Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Hồi ký - Hồi ức => Tác giả chủ đề:: thongdiepthoigian trong 29 Tháng Chín, 2025, 07:32:36 pm



Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 29 Tháng Chín, 2025, 07:32:36 pm
- Tên sách: Ký ức người lính đặc công
- Tác giả: Nguyễn Cao Chí
- Nhà xuất bản: Lao động
- Năm xuất bản: 2018
- Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian


Thể hiện: Đại tá Nguyễn Hữu Đức


LỜI NÓI ĐẦU


"Xuất quân là thắng vinh quang"... là lời bài hát ngợi ca Đại đội đặc công 202, Tỉnh đội Phú Yên trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; đơn vị đã được Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên dương là Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng, vào tháng 9 năm 1971 và hai đồng chí đại đội trưởng là Lê Trung Kiên và Lương Tấn Thịnh cũng đã được tuyên dương danh hiệu cao quý này vì những thành tích chiến đấu đặc biệt xuất sắc.


Tôi là một chiến sĩ của đại đội anh hùng ấy, chiến đấu cho đến khi bị mất đi một phần cơ thể, không thể tham chiến cùng đồng đội, mới rời xa đơn vị và trở về hậu phương miền Bắc khi cuộc chiến tranh chưa kết thúc.

Thời gian sống, chiến đấu trong Đại đội đặc công 202 anh hùng không nhiều, song những kỷ niệm của tôi về những ngày sống, chiến đấu trên mảnh đất Phú Yên anh dũng đó mãi mãi không phai. Đó là những ký ức đi suốt cuộc đời tôi, kể cả sau này khi tôi làm nhiệm vụ ở cương vị cao hơn, những kỷ niệm chiến trận đối với tôi vẫn là đẹp nhất, đáng nhớ nhất. Tôi luôn tự hào mình là một chiến sỹ đặc công, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ đội Cụ Hồ!


Kể từ trận đánh đầu tiên mà tôi tham dự đến nay đã gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng kỷ niệm hào hùng về những trận đánh địch, trong những năm tháng ác liệt trên chiến trường tỉnh Phú Yên vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi, sẽ theo tôi đi cùng năm tháng cho đến hết cuộc đời.


Giờ đây được Đảng, Nhà nước cho hưởng chính sách nghỉ hưu, tôi hồi tưởng lại những ngày tháng bi hùng của tuổi trẻ mình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc. Cuốn hồi ức nhỏ bé này được viết ra như một nén tâm hương tưởng niệm những đồng đội đã cùng tôi chiến đấu hy sinh, cũng là món quà nhỏ tặng những đồng đội may mắn được trở về gia đình, quê hương sau khi đất nước được hòa bình.


Thực ra những trang viết này chỉ ghi lại những kỷ niệm, của một người lính, đúng như vị trí tham gia của mình. Trong cuốn sách tôi chỉ kể lại những sinh hoạt, chiến đấu và tâm tư của chính mình khi đó, nó không phản ánh về những hoạt động của quân dân ta trên một chiến trường, một mặt trận rộng lớn, mà là những hoạt động sống và chiến đấu của những người lính đúng như những gì đã diễn ra trong thực tế.


Các đồng chí của tôi, nếu ai đọc được những dòng hồi ức này, phát hiện ra điều gì liên quan tới mình mà chưa đúng cũng xin được lượng thứ, vì thời gian đã trôi xa và trí nhớ có thể sai sót.

Xin trân trọng cảm ơn Đại tá Nguyễn Hữu Đức và Nhà xuất bản Lao động đã giúp tôi thể hiện và cho phép tôi được xuất bản cuốn sách nhỏ này.


Hà Nội, tháng 5 năm 2018
NGUYỄN CAO CHÍ


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2025, 07:26:50 pm
Chương 1
QUÊ HƯƠNG VÀ TUỔI THƠ


Tôi sinh ra và lớn lên ở Thượng Cát, một xã có lịch sử lâu đời của huyện Từ Liêm (nay là phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm), Hà Nội.

Với bao thế hệ, người dân Thượng Cát đã xây dựng nên một làng quê đông đúc bên dòng sông Hồng huyền thoại, với những đình, chùa cổ kính. Hồi trẻ con, những khi nghỉ hè và ngày nghỉ, chúng tôi vẫn thường ra sân đình hay khuôn viên nhà chùa để chơi với nhau.


Làng tôi, cho tới tận những năm đầu thế kỷ 21, vốn là làng thuần nông. Đất bãi ven sông đã trở thành những cánh đồng phì nhiêu trồng lúa và hoa màu, rau quả do sức lao động của người dân cải tạo từ đời này qua đời khác.

Thượng Cát là một miền quê giàu truyền thống yêu nước, kiên cường trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Từ khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống quân Hán xâm lược những năm đầu công nguyên, đến các cuộc kháng chiến chống quân Lương, Nguyên, Minh, Thanh của thời kỳ phong kiến và thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thời kỳ lịch sử hiện đại.


Tôi sinh trưởng trong một gia đình có ba chị em. Tôi là con trai út, trên tôi là hai chị. Tôi được bố, mẹ cho ăn học tử tế. Vào những năm sáu mươi thế kỷ trước, cả xã chỉ có một trường cấp I và hai, ba xã mới có một trường cấp II. Học sinh không đông lắm, mỗi khối học cũng chỉ có hai, ba lớp. Sĩ số mỗi lớp khoảng 40 - 45 học sinh.


Ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc, hòng ngăn chặn cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc ta.

Năm 1966, chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đã tiến hành một bước leo thang rất nguy hiểm, chúng đã đánh phá vào ngoại thành Hà Nội. Tháng 8 năm 1966, máy bay Mỹ đã tấn công trận địa cao xạ ở cánh đồng Nhật Tân, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm, chỉ cách quê tôi có vài cây số. Chính nơi đây ngày nay là đầu cầu Nhật Tân hùng vĩ bắc qua sông Hồng, nối với đường mang tên vị tướng huyền thoại - Võ Nguyên Giáp - tạo thành một con đường đẹp vào loại nhất nhì thủ đô, đi lên sân bay quốc tế Nội Bài. Bị quân ta đánh trả quyết liệt, chúng đã ném bom bừa bãi vào khu dân cư vùng xung quanh, làm hàng chục dân thường thiệt mạng. Ngày đó đã trở thành ngày giỗ chung của nhiều gia đình hai xã Nhật Tân và Phú Thượng.


Sau khi tốt nghiệp lớp 7 (nay là lớp 9) tại Trường cấp II xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm, Hà Nội, tôi cũng như nhiều bạn cùng lớp đăng ký đi học chuyên nghiệp (nay là bậc trung học kỹ thuật - nghề), không học tiếp lên cấp III. Hồi đó vào các loại trường này không phải thi. Tôi đăng ký xin học Trường trung cấp Bưu điện - Truyền thanh, bởi tôi thích nghề này lắm. Nhưng cuộc đời không chiều theo ý muốn cá nhân, tôi lại được Trường trung cấp Hóa chất Lâm Thao, Phú Thọ gọi nhập học. Mặc dù không thích nhưng tôi cũng nhập trường đi học.


Trường sơ tán tại xã Văn Lang, huyện Tam Nông, Phú Thọ. Thời gian này, máy bay Mỹ mở rộng đánh phá trên toàn miền Bắc. Trường tôi học máy bay Mỹ chỉ bay qua, chúng đến đánh bom Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao và Khu công nghiệp Việt Trì. Để bảo đảm an toàn, chúng tôi phải đào hầm để cả lớp học chìm vào lòng đất, đề phòng máy bay Mỹ ném bom.


Thời kỳ đó, học sinh đi học đều được Nhà nước chu cấp học bổng, với nhiều mức khác nhau. Nhưng học bổng rất ít, mỗi học sinh được lĩnh học bổng từ 10 đến 20 đồng. Số tiền này chỉ tạm đủ trang trải cho việc mua rau, mua gạo ăn uống hàng ngày. Sức trẻ ăn nhiều và chẳng mấy khi được ăn thịt, cá, nên lượng gạo tiêu thụ lại càng cao; bây giờ thịt cá trong bữa ăn nhiều, lượng tinh bột giảm đi đáng kể trong khẩu phần ăn. Thời chúng tôi đi học, cơm học sinh chỉ có rau, chỉ khi nào liên hoan mới được ăn thịt, cá. Nhưng gạo lại chỉ được mua theo tiêu chuẩn ít ỏi, học sinh được mua 15kg lương thực mỗi tháng, không phải toàn gạo mà kèm bột mì hoặc ngô, sắn nên đói lắm. Bữa ăn hằng ngày chỉ có rau luộc với nước giếng, ở nơi trường tôi theo học là vùng nước chứa nhiều oxit, nên rau luộc đen xì! Thời ấy buộc phải ăn, chứ còn bây giờ không ai dám thò đũa gắp ăn loại rau luộc đó! Ngoài cơm, chúng tôi được ăn thêm một miếng mì luộc hôi mù mà bọn học sinh chúng tôi lúc đó gọi là "nắp hầm", ném chó không chết!


Tôi làm lớp phó phụ trách học tập, học giỏi nên được học bổng toàn phần là 20 đồng/tháng, tôi thường nhường lại một phần cho các bạn nhà nghèo chỉ được học bổng 10 đồng/tháng, nhà nghèo. Những ngày nghỉ tôi thích đến thăm các bạn đồng hương Hà Nội cùng học trong trường, hoặc đi đào sắn giúp dân. Tôi nhớ nhất món sắn khô giã nhỏ đồ xôi, buổi tối được gia đình bà Thược, anh Đệ ở gần trường cho ăn thấy ngon lắm, nhưng ăn rồi hay bị nóng ruột.


Nơi chúng tôi ở nhân dân trồng nhiều chuối, sắn và cả dứa. Lúc đó hai hào có thể mua được năm quả chuối to, còn dứa hào một quả. Có lần vì đói cơm, tôi ăn liền một lúc 5 quả dứa, ăn xong nhổ nước bọt thấy có lẫn cả máu ở lưỡi tứa ra. Mấy cậu bạn bảo, muốn khỏi rát lưỡi thì chấm dứa với muối trước khi ăn.


Thỉnh thoảng, sau bữa cơm xong, chúng tôi lại rủ nhau ra chợ "cóc" gần cổng trường, mua hoa quả để ăn thêm cho đỡ đói, sức trẻ đang tuổi ăn, tuổi ngủ, có hôm phải ăn tới 5 quả chuối nữa mới đủ no bụng!

Mùa hè năm 1968, sau khi học hết năm thứ hai của chương trình trung cấp ba năm, chúng tôi được về nghỉ phép mười ngày. Lúc chưa hết phép, tôi có giấy nhà trường gọi lên để đi công nhân quốc phòng. Tôi đang ốm nên không lên kịp. Khi trở lại trường, trên đường lên đến Hưng Hóa (Phú Thọ), tôi gặp một số bạn cùng lớp đi công nhân quốc phòng.


Tôi về trường tiếp tục đi thực tập tại Nhà máy Hóa chất Việt Trì. Thực tập xong, có một đơn vị quân đội về khám sức khỏe tuyển đi học phi công, nhưng chúng tôi không ai đủ tiêu chuẩn, vì toàn những người "thấp bé nhẹ cân" như tôi.

Chiến tranh ngày càng khốc liệt, thanh niên được huy động ngày càng nhiều vào quân đội thì "thấp bé nhẹ cân" như tôi cũng "đắt hàng" với các binh chủng không cần tầm vóc to cao như lái máy bay. Những người bị "thiệt thòi" về ngoại hình như chúng tôi vẫn được các đơn vị bộ binh tuyển chọn. Trường tôi đến năm 1968 đã có hai đợt học sinh được lệnh gọi nhập ngũ vào quân đội.


Tình hình chiến sự ở hai miền ngày càng ác liệt, tin tức đánh nhau ở miền Nam và miền Bắc liên tiếp được đài báo cập nhật hàng ngày. Những người khỏe mạnh đủ tiêu chuẩn đều hăng hái viết đơn nhập ngũ và đã lần lượt lên đường. Chúng tôi học tập trong tình trạng sĩ số cứ giảm dần qua các đợt gọi nhập ngũ, ai cũng có tâm trạng bồn chồn, chờ đợi, nên không khí học tập cũng có phần giảm sút.


Thế rồi đợt ba gọi nhập ngũ của trường tôi cũng đã đến. Tôi có danh sách trong đợt tòng quân lần này. Lúc đó tôi người gày lắm, cân nặng chỉ có 43kg thôi, mọi người cho rằng ngữ tôi khó lòng trụ được trong quân đội. Còn tôi thì nghĩ để rồi xem, và tôi tin là mình có thể trụ vững được.


Vợ chồng thầy Ân, chủ nhiệm lớp tôi học, mời tôi ăn bữa cơm chia tay với thầy. Bữa cơm cùng gia đình thầy giáo tuy đơn sơ nhưng thật cảm động! Thầy giáo đã căn dặn tôi nhiều điều khi vào quân ngũ.

Tháng 9/1968, chúng tôi chia tay bạn bè cùng học để lên đường nhập ngũ trong sự lưu luyến thật khó tả giữa người đi và người ở. Các bạn gái gửi tặng chúng tôi những chiếc khăn mùi xoa, khăn rửa mặt, với những dòng chữ thêu như nhắn gửi chúng tôi lời ước hẹn. Với tôi chưa có mối tình với bạn gái nào nên lên đường cảm thấy thanh thản, nhưng trong lòng cũng thấy xao xuyến bùi ngùi.


Từ đây chúng tôi từ giã cuộc đời học sinh, với nhiều mơ mộng và hoài bão của tuổi trẻ, xếp bút nghiên lên đường dấn thân vào cuộc chiến đấu cùng với cả dân tộc ta đánh Mỹ, cứu nước. Khóa học của chúng tôi nếu không đi bộ đội, học xong 3 năm trung cấp, sẽ có nhiều bạn sang Liên Xô học tiếp, vì thời ấy môn hóa tổng hợp hữu cơ, sản xuất chất dẻo là ngành mới của Việt Nam.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2025, 07:28:48 pm
Chương 2
CUỘC ĐỜI QUÂN NGŨ


1. Những ngày tháng luyện rèn trên đất Bắc

Đợt nhập ngũ cùng với tôi, Trường trung cấp Hóa chất Việt Trì có 200 người.

Giờ phút chia tay thật cảm động. Tôi cảm thấy bùi ngùi khi phải chia tay với mái trường thân yêu mà tôi đã có hai năm gắn bó với nhiều kỷ niệm. Chiến tranh đã buộc chúng tôi phải dang dở với những ước mơ rất đẹp tuổi thanh niên.

Tạm biệt mái trường thân yêu, tạm biệt thầy cô và nhân dân nơi đã cưu mang chúng tôi trong những tháng năm học tập ở đây. Buổi lễ tiễn học sinh nhập ngũ của nhà trường diễn ra trang nghiêm và ngắn gọn. Tôi thay mặt những người nhập ngũ đợt này đã phát biểu hứa với lãnh đạo nhà trường, thầy cô giáo và các bạn ở lại rằng, dù khó khăn gian khổ đến đâu, dù phải hy sinh trong chiến đấu, nhưng nhất định sẽ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.


Tôi nhớ anh Duyên là Trung đội trường bộ binh của Sư đoàn 304B, là một trong những cán bộ về nhận quân tại trường tôi.

Hôm ấy, chúng tôi hành quân về tả ngạn sông Cầu. Quá trưa về chiều, gió sông thổi lên mát rượi. Trong lúc cao hứng anh Duyên hát xuyên tạc (nay gọi là hát chế) câu đầu của bài hát Giải phóng miền Nam, với chất giọng đàn ông khê nồng "Bầm ơi, con ngan nhà ta nó què, thịt đi không mai ngày kia nó gày...". Chúng tôi vừa ngạc nhiên, vừa tức cười, sao anh dám hát thế, rồi chúng tôi cũng cùng hát phụ họa theo anh, thì ra đời bộ đội cũng vui nhộn chứ không phải là quá cứng nhắc, quá nghiêm như tôi tưởng.


Trời tối, đoàn tân binh chúng tôi dừng chân tại một làng ven sông Cầu thơ mộng. Đoạn này thuộc huyện Hiệp Hòa tỉnh Hà Bắc cách phố Thắng khoảng 5km (nay là Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang). Chúng tôi được phân ra từng tổ vào nghỉ trong nhà dân. Đơn vị đã cử tiền trạm và liên hệ trước với địa phương, nên việc đến ở trong dân cũng nhanh chóng và được các gia đình niềm nở tiếp đón như con em đi xa trở về.


Sáng hôm sau, chúng tôi được tổ chức biên chế vào các tiểu đội, trung đội, đại đội của Sư đoàn 304B, Quân khu Việt Bắc.

Trung đội trưởng của tôi là anh San, người huyện Thạch Thất, Hà Tây (nay sáp nhập về Hà Nội). Anh là người hiền lành, hay cười vui vẻ với mọi người. Tôi được biết, anh đã từng trải qua chiến đấu ở chiến trường Lào. Lúc rảnh rỗi, anh thường kể cho chúng tôi nghe về những trận chiến đấu anh đã tham gia, nghe thật hấp dẫn.


Trong thời gian huấn luyện tân binh, hàng ngày, chúng tôi được huấn luyện ở thao trường, luyện tập kỹ, chiến thuật chiến đấu bộ binh. Tối đến, sinh hoạt chính trị. Lúc rảnh rỗi, tôi lấy cái điếu bát của gia đình nơi đóng quân, "bắn" thử vài bi thuốc lào, thế là tôi biết hút thuốc từ ngày ấy, và có thâm niên hút thuốc lào đến nay cũng đã nửa thế kỷ.


Vào các ngày thứ Bảy, Chủ nhật cánh lính chúng tôi phải vào rừng kiếm củi, hoặc khênh lợn, thổi cơm giúp anh nuôi. Bọn tôi lúc đó tếu táo với nhau, thượng vàng hạ cám đều đến tay lính, đúng là "nước sông công lính". Cán bộ luôn nói với chiến sỹ: vào bộ đội là vào trường đại học lớn của cuộc đời! Đúng là cái gì chúng tôi cũng được học và được làm!


Những ngày tháng khổ luyện trong thời tiết mưa, nắng đã làm cho da dẻ chúng tôi, những cậu học sinh với màu da trắng đã chuyển sang đen nhẻm, nhưng khỏe mạnh. Đúng là cơm gạo bộ đội, chỉ trong thời gian ngắn sau nhập ngũ, tôi đã tăng trọng từ 43kg lên 47kg, nhưng dáng thư sinh vẫn còn "lưu luyến" trong tôi. Cùng với cái tính hay tranh luận mọi chuyện, nên nhiều khi mấy anh cán bộ cũng không thích tôi lắm, nhất là anh Thành - Tiểu đội trưởng.


Kết thúc đợt huấn luyện, chúng tôi vào trường bắn núi Voi để kiểm tra kết quả. Chúng tôi được kiểm tra xạ kích bằng súng CKC. Bắn 3 viên bia số 6, tôi đạt 26 điểm, đạt loại khá, riêng ném lựu đạn thật tôi ném xa gần 45m, thật không ngờ, tôi được nhận giấy báo công của đơn vị gửi về gia đình, cho đến nay tôi còn giữ được cái giấy báo công này.


Một tuần sau đợt sát hạch diễn tập, chúng tôi được báo đi khám sức khỏe để tuyển chọn vào binh chủng đặc công. Nghe được vào đặc công, anh em thích lắm. Từ lâu chúng tôi đã ao ước được làm lính đặc công, được học võ thuật, đây là binh chủng đặc biệt tinh nhuệ của quân đội ta. Cầu được, ước thấy khoảng 1/3 chúng tôi trúng tuyển, toàn anh em tuy nhỏ con, nhưng khỏe mạnh, nhanh nhẹn.


Chia tay lính bộ binh, chúng tôi về với bộ đội đặc công. Tôi được biên chế vào Đại đội 1, Tiểu đoàn 8. Anh Nghị làm Đại đội trưởng, anh Thị làm Tiểu đoàn trưởng. Anh Thị là người miền Nam. Trông vóc dáng các anh, ai cũng mạnh khỏe, nhanh nhẹn, quắc thước. Bộ đội đặc công, từ đại đội trưởng trở lên đều đeo súng ngắn K59 trông oai lắm.


Về tiêu chuẩn ăn uống từ 0,68 đồng ở bộ binh, sang đơn vị đặc công chúng tôi được ăn theo tiêu chuẩn 1,2 đồng rồi 1,6 đồng/ngày. Tiêu chuẩn ăn của bộ đội đặc công gấp hơn hai lần ở bộ binh, nhưng học tập, huấn luyện thì vô cùng vất vả vì kỹ, chiến thuật đặc công rất khắc nghiệt.


Về binh chủng đặc công, đơn vị tôi vẫn ở trong nhà dân. Đến nay tôi vẫn còn nhớ, nơi tôi ở là nhà bà Khuyến, ở thôn Lan Mầu, xã Trung Hậu, huyện Lục Nam, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang). Tổ ba người của tôi có anh An là tổ trưởng nhà ở phố Sơn Tây, Kim Mã, Hà Nội, cũng sinh năm 1949 như tôi, anh em nhanh chóng thân quen, lại là đồng hương Hà Nội nên dễ hòa nhập về tính cách, cũng như sinh hoạt.


Để quen với việc mang vác vượt Trường Sơn nay mai, cứ đến bữa ăn là chúng tôi phải mang một gùi gạch nặng 20kg từ nhà ở đến nhà ăn, ăn xong lại gùi về nhà. Để rèn luyện khả năng mang vác nặng, hành quân đường dài, sẵn sàng hành quân vào chiến trường, cũng như các đơn vị khác đang huấn luyện ở hậu phương miền Bắc lúc bấy giờ, đơn vị tôi thường luyện tập hành quân trên các địa hình phức tạp, trong mọi hoàn cảnh thời tiết. Địa hình càng phức tạp, thời tiết càng khắc nghiệt thì càng thuận lợi cho công tác huấn luyện bộ đội sát với thực tế chiến đấu sau này. Đơn vị thường tổ chức hành quân vượt qua dãy núi Yên Tử, một dãy núi rất cao, mang vác nặng, từ suối Chũ (Bắc Giang) sang Đông Triều (Quang Ninh).


Những hôm trời mưa to sấm chớp là y như rằng báo động hành quân. Tập hành quân lại thường vào ban đêm, trong đêm tối, những viên gạch trong ba lô cọ vào lưng đau rát, anh em nói "Mình cấp bậc một sao tám gạch, qua một đêm hành quân gân sáng về đến nhà thì cấp bậc bị hạ xuống chỉ còn một sao năm gạch thôi", ấy là nói đến hành động của những chàng lính trẻ không chấp hành nghiêm quy định huấn luyện, do mệt quá, đã vứt bớt gạch đi cho nhẹ trong quá trình hành quân luyện tập. Những đợt hành quân như thế, ai nấy mệt nhoài nên bạ đâu ngồi đấy, vì thế bộ đội mới có câu là "má văn công, mông bộ đội". Sau này, cán bộ phát hiện ra sự láu cá của mấy chàng chiến sỹ, nhất là chiến sỹ xuất thân từ học sinh, sinh viên và thành thị, đã cho đóng những khối đất sét nặng đúng bằng tiêu chuẩn trọng lượng mang vác để hành quân huấn luyện, làm cho các chàng lính này hết đường tự xin "giáng cấp" trong các buổi hành quân!


Với bộ đội đặc công, có nhiều khoa mục huấn luyện rất đặc thù, như khoa mục tiềm nhập đi khom, khắc phục hầm chông, rào thép gai các loại, leo tường, ống máng, cột thu lôi. Khó nhất là leo ống máng, nó tròn khó bám, rớt xuống đất chấn thương là cái chắc, thậm chí có thể tử vong. Chúng tôi phải đi trong bùn nước, bò trên sỏi không được gây ra tiếng động, làm quen và vô hiệu hóa các loại mìn gài nổ, rồi ngụy trang, hóa trang, khắc phục tránh đèn pha để tiếp cận địch...


Khoa mục võ thuật sử dụng các loại đao, súng... những hôm đầu tập tối về bắp thịt đau ê ẩm, sau rồi cũng quen dần. Có lần Tiểu đoàn trưởng - anh Thị - xuống kiểm tra, tôi được chỉ định biểu diễn võ thuật đánh đối kháng. Sau khi xem chúng tôi trình diễn, Tiểu đoàn trưởng khen và nhận xét về miếng đánh cần kín hơn nữa.


Rồi đơn vị tôi được học chiến lệ trận tập kích cứ điểm làng Vây của Quân giải phóng, học các chiến thuật đặc công như cách đánh luồn sâu, đánh nở hoa trong lòng địch (tức là đánh từ sở chỉ huy trung tâm của căn cứ địch đánh ra). Và nhiều khoa mục khác nữa chúng tôi cũng được huấn luyện rất kỹ càng.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2025, 07:30:15 pm
Nhưng yếu tố bí mật, bất ngờ của cách đánh đặc công là quan trọng nhất, vì lực lượng đặc công thường đánh vào ban đêm, lực lượng sử dụng ít vũ khí, chủ yếu là súng tiểu liên AK, lựu đạn thủ pháo, B40, B41 nhưng hiệu suất chiến đấu cao.

Ngoài kỹ thuật đánh cứ điểm, chúng tôi được về sân bay Gia Lâm học đánh sân bay. Buổi tối tập cắt hàng rào và khắc phục chướng ngại vật - vượt qua các trạm canh gác để tiếp cận máy bay.

Chúng tôi phải tập đến thành thục cách treo thủ pháo vào cánh máy bay, vào lỗ mũi xả khói của máy bay trực thăng, cứ cách một chiếc, gài một thủ pháo. Khi thủ pháo cháy nổ thì chiếc máy bay không gài thủ pháo cũng bốc cháy theo vì chúng đỗ gần nhau.

Chúng tôi còn được huấn luyện, khi hết thủ pháo sẽ dùng súng AK bắn phá hủy những máy bay còn lại, còn hỏa lực B40, B41 sẽ đánh vào đài chỉ huy không lưu, sở chỉ huy sân bay. Ban ngày, trời miền Bắc tháng 6 nóng như đổ lửa, đường băng sân bay nóng ran, chúng tôi đầu mũ vải, chân đất đi trên đường băng bê tông bỏng cháy da chân, nhưng phải khổ luyện đúng như câu nói "Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu".


Cán bộ đơn vị xác định tư tưởng cho chúng tôi là: "Đối tượng tác chiến của đặc công là quân Mỹ, quân ngụy, quân chư hầu, là các căn cứ, sân bay được xây dựng phòng ngự kiên cố nên không thể lơ là trong luyện tập được".

Buổi chiều ngồi trên đám cỏ cạnh đường băng, anh nuôi đem cơm ra mà chúng tôi mệt quá không nuốt được, chủ yếu chỉ uống nước canh cho đỡ khát, đỡ đói.

Sau giai đoạn huấn luyện đánh sân bay, chúng tôi được đưa vào nội thành Hà Nội tập đánh thành phố. Khu vực luyện tập là: Nhà Hát Lớn, đường Trần Hưng Đạo, nhà của Tổng Công đoàn đối diện vườn hoa Con Cóc, Bờ Hồ. Chiến thuật chủ yếu là lợi dụng địa hình đánh chiếm các dãy phố nhà cao tầng, ném lựu đạn cầu vồng, bí mật leo lên tầng cao, từ trên đánh xuống.


Tháng 8 năm 1969, cơ bản kết thúc khóa huấn luyện. Chúng tôi đi thực tập đánh cứ điểm, sân bay giả định, bắn đạn thật AK bài bắn găm, B40, B41, súng bắn AT, phóng lựu. Tôi được bắn thử B41 vì quá trình học tôi học sâu về cách sử dụng loại súng này, sau này vào chiến trường, tôi vẫn được giao sử dụng B41 khi đánh cứ điểm chi khu quân sự Phú Tân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.


Trước khi bắn, anh Minh, y tá người Hải Phòng, lấy hai cục bông bảo tôi nhét vào hai tai, bởi loại súng này tiếng nổ đầu nòng có âm lượng rất lớn, có thể làm ảnh hưởng đến màng nhĩ tại.

Hôm đó tôi ngắm bắn bằng kính quang học. Trời không có gió nên tôi ngắm và bắn thẳng vào mục tiêu lô cốt xa 200 mét. Tôi nín thở bóp cò! Tiếng đùng đoàng quả đạn xé gió lao thẳng vào lô cốt, một vùng lửa da cam bốc lên. Trúng rồi! Mọi người reo lên sau lưng tôi. Tôi để súng sang bên cạnh, móc hai cuộn bông tai ra toét miệng cười! Tiếng nổ đâu có to ghê gớm như mọi người tưởng tượng ban đầu. Sau này vào thực tế chiến đấu, tôi bắn bốn, năm quả liên tiếp có thấy chảy máu tai như nhiều người vẫn kể đâu.


Cùng vào bắn một đợt với tôi, có cậu Bằng cùng tiểu đội, được bắn thử súng phóng lựu. Nó lấy hướng, vặn thước đo độ, lắp quả lựu đạn có chuôi vào đầu khẩu AK, lấy cân bằng bọt nước, rồi bóp cò. Đạn mã tử phóng quả lựu đạn lên cao, cán đuôi lúc lắc lên hết độ cao, quả lựu đạn chúc xuống nổ đoàng, đụn khói bốc lên gần vòng tròn đánh dấu, như vậy cũng đạt yêu cầu. Nhưng cùng lúc với tiếng nổ của súng, nó cũng bật ngửa về phía sau, do tay trái giữ súng không chắc nên bị đầu ruồi khẩu súng đập trúng trán, máu tuôn chảy đầy mặt, thế là y tá Minh có việc để băng bó thương binh! Trông nó nhăn nhó mà tức cười quá, không nhịn được, nó vung tay chửi tôi. Sau này liên tưởng đến việc bắn cối 60 ly của biệt động Sài Gòn vào dinh Độc Lập, do không có bàn đế, lấy tay giữ nòng súng nên đã bị đập gẫy mấy cái răng cửa, phải ôm mồm đầy máu khi rút lui.


Diễn tập xong Đại đội 1 của tôi và một đại đội nữa được lệnh chuẩn bị lên đường chiến đấu. Lính chúng tôi chỉ biết cấp trên bảo gì thì chấp hành đấy, chứ còn đi chiến trường nào, vào tỉnh nào đâu có biết. Mấy cậu tham mưu con thì cứ đoán già, đoán non sẽ đi mặt trận này, chiến trường kia thế thôi.


Vào những ngày cuối tháng 8 năm 1969, chúng tôi nhận quần áo bà ba, mũ tai bèo, tăng, võng bạt vải Tô Châu - Trung Quốc, thuốc men, mỗi người một khẩu AK báng gấp hai băng đạn, hai quả lựu đạn, dao găm Liên Xô, Trung Quốc, ai cũng thích dao găm Trung Quốc hơn bởi chuôi sừng đen, dao nhọn hai lưỡi đẹp lắm, tôi cũng chọn con dao này. Sau này vào đến Trường Sơn, mới thấy không phù hợp, nhất là khi chặt cây, mắc võng, nó chi hợp cho chiến đấu nhưng không đa năng như loại dao năm tác dụng của Liên Xô, cắt được cả dây thép gai. Thêm một xẻng ngắn, một cuốc chim không cán buộc dưới đáy ba lô con cóc, nó nặng đến hai kilôgam. Đi chiến đấu đợt này có anh Năm người Hưng Yên làm Đại đội trưởng, anh Lê người Thanh Hóa là Chính trị viên, các anh đều đã gần 30 tuổi, anh Năm trước là lính cao xạ chuyển sang.


Trước khi lên đường chiến đấu, anh Chu Văn Thịnh là anh rể lấy chị Toán, chị hai của tôi (anh cũng là thầy giáo dạy tôi hồi tôi học cấp II) lên chơi, có chụp được một tấm ảnh lưu niệm tại phố Thắng, Hiệp Hòa.

Sáng 30 tháng 08 năm 1969, chúng tôi chia tay với bà con nhân dân thôn Lan Mau, xã Trung Hậu. Các mẹ, các chị, các em đều rơi nước mắt, chúc chúng tôi lên đường chiến đấu may mắn, bình an. "Vâng! Chúng con sẽ chiến thắng trở về", nhưng trong lòng ai cũng nghĩ: "Thôi từ biệt bà con, gia đình, từ biệt miền Bắc thân yêu, ngày trở lại khó mà hẹn trước được" và sự thật là như vậy.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2025, 07:32:56 pm
2. Lên đường vào chiến trường B

Sáng ngày mồng 1 tháng 9 năm 1969, một ngày đáng ghi nhớ trong cuộc đời quân ngũ của tôi.

Tiểu đoàn làm lễ xuất quân cho hai đại đội đặc công đi chiến đấu, đồng chí Thị - Tiểu đoàn trưởng, trực tiếp giao nhiệm vụ, có phái viên của Bộ Tư lệnh Đặc công về dự.

Hai đại đội ăn mặc như chiến sỹ Quân Giải phóng miền Nam, có cờ giải phóng nửa đỏ, nửa xanh. Trong lễ Chào cờ hát Quốc ca, từng loạt súng AK vang rền làm cho buổi xuất quân thêm long trọng, hùng tráng, đoàn quân mười tám, đôi mươi đang sung sức tiến ra chiến trường.


Chúng tôi hành quân bộ đến thị trấn Dĩnh Kế, Bắc Giang vào nghỉ nhờ nhà dân. Đây cũng là quê hương quan họ. Tôi rủ mấy anh em đi chơi quanh xóm, nhìn mấy em gái nhỏ 15, 16 tuổi, mấy cậu lính trẻ chúng tôi rỉ tai nhau "Loại này để giấm chín đã rồi mới dùng được!", rồi chúng tôi cười giòn tan, các em nhìn mấy chú bộ đội vui, cũng cười theo, tôi bảo các em đồng ý rồi đấy. Cái cười thật hồn nhiên trong sáng, nó chỉ có ở nơi đây, ở hậu phương còn đang bình yên cách xa chiến trường khói lửa.


Sáng hôm sau, mồng 2 tháng 9, là ngày Quốc khánh của đất nước, đơn vị chúng tôi tiếp tục hành quân, nhưng được di chuyển bằng tàu hỏa, từ ga Kế về ga xe lửa Gia Lâm. Hai giờ chiều, chúng tôi đến nơi, chờ xe của Bộ Tư lệnh Đặc công đón. Mọi người tỏa ra các quán nước ven đường uống nước chè xanh, hút thuốc. Ai cũng nghĩ, rồi mai đây vào chiến trường nước chè xanh làm gì có mà uống nữa. Tôi mua mấy bao thuốc lá hiệu Trường Sơn, Trà Khúc (loại thuốc lá rẻ tiền phổ biến lúc bấy giờ), cho vào ba lô con cóc.


Trời bỗng nổi gió giật đùng đùng, mây đen che kín cả bầu trời Hà Nội, mưa ầm ầm tuôn nước xuống xối xả, nó như báo hiệu một sự kiện bất thường! Khi Bác Hồ - Vị Cha già kính yêu của dân tộc mất, nhưng lúc đó chúng tôi chưa ai được biết.

Chúng tôi lên xe, đi vào thành phố, đường Trần Hưng Đạo nước ngập đến 1/3 bánh xe ô tô. Đến ga Hàng Cỏ trời hết mưa, nhân dân đứng hai bên đường biết chúng tôi đi chiến đấu, đều vẫy tay tiễn đưa, thật cảm động. Rất nhiều lá thư không dán tem gửi về cho gia đình bay như bươm bướm xuống đường, trong khi xe vẫn chuyển bánh, nhiều người đi đường đổ xô ra nhặt thư. Chúng tôi nghĩ, những lá thư của anh em gửi về cho gia đình, người yêu, bạn bè sẽ được dán tem, đưa ra hòm thư và được chuyển giúp về đúng những nơi chúng tôi mong muốn đến. Anh em tôi ai cũng hy vọng như vậy! Và sự thật, sau này, nhiều anh em trong đơn vị tôi đã nói lại với nhau những lá thư gửi đi bất đắc dĩ ấy đã đến được tay người nhận. Trong chiến tranh, tình người quá đẹp. Hiếm có dân tộc nào mà tình quân dân lại thắm thiết như dân tộc ta. Quả đúng như ai đó đã nhận xét, tình quân dân như cá với nước, nhân dân là người mẹ che chở, bao dung cho những đứa con của mình xông pha nơi chiến trường khói lửa.


Đoàn xe đưa chúng tôi đến ga Văn Điển. Anh Hạt, người Thanh Hóa, là Trung đội trưởng của tôi, có ông chú làm ở Nhà máy Pin Văn Điển, khi biết tin đã đứng đợi chúng tôi ở đó. Sau khi chào hỏi nhau, chúng tôi cho chú biết sáng mai anh em sẽ lên tàu vào Nam chiến đấu. Chú bảo sáng mai chú sẽ ra ga tiễn chúng tôi đi.


Đơn vị tôi nghỉ đêm ở làng Ngọc Hồi, thuộc huyện Thanh Trì và đêm hôm đó, chúng tôi được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bản tin thông báo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thông tin về tình hình sức khỏe của Bác Hồ, Bác đang ốm rất nặng! Một không khí buồn bao trùm lên tất cả chúng tôi. Bác là vị lãnh tụ thiên tài, là niềm tin của cả dân tộc. Trong tiềm thức chúng tôi lúc đó, cứ nghĩ Bác không bao giờ mất, nhưng chúng tôi cũng linh cảm một tin xấu về Bác có thể sẽ đến.


Quả đúng như vậy, ngày hôm sau, mồng 3 tháng 9, đơn vị đã thông báo chính thức tin Bác Hồ đã từ trần tại thủ đô Hà Nội!

Chúng tôi ai nấy bàng hoàng, không thể tin được, nước mắt tiếc thương trào ra!

Chúng tôi đang trên đường đi chiến đấu, nhận được tin này ai mà không buồn bã. Bác là chỗ dựa tinh thần cho chúng tôi, là niềm tin tưởng để chúng tôi vững tay súng trên trận tuyến tiêu diệt quân thù.

Bữa tối hôm đó, mọi người ăn uống uể oải. Dù trong chúng tôi có đứa thủ được ít rượu cuốc lủi, nhưng chẳng ai bảo bỏ ra uống. Mọi người thì thầm trao đổi rồi lên giường đi ngủ sớm.

"Không có gì quý hơn độc lập tự do", lời hiệu triệu của Bác như khẳng định một chân lý bất di, bất dịch với dân tộc ta. Vậy mà, giờ đây Bác đã không còn nữa. Chúng tôi để tang Bác trên đường ra mặt trận. Lòng thầm hứa sẽ làm tất cả để Tổ quốc ta được độc lập, tự do.


Sáng hôm sau, chú anh Hạt ra ga Văn Điển gặp và tiễn đưa chúng tôi lên tàu, cuộc chia tay thật lưu luyến, diễn ra cũng nhanh chóng theo nhịp thời chiến. Không ngờ, đây là lần chia tay cuối cùng của anh Hạt với người chú ruột của mình. Trong chiến đấu anh đã hy sinh khi đánh sân bay địch.


Hai đại đội lên tàu, lên các toa dành riêng cho bộ đội. Tàu chuyển bánh đi về phía Nam. Đến ga thị xã Thanh Hóa, thấy mấy chị gánh nồi bằng đất đựng nước chè xanh rao bán, tôi nói đùa: "ở Hà Nội cái này chỉ để đựng nước tiểu! Anh Hạt, tức tôi lắm vì câu nói đùa rất láo lại đụng chạm đến quê hương anh. Ngồi trên tàu, chúng tôi có những đề tài tranh luận muôn thuở bất phân thắng bại, như chuyện tên gọi con tôm, con tép...


Tàu khi đó chạy chậm lắm, chạy suốt đêm đến tận sáng mới đến ga Vinh. Đến đây cũng là hết tuyến đường sắt đi về phía Nam. Đoạn từ Vinh vào, do bị máy bay Mỹ đánh phá, hư hỏng toàn bộ. Thành phố Vinh điêu tàn, loang lổ hố bom, lác đác còn mấy cái nhà cao tầng chi chít vết bom đạn như thành phố Stalingrad trong chiến tranh thế giới thứ hai mà tôi có dịp được thấy khi xem phim trước đó.


Mấy chiếc ca nô đã đợi sẵn chúng tôi ở bên bờ sông Lam, dòng sông thơ mộng đọng trong câu hát dân ca xứ Nghệ. Sớm thu, ngồi trên sông Lam ngắm cảnh mênh mông sông nước, xa xa phía Tây là dãy núi Trường Sơn hùng vĩ trải dài từ Bắc vào Nam thấy đất nước ta đẹp quá, nên thơ quá, nhưng chúng tôi chẳng được thả hồn vào những phút giây ngắm cảnh đẹp non sông mà vẫn luôn phải đề phòng với máy bay Mỹ có thể ập đến bắn phá bất cứ lúc nào.


Qua sông Lam, chúng tôi hành quân tới sông Gianh. Buổi tối sương mù giăng kín mặt sông, dòng sông lịch sử với bao đau thương tang tóc của cuộc chiến tranh hai phe Trịnh - Nguyễn, chia đất nước ta thành hai Đàng: Đàng trong và Đàng ngoài thời phong kiến trước đây, với bao máu xương và nước mắt của nhân dân hai Đàng. Chúng tôi mò mẫm theo giao liên về làng Cự Nam, một làng anh hùng nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, một địa danh được kể đến trong bài hát Quảng Bình quê ta ơi! của nhạc sỹ Hoàng Vân mà bộ đội ta rất thích thời bấy giờ. Bài hát này thường được hát trong các buổi sinh hoạt tối ở các đơn vị.


Cũng trên con sông Gianh này, hình ảnh mẹ Suốt anh hùng ngày đêm chở bộ đội qua sông đã in đậm vào trí nhớ chúng tôi, lớp thanh niên khi đó.

Nhà dân ở đây đơn sơ lắm, làm chủ yếu bằng tre, nứa, lá và thấp tè.

Ngày hôm sau chúng tôi được nghỉ xả hơi! Tôi tranh thủ đi cắt tóc, tắm giặt để hôm sau tiếp tục hành quân vào làng Ho, vẫn trên đất Quảng Bình.

Chúng tôi tiếp tục được hành quân bằng ô tô. Có lẽ vì bộ đội đặc công nên được ưu tiên hành quân bằng cơ giới hơi nhiều. Tôi biết, nhiều đơn vị bộ binh đã phải hành quân bộ từ phía Nam Thanh Hóa rồi. Đoàn xe chuyên chở chúng tôi toàn là bộ đội nữ lái xe, đường xấu, mỗi lần qua ổ gà, người ai nấy tung lên cao, giáng bịch xuống sàn xe đau điếng lên tận óc. Chị em lái xe ở tuyến lửa này chịu bao mất mát hy sinh, cùng với chị em thanh niên xung phong viết lên bản hùng ca chiến thắng của dân tộc ta. Chúng tôi thấy cảm phục những tay lái nữ này thật sự. Họ điều khiển xe một cách thành thục qua các đoạn đường dốc, quanh co, ngoằn ngoèo, uốn khúc, nhiều lúc xe băng qua ngầm nước ngập đến gần sàn xe. Họ là tấm gương để chúng tôi học tập, noi theo.


Khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, xe chở chúng tôi đi vào một bãi đất trống khá bằng phẳng thuộc làng Ho, Quảng Bình. Làng Ho đã trở thành một cái tên rất quen thuộc đối với các đơn vị đi B thời chống Mỹ.

Một cơn mưa rừng bỗng ập tới, xối xả, như trút nước ầm ầm, gió rừng gào thét, cây rừng nghiêng ngả, những tổ kiến to bằng cái mũ bị gió cuốn thỉnh thoảng rơi bịch xuống kèm theo tiếng rầm, ai nấy thất kinh. Những tháng huấn luyện chiến đấu, chúng tôi cũng đã được trải qua những tình huống thời tiết mưa nắng khắc nghiệt rồi, nhưng chưa thấy trận mưa nào lại đến nhanh và giữ dội như vậy. Tôi thầm nghĩ, đây có lẽ là trận trời phủ đầu cho đám lính trẻ chúng tôi chuẩn bị bước vào hành quân trên dãy Trường Sơn đây.


Mặc mưa to gió lớn, cả đơn vị tôi đội mưa khẩn trương mắc tăng võng để chuẩn bị chỗ ngủ qua đêm, và công việc ưu tiên hơn là che chỗ nấu ăn cho bộ phận anh nuôi tác nghiệp để có cơm cho bộ đội. Khi hành quân, đơn vị tôi tổ chức bếp ăn theo trung đội.

Cũng may, khu vực trú quân của đơn vị tôi có loại cây có dầu, nên mặc dù ướt, nhóm lửa vẫn cháy. Tuy vậy, cũng vô cùng khó khăn mới nhóm được bếp để nấu cơm. Mỗi đứa phải cắt 20 cm dây cao su là quai dép dự phòng để nhóm lửa, tiếc đứt ruột (các đơn vị hành quân vào Nam thời chống Mỹ vẫn được cấp một cuộn dây cao xu dự phòng để thay quai dép khi bị đứt).


Thế rồi nồi cơm cũng chín, tất nhiên là còn rất sượng, bụng đói chúng tôi vẫn ăn ngon lành, ăn xong rửa vội bát đũa bên con suối nhỏ rồi lên võng đi ngủ.

Sáng hôm sau thức dậy, tôi thấy võng be bét máu. Trong đêm tối những con vắt đã ngửi thấy hơi người, chúng chui vào các bộ phận cơ thể tha hồ hút máu. Tuy nhiên, vì đang tuổi ăn tuổi ngủ, lại hành quân cả ngày nên tụi tôi mệt, lăn ra ngủ, vắt cắn no cũng chả biết gì. Những con vắt no máu bị chúng tôi đè bẹp trên võng máu loang ra đỏ thẫm trên võng!


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2025, 07:34:38 pm
3. "Trường Sơn Đông nắng Tây mưa/ Ai chưa đến đó thì chưa biết mình!"

Trong ký ức của tôi, ngoài những kỷ niệm về các trận đánh ác liệt, thì ký ức về con đường Trường Sơn là sâu đậm nhất.

Nói đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phải nói ngay đến con đường Trường Sơn.

Những ai vào chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà chẳng phải thử thách trên con đường huyền thoại Trường Sơn.

Tuyến đường chủ yếu chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, con đường ngày đêm bị đế quốc Mỹ dùng không quân, tàu chiến bắn phá thả bom, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc vào miền Nam. Mọi loại phương tiện kỹ thuật chiến tranh tối tân nhất mà đế quốc Mỹ phát minh ra đều được sử dụng để hủy diệt con đường này với đúng nghĩa "hủy diệt".


Những cánh rừng nguyên sinh đã bị tàn phá không một thân cây nào nguyên vẹn. Những cây cổ thụ khổng lồ bị bom tấn, bom tạ, bom phát quang, bom napan, chất độc hóa học màu da cam... quật đổ ngả nghiêng, xác xơ trơ trụi thân cành.

Hàng triệu tấn bom đạn đã trút xuống núi rừng Trường Sơn hùng vĩ suốt cả ngày lẫn đêm, trong mọi hình thái thời tiết, kéo dài suốt cả cuộc chiến tranh Mỹ xâm lược Việt Nam. Chúng thả nhiều cây thu phát nhiệt đới để trinh sát các hoạt động của bộ đội ta, các loại mìn (mìn lá, mìn bướm, vướng nổ...), các loại bom (nổ chậm, napan, từ trường, lân tinh...) để ngăn chặn con đường chi viện sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường miền Nam.


Từ bãi tập kết làng Ho, chúng tôi bắt đầu leo dốc vượt Trường Sơn.

Trên đường hành quân, chúng tôi gặp những cô gái dân tộc Bru, Vân Kiều sống trên dải Trường Sơn đi ngược lại, đầu không nón mũ, tóc đen xoăn tít, chân to không mang giày dép, ngực để trần không áo che đậy, sau lưng mang gùi đựng xôi lúa nương, hoặc vài quả dưa, còn những người con trai chỉ đóng khố, tay cầm một con dao quắm, cũng chân trần. Họ đi rất nhanh. Gần trưa, bụng tôi đã đói, nhìn những gói xôi trong gùi của những người dân cơn đói lại càng như cồn cào hơn.


Thời tiết cuối thu trên dãy Trường Sơn khí hậu rất ẩm ướt. Ánh sáng yếu ớt xuyên qua tán lá rừng. Những con vắt bắt đầu tấn công chúng tôi, chúng rất nhanh nhẹn, những con đỉa cạn co người búng nhảy tanh tách, chúng chui vào cổ, vào kẽ chân để hút máu. Vắt đỏ thì cắn rất êm, khi no căng mới biết, còn vắt xanh thì cắn rất buốt, dứt được chúng ra nhưng máu vẫn chảy mãi, chúng tôi phải lấy thuốc tím pha loãng bôi vào mới cầm được máu.


Thỉnh thoảng, chúng tôi gặp những đoàn người ra Bắc. Họ đủ mọi thành phần, nào bộ đội, nào văn công, dân chính, trông ai nước da cũng tái sạm, bủng beo, mắt thì trắng, môi thì thâm, vì sốt rét chứ không khỏe như chúng tôi, những người lính từ đất Bắc đang hành quân vào, chưa nếm mùi sốt rét và những ngày đói quay đói quắt.


Đi được khoảng năm ngày, chúng tôi được Binh trạm trên tuyến đường dây 559 cho nghỉ một ngày. Nói là nghỉ, nhưng ngày đó chúng tôi phải đi lấy gạo, thực phẩm cho chặng hành quân tiếp sau. Từ chỗ mắc tăng võng nghỉ trong bãi khách đến kho lấy gạo cũng phải mất tầm 2 tiếng một lượt. Sau khi nhận mỗi người 25kg ở kho, chúng tôi lên đường về nơi nghỉ. Thấy con suối dưới chân khu kho, chúng tôi thống nhất đi theo suối cho mát để về bãi khách. Không ngờ con suối ngoằn ngoèo rất khó đi, gần 12 giờ trưa chúng tôi vẫn chưa về đến đơn vị, bụng thì đói, người thấm mệt. Rất may gặp một toán bộ đội đang ngồi ăn cạnh suối, chúng tôi hỏi thăm thì ra là anh em lính Hải Phòng, họ mời chúng tôi ăn cơm. Không khách sáo, chúng tôi liền ngồi vào ăn luôn, phải chăm lo cho cái dạ dày đã. Ăn xong, chúng tôi chia tay ngay, để kịp về đơn vị. Đi khoảng một tiếng nữa chúng tôi nghe tiếng nói lao xao, rẽ phải lên hết suối, chúng tôi mừng quá, mấy thằng bạn trong đơn vị bảo đang mong chúng tôi, vì đi lâu quá những người khác đã về từ hồi 11 giờ rồi.


Thời gian chúng tôi hành quân ở Trường Sơn đang là mùa mưa. Ngày nào cũng mưa. Mưa rừng Trường Sơn dầm dề, dai dẳng, là môi trường thuận lợi cho các loài vắt hoạt động. Không ai không bị vắt cắn máu chảy toe toét, vết nọ chồng lên vết kia, cho đến hôm nay sau hơn 40 năm vết vắt cắn ngang dọc ở hai chân tôi ngày ấy giờ vẫn còn sẹo. Quần áo ẩm ướt rất khó chịu, vì tấm nilon che người và ba lô không kín hết. Chiều tối đến trạm nghỉ mới, chúng tôi cứ để nguyên thế đốt củi sưởi cho khô rồi leo lên võng ngủ.


Một tổn thất đầu tiên đã đến với đại đội của tôi. Đơn vị lại đi nhận gạo, đợt này tôi không phải đi. Đến trưa, anh em về mặt buồn rười rượi, mọi người thông báo đoàn đi lấy gạo bị đánh bom gần kho gạo, anh Đạt ở 82 Hàng Khoai, Hà Nội là quản lý của đơn vị đã hy sinh. Khi huấn luyện ở miền Bắc, tôi đã biết anh, anh tên là Hoàng Tử Đạt. Tôi đã thấy gợn lên một cái gì đó mơ hồ, tại sao lại có tên đệm là "tử", nhưng tôi lại nghĩ thời tam quốc có danh tướng của Lưu Bị tên là Triệu Tử Long cũng có chữ đệm là "tử" mà cả cuộc đời không dính một hòn tên mũi đạn, lại sống thọ 81 tuổi mới chết, phải chăng mỗi người mỗi số phận. Tôi thương anh quá, anh có nước da trắng hồng như con gái, môi đỏ như son, lại là đồng hương Hà Nội với tôi. Còn anh Khải bị sức ép bom, người trông cứ ngơ ngẩn. Đơn vị phải để anh ở lại giao cho Binh trạm. Sau nghe anh em nói, anh được đưa trở lại miền Bắc để điều trị. Đưa được bộ đội vào chiến trường mà không bị sứt mẻ về quân sổ trên đường hành quân là một thắng lợi của các đơn vị.


Chúng tôi hành quân qua thượng nguồn sông Bến Hải, con sông bắt nguồn từ dẫy Trường Sơn, thuộc địa phận Vĩnh Linh, đây là vĩ tuyến 17 phân chia hai miền Nam Bắc theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Ngồi nghỉ chờ trong cánh rừng bên bờ Bắc sông, phải đợi trời gần tối mới được tổ chức vượt sông, vì từ sông sang bờ Nam là một cánh rừng đã bị B52 Mỹ san phẳng. Cây cối bị bom phạt đổ ngổn ngang. Đi ban ngày dễ bị máy bay trinh sát phát hiện, chúng đánh bom thì chắc chắn sẽ hy sinh rất lớn.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2025, 07:35:42 pm
Khoảng 6 giờ tối, sương mù trắng xóa, giăng kín mặt sông, bên phải là những dãy núi cao của Trường Sơn, trời trở lạnh. Vì ở thượng nguồn nên chúng tôi lội qua sông nước chỉ đến đầu gối. Ôi sông Bến Hải đây ư, vĩ tuyến 17 đây ư? Con sông tôi chỉ được hình dung qua những trang sách, bài hát, câu thơ, giờ mình đang lội qua nó để sang phía bên kia, sang vùng địch, dải đất đã mười mấy năm chia cắt đôi miền.


Trời mưa phùn rất lạnh, đêm thì tối như mực, chúng tôi phải nhìn ánh sáng xanh của miếng lân tinh sau mũ tại bèo của người đi trước mà đi theo, tay sờ tránh những thân cây đổ nằm bừa bãi, có cây chắn ngang ngực phải khom lưng chui qua. Vắt nhiều vô kể, bom đạn Mỹ nhiều như thế mà không diệt nổi loại sinh vật này. Tay luôn phải sờ xuống chân, lên mặt để nhặt chúng vứt đi. Đêm tối hành quân phải bám theo nhau, người sau phải theo kịp người đi trước nếu không lạc đường ngay.


Phải gần một tiếng đơn vị mới vượt qua bãi bom B52 tiến đến bìa rừng Nam sông Bến Hải. Chúng tôi được lệnh ngồi nghỉ, ai nấy sờ gỡ vắt, nhiều con hút máu no căng lăn cả vào trong áo, phải dò mãi mới tìm được chúng. Lúc này nghe tiếng máy bay địch, pháo sáng liên tiếp soi sáng rực cả bầu trời, rồi chúng đánh bom vào tuyến đường cách chúng tôi gần 1km, đất rung lên, chớp lóe liên tục. May mà không có B52 đánh, nếu B52 dải thảm thì chúng tôi sẽ khó thoát được kiểu đánh tọa độ rất rộng của chúng.


Thế rồi cái điều mà chúng tôi không muốn xảy ra đã đến: sốt rét! Lác đác trong đơn vị đã có người đổ bệnh, rồi cũng đến lượt tôi. Một chiều tự nhiên tôi thấy ăn cơm rất khỏe và rất ngon, qua đêm sáng hôm sau dậy thấy đau nặng trĩu, đau nhức như búa bổ, chân tay rã rời, người run lên bần bật trong cơn sốt, ngoài da nóng mà trong cơ thể thì rất lạnh, đắp chăn vẫn rét run.


Tôi vẫn phải gượng dậy hành quân, hôm nay cái ba lô con cóc, khẩu AK vẫn như mọi ngày giờ sao có cảm giác nó nặng quá vậy, muốn vứt thứ gì đi cho nhẹ! Tôi nhìn cái cuốc chim Trung Quốc buộc dưới đáy ba lô, lưỡng lự trong giây lát, rồi tôi cởi phăng vứt xuống hầm, như vậy cũng giảm được hơn 2kg. Hôm đó hành quân quả là một sự đày ải ghê gớm, nhất là lên dốc, máu dồn lên hai thái dương đập mạnh thình thịch như muốn nổ tung ra. Cứ leo được khoảng hai chục mét là lại phải nghỉ, lấy cây gậy chống vào đáy ba lô đứng nghỉ một lúc, đầu đỡ nhức lại đi, điệp khúc ấy cứ nhai đi nhai lại, đến trạm khách tiếp theo thì tôi không còn sức bước đi nữa. Hôm sau chỉ huy đơn vị đành phải để tôi ở lại binh trạm nghỉ, không hành quân cùng đơn vị được nữa. Ngoài tôi ra nhiều anh em cũng chung tình trạng ấy. Từ đây, những trận sốt rét cứ theo chu kỳ khoảng 3 tháng một lần, chúng lại đốn ngã tôi, đi theo tôi suốt cuộc chiến đấu cho đến khi trở lại miền Bắc, rồi phải mất tiếp thời gian 10 năm nữa chúng mới chịu chia tay.


Phải mất 4 ngày sau khi điều trị, được tiêm quinin vào hai mông tôi mới dứt cơn sốt. Tuy còn rất mệt sau đợt sốt rét, nhưng vì đói và thèm rau tươi quá, tôi hỏi đường vào bản dân tộc để kiếm thức ăn. Một đồng chí giao liên chỉ dẫn cách đi tới một bản gần đó. Tôi khoác khẩu AK sau lưng và mang theo hộp thuốc cá nhân. Phải đi bộ mất gần ba tiếng đồng hồ tôi mới vào đến bản. Tôi leo theo bậc cầu thang lên một nhà sàn, trong nhà có một người đàn ông khoảng gần 50 tuổi, ngồi bó gối trông rất thiểu não. Bên cạnh có hai đứa trẻ con, một trai, một gái, chúng đều cởi truồng, nhìn tôi không nói gì, mà tôi cũng không biết tiếng dân tộc ở đây. Tôi đoán chắc người đàn ông ốm, tôi tiến lại lấy tay đặt lên trán thấy nóng hầm hập, tôi mở hộp thuốc cá nhân lấy mấy viên Aspirin (thuốc cảm) đưa cho ông và ra hiệu mỗi lần uống một viên. Người đàn ông gật đầu, lấy tay chỉ vào băng đạn AK, tôi hiểu ngay họ muốn có đạn để săn bắn. Tôi ra hiệu chỉ vào hũ gạo và nải chuối chín treo trên tường, ông lấy lon sữa bò đong cho tôi bốn lon gạo nương, đưa cho tôi một nải chuối.


Trong hoàn cảnh đói triền miên, kết quả vào bản hôm ấy như vậy là thắng lợi lớn. Tôi lấy băng đạn tháo ra bốn viên đạn mới vàng chóe đưa cho ông, ông cười rất tươi, hai tay đón nhận đạn cất ngay vào gần khẩu CKC cạnh vách nhà. Chia tay ông, tôi về binh trạm thì trời cũng đã trưa, tôi đã có gạo để dành cho những ngày hành quân tới. Cái cảnh đi kiếm ăn, đổi chác với đông bào dân tộc không phải ai cũng gặp may thành công như tôi. Một hôm, một đồng chí trung đội trưởng của đại đội tôi một hôm vào bản để đổi gạo, anh đi qua một dãy của đồng bào dân tộc. Thật không may, anh giẫm phải bẫy thò của dân bẫy thú rừng, một mũi thò làm bằng một cây tre đực nhỏ vót nhọn lao cắm xiên qua đùi anh, anh không thể rút ra được, máu xối ra, anh gục xuống chết bên gốc cây rừng. Thật vô cùng đau xót! Cái chết trên đường hành quân không phải chỉ có thế, nhiều anh em lên cơn sốt rét ác tính, sốt mê man không tỉnh lại được đái dầm cả ra quần mà không biết. Mặc dù các y bác sĩ đã hết sức cứu chữa trong điều kiện có thể, nhưng họ đã chết mà không thể đi tới đích, đó là chiến trường để chiến đấu.


Sau những trận sốt rét, quân số đại đội tôi không còn đầy đủ để đi cùng nhau nữa. Ai ốm thì nằm lại binh trạm điều trị, ai khỏe lên lại tự hành quân đuổi theo đơn vị theo đường giao liên đi vào chiến trường.

Một hôm tôi đi cùng một cô giao liên dẫn đường đi qua địa phận rừng A sầu, A Lưới, bỗng nghe thấy nhiều tiếng đại bác đì đùng vọng đến. Tôi hỏi nơi đó là đâu, cô giao liên bảo đó là Huế, tôi chưa bao giờ đến Huế. Tôi tưởng tượng kinh đô Huế chắc đẹp lắm, nếu hết chiến tranh tôi sẽ đến thăm Huế. Ước nguyện của tôi sau này đã thực hiện được, tôi đã nhiều lần thăm kinh đô Huế cổ kính bên dòng sông Hương thơ mộng. Một hình ảnh đã gây ấn tượng và vô cùng xúc động, đó là trên đường giao liên, thỉnh thoảng tôi lại gặp một nấm mộ cô đơn thấp tè nằm cạnh đường, trên mộ đặt một đôi dép rọ nữ.


Nỗi niềm thương tiếc những người con gái đã cống hiến cả sự sống, tuổi thanh xuân cho sự nghiệp thống nhất đất nước ấy theo tôi đi suốt chặng đường hành quân. Cho đến khi ra Bắc, tôi làm bài thơ để tri ân những người con gái đã nằm lại giữa núi rừng Trường Sơn trùng điệp. Từ bài thơ, một nhạc sĩ đã phổ nhạc thành bài hát nhan đề Hát về em cô gái giao liên và được Đài Truyền hình Huế dàn dựng thành video clip.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2025, 07:36:42 pm
Ai hành quân vượt Trường Sơn chắc cũng đi qua dốc Nguyễn Chí Thanh, một vị tướng tài ba của quân đội ta đã vào chiến trường trực tiếp chỉ đạo và tổng kết chiến dich phản công mùa khô lần thứ nhất, dốc cao trên nghìn mét. Sức khỏe của tôi và anh em ngày một giảm sút do bị sốt rét và thiếu ăn. Có hai quả lựu đạn chúng tôi đã đem đánh cá ở suối để cải thiện bữa ăn. Có lần tôi đổi hai viên đạn cho đồng bào dân tộc được một bình tông mật ong rừng. Trong hoàn cảnh này, nó quý hơn vàng, giúp chúng tôi có thêm đường để hỗ trợ sức khỏe tạm thời. Sức khỏe cứ tụt dốc dần, ăn uống ở các binh trạm càng vào sâu càng kém hơn. Có một binh trạm ở Quảng Nam không có gạo phát cho bộ đội, họ chỉ ra nương sắn bảo mọi người tự đi lấy mà ăn. Chúng tôi lấy sắn tươi về rồi lấy ống bơ sữa bò đục lỗ để nạo sắn thành bột, lấy lá dong ven suốt gói bột sắn như gói bánh chưng và cho vào ăng gô luộc chín để ăn và đem theo hành quân; mỗi bữa cũng chỉ được ăn một cái bánh to bằng nắm tay thôi, ăn hết, bữa sau lấy gì mà ăn.


Nghỉ qua đêm, sáng ra, tôi thấy người mệt lắm, đành gửi lại khẩu AK và hai băng đạn trống rỗng ở lại trạm giao liên, chỉ lấy đạn AK đem theo để đổi cái ăn ở dọc đường. Đó là hành vi vi phạm kỷ luật, nhưng ai ở hoàn cảnh này chắc cũng thông cảm cho tôi, phải dứt ruột mà chia tay khẩu AK thân yêu đã theo tôi suốt một chặng đường. Nhưng tôi cảm thấy không còn đủ sức để theo cùng đơn vị khi phải mang khẩu AK bên mình. Lúc này, thật lòng mà nói nếu cắt bỏ một cái khuy áo cho nhẹ tôi cũng cắt bỏ. Sức khỏe đã quá yếu do những cơn sốt rét đã quật ngã tôi. Chúng tôi nói với nhau, giờ chúng ta đi bằng cái đầu, bằng ý chí quyêt tâm của người lính, chứ đôi chân không muốn nhấc lên để đi nữa rồi.


Một hôm, tôi đến một binh trạm ở Quảng Nam, mừng quá gặp lại Trung đội trưởng của tôi là anh Hạt. Tối hôm đó hai anh em mắc võng ngủ cùng nhau trong một cái lán, nói chuyện đến tận khuya. Sáng hôm sau, ăn bữa sáng xong, chúng tôi lại được điểm tâm leo đốc ngay, vì các trạm nghỉ thường hay bố trí dưới chân núi, nằm bên suối để tiện cho việc lấy nước. Các cung trạm giao liên trên tuyến 559 đều có kiểu bố trí trạm nghỉ như vậy nên rời trạm hành quân là phải leo dốc.


Gần trưa thì leo qua đỉnh, hai anh em ngồi nghỉ nói chuyện, ước gì sau chiến tranh còn sống sẽ đến nhà thăm nhau thì thú vị biết mấy. Nghỉ một lúc, nhìn thấy một nương sắn xanh tốt sát bên đường mòn giao liên, anh bảo tôi ngồi trông ba lô, súng, còn anh vào, nhổ ít sắn đem về trạm nghỉ tới luộc ăn cho đỡ đói.


Anh vừa thò chân bước qua hàng rào, bị chông gài ở hàng rào đâm trúng bụng chân. Tôi nặn bóp hết máu chân anh băng lại. Việc lấy sắn phải gác lại, bây giờ, phải lo đưa anh nhanh về trạm nghỉ để cứu chữa kẻo nhiễm trùng thì nguy hiểm đến tính mạng chứ chẳng chơi.


Đến trạm nghỉ, chân anh sưng vù to lắm, anh nằm võng rên hừ hừ, tôi thương anh quá. Tôi đi gọi y tá trạm giao liên đến tiêm kháng sinh cấp cứu cho anh, phải mất đến một tuần anh mới đi lại được. Thật hú vía, mỗi lần nghĩ đến chông tre là tôi thấy ớn lạnh cả người.


Sau này vào chiến trường Phú Yên, anh Hạt được bổ sung vào Tiểu đoàn đặc công 14, chiến đấu ở chiến trường huyện Tuy Hòa I. Anh lập được nhiều chiến công và đã anh dũng hy sinh trong trận tập kích sân bay Đông Tác. Anh không thể sống đến ngày hòa bình để anh em về quê thăm nhau. Nhớ anh, trong tôi đọng lại một niềm tiếc nuối khôn nguôi. Cuộc tiễn đưa anh ở ga Thường Tín đối với người chú của anh là một cuộc vĩnh biệt!


Qua huyện Tiên Phước - Quảng Nam, lúc ngồi nghỉ, tôi ngửi thấy mùi quế thơm lừng. Nơi nghỉ chân là một rừng quế. Mọi người đều chặt những cây quế bóc vỏ cho vào ba lô thỉnh thoảng ăn một chút cho ấm người, chống lại cái lạnh của sốt rét. Dốc núi Quảng Nam có lẽ cao nhất trong dãy Trường Sơn, thứ hai mới đến dốc Kon Tum. Trên đỉnh núi mặc dù trời đang nắng mà vẫn rất lạnh, sương tụ lại thành những giọt nước rơi tí tách. Bên cạnh đường đi là vục sâu thẳm, mây giăng trắng xóa không nhìn thấy đáy vực. Rừng già, cây chen nhau vươn lên che kín mặt trời. Đây đó có vài tia nắng hiếm hoi chiếu xiên qua kẽ lá. Phía dưới gốc cây đây leo chằng chịt, có dây to bằng cổ tay dùng dao găm phạt đứt, nước từ đó chảy ra có thể ngậm mồm vào là uống được. Trong rừng già, lớp lá cây rụng xếp dày đến hai, ba, chục phân, bước chân đi là chúng thụt xuống, rồi những chú vắt xanh, đỏ nhảy lên bâu vào chân để hút máu.


Dốc tiếp dốc, đầu người sau đội mông người trước, lên đến đỉnh dốc vì Quá mệt nên mồm, mũi tranh nhau thở, nhưng cánh lính trẻ vẫn khôi hài. Cậu Sâm người dân tộc Tày quê Cao Bằng, nói trong hơi thở: "Lúc này chị em có mời cũng xin đầu hàng, vái cả nón". Mọi người cười với cái miệng méo xệch.


Những lúc trên đường giao liên qua con suối thấy có rau môn thục, môn dóc, rau tàu bay là tranh thủ hái, rửa sạch cho vào ăng gô để đem về trạm nghỉ nấu ăn. Gia vị chỉ có muối hột, rau tàu bay có thể bóp với muối làm dưa ăn luôn, có mùi hăng hắc, ngai ngái rất khó ăn.


Đến một binh trạm cuối tỉnh Quảng Nam, mấy anh ở binh trạm rủ tôi ở lại làm giao liên, các anh đang thiếu người. Tôi không đồng ý, vì mục tiêu của chúng tôi là hành quân ra chiến trường, cũng muốn giáp mặt với quân Mỹ để chiến đấu, lúc này ý chí chiến đấu cao lắm. Buổi chiều hôm ấy, có tiếng nói của nhiều người, rồi hai cái cáng khênh vào binh trạm, hai anh ở binh trạm đi truy lùng biệt kích địch bị thương, có anh bị lòi cả ruột. Bên ta tiêu diệt được năm tên, còn lại chúng bỏ chạy được trực thăng đón về căn cứ.


Một buổi trưa, tôi ngồi nghỉ bên sông Xê Ca Máng, bên này là Việt Nam, bên kia là đất bạn Lào. Tôi bước qua dòng sông nhỏ như suối, sang đất Lào, thế là tôi không được sang Liên Xô học như các bạn tôi ở trường Hóa chất, thì tôi cũng có số xuất ngoại sang nước Lào đấy chứ! Nghĩ vậy, tôi cũng cảm thấy thú vị trong lòng. Thỉnh thoảng nghe tiếng còi ô tô vận tải ở sườn núi, không thấy xe đâu vì chúng khuất núi. Cũng có lúc chúng tôi đi cắt qua đường ô tô, đường đi dưới tán lá rừng, đường có những khúc cây xếp ngang để ô tô đi không bị patine. Những chiếc ô tô Trường Giang, Zil "kliơ" bò chậm chạp, cõng trên lưng chủ yếu là vũ khí, đạn dược và thuốc men.


Tôi phục nhất là anh em vận tải bộ, bằng đôi vai, họ đi từng tốp trèo đèo lội suối. Chiếc gùi trên vai to cao quá đầu người, trọng lượng mỗi người cõng có lẽ cũng lên đến năm sáu chục cân. Họ như những con kiến tha lâu đầy tổ. Tuy phương thức vận tải thô sơ cổ điển, nhưng nó bổ sung chi viện cho chiến trường rất hiệu quả, nhất là những lúc máy bay địch đánh phá cắt đứt đường vận tải cơ giới của ta.


Suốt dọc đường vào Nam, lúc nào trên bầu trời cũng có máy bay trinh sát L19, OV10 hoạt động nhòm ngó, chỉ điểm cho máy bay phản lực đánh bom. Chúng đánh phá đường ống xăng dầu, kho tàng, đánh vào các đoàn quân. Có lần B52 đánh trúng đội hình hành quân của một trung đoàn, quân số thương vong rất nhiều. Mùa mưa mỗi lần lội qua sông, chúng tôi phải cởi quần áo đội cùng với ba lô trên đầu. Nước chảy xiết, lạnh thấu xương, lên bờ người run cầm cập, hai hàm răng cứ va vào nhau lập cập, phải lấy củi đốt sưởi ấm ngay.


Qua Quảng Nam, chúng tôi tiếp tục hành quân ngày đi đêm nghỉ. Rồi đoàn quân của chúng tôi hành quân qua các tỉnh Quảng Ngãi, Kon Tum, với cái tên trạm Bửu, Ngà, Hương, trạm cô Gia, trạm Lập, trạm Huế, trạm cô Đào... Vào tới tỉnh Gia Lai, lúc này trời đã đỡ mưa, đường giao liên tương đối bằng phẳng, đỡ dốc hơn, những rừng khộp các cây không cao lắm. Anh Sam, người Cao Bằng, đi với tôi gặp một anh trong đoàn dân chính đảng đi ra Bắc, anh gạ tôi đổi cái mũ tai bèo, anh đưa cho một ăng gô ruốc thịt lợn. Tôi đồng ý ngay! Tối hôm đó, chúng tôi làm một bữa liên hoan, đã lâu lắm rồi chúng tôi không được ăn thịt mà chỉ ăn toàn rau rừng, măng tre nứa. Ruốc thịt lợn mà nấu canh với lá giang ngon tuyệt, lúc đun nó bốc lên mùi thơm, hơi chua ngọt mà nước miếng cứ tứa ra. Binh trạm chúng tôi nghỉ gần đường số 19 từ Bình Định đi An Khê. Phải chờ cho đủ chuyến để giao liên dẫn đi, vượt qua đường 19 là sang đất Phú Yên, là nơi mà cả cuộc đời chiến đấu của tôi gắn liền với nó trong những tháng năm ác liệt của chiến tranh.


Lúc này là cuối tháng 12 năm 1969, kể từ ngày đơn vị tôi hành quân vào Nam đã được ba tháng. Thế rôi sau mấy ngày chờ đợi, binh trạm cũng tập hợp được đủ người cho một chuyến vượt đường 19. Đội hình gồm có bộ đội, anh em vận tải, cán bộ dân chính đảng, văn công. Buổi sáng hành quân di chuyển, khoảng 5 giờ chiều chúng tôi đã đến bìa rừng phía Bắc đường 19, chờ tới tối để vượt đường. Trước mặt chúng tôi, nhìn hai bên đường mỗi bên rộng khoảng 500m, toàn bộ cây rừng bị phát quang, cứ cách một chặng vài km địch đóng một chốt, chúng cho xe tăng, xe M113 thường xuyên đi tuần để ngăn chặn quân ta vượt đường.


Trời tối dần, sau khi đoàn xe tuần tra của địch đi qua mất hút ở một khúc của của con đường. Hai anh giao liên cầm tiểu liên chạy trước, cả đoàn chúng tôi chạy theo. Dù mệt nhưng không ai dám nghỉ. Chúng tôi băng qua con đường nhựa phẳng lỳ. Ở miền Bắc tôi chưa được gặp con đường nào tốt như thế. Chạy giữa khoảng trống đất đỏ nham nhở, gần tới bìa rừng phía Nam đường 19 đã an toàn, mọi người đều nằm vật xuống thở như bễ lò rèn. Mừng nhất là cả đoàn an toàn, không xảy ra vấn đề gì. Được biết đã có đoàn vượt đường bị địch phát hiện bắn xối xả và xảy ra thương vong.


Đến đây, cuộc hành quân vượt Trường Sơn của đơn vị đặc công chúng tôi đã kết thúc. Trên đường hành quân có cả máu và cả nước mắt, đã có gần 10 đồng đội của chúng tôi đã vĩnh viễn nằm lại trên các cung đường. Năm tháng qua đi, nhưng những ký ức của tôi về đường Trường Sơn, con đường huyền thoại vẫn sống mãi trong lòng tôi - một người lính, sống mãi trong lòng người Việt Nam, nó viết lên bản hùng ca bi tráng của một dân tộc anh hùng và bất diệt, đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

   Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa
   Ai chưa đến đó như chưa biết mình!


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2025, 07:38:20 pm
4. Những năm tháng chiến đấu ác liệt trên chiến trường Phú Yên

Sau khi vượt đường 19 thành công, chúng tôi đến trạm Kte thì trời đã quá trưa. Tôi gặp anh Ái - người Nghệ An, anh Tóa người huyện Ứng Hòa, Hà Tây (nay là Hà Nội), hai anh đều là học sinh Trường trung cấp Hóa chất với tôi. Gặp được bạn bè cũ giữa chiến trường, chúng tôi mừng lắm, ôm chầm lấy nhau. Thế là chúng tôi, những học sinh yếu đuối hôm nào, nay đã vượt qua được dãy Trường Sơn, gặp lại nhau vẫn mạnh khỏe, hỏi không vui sao được.


Sáng hôm sau, chúng tôi dậy rất sớm để theo giao liên vượt qua bãi cỏ tranh Tân Sơn. Đường đi không có cây to, chỉ có cây nhỏ từng khóm lúp xúp, nên rất dễ bị máy bay trinh sát phát hiện. Chúng tôi đi từng nhóm ba người, cách nhau khoảng mười mét để dễ ẩn nấp.


Hôm đó trời không mưa, mới 6 giờ sáng mà mặt trời đỏ lừ từ hướng Đông đã nhô lên rất nhanh. Toàn bãi cỏ tranh như một tấm thảm vàng trải dài hơn hai cây số, nhìn rất đẹp mắt.

Một chiếc máy bay trinh sát OV10, từ sân bay Đông Tác gần thị xã Tuy Hòa (nay là thành phố Tuy Hòa), Phú Yên bay lên. Nó hạ thấp độ cao, lượn vòng tròn, nghiêng ngó tìm mục tiêu, nhưng chúng tôi đã nhanh chóng ẩn nấp vào các bụi cây, ngồi yên bất động. Không phát hiện được gì, chúng bay đi nơi khác. Loại máy bay trinh sát này bay tìm mục tiêu dai như đỉa đói, rất khó chịu. Ở bãi tranh này, có lần mấy chị em đi lấy gạo bị chúng phát hiện, chúng gọi phản lực đánh bom. Sau đó, trực thăng hạ cánh bắt sống được ba người đưa về thị xã Tuy Hòa.


Hết bãi cỏ tranh, đi một đoạn ngắn, rẽ trái theo một đường mòn, chúng tôi đến suối Ché. Bên bờ suối, chúng tôi bắt gặp các nhà lợp cỏ tranh, đây là trạm đón tiếp quân từ miền Bắc vào. Trong khi chờ đợi về đơn vị chiến đấu, chúng tôi ăn rồi lại nằm chờ. Thời gian rảnh rỗi, chúng tôi ra suốt bắt cá, bắt cua. Mùa này suối cạn, nước đọng từng vũng, của cá không nhiều. Bắt được con nào chúng tôi đốt củi nướng lên chia nhau, người cái càng, người cái chân, anh em nói vui một con cua mà bốn, năm tỉnh ăn mới hết! Bắt được ít cá con, chúng tôi hái lá non của cây bứa nấu canh chua ăn rất ngon, mỗi bữa ăn mỗi người được một bát cơm, với sức thanh niên thì chả thấm vào đâu, đói vẫn hoàn đói, cái bụng luôn sôi réo đòi ăn.


Ở trạm đón tiếp được 10 ngày thì có anh Hạ, là quản lý của Đại đội đặc công 202 thuộc Tỉnh đội Phú Yên, đến đón chúng tôi về đơn vị. Quân số bổ sung cho Đại đội đặc công 202 có 10 người, trong đó có tôi, anh An, anh Sam, anh Tỏa, anh Ái, anh Ngữ và 10 người nữa bổ sung về Đại đội đặc công 201 cũng thuộc Tỉnh đội Phú Yên. Số còn lại bổ sung cho Tiểu đoàn đặc công 14, đóng ở địa bàn Tuy Hòa I. Chúng tôi chia tay nhau. Sau này, không có điều kiện gặp lại nữa, anh Hạt - Trung đội trưởng của tôi - cũng về Tiểu đoàn 14.


Khi đi qua suối Ché, chúng tôi có gặp một đoàn văn công đi lấy gạo, thế là hỏi thăm quê hương của nhau tíu tít. Các cuộc chuyện trò kiểu như thế thường xuyên xảy ra khi các đơn vị gặp nhau trên đường hành quân thời chống Mỹ ở chiến trường miền Nam. Qua hỏi han nhau, tôi gặp được anh Hồ, người xã Cổ Nhuế cùng huyện Từ Liêm với tôi. Hai anh em hồ hời hỏi chuyện nhau, tôi được biết anh đã gần 30 tuổi, anh ở ban nhạc trong Đoàn văn công tỉnh Phú Yên, anh chơi nhị, ở nhà đã có vợ và năm con. Về sau, tôi nghe tin, anh đã hy sinh trong một lần đi lấy gạo do máy bay đánh bom ngay trên đường 6, gần suối Hòa Bình, ngày 12 tháng 10 năm 1970.


Hôm đó, anh dốc ruột tượng cho tôi khoảng 5 lon ngô xay, trong hoàn cảnh đói kém, số ngô xay này là rất quý cho đến nay tôi vẫn nhớ mãi, không bao giờ quên. Sau này khi ra Bắc, tôi có đến thăm chị cùng các cháu và vào Phú Yên tìm hài cốt anh.

Suốt dọc đường về đơn vị, chúng tôi cứ gạ anh Hạ, về đến đơn vị thì thổi cho chúng tôi một bữa cơm ăn thật no, ước mơ nhỏ nhoi đó tôi cứ nhớ mãi đến bây giờ.

Đại đội đặc công 202, hậu cứ đóng quân ở chân núi hòn Đác, thuộc xã Hòa Định, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, cách đồng bằng khoảng 6 tiếng đi bộ. Quân số đại đội sau Tổng tấn công tết Mậu Thân năm 1968 bị hao hụt nhiều. Đại đội còn 37 người, cộng với 10 người chúng tôi bổ sung nâng quân số lên 47 người, biên chế đại đội đặc công ở chiến trường chỉ thế thôi chứ không nhiều như đại đội bộ binh.


Tôi được biên chế vào Trung đội 3 cùng với anh An và anh Sam. Anh Nghiêm quê Nam Hà là Trung đội trưởng. Trung đội trường đã kiểm tra chúng tôi một số kỹ thuật đặc công như cắt rào dây thép gai, đi khom, bò tiềm nhập trên sỏi... Chúng tôi thực hiện thành thạo, anh xoa tay khen ngợi và bảo: "Với trình độ như vậy là đi chiến đấu được, không cần huấn luyện thêm nữa". Anh Văn quân y sĩ nói: "Mấy chú là đặc công của Bộ có khác, trông "ngon" quá". Nghe anh nói chúng tôi rất phấn khởi, không biết khi chiến đấu có "ngon" như anh bảo không.


Chúng tôi được bổ sung về Đại đội 202, được học tập về truyền thống của đơn vị và những thành tích chiến đấu đã lập được từ ngày thành lập. Tôi vẫn nhớ lịch sử đơn vị tôi tới tận bây giờ, thành lập tháng 10 năm 1959, tiền thân của đại đội là một tổ đặc công ba người do Bộ Tư lệnh Quân khu 5 điều về Tỉnh đội Phú Yên. Ngày thành lập chính thức là ngày 20 tháng 02 năm 1963. Đại đội đã đánh nhiều trận, diệt 60 tên Mỹ ở đèo Cù Mông khi chúng mới đổ bộ vào miền Nam, diệt cứ điểm Mò O, tập kích vào quận lỵ Củng Sơn để giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ từ Tuy Hòa đưa ra vùng giải phóng, ông sau này là Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đồng chí Lê Trung Kiên - Đại đội trưởng Đại đội 202 - có công trong việc này. Tổng tấn công Mậu Thân 1968, Đại đội 202 tấn công vào khu tỉnh đường Trung đoàn 47 Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đóng ở gần bãi biển thị xã Tuy Hòa, đồng chí Kiên bị đại liên địch bắn trúng khi băng qua đường đánh chiếm lô cốt đầu cầu và anh dũng hy sinh. Đồng chí đã được Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng ngày 15 tháng 02 năm 1970.


Năm 1969, năm trước khi tôi được bổ sung về làm chiến sĩ của đại đội, Đại đội đặc công 202 đã đánh 32 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 735 tên địch (trong đó có 77 tên Mỹ), diệt gọn hai đại đội địch ở cứ điểm núi Thơm và cứ điểm Mò O, thu 28 súng các loại, ba súng đại liên, một súng cối 60 ly, hai máy thông tin PRC25.

Đại đội đặc công 202 là đại đội "con cưng" của Tỉnh đội Phú Yên lúc đó.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2025, 07:39:11 pm
4.1. Đánh địch ở thị xã Tuy Hòa

Tết Nguyên đán năm 1970 đang đến gần, tôi cùng đơn vị đến Hầm Bò rồi vào đóng quân sát đồng bằng huyện Tuy Hòa II.

Cán bộ trung đội và đại đội đi trinh sát cứ điểm núi Thơm. Trung đội tôi được giao nhiệm vụ đánh địch ở thị xã. Lần đầu xuất kích vào gần Ninh Tịnh, chúng tôi không gặp địch, trên đường về qua xã Quy Hậu vào nhà dân, nhà nào tôi cũng thấy bà con bắc chảo gang làm rim (tức làm mứt tết). Các má nhìn chúng tôi nói: "Tội cho tụi bay quá, tết nhất đến nơi phải xa quê hương!" Các má gửi rất nhiều mứt và cả thịt heo cho chúng tôi đem về núi cho anh em ăn tết. Vào trong bếp, tôi thật sự bị choáng khi nhìn thấy chiếc xe máy Honda 67 sơn đỏ chót, hai gương sáng loáng dựng ở đó, tôi nhìn mãi không thấy chán, nhà nào cũng có đài Nhật như Sony, National, Philip... nói oang oang, ở miền Bắc thời đó mới chỉ có đài Galen. Có một ông già tóc bạc, trông người phúc hậu, nhiệt tình mời tôi ra sân ngắm cây cảnh. Tuy tối nhưng cũng vẫn nhìn thấy các cây bonsai, đủ hình thù trông rất đẹp mắt.


Thực hiện chủ trương của lãnh đạo tỉnh Phú Yên: mở chiến dịch tiến công tổng hợp bằng hai chân, ba mũi giáp công. Mục tiêu chiến dịch là: diệt lực lượng trực tiếp kìm kẹp để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, vận động binh sỹ địch đào, rã ngũ, ly khai, giải tán lực lượng phòng vệ dân sự.


Tháng 3 năm 1970, Đại đội đặc công 202 của tôi tập kích cứ điểm núi Thơm (xã An Chấn, huyện Tuy An), tiêu diệt gọn Đại đội bảo an 152 (địch vừa xây dựng lại), diệt 56 tên, làm bị thương nhiều tên, thu nhiều vũ khí. Trận đánh này rất nhanh, tiêu diệt gọn, hiệu suất chiến đấu cao, đơn vị ít thương vong, chúng tôi chỉ có hơn ba chục người tham gia chiến đấu. Liên tiếp đánh tập kích địch ở xóm Đường tới ngã năm thị xã Tuy Hòa, tiêu diệt được hai trung đội địch, đơn vị tôi an toàn.


Một hôm, sau khi đánh địch trở về căn cứ, chúng tôi đi qua các đồi cát từ thị xã dọc theo bờ biển, trời tối đen như mực. Trên các đồi cát có rất nhiều cây xương rồng bà, gai nhọn tua tủa, chúng đâm vào chân buốt lắm, chúng tôi không dám đi trên đỉnh đồi cát vì sợ địch phát hiện, phải lần mò cắt đường qua giữa hai đồi cát mà đi. Ở đây có rất nhiều ruộng dưa hấu, nhiều lần chúng tôi đã "xin của dân mà không hỏi trước". Chúng tôi, sáng tạo cởi quần dài buộc túm đầu, lấy dưa cho vào hai ống quần rồi vác lên vai, khi về núi thái ra chấm mắm tép sống ăn với cơm cũng rất ngon. Lần sau xuống, bà con biết nhưng không quở mắng mà còn bảo các chú cứ lấy ăn, nhưng phải vùi vỏ xuống đất kẻo địch biết chúng sẽ phục kích. Ôi! Không gì bằng tình quân dân như cá với nước. Chúng tôi hiểu, bà con nơi đây rất thương những đứa con miền Bắc xa gia đình vào đây chiến đấu để giải phóng cho họ, nên họ không tiếc thứ gì đối với các chú bộ đội.


Một lần đang hành quân vào đánh địch ở thị xã Tuy Hòa, tôi trượt chân ngã nhào về phía trước, giẫm phải đầu mũ sắt của lính Nam Triều Tiên đang phục kích. Lúc ấy đã hơn 3 giờ sáng, phục mãi chúng mỏi mệt ngủ thiếp đi. Cả trung đội Nam Triều Tiên hoảng hốt vùng dậy, chúng lập tức bấm mìn định hướng Claymore. Những tiếng nổ chát chúa cùng những chớp lửa bùng lên sau lưng chúng tôi. Rất may là chúng tôi đã đi qua lớp mìn định hướng đó, lẫn lộn giữa đội hình địch nên không bị trúng mìn trực diện. Mọi người co cẳng chạy bừa ra hướng biển, do luống cuống cứ trèo lên đồi cát, cát chảy xuống lại tụt người theo, phải bò trên cát vượt qua đồi cát rồi tụt xuống chạy thẳng ra biển. Tiếng súng phóng lựu M79 chớp lóe liên tục nổ trên các đỉnh đồi cát phía đường số 1 hướng núi, chúng nghĩ chúng tôi sẽ chạy về núi. Chạy đến mép biển, sóng đánh nhẹ vào chân tôi, những con còng thấy động, chúng chạy rào rào chui vào tổ. Lúc này pháo sáng từ thị xã Tuy Hòa và các căn cứ khác bắn lên sáng rõ như ban ngày. Lan đầu tiên trong đời tôi biết biển, tôi vục tay vốc nước lên nếm thử thấy hơi mằn mặn. Rồi cứ đọc bãi cát bờ biển, chúng tôi chạy đến xã An Chấn, huyện Tuy An, rẽ trái qua đường số 1 rút vào núi.


Lúc này các trận địa pháo vẫn nã đạn vào ven bìa rừng. Rất may về đến nơi không ai hy sinh, chỉ có anh Chinh - Trung đội trưởng của tôi người Kim Bôi, Hòa Bình - bị trúng một viên bi của mìn Claymore gần mang tai, chui vào dưới da, sờ thẩy nổi lên như hạt ngô. Ngẫm lại, chúng tôi thấy thật may mắn.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Mười Một, 2025, 07:10:10 pm
4.2. Tiêu diệt cứ điểm núi Thơm

Đầu năm 1970, tỉnh Phú Yên được Mỹ - Ngụy chọn làm tỉnh thí điểm thực hiện kế hoạch "Bình định cấp tốc" trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Riêng chiến trường Tuy Hòa II, lực lượng quân Mỹ, Nam Triều Tiên, quân đội Việt Nam cộng hòa và đội ngũ cán bộ bình định, ngoài lực lượng tại chỗ đã có, chúng còn được bổ sung tăng cường nhiều đơn vị mới. Chúng tăng cường tiểu đoàn Nam Triều Tiên và trận địa pháo đóng ở gò Đá, sát chân núi Chóp Chài. Đóng chốt một đại đội ở núi Mò O, xã Hòa Quang và nhiều đại đội trực tiếp đi càn quét. Quân Mỹ cũng tăng cường một tiểu đoàn của Sư đoàn bộ binh 4, có cả lính Thái Lan đóng quân ở huyện Sông Cầu.


Ngoài các trận địa pháo 105 ly, 155 ly, chúng còn bố trí thêm hai trận địa pháo 175 ly (loại pháo được chúng mệnh danh là "Vua chiến trường") ở Củng Sơn và Xuân Phước, sẵn sàng chi viện cho toàn tỉnh, về lực lượng bảo an, chúng thành lập đến 6 liên đội (228, 259, 253, 211, 226 và 227), ngoài ra có Tiểu đoàn bảo an 20, để cơ động ứng cứu khi có chiến sự nổ ra.


Về phía ta, tỉnh chủ trương mở chiến dịch tấn công bằng hai chân, ba mũi. Mục tiêu của chiến dịch là: Tiêu diệt lực lượng kìm kẹp của địch, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền, vận động binh lính địch đào ngũ, giải tán lực lượng dân vệ.

Trước khi Đại đội đặc công 202 của chúng tôi tiêu diệt cứ điểm núi Thơm, địch dùng 2 tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên mở cuộc càn quét vào vùng Kim Sơn. Tiểu đoàn bộ binh 96, Tiểu đoàn bộ binh 13 của Tỉnh đội Phú Yên đã nhanh chóng tổ chức phản công địch. Chỉ sau ba ngày ta đã tiêu diệt trên 100 lính Nam Triều Tiên, bắn rơi một máy bay trinh sát L19. Tiếp theo ta liên tiếp sử dụng hai tiểu đoàn này đánh địch ở Hòa Vang, Xuân Hòa, sân bay Khu Chiến diệt gần 300 tên địch.


Tiểu đoàn đặc công 14 tập kích vào quân cảng Vũng Rô, Sở chỉ huy Trung đoàn 28 "Bạch Mã" Nam Triều Tiên, tiêu diệt 70 tên Mỹ và hàng trăm lính Nam Triều Tiên. Phá hỏng bốn khẩu pháo 105 ly, hai xe lội nước M113 cùng nhiều kho đạn.

Đại đội đặc công 202 của tôi lúc này do anh Lương Tấn Thịnh làm Đại đội trưởng, anh Năm là Chính trị viên, về cơ bản đã trinh sát nắm xong tình hình đóng quân, bố phòng của địch đóng tại núi Thơm, quá trình trinh sát có chị Cúc là Xã đội trưởng và một số du kích phối hợp dẫn đường nắm tình hình, di biến động của địch.


Núi Thơm thuộc xã An Chấn, huyện Tuy An, nằm sát đường số 1 và đường sắt, vị trí ở phía Bắc cách thị xã Tuy Hòa khoảng hai chục cây số, phía Đông là biển, phía Tây là đồi núi không cao lắm, là vùng căn cứ của ta.

Về lực lượng địch đóng chốt ở đây, có Đại đội bảo an 152, được bổ sung tăng cường hỏa lực, phòng ngự trong công sự vững chắc, có cả hầm ngầm, với 12 lớp rào dây thép gai đủ các loại bao quanh, xen kẽ là các loại mìn. Về vũ khí, chúng có súng cối 106 ly, cối 81 ly, các loại đại liên, trung liên và ĐKZ.


Phía Tây Nam có trận địa pháo ở gò Đá của Nam Triều Tiên sẵn sàng bắn chi viện, ngoài ra chúng còn được yểm trợ bằng không quân ở sân bay Đông Tác.

Từ căn cứ đóng quân tại hòn Đác, đại đội chúng tôi được quán triệt nhiệm vụ, nghe truyền đạt mệnh lệnh chiến đấu trên sa bàn. Lực lượng đi đánh biên chế ba phân đội, với 31 tay súng, trang bị gọn nhẹ. Mỗi phân đội có hai khẩu B40, súng AK cơ số đạn hai băng, thủ pháo mỗi người 12 quả, súng phóng lựu M79 mang 15 quả đạn, mỗi phân đội có một y tá đi cùng để cấp cứu thương binh. Tỉnh đội cử một trợ lý đặc công là anh Lưu "hói" tăng cường đi cùng đơn vị.


Trong trận này tôi được phân công sử dụng cối cá nhân (súng phóng lựu) M79 lấy được của địch, phân đội tôi do anh Nghiêm làm Phân đội trưởng, có nhiệm vụ đánh từ phía Bắc núi Thơm vào. Dẫn đường cho mũi của tôi là anh Ngọc, người Nam Hà. Anh Ngọc người rất to cao, anh cao tới một mét bẩy, tầm vóc này với thế hệ chúng tôi là đáng kính nể rồi. Anh có nước da hơi đen, đẹp trai, anh đi cùng mũi 2 - mũi chủ yếu, đánh vào giữa cứ điểm từ phía biển lên nhằm cắt đôi đội hình địch. Còn mũi 3 do anh Chinh, người Kim Bôi, Hòa Bình làm mũi trưởng, có nhiệm vụ đánh từ phía Nam lên. Khi tiến công nếu mũi nào bị "tà" tức bị thương vong thì hai mũi còn lại phải đánh sang chi viện để giải quyết các mục tiêu của mũi bạn.


Địa điểm tập kết là suối Hổ. Chúng tôi để lại ba lô, cởi quần áo tiến hành bôi ngụy trang từ mặt đến chân, lấy lại đồng hồ cho khớp giờ với nhau, tất cả đồng hồ Automatic đều có dạ quang để xem được ban đêm.

Đại đội bí mật hành quân đến bìa thổ, từ trong các bụi cây bên sườn đồi, chúng tôi thấy đường số 1 tấp nập xe cộ các loại. Trời gần tối, những chiếc xe Honda chở các cô gái mặc áo dài tăng tốc phóng vun vút về thị xã Tuy Hòa. Ngồi chờ đến gần 9 giờ tối, chúng tôi nhẹ nhàng tiêm nhập qua đường số 1, qua đường tàu tiếp cận chân núi Thơm.


Phân đội bắt đầu dò mìn, ngay từ hàng rào đầu tiên đã thấy nhiều mìn pháo sáng, chúng tôi buộc mỏ vịt của chúng lại, xem xét kỹ phía trước và tiến hành dùng kìm cộng lực cắt rào thép gai, người cắt người giữ, khi đứt 2/3 sợi dây thì dùng tay bẻ, tuyệt đối khi cắt không được gây tiếng động, không được động chạm đến mìn xung quanh. Bình quân nếu thuận lợi chỉ hết 15 đến 20 phút là cắt xong một lớp rào, vừa cắt vừa kết hợp sử dụng các loại móc sắt chữ S, móc hai đầu. Móc sắt rất hiệu quả khi khắc phục hàng rào bùng nhùng. Mìn râu tôm (mìn cóc) chúng tôi sâu kim băng qua lỗ, kiểm tra hết tầm dây thép căng thì cắt dây quấn lại, sợ nhất là là loại mìn căng trùng nổ - tức là vướng vào làm căng dây cũng nổ, cắt đứt dây cũng nổ. Vì vậy ngoài việc cắt rào, việc vô hiệu hóa các quả mìn trong điều kiện trời tối, phía trước là địch cần phải gan dạ, khéo léo, am hiểu các loại mìn, chiến sĩ đặc công đồng thời kiêm luôn nhiệm vụ của chiến sĩ công binh.


Vì là núi đất có cây cỏ lúp xúp nên đường lên khá dốc, mọi giao tiếp chủ yếu ra hiệu bằng tay. Trước giờ G 20 phút, phân đội đã bò đến hàng rào cuối cùng, rò mìn rộng ra hai bên, dàn đội hình, thủ pháo cầm sẵn trong tay sẵn sàng ném vào các ụ súng, giao thông hào của địch. Trong khi chờ đợi giờ nổ súng rất căng thẳng, nước tiểu tự rỉ ra quần nhưng không ai quan tâm, mọi con mắt đang tập trung cao độ về phía địch. Có ánh đèn pin lóe lên, một lính gác soi đèn về phía chúng tôi, chúng không phát hiện được gì, nó bỏ đi, có hai tên ngồi bên khẩu đại liên, vừa nói chuyện vừa hút thuốc, ánh lửa lập lòe soi rõ khuôn mặt, dưới chiếc mũ sắt đội xùm xụp.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Mười Một, 2025, 07:16:21 pm
Đúng 12 giờ đêm ngày 10 tháng 3 năm 1970, trận tập kích cứ điểm núi Thơm bắt đầu. Hướng chủ công của anh Ngọc bắt đầu nổ súng. Tiếng thủ pháo nổ ầm ầm, nhiều ánh chớp lóe lên. Mũi này có nhiệm vụ phát triển thọc sâu đánh vào khu chỉ huy đại đội địch. Rồi đánh lướt cắt đôi cứ điểm để hai phân đội ở phía Bắc và phía Nam đánh ép lại không cho chúng co cụm chống trả.


Mới tấn công được loạt đầu, do sườn dốc nên chúng tôi không phát triển nhanh được, lại bị trúng một qủa lựu đạn US của địch. Phân đội trưởng Ngọc bị thương ngay ở những phút đầu tấn công, nhưng anh vẫn dũng cảm chỉ huy phân đội đánh chiếm giao thông hào tiền duyên. Anh Lưu, trợ lý đặc công của Tỉnh đội cũng lại bị thương vào tay.


Cùng với mũi anh Ngọc, hai mũi phía Bắc và phía Nam đồng loạt nổ sung. Phân đội tôi mỗi người ném hai quả thủ pháo vào giao thông hào, loạt hai, ném xa về phía sau giao thông hào, địch bị bất ngờ nhưng chúng cũng kịp ném trả xuống chúng tôi một quả lựu đạn, chớp nổ ầm, ánh sáng chói lòa trước mặt tôi. Anh Xứng bị thương vào tay và chân. Anh Ngữ cùng đơn vị với tôi ở miền Bắc và vào cùng đợt với tôi, bị trúng mảnh vào bụng, anh ngã đè lên hàng rào phản xung phong. Tôi cùng phân đội xông lên vướng phải hàng rào phản xung phong, nó cao cách mặt đất hai mươi lăm phân, tôi ngã đập mặt vào hàng rào, chạy tiếp lên lại bị vướng chân ngã nhào xuống, hàng rào đã hạn chế tốc độ tấn công của chúng tôi. Đến giao thông hào, tôi trông thấy sáu, bảy tên nằm chết đè lên nhau, quần áo bị sức ép thủ pháo đánh bay hết, người trắng hếu, khẩu đại liên chưa kịp bắn phát nào bị đổ nghiêng chổng nòng lên trời. Phân đội chia hai hướng đánh dọc theo giao thông hào kịp thời chi viện cho mũi anh Ngọc, lúc này mũi chủ công cũng đã đánh chiếm được công sự và lô cốt đầu cầu, đang đánh thẳng vào trung tâm sở chỉ huy cứ điểm.


Anh Cừ, tổ trưởng ba người, dẫn đầu đánh thọc sâu chia cắt địch. Khi đến hàng rào bùng nhùng giữa căn cứ, anh vừa nhấc hàng rào lên thì lựu đạn địch gài phát nổ, anh đổ ập xuống hy sinh ngay giữa trung tâm chỉ huy của địch. Tôi và anh Dẩm - người Hải Phòng - phát triển theo giao thông hào đánh về phía Nam để bắt liên lạc với mũi anh Thưởng. Dẩm cầm súng AK đi trước, tôi cầm M79 theo sau, thấy địch bỏ chạy nhảy từ giao thông hào xuống hàng rào, tôi cứ nhắm vào những cái đầu đen của chúng mà bắn, đạn nổ địch kêu la oai oái, vướng mìn lại nổ tiếp.


Chợt tôi giẫm lên bụng một tên địch nằm trong giao thông hào, tôi hoảng hồn nhảy lùi lại, tên địch chưa chết còn cựa quậy, tôi gọi: "Dẩm ơi! Thằng này còn sống", Dâm nhanh chóng chĩa mũi AK bắn một loạt, đạn trúng thắt lưng vào băng đạn tiểu liên cực nhanh, một ngọn lửa bùng lên từ thắt lưng tên địch, tôi và Dẩm nhảy bật lên khỏi giao thông hào, hú hồn chỉ dịch đi một tí trúng quả lựu đạn, chắc tôi và Dẩm đã hy sinh tại chỗ. Sau đó, chúng tôi thấy bóng đen phía trước, chúng tôi ngồi thụp xuống nói mật khẩu, mừng quá là quân ta, như vậy đã bắt được liên lạc với mũi phía Nam.


Sau 30 phút chiến đấu, lúc này Đại đội đặc công 202 đã làm chủ trận địa. Chúng tôi nhanh chóng thực hiện đánh bồi thủ pháo và bắn găm vào các hầm, anh Thưởng chiến đấu rất dũng cảm, tôi theo anh tiêu diệt hết hầm này đến hầm khác. Chuẩn bị rút lui thì ba chiếc trực thăng vũ trang từ sân bay Đông Tác lao đến, đèn tín hiệu nhấp nháy dưới bụng, chúng bay thấp, nhìn lên trông rất rõ, chúng xả súng, bắn rocket vào xung quanh căn cứ. Anh em dùng súng AK bắn trả, chúng bay vọt lên cao không dám bay thấp bắn vào cứ điểm nữa vì sợ bắn nhầm vào quân của chúng.


Lúc này xe tăng, xe bọc thép M113 từ thị xã Tuy Hòa theo đường số 1 đánh lên, địch muốn chặn đường rút của quân ta. Chúng vãi đạn các loại vào chân phía Tây và phía Bắc cứ điểm. Pháo sáng các loại ở những căn cứ xung quanh bắn sáng rực cả bầu trời. Tôi tìm Nghệ, xạ thủ B40 của phân đội, anh người Nam Hà, để cùng ra bắn lũ xe tăng. Súng còn hai quả đạn, tôi bảo Nghệ bắn trước. Ngồi ở giao thông hào, anh ngắm vào bụng một chiếc xe tăng bóp cò. Sau tiếng nổ, quả đạn đỏ lừ bay trúng chiếc xe tăng, một cột lửa bùng lên. Lắp tiếp quả đạn cuối cùng, tôi trực tiếp bắn. Ầm!... quả đạn lao đi, lửa bùng lên mũi chiếc M113 nhìn rất rõ. Sau đó, thấy cả đoàn xe rùng rùng quay đầu tháo chạy về thị xã.


Đại đội được lệnh rút khỏi trận địa. Chúng tôi khênh anh Ngữ bị thương ra, còn các liệt sỹ thì không đưa ra được. Hôm sau dân lên lấy được xác các anh đưa đi an táng.

Tôi nhảy qua những xác địch nằm ngổn ngang, trèo qua hàng rào mái nhà, bỗng cả người rơi thỏm xuống một hố sâu giữa hai hàng rào, may quá khẩu M79 không còn đạn để phát nổ, khẩu AR15 chiến lợi phẩm rơi tụt mất. Tôi gắng sức chống súng trèo được lên miệng hố cùng đại đội qua xã An Chấn.


Pháo 105 ly các loại của địch bắn trực tiếp vào đường rút của chúng tôi, có quả nổ ngang thân cây dừa, làm đứt đôi cây, rơi xuống đánh rầm, may mà không ai bị thương. Chúng tôi rút qua đường tàu, đường số 1 vào núi. Lần đầu tiên khênh thương binh, anh Ngữ người lại to con và nặng, nên vai tôi đau lắm, sau một đêm căng thẳng đánh địch, sức khỏe giảm sút nên rất mệt, làm bước đi chuệnh choạng.


Từ đường 1 vào rừng núi cũng gần. Vào đến vùng căn cứ, chúng tôi giao lại thương binh cho dân công khênh. Mọi người nói chuyện râm ran, trận đánh thắng lợi giòn giã, tổn thất ít. Tôi tìm An, nghe nó kể chuyện thật bi hài, cười ra nước mắt. Khi rút quân khỏi trận địa, nó lại bị vướng quần sơ líp vào hàng rào tụt mất quần, tim không thấy nên cứ thế chạy về chui vào bụi cây để núp. May mà trời tối, gặp anh đu kích cởi cho cái quần đùi, nó mặc vào, nó đưa cho anh du kích khẩu tiểu liên cực nhanh AR15 chiến lợi phẩm, anh du kích mừng quá đeo ngay vào người.


Về kết quả trận đánh, đại đội của chúng tôi tiêu diệt gần 100 tên địch, thu 1 đại liên, 1 cối 60 ly, 12 súng tiểu liên AR15, một đài PRC25; ta hy sinh hai người là anh Ngữ và anh Cừ. Anh Ngữ được an táng tại suối Hổ.

Do vướng phải hàng rào phản xung phong, tôi bị dây thép gai cào vào hai chân, vết thương mưng mủ, phải nửa tháng mới chữa khỏi. Khi về đến căn cứ, nghe Đài tiếng nói Việt Nam đưa tin về trận đánh thắng của chúng tôi, mọi người rất phấn khởi.

Sau trận đánh này, đơn vị tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba. Anh Thịnh - Đại đội trưởng - cũng được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, tôi và rất nhiều anh em được nhận Bang khen và danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng.


Cùng đêm đó, Đại đội đặc công 201, tập kích cứ điểm Hòn Bù, xã An Ninh, đánh thiệt hại nặng Đại đội bảo an 151, bắt sống hai tù binh, thu 20 súng các loại. Tiểu đoàn đặc công 14 tập kích quận lỵ Phú Lâm, diệt 78 tên, phá hủy một kho súng, đốt cháy một kho xăng và một kho quân trang.


Sau chiến thắng núi Thơm, đơn vị rút về hậu cứ để củng cố lực lượng.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Mười Một, 2025, 07:18:22 pm
Từ đêm 31 tháng 3 năm 1970, cùng các đơn vị bạn, đại đội tôi tiếp tục tham gia tiến công thị xã Tuy Hòa. Đại đội 3, Tiểu đoàn bộ binh 96 tập kích diệt gọn một trung đội Mỹ, một tiểu đội Nam Triều Tiên, một đoàn bình định ở Minh Đức, xã Hòa Kiến. Ta thu một đại liên, sáu súng AR15. Trong thị xã, du kích mật dùng mìn nổ chậm đánh 11 mục tiêu, diệt 24 tên (có hai tên Mỹ), hỗ trợ cho đồng bào phá ấp chiến lược ở các xã Hòa Trị Đông, Hòa Thạnh Tây... chia cắt nhiều đoạn quốc lộ 1.


Nhằm đối phó với những đợt tiến công và giành thắng lợi liên tiếp của ta, ngày 24 tháng 4, địch huy động bốn tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên mở trận càn lớn lên căn cứ Sơn Hòa. Chúng đã tàn sát 120 đồng bào dân tộc thiểu số ở suối Buôn Ché, miền Tây tỉnh Phú Yên. Hành động tàn bạo, gây ra tội ác tày trời làm cho chiến sỹ và nhân dân ta sôi sục căm thù. Ban chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên do đồng chí Ông Văn Bưu - Tỉnh đội trưởng, đồng chí Nguyễn Duy Luân - Chính trị viên Tỉnh đội, sử dụng lực lượng tại hậu cứ để chống càn. Nhân dân và dân quân du kích sử dụng các loại bom, mìn tự chế đánh địch rất có hiệu quả, làm cho bọn lính Nam Triều Tiên rất khiếp sợ. Khi chúng sục sạo vào Xưởng quân khí 200 của Tỉnh đội, đã bị trúng mìn ta gài, làm chết và bị thương 20 tên, chúng phải dừng lại không dám mò vào nữa. Đặc biệt, cụ Nguyễn Bông ở xã An Lĩnh bằng các loại mìn tự tạo, cụ đã bố trí một bãi mìn quanh trại sản xuất của gia đình, địch vướng mìn nổ chết hơn một trung đội, nhiều tên bị thương khênh cả bàn chông lên trực thăng rên la thảm thiết.


Lúc này, Đại đội đặc công 202 của tôi đang đóng quân tại dốc Mít, Tuy Hòa II, gần đó là Trung đội Quyết thắng của thị xã Tuy Hòa. Các mũi càn của địch đang tiến đến gần, chúng nghi binh thỉnh thoảng lại nổ một vài phát súng để gây sự chú ý của ta, còn mũi càn chính, chúng im lìm lặng lẽ theo kiểu thám báo, biệt kích. Khi phát hiện được quân ta, chúng sẽ tập kích, kiểu đánh này cũng gây cho ta một số tổn thất.


Bình thường, lính đặc công ít khi được giao nhiệm vụ đánh càn, để đành lực lượng cho nhiệm vụ đánh sân bay, cứ điểm, cầu cống. Một tình huống đã xảy ra, Tỉnh đội trưởng đang đi công tác bị địch càn, mắc kẹt lại đơn vị. Tỉnh đội trưởng lệnh cho đại đội tôi tổ chức đánh bọn lính Nam Triều Tiên. Hôm ấy đã 3 giờ chiều, địch đang càn đến dốc Mít, toàn đại đội bố trí lực lượng chuẩn bị chống càn, nếu chúng thọc vào đơn vị.


Anh Năm - Chính trị viên đại đội, ở cùng hầm với tôi. Chúng tôi căng mắt quan sát. Bỗng nghe tiếng loạt soạt rất to, anh Năm vung tay hô: "Đánh tụi bay!" Tay cầm lựu đạn nhưng tôi chưa ném, vì tôi chưa nhìn thấy địch. Tiếng loạt soạt lại nổi lên, thì ra là một con kỳ đà to đến cả chục cân đang di chuyển trên lớp lá khô, nên gây ra tiếng động. Thật hú hồn, nếu nổ súng sẽ bị lộ vị trí đóng quân, địch tấn công và bắn pháo vào; trận địa, công sự của đơn vị lại quá sơ sài, chắc chắn không tránh được thương vong!


Phân đội tôi nằm ở sườn đồi quan sát địch bằng ống nhòm, thấy lính Nam Triều Tiên đầu đội mũ mềm, mặc quần áo rằn ri, chúng đi từng tốp có lá ngụy trang trên người, thoắt ẩn, thoắt hiện sau những lùm cây. Trời sắp tối, mặt trời đang lặn dần xuống dãy núi phía Tây. Hoàng hôn bao phủ, rồi mặt trời dần tắt nắng. Đêm đã xuống. Mảnh trăng lưỡi liềm đang nhô lên từ phía biển. Sau một ngày đi càn quét địch có phần mệt mỏi, chúng dọn chỗ ngủ sau các bụi cây, nấp sau khu mả đá, mìn định hướng bố trí ở phía trước, bọn lính Nam Triều Tiên rất hay sử dụng mìn Claymore, nhất là những lúc đi phục kích.


Năm anh em, gồm tôi, Nghệ, An, Đạt và Tóa, được lệnh của chỉ huy đại đội, trang bị hai khẩu B40, một khẩu phóng lựu M79, hai khẩu AK, mỗi người mang theo tám quả thủ pháo, có nhiệm vụ tập kích vào đội hình quân lính Nam Triều Tiên đi càn đang dừng lại dưới chân đồi.


Chúng tôi nhanh chóng tiềm nhập xuống chân đồi. Đến con suối cạn, đá lổn nhổn, chúng tôi ngồi tản ra cảnh giới chờ cho trăng non đầu tháng lặn xuống mới đi đánh được.

Ngồi chờ đến 3 giờ sáng, trăng đã lặn, một màn đêm đặc quánh bao trùm không gian, chúng tôi lặng lẽ rời vị trí ra khỏi lòng con suối cạn, vượt qua một bãi cỏ tranh khá rộng mọc dày cao đến 60cm trên các ruộng bậc thang dân bỏ hoang không canh tác đã lâu. Bò trong đám cỏ tranh rất khó và chậm, nếu không khéo sẽ gây ra tiếng động địch phát hiện ra ngay. Chúng tôi cách địch không quá 200m mà phải tiềm nhập hết gần hai tiếng. Bò đến bờ ruộng bậc thang cuối cùng, còn khoảng chừng hơn chục mét, chúng tôi nghe được tiếng ngáy ngủ rất to của bọn lính sau các bụi cây trước mặt. Đây là khoảng cách lý tưởng để ném thủ pháo. Hai khẩu B40 bố trí ra hai bên, ở giữa là M79, chúng tôi khóa chốt an toàn các khẩu AK không sử dụng mà rút thủ pháo, một tay cầm chắc quả thủ pháo, một ngón tay móc vào nụ xòe sẵn sàng đánh địch. Hai tiếng ùng - oàng của 2 khẩu B40 bắn thẳng vào 2 bụi cây, chúng tôi ném liên tiếp thủ pháo vào các bụi cây trước mặt. Thủ pháo nổ ầm ầm liên tiếp trút bão lửa đánh phủ đầu bọn lính Nam Triều Tiên, khiến chúng choáng váng và hỗn loạn. Sau đợt tập kích chớp nhoáng, chúng tôi ném hết số thủ pháo mang theo rồi nhanh chóng rút lui. Vừa chạy được chục mét thì một loạt đạn lửa của khẩu AR15 địch bắn vút qua đầu, không trúng ai, sau đó là một màn đêm tĩnh lặng như không có gì xảy ra.


Địch sợ bị lộ nơi trú quân sẽ bị ta đánh tiếp nên cũng không dám nổ súng nữa.

Chúng tôi chạy trên các ruộng bậc thang. Mỗi lần chạy xuống ruộng kế tiếp bị hẫng chân, tôi lại ngã úp mặt xuống đất, khẩu AK trước ngực đập vào đau điếng. Mặc kệ, chúng tôi phải mã hồi càng nhanh càng tốt. Lần mò vào được lòng con suối cạn thì lúc này trời còn tối lắm không nhìn thấy đường đi, chúng tôi đành ngồi chờ trời sáng để lên đồi. Lũ kiến bọ cong đen thi nhau cắn vào chân chúng tôi đau buốt nhưng không ai dám hé răng kêu, vì địch ở rẫt gần.


Trời gần sáng, chúng tôi đã về tới đơn vị, ông Bưu - Tỉnh đội trưởng, cùng ban chỉ huy đại đội và anh em suốt đêm không ngủ chờ chúng tôi. Năm anh em lành lặn trở về đầy đủ, các anh ôm chầm lấy chúng tôi tíu tít khen ngợi.

Sáng sớm, trời còn mờ sương, hai chiếc trực thăng có dấu Hồng thập tự hạ cánh xuống bãi tranh. Ở trên cao chiếu ống nhòm, chúng tôi đếm chúng khênh nhau ra, vừa chết vừa bị thương hơn hai mươi tên. Thật hả hê, chúng tôi đã trừng trị thích đáng bọn lính đánh thuê tàn ác. Trả thù cho đồng bào suối Ché bị chúng giết hại.

Thấm đòn, bọn lính Nam Triều Tiên tổ chức rút quân về đồng bằng.

Khoảng 9 giờ sáng, tôi, An, Tóa lại được lệnh xuống đồi bám địch trinh sát xem chúng rút chưa. Chúng tôi thận trọng lợi dụng địa hình địa vật tiến dần đến vị trí địch trú quân đêm qua. Một không khí im lặng bao trùm đến ghê rợn, nếu địch để lại một bộ phận phục kích thì rất nguy hiểm, nhưng địch đã rút hết. Sau các bụi cây ngổn ngang các thùng đồ hộp lính Nam Triều Tiên bỏ lại, có cả các khối pin để chạy máy vô tuyến điện, nó rất quý cho chúng tôi dùng để chạy đèn đi săn thú rừng.


Tiến lại vị trí đánh hôm qua, tôi nhìn thấy vết nổ của hai quả B40 và thủ pháo trúng các bụi cây, máu đen sẫm vương vãi khắp nơi, có mấy hố đất mới đào, chúng lấp vội thò cả quần áo lên. Chúng tôi chẳng dại gì mà kéo lên, dễ bị lựu đạn chúng gài lại, nổ ngay, cái trò bẫy này bọn lính Nam Triều Tiên rất hay áp dụng. Tối qua chúng tôi đã luồn sâu đánh vào giữa đội hình trú đêm của địch.


Kiểm tra xong chắc chắn là địch đã rút hết, chúng tôi cởi quần đựng một số đồ hộp chúng bỏ lại rồi trở về đơn vị báo cáo với ban chỉ huy đại đội. Mọi người thở phào nhẹ nhõm, mấy ngày căng thẳng trong vòng vây của địch đã hết. Cả đại đội đi nhặt đồ hộp, pin đèn được rất nhiều. Tổ chiến đấu của chúng tôi nhịn đói suốt đêm, đến trưa nay mới được ăn. Chúng tôi sử dụng luôn các khui lấy được mở nắp các hộp, lon, nào bánh bích quy, nào sô-cô-la, bơ, ca-cao... ăn xong có cả gói cà phê tan pha vào ca US nhâm nhi cùng điếu thuốc Capstan, loại bốn điếu một hộp hút rất đã. Đúng là một bữa tiệc sang trọng, đối với đời lính chiến rất ít khi có được.


Sau trận này, cũng chẳng ai đề cập đến khen thưởng. Tối hôm ấy, tôi nằm võng ngủ với anh Chinh - Trung đội trưởng, anh động viên tôi cố gắng phấn đấu để sớm trở thành đảng viên.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Mười Một, 2025, 07:19:16 pm
4.3. Tổn thất bị quân Nam Triều Tiên phục kích

Ngoài công tác chiến đấu thì việc lo cái ăn cho bộ đội cũng rất quan trọng, chúng tôi ở Phú Yên thuộc chiến trường cực Nam Trung Bộ, chữ "cực Nam" đồng nghĩa với khổ cực, cơ cực.

Miền Bắc chỉ chi viện cho Phú Yên súng đạn theo ngả đường Trường Sơn, qua đường 19 và đường mòn trên biển (các đoàn tàu không số) vào cảng Vũng Rô. Nằm ở chân đèo Cả có núi mẹ bồng con. Có lần, tàu số 143 tiếp tế súng đạn vào khu vực Vũng Rô bị lộ, địch dùng máy bay oanh tạc, anh em phải cho nổ phá hủy tàu. Đến nay, xác tàu vẫn còn. Nơi đây đã được dựng bia thành di tích lịch sử. Anh em thủy thủ nếu không hy sinh trên các con tàu bị đánh đắm, thì lên bờ đi bộ theo đường mòn Trường Sơn trở lại miền Bắc tiếp tục nhiệm vụ trên những con tàu không số khác.


Ở hậu cứ đơn vị nào cũng tổ chức tăng gia một nương sắn để tự túc một phần lương thực, còn gạo thì phải theo cán bộ Kinh tài xuống các làng ở đồng bằng để huy động dân đóng góp hoặc đi mua lương thực, thuốc men, nhu yếu phẩm. Nhiều lần chúng tôi xuống Hòa Trị, Phước Hậu, Hòa Quang các má cho chúng tôi những ghim thuốc lá đã phơi khô. Khi về, nằm võng cuốn kiểu sâu kèn để hút, nghe tin tức Đài phát thanh giải phóng và cả đài địch. Tôi còn nhớ bà Quán ở Hòa Quang nhờ tôi lấy dây mây trên núi để đan lát rổ rá, cứ mỗi cuộn bà cho tôi một thùng dầu ăn có in hình bàn tay Việt - Mỹ bắt tay nhau, hoặc đường, sữa ông thọ. Cũng có lần không có gạo, phải lấy thóc đem về đơn vị cùng nhau giã trong cối gỗ (chúng tôi tự khoét cây rừng thành cối), giã mãi mới xong một cối gạo.


Mỗi lần đi lấy gạo là phải trang bị vũ khí như đi chiến đấu, cũng mang B40, B41, AK, lựu đạn, phóng lựu M79, phải tổ chức trinh sát đi trước bám địch. Trước khi vào ấp, anh em nằm ngoài ruộng lúa quan sát, nghe ngóng. Nếu trong ấp các nhà đều sáng đèn, đài mở oang oang thì hôm đó địch không có phục kích, chúng tôi có thể vào ấp được. Do đi lại nhiều nên đồng bào cũng biết tên nhiều anh em chúng tôi, chỉ có tên đơn vị là phải giữ bí mật. Các đơn vị đi lấy gạo thường xuyên bị phục kích, nhiều đồng chí hy sinh không khác gì chiến đấu. Một sự kiện gây chấn động lúc bấy giờ, đó là một đoàn hỗn hợp các đơn vị đi lấy gạo bị lính Nam Triều Tiên phục kích tại mương nước Tuy Hòa II, khu vực xã Hòa Quang, tổn thất rất lớn. Số anh em bị hy sinh lên đến 28 người, nhiều nhất trên chiến trường Phú Yên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cho một lần đi lấy lương thực. Riêng đơn vị tôi, hy sinh ba đồng chí, gồm có anh Diễm y tá, anh Lạp quân khí, anh Dật quản lý người Đông Anh. Sau giải phóng, chúng tôi có dịp đến nhà dự giỗ anh, vợ chồng anh có một con gái. Sau khi được tin anh mất, chị đi lấy chồng và đã sinh thêm một con trai. Các cháu đã lớn và trưởng thành đều lấy vợ, lấy chồng. Trước bàn thờ anh, tôi trân trọng đặt bộ quân hàm của binh chủng đặc công cúng anh, nước mắt nhòa lệ, hòa quyện trong làn hương khói vấn vương nỗi buồn, nhớ nhung về những năm tháng đã qua. Tôi và anh đã từng công tác chiến đấu bên nhau ở Đại đội 202.


Nói về trận phục kích của lính Nam Triều Tiên, tôi đã được anh An, người sống sót của đơn vị tôi kể lại. Như thường lệ, buổi chiều đoàn lấy gạo tập kết ở bìa thổ (tiếng địa phương chỉ vùng tiếp giáp giữa rừng núi và đồng bằng). Tổ chức quan sát địch qua ống nhòm, anh em phát hiện một tiểu đội lính Nam Triều Tiên, lưng đeo ba lô, phủ vải dù, đi vào một khu gò đất có cây, chúng phục kích ở đó; trời gần tối, lại thấy chúng tất cả lưng đeo ba lô về căn cứ. Yên trí địch đã rút về, cả đoàn lấy gạo đi xuống khu Long Tường xóm Lầm để lấy gạo. Gần sáng, lưng ai nấy cõng đây gạo, mỗi người gùi khoảng 25kg. Súng AK đeo trước ngực, theo đường mương trở về núi. Khoảng cách về núi không còn xa, trời lại sắp sáng, mọi người vừa đi vừa nỏi chuyện. Bỗng chớp lóe liên tục, kèm theo là những tiếng nổ ầm vang của mìn định hướng Claymore, hất ngã mọi người xuông ruộng. Những người bị thương rên la. Tiếp theo là hàng loạt lựu đạn chúng ném tới tấp với những tiếng nổ trầm đục vang lên, sát thương tiếp những anh em còn sống sót và bị thương. Ta bị bất ngờ hoàn toàn, anh An do đi trước nên chạy thoát được.


Sau này được biết, chúng ma mãnh để cho một số ít quân ta đi qua rồi chúng mới đánh, thiệt hại thật nặng nề, chưa từng có ở Phú Yên.

Khi kể lại, anh An vẫn chưa hết bàng hoàng. Phải công nhận là quân Nam Triều Tiên rất ranh ma, chúng đã đánh lừa được quân ta, trên lưng chúng mỗi đứa cõng một đứa phủ vải dù ta cứ tưởng là chúng cõng ba lô, khi về chúng để lại một tiểu đội để tổ chức phục kích quân ta. Nhìn và đếm vẫn đủ một tiểu đội rút quân về căn cứ, cũng vẫn cõng ba lô như cũ.


Mấy hôm sau, Tiểu đoàn bộ binh 96 tổ chức đánh phản phục kích, trả hận, diệt một trung đội lính Nam Triều Tiên với 30 tên. Đây là bài học nhớ đời không bao giờ quên đối với bọn lính Nam Triều Tiên và với chúng tôi.

Trong tháng 5 năm 1970, Đại đội đặc công 202 của chúng tôi cùng Đại đội đặc công 201 liên tiếp tập kích địch ở vùng ven thi xã, như Ninh Tịnh, Xóm Đạo, đánh kho xăng của sân bay Khu Chiến lửa bốc cao soi sáng cả một vùng, diệt gần một trung đội lính Nam Triều Tiên, có cả lính Mỹ và lính Thái Lan. Hôm đánh địch ở Ninh Tịnh, sau khi đi đánh quấy rối, anh em xin đồng bào cho một con lợn về thịt ăn. Vừa khênh ra đến bãi biển, địch lần theo dấu giày soi đèn pin đuổi theo, tôi bảo anh em cứ đi, tôi lấy khẩu M79 ngồi xuống áp dụng kiểu bắn ứng dụng bắn liên tiếp 3 quả đạn về phía địch, ba chớp nổ tương đối chụm, chụp xuống bọn địch đi đầu, chúng tắt đèn pin tháo chạy. Hôm sau, chúng tôi mổ lợn liên hoan. Buổi chiều, nhận được điện của Ban Chỉ huy Tỉnh đội phê bình chúng tôi về chính sách dân vận, không biết ai báo cáo mà cấp trên biết nhanh thế.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Mười Một, 2025, 07:25:38 pm
4.4. Cờ giải phóng tung bay trên cứ điểm Xuân Phước

Trước khi đánh cứ điểm Xuân Phước, phân đội tôi xuống dốc Mít để lấy gạo giấu ven chân dốc. Gạo được đựng trong các ống pháo đựng đạn 105 ly của địch. Nắp ống pháo có gioăng cao su vặn chặt, gạo và các loại đạn cho vào đây rồi chôn xuống đất rất an toàn, nước không thấm vào được.


Buổi sáng hôm ấy, chúng tôi dậy rất sớm, đi qua rừng Mít của gò Dư (Dư là tên của chủ đất có vườn mít), theo đường số 6 qua hòn Núp. Đường trống, ít cây nên đi sớm để tránh máy bay trinh sát. Đến gần suối Tre, tôi bị đau bụng phải dừng lại vào bụi cây đi vệ sinh, lúc xong, chạy ra thì anh em đã đi xa. Thế là tôi cứ theo đường 6 mà bươn theo đơn vị, tôi đã đi lạc đường, lạc sang trảng Bằng. Cứ theo đường mòn, tôi đi giữa trảng tranh (bãi cỏ tranh), trời nắng như đổ lửa, gần trưa lại đói, không có gì ăn, nhưng rồi tôi cũng tìm được đến dốc Mít, nơi đây đơn vị tôi đã từng ở trước khi xuất kích đánh càn quân lính Nam Triều Tiên. Tôi cũng biết vị trí giấu gạo, tôi moi ống pháo đựng gạo đổ vào gùi được gần 20kg. Trong khi moi ống pháo giấu gạo, suýt nữa tôi giẫm vào quả AT gài ngay cạnh, thật hú hồn, mồ hôi tôi toát ra.


Lấy xong gạo chuẩn bị khoác gùi lên vai để trở về, thì cảm giác say nắng ập đến. Tôi xây xẩm mặt mày không thể đi được nữa, người nôn nao muốn nôn. Tôi nằm vật xuống đất và nghĩ, kiểu này chắc không về đơn vị được.

Nằm nghỉ một lúc, tôi thấy cơn say nắng có vẻ nhẹ dần, tôi gượng dậy và xốc gùi gạo đứng lên đi. Vừa đi vừa nghỉ, leo lên hết con dốc, nghe tiếng nam nữ nói chuyện, tôi mừng quá và nhận ra đây là nơi đóng quân của Trung đội Quyết thắng Tuy Hòa II. Biết tôi bị say nắng lại lạc đơn vị, anh em mắc võng cho tôi nằm nghỉ và nấu cháo loãng cho tôi ăn. Tôi phải lưu lại ở đây ba ngày, thấy sức khỏe hồi phục, tôi xin được về đơn vị. Tôi dậy rất sớm và lên đường ngay. Leo lên dốc Mít, tới ngang dốc thì nghỉ lại, cởi bi đông hứng nước ở khe suối nhỏ chảy ra. Tôi lấy đầy bi đông nước rồi nhanh chóng lên đường, gùi gạo sau lưng, khẩu AK vác trên vai.


Đang đi giữa một trảng tranh gió thổi ù ù thì nghe tiếng máy bay, ngước mắt nhìn lên, tôi thấy chiếc máy bay trinh sát đã ở trên đỉnh đầu. "Thôi chết rồi, chắc chắn nó phát hiện ra mình!" Ý nghĩ ấy lóe lên trong đầu, tôi vội tạt vào bụi cỏ tranh, tháo gùi gạo sau lưng và nằm ngửa ra, hai tay vơ vội mấy búi cỏ tranh phủ lên người. Hình như bọn lính đi trên chiếc máy bay trinh sát cũng phát hiện ra tôi, nó quay vòng trở lại, rồi lượn vòng tròn trên bầu trời trảng tranh nhòm ngó. Tim tôi đập thình thịch. Tôi nghĩ nhanh, cần phải thoát ra khỏi vòng lượn của nó, nếu để nó phát hiện ra nó sẽ gọi máy bay ném bom đến tấn công ngay.


Lợi dụng khi máy bay đến đỉnh đầu là tôi vùng lên chạy sau theo đuôi nó, khoảng năm đến sáu mét tôi lại nằm ngửa mặt, hai tay vơ vội cỏ tranh che kín người. Cuộc rượt đuổi theo kiểu chơi ú tim đó cứ lặp đi lặp lại nhiều lần. Bỗng tôi thấy chiếc máy bay trinh sát ạch ạch hạ độ cao. Tôi nghiêng cái đầu nhìn lên và thấy rõ thằng phi công đội mũ đỏ thò đầu nhòm xuống, không thấy gì nó lại bốc lên cao mở rộng vòng lượn, tiếp tục quan sát. Dần dần tôi đã thoát được ra khỏi vòng lượn của chiếc L19. Tôi lao vào một bờ đá có dãy cây lúp xúp và nghĩ thế là thoát rồi! Tôi nằm vật ra thở hổn hển, mệt muốn đứt hơi. Cơn mệt giảm dần, tôi rút một điếu thuốc ra hút cho thư giãn và để lấy lại tinh thần.


Trên bầu trời xuất hiện hai chiếc F105, chiếc L19 chúi đầu phóng một quả rocket vào dưới suối nơi có rừng cây, một đụn khói đen bốc lên, điểm máy bay L19 bắn chỉ điểm cho F105 ném bom khá xa nơi tôi đang ngồi nghỉ, thế là hai chiếc máy bay "thần sấm" thi nhau lao xuống đánh bom, hết số bom chúng mang theo, chúng vòng lại trút xối xả pháo 20 ly vào khu vực vừa thả bom, có lẽ chúng nghĩ là đánh trúng một đơn vị Việt Cộng, chứ không biết có mỗi một người lính là tôi đang ngồi xem chúng đánh bom vào chỗ không người.


Hai chiếc phản lực F105 sau khi đã trút xuống khoảng rừng hết số bom và đạn mang theo, bay về căn cứ, nhưng chiếc L19 vẫn quần thảo dai như đỉa đói trên bầu trời.

Gần hai giờ chiều tôi mới về đến đơn vị, thấy vắng tanh, chỉ có anh Lực, anh Việt là anh nuôi của đơn vị. Hai anh cho biết đơn vị vừa hành quân đi chiến đấu. Khi tôi bị lạc mấy ngày không thấy trở về, mọi người đoán già đoán non là tôi có thể đã đi theo địch (chiêu hồi) nên rất hoang mang, sợ tôi khai báo với địch thì nguy to.


Hôm sau, tôi cùng hai anh nuôi đi tìm đơn vị, đến khu rừng bốn chống thì gặp, cả đại đội đón tôi mừng lắm. Tôi kể chuyện bị lạc, bị say nắng, bị ốm. Thằng An bảo tôi, mọi người nghi mày đi theo địch, nhưng riêng tao không tin, người như mày không bao giờ theo địch. Chuyện xảy ra trước mấy hôm tôi được kết nạp vào Đảng. Sau này tôi nghiệm ra, cứ mỗi lần xảy ra chuyện không hay thì sau đó tôi lại đạt được một kết quả nào đó, cuộc đời tôi sinh tháng 9 năm 1949 thì các sự kiện xảy ra trong đời tôi luôn gắn với con số 9, ví như năm 1969 tôi vào Nam, 1999 tôi được bầu là Chiến sỹ Thi đua liên tục 9 năm, tôi làm Chủ tịch UBND huyện Từ Liêm (nay là quận Từ Liêm) 10 năm thì 9 năm huyện là lá cờ đầu của thành phố... Sau này về Bắc tôi được mẹ kể, thường xuyên bà đi lễ ở đền, ở chùa, cầu cho tôi được sống trở về. Một lần sóc thẻ ở đền thôn Thượng Cát, bà đem quẻ thẻ đến nhờ ông Viên (một người giỏi chữ Nho và hiểu biết dịch quẻ), xem xong ông bảo mẹ tôi, nó sẽ sống trở về, khi về nó sẽ như con chim hồng bay bổng. Quẻ thẻ là niềm hy vọng to lớn, an ủi mẹ tôi trong những tháng năm thấp thỏm đợi chờ con trai chiến đấu trở về. Tôi có hai chị gái, mình tôi là con trai, nếu tôi không trở về thì chắc mẹ tôi sẽ buồn lắm.


Từ năm 1969 đến 1972, Tổng thống Mỹ Nixon bắt đầu thực hiện chủ trương "Việt Nam hóa chiến tranh" thay màu da xác chết, thực hiện âm mưu dùng người Việt đánh người Việt dưới sự yểm trợ bằng vũ khí Mỹ, Mỹ đứng đằng sau chỉ huy, quân Mỹ ở phía sau đẩy quân Ngụy ra phía trước chịu đòn thay, làm bia đỡ đạn cho chúng.


Địch tăng cường mở chiến dịch "Bình định cấp tốc", quân Ngụy tăng cường bắt lính, thành lập thêm 46 tiểu đoàn. Trên chiến trường Phú Yên, địch sử dụng Trung đoàn 47 Quân lực Việt Nam Cộng hòa liên tục mở các trận càn quét ra vùng giải phóng, dưới sự yểm trợ tối đa của hỏa lực Mỹ và quân chư hầu.


Đích thân Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu từ Sài Gòn bay ra thị xã Tuy Hòa lên dây cót, củng cố tinh thần cho binh lính, chọn tỉnh Phú Yên làm thí điểm "Bình định cấp tốc".


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Mười Một, 2025, 07:29:08 pm
Về phía ta, 6 tháng cuối năm 1970, lãnh đạo tỉnh Phú Yên chủ trương mở ba đợt hoạt động nhắm vào các căn cứ, quận lỵ, chi khu địch. Đại đội đặc công 202 được lệnh tập kích Trung tâm huấn luyện biệt kích Đồng Tre, thuộc xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Đại đội đặc công 25 tập kích cứ điểm tiền đồn 1 là cao điểm ở phía Đông căn cứ Đồng Tre, Tiểu đoàn bộ binh 13 đánh địch ở quận lỵ La Hai hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy diệt ác phá kìm. Ngoài ra, còn có trung đội phòng không 12 ly 7, trung đội cối 82 ly, Đội nữ pháo binh của Đại đội 167, có cả cối 120 ly trợ chiến, tham gia đợt hoạt động này. Đây là trận đánh hiệp đồng binh chủng lần đầu tiên tấn công cụm cứ điểm địch của Tỉnh đội Phú Yên. Vì vậy việc chấp hành nghiêm kỷ luật chiến đấu, giờ G phải là tuyệt đối. Đại đội đặc công 202 được ưu tiên nổ súng đầu tiên mở màn cho chiến dịch, chỉ cần một sơ xuất nhỏ, các đơn vị bạn vì lý do nào đó mà bị lộ, nổ súng trước thì hậu quả không thể lường trước được.


Trung tâm huấn luyện biệt kích Đồng Tre tỉnh Phú Yên là nơi huấn luyện biệt kích. Chúng khét tiếng gian ác, do các cố vấn Mỹ chỉ huy, huấn luyện trực tiếp. Là căn cứ được bố trí theo kiểu phòng ngự có chiều sâu, ba tầng rào dây thép gai đủ các loại, từ trung tâm ra ngoài là 24 lớp, xen lẫn với hàng rào, địch bố trí chôn gài đủ các loại mìn dày đặc, tuyến ngoài cùng có giao thông hào bao quanh, các ụ súng đại liên, các lô cốt bê tông nửa nổi nửa chìm. Trên nóc lô cốt chúng bố trí đèn pha lia quét ra ngoài sáng suốt đêm. Qua lớp ngoài là đến lớp tường xây bao bọc xung quanh cao hai mét, từ dưới lên trên, bố trí ba lớp rào bùng nhùng. Qua bức tường vào bên trong căn cứ mỗi khu, chúng lại bố trí các rào bùng nhùng để làm chậm tốc độ tiến công của ta. Trong trung tâm có hai lô cốt xây bằng đá xanh từ thời Pháp cao tới 10 mét, có nhiều lỗ châu mai chĩa ra các hướng, có trận địa cối 106 ly, 81 ly, ĐKZ, hai khẩu pháo "vua chiến trường" 175 ly, nhiều hầm ngầm, Ban chỉ huy Liên đội 254. Tổng quân số ở đây ước chừng 300 tên. Đây là căn cứ rất vững chắc được củng cố nhiều lần, địch cho là bất khả xâm phạm, Quân giải phóng có cánh cũng không bay vào được.


Sau khi nhận lệnh của Tỉnh đội Phú Yên, đơn vị tôi tổ chức đi trinh sát ngay mục tiêu tấn công. Để bảo đảm chắc chắn thắng lợi, lực lượng đi trinh sát bao gồm cán bộ từ tổ ba người, trung đội, đại đội, yêu cầu phải điều nghiên rất thận trọng, tỉ mỉ, xác định được mũi chủ công, mũi thứ yếu 1, thứ yếu 2. Sau đó chúng tôi về đắp sa bàn, tổ chức tranh luận. Đặc biệt, phải làm tốt công tác chính trị tư tưởng, xác định tư tưởng cho bộ đội không sợ địch, xây dựng quyết tâm rất cao, sẵn sàng hy sinh cho thắng lợi, nếu hy sinh thì đầu phải hướng về phía trước.


Trước trận đánh, cán bộ chiến sĩ khẩn trương ôn luyện kỹ, chiến thuật cho phù hợp với tình hình bố phòng của cứ điểm địch, lúc này nơi trú quân của đơn vị tôi là khu rừng bốn chống.

Hôm hạ đạt mệnh lệnh chiến đấu, các đồng chí trong Ban Chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên đều có mặt để chỉ đạo, động viên tinh thần bộ đội. Lực lượng sử dụng cho trận đánh này của đại đội tôi là 47 đồng chí. Vũ khí trang bị gọn nhẹ, hỏa lực có một khẩu B41 của Tiểu đoàn 13 điều sang do chiến sĩ Giới đảm nhiệm, mỗi phân đội có hai khẩu B40, mỗi khẩu năm quả đạn, súng phóng lựu M79, súng AK cơ số đạn hai băng, lựu đạn chống tăng RKD, mỗi người mang 15 quả thủ pháo và lựu đạn. Mũi chủ công đem theo một lá cờ giải phóng, rộng một mét dài hai mét và các mũi đem theo bẩy cờ con, có dây buộc sẵn. Trên đường hành quân chiến đấu, chúng tôi nghe thấy tiếng cuốc xẻng đào đất. Tôi hỏi, anh em vận tải nói cấp trên ra lệnh đào sẵn 8 cái huyệt để chôn liệt sỹ, đây là dự kiến vì cứ điểm biệt kích này rất rắn và kiên cố, khó mà tránh được hy sinh.


Trận tập kích diễn ra đêm 28 tháng 8 năm 1970, chỉ huy trận đánh của đại đội tôi là đồng chí Lương Tấn Thịnh - Đại đội trưởng. Tôi là chiến sĩ Phân đội 1 - mũi chủ công - có nhiệm vụ đột nhập vào giữa pháo đài cao và lô cốt nửa nổi nửa chìm có tên điều khiển đèn pha quét đi quét lại liên tục chĩa ra hàng rào để phát hiện quân ta.


Thỉnh thoảng bọn lính trong căn cứ lại xả súng bắn hú họa vào hàng rào dây thép gai để chống đặc công đột nhập. Trên đầu, chỗ phân đội trưởng đang cắt rào thép gai tôi nghe có tiếng xì xào, đã 15 phút mà đội hình chưa nhích lên được tí nào. Tôi hỏi thì được biết kìm cộng lực cũ qua các trận đánh đã mất, nay dùng kìm mới ở ngoài Bắc chúng tôi đem vào cắt chưa quen. Tôi bò lên xin được đảm nhiệm cắt hàng rào mở đường vì chiếc kìm này tôi được thực tập cắt rào ngoài Bắc rất thành thạo. Công việc tiến triển rất tốt, vừa rà mìn, vô hiệu hóa chúng, vừa cắt rào, dùng móc sắt chữ S để cố định hàng rào. Khi tiếp cận đến hai lớp rào trước giao thông hào, còn khá nhiều thời gian, phân đội tạm dừng lại. Đồng hồ dạ quang chỉ 24 giờ kém 10 phút. Chúng tôi tiếp tục cắt rào. Chờ hai tên gác soi đèn pin đi qua, cả phân đội đợi ánh đèn pha quét đi chỗ khác nhanh chóng chui qua hàng rào cuối cùng, tụt nhanh xuống giao thông hào, nó sâu tới cổ chúng tôi.


Địch chưa phát hiện được. Theo kế hoạch, tổ anh An rẽ sang phải đánh lô cốt vòng ngoài bằng thủ pháo vào lỗ châu mai, một tổ khác vòng sang trái giải quyết các ổ đại liên. Đại đội trưởng Thịnh ra hiệu, tôi bò thẳng đến bức tường cao hai mét, vạch rào bùng nhùng để người nọ đứng lên vai người kia rồi vịn lên nóc tường kéo người sau lên tiếp, chúng tôi nhảy vào trong sân lát gạch nhanh chóng núp vào góc một tòa nhà.


Ngôi nhà hai tầng nơi ở của Ban Chỉ huy Liên đội 254 và bọn cố vấn Mỹ sừng sững giữa sân, kế bên là khu nhà lính, nhà kho san sát. Trước nhà ban chỉ huy thấy trận địa pháo nòng ngóc lên hướng về phía núi, các khẩu cối đều để dưới hầm bê tông xây vòng tròn bao quanh.


Lợi dụng vệt tối của ánh đèn từ sở chỉ huy phát ra, chiến sỹ B40 Quán A Sam tiến tới cột cờ trung tâm, kề khẩu B40 hướng quả đạn vào nhà sở chỉ huy địch. Tôi khóa an toàn khẩu AK, tiến sát cửa sổ của dãy nhà lính. Bọn địch ở đây đã đi ngủ. Đồng hồ lúc này là 0 giờ 5 phút. Đã quá giờ G quy định nổ súng năm phút. Toàn căn cứ địch vẫn chìm trong bóng tối im lặng. Mũi chủ công của chúng tôi đã vào hết bên trong cứ điểm địch, vẫn giữ được bí mật. Anh Nghiêm - Phân đội trưởng - quyết định chưa nổ súng, để có thêm thời gian cho hai mũi bạn tiếp cận, áp sát các mục tiêu. Kim đồng hồ nhích sang 0 giờ 10 phút. Không gian vẫn yên lặng. Tiếng ca vọng cổ từ chiếc đài casset ở khu nhà lính phát ra điệu nhạc vàng nghe não ruột.


Lệnh nổ súng của Phân đội trưởng phát ra qua động tác bàn tay anh đập nhẹ lên vai chiến sĩ Sam mang súng B40. Lập tức một tiếng đùng đoàng vang lên. Kèm theo một vệt lửa sáng lòa xé toang màn đêm. Quả đạn B40 bay lên tầng hai bùng nổ, tạo một quầng sáng chói gắt. Một quả B41 nữa cùng lúc bắn vào tầng một của chiến sỹ Giới. Quả đạn đỏ lừ đi sạt qua lô cốt đá xanh bay sang làng đồng bào dân tộc thiểu số cách đó gần một cây số, làm bốc cháy một ngôi nhà tranh, lửa lan nhanh cháy sáng rực một góc trời. Địch trong lô cốt bắt đầu bắn ra mãnh liệt. Bình tĩnh, Giới bắn tiếp quả thứ hai trúng lô cốt, đạn khoét một lỗ to như cái thúng. Trong lô cốt, địch im bặt. Từ trên tầng thượng, địch chiếu đèn pin chạy ào xuống, đến tầng một bị thủ pháo của ta nổ ép chết.


Lúc này, toàn bộ căn cứ địch rung lên bần bật, những ánh chớp nổ của thủ pháo ầm vang, xen lẫn tiếng B40, B41 đùng đoàng nghe thật hùng tráng.

Từ trung tâm chỉ huy địch, những ánh chớp nổ, những vệt lửa dắt dây tiến dần ra ngoài. Ở vòng ngoài, địch bị đánh dập đầu, trở tay không kịp. Chiến thuật đánh nở hoa trong lòng địch đang được Đại đội đặc công 202 chúng tôi thực hiện rất xuất sắc. Căn cứ địch hoàn toàn bị tê liệt, nhiều khẩu đại liên còn phủ bạt che chưa kịp tháo ra đã bị phá hủy. Nhiều lính địch còn mặc nguyên quần đùi áo may ô trắng, chạy túa ra sân. Phân đội phó Ngọc cầm quả lựu đạn RKD đập trúng đầu một tên lính, hắn lập tức giơ tay xin hàng. Một kho đạn tiểu liên trúng thủ pháo của ta, bén lửa bốc cháy sáng rực ở góc Tây Bắc cứ điểm, hoa lửa liên tiếp bắn tung lên trời kèm theo là tiếng nổ nối đuôi nhau rền vang. Tất cả các mũi bên trong và vòng ngoài đã bắt liên lạc được với nhau. Lúc nổ súng tôi ném liên tiếp thủ pháo vào các ô cửa sổ nhà lính, ở trong một dãy nhà vẫn có tiếng điện đài PRC25 léo nhéo tiếng gọi từ chỉ huy địch ở thị xã Tuy Hòa đến. Tôi nhét một quả thủ pháo qua cửa sổ, tiếng điện đài im bặt, nhiều tiếng rên phát ra từ bên trong.


Ở cột cờ trung tâm căn cứ, mũi trưởng Nghiêm hạ lá cờ ba que của địch xuống, treo lá cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh lên đỉnh cột, cờ giải phóng tung bay phân phật, trông thật uy nghi hùng tráng, báo hiệu quân ta đã làm chủ trận địa.

Niềm vui được nhân lên khi tôi - Nguyễn Cao Chí, anh Cư, anh Sam cùng ở Phân đội 1 được Chính trị viên tuyên bố kết nạp Đảng tại trận đánh. Còn vinh dự nào hơn, tôi xúc động trào nước măt, đây là lớp Đảng viên Hồ Chí Minh đầu tiên của đơn vị.

Lệnh rút quân!


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Mười Một, 2025, 07:37:04 pm
Tôi trèo qua ba lớp rào bùng nhùng ra ngoài gọi An vào để rút, nghe tiếng đáp của anh, thấy anh đang ngồi trên nóc lô cốt tiền duyên. Tại đây, An cũng cắm một lá cờ nhỏ, sáu lô cốt quanh căn cứ cũng đều được cắm cờ giải phóng.

Chúng tôi thu chiến lợi phẩm, dùng thủ pháo bỏ vào nòng súng cối, pháo để phá hủy chúng khi chúng tôi không thể mang ra được. Ở một trận địa cối 106 ly, anh Sam đang truy hỏi vợ tên đại úy liên đội trưởng để tìm hầm ngầm, nhìn thấy ngách hầm cối tối om, tôi ném một quả thủ pháo vào, trúng ngay kho đạn cối 106 ly, một ngọn lửa to phụt ra ngày càng mạnh, nguy cơ phát nổ đến nơi, tất cả chúng tôi bỏ chạy thật nhanh về phía cổng chính của căn cứ. Chạy được một đoạn thì một tiếng nổ long trời, kho đạn phát nổ, lửa bốc cao hàng trăm mét, mảnh sắt, gạch đá văng tứ tung, tôi thấy lưng nóng rát bỏng, người muốn nhũn ra, rồi ngã sõng soài xuống đất, mặt mũi xây xẩm, đầu gối va vào sân gạch rớm máu. Vừa chạy qua sân bay dã chiến, bốn chiếc trực thăng vũ trang từ thị xã lên, chúng phóng rocket, bắn đại liên hòng chặn lối rút quân của ta, các trận địa 12 ly 7 của ta đồng loạt bắn, đuổi chúng bốc lên cao. Chạy đến ruộng lúa nước, chúng tôi vốc nước uống ừng ực, uống cả những con nòng nọc chui tuột xuống dạ dày, khát quá.


Khi chúng tôi đánh căn cứ biệt kích ở Xuân Phước thì Đại đội đặc công 25 cũng tiêu diệt cứ điểm tiền đồn 1 diệt một đại đội địch, trung đội cối 82 ly do nữ đồng chí Tạo làm Trung đội trưởng pháo kích tiền đồn 2, chi viện cho các đơn vị đánh địch. Sau trận đánh, ta dùng cối 120 ly bắn cầm canh vào Xuân Phước để quân ta có thời gian rút lui an toàn.


Tiểu đoàn bộ binh 13 nổ súng tấn công quận lỵ La Hai cũng diệt được nhiều tên địch, hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy. Điều đặc biệt là trong khi đơn vị đang hành quân về nơi tập kết thì nhận được điện của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 khen ngợi và thông báo đề nghị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất cho đơn vị tôi.


Tôi anh Cư, anh Sam do có thành tích chiến đấu tốt trong trận đánh này cũng đều được đề nghị tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, nhiều cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng Huân chương các hạng, Bằng khen.

Kết quả trận đánh, sau 30 phút chiến đấu ta tiêu diệt hoàn toàn Trung tâm huấn luyện biệt kích Đồng Tre, xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. 47 cán bộ chiến sĩ của đại đội tôi trở về an toàn, chỉ có anh Chinh bị hòn vôi tường bắn vào khớp gối phải điều trị, sau điều trị anh được ra miền Bắc. Ta tiêu diệt gọn Ban chỉ huy Liên đội 254, 10 cố vấn Mỹ, một trung đội cối, hai trung đội pháo 105 ly, 175 ly, một trung đội thông tin, phá hủy hai kho đạn, diệt 250 tên địch; thu một cối 60 ly, một trung liên, hai đại liên, hai đài PRC25, 15 súng AR15, bắt sống hai tù binh, phá hủy nhiều vũ khí quân trang quân dụng khác.


Tỉnh cho gọi đoàn văn công đang đi lấy gạo quay về căn cứ để tổ chức biểu diễn liên hoan mừng chiến thắng.

Hai ngày sau, ở khu rừng căn cứ bốn chống, Ban chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên tổ chức học tập chiến lệ trận đánh, để rút kinh nghiệm. Đồng chí Lê Bác - Chính trị viên Tỉnh đội Phú Yên đã kết luận "47 chiến sĩ Đại đội đặc công 202 là 47 chiến sĩ gang thép"!

Đối với tôi, nó là một trận đánh mang tính kinh điển của bộ đội đặc công, trận đánh diễn ra như chúng tội đánh diễn tập ở ngoài Bắc, sau này Quân khu 5 cũng lấy đây là chiến lệ để các đơn vị trong quân khu học tập rút kinh nghiệm.

Sau mấy hôm liên hoan, xem văn công biểu diễn mừng chiến thắng, chúng tôi hành quân về căn cứ hòn Đác.

Từ suối Ché, đại đội đi theo hàng một qua một trảng tranh bằng phẳng. Mọi người vừa đi vừa nói chuyện, niềm vui sau chiến thắng vẫn âm vang không dứt. Trời buổi sáng trong xanh, gió thổi mát rượi, bỗng có tiếng máy bay! Từ phía Tây cánh rừng phía xa xuất hiện một chiếc trinh sát L19, không kịp ẩn nấp, nó đã phát hiện ra chúng tôi và nhanh chóng bay vòng trở lại. Tất cả mọi người đều chạy nhanh về phía trước, nơi ấy có những lùm cây lúp xúp xa chút nữa là rừng cây hai bên con suối Hòa Bình. Trên bầu trời đã xuất hiện bốn chiếc F105, chúng bay vòng tròn, gầm rú chờ chiếc máy bay trinh sát chỉ điểm.


Xoảng - ùm, một cột khói bốc lên cách chúng tôi chừng 50m, thế là bọn phản lực thi nhau trút bom. Bom nổ ầm ầm rung chuyển mặt đất. Tôi nằm trong bụi cây thấp trong trảng tranh, bên cạnh là 20 thỏi thuốc nổ TNT còn thừa sau trận đánh. Quá nguy hiểm nếu bom đánh gần nữa sợ nó kích nổ chỉ có toi mạng. Hết bom phá, đến bom phát quang mảnh chém sát mặt đất, cây cỏ bắn tung tóe trùm cả lên đầu tôi. Vừa dứt tiếng bom, lại nghe tiếng máy bay trực thăng vũ trang phành phạch lao đến. Chúng tôi được lệnh phải chạy thật nhanh thoát ra khỏi khu vực này. Bọn trực thăng bắt đầu vãi đạn đại liên vào các lùm cây. Chúng ném đạn cối xuống đất rồi bắn rocket. Tiếng nổ đùng, đoàng, chiu chiu, xoảng đùng tạo nên âm thanh chết chóc hỗn loạn. Trảng tranh bốc cháy ngùn ngụt. Bọn trực thăng rất chủ quan, chúng bay và đứng yên tại chỗ, cánh quạt quay rít gió xoáy xuống mặt đất, mấy thằng bắn đại liên, ném đạn cối tôi nhìn rất rõ.


Khoảng cách giữa tôi và nó không quá 60m, nếu tôi dùng AK bắn thì chắc chắn hạ được nhưng chúng tôi không thể bắn vì hạ được một chiếc, chúng sẽ gọi máy bay đến đông như ruồi thì tổn thất sẽ khó mà lường được. Lúc này bảo toàn lực lượng là trên hết. Lợi dụng địa hình, cây cối tôi đến được suối Hòa Bình, đến nơi đã thấy có rất nhiều anh em ở đó, toàn đại đội không ai hy sinh, chỉ có một đồng chí anh nuôi bị trúng mảnh rocket gãy xương tay gần bả vai.


Về đến đơn vị, má Chín ra đón chúng tôi, má mừng lắm vì không ai hy sinh. Hậu cứ đơn vị tôi có má Chín, má đã già, hàng ngày phụ giúp anh nuôi nấu ăn. Còn có anh Cà, anh Nhiệm, cô Phương chăm lo sản xuất lương thực, chủ yếu là trông nom bãi trồng sắn. Anh Nhiệm là người có tài săn bắn, anh săn được cả chồn cheo, có lần bắn được con nai nặng hơn một tạ, những lúc ấy sáu đứa chúng tôi một mâm ngồi ăn có cả một chậu thịt nai, ăn thoải mái. Xương, sừng hươu nai các lần anh săn bắn được cho vào ống đựng đạn pháo 155 ly sau mang ra nấu cao, dùng cũng rất tốt cho sức khỏe.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Mười Một, 2025, 07:38:26 pm
4.5. Tập kích tiêu diệt cứ điểm Hòn Ngang (lần thứ nhất)

Sau chiến thắng Xuân Phước, đơn vị tiếp tục huấn luyện, nghỉ ngơi ở hậu cứ.

Cán bộ đại đội nhận lệnh đi chuẩn bị chiến trường. Mục tiêu mới là Hòn Ngang, Củng Sơn thuộc huyện Sơn Hòa.

Lúc này tôi được giao nhiệm vụ tổ trưởng tổ 3 người theo anh Thịnh, anh Thâu đi trinh sát. Chúng tôi liên hệ với Huyện đội Sơn Hòa. Tuy là bộ đội địa phương, nhưng cơ quan Huyện đội có nhiều anh em là người miền Bắc như anh Diên, chị Liễu y tá... Y Nghệ là người dân tộc ở địa phương nhưng thường xuyên đi cùng chúng tôi nên đều là những người quen cả.


Lúc đi trinh sát, tôi và Hải (người Nam Hà) xuống anh nuôi nhận lương thực, thực phẩm. Ngoài gạo, chúng tôi lấy nhiều dầu ăn thay cho cá hộp vì đi qua các suối chúng tôi sẽ đánh cá bổ sung cho khẩu phần ăn.

Đi qua gộp Hòa Nguyên, trong lúc nghỉ, tôi tranh thủ nhổ sâm cau, rửa sạch, sao khô nấu nước uống thay chè rất tốt, uống nước này ăn cơm rất khỏe vì nhanh đói. Một hôm vào gần trưa, tôi và Hải cầm AK đi trước, vừa tụt xuống một con suối cạn, thì phía trước bờ suối bên kia cũng xuất hiện năm người tay cầm súng AR15, mặc quần áo đen, đầu đội mũ vải tiến lại. Quá bất ngờ, hai bên sững sờ nhìn nhau. Không bên nào kịp nổ súng, cả hai bên đều chạy ngược trờ lại lên bờ suối, lên bờ chúng tôi hội ý và khẳng định bọn này đúng là biệt kích từ hòn Ngang đi sục sạo thăm dò lực lượng ta.


Do thông thạo địa hình, Y Nghệ lập tức dẫn chúng tôi xuyên rừng tìm lối khác. Chưa đầy mười phút sau, đã nghe tiếng máy bay trinh sát OV10 bay sát ngọn cây. Chúng săm soi tìm quân ta, địch cũng không biết lực lượng chúng tôi nhiều hay ít, tìm mãi chúng phán đoán chỉ có khu gộp Hòa Nguyên, cây rừng cao rậm rạp có khả năng ta trú quân ở đó, nó chúc đầu xuống phóng quả lựu đạn khói. Ba chiếc A37 thi nhau trút bom, bắn pháo 20 ly rung chuyển cả núi rừng, chúng đánh vào chỗ không người. Chúng tôi nói với nhau, đúng là Mỹ giàu, vũ khí nhiều, quân đông như quân Nguyên, chỉ cần nghi ngờ là chúng đánh bom, bắn pháo vô hồi kỳ trận.


Tôi còn nhớ, một lần đi lấy gạo ở Hòa Kiến, chân núi Chóp Chài, cối của ta pháo kích khoảng 15 quả vào trận địa pháo Nam Triều Tiên ở gò Đá, địch xuống hầm lẩn tránh. Sau khi cối ta thôi bắn, chúng phản pháo bắn trả gần một tiếng đồng hồ, ngoài ra các căn cứ khác bắn pháo sáng đến gần sáng.

Đợt trinh sát này chúng tôi đi bốn mũi và đều đột nhập được vào gần lớp rào cuối cùng. Trinh sát kết hợp với tin tình báo và tin của cơ sở ta đã nắm được như sau:

Hòn Ngang là một núi đất dài gần 500m, là cao điểm án ngữ bảo vệ cho toàn bộ khu vực của Chi khu quân sự Củng Sơn và sân bay dã chiến, ở đây có Sở chỉ huy Liên đội bảo an số 253, hai đại đội 933 và 996; một trung đội cối, một trung đội pháo 105 ly, một trung đội thông tin, một trung đội thám báo. Chúng cũng tổ chức phòng ngự có chiều sâu với 20 lớp rào chia ra ngoại biên và trung tâm, chúng cũng có lô cốt đá xanh cao 10m, nhiều lô cốt hầm ngầm. Đánh giá mức độ cứng rắn tương đương cứ điểm Xuân Phước mà chúng tôi vừa tiêu diệt.


Tỉnh đội cử đồng chí Lưu - Trưởng ban Đặc công - xuống tăng cường.

Bọn thám báo chiều tối thường xuyên đi phục kích quân ta. Trong một lần trinh sát địch phát hiện trinh sát ta, chúng quần thảo chúng tôi. Lợi dụng đêm tối, các bụi cây chúng tôi vẫn rút lui an toàn.

Trước lúc mở màn trận đánh, đại đội tôi đóng quân ở gộp Hòa Nguyên. Khu vực này có nhiều gộp đá và rừng già, là địa hình trú quân rất tốt.

Cùng đánh đợt này có Đại đội đặc công 25 Tiểu đoàn bộ binh 13, Tiểu đoàn bộ binh 96, một đại đội công binh đánh căt đường 7 ngăn địch từ thị xã Tuy Hòa kéo lên chi viện.

Đồng chí Thịnh - Đại đội trưởng - báo cáo trên sa bàn tổ chức hợp đồng giữa các mũi, phổ biến mật khẩu liên lạc, dự kiến các tình huống có thể xảy ra. Các mũi trưởng tham gia ý kiến bổ sung phương án đánh địch. Ban chỉ huy Tỉnh đội giao nhiệm vụ hạ quyết tâm phải đánh thắng, nếu khó khăn không đánh chiếm được sẽ rút ra bắn pháo hiệu đỏ lên trời, pháo binh của ta chủ yếu là cối 82 ly sẽ bắn vào căn cứ yểm trợ.


Khoảng 5 giờ chiều ngày 3 tháng 10 năm 1970, phân đội tôi đã đến bìa rừng cách Hòn Ngang một thung lũng hẹp, là nơi dân trồng tỉa bắp, lúa nương. Vừa đi đến mấy bụi cây bỗng soạt một tiếng, chúng tôi giật bắn người tường địch phục kích, mọi người nằm ẹp xuống đất chuẩn bị chiến đấu. Trước mắt chúng tôi, hai chú nai con nhảy ra, chúng giương mắt nhìn chúng tôi, rồi thong thả đi, thú rừng ở đây nhiều lắm. Thật hú vía, nếu gặp địch thì hỏng hết kế hoạch tấn công đêm nay.


Trong trận này, tôi lại được điều lên cắt rào. Trên đầu chúng tôi, lính gác liên tục đi tuần quét đèn pin xuống hàng rào. Nhiều tên ra tận hàng rào ngoài cùng để soi kiểm tra.

Khi còn cách bốn lớp rào thì đến giao thông hào, một tiếng "tóc" của tiểu liên cực nhanh bắn về phía mũi của tôi, xiên qua thái dương đầu anh Tảo - mũi phó (anh người Nam Hà). Không một tiếng kêu, anh nghiêng người hy sinh tại chỗ. Đặt anh nằm bên cạnh, tất cả tiếp tục bò lên. Đến hàng rào cuối cùng thì dừng lại. Lúc này gần 12 giờ đêm, bầu không khí vẫn yên tĩnh, trời hôm ấy đầy sao, nghe rõ tiếng côn trùng râm ran rả rích.


Lợi dụng lúc lính gác đi qua, chúng tôi vạch rào chui nhanh qua hàng rào cuối cùng tỏa ra tụt xuống giao thông hào. Thế là chắc ăn. Đã vào đến đây kiểu gì cũng đánh thắng. Các tổ tiếp cận các mục tiêu đã được phân công ở nhà.

Trước giao thông hào là các dãy nhà lính, chúng mắc võng nằm nghỉ, hút thuốc, nghe cải lương, mùi thuốc lá bay ra thơm lừng. Lúc này, các ụ đại liên, các lô cốt đã ở sau lưng chúng tôi, chắc chắn lúc này ba mũi giờ này cũng đã vào được trong cứ điểm. Đồng hồ chỉ 12 giờ 15 phút. Đã bước sang ngày 4 tháng 10 năm 1970. Giờ G đã đến. Lệnh tiến công, cả cứ điểm địch chìm trong khói lửa của thủ pháo, đạn B40, B41.


Phân đội tôi đánh lướt qua các dãy nhà lính, nhanh chóng thọc sâu chia đôi cứ điểm không cho chúng co cụm, ứng cứu lẫn nhau.

Sở chỉ huy địch ở trung tâm trúng liên tiếp đạn B40, B41, tiếp đến là thủ pháo đánh qua các cửa nhà, đánh vào các cửa hâm ngầm. Trung đội thông tin địch nhanh chóng bị xóa xổ, không còn liên lạc được với thị xã và các căn cư khác. Ta hoàn toàn làm chủ cuộc tấn công, địch chống trả yếu ớt.


Sau khi bắt liên lạc được với các mũi bạn ở phía Nam và phía Bắc, chúng tôi bắt đầu áp dụng chiến thuật đánh bồi tiêu diệt những tên còn sống sót. Đánh đến gan trận địa pháo 105 ly, thấy một cửa hầm tối om, tôi ném một quả thủ pháo vào đỏ, thủ pháo nổ, một vệt lửa thè ra đỏ lòm, kho đạn pháo 105 ly bén lửa bốc cháy, nó sắp phát nổ đến nơi. Sau lưng tôi là ba lớp rào của sở chỉ huy địch, không thể trèo ra lúc này, tôi nhảy vội xuống giao thông hào cách kho chừng hơn 10m chờ cho kho nổ. Một tiếng nổ long trời, mặt mũi tôi tối sầm lại, các thanh ván chống giao thông hào xô đè lên người, máu từ hai bả vai tôi tứa ra, sau này về bệnh xá Sơn Hòa để điều trị tôi mới biết mình bị sức ép thủng màng nhĩ tai trái. Khi kho đạn nổ, anh Minh - Chính trị viên phó đại đội - đang trèo rào để chạy ra ngoài bị sức ép văng cả người xuống sân, sờ thấy người anh mềm nhũn hơi thở khò khè, đưa được anh ra hàng rào ngoài cùng thì anh tắt thở, hy sinh.


Sở chỉ huy Tỉnh đội ở đồi cao bên ngoài nhìn rất rõ các mũi đánh thọc sâu của quân ta, những ánh chớp thủ pháo như những lưỡi dao nhọn thọc vào tim kẻ thù. Trước khi rút, chúng tôi phá hủy các loại pháo cối của địch không thể mang ra được. Chúng tôi chỉ việc thả thủ pháo vào nòng súng là nổ nát nòng. Đại đội thu vũ khí địch, tôi lấy được khẩu cối cá nhân M79 và một áo đựng hơn chục quả đạn, loại này quý lắm, nó là hỏa lực rất lợi hại, nhất là khi đánh càn. Đại đội tôi thu được một đài PRC25, một cối 60 ly, 10 khẩu tiểu liên cực nhanh AR15.


Chúng tôi đặt mìn nổ chậm phá hủy kho đạn pháo 105 ly, sau khi rút khoảng 30 phút, chúng phát nổ sáng rực cả một vùng.

Trận đánh này, Đại đội đặc công 202 hy sinh hai người. Đại đội tôi được thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, tôi được tặng Bằng khen và danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng, nhiều anh em cũng được thưởng như tôi.

Trận đánh nhanh, tiêu diệt gọn, thực hiện được chiến thuật mật tập, đánh thọc sâu, hiệu suất chiến đấu cao, hơn 200 tên địch bị đền mạng, phá hủy nhiều vũ khí, khí tài chiến tranh, góp phần cùng các đơn vị bạn hoàn thành mục tiêu chiến dịch mà cấp trên giao cho, trình độ tác chiến đặc công của đơn vị được tiếp tục nâng lên. Sau trận này tôi được đề bạt lên mũi phó (biên chế bộ đội đặc công như chức trung đội phó).


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Mười Một, 2025, 07:39:58 pm
4.6. Trận tập kích Chi khu quân sự Phú Tân

Trên đà thắng lợi, Tỉnh đội Phú Yên tiếp tục giao nhiệm vụ cho Đại đội đặc công 202 chuẩn bị chiến trường để đánh Chi khu quân sự Phú Tân thuộc huyện Tuy An, cứ điểm này nằm ngay sát đường số 1 và đường sắt Bắc - Nam.

Nơi đây có Ban Chỉ huy Liên đội bảo an 226, một đại đội bảo an, một tiểu đội thám báo, một trung đội dân vệ, một trung đội pháo 105 ly, một trung đội thông tin. Chi khu quân sự này có 12 lớp hàng rào kiên cố và hệ thống mìn bố phòng dày đặc.

Về phía Tây Bắc của chi khu - dân ở đây gọi là "mả thằng nhỏ", địch bố trí một đại đội pháo gồm hai khẩu 105 ly, súng ĐKZ và cối 81 ly, sẵn sàng bắn chi viện nếu chi khu bị tấn công.

Phía Tây Nam là trận địa pháo gò Đá của lính Nam Triều Tiên, có pháo 105 ly và 155 ly yểm trợ, chưa kể không quân ở sân bay Đông Tác sẵn sàng xuất kích, chỉ cần khoảng mười phút là có thể dội bom xuống trận địa của ta.

Tôi được cử đi trinh sát cùng anh Nghiêm - Mũi trưởng, anh Thâu - Đại đội trưởng. Từ căn cứ hòn Đác chúng tôi đi đến suối Hổ, rồi từ đó vượt qua đồi Yên Ngựa. Chúng tôi chọn một vị trí ngồi trong bụi cây chiếu ống nhòm xuống quan sát chi khu rất rõ. Nhưng vị trí chúng tôi ngồi rất nguy hiểm, thường xuyên bị cối 81 ly, pháo chụp 105 ly từ chi khu bắn lên. Mấy lần chúng tôi chứng kiến pháo bắn nổ trên không ở khu vực này, không có hầm trú ẩn thì chắc hy sinh ngay. May thay là nó chưa bắn trúng nơi chúng tôi ngồi trinh sát lần nào.


Chờ trời tối hẳn, chúng tôi băng qua đường tàu, chia làm 3 nhóm đột nhập theo ba hướng: Bắc, Đông gần biển và Nam. Riêng hướng Tây, mặt trước chi khu giáp đường 1, có một trung đội đóng ở ngoài chi khu để bảo vệ thêm vòng ngoài nên chúng tôi không chọn. Tôi đi cùng Đại đội trưởng đột nhập mũi hướng Bắc.


Xung quanh chi khu là các ruộng ngô của dân, cao gần ngập đầu người. Từ hàng rào ngoài cùng đến hàng rào cuối cùng địa hình khá bằng phẳng, lớp rào ngoài có rất nhiều mìn pháo sáng, qua 10 lớp rào, đến lớp thứ 11, tôi nhìn thấy trước mặt cứ cách khoảng hai mét lại có một cọc sắt sơn trắng cao bốn mươi phân, phía trước địch buộc mìn định hướng Claymore, dây điện dẫn vào các lô cốt. Khi bị tấn công, chúng sẽ điểm hỏa cho nổ mìn, nếu ta ở phía trước sẽ bị quét sạch trong nháy mắt.


Có thể nói đi trinh sát vào được sâu như vậy, lại quan sát rõ việc bố phòng và quy luật canh gác của địch thì rất thuận lợi cho việc tổ chức trận đánh sắp tới.

Một lần đi trinh sát, chúng tôi gặp anh Phước, - Đại đội pháo binh 167, các anh cũng đi chuẩn bị chiến trường, xác định vị trí để đặt súng DKZ75, pháo kích vào trận địa pháo địch đặt ở khu vực "mả thằng nhỏ" yểm hộ cho chúng tôi đánh chi khu. Tôi thấy các anh đánh dấu vị trí bằng hai cái cọc đóng xuống đất, như vậy sẽ có hai khẩu ĐKZ được bố trí ở đây. Từ vị trí này nhìn xuống trận địa pháo 105 ly của địch rõ mồn một khi xạ kích bắn tà âm, một kiểu bắn thuận lợi nhất cho ĐKZ. Sau này anh Phước được bổ sung về đơn vị tôi làm Chính trị viên đại đội.


Lần thứ ba đi trinh sát Chi khu Phú Tân, chúng tôi ghé qua thăm Tiểu đoàn bộ binh 13 đóng quân ở Trại Cháy. Qua thăm hỏi tìm kiếm đồng hương Hà Nội, tôi gặp anh Lưu là con nhà thơ Nguyễn Xuân Xanh, anh Tín nhà ở gần chợ Hàng Da, anh Bùi Xuân Bang nhà ở số 8 phố Lê Trực, quận Ba Đình, Hà Nội, anh là xạ thủ cối 82 ly của tiểu đoàn. Anh Bang rất vui tính và khéo tay. Anh đã cắt tóc cho tôi, vừa cắt tóc, anh vừa khôi hài: "Cắt xong cái tóc cho Chí, tớ bị kiến bọ cong đốt chết cũng sướng". Câu nói đùa ấy cho đến nay tôi vẫn không quên.


Trong đợt Tổng tấn công chiến lược tháng 5 năm 1972, anh Bang hy sinh, rồi anh Lưu, anh Tín cũng lần lượt hy sinh. Sau này gia đình anh Tín vào lấy hài cốt anh an táng tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Tuy An. Gia đình anh Bang cũng mang được hài cốt của anh về quê. Hôm tổ chức truy điệu hai anh, tôi cùng anh em cựu chiến binh chiến đấu ở chiến trường Phú Yên đến viếng và tiễn đưa các anh về nơi mai táng tại nghĩa trang liệt sĩ ở Nhổn, huyện Từ Liêm. Đứng trước mộ các anh, trong khói hương mờ ảo, nhắc lại kỷ niệm xưa, mà nước mắt tôi trào ra, chúng tôi cùng các anh đang độ tuổi 20 đầy sức sống với bao hoài bão và ước mơ, phải hy sinh tuổi thanh xuân của mình để giành lại độc lập tự do cho đất nước. Các anh sống mãi tuổi 20.


Sau khi trinh sát kỹ các hướng, đơn vị báo cáo Ban Chỉ huy Tỉnh đội hạ quyết tâm sẵn sàng tiến công địch. Tỉnh đội duyệt quyết tâm cũng như phương án tác chiến của đơn vị và ra mệnh lệnh chiến đấu.

Từ căn cứ hòn Đác, chúng tôi hành quân đến vị trí dốc Mít. Hôm ấy, anh nuôi nấu cơm khê, anh em đơn vị phàn nàn, không hiểu thế nào cứ ăn cơm khê là có chuyện, đường đi hay gặp máy bay trinh sát quần thảo. Ngoài cơm khê, có anh lại bắt được con cu li nhỏ bằng vốc tay, lông vàng, hai mắt tròn xoe. Anh Dị người Hải Phòng nói rất kỵ culi, dễ gặp chuyện không hay, nhưng rồi bận tập trung vào nhiệm vụ tới nên cũng không ai để tâm nữa.


Tại khu tập kết suối Hổ, đơn vị thảo luận, phân công nhiệm vụ chiến đấu cho các mũi, tổ chức hiệp đồng, mật khẩu liên lạc, quán triệt tư tưởng, hạ quyết tâm chiến đấu, cần nhớ rằng tư tưởng phải rất cao, có thông suốt thì mới tạo ra sức mạnh lấy ít đánh nhiều, không sợ lạnh lưng, hở sườn.


Trước khi tập kích Chi khu Phú Tân, Tiểu đoàn đặc công 14 ở Tuy Hòa I đã liên tiếp pháo kích, tập kích vào sân bay Đông Tác, sân bay Thọ Lâm, quân cảng Vũng Rô, Trung đoàn bộ 28 quân Nam Triều Tiên, ta đã giết chết 91 tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật Mỹ, phá hủy sáu máy bay.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Mười Một, 2025, 07:40:37 pm
Chiều 1 tháng 12 năm 1970, đại đội tôi làm lễ xuất quân. Cùng đi có một trung đội của Tiểu đoàn bộ binh 96, có nhiệm vụ đánh trung đội địch ở vòng ngoài chi khu.

Trời nhập nhoạng tối, nhìn không rõ người, chúng tôi vượt qua đèo Yên Ngựa, Đại đội 202 đi trước, một trung đội của Tiểu đoàn 96 đi sau. Đang đi xuống dốc, bỗng đùng đùng, đùng đoàng, pháo cối từ chi khu bắn lên, một quả đạn cối 81 ly của địch rót trúng đội hình Trung đội 96 làm chết và bị thương 11 người. Chúng tôi phải chạy nhanh xuống dốc, lao về phía địch để tránh pháo kích. Trong khi mọi người nằm tránh đạn, tôi thấy mấy cậu bên cạnh tôi ăn cái gì không biết. Tôi hỏi chúng nó bảo ăn củ đậu. Hóa ra chúng tôi nằm ngay trên ruộng củ đậu của dân, tôi nhổ một cây lên vặt một củ, chùi đất ăn thấy vừa ngọt lại vừa mát.


Trước mặt, điện trong chi khu sáng trưng, đèn pha canh gác đã hoạt động, lia đi lia lại. Sau lưng chi khu là biển, các thuyền đánh cá của dân thắp đèn măng sông sáng trưng để câu mực, lốm đốm như các vì sao trên mặt biển.

Cả ba mũi của ta vượt qua đường số 1, đường tàu hỏa an toàn, triển khai theo các hướng được phân công. Do ngoài Bắc tôi học B41 và đã bắn tập trúng mục tiêu, anh An báo cáo đại đội giao cho tôi sử dụng B41 trong trận đánh này để giải quyết hai lô cốt đầu cầu tạo điều kiện cho phân đội thọc sâu đánh vào trận địa pháo 105 ly và sở chỉ huy địch.


Vượt qua các ruộng ngô, Mũi trưởng Nghiêm dẫn anh em tiếp cận lớp rào đầu tiên, bắt đầu rà mìn và tiến hành cắt rào dây thép gai. Mọi việc diễn ra suôn sẻ. Đến hàng rào cuối cùng, loay hoay mãi vẫn không qua được đó là hàng rào ca rô cao đến hai mét rưỡi, dây thép gai đan rất dày và vững chắc, không thể thò mũi kéo vào cắt được, mọi người lo lắng đến toát mồ hôi! Phía trong hai lô cốt đen sì và một bức tường đất cao ngập đầu người, hai khẩu pháo 105 ly chĩa nòng lên bầu trời nhìn rất rõ. Như vậy là địch ở trên cao, nếu không qua được lớp rào khi hai mũi kia nổ súng, địch chỉ cần bắn đại liên, ném lựu đạn ra là phân đội sẽ hy sinh hết.


Nhưng rồi trong cái khó ló cái khôn. Do lâu ngày nước mưa chảy thành rãnh, chúng tôi lấy dao găm theo đó đào vào. Phải công nhận chúng tôi có phần may mắn. Sau khi đào không gây ra tiếng động, chúng tôi kéo bẻ cong chân dây thép gai. Thế là bộ đội ta đã chui lọt được người vào. Đầu xuôi đuôi lọt, đến lượt tôi tuồn khẩu B41 vào và chui theo.


Vừa qua hàng rào thì hai mũi phía Bắc và phía Nam nổ súng. Tiếng thủ pháo, tiếng đạn B40 nổ đùng đoàng vào các nhà lính, sở chỉ huy, tiếng kính vỡ loảng xoảng và bay loạn xạ. Tôi nhắm thẳng vào lô cốt bên phải bóp cò. Quả đạn nổ đúng lô cốt, lửa da cam bùng lên. Chưa kip bắn lô cốt thứ hai, một quả badoka của địch bắn qua đầu tôi, tiếng kêu của đuôi đạn xèo xèo, ùm, quả đạn nổ ra sau hàng rào. Tôi lắp nhanh quả đạn thứ hai nhắm vào tiêu diệt lô cốt còn lại. Trong khi đó, phân đội bồng nhau trèo vượt qua bức tường đất vào được bên trong. Tôi vào sau cùng, ngồi sát hai khẩu pháo 105 ly. Một tên địch vừa cao vừa to chạy ra, anh Cư, quê Thái Bình, lao vào ôm nó. Hai bên vật lộn nhau một cách sống chết. Anh Đạt chạy lại dí nòng khẩu AK vào người tên lính địch bắn một loạt, nó ngã vật ra chết tại chỗ. Nhưng một viên đạn đã xuyên qua bắp tay anh Cư, may mà chỉ xuyên qua phần mềm không trúng xương. Chợt pháo hiệu xanh cả ba mũi, bắn vọt lên trời báo hiệu các mũi đã làm chủ các mục tiêu được phân công. Mọi người tiếp tục đánh tảo trừ và phá hủy phương tiện chiến tranh.


Khi rút đến hàng rào đầu tiên, tôi bắn tiếp quả B41 vào lô cốt địch ở bên ngoài chi khu, còn hai quả chưa bắn tôi đem về.

Như trên đã nói, trung đội bộ binh của Tiểu đoàn 96 bị thiệt hại nặng vì trúng đạn cối 81 ly, không còn đủ khả năng để đánh chiếm mục tiêu khu lô cốt vòng ngoài. Khi chúng tôi nổ súng, số anh em còn lại dùng súng B40 bắn chế áp vào trung đội địch yểm hộ cho chúng tôi.


Khi chúng tôi nổ súng ở chi khu, lập tức hai khẩu DKZ75 của Đại đội pháo binh 167 dội bão lửa xuống trận địa pháo của địch ở khu "mả thằng nhỏ". Ngay từ phát đạn đầu tiên đã trúng một khẩu 105 ly, liên tiếp những phát sau đều trúng đích, lửa trùm lên trận địa địch làm chúng hoàn toàn tê liệt, không bắn trả được phát nào yểm trợ cho đồng bọn đang bị chúng tôi tấn công trong chi khu. Đơn vị pháo binh đã hỗ trợ đắc lực cho đại đội tôi rút lui an toàn về căn cứ.


Kết quả trận pháo kích Đại đội pháo binh 167 phá hủy hai khẩu pháo 105 ly, hai khẩu ĐKZ, hai khẩu cối 81 ly, diệt một trung đội địch. Trận này Đại đội 167 đánh rất hiệu quả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đơn vị được thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.


Kết quả trận đánh chi khu, ta tiêu diệt 180 tên gồm Ban Chỉ huy Liên đội 226, một đại đội bảo an, một trung đội pháo 105 ly, một trung đội cối 81 ly, một trung đội thông tin, một tiểu đội thám báo, một trung đội dân vệ. Riêng tôi thu được một súng côn 12 ly. Về chiến thuật, đặc công ta vẫn thực hiện được cách đánh mật tập, bí mật bất ngờ, quân số không nhiều, cả bộ binh và đặc công chỉ có bốn chục người. Với lối đánh truyền thống thọc sâu, đánh hiểm chỉ ba mươi phút ta đã kết thúc trận đánh. Ta hy sinh trong trận đánh hai người là anh Dị và anh Lời. Đơn vị được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì. Tôi và nhiều người được tặng thưởng huân chương, danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng.


Khoái nhất là mấy hôm sau xuống làng lấy gạo, mấy bà bán hàng bảo là: "Việt Cộng có cách bay qua hàng rào dây thép gai của chi khu". Trong trận này, dấu ấn sâu đậm nhất mà bây giờ tôi vẫn không quên đó là hàng rào ca rô, nếu không khắc phục được thì hậu quả không thể lường hết. Nhắc lại chuyện này cũng là một kinh nghiệm, một bài học đắt giá cho kỹ thuật tiềm nhập, khắc phục chướng ngại vật của lính đặc công.


Trận đánh mở màn chiến dịch thắng lợi, cũng là kết thúc năm 1970, góp phần vào chiến công chung của quân và dân tỉnh Phú Yên. Lịch sử đấu tranh cách mạng của tỉnh Phú Yên đã ghi nhận, trong năm 1970, tỉnh đã đạo, tổ chức tiến công địch đánh 1.562 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 11.489 tên địch, bắt sống 240 tên, trong đó có 1.511 lính Nam Triều Tiên, 540 tên Mỹ, 19 lính Thái Lan, 2 lính Úc; ta thu được 459 súng các loại, phá hủy 396 xe quân sự, 15 đầu máy toa xe lửa, 5 hải thuyền, bắn rơi phá hủy 59 máy bay, 23 khẩu pháo 105 ly, đốt cháy hàng triệu lít xăng, hỗ trợ cho phong trào nổi dậy của quần chúng, diệt ác, phá kìm. Nhiều tên ác ôn có nợ máu với nhân dân phải đền tội, làm cho kế hoạch bình địch của Mỹ - Ngụy thất bại thảm hại.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Mười Hai, 2025, 07:52:24 pm
4.7. Trận đánh phối hợp tác chiến với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào

Đánh địch, rút kinh nghiệm, chỉnh huấn mỗi lần ra quân rồi lại về căn cứ tăng gia sản xuất tự túc một phần lương thực, đó là công việc thường xuyên lặp đi lặp lại đối với đời lính trong chiến trận của chúng tôi.

Bộ đội đặc công luôn được tỉnh ưu tiên cung cấp gạo so với lính bộ binh, nhưng so với nhu cầu vẫn không thể đáp ứng được. Trong các bữa ăn, cơm độn sắn, sắn nhiều hơn cơm, canh chủ yếu là rau sắn, mít xanh lấy ở gò Dư, gần đơn vị, về luộc. Hồi ấy chúng tôi chưa biết tác hại của chất độc màu da cam. Những nương sắn của đơn vị bị máy bay địch rải chất độc màu da cam rụng hết cả lá, những mầm non trồi lên lá quăn queo. Chúng tôi vẫn hái về luộc ăn, làm cả muối dưa chua ăn một cách vô tư lự, chẳng ai nghĩ hậu quả kinh hoàng của thứ chất độc này đối với con người như thế nào. Bây giờ, thấy cảnh đồng chí, đồng đội mình bị nhiễm chất độc màu da cam đẻ ra những đứa con tàn tật đủ kiểu, thật đau xót, thật rùng mình. Sự tàn ác của chiến tranh không chỉ với một thế hệ mà nhiều thế hệ, di hại tới nhiều đời.


Nhìn các gia đình bị hậu quả của chất độc màu da cam gây ra, phải chịu đựng thật cực khổ, dai dẳng, nên chăng Nhà nước ta cần có những chính sách thỏa đáng trong điều kiện kinh tế có thể để giúp họ giảm bớt những nỗi đau đang hình hạ giầy vò hàng ngày.

Ngoài rau ăn, cả đại đội chúng tôi mỗi bữa được bốn hộp cá nhỏ, cho vào xoong nấu với muối và mì chính, lấy nước là chính để, chan vào cơm độn sắn ăn. Chúng tôi được ăn uống như thế cũng là tốt lắm rồi. Thời kỳ trước khi chúng tôi về đơn vị, nghe các anh cũ kể lại còn đói hơn nhiều. Lính ở Tuy Hòa I còn phải đào củ bá, loại củ rừng giống như củ nâu nhuộm vải ngoài Bắc, để ăn thay cơm. Nó rất chát và đắng, phải luộc bỏ nước mấy lần mới ăn được, không ăn thì đói. Trận đánh đoàn xe vận tải địch trên đèo Cù Mông, tiêu diệt xong địch, anh em đói lả không còn sức để leo lên xe địch thu chiến lợi phẩm.


Đầu năm 1971, địch đề ra kế hoạch "Bình định nước rút" đánh phá ác liệt ba vùng (rừng núi - giáp ranh - đồng bằng), đẩy mạnh chiến tranh gián điệp. Chúng khôi phục các đảng phản động như: Đại Việt, Quốc dân Đảng, Nhân xã Đảng. Mỹ - Ngụy ra sức chấn chỉnh quân chủ lực, địa phương quân, từ đó tiến tới thành lập thêm nhiều tiểu đoàn bảo an. Tuy quân Mỹ lúc này ở địa bàn tỉnh Phú Yên giảm xuống còn 200 tên, chủ yếu là cố vấn, nhưng quân Nam Triều Tiên vẫn giữ nguyên như trước đó, Trung đoàn 26 "Mãnh Hổ" đóng ở phía Bắc tỉnh và Trung đoàn 28 "Bạch Mã" đóng ở phía Nam tỉnh Phú Yên. Chúng đóng chốt rải ra 39 cứ điểm rất kiên cố. Tinh thần bọn này đã sa sút, không còn hung hăng như trước nữa, tâm trạng chung là mong sớm được về nước. Chúng không còn tin đế quốc Mỹ có thể thắng được trong cuộc chiến tranh này.


Nhìn chung, năm 1971 lực lượng địch trên chiến trường Phú Yên có giảm, lính Mỹ giảm, quân Nam Triều Tiên chưa giảm, quân Ngụy tăng lên. Nhưng chúng lại được củng cố, tăng cường trang bị vũ khí. Quân Mỹ đang rút dần, niềm tin vào sức mạnh Mỹ cũng giảm theo, chúng không còn tin vào khả năng chúng có thể đương đầu được với quân giải phóng.


Địch rất sợ đặc công ta đánh vào ban đêm, nhưng chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, như: chúng đã có kinh nghiệm đối phó với cách đánh đặc công, quân số bị hao hụt sau các đợt chiến đấu liên tục.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Ban Chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên, quyết định mở Chiến dịch Xuân - Hè năm 1971.

Đơn vị tôi - Đại đội 202, được lệnh trinh sát cứ điểm núi Sầm thuộc xã Hòa Trị, huyện Tuy Hòa II để tập kích, chia lửa với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Tổ trinh sát dẫn đầu là anh Thâu - Đại đội trưởng, anh Khôi - Chính trị viên, tôi lúc này là Mũi phó.

Tận dụng những ngày giáp Tết âm lịch, trong đêm Ba mươi rạng sáng mùng Một Tết, hai bên ngừng bắn, địch lơ là cảnh giác, việc đột nhập vào căn cứ địch dễ dàng hơn, nên chỉ sau ba đêm liên tục trinh sát, về cơ bản chúng tôi đã hoàn thành, vẽ xong sơ đồ bố trí phòng ngự của địch.


Núi Sầm là một hòn núi độc lập, nổi lên giữa đồng bằng thuộc xã Hòa Trị, xung quanh là ruộng lúa, nằm cách xa vùng căn cứ của ta. Về địch, có Ban Chỉ huy Liên đội 226, một trung đội thông tin, một trung đội pháo hai khẩu 105 ly, cối 106 ly, 81 ly, ĐKZ, đại liên. Lưng chừng núi, địch xây các lô cốt, trên nóc bố trí đèn pha, quét sáng thâu đêm để phát hiện quân ta. Căn cứ được bố trí 12 lớp rào dây thép gai các loại, với hệ thống mìn dày đặc các loại. Ngoài lực lượng tại chỗ, chúng còn được hỗ trợ quan sát, thông tin trên đỉnh núi Chóp Chài, sự chi viện về pháo binh của lính Nam Triều Tiên tại gò Đá, núi Nhạn Tháp, không quân ở sân bay Đông Tác, sân bay Thọ Lâm.


Đại đội đặc công 202 được lệnh tập kích cứ điểm núi Sầm mở màn Chiến dịch Xuân - Hè năm 1971.

Đại đội 202 sử dụng 30 đồng chí, vũ khí trang bị gọn nhẹ: có sáu khẩu B40, ba khẩu cối cá nhân M79, lựu đạn chống tăng, còn lại là súng tiểu liên AK và thủ pháo.

Sáng ngày 20 tháng 02 năm 1971, tại khu rừng thuộc căn cứ gộp A4, Đại đội trưởng Thâu giao nhiệm vụ cho 3 mũi, tổ chức hiệp đồng chiến đấu, dự kiến các tình huống có thể xảy ra. Đồng chí Khôi - Chính trị viên, động viên bộ đội, yêu cầu các tổ Đảng, đảng viên, đoàn viên nêu cao quyết tâm chiến đấu.


Tôi thuộc mũi chủ công, Đại đội trưởng Thâu đi cùng, đột nhập phía Bắc; còn hai mũi đột nhập từ hướng Đông và hướng Tây. Sườn núi hơi dốc, trời vừa chập choạng tối, chúng tôi đã hành quân đến sát bìa thổ (nơi tiếp giáp giữa rừng và đồng bằng), cởi bỏ quân áo dài, chỉ mặc chiếc quần đùi bó sát thân người, đầu đội mũ vải rằn ri, tiến hành bôi trát ngụy trang toàn thân, kiểm tra lại vũ khí, trang bị lần cuối cùng.


Lệnh xuất phát!

Chúng tôi lặng lẽ vượt qua cánh đồng lúa. Lúc này, lúa đang thì con gái, xanh mướt. Chúng tôi vừa đi vừa căng mắt theo dõi tình hình địch, không một tiếng động phát ra. Phải mất gần hai tiếng đồng hồ, chúng tôi mới tiếp cận được chân núi Sầm.

Pháo sáng, mìn cóc, lựu đạn gài, việc cắt rào và mở rào thì vốn là nghề của tôi rồi, nên không có gì khó khăn. Nguy hiểm chủ yếu là mìn các loại, chỉ sơ sẩy là mìn nổ ngay. Mũi tôi đột nhập thẳng vào vị trí tên lính quét đèn pha, nó đội mũ sắt, ngồi trên lô cốt được đắp bằng các bao cát, ngay cạnh khẩu pháo 105 ly. Chúng tôi ở thấp nhìn lên rất rõ.


Khi đến hàng rào thứ 8, bỗng từ trên núi, một tên lính mồm phì phèo thuốc lá đi thẳng xuống chỗ chúng tôi. Chúng tôi nín thở chờ đợi, tôi rút dao găm ra chuẩn bị hạ sát nó, sao cho nhanh gọn không phát ra tiếng động. Rất may, nó rẽ đi vào một nhà nhỏ lưng chừng núi, đó là nhà tiêu, nó đi vệ sinh. Vệ sinh xong nó quay lên đỉnh núi. Không khí nghẹt thở đã qua. Tranh thủ chúng tôi tiếp tục bò lên, trước mặt nhà tiêu là ba quả mìn định hướng Claymore. Tôi nhanh chóng dùng răng cắn đứt hết các dây điện của mìn. Từ đây lên đỉnh núi có một lối mòn nhỏ, chỉ toàn rào bùng nhùng, không có mìn. Đèn pha địch quét qua quét lại trên đầu chúng tôi. Trước mặt có một vệt tôi, chúng tôi nhanh chóng chui qua lớp rào cuối cùng, vưọt qua giao thông hào bò tỏa ra tiếp cận các nhà lính, các hầm ngầm.


Tôi đứng ngay sau lưng tên chiếu đèn pha chỉ với tay là tôi túm được nó. Lúc này, anh Đạt đã đột nhập vào giữa sân, kê khẩu B40 lên các hòm đạn pháo nhằm vào nhà hai tầng, nơi ở của Ban Chỉ huy Liên đội 226, chờ đợi. Anh Dậu rẽ phải tiến sát chiếc lô cốt phía Nam. Đồng hồ chỉ 0 giờ 20 phút đêm.


Sau lưng tôi là một chiếc hầm chìm, địch mắc võng nằm ngủ, hầm to chứa khoảng một tiểu đội. Mặc dù đã đến giờ G, nhưng phân đội vẫn chưa nổ súng, tiếp tục chờ cho mũi hai và ba tiếp cận các mục tiêu còn lại.

Khoảnh khắc chờ nổ súng thật khó tả, không gian tĩnh lặng, địch vẫn không hề hay biết rằng chúng tôi đang ở ngay trong lòng chúng.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Mười Hai, 2025, 07:53:14 pm
Đúng 0 giờ 30 phút, Đại đội trưởng Thâu thấy đã chắc ăn, phát lệnh tiến công. Mở màn là quả đạn B40 của anh Đạt lao vút xé tan màn đêm. Ùng! Oàng! Tòa nhà hai tầng bùng lên một vầng lửa muốn sụp xuống. Tôi giật nụ xòe quả thủ pháo ném xuống trước mặt tên địch chiếu đèn pha, nghe tiếng nổ B40 nó giật mình theo phản xạ nhào xuống phía trước, hứng trọn cả quả thủ pháo của tôi chết tan xác. Xoay lại phía cửa hầm, tôi thả liên tiếp hai quả thủ pháo nữa. Hai tiếng nổ âm vang nối tiếp nhau, chỉ nghe tiếng rên nghẹn họng, không một tên địch nào sống sót.

Đúng như lời nói của một giáo viên huấn luyện chúng tôi khi ở miền Bắc: "Mỗi chiến sỹ đặc công là một chiếc B52 ném bom chính xác nhất, một tên lửa bắn chính xác nhất".

Núi Sầm là một ngọn núi nhỏ, nên tiếng nổ của các loại hỏa lực ta cộng hưởng gào thét, trút bão lửa dồn dập càng có uy lực hơn. Nhiều tên địch hoảng loạn từ lô cốt, giao thông hào nhảy bừa xuống hàng rào để tránh đòn.

Từ phía Đông Nam, một chiếc xe bọc thép bò lên quét đại liên vào sườn Phân đội 2. Tôi lấy khẩu B40 của anh Đạt còn duy nhất một quả đạn, lợi dụng các hòm đạn gỗ và chiếc xe tải kéo pháo tiến sát chiếc xe bọc thép, dùng kỹ thuật bắn ứng dụng, ngắm chính xác, nghiến răng bóp cò, một chóp lửa da cam bùng lên chùm kín thành xe, chiếc xe hụ lên rồi nằm im, lửa phụt ra nghi ngút. Nhìn thấy chiếc xe GMC to kềnh càng gần hai khẩu 105 ly, không dám đánh thủ pháo vì sợ sát thương anh em, tôi chĩa khẩu AK vào đầu xe bắn găm xuống mấy loạt. Bỗng một tiếng nổ kèm theo ánh chớp, tôi tối tăm mặt mũi ngã sấp xuống, máu từ hai chân, bụng bên phải chảy túa ra. Tôi đã bị mảnh lựu đạn găm vào, chợt nghĩ chết đến nơi. Lạ thay, chính lúc đó tôi lại thấy mình vẫn tỉnh táo và đứng lên được. Lúc này, đang chiến đấu và cũng không có ai bên cạnh để băng bó cho tôi, tôi đành mặc kệ vết thương đang tứa máu và tiếp tục cuộc chiến đấu.


Ba phát pháo hiệu xanh của ba phân đội bắn vọt lên trời, báo hiệu đại đội đã làm chủ được trận địa. Lúc này đồng hồ mới chỉ 0 giờ 37 phút. Thế là chỉ sau hơn bay phút, với lối đánh nở hoa trong lòng địch, chúng tôi đã đè bẹp hoàn toàn sức kháng cự của địch, toàn bộ quân địch ở đây đã bị tiêu diệt.


Đại đội nhanh chóng rút quân, để lại một bộ phận dùng bộc phá, thủ pháo phá hủy các loại pháo cối, xe vận tải. Không hiểu sao, tôi mất nhiều máu từ các vết thương mà vẫn đi được, rút ra khỏi trận địa theo anh em về hướng Tây. Hướng này, dốc thoai thoải dễ đi hơn. Tôi gặp Ái, người Nghệ An cùng là học sinh trường Hóa chất với tôi, anh bị mảnh lựu đạn US phạt mất một mảng thịt ở vai trái, máu chảy ra rất nhiều, cũng chỉ được băng tạm cầm máu.


Khi đã rút xuống đến ruộng lúa thì một loạt đạn AR15 của một tên địch còn sống sót từ sườn núi bẳn vút qua đầu chúng tôi, sau đó im bặt. Các loại pháo sáng ở các căn cứ xung quanh liên tiếp bắn soi sáng cả một vùng tạo điều kiện cho chúng tôi rút lui. Trên bầu trời, năm chiếc trực thăng vũ trang từ sân bay Đông Tác kéo đến, quét đèn pha, bắn rocket, đại liên chặn đường rút của quân ta. Lợi dụng địa hình địa vật của đồng lúa, đại đội đã rút lui về núi an toàn trước trời sáng.


Một lần nữa, chúng tôi lại chiến thắng giòn giã, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt hiệu suất chiến đấu cao, thực hiện đúng chiến thuật của binh chủng là bí mật, bất ngờ, đánh nhanh, rút nhanh.

Kết quả trận đánh này: ta tiêu diệt Ban Chỉ huy Liên đội 226 với 160 tên địch, phá hủy hai pháo 105 ly, toàn bộ súng cối, các lô cốt, hầm ngầm của căn cứ này, bắn cháy một xe bọc thép, hai xe kéo pháo GMC, thu mười súng trong đó hai cối 60 ly, hai điện đài PCR25p; đơn vị không ai hy sinh, chỉ bị thương ba người.


Trời sáng rõ, khi vào đến núi, tôi kiểm tra vết thương, cả hai ống chân vẫn còn mảnh kim loại găm vào, bị bùn ruộng che kín, bụng bên phải bị một mảnh chui sâu vào. Tôi nghĩ hay là bị thủng bụng, và tôi chợt chột dạ, hồi đánh núi Thơm anh Sỹ cũng bị thương vào bụng, khi nằm trên cáng thương anh vẫn tỉnh táo nói chuyện, một lúc sau thì hy sinh ngay trên cáng thương.


Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đề nghị tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì cho đơn vị, tôi được tặng Bằng khen và danh hiệu Dũng sỹ Diệt xe cơ giới, cán bộ đại đội đều được tặng thường huân chương. Gần cuối năm 1971, trong Đại hội chiến sỹ thi đua của tỉnh Phú Yên, tôi được thay mặt đơn vị báo cáo chiến lệ và thành tích của trận đánh này.


Về qua gộp A4, chia tay đơn vị, tôi, Ái và Dậu đi điều trị vết thương ở trạm xá Y12. Đến nơi, quân y sĩ rửa vết thương tiêm thuốc tê và mổ gắp hai mảnh ở bụng, chân cho tôi, ngoài mảnh lựu đạn của địch, có cả mảnh lựu đạn của quân ta. Riêng mảnh ở bụng, phải chọc que thăm dò gần ba mươi phút mới gắp ra được. Đến lúc này tôi mới yên tâm là không bị xuyên thủng ruột. Còn Ái, vết thương phần mềm ở vai trái, mất một miếng thịt to bằng lòng bàn tay, tuy không chạm xương nhưng phải nằm điều trị hàng tháng trời mới khỏi. Do bị thương nhiều lần, do cơ thể có sức đề kháng cao, mặc dù bị thương ngâm trong bùn đất, nhưng tôi không bị nhiễm trùng, vết thương cũng mau lành.


Nhằm đối phó với các hoạt động quân sự của ta, sáng ngày 26 tháng 2 năm 1971, địch dùng máy bay trực thăng đổ bộ một tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên xuống núi Ông La, xã Sơn Long, huyện Sơn Hòa. Ngay trong đêm hôm sau, đồng chí Chính - Tiểu đoàn 96, chỉ huy đơn vị đánh tập kích vào sở chỉ huy của tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên. Anh em đã mật tập, luồn qua được bọn gác bên ngoài, áp sát lều bạt của bọn chỉ huy, bất ngờ dùng lựu đạn, thủ pháo đánh phủ đầu tiêu diệt được 45 tên, trong đó có toàn bộ ban chỉ huy tiểu đoàn đang ngủ, phá hủy toàn bộ điện đài, thu hai súng ngắn.


Đêm 29 tháng 02 năm 1971, Đại đội 3, thuộc Tiểu đoàn 96, lại tập kích diệt gọn một trung đội lính Nam Triều Tiên ở eo Gió, phía Tây xã Hòa Định, rồi cũng tiểu đoàn này lại đánh thiệt hại nặng một đại đội quân Nam Triều Tiên ở cao điểm 509.

Trong khi đó còn một bộ phận của lính Nam Triều Tiên đi lùng sục đã gặp Đại đội 202 ở gộp A4. Hai bên nổ súng quyết liệt, lực lượng đại đội đặc công ít hơn địch nhiều lần, lại không quen đánh bộ binh, ta hy sinh đồng chí Khôi - Chính trị viên, đồng chí Hát - Trung đội phó. Sau trận này khoảng một tuần, tôi và Dậu khỏi vết thương. Từ trạm xá Y12 tôi trở về tìm đơn vị ở gộp A4, nhưng đơn vị đã rút về căn cứ hòn Đác. Trên đường tới hòn Đác, tôi phát hiện anh Hát hy sinh, nằm ngửa giữa hai gộp đá, cơ thể đang bị phân hủy mạnh. Tôi và Dậu đành lấy tăng nilon phủ lên người anh và dùng xẻng xúc đất đổ lên làm ngôi mộ nổi cho anh.


Theo anh em kể lại, sau trận đánh núi Sam, đơn vị chưa kịp rút thì gặp trận càn, tuy ta hy sinh hai nhưng đơn vị cũng diệt được năm tên địch. Sau trận này địch thu quân kết thúc cuộc càn quét.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Mười Hai, 2025, 07:54:33 pm
4.8. Đại đội đi trinh sát tại Hòn Sặt, Tuy Hòa I bị nổ mìn

Cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1971, Ban Chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên chỉ đạo chuẩn bị chiến trường để mở chiến dịch mùa Hè.

Lực lượng vũ trang của tỉnh hầu hết hành quân sang huyện Tuy Hòa I.

Đại đội đặc công 202 cùng hành quân với các đơn vị bạn. Chờ cho trời gần tối, chúng tôi vượt qua sông Ba (sông Đà Rằng), mùa này nước sông cạn không cần dùng thuyền mà lội bộ.

Tuy Hòa I, có những dãy núi rất cao, như núi đá Bia (núi mẹ bồng con - tức hòn Vọng phu) trông ra biển Đông.

Trên đường hành quân tôi ngồi nghỉ dưới một cây trám cổ thụ rất cao và to, hai người ôm không hết. Quả trám xanh, rụng đầy gốc cây, loại này đem kho cá ăn rất ngon lại hạn chế được mùi vị tanh của cá.

Đơn vị chúng tôi đóng quân ở khu vực có nhiều gộp đá, lúc di chuyển phải nhảy từ mỏm này sang mỏm kia, nếu trượt chân rơi xuống khe không vỡ đầu cũng gãy chân Đại đội tiến hành chỉnh huấn, lúc học tập còn đề cập cả việc cải cách ruộng đất, chia ruộng cho nông dân, ôn nghèo kể khổ...


Được vài ngày, Đại đội 202 nhận lệnh đi chuẩn bị chiến trường trinh sát Hòn Sặt thuộc xã Hòa Phong, huyện Tuy Hòa I. Cứ điểm này nẳm sát sông Ba, trước đây do quân Nam Triều Tiên đóng giữ, bây giờ giao lại cho một đại đội bảo an phòng thủ. Trong cứ điểm có hầm ngầm, các lô cốt xung quanh chủ yếu xây dựng bằng các bao cát nửa nổi nửa chìm, nối liền với hệ thống giao thông hào. Địch bố trí 14 lớp rào các loại rất kiên cố, đặc biệt là mìn dày đặc. Trong hàng rào, cây xấu hổ mọc kín, cao đến ngực, vì vậy khi tiến hành đột nhập trinh sát rất khó khăn.


Đi trinh sát lần này đơn vị tôi tổ chức làm ba mũi: Mũi 1 gồm có tôi (Mũi phó) đi cùng anh Thâu (Đại đội trưởng); Mũi 2 gồm anh Ngọc (Đại đội phó) và anh Hải (tổ trưởng ba người); Mũi 3 anh Nghiêm (Mũi trưởng) và anh Hải (liên lạc cũ) nay là Mũi phó. Ba mũi đột nhập theo ba hướng, tôi và anh Thâu đi mũi đột nhập vào giữa cứ điểm, mũi anh Ngọc phía bên trái, mũi anh Nghiêm đi bên phải.


Tôi và anh Thâu vừa tiếp cận hàng rào đầu tiên thì phía anh Ngọc nghe một tiếng nổ "bép", tôi vội nằm ẹp xuống. Địch ở trên đồi nhốn nháo chạy ra giao thông hào, một tên chắc là chỉ huy hỏi: "Cái gì đấy tụi bay?" Mấy thằng lính chiếu đèn pin chỉ trỏ, nói có tiếng nổ nhỏ ở phía ngoài rào. Riêng tôi, biết ngay các anh đã giẫm đúng mìn cóc, những nó chỉ nổ kíp, may mắn làm sao mìn không phát nổ. Địch vẫn yên lặng theo dõi, không có phản ứng, một lúc sau, lại tiếng của thằng chỉ huy nói: "Chắc là con nai đi ăn đêm vướng phải mìn thôi".


Tôi và anh Thâu nín thở lo lắng. Một lúc sau, địch lại đâu về đấy. Chúng tôi lại tiếp tục chui vào, cây xấu hổ nhiều quá, gai đâm vào người bị gãy nằm trong thịt đau nhói, tôi phải nghiến răng chịu đựng. Trên đường chui vào, gặp ngay quả mìn cóc vướng nổ, sợi dây thép từ chốt kéo căng buộc vào cọc dây thép gai. Tôi bình tĩnh chốt kim băng để vô hiệu hóa nó, rồi đánh dấu khi bò ra không chạm vào mìn, mìn cóc ở đây rất nhiều, xen lẫn với mìn pháo sáng, chỉ sơ sẩy là nổ ngay.


Khi đến hàng rào thứ bẩy, tôi đang chui sau anh Thâu thì "uỳnh", một tiếng nổ rất to, lửa bùng lên phía mũi anh Ngọc. Một quả mìn cóc đã phát nổ, sau đó là tiếng rên nghe rất rõ. Toàn cứ điểm báo động, địch chạy rầm rầm ra lô cốt và giao thông hào, đại liên và các loại súng chĩa thẳng vào hàng rào xả đạn; riêng chỗ anh Ngọc, chúng bắn xối xả. Tiếng cối cá nhân "cóc - bùm", cối 60 ly, 81 ly địch dựng nòng rót thẳng vào hàng rào ầm ầm, chóp lóe lên to như cái nia, thôi thì đỏ trời đỏ đất, đinh tai nhức óc. Pháo sáng các loại thi nhau bắn lên trời, sáng lực như ban ngày.


Tôi và anh Thâu dúi đầu sau cái cọc dây thép gai nhỏ bé tránh đạn. Trên đầu đạn đại liên chiu chiu liên hồi không dứt, chỉ cần ngóc đầu lên là trúng đạn ngay. Cứ nằm bất động như thế, lên không được, rút ra cũng không xong. Nhưng nếu không ra được, đến sáng địch ra lùng sục, chắc sẽ bị bắt sống. Tôi đã nghĩ đến phương án cuối cùng hai anh em với hai khẩu súng ngắn, hai quả lựu đạn thì chiến đấu được bao lâu, phải dành mỗi người một viên vào thái dương, hoặc nổ lựu đạn hy sinh cùng bọn địch. Nằm dưới mưa đạn không lúc nào ngừng, đồng hồ dạ quang đã chỉ gần 4 giờ sáng. Hai anh em bàn nhau mỗi lần đại liên thay băng đạn, với khoảnh khắc quý báu đó, phải liều chết bò dần ra, dù có phải hy sinh.


Lúc ra lại phải hết sức bình tĩnh, nếu không sẽ lại vướng mìn. Đạn vẫn bắn trên đầu, chúng tôi dán người xuống đất mà nhích dần ra, đến được hàng rào cuối cùng không ra được nữa vì đại liên bắn rát quá, trước mặt tôi là khu mồ mả của dân, nhưng mộ rất thấp, lại không có mộ xây. Hai anh em bảo nhau, đại liên ngớt bắn phải liều chạy ra vì lúc này trời đang sáng dần.


Chờ chúng thay băng đạn, chúng tôi lao nhanh về phía trước, vừa kịp dí đầu vào ngôi mộ đất, đại liên lại quét trên đầu, chúng chỉ hạ thấp nòng một chút là chúng tôi vỡ sọ. Sông Ba rất gần, chỉ cách không đầy năm mét, phải tụt được xuống sông thì mới thoát, lại phải liều vậy.


Nằm chờ hết loạt đạn, chúng tôi nhổm dậy chạy thục mạng lao nhanh về phía sông và cắm đầu nhảy bừa xuống. Ùm! Nước bắn tung tóe, thế là thoát chết. Đại liên địch lại quét qua khu mả, lúc này hai anh em đã ở dưới bờ sông, đạn bắn thẳng không thể trúng được nữa. Tranh thủ, hai anh em hè nhau chạy ngược xa cứ điểm, rồi lợi dụng địa hình che chắn chạy vào bìa rừng.


Trời bắt đầu sáng rõ mặt người, tôi trèo lên một cây cao quan sát về cứ điểm, địch đứng lố nhố ngoài giao thông hào chỉ trỏ xuống hàng rào. Mũi anh Nghiêm và anh Hải thấp nên cũng may mắn thoát được; còn anh Ngọc với anh Hải cao hy sinh tại chỗ trong hàng rào, không thể lấy xác ra được.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Mười Hai, 2025, 07:57:22 pm
Tôi muốn kể thêm chi tiết này. Buổi chiều, chúng tôi đi trinh sát, trên đường có gặp một con rắn bò qua trước mặt. Sau về Bắc, đọc được một số sách tâm linh họ viết rằng đó là "xà cản", nghĩa là đi đâu gặp phải kiểu này thường không gặp may, dễ gặp xui xẻo. Trong chiến tranh, đôi khi có những điều ngẫu nhiên đã xảy ra và người ta đôi khi ngộ nhận!


Mấy hôm sau, địch treo giải thưởng, một tên lính liều mạng bò vào lấy được một khẩu súng ngắn, một khẩu AK ra. Xác hai anh vẫn ở trong hàng rào, địch dùng trực thăng tưới xăng xuống và hỏa thiêu ngay trong hàng rào.

Chúng tôi lặng lẽ trở về đơn vị với nỗi buồn nặng trĩu vì thương nhớ hai anh. Mới hôm qua chúng tôi còn ngồi ăn cơm với nhau, cười đùa, mà hôm nay đã phải xa nhau vĩnh viễn.

Sau ngày giải phóng miền Nam, em anh Ngọc có viết thư hỏi tôi về trường hợp hy sinh của anh. Tôi tả lại chi tiết quá trình đi trinh sát và sự hy sinh của hai người. Tôi gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia đình anh cũng như bao gia đình khác phải chịu nỗi đau âm ỉ, nỗi đau mất mát của chiến tranh, mỗi lần nhắc lại nước mắt tôi lại rưng rưng muốn trào ra, nhớ các anh quá!


Sau khi chúng tôi đi trinh sát Hòn Sặt huyện Tuy Hòa I bị nổ mìn hy sinh hai đồng chí, Tỉnh đội cử Trưởng ban Tác chiến là anh Cầu xuống đơn vị làm công tác chính trị tư tưởng, ổn định tình hình đơn vị, nghiên cứu kiện toàn chỉ huy, giao nhiệm vụ cho đại đội trong thời gian tới.


Lúc này, Trung đoàn 28 "Bạch Mã" của quân Nam Triều Tiên đóng tại Đông Tác cùng với Trung đoàn 47 quân Ngụy đổ quân nống ra càn quét vùng núi Tuy Hòa I để thăm dò, ngăn chặn quân ta tấn công.

Đơn vị giao cho tôi và anh Mẹo - thuộc Ban Trinh sát của Tỉnh đội Phú Yên - phối thuộc đi nắm tình hình địch. Mẹo là người dân tộc ở Cao Bằng, rất giỏi đi trong rừng núi. Người anh cao, gầy nhưng rất nhanh nhẹn. Trước khi đi, mỗi người nhận hai nắm cơm vắt và muối rang đủ cho ăn hai ngày. Vũ khí mỗi người đem theo AK, mỗi khẩu AK có ba băng đạn và hai quả lựu đạn.


Sau khi xem bản đồ, dùng la bàn định hướng, chúng tôi cắt rừng Xiên Sơn, tiếp tục tìm đường xuống cứ điểm Hòn Sặt. Cứ đi một đoạn khoảng mười mét, lại bẻ một cành lá nhỏ để đánh dấu đường về. Chúng tôi cắt rừng mà đi, mắt căng ra phía trước, cảnh giác đề phòng gặp địch. Nhiệm vụ của chúng tôi là tìm đường mới cho đơn vị, vì vậy phải giữ được bí mật, an toàn để trở về đơn vị.


Hai anh em lầm lũi đi, chúng tôi bỗng giật mình nghe hai tiếng nổ ầm ầm của mìn Claymore dội vào vách núi. Cả hai nhanh như sóc ngồi thụp xuống nghe ngóng, có tiếng tiểu liên cực nhanh AR15 nổ choang choác, đạn bay qua đầu chúng tôi. Tiếng lựu đạn US nổ ầm vang, không hiểu địch chạm trán với đơn vị nào.


Sau này tôi được biết, hôm đó, quân Nam Triều tiên phục kích ở một con dốc, gần nương sắn của dân vùng giải phóng. Chúng đã nổ mìn giết chết hai dân thường. Bọn Nam Triều Tiên rất hay dùng chiến thuật phục kích, gài mìn định hướng Claymore nên rất nguy hiểm cho ai lọt vào trận địa của chúng.


Nghe ngóng không thấy chiến sự nổ ra, hai chúng tôi lại thận trọng bước đi, dỏng tai nghe ngóng, tăng cường quan sát.

Hôm thứ nhất trời gần tối, chúng tôi quyết định dừng lại không đi nữa. Tối nay đành ngủ lại giữa rừng, có võng nhưng để cơ động trong mọi tình huống chúng tôi trải võng ngủ trên mặt đất. Mỗi người gác hai tiếng. Giữa rừng đêm âm u, tiếng con chim "Bắt cô trói cột" cất lên đều đều, não nuột, tiếng cộc cộc của con chim gõ kiến mổ vào thân cây đều đặn như ru ngủ, cùng tiếng côn trùng rả rích giữa rừng khuya làm cho không gian xung quanh càng trở nên hoang vắng. Dù đã trải qua ngủ rừng qua đêm rất nhiều lần, nhưng trong lòng tôi vẫn cảm thấy có gì rờn rợn, khi cả cánh rừng rộng lớn này chỉ có hai anh em.


Trời dần sáng, tôi gọi Mẹo dậy. Kế hoạch hôm nay là tiếp tục đi vạch tuyến như dự kiến. Chúng tôi ăn nửa nắm cơm, còn một nửa để dự trữ. Buổi sớm, sương rừng vẫn chưa tan hết, chúng tôi lầm lũi cất bước. Mỗi người cách nhau khoảng trên dưới mười mét. Bất ngờ, chúng tôi ngửi thấy thấy mùi thuốc lá thơm. Mẹo đi trước, tôi chỉ kịp nhận ra Mẹo ngồi thụp xuống rất nhanh sau gốc cây. Liền sau đó là hàng loạt súng AR15 bắn tới tấp. Sau có cả tiếng trung liên, lá rừng trúng đạn rơi lả tả xuống đầu tôi. Rồi tiếng cối cá nhân M79 "cóc, đoành", mảnh văng rào rào. Mẹo đi trước đã chạm trán địch. Lúc này chúng tôi nằm im cố gắng giữ bí mật, không bắn trả, để địch không biết chúng tôi nhiều hay ít. Chúng chia hai mũi bao vây chúng tôi. Không còn cách nào khác, đã bị lộ rồi, Mẹo nổ súng trước diệt được hai tên địch. Chúng lại nằm xuống tiếp tục bắn vãi đạn về phía chúng tôi. Tôi thấy mấy tên hung hăng lợi dụng các gốc cây tiến đánh về phía tôi. Nhân lúc ba tên lính Nam Triều Tiên vừa rời gốc cây di chuyển, tôi quất một loạt AK, đạn nổ đanh, hai tên bật ngửa ngã đè lên nhau, tên thứ ba trúng đạn vào chân không chạy được phải bò lui trở lại. Tôi và Mẹo chớp thời cơ chạy tháo lui về phía sau. Trong đầu chỉ còn suy nghĩ duy nhất chạy càng nhanh càng tốt. Nếu không nhanh chắc chắn sẽ bị địch bao vây. Đúng vậy, lúc này cả khu rừng trước mặt đều có tiếng súng, địch tràn quân lên. Tôi nghe rõ cả tiếng quân Nam Triều Tiên hô, vì không biết tiếng nên không hiểu chúng hô gì.


Chúng tôi khom người chạy, đạn đuổi theo trên đầu chiu chiu, cắm vào thân cây phầm phập. Chạy được một đoạn, đã quá mệt, chúng tôi chạy chậm lại, mồm mũi thi nhau thờ. Tôi và Mẹo thống nhất nhận định phía trước toàn là địch, không thể đi tiếp đành quay về đơn vị báo cáo. Cả hai nửa nắm cơm không dám ăn hết buổi sáng để dành cho bữa trưa đã bị rơi mất từ lúc nào không biết. Đành uống nước cho no cái bụng vậy, uống nước xong chúng tôi lần theo đường cũ đã đánh dấu để về.


Đến sườn một con dốc, nghe tiếng cành cây lay động rào rào. Trời ơi! Cả một đàn khỉ rất đông đang di chuyển. Mẹo giương súng AK lên, tôi không kịp ngăn thì đoàng, đoàng hai phát AK nổ vang, hai con khi từ trên cây rơi bịch xuống đất. Tôi chửi tên Mẹo, nó nhăn răng ra cười trừ. Trong lúc địch đang ở bổn phía mà nó nổ súng thì có khác gì "lậy ông tôi ở bụi này". Mẹo là người dân tộc có khác, nó bắn rất giỏi, cứ một phát súng là rụng một con khỉ, nếu không ngăn cản, chắc nó còn bắn nữa, đến hôm nay tôi vẫn nhớ nó, vừa giận lại vừa phục tài thiên xạ của nó.


Nó nài tôi đem một con, nó một con mang về đơn vị làm thức ăn. Con khỉ to và nặng quá, tôi đành túm đuôi kéo lê trên đất từng đoạn lại ngồi nghỉ. Vừa đói, vừa mệt, lại vừa tức thằng Mẹo, may mà xung quanh vẫn bình yên. Phải gần hai giờ chiều hai đứa mới về đến đơn vị. Vứt hai con khỉ xuống đất, chưa kịp báo cáo, chúng tôi tìm anh nuôi xin cái ăn, chẳng còn gì để ăn, đành ngồi cạo vỏ mấy củ sắn tươi, ăn sống cho đỡ đói vậy.


Chúng tôi báo cáo lại tình hình địch với chỉ huy đại đội và cán bộ Ban Tác chiến Tỉnh đội đang chờ ở nhà để nắm tình hình. Chúng tôi báo cáo bị địch phục kích và sự đánh trả của chúng tôi. Đại đội trưởng nghe xong cho chúng tôi trở về trung đội nghỉ.

Do trinh sát Hòn Sặt bị lộ, Tỉnh đội Phú Yên điều đơn vị tôi trở về căn cứ để nhận nhiệm vụ khác. Trên đường trở về hậu cứ, chúng tôi gặp các đơn vị bạn vẫn hành quân đi ngược chiều, họ không hiểu vì sao đơn vị tôi lại không tham gia chiến dịch nữa, mà quay trở về.


Đơn vị lại vượt sông Ba, sang bên kia rồi nghỉ lại. Buổi chiều, chúng tôi ra sông đánh cá, chọn chỗ nước xoáy ném thủ pháo xuống. Sau tiếng nổ ục, cá nổi lên trăng xóa. Cá sông Ba ngày ấy nhiều lắm, chỉ một quả thủ pháo vớt lên gần hai tạ, chủ yếu là cá gáy (cá chép) đang mùa cá đẻ, con cá cái nào cũng có trứng. Chúng tôi luộc cá, luộc trứng cá chấm muối ăn. Do ăn quá nhiều, ăn liền hai ngày, nên cả đơn vị bị đi kiết đau bụng, thật tai vạ, mọi người đi liên tục. Anh Văn quân y sĩ bảo kệ nó, không ăn nữa, cứ đi hết sẽ khỏi, mà khỏi thật. Âu cũng là bài học, một kỷ niệm của đời lính chiến trường.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:00:07 pm
4.9. Tập kích Hòn Ngang, Củng Sơn (lần thứ hai)

Đầu tháng 5 năm 1971, thực hiện chủ trương của Thường vụ Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên, tập trung lực lượng tiến công giải phóng quận lỵ Củng Sơn. Lực lượng tham gia có Tiểu đoàn 13, Tiểu đoàn 96, Đại đội đặc công 202 của chúng tôi và Đại đội đặc công 25.


Đại đội 202 tổ chức đi chuẩn bị chiến trường gồm anh Thâu - Đại đội trưởng, anh Phước - Chính trị viên, tôi (Chí) - Mũi phó, anh Dẩm - Mũi phó, anh Cư - Mũi phó, anh An - Mũi phó, anh Hải "thấp" - Tổ trưởng.

Đến Huyện đội Sơn Hòa liên hệ công tác phối hợp, Huyện đội vẫn cử anh Diễm cán bộ, anh Y Nghệ dẫn đường. Đánh Hòn Ngang lần trước cũng do Y Nghệ đưa đường, nên chúng tôi đã quen nhau. (Sau giải phóng, Y Nghệ còn sống, tôi có vào thăm anh, dân làng bầu anh làm Trưởng bản, nhà ở Trại Cau, huyện Sông Hinh). Trong quá trình trinh sát, mũi của tôi và anh Thâu vẫn đột nhập theo đường cũ, nơi anh Tảo hy sinh ở hàng rào lần trước, nên ít nhiều tư tưởng của tôi cũng có suy nghĩ. Nhưng nhiệm vụ là nhiệm vụ, chúng tôi phải hoàn thành, về cơ bản ba mũi đột kích trinh sát đều vào được hàng rào cuối cùng.


Như thế bước đầu là thuận lợi, chúng tôi trở về đơn vị. Buổi sáng sớm, trên đường về, đi qua một trảng tranh, chúng tôi nhìn thấy từ xa sau mô đất có mấy chú gà rừng lông rất đẹp đang bới đất tìm mồi. Tôi ra hiệu cho mọi người lùi lại, mở chốt an toàn khẩu AK, vận dụng kỹ thuật đi khom, từ từ tiến lại rất nhẹ nhàng, mấy con gà vẫn chưa phát hiện ra tôi. Từ bên này mô đất, tôi nhảy vọt lên cao, chúc mũi súng bóp cò bắn một loạn đạn tằng tằng tàng, một con lăn quay tại chỗ giãy đành đạch, mấy con còn lại bay vọt lên các ngọn cây trong rừng. Tôi vội chạy đến nhặt con gà trống lên, vạch lông tìm mãi không thấy vết đạn, thì ra nó chết... vì quá hoảng loạn! Bữa trưa hôm ấy, chúng tôi được một bữa thịt gà rừng rang muối, thịt dai hơn gà nhà, nhưng ngon tuyệt vời. Đúng là đặc sản gà rừng.


Để giữ được bí mật kết quả đi trinh sát, khi gần về đơn vị, dù có gặp khó khăn hay thuận lợi, chúng tôi bảo nhau cứ nói chuyện thật to, nét mặt phải tươi cười, anh em theo dõi phán đoán là thuận lợi thì tư tưởng yên tâm, có lợi cho ý chí quyết tâm khi bước vào trận đánh. Đây đúng là một liệu pháp tâm lý trong chiến đấu.


Chuẩn bị đi trinh sát Hòn Ngang lần thứ hai thì cơn sốt rét ập đến quật ngã, tôi nằm liệt trên võng không đi cùng anh em được. Phải mất mười ngày uống thuốc cùng tiêm vào hai mông tôi mới cắt được cơn sốt.

Hôm tôi ra rẫy của đơn vị nhổ sắn về cho anh nuôi, bộ phận cán bộ trinh sát cũng vừa về. Trông mặt ai cũng buôn, các anh thông báo bị địch phục kích, Hải "thấp" đã hy sinh. Nhà Hải chỉ có một mình là con trai, trong chiến đấu không hiểu vì sao, cứ con độc đinh lại rất dễ bị hy sinh. Hải "thấp" quê Nam Hà, nhà theo đạo Thiên chúa, có bộ mặt đẹp trai rất đặc trưng. Mấy lần bị thương với tôi đi trạm xá, đi lấy gạo có rất nhiều em thích. Tình yêu của người lính trong chiến tranh rất hiếm hoi, nó thoảng qua vì không đủ thời gian để đọng lại. Tôi nghĩ nếu mình còn sống sau chiến tranh vẫn ở trên đất Phú Yên chắc cũng lấy vợ Phú Yên. Con gái Phú Yên có nước da trắng và rất xinh xắn. Trong cuộc chiến đấu cam go và ác liệt cái chết đến nhanh và nhẹ tựa lông hồng, ai cũng có thể bị hy sinh. Vì vậy, suốt thời gian ở chiến trường tôi không viết thư về nhà, tôi cứ nghĩ thư chưa về đến nhà có thể mình đã hy sinh rồi. Do không nhận được thư tôi gửi từ chiến trường ra, mẹ tôi ở nhà luôn sống trong tâm trạng khắc khoải chờ mong con.


Ngày 12 tháng 6 năm 1971, sáng sớm trời còn mù sương, đại đội tôi hành quân vượt qua núi Ông Đác sang tập kết tại gộp Hòa Nguyên. Đơn vị đắp sa bàn, thảo luận rất sôi nổi, nhiều tình huống được nêu ra, vì trận đánh này đại đội được ưu tiên nổ súng trước, do có nhiều đơn vị cùng tham gia chiến dịch. Ban Chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên cử anh Tường - Trợ lý Tiểu đoàn 13 làm phái viên tăng cường cho Ban Chỉ huy Đại đội 202. Anh người cao, thanh mảnh, đẹp trai. Anh đi cùng với tôi - Mũi phó; còn anh Lênh Mũi trưởng - quê ở Nghĩa Hưng, Nam Định. Sau giải phóng, tôi được biết anh Tường còn sống và đã lấy vợ tên là Xuân, người tỉnh Phú Yên.


Hòn Ngang, Củng Sơn là một cứ điểm phòng ngự có chiều sâu mà chúng tôi đã đánh tiêu diệt lần thứ nhất (đêm ngày 3 tháng 10 năm 1970). Địch đóng quân ở đây có một trung đội thông tin, một đại đội bảo an, một trung đội thám báo, Ban Chỉ huy Liên đội bảo an 252, một trung đội hai khẩu pháo 105 ly, cối 106 ly, 81 lỵ, 61 lỵ. Sau lần bị quân ta tập kích lần trước, địch đã củng cố hệ thống hầm ngầm, giao thông hào, lô cốt ngang dọc chằng chịt. Giữa các lớp rào phía Đông, địch bố trí một trung đội để chặn quân ta khi bị tấn công, trước khi vào sở chỉ huy trung tâm, chúng bố trí ba lớp rào dây thép gai vây quanh, sau hàng rào là hệ thống giao thông hào, các lô cốt cỏ một lô cốt xây bằng đá xanh cao hơn mười mét, để tạo ra cử điểm phòng ngự có chiều sâu. Đánh giá tổng quát đây là một cứ điểm mạnh, cứng và rắn.


Ta muốn giải phóng quận lỵ Củng Sơn thì đầu tiên phải đánh chiếm được cứ điểm này. Cả bốn mũi của đại đội tôi gồm 40 cán bộ, chiến sĩ vừa tiếp cận vào chân hàng rào thứ nhất, địch báo động bắn đại liên ra hàng rào ngoài cùng. Hồi này, đêm tối sợ đặc công ta đánh nên chúng thường xuyên báo động, kể cả xả súng bắn vào hàng rào canh chừng, chứ không phải do ta bị lộ. Vì vậy, việc đánh các cứ điểm của địch ngày càng trở nên khó hơn rất nhiều. Bầu trời bỗng nhiên mây đen kéo đến, sấm chớp ầm ầm, trời mưa như trút nước, vô cùng thuận lợi cho việc cắt hàng rào không sợ tiếng động, chỉ cần cẩn thận, khắc phục mìn gài của địch. Lúc này mới 8 giờ tối, bỗng nhiên bên kia Hòn Ngang chớp lửa nổi lên ầm ầm. Tiểu đoàn 13 có nhiệm vụ đánh vào Chi khu Củng Sơn bị địch phát hiện phải nổ súng trước, yếu tố ưu tiên nổ súng trước của đơn vị tôi đã không còn. Tai hại nhất, nguy hiểm nhất đối với cách đánh đặc công là yếu tố bí mật bất ngờ đã mất.


Cả cứ điểm Hòn Ngang báo động, địch chạy ra công sự vào các lô cốt. Chúng xả súng các loại bắn ra hàng rào, tiếng ầm vang của đạn cối, đùng đoàng của súng chống tăng M72, của súng M79, tiếng rít réo của các khẩu đại liên, dàn đồng ca chết người này kéo dài hơn một giờ đồng hồ. Sau khi Tiểu đoàn 13 tạm rút ra, địch không thấy ta nổ súng tấn công, chúng ngỡ là du kích quấy rối, nên tạm ngưng bẳn, nhưng địch vẫn thường trực chiến đấu cảnh giác sợ ta đánh tiếp.


Tất cả bốn mũi nằm im ở sườn đồi, lực lượng ta chưa ai thương vong, cứ thế nằm yên tại chỗ chờ đợi thời cơ, không mũi nào rút lui.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:02:12 pm
Đồng hồ chỉ 3 giờ sáng ngày 18 tháng 6 năm 1971, địch lúc này tin rằng ta không đánh nữa nên có phần bớt cảnh giác hơn. Mưa lúc đó cũng đã tạnh. Chúng tôi dầm mình trong mưa ướt như chuột lội, nhưng không ai cảm thấy lạnh, thần kinh lúc này tập trung hết về phía địch.


Đến cách hàng rào cuối cùng khoảng bốn mét, mặt đất ở đây bằng phẳng, địch cạo sạch cỏ trống lốc. Anh Tường bảo tôi vào kiểm tra, tôi để khẩu AK lại, chui người vào cho dễ, tôi đã sờ thấy mìn định hướng Claymore, dịch ra hai bên phải trái đều có mìn, chúng bố phòng khoảng cách hai mét một quả. Tôi nhanh chóng dùng răng cắn đứt dây của cả ba quả mìn, quá nguy hiểm, nếu không vô hiệu hóa được chỉ cần địch điểm hỏa thì cả phân đội chúng tôi bị hất văng xác xuống chân đồi. Tôi bò ra báo cáo cho anh Tường và anh Lênh biết, mọi người thở phào nhẹ nhõm.


Địch đã vào các nhà lính nằm nghi, chỉ còn lại bọn lính canh gác. Một tên lính gác vừa đi khuất sau dãy nhà lính, chúng tôi nhanh chóng chui qua lớp rào cuối cùng, tụt ngay xuống giao thông hào. Các lô cốt vòng ngoài đã ở phía sau, trước mặt là các dãy nhà lính ở, có tên còn nghêu ngao cất tiếng ca vọng cổ, có tiếng đài vọng ra.


Còn thời gian, chúng tôi chia nhau áp sát các lô cốt, ụ súng, các nhà lính. Đột ngột, tiếng đùng đoảng, quả đạn B40 của mũi anh Minh - Chính trị viên phó, ở phía Tây Nam phát hỏa mở màn cho trận đánh. Toàn phân đội áp dụng lối đánh phủ đầu, đánh lướt làm cho chúng hoảng loạn, cả vòng trong và vòng ngoài bị bất ngờ.


Bị đòn tập kích phủ đầu bất ngờ, địch hoàn toàn bị choáng váng. Một tên địch đội một tấm tôn lên người ngụy trang bò ở trong sân như con rùa. Bằng một loạt AK, anh Lênh đã bắn găm xuyên qua tấm tôn, tên địch chết ngay tại chỗ. Cả mũi thực hiện ngay lối đánh truyền thống của đơn vị đánh thọc sâu vào sở chỉ huy. Lợi dụng có ba lớp rào bao bọc, địch điên cuồng chống trả, đại liên trong trung tâm bắn ra mãnh liệt, một tên sĩ quan mặc áo sơ mi trắng đứng trên nóc lô cốt đá xanh, vừa ném lựu đạn US xuống, vừa kêu gọi bọn lính chống trả.


Lúc này, tôi đã đánh đến sở chỉ huy, anh Lênh đánh một quả thủ pháo vào một nhà tôn nổ rầm, lửa phụt ra cửa, một quả lựu đạn US nổ, anh Lênh ngã vật xuống, máu từ bụng trào ra, hai tay anh ôm bụng. Anh Khương y tá chạy lại băng bó cho anh Lênh. Phải giải quyết cái lô cốt đá xanh và ụ đại liên phía trái cách tôi chừng mười lăm mét. Tôi lại trèo qua ba lớp rào ra lấy khẩu B40 kiễng chân chúc xuống bắn găm vào khẩu đại liên, ụ đại liên im bặt. Xoay người lại, tôi nhắm lô cốt đá xanh, nó nằm sau một nhà lợp tôn rất khó bẳn. Tôi đứng bắn, đùng, quả đạn bay qua mái nhà, chui qua chóp che của lô cốt vọt đi, tên sĩ quan thụt đầu chạy xuống không dám ném lựu đạn xuống nữa. Tôi lắp tiếp quả đạn thứ ba tiếp tục nhằm vào lô cốt đá xanh bắn tiếp, nghe tiếng cách của kim hỏa, quả đạn không bay ra, chỉ nghe tiếng xè xè trong súng. Do liều phóng ẩm, nó đã không nổ được để đẩy quả đạn đi. Tôi giữ nguyên hướng khẩu B40, lắp tiếp quả đạn khác, rồi bóp cò. Đùng, đoàng, quả đạn bay ra cắm vào nóc nhà tôn phát nổ, từng mảng tôn bay tứ tung. Khi bắn B40 tôi quên di chuyển, một thằng địch đứng ờ góc lô cốt bắn một loạt AR15, một viên đạn xuyên vào vai trái, khẩu B40 rời khỏi tay tôi rơi bịch xuống đất, máu tuôn ra ướt đẫm một bên người, tôi không thể tự băng bó được, vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến khi kết thúc trận đánh.


Mũi hai và ba sau khi bấm hai dàn mìn định hướng DH10, Đạt xạ thủ B40 bắn liên tiếp hai quả, hạ hai lô cốt đầu cầu và tất cả các mũi xung phong. Anh Luật - Mũi phó, người quê Hà Bắc, đánh thọc sâu vào sở chỉ huy căn cứ. Khi đang trèo trên hàng rào vào trong bị trúng một loạt đạn tiểu liên cực nhanh, anh hy sinh, người nằm vắt ngang hàng rào. Một kho đạn cối trúng thủ pháo phát nổ rền vang, lửa phụt lên cao, mảnh bay xa ra đến tận hàng rào ở chân đồi.


Khi đánh vào sở chỉ huy liên đội, anh Tường - Phái viên của Tỉnh đội - bị một quả lựu đạn US nổ gần người, một mảnh găm vào làm mù một mắt, một mảnh lựu đạn làm bay ngón tay cái, bay ốp báng khẩu súng ngắn K54 súng văng ra xa; anh Lâm, người Hà Tây bị trúng mảnh lựu đạn vào bụng, ruột lòi ra ngoài, anh lấy hai tay ôm bụng tự chui rào ra ngoài.


Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt, nhất là trong sở chỉ huy địch, ta và địch giành giật nhau từng ụ súng, từng hầm ngầm.

Riêng mũi thứ tư, các anh đã dùng B40, M79 thủ pháo diệt gọn một trung đội địch đóng giữa hàng rào phía Đông cứ điểm.

Sau 30 phút chiến đấu với ý chí quyết tâm rất cao. Đại đội 202 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tuy đơn vị bạn bị lộ nổ súng trước, nhưng đại đội vẫn kiên trì chờ đợi thời cơ, thực hiện lối đánh thọc sâu truyền thống, nhanh chóng diệt gọn ban chỉ huy liên đội địch. Tiêu diệt một đại đội địch, một trung đội pháo 2 khẩu 105 ly, một trung đội thám báo, một trung đội thông tin, phá hủy một kho đạn, xác địch nằm ngổn ngang, trận đánh kết thúc.


Đại đội trưởng Thâu bảo tôi ra cắt mở rộng hàng rào, để cho Đại đội 3, Tiểu đoàn 96 bộ binh lên chốt giữ. Hôm sau, đơn vị bạn tiếp tục tiêu diệt nốt những tên còn sống sót trong các hầm ngầm. Anh Lênh - Mũi trưởng của tôi, được anh em khênh về trạm trung phẫu, khi mổ thấy gan anh đã đập nát, anh hy sinh và được chôn tại khu gộp Hòa Nguyên.


Tôi dẫn anh Lâm bị thương lòi ruột về đội phẫu. Lúc ấy không có gì úp vào để băng, tôi động viên anh cố gắng. Trời đã sáng, chiếc máy bay trinh sát L19 bay rất thấp, nó lượn đi lượn lại tìm quân ta. Tôi phải dẫn anh Lâm ẩn tránh đi qua được bãi tranh vào rừng, cối 106 ly ở chi khu bắn đuổi theo nổ inh tai, lửa bùng to như cái nong. Tôi đi lạc đường phải mất gần một tiếng đồng hồ mới tìm thấy đội trung phẫu đóng quân bên bờ suối. Tôi mừng quá bàn giao anh Lâm cho quân y cấp cứu. Thật thần kỳ, bị thương lòi cả ruột mà anh Lâm vẫn đi được. Anh Lâm được cứu sống và sau đó trở về miền Bắc. Còn vết thương bả vai trái của tôi máu không chảy nữa, tôi nhận một nắm cơm anh nuôi phát cho tự đi về trạm xá Sơn Hòa điều trị. Cho đến nay viên đạn tiểu liên cực nhanh vẫn nằm ở vai trái tôi, tôi để đấy vẫn chưa mổ lấy ra.


Sáng hôm sau, Đại đội 3, Tiểu đoàn 96 chốt giữ Hòn Ngang liên tục bị địch pháo kích, ném bom, các đụn khói bốc lên. Ai đã từng giữ chốt mới thấy nó ác liệt như thế nào.

Tiểu đoàn 13 tiếp tục phối hợp với một trung đội công an vũ trang tỉnh đánh địch ở sân bay và thôn Bắc Lý. Trận đánh ác liệt kéo dài cả ngày hôm sau. Ta đánh thiệt hại nặng một đại đội bảo an, nhưng không làm chủ được trận địa, mục tiêu sân bay dã chiến giao cho Đại đội đặc công 25 đánh. Nhưng do nước sông Ba dâng cao, đại đội không vượt được sông, nên không tiêu diệt được mục tiêu này.


Ngày 19 tháng 6 năm 1971, Tiểu đoàn 13, Đại đội 3 của Tiểu đoàn 96 đánh địch phản kích giữa ban ngày. Nhờ có pháo chi viện, địch chiếm lại cứ điểm Hòn Ngang.

Ta rút khỏi Củng Sơn, kế hoạch giải phóng quận lỵ Củng Sơn không thực hiện được.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:04:40 pm
Do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Đại đội 202 được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, tôi và nhiều anh em được tặng Bằng khen và danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng.

Sau trận Hòn Ngang, đại đội rút về căn cứ để tập huấn chỉnh quân, bổ sung thêm một số anh em ở đồng bằng lên, trong số đó có Châu ở xã An Ninh, anh Cảnh ở huyện Sông Cầu, một số anh em ở Đại đội vận tải 23.

Đơn vị lại tổ chức đi lấy gạo, đánh địch vùng ven thị xã.

Sau khi anh Lênh - Trung đội trưởng, hy sinh, đại đội phân công tôi thay anh phụ trách trung đội và bầu chọn tôi đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua tỉnh Phú Yên cùng anh Thâu - Đại đội trưởng - địa điểm là khu rừng phía Bắc xã Phước Tân, huyện Sơn Hòa ở phía Phú Yên. Cả tỉnh có 79 đại biểu, tôi vinh dự được thay mặt Đại đội đặc công 202 báo cáo điển hình và trình bày chi tiết trận tập kích núi Sầm để các đơn vị tham khảo, học tập rút kinh nghiệm. Đại hội đang điễn ra thì tên Thất (Thất đen), Bí thư Huyện ủy Sông Cầu là gián điệp của CIA bị ta phát hiện. Chưa kịp bắt nó đã bỏ chạy, được trực thăng của địch đón về thị xã Tuy Hòa.


Với cương vị là Bí thư Huyện ủy, nó nắm được rất nhiều bí mật của ta, vì vậy Tiểu đoàn bộ binh 9 đóng ở huyện Sông Cầu nhiều lần đi chiến đấu thì không ít lần bị tổn thất.

Một vinh dự to lớn đối với các lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Phú Yên là ngày 20 tháng 9 năm 1971, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ký quyết định tuyên dương và tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam cho Đại đội đặc công 202, đồng chí Lương Tấn Thịnh - Đại đội trưởng - cũng vinh dự được nhận danh hiệu cao quý này.


Đại đội đặc công 202 từ ngày thành lập tháng 2 năm 1964 đến tháng 9 năm 1971, đã đánh 191 trận, tiêu diệt 22 đại đội địch (có hai đại đội Mỹ, một đại đội Nam Triều Tiên), 38 trung đội, một chi khu, ba liên đội bảo an, loại khỏi vòng chiến đấu 4.474 tên địch (cỏ 927 lính Mỹ, 284 lính Nam Triều Tiên, 10 lính Úc), thu được 505 súng các loại (có 15 đại liên, 12 súng cối 60 ly), phá hủy 31 xe quân sự, hai máy bay và nhiều kho tàng các loại.


Đại đội được khen thưởng:

- 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba

- 4 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất

- 6 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì

- 4 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba

- Được tặng danh hiệu Đại đội dũng sĩ diệt Mỹ

- 2 cờ Thành đồng quyết thắng

- 2 cờ Dũng mãnh kiên cường đánh mạnh diệt gọn

- 1 cờ 10 năm chiến thắng vẻ vang

- 1 cờ Đời đời nhớ ơn Bác

- 1 cờ mang tên Đồng Phước Huyến

- 1 cờ luân lưu Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.


Đến lúc này, về cá nhân có 2 đồng chí được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng:

- Liệt sĩ, Đại đội trưởng Lê Trung Kiên quê Hòa Hiệp, tỉnh Phú Yên.

- Đại đội trưởng Lương Tấn Thịnh quê Hòa Hiệp, tỉnh Phú Yên (sau được điều động lên Quân khu 5 công tác và đã hy sinh trong một trận đánh ở tỉnh Quảng Nam).

Hôm nhận quyết định phong Anh hùng, Tỉnh đội Phú Yên thưởng cho đơn vị tôi một đài National, mỗi người một bộ quần áo y phong, cho một con lợn để liên hoan.

Trong thành tích chung của đơn vị, tôi cũng tự hào là đã tham gia chiến đấu, chiến thắng nhiều trận đánh oanh liệt, góp phần tô thắm lá cờ của Binh chủng Đặc công anh hùng!

Cảm phục trước những chiến công anh hùng của Đại đội 202, một nhạc sĩ của tỉnh Phú Yên đã sáng tác một bài hát để ca ngợi đơn vị, tôi đã thuộc lòng bài hát này, với những ca từ:

   Hát mừng chiến sĩ 202:
   Phú Yên lại hát mừng chiến sĩ đơn vị 202
   Chiến công anh hùng lừng lẫy cho đất nước thêm hùng vĩ
   Xuất quân là thắng vinh quang, trên 5.000 giặc đã tan thây
   Đường đi đánh Mỹ đêm ngày dù gian khổ anh đâu ngại gì
   Non sông reo vui đơn vị anh hùng đất Phú
   Ôi vinh quang thay đơn vị anh hùng 202
   Ngàn năm Nhạn - Tháp sông Ba còn vang mãi khúc ca chào mừng.

Bài hát vang lên là hồi kèn xung trận cổ vũ đơn vị 202 và các lực lượng vũ trang Phú Yên anh dũng tiến lên giết giặc lập công.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:05:58 pm
Tổng tiến công chiến lược năm 1972

Từ tháng 5 năm 1971, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) đã họp và đề ra nhiệm vụ của quân và dân ta là "kịp thời nắm bắt lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tấn công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên toàn Đông Dương, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua.."


Ngày 27 tháng 3 năm 1972, Ban Cán sự Đảng, Ban Chỉ huy Tinh đội Phú Yên họp kiểm tra tình hình chuân bị Chiến dịch Hè, những điểm chính trong phương án Chiến dịch Hè năm 1972 của tinh Phú Yên là:

- Dùng Tiểu đoàn 13, Tiểu đoàn 9, ba đại đội đặc công (202 25 và 201), hai đại đội trợ chiến (167 và 2), haị đại đội công binh (19 và 50), cùng bộ đội du kích hai huyện Đồng Xuân và Tuy An, kiên quyết tiêu diệt được 2/3 lực lượng địch tại chỗ, ngăn chặn đánh bại lực lượng giải tỏaa chi khu, giải phóng đại bộ phận nông thôn gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy An.


Thực hiện chỉ đạo của Ban Chỉ huy Tỉnh đội, Đại đội 202 có nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường tại huyện Đồng Xuân, mục tiêu là Trung tâm Huấn luyện biệt kích Xuân Phước.

Đại đội thành lập tổ trinh sát, gồm có anh Thâu - Đại đội trưởng, anh Phước - Chính trị viên, tôi - Mũi trưởng, anh Oanh người Thái Bình - Mũi phó của tôi, anh Hải - Đại đội phó, anh Chất - Chính trị viên phó. Cứ điểm này đại đội tôi đã đánh một lần (ngày 28 tháng 8 năm 1970), nên địch rất cảnh giác. Cứ khi trời tối là chúng bắn tiểu liên cực nhanh, cối cá nhân M79 vào hàng rào để chống đặc công ta đột nhập. Vì vậy, anh em chúng tôi thường nói với nhau mỗi lần chui rào vào trinh sát là như một lần đi vào cửa tử.


Trong tháng 1 năm 1972, tổ trinh sát liên tục đi trinh sát, có lần qua sông Kỳ Lộ, nước dâng cao, khi tôi bơi qua sông bị nước cuốn đẩy vào bụi tre gai, gỡ mãi mới bơi ra được.

Do địch đề phòng cảnh giác rất cao, đèn pha các loại dày đặc quét ra hàng rào, nên rất khó đánh theo lối mật tập luồn sâu. Đại đội lên phương án vừa mật tập vừa cường tập, sau đó dùng lối đánh truyền thống thọc sâu chia cắt địch để tiêu diệt, khi cách hai lớp rào đến giao thông hào sẽ đặt một dàn mìn định hướng DH10, 6 quả để phá đứt rào.


Đầu tháng 4 năm 1972, đại đội hành quân đi chiến đấu. Buổi trưa bộ đội đang nằm nghỉ ven một con suối cạn, trên bầu trời xuất hiện một chiếc máy bay trinh sát OV10 bay khá cao, bỗng nó chúi xuống phóng một quả rocket khói vào đội hình đơn vị tôi đang nghỉ chân, hai chiếc phản lực F105 đang lượn vòng tròn nhanh chóng chúc xuống cắt bom. Bom rơi xuống đúng vào đội hình đơn vị, chúng tôi chỉ kịp nhảy xuống hầm trú ẩn. Ở đây từng có đơn vị bạn trú quân nên đã có nhiều hầm hố trú ẩn.


Bom nổ ầm ầm, chưa kịp ra khỏi hầm để chạy thì chiếc thứ hai lại rít lên cắt bom tiếp. Sức ép của bom làm tôi tức ngực, khó thở như cá thiếu oxy, nếu không liều chạy đi thì quả bom sau có thể trúng hầm, nên tiếng bom vừa dứt chúng tôi vọt ra khỏi hầm cứ theo con suối cạn mà chạy. Khi nghe tiếng rít xoèn xoẹt máy bay lao xuống thì lại nằm úp mặt vào đất, bom nổ mảnh bay văng vào đá tóe lửa, lại vùng lên chạy.


Khi những chiếc phản lực hết bom mang theo, chúng bắn pháo 20 ly theo dọc con suối cạn, đạn nổ hai lần choang choác. Khoảng ba mươi phút, trận oanh tạc kết thúc, chúng tôi nhanh chóng trở lại hầm trú ẩn để lấy ba lô, thì một cảnh tan hoang hiện ra trước mắt, nhiều chiếc võng bị mảnh bom phá nát, chiếc đài ấp chiến lược vỡ tan, một hố bom đánh trúng căn hầm chúng tôi trú ấn, chỉ chậm và không quyết đoán ra khỏi căn hầm này thì bây giờ mấy anh em phân đội tôi đã không còn ai nữa.


Đêm 09 tháng 4 năm 1972, tổ trinh sát đi kiểm tra cứ điểm lần cuối trước khi nổ súng, cũng như những lần đột nhập trước, tôi lại bò qua các lớp rào. Anh Oanh cầm khẩu AK bò theo sau, lúc này khoảng 9 giờ tối, điện trong căn cứ sáng choang, đèn pha địch bố trí trên các lô cốt quét đi quét lại đan chéo nhau.


Bọn lính gác ngoài giao thông hào, trong lỗ châu mai thỉnh thoảng lại bắn ra hàng rào, cối cá nhân M79 cũng bắn vào chỗ mà chúng nghi ngờ, hễ trúng vào ai trong chúng tôi là người đó chết. Có thể nói mỗi lần đi trinh sát ví như một lần đánh trận. Anh em so sánh, cứ một đêm chui rào người già đi bằng ba năm thời gian sống ngoài Bắc.


Tôi nghiêng người chui qua một lớp rào bùng nhùng, bỗng ầm, mặt mũi tôi tối sầm, một quả mìn phát nổ khi tôi chống tay trái xuống đất, quả mìn dip gài từ hồi bọn Mỹ đóng ở đây, lâu ngày cỏ đã mọc phủ lên, tôi đã kiểm tra rất kỹ nhưng không phát hiện được. Tay trái đeo chiếc đồng hồ Seiko mượn của anh Vĩ bay mất, tay phải tôi sờ thấy hai xương cổ tay trái nhô ra, đứt động mạch, máu phun ra xối xả. Tôi nghĩ chắc chắn sau tiếng mìn nổ, sẽ là một trận mưa đạn trong căn cứ trút vào nơi tôi nằm. Nhưng lạ thay, không gian vẫn yên lặng, địch trong căn cứ vẫn không có động tĩnh gì, chẳc chúng nghĩ đây là tiếng nổ của quả M79, do bọn chúng bắn ra hàng rào. Đối với tôi, đó là một may mắn hy hữu trong cuộc đời chinh chiến mà đôi khi chúng ta không thể giải thích được vì sao..


Anh Oanh bò lên, xé băng cá nhân buộc ga rô cho tôi. Thời gian cũng không biết mất mấy phút, nhưng lúc này đầu óc tôi vẫn thấy tỉnh táo, mắt trái không mở được, má trái bị sức ép mìn nổ gần phá ra một vệt dài, lúc này cũng hết băng, nên kệ cho máu chảy tự do. Không thấy địch phản ứng gì, tôi quyết định chui ra, lúc này đang ở hàng rào thứ bẩy, chỉ còn một tay phải khi chui rào rất khó khăn. Anh Oanh vướng rào không thể hỗ trợ tôi được. Như có sức mạnh vô hình giúp sức, cuối cùng tôi cũng chui ra được hàng rào ngoài cùng. Ngồi nghỉ một lát, do mất nhiều máu, người tôi rét run, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Ngồi chờ đến 3 giờ sáng, các anh ở hai mũi kia mới về đến chỗ chúng tôi.


Bây giờ phải vượt qua sân bay dã chiến, tôi lại không thể bò được vì một bàn tay đã bay mất. Đành liều vậy, phải đứng lên đi khom thôi. Nhờ ánh sáng đèn pha từ căn cứ quét ra, tôi tự đi qua sân bay, lúc này các anh mới thay nhau cõng tôi về bìa thổ.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:06:37 pm
Trời bắt đầu sáng. Các anh trong tổ trinh sát lúc này mới kiểm tra ga rô tay tôi. May mắn thay, trong điều kiện trời tối, trong hàng rào mà anh Oanh ga rô cầm máu cho tôi rất chính xác, nếu không tôi đã tắt thở ngay trong hàng rào rồi. Tôi mang ơn anh suốt đời. Khi tôi đi bệnh xá Đồng Xuân điều trị, anh cùng đơn vị đánh cứ điểm này và anh đã anh dũng hy sinh. Tôi chỉ biết láng máng quê anh ở Thái Bình, nhưng không biết huyện và xã nên không có dịp về thăm quê anh được.


Sau khi tôi bị thương, anh Đón lên thay chỉ huy mũi. Đêm 12 tháng 4 năm 1972, Đại đội 202 tiến công cứ điểm Trung tâm Huấn luyện biệt kích Xuân Phước lần thứ hai. Trận đánh diễn ra ác liệt. Anh Hải - Đại đội phó, lên kiểm tra mìn định hướng, bò về sau chưa đủ khoảng cách an toàn, các mũi bạn đã nổ súng. Anh Đón điểm hỏa dàn mìn định hướng nổ, quét sạch hai hàng rào, nhưng anh Hải người Hải Phòng bị sức ép mù cả hai mắt.


Tuy phải đánh một phần cường tập, nhưng Đại đội 202 đã dũng cảm đánh thọc sâu thẳng vào ban chỉ huy liên đội. Sau 40 phút chiến đấu rất ác liệt, đại đội đã làm chủ trận địa diệt gọn Ban chỉ huy Liên đội 254 cùng một đại đội địch, một trung đội pháo 105 ly, một trung đội thám báo, một trung đội thông tin, nhưng ta cũng bị tổn thất nhiều, anh Phước - Chính trị viên, anh Oanh - Mũi phó, anh Khương - y tá hy sinh.


Cùng đêm, Đại đội đặc công 25 tập kích cứ điểm Hòn Bứa và quận lỵ Đồng Xuân, diệt gọn một đại đội bảo an của Liên đội 227, Đại đội đặc công 207 của huyện Đồng Xuân tập kích địch ở thôn Long Bình, xã Xuân Long. Đại đội 381 của huyện tập kích địch ở thôn Phước Hòa, xã Xuân Phước gây cho địch nhiều tổn thất.


Ở huyện Tuy An, cùng đêm 12 tháng 4, Đại đội đặc công 205 của huyện tập kích địch đóng ở cầu Nam Ngân diệt 50 tên; Đại đội 379 tập kích cứ điểm núi Một (An Mỹ) diệt một trung đội nghĩa quân, diệt 17 tên thu bốn súng AR15, một cối M79.

Sáng 13 tháng 4, ta chiếm giữ Hòn Bứa và quận lỵ La Hai, đánh địch phản kích. Địch huy động nhiều đại đội Ngụy, quân Nam Triều Tiên đến phản kích, có máy bay phản lực và trực thăng vũ trang yểm trợ. Tiểu đoàn 9 do đồng chí Thuận làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Tâm làm Chính trị viên, đã dũng cảm chiến đấu, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, diệt một trung đội lính Ngụy và 30 tên lính Nam Triều Tiên.


Đêm 15 tháng 4, một đại đội của Tiểu đoàn 13 tập kích chốt điểm núi Đất (xã Xuân Sơn), diệt một trung đội dân vệ. Cùng đêm đó, Đại đội 379 của huyện Tuy An tiếp tục tập kích cứ điểm núi Một (An Mỹ) diệt một trung đội cùng ban chỉ huy đại đội bảo an.

Như vậy sau ba ngày chiến đấu, các lực lượng vũ trang ta đã thực hiện được kế hoạch của chiến dịch, tiêu diệt được các mục tiêu then chốt, đánh thiệt hại nặng nhiều cánh quân địch đến giải tỏa, nhưng lực lượng địch tại chỗ vẫn còn nhiều...

Đêm 6 tháng 5, Đại đội đặc công nước 24 sử dụng một tổ bốn đồng chí do đồng chí Các - Đại đội phó - chỉ huy dùng thuốc nổ mạnh đánh cầu Ngân Sơn. Đồng chí Lưu Văn Liêu cùng Đại đội phó đẩy khối thuốc nổ 200kg, còn cách cầu khoảng trên dưới mười mét thì bị địch phát hiện. Chúng nổ súng báo động, một trung đội địch chạy tới định vây bắt đồng chí Liêu và Các. Chúng quát tháo kêu gọi hai anh đầu hàng. Anh Liêu nói với anh Các mau lặn ra khỏi khu vực nguy hiểm, sau đó anh dùng hết sức đẩy nhanh khối thuốc nổ ép vào trụ cầu, giật nụ xòe cho nổ trực tiếp, một ánh chớp lóe mắt bùng lên kèm theo một tiếng nổ dữ dội đánh sập hai nhịp cầu Ngân Sơn, cả trung đội địch đang trên cầu tan xác chìm xuống dòng sông. Anh Liêu đã dũng cảm hy sinh thân mình để hoàn thành nhiệm vụ.


Với chiến công xuất sắc và hành động anh hùng, đồng chí Lưu Văn Liêu đã được Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.


Với cách đánh dũng cảm, mưu trí, quyết đoán, sẵn sàng xả thân vì đất nước, nhiều cán bộ, chiến sỹ đặc công đã hoàn thành những nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. Mỗi khi anh em xuất quân, các đơn vị đều tiến hành nghi lễ tổ chức làm lễ truy điệu sống để tiễn đưa.


Học tập, noi gương hành động anh hùng của Lưu Văn Liêu, các lực lượng vũ trang trong tỉnh Phú Yên sôi nổi thi đua giết giặc lập công. Tiểu đoàn 13, sau khi tập kích diệt một đại đội bảo an ờ cầu Tây Cam, từ ngày 7 đến 14 tháng 05 năm 1972, liên tiếp đập tan các cuộc hành quân phản kích của địch vào Phong Niên (xã An Định) diệt hơn 100 tên địch, thu hàng chục súng các loại. Tiểu đoàn 9, sau khi tập kích tiêu diệt một trung đội địch ở cầu Bến Nhác và cầu 12, đã tổ chức đánh địch ở Tam Giang, Hòa Lương, Hòa Lễ, ấp Gành diệt 185 tên địch, diệt gọn một đại đội bảo an.


Trong trận chiến đấu này có chiến công xuất sắc của khẩu đội cối 82 ly do đồng chí Bùi Xuân Bang chỉ huy, khẩu đội bố trí trên sườn núi Đá Do, chi viện cho Tiểu đoàn 9 chiến đấu. Với hai quả đạn cối đầu tiên, đã tiêu diệt một khẩu đội cối 81 ly của địch, địch cho máy bay trực thăng đến tấn công vào khâu đội côi của Bang. Hỏa lực 12 ly 8 đã bắn bị thương một chiếc, chúng phải hạ cánh xuông bãi cát đầu cầu Ngân Sơn. Lập tức bị khẩu cối của Bang bắn bồi tiếp hai quả cối 82 ly, trực thăng trúng đạn bốc cháy nổ tan xác. Các trận địa pháo 105 ly của địch tập trung bắn dồn đập vào khẩu đội cối của đồng chí Bang hòng tiêu diệt. Sau đó, địch dùng trực thăng đổ bộ quân gần chiếc trực thăng bị bắn cháy, một chiếc vừa hạ xuống lập tức trúng đạn cối, cả chiếc trực thăng và toàn bộ bọn lính trong máy bay bị nổ tung xác văng tung tóe ra ngoài.


Mặc dù bị máy bay L19 bắn rocket, máy bay phản lực ném bom, khẩu đội cối 82 ly của đồng chí Bang vẫn bám trụ, bình tĩnh rót liên tiếp những quả đạn chính xác diệt thêm hàng chục tên địch, buộc chúng phải tháo chạy. Sau đó, Bang cho chuyển làn bắn dồn dập vào ban chỉ huy liên đội bảo an, đạn cối trùm lên nóc nhà chỉ huy sở của địch, phá sập các lô cốt, ụ súng xây bằng bao cát, chi viện đắc lực cho Tiểu đoàn 9 tiêu diệt địch.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:07:44 pm
4.10.   Điều trị vết thương, trở lại miền Bắc

Trong khi cuộc Tổng tấn công chiến lược năm 1972 của tỉnh Phú Yên đang diễn ra quyết liệt, thì tôi bị thương rất nặng trong lần đi trinh sát kể trên, không cùng anh em tiếp tục chiến đấu được nữa.

Tôi được anh em dân công đưa về trạm xá Đồng Xuân, đồng chí quân y sĩ đã phẫu thuật cắt tay cho tôi. Điện không có, phải đốt đuốc để lấy ánh sáng, không có thuốc mê, chỉ gây tê cục bộ. Vết thương bên má trái chỉ vào phần mềm, may không gãy cái răng nào. Một may mắn nữa là mắt trái không bị mù, vết thương chỉ nhích lên khoảng một phân nữa là hỏng con mắt.


Ca phẫu thuật cho tôi xong, thì em Thương - ỵ tá của trạm phẫu - lấy các loại thuốc kháng sinh tiêm để chống nhiễm trùng và bảo tôi: "Thôi thế là anh sắp về Bắc với gia đình quê hương rồi".

Tôi nhớ, trong quá trình mổ tôi vẫn tỉnh táo.

Hai hôm sau tôi chia tay trạm xá Đồng Xuân để đi trạm quân y Hồ Tây điều trị tiếp. Khi đến nơi vết thương bị nhiễm trùng sưng rất to. Bác sĩ Đạt phụ trách bệnh xá lại tiến hành phẫu thuật cắt tay cho tôi lần thứ hai, cũng chỉ có thuốc tê. Trong cơn mê sảng, tôi nghe rõ tiếng của sắt và tiếng keng của mẩu xương tay cắt rời ném xuống chậu tôn.


Sau mổ tỉnh lại, mọi người bảo tưởng tôi không qua khỏi. Sau khi mổ lại cánh tay bị thương xong, anh Thêm quân y sĩ tiếp tục mổ hai chân cho tôi để lấy nốt mảnh inox mắt xích dây đồng hồ găm sâu vào cả hai đùi. Đến bây giờ, do mổ chưa lấy hết, mảnh đùi phải của tôi vẫn còn một mắt xích dây đồng hồ, khi trở gió lại đau nhức.


Khi tôi nằm điều trị ở bệnh xá Hồ Tây, sau trận đánh, thì gặp anh Hải - Đại đội phó của đơn vị tôi bị mìn định hướng mù hai mắt. Tội cho anh quá, anh còn trẻ, mắt bị cháy hết giác mạc, không nhìn thấy gì. Sau này, anh trở về miền Bắc lấy vợ, rồi lại bị tai nạn xe và mất tại quê nhà.


Tôi nằm điều trị từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1972, vết thương tạm ổn, trong thời gian điều trị, có lúc hết gạo phải ăn toàn đỗ nhỏ, rất khó ăn nhưng biết làm sao được. Trạm xá làm thủ tục cho tôi trở về đơn vị, tôi chia tay anh Hải, hẹn gặp lại anh ở miền Bắc.


Về tới đơn vị ở chân Hòn Đác, anh em rất mừng. Tưởng tôi đã hy sinh. Anh em kể lại cho tôi nghe diễn biến trận đánh mà tôi không được tham gia. Tôi ngậm ngùi tiếc thương cho các anh em đã hy sinh, trong đó có anh Khương y tá người huyện Đồng Xuân, người đã đứng lên giới thiệu tôi vào Đảng và anh Oanh - Trung đội phó - người đã rất bình tĩnh xử lý ga rô chính xác cho tôi. Cho đến hôm nay, tôi vẫn không bao giờ quên các anh, cầu chúc cho các anh an nghỉ nơi vĩnh hàng trong sự siêu thoát.


Tháng 9 năm 1972, tôi nhận quyết định để trở lại miền Bắc. Anh Thâu - Đại đội trưởng - tặng tôi một đôi tất chân. Anh ôm tôi, cứ tiếc mãi nếu tôi không bị thương ở lại sẽ lên đảm nhiệm cương vị Đại đội phó. Chia tay với má Chín, má khóc. Tôi ăn bữa cơm trộn sắn cuối cùng ở đơn vị để nhớ mãi những tháng ngày gian khổ, đầy tình đồng đội, sống chết bên nhau.


Nhớ khi đại đội đặc công của tôi hành quân đi Nam chiến đấu, có 90 người, sau ngày giải phóng chỉ còn lại 5 người. Ai cũng thương tích đầy mình, mỗi người mỗi số phận, đi theo các lối rẽ khác nhau của cuộc đời.

Thế rồi, tôi lại vượt Trường Sơn trở lại miền Bắc, lại gặp những cơn mưa rừng, vắt cắn, sốt rét... Có điều, lúc vào thì sức khỏe còn trai tráng, khi ra thì mất một cánh tay, sức khỏe giảm sút rất nhiều. Nhưng có một số điều khác biệt trong cuộc hành trình "mã hồi" này mà tôi vẫn còn mãi lưu giữ.


Ngay hôm đầu tiên, đoàn anh em ra Bắc khoảng 10 người đều là lính chiến đấu của các đơn vị ở chiến trường Phú Yên. Mọi người đi qua suối Ché, đến đầu bãi tranh Tân Sơn, bỗng thấy tiếng động rất mạnh, cỏ tranh xô dạt ra, mọi người tưởng hổ, đều rút lựu đạn ra cầm sẵn ở tay. Khi đó, chúng tôi không có súng, anh em bảo cứ ném lựu đạn vào chỗ gây ra tiếng động, sau tiếng nổ của lựu đạn, nghe tiếng giãy đạp một lúc rồi im bặt.


Chúng tôi thận trọng rẽ cỏ tranh tiến lại, thì trước mắt là một con nai rừng còn non khoảng 80kg, trúng mảnh lựu đạn nằm chết tại chỗ. Mọi người mừng rỡ, đang thiếu thức ăn. Thế là cả đoàn nghỉ lại tại suối làm thịt con nai, chế biến thịt trộn muối vào làm ruốc để ăn dần. Trên đường đi, chúng tôi mở đài nghe tin tức và các bài hát của Đài tiếng nói Việt Nam cho đỡ mỏi mệt.


Một hôm gần trưa, đang ngồi nghỉ bên đường giao liên, tôi bất ngờ gặp lại anh An cùng Đại đội 202 với tôi, anh ra quân khu chữa bệnh đang trở về đơn vị ở Phú Yên. Tôi xẻ cho anh ít thịt nai, rồi hai anh em chia tay, lúc đó nghĩ không biết bao giờ gặp lại. Sau ngày kết thúc chiến tranh, anh còn sống và cũng bị thương. Rồi chúng tôi lại được hội ngộ ở Đoàn an dưỡng 253, Nam Sách, Hải Dương, anh là thương binh hạng 1/4.


Ngày 17 tháng 1 năm 1973, đoàn ra của chúng tôi đi gần thị xã Salavan nước bạn Lào, thì bị B52 Mỹ rải thảm bom, nổ như sấm rền. Rất may, vệt bom chúng rải chỉ cách chỗ chúng tôi khoảng gần một cây số. Đến trưa, xe ô tô chở đoàn chúng tôi bị tắc đường, lúc đang ngồi chờ bên xe thì bọn phản lực F4 đến ném bom. Chúng rải bom bi, nghe tiếng nổ như đàn ong vỡ tổ, một số xe tải trúng bom bốc cháy dữ dội. Chúng tôi bỏ ba lô chạy xa đoàn xe, khi hết đợt oanh tạc, quay trờ lại có một số anh em lái xe hy sinh và bị thương, phải chờ đến gần tối mới thông đường.


Một hôm chiếc xe vận tải chở chúng tôi đang ì ạch leo dốc. Không hiểu vì sao, lái xe cài số lùi, cứ thế chiếc xe trôi tụt xuống dốc. Rầm một tiếng, đuôi xe bị một cây to chặn lại, sau nó là vực sâu thăm thẳm. Mọi người được một phen kinh hoàng, không có cái cây chắn đó, tất cả chúng tôi và xe đã lăn xuống vực, chắc không một ai có thể sống sót. Lần này, may mắn lại mỉm cười với chúng tôi, cũng không hiếm trường hợp thoát chết ở chiến trường nhưng trên đường về hậu phương lại hy sinh vì tai nạn và bom đạn đánh dọc đường.


Tháng 12 năm 1972, Mỹ mở chiến dịch tập kích đường không vào Hà Nội, Hải Phòng. Khi mở Đài tiếng nói Việt Nam chúng tôi vô cùng lo lắng: "Nhà mình ở ngoại thành Hà Nội không biết có sao không?" Mỹ tuyên bố cho Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá. Tôi cứ tưởng tượng, khi về đến Hà Nội sẽ nhìn thấy một Hà Nội tan hoang, đổ nát.


Tết năm 1973, chúng tôi đón xuân trên đường Trường Sơn, hai người được phát một cái bánh chưng con, một bao thuốc lá Tam Đảo, bao bạc. Hương vị Tết miền Bắc đã tràn vào tận Trường Sơn. Lâu lắm rồi mới được hút một điếu thuốc Tam Đảo, được ăn một miếng bánh chưng mang đậm hương vị quê hương, cái cảm giác lúc đó thật khó tả. Ô tô đưa chúng tôi ra khỏi cửa rừng bon bon chạy trên con đường 10, con đường mà tháng 9 năm 1969, đưa đại đội đặc công chúng tôi tiến vào làng Ho, Quảng Bình, mở đầu cuộc hành quân gian khả vượt Trường Sơn ra trận.


Tài sản tôi đem về miền Bắc là chiếc đài Nhật National hai băng, một tấm vải dù hoa (chiến lợi phẩm) với chiếc ba lô con cóc đã cũ được phát từ hồi vào Nam. Hành trang người lính thật đơn sơ!

Mồng 5 Tết năm 1973, tôi về đến Binh trạm Thường Tín, Hà Nội. Đến đây, cuộc hành quân từ Phú Yên vượt Trường Sơn trở về miền Bắc đã kết thúc.

Được sống trong không khí hòa bình, không còn cảnh bom đạn của chiến tranh nữa. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc và chạnh lòng nhớ tới những người bạn cùng nhập ngũ và đi chiến đấu với tôi, giờ vẫn đang ở trong chiến trường, chẳng biết sống chết ra sao!


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 20 Tháng Hai, 2026, 02:45:52 pm
Chương 3
TRÊN MẶT TRẬN MỚI "THƯƠNG BINH TÀN NHƯNG KHÔNG PHẾ"


Tôi được cấp trên cho về Đoàn 253 an dưỡng, đóng ở gần bến đò Hàn - Hải Dương, vừa an dưỡng vừa điều trị sốt rét. Khi khám thương xếp hạng thương binh, tôi được Hội đồng Giám định y khoa của Đoàn an, điều dưỡng xếp hạng 5/8 (hạng 8 là nặng nhất theo thang bậc thương binh lúc bấy giờ, sau này là hạng 2/4, với tỷ lệ thương tật 61%).


Tôi xin Hội đồng xếp cho tôi hạng 4 và lúc này tôi mới 24 tuổi, còn trẻ, muốn tiếp tục học tập, làm việc. Nếu tôi nhận xếp thương tật hạng 5/8, sẽ không có cơ quan nào nhận vào công tác. Tôi bị cụt tay trái không thể quay về trường Hóa chất để tiếp tục học tập được nữa. Tôi buồn lắm! Bao hoài bão ước mơ của tuổi trẻ trước đây, bây giờ nó trở nên xa vời, mất định hướng.


Gần 2 năm ở đoàn an dưỡng chơi dài, nhu cầu được làm việc hối thúc trong tôi. Tôi nghĩ, cần tìm một công việc để làm trước mắt, phù hợp với khả năng lao động của mình trong điều kiện cơ thể không còn nguyên vẹn.

Hiểu được nguyện vọng của tôi muốn được tiếp tục làm việc, không ỷ lại vào chính sách đãi ngộ của Nhà nước, anh Chu Ngọc Thịnh (anh rể tôi), liên hệ với Trường sư phạm 10+3 ở Cầu Giấy xin cho tôi vào làm bảo vệ nhà trường.

Hôm tôi đến trình diện, khi nhìn thân hình ốm yếu, cụt một tay, họ lắc đầu từ chối không nhận. Lý do tôi được biết về sau này qua anh Thịnh nói lại, là bà hiệu trưởng muốn bố trí tôi làm Trưởng ban Bảo vệ của trường, nhưng nhìn thấy tôi cụt một tay, người sạm đen, nhỏ thó... sợ tôi không đảm đương được công việc nên từ chối.


Tôi phải cám ơn họ. Vì họ không nhận tôi làm bảo vệ mà cuộc đời tôi đã chuyển hướng sang một công việc khác.

Sau này, khi tôi làm Chủ tịch UBND huyện Từ Liêm, nhắc lại chuyện này, ai cũng cười! Người ta thường nói trong cái rủi có cái may.

Trước đó, tôi rất buồn vì lần đi xin việc bất thành này. Tôi lại trở về với Đoàn an dưỡng 253, để ngày ngày chơi bời và chờ ba bữa cơm! Thú thực, tôi có cảm giác bi quan về thân phận của mình.

Một hôm, anh Chu Ngọc Thịnh lại xuống đơn vị an dưỡng thăm và nói đã đặt vấn đề với Phòng Tổ chức huyện Từ Liêm để xin việc. Tôi mừng quá vội trở về ngay.

Trưởng phòng Tổ chức huyện (sau này tôi được biết, tên ông là Vinh), nhìn tôi một lát, rồi nhất trí nhận tôi về làm cán bộ của huyện. Ông nói sẽ đề nghị lãnh đạo huyện bố trí việc làm cho tôi tại Phòng Tài chính của huyện. Tôi mừng rơi nước mắt!

Ra về, thấy lòng nhẹ nhõm, tôi sung sướng với ý nghĩ thế là lại được đi làm, không phải đếm thời gian trôi trong đoàn an dưỡng nữa!

Mấy ngày sau, tôi hoàn tất hồ sơ chuyển ngành, rời quân ngũ. Thật khó tả cảm giác lúc đó trong tôi. Sáu năm trong quân đội đầy thử thách bi hùng, trải qua những trận chiến đấu cam go cùng đồng đội chống lại lính Nam Triều Tiên nổi tiếng tàn ác trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam, để lại một phàn cơ thể nơi chiến trường, rời cuộc chiến chưa kết thúc... những tình cảm vui buồn cứ chộn rộn trong tôi!


Hôm tôi đến nhận công tác tại Phòng Tài chính huyện, ông Trưởng phòng biên chế tôi vào Đội quản lý thu thuế kinh tế tập thể (các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu khu công nghiệp, hợp tác xã mua bán).

Tuy không có nghiệp vụ trong lĩnh vực này, nhưng tôi chịu khó học hỏi nên tiếp thu rất nhanh. Trong phòng cũng có nhiều anh em bộ đội chuyển ngành như tôi.

Cán bộ, nhân viên của phòng, nhiều người có bằng trung cấp, đại học trong khi cánh bộ đội chuyển ngành như tôi lại chưa có chứng chỉ đào tạo nào của ngành, nên xảy ra so sánh. Họ cho rằng, chúng tôi không có nghiệp vụ mới về mà lương lại cao hơn họ, vì chúng tôi đều hưởng lương chuẩn úy, thiếu úy, trung úy. Biết được sự so đo đó, tôi rất tự ái, so sánh với những người đã từng vào sinh ra từ trong chiến đấu là một điều khập khễnh và không nên. Cũng nhờ tự ái mà từ đây tôi xác định quyết tâm học tập nghiệp vụ để xóa đi cái mặc cảm của sự thiếu hụt về nghiệp vụ đó và cũng để phấn đấu "bằng chị bằng em!".


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 20 Tháng Hai, 2026, 02:50:20 pm
Tôi xin đi học trung cấp kế toán rồi đại học, cuối cùng tôi cũng phấn đấu để có tấm bằng thạc sĩ kinh tế.

Vừa học tập, vừa công tác, được sự giúp đỡ của anh chị em trong cơ quan, sự quan tâm của cấp trên, sự nỗ lực khắc phục mọi khó khăn trong công tác và cuộc sống, tôi được đề bạt làm Phó ban Tài chính giá cả. Năm 1990, tôi được đề bạt lên làm Trưởng phòng Tài chính giá cả huyện Từ Liêm. Trên cương vị của mình, tôi đã tích cực tham mưu với ủy ban nhân dân huyện đẩy mạnh công tác tài chính, tăng nguồn thu, tích cực đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội, các công trình điện, đường, trường, trạm. Với những thành tích đạt được, Phòng Tài chính giá cả trong những năm tôi phụ trách, hàng năm đều được Sở Tài chính thành phố Hà Nội khen thưởng và đánh giá là một đơn vị mạnh của ngành.


Năm 1995, thành phố Hà Nội thành lập quận Tây Hồ. Theo đó, 6 xã của huyện Từ Liêm được tách ra để về quận Tây Hồ.

Năm 1997, thành phố Hà Nội lại tách tiếp 7 đơn vị hành chính của huyện Từ Liêm thành lập quận Cầu Giấy.

Huyện Từ Liêm lúc này còn lại 15 xã và 1 thị trấn Cầu Diễn. Khi lấy các xã vào các đơn vị hành chính mới của thành phố, huyện Từ Liêm hầu như chỉ còn lại toàn các xã nông nghiệp, hạ tầng cơ sở thiếu thốn, trụ sở làm việc của ủy ban và các ngành chưa có, phải đi thuê trụ sở của doanh nghiệp.


Năm 1998, tôi được bầu vào chức danh Phó chủ tịch huyện phụ trách kinh tế. Đến lúc này, tôi đã có điều kiện để cùng lãnh đạo huyện Từ Liêm đẩy mạnh công tác đổi mới trên địa bàn. Với nghị lực của người lính đã quen với gian khổ và hy sinh, trưởng thành từ nhân viên đi lên nên tôi am hiểu tình hình mọi mặt của huyện, được lãnh đạo huyện tin tưởng. Tôi cùng tập thể đảng, chính quyền tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bước đầu huyện Từ Liêm đã khởi sắc.


Năm 1999, huyện Từ Liêm được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

Nhiệm kỳ 1999 - 2004, tôi được bầu làm Phó bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Từ Liêm.

Nhận nhiệm vụ người đứng đầu của huyện, tôi nhận thức, điều đầu tiên và quan trọng nhất là phải giải quyết khâu đoàn kết; nói thì dễ, làm được là rất khó. Tôi nhận thức sâu sắc lời Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công". Ở cấp huyện, chúng tôi đó là sự đoàn kết giữa đảng và chính quyền, sự đồng thuận của cán bộ và nhân dân trong huyện.


Hết nhiệm kỳ 1999 - 2004, tôi tái đắc cử Phó bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện nhiệm kỳ 2004 - 2009. Với cương vị người đứng đầu về chính quyền của huyện, được sống và lam việc với 3 đời Bí thư Huyện ủy, có thể nói là sự đoàn kết phối hợp, công tác giữa chúng tôi là rất tốt là tiền đề để huyện Từ Liêm liên tục hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà thành phố giao cho.


Từ một huyện thuần nông, cơ cấu kinh tế "nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, công nghiệp" chuyển dần sang cơ cấu kinh tế của một huyện đô thị hóa có cơ cấu kinh tế "thương mại, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp". Từ Liêm là một huyện đô thị hóa nhanh nhất thành phố. Đặc biệt công tác giải phóng mặt bằng nhanh nhất cả nước, được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Từ Liêm chỉ với thời gian 3 năm đã có một khu công nghiệp vừa và nhỏ, hiệu quả nhất thành phố, góp phần giải quyết công ăn việc làm và đóng góp rất lớn cho ngân sách; chuyển đổi 400 ha từ lúa sang trồng hoa mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho nông dân. Chỉ sáu năm sau tách huyện 1997 - 2003, đã đầu tư xóa xong 100% phòng học cấp 4. Cơ sở hạ tầng, đường giao thông được đầu tư mạnh; nhà trẻ, nhà văn hóa, các chợ, công trình văn hóa phúc lợi được tăng cường, bộ mặt nông thôn được đổi mới nhanh chóng. An ninh chính trị, trật tự xã hội được ổn định, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt.


Mười năm liền trên cương vị Chủ tịch UBND Huyện Từ Liêm, tôi đã cố gắng nỗ lực cùng Đảng bộ và nhân dân huyện Từ Liêm luôn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà thành phố giao cho, kết quả công tác được đánh giá thể hiện ở sự công nhận của trung ương và thành phố qua các hình thức khen thưởng:

- 9 năm liền huyện Từ Liêm nhận cờ thi đua Đơn vị dẫn đầu thành phố.

- 2 Huân chương Lao động hạng Ba

- 1 Huân chương Lao động hạng Nhất

- 1 Huân chương Lao động hạng Nhì

- 1 Huân chương Độc lập hạng Ba.

- Năm 2005, được Chủ tịch nước phong tặng đanh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 20 Tháng Hai, 2026, 02:53:40 pm
THAY CHO LỜI KẾT


Năm 2009, tôi được nghỉ hưu theo chế độ.

Trở về gia đình với đúng nghĩa của nó sau hơn 40 năm chiến đấu và công tác. Giờ đây, nhìn lại cuộc đời mình với bao kỷ niệm vui buồn!

Qua cuốn sách này, tôi không có ý định tổng kết lại cuộc đời của mình, mà chỉ muốn bộc bạch với người thân, đồng chí, đồng đội và bạn bè thân quen, những kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời với những sự kiện mình đã tham gia qua trí nhớ còn ghi lại.

Với tác phong người lính, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, tôi đã vinh dự nhận được những sự ghi nhận và khen tặng của Đảng và Nhà nước, các cấp nơi tôi chiến đấu và công tác:

- Chiến sỹ thi đua tỉnh Phú Yên năm 1970, 1971.

- Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng Ba.

- Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.

- Được công nhận Dũng sỹ các loại, nhiều Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu chống Mỹ.

- Liên tục 9 năm từ 1999 - 2007, đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở.

- Liên tục 3 năm liền được thành phố Hà Nội công nhận là Chiến sỹ thi đua.

- Liên tục 8 năm liền từ 1999 - 2007, được thành phố công nhận danh hiệu Người tốt việc tốt.

- Năm 2001, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen vì đã có thành tích từ 1999 - 2001 góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Năm 2002, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen về công tác giải phóng mặt bằng.

- Năm 2004, được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

- Năm 2005, được Thủ tướng Chính phủ tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn quốc.

- Liên tục 9 năm liền từ 1999 - 2007, được Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội tặng Bằng khen trên nhiều lĩnh vực công tác (có nhiều thành tích hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác, cán bộ quản lý giỏi, danh hiệu 20 năm lao động thủ đô)

- Nhiều Huy chương các loại trên các lĩnh vực công tác.


Được Đảng bộ và nhân dân huyện Từ Liêm ghi nhận là "thương binh tàn nhưng không phế", là lãnh đạo trung kiên của Đảng đã từng lặn lội với phong trào cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trong thời kỳ xây dựng hòa bình. Dù ở đâu, bất kỳ nhiệm vụ nào, dù gian khổ ác liệt đến mấy, luôn tin tưởng vào Đảng, vào tương lai tươi sáng của dân tộc, đem hết sức lực phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân với những thành tựu đặc biệt xuất sắc.


Ngày 19 tháng 6 năm 2008, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định số 783/QĐ-CTN phong danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho cá nhân tôi.

Vinh quang này trước hết xin kính dâng lên anh linh các anh hùng liệt sỹ đã cùng tôi chiến đấu gian khổ, hy sinh anh dũng trên chiến trường miền Nam.

Vinh quang này tôi có được là nhờ vào Đảng bộ và nhân dân huyện Từ Liêm đã cùng tôi không quản ngại khó khăn, gian khổ, nỗ lực, vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, đưa huyện Từ Liêm ngày càng văn minh và giàu đẹp góp phần vào thắng lợi của công cuộc đổi mới thành phố và đất nước ta.


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, tỉnh Phú Yên được giải phóng vào ngày 1 tháng 4. Hàng năm, cùng với cả nước, tỉnh tổ chức mít tinh kỷ niệm ngày Phú Yên giải phóng, tuyên truyền trong nhân dân truyền thống đánh giặc; tổ chức đi viếng nghĩa trang Đông Tác để tri ân các anh hùng liệt sỹ đã anh dũng hy sinh trong sự nghiệp giải phóng tỉnh.


Cùng với anh em cựu chiến binh chiến đấu ở chiến trường Phú Yên, cứ năm năm, tỉnh lại mời chúng tôi về dự lễ kỷ niệm.

Trên đỉnh núi Nhạn Tháp, bên dòng sông Ba, tỉnh xây dựng đài tưởng niệm, trên các tấm bia đá khắc tên các liệt sỹ hai miền Nam Bắc (trong đó có tâm bia ghi tên các liệt sỹ Hà Nội, ghi tên các đồng đội của tôi ở Đại đội đặc công 202).

Chúng tôi tổ chức đi thăm lại chiến trường xưa, chụp ảnh lưu niệm các cứ điểm chúng tôi đã đánh, như: Núi Thơm, Núi Sầm, Trung tâm huấn luyện biệt kích Xuân Phước, Hòn Ngang, Củng Sơn, Chi khu Phú Tân, Nhạn Tháp...

Tôi gặp lại Y Nghệ, người dẫn đường chúng tôi đi trinh sát cư điểm Hòn Ngang, Củng Sơn. Anh đang là Trưởng bản Trại Cau. Thăm lại căn cứ Hòn Đác, nơi đóng quân năm xưa, gặp lại ông Kim, ông Thọ và bà con sống trong vùng giải phóng sát nơi ở của đơn vị. Thăm lại thành phố Tuy Hòa, thành phố đã hồi sinh sau chiến tranh. Hai liệt sĩ, hai anh hùng, hai đại đội trưởng Đại đội đặc công 202 đã được đặt tên một cho nhà văn hóa của tỉnh "Nhà văn hóa Lê Trung Kiên" và một đường phố mang tên "Đường Lương Tấn Thịnh".


Thăm ông Bưu, Tỉnh đội trưởng, ông Nguyễn Duy Luân, Chính trị viên Tỉnh đội, sau là Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên suốt 20 năm liền. Mỗi lần vào thăm lại chiến trường xưa, gặp lại những đồng đội còn sống, ôn lại những kỷ niệm trong cuộc sống, chiến đấu đầy gian khổ ác liệt, hy sinh. Chúng tôi là những người may mắn còn sống sót trở về. Riêng tôi, có cả một gia đình hạnh phúc, các cháu đều ngoan, học giỏi, theo gương của bố, tự rèn luyện và trưởng thành. Cả ba cháu đều là cán bộ, viên chức nhà nước, đều có bằng thạc sĩ, tiến sĩ, sinh ra được 6 cháu nội, ngoại. Mẹ tôi đã thọ 96 tuổi. Bà mất ngày 10 tháng 11 năm 2010. Bố tôi mất năm bà mới 30 tuổi. Bà đã ở vậy thờ chồng nuôi 3 chị em chúng tôi khôn lớn, trưởng thành. Mẹ là tấm gương sáng của người phụ nữ Việt Nam. Khi hồi tưởng những ngày đã qua của đời mình thì tôi đã nghỉ hưu được tám năm rồi.


Thật xúc động đang sống trong hòa bình hôm nay, đất nước đã sạch bóng quân thù, luôn nhớ đến những đồng đội đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, công lao của các anh đã được ghi nhận. Trong diễn văn kỷ niệm 30 năm giải phóng Phú Yên (2005) do, đồng chí Nguyễn Thành Quang - Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên - đọc tại buổi lễ: "Với tất cả tấm lòng quý mến và trân trọng, dù các anh ở nơi đâu thì Phú Yên mãi mãi là quê hương các anh, mồ hôi và xương máu của các anh đã thấm vào lòng đất mẹ tô thắm cho màu xanh và truyền thống vẻ vang của quê hương Phú Yên...".


Tiêu đề: Ký ức người lính đặc công
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 20 Tháng Hai, 2026, 02:54:22 pm
Tháng 4 năm 2015, kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng tỉnh Phú Yên. Tôi về xã Xuân Phước thăm Trung tâm huấn luyện biệt kích Đồng Tre cũ, nơi tôi đã để lại một cánh tay. Trong cuộc gặp mặt với cán bộ và nhân dân xã, tôi xúc động đọc bài thơ do mình sáng tác:

   Đồng đội ơi, hãy về đây gặp mặt
   Đồng đội ơi hãy về đây gặp mặt
   Bốn mươi năm giải phóng Phú Yên
   Vẫn như thủa đôi mươi mười tám
   Cùng hát bài Giải phóng miền Nam
   Kỷ niệm không quên một thời chiến đấu
   Đợi mãi các anh sao vẫn thấy không về
   Ừ! Xin lỗi mình không nhìn thấy
   Các anh đã về sao lại bảo là không.
   Từ núi Thơm, Hòn Một, Phú Tân
   Từ Hòn Ngang, núi Sầm, Xuân Phước
   Chậm nhất Mỏ O, Bà Đạo cũng đã về
   Nào tất cả đứng lên! Cùng hát quốc ca
   Mừng Phú Yên quê mình giải phóng
   Mùng Một tháng Tư trời đẹp lắm
   Âm, dương cách biệt thảy đều vui
   Nước mắt biệt ly mừng ngày gặp mặt
   Đồng đội ơi, xin nhớ mãi đừng quên
   Sống chết bên nhau một thời đánh Mỹ
   Nhớ Phú Yên, đồng đội tôi yên nghỉ
   Nhớ đỉnh Chóp Chài mây trắng phủ quanh
   Sông Đà Rằng in núi Nhạn lung linh
   Viết tên các anh thành tên đất nước
   Phú Yên - Việt Nam
   Sáng đẹp mãi Mùa Xuân.



Chúng tôi tổ chức đám cưới đúng ngày 01 tháng 5 năm 1975, trong không khí hân hoan của cả nước mừng ngày miền Nam giải phóng, thống nhất nước nhà.
   Trong suốt hành trình công tác của tôi, vợ tôi đã đồng cam cộng khổ cùng tôi vượt qua khó khăn của thời bao cấp, động viên tôi học tập công tác. Mọi thành công của tôi đều có dấu ấn sâu đậm của người vợ thân yêu.
   Một tổ ấm gia đình với 5 thành viên, "có nếp có tẻ" là hậu phương vững chắc, nơi tôi chia sẻ những vui buồn, thất bại và thành công trong suốt những năm công tác.
   Thật thiếu sót, nếu trong cuốn sách nhỏ này, không nhắc đến tên người bạn đời chung thủy của tôi Lê Thị Quý. Cô ấy là em một người bạn đã cùng học với tôi thuở cấp II. Và không tính toán so đo khi nhận lời yêu thương tôi, một thương binh mất đi một cánh tay, khi ấy chỉ là một nhân viên bình thường.