Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười, 2025, 09:13:05 am



Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười, 2025, 09:13:05 am
- Tên sách: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2010
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


* Tổ chức bản thảo
   CAO ĐẮC TRUNG
   NGUYỄN CÔNG HẢI


LỜI GIỚI THIỆU


Tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đứng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong cả nước. Đó là điều kiện thuận lợi, căn bản nhất để bảo Vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới.

Vừa ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phải đứng trước những khó khăn chồng chất, những thử thách nghiêm trọng, tình thế cách mạng đặt chính quyền non trẻ như "Ngàn cân treo sợi tóc". Cùng lúc, dưới danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân Nhật, mấy chục vạn quân Tưởng Giới Thạch và quân Anh rải ra đóng ở hầu khắp các vị trí chiến lược quan trọng trên đất nước ta. Ở Nam Bộ, thực dân Pháp núp bóng quân Anh tiến hành xâm lược nước ta lần thứ hai. Đồng thời, các tổ chức phản động, tay sai nhân cơ hội ấy, ra sức hoạt động chống phá cách mạng hòng lật đổ chính quyền của ta.


Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt đánh giá tình hình, xác định mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, tìm ra đối sách đúng đắn, kịp thời với từng kẻ thù, vượt qua khó khăn, thử thách, đưa cách mạng vững bước đi lên.


Để giúp bạn đọc tìm hiểu sâu sắc hơn về lịch sử vẻ vang của quân và dân ta trong đấu tranh bảo vệ chính quyền khi mới thành lập, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản cuốn sách "Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập". Nội dung cuốn sách gồm 2 phần:

Phần thứ nhất: Đường lối sách lược đấu tranh của Đảng ta để bảo vệ chính quyền cách mạng ngày đầu thành lập.

Phần thứ hai: Những trận đánh bảo vệ chính quyền cách mạng ngày đầu thành lập.

Trong quá trình tổ chức bản thảo, chúng tôi có sử dụng nhiều tư liệu, các công trình nghiên cứu của cá nhân và tập thể. Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các tác giả và ý kiến đóng góp của bạn đọc.

Xin trân trọng giới thiệu cùng các đồng chí và các bạn.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:32:31 pm
Phần thứ nhất
ĐƯỜNG LỐI SÁCH LƯỢC ĐẤU TRANH CỦA ĐẢNG TA ĐỂ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU KHI GIÀNH ĐƯỢC CHÍNH QUYỀN (2-9-1945)

1. Tình hình thế giới

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời trong bối cảnh tình hình thế giới có những thay đổi lớn lao mà sự kiện lịch sử nổi bật nhất, có ý nghĩa quyết định xu hướng phát triển tất yếu của toàn nhân loại và cách mạng Việt Nam là thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (7 tháng 11 năm 1917), với chiến công vĩ đại đã góp phần cứu loài người khỏi thảm họa phát xít; thiết lập được Nhà nước Xô Viết đầu tiên trên thế giới với chế độ kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa do nhân dân lao động làm chủ, không có áp bức bóc lột, Liên Xô có uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trên vũ đài chính trị quốc tế. Hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu trở thành trụ cột cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và bảo vệ hoà bình thế giới. Thành công của cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự ra đời Nhà nước Xô Viết thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ở nước Nga đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.


Phong trào giải phóng dân tộc phát triển với quy mô rộng lớn và khí thế ngày càng mạnh mẽ, làm lung lay hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc: Cùng với chiến thắng của các lực lượng đồng minh dân chủ, đứng đầu là Liên Xô, đối với chủ nghĩa phát xít thế giới và trong những điều kiện lịch sử cụ thể ở mỗi nước, nhân dân các dân tộc thuộc địa, đặc biệt là ở châu Á, sau những năm tháng đấu tranh gian khổ, đã giành được độc lập ở những mức độ khác nhau.


Ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhân dân làm chủ phần lớn nông thôn vùng Đông Bắc, Hoa Bắc, Hoa Đông. Còn Hoa Nam, sát với nước ta, vẫn do Tưởng kiểm soát.

Trên bán đảo Triều Tiên, cuộc kháng chiến chống phát xít Nhật của các lực lượng yêu nước đã làm suy yếu lực lượng phát xít Nhật chiếm đóng, góp phần dẫn tới thất bại của phát xít Nhật trên bán đảo Triều Tiên. Quân du kích Triều Tiên, dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành, đã hoạt động mạnh mẽ ở nhiều vùng trong nước, sát cánh với Quân giải phóng Trung Quốc.


Ở các nước Đông Nam Á, đã diễn ra cuộc đấu tranh mạnh mẽ chống lại sự xâm lược và âm mưu thiết lập "trật tự mới" của phát xít Nhật (thiết lập từ năm 1940) nhằm thủ tiêu hoàn toàn nền độc lập của các dân tộc. Trong cuộc đấu tranh này, các lực lượng yêu nước chống phát xít đã tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất để hòa nhập vào phong trào dần chủ chống phát xít trên thế giới. Đồng thời, các lực lượng vũ trang cũng được thành lập ở những thời điểm khác nhau và góp phần vào việc giải phóng đất nước, tiêu diệt phát xít Nhật.


Sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, thời điểm phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh là thời cơ "có một không hai", tạo ra tình thế hết sức thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á. Chớp lấy thời cơ đó, các dân tộc ở Đông Nam Á đã vùng dậy tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước. Tháng 8 năm 1945, cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi. Ở Lào, ngày 23 tháng 8, nhân dân Lào nổi dậy thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi. Ngày 12 tháng 10 năm 1945, ở Lào, nhân dân Thủ đô Viêng Chăn khởi nghĩa giành chính quyền. Ở Inđônêxia, ngay sau khi Nhật đầu hàng, ngày 17 tháng 8 năm 1945, Tuyên ngôn độc lập được công bố, nước Cộng hòa Inđônêxia được thành lập.


Những chuyển biến cách mạng dồn dập trên thế giới sau đại chiến thế giới lần thứ hai, đặc biệt là sự hùng mạnh của Liên Xô và sự ra đời của nhiều nước dân chủ nhân dân, đã thúc đẩy công nhân và quần chúng lao động trong các nước tư bản tăng cường đấu tranh với giới chủ và chính quyền tư sản đòi thực hiện dân chủ, cải thiện dân sinh, tăng lương, giảm giờ làm, chấm dứt sa thải công nhân và tệ phân biệt chủng tộc, ngăn chặn chạy đua vũ trang và gây chiến tranh xâm lược. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và quần chúng lao động ở các nước tư bản đã trực tiếp làm cho nhiều nước Tây Âu thêm khó khăn về phục hồi kinh tế sau chiến tranh và kìm hãm tốc độ phát triển của chủ nghĩa tư bản nói chung, gây mất ổn định ở ngay dinh lũy của chủ nghĩa đế quốc, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc. Tại một số nước đế quốc như Pháp và Ý, Đảng Cộng sản có uy tín lớn, có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước. Các nước phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, các đại diện cho chủ nghĩa thực dân kiểu cũ như Anh, Pháp suy yếu. Riêng Mỹ lợi dụng chiến tranh đã trở thành đế quốc lớn nhất, chi phối hệ thống đế quốc và đang trở thành sen đầm quốc tế. Trước tình hình đó, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ phải tìm cách dàn xếp, hòa hoãn với nhau, tập hợp lực lượng, ngăn chặn phong trào cách mạng trên thế giới. Chúng vừa có sự phối hợp hành động chung, vừa có sự phân chia quyền lợi và chia sẻ "trách nhiệm" trên từng khu vực.


Đặc điểm nổi bật của tình hình quốc tế giai đoạn này là ba trào lưu cách mạng thế giới: chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân ở các nước tư bản ngày càng phát triển thế tiến công chiến lược toàn diện vào chủ nghĩa đế quốc, thực dân.


Sau chiến tranh thế giới thứ hai, bốn mâu thuẫn cơ bản1 (Bốn mâu thuẫn cơ bản của thế giới: mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước đế quốc; mâu thuẫn giữa vô sản và tư bản; mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức và chủ nghĩa thực dân; mâu thuẫn giữa các đế quốc với nhau) của thế giới vẫn tồn tại. Trong đó mâu thuẫn chủ yếu diễn ra giữa một bên là các lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, các lực lượng đấu tranh vì dân chủ, hoà bình với một bên là phe đế quốc và lực lượng phản cách mạng.


Cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng, giữa phong trào giải phóng dân tộc chống ách thực dân, là nội dung chính của tiến trình lịch sử thế giới kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Tình hình đó tác động sâu sắc đến Nhà nước Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám.


Về mặt quốc tế, cách mạng Việt Nam lúc đó ở vào một tình thế vừa có thuận lợi vừa có khó khăn. Thuận lợi cơ bản về sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng toàn thế giới đã đặt nước ta không bị cô lập mà giành được sự đồng tình ủng hộ. Khó khăn lớn nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực đế quốc, phản động do Mỹ đứng đầu. Việt Nam nằm trong phạm vi tiếp quản của các nước đế quốc mang danh nghĩa Đồng minh. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa mới hình thành và ở xa. Cách mạng Trung Quốc chưa giành được thắng lợi hoàn toàn. Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa khác xung quanh Việt Nam chưa phát triển mạnh. Đông Dương trở thành nơi tranh chấp của bọn đế quốc và các thế lực phản động.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:34:03 pm
2. Âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động

Tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản "Tuyên ngôn Độc lập", khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, từ đây nhân dân ta đã giành được quyền làm chủ vận mệnh của mình và đó cũng là điều kiện thuận lợi căn bản nhất để bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới. Tuy nhiên vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phải đứng trước những khó khăn chồng chất, những thử thách cực kỳ nghiêm trọng. Nghiêm trọng nhất là trên đất nước ta, cùng lúc có gần 30 vạn quân của nhiều nước đế quốc rải ra đóng quân ở hầu khắp các vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội, các thành phố, thị xã và các tuyến giao thông huyết mạch. Chúng lại có danh nghĩa Đồng minh vào nước ta một cách hợp pháp. Chưa bao giờ trên đất nước ta cùng lúc lại có nhiều kẻ thù ngoại xâm đến như vậy. Cùng với bọn đế quốc, các tổ chức phản động tay sai nhân cơ hội ấy, cũng ra sức hoạt động chống phá cách mạng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một nhân chứng lịch sử lúc đó đã viết:


"Khó khăn lớn nhất lúc này là các quân đội nước ngoài từ bốn phương cùng dồn dập kéo tới. Bọn ở gần, bọn ở xa, chúng khác nhau về màu da, về tiếng nói, nhưng rất giống nhau ở một dã tâm, muốn thôn tính đất nước chúng ta, muốn đẩy chúng ta trở về với cuộc sống nô lệ" .


Việt Nam là một nước nằm ở địa bàn quan trọng bậc nhất Đông Nam Á, đã từng là "đoá hoa đẹp nhất" trong vườn hoa thuộc địa của đế quốc Pháp; là địa bàn chiếm đóng của phát xít Nhật và là đối tượng nhòm ngó của nhiều đế quốc khác. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Với tính chất triệt để chống đế quốc và tay sai, với vị trí đi đầu trong phong trào chống chủ nghĩa thực dân tại khu vực, lúc đó, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, bằng sức mạnh của chính mình, vừa tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thành công, đã giành được chính quyền, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên trong khu vực, nêu cao tấm gương cho các dần tộc thuộc địa noi theo. Vì thế nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trở thành đối tượng chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc.


Đối với nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, các nước đế quốc lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Trung Hoa dân quốc hoặc đưa quân vào xâm lược, can thiệp, hoặc đứng ngoài gây sức ép, đều có mục tiêu chung là tiêu diệt chính quyền non trẻ của ta. Tuy nhiên, với từng tên đế quốc lại có ý đồ, mục tiêu khác nhau. Chúng mặc cả tranh giành quyền lợi, chà đạp lên quyền độc lập thống nhất của dân tộc ta. Đế quốc Mỹ để cho Pháp trở lại chiếm Đông Dương nhằm để Pháp nhường cho quyền lợi ở nơi khác; kéo Pháp, Anh cùng chống Liên Xô đồng thời cài thế hất cẳng Pháp và Anh ở Đông Dương và Đông Nam Á sau này. Đế quốc Anh tiếp tay cho Pháp chiếm lại Đông Dương để Pháp nhường cho những quyền lợi ở Trung Cận Đông và châu Phi, đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực đang có nhiều thuộc địa của Anh. Chính phủ Trung Hoa dân quốc do Tưởng Giới Thạch cầm đầu là tay sai của Mỹ, khả năng có hạn lại đang bị áp lực của cách mạng trong nước, nên cố vớt vát một số quyền lợi rồi trước sau cũng phải theo lệnh Mỹ để Pháp trở lại chiếm Đông Dương. Trong số quân đội đế quốc tràn vào nước ta thì đông nhất và gây cho ta những khó khăn nghiêm trọng là quân Tàu Tưởng. Năm 1943, tại Cairô (Ai Cập - 1943), Tổng thống Mỹ - Rudơven, Thủ tướng Anh - Sớcsin, Chủ tịch Trung Hoa dân quốc Tưởng Giới Thạch đã ký hiệp định quy định về việc quân Anh sẽ thay thế quân Nhật ở Nam Đông Dương. Quân Trung Hoa sẽ thay quân Nhật ở Bắc Đông Dương. Từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945, tại Pốtxđam (Đức) diễn ra Hội nghị các vị đứng đầu ba nước Mỹ, Liên Xô, Anh: Tơruman, Xtalin Sớcsin (Atli thay Sớcsin sau ngày 28 tháng 7). Hội nghị thông qua các nghị quyết nhằm giải quyết các vấn đề kết thúc chiến tranh. Tại hội nghị, Mỹ, Anh bàn riêng với nhau về vấn đề Viễn Đông rồi ra tuyên bố, trong đó xác nhận điều khoản Hiệp định Cairô: quân Anh sẽ giải giáp quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam Đông Dương. Như vậy, trước sau các thế lực, các nước đế quốc dù có tranh giành, khống chế nhau, nhưng chúng đều đặt Việt Nam, Đông Dương dưới sự khống chế trực tiếp của chúng để ngăn chặn phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Đông Dương.


Ngày 9 tháng 8 năm 1945, Chính phủ Tưởng Giới Thạch ra tuyên bố rằng quân đội Trung Hoa chịu trách nhiệm về sự đầu hàng của Nhật Bản tại Bắc Đông Dương. Nhà cầm quyền Trung Quốc ở Trùng Khánh tuy mang nặng đầu óc bành trướng, nhưng do tình hình trong nước khó khăn và phải thực hiện chiến lược chung của chủ nghĩa đế quốc, trực tiếp theo sự điều khiển của Mỹ, nên vừa muốn can thiệp vào Đông Dương vừa muốn mặc cả với Pháp, đòi Pháp một số quyền lợi để cho Pháp chiếm lại Đông Dương. Ngày 10 tháng 10 năm 1944, tại Trùng Khánh, Tưởng Giới Thạch đã bí mật tiếp kiến Đại sứ Pếchcôp, đại diện Chính phủ Đờ Gôn và khẳng định: "Tôi xin khẳng định lại một lần nữa với ngài rằng, đối với Đông Dương hay lãnh thổ của Đông Dương, chúng tôi đều không có bất cứ ý đồ gì. Về vấn đề này, chủ trương của tôi là không thay đổi". Nhưng đó chỉ là sự hứa hẹn, là điều kiện để Tưởng đòi Pháp nhiều quyền lợi khác. Thực tế, Chính phủ Tưởng Giới Thạch đưa quân vào Việt Nam và Lào là muốn can thiệp vào tình hình chính trị các nước và còn muốn nhân dịp này để thanh toán những tên quân phiệt cứng đầu có xu hướng cát cứ ở Hoa Nam. Tại Hội nghị quân sự toàn quốc do Tưởng Giới Thạch triệu tập và Tổng tư lệnh lục quân Hà Ứng Khâm chủ trì ngày 20 tháng 8 năm 1945, Đại tướng Lư Hán được đề bạt làm Tư lệnh Đệ nhất phương diện quân có nhiệm vụ đưa quân đi tiếp nhận sự đầu hàng và giải giáp quân đội Nhật ở Bắc Đông Dương. Trung tướng Tiêu Văn - Chủ nhiệm chính trị Đệ tứ chiến khu, người đã theo dõi tình hình Việt Nam từ lâu, lại giữ vai trò chủ chốt trong cái gọi là "Việt Nam cách mạng chỉ đạo nhất" do Trương Phát Khuê lập ra, được cử sang Việt Nam làm Trưởng ban chính trị của quân đội Tưởng. Giới quân phiệt Lưỡng Quảng và Vân Nam luôn có xu hướng cát cứ, muốn phát triển thế lực ở phía nam, nhân dịp này càng muốn kéo dài thời hạn đóng quân ở Việt Nam, can thiệp sâu vào tình hình Việt Nam, tạo ra chỗ dựa chính trị và vơ vét của cải làm giàu.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:35:42 pm
Dù là ý đồ của Chính phủ Tưởng và bọn tướng lĩnh chỉ huy quân Tưởng vào Việt Nam có điểm khác nhau, nhưng mục tiêu chung của chúng vẫn là tiêu diệt cách mạng Việt Nam, tránh được mối lo nằm trong gọng kìm của hai lực lượng cộng sản phía bắc và phía nam, đồng thời gây ảnh hưởng của Trung Hoa dân quốc ở Đông Dương, tạo ra tình thế có lợi để mặc cả đòi Pháp nhường cho một số quyền lợi.


Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, Hà Ứng Khâm đã thúc Lư Hán đưa quân vào Việt Nam thật nhanh. Kế hoạch "Hoa quân nhập Việt" đã chuẩn bị từ lâu, giờ được thực hiện. Đầu tháng 9 năm 1945, Đại tá Sùng Kỳ dẫn đầu đoàn tiền trạm gồm 13 sĩ quan đáp máy bay đến Hà Nội. Trong vòng tháng 9 năm 1945, khoảng 20 vạn quân Tưởng do tướng Lư Hán làm tổng chỉ huy đã kéo vào nước ta, chúng đóng ở hầu khắp các vị trí xung yếu từ biên giới Việt - Trung đến Bắc vĩ tuyến 16. Ngày 28 tháng 9 năm 1945, Lư Hán tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản ở Bắc Đông Dương. Trước đó, ngày 24 tháng 8 năm 1945, Tưởng Giói Thạch tuyên bố: "Trung Quốc không hề có tham vọng lãnh thổ Việt Nam", "dân tộc Việt Nam sẽ từng bước đi đến hoàn toàn độc lập đúng theo tinh thần của Hiến chương Đại Tây Dương". Nhưng kỳ thực, Tưởng Giới Thạch dùng đạo "Hoa quân nhập Việt" gần 20 vạn tên này thực hiện ba mục tiêu trực tiếp: tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân để lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng. Bây là âm mưu rất thâm độc của Tưởng nhằm tiêu diệt lực lượng lãnh đạo, phá vỡ khối đoàn kết toàn dân, thủ tiêu thành quả quan trọng nhất của cách mạng, công cụ chủ yếu để tổ chức, điều hành công cuộc xây dựng xã hội mới.


Quân Tưởng vào, ban đầu không thừa nhận Chính phủ ta. Tưởng Giới Thạch ra văn bản Mười bốn nguyên tắc chiếm đóng các cơ sở quân sự và hành chính Việt Nam, trong đó, chỉ nói quan hệ với Pháp, tước vũ khí quân Nhật, không đếm xỉa đến chính quyền ta. Chúng ngang nhiên tuyên bố thời gian ở Việt Nam là không hạn định, tự khẳng định quyền giữ trật tự, trị an ở Hà Nội, cấm mọi người dân mang vũ khí, đòi ta báo cáo quân số và tổ chức quân đội. Mặt khác, chúng lại đòi ta phải cung cấp lương thực, thực phẩm, nhà ở, phương tiện vận tải, thông tin... Ngày 3 tháng 10 năm 1945, Hà Ứng Khâm tuyên bố: "Nếu không có đầy đủ những nhu cầu kể trên, quân đội Trung Hoa buộc phải thi hành những phương pháp cần thiết về việc cung cấp đó"1 (Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập III, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1993, tr. 240). Bọn Tưởng còn yêu sách ta mỗi tháng phải đổi cho chúng 2 tỷ đồng Đông Dương. Ta không đáp ứng được, chúng tung tiền "Quan kim", "Quốc tệ" mất giá ra, tự định giá cả để vơ vét tiền, hàng hoá, gây rối loạn thị trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, tài chính, tiền tệ của nước ta. 20 vạn quân Tưởng vào chiếm đóng là một gánh nặng đối với nền kinh tế nghèo nàn của nước ta sau Cách mạng Tháng Tám.


Về chính trị, quân sự, quân Tưởng còn gây ra những khó khăn, nguy hiểm hơn nhiều, ở những nơi đóng quân, chúng thường xuyên gây sức ép để đẩy chính quyền ta ra xa, hoặc vô hiệu hoá hoạt động của chính quyền. Chúng gây ra những vụ khiêu khích, đòi triệt thoái lực lượng vũ trang ta ra khỏi các thị xã, thị trấn và dọc đường giao thông. Binh lính Tưởng thường đi cướp phá các vùng xung quanh. Nhân dân và lực lượng vũ trang ta ngăn chặn xảy ra những vụ xung đột rắc rối, thì bọn tướng lĩnh lấy cớ sinh sự, yêu sách Chính phủ ta nhiều điều ngang ngược như đòi đưa ra xét xử cán bộ, chiến sĩ ta có liên quan, đòi nắm quyền giữ gìn trật tự trị an, đòi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chức...


Quân Tưởng thường phối hợp lực lượng hoặc đứng sau hỗ trợ, giật dây bọn tay sai chống phá ta quyết liệt. Vào Việt Nam, quân Tưởng mang theo hai tổ chức phản động do chúng lập ra và nuôi dưỡng là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (Việt Cách), trong đó phần đông là bọn phản động người Việt sống lưu vong ở Trung Quốc. Trên đường tiến quân vào nước ta, quân Tưởng đã giúp cho bọn Việt Quốc chiếm Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Việt Trì, Bạch Hạc, Phúc Yên, Vĩnh Yên...; giúp bọn Việt Cách chiếm Móng Cái, Tiên Yên, Đầm Hà, Đình Lập, Quảng Yên, Hồng Gai...


Ở những nơi Việt Quốc, Việt Cách chiếm đóng, chúng dựa vào lực lượng quân Tưởng chống phá ta quyết liệt. Đặc biệt ở Thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị, quân sự của cả nước, nơi có Trung ương Đảng, Chính phủ, lãnh tụ Hồ Chí Minh, cũng là nơi đặt trụ sở Trung ương Việt Quốc, Việt Cách, quân Tưởng và bọn tay sai chống phá quyết liệt nhất, gây cho ta những khó khăn nghiêm trọng.


Bọn Việt Quốc, Việt Cách về bắt tay cùng bọn phản động trong nước như bọn Đại Việt thân Nhật thất thế, bọn tay sai cũ của Pháp... tập hợp trong cái gọi là: "Mặt trận quốc gia chống Pháp", dựa vào quân Tưởng, cùng nhau ra sức chống lại nhân dân, chống lại cách mạng.


Việt Cách lập trụ sở ở số 80 đường Quán Thánh, Việt Quốc lập trụ sở ở phố Đỗ Hữu Vị (nay là Cửa Bắc)... Ngoài ra, các tổ chức phản động trên còn có sào huyệt ngầm ở phố Đuyvinhô (nay là Bùi Thị Xuân), phố Ôn Như Hầu (nay là Nguyễn Gia Thiều), phố Lò Đúc, Hàng Đẫy, Chợ Đuổi... ở những trụ sở đó, chúng treo cờ, xuất bản báo chí như tờ Việt Nam, Đồng minh, Chính nghĩa, Liên hiệp, Thiết thực..., dùng loa phóng thanh công kích Chính phủ. Chúng tổ chức in truyền đơn, bạc giả, tổ chức mít tinh, biểu tình chống Chính phủ, kích động bãi công, bãi thị, bãi khoá, lôi kéo Tổng hội sinh viên ra khỏi Mặt trận Việt Minh. Chúng lập ra các lực lượng khủng bố "Thiết huyết đoàn", "Thần lôi đoàn", "Bàn tay máu", "Đội hùm xám"... để tống tiền những nhà giàu có, bắt cóc, ám sát nhân viên chính phủ và nhiều người yêu nước tiến bộ. Liều lĩnh hơn, ngày 10 tháng 11 năm 1945, bọn phản cách mạng giả danh quân Tưởng đột nhập sở Liêm phóng Bắc Bộ giải thoát cho Nguyễn Thế Nghiệp, một trong những tên phản động đầu sỏ của Việt Quốc đang bị giam giữ. Thậm chí bọn phản động còn đòi giải tán Mặt trận Việt Minh, đòi định lại Quốc kỳ, phản đối Tổng tuyển cử, đòi Chính phủ Hồ Chí Minh từ chức để Vĩnh Thụy lập chính phủ mới. Bọn Việt Quốc còn tổ chức bảy chiến khu tính từ Phú Yên trở ra, âm mưu dùng lực lượng quân sự chống phá ta lâu dài. Ngay ở giữa Hà Nội, chúng khống chế vùng Ngũ Xã, lập thành "Khu tự trị" chống lại chính quyền.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:37:26 pm
Trước sức mạnh của cách mạng, trước uy tín của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, uy tín của lãnh tụ Hồ Chí Minh và cuộc đấu tranh vừa kiên quyết, vừa kiên trì mềm dẻo của ta, quân Tưởng tự thấy không thể dùng vũ lực lật đổ chính quyền cách mạng. Chúng buộc phải chấp nhận hoà hoãn với ta. Mục đích không thay đổi nhưng chúng định dùng biện pháp khác là bằng thủ đoạn chính trị, ngoại giao làm suy yếu chính quyền ta, phát triển thế lực bọn Việt Quốc, Việt Cách, tiến tới lật đổ chính quyền cách mạng, dựng lên chính quyền phản động tay sai cho Tưởng. Từ chỗ phản đối Tổng tuyển cử, chống Chính phủ ta, đến chỗ chấp nhận Tổng tuyển cử, nhưng đòi nhường cho chúng 70 ghế trong Quốc hội không thông qua bầu cử và đòi chia ghế trong Chính phủ liên hiệp. Âm mưu và hành động phá hoại của quân Tưởng cùng bọn tay sai ở miền Bắc Việt Nam đặt trong bối cảnh chung cả nước vào cuối năm 1945, đầu năm 1946 trước những nguy cơ nghiêm trọng. Quân Tưởng và bọn tay sai đã gây cho cách mạng nước ta, nhân dân ta những khó khăn phức tạp về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, những tổn thất về người, về của và những hậu quả lâu dài.


Ở miền Nam, quân đội Anh gồm hơn một vạn quân của Sư đoàn 20 Hoàng gia Anh đa số là người Ấn Độ vào giải giáp quân Nhật. Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Phái bộ Anh đến Sài Gòn. Ngày 6 tháng 9, 2.500 quân của Lữ đoàn Gơớckha, đơn vị đầu tiên của quân Anh đến Sài Gòn. Tướng Graxây - Tư lệnh Sư đoàn 20 Hoàng gia Anh, Trưởng Phái bộ Anh, tuyên bố công khai rằng:


"Những đạo binh của quân đội Anh chỉ có mục đích duy nhất là kiểm soát các lực lượng quân đội Nhật Bản ở đây, trông nom việc quân đội Nhật Bản phải yên ổn và tuân theo lệnh tước khí giới và rút lui, và sau nữa để cho các kiều dân các nước Đồng minh bị giam trong thời kỳ chiến tranh được về xứ sở. Sau đó quân Anh sẽ rời Sài Gòn. Người Anh không có ý định gì về thời cuộc ở Đông Dương hết"1 (Nguyễn Kiên Giang, Nước Việt Nam, năm đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám, Nxb Sự thật, H.1961, tr.96).


Nhưng thâm ý của Anh là muốn giúp Pháp chiếm lại Đông Dương, để ngăn chặn phong trào cách mạng thế giới nói chung và ở khu vực có nhiều thuộc địa của Anh nói riêng, để ngăn chặn âm mưu mở rộng thế lực ở Đông Nam Á của Mỹ, và để Pháp nhường cho những quyền lợi ở Trung Cận Đông và châu Phi. Vả lại, Anh không dám để bị lôi kéo vào những vấn đề quân sự tại Đông Dương, diễn biến ở Ấn Độ thu hút sự chú ý của Anh hơn. Với ý đồ trên, ngày 24 tháng 8 năm 1945, Anh đã ký một thoả hiệp với Pháp về nguyên tắc và cách thức khôi phục lại quyền hành của Pháp tại Đông Dương. Vừa đến Sài Gòn, Graxây đã ra lệnh cho quân Nhật làm nhiệm vụ canh gác trong thành phố và ra thông cáo khẳng định quyền duy trì trật tự của quân đội Anh, đòi giải giáp quân đội Việt Nam, ra lệnh cấm mọi người dân mang vũ khí, chiếm các trại giam thả những tên Pháp bị ta bắt giữ sau ngày khởi nghĩa khi chúng nhảy dù xuống Nam Bộ, thả 1.500 lính Pháp thuộc Binh đoàn bộ binh thuộc địa số 11 (11eRIC) bị Nhật giam giữ, đồng thời vũ trang cho chúng. Ngày 12 tháng 9, Anh còn cho một đại đội của Pháp thuộc Binh đoàn thuộc địa thứ 5 (5eRIC) đổ bộ lên Sài Gòn làm nhiệm vụ tiền trạm. Cùng ngày hôm đó, Anh dùng vũ lực chiếm đóng trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ, hạ cờ Việt Nam, treo cờ Pháp. Từ ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Anh dùng lực lượng của mình và sử dụng quân Nhật, hỗ trợ cho thực dân Pháp gây cuộc chiến tranh ở Nam Bộ.


Nhưng cuộc chiến không tiến triển thuận lợi như Anh - Pháp dự tính ban đầu. Sợ sa lầy vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương và trước làn sóng đấu tranh của nhân dân ta và của cả nhân dân nước Anh phản đối hành động can thiệp của quân Anh vào tình hình Đông Dương, đế quốc Anh phải rút quân. Từ ngày 28 tháng 1 năm 1946, quân Anh bắt đầu rút khỏi nước ta, đến ngày 5 tháng 8 năm 1946 thì rút hết. Quân Anh trước khi rời Sài Gòn đã trao lại quyền hành, và khi rút đã để lại phần lớn vũ khí, quân nhu cho quân Pháp.


Trong số các kẻ thù xâm lược nước ta lúc này, kẻ thù nguy hiểm nhất, kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược. Đông Dương mà chủ yếu là Việt Nam, vốn là thuộc địa có vị trí quan trọng bậc nhất của đế quốc Pháp. Với gần 30 triệu dân, chiếm một phần ba dân số thuộc địa và là xứ đông dân nhất trong các thuộc địa của Pháp, trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Đông Dương phải góp mười vạn lính và trong chiến tranh thế giới thứ hai cũng góp 7 vạn. Vào những năm ba mươi của thế kỷ XX, Đông Dương có nguồn xuất khẩu lớn: Năm 1936 xuất 1.711.776 tấn gạo, là một trong những nơi xuất khẩu nhiều gạo và đứng đầu thế giới về xuất khẩu cao su với 6 vạn tấn. Cũng nhờ có Đông Dương mà Pháp có một hành lang trên Thái Bình Dương. Ngoài ra, Đông Dương còn có 4 vạn người Pháp làm ăn sinh sống. Vì thế đế quốc Pháp không thể rời bỏ Đông Dương cho bất cứ một thế lực nào. Khi Nhật vào chiếm đóng Đông Dương năm 1940, Pháp tìm mọi cách để khối phục quyển thống trị của mình. Đờ Gôn đứng đầu chính phủ lâm thời lưu vong Pháp đã tuyên bố "sẽ giải phóng Đông Dương". Sau khi Nhật đảo chính, ngày 24 tháng 3 năm 1945, Đờ Gôn ra tuyên bố về lập trường của Pháp đối với Đông Dương:


"Đông Dương sẽ được thành lập theo kiểu liên bang gồm 5 xứ khác nhau (Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Cao Miên, Ai Lao). Liên bang Đông Dương sẽ cùng với nước Pháp xây dựng khối Liên hiệp Pháp mà quyền đối ngoại sẽ do Pháp đại diện", "Đông Dương sẽ có một Chính phủ Liên bang, đứng đầu là người trọng tài gồm năm xứ. Bên cạnh viên toàn Toàn quyền, có một Hội đồng Nhà nước, trong đó người Đông Dương chiếm nhiều nhất là 50% số ghế. Một Quốc hội được bầu ra phải phản ánh quyền lợi của nước Pháp"1 (Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Nxb Sự thật, H. 1986, tr.19).


Rõ ràng lập trường thực dân của Chính phủ Pháp không thay đổi: Đờ Gôn và giới tư bản độc quyền Pháp tìm mọi cách giành lại Đông Dương và duy trì ách thống trị cổ truyền của chúng.

Cùng lúc đó, trên đất nước ta còn khoảng sáu vạn quân Nhật vũ khí đầy đủ, sẵn sàng theo lệnh quân Anh, quân Tưởng chống lại ta, và trên thực tế, quân Nhật đã đi cùng mở đường cho quân Pháp đánh ta. Ở Nam Trung Bộ đã xảy ra xung đột giữa lực lượng vũ trang ta với quân Nhật.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:38:29 pm
3. Tình hình đất nước

Trong khi phải chống lại kẻ thù đế quốc và các thế lực phản động đông và mạnh, với những âm mưu thủ đoạn chống phá điên cuồng như vậy thì về phía cách mạng lại đang gặp phải những khó khăn khác chồng chất. Cuộc cách mạng vừa thành công, chính quyền còn non trẻ, chưa được củng cố. Bộ máy hành chính từ Trung ương đến các làng bản còn đơn giản, hầu hết cán bộ chưa có kinh nghiệm quản lý Nhà nước. Mặt trận dân tộc thống nhất tuy phát triển rộng rãi, nhưng cũng chưa được củng cố vững chắc.


Chính quyền nhân dân non trẻ lúc này gặp khó khăn chồng chất. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời chưa được một nước nào trên thế giới công nhận, khó khăn lớn được thể hiện trên các mặt:

- Về nông nghiệp: Ngay trước khi giành được chính quyền, nạn lụt lại xảy ra làm vỡ đê nhiều tỉnh thuộc Bắc Bộ, 35 vạn hécta ruộng bị ngập lụt. Chín tỉnh Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình bị mất mùa nặng. Ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mất mùa tới 50%. Sau nạn lụt lại đến hạn hán, 50% ruộng đất ở Bắc Bộ bị bỏ hoang. Diện tích cấy trồng và sản lượng đều giảm sút. Ở 15 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, diện tích cấy trồng lúa vụ mùa năm 1945 chỉ đạt 540.000 hécta (vụ mùa năm 1944 là 967.000 hécta). Số ruộng bị bỏ hoang không cày cấy được vì ngập lụt, thiếu nhân công, thiếu giống khoảng 265.000 hécta. Vụ mùa năm 1944, miền Bắc thu được 832.000 tấn thóc, cả năm 1945 chỉ thu được 500.000 tấn.


- Về văn hóa giáo dục: Hậu quả của chính sách ngu dân của thực dân Pháp làm cho 95% dân số Việt Nam mù chữ. Số người được đi học các bậc học tiểu học, trung học và cao đẳng rất ít ỏi. Theo "Đông Dương thống kê niên giám" thì năm 1936 - 1937, cả ba kỳ bình quân 3 làng có một lớp sơ học và chỉ có 2% dân số đến trường. Đó là bậc học phát triển nhất dưới chế độ thực dân Pháp. Bậc tiểu học, toàn quốc có 638 trường (kể cả trường tư) bình quân 34 làng và 29.239 người mới có một trường, và chỉ có 0,4% dân cư theo học ở bậc tiểu học. Bậc cao đẳng tiểu học, bình quân cứ 1.170.000 người dân mới có một trường và chỉ có 0,05 dân số đến học ở các trường này. Còn ở bậc trung học số người Việt Nam theo học chỉ chiếm tỷ lệ 0,009% so với dân số.


Chế độ cũ để lại những tệ nạn rượu chè, cờ bạc, trộm cắp, đĩ điếm, mê tín dị đoan, bệnh tật gây nhiều khó khăn trở ngại cho việc bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới.

- Về kinh tế tài chính: Những khó khăn do chế độ cũ để lại đó là ách áp bức phong kiến cùng chính sách vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật khiến nền kinh tế quốc dân lâm vào tình trạng suy sụp thảm hại. Nhân dân vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, chỉ trong vòng ba tháng giữa năm 1945, hơn hai triệu đồng bào (tức là gần 1/10 dân số nước ta) đã chết vì đói và dịch bệnh.


Công thương nghiệp hoàn toàn đình đốn, ngoại thương bị đình trệ, thủ công nghiệp phá sản. Hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng, giá cả tăng vọt. Hàng vạn công nhân không có việc làm. Nền tài chính quốc gia vô cùng quẫn bách kho bạc cạn kiệt. Cách mạng thành công, ta tiếp quản kho bạc chỉ vẻn vẹn có 1.230.720 đồng tiền giấy, kể cả 586.000 đồng là tiền hào rách nát không tiêu được. Đó là chưa kể đến 564.367.522 đồng tiền nợ của chế độ cũ. Trong khi đó Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản Pháp nguồn thu ngân sách chưa có gì đáng kể.


- Về quân sự: Lực lượng vũ trang khi cách mạng mới thành công chỉ có 50.000 quân giải phóng và vài vạn tự vệ trình độ chiến thuật, kỹ thuật, kinh nghiệm chiến đấu còn non yếu, vũ khí, trang bị còn thô sơ.

Trong quan hệ quốc tế thì nước ta đang còn bị đế quốc bao vây bốn phía. Bọn đế quốc tuy nhiều mâu thuẫn, nhưng đã đạt được hoà hoãn, cùng nhau chống phá hòng tiêu diệt nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Còn Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân và phong trào cách mạng thế giới chưa có điều kiện hiểu biết đầy đủ cuộc cách mạng nước ta và chưa thể trực tiếp giúp đỡ cách mạng Việt Nam.


Tình hình cách mạng Việt Nam khi mới giành được chính quyền đã phải đương đầu với những khó khăn chồng chất. Cuộc cách mạng nào mới thành công cũng đều gặp phải những khó khăn to lớn. Nhưng những khó khăn thử thách mà chúng ta phải đương đầu thật đặc biệt nghiêm trọng. Trong khi đó chính quyền mới thành lập, chưa có điều kiện phát huy những thuận lợi cơ bản lâu dài, cũng chưa thể ngay một lúc khắc phục được những khó khăn chồng chất, nặng nề về mọi mặt, cùng một lúc Đảng ta, nhân dân ta phải đương đầu với ba loại giặc: "Giặc đói", "Giặc dốt", "Giặc ngoại xâm". Tương quan lực lượng bất lợi cho cách mạng Việt Nam. Sự mất còn của cách mạng, của nền độc lập thống nhất quốc gia đặt ra một cách trực tiếp. Vận mệnh của đất nước như "ngàn cân treo sợi tóc".


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Ba, 2026, 08:38:14 pm
II. ĐƯỜNG LỐI SÁCH LƯỢC ĐẤU TRANH GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG TA

Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, Đảng Cộng sản Đông Dương đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt đánh giá tình hình, xác định mục tiêu chiến lược, các nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, tìm ra đối sách đúng đắn, kịp thời với từng kẻ thù, vượt qua khó khăn, thử thách, đưa cách mạng vững bước đi lên. Khẩu hiệu hành động được đưa ra lúc này là: "Dân tộc trên hết", "Tổ quốc trên hết", phải tập trung lực lượng đối phó với kẻ thù chính, nguy hiểm nhất là thực dân Pháp xâm lược.


1. Chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc

Ngay từ trước cách mạng, Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương (ngày 14, 15 tháng 8 năm 1945) đã dự báo tình hình: "Quân Đồng minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị của chúng ở Đông Dương" và xác định "chính sách của chúng ta là phải tránh cái trường hợp: một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh (Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước ta"... Sau Cách mạng Tháng Tám, tình hình nước ta đúng như những nhận định cơ bản trên, nhưng diễn biến cụ thể phức tạp hơn.


Ngày 10 và 11 tháng 9, Ban Thường vụ Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị cán bộ Bắc Kỳ của Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị ra Nghị quyết đánh giá sâu sắc tình hình thế giới và tình hình Đông Dương, Nghị quyết xác định rõ nhiệm vụ chính lúc này là: "Củng cố chính quyền, dùng chính trị, ngoại giao, vũ khí cần thiết đến dùng quân sự để giữ vững nền độc lập.

Chuẩn bị lực lượng sẵn sàng để chống mọi sự xâm lăng".

Về vấn đề chính quyền, nghị quyết cũng xác định:

"Về mặt chính trị

1. Huy động các hạng nhân tài và chính trị phạm ra giúp việc.

2. Cấp tốc tổ chức các Ủy ban nhân dân các làng các phố, việc tổ chức các ủy ban công sở hay nhà máy của Chính phủ nên kéo hết thảy những tầng lớp ở trong đó tham gia, nên chú ý tránh sự đụng chạm đến những vấn đề chuyên môn của những người có trách nhiệm. Tổ chức các ủy ban công nhân ở các sở hay các nhà máy của tư nhân...

3. Việc thi hành chung trong chương trình Việt Minh phải cho thống nhất và do Chính phủ định đoạt... Cố giữ ngân quỹ hàng tỉnh cho thăng bằng trong khi chờ mỗi một thứ thuế công bằng và nhẹ.

4. Việc tiễu trừ Việt và Pháp gian phải căn cứ vào hành động chính trị phá hoại nền độc lập mới gọi là Việt gian và Pháp gian, còn những phần tử từ trước tới nay thường áp bức bóc lột dân chúng thì không phải Việt gian hay Pháp gian. Đối với bọn lãnh tụ Việt gian thì phải bắt và nghiêm trị, đối với bọn làm theo thì phải thuyết phục...

5. Việc tịch thu của Việt hay Pháp gian (tài sản) phải thi hành cho đúng đắn, những nhà cửa đồ đạc khi tịch thu phải niêm phong để bán đấu giá rồi bỏ tiền vào quỹ của Ủy ban nhân dân địa phương hoặc dùng vào trong công việc chung...

6. Đối với sự kiện tụng trong địa phương phải đặt một ban tư pháp xét xử những việc lặt vặt, còn những việc quan hệ thì tư lên Ủy ban nhân dân tỉnh. Hơn hết trong lúc này những việc kiện tụng nên dàn xếp cho qua đi và chú ý vào vấn đề chính quyền.


Về vấn đề quân sự

Phải đặc biệt tổ chức các đội tự vệ chiến đấu các làng.

Mỗi làng phải cử ít nhất một người lên tỉnh học trường quân sự thường thức để về huấn luyện cho đội viên tự vệ.

Mỗi phủ huyện ít nhất phải có một trung đội canh gác... Đối với bảo an binh (binh lính và sĩ quan) chọn lọc và sa thải những phần tử hủ hoại rồi sáp nhập với giải phóng quân. Và cấp tốc mở lớp huấn luyện nâng cao trình độ chính trị của họ trong một thời gian ngắn.

Các bộ đội mới, cũ đều phải có chính trị chỉ đạo viên sẽ có sách nghiên cứu về chiến thuật du kích và chiến sự trong bộ đội.

Phải xoá bỏ hàng rào chia rẽ giữa giải phóng quân và bảo an binh, giữa sĩ quan và chính trị viên.

Phải thống nhất chỉ huy quân sự đến Bắc Bộ.

Phải có ủy ban thay người trông nom việc mua và cho võ khí cũng như các đoàn thể sẽ tổ chức những đoàn đi thăm và uý lạo quân giải phóng.

Phải làm cho dân chúng và quân đội có sự liên lạc và hợp tác chặt chẽ với nhau bằng cách tổ chức những đoàn thể thâm nhập vào dân chúng, tuyên truyền và giúp đỡ dân chúng.

Thực hiện hoàn toàn khẩu hiệu quân dân nhất trí.

Phải dùng các hình thức tuyên truyền vận động để nâng cao trình độ tinh thần của quân đội về mọi phương diện. Mở lớp huấn luyện tại chỗ về quân sự và chính trị, lập câu lạc bộ cho quân đội ở mỗi tỉnh.


Vấn đề kinh tế và tài chính

... Các tỉnh phải lo lấy nền kinh tế riêng tỉnh mình nghĩa là phải tự tạo lấy một nền kinh tế độc lập tự cung... Khuyến khích sự chăn nuôi trồng trọt...


Vấn đề xã hội

Đặc biệt tổ chức cứu tế nạn lụt...

Về việc chống nạn mù chữ, mở lớp dạy chữ quốc ngữ ở các làng, các địa phương.

Vấn đề văn hoá

Lập hội văn hoá cứu quốc tỉnh...


Về vận động các giới

Mở cuộc vận động các giới thật rộng rãi, đặc biệt chú ý những giới công nhân, thanh niên, phụ nữ...


Vấn đề nội bộ

Vấn đề tuyên truyền chúng ta phải nhằm mấy khẩu hiệu chính trong lúc này là:

Thống nhất đoàn kết

Chống xâm lược Pháp

Việt Nam hoàn toàn độc lập

Ủng hộ Chính phủ Dân chủ cộng hoà...


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Ba, 2026, 08:46:25 pm
Về tổ chức

Ta phải đi vào tổ chức bề sâu của phong trào nghĩa là hệ thống ngang dọc của các hội cứu quốc, phải thật chu đáo, ăn khớp với nhau, quy luật của tổ chức phải chặt chẽ, nghĩa là phải thống nhất lên đến cơ quan toàn kỳ Việt Minh..."1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, tr.6).


Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ ngày 26 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng bào về việc đối xử với những tù binh người Pháp: "... Ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, tr.15).  Những lời căn dặn của Bác chính là tư tưởng chỉ đạo về chính sách tù, hàng binh của Đảng ta, thể hiện truyền thống nhân văn, nhân đạo cao cả của dân tộc Việt Nam đối với kẻ thù xâm lược, làm cho thế giới trước hết là nhân dân Pháp hiểu rõ hơn về nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam là đấu tranh vì "Độc lập - Tự do", từ đó ra sức lên án những hành động xâm lược, đàn áp trắng trợn, dã man của thực dân Pháp, đồng thời ủng hộ tích cực cuộc đấu tranh chính nghĩa chống ách thực dân của nhân dân ta.


Nhằm kịp thời lãnh đạo cách mạng, củng cố giữ vững chính quyền, ổn định đời sống nhân dân, tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến cứu nước chống thực dân Pháp, ngày 25 tháng 11 năm 1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị Kháng chiến kiến quốc. Từ đánh giá sâu sắc tình hình thế giới và trong nước sau chiến tranh thế giới thứ hai, yêu cầu khách quan và mục tiêu của cách mạng, chỉ ra những mâu thuẫn giữa các thế lực đế quốc và âm mưu của chúng đối với cách mạng Việt Nam, Trung ương Đảng chủ trương: "Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là Cuộc cách mạng dân tộc giải phóng.


Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước chưa được hoàn toàn độc lập.

Nhiệm vụ cứu nước của giai cấp vô sản chưa xong. Giai cấp vô sản vẫn phải hăng hái, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy. Khẩu hiệu vẫn là: "Dân tộc trên hết". "Tổ quốc trên hết".

Kẻ thù chính của chúng ta lúc này là thực dân Pháp xâm lăng, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng.

Chiến thuật của chúng ta lúc này là lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược. Mở rộng Việt Minh cho nó bao gồm mọi tầng lớp nhân dân (chú trọng: kéo địa chủ, phong kiến và đồng bào Công giáo, v.v...).

Thống nhất mặt trận Việt - Miên - Lào chống Pháp xâm lược. Kiên quyết giành độc lập - tự do - hạnh phúc dân tộc. Độc lập về chính trị, thực hiện chế độ dân chủ cộng hoà; cải thiện đời sống cho nhân dân"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, tr.26).


Từ chủ trương trên, chỉ thị xác định nhiệm vụ chung của giai cấp vô sản thế giới là tranh đấu để thực hiện triệt để Hiến chương Liên Hợp quốc, ủng hộ Liên Xô, xây dựng hoà bình thế giới, mở rộng chế độ dân chủ nhân dân ra các nước, giải phóng các nước thuộc địa.


Nhiệm vụ "cần kíp" trong nước lúc này là "... phải củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân"1 (Sách đã dẫn, tr.26). Trong bốn nhiệm vụ đó, nhiệm vụ trung tâm là giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng. Chính quyền cách mạng là thành quả lớn nhất, tập trung nhất của nhân dân ta qua quá trình đấu tranh cách mạng. Chỉ có giữ vững và củng cố chính quyền mới có điều kiện để giữ vững nền độc lập thống nhất quốc gia, mới thực hiện được các nhiệm vụ cách mạng khác. Trong hoàn cảnh lúc đó, phải căn cứ vào âm mưu, thủ đoạn, lực lượng và khả năng của từng kẻ thù đế quốc phản động, cũng như phải xuất phát từ hiện trạng kinh tế - xã hội nước ta để có các chủ trương, biện pháp kháng chiến kiến quốc phù hợp. Những văn kiện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng, tập trung nhất là Chỉ thị kháng chiến kiến quốc đã vạch ra các nhiệm vụ và biện pháp toàn diện, cụ thể cần thực hiện để đạt được mục tiêu cách mạng.


- Về chính trị: Lãnh đạo thành công cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội vào ngày 6 tháng 1 năm 1946. Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội khoá I họp kỳ đầu tiên, trao quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh lập Chính phủ chính thức, thành lập ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Ở các địa phương trên cả nước, nhân dân đã bầu ra Hội đồng nhân dân các cấp; Ủy ban nhân dân chính thức ra đời thay thế các Ủy ban nhân dân lâm thời trước đây.


Chủ trương mở rộng khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở phát triển mạnh mẽ các đoàn thể cứu quốc trong mặt trận Việt Minh, tổ chức thêm những đoàn thể cứu quốc mới. Thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt).

Đảng chủ trương rút vào hoạt động bí mật nhằm "lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn", về công khai, Đảng đã tổ chức ra "Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác" để tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, giữ vững và mở rộng mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng.


Lãnh đạo chính quyền các cấp khắc phục những khuyết điểm trong trong bộ máy nhà nước. Chính quyền cách mạng đã nhanh chóng xoá bỏ bộ máy cai trị của chính quyền cũ. Chính phủ ra sắc lệnh giải tán hai Đảng phản động "Đại Việt Quốc gia xã hội Đảng" và "Đại Việt Quốc dân Đảng"; ra sắc lệnh quản thúc an trí những phần tử nguy hiểm cho nền Dân chủ Cộng hoà Việt Nam, lập toà án quân sự để xét xử bọn phản động.


Về quân sự: "Động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài; phối hợp chiến thuật du kích với phương pháp bất hợp tác triệt để" .

Chỉ đạo phát triển lực lượng vũ trang, tăng cường sức mạnh quân sự, động viên toàn dân tham gia bảo vệ nền độc lập. Khi thực dân Pháp nổ súng xâm chiếm Nam Bộ, Đảng phát động nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Thành lập các ủy ban kháng chiến, củng cố lực lượng trừ gian, xây dựng lực lượng bí mật vùng địch tạm chiếm Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chính phủ ra sắc lệnh chuyển Vệ quốc đoàn thành Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Cùng với việc xây dựng quân đội thường trực, Đảng chủ trương xây dựng dân quân, tự vệ ở khắp nông thôn và thành phố.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Ba, 2026, 08:49:31 pm
Về ngoại giao: giữ vững nguyên tắc "bình đẳng tương trợ" trong quan hệ ngoại giao với các nước. Những điều cần đặc biệt chú ý: Một là làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết. Cụ thể với từng đế quốc: đối với quân Nhật, giữ thái độ ôn hoà, tránh tất cả những sự xô xát vô ích, bất lợi cho cả đôi bên. Đối với Tàu Tưởng vẫn chủ trương Hoa - Việt thân thiện, coi Hoa kiều như dân tối huệ quốc. Đối với Pháp có sự đồng lõa của Anh thì chủ trương độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế. Hai là muốn ngoại giao thắng lợi phải biểu dương lực lượng, vì dù sao chỉ có thực lực của ta mới quyết định được sự thắng lợi giữa ta và Đồng minh. Công cuộc ngoại giao lúc này là một mặt trận đấu tranh quan trọng và rất phức tạp, trong tình thế nhiều kẻ thù đang trực tiếp xâm lược, can thiệp mà nước ta còn bị bao vây bốn phía, tương quan lực lượng không có lợi cho cách mạng. Vì thế phải triệt để phân hóa kẻ thù, có chính sách ngoại giao linh hoạt khôn khéo phù hợp với từng kẻ thù, từng hoàn cảnh cụ thể để cùng với các mặt đấu tranh khác giữ vững nền độc lập, thống nhất của đất nước.


Về tuyên truyền: kêu gọi sự đoàn kết, thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược nhưng chống sự thống nhất vô nguyên tắc với bọn phản quốc; khêu gợi chí căm thù đối với thực dân Pháp và đề cao sự tin tưởng của quốc dân vào thắng lợi cuối cùng; đồng thời phải làm cho đồng bào phân biệt rõ giữa bọn thực dân Pháp xâm lược với nước Pháp và nhân dân Pháp, đặt riêng bọn thực dân Pháp xâm lược ra một bên mà đánh, đừng bỏ cả Pháp, Anh, Ấn (binh lính Anh người thuộc địa Ấn Độ) vào một bị và đừng coi họ là kẻ thù ngang nhau; đừng công kích nước Pháp và dân Pháp.


Về kinh tế tài chính: Đề ra chính sách và lãnh đạo tổ chức thực hiện các chính sách ổn định và cải thiện đời sống nhân dân như: khôi phục sản xuất công nghiệp, khuyến khích các giới công thương mở hợp tác xã, mở các hội cổ phần tham gia kiến thiết lại đất nưởc; khuyến khích phát triển nông nghiệp, sửa chữa đê điều, tăng gia sản xuất; thực hành tiết kiệm, giúp đỡ nhau chống nạn đói, tổ chức "Tuần lễ vàng", xây dựng "Quỹ độc lập", lập Ngân hàng quốc gia, ngân quỹ và phát hành tiền Việt Nam.


Về văn hoá: tổ chức bình dân học vụ, bài trừ nạn mù chữ; mở mang giáo dục các cấp, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ; xây dựng nền văn hoá mới theo ba nguyên tắc: dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá.

Về Đảng: phải duy trì hệ thống tổ chức bí mật hay bán công khai của Đảng, kết nạp thêm đảng viên, đặc biệt chú trọng gây cơ sở của Đảng cho thật rộng, làm cho sự phát triển của Đảng theo kịp sự phát triển của phong trào công nhân cứu quốc. Tránh cả hai khuynh hướng: chỗ thì tổ chức đảng hẹp quá, chậm quá, chưa bỏ được bệnh hẹp hòi của thời kỳ hoàn toàn bí mật; chỗ thì tổ chức đảng rộng quá, nhanh quá để cho các phần tử cơ hội, phản động lọt vào trong Đảng. Phải tổ chức ra các tổ nghiên cứu chủ nghĩa Mác, bao gồm tất cả những người có khuynh hướng cộng sản, cảm tình cộng sản do người cộng sản lãnh đạo ngăn ngừa không để đảng viên tiêm nhiễm những thói tiểu tư sản..., duy trì nghiêm chế độ sinh hoạt Đảng; tổ chức các chi bộ trong các cơ quan hành chính hay trong các hội hợp pháp, thành lập chi bộ trong quân đội; phối hợp hoạt động bí mật với công khai, đặc biệt coi trọng hoạt động bí mật, không để hai cơ quan, hai hoạt động này xung đột hay đối lập nhau; cơ quan Đảng các cấp duy trì thường xuyên chế độ thông báo, báo cáo tình hình về chủ trương chung của Đảng và chỉ thị công tác cho cấp dưới; phát hành những tài liệu tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ trương, đường lối của Đảng.


Về Mặt trận Việt Minh: ra sức phát triển các tổ chức cứu quốc sẵn có và thống nhất các tổ chức ấy trong toàn kỳ, toàn quốc, sửa lại điều lệ các đoàn thể cứu quốc cho thích hợp với hoàn cảnh mới; lập thêm những đoàn thể cứu quốc mới vào Mặt trận Việt Minh. Giúp cho "Việt Nam Dân chủ Đảng" thống nhất và phát triển để thu hút vào mặt trận những tầng lớp tư sản, địa chủ yếu nước và tiến bộ. Giúp "Việt Nam nông gia cứu quốc hội" phát triển và mở rộng ảnh hưởng. San phẳng những xung đột xích mích giữa các đoàn thể trong mặt trận, những mâu thuẫn, cạnh tranh giữa Ủy ban nhân dân và ủy ban Việt Minh. Chấn chỉnh lại Tổng bộ Việt Minh để Tổng bộ sinh hoạt đều và tăng cường chỉ đạo các đoàn thể trong mặt trận. Chỉ thị quy định những người cộng sản bắt buộc phải vào các đoàn thể cứu quốc để sinh hoạt và vận động quần chúng. Khẩn trương củng cố các đảng đoàn trong các đoàn thể mặt trận để duy trì và củng cố quyền lãnh đạo mặt trận.


Về Chính phủ: chấn chỉnh lại các bộ, cải cách chính quyền nhân dân ở địa phương, nếu vì lý do cần thiết thống nhất dân tộc và xúc tiến ngoại giao thì có thể cải tổ Chính phủ trước ngày họp Quốc hội. Chính phủ cải tổ ấy vẫn là Chính phủ lâm thời; thanh trừng những phần tử xấu trong Ủy ban nhân dân địa phương và cải tiến cách làm việc của những ủy ban ấy; ban hành những sắc lệnh mang lại ngay quyền tự do và hạnh phúc thực tế cho nhân dân trong điều kiện cụ thể và hoàn cảnh cho phép. Giải quyết một cách hợp lý vấn đề ruộng đất và thuế khoá. Trừng trị bọn phản quốc, bọn chia rẽ, bọn đầu cơ tích trữ và bọn lạm quyền nhiễu dân. Trực tiếp chỉ huy cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và Trung Bộ. Cải cách chính quyền nhân dân ở địa phương, cải thiện cách làm việc của các ủy ban ấy.


Đặc biệt về việc kháng chiến, Chỉ thị kháng chiến kiến quốc nêu rất cụ thể: "Hiện nay ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, giặc Pháp chiếm được nhiều tỉnh lỵ, nhưng ta vẫn làm chủ ở thôn quê. Trái lại ở Lào, những thành phố lớn như Viên Chăn, Thà Khẹt, Sa Vẳn, Xiêng Khoảng, Sầm Nưa, Sê Pôn, v.v... vẫn do quân Lào, có quân Việt Nam giúp sức làm chủ. Còn ở thôn quê, quân Pháp vẫn có thể hoành hành. Ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, quân ta bao vây quân Pháp ở các thành thị, trái lại ở Lào quân Pháp thỉnh thoảng lại bao vây quân ta ở các thành thị.


Vậy chiến thuật của ta ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ là cắt đứt liên lạc giữa các thành phố đã lọt vào tay địch, phong toả những thành phố ấy về kinh tế, bao vây về chính trị, nhiễu loạn về quân sự. Còn ở Lào, thì nhiệm vụ chiến thuật là phải "tăng cường võ trang tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân Lào ở thôn quê làm cho Măt trận thống nhất kháng Pháp của Lào - Việt lan rộng và chiến tranh du kích phát triển ở thôn quê, đặng bao vây lại quân Pháp ở những nơi sào huyệt của chúng và quét sạch chúng ra khỏi đất Lào. Còn ở Miên thì phải thành lập ngay liên quân Miên - Việt và làm cho chiến thuật du kích lan rộng trên đất Miên".


Phải áp dụng chiến tranh du kích đến triệt để và cổ động nhân dân thi hành chính sách ở các thành thị quân địch làm chủ và thi hành "nhà không đồng vắng" nếu quân Pháp tràn về quê. Điều cốt tử là phải giữ vững liên lạc giữa các chiến khu để thống nhất chỉ huy, nơi nào rút khỏi thành thị thì quân ta phải chiếm đóng ở những địa điểm chiến lược lợi hại tiến có thể đánh, lui có thể giữ. Các vùng chiến tranh chưa lan đến cũng phải chuẩn bị đối phó khi tiến khi lui; kế hoạch tiến công cũng như kế hoạch rút lui cũng phải hết sức chu đáo (phòng đủ mọi việc, địa điểm, cán bộ, lương thực, thuốc men, quần áo, võ khí, v.v...).


Về chống nạn đói: công việc cứu đói cũng cần như việc đánh giặc, phải tích cực chống đói hiện giờ và đề phòng nạn đói thời gian tới; phải khuyến nông làm cho tá điền và địa chủ nhân nhượng nhau để tiếp tục cày cấy như thường, thực hành khẩu hiệu "không bỏ một thước đất hoang"; tổ chức tiếp tế, ngăn cấm đầu cơ tích trữ, tổ chức cứu tế, thực hành khẩu hiệu "nhường cơm sẻ áo" của Hồ Chủ tịch; nhập cảng ngũ cốc.


Về việc Tổng tuyển cử sắp tới: phải xúc tiến việc sửa soạn Tổng tuyển cử. Nguyên tắc giới thiệu ứng cử là: số đảng viên một phần ba, số người của các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh một phần ba và số người ngoài mặt trận một phần ba; các ứng cử viên đều đứng trên danh nghĩa công dân. Phải đưa những người đã ở trong Ủy ban nhân dân có năng lực hành chính ra ứng cử, còn những người bất lực và thiếu tư cách thì cho nghỉ để làm việc khác. Cần giới thiệu những vị thân hào có tài, có đức ra ứng cử, và cùng đứng chung một sổ quốc gia liên hiệp với những người ứng cử của Việt Minh (chỗ nào không có lực lượng phản động tranh giành thì không cần giới thiệu sổ riêng).


Đó là những biện pháp toàn diện để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Tuy có nhiều công việc khác nhau, những việc này có quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau nhưng đều nằm trong nhiệm vụ chiến lược là kháng chiến kiến quốc. Nhiệm vụ xây dựng đất nước vừa là yêu cầu trước mắt, vừa là yêu cầu cơ bản lâu dài, có vị trí hết sức to lớn. Nhưng trong hoàn cảnh nước ta lúc đó mới giành được chính quyền; lại phải ổn định đời sống nhân dân, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang đến gần. Vì vậy vấn đề hàng đầu đặt ra lúc này là phải củng cố giữ vững chính quyền cách mạng, có giữ vững được chính quyền mới tập hợp, tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối "Kháng chiến kiến quốc" của Đảng đã đề ra.


Đường lối kháng chiến kiến quốc phản ánh đúng đắn tình thế và yêu cầu của cách mạng nước ta từ cuối nàm 1945 đến cuối năm 1946 khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ vạch rõ mục tiêu phương hướng tiến lên của cách mạng định ra những yêu cầu cụ thể cho từng nhiệm vụ. Đây là đường lối chung của Đảng lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta vượt qua thử thách hiểm nghèo, đưa cách mạng đi tiếp con đường giải phóng dân tộc và xây dựng chế độ mới.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Ba, 2026, 08:57:16 pm
2. Những biện pháp nhằm xây dựng, củng cố, giữ vũng chính quyền và những kết quả đạt được

a) Biện pháp xây dựng, củng cố chính quyền

Ngày 3 tháng 9 năm 1945, một ngày sau Lễ Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra sáu việc cấp bách cần làm ngay, Người nêu rõ: "Một là, nhân dân đang đói - Ngoài những kho chứa thóc mà Pháp, Nhật vơ vét của nhân dân, bọn Nhật, Pháp còn bắt đồng bào chúng ta giảm bớt diện tích cấy lúa để trồng thầu dầu, đay và những thứ cây khác cần thiết cho cuộc chiến tranh của chúng. Hơn nữa, chúng ta còn tìm thấy hai kế hoạch của bọn cầm quyền Pháp với mục đích gây nạn đói, để ngàn trở phong trào yêu nước và bắt buộc đồng bào chúng ta phải làm việc như nô lệ.


Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói vì chính sách độc ác này. Vừa rồi nạn lụt đã phá hoại tám tỉnh sản xuất lúa gạo. Điều đó làm cho tình hình càng trầm trọng hơn. Những người thoát chết đói nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống.

Tôi đề nghị với Chính phủ là phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất.

Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương thực phụ khác, phải ba bốn tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo.

Vấn đề thứ hai, nạn dốt - Là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ.

Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ.

Vấn đề thứ ba - Trước hết chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v...


Vấn đề thứ tư - Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.


Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính.

Vấn đề thứ năm - Thuế thân, thuế chợ, thuế đò, là một lối bóc lột vô nhân đạo. Tôi đề nghị bỏ ngay ba thứ thuế ấy. Cuối cùng tôi đề nghị tuyệt đối cấm hút thuốc phiện.

Vấn đề thứ sáu - Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004, tr. 7-9).

Sau đó, Người đã nêu ra ba nhiệm vụ lớn: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Về kinh tế - văn hóa - xã hội: Thực hiện nghị quyết của Hội đồng Chính phủ, từ Trung ương đến các địa phương đã phát động chiến dịch cứu đói. Do chính sách bóc lột, vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật để phục vụ chiến tranh, cùng với thiên tai hoành hành mà chính quyền thống trị không hề chăm lo việc phòng bị, dẫn đến nạn đói khủng khiếp làm chết hơn hai triệu người vào cuối năm 1944 đến giữa năm 1945 ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.


Ngay từ thời Tiền khởi nghĩa, Đảng đã quan tâm đến việc giải quyết nạn đói cho nhân dân. Mặt trận Việt Minh các địa phương đã hô hào nhân dân vùng lên phá kho thóc dự trữ của Nhật cứu đói cho dân nghèo.

Cách mạng thành công, nhiệm vụ trọng tâm số một của chính quyền cách mạng là giải quyết nạn đói. Chính quyền đã sớm thể hiện vai trò quản lý xã hội của mình bằng việc lập Bộ Cứu tế xã hội và thực hiện các biện pháp hành chính, pháp luật. Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Chính phủ ra sắc lệnh thủ tiêu những luật lệ của chính quyền cũ hạn chế việc lưu thông lương thực, giữa các vùng trong cả nước. Đồng thời tổ chức việc vận chuyển thóc gạo từ Nam Bộ ra Bắc. Chính phủ cũng nghiêm trị những kẻ đầu cơ tích trữ lương thực, thành lập ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế, Hội cứu đói các cấp...


Đồng thời Chính phủ kêu gọi đồng bào "lá lành đùm lá rách", cứu giúp lẫn nhau. Báo Cứu quốc, số 53 ngày 28 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng bài Sẻ cơm nhường áo:

"Hỡi đồng bào yêu quý,

Từ tháng Giêng đến tháng bảy năm nay, ở Bắc Bộ ta đã có hai triệu người chết đói.

Kế đó lại bị nước lụt, nạn đói càng tăng thêm, nhân dân càng khốn khổ. Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng.

Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước:

Cứ 10 ngày, nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn 3 bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo.

Như vậy thì người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói.

Tôi chắc rằng đồng bào ta ai cũng sẵn lòng cứu khổ cứu nạn, mà hăng hái hưởng ứng lới đề nghị nói trên.

Tôi xin thay mặt dân nghèo mà cảm ơn các đồng bào"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004, tr. 31)


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Ba, 2026, 09:00:04 pm
Biện pháp cơ bản lâu dài giải quyết nạn đói là phải tăng gia sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi "Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!".

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ và mặt trận Việt Minh, đồng bào cả nước ra sức sản xuất, tiết kiệm lương thực, cứu giúp lẫn nhau. Bác Hồ cũng gương mẫu thực hiện 10 ngày nhịn ăn một bữa, lấy gạo giúp dân nghèo. Nhiều cơ quan đoàn thể cũng thực hiện theo Người. Nhiều làng, nhiều gia đình tự nguyện bỏ hủ tục ăn uống lãng phí, tạm ngừng sản xuất cốm, bánh ngọt để tiết kiệm thóc gạo, giúp đỡ người nghèo. Nhiều gia đình giàu có tự nguyện ủng hộ hàng chục tấn thóc để cứu đói. Phong trào cứu đói đã lan rộng khắp cả nước. Cả phạm nhân trong nhà tù, có nơi cũng tự nguyện xin nhịn ăn 10 ngày 1 bữa để cứu người đói. Hoa kiều, Ấn kiều cũng góp tiền, gạo giúp dân nghèo Việt Nam.


Phong trào tăng gia sản xuất, "tấc đất tấc vàng" cũng được thực hiện sôi nổi. Các vị quan chức Chính phủ, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, học sinh, sinh viên và toàn dân, tuỳ điều kiện, hoàn cảnh đều góp phần sản xuất ra lương thực. Nhà nước còn thành lập ban khuyến nông từ Trung ương đến địa phương, chăm lo tu bổ đê điều...


Những biện pháp tích cực, kịp thời trên đã đem lại kết quả to lớn. Đến cuối năm 1945, đầu năm 1946, nạn đói đã bị đẩy lùi, sản xuất nông nghiệp được khối phục. Vụ mùa năm 1946 lại được mùa lớn, diện tích trồng cấy và sản lượng lương thực đều vượt chỉ số của năm 1939 là năm kinh tế phát triển nhất trước chiến tranh.


Thắng lợi trên mặt trận cứu đói có ý nghĩa lớn đối với việc xây dựng bảo vệ chế độ mới, củng cố được lực lượng của cách mạng, xây dựng được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, vào tính ưu việt của chế độ mới và càng gắn bó mật thiết với cách mạng.


Cùng với việc giải quyết nạn đói, Chính phủ cũng dựa vào dân, phát động lòng yêu nước, tinh thần làm chủ xã hội mới để giải quyết nạn kiệt quệ nền tài chính quốc gia do chế độ cũ để lại. Ngày 4 tháng 9 năm 1945, Chính phủ ra sắc lệnh xây dựng Quỹ độc lập và từ 17 đến 24 tháng 9 tổ chức Tuần lễ vàng, động viên nhân dân ủng hộ tiền, vàng phục vụ việc quốc phòng bảo vệ nền độc lập. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã góp được 370kg vàng và 20 triệu đồng Đông Dương. Ngoài ra nhân dân còn đóng góp hàng chục triệu đồng đảm phụ quốc phòng. Ngày 23 tháng 11 năm 1946, Quốc hội cho lưu hành tiền Việt Nam trong toàn quốc thay thế tiền Ngân hàng Đông Dương.


Được nhân dân ủng hộ và việc quản lý tài chính chặt chẽ, tiết kiệm chi tiêu, nền tài chính quốc gia đã được cải thiện rõ rệt. Thắng lợi trên mặt trận tài chính góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ mới.

Một nhiệm, vụ cấp bách khác của chính quyền cách mạng là chống giặc dốt. Chính quyền thực dân phong kiến thực hiện chính sách ngu dân, để lại hậu quả nặng nề là hơn 90% số dân Việt Nam bị mù chữ. Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh đã được thể hiện trong một luận điểm nổi tiếng: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Ngay sau cách mạng thành công, Người nói:
   "Muốn giữ vững nền độc lập,
   Muốn làm cho dân mạnh nước giàu,
   Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ"
1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004, tr. 36).


Người đề nghị Chính phủ phát động một chiến dịch chống nạn mù chữ. Ngay 8 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh "Bắt buộc học chữ quốc ngữ và không mất tiền". Cùng ngày, Nha bình dân học vụ được thành lập để phụ trách việc chống nạn mù chữ. Toàn dân tham gia chiến dịch bình dân học vụ. Người chưa biết chữ thì đi học, bất kể già trẻ, trai gái, người biết chữ thì làm "chiến sĩ diệt giặc dốt", dạy người mù chữ... Chỉ sau một năm đã có khoảng 2 triệu rưỡi người thoát nạn mù chữ. Hệ thống giáo dục phổ thông và đại học cũng được xây dựng và từng bước phát triển với nội dung và phương pháp tiến bộ.


Ngày 10 tháng 8 năm 1946, Chính phủ ra sắc lệnh, quy định những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới: "Nền giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà là một nền giáo dục duy nhất, đặt trên ba nguyên tắc căn bản: đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ"1 (Việt Nam Dân quốc Công báo, số ra ngày 24 tháng 8 năm 1946. Lưu Trung tâm Lưu trữ quốc gia III). Chính phủ cũng quy định tất cả các cấp học đều dùng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức.


Chỉ mới là năm học đầu tiên của chế độ mới nhưng các trường, lớp học các cấp đã được mở lại và tăng thêm. Trừ Nam Bộ đang còn chiến tranh, riêng Bắc Bộ và Trung Bộ đã mở được 5.654 trường tiểu học với trên 20 vạn học sinh; bậc trung học mở được 25 trường, với 7.514 học sinh. Ngày 15 tháng 11 năm 1945, trường Đại học Việt Nam khai giảng.


Nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên chế độ Dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho "các em học sinh". Người viết: "Ngày hôm nay là ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà... từ giờ phút này giở đi, các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam... Ngày nay các em được may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em... Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần ở công học tập của các em"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004, tr. 32-33, 56).


Thắng lợi của mặt trận chống giặc dốt có ý nghĩa lớn đông đảo nhân dân phấn khởi, tự hào thoát khỏi cảnh u mê về tri thức, bắt đầu ý thức được vai trò chủ nhân chân chính của chế độ mới.

Cùng với nhiệm vụ chống giặc dốt, cuộc vận động đời sống mới, giáo dục tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, xây đạo đức mới "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", bài trừ thói hư tật xấu, phong tục tập quán lạc hậu cũng được đẩy mạnh. Bình đẳng giàu nghèo, bình quyền nam nữ, tự do hôn nhân, tiết kiệm giản dị trong cưới xin, ma chay, xoá bỏ nạn cờ bạc, nghiện hút, đĩ điếm... đó là những nét nổi bật trong đời sống văn hoá mới.


Công tác y tế chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, vệ sinh phòng bệnh cũng được chính quyền quan tâm và nhân dân hưởng ứng.

Những nhiệm vụ về kinh tế, văn hoá, xã hội trên vừa là những vấn đề cấp bách vừa là những vấn đề cở bản, lâu dài của cách mạng. Đó vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc. Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải theo đúng phương châm"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004, tr. 32-33, 56). Những thành tựu đó là cơ sở vững chắc để cách mạng xây dựng những thành tố của hệ thống chính trị mới, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất và xây dựng lực lượng vũ trang.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Ba, 2026, 09:02:06 pm
Về nhiệm vụ xây dựng Đảng

Đảng là người đề xướng đường lối chủ trương cách mạng, lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng, trong đó cán bộ đảng viên, các tổ chức đảng lại là những chiến sĩ tiên phong. Xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.


Chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công. Bước sang lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc là một công việc hoàn toàn mới mẻ, lại gặp lúc khó khăn chồng chất, kẻ thù chống phá quyết liệt, nhiệm vụ xây dựng Đảng thật là phức tạp. Trung ương Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, sắc sảo, ứng phó với mọi tình huống, tiếp tục củng cố, phát triển Đảng, tiếp tục lãnh đạo cách mạng vượt qua thác ghềnh, vững bước đi lên.


Để tránh "sự tuyên truyền xuyên tạc và sức ép của kẻ thù", để vẫn tiếp tục tồn tại và lãnh đạo cách mạng một cách kín đáo, ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán:

"1- Căn cứ điều kiện lịch sử, tình hình thế giới và hoàn cảnh trong nước, nhận rằng lúc này chính là cơ hội nghìn năm có một cho nước Việt Nam giành quyền hoàn toàn độc lập;

2- Xét rằng, muốn hoàn thành nhiệm vụ dân tộc giải phóng vĩ đại ấy, sự đoàn kết nhất trí của toàn dân không phân biệt giai cấp, đảng phái là một điều kiện cốt yếu;

3- Để tỏ rằng: những đảng viên cộng sản là những chiến sĩ tiên phong của dân tộc, bao giờ cũng hy sinh tận tuỵ vì sự nghiệp giải phóng của toàn dân, sẵn sàng đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của giai cấp, hy sinh quyền lợi riêng của đảng phái cho quyền lợi chung của dân tộc;

4- Để phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng của nước nhà.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp ngày 11 tháng 11 năm 1945 ra nghị quyết tự động giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương".


Những tín đồ của chủ nghĩa cộng sản muốn tiến hành việc nghiên cứu chủ nghĩa sẽ gia nhập "Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương"1 (). Thực sự, Đảng vẫn giữ vững hệ thống tổ chức của Đảng và chuyển vào hoạt động bí mật. Đảng tổ chức ra "Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương" là hình thức công khai của Đảng để tuyên truyền đường lối chính sách, giữ vững và mở rộng mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng.


Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" của Trung ương Đảng ngày 25 tháng 11 năm 1945 đã đánh giá đúng đắn tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai và tình hình trong nước sau Cách mạng Tháng Tám; đánh giá âm mưu thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc đối với cách mạng Việt Nam; xác định tính chất nhiệm vụ cách mạng Việt Nam; vạch ra nhiệm vụ cơ bản, nhiệm vụ trước mắt và từng mặt của cách mạng; và khẳng định "muốn thực hành những nhiệm vụ trên đây, Đảng và Mặt trận Việt Minh phải được củng cố và phát triển". Đặc biệt, chỉ thị nêu những nhiệm vụ chính để củng cố Đảng trong tình hình mới: Duy trì hệ thống tổ chức bí mật hay bán công khai của Đảng; phát triển đảng viên, phát triển tổ chức đảng trong các cơ quan hành chính, các hội hợp pháp, chú trọng trong các xí nghiệp, thành lập chi bộ trong quân đội; giữ vững sinh hoạt Đảng; phối hợp hoạt động bí mật và công khai, coi công tác bí mật là gốc; tuyên truyền giác ngộ chủ nghĩa Mác cho quần chúng; chống những khuynh hướng sai lầm trong Đảng.


Chỉ thị "Tình hình và chủ trương" ngày 3 tháng 3 năm 1946, "Hoà để tiến" ngày 9 tháng 3 năm 1946 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng là chủ trương đường lối cụ thể trong tình hình biến chuyển mới, vào lúc Hiệp định Sơ bộ được ký kết.

Từ ngày 31 tháng 7 đến ngày 1 tháng 8 năm 1946 Hôi nghị cán bộ Trung ương họp ra nghị quyết về tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng và củng cố phát triển Đảng, để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo cách mạng trong tình hình mới.

Khả năng chiến tranh đến gần, tháng 10 năm 1946 Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng ra nghị quyết về lãnh đạo quân sự. Khi khả năng hoà hoãn không còn, thực dân Pháp áp đặt cuộc chiến tranh cho chúng ta, Trung ương Đảng kịp thời phát động cuộc kháng chiến.


Những nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời kêu gọi của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, của những người mácxít Đông Dương, những bài báo của các đồng chí lãnh đạo của Đảng đăng trên báo Sự thật... thể hiện sự lãnh đạo của Đảng thông qua chủ trương đường lối trên các mặt hoạt động và trong mọi tình thế của cách mạng.


Trong hoàn cảnh đất nước gặp muôn vàn khó khăn, kẻ thù chống phá quyết liệt, đường lối chính sách của Đảng, Chính phủ không thể một lúc được tất cả mọi người thông hiểu. Một số đảng viên, cán bộ và nhân dân có những diễn biến tư tưởng phức tạp. Cuộc đấu tranh tư tưởng trong Đảng và trong quần chúng để đạt tới thống nhất nhận thức, nhất là về sách lược nhân nhượng hoà hoãn với kẻ thù, không đơn giản. Có xu hướng đòi thẳng tay trừng trị mọi hành động khiêu khích phá hoại của quân Tưởng, đòi đánh Pháp ngay, không cho chúng ra miền Bắc. Xu hướng này có thể xuất phát từ lòng yêu nước, nhưng dễ dẫn đến hành động vô nguyên tắc, làm khó dễ cho công cuộc ngoại giao của Chính phủ. Có xu hướng cho rằng Hiệp định Sơ bộ chẳng có kết quả gì, "ta ký với Pháp là vì không đủ điều kiện đánh nên phải hàng Pháp", dẫn đến bi quan, giảm sút lòng tin vào Đảng và Chính phủ. Trái lại có xu hướng ngây thơ tưởng rằng Hiệp định Sơ bộ được ký kết, cuộc xung đột Pháp - Việt đã được giải quyết xong xuôi, dẫn đến chủ quan không chăm lo chuẩn bị lực lượng chống Pháp. Đảng chủ trương một mặt cương quyết đấu tranh khắc phục tư tưởng sai lầm trên, mặt khác kịp thời thay đổi những khẩu hiệu tuyên truyền cổ động phục vụ cho việc thực hiện sách lược hoà hoãn, thay đổi hình thức và tổ chức đấu tranh cho phù hợp.


Cùng với việc xây dựng củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng, công tác tổ chức nội bộ Đảng cũng được coi trọng. Ban Chấp hành Trung ương được bổ sung và kiện toàn, sự lãnh đạo chỉ đạo của Trung ương với các địa phương có lúc do chiến tranh, bị gián đoạn, đã được chắp nối lại và duy trì chặt chẽ. Đặc biệt trong hoàn cảnh phức tạp khẩn trương lúc đó, nhiều quyết sách quan trọng phải nhanh chóng kịp thời thì sự tập trung thống nhất lãnh đạo vào Ban Chấp hành Trung ương, Ban Thường vụ Trung ương, vào lãnh tụ Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết. Đó chính là một bài học về xây dựng Đảng thời kỳ này. Các tổ chức Đảng được củng cố bảo đảm nội bộ thống nhất, trong sạch Đảng bộ Nam Bộ được cải tổ lại, chấm dứt hiện tượng chia rẽ, bè phái của một số đảng viên; xây dựng tổ chức đảng trong quân đội từ Trung ương Quân ủy đến các chi bộ và hệ thống cơ quan chính trị trong các đơn vị quân đội; mở rộng sự hoạt động của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương để tuyên truyền giác ngộ chủ nghĩa cộng sản cho quần chúng. Công tác phát triển Đảng được đặc biệt coi trọng. Đến cuối năm 1946, số đảng viên đã lên tới trên 20.000. Những khuyết điểm trong nội bộ Đảng như hẹp hòi, tả khuynh, bè phái, kỷ luật không nghiêm... dần dần được khắc phục. Trung ương Đảng còn chỉ thị đấu tranh chống ảnh hưởng của "Chủ nghĩa Các Mác cải lương" và chủ nghĩa cơ hội. Các đảng viên cộng sản tuy số lượng còn ít, trình độ lý luận, kinh nghiệm công tác trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền còn hạn chế, nhưng đều thể hiện vai trò tiền phong gương mẫu, lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng. Nhiều đồng chí tự nguyện rút khỏi cương vị trong chính quyền Nhà nước, nhường cho những người đối lập để thực hiện sách lược hoà hoãn của Đảng.


Tuy không hoạt động công khai và trong nhiệm vụ lãnh đạo mới đầy khó khăn gian khổ, nhưng Đảng ta đã xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc, hoàn thành nhiệm vụ chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh thời kỳ 1945 - 1946.


Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về sự kiện này: "Việc Đảng tuyên bố tự giải tán, sự thật là Đảng rút vào bí mật... Và dù là bí mật, Đảng vẫn lãnh đạo chính quyền và nhân dân"1 (Đảng Cộng sản, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr.22).


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Ba, 2026, 09:03:51 pm
Về xây dựng chính quyền

Giành chính quyền là vấn đề cơ bản và chủ yếu nhất của cách mạng. Lênin đã dạy: "Vấn đề chính quyền nhà nước nhất định là vấn đề chủ yếu nhất của mọi cuộc cách mạng, giai cấp nào giữ chính quyền? Điều đó quyết định tất cả"2 (Lênin, Toàn tập, tập 34, Nxb Tiến bộ, M.1976, tr.269).


Từ khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh liên tục qua ba cao trào cách mạng, nhằm mục tiêu cao nhất là giành chính quyền. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, nhân dân ta đã giành được chính quyền trong cả nước. Vấn đề xây dựng chính quyền mới được đặt ra cấp bách, là vấn đề trung tâm của công cuộc xây dựng chế độ mới.


Sau khi chính quyền thực dân phong kiến bị giải thể, chính quyền cách mạng được thành lập từ Trung ương đến các làng bản. Ủy ban dân tộc giải phóng được cải tổ thành Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Các thành viên Chính phủ phần lớn là các chiến sĩ cách mạng, có bổ sung thêm một số nhà yêu nước và một ít người cần tranh thủ. Ví dụ: cụ Nguyễn Văn Tố là một trí thức yêu nước, được cử làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội, ông Nguyễn Mạnh Hà, một tư sản dân tộc được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế, Cựu hoàng Bảo Đại được cử làm Cố vấn cho Chủ tịch Chính phủ. Ở các địa phương, chính quyền chủ yếu là người của Mặt trận Việt Minh, cũng có mở rộng đưa một số người tuy không tham gia cách mạng trước đây, nhưng có tinh thần chống đế quốc, phong kiến, có uy tín với nhân dân vào chính quyền.


Tuy chính quyền còn non trẻ, bộ máy tổ chức chưa hoàn chỉnh, cán bộ chưa có kinh nghiệm, điều kiện hoạt động vô cùng hạn chế, nhưng với tinh thần cách mạng, ý thức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, chính quyền lâm thời dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh được Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc ủng hộ đã hoạt động khẩn trương, tích cực có hiệu quả, thể hiện sức thanh xuân của chế độ mới.


Để có một bộ máy nhà nước chính thức, hợp pháp, quan hệ quốc tế thuận lợi hơn và dễ dàng huy động sức mạnh toàn dân tộc vào công cuộc kháng chiến kiến quốc, dù bận trăm công ngàn việc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tích cực chuẩn bị để Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Chính phủ lâm thời đã ban hành các sắc lệnh về lập Ủy ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử, định rõ ngày Tổng tuyển cử, thể lệ cuộc Tổng tuyển cử.


Ngày 6 tháng 1 năm 1946, công dân cả nước đã nồng nhiệt tham cuộc Tổng tuyển cử tự do, bình đẳng. Mặc dù các thế lực phản động ra sức chống phá, kể cả dùng vũ lực, nhưng nhân dân ta với tinh thần làm chủ đất nước, được lực lượng vũ trang hỗ trợ đã đánh bại mọi âm mưu hành động của địch, cuộc bầu cử giành thắng lợi lớn. Tỷ lệ cử tri cả nước đi bầu cử là 85%. Kết quả đã bầu được 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên. Thành phần trong Quốc hội đã chứng tỏ đây là cơ quan quyền lực đại biểu cho toàn dân, người các đảng phái 57%, không đảng phái 43%, trí thức 61%, nông dân 22%, công nhân 6%, thương gia 5%1 (Báo Cứu quốc ngày 6 tháng 3 năm 1946).


Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà họp kỳ thứ nhất. Quốc hội đã tuyên dương công lao của Chính phủ lâm thời trong những ngày đầu xây dựng và bảo vệ đất nước. Quốc hội trao quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh lập Chính phủ chính thức. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu thành phần Chính phủ chính thức, Quốc hội đã nhất trí thông qua. Quốc hội đã cử ra Ban Thường vụ Quốc hội, cử Cố vấn đoàn và kháng chiến ủy viên hội. Trong kỳ họp này, Quốc hội còn truy nhận 70 đại biểu của Việt Quốc, Việt Cách không thông qua bầu cử. Quốc hội đã quyết định thủ tiêu mọi chế độ lập pháp cũ và thành lập ủy ban dự thảo hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm trưởng ban.


Kỳ họp thứ hai của Quốc hội từ ngày 28 tháng 10 đến ngày 9 tháng 11 năm 1946, đã thông qua bản Hiến pháp chính thức của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Do điều kiện chiến tranh và bộ máy chính quyền nhà nước chưa hoàn chỉnh, quy chế hành chính còn sơ sài, hệ thống pháp luật mối xây dựng bước đầu nên vai trò của Quốc hội còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, đó đã thực sự là Quốc hội của nhân dân. Trừ một số ít đại biểụ Việt Quốc, Việt Cách vì quyền lợi riêng của đảng phái và cá nhân chỉ hoạt động phá hoại, còn đại đa số đại biểu Quốc hội đã đem hết sức lực và tài năng thực hiện lời căn dặn Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Vì lợi nước, quên lợi nhà, vì lợi chung, quên lợi riêng". Chính phủ chính thức của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà được Quốc hội thông qua ngày 2 tháng 3 năm 1946 lấy tên là Chính phủ liên hiệp kháng chiến.


Trong phiên họp đầu tiên ngày 4 tháng 3 năm 1940 Chính phủ đã quyết định về chính sách đối nội và đối ngoại:

"Về nội trị:

1- Các đảng phải đoàn kết chặt chẽ, ngôn luận hành động phải nhất trí để phụng sự quốc gia.

2- Sinh mệnh và tài sản của tất cả nông dân Việt Nam và kiều dân ngoại quốc được hoàn toàn bảo đảm.

3- Hành chính và quân đội phải thống nhất về tài chính, kinh tế tập trung.

4- Mọi lực lượng của quốc dân được huy động để dùng trong việc kháng chiến kiến quốc và toàn thể nhân dân, nhất là những người làm việc công phải tuân theo kỷ luật.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Ba, 2026, 09:04:55 pm
Về ngoại giao:

1- Đối với các nước Đồng minh, nước Việt Nam bao giờ cũng chủ trương thân thiện, nhất là đối với Trung Hoa.

2- Đối với các nước nhược tiểu đang đấu tranh giành độc lập thì dân tộc Việt Nam rất đồng tình.

3- Đối với nhân dân Pháp, dân Việt Nam không thù hằn, song cực lực phản đối chế độ thực dân và cương quyết giữ quyền độc lập. Chính phủ Việt Nam chỉ nhận điều đình với Chính phủ Pháp theo nguyên tắc: "Dân tộc tự quyết" của Hiến chương Đại Tây Dương"1 (Báo Cứu quốc, ngày 5 tháng 3 năm 1946).


Chính phủ Liên hiệp kháng chiến tồn tại đến tháng 11 năm 1946. Các thành viên Chính phủ thuộc Việt Quốc và Việt Cách không những không lo công việc của Chính phủ, trái lại còn hoạt động phá hoại chính sách của Chính phủ. Họ bị nhân dân chán ghét và phải chạy ra nước ngoài. Thực tế, Chính phủ vẫn do những đại biểu Việt Minh làm nòng cốt và ra sức hoạt động vì lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Đúng như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

"Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no mặc đủ.

Chúng ta phải thực hiện ngay:

1- Làm cho dân có ăn.

2- Làm cho dân có mặc.

3- Làm cho dân có chỗ ở.
   
4- Làm cho dân có học hành.

Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức được cho độc lập"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2004, tr.152).

Đó là việc xây dựng chính quyền Nhà nước ở Trung ương, ở các địa phương, chính quyền cũng được thành lập ngay sau Cách mạng Tháng Tám nhưng cơ cấu tổ chúc và chức năng nhiệm vụ giữa các cơ quan và ở các địa phương chưa thống nhất.

Cuối năm 1945, Chính phủ ban hành nhiều sắc lệnh quy định thống nhất về cơ cấu tổ chức, chức năng quyền hạn, cách thức tổ chức chính quyền các địa phương.

Hội đồng nhân dân chỉ tổ chức ở câp tỉnh, thành phố xã và thị xã, do phổ thông đầu phiếu và trực tiếp bầu ra Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương. Hội đồng nhân dân bầu ra ủy ban hành chính.

Ủy ban hành chính được tổ chức ở tất cả các cấp từ kỳ đến xã: ủy ban hành chính ở cấp nào do Hội đồng nhân dân cấp đó bầu ra. Cấp nào không tổ chức Hội đồng nhân dân thì do các ủy viên Hội đồng nhân dân cấp dưới kề cấp đó bầu ra. Người ứng cử vào ủy ban hành chính cấp nào phải là ủy viên Hội đồng nhân dân cấp đó. Nếu cấp nào không có Hội đồng nhân dân thì tất cả cử tri đều có quyền ứng cử. Đến cuối năm 1946, hầu hết các tỉnh ở Bắc Bộ và Trung Bộ đã bầu được Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính từ cấp xã đến cấp tỉnh.


Để củng cố và giữ vững chính quyền những ngày mới thành lập, ngoài việc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và bọn phản động, tay sai, tổ chức bộ máy chính quyền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh còn rất coi trọng tới việc xây dựng bản chất, giữ vững sự trong sạch của bộ máy chính quyền nhân dân. Đó là chính quyền của dân, phục vụ nhân dân. Trong "Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng", tháng 10 năm 1945, Bác đã căn dặn:

"... Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân... chứ không phải để đè đầu dân...

Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm.

Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.

Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta"1 (Đảng Cộng sản, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr.17).

Người còn nêu ra những biểu hiện tiêu cực của một số cá nhân trong bộ máy chính quyền của ta là: "Trái phép: vì tư thù tư oán mà bắt bố và tịch thu làm cho dân oán thán", "Cậy thế: cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng... không nghĩ đến dân", "Hủ hoá: lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức", "Tư túng: kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ", "Chia rẽ: bênh vực lớp này, chồng lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau", "Kiêu ngạo: tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian". Từ đó Người yêu cầu mỗi người phải giữ vững sự trong sạch về phẩm chất, đạo đức, lối sống, tích cực tu dưỡng rèn luyện tiến bộ; trong công tác phải "công bình, chính trực", tránh phạm sai lầm, những người đã phạm lỗi trên thì phải thắng thắn nhận ra và ra sức sửa chữa, nếu không tự sửa chữa thì "Chính phủ sẽ không khoan dung".


Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến toàn quốc kháng chiến, chỉ hơn một năm, trong tình thế hết sức khó khăn, chính quyền cách mạng đã được xây dựng và hoạt động có hiệu quả. Những tư liệu còn lưu giữ được đến nay như các biên bản họp Quốc hội, Chính phủ, các sắc lệnh, nghị định của Chính phủ, của các Bộ... cho thấy Hội đồng chính phủ và các Bộ hoạt động khá bài bản, nền nếp. Chính quyền địa phương tuy còn những lúng túng, bất cập, có những sai sót, nhưng tinh thần phục vụ nhân dân là rất tốt và chỉ đạo thực tiễn có kết quả.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Ba, 2026, 09:06:42 pm
Xây dựng lực lượng vũ trang

Công cuộc chống ngoại xâm bảo vệ độc lập, thống nhất dân tộc đòi hỏi đất nước phải có lực lượng quân sự ngày càng mạnh, làm nòng cốt cho cuộc kháng chiến toàn dân, Đảng ta hết sức coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang. Ngay từ Hội nghị toàn quốc của Đảng giữa tháng 8 năm 1945, Đảng đã nêu chủ trương "vũ trang toàn dân", "mở rộng Quân giải phóng Việt Nam". Sau Cách mạng Tháng Tám, phong trào vũ trang toàn dân hết sức sôi nổi. Già trẻ, gái trai các làng xã đều tự sắm sửa vũ khí, luyện tập quân sự hàng ngày. Các đoàn thể cứu quốc đều quân sự hoá. Các đội tự vệ, vốn là lực lượng xung kích cùng nhân dân nổi dậy giành chính quyền, nay được củng cố, phát triển, trở thành Tự vệ cứu quốc. Đến cuối năm 1945, hầu hết các thôn xã, đường phố, nhà máy trên cả nước đều có tổ chức tự vệ. Lực lượng dân quân tự vệ từ vài vạn lúc Tổng khởi nghĩa, đến cuối năm 1946 đã phát triển tới gần một triệu.


Cùng với phong trào vũ trang toàn dân và sự phát triển các đội tự vệ, bộ đội tập trung cũng được củng cố và phát triển vượt bậc. Tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị phải nhanh chóng chấn chỉnh, mở rộng giải phóng quân và đổi tên là Vệ quốc đoàn. Tuy còn mang tên là Vệ quốc đoàn để che giấu lực lượng với quân Tưởng, nhưng thực sự, từ đây Vệ quốc đoàn đã trở thành quân đội của Nhà nước ta. Đến ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chính phủ ra sắc lệnh 71/SL, Vệ quốc đoàn chính thức trở thành Quân đội Quốc gia, biên chế chính thức theo từng trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội. Ở các tỉnh có chi đội (tiểu đoàn) Vệ quốc quân, các huyện có chi đội hay phân đội (đại đội) Vệ quốc quân. Cuối năm 1946, bộ đội chủ lực lên đến 8 vạn. Hình thức tổ chức lực lượng vũ trang ba thứ quân đã hình thành. Một số binh chủng hoả lực, kỹ thuật cũng ra đời cùng với sự phát triển của bộ đội tập trung. Ngày 29 tháng 6 năm 1946, đơn vị pháo binh đầu tiên ra đời tại Hà Nội. Tháng 9 năm 1946, đơn vị thông tin quân sự đầu tiên được thành lập.


Đi đôi với sự phát triển về số lượng, chất lượng lực lượng vũ trang được coi trọng và không ngừng nâng cao. Việc huấn luyện quân sự cho các lực lượng vũ trang được tiến hành khẩn trương. Các trường huấn luyện, đào tạo cán bộ chỉ huy quân đội được thành lập. Trường Quân chính kháng Nhật trước, nay được mở rộng và đổi tên là Trường Cán bộ Việt Nam, cấp tốc đào tạo cán bộ cho quân đội. Tháng 3 năm 1946, Trung ương Đảng mở Trường Quân chính Bắc Sơn. Tháng 5 năm 1946, Bộ Quốc phòng khai giảng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Các địa phương cũng mở nhiều trường quân sự đào tạo cán bộ cho bộ đội địa phương và tự vệ. Tính đến cuối năm 1946, hàng nghìn cán bộ quân sự được đào tạo, kịp thời đáp ứng nhu cầu về cán bộ chỉ huy cho các đơn vị. Nhiều cán bộ của Đảng đã rèn luyện qua các thời kỳ cách mạng được cử vào phụ trách quân đội, nhiều cán bộ Việt Minh được đưa sang là cán bộ quân sự. Hệ thống tổ chức Đảng trong quân sự ngày càng được kiện toàn. Tháng 1 năm 1946, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy - cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng trong quân đội (gồm 7 đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Liêm, Hoàng Văn Thái, Chu Văn Tấn, Nguyễn Sơn. Đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư đồng chí Trần Tử Bình làm Phó Bí thư) có nhiệm vụ: Giúp Ban Chấp hành Trung ương Đảng trực tiếp nắm hoạt động của lực lượng vũ trang, xây dựng bản chất cách mạng của quân đội, bảo đảm cho quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và với nhân dân trong mọi thử thách quyết liệt. Cơ quan giúp việc Trung ương Quân ủy có ủy ban quân sự, ủy ban chính trị, ủy ban Đảng vụ. Kể từ đó hệ thống tổ chức đảng trong quân đội được hình thành ở các cấp, xuống tới đơn vị cơ sở là chi bộ. Chế độ lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với quân đội ra đời từ đây. Chế độ chính trị viên cùng đội trưởng phụ trách đơn vị được thực hiện trong toàn quốc. Sau khi thành lập Chính phủ Liên hiệp quốc dân thay cho Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, tháng 11 năm 1946, Kháng chiến ủy viên hội (hay Quân sự ủy viên hội) thống nhất với Bộ Quốc phòng thành Bộ Quốc phòng để tập trung lãnh đạo, chỉ huy quân đội và dân quân toàn quốc.


Để thống nhất lãnh đạo, chỉ huy đối với Quân đội Quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh chấp thuận đề xuất của Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất (19 tháng 10 năm 1946) và ngày 30 tháng 11 năm 1946, ra sắc lệnh số 230/SL, bổ nhiệm đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Chỉ huy quân đội.


Từ tháng 1 năm 1946 là thời điểm thành lập, đến cuối năm 1946, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự phối hợp của các đảng bộ các địa phương, được đồng bào cả nước thương yêu chăm sóc, Trung ương Quân ủy và các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong quân đội đã lãnh đạo, tổ chức toàn quân vừa chiến đấu, công tác, vừa trưởng thành vượt bậc, cùng với toàn dân đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các lực lượng đế quốc và tay sai, giữ vững chính quyền cách mạng, xây dựng được "lực lượng căn bản" để chủ động bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc.


Cùng với việc xây dựng lực lượng quân sự, lực lượng công an cũng được xây dựng, mở đầu từ cuộc khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945. Ngày 21 tháng 2 năm 1946, Chính phủ ban hành sắc lệnh lập "Việt Nam Công an vụ". Ngày 18 tháng 4 năm 1946, Bộ Nội vụ ra nghị định quy định cơ cấu tổ chức, quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan công an từ cấp Trung ương đến các tỉnh và sự liên lạc giữa các cơ quan công an với các cơ quan của ủy ban hành chính. Tuy mới thành lập, số lượng chưa nhiều, trình độ nghiệp vụ và phương tiện kỹ thuật còn hạn chế, nhưng lực lượng công an đã có đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ chính quyền, bảo vệ trật tự trị an, trừng trị bọn phản cách mạng.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Ba, 2026, 09:08:06 pm
Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân

Trước những hành động xâm lược và phá hoại của tay sai, nhân dân ta từ Nam chí Bắc, từ miền ngược đến miền xuôi càng thêm đoàn kết chặt chẽ xung quanh Chính phủ Cụ Hồ, hăng hái tham gia Mặt trận Việt Minh - mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi do Đảng lãnh đạo, các hội cứu quốc trong mặt trận như công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nhi đồng cứu quốc... phát triển mạnh mẽ. Khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo, nền tảng của mặt trận được phát triển và củng cố vững chắc. Đây thực sự là khối quần chúng cách mạng, khối đoàn kết toàn dân được tổ chức chặt chẽ, là lực lượng chính trị hùng hậu phát triển rộng khắp trong và sau ngày Tổng khởi nghĩa.


Lực lượng chính trị hùng hậu ấy đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc bảo vệ chính quyền nhân dân bảo vệ chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc. Đây là cơ sở vững chắc để xây dựng, phát triển lực lượng mọi mặt của cách mạng, là nền tảng để thực hiện vũ trang toàn dân hình thành phát triển lực lượng vũ trang nhân dân. Đây cũng chính là cơ sở vững chắc nhất để xây dựng hậu phương kháng chiến.


Nhân dân chỉ có thể phát huy sức mạnh to lớn của mình khi được tổ chức và có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Nhiều cán bộ của Đảng, của Mặt trận Việt Minh, của các đoàn thể cứu quốc được cử đến những vùng rừng núi xa xôi hẻo lánh ở Tây Bắc, Tây Nguyên để làm công tác tuyên truyền vận động và tổ chức nhân dân. Các đoàn thể cứu quốc được xây dựng rộng khắp: hội công nhân cứu quốc ở các nhà máy, công xưởng; các hội nông dân, thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nhi đồng cứu quốc ở khu phố thôn xã; hội học sinh, sinh viên cứu quốc ở trường học; hội viên chức cứu quốc ở các công sở. Trong các tôn giáo có Hội Phật giáo cứu quốc, Hội Công giáo cứu quốc. Để mở rộng hơn nữa mặt trận dân tộc thống nhất do giai cấp công nhân lãnh đạo, Đảng ta đã chú ý tranh thủ những nhân sĩ yêu nước thuộc tầng lớp trên. Đảng còn cố gắng lôi kéo tranh thủ cả những người cầm đầu tầng lớp thống trị cũ (trong đó có Bảo Đại), những người có ảnh hưởng lớn trong các dân tộc, các tôn giáo (như vua Mông là Vương Chí Sình, linh mục Thiên chúa giáo là Lê Hữu Từ...). Mặc dù một số nhũng người này đi theo cách mạng chỉ là một cử chỉ có tính chất cơ hội nhằm tránh đòn trừng phạt của nhân dân, nhưng điều đó càng nói lên chủ trương đoàn kết rộng rãi của Đảng vì quyền lợi chung của Tổ quốc, đồng thời có tác dụng cô lập triệt để bọn đế quốc xâm lược, ngăn chặn hạn chế các hoạt động chia rẽ, phá hoại của bọn phản cách mạng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tạo sự ổn định vững chắc về chính trị, chuẩn bị hậu phương cho sự nghiệp kháng chiến.


Với tư cách người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Nhà nước còn yêu cầu chính quyền các cấp và nhân dân toàn quốc phát hiện, tiến cử những người tài đức, không phân biệt tuổi tác và thành phần giai cấp ra giúp dân giúp nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Khối đoàn kết toàn dân làm hậu thuẫn vững chắc cho chính quyền nhân dân, mặt khác ta thành lập thêm nhiều tổ chức quần chúng mới, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất. Đồng thời tăng cường đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân nhất trí, động viên nhân lực, tài lực rộng Đảng Xã hội Việt Nam nhằm đoàn kết rộng rãi những người trí thức yêu nước, đập tan âm mưu của thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai định lập lại chi nhánh đảng xã hội Pháp ở Việt Nam hòng lôi kéo trí thức và công chức chống lại Việt Minh. Ngày 20 tháng 10 năm 1946 Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ra đời đoàn kết các tầng lớp phụ nữ yêu nước, ủng hộ chính, quân, nhân dân, chống thực dân Pháp xâm lược.


Đặc biệt, ngày 19 tháng 4 năm 1946, Hội nghị các dân tộc thiểu số miền Nam Việt Nam được triệu tập ở Plây Cu ngày 3 tháng 12 năm 1946, Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam được tổ chức ở Hà Nội, nhằm đoàn kết các dân tộc trong nước, chống âm mưu chia rẽ dân tộc của thực dân Pháp.


Nhiệm vụ chính trị của giai đoạn mới là chống âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước ta của thực dân Pháp và xây dựng đất nước, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến sắp tới, nó đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, làm hậu thuẫn vững chắc cho chính quyền nhân dân, mặt khác thành lập thêm nhiều tổ chức quần chúng mới, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất. Đồng thời tăng cường đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân nhất trí, động viên nhân lực, tài lực, mở rộng đoàn kết với hai dân tộc Lào và Campuchia, với nhân dân Pháp, với các nước châu Á và các dân tộc bị áp bức, các dân tộc yêu chuộng hòa bình dân chủ trên thế giới, củng cố chế độ cộng hòa dân chủ.


Mặt trận Việt Minh được mở rộng với sự phát triển của các đoàn thể cứu quốc sẵn có và tổ chức thêm các đoàn thể cứu quốc mới. Tổng số hội viên của Việt Minh đã có khoảng 5 triệu người. Đảng Dân chủ càng được Mặt trận Việt Minh giúp đỡ phát triển, thu hút tầng lớp tư sản, địa chủ yếu nước, tiến bộ. Mặt trận Việt Minh, tuy là mặt trận thống nhất rộng rãi, có uy tín lớn, song, thành phần tham gia chủ yếu là các tầng lớp cơ bản của xã hội, đa số là công nhân và nông dân. Trong tình hình mới, có những nhân sĩ, trí thức, những điền chủ và công thương gia, những chức sắc tôn giáo, nhiều tổ chức và cá nhân có xu hướng chính trị khác nhau chưa tham gia Việt Minh, nay họ muốn tham gia một tổ chức mặt trận thích hợp để có điều kiện phấn đấu cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường. Đáp ứng yêu cầu thực tiễn đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam.


Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) thành lập ngày 29 tháng 5 năm 1946. Cụ Hồ Chí Minh được cử làm Hội trưởng danh dự. Cụ Huỳnh Thúc Kháng - một nhân sĩ trí thức được cử làm Hội trưởng. Chương trình của Hội Liên Việt nêu rõ: "Mục đích đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và đồng bào yêu nước vô đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập - thống nhất - dân chủ - phú cường"1 (Đảng Cộng sản, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr.69).


Như thế thành phần của Hội Liên Việt rộng rãi hơn ngoài Việt Minh là một thành viên tích cực, còn có nhiều tổ chức và cá nhân khác, kể cả người của Việt Quốc, Viêt Cách. Đây chính là thực hiện phương châm "thêm bạn, bớt thù" để mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng ta Sau đó, Đảng Xã hội Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Báo chí Việt Nam cũng được thành lập và gia nhập Hội Liên Việt.


Chủ trương mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ này là sự sáng tao đặc sắc, phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của tình hình mới, một thời kỳ vô cùng khó khăn, phức tạp. Nhờ chủ trương đúng đắn đó mà Mặt trận dân tộc thống nhất có bước phát triển mới, bạn ngày càng đông, thù ngày càng ít, khối đại đoàn kết dân tộc được mở rộng ra và được củng cố chưa từng có.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Ba, 2026, 08:35:48 pm
b) Sách lược hoà hoãn với kẻ thù để giữ vững chính quyền

Ở miền Bắc, Tưởng Giới Thạch đưa gần 20 vạn quân cùng bọn tay sai vào nước ta không phải chỉ để tước vũ khí ba vạn binh lính Nhật, mà còn có ý định ngay lập tức "diệt Cộng cầm Hồ", lập Chính phủ bù nhìn tay sai, thực hiện một lúc nhiều mục tiêu: tiêu diệt một Chính phủ cộng sản ở phía Nam, trong khi đang bị cách mạng Trung Quốc uy hiếp từ phía Bắc; xác lập ảnh hưởng của Trung Hoa Dân quốc càng lớn càng tốt để thực hiện dã tâm bành trướng sau này; gây sức ép mặc cả quyền lợi với Pháp. Từ khi thấy Pháp nổ súng đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ, Tưởng Giới Thạch càng muốn nhanh chóng thực hiện ý đồ trên, trước khi Pháp có thể mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước ta. Nhưng quân Tưởng sang Việt Nam, thấy chính quyền ta đã được thành lập từ Trung ương xuống các địa phương và được toàn dân ủng hộ, khí thế của cách mạng rất lốn mạnh. Trong khi đó, bọn tay sai không có lực lượng và sự ủng hộ nào đáng kể như chúng báo cáo trước đây. Quân Tưởng nhất là các quân đoàn Vân Nam vốn là đạo quân ô hợp, đói rách (bao gồm cả gia đình binh sĩ đi theo), rất khó khăn về tiếp tế, hậu cần, nên buộc phải giao thiệp với Chính phủ ta, trước hết là lấy cái ăn, chốn ở, sau là thăm dò tình hình, tìm một phương sách thích hợp chống phá ta.


Hà Ứng Khâm cùng Mắc Lơrơ - Tư lệnh lục quân Mỹ ở Trung Quốc sang nước ta kiểm tra tình hình và quyết định hành động của quân Tưởng. Sau khi nắm tình hình, ngày 3 tháng 10 Hà Ứng Khâm tuyên bố lời lẽ cứng rắn, đe dọa ta rằng: Quân đội Trung Hoa ngoài việc giải giáp quân đội Nhật, "còn giữ gìn không xảy ra những việc gì có hại cho trị an và trật tự ở đó. Nếu kẻ nào làm rối trị an và trật tự sẽ bị ngăn ngừa, trừng trị một cách rất công bằng không có thiên lệch, dù đối với người nào hay về phương diện nào cũng vậy"1 (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, H.1993, tr.240) nhưng thực tế Hà Ứng Khâm và Mắc Lơrơ đã phải ra lệnh cho bọn tướng lĩnh dưới quyền không được dùng vũ lực lật đổ chính quyền ta, mà phải chống phá bằng các thủ đoạn chính trị, ngoại giao, có sự răn đe, hậu thuẫn của lực lượng quân sự. Thủ đoạn mới của quân Tưởng là yêu sách ta nhiều điều ngang ngược, gây khó khăn cho ta, dùng bọn tay sai xâm nhập chính quyền cách mạng để chống phá mọi chính sách của Chính phủ làm suy yếu tiến tới lật đổ chính quyền cách mạng, thay thế bằng chính quyền tay sai. Như thế không dùng hành động vũ lực phiêu lưu, nhưng vẫn đạt được mục đích. Tuy nhiên, nếu điều kiện cho phép, chúng cũng không loại trừ khả năng dùng vũ lực. Mặt khác, Tưởng cũng muốn để ta đánh Pháp, ngăn chặn Pháp đánh chiếm cả nước. Hòa hoãn với ta, Tưởng coi ta như một lực lượng Đồng minh tạo thế trong cuộc mặc cả với Pháp.


Xuất phát từ yêu cầu của nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc, vừa phải chống thực dân Pháp xâm lược, vừa phải nỗ lực từng bước xây dựng đất nước, mặc dù biết rõ âm mưu thủ đoạn của quân Tưởng, Đảng ta vẫn chủ trương hoà hoãn với quân Tưởng. Lúc này với giặc ngoại xâm ta chưa đủ sức dùng lực lượng quân sự chống cả hai kẻ thù cùng một lúc. Nếu không biết lợi dụng và khoét sâu mâu thuẫn giữa Pháp và Tưởng, phân hoá chúng, hoà hoãn với một kẻ thù, thì nước ta sẽ rơi vào một hoàn cảnh Pháp đánh trong Nam, Tưởng dùng vũ lực lật đổ chính quyền ngoài Bắc. Tình thế ấy, chúng ta khó có thể chống đỡ nổi. Thông cáo ngoại giao của Chính phủ lâm thời ngày 4 tháng 10 năm 1945 viết:

"Nước Việt Nam còn đương ở giai đoạn đấu tranh kịch liệt, các chính sách ngoại giao phải có mục đích cốt yếu là giúp cho sự tranh đấu ấy được thắng lợi bằng một phương pháp êm dịu hay cương quyết tuỳ theo thái độ của các liệt quốc". Trong các liệt quốc ấy, Đảng ta xác định: "Kẻ thù chính của ta hiện nay là thực dân Pháp xâm lược. Kẻ thù phụ của chúng ta hiện nay là những lực lượng giúp thực dân Pháp đặt lại quyền thống trị trên đất nước ta. Cố nhiên bọn Việt gian thân Pháp là một trong những lực lượng phản động ấy. Phải chĩa tất cả các mũi nhọn của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào kẻ thù chính; đồng thời phải cô lập những kẻ thù phụ"1 (Báo Sự thật, ngày 30 tháng 12 năm 1945).


Để thực hiện chủ trương lợi dụng mâu thuẫn giữa hai phe Đồng minh Anh - Pháp và Mỹ - Tưởng, tập trung ngọn lửa đấu tranh vào thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta thực hiện sách lược "Hoa - Việt thân thiện", hoà hoãn với quân Tưởng để hạn chế sự chống phá trắng trợn điên cuồng của chúng, giữ vững chính quyền, tập trung lực lượng kháng chiến chống pháp. Đương nhiên, hoà hoãn với quân Tưởng, ta phải chấp nhận những khó khăn phức tạp. Tất cả những âm mưu thủ đoạn của quân Tưởng và bọn tay sai không phải chúng ta không đánh giá hết. Những hành động chống phá của chúng không phải không gây ra những khó khăn nghiêm trọng cho ta. Tuy nhiên, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cân nhắc kỹ lợi hại, chọn giải pháp ít nguy hại hơn. Những khó khăn do quân Tưởng gây ra trong hoà hoãn, chúng ta có thể đối phó và vượt qua.


Quân Tưởng phải hoà hoãn với ta, nhưng chúng đòi những điều kiện nhất định. Để đạt được hoà hoãn, chúng ta phải mềm dẻo và nhân nhượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phương châm đối phó với quân Tưởng:

"Chính sách của ta hiện nay phải là chính sách Câu Tiễn. Nhưng nhẫn nhục không phải là khuất phục"2 (Nguyễn Lương Bằng, Bác Hồ, Nxb Văn hóa, H. 1960, tr. 78).

Trong cuộc họp với các Bí thư Tỉnh ủy cuối năm 1945, Người phân tích:

"Quân đội Tưởng Giới Thạch sang đây không phải để chúng giúp ta độc lập, chúng có mưu đồ riêng của chúng. Nhưng về sách lược bên ngoài ta vẫn phải nói cám ơn ta phải dùng sách lược của Việt Vương Câu Tiễn mới được Phải "dĩ nhu chế cương"1 (Hồi kỳ của đồng chí Đặng Việt Châu, TL ban nghiên cứu lịch sử Đảng Vĩnh Phú, tr. 9).

Sách lược nhân nhượng, hoà hoãn được Đảng, Chủ tích Hồ Chí Minh và nhân dân ta thực hiện trên nhiều lĩnh vực: ngoại giao, kinh tế, chính trị, quân sự...

Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rất rõ Mỹ là kẻ quyết định chính sách của Tưởng. Từ cuối năm 1945 đến đầu năm 1946, Người đã gửi nhiều bức thư tranh thủ Tổng thống và các quan chức ngoại giao Mỹ và tranh thủ những sĩ quan Mỹ ở Hà Nội lúc đó, như thiếu tá Tômát, thiếu tá Pátti...


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Ba, 2026, 08:37:26 pm
Với Tưởng Giới Thạch và bọn tướng lĩnh Hoa Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức tạo ra mối quan hệ giao hảo, ngăn chặn, hạn chế những mặt xấu của họ. Trong thư chúc tết đồng bào, chiến sĩ cả nước nhân dịp Tết Bính Tuất (1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

"Nhờ có anh em Trung Hoa mà miền Bắc nước ta tránh được họa binh đao, đồng bào ta được làm ăn yên ổn, do đó mà có thể giúp đỡ đồng bào miền Nam, tinh thần thân thiện đó, chúng ta phải biết và phải nhớ luôn luôn.

Vậy nên nhân dịp tết này, tôi kính thay mặt toàn quốc đồng bào mà chào mừng toàn thể anh em Trung Hoa ở đây và ở Trung Quốc muốn sự tốt lành.

   Chúng ta cùng hô to:
   Năm mới Hoa - Việt thân thiện muôn năm,
   Việt Nam kháng chiến thắng lợi!
   Việt Nam độc lập muôn năm!"1 (Báo Cứu quốc, số Tết Bính Tuất).

Ngày 16 tháng 3, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử phái đoàn Chính phủ do Cố vấn Vĩnh Thuỵ dẫn đầu đáp máy bay đi Trùng Khánh thăm Tưởng Giới Thạch.

Với Lư Hán, ngày 11 tháng 9 năm 1945 đến Hà Nội, thì hôm sau Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm, nói rõ chủ trương Hoa - Việt thân thiện của ta. Với Tiêu Văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ nhiều lần để thuyết phục giải quyết những sự việc rắc rối do quân Tưởng gây ra. Với cả đạo quân Tưởng đông đảo và ô hợp, chính quyền và nhân dân Việt Nam đã phải đón tiếp chúng một cách hữu nghị như những người cùng trong phe Đồng minh. Ta bảo đảm cung cấp những nhu cầu sinh hoạt như nhà ở, lương thực, thực phẩm, nhận cho lưu hành đồng tiền mất giá Quan kim và Quốc tệ. Trước những hành động quấy phá, khiêu khích của chúng, ta chủ trương dùng đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý dàn xếp cho ổn thỏa, tránh đối đầu về quân sự.


Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ:

"Phải hết sức tránh khiêu khích, không để xảy ra xung đột với quân Tưởng. Nếu đã xảy ra xung đột thì phải biến xung đột lớn thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không xung đột"1 (Võ Nguyên Giáp, Những chặn đường lịch sử, Nxb Văn hóa, H. 1977, tr. 299).

Ở nhiều nơi như Hà Nội, Vĩnh Yên, Phú Thọ ta rút hoặc giãn lực lượng vũ trang ra ngoài để bớt không khí đối đầu căng thẳng và tránh va chạm. Nhiều nơi khác, ta tạm rút cơ quan chính quyền ra ngoài thị xã, thị trấn chỉ để lai bộ phận nhỏ thường trực để tránh quân Tưởng và bọn tay sai gây rối loạn có thể bất ngờ tiến công cơ quan chính quyền ta. Ở Thái Nguyên, cơ quan chính quyền đoàn thể tạm rút về Phú Lương, cơ quan tỉnh Phú Thọ rút về Hưng Hoá, cơ quan tỉnh Thái Nguyên rút về Đạm Xuyên cơ quan thị trấn Việt Trì rút về làng An Lão... Ta thoả thuân với quân Tưởng thành lập Ban liên lạc Trung - Việt ở Hà Nội, Ban liên kiểm ở thị xã Phúc Yên, Biện sự sứ ở thị xã Phú Thọ... gồm đại diện chính quyền ta, đại diện quân đội Tưởng và có nơi, gồm cả đại diện Việt Quốc, để giao thiệp hàng ngày và giải quyết những vụ rắc rối giữa hai bên.


Chúng ta vừa nhân nhượng, vừa đấu tranh, và trong tương quan lực lượng cụ thể, Tưởng phải hòa hoãn với ta. Nhưng trước ý đồ lật đổ chính quyền nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, âm mưu của chúng vẫn không thay đổi, chỉ có cách thức tiến hành thì có sự điều chỉnh. Nếu như ý định lúc đầu của chúng là dùng vũ lực trực tiếp lật đổ chính quyền cách mạng nhưng không thực hiện được, thì nay chúng giật dây và phối hợp cùng bọn Việt Quốc, Việt Cách gây sức ép, đưa bọn tay sai xâm nhập vào bộ máy chính quyền, chia xẻ quyền lãnh đạo, phá hoại từ bên trong, làm suy yếu thế lực cách mạng, tiến tới lật đổ chính quyền cách mạng, lập chính quyền bù nhìn tay sai. Ph. Gioay, tác giả cuốn Trung Quốc và việc giải quyết chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất có nhận xét rất đúng rằng:

"Ngày 24 tháng 8 năm 1945, Tưởng Giới Thạch nhắc lại: "Trung Quốc không hề có tham vọng lãnh thổ Việt Nam".

Nhưng mối nguy cơ lớn là ở chỗ quân đội Trung Hoa áp đặt ở Hà Nội một Chính phủ của Việt Nam Quốc dân đảng - Đồng minh hội là những tổ chức trung thành với họ"1 (Ph. Gioay - Trung Quốc và việc giải quyết chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Nxb Thông tin lý luận, H. 1981, tr. 70).


Những nhân nhượng về kinh tế, tài chính, về quan hệ ngoại giao... cũng là những nhân nhượng lớn và có gây cho ta nhiều khó khăn. Nhưng nhân nhượng quan trọng hơn là những nhân nhượng về chính trị. Đó là việc Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán và việc chấp nhận bọn Việt Quốc, Việt Cách vào Quốc hội và Chính phủ Liên hiệp.


Lúc bấy giờ, một vấn đề chính trị rất gay go là bọn đế quốc và tay sai lấy cớ Chủ tịch Hồ Chí Minh là Cộng sản, Việt Minh là Cộng sản, Cộng sản giữ chính quyền, đàn áp các đảng phái khác... để đòi Chủ tịch Hồ Chí Minh phải từ chức, đòi loại các Bộ trưởng Cộng sản khỏi Chính phủ, đòi để cho Việt Quốc, Việt Cách nắm chính quyền... tình thế rất bức bách. Xem xét tình hình chung và chủ động giải quyết vấn đề chính trị phức tạp này, ngày 11 tháng 11 năm 1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dưởng ra thông cáo Đảng Cộng sản Đông Dương tự ý giải tán. Bản thông cáo nêu rõ: "Lúc này chính là cơ hội nghìn năm có một cho nước Việt Nam giành quyền hoàn toàn độc lập". Để tăng cường sự đoàn kết nhất trí của toàn dân không phân biệt giai cấp, đảng phái vì nhiệm vụ giải phóng dân tộc, để chứng tỏ những đảng viên Cộng sản là những chiến sĩ tiên phong đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên quyền lợi riêng của đảng phái, để phá tan những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho sự nghiệp giải phóng nước nhà, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra "Nghị quyết tự động giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương".


Báo Cứu quốc ngày 13 tháng 11 năm 1945 bình luận về sự kiện này: "Đảng Cộng sản Đông Dương tự ý giải tán có thể đánh tan những sự hiểu lầm trước công chúng và làm cứng họng những kẻ vu cáo hèn nhát, có thể làm cho Mặt trận kết nạp thêm được lực lượng toàn dân kháng chiến ủng hộ Chính phủ lăm thời mau chóng tranh thủ nền độc lập hoàn toàn của dân tộc".


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Ba, 2026, 08:39:05 pm
Như vậy Đảng Cộng sản Đông Dương ra thông cáo tự động giải tán do hoàn cảnh thế giới và trong nước đang có nhiều khó khăn, bất lợi cho sự sống còn của Đảng, cho sự tồn tại của chính quyền cách mạng, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong đó trực tiếp và nguy hiểm nhất là sức ép của kẻ thù. Đối với quân Tưởng, đây là một nhân nhượng lớn của ta. Nhiều đồng chí và đồng bào không hiểu rõ nên hoang mang thắc mắc. Đảng phải rút vào hoạt động bí mật cũng gặp nhiều trở ngại, hạn chế việc lãnh đạo các cơ quan chính quyền đoàn thể và việc củng cố tổ chức Đảng, phát triển đảng viên. Nhưng thực sự đây là một sách lược nhân nhượng mềm dẻo, nhằm đạt được mục tiêu căn bản của cách mạng là giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững chính quyền để đi tới giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về chủ trương này:

"Đứng trước tình hình gay go và cấp bách ấy, Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, để lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn, và để có thời giờ củng cố dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất.

Lúc đó, Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết. Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những phương pháp - dù là những phương pháp đau đớn - để cứu vãn tình thế"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 21).


Nhân nhượng lớn thứ hai và cũng là điểm nút đạt tới hòa hoãn là việc ta chấp nhận Việt Quốc, Việt Cách tham gia Quốc hội và Chính phủ Liên hiệp. Cuộc đấu tranh với quân Tưởng và bọn tay sai để đi tới hòa hoãn cũng trải qua một quá trình phức tạp. Chính quyền Tưởng Giới Thạch và bọn chỉ huy quân Tưởng ở Việt Nam do phải theo lệnh Mỹ, do những khó khăn hạn chế của chúng và do đấu tranh của ta, buộc phải hòa hoãn. Nhưng bọn tay sai, do bản chất và ý đồ phản động, lại không muốn hòa hoãn với ta. Chúng muốn thông qua mũi súng quân Tưởng để lật đổ chính quyền cách mạng, thỏa mãn tham vọng từ lâu là giành lấy chính quyền. Hòa hoãn với ta chúng sẽ thất thế vì không có lực lượng bản thân, không có cơ sở chính trị, người cầm đầu không có uy tín. Chúng tự biết không xứng đáng là đối thủ của Đảng ta, của Mặt trân Việt Minh. Đó cũng là mâu thuẫn giữa bọn tay sai với quan thầy của chúng. Ta chủ trương hòa hoãn cũng là lơi dụng mâu thuẫn ấy. Dù sao bọn tay sai cũng phải theo lệnh Tưởng thương lượng hòa hoãn với ta. Mục đích của chúng là dùng thủ đoạn chính trị chống phá ta. Chúng ta nêu khẩu hiệu đoàn kết các đảng phái, đoàn kết toàn dân để chống pháp xâm lược. Với khẩu hiệu này, ta buộc chúng dù không muốn cũng không thể công khai phản đối buộc chúng không được trắng trợn phá hoại các chính sách kháng chiến kiến quốc của Chính phủ.


Việt Cách là một tổ chức phản động tay sai của Tưởng nhưng trong Hội có sự tham gia của nhiều lực lượng khác nhau, nên có những xu hướng chính trị khác nhau, trong đó có nhiều người yêu nước, cảm tình và đi theo cách mạng. Thế lực của Việt Cách lại yếu, thường bị Việt Quốc coi thường, chèn ép, nên có mâu thuẫn nhất định với Việt Quốc và sự chống phá cách mạng không nguy hiểm bằng Việt Quốc. Qua nhiều cuộc trao đổi trực tiếp và qua báo chí, Việt Minh và Việt Cách đã ra được bản Tuyên ngôn đoàn kết, trong đó kêu gọi đoàn kết, thừa nhận và ủng hộ Chính phủ lâm thời, nguyện cùng nhau đem hết lực lượng chống thực dân Pháp, giữ vững nền tự do độc lập của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.


Việt Quốc là tổ chức phản động tay sai đắc lực của quân Tưởng, phần lớn đảng viên là những phần tử phản động. Đặc biệt, bọn cầm đầu là những tên ngoan cố, có thủ đoạn thâm độc. So với Việt Cách, Việt Quốc có tổ chức chặt chẽ hơn và có lực lượng vì sáp nhập cùng Đại Việt, nên chống phá ta nguy hiểm hơn. Ngay từ ngày 18 tháng 9 năm 1945, Trung ương Đảng bộ Việt Nam Quốc dân Đảng đã gửi Mặt trận Việt Minh một bản đề nghị, trong đó có nhiều lời lẽ bịp bợm, nhưng không che giấu được những yêu cầu ngang ngược như đòi giải tán Việt Minh, thay đổi Chính phủ, định lại Quốc kỳ, Việt Quốc đứng làm trung tâm điều đình đoàn kết các đảng phái chính trị... Sau đó, báo Việt Nam của Việt Quốc đăng bài "Các đảng phái hãy đoàn kết", công khai trước dư luận những đòi hỏi cho cuộc thương lượng: các tổ chức Cứu quốc bỏ danh từ Mặt trận Việt Minh, Việt Minh gia nhập Mặt trận Quốc gia chống pháp do chúng lập ra. Mặt trận Quốc gia chống Pháp thành lập Chính phủ, định lại Quốc kỳ, đặt lại Quốc ca, đình hoãn Tổng tuyển cử...


Ngày 12 tháng 12 năm 1945, Việt Minh ra lời kêu gọi Việt Quốc chấm dứt mọi hành động chia rẽ phá hoại cùng nhau hợp tác.

Báo Sự thật ngày 5 tháng 12 năm 1945 đăng Bức thư ngỏ cùng anh em Việt Nam Quốc dẫn Đảng trong nhóm Việt Nam của những người mácxít Đông Dương, về tình hình cấp bách của đất nước, bức thư nêu:

"Thực dân Pháp tiến công Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Chúng lăm le đem quân vào Bắc Bộ. Tổ quốc lâm nguy. Toàn dân phải đoàn kết, ngăn cản quân xâm lược. Chia rẽ là chết, đoàn kết thì sống. Những câu ấy chúng ta nhắc đi nhắc lại đã nhiều rồi. Giờ đây phải làm cho nó thành sự thật...".


Ba nguyên tắc hợp tác giữa các đảng phái yêu nước do những người mácxít Đông Dương để ra là:

"1. Đoàn kết, hợp tác giữa tất cả các đoàn thể chân chính yêu nước, nhưng không đoàn kết vô nguyên tắc với bọn phản quốc.

2. Sự đoàn kết thành thực giữa các đảng phái cách mạng chỉ có thể đặt lên trên nền tảng hành động chung.

3. Cấm chỉ mọi hành động có hại cho nước, có lợi cho địch, nhất là việc gièm pha cuộc kháng chiến và mạt sát Chính phủ kháng chiến".


Với những lãnh tụ các đảng đối lập ta thường một mặt tranh thủ, mặt khác hạn chế tối đa hành động phá hoại của họ.

Tình thế chung buộc kẻ thù phải chấp nhận hoà hoãn. Sau Tuyên ngôn đoàn kết của Hội nghị Liên tịch Việt Minh, Việt Cách, ngày 19 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh ký văn bản Nguyên tắc chung tối cao của cuộc hợp tác giữa Việt Minh, Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, Việt Nam Quốc dân Đảng gồm bảy điểm, quy định thế thức thành lập Chính phủ đoàn kết rộng rãi, thống nhất Quân đội Quốc gia chống Pháp, ngày 24 tháng 11 lại ký văn bản Chân thành đoàn kết. Ở một số địa phương cũng có những cuộc thương lượng hoà giải giữa chính quyền ta với các lực lượng đối lập như ở Vĩnh Yên, Phú Thọ...


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Ba, 2026, 08:40:16 pm
Cuộc đấu tranh giữa ta với quân Tưởng và tay sai về Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và lập Chính phủ Liên hiệp là vấn đề phức tạp nổi bật. Bọn phản động biết rằng chúng không có một chút hy vọng trúng cử trong cuộc bầu cử bình đẳng, dân chủ sắp tới, nên lúc đầu Việt Quốc, Việt Cách phản đối Tổng tuyển cử và lập Chính phủ Liên hiệp. Do ta đấu tranh, do sức ép của dư luận, cuối cùng chúng phải đồng ý Tổng tuyển cử và lập Chính phủ Liên hiệp. Nhưng Việt Quốc đòi:

Một phần ba đại biểu Quốc hội là của Việt Quốc.

Một phần ba là những người không thuộc đảng phái nào.

Trong Chính phủ Liên hiệp, chúng đòi nắm bảy Bộ trưởng: Quốc phòng, Nội vụ, Tài chính, Giáo dục, Kinh tế, Thanh niên, Kiều vụ và hai chức vụ Tổng lý nội các, Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia. Sau nhiều cuộc điều đình, ngày 23 tháng 12 năm 1945, đại diện Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh cùng ký văn bản Biện pháp hợp tác gồm mười bốn điều khoản chính và phụ khoản bốn điều, thoả thuận về việc lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời và tổ chức thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý cải tổ Chính phủ lâm thời trước khi bầu cử Quốc hội để đưa người của Việt Quốc, Việt Cách tham gia Chính phủ và chấp nhận dành cho Việt Quốc 50 ghế, Việt Cách 20 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử.


Ngày 24 tháng 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh ký tiếp văn bản đoàn kết gồm ba điều quy định dùng biện pháp thương lượng hoà bình để giải quyết những mắc mớ, xung khắc giữa các đảng phái và đã thoả thuận những điều kiện hợp tác:

- Bắt đầu từ ngày 25 tháng 12 năm 1945, hai bên không công kích nhau trên mặt báo nữa.

- Chính phủ sẽ đặt thêm hai chức Bộ trưởng để nhường cho Việt Nam Quốc dân Đảng.

- Ông Nguyễn Hải Thần sẽ làm Phó Chủ tịch.
   
- Hôm 1 tháng 1 năm 1946, ông Nguyễn Hải Thần và hai ông Bộ trưởng mới sẽ tuyên thệ nhậm chức.

- Chính phủ sẽ mời 50 người Việt Quốc và 20 người trong Việt Cách vào Quốc hội.


Ngày 25 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Công Truyền đại diện Mặt trận Việt Minh, Đỗ Đức Dục, Hoàng Văn Đức đại biểu Đảng Dân chủ, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Thức đại biểu Việt Nam cách mạng Đồng minh hội, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam đại biểu Việt Nam Quốc dân Đảng ký văn bản quy định thể thức thành lập Chính phủ chính thức sau khi bầu cử Quốc hội.


Ngày 1 tháng 1 năm 1946, Chính phủ lâm thời cải tổ thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời ra mắt và ra Tuyên ngôn đối nội và đối ngoại. Trong Chính phủ lâm thời lập sau Cách mạng Tháng Tám, ta đã đưa một số người không phải là đảng viên cộng sản vào, như cụ Nguyễn Văn Tố là nhân sĩ không đảng phái, Vũ Đình Hoè đảng viên Đảng Dân chủ, Nguyễn Mạnh Hà một nhân sĩ công giáo. Ngày 10 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử Vĩnh Thuỵ làm Cố vấn Chính phủ. Người còn đề nghị Hội đồng Chính phủ cử một Ban Cố vấn cho Chủ tịch gồm: Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, Giám mục Lê Hữu Từ, các ông Bùi Bằng Đoàn, Ngô Tử Hạ, Bùi Kỷ... Trong Chính phủ liên hiệp lâm thời lập ngày 1 tháng 1 năm 1946, ta đã đưa vào ba thành viên của phái đối lập là Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch Chính phủ, Nguyễn Tường Long - Bộ trưởng Quốc dân kinh tế và Trương Đình Tri - Bộ trưởng Y tế. Nhiệm vụ của Chính phủ mới là tổ chức Tổng tuyển cử, thống nhất các lực lượng vũ trang và sẽ từ chức khi Quốc hội cử Chính phủ chính thức.


Mặc dù có sự thoả thuận như vậy, nhưng bọn Tưởng và tay sai vẫn hoạt động phá hoại Tổng tuyển cử. Chúng tuyên truyền nói xấu các đại biểu được Mặt trận Việt Minh giới thiệu, ngăn chặn cử tri đi bầu cử, có nơi chúng còn gây rối ngay nơi bầu cử... Nhưng cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946 đã thành công tốt đẹp. Các đại biểu do Mặt trận Việt Minh giới thiệu đều thắng cử với số phiếu cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử ở Thủ đô Hà Nội đã trúng cử với 98,4% số phiếu. Một số người thuộc tổ chức Việt Cách cũng được giới thiệu ứng cử và đã trúng cử. Trương Trung Phục trúng cử ở Hải Phòng, Bồ Xuân Luật trúng cử ở Hưng Yên. Vĩnh Thuỵ tức Cựu hoàng Bảo Đại được giới thiệu ứng cử ở Thanh Hoá và đã trúng cử.


Ngày 25 tháng 2 năm 1946, Hội nghị liên tịch các chính đảng ra nghị quyết thành lập chính phủ liên hiệp kháng chiến.

Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội khoá I nước Viêt Nam Dân chủ cộng hoà họp kỳ đầu tiên tại Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đề nghi Quốc hội mở rộng thêm 50 đại biểu do Việt Quốc và 20 đại biểu do Việt Cách chỉ định. Quốc hội nhất trí đề nghị này Quốc hội trịnh trọng cảm ơn "Chính phủ lâm thời đã làm được nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc trong tình thế nghiêm trọng của nước nhà" và tuyên bố Chủ tịch Hồ Chí Minh "xứng đáng với Tổ quốc". Quốc hội đã bầu Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch Chính phủ và giao cho Chủ tịch, Phó Chủ tịch thành lập Chính phủ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu danh sách Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, cố vấn đoàn và Kháng chiến ủy viên hội để Quốc hội công nhận.


Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập theo nguyên tắc đã được thoả thuận trước gồm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần và mười Bộ. Trong đó ngươi của Việt Minh và Đảng Dân chủ làm Bộ trưởng bốn Bộ: Tài chính, Giáo dục, Tư pháp và Giao thông công chính. Người của Việt Quốc, Việt Cách làm Bộ trưởng bốn Bộ: Ngoại giao, Kinh tế, Cứu tế xã hội và Canh nông. Bộ Nội vụ do cụ Huỳnh Thúc Kháng và Bộ Quốc phòng do ông Phan Anh là hai người không đảng phái làm Bộ trưởng.


Cố vấn đoàn do Vĩnh Thuỵ đứng đầu.

Kháng chiến ủy viên hội (sau đổi thành Quân sự ủy viên hội, thường gọi tắt là Quân ủy hội) gồm chín người, có trách nhiệm thống nhất quân đội, điều khiển kháng chiến, do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch, Vũ Hồng Khanh làm Phó Chủ tịch. Các Bộ và các cơ quan cử người của Việt Minh và Đảng Dân chủ làm trưởng thì người của Việt Quốc, Việt Cách làm phó và ngược lại.


Quốc hội bầu Ban Thường trực Quốc hội gồm 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết do cụ Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban, trong đó có Cung Đình Quỳ là Phó trưởng ban và các ủy viên Dương Văn Dư, Đàm Quang Thiện, Trịnh Quốc Quang là người phía đối lập.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Ba, 2026, 08:42:28 pm
Như vậy trong Quốc hội có 70 đại biểu của hai tổ chức chính trị đối lập trong tổng số 403 đại biểu. Đáng chú ý là trong 20 đại biểu của Việt Cách, có một số người yêu nước và cách mạng như Đinh Chương Dương, Lý Đào. Với một thành phần đại biểu như vậy, dù một số đại biểu đối lập phản động có tìm mọi cách phá hoại, nhưng tính chất của Quốc hội vẫn không thay đổi. Quốc hội vẫn là cơ quan quyền lực của nhân dân, vẫn là Quốc hội cách mạng. Trong Chính phủ lâm thời sau Cách mạng Tháng Tám, thành phần hầu hết là người của Mặt trận Việt Minh, chỉ có số ít vị là người yêu nước không đảng phái. Trong Chính phủ liên hiệp lâm thời (ngày 1 tháng 1 năm 1946) chỉ có 3 người thuộc phái đối lập. Đến Chính phủ Liên hiệp kháng chiến thì thành phần hai phía đối lập là ngang nhau. Bọn Tưởng và tay sai những tưởng rằng đây là thời cơ chúng có thể từ đó mà chiếm chính quyền không cần dùng vũ lực, hoặc ít nhất cũng không để chính quyền hoạt động theo chủ trươn đường lối của Cộng sản, của Việt Minh.


Âm mưu của kẻ thù hoàn toàn thất bại, Nguyễn Hải Thần được làm Phó Chủ tịch Chính phủ, nhưng là người không có năng lực, bọn phản động cùng bè phái cũng coi thường, chỉ do được coi là "lão thành" mà Tưởng đưa lên đứng đầu Việt Cách. Khi Nguyễn Hải Thần mới theo quân Tưởng về nước, một số tên thực dân Pháp đã đến móc nối định hợp tác chống cách mạng. Nhưng khi tiếp xúc, các đại biểu Pháp mới thấy rằng đó chỉ là một nhân vật bù nhìn đã rệu rạo và tướng Tiêu Văn đang giật dây một cách vất vả. Bản thân Nguyễn Hải Thần như vậy lại ở cương vị Phó Chủ tịch không có quyền lực cụ thể, nên trên thực tế không gây tác hại lớn cho cách mạng. Vũ Hồng Khanh, người cầm đầu Việt Quốc là một người có âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm, có uy tín trong Việt Quốc và trong tay có một số lực lượng. Với cương vị Phó Chủ tịch Quân ủy hội, Vũ Hồng Khanh định dò la tình hình lực lượng vũ trang ta, chống phá công cuộc kháng chiến và xây dựng lực lượng vũ trang. Nhưng lúc đó, các đơn vị bộ đội đóng quân phân tán, thông tin liên lạc khó khăn, trên cơ quan thì cán bộ, nhân viên là người của cách mạng nên Vũ Hồng Khanh cũng không thể thực hiện được ý định. Với các chức vụ do Việt Quốc, Việt Cách nắm, trên thực tế hoạt động chỉ đạo các ngành rất hạn chế, chủ yếu làm sự vụ hành chính. Chủ trương thì phải thống nhất theo chủ trương của Chính phủ. Hoạt động thực tiễn thì chủ yếu ở địa phương trực tiếp làm, tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể. Nguyễn Tường Tam là Bộ trưởng Ngoại giao, Chu Bá Phượng làm Bộ trưởng Cứu tế xã hội, hoạt động rất hạn chế và không phá hoại được chủ trương chính sách của ta. Bồ Xuân Luật làm Bộ trưởng Canh nông, vốn là người tốt, được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm hoá và đi theo đường lối của cách mạng.


Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng do hai người không đảng phái làm Bộ trưởng. Nhưng cụ Huỳnh Thúc Kháng và ông Phan Anh là hai người yêu nước, tiến bộ, hoàn toàn tin theo Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên thực tế quyền chỉ huy quân đội và quốc phòng do Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội Võ Nguyên Giáp và Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái nắm. Công tác an ninh rất quan trọng do Nha Công an nắm. Nằm trong Bộ Nội vụ, nhưng Nha Công an hoạt động nghiệp vụ độc lập. Ở Nha Công an, Nguyễn Dương là người không đảng phái làm Tổng Giám đốc, nhưng chỉ một thời gian ngắn, phần lớn thời gian do đồng chí Lê Giản làm Tổng Giám đốc và cán bộ trong Nha đều là người của ta nên công tác an ninh nói chung vẫn do cách mạng nắm. Nghiêm Kế Tổ trong Việt Cách, lúc đó làm Thứ trưởng trong Chính phủ liên hiệp đã nhận xét:

"Nhìn qua Chính phủ cải tổ, hình thức hoàn toàn đoàn kết, nhưng bên trong khác hẳn. Cụ Nguyễn Hải Thần già yếu, nhu nhược giữ ghế Phó Chủ tịch làm vì. Địa vị Bộ trưởng của Nguyễn Tường Tam nào có ngoại giao gì đâu. Ngoại giao với Pháp thì đường lối chính Việt Minh đã vạch sẵn mất rồi, chỉ có ngoại giao với Trung Hoa thì cái thế "anh em nhà" của Nguyễn Ngoại trưởng với Lư Hán, Tiêu Văn lại là một điều có lợi cho Việt Minh quá"1 (Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam máu lửa, Mai Lĩnh xuất bản, Sài Gòn. 1954, tr. 91).


Đó là trên Chính phủ Trung ương, còn ở các địa phương, từ tỉnh xuống đến xã, vẫn là chính quyền cách mạng. Báo cáo của Việt Minh đoàn Chính phủ viết:

"Bộ máy chính quyền ở Trung ương có thay đổi, nhưng ở địa phương thì vẫn y nguyên như trước. Nếu có sự thay đổi là do chủ trương của ta. Thành phần ủy viên các ủy ban hành chính các cấp hầu hết là người các đoàn thể cách mạng chân chính và những người có cảm tình với mặt trận, với chính quyền mới". Báo cáo còn khẳng định: Thời kỳ Chính phủ lâm thời, Việt Minh đoàn Chính phủ (gồm các Bộ, Thứ trưởng người của Mặt trận Việt Minh tham gia Chính phủ) có 11 trong 16 vị trong Chính phủ. Thời kỳ Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Chính phủ có 24 vị thì Việt Minh đoàn Chính phủ chỉ có 8, trung lập 8, đối lập 8 "thời kỳ này là thời kỳ Việt Minh đoàn Chính phủ phải đấu tranh gay go nhất trong Chính phủ. Tuy vậy Việt Minh đoàn Chính phủ vẫn nắm phần chủ động và vẫn giữ vững được tình thế"1 (Tài liệu tham khảo về lịch sử Đảng 1945 - 1946. Viện Lịch sử Đảng, tr. 13, 14).


Nhân nhượng của ta về vấn đề chính quyền là một nhân nhượng lớn: thành lập một Chính phủ liên hiệp nhiều thành phần, trong đó có phái phản động đối lập. Nhưng đây là một yêu cầu bắt buộc, một điều kiện tiên quyết để đạt tới hoà hoãn. Tuy điều đó có gây cho chúng ta những khó khăn nhất định trong hoạt động của Chính phủ, nhưng ta đã chuyển được sức ép nguy hiểm của các hoạt động trắng trợn điên cuồng, kể cả bằng vũ lực của quân Tưởng và tay sai thành cuộc đấu tranh hoà bình thương lượng trong Chính phủ. Rõ ràng mối đe dọa mất chính quyền, mất nền độc lập đã được giải toả một phần. Điều đáng ngại trong tình hình mới là sự đe dọa tính chất của chính quyền bị biến dạng. Thành phần trong Chính phủ là liên hiệp, nhưng đường lối chính sách của Chính phủ vẫn nhất quán, đó là chính quyền nhân dân, động viên tổ chức sức mạnh đoàn kết toàn dân để kháng chiến chống ngoại xâm, giữ vững nền độc lập tự do vừa giành được trong Cách mạng Tháng Tám và xây dựng đất nước. Chính quyền vẫn hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua việc triển khai thực hiện đường lối "Kháng chiến kiến quốc", thông qua các hoạt động của đảng viên, các tổ chức quần chúng và đặc biệt qua bàn tay chèo lái của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tính chất của chính quyền cách mạng không thay đổi.


Tổng tuyển cử và thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến là một thành công lớn của ta, đánh một đòn nặng vào âm mưu lật đổ chính quyền của Tưởng và tay sai, cũng góp phần khoét sâu mâu thuẫn giữa Pháp và Tưởng, giữa bọn Tưởng và tay sai, giữa bọn tay sai với nhau. Lúc đó, có người hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chúng ta như lửa, bọn chúng như nước, lửa nước xung khắc, vì sao ta cho chúng vào Quốc hội. Người giải thích: Đúng, chúng ta là lửa, chúng là nước. Lửa với nước xung khắc nhau, nhưng chúng ta biết để nước trên lửa thì nước sôi uống lành.


Mặc dù ta có những nhân nhượng lớn, trong đấu tranh chính trị, ngoại giao với quân Tưởng và tay sai rất mềm dẻo, nhưng mặt khác, ta lại đấu tranh rất kiên quyết giữ vững nguyên tắc cách mạng. Với những hành động chống phá trắng trợn, nguy hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm đến tính mạng tài sản của nhân dân, thì ở những nơi và khi tình hình cho phép, chúng ta kiên quyết bằng pháp luật, bằng lực lượng vũ trang trừng trị, chặn bàn tay của chúng, ở Hà Đông, Sơn Tây, bọn Đại Việt Quốc gia liên minh trước đây đã bị ta trừng trị, khi quân Tưởng sang lại ngóc đầu dậy liên lạc với Việt Quốc, phục hồi cơ sở hoạt động chống lại chính quyền. Ta đưa ra toà án xét xử công khai, tuyên án tử hình bốn tên, xử tù từ 15 đến 20 tên. Số còn lại tan rã không dám hoạt động nữa. Lực lượng trinh sát cũng bắt giữ nhiều tên quan trọng của Việt Quốc hoạt động phản quốc như Hoàng Ngọc Bách, Lê Khanh, Lê Thận...


Để đạt được hoà hoãn với quân Tưởng và tay sai, chúng ta phải vừa đấu tranh vừa nhân nhượng, đấu tranh vừa kiên quyết, lại vừa mềm dẻo. Những nhân nhượng là lớn có gây ra một số khó khăn cho chính quyền và nhân dân ta, nhưng âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng của chúng không thực hiện được. Ta vẫn giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng, giữ vững quyền làm chủ của nhân dân. Trong khi đó, việc hoà hoãn lại tạo điều kiện hạn chế đến mức thấp nhất mọi hoạt động chống phá trắng trợn của quân Tưởng và tay sai, đặc biệt là nguy cơ chúng dùng lực lượng quân sự lật đổ chính quyền ta. Tranh thủ điều kiện hòa hoãn, Đảng, chính quyền và nhân dân ta nỗ lực phát triển lực lượng mọi mặt và tập trung lực lượng chặn bàn tay xâm lược của thực dân Pháp.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Ba, 2026, 08:43:57 pm
Sách lược "Hòa để tiến", hòa hoãn với Pháp.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cục diện chính trị thế giới có nhiều chuyển biến to lớn, ảnh hưởng đến tình hình nước ta. Đế quốc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược toàn cầu. Mỹ cũng nhận ra rằng không thể kéo cách mạng Việt Nam vào vòng ảnh hưởng của mình. Mỹ muốn Tưởng tập trung lực lượng đối phó với cách mạng Trung Quôc, muốn lôi kéo Anh - Pháp lập mặt trận chung bao vây Liên Xô ở phía châu Âu, muốn dùng Pháp ngăn chặn làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á cho nên Mỹ đã thoả thuận cho Pháp chiếm lại Đông Dương. Mắc Lơrơ đã không cho những sĩ quan OSS - Cục nghiên cứu chiến lược Mỹ ở Nam Trung Quốc - cộng tác với ta nữa và đưa về nước những người Mỹ biểu thị cảm tình với cách mạng Việt Nam.


Ngày 22 tháng 8 năm 1945, Đờ Gôn đến Oasinhtơn hội đàm với Truman, trong đó đáng chú ý nhất là Hoa Kỳ chính thức thừa nhận bằng văn bản chủ quyền của Pháp trên đất Đông Dương.

Với Anh, ngày 24 tháng 8 năm 1945, một thỏa hiệp Pháp - Anh về nguyên tắc và cách thức khôi phục chủ quyền của Pháp tại Đông Dương được ký kết.

Nhận được sự thoả thuận của Mỹ và Anh, đó là sự cổ vũ lớn với Pháp. Tiếp theo, Pháp phải tính đến trở lực là quân Tưởng hiện đang chiếm đóng từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc. Cuối tháng 12 năm 1945, Xanhtơny gửi thư về Pari "Năm tháng ở Côn Minh phụ trách một vị trí quan sát đặc biệt và năm tháng ở Hà Nội từ ngày 22 tháng 8 đến nay đã cho phép tôi khẳng định rằng việc đặt Bắc Kỳ trở lại dưới quyền của nước Pháp chỉ có thể thực hiện được với thoả thuận của Trung Hoa". Xanhtơny phân tích: Nếu dùng vũ lực với những phương tiện cực kỳ lớn mạnh thì không có gì chứng tỏ có những phương tiện ấy và thấy không có quyết tâm. Nếu có làm cho Trung Hoa lùi bước thì rồi họ sẽ ủng hộ lực lượng cách mạng Việt Nam qua đường biên giới sau này. Đó là khó khăn tốn kém. Nếu dùng biện pháp ngoại giao thì dẫn đến kết quả:

1- Chúng ta sẽ đến được Bắc Kỳ mà không phải đổ máu.

2- Làm cho Bắc Kỳ trở về với chúng ta nhanh hơn cách dùng vũ lực.

3- Cho phép chúng ta ngay từ bây giờ khai khẩn lại một xứ đang hàng ngày trượt tới một trạng thái cực kỳ hỗn loạn.

4- Xây dựng bước đầu sự xê dịch tiếp cận về kinh tế với Trung Hoa.


Về phía Tưởng Giới Thạch, trước sức mạnh của cách mạng Việt Nam và sự bất lực của bọn tay sai, trước những khó khăn ở ngay trong nước và phải theo lệnh Mỹ, buộc phải rút quân khỏi Việt Nam. Tuy nhiên, Tưởng còn đòi Pháp một số quyền lợi, và muốn trước khi rút quân dựng lên ở Việt Nam một chính quyền tay sai để ép Pháp và giữ được ảnh hưởng nhất định để chuẩn bị cho ý đồ bành trướng sau này khi có điều kiện. Cuộc mặc cả quyền lợi giữa Tưởng và Pháp diễn ra từ cuối tháng 8 năm 1945. Trong hồi ký của mình, Đờ Gôn-viết rằng từ tháng 10 năm 1945, ông ta đã được tướng Pếchcốp (đại diện Pháp ở Trùng Khánh) cho biết: "Tưởng Giới Thạch hứa sẽ giúp Pháp lập lại chủ quyền ở Đông Dương khi thời cơ đến". Một năm sau, thông qua Tống Tử Văn, Trùng Khánh lại khẳng định với Đờ Gôn điều đó..., bản thân Đờ Gôn đã hội đàm với T.V.Soong - Chủ tịch Viện Hành pháp Trung Hoa - vào cuối tháng 8 năm 1945 ở Oasinhtơn và giữa tháng 9 năm 1945 ở Pari. Hai bên đã đạt được những thoả thuận. Đến ngày 7 tháng 2 năm 1946 thì cuộc đàm phán chính thức tại Trùng Khánh bắt đầu. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết giữa Bộ trưởng Ngoại giao Vương Thế Kiệt và Đại sứ Pháp tại Trung Hoa Giắc Maye. Những điều khoản chính của Hiệp ước là:

1- Pháp phải bỏ hết các trị ngoại pháp quyền của Pháp trên đất Trung Quốc, trao trả cho Tưởng các tô giới ở Thượng Hải, Thiên Tân, Hán Khẩu, Quảng Đông, đất thuê Quảng Châu Loan.

2- Pháp nhường cho Tưởng một khu đặc biệt ở cảng Hải Phòng. Ở đó, Tưởng được tự do nhập hàng và có quyền kiểm soát hải quan.

3- Pháp bán lại cho Tưởng đoạn đường sắt nằm trên đất Trung Quốc của con đường Hà Nội - Vân Nam.

4- Tưởng không bắt Pháp phải chịu tiền phí tổn và việc quân đội Trung Quốc đóng ở miền Bắc Đông Dương.

5- Những Hoa Kiều ở Đông Dương sẽ được hưởng nhiều quyền lợi đặc biệt hơn trước.


Hiệp ước Trùng Khánh không có điều khoản nào nói về Chính phủ Trung Hoa thuận cho quân Pháp vào thay quân đội Trung Hoa ở phía Bắc vĩ tuyến 16. Trong đàm phán, phía Tưởng chỉ hứa hẹn sẽ cho quân Pháp vào thay thế. Quá trình đàm phán sau đó mới đi đến một bản thỏa ước về quân sự giữa Bộ Tổng tham mưu Tưởng và Tổng chỉ huy quân Pháp công bố ngày 13 tháng 3 khẳng định điều này. Thoả ước quy định thời hạn quân Tưởng rút là từ ngày 15 tháng 3 đến 31 tháng 3 năm 1946.


Với Hiệp ước Hoa - Pháp, mâu thuẫn giữa hai tập đoàn đế quốc Anh - Pháp và Mỹ - Tưởng tạm hòa hoãn. Nhưng những mâu thuẫn mới giữa Tưởng và Pháp lại nảy sinh Pháp muốn nhanh chóng đẩy quân Tưởng ra, đưa quân Pháp vào miền Bắc trót lọt. Tưởng lại muốn kéo dài thời hạn rút quân để đòi Pháp thêm quyền lợi. Nhất là bọn tướng lĩnh chỉ huy quân Tưởng ở Việt Nam, muốn tiếp tục ở lại để thực hiện mưu đồ cát cứ, nếu buộc phải rút cũng nấn ná vơ vét thêm của cải. Đến giữa tháng 5 quân Tưởng mới bắt đầu rút khỏi Thanh Hóa, giữa tháng 6 mới rời Hà Nội và đến tháng 9 năm 1946 quân Tưởng mới rút hết khỏi nước ta.


Tuy nhiên, Tưởng và Pháp cũng có điểm giống nhau là đều muốn dàn xếp với ta, để ta chấp nhận Hiệp ước Hoa - Pháp.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Ba, 2026, 08:44:57 pm
Hiệp ước Hoa - Pháp không phải là điều bất ngờ với Đảng ta. Đó chỉ là biểu hiện cụ thể của sự phát triển tình hình Đang ta đã dự kiên từ trước. Chỉ mấy ngày sau khi Hiệp ước được ký kết chính thức, ngày 3 tháng 3, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Tình hình và chủ trương". Bản chỉ thị phân tích âm mưu của bọn đế quốc và chỉ rõ:

"Hiệp ước Hoa - Pháp không phải là chuyện riêng của Tàu Tưởng và Pháp. Nó là chuyện chung của phe đế quốc và bọn tay sai của chúng ở thuộc địa. Dù nhân dân Đông Dương muốn hay không muốn, nhất định chúng cũng thi hành Hiệp ước ấy". Nhưng, "Từ chỗ Hiệp ước đó được ký kết đến chỗ Hiệp ước đó được thi hành còn có dân tộc Việt Nam hiện đang chiến đấu". Vậy chủ trương của ta nên đánh hay nên hòa khi quân Pháp vào miền Bắc? Trong nhân dân ta lúc bấy giờ, tinh thần chống Pháp xâm lược rất sôi sục. Phong trào Nam tiến, luyện tập quân sự chuẩn bị sôi nổi từ thành thị đến thôn quê. Mọi tầng lớp nhân dân đều hăm hở sẵn sàng đánh Pháp. Nhưng với trọng trách trước vận mệnh đất nước, trước sự sống còn của cách mạng, Đảng phải sáng suốt, cân nhắc lợi hại của mỗi chủ trương, không thể thuận theo tình cảm bộc phát của quần chúng. Chỉ thị của Trung ương chỉ rõ:

"Vấn đề lúc này, không phải là muốn đánh hay không muốn đánh, vấn đề là biết mình, biết người, nhận một cách khách quan những điều kiện lời lãi trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng".

Hiện tại, chúng ta đang gặp nhiều khó khăn. Bên trong, bọn phản động hoạt động chia rẽ. Bọn Việt Quốc, Việt Cách lúc này trước tình cảnh bị Tưởng bỏ rơi, một mặt cầu xin quân Tưởng ở lại, một mặt cố phá cuộc đàm phán giữa ta và Pháp. Chúng kêu gào "Không điều đình với ai hết", "Đánh đến cùng", "Thắng hay là chết". Chúng vu cáo Chính phủ ta là "Việt gian thân Pháp" và hô hào thành lập Chính phủ mới dưới sự lãnh đạo của Vĩnh Thuỵ... Chúng định lợi dụng lúc ta đánh Pháp, bọn đế quốc sẽ vu cáo ta là chống Hiệp ước của Đồng minh là phiến loạn chống lại hoà bình, cô lập ta, và lập Chính phủ bù nhìn. Bọn Tờrốtkít cũng tuyên truyền vu cáo ta là bán nước. Trong khi đó, Pháp đã mở rộng chiếm đóng và có thêm viện binh, lại được Anh, Mỹ giúp sức làm cho cuộc kháng chiến ở Nam Bộ gặp nhiều khó khăn. Bản huấn lệnh của Bộ Tổng chỉ huy về phương châm quân sự Nam Bộ chỉ rõ: Quân địch đã áp dụng chiến lược tốc quyết tiến công dồn dập chiếm lĩnh các đô thị và các đường giao thông quan trọng, rồi lan tràn ra khắp thôn quê. Quân ta sau một thời gian chiến đấu anh dũng tại Sài Gòn, Chợ Lớn và vùng phụ cận, trước cuộc tiến công mãnh liệt của địch, bị tan vỡ hầu khắp các mặt trận. Việc sản xuất lương thực còn nhiều khó khăn. Lực lượng vũ trang còn yếu kém về nhiều mặt, nhất là trang bị vũ khí, trình độ chỉ huy chiến đấu.


Trong tình hình ấy, nếu ta đánh Pháp khi chúng ra Bắc, lực lượng sẽ tiêu hao, chính trị bị cô lập, tạo thời cơ cho bọn phản động cướp chính quyền, bán nước cho đế quốc. Hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng. Chủ trương hoà cũng có điều nguy hiểm là thực dân Pháp lợi dụng để đưa quân vào miền Bắc, sau đó phát triển lực lượng và bội ước đánh ta, bọn phản động lợi dụng việc ta hoà với Pháp để vu cáo ta là bán nước"... trong hai điều phải lựa chọn một ấy, hoà hoãn với Pháp vẫn là điều đúng đắn. Hoà với Pháp, ta sẽ phá tan được dã tâm của Tưởng và tay sai, và loại bỏ được kẻ thù nguy hiểm này. Đối với Pháp, nếu cuộc chiến đấu phải nổ ra thì ta cũng dành được thời gian để chuẩn bị thêm lực lượng.


Đảng ta vạch ra những nguyên tắc căn bản cho việc đàm phán giữa ta với Pháp là độc lập và hợp tác với Pháp trên cơ sở bình đẳng.

Trong qua trình đấu tranh ngoại giao với Pháp, không bao giờ ta xa rời mục tiêu độc lập, thống nhất. Nhưng trong tình thế bất lợi và để đạt được hoà hoãn ta phải nhân nhượng mềm dẻo, có thể nhân nhượng quyền lợi kinh tế, văn hóa với Pháp, có thể nền độc lập thống nhất lúc đầu chưa được toàn vẹn. Lập trường của phía Việt Nam là mềm dẻo và thiện chí. Phía Pháp chấp nhận thì có hoà hoãn, Pháp bác bỏ, áp đặt chế độ thực dân thì hoà hoãn bế tắc và tan vỡ.


Ngày 5 tháng 3 năm 1946, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở làng Canh (nay thuộc xã Vân Canh, Hoai Đức Hà Nội) quyết định hoà hoãn với Pháp.

Về phía thực dân Pháp, sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình nước Pháp gặp rất nhiều khó khăn. Hơn 3 triệu người chết, bị thương và bị bắt, nửa triệu nhà cửa công trình kiến trúc bị phá hủy hoàn toàn, một triệu rưỡi công trình khác bị thiệt hại nặng, hàng triệu hécta đất bị bỏ hoang, ngân sách năm 1945 thiếu hụt 55%, đồng Frăng mất giá, 6 triệu người không có nhà ở, 40 vạn người thất nghiệp hoàn toàn. Theo báo cáo của Đờ Gôn đọc trước Quốc hội ngày 2 tháng 3 năm 1945, tổng quân số Pháp 1,2 triệu, phần lớn gồm những đơn vị mới tan rã, hầu hết là sĩ quan và binh lính mới thoát khỏi các trại tù binh của Đức vừa tập hợp, trang bị thiếu thốn.


C. Pelát, tác giả cuốn Hai mươi năm xâu xé nước Pháp nhận xét: "Sau giờ phút phấn khởi khi cuộc chiến tranh kết thúc, người dân Pháp cảm thấy lòng đầy chua xót. Không những người ta thấy rất rõ đất nước đã suy đồi mà ai nấy đều đang chứng kiến một đường lối chính trị rối ren, chẳng có gì hứa hẹn một tương lai thanh bình sáng sủa"1 (Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1979, tr. 29). Thực trạng của nước Pháp như vậy đã hạn chế sức mạnh và khả năng quân Pháp ở Việt Nam, buộc chúng phải tính toán kỹ phương sách nào khả dĩ có thể thực thi trong việc chiếm lại Bắc Kỳ.


Trong lúc còn đang thương lượng với Trung Hoa Bộ Tham mưu Pháp đã vạch kế hoạch xâm nhập miền Bắc nước ta bằng quân sự: một mặt, cho quân đổ bộ Hải Phòng, đồng thời nhảy dù xuống Hà Nội phối hợp với bọn thực dân Pháp có mặt ở đây, rồi sau đó hai bên đánh thông với nhau, mặt khác, cho người liên lạc với bọn Việt gian, dùng bọn này nội ứng cho việc xâm nhập của chúng vào miền Bắc. Nhưng tướng Lơcléc, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương nhận định: Kế hoạch dùng quân sự xâm nhập vào miền Bắc không thể nào thực hiện được vì khó khăn nhất là quân số. Lơcléc thú nhận cần phải có 10 vạn quân mới "bình định" được Nam Bộ và Nam Trung Bộ, trong khi chúng chỉ có ba vạn rưỡi. Thế mà lại phải đánh ra miền Bắc nữa thì càng thiếu quân nghiêm trọng. Lơcléc đề đạt với Chính phủ Pháp ba mục tiêu cần đạt được:

"Thứ nhất là phải đặt chân lên một số các thành phố quan trọng để tạo cho Chính phủ Pháp một ưu thế trong việc điều đình và đặt điều kiện.

Thứ nhì tìm cách để cho các Pháp kiều kể cả quân sự lẫn dân sự được trả lại tự do.

Thứ ba tìm cách làm cho quân đội Tàu rút khỏi xứ này".


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Ba, 2026, 08:46:23 pm
Để đạt được những mục tiêu đó, chỉ có thể bằng con đường thương thuyết với Việt Nam. Ủy viên cộng hoà Pháp ở Đông Dương Xanhtơny cũng có cách đánh giá tình hình và chủ trương tương tự Lơcléc: Không thể đặt vấn đề đổ bộ vào Bắc Kỳ bằng vũ lực theo kiểu thực dân cũ. Vì như thế quân đội Pháp không những sẽ vấp phải cuộc kháng chiến của người Việt Nam, mà còn phải đương đầu với 24 vạn quân Trung Hoa với ý đồ bám chắc vào đất này càng lâu càng hay. Ngoài ra Pháp còn lo ngại sự chống lại của ba vạn quân đội Nhật và sự sống còn của ba mươi ngàn người Pháp đang sống ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ.


Nhưng Cao ủy Pháp tại Đông Dương Đácgiăngliơ là một phần tử hiếu chiến, lại không tán thành đàm phán thương lượng, vì đàm phán với Chính phủ Việt Nam tức là "hợp pháp hoá và công nhận" Chính phủ ấy. Chính phủ Đờ Gôn cùng quan điểm này, vẫn tiếp tục kéo dài cuộc xâm lược bằng quân sự. Chính vì thế, Chính phủ Đờ Gôn càng mất tín nhiệm trước nhân dân trong nước và thế giới. Chính phủ này đổ, trong đó có lý do không giải quyết đươc vấn đề Đông Dương. Chính phủ Phêlích Goanh lên thay. Đây là Chính phủ liên hiệp giữa ba đảng: Đảng Cộng sản Đảng Xã hội và phong trào cộng hoà bình dân. Lập trường về vấn đề thuộc địa nói chung và vấn đề Đông Dương nói riêng về căn bản không thay đổi. Nhưng do bế tắc của hoat động quân sự và trước sức ép của dư luận, Chính phủ Goanh phải chấp thuận kế hoạch đàm phán của Lơcléc.


Cuộc tiếp xúc, đàm phán giữa ta và Pháp kéo dài Phía Pháp, sau khi ký hiệp ước với Tưởng, đã huy động toàn bộ Binh đoàn bộ binh thuộc địa số 9, một phần Binh đoàn bộ binh thuộc địa số 3, Binh đoàn cơ động thiết giáp, nhiều máy bay theo hàng không mẫu hạm Bêác (Bearn) cùng nhiều chiến hạm tiến ra Bắc Bộ và ngày 2 tháng 3 năm 1946 tới Vịnh Hạ Long. Quân Pháp vào cảng Hải Phòng lúc 7 giờ 45 phút ngày 6 tháng 3. Pháp yêu cầu cho đổ bộ quân lên. Quân Tưởng lấy cớ không có hiệp ước Pháp - Việt, sợ để quân Pháp vào, người Việt Nam căm tức trả thù Hoa Kiều, và cũng chưa nhận được lệnh cấp trên, nên không chấp nhận. Tiêu Văn thấy tình hình căng thẳng, sợ ta đánh Pháp thì Tưởng mất mặt vì Hiệp ước Trùng Khánh mất hiệu lực và chiến tranh nổ ra, chúng sẽ mất hết của cải nên giục ta ký kết hiệp định. Với Lơcléc và Valuy - Tư lệnh quân đội Pháp ở miền Bắc Đông Dương - thấy rằng không ký với ta thì không thể đưa quân vào Hải Phòng. 11 giờ 45 phút, Lơcléc gọi điện cho Xanhtơny đang đàm phán với Chính phủ ta, giục ký kết. Ph. Đờvile lúc đó là sĩ quan tham mưu dưới quyền Lơcléc kể lại:

"Những cuộc bàn cãi với những người Trung Hoa ở Hà Nội đều vất vả và khó khăn và không đưa đến kết quả gì. Trong đêm 4 rạng ngày 5 tháng 3, trong suốt bảy tiếng đồng hồ, tướng Xalăng, các đại tá Rơpitông và Lơcôngtơ đều vấp phải một sự từ chối lễ độ và kiên quyết của người Trung Hoa... một cảm giác bất hạnh bao trùm lấy ngày 5 tháng 3. Buổi sáng hôm ấy, Bộ tham mưu quân đội Trung Hoa ở Hà Nội sắp nhượng bộ thì nhận được điện của Hà Ứng Khâm ra lệnh phải phản đối cuộc đổ bộ của chúng ta. Thế cho nên lúc ấy nhất thiết phải đi đến một thoả thuận với ông Hồ Chí Minh".


Vào 16 giờ 30 phút ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hiệp ước Sơ bộ Pháp - Việt được ký kết tại ngôi nhà số 38 phố Lý Thái Tổ (nay là Cung thiếu nhi Hà Nội) giữa đại diện Chính phủ cộng hoà Pháp Xanhtơny và đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà là Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc ủy viên của Hội đồng các Bộ trưởng Vũ Hồng Khanh. Hiệp định gồm 3 khoản chính và 4 phụ khoản đính theo. Cũng trong dịp này, hai bên đã ra tuyên bố chung Lơcléc - Hồ Chí Minh về việc quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa để giải giáp quân đội Nhật từ phía Bắc vĩ tuyến 16.


Những văn bản trên đây thể hiện sự nhân nhượng của hai bên: "Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà là một quốc gia tự do, có chính phủ của mình, tài chính của mình và là một phần tử trong bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp".


Về việc thống nhất 3 kỳ của nước Việt Nam, Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết.

Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện tiếp đón quân đội Pháp vào thay thế quân đội Trung Hoa.

Hai Chính phủ thoả thuận lực lượng thay thế quân đội Trung Hoa gồm có:

10.000 quân Việt Nam thuộc quyền các nhà chức trách quân sự Việt Nam.

15.000 quân Pháp (kể cả số lính Pháp hiện đã đóng ở miền Bắc Việt Nam). Số quân Pháp này sẽ rút khỏi Việt Nam trong vòng 5 năm, mỗi năm một phần năm quân số.

Sau đó, ngày 3 tháng 4 năm 1946, Hội nghị tham mưu họp theo quy dịnh của Phụ khoản đính theo Hiệp định Sơ bộ. Phía Việt Nam do Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh, phía Pháp do Xalăng - Phó Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương và Valuy - Tư lệnh quân đội Pháp ỏ Bắc Đông Dương dẫn đầu. Hai bên ký kết Hiệp định tạm thời quy định cụ thể những địa điểm đóng quân của các lực lượng Pháp và Việt Nam làm nhiệm vụ tiếp phòng quân Tưởng.


Các địa điểm đóng quân của Pháp:

Hà Nội (gồm cả 1.000 lính ở sân bay): 5.000 binh sĩ.

Hải Phòng: 1.750 binh sĩ.

Nam Định: 825 binh sĩ.

Đà Nẵng: 225 binh sĩ.

Hải Dương: 650 binh sĩ.

Điện Biên Phủ: 850 binh sĩ.

Các vùng biên giới: 2.775 binh sĩ.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Ba, 2026, 08:47:53 pm
Việc ký kết Hiệp định Sơ bộ làm một số người do lòng yêu nước bồng bột mà không bằng lòng. Họ sẵn sàng hy sinh đánh Pháp, quyết không cho Pháp trở lại. Ngày 7 tháng 3, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với hàng chục vạn đồng bào Thủ đô trong cuộc mít tinh nghe giải thích Hiệp định Sơ bộ. Chủ tịch kết thúc bằng những lời cảm động:

"Tôi, Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc.

Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước".

Ngày 9 tháng 3 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương ra chỉ thị "Hoà để tiến" nêu rõ thắng lợi bước đầu của ta và vạch ra ta cần phải hoà với Pháp để:

"1- Tránh tình thế bất lợi: phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động... trong khi các lực lượng hòa bình, tự do và tiến bộ trên thế giới (như Liên Xô, phong trào cộng sản ở Pháp, cách mạng thuộc địa) chưa thể trực tiếp giúp ta được.

2- Bảo toàn thực lực giành lấy giây phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào.

Tóm lại để chuẩn bị đầy đủ, nhằm cơ hội tốt tiến lên giai đoạn cách mạng mới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 49).

Chỉ thị cũng phê phán những sai lầm "tả", không muốn hòa hoãn với Pháp, khuynh hướng "hữu" chưa đánh giá thật đầy đủ bản chất phản động của đế quốc Pháp dễ lơ là mất cảnh giác. Chỉ thị vạch rõ chủ trương mới của ta Pháp là giữ thái độ bình tĩnh, nhã nhặn với binh lính Pháp, nhưng phải đấu tranh buộc Pháp thi hành Hiệp định và "phải tiếp tục chuẩn bị những việc kháng chiến lâu dài". Chỉ thị còn dự kiến diễn biến tình hình phức tạp sau Hiệp định và vạch ra những biện pháp đề phòng:

"Hiện nay bọn Nguyễn Hải Thần cùng phái Tàu trắng phản động nhất ở Việt Nam, âm mưu một cuộc phân biêt chia cắt đất nước Việt Nam hay "đảo chính". Phải đề phòng hành động của chúng và bóc trần thủ đoạn hại nước của chúng cho nhân dân hiểu.

Còn bọn Việt gian thân Pháp thì có thể nhân cơ hội ta hòa với Pháp để ngóc đầu dậy, hành động bán nước cho thực dân Pháp, ngấm ngầm giúp thực dân Pháp phá cách mạng, trì hoãn cuộc giành độc lập hoàn toàn của ta, chúng ta phải tìm cách ngăn ngừa chúng làm hại cách mạng.


Đối với các phái thân Tàu Tưởng, phải nhân lúc chúng hoang mang vì cảm thấy sắp bị Tàu Tưởng bỏ rơi và lập trường của chúng lung lay sau khi bản Hiệp định Việt - Pháp đã ký mà chia rẽ nội bộ chúng, kéo lấy những phần tử trung thực nhằm theo chúng về phe ta, chỉ cho quần chúng thấy bọn lãnh tụ "Việt Nam Quốc dân đảng" chẳng qua chỉ là một bọn cơ hội đê hèn, vì chúng chỉ biết vâng lệnh nước ngoài và đặt quyền lợi riêng lên trên quyền lợi dân tộc".


Ngày 11 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi các Chính phủ và nhân dân thế giới cùng đồng bào cả nước. Lời kêu gọi có đoạn:

"Nay vì tình hình quốc tế, vì muốn tỏ lòng tin vào nước Pháp mới và sự thành thực của những người đại diện cho Chính phủ Pháp, vì tin vào sự hoàn toàn độc lập tương lai của nước nhà, tôi cùng Chính phủ ta ký bản Hiệp định Sơ bộ với Chính phủ Pháp.

Tôi cũng tha thiết kêu gọi nhân dân và chính phủ trên thế giới, nhất là nhân dân Pháp hãy ủng hộ chính nghĩa làm cho bên phía Pháp thi hành đúng bản Hiệp định Sơ bộ để đi đến kết quả Hoà Hảo giữa hai dân tộc và bảo vệ nền hoà bình thế giới".

Ký Hiệp định Sơ bộ, ta đuổi được quân Tưởng về nước. Bọn tay sai cũng rút chạy theo quân Tưởng và tan rã, quân Anh, quân Nhật cùng rút về nước. Bọn nguỵ quân, nguỵ quyền tay sai Pháp hoang mang. Quân Pháp phải điều ra Bắc Binh đoàn bộ binh thuộc địa số 9, Binh đoàn cơ động thiết giáp và một số bộ phận khác, lực lượng bị phân tán. Ở miền Nam chỉ còn Binh đoàn bộ binh thuộc địa số 3 thiếu và yếu. Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, quân dân ta đã lợi dụng được tình thế tạm hòa hoãn và lực lượng Pháp bị dàn mỏng mà phát triển lực lượng, củng cố sự tin tưởng trong dân chúng.


Ngày 18 tháng 3, 1.200 quân Pháp được phép đến Hà Nội thay thế quân Tưởng. Khi quân Pháp vào, chúng ta thực hiện chủ trương đấu tranh bảo vệ chủ quyền của ta theo đúng Hiệp định, nhưng không khiêu khích quân Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban bố một bản nghiêm lệnh: "Tuyệt đối cấm chỉ mọi sự khiêu khích đối với kiều dân và quân đội Pháp". Lần lượt 15.000 quân Pháp vào miền Bắc một cách hoà bình trước thái độ bình tĩnh cảnh giác và bất hợp tác của nhân dân ta.


Tuy buộc phải ký kết, nhưng quân Pháp vẫn khiêu khích phá hoại việc thi hành Hiệp định. Ta phải kiên trì đấu tranh để duy trì hòa hoãn. Cao ủy Đácgiăngliơ không bằng lòng với việc ký Hiệp định. Ngày 8 tháng 3, khi Valuy nhân danh tướng Lơcléc đến thông báo về bản Hiệp định Sơ bộ, Đácgiăngliơ nói: "Tôi ngạc nhiên, thực vậy tướng quân ạ! Tôi ngạc nhiên là nước Pháp có một đội quân viễn chinh đẹp dường kia mà những vị chỉ huy chỉ thích điều đình không muốn đánh", "Anh nói lại Đại tướng Lơcléc, coi chừng ông ấy đang đi tới một cuộc đầu hàng kiểu Munich"1 (Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Sài Gòn, 1972, tr. 22).


Tuy nhiên, theo thoả thuận trước đó của Lơcléc với ta, Đácgiăngliơ vẫn tổ chức cuộc gặp với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vịnh Hạ Long ngày 24 tháng 3. Trong cuộc gặp này, Cao ủy bày ra nhiều việc để trì hoãn Hội nghị Pháp - Việt chính thức, như việc họp Hội nghị trù bị Đà Lạt, phái đoàn Quốc hội ta sang thăm Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rõ âm mưu của y, nhưng để giữ không khí hòa hoãn, tiến tới Hội nghị chính thức, Người cũng đồng ý với Pháp:

1- Vào trung tuần tháng 4, một phái đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam sẽ đi Pháp để tỏ tình thân thiện của Quốc hội và nhân dân Việt Nam với Quốc hội và nhân dân Pháp.

2- Cùng trong thời gian đó, một phái đoàn gồm độ mười người từ Pháp qua Việt Nam để sửa soạn những tài liệu cần thiết.

3- Hai bên sẽ mở Hội nghị trù bị ở Đà Lạt để trao đổi ý kiến trước khi mở Hội nghị chính thức.

Sau đó, nhằm mục đích hạ thấp vị trí Hội nghị chính thức Pháp - Việt và để bưng bít dư luận, Pháp cử một phái đoàn gồm đại biểu các Bộ Kinh tế, Tài chính, Hải ngoại và Quốc phòng do Đácgiăngliơ làm trưởng đoàn sang Việt Nam đàm phán với Chính phủ ta. Ta đấu tranh đòi Hội nghị chính thức họp ở Pari. Lập trường của ta được dư luận nhân dân Pháp đồng tình. Bọn phản động bị cô lập. Cuối cùng Chính phủ Pháp phải nhận mở Hội nghị trù bị ở Đà Lạt và sau đó tiến tới mở Hội nghị chính thức ở Pari.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Ba, 2026, 08:49:13 pm
Ngày 16 tháng 4 năm 1946, phái đoàn Quốc hội ta do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu lên đường sang thăm nước Pháp.

Ngày 19 tháng 4, tại Trường Trung học Yécxanh ở Đà Lạt, Hội nghị trù bị cho Hội nghị Việt - Pháp chính thức khai mạc. Phái đoàn Việt Nam gồm 13 người do Nguyễn Tường Tam làm Trưởng đoàn, Võ Nguyên Giáp làm Phó Trưởng đoàn. Nhưng thực tế, phái đoàn do Võ Nguyên Giáp làm lãnh đạo. Phái đoàn Pháp gồm 12 người do Đácgiăngliơ làm Trưởng đoàn và Mác Angđrê làm Phó Trưởng đoàn. Bọn này hầu hết là những tên thực dân kỳ cựu ở Đông Dương, những tên tướng, hoặc những tên có chân trong tập đoàn tư bản tài chính của Ngân hàng Đông Dương nên chúng quyết tâm phá Hội nghị. Hội nghị Đa Lạt với tính chất là Hội nghị trù bị nên có nhiệm vụ trao đổi ý kiến về mọi vấn đề phải giải quyết "trong cuộc đàm phán chính thức. Đó là các vấn đề: chế độ chính trị của Việt Nam, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước ngoài, vấn đề Nam Bộ, quan hệ kinh tế văn hoá giữa ta và Pháp, vấn đề quân sự..., các vấn đề trên đều diễn ra đấu tranh gay gắt trong Hội nghị.


Về chính trị, lập trường có tính nguyên tắc của ta là: nước Việt Nam là một nước tự do. Liên bang Đông Dương chỉ mang tính chất kinh tế, không được phương hại đến những quyền cơ bản của Việt Nam. Về nguyên tắc ngoại giao giữa Việt Nam với nước ngoài, ta chủ trương Việt Nam phải có quyền đặt quan hệ ngoại giao. Pháp đòi quyền ngoại giao của ta do Liên hiệp Pháp đảm nhiệm thực chất là tước quyền ngoại giao độc lập của ta.


Về kinh tế, ta chủ trương giữ vững những quyền lợi kinh tế cơ bản, bảo đảm điều kiện cho kinh tế Việt Nam phát triển, đồng thời có những nhân nhượng nhất định đối với quyền lợi kinh tế Pháp ở Đông Dương.

Về vấn đề Nam Bộ, ta nêu rõ mục đích bỏ phiếu trưng câu ý dân không phải là để đòi chủ quyền Nam Bộ thuộc về dân, vì lãnh thổ Việt Nam gồm đủ ba kỳ. Cuộc đầu phiếu chỉ nhằm hỏi ý kiến nhân dân Nam Bộ có muốn giữ. giới hạn "Kỳ" trong khuôn khổ nước Việt Nam thống nhất hay không. Pháp chủ trương bỏ phiếu trưng cầu ý dân để hỏi chủ quyền Nam Bộ thuộc về đâu. Mục đích của Pháp là tổ chức cuộc đầu phiếu ở vùng chúng kiểm soát, chúng sẽ dùng lê, dùng súng bắt mọi người bỏ phiếu theo ý chúng, để tách Nam Bộ khỏi nước Việt Nam.


Các vấn đề thảo luận, chỉ riêng về quan hệ văn hoá giữa ta và Pháp là đạt được một số thoả thuận. Còn tất cả các vấn đề khác đều bất đồng và được kết luận "hãy ghi lại sự bất đồng ý ấy".

Ngày 10 tháng 5, Hội nghị thất bại.

Ngày 31 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang thăm Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp với tư cách là thượng khách của nước Pháp. Phái đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đi dự cuộc đàm phán chính thức tại Pháp cùng đi trong chuyến này. Không khí chính trị ở nước Pháp đang nóng bỏng. Cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị đang diễn ra gay gắt. Ngày 2 tháng 6 năm 1946, trong cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến, Đảng Xã hội do không hưởng ứng lời kêu gọi liên minh của Đảng Cộng sản để chống phái hữu nên đã bị mất nhiều phiếu so với lần tuyển cử trước. Phong trào cộng hoà bình dân của các giới tư bản tài phiệt phản động giành được thêm nhiều ghế: Phong trào Cộng hoà bình dân của Đờ Gôn chiếm 166 ghế, Đảng Cộng sản 150 ghế, Đảng Xã hội 125 ghế. Ngày 24 tháng 6, Chính phủ mới dược thành lập do Biđôn, lãnh tụ phong trào cộng hoà bình dân làm Thủ tướng. Trong Chính phủ, phong trào cộng hoà bình dân chiếm 9 ghế, Đảng Cộng sản 7 ghế, Đảng Xã hội 6 ghế. Tuy Đảng Cộng sản còn giữ được vị trí trong Quốc hội và trong Chính phủ như trước, nhưng Chính phủ mới này đã ngày càng ngả sang phái hữu, tìm cách phá hoại Hiệp định Sơ bộ, phá hoại cuộc đàm phán Pháp - Việt.


Ngày 12 tháng 6 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nước Pháp. Vì Chính phủ Pháp lúc này chưa thành lập nên Người còn ở tạm Biarít. Ngày 24 tháng 6, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pari, mở đầu cuộc đi thăm chính thức nước Pháp. Trong diễn văn đọc ngày 2 tháng 7 nhân buổi chiêu đãi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Biđôn nói:


"Chúng ta sẽ làm việc với nhau một cách thành thật dựa vào sự hiểu biết lẫn nhau và những lý tưởng nhân đạo. Ở đây, Khổng giáo và triết học Tây phương sẽ gặp nhau để tạo nên một quan niệm mới mẻ về những quan hệ giữa những người tự do và có liên quan với nhau trong sự theo đuổi lẽ tiến hoá của loài người".

Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời:

"Người Pháp tuy có nhiều tỉnh khác nhau, nhưng vẫn là nước thống nhất và không thể chia xẻ được... Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây, đều tán dương một nguyên tắc đạo đức "kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân"1 (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2004, tr. 266-267).


Trước sự đấu tranh mềm dẻo, kiên quyết của ta, trước áp lực của dư luận nhân dân Pháp và dư luận quốc tế, Chính phủ Pháp buộc phải mở Hội nghị đàm phán chính thức với ta. Nhưng chúng cố tình đặt địa điểm hội nghị ở lâu đài Phôngtennơblô cách Pari 60km và cử Trưởng đoàn ở cấp thấp làm giảm tầm quan trọng của cuộc đàm phán.


Vào 10 giờ 30 phút ngày 6 tháng 7 năm 1946, Hội nghị Phôngtennơblô khai mạc. Đoàn đại biểu Việt Nam gồm 12 thành viên: Đồng chí Phạm Văn Đồng - Trưởng đoàn, các ông Phan Anh, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Bửu Hội, Trịnh Văn Bính, Đặng Phúc Thông, Dương Bạch Mai, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Mạnh Hà, Chu Bá Thượng, Huỳnh Thiện Lộc. Đoàn Pháp gồm 12 thành viên do Mác Ăngđrê nguyên Phó trưởng đoàn đàm phán ở Đà Lạt làm Trưởng đoàn. Hầu hết các thành viên vẫn là các thành viên trong Hội nghị Đà Lạt như Buộcgoanh, Xalãng, Métsme, Pinhông, Đắcsi... Để hạn chế sự chỉ trích của dư luận, Chính phủ Pháp đưa vào đoàn đại biểu 3 nghị sĩ của 3 chính Đảng là Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội và phong trào cộng hoà bình dân. Đại biểu cho Đảng Xã hội là giáo sư Pôn Rivê, một người có tư tưởng tiến bộ. Nhưng Pôn Rivê sau khi dự buổi trao đổi riêng của đoàn Pháp trước hôm khai mạc Hội nghị đã rút lui. Ông nói là không muốn trở thành đồng lõa với những kẻ phản bội các điều khoản của Hiệp định ngày 6 tháng 3. Đoàn Pháp chỉ còn 11 thành viên. Việc cử Mác Ăngđrê, một người có chân trong tập đoàn tư bản tài chính của Ngân hàng Đông Dương làm Trưởng đoàn và những đoàn viên là những tên thực dân kỳ cựu ở Đông Dương, những tên tướng chỉ huy cuộc chiến tranh xâm lược, cũng đã chứng tỏ phía Pháp không có ý định đưa cuộc đàm phán đến kết quả thực sự.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tư, 2026, 08:31:59 pm
Những vấn đề đưa ra thảo luận trong Hội nghị là:

1- Vấn đề Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp và những quan hệ của nó với nước ngoài.

2- Tổ chức Liên bang Đông Dương.

3- Vấn đề thống nhất 3 kỳ và trưng cầu ý dân ở Nam Bộ.

4- Các vấn đề kinh tế, quân sự, văn hoá.

5- Thảo một dự án hiệp ước.


Ngày 12 tháng 7, trong cuộc họp báo tại Pari, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ 6 điểm trong lập trường đàm phán của ta như sau:

1- Việt Nam đòi quyền độc lập nhưng không phải hoàn toàn tuyệt giao với Pháp mà ở trong Liên hiệp Pháp, vì như thế, có lợi cho cả hai nước về mặt kinh tế và văn hoá, Việt Nam vui lòng cộng tác với Pháp.

2- Việt Nam quyết không chịu có một Chính phủ Liên bang.

3- Nam Bộ là một bộ phận của nước Việt Nam, không ai có quyền chia rẽ, không lực lượng nào có thể chia rẽ.

4- Việt Nam sẽ bảo hộ tài sản của người Pháp. Nhưng người Pháp phải tuân theo Luật lao động của Việt Nam và Việt Nam giữ quyền mua lại những tài sản có quan hệ đến quốc phòng.

5- Nếu cần đến cố vấn, Việt Nam sẽ dùng người Pháp trước.

6- Việt Nam có quyền phái đại sứ và lãnh sự đi các nước.


Người kết luận chỉ có lòng tin cậy lẫn nhau và sự cộng tác thật thà, bình đẳng thì mới đi đến kết quả thân thiện giữa hai nước.

Lập trường đúng đắn của ta được dư luận tiến bộ Pháp và các nước hoan nghênh. Trái lại, lập trường của Pháp hết sức ngoan cố phản động. Chúng vẫn chủ trương thông qua cơ cấu Liên bang Đông Dương để giữ Việt Nam trong khuôn khổ phụ thuộc vào Pháp. Chúng vẫn tách Nam Bộ khỏi nước Việt Nam thống nhất, coi Nam Bộ là đất nước của chúng. Hội nghị bế tắc, ngày 1 tháng 8, thay mặt đoàn đại biểu ta, Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng tuyên bố đình chỉ cuộc họp. Trong suốt tháng 8, Hội nghị không họp lại được do lập trường hai bên không thay đổi. Các giới chính trị đại biểu quyền lợi tư bản phản động Pháp coi việc công nhận quyền độc lập thống nhất của Việt Nam là một thảm họa đối với chúng, nhưng chúng tuyên bố đánh tráo là "một thảm họa đối với nước Pháp, chúng ta sẽ làm mọi việc để tránh cho được thảm họa đó". Lợi dụng tình hình nước Pháp chưa có Chính phủ chính thức, bọn thực dân phản động Pháp thực hiện chính sách vừa đàm phán, vừa lấn dần về chính trị, quân sự ở Đông Dương. Chúng tính nước sẽ thắng trong cuộc Tổng tuyển cử ở Pháp vào cuối năm 1946 để thẳng tay thi hành chính sách phản động ở thuộc địa. Ngày 12 tháng 9 năm 1946, Hội nghị Phôngtennơblô tan vỡ. Hôm sau, phái đoàn ta rời Pháp về nước.


Cánh cửa hoà bình như đã đóng chặt. Quan hệ hai nước rất căng thẳng. Cuộc chiến tranh lớn có thể nổ ra một sớm một chiểu. Để cứu vãn tình thế, dành thêm một thời gian nữa để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sắp tới, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy đã hết thời hạn ở thăm nước Pháp với cương vị thượng khách, Người vẫn ở lại Pháp trong một gia đình quen biết từ trước, để tiếp tục vận động cho một số giải pháp hoà bình, dù là tạm thời và mỏng manh. Điều đó đã đạt được. Ngày 14 tháng 9 năm 1946 tại nhà riêng Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Mutê, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Mutê - đại diện Chính phủ Pháp một bản Tạm ước có 11 khoản gồm một số nội dung chính sau:

Đảm bảo quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp ở Việt Nam và quyền lợi kiều dân Pháp.

Đình chỉ mọi hành động xung đột về võ lực giữa hai bên.

Phóng thích tù binh và tù nhân chính trị.

Vấn đề ngoại giao của nước Việt Nam sẽ do một ủy ban chung Việt - Pháp ấn định.

Ghi nhận cuộc thương thuyết vẫn còn được tiếp tục và hiện trạng chưa bị phá vỡ hoàn toàn. Các cuộc đàm phán sẽ tiếp tục càng sớm càng hay và chậm nhất là vào tháng 1 năm 1947.

Chiều 15 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp báo ở Pari, Người nói:

"Sau 3 tháng ở Pháp đã đem lại cho tôi một bản Tạm ước. Bản Tạm ước này đối với tôi có phải đã thoả mãn không? Có và không. Được rất ít nhưng có còn hơn không. Ký Tạm ước này, chúng tôi muốn tỏ cho nhân dân Pháp biết chúng tôi mong muốn một tinh thần rộng mở trong sự hoà giải. Chúng tôi sẽ thi hành Tạm ước nghiêm chỉnh và sẽ tìm ra khả năng để vượt qua những thoả thuận riêng và địa phương sau khi làm thuận lợi cho việc trở lại cuộc thương thuyết ở Hội nghị Phôngtennơblô. Chúng tôi hy vọng phía Pháp cũng thi hành nghiêm chỉnh Tạm ước đã ký như chúng tôi"1 (Nguyễn Thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp, Tạp chí Thông tin lý luận, H. 1998, tr. 204).


Báo Sự thật ngày 20 tháng 9 năm 1946 viết về Tạm ước này:

"Ý chí của Hồ Chí Minh trong khi ký bản Thoả hiệp tạm thời là nhất quyết làm cho cuộc bang giao Việt - Pháp tiến bộ hơn ngày 6 tháng 3, tình giao hảo giữa hai dân tộc dân chủ thân mật hơn và để thực hiện điều khoản của bản Thoả hiệp tạm thời có thể hòa hoãn những gay go giữa Việt - Pháp và giành thêm thời gian để bồi bổ thực lực và đón lấy một tình thế tốt hơn, để tỏ cho nhân dân Pháp thấy rằng dân tộc ta rất muốn thoả thuận với nhân dân Pháp (Hội nghị Phôngtennơblô bỏ dở là lỗi tại bọn tài phiệt Ngân hàng Đông Dương và tay sai của chúng, chứ không phải tại ta) và do đó tăng thêm cảm tình của dân Pháp và các dân tộc tự do khác đôi với nước ta".


Ngày 18 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời nước Pháp, ngày 20 tháng 10, Người về đến Hà Nội. Trong lời tuyên bố với quốc dân ngày 23 tháng 10, Người nói:

"Tôi qua Pháp đáp lại thịnh tình của Chính phủ Pháp đã mời tôi, mục đích cốt để giải quyết vấn đề Việt Nam độc lập, cùng Trung Nam Bắc thống nhất. Vì hoàn cảnh hiện thời của nước Pháp mà hai vấn đề chưa giải quyết được, còn phải chờ. Nhưng không trước thì sau, tôi dám quyết rằng: Việt Nam nhất định độc lập, Trung Nam Bắc nhất định thống nhất"1 (Nguyễn Thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp, Tạp chí Thông tin lý luận, H. 1998, tr. 204).


Rõ ràng là khi ký Hiệp định Sơ bộ ta còn đặt hai khả năng: có thể giải quyết quan hệ Pháp - Việt bằng biện pháp hòa bình, hoặc cũng có thể chiến tranh sẽ nổ ra. Nhưng khi ký Tạm ước 14 tháng 9 thì tinh thần lại khác: khả năng hoà bình hầu như không còn, đây chỉ là phương sách làm chậm nổ ra cuộc chiến tranh không tránh khỏi. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương, một mặt ta thi hành đầy đủ những điều khoản đã ký kết, tránh khiêu khích quân Pháp, kiên quyết đấu tranh chống quân Pháp vi phạm Hiệp định, mặt khác tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến.


Đứng trước nhiều kẻ thù mạnh, chúng ta lại có vô vàn khó khăn, sức mạnh vật chất còn nhiều hạn chế nhưng Đảng ta đã phát huy được sức mạnh vật chất, sức mạnh chính trị tinh thần vào công cuộc kháng chiến kiến quốc cũng như trong đấu tranh ngoại giao. Đến cuối năm 1946 chỉ mới hơn một năm xây dựng lực lượng trong bối cảnh đầy rẫy khó khăn, vừa xây dựng vừa chiến đấu nhưng chúng ta đã có được lực lượng chính trị hùng hậu của toàn dân, có một chính quyền hợp pháp được củng cố từ Trung ương xuống đến làng xã, có một cơ sở kinh tế văn hoá nhất định, có lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân đông đảo rộng khắp, với một Đảng Cộng sản được củng cố phát triển ngày càng trưởng thành lãnh đạo. Chúng ta lại có sự ủng hộ quốc tế ngày càng rộng rãi. Đó là sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, của dân tộc ta và của cả thời đại. Đó là "lực lượng căn bản" đưa cách mạng nước ta giành những thắng lợi to lớn trong thời kỳ 1945 - 1946 và chủ động bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tư, 2026, 08:33:07 pm
Phần thứ hai
NHỮNG TRẬN ĐÁNH BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG
NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP


I. NHỮNG TRẬN ĐÁNH BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP CỦA QUÂN VÀ DÂN MIỀN BẮC

1. Bảo vệ ngày Quốc khánh mồng 2 tháng 9 năm 1945

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công trong cả nước, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Vừa mới ra đời trong Cách mạng Tháng Tám 1945, sở Liêm phóng Bắc Bộ (Công an nhân dân Bắc Bộ lúc đó) được vinh dự giao nhiệm vụ đặc biệt là: Bảo vệ an toàn cho ngày lễ Quốc khánh mồng 2 tháng 9 năm 1945. Đồng chí Chu Đình Xương, Giám đốc sở Liêm phóng Bắc Bộ là người trực tiếp chỉ đạo vạch kế hoạch thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đôi an toàn cho lãnh tụ và các thành viên của Chính phủ, đồng thời bảo đảm an ninh trật tự cho buổi mít tinh chống sự phá hoại của kẻ thù.


Lực lượng liêm phóng và cảnh sát Bắc Bộ được bố trí bảo vệ từ vòng trong đến vòng ngoài. Bảo vệ tiếp cận và bảo vệ từ xa. Các chiến sĩ trinh sát được trang bị vũ khí đứng thành hàng rào rải suốt từ nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên của Chính phủ xuất phát đến quảng trường Ba Đình. Một số đứng bảo vệ xung quanh lễ đài. Cảnh sát còn mang súng ngắn mặc quần cộc đến đầu gôi, đội mũ cát trắng đạp xe đạp hộ tống cho đoàn xe chở Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên của Chính phủ tới tận quảng trường. Đồng chí Chu Đình Xương - Giám đốc sở Liêm phóng và một số trinh sát ngồi cùng xe với Bác. Để đảm bảo tuyệt đối an toàn cho lãnh tụ trong quá trình Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, đổng chí Chu Đình Xương đã trực tiếp đứng bên cạnh để bảo vệ Người.


Nhằm biểu dương sức mạnh công cụ chuyên chính của chính quyền nhân dân mới ra đời, lực lượng công an được bố trí thành một khối tham dự mít tinh.

Cũng trong thời gian này tại Sài Gòn, ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ cũng tổ chức mít tinh tại quảng trường Nhà thờ Đức Bà với hàng vạn đồng bào đến nghe Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập thông qua máy thu thanh. Lực lượng Quốc gia tự vệ (công an nhân dân Nam Bộ) đã bố trí phương án bảo vệ an toàn cho đoàn Chủ tịch và nhân dân dự mít tinh. Lúc này, bọn phản động núp trên lầu cao bắn lén vào đoàn người dự mít tinh. Lực lượng Quốc gia tự vệ đã kết hợp với lực lượng vũ trang kịp thời vây bắt bọn phản động, tước vũ khí của chúng bảo vệ an toàn cho cuộc mít tinh chào mừng ngày độc lập của nhân dân Sài Gòn - Gia Định.


Trước đó, lực lượng liêm phóng Bắc Bộ đã bắt một số tên phản động cách mạng nguy hiểm tay sai của Pháp, Nhật và những tên quan lại có nhiều nợ máu với nhân dân.

Ở Bắc Bộ ta bắt các tên: Nguyễn Xuân Chữ, cầm đầu bọn bù nhìn trong ủy ban chính trị của địch; Cung Đình Vận, tuần phủ Thái Nguyên; Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, thủ lĩnh Quốc dân Đảng và Đại Việt quốc gia liên minh do Nhật lập ra; Võ Văn Cầm, thủ lĩnh của tổ chức "Thanh niên ái quốc" cũng do Nhật lập ra.


Ở Trung Bộ, Sở trinh sát (lực lượng công an Trung Kỳ) bắt các tên: Trần Trọng Kim, thủ tướng bù nhìn; Trần Văn Lý, tổng đốc lâm viên; Ngô Đình Khôi, tuần phủ Quảng Nam; Tôn Thất Hối, trùm mật thám Trung Kỳ; Ngô Đình Diệm; Phan Văn Giáo; Nguyễn Tiến Lãng là những tên quan lại nguy hiểm của chính quyền Bảo Đại.


Ở Nam Bộ, Quốc gia tự vệ cuộc (lực lượng công an Nam Bộ) bắt các tên Phạm Đình Cương; Thái Phi, tay sai đắc lực của Pháp, Nhật.

Việc bắt và trừng trị những tên phản cách mạng nguy hiểm, tay sai của Pháp, Nhật đã góp phần bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, ổn định an ninh chính trị, giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân ta vừa giành được.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tư, 2026, 08:35:12 pm
2. Đập tan một âm mưu bạo động cướp chính quyền

(Theo Hồi ký của đồng chí Lê Giản, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an)

Đầu tháng 7 năm 1946, chúng tôi nhận được một tin báo quan trọng là bọn Đại Việt quốc dân đảng đã thông báo cho tổ chức "Thanh niên diệt cộng" của chúng sẵn sàng đón đợi thời cơ. Và tại trụ sở số 132 Đuyvinhô (nay là phố Bùi Thị Xuân), chúng tập trung nhiều phương tiện ấn loát làm việc liên tục. In tới đâu đóng gói tới đấy chuẩn bị chuyển gấp đi các tỉnh.


Tổng hợp phân tích các nguồn tin đó, chúng tôi xác định bọn phản động đang có âm mưu tổ chức bạo động lật đổ Chính phủ ta. Song cho tới lúc đó vẫn chưa khám phá ra kế hoạch hành động cụ thể của chúng. Mặc dù trong Việt Nam quốc dân đảng ta có gài được nhiều cơ sở tốt, nhưng tuyệt nhiên ta chưa phát hiện ra một âm mưu gì mới ngoài những chuyện cướp của, giết người, tống tiền, ám sát... như trước. Điều ấy chứng tỏ bọn Đại Việt quốc dân đảng giấu cả bọn Việt Nam quốc dân đảng. Bọn Đại Việt quốc dân đảng không muốn cho bọn Việt Nam quốc dân đảng dây máu ăn phần, mặc dù chúng đã sáp nhập thành một tổ chức do Trương Tử Anh cầm đầu.


Một sự kiện rất đáng lưu ý là, sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, bọn Pháp ở Hà Nội chỉ được phép đóng quân và đi lại phạm vi trong thành (chỗ cửa Đông hiện nay) và vườn hoa Canh Nông (vườn hoa chỗ góc đường Trần Phú và Điện Biên Phủ bây giờ). Nhưng càng tới ngày 14 tháng 7, ngày quốc khánh của Pháp, Xanhtơny liên tiếp đến xin phép Chính phủ ta cho quân Pháp được diễu binh quanh Hồ Gươm, nghĩa là quanh Bắc Bộ phủ, nơi cơ quan đầu não của ta làm việc. Đồng chí Võ Nguyên Giáp, bấy giờ là Bí thư Đảng, Đoàn chính quyền và cụ Huỳnh Thúc Kháng là quyền Chủ tịch nước (thay Bác Hồ đang đi thăm Pháp) kiên quyết không cho Pháp diễu binh, chỉ cho chúng duyệt binh tại chỗ.


Chúng tôi nhận định việc làm của bọn Đại Việt Quốc dân đảng và bọn Pháp nhất định có liên quan đến nhau, cùng nằm trong âm mưu bạo động cướp chính quyền. Tôi lên báo cáo anh Giáp và xin hành động tích cực để trừng trị âm mưu đó từ khi còn trứng nước. Nhưng anh Giáp không đồng ý mà yêu cầu phải tăng cường theo dõi và chỉ được trừng trị đối phương khi nào khám phá ra bằng chứng cụ thể. Quyết định đó hoàn toàn đúng. Bởi khi đi Pháp, Bác dặn ở nhà phải giữ gìn, tránh để xảy ra xung đột với các đảng phái khác sợ ảnh hưởng xấu tới kết quả Hội nghị Phôngtennơblô. Vậy bằng cách nào mà biết được kế hoạch bạo động của kẻ thù? Bằng cách nào để có những chứng cớ mà trừng trị?


Một hôm, Sở Công an Bắc Bộ báo cho chúng tôi một trường hợp rất đáng quan tâm: bà T đến báo cho công an ta biết, đêm trước hai vợ chồng V và S ở phố Đuyvinhô tới rủ con trai bà đi xem phim. Thế là anh con trai mất tích từ bữa đó tới nay vẫn chưa biết ở đâu. Lập tức chúng tôi tổ chức một mạng lưới trinh sát bí mật bao vây theo dõi nhà V và S. Vợ chồng này thỉnh thoảng có lui tới số nhà 132 Đuyvinhô. Và việc anh con trai bà T mất tích chắc có liên quan tối tổ chức phản động này. Công an ta khéo léo giữ V và S. Chúng nhận là đảng viên Quốc dân đảng, công kích đường lối chính trị của Đảng ta và không ngớt lời ca ngợi bọn Quốc dân đảng. Biết hai vợ chồng nhà này mới bị bọn phản động lừa phỉnh với các thứ triết lý về yêu nước và độc lập giả hiệu, chúng tôi tìm mọi cách giúp hai người nhận rõ bản chất bán nước phản động của bọn Quốc dân đảng. Hai vợ chồng V và S dần dần nhận thức được, biết mình bị lừa dối. Họ nhận làm việc cho ta. V và S được giao nhiệm vụ khám phá những bí mật trong ngôi nhà số 132 Đuyvinhô. Qua tin tức S cung cấp, ta xác định chắc chắn rằng tin của cơ sở báo là đúng. Tại đó địch đang gấp rút in nhiều tài liệu.


Chỉ còn ba ngày nữa là bọn Pháp kỷ niệm quốc khánh. Xanhtơny vẫn ráo riết đòi diễu binh. Tin mật báo do ta tập hợp được khẳng định chắc chắn âm mưu bạo loạn cướp chính quyền mà bọn Pháp và tay sai câu kết thực hiện là có thật. Tôi lại lên báo cáo anh Giáp và xin tấn công vũ trang trụ sở bọn Đại Việt quốc dân đảng. Anh Giáp xin ý kiến Trung ương. Chúng tôi lại được Trung ương chỉ thị: chỉ được hành động khi có bằng chứng cụ thể.


Đêm ngày 11 tháng 7 năm 1946, tôi, anh Nguyễn Tạo... ngồi quây quần quanh chiếc bàn, hội ý. Các nguồn tin được chắp nối, liên hệ với nhau để tổng hợp, phân tích. Biết bao câu hỏi, biết bao giả thiết đặt ra: có đúng kẻ địch âm mưu bạo động cướp chính quyền không? Hay đây là quỷ kế chúng lừa ta rơi vào tròng khiêu khích để phá Hội nghị Phôngtennơblô?... Tất nhiên mọi tình huống phải đặt ra và lường đoán trước tất cả như thế để có biện pháp đối phó. Song trong thâm tâm chúng tôi vẫn tin âm mưu kẻ địch chuẩn bị bạo động là có thật. Nếu vậy, không trấn áp, không bóp chết ngay âm mưu đó từ trong trứng nước, thì hậu quà sẽ vô cùng to lớn, nhất là giữa lúc chính quyền ta còn rất non trẻ, lực lượng ta có hạn, cả đối nội và đối ngoại ta đang gặp khó khăn. Nhưng nêu không tỉnh táo mắc mưu địch để nó tạo cớ cho Pháp đánh ta, hoặc phá hoại Hội nghị Phôngtennơblô thì chắc chắn không tránh khỏi bị kỷ luật. Cuối cùng, chúng tôi quyết định: chấp hành chỉ thị của Trung ương, không tấn công trụ sở của bọn Đại Việt quốc dân đảng, mà chỉ dùng một lực lượng nhỏ, bí mật đột nhập, kiểm tra ngôi nhà 132 Đuyvinhô, nơi mà chúng tôi nghi ngờ nhiều nhất, để tìm ra bằng chứng cụ thể.


2 giờ 30 phút đêm 11 rạng ngày 12 tháng 7 năm 1946, một tiểu đội công an được chọn trong số những người giỏi võ do đồng chí Lê Hữu Qua phụ trách, xuất phát. Chiếc xe Jeep dừng lại gần số nhà 132 Đuyvinhô không một tiếng động mạnh. Trong nháy mắt, các chiến sĩ ta đã vượt qua cổng sắt và hàng rào thép gai đột nhập vào nhà. Mấy tên lính gác ôm súng trong tay ngồi ngủ gà ngủ gật liền bị khóa họng, nhét giẻ vào mồm và trói chặt. Anh em xông lên gác. Trong ánh sáng mờ mờ, hơn hai chục tên Đại Việt quốc dân đảng mình trần, đang ngủ lay lắt giữa lối đi, trên sàn nhà, bên những chiếc máy in còn chưa ráo mực. Ngổn ngang xung quanh từng tập tờ rơi, biểu ngữ, bố cáo... về cuộc bạo động xếp bề bộn. Có thứ đã bó lại chuẩn bị chuyển đi, có loại vừa in xong. Các chiến sĩ ta đánh gục, trói gọn tất cả bọn chúng. Toàn bộ tài liệu được chất đầy một xe ô tô vận tải chở đi. Bọn tội phạm bị hỏi cung tại chỗ để khai thác.


Qua các tài liệu thu được và lời khai của can phạm, chúng tôi khám phá ra kế hoạch bạo động đảo chính của bọn Đại Việt quốc dân đảng, như sau: ngày 14 tháng 7, Pháp sẽ tổ chức lỗ kỷ niệm quốc khánh một cách thật rầm rộ, quân đội Pháp được trang bị vũ khí chiến đấu diễu binh trên đường phố Hà Nội, đặc biệt khu vực Bắc Bộ phủ, bọn Đại Việt quốc dân đảng sẽ cho người ném lựu đạn vào đội hình của Pháp. Trong bản thảo viết tay do Trương Tử Anh ký có ghi rõ và gạch dưới hàng chữ: "Ném vào chỗ lính da đen". Bọn Pháp sẽ vin vào đó làm cớ đổ cho Chính phủ ta cố tình khiêu khích đánh chúng. Rồi chúng sẽ huy động toàn bộ lực lượng của Pháp, của bè lũ phản cách mạng bao vây đánh úp vào các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ ta, bắt giam các lãnh tụ, đồng thời bọn Đại Việt quốc dân đảng tuyên bố đảo chính lập Chính phủ mới. Bọn phản động ở các tỉnh đã chuẩn bị trước sẽ nổi dậy hưởng ứng. Cố nhiên Hội nghị Phôngtennơblô sẽ bị phá, Bác và anh Phạm Văn Đồng cùng phái đoàn Chính phủ ta sẽ bị Pháp bắt giữ... Mưu mô của bọn Pháp và lũ Đại Việt quốc dân đảng thật là quỷ quyệt.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tư, 2026, 08:35:52 pm
Tôi đi ngay đến Bắc Bộ phủ báo cáo với cụ Huỳnh Thúc Kháng. Lúc ấy mới độ gần 6 giờ sáng. Nghe báo cáo có tôi tới trình việc gấp, cụ Huỳnh vội dậy, ra ngay. Cụ đeo mục kỉnh lên, đọc rất nhanh mấy tờ rơi, hiệu triệu... Mắt cụ sáng long lanh đầy căm giận. Rồi bằng giọng nghiêm khắc ít thấy, cụ vừa đập đầu ba toong xuống sàn nhà, vừa ra lệnh cho tôi: "Diệt! Diệt hết lũ chúng nó. Quân bán nước. Đồ chó má". Tôi vội vã đi báo cáo anh Giáp và được phép hành động ngay: tổ chức lực lượng tấn công các trụ sở của bọn Quốc dân đảng ở Hà Nội cùng các tỉnh khác.


Bảy giờ sáng, các đơn vị vũ trang chiến đấu của ta xuất phát. Tại ba trụ sở của Quốc dân đảng ở phố Thiền Quang, cuộc chiến đấu diễn ra dữ dội. Ở đây trước có một tên võ quan Nhật làm cố vấn và lớp huấn luyện gồm hơn 70 tên. Chúng thường được tung đi rải tờ rơi, khiêu khích, tổng tiền, cướp của, giết người. Địch dùng súng bắn trả ta rất kịch liệt. Mãi tới khi ta huy động thêm hỏa lực bố trí từ trên các nhà cao tầng xung quanh áp đảo, chúng mới chịu đầu hàng.


Tại cơ sở số nhà 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều), cuộc chiến đấu cũng khá gay go. Cầm đầu bọn ở đây là tên Phan Kích Nam, ủy viên trung ương của Việt Nam quốc dân đảng. Tên thật của hắn là Phan Xuân Thiện, con đỡ đầu, và là tay sai của một linh mục đạo tin lành người Mỹ. Nam thường vỗ ngực khoe khoang mình nói tiếng Ănglê như người Mỹ Niuoóc. Từ thời còn là học sinh Trường Quốc học Huế, hắn đã nổi tiếng ăn chơi bạt tử và ngổ ngáo coi trời bằng vung. Sau ngày Tổng khởi nghĩa, hắn tưởng có cơ hội làm ăn, năn nỉ tìm mọi cách xin vào làm việc tại ban chỉ huy Việt Minh thành phố Huế. Bị ta từ chối, hắn từ Huế ra Hà Nội và không bao lâu hắn đã leo tới chức ủy viên trung ương của cái đảng phản động của bọn Vũ Hồng Khanh. Nam là một trong số 70 tên mà bọn Việt Nam Quốc dân đảng đưa vào Quốc hội. Hắn được cái đảng phản cách mạng đó giao cho tổ chức và chỉ huy "đệ nhất chiến khu" gồm các tỉnh Trung Bộ mà trụ sở đóng tại số 7 Ôn Như Hầu. Nhiều tài liệu ta thu được đã xác nhận rõ hắn nhúng tay vào nhiều hành động bỉ ổi, bắt cóc, cướp của, giết người, ám sát... Khi ta đến bắt tại trụ sở phố Nguyễn Du, Phan Kích Nam giơ thẻ đại biểu Quốc hội ra kiên quyết chống lại và tố cáo công an ta vi phạm pháp luật. Ta mời hắn qua số nhà 7 Ôn Như Hầu. Hắn chịu đi. Đến đây bỗng một người dân nhận ra Nam là tên sát nhân liền xông vào tố cáo, vạch mặt định đánh. Nam giơ kiếm chống lại liền bị đồng chí Lê Hữu Qua quật ngã, trói ngay.


Nhà số 7 Ôn Như Hầu này mới vào cũng có thể nhận ra cách bố trí theo kiểu sào huyệt một ổ cướp chuyên nghiệp. "Ban nghiên cứu" là gian phòng tắm chật chội, kín mít, trong để nhiều dụng cụ tra tấn: bình điện, roi song, búa, kìm... và trên tường bê bết máu. Ngoài vườn có một bụi chuối và mấy đám cỏ xanh tốt khác thường. Các chiến sĩ ta đào lên. Mới bổ mấy nhát cuốc đã thấy một chỗ ba xác người mới bị giết. Dã man hơn, chúng chặt xác họ thành từng mảnh nhỏ bỏ dồn vào một đống. Đào tiếp ra rộng hơn lại thấy xác bốn người nữa, thịt đã bắt đầu thối, nhưng vẫn còn nhận được và có thể tìm ra tung tích. Từ khắp nơi, nhân dân nghe nói đào thấy nhiều xác chết ở số 7 Ôn Như Hầu liền kéo đến rất đông. Đồng bào vừa khóc vừa xông vào để tìm dấu vết người thân. Sự phẫn nộ bùng lên, đồng bào kêu thét, xông vào toan xé xác bọn sát nhân. Việc tìm ra vết tích những người bị giết đã vạch trần bộ mặt ghê tởm của bọn phản cách mạng Quốc dân đảng. Những bằng chứng ấy, một lần nữa làm cho các chiêu bài giả hiệu "quốc gia", "hải ngoại" của bọn Quốc dân đảng bị quần chúng vứt bỏ và phỉ nhổ.


Căn nhà số 80 phố Quán Thánh là trụ sở và cơ quan báo chí của chúng. Tại đây, suốt ngày đêm chúng bắt những chiếc loa công suất lớn ra rả rêu rao về cái "chủ nghĩa quốc gia" của mình và trâng tráo xuyên tạc cách mạng. Suốt ngày 12 tháng 7, vì chưa thấy ta tấn công, bọn đầu sỏ chuồn về tụ tập ở đây khá đông đủ. Có lẽ chúng tưởng ta sợ, vì đấy sát khu vực đóng quân của Pháp. Nhưng thật ra ta bao vây từ tám giờ sáng hôm đó. Bọn Quốc dân đảng dựa vào sự kiên cố và tường đá dày tập trung hỏa lực bắn trả ta kịch liệt và bí mật cho người đi cầu cứu quân Pháp. Cuộc chiến đấu kéo dài đến mười giờ đêm mà ta vẫn chưa vào được. Nhân cơ hội ấy bọn chúng thiêu hủy hết tài liệu. Anh em ở ngoài nhìn vào thấy lửa cháy rừng rực mà sốt gan, sốt ruột. Bỗng xung quanh chỗ ta bố trí, đạn súng máy nổ liên hồi, rồi xe tăng của Pháp lù lù tiến đến chặn hai đầu. Đoàn đại biểu của ta trong "Phái đoàn liên kiểm" lập tức tới can thiệp. Bằng lý lẽ sắc bén, ta làm cho bọn Pháp ngượng ngùng vì chúng không có cớ gì mà nhúng tay vào công việc nội bộ của ta nên đành phải rút lui. Nửa giờ sau, hỏa lực của ta được tăng cường áp đảo mạnh mẽ, và các chiến sĩ của ta dũng cảm tràn vào nhà. Toàn bộ lũ đầu sỏ Quốc dân đảng như Xuân Tùng, Phan Khôi, Đỗ Đình Đạo... bị bắt sống. Trương Tử Anh trốn thoát, nhưng sau đó mấy tháng cũng bị bắt nốt.


Tại khu vực Quán Thánh còn có một trụ sở nữa của trung ương Quốc dân đảng đóng tại trường Yên Thành, phố Đỗ Hữu Vị (nay là phố Cửa Bắc). Chúng tôi cử người tới điều tra thì mới biết, thời gian qua bọn Quốc dân đảng đã bắt nhiều người mang đến đấy giết và chôn tại đó. Ta lại đào, tìm. Ngay dưới lớp cỏ xanh, có hai xác người bị chặt làm đôi, một đàn ông, một đàn bà.
Bọn Quốc dân đảng cũng như các tổ chức phản động khác đã lộ nguyên hình là lũ côn đồ, bán nước hại dân. Những tên đầu sỏ đã bị bắt. Những tên còn lại đi tới đâu cũng bị nhân dân vạch mặt, tống ra khỏi nhà hoặc bắt giao nộp cho chính quyền trừng trị. Từ sau ngày 12 tháng 7 năm 1946, đến ngày kỷ niệm quốc khánh của Pháp, tuyệt nhiên không thấy Xanhtơny đến khẩn khoản xin diễu binh như trước nữa.


Có thể nói cuộc trấn áp ngày 12 tháng 7 năm 1946 là đòn trừng phạt sấm sét đánh gục bọn phản động Quốc dân đảng để bảo vệ chính quyền cách mạng còn rất non trẻ.

Những ngày đầy gian khổ và sóng gió của cách mạng tạm lắng xuống.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tư, 2026, 08:37:04 pm
3. Hải Phòng những ngày đầu kháng chiến

Ngay sau khi Pháp đổ quân vào Hải Phòng, Đảng ta và nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt đều có chung phán đoán: Chiến tranh xâm lược của Pháp với ta sẽ xảy ra, thực dân Pháp sẽ trở lại xâm chiếm; khả năng giữ được hoà bình trong một thời gian dài là rất khó.


Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 diễn ra trong cả nước, Bộ Quốc phòng có cử đồng chí Lê Quang Hòa với tư cách đặc phái viên chính trị của Bộ về Chiến khu 3 nhận bàn giao công việc của đồng chí Nguyễn Bình, để đồng chí Bình vào Nam nhận nhiệm vụ mới. Tháng 9 năm 1945, đồng chí Hoàng Minh Thảo nhận nhiệm vụ làm chiến khu trưởng Chiến khu 3. Tận mắt chứng kiến cảnh quân Pháp tìm cách gây hấn với ta từ nhỏ, lẻ đến quy mô lớn, tiến công vào lực lượng hải quan, rồi cảnh sát của ta, với cách nhìn chiến lược, dự kiến trước được tình hình đó, ngay sau khi tổng khởi nghĩa ở Hải Phòng kết thúc, Đảng bộ Hải Phòng, Bộ chỉ huy quân sự Hải Phòng cùng Bộ chỉ huy Chiến khu 3 kịp thời đặt ra kế hoạch tác chiến, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là tích cực mua sắm vũ khí.


Lúc đó Hải Phòng hỗn hợp lực lượng, quân Pháp, Tưởng, Nhật đều có mặt nên vũ khí không hiếm, hơn thế anh em cũng tích cực tìm kiếm của bọn Pháp, Nhật, Tưởng khá nhiều. Hải Phòng thật sự là chợ trời vũ khí. Nhiều đến nỗi đạn còn được bày bán cả mẹt như bán ốc ăn. Không chỉ người ở Hải Phòng mà dân các tỉnh xung quanh đồng bằng sông Hồng cũng đổ xô về đây mua vũ khí. Sau Hà Nội, Hải Phòng là khu công nghiệp lớn. Do đó lực lượng vũ trang Hải Phòng (bộ đội, tự vệ, công an nhân dân) đều có điều kiện mua sắm vũ khí trang bị cho mình. Mặt khác, để khắc phục một phần tương quan lực lượng địch - ta, chuẩn bị kháng chiến lâu dài, ta chủ trương tạo được càng nhiều vũ khí càng tốt. Bộ chỉ huy Chiến khu 3 khi tiếp quản đệ tứ chiến khu của đồng chí Nguyễn Bình, ta đã gặp cha cố cũ tên là Nguyễn Công Lý, ông được đồng chí Bình và đệ tứ chiến khu thu phục về phía cách mạng. Do có kiến thức về quân khí, ông được tham gia xưởng quân giới Khu 3. Hải Phòng khi chuẩn bị chiến tranh, so với một số tỉnh khác có thể mạnh hơn vì đây là khu công nghiệp có nhiều máy móc. Chuẩn bị cho chiến tranh, một số máy móc đã kịp thời được chuyển về vùng nông thôn ngoại vi Kiến An, Đông Triều, Thủy Nguyên để sản xuất bom, mìn... Anh em quân giới ta lặn lội ra tận Cát Bà, Đồ Sơn - nơi có pháo đài cũ của Pháp để lấy đầu đạn cũ loại 138,6 ly mang về sản xuất thành bom chống xe cơ giới địch. Nhờ mọi nỗ lực tìm tòi sáng tạo mà bộ đội, dân quân tự vệ, công an vũ trang Hải Phòng có được số lượng vũ khí tương đối khá, trong đó có cả súng máy lấy được của địch.


Những ngày cuối tháng 11 năm 1946, sau hàng loạt sự kiện gây hấn, tức nước vỡ bờ, trước sức ép của thực dân Pháp, nhân dân Hải Phòng do có sự chuẩn bị trước, nơi hội tụ của giai cấp công nhân, có lực lượng tự vệ hùng hậu cùng với lực lượng tự vệ khu phố, công an vũ trang và bộ đội rất tích cực tiến công địch ngay từ những ngày đầu. Miền Bắc vừa được giải phóng, từ người dân nô lệ nước thuộc địa mới được đổi đời thành người tự do; nền độc lập tự do giành được bằng xương máu nay bị Pháp chà đạp, tạo nên bầu không khí kháng chiến với quyết tâm và khí thế ngút trời của người dân Hải Phòng, cả ba lực lượng: bộ đội, tự vệ, công an nhân dân chiến đấu rất dũng cảm. Nổi tiếng dũng cảm là đội vũ trang tuyên truyền của Chiến khu 3 chiến đấu ở Nhà hát thành phố hàng mấy ngày. Tự vệ khu phố, công an vũ trang chiến đấu ở các ngõ ngách, khu vực toàn thành phố cũng rất anh dũng kiên cường làm cho quân Pháp không thể chiếm ngay được Hải Phòng dễ dàng như chúng tưởng mà phải kéo dài hàng tuần lễ.


Cuộc chiến đấu trong thành phố địch mạnh hơn ta rất nhiều. Ngoài vũ khí bộ binh, xe tăng, pháo binh, chúng còn có không quân, hải quân hỗ trợ đắc lực, đặc biệt là hải quân. Pháp đưa các tàu pháo hạm vào bến Bính để bắn vào bờ, dùng không quân, hải quân bắn phá cả Kiến An, địch hoàn toàn làm chủ hướng biển vì ta không bao vây đường biển được. Tuy thế, quân giới ta tích cực dùng mấy khẩu pháo 75 ly thu được của Pháp cho bộ đội chuyển lên núi Đèo bắn vào tàu địch ở bến Bính cũng hạn chế được đôi chút hỏa lực của chúng. Các nơi khác trong thành phố quân Pháp đều dùng không quân, lục quân, pháo binh, xe tăng đánh ta rất mạnh. Ta xác định mục tiêu chiến đấu là kéo dài, giam chân địch càng nhiều càng tốt đồng thời chuẩn bị di chuyển lực lượng về Kiến An. Một mặt ta bố trí ở các khu phố lực lượng tự vệ, công an và bộ đội liên tục quấy rối địch, phần lớn lực lượng bộ đội thì tổ chức phòng ngự khu Trại Cau - An Dương (thuộc quận Lê Chân) để bảo đảm an toàn hành lang từ Hải Phòng đi Kiến An và ở ven sông Cầu Niệm ta cũng bố trí công sự chiến đấu. Phía trong thành phố ta vẫn bố trí lực lượng chốt chặn tổ chức đào công sự chiến đấu. Khi thấy khó đủ sức kìm giữ, lực lượng ta (gồm cơ quan, nhân dân) rút về Kiến An khá thuận lợi an toàn, có tổ chức một cách chủ động. Nhờ đó, từ Cầu Niệm, Cầu Rào ta lại tổ chức được những đợt đánh sang Hải Phòng như sân bay Cát Bi, các khu phố nội thành. Hiệu quả của các tuyến phòng thủ trên đã không cho phép quân Pháp đánh sang Kiến An như ý định mà phải tận tháng 3 năm 1947 kết hợp với đường sông chúng mới đánh sang được.


Địa bàn thứ hai, nơi cũng liên tục diễn ra những trận đánh ác liệt là đường số 5. Bộ đội chủ lực đã tận dụng triệt để đầu đạn 138 ly cải tiến thành mìn đã tiêu diệt và đánh hỏng một số xe cơ giới của địch.

Điều đáng nói là, với nhiều cách đánh sáng tạo, táo bạo quân và dân Hải Phòng đã thực hiện khá thành công kế hoạch làm chậm bước tiến quân của địch từ Hải Phòng lên Hải Dương và hành lang an toàn An Dương - cầu Niệm. Trong quá trình chiến đấu ở Hải Phòng, ta đã phân công đồng chí Nguyễn Khang, Xứ ủy viên sang theo dõi và chỉ đạo cuộc chiến đấu ở nội thành Hải Phòng.


Rõ ràng với cách đánh giàu thông minh tài trí, ta đã phát huy triệt để sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân làm cho địch không sớm tiến sang Kiến An cũng như lên Hải Dương. Tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân vô cùng dũng cảm, mọi vũ khí, dù còn thô sơ đều được sử dụng triệt để. Ngay khi thiếu vũ khí đánh cơ giới địch, ta đã tổ chức đào đường cản địch, làm mìn, địa lôi giả, chúng không dám đi hoặc cơ động cũng phải thận trọng, chậm chạp.


Bên cạnh mặt thành công, phải thừa nhận công tác chỉ huy lúc ấy còn nhiều hạn chế. Đáng lẽ ta phải tổ chức tiến công mạnh vào sau lưng địch nhiều hơn nữa, hoặc bộ đội chủ lực phải tích cực chi viện cho dân quân tự vệ, công an vũ trang nhiều hơn thì việc chiến đấu ở thành phố có thể kéo dài hơn nữa...


Hải Phòng - địa bàn chiến lược quan trọng của miền Bắc, cửa ngõ quan trọng của vùng Bắc Bộ đã khẳng định truyền thống đánh giặc anh dũng, kiên cường, là nơi luôn phải sớm đương đầu với sự xâm lược của thực dân Pháp. Bài học thành công và hạn chế của nghệ thuật chỉ đạo và tiến hành kháng chiến của thành phố cảng đã cung cấp những kinh nghiệm cũng như thời gian để Hà Nội nói riêng và toàn quốc chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến tự tin và giành thắng lợi to lớn hơn.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tư, 2026, 08:37:45 pm
4. Trận đánh "Trường con gái"

Sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, thực dân Pháp đã thiết lập 5 vị trí đồn trú kiên cố tại thành phố Hải Dương, trong đó có vị trí "Trường con gái" (nay là Trường phổ thông cơ sở Võ Thị Sáu). Tại đây, địch thường xuyên có 1 trung đội lính lê dương, với đầy đủ trang bị vũ khí hiện đại. Để kiểm soát chặt chẽ đoạn đường số 5 từ Ngã Sáu đến vườn hoa Bảo Đại, địch cho xây dựng 4 ụ súng nửa chìm nửa nổi. Ngoài ra còn có 1 ụ súng máy nhô lên nhằm bảo vệ vành đai. Từ ụ súng này, chúng đào giao thông hào dích dắc với các ụ súng khác, thông với các phòng học. Hàng rào kẽm gai, cột bê tông, tấm tôn dày mọc ra tua tủa. Xung quanh lại được nguỵ trang bởi những tàu lá gồi, thoáng nhìn vào không ai nghi bên trong "Trường con gái" là một ổ vũ khí giết người.


Ngay đêm toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm 1946, lực lượng của ta gồm cảnh vệ chiến đấu, tự vệ thành và công an xung phong tổ chức đánh chiếm "Trường con gái". Ta áp sát vị trí địch, ném lựu đạn, hô xung phong đến khản cả cổ nhưng chỉ làm chúng hoang mang, dao động, chứ chưa thể áp đảo. Bởi ta chưa có hỏa lực mạnh tiêu diệt, trong khi súng địch bắn xối xả từ khẩu trung liên. Chưa chiếm được mục tiêu đành phải rút ra. Ngay đêm đó ta đã được bổ sung thêm lựu đạn, chân chỉnh lại công tác tổ chức trận đánh.


Khoảng 8 giờ tối ngày 20 tháng 12, lực lượng ta lại áp sát mục tiêu, chờ hiệu lệnh. Sau 20 phát đạn nổ từ khẩu ca-nông, ta đồng loạt nổ súng, ném lựu dạn vào ụ trung liên của địch rồi tiến hành xung phong. Có đồng chí tiến lại gần vạch lá gồi, chui vào trong nhưng không sao vào nổi lại phải rút ra. Ta lại một lần nữa không chiếm được mục tiêu. Vấn đề đặt ra lúc này là phải tiêu diệt được ụ trung liên của địch.


Sau một thời gian suy nghĩ, trăn trở, đồng chí Lê Chấn đã nảy ra một sáng kiến: liên kết các miếng nổ nhỏ thành một khối thuốc lớn, rồi làm cho thuốc đen của dây cháy chậm bén lửa chuyển xuống kíp, chỉ cần một miếng thuốc sẽ kích thích cả khối thuôc lớn nổ. Khối thuổc nổ như vậy có thể đánh sập bất kỳ loại công sự kiên cố nào. Công việc chế biến khối thuốc được tiến hành ngay! Khoảng 22 giờ đêm ngày 21 tháng 12, ta triển khai đội hình chiến đấu. Một đồng chí của ta ôm khối thuốc nổ vượt qua khu bãi hoang, nhẹ nhàng bò dần, tiếp cận đặt khối thuốc vào ụ trung liên của địch. Sau ánh lửa diêm loé sáng, một tiếng nổ long trời từ khối thuốc lớn phát ra. Ụ súng của địch mới kịp xối loạt đạn đầu đã câm bặt. Tiếng hô xung phong vang dội, ta đồng loạt xông lên, chia thành từng tổ 3 người lần lượt chiếm các ụ súng; ta đánh dọc hiên, thọc vào các phòng. Lúc này địch phải co cụm tại hai phòng kiên cố, có tôn dày và bao cát vây quanh. Ta nã đạn nhưng không sao xuyên nổi. Cuối cùng ta đồng loạt hô to câu gọi hàng bằng tiếng Pháp "Soldas Erancals Rendezvous vouserez bien trai tre" (Hỡi binh lính Pháp, hãy ra hàng các anh sẽ được đối xử tử tế). Ít phút sau, cửa phòng số 1 mở, một tên "Tây trắng" giơ cao chiếc khăn trắng bước ra. Trận đánh địch ở "Trường con gái" đã kết thúc thắng lợi, ta đã tiêu diệt và bắt sông 28 tên địch, giải tỏa được đường số 5, tạo điều kiện cho bộ đội xung kích đánh thắng địch ở nhiều vị trí quan trọng trong thành phố.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tư, 2026, 08:38:19 pm
5. Bảy ngày giữ vững thành phố Hải Phòng

Sang tháng 11 năm 1946, quân Pháp ráo riết thực hiện các kế hoạch cụ thể, tìm cớ để đánh chiếm lại Hải Phòng. Sáng ngày 20 tháng 11, Valuy - Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương, ra lệnh cho Moóclie: "Thiết lập quyền kiểm soát hải quan tại cảng Hải Phòng". 8 giờ sáng cùng ngày, quân Pháp cho ca-nô của hải quân đến bến Tam Kỳ định bắt chiếc tàu chở dầu của người Hoa chúng đã khám xét hôm trước. Công an và thuế quan ta can thiệp. Quân Pháp xả súng liên thanh bắn chết một chiến sĩ công an ta và hai dân thường. Lập tức tự vệ và nhân dân ở hai bờ sông Lấp đổ ra nổ súng để tự vệ và đả đảo hành động giết người của quân Pháp. Chiếc ca-nô Pháp bỏ chạy. Lực lượng tự vệ Khu 5 xông vào nhà máy Ca-rông, bắt gọn 5 tên Pháp, thu tất cả vũ khí. 9 giờ, tự vệ ta ở chợ Sắt nổ súng bắn bị thương hai pháo thủ Pháp, bắt giữ một xe vận tải quân sự. Sự kiềm chế của quân dân Hải Phòng đã đến ranh giới tận cùng. Không thể dừng được nữa, Ủy ban bảo vệ thành phố phát lệnh: chuẩn bị tác chiến. "Sự kiện Hải Phòng" bùng nổ. Bảy ngày đêm chiến đấu kiên cường, bất khuất của quân dân Hải Phòng diễn ra mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ 9 năm của thành phố Cảng và các vùng duyên hải Bắc Bộ.


Từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 11 năm 1946, quân và dân Hải Phòng đã chiến đấu quyết liệt. Tại phố Cầu Đất, tất cả các cụ già, thanh niên, phụ nũ, cùng các chiến sĩ cảnh vệ, tự vệ khẩn trương dựng hàng rào chiến luỹ bằng các thứ có thể huy động dược, các thứ dược chất cao ngang tầng hai các nhà quyết chốt ngã tư quan trọng này để chặn đứng hướng tấn công chủ yếu của địch. Ở phố Phan Bội Châu, đồng bào và anh em tự vệ khuân đổ ra đường hàng trăm tấn sắt thép. Nhân dân còn căng xích sắt, đóng cọc làm chướng ngại vật ngăn xe tăng từ hiệu Tam Hoàn đến cuối phố, giữ vững một cửa ngõ đi vào khu vực người Hoa. Ở đầu phố Ba Ty, giáp cầu Hạ Lý, các chiến sĩ công an xung phong, tự vệ và thanh, niên vót các bè gỗ dưới sông Hạ Lý chôn thành nhiều hàng cọc để chống chiến xa, vít chặt hai đầu phố. Chiến sĩ tự vệ ngành xe lửa phối hợp với tự vệ Khu 5, Khu 6 lái đầu máy xe lửa kết hợp với vật cản chặn ngang đường ỏ phố Cầu Đất, ngã tư An Dương, Cầu Quay, chặn địch từ Thượng Lý không cho chúng tiến sang. Các đơn vị bộ đội triển khai đội hình chiến đấu.


Các trận chiến đấu với quân Pháp đã diễn ra tại nhà hát thành phố, ngã tư Cầu Đất, nhà ga Hải Phòng, trụ sở đoàn công an xung phong, khu vực phố Ba Ty, sân bay Cát Bi, mật trận Khu 3, Khu 5, Khu 10 Cửa Cấm Khu 11 Đông Khê, Khu 12 Lạc Viên, trại bảo an binh...


Trong các trận đánh bảo vệ Hải Phòng trận đánh quyết liệt nhất giữa ta và địch đã diễn ra ở khu vực Nhà Hát Lớn thành phố. Đây là trung tâm văn hóa, chính trị của thành phố, đồng thời là cứ điểm án ngữ ngã ba đường đi vào ba khu phố người Âu, người Hoa và người Việt. Địch huy động một tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp tiến công khu vực nhà hát. Về phía ta, bảo vệ nhà hát có 17 chiến sĩ thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 89, Trung đoàn 41, vũ khí có một tiểu liên tôm-sơn, 16 súng trường mút-cơ-tông, lựu đạn và chai cháy. Phối hợp chiến đấu có 22 chiến sĩ đội tuyên truyền văn hoá Chiến khu 3, không có vũ khí. Lực lượng không cân sức nhưng ý chí bảo vệ độc lập tự do cùng với sự mưu trí, dũng cảm, các chiến sĩ ở dây đã trụ vững hơn một ngày đêm, diệt được 50 tên lính Pháp, phá hủy 2 xe thiết giáp, làm nhiều tên khác bị thương. Khi quân Pháp ập vào, các chiến sĩ ta đã chiến đấu đến người cuối cùng. Trận đánh này, ta hy sinh 13 chiến sĩ. Trong lịch sử chiến đấu của thành phố Cảng, các chiến sĩ Nhà hát thành phố đã trở thành bất tử.


Ngày 26 tháng 11, địch huy động các lực lượng tiến công, đánh phá các khu phố Lý Thường Kiệt, Hoàng Văn Thụ, Quang Trung, Cầu Đất, nhằm đánh vào sở chỉ huy Trung đoàn 41. Các lực lượng vũ trang ta dựa vào công sự, đánh lui các đợt tiến công, bắn cháy xe tăng địch, buộc chúng phải co lại. Trong ngày này, Thành ủy Hải Phòng cử đại biểu sang bàn với Tỉnh ủy Kiến An phối hợp chiến đấu.


Bảy ngày đêm chiến đấu chống lại hàng nghìn quân vào loại tinh nhuệ của thực dân Pháp được trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại, có cả hải, lục, không quân là một thử thách lớn trong những ngày đầu trước khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ của quân và dân Hải Phòng. Giặc Pháp cậy có quân đông, hỏa lực và sức đột kích mạnh, có thể "đánh nhanh, thắng nhanh" chiếm ngay thành phố, nhưng chúng đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân thành phố cảng. Lúc đó, trong phạm vi cả nước, quân đội ta chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, đặc biệt là kinh nghiệm chiến đấu trong thành phố. Quân và dân Hải Phòng giữ vững thành phố trong bảy ngày đêm là một kỳ tích lớn. Kẻ địch bị bất ngờ, bị thiệt hại nặng vì đã phải đương đầu với sức mạnh của toàn dân, một sức mạnh "cả thành phố một lòng, quân dân cùng chiến đấu". Bảy ngày đêm giữ vững Hải Phòng tuy không dài nhưng đã để lại những bài học lớn. Đảng ta, quân đội ta đã kịp thời rút kinh nghiệm cuộc chiến đấu ở Hải Phòng để bình tĩnh tự tin bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tư, 2026, 08:39:14 pm
6. Những chiến sĩ bất từ của đội vũ trang tuyên truyền ngày ấy

Có một sự kiện đầy ý nghĩa - ngày Trung đoàn 42 Trung dũng vừa tròn một tuổi (20-11-1945 - 20-11-1946) là ngày mở đầu trận đánh ác liệt nhất, xuất sắc nhất của trung đoàn - trận chiến đấu bảo vệ Nhà Hát Lớn thành phố Cảng.

Sau sự kiện ở bến Tam Bạc, Hải Phòng, đêm 19 tháng 11, buổi hòa nhạc để cổ động cho tối biểu diễn 20 tháng 11, lấy tiền góp "Quỹ mùa đông binh sĩ" vừa xong, các nghệ sĩ, chiến sĩ của ta đã cấp tốc đào công sự, tổ chức các ổ đề kháng bằng ụ đất, bao cát, ghế gỗ, để sẵn sàng chiến đấu với lực lượng quân Pháp gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiêu đoàn xe tăng đang bao vây Nhà Hát Lớn.


Lúc này, lực lượng chiến đấu của ta ở trong Nhà Hát Lớn có một trung đội chiến đấu và đội vũ trang tuyên truyền. Sau cuộc họp ngắn của chỉ huy các đội, công tác tổ chức chiến đấu được phân công: Trung đội chiến đấu ngăn chặn đánh địch ở cửa chính không cho quân Pháp đột nhập vào Nhà Hát Lớn. Đội vũ trang tuyên truyền bố trí ở tầng gác dùng súng trường, tiểu liên bắn xuống, trường hợp quân Pháp tràn được vào Nhà Hát Lớn thì giữ vững thang gác, không cho quân Pháp tràn lên tầng trên. Một bộ phận của Đội vũ trang tuyên truyền đàn và hát vang những ca khúc cách mạng.


Khoảng trưa ngày 20 tháng 11 năm 1946, thực dân Pháp nổ súng tấn công, lực lượng chiến đấu của ta chiến đấu rất quyết liệt và dũng cảm, đã đẩy lùi nhiều đợt xung phong của quân Pháp, lấy súng trường, lựu đạn để chống trả lại xe tăng, súng máy 13,2 ly trên xe bọc thép với quân lính lê dương được trang bị đầy đủ từ đầu đến chân. Nhiều đợt xung phong của quân Pháp bị đẩy lùi, nhưng đạn và lựu đạn của ta cũng cạn dần. Quân tiếp viện thì chưa tới. Đến khoảng 17 giờ ngày 20 tháng 11 năm 1946, quân Pháp đã đột nhập được vào Nhà Hát Lớn. Cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn, giữ và giành giật từng lô ghế trong nhà hát. Cùng lúc đó chúng tràn lên gác. Từng đợt lựu đạn quăng xuống đổ giữ thang gác không cho chúng tràn lên. Đến sẩm tối, quân Pháp tràn lên gác. Lúc này lực lượng của đội vũ trang tuyên truyền đã phải dùng súng trường, kể cả đàn và kèn để đánh giáp lá cà với quân Pháp; dùng tay không để vật lộn với lưỡi lê, tiểu liên của lính lê dương.


Khi trời tối hẳn, số còn lại của đội vũ trang tuyên truyền lùi dần và giữ từng căn buồng. Lùi đến căn buồng cuối cùng thì lực lượng còn lại của lực lượng vũ trang tuyên truyền đành cố thủ tại đó. Quân Pháp cũng không dám xông đến nữa. Ngày hôm đó, gần 50 lính Pháp bị tiêu diệt nằm ngổn ngang trước quảng trường nhà hát, trong đó có tên thiếu tá Camoan, trưởng ban liên kiểm Pháp.


Sau 5 ngày đêm liên tục chiến đấu, chịu đói, nhịn khát, bị thương không có thuốc cấp cứu, số đông các chiến sĩ bảo vệ nhà hát đã anh dũng hy sinh. Giặc chiếm được nhà hát, nhưng tinh thần bất khuất, cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh của những người anh hùng còn ghi lại đậm nét trong lòng người dân đất cảng.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tư, 2026, 08:40:39 pm
7. Đánh bại đội quân ngầm của thực dân Pháp

Vào những tháng cuối năm 1946, quân Pháp ở Hà Nội lợi dụng Hiệp định Sơ bộ mồng 6 tháng 3 và chờ quân tăng viện, chúng tích cực đẩy mạnh âm mưu chuẩn bị gây chiến, từng bước xúc tiến các hoạt động để thực hiện âm mưu trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Một trong những thủ đoạn của chúng là khẩn trương tổ chức, xây dựng các nhóm vũ trang bí mật cài cắm trong vùng dân cư Pháp, Việt. Các nhóm vũ trang bí mật đó (ta gọi là các "ổ tác chiến") đặt trong thế cài răng lược, hoặc ở trong các gia đình, thân nhân ở Hà Nội, bản thân thông thuộc đường lối, hiểu biết dân tình, hoặc có quan hệ mật thiết với người Việt để tổ chức cơ sở trú náu bí mật. Bọn này được biên chế thêm một số binh sĩ mới ở Pháp sang, thành từng tổ (3-5 tên), từng đội (15-20 tên).


Chúng không chỉ lợi dụng kiều dân Pháp, một số người Việt thân Pháp để tổ chức lực lượng mà còn hết sức chú ý sử dụng dám binh sĩ Trung Hoa dân quốc đào rã ngũ, bọn đặc vụ đội lốt Hoa kiều theo kế hoạch hậu chiến của Tưởng Giới Thạch để chống phá lâu dài cách mạng Việt Nam. Với bọn này, nếu ta thiếu cảnh giác không chú ý, tới khi nổ súng, chúng gây cho ta không ít phiền phức, khó khăn, thậm chí cho cả đến nhiều năm và sau này. Hồi đó ta gọi chúng là bọn "thổ phỉ".


Địch có nhiều thủ đoạn che giấu bí mật rất quỷ quyệt, hành động không thành quy luật. Các tổ, đội sớm, tối chúng đưa đến bất chừng, rồi vào trưa, chiều, tối hay đêm chúng đưa đi. Xe đến, xe đi lúc bịt kín, khi mui trần, lúc xe nặng, lúc xe nhẹ... rất khó lường. Nhất là vào những ngày đầu tháng 12 năm 1946 trở đi, thủ đoạn nghi binh che giấu của chúng rất phức tạp, khiến việc theo dõi của trinh sát, quân báo của ta rất căng thẳng. Để nắm chắc tình hình của địch, ta đã gây cơ sở trong số bà con làm thuê cho người Pháp và số Pháp kiều tiến bộ để họ phát hiện và thông tin kịp thời cho ta. 


Nhờ nắm chắc được sớm âm mưu này của địch, các ngành, các lực lượng chức năng (tình báo, quân báo, công an, các đơn vị chiến đấu...) đều tiến hành tổ chức điều tra. Cho tới trước ngày nổ súng, trong toàn khu vực Hà Nội, ta phát hiện nhiều tổ, đội thuộc đội quân ngầm của địch, phần lớn nằm trong khu dân cư người Pháp. Ta có kế hoạch bám sát, từng bước tiếp cận bao vây, nếu các tổ, đội địch nằm trong khu người Pháp thì tổ chức bao vây phong tỏa từ xa các ngả đường tiếp cận của địch tới các tổ, đội của chúng. Nhờ vậy, ngay từ đêm nổ súng (19-12), toàn bộ đội quân ngầm của địch trong liên khu, đặc biệt bộ phận nằm trong khu vực người Việt, hầu như bị cô lập. Ngay trong cụm tổ, đội cũng không liên lạc được với nhau.


Bước vào triển khai tổ chức, thực hiện chiến đấu đối với ta có nhiều mới lạ, bỡ ngỡ. Đối tượng địch chỉ đáng đưa lực lượng tới là 10 người, nhưng do tinh thần hăng hái, ta lại kéo 20, 30 người. Có mục tiêu giả, địch tạo dựng lên để nghi binh, ngày thường khi đi trinh sát chúng đến thì biết nhưng lúc chúng rút lại không hay; hai, ba đơn vị (tự vệ) cùng điều tra không biết nhau, tới lúc chiến đấu cùng đưa lực lượng đến chỉ có xác nhà không (số 4 phố Ngô Văn Sở, 77 Thi Sách...). Có mục tiêu ngày thường không đơn vị nào phát hiện ra lại bỏ quên gần hai ngày sau (sáng 21-12) mới giải quyết (số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm). Tuy có bỡ ngõ ban đầu, nhưng rồi đội quân ngầm của địch công phu tạo dựng đều bị tiêu diệt gọn trong đêm 21 tháng 12 (trừ một bộ phận nằm trong khu phố Pháp kiều). Ta bắt sống nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, thực phẩm.


Thắng lợi đánh bại đội quân ngầm của quân dân Liên khu 2 (Hà Nội) không chỉ đơn thuần ở kết quả tiêu diệt được bộ phận sinh lực địch (bắt được tù binh, thu được nhiều vũ khí) mà ý nghĩa quan trọng là đã vô hiệu hóa âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của quân Pháp với tham vọng mù quáng buộc quân dân Thủ đô phải hạ vũ khí trong một tuần, và góp phần xứng đáng trong cuộc chiến đấu chung bảo vệ, giữ vững Thủ đô 60 ngày đêm lịch sử.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tư, 2026, 08:41:39 pm
8. Pháo lệnh tiến công

Từ trung tuần tháng 12 năm 1946, tình hình Thủ đô Hà Nội trở nên hết sức căng thẳng, lính Pháp tỏ ra rất hung hăng, chúng trắng trợn khiêu khích ở nhiều nơi trong thành phố; đập phá một số cửa hàng cửa hiệu, cướp đi một số tài sản của đồng bào ta; chúng còn cho xe xích, xe bọc thép tới san ủi các chiến hào, chiến luỹ, các ụ súng của ta ở phố Hàng Bát, Hàng Chiếu, Ô Chợ Dừa... Máy bay trinh sát của chúng bay lượn trên bầu trời Thủ đô.


Rất nghiêm trọng là ngày 17 tháng 12, xe nhà binh Pháp đã đổ xuống phố Hàng Bún và sau đó là phố Yên Ninh những tên lê dương mũ đỏ hung hãn, chúng xông vào nhà dân, bắn giết dã man phụ nữ, trẻ em. Lính Pháp còn vô cớ xả súng bắn chết một 1 chiến sĩ Vệ quốc đoàn cùng gác chung ở nhà máy điện Yên Phụ. Tiếp theo ngày 18 đến 19 tháng 12, Bộ chỉ huy quân đội Pháp liên tục gửi tối hậu thư, đòi ta phải dỡ bỏ chướng ngại, chiến luỹ, công sự trên đường phố, tước vũ khí của lực lượng tự vệ Hà Nội; đòi trao cho quân Pháp quyền đảm bảo an ninh...


Đây là cái cớ, để chúng mở rộng cuộc tiến công xâm lược ra cả nước. Cuộc chiến tranh mà bọn thực dân Pháp cố ý phát động là không tránh khỏi.

Từng tốp tự vệ sao vuông, súng trường, súng ngắn, dao găm, mã tấu, lựu đạn giắt lưng sát cánh cùng các chiến sĩ Vệ quốc đoàn trong các công sự, trên đường phố. Quân dân Hà Nội đã chuẩn bị sẵn sàng, chờ lệnh với một niềm tin phấn chấn.

Ngày 19 tháng 12, chỉ huy trưởng mặt trận tiếp tục đi thị sát các trận địa pháo ven đô: Các pháo đài Xuân Canh, Xuân Tảo, Thổ Khối đã vào tư thế sẵn sàng chiến đấu; các ụ pháo được đắp thêm các bao cát; đạn được dỡ ra khỏi hòm, xếp từng khối trong công sự; các pháo thủ trang phục chỉnh tề, hứa với chỉ huy trưởng sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ khi vào trận.


Lúc 19 giờ 30 phút, đã có hai khẩu ca nông ma-ri-a 75 ly, được lắp đặt trên các bệ bê tông xoay tròn, có hào giao thông từ hầm pháo thủ ra bệ pháo. Trên nóc hầm là một công sự bằng bê tông có nắp, bao cát xếp quanh làm đài quan sát. Không khí pháo đài thật hào hùng, các pháo thủ cũng đã vào vị trí sẵn sàng.


Chỉ huy trưởng vào hầm tác chiến, nghe và kiểm tra các cán bộ chỉ huy pháo binh báo cáo về công tác chuẩn bị pháo kích: mục tiêu được giao, cơ số đạn cho mỗi đợt, biện pháp đề phòng địch phản pháo; việc thu dỡ, di chuyển sau khi hoàn hành nhiệm vụ.

Chỉ huy trưởng không chỉ thị gì thêm, đồng chí xem đồng hồ rồi từ từ đứng dậy, căn hầm lặng đi... như chỉ còn đâu đây, vang vọng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

... "Hỡi đồng bào toàn quốc. Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...

Hỡi đồng bào, chúng ta phải đứng lên...

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ dân quân... giờ cứu nước đã đến...".

Mọi người theo chỉ huy trưởng lên đài quan sát. Giờ phút lịch sử trọng đại đang đến gần, kim đồng hồ nhích dần, nhích dần và đã chỉ vào con số 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946. Chỉ huy trưởng phát lệnh: "Khai hỏa".

Khẩu đội trưởng hô giật giọng: "Bắn!". Khẩu pháo gầm lên toé lửa; khẩu thứ 2 cũng đồng thời nổ theo. Xa xa về phía đông bắc, những ánh chớp giật liên hồi của các pháo đài: Xuân Canh, Xuân Tảo, Thổ Khối, cái quầng sáng của đèn thành phố cũng vụt tắt trong tiếng nổ ầm ầm của đạn pháo.


Lệnh tiến công đã phát. Cả Hà Nội, cả nước bừng bừng sục sôi khí thế căm thù xông lên, tràn lên như nước vỡ bờ, lao vào các vị trí đóng quân của địch. Lửa, lửa bùng lên từ các kho tàng, kho đạn, từ các căn cứ, đồn trại của quân Pháp. Tiếng nổ cứ thế vang vọng, vang vọng mãi kéo theo các đám cháy. Cái quầng sáng lại hiện dần, hiện dần, nhưng lần này nó đỏ rực, sáng rực trên bầu trời Hà Nội...


Cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tư, 2026, 09:05:47 pm
9. Hiệu lệnh nổ súng là đèn điện tắt

Hiệu lệnh nổ súng ở Hà Nội là đèn điện tắt, đại bác của pháo đài Láng bắn những phát đầu tiên. Chúng ta cần bóng tối trợ lực khi khởi sự. Làm được việc này không dễ. Trung tâm phát điện là Nhà máy điện Yên Phụ do một lực lượng hỗn hợp Việt, Pháp cùng canh gác. Cần bí mật đưa vào nhà máy một lượng thuốc nổ đặt vào nơi cần thiết sát giờ nổ súng. Nếu địch phát hiện, quân Pháp có cơ hội chiếm ngay nhà máy và tiến công trước vào bộ đội ta trên toàn thành phố.


20 giờ. Đèn điện Hà Nội vụt tắt. Đại bác từ pháo đài Láng gầm lên. Công nhân Nhà máy điện Yên Phụ đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tuyệt vời! Ngay sau đó, cả Hà Nội rền vang tiếng súng. Địch lập tức đối phó, phần lớn những tiếng súng lúc này là của địch. Các chiến sĩ ta được lệnh tiết kiệm đạn ngay từ khi khởi đầu tiến công.


Sau nửa giờ nổ súng, từ trong thành, quân Pháp đã chia thành mấy cánh quân đánh ra. Một cánh từ Cửa Bắc tiến theo đường Hàng Đậu. Một cánh từ Cửa Nam theo đường Tràng Thi, đã chiếm được bốt công an Hàng Trống và tiếp tục đi về hướng Nhà Hát Lớn.


Ở ngã ba Hồng Phúc, Hàng Đậu, Vệ quốc quân và tự vệ chiến đấu tổ chức phục kích, giật bom phá xe tăng rồi xung phong diệt hàng chục tên địch. Như vậy, ngay giữa thành phố ta vẫn có thể tổ chức phục kích! Đây là một chiến công do quần chúng sáng tạo.


Nhìn chung, ta đã giành được lợi thế trong những giờ giao chiến đầu tiên.

Sáng sớm ngày 20, rất đông quân Pháp, với xe tăng mở đường, tiến công vào Nhà Hát Lớn, Bắc Bộ phủ và Nhà bưu điện. Được lệnh bắn, nhưng pháo binh ta không chỉ rõ mục tiêu, vì tất cả mục tiêu trên đều được đo đạc tính sẵn phần tử từ trước. Nếu ngay lúc đó chỉ thị một mục tiêu mới, đạn có thể rơi vào bộ đội hoặc đồng bào ta. Mọi người đang phải làm một nhiệm vụ vươt quá xa sức mình.


Lúc này người dân nghèo hay giàu, đều bỏ lại tài sản ra đi. Giữa những loạt súng nổ ran, vẫn nghe tiếng hát của chiến sĩ ta, những người bảo vệ đã chiến đấu tới viên đạn, quả lựu đạn cuối cùng trong tiếng hát và tiếng đàn măng-đô-lin.


Kinh nghiệm cần phổ biến qua trận đánh là tự vệ đường Tràng Thi từ trên mái nhà ném lựu đạn, bắn súng xuống, học kinh nghiệm phục kích ở ngã ba Hồng Phúc tối hôm trước.


Qua trận đánh cho thấy lực lượng bộ đội ta quá mỏng nhưng tinh thần chiến đấu rất cao. Cả khu 11 chỉ có 5 tiểu đoàn. Bộ Tổng chỉ huy không có lực lượng dự bị nào.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tư, 2026, 09:06:33 pm
10. Có một sự tích ở cầu Long Biên

Trong đêm 19 tháng 12 năm 1946, tại đoạn cầu Long Biên đi qua địa phận đặc khu Phúc Xá đã diễn ra một sự kiện mà cho đến nay còn ít người biết đến.


Hiệu lệnh nổ súng của quân và dân Hà Nội mở đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp thường được nói đến là ánh đèn điện thành phố vụt tắt và tiếng pháo của quân ta khai hỏa từ pháo đài Láng. Nhưng còn một tiếng nổ nữa được lãnh đạo thành phố lúc đó quy định là tiếng nổ trái bom phá cầu Long Biên của quân và dân đặc khu Phúc Xá.


Đoạn cầu Long Biên đi qua địa phận Phúc Xá có 2 trụ cầu ta có thể đặt bom phá là trụ số 10 và trụ số 15. Trụ số 15 ở dưới lòng sông. Khi quân Nhật chuẩn bị xâm lược Đông Dương, quân Pháp ở Hà Nội đã cho khoét rỗng chân trụ cầu số 15, sẵn sàng đánh sập cầu nếu quân Nhật tấn công vào Hà Nội. Nhật vào thực hiện sách lược "Pháp Nhật đề huề", nên quân Pháp không đánh sập cầu nữa. Trụ cầu số 10 nằm trên Bãi Giữa cách trụ sở Vệ quốc đoàn đặc khu khoảng 10 mét. Chập tối ngày 18 tháng 12 năm 1946, một quả bom nặng 100kg được chuyển đến Phúc Xá từ nhà máy chế tạo bom mìn "tương lai" (nhà máy này chuyên sản xuất các loại vũ khí tự tạo phục vụ các đơn vị chiến đấu của ta đặt ở số nhà 1 phố Hàng Đậu). Lệnh của thành phố: Việc đánh bom thực hiện vào hôm sau, lúc 20 giờ.


Tối 19 tháng 12, trái bom được chuyển tới khu vực chân cầu. Lực lượng của ta bí mật bò lên mặt cầu tìm đường chuyển bom vào "lỗ hổng" ở trụ cầu số 15. Bị địch phát hiện, đuổi bắt, các anh phải chạy xuống Bãi Giữa. Trận đánh có thể bị lộ và thời gian còn quá ít, cuối cùng anh em tự vệ quyết định đặt bom ở trụ cầu số 10. Đúng 20 giờ, một tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả đặc khu Phúc Xá và các vùng lân cận. Trụ cầu số 10 bị sạt một góc, mặt đường trên cầu bị phá hỏng một đoạn. Một xe jeep chở lính Pháp từ phía Gia Lâm lao đến ứng cứu. Quân ta nổ súng tấn công, bọn giặc phải bỏ xe tháo chạy. Ta lên kiểm tra xe thu được một khẩu súng ngắn.


Mục đích đánh sập cầu không đạt được vì trái bom nhỏ và không đặt đúng vị trí muốn đặt. Nhưng trái bom nổ ở trụ cầu Long Biên đêm ấy có một ý nghĩa lịch sử lớn lao báo hiệu cuộc chiến đấu thần thánh của nhân dân ta chống lại bọn thực dân Pháp xâm lược bắt đầu.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tư, 2026, 09:07:18 pm
11. Thế trận Hà Nội ngày đầu toàn quốc kháng chiến

Sau khi địch chiếm thành phố Hải Phòng, ngày 23 tháng 11 năm 1946, Thường vụ Trung ương Đảng nhận định: Nhất định địch sẽ gây hấn ở Thủ đô, chiến tranh trên cả nước là không thể tránh khỏi. Để kịp thời đối phó với tình hình, Hà Nội khẩn trương làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Bộ tổng chỉ huy trực tiếp chỉ đạo Bộ chỉ huy Chiến khu 11 (còn gọi là Mặt trận Hà Nội).


Căn cứ vào ý định tác chiến, Hà Nội được chia thành 3 liên khu (Liên khu 1, Liên khu 2, Liên khu 3). Liên khu 1 nằm kề đại bản doanh của Bộ chỉ huy Pháp giữa lòng Hà Nội; là khu chiến đấu hạt nhân vừa tiêu diệt, tiêu hao địch, vừa thu hút lực lượng chúng, tạo thế trong đánh ra. Liên khu 2 và Liên khu 3 là vỏ bọc kẹp quân địch ở bên trong, cùng Liên khu 1 hình thành thế trận trong đánh ngoài vây, trong ngoài cùng đánh phối hợp, hỗ trợ chi viện cho nhau. Bộ chỉ huy xác định nhiệm vụ cho từng liên khu.


Kế hoạch chiến đấu được các khu phố thực hiện rất khẩn trương. Thanh niên hăng hái tham gia xây dựng chiến luỹ. Tự vệ tiến hành ngả cây, cột đèn, khoét lỗ ở những thân cây chuẩn bị đặt mìn. Đêm đêm Hà Nội ầm ầm tiếng búa đục tường, thông nhà nọ sang nhà kia để bảo đảm sự cơ động lực lượng của ta.


Quân Pháp hơn hẳn ta tuyệt đối về trang bị, vũ khí trong đó đáng chú ý là xe tăng và cơ giới. Vấn đề chính trong kế hoạch tác chiến của Hà Nội là đánh xe tăng và xe cơ giới của địch và ta xác định, tốt nhất là dùng con người dám lao vào xe tăng và cơ giới địch, vì vậy các đội Quyết tử quân được thành lập; vũ khí gồm bom ba càng, bom "bảo toàn" và chai xăng cờ-rếp để đánh xe tăng và xe bọc thép của địch.


Quân Pháp ra lệnh cho ta, ngày 20 tháng 12 năm 1946 phải nộp vũ khí đầu hàng, thì Bộ Tổng chỉ huy quyết định nổ súng lúc 20 giờ ngày 19. Hà Nội đứng lên, trút căm hờn lên đầu bọn thực dân. Lực lượng vũ trang ta đồng loạt tiến công địch. Hà Nội hình thành thế trận mỗi nhà là một pháo đài, mỗi phố là một chiến tuyến.


Tới ngày 14 tháng 2 năm 1947, Trung đoàn Thủ Đô báo cáo đạn chỉ còn trung bình mỗi khẩu 8 viên. Lương thực ăn dè sẻn 5 ngày.


Đêm 14 tháng 2, Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội nhận được điện của đồng chí Võ Nguyên Giáp: tổ chức cho Trung đoàn Thủ Đô rút ra vào đêm 17 tháng 2 năm 1947. Mặt trận Hà Nội đã tổ chức cho Trung đoàn Thủ Đô một cuộc rút lui thần kỳ, vượt qua vòng vây dầy đặc của quân địch. Vào 9 giờ ngày 18 tháng 2 năm 1947, Trung đoàn Thủ Đô đã rút ra an toàn. Như vậy, Trung đoàn Thủ Đô đã anh dũng chiến đấu trụ lại giữa thành phố 2 tháng, vượt mấy lần dự kiến ban đầu.


Trận đánh ở Hà Nội tiêu biểu cho tinh thần kháng chiến của cả nước, thôi thúc quân và dân cả nước anh dũng chiến đấu, mở đầu toàn quốc kháng chiến.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tư, 2026, 09:09:34 pm
12. Cả làng, xã chuẩn bị kháng chiến

Khi có lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì cả làng, xã ở huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng sôi sục ngày đêm chuẩn bị cho cuộc chiến đấu.

Làng kháng chiến ở Tiên Lãng bắt đầu được xây dựng từ sau Cách mạng Tháng Tám trong phong trào vũ trang toàn dân, quân sự hoá toàn dân. Song chính thức trở thành phong trào sôi nổi trong toàn huyện thì phải từ sau ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Lúc ấy, trước yêu cầu bảo vệ địa bàn xây dựng Tiên Lãng thành khu căn cứ của các cơ quan quân dân, chính Đảng của liên tỉnh Hải - Kiến (Hải Phòng, Kiến An), Huyện ủy triệu tập cán bộ chủ chốt các xã phát động phong trào và chọn xã Hùng Thắng cùng xã Khởi Nghĩa xây dựng thí điểm. Mỗi xã chọn một làng xây dựng trước cho toàn huyện rút kinh nghiệm. Hai làng Chử Khê (xã Hùng Thắng), An Tử (xã Khởi nghĩa) được chỉ đạo tập trung xây dựng đầu tiên.


Sau khi được huyện chỉ đạo làm điểm, trước hết các xã tổ chức họp chi bộ, ủy ban hành chính kháng chiến, Ban chỉ huy xã đội để quán triệt, sau đó mới chỉ đạo các đoàn thể cứu quốc mở hội nghị bàn biện pháp tổ chức thực hiện. Chủ trương của trên được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Suốt hai tháng trời ròng rã, hàng vạn ngày công đã được huy động đào đắp, xây dựng làng chiến đấu; xung quanh các thôn được bao bọc bởi các hào luỹ. Hào rộng từ 2 đến 3 mét, sâu 1,2 mét. Các đoạn xung yếu đều được cắm chông. Đất đào hào được đắp lên thành luỹ cao 2 mét, chân luỹ rộng 3 đôn 4 mét, mặt luỹ rộng 1 mét. Mặt ngoài luỹ được trồng hàng ngàn khóm mây hoặc tre gai. Cả thôn chỉ mở 2 công ra vào được xây dựng kiên cố, có dân quân du kích canh gác ngày đêm. Từ cổng vào các xóm ngõ và hệ thống giao thông hào chằng chịt dài trên 3.000 mét. Dọc theo các con đương đọc đạo cua mỗi xóm ngõ là các bức Tưởng đất cao 1,8 đến 2 mét. Mỗi gia đình chỉ mở một ngõ ra đường có cổng rào kín đáo. Giữa các gia đình cũng được ngăn cách bởi các bức tường đất có lối đi bí mật, tiện cho dân quân du kích luồn từ nhà này sang nhà khác, xóm này sang xóm khác. Hàng trăm hầm bí mật cho người và hầm cất giấu tài sản, lương thực được xây dựng.


Việc tổ chức báo động tập dượt cho nhân dân lo trang bị, mua sắm vũ khí cho dân quân du kích chiến đấu bảo vệ làng xóm cũng được cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể quần chúng hết sức quan tâm bằng cách vận động nhân dân đóng góp. Chỉ trong thời gian ngắn, nhân dân trong xã đã góp được 10.800 đồng Đông Dương, mua được 6 khẩu súng trường, 210 quả lựu đạn. Đặc biệt, để thể hiện quyết tâm chiến đấu, Hội phụ lão cứu quốc thôn Chử Khê đã tìm mua gỗ tốt để đóng sẵn 31 cỗ hậu sự dành cho các chiến sĩ hy sinh trong chiến đấu. Việc sử dụng các cỗ hậu sự được thông báo cho toàn thể nhân dân và do hội phụ nữ cứu quốc quản lý.


Có thể nói phong trào "Dựng làng chiến đấu, rèn khí giới, sắm áo quan" là hình ảnh tiêu biểu, điển hình đầy chất anh hùng ca của Tiên Lãng kháng chiến.

Chính nhờ chủ động chuẩn bị, nhờ quyết tâm cao, với lòng yêu nước nồng nàn trong cuộc chiến tranh chống pháp, quân dân trong huyện đã xây dựng Tiên Lãng thành khu du kích nổi tiếng khắp vùng tả ngạn sông Hồng và toàn quốc. Dựa vào làng chiến đấu, quân dân trong huyện đã tổ chức đánh địch được 1.342 trận, tiêu diệt và bắt sống 5.561 tên địch. Trên 4.000 thanh niên xung phong vào bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Đây cũng là bàn đạp cho các đơn vị bộ đội địa phương luồn sâu đánh hiểm vào các vị trí trọng yếu có ý nghĩa chiến lược của địch như thị xã Kiến An, Sở Dầu, sân bay Cát Bi, sân bay Đồ Sơn... trong suốt cuộc chiến chống thực dân Pháp.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tư, 2026, 09:10:38 pm
13. Pháo đài Láng

Pháo đài Láng cũ nằm ở địa bàn phường Láng Thượng, quận Đống Đa hiện nay, xưa thuộc xã Yên Lãng, tên nôm là làng Kẻ Láng, một làng cổ ven đô bên bờ sông Tô Lịch, phía tây Thủ đô. Sau đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ (tháng 9-1939), thực dân Pháp cắm 5 mẫu ruộng ở cách đồng Dập và khu vực gò Ma thuộc thôn Trung để lập pháo đài với mục đích bảo vệ phía tây Hà Nội chống phong trào cách mạng và bắn máy bay Nhật. Đến giữa năm 1940, chúng xây bệ đặt 4 khẩu pháo cao xạ 75 ly mua của Đức, là loại súng tối tân nhất lúc bấy giờ và cố định súng vào bệ bê tông. Tháng 9 năm 1940, quân Nhật kéo vào Đông Dương và Nhật buộc Pháp phải dùng pháo đài Láng để bắn máy bay Mỹ đến ném bom Hà Nội.


Trong pháo đài có xây đài chỉ huy, hầm trú ẩn, hầm để đạn. Ngoài pháo cao xạ, có 2 khẩu đại liên kiểu Hốt-kít, 1 khẩu trung liên Bren và một số súng trường để trợ thủ và bảo vệ cho pháo. Quân số có một đại đội lính Pháp và lính khố đỏ. Cách mạng Tháng Tám thành công, pháo đài Láng đã về tay Quân giải phóng.


Pháo đài Láng của ta có 44 người thành lập một trung đội gồm 3 khẩu đội, 4 khẩu cao xạ thời kỳ thuộc Pháp đã bị mất nhiều bộ phận, nhưng được xưởng sửa chữa pháo đạn ở Hà Nội tu sửa, lắp thành 2 khẩu, nên pháo đài chỉ có 2 khẩu đội có súng. Trong pháo đài, lúc quân Tưởng trao cho ta chỉ còn lại 400 - 500 viên đạn. Nhân dân Láng Trung phát hiện một hầm chứa 200 viên đạn do địch chôn giấu ở gò Ma đã chuyển cho trung đội. Anh em pháo thủ đa số là bộ binh và thanh niên mới nhập ngũ, chưa biết đến pháo, được các đồng chí cũ tổ chức huấn luyện. Với tinh thần yêu nước, quyết tâm giết giặc, anh em đã nhanh chóng thực hiện được các thao tác chính xác theo lệnh của chỉ huy, điều khiển hai khẩu cao xạ (chuyên dùng để bắn máy bay trên trời) làm pháo bắn mục tiêu mặt đất.


Ngày 19 tháng 12 năm 1946, pháo đài nhận được lệnh của đồng chí Vương Thừa Vũ là phải hoàn tất mọi công việc chuẩn bị chiến đấu.

Gần 18 giờ, pháo đài lại nhận được lệnh của Ban chỉ huy mặt trận Hà Nội (đồng chí Vương Thừa Vũ) là đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 khi thấy đèn điện thành phố tắt hãy nổ súng bắn phát pháo lệnh đầu tiên vào sở chỉ huy quân đội Pháp đóng trong thành, làm hiệu lệnh cho toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Cơm chiều xong, toàn trung đội đã ở vị trí chiến đấu. Đêm đó là 27 tháng 11 âm lịch, lúc 20 giờ thấy trời tối hơn và thấy các đám chớp loé ở xa, trung đội trưởng đã ra lệnh "chuẩn bị chiến đấu, mục tiêu, hướng, tầm, cự ly, bắn đạn lửa". Khi các khẩu đội thực hiện các thao tác cắt ngòi nổ, quay hướng, tầm, nạp đạn xong, đồng chí trung đội trưởng cầm khăn trắng chém xuống và hô to "bắn". Những viên đạn lửa bay vút lên, hướng về phía thành Hà Nội. Kim đồng hồ ở pháo đài lúc đó chỉ 20 giờ 3 phút.


Cả 2 khẩu đội đã cùng nổ súng một lúc đêm 19 tháng 12 năm 1946, còn tiểu đội dự bị phối hợp với dân quân Yên Lãng, bảo vệ vòng ngoài ngăn chặn bọn Việt gian tay sai của giặc Pháp lẻn vào gần pháo đài do thám.

Ngày 22 tháng 12 năm 1946, pháo đài Láng đã hạ được một máy bay trinh sát địch nên sau đó Pháp cho pháo binh bắn bừa bãi vào Láng và máy bay đến ném bom vào pháo đài nhiều lần, có một quả đạn đã trúng vào trận địa của ta làm ba đồng chí hy sinh.

Ngoài thành tích bắn trúng đích trong thành đêm 19 tháng 12, như: bắn chặn địch, bắn rơi một máy bay, pháo đài Láng đã bắn phối hợp với các trận đánh của quân dân mặt trận Hà Nội. Nhưng cuộc chiến đấu ngày càng khó khăn. Sau các trận bắn pháo và ném bom dữ dội của địch, ban chỉ huy pháo đài phải rút ra đền Ngọ thuộc thôn Thượng. Nhân dân được huy động vào đắp lại ụ pháo và làm một trận địa giả ở cánh đồng thôn Hạ. Không có điện, ban đêm anh em phải đốt rơm để lấy ánh sáng nhìn vào kính ngắm, ăn uống hoàn toàn nhờ vào nhân dân nuôi. Đội tiếp tế Yên Lãng nhiều khi phải gánh cơm tiếp tế cho bộ đội dưới làn pháo địch.


Chiến đấu được nửa tháng thì hết đạn. Đại đội pháo được điều thêm một khẩu sơn pháo 75 ly có bánh xe do ô tô kéo về. Lúc này địch được tăng viện đã đánh ra các cửa ô, chiếm được khu vực Nhà Tiền (Kim Mã) lợi dụng các nhà cao tầng để chỉ điểm cho pháo địch bắn vào pháo đài.


Ngày 10 tháng 1 năm 1947, Ban chỉ huy mặt trận Hà Nội lệnh cho trung đội phá pháo rút về Hà Đông. Nhân dân Láng biết tin đã đến tiễn đưa và gói cơm nắm cho các chiến sĩ. Ngày 11 tháng 1 năm 1947, bộ đội pháo đài rút qua sông Tô Lịch về Mễ Trì, Hữu Từ (Hà Đông) mang theo khẩu pháo có bánh xe mới tăng cường và tháo cơ bản các khẩu cao xạ chôn ở bệ bê tông. Sau khi rút khỏi thành phố, trung đội pháo đài Láng còn được điều về Yên Duyên dùng khẩu sơn pháo bắn vào sân bay Bạch Mai, đài phát thanh Vọng và khu Ngã Tư Sở, cho đến ngày 15 tháng 1 mới rút về Hữu Lê.


Trung đội pháo đài Láng từ lúc thành lập (29-6-1946) cho đến khi rút khỏi thành phố, cũng như toàn đại đội pháo binh Hà Nội đã hoàn thành nhiệm vụ vinh quang của mình, bắn phát pháo lệnh mở màn cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp, là câu trả lời đanh thép đối với bức tối hậu thư của chúng, về một dân tộc quyết đứng lên đánh lại một kẻ thù mạnh hơn gấp bội lần về trang bị vũ khí. Pháo binh non trẻ của ta ở Hà Nội lúc bấy giờ chỉ có 7 khẩu thu được của địch đã phối hợp với các trận chiến đấu của bộ đội, nhân dân Thủ đô thực hiện nhiệm vụ kìm chân địch tạo thời gian cho cả nước củng cố và xây dựng lực lượng để rồi đánh bại kẻ thù xâm lược.


Cán bộ, chiến sĩ đại đội pháo binh Hà Nội cũng là nòng cốt để sau khi rút khỏi thành phố, xây dựng nên các phân đội pháo binh, rồi đại đoàn pháo binh, hiệp đồng chiến đấu với bộ binh trong mọi chiến dịch để năm 1954 trở về giải phóng Thủ đô.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tư, 2026, 09:11:29 pm
14. Pháo đài Xuân Canh

Khoảng tháng 6 năm 1946, trên đưa về làng Xuân Canh xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội một khẩu pháo đặt trên vạt đất trống cạnh chùa làng gần ngã ba nơi sông Đuống gặp sông Hồng. Vì pháo đặt ở địa phận làng Xuân Canh nên được mang luôn tên là pháo đài Xuân Canh cho dễ gọi, dễ nhớ. Gọi là pháo đài nhưng thực ra chỉ có một khẩu đội pháo. Khẩu đội có 9 người, tháng 10 năm đó, pháo đài tuyển thêm quân. Đây là loại pháo cao xạ bắn máy bay cỡ nòng 75mm còn gọi là DCA75. DCA là 3 chữ viết tắt của cụm từ tiếng Pháp Defencecontre Avion (phòng thủ bắn máy bay). Khẩu này và một khẩu nữa cùng loại do Pháp chế tạo, được đưa sang để bố trí bảo vệ cầu "Pôn Đume" (tức cầu Long Biên), khi có chiến tranh. Tháng 3 năm 1945, Nhật làm đảo chính Pháp chiếm được 2 khẩu pháo này. Sau khi Nhật thua trận phải đầu hàng không điều kiện, ta làm Tổng khởi nghĩa Tháng Tám cướp chính quyền, cách mạng tước lại từ tay bọn Nhật 2 khẩu pháo này để bước đầu xây dựng lực lượng pháo binh của quân đội ta, chuẩn bị đối phó với thực dân Pháp đang rắp tâm quay lại xâm lược nước ta một lần nữa.


Biên chế của pháo đài Xuân Canh, ngoài một khẩu pháo, còn có một tiểu đội trọng liên 12,7mm để bắn máy bay, bảo vệ pháo đài cùng một số anh em hậu cần, tiếp đạn thông tin... tổng quân số khoảng ba chục người. Pháo DCA tuy cỡ nòng chỉ có 75mm nhưng là loại pháo bắn máy bay nên nòng dài lắm, có thế mới với được cao, bắn được xa do đó đạn cũng dài và nặng. Pháo cao, pháo thủ ta, mỗi khi nạp đạn phải kê một hòm gỗ đứng lên mới đủ tầm tay đưa đạn vào nòng.


Năm đó, pháo đài Láng và pháo đài Xuân Canh được đặt dưới sự chỉ huy chung của đội trưởng Phạm Văn Đôn, đội phó Doãn Tuế và đồng chí Trương Thành Phao làm chính trị viên. Tối 19 tháng 12 năm 1946, khoảng 20 giờ pháo đài được lệnh phát hỏa. Theo các phần tử xạ kích đã đo đạc sẵn trên bản đồ, pháo cứ nhằm hướng Cửa Bắc khu trong thành của địch mà nhả đạn. Cự ly bắn chỉ có 5.000 mét. Tuy đêm tối không quan sát được nhưng anh em ở pháo đài đều tin là đạn sẽ bắn trúng mục tiêu. Quả vậy, hôm sau trong thành báo ra đạn pháo của ta từ hai phía Láng và Xuân Canh bắn vào đều trúng khu vực Cửa Bắc trong thành Hà Nội, nơi quân Pháp đồn trú khi chúng đóng quân ở Hà Nội theo các điều khoản của Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946. Sau khi bị pháo ta bắn, ngay đêm đó và ngày hôm sau, địch không phản ứng gì. Những ngày cuối tháng 12 và đầu tháng 1 năm 1947, pháo đài Xuân Canh còn nhiều lần tiếp tục bắn vào thành Hà Nội, mỗi lần chỉ vài quả đạn nhằm mục đích uy hiếp địch, hỗ trợ về mặt tinh thần cho quân và dân Liên khu 1 đấu. Thế là bọn Pháp phát hiện ra nơi đặt pháo của ta ở Xuân Canh, mấy lần chúng dùng tàu chiến ngược sông Hồng lên đánh phá trận địa. Ta phải dùng trọng liên 12,7mm kết hợp với lực lượng dân quân đánh lui địch, bảo vệ được pháo đài. Quân Pháp còn dùng pháo bắn vào trận địa ta, dùng máy bay tới oanh tạc, làm hai đồng chí xạ thủ súng 12,7mm trúng đạn địch hy sinh tại trận địa.


Đến sau Tết Đinh Hợi đầu năm 1947, pháo đài Xuân Canh mới chấm dứt hoạt động. Pháo được đưa lên Việt Bắc để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Pháo nặng 5.080 kg. Hồi đó chưa có xe kéo, cần cẩu như bây giờ nên anh em phải dùng mấy con trâu đực thật khoẻ kết hợp với sức lực của mấy chục con người mới đưa được pháo xuống thuyền. Từ đó pháo ngược sông Lô lên Đoan Hùng, Phú Thọ, Tuyên Quang để đánh tàu địch những trận sau này.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tư, 2026, 09:12:06 pm
15. Phòng ngự ở bệnh viện Bạch Mai

Từ 19 tháng 12 năm 1946, Tiểu đoàn 64 được Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội điều về chốt giữ khu vực Bệnh viện Bạch Mai và một phần đài phát thanh. Đơn vị có nhiệm vụ ngăn chặn quân Pháp nống ra vùng ngoại ô, bảo vệ đoạn đường số 1 từ Kim Liên trở vào cho các cơ quan Đảng, Chính phủ và nhân dân rút ra, bảo vệ con đường vận chuyển hàng hóa, máy móc, trang thiết bị cần thiết cho cuộc kháng chiến lâu dài. Trận tuyến là bàn đạp cho các đơn vị bạn đánh vào nội thành.


Nhiệm vụ thì nặng mà bộ đội thì chưa được huấn luyện kỹ. Lương thực, thực phẩm phải tự lo. Vũ khí thì ngoài một số khẩu mút-cơ-tông ra, chủ yếu là lựu đạn, dao găm, đạn súng cối các cỡ (có đạn mà không có súng). Cả tiểu đoàn chỉ có hai khẩu đại liên là hỏa lực chính. Nguồn tiếp viện bổ sung lại không có nên phải thực hiện phương châm cướp súng giặc đánh giặc và nghiên cứu sử dụng đạn súng cối và cách đánh xe tăng cơ giới bằng vũ khí tự tạo. Khi thì độc lập tác chiến, khi thì phối hợp với các đơn vị bạn, với tự vệ đánh thọc sâu vào nội thành, chia lửa với toàn mặt trận, đã góp phần kìm chân giặc, đánh tan ý đồ "tốc chiến, tốc thắng" chiếm Hà Nội trong 24 giờ của Bộ chỉ huy quân xâm lược Pháp. Giặc ở nhà dầu Sell trong phố Khâm Thiên như nằm trong túi, bị ta đánh cho ba đòn đột kích, chúng đau đến nỗi ngót hai chục ngày sau vẫn không nống ra được đến 100m đường. Khi được tiếp viện từ nội thành, bọn địch lại liều mạng nống ra thì lần nào cũng bị chặn lại ở ngã ba Kim Liên, phải bỏ xác lính và các ở đầu làng Trung Tự, ở gốc si đầu đê làng Kim Liên.


Không chọc thủng được phía này, giặc Pháp định lấn ra từ phía Đông Dương học xá (nay là Trường Đại học Bách Khoa). Lần thứ nhất chúng bị quân ta phục kích, chết một số, phải quay lại; lần thứ hai phải bỏ cả lính chết trận và súng đạn chạy tháo thân.


Sáng sớm ngày 15 tháng 1 năm 1947, địch tấn công vào bệnh viện Bạch Mai, có cả pháo binh và không quân yểm trợ. Chúng từ nội thành theo đường số 1 đánh xuống, lại từ phía Phà Đen đánh vào, từ Đông Dương học xá bắn sang. Nhưng các mũi tiến công của chúng đều bị các ổ đề kháng của quân ta trên toàn tuyến chặn lại. Địch phải cho pháo binh và máy bay bắn phá dọn đường, củng cố lại đội hình rồi mới mở đợt tiến công mới. Nhưng đến cổng bệnh viện chúng lại bị đánh bật ra. Chiếc xe mở đường bị cháy bịt luôn lối vào. Giằng co đến gần trưa hôm đó, bọn giặc lại phải ngừng tấn công. Mãi tới chiều, sau khi được bổ sung quân số, xe pháo, súng đạn, bọn địch mới đồng loạt tấn công từ các hướng. Chờ địch đến đúng tầm mới giao chiến, Tiểu đoàn 64 đã gây cho chúng thiệt hại lớn. Nhưng đến khoảng gần 4 giờ chiều, bọn địch đã hình thành thế bao vây cả ba mặt bắc, đông, nam và một phần hướng tây. Lúc này tiểu đoàn cũng đã hao tổn đạn dược, hỏa lực chính là hai khẩu đại liên thì đã hỏng, lại có nhiều thương binh nặng. Theo kế hoạch đã định trước, tiểu đoàn trưởng hạ lệnh rút lui để bảo toàn lực lượng. Đại đội 4 và trung đội cảm tử nhận nhiệm vụ ở lại chặn địch cho đơn vị rút, rồi sẽ ra sau. Đêm ấy địch hý hửng ăn mừng chiến thắng. Nhưng trung đội cảm tử từ đường cống ngầm bất ngờ vọt lên đánh quấy rối gây cho địch vô cùng hoảng sợ.


Đến sáng 16 tháng 1 năm 1947, theo phương án đã quy định đơn vị mới rút ra, người khoẻ có nhiệm vụ dìu thương binh, vác tử sĩ còn phần đông phải mang ra cho hết số súng chiến lợi phẩm.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tư, 2026, 09:12:42 pm
16. Trận Đồng Xuân

Khu Đồng Xuân thuộc Liên khu 1 rất rộng. Từ chân đê (đường Trần Nhật Duật) qua cầu là con đường nối liền Liên khu 1 với hậu phương của ta. Cũng ở khu vực này, địch phải sống chết bảo vệ con đường huyết mạch qua phố Hàng Đậu lên cầu có con đường xe lửa qua phố Hàng Giấy sang Gia Lâm tới cảng Hải Phòng. Khu Đồng Xuân có gần 1 vạn Hoa kiều và vài trăm Ấn kiều.


Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Ủy ban kháng chiến khu Đồng Xuân chính thức hoạt động, trụ sở tại số 7 Hàng Đường.

Ngày 6 tháng 1 năm 1947, Hà Nội thành lập Trung đoàn Thủ Đô, khu Đồng Xuân được gọi là Tiểu đoàn quyết tử 101 Đồng Xuân. Quân số gồm 6 đại đội tự vệ, 1 trung đội Vệ quốc đoàn, 1 trung đội công an xung phong, tổng số trên 1.000 chiến sĩ.

Ngày 14 tháng 1 năm 1947, khu Đồng Xuân cử đại biểu đến rạp Tố Như dự buổi lễ "Tuyên thệ quyết tử".

Lực lượng Tiểu đoàn 101 trước ngày 14 tháng 2 năm 1947 chỉ còn 5 trung đội gồm 128 người (không có biên chế đại đội): 1 trung đội giữ chợ Đồng Xuân; 1 trung đội giữ Ô Quan Chưởng - Trần Nhật Duật; 1 trung đội giữ phố Hàng Gạo (trước chợ); 1 trung đội giữ Hàng Mã, Hàng Đồng, Hàng Lược; 1 trung đội tại tiểu đoàn bộ gồm các ban quân báo, quân nhu, quân y.


4 giờ 30 phút sáng 14 tháng 2 năm 1947, một đồng chí của ta đã hy sinh sau khi diệt 3 biệt kích Pháp mò vào chợ. Được tin ban chỉ huy tiểu đoàn họp ngay. Đang hội ý, 5 giờ sáng pháo binh địch cùng hơn 20 phi cơ ném bom, nã pháo dồn dập vào chỉ huy sở và toàn khu. Sau đợt pháo kích, hơn 20 xe tăng cùng gần 500 lính lê dương mũ đỏ chia 3 mũi tấn công: Hướng chủ yếu qua sân bóng Lơpagiơ vào sau chợ, một hướng qua Hàng Giấy vào phố Hàng Gạo, một hướng qua Trần Nhật Duật vào Ô Quan Chưởng.


Sau 3 đợt tấn công ác liệt, tới 15 xe tăng địch mới chốt giữ 2 địa điểm: ngã tư Nguyễn Thiệp, phố Hàng Chiếu (trước nhà Vạn Bảo) và ngã tư Hàng Chiếu - Hàng Đường; chỉ còn cách tiểu đoàn bộ con đường phố Hàng Chiếu. 22 giờ được trung đoàn chi viện 20 chiến sĩ, Chủ tịch khu đã giao cho các trung đội trưởng tổ chức phản công buộc địch rút toàn bộ trở lại nguyên vị trí ban đầu. Một đồng chí bị thương nặng, sau hy sinh. Kết quả trận đánh: Địch thương vong trên 200 tên, 4 xe tăng bị tiêu diệt.


Trận đánh ngày 14 tháng 2 năm 1947, Chi bộ khu phố Đồng Xuân đã lãnh đạo cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 101 kiên cường, chống trả một đội quân chính quy, hiệp đồng binh chủng hiện đại, tấn công nhiều giờ toàn khu Đồng Xuân. Chúng ta quân số ít, vũ khí thô sơ, chiến đấu không chỉ đánh bằng tinh thần quyết tử, mà còn bằng tài trí thông minh, phán đoán đúng hướng tấn công của địch để bài binh bố trận chính xác, phân công chỉ huy đối phó kịp thời; dựng nhiều trận địa giả, buộc địch khi lọt vào chợ như lạc vào mê hồn trận bị tiêu diệt hết tên này đến tên khác, tạo điều kiện cho Trung đoàn Thủ Đô làm nên "kỳ tích" rút lui bảo toàn lực lượng, buộc tướng địch Xa-lăng phải thán phục thốt lên: "Một cuộc rút lui thần kỳ!".


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tư, 2026, 09:13:59 pm
17. Đoàn quân mang danh chiến tích của một thành phố

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ trên phạm vi cả nước (19-12-1946), tương quan lực lượng quân sự giữa ta và Pháp ở Nam Định chênh lệch rõ rệt. Quân tiếp phòng Pháp ở đây là tiểu đoàn 2/6eRIC được tăng cường thêm một đơn vị công binh, pháo binh, thiết giáp với quân số khoảng 800 tên, được trang bị đầy đủ do thiếu tá Dobooval chỉ huy. Phần lớn sĩ quan chỉ huy của chúng từ thiếu uý trở lên đều được đào tạo ở trường võ bị Xanh Xia nổi tiếng. Về phía ta, Trung đoàn 34 (phiên hiệu đầu tiên của Lữ đoàn 45 ngày nay), được thành lập ngày 22 tháng 8 năm 1945 với quân số khoảng 1.500 cán bộ, chiến sĩ bao gồm dân quân, du kích đã hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám tại các chiến khu Lạc Quần (Nam Định) và chiến khu Ninh Bình, tiểu đoàn Nam tiến và bốn đại đội Tây Tiên. Số còn lại, khi chiến sự nổ ra ở Nam Định, trang bị chỉ một ít súng bộ binh đã lạc hậu, lựu đạn, mìn, bom ba càng, mã tấu, kiếm, cả trung đoàn chỉ có 1 khẩu pháo 75mm.


Sau một tuần chiến đấu, ta và địch ở thế giằng co. Địch cố thủ trong trại Ca-rô và khu nhà máy dệt. Ta liên tục dùng lực lượng nhỏ quấy rối chúng cả ngày lẫn đêm, đánh địch ở từng cụm, cố gắng chia cắt, cô lập địch. Nhiều trận đột kích táo bạo, bất ngờ của ta bằng lực lượng nhỏ tiêu hao sinh lực địch làm chúng hoang mang, luôn luôn bị căng thẳng phải liên tiếp xin tăng viện.


Ngày 3 và 4 tháng 1 năm 1947, trên thông báo cho trung đoàn biết: ngoài cửa Ba Lạt có nhiều tàu chiến Pháp qua lại, nhiều lần số tàu chiến này chạy tận vào cửa sông Hồng. Cũng thời gian này, máy bay địch bay lượn thám thính, bắn phá liên tục khu vực nội thành, ném bom xuống nhà ga phố Năng Tĩnh, phố Cửa Đông và khu vực nhà máy chiếu. Sáng 5 tháng 1, tàu chiến địch tấn công vào ngã ba sông Ninh Cơ, vượt cửa sông rồi chạy ra biển. Đêm hôm đó, sương muối lạnh buốt, trăng sáng như ban ngày tạo điều kiện cho ta quan sát địch dễ dàng. 21 giờ, máy bay địch ném bom xuống phố cổng Hậu. Máy bay Đa-cô-ta lượn nhiều vòng trên sân vận động nhà máy dệt (hồi đó sân vận động này gọi là bãi bóng Cô-tông-canh). Mấy phút sau địch bắt đầu thả dù.


Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 69 ra lệnh qua điện thoại cho các đại đội trưởng "đánh mạnh vào lực lượng địch đang nhảy dù hoặc tiếp đất. Súng máy tập trung hỏa lực vào các cửa máy bay đang thả quân. Súng trường bắn thẳng vào những tên đang lơ lửng. Bộ binh và tự vệ dùng lựu đạn, mã tấu xông ra tiêu diêt địch vừa tiếp đất, khi chúng chưa bắt liên lạc được với bọn bị bao vây". Toàn thành phố rền vang tiếng súng, tiếng gầm rú của máy bay và tiếng hô xung phong của bộ đội ta. Đèn phát sáng của địch, ánh đạn, lửa, ánh chớp của bom nổ sáng rực cả một góc trời. Đại đội 15, Đại đội 17 và Đại đội 11 bố trí tại phố Bên Thóc, phố Năng Tĩnh và khu nhà máy chiếu là đơn vị phải đương đầu quyết liệt với số quân tiếp viện đông đảo và có ưu thế về trang bị của quân Pháp.


Trận đánh quân nhảy dù kéo dài đến 1 giờ sáng ngày 6 tháng 1 mới kết thúc. Một phần ba quân tiếp viện bị quân ta đánh thương vong và phải dồn vào trại Ca-rô. Mờ sáng ngày 6 tháng 1, sương mù còn dày đặc trên thành phố thì một tàu chiến và 3 ca-nô của địch đã tiến vào cửa sông Đào. Đại đội 9 phối hợp với Đại đội 11 dựa vào chiến hào trên bờ sông và những công sự có sẵn đánh địch đổ bộ. Một bộ phận nhỏ của Đại đội 11 đã linh hoạt tràn ra chặn cổng nhà máy dệt không cho chúng lợi dụng có quân tiếp viện để chiếm lại khu vực nhà máy chiếu. Một lực lượng quan trọng của địch từ cổng Chủ Sói có xe thiết giáp yểm trợ tiến ra bị Đại đội 12 dùng đại liên và bom ba càng chặn lại. Trong khi đó một bộ phận quân ta bao vây chặt quân địch đóng tại nhà băng không cho chúng chạy thoát về nhà máy dệt.


Đại đội 10 và Đại đội 12 thuộc Tiểu đoàn 75, mặc dù bị lực lượng tăng viện của địch dựa vào hỏa lực mạnh và quân số đông gấp bội kiềm chế mạnh nhưng vẫn giữ vững được trận địa, nhất là khu Cửa Đông, một phố chính của thành phố. Một số chiến sĩ thuộc các đơn vị chủ lực và tự vệ dù bị thương vẫn không rời trận địa. Khi hết đạn, anh em dùng mã tấu, dao găm và một số lựu đạn còn lại tiêu diệt những tên địch liều mạng xông vào trận địa. Hơn mười chiến sĩ cảm tử quân đã ôm bom ba càng lao vào xe tăng, xe bọc thép của địch. Trung đội súng cối 81mm của Tiểu đoàn 75, tuy số đạn có hạn, nhưng vẫn bắn kịp thời và chính xác vào đội hình địch nên có hiệu quả tốt.


Gần 7 giờ sáng, trời bớt sương mù. Tiếng súng càng nổ dữ dội ở phía Đò Quan. Mặt trời càng lên cao, chiến sự càng trở nên quyết liệt. Lúc này không thể phân biệt được tiếng súng, tiếng lựu đạn, tiếng cối của ta hay địch. Ta với địch tranh chấp với nhau từng gốc cây, từng mảng tường, từng góc nhà đổ nát ở bên Bến Thóc, khu Đò Quan, khu Năng Tĩnh. Một chiếc xe của địch chạy từ phía đông nhà Chủ Sói bắn ra xối xả từ phía nhà Hậu Cung. Bóng một chiến sĩ ôm bom ba càng lao vút ra. Trong phút chốc chiếc xe trở thành đám khói lớn sau một tiếng nổ dữ dội. Máy bay địch kéo hết đợt này đến đợt khác, khi 2 chiếc, khi 4 chiếc lao xuống bắn liên thanh, ném bom quanh khu vực nhà máy dệt. Cột cờ, một di tích cổ của Nam Định cũng bị trúng bom.


Đến trưa tiếng súng thưa dần rồi im hẳn, quân địch rút vào cố thủ trong trại Ca-rô và nhà máy dệt. Buổi chiều, nhiều tốp máy bay địch vẫn còn đến ném bom. 21 giờ ngày 6 tháng 1, ban chính trị của trung đoàn ra thông báo chiến thắng. Thông báo này được đăng đầy đủ trên báo Nam Định kháng chiến, số ra ngày 7 tháng 1 năm 1947: ta bắn chìm 1 ca-nô trên sông Đào, tiêu diệt và làm bị thương một phần ba quân tiếp viện. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn và dân quân tự vệ đã dùng lựu đạn, một nữ cứu thương trẻ đã dùng chai thuốc đập vào đầu rồi đâm chết một lính Âu - Phi, thu một tiểu liên Mas. Ta thu một số dù, một số lương thực và súng đạn đáng kể. Tiểu đoàn 75 đã đánh địch hoàn toàn ra khỏi nhà máy tơ, mở rộng phạm vi kiểm soát của ta, thu hẹp vòng bao vây của địch mặc dù chúng được tăng viện.


Trong trận chiến đấu hai ngày 5 và 6 tháng 1 năm 1947, Trung đoàn 34 cũng bị thương vong một số. Đồng chí tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 69 đã anh dũng hy sinh khi chỉ huy đơn vị đánh quân đổ bộ lên bến Đò Quan. Khẩu sơn pháo của ta cũng bị phá hủy sau khi hết đạn.


Cuộc chiến đấu từ đêm ngày 5 đến hết ngày 6 tháng 1 năm 1947 của quân và dân thành phố Nam Định là một trận thắng lớn, toàn diện trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nó gián tiếp cổ vũ cho quân và dân Thủ đô kéo dài cuộc chiến đấu ở Liên khu 1 và quanh ngoại thành Hà Nội, tạo điều kiện cho quân và dân ta có thời gian chuẩn bị, đúc rút kinh nghiệm chiến đấu, bố trí lực lượng để tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ.


Chiều ngày 7 tháng 1 năm 1947, tại nhà ông Lý Lầm, thôn Vĩnh Trường, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, đồng chí Đỗ Mười - Bí thư tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Nam Định và đồng chí Hà Kế Tấn - Trung đoàn trưởng kiêm chính trị viên, đã họp với đại diện các đơn vị và một số cán bộ, chiến sĩ có thành tích xuất sắc trong trận đánh và công bố: Bác Hồ thay mặt cho Quốc hội và Chính phủ quyết định tặng cán bộ và chiến sĩ Trung đoàn 34 danh hiệu cao quý "Tất Thắng".


Trung đoàn Tất Thắng sau này là Lữ đoàn pháo binh 45 Anh hùng.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tư, 2026, 09:14:52 pm
18. Cự Đà - một trận quyết tử

Sau khi các đơn vị chiến đấu của ta rút ra khỏi Thủ đô, các đơn vị chiến đấu tại Liên khu 3 được tổ chức lại, đáng chú ý là sự thành lập Trung đoàn Thăng Long (27-2-1947) với nhiệm vụ chiến đấu ở phía tây và nam Hà Nội. Tiểu đoàn 523 của trung đoàn có nhiệm vụ đánh địch tiến ra huyện Thanh Oai bố trí các đại đội ở các làng hai bên bờ sông Nhuệ, sử dụng một trung đội có kinh nghiệm chiến đấu trong phố để bảo vệ Cự Đà - Khúc Thủy (Hà Đông).


Trung đội bộ có 5 người đóng ở Cự Đà. Vũ khí có 11 quả lựu đạn, một khẩu súng trường với 2 viên đạn đum đum, một khẩu tiểu liên Sten với một băng đạn. Còn 3 tiểu đội đóng quân ở Khúc Thủy.

Sáng 27 tháng 3 năm 1947, khoảng 9 giờ, một đại đội Pháp và lê dương tiến từ phía Hậu Lương, có xe tăng dẫn đường đã đến gần chợ Cự Đà. Ban chỉ huy không kịp điều các tiểu đội nên quyết tâm cố thủ ngay tại nhà trung đội bộ để chặn địch.

Từ 10 giờ sáng, cuộc chiến ác liệt diễn ra, khi địch phá được cổng định xông vào thì quả lựu đạn đầu tiên của ta ném từ trên gác gây thương vong gần một chục tên, một số bỏ chạy về phía chợ.

Chúng không dám tiến theo đường cái nữa mà luồn qua các lỗ đục ở tường để lọt vào dãy nhà ngang tập trung mọi loại hoả lực, cả pháo trên xe tăng, bắn như đổ đạn vào ngôi nhà, phá thủng hai mảnh tường sát mái. Rồi chúng thúc bọn mũ đỏ vào chiếm tầng dưới.


Khi bọn này tập trung ở sân nhà, cạnh bể nước chuẩn bị đánh chiếm nhà bếp thì một quả lựu đạn do ta ném qua khe cửa sổ con ở cầu thang, ít nhất cũng dăm bảy tên bị tiêu diệt. Địch bắn và ném lựu đạn lên gác 2 để yểm trợ cho việc lấy xác và tải thương. Rồi chúng lại tiếp tục tấn công chiếm tầng dưới. Đồng chí trung đội phó và một đồng chí nữa của ta đánh trả quyết liệt và đã hy sinh anh dũng. Chúng chiếm được bếp tầng dưới, đang tập trung chuẩn bị xung phong lên gác, thì bị lựu đạn của ta ném qua khe sàn quật ngã cả chục tên. Vài tên còn lại bỏ chạy về phía chợ kêu cứu.


Một trung đội lính mũ đỏ kéo đến tiếp viện, liều mạng hết đợt này đến đợt khác leo qua xác chết, tiến vào cầu thang, nhưng đều bị đẩy lùi bằng lựu đạn. Có lần chúng tung lựu đạn lên cầu thang. Ta bắt được ném trả lại. Hai tên mũ đỏ xông lên cầu thang, bị một đồng chí lia băng súng Sten ngã gục (sau đó súng hóc). Địch phía sau hoảng hốt kêu lên: "Việt Minh có tiểu liên! Đốt nhà! Chúng dồn các đồ gỗ vào chân cầu thang rồi tưới xăng đốt. Khói lửa mịt mù cả tầng hai. Hai đồng chí của ta còn lại buộc phải lên sân thượng, nấp mình trên đó, sẵn sàng dùng quả lựu đạn cuối cùng để diệt bọn liều lĩnh trèo lên mái.


Cho đến 5 giờ chiều, hai đồng chí người đã rã rời căng thẳng vì địch vẫn sục tìm xem Việt Minh còn ẩn nấp ở đâu... Đến 8 giờ tối, một tốp chiến sĩ của ta mang đuốc sáng rực đến tìm xác và chôn cất, Ban chỉ huy trung đội. Họ vui mừng khôn xiết khi thấy hai đồng chí của ta còn sống.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Tư, 2026, 07:52:40 pm
19. Trận "tao ngộ chiến" ngày ấy

Sau ngày quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, Chợ Mới (7-10-1947), theo quyết định của Hiệu ủy, công tác huấn luyện của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn tạm ngừng. Trường được biên chế tạm thời thành Trung đoàn 79 do đồng chí Hoàng Đạo Thuý làm đoàn trưởng, đồng chí Lê Đình làm Chính trị viên, có nhiệm vụ chiến đấu để tự bảo vệ mình và giúp đỡ một số cơ quan khác như Bộ Tài chính, Cục Quân nhu, Cục Quân giới... Căn cứ vào nhiệm vụ đó, các bộ phận của nhà trường rời Bắc Cạn, lên chợ Rã, về Bản Thí, Đầm Hồng... Trên đường hành quân, cán bộ, học viên đã tích cực tuyên truyền tin chiến thắng, hướng dẫn nhân dân cất giấu tài sản, giúp đỡ địa phương cách bố phòng, đánh địch để bảo vệ bản, làng.


Đêm 17 tháng 10, đại đội do đồng chí Phan Phác chỉ huy, hành quân bằng Goòng về tối gần Đầm Hồng thì xuống xe, tiếp tục hành quân bộ. Đại đội có ba trung đội. Cả đại đội chỉ có một khẩu đại liên với vẻn vẹn 22 viên đạn và 11 khẩu súng trường, mỗi khẩu có 7 viên đạn.


Khi đơn vị tới gần chiếc cầu sắt bắc qua một con suối cạn (km 4 Đầm Hồng - Bản Thí) thì được nhân dân báo tin có một đại đội quân Pháp đi theo đường rừng đang ở phía bên kia con suối một quãng không xa. Nhận được tin đó, đại đội nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Trung đội có súng máy bố trí lưng chừng đồi, sát cầu. Hai trung đội khác dàn quân trên bãi nổi, khúc quanh của con suối.


Khi ta vừa triển khai song đội hình thì quân Pháp đã kéo nhau tới lô nhô ở phía bên kia cầu (cầu đã bị ta phá hỏng, chỉ còn lại 2 thanh dầm cầu dọc), lúc đó khoảng 8, 9 giờ sáng. Vì súng đạn ít, nên ta động viên nhau chờ địch tới thật gần mới nổ súng để thực hiện "mỗi viên đạn một quân thù". Tới lúc địch dồn đội hình lên và có gần hai chục tên được lệnh vượt suối, lực lượng ta lập tức nổ súng. Địch bị bất ngờ, một số tên trúng đạn, đứa chết, đứa bị thương kêu la inh ỏi. Khẩu đại liên bắn được hai loạt thì bị đạn hóc, địch xua quân lên định cướp súng. Tức thì 11 khẩu súng trường đồng loạt nhả đạn, tên chỉ huy cùng một số tên nữa bị chết và bị thương. Số còn lại mất tinh thần, hoảng loạn tháo chạy về hướng Chiêm Hoá.


Trận đánh diễn ra khoảng 20 phút, nhưng cán bộ, học viên nhà trường đã nêu kỷ lục xạ kích: 72 viên đạn, diệt và làm bị thương 38 tên địch. Trong trận này ta có một đồng chí học viên khoá 10 (khoá 3) Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn sau khi lập thành tích xuất sắc: ba viên đạn diệt 3 tên địch đã hy sinh anh dũng.


Đây là một chiến công lớn của cán bộ, học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, làm cho cán bộ, học viên càng tin tưởng về kỹ chiến thuật đã học, có thêm kinh nghiệm huấn luyện, xây đắp nên truyền thống của trường. Chiến công đó góp phần vào thắng lợi chung của quân dân ta trong chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Tư, 2026, 07:54:36 pm
II. NHỮNG TRẬN ĐÁNH BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP CỦA QUÂN, DÂN MIỀN TRUNG VÀ NAM BỘ

1. Trận bao vây quân Pháp 101 ngày đêm tại Nha Trang

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn - Chợ Lán, mở rộng chiếm đóng các tỉnh Nam Bộ và chuẩn bị tiến công các tỉnh Nam Trung Bộ.

Đầu tháng 10 năm 1945, địch đưa thiết giáp hạm Richeliơ tới phong tỏa vùng biển Khánh Hoà.

Trung tuần tháng 10 địch đổ bộ gần 1.000 quân lên bãi biển trước khách sạn Bô Rivagiơ (nay là khách sạn Hải Yến), đồng thời tổ chức chiếm các vị trí then chốt trong thị xã, tăng cường một số phương tiện chiến tranh.

Tình hình Nha Trang được Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Trung Bộ đặc biệt quan tâm theo dõi. Xứ ủy nhận định và ra chỉ thị: Thực dân Pháp xâm chiếm Nha Trang là uy hiếp trực tiếp con đường chi viện của các lực lượng miền Bắc, miền Trung vào Nam Bộ. Cho nên vây chặt giặc Pháp tại Nha Trang để giữ được con đường chi viện cho Nam Bộ là một yêu cầu bức thiết mà Trung ương đã đặt ra cho Đảng bộ và chính quyền cách mạng miền Trung, trực tiếp là Đảng bộ và quân, dân Khánh Hòa, Nha Trang.


Quán triệt nhiệm vụ của cấp trên, lãnh đạo chính quyền tỉnh, Mặt trận Việt Minh và Ban chỉ huy quân sự tỉnh chủ trương dùng lực lượng vũ trang tại chỗ chủ động tấn công một số mục tiêu quan trọng trong thị xã sau đó rút ra cùng lực lượng bên ngoài tổ chức phòng tuyến bao vây giam chân quân địch không cho chúng mở rộng diện chiếm đóng, kiên quyết giữ vững giao thông Bắc - Nam, bảo đảm thông suốt con đường chi viện cho Nam Bộ.


3 giờ sáng ngày 23 tháng 10 năm 1945, lệnh tấn công được phát ra. Một loạt các vị trí quân địch bị lực lượng ta tấn công: ga xe lửa, nhà đèn, khu kho Bình Tân... Tại ga xe lửa, cuộc chiến đấu đã diễn ra ác liệt. Đây là cuộc chiến đấu có sự chuẩn bị chu đáo, mở đầu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Khánh Hòa và Nam Trung Bộ.


Phòng tuyến đầu tiên được hình thành là phòng tuyến Chợ Mới - Bơrơten, gồm phòng tuyến phía Bắc: Khu vực đồi La San, cầu Xóm Bóng, Tháp Bà lên đến hầm xe lửa số 1. Phòng tuyến phía tây từ bến đò Kim Bồng nam bờ sông Cái theo dọc tuyến đường sắt cắt ngang quốc lộ 1 khu vực Chợ Mới xuống phía tây nam qua vùng Thái Thông, Thủy Tú tới dãy Đồng Bò. Phòng tuyến được thiết kế tương đối kiên cố. Trên phòng tuyến này bộ đội ta đã chiến đấu nhiều trận, đánh lui tất cả các cuộc phản kích mở vây của quân Pháp.


Trong hai ngày 22 và 23 tháng 11, quân Pháp tung lực lượng lớn có trọng pháo yểm trợ tấn công phòng tuyến Chợ Mới - Bơrơten. Toàn bộ lực lượng ta lui về phía sau lập phòng tuyến mới: phòng tuyến Cây Đa, Quán Giếng cách Nha Trang 6km về phía tây tiếp tục cuộc bao vây giặc Pháp.


Diễn biến chiến trường ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Mặt trận Nha Trang được Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Trung ương đã điều nhiều đơn vị bộ đội Nam tiến chi viện cho Mặt trận Nha Trang: Lê Trung Đình (Quảng Ngãi), Thuận Hoá, Nghệ An, Quảng Trị, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội... sát cánh cùng quân dân Nha Trang - Khánh Hòa chiến đấu. Trung ương cũng cử các phái viên đến Nha Trang để nắm bắt tình hình.


Cuối tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử phái đoàn Chính phủ do đồng chí Lê Văn Hiến dẫn đầu đến Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa để tìm hiểu tình hình, phổ biến một số chính sách, chủ trương của Chính phủ và thư của Bác Hồ "gửi các chiến sĩ cùng đồng bào Nam Bộ và phía Nam Trung Bộ".


Cuối tháng Giêng năm 1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp vào kiểm tra tình hình mặt trận miền Nam. Ngày 27 tháng 1 năm 1946, đồng chí tới thị sát Mặt trận Nha Trang. Đồng chí đã đề xuất sự chuyển hướng của Mặt trận Nha Trang. Đồng chí cho rằng sắp tới thực dân Pháp sẽ tăng viện, mở cuộc tấn công mới, ta cần thấy trước và điều chỉnh ngay sự bố trí và cách tác chiến, không thể giữ mãi các phòng tuyến hiện nay mà phải chủ động rút ra một bộ phận chủ lực, chỉ để một bộ phận nhỏ bám sát địch, sẽ tổ chức những đơn vị cơ động đánh địch bằng các hình thức tập kích, phục kích tiêu hao sinh lực địch, cho biệt động hoặc du kích thâm nhập đánh phá, toàn dân đánh giặc, mọi vùng, mọi làng đều trở thành làng xã chiến đấu. Đồng thời tỉnh nên chủ động xây dựng căn cứ kháng chiến ở vùng Đồng Trăng.


Ngày 27 tháng 1 năm 1946, địch tập trung lực lượng lớn hành quân cơ giới có xe thiết giáp dẫn đường mở cuộc tấn công từ Đà Lạt theo đường 20 xuống thị xã Phan Rang. Ngày 28 tháng 1 từ Phan Rang địch mở cuộc hành quân ra Ba Ngòi (Cam Ranh). Ngày 27 tháng 1, một lực lượng lớn khác của địch từ Buôn Ma Thuột theo đường 21 kéo xuống Ninh Hoà, hình thành thế gọng kìm từ hai hướng để giải vây cho Nha Trang.


Ngày 29 tháng 1, từ hai cánh quân hướng bắc và hướng nam, địch đồng loạt mở cuộc hành quân vào Nha Trang và ra thành Diên Khánh, dọc đường tiến quân, đoàn xe cơ giới của địch bị bộ đội, du kích ta đánh kìm chân tại nhiều nơi.

Ngày 1 tháng 2, trước sức ép của địch do so sánh quân sự không cân sức, đồng thời để bảo toàn lực lượng chuẩn bị cho phương hướng kháng chiến lâu dài, toàn bộ lực lượng ta trên các phòng tuyến và ở thành Khánh Hoà (Diên Khánh) rút ra Tứ Thôn Đại Điền và lên căn cứ Đồng Trăng.


Cuộc chiến đấu bao vây quân Pháp 101 ngày đêm tại Mặt trận Nha Trang chấm dứt. Ý nghĩa lớn lao của Mặt trận Nha Trang là thể hiện ý chí đấu tranh giải phóng và lòng yêu nước nồng nàn, khao khát độc lập tự do của mọi tầng lớp nhân dân Khánh Hòa; Mặt trận Nha Trang là cuộc hội quân của cả nước, là điểm hội tụ của tình yêu thương gắn bó Bắc - Nam, tình quân dân đậm đà thắm thiết; Mặt trận Nha Trang giam chân quân địch trong một không gian nhỏ hẹp với một thời gian ngắn để đảm bảo cho cả một không gian rộng lớn xung quanh có thời gian xây dựng, là một thắng lợi có ý nghĩa to lớn đã làm phá sản âm mưu chiến lược của thực dân Pháp là "Đánh nhanh, thắng nhanh" mở rộng chiến tranh ra miền Nam Trung Bộ.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Tư, 2026, 07:56:04 pm
2. Phú Yên chuẩn bị cho trường kỳ kháng chiến

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Nam Bộ bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Để động viên đồng bào, chiến sĩ Nam Bộ kiên quyết đứng lên kháng chiến, giữ vững độc lập, tự do, Bác Hồ có thư "Gửi đồng bào Nam Bộ": "Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của toàn dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa".


Năm 1946, Pháp từ Sài Gòn hành quân lên đánh chiếm Đà Lạt. Rồi từ Đà Lạt chúng thọc xuống đánh chiếm Phan Rang - Tháp Chàm. Lúc đó, Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Sơn làm Chủ tịch, trụ sở đóng tại thị xã Tuy Hòa. Đồng chí Nguyễn Sơn cử một phái đoàn đi kiểm tra mặt trận suốt dọc tuyến miền Trung. Trên địa bàn dài và hẹp này, tiếng súng kháng chiến đã và đang sôi động, âm vang suối ngày đêm.


Ngày 27 tháng 1 năm 1946, mặt trận Ninh Hòa bị vỡ, địch từ Buôn Ma Thuột đánh xuống. Lực lượng của chúng khá mạnh. Lúc ấy, Nha Trang đã bị giặc chiếm và giặc Pháp từ Nha Trang đánh ra. Một mũi khác, địch đánh từ Đà Lạt xuống Phan Rang, xuyên qua Ba Ngòi. Cả một vùng trời đất đầy khói lửa, tiếng súng nổ loạn xạ. Đồng bào ta gồng gánh hối hả, vội vã tản cư vào cánh rừng, vào sâu trong núi, vào các thôn xóm khuất nẻo mà mọi người nghĩ là có thể an toàn.


Những ngày dữ dội ấy là gần Tết Bính Tuất rồi. Đêm tháng Chạp, trời lạnh và tối đen như mực. Trong không khí căng thẳng ấy, bà con ta vẫn lo cái tết sao cho đầm ấm, tuy hoàn cảnh rất ngặt nghèo. Bộ đội ta được sưởi ấm trong tình quân dân cá nước, được hưởng cái tết tiền phương của vùng đất miền Trung nóng bỏng. Lực lượng công vận tỉnh làm việc cật lực, không kể ngày đêm, vì tình hình lúc ấy quá căng thẳng và không ai có thể lường hết những diễn biến phức tạp có thể xảy ra.


Tình hình ngày càng căng thẳng, vì giặc Pháp đang cố nông ra vùng tự do. Cuộc kháng chiến, đi qua những ngày đầu tiên, chúng ta đã biết chắc là phải kháng chiến trường kỳ. Đối với giặc Pháp, một loại kẻ thù quen, chúng thông thuộc địa hình, thậm chí, hiểu biết khá tường tận những phong tục, tập quán của một SCI địa phương. Muốn đánh thắng chúng, ngoài tinh thần, ý chí, chiến lược, sách lược... còn phải tính đến những khả năng khác, những khả năng tạo nên sức mạnh vật chất cho cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta.


Chính vì vậy, tỉnh Phú Yên phải tính đến việc thành lập binh công xưởng. Có binh công xưởng mới "chế tạo" được vũ khí, đạn dược cung cấp cho chiến trường. Nhưng lúc ấy, Phú Yên còn tay trắng, không có máy móc, dụng cụ để "nấu bột thành hồ". Nguyên liệu cũng hiếm, nhưng còn có thể kiếm được. Lấy thanh ray mà rèn vũ khí, bóc thành cầu mà làm cuốc xẻng. Còn than đốt sẽ không thiếu. Bao nhiêu cánh rừng bạt ngàn sẽ cho gỗ và gỗ sẽ cho than. Chất đốt đối với Phú Yên có thể gọi là giàu có.


Vậy phải tìm được một cỗ máy tiện, mà máy này, có thể phải ra tận Hà Nội mới kiếm được. Bài toán được đặt ra rất nghiêm túc nhưng có đủ yếu tố để giải đáp. Tỉnh đã cử người ra Hà Nội để tìm mua, chỉ một tuần lễ đã mua được "cỗ máy" như dự định.

Phú Yên thành lập binh công xưởng. Đêm đêm, trong rừng sâu, ngọn lửa lò sáng rực, tiếng máy chạy, tiếng búa nện, tiếng cười vui âm vang một góc núi rừng. Cùng với Hà Nội và cả nước, Phú Yên đang tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ nhưng nhất định thắng lợi.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Tư, 2026, 07:56:47 pm
3. Thế trận ở Đèo Cả sau ngày Nam Bộ kháng chiến

Trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, âm mưu của Pháp muốn trong vòng vài tháng đánh chiếm xong Nam Bộ, Nam Trung Bộ, trong đó có tỉnh Phú Yên.

Thực hiện chủ trương của Xứ ủy Trung Kỳ: "Tích cực đánh tiêu hao ngăn chặn địch từng bước, bảo tồn lực lượng ta, cố giữ cho được một vùng tự do để làm căn cứ kháng chiến lâu dài", tỉnh Phú Yên đã chuẩn bị lực lượng, thế trận tại mặt trận Đèo Cả ngăn chặn quân Pháp từ phía nam ra. Ban chỉ huy quân sự tỉnh điều tiểu đoàn Cao Thắng và đại đội tự vệ huyện Tuy Hòa lên lập phòng tuyến chiến đấu tại mặt trận Đèo Cả. Huyện Tuy Hòa cũng huy động hàng ngàn dân công lên mặt trận cùng bộ đội đào phá mặt đường, xây dựng giao thông hào, ụ chiến đấu, xây vật chướng ngại trên đường 1, các con đường mòn Đèo Cả, bịt các miệng hầm xe lửa...


Đúng như nhận định của ta, sau khi đánh chiếm xong Nha Trang, tháng 12 năm 1945, Pháp đưa quân ra đánh chiếm thị trấn Ninh Hòa, Vạn Giã làm bàn đạp tiến ra Phú Yên. Chúng cho quân chiếm các tuyến chiến đấu của ta tại mặt trận Đèo Cả như: Tu Bông, đèo Cổ Mã, núi Bà, Đại Lãnh cửa sông Đà Nông..., nhưng đều bị bộ đội ta đánh lui, giữ vững mặt trận. Trong thời gian sau đó, quân Pháp nhiều lần dùng hoả lực phi pháo, xe tăng, bộ binh tấn công lên Đèo Cả mà vẫn bị thất bại, bị thương vong phải quay về Nha Trang củng cố.


Trong lúc này, thời gian là lực lượng vô cùng quý giá. Mặt trận Đèo Cả được giữ vững đã giúp cho các tỉnh phía sau xây dựng tiềm lực kháng chiến và cổ suý cho tinh thần kháng chiến kiến quốc của nhân dân ta.

Không cam chịu thất bại và ngang ngược xé bỏ Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, quân Pháp lại tiến công lên các trận địa ở Tu Bông, đèo Cổ Mã nhưng đều bị bộ đội ta giữ mặt trận Đèo Cả đánh bại, diệt nhiều tên, thu vũ khí... Đến tận ngày 13 tháng 1 năm 1947, chúng dùng lực lượng quá đông, lại có phi pháo mạnh, đánh ra suốt 3 ngày liền với nhiều mũi, nhiều hướng chính diện và vu hồi... làm cho bộ đội ta bị thương vong lớn, đạn và lựu đạn hết, nhiều nơi anh em phải đánh giáp lá cà với địch để giữ từng ụ chiến đấu, nhưng do quá lệch về lực lượng và vũ khí ngày 16 tháng 1 ta phải rút theo đường biển Phú Khê và đường núi về phía sau.


Chọc thủng được mặt trận Đèo Cả, quân Pháp tiến ra phía nam cầu Đà Nẵng. Nhờ thực hiện triệt để chủ trương tiêu thổ kháng chiến, nên đường sá, cầu cống đều bị nhân dân ta phá buộc Pháp phải tiến rất chậm. Ngày 18 tháng 1 năm 1947, chúng co cụm ở thị trấn Phú Lâm và lúc 14 giờ ngày 19 tháng 1 năm 1947, bộ đội ta tấn công địch giữa ban ngày vào Phú Lâm, cầu Hòa Thạch, Bám Nham... giải phóng toàn bộ vùng nông thôn từ Phú Lâm đốn bắc cầu Hòa Thạch. Từ đó trở đi vùng nông thôn rộng lớn phía nam huyện Tuy Hòa được bảo vệ vững chắc làm cho nhân dân Phú Yên yên tâm phấn khởi tham gia mọi công tác kháng chiến.


Vùng tự do rộng lớn của tỉnh Phú Yên, gồm rừng núi, đồng bằng, ven biển, vùng đồng lúa Tuy Hòa là kho nhân tài, vật lực đã đóng góp rất có hiệu quả với chiến trường cực Nam Trung Bộ. Nhân dân Phú Yên đã bảo vệ và khôi phục công trình thủy nông đập Đồng Cam, Bàu Súng, đắp đập Liên Hương Mỹ đủ nước tưới quanh năm cho hàng trăm mẫu ruộng. Cũng nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng và Bác Hồ, nhân dân Phú Yên triệt để thực hiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Do vậy mà tỉnh không những có đủ lương thực ăn mà còn đóng thuế nông nghiệp nuôi bộ đội, nuôi các cơ quan tỉnh huyện, các xưởng quân giới của Phú Yên và tỉnh bạn. Năm 1947, nhân dân đóng góp được 230 tấn lúa, 750 tấn gạo, 180 tấn muối cho Nhà nước và còn giúp các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa 304 tân gạo. Nhân dân còn góp hàng vạn ngày công khôi phục đường sắt, đường quốc lộ 1 từ An Tôm (Quảng Nam) đến La Hai (Phú Yên) dài gần 300km để vận chuyển cho kháng chiến. Cũng chính nơi đây đã sản sinh và là nguồn bổ sung quân số cho các xưởng quân giới, các trung đoan 79, 80, 83, tiểu đoàn Ba Dương. Nơi trú quân huân luyẹn, cung cấp nhân tài, vật lực, là tiền đồn phía nam của vùng tự do Liên khu 5.


Trong 9 năm kháng chiến chống pháp, sự hình thành vùng tự do liên hoàn từ Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, nam Quảng Nam có thành tích đóng góp xứng đáng của quân dân mặt trận Đèo Cả nói riêng và nhân dân Phú Yên nói chung. Bằng những thành tích của mình, mặt trận Đèo Cả đã kìm chân giặc Pháp một thời gian dài, giúp cho ta xây dựng và bảo vệ được vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú thành căn cứ địa, hậu phương trực tiêp không chỉ của Nam Trung Bộ mà còn cả chiến trường Hạ Lào, đông bắc Campuchia.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Tư, 2026, 07:57:29 pm
4. Phòng ngự đồi Mã Vồng

Đêm đã về khuya, từng đợt gió mùa thổi mạnh, sóng biển liên tục vỗ vào bờ ầm ầm, thành phố chìm trong bóng đêm. Ngoài khơi, chiến hạm Risơliơ và 3 hộ tống hạm đèn điện sáng thâu đêm như một khu phố nổi. Theo quy luật cứ sau một giờ đồng hồ pháo hạm lại bắn sâu vào tận Suối Dầu, Diên Khánh, Ninh Hòa, pháo chiếu sáng và đèn chiếu cực mạnh lại soi sáng cả một vùng, các đội săn đêm của ta lợi dụng để phát hiện các đội tuần tiễu và các điểm chốt của địch, thỉnh thoảng một vài loại tiểu liên, súng trường, lựu đạn nổ giòn của du kích và trinh sát nội thành nã vào đầu quân thù.


Nhận được tin báo có 3 tốp địch đang bí mật tiến về trận địa ta, chỉ huy ra lệnh tất cả theo kế hoạch. Lúc này địch còn cách chiến hào 20m (dốc cao khó vượt). Hướng ngã ba cũng phát tín hiệu báo động, sương mù trời đen sẫm.

Cả trận địa hồi hộp, 20m, 15m, một phút, hai phút trôi qua, trận địa ta vẫn im lặng, nhờ pháo sáng bắn hướng sân bay Phường Rạch ta đã thấy rõ địch hơn.

Súng lệnh nổ giòn, đồng loạt các bẫy đá được dồn xuống, lựu đạn ném trúng vào đội hình quần địch và 6 khối mìn được đặt trong các đống đá cách chiến hào 4m cũng kịp thời phát nổ tạo nên hàng nghìn mảnh đá vụn ập vào đội hình quân thù. Khẩu đại liên và cối 60 nã mạnh vào đội hình địch theo trục đường, có tiếng hô xung phong, đèn chiếu, pháo sáng liên tục soi sáng, pháo địch bắn trả dữ dội vào phía sau.


Bị một cú đánh phủ đầu, bao nỗi kinh hoàng đến với chúng, có lẽ bị uy hiếp nhất là không biết cơ man nào từng khối đá bất ngờ ầm ầm lao xuống.

Nhiều tiếng súng hướng chùa Hải Châu, liên lạc báo cáo còn 5 tên Nhật đang kẹt, chúng chưa rút được. Ta phát tín hiệu yêu cầu ngã ba chuyển hướng bắn theo trục đường. Một đồng chí cầm khẩu súng tiểu liên và như con sóc đã nhanh chóng tiếp cận nổ súng tiêu diệt địch.


Trận đánh kết thúc nhanh gọn, 8 tên địch chết ngay tại trận, ta thu được 5 khẩu súng trường Nhật và 3 tiêu liên, một số lựu đạn. Địch tháo chạy không kịp mang đi số tử vong và trước khi trời sáng ta đã chuyển họ ra đường cái.

Trận địa phòng ngự đồi Mã Vồng, ngã ba Bơrơten đã tiêu hao được nhiều địch, giam chân chúng được nhiều ngày - tiếng súng săn đêm của quân ta: du kích, trinh sát, bộ đội không ngừng nổ trong nội thành.

Trận tác chiến phòng ngự đồi Mã Vồng, Bơrơten của quân dân thành phố Nha Trang tuy quy mô nhỏ, nhưng đây là một trận đánh nhanh, thắng gọn, thu được vũ khí của địch, khích lệ được lòng người.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Tư, 2026, 08:00:13 pm
5. Xung phong công đoàn bảo vệ thành quả cách mạng

Trong thập kỷ bốn mươi, giai cấp công nhân khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn tương đối đông đảo và phần nào được thử thách qua đấu tranh cách mạng. Vì vậy đầu năm 1941, ngay sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, Đảng phân công lực lượng đi sâu vào công nhân và nhân dân lao động, tổ chức các hội ái hữu, công đoàn, nghiệp đoàn. Trên cơ sở đó chiều 24 tháng 8 năm 1945, một ngày trước khi cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền ở Sài Gòn diễn ra, đại biểu công nhân đã tiến hành bầu cử Ban Chấp hành Tổng công đoàn Nam Bộ.


Đến chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, ở Sài Gòn, trong cuộc mít tinh và diễu hành mừng ngày độc lập của hơn một triệu đồng bào tại quảng trường Norodom (nay nằm cạnh đường Lê Duẩn), một số kiều dân Pháp từ trên các lầu cao bắn lén xuống làm 47 đồng bào thiệt mạng và bị thương.


Hành động của kiều dân Pháp quá khích buộc ta phải nghĩ ngay đến việc bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được. Vì vậy, hôm sau Chủ tịch lâm thời Ủy ban hành chính Nam Bộ Trần Văn Giàu đã chỉ thị cho xây dựng gấp lực lượng vũ trang của công nhân và nhân dân lao động, lấy tên Xung phong công đoàn.


Người có sẵn, các đội xung kích của công nhân cũng có sẵn, ngay ngày hôm đó ta tổ chức được 25 đội Xung phong công đoàn và phân công mỗi đội đảm trách một địa bàn gần nhất. Chẳng hạn, Xung phong công đoàn nhà đèn đảm trách vùng Chợ Quán, Xung phong công đoàn hãng của vùng Vĩnh Hội, Xung phong công đoàn Eifel giữ cầu Eryaud des Vergnes... Nhưng nan giải vẫn là vấn để trang bị. Cả 25 đội "nòng cốt" mà chỉ có 60 khẩu súng thuộc đủ các loại (về sau vừa mò dưới sông, vừa được trên cấp thêm cũng chỉ được thêm 60 khẩu nữa). Đạn càng hiếm, mỗi khẩu chỉ được lãnh vài ba viên. Ngoài ra, còn hơn 100 đội Xung phong công đoàn khác do từng nhà máy thành lập thì chỉ có giáo, mác, gậy, dao găm và một ít lựu đạn. Nhưng ta vẫn coi 100 đội Xung phong công đoàn này, tương đương 100 đại đội, là một lực lượng đáng quý. Tinh thần của anh em thì khỏi nói, trong mỗi trái tim đều đang có một ngọn lửa bùng cháy.


Tất cả ban chỉ huy lực lượng Xung phong công đoàn đêu chưa qua một lớp huấn luyện quân sự nào cả.

Nhưng chính ngay trong ngày 3 tháng 9 năm 1945, chỉ huy lực lượng đã ngồi với nhau bàn việc quân cơ: vạch chương trình cấp tốc cho anh em học chính trị và tập quân sự, phát động anh em gạ mua súng của lính Nhật thất trận đang chờ quân Anh trong phe Đồng minh giải giáp.


Tất cả cán bộ và chiến sĩ Xung phong công đoàn đều có ý thức sâu sắc về nhiệm vụ chiến đấu vì những hành động gây hấn ngày càng trắng trợn của quân Anh và quân Pháp (được quân Anh kéo vào theo). Ngày 13 tháng 9 năm 1945, đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn được chỉ thị của Ủy ban nhân dân Nam Bộ tản cư các vùng nông thôn xa trung tâm thành phố. Rồi ngày 20 tháng 9 năm 1945, các đơn vị vũ trang tập trung lại được lệnh rút ra ngoại ô để bảo toàn lực lượng. Như vậy trong nội thành chỉ còn Xung phong công đoàn.


Lúc này ở Sài Gòn có 2.500 quân Anh, 5.000 quân Nhật, 2.100 quân Pháp và 500 thường dân Pháp có vũ trang. Ngoài ra sư đoàn bộ binh thuộc địa của Pháp đang trên đường sang Việt Nam.

3 giờ sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp được quân Anh trợ lực, tiến công nhiều mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế chủ yếu của ta trong thành phố, như sở cảnh sát, sở kho bạc, nhà đèn, trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ... lực lượng bảo vệ của ta tại các nơi đó quá mỏng, tuy dũng cảm chiến đấu nhưng không thể chống trả nổi.


Các đơn vị Xung phong công đoàn chính thức vào trận, bắt đầu thực hiện nhiệm vụ nặng nề nhưng vẻ vang mà Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã trao cho. Trong ngày 23 tháng 9, nhiều trận đánh quyết liệt đã diễn ra tại dinh Đốc Lý đường Verdun (nay là đường Cách mạng Tháng Tám), tại đường Norodom (nay là đường Lê Duẩn)... Đặc biệt nổi lên trận bảo vệ cột cờ Thủ Ngữ. Một tiểu đội của ta chỉ có súng săn, dao găm, lựu đạn đã kiên cường chống chọi với một đại đội quân Anh cho đến người cuối cùng. Đêm hôm đó, ta đánh vào bót cảnh sát Thương Khẩu trên đường Jean Eden (nay là đường Nguyễn Tất Thành), giải thoát 70 thanh niên bị địch giam giữ, đánh cầu Kiệu, cầu Mạc Mohon (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi)... Ta bao vây khu vực đường Eron (nay là đường Trần Nhật Duật), diệt hơn 100 tên Pháp, đột nhập công an cuộc, xưởng làm vật liệu bằng cao su, một số kho gạo của địch... ta đốt lửa bốc cháy ngùn ngụt. Sáng 25 tháng 9, chúng ta loan truyền chủ trương tổng đình công và tổng bãi thị của Tổng công đoàn. Đồng bào hưởng ứng nồng nhiệt. Các hãng xưởng, các hiệu buôn đều đóng cửa. Chợ không người họp, đường phố vắng tanh.


Tính đến 30 tháng 9, nghĩa là sau một tuần lễ, ta đã diệt trên 300 tên địch, phá hủy 138 công sở, xí nghiệp, 22 kho tàng, 81 tàu xuồng, 200 xe hơi, 20 đầu máy xe lửa. Quân Pháp chờ viện binh nhưng chưa có, buộc phải nhờ viên tướng Anh Greicy làm trung gian xin ngừng chiến một tuần lễ để điều đình với Ủy ban kháng chiến Nam Bộ.


Cũng trong những ngày cuối tháng 9 năm 1945, Ban Chấp hành Tổng công đoàn đề ra yêu cầu phải có một tờ báo kháng chiến cho thành phố Sài Gòn. Ta đã gặp đồng chí Đắc, công nhân nhà in Nguyễn Văn Của. Đồng chí nhận chuyển một máy in ra Thủ Đức, tuy khó nhưng vẫn làm xong chỉ trong một ngày. Những số báo Công Đoàn in tại một vườn cao su ngoài đó do đồng chí Lý Chính Thắng phụ trách. Báo in xong là chuyển ngay vào nội thành, bán năm cắc (năm mươi xu) một tờ. Báo in chữ chì hẳn hoi, tin bài lại kịp thời và sinh động, đồng bào đọc thích lắm. Một điều cần nói thêm là bà con mua báo thường vẫn biếu thêm tiền ủng hộ tòa soạn. Một thời gian sau, tòa soạn dời về chiến khu An Phú Đông gần nội thành hơn và đổi tên là Cảm Tử.


Từ ngày đang chuẩn bị tổng khởi nghĩa cướp chính quyền ở Sài Gòn, Xứ ủy đã cho thành lập Ban sưu tầm vũ khí do đồng chí Nguyễn Văn Giỏi làm trưởng ban. Trong vòng một tháng, quân Pháp bị ta bao vây trong nội thành từ 23 tháng 9 đến 23 tháng 10, Ban sưu tầm vũ khí đã hoạt động tích cực, chuyển một khối lượng máy móc khá lớn ra An Phú Đông. Đó là vốn liếng quý để ta thành lập các binh công xưởng. Lúc đó một số công đoàn đã vận động được nhiều thợ giỏi ra ngoài tham gia kháng chiến và mang theo máy móc: Hãng đúc Nguyễn Văn Dụng, Hãng đúc Cân Vân, Công xưởng Sài Gòn, các hãng Faci, Simac, Mitshi Brssan, Mstshi Bissi... Hai anh công nhân nhà ga Sài Gòn tên Chiểu và Sơn đã cho máy móc chất đầy mấy toa xe lửa, lái đi. Đến Biên Hòa thì xe lửa phải dừng lại vì đường ray bị tháo gỡ. Hai anh kêu gọi đồng bào mang dây, đòn ra khiêng máy vào rừng. Một đội Xung phong công đoàn lấy được nhiều nguyên liệu và bán thành phẩm trong hãng Atakam, đưa ra ngoài cho ta.


Ngày 23 tháng 10 năm 1945, sau khi trung đoàn bộ binh số 5 và binh đoàn thiết giáp Massu từ Pháp đến, địch phá được vòng vây của ta xung quanh Sài Gòn. Cuộc chiến đấu của quân dân ta chuyển sang một giai đoạn mới. Các đội Xung phong công đoàn lần lượt rút khỏi nội thành củng cố để đến đầu năm 1946 cùng các lực lượng vũ trang khác của vùng ven thành lập các chi đội, quân số tương đương một tiểu đoàn sau này. Riêng Chi đội 13 tất cả cán bộ, chiến sĩ đều là công nhân. Ban chỉ huy xung phong công đoàn mỗi người nhận một nhiệm vụ mới.


Một tháng chiến đấu của quân dân Sài Gòn - Chợ Lớn, trong đó có Xung phong công đoàn được nêu lên như một tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, quyết tâm bảo vệ nền độc lập còn non trẻ chống lại quân xâm lược nhà nghề có vũ khí, trang bị mạnh hơn ta nhiều lần. Và nhất là hoạt động của Xung phong công đoàn đã đặt nền móng cho sự phát triển của các hình thức hoạt động biệt động ở thành phố trong suốt ba mươi năm chiến tranh tiếp theo.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Tư, 2026, 08:02:55 pm
6. Trận phục kích Bầu Dơi

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Việt Minh đứng lên lãnh đạo nhân dân cướp chính quyền ở Giồng Trôm (thuộc Bảo Lộc), lập đơn vị hành chính thành quận Tán Kế. Đến ngày 16 tháng 2 năm 1946, khi giặc Pháp trở lại chúng khủng bố vùng Ba Châu rất dữ. Bấy giờ qua theo dõi nắm rõ quy luật của giặc là cứ mười ngày, nửa tháng, chúng lại từ Giống Tròm hành quân ra vùng này, nên phân đội Tân Hào (lực lượng tương đương trung đội) luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.


... Sáng hôm ấy, giặc đông chừng hơn một trung đội, trang bị cả súng máy đầy đủ, từ Giồng Trôm kéo nhau ghé qua Châu Hòa báo với làng phải chuẩn bị rượu, chúng sẽ đi xuồng lên Phong Mỹ (bằng đường sông Ba Lai) để bắt Việt Minh. Ta biết là địch đi và về trên con rạch Ba Tri Cá (tức rạch Châu Phú bây giờ). Thế là ta cho quân mai phục dọc hai bên vàm rạch đón chúng trở về. Khoảng 3 giờ chiêu, khi địch quay xuồng trở về thì lọt vào vòng chiến đấu mai phục của ta. Đồng chí trung đội trưởng nổ phát súng lệnh diệt ngay tên lính mang khẩu súng mis. Trong đơn vị có đồng chí súng bị kẹt đạn khi trực diện với địch nên đã hy sinh. Song những khẩu súng còn lại nhả đạn liên hồi trong tiếng hô xung phong của phân đội và của bà con trong xóm. Trận chiến diễn ra rất ngắn, quân ta thắng lợi hoàn toàn.


Cay cú vì bại trận, hôm sau địch điên cuồng cho một tiểu đoàn đến đốt nhà dân và ruồng bố lục soát. Biết trước hành động này của giặc, dân ở đây đã sơ tán sang Châu Hưng (Bình Đại)... Còn phân đội Tân Hào sau chiến thắng đó thu được nhiều chiến lợi phẩm, đã vận động nam thanh niên hăng hái xin gia nhập bộ đội và cũng từ đó ngày càng củng cố cho lực lượng, vũ khí mạnh thêm để kế tiếp lập chiến công vang dội, trận Bầu Dơi (xã Hưng Nhượng) đã đi vào huyền thoại...


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Tư, 2026, 08:03:55 pm
7. Trận đánh trên cầu chữ Y

Tiếng súng mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ ngày 23 tháng 9 năm 1945 tại Sài Gòn càng lúc càng dữ dội, tiến công, ngăn chặn quân địch trên mọi ngả đường, trong khắp các doanh trại, công sở....

Những ngày cuối tháng 9, chiến sự lan dần ra ngoại ô, diễn ra quyết liệt tại khu vực các cầu: Thị Nghè, cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Macmahon, cầu Ông Lãnh, cầu Quay... Riêng tại cầu chữ Y, trận đánh đầy khí thế hào hùng của lực lượng tự vệ võ trang và nhân dân Chánh Hưng, quận 8 làm nức lòng người dân thành phố.


Hôm ấy, vào khoảng 3 giờ chiều, hai chiếc xe nhà binh Pháp rùng rùng tiến lên dốc cầu chữ Y chở đầy lính với dáng hùng hùng hổ hổ, chạy về phía Chánh Hưng. Lúc đó các đội tự vệ võ trang làm nòng cốt hai lực lượng: Đoàn thanh niên "Đoàn Dũng" của Chánh Hưng và đoàn thanh niên "Đoàn Tiến" của Chợ Quán, dưới sự lãnh đạo của các chiến sĩ cộng sản, quyết tâm tiêu diệt kẻ thù. Cả khu vực Chánh Hưng vang lên các hiệu còi báo động lan sang khu vực Chợ Quán, thôi thúc mọi người xông ra chặn giặc.


Chiếc xe đi đầu, loại vận tải quân sự của Nhật, phía trước trên mui có hai tên Pháp đội mũ đỏ, mặt mày lấc láo ghìm khẩu trung liên nhằm vào khu Chánh Hưng. Trong thùng xe, nhiều tên khác tay lăm lăm chĩa súng trường sang hai bên. Chiếc xe chạy đến giữa cầu thì bọn lính trên xe nổ súng xối xả. Lập tức, lực lượng "Đoàn Dũng" bắn trả bằng những loạt đạn giờn giã. Tiếng súng vừa dứt, mọi người xung phong lên diệt địch trong tiếng hô dậy trời. Trong giây lát, lực lượng "Đoàn Dũng" cùng với đồng bào Chánh Hưng đã tràn ngập chiêc xe, tiêu diệt toàn bộ bọn lính Pháp.


Cùng lúc đó, chiếc xe màu nâu hiệu BUICK, loại dùng chở bọn sĩ quan Nhật trước đây, chở bọn lính Pháp đi sau chừng mười mét cũng bị tiến công dữ dội. Tiếng hô xung phong vang trời cùng trận mưa tầm vông vạt nhọn và đá xanh trút xuống những tên lính mũ đỏ xâm lược. Bọn sống sót liều mạng chạy tá hoả, liền bị bắt. Hai tên chạy trước khi đoàn người ập đến may mắn chui lọt vào vòng rào Chợ Quán, thoát chết, vì lúc đó nhà máy đèn Chợ Quán quân Nhật đang canh giữ.


Ta làm chủ trận địa, nhanh chóng thu toàn bộ vũ khí trang bị và thu luôn cả hai chiếc xe đưa về Chánh Hưng.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng trận đánh hào hùng trên cầu chữ Y vẫn ngời lên một biểu tượng của tinh thần "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh" của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn anh hùng.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Tư, 2026, 08:04:39 pm
8. "Cộng hòa vệ binh" Cần Thơ ngày đầu đánh địch

Sáng 30 tháng 10 năm 1945, quân xâm lược Pháp từ thông báo hạm đổ lính lên bến phà Cần Thơ. Bữa đó, ta mới giành chính quyền từ tay phátxít Nhật được chưa đầy 65 ngày. "Giặc phù tang" còn đóng quân nơi đây, chủ yếu là trong Cô-le đờ Cần Thơ (nay là Trường Phổ thông Trung học Châu Văn Liêm) ở thị xã Cần Thơ (nay là thành phố Cần Thơ). Trong thị xã, cũng còn một số đồng chí là tù chính trị ngoài Côn Đảo mới được Trung ương, Chính phủ, Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ cử tàu Phú Quốc và 23 ghe bầu ra đón về đất liền, ở lại tỉnh trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, tình nguyện chia lửa với bà con, cô bác nơi đây ngày thực dân xâm lược tái chiếm.


Khi quân Pháp tới, lập tức trung đội Cộng hòa vệ binh (một tên gọi các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang do ta cải tổ từ bảo an binh ở miền Nam bấy giờ), từ các chiến hào bên bờ sông nổ súng quyết liệt. Một số giặc chết và bị thương, số còn lại nã pháo dữ dội vào công sự quân ta. Cùng lúc, lính Nhật đánh vào sau lưng ta... Anh em Cộng hòa vệ binh buộc phải rút lui.


Ngày ấy, nhà máy điện, nhà máy nước ở Cần Thơ đã bị ta phá nặng. Người dân trong thị xã, trừ một số Hoa kiều, đều tản cư hết, giặc Pháp gặp trăm bề khó khăn. Cũng trong sáng 31 tháng 10 năm 1945, giặc xâm lược theo hướng Cái Răng tiến quân. Tại cầu Tham Tướng (nay là cầu Xuân Khánh), ta chặn đánh 4 đợt xung phong của địch. 14 giờ cùng ngày, thông báo hạm dưới sông lại nã pháo bừa bãi vào địa bàn Xuân Khánh, quân trên của giặc bò dưới lửa đạn đánh chiếm vườn bông. Trong trận này, giặc có chừng 50 tên, chúng đã bị một trung đội của ta cầm chân suốt buổi chiều. Trước lúc rút, đồng chí chỉ huy bị thương nặng, song vẫn anh dũng bắn tới viên đạn cuối cùng, đồng chí đã đập gãy súng rồi mới hy sinh...


Ngày 31 tháng 10 năm 1945, một đại đội giặc bị ta diệt 3 tên trên đường tiến quân ở lộ Cái Khế (nay là đường Nguyễn Trãi). Mãi tới bữa chiều ấy, bộ binh Pháp mới tới kề Cái Răng (do ta đã phá cầu nên chúng không qua được chợ). Một bộ phận quân giặc phải qua Cái Nai vượt sông Cần Thơ đánh chiếm Cái Răng.


Ngày 12 tháng 11 năm 1945, chiến sĩ Cộng hòa vệ binh kết hợp với anh chị em Quốc gia tự vệ cuộc (tiền thân của công an Nam Bộ) đánh vào đồn Cái Răng giữa buổi bình minh. Đại úy đồn trưởng bị thương nặng, ta hạ cờ Pháp, kéo cờ Tổ quốc. Nhiều lính Pháp chết "không kịp ngáp", nhiều binh sĩ dưới quyền Ruăng (đồn trưởng) bị thương la liệt. Bên ta có 5 dũng sĩ hy sinh tại mặt trận.


Trong lịch sử quân sự Cần Thơ, Quân khu 9, trận Cái Răng là trận đánh địch giữa ban ngày đầu tiên, mở màn cho một cánh quân cực kỳ mưu lược, dũng cảm của quân dân Tây Nam Bộ.

Tiếp theo trận Cái Răng, giữa tháng 11 năm 1945, đội du kích liên thôn Tân An, An Bình, Phú Thứ (nay thuộc thành phố Cần Thơ) đại thắng trận Cái Da. Ngày ấy, trên đường đi bắn tỉa giặc ở Cái Răng về tới vàm Cái Da, anh em ta gặp một tàu sắt nhỏ của quân Pháp đang ghé vào bờ. Du kích liền nổ súng, 13 tên được vũ trang "đến tận răng" rớt xuống sông, chết chìm. Đêm đó, ta mò được 10 khẩu súng. Trận chiến thắng ấy được nhân dân cần Thơ kêu là trận "thắng lớn Cái Da".


Ngày 10 tháng 12 năm 1945, Hội nghị Xứ ủy mở rộng quyết định giải thể Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, thành lập ủy ban kháng chiến miền Nam và quyết định thành lập 3 chiến khu ở miền Nam. Cần Thơ cùng với 8 tỉnh bạn hồi ấy thuộc Chiến khu 9.

Cuối tháng 12 năm 1945, Liên tỉnh ủy miền Tây Nam Bộ họp hội nghị. Hội nghị thông báo quyết định thành lập Chiến khu 9.

Những sự kiện trên có "chất xúc tác" mạnh tới Cộng hòa vệ binh (nói riêng) và sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Cần Thơ (nói chung) sau năm đầu tỉnh trung tâm đồng bằng sông cửu Long này được sống, chiến đấu dưới chế độ mới: Việt Nam dân chủ cộng hòa.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Tư, 2026, 08:05:35 pm
9. Xóm Nhà Dài và chiến thắng trận đầu tiên 1945

Tháng 8 năm 1945, phong trào thanh niên tiền phong sôi nổi ở khắp mọi nơi, ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp theo chân quân Đồng minh Anh - Ấn đổ bộ lên đánh chiếm Sài Gòn, Chợ Lớn và đánh xuống vùng nông thôn. Để ngăn chặn bọn Pháp, ta phái hai phân đội lên Bình Xuyên tổ chức chiến đấu. Quân Pháp tập trung cả xe thiết giáp, bộ binh, tổ chức đánh nống. Mặt trận Bình Đăng, cầu chữ Y không giữ được, hai phân đội trở về huyện. Quân Pháp đánh xuống thị trấn Cần Giuộc. Đơn vị Cần Giuộc tổ chức chiến đấu, đánh nhau tại ngã ba Mỹ Lộc suốt ngày. Hai phân đội ta bị lực lượng Ba Dương ép vào chi đội Bình Xuyên, xông vào tước vũ khí. Ta còn 1 tiểu đội không chịu nhập, bí mật di chuyển xuống ngã tư Sài Đôi. Ngày hôm sau, bọn Pháp có cả xe thiết giáp đánh xuống đây, đơn vị tổ chức chiến đấu cho một tổ nằm ở nóc nhà, ném 2 lựu đạn vào xe. Lựu đạn không nổ, hai tổ nằm ở đằng sau nhà dân, tổ chức bắn vào bộ binh trên xe, địch bắn lại xối xả vào các cây cối, xe chúng đánh lướt qua ngã tư. Đơn vị lợi dụng địa hình rút về phía sau xã Thuận Thành và qua xã Long An. Đêm hôm đó đơn vị và xã động viên 50 dân công ra phía lộ và cạy ván cầu chất rơm đốt cầu Mồng Gà. Sau đó đơn vị về xóm Rạch Chiêm, xã Phước Vĩnh Đông và Tắc Cảng (xã Tân Lập), đóng quân ở đây một thời gian, tổ chức huấn luyện học tập, được huyện bố trí cho một trạm quân y chăm sóc sức khỏe.


Năm ấy tình hình kinh tế khó khăn, bộ đội thiếu thốn, anh em quần áo ở nhà mang theo, ai có gì mặc nấy, nhất là anh em công nhân xích lô vào bộ đội chỉ có quần đùi, áo tay ngắn, khi tắm không có quần áo thay đổi, phải mặc quần áo ướt, nên người thường bị ghẻ chóc. Nhân dân thấy vậy rất cảm động. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn chung, nhưng nhân dân vẫn nuôi bộ đội. Những người mẹ, người chị thường ngày mang đến cơm nước, bánh trái, gạo, gà vịt... và các chị em thay phiên nấu cơm cho bộ đội.


Kỷ luật bộ đội rất tự giác. Chỉ huy đơn vị thường nhắc bộ đội giữ gìn đoàn kết với nhân dân và cấm bộ đội đụng chạm đến tài sản nhân dân, ai vi phạm sẽ bị kỷ luật, dù thiếu thốn nhưng không được vi phạm.

Một buổi chiều tà, một chiếc xuồng ba lá cập vào gần đơn vị. Có cán bộ của trên xuống mời cán bộ chỉ huy đơn vị họp. Trên cho biết bọn Pháp đã chiếm thị trấn Cần Đước, bọn Pháp chưa bị đánh nên chủ quan. Hiện nay, hàng ngày cứ buổi sáng, chúng cho 2 xe có trung đội lính lê dương yểm trợ, chở lương thực, đạn dược tiếp tế cho quân ở Cần Đước. Đi từ Cần Giuộc xuống thị trấn Cần Đước, qua xóm Nhà Dài xe chạy bừa lên lúa của dân phơi trên lộ. Lực lượng huyện Cần Đước đề nghị Cần Giuộc phối hợp đánh.


Đơn vị ở đây học tập lâu ngày, nghe nói đi chiến đấu ai cũng thích, nhưng suy nghĩ đánh cách nào? Mình có 13 anh em, trang bị 11 súng trường. Lúc đó có ý kiến đề xuất, xe nó chạy bừa lên lúa của dân phơi trên đường, thì ta đào lỗ, ngụy trang phơi lúa, xe chạy đến sụp lỗ, xe lật bọn lính bị quăng ra ngoài xe, bất tỉnh, ta nhảy lên, dù có còn một số chúng đối phó cũng không kịp, ta chiến đấu sẽ thuận lợi hơn. Ý kiến đó được chỉ huy tán thành.


Tối hôm đó, đơn vị hành quân từ xã Phước Vĩnh Đông, đi bằng xuồng đến xóm Bà Thai, nhờ nhân dân tổ chức đưa qua sông, để giữ bí mật, xã bố trí anh em chèo ghe xuồng ở lại với đơn vị 2 ngày. Đơn vị hành quân chiến đấu cho anh em về nhà. Hai ngày đơn vị đóng quân ở xóm Bà Thai. Đoàn cán bộ trinh sát mặt trận đã về và làm kế hoạch chiến đấu. Buổi sáng đơn vị được phổ biến kế hoạch. Chiều đơn vị chuẩn bị lau chùi, kiểm tra súng đạn. Mỗi cây súng còn 11 viên đạn. Làm xong việc, số anh em quần áo rách... đến nhân dân xin kim chỉ khâu vá lại cho lành lặn trước khi vào trận đánh. Quần chúng thấy vậy hết sức cảm động, các cô gái gần đó chạy lại để vá quần áo rách cho bộ đội. Ông giáo dạy học ở địa phương thấy vậy chạy nhanh về nhà lấy 12 áo madio của đội bóng đá đem tặng cho bộ đội. 12 anh em được phân cho mỗi người một áo mặc đi chiến đấu mừng quá. Cán bộ xã huy động 60 dân công phục vụ đào đường, ngụy trang và bố trí canh gác báo tín hiệu xe đã chuẩn bị xong.


Mặt trời vừa khuất dạng, một tổ trinh sát đi trước chiếm lĩnh vị trí canh gác, đại bộ phận đi sau 30 phút. Trời tối như mực. Đơn vị đi cách lộ (xóm Nhà Dài) 1.000m thì dừng lại. Trinh sát về báo cáo canh gác xong, đơn vị bắt đầu hành quân chiếm lĩnh trận địa, đơn vị phân công bộ phận tổ 1 lợi dụng địa hình che khuất bố trí gần sát lộ đánh chặn đầu xe. Tổ 2 và tổ 3 lợi dụng hàng rào bông bụt và nhà xưởng dệt bố trí ở hướng ra mặt lộ, tập trung đánh chính diện hai xe.


Khoảng 3 giờ đêm 24 tháng 12 năm 1945 (nhằm ngày 25 tháng 11 âm lịch), đơn vị bố trí dân công đào đường ngụy trang vừa xong. Dân công làm xong, một số người lớn tuổi thì về, còn hơn 40 anh em trai trẻ nằm lại ở phía sau bộ đội tham gia chiến đấu. Cả mặt trận công tác suốt đêm, nhưng tinh thần hăng say chiến đấu cao mà quên cả sự mệt nhọc.


Ánh sáng ban mai vừa lên, nước mù sương trên lá cây chưa ráo. Lúc đó đúng 7 giờ 55 phút. Tiếng xe từ xa xa vọng lại. Khoảng 2 phút sau thì 2 tiếng tù và thổi báo hiệu địch hành quân 2 xe. Mọi người hồi hộp chờ đợi, đơn vị chuẩn bị chiến đấu. Tiếng xe ngày càng gần lại. Nhìn rõ xe đi đầu đi tới thì bị sụt lỗ. Bộ phận chặn đầu tập trung bắn, tên lái xe chết gục tại chỗ. Số lính ở trên xe thì bị văng xuống bờ ruộng lúa. Lệnh chỉ huy phát ra xung phong. Toàn đội chạy lên mặt lộ bắn những tên còn sống sót. Một số tên lọt xuống ruộng chạy ra gặp dân công bị rượt đuổi đánh chết. Còn tên Pháp trốn xuống lúa thoát về Cần Đước báo đồng bọn lên lấy xác.


Kết quả trận đánh, đơn vị diệt gọn 1 trung đội lính lê dương Pháp, diệt 18 tên, thu 14 súng trường Mỹ, 1 tôm-sơn và trên 1.000 viên đạn, đốt cháy 2 xe. Tiếp theo cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp đầy gian khổ, đơn vị đã lớn lên thành đại đội và phát triển lên tiểu đoàn.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tư, 2026, 08:21:20 pm
10. Giữ vững cầu liên lạc Bắc - Nam

Cùng với nhân dân Sài Gòn, những đoàn viên công đoàn xung phong, thanh niên tiền phong trong công nhân viên chức làm việc ở hai Công ty CGSF (Compagnie générale Sans Fil - Tổng công ty vô tuyến) đã đứng dậy chiếm toàn bộ khu thu, phát tín hiệu Đa Cao, khu nhà máy phát Chí Hòa, đài phát thanh Nam Kỳ và sở dây thép Sài Gòn từ tay Nhật. Vào lúc 7 giờ ngày 25 tháng 8 năm 1945, đồng chí Nguyễn Văn Phẩm đã chuyển bức điện: "Sài Gòn đã giành chính quyền thắng lợi. Cả thành phố đang xuống đường biểu dương lực lượng" ra Hà Nội.


Chuyển xong bức thư ra Hà Nội báo tin Sài Gòn đã giành chính quyền thắng lợi, anh em công nhân đã cải tổ lại toàn bộ hai công ty CGSF, sáp nhập đài phát thanh Nam Kỳ thống nhất thành trung tâm vô tuyến điện Nam Bộ.


Sáng 2 tháng 9 năm 1945, cả thành phố vừa xuống đường họp mít tinh đón chào ngày độc lập, thì ngay buổi chiều bọn khiêu khích người Pháp đã gây chuyện đổ máu. Chúng núp trong nhà thờ, trên các tầng lầu dùng súng bắn vào đoàn người đang tuần hành. Không khí Sài Gòn như sôi lên sửa soạn cho cuộc chiến đấu mới. Toàn sở bắt tay ngay vào những công việc cho Sài Gòn - Trung tâm của Nam Bộ, giữ vững mạch máu liên lạc với Trung ương. Sở cử người đi liên hệ, kiếm thêm súng, thêm kiếm, tạc đạn và dao bầu, vạt thật nhọn, thật sắc những cây gậy tầm vông, sẵn sàng cùng nhân dân Sài Gòn đánh trả kẻ địch nếu chúng liều lĩnh động đến khu thu, phát Đa Cao.


Trong lúc cả Sài Gòn đang phẫn nộ về âm mưu bẩn thỉu của quân thù thì anh em trong sở vẫn thay nhau bám máy, bám đài giữ liên lạc với Hà Nội. Từ đó, anh em vẫn nhận được đều đặn các bức điện từ Hà Nội đánh vào báo tin Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thường vụ Trung ương Đảng và nhân dân Hà Nội luôn lo lắng, theo dõi chặt chẽ tình hình Sài Gòn và tình hình Nam Bộ. Thời kỳ này, liên lạc giữa Hà Nội và Sài Gòn chưa có bản mật mã riêng, để giữ bí mật và chờ soạn thảo bản mật mã mới giữa Sài Gòn và Hà Nội đã lập một quy ước riêng trong chuyển, nhận điện. Đó là, khi Hà Nội chuyển điện vào Sài Gòn thì dùng những câu đầu trong truyện Kiều của Nguyễn Du làm bản tra mã dịch; khi Sài Gòn chuyển điện ra Hà Nội thì dùng bảng tuần hoàn Menđêlêép để giải khóa và mã dịch. Với cách làm này, bước đầu đã mở ra cách làm luật mật mã mới trong thông tin vô tuyến điện của quân đội ta.


Do mới tiếp nhận và sử dụng khu trung tâm vô tuyến điện, anh em công nhân không tránh khỏi những sơ suất, nên đã để lọt một số tên cơ hội, phản động giả danh cách mạng chui vào phá hoại. Liền đó, bọn "Đệ nhị", "Đệ tam", "Đệ tứ" sư đoàn do đảng Đại Việt, bọn tay sai của Nhật, của Pháp tập họp lại, khiêu khích, đòi được trang bị phương tiện liên lạc vô tuyến điện. Chúng đe dọa nếu không đáp ứng yêu cầu sẽ nổ súng hoặc phá tan khu thu phát. Ngày 6 tháng 9 năm 1945, một đại đội lính biệt kích Pháp mặc quân phục Anh đổ bộ vào Sài Gòn. Đội quân này cũng lăm le chiếm Sở vô tuyến điện.


Trước tình thế khẩn trương, một mất một còn của khu thu phát vô tuyến điện, Ủy ban nhân dân Nam Bộ ra lệnh: bằng mọi giá không để cho giặc chiếm trung tâm liên lạc vô tuyến điện. Phải giữ cho được liên lạc với Chính phủ Trung ương Hà Nội. Công nhân viên chức tập trung chuyển gấp máy, phụ tùng ra ngoài thành phố. Sẵn sàng cho nổ mìn phá toàn bộ khu thu phát vô tuyến điện khi thấy không còn khả năng giữ nữa. Chuẩn bị gấp điện đài lưu động với yêu cầu trước mắt và lâu dài, phải giữ được liên lạc với điện dài Trung ương trong bất kỳ tình huống nào.   


Ngay sau đó, đồng chí Huỳnh Kim Huyền cùng một số anh em kỹ thuật vô tuyến điện và trưởng đài Vũ Đạo Phổ nhận nhiệm vụ chuẩn bị lắp đặt điện đài lưu động. Anh em đã nhanh chóng khôi phục chiếc xe thu phát cũ để lắp đặt lên bộ máy thu Sinen, máy phát Metxny, máy phát điện Bécna. Điện đài lấy tên gọi V.M.A (Việt Minh A). Lắp đặt xong, đài đã liên lạc được với Hà Nội, Huế. Trước tình hình Sài Gòn ngày càng trở nên căng thẳng, Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã ra lệnh cho Sở vô tuyên điện Sài Gòn chuyển ngay điện đài VMA về Mỹ Tho. Xe và điện đài nằm trong vườn cây ăn trái của gia đình đồng chí Bảy Thử. Tại đây, đài vẫn giữ liên lạc với Hà Nội, Trung Bộ và chuẩn bị sẵn sàng thay thế cho điện đài ở khu thu phát Đa Cao.


Ngày 23 tháng 9 năm 1945, giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn, một trong những mục tiêu chúng hy vọng sẽ đánh chiếm là trung tâm liên lạc vô tuyến điện Sài Gòn. Từ 4 giờ ngày 23 tháng 9, ta đã xem xét lại các phương án và chuẩn bị cho toàn cơ quan bước vào chiến đấu. Các trưởng đài nhóm họp các tổ đài phân công ngươi đặc trách giữ liên lạc với điện đài của Bộ Tổng Tham mưu, còn số đông được phân chia thành từng nhóm hiệp sức với đội cảnh vệ kiên quyết đánh trả quân giặc bảo vệ khu thu phát. 8 giờ 15 phút, khu thu phát nhận được công điện đầu tiên trong ngày từ nơi họp của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ từ phố Cây Mai, Chợ Lớn đưa tới. Đây là điện báo cáo về Trung ương Đảng và Chính phủ về kết quả cuộc họp mở rộng cán bộ toàn xứ chủ trương phát động nhân dân Nam Bộ kiên quyết đứng dậy kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bức điện được cho mã dịch và chuyển ngay ra Hà Nội. 9 giờ 10 phút, khu thu phát Đa Cao nhận và dịch xong chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng đồng ý với quyết tâm của Xứ ủy Đảng và Ủy ban nhân dân Nam Bộ. Đồng thời, Trung ương qua Bộ Tổng Tham mưu yêu cầu Nam Bộ phải giữ chặt liên lạc với Trung ương bằng vô tuyến điện để Chính phủ có thể chỉ đạo trực tiếp Nam Bộ kháng chiến. Chỉ thị trên được chuyển về trụ sở của Xứ ủy Nam Bộ.


Được quân Anh che chở, 10 giờ 50 phút ngày 23 tháng 9 năm 1945, giặc Pháp tiến công vào phòng tuyến Đa Cao. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra rất ác liệt và kéo dài tới chiều. Dưới sự chỉ huy của các đồng chí đội trưởng cảnh vệ, các chiến sĩ ta kiên quyết dũng cảm đánh trả quân địch đến phút cuối cùng. Thấy không còn khả năng giữ được nữa, một mặt chỉ huy cử liên lạc luồn cửa sau về trụ sở của Xứ ủy Nam Bộ báo cáo, mặt khác cho bắt liên lạc lần cuối với điện đài của Bộ Tổng Tham mưu (Hà Nội) và yêu cầu đài VMA ở Mỹ Tho thay thế đảm nhiệm giữ liên lạc với Hà Nội, Huế rồi xin được phá bỏ tất cả. Lúc đó, kim đồng hồ chỉ đúng 15 giờ ngày 23 tháng 9 năm 1945.


Đến lúc này, toàn bộ Nam Bộ chỉ còn một điện đài duy nhất - Điện đài VMA - dang ở Mỹ Tho bảo đảm liên lạc giữa Nam và Bắc, giữa toàn Nam Bộ kháng chiến với Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng Tham mưu. Tuy vậy, liên lạc vẫn giữ được thường xuyên thông suốt.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tư, 2026, 08:27:55 pm
11. Trận đánh Cái Răng trong những ngày Nam Bộ kháng chiến

Đất nước giành được độc lập không lâu, Pháp đã nổ súng tấn công Sài Gòn. Chỉ sau ít ngày thị xã Cần Thơ và nhiều tỉnh thành khác của Nam Bộ và Trung Nam Bộ đều bị chiếm đóng. Tình hình diễn ra rất khẩn trương, phức tạp và khó khăn. Lợi dụng tình hình địch chưa kịp ổn định, lực lượng vũ trang Cần Thơ đã quyết định mở trận tiến công đầu tiên đánh vào căn cứ Cái Răng, địa điểm rất lợi hại của Pháp, cách thị xã Cần Thơ chưa đầy 6km. Đây là căn cứ có nhiều binh lính Pháp và sĩ quan chiếm đóng. Với quyết tâm phải tiêu diệt được nhiều giặc, gây tiếng vang để uy hiếp kẻ thù và khích lệ phong trào, trận đánh Cái Răng được bố trí tham gia phối hợp lực lượng dân quân, bộ đội và công an. Sau khi triển khai đội hình, các chiến sĩ của ta đã đột nhập được vào đồn và bắn gục nhiều sĩ quan, binh lính Pháp. Các mũi tiến công phối hợp của bộ đội tự vệ rất ăn ý. Bị đánh bất ngờ, quân Pháp vô cùng hoang mang, dao động. Bọn chúng điên cuồng chống trả. Trong lúc trận đánh đang diễn ra quyết liệt, một đồng chí của ta đã dũng cảm leo lên cột cờ trong sở chỉ huy, hạ cờ Pháp và kéo cờ đỏ sao vàng của ta lên cao. Anh đã anh dũng hy sinh khi cờ của ta tung bay trên cột cờ đồn Cái Răng.


Trận đánh nổ ra từ 7 giờ 30 phút sáng ngày 12 tháng 11 năm 1945, mãi đến đêm mới kết thúc. Các chiến sĩ cảm tử đã tiêu diệt được nhiều binh lính Pháp. Năm chiến sĩ cảm tử quân của chúng ta đã anh dũng hy sinh.


Quân Pháp hết sức bàng hoàng kinh sợ trước hành động dũng cảm của các chiến sĩ Việt Nam. Số quân Pháp còn sót lại đã kéo về cần Thơ, rút lui khỏi Cái Răng. Tinh thần anh dũng của các chiến sĩ trận Cái Răng vang truyền trong cả nước, khích lệ tinh thần chiến đấu của đồng bào chiến sĩ Nam Bộ.


Sau khi hay tin cảm tử quân của ta anh dũng đánh trận Cái Răng, ngày 20 tháng 11 năm 1945, trong phiên họp Hội đồng Chính phủ dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề truy tặng danh hiệu cho 5 liệt sĩ hy sinh tại Cái Răng đã được bàn bạc.


Kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến, chúng ta lại nhớ về trận đánh đầu tiên của cảm tử quân Việt Nam. Các cảm tử quân đã anh dũng hy sinh trong trận Cái Răng mãi mãi đi vào lịch sử như một hồi kèn báo hiệu của những chiến công trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược được thổi lên từ "miền Nam thành đồng Tổ quốc".


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tư, 2026, 08:29:13 pm
12. Chiến khu miền Đông 100 ngày đọ sức

Từ sau cuộc gây hấn của Pháp, Nam Bộ đã phát động toàn dân kháng chiến, đẩy giặc Pháp vào thế lúng túng bị giam chân ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đồng Tháp, Tây Ninh, Rừng Sác, Biên Hòa... Chúng không thực hiện được mưu đồ nhanh chóng thanh toán Chính phủ Cụ Hồ. Ở Pháp, Mutê buộc phải ký Tạm ước 14 tháng 9 (modus Vivendi), nhưng ở Sài Gòn, viên cao ủy Đácgiăngliơ đã lợi dụng điều khoản hòa hoãn mà điều bớt lực lượng ở Nam Bộ tăng viện ra các tỉnh Trung Bộ và Bắc Bộ.


Giữa tháng 10 năm 1946, tướng Pháp ở Sài Gòn thông tri cho quan binh đẩy mạnh quyền kiểm soát chặt mọi vùng lãnh thổ Việt Nam. Tháng 11 năm 1946, khắp nơi nổ ra hành động khiêu khích, quân Pháp vô cớ đột nhiên xả đạn vào đám đông, tự tiện xông vào trụ sở ủy ban hạ cờ, tịch thu con dấu... Xe ô tô nhà binh chạy hỗn loạn trong phố, kéo đại bác, xe tăng đứng giữa ngã tư đường, phố và ngay cả ở Thủ đô Hà Nội... Tình hình đã trở nên nghiêm trọng, đe dọa nổ ra cuộc chiến tranh trên cả nước.


Tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng điện cho Xứ ủy Nam Bộ: "... Theo tình hình bên Pháp và lòng tham thực dân thì chỉ có một cuộc chiến tranh toàn diện, lâu dài, gay gắt, khó khản mới giải quyết được chủ quyền Việt Nam... Phải cho đồng chí và dân chúng nhận rõ trường kỳ kháng chiến...". Xứ ủy ra quyết định khẩn cấp: "Đẩy mạnh chiến đấu không để Pháp lấy nhân lực, vật lực Nam Bộ ra đánh Bắc Bộ và Trung Bộ...".


Chiến khu Đ là vùng rừng núi nằm dọc hữu ngạn sông Đồng Nai kéo lên thượng nguồn sông Bé, đến Lộc Ninh tiếp nối dải Trường Sơn, ôm trọn vùng Lạc - An - Tân Uyên. Ngay từ những tháng năm chuẩn bị tổng khởi nghĩa, Chiến khu Đ đã được xây dựng dần từng bước. Khi giặc Pháp gây hấn, Chiến khu Đ liền phát triển thành vùng căn cứ kháng chiến của Biên Hòa và của cả Quân khu 7, miền Đông Nam Bộ. Lúc này, vùng căn cứ cách mạng mạng đã tăng lên hơn hai mươi ngàn dân, gồm bà con lục tỉnh chạy giặc, xen cư với bà con dân tộc. Các Chi đội 10 - Huỳnh Văn Nghệ, Chi đội 1 - Huỳnh Kim Trương, bộ đội Tô Ký, Vũ Đức đã hội quân sẵn sàng chấp hành chỉ thị của Xứ ủy. Chi đội 10 làm lễ tuyên thệ: Quyết diệt nhiều sinh lực địch giải phóng Chiến khu Đ cùng toàn quốc kháng chiến.


Ngày 19 tháng 12, tiếng súng toàn quốc bùng nổ. Các chi đội nhất tề mở đợt tiến công rộng lớn kết hợp võ trang tuyên truyền sâu trong các thị trấn, phố phường Thủ Dầu Một, Biên Hòa, vạch rõ giọng lưỡi xảo trá, mưu đồ xâm lược của đế quốc Pháp. Quân dân ta quyết hỏi tội chúng.


Đại đội 1, Chi đội 10 bất ngờ tập kích bốt Tân Uyên, phục kích diệt viện trên đường 16. Đám quân bảo an và hai trung đội lê dương chết sạch. Đại đội B, Chi đội 10 tấn công đồn miền Ba Cô, Đại đội 3 phục kích đường Cây Đào, đón lõng ở Rạch Đông, đập tan nát cái đồn "quỷ dữ" đồng thời diệt gọn cả đại đội viện binh của quân "mũ đỏ". Chi đội 1 cùng bộ đội địa phương tiến công dọc lộ 1 qua cầu Biên Hòa. Bộ đội Tô Ký, Vũ Đức tập kích cả loạt đồn bốt địch trên lộ 15, tỉnh lộ 2, phối hợp với bộ đội địa phương tiến công các đồn bốt ngoại vi thành phố Biên Hòa... diệt hơn 300 lính bảo an, Việt gian, dân vệ.


Những trận đánh ác liệt nổ ra liên tiếp ở các khu vực, các đường giao thông huyết mạch khiến giặc điên đầu. Tướng Valuy quyết định mở trận càn vào căn cứ Khu Đ. Ngày 18 tháng 2 năm 1947, hai lữ đoàn Pháp tấn công vào căn cứ kháng chiến bằng ba mũi kết hợp đổ xuống Mỹ Lộc, đánh úp cơ quan đầu não Việt Minh. Valuy ngạo mạn vung tay: "Chờ xem! Đòn "sét đánh" sẽ thủ tiêu hoàn toàn ý chí đề kháng của Việt Minh. Nam Kỳ sẽ đi vào khuôn phép". Nhưng chúng chẳng thể ngờ ta đã chủ động chuẩn bị kỹ càng tối thế! Tất thảy những trảng trống đều cắm cây vạt nhọn, xen kẽ bàn chông sắt. Các con đường vào cứ đã lập bãi địa lôi Việt Nam - mìn công binh cùng lựu đạn Pháp...".


Đám kiêu binh của tướng Valuy nhào vô. Đột nhiên đụng nhằm "bẫy chờ nổ". Hàng chục, hàng chục cái xác bật tung nhảy dựng, đổ vật ngả rạ cùng rừng, máu nhễ nhại trên đất... Tên quan tư chỉ huy sống sót, tối mắt hét lái vọt xe chạy. Khi nhìn lại đám quân tơi tả, y chợt bưng mặt khóc rống.


Trên hai trăm tên bại trận. Đám hỗn quân mất tinh thần, lại bị các phân đội võ trang huyện, du kích xã bám đánh không một phút được thở. Buộc chúng phải dồn cục vào địa phận làng Mỹ Lộc, Tân Định, Lạc An.


Các chi đội, tiểu đoàn chủ lực, đại đội địa phương, dân quân du kích đã "dệt" sẵn cái "túi" đơm gọn quân giặc trong vùng "đất hiểm". Đột nhiên bốn bề nổ súng dồn dập. Tiếng thét xung phong dậy rừng. Lại hơn ba trăm tên chết, bị thương.


Bị đòn qua đau trong khi đã giăng lực lượng khắp nơi, Valuy không thể ứng cứu, vội ra lệnh thu quân. Trên đà chiến thắng lớn, đêm 20 tháng 3 năm 1947, sau Tết Đinh Hợi, Chi đội 10 bất ngờ tập kích diệt gọn đồn Đất Quốc, nhổ bật chiếc gai tại trung tâm căn cứ kháng chiến, giải toả sự o ép của địch.


Vùng đất rừng "Chiến khu Đ" bỗng trở thành bóng ma khủng khiếp ám ảnh quân đội Pháp có nhiệm vụ "coi sóc" địa khu này. Cũng từ đấy, bắt đầu lưu truyền câu "Khu Đ còn, Sài Gòn mất" trong tâm tư các chiến lược gia cướp nước mãi đến sau này.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tư, 2026, 08:33:02 pm
13. Táo bạo đánh vào khách sạn Xăngđơrô

Mười lăm chiến sĩ cảm tử quân của Liên đội công an và quân báo Vũng Tàu bí mật ém quân từ Khu 8 (Chí Linh), qua Bầu Ôc (Bến Đình) vòng đến sườn núi lớn phía bãi Tâm Dương (Bãi Trước) thì trời đã tảng sáng. Đang mùa mưa, những trảng bưng ngập nước, cả đội nhìn nhau cười, trông ai cũng lấm lem bùn đất, chỉ có những đôi mắt thật đen, thật sáng. Mười lăm người được lệnh tản vào các bụi um tùm của Núi Lớn. Văng vẳng dưới chân núi tiếng còi, tiếng kẻng ở các đồn Pháp báo hiệu đã tới giờ làm việc. Nắng lên cao dần. Nắng, khát nhưng tất cả vẫn nằm im kiên nhẫn chờ trời tối.


Đêm nay lực lương công an và quân báo Vũng Tàu đánh vào khách sạn Xăngđơrô (khách sạn Lam Sơn bây giờ) - trung tâm điều dưỡng của các sĩ quan cao cấp Pháp ở Vũng Tàụ. Địa thế, đường đi lối lại đã được các đồng chí trong lực lượng công an Vũng Tàu nắm chắc và vạch ra phương án chiến đấu cụ thể, quyết tâm giành thắng lợi.


Buổi chiều, mây đen kéo ngang trời Vũng Tàu, màn đêm ập xuống, khu khách sạn dưới chân núi sáng trưng. Đồng chí đội trưởng truyền đi mệnh lệnh:

- Tất cả kiểm tra lại vũ khí!

Mười bốn người điểm qua trước mặt anh. Những tiếng "xong" đáp lại gọn nhỏ, chắc. Cả đội chia thành từng tốp, bọc các ngả tiến dần xuống chân núi. Những con đường trải nhựa vòng quanh các khu khách sạn thỉnh thoảng có từng tốp lính Pháp, dân vệ, cao đài và các bà đầm Pháp đi lại. Tốp mũi nhọn do đồng chí đội trưởng trực tiếp phụ trách chỉ còn cách khách sạn 100m thì gặp một toán lính tuần tiễu. Các anh giả bộ đi lại tự nhiên.

- Đi đâu? - Một tên lính Pháp chặn lại hỏi bằng tiếng Pháp.

- Tới đằng kia! - Đồng chí đội trưởng chỉ một khách sạn xa xa nói.

Tên lính Pháp nhìn theo hướng đồng chí đội trưởng chỉ rồi khoát tay:

- Đi đi.

Bọn lính tuần tiễu Pháp đi tiếp và rẽ vào một con đường khác. Người đội trưởng thở phào nhẹ nhõm, may là anh biết tiếng Pháp và bọn lính cũng chủ quan, trời tối chẳng phát hiện ra súng và lựu đạn của các anh giắt cồm cộm bên mình.


... Tên lính gác của khách sạn thấy một toán lính đi vào, hắn trợn mắt nhìn, rồi xô ghế, ôm súng đứng bật dậy nhưng một loạt đạn đã nổ giòn, hắn ngã gục. Người bắn hắn là Nguyễn Văn Tám, một chiến sĩ lực lượng công an Vũng Tàu. Bọn sĩ quan Pháp đang ngồi uống nước, giải trí ở lầu dưới, nhốn nháo chạy ra kêu ầm ĩ: "Việt Minh, Việt Minh". Cả đội công an và quân báo đã tiếp cận xung quanh khách sạn. Tiếng nổ rền trời. Ở khắp nơi trong Vũng Tàu cũng rộ lên tiếng súng báo động của bọn Pháp. Khi mấy đại đội lính Pháp tiếp ứng đến nơi thì khách sạn Xăngđơrô chỉ còn xác các sĩ quan Pháp nằm gục trong vũng máu, không hề còn bóng dáng một tên "Việt Minh" nào. Ngay ngày hôm sau, một tờ báo "lá cải" ở Sài Gòn đưa tin: "Một tiểu đoàn Việt Minh đã đột nhập, đánh vào khách sạn Xăngđơrô Vũng Tàu, làm chết và bị thương nhiều sĩ quan Pháp".


Tại căn cứ Phú Mỹ, 15 đồng chí cảm tử liên đội công an và quân báo Vũng Tàu đã nhận được tin vui từ cơ sở về kết quả trận đánh táo bạo này: 52 sĩ quan Pháp (trong đó có 4 đại tá) đã bị chết tại chỗ, nhiều tên khác bị thương. Bọn Pháp ở Vũng Tàu đang rất hoang mang về tài xuất quỷ, nhập thần của Việt Minh.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tư, 2026, 08:34:35 pm
14. Chi đội hải ngoại 4 về nước

Cuối năm 1946 đầu 1947, hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, vị Cha già cứu tinh dân tộc Việt Nam, tầng lớp thanh niên, trí thức Việt kiều yêu nước ở Thái Lan và Lào nô nức xung phong gia nhập đội quân hải ngoại dưới ngọn cờ đại đoàn kết do đại diện Chính phủ ta ở Thái Lan khởi xướng. Chỉ trong thời gian ngắn, ta đã tập hợp quân và được chia thành 4 đơn vị. Các chiến sĩ đều được tập luyện quân sự, sau đó mỗi người đều được trang bị súng ống, giáo mác đầy đủ, quần áo, mũ mão cũng được bà con Việt kiều trang bị thống nhất. Chế độ ăn uống đến cả lương thực, thực phẩm khi hành quân về nước đều do đồng bào ta bên đó lo liệu. Với khí thế sục sôi về nước để đánh đuổi thực dân Pháp, bảo vệ nền độc lập của dân tộc, các chiến sĩ ai nấy đều hăm hở lên đường bất chấp mọi gian khổ khó khăn và khi cần sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình.


Và điều đó đã được kiểm nghiệm trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp trên chiến trường Nam Bộ, đã xuất hiện nhiều tấm gương dũng cảm và tài trí thao lược mà tên tuổi của các anh được nhân dân ghi nhận như: Anh hùng Nguyễn Thất Sơn, một cán bộ chỉ huy chiến đấu gan dạ. Trung tướng Nguyễn Như Văn trở thành một tham mưu có tầm cỡ chiến lược của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam trong chống pháp và những năm chống giặc Mỹ xâm lược. Trung tướng Dương Cự Tẩm - Phó tư lệnh Quân khu 7, Thiếu tướng Lê Quốc Sản - Tư lệnh Quân khu 8, Thiếu tướng Bùi Duy Cho - Tỉnh đội trưởng tỉnh đội Cửu Long trước đây, và các đồng chí Trần Văn Lân, Hải Nam Trung..., đặc biệt đồng chí Đỗ Huy Rứa, một cán bộ chỉ huy tài giỏi được cấp trên tín nhiệm giao anh trọng trách chỉ huy trưởng Tiểu đoàn 307, khi Chi đội hải ngoại 4 được "nâng cấp" sau năm 1948. Nhưng sau đó đồng chí đã hy sinh.


Sau lễ tuyên thệ ở chiến khu Umke, Noọng Hoi trên đất Thái Lan ngày 26 tháng 12 năm 1946, mặc cho cái tết cổ truyền dân tộc đã cận kề, trên 400 quân của Chi đội hải ngoại 4 vẫn một lòng kiên định, chia tay vui vẻ với gia đình, bạn bè, người thân lên đường về với quê hương đất Việt yêu dấu. 14 ngày hành quân từ cánh rừng già này đến cánh rừng già khác, những chàng thanh niên trai tráng bất chấp sên vắt, muỗi rừng cứ lầm lũi hành quân, nhiều bận quên cả ăn, ngủ... nên người nào người ấy đều thiếu ngủ, thiếu ăn, sên vắt và cả gai rừng làm chảy máu chân, tay, mặt mũi... Khi các chiến sĩ đi qua các bản, nhiều ba má, các anh chị, các em nhỏ không cầm nổi nước mắt, tình thương đối với bộ đội hải ngoại được thể hiện bằng những đòn bánh tét, giò chả, các loại bánh mứt... được bà con dồn kín ba lô, làm cho ai nấy đều cảm động trước tình cảm hướng về quê hương của kiều bào ta. Và chi đội đã không phụ lòng bà con, khi đến thị trấn Prô Viêng, Prếch Vihia trên đất Campuchia đã triển khai chiến đấu với quân Pháp câu kết với bọn tay sai phản động hòng ngăn bước tiến của hải ngoại 4 trên đường về nước. Với bản lĩnh vững vàng, ta chủ động tấn công quân địch và đã thu được thắng lợi bước đầu, củng cố được lòng tin cho đồng bào và các chiến sĩ. Đơn vị lại hành quân và lại gặp địch ngăn chặn ở Prêxăngke, đêm 18 tháng 1 năm 1947, liền triển khai tập kích táo bạo vào sào huyệt quân Pháp đồn trú ở đó. Với lối đánh táo bạo, dũng cảm, chỉ trong một đêm ta giải quyết xong "vật cản" gần sát bờ sông Mê Công. Bước sang ngày thứ 16, tổ chức cho bộ đội vượt sông. Vào mùa này nước sông Mê Công chưa rút bao nhiêu, nên sông rộng và nước thì chảy xiết. Nhưng được sự giúp đỡ của bà con Việt kiều làm nghề đánh cá giúp đỡ thuyền và tình nguyện chèo thuyền đưa bộ đội hải ngoại sang sông, kế hoạch vượt sông đã thu được kết quả tốt đẹp: an toàn về người, phương tiện vũ khí, đảm bảo đúng thời gian quy định của cấp trên. Ngày 27 tháng 2 năm 1947, toàn Chi đội hải ngoại 4 đã về đến Trại Bí, Tây Ninh và chỉ trong một tháng sau đã chủ động tấn công quân Pháp nhảy dù xuống Giồng Dinh, Giồng Thổ Địa, làm cho chúng không kịp trở tay, cả tiểu đoàn lính Âu - Phi đều bị ta tiêu diệt. Thừa thắng xông tới, Chi đội hải ngoại 4 tiếp tục hành quân về Khu 8 đánh cho địch tơi bời ở Chân Đùng, Cái Hố tiêu diệt nốt bọn tàn quân lính Âu - Phi và quân Việt gian bán nước.


Đến tết năm 1948 thì Chi đội hải ngoại 4 được phát triển thành tiểu đoàn mang tên 307. Tiểu đoàn này đã phát huy truyền thống của Chi đội hải ngoại 4 đánh trận nào cũng giành được thắng lợi giòn giã.


Tiêu đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tư, 2026, 08:35:55 pm
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dẫn Pháp thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1996.

2. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập III, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1993, tr. 240.

3. PGS, TS Vũ Như Khối, 75 năm Đảng Cộng sản Việt Nam dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (3-2-1930 - 3-2-2005), Nxb Công an nhân dân, H. 2005.

4. 60 năm những thành tựu của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 - 2-9-2005), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2005.

5. Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1 (1944-1954), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2009.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000.

7. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995.

8. Nguyễn Anh Thái, Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, H. 1998.

9. Báo Quân đội nhân dân, Chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2005.

10. Lãng Kỳ Hàn, Đằng sau việc tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản tại Hà Nội, Bắc Kinh, 1984, bản dịch, Tư liệu Viện Hồ Chí Minh.

11. Ph. Đờvile, Pari - Sài Gòn - Hà Nội, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.

12. TS Dương Văn Lượng, Hỏi đáp về những mốc son lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2010.

13. Nguyễn Kiên Giang, Nước Việt Nam, năm đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám, Nxb Sự thật, H. 1961.

14. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Nxb Sự thật, H. 1986.

15. Ph. Gioay, Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Nxb Thông tin lý luận, H. 1981.