-1965), chiến dịch Ba Gia (từ 29-5 đến 20-7-1965). Đây là các chiến dịch tiến công có quy mô sử dụng lực lượng liên trung đoàn, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, được sự bảo đảm một phần về hậu cần của nhân dân địa phương trên địa bàn chiến dịch, đánh vào đối tượng chủ lực của quân đội Sài Gòn là chính, diễn ra ở khu vực rừng núi hoặc giáp ranh trên một không gian khoảng từ hai đến ba huyện và trong thời gian từ một đến hai tháng. Đặc điểm của các loại hình chiến dịch tiến công thời kỳ đầu này là mang tính chất tổng hợp - kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nhằm thực hiện mục tiêu tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Năm, 2026, 09:10:29 pm Từ giữa năm 1965 đến năm 1968 là giai đoạn trực tiếp đánh quân viễn chinh Mỹ. Trong giai đoạn này, có các chiến dịch tiến công là: Chiến dịch tiến công Plei Me, Tây Nguyên (từ 19-10 đến 26-11-1965), chiến dịch tiến công Bàu Bàng - Dầu Tiếng ở Đông Nam Bộ (từ 12 đến 27-11-1965), chiến dịch tiến công Tây Sơn Tịnh ở Quảng Ngãi (từ 20-2 đến 20-4-1966), chiến dịch tiến công Sa Thầy ở Tây Nguyên (từ 18-10 đến 6-12-1966), chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Junction City, Đông Nam Bộ (từ 22-2 đến 15-4-1967), chiến dịch tiến công Đắc Tô ở Bắc Tây Nguyên (từ 3 đến 23-11-1967). Chiến dịch tiến công đường 9 - Khe Sanh ở Bắc Quảng Trị (Xuân Hè năm 1968) và các cuộc tiến công vào nội đô Sài Gòn và Huế trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 có quy mô như những chiến dịch tiến công mang tính chất chiến lược. Như thế, về loại hình, bên cạnh các chiến dịch tiến công, đã xuất hiện các chiến dịch phản công; về quy mô, lực lượng tham gia chủ yếu là cấp sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường cùng lực lượng vũ trang địa phương; về cách đánh chiến dịch và sự chỉ đạo vận dụng chiến thuật trong chiến dịch cũng như nghệ thuật vận dụng các mưu kế, lập thế trận chiến dịch, nghệ thuật tổ chức, điều hành chiến dịch có sự phát triển cao hơn giai đoạn trước.
Từ năm 1970 đến năm 1971 là giai đoạn Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương. Đây là giai đoạn mở các hoạt động và các chiến dịch phản công như: Hoạt động phản công làm thất bại cuộc tiến công sang Campuchia của Mỹ và chính quyền Sài Gòn; ba chiến dịch phản công đánh bại ba cuộc hành quân quy mô lớn của địch ở đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và đường 6 (Công Pông Chàm - Công Pông Thom). Nghệ thuật chiến dịch phản công đã phát triển lên một trình độ mới, khá hoàn chỉnh, lực lượng sử dụng lên tới tương đương cấp quân đoàn, diễn ra ở vòng ngoài chiến trường chính miền Nam Việt Nam, giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược tạo thế và lực cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Năm 1972: Lần đầu tiên trong chiến tranh, cứu nước, Quân giải phóng đã tiến hành đồng thời ba chiến dịch tiến công với lực lượng sử dụng ở mỗi chiến dịch tương đương cấp quân đoàn tăng cường, trên ba hướng chiến lược quan trọng thuộc chiến trường chính miền Nam là Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; đột phá thẳng vào hệ thống phòng ngự kiên cố của địch. So với các chiến dịch tiến công giai đoạn trước, đây là những chiến dịch có quy mô lớn hơn, không gian rộng hơn, thời gian dài hơn. Bên cạnh các chiến dịch tiến công của các binh đoàn chủ lực, còn liên tiếp mở hai chiến dịch tiến công tổng hợp ở Bắc Bình Định (Trung Bộ) và ở Khu 8 (Nam Bộ). Trên miền Bắc, Quân chủng Phòng không - Không quân cùng lực lượng phòng không địa phương tiến hành chiến dịch phòng không quy mô lớn đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, ở Bắc Lào, lực lượng vũ trang Việt Nam và Lào thực hiện thắng lợi chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, nơi Liên quân Lào - Việt tổ chức lực lượng thích hợp (chia thành bộ phận phòng ngự tại chỗ và cơ động đánh địch trên các hướng), ngăn chặn, phản kích bẻ gãy các mũi và hướng tiến công của địch, kết hợp tập kích tiêu hao sinh lực, tạo thế và lực đánh trận then chốt quyết định. Như vậy, đây là giai đoạn mà các loại hình chiến dịch phát triển phong phú, nghệ thuật chiến dịch phát triển toàn diện và khá hoàn chỉnh. Từ năm 1973 đến năm 1975: Trên cơ sở tạo thế tạo lực của hai năm 1973, 1974, Quân giải phóng mở các chiến dịch lớn kế tiếp nhau giải phóng Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh với quy mô lực lượng lớn, trên một không gian rộng, trong một thời gian ngắn. Với các chiến dịch này, loại hình chiến dịch tiến công đã có bước phát triển mới, mang ý nghĩa chiến lược. Nó có các đặc điểm chủ yếu như: Do cấp chiến lược trực tiếp chỉ đạo, do từng tập đoàn chiến dịch binh chủng hợp thành tương đối lớn thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ của bộ đội địa phương dân quân du kích trên địa bàn chiến dịch, nhằm mục đích tiêu diệt và làm tan rã lớn từng tập đoàn chiến dịch - chiến lược của địch, giải phóng từng địa bàn chiến lược tạo nên sự đột biến chiến dịch và đưa đến sự phá vỡ thế chiến lược của địch; các hình thức chiến thuật phát triển phong phú và ở trình độ cao, nhất là nghệ thuật tổ chức thực hành các trận then chốt. Nhìn chung, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật chiến dịch của chiến tranh nhân dân phát triển lên một trình độ mới. Sự phát triển này được biểu hiện trên những nội dung thuộc về nghệ thuật chiến dịch như chọn hướng, mục tiêu, đối tượng tác chiến chiến dịch; tổ chức, sử dụng lực lượng; lập thế trận; chọn cách đánh; chuẩn bị và thực hành chiến dịch; chỉ đạo chiến thuật trong chiến dịch; tổ chức chỉ huy, đảm bảo hậu cần, kỹ thuật; phát huy nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến dịch. Về chiến thuật, trong giai đoạn đầu, từ phong trào Đồng khởi đến đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" (1961-1965), bộ đội trên chiến trường miền Nam chủ yếu vận dụng các hình thức chiến thuật chủ yếu đã được tổng kết trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là chiến thuật vận động tiến công, đánh địch đổ bộ đường không, tập kích. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ" (1965-1968). Để đương đầu và đánh bại đối phương có quân số đông, vũ khí trang bị dồi dào, hiện đại, có hoả lực và sức cơ động cao lại chiếm ưu thế áp đảo trên biển, trên sông, trên không, các cấp chiến lược chủ trương đẩy mạnh đánh đêm và đánh gần, "bám thắt lưng Mỹ mà đánh". Vì vậy, ở miền Nam, hình thức chiến thuật mà lực lượng vũ trang vận dụng và phát triển rộng rãi là tập kích, vận động tiến công, phục kích. Trong giai đoạn thứ ba là giai đoạn đánh thắng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" (1969-1975), lực lượng vũ trang cách mạng trên chiến trường vận dụng và phát triển các loại hình chiến thuật như tập kích, vận động tiến công địch đang cơ động, tạm dừng hoặc mới chuyển vào phòng ngự nhưng chưa có công sự vững chắc; tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc. Tóm lại, trải qua 21 năm kháng chiến, tư tưởng chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam trên chiến trường miền Nam là tư tưởng chiến lược tiến công. Tư tưởng ấy dựa trên một loạt nhân tố trên chiến trường, trong nước, trong khu vực và trên thế giới trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam và quân đội Mỹ. Tư tưởng chỉ đạo chiến lược ấy dựa trên cơ sở đánh giá đúng so sánh lực lượng của hai bên đối chiến, dựa trên sức mạnh tổng hợp to lớn của chiến tranh cách mạng Việt Nam ở miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, dựa trên lòng yêu nước và tinh thần dám đánh quyết đánh, biết đánh và biết thắng của toàn quân, toàn dân Việt Nam. Chiến lược ấy phát huy cao độ truyền thống đánh giặc của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Đó là truyền thống lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy con người Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam, trí tuệ Việt Nam để đương đầu và đánh bại vũ khí, sắt thép và bộ máy điều hành chiến tranh khổng lồ của Mỹ. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Năm, 2026, 09:12:20 pm 3- "Vành đai diệt Mỹ"- một hình thức toàn dân đánh giặc
Thất bại trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt", từ giữa mùa hè năm 1965, các đơn vị lớn quân Mỹ bắt đầu ồ ạt đổ vào miền Nam Việt Nam, tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ". Dựa trên tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh có quân đông và vũ khí hiện đại, Mỹ tin rằng: Các đơn vị chiến đấu Mỹ sẽ nhanh chóng "bẻ gãy xương sống Việt cộng", tiêu diệt Quân giải phóng, giành lại thế chủ động chiến trường, cứu quân đội và chính quyền miền Nam đang suy sụp. Vừa đặt chân lên đất Việt Nam, quân Mỹ nhanh chóng chiếm lĩnh những vị trí then chốt có ý nghĩa chiến lược để làm bàn đạp và biến những vị trí đó thành những căn cứ quân sự lớn: Căn cứ tác chiến của các sư đoàn, thiết đoàn, của không quân, hải quân; làm nơi xuất phát những cuộc hành quân "tìm diệt"; căn cứ hậu cần - kỹ thuật, nơi tích trữ lực lượng, vũ khí, phương tiện chiến tranh. Quân Mỹ đã sử dụng một khối lượng lớn bom, đạn, đánh phá dữ dội vùng giải phóng xung quanh các căn cứ, kết hợp với quân đội Sài Gòn mở các cuộc hành quân càn quét, dồn dân, nhằm thiết lập vành đai an toàn cho cả một hệ thống căn cứ quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Để xây dựng căn cứ Chu Lai, đối phương đã đánh phá các xã Kỳ Sanh, Kỳ Liên, Kỳ Anh, Kỳ Khương, Kỳ Hòa... suốt ngày đêm. Chỉ tính riêng xã Kỳ Sanh rộng không quá 50km2 với 8.000 dân, trong suốt 12 ngày đầu tháng 6 năm 1965 đối phương đã ném 500 quả bom các loại. Trung bình mỗi tháng, Kỳ Sanh phải chịu 37 trận càn quy mô từ hai trung đội đến sáu tiểu đoàn Mỹ và quân đội Sài Gòn, có máy bay, pháo binh và xe tăng yểm trợ. ở Tây Ninh, sau khi lữ đoàn 196 Mỹ đổ quân xây dựng căn cứ Trảng Lớn, những cánh rừng nơi đó nhanh chóng bị bom đạn và chất độc hóa học Mỹ tàn phá, hủy diệt. Các xã Bình Đức, Thạch Phú sát căn cứ Đồng Tâm bị đối phương đánh phá ác liệt, chỉ còn lại một, hai đảng viên và vài ba du kích trụ bám. Ở căn cứ An Khê, khi sư đoàn kỵ binh không vận số 1 đến, bom đạn Mỹ liên tiếp dội xuống các vùng xung quanh, nhân dân xã Bắc phải dời làng đi nơi khác sống... Có thê thấy rằng, "việc sử dụng hoả lực chưa từng có và hoang phí để thay cho con người là một đặc điểm nổi bật của các chiến thuật quân sự Mỹ trong chiến tranh Việt Nam"1 (G. Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr.199). Trước tình hình cuộc chiến leo thang và lan nhanh ra khắp cả hai miền Nam Bắc, Hội nghị lần thứ 11 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (3-1965) quyết định chuyển toàn bộ miền Bắc từ thời bình vào thời chiến nhằm đảm bảo cho miền Bắc có đủ điều kiện và sức mạnh cùng một lúc hoàn thành các nhiệm vụ trọng đại là tiếp tục giữ vững công cuộc xây dựng miền Bắc, đánh thắng các bước "leo thang" chiến tranh của không quân, hải quân Mỹ, duy trì và đẩy mạnh sự chi viện toàn diện, mạnh mẽ, liên tục sức người, sức của cho cách mạng miền Nam. Tuy nhiên, tại Hội nghị quan trọng này, trên cơ sở lượng định rằng, quân và dân Việt Nam đang phải đương đầu với cuộc chiến trong khuôn khổ chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của phía Mỹ ở mức độ cao, bao gồm trong đó một số nhân tố đang manh nha của "chiến tranh cục bộ" - một loại hình chiến tranh khác, ở mức độ cao hơn "chiến tranh đặc biệt", của chiến lược quân sự toàn cầu "phản ứng linh hoạt" mà nước Mỹ đề ra và theo đuổi từ năm 1961, nên Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng mới chỉ đề ra nhiệm vụ cho toàn quân, toàn dân Việt Nam tập trung đánh bại nỗ lực quân sự cao nhất của Mỹ trong khuôn khổ "chiến tranh đặc biệt" mà thôi. Còn như, việc chính thức hạ quyết tâm đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ" thì phải tới tháng 12-1965, khi Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam được triệu tập. Khoảng thời gian giữa hai kỳ Hội nghị đó, chiến sự leo thang ở mức độ "chóng mặt" trên cả hai miền Nam, Bắc từng ngày, từng tuần. Trước việc quân chiến đấu Mỹ ùn ùn đổ vào miền Nam, không quân, hải quân Mỹ đêm ngày giội bom đạn xuống mọi làng mạc của miền Bắc với quy mô và cường độ cực kỳ khốc liệt, quả thật, trong một bộ phận cán bộ đảng viên, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang và một bộ phận nhân dân ở miền Nam xuất hiện tâm trạng băn khoăn, lo lắng, thậm chí hoang mang... Trên thực tế, đã có một số người rời làng đi nơi khác để tránh sự đánh phá của quân Mỹ, đặc biệt những nơi có các căn cứ quân sự Mỹ. Tình hình trên đây đặt ra cho các cấp ủy Đảng ở địa phương miền Nam một vấn đề nóng bỏng phải giải quyết: Làm thế nào để quân và dân từng địa phương bám trụ tại chỗ, đánh Mỹ, diệt quân đội Sài Gòn ngay tại mảnh đất quê hương? Riêng đối với lãnh đạo, chỉ huy các cấp ở chiến trường, mối quan tâm hàng đầu giờ đây là phải tìm ra cách thức, biện pháp để trong điều kiện quân Mỹ chiếm ưu thế về quân số, vũ khí trang bị, hoả lực, sức cơ động, vẫn có thể trụ bám và đánh địch ngay tại mảnh đất quê hương vẫn tiếp tục giữ vững thế chủ động tiến công, không cho địch phân vùng, phân tuyến - một cố gắng thường trực của quân Mỹ hòng phát huy được ưu thế của họ là hoả lực, sức cơ động, quân số đông... Nói cách khác, trong điều kiện quân Mỹ có trang bị, vũ khí hiện đại, sức cơ động nhanh, hỏa lực nhiều và mạnh, nếu chỉ dùng phương thức tác chiến như trong thời kỳ "chiến tranh đặc biệt" thì khó thắng được quân Mỹ. Phải tìm cách bao vây và tiến công, hạn chế những mặt mạnh cơ bản của đối phương, đánh đối phương từ nơi xuất phát, đánh gần. Muốn vậy, phải tạo nên một vành đai xung quanh căn cứ Mỹ, trong đó xây dựng một lực lượng mạnh đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân bám trụ và phải lấy tiến công tiêu diệt đối phương làm phương thức chủ yếu để tồn tại. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Năm, 2026, 09:13:10 pm Sau cả một quá trình nỗ lực suy nghĩ, tìm tòi, chọn lựa các giải pháp khả dĩ, đến những tháng của nửa đầu năm 1965, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5 đã thống nhất chủ trương phải bắt tay tổ chức lại lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn toàn Khu, mà trước hết là ở những địa phương có các căn cứ quân sự Mỹ, đảm bảo cho lực lượng vũ trang và nhân dân có điều kiện bám trụ để tiến công quân Mỹ ngay tại căn cứ xuất phát hành quân, nghĩa là đánh gần, đánh quần lộn với quân Mỹ, kiên quyết giữ vững quyền làm chủ quê hương, làng xóm của mình, cần mở ngoặc để nói ngay ở đây rằng, trước đó, nghĩa là trong những năm đương đầu với "chiến tranh đặc biệt", quân dân các địa phương miền Nam đã xây dựng, củng cố được và ngày càng mở rộng hệ thống các làng xã chiến đấu, thôn ấp chiến đấu. Tại đó, lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị của cách mạng không ngừng lớn mạnh, thực hành các hình thức đấu tranh, các phương thức tác chiến linh hoạt, biến hoá, hiệu quả. Thế cho nên, sau khi có chủ trương trên đây của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5, các cấp ủy Đảng đã chỉ đạo quân dân các địa phương có căn cứ quân sự Mỹ bắt tay tổ chức các làng xã, thôn ấp chiến đấu thành "vành đai" bao vây, áp sát, vây hãm những căn cứ quân sự đó.
Theo tư tưởng tiêu diệt đối phương để làm chủ, làm chủ để tiêu diệt, các cấp ủy Đảng địa phương đã kịp thời lãnh đạo nhân dân và lực lượng vũ trang bám trụ bằng cách trên cơ sở những làng xã chiến đấu đã có, phát triển, xây dựng thành những "vành đai diệt Mỹ"1 (Thoạt đầu, khi mới hình thành, được gọi là "Vành đai du kích diệt Mỹ"). Đó là hệ thống những thôn, xã chiến đấu áp sát, bao vây quanh các căn cứ quân sự Mỹ, được tổ chức thành thế trận vây hãm và tiến công đối phương ngay tại căn cứ chỉ huy và xuất phát hành quân của đối phương. "Vành đai diệt Mỹ" xuất hiện là sự kế tục và phát triển lên một trình độ mới những làng xã chiến đấu và phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương đã từng tồn tại và chiến thắng trong kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây cũng như trong "chiến tranh đặc biệt" vừa qua. Hình thức "toàn dân đánh giặc" này ra đời cho phép lực lượng vũ trang và nhân dân các xã xung quanh căn cứ Mỹ trụ bám vững chắc trên quê hương, vừa sản xuất, vừa chiến đấu và đấu tranh trực diện với kẻ thù bằng cả tiến công quân sự, đấu tranh chính trị và thực hành binh vận. Trên một thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, rộng khắp, quân và dân các xã vành đai đã thực hiện chủ động tiến công đối phương kết hợp với phòng giữ vững chắc, tiêu hao, tiêu diệt đối phương để giữ vững quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt đối phương đạt hiệu quả ngày càng cao. Ngay sau khi thành lập, quân dân Vành đai Chu Lai đã dựa vào thế trận được xây dựng, chiến đấu tiêu diệt một đại đội bảo an, hai trung đội dân vệ vào sáng 28 tháng 5 năm 1965. Được sự hỗ trợ của đòn quân sự, nhân dân các xã đã nổi dậy diệt ác, phá kìm, giải phóng hoàn toàn hai xã Kỳ Xuân, An Xuân và năm thôn của Kỳ Hòa, Kỳ Khương với số dân 13.000 người, ở Vành đai Rạch Kiến (Long An) sau ba tháng kể từ khi thành lập, quân dân 12 xã vành đai đã tiêu diệt hơn 1.000 lính Mỹ, đánh thiệt hại một tiêu đoàn quân đội Sài Gòn, phá hỏng 20 xe quân sự, bắn cháy 20 máy bay, giữ vững các thôn xã giải phóng. Trải qua 2.250 ngày đêm chiến đấu (1965-1972), quân dân Vành đai Trảng Lớn (Tây Ninh) đã đánh 3.825 trận, tiêu diệt hàng nghìn quân Mỹ, quân đội Sài Gòn, bắn hỏng, bắn cháy hàng trăm xe quân sự và tàu xuồng chiến đấu trên sông, trừng trị nhiều "cán bộ bình định" và ác ôn, bảo vệ vững chắc quyền làm chủ địa phương. Trên thực tế "Vành đai diệt Mỹ" là một hình thức đánh địch của toàn dân, thực hiện làm chủ và tiến công, tiêu hao, tiêu diệt địch rất rộng lớn, xây dựng, phát triển lực lượng, bảo vệ vùng giải phóng. Vào miền Nam, Mỹ quyết giành thế chủ động, "đánh gãy xương sống Việt cộng" bằng các cuộc hành quân "tìm diệt". Nhưng, từ đầu và suốt thời gian tham chiến trên chiến trường miền Nam, quân Mỹ chẳng những không giành lại được thế chủ động chiến trường, không diệt được chủ lực, mà còn bị quân và dân miền Nam Việt Nam tiến công liên tục ngay tại căn cứ của đối phương, buộc đối phương phải thường xuyên đối phó bị động, phải xé lẻ lực lượng phòng giữ căn cứ, điều mà quân đội Mỹ tối kỵ. Hệ thống "Vành đai diệt Mỹ" ở miền Nam đã góp phần quan trọng vào việc đẩy quân đội Mỹ bị hãm vào tình thế đó. Dựa vào công sự, trận địa và giao thông hào chiến đấu, lực lượng vành đai đã thực hành vây hãm căn cứ Mỹ, sử dụng các tổ, đội đặc công, trinh sát, các đội pháo, súng cối chuyên trách, các tổ bắn tỉa, các tổ, đội nữ pháo binh liên tục tiến công, tiêu hao binh lực đối phương. Nếu đối phương nống ra ngoài càn quét thì bị hệ thống các bãi chông, mìn, bẫy, bố trí xung quành vành đai sát thương. Sự tồn tại của các vành đai diệt Mỹ đã trở thành áp lực đe dọa ngày càng tăng, uy hiếp nặng nề các căn cứ quân sự Mỹ, khiến đối phương thường xuyên căng thẳng, luôn luôn nơm nớp lo sợ, bị động đối phó. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Năm, 2026, 09:14:52 pm Quân Mỹ phải sử dụng một bộ phận lực lượng liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét nống ra xung quanh nhằm tạo lập và nới rộng vành đai trắng an toàn cho căn cứ. Trong các cuộc hành quân đó, bao giờ đối phương cũng chiếm ưu thế về binh lực tập trung và hỏa lực yểm trợ. Nhưng, lực lượng vũ trang và nhân dân các xã vành đai đã dựa vào thế trận được chuẩn bị, kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, liên tục tiến công vào chính diện, bên sườn và sau lưng quân Mỹ; buộc đối phương phải đánh theo cách đánh của Quân giải phóng, hạn chế tối đa những mặt mạnh vốn có của đối phương. "Hậu phương" của quân đội Mỹ luôn luôn bị đe dọa, bị tiến công, khiến phải thường xuyên sử dụng ít nhất là 1/3 lực lượng để bảo vệ căn cứ, không tập trung được lực lượng vào các cuộc hành quân "tìm diệt" chủ lực Quân giải phóng. Ví như, lính thủy đánh bộ Mỹ là một trong những binh chủng mạnh nhất của quân đội Hoa Kỳ, nhưng sau khi vào miền Nam đã "phải tập trung cố gắng vào việc phòng thủ ba căn cứ Chu Lai, Phú Bài, Đà Nẵng"1 (S. L. Stanton, Sự thăng trầm của đạo quân đánh bộ Hoa Kỳ ở Việt Nam, Nxb Presido Press, 1986, Minh Bảo lược dịch, đăng trong Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 8-1987). Cuộc chiến đấu của nhân dân vành đai, bởi thế, đã kìm giữ, giam chân một bộ phận lực lượng cơ động quân Mỹ, góp phần cùng với quân và dân ở các nơi khác trên khắp chiến trường buộc đối phương phải phân tán, dàn mỏng lực lương bộc lộ sơ hở, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực Quân giải phóng tập trung được ưu thế binh, hỏa lực trên hướng chính chiến dịch và trong những trận then chốt, tiêu diệt từng bộ phận quan trọng, đập tan các cuộc hành quân lớn của đối phương.
Ở "Vành đai diệt Mỹ", ngoài lực lượng các xã vành đai, các xã, huyện kế cận đã luân phiên đưa du kích, bộ đội địa phương đến hoạt động tác chiến trong từng thời gian, vừa để chi viện cho vành đai, vừa rút kinh nghiệm chuẩn bị sẵn sàng đánh Mỹ khi đối phương đến. Đồng thời, bộ đội chủ lực cơ động của Quân giải phóng dựa vào "Vành đai diệt Mỹ" mở những trận tiến công bằng bộ binh, pháo binh, đặc công vào căn cứ Mỹ. Nhờ có "Vành đai diệt Mỹ" mà lực lượng vũ trang giải phóng đã thực hiện được hàng nghìn trận đánh sâu vào căn cứ đối phương, trong đó trận tiến công vào căn cứ Đồng Dù (26-7-1966), căn cứ Biên Hòa (28-10-1966), căn cứ An Khê và sân bay Plei Ku (29-2 và 24-4-1966), căn cứ Chu Lai (20-2 và 3-3-1966), sân bay Đà Nẵng (24-1-1966)... đã gây cho đối phương tổn thất nặng nề. Chỉ 10 tháng đầu của năm 1967, tại các sân bay Đà Nẵng, Chu Lai, An Khê, Plei Ku, Nha Trang, pháo binh và đặc công Quân đội nhân dân Việt Nam đã phá hủy, phá hỏng 476 máy bay các loại của Mỹ - chiếm 84% tổng số máy bay Mỹ do quân dân Khu 5 diệt và bằng 24,3% tổng số máy bay các loại của Mỹ trên địa bàn Khu 51 (Quân khu 5, Thắng lợi và bài học trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr.94). Riêng căn cứ Đà Nẵng, số máy bay Mỹ bị thiệt hại trị giá 75 triệu USD2 (James S. Olson, Dictionnary of Vietnam War, Green Wood Press, Westport, 1988, p.276, 109), còn nếu chỉ kể các trận tiến công vào sân bay Đà Nẵng trong tháng 4 năm 1969 thì đã tiêu hủy 38.000 tấn bom đạn và 20.000 thùng dầu, đánh đòn nặng vào các kho tồn trữ hành quân của Mỹ. Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1 Mỹ làm nhiệm vụ bảo vệ các cửa ngõ vào căn cứ Đà Nẵng đã phải "chiến đấu ác liệt... để đẩy đối phương khỏi vành đai có thể đặt tên lửa bắn vào Đà Nẵng. Chỉ sau một thời gian ngắn, việc liên tục tuần tra các cánh đồng và làng mạc đầy mìn, bẫy đã gây cho quân Mỹ nhiều tổn thất"1 (Shelby L. Stanton, Sự thăng trầm của đạo quân đánh bộ Hoa Kỳ ở Việt Nam (1965-1973), Sdd.184). Một số tác giả Mỹ sau này nhận xét, ở miền Nam, Cộng sản vô hiệu hoá một phần không lực Mỹ bằng đặc công, bằng việc sử dụng đường hầm vào ban đêm và bằng cách buộc kẻ thù dùng nhiều máy bay để bảo vệ căn cứ. Còn như, việc quân Mỹ thường xuyên sử dụng pháo binh giội đạn ra các khu vực xung quanh thì, "các lực lượng cách mạng đối phó với trọng pháo bằng cách đánh vào các căn cứ cố định hoặc dã chiến"2 (G.Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Sđd, tr.203, 204) của Mỹ. Tài liệu thống kê của Lầu Năm Góc nhận xét rằng: Vào năm 1969, có nhiều cuộc tiến công của đặc công đối phương vào các căn cứ Mỹ, "mỗi cuộc gây ít nhất một triệu USD thiệt hại"3 (G.Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Sđd, tr.203, 204). Rõ ràng "Vành đai diệt Mỹ" tồn tại, phát triển không những tạo nên thế trận vây hãm đối phương mà còn là bàn đạp tiến công lợi hại để bộ đội chủ lực đánh sâu vào các căn cứ của đối phương, là nơi rèn luyện tinh thần và cách đánh cho lực lượng du kích, bộ đội địa phương các nơi khác. Để có những "Vành đai diệt Mỹ" vừa chủ động tiến công đối phương liên tục, vừa phòng giữ kiên cường, bảo tồn và phát triển được lực lượng Quân giải phóng, đồng bào và chiến sĩ các xã quanh căn cứ Mỹ đã phải vượt qua những thử thách gay go, ác liệt, trụ bám địa bàn, thắng đối phương từng bước mới xây dựng được. Do đó, thế trận chiến tranh nhân dân theo kiểu "Vành đai", thực ra, không phải là một tập hợp đơn giản các làng xã, thôn ấp chiến đấu sẵn có, mà là sự gắn bó chặt chẽ trên các phương diện liên quan (như hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy; hệ thống công sự, trận địa; phối hợp giữa các lực lượng, công tác đảm bảo hậu cần, thông tin liên lạc...) đủ để tạo nên sức mạnh và tính bền vững của thế trận này. Một cách tổng quát, có thể hình dung rằng, toàn bộ làng xã, thôn ấp chiến đấu giò đây được tổ chức lại để thành một hệ thống gắn bó, theo một chủ trương thống nhất và thống nhất về tổ chức chỉ huy giữa các lực lượng, các đơn vị bộ đội, xây dựng lực lượng và hệ thống công sự, trận địa thành một thế trận liên hoàn vững chắc. Toàn bộ lực lượng trực tiếp tác chiến thường xuyên của vành đai và lực lượng cơ động của khu, tỉnh, huyện... đều hoạt động theo phương án hiệp đồng tác chiến thống nhất, hỗ trợ cho nhau, tạo nên sức mạnh tống hợp của chiến tranh nhân dân trên vành đai. Cùng với những hoạt động của các tổ săn cơ giới, bắn máy bay, các tổ đội bắn tỉa, pháo, súng cối được tổ chức gọn nhẹ, cơ động linh hoạt, kìm giữ, đánh tiêu hao, sát thương đối phương, gây cho đối phương căng thẳng thường xuyên, là những đòn đánh tiêu diệt quy mô vừa của bộ đội chủ lực, nhằm tiêu diệt từng bộ phận lực lượng quan trọng của quân Mỹ, tạo nên những rung động mạnh trong căn cứ đầu não của đối phương. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Năm, 2026, 09:16:02 pm Trong điều kiện lực lượng chiến đấu gồm nhiều thành phần, thường xuyên đối diện trực tiếp với quân Mỹ tình huống diễn biến phức tạp..., vành đai tổ chức Ban chỉ huy chung gồm chỉ huy trưởng, chính trị viên và các chỉ huy phó do Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo và Ban chỉ huy quân sự tỉnh chỉ huy. Nhiệm vụ của ban chỉ huy chung là tổ chức các hoạt động quân sự, chính trị và binh vận trên toàn tuyến vành đai phù hợp với ý định của cấp trên và tình hình, nhiệm vụ, khả năng của địa phương. Vành đai lại được tổ chức thành hai hoặc nhiều tuyến chiến đấu. Một số vành đai như Trảng Lớn, Bình Đức... được phân thành các cụm hoặc các mặt trận. Mỗi cụm, mỗi mặt trận lại được phân thành các tuyến.
Tuyến một, bao gồm những thôn, xã trực tiếp tiếp xúc với căn cứ Mỹ, xây dựng cho được một hệ thống công sự, hào giao thông kiên cố, bí mật, bất ngờ bảo đảm phát huy được mọi loại hỏa lực và cách đánh, đồng thời che giấu được lực lượng giải phóng và do một bộ phận lực lượng nhỏ chiếm giữ. Thường là những tổ trinh sát, bắn tỉa, tổ đặc công, tổ du kích... Do đó, phổ biến ở tuyến một là công sự bắn tỉa, hầm chông, bãi mìn, lựu đạn gài và các loại bẫy. Tuyến hai là những thôn, xã chiến đấu bao quanh tuyến một. Lực lượng cơ bản của vành đai thường bố trí ở tuyến hai. Ở tuyến này, quân và dân vành đai đã xây dựng hệ thống công sự, trận địa vững chắc đánh bộ binh, xe tăng, xe bọc thép và máy bay; các hầm trú ẩn liên kết với những hào giao thông ngang dọc, từ xã này qua xã khác thành thế trận liên hoàn. Nhờ đó, trong chiến đấu, các lực lượng tham gia tác chiến trên vành đai có thể cơ động nhanh, bí mật, kịp thời chi viện cho nhau trong những tình huống gay cấn, đồng thời phân tán nhanh lực lượng, hình thành các mũi bất ngờ tiến công vào sườn hoặc sau lưng đối phương. Các vành đai còn có hệ thống địa đạo kiên cố. Trên những trục đường và những hướng đối phương có thể đột nhập bất ngờ (đặc biệt vào thời kỳ đầu, khi đối phương dùng chiến thuật phân đội nhỏ thọc sâu) quân và dân vành đai còn bố trí hầm chông, bãi mìn, các loại bẫy, dựng chướng ngại vật, đào các hào sâu để ngăn xe cơ giới. Thông thường, ngoài tuyến một và tuyến hai, các vành đai còn tổ chức tuyến trung gian nhằm tăng thêm chiều sâu của thế trận. Khắp vành đai, ở nơi công cộng và trong mỗi gia đình, ngoài các loại hầm chiến đấu, hầm trú ẩn và hầm cất giấu tài sản, gia súc..., là một hệ thống hầm bí mât được xây dựng công phu, luôn luôn cải tiến về kỹ thuật và dời chuyển vị trí. Đây là loại công sự nhằm che giấu và bảo tồn lực lượng, thực hiện "ba bám" (bám đất, bám dân, bám đánh đối phương), bảo đảm thế chủ động, liên tục tiến công, ở Vành đai An Khê, nhiều hầm bí mật có thể chứa khoảng 70, 80 người, có thể che giấu được một lực lượng cỡ trung đội, đại đội. Tuy nhiên, không phải "Vành đai diệt Mỹ" nào cũng bố trí lực lượng và có cấu trúc giống nhau. Tùy điều kiện, nhiệm vụ, khả năng, địa hình, quân và dân vành đai đã sáng tạo trong cách bố trí và xây dựng hệ thống công sự, trận địa, không ngừng cải tiến và hoàn thiện nó. Trước một đội quân có hỏa lực mạnh, cơ động nhanh, có thể đánh từ xa và lắm thủ đoạn..., quân và dân các xã vành đai không chỉ dựa vào công sự, trận địa để thắng đối phương mà còn phải xây dựng cho mình một lập trường chính trị kiên định, vững vàng trước mọi thử thách, một ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc ngoại xâm, một lòng yêu quê hương, đất nưâc. Đó là sức mạnh to lớn của nhân dân vành đai - một nhân dân thủy chung với cách mạng, có giác ngộ chính trị cao, được tổ chức chặt chẽ, có nghệ thuật đánh giặc tài giỏi. Ngay sau ngày xuất hiện các "vành đai diệt Mỹ" ở Chu Lai, Đà Nẵng, An Khê thuộc địa bàn Khu 5, hình thức tổ chức thế trận này cũng như cách thức xây dựng điều hành hoạt động của các lực lượng chiến đấu, công tác trên trận tuyến "vành đai" nhanh chóng được các địa phương miền Nam, nơi có căn cứ quân sự Mỹ, vận dụng sáng tạo tuỳ theo điều kiện địa hình cụ thể và tình hình thực tế của mỗi nơi. Dựa trên thế trận lợi hại đó, với sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, các đơn vị vũ trang "vành đai" đã mở một số trận chiến đấu nhằm vào quân Mỹ và giành thắng lợi ở Núi Thành, Vạn Tường, Đất Cuốc, Bàu Bàng, Pleime... Đây là những chiến công đầu của quân và dân các địa phương miền Nam trên các địa bàn trọng yếu khác nhau ở Khu 5, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ..., mà ý nghĩa của nó, xét trong bối cảnh cuộc chiến lúc bấy giờ, vượt quá khuôn khổ của một trận đánh, một chiến dịch quân sự bình thường. Nó giáng đòn phủ đầu vào quân Mỹ, hạ uy thế của lực lượng thủy quân lục chiến và một số sư đoàn, lữ đoàn "khét tiếng" Mỹ như Lữ đoàn dù 173, Sư đoàn bộ binh 1 "Anh cả đỏ", Sư đoàn kỵ binh không vận số 1... khi các đơn vị này vừa đổ quân vào miền Nam. Nhưng quan trọng hơn, tự bản thân các hoạt động quân sự nói trên cũng như kết quả của nó đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của nhân dân, của lực lượng vũ trang Việt Nam và báo hiệu khả năng quân và dân Việt Nam có thể đương đầu, có thể đánh bại quân đội Mỹ về quân sự ngay trên chiến trường miền Nam. Quả nhiên, từ nửa cuối của năm 1965, ở nhiều địa phương miền Nam đã dấy lên phong trào "tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt". Tiếp đó, trong lực lượng vũ trang, xuất hiện nhiều gương điển hình "Dũng sĩ diệt Mỹ", "Dũng sĩ diệt cơ giới Mỹ"... Rồi, "vành đai" còn là địa bàn cho lực lượng vũ trang từ các địa phương khác tới hoạt động nhằm rèn luyện bản lĩnh chiến đấu, rút kinh nghiệm đặng chuẩn bị một cách tích cực, chủ động cho việc đón đánh quân Mỹ ngay trên chính địa phương mình. Nhưng quan trọng hơn, những trận chiến đấu đánh Mỹ trên Mặt trận "vành đai" nhằm tìm hiểu sự ứng phó của quân Mỹ cũng như khả năng thực tế của quân dân Việt Nam là một trong số những nhân tố quan trọng để Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đi đến nhận định rằng: "Ngày nay, mặc dầu đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân đội viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và đich vẫn không thay đổi lớn. Tuy cuộc chiến tranh ngày càng trở nên gay go, ác liệt, nhưng nhăn dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26, Sđd, tr. 633). Vì thế, tại Hội nghị này, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam hạ quyết tâm động viên cao độ sức mạnh của cả nước, kiên quyết kìm chân và đánh bại quân Mỹ ngay trên chiến trường Nam Việt Nam. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Năm, 2026, 09:57:04 pm Theo thời gian, cùng với sự gia tăng lực lượng quân sự Mỹ và đồng minh là việc xuất hiện ngày càng nhiều căn cứ quân sự Mỹ trên chiến trường miền Nam. Những căn cứ quân sự đó chủ yếu được bố trí trên các địa bàn trọng yếu, các đô thị, các khu vực không chế trục lộ giao thông huyết mạch, đặc biệt tập trung ở miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu 5, Trị - Thiên. Và như thực tế lịch sử đã chứng tỏ, chỉ một thời gian sau đó, xung quanh các căn cứ quân sự Mỹ, thế trận chiến tranh nhân dân được tổ chức lại - mức cao là các "vành đai diệt Mỹ", mức thấp là sự xuất hiện các làng xã chiến đấu mới bên cạnh những làng xã chiến đấu đã có từ trước đó. Ngoài ra, bao quanh, áp sát các căn cứ quân sự, các vùng ven đô thị - thậm chí lồng xen giữa vùng địch kiểm soát, là những vùng lõm - bao gồm lõm chiến đấu, lõm chính trị. Dựa vào thế trận đó của chiến tranh nhân dân, lực lượng vũ trang tại các "vành đai", tại các làng xã chiến đấu, tại các căn cứ lõm, bằng mọi vũ khí, với nhiều hình thức sáng tạo, linh hoạt đã tổ chức các trận đánh sâu, đánh hiểm, đồng thời thường xuyên duy trì các hoạt động quấy rối, tiêu hao, tạo nên áp lực uy hiếp ngày càng mạnh toàn bộ hệ thống căn cứ. Theo cuốn Từ điển chiến tranh Việt Nam của tác giả James S. Olson, có tới 90% số thương vong của lính thủy đánh bộ Mỹ ở căn cứ Đà Nẵng là do mìn chông, súng bắn tỉa của đối phương1 (James S. Olson, Dictionnary of Vietnam War, Sdd, p.276, 109).
Trước áp lực ngày càng tăng của "vành đai", phía Mỹ đã buộc phải đầu tư nhiều công sức, lực lượng, tiền của và thời gian vào việc đảm bảo an toàn cho các căn cứ quân sự trải khắp miền Nam bằng việc tập trung một bộ phận lớn binh lực, vũ khí và phương tiện chiến tranh vào nhiệm vụ phòng giữ căn cứ. Như nhà sử học Mỹ Gabriel Kolko (G. Côncô) nhận xét, vào đầu năm 1966, "khoảng một nửa lực lượng trên bộ của Mỹ là để bảo vệ các khu căn cứ và đến cụôi năm đó thì tỷ lệ trên là 40% - khi quân số Mỹ tại miền Nam lên tới 485.000 quân"2 (2. G.Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Sđd, tr.190). Cụ thể hơn, Shelby L. Stanton - tác giả cuốn Sự thăng trầm của đạo quân đánh bộ Hoa Kỳ ở Việt Nam năm 1965-1973 cho biết, trong năm 1966, "toàn bộ nỗ lực của các đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ chủ yếu dồn vào việc phòng thủ ba căn cứ Chu Lai, Phú Bài - ngoại ô Huế, Đà Nẵng thuộc vùng một chiến thuật3 (Shelby L.Stanton, Sự thăng trầm của đạo quân đánh bộ Hoa Kỳ ở Việt Nam (1965-1973), Tldd). Nhiều tác giả Mỹ sau này nhận xét, việc Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) buộc phải tập trung một bộ phận lực lượng chiến đấu làm nhiệm vụ phòng giữ căn cứ là một điều rất mỉa mai. Điều rất mỉa mai này là ở chỗ: Trong khi chiến lược quân sự Mỹ tại Nam Việt Nam là "tìm và diệt" chủ lực đối phương thì với cách thức tiến hành chiến tranh nặng về sử dụng hoả lực của quân Mỹ, Mỹ lại buộc phải - ngay từ đầu, tự cố định ở tư thế tĩnh tại. Rồi đó, cùng với sự xuất hiện các "vành đai" và trước sức tiến công của chiến tranh nhân dân Việt Nam, tư thế này của quân Mỹ chẳng những không khắc phục được mà ngược lại, "Mỹ luôn phải tiến hành cuộc chiến tranh Việt Nam trên thế phòng thủ chiến lược"1 (G.Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Sđd, tr. 191, 193). Điều đó giải thích vì sao, suốt những năm theo đuổi cuộc "Chiến tranh cục bộ", MACV luôn hối thúc giới lãnh đạo Washington tăng quân vào miền Nam. Hẳn rằng, góp phần tạo nên thế lưỡng nan này của quân Mỹ có vai trò và vị trí quan trọng của các "vành đai". Nhìn lại những năm tháng ấy, người ta thấy được rằng: "Số quân Mỹ và Việt Nam cộng hoà lại chiếm ưu thế so với lực lượng cách mạng kể từ sau năm 1965 và đến năm 1967 thì tỷ lệ đó là 4,7 trên 1. Trong cùng năm, vì cách mạng ghìm Mỹ và đồng minh Mỹ trong những vị trí tĩnh tại, cho nên cách mạng vượt họ về số quân chiến đấu giành cho các cuộc hành quân tiến công2 (G.Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Sđd, tr. 191, 193). Tất thảy điều đó cũng đủ nói lên rằng, cuộc chiến đấu của lực lượng "vành đai" đã kìm giữ, giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động quân Mỹ, góp phần cùng quân dân toàn miền buộc đối phương phải phân tán, dàn mỏng lực lượng, bộc lộ sơ hơ, tạo điều kiện cho chủ lực Quân giải phóng tập trung ưu thế binh lực, hoả lực mở các cuộc tiến công trên các hướng chiến trường và giành thắng lợi trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967. Ngay khi chiến lược "chiến tranh cục bộ" đang diễn ra ác liệt trên chiến trường Việt Nam, bên kia bờ Thái Bình Dương, những người viết Tài liệu mật Lầu Năm Góc đã nhận xét khá xác đáng rằng: "Ý nghĩa cơ bản nêu rõ trong chiến lược "tìm và diệt"1 là muốn đưa cuộc chiến tranh đến tận xứ sở của đối phương, làm cho đối phương không thể tự do đi lại ở bất cứ nơi nào trên mặt đất... và giáng cho đổi phương những đòn thật nặng nề"1 (Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, tập 2, Việt Nam Thông tấn xã dịch và phát hành năm 1971, tr. 137). Thế nhưng, thực tế lịch sử cho thấy, trải qua hai mùa phản công chiến lược, bằng việc tung toàn bộ lực lượng quân sự gồm quân Mỹ và quân đội Sài Gòn hiện có trong tay song Bộ chỉ huy quân sự Mỹ chẳng những đã không sao thực hiện được mục tiêu chiến lược trên đây mà ngược lại, còn bị tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh, quân Mỹ bị vây hãm trong thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam. Đó là thế trận xen cài giữa các vùng của hai bên kiểm soát, bao gồm vùng căn cứ, vùng giải phóng liên hoàn, vùng làm chủ, hệ thống các làng xã chiến đấu được tổ chức thành "Vành đai diệt Mỹ" bao vây, áp sát và thường xuyên uy hiếp các căn cứ quân sự Mỹ cũng như các trục lộ giao thông huyết mạch trên khắp chiến trường. Trên thế trận đó, quân dân Việt Nam thực hành chiến lược tiến công rộng khắp, liên tục, ngày càng mạnh mẽ cả về quân sự và chính trị; bằng nhiều hình thức và với mọi thứ vũ khí sẵn có trong tay, kể cả việc tiến công sâu và hiểm vào các căn cứ xuất phát hành quân, các căn cứ hậu cần, kỹ thuật của quân Mỹ trên khắp chiến trường. Đấy rõ ràng đã là một trong số những nhân tố quan trọng để Bộ Thống soái Việt Nam hạ quyết tâm mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Trên thực tế, các "vành đai diệt Mỹ" chẳng những góp phần ghìm chân một bộ phận quan trọng sinh lực Mỹ, tạo điều kiện cho quá trình chuẩn bị Tết Mậu Thân diễn ra tuyệt đối bí mật cho dù hàng bao sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực Quân giải phóng rời căn cứ, qua bao làng mạc, xóm thôn để áp sát các vùng ven đô trên toàn miền... mà đấy còn là địa bàn tập kết lực lượng quân sự, chính trị, là bàn đạp xuất phát tiến công của quân và dân miền Nam trong dịp Têt Mậu Thân - cuộc tiến công xuất thần mà hiệu quả chiến lược của nó, xét trên nhiều chiều cạnh, đã giáng đòn quyết định vào ý chí tiến hành chiến tranh của Mỹ, buộc Mỹ dù còn rất ngoan cố và hiếu chiến, vẫn phải đơn phương xuống thang, rút dần quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến Việt Nam, trút gánh nặng chiến tranh xuống vai chính quyền và quân đội Sài Gòn - một đội quân vốn đã bại trận trong những năm "chiến tranh đặc biệt" 1961-1965 và ngày càng phụ thuộc nặng nề vào sự có mặt của quân đội Mỹ cũng như các đồng minh của Mỹ. Cho dù sau đó, chiến tranh vẫn còn tiếp diễn ác liệt thêm 5 năm nữa và phải 7 năm sau mới kết thúc với thắng lợi thuộc về quân và dân miền Nam Việt Nam nhưng rõ ràng, về mặt chiến lược, Mỹ đã thua trận kể từ mùa Xuân 1968. Trong chiến công chung của cả dân tộc có sự đóng góp của quân và dân trên Mặt trận "Vành đai" - một mặt trận mà ở đó, suốt bao năm ròng chiến tranh, sức mạnh của lòng yêu quê hương, đất nước, chí căm thù giặc sâu sắc được quân và dân các địa phương "vành đai", dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, phát huy cao độ, bảo đảm cho "vành đai" chẳng những ngang nhiên tồn tại sát với toàn bộ hệ thống căn cứ quân sự Mỹ mà còn trụ vững và phát huy ngày càng đầy đủ vai trò, tác dụng của nó trước mọi sự đánh phá dữ dội của kẻ thù. Trong đạn bom ác liệt của kẻ thù, "Vành đai diệt Mỹ" miền Nam đã đứng vững và chiến thắng. Đó là một sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam; thể hiện sự vận dụng linh hoạt quan điểm "toàn dân đánh giặc", tư tưởng chiến lược tiến công và làm chủ của quân và dân miền Nam trong cuộc đương đầu lịch sử với đội quân mạnh nhất, hiện đại nhất. "Vành đai diệt Mỹ" thực sự là một phát triển mới và làm phong phú thêm kho tàng kinh nghiệm và nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Năm, 2026, 10:00:17 pm II- VAI TRÒ LỊCH SỬ CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
1- Sự ra đời, hoạt động và đóng góp của Mặt trận Dàn tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Sau khi Hiệp định Geneva được ký kết (7-1954), Đảng Lao động Việt Nam chủ trương "thi hành triệt để Hiệp định đình chiến (tập kết quân đội, rút quân ra Bắc...). Đấu tranh đòi Pháp phải thi hành đúng Hiệp định"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr.274). Tuy nhiên, đến giữa năm 1956, Việt Nam Cộng hòa đã từ chối Tổng tuyển cử, tiến hành nhiều biện pháp chống cộng quyết liệt. Lúc này, khả năng thực hiện các điều khoản chính trị của Hiệp định Geneva hầu như không còn tồn tại, cách mạng miền Nam rơi vào tình thế hết sức khó khăn, yêu cầu chuyển hướng đấu tranh đặt ra cấp thiết - thời điểm này hết sức cần những quyết sách đúng đắn, kịp thời. Trước những đòi hỏi của tình hình, tháng 6-1956, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam họp và ra Nghị quyết "Về tình hình, nhiệm vụ và công tác miền Nam", nêu rõ cần thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống Mỹ - Diệm cho miền Nam, Mặt trận đó phải "đoàn kết bất cử người nào đoàn kết được, trung lập bất cứ người nào có thể trung lập được". Trên cơ sở thực tiễn cách mạng miền Nam, tháng 8-1956, Ủy viên Bộ Chính trị Lê Duẩn soạn thảo "Đường lối cách mạng miền Nam", xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là "đánh đổ chính quyền độc tài, phát xít Mỹ - Diệm, thực hiện một chính quyền liên hiệp dận chủ có tính chất dân tộc độc lập, để giải phóng nhân dân miền Nam ra khỏi ách đế quốc, phong kiến, độc tài, phát xít Mỹ - Diệm để cùng với toàn quốc thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập dân tộc"2 (). Thực hiện nhiệm vụ lịch sử đó, Đương lối cách mạng miền Nam khẳng định cần thiết phải xây dựng một mặt trận dân tộc có tính giai cấp rõ ràng, đồng thời phải bao hàm các lực lượng yêu nước, tiến bộ trong dân tộc, đặt quyền lợi Tổ quốc lên trên hết, tránh "tả khuynh" cô độc, hẹp hòi, nhằm tập hợp mọi lực lượng để chống kẻ thù chung - đây là "một nhiệm vụ rất quan trọng (của Đảng ta hiện nay - TG) đề chiến thắng quân thù"3 (). Trong khi đó, chính sách chống cộng của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã khiến cách mạng miền Nam chịu nhiều tổn thất. Đến năm 1959, nhiều xã không còn chi bộ, cả Nam Bộ chỉ còn 5.000 đảng viên; ở đồng bằng Liên khu 5, có 70% chi ủy viên, 60% huyện ủy viên, 40% tỉnh ủy viên bị địch bắt, giết; 12 huyện không còn cơ sở đảng; có tỉnh chỉ còn một chi bộ Đảng. Đến năm 1959, ở miền Nam có gần nửa triệu người bị bắt, bị tù đày và gần 7 vạn người bị giết hại. Cách mạng miền Nam đứng trước những thử thách cực kỳ nghiêm trọng. Trước tình hình đó, đáp ứng yêu cầu của cách mạng miền Nam, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (khoá II) của Đảng Lao động Việt Nam được tổ chức (1-1959) và ra nghị quyết lịch sử, phân tích sâu sắc thái độ của các giai cấp, tầng lớp (công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc, địa chủ), các dân tộc thiểu số, các tín đồ tôn giáo, binh lính trong quân đội miền Nam. Trên cơ sở đó, Nghị quyết chỉ ra khả năng tập hợp ngày càng đông đảo các lực lượng yêu nước, dân chủ ở miền Nam trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi trên cơ sở liên minh công nông, do Đảng lãnh đạo, nhằm cô lập đến cao độ và đánh đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Xác định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là "đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 81-82, 88), Hội nghị Trung ương 15 chủ trương thành lập một mặt trận riêng cho miền Nam. Mặt trận đó "phải rất rộng rãi, phải đoàn kết tất cả các dân tộc đa số và thiểu số, các đảng phái, các tôn giáo và những cá nhân yêu nước, đoàn kết với ngoại kiều, đặc biệt là Hoa kiều; không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, chính kiến, điều cốt yếu là chống Mỹ - Diệm, tán thành tự do dân chủ, cải thiện dân sinh và hoà bình thống nhất Việt Nam"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 81-82, 88). Nghị quyết 15 như mồi lửa ném vào đống củi khô, làm bùng phát một phong trào đấu tranh mạnh mẽ và rộng khắp miền Nam - phong trào "Đồng khởi" làm xoay chuyển tình hình và mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên. "Đồng khởi" đã đánh một đòn quyết định vào chiến lược Eisenhower, đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Bước ngoặt của cách mạng miền Nam đòi hỏi phải có một tổ chức cách mạng có đường lối đấu tranh phù hợp với đặc điểm tình hình miền Nam, có khả năng đứng ra động viên, tổ chức toàn thể nhân dân đoàn kết lại đặng hoàn thành công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Nhấn mạnh lại và làm rõ thêm nhiều điểm trong nội dung Nghị quyết Trung ương 15, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) khẳng định: Quá trình thực hiện nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là quá trình tập hợp, đoàn kết, tổ chức và phát triển các lực lượng đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm, nhấn mạnh một lần nữa nhiệm vụ "thực hiện một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống Mỹ - Diệm"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập. lập 21. Sđd, tr. 920) ở miền Nam. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Năm, 2026, 10:01:48 pm Thực hiện Nghị quyết 15 và Nghị quyết Đại hội lần thứ ba Đảng Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam, ngày 20-12-1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, thuộc vùng giải phóng Tây Ninh, đại biểu các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo và các đảng phái đã họp Đại hội, quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Thông tấn xã Giải phóng và Đài phát thanh Giải phóng - cơ quan ngôn luận của Mặt trận ra đời, đã góp phần quan trọng trong việc giác ngộ, tập hợp lực lượng yêu nước ở miền Nam. Nhân sĩ, trí thức lần lượt rời Sài Gòn và các thành phố khác của miền Nam vào căn cứ, đi theo cách mạng.
Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời (12-1960), chủ trương "đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và thân sĩ yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị"1 (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961, tr.7) trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước. Ủy ban Trung ương Mặt trận lâm thời của Mặt trận gồm nhiều nhân vật tiêu biểu, đứng đầu là Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát và Võ Chí Công. Mặt trận quyết định chọn cờ nửa xanh, nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng năm cánh làm cờ của Mặt trận, chọn bài "Giải phóng miền Nam" của Huỳnh Minh Siêng làm bài ca chính thức của Mặt trận. Với Tuyên ngôn, Chương trình hành động 10 điểm, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức trở thành người đại diện cho nhân dân miền Nam, giương cao ngọn cờ đoàn kết, tiên phong trong cuộc đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ trên con đường đi tới độc lập, thống nhất. Với chủ trương hòa bình, hòa hợp dân tộc, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã quy tụ nhiều tổ chức, đoàn thể, cá nhân yêu nước ở nông thôn, thành thị, rừng núi. Nhiều tổ chức chính trị, xã hội tự nguyện làm thành viên của Mặt trận như: Hội lao động giải phóng, Hội liên hiệp sinh viên, học sinh; Hội nhà giáo yêu nước; Hội phụ nữ giải phóng; Hội nhà báo yêu nước và dân chủ; Hội những người Công giáo kính Chúa, yêu nước; Hội Lục Hòa Phật tử miền Nam; Đảng xã hội cấp tiến trí thức yêu nước; Đảng dân chủ miền Nam của tư sản dân tộc... Trước khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra đời, Mặt trận thực hiện chức năng nhà nước; Ủy ban Trung ương Mặt trận thực tế là Chính phủ cách mạng ở miền Nam, các ủy ban tỉnh, quận, xã... thực hiện nhiệm vụ quản lý vùng giải phóng. Từ khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam phát triển về quy mô khắp các vùng nông thôn đồng bằng, rừng núi và đô thị. Ở nhiều vùng của nông thôn Nam Bộ và rừng núi miền Nam Trung Bộ, nhân dân đã vùng lên phá thế kìm kẹp của địch, hình thành vùng giải phóng. Thực hiện Cương lĩnh và Chương trình hành động 10 điểm, lúc này, Mặt trận tồn tại, phát triển với tư cách là chính quyền cách mạng, hoặc đại diện cho chính quyền cách mạng, đảm nhận chức năng của bộ máy chính quyền, có thêm trách nhiệm quản lý một vùng giải phóng rộng lớn. Xây dựng, phát triển vùng giải phóng trên mọi phương diện, hình thành chế độ tự quản của nhân dân trở thành một trong những nhiệm vụ đặc biệt và hàng đầu của Mặt trận. Từ tháng 12-1960, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, cuộc sống mới nảy nở ở những vùng giải phóng, các cải cách dân chủ, trong đó có chính sách ruộng đất được thực hiện, khẩu hiệu "người cày có ruộng" trở thành hiện thực ở nhiều nơi. Nhận thức rõ rằng, xây dựng vùng giải phóng toàn diện về kinh tế, chính trị, quốc phòng là nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, lực lượng vững chắc chủ động đối phó với đối phương, chỉ có xây dựng được kinh tế phát triển thì mới đảm bảo được đời sống của nhân dân, mới có cơ sở để giải quyết hậu cần tại chỗ, có cơ sở vật chất để tổ chức vùng kinh tế lấn sâu vào vùng kinh tế địch, Mặt trận phát động phong trào tăng gia sản xuất, bảo vệ mùa màng, tăng cường chỉ đạo xây dựng cho được nền kinh tế vững mạnh thật sự ở vùng giải phóng. Dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, nhân dân các vùng giải phóng đẩy mạnh tăng gia, sản xuất, thực hiện tự cung, tự cấp, cung ứng một phần nhu cầu về lương thực, thực phẩm; đồng thời, góp sức, góp phần nuôi quân đánh giặc. Mặt trận chủ trương trao đổi lưu thông hàng hoá giữa các vùng giải phóng với các vùng bị tạm chiếm, triệt để khai thác các nguồn vật chất trong dân, các loại vật tư thiết yếu từ các cơ sở của quần chúng yêu nước trong vùng địch kiểm soát. Trong vùng địch tạm chiến, tuỳ theo tình hình từng vùng, từng thời kỳ, Mặt trận triển khai phù hợp cuộc đấu tranh kinh tế với địch, hạn chế và phá các kế hoạch vơ vét lúa gạo; khai thác nhân, vật lực, làm thất bại âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của đối phương, coi đây là một mặt trận đấu tranh không kém phần quan trọng, đặc biệt là đối với những chiến trường trù phú như ở đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, từ năm 1965, miền Bắc đã gửi cán bộ thuộc nhiều lĩnh vực như tuyên giáo, giáo dục, y tế, văn hoá... vào miền Nam để hỗ trợ Mặt trận trong bảo vệ, xây dựng vùng giải phóng. Sự hỗ trợ này của miền Bắc cùng với những nỗ lực to lớn của Mặt trận đã góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt vùng giải phóng, cuộc sống ở đó đơm hoa, khởi sắc. Trong thế xen cài giữa vùng giải phóng và vùng địch kiểm soát, cùng với Trung ương Cục miền Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ đạo mở rộng vùng giải phóng, bao gồm những cơ sở cách mạng, căn cứ, khu du kích, vùng căn cứ được xây dựng thành hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam thành địa bàn triển khai các lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị một cách hợp lý trên khắp các vùng chiến lược. Trong thế phát triển đi lên của cách mạng miền Nam, tư tưởng chỉ đạo chung ở các vùng giải phóng và trên chiến trường là phải "vừa tiến công, vừa xây dựng; tiến công để xây dựng, củng cố và mở rộng vùng giải phóng; xây dựng để tiếp tục đẩy mạnh thế tiến công quyết liệt với địch, giành thắng lợi lớn nhất". "Đoàn kết giết giặc và sản xuất" vừa là mục tiêu, vừa là phương châm hành động của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của nhân dân vùng giải phóng. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Năm, 2026, 10:12:21 pm Phục vụ mục tiêu đánh thắng chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã công bố" bức thư tố" cáo chính sách xâm lược vũ trang của Mỹ, một lần nữa kêu gọi tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, các tổ chức, các khuynh hướng đoàn kết lại một cách rộng rãi để đánh bại bọn xâm lược Mỹ; đồng thời, để ra bốn chủ trương cứu nước khẩn cấp1 (Đế quốc Mỹ phải đình chỉ cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam; giải tán toàn bộ "ấp chiến lược"; thành lập ở miền Nam một chính phủ liên hiệp dân tộc; thực hiện đường lối ngoại giao hoà bình, trung lập).
Hiện thực hóa bốn chủ trương cứu nước khẩn cấp, ở vùng giải phóng, Mặt trận tập trung phát động quần chúng, đẩy mạnh phong trào chống phi pháo, chống gom dân, lập ấp... đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tiết kiệm, xây dựng xã ấp chiến đấu, củng cố các tổ chức quần chúng phát huy vai trò làm chủ của nông dân ở vùng nông thôn; kiên quyết bảo vệ quyền lợi ruộng đất cho dân... Đối với vùng tranh chấp, Mặt trận phát động nông dân liên tục nổi dậy khởi nghĩa phá ấp chiến lược, diệt ác, phá kìm, giải phóng đến đâu chia ngay ruộng đất cho dân đến đó; xây dựng và củng cố xã ấp, các tổ chức chính trị như chi bộ Đảng, nông thôn, phụ nữ... Thực hiện chủ trương "tìm mọi cách để tuyên truyền, giáo dục cho tất cả lực lượng vũ trang của địch hiểu rõ tình hình và nhiệm vụ cấp bách của họ là phải cùng toàn dân tiến lên đánh đổ chế độ Mỹ - Diệm"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Sđd, tr. 167, 168) và chủ trương "tăng cường các tổ chức binh vận từ trên xuống cho đến xã. Phải dùng mọi mối liên hệ của gia đình binh lính, của các giới"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Sđd, tr. 167, 168), Mặt trận cùng Vụ Binh vận trực thuộc Ban Thống nhất Trung ương hình thành nhiều bộ phận chuyên trách như tuyên truyền, tổ chức đấu tranh, xây dựng quản lý nội tuyến, đội vận động sĩ quan... Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Ban Binh vận tập trung vận động, thuyết phục và tổ chức cho nhân dân lợi dụng thế hợp pháp đấu tranh trực diện không cho địch dồn dân lập ấp, vận động gia đình binh sĩ giáo dục con em không thực hiện các hành động tội ác; đẩy mạnh xây dựng cơ sở nội tuyến trong lực lượng dân vệ, thanh niên, phá địch từ bên trong và làm nội ứng cho lực lượng từ bên ngoài đánh vào. Trên cơ sở Cương lĩnh, Mặt trận cho công bố các chính sách đối với tù binh, hàng binh, nghĩa binh, chính sách đối với đơn vị theo cách mạng, chính sách đối với những đơn vị ly khai chính quyền Ngô Đình Diệm. Mặt trận đẩy mạnh tuyên truyền về việc hoan nghênh, khen thưởng, giúp đỡ làm ăn, sắp xếp công tác cho cá nhân hoặc từng nhóm, từng đơn vị làm binh biến, nếu cả đơn vị tình nguyện theo cách mạng sẽ được giữ nguyên biên chế; đối với những đơn vị có khuynh hướng chính trị hòa bình, trung lập ly khai Diệm, nhưng chưa hoàn toàn tán thành Cương lĩnh Mặt trận, thì liên hiệp hành động, giúp đỡ với điều kiện cùng chống Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm. Bên cạnh đó, Mặt trận cũng chỉ đạo hướng dẫn các cấp, các địa phương, các ban ngành, đoàn thể như: Thanh vận, Phụ vận, Nông vận, Trí vận, Hoa vận... kết hợp công tác dân vận với công tác binh địch vận, giao trách nhiệm cho từng đoàn viên, hội viên kết hợp với phong trào đấu tranh của quần chúng để vận động binh lính, sĩ quan. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam, của Mặt trận, phong trào phá ấp chiến lược, công tác binh vận ngày càng tăng, hiệu quả cao: Năm 1961 có 33,8 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, có 11 triệu lượt người tham gia phá ấp chiến lược, đặc biệt ở thành thị có 31,5 vạn người xuống đường đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm. Năm 1962, số người ở thành thị tham gia đấu tranh tăng lên thành 67,8 vạn, hỗ trợ cho 2,7 triệu người từ nông thôn kéo vào thành thị đấu tranh. Năm 1963, hưởng ứng phong trào "thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công", có 34 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, phá ấp chiến lược. Nhờ nỗ lực của Trung ương Cục miền Nam, của Mặt trận, vùng giải phóng không chỉ được củng cố tăng cường mà còn không ngừng mở rộng, còn ở các vùng tranh chấp, đa phần nhân dân một lòng hướng về cách mạng, làm hậu thuẫn, nội ứng cho cách mạng. 80% ấp chiến lược nằm trong "quốc sách" của Mỹ và chính quyền Sài Gòn bị nhân dân miền Nam phá vỡ. Trên 2/3 lãnh thổ miền Nam có trên một nửa triệu dân được sống trong vùng tự do, dưới quyền kiểm soát thực tế của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau một thời gian hoạt động, thanh thế của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam không ngừng được khuếch trương, uy tín của Mặt trận ngày càng cao - thực tế đó đặt ra yêu cầu tập hợp rộng rãi hơn nữa các lực lượng dân tộc ở miền Nam vào Mặt trận. Chỉ thị "về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam" (1-1961) của Bộ Chính trị nêu những khả năng mới tăng cường, mở rộng đoàn kết, tập hợp lực lượng dựa trên sự chuyển biến thái độ chính trị của các giai tầng xã hội miền Nam theo hướng ngày càng "thuận lợi cho việc tập hợp thêm lực lượng mới chống Mỹ - Diệm và cho việc mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất ở miền Nam để cô lập Mỹ - Diệm hơn nữa"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Sđd, tr. 156, 163); từ đó, khẳng định: Cần "mở rộng Mặt trận Dân tộc giải phóng"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Sđd, tr. 156, 163). Xác định mở rộng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam khắp mọi nơi và xây dựng cho được mặt trận ở bên trên (tỉnh, miền, Trung ương) cũng đồng thời là hình thức phát triển chính quyền cách mạng rộng khắp, Hội nghị lần thứ nhất (mở rộng) của Trung ương Cục miền Nam (10-1961) đề cập một cách cơ bản, có hệ thống các vấn đề về Mặt trận dân tộc thống nhất ở miền Nam. Hội nghị chủ trương đẩy mạnh công tác mặt trận, dân vận, củng cố khôi liên minh công nông, tăng cường tổ chức, giáo dục, bồi dưỡng quần chúng công nông, đồng thời mở rộng tổ chức và ảnh hưởng của Mặt trận trong các tôn giáo và tầng lớp trên, xúc tiến thành lập úy ban Mặt trận các cấp, nhất là Trung ương và tỉnh. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Năm, 2026, 10:13:49 pm Quán triệt chủ trương nói trên, từ ngày 16-2 đến ngày 3-3-1962, tại vùng Kà Tum (Tây Ninh), Đại hội Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam họp lần thứ nhất. Đại hội là một sự kiện chính trị quan trọng, góp phần tăng cường khối đoàn kết của nhân dân miền Nam trong sự nghiệp chống Mỹ. Sau Đại hội, phạm vi và ảnh hưởng hoạt động của Mặt trận ngày càng mở rộng. Mặt trận đã tổ chức lãnh đạo nhân dân miền Nam kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, làm công tác binh vận cả nông thôn và thành thị, mở rộng vùng giải phóng. Ở vùng giải phóng, Ủy ban Mặt trận các cấp đã được thành lập, chuyển sang làm chức năng của chính quyền cách mạng, có nhiệm vụ đoàn kết, tổ chức nhân dân chiến đấu, sản xuất và xây dựng cuộc sống mới. Đến tháng 10-1962, tất cả các miền (Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Sài Gòn - Gia Định, Trung Nam Bộ, Tây Nam Bộ) đều có Ủy ban Mặt trận1 (Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1966, tr.198). Trong số 41 tỉnh thành, từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau thì 38 tỉnh thành đã có ủy ban Mặt trận ra mắt nhân dân" và "uy tín của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng thêm to lớn trong quần chúng nông thôn cũng như thành thị"2 (Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1966, tr.198). Cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến, Ủy ban nhân dân giải phóng cũng được thành lập ở nhiều vùng ven đô thị và cả trong lòng các đô thị. Tại nhiều vùng rộng lớn ở miền Nam, chính quyền Diệm không còn tồn tại, thay vào đó, người dân chỉ biêt có "Chính phủ bí mật" (tức Ủy ban Mặt trận ở các địa phương) tồn tại song song hoặc thay thế nhiều cấp Chính quyền Diệm. Đặc biệt, từ sau khi Trung ương Cục miền Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra Chỉ thị "Tích cực, khẩn trương, củng cố, xây dựng, phát triển chính quyền cách mạng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở xã, ấp" (29-2-1968) và Chỉ thị "Ra sức xây dựng chính quyền cách mạng các cấp theo kịp sự phát triển của tình hình" (25-5-1968), thì việc lập chính quyền cách mạng càng được nhân dân hưởng ứng rộng rãi. Chỉ sau sáu tháng thực hiện các chỉ thị trên, chính quyền cách mạng ở các cấp được xây dựng rộng rãi. Theo số liệu chưa đầy đủ, đã có tối 516/1.800 xã được xây dựng chính quyền; chính quyền cấp huyện được xây dựng trong 21/170 huyện; 3/44 tỉnh (Cà Mau, Gia Lai, Mỹ Tho) đã có chính quyền1 (Cao Văn Luận, Bên dòng lịch sử (1940-1965), Nxb Trí Dũng, Sài Gòn, 1972, tr.412). "Chính quyền cách mạng được thành lập một cách dân chủ dưới bom đạn ác liệt của quân thù" và "thật sự đem lại cho đồng bào quyền dân chủ, dân sinh, quyền sống tự do, bình đẳng, quyền được thương yêu đùm bọc lẫn nhau, sống với nhau đầy tình người"2 (Nguyễn Văn Linh và tập thể tác giả, Chung một bóng cờ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.412).
Với việc xây dựng, mở rộng, tăng cường vùng giải phóng miền Nam đã có vùng giải phóng rộng lớn, có lực lượng vũ trang cách mạng lớn mạnh, có lực lượng chính trị hùng hậu thống nhất trong mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi - điều kiện đã chín muồi cho việc thành lập chính quyền Trung ương. Năm 1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời với Mặt trận Dân tộc giải phóng làm nòng cốt - đó là kết quả của quá trình hoàn chỉnh hệ thống chính quyền, đồng thời, đánh dấu bước phát triển mới của mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mỹ và tay sai ở miền Nam. Cũng từ thời điểm này, lịch sử hoạt động của Mặt trận lật sang một trang mới - sát cánh cùng Chính phủ Cách mạng lâm thời thực hiện các chủ trương lập chính quyền cách mạng, thi hành những cải cách dân chủ, mở rộng vùng giải phóng. Thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng", dưới sự chỉ đạo của Mặt trận và chính quyền cách mạng, từ năm 1965 đến năm 1973, đã chia cấp thêm 15.000ha ruộng đất cho nông dân; nhờ đó, về cơ bản, "nông dân vẫn giữ được quyền làm chủ ruộng đất từ "Đồng khởi" cho đến ngày giải phóng"3 (Lâm Quang Huyên, Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam, Sđd, tr. 132). Quá trình phát triển của cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam Việt Nam là quá trình vận động từ thấp lên cao; từ chiến tranh du kích phát triển lên chiến tranh chính quy. Chính vì vậy, từ sau khi ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, cùng với việc xây dựng và mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, Mặt trận chủ trương phải tạo ra được những vùng giải phóng tương đối rộng lớn và hoàn chỉnh - nơi đó được triển khai xây dựng một cách toàn diện cả về chính trị, quân sự, kinh tế và văn hoá, xã hội; bảo đảm được sự ổn định và vững chắc để có thể đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của chiến tranh. Quán triệt và thực hiện tốt xây dựng căn cứ địa - hậu phương về chính trị dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thực chất là công cuộc vận động nhân dân, xây dựng căn cứ lòng dân. Thực hiện nhiệm vụ phức tạp song hết sức cấp thiết đó, Mặt trận đã xác định đúng đắn vai trò to lớn của quần chúng nhân dân; xác định rõ phương thức, phương pháp lôi cuốn, tập hợp nhân dân tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng, bảo vệ căn cứ địa - hậu phương, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh. Hiểu rõ rằng, muốn lôi cuốn, tập hợp được nhân dân cần phải có một đường lối chính trị đúng đắn, hợp lòng dân, đường lối chính trị ấy phải có cơ sở vững chắc - chỉ khi đó mới quy tụ, cố kết lòng dân. Đường lối của Mặt trận với nội dung cốt lõi "Phải HOÀ BÌNH! Phải độc lập! Phải dân chủ! Phải cơm no áo ấm! Phải hoà bình thống nhất Tổ quốc!" đã đáp ứng đúng nguyện vọng thiết tha, cấp bách nhất của toàn thể nhân dân miền Nam, trở thành ý chí sắt đá, sức mạnh phi thường thúc đẩy toàn thể đồng bào kết thành hàng ngũ, kiên quyết đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do, vì quyền lợi tối cao của Tổ quốc. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Năm, 2026, 10:15:17 pm Bên cạnh đó, động viên sức dân để xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh, xây dựng, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh cách mạng, Mặt trận đã tập trung củng cố sức dân, chăm lo đến đời sống nhân dân - đó chính là sự kế thừa và phát triển tư tưởng "khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc" của cha, ông. Chính sách kinh tế kháng chiến đã góp phần đáng kể cải thiện, nâng cao đáng kể đời sống vật chất, tinh thần của người dân tại các vùng giải phóng, khu căn cứ. Tư tưởng dựa vào dân, chăm lo bồi dưỡng sức dân, phát huy sức mạnh tổng hợp to lớn của nhân dân mà Mặt trận đã thực hiện nhất quán trong toàn bộ quá trình lãnh đạo xây dựng, mở rộng vùng giải phóng đã mang lại hiệu quả to lớn và thiết thực.
Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, từ năm 1962, Mặt trận chủ trương đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại, gắn cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam Việt Nam với phong trào đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ trên thế giới. Ngày 20-7-1962, ngày kỷ niệm lập lại hoà bình ở Đông Dương, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã công bố một bức thư tố cáo chính sách xâm lược vũ trang của Mỹ, kêu gọi tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, các tổ chức, các khuynh hướng đoàn kết lại một cách rộng rãi để thực hiện mục tiêu độc lập, tự do. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đề ra bốn chủ trương cứu nước khẩn cấp1 (Đế quốc Mỹ phải đình chỉ cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam; giải tán toàn bộ "ấp chiến lược"; thành lập ở miền Nam một chính phủ liên hiệp dân tộc; thực hiện đường lối ngoại giao hoà bình trung lập), gây tiếng vang mạnh mẽ ở trong nước và trên thế giới. Nhận thức đại đoàn kết là vấn đề sinh tử của cuộc đấu tranh giải phóng, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố: "Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam sẵn sàng bắt tay một cách bình đẳng với mọi lực lượng, từ các đảng phái, phe phái, nhóm đến các cá nhân chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở miền Nam"1 (Những văn kiện chủ yếu của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từ tháng 9-1962 đến tháng 11-1963, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, tr.52). Nói cách khác, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chủ trương thực hiện đoàn kết rộng rãi với mọi lực lượng, dù lực lượng ấy thuộc khuynh hướng chính trị khác, dù lực lượng ấy chưa tán thành hoàn toàn Cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, dù lực lượng ấy có mặt ở miền Nam hay tồn tại ở nước ngoài, từ trước đến nay đã hợp tác với Mỹ bất cứ ở mức độ nào nhưng nay đã chống lại sự thống trị của chúng, dù lực lượng ấy là đoàn thể chính trị, văn hoá, xã hội, nghề nghiệp hay tổ chức vũ trang từ trước đã đối lập với cách mạng miền Nam hay hiện nay còn ở trong chính quyền và quân đội miền Nam muốn đứng lên chống Mỹ, cứu nước. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vận động, thuyết phục và tổ chức cho nhân dân sử dụng thế hợp pháp đấu tranh trực diện không cho chính quyền Sài Gòn dồn dân lập ấp, vận động gia đình binh sĩ giáo dục con em không thực hiện các hành động tội ác; đẩy mạnh xây dựng cơ sở nội tuyến trong lực lượng dân vệ, thanh niên, phá địch từ bên trong. Tháng 12-1963, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp, chủ trương "phải ra sức củng cố và mở rộng Mặt trận Dân tộc giải phóng trên cơ sở công nông liên minh và do Đảng lãnh đạo, làm cho Mặt trận có khả năng động viên quần chúng thật rộng rãi đặng hoàn thành các nhiệm vụ chính trị mới do Đảng đề ra và đủ sức gánh vác một phần chức năng của chính quyền cách mạng trong vùng giải phóng"1 (Những văn kiện chủ yếu của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từ tháng 9-1962 đến tháng 11-1963, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, tr.52). Thực hiện chủ trương nói trên, từ ngày 1 đến ngày 8-1-1964, tại một địa điểm gần Xóm Giữa (Tây Ninh), Đại hội lần thứ hai Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã khai mạc. Tham dự Đại hội có 150 đại biểu từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, từ Tây Nguyên đến đồng bằng sông Cửu Long, từ các đô thị miền Nam đến Việt kiều từ nước ngoài về. Bên cạnh những tổ chức đã có từ trước, hàng ngũ của Mặt trận đã được mở rộng thêm với sự tham gia của các tổ chức "Củng cố hoà bình chung sống" của tín đồ Cao Đài Tây Ninh do đạo nhân Lê Văn Bụi và thiếu tá Huỳnh Thanh Mừng dẫn đầu, "Quân đội Cao Đài kháng chiến", "Các lực lượng vũ trang yêu nước" do trung tá Võ Văn Môn đứng đầu, "Đoàn đại biểu các quân nhân tham gia đảo chánh ngày 11-11-1960" với đại úy Phan Lạc Tuyên, trung úy Nguyễn Công Minh, thiếu tá Thái Trần Trọng Nghĩa, "Ban vận động thành lập Hội liên hiệp Hoa kiều"... Tổng kết những thắng lợi của phong trào cách mạng ở miền Nam trong hai năm sau khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, Báo cáo tại Đại hội nhấn mạnh: "Nhân dân miền Nam biết rằng sức mạnh của mình xuất phát từ sự đoàn kết nhất trí. Cả khối dân tộc gắn bó với nhau là một phép màu có thể trừ khử được tất cả bọn bàng môn tà đạo"1 (Nguyễn Hữu Thọ, Báo cáo chính trị tại Đại hội Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ hai, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1964, tr.33, 52. 211). Đại hội đề ra nhiệm vụ "mở rộng hơn nữa đoàn kết và hợp tác tất cả lực lượng yêu nước, xây dựng lực lượng ta lớn mạnh"2 (Nguyễn Hữu Thọ, Báo cáo chính trị tại Đại hội Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ hai, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1964, tr.33, 52. 211). Đại hội phân tích: Để thực hiện nhiệm vụ đó, nhân dân miền Nam phải nỗ lực tiêu hao, tiêu diệt nhiều hơn nữa sinh lực địch, cô lập chúng nặng nề hơn nữa ở trong nước cũng như trên trường quốc tế; tranh thủ ngày càng nhiều sự ủng hộ của các chính phủ và nhân dân thế giới, phối hợp với nhân dân yêu chuộng hoà bình Mỹ, ngăn chặn cuộc chiến tranh thực dân của Mỹ ở miền Nam; đánh bại âm mưu chia rẽ của địch, đặc biệt là âm mưu lợi dụng tôn giáo để chông cách mạng, mở rộng hơn nữa mặt trận đoàn kết và liên hiệp dân tộc. Đại hội kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo, đảng phái, giai cấp, tầng lớp xã hội trong và ngoài nước đoàn kết chặt chẽ, kiên cường đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhờ đó, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tập hợp lực lượng, đoàn kết quần chúng và tổ chức các lực lượng quần chúng liên kết lại, hình thành các mặt trận cơ sở. Các tổ chức Bảo vệ văn hoá dân tộc ra đời, như Hội Bạn trẻ Việt Nam, Nghiệp đoàn Ký giả Việt Nam, Hội Bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ... Ngoài ra, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cũng đã tập hợp được những người có cảm tình với cách mạng trong các tầng lớp trung gian và tầng lớp trên. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Năm, 2026, 10:16:24 pm Để mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp đông đảo hơn nữa mọi lực lượng, từ ngày 15 đến ngày 20-8-1967, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã họp Đại hội bất thường tại vùng chiến địa Tây Ninh, thông qua Cương lĩnh chính trị mới. Cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam bao gồm bốn phần: Phần I về đoàn kết toàn dân chống Mỹ, cứu nước; phần II về xây dựng miền Nam độc lập, dân chủ, hoà bình trung lập và phồn vinh; phần III về lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền Nam - Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc; phần IV về thi hành chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập.
Với bốn nội dung đó, Cương lĩnh xác định đối tượng và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam: Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ chính quyền thân Mỹ, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ rộng rãi, xây dựng miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập và phồn vinh, tiến tới hoà bình, thống nhất Tổ quốc - sức mạnh đảm bảo hoàn thành những nhiệm vụ đó là đại đoàn kết dân tộc. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tiếp tục chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, tầng lớp trong nhân dân, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước và tiến bộ, không phân biệt xu hướng chính trị, để cùng nhau giành lại quyền dân tộc thiêng liêng, xây dựng lại Tổ quốc. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam kêu gọi 14 triệu đồng bào miền Nam kề vai sát cánh cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cùng khối đoàn kết các dân tộc Đông Dương, tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của nhân dân thế giới, giành lấy độc lập, dân chủ, hoà bình, toàn vẹn lãnh thổ. Cương lĩnh Mặt trận nhấn mạnh: Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thi hành chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau; tăng cường quan hệ hữu nghị với tất cả các nước đồng tình ủng hộ, giúp đỡ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, tăng cường quan hệ láng giềng tốt với Campuchia và Lào; tích cực ủng hộ phong trào độc lập dân tộc, phong trào đấu tranh vì hoà bình dân chủ và tiến bộ xã hội ở các nước trên thế giới... Nhìn chung lại, tinh thần của toàn bộ Cương lĩnh chính trị, như Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tổng kết, là "Cương lĩnh chống Mỹ, cứu nước, giải phóng dân tộc; cương lĩnh đại đoàn kết toàn dân; cương lĩnh xây dựng đất nước; cương lĩnh tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc; cương lĩnh đoàn kết với nhân dân thế giới đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội"1 (Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời, Nxb Giải phóng, Sài Gòn, 1969, tr.25). Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng khẳng định, củng cố và uy tín cao trên trường quốc tế, được nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế công nhận là người đại diện chân chính của nhân dân miền Nam Việt Nam. Cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được dịch ra nhiều thứ tiếng, được phát hành rộng rãi ở các nước, các châu, được 41 chính phủ, 12 tổ chức quốc tế, năm tổ chức có tính chất khu vực đã lên tiếng ủng hộ. Đến năm 1967, Mặt trận đã có cơ quan thường trực ở 12 nước và một phái đoàn đại diện ở Hà Nội2 (Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 4, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, tr. 394). Cùng với đẩy mạnh đấu tranh chính trị và quân sự Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại "hoà bình trung lập", tăng cường hoạt động trên trường quốc tế, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cách mạng miền Nam. Mặt trận đặt cơ quan đại diện tại nhiều nước dân tộc chủ nghĩa như Algeria (Angiêri), Tanzania (Tandania), Ai Cập, Syria (Xyri), Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Lào...; ngoài ra, Mặt trận còn thiết lập các phòng thông tin làm nhiệm vụ cơ quan đại diện ở các nước như Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Chile (Chilê)... Các cơ quan đại diện nói chung đều được hưởng quy chế ngoại giao; các phòng thông tin tuy không được hưởng quy chế ngoại giao nhưng cũng được các chính phủ sở tại ưu đãi, có trường hợp được giúp đỡ về vật chất để hoạt động. Nhờ có một hệ thống cơ quan đại diện và phòng thông tin tại các châu lục, có đại diện dự các cuộc họp của các tổ chức quốc tế và quốc gia, Mặt trận đã triển khai những hoạt động ngoại giao nhân dân rộng khắp, có hiệu quả, góp phần thúc đẩy hình thành phong trào các nước đoàn kết, ủng hộ Việt Nam. Mặt trận Dân tộc Giải phóng và các đoàn thể trong Mặt trận như Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn, Hội Lục Hoà (tức đại diện Phật giáo), Công giáo kháng chiến, Hội Nhà báo, Hội Nhà văn Giải phóng... đều tham gia các sinh hoạt quốc tế lớn hoặc có quan hệ với các tổ chức tương ứng của các nước. Đại diện của Mặt trận đã được bầu vào cơ quan lãnh đạo của các tổ chức quốc tế như Liên hiệp Công đoàn thế giới, Hội đồng Hoà bình thế giới, Liên hiệp Phụ nữ dân chủ quốc tế, Liên hiêp Thanh niên dân chủ thế giới, Hội Luật gia dân chủ thế giới, Hội Nhà báo, Ủy ban Đoàn kết ba châu, Phong trào Không liên kết... Từ năm 1961, các đoàn đại biểu của Mặt trận liên tục đi thăm các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc, Cuba...); dự các đại hội quốc tế như Đại hội thế giới đòi tổng giải trừ quân bị và bảo vệ hoà bình ở Moscow (7-1962), Đại hội quốc tế các nhà báo họp ở Budapest (Buđabét)... Đầu năm 1963, đại biểu của Mặt trận tham dự Hội nghị đoàn kết nhân dân Á - Phi họp tại Moshi (Môchi thuộc Tanzania) và sau đó đại biểu Mặt trận thăm thủ đô nước cộng hoà Ảrập thống nhất. Riêng năm 1964, đoàn đại biểu của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đi thăm 12 nước và 21 lần đi dự hội nghị quốc tế. Tại các Đại hội và trong các chuyến thăm, đoàn đại biểu của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đều kêu gọi nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam. Những hoạt động tích cực đó đã mang lại kết quả hết sức khả quan. Tháng 10-1963, tại Hội nghị của "Ủy ban quốc tế đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam", họp ở Thủ đô Hà Nội, 35 đoàn đại biểu các nước đã tiếp sức cho nhân dân Việt Nam nói chung, cho đồng bào miền Nam nói riêng bằng sự ủng hộ nhiệt thành và nhất trí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới. Hội nghị đồng thanh quyết định lấy ngày 20-12, ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, làm ngày đoàn kết quốc tế hằng năm của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới với đồng bào miền Nam. Tiếp đó, ngày 20-12-1963, tại 42 nước trên thế giới, có 420 đoàn thể tổ chức ngày đoàn kết với nhân dân miền Nam Việt Nam. "Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân miền Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ hoà bình" của 64 đoàn đại biểu thuộc 50 nước và 12 tổ chức quốc tế họp tại Hà Nội cuối năm 1964 đã ra tuyên bố: Hoàn toàn ủng hộ cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, giành độc lập dân chủ, cải thiện dân sinh, hoà bình và trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Ngày 15-1-1966, tại La Habana, Hôi nghị đoàn kết nhân dân ba châu Á - Phi - Mỹ Latinh đã ra Nghị quyết ủng hộ bản Tuyên bố năm điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và lập trường bốn điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhìn chung lại, trong những chặng đường đấu tranh gian khổ, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã có những đóng góp hết sức quan trọng cho sự nghiệp chung, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, đáp ứng vai trò là người đại diện cho nhân dân miền Nam trong một giai đoạn hết sức đặc biệt. Cách mạng miền Nam Việt Nam không thể có những bước phát triển mạnh mẽ, không thế huy động được sức mạnh đại đoàn kết nếu như không có sự ra đời và đóng góp của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Năm, 2026, 10:18:50 pm 2- Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và những dấu ấn lịch sử
Như đã trình bày ở trên, sau Chỉ thị "Tích cực, khẩn trương, củng cố, xây dựng, phát triển chính quyền cách mạng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở xã, ấp" (29-2-1968) của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Trung ương Cục miền Nam, hệ thống chính quyền cách mạng các cấp ở miền Nam Việt Nam phát triển mạnh mẽ và rộng khắp. Ở nhiều vùng, chính quyền cách mạng nhận được sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng. Tính đến ngày 25-6-1969, trong số 44 tỉnh miền Nam Việt Nam "đã có 34 tỉnh và bốn thành phố đã bầu xong Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh và thành phố từ cơ sở lên"1 (). Lúc này, vấn đề thành lập chính quyền Trung ương trở thành yêu cầu cấp bách cả về đối nội lẫn đối ngoại. Trên thực tế đã có những điều kiện để thành lập một chính quyền như vậy, đó là ở miền Nam đã có vùng giải phóng rộng lớn, có lực lượng vũ trang cách mạng hùng hậu, có lực lượng chính trị ngày càng phát triển mạnh mẽ. Nhằm xúc tiến thành lập chính quyền Trung ương - Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam điện gửi Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xin ý kiến về một số nội dung. Trước tiên, về nhân sự trong Chính phủ, Trung ương Cục chủ trương lựa chọn những người tiêu biểu có ảnh hưởng rộng trong các giới, trong quần chúng, được quần chúng tin tưởng, có uy tín và khả năng liên hiệp rộng rãi. Tiếp đó, ngày 23-5-1969, đoàn đại biểu ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và đoàn đại biểu Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam tiến hành Hội nghị hiệp thương, nhất trí triệu tập Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, để bàn bạc những vấn đề trọng yếu về kháng chiến và xây dựng đất nước. Từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, Đại hội quốc dân miền Nam khai mạc trọng thể tại vùng Tà Nốt (Tây Ninh). Thành phần tham gia Đại hội gồm 72 khách mời, 88 đại biểu, đại diện cho các chính đảng, dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng trên toàn miền Nam. Tất cả các đoàn đại biểu, các vị khách họp lại thành một đội ngũ trong không khí đoàn kết, sẵn sàng "chiến đấu vì tiền đồ và tương lai tươi sáng của dân tộc, thể hiện truyền thống bất khuất quyết đánh thắng ngoại xâm của Hội nghị Diên Hồng, của Đại hội Tân Trào lịch sử, tiêu biểu cho ý chí nguyện vọng của 14 triệu nhân dân miền Nam"1 (Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 5, Sđd, tr.224). Xác định những quyền dân tộc cơ bản, thiêng liêng của nhân dân Việt Nam, là quyền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Đại hội chỉ rõ rằng, những quyền dân tộc bất khả xâm phạm ấy đã lực lượng ngoại bang chà đạp nghiêm trọng, vì thế, nhất định phải nhất tề đứng lên chống Mỹ. Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam long trọng khẳng định mục tiêu cơ bản, bất di bất dịch của nhân dân miền Nam Việt Nam là độc lập dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất đất nước, tỏ rõ quyết tâm sắt đá quyết phấn đấu đến cùng cho những mục tiêu đó2 (Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời, Nxb Giải phóng, Sài Gòn, 1969, tr.48). Đại hội đề ra nhiệm vụ chủ yếu cho quân và dân miền Nam Việt Nam là đoàn kết chiến đấu, đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ chính quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thực hiện miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới thống nhất đất nước. Để thực hiện những nhiệm vụ nói trên, Đại hội tuyên bố thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đại hội xác định chế độ chính trị ở miền Nam Việt Nam là chế độ cộng hoà với chính sách đối nội là đoàn kết toàn dân, không phân biệt thành phần xã hội, tôn giáo dân tộc, xu hướng chính trị và quá khứ, miễn là tán thành hoà bình, độc lập và trung lập. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thi hành chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập, không liên minh quân sự với nước ngoài dưới bất kỳ hình thức nào, đặt quan hệ hữu nghị với tất cả các nước trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hoà bình, thiết lập quan hệ láng giềng tốt với Vương quốc Campuchia, Lào, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ với biên giới hiện tại đã được xác lập. Sau khi miền Nam Việt Nam được giải phóng, việc thống nhất đất nước sẽ do nhân dân Việt Nam ở hai miền giải quyết từng bước bằng phương pháp hoà bình, trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận giữa hai miền, không có sự can thiệp của nước ngoài. Đại hội đã bầu ra Chính phủ cách mạng Lâm thời do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát - Phó Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam làm Chủ tịch; Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Uy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam làm Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ; Luật sư Trịnh Đình Thảo - Chủ tịch ủy ban Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình miền Nam Việt Nam làm Phó Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ; ông Trần Nam Trung làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; bà Nguyễn Thị Bình làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; kỹ sư Cao Văn Bổn phụ trách Bộ Kinh tế - tài chính... Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là kết quả của quá trình hoàn chỉnh hệ thống chính quyền, đồng thời, đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng miền Nam. Đó là "chính quyền dân tộc, dân chủ và liên hiệp bao gồm các lực lượng yêu nước, có lực lượng cách mạng của Mặt trận Dân tộc giải phóng làm nòng cốt, là thành quả cách mạng của quân và dân miền Nam trong sư nghiệp giải phóng miền Nam"1 (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn kiện Đảng về Mặt trận dân tộc thống nhất, tập 2 (1945-1977), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 474). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Năm, 2026, 10:20:18 pm Sau khi được thành lập, vào ngày 10-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đề ra Chương trình hành động 12 điểm, nêu rõ chính sách đối nội và đối ngoại, gồm các chính sách lớn như đẩy mạnh đấu tranh chống Mỹ, thực hiện chính sách hoà hợp dân tộc, khôi phục và phát triển kinh tế - văn hoá, đảm bảo các quyền tự do dân chủ, thực hiện "người cày có ruộng". Điểm 12 của Chương trình hành động chỉ rõ nhiệm vụ ngoại giao cơ bản, cụ thể của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam: 1- Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của các nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Nam Việt Nam; 2- Tích cực ủng hộ phong trào độc lập dân tộc của nhân dân châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân cũ và mới; 3- Tích cực phối hợp với cuộc đấu tranh của nhân dân Mỹ chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam; 4- Lập quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hóa với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội, kể cả với Mỹ, đồng thời, chú trọng quan hệ hữu nghị và chính sách láng giềng tốt với Vương quốc Lào và Campuchia; 5- Nhận viện trợ về vốn, kỹ thuật, chuyên gia của tất cả các nước không kèm theo điều kiện chính trị; 6- Không tham gia khối liên minh quân sự với nước ngoài, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội và nhân viên quân sự trên đất mình, không công nhận sự bảo hộ của bất cứ nước nào hoặc liên minh quân sự nào1 (Huỳnh Tấn Phát, Tuyên bố về chương trình hành động của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nxb Giải phóng, Sài Gòn 1969, tr.11). Nhìn chung lại, chính sách đối ngoại của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là "chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập"2 (Huỳnh Tấn Phát, Tuyên bố về chương trình hành động của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nxb Giải phóng, Sài Gòn 1969, tr.11), không tham gia khối liên minh quân sự với nước ngoài; đồng thời, thực hiện quan hệ hữu nghị và chính sách láng giềng tốt và lập quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hóa với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, kể cả với nước Mỹ.
Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời, thực hiện chính sách của Chính phủ, tính đến ngày 25-6-1969, trong số 44 tỉnh miền Nam Việt Nam "đã có 34 tỉnh và bốn thành phố đã bầu xong Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh và thành phố từ cơ sở lên"3 (Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 5, Sđd, tr. 242). Việc thi hành những cải cách dân chủ cũng được đẩy mạnh ở vùng giải phóng, các quyền tự do, dân chủ và những chính sách mới được ban hành, đặc biệt là chính sách ruộng đất. Như một bộ phận của chính sách địch vận, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách "chia treo" ruộng đất, tức là để dành ruộng đất cho những người đi lính cho chính quyền Sài Gòn, khi nào họ trở về với cách mạng thì sẽ được nhận số ruộng đất đã chia. Việc thực thi chính sách ruộng đất đã tác động mạnh mẽ, tích cực đến thái độ, tình cảm của binh sĩ và gia đình họ với cách mạng. Để tập hợp mọi lực lượng, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chủ trương thực hiện bình đẳng dân tộc, đoàn kết các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, cùng chung sức đấu tranh thực hiện hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, cơm áo và hòa hợp dân tộc. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chống mọi chính sách và các hành động khinh miệt, chia rẽ, lừa mị, áp bức, cưỡng ép các dân tộc. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời là nhân tố quan trọng, góp phần tập hợp lực lượng rộng rãi cho cách mạng miền Nam; đồng thời, đại diện cho quyền lợi của nhân dân miền Nam cả trong nước lẫn trên trường quốc tế. Ngày 7-11-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Tuyên bố về chính sách chiến tranh của chính quyền Níchxơn đối với miền Nam Việt Nam. Bản Tuyên bố nêu rõ: Miền Nam Việt Nam phải được độc lập, tự do... Nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới đòi Mỹ phải chấm dứt xâm lược, rút hết quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà không được đòi bất kỳ điều kiện gì, phải để nhân dân Việt Nam giải quyết công việc nội bộ của mình. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam và của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Quân giải phóng miền Nam đã tiến công dồn dập trên chiến trường, bao vây hàng trăm đồn bốt và chủ động bẻ gãy nhiều cuộc hành quân "bình định" lấn chiếm của chính quyền Sài Gòn, mở rộng vùng giải phóng, nâng cao quyền làm chủ của nhân dân. Ở các đô thị, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân miền Nam, đặc biệt là phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên miền Nam, đòi hoà bình, dân sinh, dân chủ diễn ra sôi động, quyết liệt. Nhân dân Sài Gòn thuộc các thành phần xã hội, đảng phái, tôn giáo và các tổ chức xã hội khác nhau xuống đường đấu tranh đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh, đòi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi lập một chính phủ hoà bình... Ở Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn và nhiều thành thị khác, các phong trào đưa yêu sách được tổ chức, thu hút hàng vạn công nhân, sinh viên, học sinh, trí thức... tham gia. Hàng nghìn học sinh, sinh viên, tổ chức bãi khoá, hội thảo, mít tinh, phản đối chính quyền Sài Gòn vi phạm quyền tự trị đại học, phản đối chính sách quân sự hoá học đường và cưỡng bức sinh viên cầm súng tham gia quân đội địch. Nội dung các yêu sách đều tập trung đòi chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, xây dựng thể chế chính trị dân chủ. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Năm, 2026, 10:22:11 pm Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (1973), Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phát động phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ ở các đô thị miền Nam, nhằm lên án thái độ phá hoại Hiệp định Paris của chính quyền Sài Gòn. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, một phong trào đấu tranh của các tầng lớp, ngành nghề khác nhau bùng lên mạnh mẽ. Các phong trào này lên án chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh tăng cường bắt lính, gửi kiến nghị yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Bên cạnh đó, còn có các phong trào đấu tranh của giới luật sư đòi quyền bào chữa và quyền tham dự của dân chúng tại phiên tòa, phong trào đấu tranh của đồng bào Công giáo, Phật giáo, các linh mục, Hội thánh Tin lành Việt Nam, tướng tá quân đội Sài Gòn...
Về đối ngoại, ngay sau khi ra đời, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã xúc tiến ngay các hoạt động vận động quốc tế với mục tiêu tranh thủ sự ủng hộ đối với hoạt động của mình, cũng như thừa nhận và đề cao vai trò của Chính phủ. Trong năm 1969, Đoàn Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đi thăm hữu nghị nhiều nước: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa dân chủ Đức (9-1969), Ảrập, Syria, Tiệp Khắc, Triều Tiên, Mông Cổ, Ba Lan, Hungari (10-1969), thăm vùng giải phóng Lào (12-1969). Đây đều là những nước vốn có quan hệ tốt đẹp và lâu đời với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Kết quả là rất nhanh chóng, chỉ trong tháng 6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được 23 nước công nhận (Cuba, Algeria, Triều Tiên là ba nước đầu tiến công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam); trong đó 21 nước thiết lập quan hệ ngoại giao ngay khi chính phủ vừa tuyên bố thành lập. Nhiều nước mặc nhiên chuyển các cơ quan đại diện và các phòng thông tin của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thành các cơ quan ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam như Thụy Điển, Cộng hòa dân chủ Đức... Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được Hội nghị quốc tế các Đảng Cộng sản và công nhân họp tại Moscow ngày 12-6-1969, đánh giá cao: "75 Đảng Cộng sản dự Hội nghị nhận thấy trong sự kiện này, một giai đoạn mới và quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng và anh hùng của nhân dân Việt Nam"1 (Ban biên tập Tạp chí Nghiên cứu lịch sử: "Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập trong điều kiện lịch sử nào?", Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 123-1969, tr.3). Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là tích cực vận động để trở thành thành viên của Phong trào Không liên kết. Thực hiện mục tiêu nói trên, Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tăng cường mạnh mẽ các chuyến thăm hữu nghị, các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều lực lượng hòa bình, dân chủ trên thế giới. Điểm đến của Đoàn là những nước có tiếng nói quan trọng trong Phong trào Không liên kết, bao gồm các nước dân chủ, các nước trung lập. Tháng 6-1970, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đi thăm hai nước Nam Á (Ấn Độ và Sri Lanka); tiếp đó, đầu tháng 9-1970, Đoàn Ngoại giao tiếp tục các chuyến thăm theo lời mời của Chính phủ các nước Ai Cập, Tanzania (châu Phi). Ngoài các nước châu Á, châu Phi, trong khoảng thời gian cuối năm 1970, đầu năm 1971, Đoàn Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng tới thăm các nước châu Âu như nước Anh, Bulgaria (Bungari), Italy (Italia), Ba Lan... Không chỉ có vậy, tháng 9-1971, Đoàn Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn tham dự Hội nghị các nước đứng đầu Phong trào Không liên kết tại Lusaka (Luxaca), Zambia (Dămbia); tham dự Hội nghị thế giới lần thứ 16 chống bom nguyên tử và khinh khí họp tại Nhật Bản (từ 30-7 đến 9-8-1970). Hội nghị đã nhất trí bầu các đại biểu Nam, Bắc Việt Nam làm Chủ tịch danh dự. Hội nghị cấp cao các nước Không liên kết ở Algeria năm 1973 đã công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là chính phủ hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Phong trào các nước không liên kết và đến ngày 6-10-1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 34 nước. Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, một loạt nước như Cộng hòa Swaziland (Xoadilen), Nauy... tiếp tục công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sự kiện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được công nhận là thành viên của Phong trào Không liên kết đã mở ra cơ hội, khả năng tăng cường Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Sáu, 2026, 08:34:15 pm Năm 1969 - năm Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời cũng là thời điểm Hội nghị Paris bước vào giai đoạn hai - giai đoạn đàm phán bốn bên và bắt đầu từ phiên họp thứ 21 (12-6-1969), Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lần đầu tiên có mặt tại Hội nghị Paris. Cũng bắt đầu từ đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đưa ra các giải pháp, các tuyên bố, tham gia tích cực và có những đóng góp quan trọng trong toàn bộ tiến trình của Hội nghị. Đoàn ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phối hợp ăn ý cả trong cũng như ngoài bàn đàm phán. Bên ngoài Hội nghị, Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiến hành những hoạt động đối ngoại phong phú, nhằm tranh thủ tối đa dư luận quốc tế, cô lập Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đặt trọng tâm vào việc tố cáo tội ác của Mỹ, chính quyền Sài Gòn, cũng như âm mưu kéo dài chiến tranh. Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Đoàn Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra trước ánh sáng công luận vụ thảm sát Mỹ Lai (Sơn Mỹ, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi) năm 1968, việc giam giữ, đầy ải những người yêu nước trong các "chuồng cọp" ở Côn Đảo... Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã mở các cuộc họp báo tại Phòng Thông tin của mình để tố cáo Mỹ; đồng thời, khuếch trương chiến thắng của quân dân hai miền Nam - Bắc. Phòng Thông tin đã công bố nhiều tư liệu, danh sách nạn nhân tội ác của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Để tăng thêm tính thuyết phục, Đoàn Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn mời sang châu Âu những nhân chứng sống của Sơn Mỹ, nhà tù Côn Đảo..., để họ tham dự các cuộc họp báo quốc tế do Đoàn tổ chức, các buổi hội thảo, nói chuyện do các tổ chức xã hội ở nhiều nước châu Âu tổ chức. Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn tố cáo hành động mở rộng chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương, chỉ rõ đây không phải là "phi Mỹ hóa chiến tranh" mà là "Đông Dương hóa chiến tranh". Trong các Tuyên bố, các cuộc tiếp xúc được tổ chức khá thường xuyên, Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phê phán ý đồ muốn dùng áp lực quân sự để thương lượng trên thế mạnh của Tổng thống R.Nixon (Níchxơn), khẳng định chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ ở Việt Nam nhất định thất bại. Khi Mỹ ném bom miền Bắc trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai, Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra Tuyên bố lên án hành động chiến tranh cực kỳ nghiêm trọng của Mỹ chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhân việc Mỹ và quân đội Sài Gòn mở chiến dịch Lam Sơn 719, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã bày tỏ lòng công phẫn trước số phận của binh lính Sài Gòn bị ném vào chỗ chết để Tổng thống R.Nixon thể nghiệm chiến lược. Với những nỗ lực đó, "chưa bao giờ cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác và những hành động man rợ của Mỹ ở Việt Nam bị dư luận rộng rãi ở khắp thế giới lên án mạnh mẽ như ngày nay. Ta đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ ngày càng mạnh mẽ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 31, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.31-32).
Để vận động dư luận ủng hộ lập trường của Việt Nam, năm 1971, Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đi thăm các nước châu Âu: Anh, Thụy Điển, Hà Lan, Đan Mạch, Italy... gặp gỡ các tổ chức, các nghị sĩ và nhân sĩ chống chiến tranh, tiếp xúc với các báo, trả lời phỏng vấn, nói chuyện với sinh viên, gặp gỡ kiều bào. Chuyến đi của Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tới các nước tư bản chủ nghĩa - những chính phủ ít nhiều chịu ảnh hưởng của Mỹ, nhưng đồng thời đó cũng là các nước có phong trào nhân dân chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam mạnh mẽ nhất, được coi như là một quyết tâm lớn nhằm phân hóa và cô lập Mỹ. Cuối năm 1972, khi tình hình chiến sự miền Nam đang có những chuyển biên nhanh chóng, Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tranh thủ thời gian thăm hữu nghị chính thức các nước Cuba, Liên Xô, Tiệp Khắc, Trung Quốc, Somalia, Chile, nhằm tranh thủ sự ủng hộ; đồng thời hiểu thêm ý đồ của Mỹ qua các cuộc gặp gõ của Mỹ với các nước này. Bên cạnh đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng rất quan tâm đến mâu thuẫn trong nội bộ nước Mỹ, đặc biệt là giữa những người Mỹ yêu chuộng hòa bình và nhà cầm quyền hiếu chiến. Tuy Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam không có điều kiện tới Mỹ để trực tiếp vận động, nhưng đã tranh thủ gặp gỡ các đại biểu Mỹ tại các hội nghị quốc tế, gặp các đại biểu Mỹ ở ngoài nước Mỹ như gặp nhóm Thanh niên chống quân dịch ở Budapest, Stockholm (Xtốchôm), Đoàn Phụ nữ Mỹ tại Jakarta (Giacátta)..., để thông báo tình hình đấu tranh ở miền Nam Việt Nam. Hai đoàn Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gặp Đoàn nhân dân Mỹ tại Bratislava, gặp Đoàn Phụ nữ Mỹ tại Nicaragoa, Canada (Canada), gặp nhóm binh sĩ Mỹ bỏ ngũ tại Canada, Thụy Điển... Qua các cuộc gặp này, hai đoàn Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ. Cộng hòa cùng phối hợp hoạt động, làm cho họ hiểu thiện chí hòa bình của Việt Nam và âm mưu kéo dài chiến tranh của phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Sáu, 2026, 08:35:12 pm Với sự kiên trì và những nỗ lực to lớn, hoạt động ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã góp phần thúc đẩy và hình thành nên một Mặt trận quốc tế ủng hộ Việt Nam, bao gồm các nước Không liên kết, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân tộc chủ nghĩa, các nước tư bản chủ nghĩa, các tổ chức khu vực và quốc tế... Những giải pháp mà Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa ra lần lượt nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của dư luận thế giới, tạo sức ép trên bàn đàm phán Paris.
Tháng 1-1973, Hiệp định Paris được ký kết. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong các phiên họp của Hội nghị hiệp thương; đồng thời nỗ lực đẩy mạnh các hoạt động trên trường quốc tế. Nhận thức Paris là địa bàn tập trung khá đông Việt kiều thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, tập trung nhiều hãng thông tấn báo chí; do vậy, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam xác định Thủ đô Paris là một địa điểm tốt để tiếp xúc với các khuynh hướng chính trị ở miền Nam, đặc biệt là những người thuộc "lực lượng thứ ba". Thời gian bên ngoài Hội nghị, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tập trung mở cuộc vận động, tranh thủ vận động dư luận quốc tế, nhằm tăng tính hiệu quả của các hoạt động đòi chính quyền Sài Gòn thi hành Hiệp định. Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng sẵn sàng gặp gỡ những người từ Sài Gòn sang tìm hiểu thái độ của Đoàn, khiến mọi giới, kiều bào đều có cảm tình với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Hoạt động của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã góp phần làm dấy lên trên thế giới các phong trào ủng hộ Việt Nam: Phong trào của 500 đại biểu kiều bào Việt Nam tại Pháp ủng hộ thi hành Hiệp định Paris; nhân dân các nước Đức, Tiệp Khắc, Mông Cổ... và 53 tổ chức dân chủ tổ chức phong trào ủng hộ nhân dân miền Nam Việt Nam lật đổ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và phản đối Ngân hàng quốc tế viện trợ cho chính quyền này; Hội nghị Phật giáo châu Á lần thứ 3 tại New Deli (Niu Đêli) (2-11-1974), cực lực lên án Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu phá hoại Hiệp định, kêu gọi nhân dân các nước phát triển đoàn kết chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ độc lập dân tộc... Để phối hợp với những hoạt động ngoại giao của Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị hiệp thương, tranh thủ dư luận thế giới, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đã đi thăm hữu nghị nhiều nước: Cộng hòa dân chủ Yemen (Yêmen), Cộng hòa Mangas (Mănggát) (6-1974), Triều Tiên, Cộng hòa dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Albania (Anbani), Bulgaria, Mông cổ, Liên Xô (từ 8 đến 10-1974). Trong các cuộc viếng thăm và hội đàm, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình và Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên án thái độ của chính quyền Sài Gòn trong việc phá hoại Hội nghị hiệp thương, gây khó khăn cho các hoạt động của Ban Liên hiệp quân sự hai bên và Tổ liên hợp quân sự bốn bên, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam. Các cuộc viếng thăm này đã có những kết quả tích cực, thêm nhiều chính phủ chính thức công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam về mặt ngoại giao, hoặc thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ1 (Chính phủ Morixer công nhận ngoại giao với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (6-1974); Cộng hòa Yemen là nước thứ 42 công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (9-1974); lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ (11-1974); Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng lập Đại sứ quán tại Banglades (Bănglađét) (4-3-1974); lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ với Cộng hòa Guinea (Ghinê) xích đạo (Bitxo - Bitxô, 20-5-1974); kiến lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ với Cộng hòa Mangas (10-6-1974); lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ với Cộng hòa Gabon, Cộng hòa Guinea xích đạo; lập cơ quan Tổng đại diện tại Ấn Độ, đặt cơ quan liên lạc bên cạnh cơ quan Liên hiệp quốc ở Geneva (1-1975)). Bên cạnh những chuyến viếng thăm ra nước ngoài, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng đã đón nhiều đoàn khách tới thăm và vùng giải phóng1 (Ủy ban quốc tế, Đoàn đại biểu ủy ban đoàn kết Bulgaria - Việt Nam, Đoàn đại biểu liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế (gồm Liên Xô, Thụy Điển, Cuba, Pháp, Nhật Bản, Chile); Đoàn đại biểu Hội đồng hòa bình thế giới và đoàn đại biểu Hội nghi Stockholm về Việt Nam; Đoàn đại biểu của Hội liên hiệp sinh viên quốc tế và liên đoàn thanh niên dân chủ thế giới; Đoàn đại biểu tổ chức đoàn kết nhân dân Á - Phi và Hội Nhật - Việt hữu nghị; Đoàn đại biểu tổ chức quốc tế các nhà báo; Đoàn đại biểu Ủy ban những người bạn Mỹ; Đoàn phụ nữ Mỹ... đã lần lượt tới thăm vùng giải phóng trong năm 1974). Được chứng kiến tận mắt cuộc sống của nhân dân vùng giải phóng và tinh thần lạc quan của những chiến sĩ cách mạng, các tổ chức, các đoàn đại biểu quốc tế bày tỏ sự ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam. Với các nỗ lực hoạt động của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các đoàn thể, tổ chức và nhân dân các nước đã có nhiều hành động phối hợp với cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam2 (Đảng Cộng sản Pháp và 20 Đảng Cộng sản ở Tây Âu ra tuyên bố ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhân ngày ký Hiệp định (27-1); kiều bào Pháp biểu tình đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris; nhân dân Nauy, Hungari, Liên Xô, Pháp, Anbani, Triều Tiên, Nhật Bản, Thụy Điển, Cộng hòa dân chủ Đức mít tinh, biểu tình, đòi Mỹ - Thiệu nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định; 400 sinh viên, kiều bào ta ở Tây Đức tổ chức "ngày đồng tâm ủng hộ đồng bào" (14-12-1974), sinh viên và kiều bào ăn cơm muối, uống nước lã biểu thị lòng cảm thông với cuộc đấu tranh gian khổ của đồng bào Nam Bộ; Hội đồng liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế nhân ngày thành lập Chính phủ Cách mạng lảm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tổ chức "tháng đoàn kết với nhân dân Việt Nam"; nhân dân Moscow tổ chức "tuần quốc tế ủng hộ các tù chính trị ở miền Nam Việt Nam" (tháng 10-1974); "tuần đấu tranh vì hòa bình ở Việt Nam" bắt đầu từ ngày 11-11-1974 bằng việc biểu tình quanh Đại sứ quán Mỹ của đông đảo nhân dân thành phố London), yêu cầu Mỹ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, chấm dứt vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những hoạt động đối ngoại đa dạng, tích cực của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã góp phần củng cố ba tầng mặt trận ủng hộ Việt Nam đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn: Mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ ở Việt Nam, Mặt trận thống nhất chống Mỹ của các dân tộc Đông Dương, Mặt trận của nhân dân thế giới chống Mỹ. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Sáu, 2026, 08:36:11 pm III- PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ NỔI BẬT TRONG CÁC ĐÔ THỊ MIỀN NAM 1- Một số phong trào đấu tranh tiêu biểu phản đối chính quyền Sài Gòn Với chính sách tố cộng diệt cộng tàn bạo và các chính sách sai lầm khác như tiêu diệt các giáo phái, lập ấp chiến lược, đàn áp phong trào Phật giáo, đối xử nghi kỵ và hiềm khích với những tri thức và công chức từng có quan hệ với Pháp... vô hình trung, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã làm bùng lên ngọn lửa đấu tranh phản kháng của nhiều tầng lớp nhân dân khác nhau. Trong 4 năm (1955-1958) đã có hơn 12 triệu lượt người tham gia các phong trào đấu tranh chính trị dưới các hình thức và mức độ khác nhau1 (Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sdd, tr. 43). Theo thống kê của Bộ Lao động Việt Nam cộng hoà thì trong hai năm 1961-1962, toàn miền Nam đã nổ ra 8.916 cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động; riêng tại Sài Gòn - Gia Định, số cuộc đấu tranh tăng lên nhanh chóng qua từng năm - năm 1955 mới có hơn 30 cuộc thì năm 1960 nổ ra 227 cuộc; 1961: 287 cuộc; 1962: 324 cuộc; 1963: 503 cuộc1 (Nguyễn Văn Linh và tập thể tác giả, Chung một bóng cờ, Sđd, tr. 253). Sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ của công nhân, nhân dân lao động trong các nhà máy, xí nghiệp, chợ... bùng nổ mạnh mẽ. Tiêu biểu là phong trào đấu tranh của hơn ba vạn công nhân và nhân dân lao động Sài Gòn đòi hiệp thương Tổng tuyển cử. Ngày 10 tháng 7 năm 1955, tại Sài Gòn diễn ra cuộc Tổng bãi công, bãi thị đòi mở Hội nghị hiệp thương hai miền, thu hút tới 70% dân chúng Sài Gòn tham gia. Trong phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động, nổi bật nhất là cuộc đình công, bãi công của công nhân dệt Vinatexco và Vimytex. Các cuộc đình công, bãi công này kéo dài tới ba tháng liền với tính chất quyết liệt không khoan nhượng để đạt tới thắng lợi cuối cùng. Những cuộc đấu tranh của công nhân một số ngành như hỏa xa, cầu cảng, điện nước... có thời điểm đã làm tê liệt và đảo lộn đời sống sinh hoạt ở các thành phố lớn. Chưa dừng lại ở đó, cuộc đấu tranh còn lan rộng đến các hãng thầu Mỹ như RMK - BRJ, Usaid, Juspao... gây nên phản ứng dây chuyền, góp phần làm tê liệt một số bến tàu, cảng, sân bay quân sự, các nhà máy, cơ sở quốc phòng... Ngày 27-4-1961, Hội Lao động giải phóng miền Nam Việt Nam (sau đổi thành Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam) được thành lập. Nhân ngày Quốc tế lao động, Hội kêu gọi công nhân lao động đấu tranh, đồng thời khẳng định ngày 1-5 là ngày biểu dương khí thế và lực lượng của giai cấp công nhân. Từ sau khi Hội Lao động giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, phong trào đấu tranh của công nhân trong các xí nghiệp ngày càng lan rộng và dần dần đóng vai trò tiên phong trong đấu tranh chính trị. Tại Sài Gòn, ba nghiệp đoàn miền Nam đã thống nhất nêu ra gần 50 yêu sách và những khẩu hiệu như: Tăng lương, hạ giá sinh hoạt, trả tự do cho cán bộ và nghiệp đoàn viên đã bị bắt... Các cuộc bãi công, đình công đòi quyền dân sinh, dân chủ nổ ra liên tục ở các hãng, xưởng: Nước ngọt BGI, đóng tàu Caric, nhà đèn Chợ Quán, công nhân ô tô buýt, xe lửa, rượu Bình Tây... Từ ngày 6 đến ngày 22-9-1961, công nhân đình công phản đối thái độ ngang ngược của chủ người Mỹ đối với công nhân Việt Nam. Cuộc đình công được hàng chục nghìn công nhân, hàng trăm nghiệp đoàn và báo chí ở Sài Gòn - Chợ Lớn hưởng ứng, chỉ trích thái độ của chủ hãng Stanvac. Cuộc đấu tranh làm cho việc cung cấp xăng dầu bị tê liệt. Nhiều tàu chở xăng không dám vào cảng Sài Gòn, các hãng hàng không quốc tế phải tự cung cấp xăng dầu trước khi vào Việt Nam. Phong trào đấu tranh của công nhân, nhân dân lao động các đô thị lớn đã tác động ảnh hưởng đến các tầng lớp nhân dân khác. Từ các hoạt động bột phát, riêng lẻ, phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động đã có sự liên kết với nhau dưới các hình thức tổ chức hợp pháp như Nghiệp đoàn, Ủy ban bảo vệ hòa bình, Ủy ban cứu trợ nạn nhân chiến tranh... Các cuộc đấu tranh nổ ra với nhiều hình thức đa dạng, quy mô và mục tiêu đấu tranh của các phong trào này là bảo vệ hòa bình, đòi quyền dân tộc tự quyết, bảo vệ nền văn hóa dân tộc, bảo vệ hàng hóa nội địa, bảo vệ quyền lợi của giới, nội dung đấu tranh gắn liền với lợi ích thiết thực của người lao động. Ngoài thiệt hại kinh tế, các phong trào đấu tranh làm cho kế hoạch quân sự của chính quyền Sài Gòn bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Dưới sự lãnh đạo của Hội Lao động giải phóng miền Nam, công nhân miền Nam Việt Nam còn tham gia phong trào chống bắt lính. Nhân ngày 1-5-1964, sau khi Hội Lao động giải phóng miền Nam ra lời kêu gọi "bãi bỏ lệnh động viên toàn lực", "đả đảo chính sách bắt lính, kiên quyết không đi làm bia đỡ đạn cho Mỹ", công nhân các xưởng máy, đồn điền tích cực hưởng ứng. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Sáu, 2026, 08:37:10 pm Phong trào công nhân còn có sự liên kết với phong trào của học sinh, sinh viên, Phật giáo, tạo nên làn sóng chính trị phản kháng mạnh mẽ, dữ dội.
Ngày 9-1-1961, Hội Liên hiệp thanh niên sinh viên học sinh giải phóng được thành lập. Sự ra đời của Hội thúc đẩy phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên chống lại sự kìm kẹp của chính quyền Sài Gòn và đòi các quyền lợi thiết thân trong trường học, là một bộ phận khăng khít của phong trào đấu tranh giải phóng của nhân dân miền Nam, học sinh, sinh viên đấu tranh bền bỉ, quyết liệt. Phong trào diễn ra với các hình thức bãi khóa, mít tinh, biểu tình đòi tự do học tập, chống quân sự hóa học đường, chống bắt lính... Lực lượng tham gia ngày càng đông và có sự đoàn kết giữa các trường, các đô thị lớn, với Phật giáo, công nhân. Ngày 17-1-1961, Ban cán sự phát động quần chúng đấu tranh với nội dung phong phú, hình thức đa dạng. Trong đó nổi bật là những khẩu hiệu: "Chống bắt lính, miễn quân dịch cho học sinh, sinh viên", "Chuyển ngữ ở đại học"... Từ phong trào đấu tranh, ngày 26-3-1961, Đội vũ trang quyết tử học sinh, sinh viên được thành lập đế hỗ trợ cho biểu tình, nhập thị chống bầu cử. Nhân kỷ niệm ngày ký Hiệp định Geneva, thanh niên cùng đồng bào xuống đường đấu tranh, đòi "Thành lập chính quyền liên minh dân tộc, dân chủ", "Đả đảo Ngô Đình Diệm"... Để uy hiếp phong trào, Ngô Đình Diệm cho bắt Lê Hồng Tư và một số sinh viên khác. Ngày 24-5-1962, chính quyền Sài Gòn đã đưa Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, và nhiều người khác ra "Tòa án quân sự đặc biệt" và xử với án tù từ 5 năm tối chung thân, tử hình. Một phong trào chống "vụ án 24-5" lan rộng ra khắp Sài Gòn, các thành phố và các tỉnh ở miền Nam. Trong suốt một tuần lễ, truyền đơn, khẩu hiệu được rải hàng loạt tại nhiều trường. Trước khí thế đấu tranh của đồng bào, chính quyền Sài Gòn buộc phải giảm án tử hình cho một số người, riêng đối với Lê Hồng Tư vẫn giữ nguyên án và đày ra Côn Đảo. Bên cạnh đó, học sinh, sinh viên miền Nam Việt Nam còn đấu tranh đòi tự trị đại học. Phong trào nổ ra ở Đại học Y khoa rồi lan ra Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học và các trường đại học khác có mục tiêu chống lại mọi sự can thiệp của chính quyền Sài Gòn vào các sinh hoạt đại học. Phong trào có sự tham gia của nhiều vị giáo sư, giảng viên đại học, không ngừng được mở rộng phạm vi, lan xuống cơ sở các trường đại học ở Sài Gòn mà mở rộng đến Huế, Cần Thơ, Đà Lạt... Phong trào của học sinh, sinh viên miền Nam Việt Nam còn đấu tranh đòi dạy tiếng Việt ở bậc đại học, nêu khẩu hiệu "Dân tộc Việt học tiếng Việt", thu hút được sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trí thức Sài Gòn. Một trong những nội dung đấu tranh trọng tâm của phong trào của học sinh, sinh viên miền Nam Việt Nam là chống quân sự hóa học đường. Để chống lại chính sách "quân sự hóa học đường" của chính quyền Sài Gòn, Tổng hội sinh viên lập ra Ủy ban chống quân sự hóa học đường, tổ chức mít tinh, hội thảo về chống bắt lính, về chủ đề "sinh viên và quân trường"... (giữa năm 1967), sinh viên, nhân sĩ, tôn giáo trung lập các trường Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học, Y khoa, Luật khoa, Dược khoa, Nông lâm... Sài Gòn, tổ chức hội thảo phản đối luật động viên số 04/67 của Nguyễn Văn Thiệu. Tổng hội sinh viên Sài Gòn lên tiếng phủ nhận luật động viên vì bâ't hợp hiến. Các cuộc biểu tình của sinh viên đã tranh thủ được lực lượng lớn quần chúng ở đô thị tham gia; đồng thời, tranh thủ được sự ủng hộ của các giảng viên ở nhiều trường đại học. Cùng với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, phong trào đấu tranh của giới tri thức, văn nghệ sĩ cũng phát triển mạnh mẽ. Khởi đầu và là một trong những phong trào đấu tranh tiêu biểu ngay sau khi Hiệp định Geneva được ký kết là "Phong trào bảo vệ hòa bình" của giới trí thức và các tầng lớp nhân dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của luật sư Nguyễn Hữu Thọ, các giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng, Phạm Huy Thông... Ra đời tại Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, phong trào nhanh chóng lan rộng ra các thành phố lớn như Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, cần Thơ..., được tổ chức rộng rãi với nhiều chi nhánh xuống tới tận các khu phố, nhà máy, trường học... Ngày 7 tháng 11 năm 1954, một số nhà lãnh đạo phong trào bị bắt - sự kiện này châm ngòi cho một cuộc đấu tranh phản kháng rộng khắp đòi trả tự do cho các nhà lãnh đạo phong trào bảo vệ hoà bình. Phong trào bảo vệ hòa bình xuất bản tờ báo Hòa bình do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu phụ trách, thông qua tờ báo này, kêu gọi các tầng lớp nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ trên thế giới đoàn kết nhau lại, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh. Hai tổ chức công khai hoạt động hợp pháp là Nghiệp đoàn ký giả Nam Việt và Hội Ái hữu ký giả Việt Nam cũng tích cực tham gia đấu tranh, ra các tờ báo đăng tải thông tin một cách khách quan, vạch rõ nỗi thống khổ của các nạn nhân chiến tranh. Tham gia đấu tranh, nhiều ký giả như Ái Lan, Hương Nam, Trần Thanh Thế, Nguyễn Văn Mai, Trần Ngọc Sơn đã bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam. Từ sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm ban bố Luật 10/59, mặc dù phong trào đấu tranh của tri thức, văn nghệ sĩ gặp nhiều khó khăn, song giới này vẫn tích cực dùng báo chí để nói lên tâm tư, nguyện vọng, bày tỏ chính kiến của mình về vận nước, về chiến tranh và hòa bình. Như đã trình bày, một trong những chính sách sai lầm mà Ngô Đình Diệm thi hành ngay từ khi lên nắm quyền là chính sách kỳ thị Phật giáo. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiến công Phật giáo trên quy mô lớn, xem chính sách kỳ thị Phật giáo như là một trong những biện pháp tiêu diệt các lực lượng đối kháng. Chính sách kỳ thị Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây nhiều đau thương, uất hận không chỉ trong Phật tử, tăng ni mà còn trong cả nhiều tầng lớp nhân dân miền Nam. Chính sách kỳ thị Phật giáo đó đã khiến bùng nổ phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Sáu, 2026, 08:38:32 pm Phong trào Phật giáo miền Nam bắt đầu từ ngày 7 tháng 5 năm 1963 và kết thúc vào ngày 1 tháng 11 năm 1963, trải qua bốn giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ 7-5 đến 16-6) - chủ yếu là đấu tranh đòi thực hiện Tuyên ngôn ngày 10-5-1963; giai đoạn 2 (từ 16-6 đến 16-7), phong trào tạm hòa hoãn; giai đoạn 3 (từ 16-7 đến 20-8), phong trào đấu tranh đòi thực thi Thông cáo chung; giai đoạn 4 (từ 21-8 đến 1-11), đấu tranh góp phần đưa đến sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Vào ngày lễ Phật Đản (6-5-1963), tăng ni, Phật tử trên toàn miền Nam tiến hành mít tinh và biểu tình, tuần hành quy mô lớn chống lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày lễ trọng đại do chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành. Chính quyền Ngô Đình Diệm thẳng tay đàn áp cuộc biểu tình của tăng ni, Phật tử Huế. Ngày 10 tháng 5 năm 1963, cuộc mít tinh của Phật tử tại chùa Từ Đàm (Huế) phát đi Bản Tuyên ngôn gửi chính quyền Ngô Đình Diệm, khẳng định quyết tâm đấu tranh đòi thực thi "tôn giáo bình đẳng". Cuộc đấu tranh của Phật tử Huế nhận được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo các giới, các tôn giáo; kể cả một số công chức trong chính quyền Sài Gòn và sĩ quan trong quân lực Việt Nam cộng hòa, một số chức sắc và tín đồ Thiên chúa giáo. Tiếp đó, nhiều cuộc biểu tình, mít tinh phản đối đàn áp Phật giáo đã diễn ra liên tục tại Huế, Đà Nẵng, cần Thơ, Đà Lạt và khắp các đô thị miền Nam. Trước sự bùng phát dữ dội của phong trào Phật giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm đã "cương quyết thanh trừng các phần tử phản bội và quá khích trong các giới tăng ni, công chức, giáo sư, sinh viên cũng như trong các đoàn thể nhân dân"1 (Tài liệu SC06, HS 8356, Trung tâm Lưu trữ quốc gia 2). Hàng trăm ngôi chùa trên khắp miền Nam bị khám xét, lục soát, hàng nghìn Phật tử bị bắt bớ, tù đày, tra tấn...; tuy nhiên, phong trào đấu tranh của Phật giáo không những không bị đè bẹp mà còn phát triển sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân. Nhiều lực lượng, nhiều phong trào khác phát động đấu tranh, hiệp thông với phong trào đấu tranh của phật giáo. Các trí thức, một số người trong chính quyền, một số nhân vật đấu tranh có tên tuổi đều lên tiếng lên án và phản đối thái độ tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm và không sai khi khẳng định rằng, chính sách kỳ thị Phật giáo và sự phản kháng của tăng ni, phật tử là một trong những lý do quan trọng dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm vào tháng 11-1963. Từ năm 1965, các phong trào đấu tranh của nhiều giới chống một số chính sách của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bùng nổ nhanh chóng và lan rộng. Điển hình là cuộc biểu tình của 50.000 người gồm trí thức, sinh viên, học sinh, công nhân và Phật giáo Sài Gòn - Gia Định chống quân Mỹ vào miền Nam (1-5-1965). Hơn 1.500 học sinh trường Hồng Lạc (Sài Gòn) căng biểu ngữ chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu (23-3-1966). Ngày 24-3-1966, hàng vạn sinh viên và thanh niên ở Huế biểu tình chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và bài Mỹ. Nhân ngày quốc tế lao động (1-5-1966), 30.000 nhân sĩ, trí thức, giáo chức, sinh viên, học sinh, cùng các tầng lớp nhân dân xuống đường biểu tình đòi Mỹ rút quân về nước, đòi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Ở Huế, ngày 26-4-1966, hơn 2.000 sinh viên, học sinh tổ chức mít tinh tại Thương Bạc, sau đó kéo xuống đường biểu tình tuần hành. Tháng 4 và tháng 5 năm 1966, Ủy ban lãnh đạo lực lượng Phật tử tổ chức biểu tình lớn tại Sài Gòn để phản đối quân đội điều lực lượng ra Huế, Đà Nẵng đàn áp các cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên, Phật tử phản đối "Đại hội chính trị" đòi Ủy ban lãnh đạo quốc gia và chính phủ Nguyễn Cao Kỳ rút lui, thành lập chính quyền dân sự. Ngày 18 tháng 5, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra Tuyên cáo bày tỏ bất tín nhiệm chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vì đã bội ước không rút quân khỏi Đà Nẵng và Huế; đồng thời, ủng hộ cuộc đấu tranh ở miền Trung kêu gọi tăng ni sẵn sàng tranh đấu. Năm 1970, phong trào đấu tranh của giáo chức, sinh viên dân biểu, tôn giáo, hội phái tiếp tục bùng lên mạnh mẽ. Sinh viên toàn miền Nam lập tức đấu tranh tổng bãi khoá đòi hoà bình, chống chiến tranh xâm lược. Sinh viên tiến hành bãi khoá với mít tinh, hội thảo, biểu tình, đốt lửa trại, đêm không ngủ... kết hợp với các hình thức mới như tuyệt thực, bãi khoá, xuống đường, rải truyền đơn, căng biểu ngữ, dán áp phích, gây tắc nghẽn giao thông, xâm nhập trụ sở Quốc hội, Bộ Giáo dục, Bộ Tư pháp, Toà án quân sự... Giữa năm 1972, hàng nghìn nhân sĩ, trí thức, đại diện tôn giáo (gần một nửa mang tư tưởng trung lập) tổ chức nhiều cuộc hội thảo đòi Mỹ rút quân, đòi ký kết Hiệp định Paris, đòi nhanh chóng lập lại hoà bình. Phong trào đấu tranh chống Mỹ - Thiệu nhanh chóng lan rộng ra Đà Nẵng, Huế, Nha Trang... (Trung - Trung Bộ), Mỹ Tho, Cần Thơ... (Tây Nam Bộ). Để đàn áp và dập tắt các phong trào, Mỹ và chính quyền Sài Gòn liên tục tổ chức các cuộc tuần ráp lùng bắt những người yêu nước, song các phong trào không vì thế mà thoái lui, trái lại tiếp tục sôi nổi đấu tranh. Từ sau khi Hiệp định Paris được ký kết, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng ở đô thị tiếp tục phát triển sâu rộng. Ở Nam Bộ, ngoài đội ngũ trí thức cách mạng đang hoạt động công khai hoặc bí mật chống lại chính quyền Sài Gòn, nhiều trí thức khác ủng hộ một nền hoà bình, độc lập, thống nhất dựa trên quyền tự quyết của người dân Việt Nam. Nhiều trí thức yêu nước vốn theo đường lối quốc gia dân tộc như luật sư Trần Ngọc Liêng, giáo sư Lý Chánh Trung, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, dân biểu Kiều Mộng Thu, giáo sư Châu Tâm Luân, dân biểu Ngô Công Đức... đã dựa vào các điều khoản của Hiệp định Paris làm căn cứ pháp lý tập hợp quần chúng đòi hoà giải hoà hợp dân tộc, chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước. Ở thành phố Huế, Tổng hội sinh viên Huế phối hợp với Mặt trận văn hoá dân tộc miền Trung chào mừng Hiệp định Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết. Tổng hội sinh viên Huế lên án mạnh mẽ chính quyền Sài Gòn vi phạm Hiệp định Paris, đòi Hoa Kỳ phải chấm dứt can thiệp vào nội bộ Việt Nam, đòi công nhận thực thể chính trị thứ ba, đòi hoà giải hoà hợp dân tộc. Tổng hội sinh viên Huế cho ra đời các tập san Thái Hoà, Đất Mới để phản ánh cuộc sống và phong trào đấu tranh của liên khoa sinh viên Huế. Sinh viên, học sinh Đại học Văn khoa, Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn hưởng ứng phong trào "Mặt trận nhân dân cứu đói" rầm rộ xuống đường vừa phát chẩn cứu đói vừa tuyên truyền nội dung đấu tranh đòi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris. Sinh viên, học sinh Sài Gòn kêu gọi đấu tranh đảm bảo quyền sống, quyền lao động, đòi hoà bình, hoà giải dân tộc... Cuối năm 1973, đầu năm 1974, phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị miền Nam Việt Nam tiếp tục mở rộng và phát triển mạnh cả về nội dung và hình thức đấu tranh. Tiêu biểu là Phong trào dân tộc tự quyết ra bản tuyên ngôn (23-2-1974) kêu gọi nhân loại tiến bộ trên thế giới cùng các đoàn thể, báo trí trong và ngoài nước ủng hộ lập trường đấu tranh vì hoà bình, hoà giải và hoà hợp dân tộc tại miền Nam Việt Nam. Hay Lực lượng trung lập dân tộc Việt Nam ra lời hiệu triệu với nội dung "Quyết tâm tranh thủ thống nhất đất nước trong hoà bình và thịnh vượng, thực hiện một nước Việt Nam độc lập và trung lập"1 (Bộ Tư lệnh cảnh sát Quốc gia, Tập tài liệu của Phủ Thủ tướng, Bộ Nội vụ về hoạt động của các mặt trận, Tài liệu Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, phòng PTT Việt Nam Cộng hoà, hồ sơ số 31518). Hay như ngày 30 tháng 1 năm 1973, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ra thông bạch số 892 và 90 gọi tăng ni và phật tử lưu ý các việc phải làm sau khi ngừng bắn tại Việt Nam. Như vậy, phong trào đòi hoà bình, hoà giải dân tộc phát triển rộng khắp các thành phố, thị xã miền Nam. Chỉ tính riêng địa bàn Sài Gòn - Gia Định đã có đến "30 đoàn thể chính trị, văn hoá, xã hội, tôn giáo liên kết lại thành một mặt trận đối lập với chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Mỗi đoàn thể đưa ra nội san, báo chí để phổ biến lập trường chính trị của mình trong việc đòi chính quyền Sài Gòn thi hành Hiệp định Paris"1 (Tập san Đứng dậy số 51, tháng 11-1973, tr. 1-2). Phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị trên toàn miền Nam phát triển với nhiều hình thức đấu tranh, tập hợp được đông đảo, rộng rãi các phe nhóm, các nhân sĩ, trí thức, binh sĩ, dân biểu, nhà báo, thương gia, các cựu sĩ quan của quân đội Sài Gòn..., có khuynh hướng chống chiến tranh đòi hoà bình, độc lập cho Việt Nam, góp phần thúc đẩy chính quyến Sài Gòn đến sự khủng hoảng toàn diện. Nhìn chung lại, trong 21 năm chiến tranh (1954-1975), phong trào đấu tranh ở miền Nam Việt Nam, nhất là ở các đô thị lớn, đi từ tự phát tới tự giác, từ nhỏ, vừa đến lớn với những nội dung cụ thể, sắc bén, đa dạng, đưa ra những khẩu hiệu hành động, thiết thực, phù hợp với nguyện vọng của đồng bào các hình thức đấu tranh phát triển ngày càng phong phú, đa dạng, mỗi lực lượng, mỗi giới, mỗi tầng lớp, thành phần trong nhân dân đều có những hình thức đấu tranh phù hợp mục tiêu, yêu cầu đấu tranh, với so sánh lực lượng từng lúc, ở từng địa bàn. Đặc biệt là hầu hết các cuộc đấu tranh của các tổ chức nhân sĩ, trí thức, Công giáo, Phật giáo, dân biểu... đều được các tổ nhóm cán bộ cách mạng hoạt động bí mật ở nội thành tranh thủ, vận động cùng thực hiện, làm cho kết quả thu được vượt xa sự mong đợi. Phối hợp với ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) của lực lượng cách mạng các tầng lớp nhân dân khác nhau đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi cuối cùng. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Sáu, 2026, 08:43:45 pm 2. Lực lượng thứ ba và những đóng góp cho sự nghiệp thống nhất đất nước
Từ điển Merriam - Webster Collegiate Dictionary (2005) giải thích về "lực lượng thứ ba" (Third Force) như sau: "Lực lượng thứ ba là một nhóm (đảng phái chính trị hoặc lực lượng quốc tế) đứng trung gian giữa hai lực lượng chính trị đối địch". P. Mendoza (P. Mêdôda) định nghĩa lực lượng thứ ba là "nhóm đưa ra đường hướng, giải pháp thay thế các lực lượng thứ nhất và thứ hai; do đó, lực lượng thứ ba chỉ đơn giản là một bên thứ ba trong một cam kết chính trị"1 (P. Mendoza, Is There a Third Force in Philippine Politics?, Chapel.net). Trên quan điểm đó, P. Mendoza xác định lực lượng thứ ba" ở miền Nam Việt Nam bao gồm những người "không thuộc về phe Quốc gia, cũng không thuộc về phe cách mạng cộng sản. Đó là những người đấu tranh chống lại tham nhũng, độc tài, sự quản lý kém hiệu quả của chế độ Quốc gia"2 (P. Mendoza, Is There a Third Force in Philippine Politics?, Chapel.net). Về thời điểm xuất hiện lực lượng thứ ba ở Việt Nam, các ý kiến khá khác nhau. P. Mendoza nêu giả thuyết thuật ngữ này được đề cập lần đầu tiên trong cuốn The Quiet American (1955) của Graham Greene (G. Gòrinơ); trong đó, Alden Pyle (A. Philê) - một nhân viên tình báo CIA trong vai người của Phái bộ Kinh tế thuộc Đại sứ quán Mỹ đã bí mật phát triển một lực lượng thứ ba tách khỏi cả phe thực dân Pháp lẫn quân nổi dậy Việt Minh do cộng sản cầm đầu1 (Graham Greene, The Quiet American, Penguin Books, 2002, p.17-36). Phóng viên báo Le Monde Jean - Claude Pomonti (J. C. Pômônti) nhắc đến lực lượng thứ ba vào năm 1960, gắn nó với sự kiện nhóm 18 chính khách vừa có lập trường chống cộng, vừa chống chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm ra kháng thư phản đối chế độ2 (Jean Claude Pomonti, La Rage d'être Vietnamien, Le Seuil, Paris, 1972, p.242). Một phóng viên khác của báo Le Monde - Jacques Decornoy (J. Đêcônoi) cho rằng lực lượng thứ ba ở miền Nam Việt Nam xuất hiện vào năm 1969, khi một số trí thức, dân biểu đối lập, ký giả, tướng lĩnh... hình thành nên "nhóm Dương Văn Minh"3 (Jacques Decornoy, "Tombeur" de Diem et Ennemi de Thieu, Le Monde, 27-28/1975). André Menras (A. Menrát) coi phong trào hòa bình đấu tranh chông các chính sách độc tài của Ngô Đình Diệm hình thành và lớn mạnh từ năm 1963 là lực lượng thứ ba4 (André Menras, How America mocked the ceasefire: Vietnam since the Paris Agreement, Bulletin of Concerned Asia Scholars, 1974, N° 11-12, p.25). Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình có ý kiến khác. Bà khẳng định lực lượng thứ ba ra đời trong thời gian đàm phán Hiệp định Paris, tuy nhiên bà không chỉ ra một thời điểm cụ thể5 (Kỷ niệm 36 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30.4.1975 - 30.4.2011): Đóng góp của "thành phần thứ ba" cho ngày chiến thắng, Báo Đại Đoàn Kết, ngày 18-4-2001). Bên cạnh đó, một số học giả không thừa nhận sự tồn tại của "lực lượng thứ ba" ở miền Nam Việt Nam. Ông Huỳnh Văn Tòng - một nhân vật nổi bật trong giới trí thức yêu nước miền Nam phân tích: "Giữa hai lực lượng tham chiến hung hãn, giàu mạnh là Mỹ - Thiệu và kháng chiến Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phe xã hội chủ nghĩa), trong lòng các đô thị miền Nam vào thời điểm ấy (1973) không có một thế lực nào được gọi là lực lượng thứ ba có đủ sức mạnh đóng vai trò trung gian hòa giải như Hiệp định Paris đã đề ra"1 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, diendan.org). Ông Huỳnh Văn Tòng giải thích: "Bản thân chính trị can thiệp Mỹ không tồn tại trong đầu óc các nhà làm chính sách của tòa Bạch Ốc, Bộ Ngoại giao và tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn một ý niệm nào về một lực lượng như thế. Các chế độ phụ thuộc từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu lại càng rạch ròi hơn. Không Quốc gia là Cộng sản. Không Cộng sản là Quốc gia"2 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, diendan.org). Ông Huỳnh Văn Tòng đề nghị nên gọi đó là "thành phần thứ ba" hoặc "khuynh hướng chính trị thứ ba" và kết luận: "Thành phần chính trị thứ ba chỉ xuất hiện vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Việt - Mỹ. Nó được đăng ký khai sinh qua văn bản Hiệp định Paris. Nó là một thực tế phát sinh từ hai lực lượng chính quyết định cuộc chiến là Mỹ và Cộng sản Việt Nam"3 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, diendan.org). Tương tự, Don Luce (D.Luxi), John Sommers (J.Sămmơ)4 (Don Luce & John Sommers, Vietnam: The Unheard Voices (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1969), p.123) và Alfred Hassler (A.Haxlơ)5 (Paul Menzel, Moral Argument and the War in Vietnam, Nasville: Aurora Publishers, 1971, p.202) gọi phong trào đấu tranh ở các đô thị miền Nam Việt Nam từ năm 1965 trở đi là "giải pháp thứ ba" (Third Solution)6 (Don Luce & John Sommers, Vietnam: The Unheard Voices (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1969), p.123; Paul Menzel: Moral Argument and the War in Vietnam, Nasville: Aurora Publishers, 1971, p.202). Về phía Đảng Lao động Việt Nam, cho đến trước năm 1972, thuật ngữ "lực lượng thứ ba" chưa thấy xuất hiện ở các văn kiện, nghị quyết. Năm 1970, 1971, Đảng Lao động Việt Nam dùng cụm từ "lực lượng trung gian", "tầng lớp trên" để chỉ các lực lượng, các plie phái "đối lập" với Mỹ và chính quyền Sài Gòn - đó là "các lực lượng tiến bộ trong giới trí thức và trong các tổ chức tôn giáo, các nhóm chính trị có tinh thần dân tộc, dân chủ, các nhóm cải cách, các nhóm thân Pháp, thân Mỹ, muốn chấm dứt chiến tranh, muốn có chủ quyền quốc gia và chống lại chính quyền tay sai hiện nay của đế quốc Mỹ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tập 31, tr.79). Bà Nguyễn Thị Bình gọi lực lượng này là "những người không phải của Mặt trận, cũng không phải của chính quyền Sài Gòn - đòi phải chấm dứt chiến tranh, thay đổi chính quyền không có sự can thiệp của nước ngoài"2 (Nguyễn Thị Bình, Đấu tranh vì lợi ích tối cao của dân tộc, news.go, 26-1-2013). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Sáu, 2026, 08:45:14 pm Thuật ngữ "lực lượng thứ ba" được Đảng Lao động Việt Nam sử dụng lần đầu tiên vào năm 1972 trong bức điện ngày 28-9 của Lê Duẩn gửi Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Khu 5, Khu ủy Trị - Thiên chỉ thị về những công tác cấp bách ở miền Nam. Nói về "các phe, nhóm tán thành hoà bình, dân tộc, dân chủ, hoà hợp dân tộc"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 33, Sđd, tr.327), Lê Duẩn đã gọi đó là "lực lượng thứ ba", lực lượng này, như Lê Duẩn khẳng định, có thể trở thành lực lượng đồng minh trực tiếp, góp phần "phân hoá hơn nữa các thế lực phản động, cô lập và chĩa mũi nhọn vào Thiệu và các phần tử thân Mỹ cực đoan, hiếu chiến"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 33, Sđd, tr.327). Thậm chí, đến năm 1973, Đảng Lao động Việt Nam vẫn coi việc "thúc đẩy nhanh chóng sự ra đời [TG nhấn mạnh] của lực lượng thứ ba" là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng, khẳng định cần "thông qua các lực lượng hoà bình, dân tộc, dân chủ trong các từng lớp trung gian và các từng lớp trên, lôi kéo các xu hướng, các lực lượng "đối lập" với Thiệu"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 34, tr.608).
Trên thực tế, ở miền Nam Việt Nam, cuộc đấu tranh của một bộ phận trí thức, văn nghệ sĩ "không quốc gia, không cộng sản" vì hòa bình, phản đối chiến tranh, vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội có từ rất sớm, ngày sau khi Hiệp định Geneva vừa ký kết. Đó là các phong trào bảo vệ hòa bình (dưới sự lãnh đạo của luật sư Nguyễn Hữu Thọ, các giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng, Phạm Huy Thông), Phong trào cứu trợ nạn nhân và đòi hiệp thương Tổng tuyển cử, Phong trào Phật giáo, phong trào của Nghiệp đoàn ký giả Nam Việt và Hội ái hữu ký giả Việt Nam... Tuy diễn ra tương đối rầm rộ, nhanh chóng lan rộng ra các thành phố lớn, thu hút đông đảo người dân xuống đường đấu tranh bãi công, bãi khóa, mít tinh..., song nó mới chỉ dừng lại ở mức độ phong trào, chưa đủ chín muồi để kết thành lực lượng. Hơn nữa, Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng không thể dung chứa và cho phép tồn tại một bộ phận quyền lực như thế - một bộ phận quyền lực khiến xã hội miền Nam có thể bị chia rẽ và chính quyền bị vướng bận, không thể toàn tâm, toàn lực chiến đấu với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vì lẽ đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tăng cường đàn áp, bắt bớ, đánh phá tan nát hoặc lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận trong các phong trào ấy nghiêng về hoặc đi theo; đồng thời, bằng bạo lực đã đẩy một bộ phận khác ra xa rồi đi về phía cộng sản; cô lập, vô hiệu hóa phần nào bộ phận còn lại. Năm 1968, sau sự kiện Tết Mậu Thân, chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ phá sản, chính trị, kinh tế - xã hội nước Mỹ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, chính trường Mỹ chia rẽ. Tin Tướng Westmoreland (Oétmolen) xin thêm 206.000 quân đã trở thành sự kiện lớn ở Mỹ, là "tiêu điểm" cho cuộc tranh luận chính trị và làm tăng thêm "tinh thần bất mãn của công chúng"1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, tập I, Việt Nam Thông tấn xã dịch và phát hành, 8-1971, tr.247). Bên cạnh đó, nội bộ chính quyền Sài Gòn rối ren, tinh thần của quân đội Sài Gòn sa sút mạnh, bước vào thời kỳ "thoái chí". Một phong trào phản đối chiến tranh bùng phát mạnh mẽ trên thế giới và ở cả Mỹ cũng như miền Nam Việt Nam. Từ tháng 11-1968 đến tháng 3- 1969, hàng loạt các tổ chức trung lập cổ vũ cho xu hướng tự do dân chủ, hòa bình ra đời: Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà binh Việt Nam, Ban vận động hiệp thương Đảng xã hội cấp tiến, Lực lượng quốc gia tiến bộ, Tổ chức tiếng nói nhân dân miền Nam, Ủy ban thanh niên học sinh tranh thủ dân chủ và hoà bình; Ủy ban phụ nữ đòi quyền sống, Ủy ban công giáo vận động hoà bình... Các tờ báo "Tin Sáng", "Đối diện", "Quật khởi", "Điện tín", "Tin tưởng"... (cơ quan ngôn luận của các tổ chức nói trên) đã đăng nhiều bài báo thể hiện lập trường yêu nước, chống chiến tranh, phản đối Chính phủ Thiệu - Kỳ, tố cáo R.Nixon chủ trương mở rộng hoạt động quân sự, đòi Mỹ rút quân về nước. Phong trào đấu tranh của giáo chức, sinh viên, học sinh với các hình thức tuyệt thực, bãi khoá, xuống đường, rải truyền đơn, căng biểu ngữ, dán áp phích nở rộ khắp các đô thị. Hàng trăm nhân sĩ, trí thức, cha xứ, tăng ni, Phật tử, dân biểu (Kiều Mộng Thu, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lý Quý Chung..., thượng tọa Thích Pháp Lan, hoà thượng Thích Hiển Pháp, ni sư Huỳnh Liên; Linh mục Trương Đình cần, Linh mục Phan Khắc Từ...) đứng lên phản đôi chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn càng đàn áp, bắt bớ, phong trào càng bùng lên mạnh mẽ. Khi đàm phán Hội nghị ở Paris khởi động, "nhiều cá nhân và nhóm chính trị rất đa dạng được hình thành, có người và nhóm do Mặt trận vận động tổ chức, có người và nhóm không có liên hệ gì với Mặt trận"1 (Kỷ niệm 36 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30.4.1975 - 30.4.2011): Đóng góp của "thành phần thứ ba" cho ngày chiến thắng, Tlđd). Bùng nổ rầm rộ, bao gồm nhiều giai tầng khác nhau, nhanh chóng lan rộng ra các thành phố lớn như Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Cần Thơ..., thu hút đông đảo lực lượng xuống đường đấu tranh bãi công, bãi khóa, mít tinh, tán thành hoà bình, dân chủ, hoà hợp dân tộc - với tính chất và đặc điểm như vậy, từ thời điểm năm 1969, các phong trào này kết thành làn sóng mạnh mẽ, liên kết nhiều thành phần trong xã hội, hình thành một lực lượng trung lập, đẩy Mỹ và chính quyền Sài Gòn vào thế khó khăn, đối phó một cách lúng túng - đó chính là "lực lượng thứ ba". Lực lượng thứ ba đã có những đóng góp nổi bật trong cuộc đấu tranh đi đến ký kết Hiệp định Paris, thi hành Hiệp định Paris và nhất là trong chiến thắng ngày 30-4. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Sáu, 2026, 08:46:11 pm Tháng 6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời và sau đó tham gia Hội nghị với tư cách là một thực thể chính trị độc lập.
Trong khi đó, ở miền Nam Việt Nam, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân sĩ, trí thức, giáo chức, sinh viên, tôn giáo, đảng phái lan toả mạnh mẽ. Tháng 6-1969, Đảng xã hội cấp tiến ra tuyên bố đòi quyền dân tộc tự quyết, đòi hoà bình, thống nhất đất nước trong dân chủ. Lực lượng Quốc gia tiến bộ tuyên ngôn kêu gọi cấp tốc thực hiện ngừng bắn. Tổ chức Tiếng nói nhân dân miền Nam Việt Nam kêu gọi "phải đoàn kết lại, đặt tình thương dân tộc trên hết, để xoá mọi hận thù, cùng nhau tranh đấu để đòi tái lập trật tự và an ninh cho đất nước". Cuối năm 1970, đầu năm 1971, phong trào đấu tranh kết hợp các mục tiêu dân sinh dân chủ, dân tộc và hoà bình ở đô thị tiếp tục phát triển. Hàng loạt tổ chức rộng rãi, công khai, hợp pháp, nhằm tập hợp và thúc đẩy phong trào đấu tranh ra đời. Mặt trận nhân dân tranh thủ hoà bình được thành lập ở Sài Gòn, ở Huế rồi lan ra khắp miền Nam. Trên bàn đàm phán Hội nghị Paris, để tranh thủ dư luận thế giới, tháng 9-1970, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa ra Kế hoạch tám điểm (tám điểm nói rõ thêm). Ngoài vấn đề rút quân, trao trả tù binh, gạt bỏ bộ ba Thiệu - Kỳ - Khiêm, điểm nhấn của Kế hoạch tám điểm là thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm ba thành phần ở miền Nam, trong đó thành phần thứ ba bao gồm "những nhân vật của các lực lượng chính trị và tôn giáo trong hay ngoài nước, có lập trường ủng hộ hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ". Kế hoạch tám điểm gây được thiện chí, sự ủng hộ của đông đảo nhân dân trong và ngoài Việt Nam. Từ tháng 7-1971, Phong trào nhân dân chống trò hề bầu cử, Phong trào dân tộc tự quyết; Phong trào phụ nữ đòi quyền sống; Tổng hội sinh viên... đã tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các xu hướng chính trị, các đảng phái, tôn giáo miền Nam cùng đoàn kết chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, khơi dậy một làn sóng đấu tranh mới. Năm 1971 được coi là năm đỉnh cao của phong trào đô thị miền Nam, thúc đẩy hơn nữa sự phân hoá trong nội bộ chính quyền Sài Gòn, mở rộng lực lượng đấu tranh dân chủ và hòa hợp dân tộc. Phong trào đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn nhanh chóng lan rộng ra Đà Nẵng, Huế, Nha Trang... (Trung - Trung Bộ), Mỹ Tho, Cần Thơ... (Tây Nam Bộ). Ở Huế, tháng 3 -1972, Tổng hội sinh viên Huế phối hợp với Mặt trận văn hoá dân tộc miền Trung tổ chức Tuần lễ văn hoá sinh viên, học sinh tại khuôn viên Trường Đại học Khoa học Huế. Cuối năm 1972, 30 tổ chức, đoàn thể và 15 nhân sĩ trí thức, tôn giáo ở Sài Gòn và các tỉnh thành miền Nam đấu tranh đòi chính quyền Mỹ và Sài Gòn ký kết Hiệp định Paris, trả tự do tù chính trị và sinh viên, học sinh. Trong một thời gian dài, những phong trào đấu tranh ủng hộ hòa bình, phản đối chiến tranh, phản đối hành động của chính quyền Mỹ đối với miền Nam Việt Nam diễn ra liên tục, rộng khắp, sôi nổi, mạnh mẽ đã ảnh hưởng đến công luận Mỹ, chính giới Mỹ, từ đó tác động trực tiếp tới tiến trình Hội nghị Paris, là một trong những nguyên nhân dẫn đến ký kết Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam vào tháng 1-1973. Điều 12 của Hiệp định ghi rõ: "Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia"1 (Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Hoa Kỳ, http://thuvienphapluat.vn); "hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia để hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau"1 (Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Hoa Kỳ, http://thuvienphapluat.vn). Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, lực lượng chính trị trong các đô thị miền Nam phân hoá mạnh mẽ. Trên cơ sở pháp lý của Hiệp định Paris, lực lượng thứ ba đã được quốc tế công nhận là một lực lượng chính trị, có quyền tham gia thành lập chính phủ ba thành phần. Trên vị thế mới đó, lực lượng thứ ba đứng lên kêu gọi các lực lượng chính trị ở miền Nam hiệp thương bàn thảo về tương lai của đất nước, chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam. Nhiều trí thức yêu nước theo đường lối quốc gia dân tộc (luật sư Trần Ngọc Liễng, giáo sư Lý Chánh Trung, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, dân biểu Kiều Mộng Thu, giáo sư Châu Tâm Luân, dân biểu Ngô Công Đức...) đã lấy các điều khoản của Hiệp định Paris làm căn cứ pháp lý, tập hợp quần chúng đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đòi hoà giải hoà hợp dân tộc, chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước. Tổng hội sinh viên Huế lên án mạnh mẽ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vi phạm Hiệp định Paris, đòi Hoa Kỳ phải chấm dứt can thiệp vào nội bộ Việt Nam, đòi công nhận thực thể chính trị thứ ba, đòi hoà giải, hoà hợp dân tộc. Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris ra đời, Uy ban đòi và nhận tù nhân thuộc thành phần chính trị thứ ba được thành lập là bước tiến mới của lực lượng thứ ba. Những tổ chức này tuyên bố đứng trên lập trường dân tộc và cơ sở hoà giải, hoà hợp dân tộc giải quyết mọi tranh chấp bằng phương pháp hoà bình. Phong trào Phụ nữ Việt Nam đòi quyền sống phát đi thông điệp: Đấu tranh thuần tuý chính trị đòi hoà bình trong hoà giải dân tộc, đòi quyền dân tộc tự quyết trong tự do dân chủ. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Sáu, 2026, 08:48:11 pm Cuối năm 1973, đầu năm 1974, khối Phật giáo Ấn Quang tuyên bố thành lập Lực lượng hoà giải dân tộc. Các Măt trận cứu đói, Cộng đồng tin mừng, Tổ chức chống tham nhũng, Ủy ban hành động cho công bằng xã hội... thuộc phong trào Phật giáo cũng lần lượt ra đời. Phong trào đòi hoà bình, hoà giải dân tộc phát triển rộng khắp, chỉ tính riêng địa bàn Sài Gòn - Gia Định đã có "30 đoàn thể chính trị, văn hoá, xã hội, tôn giáo liên kết lại thành một mặt trận đối lập với chính quyền Việt Nam Cộng hoà"1 (Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chỉ văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh, tập 2, Nxb Hồ Chí Minh, 1998, tr. 617).
Với một thế đứng trung lập rõ rệt, không đồng hoá với hai phe miền Nam Việt Nam, phản đối chính sách độc tài của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng như can thiệp quân sự - chính trị của Hoa Kỳ vào nội bộ miền Nam Việt Nam, hoạt động của lực lượng thứ ba khiến nội bộ chính quyền Sài Gòn vốn đã bất ổn lại càng bất ổn hơn. Chính thể Việt Nam Cộng hoà lún sâu vào khủng hoảng, báo hiệu ngày sụp đổ. Ngày 21-4-1975, sau khi tuyến phòng thủ then chốt Xuân Lộc thất thủ, chính quyền Sài Gòn rơi vào tuyệt vọng, sự tan rã chỉ còn tính bằng giờ. Trong tình hình đó, sự tồn tại của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu - một chính quyền chống cộng đến cùng là hết sức bất lợi cho việc thu xếp một kết cục chung cuộc. Phế truất Nguyễn Văn Thiệu là con đường mong manh, "còn nước, còn tát" để cứu vãn Sài Gòn. Do vậy, phong trào đấu tranh gây áp lực đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức dấy lên khắp nơi (phong trào đấu tranh của Tổ chức nhân dân thi hành Hiệp định Paris, phong trào của Trung tâm văn bút Việt Nam...). Các tổ chức này lên án Nguyễn Văn Thiệu độc tài phát xít, phá hoại các điều khoản của Hiệp định Paris về hoà bình, hoà giải, hoà hợp dân tộc. Thời gian này, báo chí có tác dụng to lớn trong tuyên truyền, đấu tranh. Báo Điện Tín, báo Đối Diện viết bài công kích chế độ Nguyễn Văn Thiệu, đăng tải đầy đủ tin chiến sự bất lợi đối với chính quyền Sài Gòn, khiến lực lượng tướng lĩnh quân đội Sài Gòn hết sức hoang mang. Tình hình chiến sự tiếp tục xấu đi nhanh chóng, trong khi đó, Quốc hội Mỹ từ chối viện trợ cho miền Nam Việt Nam (4-1975). Dưới hàng loạt áp lực, tối 21-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu buộc phải tuyên bố từ chức, giao lại quyền hành cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương theo quy định của Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà. Tuy nhiên, về bản chất, Trần Văn Hương cũng là một nhân vật chống cộng quyết liệt, nên việc Tổng thống Thiệu từ chức và Trần Văn Hương tại vị không thể dẫn đến giải pháp hòa bình, thương lượng. Trong không khí ảm đạm, nhiều người tin tưởng ở Dương Văn Minh - người cầm đầu lực lượng hòa bình, hòa giải dân tộc, nhận định đó là gương mặt có thể thương thuyết với "Việt Cộng", nhưng Trần Văn Hương vẫn quyết không chịu từ chức, thề sẽ tử thủ đến cùng. Ngày 26 và 27-4-1975, được sự cổ vũ của Đại sứ Pháp, Đại sứ Mỹ và một số quan chức Sài Gòn, Dương Văn Minh được "đôn" lên thay Trần Văn Hương, hy vọng mở lối hiệp thương với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam để thành lập một chính phủ hoà giải, hoà hợp dân tộc. "Sự xuất hiện trở lại trên chính trường của ông Dương Văn Minh chính là kết quả hoạt động tích cực của lực lượng thứ ba, lực lượng những người đấu tranh với Mỹ - Thiệu ngay trong lòng chế độ Sài Gòn bấy giờ"1 (Những trăn trở của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc, Tuần báo Quốc tế, 31-3-2005). Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kịp thời cài sâu nhiều cán bộ binh vận trong nội các của Tổng thống Dương Văn Minh. Với thế thắng như chẻ tre, các cánh Quân giải phóng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên bốn hướng chiến dịch tiếp tục tiến công, áp sát Sài Gòn, giải pháp thương thuyết "thành lập một chính phủ hoà giải, hoà hợp dân tộc" đã không còn được đặt ra, vấn đề còn lại chỉ là chính phủ Dương Văn Minh đầu hàng hay không đầu hàng. 10 giờ ngày 29-4-1975, Quân ủy Trung ương, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đang họp thì nhận được tin Dương Văn Minh ra lệnh ngừng bắn. Bộ Chính trị cấp tốc gửi điện Về tiếp tục tổng tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch, chỉ thị tiếp tục tiến công "tiến công với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chỉnh quyền các cấp của địch"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại thắng mùa Xuân 1975 - Văn kiện Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.324). 9 giờ sáng ngày 30-4-1975, Nguyễn Hữu Thái3 (Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (1963-1964), thành viên Cụm Điệp báo A10) thông báo cho các nhóm thuộc lực lượng thứ ba tại Chùa Vạn Hạnh rằng "thầy Trí Quang đã bàn thảo với các thành viên của Lực lượng Hòa giải và Liên lạc với dinh Độc lập để chính phủ Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng"4 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, Tlđd, thi đại). 9 giờ 30 phút, qua đài phát thanh, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố sẵn sàng bàn giao quyền lực cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam: "Đường lối chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải của người Việt Nam để khỏi thiệt hại xương máu của người Việt Nam (...). Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong một trật tự, tránh đổ máu vô ích của đồng bào"1 (Nguyễn Hữu Thái, 30-4-1975, Dương Văn Minh và tôi, Tạp chí Xưa và nay, số tháng 3-2008). Như vậy, thay vì "tử thủ" như một số tướng tá kêu gọi, trong hy vọng cuối cùng, Dương Văn Minh chấp nhận giải pháp bàn giao quyền lực. Dương Văn Minh lý giải cho bước đi ấy như sau: "Sinh mạng con người, sinh mạng người Việt, sinh mạng người Pháp, phải được cứu"2 (Le Monde, 2-5-1975). Luật sư Trần Ngọc Liễng thêm cho biết: "Tổng thống Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng từ buổi trưa ngày 29-4-1975"3 (Phạm Văn Hùng, Hồ sơ Tướng Dương Văn Minh, Tạp chí Hồn Việt, số 11, tháng 5-2008). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Sáu, 2026, 08:49:58 pm 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, xe tăng húc sập cổng dinh Độc Lập, Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu, Lý Quý Chung và một số người khác từ phòng trong ra tiền sảnh để nghênh đón Quân giải phóng nhưng họ rơi vào tình thế nhốn nháo, căng thẳng và bất ngờ. Có mặt tại dinh Độc Lập vào giây phút ấy, ông Huỳnh Văn Tòng nhận xét: "Đã diễn ra cảnh tượng đầu hàng - tiếp nhận đầu hàng không đáng có giữa chính phủ Dương Văn Minh và những người sĩ quan xe tăng miền Bắc"4 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, Tlđd). Trước đó, Hà Nội đã hạ lệnh "có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách Tổng thống mà chỉ với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại thắng mùa Xuân 1975 - Văn kiện Đảng, Sdd, tr.332).
Được đưa đến đài phát thanh, trong thế lưỡng nan, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Sài Gòn được giải phóng, miền Nam được giải phóng, Việt Nam ngập cờ và hoa, lẫn trong đó có nụ cười của người chiến thắng, có nước mắt của "bên thua cuộc". Hành động thức thời của Tổng thống Dương Văn Minh và nội các "đã góp phần làm cuộc chiến kết thúc sớm, tránh đổ nhiều xương máu của binh sĩ và nhân dân, thành phô Sài Gòn và nhiều đô thị còn nguyên vẹn"2 (Phạm Văn Hùng, Hồ sơ Tướng Dương Văn Minh, Tạp chí Hồn Việt, số 11, tháng 5-2008). Việc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng đã làm giảm ý chí chiến đấu của đại bộ phận quân đội Việt Nam Cộng hòa vào những giờ chót của cuộc chiến tranh, tạo thuận lợi cho Quân giải phóng tiến nhanh vào thành phố Sài Gòn và nhiều vị trí khác, tránh những tàn khốc, đổ máu và mất mát không cần thiết. Hành động của nội các Dương Văn Minh thể hiện "ý chí và khát vọng hòa bình theo tinh thần của đạo Phật và đường lối, chủ trương của Giáo hội Phật giáo"3 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, Tlđd) với hy vọng "hòa giải, hòa hợp dân tộc, toàn dân chung sức chung lòng xây dựng đất nước sau 117 năm bị xâm lược, chiến tranh tàn phá và xâu xé, tương tàn"4 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, Tlđd). Nguyễn Hữu Thái bình luận: Dương Văn Minh đã "hy sinh danh dự của một tướng lãnh (dù là một tướng bại trận) để thực sự cứu thành phố" này khỏi cảnh tàn phá và đổ nát (...). Đó cũng là một hành động can đảm và đáng ca ngợi của một Phật tử vào cuối đời"1 (Nguyễn Hữu Thái, 30-4-1975, Dương Văn Minh và tôi, Tlđd). Tham gia vào công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước, Dương Văn Minh thức thời nhận ra rằng, "chiến tranh ý thức hệ đã mất hết ý nghĩa. Vấn đề khẩn cấp không còn là sự chiến thắng của lập trường chính trị này hay ý thức hệ kia mà là sự sống còn của dân tộc"2 (Far Eastern Economic Review, 11 October 1974, p.14). Không loại trừ khả năng bị đối xử không tương xứng của phía đối nghịch, vào điểm "gút" của lịch sử, như Nguyễn Hữu Thái nhận xét, "một người trong cương vị ông Minh có thể có nhiều quyết định"3 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, Tlđd), ông có thể có một sự lựa chọn khác, nhưng ông đã bước qua sĩ diện và tự ái cá nhân để tránh cảnh huynh đệ, cốt nhục tương tàn, "nồi da nấu thịt", những mong hân hoan "trở thành một công dân của một nước Việt Nam độc lập"4 (Nguyễn Hữu Thái, 30-4-1975, Dương Văn Minh và tôi, Tlđd). Tiếp quản Sài Gòn năm 1975, một Sài Gòn nguyên vẹn sau chiến tranh, Võ Văn Kiệt nhắc nhở "không thể không nói đến vai trò của các lực lượng chính trị đối lập với Mỹ - Thiệu có quan hệ với chính phủ Dương Văn Minh lúc bấy giờ"5 (Những trăn trở của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc, Tlđd). Điều đó trở thành nỗi trăn trở của ông cho đến mãi sau này. Cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) đã lùi xa nhưng nhiều vấn đề của nó không chìm đi mà vẫn luôn hiện hữu ở hiện tại. Như mọi xã hội hậu chiến, Việt Nam phải đối diện với nhiều vết thương chiến tranh ở những mức độ nông sâu khác nhau và sự tác động, ảnh hưởng hết sức đa dạng. Một trong những vết thương sâu đậm nhất là sự chia rẽ lòng người. Chiến tranh qua đi nhưng nếu không hóa giải được hận thù và nghi kỵ thì như một tất yếu đó sẽ là mồi lửa cho những cuộc chiến có tiếng súng và không tiếng súng. Để đẩy lùi xung đột, nhất là những xung đột trong tâm thức dân tộc, chỉ có một con đường duy nhất là tha thứ và hòa giải - đó là quá trình hai chiều và từ hai phía. Trên tinh thần ấy, đã có những ghi nhận công lao, sự đóng góp to lớn của các tầng lớp người Việt yêu nước trong và ngoài đất nước sông dưới chế độ Sài Gòn từng khẳng khái đấu tranh và hy vọng về một ngày hòa giải, hòa hợp dân tộc. Dù đã được ghi nhận những đóng góp nhất định cho đất nước, song đến nay, đề tài về lực lượng thứ ba vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để nhìn nhận về vai trò của nó đã có trong lịch sử. Mỗi thời khắc, mỗi năm tháng qua đi, trách nhiệm của giới nghiên cứu lại nặng hơn, đầy thêm. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Sáu, 2026, 09:10:51 pm Chương IV TRANH THỦ SỨC MẠNH THỜI ĐẠI I- TRANH THỦ TỐI ĐA SỰ GIÚP ĐỠ, ỦNG HỘ CỦA PHE XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1- Tranh thủ sự giúp đỡ của Liên Xô Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào chiến tranh trong điều kiện quốc tế hết sức phức tạp, nhất là các lực lượng đồng minh của Việt Nam có những mâu thuẫn, bất đồng. Vượt qua những tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài, tranh thủ mọi yếu tố quốc tế thuận lợi, Đảng Lao động Việt Nam tính toán, phân tích, cân nhắc toàn bộ những vấn đề thuộc về, hoặc liên quan đến cuộc kháng chiến, từng bước hình thành nên đường lối kháng chiến chống Mỹ; trong đó, quan điểm, chủ trương vận động quốc tế là bộ phận hợp thành. Về đối ngoại, Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định đường lối, chính sách vận động quốc tế với nội dung cốt lõi là tăng cường đoàn kết quốc tế, củng cố tình hữu nghị giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, tranh thủ mọi sự ủng hộ của các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Thực hiện nhiệm vụ nói trên, Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ giúp đỡ của Liên Xô - một trong những nước lớn trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Bước ra khỏi cuộc kháng chiến chín năm, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương mở rộng quan hệ với các nước dân chủ nhân dân và đặt trọng tâm quan hệ vào các nước xã hội chủ nghĩa; đồng thời, tạm thời duy trì thế giữ gìn lực lượng, đấu tranh đòi Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện những điều khoản cơ bản của Hiệp định Geneva, từng bước hiệp thương thống nhất đất nước bằng phương pháp hoà bình. Chủ trương của Hà Nội phù hợp với quan điểm "ba hòa" của Moscow - tiến hành đấu tranh chính trị - pháp lý, từng bước giải quyết vấn đề miền Nam. Về phía Liên Xô, với cương vị là đồng Chủ tịch Hội nghị Geneva năm 1954, Liên Xô phối hợp với Việt Nam đấu tranh với các vi phạm Hiệp định của Chính quyền Ngô Đình Diệm, ủng hộ Việt Nam thi hành Hiệp định, gìn giữ hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương. Trên trường quốc tế, Liên Xô nêu cao vai trò của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lên án các hành động chiến tranh của Mỹ tại miền Nam Việt Nam, đấu tranh để Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có đại diện ở các tổ chức quốc tế mà Việt Nam Cộng hòa tham gia. Tháng 1-1957 và tháng 10-1958, Liên Xô phản đối kiến nghị của Mỹ và 12 nước khác về việc kết nạp miền Nam Việt Nam và Nam Triều Tiên vào Liên Hiệp Quốc. Đầu năm 1959, trước việc Mỹ và Chính quyền Diệm gây tội ác ở nhà tù Phú Lợi, Liên Xô tổ chức những cuộc mít tinh của quần chúng, gửi kiến nghị phản đối Mỹ và chính quyền Diệm. Bên lề các cuộc hội nghị quốc tế, Liên Xô gặp gỡ Việt Nam, tranh thủ ý kiến, thu thập tài liệu để giới thiệu những thành tựu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với thế giới. Tuy Việt Nam chưa được kết nạp vào Liên Hợp Quốc, nhưng hằng năm, trước kỳ họp Đại hội đồng, Liên Xô thường trao đổi trước với Việt Nam một số vấn đề. Đối với những tổ chức quốc tế mà Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tham gia, sau mỗi kỳ họp, Moscow đều thông báo cho Hà Nội về kết quả, thái độ của Đoàn đại biểu chính quyền Sài Gòn. Bước sang năm 1965, cuộc chiến tranh ở Việt Nam ngày càng trở nên khốc liệt và thu hút sự chú ý, quan tâm của cả nhân loại tiến bộ. Vấn đề Việt Nam trở thành vấn đề chính trị quốc tế, liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhiều nước trên thế giới (đặc biệt là Liên Xô, Mỹ, Trung Quốc). Cũng từ năm 1965, Liên Xô đã nhìn nhận, cân nhắc lại quan hệ với Đông Nam Á và Đông Dương, khởi động lại chính sách châu Á. Đối với chiến tranh Việt Nam, Liên Xô có thái độ tích cực hơn. Sau chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N. Kosygin (Côxigin) (2-1965), Liên Xô đã tuyên bố về "sự giúp đỡ toàn diện" cho Việt Nam. Thực hiện cam kết, ngày 9-2-1965, chính thức về mặt Nhà nước, Liên Xô ra Tuyên bố lên án Mỹ ném bom lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, yêu cầu Mỹ chấm dứt ngay mọi hoạt động quân sự, nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Geneva. Tuyên bố có lời lẽ khá gay gắt, "hy vọng rằng Washington nhìn nhận một cách thực tế về tình hình hiện nay ở Đông Dương"1 (Газета Правда, 9 Февраля 1965). Bản Tuyên bố khẳng định về sự chuẩn bị sẵn sàng của nhân dân Liên Xô "có những biện pháp mới cùng với các nước đồng minh và bạn bè của mình nhằm bảo vệ an ninh và tăng cường khả năng phòng thủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa"1 (Газета Правда, 9 Февраля 1965). Tháng 3-1965, phát biểu tại Quảng trường Đỏ nhân dịp Liên Xô phóng thành công tàu vũ trụ Phương Đông-2, L. I. Brezniev (Brêgiơnhép) lên án hành động xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam, khẳng định sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quốc tế vô sản với người anh em Việt Nam. Trong bài phát biểu, L.I.Brezniev đề cập đến những tình nguyện viên Xôviết sẵn sàng đến xứ sở Việt Nam xa xôi để giúp đỡ những người anh em chống Mỹ. Đại sứ Mỹ F. D. Kohler (F. D. Kôlơ) tại Liên Xô gọi bài phát biểu của L.I.Breznierv là "một vũ khí chính trị, tuyên truyền sắc nhọn hòng làm suy yếu lập trường của Mỹ tại Việt Nam"2 (И. В. Гайдук, Советский Союз и война во Вьетнаме, Указ. Соч, С. 37). Tháng 5-1965, L.I.Brezniev một lần nữa khẳng định quan điểm: "ủng hộ nhân dân Việt Nam đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ là sự nghiệp danh dự, là lợi ích thiết thân của tất cả các dân tộc bảo vệ tự do và độc lập"3 (Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 30). Trong bức thư gửi Hội nghị Hội đồng hòa bình họp ở Helsinki (Henxinki; 7-1965), A.N. Kosygin (Côsưghin) viết: "Ngày nay nghĩa vụ hàng đầu của các lực lượng yêu chuộng hòa bình là ủng hộ nhân dân Việt Nam anh hùng trong cuộc đấu tranh chính nghĩa và gian khổ chống xâm lược"4 (Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 30). Liên Xô luôn khẳng định lập trường ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Thậm chí, Đại hội XXIII Đảng Cộng sản Liên Xô (4-1966) còn trao trọng trách cho Chính phủ Xôviết "làm tất cả những gì có khả năng để chấm dứt sự xâm lược của Mỹ tại Việt Nam, để quân đội Mỹ và quân đội nước ngoài rút khỏi miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình"1 (ХХІІІ съезд Коммунистической партии Советского Союза, Стеногр. отчет, Издательство политической литературы, М.1966, т. 2, с. 290). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Sáu, 2026, 09:13:05 pm Từ năm 1965 đến năm 1975, Moscow luôn đề cao vấn đề Việt Nam trên trường quốc tế; các cơ quan chính quyền, nhà nước Liên Xô đều ra tuyên bố ủng hộ nhân dân Việt Nam thực hiện cuộc kháng chiến chính nghĩa, bảo vệ độc lập, tự do, lên án Mỹ xâm lược, gây tội ác với nhân dân Việt Nam. Điều đáng nói là Liên Xô ra tuyên bố ủng hộ Việt Nam liên tục với tần suất cao và vào những thời điểm cần thiết2 (Hai Đại hội của Đảng Cộng sản Liên Xô đều ra tuyên bố ủng hộ nhân dân Việt Nam, lên án Mỹ xâm lược, Hội đồng Xô viết tối cao - bốn lần; Chính phủ - 11 lần; Hãng thông tấn TASS -12 lần; Bộ Ngoại giao Liên Xô gửi công hàm phản đối Mỹ ba lần, với Nhật bốn lần, với Úc hai lần, với New Zealand hai lần, với Thái Lan một lần (Nguồn: Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 30]. Liên Xô cùng các nước tham gia Hiệp ước Warsaw ra bảy tuyên bố và các Đảng ra bốn tuyên bố lên án Mỹ, ủng hộ Việt Nam [Nguồn: Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 30]). Có vai trò, vị trí, ảnh hưởng trong các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu, các Đảng Cộng sản Tây Âu, Mỹ Latinh và một số đảng châu Á, trong các đoàn thể quần chúng quốc tế, Liên Xô tích cực kêu gọi các phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, giúp vận động các đoàn thể quần chúng thế giới, tổ chức nhiều hội nghị quốc tế lên tiếng bảo vệ Việt Nam.
Trong các tuyên bố, trên các diễn đàn và với các tổ chức quốc tế cũng như tại các cuộc gặp gỡ các nhân vật cấp cao của Chính phủ Mỹ, Liên Xô tập trung yêu cầu Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút quân khỏi miền Nam, công việc nội bộ miền Nam Việt Nam phải do nhân dân miền Nam tự giải quyết. Những năm 1965-1972, Moscow chủ động, tích cực thông báo, tiếp xúc và trao đối với Hà Nội về các vấn đề quốc tế, các vấn đề có liên quan đến hai nước, đặc biệt là về cuộc hòa đàm Paris1 (Trung ương và Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô gửi cho Việt Nam 33 bức thư cũng như các thông báo và giữa hai nước có ít nhất là 150 cuộc tiếp xúc ngoại giao để bàn bạc, trao đổi, tham vấn ý kiến (Nguồn: Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 31]). Một hành động tích cực của Liên Xô nhằm ủng hộ trực tiếp cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiết lập quan hệ chính thức và tăng cường quan hệ với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. Ngày 13-1-1965, Mặt trận đại diện thường trú ở Liên Xô và tháng 5-1965 hưởng quy chế của cơ quan ngoại giao. Bắt đầu từ thời điểm này, Liên Xô thường xuyên đề cập đến tính pháp lý của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngày 13-6-1969, Liên Xô tiến thêm một bước, chính thức công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trong bức điện gửi Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng A.N. Kosygin tuyên bố: "Liên Xô trung thành với nghĩa vụ quốc tế của mình, đã và đang luôn luôn đứng về phía các dân tộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chính phủ Liên Xô trước sau như một ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống bè lũ bù nhìn Sài Gòn và bọn đế quốc quan thầy của chúng"2 (Báo Nhân dân, ngày 14-6-1969). Từ đó, Liên Xô thường xuyên có những cuộc tiếp xúc, trao đổi về mặt nhà nước với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Về vật chất, Liên Xô tăng cường viện trợ kinh tế, quân sự cho Việt Nam. Khoảng 70% viện trợ kinh tế của Liên Xô những năm 1965-1967 là dành cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chủ chốt, trong đó 30% là dành để xây dựng các nhà máy điện, phát triển ngành năng lượng1 (И.В.Коровяковский: "Основные направления экономического сотрудничества CCCP ДРВ в период Второй индокитайской войны 1965-1973 гг", Ученые записки-электронный научный журнал Курского государственного университета. 2011, No 3 (19), Т. 2). Nếu như năm 1967, vốn giúp đỡ của Liên Xô cho Việt Nam không lớn hơn 37%, thì năm 1968 đã đạt 50%. Số vốn này được thực hiện chủ yếu qua con đường viện trợ và cho vay dài hạn. Từ năm 1966 đến năm 1975, trung bình mỗi năm Liên Xô viện trợ cho Việt Nam khoảng 700-800 triệu rúp2 (Hoàng Hải, "Quan hệ kinh tế Việt - Nga những năm cuối thế kỷ XX, báo cáo tại Hội thảo 50 năm quan hệ Việt - Nga, Hà Nội, 2000). Tháng 6-1973, Liên Xô đã xóa những khoản nợ cũ từ năm 1973 trỏ về trước cho Việt Nam (khoảng 1,3 tỷ rúp), đề nghị "gạch sổ giai đoạn trước, xây dựng mối quan hệ kinh tế trên cơ sở bình thường giữa các nước với nhau"3 (Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 66). Những công trình kinh tế do Liên Xô giúp đỡ xây dựng góp phần nhanh chóng khắc phục khó khăn, phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân miền Bắc. Đặc biệt, Liên Xô thường xuyên viện trợ tăng thêm, đáp ứng những yêu cầu đột xuất của Việt Nam. Theo tổng kết của các cơ quan hữu quan Việt Nam, trong số viện trợ của nước ngoài, viện trợ của Liên Xô chiếm 1/3 (còn Trung Quốc bảo đảm 52%, Đông Âu bảo đảm 19%), trong đó hàng viện trợ của Liên Xô bảo đảm 1/2 thiết bị, máy móc (không kể thiết bị toàn bộ), 1/3 nguyên, nhiên, vật liệu và 1/3 hàng tiêu dùng, trong đó Liên Xô chiếm 1/3 hàng nhập về thép, 1/2 kim loại màu, 1/2 xăng dầu, 1/2 phân bón, 1/2 xe vận tải, 1/2 máy kéo, máy ủi, 2/5 lương thực1 (Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 33). Bên cạnh sự viện trợ về mặt Nhà nước, các đoàn thể Liên Xô tích cực hoạt động ủng hộ Việt Nam, tổ chức quyên góp trong nhân dân, dành cho Việt Nam khoản viện trợ theo đường quần chúng. Là nước có nền công nghiệp quốc phòng hùng mạnh với những vũ khí chiến lược tối tân, hiện đại, viện trợ quân sự toàn diện của Liên Xô, nhất là vào những thời điểm quan trọng của cuộc kháng chiến, đã tăng cường đáng kể sức mạnh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dựa vào các nguồn Tài liệu lưu trữ của Cục Lưu trữ Liên bang Nga được giải mật, các nhà nghiên cứu Liên bang Nga đưa ra con số viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam những năm 1965-1971 là 1 tỷ 579 triệu USD (tính trung bình vào khoảng 2 triệu USD/ngày)2 (Россия (СССР) в локальных войнах и военных конфликтах второй половины ХХ века/Под ред. В.А. Золотарева. М.: Кучково поле, Полиграфресурсы, 2000, С.100). Nhìn chung, về cơ bản, con số viện trợ theo tài liệu lưu trữ các cơ quan Nhà nước của Việt Nam và Liên Xô tương đối gần nhau. Các trang bị vũ khí, khí tài Liên Xô viện trợ đã phát huy tác dụng tích cực trên chiến trường miền Nam Việt Nam, đẩy mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng, góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc. Không chỉ viện trợ trang bị kỹ thuật, Liên Xô còn giúp Việt Nam đào tạo cán bộ, chiến sĩ để tiếp nhận, sử dụng hiệu quả vũ khí viện trợ, nhất là những vũ khí hiện đại; gửi chuyên gia quân sự sang Việt Nam. Theo thống kê của Tổng cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô, "từ ngày 11-7-1965 đến ngày 31-12-1974, có 6.359 sĩ quan, tướng lĩnh và hơn 4.500 binh sĩ, hạ sĩ quan các lực lượng vũ trang Liên Xô tham gia chiến đấu tại Việt Nam"1 (Война во Вьетнаме... Как это было (1965-1973), Изд-во "Экзамен", 2005 r, C.320); "13 chuyên gia quân sự Liên Xô đã hy sinh"2 (Tạp chí "Sư tử vàng", số 73-74. Theo Tạp chí này, ngoài 13 chuyên gia quân sự hy sinh do bom đạn Mỹ, còn có ba chuyên gia mất tại Việt Nam vì bệnh tật). Trước sự giúp đỡ kịp thời nhân dân Liên Xô dành cho nhân dân Việt Nam, ngày 23-4-1975, trong buổi tiếp Đại sứ Liên Xô B. Chaplin, Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát biểu: "Đặc biệt, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chúng tôi cảm ơn về sự giúp đỡ vật chất của Liên Xô cho những vùng mới được giải phóng... Tất cả điều đó làm cho nhân dân và những người cộng sản Việt Nam càng thấy rõ thêm tác dụng của Liên Xô đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Điều này làm cho nhân dân miền Nam Việt Nam càng thấy sâu sắc rằng, mọi thắng lợi đều gắn liền với sự giúp đỡ to lớn và quý báu của Liên Xô"3 (Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 60). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Sáu, 2026, 09:15:35 pm 2- Tranh thủ sự giúp đỡ của Trung Quốc
Từ Hội nghị lần thứ 6 (7-1954) qua các hội nghị Trung ương lần thứ 7 (3-1955), Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (8-1955) đến Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1956, Đảng Lao động Việt Nam luôn nhấn mạnh cần "tiếp tục phát triển và củng cố tình hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và tất cả các nước dân chủ nhân dân khác"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr.305); "đẩy mạnh công tác ngoại giao, tăng cường đoàn kết hữu nghị với các nước bạn, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Sđd, tr. 216). Các hội nghị tiếp theo, đặc biệt là Đại hội lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam đã hoàn thiện, xác định chính thức đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; trong đó, vận động quốc tế, đoàn kết quốc tế là một bộ phận hữu cơ, định ra phương hướng kết hợp nội lực với ngoại lực sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Hội nghị Trung ương, Hội nghị Bộ Chính trị được tổ chức sau đó nhằm cụ thể hóa, bổ sung, điều chỉnh đường lối chống Mỹ, cứu nước, quan điểm vận động quốc tế... đều hết sức coi trọng đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, tăng cường đoàn kết quốc tế, đoàn kết với Liên Xô, Trung Quốc, với các nước xã hội chủ nghĩa. Như vậy, điểm thống nhất, xuyên suốt toàn bộ đường lối vận động quốc tế của Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là mở rộng quan hệ quốc tế, không ngừng củng cố quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là với Trung Quốc, Liên Xô; trên cơ sở đó, tranh thủ tối đa sự ủng, giúp đỡ trên mọi phương diện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thực hiện nhiệm vụ nói trên, Việt Nam ra sức vận động, tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc nhất là trong đấu tranh thực hiện Hiệp định Geneva những năm đầu miền Bắc có hòa bình, về thực hiện nhiệm vụ này, Bắc Kinh luôn quan tâm, có sự ủng hộ Hà Nội khá mạnh mẽ. Bắc Kinh khẳng định kiên quyết ủng hộ nhân dân Việt Nam trong đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva, hứa sẽ giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiền bạc, máy móc, thiết bị trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng độc lập, chủ quyền1 (). Bắc Kinh lên tiếng phản đối việc Chính quyền Sài Gòn mà đứng đằng sau là Mỹ đã cố tình không tôn trọng những thỏa thuận tại Geneva, lên án hành động can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam, gọi thái độ từ chối Tổng tuyển cử của chính quyền Sài Gòn là "không thể biện hộ được". Để ủng hộ và thể hiện tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân Việt Nam, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tổ chức nhiều hoạt động phong phú. Ngày 19-7-1960, hơn một vạn nhân dân Thủ đô Bắc Kinh tổ chức mít tinh trọng thể lên án tội ác của Mỹ và Chính quyền Ngô Đình Diệm. Tháng 12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời và khi các nước xã hội chủ nghĩa khác (kể cả Liên Xô) còn chưa công nhận Mặt trận, thì Trung Quốc là một trong những nước đầu tiên đồng ý để Mặt trận mở cơ quan đại diện tại nước mình. Từ ngày 7 đến ngày 11-8-1964, Đảng, Nhà nước Trung Quốc tổ chức cho hơn 20 triệu nhân dân Trung Quốc ở các tỉnh thành khác nhau xuống đường tuần hành cực lực lên án Mỹ mở rộng chiến tranh chống miền Bắc Việt Nam; tổ chức viết thư ủng hộ nhân dân Việt Nam. Đến ngày 25-8-1964, Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh nhận được gần 30.000 bức thư của các tầng lớp nhân dân Thượng Hải ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Về phía lãnh đạo Đảng, Nhà nước Trung Quốc, các tuyên bố cũng dày đặc và rất quyết liệt. Mao Trạch Đông tuyên bố "sẽ ủng hộ không điều kiện cuộc đấu tranh ở miền Nam Việt Nam và Lào"1 (Mao's speech at the Tenth Plenum, 24 September 1962, Maoist Documentation Project, Transcriber, MIA, Vol. VIII, marxists.org). Quan điểm về việc giúp đỡ Việt Nam của người đứng đầu Nhà nước Trung Quốc Mao Trạch Đông là "ủng hộ Việt Nam, Trung Quốc chỉ đơn thuần viện trợ vũ khí, trong khi các đồng chí phải xông pha nơi đầu sóng, ngọn gió, hy sinh cả tính mạng, máu xương"2 (Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong's Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Ibid, p.27); do đó, "sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Trung Quốc là rất to lớn, giúp đỡ của Trung Quốc cho Việt Nam chỉ rất nhỏ bé"3 (Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong's Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Ibid, p.27). Trên tinh thần ấy, tháng 4-1963, trong chuyến thăm Việt Nam, Đại tướng La Thụy Khanh bày tỏ sẽ hỗ trợ Việt Nam, nếu Hoa Kỳ tiến công miền Bắc: "Nếu địch tiến công miền Bắc Việt Nam thì Trung Quốc có trách nhiệm không thể khước từ là ra sức chi viện Việt Nam về mặt chính trị, ngoại giao, chi viện quân sự bao gồm cả vật chất và cho quân sang phối hợp"4 (Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông Quân ủy Trung ương, Hồ sơ 342). Trong cuộc hội đàm với Hồ Chí Minh tại Hà Nội nhân chuyến thăm Việt Nam (5-1963), Lưu Thiếu Kỳ khẳng định: "Chúng tôi luôn ở bên cạnh các đồng chí và nếu Hoa Kỳ tiến công miền Bắc, các đồng chí có thể coi Trung Quốc là hậu phương lớn"5 (Qu Aiguo, Chinese supporters in the operations to assist Vietnam and resist America, Junshi shilin (The Circle of Military History), No. 6 (1989), p. 40). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Sáu, 2026, 09:17:27 pm Tháng 8-1964, xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, trong khi Moscow phát biểu khá thận trọng về sự kiện này, thì Bắc Kinh tuyên bố rất quyết liệt: "Nhân dân Việt Nam là những người anh em thân như ruột thịt của nhân dân Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc quyết không khoanh tay ngồi nhìn mà không cứu"1 (Tuyên bố ngày 6-8-1964). Thậm chí Mao Trạch Đông đã chuyển tới Lê Duẩn "kế hoạch triển khai 30.000 - 50.000 quân ở phía Nam Trung Quốc, xây dựng hai sân bay ở Nam Ninh cho máy bay cất cánh sang Việt Nam, nếu Bắc Việt Nam bị đe dọa"2 (Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong's Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Ibid, p. 29); đồng thời, khẳng định "Trung Quốc sẽ tham gia vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung không điều kiện"3 (Mao's talk with the VWP delegation, 30 January 1964, CCP Central Documentary Research Department, ed., Jianguo yilai Mao Zedong wengao, Vol. 10). Sau "sự kiện Vịnh Bắc Bộ", Mao Trạch Đông thông báo với Lê Duẩn: "Trung Quốc có kế hoạch gửi một trung đoàn máy bay đến Nam Ninh, 1/2 trung đoàn máy bay tới Côn Minh, Simao, hai trung đoàn pháo cao xạ đến Nam Ninh và Côn Minh"4 (Mao's talk with Le Duan, 13 August 1964, CCP Central Documentary Research Department, ed., Jianguo yilai Mao Zedong wengao, Vol. 10) sẵn sàng tiếp ứng Việt Nam. Mao Trạch Đông cam kết: "Trong trường hợp đánh lớn, Mỹ đưa quân ra miền Bắc Việt Nam, Quân giải phóng Trung Quốc sẽ sang Việt Nam chiến đấu. Người Mỹ cần phải biết điều đó"5 (Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong's Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Ibid, tr. 29).
Từ năm 1965, khi chiến tranh lan rộng ra miền Bắc Việt Nam, Chính phủ Trung Quốc ngày một cứng rắn hơn trong các tuyên bố ủng hộ Việt Nam. Trước mỗi bước leo thang chiến tranh của Mỹ, Chính phủ, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đều có phản ứng kịp thời, bày tỏ quyết tâm ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến1 (Đó là các Tuyên bố lên án Mỹ mượn cớ có sự kiện Vịnh Bắc Bộ đưa máy bay bắn phá các vùng Nghệ An, Hòn Gai và Thanh Hóa (5-8-1964); Tuyên bố lên án Mỹ liên tục đánh bom và bắn phá các thành phố và làng mạc của Việt Nam như thị xã Đồng Hới, Quảng Bình và khu Vĩnh Linh (9-2-1965); Tuyên bố phản đối quyết định đưa thêm một số lớn quân chiến đấu vào miền Nam Việt Nam của Mỹ (7-8-1965); Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc lên án Mỹ và Chính quyền Sài Gòn họp tại Honolulu bàn về việc mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam (12-2-1966), Tuyên bố của Chính phủ Trung Quốc lên án Mỹ cho máy bay bắn phá vùng ngoại vi Hà Nội và thành phố Hải Phòng (3-7-1966)...). Ngày 9-2-1965, sau khi Mỹ dữ dội trút bom xuống miền Bắc Việt Nam, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố: "Mỹ xâm phạm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tức là xâm phạm Trung Quốc, 650 triệu nhân dân Trung Quốc quyết không thể khoanh tay ngồi nhìn"2 (Tuyên bố ngày 9-2-1965). Chính phủ Trung Quốc khẳng định: "650 triệu nhân dân Trung Quốc cam kết ủng hộ và giúp đỡ về mọi mặt kể cả yêu cầu gửi người sang chiến đấu cùng nhân dân Việt Nam, đấu tranh chính nghĩa để đánh bại bọn xâm lược Mỹ"3 (Tuyên bố ngày 12-3-1965); "700 triệu nhân dân Trung Quốc là hậu phương vững chắc của nhân dân Việt Nam. Đất đai rộng lớn của Trung Quốc là hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam"4 (Tuyên bố ngày 17-7-1966)... Một trong những cảnh báo nghiêm trọng nhất mà Trung Quốc gửi đến Mỹ là nếu "Hoa Kỳ muốn chơi với lửa và đang mạo hiểm, Trung Quốc sẽ dập tắt đám cháy"5 (Zhou Enlai and Pakistani President Ayub Khan, Karachi, 2 April 1965, Ibid, p.81). Những lời tuyên bố thể hiện lập trường, quan điểm của Đảng, Chính phủ Trung Quốc khiến trong mỗi bước mở rộng chiến tranh, Mỹ luôn phải có những cân nhắc và tính toán, không thể hoàn toàn liều lĩnh trong các hành động quân sự. Nhận định về quan điểm của Trung Quốc đối với chiến tranh Việt Nam và tác động của nó đối với Hoa Kỳ, Harish Mehta (Harít Mêta) viết: "Chính nỗi sợ hãi về sự can thiệp của Trung Quốc đã ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách Mỹ, họ không dám đưa quân vượt qua vĩ tuyến 17 vì họ rằng Trung Quốc có thể trả đũa bằng cách gửi các lực lượng Trung Quốc trực tiếp chiến đấu chống lại họ"1 (Harish Mehta C: Fighting, Negotiating, Laughing: The Use of Humor in the Vietnam War, Historian 74, no.4 (Winter 2012), p.749). Ngoài những tuyên bố, phát biểu trong các cuộc gặp gỡ song phương Việt - Trung, Bắc Kinh luôn tranh thủ các diễn đàn quốc tế, những cuộc gặp gỡ, trao đối với lãnh đạo nhiều nước trên thế giới để thể hiện tinh thần đoàn kết với nhân dân Việt Nam. Tháng 4-1970, khi ba nước Đông Dương tổ chức Hội nghị cấp cao, củng cố tình đoàn kết chiến đấu, Bắc Kinh gửi điện chúc mừng, bày tỏ sự đồng tình đối với cuộc đấu tranh của ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương, khẳng định một lần nữa tinh thần kiên quyết ủng hộ nhân dân Việt Nam tiến hành tới cùng cuộc chiến tranh "để thực hiện mục tiêu thiêng liêng là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến lên thống nhất đất nước"2 (Báo Quân đội nhân dân, ngày 30-4-1970). Cùng với các hoạt động của chính quyền nhà nước, nhân dân Trung Quốc tổ chức hàng trăm cuộc biểu tình, mít tinh lên án hành động xâm lược của Mỹ, ủng hộ nhân dân Việt Nam3 (Một trong những cuộc mít tinh tiêu biểu là mít tinh phản đối việc Mỹ dùng không quân, pháo hạm đánh phá dữ dội thị xã Đồng Hới cùng với một số mục tiêu thuộc tỉnh Quảng Bình, Vĩnh Linh và đảo Cồn Cỏ tại quảng trường Thiên An Môn (10-2-1965), có sự tham gia của các nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và hơn 1 triệu người. Từ ngày 8 đến ngày 11-2-1965, hơn 11 triệu người ở các thành phố Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Trùng Khánh, Nam Kinh, Côn Minh tham gia mít tinh tuần hành bày tỏ quyết tâm làm hết mình để ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Chính phủ Trung Quốc còn tổ chức cuộc mít tinh lớn tại quảng trường Thiên An Môn (22-7-1966) để ủng hộ Việt Nam, sau khi Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ (17-7-1966). Ngày 14-2-1971, hơn 1 triệu nhân dân các thành phố Bắc Kinh, Thẩm Dương, Nam Kinh... tổ chức biểu tình ủng hộ nhân dân Việt Nam...). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Sáu, 2026, 09:19:49 pm Những năm 1972-1975, Bắc Kinh tiếp tục thể hiện sự ủng hộ Hà Nội thông qua nhiều hình thức khác nhau. Ngày 11-5-1970, trong cuộc gặp gỡ Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn, Mao Trạch Đông một lần nữa khẳng định Trung Quốc là hậu phương lớn của Việt Nam, máy bay Việt Nam có thể hạ cánh ở Trung Quốc1 (Hồ sơ quan hệ Việt - Trung trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước (từ 3-1954 đến 8-1973), Tlđd, tr.183). Ngày 14-2-1971, hơn 1 triệu nhân dân các thành phố Bắc Kinh, Thẩm Dương, Nam Kinh... đã tổ chức biểu tình ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.
Về phương diện vật chất, viện trợ kinh tế là một đặc điểm nổi bật trong quan hệ kinh tế Việt - Trung. Năm 1955, Chính phủ Trung Quốc tặng Chính phủ Việt Nam 800 triệu nhân dân tệ không hoàn lại, để "sửa sang đường xe lửa, bến tầu ở ven sông, cầu đường; khôi phục và xây dựng những xí nghiệp dệt, làm da, làm dụng cụ y học, làm đồ phụ tùng về điện khí, làm nông cụ, làm giấy..."2 (Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc: Những sự kiện 1945-1960, Sđd, tr. 524). Ngoài ra, trong năm 1955, Tổng hội cứu tế Trung Quốc giúp đỡ nhân dân Việt Nam 10.000 tấn gạo, 5 triệu thước vải3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Sđd, tr. 5), tặng riêng đồng bào Hải Phòng và một số vùng bị lụt bão vải vóc, thuốc chữa bệnh trị giá 20 vạn nhân dân tệ. Giúp đỡ người dân vùng đê Mai Lâm bị vỡ (8-1957), Chính phủ Trung Quốc quyết định tặng Việt Nam số hàng lương thực, thực phẩm, vải, thuốc chữa bệnh trị giá 30 vạn nhân dân tệ. Từ năm 1955 đến năm 1959, Trung Quốc viện trợ kinh tế cho Việt Nam 640 triệu nhân dân tệ, cao nhất trong các nước viện trợ cho Việt Nam1 (Báo Nhân dân, ngày 28-9-1959). Trong 5 năm (1955-1961), Trung Quốc giúp Việt Nam khôi phục hệ thống đường sắt, bến tàu, tu sửa cầu đường, xây dựng nhà máy dệt, nhà máy thuộc da, nhà máy giấy... trị giá 1.224 tỉ đồng Việt Nam2 (Quân ủy Trung ương, Tổng hợp tình hình viện trợ và vay nợ từ 1955 đến 1966, Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, tr. 12). Từ năm 1955 đến năm 1963, viện trợ kinh tế của Trung Quốc chiếm gần 60% tổng số viện trợ kinh tế của các nước cho Việt Nam. Trong công nghiệp, Trung Quốc giúp khai khoáng, phát triển điện lực, chế biến nông phẩm, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng... Trong giao thông và bưu điện, Trung Quốc giúp khôi phục, xây dựng, sửa chữa toàn bộ các hệ thống giao thông đường sắt, đường thủy, đường bộ và bưu điện (xây lại đường sắt Hà Nội - Mục Nam Quan, cầu phủ Lạng Thương, cầu Việt Trì, cầu Ninh Bình). Những nhà máy, xí nghiệp đầu tiên của Việt Nam như: Nhà máy cao su Thượng Đình, Nhà máy bóng đèn, phích nước Rạng Đông, Nhà máy gang thép Thái Nguyên, Nhà máy hóa chất Việt Trì... đều là những nhà máy do Trung Quốc giúp đỡ xây dựng. Thiết bị của Trung Quốc có một vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc... của Việt Nam. Nhờ có sự giúp đỡ này, đến những năm 1960, miền Bắc có thể sản xuất được hầu hết các sản phẩm công nghiệp quan trọng, đáp ứng một phần về nhu cầu tư liệu sản xuất, trang thiết bị. Trong 10 năm (1954-1964), Chính phủ Trung Quốc giúp Việt Nam vốn khôi phục hệ thống đường sắt, bến tàu, tu sửa cầu đường, xây dựng nhà máy dệt, nhà máy thuộc da, nhà máy giấy, một số nông trường... trị giá 900 triệu nhân dân tệ1 (Tổ nghiên cứu về Trung Quốc, Sự ủng hộ và chi viện của Trung Quốc cho Việt Nam, Phông Ban đối ngoại Trung ương 1958-1991, đơn vị bảo quản Số 1417) (số tiền này tương ứng với 139.500.000.000 đồng ngân hàng Việt Nam), còn viện trợ kinh tế của Trung Quốc cho Việt Nam những năm này là 1.100.000 nhân dân tệ để xây dựng gần 100 công trình lớn nhỏ2 (Quân ủy Trung ương, Tổng hợp tình hình viện trợ và vay nợ từ 1955 đến 1966, Tlđd, tr. 12). Những năm 1965-1968, Trung Quốc viện trợ và cho Việt Nam vay nợ tất cả là 1.345 triệu nhân dân tệ và 85 triệu rúp3 (Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế trong năm 1969, Tlđd, tr. 9-13). Trong vòng 10 năm (1965-1975), "Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam 4,847 triệu tấn lương thực, 262 triệu mét vải, 89,1 nghìn tấn bông, 81,05 nghìn tấn sợi, 625,67 nghìn tấn sắt thép, 1,774 triệu tấn xăng, dầu mỡ các loại, 2.510 toa xe lửa, 32.496 chiếc ô tô, 1.400 chiếc máy ủi..."4 (Bùi Thanh Sơn, "50 năm quan hệ Việt - Trung", Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 32-2000, tr.15). Tính chung từ đầu năm 1955 đến tháng 2-1971, Trung Quốc đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam 6.447 triệu nhân dân tệ và 10 triệu rúp, cho vay dài hạn không lấy lãi là 300 triệu nhân dân tệ và 227 triệu rúp; tổng số tất cả quy theo rúp là 1.775 triệu rúp5 (Báo cáo của Phủ Thủ tướng về tình hình Trung Quốc viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam từ năm 1955 đến tháng 2-1971, hồ sơ số 8767, tr.1). So với tổng số viện trợ và cho vay dài hạn của các nước cho Việt Nam, Trung Quốc chiếm 46%, riêng viện trợ không hoàn lại chiếm đến 71%6 (Báo cáo của Phủ Thủ tướng về tình hình Trung Quốc viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam từ năm 1955 đến tháng 2-1971, hồ sơ số 8767, tr.1) và phần lớn số viện trợ này tập trung trong giai đoạn 1966-1968. Đầu những năm 60 (XX), Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đề nghị Trung Quốc về viện trợ ngoại tệ bằng USD. Viện trợ bằng ngoại tệ của Trung Quốc cho miền Nam từ năm 1964 đến năm 1975 là 626.042.653.52 USD/tổng số 678.701.874.36 USD viện trợ của chính phủ, nhân dân và các tổ chức quốc tế cho Việt Nam1 (Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1955-1975, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005, t.2, tr.1.105). Trung Quốc tích cực giúp Việt Nam đào tạo nhân lực. Từ năm 1951 đến năm 1958, Trung Quốc nhận đào tạo cho Việt Nam 1.200 lưu học sinh. Trong 4 năm, từ năm 1955 đến năm 1958, Trung Quốc nhận 3.300 cán bộ Việt Nam sang thực tập2 (Tóm tắt quan hệ kinh tế và hợp tác khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc Việt Nam (1955) đến nay (9-1964), Tlđd, tr.4, 5). Tính chung những năm 1954-1964, Trung Quốc tiếp nhận 4.755 cán bộ, công nhân Việt Nam sang Trung Quốc khảo sát, thực tập, học tập ở hầu hết các ngành kinh tế, kỹ thuật, văn hoá, nhất là các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ3 (Tóm tắt quan hệ kinh tế và hợp tác khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc Việt Nam (1955) đến nay (9-1964), Tlđd, tr.4, 5). Trung Quốc đào tạo nhân lực cho Việt Nam chủ yếu đến trước năm 1965, từ năm 1965 và 10 năm sau đó do Trung Quốc tiến hành Cách mạng văn hóa nên hầu như không nhận đào tạo cán bộ, học sinh nước ngoài. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Sáu, 2026, 09:23:33 pm Về viện trợ quân sự, từ năm 1955 đến năm 1964, toàn bộ viện trợ quân sự không hoàn lại của Trung Quốc cho Việt Nam vào khoảng 42.219 tấn, trị giá 382.004.000 nhân dân tệ, trong đó viện trợ năm sau thường cao hơn năm trước4 (Những năm 1954-1964, viện trợ quân sự không hoàn lại của Trung Quốc cho Việt Nam có khối lượng và trị giá như sau: Năm 1955 là 6.546 tấn, trị giá 23.316.000 nhân dân tệ; năm 1956 là 1.380 tấn, trị giá 14.423.000 nhân dân tệ năm 1957 là 4.019 tấn, trị giá 22.682.000 nhân dân tệ; năm 1958 là 4.410 tấn, trị giá 39.336.000 nhân dân tệ; năm 1959 là 1.672 tấn, trị giá 25.608.000 nhân dân tệ; năm 1960 là 1.562 tấn, trị giá 18.898.000 nhân dân tệ; năm 1961 là 6.234 tấn, trị giá 30.276.000; năm 1962 là 2.717 tấn, trị giá 44.332.000 nhân dân tệ; năm 1963 là 3.538 tấn, trị giá 40.150.000 nhân dân tệ; năm 1964 là 10.141 tấn, trị giá 122.983.000 nhân dân tệ (Bộ Tổng Tham mưu, Tổng hợp giá trị, trọng lượng, chủng loại trang bị quân sự và vật tư hậu cần của Trung Quốc viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam từ năm 1950 đến năm 1975, tờ số 1-2]) và năm 1964 là năm có giá trị viện trợ lớn nhất: 10.141 tấn tương đương 122.983.000 nhân dân tệ1 (Những năm 1954-1964, viện trợ quân sự không hoàn lại của Trung Quốc cho Việt Nam có khối lượng và trị giá như sau: Năm 1955 là 6.546 tấn, trị giá 23.316.000 nhân dân tệ; năm 1956 là 1.380 tấn, trị giá 14.423.000 nhân dân tệ năm 1957 là 4.019 tấn, trị giá 22.682.000 nhân dân tệ; năm 1958 là 4.410 tấn, trị giá 39.336.000 nhân dân tệ; năm 1959 là 1.672 tấn, trị giá 25.608.000 nhân dân tệ; năm 1960 là 1.562 tấn, trị giá 18.898.000 nhân dân tệ; năm 1961 là 6.234 tấn, trị giá 30.276.000; năm 1962 là 2.717 tấn, trị giá 44.332.000 nhân dân tệ; năm 1963 là 3.538 tấn, trị giá 40.150.000 nhân dân tệ; năm 1964 là 10.141 tấn, trị giá 122.983.000 nhân dân tệ (Bộ Tổng Tham mưu, Tổng hợp giá trị, trọng lượng, chủng loại trang bị quân sự và vật tư hậu cần của Trung Quốc viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam từ năm 1950 đến năm 1975, tờ số 1-2]). Từ năm 1965 đến năm 1975, Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam 1.552.153 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, trị giá 5.008 triệu nhân dân tệ (không kể các khoản chuyển sang đường viện trợ kinh tế)2 (Tài liệu lưu trữ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, hồ sơ số 795, tờ số 15). Năm 1972, tuy đón R.Nixon sang thăm, song Trung Quốc giải quyết phần lớn yêu cầu viện trợ bổ sung của Việt Nam.
Toàn bộ những năm 1955-1975, viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam là 1.594.372 tấn hàng hoá các loại với trị giá ước đạt khoảng 5.390.004.0003 (Một thống kê khác của các cơ quan chức năng Việt Nam cho con số là - 1.610.930 tấn hàng hoá các loại với trị giá ước đạt khoảng 5.660.025.000 đồng nhân dân tệ. Con số thống kê có sự chênh lệch song không lớn) nhân dân tệ. Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam chủ yếu là vũ khí, trang bị bộ binh, máy bay chiến đấu, tàu hải quân, xưởng sản xuất, sửa chữa và vật tư hậu cần... Tuy không phải là quốc gia hàng đầu trong phe xã hội chủ nghĩa về sản xuất vũ khí, khí tài nhưng trước những yêu cầu viện trợ quân sự của Việt Nam, Trung Quốc đều cố gắng đáp ứng. Ngoài chi viện vũ khí, khí tài, vật tư hậu cần, trang thiết bị quân sự, Trung Quốc còn giúp Việt Nam xây dựng các công trình quân sự. Nếu như trước năm 1965, Trung Quốc chủ yếu giúp xây dựng các xưởng sửa chữa pháo - khí tài quang học, xưởng sửa chữa đạn dược, cơ sở sản xuất vũ khí theo dây chuyền..., thì từ sau năm 1965, Trung Quốc tập trung giúp xây dựng các công trình quân sự tối tân hơn như xưởng đúc vỏ đạn cối, xưởng sản xuất đạn B40, lựu đạn chống tăng, xưởng sản xuất ông nổ đạn cối, ngòi nổ đạn cối, xưởng sửa chữa súng trung đại liên1 (Tài liệu lưu trữ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông Bộ Quốc phòng, hồ sơ 1.112, tờ 01-40). Ngoài viện trợ súng đạn, trang thiết bị vũ khí, khí tài, Trung Quốc còn cử bộ đội sang sửa chữa đường giao thông và chiến đấu tại Việt Nam. Ngày 5-6-1965, bộ đội công binh, đường sắt, tên lửa, pháo cao xạ, hậu cần, quét ngư lôi... chi viện cho Việt Nam đã bí mật có mặt - đó là các sư đoàn (chi đội) 1, 4, 5, 6, gồm 10 vạn người, tổ chức thành 22 trung đoàn2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 427-428). Ngày 20-7-1965, hai sư đoàn pháo cao xạ Trung Quốc vào Việt Nam chiến đấu với danh nghĩa bộ đội tình nguyện, nhưng thực chất đó là lực lượng hiệp đồng chiến đấu. Nhiệm vụ của các đơn vị này là giúp bảo vệ hai trục đường sắt từ Đáp Cầu lên Hữu Nghị Quan và từ Tiên Kiên lên Lào Cai. Ngày 16-10-1965, bộ đội thông tin Trung Quốc tới Việt Nam giúp xây dựng 15 tuyến đường dây cáp dưới biển3 (Lực lượng này sang theo Hiệp định bổ sung ký ngày 24-1-1965, xây dựng tuyến cáp trên các tuyến Tiên Giao - Cát Bà, Mông Dương - Trà Bản, Trà Bản - Do La, Do La - Phượng Hoàng, Vạn Hoa - Cái Lim, Mông Dương - Tài Xá, Mũi Chùa - Cái Bàu, Cát Hải - Phù Long, Cái Lim - Ba Mùn, Ba Mùn - Cô Tô, Cô Tô - Thanh Lân, Ba Mùn - Quan Lạn, Hòn Gai - Bãi Cháy, Trà Bản - Quan Lạn, Quảng Yên - Cát Hải. Công trình được hoàn thành ngày 22-3-1966) và xây dựng hệ thống đường dây thông tin ở 11 đảo, đất liền4 (Ở các địa điểm: Cát Bà, Cô Tô, Thanh Lân, Do La, Phượng Hoàng, Quan Lạn, Cái Lim, Ba Mùn, Trà Bản, Vạn Hoa, Mũi Chùa. Công trình được bàn giao ngày 30-8-1966). Đến tháng 12-1968, tổng số bộ đội Trung Quốc sang giúp Việt Nam là 310.011 người5 (Bộ đội Trung Quốc sang giúp Việt Nam chịu nhiều thương vong, tổn thất. Theo số liệu chưa đầy đủ, đến cuối năm 1966, đã có tất cả 220 người hy sinh (62 vì tai nạn, 158 vì bom, bị thương 399, đa số vì máy bay), gồm bộ đội cao xạ1 (Từ tháng 10-1966 đến ngày 15-3-1967, bộ đội cao xạ Trung Quốc đã đánh 91 trận, bắn rơi 75 máy bay (Việt Nam công nhận 16 chiếc), hy sinh 89 người, bị thương 224 người, tiêu thụ hết 373.450 viên đạn pháo các loại. Tổng số bộ đội Trung Quốc giúp Việt Nam tại năm 1967 là 158.188 người), xây dựng công trình, làm đường sắt2 (Từ tháng 10-1966 đến ngày 15-3-1967, bộ đội Trung Quốc làm đường sắt hy sinh 81 người (63 bị máy bay oanh tạc, 18 người bị tai nạn giao thông), bị thương 125 người) và đường bộ3 (Từ tháng 10-1966 đến ngày 15-3-1967, bộ đội làm đường bộ hy sinh 139 người (44 người bị tai nạn lao động, 16 người bị ốm chết, 79 người khác bị máy bay oanh tạc), 274 người bị thương), trong đó 198.686 người đã rút dần về nước sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Bộ đội Trung Quốc tham gia chiến đấu 1.659 trận, bắn rơi 126 máy bay4 (Viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam trong chiến tranh Việt - Mỹ (tiếng Trung), www. gscn.com.cn). Về đào tạo nguồn lực quân sự, theo thống kê của Trung Quốc, Trung Quốc đã bồi dưỡng huấn luyện được 1.112 nhân viên không quân các loại, trong đó có hơn 200 là phi công và thợ máy5 (Quách Minh (chủ biên), Diễn biến quan hệ Trung - Việt trong 40 năm qua, Nxb Nhân dân Quảng Tây, tủ sách Đông Nam Á, 1992, bản dịch, lưu tại Thư viện Quân đội, Hà Nội, tr. 69). Sự ủng hộ toàn diện của Trung Quốc tiếp thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến của quân và dân Việt Nam. Về sự giúp đỡ mà Đảng và nhân dân Trung Quốc giành cho nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh đã viết: "Sự ủng hộ kịp thời, kiên quyết và đầy nhiệt tình của nhân dân Trung Quốc anh em, của Chính phủ, các đoàn thể, các đảng phái dân chủ và các nhân sĩ dân chủ ở Trung Quốc là biểu hiện cao quý nhất của một tình đoàn kết chiến đấu anh em ruột thịt giữa nhân dân hai nước chúng ta"6 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 386) - đó là "một cổ vũ hết sức to lớn đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa và tất thắng của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Sđd, tr. 386). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Sáu, 2026, 09:25:35 pm 3. Tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa khác
Cùng với Liên Xô và Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam. Đảng, Chính phủ các nước Ba Lan, Hungary, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Cộng hòa Dân chủ Đức, Cuba... đều khẳng định lập trường ủng hộ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do. Việt Nam tích cực tăng cường quan hệ, phối hợp hành động trên trường quốc tế và luôn nhận được sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả từ nhiều nước xã hội chủ nghĩa. Ở Hungary có phong trào hiến máu cho Việt Nam, phong trào tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu, phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam. Năm 1965, ở Bulgaria có 245 cuộc mít tinh lớn nhỏ của quần chúng ủng hộ Việt Nam (có cuộc lên tối 10.000 người tham dự). Bulgaria tổ chức "tuần lễ ba châu ủng hộ Việt Nam", tuyên bố sẵn sàng gửi quân tinh nguyện sang Việt Nam nếu Chính phủ Việt Nam yêu cầu. Cuba có sáng kiến "vì Việt Nam, nhân dân Cuba sẵn sàng hiến máu", Chính phủ Cuba sẵn sàng gửi quân tình nguyện sang Việt Nam; thành lập tổ chức Ủy ban điều tra tội ác Mỹ ở Việt Nam; thành lập Ủy ban ba châu đoàn kết với nhân dân Việt Nam, lấy năm 1967 là "năm Việt Nam anh hùng", Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam kết hợp với Ủy ban ba châu đoàn kết với nhân dân Việt Nam và Ủy ban Thanh niên châu Mỹ Latinh đoàn kết với Việt Nam liên tiếp tổ chức nhiều tuần lễ và tháng ủng hộ Việt Nam, tổ chức mít tinh, triển lãm, chiếu phim, thảo luận học tập gương chiến đấu anh dũng của nhân dân Việt Nam khắp cả nước. Những hoạt động như thế đã góp phần hình thành một mặt trận rộng lớn ủng hộ Việt Nam, tăng cường vị thế, sức mạnh chính trị cho cuộc kháng chiến chống Mỹ nhanh đi tới thắng lợi. Trên các mặt hợp tác, giúp đỡ về văn hóa - giáo dục - y tế, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bulgaria, Hungary, Cộng hòa Dân chủ Đức... luôn tạo những điều kiện thuận lợi mở rộng, phát triển các chương trình hợp tác về văn hóa, giúp đào tạo cán bộ chuyên môn và cử chuyên gia sang giúp Việt Nam. Việt Nam ký kết các hiệp định kinh tế với nhiều nước xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ kinh tế - thương mại và giúp đỡ viện trợ: Ngày 17-9-1956, Việt Nam và Hungary ký kết Hiệp định thương mại năm 1956; tháng 3-1956, Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Đức ký Quy chế về hợp tác khoa học kỹ thuật, tháng 8-1958, hai bên ký tiếp bản Điều kiện chung về hợp tác khoa học kỹ thuật; ngày 25-6-1961, Việt Nam và Mông Cổ ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt - Mông... Quan hệ buôn bán mậu dịch giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa không ngừng phát triển. Năm 1956, kim ngạch mậu dịch giữa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Đức là 10 triệu rúp, năm 1957 tăng lên 28,4 triệu rúp, đến năm 1960 tiếp tục tăng lên 66 triệu rúp1 (Ban Đối ngoại Trung ương, Quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Dân chủ Đức, Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng, 1975, tr. 5). Kim ngạch mậu dịch giữa Việt Nam với Hunggari cũng tăng mạnh, năm 1956 mới chỉ là 771.948 rúp, nhưng tới năm 1959 đã tăng lên 3.309.885 rúp, năm 1964 tăng lên 5.849.000 rúp1 (Ban Đối ngoại Trung ương, Quan hệ Việt Nam - Hunggari, Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng, 1975, tr. 15). Với Mông Cổ, kim ngạch cũng từng bước gia tăng, nếu như năm 1957 tổng kim ngạch mới chỉ là 71.989 rúp thì tới năm 1962 đã tăng lên 1.001.200 rúp và năm 1965 tăng lên 1.343.000 rúp2 (Ban Đối ngoại Trung ương, Quan hệ Việt Nam - Mông Cổ, Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng, 1975, tr. 5). Trong quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, cơ cấu xuất nhập trao đối với hai nước Liên Xô và Trung Quốc là lớn nhất, hàng năm lên tới hàng trăm triệu rúp. Những năm 1965-1968, quan hệ giao lưu buôn bán giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục được đẩy mạnh, tuy nhiên, do chiến tranh phá hoại nên nguồn hàng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước không ổn định. Nếu như năm 1965, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước xã hội chủ nghĩa đạt 72.893.000 rúp, thì năm 1966 tụt xuống còn 58.910.000 rúp, năm 1967 tiếp tục tụt xuống 52.460.000 rúp; trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam lại từng năm tăng lên: Nếu năm 1965, tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đạt 222.305.000 rúp, thì năm 1966 tăng lên 339.890.000 rúp, năm 1967 tiếp tục tăng lên 389.500.000 rúp3 (Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế trong năm 1969, Tlđd, tr.9-13). Những năm 1954-1964, nếu tính chung tổng viện trợ kinh tế và vay nợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam (theo thống kê chưa đầy đủ của phía Việt Nam) lên tới trên 551.981.000 rúp mới và 1.100.000 nhân dân tệ, 45 triệu zloty (tiền Ba Lan), 3.162.000 đồng ngân hàng Việt Nam1 (Quân ủy Trung ương, Tổng hợp tình hình viện trợ và vay nợ từ năm 1955 đến năm 1966, Tlđd, tr.12)... Trong tổng số tiền này, Liên Xô và Trung Quốc là hai quốc gia giúp đỡ Việt Nam nhiều nhất. Tổng số viện trợ và cho vay nợ của Liên Xô cho Việt Nam lên tới gần 400 triệu rúp mới để nhập thiết bị, hàng hóa các loại, xây dựng một số công trình. Trung Quốc giúp Việt Nam 1.100.000 nhân dân tệ để xây dựng gần 100 công trình lớn nhỏ. Cộng hòa Dân chủ Đức viện trợ 13.500.000 rúp; Tiệp Khắc viện trợ 7.875.000 rúp và cho vay 10.225.000 rúp để hợp tác thăm dò và trả nợ nhập siêu; Rumania (Rumani) viện trợ 3.375.000 rúp và cho vay 37.431.000 rúp để mở rộng Nhà máy xi măng Hải Phòng, hợp tác khai mỏ; Hungary viện trợ 8.000.000 rúp cũ (tương đương 1,8 triệu rúp mới) và cho vay 9.000.000 rúp; Ba Lan viện trợ 45 triệu zloty và cho vay 20 triệu rúp cũ và 7 triệu rúp mới để xây dựng Nhà máy đường Vạn Điểm, mở rộng Nhà máy xe lửa Gia Lâm; Bulgaria viện trợ cho Việt Nam 3.162.000 đồng ngân hàng Việt Nam để xây dựng các xưởng rau quả, ướp lạnh, cơ khí địa phương...2 (Quân ủy Trung ương, Tổng hợp tình hình viện trợ và vay nợ từ năm 1955 đến năm 1966, Tlđd, tr.12). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Sáu, 2026, 09:28:10 pm Sau chuyến đi thăm Mông cổ của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1955, theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Mông cổ, Mông Cổ giúp 500 tấn thịt và một số bò và cừu để lập một nông trường chăn nuôi3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Sđd, tr.29). Tháng 8 năm 1959, đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Mông Cổ do ông Yumzhagiên Tsedenbal (Y. Tòxêđênban) dẫn đầu sang thăm Việt Nam. Trong chuyến thăm, đoàn tuyên bố viện trợ cho Việt Nam 10 vạn gia súc trong vòng 10 năm (1959-1969)4 (Ban Đối ngoại Trung ương, Tinh hình quan hệ Việt Nam và Liên Xô từ ngày hòa bình lập lại (1954-1960), Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng, 1960, tr. 5).
Những năm 1965-1968, tính chung tổng số viện trợ và cho Việt Nam vay nợ của 12 nước trong phe xã hội chủ nghĩa lên tới 852,280 triệu rúp và 1.345 triệu nhân dân tệ1 (Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế trong năm 1969, Tài liệu lưu trữ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, 1969, tr. 9-13). Trong số đó, Liên Xô: 405,9 triệu rúp; Trung Quốc: 1.345 triệu nhân dân tệ và 85 triệu rúp; Cộng hòa Dân chủ Đức: 91 triệu rúp; Tiệp Khắc: 41,38 triệu rúp; Triều Tiên: 33,5 triệu rúp; Albania: 6,1 triệu rúp; Ba Lan: 65,8 triệu rúp; Hungary: 38,8 triệu rúp; Rumania: 52,35 triệu rúp; Bulgaria: 21,5 triệu rúp; Mông Cổ: 4,05 triệu rúp: Cuba: 13,40 triệu rúp2 (Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế trong năm 1969, Tài liệu lưu trữ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, 1969, tr. 9-13). Năm 1968, quân và dân Việt Nam thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, các nước xã hội chủ nghĩa đã chi viện cấp tốc cho Việt Nam 335 triệu rúp3 (Các thiết bị, vật tư chủ yếu quy thành tiền như sau: Lương thực trị giá 53 triệu rúp, thực phẩm 23 triệu rúp, thuốc chữa bệnh 12 triệu rúp, hàng tiêu dùng 42 triệu rúp, nguyên - nhiên - vật liệu trị giá 100 triệu rúp, dụng cụ và phụ tùng các loại trị giá 52 triệu rúp, thiết bị lẻ trị giá 87 triệu rúp, thiết bị toàn bộ trị giá 101 triệu rúp. Các mặt hàng viện trợ gồm: 250.000 tấn gạo tẻ, 172.000 tấn ngô, 207.000 tấn bột mì, 2.340 tấn thịt và cá hộp, 12 triệu rúp tiền thuốc, 3.800 tấn giấy viết, 6.600 tấn giấy báo, 45 triệu mét vải, 255.000 tấn xăng ô tô và dầu diezen. 21.000 tấn mỡ máy, 10 triệu rúp phụ tùng ô tô, 5.200 xe vận tải, 850 động cơ ô tô, 145 xe cần trục, 60.000 bộ săm lốp ô tô, 923 máy kéo. 900.000 rúp máy nông nghiệp các loại, 1.2 triệu rúp giống cây trồng, 380.000 rúp giống súc vật và cơ sở chăn nuôi, 35 triệu thiết bị công nghiệp địa phương và công nghiệp nhẹ (Nguồn: Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế trong năm 1969, Tlđd, tr.13)) (Triều Tiên giúp 13,4 triệu rúp, Mông Cổ giúp 1,3 triệu rúp, Cộng hòa Dân chủ Đức giúp 43 triệu rúp, Ba Lan giúp 31 triệu rúp, Hungary giúp 17,5 triệu rúp, Rumania giúp 22,6 triệu rúp, Tiệp Khắc giúp 16,5 triệu rúp, Bulgaria giúp 10,2 triệu rúp, Albania giúp 2,4 triệu rúp, Cuba giúp 8,7 triệu rúp)4 (Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế trong năm 1969, Tài liệu lưu trữ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, 1969, tr. 9-13). Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, theo yêu cầu của Việt Nam, bên cạnh các thỏa thuận đã ký kết trước đây, các nước xã hội chủ nghĩa đồng ý viện trợ bổ sung cho Việt Nam 37,8 triệu rúp vật tư hậu cần các loại1 (Các mặt hàng viện trợ bổ sung cho Việt Nam của các nước xã hội chủ nghĩa sau Tết Mậu Thân năm 1968 gồm: 30.000 tấn gạo, 70.000 tấn ngô, 100.000 tấn bột mì, 55.000 tấn xăng dầu (Liên Xô: 50.000 tấn, Rumania: 5.000 tấn), 33.000 tấn dầu diezen (Liên Xô: 30.000 tấn, Rumania: 3.000 tấn), 5.000 tấn dầu mỡ máy (Liên Xô), 1.230 tấn thịt, cá, rau hộp (Trung Quốc: 1.000 tấn, Hungary: 200 tấn, Ba Lan: 30 tấn), 50 tấn mì chính (Trung Quốc: 30 tấn, Cộng hòa Dân chủ Đức: 20 tấn), 400 tấn rau muối và bột đậu phụ, 100 tấn sữa bột (Ba Lan). Thuốc men và dụng cụ y khoa gồm: Tân dược (300.000 nhân dân tệ của Trung Quốc), 26 triệu viên đa sinh tố (Liên Xô: 15 triệu, Cộng hòa Dân chủ Đức: 10 triệu, Ba Lan: 1 triệu), 50.000 ống đôlagăng (Hungary), 150.000 tuýp phinơgăng (Hungary), 1.000 lọ huyết thanh (Ba Lan), 15.000 lọ ete (Liên Xô), 5kg prômêđôn (Liên Xô), 50.000 viên brêmít (Liên Xô), 100.000 ống moócphin (Liên Xô), 80 bộ đồ phẫu thuật các loại (Liên Xô), 30 bộ kính hiển vi xách tay (Liên Xô), ba bộ máy X.quang xách tay (Liên Xô), 3.000 bộ truyền máu (Ba Lan). Hàng tiêu dùng gồm: 5.100.000 mét vải bông (Trung Quốc: 5.000.000m, Ba Lan: 100.000m). 1.730.000 mét vải bạt và nhựa, 400.000 đôi giày, dép. Phương tiện vận tải gồm: 575 ô tô vận tải các loại (Liên Xô: 250 chiếc, Cộng hòa Dân chủ Đức: 200 chiếc, Ba Lan: 100 chiếc, Tiệp Khắc: 25 chiếc), 20 máy kéo (Liên Xô), 20 xe sửa chữa lưu động (Liên Xô), 80 máy thi công làm đường sắt (Liên Xô), 200 chiếc búa khoan đã (Liên Xô), 10 máy nén khí (Liên Xô), 22.000 bộ săm lốp ô tô, 10 ô tô cứu thương (Liên Xô), 15 ô tô cần trục (Liên Xô: 10 chiếc, Tiệp Khắc: 5 chiếc), 52 ô tô côngtennơ (Liên Xô: 30 chiếc, Ba Lan: 20 chiếc, Tiệp Khắc: 2 chiếc), 2.050.000 rúp phụ tùng ô tô (Liên Xô: 1,5 triệu rúp, Cộng hòa Dân chủ Đức: 200.000 rúp, Ba Lan: 50.000 rúp, Tiệp Khắc: 200.000 rúp, Hungary: 100.000 rúp). Thiết bị thông tin và truyền thanh gồm: 115 máy thu phát các loại, 120 máy (truyền chữ, tách sóng và lọc sóng), 40 máy phát điện quay tay, 374 bộ (dụng cụ, ăngten, bộ sửa). Vật liệu công binh gồm: 25 tấn thuốc nổ plastic, 4 triệu kíp mìn số 8, 1 triệu kíp điện số 8, 1,9m dây cháy chậm, 1,5 triệu mét dây truyền nổ, 2.200 chiếc rìu chặt tay, cưa tay (Nguồn: Bộ Quốc phòng, Báo cáo kết quả đàm phán về viện trợ kinh tế gửi Bác và các anh trong Bộ Chính trị, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, 1968, tr.66)) (Liên Xô: 18 triệu rúp, Trung Quốc: 15 triệu rúp, Cộng hòa Dân chủ Đức: 2,6 triệu rúp, Tiệp Khắc: 510.000 rúp, Ba Lan: 800.000 rúp, Hungary: 570.000 rúp, Rumania: 290.000 rúp)2 (Bộ Quốc phòng, Báo cáo kết quả đàm phán về viện trợ kinh tế gửi Bác và các anh trong Bộ Chính trị, Tlđd, tr. 66). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Sáu, 2026, 09:29:15 pm Về quân sự, trong 10 năm (1954-1964), các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam tổng trọng lượng vật chất là 119.790 tấn, bao gồm vũ khí đạn dược, trang thiết bị đồng bộ, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ... Trong đó, từ năm 1955 đến năm 1960, Việt Nam nhận được tổng số 49.585 tấn, gồm: 4.105 tấn hàng hậu cần, 45.480 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; từ năm 1961 đến năm 1964, Việt Nam tiếp tục nhận được tổng số 70.295 tấn, gồm: 230 tấn hàng hậu cần, 70.065 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật (Liên Xô 47.223 tấn, Trung Quốc 22.982 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 442 tấn)1 (Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.588 - 589, 601). Các mặt hàng Việt Nam được viện trợ gồm một số loại chính sau: 415.584 súng bộ binh, 5.621 súng chống tăng, 2.542 súng cối, 24 pháo hỏa tiễn, 1.023 pháo mặt đất, 639 súng máy cao xạ, 1.024 pháo cao xạ, 32 máy bay chiến đấu, 46 tàu hải quân chiến đấu, 165 xe tăng các loại, 166 xe vỏ bọc thép, 552 xe xích kéo pháo, 4.760 ô tô vận tải và kéo pháo, 198 ô tô chuyên dùng khác, 201 xe máy công trình, 8.486 xe và máy vô tuyến điện, 19.134 máy tổng đài và tải ba điện thoại, 8.658km dây điện thoại dã chiến, 278.450 bộ quân trang đồng bộ, bảy bộ thiết bị toàn bộ...2 (Bộ Tổng Tham mưu, Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, sáu nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, 1975,tr. 11).
Từ năm 1965 đến đầu năm 1972, các nước xã hội chủ nghĩa (trừ Liên Xô, Trung Quốc) đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam giá trị khoảng 423 triệu rúp, chủ yếu là súng bộ binh, súng chống tăng B41, khí tài thông tin, xe xích kéo pháo, ô tô, vật tư công tác chính trị... trong đó Hungary 119,4 triệu rúp, Ba Lan 98 triệu rúp1 (Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông Bộ Quốc phòng, hồ sơ số 817)... Tháng 8-1966, Cuba cử đoàn cán bộ quân sự gồm 33 người, gồm bộ đội không quân, tên lửa, cao xạ, pháo binh, quân y... sang Việt Nam vừa giúp đỡ, vừa học hỏi kinh nghiệm chiến đấu; trong đợt công tác, sáu người đã hy sinh2 (А.В. Окороков, Секретные войны Советского Союза, Указ. Соч, C.198). Tháng 9-1966, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đề nghị gửi phi công sang Việt Nam chiến đấu. Hai nước đã ký Nghị định thư (30-9-1966) thỏa thuận nội dung hợp tác cụ thể3 (Sổ công tác của Đại tướng Văn Tiến Dũng, quyển 15, bản đánh máy, lưu tại Ban Tổng kết lịch sử, Bộ Tổng Tham mưu). Theo thỏa thuận, bộ đội không quân Triều Tiên sang Việt Nam ngày 20-10-1966 gồm 384 người (trong đó có 96 phi công), ngoài ra còn có 35 chuyên gia về địch vận và phát thanh4 (Tài liệu lưu trữ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông Bộ Quốc phòng, hồ sơ số 1.119). Bộ đội không quân Triều Tiên bắt đầu trực chiến từ ngày 15-12-1966, gồm 12 máy bay MiG-17c. Từ khi bắt đầu trực chiến cho đến cuối năm 1967, máy bay Triều Tiên đã cất cánh 736 lần/chiếc, đánh 29 trận với 106 lần/chiếc (có sáu lần sử dụng máy bay MiG-17c), bắn rơi 23 máy bay địch, tiêu hao 700 tấn dầu; 10 phi công đã hy sinh anh dũng (có tám người hy sinh do chiến đấu trên không); bị bắn rơi 10 máy bay, bị đánh hỏng 23 máy bay ở mặt đất (sáu chiếc hỏng hoàn toàn)5 (Sổ công tác của Đại tướng Văn Tiến Dũng, quyển 20, số 59/CT, Tlđd). Đến tháng 1-1968, tổng số bộ đội Triều Tiên ở miền Bắc Việt Nam còn lại 185 người (trong đó có 46 phi công)6 (Sổ công tác của Đại tướng Văn Tiến Dũng, quyển 17, số 59/CT, Tlđd). Đến tháng 12-1968, đã thay quân 5 lần, còn lại 159 người (31 phi công), đã bắn rơi tất cả 26 máy bay Mỹ, 12 người hy sinh (hai trường hợp không trong chiến đấu), bị hỏng 43 máy bay (25 chiếc bị hỏng hoàn toàn)1 (Sổ công tác của Đại tướng Văn Tiến Dũng, quyển 20, số 59/CT, Tlđd). Những người đã ngã xuống được an táng tại khu đồi rừng Hoàng (xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang). Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Sáu, 2026, 07:42:27 pm II- TRANH THỦ SỰ ỦNG HỘ CỦA CÁC LỰC LƯỢNG DÂN CHỦ, HÒA BÌNH THẾ GIỚI
1- Xây dựng liên minh đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương Trên bán đảo Đông Dương, quá trình xây dựng và phát triển của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia có đặc điểm nổi bật là nếu một quốc gia bị xâm lược, thì dù sớm hay muộn hai quốc gia còn lại cũng khó tránh khỏi sự đô hộ của lực lượng xâm lược ấy - đó là một trong những lý do căn bản, quan trọng hình thành nên liên minh đoàn kết, chiến đấu giữa ba dân tộc. Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam có môi liên quan chặt chẽ đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, vì Mỹ tiến hành một "chiến lược khu vực" đối với cả ba nước. Phát huy truyền thống láng giềng đã gắn bó từ xa xưa về lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội, quốc phòng, kế thừa và phát triển truyền thống đoàn kết chống thực dân Pháp, trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhân dân Việt Nam đã chủ động xây dựng liên minh đoàn kết chiến đấu với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia. Liên minh đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương xây dựng trên nguyên tắc: Việc giải phóng và bảo vệ đất nước là sự nghiệp của nhân dân mỗi nước, song nhân dân ba nước Đông Dương quyết hết lòng, hết sức giúp nhau chiến đấu, phối hợp chiến đấu để sức mạnh tổng hợp của nhân dân ba nước được nhân lên gấp bội. Trong kháng chiến, nhân dân Việt Nam đã có những đóng góp to lớn để giúp Lào, Campuchia, cũng như nhân dân hai nước Lào, Campuchia đã hết lòng giúp đỡ Việt Nam. Thắng lợi chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam cũng là thành quả chung của ba nước Đông Dương. Đó là kết quả của liên minh chiến đấu giữa nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia. Triển khai các kế hoạch ở Đông Nam Á, đối với ba nước Đông Dương, Mỹ đã triển khai các chiến lược liên quan chặt chẽ với nhau: Một là, cùng một lúc đưa quân vào cả ba nước với các biện pháp chiến lược khác nhau tuỳ theo tình hình, đặc điểm ở từng nước, với những thời gian thích hợp; hai là, triệt để lợi dụng vấn đề khác biệt dân tộc, vấn đề tôn giáo, các mối quan hệ lịch sử cũ để lại, ra sức chia rẽ, chia cắt, cô lập từng nước; ba là, dùng lãnh thổ nước này làm bàn đạp để thực hiện các mưu tính chính trị và các kế hoạch quân sự, ngăn cản sự chi viện, hỗ trợ phối hợp lẫn nhau giữa ba nước. Những chủ trương chiến lược của Mỹ được tiến hành đồng bộ, đan xen và thường xuyên được rút kinh nghiệm bổ sung cho phù hợp với thời gian và không gian ở từng nước. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Pháp chiếm đóng cả ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, đặt ba nước dưới một chế độ cai trị chung, xem Việt Nam, Lào, Campuchia là những vùng lãnh thổ trong một Đông Dương thuộc địa. Do đó, ba dân tộc đã đoàn kết, liên minh chiến đấu dưới sự lãnh đạo của một Đảng chung và từ năm 1951, mỗi nước đã có mặt trận thống nhất dân tộc hoạt động theo cương lĩnh của mình. Sau Hiệp định Geneva, mỗi nước đã độc lập, có chủ quyền, được thế giới thừa nhận về pháp lý, có đường lối chính sách riêng. Cuộc vận động cách mạng trong từng nước cũng do từng Đảng tiến hành theo cương lĩnh của mình có sự phối hợp chung giữa ba đảng. Đặc biệt, sau Hiệp định Geneva, tuy nhân dân ba nước đều giành được thắng lợi, nhưng mức độ có khác nhau. Việt Nam giải phóng được nửa nước, miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, hoà nhập vào hệ thống xã hội chủ nghĩa, có điều kiện quan hệ rộng rãi với chính phủ và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới. Đó là tiền đề, là gốc rễ cho mọi thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau này. Lào có vùng tập kết, Đảng, lực lượng vũ trang và các tổ chức cách mạng được thừa nhận là một lực lượng, một đối trọng để tiến tới tổng tuyển cử thành lập chính phủ liên hiệp. Campuchia được công nhận độc lập, nhưng Đảng, lực lượng vũ trang và các tổ chức kháng chiến trước đây không được thừa nhận; do đó, tình hình Campuchia chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp. Như vậy, rõ ràng các nước trên bán đảo Đông Dương khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đều ở trong tình hình phức tạp hơn trước; tuy nhiên, nhân dân ba nước đều có nguyện vọng, có yêu cầu chung là cùng nhau bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước. Xu thế tất yếu là nhân dân ba nước cần đoàn kết, tạo một liên minh trong cuộc chiến đấu chung. Tình hình thực tế trên đặt ra cho Đảng Lao động Việt Nam là để thắng Mỹ phải đồng thời giải quyết hai nội dung cơ bản trong vấn đề liên minh, đoàn kết với nhân dân Đông Dương: Vấn đề cốt tử là phải tập hợp được lực lượng, phải đoàn kết liên minh với các nước láng giềng, cũng như tranh thủ sự đồng tình giúp đỡ chính phủ và nhân dân yêu hoà bình. Nhưng để đoàn kết, liên minh được trong tình hình mới, một mặt - mặt rất cơ bản, phải tranh thủ, kiên trì thực hiện bằng được đoàn kết liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia; mặt khác, phải tuỳ theo đối tượng, tuỳ theo lực lượng, tuỳ theo không gian, thời gian để chọn hình thức, nội dung, xác định nhiệm vụ đoàn kết, liên minh cho phù hợp. Sớm nhận rõ những vấn đề trên, Đảng Lao động Việt Nam chủ trương phát huy truyền thống đoàn kết trong kháng chiến chống thực dân Pháp của ba dân tộc; kiên trì đẩy mạnh sự nghiệp đoàn kết, liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia theo nguyên tắc luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của mỗi dân tộc, đồng thời giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, cùng nhau đoàn kết, liên minh chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia cho cả ba dân tộc. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Sáu, 2026, 07:43:40 pm Thực hiện chủ trương trên, Đảng Lao động Việt Nam đã sớm chủ động bàn bạc với Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Campuchia. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng sớm triển khai và tiếp xúc với Chính phủ Vương quốc Lào, Chính phủ Vương quốc Campuchia. Chủ trương trên đây của Đảng Lao động Việt Nam cùng với nỗ lực của chính phủ và nhân dân ba nước, nên mặc dù có những lúc thăng trầm nhưng nhìn chung, liên minh đoàn kết chiến đấu ba dân tộc Việt Nam - Lào - Campuchia hình thành trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp tục được bồi đắp, củng cố và phát triển trong những năm chống Mỹ, cứu nước. Nhân dân ba nước cùng dựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau, gắn bó thủy chung với nhau trong khó khăn, hoạn nạn. Chính phủ và Mặt trận của mỗi nước phối hợp với nhau về chính trị, ngoại giao.
Để biểu thị tình đoàn kết chống Mỹ, từ ngày 1 đến ngày 9 tháng 3 năm 1965, tại Phnôm Pênh, Hội nghị nhân dân Đông Dương đã được triệu tập. Hội nghị đã thông qua Nghị quyết cực lực lên án Mỹ chà đạp lên các hiệp định Geneva, gây ra cuộc chiến tranh đối với Việt Nam, can thiệp vũ trang vào Lào và tiến công khiêu khích Campuchia. Hội nghị nhấn mạnh sự cần thiết phải củng cố tình đoàn kết chân thành và bền vững của các dân tộc Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Tiếp sau Hội nghị quan trọng này, từ ngày 24 đến ngày 25-4-1970, những người đứng đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia đã họp Hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương. Hội nghị khẳng định: Trên đà thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở ba nước và trong tình hình nghiêm trọng hiện nay do sự can thiệp Mỹ gây ra, Hội nghị cấp cao của ba nước Đông Dương lần này là Hội nghị tăng cường đoàn kết, siết chặt hàng ngũ của nhân dân Campuchia, nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam để kiên trì và đẩy mạnh chiến đấu, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Hội nghị đã ra tuyên bố chung mang tính chất cương lĩnh đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương, đồng thời cũng là hiến chương về mối quan hệ giữa nhân dân ba nước trong cuộc đấu tranh chung. Bên cạnh việc tổ chức các hội nghị biểu thị mạnh mẽ ý chí đoàn kết giữa nhân dân ba nước trên đây, lực lượng vũ trang Việt Nam, Lào và Campuchia sát cánh chiến đấu, tạo ra thế chiến lược tiến công địch trên chiến trường ba nước, đánh bại từng kế hoạch, từng biện pháp chiến lược của địch trên chiến trường Đông Dương. Trong cuộc chiến đấu đó, miền Nam Việt Nam được xác định là chiến trường chính, miền Bắc Việt Nam vừa là chiến trường vừa là hậu phương, căn cứ địa của chiến trường miền Nam, chiến trường Lào và chiến trường Campuchia. Vì vậy, trong khi đẩy mạnh hoạt động trên chiến trường miền Nam, ở Lào, Việt Nam cùng Quân giải phóng Lào mở các chiến dịch và nhiều đợt hoạt động ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (1961, 1964, 1969, 1970, 1972), Nậm Thà (1962), Nậm Bạc (1968), đường 8, đường 12 (1963), đường 9 - Nam Lào (1971)... Ở Campuchia, khi 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn tràn qua biên giới, tiến sâu vào đất Campuchia, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam kịp thời nhận định: "Đông Dương đã trở nên một chiến trường thống nhất"1 (Điện của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục, Quân ủy Miền, ngày 30-4-1970) là đặc điểm mới trong cuộc chiến đấu chống Mỹ và chỉ rõ: "Đoàn kết chiến đấu với nhân dân Campuchia, cùng nhau chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, phối hợp chặt chẽ với bạn, làm thất bại âm mưu quân sự của địch trên chiến trường Campuchia, giữ vững và mở rộng cho được những địa bàn đứng chân của ta và căn cứ của bạn, bảo vệ tài sản và tính mệnh của nhân dân Campuchia và của Việt kiều, bảo đảm các đường giao thông chiến lược và các cơ sở hậu cần của ta"2 (Điện của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục, Quân ủy Miền, ngày 30-4-1970). Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, lực lượng vũ trang Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Lào, Campuchia đã mở cuộc phản công đánh bại cuộc hành quân của Mỹ và quân đội Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn năm tỉnh Đông Bắc Campuchia với hơn 4 triệu dân. Tiếp đó, lực lượng vũ trang Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Lào, Campuchia đánh bại các cuộc hành quân lớn của địch như Chenla I (1970), Toàn thắng (1971), Chenla II (1971). Vì vậy, qua gần 21 năm cùng hai nước láng giềng trên bán đảo Đông Dương tiến hành kháng chiến, đường lối nhất quán, nỗ lực thực hiện đoàn kết, liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia nhằm mục tiêu đánh thắng Mỹ, thực hiện giải phóng dân tộc là nét nổi bật trong quá trình đoàn kết, liên minh với hai dân tộc Lào, Campuchia. Tuy nhiên, do đặc điểm, điều kiện tình hình phát triển ở mỗi nước không giống nhau, do chủ trương chiến lược, biện pháp, bước đi của Mỹ đối với từng nước và lực lượng so sánh trực tiếp trên từng chiến trường khác nhau, một vấn đề lớn khác đặt ra với cả ba nước, đặc biệt đối với Việt Nam là trong quá trình đoàn kết, liên minh phải biết tìm kiếm, lựa chọn các hình thức, nội dung, mục tiêu phù hợp với từng giai đoạn, từng lực lượng, với từng nước khác nhau. Nếu không khéo lựa chọn các hình thức đoàn kết, liên minh phù hợp thì chủ trương đoàn kết liên minh mặc dầu đúng đắn, cần thiết vẫn gặp nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức trong quá trình thực hiện. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Sáu, 2026, 07:45:15 pm Đối với Lào, phát huy truyền thống đoàn kết, liên minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp, suốt hơn 21 năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ (1954-1975), hai Bộ Chính trị của hai Đảng thường xuyên hội đàm thống nhất đánh giá tình hình, vạch ra chiến lược chung, thống nhất phối hợp chiến trường và phân công chỉ đạo đấu tranh. Hình thức, nội dung liên minh vừa kế thừa những kinh nghiệm đã đạt được trong chống thực dân Pháp, vừa phát triển những nội dung mới, bao gồm nhiều lĩnh vực, đặc biệt tập trung trên các vấn đề chiến lược chủ yếu giúp xây dựng thực lực cách mạng, liên minh chiến đấu, phối hợp chiến trường, cùng nhau mở các chiến dịch, trao đổi học tập kinh nghiệm lẫn nhau,... Có thể nói, tình đoàn kết, liên minh với Lào đem lại hiệu quả cao cho cả hai bên, cũng như xây dựng nền móng vững chắc cho sự phát triển lâu dài về sau. Đây cũng là liên minh đoàn kết nổi trội, rõ nét, chi phối hơn cả so với liên minh với Campuchia.
Đi đôi với liên minh với Đảng Nhân dân Cách mạng của Lào là xuyên suốt, là nền tảng, thì trong các thời kỳ hoà hoãn thành lập chính phủ liên hiệp, Việt Nam đều tranh thủ đoàn kết, ủng hộ đường lối hoà bình, trung lập hoà hợp dân tộc của Chính phủ Vương quốc Lào, nhằm từng bước đẩy Mỹ ra khỏi Lào, do đó tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của Chính phủ Vương quốc. Ngoài ra, Việt Nam còn tranh thủ đoàn kết với các lực lượng trung lập khác của Lào cùng đứng lên chống đế quốc Mỹ. Đối với Campuchia, với Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer (Khơme) (sau là Đảng Cộng sản Khmer), từ sau Hiệp định Geneva năm 1954, mặc dầu trong quan hệ còn những vướng mắc, Việt Nam vẫn hết lòng giúp đỡ Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer, kể cả việc cử người sang giúp chuyển phương thức hoạt động thích hợp và phát triển lực lượng; đồng thời, Việt Nam tiếp nhận cán bộ dự trữ của Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer sang học tập cũng như phối hợp với bộ phận chỉ đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer lưu trú trên đất Việt Nam. Việt Nam nỗ lực giúp đỡ Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng chỗ đứng chân, củng cố quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt - Miên. Quân tình nguyện Việt Nam giúp Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer xây dựng bộ đội chủ lực, dân quân du kích, xây dựng hệ thống trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chỉ huy, cán bộ tham mưu các binh chủng và một số ngành chuyên môn kỹ thuật, như bộ binh, pháo binh, công binh, đặc công, thông tin, cơ yếu, y tá, thợ sửa chữa quân giới... Việt Nam phối hợp chiến đấu với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia, mở các mặt trận mới, tổ chức các chiến dịch phản công, giải phóng nhiều đất đai, nối liền các căn cứ giải phóng, tạo ra một cục diện mới cho Campuchia, làm cho Mỹ phải lúng túng đối phó trên cả hai chiến trường. Với Chính phủ Vương quốc Campuchia, mặc dầu hiểu rõ chính sách và ý đồ của Chính phủ Vương quốc khai thác sự chưa nhất trí giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer, nhưng Việt Nam vẫn đoàn kết, ủng hộ đường lối hoà bình, trung lập, không liên kết của Chính phủ Sihanouk. Sự đoàn kết, giúp đỡ của Campuchia đối với Việt Nam trong thời điểm địch đang tìm mọi cách cô lập, phong toả, chia cắt chiến trường miền Nam cũng như các giai đoạn sau này là rất có hiệu quả và có ý nghĩa quan trọng. Cùng với các hình thức, nội dung đoàn kết, liên minh Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia, Việt Nam còn tạo mọi điều kiện tranh thủ tổ chức đoàn kết Việt Nam - Lào - Campuchia dưới các hình thức "Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương". Đoàn kết, liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia chống đế quốc Mỹ được tiến hành trong một thời gian dài, trải qua rất nhiều tình huống hết sức phức tạp (đặc biệt là với Campuchia), chịu sức ép từ nhiều phía, trong điều kiện địch tìm mọi cách chia rẽ, phá hoại nội bộ từng nước. Trong thực tế cũng có nhiều diễn biến không bình thường trong các mối quan hệ, nhưng về cơ bản vẫn giữ vững được tình đoàn kết và chủ trương liên minh đưa cuộc kháng chiến của ba dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn. Đối với cách mạng Lào, Campuchia, trong đoàn kết, liên minh chiến đấu, có ưu điểm là Việt Nam luôn tôn trọng độc lập chủ quyền của Lào, Campuchia, trước hết là tôn trọng ý kiến của cán bộ Lào, Campuchia. Trong mọi công việc giúp Lào, Campuchia, cán bộ Việt Nam luôn được quán triệt phải nghiên cứu chuẩn bị trước, sau đó gợi ý, hướng dẫn cụ thể cho Lào, Campuchia nắm được tình hình, trên cơ sở đó đề ra chủ trương và biện pháp tổ chức thực hiện từng mặt công tác. Việt Nam luôn quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ của mình quan điểm tôn trọng ý kiến của Lào, Campuchia, mọi công việc đều do Lào, Campuchia làm chủ, Việt Nam cần bồi dưỡng, giúp đỡ tận tình để Lào, Campuchia quyết định và tự đảm đương công việc. Theo tinh thần đó, Việt Nam giúp Lào, Campuchia từng bước nâng cao tinh thần độc lập tự chủ, lòng tự tin, phát huy hiệu quả tinh thần trách nhiệm và ý thức tự lực, tự cường, phấn đấu rèn luyện trưởng thành, tự đảm đương dần, tiến tới hoàn thành mọi nhiệm vụ trong xây dựng, chiến đấu và công tác của Lào, Campuchia. Bên cạnh những thành tựu nổi bật, việc giúp đỡ, đoàn kết, liên minh với Lào, Campuchia còn có những hạn chế nhất định, còn một số thiếu sót, non kém như phương châm làm việc, giúp đỡ xây dựng nặng về xây dựng tập trung, chưa gắn liền với việc xây dựng cơ sở. Một số cán bộ Việt Nam chưa tin ở bộ đội Pathét Lào, chưa tin ở Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, nội bộ một số tổ thiếu dân chủ (các tổ ở các tiểu đoàn), làm việc không bàn bạc, gây khó khăn cho cán bộ Lào, Campuchia. Nhiều công việc còn mang nặng tính áp đặt, chưa lắng nghe ý kiến của cán bộ Lào, Campuchia, thậm chí còn có thái độ nước lớn và nhiều khi xử lý chưa linh hoạt, nhiều lúc, nhiều nơi, cán bộ Việt Nam vẫn chưa nắm bắt được những biến chuyển nhanh chóng trong tình hình để có đối sách phù hợp, hiệu quả, vẫn còn lúng túng, bị động trong chỉ đạo thực hiện. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Sáu, 2026, 07:46:57 pm Thực tế trên cho thấy cần rút kinh nghiệm về chỉ đạo, về tổ chức thực hiện. Cụ thể là:
Phải kiên trì, nhất quán đoàn kết, liên minh với Lào, với Campuchia, mà trước hết là đoàn kết với nhân dân hai nước; nhưng mặt khác, phải biết lựa chọn những hình thức, nội dung phù hợp theo từng giai đoạn đối với từng lực lượng của từng nước khác nhau trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Lào, Campuchia, đồng thời giữ vững tinh thần độc lập tự chủ của Việt Nam. Đối với ba nước Đông Dương, đế quốc Mỹ luôn luôn đặt ba nước trong một chiến lược chung mà Mỹ quen gọi là "một đơn vị chiến lược". Thực tế đế quốc Mỹ đã biến ba nước trên bán đảo Đông Dương thành một chiến trường, lấy miền Nam việt Nam là chiến trường chính. Chủ trương chiến lược nhất quán của đế quốc Mỹ là đồng thời chia cắt, cô lập cả ba nước, với bước đi khác nhau đối với từng nước, nhưng nhằm thực hiện một mục tiêu cơ bản thống nhất: Đặt cả ba nước dưới ảnh hưởng của mình, xây dựng tại đây những chính phủ thân Mỹ. Triển khai chiến lược trên, đế quốc Mỹ ra sức lôi kéo, chi phối, thúc ép Vương quốc Campuchia trên nhiều phương diện, tiến hành "chiến tranh đặc biệt" với các mức độ khác nhau ở Lào; đồng thời, tập trung lực lượng quyết đè bẹp Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Đế quốc Mỹ cho rằng giải quyết được chiến trường chính, đánh bại được đối thủ chính ở Đông Dương là Việt Nam thì sẽ dễ dàng thực hiện các mục tiêu định sẵn ở hai nước Lào Campuchia. Qua một số lần thay đổi chiến lược, Mỹ vẫn bị thất bại ở miền Nam Việt Nam, liên tiếp bị đẩy lùi ở hai chiến trường Lào, Campuchia. Trước những diễn biến đó, Mỹ sử dụng quân đội Sài Gòn làm lực lượng xung kích cơ động, phối hợp với Quân đội Phnôm Pênh công khai mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào. Nắm bắt tình hình, Đảng Lao động Việt Nam đã sớm xác định Đông Dương là một chiến trường, miền Nam Việt Nam là chiến trường chính, miền Bắc Việt Nam vừa là chiến trường, vừa là hậu phương lớn của các chiến trường Đông Dương để phát huy sức mạnh đoàn kết, liên minh, tạo thế chiến lược tiến công chung trên cả ba chiến trường. Trong quá trình tiến hành chiến tranh, chủ trương chiến lược trên đã phát huy tác dụng to lớn trong việc thực hiện sự đoàn kết, liên minh giữa ba dân tộc khi cuộc đấu tranh của ba dân tộc phát triển đến mức cao, đòi hỏi phải có sự phối hợp nhịp nhàng, rộng lớn theo đúng quy luật phát triển chiến tranh ở giai đoạn cuối cùng để giành thắng lợi hoàn toàn. Thực hiện chủ trương trên, một mặt, Việt Nam tập trung đánh bại các kế hoạch chiến lược của địch ở chiến trường Việt Nam; mặt khác, Việt Nam thường xuyên đáp ứng cao nhất những yêu cầu quan trọng nhất của Lào, Campuchia, đồng thời cùng Lào, Campuchia phối hợp tác chiến, mở các chiến dịch trên chiến trường Đông Dương, làm cho đế quốc Mỹ phải phân tán lực lượng ra đối phó trên cả ba chiến trường. Trên cơ sở đó tạo ra thế chiến lược tiến công chung cho cả ba nước, đánh bại từng kế hoạch, từng biện pháp chiến lược lớn của đế quốc Mỹ trên toàn Đông Dương. Các chiến dịch cùng hàng loạt trận chiến đấu của liên quân Lào - Việt không những đã đánh bại từng bước các chiến lược chiến tranh Mỹ áp dụng ở Lào, tạo những bước nhảy vọt cho chiến tranh cách mạng của Lào, mà đồng thời còn hỗ trợ to lớn, đắc lực, tạo thời cơ thuận lợi cho các bước chuyển biến của chiến tranh cách mạng ở Việt Nam và đà phát triển đi lên của cách mạng Campuchia. Để tạo và phát triển thế chiến lược chủ động tiến công địch trên cả ba nước, Việt Nam đã cùng Lào, Campuchia xây dựng, phát triển tuyến đường Hồ Chí Minh. Con đường mòn độc đáo ấy vắt qua Tây Trường Sơn trên đất Lào và đi qua lãnh thổ Đông Bắc Campuchia. Nói là tuyến đường nhưng thực chất là một căn cứ kháng chiến hết sức quan trọng, một hậu phương chiến lược vĩ đại, trực tiếp gắn bó các chiến trường ba nước bằng hệ thống đường huyết mạch cùng với hệ thống kho tàng, căn cứ vận chuyển từ hậu phương lớn miền Bắc Việt Nam đi tới các chiến trường quan trọng của ba nước. Trên tuyến đường - căn cứ kháng chiến, có bộ đội ba nước Đông Dương liên minh chiến đấu, phân công phối hợp giữ vững vùng trời, vùng đất cho hệ thống giao thông được thông suốt trong chiến tranh. Không quản gian khổ, nhân dân và lực lượng vũ trang ba nước Đông Dương đã từng bước mở rộng vùng giải phóng dọc tuyến hành lang, tạo ra sự liên hoàn vững chắc giữa tuyến vận tải chiến lược với các chiến trường. Không có con đường Trường Sơn lịch sử - căn cứ địa vững chắc của ba nước, thì khó có thế bảo đảm được sự chi viện hỗ trợ cho cuộc chiến đấu giữa ba dân tộc trong điều kiện chiến tranh ác liệt, trong hoàn cảnh các chiến trường xa nhau mà đối phương thì tìm mọi cách chia cắt, cô lập từng chiến trường. Trên đường Trường Sơn, lực lượng vũ trang ba nước Đông Dương đã từng giây, từng phút đương đầu với cỗ máy quân sự khổng lồ của Mỹ. Đây không đơn thuần là con đường mòn, nó là cả một luồng tư tưởng, là khát vọng, ý chí và sức sống mãnh liệt của ba dân tộc quật cường đã "chung lưng, đấu cật" cùng đi hàng thế kỷ đấu tranh chống áp bức. Tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn thực sự là biểu tượng của mối tình đoàn kết, gắn bó liên minh giữa ba nước trong cuộc chiến đấu chung trên một chiến trường thống nhất, có sự gắn bó mật thiết mang tính chi phối lẫn nhau. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Sáu, 2026, 07:48:28 pm Song song với việc tập trung đánh địch, trong quá trình liên minh, Việt Nam hết sức giúp Lào, Campuchia xây dựng, phát triển lực lượng theo yêu cầu phát triển của chiến tranh. Việt Nam đã giúp Lào, Campuchia xây dựng, phát triển nhanh lực lượng vũ trang, đặc biệt là giúp Lào, Campuchia bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, tạo những bước tiến mới cả về số lượng và chất lượng trong việc xây dựng thực lực kháng chiến nói chung và xây dựng lực lượng vũ trang nói riêng. Không ngừng tiến công đều khắp trên cả ba chiến trường và cũng do đó mà phát triển được thế chủ động chiến lược trên từng chiến trường, hình thành thế chiến lược tiến công chung của cả chiến trường Đông Dương, làm chuyển biến cục diện chung cả ba nước trong chống Mỹ - điều đó cho thấy rằng, đánh địch để phát triển lực lượng, đẩy mạnh phát triển lực lượng để tiếp tục đánh địch đạt hiệu quả chiến lược cao hơn là một nội dung quan trọng trong quá trình đoàn kết, liên minh giữa ba nước Đông Dương, về phía Lào và Campuchia, phối hợp với cách mạng Việt Nam, trong những thời điểm lực lượng vũ trang miền Nam gặp khó khăn lực lượng vũ trang cách mạng Lào, Campuchia tích cực giúp Quân giải phóng Việt Nam đứng chân an toàn trên địa bàn Lào, Campuchia. Không ngừng tiến công đối phương đều khắp trên cả ba chiến trường, từ đó phát triển thế chủ động chiến lược trên từng chiến trường, hình thành thế chiến lược tiến công chung trên toàn Đông Dương, lực lượng vũ trang ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia dẫn dắt cuộc chiến tranh chuyển động theo ý đồ của mình, giam chân, làm đối phương sa lầy, bế tắc. Sự phối hợp tác chiến quân sự giữa lực lượng vũ trang Việt Nam, Lào, Campuchia ngày càng có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến cục diện cuộc chiến, tạo ra những bước nhảy vọt cho chiến tranh cách mạng Lào, Campuchia, đồng thời hỗ trợ đắc lực, tạo thời cơ thuận lợi cho các bước chuyển biến của chiến tranh cách mạng ở Việt Nam.
Vấn đề đoàn kết, liên minh giữa quốc gia, dân tộc này với quốc gia, dân tộc khác trong các cuộc chiến tranh trên thế giới là vấn đề không mới, dễ gặp và thường xuyên xảy ra. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Đông Dương cũng không nằm ngoài quy luật đó, nhưng Việt Nam tiến hành đoàn kết, liên minh với Lào, với Campuchia trong những điều kiện khá đặc biệt. Việt Nam là nước lớn so với Lào, Campuchia là những nước nhỏ hơn. Ba nước tồn tại cùng nhau gần gũi và lâu đời, đã xây dựng nhiều mối quan hệ truyền thống tốt đẹp nhưng cũng không tránh khỏi một số va vấp nhất định. Việt Nam là chiến trường chính, địch thường xuyên tập trung lực lượng đánh phá cho nên luôn luôn phải gánh trách nhiệm nặng nề hơn trong chiến tranh. Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu, phối hợp trên chiến trường Lào, Campuchia thường có số lượng đông hơn quân đội Lào, Campuchia, trong lúc đó không có quân đội Lào, Campuchia chiến đấu trên chiến trường Việt Nam. Những đặc điểm, hoàn cảnh trên dễ nảy sinh những tư tưởng, những mối quan hệ đa dạng, đan xen, phức tạp cả về phía Việt Nam lẫn phía Lào và Campuchia mà Việt Nam cần chủ động giải quyết tốt thì mối giữ vững và phát triển được liên minh đoàn kết chiến đấu. Thường xuyên theo dõi để sớm phát hiện các vấn đề nảy sinh trong quan hệ song phương, tiến đến chủ động giải quyết trên cơ sở thực sự tôn trọng, lắng nghe ý kiến Lào, Campuchia, luôn luôn đặt mình ở vị trí Lào, Campuchia để xử lý phù hợp từ việc nhỏ đến việc lớn, không xem thường việc nhỏ... Đó là những nguyên tắc cần phải tuân thủ để có thể luôn luôn thực hiện đoàn kết, liên minh giữa ba nước Đông Dương một cách bền vững. Vấn đề xuyên suốt có ý nghĩa quyết định thành công của sự nghiệp đoàn kết, liên minh mà Việt Nam phải thường xuyên nắm vững trong quá trình thực hiện là luôn luôn quán triệt quan điểm "giúp bạn là tự giúp mình", đấu tranh phòng chống mọi tư tưởng nước lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, tôn trọng độc lập chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau. "Giúp bạn là tự giúp mình" đòi hỏi đấu tranh phòng chống tư tưởng nước lớn trong quá trình đoàn kết, liên minh với Lào, Campuchia trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là vấn đề được luôn được đặt ra và được các cấp lãnh đạo Việt Nam hết sức quan tâm. Đấu tranh phòng chống tư tưởng nước lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi không phải chỉ là vấn đề chính trị, càng không phải chỉ là công tác tư tưởng. Đấu tranh phòng chống tư tưởng nước lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi bao hàm một nội dung rộng lớn hơn, sâu sắc hơn - đó là phướng châm chỉ đạo mọi hoạt động quân sự, chính trị, xây dựng, tác chiến... trong quá trình đoàn kết, liên minh. Những ưu điểm, khuyết điểm, thành công, vấp váp trong quá trình đoàn kết, liên minh với Lào, với Campuchia trong chiến tranh chống Mỹ thường do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết và xét đến cùng đều bắt nguồn từ việc quán triệt, nắm vững và thực hiện đến đâu tư tưởng chỉ đạo trên. Trong quá trình đoàn kết, liên minh, do đánh giá chưa đúng, hiểu Lào, Campuchia chưa đầy đủ mà dẫn đến tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn làm thay với khuynh hướng áp đặt, dẫn tới hậu quả tự nhiên là thiếu bình đẳng, thiếu tôn trọng Lào, Campuchia. Suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương xây dựng trên nguyên tắc "hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Sđd, tr. 470) và nguyện vọng chính đáng của mỗi dân tộc, không ngừng được củng cố, vun đắp vì lợi ích chung. Suốt 21 năm chiến tranh, liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương không ngừng được củng cố, vun đắp vì lợi ích chung của nhân dân ba nước. Đó là liên minh có ý thức, có tổ chức, được xây dựng trên nguyên tắc luôn luôn tôn trọng độc lập chủ quyền, lợi ích chính đáng của mỗi dân tộc, đồng thời giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, cùng nhau đoàn kết, giúp đỡ nhau trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung vì nền độc lập và chủ quyền quốc gia cho cả ba dân tộc. Dựa trên nguyên tắc đó, liên minh đoàn kết chiến đấu ba dân tộc chẳng những không ngừng được củng cố, phát triển mà còn phát huy tác dụng to lớn, góp phần rất quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Sáu, 2026, 07:52:43 pm 2- Thúc đẩy mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam
Trong lịch sử loài người, có lẽ chưa từng có một phong trào quốc tế nào có phạm vi rộng lớn như Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, bao trùm khắp cả năm châu lục lan tỏa từ các nước xã hội chủ nghĩa tới các nước tư bản chủ nghĩa, tới các nước dân tộc độc lập, liên kết rộng rãi các xu hướng chính trị - xã hội trên thế giới vì Việt Nam mà đấu tranh. Cuộc chiến tranh càng lan rộng, càng ác liệt, thì sự ủng hộ của phong trào đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam lại càng mạnh mẽ, nhiệt thành. Phong trào ủng hộ Việt Nam đặc biệt sôi nổi, rầm rộ ở các nước Tây Bắc Âu, Thuỵ Điển, Hà Lan, Pháp, Đan Mạch, Na Uy, Tây Đức, Anh... cho đến các nước phát triển ở Thái Bình Dương như: Nhật Bản, úc... Phong trào bao gồm các đoàn thể dân chủ, hòa bình, các tổ chức công đoàn, phụ nữ, thanh niên, sinh viên, các tổ chức tôn giáo, xã hội, từ thiện... Nhiều tổ chức ủng hộ Việt Nam, đoàn kết với Việt Nam được thành lập ở nhiều nước với các hình thức ủng hộ rất đa dạng như mít tinh, biểu tình, hội thảo, ký kiến nghị, quyên góp tiền bạc, thuốc men, quần áo, hiến máu ủng hộ Việt Nam... Năm 1967, cuộc diễu hành phản đối đế quốc Mỹ gây chiến tranh ở Việt Nam của nhân dân Thụy Điển được tổ chức ở Stockholm đã gây tiếng vang lớn. Tháng 7-1967, Hội nghị quốc tế ở Stockholm, quy tụ hàng trăm nhà khoa học, học giả có tên tuổi đại diện cho hơn 300 tổ chức đoàn kết với Việt Nam đã liên kết rộng rãi các xu hướng chính trị ủng hộ Việt Nam. Tòa án quốc tế Bertrand Russell xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ được thành lập và hoạt động từ năm 1967. Những kết luận của tòa án tạo thêm sức mạnh đối với nhân dân Việt Nam, là chỗ dựa chính trị và tinh thần cho phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ. Phong trào giải phóng dân tộc và thế giới thứ ba là bạn bè, đồng minh tự nhiên của Việt Nam, nguồn ủng hộ chính trị, cổ vũ tinh thần cho nhân dân Việt Nam. Những ví dụ tiêu biểu như cuộc đột kích của du kích quân Venezuela (Vênêduêla) bắt sĩ quan Mỹ giữa Thủ đô Caracas (Caracát) để đổi lấy mạng sống cho Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, sự kiện Toà án quốc tế Bertrand Russell xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ, Hội nghị 50 nước của Phong trào không liên kết (Georgetown tại Gioócgiơtao, năm 1972)... cho thấy sự ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng tiến bộ đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Phong trào đã tác động nhất định tới chính sách chiến tranh của Mỹ, tác động rõ rệt đến thái độ, cũng như ứng xử của Liên Xô, Trung Quốc trong vấn đề giúp đỡ Việt Nam chông đế quốc Mỹ. Phong trào như một lực đẩy tương hỗ đối với cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam, tạo ra sự cô lập nhất định, dội gáo nước lạnh vào nước Mỹ hiếu chiến, mở rộng đáng kể hậu phương quốc tế của Việt Nam. Nhà báo Mỹ, biên tập viên sáng lập của tạp chí The New Republic Walter Lippmann (W. Lípman) viết: "Không có một nước độc lập nào ở châu Âu, hay châu Á theo gót chúng ta về Việt Nam cả". Bên cạnh đó, phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh với quy mô lớn, đấu tranh kéo dài, có tác động mạnh mẽ đến nội tình nước Mỹ và kết cục của chiến tranh. Năm 1965, khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam Việt Nam và đánh phá miền Bắc, phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân bùng phát. Các tổ chức chống chiến tranh thành lập Ủy ban phối hợp toàn quốc đòi đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh. Mỹ càng mở rộng chiến tranh thì phong trào càng phát triển và hình thức đấu tranh càng đa dạng, phong phú. Những năm 1967-1968, phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ lan rộng chưa từng có. Thanh niên, sinh viên đốt thẻ quân dịch, cựu binh vứt bỏ huân chương phản đôi chính phủ. Nhiều cuộc biểu tình, diễu hành, hội thảo... được tổ chức trong 120 thành phố; 2.000 trường học, hàng trăm tò báo và hơn 200 tổ chức quần chúng, tổ chức phi chính phủ phản chiến... làm rúng động Nhà Trắng. Tháng 10-1969, trên khắp nước Mỹ dấy lên những đợt đấu tranh lớn làm tê liệt chính quyền Mỹ. Năm 1970, khi Mỹ đưa quân vào Campuchia, nhân dân Mỹ tiếp tục đấu tranh, đặc biệt là giáo viên, sinh viên nhiều trường đại học đã tham gia đợt đấu tranh này. Năm 1971, khi Mỹ cùng quân đội Sài Gòn mở rộng chiến tranh sang Lào, một đợt đấu tranh của nhân dân Mỹ được tổ chức, lôi cuốn hàng triệu người xuống đường... Phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh đã tác động lớn đến thái độ của chính giới Mỹ khiến số nghị sĩ chống chiến tranh Việt Nam ngày càng tăng. Nhiều nghị sĩ đòi chấm dứt ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đòi thương lượng hòa bình. Walter Lippmann nhận xét: "Lương tâm người Mỹ nổi giận". Điều đó phản ánh một hiện thực: Đây là cuộc chiến tranh mất lòng dân nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Phong trào dẫn đến sự phân hoá đối với giới cầm quyền Mỹ, tạo thành một sức ép thường trực, đòi lập lại hoà bình, rút quân Mỹ và chống kéo dài, mở rộng chiến tranh. Phong trào đặt chính quyền Mỹ trước nguy cơ của sự khủng hoảng toàn diện, "cơ cấu của chính phủ đã bị tan rã. Ngành hành pháp bị choáng váng"1 (H. Kitxinhgiơ, Những năm tháng ở Nhà Trắng, Bản dịch lưu tại Thư viện Quân đội, 1982, tr. 190). Trên thực tế, tiếng thét phẫn nộ của phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh đã kết hợp với diễn biến ở chiến trường buộc Tổng thống Mỹ Johnson phải chuyển từ leo thang sang xuống thang, buộc Tổng thống R. Nixon phải rút dần quân Mỹ, không thể kéo dài cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai (1969-1972). Nếu phong trào dân tộc, phong trào nhân dân thế giới có tác động gián tiêp đến nước Mỹ, thì phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh có tác động trực tiếp - Mỹ bị cô lập ngay tại nước Mỹ, rơi vào khủng hoảng triền miên, phải "chiến đấu với một tay bị trói sau lưng". Phong trào này đã tạo nên cuộc khủng hoảng sâu sắc, triền miên trong lòng nước Mỹ - cuộc khủng hoảng đã tác động mạnh mẽ đối với chính giới, buộc chính quyền phải thay đổi chính sách trong vấn đề Việt Nam. Hồ Chí Minh gọi đây là "mặt trận thứ hai" chống đế quốc Mỹ, một cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ, góp thêm một sức mạnh mới cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Phong trào nhân dân thế giới chống cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam trở thành lực lượng chính trị hùng hậu, ngày càng tác động sâu sắc đến chính sách và thái độ của nhiều chính phủ trên thế giới đôi với vấn đề chiến tranh Việt Nam. Phong trào nhân dân thế giới chống sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam và phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ đã đánh mạnh vào chính sách của chính quyền Mỹ, góp phần tạo ra một tập hợp lực lượng chưa từng thấy, bao vây, cô lập và tiến công lực lượng Mỹ hiếu chiến từ mọi phía, mọi hướng. Việt Nam chiến thắng chiến tranh mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn gây ra bằng sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại. Việt Nam đã chiến thắng nhờ biết lấy thành quả của kháng chiến để mở rộng và tăng cường đoàn kết quốc tế; nhân tố quốc tế đến lượt mình trở thành một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến. Tiêu đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Sáu, 2026, 07:53:59 pm KẾT LUẬN Sau chín năm kháng chiến, với chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, những tưởng Việt Nam sẽ hoàn toàn độc lập, bước vào thời kỳ xây dựng trong hòa bình. Tuy nhiên, dưới tác động của những yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau, Hiệp định Geneva chỉ mang lại hòa bình trên nửa nước, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Là một cuộc hòa giải không vững chắc giữa các nước lớn, Hiệp định Geneva chẳng những đã không mang lại hòa bình thực sự cho Việt Nam và các nước Đông Dương, mà còn để lại khả năng đẩy những nước này đứng trước bờ vực của một cuộc chiến tranh mới. Bị ám ảnh bởi Học thuyết Domino (Đôminô) và hiểm họa cộng sản, Mỹ ngày càng can thiệp sâu hơn vào Đông Dương và chính sự can thiệp ấy là một trong những nguyên nhân quá trình làm bùng phát cuộc chiến tranh kéo dài 21 năm (1954-1975). Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào cuộc chiến đấu mới và trải qua một quá trình tìm tòi, tổng kết thực tiễn đã đưa ra đường lối tiến hành chiến tranh hết sức độc đáo với hai bộ phận hợp thành: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam; đồng thời, tiến hành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, giải phóng miền Nam, tiến lên thống nhất đất nước - những nhiệm vụ ấy được thực hiện trên cơ sở ra sức tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Chiến tranh là sự tổng hợp tất cả các mặt đấu tranh quân sự, kinh tế, chính trị, ngoại giao, tư tưởng, văn hoá... của các bên đối chiến. Các mặt đấu tranh đó liên quan mật thiết với nhau, chi phối, tạo điều kiện thúc đẩy lẫn nhau. Kế thừa thành quả và kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ 21 năm (1954-1975) đã phát triển lên một bước mới nội dung và hình thức tiến hành chiến tranh hiệu quả và rất phong phú. Đó là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Phương thức tiến hành chiến tranh không chỉ bó hẹp trong hoạt động đấu tranh vũ trang mà có phạm vi rộng lớn hơn, với nội dung căn bản, chủ chốt nhất của nó là sự kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trên cả ba vùng chiến lược, đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận (ba mũi giáp công), kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị với đấu tranh ngoại giao, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ quyền làm chủ, chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực. Trên cơ sở của đường lối, phương châm và chiến lược tổng hợp của chiến tranh nhân dân chống Mỹ, cứu nước, phương pháp cách mạng và phương thức tiến hành chiến tranh trên hai miền Nam, Bắc phù hợp với sự phát triển của hai chiến lược cách mạng (cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc) và gắn bó chặt chẽ với quá trình cách mạng và chiến tranh cách mạng của ba nước Đông Dương đặt trong quá trình vận động, biến đổi của tình hình khu vực, thế giới và các mối quan hệ quốc tế. Đó còn là nghệ thuật kết hợp tiến công địch ở miền Nam với bảo vệ miền Bắc, đánh thắng chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc với tăng cường sức mạnh mọi mặt cho miền Nam; phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường Nam, Bắc Việt Nam với chiến trường hai nước Lào và Campuchia trên một thế chiến lược tiến công của nhân dân ba nước Đông Dương. Thực hiện những nội dung trên của chiến tranh nhân dân thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đề ra và thực hiện một chiến lược chiến tranh tổng hợp; trong đó, xây dựng hậu phương - căn cứ địa cách mạng chiếm một vị trí quan trọng. Yêu cầu này được quy định bởi hoàn cảnh, điều kiện của đất nước - con người - nền văn hoá và những thách thức lịch sử đặt ra cho dân tộc Việt Nam. Hậu phương - căn cứ địa cách mạng của cuộc chiến tranh nhân dân 21 năm lúc này là miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội và là hậu phương tại chỗ rộng lớn. Hậu phương - căn cứ địa cách mạng ấy gắn liền với chế độ chính trị - xã hội, gắn với con người, gan với lòng dân, gắn với nền tảng văn hoá bền vững. Đó chính là hậu phương - căn cứ địa cách mạng - lòng người trên nền tảng đại đoàn kết - đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Trong suốt 21 năm chiến tranh, nếu như miền Bắc gồng mình trong mưa bom bão đạn và trụ vững, hoàn thành xuất sắc vai trò của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam, thì miền Nam thành đồng trên tuyến đầu chống đế quốc Mỹ đã đi đầu, đẩy mạnh các hoạt động quân sự với chiến lược tiến công. Đó là chiến lược toàn dân đánh giặc dựa vào sức mạnh tổng hợp của hai lực lượng quân sự và chính trị, dựa vào sự kết hợp hai hình thức đấu tranh quân sự và chính trị, kết hợp giữa tác chiến của lực lượng vũ trang với khởi nghĩa quần chúng cách mạng; là chiến lược tiến công bằng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích), trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị); kết hợp giữa đánh địch với giành quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch và tiêu diệt địch để làm chủ ngày càng vững chắc hơn. Song song với việc xây dựng, phát triển, củng cố hậu phương miền Bắc vững chắc và đẩy mạnh các hoạt động quân sự trên chiến trường miền Nam, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đánh thắng mọi kế hoạch chiến tranh cả trên miền Bắc và chiến trường miền Nam, Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn hết sức chú ý và đề cao việc tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ, dân chủ và hòa bình thế giới. Nỗ lực ấy đã tạo nên một mặt trận rộng khắp nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam; đồng thời, ra sức xây dựng liên minh đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương trên tinh thần "Đông Dương là một chiến trường" và "giúp bạn là tự giúp mình". Với tinh thần "không có gì quý hơn độc lập, tự do", với đường lối tiến hành chiến tranh phù hợp, biết tận dụng mọi yếu tố cả trong nước và quốc tế có lợi nhất, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước của mỗi con người Việt Nam, Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy không bắt đầu chiến tranh nhưng đã dẫn dắt cuộc chiến một cách hiệu quả và kết thúc chiến tranh theo cách có lợi nhất. Trải qua 21 năm chiến tranh, cuối cùng, đất nước được thống nhất, hòa bình thực sự và vững bền đã về trên mảnh đất nhiều đau thương nhưng cũng hết sức kiên cường. 21 năm ấy, sự bền gan, nỗ lực của hai miền Nam - Bắc, dân tộc và thời đại... tất cả đã hòa quyện để làm nên một chiến thắng to lớn, đặc biệt và lẫy lừng nhất của thế kỷ XX - với chiến thắng ấy, nhân dân Việt Nam không chỉ tỏ rõ thiện chí và khát khao hòa bình, mà còn khẳng định ý chí, quyết tâm và mong mỏi thống nhất đất nước, non sông. Chiến thắng ấy đã để lại nhiều bài học lịch sử lớn thuộc các lĩnh vực chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân hết sức độc đáo của Việt Nam. Cụ thể là: Đường lối tiến hành độc lập tự chủ; phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; phát huy vai trò căn cứ địa và hậu phương trong chiến tranh; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; liên minh đoàn kết chiến đấu với Lào và Campuchia; tranh thủ sự ủng hộ quốc tế... Đây cũng chính là những nội dung có chiến lược có thể tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào hoạch định đường lối xây dựng nền quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc hiện nay, vào xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng thế trận phòng thủ đất nước, vào củng cố và phát triển tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam, Lào và Campuchia cũng như các nước trong cộng đồng thế giới trong công cuộc hội nhập quốc tế hiện nay. |